88 ❤︎ Bài viết: 72 Tìm chủ đề
9929 539
The Sea Wolf (Sói biển)

Tác giả: Jack London

Dịch Giả: Chanh97hh

Thể loại: Tiểu thuyết kinh điển​

Chàng thanh niên Humphrey bị nạn trên biển. Chàng trai được con thuyền Ma (Ghost) do thuyền trưởng Larsen vớt lên. Từ đây, chàng thanh niên bắt đầu cuộc phiêu lưu trên con thuyền Ma của tên thuyền trưởng độc ác - Sói biển Larsen.

Cuộc sống trên con tàu giống địa ngục hơn thế giới loài người, những thủy thủ lúc nào cũng say khướt giống súc vật hơn người, những thợ săn hải cẩu man rợ, nay đây mai đó, không biết trật tự của thế giới văn minh là gì. Tất cả đều nô lệ cả linh hồn lẫn thể xác cho tên Sói Biển.

Humphrey được cuộc sống trên tàu rèn luyện ngày càng trở nên cứng rắn. Chàng trai mơ tới việc giết con Quái vật trên tàu, nhưng thực ra chàng bị mê hoặc và cảm thấy chùn tay, cũng như một quái vật ghê hồn hoặc một mãnh thú oai vệ thường làm các thợ săn không dám giết. Chàng trai biết thế giới này không thể chứ chấp hạng người như y, nhưng chàng vẫn cúi đầu tuân phục y.

Ý chí chàng không đủ mạnh hay sức lực chàng không đủ? Và tên quái vật Sói Biển có còn tiếp tục gieo giắc điều ác độc?

Sói biển đưa độc giả vào một cuộc hành trình phiêu lưu kỳ thú trên nền thiên nhiên hùng vĩ như hầu hết các tác phẩm của Jack London. Ông đem tình yêu thiên nhiên phả hồn vào tác phẩm, cùng những ý tưởng độc đáo hấp dẫn người đọc khám phá qua từng trang sách, cùng phiêu lưu với trí tưởng tượng của mình.

Trở thành tác phẩm Bestseller ngay trong lần xuất bản đầu tiên, Sói biển cũng trở thành tác phẩm văn học kinh điển trong nền văn học thế giới.

* * *

Link thảo luận góp ý: Các Tác Phẩm Của Chanh97hh
 
88 ❤︎ Bài viết: 72 Tìm chủ đề
Chương 1

Tôi chẳng biết bắt đầu từ đâu nữa, dù đôi lúc vẫn bông đùa rằng mọi chuyện đều do Charley Furuseth mà ra cả. Anh ta có một căn nhà nghỉ mùa hè ở Mill Valley[1] dưới bóng ngọn núi Tamalpais[2], tuy chẳng bao giờ đến đó ở trừ khi để tha thẩn trong những tháng mùa đông và thư giãn đầu óc bằng sách của Nietzche[3] hay Schopenhauer[4] . Khi mùa hè đến, anh thích đổ mồ hôi làm việc cật lực không ngừng nghỉ trong bầu không khí nóng nực và bụi bặm của thành phố hơn. Nếu không phải do thói quen hối hả tới gặp anh vào mỗi chiều thứ bảy và ở lại cho đến sáng thứ hai thì tôi đã chẳng lênh đênh trên vịnh San Francisco vào buổi sáng thứ hai của tháng giêng đặc biệt ấy.

Tôi đã ở trên một phương tiện rất an toàn, bởi Martinez là con phà chạy bằng hơi nước còn mới tinh, đang đi chuyến thứ tư hay năm gì đó giữa Sausalito và San Francisco. Nếu có nguy hiểm, thì đó là làn sương dày phủ kín vịnh, nó khiến một người vốn quen sống trên đất liền như tôi thấy có chút bồn chồn. Thực ra, tôi nhớ mình đã có cảm giác phấn khích tuy không bộc lộ ra ngoài khi ngồi xuống hàng ghế phía trước boong trên cùng, ngay bên dưới buồng lái và để cho sự bí ẩn của màn sương điều khiển trí tưởng tượng của mình. Một làn gió mát mẻ thổi qua, trong khoảnh khắc đó, tôi thấy cô độc giữa bức màn vô minh ẩm ướt; nhưng không hẳn là cô độc vì tôi vẫn lờ mờ ý thức được sự hiện diện của người lái tàu và người mà tôi đoán là thuyền trưởng bên trong phòng kính trên đầu mình.

Tôi vẫn nhớ suy nghĩ thoải mái lúc đó, nhờ phân công lao động nên tôi không cần phải nghiên cứu sương mù, gió, thủy triều và phương hướng để tới thăm người bạn bên kia eo biển. Tôi thầm nghĩ, may mắn thay loài người đã biết chuyên môn hóa. Vốn kiến thức chuyên môn của lái tàu và thuyền trưởng đủ để phục vụ cho hàng ngàn người không biết gì về biển cả và định hướng như tôi. Mặt khác, thay vì tốn công sức học vô số thứ, tôi có thể tập trung vào một số thứ nhất định, ví dụ như nghiên cứu vị trí của Poe[5] trong nền văn học Mĩ – nhân tiện, đó cũng là tên một bài luận của tôi bấy giờ vừa được đăng trên tờ "Đại Tây Dương". Lúc lên tàu và đi ngang qua cabin, đôi mắt tham lam của tôi để ý thấy một quý ông mập mạp đang đọc báo "Đại tây Dương", mở ngay đúng bài luận đó của tôi. Lại một lần nữa, phân công lao động và kiến thức chuyên môn của lái tàu và thuyền trưởng đã cho phép quý ông mập mạp kia có thể đọc kiến thức chuyên môn của tôi về Poe trong khi họ đưa ông ta an toàn từ Sausalito tới San Francisco.

Một người đàn ông mặt đỏ au đóng sầm cửa cabin đằng sau lưng và khập khiễng bước ra boong tàu, cắt đứt dòng suy nghĩ của tôi, dù tôi đã nhẩm được chủ đề cho bài luận dự kiến sẽ viết và đặt tựa là "Sự cần thiết của tự do: Lời cầu xin cho nghệ sĩ". Người đàn ông có gương mặt đỏ au liếc nhìn lên buồng lái, đoạn dõi mắt vào màn sương ngoài khơi, bước từng bước nặng chịch trên boong tàu (hẳn ông ta phải lắp một đôi chân giả) rồi đứng im lìm bên cạnh tôi, dang rộng đôi chân với vẻ mặt đầy thích thú. Tôi đã không nhầm khi quả quyết rằng ông ta dành nhiều thời gian của đời mình trên biển.

"Cái thời tiết kinh khủng này sẽ khiến bọn họ già sớm mất thôi," ông nói, hất đầu về phía buồng lái.

"Tôi không nghĩ nghiêm trọng tới mức đó đâu," tôi trả lời. "Dễ như ăn kẹo thôi mà. Họ biết phương hướng nhờ la bàn, biết cả khoảng cách và tốc độ nữa. Cái này phải gọi là tất định toán học."

"Nghiêm trọng!" Ông ta khịt mũi. "Dễ như ăn kẹo! Tất định toán học!" Ông ta xốc người thẳng dậy, cứ như thể đang tựa người vào không khí mà nhìn tôi chằm chằm. Thế còn cơn thủy triều đang cuốn qua Cổng Vàng[6] thì sao? "Ông ta gắt, rống lên thì đúng hơn." Nước rút nhanh thế nào? Cuốn đi những gì, hả? Dựa cột mà nghe cho kỹ đi! Chúng ta đang ở trên một cái phao chuông! Nhìn họ đổi hướng đi! "Trong màn sương mù dày đặc bỗng vang lên tiếng chuông đầy ảm đạm và tôi có thể nhìn thấy người lái tàu vội vã xoay bánh lái. Tiếng chuông trước đó có vẻ như đang ở đằng trược thì giờ lại vang lên ở mạn tàu. Còi của chúng tôi thổi ù đặc, thi thoảng bị xen ngang bởi âm thanh của những tiếng còi khác vọng lại qua màn sương.

" Đó là một con phà nào đó, "người đàn ông mới đến nói, chỉ về bên phải nơi phát ra tiếng còi." Kia kìa! Anh có nghe thấy không? Thổi bằng miệng đấy. Chắc là một chiếc thuyền buồm rồi. Để ý vào, anh chàng Thuyền buồm. Ôi, tôi biết ngay mà. "Chiếc phà khuất trong sương phát ra tiếng tù và từng hồi nối tiếp nghe đến là rùng rợn.

" Họ đang chào hỏi và cố lách qua nhau đấy, "người đàn ông mặt đỏ tiếp tục, khi thấy tiếng còi gấp gáp đã ngừng lại.

Khuôn mặt ông ta sáng lên, đôi mắt hấp háy đầy phấn kích, miệng vẫn thông dịch ngôn ngữ của những tiếng còi và tù và." Còi hơi kêu một tiếng, con tàu di chuyển về phía bên trái đằng kia. Anh có nghe thấy tiếng còi nghèn nghẹt đó không – theo như tôi đoán, đò là tàu buồm hơi đang đi ngược lại dòng thủy triều. "Một tiếng còi chói tai rung lên như thể sắp nổ tung truyền tới từ phía trước, ồn ào như đã ở sát chúng tôi. Tiếng cồng vang khắp con phà Martinez. Guồng con phà của chúng tôi dừng lại, nhịp quay chậm dần rồi ngưng hẳn trước khi khởi động lại. Tiếng còi điếc tai ré lên như âm thanh của một chú dế giữa tiếng gầm của những con thú lớn, vang xuyên qua màn sương mù sáng phía bên kia rồi lặng dần, lặng dần. Tôi quay sang người bạn đồng hành của mình, chờ ông giải thích.

" Vậy mà bọn chúng vẫn dám hạ thủy cơ đấy, "ông nói." Giá mà chúng ta đánh chìm được chúng, lũ khốn nạn! Chúng là nguyên nhân của mọi rắc rối. Chúng nào có tốt đẹp gì đâu! Bất kì tên ngốc nào cũng tưởng cứ lên tàu là sẽ biết điều khiển, huýt sáo chỉ huy và hợm hĩnh bắt cả thế giới phải dè chừng vì gã không thể tự lo thân được mà vẫn cứ lái! Anh cũng phải dè chừng đấy. Thế nào là đúng hướng! Thế nào là phép tắc thông thường! Bọn chúng đều chẳng biết gì! "Thói nóng nảy vô cớ đó của ông ta khiến tôi cười thầm. Trong khi ông ta rủa xả với tâm trạng thất thường, thì tôi bị choáng ngợp bởi màn sương đầy lãng mạn. Đúng như thế thật, lớp sương mù như một tấm màn màu xám khổng lồ chứa đựng những bí ẩn vô cùng, bao trùm lên khắp nơi trên trái đất. Trong màn sương ấy, con người chỉ như những đốm lửa nhỏ, bị nguyền rủa phải mang đam mê quái đản với công việc, cưỡi những chiến xa bằng gỗ và thép băng vào giữa vùng bí ẩn, mò mẫm tìm đường ra khỏi thế giới vô định với trái tim tràn ngập hoang mang và sợ hãi.

Tiếng nói của người bạn đồng hành khiến tôi bật cười thoát khỏi dòng suy nghĩ. Tôi cũng là một trong những kẻ đang mò mẫm và bối rối, vậy mà đôi lúc cứ tưởng bản thân đã tinh tường mọi điều bí ẩn.

" Xin chào! Có người đang đi về phía tôi đấy. "Ông ta nói." Anh có nghe không? Đi rất nhanh, ngay sát bên cạnh. Dám chắc lái tàu chưa nghe thấy tôi đâu. Ngược chiều gió mà. "Cơn gió mát lành đang thổi thẳng vào chúng tôi, tôi chỉ nghe được tiếng còi mơ hồ chênh chếch về phía trước.

" Lại là phà sao? "Tôi hỏi.

Ông ta gật đầu, rồi nói thêm:" Hay hắn không thể điều khiển nổi rồi. "Ông bật cười khan." Họ thấy lo rồi đấy. "Tôi ngước nhìn lên. Viên thuyền trưởng nhỏng cả đầu và vai ra khỏi buồng lái, nhìn chăm chú vào màn sương như có thể đâm xuyên qua nó bằng sức mạnh ý chí của mình vậy. Khuôn mặt ông đầy vẻ lo lắng, không khác mấy so với người bạn đồng hành của tôi – người đang bước khập khiễng lại gần lan can, nhìn xoáy vào nỗi nguy hiểm vô hình phía trước.

Sau đó tất cả mọi thứ xảy ra nhanh đến mức không thể tưởng tượng nổi. Làn sương mù bị xé toạc bởi mũi tàu hơi nước, từng lớp sương khói cuồn cuộn bên thân tàu như rong biển bám trên mõm thủy quái Leviathan[7] . Tôi vẫn nhìn thấy được buồng lái và bộ râu trắng phớ của vị thuyền trưởng đang tì tay lên nó. Ông mặc một bộ đồng phục xanh dương, trông chỉnh chu và câm lặng làm sao. Trong trường hợp này, sự câm lặng ấy thật đáng sợ. Ông ta đã chấp nhận, thậm chí mở rộng tay đón chờ số phận thảm khốc, và chỉ bình tĩnh đánh giá cú va chạm. Lúc tì tay lên mặt kính, đôi mắt phán đoán bình thản của ông ta liếc qua chúng tôi để tìm kiểm địa điểm chính xác của vụ đắm tàu, hoàn toàn không để ý bất cứ điều gì khi người lái tàu của chúng tôi hét lên với gương mặt trắng bệch vì tức giận," Giờ các người tiêu đời! "

" Bám chặt vào thứ gì đó mau! "Người đàn ông mặt đỏ nói với tôi. Ông ta không còn lải nhải nữa, dường như đã bị lây sự bình tĩnh bất thường của thuyền trước." Nghe tiếng phụ nữ hét đi, "ông ta nặng nề nói, nghe cay đắng nữa là khác, khiến tôi thầm nghĩ không chừng ông ta đã trải qua chuyện tương tự rồi.

Hai con tàu va vào nhau trước khi tôi có thể làm theo lời khuyên của ông ta. Tàu chúng tôi hẳn đã bị đâm ngay chính giữa, vì ở vị trí này tôi không nhìn thấy gì nữa, hẳn là con tàu hơi nước kì lạ đã thoát khỏi tầm nhìn của tôi. Con phà Martinez đột ngột hạ xuống, ván gỗ bị vỡ tung dập nát. Tôi bị hất xuống boong tàu ướt đẫm, trước khi có thể chống chân đứng dậy tôi đã bị chìm trong tiếng phụ nữ la hét. Tôi tin chắc rằng thứ âm thanh hãi hùng khó bút mực nào diễn tả đó đã khiến tôi hoảng loạn.

Tôi nhớ phao cứu sinh được cất trong cabin, nhưng bị kẹt ở cửa và cuốn ngược lại bởi cơn sóng những con người kinh hoảng. Những gì xảy ra trong vài phút tiếp theo, tôi chẳng còn nhớ nổi. Nhưng tôi nhớ rõ mình đã kéo những cái phao cứu sinh từ giá phía trên đầu xuống để người đàn ông mặt đỏ buộc nó quanh thân thể một nhóm phụ nữ đang khiếp hãi. Kí ức ấy rõ rệt và sắc nét chẳng khác nào ảnh chụp. Kí ức ấy là một bức ảnh, lúc này tôi vẫn có thể thấy rất rõ – mép lỗ lởm chởm bên sườn cabin hút màn sướng xám xoáy tròn qua; những ghế đệm bông trống không phủ đầy đủ rác rưởi bị hất lên từ cú va chạm với những cơ man hành lí, túi da xách tay, ô dù, rồi khăn quàng; quý ông mập mạp từng đọc bài luận của tôi quấn mình trong bấc gỗ và vải bố, tay vẫn cầm cuốn tạp chí, miệng gặng hỏi tôi bằng giọng thẳng băng rằng liệu có nguy hiểm nào không; người đàn ông mặt đỏ tập tễnh bước vòng trên đôi chân giả, buộc phao cứu sinh lên tất cả những ai tới gần; và đương nhiên, tiếng phụ nữ la hét điên cuồng.

Tiếng phụ nữ la hét là âm thanh thử thách tinh thần tôi nhất. Hẳn âm thanh ấy cũng thử thách tinh thần của người đàn ông mặt đỏ, thế nên trong đầu tôi còn một hình ảnh không bao giờ phai mờ khác. Quý ông mập mạp nhét cuốn tạp chí vào túi áo khoác ngoài và tò mò nhìn xung quanh. Nhóm phụ nữ quấn vào nhau với những khuôn mặt trắng bệch méo xệch, những cái miệng há hốc hét lên từng hồi điệp khúc của những hồn ma lạc lối. Gương mặt vốn đỏ au của người đàn ông kia giờ đã tím đi vì giận giữ. Ông giơ hai tay lên quá đầu như đang thu lấy sấm sét và hét lên," Im đi! Ôi, im ngay! "Tôi nhớ đã cảm thấy khung cảnh đó hài hước tới nỗi bật cười to, tuy nhiên ngay giây tiếp theo, tôi nhận ra mình cũng đang trở nên kích động; vì những người đó là phụ nữ là đồng loại của tôi, họ giống như mẹ, như chị em tôi nhưng lại chìm trong nỗi sợ hãi cái chết cận kề mà lòng không muốn chết. Tôi cũng nhớ mình đã liên tưởng âm thanh họ tạo ra với tiếng lợn kêu ré dưới lưỡi dao của người bán thịt. Phép so sánh ấy rõ ràng tới mức khiến tôi rùng mình sợ hãi. Những người phụ nữ luôn sẵn trong mình những cảm xúc cao quý nhất, lòng trắc ẩn dịu dàng nhất đang há hốc miệng gào thét. Họ muốn sống, nhưng họ thấy bất lực như chuột nằm trong bẫy, họ chỉ biết la hét.

Nỗi sợ hãi đẩy tôi lên boong tàu. Tôi ngồi xuống một băng ghế, cảm thấy phát bệnh và buồn nôn. Tôi mơ hồ thấy và nghe tiếng cánh đàn ông xô chạy và la hét cố gắng hạ thấp những con thuyền cứu sinh. Dường như tôi đã đọc thấy những cảnh này được mô tả trong sách. Tời bị kẹt. Không có thứ gì hoạt động. Một con thuyền đã mở nút lỗ thoát nước, chứa đầy phụ nữ, trẻ em, và cả nước được hạ xuống và lật nhào. Một thuyền khác chỉ được hạ xuống một đầu, đầu còn lại treo tòng teng trên tời và bị bỏ đó luôn. Con tàu hơi nước quái đản là nguyên do của thảm họa này thì không thấy bóng dáng đâu, nhưng tôi có nghe cánh đàn ông nói rằng chắc chắn nó sẽ gửi thuyền cứu sinh sang hỗ trợ.

Tôi đi xuống boong dưới. Phà Martinez đang chìm rất nhanh, nước sắp lên tới đây rồi. Rất nhiều hành khách liều nhảy xuống biển. Những người khác, vốn đã ở trong nước, lại kêu la muốn lên tàu. Không ai để ý tới họ. Một tiếng thét thảm thiết vang lên rằng chúng tôi đang chìm. Tôi bị nhấn chìm trong nỗi hoảng loạn nối tiếp, sóng người xô đẩy tôi tới mạn tàu. Tôi không hiểu tại sao mình lại bị dạt ra ngoài sườn tàu, nhưng tôi đột ngột hiểu ra tại sao những người đang ở dưới nước lại muốn lên bờ đến thế.

Nước rất lạnh, lạnh như dao cắt. Da tôi rát chẳng khác nào bị lửa thiêu. Hơi lạnh thấm vào tận tủy. Tôi cảm thấy tử thần vừa nắm lấy mình. Tôi há hốc miệng vì cơn đau đột ngột chui vào trong phổi trước khi phao cứu sinh đẩy tôi lên mặt nước. Vị muối mặn chát trong miệng, trực chờ tràn vào cổ họng và phổi.

Nhưng cái lạnh mới là thứ đáng sợ nhất. Tôi cảm thấy mình chỉ chịu được vài phút nữa mà thôi. Người tôi đang vật lộn vẫy vùng trong làn nước xung quanh tôi. Tôi có thể nghe thấy tiếng họ hét gọi nhau. Tôi cũng nghe thấy tiếng mái chèo nữa.

Rõ ràng con tàu hơi nước kì quặc kia đã hạ thuyền cứu hộ xuống. Từng giây trôi qua, tôi kinh ngạc rằng mình vẫn sống. Hai chân tôi chẳng còn cảm giác gì và cái lạnh tê tái đang dần siết lấy trái tim tôi để tràn vào nó. Những cơn sóng nhỏ đỉnh ngầu bọt liên tục đập vào người, chui vào miệng, cuốn tôi mỗi lúc một gần vào đỉnh điểm của bi kịch.

Âm thanh mờ xa dần, dù tôi vẫn nghe những tiếng la hét tuyệt vọng dồn dập ở phía xa báo hiệu rằng phà Martinez đã chìm. Không biết bao lâu sau, tôi mới hồi thần lại và bắt đầu sợ hãi. Tôi đang ở một mình, không còn nghe thấy tiếng gọi hay gào khóc nào nữa, chỉ còn tiếng sóng biển vang lên trong màn sương trống rỗng không hồi kết. Cơn hoảng loạn khi ở trong đám đông có cùng chung lợi ích và mối bận tâm được chia sẻ, nên không tệ hại bằng cơn hoảng loạn khi chỉ có một mình, và tôi đang chịu một cơn hoảng loạn như thế. Tôi đang trôi về đâu? Người đàn ông mặt đỏ đã nói thủy triều cuốn qua eo biển Cổng Vàng. Liệu tôi có bị cuốn ra biển không? Phao cứu sinh này sẽ chịu được sức nặng của tôi chứ? Liệu nó có vỡ ra thành từng mảnh bất cứ lúc nào hay không? Tôi được kể rằng những thứ này làm từ giấy ép rỗng, thứ sẽ hút nước rất nhanh rồi không thể nổi được nữa. Tôi không biết kiểu bơi nào, lại chỉ có một mình trôi nổi giữa cõi mênh mông xám nguyên thủy này. Tôi phải thú nhận, sự điên cuồng đã chiếm lấy tôi, khiến tôi rít lên the thé như đám phụ nữ, đập nước điên cuồng bằng bàn tay đã tê dại của mình.

Tôi không biết bao nhiêu thời gian đã trôi qua. Tôi đã bất tỉnh, không còn nhớ gì hơn ngoài cơn mộng mị khó nhọc và đau đớn.

Tôi cảm giác mình chỉ tỉnh lại sau hàng thế kỉ, để thấy ngay trước mặt mình, mờ trong sương, là mũi một con tàu với ba cánh buồm tam giác, từng cánh ôm lấy nhau căng phồng gió. Mũi tàu rẽ nước làm đôi, tạo nên từng mảng bọt reo liu riu. Mũi tàu hình như đang nhằm thẳng vào tôi. Tôi cố thét lên, nhưng đã kiệt sức. Mũi tàu lao tới, nhưng trượt qua và hất văng sóng nước lên đầu tôi. Sau đó thì sườn tàu dài và đen thẫm lướt tới, gần tới nỗi tôi giơ tay là chạm được. Tôi cố níu lấy nó, với quyết tâm điên rồ nhất định phải bấu chặt móng tay vào gỗ; nhưng cánh tay tôi nặng trịch và vô dụng. Tôi cố gọi lần nữa, nhưng vẫn không phát ra được âm thanh nào cả.

Đuôi tàu tiến tới, đập xuống nước, khi ấy, giữa khoảng trống giữa các cơn sóng, tôi thoáng thấy một người đàn ông đang cầm bánh lái và một người nữa đang vừa làm gì đó vừa hút thuốc lá. Tôi thấy khói thuốc bay ra khỏi môi ông ta khi ông quay đầu liếc nhìn sóng nước đang ôm lấy tôi. Cử chỉ đó hoàn toàn vô tình, không hề có dự định trước, một cử chỉ tình cờ mà những người đàn ông vẫn thường làm khi họ không có dự định đặc biệt nào trong đầu, nhưng vẫn làm vì họ vẫn đang sống và phải hoạt động.

Cử chỉ vô tình đó lại định đoạt sự sống và cái chết. Tôi có thể nhìn thấy con tàu đang bị màn sương nuốt lấy; tôi thấy lưng của người đàn ông cầm bánh lái, đầu của người kia quay lại, chầm chậm, ánh mắt ông ta dính vào làn nước và đưa về phía tôi. Vẻ mặt ông trống trỗng, như đang chìm trong suy nghĩ, khiến tôi sợ rằng ông ta tuy đã nhìn vào tôi nhưng lại không thấy tôi.

Nhưng ông ta đã nhìn vào tôi, nhìn thẳng vào tôi và nhìn thấy tôi; thế nên ông ta nhảy tới bánh lái, đẩy người kia ra và quay tròn nó từ bên này sang bên kia, rồi hét lên ra lệnh điều gì đó. Con tàu trông như đang chệch hướng theo đường tiếp tuyến so với con đường đã định và ngay lập tức biến khỏi tầm nhìn vào trong sương.

Tôi cảm thấy bản thân đang lịm đi, dù cố dùng tất cả sức mạnh ý chí để chiến đấu với bóng tối và cơn mê nghẹt thở đang tràn vào trong mình. Một lúc sau, tôi nghe thấy tiếng mái chèo và tiếng gọi của một người đàn ông tiến lại gần. Khi ông ta tới gần hơn, tôi nghe thấy ông hét bằng giọng bực bội như thế này:

" Thế nào – sao anh không hét lên hả?"Nói tôi đây mà, tôi nghĩ, trước khi để bóng tối và mê muội đánh bại mình.

[1] Thành phố thuốc hạt Marin, California, Mĩ

[2] Một đỉnh núi ở hạt Marin

[3] Friedrich Wilhelm Nietzsche – một nhà triết học người Phổ

[4] Arthur Schopenhauer – một nhà triết học người Đức

[5] Edgar Allan Poe – nhà văn, nhà viết kịch, nhà phê bình, nhà thơ Mĩ

[6] Hay Golden Gate , một eo biển Bắc Mĩ nối vịnh San Francisco và Thái Bình Dương

[7] Leviathan là một loài sinh vật biển thần thoại xuất hiện trong Kinh Thánh.
 
Last edited by a moderator:
88 ❤︎ Bài viết: 72 Tìm chủ đề
Chương 2

Hình như tôi đang đu đưa theo một điệu nhạc quyền năng băng qua khoảng không rộng lớn. Những đốm sáng tóe ra và bắn qua người tôi. Tôi nhận ra chúng là những tinh tú và sao chổi cháy rực kết bạn đồng hành cùng chuyến bay giữa những mặt trời của mình. Đôi cánh của tôi đã không còn chịu nổi, chuẩn bị chao lượn xuống, một tiếng cồng vang lên như sấm dậy vang dội xuyên suốt không gian vô định. Trong một khoảng thời gian không rõ bao lâu, trong tĩnh lặng của những nếp nhăn giữa các thế kỉ an nhiên, tôi tận hưởng và chiêm nghiệm chuyến bay vĩ đại của mình.

Nhưng có một điều khác lạ xảy ra giữa giấc mơ, hay ít nhất là tôi cho rằng đây là giấc mơ. Nhịp đu đưa của tôi gấp hơn. Tôi bị quăng điên cuồng từ bên này sang bên kia. Tôi sợ tới ná thở khi bị cuốn xuyên qua thiên đàng. Tiếng cồng như sấm rền vang đều đặn và cuồng nộ hơn. Tôi chờ đợi nó trong nỗi sợ không tên. Sau đó, tôi cảm thấy như bị kéo đi trên nền cát thô ráp, trắng lóa và nóng cháy dưới ánh mặt trời. Cảm giác này đi cùng nỗi đau khó lòng diễn tả. Da tôi bỏng rát trước hơi nóng dữ dội.

Tiếng cồng rền vang. Những đốm sáng lấp lánh chiếu qua tôi thành một dòng sông ánh sáng, như thể cả thiên hà đang rơi xuống vào một hố sâu không đấy. Tôi há hốc miệng, khó khăn hít thở và mở mắt. Hai người đàn ông đang quỳ gối cạnh tôi, làm việc riêng của mình. Nhịp đu đưa kì diệu mà tôi cảm thấy là do nhịp chuyển động của con tàu trên mặt biển. Tiếng cồng khủng khiếp là tiếng chảo rán treo trên tường, va đập và rung lên theo nhịp lắc của tàu. Nền cát thô ráp nóng rát là bàn tay cứng rắn của người đàn ông đang xoa bóp lồng ngực trần của tôi. Tôi co người lại vì cơn đau nó mang lại, hơi ngóc đầu lên. Ngực tôi đỏ rực, tôi có thể thấy những đốm máu li ti đang nổi lên trên lớp da bị xước và xưng.

"Được rồi đấy, Yonson," một người nói, "Mày không thấy là mày sắp mài rách da quý ông này rồi hả?" Người được gọi là Yonson có dáng vẻ của kiểu người Bắc Âu[1] cục mịch ngừng tay xoa bóp và lúng túng đứng thẳng dậy. Người đàn ông nói chuyện với anh ta hẳn là một người Cockney[2], vì gương mặt với những đường nét rõ ràng và khá xinh đẹp, tới nỗi có phần mềm yếu, đó là gương mặt của một người đã hấp thụ tiếng chuông nhà thờ St. Mary–le–Bow[3] cùng dòng sữa mẹ. Anh ta mang một cái mũ nồi trên đầu và một cái túi vải đay bẩn thỉu lủng lẳng nơi hông, chứng tỏ bản thân là đầu bếp của căn bếp nhếch nhác mà tôi thấy mình ở trong. "Ông cảm thấy sao rồi, thưa ông?" Anh ta hỏi, nụ cười giả lả chỉ có thể được kế thừa từ nhiều thế hệ tổ tiên chuyên đòi tiền boa.

Để đáp lại, tôi vặn vẹo yếu ớt cố ngồi dậy, và được Yonson đang đứng ngay cạnh chân giúp. Tiếng chảo va đập lạo xạo ong lên trong đầu tôi. Tôi chẳng thể suy nghĩ gì nổi. Tôi bám lấy giá gỗ trong bếp để đứng dậy – tôi phải thú nhận lớp mỡ nhờn trên đó khiến tôi phát tởm – đoạn vươn tay qua bếp lò nóng tới chỗ giá treo ồn ào kia, tháo nó ra và vặn chặt lại vào hộp than.

Đầu bếp cười toe trước cách tôi thể hiện nỗi bực dọc của tôi, anh ta nhét vào tay tôi một cái cốc còn bốc hơi với câu nói "Đây, sẽ khiến ông ổn ngay."

Thứ nước hỗn tạp kinh muốn chết – tôi đang nói về cốc cà phê trên tàu này – nhưng hơi nóng của nó khiến tôi như sống lại. Mỗi lần nuốt thứ chất lỏng nóng chảy ấy, tôi lại liếc nhìn lồng ngực đỏ rực và bầm máu của mình, rồi quay sang anh chàng Bắc Âu.

"Cám ơn, thưa anh Yonson," tôi nói "nhưng anh có nghĩ anh hành động hơi mạnh mẽ quá không?" Anh ta hiểu ý khiển trách trong hành động hơn là lời tôi nói, nên anh ta đưa tay ra cho tôi kiểm tra. Chúng đầy những vết chai. Tôi đưa tay qua lớp sa sần sùi ấy, lại thấy kinh tởm vì cảm giác thô ráp nó mang lại.

"Tên tôi là Johnson, không phải Yonson," anh ta nói tiếng Anh khá rõ ràng dù rất chậm, không hề pha chút giọng địa phương nào.

Sự phản đối trong đôi mắt xanh nhạt cùng vẻ chân chất pha chút ngượng ngùng và rất đàn ông của anh ta khiến tôi cảm mến.

"Cám ơn, thưa anh Johnson," tôi sửa lại, vươn tay ra.

Anh ta ngập ngừng, ngại ngùng và bẽn lẽn, hai chân đổi trọng tâm liên tục rồi mới ngờ nghệch nắm lấy bàn tay tôi và lắc nhiệt tình.

"Liệu anh có bộ quần áo khô nào mà tôi mặc được không?" Tôi hỏi đầu bếp.

"Có, thưa ông," anh ta mau mắn đáp. "Tôi sẽ chạy xuống kiểm tra lại thùng của mình, nếu ông không từ chối mặc đồ của tôi, thưa ông."

Anh ta biến khỏi cửa bếp, trượt qua thì đúng hơn, vì bước chân nhanh nhẹn và lanh lẹ như bôi mỡ đó tạo cho tôi ấn tượng về sự trơn tru nhiều hơn là êm ái. Thực ra, sự trơn tru đó, hay nhầy nhụa đó, như sau này tôi mới hiểu, là biểu hiện nổi bật nhất trong tính cách anh ta.

"Tôi đang ở đâu vậy?" Tôi hỏi Johnson, người tôi đoán là – và đã đoán đúng – là một thủy thủ. "Đây là tàu gì? Nó đang đi đâu?"

"Rời Farralones[4], hướng về phía Tây Nam," anh ta chậm rãi đáp, như thể đang cố moi ra vốn tiếng Anh tốt nhất của mình, và trả lời tuần tự đúng theo thứ tự câu hỏi của tôi. "Tàu buồm Bóng Ma, đi đánh bắt hải cẩu tới Nhật."

"Thuyền trưởng là ai vậy? Tôi phải gặp ông ta ngay khi đã ăn mặc đàng hoàng." Johnson tỏ vẻ bối rối và xấu hổ. Anh ta băn khoăn lựa chọn những từ mình biết để tạo thành câu hoàn chỉnh. "Thuyền trưởng là Larsen Sói, đó là cách mọi người gọi ông. Tôi chưa từng nghe ông ta có tên nào khác. Nhưng anh phải nói chuyện cẩn thận trước ông ta. Sáng nay ông ta rất tức giận. Thuyền phó.." Anh ta không thể nói hết. Đầu bếp đã trượt trở vào.

"Mày biến đi là hơn, Yonson," anh ta nói. "Lão Già đang đợi mày trên boong, hôm nay thì đừng có mà làm ông ta phật ý." Johnson ngoan ngoãn đi ra cửa, cùng lúc đó quay lại ném cho tôi một cái nháy mắt kì lạ và nghiêm túc đáng kinh ngạc qua bả vai đầu bếp, như để nhấn mạnh câu nói bị cắt ngang và việc tôi nhất định phải ăn nói cẩn thận trước mặt thuyền trưởng.

"Sẽ khiến ông không bị ướt," anh ta vui lòng giải thích. "Ông đành phải mặc chúng thôi, tôi đang hơ đồ của ông trên lửa." Tôi níu lấy giá gỗ trong nhịp lắc lư của con tàu để mặc cái áo lót len thô ráp dưới sự giúp đỡ của anh đầu bếp. Ngay lập tức, tôi nổi ra gà vì cảm giác xù xì ấy. Anh ta nhận ra cách tôi vặn vẹo lẫn nhăn mặt không hài lòng, nên nhếch mép:

"Tôi thật lòng hi vọng ông không phải làm quen với cuộc sống này, vì ông có làn da mềm mại làm sao, còn mềm hơn bất kì cô nàng nào tôi từng biết, tôi chắc chắn ông là một quý ông ngay khi vừa nhìn thấy ông." Từ đầu tôi đã không thích anh ta, lúc anh ta giúp tôi mặc đồ, cảm xúc đó rõ rệt hơn. Cách đụng chạm của anh ta cứ kinh tởm thế nào đó. Tôi co người né bàn tay anh ta; cơ thể tôi cảm thấy ghê tởm. Điều đó cộng thêm những thứ mùi bốc lên từ đủ loại nồi đang sôi sùng sùng trên lửa bếp khiến tôi vội vã ra ngoài tìm nguồn khí trong lành. Hơn nữa, tôi cần gặp ông thuyền trưởng để còn tìm cách sắp xếp lịch trình đưa tôi lên bờ.

Áo vải cotton rẻ tiền với cổ áo sờn rách có vết bẩn đã phai màu trên ngực mà tôi đồ là vết máu lâu ngày chỉ trực khiến tôi tuôn ra một chuỗi phê bình. Dưới chân tôi là đôi giày buộc dây của nữ, còn quần thì được đưa cho một chiếc màu xanh dương nhạt, đã bạc hết màu, một ống ngắn hơn ống kia tới hơn hai mươi phân. Ống quần ngắn hơn trông như thể kết quả của lần quỷ dữ vồ hụt linh hồn của anh chàng Cockney vì nhầm cái bóng với thực thể.

"Tôi phải cảm ơn ai vì lòng tử tế này?" Tôi hỏi, khi đã đứng hẳn dậy, với cái mũ thủy thủ nhỏ xíu trên đầu và áo khoác vải cotton kẻ xọc bẩn thỉu ngắn tới lưng, ống tay chỉ thì vừa quá khủy tay một chút.

Anh đầu bếp tiến lại gần với vẻ nhún nhường kiểu cách và nụ cười nịnh nọt trên mặt. Dựa vào kinh nghiệm với các tiếp viên của hãng Atlantic vào cuối mỗi chuyến đi, tôi dám thề anh chàng đang chờ nhận tiền boa. Từ vốn hiểu biết của tôi về loại người này, tôi nhận ra đó là cử chỉ vô thức. Bản tính phục tùng được di truyền chắc chắn là nguyên nhân của nó.

"Mugridge, thưa ông," anh ta vẫy đuôi mừng rỡ, các đường nét trên gương mặt nhu nhược tách ra thành nụ cười nhớp nháp. "Thomas Mugridge, thưa ông, hân hạnh được phục vụ."

"Được rồi, Thomas," tôi nói. "Tôi sẽ không quên anh – khi đồ của tôi đã khô." Mặt anh ta sáng bừng lên, hai mắt thì lấp lánh, như thể từ nơi nào đó sâu thẳm trong tâm hồn, tổ tiên anh ta đã sống dậy và vui sướng vì những kí ức được nhận tiền boa từ kiếp trước. "Đa tạ, thưa ông," anh ta trang trọng và khiêm nhường đáp lại. "

Y như cái cách cánh cửa trượt ra, anh ta né xang một bên, để tôi bước ra boong. Tôi vẫn còn yếu vì phải ngâm mình quá lâu trong nước. Một cơn gió thoảng qua là đủ khiến tôi lảo đảo từ boong tàu chòng chành tới góc cabin, nơi tôi bám lấy làm điểm tựa. Chiếc tàu buồm nghiêng hẳn về một bên theo trục thẳng đứng, đang nhô lên hạ xuống cưỡi lên những con sóng bạc đầu của Thái Bình Dương. Nếu tàu đang đi về hướng tây nam như Johnson đã nói, thì theo như tôi tính toán, gió đang thổi từ hướng nam.

Tôi quay nhìn sang hướng đông, tôi biết California nằm ở đó, nhưng chẳng thể thấy gì vì lớp sương thấp đang phủ phía xa. Hẳn chính làn sương đó là thứ đã gây ra thảm họa cho phà Martinez và khiến tôi rơi vào tình cảnh này. Không xa đây mấy về phía bắc là những tảng đá trần mình nhô lên khỏi mặt biển, từ một trong số chúng, tôi có thể hấy hình dáng của một ngọn hải đăng. Phía tây nam, gần như thẳng với hướng đi của tàu, tôi thấy những bóng mờ hình tam giác của những cánh buồm.

Sau khi đã quan sát toàn bộ chân trời, tôi nhìn quanh đánh giá nơi mình đang đứng. Suy nghĩ đầu tiên của tôi là cho rằng một người đàn ông đã trải nạn đắm tàu và đối mặt với tử thần sẽ được dành nhiều sự chú ý hơn tôi hiện tại. Ngoài anh thủy thủ đứng ở bánh lái đang tò mò nhìn tôi từ phía trên cabin, tôi không khiến ai chú ý cả.

Dường như mọi người đều đang chú ý vào chuyện đang diễn ra ở giữa tàu. Ở đó, trên hầm chứa, có một người đàn ông to lớn đang nằm ngửa. Ông ta ăn mặc bình thường, dù áo đã bị xé mở trước ngực. Trên ngực không có gì đáng nhìn, vì nó bị bao phủ bới lớp lông đen rậm, trông như lông chó vậy. Mặt và cổ ông ta bị giấu kín bởi lớp râu đen lấm tấm xám, hẳn sẽ trông vừa cứng vừa rậm nếu không bị ướt nhẹp và nhỏ nước tong tỏng. Ông ta nhắm mắt, có vẻ đã bất tính nhân sự, nhưng miệng lại mở to, ngực nặng nề nhấp nhô như thể đang cực nhọc lao động đòi lấy không khi vì ngạt thở. Một thủy thủ cứ thi thoảng lại thả một gàu vải bố buộc ở đầu cuối dây thừng xuống biển, đều đặn nhịp nhàng như thể đó là việc thường ngày, rồi kéo nó tay nọ nối tiếp tay kia để đổ cả gàu nước lên người đàn ông đang nằm.

Đi tới đi lui trước cửa hầm chứa, cục cằn ngai đầu mẩu thuốc lá là một người đàn ông đã vô tình nhìn ra biển và cứu sống tôi.

Ông ta cao chừng một mét bảy mươi tám hoặc bảy chín gì đó, nhưng ấn tượng đầu tiên của tôi về ông ta không phải ở chiều cao mà là sức mạnh. Tuy nhiên, tôi không hề nghĩ rằng ông ta là kiểu người cục súc dù ông sở hữu bờ vai rộng, bộ ngực sâu. Kiểu sức mạnh của ông ta có phần gân guốc và săn chắc, giống như cách chúng ta thường miêu tả những người chắc nịch và gầy hơn, nhưng vì vẻ ngoài vạm vỡ nên trông những đường nét bị phóng đại như loài khỉ đột. Có điều ông ta không hề giống khỉ đột chút nào. Tôi chỉ cố tìm kiếm cách diễn tả kiểu sức mạnh đó chứ không phải ngoại hình ông ta. Đó là thứ sức mạnh mà chúng tôi thường liên hệ với những gì nguyên sơ, như những loài thú hoang hay những sinh vật ẩn khuất sau rặng cây trong tưởng tượng của chúng ta – thứ sức mạnh hung tợn, tàn nhẫn và hừng hực sức sống, tinh chất của sự sống trong thứ sức mạnh đó là năng lượng cho mọi hành động, là nguyên tố cơ bản được rút ra từ muôn vạn dạng sống.

Tôi quá ấn tượng trước sức mạnh của người đàn ông đang bước chậm rãi này. Ông ta bước như trên đất bằng; bàn chân đặt xuống sàn tàu vững chãi và chắc chắn: Từng cử động của cơ bắp từ cái nhấc vai tới mím môi ngậm thuốc lá đều quả quyết và đến từ một thứ sức mạnh vĩ đại tới choáng ngợp. Thực ra, dù thứ sức mạnh này ngấm vào mọi hành động, nhưng nó chỉ là bề nổi của thứ sức mạnh lớn lao hơn ẩn nấp bên trong cuộn mình ngủ yên lặng lẽ, nhưng có thể trỗi dậy bất cứ lúc nào đầy sục rôi và choáng ngợp như sự cuồng nộ của sư tử và sự hung dữ của bão tố.

Anh đầu bếp ló đầu ra khỏi cửa bếp và toét miệng cười kích lệ tôi, đồng thời trỏ tay chĩa ngón cái về phía người đàn ông đang đi đi lại lại trước cửa hầm chứa. Nhờ thế, tôi hiểu ra người đàn ông đó chính là thuyền trưởng, hay" Ông Già"theo như cách nói của anh đầu bếp, người mà tôi phải gặp mặt và làm phiền để tìm cách lên bờ. Tôi đã bắt đầu để đi về phía trước sau quãng thời gian chừng mười lăm phút đồng hồ giống tố, thì người đàn ông đang nằm ngửa đột nhiên bị khó thở. Ông ta quằn quại cả người, Cái cằm ướt râu đen chĩa thẳng lên trời, cơ lưng cứng đơ lại, ngực nở phồng ra dưới nỗ lực mang tính bản năng và vô thức muốn giành lấy chút không khí.

Thuyền trường, hay như người ta gọi, Larsen Sói, dừng bước lại liếc nhìn người sắp chết. Cơn giãy dụa trước bờ vực tử vong rất dữ dội, khiến anh thủy thủ ngừng đổ nước lên người ông ta mà tò mò nhìn, cái gàu vải bố bị nghiêng đi, đổ nước xuống sàn. Người sắp chết dùng gót chân xăm một vết lên cửa hầm chứa, duỗi thẳng chân ra, người cứng còng với tất cả sức lực, đầu đảo từ bên nọ sang bên kia. Khi các cơ giãn ra, đầu anh ta không đảo nữa, chỉ có một tiếng thở dài như được giải thoát bật ra từ miệng. Khớp hàm hạ xuống, môi trên nâng lên, hàm răng xỉn màu khói thuốc lộ ra. Cơ thể anh ta trông như đông cứng ném một nụ cười ác độc vào thế giới anh ta đã lừa gạt và bỏ lại.

Sau đó, chuyện kì lạ nhất đã xảy ra. Thuyền trưởng đột nhiên vỡ òa bên xác người đàn ông đã chết, như sấm nổ giữa trời quang. Những lời nguyền rủa tuôn ra khỏi miệng ông ta như nước chảy. Đó không phải là những lời nguyền ngớ ngấn hay ca thán khiếm nhã. Từng từ ông nói đều cục súc, và ông nói cả tràng. Giọng ông chát chúa như tiếng tia điện tóe ra vậy. Tôi chưa bao giờ nghe bất cứ điều gì tương tự trong đời, tôi còn không thể tưởng tượng nổi chúng tồn tại nữa. Trước cơ hội học hỏi lối diễn đạt văn chương lạ và niềm hứng thú trước những cụm từ và cách so sánh nặng nề kia, tôi trân trọng khi không có thính giả nào khác ở đây cảm nhận được sự sống động, sức mạnh, lẫn sự sỉ nhục tận cùng trong những phép ẩn dụ của thuyền trưởng dùng. Nguyên do của tất cả mọi chuyện, theo như tôi nghe được, chính là thuyền phó. Người này đã ăn chơi trác táng trước khi rời San Francisco để rồi chọn cách chết ngớ ngẩn ngay khi chuyến đi biển vừa bắt đầu, khiến Larsen Sói chịu cảnh thiếu người.

Khỏi cần phải nói miệng rằng tôi đã bị sốc, ít nhất là với các bạn của tôi.

Bất kì câu nguyền rủa hay thô tục nào đều khiến tôi tránh xa như dịch hạch.

Tôi thấy uể oải, trái tim nặng chịch, hay có thể nói rằng, tôi đang hổ thẹn. Với tôi, cái chết luôn đi liền với sự nghiêm trang và đứng đắn. Cái chết xuất hiện cùng sự bình yên, thiêng liêng thực hiện nghi thức của mình. Nhưng cái chết cũng chứa khía cạnh tàn nhẫn và khủng khiếp mà tới tận bây giờ tôi cẫn chưa thể quen.

Như tôi đã nói, tuy tôi coi trọng sức mạnh trong lời đáng sợ tuôn ra từ miệng Larsen Sói, đồng thời tôi vẫn thấy kinh hoảng. Nhưng người đàn ông đã chết vẫn cứ nhe răng cười chế giễu, chẳng hề bận tâm, đầy nhạo báng và khiêu khích. Ông ta mới là nhân vật chính của tình cảnh này.

[1] Vùng Bắc Âu gồm ba quốc gia là Đan Mạch, Thụy Điển và Nauy.

[2] Cockney: Ám chỉ dân lao động nghèo người Đông Luân Đôn, thường có giọng nói đặc trưng

[3] Chuông Bow Bell thuộc nhà thờ St. Mary–le–Bow, nổi tiếng là biểu tượng của vùng Đông Luân Đôn

[4] Quần đảo Farralones hay Farallon, gần San Francisco
 
Last edited by a moderator:
88 ❤︎ Bài viết: 72 Tìm chủ đề
Chương 3

Larsen Sói thôi chửi rủa, đột ngột như khi bắt đầu. Ông châm lại điếu thuốc và liếc nhìn quanh. Đôi mắt ông chợt chiếu vào người đầu bếp.

"Này, Bếp?" Ông lên tiếng, với vẻ trầm tĩnh và lạnh lẽo của sắt thép.

"Dạ, thưa ông," anh đầu bếp vội vã đáp lời, rất phục tùng và hối lỗi.

"Mày không nghĩ mày thò cổ ra thế là đủ rồi sao? Không tốt đâu, biết chứ. Thuyền phó chết rồi, giờ tao không thể mất cả mày nữa. Mày phải tự chăm sóc sức khỏe của mình, Bếp ạ. Hiểu không hả?" Câu cuối cùng bật ra khác hẳn những câu khuyên răn trước đó, mạnh mẽ như tiếng roi quật vậy. Anh đầu bếp chùng chân trước nó.

"Vâng, thưa ông," anh ta ngoan ngoãn đáp, cái đầu tò mò đã biến trở lại vào trong bếp.

Chuyện này cũng khiến tất cả những người còn lại ngừng chú ý và quay trở lại làm việc riêng của mình. Tuy nhiên, có một nhóm đàn ông đứng loanh quanh chỗ cầu thang cabin, giữa bếp và hầm chứa, trông thân thiết nhưng không giống thủy thủ, đang liên tục thấp giọng nói chuyện với nhau. Sau này, tôi mới biết đó là những người thợ săn, những người có nhiệm vụ bắn hải cẩu, thứ được coi là loài thú tuyệt vời với giới thủy thủ.

"Johansen!" Larsen Sói gọi. Một thủy thủ ngoan ngoãn bước tới trước. "Tay với kim của mày đâu, khâu thằng ăn mày kia lại. Mày có thể lấy vài tấm vải bố cũ ở tủ buồm. Dùng chúng đi."

"Tôi sẽ buộc gì vào chân ông ấy, thưa ông?" người đó hỏi, sau một tràng "Vâng, vâng, thưa ông."

"Chúng ta sẽ xem xét việc đó," Larsen Sói trả lời, cao giọng gọi "Bếp!" thế là Thomas Mugridge ló ra khỏi bếp như con rối đồ chơi trong hộp lò xo.

"Đi xuống dưới lấy một bao than đá."

"Có ai trong đám các anh có Kinh Thánh hay kinh cầu không?" là yêu cầu tiếp theo của thuyền trưởng với đám thợ săn trông có vẻ thân thiết với nhau.

Họ lắc đầu, một vài người nói đùa gì đó, tôi không nghe được nhưng ai ai cũng cười.

Larsen Sói cũng hỏi những người thủy thủ như thế. Kinh thánh và kinh cầu có vẻ là những vật phẩm ít có, một trong những người đàn ông tình nguyện đi tìm sách của nhóm trực tàu đã trở lại báo rằng "họ không có." Thuyền trưởng nhún vai. "Vậy thì đành thả ông ta xuống, khỏi cần lắm chuyện. Trừ khi cái gã trông như thầy tu bị đắm tàu sẵn lòng cung cấp dịch vụ mai táng trên biển." Lần này, ông ta quay tròn một vòng và đối diện với tôi.

"Anh là mục sư, đúng không?" Ông ta hỏi.

Những người thợ săn – bọn họ có sáu người tất cả – đồng thời quay lại nhìn tôi. Tôi hoàn toàn ý thức được hiện tại mình chẳng khác nào một gã bù nhìn. Một tiếng cười vang lên, tiếng cười nhạo báng vẻ ngoài của tôi chẳng hề bị giảm bớt hay kiềm chế trước thi hài người đàn ông đã chết cứng, miệng vẫn còn nhe răng đang nằm trên sàn tàu trước mặt chúng tôi. Tiếng cười thô ráp và thẳng băng như mặt biển, nó dậy lên từ những cảm xúc tầm thường và chai mòn, từ những cá thể chưa từng biết tới lịch sự hay dịu dàng.

Larsen Sói không cười, dù đôi mắt xám của ông ta lóe sáng; và trong giây phút đó, khi tiến lại gần ông ta hơn một chút, tôi đã có ấn tượng đầu tiên về người đàn ông này – không tính tới vẻ bề ngoài và tràng nguyền rủa tôi đã nghe. Gương mặt ông gồm những đượng nét đậm và vuông bành bạnh, mới trông thì khá to, nhưng vì hình thể, vẻ to lớn đó dường như tan biến trước sức mạnh ý chí vượt trội và đáng sợ bên trong, ngủ yên sâu trong linh hồn ông. Lông mày, quai hàm và cằm cao hẳn ra một khoảng so với đôi mắt đầy mạnh mẽ, thể hiện sự kiên nghị và khí phách vô hạn của linh hồn ẩn khuất sau da thịt tránh khỏi những ánh mắt trần tục. Không thể đo đoán chiều sâu của linh hồn ấy, không một thước đo nào, một giới hạn nào có thể phân định nó trong mẫu hình nhỏ hẹp.

Đôi mắt ông rất lớn và đẹp – may phước định mệnh đã khiến tôi hiểu thấu chúng – tách xa nhau như tác phẩm của nhà nghệ sĩ, được che chở bởi vầng trán thô và bao bọc dưới đôi lông mày đen rậm. Màu xám trong đôi mắt ông biến đổi không ngừng, chẳng bao giờ lặp lại; đôi mắt ấy thay đổi hình dàng và màu sắc như như tơ lụa dưới ánh nắng; nó xám, đậm rồi nhạt, biêng biếc chút màu lục, đôi lúc lại mang sắc lam trong vắt của biển khơi.

Đôi mắt ấy khoác lên linh hồn muôn ngàn lớp áo, đôi lúc, vào những khoảnh khắc rất hiếm hoi, chúng để lộ chút gì đó, để cho thứ bên trong được vươn lên như thể sắp trần trụi lao ra thám hiểm thế giới bên ngoài – đôi mắt ấp ôm niềm đau thảm đạm của bầu trời u ám; đôi mắt chớp lóe và nứt ra những tia sáng như ánh điện của lưỡi gươm xé gió; đôi mắt có thể lạnh lẽo như cảnh sắc cực bắc, nhưng cũng có thể ấm áp và dịu êm, lấp lánh tắm mình trong ánh sáng tình yêu, vừa dữ dội vừa nam tính, vừa ám ảnh vừa hấp dẫn, đồng thời cũng mê hoặc và xâm chiếm trái tim những người phụ nữ cho tới khi họ phải đầu hàng trong hoan hỉ, nhẹ nhõm và dâng hiến.

Nhưng để quay lại chuyện chính. Tôi đã bảo ông rằng, tuy rất lấy làm tiếc cho tang lễ này, nhưng tôi không phải mục sư, để đáp lại câu hỏi gắt gỏng:

"Anh làm gì để sống?" Tôi thừa nhận rằng mình chưa từng nhận được câu hỏi đó bao giờ, tôi cũng chưa từng thảo luận về vấn đề này. Tôi bị bất ngờ, thế nên chưa kịp hồi thần đã lắp bắp đáp lại bằng một câu ngớ ngẩn: "Tôi là một quý ông." Đôi môi ông ta cong lên thành nụ cười mỉa.

"Để sống à?" Ông ta có vẻ gì đó hách dịch và kẻ cả, khiến tôi khác hẳn mọi khi – "sợ như chuột," anh bạn Furuseth hẳn sẽ dùng từ như vậy, không khác gì một đứa trẻ trước thầy hiệu trưởng nghiêm khắc.

"Ai nuôi anh?" Đó là câu hỏi tiếp theo của ông ta.

"Tôi có thu nhập," tôi khô khốc đáp, có lẽ đã cắn phải lưỡi mình ngay sau đó. "Và những điều đó, theo như tôi quan sát, không có liên quan gì tới lí do tôi muốn gặp ông." Nhưng ông ta lờ đi lời phản biện của tôi.

"Ai kiếm ra nó? Ồ? Tôi biết rồi. Cha anh. Anh sống nhờ vào một người đã chết.

Anh chưa từng sở hữu bất cứ thứ gì. Anh không thể đơn độc ra đi giữa hai lần mặt trời mọc để kiếm đồ ăn lấp đầy cái bụng của chính mình. Để tôi thấy đôi tay anh." Sức mạnh đáng sợ đang lặng ngủ trong ông ta hẳn đã cựa mình tỉnh lại đúng lúc, hoặc tôi đã thiếp đi trong chớp mắt, vì trước khi tôi nhận ra, ông ta đã bước hai bước thành một tới, nắm lấy bàn tay tôi và giữ lấy để kiểm tra. Tôi cố rút lại, nhưng những ngón tay ấy ghìm chặt hơn, dù trông chẳng cố sức chút nào nhưng tôi cảm giác như sắp bị nghiền nát. Khó mà giữ được vẻ đạo mạo trong trường hợp này. Tôi không thể vặn vẹo hay giãy dụa như một thằng nhóc được. Tôi cũng không thể phản kháng lại con người ấy, người chỉ còn thiếu nước vặn gãy tay tôi ra. Tôi không thể làm gì khác ngoài đứng yên và chịu đựng sự xúc phạm này. Trong thời gian đó, tôi để ý thấy túi của người đã chết bị dốc ngược trên sàn tàu, còn cơ thể và miệng cười nhăn nhở của anh ta đã bị quấn vào trong vải bố, anh thủy thủ Johansen đang khâu mép nó lại bằng sợi cói trắng nhem nhuốc. Liên tục đâm kim bằng một cái mề đay da vừa vặn trong lòng bàn tay.

Larsen Sói thả tay tôi ra với vẻ khinh thường. "Của cải của người chết đã giữ tay anh mềm. Chẳng làm được gì ngoài rửa bát đĩa trong bếp."

"Tôi muốn lên bờ," tôi bình thản đáp, giờ thì đã kiểm soát được bản thân rồi. "Tôi sẽ trả tiền cho ông bù đắp lại sự chậm trễ và rắc rối do phải hoãn lịch tình." Ông ta tò mò nhìn tôi. Vẻ nhạo báng sáng lên trong mắt.

"Tôi có ý định phản đối điều đó, vì lợi ích của anh thôi. Thuyền phó đã chết, nên sẽ có nhiều kẻ được thăng chức. Một thủy thủ sẽ thay thế vị trí của thuyền phó, bồi tàu[1] sẽ thay thế vị trí của thủy thủ, còn anh sẽ thay vị trí của bồi tàu, kí hợp đồng đi biển, hai mươi đô một tháng bao ăn ở. Giờ anh nói sao? Để tôi nhắc lại. Đây là vì anh đấy. Làm việc sẽ khiến anh thay đổi. Chẳng mấy chốc, anh sẽ học được cách tự đứng trên hai chân mình, có khi còn chập chững biết đi ấy chứ." Nhưng tôi không lưu tâm. Những cánh buồm của con tàu tôi thấy phía tây nam giờ trông lớn hơn và rõ hơn. Chúng là những cánh buồm giống hệt như trên chiếc Bóng Ma, dù thân tàu trông nhỏ hơn đang chồm sóng lướt tới phía chúng tôi, chắc chắn sẽ băng qua đây nhanh thôi. Gió đang mạnh dần lên, mặt trời sau khi nheo mắt bắn ra những tia sáng giận dữ cuối cùng đã biến mất sau đường chân trời. Biển chuyển màu xám chì ảm đạm và gồ ghề hơn, hất những đám bọt biển trắng xóa lên bầu trời. Chúng tôi đang đi nhanh hơn và xa hơn. Chợt có một cơn gió mạnh thổi qua, lan can nhấp hẳn xuống biển, sàn tàu bên đó ướt sũng nước khiến vài thợ săn vội nhấc chân lên.

"Chiếc tàu đó sẽ đi qua chúng ta," Tôi nói, sau giây lát. "Nếu nó đi về hướng ngược lại, hẳn nó sẽ tới San Francisco."

"Rất có thể," Larsen Sói trả lời, rồi quay lưng với tôi, hô to, "Bếp! Bếp đâu!" Anh chàng Cockney ló ra từ bếp. "Thằng nhỏ đó đâu rồi? Bảo nó tôi muốn gặp."

"Vâng, thưa ông," sau đó Thomas Mugridge trượt về phía sau, biến mất theo xuống cabin gần bánh lái. Một lát sau đó, anh ta trở lại, dẫn theo một cậu bé to khỏe khoảng mười tám, mười chín tuổi trông vừa cáu bẳn vừa hung ác.

"Cậu ta đây, thưa ông," anh bếp nói.

Nhưng Larsen Sói lờ đi, quay phắt về phía cậu bé bồi tàu.

"Tên mày là gì, nhóc?"

"George Leach, thưa ông," câu trả lời ra chiều chán nản, việc xuất hiện tại đây đã báo trước lí do cậu ta được gọi ra.

"Không phải tên người Ireland, thuyền trưởng sắc sảo nói." Họ O'Toole hay McCarthy sẽ hợp với bản mặt đần độn của mày hơn. Nhưng mà thôi bỏ đi. "Ông nói tiếp." Mày có lí do hay để quên tên mình được rồi đấy, tao cũng không ghét bỏ mày vì cái tên, nếu mày biết tuân lệnh. Khu Telegraph Hill, đương nhiên, là cảng khởi hành của mày. Nó lồ lộ hết trên mặt mày đấy. Cứng đầu như cách họ hành xử và láu cá thì khỏi phải bàn. Tao biết cái loại mày rồi. Hừm, mày hãy nhớ mà bỏ cái tính đó đi khi ở trên thuyền này. Hiểu chưa? Mà, ai gửi mày lên đây? "

" McCready và Swanson. "

" Thưa ông! "Larsen Sói quát giật giọng.

" McCready và Swanson, thưa ông, "cậu bé sửa lại, đôi mắt ánh lên vẻ cáu bẳn.

" Ai cầm tiền tạm ứng? "

" Họ, thưa ông. "

" Tao biết ngay mà. Mày nên thấy mừng vì để họ lấy tiền đi. Mày không thể để bản thân túng thiếu quá nhanh, nếu không sẽ có rất nhiều quý ông mày từng biết truy tìm mày đấy. "

Cậu bé đó chớp mắt trông thật tàn độc. Cơ thể nó co lại như lò xo, gương mặt nó nhăn nhúm như thú hoang nổi giận nghiến răng," Đó là.. "

" Là gì? "Larsen Sói hỏi, giọng ông ta êm ái một cách kì quái, như thể quá tò mò muốn biết cái từ chưa được nói ra.

Cậu bé do dự, rồi cũng kiềm chế được tính nóng nảy của mình." Không có gì. Thưa ông. Tôi lỡ lời. "

" Mày vừa cho tao thấy tao đã đúng. "Đây là một nụ cười hài lòng." Mày bao nhiêu tuổi? "

" Vừa đủ mười sáu, thưa ông. "

" Nói dối. Mày sẽ chẳng bao giờ trải qua tuổi mười tám lần nữa. Mày vẫn quá to con so với tuổi, cơ bắp như ngựa vậy. Dọn đồ đi lên khoang mũi đi. Giờ mày là thủy thủ chèo thuyền. Được thăng chức đấy, thấy chưa? "Không chờ cậu bé trả lời, truyền trưởng quay sang người thủy thủ đã nhận cái nhiệm vụ kinh khủng là khâu vải liệm xác." Johansen, anh có biết gì về phương hướng không? "

" Không biết, thưa ông. "

" Hừm, kệ đi. Anh vẫn sẽ là thuyền phó. Bỏ đồ của mình vào chỗ thuyền phó nằm. "

" Tuân lệnh, thưa ông. "Johansen vui mừng đáp lại và tiến lên phía trước.

Trong lúc đó, cậu bé cựu-bồi-tàu không hề di chuyển.

" Mày còn đợi gì nữa? "Larsen Sói hỏi.

" Tôi không đăng kí làm thủy thủ chèo thuyền, thưa ông, "cậu ta trả lời." Tôi đăng kí làm bồi tàu. Tôi không muốn làm tay chèo chút nào. "

" Dọn đồ và đi lên trước. "Lần này, câu ra lệnh của Larsen Sói đầy gắt gỏng. Cậu bé kia sưng mặt lên, nhưng vẫn không di chuyển. Dường như thứ sức mạnh kì dị bên trong Larsen Sói thoáng bị khuấy động. Chuyện tiếp đó không ai mà ngờ được và kết thúc nhanh như tiếng tích của kim giây đồng hồ. Ông ta bật qua quãng gần hai mét trên boong tàu, đấm thẳng vào bụng cậu bé. Ngay giây phút đó, tôi cũng cảm thấy như bị đánh vậy, dạ dày co rút buồn nôn. Tôi cho rằng điều này cho thấy độ nhạy cảm của thần kinh mình vào lúc đó và vì tôi không quen với những cảnh tàn bạo. Cậu bé bồi tàu – cậu ta phải nặng ít nhất bảy mươi lăm cân – co tròn lại. Cơ thể cậu ta quấn lấy nắm đấm như cái khăn ướt dính trên cây gậy.

Cậu ta bắn lên trên không, bay một đường vòng cung ngắn rồi đập đầu và vai xuống boong tàu, nơi cậu ta nằm quàn quại vì đau.

" Sao? "Larsen hỏi tôi." Anh đã quyết định chưa? "Thi thoảng, tôi lại liếc nhìn chiếc tàu buồm đang tiến lại gần, hiện tại nó đã ở ngay trước mắt chúng tồi, chỉ cách khoảng hai trăm thước anh. Đó là một tàu nhỏ bé rất gọn gàng và chỉnh tề. Tôi có thể thấy một con số màu lớn màu đen được sơn trên cánh buồm, giống như những bức hình về tàu hoa tiêu tôi từng thấy.

" Đó là tàu gì? "Tôi hỏi.

" Tàu hoa tiêu[2] Lady Mine, "Larsen Sói dứt khoát trả lời." Trả hoa tiêu về và chạy tới San Francisco. Với sức gió thế này, nó sẽ tới nơi trong vòng năm tới sáu giờ nữa. "Ông có thể ra tín hiệu với tàu đó để tôi có thể lên bờ không?"

"Xin lỗi, tôi mất quyển sách tín hiệu trên bờ rồi," ông ta nói, đám thợ săn phá lên cười.

Tôi đấu tranh một lúc, nhìn thẳng vào mắt ông ta. Tôi đã thấy cách hành xử tàn bạo với cậu bé bồi tàu và hiểu rằng tôi rất có thể cũng sẽ bị đối xử như vậy hoặc còn tệ hơn. Như đã nói, tôi tự đấu tranh với bản thân mình, sau đó tôi thực hiện hành động có lẽ là dũng cảm nhất đời mình. Tôi chạy tới sườn tàu, vẫy tay và hét:

"Lady Mine, ới tàu! Đưa tôi lên bờ! Một ngàn đô la nếu tàu đưa tôi lên bờ!" Tôi chờ đợi, dõi theo hai người đàn ông đang đứng bên bánh lái, một trong số họ đang giữ quyền điều khiển tàu.

Người kia nâng loa lên miệng. Tôi không quay đầu, tôi đang trông đợi sẽ phải nhận một cú đánh chết người vào bất cứ lúc nào từ kẻ cầm thú đứng sau mình. Cuối cùng, sau một quãng thời gian dài như thế kỉ, tôi không thể chịu nổi sự căng thẳng nữa nên quay lại nhìn. Ông ta không hề di chuyển. Ông ta vẫn đứng nguyên tại chỗ, thoải mái lắc lư để giữ nhịp cùng con tàu và đang châm một điếu thuốc lá.

"Sao vậy? Có chuyện gì thế?" Tiếng gọi từ tàu Lady Mine vang sang.

"Vâng!" Tôi dồn hết sức lực trong lồng ngực mà hét lên. "Chuyện sống còn! Một ngàn đô la nếu các anh đưa tôi lên bờ!"

"Rượu Frisco làm hại thuyền viên của tôi quá!" Larsen Sói hét theo. "Anh chàng này – chỉ vào tôi bằng ngón cái – vừa nãy còn cất lời yêu rắn biển với khỉ đấy." Người đàn ông trên Lady Mine bật cười đáp lại qua loa phóng thanh. "Chửi gã thay tôi nhé!" là câu hét cuối cùng, sau đó hai người họ vẫy tay chào tạm biệt.

Tôi tuyệt vọng tựa vào lan can, nhìn cánh buồm của con tàu nhỏ dần xa trên mặt biển. Nó sẽ về tới San Francisco trong năm hoặc sáu giờ tới! Đầu tôi muốn nổ tung. Họng tôi nghẹn đau như thể trái tim đã nhảy lên đó rồi. Sóng cuộn lên đánh vào sườn tàu và phun nước mặn lên môi tôi. Gió thổi từng cơn, tàu Bóng Ma nghiêng mạnh sang bên dìm sườn khuất gió xuống nước. Tôi có thể nghe tiếng nước chảy rào rạt trên boong tàu.

Một lúc sau, khi quay đầu lại, tôi thấy cậu bé bồi tàu đang lảo đảo đứng dậy. Mặt cậu ta trắng bệch và vặn vẹo vì đau. Cậu ta trông như bị bệnh nặng. "Sao, Leach, có đi lên không?" Larsen Sói hỏi. "Vâng, thưa ông." là câu trả lời của linh hồn đã cúi đầu chịu thua. "Còn anh?" Tới lượt tôi bị hỏi.

"Tôi sẽ trả ông một ngàn.." Tôi mở miệng, nhưng bị cắt ngang. "Thôi ngay! Anh có nhận nhiệm vụ bồi tàu không? Hay tôi phải chỉnh đốn anh nữa?" Tôi có thể làm gì được? Bị đánh dã man, thậm chí là bị giết chẳng ích lợi gì cho tôi cả. Tôi nhìn thẳng vào đôi mắt xám lạnh lùng ấy. Chúng cứng rắn như đá, lạnh giá như mọi nguồn ánh sáng và hơi ấm của linh hồn đằng sau chúng. Một số người đàn ông sẽ để lộ đôi chút cảm xúc qua đôi mắt, nhưng ánh mắt người đàn ông này thì lạnh lùng và u ám, xám xịt y như chính mặt biển vậy.

"Sao?"

"Vâng," tôi nói.

"Nói" Vâng, thưa ông "."

"Vâng, thưa ông," tôi sửa lại.

"Tên anh là gì?"

"Van Weyden, thưa ông."

"Tên riêng thì sao?"

"Humphrey, thưa ông – Humphrey Van Weyden."

"Tuổi?"

"Ba mươi lăm, thưa ông."

"Được đó. Đi tìm đầu bếp học công việc của mình đi."

Thế là tôi đã thành nô lệ không tự nguyện cho Larsen Sói. Ông ta mạnh hơn tôi, đó là tất cả lí do. Nhưng vào lúc đó, tôi thấy sự việc quá sức phi lí. Thậm chí giờ nhìn lại, tôi vẫn thấy tất cả đều phi lí. Chuyện ngày đó vẫn luôn là một cơn ác mộng phi lí hãi hùng, vượt xa trí tưởng tượng của tôi.

"Khoan, đừng đi vội." Tôi ngoan ngoãn đứng lại khi chân đã hướng về phía bếp. "Johansen, gọi tất cả lại. Chúng ta đã xong việc rồi, nên sẽ tổ chức lễ tang và dọn sạch mọi thứ rác rưởi trên boong tàu." Trong lúc Johansen triệu tập nhóm trực bên dưới lên, một cặp thủy thủ đã đưa xác chết bọc trong vải bố lên nóc hầm chứa theo lệnh thuyền trưởng. Ở mỗi bên sườn tàu, bên dưới lan can là một loạt thuyền nhỏ. Những người đàn ông nâng nắp hầm chứa cùng với món hàng đáng sợ trên nó di chuyển tới gần sườn tàu khuất gió và đặt nó lên những chiếc thuyền với bàn chân chỉ ra ngoài khơi. Buộc nơi chân cái xác là túi than mà anh đầu bếp đã lấy.

Tôi luôn nghĩ việc mai táng trên biển sẽ là một sự kiên trang trọng và khơi gợi cảm xúc choáng ngợp, nhưng tôi nhanh chóng vỡ mộng bởi chính lễ tang trước mắt. Một trong số những người thợ săn, người có đôi mắt đen được bạn bè gọi là "Smoke," đang kể những câu chuyện chứa đầy những lời nguyền và từ ngữ tục tĩu, cứ mỗi phút nhóm thợ săn sẽ phá tràng cười mà nghe vào tai tôi hệt như tiếng sói hú. Những người thủy thủ tụ tập ồn ào ở phía sau, một số người truong nhóm gác lờ đờ buồn ngủ, nói chuyện với nhịp chậm rãi. Vẻ lo lắng lồ lộ trên mặt họ. Đó là bằng chứng cho thấy họ không thích một chuyến đi được điều hành bởi thuyền trưởng này, chưa chi đã gặp chuyện xui xẻo ngay lúc khởi hành. Thi thoảng, họ trộm liếc Larsen Sói, tôi có thể nhận ra họ e sợ người đàn ông này.

Ông ta bước lên nắp hầm chứa, những người khác đều bỏ mũ xuống. Tôi liếc mắt nhìn họ – có hai mươi người đàn ông tất cả, hai mươi hai người, tính cả người đang đứng bên bánh lái và tôi. Tôi khá tò mò muốn tìm hiểu họ, vì có vẻ số phận đã giam tôi lại với họ trên thế giới thu nhỏ trôi nổi trên mặt nước trong thời gian không biết là bao nhiêu tuần hay tháng tới. Những thủy thủ ở chính giữa là những người Anh và Bắc Âu, với nét mặt thô và cứng. Những người thợ săn thì ngược lại, sở hữu gương mặt mạnh mẽ và đa dạng hơn, với những đường nét cứng và dấu ấn của sự đam mê tự do. Nói ra thật lạ, nhưng tôi để ý ngay từ đầu rằng vẻ ngoài của Larsen Sói không hề có vẻ xấu xa chút nào. Trông ông ta không hề giống người xấu. Đúng là có những đường nét khắc nghiệt, nhưng chúng thể hiện ý chí cả quyết và kiên định. Những đường nét đó trông thẳng thắn và cởi mở, và nét thẳng thắn, cởi mở đó trông rõ ràng hơn vì ông cạo sạch râu. Nếu không chứng kiến việc xảy ra tiếp theo, tôi khó mà tin được đó là gương mặt của người đàn ông đã hành xử như vậy với cậu bé bồi tàu.

Vào lúc này, khi ông ta mở miệng nói, từng cơn gió đẩy con tàu buồm, ép sườn tàu xuống. Gió rít lên bài ca hoang dại qua những sợi dây chằng. Một vài người thợ săn lo lắng đưa mắt nhìn. Toàn bộ sườn khuất gió, nơi người chết đang nằm chìm xuống biển, tới khi tàu buồm dựng thẳng trở lại, nước đã tràn qua boong, làm ướt hết mu giày của chúng tôi. Một cơn mưa đổ xuống, từng giọt quất đau như mưa đá. Khi mưa tạnh, Larsen Sói bắt đầu nói, những người đàn ông đầu trần nhịp nhàng lắc lư theo nhịp nghiêng xô của boong tàu.

"Tôi chỉ nhớ được một phần nghi lễ thôi," ông ta nói, "đó là," Và thế là thi hài sẽ được ném xuống biển. "Nên ném nó xuống." Ông dứt lời, những người đàn ông khiêng nắp hầm chứa có vẻ bối rối vì sự chóng vánh của buổi lễ. Ông ta nổi khùng lên với họ.

"Nâng nó rồi ném đi đi! Các người bị làm sao thế hả?" Họ cuống quít nâng phần dưới của nắp hầm chứa lên, thế là, như chó nhảy qua rào, thi thể người chết tuột xuống, đâm chân xuống biển. Túi than ở chân kéo ông ta xuống. Thế là xong đời.

"Johansen," Larsen Sói giật giọng gọi thuyền phó mới, "giữ tất cả những người trên tàu ở nguyên vị trí. Đi tới chỗ buồm đỉnh và những buồm phụ ngoài. Chúng ta sẽ đón gió đông nam. Thu buồm phụ và buồm chính lại luôn, khi anh ở gần đó." Trong khoảnh khắc, boong tàu rối hết cả lên, Johansen hét ra lệnh, những người đàn ông kéo hoặc thả đủ loại dây lèo – tất cả những điều đó hiển nhiên đã khiến một kẻ sống trên đất liền như tôi bối rối. Nhưng chính sự vô cảm mới là thứ khiến tôi bàng hoàng. Cái chết của người đànnông kia chỉ là một chương của quá khứ, một sự cố đã được xử lí trong tấm vải bố buộc một túi than, còn con tàu thì nhanh chóng tiếp tục công việc của mình. Chẳng ai cảm thấy điều gì. Những người thợ săn vẫn đang cười với những câu chuyện mới của Smoke; họ ra sức kéo và kéo, có hai người trong số họ trèo lên cột buồm; Larsen Sói đang nghiên cứu hướng gió trên bầu trời mây phủ; còn người đã chết, bị mai táng qua loa đang chìm sâu dần xuống làn nước đen. Sự lạnh lùng, tàn nhẫn và khủng khiếp của biển cả đã nhấn chìm tôi. Sự sống trở nên quá rẻ mạt và thô ráp, nó hoang dại và bất minh, xoáy cuộn vô hồn những nước và sình. Tôi bám lấy lan can mạn sườn đón gió gần dây chằng, nhìn về những con sóng bạc đầu đang cuộn về phía màn sương thấp che khuất San Francisco và bờ biển California. Tiếng mưa đang đổ lại gần, tôi khó có thể nhìn thấy màn sương được nữa. Con thuyền kì lạ này chở theo những con người khủng khiếp của nó, bị gò ép giữa gió giật và biển xô, nghiêng dọc như cuộc đời bất định, tiến về phía trước theo hướng tây nam, đi vào vùng rộng lớn và cô đơn hơn trên Thái Bình Dương.

[1] Bồi tàu: Có nhiệm vụ chạy việc vặt trên tàu

[2] Tàu hoa tiêu: Tàu có nhiệm vụ đưa hoa tiêu từ đất liền tới các tàu đi ra vào đi vào cảng biển.
 
Last edited by a moderator:
88 ❤︎ Bài viết: 72 Tìm chủ đề
Chương 4

Kể từ đó, những gì xảy ra với tôi trên con tàu Bóng Ma vào những ngày tôi cố thích nghi với môi trường mới chỉ toàn là nhục nhã và đau khổ. Tay đầu bếp, người được các thuyền viên gọi là "bác sĩ," đám thợ săn gọi là "Tommy" và "Bếp" với Larsen Sói là kẻ lá mặt lá trái. Cách cư xử của anh ta thay đổi ngay khi vai trò của tôi thay đổi. Vẻ khúm núm và phục tùng ban đầu hiện biến thành hách dịch và gây hấn.

Anh ta khăng khăng đòi tôi phải gọi mình là "Ông Mugridge", cách cư xử và bộ dáng lúc hướng dẫn công việc cho tôi thì không thể chịu nổi. Ngoài nhiệm vụ trong cabin có bốn phòng nhỏ, xem chừng tôi còn phải hỗ trợ anh ta trong bếp, thế nên sự thiếu quan tâm của tôi đối với những công việc như gọt vỏ khoai tây hay rửa chảo mỡ là nguồn cảm hứng mỉa mai bất tật của anh ta.

Đây là một vài biểu hiện về thái độ của anh ta đối với tôi; tôi phải thú nhận rằng chưa được một ngày, tôi đã dồn nhiều cảm xúc vào lòng căm ghét anh ta hơn bất cứ người nào tôi từng biết từ trước đến nay.

Ngày đầu tiên của tôi càng thêm khó khăn hơn, vì tàu Bóng Ma đã thu buồm (phải sau này tôi mới hiểu những thuật ngữ như vậy) và đã băng qua cái mà ông Mugridge gọi là "gió đông nam đêm." Vào năm giờ rưỡi, dưới chỉ thị của anh ta, tôi soạn bàn trong cabin, đặt những khay nhám đúng vị trí rồi mang trà và đồ ăn đã nấu chín từ bếp ra.

"Cẩn thận vào không thì ướt nhẹp đấy," là câu ra lệnh ông Mugridge khi tôi đi ra khỏi bếp, một tay cầm ấm trà to, một tay cầm những lát bánh mì vừa nướng. Một trong số những người thợ săn, cái người cao lớn, gò má gãy tên là Henderson đang đi từ chỗ buồng lái (những người thợ săn lén gọi chỗ ngủ giữa tàu của mình như thế) tới cabin. Larsen Sói đang ở chót đuôi tàu, hút điếu thuốc chẳng bao giờ hết của mình.

"Nó đến rồi! Chạy mau!" Tay đầu bếp hét.

Tôi dừng chân, vì tôi không hiểu thứ đang đến là cái gì, và thấy cửa bếp đóng sầm lại. Sau đó, tôi thấy Henderson nhảy như người điên tới mối dây lèo chính, lao thẳng vào giữa đám dây tới độ cao quá vài mét trên đầu mình.

Tôi cũng thấy một cơn sóng lớn cuộn tròn sủi bọt cách xa lan can. Tôi đang ở ngay dưới nó. Trí não tôi ngừng trệ, mọi thứ đều quá mới mẻ và kì lạ. Tôi há hốc miệng nhận ra mình đang gặp nguy, nhưng chỉ làm được đến thế. Tôi đứng ngây ra run rẩy.

Thế rồi Larsen Sói hét toáng lên từ sau bánh lái:

"Nắm chặt lấy thứ gì đó đi, này.. này Hump!" nhưng đã trễ rồi. Tôi vội lao tới những chỗ những sợi dây buồm, thứ tôi có thể bám lấy được và bị cả bức tường nước dội xuống. Chuyện tiếp theo rối nùi hết cả lên. Tôi chìm dưới nước, ngạt thở và chìm dần. Chân tôi nâng lên từ dưới thân, người bị lật tròn và cuốn đi không biết bao xa. Rất nhiều lần, tôi bị đụng vào vật cứng, có thứ va vào đầu gối phải tôi đau điếng. Rồi đột nhiên cơn lũ qua đi, tôi lại có thể hít thở không khí an lành lần nữa. Tôi đã bị cuốn ra xa bếp, tới gần khoang hạng chót, văng từ sườn đón gió chỗ bậc thang xuống cabin tới lỗ thoáng. Mắt cá chân tôi nhức nhối. Vì nó mà tôi không thể đứng lên được, hoặc ít nhất tôi nghĩ mình không thể đứng lên được; tôi cảm thấy chân mình gãy mất rồi. Nhưng gã đầu bếp theo dõi tôi, hét lên qua cửa lỗ thoáng của bếp: "Ê, mày! Định nằm đó cả tối à! Ấm đâu rồi? Rơi ra biển hả? Đáng đời lắm, đáng ra mày phải gãy cổ mới đúng!" Tôi cố đứng dậy trên bàn chân sưng của mình. Cái ấm trà to tướng vẫn còn trên tay tôi. Tôi bước khập khiễng về phía bếp đưa nó vào tay anh ta. Nhưng gã vẫn chìm trong cơn phẫn nộ không biết thật hay giả.

"Trời hại tao, mày đúng là thằng đần. Có việc gì mày làm được không hả, nói tao còn biết. Hả? Mang có tí trà mà còn làm đổ hết. Giờ tao lại phải đun lại. Mày sụt sịt gì đó hả?" gã lại nổi giận với tôi. "Đôi bàn chân bé nhỏ của mày đau rồi à, gọi mẹ đi cưng!" Tôi không sụt sịt, nhưng mặt tôi chắc đã nhăn nhúm lại vì đau. Tôi gom lại tất cả nghị lưc của mình lại, nghiến răng nhảy lò cò từ bếp tới cabin, từ cabin tới bếp mà không phạm lỗi nào nữa. Tôi đạt được hai điều từ tai nạn của mình: Một cái đầu gối bị thương và thứ đã theo tôi suốt những tháng ngày mòn mỏi ấy: Cái tên "Hump" mà Larsen Sói đã gọi tôi từ sau bánh lái. Từ đó trở đi, tôi chỉ được gọi như thế, tới nỗi cái tên đó trở thành một phần suy nghĩ và tôi cũng tự nhận mình như thế, tự gọi mình là Hump trong tâm tưởng, giống như tôi đã luôn và sẽ luôn là Hump.

Đứng đợi phục vụ bên bàn ăn ở cabin không phải nhiệm vụ dễ dàng, ở đó có Larsen Sói, Johansen và sáu người thợ săn. Cabin vốn rất nhỏ, để di chuyển khi bị ra lệnh còn khó hơn vì tàu luôn lắc lư dữ dội. Nhưng điều khiến tôi khó chịu nhất là sự vô cảm của những người tôi phục vụ. Tôi có thể cảm thấy đầu gối mình sưng lên bằng cỡ quả táo dưới vải ống quần, tôi phát ốm và tái nhợt vì cơn đau. Tôi có thể thoáng nhìn thấy gương mặt mình trong cái gương ở cabin, nó trắng bệch, méo mó vì đau. Tất cả những người này đều nhìn thấy tình trạng của tôi, nhưng không ai lên tiếng hay để ý. Tới nỗi tôi đã suýt cảm tạ Larsen Sói (tôi đang rửa bát đĩa) khi ông ta nói:

"Đừng có phiền lòng vì chuyện nhỏ như vậy. Rồi anh sẽ quen với những chuyện này thôi. Sẽ làm anh trầy xước một chút, nhưng rồi anh sẽ học được cách đi đứng. Đó là thứ anh gọi là nghịch lí, phải không?" Ông ta nói thêm.

Ông ta có vẻ hài lòng khi thấy tôi gật đầu theo lễ tiết trên tàu "Vâng, thưa ông."

"Tôi cho rằng anh biết chút ít về văn học? Hử? Tốt. Thi thoảng tôi sẽ nói chuyện với anh." Sau đó, cuộc nói chuyện không dính gì tới tôi nữa, ông ta quay lưng lại và đi lên boong.

Đêm hôm đó, sau khi tôi đã hoàn thành lượng công việc tưởng chừng vô tận, tôi được bảo tới ngủ ở buồng lại và xếp tạm một cái gường ở đó. Tôi mừng là đã thoáng khỏi sự hiện diện đáng ghê tởm của gã đầu bếp và được thả lòng cái chân mình. Tôi ngạc nhiên thấy quần áo đã tự khô trên người, và rằng mình không hề bị cảm lạnh vì vừa bị nhấn nước hay vì quãng thời gian dài trôi dập dềnh sau khi Martinez bị đắm.

Nếu là bình thường, sau tất cả những gì đã trải qua, đáng ra tôi đã trở thành nhân vật chính một lễ tang rồi.

Nhưng cái đầu gối khiến tôi vô cùng khó chịu. Theo như tôi tự chuẩn đoán, thì xương bánh chè chắc đã chọc vào trúng chỗ sưng. Khi tôi ngồi xuống giường của mình để kiểm tra nó (sáu người thợ săn đều ở buồng lái, hút thuốc và nói chuyện ồn ào), Henderson có liếc nhìn qua.

"Trông tệ đấy," anh ta nhận xét. "Buộc một cái giẻ vào đi, rồi sẽ ổn thôi." Thế là hết. Nếu ở trên đất liền, tôi đã nằm ngả lưng xuống, để một bác sĩ phẫu thuật tới gặp và bị cấm không được làm gì trừ nghỉ ngơi. Nhưng tôi cũng phải công bằng với những con người này. Họ vô tâm trước nỗi đau của tôi, nhưng họ cũng vô tâm với nỗi đau của chính họ nếu gặp rủi ro. Tôi cho rằng đó, thứ nhất họ đã quen thế, thứ hai là họ thực sự chẳng hề nhạy cảm. Tôi tin chắc một người đàn ông chỉn chu, dễ xúc động sẽ thấy đau đớn gấp đôi gấp ba lần họ nếu bị cùng một vết thương.

Dù rất mệt mỏi, thậm chí là kiệt sức, tôi vẫn không ngủ được vì cơn đau ở đầu gối. Tất cả những gì tôi làm được là ngăn mình không rên rỉ lớn tiếng. Nếu ở nhà, chắc chắn tôi sẽ thoải mái bày tỏ nỗi đau của mình, nhưng trong môi trường mới mẻ và thô lỗ thế này làm vậy hẳn sẽ khiến tôi nhận được những phản ứng hung bạo. Tôi nhớ trong phần còn lại của hành trình, một thợ săn khác tên Kerfoot đã mất một ngón tay vì nó bị đập nát ra như tương; mà gã thậm chí còn chẳng kêu rên hay biến sắc. Tuy nhiên, tôi cũng đã chứng kiến chính con người đó nhiều lần phải nhảy lên vì nổi nóng chỉ vì vài chuyện vụn vặt.

Anh ta đang làm thế, hò hét, vẫy tay, chửi như kẻ điên chỉ vì một bất đồng nhỏ với một thợ săn khác về chuyện liệu bản năng có khiến hải cẩu con biết bơi hay không hay không. Anh ta cược là có; hải cẩu có thể bơi kể từ khi mới sinh. Người thợ săn kia, Latimer, một gã trông có vẻ là người Mĩ, gầy gòm, có đôi mắt ti hí láu lỉnh cho là ngược lại, hải cẩu con được sinh ra trên mặt đất chính là bởi chúng chưa biết bơi, hải cẩu mẹ có nhiệm vụ phải dạy chúng bơi như thế nào, giống như lũ chim phải dạy đàn con của mình làm thế nào để bay.

Phần lớn thời gian, bốn người thợ săn còn lại tựa vào bàn hoặc nằm trong giường để mặc hai người kia tranh cãi. Nhưng thực ra họ thích thú lắm, vì thi thoảng họ sẽ bênh một người, lắm khi tất cả bọn họ sẽ cùng lên tiếng, cho đến lúc mà giọng họ xô vào nhau từ mọi phía như những con sóng tạo nên âm vang như tiếng sấm trong không gian nhỏ bé. Chủ đề câu chuyện rất trẻ con và chẳng đâu vào đâu, và những luận điểm họ đưa ra còn trẻ con và chẳng đâu vào đâu hơn. Thực ra, họ chẳng có luận điểm gì hết. Phương pháp tranh luận của họ là một người quả quyết, một người đặt giả thuyết, còn một người bác bỏ. Họ chứng minh hải cẩu con có thể bơi từ lúc mới sinh hay không bằng cách tuôn ra những câu thách thức và tiếp nối với những lời công kích khả năng nhận định, thường thức, quốc tịch, quá khứ của người khác. Kẻ phản đối cũng chẳng khác gì. Tôi cho rằng điều này là biểu hiện sức khỏe tâm thần của những người tôi bị buộc phải tiếp xúc này. Họ có trí tuệ của những đứa trẻ trong hình hài của người trưởng thành.

Họ hút thuốc liên tục thứ thuốc lá sợi thô rẻ tiền có mùi khó chịu. Thứ khói thuốc đó làm không khí đặc nghẹt và âm u; bầu không khí đó cộng với chuyển động dữ dội của con tàu vượt qua giông bão chắc chắn đã khiến tôi say sóng và thành nạn nhân của bệnh tật. Thứ bệnh này khiến tôi nôn nao, nhưng cảm giác đó cũng có thể là do cơn đau ở chân và tình trạng kiệt sức của tôi.

Khi nằm đó nghĩ ngợi, tôi cứ day dứt mãi về bản thân và cái tình cảnh tôi đang mắc phải. Đúng là chuyện có một không hai, khó mà tưởng tượng nổi, tôi, Humphrey Van Weyden, một học giả và là một tài tử, hẳn bạn cũng cho là vậy, về nghệ thuật và văn học, lại nằm đây trên một con thuyền săn hải câu trên biển Bering[1] . Một gã bồi tàu! Tôi chưa từng làm bất cứ công việc nặng nhọc nào trong đời. Tôi đã luôn sống một cuộc sống bình thường, không có gì đặc sắc – cuộc sống của một học giả, một kẻ ẩn dật dựa vào nguồn thu nhập dư dả và ổn định. Bạo lực và thể thao chưa bao giờ hấp dẫn tôi. Tôi luôn là một con mọt sách, đúng như cái biệt danh mà các chị và cha đã gọi tôi ngày còn thơ ấu. Tôi đã từng đi cắm trại một lần duy nhất, chỉ để bỏ đi khỏi bữa tiệc ngay khi nó vừa bắt đầu và trở lại với sự thoải mái và tiện nghi dưới mái nhà. Thế mà tôi lại ở đây, giữa khung cảnh mệt mỏi vô tận của việc soạn bàn, gọt vỏ khoai tây và rửa chén bát.

Tôi chẳng hề khỏe mạnh. Các bác sĩ luôn nói tôi có thể trạng đáng nể, nhưng tôi chưa bao giờ luyện tập hay vận động. Cơ bắp của tôi vừa bé vừa lỏng, chẳng khác nào phụ nữ, ít nhất đó là những gì các bác sĩ đã lặp đi lặp lại với nỗ lực thuyết phục tôi tham gia các hoạt động văn hóa thể thao. Nhưng tôi thích sử dụng trí não hơn là cơ bắp; vậy mà tôi lại ở đây, dù chẳng đủ điều kiện để sống cuộc đời lao lực theo bất cứ cách nào.

Tôi chỉ suy nghĩ được vài điều, tất cả đều liên quan đến việc lí giải cho hoàn cảnh yếu ớt và vô vọng định mệnh đã gán cho mình. Nhưng tôi cũng nghĩ tới mẹ và các chị, tới nỗi tang thương của họ. Tôi nằm trong danh sách những người chết và mất tích trong vụ đắm phà Martinez, xác chưa được tìm thấy. Tôi có thể tưởng tượng ra những đầu đề sẽ xuất hiện trên báo chí, cảnh những người đồng nghiệp ở Câu Lạc Bộ Đại Học và nhóm Bibelot[2] lắc đầu, nói, "Tội nghiệp quý ông đó!" Tôi có thể thấy Charley Furuseth lúc tôi chào tạm biệt anh ta sáng hôm đó, nằm xoài người trong bộ áo ngủ trên ghế bành gần cửa số, cất giọng ngâm những câu thơ bi quan và bí hiểm.

Và trong lúc đó, chao đảo, nhấp nhô, băng qua những tòa núi nước di động, rơi và lăn giữa những thung lũng bọt biển, con tàu buồm Bóng Ma vật lột tìm đường di chuyển về tâm Thái Bình Dương – với tôi trên tàu. Tôi có thể nghe tiếng gió trên boong. Nó lọt vào tai tôi như tiếng gầm gừ bị bóp nghẹt. Tiếng bước chân gõ lên trên đầu, liên tục, ngay lúc này. Tiếng cót két không ngớt vang lên từ bên trên, những tấm gỗ rên rỉ và rít lên the thé, than phiền qua cả ngàn khe hở. Những người thợ săn vẫn tiếp tục tranh cãi và rống lên bằng giọng của loài sinh vật lai giữa người và động vật lưỡng cư. Không khí đặc những lời nguyền rủa thô tục. Tôi có thể thấy gương mặt họ, đỏ bừng đầy tức giận, móp méo hung dữ và nổi bật hơn vì ánh đèn biển màu vàng bệnh hoạn, thứ hết lắc ra trước lại về sau cùng với con thuyền. Qua màn khói thuốc mờ mịt, khoang ngủ trông như ổ của những con thú trong rạp xiếc. Vải dầu và ủng đi biển được treo trên tường, với đây đó những khẩu súng trường, súng ngắn được ghim cẩn thận trên giá. Đây là khung cảnh thích hợp cho lũ cướp biển trong quá khứ. Trí tưởng tượng của tôi đã rối bời, nhưng tôi vẫn không ngủ nổi. Đó là một đêm rất dài, mệt mỏi, đáng sợ và rất dài.

[1] Biển Bering: Hay biển Imarpik là vùng biển ở phần phía bắc của Thái Bình Dương

[2] Bibelot: Tuyển tập thơ được phát hành những năm 1895–1914 tại Mĩ. Ở đây tác giả muốn nói tới nhóm tác giả tập thơ này.
 
Last edited by a moderator:
88 ❤︎ Bài viết: 72 Tìm chủ đề
Chương 5

Nhưng đêm đầu tiên của tôi trong buồng lái với những người thợ săn cũng là đêm cuối cùng. Ngày hôm sau, Johansen, thuyền phó mới bị Larsen Sói chuyển ra khỏi cabin đến ngủ ở chỗ dưới buồng lái, còn tôi được sở hữu cái buồng bé tin hin trong cabin, ngay từ ngày đầu tiên của hải trình nơi này đã có hai người ở. Đám thợ săn nhanh chóng hiểu được lí do của sự thay đổi này và họ làu bàu về nó suốt. Có vẻ Johansen làm sống lại từng sự kiện ban ngày trong giấc ngủ. Những lời nói, hét, rống ra lệnh liên tục của anh ta khiến Larsen Sói không chịu nổi, nên đã đẩy mối phiền hà này cho đám thợ săn.

Sau một đêm mất ngủ, tôi ngồi dậy, dù còn yếu và đau đớn, cà nhắc vượt qua ngày thứ hai của mình trên tàu Bóng Ma. Thomas Mugridge ra lệnh cho tôi ra ngoài vào năm giờ rưỡi, khá giống cách Bill Sykes[1] ra lệnh cho chó của mình. Nhưng sự hung bạo của ông Mugridge lại được đáp trả bằng lòng nhân hậu và sự quan tâm. Tiếng ồn thừa thãi mà anh ta tạo ra (tôi đã mở mắt thao láo cả đêm) đã đánh thức một người trong số những người thợ săn; vì một cái giầy nặng chịch đã bay xuyên qua cảnh tranh tối tranh sáng, thế là ông Mugridge rít lên vì đau, khúm núm xin lỗi tất cả mọi người. Sau đó, ở trong bếp, tôi để ý thấy tai gã đã sưng tấy lên. Cái tai đó không bao giờ trở lại hình dạng ban đầu được nữa, nên bị cánh thủy thủ gọi là "Tai súp lơ".

Ngày trôi qua với toàn những nỗi khốn khổ. Tôi đã lấy quần áo khô của mình ra khỏi bếp từ đêm trước, sau đó việc đầu tiên tôi làm là thay đám giẻ rách của gã đầu bếp ra và mặc chúng. Tôi kiểm tra ví. Ngoài một ít tiền lẻ (tôi có trí nhớ khá tốt trong những việc thế này), trong ví còn một trăm tám mươi lăm đô la cả tiền vàng và tiền giấy. Nhưng khi tôi mở ra xem, ngoài một ít đồng bạc lẻ, ví trống không. Tôi đã nói chuyện với gã đầu bếp về chuyện này khi lên boong thực hiện nhiệm vụ của mình ở bếp; tôi đã lường trước một câu trả lời không mấy thân thiện, nhưng tôi không ngờ được bài diễn văn hung hăng đón đợi mình.

"Xem này, Hump đây mà," gã bắt đầu, vẻ độc ác ánh lên trong mắt, họng hầm hừ khe khẽ, "Muốn ăn đấm vào mũi hả? Mày nghĩ tao là trộm thì im mồm lại, không thì mày sẽ nhận ra mình đã phạm một sai lầm tồi tệ. Nếu đây là cách mày tỏ lòng biết ơn thì trời đánh tao! Mày trôi tới đây như một nùi rác bẩn thỉu, chính tao đã đưa mày vào bếp, đối xử tử tế với mày để được trả ơn như thế này đây. Lần sau mày hãy chết đi cho rảnh, tao sẽ chẳng thèm quan tâm đâu."

Để kết thúc nỗi xấu hổ vô vàn, tôi rụt lại và chạy ra khỏi cửa bếp. Tôi biết làm gì nữa? Bạo lực, chỉ có bạo lực là được tôn trọng trên con tàu toàn kẻ cục súc này. Tôn trọng luân thường đạo lí là một khái niệm xa lạ. Bạn hãy tưởng tượng xem: Một người đàn ông bình thường, mảnh khảnh, cơ bắp yếu ớt, người đã sống một cuộc đời bình lặng êm đềm, chưa từng biết tới bất kì hình thức bạo lực nào – một người như thế có thể làm gì? Chẳng có lí do gì để tôi phải đứng lại đối diện với con quái vật lốt người đó, giống như lí do tôi không nên đứng lại đối diện với một con bò điên.

Lúc đó tôi đã nghĩ vậy, vì cảm thấy cần phải tự thanh minh và xoa dịu lương tâm của mình. Nhưng tự thanh minh như thế không khiến tôi hài lòng. Tới tận bây giờ tôi vẫn không thể quay đầu nhìn lại sự việc đó và tha thứ cho bản thân. Tình cảnh đó không cho phép các cách hành xử hợp lí diễn ra, nó yêu cầu nhiều hơn cái kết luận lạnh lùng về nguyên do hành động. Khi xem xét bằng tư duy thông thường, đó không phải chuyện đáng xấu hổ, nhưng tôi vẫn thẩy nhục nhã khi nhớ lại, nói xét nhân phẩm của một con người, tôi cảm thấy rằng nhân phẩm của mình đã bị cười nhạo và sỉ nhục.

"Nhìn nó chạy kìa! Nhìn nó chạy kìa! Tao nghe nó khóc đấy. Cái chân thì èo uột thế kia! Quay lại đây, thằng bám váy mẹ! Tao không sợ mẹ mày đâu, còn lâu!" Tôi quay lại, tiếp tục công việc, chuyện kết thúc ở đó, dù nó vẫn kéo đến những sự việc tiếp theo. Tôi soạn bàn ăn sáng trong cabin vào lúc bảy giờ để đợi sẵn nhóm thợ săn và chỉ huy tàu. Rõ ràng cơn bão đã kéo đến đêm qua, dù mặt biển vẫn lặng và gió vẫn thổi. Buồm đã được căng vào phiên gác sáng, tàu Bóng Ma đang chạy bằng tất cả các buồm, trừ hai buồm đỉnh và buồm phụ rời.

Tôi nghe được rằng có ba cánh buồm được căng ngay sau bữa sáng. Tôi cũng nhận ra Larsen Sói nóng lòng muốn tận dụng sức gió từ cơn bão để đẩy thuyền về phía tây nam, vào vùng biển mà ông hi vọng sẽ bắt kịp làn gió mậu dịch. Trước khi gặp cơn gió mạnh mẽ mà ông ta hi vọng sẽ góp phần lớn công sức đưa tàu tới Nhật Bản, vòng theo hướng nam tới vùng nhiệt đới và rồi lại về hướng bắc khi ông đã tiến tới gần bờ biển châu Á.

Sau bữa sáng, tôi lại gặp một sự kiện cực kì khó chịu. Khi tôi sửa xong chén bán, tôi lau chùi bếp lò và mang tro than lên boong để đem đổ. Larsen Sói và Henderson đang đứng gần bánh lái, mải mê nói chuyện. Anh thủy thủ Johnson đang điều khiển tàu. Khi tôi bắt đầu lại gần sườn đón gió, tôi thấy ông ta chợt hất đầu và lầm tưởng rằng đó là hành động hàm ý chào buổi sáng. Thật ra, ông ta định cảnh báo tôi phải đổ tro ở sườn khuất gió. Không hề biết mình đã hiểu lầm, tôi đi qua chỗ Larsen Sói và gã thợ săn, hất tro ngược vào gió. Gió thổi chúng lại, không chỉ vào tôi, mà còn vào cả Henderson và Larsen Sói.

Ngay giây tiếp theo, gã thợ săn đá tôi như đá một kẻ vô lại. Tôi không biết rằng một cú đá có thể đau như thế. Tôi loạng choạng lùi lại, tựa vào cabin trong tình trạng sắp ngất tới nơi. Mọi thứ trước mắt tôi quay cuồng, tôi như ốm vậy. Cơn buồn nôn ngập ứ tôi, may là tôi chịu đựng được, bò tới mạn sườn đúng lúc để không làm bẩn sàn. Nhưng Larsen Sói thì không đi theo tôi. Sau khi phủi tro dính trên quần áo, ông ta tiếp tục trò chuyện cùng Hendersen.

Johansen, người thấy tất cả sự vụ từ bục đuôi tàu, đã cho vài thủy thủ đi lên dọn dẹp.

Cũng sáng hôm đó, sau đó một lúc lâu, tôi chứng kiến một điều ngạc nhiên khác hẳn. Theo hướng dẫn của gã đầu bếp, tôi đi tới phòng riêng của Larsen Sói để dọn phòng và giường. Trên tường, gần đầu giường là một giá đầy những sách. Tôi liếc qua chúng, kinh ngạc nhận ra những cái tên như Shakespheare, Tennyson, Poe và De Quincey[2] . Có cả những tác phẩm khoa học với những cái tên tiêu biểu như Tyndall, Proctor, Darwin[3] và tôi nhận ra cuốn "Kỉ Nguyên Hoang Tưởng" của Bulfinch[4], "Lịch Sử Văn Học Anh và Mĩ" của Shaw[5], hai cuốn lớn "Lịch Sử Tự Nhiên của Johnson". Có cả một số cuốn sách ngữ pháp như sách của Metcalf, Reed và Kellogg; tôi mỉm cười khi thấy một bản "Tiếng Anh của Dean". Tôi không thể liên hệ những cuốn sách này với người đàn ông mà mình biết, tôi cũng thắc mắc không biết ông ta có thể đọc chúng không. Nhưng khi tôi đi tới bên giường, tôi đã tìm thấy, cuộn trong chăn như thế ông ta đã nằm xuống đó ngủ, là cuốn Browning[6] bản đầy đủ. Nó được mở ở đoạn "Trong ban công," và tôi để ý đây đó có những chỗ được gạch chân bằng bút chì. Ngoài ra, khi thuyền nghiêng ngả hất cuốn sách chệch đi, một tờ giấy đã rơi ra. Nó được vẽ kín những bản đồ và công thức tính toán gì đó.

Đây là bằng chứng cho thấy người đàn ông khủng khiếp đó không phải là một kẻ cục súc vô tri như những gì người ta sẽ đoán nếu chỉ vào cách hành xử hung bạo của ông ta. Ngay lập tức, ông ta trở nên huyền bí. Nếu chỉ xét về một khía cạnh, người ta có thể lí giải bản tính của ông ta, nhưng hai khía cạnh này cùng hội tụ sẽ khiến người ta bối rối. Tôi đã để ý thấy vốn ngôn ngữ của ông ta rất tốt, tuy bị làm hỏng vì một vài chỗ thiếu chính xác. Đương nhiên, trong những câu nói thường ngày với các thủy thủ và thợ săn, đôi lúc nó rối tung lên toàn những lỗi, có lẽ đó là vì phương ngữ; nhưng đôi lần ông ta nói chuyện với tôi, ngôn ngữ được sử dụng rất rõ ràng và chính xác.

"Tôi đã bị cướp," tôi nói với ông ta vào một lúc sau, khi thấy ông đang đi lại trên đuôi tàu một mình.

"Thưa ông," ông ta sửa lại, không gay gắt, nhưng nghiêm nghị.

"Tôi đã bị cướp, thưa ông," tôi chỉnh lại theo. "Chuyện đó xảy ra như thế nào?" Ông ta hỏi.

Thế là tôi kể cho ông ta toàn bộ sự việc: Quần áo của tôi được bỏ lại để hong khô ở bếp như thế nào, và tôi đã suýt bị gã đầu bếp đánh như thế nào khi nhắc về vấn đề đó. Ông ta mỉm cười khi nghe bài diễn văn của tôi.

"Trộm à," ông ta kết luận, "Gã bếp đã trộm. Anh nghĩ cuộc đời khốn khổ của anh đáng giá ngần đó thôi sao? Hãy coi đó là một bài học. Rồi anh sẽ phải học tự lo giữ lấy tiền của mình đi. Tôi cho là, cho tới bây giờ, anh vẫn để luật sư hoặc là tay quản lí tài chính nào đó lo việc này cho mình."

Tôi có thể nghe thấy tiếng cười khinh bỉ câm lặng vang lên giữa những câu nói đó, nhưng vẫn hỏi tiếp, "Làm thế nào tôi có thể lấy lại tiền?"

"Đó là việc của anh. Anh không có luật sư hay quản lí tài chính nào ở đây, nên tự lo lấy thân đi. Có lấy một xu cũng phải giữ cho chắc. Một kẻ để tiền của mình lung tung như anh thì mất là đáng đời. Hơn nữa, anh có tội. Anh không có quyền cám dỗ đồng loại phạm tội như vậy. Anh đã cám dỗ thằng Bếp, nó rơi vào bẫy. Anh đã đẩy linh hồn bất diệt của nó vào vòng nguy hiểm. Mà phải rồi, anh có tin vào sự bất diệt của linh hồn không?" Ông ta lười nhác hé mí mắt khi hỏi thế, vậy mà tôi tưởng như trông thấy như một hố đen mở ra trước mắt và tôi đang nhìn vào linh hồn ông ta. Nhưng đó chỉ là một ảo ảnh. Dù thế nào chăng nữa, không con người nào có thể nhìn thấy linh hồn Larsen Sói, chứ đừng nói là nhìn sâu vào linh hồn ông ta; tôi tin chắc điều đó. Đó là một linh hồn vô cùng cô độc, tôi dần hiểu ra, chưa bao giờ bị lột trần kể cả trong những khoảng khắc hiếm hoi nó tự hé lộ.

"Tôi thấy được sự bất diệt trong mắt ông," tôi trả lời, bỏ từ "thưa ông" đi – tôi đang thử, tôi cho rằng cuộc trò chuyện này đã đủ thân mật để được phép làm vậy.

Ông ta không hề để ý. "Nếu thế, tôi cho là anh đã thấy một thứ có sự sống, nhưng nó không nhất thiết phải sống mãi."

"Tôi thấy được nhiều hơn thế," tôi táo gan tiếp tục.

"Tức là anh thấy được ý thức. Anh thấy được ý thức về sự sống đang diễn ra; nhưng, không có gì xa hơn thế, không hề có sự sống vĩnh cửu." Ông ta suy nghĩ rất rõ ràng và trình bày suy nghĩ của mình rất tốt! Ông tò mò nhìn rôi, rồi quay đầu liếc về phía mặt biển xám xịt lộng gió. Đôi mắt ông ảm đạm hẳn, đường môi mím lại gay gắt và khắc nghiệt. Rõ ràng là ông ta đang cảm thấy bi quan.

"Vậy, kết cuộc nằm ở đâu?" Ông đột nhiên hỏi, quay lại phía tôi. "Nếu tôi là một linh hồn bất diệt, thì tại sao lại thế?" Tôi khựng lại. Làm thế nào tôi có thể giải thích lí tưởng của mình cho người đàn ông này? Làm thế nào tôi có thể cất lời về cảm giác khi rơi, về dòng âm nhạc trong giấc mơ, về một điều xác tín nhưng lại vượt ra ngoài giới hạn ngôn từ? "Vậy ông tin điều gì?" Tôi hỏi ngược lại.

"Tôi tin rằng sự sống là một mớ hỗn độn," ông ta trả lời ngay lập tức. "Nó giống như men rượu, một thứ chuyển động và có thể chuyển động trong một phút, một giờ, một năm, một trăm năm, nhưng rồi cuối cùng sẽ dừng chuyển động. Cá lớn nuốt cá bé để chúng có thể tiếp tục chuyển động, kẻ mạnh nuốt kẻ yếu để chúng tiếp tục duy trì được sức mạnh. Kẻ may ăn nhiều và sống dai nhất, có vậy thôi. Anh hiểu gì về những điều đó?" Ông ta đưa tay với vẻ thiếu kiên nhẫn chỉ về nhóm thủy thủ đang làm gì đó với những dây chằng ở giữa tàu.

"Chúng chuyển động. Sứa cũng biết chuyển động. Chúng di chuyển để kiếm ăn để có thể tiếp tục di chuyển. Anh cũng thế. Chúng sống vì cái bụng mình, bụng chúng lại giữ chúng tồn tại. Một vòng luẩn quẩn, anh chẳng đi tới đâu được cả. Chúng cũng vậy. Tới khi kết thúc, chúng vẫn giậm chân tại chỗ. Chũng không di chuyển nữa. Chúng chết."

"Họ có những giấc mơ," tôi ngắt lời; "những giấc mơ sáng ngời, chớp nhoáng.."

"Hoặc cơn đói cồn cào," ông ta kết luận thẳng thừng.

"Nhiều hơn thế.."

"Cơn đói. Hoặc chúng có những cơn đói khát mạnh hơn và gặp nhiều may mắn hơn trong việc thỏa mãn cái bụng mình." Giọng ông ta rất khắc nghiệt. Không hề có sự lười biếng trong đó. "Anh hãy tự nhìn đi, chúng mơ về những hành trình may mắn sẽ mang về cho mình nhiều tiền hơn, mơ trở thành chủ những con tàu, mơ tìm được vận may – nói ngắn gọn lại, mơ được sống tốt hơn nhờ trèo lên đầu đồng loại của mình, được sống qua đêm dài với giấc mơ đẹp, để những công việc bẩn thỉu cho kẻ khác. Anh và tôi cũng giống chúng. Chẳng có gì khác biệt, ngoại trừ việc chúng ta ăn nhiều hơn, ăn ngon hơn. Tôi đang ăn chúng, cả anh cũng vậy. Nhưng trong quá khứ, anh ăn nhiều hơn tôi. Anh ngủ trên giường êm, mặc quần áo đẹp, ăn những món ngon. Ai làm ra giường, quần áo và những bữa ăn đó? Không phải anh. Anh chưa bao giờ làm ra bất cứ thứ gì bằng mồ hôi nước mắt của mình. Anh sống nhờ vào thu nhập cha anh kiếm được. Anh chẳng khác nào con cốc biển xà xuống cướp những con cá mà ó biển bắt được. Anh là một trong số người làm nên thứ người ta gọi là chính phủ, những kẻ là ông chủ của tất cả những người khác, kẻ ăn đồ ăn những người khác kiếm được và sẽ ăn luôn cả họ nữa. Anh mặc áo ấm. Họ may quần áo, nhưng họ run cầm cập trong manh áo rách và cầu xin anh, hoặc xin luật sư hoặc gã quản lí tài chính nắm giữ tiền bạc của anh một công việc."

"Những chuyện đó nằm ngoài vấn đề rồi." Tôi hét lên.

"Không hề." Giờ ông ta nói gấp gáp, mắt lóe lên. "Đó là sự tham lam, đó là sự sống. Sự bất diệt của tính tham đó có tác dụng gì, gợi cảm giác gì? Kết cuộc là gì? Tất cả là vì điều gì? Anh không làm ra đồ ăn, nhưng đồ ăn anh đã ăn và lãng phí có thể cứu nhiều mạng sống của những kẻ khốn khổ làm ra thức ăn nhưng lại không được ăn. Anh phục vụ cho kết cuộc bất diệt nào? Họ thì sao? Cứ xem tôi và anh đi. Anh khoe khoang gì về sự bất diệt khi cuộc đời anh đối nghịch với tôi? Anh muốn trở lại đất liền, mảnh đất tươi tốt cho tính tham của anh phát triển. Chính quyết định của tôi đã giữ anh lại trên chiếc tàu này, nơi tính tham của tôi phát triển. Và tôi sẽ tiếp tục giữ anh ở đây. Tôi có thể khiến anh trưởng thành, hoặc tàn phá anh. Anh có thể chết hôm nay, tuần này, hoặc tháng tới. Tôi có thể giết anh ngay bây giờ, chỉ bằng một cú đấm, vì anh quá yếu ớt. Nhưng nếu chúng ta bất diệt, thì lí do cho tất cả những chuyện này là gì? Tham lam như anh và tôi, cuộc đời cả hai tôi không giống thứ sự bất diệt cần đến. Vậy tất cả những chuyện này là vì cái gì? Tại sao tôi lại giữ anh ở đây?"

"Bởi vì ông mạnh hơn," tôi xoay xở thốt lên.

"Nhưng tại sao lại mạnh hơn?" Ông ta lập tức tiếp tục những câu hỏi không hồi kết. "Bởi vì tôi có nhiều men rượu hơn anh. Anh có thấy không? Anh có thấy không?"

"Nhưng đấy là tuyệt vọng," tôi phản đối.

"Tôi đồng ý với anh," ông ta đáp. "Thế thì tại sao lại chuyển động làm gì, vì chuyển động nghĩa là sống? Không có chuyển động sẽ trở thành một phần của con men thì sẽ không có tuyệt vọng. Nhưng – thế mà lại có – chúng ta sống và di động, dù chẳng có lí do gì cả, nó cứ xảy ra bởi bản chất của sự sống là để sống và chuyển động, để muốn được sống và chuyển động. Nếu không phải vì thế, sống sẽ là chết. Bởi vì sự sống có trong anh nên anh mới mơ về sự bất diệt của bản thân. Sự sống có trong anh đang sống và muốn được sống mãi. Ha! Sự vĩnh hằng của tính tham!"

Ông ta đột ngột xoay gót và xông lên trước. Ông ta dừng lại ở bục đuôi tàu và gọi tôi theo.

"Nhân tiện, thằng đó thó được bao nhiêu vậy?" Ông ta hỏi.

"Một trăm và tám mươi đô la, thưa ông," tôi trả lời.

Ông ta gật đầu. Một lát sau, khi tôi bắt đầu đi xuống cầu thang để soạn bàn ăn cho bữa tối, tôi nghe ông ta to tiếng rủa sả ai đó ở giữa tàu.

[1] Bill Sykes: William "Bill" Sikes, nhân vật trong tác phẩm Oliver Twist của Charles Dickens

[2] Shakespheare, Tennyson, Poe và De Quincey: Các nhà thơ, nhà văn nổi tiếng của Anh và Mĩ.

[3] Tyndall, Proctor, Darwin: Các nhà khoa học nổi tiếng vào thế kỉ 19.

[4] Thomas Bulfinch: Nhà văn người Mĩ, nổi tiếng nhất với tác phẩm Bulfinch"s Mythology.

[5] Thomas Budd Shaw: Nhà văn người Mĩ vào thế kỉ 19.

[6] Browning: Hay Robert Browning, nhà thơ và nhà biên kịch người Anh.
 
88 ❤︎ Bài viết: 72 Tìm chủ đề
Chương 6

Sáng ngày hôm sau, cơn bão đã ngưng, tàu Bóng Ma lướt nhẹ trên mặt biển êm đềm lặng gió. Thi thoảng, luồng gió nhẹ sẽ thổi qua, Larsen Sói kiểm tra sàn sau tàu liên tục, mắt ông ta dõi nhìn mặt biển phía đông bắc, hướng gió tín phong sẽ thổi.

Cánh đàn ông lên hết trên boong bận rộn chuẩn bị cho những con thuyền đủ loại của mình trước mùa săn bắt. Có bảy chiếc xung quanh, ngoài con thuyền ba lá của thuyền trưởng, các thợ săn sẽ dùng sáu thuyền còn lại. Ba người bao gồm một thợ săn, một tay chèo, một một người lái sẽ thành một tổ thuyền. Trên tàu buồm, những tay chèo và lái thuyền là thuyền viên. Những người thợ săn đáng ra cũng phải chịu sự chỉ huy của gác tàu, luôn luôn nghe lệnh Larsen Sói.

Tôi đã học tất cả những điều này và nhiều điều khác nữa. Tàu Bóng Ma được xem là tàu buồm nhanh nhất trong cả đội tàu ở San Francisco và Victoria. Thực ra, nó từng là một du thuyền cá nhân, được thiết kể để chạy nhanh nhất có thể. Những đường nét và phụ kiện của nó, dù tôi không biết gì về những thứ này, đã tự chứng tỏ khả năng của chúng. Johnson đang kể cho tôi về con tàu trong cuộc trò chuyện ngắn ngủi vào phiên gác hai tiếng[1] * tối ngày hôm qua. Anh ta kể rất nhiệt tình, tình yêu của anh dành cho con tàu xinh đẹp chẳng khác nào những kẻ mê ngựa với ngựa hay. Anh ta tỏ ra ghê sợ viễn cảnh tương lai, tôi được giải thích rằng trong các thuyền trưởng tàu săn hải cẩu, Larsen Sói có tiếng tăm rất tệ. Chính tàu Bóng Ma là thứ cám dỗ Johnson kí hợp đồng tham gia chuyến đi, nhưng anh ta bắt đầu hối hận rồi.

Theo như anh ta nói, tàu Bóng Ma là một tàu buồm mười tám tấn có thiết kế tuyệt đẹp. Sườn ngang, nói cách khác là chiều rộng của nó có độ dài bảy mét, chiều dài hơn hai mươi bảy mét. Long cốt bằng chì tuyệt hảo, tuy không biết rõ trọng lượng chính xác nhưng luôn giữ tàu ổn định, dù thân tàu luôn căng những tấm vải khổng lồ. Từ boong tới mối dây trên cột đỉnh buồm chính là khoảng hơn ba mươi mét, cột buồm mũi lại có cột đỉnh ngắn hơn khoảng hai mét rưỡi tới ba mét. Tôi kể ra những chi tiết đó để kích thuớc thế giới trôi nổi nhỏ bé chứa hai mươi hai con người này được chú ý hơn. Đây là một thế giới cực kì nhỏ bé, nó là một dấu chấm, một con bọ giữa đại dương, tôi lấy làm ngạc nhiên khi người ta dám mạo hiếm du hành vượt biển trên một vật quá nhỏ bé và mong manh tới vậy.

Larsen Sói cũng nổi tiếng về độ liều lĩnh khi lái tàu. Tôi đã nghe Henderson và một người thợ săn tên là Standish, một người California, bàn luận về điều đó.

Hai năm trước, ông ta đã đưa tàu Bóng Ma vượt qua một cơn bão ở Biển Bering, thế nên các cột buồm hiện tại được lắp lại khỏe hơn, chắc chắn hơn. Người ta nói khi lắp lại chúng, ông ta đã nói thà lật thuyền còn hơn mất những cột gỗ đó.

Tất cả những người trên tàu, trừ Johansen, người đã vui hơn bởi được thăng chức, đều vì lí do nào đó mới lên tàu Bóng Ma. Một nửa số họ là thủy thủ vùng nước sâu, lí do của họ là không biết gì về tàu lẫn thuyền trưởng hết. Những gã thợ săn đều đã được nghe về lời đồn, họ bắn rất giỏi, nhưng cũng nổi tiếng về tính nóng nảy thích gây gổ tới nỗi không thể đăng kí đi lên bất kì con tàu tử tế nào.

Tôi đã làm quen được với một thuyền viên khác. Anh ta tên là Louis, một gã Ireland vùng Nova Scotia có gương mặt tròn vui tính, một người bạn thân thiện, sẵn sàng nói bất kì điều gì miễn là tìm được người chịu nghe. Vào buổi chiểu, khi đầu bếp đã ngủ gật còn tôi bận gọt đống khoai tây bất tận, Louis sẽ nhảy vào bếp để "kiếm chuyện". Lí do anh ta lên tàu là vì đã kí trong lúc say. Anh ta quả quyết với tôi hết lần này tới lần khác rằng việc lên tàu là điều cuối cùng anh ta dám nghĩ đến nếu tỉnh táo. Có vẻ anh ta đã đi săn hải cẩu theo mùa cả hơn chục năm nay và được coi là một trong hai hoặc ba người lái thuyền giỏi nhất trong cả đội tàu.

"Ôi, chàng trai," anh ta lắc đầu ái ngại với tôi, "Anh đã lên con tàu tệ nhất; dù lúc đó anh có say như tôi hay không. Săn hải cẩu đúng là thiên đường của thủy thủ, nếu chúng ta lên bất cứ con tàu nào khác. Đầu tiên là thuyền phó, nhưng, nhớ lời tôi, sẽ còn nhiều người nữa phải chết trước khi chuyến đi kết thúc. Nơi đây, đứng giữa anh và tôi và hai cột lan can là con quỷ Larsen Sói, còn tàu Bóng Ma là con tàu địa ngục kể từ khi lão làm chủ nó. Sao tôi biết hả? Sao tôi biết? Sao tôi quên được lão ngày ở Hakodate hai năm trước, khi lão nổi điên lên bắn bốn người của chính mình? Chẳng phải lúc đó tôi đang nằm trên Emma L cách đó chưa đến một trăm mét sao? Năm đó lão còn dùng tay đấm chết một người. Đúng thế, ông ta đã giết chết gã.. Ôi. Đầu gã vỡ toang như vỏ trứng ấy. Lão là một con quái thú, Larsen Sói là con quái thú khủng khiếp nhất trong Khải Huyền; lão sẽ không có kết cục tốt đẹp đâu. Nhưng nhớ là tôi chưa nói gì với anh đó; tôi chưa bao giờ rỉ ra một từ nào cả; vì Louis già bệu sẽ sống sót qua chuyến hành trình này, dù thằng con trai út của mẹ anh đi ngủ với cá."

"Larsen Sói!" anh ta khịt mũi sau một lúc. "Nghe mà xem, có thấy không! Ông ta là sói, ông ta không thâm độc như một số kẻ. Nhưng ông ta không hề có tim. Sói, ông ta chỉ là sói thôi. Anh không thắc mắc về danh tiếng của ông ta sao?"

"Nhưng nếu ông ta có tiếng xấu tới vậy," tôi hỏi, "làm thế nào ông ta thuê được người lên tàu?"

"Anh làm thế nào để thuê người làm bất cứ việc gì trên đất và biển của Chúa trời?" Louis vặn lại với khí thế hừng hực của người Celt. "Làm thế nào anh gặp được tôi trên thuyền nếu tôi không say như lợn lúc kí tên? Có những kẻ không thể lên thuyền của những người tử tế hơn, như đám thợ săn, có những kẻ không biết, như đám ngu ở tàu buôn kia. Nhưng họ sẽ lên tàu, họ sẽ lên tàu rồi hối tiếc hết cả đời còn lại. Tôi có thể khóc thương đám tội nghiệp đó, nếu tôi quên trên đời còn có Louis già béo bệu cùng bao khốn khổ. Mà tôi không nói một lời nào đâu, nhớ chưa, không một lời nào."

"Đám thợ săn láu cá lắm," anh ta lại tiết lộ, vì không chịu được bệnh thừa lời hành hạ. "Nhưng cứ đợi đến lúc chúng chọc vào lão mà xem. Lão sẽ xử lí chúng. Nếu là lão, lão sẽ khiến trái tim thối rữa thâm độc của chúng biết sợ Chúa lần nữa. Hãy nhìn gã thợ săn kia kìa. Horner, Horner" Lươn ", người ta gọi gã thế đó, giờ nó ít lời như đám ba phải, có nói cũng lít nhít như con gái, anh sẽ nghĩ tưởng bơ còn rắn hơn miệng gã. Nhưng gã có giết lái thuyền của mình vào năm ngoái không? Tôi đã nghĩ đó là một tai nạn đáng tiếc, nhưng rồi tôi gặp tay chèo cùng tổ thuyền đó ở Yokohama, thế mới sáng mắt ra. Cả Smoke nữa, cái thằng đen đúa quỉ quyệt – bọn người Nga đã nhốt gã ba năm trong mỏ muối ở Siberia vì săn trộm cá ở Đảo Copper, trên đất Nga? Còng cả tay lẫn chân của gã với thuyền phó lại. Vậy hai gã đó có bao giờ gây gổ đánh lộn không? Smoke đã chuyển bạn mình lên đỉnh hầm mỏ bằng giỏ treo; mỗi lần một miếng, hôm nay cái chân, ngay mai cái tay, ngày kia cái đầu, cứ vậy cho tới hết."

"Không thể nào có chuyện đó được!" Tôi thốt lên, sau khi nỗi sợ hãi qua đi.

"Chuyện gì?" Anh ta hỏi lại, nhanh như chớp. "Tôi chẳng nói gì cả. Tôi điếc, còn anh thì đần, nếu muốn được yên thân; tôi chưa bao giờ mở miệng nói bất kì điều gì về họ lẫn lão. Chúa nguyền rủa linh hồn ấy! Biết đâu lão sẽ thối rữa để ăn năn trong mười ngàn năm nữa, rồi đi xuống tầng địa ngục thấp nhất từng có!" Johnson, người đã cào xước ngực tôi khi tôi mới lên tàu, có vẻ là người không được chia nhiệm vụ ở mũi tàu hay đuôi tàu rõ ràng như những người khác. Thực ra, anh ta chẳng có gì rõ ràng hết. Có người bị ấn tượng bởi sự thẳng thắn và nam tính của anh ta, nhưng rồi lại bị thất vọng bởi những biểu hiện có thể bị nhầm với tính rụt rè. Nhưng anh ta không rụt rè. Anh ta can đảm bảo vệ lòng tin và nhân phẩm của mình. Anh ta sẽ đứng ra bảo vệ những điều đó, như lần đầu tiên chúng tôi gặp mặt, anh ta bị nhầm tên thành Yonson vậy. Dựa vào biểu hiện đó và chính con người anh ta, Louis đã đưa ra nhận xét và tiên đoán thế này.

"Nó là một đứa ổn, cái thằng đầu đá Johnson đang ở khoang mũi với chúng ta," anh ta nói. Nó là thủy thủ giỏi nhất trong đám trên khoang mũi. Nó là tay chèo của tôi. Nhưng nó gặp rắc rối nên mới phải tìm đến Larsen Sói, giống như khói sẽ bay lên trên vậy. Chỉ mình tôi biết thôi. Tôi đoán trước được như nhìn cách mây cuộn tròn trước cơn bão. Tôi trò chuyện với nó như là anh em, nhưng nó không ưa nói chuyện hoặc toàn hiểu nhầm ý tôi. Nó nổi cáu khi không được như ý, mà lúc nào ở đây cũng lắm kẻ mách lẻo sẵn sàng truyền lời tới tai Sói. Sói rất mạnh, nên lão ghét sức mạnh, mà lão nhận ra Johnson rất mạnh – chẳng khúm núm chút nào, mấy câu "Vâng, thưa ông," "Cảm ơn, thưa ông," mà cậu ta thốt lên đơn giản vì bị chửi hoặc đánh thôi. Ôi, gió đến rồi! Gió đến rồi! Chúa mới biết tới bao giờ tôi sẽ có tay chèo khác. Tại sao thằng ngốc đó lại phải lên tiếng khi Lão Già gọi nó là Yonson, "Tên tôi là Johnson, thưa ông," rồi lại còn đánh vần ra từng chữ cái một. Anh phải thấy bản mặt Lão Già! Tôi cứ nghĩ lão sẽ xông tới cho nó một trận ngay cơ. Lão không làm thế, nhưng rồi sẽ cho nó một trận thôi, lão sẽ đập nát trái tim thằng đầu đá đó, hoặc làm theo cái cách tôi chưa từng chứng kiến, cách mấy gã trên thuyền của lão từng chết. "

Thomas Mugridge càng ngày càng tai quái. Tôi buộc phải gọi gã bằng" ông "mỗi khi mở miệng. Một trong số lí do cho cớ sự ấy là vì Larsen Sói có vẻ thích gã. Theo như tôi biết, chuyện thuyền trưởng thân thiết với đầu bếp là chuyện chưa từng xảy ra, nhưng rõ ràng Larsen Sói đang làm như vậy. Thi thoảng ông ta sẽ thò đầu xuống bếp, thân mật châm chọc Mugridge. Và có một lần, vào chiều nay, ông ta đứng ở bục đuôi tàu và nói chuyện với gã tới tận mười lăm phút tròn. Khi hai người họ dứt chuyện, Mugridge trở vào bếp, hào hứng lạ thường, thậm chí còn vừa làm việc vừa ngâm nga những bài hát vùng Coster bằng giọng nam the thé lộn xộn.

" Tao luôn thân thiết với cấp trên, "gã cất giọng tự tin nói với tôi." Tao biết tại sao, vì tao luôn biết cách để được yêu quý. Thuyển trưởng trước của tao ấy, tao chẳng phải nghĩ ngợi gì khi tạt vào cabin trò chuyện hay làm một ly. Ông ta nói với tao, "Mugridge, Mugridge, anh sinh lầm chỗ rồi." "Sao lại thế?" tao hỏi lại. "Anh đáng ra phải sinh trong nhà quyền quý, không phải làm việc kiếm sống." Tao mà nói dối thì trời đánh tao đi. Ông ấy đã nói thế với tao, còn tao ngồi ngay ở trong cabin riêng của ông ấy, vui vẻ lại thoải mái, hút một điếu thuốc, còn uống rượu rum nữa. "Giọng lách cha lách chách của gã khiến tôi mất tập trung. Tôi chưa bao giờ thấy ghét giọng ai đến thế. Giọng gã lổn nhổn và nhầy nhụa, nụ cười thì giả lả, chưa kể đến tính tự phụ khủng khiếp khiến tôi ghê tởm tới nỗi đôi lúc toàn thân run lên. Về mặt tích cực, thì hẳn tôi sẽ không còn gặp kẻ đáng ghê tởm và khó ưa hơn gã nữa. Gã nấu nướng bẩn thỉu không thể tả; nhưng gã là kẻ làm ra tất cả đồ ăn trên tàu, nên tôi buộc phải chọn lựa cẩn thận những gì cho vào miệng từ những phần ít bẩn nhất trong chỗ đồ gã nấu.

Đôi bàn tay khiến tôi gặp phiền nhiễu lớn, vì chúng không quen làm việc. Móng tay bị đổi màu, nhuộm đen đi, còn lớp da thì nhẵn những ghét, tới nỗi có dùng bàn chải cũng không hết nổi. Tiếp đó, những vết rộp xuất hiện hành hạ tôi không dứt. Tôi còn bị vết bỏng lớn ở cẳng tay vì không giữ được thăng bằng một lần tàu nghiêng nên đã bị ném vào bếp lò. Đầu gối tôi cũng chẳng tốt hơn. Cục sưng không biến mất, nó vẫn ở nguyên trước xương bánh chè. Khập khiễng trên cái chân đó từ sáng tới tối càng khiến nó tệ đi. Tôi cần nghỉ ngơi, ấy là nếu cái chân này còn có thể lành lại.

Nghỉ ngơi! Tôi chưa bao giờ hiểu nghĩa từ này. Tôi đã nghỉ ngơi cả cuộc đời này và còn không biết điều đó. Nhưng nếu giờ tôi có thể ngồi yên nửa tiếng đồng hồ không làm gì, không cả nghĩ ngợi, thì đó sẽ là nửa tiếng dễ chịu nhất đời. Nhưng mặt khác, chuyện này cũng khiến tôi sáng ra nhiều điều. Từ giờ trở đi, tôi sẽ biết coi trọng cuộc sống của những con người lao động. Tôi chưa từng nghĩ rằng làm việc lại là một điều tệ hại. Từ năm giờ rưỡi sáng tới mười giờ đêm, tôi là nô lệ của tất cả mọi người, không có một giây rảnh rang cho chính mình trừ lúc trộm lười biếng vào cuối phiên gác hai tiếng buổi tối. Tôi sẽ dừng lại một phút để nhìn ra mặt biển lấp lánh ánh mặt trời, hoặc nhìn một người thủy thủy đang đu lên cột buồm đỉnh, siết dây chằng ở rầm néo buồm, rồi sau đó tôi sẽ nghe cái giọng đáng ghét vang lên," Ê, mày đó, Hump! Đừng có chểnh mảng! Tao vẫn coi chừng mày đấy. "

Có mùi căng thẳng tỏa ra từ buồng lái, có tin đồn là Smoke và Henderson đã đánh nhau. Henderson có vẻ là một trong số những thợ săn giỏi nhất, một gã ù lì và khó bị kích động; nhưng hẳn gã kích động nên mặt Smoke mới có một bên mắt sưng và thâm tím, trông ác độc hơn hẳn khi vào cabin dùng bữa tối.

Một chuyện tồi tệ xảy ra ngay trước bữa tối đã cho tôi thấy sự tàn nhẫn và hung bạo của những người đàn ông này. Có một tay mới trong nhóm thuyền viên, tên là Harrison, một thằng nhóc nông thôn trông khá lóng ngóng. Tôi cho là nó đã nuôi giấc mơ phiêu lưu nên mới thực hiện chuyến đi đầu tiên này của mình. Gió thổi nhẹ và thất thường, nên con tàu bị chệch hướng, có lúc những cánh buồm bật từ bên nọ sang bên kia và họ phải cử người trèo lên chỉnh dây nâng buồm đỉnh.

Không hiểu sao, khi Harrison trèo lên, dây góc buồm bị mắc vào cuối mối buộc ở cuối dây nâng buồm. Theo như tôi biết, có hai cách để gỡ nó ra – một là hạ xà buồm xuống, việc tương đối dễ dàng, không nguy hiểm; hai là trèo từ dây chằng lên cuối dây nâng buồm, một nhiệm vụ hết sức nguy hiểm.

Johansen gọi Harrison leo ra dây nâng buồm. Ai cũng thấy là thằng nhóc đang sợ. Dù nó có giỏi tới đâu, thì nó cũng đang đứng trên boong tàu tới hơn hai chục mét, chỉ có thể bám vào những sợi dây chằng mỏng và đung đưa. Nếu sức gió ổn định thì còn đỡ, nhưng tàu Bóng Ma đã lắc lư suốt trên mặt biển dài, mỗi lần lắc những tấm vải lại phần phật kêu kéo dây nâng buồm quật tứ tung. Chỉ một lần quật, chúng có thể hất một con người xuống không khác một con ruồi.

Lúc này, Harrison đã bắt đầu leo ra dây nâng buồm rồi. Tôi nhìn lên từ cửa bếp, có thể thấy rõ thằng bé run lẩy bẩy như lên cơn sốt rét. Nó di chuyển chậm chạp và cẩn trọng, nhích từng tấc một. Giữa nền trời xanh trong, trông nó như một con nhện khổng lồ bò trên mạng của mình.

Nó phải leo ngược lên, vì buồm mũi ở rất cao; và dây nâng buồm chạy qua rất nhiều mối dây lên tới trên xà buồm và cột buồm, nên nó có nhiều chỗ để tay và chân. Nhưng gió gây cản trở lớn, gió không đủ mạnh lại không ổn định nên buồm không căng. Khi nó trèo được nửa đường, tàu Bóng Ma nghiêng một cú dài theo chiều gió và dựng thẳng trở lại ngay hõm sóng sâu hoắm. Harrison dừng lại và bám thật chặt. Từ hai mươi mét bên dưới, tôi có thể thấy cơ bắp nó căng ra vì cố bám lấy sự sống của chính mình.

Cánh buồm rũ xuống, xà buồm vung ra giữa thuyền. Các dây chằng gião ra, dù chuyện xảy ra rất nhanh, tôi vẫn có thể thấy chúng tụt xuống vì sức nặng cơ thể hằng bé. Sau đó, xà buồm bật sang bên hết sức đột ngột, cánh buồm lớn bung ra như pháo bắn, ba hàng dây mép buồm bật vào vải bố vang như tiếng súng. Harrison đang lảo đảo giữa không trung. Nhưng nó đột ngột ngưng lảo đảo. Những dây chằng thoáng cái căng lại. Vang lên tiếng rít như roi quất vào không khí. Khớp xương của nó đã gẫy. Một bàn tay tuột khỏi chỗ bám. Bàn tay kia níu được thêm một vài giây, rồi cũng tuột theo. Cơ thể nó rơi thẳng xuống, nhưng nó xoay xở tự cứu bằng cách móc được chân lại. Thế là nó bị treo lơ lửng, đầu chúc xuống. Nó cố gắng với tay lên dây chằng lần nữa; nhưng nó chẳng làm được gì nhiều và lại bị treo ngược, thằng nhóc khốn khổ.

" Tôi cá nó không muốn ăn tối nữa đâu, "tôi nghe thấy giọng Larsen Sói vọng ra từ bếp." Nhìn mắt cá nó đi. "Thật ra Harrison rất ốm yếu vì bị say sóng; nó đã đu người ở một chốn nguy hiểm quá lâu mà không di chuyển. Tuy nhiên, Johansen kiên quyết bắt nó hoàn thành nhiệm vụ.

" Đáng xấu hổ, "Tôi nghe Johnson làu bàu bằng giọng tiếng Anh chính xác và cáu bẳn. Anh ta đang đứng ở mối buộc dây chính, cách chỗ tôi vài mét." Thằng nhóc đã sẵn sàng. Nó sẽ học được nhiều điều nếu có cơ hội. Nhưng chuyện này.. "Anh ta im bặt, trước khi quyết định thốt ra từ" giết người ".

" Suỵt, im đi! "Louis thì thầm với anh ta." Mày còn thương mẹ mày thì ngậm mồm vào! "Nhưng Johnson vẫn cứ nhìn và tiếp tục làu bàu.

" Nhìn đi, "tay thợ săn tên Standish nói với Larsen Sói," đó là tay chèo của tôi, tôi không muốn mất nó. "Chẳng sao đâu, Standish," ông ta trả lời. "Nó là tay chèo của anh khi nó ở trên thuyền, nhưng nó là thủy thủ của tôi khi nó đứng trên boong. Tôi muốn làm gì nó cũng được."

"Nhưng chẳng có lí do gì.." Standish bắt đầu nói một tràng.

"Chẳng sao đâu, sẽ ổn thỏa hết," Larsen Sói đáp lại. "Tôi đã nói rồi, đừng nhiều lời thêm nữa. Thằng nhóc đó là người của tôi, tôi sẽ nấu nó lên ăn nếu muốn." Vẻ giận dữ ánh lên trong mắt người thợ săn, nhưng anh ta quay gót và đi vào buồng lái chỗ bậc cầu thang rồi đứng ở đó và nhìn lên.

Tất cả mọi người đều ở trên boong, mọi ánh mắt đều dõi lên cao, nơi mạng sống của một con người đang giãy giụa trước cái chết. Sự vô cảm của những người đàn ông này, những người cùng lúc được trao quyền kiểm soát sự sống của người khác, thật đáng kinh ngạc. Tôi, môt kẻ sống ngoài guồng quay của thế giới, chưa bao giờ dám mơ rằng chuyện này có thể xảy ra. Sự sống luôn là một điều gì đó thiêng liêng; nhưng ở đây nó chẳng là gì cả, chỉ là một con số mang tính thương mại. Tuy nhiên, tôi phải thừa nhận các thủy thủ đều đáng thương hại, như Johnson chẳng hạn; nhưng những kẻ chức cao hơn (thợ săn và thuyền trưởng) thì đều tàn nhẫn như nhau. Standish phản đối chỉ vì gã không muốn mất tay chèo của mình. Nếu đó là tay chèo của thợ săn khác, gã cũng sẽ như chúng, chỉ cảm thấy buồn cười.

Còn về Harrison ư. Johansen phải mất tới mười lăm phút vừa chửi vừa mắng mới khiến nó tỉnh lại. Một lúc sau, nó leo ra được tới tới cuối xà buồm, bám chắc hơn nhờ móc hai chân vào nhau. Nó gỡ dây góc buồm, giờ thì đã rảnh tay trèo dốc xuống nếu bám theo các dây nâng buồm về tới cột buồm. Nhưng nó đã hết can đảm. Dù vị trí hiện tại của nó không an toàn, nó không muốn bỏ ra để leo vào vị trí không an toàn hơn trên những dây nâng buồm.

Nó đưa mắt nhìn con đường mình sẽ phải đi rồi nhìn xuống boong. Mắt nó trợn trừng, người thì run cầm cầm. Tôi chưa từng thấy dấu vết của sự sợ hãi hiện hữu rõ rệt trên mặt một con người tới thế. Johansen gọi nó xuống trong vô vọng. Nó có thể bị hất xuống khỏi xà buồm bất cứ lúc nào, nhưng nó đã đầu hàng nỗi sợ. Larsen Sói, đi qua đi lại và trò chuyện với Smoke, không thèm để ý tới thằng nhóc nữa, dù có một lần ông ta hét với người cầm lái: "Anh đang chệch hướng đấy, chàng trai! Cẩn thận đấy, nếu không muốn gặp rắc rồi."

"Vâng, thưa ông," lái tàu đáp lại, hạ vài nấc bánh lại xuống.

Anh ta cảm thấy mắc tội vì đã khiến tàu Bóng Ma chệch hướng khá nhiều, để cơn gió nhẹ có thể làm căng buồm mũi và giữ nó ổn định. Anh ta đã cố gắng cứu Harrison khốn khổ khỏi cơn thịnh nộ của Larsen Sói.

Thời gian trôi đi, sự hồi hộp khủng khiếp hành hạ tôi. Thomas Mugridge, mặt khác, lại coi đây là chuyện rất buồn cười, liên tục thò đầu ra khỏi cửa bếp để buông ra những lời nhận xét tự cho là hóm hỉnh. Tôi căm ghét gã! Và sự căm ghét đó qua khoảng thời gian đáng sợ này tăng tới mức khổng lồ! Lần đầu tiên trong đời tôi trải nghiệm cảm giác khát khao muốn giết người – "muốn thấy màu đỏ." như một trong số những nhà văn thuộc trường phái ấn tượng của chúng ta đã viết. Sự sống nói chung có lẽ vẫn là điều thiêng liêng, nhưng sự sống của một vài người cụ thể như Thomas Mugridge lại là một điều báng bổ. Tôi sợ hãi nhận ra mình đang muốn điều gì, một suy nghĩ chợt lóe qua đầu tôi: Liệu bản thân tôi có bị môi trường tàn nhẫn này ảnh hưởng không? – Tôi, một kẻ luôn phản đối hình phạt tử hình, cho rằng đó không phải công lí, dù là đối với những tội ác kinh hủng nhất.

Nửa tiếng đồng hồ trôi qua, tôi chợt thấy Johnson và Louis gây sự với nhau. Cuộc cãi vã chấm dứt khi Johnson giật tay ra khỏi bàn tay giữ chặt của Louis và tiến lên. Anh ta đi qua boong, nhảy lên chỗ mối buộc dây buồm mũi và bắt đầu leo lên. Đôi mắt nhanh nhạy của Larsen Sói phát hiện ra ngay. "Ê, anh kia, anh định làm gì?" Ông ta hét lên.

Johnson dừng leo. Anh ta nhìn thẳng vào mắt thuyền trưởng, chậm rãi đáp: "Tôi sẽ đưa thằng nhóc xuống."

"Anh trèo xuống khỏi mối dây đó ngay, tránh xa nó ra! Có nghe không! Xuống ngay!" Johnson do dự, thói quen vâng lệnh chủ tàu trong nhiều năm đã chiến thắng, anh ta ủ rũ nhảy xuống và đi lên mũi tàu.

Vào năm giờ rưỡi chiều, tôi xuống cabin để dọn bàn ăn; tôi không biết mình đã làm những chuyện đó thế nào, khi mà mắt và trí óc vẫn tràn ngập hình ảnh cậu bé trai mặt trắng bệch và run rẩy, kì cục bám trên xà buồm quật trái phải như một con bọ. Vào sáu giờ, khi tôi phục vụ bữa tối và đi lên boong để lấy đồ ăn ở trong bếp, tôi vẫn thấy Harrison ở đúng vị trí đó. Cuộc trò chuyện trên bàn ăn là về những việc khác.

Dường như không ai quan tâm đến sự sống đang treo lơ lửng trên cao kia. Nhưng, khi đi về bếp một lần nữa, tôi vui mừng thấy Harrison lảo đảo đi từ mối dây buộc tới vòm mái mũi tàu. Cuối cùng cậu bé cũng dồn đủ can đảm để leo xuống.

Trước khi đóng bút về câu chuyện này, tôi thấy mình buộc phải đề cập đên cuộc trò chuyện với Larsen Sói trong cabin lúc đang rửa chén bát. "Chiều nay trông anh rất nhợt nhạt," ông ta bắt đầu nói. "Có chuyện gì thế?" Tôi nhận ra ông ta thừa biết điều gì đã khiến tôi trông bệnh hoạn chẳng khác Harrison, ông đang nhử tôi. Tôi đáp: "Đó là vì cách cậu bé đó bị đối xử tàn nhẫn." Ông ta bật cười. "Giống say sóng, chắc thế. Một số người bị, một số người thì không."

"Không phải," tôi phản đối.

"Thế cả thôi," lão tiếp tục. "Trái đất này tràn ngập sự tàn nhẫn giống như biển cả tràn ngập sóng. Có những kẻ phát ốm vì điều này, có những kẻ phát ốm vì điều khác. Chỉ có lí do duy nhất đó thôi."

"Nhưng ông nhạo báng mạng sống của một người, chẳng lẽ không có thứ gì có giá trị với ông sao?" Tôi hỏi.

"Giá trị? Giá trị gì?" Ông ta nhìn tôi, đôi mắt lạnh nhạt và bất động, dường như chúng đang nở nụ cười hoài nghi. "Kiểu giá trị nào? Anh đánh giá chúng bằng cách nào? Ai đánh giá chúng?"

"Tôi," tôi đưa ra câu trả lời.

"Thế điều gì là có giá trị với anh? Hãy nói về sự sống của một người khác ấy. Nói đi, nào, có đáng giá? Giá trị cuộc sống? Làm sao tôi có thể đặt ra một giá trị hữu hình cho nó?" Không hiểu sao tôi, một kẻ luôn tràn đầy ý kiến về bất cứ thứ gì, lại câm bặt trước Larsen Sói. Tôi đã cho rằng tính cách của người đàn ông này là một phần nguyên do, nhưng phần lớn hơn là vì quan điểm hoàn toàn khác biệt của ông ta. Không như những người theo chủ nghĩa duy vật khác mà tôi đã gặp, những người tôi còn có điểm chung để trò chuyện, tôi không hề có điểm chung nào với ông ta. Có lẽ, đó cũng là lí do mà tâm trí đơn giản nguyên sơ của ông ta khiến tôi bối rối. Ông ta xông thẳng tới cốt lõi vấn đề, tấn công bằng những câu hỏi chi tiết tới không cần thiết, với tinh thần bi quan đẩy tôi vào vùng nước sâu không có gì chống đỡ. Giá trị cuộc sống ư? Làm sao tôi có thể đột nhiên trả lời câu hỏi ấy vào lúc này. Sự thiêng liêng của cuộc sống là một điều tôi coi là tiên đề hiển nhiên. Giá trị của nó là một lẽ tất yếu tôi chưa bao giờ nghi ngờ. Nhưng ông ta lại nghi ngờ điều hiển nhiên đó, tôi không biết phải nói gì.

"Chúng ta đã nói về chuyện này ngày hôm qua," ông ta nói. "Tôi coi sự sống giống như men rượu, một thứ nuốt chửng những sự sống khác để có thể sống, và sự sống chỉ là tính tham được thỏa mãn. Thế nên, nếu xét theo giá trị cung cầu, sự sống là thứ rẻ mạt nhất trên thế giới. Trên đời có thừa đất, nước và không khí, nhưng nhu cầu của sự sống là vô hạn. Thiên nhiên quá hào phóng. Hãy nhìn lũ cá và cả triệu trứng của chúng. Tương tự, hãy nhìn anh và tôi. Trong bụng của chúng ta có lẽ đã từng chứa cả triệu sự sống khác. Nếu chúng ta có thể tìm đủ thời gian và cơ hội tận dụng giá trị của mọi sự sống đã chết đi trong ta, chúng ta sẽ trở thành cha của những đất nước và những lục địa đông nghẹt.

" Sự sống ư? Ha ha! Không có giá trị gì hết. Thứ rẻ rúng nhất trong tất cả mọi thứ. Nó đi ăn mày mọi ngõ ngách. Thiên nhiên đã chìa bàn tay nuông chiều nó. Nơi chỉ đủ chỗ cho một cuộc sống, thiên nhiên gieo xuống cả ngàn sinh mạng, thế nên sinh mạng này ăn sinh mạng khác tới khi kẻ mạnh nhất và tham lam nhất trụ lại được. "

" Ông đã đọc Darwin, "tôi nói." Nhưng ông đã hiểu nhầm, dẫn đến kết luận rằng nỗ lực vật lộn tồn tại tạo ra cuộc đời vô liêm sỉ và tan nát. "Ông ta nhún vai." Anh biết anh chỉ nói thế nếu là về cuộc sống của con người, chứ không phải lũ gà, lũ cá đã bị anh hay tôi hay bất cứ con người nào tiêu diệt. Sự sống của con người chẳng có gì khác, trừ chuyện anh cảm thấy và nghĩ rằng có lí do khác. Tại sao tôi lại phải trân trọng sự sống vốn rẻ mạt không hề có giá trị? Có nhiều thủy thủ hơn số lượng tất cả tàu bè trên biển cần, có nhiều công nhân hơn số lượng nhà máy cần. Tại sao, anh, kẻ sống trên đất liền, hiểu được rằng dù có dựng nhà cho những con người nghèo khổ sống trong khu ổ chuật của các thành phố, với bệnh tật và nghèo đói dày vò, thì vẫn còn nhiều hơn nữa những kẻ nghèo chết đi thèm khát một mẩu bánh mì hoặc một ít thịt (được tạo ra từ một sinh mạng bị hủy diệt), nếu hiểu anh sẽ biết phải làm gì. Anh đã bao giờ nhìn thấy phu tàu London đánh nhau như thú hoang vì một công việc chưa? "Ông ta bắt đầu đặt chân lên cầu thang, nhưng quay đầu lại để nói câu cuối cùng." Anh có biết, giá trị duy nhất của sự sống là thứ sư sống tự đặt cho mình, và đương nhiên giá trị đó sẽ bị thổi phồng, vì nó luôn tạo ra định kiến có lợi cho chính nó. Cứ nhìn thằng nhóc trèo lên buồm đi. Nó níu kéo như thể nó là một thứ vô cùng giá trị, một kho báu đáng giá hơn cả kim cương, hồng ngọc. Nó có coi anh như vậy không? Không. Còn tôi? Không hề? Với nó, câu trả lời là có. Nhưng tôi không chấp nhận cách đánh giá của nó.

Nó đánh giá cao bản thân tới đáng buồn. Có quá nhiều sinh mạng đòi hỏi được sinh ra. Nếu nó trượt chân ngã, đánh rơi não mình xuống boong như mật ong chảy khỏi tổ, thế giới sẽ chẳng có tổn thất nào. Nó chẳng có giá trị gì với thế giới. Nguồn cung của sinh mạng quá lớn. Với nó, chỉ có nó là có giá trị, và để thể hiện giá trị đó hoang đường ra sao, khi chết, nó sẽ vô tình đánh mất bản thân. Chỉ mình nó coi chính mình đáng giá hơn kim cương, hồng ngọc. Kim cương và hông ngọc đã mất, đổ ra sàn để nước biển cuốn đi. Nó chẳng mất gì cả, vì muốn mất thì nó phải hiểu được định nghĩa của sự mất. Anh có thấy không? Anh có gì để nói chứ? "

" Thưa ông, ít nhất, ông rất nhất quán, "đó là tất cả những gì tôi có thể nói, đoạn, tôi tiếp tục rửa bát.

[1] Phiên gác hai tiếng: Nguyên văn" dog–watch", thuật ngữ hàng hải. Dog watch là khoảng ca làm việc từ 16 giờ tới 20 giờ, và sẽ được chia ra làm hai. Ca gác đầu vào buổi chiều từ 16 giờ tới 18 giờ. Ca gác hai tiếng tiếp theo vào buổi tối từ 18 giờ tới 20 giờ.
 
6 ❤︎ Bài viết: 3 Tìm chủ đề
Chương 7

Cuối cùng, sau ba ngày gặp đủ các loại gió, chúng tôi cũng bắt kịp gió tín phong. Tôi lên boong sau một đêm nghỉ ngơi dù chân vẫn sưng, để thấy tàu Bóng Ma đang rẽ sóng với tất cả các buồm mở rộng căng tràn làn gió mát đẩy từ phía sau, trừ các buồm phụ. Ồ, gió tín phong mới kì diệu làm sao! Chúng tôi căng buồm cả ngày và đêm, ngày hôm sau, và ngày hôm sau nữa, ngày tiếp ngày, cơn gió vẫn ổn định và mạnh mẽ. Con tàu tự đẩy mình đi. Không cần kéo và chỉnh dây góc buồm hay mối dây, không cần nâng buồm đỉnh, không có việc nào cần tới thủy thủ cả trừ lái tàu. Vào ban đêm, khi mặt trời đã lặn, các dây góc buồm chùng xuống; vào ban ngày, chúng nở ra vì hơi ẩm của sương và cần được kéo chặt lại – đó là tất cả những việc cần làm.

Mười hải lí, mười hai hải lí, mười một hải lí, tốc độ của chúng tôi mỗi lần một khác; luôn luôn đắm mình trong làn gió tín phong dũng mãnh đẩy chúng tôi đi đúng hướng hai trăm năm mươi dặm một ngày. Nó khiến tôi vừa buồn vừa vui, vì chúng tôi càng ngày càng cách xa San Francisco và đang rẽ sóng hướng về vùng nhiệt đới. Thời tiết nóng dần lên rõ rệt. Vào phiên gác hai tiếng buổi tối, các thủy thủ lên boong, cởi trần và đổ từng xô nước lên người nhau bên mạn hông. Cá chuồn bắt đầu xuất hiện, vào ban đêm, đội gác xô nhau lên boong để bắt những con rơi xuống tàu. Vào sáng sớm, Thomas Mugridge rất dễ đút lót, căn bếp thơm lừng mùi rán, thi thoảng thịt cá heo sẽ được phục vụ ở mũi tàu và đuôi tàu nếu Johnson bắt được sinh vật tuyệt đẹp đó từ rầm néo cột buồm.

Có vẻ Johnson dành toàn bộ thời gian rảnh rỗi của mình ở đó hoặc treo mình trên xà ngang, ngắm tàu Bóng Ma rẽ nước mà đi nhờ sức đẩy của những cánh buồm. Mắt anh ta sẽ rực sáng đam mê và trìu mến, anh ta ngây ngất nhìn những cánh buồm no gió, cuộn sóng bạc đầu và cách con tàu cưỡi lên những ngọn núi nước nhịp nhàng chạy về phía chúng tôi.

Đêm và ngày đều là "niềm hân hoan kì diệu và hoang dại," dù tôi chẳng còn mấy thời gian riêng vì chuỗi công việc nhàm chán, tôi vẫn trộm được vài phút để ngắm nhìn sự huy hoàng bất tận của thế giới tôi chưa từng mơ được sở hữu. Trên cao, bầu trời một màu xanh trong vắt – xanh như chính mặt biển, còn mặt biển dưới chân mang sắc lam lấp lánh của sa tanh. Đường chân trời lơ thơ vài bóng mây bay bổng, chẳng bao giờ thay đổi hay di chuyển, như bức nền xanh làm nổi bật viên ngọc xanh hoàn mĩ là bầu trời.

Tôi không thể quên được một đêm nọ, lúc đó thường thì tôi đã ngủ say, nhưng tôi lại nằm trên mũi tàu và nhìn xuống những gợn sóng lan sang hai bên đáy tàu. Âm thanh ấy nghe như tiếng rì rào suối chảy qua những viên sỏi rong rêu giữa thung lũng tĩnh lặng, bài ca thuần khiết đó mê hoặc tâm hồn tôi, tôi chẳng còn là Hump – gã bồi tàu, hay Van Weyden quí ông mơ mộng với sách vở suốt ba mươi lăm năm. Nhưng một giọng nói vang lên từ sau đã khiến tôi kinh ngạc, đó là giọng không lẫn vào đâu được của Larsen Sói, mạnh mẽ với sự cứng rắn không thể lay chuyển đầy nam tính và sự dịu dàng trân trọng từng từ được phát ra.

Ôi, lộng lẫy thay màn đêm nhiệt đới, khi tàu rẽ trên những chùm tia sáng

Giam giữ bầu trời nóng bỏng.

Mũi tàu ầm rung lướt trên gò má ướt mẹ thiên nhiên

Nơi cá voi sợ tránh ánh lửa hồng.

Thân tàu lóe ánh nắng yêu thương,

Dây thừng đẫm sương

Vì chúng ta đang băng đi trên đường cũ, đường của chúng ta, đường hướng ra bao la,

Phương nam đường dài ta đến, đường dài luôn mới.

"Ê, Hump? Anh thấy sao hả?" Ông ta hỏi, ngừng ngâm nga và yêu cầu tôi.

Tôi nhìn vào mặt ông ta. Nó phản chiếu ánh sáng như chính mặt biển, đôi mắt lấp lánh ánh sao.

"Tôi thấy thật đặc biệt, hóa ra, ông cũng thể hiện sự hứng khởi," tôi lạnh nhạt đáp lại.

"Tại sao không, đó là sự sống, đó là cuộc sống!" Ông ta hét lên.

"Thứ tẻ nhạt và không có giá trị." Tôi ném trả lời ông ta lại cho chính ông ta.

Ông ta phá ra cười, đây là lần đầu tiên tôi nghe được tiếng cười chân thành từ người này.

"A, tôi không thể khiến anh hiểu được, không thể nhét nó vào đầu anh được, định nghĩa sự sống. Tất nhiên, sự sống là vô giá trị, trừ với chính bản thân sự sống. Tôi có thể nói cho anh rằng sự sống của tôi hiện có giá trị rất cao – với tôi. Nó là vô giá, mức giá này anh sẽ phải thừa nhận là quá cao, nhưng tôi biết làm sao được khi sự sống trong tôi đặt ra cái giá đó." Dường như ông ta chờ đợi những từ ngữ tiếp theo có thể tuôn ra thể hiện suy nghĩ bên trong mình, để tiếp tục: "Anh hiểu không, trong tôi tràn ngập cảm giác lâng lâng kì lạ; tôi cảm thấy nó vang vọng trong mình mọi lúc, dù tất cả quyền hành là của tôi. Tôi hiểu sự thật, biết chia ra thiện ác, đúng sai. Tầm nhìn của tôi rõ và xa. Tôi suýt có thể tin vào Chúa Trời."

"Nhưng" – giọng ông ta thay đổi, ánh sáng tan biến khỏi gương mặt ấy – "ở tình cảnh nào thì tôi tìm thấy được niềm vui được sống, sự sung sướng của cuộc đời, hay tôi còn có thể gọi đó là niềm cảm hứng? Là khi một kẻ có bụng tốt được lấp căng dạ dày, khi cơn đói khát được thỏa mãn, khi mọi chuyện đều tốt.

Đó là sự hối lộ cho sự sống, là sâm banh của máu, là sự sủi bọt của những cái men, những điều khiến con người có những suy nghĩ thiêng liêng, một số người sẽ thấy được Đức Chúa hoặc sáng tạo nên ông ta nếu họ không thể thấy ông ta. Đó là tất cả – men say cuộc sống, cách những cái men cử động và bò đi, sự ba hoa của cuộc sống điên khùng nhận ra rằng nó đang sống. Rồi – bang! Ngày mai tôi sẽ trả giá vì nó như những thằng say trả tiền rượu, vì những kẻ khốn khổ ấy bám chặt lấy hũ vàng rồi tỉnh lại trong nghèo khó. Tôi biết mình rồi sẽ phải chết, hẳn là ngay trên biển, khi đã không thể bò được nữa, để những thứ có thể bò phá hủy nốt phần còn lại của mình trong đại dương; tôi nuôi dưỡng, bồi đắp nên sức mạnh và chuyển động của cơ bắp của tôi để chúng trở thành sức mạnh và chuyển động trong vây, vảy và ruột cá. Bang! Và bang! Lại nữa nào. Sâm banh đã bắn ra rồi. Bọt và bong bóng đã phụt ra rồi, thứ đồ uống vô vị ấy."

Ông ta đột nhiên bỏ đi như khi đến, nhảy xuống boong với sức nặng và sự dẻo dai của một con hổ. Tàu Bóng Ma vẫn rẽ sóng mà đi. Tôi để ý thấy mũi tàu kêu liu riu như tiếng ngáy, tôi lẳng lặng lắng nghe tiếng kêu ấy trong khi sức ảnh hưởng từ bài diễn văn đột ngột đi từ hân hoan tuột đỉnh tới tuyệt vọng dần rời bỏ tôi. Sau đó, vài thủy thủ vùng nước sâu đi từ eo tàu ra, cất cao giọng hát "Bài ca của gió tín phong" :

Ồ, tôi là cơn gió các chàng thủy thủ vẫn yêu. Cơn gió dũng mãnh và mạnh mẽ, là tôi đấy; Họ theo dấu mây trên đầu tìm tôi. Trên màu xanh nhiệt đới vô tận.
 
6 ❤︎ Bài viết: 3 Tìm chủ đề
Chương 8

Đôi lúc tôi nghĩ Larsen Sói bị điên, hoặc ít nhất là có vấn đề về tâm thần vì tính khí bất thường và kì quái của ông ta. Nhưng có những lúc, tôi lại coi ông là người vĩ đại, một thiên tài chưa bao giờ tỏa sáng. Cuối cùng thì, tôi bị thuyết phục rằng ông ta là dạng người hoàn hảo thời nguyên thủy, sinh nhầm một ngàn năm rong thế kỉ đang chuyển mình sang thời đại văn minh. Ông ta có những biểu hiện rõ ràng nhất của những kẻ theo chủ nghĩa cá nhân. Không những thế, ông ta còn cô độc. Ông ta không hề thân thiết với bất cứ người nào trên tàu; tính kiên cường thái quá và sức mạnh tinh thần vượt trội đã ngăn cách ông ta và họ. Họ giống như lũ trẻ trước mặt ông, kể cả những người thợ săn cũng vậy. Ông ta cũng đối xử với họ như trẻ con, cực chẳng đã mới hạ mình xuống ngang tầm và chơi với họ như chơi với lũ cún cưng. Hoặc ông ta kiểm soát họ bằng bàn tay tàn nhẫn của bác sĩ giải phẫu, nắm lấy mạch thần kinh và khám xét linh hồn họ để tìm hiểu cái thứ gọi là linh hồn được làm từ gì.

Tôi nhiều lần thấy ông ta châm chọc một gã thợ săn nào đó bằng đôi mắt lạnh và bình thản, song đôi lúc lại tỏ ra hứng thú, băn khoăn về hành động của họ, hoặc đáp trả, hoặc nổi xung cùng vẻ tò mò khá là nực cười đối với khán giả bất đắc dĩ là tôi. Từ góc nhìn của tôi, tôi cho rằng chúng là không phải cơn giận thật sự, có vài lần chúng chỉ là những cuộc thử nghiệm, phần lớn những lần còn lại chúng là thói quen hay thái độ cư xử mà ông ta cho là thích hợp khi đối diện với cấp dưới. Tôi hiểu, ngoại trừ lần xui rủi khi thuyền phó chết, ông ta chưa thực sự nổi giận trước mặt tôi bao giờ; tôi cũng không muốn thấy ông ta thực sự giận dữ và phô bày tất cả sức mạnh của mình.

Trong khi tự hỏi về con người bất thường ấy, tôi sẽ kể điều đã xảy đến với Thomas Mugridge trong cabin và kết thúc câu chuyện về vụ việc tôi đã đề cập một hoặc hai lần trước. Hôm đó, bữa tối vào mười hai giờ vừa kết thúc, tôi đã dọn dẹp xong cabin thì Larsen Sói và Thomas Mugridge đi xuống cầu thang. Dù gã đầu bếp đã có một cái phòng riêng bé tí mở ra đằng cabin, nhưng chưa bao giờ dám lảng vảng hay nhìn vào bên trong cả. Gã vẫn thường đi tới đi lui trước đó một hai lần một ngày, giống như một bóng ma nhút nhát.

"Anh biết chơi Nap hả," Larsen Sói nói bằng giọng khá vui vẻ. "Tôi biết mà, người Anh sẽ biết trò này. Tôi đã tự học nó trên tàu của người Anh." Thomas Mugridge đứng cạnh ông ta, mừng tới mụ mị cả người vì được thân thiết với thuyết trưởng. Cái bộ tịch kệch cỡm của gã, cố gắng tới sức cùng lực kiệt để tưởng tượng cuộc sống thảnh thơi của một người được sinh ra ở chốn cao sang, trông sẽ thật đáng tởm nếu không lố bịch đến thế. Gã lờ đi sự hiện diện của tôi, dù tôi cho rằng chẳng qua gã không có khả năng trông thấy mình. Đôi mắt màu nhạt mơ màng của gã lấp lánh như mặt biển lười biếng ngày hè, nhưng tôi không thể tưởng tượng ra chúng đang mang những ảo tưởng hạnh phúc nào.

"Lấy bài đi, Hump," Larsen Sói ra lệnh khi họ ngồi xuống bàn, "mang thuốc lá và rượu whiskey ở giường của tôi ra."

Tôi trở lại với những thứ được yêu cầu vừa lúc nghe thấy tiếng gã Cockney gợi ý rằng bản thân gã có chút bí ẩn –gã có thể là con trai một quý ông phạm sai lầm hay gì đó tương tự; hoặc gã là ngoại kiều bị người ta trả tiền để không được về Anh nữa – "trả rất hào phóng, thưa ông," nguyên văn lời gã là vậy; "trả rất hào phóng để tôi biến đi và không trở lại." Tôi mang ra những ly rượu đúng tiêu chuẩn, nhưng Larsen Sói nhíu mày, lắc đầu và chỉ tay ra hiệu bảo tôi mang cốc đế bằng ra. Tiếp đó, ông ta đổ đầy hai phần ba cốc bằng rượu whiskey không pha, – "thức uống cho một quý ông," trích lại lời Thomas Mugridge, – đoạn, họ chạm cốc tôn vinh trò chơi Nap cao quý, châm thuốc và bắt đầu xáo, chia bài.

Họ chơi bài ăn tiền. Họ tăng dần số tiền đặt cược. Họ uống rượu whiskey, họ uống hết, tôi lại đổ thêm. Tôi không biết Larsen Sói có gian lận không – điều này hẳn ông ta làm được – nhưng ông ta thắng suốt. Tay đầu bếp liên tục về giường để lấy tiền. Mỗi lần đi, gã đều sẽ mang trở lại nhiều hơn vài đô la. Gã dần say xỉn, khó nhìn nổi lá bài đang cầm hay ngồi thẳng lưng nữa. Có một lần trước khi đi về giường, gã dùng ngón tay nhầy mỡ móc vào khuy áo Larsen Sói, tuyên bố liên tục: "Tôi có tiền. Tôi có tiền. Tôi bảo rồi, tôi là con trai một quý ông." Larsen Sói không bị rượu làm say, dù ông ta uống từng cốc một, thậm chí cốc ông ta còn đầy hơn. Ông ta chẳng thay đổi gì hết. Ông ta không tỏ ra vui vẻ khi thấy cảnh người khác trở nên ngốc nghếch.

Cuối cùng, sau lời tuyên bố rằng bản thân sẽ thua như một quý ông, món tiền cuối cùng của gã đầu bếp bị nướng hết sạch vào trò chơi. Sau đó, gã gụp đầu vào tay và khóc. Larsen Sói tò mò nhìn gã, như thể đang quan sát và mổ sẻ, đoạn lại thay đổi suy nghĩ, cho rằng chẳng có gì đáng quan sát như kết luận ban đầu.

"Hump," ông ta nói với tôi, cực kì lịch sự, "vui lòng đỡ ông Mugridge, giúp ông ấy lên boong. Ông ấy hiện không khỏe. Bảo Johansen dội cho vài xô nước muối nữa," đoạn sau ông ta hạ giọng để chỉ mình tôi nghe được.

Tôi bỏ ông Mugridge lại trên boong, trong tay của một cặp thủy thủ đang cười toe toét đã được nghe về mệnh lệnh tiếp theo. Ông Mugridge mơ màng lẩm bẩm mình là con trai một quý ông. Nhưng khi tôi đi xuống cầu thang để dọn bàn, tôi nghe gã ré lên khi bị dội xô nước đầu tiên.

"Một trăm tám mươi đô la chẵn." Ông ta nói to. "Đúng như tôi nghĩ. Lúc lên thuyền thằng ăn mày đó chẳng có xu nào."

"Số tiền ông thắng được là của tôi, thưa ông." Tôi táo gan nói.

Ông ta thưởng cho tôi nụ cười khó hiểu. "Hump, tôi đã dành thời gian học một ít ngữ pháp, và anh dùng từ sai rồi." Từng là của tôi, "anh phải nói vậy, chứ không phải" của tôi "."

"Câu hỏi nên được đặt ra, không phải là về ngữ pháp, mà là đạo đức," tôi đáp lại.

Phải một phút sau, ông ta mới cất tiếng.

"Anh biết không, Hump," ông ta nói, với vẻ nghiêm túc đượm nỗi buồn khó hiểu, "đây là lần đầu tiên tôi nghe từ" đạo đức "từ miệng một con người. Anh và tôi là những người duy nhất trên con thuyền này hiểu nó nghĩa là gì." Có một lần trong đời, "ông ta tiếp tục, sau khi dừng lại một chút," Tôi đã mơ tới ngày sẽ được nói chuyện với những người sử dụng ngôn ngữ như thế, cái ngày tôi đưa được bản thân ra khỏi chốn mình được sinh ra, trò chuyện và hòa nhập với những kẻ nói về những điều như đạo đức. Nhưng đây là lần đầu tiên tôi nghe cách từ đó phát âm. Nhưng dù sao đi nữa, anh đã sai rồi. Đây không phải câu hỏi về ngữ pháp hay đạo đức, mà là thực tế. "

" Tôi hiểu, "tôi nói." Thực tế rằng ông đã cầm tiền. "

Mặt ông ta sáng lên. Ông ta có vẻ hài lòng về sự thông minh của tôi.

" Nhưng nó lảng tránh câu hỏi thực sự, "tôi tiếp tục," rằng điều gì là đúng. "

" À, "ông ta kêu lên, kèm theo một cái bĩu môi," Tôi thấy anh vẫn còn tin vào những thứ như đúng với sai. "

" Vậy ông không tin sao, không một chút nào? "Tôi hỏi lại.

" Không hề. Quyền lực là đúng, tất cả chỉ có thế. Yếu đuối là sai. Đó là cách nghèo nàn để nói rằng mạnh mẽ là tốt đẹp, yếu đuối là xấu xa, hoặc, mạnh thì sung sướng, vì sẽ được lợi, yếu thì khổ nhục, vì phải chịu thiệt. Như hiện tại, quyền sở hữu số tiền này là một điều sung sướng. Kẻ sở hữu nó đang sung sướng. Khi đang sở hữu số tiền này, nếu tôi đưa nó cho anh, thì tôi sẽ sai trước bản thân và sự sống trong tôi vì đã bỏ qua niềm sung sướng được sở hữu nó. "

" Nhưng ông sai trái trước tôi vì giữ nó lại, "tôi phản đối.

" Không hề. Con người sẽ không sai trước người khác. Con người chỉ sai trước chính bản thân mình. Tôi thấy rắng, nếu xét theo lợi ích của người khác, tôi đã luôn sai trái. Anh không thấy sao? Sao hai cái men lại sai khi nuốt chửng nhau được? Di sản chúng kế thừa là bản tính nuốt lấy nhau và cố để không bị nuốt chửng. Nếu không phải thế, chúng phạm tội. "

" Thế ông không tin vào lòng vị tha sao? "Tôi hỏi.

Ông ta đón nhận từ đó như thể nó quen thuộc lắm, nhưng phải mất một lúc để suy nghĩ." Để tôi xem; nghĩa từ này liên quan tới sự hợp tác, đúng chứ? "

" Ồ, theo một cách nào đó thì đúng là có sự tương quan, "tôi đáp lời, lần này không lấy làm ngạc nhiên vì sự thiếu hụt trong kho từ vựng của ông ta, từ vựng và kiến thức ông ta có được đều qua tự đọc, tự học mà không có ai hướng dẫn, khối kiến thức của người nghĩ nhiều, nói ít, thậm chí chẳng nói gì." Một hành động vị tha là hành động được thực hiện vì lợi ích của người khác. Nó trái với ích kỉ, tức hành động thực hiện chỉ vì bản thân mình. "

Ông ta gật đầu." Ồ, phải. Tôi nhớ ra rồi. Tôi đã đọc từ đó trong Spencer[1] . "

" Spencer! "Tôi kêu lên." Ông đã đọc sách của ông ấy? "

" Không nhiều, "ông ta thú nhận." Tôi hiểu được khá nhiều về "Các nguyên tắc thứ nhất," nhưng "Sinh học" khiến tôi rối trí, cuốn "Tâm lí học" thì khiến tôi bần thần suy nghĩ rất nhiều lần trong ngày. Tôi thật sự không thể hiểu những điều ông ta muốn nói. Tôi phải đóng sách lại để bảo vệ tâm thần mình, nhưng từ đó trở đi tôi đã quyết định cần sự chuẩn bị để đọc nó. Tôi không có nền tảng. Chỉ có Spencer và tôi hiểu tôi bị tổn hại nặng nề như thế nào. Nhưng tôi học được vài điều từ cuốn "Dữ liệu về đạo đức." Tôi đã đọc từ "vị tha" từ đó, và giờ tôi đã nhớ nó được dùng như thế nào rồi. "

Tôi băn khoăn không biết người đàn ông này đã học được gì từ một tác phẩm như thế. Tôi nhớ đủ nhiều về những điều Spencer đã viết để hiểu rằng vị tha là nét bắt buộc phải có trong hạnh kiểm cao quí nhất theo lí tưởng của ông ta. Larsen Sói rõ ràng đã nghiên cứu kĩ những lời dạy của triết gia vĩ đại, nhưng chối bỏ và chọn lọc theo những gì ông ta cần và muốn.

" Ông còn đọc những gì nữa? "Tôi hỏi.

Đôi lông mày ông ta hơi nâng lên trong nỗ lực lặng im để cất thành lời những suy nghĩ ông ta chưa bao giờ có thể nói ra. Tôi cảm thấy tinh thần phấn khởi. Tôi đã mò mẫm chạm vào được phần linh hồn của ông ta, khi ông ta nỗ lực mò mẫm chạm vào linh hồn người khác. Tôi đang khám phá một lãnh thổ trinh nguyên. Một vùng đất vô cùng kì lạ đang tự trải ra ngay trước mắt tôi.

" Không thể nói ngắn gọn được, "ông ta bắt đầu," Spencer đã từng viết thế này: Đầu tiên, con người hành động vì lợi ích chính mình – hành động như vậy là vì đạo đức và lợi ích. Thứ hai, anh ta phải hành động vì lợi ích của con cái mình. Thứ ba, anh ta phải hành động vì lợi ích của giống loài mình. "

" Và phẩm hạnh cao quí nhất, tốt đẹp nhất, "tôi xen ngang," là hành động làm lợi cho đồng thời chính người đó, con cái người đó và giống loài của người đó. "

" Tôi không đồng ý, "ông ta đáp lại." Không thấy nổi tính cần thiết, hay thường thức trong câu đó. Tôi bỏ qua giống loài và con cái. Tôi sẽ không hi sinh bất cứ thứ gì cho họ. Quá là ủy mị, hẳn anh cũng tự hiểu, ít nhất là với những người tin vào sự sống bất diệt. Nếu tôi tin vào sự bất diệt, lòng vị tha sẽ là một đề xuất kinh doanh đáng trả tiền. Tôi có thể nâng linh hồn mình lên theo bất kì độ cao nào. Nhưng nếu tôi không hề bất tử trước cái chết, mà chỉ là một cái men bò quẫy bị yếm thứ phép màu mang tên sự sống, thì thật vô đạo khi có những hành động hi sinh. Bất kì sự hi sinh nào đều sẽ khiến tôi mất đi cơ hội để bò và cử động đều ngu xuẩn; không chỉ ngu xuổn, mà còn sai trái trước chính bản thân tôi, quá nguy hại. Tôi không thể để mất bất kì cơ hội được bò, được cử động nào nếu tôi muốn ăn được nhiều con men nhất. Sự bất động vĩnh hằng chạm vào tôi khó hay dễ là do sự hi sinh hay ích kỉ trong thời gian tôi là con men bò quằn quại. "

" Vậy ông là một người theo chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa duy vật, và hiển nhiên, chủ nghĩa khoái lạc. "

" Những từ to tát, "ông ta cười." Nhưng chủ nghĩa khoái lạc là gì? "

Ông ta gật đầu khi nghe tôi định nghĩa.

" Và ngoài ra, "tôi tiếp tục," ông là người không thể tin tưởng bất cứ điều gì có thể mang tính ích kỉ vì lợi ích cá nhân? "

" Giờ anh bắt đầu hiểu rồi đấy, "ông ta rạng rỡ nói.

" Ông là người hoàn toàn không có cái mà thế giới gọi là đạo đức. "

" Đúng thế. "

" Một người đàn ông mọi người phải sợ hãi.. "

" Cũng là một cách nói. "

" Như cách người ta sợ rắn, hổ, hay cá mập? "

" Giờ anh biết tôi rồi, "ông ta nói." Anh đã biết tôi như cách tôi thường được biết đến. Những kẻ khác gọi tôi là Sói. "

" Ông là một loài quái vật, "tôi táo bạo nói thêm," anh chàng Caliban[2] băn khoăn về hung thần Setebos, một kẻ hành xử giống như ông, nông nổi thất thường theo ý thích bản thân trong những phút giây nhàn rỗi. "

Trán ông ta nhăn lại trước sự mỉa mai đó. Ông ta không hiểu, và tôi nhanh chóng biết được rằng ông ta không biết bài thơ đó.

" Tôi mới đang đọc Browning, "ông ta thú nhận," khá khó. Tôi không đọc được nhiều, tôi đã hết chịu nổi sách của ông ta. "

Để không quá dài dòng, tôi xin nói luôn tôi đã lấy cuốn sách đó ra khỏi phòng riêng của ông ta và đọc to bài" Caliban ". Ông ta rất vui. Đó là cảm xúc sơ khai khi có cơ hội lí luận và phân tích những điều ông ta đã biết. Ông ta cắt ngang liên tục với những lời bình luận và chỉ trích. Khi tôi đọc xong, ông ta bảo tôi đọc lại nó lần thứ hai, rồi thứ ba. Chúng tôi bắt đầu thảo luận – về triết học, khoa học, tiến hóa và tôn giáo.

Ông ta đã đối đầu với mối nguy hại từ những điều thiếu chính xác khi tự học, và tôi phải thừa nhận, ông ta có sự chắc chắn và thẳng thắn của một trí tuệ nguyên thủy. Sự đơn giản trong cách lí luận của ông ta mang sức mạnh của riêng nó, chủ nghĩa duy vật của ông ta còn hấp dẫn hơn chủ nghĩa duy vật phức tạp của Charley Furuseth. Theo Furuseth từng nói, tôi là một kẻ theo chủ nghĩa lí tưởng bản năng lại còn cứng nhắc nữa, nên tôi không bị anh ta mê hoặc; nhưng người đàn ông được gọi là Larsen Sói này đã tấn công tới những thành trì niềm tin cuối cùng của tôi bằng sức mạnh đáng tôn trọng dù không thể gây nên sự đồng tình.

Thời gian trôi qua. Bữa tối đã sắp tới nhưng bàn vẫn chưa được dọn. Tôi trở nên bồn chồn và lo lắng, và tới khi Thomas Mugridge nhòm xuống cầu thang, nhợt nhạt và tức giận ra mặt, tôi đã chuẩn bị bỏ đi lo công việc của mình. Nhưng Larsen Sói hét lên với gã:

" Bếp, tối nay mày bận đấy. Tao có việc với Hump, mày phải làm hết sức khi không có nó."

Một lần nữa, điều chưa từng có đã xảy ra. Đêm đó, tôi ngồi ở bàn ăn với thuyền trưởng và đám thợ săn, trong khi Thomas Mugridge phục vụ và rồi thì rửa chén bát – ý thích bất chợt, một tâm trạng rất Caliban của Larsen Sói đã kéo đến tương lai rắc rối mà tôi có thể đoán trước được. Nhưng hiện tại, chúng tôi vẫn nói, và nói, trước sự ghê tởm của đám thợ săn không hiểu lấy một từ.

[1] Spencer: Herbert Spencer, một triết gia; nhà lí thuyết chính trị tự do cổ điển; nhà lí thuyết xã hội học Anh.

[2] Caliban và Setebos: Thơ của Robert Browning, chàng Caliban trong bài thơ dằn vặt với những câu hỏi về con người và đức tin.
 
88 ❤︎ Bài viết: 72 Tìm chủ đề
Chương 9

Ba ngày nghỉ ngơi, ba ngày trời thương cho tôi nghỉ ngơi là những gì tôi đạt được từ Larsen Sói, ăn trong bàn đặt ở cabin, chẳng làm gì khác ngoài thảo luận về cuộc sống, văn chương và vũ trụ, trong khi Thomas Mugridge thì bốc mùi và tức điên vì phải làm việc của cả tôi lẫn anh ta. "Cẩn thận giông bão đấy, tôi chỉ nói được đến thế thôi," là lời cảnh báo của Louis, sau khi tôi lên boong nửa tiếng, lúc Larsen Sói đang bận chỉnh nhóm thợ săn đứng thẳng hàng.

"Không thể biết điều gì sẽ xảy ra được," Louis tiếp tục, để đáp lại yêu cầu muốn biết thêm nhiều thông tin của tôi. "Người đàn ông này lội ngược chiều gió, ngược dòng nước. Anh không thể đoán được lão ta sẽ làm gì. Anh có thể nghĩ mình đã hiểu lão và đang được lão yêu thích, khi lão cứ quấn lấy mình, nhưng cái chết đang chờ đợi và sẵn sàng vồ lấy anh và xé tất cả các cánh buồm chắc chắn thành mớ giẻ rách." Thế nên tôi không hề ngạc nhiên khi trước viễn cảnh giông tố Louis đang cảnh báo.

Chúng tôi đã có một cuộc thảo luận sôi nổi – về cuộc sống, đương nhiên rồi – và táo bạo dần, tôi đã phán xét nghiêm khắc Larsen Sói và cuộc sống của Larsen Sói. Trên thực tế, tôi đã mổ xẻ, phân tích ông ta và đảo lộn linh hồn ông tỉ mỉ và triệt để như cái cách ông ta vẫn làm với người khác. Có lẽ tôi có điểm yếu khi thường dùng từ cay nghiệt, nhưng tôi đã phá bỏ mọi sự kiềm chế xuống nước, chém và đâm tới khi ông ta gầm lên. Gương mặt sậm màu đồng hun của ông ta đen đi vì thịnh nộ; đôi mắt ông bốc cháy. Chúng không còn rõ ràng hay tỉnh táo nữa – chẳng còn gì ngoài cơn giận đáng sợ của một kẻ điên. Đó là con sói bên trong ông ta mà tôi đã được thấy, một con sói điên loạn. Ông ta xông tới tôi, họng vang lên âm thanh như tiếng gầm, nắm lấy tay tôi. Tôi gồng người lại để giấu đi cơn run rẩy; nhưng lòng can đảm của tôi không thể nào đối chọi lại sức mạnh khổng lồ của người đàn ông này. Ông ta túm lấy đầu vai tôi chỉ bằng một tay, khi bàn tay đó siết lại tôi co người lại và ré lên. Chân tôi mềm nhũn. Tôi không tài nào đứng thẳng dậy và chịu đựng cơn đau được. Những cơ bắp buông tha nhiệm vụ. Cơn đau quá lớn. Đầu vai tôi đang bị nghiền nát như bột giấy.

Dường như ông ta tỉnh táo lại chút ít, vì ánh mắt ông ta ánh lên sắc lẻm và bàn tay đã thả lỏng, đồng thời tiếng cười khe khẽ vang lên như tiếng gầm gừ. Tôi ngã vật ra sàn, cảm thấy sắp ngất tới nơi, còn ông ta ngồi xuống, chậm một điếu thuốc, quan sát tôi như mèo nhìn chuột. Khi quằn quại nằm đó, tôi thấy trong đôi mắt đó vẻ tò mò mình vẫn thường để ý, băn khoăn và lúng túng, truy vấn, truy vấn tới vĩnh viễn câu trả lời về mọi thứ trên đời.

Cuối cùng, tôi cũng lồm cồm bò dậy được và đi lên cầu thang. Khoảng thời gian an lành đã chấm dứt, chẳng còn để làm nữa ngoài việc trở lại bếp. Tay trái tôi mất cảm giác như đã bị liệt, phải mất nhiều ngày sau tôi mới có thể dùng cả hai tay và mất hàng tuần cảm giác tê cứng và đau đớn mới chấm dứt. Ông ta chẳng làm gì hết ngoài đặt bàn tay lên cánh tay tôi và bóp. Không phải vặn hay giật. Ông ta chỉ nắm tay, siết lại tạo nên một áp lực vừa phải. Tôi không nhận ra ông ta đã làm gì cho tới tận ngày hôm sau, khi ông ta thò đầu vào cửa bếp, với vẻ thân thiện mới mẻ, và hỏi cánh tay của tôi thế nào rồi.

"May mà nó không tệ hơn," ông ta cười.

Tôi đang gọt vỏ khoai tây. Ông ta nhặt một củ từ trong chảo. Nó có kích cỡ vừa phải, cứng và chưa được được gọt vỏ. Ông ta phủ bàn tay lên nó, nắm lại và bóp, thế là bột khoai tây phòi ra giữa những kẽ tay như bùn nhão. Ông ta bỏ phần còn lại vào chảo và bỏ đi, để tôi lại với ảo tưởng về những gì đã có thể xảy ra với mình nếu con quái vật đó dồn sức lực vào tôi.

Nhưng sau tất cả, ba ngày nghỉ ngơi rất đáng giá, vì nó giúp đầu gối tôi có cơ hội lành trở lại. Hiện tôi cảm thấy tốt hơn nhiều, chỗ xưng tấy đã xẹp bớt, xương bánh chè có vẻ đã trở về vị trí chính xác của nó. Ngoài ra, ba ngày nghỉ ngơi đã mang lại rắc rối đúng như tôi đã đoán. Thomas Mugridge muốn tôi phải trả giá cho ba ngày đó. Gã đối xử với tôi rất tàn ác, nguyền rủa liên tục, đổ hết việc của mình cho tôi. Gã thậm chí còn mạo hiểm giơ cao nắm đấm ra với tôi, nhưng vì tôi đã dần biến chính mình thành cầm thú như họ, nên tôi gầm gừ vào mặt gã tới nỗi gã phải thụt lui. Tôi có thể tưởng tượng được, đó không phải hình ảnh đẹp đẽ về mình, Humphrey Van Weden, đứng trong căn bếp tàu tồi tàn, ngồi chồm hỗm trong góc làm việc, mặt đối mặt với sinh vật định tấn công mình, môi nhếch lên và gầm gừ như chó, mắt long sòng sọc vì sợ và bất lực và lòng can đảm sinh ra từ nỗi sợ và bất lực. Tôi không thích hình ảnh đó. Nó gợi ra hình ảnh của một con chuột kẹt trong bẫy. Tôi không muốn để tâm tới cách hành xử đó, nhưng nó hiệu quả, vì đòn hăm dọa đã không hạ xuống.

Thomas Mugridge lùi lại, trợn mắt nhìn hằn học và căm ghét y như tôi đang trừng mắt.

Chúng tôi là hai con thú, đối đầu và nhe răng với nhau. Gã là kẻ nhát gan, không dám đánh tôi nếu tôi không cụp đuôi trước; nên gã chọn phương thức khắc để đe dọa tôi. Trong bếp chỉ có một con dao duy nhất dùng để cắt gọt mọi thứ. Trải qua bao năm sử dụng, nó đã trở thành lưỡi dao mỏng lét. Con dao trông rất dữ tợn, hồi đầu nó đã khiến tôi rùng mình mỗi lần sử dụng. Gã đầu bếp mượn Johansen một hòn đá và liên tục mài sắc con dao. Gã mài dao với vẻ phô trương hết sức, mắt gườm gườm nhìn tôi. Gã quẹt nó lên, xuống cả ngày. Thi thoảng, gã lại lôi dao và hòn đá ra mài. Lưỡi thép đã mỏng như dao cạo. Gã thử nó bằng cách tì phần thịt ngón cái hoặc lia nó qua móng tay, gã cạo lông bàn tay, cầm ngang lưỡi dao để nhìn cạnh sắc siêu mỏng, để thấy hoặc giả vờ tìm thấy một vết mẻ nhỏ xíu ở đâu đó. Thế là gã lại đặt dao lên đá, mài xoẹt, xoẹt, xoẹt tới khi tôi muốn phá ra cười, vì trông lố bịch quá.

Nhưng như vậy thật đáng sợ, vì tôi biết gã có thể sử dụng nó, dưới sự hèn nhát đó là lòng can đảm của sự hèn nhát sẽ thúc giục gã làm rất nhiều điều mà bản chất gã không chấp nhận và sợ phải làm. "Thằng Bếp đang mài dao vì Hump đấy," lời đồn thổi đó được cánh thủy thủ thì thầm, một số gã còn trêu chọc gã về chuyện đó. Gã vui lòng tiếp nhận những câu đùa đó, gật đầu với vẻ bí hiểm như biết trước điều gì kinh khúng, tới khi George Leach, cậu nhóc bồi tàu trước đây, táo gan bày trò cợt nhả về đề tài này.

Leach tình cờ là một trong những thủy thủ được sai dội cho Mugridge vài xô nước sau trò đỏ đen với thuyền trưởng. Rõ ràng Leach đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình nên Mugridge không tha thứ cho cậu ta được. Bọn họ lời qua tiếng lại, các vị tổ tiên đã nằm sâu dưới đất cũng bị gọi lên bằng những cái tên chẳng đẹp đẽ gì cho cam. Leach cười khanh khách buông ra mấy câu chửi bới đặc trưng của vùng Telegraph Hill, rồi trước khi cả cậu ta lẫn tôi nhìn ra được chuyện xảy ra như thế náo, cẳng tay phải của cậu ta đã bị chém từ khủy tới tận cổ tay bằng một đường lia dao. Gã đầu bếp lùi lại với vẻ thù hằn trên mặt, giơ dao ra trước phòng thủ.

Nhưng Leach chẳng hề mất bình tĩnh, dù máu nó bắn ra boong như đài phun nước.

"Tao sẽ tóm được mày, Bếp ạ," cậu ta nói, "Tao sẽ cho mày một trận. Tao chẳng vội đâu. Mày sẽ chẳng cầm nổi dao khi tao muốn tóm mày." Dứt lời, cậu ta từ tốn bước về phía trước. Gương mặt Mugridge hiện rõ vẻ sợ hãi vì điều mình đã làm và những điều sớm muộn kẻ bị gã đâm sẽ làm. Nhưng thái độ của gã đối với tôi càng dữ dội hơn bao giờ hết. Dù đang sợ hãi vì nhận ra hậu quả phải trả cho việc đã làm, gã cũng thấy đó là một bài học cho tôi, nên gã càng hống hách và phấn khích. Hơn thế nữa, trong lòng gã nảy sinh thứ dục vọng rất gần với sự điên cuồng, có cội nguồn từ màu máu đã đổ vì gã. Giờ gã nhìn thấy màu đỏ ở mọi góc nhìn. Phương diện tâm lí học này rất rối rắm, nhưng tôi vẫn đọc được suy nghĩ của gã dễ dàng như đọc sách in.

Nhiều ngày trôi qua, tàu Bóng Ma vẫn rẽ sóng theo gió tín phong và tôi có thể thề mình đã nhìn thấy sự điên cuồng lóe lên trong mắt Thomas Mugridge. Tôi phải thú nhận tôi đã thấy sợ, rất sợ. Xoẹt, xoẹt, xoet, gã mài liên tục suốt cả ngày. Cái cách gã nhìn lưỡi dao và lườm tôi vô cùng khát máu. Tôi sợ phải quay lưng lại với gã, mỗi khi ra khỏi bếp tôi đi lùi – trò luôn chọc cười đám thủy thủ và thợ săn, những kẻ này sẽ tụ tập lại để chứng kiến cách tôi đi ra. Bầu không khí căng thẳng thật quá sức chịu đựng. Thi thoảng tôi nghĩ tâm trí mình sẽ chịu thua – để hòa nhập với con tàu của những kẻ hung bạo điên cuồng này. Từng tiếng, từng phút trôi qua, tính mạng tôi đều đang gặp nguy hiểm. Tôi là một linh hồn lạc bước, nhưng không có linh hồn nào dù ở trước hay sau đủ lòng thông cảm để giúp đỡ tôi. Có những lúc tôi đã nghĩ tới việc cầu xin Larsen Sói rủ lòng thương; nhưng hình ảnh đôi mắt khinh bỉ của ông ta hoài nghi về cuộc sống và phỉ nhổ nó mạnh mẽ tới nỗi buộc tôi phải kiềm chế. Vào những lúc khác, tôi nghiêm túc xét tới chuyện tự sát, mọi triết lí về hi vọng mới đủ để giữ tôi không băng qua phía bên kia của màn đêm.

Rất nhiều lần, Larsen Sói cố dụ tôi thảo luận, nhưng tôi đáp lại bằng những câu cụt lủn và lẩn tránh ông ta. Cuối cùng, ông ta ra lệnh cho tôi ngồi vào bàn ăn trong cabin để đầu bếp làm việc thay mình. Thế là tôi nói thẳng, kể cho ông ta những gì tôi phải chịu đựng vì Thomas Mugridge và vì ba ngày ân huệ kia. Larsen Sói nhìn tôi với đôi mắt cười.

"Vậy anh sợ hả?" Ông ta cười khẩy.

"Đúng thế," tôi đáp lại trung thực và thách thức, "Tôi sợ."

"Đó là con đường của những kẻ như anh," ông ta thốt lên, nửa như giận dữ; "tưởng tượng về linh hồn bất diệt của bản thân nhưng lại sợ chết. Chỉ vì một con dao sắc và thằng hèn như gã Cockney, ham muốn bấu víu lấy cuộc sống vượt lên trên tất cả sự ngu xuẩn của các người. Tại sao thế, bạn thân mến của tôi, anh sẽ sống mãi cơ mà. Anh là thần linh, một vì thần thì không thể bị giết. Thằng Bếp không làm hại anh được. Tôi đảm bảo với anh đó. Có gì đáng sợ chứ. Anh có cả sự bất diệt đang chờ. Anh là triệu phú của sự bất diệt, triệu phú với gia tài không bao giờ mất, kẻ sở hữu gia tài trường tồn trước trăng sao và vĩnh hằng như không gian, thời gian. Anh không thể thay đổi điều căn bản. Bất diệt tức là không có khởi đầu hay kết thúc. Vĩnh cửu là vĩnh cửu, dù anh chết ở đây ngay lúc này, anh sẽ tiếp tục sống ở nơi nào đó sau này.

Thật đẹp xiết bao, rũ bỏ da thịt và giải thoát tinh thần bị cầm tù. Thằng Bếp không làm hại anh được. Nó chỉ đẩy anh lên con đường mà đằng nào anh cũng phải đi.

Nhưng nếu anh chưa muốn bị đẩy lên đường, sao không đẩy thằng Bếp? Theo cách nghĩ của anh, nó hẳn là triệu phú của sự bất diệt. Anh không thể khiến nó phá sản, séc của nó luôn có hiệu lực. Anh không thể cắt đứt chiều dài cuộc sống của nó bằng cách giết chết nó, vì nó đâu có khởi đầu hay kết thúc. Nó buộc phải tiếp tục sống ở một nơi nào đó, bằng cách nào đó. Nên cứ đẩy nó đi. Xọc dao vào người nó, giải thoát linh hồn nó. Đúng thế, nơi đây là nhà ngục bẩn thỉu, anh đã nhân từ ban cho nó cơ hội phá vỡ cánh cửa. Ai mà biết được. Có lẽ một linh hồn tuyệt đẹp sẽ thoát về phía bầu trời xanh trong từ cái xác xấu xí đó. Đẩy nó đi, tôi sẽ thăng cho anh vào vị trí của nó, nó đang được bốn mươi lăm đô la một tháng đấy."

Rõ ràng là tôi không thể tìm kiếm sự giúp đỡ hay thương hại từ Larsen Sói. Dù làm gì thì tôi cũng cần phải bảo vệ mình; lòng dũng cảm nảy sinh từ sự sợ hãi của tôi đã phát triển thành kế hoạch chiến đấu với Thomas Mugridge và thứ vũ khí của gã. Tôi mượn hòn đá mài của Johansen. Louis, lái thuyền, đã xin tôi sữa đặc và đường từ trước. Hộp cách li là nơi cất những thứ ngon lành như thế, được đặt dưới sàn cabin. Tôi đợi thời cơ và trộm năm hộp sữa đặc. Đêm đó, khi Louis trực trên boong, tôi đổi chúng cho anh ta lấy một con dao găm, cũng mỏng và đáng sợ như con dao bếp của Thomas Mugridge. Nó đã cùn và gì, nhưng tôi đưa hòn đá mài ra khi Louis quẹt lưỡi nó. Đêm đó, tôi ngủ ngon hơn mọi khi.

Sáng hôm sau, sau bữa sáng, Thomas Mugridge bắt đầu mài xoẹt, xoẹt, xoẹt. Tôi lo lắng nhìn gã, vì tôi đang quì gối bới tro ra khỏi lò. Khi tôi quăng nó sang một bên, gã đang nói chuyện với Harrison, một cậu nhóc trông rất quê mùa chân chất, có gương mặt tràn đầy đam mê và thắc mắc.

"Đúng thế," Mugridge nói, "sự sùng bái này khiến tao phải ở Reading hai năm. Nhưng tao có mà quan tâm ấy. Những thằng ngốc khác bị chỉnh đốn hết. Phải thấy tao múa dao thế này này." Gã lườm về hướng tôi để xem tôi có nghe không, rồi tiếp tục khoác loác về sức mạnh của mình.

Tiếng gọi của thuyền phó đã cắt ngang câu chuyện của gã, Harrison đi ra đuôi tàu. Mugridge ngồi xuống ngưỡng cửa bếp và tiếp tục mài dao.

Tôi đẩy xẻng ra và bình tĩnh ngồi trên hộp đựng than, đối diện với gã. Gã ban cho tôi ánh mắt độc địa. Tôi vẫn bình tĩnh, dù tim đang đập thình thịch, lẳng lặng lôi dao găm của Louis ra và mài nó lên đá. Tôi trông đợi vẻ kinh ngạc của gã người Cockney, nhưng ngạc nhiên thay, gã tỏ ra không hay biết tôi đang làm gì. Gã tiếp tục mài dao; tôi cũng vậy; suốt hai tiếng đồng hồ, chúng tôi ngồi đó, đối diện, mài, lại mài. Tin tức nhanh chóng lan ra trên thuyền, nửa con tàu tụ lại trước cửa bếp để xem cảnh đó.

Những lời khích tướng và khuyên nhủ được ban phát miễn phí, Jock Horner, gã thợ săn nói năng nhỏ nhẹ có vẻ ngoài như chẳng làm hại lấy một con chuột, khuyên tôi nên bỏ qua phần xương sườn để đâm lên trên, đồng thời cũng dạy tôi thứ anh ta gọi là "cú xoắn Tây Ban Nha" trên lưỡi dao. Leach thò cánh tay băng bó tới trước, xin tôi để lại một ít tàn tích của gã bếp cho nó, còn Larsen Sói thì dừng lại đôi lần trước bục đuôi tàu, tò mò nhìn về thứ ông ta gọi là sự giãy dụa trườn bò của những cái men được ông ta coi là cuộc sống.

Tôi có thể thoải mái nói rằng vào lúc đó tôi cũng hoài nghi về giá trị sai lầm của cuộc sống. Chẳng có thứ gì đẹp đẽ, thiêng liêng hết – chỉ có hai sinh vật hèn nhát chuyển động con dao trên hòn đá, và một nhóm những sinh vật động đậy, cũng hèn nhát không kém, đứng quan sát. Tôi dám chắc, một nửa trong số chúng rất nôn nóng muốn thấy chúng tôi đổ máu. Trò giải trí tuyệt vời cho chúng.

Tôi không nghĩ sẽ có ai can thiệp, nếu chúng tôi lao vào nhau quyết sống chết.

Mặt khác, tất cả chuyện này thật nực cười và trẻ con. Xoẹt, xoẹt, xoẹt, Humphrey Van Weyden mài sắc con dao trong bếp tàu và thử nó bằng ngón cái. Trong tất cả các tình huống, đây là tình huống khó tưởng tượng nhất. Tôi biết những người đồng trang lứa sẽ không thể nào tin vào cảnh này. Tôi bị gọi là "chị" Van Weyden suốt là có lí do, và "chị" Van Weyden có khả năng làm điều này sẽ ngạc nhiên lắm với Humphrey Van Weyden, kẻ không hề biết tới hân hoan hay hổ thẹn.

Những chẳng có gì xảy ra cả. Cuối cùng, sau hai giờ đồng hồ, Thomas Mugridge cất dao và hòn đá đi, giơ tay ra.

"Chúng ta trình diễn cho lũ khốn nạn này để làm gì?" gã hỏi. "Chúng không thích ta, chúng sẽ mừng lắm nếu thấy ta cắt họng nhau. Mày không tới nỗi tệ, Hump ạ. Mày dũng cảm đấy, cái bọn Mĩ tụi mày, theo cách nào đó thì tao thích mày. Nên tiến lên bắt tay đi." Có thể tôi hèn, nhưng tôi ít hèn nhát hơn gã. Đây rõ ràng là chiến thắng tôi giành được, nên tôi từ chối không tiến tới nắm bàn tay ghê tởm của gã.

"Được thôi," gã cao ngạo nói; "không bắt tay thì thôi. Tao vẫn không bớt thích mày chỉ vì thế." Và để bảo vệ bản mặt còn sót lại của mình, gã quay đầu nổi giận với đám khán giả. "Cút khỏi cửa bếp của tao, bọn thối thây!"

Mệnh lệnh này được củng cố bằng một ấm nước đang bốc khói, ngay khi nhìn thấy nó, cánh thủy thủ vội tránh hết ra. Với Thomas Mugridge, đó cũng là một dạng chiến thắng, giúp gã dễ dàng chấp nhận sự thất bại trước tôi, dù đương nhiên, gã phải cẩn thận hơn khi đuổi đám thợ săn đi.

"Tao thấy thằng Bếp thắng," tôi nghe Smoke nói với Horner.

"Mày cứ cá đi," người kia đáp. "Từ giờ nhà bếp là của Hump, thằng Bếp rụt vòi vào rồi." Mugridge nghe thấy và liếc nhanh về phía tôi, nhưng tôi chẳng hề tỏ ra hay biết về đoạn đối thoại đó. Tôi không nghĩ chiến thắng của mình có uy lực và tốt đẹp đến thế, nhưng tôi quyết định không từ bỏ bất cứ điều gì mình đạt được. Ngày tháng trôi đi, lời tiên tri của Smoke đã thành hiện thực. Gã Cockney trở nên nhún nhường và phục tùng tôi còn hơn Larsen Sói. Tôi không còn gọi gã là ông nữa, không phải rửa chảo mỡ hay gọt khoai tây nữa. Tôi chỉ làm việc của mình, và làm khi nào tôi thích, theo cách tôi thích. Ngoài ra, tôi cũng cột con dao găm vào hông, như cách thủy thủ làm và giữ thái độ gồm những phần bằng nhau của hách dịch, nhục mạ và khinh bỉ trước Thomas Mugridge
 
88 ❤︎ Bài viết: 72 Tìm chủ đề
Chương 10

Tôi trở nên thân thiết hơn với Larsen Sói, nếu từ thân thiết bao gồm được tính cả với mối quan hệ giữa ông chủ và kẻ hầu, hay, nói đúng hơn, giữa vị vua và gã hề. Tôi chỉ là món đồ chơi của ông ta, ông ta coi trọng tôi như đứa trẻ coi trọng một món đồ chơi. Nhiệm vụ của tôi là mua vui, chừng nào tôi còn khiến ông ta vui thì mọi sự đều tốt đẹp; nhưng nếu để ông ta chán, hoặc để ông ta mắc phải một trong những cảm xúc tồi tệ, thì tôi sẽ bị đày từ bàn cabin về bếp, và đồng thời, tôi cũng được ban ơn may mắn thoát đi với tính mạng và thân thể nguyên vẹn.

Sự cô đơn của người đàn ông này cũng dần bị đổ hết lên tôi. Trên thuyền không có ai là không ghét hay sợ ông ta, cũng không có ai ông ta không khinh bỉ. Ông ta hấp thụ nguồn sức mạnh lớn lao trong mình, nhưng dường như không bao giờ tìm được nhiệm vụ xứng đáng để trút nó ra. Ông ta giống Lucifer, linh hồn cao ngạo bị đày đọa trong một xã hội toàn những bóng ma Tomlinson vô hồn.

Riêng sự cô đơn này đã đủ tệ, ông ta còn bị đày đọa bởi sự u sầu nguyên thủy của giống loài. Nhờ biết đến ông ta, tôi mới có thể hiểu rõ hơn về thần thoại Bắc Âu cổ xưa. Những kẻ man rợ da trắng, tóc nhạt màu đã xây nên những đền thờ đáng sợ có chung bản chất với ông ta. Chất mơ mộng từ dòng máu Latin yêu cười chẳng tồn tại trong ông. Khi ông ta cười, đó là vì một trò đùa chẳng có gì ngoài sự hung tợn. Nhưng ông ta hiếm khi cười; ông ta thường buồn bã. Đó là sự buồn bã sâu xa tựa cội rễ của giống loài. Đó là di sản giống loài, là nỗi buồn đã tạo nên phần trí não tỉnh tảo, thanh thản và đầy đạo đức.

Trên thực tế, nỗi u sầu nguyên thủy đó phần lớn đã trở thành tôn giáo trong những hình thức buồn khổ hơn của nó. Nhưng sự chở che của tôn giáo bị Larsen Sói từ chối. Chủ nghĩa duy vật hung hăng của ông ta không cho phép điều đó. Thế nên, khi ông ta buồn khổ, ông ta chẳng còn lại gì ngoài sự ác độc. Nếu ông ta không phải là người quá đỗi khủng khiếp, hẳn đôi lúc tôi sẽ xót thương ông, như vào một buổi sáng nọ, tôi tới phòng riêng của ông ta để đổ đầy bình nước và tình cờ thấy ông ta. Ông ta không thấy tôi. Ông vùi đầu vào tay, đôi vai co giật như đang khóc. Ông ta đang bị cào xé bởi nỗi buồn khủng khiếp.

Khi nhẹ chân bước ra, tôi nghe thấy ông ta rên rỉ, "Chúa ơi! Chúa! Chúa ơi!" Đó không phải lời kêu gọi chúa, mà chỉ là một lời nguyền rủa, xuất phát từ tận tâm hồn.

Vào bữa tối, ông ta hỏi đám thợ săn cách chữa bệnh nhức đầu, tới đêm, người đàn ông mạnh mẽ đó như thể đã mù dở, loạng choạng về cabin.

"Cả đời tôi chưa bao giờ ốm, Hump ạ," ông ta nói, khi tôi đỡ ông ta về phòng.

"Tôi cũng chưa bao giờ đau đầu, trừ lần toác mười lăm phân trên đầu vì một cái trục tời." Cơn đau đầu quáng mắt này kéo dài ba ngày, ông ta vật vã như loài thú hoang, như cách người ta chịu đựng đau đớn trên con tàu này, không kêu ca, không thương cảm, hoàn toàn cô độc.

Tuy nhiên, vào sáng nay, khi tôi tiếng vào phòng riêng của ông ta để dọn giường và lau chùi, tôi thấy ông ta đã khỏe và vùi đầu làm việc. Bàn và giường được phủ kín những bản thiết kế và phép tính. Với một tờ giấy trong lớn, la bàn và thước vuông trên tay, ông ta đang chép lại theo một mô hình hay cái gì đó khác.

"Chào, Hump!" Ông ta hào hứng chào đón tôi. "Tôi vừa hoàn thành những bước cuối cùng. Muốn xem thành quả không?"

"Nhưng nó là gì?" Tôi hỏi.

"Một thiết bị tiết kiệm sức lao động cho người đi biển, phương pháp định hướng dễ hiểu với trình độ mẫu giáo," ông ta hóm hỉnh đáp. "Từ hôm nay, một đứa trẻ cũng sẽ biết cách định hướng cho tàu. Không cần những phép tính dài dòng nữa. Tất cả những gì anh cần là một ngôi sao trên bầu trời âm u để biết mình đang ở đâu. Nhìn đi. Tôi đặt tấm bảng chia tọa độ trong lên bản đồ sao, xoay tọa độ tới Bắc Cực. Nhờ bảng chia tọa độ, tôi sẽ biết được độ cao cung vòng và các đường phương vị. Tất cả những gì tôi cần làm là đặt bảng chia lên một ngôi sao, xoay bảng tới khi nó trùng với những điểm trên bản đồ bên dưới, thế là ngay lập tức, anh sẽ có vị trí chính xác của con tàu!" Giọng ông ta như lẫn tiếng ngân vang của bài ca chiến thắng, đôi mắt sáng hôm nay mang màu xanh trong như mặt biết, lấp lánh ánh sáng.

"Hẳn ông rất giỏi toán," tôi nói. "Ông đi học ở đâu vậy?"

"Chưa bao giờ thấy bên trong ngôi trường nào hết, xui xẻo thay," là câu trả lời. "Tôi đã phải tự tìm tòi. Anh nghĩ tại sao tôi lại làm ra thứ này?" Ông ta đột ngột yêu cầu.

"Mong để lại dấu chân trên dòng cát thời gian?"

Ông ta phá lên một trong những nụ cười khinh bỉ khủng khiếp nhất. "Không hề. Để được bằng sáng chế, để kiếm ra tiền, để chìm đắm trong tham lam, trong khi những kẻ khác vẫn làm việc hằng đêm. Đó là mục đích của tôi. Ngoài ra, tôi cũng thích làm việc này."

"Niềm vui sáng tạo," tôi lẩm bẩm.

"Tôi đoán đó là cách gọi nên được sử dụng. Một cách khác để thể hiện niềm vui của sự sống vẫn đang sống, sự thành công khi vượt qua khó khăn, niềm vui của kẻ nhanh chân thoát chết, niềm tự hào của con men có được vì nó là men và nó chuyển động."

Tôi giơ hai tay lên bất lực, không thể phản đối chủ nghĩa duy vật vô nhân tính của ông ta, và bắt đầu dọn giường. Ông ta tiếp tục chép lại những đường và điểm trên bảng chia tọa độ bằng giấy trong. Đó là công việc đòi hỏi sự tinh tế và chính xác tối đa, tôi chỉ biết ngưỡng mộ cái cách ông ta kiềm giữ sức mạnh của mình khi cần sự cẩn thận và chuẩn xác.

Khi dọn giường xong, tôi nhận ra mình đang say mê nhìn ông ta. Rõ ràng ông ta là một người đàn ông quyến rũ – với nét đẹp của những đường nét nam tính.

Một lần nữa, với sự ngạc nhiên chưa bao giờ nguôi, tôi nhận ra sự độc ác, hay gian trá, hoặc tội lỗi không hề tồn tại trên mặt ông ta. Tôi tin rằng đây chính là gương mặt của một người không hề làm gì sai trái. Và vì thế, tôi ước mình không lầm. Điều tôi muốn nói là gương mặt ông ta là của một người không hề làm gì sai trái trước lương tâm mình, hoặc của một người không hề có lương tâm. Tôi từ chối nghĩ theo cách thứ hai. Ông ta là một tạo vật hấp dẫn, một người đàn ông nguyên thủy như thể tới từ thế giới chưa có sự phát triển của khái niệm đạo đức. Ông ta không bất tử, lại vô đạo.

Như tôi đã nói, những nét nam tính của ông ta tạo nên một gương mặt đẹp. Ông ta mày râu nhẵn nhụi, mọi đường nét đều khác biệt, được cắt gọt sắc cạnh như chạm khắc; biển cả và mặt trời đã hun cháy làn da trắng nguyên bản thành màu đồng sậm vốn được tạo ra cho những cuộc chiến, tăng thêm vẻ tàn bạo và đẹp đẽ của ông ta. Đôi môi dày, chất chứa sự cứng rắn gần như khắc nghiệt thường thấy ở người môi mỏng hơn. Đường nét miệng, cằm, quai hàm cũng vừa cứng rắn vừa khắc nghiệt, với tất cả những nét dữ dội và cương quyết của đàn ông; mũi cũng vậy. Đó là cái mũi được sinh ra để chinh phục và chỉ huy. Nó gợi lên hình ảnh mỏ đại bàng. Hẳn nó vốn là của người Hi Lạp, cũng có thể là La Mã, nhưng dáng vừa quá lớn hoặc quá tinh tế để là một trong hai. Dù gương mặt ông ta là hiện thân của sự dữ dội và sức mạnh, nỗi u sầu nguyên thủy ông ta gánh chịu càng làm đậm thêm những đường nét ở miệng, mắt và lông mày, tạo nên sự vĩ đại và toàn vẹn mà thiếu nó sẽ thành không đầy đủ.

Thế rồi tôi phát hiện ra rằng mình đang đứng ngẩn ngơ nghiên cứu ông ta. Tôi không thể nói rõ người đàn ông này đã hấp dẫn tôi như thế nào. Ông ta là ai? Ông ta là thứ gì? Sao ông ta lại trở nên giống như bây giờ? Dường như ông ta có tất cả mọi nguồn sức mạnh, tất cả mọi tiềm năng; thế thì tại sao ông ta lại ở đây, chỉ là chủ nhân vô danh của một con tàu buồn săn hải cẩu, nổi danh với những kẻ săn hải cẩu khác về tính hung bạo đáng sợ? Sự tò mò trỗi dậy trong tôi dâng lên thành lời nói:

Tại sao ông không làm gây dựng nên những điều vĩ đại trên thế giới này? Với sức mạnh của mình ông có thể vươn lên bất cứ tầm cao nào. Vì không có lương tâm hay bản năng đạo đức, ông có thể làm chủ cả thế giới, bóp nát nó trong tay mình. Nhưng ông lại ở đây vào những năm tháng đỉnh cao của cuộc đời, bắt đầu bước sang sườn dốc đổ vể già nua và cái chết, sống tủi nhục chỉ để săn những con thú biển nhằm thỏa mãn ham muốn hư vinh và lòng ham trang điểm của phụ nữ, vẫy vùng trong lòng tham, như chính lời ông nói, khi xung quanh chẳng có bất cứ thứ thì đẹp đẽ. Tại sao? Với tất cả khả năng của ông, sao không làm điều gì hết? Chẳng điều gì có thể ngăn chân ông cả, chẳng điều gì có thể cản ông cả. Tại sao chứ? Ông thiếu dã tâm sao? Hay không thấy sự cám dỗ? Vấn đề nằm ở đâu?

"Vấn đề nằm ở đâu à?" Ông ta đưa mắt nhìn khi tôi bắt đầu bùng nổ và vẫn theo dõi tới khi tôi ngậm miệng và đứng trước ông ta nín thở và lo lắng. Ông ta đợi một lát, như để tìm cách bắt đầu, rồi nói: "Hump, anh có biết ngụ ngôn của những người gieo hạt không? Nếu anh nhớ, thì một số hạt giống sẽ rơi xuống đá sỏi nơi chẳng có mấy đất, chúng sẽ nảy lên vì chẳng được đón đỡ bằng lớp đất sâu. Khi mặt trời lên, chúng bị nướng cháy, và vì không có rễ nên chúng phải khô héo. Một số hạt rơi vào gai, gai sẽ vươn ra, giữ chúng lại."

"Thì sao?" Tôi nói.

"Thì sao à?" Ông ta hỏi lại, có phần hăng hái. "Thì không tốt thôi. Tôi là một trong những hạt giống đó." Ông ta chúi đầu vào bảng chia tọa độ, tiếp tục việc sao chép. Tôi hoàn thành công việc của mình, và ngay lúc tôi mở cửa để ra ngoài, ông ta nói với tôi.

"Hump, nếu anh nhìn về phía bờ biển phía tây bản đồ Na Uy, anh sẽ thấy một vết lõm gọi là Romsdal Fiord. Tôi được sinh ra trong vòng một trăm dặm nước cách nơi đó. Nhưng tôi không phải người Na Uy. Tôi là người Đan Mạch. Cha mẹ tôi là người Đan Mạch, tôi không hề biết họ đã làm thế nào để đến được vùng đất ngập nước trên bờ biển phía tây đó. Tôi chưa từng được kể. Chẳng còn gì bí ẩn hết. Họ là những người nghèo khó và mù chữ. Tổ tiên họ nghèo khó, mù chữ – những người lao động nghèo trên biển gieo con trai mình lên những con sóng theo tục lệ từ thủa sơ khai. Chẳng còn gì để kể."

"Vậy mà có đấy," tôi phản đối. "Tôi vẫn thấy khó hiểu."

"Tôi có thể nói gì cho anh nữa," ông ta yêu cầu, sự hung dữ lại sống dậy, "về cuộc sống thiếu thốn của một đứa trẻ – chỉ biết ăn cá, sống đời thô lỗ; về những chuyến đi biển từ khi mới biết bò; về các anh em tôi, từng người một ra khơi để kiếm sống trên biển sâu và không bao giờ trở lại; hay về chính tôi, không biết đọc, không biết viết, một thằng nhóc bồi tàu từ thủa lên mười trên các con tàu cũ ven biển; về đồng tiền công rẻ mạt và cách đối xử tàn tệ, giường ngủ và bữa sáng là những cú đá đấm thay cho lời nói, về sự sợ hãi, căm ghét và đau đớn là tất cả những gì linh hồn tôi biết đến? Tôi không muốn nhớ. Chỉ cần nghĩ tới thôi, sự điên rồ đã tuôn ra trong não tôi rồi. Nhưng có những tay thuyền trưởng vùng ven biển đó, những kẻ tôi quyết sẽ tìm và giết khi sức mạnh của người trưởng thành tới với tôi, có điều sợi chỉ vận mệnh ném tôi tới nơi khác vào lúc đó. Tôi đã trở lại, không lâu sau đó, nhưng đáng tiếc, những gã thuyền trưởng đó đều đã chết, tất cả chỉ trừ tay thuyền phó ngày xưa, đã trở thành thuyền trưởng khi gặp lại tôi. Tới khi tôi rời đi, gã chỉ là kẻ tàn tật không bao giờ đi lại được nữa."

"Nhưng ông đọc Spencer và Darwin, lại chưa bao giờ vào trong một ngôi trường, làm thế nào ông học đọc và viết?" Tôi hỏi.

"Thuyền dịch vụ thương mại của người Anh. Bồi tàu năm mười hai, mười bốn làm phục vụ viên, thuyền viên thường năm mười sáu, thuyền viên đủ tư cách và là thủ lĩnh của boong trước năm mười bảy; tràn đầy tham vọng và cô đơn vô tận, chẳng hề biết đến sự giúp đỡ hay đồng cảm, tôi đã tự mình học tất cả – định hướng, toán, khoa học, văn học, chẳng chừa thứ gì. Thành quả thế nào ư? Điều khiển và làm chủ một con tàu khi đang ở đỉnh dốc cuộc đời, như anh đã nói, khi tôi bắt đầu già yếu và sẽ chết. Đánh khinh, đúng chứ? Khi mặt trời lên, tôi sẽ bị nướng cháy, vì tôi không có gốc rễ, nên tôi héo tàn."

"Nhưng lịch sử vẫn kể về những người nô lệ nổi dậy chống vua chúa," tôi gắt.

"Lịch sử cũng kể về những gì đã xảy tới với đám nô lệ nổi dậy chống vua chúa," ông ta dữ dằn nói. "Không kẻ nào có cơ hội sống. Tất cả những con người vĩ đại ấy chỉ cần hiểu khi nào thời cơ đến. Những người Corsica biết đấy. Tôi đã mơ mộng tới những điều vĩ đại như người Corsica. Đúng ra tôi phải biết về thời cơ, nhưng nó không bao giờ đến. Những cái gai vươn ra và giữ tôi lại. Hump à, tôi có thể nói rằng anh hiểu tôi còn nhiều hơn bất cứ người sống nào, trừ anh của tôi."

"Ông ta là ai? Ông ta ở đâu?"

"Chủ tàu hơi nước Macedonia, tàu săn hải cẩu," ông đáp. "Chúng ta hẳn sẽ gặp gã ở bờ biển Nhật. Người tôi gọi gã là Larsen" Tử Thần "."

"Larsen Tử Thần!" Tôi vô thức thốt lên, "Ông ta có giống ông không?"

"Không hề. Gã là cục thịt của xác thú không đầu. So với tôi, gã có tất cả sự.. sự.."

"Hung bạo," tôi đoán dò.

"Đúng thế, cám ơn vì từ đó. Gã có tất cả sự hung bạo của ta; nhưng gã hầu như không biết đọc hay viết."

"Và gã chẳng bao giờ triết lí về cuộc sống," tôi bổ sung.

"Không hề," Larsen Sói trả lời, với nỗi buồn thăm thẳm. "Gã vui vẻ hơn nhiều khi sống đời đơn độc. Gã quá bận rộn sống để mà bận tâm suy nghĩ. Sai lầm của đời tôi là mở sách ra."
 
88 ❤︎ Bài viết: 72 Tìm chủ đề
Chương 11

Tàu Bóng Ma tới điểm cực nam của chuyến hành trình khi đi qua Thái Bình Dương, và bắt đầu cắt về phía tây và bắc hướng tới một số hòn đảo đơn lẻ, theo tin đồn thì tàu sẽ đổ đầy thùng nước trước khi tiếp tục mùa săn dọc theo bờ biển Nhật Bản. Các thợ săn có dịp sử dụng súng trường và súng ngắn tới khi thấy thỏa mới thôi, các tay chèo và lái thuyền làm buồm con, buộc mái chèo và cột chèo bằng dây da và thừng để chúng không gây ra tiếng động khi rình hải cẩu và xếp thuyền theo hình bánh táo, theo như cách nói ở quê Leach. Nhân tiện, tay nó đang lành rất nhanh, dù vết sẹo sẽ theo nó cả đời.

Thomas Mugridge sống trong sự sợ hãi trước nó, sợ cả việc lên boong khi trời đã tối. Có ba hay bốn trận cãi vã đã nổ ra ở khoang trước. Louis kể với tôi rằng lời đồn thổi của đám thủy thủ đã mò tới khoang sau, hai kẻ lẻo mép đã bị thuyền phó tẩn tới sống tới chết. Anh ta lắc đầu nghi ngại về tương lai của Johnson, tay chèo chung thuyền với mình. Johnson mắc tội tự do nói ra suy nghĩ của mình và có đôi lần đụng chạm tới Larsen Sói vì cách phát âm tên anh ta. Anh ta cũng đánh nhau với Johansen ở giữa tàu một tối nọ, kể từ đó thuyền phó gọi anh ta đúng như tên anh ta. Nhưng đương nhiên, khỏi cần hỏi cũng biết liệu Johnson có đánh nhau với Larsen Sói hay không. Louis cho tôi biết thêm thông tin về Larsen Tử Thần, khá khớp với mấy câu mô tả ngắn gọn của thuyền trưởng. Chúng ta có thể gặp Larsen Tử Thần tại bờ biển Nhật Bản.

"Cẩn thận ruồi muỗi chết," Louis dự báo, "vì họ ghét nhau đúng như bản chất sói non của họ." Larsen Tử Thần chỉ huy tàu săn hải cẩu chạy bằng hơi nước duy nhất trong đội tàu, tàu có mười bốn thuyền con, trong khi các tàu buồm chỉ chở được có sáu thuyền. Người ta có bàn tán về khẩu pháo trên tàu, những trận chiến và thám hiểm lạ lùng mà con tàu có thể đã thực hiện, từ buôn lậu ma túy vào Mĩ tới buôn lậu vũ khí vào Trung Quốc, tới lừa đảo, bắt cóc và cướp biển. Nhưng tôi vẫn tin lời Louis, vì tôi chưa bao giờ thấy anh ta nói dối cả, và anh ta là cuốn bách khoa toàn thư về săn hải cẩu và những con người trong hải đội.

Những lời đồn đại tiếp tục lan đi khắp nơi, cả trong bếp, cũng như buồng lái và khoang sau trên con tàu địa ngục này. Đàn ông đánh nhau và đấu tranh vì sự sống còn. Các thợ săn luôn tìm dấu hiệu đụng độ giữa Smoke và Henderson vào bất cứ lúc nào, những trận cãi vã trước đây của họ còn chưa nguôi, Larsen Sói thì nói thẳng sẽ giết kẻ còn sống nếu cuộc đụng độ nổ ra. Ông ta thẳng thắn tuyên bố vị trí ông có được chẳng dựa trên nền tảng đạo đức nào, rằng các thợ săn có thể giết và ăn thịt nhau, ông ta sẽ chẳng quan tâm nếu không cần họ còn sống để săn hải cẩu. Nếu họ kiềm chế được tới khi mùa săn kết thúc, ông ta hứa sẽ đãi họ một lễ hội hoành tráng, tất cả mối hận sẽ được giải quyết, những kẻ sống sót có thể ném kẻ không còn sống sót xuống biển và bịa ra câu chuyện họ đã mất tích như thế nào. Tôi nghĩ chính đám thợ săn cũng phải kinh sợ sự máu lạnh của ông ta. Họ có thể là những kẻ gian trá, nhưng chắc chắn họ rất sợ ông.

Thomas Mugridge co mình phục tùng tôi, trong khi tôi sống trong nỗi sợ thầm kín trước gã. Nỗi sợ của gã có thể gợi lên lòng can đảm, một khái niệm kì lạ mà tôi hiểu rất rõ, bất cứ lúc nào lòng can đảm cũng có thể làm chủ nỗi sợ và thúc giục gã giết tôi. Đầu gối tôi đã khá hơn nhiều, dù vẫn thường đau một lúc lâu, cơn tê cứng cũng dần tan biến khỏi cánh tay bị Larsen Sói bóp nghiến. Không tính những điều đó thì cơ thể tôi đang ở tình trạng tốt và cảm nhận được rằng mình đang ở tình trạng tốt. Các cơ bắp của tôi rắn chắc hơn, phình to hơn. Tuy nhiên, bàn tay tôi là bức tranh sống động về nỗi đau. Tôi còn bị nổi nhọt, hẳn là do chế độ ăn uống, vì tôi chưa bao giờ chịu khổ đến thế này.

Mấy buổi tối gần đây, tôi thấy khá thích thú khi thấy Larsen Sói đọc Kinh thánh, đây là một bản sao từ cuốn Kinh thánh được tìm thấy trong rương của thuyền phó quá cố sau cuộc truy lùng vô ích hồi đầu chuyến hành trình. Tôi băn khoăn không biết Larsen Sói có đạt được gì từ cuốn sách không, ông ta còn đọc thành tiếng cho tôi từ phần Truyền đạo[1] . Tôi có thể hình dung ông ta nói ra những suy nghĩ của mình như khi ông ta đọc cho tôi, giọng nói vang vọng, sâu và trầm trong cabin nhỏ hẹp, hấp dẫn và níu giữ tôi. Có lẽ ông ta không được học hành, nhưng rõ ràng ông biết cách thể hiện ý nghĩa của ngôn từ. Tôi có thể nghe ông đọc, kể cả bây giờ cho tới mãi mãi về sau, âm rung u sầu nguyên thủy vang lên khi đọc Truyền đạo từ đoạn mở đầu: "Tôi thâu chứa cho mình bạc vàng."

"Của anh đó, Hump." Ông ta nói, gập sách lại giữa ngón tay và nhìn tôi. "Nhà Truyền đạo từng là vua của Israel tại Jerusalem từng nghĩ như tôi. Anh gọi tôi là kẻ bi quan. Đây không phải sự bi quan đen tối nhất hay sao? –" mọi sự đều là hư không ";" chẳng điều gì thật sự giá trị dưới ánh mặt trời ";" ai ai cũng có kết cuộc như nhau, "kể cả kẻ ngu dại lẫn người khôn ngoan, kẻ trong sạch lẫn kẻ ô uế, tôi nhân và thánh nhân; kết cuộc đó là cái chết, và đó là điều ác, như ông ta nói. Vì Nhà Truyền giáo yêu cuộc sống và không muốn chết, nên đã nói" vì con chó sống vẫn hơn con sư tử chết. "Ông ta ưa hư không hơn là nấm mồ câm lặng bất động. Tôi cũng thế. Bò trườn là tham lam; nhưng không bò thì chỉ là đá sỏi, trông thật đáng kinh tởm. Thật đáng kinh tởm thay cho sự sống trong tôi, mọi chuyển động, bản chất của mọi thứ chuyển động, sức mạnh của chuyển động và ý thức về sức mạnh của chuyển động. Bản thân cuộc sống là sự bất mãn, nhưng việc trông mong cái chết càng đáng bất mãn hơn."

"Ông còn tệ hơn Omar[2]," tôi nói. "Sau giai đoạn hoang mang của tuổi trẻ, ít nhất ông ta đã thấy toại ý và biến chủ nghĩa duy vật của mình thành niềm vui sống."

"Omar là ai?" Larsen Sói hỏi, và tôi không làm thêm việc gì khác vào hôm đó, cũng như hôm sau, sau nữa.

Trong số sách vở được chọn ngẫu nhiên của mình, ông ta chưa từng có cơ hội chạm vào tập thơ "Rubaiyat[3]", với ông ta điều này như tìm ra được kho báu vậy. Tôi nhớ được rất nhiều, có lẽ là hai phần ba phần thơ tứ tuyệt, và tôi tìm được cách lôi ra khỏi đầu những phần còn lại không khó khăn gì. Chúng tôi nói chuyện hàng giờ về một khổ thơ đơn lẻ, rồi tôi chợt nhận ra ông ta đang đọc nó với niềm nuối tiếc và nổi loạn mà tôi không thể tự mình khám phá trong cuộc đời của mình. Có lẽ tôi đã ngâm với niềm vui riêng tư của mình, trí nhớ ông ta lại tốt, nên sau lần ngâm thứ hai, thường là lần đầu tiên, ông ta tự nhẩm được khổ thơ tứ tuyệt cho riêng mình. Ông ngâm nga lại từng câu, dồn vào chúng sự nổi loạn đam mê không ngơi nghỉ rất thuyết phục.

Tôi tò mò không biết ông ta thích khổ thơ nào nhất, và không hề ngạc nhiên khi ông ta chọn được đoạn về sự giận dữ bất chợt và đồng ý với sự khác biệt giữa triết lí tự kiêu và tinh thần cuộc sống của người Ba Tư:

Xin đừng hỏi tôi rằng: Đến từ đâu?

Và xin đừng hỏi gì chuyện: Về sau?

Chén rót đầy, rồi rót cho đầy nữa

Để tôi quên điều sỉ nhục trong đầu. [4]

"Tuyệt!" Larsen Sói hét lên. "Tuyệt! Đó là điểm nhấn. Sỉ nhục! Ông ta không thể dùng từ nào tốt hơn được." Tôi phản đối yếu ớt và vô ích. Ông ta làm tôi lúng túng, dùng lập luận phủ đầu tôi.

"Bản chất của cuộc sống chính là thế. Khi cuộc sống biết nó phải chấm dứt sự sống, nó luôn nổi loạn. Nó không thể ngăn mình được. Nhà Truyền đạo tìm thấy cuộc sống và công việc của cuộc sống chỉ toàn hư không và phiền toái, một điều ác; nhưng ông ta thấy rằng cái chết, sự chấm dứt của hư không và phiền toái ấy, là một điều ác lớn hơn. Qua từng chương ông ta lo lắng bởi kết cuộc rồi sẽ đến với tất cả. Omar cũng thế, tôi cũng thế, anh cũng thế, chính anh, vì anh đã nổi loạn chống lại cái chết khi thằng Bếp mài sắc dao để giết anh. Anh sợ chết; đó là sự sống trong anh, thứ còn lớn lao hơn anh và không muốn chết. Anh có thể ba hoa về bản thân của sự bất tử. Tôi nói về bản năng của sự sống, thứ luôn sống, và khi bóng ma cái chết lại gần, sẽ làm chủ bản năng của thứ gọi là sự bất diệt kia. Nó làm chủ chính nó trong anh (anh không thể phản bác được), vì một gã Cockney điên khùng đã mài sắc dao."

"Giờ anh sợ nó. Anh sợ tôi. Anh phông thể phủ nhận. Nếu tôi tóm lấy cổ họng anh như thế này," – bàn tay ông ta đặt tay lên họng tôi, và tôi ngừng thở, – và bóp nghẹt sự sống ra khỏi anh, lập tức, lập tức, bản năng của sự bất diệt của anh sẽ lu mờ, còn bản năng của sự sống, thứ khát khao được tiếp tục sống, sẽ trỗi dậy, rồi anh sẽ giãy dụa mong tự cứu mình. Sao? Tôi thấy nỗi sợ cái chết trong mắt anh. Anh vẫy vùng trong không khí, anh sử dụng tất cả sức lực nhỏ nhoi của mình để bám lấy sự sống. Tay anh đeo lấy tay tôi, mềm nhẹ như một miếng bơ. Ngực anh phập phồng, lưỡi anh thè ra, da xám đi và mắt trợn ngược. "Phải sống! Phải sống! Phải sống!" anh gào lên như thế; anh cũng đang gào lên như thế, chẳng cần tới sau này. Anh nghi ngờ sự bất diệt của mình, phải không? Ha! Ha! Anh không dám chắc về nó nữa. Anh không thể thay đổi nó. Sự sống là thứ duy nhất anh chắc chắn là thật. À, nó đang đen tối đi. Đó là sự đen tối của cái chết, sự chấm dứt sự tồn tại, sự chấm dứt cảm giác, sự chấm dứt cử động, thứ đang vây anh lại, thứ bao phủ lên anh, dâng lên quanh anh. Mắt anh đông cứng lại. Chúng mờ đi. Giọng tôi nghe mờ mịt và xa xôi. Anh không thể thấy mặt tôi. Nhưng anh vẫn giãy dụa trong nắm tay tôi. Anh đá chân. Cơ thể anh cong lại như một con rắn. Ngực anh phập phồng và co thắt. "Phải sống! Phải sống! Phải sống.." tôi không nghe thấy gì nữa. Ý thức tôi đã khô cạn trước bóng tối vô cùng chi tiết được ông ta vẽ ra, khi tỉnh táo lại tôi đã thấy mình đang nằm trên sàn, còn ông ta đang hút thuốc và nhìn tôi với đôi mắt suy ngẫm đầy vẻ tò mò quen thuộc.

"Sao, tôi thuyết phục được anh chứ?" Ông ta hỏi. "Đây, uống thứ này đi. Tôi muốn hỏi anh vài câu." Tôi lắc đầu dưới sàn. "Lập luận của ông quá.. ờm – áp đặt," tôi cố gắng phát âm, mặc cho cơn đau dữ dội nơi cổ họng sưng. "Anh sẽ ổn sau nửa giờ," ông ta trấn an. "Và tôi hứa tôi sẽ không sử dụng bất kì hình thức minh họa bạo lực nào nữa. Đứng lên đi. Anh có thể ngồi lên ghế."

Tôi chỉ là món đồ chơi của con quái vật này, cuộc thảo luận về Omar và Nhà Truyền đạo lại tiếp tục. Chúng tôi ngồi nói chuyện tới nửa đêm.

[1] Truyền đạo: Sách Truyền đạo, một cuốn kinh thánh của đạo Tin Lành.

[2] Omar: Omar Khayyam, nhà thơ Ba Tư

[3] Rubaiyat: Tập thơ Rubaiyat của Omar Khayyam

[4] Trích Tập thơ Rubaiyat (Nhà xuất bản Văn học Hà Nội, 2004)
 
88 ❤︎ Bài viết: 72 Tìm chủ đề
Chương 12

Hai mươi tư giờ trước tôi đã chứng kiến một lễ hội tàn bạo. Gần như từ cabin tới boong mũi đều bị tàn phá như bệnh dịch. Tôi gần như không biết phải bắt đầu từ đâu. Larsen Sói chính là nguyên nhân sự việc. Mối quan hệ giữa những người đàn ông này luôn căng thẳng như dây đàn vì thù hận, cãi vã và ganh ghét và vẫn duy trì trạng thái cân bằng bấp bênh. Larsen Sói phá vỡ sự cân bằng đó, thế là những xúc cảm ma quỷ bùng lên như lửa bắt vào rơm khô.

Thomas Mugridge đang chứng tỏ gã là kẻ tọc mạch, gián điệp và chỉ điểm. Gã cố gắng giành lại lòng yêu mến và phục hồi vị thế tốt đẹp trước thuyền trưởng bằng cách mách chuyện của những người khác. Tôi biết, gã đã lẻo mép về vài câu nói chớp nhoáng của Johnson với thuyền trưởng. Hình như Johnson đã mua một bộ đồ vải dầu từ tủ lương hiện vật và thấy chất lượng của chúng quá tệ hại. Anh ta không ngần ngại loan truyền sự thật đó. Tủ lương hiện vật là dạng kho chứa hàng khô cỡ nhỏ mà tàu buồm săn hải cẩu nào cũng có, bên trong có những món đồ đặc biệt mà cánh thủy thủ cần. Thủy thủ mua bất cứ thứ gì từ đó sẽ bị trừ vào khoản tiền được trả từ công việc săn hải cẩu sau này; mức săn này được áp dụng cho các thợ săn, các tay chèo và lái thuyền như sau: Thay cho lương, họ nhận được một "lay", mức giá tính theo số da họ bắt được tính theo tổ thuyền của mình.

Nhưng tôi không biết Johnson phàn nàn điều gì về tủ lương hiện vật, nên đã kinh hoảng khi chứng kiến chuyện xảy ra. Tôi vừa lau dọn cabin xong và bị Larsen Sói dụ dỗ thảo luận về Hamlet, nhân vật Shakepear ưa thích của ông ta, thì Johansen đi xuống với Johnson theo sau. Mũ của anh ta đã tháo, sau khi thực hiện nghi thức chào trên biển, anh ta trang trọng đứng giữa cabin, lắc lư chẳng mấy dễ chịu vì tàu nghiêng, đối diện thuyền trưởng.

"Đóng cửa, chốt lại," Larsen Sói nói với tôi.

Tôi để ý thấy vẻ lo lắng trong mắt Johnson, nhưng nhầm nó với bản tính rụt rè hay xấu hổ của anh ta. Thuyền phó, Johansen, đứng cách anh ta vài mét, còn Larsen Sói thì ngồi trên ghế cabin trước mặt anh ta cách đúng ba thước.

Sự im lặng đáng nghi kéo dài sau khi tôi đóng cửa và chốt lại – sự im lặng kéo dài gần một phút. Sau đó, Larsen Sói phá vỡ nó.

"Yonson," ông ta mở miệng.

"Tên tôi là Johnson, thưa ông," anh thủy thủ cứng nhắc sửa lại.

"Ồ, vậy Johnson, – anh bạn! Có đoán được tại sao tôi lại gọi anh tới?"

"Có và không, thưa ông," câu trả lời đến khá chậm. "Tôi làm tốt việc của mình. Thuyền phó biết thế, ông biết thế. Nên chẳng có gì đáng phàn nàn."

"Tất cả chỉ có thế?" Larsen Sói hỏi, giọng ông ta êm, chậm rãi và ngân rung.

"Tôi biết ông có ý kiến về tôi," Johnson tiếp tục bằng giọng điệu chậm rãi nặng nề không thay đổi của mình. "Ông không thích tôi. Ông.. ông.."

"Tiếp tục đi," Larsen Sói khuyến kích. "Đừng lo sợ vì cảm xúc của tôi."

"Tôi không sợ," anh thủy thủ phản bác, cơn giận ửng lên bất chấp làn da cháy nắng. "Ông không thích tôi vì tôi quá tự trọng, đó là lí do, thưa ông."

"Anh quá tự trọng để tuân theo kỉ luật trên tàu, hẳn đó là ý anh, nếu anh hiểu tôi muốn nói điều gì," là lời phản bác của Larsen Sói.

"Tôi hiểu tiếng Anh, và tôi hiểu ý của ông, thưa ông," Johnson trả lời, gương mặt anh ta đỏ hơn vì lắp bắp vốn tiếng Anh hạn hẹp của mình.

"Johnson," Larsen Sói nói, với tư thái bác bỏ màn mở đầu vừa rồi để bắt đầu câu chuyện chính trong tay, "Tôi hiểu rằng anh không hài lòng với bộ đồ vải dầu đó."

"Tôi không hài lòng. Chúng không tốt, thưa ông,"

"Anh còn chê bai chúng."

"Tôi nói những gì tôi nghĩ, thưa ông," anh thủy thủ dũng cảm đáp lại, cũng không hề quên phép lịch sự trên tàu, thêm "thưa ông" vào sau mỗi câu nói.

Đây là lúc tôi có cơ hội liếc nhìn Johansen. Nắm tay to lớn của anh ta đang siết rồi thả, gương mặt tỏ rõ sự thù địch và hiểm ác khi nhìn Johnson. Tôi để ý thấy một vết bầm đã ngả màu nhưng vẫn còn nhìn ra được dưới mắt Johansen, dấu vết vụ va chạm vài đêm trước với anh thủy thủ.

Đây là lần đầu tiên tôi tiên đoán được một điều kinh khủng sắp xảy đến – nhưng là điều gì thì tôi không thể tưởng tượng ra nổi.

"Anh có biết chuyện sẽ xảy đến với những kẻ nói những điều anh đã nói về tủ lương hiện vật cũng như tôi không?" Larsen Sói hỏi.

"Tôi biết, thưa ông," là câu trả lời.

"Điều gì?" Larsen Sói đột ngột hùng hổ gắt lên.

"Điều mà ông và thuyền phó sắp làm với tôi, thưa ông." Tới đây, Larsen nhảy dựng lên từ tư thế ngồi như một con thú hoang, như loài hổ, đổ xuống không gian bị bó hẹp này cơn bão thịnh nộ mà Johnson giơ tay lên chống chọi trong vô ích. Anh ta nâng một cánh tay để bảo vệ bụng, một tay khác giơ lên để bảo vệ đầu; nhưng nắm đấm của Larsen Sói nhắm vào giữa chúng, trên ngực, với âm thanh nghiền nát vang dội. Hơi thở của Johnson đột ngột bắn ra khỏi miệng, để đột ngột cạn kiệt, nghe vang dội và ép buộc như tiếng người vung rìu. Anh ta suýt ngã ngửa ra, nghiêng trái ngã phải để cố lấy lại thăng bằng.

Johnson đã chiến đấu đủ dũng cảm, nhưng anh ta không thể đọ lại nổi Larsen Sói, chưa kể tới thuyền phó. Thật đáng sợ. Tôi chưa từng tưởng tượng một con người có thể chịu đựng chừng ấy mà vẫn còn sống và chống chọi. Johnson vẫn chống chọi. Đương nhiên, anh ta chẳng có mảy may cơ hội, anh ta cũng biết điều đó như tôi vậy, nhưng nhân phẩm trong anh ta không cho phép anh ngưng chiến đấu bảo vệ nó.

Tôi không thể chứng kiến nổi nữa. Tôi cảm thấy mình sắp mất trí, nên chạy thẳng lên cầu thang để mở cửa và thoát ra ngoài boong. Nhưng Larsen Sói, bỏ nạn nhân lại giây lát, bằng cú nhảy mạnh khủng khiếp của mình đã xông tới cạnh tôi và ném tôi lại trong góc cabin.

"Đây là hiện tượng của sự sống, Hump," ông ta trợn mắt nhìn tôi. "Ở lại và nhìn đi. Anh có thể thu thập được dữ liệu về tính bất diệt của linh hồn đấy. Hơn nữa, anh biết mà, chúng ta không thể làm tổn hại linh hồn Johnson. Chỉ có xác thân này là thứ chúng ta có thể phá hủy." Dường như hàng thế kỉ đã trôi qua, dù có lẽ sự việc xảy ra trong vòng chưa đầy mười phút. Trận đánh tiếp tục. Tới khi Johnson không còn vươn dậy được nữa, họ vẫn đánh và đá chỗ anh ta nằm.

"Thôi nào, Johansen, thôi nào." Cuối cùng, Larsen Sói nói.

Nhưng con thú bên trong thuyền phó đã thức giấc và cuồng loạn, Larsen Sói buộc phải đẩy anh ta ra bằng cách gạt cánh tay, trông rất nhẹ nhàng, nhưng đã khiến Johansen bật ra như cái nút chai, đập đầu vào tường kêu vang dội. Anh ta ngã xuống sàn, choáng váng một lúc, hít thở hổn hển và chớp mắt trông rất ngớ ngẩn.

"Mở cửa ra, Hump," Larsen ra lệnh.

Tôi tuân lệnh, hai kẻ cục súc xách anh chàng bất tỉnh như xách một túi rác và kéo anh ta lên cầu thang, qua cửa hẹp, ra ngoài boong. Louis, đồng đội cùng tổ thuyền của anh ta, quay bánh lái và chết lặng nhìn hộp la bàn.

Nhưng Geogre Leach, cựu bồi tàu thì không. Cả khoang trước lẫn khoang sau, chẳng có điều gì có thể khiến chúng tôi ngạc nhiên hơn phản ứng của nó. Nó nhảy lên bục đuôi tàu dù không có mệnh lệnh nào, kéo Johnson tới trước, ở nơi nó có thể băng bó vết thương cho anh ta hết khả năng cùa mình và giúp anh ta cảm thấy thoải mái hơn.

Tôi lên boong để hít thở không khí và cố gắng thư giãn thần kinh bị căng thẳng quá mức của mình. Larsen Sói đang hút một điếu thuốc, kiểm tra miếng đệm chẻ[1] mà tàu Bóng Ma thường kéo theo phía sau, nhưng hiện đã bị nhấc lên vì lí do nào đó.

Đột nhiên, giọng Leach vang lên bên tai tôi. Giọng nó căng thẳng và khàn đặc trong cơn thịnh nộ. Tôi quay đầu, và thấy nó đứng ngay bên dưới bục đuôi tàu phía bên trái bếp. Mặt nó co giật và trắng bệch, mắt long sòng sọc, nắm đấm siết chặt giơ quá đầu, thằng nhóc đang ném những lời nguyền rủa thẳng vào mặt thuyền trưởng, người đang thong thả tiến lại gần bục đuôi tàu, chống tay lên góc cabin, liếc xuống nghiền ngẫm và tò mò nhìn thằng nhóc kích động.

Leach vẫn tiếp tục, buộc tội Larsen Sói như thể ông ta chưa bao giờ bị buộc tội.

Cánh thủy thủ sợ hãi tụ lại thành nhóm bên ngoài mái che khoang mũi, quan sát và lắng nghe. Cánh thợ săn lộn nhộn đứng ngoài buồng lái, nhưng suốt tràng gắt gỏng của Leach tôi không thấy bất cứ vẻ đùa cợt nào trên mặt họ. Đến họ cũng sợ, không phải bởi những lời lẽ kinh khủng của thằng nhóc, mà vì sự táo gan khủng khiếp của cậu ta. Dường như không có sinh vật sống nào có thể khinh thị Larsen Sói cả. Tôi biết điều đó, nên tôi kinh ngạc rồi ngưỡng mộ cậu bé, và tôi nhìn thấy ở cậu ta vẻ đẹp tuyệt diệu của sự bất diệt vươn ra ngoài xác thịt và nỗi sợ hãi cho xác thịt, như cảnh các nhà tiên tri cổ xưa lên án sự bất chính.

Nghe những lời lên án kìa! Cậu ta lột trần linh hồn Larsen Sói trước sự khinh miệt của con người. Cậu ta đổ lên linh hồn ấy những lời nguyền rủa từ Chúa và các đấng thần linh, héo mòn nó dưới sức nóng của những lời sỉ nhục đáng bị Giáo hội truy đuổi. Cậu ta cất lên bài ca buộc tội, vang lên từ đỉnh cao thịnh nộ, từ đáy sâu kiệt quệ của cảnh hành hạ bẩn thỉu nhất.

Mọi người đều trông đợi Larsen Sói sẽ nhảy lên và hủy diệt thằng nhóc. Nhưng đó không phải ý định của ông ta. Điếu thuốc đã hết, ông ta vẫn tiếp tục nhìn chằm chằm trong im lặng và tò mò.

Leach đẩy bản thân vào cơn mê muội vì nỗi giận dữ vô dụng.

"Con lợn kia!" Nó dồn hết không khí trong phổi ra. "Tại sao không xuống đây mà giết tao đi, quân sát nhân? Cứ làm đi. Tao không sợ đâu. Cũng chẳng có ai ngăn ông cả! Xuống đây, đồ hèn! Giết tao đi! Giết đi!" Tới cảnh này, linh hồn bất định của Thomas Mugridge kéo gã lên sân khấu. Gã đã lắng nghe từ cửa nhà bếp, giờ mới mò ra với cái cớ đi vứt đồ ăn thừa qua thành tàu, nhưng rõ ràng là để chứng kiến màn giết chóc gã dám chắc sẽ xảy ra. Gã nhếch mép cười nhẽo nhợt với Larsen Sói, người dường như không nhìn thấy gã. Nhưng gã Cockney chẳng hề thấy ngại mà quay sang Leach, nói:

"Láo toét thế cơ đấy! Sợ thật!"

Cơn giận của Leach không vô dụng nữa. Cuối cùng đã có thứ tự dâng tới miệng, và đây là lần đầu tiên kể từ sau vụ chém, gã Cockney mò ra ngoài bếp mà không có dao. Gã còn chưa dứt lời đã bị Leach hạ đo ván. Ba lần gã cố đứng dậy, ra sức mò vào bếp, nhưng lần nào cũng lại bị đánh gục.

"Ôi, Chúa tôi!" gã hét lên. "Cứu! Cứu! Kéo nó ra khỏi tao? Kéo nó đi!" Đám thợ săn nhẹ nhõm phá ra cười từ đáy vực. Bi kịch đã khép màn, hài kịch bắt đầu. Cánh thủy thủ phình to gan tụ tập lại ở khoang sau, lộn xộn nhe răng cười, quan sát gã Cockney đáng ghét bị đánh túi bụi. Kể cả tôi cũng cảm thấy niềm vui dậy lên trong lòng. Tôi thừa nhận tôi thích trận đòn Leach gây ra cho Thomas Mugridge, dù nó tệ hại gần ngang với trận đòn Mugridge đã gián tiếp gây ra cho Johnson. Nhưng biểu cảm trên mặt Larsen Sói không thay đổi, tư thế của ông ta cũng không. Dù với tất cả niềm tin vào lí trí của mình, nhưng dường như ông ta vẫn quan sát vở kịch và biến động của sự sống với hi vọng phát hiện ra điều gì đó lớn lao hơn. Không ai can thiệp cả. Leach đã có thể giết chết gã Cockney, nhưng sau khi thấy thù đã được trả, nó tránh khỏi kẻ thù đã nằm liệt dưới đất, kẻ đang rên rỉ và khóc lóc theo cách khá giống lũ chó con, rồi lại đi về phía trước.

Nhưng hai vụ đó chỉ là những sự kiện mở màn cho chương trình ngày hôm ấy. Vào buổi chiều, Smoke và Henderson đã đánh nhau, rồi một loạt phát súng bắn ra từ buồng lái, theo sau là bốn người thợ săn còn lại vội vàng nhào ra boong tàu. Một cột khói dày khét, dạng khói của thuốc súng đen, bay qua cửa cầu thang xuống cabin và Larsen Sói nhảy ra từ đó. Tiếng đấm đá và đổ vỡ vang vào tai chúng tôi. Cả hai người đàn ông đều bị thương, ông ta đánh cả hai vì bất tuân lệnh và khiến bản thân thành vô dụng trước mùa săn. Thật ra, họ đều bị thương nặng, và sau khi đánh đập họ, ông ta tiến hành làm tiểu phẫu cho họ một cách thô bạo rồi băng vết thương lại. Tôi đóng vai trò trợ lí khi ông ta tìm và làm sạch vết đạn, tôi nhìn hai người đàn ông chịu đựng cuộc phẫu thuật tàn nhẫn không có thuốc giảm đau hay bất cứ thứ gì hỗ trợ, ngoài một cốc whiskey.

Sau đó, trong phiên gác hai tiếng buổi chiều, rắc rối lại nổ ra ở đầu khoang mũi. Nó bắt nguồn từ vài câu nói nhảm nhí và khoác lác đã thành nguyên nhân gây ra trận đòn cho Johnson, và từ âm thanh chúng tôi nghe được cũng như từ những vết bầm tím của ngày hôm sau, hẳn là nửa khoang mũi đã ồn áo đánh nửa khoang còn lại.

Phiên gác hai tiếng buổi tối và ban ngày cũng nổ ra trận đánh giữa Johansen và gã thợ săn gầy gò trông giống người Mĩ, Latimer. Nó bắt nguồn từ một số lời nhận xét của Latimer về tiếng ồn do thuyền phó tạo ra trong giấc ngủ, mặc dù Johansen đã bị đánh, anh ta vẫn khiến cả buồng lái phải thức suốt đêm trong khi bản thân anh ta vẫn ngủ ngon lành của mình và lại tiếp tục trận đánh hết lần này tới lần khác.

[1] Miếng đệm chẻ: Công cụ đo tốc độ tàu thuyền đi trên biển tới giữa thế kỉ 19.
 
88 ❤︎ Bài viết: 72 Tìm chủ đề
Chương 13

Tôi làm việc của mình lẫn của Thomas Mugridge suốt ba ngày, tôi phải tự khen mình đã làm rất tốt. Tôi biết Larsen Sói ủng hộ việc này, còn cánh thủy thủ thì vui vẻ hài lòng trong khoảng thời gian triều đại của tôi tồn tại.

"Miếng ngon sạch sẽ đầu tiên kể từ khi em lên tàu." Harrison đã nói thế với tôi ở cửa bếp, khi nó đem trả nồi và chảo đồ ăn tối từ khoang trước. "Chẳng hiểu sao, đồ ăn của Tommy cứ ngấy mỡ ấy – mùi mỡ bám lâu ngày – mà em đoán anh ta chưa thay áo kể từ hồi rời 'Frisco đâu."

"Anh biết anh ta chưa hề thay," tôi đáp.

"Em cá anh ta đi ngủ vẫn mặc nó," Harrison bổ sung.

"Em không hề sai," tôi trả lời. "Vẫn nguyên cái áo đó, anh ta chưa hề cởi nó ra lần nào." Nhưng Larsen Sói chỉ cho phép gã nghỉ có ba ngày để chữa lành thương tích từ trận đánh. Tới ngày thứ tư, dù tập tễnh và đau đớn, gần như không thể nhìn, mắt sưng húp lại, gã vẫn bò bằng gáy xuống giường, chuẩn bị thực hiện nhiệm vụ của mình. Gã sụt sịt và khóc, nhưng Larsen Sói chẳng hề thương hại. "Đừng có phục vụ đồ thừa nữa," là mệnh lệnh thay lời chào tạm biệt của ông ta. "Không để lại dầu mỡ, cặn bẩn, và nếu có thể, thì thi thoảng thay áo sạch đi, không thì mày sẽ bị ném qua thành tàu đấy. Hiểu không?"

Thomas Mugridge yếu ớt bò qua cửa bếp, cú lắc nhẹ của tàu Bóng Ma khiến gã lảo đảo. Để đứng dậy, gã bám lấy giá sắt bao quanh bếp để giữ nồi niêu không bị trượt ra ngoài; nhưng nhắm không trúng, khiến bàn tay chống cả sức nặng thân người tì vào bề mặt nóng bỏng.

"Ôi, Chúa ơi, Chúa ơi, con đã làm gì?" nó than khóc, ngồi xuống thùng than và chăm sóc vết thương mới của mình bằng cách vẩy tay ra trước và sau. "Tại sao những chuyện này lại xảy ra với con? Con muốn chết ốm mất thôi, con đã cố gắng sống không làm hại đến ai." Nước mắt chảy qua gò má bầm tím biến dạng của gã, mặt gã nhăn nhúm lại vì đau. Vẻ hoang dại thoáng xuất hiện trên gương mặt đó.

"Ôi, mình ghét hắn! Mình ghét hắn!" gã rít lên.

"Ai cơ?" Tôi hỏi, nhưng gã khốn khổ đang bận khóc than cho nỗi bất hạnh của mình. Không khó để đoán ai là người gã ghét và ai là người gã không ghét; dù tôi đã thoáng thẩy con ác quỉ bên trong gã xúi bẩy gã ghét toàn bộ thế giới. Thi thoảng tôi nghĩ gã ghét cả chính bản thân mình nữa, cuộc đời mới tàn ác với gã làm sao. Vào giây phút ấy, lòng thương cảm dâng tràn trong tôi, khiến tôi tủi hổ vì đã thích thú khi thấy gã khó chịu hay đau đớn. Cuộc sống không công bằng với gã. Nó chơi gã một vố đau khi biến gã thành chính gã hiện tại, nó vẫn chơi xỏ gã từ đó tới giờ. Gã chẳng có cơ hội nào trở thành thứ gì đó khác vượt trội hơn so với bản thân đâu? Như để trả lời câu hỏi thầm lặng đó của tôi, gã kêu than:

"Tao chưa từng có cơ hội nào, một mảy may cũng không có! Chẳng có ai đưa tao đến trường, cho tao một miếng bánh mì lấp đầy cái bụng đói khát lúc còn là trẻ con? Có ai đã làm gì cho tao chưa? Có bao giờ chưa?"

"Đừng bận tâm, Tommy," tôi nói, đặt tay lên vai an ủi gã. "Vui lên đi. Mọi chuyện rồi sẽ có ngày tốt đẹp. Anh còn ngày rộng tháng dài phía trước, anh có thể làm bất cứ điều gì mình muốn."

"Nói dối!" hắn hét vào mặt tôi, gạt bàn tay ra. "Đó là lời nói dối, mày biết thế. Số phận tao đã định sẵn rồi, nó bắt tao phải sống cuộc đời rác rưởi. Mày thì sướng rồi. Mày sinh ra đã là một quí ông. Mày chưa bao giờ biết thế nào là đói, phải khóc lịm đi để ngủ mà bụng kêu rột rột như có một con chuột sống trong đó. Chẳng thể nào mà ổn được hết. Nếu tao là Tổng thống Hoa Kì vào ngày mai, liệu có nhờ thế mà cái bụng đói khát ngày nhỏ của tao được lấp đầy lấy một lần? Làm thế nào nhỉ? Tao sinh ra trong khốn khổ. Tao chịu khốn khổ đủ cho cả mười người. Tao đấy. Tao nằm trong bệnh viện nửa cuộc đời bệnh tật này. Tao bị sốt khi ở Aspinwall, ở Avana, ở New Orleans. Tao suýt chết vì bệnh scurvy[1], thối rữa cả sáu tháng trời vì nó ở Barbados. Bị đậu mùa ở Onolulu, gãy hai chân ở Thượng Hải, viêm phổi ở Unalaska, gãy ba xương sườn nội tạng xoắn hết cả khi ở Frisco. Và giờ thì thế này đây. Nhìn tao đi! Nhìn tao đi! Xương sườn tao lại bị đá bật khỏi sống lưng rồi. Tao sẽ ho ra máu."

Bài diễn văn lên án số phận kéo dài trong khoảng hơn một tiếng, sau đó, khập khiễng và rên rỉ, gã lết đi làm việc, trong đôi mắt chất chứa mối hận thù với tất cả tạo vật trên đời.

Nhiều ngày trôi qua, cuối cùng Johnson cũng bò được ra boong tàu để uể oải làm việc. Anh ta vẫn ốm yếu lắm, đã hơn một lần tôi thấy anh đau đớn leo lên buồm đỉnh hoặc mệt mỏi gục xuống khi đang đứng bên bánh lái. Tuy nhiên, điều tệ hại hơn cả là linh hồn anh ta đã vỡ vụn. Anh ta tủi hổ trước mặt Larsen Sói, gần như thậm thụt khi ở gần Johansen. Leach thì không. Nó đi lại trên boong như con hổ con, giương mắt nhìn Larsen Sói và Johansen với vẻ hận thù lồ lộ.

"Rồi tôi sẽ xử ông, đồ Thụy Điển chân vuông." Tôi đã nghe nó nói thế với Johansen vào một tối nọ trên boong.

Thuyền phó nguyền rủa nó trong bóng đêm, trong khoảnh khắc kế tiếp, có tiếng súng vang lên ở bếp tàu. Nhiều tiếng chửi rủa khác vang lên, tiếng cười nhạo báng, tới khi tất cả đã yên lặng tôi lẻn ra ngoài để rồi tìm thấy một lưỡi dao lớn cắm xuống ván gỗ cứng tới gần hai centimét. Vài phút sau, thuyền phó tới quờ quạng tìm dao, nhưng tôi đã bí mật trả nó lại cho Leach vào ngày hôm sau. Nó cười toe khi cầm lấy dao, nụ cười thể hiện lòng biết ơn chân thành hơn vô số những lời ca ngợi thường được kẻ cùng vai vế với tôi thốt ra.

Không giống những người khác trên con tàu này, hiện tại tôi không dây vào cuộc cãi vã nào và khá được tôn trọng. Đám thợ săn có lẽ không chịu nổi sự hiện diện của tôi, nhưng chẳng ai ghét tôi cả; Smoke và Henderson đang hồi phục dần dưới một cái lều trên boong, đong đưa cả ngày trên võng, thề thốt với tôi rằng tôi còn giỏi hơn cả y sĩ trong bệnh viện, họ sẽ không quên ơn tôi tới tận cuối chuyến hành trình, sau khi đã được trả đủ lương. Họ làm như tôi cần tiền của họ ấy – tôi có thể mua đứt họ cộng thêm túi và đồ đạc, thêm cả con tàu buồm cùng tất cả các thiết bị với số tiền gấp một trăm lần! Nhưng tôi được giao nhiệm vụ chăm sóc vết thương và giúp họ phục hồi, nên tôi làm hết sức mình.

Larsen Sói lại chịu một cơn đau đầu kinh khủng khác, lần này nó kéo dài hai ngày. Cơn đau hẳn phải kinh khủng lắm, vì ông ta gọi tôi vào và nghe lệnh tôi như một đứa trẻ trong cơn bệnh hoạn. Nhưng dường như tôi chẳng thể làm gì giúp ông ta đỡ hơn. Tuy nhiên, ông ta đã bỏ thuốc lá và rượu theo lời đề nghị của tôi, nhưng lí do tại sao một con quái thú như ông ta lại bị đau đầu khiến tôi cực kì băn khoăn.

"Là ý trời đấy, đảm bảo với anh," Louis cho là như thế. "Đó là tai ương do những tội ác nảy mầm trong trái tim đen tối của lão, sẽ còn nhiều thứ hơn đang chờ, hoặc là.."

"Hoặc là sao," tôi lặp lại.

"Chúa đang ngủ gật và không làm nhiệm vụ của mình, nhưng tôi không nên nói thế."

Tôi đã nhầm khi cho rằng mình đang được tất cả mọi người yêu quý. Thomas Mugridge vẫn ghét tôi, và gã còn tìm ra lí do mới để ghét tôi hơn. Phải mất một thời gian tôi mới lí giải được, rằng tôi bị ghét là vì may mắn có xuất thân tốt hơn gã – "một quý ông bẩm sinh," theo như lời gã.

"Vẫn chưa thấy ai chết cả," tôi nói đùa với Louis, khi Smoke và Henderson đang thân thiện nói chuyện với nhau, thực hiện bài tập duỗi gân cốt đầu tiên trên boong.

Louis quan sát tôi bằng đôi mắt xám sắc sảo và nghiêm nghị lắc đầu. "Thần báo tử đang đến, nương náu trong mọi dây lèo khi rít lên cảnh báo. Tôi đã cảm thấy thế từ lâu rồi, giờ tôi càng cảm thấy rõ rệt hơn như khi điều khiển hệ thống dây trong đêm tối. Bà ta đã ở rất gần, rất gần rồi."

"Ai sẽ là nạn nhân đầu tiên?" Tôi hỏi.

"Không phải Louis già béo bệu, đảm bảo với anh," anh ta phá lên cười. "Vì ruột gan tôi đảm bảo với tôi rằng ngày này năm sau, tôi sẽ đang nhìn vào đôi mắt lo lắng của bà mẹ già đang dõi ra biển ngóng trông đứa con trai đang tung hoàng ngoài khơi."

"Hắn nói gì với mày?" Một lát sau đó, Thomas Mugridge tra hỏi tôi.

"Anh ta nói, một ngày nào đó sẽ về nhà để gặp mẹ mình." Tôi miễn cưỡng đáp lại.

"Tao chưa từng có mẹ," gã Cockney bình phẩm như vậy, khi quay sang nhìn tôi bằng đôi mắt vô vọng, vô hồn.

[1] Scorbut (scurvy) là một bệnh do thiếu hụt vitamin C, biểu hiện dưới những triệu chứng như: Chảy máu nướu răng, chậm lành vết thương, các vết thâm tím rộng trên da (mảng xuất huyết dưới da, dân gian thường gọi là "vết ma cắn"). Thêm vào đó là sự dễ bị nhiễm trùng, dễ bị kích động và trầm cảm cũng là những tiêu chuẩn chẩn đoán.
 
88 ❤︎ Bài viết: 72 Tìm chủ đề
Chương 14

Tôi chợt nhận ra mình chưa bao giờ đánh giá đúng về phụ nữ. Nói tới phụ nữ, mặc dù chẳng phải người đa tình, nhưng tôi phát hiện ra rằng đến tận bây giờ tôi vẫn chưa từng sống ngoài bầu không khí có phụ nữ.

Mẹ và các chị em gái luôn lo lắng cho tôi, còn tôi thì lúc nào cũng cố trốn tránh họ, vì họ sốt sắng về sức khỏe của tôi đến mức tôi cảm thấy phiền, họ thường xuyên xông vào phòng tôi, căn phòng bừa bộn một cách có trật tự luôn làm tôi tự hào, mặc dù nhìn nó thuận mắt thì họ vẫn biến nó trở nên bề bộn và ít trật tự hơn. Mỗi khi họ xong việc và rời đi thì tôi không thể tìm thấy đồ đạc nữa. Vậy mà bây giờ thì, than ôi! Tôi sẵn lòng chào đón sự hiện diện cùng tiếng sột soạt từ váy áo của họ, cái âm thanh mà tôi đã từng ghét cay ghét đắng! Tôi biết, nếu tôi lại được trở về nhà, tôi sẽ chẳng bao giờ khó chịu với họ nữa. Họ sẽ lo lắng và thăm viếng tôi mỗi buổi sáng, trưa, chiều, tối, họ sẽ phủi bụi, quét tước rồi dọn dẹp căn phòng tôi mỗi phút một lần, còn tôi thì vẫn sẽ chỉ ngả lưng quan sát họ và biết ơn rằng bên cạnh mình còn có mẹ và các chị em gái.

Điều này lại khiến tôi suy nghĩ. Những người mẹ của hai mươi mấy người đàn ông trên tàu Bóng Ma giờ đang nơi đâu? Tôi cảm thấy việc đàn ông tách biệt hoàn toàn khỏi phụ nữ rồi tự mình khám phá thế giới mới thật thiếu tự nhiên và kém lành mạnh làm sao. Hệ quả không thể tránh khỏi của việc đó là thói hành xử thô lỗ và tàn bạo. Những người đàn ông trạc tuổi tôi có lẽ cũng có chị em gái, vợ hoặc con gái; nếu thế chẳng lẽ họ lại không biết đến sự dịu dàng, tinh tế và lòng cảm thông? Thực ra, chẳng ai trong số họ đã từng kết hôn. Trong nhiều năm như vậy mà không ai có quan hệ với một người phụ nữ tử tế, hay bị khống chế và cứu rỗi tâm hồn nhờ thứ năng lượng tự nhiên không thể khước từ tỏa ra từ tạo vật kì diệu ấy. Cuộc sống của họ không cân bằng. Sự nam tính vốn có phần cục súc đã phát triển quá mức cần thiết. Phần tâm hồni thuộc về bản chất con người đã bị bào mòn.

Vì cảm thấy tò mò với hướng suy nghĩ mới mẻ này, tối qua tôi đã nói chuyện với Johansen – và đó cũng là những câu chuyện bên lề đầu tiên mà anh ta nói với tôi kể từ khi hành trình bắt đầu. Năm mười tám tuổi, anh ta rời Thụy Điển, giờ anh ta đã ba mươi tám tuổi, trong suốt khoảng thời gian đó anh ta chưa từng về thăm nhà. Vài năm trước, anh ta gặp một người đồng hương tại một căn nhà trọ dành cho thủy thủ ở Chile để được báo cho biết mẹ mình vẫn còn sống. "Có lẽ bây giờ bà ấy đã thành một bà cụ đẹp lão rồi," anh ta nói với ánh nhìn đăm chiêu vào hộp la bàn, đoạn bất thình lình liếc nhìn Harrison, người đang lái tàu chệch mất một độ khỏi hướng đi.

"Lần cuối cùng anh viết thư cho bà ấy là khi nào?" Anh ta nhẩm tính thật to. "Tám mươi mốt; không phải – là tám mươi hai, ủa? Không – tám mươi ba nhỉ? Đúng rồi, là tám mươi ba. Mười năm trước. Tại một cảng nhỏ ở Madagascar. Tôi đang buôn bán."

"Anh biết đấy." Anh ta nói tiếp, giống như đang trò chuyện với người mẹ cách xa nửa vòng trái đất, "mỗi năm tôi đều về nhà. Vậy thì viết thư để làm gì? Chỉ là một năm thôi mà. Năm nào cũng có chuyện xảy ra nên tôi không đi được. Nhưng giờ tôi đã là thuyền phó, khi tôi được trả lương ở Frisco, chắc được khoảng năm trăm đô la, tôi sẽ mua một chiếc thuyền buồm buôn ra biển, vòng quanh Horn tới Liverpool, tôi sẽ kiếm được nhiều tiền hơn; sau đó tôi sẽ về nhà. Lúc đó bà ấy sẽ không phải vất vả nữa."

"Nhưng bà ấy có làm việc không? Bây giờ ấy? Bà ấy bao nhiêu tuổi rồi?"

"Khoảng bảy mươi tuổi," anh ta đáp. Và rồi anh ta cất giọng khoe khoang: "Tại đất nước của chúng tôi, chúng tôi làm việc từ khi mới sinh ra cho đến chết. Đó là lí do vì sao chúng tôi sống rất thọ. Tôi sẽ sống đến một trăm tuổi." Có lẽ tôi sẽ không bao giờ quên cuộc trò chuyện này. Đó là những lời cuối cùng mà tôi nghe anh ta nói. Và có thể đó cũng là những lời cuối cùng của chính anh ta.

Sau khi xuống cabin để đi ngủ, tôi lại cảm thấy đêm nay ở dưới này thì quá ngột ngạt. Hôm đó là một đêm yên tĩnh. Chúng tôi đã ra khỏi luồng gió Tín phong, tàu Bóng Ma thì đang tiến về trước với tốc độ một dặm trong một giờ đồng hồ. Vậy nên tôi kẹp chăn và gối dưới cánh tay rồi sải bước lên boong tàu.

Khi tôi bước qua Harrison và hộp la bàn trên đỉnh cabin, tôi nhận ra cậu ta đã để tàu chệch mất ba độ. Tôi tưởng rằng cậu nhóc ngủ gật và không muốn em bị khiển trách hoặc gặp chuyện gì tệ hơn nên tôi cất tiếng gọi Harrison. Nhưng hóa ra cậu nhóc không ngủ. Cậu ta đang mở to mắt nhìn chăm chăm về phía trước. Cậu ta có vẻ rất căng thẳng, đến nỗi không thể trả lời tôi.

"Có chuyện gì vậy?" Tôi hỏi. "Em ốm sao?" Harrison lắc đầu, thở dài như đã tỉnh ra, rồi kiềm hơi thở lại.

"Em nên chỉnh lại cho đúng hướng đi," tôi mắng.

Em ấy quay vài nấc bánh lái trong khi tôi đứng nhìn kim la bàn chầm chậm chuyển sang Bắc–Tây Bắc rồi đứng im sau vài cú đung đưa nhẹ.

Tôi nắm lấy ga giường, đang lúc chuẩn bị trải ra thì có một chuyển động thu hút tầm mắt tôi, khiến tôi nhìn về phía sau lan can. Một bàn tay gân guốc nhỏ nước thành từng giọt đang nắm chặt lấy lan can. Sau đó, bàn tay thứ hai vươn ra từ bóng tối, đặt song song bên cạnh bàn tay thứ nhất. Tôi quan sát và bị mê hoặc. Tôi đang chứng kiến sự xuất hiện của vị khách đến từ màn đêm thăm thẳm nào đây? Dù tạo vật đó là gì đi nữa, nó đang men theo dây đo tốc độ leo lên tàu. Tôi nhìn thấy một cái đầu với mái tóc thẳng nhưng ướt sũng, sau đó ngoi lên cùng với đôi mắt và khuôn mặt không thể lẫn đi đâu được của Larsen Sói. Má phải ông đỏ lên vì máu chảy từ vết thương trên đầu.

Ông ta nhanh chóng nhảy lên tàu, đứng dậy rồi lướt nhìn người ở bánh lái, dường như để xác nhận lại danh tính cũng như biết chắc rằng người đó không đáng để ông phải dè chừng. Nước biển tuôn ra từ cơ thể ông.

"Này Hump," ông thấp giọng nói. "Thuyền phó đâu?"

Tôi lắc đầu.

"Johansen!" Ông ta nhẹ nhàng gọi, "Johansen!"

"Anh ta đâu rồi?" Ông ta hỏi Harrison.

Anh bạn trẻ dường như đã khôi phục thần trí và trả lời vừa đủ rõ:

"Tôi không biết, thưa ông. Khi nãy tôi vừa nhìn thấy anh ấy đi lên trên."

"Tao cũng đi lên trên đấy, nhưng tao không quay về bằng con đường tao dùng để đi lên. Mày có thể giải thích được không nào?"

"Có lẽ ông đã ngã xuống biển, thưa ông."

"Tôi có nên tìm anh ta trong khoang lái không, thưa ông?" Tôi hỏi.

Larsen Sói lắc đầu.

"Anh sẽ không tìm thấy anh ta đâu Hump. Nhưng có việc anh giúp được đấy. Đi thôi. Quên ga gối của anh và đặt nó vào chỗ cũ đi." Tôi bám gót ông ta. Con tàu hoàn toàn yên ắng.

"Đám thợ săn chết tiệt!" Ông ta nói. "Vừa béo vừa lười đến mức không gác nổi bốn tiếng đồng hồ."

Chúng tôi phát hiện ba thủy thủ đang ngủ trên đầu khoang mũi. Ông ta lật người họ lại rồi quan sát khuôn mặt họ. Họ là người gác boong tàu, nhưng có một quy tắc ngầm rằng khi thời tiết tốt thì đội gác tàu được ngủ, còn chỉ huy, người lái tàu và đội giám sát thì không.

"Ai đang canh gác?" Ông hỏi.

"Là tôi, thưa ông," Holyoak run run trả lời, anh ta là một thủy thủ vùng nước sâu. "Tôi chỉ mới chợp mắt được một phút thôi, thưa ông. Tôi thành thật xin lỗi, thưa ông. Sẽ không có lần sau."

"Anh có nghe hay nhìn thấy thứ gì trên boong tàu không?"

"Không thưa, ông; tôi–"

Nhưng Larsen Sói khịt mũi khinh bỉ rồi quay đi bỏ mặc người thủy thủ ngạc nhiên dụi mắt vì được tha quá dễ dàng.

"Từ bây giờ hãy đi nhẹ thôi," Larsen Sói vừa thì thầm cảnh báo, vừa di chuyển cơ thể vào lỗ thông khoang mũi rồi chuẩn bị đi xuống dưới.

Tôi đi theo mà lòng run rẩy từng hồi. Tôi chẳng biết chút gì về những chuyện sắp xảy ra hay những chuyện đã xảy ra. Nhưng máu thì đã đổ, còn Larsen Sói lại chẳng hề có ý định sang mạn tàu với phần da đầu bị tách ra. Bên cạnh đó, Johansen đã mất tích.

Đây là lần đầu tiên tôi đi xuống khoang mũi, tôi sẽ không bao giờ quên được ấn tượng của mình đối với nó kể từ khi đặt chân xuống bậc thang cuối cùng. Khoang mũi được xây dựng trực tiếp ở mắt của thuyền buồm dọc, có hình tam giác, ba cạnh tam giác đặt tổng cộng mười hai chiếc giường ngủ hai tầng. Khoang không lớn hơn phòng xép ở đường Grub bao nhiêu, mặc dù vậy, mười hai người đàn ông bị nhồi nhét trong không gian này để ăn ngủ và tiến hành mọi sinh hoạt. Phòng ngủ ở nhà của tôi cũng chẳng to, nhưng nó có thể chứa đến mười hai khoang mũi tương tự, nếu tính cả chiều cao mái nhà thì ít nhất phải gấp hai mươi lần nơi này.

Khoang bốc mùi vừa chua lại vừa mốc, dưới ánh sáng lờ mờ từ ngọn đèn biển lắc lư, tôi nhìn thấy mỗi ngóc ngách của bức tường treo đủ loại ủng đi biển, vải dầu, quần áo sạch lẫn quần áo bẩn. Chúng đung đưa qua lại theo mỗi nhịp tàu tạo nên thứ âm thanh sột soạt như tiếng cây cối chà xát vào mái hoặc tường nhà. Một cái ủng từ đâu đó đập mạnh vào tường theo nhịp điệu bất định; trái ngược với màn đêm yên tĩnh trên biển, nơi đây điệp khúc của tiếng gỗ và vách ngăn kêu cót két cùng những tiếng ồn thăm thẳm dưới sàn kêu vang không ngừng nghỉ.

Những người đang ngủ chẳng hề lấy đó làm phiền. Tổng cộng có tám người – hai người gác bên dưới, không khí đặc quánh lại vì hơi ấm và mùi của họ, lẫn trong tiếng ngáy, tiếng thở dài, tiếng rên rỉ nửa vời – biểu hiện đặc trưng của loài động vật mang danh con người. Tất cả bọn họ đều đang ngủ ư? Hay là họ đang vờ ngủ? Đây rõ ràng là cuộc truy lùng của Larsen Sói – tìm ra những người trông như đang ngủ, những người không ngủ và những người gần đây chưa ngủ. Cách ông ta thực hiện việc truy lùng khiến tôi nhớ lại một câu chuyện của Boccaccio[1] .

Ông ta nhấc đèn biển khỏi giá treo đang lắc lư rồi đưa nó cho tôi. Ông bắt đầu từ những chiếc giường đầu tiên ở mạn phải. Ở giường trên là một thủy thủ người Kanaka đẹp trai được bạn bè gọi là Oofty–Oofty. Anh ta đang nằm ngửa, hơi thở bình ổn như một người phụ nữ. Anh gối tay dưới đầu, đặt cánh tay còn lại trên chăn. Larsen Sói đặt ngón cái và ngón trỏ lên cổ tay để đo mạch. Ngay lúc đó, anh thủy thủ người Kanaka bừng tỉnh. Anh ta thức dậy cũng nhẹ nhàng như khi ngủ. Cơ thể anh ta không hề chuyển động. Chỉ có đôi mắt là dịch chuyển. Anh ta trợn tròn đôi mắt to màu đen nhìn khuôn mặt chúng tôi. Larsen Sói đặt ngón tay lên môi, ra dấu bảo anh ta im lặng, thế là anh ta nhắm mắt lại.

Người nằm tầng dưới là Louis với cơ thể ục ịch, ấm áp và đầy mồ hôi. Khi bị Larsen Sói nắm cổ tay, anh ta khó chịu trở mình, cong người lên bằng cách dồn trọng lượng thân thể lên vai và gót bàn chân trong giây lát. Môi anh ta động đậy rồi thốt ra lời đầy bí ẩn:

"Một đồng shilling trị giá một phần tư xu; hãy giữ đèn của anh với giá ba xu, nếu không chủ quán sẽ bán cho anh với giá sáu xu." Sau đó, anh ta xoay người, thở dài nặng nề rồi nói: "Sáu xu là một đồng tanner, shilling là đồng shilling, nhưng tôi không biết đồng pony là bao nhiêu." Hài lòng giấc ngủ trung thực của anh thủy thủ người Kanaka, Larsen Sói bước đến hai giường kế tiếp ở mạn phải, dưới ánh sáng của ngọn đèn biển, nơi Leach và Johnson đang nằm ở giường trên và giường dưới.

Larsen Sói cúi người xuống giường dưới để xem mạch Johnson, còn tôi đứng thẳng, cầm đèn và nhìn thấy Leach lén lút ngẩng đầu lên rồi ngó qua mép giường để quan sát xem chuyện gì đang xảy ra. Có lẽ cậu ta đã đoán được thủ thuật của Larsen Sói và biết chắc mình sẽ bị phát hiện, cây đèn đột ngột văng ra khỏi bàn tay tôi và khoang mũi chìm vào bóng tối. Hẳn ngay khoảnh khắc đó, cậu ta đã nhảy bổ xuống người Larsen Sói.

Tiếng đầu tiên phát ra là thứ âm thanh khi một con bò đực và một con sói đụng độ. Tôi nghe Larsen Sói rống lên đầy phẫn nộ, còn Leach thì phát ra tiếng gầm gừ vừa tuyệt vọng vừa đáng sợ. Johnson lập tức lao vào hỗ trợ cậu ta, điều đó cho thấy vẻ hèn hạ vài ngày trước của anh ta trên boong tàu chỉ là một trò lừa bịp có kế hoạch.

Quá sợ hãi vì trận chiến trong bóng tối này, tôi run rẩy tựa vào thang mà không leo lên nổi. Tôi lại thấy ruột gan cồn cào do phải chứng kiến cảnh tượng bạo lực. Trong hoàn cảnh này, dù tôi không nhìn thấy nhưng vẫn nghe thấy tác động của những đòn đánh – âm thanh nghiền ép phát ra từ hai bắp thịt đập mạnh vào nhau. Sau đó là tiếng va chạm của những cơ thể quấn lấy nhau, tiếng thở nặng nề và tiếng hổn hển vừa ngắn vừa gấp gáp từ những cơn đau bất chợt.

Chắc chắn còn có nhiều đồng bọn khác cùng thực hiện âm mưu sát hại thuyền trưởng và thuyền phó, vì tôi nghe ra được nhiều người đã nhanh chóng chạy đến hỗ trợ Leach và Johnson.

"Ai đó lấy dao đi!" Leach hét lên.

"Nện vào đầu ông ta! Nghiền nát não ông ta ra!" Johnson gào lên. Sau tiếng gầm đầu tiên, Larsen Sói không còn phát ra âm thanh gì nữa. Ông chiến đấu dứt khoát và lặng lẽ để bảo toàn tính mạng. Lúc đầu, ông ta đã ngã xuống và không thể đứng lên, dù cho ông ta vô cùng cường tráng thì tôi vẫn cảm thấy ông không còn hi vọng nào nữa.

Sức mạnh của họ gây ra ấn tượng mạnh mẽ trong tôi, vì cơ thể lành lặn của tôi đã bị thân thể bầm dập của họ hất ngã. Trong tình trạng hỗn loạn, tôi cố gắng bò vào một chiếc giường thấp để thoát thân.

"Bắt được hai tay rồi! Bắt được rồi! Bắt được rồi!" Tôi nghe Leach hét lên.

"Ai?" những người đang ngủ hỏi lại.

"Gã thuyền phó khốn khiếp chứ ai!" Leach hổn hển trả lời. Từ ngữ nghèn nghẹt buột ra khỏi miệng cậu ta.

Mọi người hân hoan hò reo, còn Larsen Sói thì bị bảy người đàn ông cường tráng đè lên người, tôi tin chắc chỉ riêng Louis là không tham gia vào vụ này. Khoang mũi giờ đây như một tổ ong giận dữ.

"Chuyện gì vậy?" Tôi nghe Latimer hét xuống qua lỗ thông, anh ta quá thận trọng để bước xuống chốn địa ngục này.

"Không ai lấy dao à?" Leach nài nỉ sau khoảng lặng đầu tiên.

Số lượng người tham gia tấn công tự mâu thuẫn với nhau. Họ tự cản trở những nỗ lực của chính họ, còn Larsen Sói chỉ nỗ lực vì một mục đích duy nhất. Mục đích đó là chiến đấu để leo được lên thang. Trong không gian tối om, tôi vẫn lắng nghe bước đi của ông ta. Ngoại trừ những gã khổng lồ, không một người đàn ông nào có thể làm được những điều ông ta đang làm, gồng lên nhoài người chạm tới chân thang. Từng nấc một, ông tận dụng sức mạnh cánh tay để lôi mình lên, mặc kệ cả đám người đang vật vã kéo ông xuống. Rồi lại từng nấc một, bàn chân và bàn tay ông vẫy vùng leo lên thang.

Đó là điều cuối cùng mà tôi nhìn thấy. Cuối cùng Latimer đã bỏ đi tìm đèn, soi nó vào lỗ thông. Larsen Sói đã gần lên được phía trên dù tôi không nhìn thấy ông. Tôi chỉ nhìn thấy rất nhiều người đang bám lấy ông. Đám đông ngoằn nghèo như một con nhện khổng lồ nhiều chân đung đưa tới lui theo nhịp con tàu. Từng nấc một, giữa những khoảng thời gian kéo co căng thẳng, đám đông bị kéo lên. Có lúc họ lảo đảo suýt ngã ngửa, nhưng rồi họ lại nắm chặt và tiếp tục.

"Ai đó?" Latimer hô to.

"Larsen," tôi nghe một giọng nói nghẹt trong đám đông.

Latimer vươn bàn tay trống không xuống. Tôi thấy một bàn tay khác giơ lên nắm chặt tay anh ta.

Latimer kéo lên, những chuyển động tiếp theo diễn ra rất nhanh. Larsen Sói vươn bàn tay kia lên để bám lấy thành lỗ thông. Đám đông vùng ra khỏi chiếc thang, những người này vẫn cố níu lấy kẻ thù đã trốn thoát. Họ bị thành của lỗ thông gạt lại rồi rơi xuống, bị chính đôi chân đang quẫy đạp mạnh mẽ ngăn lại. Leach là người cuối cùng rơi xuống từ lỗ thông, cậu ta tiếp đất bằng lưng, đầu và vai va đập mạnh vào những thân người ngổn ngang. Larsen Sói và chiếc đèn lồng biến mất, còn chúng tôi thì bị bỏ lại trong bóng tối.

[1] Giovanni Boccaccio (1313 – 1357) là một nhà văn, nhà thơ người Ý. Boccaccio là một nhà nhân văn học thời Phục Hưng và là một nhà văn nổi tiếng với các tác phẩm như Những người phụ nữ nổi tiếng (De mulieribus claris, 1374), Mười ngày (Decamerone, viết xong năm 1353) và các tập thơ bằng tiếng Ý. Các nhân vật trong truyện của Boccaccio thường là những nhân vật nổi tiếng trong thời đại của họ, đồng thời cũng là những người thực tế, tâm linh, và là những con người thông minh.
 
88 ❤︎ Bài viết: 72 Tìm chủ đề
Chương 15

Đám người họ lê lết ở dưới chân thang với hàng tá những lời nguyền rủa và rên rỉ.

"Đứa nào thắp đèn lên đi; ngón tay cái tao trật khớp rồi," một người nói, đó là Parsons, một người đàn ông trầm tính, da ngăm đen, lái thuyền cùng tổ thuyền của Standish, có Harrison là tay chèo.

"Mày sẽ tìm thấy nó ở chỗ cọc neo." Leach vừa nói vừa ngồi xuống cạnh giường nơi mà tôi đang trốn.

Sau trận đấu, ai cũng bầm dập và phải đi tập tễnh. Cuối cùng cái đèn biển cũng được thắp sáng trở lại, tuy hơi mờ và khói. Trong ánh sáng mờ ảo, những người chân đất đi lại, băng bó vết thương và xoa bóp những chỗ thâm tím. Oofty–Oofty chỉnh ngón tay cái của Parsons, bẻ mạnh và nghe rắc một cái, nó đã vào đúng vị trí. Tôi để ý thấy khi người đàn ông Kanaka nắn ngón tay cho Kelly, khớp ngón tay của anh ta cũng bị rách hở đến tận xương. Anh ta cười để lộ hàm răng trắng bóng và giải thích rằng, vết thương này bị lúc đấm tung quai hàm Larsen.

"Thì ra là mày, thằng mọi đen?" Kelly hùng hổ quát lên, gã là một người Mĩ gốc Ailen, tay chèo thuyền cho Kerfoot, đây là chuyến đi săn hải cẩu đầu tiên của gã.

Vừa hét lên, gã vừa xáp cái bản mặt dữ tợn tới sát Oofty–Oofty.

Người đàn ông Kanaka giật lui về giường ngủ, vừa bước lùi vừa kịp rút ra một con dao dài.

"Ê, bình tĩnh nào; chúng mày làm phát tao mệt," Leach xen vào. Dù trẻ tuổi và ít kinh nghiệm, nhưng rõ ràng nó là đứa có tiếng nói nhất ở khoang mũi. "Tao cảnh cáo, mày đấy Kelly. Mày để Oofty yên đi. Trong bóng tối thì nó làm sao biết được đó là mày?" Kelly hạ giọng lầu bầu, còn anh chàng Kanaka khẽ cười để lộ hàm răng trắng và nụ cười hàm ơn. Anh ta quả là một tạo vật tuyệt đẹp, những đường nét hài hòa như con gái, đôi mắt to mơ màng và hiền lành trái ngược với lời đồn về bản tính hay gây lộn đánh nhau của mình.

"Làm thế nào mà nào ông ta trốn được?" Johnson nói. Anh ta ngồi trên thành giường, cả cơ thể lộ rõ vẻ chán nản và tuyệt vọng. Anh ta vẫn còn thở phì phò vì cuộc vật lộn lúc nãy. Chiếc áo sơ mi anh mặc đã bị rách tả tơi trong lúc đánh nhau.

"Bởi vì ông ta là một con quỷ, tôi đã bảo anh rồi," Leach trả lời, nó đứng đó với nỗi giận dữ và thất vọng tột cùng tụ lại thành những giọt nước nơi khóe mắt.

"Và không thằng nào lấy dao!" Nó rên rỉ không ngừng.

Nhưng những thủy thủ còn lại đang sợ hãi hậu quả họ sẽ phải chịu, không ai để ý tới nó hết..

"Làm sao mà ông ta biết ai với ai được?" Kelly ngờ vực, rồi ngay lập tức liếc quanh đe dọa – "trừ khi có một đứa chim lợn."

"Ông ta sẽ biết ngay khi nhìn thấy bọn mình," Parsons trả lời. "Chỉ cần liếc một cái là đủ hiểu."

"Nói với ông ta rằng do boong tàu trơn trượt nên một chiếc răng của mày bị bật khỏi ra khỏi hàm," Louis nhăn nhở. Anh ta là người duy nhất không ra khỏi giường, và đang cảm thấy hoan hỉ bởi vì không có những vết bầm chứng tỏ bản thân đã tham gia vào trận đụng độ trong đêm. "Cứ đợi đến khi ông ta nhìn thấy miệng mày vào sáng mai xem – cả lũ đi đời luôn," anh ta cười khoái chí.

"Chúng ta sẽ nói rằng chúng ta nghĩ đó là tay thuyền phó," một tên nói. Tên khác xen vào: "Tao biết tao phải nói gì – rằng tao nghe thấy động, tao nhảy ra khỏi giường, lãnh một cú đánh trời giáng dập quai hàm, rồi tự té lăn quèo. Tao chẳng biết ai đã đấm tao giữa đêm được."

"Thế nên không phải tao đánh mày đâu, hiển nhiên rồi," Kelly thêm vào, mặt anh ta tươi tỉnh hẳn lên. Leach và Johnson không tham gia vào cuộc thảo luận, rõ ràng đồng bọn của họ đã coi hai người xui xẻo nhất này như đã chết rồi. Leach hiểu nỗi sợ của chúng và có hơi thất vọng. Sau hồi lâu nó nổi nóng:

"Chúng mày làm tao mắc mệt! Thật là những ý tưởng rác rưởi! Nếu chúng mày bớt mồm lại và làm gì đó có ý nghĩa một chút, ông ta sẽ xong đời rồi. Tại sao không một đứa nào đưa tao con dao khi tao cần? Chúng mày làm tao phát ốm! Chúng mày rít lên như bị ông ta chạm tới là giết vậy. Chúng mày thừa biết ông ta sẽ không làm thế, bởi không có đủ người. Không có thuyền nào hay bờ biển nào gần đây, và ông ta cần chúng mày làm việc, ổng cần chúng mày. Ai sẽ là người kéo, căng buồm, lèo lái con tàu nếu ông ta mất chúng mày? Chỉ có tao và Johnson phải giơ đầu chịu báng thôi. Vào giường đi, che mặt lại; tao muốn ngủ."

"Được rồi, ổn rồi mà," Parsons cất giọng. "Có thể ông ta sẽ không làm gì chúng ta, nhưng nhớ kỹ lời tao, từ giờ trở đi ông ta sẽ biến con tàu này thành ngục băng.."

Tất cả những gì nghe được khiến tôi sợ hãi từ đầu chí cuối. Điều gì sẽ xảy ra khi những người này nhận ra sự hiện diện của tôi? Tôi không thể vật lộn tìm đường thoát thân như Larsen Sói được. Chính lúc này, Latimer gọi vọng xuống lỗ thông hơi:

"Này Hump, Lão Già gọi mày."

"Nó không có ở đây!" Parsons đáp lại.

"Không, tôi đây," tôi đáp rồi trượt ra khỏi giường và cố gắng hết sức để giữ cho giọng nói của mình đủ dõng dạc, tự tin. Những tên thủy thủ nhìn tôi kinh ngạc. Nỗi lo sợ in đậm trên mặt họ, và vẻ nham hiểm sinh ra từ nỗi sợ đó.

"Tôi đến đây!" Tôi hét lớn với Latimer.

"Không, mày không đi đâu cả!" Kelly hét lên, bước lên chắn giữa tôi và cái thang, tay phải anh ta co lại như định bóp cổ.

"Thằng lẻo mép! Tao sẽ bịt miệng mày!"

"Để anh ta đi đi!" Leach ra lệnh.

"Không đời nào!" Anh ta giận dữ đáp trả.

Leach không hề đổi tư thế bên mép giường. "Tao bảo, để anh ta đi," nó nhắc lại, nhưng lần này giọng điệu đanh thép và cứng rắn hơn.

Tên người Ailen có vẻ dao động. Tôi bước thẳng về phía hắn, và hắn đứng sang một bên. Khi tới được chân thang, tôi quay lại nhìn những gương mặt thú tính và hiểm ác đang nhìn xuyên qua tôi vào khung cảnh tranh tối tranh sáng bên ngoài. Một sự thương cảm sâu sắc đột nhiên trỗi dậy trong tôi.

"Tôi không nghe và không thấy gì hết, tin tôi đi," tôi nói nhỏ.

"Nghe tao đi, anh ta ổn mà," tôi có thể nghe Leach nói khi đang đi lên. "Anh ta cũng không thích Lão già như tao với chúng mày thôi."

Tôi thấy Larsen Sói đang đợi mình trong cabin, mình trần và đầy máu. Ông ta chào đón tôi bằng nụ cười kì dị của mình.

"Nào, bắt tay vào việc đi, bác sĩ. Các dấu hiệu cho thấy chuyến đi này sẽ còn dài đấy. Tôi không biết con tàu Bóng Ma sẽ thế nào nếu không có anh, và để trân quý tấm lòng cao thượng đó, tôi sẽ nói với anh rằng ông chủ của con tàu vô cùng biết ơn." Tôi biết cách sử dụng hộp thuốc sơ sài mà tàu Bóng Ma mang theo, và trong lúc tôi đun nước bằng bếp lò ở cabin, chuẩn bị dụng cụ để khâu vết thương, ông ta đi xung quanh, cười và bắt chuyện, xem xét vết thương một cách thận trọng. Trước đây tôi chưa bao giờ thấy ông ta ở trần, vóc dáng vĩ đại của cơ thể ấy làm tôi ngộp thở.

Tôi phải thừa nhận tôi bị mê hoặc bởi những đường nét hoàn hảo của Larsen Sói, bởi những gì tôi coi là tuyệt mĩ. Tôi đã quan sát những người đàn ông trong khoang mũi. Oofty–Oofty là người duy nhất có nét đẹp hài hòa, nhưng trong chừng mực nhất định, những đường nét đó trông có vẻ nữ tính.

Nhưng Larsen Sói có dáng vẻ của một người đàn ông đích thực, nam tính, hoàn hảo như một vị thần. Khi ông ta di chuyển hoặc giơ tay, những múi cơ bắp lớn nổi lên và di chuyển dưới làn da láng bóng. Tôi đã quên nói rằng làn da sạm màu đồng chỉ có trên mặt ông ta. Cơ thể ông, nhờ vào dòng máu Bắc Âu, trắng như những người phụ nữ trắng nhất. Tôi nhớ lúc ông ta giơ tay lên để kiểm tra vết thương trên đầu, những bắp thịt di chuyển như một sinh vật sống dưới lớp vỏ da nhợt nhạt.

Ông ta để ý thấy tôi đang nhìn chằm chằm vào mình.

"Chúa đã ban phước cho ông," tôi nói.

"Thế ư?" Ông ta trả lời. "Tôi cũng thường nghĩ như vậy, và tự hỏi tại sao."

"Mục đích.." Tôi khơi mào.

"Lợi ích," ông ta ngắt lời. "Cơ thể này được tạo để sử dụng. Những cơ bắp này được tạo ra để bóp nát, cấu xé, tiêu diệt những sinh vật sống ngăn tôi và cuộc sống. Thử chạm vào tôi xem," ông ta ra lệnh. Cơ bắp ông ta cứng như sắt. Và tôi cũng để ý thấy cơ thể ông ta vô thức co lại căng thẳng và cảnh giác, những cơ bắp uyển chuyển cuộn lại thành hình xung quanh hông, chạy dọc tấm lưng, vắt qua vai; khi cánh tay hơi nhấc lên, những thớ cơ co lại, ngón tay cong lại khiến cho bàn tay trông như móng vuốt; cả ánh mắt cũng thay đổi, nhìn vào chúng, tôi thấy sự cẩn trọng và toan tính, và không mang suy nghĩ gì khác ngoài trận chiến.

"Ổn định, cân bằng," ông ta nói, thư giãn ngay lập tức, để cơ thể trở về trạng thái nghỉ ngơi. "Bàn chân bám chắc vào mặt sàn, cẳng chân để đứng vững, trong khi cánh tay và bàn tay, răng và móng, và tôi đấu tranh để giết hay không bị giết. Mục đích ư? Là vì lợi ích."

Tôi không phản bác ông ta, tôi đã thấy cấu tạo của những quái vật chiến đấu nguyên sơ nhất, tôi cũng đã có ấn tượng rất mạnh với động cơ của tàu chiến hạm hoặc của con tàu chở hàng Atlantic.

Tôi thấy ngạc nhiên vì chính mình, sau cuộc chiến kịch liệt ở khoang mũi, vết thương của thuyền trưởng khá sâu, nhưng tôi hãnh diện vì đã khâu vết thương lại rất khéo léo. Ngoại trừ hai vết thương nghiêm trọng, ông ta chỉ bị bầm tím và xây xát.

Đòn đánh đêm qua đã khiến da đầu ông ta bị rách rộng ra vài phân. Dưới sự chỉ dẫn của ông, tôi đã làm sạch và khâu vết thương lại.

"Nhân tiện, Hump, như tôi đã nhận xét, anh là một người đàn ông khéo léo," Larsen Sói nói khi tôi đã xong việc. "Anh biết đó, chúng ta thiếu một viên thuyền phó. Từ giờ trở đi, anh sẽ được nhận vào vị trí đó, nhận bảy mươi lăm đô la mỗi tháng, và được cả con tàu gọi là ông Van Weyden."

"Tôi.. tôi không hiểu cách điều hướng tàu, ông biết mà," tôi há hốc miệng.

"Chẳng cần phải hiểu."

"Tôi thực sự không quan tâm đến việc được thăng chức," tôi phản đối. "Tôi thấy cuộc sống lênh đênh như hiện tại là đủ rồi. Tôi không có kinh nghiệm. Ông biết đấy, kẻ tầm thường cũng có thành quả của mình."

Ông ta mỉm cười như thể ván đã đóng thuyền.

"Tôi sẽ không làm thuyền phó trên con tàu địa ngục này!" Tôi thét phản đối.

Tôi thấy khuôn mặt của ông ta đanh lại và vẻ tàn độc xuất hiện trong đôi mắt. Ông ta bước đến cánh cửa phòng mình, nói:

"Vậy, bây giờ, chúc ngủ ngon, anh Van Weyden."

"Chúc ngủ ngon, ông Larsen," tôi yếu ớt trả lời.
 
88 ❤︎ Bài viết: 72 Tìm chủ đề
Chương 16

Tôi cho rằng vị trí thuyền phó chẳng có gì thú vị ngoài việc không cần phải rửa chiếc đĩa nào nữa.

Tôi không biết gì về những nhiệm vụ đơn giản nhất của một người thuyền phó, nếu không nhờ cánh thủy thủy thương hại, tôi đã làm hỏng hết rồi. Tôi không biết gì mấy về những sợi dây lèo và mối buộc, về cách chỉnh và giăng buồm; may mà những người thủy thủ đã nỗ lực chỉ bảo tôi. Louis chứng minh anh ta là một giáo viên rất cừ, và may mắn hơn nữa là tôi có ít rắc rối với những người dưới quyền.

Những gã thợ săn thì khác hẳn. Họ thấu hiểu biển cả ở những mức độ khác nhau, nên họ coi tôi như một trò đùa. Thực tế thì, tôi cũng coi đây là một trò đùa, dân đất liền như tôi lại nắm vị trí thuyền phó; nhưng mà bị người khác lấy làm trò đùa là một vấn đề khác. Tôi không đòi hỏi gì, nhưng Larsen Sói yêu cầu tôi phải được nhận đầy đủ nghi thức trang trọng nhất – hơn xa những gì Johansen tội nghiệp từng nhận được – sau vài câu đe dọa, chửi bới và càu nhàu, ông ta đã bắt đám thợ săn đến đúng giờ. Từ giờ trở đi, tôi sẽ được cả tàu gọi là "Ông Van Weyden", chỉ Larsen Sói mới gọi tôi là "Hump". Thật buồn cười. Nếu gió đẩy hướng tàu chệch vài độ khi chúng tôi đang ăn tối, thì khi tôi rời khỏi bàn, Larsen sẽ nói, "Này Van Weyden, anh sẽ vui lòng xoay buồm sang hướng mạn trái chứ?" Thế là tôi sẽ đi lên boong tàu, ra hiệu Louis lại gần, và học hỏi từ anh ta những gì cần phải làm. Sau một vài phút, khi đã tiêu hóa trọn vẹn hướng dẫn và nắm vững trình tự, tôi sẽ đưa ra mệnh lệnh. Tôi nhớ rõ trong một kỉ niệm kiểu này, Larsen Sói đã xuất hiện khi tôi bắt đầu ra lệnh, ông ta hút thuốc lá và lặng lẽ quan sát cho đến khi mọi thứ được thực hiện xong, sau đó tiến về phía tôi dọc theo đuôi tàu mạn hứng gió.

"Hump à," ông ta nói, – "Tha thứ cho tôi, Van Weyden, – tôi xin chúc mừng anh. Tôi nghĩ bây giờ anh đã có thể trả đôi chân của cha anh về dưới mộ, bởi vì anh trưởng thành rồi. Anh đã khám phá ra con đường riêng và học cách tự đứng trên đôi chân của mình. Chút thủ thuật với dây thừng, cách lái buồm, kinh nghiệm về những cơn bão và những điều tương tự đã đủ để khi kết thúc hành trình này anh có thể lên bất kì chiếc thuyền buồm nào."

Trong khoảng thời gian này, giữa cái chết của Johansen và trước khi thuyền tới được bãi săn hải cẩu, tôi đã trải qua những giờ phút dễ chịu nhất trên tàu Bóng Ma. Larsen Sói rất chu đáo, đám thủy thủ giúp đỡ tôi, và tôi không còn phải gặp tên Thomas Mugridge đáng ghét nữa. Tôi có thể thoải mái nói rằng, tôi thầm tự hào về những ngày đó. Hoàn cảnh ấy nghe thật hoang đường – một kẻ không quen sóng gió lại nắm chức phó chỉ huy trên biển – thế mà tôi vẫn làm khá tốt; trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó, tôi rất tự hào về bản thân mình, tôi dần yêu thích cơn lắc lư chồm sóng của con tàu dưới chân khi nó lao về phía bắc và phía tây, vượt qua vùng biển nhiệt đới, tới hòn đảo nơi chúng tôi có thể đổ đầy những thùng nước ngọt.

Nhưng hạnh phúc của tôi không đơn thuần. Khoảng thời gian ít đau khổ hơn này nổi bật lên giữa quá khứ vô cùng khổ cực và tương lai cũng tối tăm không kém. Tàu Bóng Ma với cánh thủy thủ vẫn là một con tàu địa ngục tồi tệ nhất. Họ không bao giờ có thời gian nghỉ ngơi hay yên bình. Để đáp trả âm mưu lấy mạng ông ta và trận đòn ở khoang mũi, Larsen Sói đã thưởng cho họ sự khốn khổ mà ông ta dành hết sáng, trưa, chiều, tối tạo nên một cuộc sống không bằng chết với đám thủy thủ.

Ông ta hiểu rõ ảnh hưởng tâm lí học nảy sinh từ những điều vặt vãnh, ông bắt thủy thủ đoàn làm những việc vặt vãnh đó đến mức gần như phát điên. Tôi thấy Harrison bị gọi ra từ chỗ ngủ để vứt một cái chổi sơn bỏ không đúng chỗ, và hai tên người gác ở dưới cũng bị đánh thức từ giấc ngủ mệt mỏi để đi cùng với cậu ta và chứng kiến cậu ta làm điều đó.

Toàn những chuyện rất rất nhỏ, nhưng được nhân lên hàng ngàn lần qua một bộ óc thiên tài, nên trạng thái tinh thần của những người đàn ông trong khoang mũi suy sụp là điều có thể hiểu được.

Tất nhiên, rất nhiều người càu nhàu, một số cuộc nổi loạn nhỏ liên tục xảy ra. Họ đánh nhau, luôn có hai hoặc ba người đàn ông phải tự chăm sóc những vết thương gây nên bởi bàn tay con quát vật là chủ nhân của họ. Phối hợp hành động là không thể vì kho vũ khí được cất giữ trong buồng lái và cabin. Leach và Johnson là hai nạn nhân được tính khí ác nghiệt của Larsen Sói đặc biệt chiếu cố. Cái nhìn u sầu sâu thẳm trên khuôn mặt và đôi mắt Johnson làm cho trái tim tôi như nhỏ máu.

Leach thì khác. Con quái thú của lòng hiếu chiến lồng lộn bên trong nó.

Dường như nó luôn bị kiểm soát bởi một cơn giận dữ vô độ choán hết thời gian để đau buồn. Môi nó co lại nhăn nhó như sinh ra đã thế, và chỉ cần nhìn thấy Larsen Sói thì đôi môi ấy buột ra âm thanh kinh khủng và đe dọa mà tôi cho rằng nó làm vậy trong vô thức. Tôi đã thấy nó nhìn theo Larsen Sói bằng đôi mắt giống như một con thú nhìn chủ, với tiếng gầm gừ của loài động vật vang ra từ cổ họng và rít qua hai hàm răng.

Tôi nhớ một lần, trên boong tàu, vào một ngày nắng đẹp, tôi vỗ vào vai nó để chuẩn bị ra mệnh lệnh. Lưng của nó hướng về phía tôi, ngay khi bàn tay tôi vừa chạm vào, nó nhảy dựng lên trong không trung và tránh xa tôi, gầm gừ và quay đầu nhìn lại khi nhảy vọt lên. Khoảng khắc đó, nó đã nhầm lẫn tôi với người đàn ông nó căm ghét.

Cả nó và Johnson đều sẽ giết Larsen Sói nếu có mảy may cơ hội, nhưng cơ hội không bao giờ đến. Larsen Sói quá khôn ngoan, bọn họ lại không có vũ khí thích hợp. Nếu chỉ bằng nắm đấm, họ không có cơ hội nào cả. Ông ta thường xuyên đánh nhau với Leach, kẻ luôn muốn phản kháng như một con mèo hoang, xòe hết răng, móng vuốt và nắm đấm ra cho đến khi nằm sóng soài kiệt sức hoặc bất tỉnh trên boong tàu. Nó không bao giờ từ chối một trận đánh nào hết. Tất cả sự giận dữ trong nó đều thách thức sự giận dữ trong Larsen Sói. Hai người không mấy khi xuất hiện trên boong tàu cùng lúc, nếu có gặp nhau họ sẽ nguyền rủa, gầm gừ, đánh đấm; tôi từng thấy Leach nhảy bổ tới Larsen Sói mà chẳng hề cảnh báo hay khiêu khích. Một lần, nó phi một con dao găm khá nặng của mình, chỉ lệch hai phân nữa thôi là trúng cổ họng Larsen Sói.

Một lần khác, nó thả rơi một chiếc đinh cột thừng bằng thép từ thanh ngang cột buồm chính xuống. Thật khó để ném trúng vì tàu luôn tròng trành, nhưng đầu nhọn của cái đinh đã xuyên qua quãng đường gần hai mươi ba mét trong không khí, suýt thì trúng đầu của Larsen Sói khi ông ta đi lên từ bậc thang cabin, cắm sâu tới năm phân vào lớp ván gỗ cứng. Lại một lần khác, nó lẻn vào khoang lái và kiếm được một khẩu súng săn đã được nạp đạn, vội vã trở ra boong tàu thì bị Kerfoot bắt được và tước vũ khí.

Tôi thường tự hỏi tại sao Larsen Sói không giết nó và kết thúc chuyện này đi. Nhưng ông ta chỉ cười và dường như còn tỏ vẻ thích thú. Có vẻ như sự chống đối ấy có sẵn trong nó một loại gia vị đặc biệt, tạo nên cảm giác thích thú mà cánh đàn ông vẫn cảm thấy khi nuôi những con vật hung dữ.

"Đó là sự hấp dẫn của cuộc sống," ông ta giải thích, "khi mà cuộc sống bị kiểm soát trong tay một người. Con người là con bạc bẩm sinh, và mạng sống của chính họ chính là thứ đáng giá nhất có thể đem ra đặt cược. May rủi càng nhiều thì càng thú vị. Tại sao tôi phải ép mình từ chối niềm vui kích động linh hồn Leach tới điên dại? Về mặt đó, tôi đã ban ơn cho nó. Cả hai bên đều đạt được những cảm xúc tuyệt diệu nhất. Nó đang được sống cuộc đời cao quý hơn bất kì thủy thủ nào trong khoang mũi, mặc dù nó không biết điều đó. Nó có thứ mà họ không có, đó là một mục tiêu để thực hiện và hoàn thành, một cái đích mà nó dốc hết sức để vươn tới, là ham muốn giết tôi, là niềm tin rằng có thể giết chết tôi. Đúng thế đấy, Hump, nó đang sống hết mình. Tôi dám chắc rằng nó chưa từng trải nghiệm cuộc sống sâu sắc tới thế, đôi khi tôi còn ghen tị khi thấy nó đạt tới đỉnh điểm của cảm xúc và tinh thần trong cơn giận dữ."

"À, nhưng thế thật hèn nhát," tôi thốt lên. "Ông có tất cả lợi thế."

"Trong hai chúng ta, anh và tôi, kẻ nào hèn nhát hơn?" Ông ta nghiêm túc hỏi.

"Nếu tình hình không ổn, anh sẽ thỏa hiệp với lương tâm của mình, tự biến mình thành bữa tiệc cho nó. Nếu anh thực sự vĩ đại, thực sự thành thật với chính mình, anh sẽ về phe với Leach và Johnson. Nhưng anh sợ, anh đã sợ.

Anh muốn sống. Cuộc sống ở trong anh thốt lên rằng nó phải sống, cho dù phải đánh đổi thứ gì; Vì vậy, anh sống một cách đê hèn, không đúng với bản chất cao quý anh mong mình trở thành, anh phạm vào cái tội chống lại toàn bộ những nguyên tắc nhỏ bé đáng thương của chính anh, và, nếu có địa ngục, anh đã đâm đầu thẳng vào đó. Chà! Tôi chọn sống dũng cảm. Tôi không phạm tội, vì tôi sống thật với những gì cuộc sống ở trong tôi thúc giục. Ít nhất tôi cũng chân thành với linh hồn của tôi, còn anh thì không."

Có một cái gì đó nhói lên trong lòng tôi khi nghe những gì ông ta nói. Có lẽ, sau tất cả, tôi đã chọn sống hèn nhát. Tôi càng ngẫm nghĩ nhiều về những gì được nghe, càng thấy mình có nghĩa vụ thực hiện những gì ông ta đã khuyên, tham gia cùng phe với Johnson và Leach, tìm cách giết ông ta. Ngay lúc này, tôi nghĩ lương tâm khắc nghiệt của tổ tiên Thanh giáo sinh ra tôi đã nhập vào tôi, thúc đẩy tôi đưa ra những quyết định và hành vi tàn nhẫn, coi giết người là một điều đúng đắn. Tôi bị ám ảnh bởi ý tưởng đó. Loại bỏ con quái vật này khỏi thế giới này hẳn là một hành động đúng đắn nhất. Nhân loại sẽ được sống tốt hơn và hạnh phúc hơn, cuộc đời sẽ công bằng và ngọt ngào hơn.

Tôi suy nghĩ rất lâu, trăn trở trên giường mãi không ngủ được, suy xét lại mọi khía cạnh của tình trạng hiện tại. Tôi đã nói chuyện với Johnson và Leach trong phiên gác đêm khi Larsen Sói đã ở bên dưới.

Nhưng cả hai người họ đã hết hi vọng, Tinh thần Johnson đã suy sụp, còn Leach đã tự khiến mình bại trận vài kiệt sức trong cuộc chiến vô ích. Nhưng có một đêm, nó nồng nhiệt bắt chặt tay tôi, nói:

"Tôi nghĩ ông hơi nhạt nhẽo, quý ông Van Weyden ạ. Nhưng cứ sống như hiện tại đi và giữ kín miệng. Đừng nói gì hết. Chúng tôi coi như đã chết rồi. Tôi hiểu điều đó; nhưng, nếu như có một lúc nào đó, anh có thể làm cho chúng tôi một ân huệ, chúng tôi sẽ rất cần đấy."

Ngay ngày hôm sau, khi đảo Wainwright đổ bóng xuống sườn tàu, Larsen Sói đột ngột buông lời tiên đoán. Ông ta tấn công Johnson, rồi bị Leach tấn công, nhưng đã một mình đánh bại cả hai bọn họ.

"Leach," ông ta nói, "mày biết một lúc nào đó tao sẽ giết mày, phải không?"

Nó gầm gừ thay cho câu trả lời.

"Còn mày, Johnson, trước khi tao xử mày, mày sẽ chán đời đến nỗi tự nhảy qua thành tàu. Để rồi xem."

"Đó là đề nghị đấy," ông ta nói thêm với riêng tôi. "Tôi đánh cược một tháng lương với anh, nó sẽ nhảy." Tôi đã ấp ủ niềm hi vọng rằng những nạn nhân của ông ta sẽ tìm được cơ hội trốn thoát khi chúng tôi đổ đầy các thùng nước trên tàu, nhưng Larsen Sói đã chọn một vị trí rất tốt. Tàu Bóng Ma nằm cách bờ biển chừng một nửa dặm. Ở đây có một hẻm núi sâu, với những bức tường núi lửa dốc đứng, không ai có thể leo lên được. Tại đây, dưới sự giám sát trực tiếp của ông ta – vì ông ta đã tự mình lên bờ – Leach và Johnson đổ đầy những chiếc thùng nhỏ và lăn chúng xuống bờ biển. Họ không hề có cơ hội trốn thoát bằng thuyền nhỏ.

Tuy nhiên, Harrison và Kelly thì đã thử. Mỗi người họ làm việc trên một cái thuyền nhỏ, có nhiệm vụ di chuyển giữa tàu và bờ biển, mỗi lần di chuyển mang theo một thùng nước. Ngay trước khi ăn tối, họ xuất phát từ bãi biển với một cái thùng rỗng, thay đổi hướng đi sang trái để vòng quanh mũi đất nhô ra biển ngăn cách họ và sự tự do. Phía xa đằng sau làn bọt biển, các ngôi làng xinh đẹp của những người khai hoang Nhật Bản và thung lũng tràn đầy những tiếng cười nằm ở sâu trong đảo. Chỉ cần đi thật nhanh như kế hoạch, hai người họ có thể qua mặt Larsen Sói.

Tôi đã thấy Henderson và Smoke lảng vảng trên boong cả buổi sáng, bây giờ tôi đã hiểu được lí do tại sao. Được trang bị những khẩu súng trường, chúng xả đạn vào những kẻ bỏ trốn. Đây là lúc cho màn phô bày kỹ năng của những tay súng máu lạnh nhất. Lúc đầu, đạn của chúng sượt qua hai bên mạn thuyền một cách vô hại rồi rơi xuống mặt nước; nhưng, khi những người đàn ông tiếp tục chèo thuyền mạnh hơn, chúng bắn ngày càng rát.

"Xem tao bắn gẫy hạ mái chèo của Kelly nhé," Smoke nói và ngắm cẩn thận hơn.

Lúc đó, tôi đang nhìn qua ống nhòm và thấy mái chèo bị anh ta bắn vỡ tan. Henderson nhân đôi chiến công khi ngắm trúng mái chèo của Harrison. Con thuyền xoay vòng vòng. Hai mái chèo còn lại nhanh chóng bị bắn nát. Họ cố chèo bằng phần cán gãy, nhưng lại mảnh gỗ lại bị bắn trúng tuột khỏi tay. Kelly bẻ một mảnh ván gỗ trên sàn thuyền ra và bắt đầu chèo, nhưng lại thả nó ra trong tiếng kêu đau đớn vì bị mảnh gỗ đâm vào tay. Sau đó, họ bỏ cuộc, để chiếc thuyền trôi dạt cho đến chiếc thuyền thứ hai được Larsen Sói cử đi từ bờ biển kéo về tàu.

Cuối chiều hôm đó, chúng tôi nhổ neo và bỏ đi. Không có gì chờ đợi chúng tôi nữa ngoài ba hoặc bốn tháng trên bãi săn hải cẩu. Viễn cảnh đó thực tối tăm, tôi tiếp tục công việc với tâm hồn nặng trĩu. Dường như bóng tối tang tóc đã bao trùm tàu Bóng Ma. Larsen Sói bỗng phải nằm liệt giường bởi một cơn đau đầu kì lạ. Harrison bơ phờ đứng trước bánh lái, gần như là tựa nửa người vào đó, như thể bị mệt mỏi bởi chính trọng lượng cơ thể mình.

Những người còn lại thì rầu rĩ và im lặng. Tôi đã trông thấy Kelly đang núp mình ở lỗ thông khoang mũi, bên phía khuất gió, đầu gục xuống gối, tay vòng sau đầu, trông chán nản không tả nổi. Còn Johnson, tôi có gặp anh ta đang nằm dài trên đỉnh khoang mũi, nhìn chằm chằm vào làn nước tung bọt trắng xóa phía trước mũi tàu. Tôi chợt nhớ lời đề nghị kinh khủng Larsen Sói từng nói. Dường như điều đó sắp thành sự thật. Tôi cố phá vỡ luồng suy nghĩ tiêu cực bằng cách bảo anh ta đi xuống; nhưng anh ta chỉ cười buồn bã và không chịu nghe lời.

Leach tiếp cận tôi khi tôi trở lại đuôi tàu.

"Tôi muốn nhờ ông một ân huệ, ông [1] Van Weyden," nó nói. "Nếu ông may mắn trở lại 'Frisco[2], ông sẽ thay tôi săn tìm Matt McCarthy chứ? Ông ấy là bố tôi. Ông ấy sống ở Hill, phía sau tiệm bánh mì Mayfair, ông là chủ một tiệm đóng giày mà ai cũng biết, sẽ không khó tìm đâu. Bảo với ông ấy rằng tôi đã rất hối tiếc về những rắc rối mình gây ra cho ông ấy và những gì tôi đã làm, và.. và hãy nói với ông ấy rằng" Chúa phù hộ cha, "giúp tôi."

Tôi gật đầu, nhưng nói thêm:

"Tất cả chúng ta sẽ quay trở lại San Francisco, Leach à. Tôi sẽ đi cùng cậu tới gặp ông Matt McCarthy."

"Tôi muốn tin ông," nó trả lời, bắt lấy tay tôi, "nhưng tôi không thể. Larsen Sói sẽ xử tôi, tôi biết điều đó, và tất cả những gì tôi có thể hi vọng là ông ta làm điều đó nhanh lên."

Ngay khi nó rời đi, tôi chợt nhận thấy một khát khao tương tự trong lòng. Nếu điều đó nhất định phải xảy ra, hãy để nó được kết thúc dứt khoát. Bóng tối ảm đảm đã hút tôi vào lòng nó. Điều tồi tệ nhất không thể tránh khỏi đã xuất hiện; khi tôi đi lại trên boong hàng giờ liền, tôi thấy mình bị ảnh hưởng bởi những ý nghĩ đáng sợ của Larsen Sói. Tất cả là vì điều gì? Đâu là sự vĩ đại của cuộc sống khi mà nó có thể hủy diệt linh hồn con người bừa bãi tới thế? Thật sự rẻ rúng và bẩn thỉu, sau tất cả, cuộc sống này nên kết thúc càng sớm càng tốt hơn. Kết thúc tất cả đi! Kết thúc tất cả đi! Tôi dựa vào lan can, dõi nhìn ra biển, nghĩ rằng chắc chắn sớm hay muộn tôi sẽ đằm mình xuống nước, chìm thật sâu, rơi xuyên qua màu xanh lạnh lẽo sâu thẳm của sự lãng quên.

[1] Hiện nhân vật chính giữ chứng thuyền phó, hơn nữa, Leach đang có ý nhờ vả, nên người dịch để xưng hô là "ông".

[2]"Frisco: Tức San Francisco, Leach nói tháu.
 
88 ❤︎ Bài viết: 72 Tìm chủ đề
Chương 17

Nói thế này thật lạ, nhưng mặc cho điềm gở u ám bao trùm cả con tàu, nhưng không có sự kiện đặc biệt nào xảy ra trên Tàu Bóng Ma. Chúng tôi đi theo hướng tây bắc cho đến khi nhìn thấy bờ biển Nhật Bản và bắt kịp một bầy hải cẩu lớn. Chẳng ai biết chúng đến từ đâu trên biển Thái Bình Dương bao la, hàng năm chúng di cư về phương bắc, tới nơi tụ tập đàn lớn của mình ở Biển Bering. Chúng tôi đuổi theo chúng, săn bắn và tiêu diệt chúng, quẳng những cái xác trần như nhộng cho cá mập, và ướp muối bộ da, thứ mà sau này sẽ làm đẹp cho bờ vai trắng nõn nà của những phụ nữ thành thị.

Đó là một cuộc tàn sát phi nghĩa, tất cả chỉ để làm đẹp cho phụ nữ. Không ai ăn thịt và lấy mỡ hải cẩu. Sau một ngày giết chóc thuận lợi, boong tàu bị phủ kín bởi da và những cái xác, trơn trượt nhầy nhụa vì mỡ và máu, lỗ thoát nước đổi sang màu đỏ; cột buồm, những sợi dây thừng, lan can tung tóe những mảng màu kinh dị; những người đàn ông chẳng khác nào những tên đồ tể say mê công việc, cánh tay và bàn tay trần nhuốm màu đỏ gồng lên lia dao rạch và lột những tấm da khỏi cơ thể loài sinh vật biển tuyệt đẹp mà họ vừa mới giết.

Nhiệm vụ của tôi là kiểm đếm các tấm da khi chúng được chuyển về tàu từ các thuyền con, theo dõi việc lột da, sau đó làm sạch sàn tàu và sắp xếp mọi thứ ngăn nắp trở lại. Đó không phải một công việc dễ chịu – linh hồn và dạ dày của tôi ghê tởm công việc này – nhưng, theo một cách nào đó, tôi thấy việc sắp xếp và chỉ đạo những người kia mang lại ích lợi.

Việc này giúp tôi phát triển khả năng quản lí nhỏ bé của mình và tôi nhận thức được sự gian khổ và tàn khốc mình đang phải chịu chẳng hề tốt đẹp với "quý cô" Van Weyden.

Tôi bắt đầu cảm thấy rằng mình không bao giờ có thể trở thành tôi của ngày xưa nữa. Dù hi vọng và niềm tin của tôi vào đời người vẫn tồn tại sau những lời chỉ trích tàn độc của Larsen Sói, ông ta vẫn khiến mọi thứ thay đổi, kể từ những điều nhỏ nhất. Ông ta đưa tôi đến với thế giới thực, nơi mà tôi hầu như chẳng biết điều gì, và từ ngày đó tôi luôn luôn thu mình lại. Tôi đã học cách quan sát cuộc sống khi nó diễn ra, để nhận ra rằng có những điều thực tế trên thế giới; thoát ra từ bờ cõi của tâm trí và tư tưởng, học được cách đặt những giá trị nhất định vào từng giai đoạn cụ thể và khách quan của sự tồn tại.

Tôi thấy Larsen Sói thường xuyên hơn khi chúng tôi chiếm được bãi săn; thời tiết tốt và chúng tôi đang ở giữa đàn hải cẩu. Tất cả mọi người đều xuống thuyền, trên tàu chỉ còn lại ông ta, tôi và Thomas Mugridge, kẻ mà tôi không thèm đếm xỉa. Nhưng ở đây chẳng có gì vui. Sáu chiếc thuyền tản ra theo hình nan quạt từ tàu mẹ cho đến khi chiếc thuyền đầu tiên phía đón gió và các thuyền cuối cùng bên khuất gió chèo ra ngoài bán kính từ mười tới hai mươi dặm, săn lùng dọc theo một đường thẳng, cho đến khi màn đêm buông xuống hoặc thời tiết xấu bắt họ phải quay về. Nhiệm vụ của chúng tôi là lèo lái Bóng Ma về phía khuất gió theo chiếc thuyền cuối cùng, để tất cả những chiếc thuyền đều có đủ gió để di chuyển trong trường hợp thời tiết chuyển xấu.

Điều khiển tàu Bóng Ma chỉ với hai người không phải một công việc dễ dàng, đặc biệt là những lúc gió mạnh, nào là đánh lái, nào là trông chừng thuyền con, nào là điểu chỉnh hoặc thu buồm, nên tôi phải học và phải học thật nhanh. Tôi dễ dàng học được cách lái tàu, nhưng chạy trên cột buồm ngang cao vút và liên tục lắc lư, với đôi tay chịu toàn bộ trọng lượng cơ thể khi tôi rời thang dây để leo lên cao thì khó hơn nhiều. Nhưng tôi học điều này rất nhanh, vì tôi cảm thấy một niềm khát vọng mãnh liệt muốn tự khẳng định mình trong mắt Larsen Sói, để chứng minh mình có quyền sống khi không dựa hoàn toàn vào trí óc. Và bất ngờ thay, tôi dần học được cách tận hưởng niềm vui thú khi cách trèo lên đỉnh cột buồm, dùng chân treo người ở độ cao chênh vênh đó và dùng ống nhòm hướng ra biển, tìm kiếm những chiếc thuyền.

Tôi nhớ một ngày đẹp trời nọ, những chiếc thuyền đã rời đi săn sớm, tiếng súng của đội thợ săn dần mờ nhạt, xa xôi, và dần tắt hẳn khi đoàn thuyền tỏa ra khắp biển. Chỉ có một chút gió yếu ớt từ phía tây; nhưng lần cuối có gió là khi chúng tôi kịp lúc hất gió cho con thuyền cuối cùng nằm ở phía khuất gió. Từ trên đỉnh cột buồm tôi thấy rõ từng chiếc thuyền – sáu chiếc thuyền biến mất theo mặt cong của trái đất khi họ đi theo đàn hải cẩu về phía tây. Cả con tàu nằm yên, biển ôn hòa không một gợn sóng, chúng tôi không thể đi theo được. Larsen Sói cảm thấy lo sợ. Phong vũ biểu hạ thấp, bầu trời phía đông không khiến ông ta vui nổi. Ông ta nghiền ngẫm chân trời với vẻ cẩn thận vô cùng.

"Nếu bão tới từ phía đó," ông ta nói, "thì nó sẽ rất dữ dội và nhanh chóng đẩy chúng ta về hướng ngược gió với đoàn thuyền. Rất có thể tôi sẽ có thêm giường trống ở buồng lái và khoang mũi."

Đến mười một giờ, biển tĩnh lặng như mặt gương. Vào giữa trưa, mặc dù nơi chúng tôi đi nằm trọn vẹn trong vĩ độ bắc, nhưng sức nóng vẫn thực khủng khiếp. Không khí không hề tươi mát. Thật kinh khủng và ngột ngạt, làm tôi nhớ đến những gì những người lớn tuổi ở California gọi là "thời tiết động đất". Thứ thời tiết đó mang điềm xấu, và vô hình chung, nó khiến người ta cảm thấy rằng điều tồi tệ nhất sắp đến. Dần dần, cả bầu trời phía đông tràn ngập những đám mây vượt qua đầu chúng tôi giống như những dãy núi đen của địa ngục. Chúng lớn đến độ chúng tôi có thể thấy rõ những hẻm núi, con đèo, vách đứng cũng như bóng khuất trông như đang vô thức tìm kiếm vệt sóng trắng đánh vào những hốc đá được tạo thành do biển cả cứ mãi vỗ bờ. Tuy vậy, tàu chúng tôi vẫn chỉ đung đưa nhè nhẹ, trời không có gió.

"Không có gió giật," Larsen Sói nói. "Mẹ Thiên Nhiên sắp trỗi dậy trên đôi chân sau và sẽ thổi bay tất cả, biển sẽ nổi giận. Hump à, có lẽ chúng ta chỉ giữ được một nửa số thuyền. Tốt nhất anh nên nhanh chân chạy đi nới lỏng buồm đỉnh ra."

"Nhưng nếu gió vẫn tiếp tục rít, và chỉ có hai chúng ta?" Tôi hỏi, giọng hơi có ý chống đối.

"Thì sao chứ, chúng ta phải chuẩn bị hết sức mình và bắt kịp những chiếc thuyền trước khi những tấm vải bố bị xé toạc ra. Sau đó, tôi sẽ chẳng thèm quan tâm về những chuyện đã xảy ra nữa. Những cái thanh chống sẽ đứng vững, tôi và anh cũng sẽ phải như vậy."

Biển vẫn tĩnh lặng. Chúng tôi ăn tối, một bữa tối vội vàng và đầy lo lắng, trong khi mười tám người đàn ông còn lại đang lênh đênh đâu đó trên biển ở phía bên kia mặt cong của trái đất, với những rặng mây vĩ đại như ngọn núi từ thiên đường chầm chậm đổ xuống người họ. Dường như Larsen Sói không hềbị phân tâm, mặc dù khi trở lại boong tàu, tôi để ý lỗ mũi ông ta hơi co giật, một cử động rất nhanh và khó nhận thấy. Khuôn mặt ông ta đanh lại, những đường nét cương nghị trở nên sắc lẹm, nhưng trong mắt ông ta – một màu xanh dương, xanh như ngày hôm nay vậy – có một tia sáng lấp lánh kì lạ. Điều đó làm tôi giật mình, rằng ông ta đang vui mừng phát điên; ông ta đang vui vì có một cuộc chiến sắp xảy ra; ông ta sướng run lên, bởi ông ta nhận ra một trong những khoảnh khắc tuyệt vời của cuộc sống đang trỗi dậy như thủy triều dâng trào lên trong mình.

Một lần, vô tình ông ta làm như vậy hoặc vô tình tôi đã thấy cảnh ông ta lớn tiếng cười ngạo nghễ và ngang ngược trước cơn bão đang tới. Tôi nhìn thấy ông ta đứng đó như gã lùn bước ra từ "Đêm Ả Rập" đối mặt với những vị thần khổng lồ và độc ác. Ông ta đang thách thức số phận mà không hề biết sợ.

Ông ta đi xuống bếp.

"Này Bếp," tôi nghe ông ta nói, "lúc nào mày rửa xong xoong chảo trong bếp, tao cần mày có mặt trên boong. Hãy sẵn sàng đợi lệnh."

"Hump," ông ta nói, có lẽ ánh mắt mê hoặc đó quá mãnh liệt, tôi chỉ dám cúi đầu trước ông ta, "rượu whiskey tuyệt diệu này hẳn là thứ ông bạn Omar[1] của anh đã bỏ lỡ. Dẫu sao, tôi nghĩ ông ta chỉ sống nửa vời thôi."

Nửa bầu trời phía tây đã trở nên âm u. Mặt trời tối đi và khuất dần khỏi tầm nhìn. Lúc đó là hai giờ chiều, ánh hoàng hôn ma quái chiếu xuyên qua không gian với những tia sáng màu tím bao trùm lên chúng tôi. Khuôn mặt của Larsen ửng đỏ trong ánh chiều tà. Xung quanh chúng tôi yên tĩnh đến kì lạ, nhưng lại tràn ngập những dấu hiệu và điềm báo về thứ sắp đến. Không khí ngột ngạt tới không thể chịu được. Mồ hôi đầm đìa trên trán, chảy xuống cả mũi tôi. Tôi cảm thấy mình như thể sắp ngất, và phải dựa vào lan can mới trụ được.

Và rồi, ngay lúc đó, một cơn gió vô cùng nhẹ thổi qua. Nó bắt nguồn từ phía đông, đến và đi nhẹ như một lời thì thầm. Vải buồm không hề động đậy, nhưng da mặt tôi lại cảm thấy không khí đã lạnh đi.

"Bếp," Larsen Sói gọi bằng giọng trầm (Thomas Mugridge biến sắc, lộ vẻ vô cùng kinh hãi), "buông dây góc lèo cột buồm dây tam giác và vắt nó ngang sang, khi con tàu sẵn sàng, buông dây lèo chỉnh buồm và buộc nó với thanh lèo. Nếu mày làm hỏng việc, đây sẽ là việc cuối cùng mày làm việc đó. Hiểu không?"

"Anh Van Weyden, đứng sang bên đẩy buồm mũi qua. Sau đó, nhảy lên buồm đỉnh và căng chúng nhanh như Chúa bảo anh làm vậy – anh làm càng nhanh, anh sẽ càng thấy dễ. Còn thằng Bếp, nếu nó không cố gắng, cứ đấm vào giữa hai mắt nó."

Tôi nhận ra lời khen ngầm và sự hài lòng trong lời chỉ dẫn của ông ta, vì trong đó không có chứa ý đe dọa nào. Chúng tôi đang quay đầu về phía tây bắc, ông ta định để tàu phóng đi ngay khi có luồng gió đầu tiên.

"Chúng ta cần có gió thổi ở hông tàu," ông ta giải thích cho tôi. "Theo như những tiếng súng cuối cùng, đoàn thuyền hẳn đã trôi về phía nam." Ông ta quay lại và bước tới tay lái. Tôi đi về phía trước và giữ vị trí của mình trước những lá buồm tam giác. Gió bắt đầu lao xao, cơn này tiếp cơn khác. Cánh buồm nhè nhẹ vẫy.

"Cảm ơn Chúa, thiên nhiên không trút hết cơn thịnh nộ của mình ra, ông Van Weyden ạ!" gã Cockney hào hứng thốt lên.

Tôi thật lòng thấy biết ơn, vì trong thời gian này tôi đã học đủ để biết, với tất cả những tấm vải bố được căng ra như vậy, những thảm họa nào đang chờ đợi chúng tôi phía trước. Những tiếng thì thầm của gió trở thành luồng hơi mạnh, những cánh buồm căng ra, tàu Bóng Ma bắt đầu di chuyển. Larsen Sói kéo mạnh tay lái về bên trái, chúng tôi bắt đầu nương theo hướng gió. Gió bây giờ đã nổi phía sau tàu, rì rầm, phần phật từng luồng ngày càng mạnh mẽ hơn, những cái buồm dây tam giác của tôi đang giữ vỗ phành phạch. Tôi không nhìn thấy chuyện gì đang diễn ra ở nơi khác, mặc dù tôi cảm nhận được con tàu chồm nhảy khi áp lực gió thay đổi tác động vào cả cánh buồm chính và mũi. Tay tôi bận bịu liên tục trên lá buồm phụ rời, buồm tam giác, buồm tam giác trước. Tới khi phần nhiệm vụ này của tôi hoàn thành, tàu Bóng Ma đã tiến thẳng về phía tây nam. Gió bên hông tàu làm các dây lèo ở mạn phải kêu vun vút. Không kịp ngừng lại để thở, với trái tim vẫn đang đập như búa gõ vì đã dùng toàn bộ sức lực, tôi nhảy ngay lên buồm đỉnh. Trước khi gió trở nên quá mạnh, chúng tôi đã xếp và cuộn buồm xuống. Sau đó, tôi trở lại khoang sau để đợi lệnh.

Larsen gật đầu khen ngợi và trao bánh lái cho tôi. Gió đều đặn hơn và biển động suốt một giờ đồng hồ khi tôi lái tàu, khó khăn tăng lên theo mỗi giây mỗi phút. Tôi không có kinh nghiệm cầm lái khi gió thổi mạn hông như vậy.

"Bây giờ hãy chạy lên và cầm ống nhòm lên, tìm kiếm những chiếc thuyền. Chúng ta đạt được tốc độ ít nhất mười hải lí và chúng ta sẽ đạt được mười hai hoặc mười ba ngay bây giờ. Con tàu già này hãy còn dẻo dai lắm. Có thể thả một số buồm dây tam giác xuống nữa," Larsen nói thêm, quay sang Mugridge:

"Ê Bếp, hạ buồm phụ rời và buồm tam giác, dây kéo buồm phải thật chắc và căng."

Tôi trèo người lên thanh ngang cột buồm mũi, khoảng hai mươi mét phía trên boong tàu.

Khi tôi dõi mắt nhìn vùng nước trống trước mặt, tôi nhận ra tại sao chúng tôi phải vội vã để cứu được người của mình. Thật vậy, khi tôi nhìn chằm chằm vào vùng biển hung dữ mà chúng tôi đang chạy qua, tôi không dám tin liệu có còn chiếc thuyền nào đang nổi.

Dường như những con thuyền mỏng manh yếu đuối đó không thể cầm cự trước của gió và nước. Tôi không thể cảm nhận được sức mạnh của gió, vì chúng tôi đang lợi dụng nó. Từ trên cao, tôi nhìn ra phía xa và bên ngoài giới hạn của tàu Bóng Ma, đuôi tàu đang cắt một đường bọt biển trắng lóa thẳng tắp như chia cắt giữa bản năng và cuộc sống. Đôi khi con tàu nhô lên, nhảy qua một con sóng lớn, rồi nhấn chìm lan can trên mạn phải và boong tàu xuống làn nước đại dương đang sôi ùng ục. Vào những lúc như vậy, theo hướng gió thổi, tôi sẽ bay lên không trung với cơn chóng mặt dù người vẫn bám chặt vào đuôi quả lắc khổng lồ treo ngược, mỗi lần đung đưa cũng phải đi hết quãng đường hai mươi mét hoặc hơn. Những cú lắc kinh khủng khiến tôi sợ hãi, tôi dùng cả tay lẫn chân bám chặt lấy cột buồm, run rẩy và kiệt quệ mất một hồi lâu và không thể dõi mắt tìm trên mặt biển những chiếc thuyền bị mất tích hoặc bất cứ thứ gì khác. Biển gầm rú bên dưới và cố gắng nhấn chìm tàu Bóng Ma.

Nhưng suy nghĩ về những người thủy thủ giữa hoàn cảnh này làm tôi vững vàng hơn, tôi cố gắng quên cả bản thân vì nhiệm vụ. Trong một tiếng đồng hồ, tôi chẳng thấy gì ngoài cảnh biển trần trụi, hoang vắng. Và rồi, nơi tia ánh sáng mặt trời chạm vào đại dương, biến mặt nước thành tấm màn bạc đầy phẫn nộ, tôi nhìn thấy một đốm đen nhỏ thoáng ló ra nơi chân trời trước khi biến mất. Tôi kiên nhẫn chờ đợi. Chấm đen nhỏ xíu đó tự tìm đường thoát ra khỏi lớp ánh sáng cuồng loạn, chếch vài độ trước mũi tàu chúng tôi. Tôi cố gắng không hét to, chỉ truyền đạt tin tức cho Larsen bằng cách vẫy tay. Ông ta thay đổi hướng đi, và tôi ra hiệu khẳng định khi đốm đen chết chóc hiện ra phía trước.

Nó lớn dần với tốc độ nhanh đến nỗi lần đầu tiên tôi thấy trân trọng tốc độ của con tàu. Larsen ra hiệu cho tôi đi xuống, tới khi tôi đứng cạnh ông ta bên bánh lái thì ông hướng dẫn cho tôi cách dừng tàu lại.

"Cứ hi vọng Diêm Vương mắc lỗi đi, nhưng đừng chỉ bám lấy suy nghĩ đó. Anh phải làm đúng công việc của mình, ra lệnh cho thằng Bếp giữ dây lèo trước."

Tôi tìm cách đưa tàu tiến về phía trước, nhưng có rất ít lựa chọn nên đi về bên nào, cả hai bên lan can đều bị chìm trong nước biển thường xuyên như nhau. Sau khi đã hướng dẫn Thomas Mugridge những gì cần làm, tôi trèo lên chỗ buộc dây buồm phía trước tàu vài mét.

Chiếc thuyền con giờ đã rất gần, tôi có thể khẳng định rằng nó đang hướng mũi thuyền ngược chiều gió và biển, bị lôi đi bởi chính cột và cánh buồm của nó, thứ đã bị ném xuống biển làm mỏ neo. Ba người đàn ông đang tát nước ra khỏi thuyền. Mỗi lần con sóng cao dâng lên che khuất họ, tôi lại phải chờ đợi với nỗi lo đến rợn người, sợ rằng họ không bao giờ trở lại nữa. Sau đó, rất đột nhiên, con thuyền lao thẳng qua ngọn sóng bạc trắng, mũi thuyền hướng lên trời, cả bụng thuyền lộ ra, ướt át và mờ mịt, cho tới khi con thuyền gần như dựng đứng. Có thể thoáng thấy ba người đàn ông tát nước điên cuồng trước khi con thuyền chuẩn bị lật úp và rơi vào cõi chết, mũi thuyền chúc xuống và để lộ ra toàn bộ phần đuôi thuyền trồi lên gần như thẳng. Nhưng sau mỗi lần như vậy, con thuyền lại xuất hiện trở lại như một phép màu.

Tàu Bóng Ma đột nhiên thay đổi hướng đi, chạy ra xa con thuyền, tôi đã sốc khi mà Larsen Sói không cứu họ như thể đó là chuyện bất khả thi. Nhưng rồi, tôi nhận ra rằng ông ta chuẩn bị cho tàu dừng lại, ông ta đi xuống boong tàu trong trạng thái sẵn sàng.

Lúc này chúng tôi đứng khựng lại trước gió, chiếc thuyền ngày càng xa hơn và đi song song với chúng tôi. Tôi cảm thấy con tàu đột ngột bật lên đi trong giây lát vì tất cả căng thẳng và áp lực đối lập với sức đẩy mạnh mẽ. Con tàu đang dồn lực để lao vào gió.

Khi con tàu vuông góc với mặt biển, lực gió đã dồn mạnh nhất và cũng là lúc chúng tôi cho tàu chạy, bắt kịp với gió. Tôi đã xui xẻo và ngu ngốc đối mặt với gió. Nó quật vào tôi như một bức tường, bơm căng lồng ngực với luồng khí mà tôi không kịp thở ra. Tôi bị bóp nghẹt, còn tàu Bóng Ma đằm mình xuống trong giây lát trước khi phô mạn tàu ra và lăn tròn thẳng vào trong gió. Tôi đã trông thấy biển lớn hiện lộn qua phía trên đầu mình. Tôi quay sang một bên, nín thở và nhìn lại. Sóng nước bao trùm lên tàu Bóng Ma, còn tôi chỉ biết nhìn chằm chằm vào nó. Ánh sáng mặt trời đâm xuyên qua cung nước, tôi có thể thoáng thấy sắc lục trong suốt lấp lánh kéo theo lớp bọt đục màu trắng sữa.

Sau đó, sóng nước đổ xuống, mọi chuyện tồi tệ theo đó cùng lúc xảy đến. Tôi bị nước quật điếng người, chẳng vào chỗ nào cụ thể mà là vào tất cả mọi nơi.

Tôi không giữ được nữa và bị chìm dưới nước, những âm thanh kinh khủng của những người bị cuốn xuống biển mà tôi từng nghe lại vang lên trong đầu. Cơ thể tôi bị va đập khi nó bất lực để nước kéo đi và lật qua lật lại, tôi không thể nín thở được nữa và vô tình hít thứ nước muối bỏng rát vào trong phổi. Nhưng xuyên suốt lúc đó tôi chỉ bấu víu lấy một suy nghĩ duy nhất – tôi phải căng cái buồm phụ ra trước gió. Tôi không sợ chết. Tôi hoàn toàn tin vào điều đó, nhưng để làm được tôi phải tìm cách di chuyển. Cái suy nghĩ phải hoàn thành mệnh lệnh của Larsen vẫn sáng lên trong trí não đã mê đi của tôi, dường như tôi vẫn thấy ông ta đang đứng trên bánh lái giữa cõi hỗn mang hoang dã, dùng ý chí của mình để đọ sức với ý chí của giông bão và thách thức nó.

Tôi bị hất vào chỗ mà tôi nghĩ là lan can, nhưng vẫn còn được hít thở không khí ngọt ngào một lần nữa. Tôi cố gắng đứng dậy, nhưng lại bị đập đầu, phải quỳ xuống, tứ chi chạm đất. Cơn sóng kì dị cuốn tôi đi đã quét xuống đầu mũi tàu và tới mắt tàu. Khi tôi bò đi bằng cả tứ chi, tôi có đi ngang qua chỗ Thomas Mugridge, hắn đang nằm một đống và rên rỉ. Không có thời gian để tìm hiểu nguyên do. Tôi phải căng cái buồm tam giác lại.

Khi tôi lên được boong tàu, dường như tận thế đã đến. Hai bên sườn tàu đều có mảnh vụn của gỗ, thép và vải bố. Con tàu Bóng Ma đã bị vặn và xé thành nhiều mảnh. Buồm mũi và buồm đỉnh trước rách tung trước gió như những sợi ruy băng, vì không có ai ở đây để kịp thu lại sợi dây lèo, những mảnh vụn rải ra khắp lan can. Không khí dày đặc với những mảnh vỡ bay tứ tung, những sợi dây thừng rời rạc và những dây néo cột buồm rít lên và cuộn như rắn, tất cả đều rơi xuống xà của buồm mũi.

Trụ cột buồm cách tôi khoảng vài phân, nó thúc đẩy tôi hành động. Có lẽ vẫn chưa hết hi vọng. Tôi nhớ lời cảnh báo của Larsen Sói.

Ông ta đã dự đoán "Diêm Vương mắc lỗi" và đúng là Diêm Vương đã đi qua đây. Ông ta đâu rồi? Tôi bắt gặp cảnh tượng ông ta đang kéo lê dây lèo chính, nâng nó lên và căng ra bằng cơ bắp vĩ đại của mình, đuôi con tàu bốc ngược lên trong không trung, bóng cơ thể ông ta in lên làn sóng trắng. Tất cả những điều này và hơn thế nữa – cả một thế giới của sự hỗn độn và xác tàu – xảy ra trong chừng mười lăm giây, tôi đã được thấy, được nghe, được chứng kiến

Tôi không dừng lại để xem chuyện gì đã xảy ra với chiếc thuyền nhỏ, mà nhảy bật đến dây lèo buồm phụ. Cánh buồm phụ đã bắt đầu vỗ, hơi phồng lên rồi xẹp xuống; nhưng với một vòng cuộn dây lèo và toàn bộ sức mạnh của mình, tôi dần kéo căng nó lại. Tôi có thể chắc chắn một điều: Tôi đã làm hết sức mình. Đột nhiên, dây kéo buồm được Mugridge bất cẩn kéo căng, hoặc những đinh giữ đã bị bật ra, cánh buồm phụ và buồm tam giác đã được kéo căng bởi bàn tay tóe máu của tôi lại tuột và vỗ phần phật vô dụng.

Nhưng tôi vẫn kéo, giữ chặt công sức của mình bằng cách quấn hai vòng dây trên tay, tới khi buồm lại dần căng ra. Rồi đột nhiên, dây lèo trở nên nhẹ hơn nhiều, Larsen Sói đang đứng sau lưng tôi, điều khiển tàu một mình trong khi tôi bận dộng với những sợi dây.

"Kéo căng ra," ông ta hét lên, "và lại đây!" Khi tôi đi theo ông ta, tôi nhận thấy bất chấp mọi sự tàn phá, con tàu về cơ bản đã lấy lại được vẻ ngăn nắp. Tàu Bóng Ma đang đi chầm chậm. Con tàu vẫn tiếp tục tuần tự tiếp tục nhiệm vụ của mình. Mặc dù phần còn lại của những cánh buồm trên tàu đã biến mất, buồm phụ vẫn căng ngược gió, buồm chính vẫn thẳng băng, chúng đang tự ghim mình xuống, đối diện với biển khơi giận dữ.

Tôi tìm con thuyền kia, còn Larsen Sói dọn dẹp đống dây dợ của thuyền. Tôi thấy nó bị cuốn về phía khuất gió cách xa tàu không đến mười lăm mét. Với sự tính toán tuyệt vời của ông ta, chúng tôi tự trôi gần sát tới nó, nên chẳng cần làm gì khác ngoài móc thuyền lại và kéo nó lên tàu. Nhưng điều này nói dễ hơn làm.

Trong mũi thuyền là Kerfoot, Oofty–Oofty ở ngồi ở đuôi, còn Kelly ở giữa. Khi chúng tôi trôi đến gần hơn, chiếc thuyền nổi trên một làn sóng trong khi chúng tôi chìm xuống trong hõm sóng gần như cao quá đầu. Tôi có thể thấy những cái đầu của ba người đàn ông đang thò cổ qua mạn thuyền nhìn xuống. Khoảnh khắc sau đó, chúng tôi lại nổi lên trong khi họ chìm sâu xuống. Không thể tin được rằng con sóng tiếp theo sẽ không đẩy tàu Bóng Ma đè bẹp nửa cái vỏ trứng dưới kia.

Nhưng đúng lúc đó, tôi kịp quăng dây cho anh bạn người Kanaka, trong khi Larsen Sói cũng làm điều tương tự với Kerfoot. Cả hai cái dây nối được móc lại trong nháy mắt. Ba người khéo léo căn chỉnh thời điểm sóng cuộn, hành động cùng một lúc. Khi Bóng Ma nâng lan can ra khỏi mặt nước, chiếc thuyền được nâng gần con tàu, và trước khi sóng cuộn trở lại, chúng tôi đã nhấc nó qua một bên và lật nó xuống boong. Tôi thấy máu phun ra từ tay trái của Kerfoot. Không biết từ lúc nào ngón tay thứ ba của anh ta đã bị nghiền nát. Nhưng anh ta không hề tỏ ra đau đớn, anh ta dùng bàn tay phải giúp chúng tôi buộc chiếc thuyền vào vị trí của nó.

"Đứng sang một bên để cái buồm phụ đó tránh qua đi, Oofty," Larsen Sói ra lệnh, ngay khi chúng tôi đã xong việc với chiếc thuyền. "Kelly, ra phía đuôi tàu và nới sợi dây lèo chính. Mày, Kerfoot, đi lên đằng trước xem thằng Bếp thế nào rồi. Anh Van Weyden, trèo lên cột buồm một lần nữa đi, cắt bỏ mọi thứ rác rưởi tùy thích." Vừa ra lệnh, ông ta đi về đuôi tàu, nhảy tới bánh lái như hổ vồ. Trong lúc tôi leo lên mạng dây thừng chằng ở cột buồm mũi, tàu Bóng Ma chầm chậm tiến lên. Lần này, khi chúng tôi đi vào hõm sóng và bị cuốn đi, nhưng không còn chiếc buồm lớn nào để bị thổi cả. Tôi đã leo được nửa đường đến chỗ thanh ngang giữ cột buồm, nép người tì vào nơi buộc dây buồm bởi gió đang thổi hết tốc lực, vì vậy tôi không thể rơi xuống khi mà tàu Bóng Ma gần như nghiêng một góc chín mươi độ, cột buồm song song với mặt nước. Lúc đó tôi không nhìn xuống, mà nhìn theo phương vuông góc với chiều thẳng đứng vào boong tàu Bóng Ma. Nhưng tôi không thấy boong tàu ở nơi đúng ra là boong tàu, vì nó bị chìm dưới làn nước lạnh lẽo. Qua làn nước này tôi có thể thấy hai cột buồm đang nổi lên, nhưng tất cả chỉ có vậy. Tàu Bóng Ma trong giây phút này đã bị chìm dưới biển. Khi con tàu lắc mình nổi lên, thoát ra từ áp lực hai bên hông, con tàu lấy lại thăng bằng và boong tàu xuất hiện trở lại, giống như lưng của một con cá voi lộ ra trên bề mặt đại dương.

Sau đó, chúng tôi điên cuồng tăng tốc băng qua vùng biển hoang vu, trong suốt thời gian đó tôi treo mình như một con ruồi trên thanh ngang cột buồm và tìm kiếm những chiếc thuyền khác. Trong nửa giờ, tôi nhìn thấy chiếc thuyền thứ hai, bị ngập và lật ngược lên, Jock Horner, Louis béo và Johnson đang tuyệt vọng bám lấy nó. Lần này tôi ở lại trên cao, và Larsen Sói đã thành công dừng tàu lại mà không bị cuốn đi. Như lần trước, chúng tôi trôi theo vòng cung đến gần chiếc thuyền. Dây dợ mau chóng được nối lại và quăng đễn chỗ những người đàn ông, họ tranh giành lên tàu như lũ khỉ. Chiếc thuyền đã bị nghiền nát và vỡ thành từng mảnh khi được kéo lên tàu; nhưng xác thuyền đã được buộc gọn lại, vì nó có thể được vá và sửa thành thuyền mới.

Một lần nữa, tàu Bóng Ma đã bị thoát được giông bão, dù lần này tàu đã chìm trong một vài giây, tôi đã nghĩ rằng con tàu sẽ không bao giờ nổi lên được nữa. Ngay cả bánh lái, khá cao so với thắt lưng, cũng từng bị nước bao phủ và quét qua hết lần này đến lần khác.

Vào những lúc như thế, tôi cảm thấy cô đơn một cách kì lạ trước Chúa, chỉ biết theo dõi sự hỗn loạn của cơn thịnh nộ của ngài. Nhưng sau đó bánh lái xuất hiện trở lại, cùng với đôi vai rộng của Larsen Sói, hai bàn tay ông ta nắm chặt tay quay và giữ con tàu đi đúng hướng bằng ý chí của mình, như một vị thần của trái đất, chế ngự cơn bão, hất dòng nước xuống và cưỡi lên nó tới nơi mình muốn tới. Và ôi chao, thật kì diệu làm sao, những người đàn ông nhỏ bé này có thể sống, hít thở và làm việc, điều khiển khối gỗ và vải mong manh yếu ớt qua này vượt qua cơn thịnh nộ khủng khiếp của thiên nhiên!

Như lần trước, Bóng Ma nhảy ra hõm sóng, nâng boong tàu lên khỏi mặt biển, và lao ra trước luồng gió rít. Bây giờ đã là năm giờ rưỡi, và nửa giờ sau, khi tia sáng cuối cùng của ngày biến mất trong hoàng hôn mờ ảo và mãnh liệt, tôi nhìn thấy chiếc thuyền thứ ba. Nó bị lật ngửa, và không hề có dấu hiệu nào của thủy thủ đoàn. Larsen Sói lặp đi lặp lại chiến thuật của mình, ghìm thuyền từ xa và sau đó đón gió và chạy vòng cung xung quanh. Nhưng lần này ông ta trượt xa hơn mười hai mét, bỏ lại chiếc thuyền sau đuôi tàu.

"Chiếc thuyền số bốn!" Oofty–Oofty hét lên, đôi mắt tinh của anh ta đọc số của nó ngay trong giây nó nhấc bổng lên rũ sạch bọt và lộn ngược.

Đó là thuyền của Henderson, cùng với Holyoak và Williams đã thất lạc, một nhóm thủy thủ vùng nước sâu khác. Họ chắc chắn đã mất tích; nhưng chiếc thuyền vẫn còn, và Larsen Sói lại liều lĩnh cố lấy lại nó. Tôi xuống boong, nhìn thấy Horner và Kerfoot đang phản đối nỗ lực vô ích đó.

"Thề có Chúa, tôi không để bất cứ cơn bão quái quỉ nào cướp mất thuyền của mình!" Ông ta hét lên, và dù bốn người chúng tôi đang đứng chụm đầu vào nhau, giọng ông ta nghe yếu ớt và xa xăm, như thể ông bị tách ra khỏi chúng tôi tới một khoảng không nào khác.

"Anh Van Weyden," ông ta gào, nhưng tôi nghe vào tai như tiếng thì thầm, "giữ cái buồm tam giác đó với Johnson và Oofty! Những người còn lại ra đuôi tàu giữ dây lèo chính! Nhanh chân lên, hoặc tôi sẽ giong buồm đưa tất cả sang thế giới bên kia! Hiểu không?" Tới khi ông ta quay mạnh bánh lái khiến tàu Bóng Ma lao ra, những người thợ săn chẳng thể làm gì khác ngoài tuân lệnh và cố gắng hết sức trong canh bạc này.

Tôi nhận ra canh bạc này mạo hiểm tới thế nào khi một lần nữa bị nhấn chìm bên dưới làn nước biển và phải bám lấy rào chắn trước cột buồm mũi để cứu lấy mạng mình. Những ngón tay của tôi bị kéo giật ra, tôi lại bị cuốn sang một bên và ném thẳng xuống biển.

Tôi không thể bơi, nhưng trước khi chìm, tôi lại bị cuốn ngược trở lại. Một bàn tay mạnh mẽ nắm lấy tôi, khi tàu Bóng Ma cuối cùng cũng nổi lên, tôi nhận ra tôi nợ Johnson mạng sống. Tôi thấy anh ta lo lắng nhìn về phía ông ta, và rằng Kelly, người đã đi lên phía trước vào phút cuối, đã mất tích.

Lần này, sau khi đã bỏ lỡ chiếc thuyền, và không còn ở vị trí tương tự như những lần trước, nên Larsen Sói buộc phải sử dụng chiến thuật khác.

Chúng tôi chạy trước đầu gió theo mạn phải, sau đó đổi hướng cho tàu vòng lại và chạy chéo theo hướng gió về bên trái..

"Tuyệt diệu!" Johnson hét vào tai tôi, lúc chúng tôi lại vượt qua con sóng khổng lồ; tôi hiểu anh ta, điều anh ta đang khen không phải tài lái tàu của Larsen Sói, mà là chiến công của tàu Bóng Ma.

Bây giờ trời tối đến nỗi không thấy dấu hiệu của chiếc thuyền nào; nhưng Larsen Sói đã kiềm chế lại trước sóng gió điên cuồng như thể được dẫn dắt bởi bản năng không khoan nhượng. Lần này, mặc dù chúng tôi thường bị chìm nửa tàu xuống, nhưng không bị con sóng nào cuốn qua. Chúng tôi vòng lại gần chiếc thuyền bị lật ngược, suýt nữa nghiền nát nó khi cố kéo nó lên tàu.

Tiếp đó là hai giờ làm việc khủng khiếp, tất cả chúng tôi – hai thợ săn, ba thủy thủ, Larsen Sói, và tôi – vật lộn với việc cuốn buồm, hết buồm đầu tới buồm khác, buồm phụ rồi buồm chính. Nhấp nhô dưới bóng tấm vải ngắn, boong tàu của chúng tôi hầu như không còn tí nước nào, tàu Bóng Ma ngụp lặn giữa những đợt sóng lớn cuồn cuộn như một nút bấc giữa đại dương.

Ngay từ đầu tôi đã bị toác hết đầu ngón tay, và trong lúc cuốn buồm tôi phải làm việc với những giọt nước mắt đau đớn chảy dài trên má. Khi mọi việc đã hoàn thành, tôi bỏ cuộc như một ả đàn bà, lăn ra trên boong tàu trong tình trạng kiệt sức.

Trong khi đó, Thomas Mugridge, trông giống như một con chuột bị chết đuối, đang bị lôi ra từ dưới đỉnh khoang mũi, nơi mà gã hèn nhát trốn. Tôi thấy gã bị kéo qua đuôi tàu vào cabin, và kinh ngạc nhận ra rằng căn bếp đã biến mất. Một khoảng trống sạch sẽ trên boong tàu thay thế cho vị trí vốn có của nó.

Trong cabin, tôi thấy tất cả mọi người đang nhóm họp, cả những thủy thủ nữa. Trước khi cà phê được đun sôi trên bếp lò nhỏ, chúng tôi uống whiskey và gặm bánh quy cứng.

Đời tôi chưa bao giờ hân hoan khi thấy đồ ăn và chưa bao giờ uống cà phê nóng ngon lành như vậy. Tàu Bóng Ma mạnh mẽ làm chồm lên, nhảy xuống, lắc lư không ngừng nên tới các thủy thủ cũng phải bám lấy thứ gì đó mới di chuyển được. Rất nhiều lần, ai đó kêu lên "Sóng đến đấy!" thế là chúng tôi xếp chồng lên nhau trên tường bên trái cabin như thể nó là boong tàu

"Cẩn thận chả được tích sự gì." Tôi nghe Larsen Sói nói thế khi chúng tôi đã ăn và uống no bụng. "Chẳng thể làm gì trên boong tàu hết. Nếu có bất cứ điều gì có thể đánh chìm chúng ta, chúng ta cũng không thể thoát khỏi con đường của nó. Nghỉ thôi, tất cả đi ngủ đi một chút."

Các thủy thủ trượt về phía trước, mở các đèn bên khi di chuyển, còn hai thợ săn vẫn ngủ trong cabin, nhưng hiện tại mà đi mở cửa trượt vào buồng lái thì không được khôn ngoan cho lắm. Kerfoot ngồi giữa Larsen Sói và tôi, chúng tôi cắt ngón tay đã dập nát của anh ta và khâu chỗ cụt lại. Mugridge, kẻ bị buộc phải nấu nướng và phục vụ cà phê, giữ lửa cháy, cứ phàn nàn về những chỗ đau âm ỉ, đang thề rằng gã đã bị gãy một hoặc hai cái xương sườn. Khi kiểm tra, chúng tôi thấy rằng gã bị gãy ba cái. Nhưng thương tích của gã phải chờ đến ngày mai, chủ yếu là vì tôi không hiểu gì về gãy xương sườn, trước tiên tôi phải tìm hiểu đã.

"Tôi nghĩ nó không đáng," tôi nói thế với Larsen Sói, "một chiếc thuyền hỏng đổi lấy mạng sống của Kelly."

"Nhưng Kelly chẳng đáng giá bao nhiêu," là câu trả lời.

"Chúc ngủ ngon."

Sau khi tất cả mọi việc, với đầu ngón tay tôi đau không chịu nổi, ba chiếc thuyền đang mất tích, chưa kể đến những con sóng hung dữ tàu Bóng Ma đang nhảy qua, tôi đã cho rằng mình không thể ngủ được. Nhưng mắt tôi khép lại ngay khi đầu chạm vào gối, và trong tình trạng hoàn toàn kiệt sức, tôi ngủ suốt đêm, còn tàu Bóng Ma vẫn chiến đấu qua cơn bão theo cách của mình giữa cô đơn và vô định.

[1] Xem chú thích số 26
 
88 ❤︎ Bài viết: 72 Tìm chủ đề
Chương 18

Ngày tiếp theo, khi cơn bão đã tan biến, tôi cùng với Larsen Sói "chăm sóc" thân hình gầy nhom và làm phẫu thuật chỉnh xương sườn cho Mugridge. Sau khi cơn bão tan đi, Larsen Sói đi tuần qua lại trên vùng đại dương nơi chúng tôi gặp bão, hơi chếch về phía tây, trong khi những chiếc thuyền đang được sửa chữa, những cánh buồm được thay mới và lại căng phồng đón gió. Căn bếp mới đã được xây lại từ những mẩu gỗ đầu thừa đuôi thẹo của khoang tàu. Chúng tôi tìm được và tiếp cận từng chiếc tàu săn hải cẩu một, phần lớn bọn họ đã lấy về những thuyền viên và thuyền không thuộc về họ. Đội tàu tập trung nhiều nhất ở bên phía tây theo hướng chúng tôi, các chiếc thuyền con thì nằm rải rác khắp vùng biển rộng, chúng là những chiếc đầu tiên đã điên cuồng trốn chạy để tìm nơi ẩn náu gần nhất.

Chúng tôi khởi hành rời khỏi Cisco với hai chiếc thuyền đầy đủ thuyền viên, và, trong niềm vui lớn của Larsen Sói và nỗi đau của riêng tôi, ông ta đã đón được Smoke, cùng Nilson và Leach từ San Diego. Vì vậy, vào năm ngày cuối, chúng tôi thấy chỉ thiếu bốn người đàn ông, bao gồm Henderson, Holyoak, Williams, và Kelly, và lại một lần nữa tiếp tục săn bắn theo đàn hải cẩu.

Khi chúng tôi đi theo hướng bắc, chúng tôi bắt đầu gặp phải những trận sương mù biển đáng sợ. Mỗi ngày, từng chiếc thuyền được thả xuống và biến mất trong màn sương ngay trước khi chạm nước, những người còn lại trong chúng tôi ở lại trên tàu thổi còi theo chu kì đều đặn, và cứ mười lăm phút lại bắn một phát súng. Đoàn thuyền cứ biến mất rồi lại xuất hiện, chuyện một con thuyền đi săn mất tích, rồi được một tàu buồm bất kì đón về cho tới khi về được đúng tàu mẹ đã là lẽ thường tình. Nhưng tàu của Larsen Sói vốn đang thiếu thuyền con, đúng như dự đoán, đã chiếm lấy những thuyền đi lạc của tàu khác và buộc những người đàn ông trên thuyền phải đi săn cùng tàu Bóng Ma, không cho phép họ quay trở lại tàu của mình khi chúng tôi nhìn thấy họ. Tôi nhớ ông ta đã giữ một thợ săn và hai người đàn ông dưới quyền bằng một khẩu súng trường ghim trước ngực, trong khi thuyền trưởng của họ đi ngang qua ném bánh qui tới và hỏi thông tin từ chúng tôi.

Thomas Mugridge, bám víu vào cuộc sống một cách kì quặc và cố chấp, tập tễnh trở lại làm việc từ rất sớm, gã đảm nhiệm hai trách nhiệm là nấu ăn và bồi tàu.

Johnson và Leach vẫn bị hành hạ và đánh đập nhiều hơn bao giờ hết, họ trông đợi cuộc sống của mình kết thúc với sự kết thúc của mùa săn; trong khi những thuyền viên còn lại sống cuộc sống của những con chó và làm việc như những chó vì vị chủ nhân tàn nhẫn của họ. Larsen và tôi đang duy trì mối quan hệ khá tốt, mặc dù tôi không thể loại bỏ ý nghĩ rằng tương lai mình sẽ làm một hành động đúng đắn là giết ông ta. Ông ta hấp dẫn tôi, đồng thời cũng khiến tôi rất sợ; tôi không thể tưởng tượng việc ông ta sẽ chết như thế nào. Trong ông ta có sức sống của tuổi trẻ vĩnh cửu, thứ luôn vươn lên và choán hết mọi viễn cảnh. Tôi chỉ có thể hình dung ông ta ở trạng thái sống khỏe mạnh, thống trị, chiến đấu, hủy diệt và sống sót.

Có một lần ông ta đi sai hướng, khiến chúng tôi đi vào giữa đàn hải cẩu khi biển đang động mạnh, ông ta đã tự hạ thuyền xuống cùng với hai tay chèo, một người lái và ra khơi. Ông ta là một tay súng giỏi, đem được nhiều bộ da lên tàu trong những điều kiện mà đám thợ săn than là "không thể săn bắt nổi". Có vẻ như mỗi hơi thở của ông ta đều nặng nhọc như thể sinh mạng đang treo nơi bàn tay ấy và giãy giụa để đánh cuộc với cuộc đời.

Tôi càng ngày càng học được nhiều hơn về nghề đi biển. Vào một ngày đẹp trời, bây giờ chúng tôi hiếm khi gặp được thời tiết đẹp như vậy lắm, tôi đã tự hài lòng khi có thể tự vận hành và điều khiển tàu Bóng Ma, tự mình kéo thuyền lên. Larsen đợt này hay bị hành hạ bởi những cơn đau đầu, nên tôi đứng bên bánh lái từ sáng đến tối, lèo lái con tàu trên đại dương đuổi sau chiếc thuyền khuất gió cuối cùng, dừng lại kéo thuyền và năm người kia lên mà không có sự chỉ đạo hay gợi ý từ ông ta.

Lúc này chúng tôi tiếp tục phải đối mặt với những trận gió mạnh, vì đây là khu vực nhiều bão. Vào giữa tháng Sáu, một cơn bão đáng nhớ nhất và quan trọng nhất đời tôi xảy đến, những thay đổi khi vượt qua nó sẽ ảnh hưởng tới tương lai tôi sau này. Chúng tôi suýt chạy vào tâm bão. Larsen Sói xoay xở vượt qua nó và đi hướng về phía nam, đầu tiên là bằng buồm phụ tam giác mép đôi, sau đó là bằng những cột buồm trống không.

Tôi chưa bao giờ tưởng tượng đại dương lại rộng lớn như vậy. Các vùng biển trước đây chúng tôi từng đi qua chỉ là những gợn sóng so với vùng biển này, từng con sóng trải dài phải đến nửa dặm tính từ đỉnh sóng này đến đỉnh sóng khác, tôi dám chắc điều đó vì tôi đứng trên đỉnh cột buồm. Sóng dữ dội tới mức chính bản thân Larsen Sói cũng không dám dừng lại, mặc dù ông ta đang bị đẩy xa về phía nam, tách khỏi đàn hải cẩu.

Chúng tôi phải đến được tuyến đường của các tàu hơi nước bên kia Thái Bình Dương trước khi cơn bão dịu đi, và ở đây, trước sự ngạc nhiên của nhóm thợ săn, chúng tôi thấy mình đang ở giữa đàn hải cẩu – chúng là đàn thứ hai, hoặc đàn có nhiệm vụ bảo vệ. Điều này rất bất thường. Nhưng những gì diễn ra là "Xuống thuyền!", rồi tiếng nổ của súng vang lên, và cuộc tàn sát đáng sợ lại kéo dài suốt cả ngày.

Vào thời gian này, Leach tiếp cận tôi. Lúc tôi vừa hoàn thành việc kiểm đếm số tấm da của chiếc thuyền cuối cùng trên tàu thì nó đến gần tôi và hạ giọng nói trong bóng tối:

"Ông có thể nói cho tôi biết không, ông Van Weyden, chúng ta cách bờ biển bao xa, Yokohama ở hướng nào?"

Trái tim tôi nhảy lên vui sướng, vì tôi biết những gì nó đang nghĩ, tôi chỉ phương hướng cho nó về phía tây tây bắc, cách đây khoảng năm trăm dặm

"Cảm ơn, thưa ông," là tất cả những gì nó nói khi lủi vào bóng tối.

Sáng hôm sau, thuyền số ba của Johnson và Leach đã mất tích. Những cái vòi nước và những cái hộp của tất cả các thuyền khác cũng bị mất tích cùng với giường và túi đi biển của hai người đàn ông. Larsen Sói nổi cơn giận dữ. Ông ta chuyển hướng tàu về phía tây tây bắc, phái hai thợ săn túc trực trên đầu cột buồm, dùng ống nhòm rà soát trên biển, còn ông ta đi lại trên boong như một con sư tử đang cơn thịnh nố. Ông ta biết quá rõ tôi đã đồng lõa với những kẻ chạy trốn nên không cho tôi lên vị trí tìm kiếm trên cột buồm.

Gió to nhưng rất thất thường, để tìm thấy con thuyền nhỏ bé đó giữa màu xanh bao la kia giống như mò kim đáy bể. Nhưng ông ta điểu khiển chiếc Bóng Ma chạy với tốc độ tốt nhất, để cắt ngang tuyến đường giữa những kẻ đào tẩu và đất liền. Để chắc chắn, ông ta cho tàu chạy qua chạy lại cắt qua những cung đường ông ta biết chắc chắn Leach và Johnson sẽ đi.

Vào buổi sáng ngày thứ ba, ngay sau tám tiếng chuông giữa các ca trực, Smoke hô rằng đã nhìn thấy chiếc thuyền từ trên cột buồm. Tất cả mọi người đều ra lan can. Một làn gió nhẹ nhàng thổi qua từ phía tây, dự báo rằng đằng đó sẽ thổi tới nhiều gió hơn; ở đó, hướng khuất gió, trong ánh sáng màu bạc mờ đục của bình minh, một đốm đen xuất hiện rồi biến mất.

Chúng tôi xoay tàu xuôi gió và đuổi theo. Trái tim tôi nặng trĩu. Tôi muốn đổ bệnh trước tương lai sắp đến; khi tôi nhìn thấy vẻ đắc thắng trong mắt Larsen Sói, hình bóng ông ta choán ngợp trước mặt tôi, tôi cảm thấy mình như muốn lao vào ông ta ngay lập tức. Hẳn tôi đã choáng váng vì viễn cảnh tàn tệ Leach và Johnson sắp phải chịu tới nỗi không còn suy nghĩ tỉnh táo được nữa.. Tôi nhớ là mình đã mụ mị đi xuống khoang lái, nhưng ngay khi vừa mới leo trở lại boong với một khẩu súng săn đầy đủ đạn trong tay, thì bỗng có một tiếng hét làm tôi giật mình:

"Có năm người đàn ông trên chiếc tàu đó!" Tôi phải tựa vào bậc thang xuống cabin trong tình trạng yếu đuối và run rẩy, nghe những người khác đã xác nhận những gì Smoke thấy là đúng Sau đó, đầu gối của tôi trĩu nặng, và tôi quỳ sụp xuống và ngay lập tức thấy kinh hoảng nhận ra mình đã định làm gì. Tôi cảm thấy may mắn vì mình đã kịp quẳng súng đi và lén quay trở lại boong.

Không ai nhận thấy sự vắng mặt của tôi. Khoảng cách với chiếc tàu đó đã để chúng tôi nhận ra rằng nó lớn hơn bất kì chiếc tàu săn hải cẩu nào và được đóng theo hình dáng khác biệt. Khi chúng tôi tiến gần hơn, cánh buồm được thu vào và cột buồm hạ xuống. Mái chèo đã lắp sẵn, những người trên tàu đang chờ chúng tôi dừng lại và đưa họ sang.

Smoke, người đã xuống boong và giờ đang đứng cạnh tôi, bắt đầu cười khúc khích đầy ẩn ý. Tôi tò mò nhìn anh ta.

"Loạn xạ hết rồi!" Anh ta khúc khích. "Chắc chắn là một người đẹp."

"Chuyện gì vậy?" Tôi hỏi lại.

Anh ta cười tiếp. "Ông không thấy ở kia à, chỗ dây lèo ở cuối thuyền, ở dưới cùng ấy? Tôi sẽ không bao giờ bắn một con hải cẩu nào nữa nếu đó không phải là một người phụ nữ!" Tôi nhìn kỹ hơn, nhưng vẫn không dám chắc cho đến khi những tiếng reo hò nổ ra ở mọi phía.

Chiếc tàu đó chở bốn người đàn ông, và thành viên thứ năm trên đó rõ ràng là một người phụ nữ.

Tất cả chúng tôi đều rất hào hứng, ngoại trừ Larsen Sói, ông ta rõ ràng đang thất vọng vì đó không phải là chiếc tàu chở hai nạn nhân của mình.

Chúng tôi hạ buồm phụ rời, kéo dây lèo buồm phụ theo hướng gió và căng ngang dây kéo buồm chính, đi xuôi chiều gió. Mái chèo đập xuống nước, những tiếng gõ lộc cộc dọc vang ra từ chiếc tàu bên cạnh. Lúc này tôi mới liếc nhìn người phụ nữ kia.

Cô ấy mặc một cái áo choàng dài, hẳn là vì hơi lạnh sáng sớm, tôi không thể thấy gì ngoài khuôn mặt và mái tóc màu nâu nhạt lộ ra từ dưới chiếc mũ thủy thủ trên đầu cô. Đôi mắt to màu nâu rất sáng, khóe miệng ngọt ngào chứa chan tình cảm, khuôn mặt trái xoan thanh tú dù đã rám đỏ vì gió biển và mặt trời.

Trông cô ấy giống một sinh vật đến từ một thế giới khác đối với chúng tôi. Tôi nhận ra mình khao khát muốn tiếp xúc với cô, như một kẻ chết đói muốn bánh mì. Nhưng tôi đã không gặp một người phụ nữ trong khoảng thời gian rất dài. Tôi biết tôi đang cực kì băn khoăn, gần như hoảng loạn – đây là một người phụ nữ à? – nên tôi như quên cả bản thân và nhiệm vụ thuyền phó, không hề giúp đỡ những người mới lên tàu. Khi một trong những thủy thủ đỡ cô ấy tới trước bàn tay đón đợi của Larsen Sói, cô ấy ngẩng đầu nhìn vào những khuôn mặt tò mò của chúng tôi và mỉm cười vừa vui vẻ vừa ngọt ngào, chỉ một người phụ nữ mới có thể mỉm cười như vậy, đã lâu rồi tôi mới được thấy nụ cười ấy, nên đã suýt quên rằng nó tồn tại.

"Anh Van Weyden!" Giọng nói của Larsen Sói khiến tôi tỉnh táo lại.

"Anh sẽ dẫn người phụ nữ này xuống dưới và giúp cô ấy cảm thấy thoải mái chứ? Dọn một chỗ trống ở cabin ấy. Để thằng Bếp làm việc đó đi. Còn anh thì hãy xem có thể chữa trị khuôn mặt này không. Mặt cô ấy bị cháy nắng tệ quá." Ông ta quay lưng lại với chúng tôi và bắt đầu hỏi han về những người mới. Chiếc tàu bị thả cho trôi đi, mặc dù một trong số người cho rằng việc đó "đáng tiếc muốn chết", bởi Yokohama rất gần đây.

Tôi cảm thấy mình mang một nỗi sợ kì lạ với người phụ nữ tôi đang dẫn đi theo. Hơn thế, tôi đang rất lúng túng. Tôi cứ như thể mới vừa ngộ ra phụ nữ là sinh vật tinh tế và mong manh tới nhường nào, khi tôi cầm tay cô ấy để đỡ cô ấy xuống cầu thang, tôi phát hoảng bởi sự nhỏ bé và mềm mại của bàn tay ấy. Thật vậy, cô ấy là một người phụ nữ mảnh dẻ, tinh tế, như bất kì người phụ nữ nào, nhưng với tôi, cô ấy mảnh mai và tinh tế như tiên giáng trần, đến mức tôi sợ bàn tay cô sẽ vỡ vụn trong tay mình. Tôi thẳng thắn thừa nhận đó là ấn tượng đầu tiên của tôi, sau một thời gian quá dài không biết tới hình ảnh phụ nữ và lần đầu tiên diện kiến Maud Brewster.

"Đừng bận tâm nhiều về tôi," cô ấy phản đối, khi tôi để cô ngồi xuống chiếc ghế bành của Larsen Sói bị tôi vội lôi ra từ cabin của ông ta. "Những người đàn ông đó đã tìm kiếm đất liền suốt sáng nay, hẳn tàu sẽ tới bờ vào đêm, anh có nghĩ thế không?" Niềm tin thuần khiết của cô ta vào tương lai trước mắt đã khiến tôi sửng sốt. Làm thế nào tôi có thể giải thích cho cô ấy tình hình nơi đây, về người đàn ông kì quặc rong ruổi trên biển như Định mệnh, về tất cả những điều tôi phải mất nhiều tháng mới hiểu? Dẫu sao, tôi vẫn thành thật trả lời:

"Nếu đó là bất kì thuyền trưởng nào khác trừ ông ta, tôi đảm bảo rằng cô sẽ lên bờ ở Yokohama vào ngày mai. Nhưng thuyền trưởng của chúng tôi là một kẻ kì quặc, tôi mong cô hãy chuẩn bị cho bất cứ điều gì.. cô hiểu chứ? Cho bất cứ điều gì."

"Tôi.. tôi phải thú nhận mình chẳng hiểu gì cả," cô do dự, trong mắt hàm chứa sự lo lắng, nhưng không hề sợ hãi.

"Chẳng lẽ tôi đã luôn hiểu sai ư, rằng những người bị đắm tàu luôn được quan tâm hơn? Đây là một chuyện rất nhỏ, anh biết đấy, chúng ta đang rất gần với đất liền."

"Thật thà mà nói, tôi không biết," tôi cố gắng trấn an cô ấy. "Tôi chỉ mong cô chuẩn bị sẵn sàng cho điều tồi tệ nhất, nếu nó xảy đến. Vị thuyền trưởng của chúng tôi là một kẻ hung bạo, một con quỷ, không ai có thể đoán trước hành động điên rồ tiếp theo của ông ta."

Tôi trở nên kích động, nhưng cô ấy đã cắt ngang tôi bằng một câu "Ồ, tôi hiểu rồi," với giọng yếu ớt. Giờ suy nghĩ thôi đã cần nỗ lực lớn. Cô ấy gần như sắp ngã quỵ.

Cô ấy không hỏi thêm gì nữa, còn tôi chẳng muốn nhắc lại, chỉ răm rắp làm theo mệnh lệnh của Larsen Sói, khiến cô ấy được thoải mái. Tôi rối lên như một bà nội trợ, sục sạo tìm các loại thuốc kem xoa dịu vết cháy nắng, thứ mà tôi biết có một chai như vậy trong kho riêng của Larsen Sói, rồi chỉ đạo Thomas Mugridge sửa soạn phòng riêng cho cô..

Những cơn gió đang mạnh lên, Bóng Ma càng lúc càng nghiêng, khi phòng riêng đã được dọn xong, tàu nhúng mình xuống nước như một cái kẹp. Tôi đã hoàn toàn quên mất sự tồn tại của Leach và Johnson trước khi nghe thấy một tiếng hô như sấm, "Dừng thuyền!" vọng xuống từ bậc cầu thang cabin. Đó là giọng nói không lẫn đi đâu được của Smoke, vang lên từ đỉnh cột buồm. Tôi liếc nhìn người phụ nữ kia, nhưng cô ấy đang dựa lưng vào chiếc ghế bành, mắt nhắm lại, mệt mỏi tới kiệt quệ. Tôi đoán cô chẳng thể nghe được gì vào lục này, và tôi quyết tâm ngăn cản không để cô ấy nhìn thấy cảnh bạo lực chắc chắn sẽ xảy ra khi những kẻ đào tẩu bị bắt giữ. Cô ấy đang rất mệt mỏi. Rất tốt. Cô ấy nên ngủ.

Những mệnh lệnh nhanh chóng truyền đi trên boong tàu, tiếng giậm chân và tiếng vỗ của các mép buồm vang lên, con tàu Bóng Ma lao vút đi trong gió theo hướng đó. Khi con tàu nhận đủ gió và nghiêng về một bên, chiếc ghế bành trượt trên sàn cabin, tôi vội giữ nó lại để ngăn người phụ nữ vừa được cứu không bị văng xuống sàn.

Đôi mắt nặng trĩu của tỏ vẻ lúng túng và ngạc nhiên khi cố ngước nhìn tôi. Cô loạng choạng tí nữa thì vấp ngã, nên tôi dẫn cô ấy về cabin.

Mugridge cười nhăn nhở đầy hàm ý trước mặt tôi khi tôi đẩy gã ra và ra lệnh cho gã trở lại làm việc trong bếp. Để trả thù, gã lan truyền với đám thợ săn rằng tôi có tố chất làm "hầu gái của Quý cô" xuất sắc như thế nào.

Cô ấy nặng nề dựa vào tôi, có lẽ cô đã ngủ gật giữa quãng đường từ ghế bành tới phòng riêng. Tôi phát hiện ra điều này khi cô ấy ngã người vào giường ngủ lúc con tàu đột ngột tròng trành. Cô ấy bật dậy, uể oải cười, rồi lại lăn ra ngủ tiếp. Tôi để cô ấy nghỉ ngơi, dưới tấm chăn đôi nặng nề của thủy thủ, đầu gối lên chiếc gối tôi đã lấy từ giường của Larsen Sói.
 
88 ❤︎ Bài viết: 72 Tìm chủ đề
Chương 19

Tôi lên boong tàu và thấy chiếc Bóng Ma đang chạy rạt về hướng mạn trái, rẽ gió mà đi nhằm thẳng hướng con thuyền quen thuộc đang chạy ngược gió vốn thuộc cùng đội tàu với chúng tôi. Tất cả mọi người đều ở trên boong tàu, vì họ biết sẽ có điều gì đó xảy ra khi Leach và Johnson bị kéo lên tàu.

Bốn tiếng chuông vang lên báo đổi ca. Louis đứng thay vào vị trí cầm lái. Không khí có một chút ẩm ướt, tôi nhận thấy anh ta đang mặc đồ vải dầu.

"Chúng ta sắp đón chờ điều gì đây?" Tôi hỏi anh ta.

"Một cơn gió mạnh thổi qua, thưa ông," anh ta trả lời, "với một chút mưa chỉ đủ làm ướt cằm, không hơn."

"Thật tệ, chúng ta đã phát hiện ra họ," tôi nói, khi mũi tàu Bóng Ma bị lệch một độ trên biển lớn. Trong khoảnh khắc chiếc thuyền vọt lên cao hơn cả tầm những cánh buồm con và hiển hiện toàn bộ trước mắt chúng tôi. Louis quay một nấc bánh lái và im lặng mất một lúc.

"Họ sẽ không bao giờ tới được đất liền đâu, thưa ông, tôi nghĩ vậy."

"Anh nghĩ họ không thể ư?" Tôi chất vấn.

"Không, thưa ông. Ông có cảm thấy điều đó không?" Một cơn gió mạnh đã tạt vào tàu, khiến anh ta buộc phải xoay bánh lái thật nhanh để giữ con tàu thoát khỏi cơn gió. "Tới một mảnh vỏ trứng cũng không thể bơi trên vùng biển này trong vòng một giờ tới. Thật may mắn chúng ta có mặt ở đây mà cứu họ lên."

Larsen Sói sải bước từ giữa tàu tới phần đuôi, nơi ông ta sẽ nói chuyện với những người đàn ông vừa được giải cứu. Bước chân êm như mèo của ông ta êm hơn một chút so với bình thường, đôi mắt ông sáng rực vui vẻ.

"Ba thợ dầu và một kĩ sư," câu nói vang lên thay lời chào. "Nhưng chúng ta sẽ biến họ thành thủy thủ, hoặc tay chèo, sao chẳng được. Hiện người phụ nữ thế nào rồi?"

Tôi không biết tại sao, nhưng tôi cảm thấy một cơn nhức nhối, đau xót như dao cứa khi ông ta nhắc đến cô ấy. Tôi nghĩ đó là phần suy nghĩ rối rắm và ngớ ngẩn của riêng mình, luôn tồn tại dù tôi có làm gì. Để đáp lại ông ta, tôi nhún vai.

Larsen Sói mím môi tạo thành tiếng rít dài kì quặc. "Tên cô ta là gì?" Ông ta yêu cầu.

"Tôi không biết," tôi trả lời. "Cô ta đang ngủ. Cô ra đã rất mệt mỏi. Thực ra tôi đang chờ nghe tin từ ông đấy. Tàu đó là tàu gì vậy?"

"Tàu chuyển thư chạy bằng hơi nước," ông ta trả lời ngay. "Đích đến là Thành phố Tokio, từ'Frisco, sắp đi tới Yokohama thì bị cơn bão phá hỏng. Ống hơi cũ rồi. Thủng trên thủng dưới như một cái sàng. Họ đã lênh đênh bốn ngày. Anh không biết cô ta là ai, cô ta là người như thế nào, một cô thiếu nữ chưa chồng, một bà vợ hay góa phụ? Ái chà." Ông ta bỡn cợt lắc đầu và nhìn tôi với đôi mắt cười.

"Ông có.." Tôi mở miệng. Câu hỏi liệu ông ta có định đưa những người bị nạn tới Yokohama hay không cứ treo nơi đầu lưỡi.

"Tôi có gì cơ?" Ông ta hỏi.

"Ông định làm gì với Leach và Johnson?"

Ông ta lắc đầu.

"Thực sự thì, Hump, tôi không biết. Anh thấy đấy, thêm được ngần này người, tôi đã có toàn bộ số thuyền viên tôi muốn."

"Mong muốn tự do là tất cả những gì họ muốn," tôi nói. "Tại sao không đối xử với họ khác đi? Đưa họ lên tàu và xử nhẹ họ. Bất cứ điều gì họ đã làm, họ đều làm do bị ép buộc."

"Bởi ta?"

"Bởi ông," tôi tự tin trả lời. "Tôi phải cảnh báo ông, ông Larsen Sói, không chừng tôi sẽ quên mất tình yêu với cuộc đời vì mong muốn giết ông nếu ông đi quá xa trong việc hành hạ những người khốn khổ đó."

"Hoan hô!" Ông ta reo lên. "Anh làm tôi tự hào đấy, Hump! Anh đã tự lập ngoài mong đợi của tôi. Anh là người khá đặc biệt. Anh thật bất hạnh khi sống ở nơi quá an nhàn, nhưng anh đang dần trưởng thành và tôi thấy thích anh hơn vì điều đó." Giọng nói và biểu cảm của ông ta thay đổi. Khuôn mặt ông ta rất nghiêm túc.

"Anh có tin vào lời hứa không?" Ông ta hỏi. "Chúng là những điều thiêng liêng phải không?"

"Tất nhiên," tôi trả lời.

"Đây là một cái la bàn," ông ta tiếp tục nói, như một diễn viên tài năng. "Nếu tôi hứa sẽ không động tay vào Leach và Johnson, liệu anh có vì thế mà hứa sẽ không giết tôi? Ồ, không phải là tôi sợ anh, không phải là tôi sợ," ông ta vội thêm vào.

Tôi không tin được vào tai mình. Ông ta bị làm sao vậy?

"Có đồng ý không?" Ông ta sốt ruột hỏi.

"Đương nhiên," tôi trả lời.

Tay ông ta giơ ra, và khi tôi chân thành bắt lấy bàn tay đấy, tôi có thể thề rằng đã thấy vẻ hung ác xảo quyệt lóe lên trong mắt ông ta. Chúng tôi rảo bước qua bục đuôi tàu sang phía khuất gió. Chiếc thuyền bây giờ đã ở rất gần và đang bơi đi trong tuyệt vọng. Johnson đang cầm lái, Leach tát nước trong thuyền ra. Chúng tôi bắt kịp và chỉ còn cách họ khoảng hơn nửa mét. Larsen Sói ra hiệu cho Louis chậm lại một chút, chúng tôi dạt đến chỉ cách con thuyền khoảng hai mét theo chiều gió.

Vào lúc này, Leach và Johnson ngước lên nhìn khuôn mặt của những người bạn cùng tàu với mình, những người đang đứng thành hàng nơi lan can giữa tàu. Không ai chào đón họ. Họ bị coi là những người đã chết với đồng đội của mình, khoảng cách giữa hai bên là vực thẳm giữa sự sống và cái chết.

Một giây sau, họ ở đối diện với đuôi tàu, nơi Larsen Sói và tôi đang đứng.

Chúng tôi đứng giữa hai đỉnh sóng, khi đỉnh sóng bên họ dâng lên cao, Johnson nhìn tôi, tôi có thể thấy rõ vẻ mệt mỏi và hốc hác trên mặt anh ta. Tôi vẫy tay với anh ấy, anh ấy đáp lại lời chào, nhưng đó là cái vẫy tay vô vọng và tiếc nuối. Anh ta như thể đang nói lời chia tay vậy. Tôi không nhìn vào mắt của Leach, vì nó đang trừng mắt với Larsen Sói, tiếng gầm gừ quen thuộc và không biết mệt mỏi mạnh mẽ y như nỗi hận thù hiển hiện trên mặt nó.

Sau đó, họ tụt lại phía sau. Đột nhiên, cánh buồm chính căng tràn gió, con thuyền lật nghiêng về một bên lộ ra sống thuyền như thể nó sẽ úp xuống ngay lập tức.

Larsen Sói bắn một tràng cười ha hả vào tai tôi và sải bước về bục đuôi tàu phía hứng gió. Tôi mong ông ta ra lệnh cho Bóng Ma dừng lại, nhưng con tàu cứ tiếp tục đi và ông ta chẳng tỏ thái độ nào. Louis đứng im nơi bánh lái, nhưng tôi nhận thấy nhóm thủy thủ phía trước mặt biến sắc nhìn về hướng chúng tôi.

Tuy nhiên, tàu Bóng Ma vẫn lao nhanh cho đến khi chiếc thuyền thu nhỏ lại thành một dấu chấm trên đại dương. Khi giọng nói của Larsen Sói vang lên ra lệnh, chúng tôi đi theo hướng mạn phải.

Chúng tôi dừng lại tại đó, cách con thuyền bé nhỏ như vỏ hến kia khoảng hơn hai dăm đường gió, sau đó buồm phụ hạ xuống và tàu dừng lại. Ở ngoài vùng hoang vu kia, không có nơi ẩn náu nào cho Leach và Johnson như trên Bóng Ma, và họ đã quyết tâm bắt đầu cuộc săn đuổi đối nghịch với chiều gió. Sau một tiếng rưỡi, họ đã tới được gần sát mạn tàu, chỉ cách đuôi tàu một sải chân, nhằm đưa chúng tôi vào chân tiếp theo. Và có ý định duy trì khoảng cách đó.

"Vậy là tụi mày đã đổi ý rồi?" Tôi nghe thấy tiếng Larsen Sói lẩm bẩm, vừa với chính mình, vừa với họ như thể họ nghe được. "Mày muốn lên tàu, hả? Tốt thôi, vậy cứ tới đi. Coi chừng bánh lái đó!" Ông ta ra lệnh cho Oofty–Oofty, anh chàng người Kanaka, đã thay Louis cầm lái.

Các mệnh lệnh dồn dập ra đời. Vì thiếu sức gió, các dây lèo buồm mũi và buồm chính chùng xuống. Chúng tôi chờ gió và chồm sóng, khi Johnson nới lỏng dây lèo trước mối hiểm nguy sắp tới, để con thuyền nhỏ cắt qua lằn tàu chạy cách chúng tôi chừng một trăm mét. Một lần nữa Larsen lại phá lên cười và vẫy tay ra hiệu gọi họ theo. Rõ ràng ông ta muốn chơi đùa với họ – muốn dạy cho họ một bài học, tôi hiểu điều đó, tuy không đánh đập, nhưng đây là một bài học đáng sợ vì con thuyền nhỏ bé có thể bị chìm bất cứ lúc nào.

"Đó là nỗi sợ cái chết trong lòng họ," Louis lẩm bẩm vào tai tôi khi tôi đi về khoang trước để thu buồm phụ rời và buồm chéo.

"Ồ, ông ấy sẽ cho dừng tàu ở đó và kéo họ lên thôi," tôi vui vẻ trả lời.

Louis nhìn xoáy vào tôi. "Ông nghĩ vậy ư?" Anh ta hỏi.

"Đương nhiên," tôi trả lời. "Anh không nghĩ vậy ư?"

"Trong những ngày này, tôi không nghĩ đến điều gì ngoài những tấm da hải cẩu chúng ta săn được," anh ta trả lời. "Đó là lí do để tôi vùi đầu vào công việc. Tí rượu whiskey Frisco là đủ để tôi ngây ngất, còn ngây ngất hơn khi thấy người phụ nữ ông đã đưa xuống cuối tàu kia. À, tôi vẫn biết ông là một kẻ ngốc dẻo miệng mà."

"Ý anh là sao?" Tôi hỏi với theo, vì anh ta đột ngột quay ngoắt đi.

"Ý tôi là gì ư?" Anh ta gào lên. "Ông hỏi tôi cơ đấy! Ý tôi là gì nào quan trọng, phải là ý lão Sói là gì, là lão ấy!"

"Nếu có chuyện xảy ra, anh sẽ làm ngơ sao?" Tôi không kiềm được câu hỏi, vì anh ta đã nói lên nỗi sợ hãi của chính tôi.

"Làm ngơ? Louis già béo bệu làm ngơ thôi đã đủ rắc rối lắm rồi. Bây giờ mới chỉ là bắt đầu thôi, tôi đã bảo ông rồi, mới chỉ là bắt đầu thôi."

"Tôi cứ tưởng anh không phải người hèn nhát," tôi rít lên.

Anh ta khinh miệt nhìn tôi.

"Nếu tôi chưa từng giúp lũ ngốc đáng thương đó – chỉ về phía cánh buồm nhỏ xíu đằng xa," thì ông nghĩ tôi còn sức bận tâm tới một người phụ nữ tôi chưa từng để mắt tới cho đến ngày hôm nay sao? "

Tôi khinh bỉ quay đi và đi về phía đuôi tàu.

" Tốt hơn hết là lên buồm đỉnh đi, anh Van Weyden, "Larsen Sói nói, khi tôi trở lại bục đuôi.

Tôi cảm thấy nhẹ nhõm, ít nhất là hai người đó đang được để ý đến. Tôi hiếm khi mở miệng trừ khi là để đưa ra những mệnh lệnh cần thiết, nóng nảy nhảy lên những sợi dây buồm, những người khác thì đang đua nhau trèo lên đỉnh buồm. Sự sốt ruột của họ được Larsen Sói ghi nhận với một nụ cười dữ tợn.

Chúng tôi gia tăng tốc độ, tới khi chiếc thuyền nhỏ bị tụt lại phía sau vài dặm, chúng tôi dừng lại chờ đợi. Mọi ánh mắt đều hướng về con thuyền ấy, ngay cả đôi mắt của Larsen Sói; nhưng ông ta là người duy nhất trên tàu không hề tỏ ra xúc động. Louis vẫn luôn chăm chú nhìn, không thể che giấu mà để lộ chút vẻ lo lắng trên khuôn mặt.

Chiếc thuyền tiến lại gần hơn và gần hơn, lướt qua biển xanh trong suốt như một vật thể sống, nâng lên rồi hạ xuống cưỡi lên những con sóng lớn, hoặc biến mất đằng sau đỉnh sóng để rồi vút thẳng lên trời. Dường như nó không thể nào có thể tiếp tục sống, nhưng với mỗi lần sóng quét qua, nó lại làm được điều không thể. Một cơn gió mạnh kèm với mưa ào qua, làm ướt nhẹp toàn bộ con thuyền vừa hiện ra, gần đến chỗ chúng tôi.

" Khẩn trương lên! "Larsen hét lên, tự mình lao tới bánh lái và xoay nó lại.

Một lần nữa Bóng Ma vọt đi và chạy trước gió. Trong hai giờ đồng hồ, Johnson và Leach tiếp tục đuổi theo chúng tôi. Chúng tôi dừng lại và bỏ chạy, dừng lại và chạy tiếp; mảnh buồm nhỏ đằng xa nơi phía sau tàu cứ tung lên trời rồi lại rơi vào xuống giữa những con sóng. Khoảng một phần tư dặm tiếp theo, một màn mưa dày xuất hiện che khuất tầm nhìn. Không còn thấy con thuyền đâu nữa. Gió đã xoa tan mưa, nhưng chẳng còn mảnh buồm nào xuất hiện trên mặt nước sục sôi cả. Tôi nghĩ rằng mình đã thấy, trong thoáng, đáy của chiếc thuyền có màu đen trong một đợt sóng. Đó là điều tốt lành nhất, cho tất cả mọi người. Đối với Johnson và Leach, cuộc đấu tranh khắc nghiệt giành sự sống đã chấm dứt.

Những người đàn ông còn lại tụ tập lại giữa tàu. Không ai trở xuống dưới, không ai nói gì. Chẳng ai liếc nhìn nhau. Từng người cứ như bị choáng váng tới mơ hồ, họ biết chắc điều đã xảy ra, nhưng lại không dám chắc và phải cố gắng để nhận ra những gì đã xảy ra. Larsen Sói cho họ quá ít thời gian để suy nghĩ. Ngay sau đó, ông ta đưa tàu Bóng Ma vào đúng hướng – nhằm tới đàn hải cẩu chứ không phải là cảng Yokohama. Nhưng những người đàn ông đã không còn sốt ruột kéo dây buồm. Tôi nghe thấy những lời nguyền rủa trong đám đông, chúng nặng nề và vô hồn như chính họ. Đội thợ săn thì không đến nỗi như vậy. Đó là câu chuyện không liên quan và ngoài tầm với của họ, họ đi xuống khoang lái với tiếng cười giòn.

Khi tôi đi qua phía khuất gió ngang căn bếp trên đường ra phía sau tàu, tôi bị người kĩ sư mới được giải cứu tiếp cận. Khuôn mặt anh trắng bệch, môi run rẩy.

" Lạy Chúa lòng lành! Thưa ông, con tàu bị cái quái quỷ gì thế này? "Anh ta thốt lên.

" Anh có mắt; anh thấy rồi đấy, "tôi tàn nhẫn trả lời, bỏ mặc nỗi đau và sự sợ hãi trong trái tim mình.

" Ông đã hứa gì? "Tôi nói với Larsen Sói.

" Tôi đã không nghĩ đến việc đưa họ lên tàu khi tôi hứa điều đó, "ông ta trả lời." Và, dù sao đi nữa, anh phải đồng ý rằng tôi không hề đụng tay đụng chân đến họ. Chắc chắn là không nhé, không hề,"một lúc sau đó, ông ta cười.

Tôi không trả lời. Tôi không thể nói nên lời, tâm trí đang rối bời. Tôi cần thời gian suy nghĩ, tôi biết. Người phụ nữ kia hiện vẫn đang ngủ trong cabin khách, cô ta là phần trách nhiệm tôi cần cân nhắc, và ý nghĩ hợp lí duy nhất lóe lên trong đầu tôi là tôi sẽ không làm gì hấp tấp nếu cô ấy cần bất kì sự giúp đỡ nào từ tôi.
 
Chia sẻ bài viết
Trạng thái
Không mở trả lời sau này.

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back