Nói thế này thật lạ, nhưng mặc cho điềm gở u ám bao trùm cả con tàu, nhưng không có sự kiện đặc biệt nào xảy ra trên Tàu Bóng Ma. Chúng tôi đi theo hướng tây bắc cho đến khi nhìn thấy bờ biển Nhật Bản và bắt kịp một bầy hải cẩu lớn. Chẳng ai biết chúng đến từ đâu trên biển Thái Bình Dương bao la, hàng năm chúng di cư về phương bắc, tới nơi tụ tập đàn lớn của mình ở Biển Bering. Chúng tôi đuổi theo chúng, săn bắn và tiêu diệt chúng, quẳng những cái xác trần như nhộng cho cá mập, và ướp muối bộ da, thứ mà sau này sẽ làm đẹp cho bờ vai trắng nõn nà của những phụ nữ thành thị.
Đó là một cuộc tàn sát phi nghĩa, tất cả chỉ để làm đẹp cho phụ nữ. Không ai ăn thịt và lấy mỡ hải cẩu. Sau một ngày giết chóc thuận lợi, boong tàu bị phủ kín bởi da và những cái xác, trơn trượt nhầy nhụa vì mỡ và máu, lỗ thoát nước đổi sang màu đỏ; cột buồm, những sợi dây thừng, lan can tung tóe những mảng màu kinh dị; những người đàn ông chẳng khác nào những tên đồ tể say mê công việc, cánh tay và bàn tay trần nhuốm màu đỏ gồng lên lia dao rạch và lột những tấm da khỏi cơ thể loài sinh vật biển tuyệt đẹp mà họ vừa mới giết.
Nhiệm vụ của tôi là kiểm đếm các tấm da khi chúng được chuyển về tàu từ các thuyền con, theo dõi việc lột da, sau đó làm sạch sàn tàu và sắp xếp mọi thứ ngăn nắp trở lại. Đó không phải một công việc dễ chịu – linh hồn và dạ dày của tôi ghê tởm công việc này – nhưng, theo một cách nào đó, tôi thấy việc sắp xếp và chỉ đạo những người kia mang lại ích lợi.
Việc này giúp tôi phát triển khả năng quản lí nhỏ bé của mình và tôi nhận thức được sự gian khổ và tàn khốc mình đang phải chịu chẳng hề tốt đẹp với "quý cô" Van Weyden.
Tôi bắt đầu cảm thấy rằng mình không bao giờ có thể trở thành tôi của ngày xưa nữa. Dù hi vọng và niềm tin của tôi vào đời người vẫn tồn tại sau những lời chỉ trích tàn độc của Larsen Sói, ông ta vẫn khiến mọi thứ thay đổi, kể từ những điều nhỏ nhất. Ông ta đưa tôi đến với thế giới thực, nơi mà tôi hầu như chẳng biết điều gì, và từ ngày đó tôi luôn luôn thu mình lại. Tôi đã học cách quan sát cuộc sống khi nó diễn ra, để nhận ra rằng có những điều thực tế trên thế giới; thoát ra từ bờ cõi của tâm trí và tư tưởng, học được cách đặt những giá trị nhất định vào từng giai đoạn cụ thể và khách quan của sự tồn tại.
Tôi thấy Larsen Sói thường xuyên hơn khi chúng tôi chiếm được bãi săn; thời tiết tốt và chúng tôi đang ở giữa đàn hải cẩu. Tất cả mọi người đều xuống thuyền, trên tàu chỉ còn lại ông ta, tôi và Thomas Mugridge, kẻ mà tôi không thèm đếm xỉa. Nhưng ở đây chẳng có gì vui. Sáu chiếc thuyền tản ra theo hình nan quạt từ tàu mẹ cho đến khi chiếc thuyền đầu tiên phía đón gió và các thuyền cuối cùng bên khuất gió chèo ra ngoài bán kính từ mười tới hai mươi dặm, săn lùng dọc theo một đường thẳng, cho đến khi màn đêm buông xuống hoặc thời tiết xấu bắt họ phải quay về. Nhiệm vụ của chúng tôi là lèo lái Bóng Ma về phía khuất gió theo chiếc thuyền cuối cùng, để tất cả những chiếc thuyền đều có đủ gió để di chuyển trong trường hợp thời tiết chuyển xấu.
Điều khiển tàu Bóng Ma chỉ với hai người không phải một công việc dễ dàng, đặc biệt là những lúc gió mạnh, nào là đánh lái, nào là trông chừng thuyền con, nào là điểu chỉnh hoặc thu buồm, nên tôi phải học và phải học thật nhanh. Tôi dễ dàng học được cách lái tàu, nhưng chạy trên cột buồm ngang cao vút và liên tục lắc lư, với đôi tay chịu toàn bộ trọng lượng cơ thể khi tôi rời thang dây để leo lên cao thì khó hơn nhiều. Nhưng tôi học điều này rất nhanh, vì tôi cảm thấy một niềm khát vọng mãnh liệt muốn tự khẳng định mình trong mắt Larsen Sói, để chứng minh mình có quyền sống khi không dựa hoàn toàn vào trí óc. Và bất ngờ thay, tôi dần học được cách tận hưởng niềm vui thú khi cách trèo lên đỉnh cột buồm, dùng chân treo người ở độ cao chênh vênh đó và dùng ống nhòm hướng ra biển, tìm kiếm những chiếc thuyền.
Tôi nhớ một ngày đẹp trời nọ, những chiếc thuyền đã rời đi săn sớm, tiếng súng của đội thợ săn dần mờ nhạt, xa xôi, và dần tắt hẳn khi đoàn thuyền tỏa ra khắp biển. Chỉ có một chút gió yếu ớt từ phía tây; nhưng lần cuối có gió là khi chúng tôi kịp lúc hất gió cho con thuyền cuối cùng nằm ở phía khuất gió. Từ trên đỉnh cột buồm tôi thấy rõ từng chiếc thuyền – sáu chiếc thuyền biến mất theo mặt cong của trái đất khi họ đi theo đàn hải cẩu về phía tây. Cả con tàu nằm yên, biển ôn hòa không một gợn sóng, chúng tôi không thể đi theo được. Larsen Sói cảm thấy lo sợ. Phong vũ biểu hạ thấp, bầu trời phía đông không khiến ông ta vui nổi. Ông ta nghiền ngẫm chân trời với vẻ cẩn thận vô cùng.
"Nếu bão tới từ phía đó," ông ta nói, "thì nó sẽ rất dữ dội và nhanh chóng đẩy chúng ta về hướng ngược gió với đoàn thuyền. Rất có thể tôi sẽ có thêm giường trống ở buồng lái và khoang mũi."
Đến mười một giờ, biển tĩnh lặng như mặt gương. Vào giữa trưa, mặc dù nơi chúng tôi đi nằm trọn vẹn trong vĩ độ bắc, nhưng sức nóng vẫn thực khủng khiếp. Không khí không hề tươi mát. Thật kinh khủng và ngột ngạt, làm tôi nhớ đến những gì những người lớn tuổi ở California gọi là "thời tiết động đất". Thứ thời tiết đó mang điềm xấu, và vô hình chung, nó khiến người ta cảm thấy rằng điều tồi tệ nhất sắp đến. Dần dần, cả bầu trời phía đông tràn ngập những đám mây vượt qua đầu chúng tôi giống như những dãy núi đen của địa ngục. Chúng lớn đến độ chúng tôi có thể thấy rõ những hẻm núi, con đèo, vách đứng cũng như bóng khuất trông như đang vô thức tìm kiếm vệt sóng trắng đánh vào những hốc đá được tạo thành do biển cả cứ mãi vỗ bờ. Tuy vậy, tàu chúng tôi vẫn chỉ đung đưa nhè nhẹ, trời không có gió.
"Không có gió giật," Larsen Sói nói. "Mẹ Thiên Nhiên sắp trỗi dậy trên đôi chân sau và sẽ thổi bay tất cả, biển sẽ nổi giận. Hump à, có lẽ chúng ta chỉ giữ được một nửa số thuyền. Tốt nhất anh nên nhanh chân chạy đi nới lỏng buồm đỉnh ra."
"Nhưng nếu gió vẫn tiếp tục rít, và chỉ có hai chúng ta?" Tôi hỏi, giọng hơi có ý chống đối.
"Thì sao chứ, chúng ta phải chuẩn bị hết sức mình và bắt kịp những chiếc thuyền trước khi những tấm vải bố bị xé toạc ra. Sau đó, tôi sẽ chẳng thèm quan tâm về những chuyện đã xảy ra nữa. Những cái thanh chống sẽ đứng vững, tôi và anh cũng sẽ phải như vậy."
Biển vẫn tĩnh lặng. Chúng tôi ăn tối, một bữa tối vội vàng và đầy lo lắng, trong khi mười tám người đàn ông còn lại đang lênh đênh đâu đó trên biển ở phía bên kia mặt cong của trái đất, với những rặng mây vĩ đại như ngọn núi từ thiên đường chầm chậm đổ xuống người họ. Dường như Larsen Sói không hềbị phân tâm, mặc dù khi trở lại boong tàu, tôi để ý lỗ mũi ông ta hơi co giật, một cử động rất nhanh và khó nhận thấy. Khuôn mặt ông ta đanh lại, những đường nét cương nghị trở nên sắc lẹm, nhưng trong mắt ông ta – một màu xanh dương, xanh như ngày hôm nay vậy – có một tia sáng lấp lánh kì lạ. Điều đó làm tôi giật mình, rằng ông ta đang vui mừng phát điên; ông ta đang vui vì có một cuộc chiến sắp xảy ra; ông ta sướng run lên, bởi ông ta nhận ra một trong những khoảnh khắc tuyệt vời của cuộc sống đang trỗi dậy như thủy triều dâng trào lên trong mình.
Một lần, vô tình ông ta làm như vậy hoặc vô tình tôi đã thấy cảnh ông ta lớn tiếng cười ngạo nghễ và ngang ngược trước cơn bão đang tới. Tôi nhìn thấy ông ta đứng đó như gã lùn bước ra từ "Đêm Ả Rập" đối mặt với những vị thần khổng lồ và độc ác. Ông ta đang thách thức số phận mà không hề biết sợ.
Ông ta đi xuống bếp.
"Này Bếp," tôi nghe ông ta nói, "lúc nào mày rửa xong xoong chảo trong bếp, tao cần mày có mặt trên boong. Hãy sẵn sàng đợi lệnh."
"Hump," ông ta nói, có lẽ ánh mắt mê hoặc đó quá mãnh liệt, tôi chỉ dám cúi đầu trước ông ta, "rượu whiskey tuyệt diệu này hẳn là thứ ông bạn Omar
[1] của anh đã bỏ lỡ. Dẫu sao, tôi nghĩ ông ta chỉ sống nửa vời thôi."
Nửa bầu trời phía tây đã trở nên âm u. Mặt trời tối đi và khuất dần khỏi tầm nhìn. Lúc đó là hai giờ chiều, ánh hoàng hôn ma quái chiếu xuyên qua không gian với những tia sáng màu tím bao trùm lên chúng tôi. Khuôn mặt của Larsen ửng đỏ trong ánh chiều tà. Xung quanh chúng tôi yên tĩnh đến kì lạ, nhưng lại tràn ngập những dấu hiệu và điềm báo về thứ sắp đến. Không khí ngột ngạt tới không thể chịu được. Mồ hôi đầm đìa trên trán, chảy xuống cả mũi tôi. Tôi cảm thấy mình như thể sắp ngất, và phải dựa vào lan can mới trụ được.
Và rồi, ngay lúc đó, một cơn gió vô cùng nhẹ thổi qua. Nó bắt nguồn từ phía đông, đến và đi nhẹ như một lời thì thầm. Vải buồm không hề động đậy, nhưng da mặt tôi lại cảm thấy không khí đã lạnh đi.
"Bếp," Larsen Sói gọi bằng giọng trầm (Thomas Mugridge biến sắc, lộ vẻ vô cùng kinh hãi), "buông dây góc lèo cột buồm dây tam giác và vắt nó ngang sang, khi con tàu sẵn sàng, buông dây lèo chỉnh buồm và buộc nó với thanh lèo. Nếu mày làm hỏng việc, đây sẽ là việc cuối cùng mày làm việc đó. Hiểu không?"
"Anh Van Weyden, đứng sang bên đẩy buồm mũi qua. Sau đó, nhảy lên buồm đỉnh và căng chúng nhanh như Chúa bảo anh làm vậy – anh làm càng nhanh, anh sẽ càng thấy dễ. Còn thằng Bếp, nếu nó không cố gắng, cứ đấm vào giữa hai mắt nó."
Tôi nhận ra lời khen ngầm và sự hài lòng trong lời chỉ dẫn của ông ta, vì trong đó không có chứa ý đe dọa nào. Chúng tôi đang quay đầu về phía tây bắc, ông ta định để tàu phóng đi ngay khi có luồng gió đầu tiên.
"Chúng ta cần có gió thổi ở hông tàu," ông ta giải thích cho tôi. "Theo như những tiếng súng cuối cùng, đoàn thuyền hẳn đã trôi về phía nam." Ông ta quay lại và bước tới tay lái. Tôi đi về phía trước và giữ vị trí của mình trước những lá buồm tam giác. Gió bắt đầu lao xao, cơn này tiếp cơn khác. Cánh buồm nhè nhẹ vẫy.
"Cảm ơn Chúa, thiên nhiên không trút hết cơn thịnh nộ của mình ra, ông Van Weyden ạ!" gã Cockney hào hứng thốt lên.
Tôi thật lòng thấy biết ơn, vì trong thời gian này tôi đã học đủ để biết, với tất cả những tấm vải bố được căng ra như vậy, những thảm họa nào đang chờ đợi chúng tôi phía trước. Những tiếng thì thầm của gió trở thành luồng hơi mạnh, những cánh buồm căng ra, tàu Bóng Ma bắt đầu di chuyển. Larsen Sói kéo mạnh tay lái về bên trái, chúng tôi bắt đầu nương theo hướng gió. Gió bây giờ đã nổi phía sau tàu, rì rầm, phần phật từng luồng ngày càng mạnh mẽ hơn, những cái buồm dây tam giác của tôi đang giữ vỗ phành phạch. Tôi không nhìn thấy chuyện gì đang diễn ra ở nơi khác, mặc dù tôi cảm nhận được con tàu chồm nhảy khi áp lực gió thay đổi tác động vào cả cánh buồm chính và mũi. Tay tôi bận bịu liên tục trên lá buồm phụ rời, buồm tam giác, buồm tam giác trước. Tới khi phần nhiệm vụ này của tôi hoàn thành, tàu Bóng Ma đã tiến thẳng về phía tây nam. Gió bên hông tàu làm các dây lèo ở mạn phải kêu vun vút. Không kịp ngừng lại để thở, với trái tim vẫn đang đập như búa gõ vì đã dùng toàn bộ sức lực, tôi nhảy ngay lên buồm đỉnh. Trước khi gió trở nên quá mạnh, chúng tôi đã xếp và cuộn buồm xuống. Sau đó, tôi trở lại khoang sau để đợi lệnh.
Larsen gật đầu khen ngợi và trao bánh lái cho tôi. Gió đều đặn hơn và biển động suốt một giờ đồng hồ khi tôi lái tàu, khó khăn tăng lên theo mỗi giây mỗi phút. Tôi không có kinh nghiệm cầm lái khi gió thổi mạn hông như vậy.
"Bây giờ hãy chạy lên và cầm ống nhòm lên, tìm kiếm những chiếc thuyền. Chúng ta đạt được tốc độ ít nhất mười hải lí và chúng ta sẽ đạt được mười hai hoặc mười ba ngay bây giờ. Con tàu già này hãy còn dẻo dai lắm. Có thể thả một số buồm dây tam giác xuống nữa," Larsen nói thêm, quay sang Mugridge:
"Ê Bếp, hạ buồm phụ rời và buồm tam giác, dây kéo buồm phải thật chắc và căng."
Tôi trèo người lên thanh ngang cột buồm mũi, khoảng hai mươi mét phía trên boong tàu.
Khi tôi dõi mắt nhìn vùng nước trống trước mặt, tôi nhận ra tại sao chúng tôi phải vội vã để cứu được người của mình. Thật vậy, khi tôi nhìn chằm chằm vào vùng biển hung dữ mà chúng tôi đang chạy qua, tôi không dám tin liệu có còn chiếc thuyền nào đang nổi.
Dường như những con thuyền mỏng manh yếu đuối đó không thể cầm cự trước của gió và nước. Tôi không thể cảm nhận được sức mạnh của gió, vì chúng tôi đang lợi dụng nó. Từ trên cao, tôi nhìn ra phía xa và bên ngoài giới hạn của tàu Bóng Ma, đuôi tàu đang cắt một đường bọt biển trắng lóa thẳng tắp như chia cắt giữa bản năng và cuộc sống. Đôi khi con tàu nhô lên, nhảy qua một con sóng lớn, rồi nhấn chìm lan can trên mạn phải và boong tàu xuống làn nước đại dương đang sôi ùng ục. Vào những lúc như vậy, theo hướng gió thổi, tôi sẽ bay lên không trung với cơn chóng mặt dù người vẫn bám chặt vào đuôi quả lắc khổng lồ treo ngược, mỗi lần đung đưa cũng phải đi hết quãng đường hai mươi mét hoặc hơn. Những cú lắc kinh khủng khiến tôi sợ hãi, tôi dùng cả tay lẫn chân bám chặt lấy cột buồm, run rẩy và kiệt quệ mất một hồi lâu và không thể dõi mắt tìm trên mặt biển những chiếc thuyền bị mất tích hoặc bất cứ thứ gì khác. Biển gầm rú bên dưới và cố gắng nhấn chìm tàu Bóng Ma.
Nhưng suy nghĩ về những người thủy thủ giữa hoàn cảnh này làm tôi vững vàng hơn, tôi cố gắng quên cả bản thân vì nhiệm vụ. Trong một tiếng đồng hồ, tôi chẳng thấy gì ngoài cảnh biển trần trụi, hoang vắng. Và rồi, nơi tia ánh sáng mặt trời chạm vào đại dương, biến mặt nước thành tấm màn bạc đầy phẫn nộ, tôi nhìn thấy một đốm đen nhỏ thoáng ló ra nơi chân trời trước khi biến mất. Tôi kiên nhẫn chờ đợi. Chấm đen nhỏ xíu đó tự tìm đường thoát ra khỏi lớp ánh sáng cuồng loạn, chếch vài độ trước mũi tàu chúng tôi. Tôi cố gắng không hét to, chỉ truyền đạt tin tức cho Larsen bằng cách vẫy tay. Ông ta thay đổi hướng đi, và tôi ra hiệu khẳng định khi đốm đen chết chóc hiện ra phía trước.
Nó lớn dần với tốc độ nhanh đến nỗi lần đầu tiên tôi thấy trân trọng tốc độ của con tàu. Larsen ra hiệu cho tôi đi xuống, tới khi tôi đứng cạnh ông ta bên bánh lái thì ông hướng dẫn cho tôi cách dừng tàu lại.
"Cứ hi vọng Diêm Vương mắc lỗi đi, nhưng đừng chỉ bám lấy suy nghĩ đó. Anh phải làm đúng công việc của mình, ra lệnh cho thằng Bếp giữ dây lèo trước."
Tôi tìm cách đưa tàu tiến về phía trước, nhưng có rất ít lựa chọn nên đi về bên nào, cả hai bên lan can đều bị chìm trong nước biển thường xuyên như nhau. Sau khi đã hướng dẫn Thomas Mugridge những gì cần làm, tôi trèo lên chỗ buộc dây buồm phía trước tàu vài mét.
Chiếc thuyền con giờ đã rất gần, tôi có thể khẳng định rằng nó đang hướng mũi thuyền ngược chiều gió và biển, bị lôi đi bởi chính cột và cánh buồm của nó, thứ đã bị ném xuống biển làm mỏ neo. Ba người đàn ông đang tát nước ra khỏi thuyền. Mỗi lần con sóng cao dâng lên che khuất họ, tôi lại phải chờ đợi với nỗi lo đến rợn người, sợ rằng họ không bao giờ trở lại nữa. Sau đó, rất đột nhiên, con thuyền lao thẳng qua ngọn sóng bạc trắng, mũi thuyền hướng lên trời, cả bụng thuyền lộ ra, ướt át và mờ mịt, cho tới khi con thuyền gần như dựng đứng. Có thể thoáng thấy ba người đàn ông tát nước điên cuồng trước khi con thuyền chuẩn bị lật úp và rơi vào cõi chết, mũi thuyền chúc xuống và để lộ ra toàn bộ phần đuôi thuyền trồi lên gần như thẳng. Nhưng sau mỗi lần như vậy, con thuyền lại xuất hiện trở lại như một phép màu.
Tàu Bóng Ma đột nhiên thay đổi hướng đi, chạy ra xa con thuyền, tôi đã sốc khi mà Larsen Sói không cứu họ như thể đó là chuyện bất khả thi. Nhưng rồi, tôi nhận ra rằng ông ta chuẩn bị cho tàu dừng lại, ông ta đi xuống boong tàu trong trạng thái sẵn sàng.
Lúc này chúng tôi đứng khựng lại trước gió, chiếc thuyền ngày càng xa hơn và đi song song với chúng tôi. Tôi cảm thấy con tàu đột ngột bật lên đi trong giây lát vì tất cả căng thẳng và áp lực đối lập với sức đẩy mạnh mẽ. Con tàu đang dồn lực để lao vào gió.
Khi con tàu vuông góc với mặt biển, lực gió đã dồn mạnh nhất và cũng là lúc chúng tôi cho tàu chạy, bắt kịp với gió. Tôi đã xui xẻo và ngu ngốc đối mặt với gió. Nó quật vào tôi như một bức tường, bơm căng lồng ngực với luồng khí mà tôi không kịp thở ra. Tôi bị bóp nghẹt, còn tàu Bóng Ma đằm mình xuống trong giây lát trước khi phô mạn tàu ra và lăn tròn thẳng vào trong gió. Tôi đã trông thấy biển lớn hiện lộn qua phía trên đầu mình. Tôi quay sang một bên, nín thở và nhìn lại. Sóng nước bao trùm lên tàu Bóng Ma, còn tôi chỉ biết nhìn chằm chằm vào nó. Ánh sáng mặt trời đâm xuyên qua cung nước, tôi có thể thoáng thấy sắc lục trong suốt lấp lánh kéo theo lớp bọt đục màu trắng sữa.
Sau đó, sóng nước đổ xuống, mọi chuyện tồi tệ theo đó cùng lúc xảy đến. Tôi bị nước quật điếng người, chẳng vào chỗ nào cụ thể mà là vào tất cả mọi nơi.
Tôi không giữ được nữa và bị chìm dưới nước, những âm thanh kinh khủng của những người bị cuốn xuống biển mà tôi từng nghe lại vang lên trong đầu. Cơ thể tôi bị va đập khi nó bất lực để nước kéo đi và lật qua lật lại, tôi không thể nín thở được nữa và vô tình hít thứ nước muối bỏng rát vào trong phổi. Nhưng xuyên suốt lúc đó tôi chỉ bấu víu lấy một suy nghĩ duy nhất – tôi phải căng cái buồm phụ ra trước gió. Tôi không sợ chết. Tôi hoàn toàn tin vào điều đó, nhưng để làm được tôi phải tìm cách di chuyển. Cái suy nghĩ phải hoàn thành mệnh lệnh của Larsen vẫn sáng lên trong trí não đã mê đi của tôi, dường như tôi vẫn thấy ông ta đang đứng trên bánh lái giữa cõi hỗn mang hoang dã, dùng ý chí của mình để đọ sức với ý chí của giông bão và thách thức nó.
Tôi bị hất vào chỗ mà tôi nghĩ là lan can, nhưng vẫn còn được hít thở không khí ngọt ngào một lần nữa. Tôi cố gắng đứng dậy, nhưng lại bị đập đầu, phải quỳ xuống, tứ chi chạm đất. Cơn sóng kì dị cuốn tôi đi đã quét xuống đầu mũi tàu và tới mắt tàu. Khi tôi bò đi bằng cả tứ chi, tôi có đi ngang qua chỗ Thomas Mugridge, hắn đang nằm một đống và rên rỉ. Không có thời gian để tìm hiểu nguyên do. Tôi phải căng cái buồm tam giác lại.
Khi tôi lên được boong tàu, dường như tận thế đã đến. Hai bên sườn tàu đều có mảnh vụn của gỗ, thép và vải bố. Con tàu Bóng Ma đã bị vặn và xé thành nhiều mảnh. Buồm mũi và buồm đỉnh trước rách tung trước gió như những sợi ruy băng, vì không có ai ở đây để kịp thu lại sợi dây lèo, những mảnh vụn rải ra khắp lan can. Không khí dày đặc với những mảnh vỡ bay tứ tung, những sợi dây thừng rời rạc và những dây néo cột buồm rít lên và cuộn như rắn, tất cả đều rơi xuống xà của buồm mũi.
Trụ cột buồm cách tôi khoảng vài phân, nó thúc đẩy tôi hành động. Có lẽ vẫn chưa hết hi vọng. Tôi nhớ lời cảnh báo của Larsen Sói.
Ông ta đã dự đoán "Diêm Vương mắc lỗi" và đúng là Diêm Vương đã đi qua đây. Ông ta đâu rồi? Tôi bắt gặp cảnh tượng ông ta đang kéo lê dây lèo chính, nâng nó lên và căng ra bằng cơ bắp vĩ đại của mình, đuôi con tàu bốc ngược lên trong không trung, bóng cơ thể ông ta in lên làn sóng trắng. Tất cả những điều này và hơn thế nữa – cả một thế giới của sự hỗn độn và xác tàu – xảy ra trong chừng mười lăm giây, tôi đã được thấy, được nghe, được chứng kiến
Tôi không dừng lại để xem chuyện gì đã xảy ra với chiếc thuyền nhỏ, mà nhảy bật đến dây lèo buồm phụ. Cánh buồm phụ đã bắt đầu vỗ, hơi phồng lên rồi xẹp xuống; nhưng với một vòng cuộn dây lèo và toàn bộ sức mạnh của mình, tôi dần kéo căng nó lại. Tôi có thể chắc chắn một điều: Tôi đã làm hết sức mình. Đột nhiên, dây kéo buồm được Mugridge bất cẩn kéo căng, hoặc những đinh giữ đã bị bật ra, cánh buồm phụ và buồm tam giác đã được kéo căng bởi bàn tay tóe máu của tôi lại tuột và vỗ phần phật vô dụng.
Nhưng tôi vẫn kéo, giữ chặt công sức của mình bằng cách quấn hai vòng dây trên tay, tới khi buồm lại dần căng ra. Rồi đột nhiên, dây lèo trở nên nhẹ hơn nhiều, Larsen Sói đang đứng sau lưng tôi, điều khiển tàu một mình trong khi tôi bận dộng với những sợi dây.
"Kéo căng ra," ông ta hét lên, "và lại đây!" Khi tôi đi theo ông ta, tôi nhận thấy bất chấp mọi sự tàn phá, con tàu về cơ bản đã lấy lại được vẻ ngăn nắp. Tàu Bóng Ma đang đi chầm chậm. Con tàu vẫn tiếp tục tuần tự tiếp tục nhiệm vụ của mình. Mặc dù phần còn lại của những cánh buồm trên tàu đã biến mất, buồm phụ vẫn căng ngược gió, buồm chính vẫn thẳng băng, chúng đang tự ghim mình xuống, đối diện với biển khơi giận dữ.
Tôi tìm con thuyền kia, còn Larsen Sói dọn dẹp đống dây dợ của thuyền. Tôi thấy nó bị cuốn về phía khuất gió cách xa tàu không đến mười lăm mét. Với sự tính toán tuyệt vời của ông ta, chúng tôi tự trôi gần sát tới nó, nên chẳng cần làm gì khác ngoài móc thuyền lại và kéo nó lên tàu. Nhưng điều này nói dễ hơn làm.
Trong mũi thuyền là Kerfoot, Oofty–Oofty ở ngồi ở đuôi, còn Kelly ở giữa. Khi chúng tôi trôi đến gần hơn, chiếc thuyền nổi trên một làn sóng trong khi chúng tôi chìm xuống trong hõm sóng gần như cao quá đầu. Tôi có thể thấy những cái đầu của ba người đàn ông đang thò cổ qua mạn thuyền nhìn xuống. Khoảnh khắc sau đó, chúng tôi lại nổi lên trong khi họ chìm sâu xuống. Không thể tin được rằng con sóng tiếp theo sẽ không đẩy tàu Bóng Ma đè bẹp nửa cái vỏ trứng dưới kia.
Nhưng đúng lúc đó, tôi kịp quăng dây cho anh bạn người Kanaka, trong khi Larsen Sói cũng làm điều tương tự với Kerfoot. Cả hai cái dây nối được móc lại trong nháy mắt. Ba người khéo léo căn chỉnh thời điểm sóng cuộn, hành động cùng một lúc. Khi Bóng Ma nâng lan can ra khỏi mặt nước, chiếc thuyền được nâng gần con tàu, và trước khi sóng cuộn trở lại, chúng tôi đã nhấc nó qua một bên và lật nó xuống boong. Tôi thấy máu phun ra từ tay trái của Kerfoot. Không biết từ lúc nào ngón tay thứ ba của anh ta đã bị nghiền nát. Nhưng anh ta không hề tỏ ra đau đớn, anh ta dùng bàn tay phải giúp chúng tôi buộc chiếc thuyền vào vị trí của nó.
"Đứng sang một bên để cái buồm phụ đó tránh qua đi, Oofty," Larsen Sói ra lệnh, ngay khi chúng tôi đã xong việc với chiếc thuyền. "Kelly, ra phía đuôi tàu và nới sợi dây lèo chính. Mày, Kerfoot, đi lên đằng trước xem thằng Bếp thế nào rồi. Anh Van Weyden, trèo lên cột buồm một lần nữa đi, cắt bỏ mọi thứ rác rưởi tùy thích." Vừa ra lệnh, ông ta đi về đuôi tàu, nhảy tới bánh lái như hổ vồ. Trong lúc tôi leo lên mạng dây thừng chằng ở cột buồm mũi, tàu Bóng Ma chầm chậm tiến lên. Lần này, khi chúng tôi đi vào hõm sóng và bị cuốn đi, nhưng không còn chiếc buồm lớn nào để bị thổi cả. Tôi đã leo được nửa đường đến chỗ thanh ngang giữ cột buồm, nép người tì vào nơi buộc dây buồm bởi gió đang thổi hết tốc lực, vì vậy tôi không thể rơi xuống khi mà tàu Bóng Ma gần như nghiêng một góc chín mươi độ, cột buồm song song với mặt nước. Lúc đó tôi không nhìn xuống, mà nhìn theo phương vuông góc với chiều thẳng đứng vào boong tàu Bóng Ma. Nhưng tôi không thấy boong tàu ở nơi đúng ra là boong tàu, vì nó bị chìm dưới làn nước lạnh lẽo. Qua làn nước này tôi có thể thấy hai cột buồm đang nổi lên, nhưng tất cả chỉ có vậy. Tàu Bóng Ma trong giây phút này đã bị chìm dưới biển. Khi con tàu lắc mình nổi lên, thoát ra từ áp lực hai bên hông, con tàu lấy lại thăng bằng và boong tàu xuất hiện trở lại, giống như lưng của một con cá voi lộ ra trên bề mặt đại dương.
Sau đó, chúng tôi điên cuồng tăng tốc băng qua vùng biển hoang vu, trong suốt thời gian đó tôi treo mình như một con ruồi trên thanh ngang cột buồm và tìm kiếm những chiếc thuyền khác. Trong nửa giờ, tôi nhìn thấy chiếc thuyền thứ hai, bị ngập và lật ngược lên, Jock Horner, Louis béo và Johnson đang tuyệt vọng bám lấy nó. Lần này tôi ở lại trên cao, và Larsen Sói đã thành công dừng tàu lại mà không bị cuốn đi. Như lần trước, chúng tôi trôi theo vòng cung đến gần chiếc thuyền. Dây dợ mau chóng được nối lại và quăng đễn chỗ những người đàn ông, họ tranh giành lên tàu như lũ khỉ. Chiếc thuyền đã bị nghiền nát và vỡ thành từng mảnh khi được kéo lên tàu; nhưng xác thuyền đã được buộc gọn lại, vì nó có thể được vá và sửa thành thuyền mới.
Một lần nữa, tàu Bóng Ma đã bị thoát được giông bão, dù lần này tàu đã chìm trong một vài giây, tôi đã nghĩ rằng con tàu sẽ không bao giờ nổi lên được nữa. Ngay cả bánh lái, khá cao so với thắt lưng, cũng từng bị nước bao phủ và quét qua hết lần này đến lần khác.
Vào những lúc như thế, tôi cảm thấy cô đơn một cách kì lạ trước Chúa, chỉ biết theo dõi sự hỗn loạn của cơn thịnh nộ của ngài. Nhưng sau đó bánh lái xuất hiện trở lại, cùng với đôi vai rộng của Larsen Sói, hai bàn tay ông ta nắm chặt tay quay và giữ con tàu đi đúng hướng bằng ý chí của mình, như một vị thần của trái đất, chế ngự cơn bão, hất dòng nước xuống và cưỡi lên nó tới nơi mình muốn tới. Và ôi chao, thật kì diệu làm sao, những người đàn ông nhỏ bé này có thể sống, hít thở và làm việc, điều khiển khối gỗ và vải mong manh yếu ớt qua này vượt qua cơn thịnh nộ khủng khiếp của thiên nhiên!
Như lần trước, Bóng Ma nhảy ra hõm sóng, nâng boong tàu lên khỏi mặt biển, và lao ra trước luồng gió rít. Bây giờ đã là năm giờ rưỡi, và nửa giờ sau, khi tia sáng cuối cùng của ngày biến mất trong hoàng hôn mờ ảo và mãnh liệt, tôi nhìn thấy chiếc thuyền thứ ba. Nó bị lật ngửa, và không hề có dấu hiệu nào của thủy thủ đoàn. Larsen Sói lặp đi lặp lại chiến thuật của mình, ghìm thuyền từ xa và sau đó đón gió và chạy vòng cung xung quanh. Nhưng lần này ông ta trượt xa hơn mười hai mét, bỏ lại chiếc thuyền sau đuôi tàu.
"Chiếc thuyền số bốn!" Oofty–Oofty hét lên, đôi mắt tinh của anh ta đọc số của nó ngay trong giây nó nhấc bổng lên rũ sạch bọt và lộn ngược.
Đó là thuyền của Henderson, cùng với Holyoak và Williams đã thất lạc, một nhóm thủy thủ vùng nước sâu khác. Họ chắc chắn đã mất tích; nhưng chiếc thuyền vẫn còn, và Larsen Sói lại liều lĩnh cố lấy lại nó. Tôi xuống boong, nhìn thấy Horner và Kerfoot đang phản đối nỗ lực vô ích đó.
"Thề có Chúa, tôi không để bất cứ cơn bão quái quỉ nào cướp mất thuyền của mình!" Ông ta hét lên, và dù bốn người chúng tôi đang đứng chụm đầu vào nhau, giọng ông ta nghe yếu ớt và xa xăm, như thể ông bị tách ra khỏi chúng tôi tới một khoảng không nào khác.
"Anh Van Weyden," ông ta gào, nhưng tôi nghe vào tai như tiếng thì thầm, "giữ cái buồm tam giác đó với Johnson và Oofty! Những người còn lại ra đuôi tàu giữ dây lèo chính! Nhanh chân lên, hoặc tôi sẽ giong buồm đưa tất cả sang thế giới bên kia! Hiểu không?" Tới khi ông ta quay mạnh bánh lái khiến tàu Bóng Ma lao ra, những người thợ săn chẳng thể làm gì khác ngoài tuân lệnh và cố gắng hết sức trong canh bạc này.
Tôi nhận ra canh bạc này mạo hiểm tới thế nào khi một lần nữa bị nhấn chìm bên dưới làn nước biển và phải bám lấy rào chắn trước cột buồm mũi để cứu lấy mạng mình. Những ngón tay của tôi bị kéo giật ra, tôi lại bị cuốn sang một bên và ném thẳng xuống biển.
Tôi không thể bơi, nhưng trước khi chìm, tôi lại bị cuốn ngược trở lại. Một bàn tay mạnh mẽ nắm lấy tôi, khi tàu Bóng Ma cuối cùng cũng nổi lên, tôi nhận ra tôi nợ Johnson mạng sống. Tôi thấy anh ta lo lắng nhìn về phía ông ta, và rằng Kelly, người đã đi lên phía trước vào phút cuối, đã mất tích.
Lần này, sau khi đã bỏ lỡ chiếc thuyền, và không còn ở vị trí tương tự như những lần trước, nên Larsen Sói buộc phải sử dụng chiến thuật khác.
Chúng tôi chạy trước đầu gió theo mạn phải, sau đó đổi hướng cho tàu vòng lại và chạy chéo theo hướng gió về bên trái..
"Tuyệt diệu!" Johnson hét vào tai tôi, lúc chúng tôi lại vượt qua con sóng khổng lồ; tôi hiểu anh ta, điều anh ta đang khen không phải tài lái tàu của Larsen Sói, mà là chiến công của tàu Bóng Ma.
Bây giờ trời tối đến nỗi không thấy dấu hiệu của chiếc thuyền nào; nhưng Larsen Sói đã kiềm chế lại trước sóng gió điên cuồng như thể được dẫn dắt bởi bản năng không khoan nhượng. Lần này, mặc dù chúng tôi thường bị chìm nửa tàu xuống, nhưng không bị con sóng nào cuốn qua. Chúng tôi vòng lại gần chiếc thuyền bị lật ngược, suýt nữa nghiền nát nó khi cố kéo nó lên tàu.
Tiếp đó là hai giờ làm việc khủng khiếp, tất cả chúng tôi – hai thợ săn, ba thủy thủ, Larsen Sói, và tôi – vật lộn với việc cuốn buồm, hết buồm đầu tới buồm khác, buồm phụ rồi buồm chính. Nhấp nhô dưới bóng tấm vải ngắn, boong tàu của chúng tôi hầu như không còn tí nước nào, tàu Bóng Ma ngụp lặn giữa những đợt sóng lớn cuồn cuộn như một nút bấc giữa đại dương.
Ngay từ đầu tôi đã bị toác hết đầu ngón tay, và trong lúc cuốn buồm tôi phải làm việc với những giọt nước mắt đau đớn chảy dài trên má. Khi mọi việc đã hoàn thành, tôi bỏ cuộc như một ả đàn bà, lăn ra trên boong tàu trong tình trạng kiệt sức.
Trong khi đó, Thomas Mugridge, trông giống như một con chuột bị chết đuối, đang bị lôi ra từ dưới đỉnh khoang mũi, nơi mà gã hèn nhát trốn. Tôi thấy gã bị kéo qua đuôi tàu vào cabin, và kinh ngạc nhận ra rằng căn bếp đã biến mất. Một khoảng trống sạch sẽ trên boong tàu thay thế cho vị trí vốn có của nó.
Trong cabin, tôi thấy tất cả mọi người đang nhóm họp, cả những thủy thủ nữa. Trước khi cà phê được đun sôi trên bếp lò nhỏ, chúng tôi uống whiskey và gặm bánh quy cứng.
Đời tôi chưa bao giờ hân hoan khi thấy đồ ăn và chưa bao giờ uống cà phê nóng ngon lành như vậy. Tàu Bóng Ma mạnh mẽ làm chồm lên, nhảy xuống, lắc lư không ngừng nên tới các thủy thủ cũng phải bám lấy thứ gì đó mới di chuyển được. Rất nhiều lần, ai đó kêu lên "Sóng đến đấy!" thế là chúng tôi xếp chồng lên nhau trên tường bên trái cabin như thể nó là boong tàu
"Cẩn thận chả được tích sự gì." Tôi nghe Larsen Sói nói thế khi chúng tôi đã ăn và uống no bụng. "Chẳng thể làm gì trên boong tàu hết. Nếu có bất cứ điều gì có thể đánh chìm chúng ta, chúng ta cũng không thể thoát khỏi con đường của nó. Nghỉ thôi, tất cả đi ngủ đi một chút."
Các thủy thủ trượt về phía trước, mở các đèn bên khi di chuyển, còn hai thợ săn vẫn ngủ trong cabin, nhưng hiện tại mà đi mở cửa trượt vào buồng lái thì không được khôn ngoan cho lắm. Kerfoot ngồi giữa Larsen Sói và tôi, chúng tôi cắt ngón tay đã dập nát của anh ta và khâu chỗ cụt lại. Mugridge, kẻ bị buộc phải nấu nướng và phục vụ cà phê, giữ lửa cháy, cứ phàn nàn về những chỗ đau âm ỉ, đang thề rằng gã đã bị gãy một hoặc hai cái xương sườn. Khi kiểm tra, chúng tôi thấy rằng gã bị gãy ba cái. Nhưng thương tích của gã phải chờ đến ngày mai, chủ yếu là vì tôi không hiểu gì về gãy xương sườn, trước tiên tôi phải tìm hiểu đã.
"Tôi nghĩ nó không đáng," tôi nói thế với Larsen Sói, "một chiếc thuyền hỏng đổi lấy mạng sống của Kelly."
"Nhưng Kelly chẳng đáng giá bao nhiêu," là câu trả lời.
"Chúc ngủ ngon."
Sau khi tất cả mọi việc, với đầu ngón tay tôi đau không chịu nổi, ba chiếc thuyền đang mất tích, chưa kể đến những con sóng hung dữ tàu Bóng Ma đang nhảy qua, tôi đã cho rằng mình không thể ngủ được. Nhưng mắt tôi khép lại ngay khi đầu chạm vào gối, và trong tình trạng hoàn toàn kiệt sức, tôi ngủ suốt đêm, còn tàu Bóng Ma vẫn chiến đấu qua cơn bão theo cách của mình giữa cô đơn và vô định.
[1] Xem chú thích số 26