125,393 ❤︎ Bài viết: 10330 Tìm chủ đề
4472 36
Tiểu luận môn học

Pháp luật đại cương Việt Nam

Đề tài

PHÁP NHÂN CHỦ THỂ CỦA QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Nhiệm vụ của đề tài

Chương I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP NHÂN – CHỦ THỂ

QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ

1.1. Khái niệm và phân loại pháp nhân theo pháp luật dân sự Việt Nam

1.1. 1. Khái niệm pháp nhân

1.1. 2. Phân loại pháp nhân

1.2. Các điều kiện để tổ chức được công nhận là pháp nhân

1.2. 1. Được thành lập theo quy định của Bộ luật Dân sự, luật khác có liên

Quan

1.2. 2. Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật Dân sự

1.2. 3. Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm

Bằng tài sản của mình

1.2. 4. Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập

1.3. Năng lực chủ thể của pháp nhân và một số vấn đề về yếu tố lý lịch của

Pháp nhân

1.3. 1. Năng lực chủ thể của pháp nhân

1.3. 2. Một số vấn đề về yếu tố lý lịch của pháp nhân

Chương II: THỰC TIỄN XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH PHÁP NHÂN TRONG TRANH CHẤP THỰC TẾ

2.1. Vấn đề pháp lý pháp sinh trong vụ việc và quan điểm của các cấp Tòa

Án

2.1. 1. Vấn đề pháp lý pháp sinh trong vụ việc

2.1. 2. Quan điểm của các cấp Tòa án xét xử vụ việc

2.2. Quan điểm của nhóm nghiên cứu về tranh chấp và kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành

2.2. 1. Quan điểm của nhóm nghiên cứu về tranh chấp

2.2. 2. Bất cập và kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành

PHẦN KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

A. VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

B. TÀI LIỆU THAM KHẢO KHÁC

PHỤ LỤC

Danh sách các từ viết tắt được nhóm nghiên cứu sử dụng trong bài tập lớn này:

1. VD: Ví dụ

2. BLDS: Bộ luật dân sự

3. TPHCM: Thành phố Hồ Chí Minh

4. PT: Phúc thẩm

5. QH: Quốc Hội

6. TAND: Tòa án nhân dân

Nếu các bạn có đóng góp hoặc bình luận về bài tiểu luận, hãy vào link này để thảo luận nhé [Thảo Luận - Góp Ý] Các Tác Phẩm Của Mạnh Thăng

P. S: Vui lòng không reup bài tiểu luận dưới mọi hình thức
 
125,393 ❤︎ Bài viết: 10330 Tìm chủ đề
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển, càng nhiều loại hình doanh nghiệp được thành lập, kéo theo đó là những tình huống pháp luật nảy sinh mà trong đó quyền lợi của doanh nghiệp bị đe dọa do không có những quy phạm pháp luật cụ thể để bảo vệ cho họ, ta càng thấy tầm quan trọng của pháp nhân bởi những lợi ích mà tư cách này mang lại.

Trên thực tế, việc thừa nhận tư cách pháp nhân sẽ đem lại rất nhiều lợi ích cho doanh nghiệp. Tư các pháp nhân giúp doanh nghiệp có khả năng thực hiện các giao dịch pháp lý một cách độc lập; chủ động thiết lập các quan hệ hợp đồng trong kinh doanh và tạo nên đời sống ổn định cho bản thân doanh nghiệp mà không cần phụ thuộc và thành viên của mình.

Ngày nay, các pháp nhân tham gia tích cực và là chủ thể chủ yếu trong các hoạt động kinh tế, hoạt động quản lý của nhà nước trên cơ sở nhà nước tôn trọng quyền tự do ý chí, tự do lập hội của công dân.

Với mục đích đơn giản hóa và ổn định đời sống pháp lý, tư cách pháp nhân trao cho các tổ chức khả năng trở thành một chủ thể độc lập trong các quan hệ pháp luật. Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam hiện hành, việc quy định tư cách pháp nhân cho doanh nghiệp góp phần đảm bảo cho tính ổn định của nền kinh tế, đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư kinh doanh.

Chính vì vậy, tư cách pháp nhân có một tầm quan trọng nhất định trong pháp luật dân sự nói chung và các hoạt động thương mại nói riêng. Đó cũng là lý do nhóm sinh viên gồm các thành viên nhóm F thực hiện đề tài "Pháp nhân chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự" cho Bài tập lớn môn học Pháp luật Việt Nam Đại cương.

2. Nhiệm vụ của đề tài

Trong tiểu luận này, nhóm F đã đặt ra 4 vấn đề cần phải làm rõ sau đây:

Một là, làm rõ lý luận về những chế định về pháp nhân – chủ thể quan hệ pháp luật dân sự. Trong đó, nhóm sẽ nghiên cứu những vấn đề về khái niệm; các điều kiện để tổ chức được công nhận là pháp nhân; năng lực chủ thể của pháp nhân cũng như việc thành lập, chấm dứt hoạt động pháp nhân.

Hai là, tập trung phân tích, đánh giá những tiêu chí để công nhận tổ chức có tư cách pháp nhân trong pháp luật dân sự Việt Nam.

Ba là, nghiên cứu tình huống từ thực tiễn Tòa án để nhận diện tổ chức có tư cách pháp nhân trong thực tế, phát hiện ra bất cập quy định pháp luật và thực tiễn.

Bốn là, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chế định pháp nhân trong quan hệ dân sự.
 
125,393 ❤︎ Bài viết: 10330 Tìm chủ đề
CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP NHÂN – CHỦ THỂ QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ

1.1. Khái niệm và phân loại pháp nhân theo pháp luật dân sự Việt Nam

1.1. 1. Khái niệm pháp nhân


Theo từ điển Hán Việt, pháp nhân là danh từ luật pháp, chỉ một tổ chức, đoàn thể, có đầy đủ nghĩa vụ và quyền lợi trước pháp luật như một cá nhân.

Theo từ điển Pháp Lý, pháp nhân còn hiểu là một tổ chức được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó và Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.

Theo như cách hiểu thông thường thì pháp chính là pháp luật còn nhân là con người cho nên pháp nhân là con người của theo quy định của pháp luật.

Theo quy định tại Điều 74 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì: "Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:

A) Được thành lập hợp pháp theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan;

B) Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này;

C) Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình;

D) Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập."

Những ưu điểm tại Điều 74 của Bộ luật dân sự năm 2015:

Một là, tạo cơ chế pháp lý hữu hiệu để công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự của các cá nhân, pháp nhân, đặc biệt là trong việc bảo vệ quyền, lợi ích của bên yếu thế, bên thiện chí trong quan hệ dân sự; hạn chế đến mức tối đa sự can thiệp của cơ quan công quyền vào việc xác lập, thay đổi, chấm dứt các quan hệ dân sự.

Hai là, tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy sản xuất kinh doanh, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực xã hội, đảm bảo sự thông thoáng, ổn định trong giao lưu dân sự, góp phần phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Là công cụ pháp lý hữu hiệu để thúc đẩy sự hình thành và phát triển các thiết chế dân chủ trong xã hội, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Ba là, bảo đảm tính kế thừa và phát triển các quy định còn phù hợp với thực tiễn của pháp luật dân sự, cũng như các giá trị văn hóa, tập quán, truyền thống đạo đức tốt đẹp của Việt Nam; có sự tham khảo kinh nghiệm xây dựng Bộ luật dân sự của một số nước, nhất là các nước có truyền thống pháp luật tương đồng với Việt Nam.

Những nhược điểm tại Điều 74 của Bộ luật dân sự năm 2015:

Một là, bộ luật dân sự năm 2015 chưa đưa ra khái niệm chung nhất về pháp nhân mà chỉ nêu ra các điều kiện để được coi là một pháp nhân. Tại điểm c khoản 1 điều 74 quy định điều kiện "pháp nhân có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình", như vậy "công ty hợp danh", "công ty con" theo Luật Doanh nghiệp 2014 được coi là pháp nhân nhưng không đáp ứng các điều kiện này.

Hai là, khoản 2 Điều 74 Bộ luật dân sự 2015 có vẻ như không quan tâm tới việc thành lập pháp nhân dù là pháp nhân dân sự hay pháp nhân phi lợi nhuận, theo đó mọi cá nhân và pháp nhân đều có quyền thành lập pháp nhân, trừ khi pháp luật quy định khác, điều này phù hợp với cơ chế đơn giản hóa thủ tục gia nhập thị trường của các pháp nhân theo hoạt động theo pháp luật doanh nghiệp.
 
125,393 ❤︎ Bài viết: 10330 Tìm chủ đề
CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP NHÂN – CHỦ THỂ QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ

1.1. Khái niệm và phân loại pháp nhân theo pháp luật dân sự Việt Nam

1.1. 2. Phân loại pháp nhân


(i) Phân loại theo BLDS 2015

Theo Bộ luật dân sự năm 2015, pháp nhân được chia làm hai loại pháp nhân là pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại.

Về khái niệm của pháp nhân thương mại tại quy định của Bộ luật dân sự năm 2015:

1. Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên.

2. Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác.

3. Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân thương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Để được công nhận là pháp nhân thương mại cần phải thỏa mãn các điều kiện sau:

Một là, trước hết phải là một pháp nhân:

Một tổ chức được gọi là pháp nhân khi được thành lập hợp pháp, có cơ cấu thống nhất, có tài sản riêng và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình, nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật độc lập, căn cứ vào điều 74 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Hai là, pháp nhân thương mại đó có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên.

Tổ chức pháp nhân đó được thành lập với mục tiêu là đem lại lợi nhuận cho tổ chức mình và chia lợi nhuận cho các thành viên.

Ba là, pháp nhân thương mại phải là doanh nghiệp hoặc có các tổ chức kinh doanh khác.

Theo quy định tại Khoản 4 Điều 7 Luật Doanh nghiệp năm 2014: "Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh".

Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế. Các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân là:

A) Công ty TNHH một thành viên: Công ty TNHH Shopee chi nhánh Thành Phố Hồ Chí Minh với ngành nghề kinh doanh: Bưu chính, kho bãi và lưu giữ hàng hóa..

B) Hợp tác xã: Hợp tác xã chè Bản Liền ở tỉnh Lào Cai, với ngành nghề kinh doanh là trồng trọt và cung cấp thuỷ lợi.

Về khái niệm của pháp nhân phi thương mại tại quy định của Bộ luật dân sự năm 2015:

"1. Pháp nhân phi thương mại là pháp nhân không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận; nếu có lợi nhuận thì cũng không được phân chia cho các thành viên.

2. Pháp nhân phi thương mại bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện, doanh nghiệp xã hội và các tổ chức phi thương mại khác.

3. Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân phi thương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, các luật về tổ chức bộ máy nhà nước và quy định khác của pháp luật có liên quan."
 
125,393 ❤︎ Bài viết: 10330 Tìm chủ đề
CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP NHÂN – CHỦ THỂ QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ

1.1. Khái niệm và phân loại pháp nhân theo pháp luật dân sự Việt Nam

1.1. 2. Phân loại pháp nhân (tiếp)


Pháp nhân phi thương mại

Là pháp nhân không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận; nếu có lợi nhuận thì cũng không được phân chia cho các thành viên.

Về các loại hình của pháp nhân thì pháp nhân phi thương mại bao gồm các cơ quan được thành lập vì mục đích cụ thể tuỳ theo loại hình tổ chức nhưng không phải lợi nhuận. Các tổ chức này thu lợi nhuận nhằm mục đích tạo quỹ duy trì hoạt động cho tổ chức. Ví dụ như:

Cơ quan nhà nước

Cơ quan nhà nước là bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, mang quyền lực nhà nước. Quyền lực của mỗi cơ quan nhà nước tùy thuộc vào vị trí, chức năng của cơ quan đó trong hệ thống cơ quan nhà nước và được thể chế hóa thành nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể trong pháp luật.


Đơn vị lực lượng vũ trang

Lực lượng vũ trang nhân dân gồm Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và Dân quân tự vệ.

Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp

Tổ chức chính trị: Là tổ chức mà thành viên cùng hoạt động với nhau vì khuynh hướng chính trị nhất định; thành viên của tổ chức này là đại diện của một giai cấp hay một lực lượng xã hội; nhiệm vụ chủ yếu là giành và giữ chính quyền.

Tổ chức chính trị – xã hội: Là tổ chức mang màu sắc chính trị với vai trò là đại diện của tầng lớp xã hội đối với hoạt động của nhà nước cũng như đóng vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị, cơ sở của chính quyền nhân dân. Ở Việt Nam hiện có các tổ chức chính trị – xã hội là: Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam, Công đoàn, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Liên hiệp Phụ Nữ Việt Nam..

Tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp: Là tổ chức hình thành theo các quy định của nhà nước và được quản lý chặt chẽ bởi cơ quan nhà nước; hỗ trợ nhà nước giải quyết một số vấn đề xã hội; hoạt động tự quản, cơ cấu do nội bộ tổ chức quyết định, hoạt động không mang tính quyền lực chính trị và hoàn toàn tự nguyện.

Tổ chức xã hội: Tổ chức xã hội là những bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị nước ta, được hình thành trên các nguyên tắc tự nguyện, tự quản của người lao động được tổ chức mình khi tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của các thành viên.

Tổ chức xã hội – nghề nghiệp: Là tổ chức được sáng lập theo sáng kiến của tổ chức, cá nhân khác nhau. Hoạt động của các tổ chức xã hội – nghề nghiệp được đặt dưới sự quản lý của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Quỹ xã hội: Là quỹ được tổ chức, hoạt động với mục đích chính nhằm hỗ trợ và khuyến khích phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục thể thao, khoa học và các mục đích phát triển cộng đồng, không vì mục đích lợi nhuận.

Quỹ từ thiện: Là quỹ được tổ chức, hoạt động với mục đích nhằm hỗ trợ khắc phục khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, sự cố nghiêm trọng, các bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo và các đối tượng khác thuộc diện khó khăn cần sự trợ giúp của xã hội, không vì mục đích lợi nhuận.
 
125,393 ❤︎ Bài viết: 10330 Tìm chủ đề
CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP NHÂN – CHỦ THỂ QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ

1.1. Khái niệm và phân loại pháp nhân theo pháp luật dân sự Việt Nam

1.1. 2. Phân loại pháp nhân (tiếp)


Ý nghĩa của việc phân ra 2 loại pháp nhân này là do:

Pháp nhân thương mại được thành lập nhằm mục tiêu chính là lợi nhuận và khi thu được lợi nhuận sẽ chia cho các thành viên của pháp nhân theo thỏa thuận, tỷ lệ phần vốn góp.. tùy vào loại hình của doanh nghiệp. Có thể thấy, pháp nhân thương mại mang yếu tố mục đích lợi ích riêng của pháp nhân, thành lập ra để kiếm lợi nhuận phân chia cho cá nhân hoặc pháp nhân góp vốn đầu tư hoặc tiếp tục cho vào quỹ pháp nhân nhằm mục đích duy trì lâu dài.

Mục đích thành lập pháp nhân phi thương mại tùy thuộc vào từng tổ chức cụ thể, tuy nhiên các tổ chức là pháp nhân phi thương mại đều không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận. Nếu có lợi nhuận phát sinh sẽ được sử dụng để duy trì các hoạt động của tổ chức mà không phân chia cho các thành viên. Hiện nay, qua khái niệm về pháp nhân phi thương mại trên có thể thấy pháp nhân phi thương mại là tổ chức, có tư cách pháp nhân, hoạt động nhằm mục đích, lợi ích cộng đồng. Có thể hiểu, mục đích của pháp nhân phi thương mại mục đích chính không phải kinh doanh, cũng càng không phải vì kiếm lợi nhuận cho cá nhân hay tổ chức nào, mục đích chính là mang lợi ích cho một nhóm đối tượng nhất định mà pháp nhân phi thương mại thành lập ra hướng tới để hỗ trợ cho những nhóm đối tượng đó.

(ii) Phân loại theo tiêu chí thủ tục thành lập, nguồn thu và mục đích hoạt động – có pháp nhân công pháp và pháp nhân tư pháp

Pháp nhân công pháp được hiểu như là những pháp nhân được thành lập theo thủ tục hành chính mệnh lệnh, có nguồn thu thường xuyên để duy trì hoạt động từ sự cấp phát ngân sách của nhà nước nhằm mục đích để quản lý nhà nước hoặc làm công ích, có cơ cấu thẩm quyền các doanh nghiệp quy định trong các luật. Pháp nhân công pháp bao gồm:

Cơ quan nhà nước: Cơ quan nhà nước là bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, mang quyền lực nhà nước. Quyền lực của mỗi cơ quan nhà nước tùy thuộc vào vị trí, chức năng của cơ quan đó trong hệ thống cơ quan nhà nước và được thể chế hóa thành nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể trong pháp luật.

Tổ chức trong hệ thống chính trị: Các tổ chức trong hệ thống chính trị có các cơ quan được ghi nhận trong điều lệ hoạt động của mình. Đảng cộng sản có Bộ chính trị, Ban Bí thư, Ban chấp hành trung ương.. ; Mặt trận Tổ quốc có Uỷ ban trung ương;..

Các công ty công ích: Công ty điện lực, công ty cây xanh..

Pháp nhân tư pháp được hiểu như là những tổ chức được hình thành bằng con đường dân sự có sự tự nguyện, tự chủ về tổ chức và tài chính. Cơ cấu tổ chức của các khoảng đóng góp của thành viên, hậu quả tài chính khi giải thể và xác định thẩm quyền của người đại diện có thể được xác định thông qua sự thỏa thuận hoặc nhất trí tự nguyện của các thành viên sáng lập trên cơ sở quy định của pháp luật.

Pháp nhân tư pháp bao gồm các tổ chức:

Cơ quan quyết nghị của pháp nhân: Là cơ quan có quyền quyết định cao nhất của pháp nhân và có cả khả năng định đoạt số phận pháp lý của pháp nhân (sáp nhập, giải thể).

Cơ quan chấp hành của pháp nhân: Là cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện các quyết định của cơ quan quyết nghị, đồng thời đảm nhận việc quản lý đối với các công việc hàng ngày của pháp nhân, kể cả việc đại diện cho pháp nhân trong quan hệ với người thứ ba.
 
125,393 ❤︎ Bài viết: 10330 Tìm chủ đề
CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP NHÂN – CHỦ THỂ QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ

1.2. Các điều kiện để tổ chức được công nhận là pháp nhân

1.2. 1. Được thành lập theo quy định của Bộ luật Dân sự, luật khác có liên quan


Với điều kiện đầu tiên để một pháp nhân được thành lập đó là "Được thành lập hợp pháp". Điều đó cho thấy đã có sự rõ ràng hơn về tính "hợp pháp", và chặt chẽ hơn về cơ sở pháp lý của thủ tục thành lập pháp nhân, tránh việc các luật khác có liên quan có mâu thuẫn với Bộ luật dân sự.

Để được công nhận là pháp nhân thì phải được thành lập một cách hợp pháp. Pháp nhân được coi là thành lập hợp pháp nếu pháp nhân được thành lập theo trình tự tương ứng với tính chất của loại pháp nhân đó.

Pháp nhân là cơ quan, tổ chức nhà nước: Phải được thành lập theo quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (được gọi là trình tự mệnh lệnh). Theo trình tự này, căn cứ vào nhu cầu thực tế của xã hội, cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định thành lập một pháp nhân nhằm thông qua hoạt động của pháp nhân này để giải quyết các nhu cầu xã hội đang đòi hỏi, các cơ quan hữu quan cấp dưới có trách nhiệm thi hành quyết định đó.

Pháp nhân là tổ chức kinh tế tư nhân (các công ty) : Phải được thành lập trên cơ sở đơn xin thành lập của các sáng lập viên kèm theo điều lệ gửi đến cơ quan đăng ký kinh doanh (thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư) để được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Pháp nhân thành lập theo sáng kiến của các sáng lập viên, hội viên của các tổ chức: Phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định thành lập thông quan việc kiểm tra tính hợp pháp của điều lệ, mục đích thành lập, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, thành viên được xác định trong đơn xin thành lập. Các pháp nhân là các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, quỹ từ thiện được thành lập theo trình tự này.

Ý nghĩa của quy định trên

Giúp cho nhà nước dễ dàng kiểm soát các loại mặt hàng, công việc mà các pháp nhân đăng ký thực hiện để khi có phát hiện sai phạm thì có thể dễ dàng xử lý theo quy định của pháp luật. Và tính hợp pháp của pháp nhân giúp pháp nhân đó tham gia các quan hệ pháp luật và tồn tại dưới sự kiểm soát, đảm bảo của Nhà nước nhằm phù hợp với ý chí của Nhà nước đó.
 
125,393 ❤︎ Bài viết: 10330 Tìm chủ đề
CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP NHÂN – CHỦ THỂ QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ

1.2. Các điều kiện để tổ chức được công nhận là pháp nhân


1.2. 2. Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật Dân sự

Điều 83 BLDS. Cơ cấu tổ chức của pháp nhân

1. Pháp nhân phải có cơ quan điều hành. Tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan điều hành của pháp nhân được quy định trong điều lệ của pháp nhân hoặc trong quyết định thành lập pháp nhân.

2. Pháp nhân có cơ quan khác theo quyết định của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật.

Cơ quan điều hành của pháp nhân: Là cơ quan đứng đầu của pháp nhân, có quyền điều hành mọi hoạt động của pháp nhân và tham gia các hoạt động bên ngoài của pháp nhân.

Cần có cơ quan điều hành thì mới được xem là có tổ chức vì để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trong quan hệ với người thứ ba pháp nhân còn được tổ chức thành các cơ quan tại đó các cá nhân được bố trí trong ở các cương vị khác nhau và xử sự nhân danh một tổ chức trong bộ máy của pháp nhân. Pháp nhân nhưng không phải là con người cụ thể và do đó không có khả năng tự bảo vệ tài sản của mình. Tài sản của pháp nhân được giao cho những người thuộc bộ máy của pháp nhân quản lý, sử dụng; nguy cơ tài sản bị chiếm đoạt do sự lạm dụng quyền hạn của con người là khó tránh. Vì thế, pháp nhân phải tổ chức thật chặt chẽ để những người được trao quyền hạn cụ thể đối với tài sản của pháp nhân luôn ở trong thế kiểm soát, kiềm chế lẫn nhau, để không có điều kiện bòn rút tài sản của pháp nhân.

Cơ cấu tổ chức bình thường của một tổ chức có tư cách pháp nhân bao gồm

Cơ quan điều hành, lãnh đạo (VD: Hội đồng quản trị, Ban giám đốc).

Bộ phận tham mưu, giúp việc cho cơ quan điều hành, lãnh đạo (VD: Các phòng, ban như phòng nhân sự, phòng pháp chế).

Các cơ quan, bộ phận khác tùy theo điều lệ hoạt động của từng tổ chức có tư cách pháp nhân.

Những cơ quan khác mà pháp nhân cần có bên cạnh cơ quan điều hành

Những cơ quan khác là theo quyết định của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật. Pháp nhân phải có điều lệ hoạt động rõ ràng (theo Điều 77 BLDS 2015).

Bộ phận tham mưu, giúp việc (VD: Các phòng/ban như phòng nhân sự, phòng pháp chế, phòng marketing) có vai trò tham mưu (tức nêu những hiến kế, đề xuất, các ý tưởng mới) và giúp việc cho cơ quan điều hành. Thực hiện các công việc được lãnh đạo giao cho.

Mối liên hệ: Cơ quan điều hành và các bộ phận tham mưu có sự liên kết chặt chẽ với nhau. Cơ quan điều hành chỉ đạo xuống các bộ phận có liên quan thực hiện theo nội dung đã thống nhất nhằm hoàn thành các công việc đúng thời hạn tiến độ và đảm bảo chất lượng công việc.

Ý nghĩa của quy định trên

Một là, tạo tiền đề cần thiết giúp cho tổ chức có đủ năng lực cần thiết để thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình và hoạt động có hiệu quả.

Hai là, đảm bảo sự tồn tại và ổn định của tổ chức, không lệ thuộc vào số lượng và sự thay đổi thành viên.

Ba là, hoạt động độc lập, không lệ thuộc về mặt tổ chức đối với thành viên và cơ quan sáng lập pháp nhân.
 
125,393 ❤︎ Bài viết: 10330 Tìm chủ đề
CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP NHÂN – CHỦ THỂ QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ

1.2. Các điều kiện để tổ chức được công nhận là pháp nhân


1.2. 3. Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình


Tiền đề quan trọng nhất của điều kiện này (còn được gọi là tiền đề vật chất)

Tiền đề quan trọng nhất của điều kiện trên là phải có tài sản độc lập. Khi một tổ chức muốn được công nhận là pháp nhân thì tổ chức đó phải có tài sản độc lập với các cá nhân/ pháp nhân khác. Khi trở thành pháp nhân thì sẽ phải tham gia nhiều các giao dịch về tài sản, việc có tài sản độc lập cho phép pháp nhân thực hiện các quyền về tài sản đó, và không một chủ thể nào có quyền đối với tài sản chung của pháp nhân. Việc sử dụng tài sản độc lập tham gia vào quan hệ tài sản sẽ dẫn đến tiền đề sau là "Chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình"; và cũng muốn khẳng định rõ về sự tách bạch về mặt tài sản giữa cá nhân và pháp nhân. Pháp nhân khi sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình tham gia vào mối quan hệ tài sản thì mới dẫn đến việc chịu trách nhiệm pháp lý đối với tài sản của mình và chịu trách nhiệm do hành vi của mình.

Tài sản độc lập với cá nhân

Được hiểu là khối tài sản được pháp luật bảo vệ và công nhận thuộc quyền sở hữu của pháp nhân. Vì vậy nên pháp nhân có quyền sử dụng khối tài sản đó theo ý mình trong sự cho phép sử dụng khối tài sản của công ty mà không chịu sự chi phối, kiểm soát của bất kỳ các thành viên trong công ty hay chủ thể thứ ba có tác động đến.

Tài sản độc lập với pháp nhân khác

Được hiểu là khối tài sản hoàn toàn tách biệt hay nói cách khác là riêng biệt, tách ra một mảng riêng, độc lập hoàn toàn với tài sản của các thành viên khác trong công ty. Do đó các thành viên chỉ phải chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn mà bản thân góp vào tổ chức.

Tự chịu trách nhiệm

Là tự chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình mà hoạt động ấy ảnh hưởng tới công ty/doanh nghiệp bằng số tài sản riêng của mình. Trách nhiệm ở đây bao gồm trách nhiệm hữu hạn là trách nhiệm của chủ doanh nghiệp, người góp vốn đối với tài chính của doanh nghiệp theo phạm vi vốn góp của mình (trả nợ).

Ý nghĩa của quy định trên

Đây là 1 trong 4 điều kiện buộc có ở 1 tổ chức khi muốn trở thành pháp nhân, và mỗi điều kiện sẽ có những vấn đề pháp lý khác. Nhưng so với 3 điều kiện ở Điều 74 BLDS 2015, thì điều kiện "có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình" được xem là nền tảng để đánh giá sự tồn tại của pháp nhân và cũng là cơ sở để pháp nhân có quyền tham gia thực hiện các giao dịch về tài sản (và căn cứ để xác định trách nhiệm giữa các pháp nhân với nhau).

Việc quy định phải có tài sản độc lập sẽ góp phần làm giảm các tranh chấp về tài sản xảy ra giữa cá nhân và pháp nhân/giữa pháp nhân này và pháp nhân khác. Việc độc lập về tài sản khiến pháp nhân có phạm vi thực hiện quyền và nghĩa vụ rộng hơn, không bị phụ thuộc vào nguồn tài sản khác. Ngoài ra, sẽ làm minh bạch được vấn đề trách nhiệm đối với hành vi giao dịch có liên quan đến tài sản.
 
125,393 ❤︎ Bài viết: 10330 Tìm chủ đề
CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP NHÂN – CHỦ THỂ QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ

1.2. Các điều kiện để tổ chức được công nhận là pháp nhân


1.2. 4. Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập

Tư cách chủ thể độc lập được hiểu như sau

Được tự giao dịch, tự tham gia vào các quan hệ pháp luật thông qua người đại diện theo pháp luật.

Ví dụ

B là người đại diện theo pháp luật của công ty A, công ty A được công nhận tư cách pháp nhân thì công ty A sẽ được nhân danh chính mình tham gia các mối quan hệ về pháp luật. Như nhân danh chính mình đi mua hàng, bán hàng, kiện tụng..

Ý nghĩa

Nhờ có quy định này mà các cá nhân, tổ chức được tạo điều kiện thực hiện các giao dịch mua bán, được than gia vào các quan hệ pháp luật theo đúng pháp luật. Qua đó, quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các bên được pháp luật bảo vệ và công nhận.

Như vậy có thể thấy điều kiện để tổ chức được công nhận là pháp nhân không hề đơn giản, nhưng chính vì thế mà pháp nhân có ý nghĩa vô cùng quan trọng
 
125,393 ❤︎ Bài viết: 10330 Tìm chủ đề
CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP NHÂN – CHỦ THỂ QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ

1.3. Năng lực chủ thể của pháp nhân và một số vấn đề về yếu tố lý lịch của pháp nhân

1.3. 1. Năng lực chủ thể của pháp nhân


Bao gồm năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự.

Năng lực pháp luật dân sự

Theo Điều 86 Bộ luật dân sự 2015:

1. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập; nếu pháp nhân phải đăng ký hoạt động thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm ghi vào sổ đăng ký.

3. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân chấm dứt kể từ thời điểm chấm dứt pháp nhân.

Năng lực hành vi dân sự

Năng lực hành vi của pháp nhân được được thể hiện thông qua hành vi của người đại diện. Bộ luật dân sự chỉ quy định về người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền của pháp nhân nhân danh pháp nhân trong quan hệ dân sự. Mọi hoạt động của pháp nhân được tiến hành thông qua hành vi của cá nhân là người đại diện của pháp nhân. Tuy nhiên cũng cần hiểu là hoạt động của pháp nhân còn được thực hiện thông qua hành vi của các thành viên khác của pháp nhân, trong trường hợp này hành vi đó được thực hiện trong khuôn khổ nhiệm vụ được pháp nhân giao.

Mối liên hệ giữa hai năng lực trên

Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân chỉ phụ thuộc vào khả năng pháp nhân và các trường hợp quy định của Bộ luật dân sự, còn năng lực hành vi dân sự của pháp nhân phụ thuộc vào người đại diện theo ủy quyền của pháp nhân trong quan hệ dân sự.

Năng lực chủ thể của pháp nhân có gì đặc biệt so với năng lực chủ thể của cá nhân?

Năng lực chủ thể là khả năng pháp lí của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật; với tư cách là chủ thể của quan hệ đó; bao gồm hai yếu tố năng lực pháp luật và năng lực hành vi.

Năng lực chủ thể của cá nhân

Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là thuộc tính nhân thân của chủ thể và không thể dịch chuyển cho chủ thể khác.

Nó xuất hiện từ khi người đó sinh ra cho đến khi người đó chết đi.

Năng lực chủ thể của pháp nhân (đã trình bày ở trên)

Vậy, 2 năng lực chủ thể có các điểm tương đồng:

1. Đều có khả năng tham gia vào quan hệ pháp luật với tư cách là một chủ thể.

2. Tự mình thực hiện các quyền, nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ pháp luật đã tham gia.

Ngoài ra, khi đi sâu vào chi tiết, 2 năng lực chủ thể còn có những khác biệt dưới đây:

+ về Cơ sở pháp lý:

- Đối với cá nhân là theo Điều 16 đến Điều 24 Bộ luật Dân sự 2015

- Đối với pháp nhân là theo Điều 86 Bộ luật Dân sự 2015

+ Về Đối tượng

- Đối với cá nhân: Là công dân Việt Nam;người nước ngoài; người không quốc tịch sinh sống lao động và học tập trên lãnh thổ Việt Nam.

- Đối với pháp nhân: Là các cơ quan nhà nước;tổ chức xã hội;tổ chức kinh tế;đơn vị hành chính sự nghiệp. Có cơ cấu tổ chức thống nhất được các văn bản pháp luật quy chế điều lệ của các tổ chức quy định.
 
125,393 ❤︎ Bài viết: 10330 Tìm chủ đề
CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP NHÂN – CHỦ THỂ QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ

1.3. Năng lực chủ thể của pháp nhân và một số vấn đề về yếu tố lý lịch của pháp nhân

1.3. 2. Một số vấn đề về yếu tố lý lịch của pháp nhân


Tên gọi pháp nhân

Tên gọi pháp nhân có những yêu cầu như sau được quy định tại Điều 78 của Bộ luật dân sự 2015:

1. Pháp nhân phải có tên gọi bằng tiếng Việt.

2. Tên gọi của pháp nhân phải thể hiện rõ loại hình tổ chức của pháp nhân và phân biệt với các pháp nhân khác trong cùng một lĩnh vực hoạt động.

3. Pháp nhân phải sử dụng tên gọi của mình trong giao dịch dân sự.

4. Tên gọi của pháp nhân được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xác định trụ sở pháp nhân

Theo điều 78 Bộ luật dân sự 2015:

1. Trụ sở của pháp nhân là nơi đặt cơ quan điều hành của pháp nhân. Trường hợp thay đổi trụ sở thì pháp nhân phải công bố công khai.

2. Địa chỉ liên lạc của pháp nhân là địa chỉ trụ sở của pháp nhân. Pháp nhân có thể chọn nơi khác làm địa chỉ liên lạc.

Quốc tịch pháp nhân

Về quốc tịch, điều 80 của Bộ luật này quy định pháp nhân được thành lập theo pháp luật Việt Nam là pháp nhân Việt Nam.

Tài sản của pháp nhân

Theo Điều 81 Bộ luật dân sự 2015, Tài sản của pháp nhân bao gồm vốn góp của chủ sở hữu, sáng lập viên, thành viên của pháp nhân và tài sản khác mà pháp nhân được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan.

Chi nhánh, văn phòng đại diện của pháp nhân

Chi nhánh, văn phòng đại diện của pháp nhân là gì? Có tư cách pháp nhân không?

Theo Khoản 1, Điều 84 của Bộ luật dân sự 2015:

Chi nhánh, văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, không phải là pháp nhân, do đó không có tư cách pháp nhân.

Nếu chi nhánh, văn phòng đại diện xác lập, thực hiện giao dịch thì trách nhiệm thuộc về chủ thể nào?

Theo Khoản 6, Điều 84 Bộ luật dân sự 2015:

Pháp nhân có quyền, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự do chi nhánh, văn phòng đại diện xác lập, thực hiện. Do đó, trong trường hợp chi nhánh, văn phòng đại diện xác lập, thực hiện giao dịch thì trách nhiệm thuộc về pháp nhân.
 
125,393 ❤︎ Bài viết: 10330 Tìm chủ đề
CHƯƠNG II. THỰC TIỄN XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH PHÁP NHÂN TRONG

TRANH CHẤP THỰC TẾ

2.1. Vấn đề pháp lý pháp sinh trong vụ việc và quan điểm của các cấp Tòa án

2.1. 1. Vấn đề pháp lý pháp sinh trong vụ việc


Ở trường hợp này có 2 bản án được đưa ra. Bản án đầu là bản án cấp sơ thẩm được giải quyết bởi TAND Quận 1. Theo điều 35 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015: Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về lao động quy định tại Điều 32 của Bộ luật này, "tranh chấp về kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động là các tranh chấp không cần qua thủ tục hòa giải". Nghĩa là việc ông Hùng khởi kiện Cơ quan đại diện của Bộ TN&MT ra TAND quận 1 là hoàn toàn có cơ sở và đúng quy trình pháp luật và TAND quận 1 cũng có đủ thẩm quyền thực hiện phiên sơ thẩm.

Bản án thứ 2 là bản án cấp phúc thẩm được giải quyết bởi TAND TPHCM. Theo điều 38 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015: Tòa dân sự Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục phúc thẩm những vụ việc mà bản án, quyết định dân sự chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật này. Việc xuất hiện 2 bản án là do Cơ quan đại diện trên kháng cáo và Viện kiểm sát nhân dân cũng xác định việc xác định bị đơn của bản án 1 là sai về quy định tố tụng.

Yêu cần đưa ra của nguyên đơn là hủy quyết định thôi việc; nghĩa là ông Hùng yêu cầu chứng minh sự sai trái trong quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng của cơ quan đại diện Bộ TN&MT và buộc cơ quan trên bồi thường đúng những gì trên hợp đồng. Ở đây ta không rõ được những điều khoản trong hợp đồng giữa 2 bên nhưng yêu cầu của ông Hùng là chính đáng vì ông muốn giành lại quyền lợi đáng ra mình được nhận. Yêu cầu này hoàn toàn có liên quan đến chủ đề Bài tập lớn do nó có sai sót về việc xác định người bị khởi kiện (bị đơn), đó là phân biệt tư cách pháp nhân được ủy quyền bởi Bộ TN&MT cho Cơ quan đại diện trên.

Văn bản quy phạm này sẽ điều chỉnh tranh chấp này là Bộ Luật Dân sự 2015.

Vấn đề pháp lý phát sinh là việc xác định sai đối tượng bị đơn. Ông Hùng khởi kiện Cơ quan đại diện có thể là do bên sử dụng lao động được ghi trong hợp đồng là Cơ quan đại diện. Tuy nhiên, TAND quận 1 cũng xác định sai đối tượng bị đơn.
 
125,393 ❤︎ Bài viết: 10330 Tìm chủ đề
CHƯƠNG II. THỰC TIỄN XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH PHÁP NHÂN TRONG

TRANH CHẤP THỰC TẾ

2.1. Vấn đề pháp lý pháp sinh trong vụ việc và quan điểm của các cấp Tòa án


2.1. 2. Quan điểm của các cấp Tòa án xét xử vụ việc

Ở đây có sự mâu thuẫn giữa TAND quận 1 và TAND TPHCM: Theo điều 84 Bộ Luật Dân sự, chi nhánh, văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, không phải là pháp nhân. Cho nên theo đúng luật thì Cơ quan đại diện không phải là pháp nhân, cũng không có khả năng trở thành bị đơn.

Lập luận của TAND quận 1: Công nhận tư cách pháp nhân của Cơ quan đại diện do quyết định của Bộ TN&MT "Cơ quan đại diện có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng"; theo Khoản 1. C Điều 74 Bộ Luật Dân sự 2015, một tổ chức được công nhận là pháp nhân nếu sở hữu tài sản độc lập. Có lẽ TAND quận 1 đã dựa vào chi tiết "tài khoản riêng" để xác định tư cách pháp nhân cho Cơ quan Đại diện.

Tuy nhiên, theo TAND TPHCM, quyết định này là không đủ để xác nhận tư cách pháp nhân của Cơ quan đại diện vì cũng dựa trên điều khoản trên của Bộ Luật Dân sự 2015: Tài sản độc lập này phải được chịu trách nhiệm hoàn toàn bởi chính Cơ quan Đại diện này. Trong khi đó, Cơ quan này vẫn phải hạch toán báo sổ cho Bộ TN&MT, chứng tỏ rằng tài khoản riêng kia không hoàn toàn được chịu trách nhiệm của Cơ quan Đại diện mà vẫn phải bị kiểm soát bởi Bộ TN&MT. Nghĩa là cơ quan trên không có tài sản độc lập hoàn toàn với pháp nhân khác (ở đây là Bộ TN&MT), cho nên quyết định của Bộ TN&MT theo lập luận của TAND TPHCM là không đúng luật định. Cụ thể hơn, theo Luật sư Trần Công Ly Tao (Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư TP. HCM), tư cách pháp nhân của Cơ quan đại diện này chỉ đầy đủ nếu có sự ủy quyền tham gia tố tụng của Bộ TN&MT, tuy nhiên đề không hề đề cập đến vấn đề này.
 
125,393 ❤︎ Bài viết: 10330 Tìm chủ đề
CHƯƠNG II. THỰC TIỄN XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH PHÁP NHÂN TRONG

TRANH CHẤP THỰC TẾ

2.2. Quan điểm của nhóm nghiên cứu về tranh chấp và kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành

2.2. 1. Quan điểm của nhóm nghiên cứu về tranh chấp


Như vậy, có thể tóm lược lại rằng có hai luồng quan điểm về vấn đề nêu trên.

Một là, cơ quan đại diện của Bộ TN&MT có tư cách pháp nhân như quyết định của Tòa án nhân dân Quận 1. Bởi vì theo quyết định của Bộ trưởng Bộ TN&MT có nội dung: "Cơ quan đại diện có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng".

Hai là, cơ quan đại diện của Bộ TN&MT không có đầy đủ tư cách pháp nhân như nhận định của Tòa án nhân dân TPHCM. Bởi vì cơ quan này vẫn phải hạch toán báo sổ, quyết toán theo ngân sách của Bộ, không phải là cơ quan hạch toán độc lập, có tư cách pháp nhân nhưng không đầy đủ, vẫn là một đơn vị phụ thuộc vào pháp nhân là Bộ TN&MT.

Sau quá trình tìm tòi và nghiên cứu, quan điểm của nhóm là hoàn toàn đồng tình với hướng giải quyết của Tòa án nhân dân TPHCM. Theo đó, tòa sơ thẩm đã xác định bị đơn trong vụ án là cơ quan đại diện đã làm sai quy định của pháp luật dân sự hiện hành; tuyên hủy án sơ thẩm để giải quyết lại.

Bởi lẽ theo khoản 4 Điều 84 BLDS 2005, một tổ chức không được công nhận là pháp nhân khi không thể nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập. Mà cụ thể ở đây là cơ quan đại diện của Bộ TN&MT hoàn toàn không được độc lập mà phải đặt dưới sự điều hành và quản lý của Bộ.

Bên cạnh đó, dựa vào khoản 2 Điều 92 BLDS 2005: "Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, có nhiệm vụ đại diện theo ủy quyền cho lợi ích của pháp nhân và thực hiện việc bảo vệ các lợi ích đó"; khoản 4 Điều 92 BLDS 2005: "Văn phòng đại diện, chi nhánh không phải là pháp nhân. Người đứng đầu văn phòng đại diện, chi nhánh thực hiện nhiệm vụ theo ủy quyền của pháp nhân trong phạm vi và thời hạn được ủy quyền"; khoản 5 Điều 92 BLDS 2005: "Pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự do văn phòng đại diện, chi nhánh xác lập, thực hiện" càng làm củng cố thêm cho sự xác đáng của quyết định được đưa ra từ Tòa án nhân dân TPHCM.

Quan điểm của nhóm về tư cách pháp nhân của cơ quan đại diện của Bộ TN&MT là hoàn toàn đồng tình với quan điểm của Tòa án nhân dân TPHCM. Đồng tình với nhóm còn có Luật sư Trần Ly Công Tao (Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư TP HCM) và PGS-TS Võ Văn Đại (Trưởng khoa Luật dân sự Trường ĐH Luật TPHCM) càng làm vững chắc thêm cho quan điểm trên của nhóm. Theo PGS phân tích: "Quyết định thành lập cơ quan đại diện tại TPHCM của Bộ TN&MT ghi" cơ quan đại diện có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng "là không ổn. Bởi BLDS 2005 do Quốc hội ban hành đã đặt ra các điều kiện của một pháp nhân đầy đủ và rõ ràng, mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức phải tuân theo. Mặt khác, về mặt lý luận, cơ quan đại diện của Bộ không thể coi là một tư cách pháp nhân vì không thỏa mãn quy định tại khoản 4 Điều 84 của bộ luật này là tham gia giao dịch một cách độc lập. Bởi lẽ mọi hoạt động của cơ quan đại diện đều đặt dưới sự quản lý, điều hành của Bộ, do đó lập luận của tòa phúc thẩm là chính xác." Tôi nghĩ rằng các cơ quan nhà nước khi thành lập các cơ quan đại diện thì không nên tùy tiện "tặng" cho nó tư cách pháp nhân, nếu có thì cũng phải thỏa mãn các điều kiện luật định, nếu không pháp luật nói chung sẽ không còn ý nghĩa trong cuộc sống".
 
125,393 ❤︎ Bài viết: 10330 Tìm chủ đề
CHƯƠNG II. THỰC TIỄN XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH PHÁP NHÂN TRONG

TRANH CHẤP THỰC TẾ

2.2. Quan điểm của nhóm nghiên cứu về tranh chấp và kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành


2.2. 2. Bất cập và kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành

Như vậy có thể kết luận mặc dù đã được quy định rất rõ theo BLDS 2005 về pháp nhân nhưng sự việc trên vẫn xảy ra là do cơ quan nhà nước, ở đây là Bộ TN&MT, đã tùy tiện tặng cho cơ quan đại diện tư cách pháp nhân mà không thỏa mãn các quy định trong BLDS 2005. Vì vậy, bất cập ở đây là Bộ TN&MT đã thành lập cơ quan đại diện với "tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng", nhưng trên thực tế là hoàn toàn không đủ tư cách pháp nhân. Vậy thì theo khoản 4 Điều 92 BLDS 2005 đã quy định rất rõ là cơ quan đại diện không phải là pháp nhân, Bộ TN&MT lại đưa ra văn bản như trên là sai.

Có thể dễ dàng nhận thấy vấn đề ở đây là các bộ ngành thiếu sự tìm hiểu pháp luật trước khi đưa ra văn bản, dẫn đến những rắc rối về sau như câu chuyện của ông Nguyễn Ngọc Hùng trên đây. Qua đó nhóm đề xuất các bộ ngành nên tìm hiểu kĩ hơn để tránh sai sót, cùng với đó là những chế tài pháp lý nhằm xử lý sai phạm của các bộ ngành trong việc đưa ra những văn bản sai pháp luật. Còn BLDS 2005 và sau này là 2015 đã hoàn thiện và quy định rất rõ về Pháp nhân rồi.


PHẦN KẾT LUẬN

Trong quá trình thực hiện Bài tập lớn, đầu tiên, nhóm đặt mục tiêu tìm hiểu và làm rõ các nội dung cơ bản xoay quanh chủ thể pháp nhân. Nhờ đó, nhóm đã có thể phân biệt được các cặp khái niệm như pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại, pháp nhân công pháp và pháp nhân tư pháp. Tiếp theo, nhóm đi sâu vào phân tích, đánh giá những tiêu chí để công nhận tổ chức có tư cách pháp nhân trong pháp luật dân sự Việt Nam.

Những nghiên cứu trên đồng thời cũng là cơ sở để các thành viên hiểu được hoàn cảnh cũng như các vấn đề pháp lý phát sinh của một vấn đề thực tiễn ở chương II. Qua việc xác nhận lại tư cách pháp nhân của cơ quan đại diện của Bộ TN&MT dựa theo Khoản 1. C Điều 74 BLDS 2015, nhóm đồng ý với phán quyết của TAND TPHCM. Việc xác định tòa sơ thẩm làm sai quy định của pháp luật dân sự hiện hành đã góp phần làm củng cố thêm tinh thần thượng tôn pháp luật của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Ngoài ra, nhóm cũng đã nhìn thấy bất cập trong sự việc này. Theo các thành viên, nguyên nhân đến từ việc Bộ TN&MT đã không có sự tìm hiểu luật trước khi đưa ra quyết định, dẫn đến sự hiểu lầm trong việc xác định vai trò của cơ quan đại diện đối với vụ kiện này. Đối với những bất cập như vậy, nhóm đã đề xuất hai hướng giải quyết như đã nêu ở phần trên vì nhóm cho rằng, việc đó sẽ giúp các quá trình xét xử trở nên minh bạch, các tòa án có thể đưa ra những quyết định công bằng và tạo một động cơ thúc đẩy các cơ quan hành chính chủ động hơn trong việc tìm hiểu những chế định pháp luật, đảm bảo quyền lợi của mình và đề phòng những rủi ro pháp lý có thể xảy ra sau này.

Như vậy, nhóm F đã hoàn thành những nhiệm vụ được đặt ra trong bài tập lớn. Với trình tự nghiên cứu và việc đọc hiểu các tài liệu về pháp nhân như đã nêu trên, các thành viên trong nhóm đã có những hiểu biết cơ bản về chủ thể này. Trong những năm gần đây, khi những vụ việc liên quan đến kiện tụng xảy ra ngày một thường xuyên do những bất cập của xã hội, nhóm tin rằng quá trình tìm hiểu đã trang bị cho các thành viên những kiến thức cần thiết, giúp mọi người chủ động tìm hướng giải quyết khi gặp những vấn đề về pháp luật trong cuộc sống.
 
Trạng thái
Không mở trả lời sau này.

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back