Ngay khi thực dân Pháp nổ tiếng súng đầu tiên xâm lược nước ta, nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước, đã đúng lên đấu tranh dưới ngọn cờ tư tưởng phong kiến. Suốt hơn 30 năm, từ Bắc chí Nam, từ miền xuôi cho đến miền ngược, các cuộc đấu tranh liê tiếp nổ ra, nhưng tựu chung đều thất bại một cách nhanhh chóng. Các phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến đều gặp kết cục thất bại, thứ nhất, là do họ đã giương lên ngọn cờ "trung quân ái quốc" lỗi thời, nêu lên khẩu hiệu phục hồi quyền lực cho dòng họ Nguyễn đã nhiều lần bán nước, nên hạn chế torng việc tập hợp lực lượng. Thứ hai, các phong trào này chủ yếu phụ thuộc vào uy tín của các thủ lĩnh địa phương, nên không thể hình thành được một trung tâm chỉ huy thống nhất cho các phong trào trong cả nước, và các phong trào tan rã nhanh chóng nếu thủ lĩnh bị bắt hoặc hy sinh. Thứ ba, vì mắc kẹt rong tư tưởng phong kiến, các sĩ phu, nông dân không nhìn thấy được sức mạnh của thời đại, không nhìn thấy được sự cần thiết phải đoàn kết quốc tế nên cô độc trong chiến đấu. Tuy thất bại, nhưng các phong trào này đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho các phong trào cứu nước thời kỳ sau, và cũng là minh chứng rõ ràng rằng, tự tưởng phong kiến không thể là lời giải cho vấn đề dân tộc ta đang gặp phải.
Chịu ảnh hưởng từ các trào lưu tư tưởng tiến bộ từ Nhật Bản, Trung Hoa và Pháp, các sĩ phu yêu nước đầu thế kỉ XX, tiêu biểu là Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh, hăm hở lao đầu vào khuynh hướng cứu nước mới: Khuynh hướng dân chủ tư sản. Dù với hai phương thức hành động khác nhau: Bạo động và cải cách, nhưng do không có cơ sở cả về kinh tế và chính trị trong nước, và cùng xem thường vai trò của công nông – hai lực lượng xã hội to lớn, hai ông đều gặp nhau ở một điểm: Trông chờ vào sự giúp đỡ của ngoại bang.
Đây không thể là con đường dẫn tới thành công, vì không một đế quốc nào mong một thuộc địa béo bở như Đông Dương được độc lập. Phong trào cứu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản đầu thế kỷ XX đã để lại cho chúng ta một bài học lớn: Trong cách mạng, không thể nào trông đợi một sự giúp đỡ từ bên ngoài.
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, giai cấp tư sản
Việt Nam được hình thành và bước lên vũ đài chính trị. Các phong trào đấu tranh của giai cấp tư sản diễn ra rầm rộ trên khắp các mặt trận với nhiều hình thức đa dạng. Tuy nhiên, không giống như giai cấp tư sản các nước, giai cấp tư sản bản xứ Việt Nam vốn đã nhỏ bé số lượng, èo uột và lệ thuộc về kinh tế, lại còn xem nhẹ vai trò của công nhân và nông dân, nên họ không có khả năng kinh tế cũng như lực lượng quần chúng đủ mạnh để tổ chức một cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ, mà chỉ có thể đòi hỏi một số quyền lợi kinh tế trước mắt hoặc tổ chức một cuộc bạo động bột phát, nhất thời như khởi nghĩa Yên Bái. Tóm lại, khuynh hướng chính trị tư sản cũng không phải là lời giải cho vấn đề giải phóng dân tộc Việt Nam.
Trong hoàn cảnh bế tắc về đường lối cứu nước đó, năm 1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành – với lòng yêu nước thương dân tha thiết, nhãn quan chính trị nhạy bén cùng tinh thần ham học hỏi – đã quyết chí ra đi tìm đường cứu nước. Trong khoảng thời gian từ năm 1911 – 1920, Người đã đi nhiều nơi, làm đủ mọi nghề, tiếp xúc với nhiều tầng lớp dân cư ở các nước khác nhau. Từ đó, Người nhận ra bản chất của chủ nghĩa đế quốc ở đâu cũng như nhau, và bắt đầu tham gia hoạt động trong phong trào công nhân. Năm 1920, nhân đọc được bản Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa của V. I. Lê-nin, Người chính thức từ một người yêu nước trở thành một chiến sĩ cộng sản. Người đã tìm thấy ở bản Luận cương của Lênin con đường để dẫn dắt dân tộc mình tới tự do, hạnh phúc.
Sau một thời gian ở Liên Xô, Người trở về Trung Quốc, thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên gồm những phần tử thnah niên ưu tú, tích cực xuất bản báo chí, huấn luyện chính trị,
học tập lý luận, đào tạo thực tiễn.. chuẩn bị thật vững chắc về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho việc thành lập một Đảng Cộng sản. Lý luận Mác – Lênin được Người truyền bá không phải là lý luận được bê nguyên từ Phương Tây về, mà đã có sự bổ sung, phát triển cho phù hợp với đặc điểm Việt Nam, là thành quả lao động sáng tạo của Người.
Những hạt giống đươc Nguyễn Ái Quốc ươm từ Hội Việt nam Cách mạng Thanh niên được gửi về nước. Kể từ năm 1925, nhờ có lý luận Mác – Lênin, phong trào công nhân diễn ra rất mạnh mẽ, sôi nổi và rộng khắp, có phương pháp đấu tranh và mục đích chính trị rõ ràng – phong trào công nhân đã chuyển từ tự phát lên tự giác. Kể từ thời điểm năm 1925, giai cấp công nhân đã chính thức bước lên vũ đài chính trị với tư cách một lực lượng chính trị độc lập. Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào công nhân những năm 1928 – 1929 đã dẫn đến sự hình thành các tổ chức cộng sản, báo hiệu điều kiện để thành lập một Đảng Cộng sản ở Việt Nam đã chín muồi.