[Dịch] The Sea Wolf (Sói Biển) - Jack London

Thảo luận trong 'Truyện Hay' bắt đầu bởi Chanh97hh, 15 Tháng mười 2018.

  1. Chanh97hh

    Bài viết:
    73
    The Sea Wolf (Sói biển)

    Tác giả: Jack London

    Dịch Giả: Chanh97hh

    Thể loại: Tiểu thuyết kinh điển​

    Chàng thanh niên Humphrey bị nạn trên biển. Chàng trai được con thuyền Ma (Ghost) do thuyền trưởng Larsen vớt lên. Từ đây, chàng thanh niên bắt đầu cuộc phiêu lưu trên con thuyền Ma của tên thuyền trưởng độc ác - Sói biển Larsen.

    Cuộc sống trên con tàu giống địa ngục hơn thế giới loài người, những thủy thủ lúc nào cũng say khướt giống súc vật hơn người, những thợ săn hải cẩu man rợ, nay đây mai đó, không biết trật tự của thế giới văn minh là gì. Tất cả đều nô lệ cả linh hồn lẫn thể xác cho tên Sói Biển.

    Humphrey được cuộc sống trên tàu rèn luyện ngày càng trở nên cứng rắn. Chàng trai mơ tới việc giết con Quái vật trên tàu, nhưng thực ra chàng bị mê hoặc và cảm thấy chùn tay, cũng như một quái vật ghê hồn hoặc một mãnh thú oai vệ thường làm các thợ săn không dám giết. Chàng trai biết thế giới này không thể chứ chấp hạng người như y, nhưng chàng vẫn cúi đầu tuân phục y.

    Ý chí chàng không đủ mạnh hay sức lực chàng không đủ? Và tên quái vật Sói Biển có còn tiếp tục gieo giắc điều ác độc?

    Sói biển đưa độc giả vào một cuộc hành trình phiêu lưu kỳ thú trên nền thiên nhiên hùng vĩ như hầu hết các tác phẩm của Jack London. Ông đem tình yêu thiên nhiên phả hồn vào tác phẩm, cùng những ý tưởng độc đáo hấp dẫn người đọc khám phá qua từng trang sách, cùng phiêu lưu với trí tưởng tượng của mình.

    Trở thành tác phẩm Bestseller ngay trong lần xuất bản đầu tiên, Sói biển cũng trở thành tác phẩm văn học kinh điển trong nền văn học thế giới.

    * * *

    Link thảo luận góp ý: Các Tác Phẩm Của Chanh97hh
     
  2. Chanh97hh

    Bài viết:
    73
    Chương 1

    Bấm để xem
    Đóng lại
    Tôi chẳng biết bắt đầu từ đâu nữa, dù đôi lúc vẫn bông đùa rằng mọi chuyện đều do Charley Furuseth mà ra cả. Anh ta có một căn nhà nghỉ mùa hè ở Mill Valley[1] dưới bóng ngọn núi Tamalpais[2], tuy chẳng bao giờ đến đó ở trừ khi để tha thẩn trong những tháng mùa đông và thư giãn đầu óc bằng sách của Nietzche[3] hay Schopenhauer[4] . Khi mùa hè đến, anh thích đổ mồ hôi làm việc cật lực không ngừng nghỉ trong bầu không khí nóng nực và bụi bặm của thành phố hơn. Nếu không phải do thói quen hối hả tới gặp anh vào mỗi chiều thứ bảy và ở lại cho đến sáng thứ hai thì tôi đã chẳng lênh đênh trên vịnh San Francisco vào buổi sáng thứ hai của tháng giêng đặc biệt ấy.

    Tôi đã ở trên một phương tiện rất an toàn, bởi Martinez là con phà chạy bằng hơi nước còn mới tinh, đang đi chuyến thứ tư hay năm gì đó giữa Sausalito và San Francisco. Nếu có nguy hiểm, thì đó là làn sương dày phủ kín vịnh, nó khiến một người vốn quen sống trên đất liền như tôi thấy có chút bồn chồn. Thực ra, tôi nhớ mình đã có cảm giác phấn khích tuy không bộc lộ ra ngoài khi ngồi xuống hàng ghế phía trước boong trên cùng, ngay bên dưới buồng lái và để cho sự bí ẩn của màn sương điều khiển trí tưởng tượng của mình. Một làn gió mát mẻ thổi qua, trong khoảnh khắc đó, tôi thấy cô độc giữa bức màn vô minh ẩm ướt; nhưng không hẳn là cô độc vì tôi vẫn lờ mờ ý thức được sự hiện diện của người lái tàu và người mà tôi đoán là thuyền trưởng bên trong phòng kính trên đầu mình.

    Tôi vẫn nhớ suy nghĩ thoải mái lúc đó, nhờ phân công lao động nên tôi không cần phải nghiên cứu sương mù, gió, thủy triều và phương hướng để tới thăm người bạn bên kia eo biển. Tôi thầm nghĩ, may mắn thay loài người đã biết chuyên môn hóa. Vốn kiến thức chuyên môn của lái tàu và thuyền trưởng đủ để phục vụ cho hàng ngàn người không biết gì về biển cả và định hướng như tôi. Mặt khác, thay vì tốn công sức học vô số thứ, tôi có thể tập trung vào một số thứ nhất định, ví dụ như nghiên cứu vị trí của Poe[5] trong nền văn học Mĩ – nhân tiện, đó cũng là tên một bài luận của tôi bấy giờ vừa được đăng trên tờ "Đại Tây Dương". Lúc lên tàu và đi ngang qua cabin, đôi mắt tham lam của tôi để ý thấy một quý ông mập mạp đang đọc báo "Đại tây Dương", mở ngay đúng bài luận đó của tôi. Lại một lần nữa, phân công lao động và kiến thức chuyên môn của lái tàu và thuyền trưởng đã cho phép quý ông mập mạp kia có thể đọc kiến thức chuyên môn của tôi về Poe trong khi họ đưa ông ta an toàn từ Sausalito tới San Francisco.

    Một người đàn ông mặt đỏ au đóng sầm cửa cabin đằng sau lưng và khập khiễng bước ra boong tàu, cắt đứt dòng suy nghĩ của tôi, dù tôi đã nhẩm được chủ đề cho bài luận dự kiến sẽ viết và đặt tựa là "Sự cần thiết của tự do: Lời cầu xin cho nghệ sĩ". Người đàn ông có gương mặt đỏ au liếc nhìn lên buồng lái, đoạn dõi mắt vào màn sương ngoài khơi, bước từng bước nặng chịch trên boong tàu (hẳn ông ta phải lắp một đôi chân giả) rồi đứng im lìm bên cạnh tôi, dang rộng đôi chân với vẻ mặt đầy thích thú. Tôi đã không nhầm khi quả quyết rằng ông ta dành nhiều thời gian của đời mình trên biển.

    "Cái thời tiết kinh khủng này sẽ khiến bọn họ già sớm mất thôi," ông nói, hất đầu về phía buồng lái.

    "Tôi không nghĩ nghiêm trọng tới mức đó đâu," tôi trả lời. "Dễ như ăn kẹo thôi mà. Họ biết phương hướng nhờ la bàn, biết cả khoảng cách và tốc độ nữa. Cái này phải gọi là tất định toán học."

    "Nghiêm trọng!" Ông ta khịt mũi. "Dễ như ăn kẹo! Tất định toán học!" Ông ta xốc người thẳng dậy, cứ như thể đang tựa người vào không khí mà nhìn tôi chằm chằm. Thế còn cơn thủy triều đang cuốn qua Cổng Vàng[6] thì sao? "Ông ta gắt, rống lên thì đúng hơn." Nước rút nhanh thế nào? Cuốn đi những gì, hả? Dựa cột mà nghe cho kỹ đi! Chúng ta đang ở trên một cái phao chuông! Nhìn họ đổi hướng đi! "Trong màn sương mù dày đặc bỗng vang lên tiếng chuông đầy ảm đạm và tôi có thể nhìn thấy người lái tàu vội vã xoay bánh lái. Tiếng chuông trước đó có vẻ như đang ở đằng trược thì giờ lại vang lên ở mạn tàu. Còi của chúng tôi thổi ù đặc, thi thoảng bị xen ngang bởi âm thanh của những tiếng còi khác vọng lại qua màn sương.

    " Đó là một con phà nào đó, "người đàn ông mới đến nói, chỉ về bên phải nơi phát ra tiếng còi." Kia kìa! Anh có nghe thấy không? Thổi bằng miệng đấy. Chắc là một chiếc thuyền buồm rồi. Để ý vào, anh chàng Thuyền buồm. Ôi, tôi biết ngay mà. "Chiếc phà khuất trong sương phát ra tiếng tù và từng hồi nối tiếp nghe đến là rùng rợn.

    " Họ đang chào hỏi và cố lách qua nhau đấy, "người đàn ông mặt đỏ tiếp tục, khi thấy tiếng còi gấp gáp đã ngừng lại.

    Khuôn mặt ông ta sáng lên, đôi mắt hấp háy đầy phấn kích, miệng vẫn thông dịch ngôn ngữ của những tiếng còi và tù và." Còi hơi kêu một tiếng, con tàu di chuyển về phía bên trái đằng kia. Anh có nghe thấy tiếng còi nghèn nghẹt đó không – theo như tôi đoán, đò là tàu buồm hơi đang đi ngược lại dòng thủy triều. "Một tiếng còi chói tai rung lên như thể sắp nổ tung truyền tới từ phía trước, ồn ào như đã ở sát chúng tôi. Tiếng cồng vang khắp con phà Martinez. Guồng con phà của chúng tôi dừng lại, nhịp quay chậm dần rồi ngưng hẳn trước khi khởi động lại. Tiếng còi điếc tai ré lên như âm thanh của một chú dế giữa tiếng gầm của những con thú lớn, vang xuyên qua màn sương mù sáng phía bên kia rồi lặng dần, lặng dần. Tôi quay sang người bạn đồng hành của mình, chờ ông giải thích.

    " Vậy mà bọn chúng vẫn dám hạ thủy cơ đấy, "ông nói." Giá mà chúng ta đánh chìm được chúng, lũ khốn nạn! Chúng là nguyên nhân của mọi rắc rối. Chúng nào có tốt đẹp gì đâu! Bất kì tên ngốc nào cũng tưởng cứ lên tàu là sẽ biết điều khiển, huýt sáo chỉ huy và hợm hĩnh bắt cả thế giới phải dè chừng vì gã không thể tự lo thân được mà vẫn cứ lái! Anh cũng phải dè chừng đấy. Thế nào là đúng hướng! Thế nào là phép tắc thông thường! Bọn chúng đều chẳng biết gì! "Thói nóng nảy vô cớ đó của ông ta khiến tôi cười thầm. Trong khi ông ta rủa xả với tâm trạng thất thường, thì tôi bị choáng ngợp bởi màn sương đầy lãng mạn. Đúng như thế thật, lớp sương mù như một tấm màn màu xám khổng lồ chứa đựng những bí ẩn vô cùng, bao trùm lên khắp nơi trên trái đất. Trong màn sương ấy, con người chỉ như những đốm lửa nhỏ, bị nguyền rủa phải mang đam mê quái đản với công việc, cưỡi những chiến xa bằng gỗ và thép băng vào giữa vùng bí ẩn, mò mẫm tìm đường ra khỏi thế giới vô định với trái tim tràn ngập hoang mang và sợ hãi.

    Tiếng nói của người bạn đồng hành khiến tôi bật cười thoát khỏi dòng suy nghĩ. Tôi cũng là một trong những kẻ đang mò mẫm và bối rối, vậy mà đôi lúc cứ tưởng bản thân đã tinh tường mọi điều bí ẩn.

    " Xin chào! Có người đang đi về phía tôi đấy. "Ông ta nói." Anh có nghe không? Đi rất nhanh, ngay sát bên cạnh. Dám chắc lái tàu chưa nghe thấy tôi đâu. Ngược chiều gió mà. "Cơn gió mát lành đang thổi thẳng vào chúng tôi, tôi chỉ nghe được tiếng còi mơ hồ chênh chếch về phía trước.

    " Lại là phà sao? "Tôi hỏi.

    Ông ta gật đầu, rồi nói thêm:" Hay hắn không thể điều khiển nổi rồi. "Ông bật cười khan." Họ thấy lo rồi đấy. "Tôi ngước nhìn lên. Viên thuyền trưởng nhỏng cả đầu và vai ra khỏi buồng lái, nhìn chăm chú vào màn sương như có thể đâm xuyên qua nó bằng sức mạnh ý chí của mình vậy. Khuôn mặt ông đầy vẻ lo lắng, không khác mấy so với người bạn đồng hành của tôi – người đang bước khập khiễng lại gần lan can, nhìn xoáy vào nỗi nguy hiểm vô hình phía trước.

    Sau đó tất cả mọi thứ xảy ra nhanh đến mức không thể tưởng tượng nổi. Làn sương mù bị xé toạc bởi mũi tàu hơi nước, từng lớp sương khói cuồn cuộn bên thân tàu như rong biển bám trên mõm thủy quái Leviathan[7] . Tôi vẫn nhìn thấy được buồng lái và bộ râu trắng phớ của vị thuyền trưởng đang tì tay lên nó. Ông mặc một bộ đồng phục xanh dương, trông chỉnh chu và câm lặng làm sao. Trong trường hợp này, sự câm lặng ấy thật đáng sợ. Ông ta đã chấp nhận, thậm chí mở rộng tay đón chờ số phận thảm khốc, và chỉ bình tĩnh đánh giá cú va chạm. Lúc tì tay lên mặt kính, đôi mắt phán đoán bình thản của ông ta liếc qua chúng tôi để tìm kiểm địa điểm chính xác của vụ đắm tàu, hoàn toàn không để ý bất cứ điều gì khi người lái tàu của chúng tôi hét lên với gương mặt trắng bệch vì tức giận," Giờ các người tiêu đời! "

    " Bám chặt vào thứ gì đó mau! "Người đàn ông mặt đỏ nói với tôi. Ông ta không còn lải nhải nữa, dường như đã bị lây sự bình tĩnh bất thường của thuyền trước." Nghe tiếng phụ nữ hét đi, "ông ta nặng nề nói, nghe cay đắng nữa là khác, khiến tôi thầm nghĩ không chừng ông ta đã trải qua chuyện tương tự rồi.

    Hai con tàu va vào nhau trước khi tôi có thể làm theo lời khuyên của ông ta. Tàu chúng tôi hẳn đã bị đâm ngay chính giữa, vì ở vị trí này tôi không nhìn thấy gì nữa, hẳn là con tàu hơi nước kì lạ đã thoát khỏi tầm nhìn của tôi. Con phà Martinez đột ngột hạ xuống, ván gỗ bị vỡ tung dập nát. Tôi bị hất xuống boong tàu ướt đẫm, trước khi có thể chống chân đứng dậy tôi đã bị chìm trong tiếng phụ nữ la hét. Tôi tin chắc rằng thứ âm thanh hãi hùng khó bút mực nào diễn tả đó đã khiến tôi hoảng loạn.

    Tôi nhớ phao cứu sinh được cất trong cabin, nhưng bị kẹt ở cửa và cuốn ngược lại bởi cơn sóng những con người kinh hoảng. Những gì xảy ra trong vài phút tiếp theo, tôi chẳng còn nhớ nổi. Nhưng tôi nhớ rõ mình đã kéo những cái phao cứu sinh từ giá phía trên đầu xuống để người đàn ông mặt đỏ buộc nó quanh thân thể một nhóm phụ nữ đang khiếp hãi. Kí ức ấy rõ rệt và sắc nét chẳng khác nào ảnh chụp. Kí ức ấy là một bức ảnh, lúc này tôi vẫn có thể thấy rất rõ – mép lỗ lởm chởm bên sườn cabin hút màn sướng xám xoáy tròn qua; những ghế đệm bông trống không phủ đầy đủ rác rưởi bị hất lên từ cú va chạm với những cơ man hành lí, túi da xách tay, ô dù, rồi khăn quàng; quý ông mập mạp từng đọc bài luận của tôi quấn mình trong bấc gỗ và vải bố, tay vẫn cầm cuốn tạp chí, miệng gặng hỏi tôi bằng giọng thẳng băng rằng liệu có nguy hiểm nào không; người đàn ông mặt đỏ tập tễnh bước vòng trên đôi chân giả, buộc phao cứu sinh lên tất cả những ai tới gần; và đương nhiên, tiếng phụ nữ la hét điên cuồng.

    Tiếng phụ nữ la hét là âm thanh thử thách tinh thần tôi nhất. Hẳn âm thanh ấy cũng thử thách tinh thần của người đàn ông mặt đỏ, thế nên trong đầu tôi còn một hình ảnh không bao giờ phai mờ khác. Quý ông mập mạp nhét cuốn tạp chí vào túi áo khoác ngoài và tò mò nhìn xung quanh. Nhóm phụ nữ quấn vào nhau với những khuôn mặt trắng bệch méo xệch, những cái miệng há hốc hét lên từng hồi điệp khúc của những hồn ma lạc lối. Gương mặt vốn đỏ au của người đàn ông kia giờ đã tím đi vì giận giữ. Ông giơ hai tay lên quá đầu như đang thu lấy sấm sét và hét lên," Im đi! Ôi, im ngay! "Tôi nhớ đã cảm thấy khung cảnh đó hài hước tới nỗi bật cười to, tuy nhiên ngay giây tiếp theo, tôi nhận ra mình cũng đang trở nên kích động; vì những người đó là phụ nữ là đồng loại của tôi, họ giống như mẹ, như chị em tôi nhưng lại chìm trong nỗi sợ hãi cái chết cận kề mà lòng không muốn chết. Tôi cũng nhớ mình đã liên tưởng âm thanh họ tạo ra với tiếng lợn kêu ré dưới lưỡi dao của người bán thịt. Phép so sánh ấy rõ ràng tới mức khiến tôi rùng mình sợ hãi. Những người phụ nữ luôn sẵn trong mình những cảm xúc cao quý nhất, lòng trắc ẩn dịu dàng nhất đang há hốc miệng gào thét. Họ muốn sống, nhưng họ thấy bất lực như chuột nằm trong bẫy, họ chỉ biết la hét.

    Nỗi sợ hãi đẩy tôi lên boong tàu. Tôi ngồi xuống một băng ghế, cảm thấy phát bệnh và buồn nôn. Tôi mơ hồ thấy và nghe tiếng cánh đàn ông xô chạy và la hét cố gắng hạ thấp những con thuyền cứu sinh. Dường như tôi đã đọc thấy những cảnh này được mô tả trong sách. Tời bị kẹt. Không có thứ gì hoạt động. Một con thuyền đã mở nút lỗ thoát nước, chứa đầy phụ nữ, trẻ em, và cả nước được hạ xuống và lật nhào. Một thuyền khác chỉ được hạ xuống một đầu, đầu còn lại treo tòng teng trên tời và bị bỏ đó luôn. Con tàu hơi nước quái đản là nguyên do của thảm họa này thì không thấy bóng dáng đâu, nhưng tôi có nghe cánh đàn ông nói rằng chắc chắn nó sẽ gửi thuyền cứu sinh sang hỗ trợ.

    Tôi đi xuống boong dưới. Phà Martinez đang chìm rất nhanh, nước sắp lên tới đây rồi. Rất nhiều hành khách liều nhảy xuống biển. Những người khác, vốn đã ở trong nước, lại kêu la muốn lên tàu. Không ai để ý tới họ. Một tiếng thét thảm thiết vang lên rằng chúng tôi đang chìm. Tôi bị nhấn chìm trong nỗi hoảng loạn nối tiếp, sóng người xô đẩy tôi tới mạn tàu. Tôi không hiểu tại sao mình lại bị dạt ra ngoài sườn tàu, nhưng tôi đột ngột hiểu ra tại sao những người đang ở dưới nước lại muốn lên bờ đến thế.

    Nước rất lạnh, lạnh như dao cắt. Da tôi rát chẳng khác nào bị lửa thiêu. Hơi lạnh thấm vào tận tủy. Tôi cảm thấy tử thần vừa nắm lấy mình. Tôi há hốc miệng vì cơn đau đột ngột chui vào trong phổi trước khi phao cứu sinh đẩy tôi lên mặt nước. Vị muối mặn chát trong miệng, trực chờ tràn vào cổ họng và phổi.

    Nhưng cái lạnh mới là thứ đáng sợ nhất. Tôi cảm thấy mình chỉ chịu được vài phút nữa mà thôi. Người tôi đang vật lộn vẫy vùng trong làn nước xung quanh tôi. Tôi có thể nghe thấy tiếng họ hét gọi nhau. Tôi cũng nghe thấy tiếng mái chèo nữa.

    Rõ ràng con tàu hơi nước kì quặc kia đã hạ thuyền cứu hộ xuống. Từng giây trôi qua, tôi kinh ngạc rằng mình vẫn sống. Hai chân tôi chẳng còn cảm giác gì và cái lạnh tê tái đang dần siết lấy trái tim tôi để tràn vào nó. Những cơn sóng nhỏ đỉnh ngầu bọt liên tục đập vào người, chui vào miệng, cuốn tôi mỗi lúc một gần vào đỉnh điểm của bi kịch.

    Âm thanh mờ xa dần, dù tôi vẫn nghe những tiếng la hét tuyệt vọng dồn dập ở phía xa báo hiệu rằng phà Martinez đã chìm. Không biết bao lâu sau, tôi mới hồi thần lại và bắt đầu sợ hãi. Tôi đang ở một mình, không còn nghe thấy tiếng gọi hay gào khóc nào nữa, chỉ còn tiếng sóng biển vang lên trong màn sương trống rỗng không hồi kết. Cơn hoảng loạn khi ở trong đám đông có cùng chung lợi ích và mối bận tâm được chia sẻ, nên không tệ hại bằng cơn hoảng loạn khi chỉ có một mình, và tôi đang chịu một cơn hoảng loạn như thế. Tôi đang trôi về đâu? Người đàn ông mặt đỏ đã nói thủy triều cuốn qua eo biển Cổng Vàng. Liệu tôi có bị cuốn ra biển không? Phao cứu sinh này sẽ chịu được sức nặng của tôi chứ? Liệu nó có vỡ ra thành từng mảnh bất cứ lúc nào hay không? Tôi được kể rằng những thứ này làm từ giấy ép rỗng, thứ sẽ hút nước rất nhanh rồi không thể nổi được nữa. Tôi không biết kiểu bơi nào, lại chỉ có một mình trôi nổi giữa cõi mênh mông xám nguyên thủy này. Tôi phải thú nhận, sự điên cuồng đã chiếm lấy tôi, khiến tôi rít lên the thé như đám phụ nữ, đập nước điên cuồng bằng bàn tay đã tê dại của mình.

    Tôi không biết bao nhiêu thời gian đã trôi qua. Tôi đã bất tỉnh, không còn nhớ gì hơn ngoài cơn mộng mị khó nhọc và đau đớn.

    Tôi cảm giác mình chỉ tỉnh lại sau hàng thế kỉ, để thấy ngay trước mặt mình, mờ trong sương, là mũi một con tàu với ba cánh buồm tam giác, từng cánh ôm lấy nhau căng phồng gió. Mũi tàu rẽ nước làm đôi, tạo nên từng mảng bọt reo liu riu. Mũi tàu hình như đang nhằm thẳng vào tôi. Tôi cố thét lên, nhưng đã kiệt sức. Mũi tàu lao tới, nhưng trượt qua và hất văng sóng nước lên đầu tôi. Sau đó thì sườn tàu dài và đen thẫm lướt tới, gần tới nỗi tôi giơ tay là chạm được. Tôi cố níu lấy nó, với quyết tâm điên rồ nhất định phải bấu chặt móng tay vào gỗ; nhưng cánh tay tôi nặng trịch và vô dụng. Tôi cố gọi lần nữa, nhưng vẫn không phát ra được âm thanh nào cả.

    Đuôi tàu tiến tới, đập xuống nước, khi ấy, giữa khoảng trống giữa các cơn sóng, tôi thoáng thấy một người đàn ông đang cầm bánh lái và một người nữa đang vừa làm gì đó vừa hút thuốc lá. Tôi thấy khói thuốc bay ra khỏi môi ông ta khi ông quay đầu liếc nhìn sóng nước đang ôm lấy tôi. Cử chỉ đó hoàn toàn vô tình, không hề có dự định trước, một cử chỉ tình cờ mà những người đàn ông vẫn thường làm khi họ không có dự định đặc biệt nào trong đầu, nhưng vẫn làm vì họ vẫn đang sống và phải hoạt động.

    Cử chỉ vô tình đó lại định đoạt sự sống và cái chết. Tôi có thể nhìn thấy con tàu đang bị màn sương nuốt lấy; tôi thấy lưng của người đàn ông cầm bánh lái, đầu của người kia quay lại, chầm chậm, ánh mắt ông ta dính vào làn nước và đưa về phía tôi. Vẻ mặt ông trống trỗng, như đang chìm trong suy nghĩ, khiến tôi sợ rằng ông ta tuy đã nhìn vào tôi nhưng lại không thấy tôi.

    Nhưng ông ta đã nhìn vào tôi, nhìn thẳng vào tôi và nhìn thấy tôi; thế nên ông ta nhảy tới bánh lái, đẩy người kia ra và quay tròn nó từ bên này sang bên kia, rồi hét lên ra lệnh điều gì đó. Con tàu trông như đang chệch hướng theo đường tiếp tuyến so với con đường đã định và ngay lập tức biến khỏi tầm nhìn vào trong sương.

    Tôi cảm thấy bản thân đang lịm đi, dù cố dùng tất cả sức mạnh ý chí để chiến đấu với bóng tối và cơn mê nghẹt thở đang tràn vào trong mình. Một lúc sau, tôi nghe thấy tiếng mái chèo và tiếng gọi của một người đàn ông tiến lại gần. Khi ông ta tới gần hơn, tôi nghe thấy ông hét bằng giọng bực bội như thế này:

    " Thế nào – sao anh không hét lên hả?"Nói tôi đây mà, tôi nghĩ, trước khi để bóng tối và mê muội đánh bại mình.

    [1] Thành phố thuốc hạt Marin, California, Mĩ

    [2] Một đỉnh núi ở hạt Marin

    [3] Friedrich Wilhelm Nietzsche – một nhà triết học người Phổ

    [4] Arthur Schopenhauer – một nhà triết học người Đức

    [5] Edgar Allan Poe – nhà văn, nhà viết kịch, nhà phê bình, nhà thơ Mĩ

    [6] Hay Golden Gate, một eo biển Bắc Mĩ nối vịnh San Francisco và Thái Bình Dương

    [7] Leviathan là một loài sinh vật biển thần thoại xuất hiện trong Kinh Thánh.
     
    Nguyễn Ngọc Nguyên thích bài này.
    Last edited by a moderator: 3 Tháng ba 2019
  3. Chanh97hh

    Bài viết:
    73
    Chương 2

    Bấm để xem
    Đóng lại
    Hình như tôi đang đu đưa theo một điệu nhạc quyền năng băng qua khoảng không rộng lớn. Những đốm sáng tóe ra và bắn qua người tôi. Tôi nhận ra chúng là những tinh tú và sao chổi cháy rực kết bạn đồng hành cùng chuyến bay giữa những mặt trời của mình. Đôi cánh của tôi đã không còn chịu nổi, chuẩn bị chao lượn xuống, một tiếng cồng vang lên như sấm dậy vang dội xuyên suốt không gian vô định. Trong một khoảng thời gian không rõ bao lâu, trong tĩnh lặng của những nếp nhăn giữa các thế kỉ an nhiên, tôi tận hưởng và chiêm nghiệm chuyến bay vĩ đại của mình.

    Nhưng có một điều khác lạ xảy ra giữa giấc mơ, hay ít nhất là tôi cho rằng đây là giấc mơ. Nhịp đu đưa của tôi gấp hơn. Tôi bị quăng điên cuồng từ bên này sang bên kia. Tôi sợ tới ná thở khi bị cuốn xuyên qua thiên đàng. Tiếng cồng như sấm rền vang đều đặn và cuồng nộ hơn. Tôi chờ đợi nó trong nỗi sợ không tên. Sau đó, tôi cảm thấy như bị kéo đi trên nền cát thô ráp, trắng lóa và nóng cháy dưới ánh mặt trời. Cảm giác này đi cùng nỗi đau khó lòng diễn tả. Da tôi bỏng rát trước hơi nóng dữ dội.

    Tiếng cồng rền vang. Những đốm sáng lấp lánh chiếu qua tôi thành một dòng sông ánh sáng, như thể cả thiên hà đang rơi xuống vào một hố sâu không đấy. Tôi há hốc miệng, khó khăn hít thở và mở mắt. Hai người đàn ông đang quỳ gối cạnh tôi, làm việc riêng của mình. Nhịp đu đưa kì diệu mà tôi cảm thấy là do nhịp chuyển động của con tàu trên mặt biển. Tiếng cồng khủng khiếp là tiếng chảo rán treo trên tường, va đập và rung lên theo nhịp lắc của tàu. Nền cát thô ráp nóng rát là bàn tay cứng rắn của người đàn ông đang xoa bóp lồng ngực trần của tôi. Tôi co người lại vì cơn đau nó mang lại, hơi ngóc đầu lên. Ngực tôi đỏ rực, tôi có thể thấy những đốm máu li ti đang nổi lên trên lớp da bị xước và xưng.

    "Được rồi đấy, Yonson," một người nói, "Mày không thấy là mày sắp mài rách da quý ông này rồi hả?" Người được gọi là Yonson có dáng vẻ của kiểu người Bắc Âu[1] cục mịch ngừng tay xoa bóp và lúng túng đứng thẳng dậy. Người đàn ông nói chuyện với anh ta hẳn là một người Cockney[2], vì gương mặt với những đường nét rõ ràng và khá xinh đẹp, tới nỗi có phần mềm yếu, đó là gương mặt của một người đã hấp thụ tiếng chuông nhà thờ St. Mary–le–Bow[3] cùng dòng sữa mẹ. Anh ta mang một cái mũ nồi trên đầu và một cái túi vải đay bẩn thỉu lủng lẳng nơi hông, chứng tỏ bản thân là đầu bếp của căn bếp nhếch nhác mà tôi thấy mình ở trong. "Ông cảm thấy sao rồi, thưa ông?" Anh ta hỏi, nụ cười giả lả chỉ có thể được kế thừa từ nhiều thế hệ tổ tiên chuyên đòi tiền boa.

    Để đáp lại, tôi vặn vẹo yếu ớt cố ngồi dậy, và được Yonson đang đứng ngay cạnh chân giúp. Tiếng chảo va đập lạo xạo ong lên trong đầu tôi. Tôi chẳng thể suy nghĩ gì nổi. Tôi bám lấy giá gỗ trong bếp để đứng dậy – tôi phải thú nhận lớp mỡ nhờn trên đó khiến tôi phát tởm – đoạn vươn tay qua bếp lò nóng tới chỗ giá treo ồn ào kia, tháo nó ra và vặn chặt lại vào hộp than.

    Đầu bếp cười toe trước cách tôi thể hiện nỗi bực dọc của tôi, anh ta nhét vào tay tôi một cái cốc còn bốc hơi với câu nói "Đây, sẽ khiến ông ổn ngay."

    Thứ nước hỗn tạp kinh muốn chết – tôi đang nói về cốc cà phê trên tàu này – nhưng hơi nóng của nó khiến tôi như sống lại. Mỗi lần nuốt thứ chất lỏng nóng chảy ấy, tôi lại liếc nhìn lồng ngực đỏ rực và bầm máu của mình, rồi quay sang anh chàng Bắc Âu.

    "Cám ơn, thưa anh Yonson," tôi nói "nhưng anh có nghĩ anh hành động hơi mạnh mẽ quá không?" Anh ta hiểu ý khiển trách trong hành động hơn là lời tôi nói, nên anh ta đưa tay ra cho tôi kiểm tra. Chúng đầy những vết chai. Tôi đưa tay qua lớp sa sần sùi ấy, lại thấy kinh tởm vì cảm giác thô ráp nó mang lại.

    "Tên tôi là Johnson, không phải Yonson," anh ta nói tiếng Anh khá rõ ràng dù rất chậm, không hề pha chút giọng địa phương nào.

    Sự phản đối trong đôi mắt xanh nhạt cùng vẻ chân chất pha chút ngượng ngùng và rất đàn ông của anh ta khiến tôi cảm mến.

    "Cám ơn, thưa anh Johnson," tôi sửa lại, vươn tay ra.

    Anh ta ngập ngừng, ngại ngùng và bẽn lẽn, hai chân đổi trọng tâm liên tục rồi mới ngờ nghệch nắm lấy bàn tay tôi và lắc nhiệt tình.

    "Liệu anh có bộ quần áo khô nào mà tôi mặc được không?" Tôi hỏi đầu bếp.

    "Có, thưa ông," anh ta mau mắn đáp. "Tôi sẽ chạy xuống kiểm tra lại thùng của mình, nếu ông không từ chối mặc đồ của tôi, thưa ông."

    Anh ta biến khỏi cửa bếp, trượt qua thì đúng hơn, vì bước chân nhanh nhẹn và lanh lẹ như bôi mỡ đó tạo cho tôi ấn tượng về sự trơn tru nhiều hơn là êm ái. Thực ra, sự trơn tru đó, hay nhầy nhụa đó, như sau này tôi mới hiểu, là biểu hiện nổi bật nhất trong tính cách anh ta.

    "Tôi đang ở đâu vậy?" Tôi hỏi Johnson, người tôi đoán là – và đã đoán đúng – là một thủy thủ. "Đây là tàu gì? Nó đang đi đâu?"

    "Rời Farralones[4], hướng về phía Tây Nam," anh ta chậm rãi đáp, như thể đang cố moi ra vốn tiếng Anh tốt nhất của mình, và trả lời tuần tự đúng theo thứ tự câu hỏi của tôi. "Tàu buồm Bóng Ma, đi đánh bắt hải cẩu tới Nhật."

    "Thuyền trưởng là ai vậy? Tôi phải gặp ông ta ngay khi đã ăn mặc đàng hoàng." Johnson tỏ vẻ bối rối và xấu hổ. Anh ta băn khoăn lựa chọn những từ mình biết để tạo thành câu hoàn chỉnh. "Thuyền trưởng là Larsen Sói, đó là cách mọi người gọi ông. Tôi chưa từng nghe ông ta có tên nào khác. Nhưng anh phải nói chuyện cẩn thận trước ông ta. Sáng nay ông ta rất tức giận. Thuyền phó.." Anh ta không thể nói hết. Đầu bếp đã trượt trở vào.

    "Mày biến đi là hơn, Yonson," anh ta nói. "Lão Già đang đợi mày trên boong, hôm nay thì đừng có mà làm ông ta phật ý." Johnson ngoan ngoãn đi ra cửa, cùng lúc đó quay lại ném cho tôi một cái nháy mắt kì lạ và nghiêm túc đáng kinh ngạc qua bả vai đầu bếp, như để nhấn mạnh câu nói bị cắt ngang và việc tôi nhất định phải ăn nói cẩn thận trước mặt thuyền trưởng.

    "Sẽ khiến ông không bị ướt," anh ta vui lòng giải thích. "Ông đành phải mặc chúng thôi, tôi đang hơ đồ của ông trên lửa." Tôi níu lấy giá gỗ trong nhịp lắc lư của con tàu để mặc cái áo lót len thô ráp dưới sự giúp đỡ của anh đầu bếp. Ngay lập tức, tôi nổi ra gà vì cảm giác xù xì ấy. Anh ta nhận ra cách tôi vặn vẹo lẫn nhăn mặt không hài lòng, nên nhếch mép:

    "Tôi thật lòng hi vọng ông không phải làm quen với cuộc sống này, vì ông có làn da mềm mại làm sao, còn mềm hơn bất kì cô nàng nào tôi từng biết, tôi chắc chắn ông là một quý ông ngay khi vừa nhìn thấy ông." Từ đầu tôi đã không thích anh ta, lúc anh ta giúp tôi mặc đồ, cảm xúc đó rõ rệt hơn. Cách đụng chạm của anh ta cứ kinh tởm thế nào đó. Tôi co người né bàn tay anh ta; cơ thể tôi cảm thấy ghê tởm. Điều đó cộng thêm những thứ mùi bốc lên từ đủ loại nồi đang sôi sùng sùng trên lửa bếp khiến tôi vội vã ra ngoài tìm nguồn khí trong lành. Hơn nữa, tôi cần gặp ông thuyền trưởng để còn tìm cách sắp xếp lịch trình đưa tôi lên bờ.

    Áo vải cotton rẻ tiền với cổ áo sờn rách có vết bẩn đã phai màu trên ngực mà tôi đồ là vết máu lâu ngày chỉ trực khiến tôi tuôn ra một chuỗi phê bình. Dưới chân tôi là đôi giày buộc dây của nữ, còn quần thì được đưa cho một chiếc màu xanh dương nhạt, đã bạc hết màu, một ống ngắn hơn ống kia tới hơn hai mươi phân. Ống quần ngắn hơn trông như thể kết quả của lần quỷ dữ vồ hụt linh hồn của anh chàng Cockney vì nhầm cái bóng với thực thể.

    "Tôi phải cảm ơn ai vì lòng tử tế này?" Tôi hỏi, khi đã đứng hẳn dậy, với cái mũ thủy thủ nhỏ xíu trên đầu và áo khoác vải cotton kẻ xọc bẩn thỉu ngắn tới lưng, ống tay chỉ thì vừa quá khủy tay một chút.

    Anh đầu bếp tiến lại gần với vẻ nhún nhường kiểu cách và nụ cười nịnh nọt trên mặt. Dựa vào kinh nghiệm với các tiếp viên của hãng Atlantic vào cuối mỗi chuyến đi, tôi dám thề anh chàng đang chờ nhận tiền boa. Từ vốn hiểu biết của tôi về loại người này, tôi nhận ra đó là cử chỉ vô thức. Bản tính phục tùng được di truyền chắc chắn là nguyên nhân của nó.

    "Mugridge, thưa ông," anh ta vẫy đuôi mừng rỡ, các đường nét trên gương mặt nhu nhược tách ra thành nụ cười nhớp nháp. "Thomas Mugridge, thưa ông, hân hạnh được phục vụ."

    "Được rồi, Thomas," tôi nói. "Tôi sẽ không quên anh – khi đồ của tôi đã khô." Mặt anh ta sáng bừng lên, hai mắt thì lấp lánh, như thể từ nơi nào đó sâu thẳm trong tâm hồn, tổ tiên anh ta đã sống dậy và vui sướng vì những kí ức được nhận tiền boa từ kiếp trước. "Đa tạ, thưa ông," anh ta trang trọng và khiêm nhường đáp lại. "

    Y như cái cách cánh cửa trượt ra, anh ta né xang một bên, để tôi bước ra boong. Tôi vẫn còn yếu vì phải ngâm mình quá lâu trong nước. Một cơn gió thoảng qua là đủ khiến tôi lảo đảo từ boong tàu chòng chành tới góc cabin, nơi tôi bám lấy làm điểm tựa. Chiếc tàu buồm nghiêng hẳn về một bên theo trục thẳng đứng, đang nhô lên hạ xuống cưỡi lên những con sóng bạc đầu của Thái Bình Dương. Nếu tàu đang đi về hướng tây nam như Johnson đã nói, thì theo như tôi tính toán, gió đang thổi từ hướng nam.

    Tôi quay nhìn sang hướng đông, tôi biết California nằm ở đó, nhưng chẳng thể thấy gì vì lớp sương thấp đang phủ phía xa. Hẳn chính làn sương đó là thứ đã gây ra thảm họa cho phà Martinez và khiến tôi rơi vào tình cảnh này. Không xa đây mấy về phía bắc là những tảng đá trần mình nhô lên khỏi mặt biển, từ một trong số chúng, tôi có thể hấy hình dáng của một ngọn hải đăng. Phía tây nam, gần như thẳng với hướng đi của tàu, tôi thấy những bóng mờ hình tam giác của những cánh buồm.

    Sau khi đã quan sát toàn bộ chân trời, tôi nhìn quanh đánh giá nơi mình đang đứng. Suy nghĩ đầu tiên của tôi là cho rằng một người đàn ông đã trải nạn đắm tàu và đối mặt với tử thần sẽ được dành nhiều sự chú ý hơn tôi hiện tại. Ngoài anh thủy thủ đứng ở bánh lái đang tò mò nhìn tôi từ phía trên cabin, tôi không khiến ai chú ý cả.

    Dường như mọi người đều đang chú ý vào chuyện đang diễn ra ở giữa tàu. Ở đó, trên hầm chứa, có một người đàn ông to lớn đang nằm ngửa. Ông ta ăn mặc bình thường, dù áo đã bị xé mở trước ngực. Trên ngực không có gì đáng nhìn, vì nó bị bao phủ bới lớp lông đen rậm, trông như lông chó vậy. Mặt và cổ ông ta bị giấu kín bởi lớp râu đen lấm tấm xám, hẳn sẽ trông vừa cứng vừa rậm nếu không bị ướt nhẹp và nhỏ nước tong tỏng. Ông ta nhắm mắt, có vẻ đã bất tính nhân sự, nhưng miệng lại mở to, ngực nặng nề nhấp nhô như thể đang cực nhọc lao động đòi lấy không khi vì ngạt thở. Một thủy thủ cứ thi thoảng lại thả một gàu vải bố buộc ở đầu cuối dây thừng xuống biển, đều đặn nhịp nhàng như thể đó là việc thường ngày, rồi kéo nó tay nọ nối tiếp tay kia để đổ cả gàu nước lên người đàn ông đang nằm.

    Đi tới đi lui trước cửa hầm chứa, cục cằn ngai đầu mẩu thuốc lá là một người đàn ông đã vô tình nhìn ra biển và cứu sống tôi.

    Ông ta cao chừng một mét bảy mươi tám hoặc bảy chín gì đó, nhưng ấn tượng đầu tiên của tôi về ông ta không phải ở chiều cao mà là sức mạnh. Tuy nhiên, tôi không hề nghĩ rằng ông ta là kiểu người cục súc dù ông sở hữu bờ vai rộng, bộ ngực sâu. Kiểu sức mạnh của ông ta có phần gân guốc và săn chắc, giống như cách chúng ta thường miêu tả những người chắc nịch và gầy hơn, nhưng vì vẻ ngoài vạm vỡ nên trông những đường nét bị phóng đại như loài khỉ đột. Có điều ông ta không hề giống khỉ đột chút nào. Tôi chỉ cố tìm kiếm cách diễn tả kiểu sức mạnh đó chứ không phải ngoại hình ông ta. Đó là thứ sức mạnh mà chúng tôi thường liên hệ với những gì nguyên sơ, như những loài thú hoang hay những sinh vật ẩn khuất sau rặng cây trong tưởng tượng của chúng ta – thứ sức mạnh hung tợn, tàn nhẫn và hừng hực sức sống, tinh chất của sự sống trong thứ sức mạnh đó là năng lượng cho mọi hành động, là nguyên tố cơ bản được rút ra từ muôn vạn dạng sống.

    Tôi quá ấn tượng trước sức mạnh của người đàn ông đang bước chậm rãi này. Ông ta bước như trên đất bằng; bàn chân đặt xuống sàn tàu vững chãi và chắc chắn: Từng cử động của cơ bắp từ cái nhấc vai tới mím môi ngậm thuốc lá đều quả quyết và đến từ một thứ sức mạnh vĩ đại tới choáng ngợp. Thực ra, dù thứ sức mạnh này ngấm vào mọi hành động, nhưng nó chỉ là bề nổi của thứ sức mạnh lớn lao hơn ẩn nấp bên trong cuộn mình ngủ yên lặng lẽ, nhưng có thể trỗi dậy bất cứ lúc nào đầy sục rôi và choáng ngợp như sự cuồng nộ của sư tử và sự hung dữ của bão tố.

    Anh đầu bếp ló đầu ra khỏi cửa bếp và toét miệng cười kích lệ tôi, đồng thời trỏ tay chĩa ngón cái về phía người đàn ông đang đi đi lại lại trước cửa hầm chứa. Nhờ thế, tôi hiểu ra người đàn ông đó chính là thuyền trưởng, hay" Ông Già"theo như cách nói của anh đầu bếp, người mà tôi phải gặp mặt và làm phiền để tìm cách lên bờ. Tôi đã bắt đầu để đi về phía trước sau quãng thời gian chừng mười lăm phút đồng hồ giống tố, thì người đàn ông đang nằm ngửa đột nhiên bị khó thở. Ông ta quằn quại cả người, Cái cằm ướt râu đen chĩa thẳng lên trời, cơ lưng cứng đơ lại, ngực nở phồng ra dưới nỗ lực mang tính bản năng và vô thức muốn giành lấy chút không khí.

    Thuyền trường, hay như người ta gọi, Larsen Sói, dừng bước lại liếc nhìn người sắp chết. Cơn giãy dụa trước bờ vực tử vong rất dữ dội, khiến anh thủy thủ ngừng đổ nước lên người ông ta mà tò mò nhìn, cái gàu vải bố bị nghiêng đi, đổ nước xuống sàn. Người sắp chết dùng gót chân xăm một vết lên cửa hầm chứa, duỗi thẳng chân ra, người cứng còng với tất cả sức lực, đầu đảo từ bên nọ sang bên kia. Khi các cơ giãn ra, đầu anh ta không đảo nữa, chỉ có một tiếng thở dài như được giải thoát bật ra từ miệng. Khớp hàm hạ xuống, môi trên nâng lên, hàm răng xỉn màu khói thuốc lộ ra. Cơ thể anh ta trông như đông cứng ném một nụ cười ác độc vào thế giới anh ta đã lừa gạt và bỏ lại.

    Sau đó, chuyện kì lạ nhất đã xảy ra. Thuyền trưởng đột nhiên vỡ òa bên xác người đàn ông đã chết, như sấm nổ giữa trời quang. Những lời nguyền rủa tuôn ra khỏi miệng ông ta như nước chảy. Đó không phải là những lời nguyền ngớ ngấn hay ca thán khiếm nhã. Từng từ ông nói đều cục súc, và ông nói cả tràng. Giọng ông chát chúa như tiếng tia điện tóe ra vậy. Tôi chưa bao giờ nghe bất cứ điều gì tương tự trong đời, tôi còn không thể tưởng tượng nổi chúng tồn tại nữa. Trước cơ hội học hỏi lối diễn đạt văn chương lạ và niềm hứng thú trước những cụm từ và cách so sánh nặng nề kia, tôi trân trọng khi không có thính giả nào khác ở đây cảm nhận được sự sống động, sức mạnh, lẫn sự sỉ nhục tận cùng trong những phép ẩn dụ của thuyền trưởng dùng. Nguyên do của tất cả mọi chuyện, theo như tôi nghe được, chính là thuyền phó. Người này đã ăn chơi trác táng trước khi rời San Francisco để rồi chọn cách chết ngớ ngẩn ngay khi chuyến đi biển vừa bắt đầu, khiến Larsen Sói chịu cảnh thiếu người.

    Khỏi cần phải nói miệng rằng tôi đã bị sốc, ít nhất là với các bạn của tôi.

    Bất kì câu nguyền rủa hay thô tục nào đều khiến tôi tránh xa như dịch hạch.

    Tôi thấy uể oải, trái tim nặng chịch, hay có thể nói rằng, tôi đang hổ thẹn. Với tôi, cái chết luôn đi liền với sự nghiêm trang và đứng đắn. Cái chết xuất hiện cùng sự bình yên, thiêng liêng thực hiện nghi thức của mình. Nhưng cái chết cũng chứa khía cạnh tàn nhẫn và khủng khiếp mà tới tận bây giờ tôi cẫn chưa thể quen.

    Như tôi đã nói, tuy tôi coi trọng sức mạnh trong lời đáng sợ tuôn ra từ miệng Larsen Sói, đồng thời tôi vẫn thấy kinh hoảng. Nhưng người đàn ông đã chết vẫn cứ nhe răng cười chế giễu, chẳng hề bận tâm, đầy nhạo báng và khiêu khích. Ông ta mới là nhân vật chính của tình cảnh này.

    [1] Vùng Bắc Âu gồm ba quốc gia là Đan Mạch, Thụy Điển và Nauy.

    [2] Cockney: Ám chỉ dân lao động nghèo người Đông Luân Đôn, thường có giọng nói đặc trưng

    [3] Chuông Bow Bell thuộc nhà thờ St. Mary–le–Bow, nổi tiếng là biểu tượng của vùng Đông Luân Đôn

    [4] Quần đảo Farralones hay Farallon, gần San Francisco
     
    Nguyễn Ngọc Nguyên thích bài này.
    Last edited by a moderator: 23 Tháng mười 2018
  4. Chanh97hh

    Bài viết:
    73
    Chương 3

    Bấm để xem
    Đóng lại
    Larsen Sói thôi chửi rủa, đột ngột như khi bắt đầu. Ông châm lại điếu thuốc và liếc nhìn quanh. Đôi mắt ông chợt chiếu vào người đầu bếp.

    "Này, Bếp?" Ông lên tiếng, với vẻ trầm tĩnh và lạnh lẽo của sắt thép.

    "Dạ, thưa ông," anh đầu bếp vội vã đáp lời, rất phục tùng và hối lỗi.

    "Mày không nghĩ mày thò cổ ra thế là đủ rồi sao? Không tốt đâu, biết chứ. Thuyền phó chết rồi, giờ tao không thể mất cả mày nữa. Mày phải tự chăm sóc sức khỏe của mình, Bếp ạ. Hiểu không hả?" Câu cuối cùng bật ra khác hẳn những câu khuyên răn trước đó, mạnh mẽ như tiếng roi quật vậy. Anh đầu bếp chùng chân trước nó.

    "Vâng, thưa ông," anh ta ngoan ngoãn đáp, cái đầu tò mò đã biến trở lại vào trong bếp.

    Chuyện này cũng khiến tất cả những người còn lại ngừng chú ý và quay trở lại làm việc riêng của mình. Tuy nhiên, có một nhóm đàn ông đứng loanh quanh chỗ cầu thang cabin, giữa bếp và hầm chứa, trông thân thiết nhưng không giống thủy thủ, đang liên tục thấp giọng nói chuyện với nhau. Sau này, tôi mới biết đó là những người thợ săn, những người có nhiệm vụ bắn hải cẩu, thứ được coi là loài thú tuyệt vời với giới thủy thủ.

    "Johansen!" Larsen Sói gọi. Một thủy thủ ngoan ngoãn bước tới trước. "Tay với kim của mày đâu, khâu thằng ăn mày kia lại. Mày có thể lấy vài tấm vải bố cũ ở tủ buồm. Dùng chúng đi."

    "Tôi sẽ buộc gì vào chân ông ấy, thưa ông?" người đó hỏi, sau một tràng "Vâng, vâng, thưa ông."

    "Chúng ta sẽ xem xét việc đó," Larsen Sói trả lời, cao giọng gọi "Bếp!" thế là Thomas Mugridge ló ra khỏi bếp như con rối đồ chơi trong hộp lò xo.

    "Đi xuống dưới lấy một bao than đá."

    "Có ai trong đám các anh có Kinh Thánh hay kinh cầu không?" là yêu cầu tiếp theo của thuyền trưởng với đám thợ săn trông có vẻ thân thiết với nhau.

    Họ lắc đầu, một vài người nói đùa gì đó, tôi không nghe được nhưng ai ai cũng cười.

    Larsen Sói cũng hỏi những người thủy thủ như thế. Kinh thánh và kinh cầu có vẻ là những vật phẩm ít có, một trong những người đàn ông tình nguyện đi tìm sách của nhóm trực tàu đã trở lại báo rằng "họ không có." Thuyền trưởng nhún vai. "Vậy thì đành thả ông ta xuống, khỏi cần lắm chuyện. Trừ khi cái gã trông như thầy tu bị đắm tàu sẵn lòng cung cấp dịch vụ mai táng trên biển." Lần này, ông ta quay tròn một vòng và đối diện với tôi.

    "Anh là mục sư, đúng không?" Ông ta hỏi.

    Những người thợ săn – bọn họ có sáu người tất cả – đồng thời quay lại nhìn tôi. Tôi hoàn toàn ý thức được hiện tại mình chẳng khác nào một gã bù nhìn. Một tiếng cười vang lên, tiếng cười nhạo báng vẻ ngoài của tôi chẳng hề bị giảm bớt hay kiềm chế trước thi hài người đàn ông đã chết cứng, miệng vẫn còn nhe răng đang nằm trên sàn tàu trước mặt chúng tôi. Tiếng cười thô ráp và thẳng băng như mặt biển, nó dậy lên từ những cảm xúc tầm thường và chai mòn, từ những cá thể chưa từng biết tới lịch sự hay dịu dàng.

    Larsen Sói không cười, dù đôi mắt xám của ông ta lóe sáng; và trong giây phút đó, khi tiến lại gần ông ta hơn một chút, tôi đã có ấn tượng đầu tiên về người đàn ông này – không tính tới vẻ bề ngoài và tràng nguyền rủa tôi đã nghe. Gương mặt ông gồm những đượng nét đậm và vuông bành bạnh, mới trông thì khá to, nhưng vì hình thể, vẻ to lớn đó dường như tan biến trước sức mạnh ý chí vượt trội và đáng sợ bên trong, ngủ yên sâu trong linh hồn ông. Lông mày, quai hàm và cằm cao hẳn ra một khoảng so với đôi mắt đầy mạnh mẽ, thể hiện sự kiên nghị và khí phách vô hạn của linh hồn ẩn khuất sau da thịt tránh khỏi những ánh mắt trần tục. Không thể đo đoán chiều sâu của linh hồn ấy, không một thước đo nào, một giới hạn nào có thể phân định nó trong mẫu hình nhỏ hẹp.

    Đôi mắt ông rất lớn và đẹp – may phước định mệnh đã khiến tôi hiểu thấu chúng – tách xa nhau như tác phẩm của nhà nghệ sĩ, được che chở bởi vầng trán thô và bao bọc dưới đôi lông mày đen rậm. Màu xám trong đôi mắt ông biến đổi không ngừng, chẳng bao giờ lặp lại; đôi mắt ấy thay đổi hình dàng và màu sắc như như tơ lụa dưới ánh nắng; nó xám, đậm rồi nhạt, biêng biếc chút màu lục, đôi lúc lại mang sắc lam trong vắt của biển khơi.

    Đôi mắt ấy khoác lên linh hồn muôn ngàn lớp áo, đôi lúc, vào những khoảnh khắc rất hiếm hoi, chúng để lộ chút gì đó, để cho thứ bên trong được vươn lên như thể sắp trần trụi lao ra thám hiểm thế giới bên ngoài – đôi mắt ấp ôm niềm đau thảm đạm của bầu trời u ám; đôi mắt chớp lóe và nứt ra những tia sáng như ánh điện của lưỡi gươm xé gió; đôi mắt có thể lạnh lẽo như cảnh sắc cực bắc, nhưng cũng có thể ấm áp và dịu êm, lấp lánh tắm mình trong ánh sáng tình yêu, vừa dữ dội vừa nam tính, vừa ám ảnh vừa hấp dẫn, đồng thời cũng mê hoặc và xâm chiếm trái tim những người phụ nữ cho tới khi họ phải đầu hàng trong hoan hỉ, nhẹ nhõm và dâng hiến.

    Nhưng để quay lại chuyện chính. Tôi đã bảo ông rằng, tuy rất lấy làm tiếc cho tang lễ này, nhưng tôi không phải mục sư, để đáp lại câu hỏi gắt gỏng:

    "Anh làm gì để sống?" Tôi thừa nhận rằng mình chưa từng nhận được câu hỏi đó bao giờ, tôi cũng chưa từng thảo luận về vấn đề này. Tôi bị bất ngờ, thế nên chưa kịp hồi thần đã lắp bắp đáp lại bằng một câu ngớ ngẩn: "Tôi là một quý ông." Đôi môi ông ta cong lên thành nụ cười mỉa.

    "Để sống à?" Ông ta có vẻ gì đó hách dịch và kẻ cả, khiến tôi khác hẳn mọi khi – "sợ như chuột," anh bạn Furuseth hẳn sẽ dùng từ như vậy, không khác gì một đứa trẻ trước thầy hiệu trưởng nghiêm khắc.

    "Ai nuôi anh?" Đó là câu hỏi tiếp theo của ông ta.

    "Tôi có thu nhập," tôi khô khốc đáp, có lẽ đã cắn phải lưỡi mình ngay sau đó. "Và những điều đó, theo như tôi quan sát, không có liên quan gì tới lí do tôi muốn gặp ông." Nhưng ông ta lờ đi lời phản biện của tôi.

    "Ai kiếm ra nó? Ồ? Tôi biết rồi. Cha anh. Anh sống nhờ vào một người đã chết.

    Anh chưa từng sở hữu bất cứ thứ gì. Anh không thể đơn độc ra đi giữa hai lần mặt trời mọc để kiếm đồ ăn lấp đầy cái bụng của chính mình. Để tôi thấy đôi tay anh." Sức mạnh đáng sợ đang lặng ngủ trong ông ta hẳn đã cựa mình tỉnh lại đúng lúc, hoặc tôi đã thiếp đi trong chớp mắt, vì trước khi tôi nhận ra, ông ta đã bước hai bước thành một tới, nắm lấy bàn tay tôi và giữ lấy để kiểm tra. Tôi cố rút lại, nhưng những ngón tay ấy ghìm chặt hơn, dù trông chẳng cố sức chút nào nhưng tôi cảm giác như sắp bị nghiền nát. Khó mà giữ được vẻ đạo mạo trong trường hợp này. Tôi không thể vặn vẹo hay giãy dụa như một thằng nhóc được. Tôi cũng không thể phản kháng lại con người ấy, người chỉ còn thiếu nước vặn gãy tay tôi ra. Tôi không thể làm gì khác ngoài đứng yên và chịu đựng sự xúc phạm này. Trong thời gian đó, tôi để ý thấy túi của người đã chết bị dốc ngược trên sàn tàu, còn cơ thể và miệng cười nhăn nhở của anh ta đã bị quấn vào trong vải bố, anh thủy thủ Johansen đang khâu mép nó lại bằng sợi cói trắng nhem nhuốc. Liên tục đâm kim bằng một cái mề đay da vừa vặn trong lòng bàn tay.

    Larsen Sói thả tay tôi ra với vẻ khinh thường. "Của cải của người chết đã giữ tay anh mềm. Chẳng làm được gì ngoài rửa bát đĩa trong bếp."

    "Tôi muốn lên bờ," tôi bình thản đáp, giờ thì đã kiểm soát được bản thân rồi. "Tôi sẽ trả tiền cho ông bù đắp lại sự chậm trễ và rắc rối do phải hoãn lịch tình." Ông ta tò mò nhìn tôi. Vẻ nhạo báng sáng lên trong mắt.

    "Tôi có ý định phản đối điều đó, vì lợi ích của anh thôi. Thuyền phó đã chết, nên sẽ có nhiều kẻ được thăng chức. Một thủy thủ sẽ thay thế vị trí của thuyền phó, bồi tàu[1] sẽ thay thế vị trí của thủy thủ, còn anh sẽ thay vị trí của bồi tàu, kí hợp đồng đi biển, hai mươi đô một tháng bao ăn ở. Giờ anh nói sao? Để tôi nhắc lại. Đây là vì anh đấy. Làm việc sẽ khiến anh thay đổi. Chẳng mấy chốc, anh sẽ học được cách tự đứng trên hai chân mình, có khi còn chập chững biết đi ấy chứ." Nhưng tôi không lưu tâm. Những cánh buồm của con tàu tôi thấy phía tây nam giờ trông lớn hơn và rõ hơn. Chúng là những cánh buồm giống hệt như trên chiếc Bóng Ma, dù thân tàu trông nhỏ hơn đang chồm sóng lướt tới phía chúng tôi, chắc chắn sẽ băng qua đây nhanh thôi. Gió đang mạnh dần lên, mặt trời sau khi nheo mắt bắn ra những tia sáng giận dữ cuối cùng đã biến mất sau đường chân trời. Biển chuyển màu xám chì ảm đạm và gồ ghề hơn, hất những đám bọt biển trắng xóa lên bầu trời. Chúng tôi đang đi nhanh hơn và xa hơn. Chợt có một cơn gió mạnh thổi qua, lan can nhấp hẳn xuống biển, sàn tàu bên đó ướt sũng nước khiến vài thợ săn vội nhấc chân lên.

    "Chiếc tàu đó sẽ đi qua chúng ta," Tôi nói, sau giây lát. "Nếu nó đi về hướng ngược lại, hẳn nó sẽ tới San Francisco."

    "Rất có thể," Larsen Sói trả lời, rồi quay lưng với tôi, hô to, "Bếp! Bếp đâu!" Anh chàng Cockney ló ra từ bếp. "Thằng nhỏ đó đâu rồi? Bảo nó tôi muốn gặp."

    "Vâng, thưa ông," sau đó Thomas Mugridge trượt về phía sau, biến mất theo xuống cabin gần bánh lái. Một lát sau đó, anh ta trở lại, dẫn theo một cậu bé to khỏe khoảng mười tám, mười chín tuổi trông vừa cáu bẳn vừa hung ác.

    "Cậu ta đây, thưa ông," anh bếp nói.

    Nhưng Larsen Sói lờ đi, quay phắt về phía cậu bé bồi tàu.

    "Tên mày là gì, nhóc?"

    "George Leach, thưa ông," câu trả lời ra chiều chán nản, việc xuất hiện tại đây đã báo trước lí do cậu ta được gọi ra.

    "Không phải tên người Ireland, thuyền trưởng sắc sảo nói." Họ O'Toole hay McCarthy sẽ hợp với bản mặt đần độn của mày hơn. Nhưng mà thôi bỏ đi. "Ông nói tiếp." Mày có lí do hay để quên tên mình được rồi đấy, tao cũng không ghét bỏ mày vì cái tên, nếu mày biết tuân lệnh. Khu Telegraph Hill, đương nhiên, là cảng khởi hành của mày. Nó lồ lộ hết trên mặt mày đấy. Cứng đầu như cách họ hành xử và láu cá thì khỏi phải bàn. Tao biết cái loại mày rồi. Hừm, mày hãy nhớ mà bỏ cái tính đó đi khi ở trên thuyền này. Hiểu chưa? Mà, ai gửi mày lên đây? "

    " McCready và Swanson. "

    " Thưa ông! "Larsen Sói quát giật giọng.

    " McCready và Swanson, thưa ông, "cậu bé sửa lại, đôi mắt ánh lên vẻ cáu bẳn.

    " Ai cầm tiền tạm ứng? "

    " Họ, thưa ông. "

    " Tao biết ngay mà. Mày nên thấy mừng vì để họ lấy tiền đi. Mày không thể để bản thân túng thiếu quá nhanh, nếu không sẽ có rất nhiều quý ông mày từng biết truy tìm mày đấy. "

    Cậu bé đó chớp mắt trông thật tàn độc. Cơ thể nó co lại như lò xo, gương mặt nó nhăn nhúm như thú hoang nổi giận nghiến răng," Đó là.. "

    " Là gì? "Larsen Sói hỏi, giọng ông ta êm ái một cách kì quái, như thể quá tò mò muốn biết cái từ chưa được nói ra.

    Cậu bé do dự, rồi cũng kiềm chế được tính nóng nảy của mình." Không có gì. Thưa ông. Tôi lỡ lời. "

    " Mày vừa cho tao thấy tao đã đúng. "Đây là một nụ cười hài lòng." Mày bao nhiêu tuổi? "

    " Vừa đủ mười sáu, thưa ông. "

    " Nói dối. Mày sẽ chẳng bao giờ trải qua tuổi mười tám lần nữa. Mày vẫn quá to con so với tuổi, cơ bắp như ngựa vậy. Dọn đồ đi lên khoang mũi đi. Giờ mày là thủy thủ chèo thuyền. Được thăng chức đấy, thấy chưa? "Không chờ cậu bé trả lời, truyền trưởng quay sang người thủy thủ đã nhận cái nhiệm vụ kinh khủng là khâu vải liệm xác." Johansen, anh có biết gì về phương hướng không? "

    " Không biết, thưa ông. "

    " Hừm, kệ đi. Anh vẫn sẽ là thuyền phó. Bỏ đồ của mình vào chỗ thuyền phó nằm. "

    " Tuân lệnh, thưa ông. "Johansen vui mừng đáp lại và tiến lên phía trước.

    Trong lúc đó, cậu bé cựu-bồi-tàu không hề di chuyển.

    " Mày còn đợi gì nữa? "Larsen Sói hỏi.

    " Tôi không đăng kí làm thủy thủ chèo thuyền, thưa ông, "cậu ta trả lời." Tôi đăng kí làm bồi tàu. Tôi không muốn làm tay chèo chút nào. "

    " Dọn đồ và đi lên trước. "Lần này, câu ra lệnh của Larsen Sói đầy gắt gỏng. Cậu bé kia sưng mặt lên, nhưng vẫn không di chuyển. Dường như thứ sức mạnh kì dị bên trong Larsen Sói thoáng bị khuấy động. Chuyện tiếp đó không ai mà ngờ được và kết thúc nhanh như tiếng tích của kim giây đồng hồ. Ông ta bật qua quãng gần hai mét trên boong tàu, đấm thẳng vào bụng cậu bé. Ngay giây phút đó, tôi cũng cảm thấy như bị đánh vậy, dạ dày co rút buồn nôn. Tôi cho rằng điều này cho thấy độ nhạy cảm của thần kinh mình vào lúc đó và vì tôi không quen với những cảnh tàn bạo. Cậu bé bồi tàu – cậu ta phải nặng ít nhất bảy mươi lăm cân – co tròn lại. Cơ thể cậu ta quấn lấy nắm đấm như cái khăn ướt dính trên cây gậy.

    Cậu ta bắn lên trên không, bay một đường vòng cung ngắn rồi đập đầu và vai xuống boong tàu, nơi cậu ta nằm quàn quại vì đau.

    " Sao? "Larsen hỏi tôi." Anh đã quyết định chưa? "Thi thoảng, tôi lại liếc nhìn chiếc tàu buồm đang tiến lại gần, hiện tại nó đã ở ngay trước mắt chúng tồi, chỉ cách khoảng hai trăm thước anh. Đó là một tàu nhỏ bé rất gọn gàng và chỉnh tề. Tôi có thể thấy một con số màu lớn màu đen được sơn trên cánh buồm, giống như những bức hình về tàu hoa tiêu tôi từng thấy.

    " Đó là tàu gì? "Tôi hỏi.

    " Tàu hoa tiêu[2] Lady Mine, "Larsen Sói dứt khoát trả lời." Trả hoa tiêu về và chạy tới San Francisco. Với sức gió thế này, nó sẽ tới nơi trong vòng năm tới sáu giờ nữa. "Ông có thể ra tín hiệu với tàu đó để tôi có thể lên bờ không?"

    "Xin lỗi, tôi mất quyển sách tín hiệu trên bờ rồi," ông ta nói, đám thợ săn phá lên cười.

    Tôi đấu tranh một lúc, nhìn thẳng vào mắt ông ta. Tôi đã thấy cách hành xử tàn bạo với cậu bé bồi tàu và hiểu rằng tôi rất có thể cũng sẽ bị đối xử như vậy hoặc còn tệ hơn. Như đã nói, tôi tự đấu tranh với bản thân mình, sau đó tôi thực hiện hành động có lẽ là dũng cảm nhất đời mình. Tôi chạy tới sườn tàu, vẫy tay và hét:

    "Lady Mine, ới tàu! Đưa tôi lên bờ! Một ngàn đô la nếu tàu đưa tôi lên bờ!" Tôi chờ đợi, dõi theo hai người đàn ông đang đứng bên bánh lái, một trong số họ đang giữ quyền điều khiển tàu.

    Người kia nâng loa lên miệng. Tôi không quay đầu, tôi đang trông đợi sẽ phải nhận một cú đánh chết người vào bất cứ lúc nào từ kẻ cầm thú đứng sau mình. Cuối cùng, sau một quãng thời gian dài như thế kỉ, tôi không thể chịu nổi sự căng thẳng nữa nên quay lại nhìn. Ông ta không hề di chuyển. Ông ta vẫn đứng nguyên tại chỗ, thoải mái lắc lư để giữ nhịp cùng con tàu và đang châm một điếu thuốc lá.

    "Sao vậy? Có chuyện gì thế?" Tiếng gọi từ tàu Lady Mine vang sang.

    "Vâng!" Tôi dồn hết sức lực trong lồng ngực mà hét lên. "Chuyện sống còn! Một ngàn đô la nếu các anh đưa tôi lên bờ!"

    "Rượu Frisco làm hại thuyền viên của tôi quá!" Larsen Sói hét theo. "Anh chàng này – chỉ vào tôi bằng ngón cái – vừa nãy còn cất lời yêu rắn biển với khỉ đấy." Người đàn ông trên Lady Mine bật cười đáp lại qua loa phóng thanh. "Chửi gã thay tôi nhé!" là câu hét cuối cùng, sau đó hai người họ vẫy tay chào tạm biệt.

    Tôi tuyệt vọng tựa vào lan can, nhìn cánh buồm của con tàu nhỏ dần xa trên mặt biển. Nó sẽ về tới San Francisco trong năm hoặc sáu giờ tới! Đầu tôi muốn nổ tung. Họng tôi nghẹn đau như thể trái tim đã nhảy lên đó rồi. Sóng cuộn lên đánh vào sườn tàu và phun nước mặn lên môi tôi. Gió thổi từng cơn, tàu Bóng Ma nghiêng mạnh sang bên dìm sườn khuất gió xuống nước. Tôi có thể nghe tiếng nước chảy rào rạt trên boong tàu.

    Một lúc sau, khi quay đầu lại, tôi thấy cậu bé bồi tàu đang lảo đảo đứng dậy. Mặt cậu ta trắng bệch và vặn vẹo vì đau. Cậu ta trông như bị bệnh nặng. "Sao, Leach, có đi lên không?" Larsen Sói hỏi. "Vâng, thưa ông." là câu trả lời của linh hồn đã cúi đầu chịu thua. "Còn anh?" Tới lượt tôi bị hỏi.

    "Tôi sẽ trả ông một ngàn.." Tôi mở miệng, nhưng bị cắt ngang. "Thôi ngay! Anh có nhận nhiệm vụ bồi tàu không? Hay tôi phải chỉnh đốn anh nữa?" Tôi có thể làm gì được? Bị đánh dã man, thậm chí là bị giết chẳng ích lợi gì cho tôi cả. Tôi nhìn thẳng vào đôi mắt xám lạnh lùng ấy. Chúng cứng rắn như đá, lạnh giá như mọi nguồn ánh sáng và hơi ấm của linh hồn đằng sau chúng. Một số người đàn ông sẽ để lộ đôi chút cảm xúc qua đôi mắt, nhưng ánh mắt người đàn ông này thì lạnh lùng và u ám, xám xịt y như chính mặt biển vậy.

    "Sao?"

    "Vâng," tôi nói.

    "Nói" Vâng, thưa ông "."

    "Vâng, thưa ông," tôi sửa lại.

    "Tên anh là gì?"

    "Van Weyden, thưa ông."

    "Tên riêng thì sao?"

    "Humphrey, thưa ông – Humphrey Van Weyden."

    "Tuổi?"

    "Ba mươi lăm, thưa ông."

    "Được đó. Đi tìm đầu bếp học công việc của mình đi."

    Thế là tôi đã thành nô lệ không tự nguyện cho Larsen Sói. Ông ta mạnh hơn tôi, đó là tất cả lí do. Nhưng vào lúc đó, tôi thấy sự việc quá sức phi lí. Thậm chí giờ nhìn lại, tôi vẫn thấy tất cả đều phi lí. Chuyện ngày đó vẫn luôn là một cơn ác mộng phi lí hãi hùng, vượt xa trí tưởng tượng của tôi.

    "Khoan, đừng đi vội." Tôi ngoan ngoãn đứng lại khi chân đã hướng về phía bếp. "Johansen, gọi tất cả lại. Chúng ta đã xong việc rồi, nên sẽ tổ chức lễ tang và dọn sạch mọi thứ rác rưởi trên boong tàu." Trong lúc Johansen triệu tập nhóm trực bên dưới lên, một cặp thủy thủ đã đưa xác chết bọc trong vải bố lên nóc hầm chứa theo lệnh thuyền trưởng. Ở mỗi bên sườn tàu, bên dưới lan can là một loạt thuyền nhỏ. Những người đàn ông nâng nắp hầm chứa cùng với món hàng đáng sợ trên nó di chuyển tới gần sườn tàu khuất gió và đặt nó lên những chiếc thuyền với bàn chân chỉ ra ngoài khơi. Buộc nơi chân cái xác là túi than mà anh đầu bếp đã lấy.

    Tôi luôn nghĩ việc mai táng trên biển sẽ là một sự kiên trang trọng và khơi gợi cảm xúc choáng ngợp, nhưng tôi nhanh chóng vỡ mộng bởi chính lễ tang trước mắt. Một trong số những người thợ săn, người có đôi mắt đen được bạn bè gọi là "Smoke," đang kể những câu chuyện chứa đầy những lời nguyền và từ ngữ tục tĩu, cứ mỗi phút nhóm thợ săn sẽ phá tràng cười mà nghe vào tai tôi hệt như tiếng sói hú. Những người thủy thủ tụ tập ồn ào ở phía sau, một số người truong nhóm gác lờ đờ buồn ngủ, nói chuyện với nhịp chậm rãi. Vẻ lo lắng lồ lộ trên mặt họ. Đó là bằng chứng cho thấy họ không thích một chuyến đi được điều hành bởi thuyền trưởng này, chưa chi đã gặp chuyện xui xẻo ngay lúc khởi hành. Thi thoảng, họ trộm liếc Larsen Sói, tôi có thể nhận ra họ e sợ người đàn ông này.

    Ông ta bước lên nắp hầm chứa, những người khác đều bỏ mũ xuống. Tôi liếc mắt nhìn họ – có hai mươi người đàn ông tất cả, hai mươi hai người, tính cả người đang đứng bên bánh lái và tôi. Tôi khá tò mò muốn tìm hiểu họ, vì có vẻ số phận đã giam tôi lại với họ trên thế giới thu nhỏ trôi nổi trên mặt nước trong thời gian không biết là bao nhiêu tuần hay tháng tới. Những thủy thủ ở chính giữa là những người Anh và Bắc Âu, với nét mặt thô và cứng. Những người thợ săn thì ngược lại, sở hữu gương mặt mạnh mẽ và đa dạng hơn, với những đường nét cứng và dấu ấn của sự đam mê tự do. Nói ra thật lạ, nhưng tôi để ý ngay từ đầu rằng vẻ ngoài của Larsen Sói không hề có vẻ xấu xa chút nào. Trông ông ta không hề giống người xấu. Đúng là có những đường nét khắc nghiệt, nhưng chúng thể hiện ý chí cả quyết và kiên định. Những đường nét đó trông thẳng thắn và cởi mở, và nét thẳng thắn, cởi mở đó trông rõ ràng hơn vì ông cạo sạch râu. Nếu không chứng kiến việc xảy ra tiếp theo, tôi khó mà tin được đó là gương mặt của người đàn ông đã hành xử như vậy với cậu bé bồi tàu.

    Vào lúc này, khi ông ta mở miệng nói, từng cơn gió đẩy con tàu buồm, ép sườn tàu xuống. Gió rít lên bài ca hoang dại qua những sợi dây chằng. Một vài người thợ săn lo lắng đưa mắt nhìn. Toàn bộ sườn khuất gió, nơi người chết đang nằm chìm xuống biển, tới khi tàu buồm dựng thẳng trở lại, nước đã tràn qua boong, làm ướt hết mu giày của chúng tôi. Một cơn mưa đổ xuống, từng giọt quất đau như mưa đá. Khi mưa tạnh, Larsen Sói bắt đầu nói, những người đàn ông đầu trần nhịp nhàng lắc lư theo nhịp nghiêng xô của boong tàu.

    "Tôi chỉ nhớ được một phần nghi lễ thôi," ông ta nói, "đó là," Và thế là thi hài sẽ được ném xuống biển. "Nên ném nó xuống." Ông dứt lời, những người đàn ông khiêng nắp hầm chứa có vẻ bối rối vì sự chóng vánh của buổi lễ. Ông ta nổi khùng lên với họ.

    "Nâng nó rồi ném đi đi! Các người bị làm sao thế hả?" Họ cuống quít nâng phần dưới của nắp hầm chứa lên, thế là, như chó nhảy qua rào, thi thể người chết tuột xuống, đâm chân xuống biển. Túi than ở chân kéo ông ta xuống. Thế là xong đời.

    "Johansen," Larsen Sói giật giọng gọi thuyền phó mới, "giữ tất cả những người trên tàu ở nguyên vị trí. Đi tới chỗ buồm đỉnh và những buồm phụ ngoài. Chúng ta sẽ đón gió đông nam. Thu buồm phụ và buồm chính lại luôn, khi anh ở gần đó." Trong khoảnh khắc, boong tàu rối hết cả lên, Johansen hét ra lệnh, những người đàn ông kéo hoặc thả đủ loại dây lèo – tất cả những điều đó hiển nhiên đã khiến một kẻ sống trên đất liền như tôi bối rối. Nhưng chính sự vô cảm mới là thứ khiến tôi bàng hoàng. Cái chết của người đànnông kia chỉ là một chương của quá khứ, một sự cố đã được xử lí trong tấm vải bố buộc một túi than, còn con tàu thì nhanh chóng tiếp tục công việc của mình. Chẳng ai cảm thấy điều gì. Những người thợ săn vẫn đang cười với những câu chuyện mới của Smoke; họ ra sức kéo và kéo, có hai người trong số họ trèo lên cột buồm; Larsen Sói đang nghiên cứu hướng gió trên bầu trời mây phủ; còn người đã chết, bị mai táng qua loa đang chìm sâu dần xuống làn nước đen. Sự lạnh lùng, tàn nhẫn và khủng khiếp của biển cả đã nhấn chìm tôi. Sự sống trở nên quá rẻ mạt và thô ráp, nó hoang dại và bất minh, xoáy cuộn vô hồn những nước và sình. Tôi bám lấy lan can mạn sườn đón gió gần dây chằng, nhìn về những con sóng bạc đầu đang cuộn về phía màn sương thấp che khuất San Francisco và bờ biển California. Tiếng mưa đang đổ lại gần, tôi khó có thể nhìn thấy màn sương được nữa. Con thuyền kì lạ này chở theo những con người khủng khiếp của nó, bị gò ép giữa gió giật và biển xô, nghiêng dọc như cuộc đời bất định, tiến về phía trước theo hướng tây nam, đi vào vùng rộng lớn và cô đơn hơn trên Thái Bình Dương.

    [1] Bồi tàu: Có nhiệm vụ chạy việc vặt trên tàu

    [2] Tàu hoa tiêu: Tàu có nhiệm vụ đưa hoa tiêu từ đất liền tới các tàu đi ra vào đi vào cảng biển.
     
    Nguyễn Ngọc Nguyên thích bài này.
    Last edited by a moderator: 23 Tháng mười 2018
  5. Chanh97hh

    Bài viết:
    73
    Chương 4

    Bấm để xem
    Đóng lại
    Kể từ đó, những gì xảy ra với tôi trên con tàu Bóng Ma vào những ngày tôi cố thích nghi với môi trường mới chỉ toàn là nhục nhã và đau khổ. Tay đầu bếp, người được các thuyền viên gọi là "bác sĩ," đám thợ săn gọi là "Tommy" và "Bếp" với Larsen Sói là kẻ lá mặt lá trái. Cách cư xử của anh ta thay đổi ngay khi vai trò của tôi thay đổi. Vẻ khúm núm và phục tùng ban đầu hiện biến thành hách dịch và gây hấn.

    Anh ta khăng khăng đòi tôi phải gọi mình là "Ông Mugridge", cách cư xử và bộ dáng lúc hướng dẫn công việc cho tôi thì không thể chịu nổi. Ngoài nhiệm vụ trong cabin có bốn phòng nhỏ, xem chừng tôi còn phải hỗ trợ anh ta trong bếp, thế nên sự thiếu quan tâm của tôi đối với những công việc như gọt vỏ khoai tây hay rửa chảo mỡ là nguồn cảm hứng mỉa mai bất tật của anh ta.

    Đây là một vài biểu hiện về thái độ của anh ta đối với tôi; tôi phải thú nhận rằng chưa được một ngày, tôi đã dồn nhiều cảm xúc vào lòng căm ghét anh ta hơn bất cứ người nào tôi từng biết từ trước đến nay.

    Ngày đầu tiên của tôi càng thêm khó khăn hơn, vì tàu Bóng Ma đã thu buồm (phải sau này tôi mới hiểu những thuật ngữ như vậy) và đã băng qua cái mà ông Mugridge gọi là "gió đông nam đêm." Vào năm giờ rưỡi, dưới chỉ thị của anh ta, tôi soạn bàn trong cabin, đặt những khay nhám đúng vị trí rồi mang trà và đồ ăn đã nấu chín từ bếp ra.

    "Cẩn thận vào không thì ướt nhẹp đấy," là câu ra lệnh ông Mugridge khi tôi đi ra khỏi bếp, một tay cầm ấm trà to, một tay cầm những lát bánh mì vừa nướng. Một trong số những người thợ săn, cái người cao lớn, gò má gãy tên là Henderson đang đi từ chỗ buồng lái (những người thợ săn lén gọi chỗ ngủ giữa tàu của mình như thế) tới cabin. Larsen Sói đang ở chót đuôi tàu, hút điếu thuốc chẳng bao giờ hết của mình.

    "Nó đến rồi! Chạy mau!" Tay đầu bếp hét.

    Tôi dừng chân, vì tôi không hiểu thứ đang đến là cái gì, và thấy cửa bếp đóng sầm lại. Sau đó, tôi thấy Henderson nhảy như người điên tới mối dây lèo chính, lao thẳng vào giữa đám dây tới độ cao quá vài mét trên đầu mình.

    Tôi cũng thấy một cơn sóng lớn cuộn tròn sủi bọt cách xa lan can. Tôi đang ở ngay dưới nó. Trí não tôi ngừng trệ, mọi thứ đều quá mới mẻ và kì lạ. Tôi há hốc miệng nhận ra mình đang gặp nguy, nhưng chỉ làm được đến thế. Tôi đứng ngây ra run rẩy.

    Thế rồi Larsen Sói hét toáng lên từ sau bánh lái:

    "Nắm chặt lấy thứ gì đó đi, này.. này Hump!" nhưng đã trễ rồi. Tôi vội lao tới những chỗ những sợi dây buồm, thứ tôi có thể bám lấy được và bị cả bức tường nước dội xuống. Chuyện tiếp theo rối nùi hết cả lên. Tôi chìm dưới nước, ngạt thở và chìm dần. Chân tôi nâng lên từ dưới thân, người bị lật tròn và cuốn đi không biết bao xa. Rất nhiều lần, tôi bị đụng vào vật cứng, có thứ va vào đầu gối phải tôi đau điếng. Rồi đột nhiên cơn lũ qua đi, tôi lại có thể hít thở không khí an lành lần nữa. Tôi đã bị cuốn ra xa bếp, tới gần khoang hạng chót, văng từ sườn đón gió chỗ bậc thang xuống cabin tới lỗ thoáng. Mắt cá chân tôi nhức nhối. Vì nó mà tôi không thể đứng lên được, hoặc ít nhất tôi nghĩ mình không thể đứng lên được; tôi cảm thấy chân mình gãy mất rồi. Nhưng gã đầu bếp theo dõi tôi, hét lên qua cửa lỗ thoáng của bếp: "Ê, mày! Định nằm đó cả tối à! Ấm đâu rồi? Rơi ra biển hả? Đáng đời lắm, đáng ra mày phải gãy cổ mới đúng!" Tôi cố đứng dậy trên bàn chân sưng của mình. Cái ấm trà to tướng vẫn còn trên tay tôi. Tôi bước khập khiễng về phía bếp đưa nó vào tay anh ta. Nhưng gã vẫn chìm trong cơn phẫn nộ không biết thật hay giả.

    "Trời hại tao, mày đúng là thằng đần. Có việc gì mày làm được không hả, nói tao còn biết. Hả? Mang có tí trà mà còn làm đổ hết. Giờ tao lại phải đun lại. Mày sụt sịt gì đó hả?" gã lại nổi giận với tôi. "Đôi bàn chân bé nhỏ của mày đau rồi à, gọi mẹ đi cưng!" Tôi không sụt sịt, nhưng mặt tôi chắc đã nhăn nhúm lại vì đau. Tôi gom lại tất cả nghị lưc của mình lại, nghiến răng nhảy lò cò từ bếp tới cabin, từ cabin tới bếp mà không phạm lỗi nào nữa. Tôi đạt được hai điều từ tai nạn của mình: Một cái đầu gối bị thương và thứ đã theo tôi suốt những tháng ngày mòn mỏi ấy: Cái tên "Hump" mà Larsen Sói đã gọi tôi từ sau bánh lái. Từ đó trở đi, tôi chỉ được gọi như thế, tới nỗi cái tên đó trở thành một phần suy nghĩ và tôi cũng tự nhận mình như thế, tự gọi mình là Hump trong tâm tưởng, giống như tôi đã luôn và sẽ luôn là Hump.

    Đứng đợi phục vụ bên bàn ăn ở cabin không phải nhiệm vụ dễ dàng, ở đó có Larsen Sói, Johansen và sáu người thợ săn. Cabin vốn rất nhỏ, để di chuyển khi bị ra lệnh còn khó hơn vì tàu luôn lắc lư dữ dội. Nhưng điều khiến tôi khó chịu nhất là sự vô cảm của những người tôi phục vụ. Tôi có thể cảm thấy đầu gối mình sưng lên bằng cỡ quả táo dưới vải ống quần, tôi phát ốm và tái nhợt vì cơn đau. Tôi có thể thoáng nhìn thấy gương mặt mình trong cái gương ở cabin, nó trắng bệch, méo mó vì đau. Tất cả những người này đều nhìn thấy tình trạng của tôi, nhưng không ai lên tiếng hay để ý. Tới nỗi tôi đã suýt cảm tạ Larsen Sói (tôi đang rửa bát đĩa) khi ông ta nói:

    "Đừng có phiền lòng vì chuyện nhỏ như vậy. Rồi anh sẽ quen với những chuyện này thôi. Sẽ làm anh trầy xước một chút, nhưng rồi anh sẽ học được cách đi đứng. Đó là thứ anh gọi là nghịch lí, phải không?" Ông ta nói thêm.

    Ông ta có vẻ hài lòng khi thấy tôi gật đầu theo lễ tiết trên tàu "Vâng, thưa ông."

    "Tôi cho rằng anh biết chút ít về văn học? Hử? Tốt. Thi thoảng tôi sẽ nói chuyện với anh." Sau đó, cuộc nói chuyện không dính gì tới tôi nữa, ông ta quay lưng lại và đi lên boong.

    Đêm hôm đó, sau khi tôi đã hoàn thành lượng công việc tưởng chừng vô tận, tôi được bảo tới ngủ ở buồng lại và xếp tạm một cái gường ở đó. Tôi mừng là đã thoáng khỏi sự hiện diện đáng ghê tởm của gã đầu bếp và được thả lòng cái chân mình. Tôi ngạc nhiên thấy quần áo đã tự khô trên người, và rằng mình không hề bị cảm lạnh vì vừa bị nhấn nước hay vì quãng thời gian dài trôi dập dềnh sau khi Martinez bị đắm.

    Nếu là bình thường, sau tất cả những gì đã trải qua, đáng ra tôi đã trở thành nhân vật chính một lễ tang rồi.

    Nhưng cái đầu gối khiến tôi vô cùng khó chịu. Theo như tôi tự chuẩn đoán, thì xương bánh chè chắc đã chọc vào trúng chỗ sưng. Khi tôi ngồi xuống giường của mình để kiểm tra nó (sáu người thợ săn đều ở buồng lái, hút thuốc và nói chuyện ồn ào), Henderson có liếc nhìn qua.

    "Trông tệ đấy," anh ta nhận xét. "Buộc một cái giẻ vào đi, rồi sẽ ổn thôi." Thế là hết. Nếu ở trên đất liền, tôi đã nằm ngả lưng xuống, để một bác sĩ phẫu thuật tới gặp và bị cấm không được làm gì trừ nghỉ ngơi. Nhưng tôi cũng phải công bằng với những con người này. Họ vô tâm trước nỗi đau của tôi, nhưng họ cũng vô tâm với nỗi đau của chính họ nếu gặp rủi ro. Tôi cho rằng đó, thứ nhất họ đã quen thế, thứ hai là họ thực sự chẳng hề nhạy cảm. Tôi tin chắc một người đàn ông chỉn chu, dễ xúc động sẽ thấy đau đớn gấp đôi gấp ba lần họ nếu bị cùng một vết thương.

    Dù rất mệt mỏi, thậm chí là kiệt sức, tôi vẫn không ngủ được vì cơn đau ở đầu gối. Tất cả những gì tôi làm được là ngăn mình không rên rỉ lớn tiếng. Nếu ở nhà, chắc chắn tôi sẽ thoải mái bày tỏ nỗi đau của mình, nhưng trong môi trường mới mẻ và thô lỗ thế này làm vậy hẳn sẽ khiến tôi nhận được những phản ứng hung bạo. Tôi nhớ trong phần còn lại của hành trình, một thợ săn khác tên Kerfoot đã mất một ngón tay vì nó bị đập nát ra như tương; mà gã thậm chí còn chẳng kêu rên hay biến sắc. Tuy nhiên, tôi cũng đã chứng kiến chính con người đó nhiều lần phải nhảy lên vì nổi nóng chỉ vì vài chuyện vụn vặt.

    Anh ta đang làm thế, hò hét, vẫy tay, chửi như kẻ điên chỉ vì một bất đồng nhỏ với một thợ săn khác về chuyện liệu bản năng có khiến hải cẩu con biết bơi hay không hay không. Anh ta cược là có; hải cẩu có thể bơi kể từ khi mới sinh. Người thợ săn kia, Latimer, một gã trông có vẻ là người Mĩ, gầy gòm, có đôi mắt ti hí láu lỉnh cho là ngược lại, hải cẩu con được sinh ra trên mặt đất chính là bởi chúng chưa biết bơi, hải cẩu mẹ có nhiệm vụ phải dạy chúng bơi như thế nào, giống như lũ chim phải dạy đàn con của mình làm thế nào để bay.

    Phần lớn thời gian, bốn người thợ săn còn lại tựa vào bàn hoặc nằm trong giường để mặc hai người kia tranh cãi. Nhưng thực ra họ thích thú lắm, vì thi thoảng họ sẽ bênh một người, lắm khi tất cả bọn họ sẽ cùng lên tiếng, cho đến lúc mà giọng họ xô vào nhau từ mọi phía như những con sóng tạo nên âm vang như tiếng sấm trong không gian nhỏ bé. Chủ đề câu chuyện rất trẻ con và chẳng đâu vào đâu, và những luận điểm họ đưa ra còn trẻ con và chẳng đâu vào đâu hơn. Thực ra, họ chẳng có luận điểm gì hết. Phương pháp tranh luận của họ là một người quả quyết, một người đặt giả thuyết, còn một người bác bỏ. Họ chứng minh hải cẩu con có thể bơi từ lúc mới sinh hay không bằng cách tuôn ra những câu thách thức và tiếp nối với những lời công kích khả năng nhận định, thường thức, quốc tịch, quá khứ của người khác. Kẻ phản đối cũng chẳng khác gì. Tôi cho rằng điều này là biểu hiện sức khỏe tâm thần của những người tôi bị buộc phải tiếp xúc này. Họ có trí tuệ của những đứa trẻ trong hình hài của người trưởng thành.

    Họ hút thuốc liên tục thứ thuốc lá sợi thô rẻ tiền có mùi khó chịu. Thứ khói thuốc đó làm không khí đặc nghẹt và âm u; bầu không khí đó cộng với chuyển động dữ dội của con tàu vượt qua giông bão chắc chắn đã khiến tôi say sóng và thành nạn nhân của bệnh tật. Thứ bệnh này khiến tôi nôn nao, nhưng cảm giác đó cũng có thể là do cơn đau ở chân và tình trạng kiệt sức của tôi.

    Khi nằm đó nghĩ ngợi, tôi cứ day dứt mãi về bản thân và cái tình cảnh tôi đang mắc phải. Đúng là chuyện có một không hai, khó mà tưởng tượng nổi, tôi, Humphrey Van Weyden, một học giả và là một tài tử, hẳn bạn cũng cho là vậy, về nghệ thuật và văn học, lại nằm đây trên một con thuyền săn hải câu trên biển Bering[1] . Một gã bồi tàu! Tôi chưa từng làm bất cứ công việc nặng nhọc nào trong đời. Tôi đã luôn sống một cuộc sống bình thường, không có gì đặc sắc – cuộc sống của một học giả, một kẻ ẩn dật dựa vào nguồn thu nhập dư dả và ổn định. Bạo lực và thể thao chưa bao giờ hấp dẫn tôi. Tôi luôn là một con mọt sách, đúng như cái biệt danh mà các chị và cha đã gọi tôi ngày còn thơ ấu. Tôi đã từng đi cắm trại một lần duy nhất, chỉ để bỏ đi khỏi bữa tiệc ngay khi nó vừa bắt đầu và trở lại với sự thoải mái và tiện nghi dưới mái nhà. Thế mà tôi lại ở đây, giữa khung cảnh mệt mỏi vô tận của việc soạn bàn, gọt vỏ khoai tây và rửa chén bát.

    Tôi chẳng hề khỏe mạnh. Các bác sĩ luôn nói tôi có thể trạng đáng nể, nhưng tôi chưa bao giờ luyện tập hay vận động. Cơ bắp của tôi vừa bé vừa lỏng, chẳng khác nào phụ nữ, ít nhất đó là những gì các bác sĩ đã lặp đi lặp lại với nỗ lực thuyết phục tôi tham gia các hoạt động văn hóa thể thao. Nhưng tôi thích sử dụng trí não hơn là cơ bắp; vậy mà tôi lại ở đây, dù chẳng đủ điều kiện để sống cuộc đời lao lực theo bất cứ cách nào.

    Tôi chỉ suy nghĩ được vài điều, tất cả đều liên quan đến việc lí giải cho hoàn cảnh yếu ớt và vô vọng định mệnh đã gán cho mình. Nhưng tôi cũng nghĩ tới mẹ và các chị, tới nỗi tang thương của họ. Tôi nằm trong danh sách những người chết và mất tích trong vụ đắm phà Martinez, xác chưa được tìm thấy. Tôi có thể tưởng tượng ra những đầu đề sẽ xuất hiện trên báo chí, cảnh những người đồng nghiệp ở Câu Lạc Bộ Đại Học và nhóm Bibelot[2] lắc đầu, nói, "Tội nghiệp quý ông đó!" Tôi có thể thấy Charley Furuseth lúc tôi chào tạm biệt anh ta sáng hôm đó, nằm xoài người trong bộ áo ngủ trên ghế bành gần cửa số, cất giọng ngâm những câu thơ bi quan và bí hiểm.

    Và trong lúc đó, chao đảo, nhấp nhô, băng qua những tòa núi nước di động, rơi và lăn giữa những thung lũng bọt biển, con tàu buồm Bóng Ma vật lột tìm đường di chuyển về tâm Thái Bình Dương – với tôi trên tàu. Tôi có thể nghe tiếng gió trên boong. Nó lọt vào tai tôi như tiếng gầm gừ bị bóp nghẹt. Tiếng bước chân gõ lên trên đầu, liên tục, ngay lúc này. Tiếng cót két không ngớt vang lên từ bên trên, những tấm gỗ rên rỉ và rít lên the thé, than phiền qua cả ngàn khe hở. Những người thợ săn vẫn tiếp tục tranh cãi và rống lên bằng giọng của loài sinh vật lai giữa người và động vật lưỡng cư. Không khí đặc những lời nguyền rủa thô tục. Tôi có thể thấy gương mặt họ, đỏ bừng đầy tức giận, móp méo hung dữ và nổi bật hơn vì ánh đèn biển màu vàng bệnh hoạn, thứ hết lắc ra trước lại về sau cùng với con thuyền. Qua màn khói thuốc mờ mịt, khoang ngủ trông như ổ của những con thú trong rạp xiếc. Vải dầu và ủng đi biển được treo trên tường, với đây đó những khẩu súng trường, súng ngắn được ghim cẩn thận trên giá. Đây là khung cảnh thích hợp cho lũ cướp biển trong quá khứ. Trí tưởng tượng của tôi đã rối bời, nhưng tôi vẫn không ngủ nổi. Đó là một đêm rất dài, mệt mỏi, đáng sợ và rất dài.

    [1] Biển Bering: Hay biển Imarpik là vùng biển ở phần phía bắc của Thái Bình Dương

    [2] Bibelot: Tuyển tập thơ được phát hành những năm 1895–1914 tại Mĩ. Ở đây tác giả muốn nói tới nhóm tác giả tập thơ này.
     
    Nguyễn Ngọc Nguyên thích bài này.
    Last edited by a moderator: 23 Tháng mười 2018
  6. Chanh97hh

    Bài viết:
    73
    Chương 5

    Bấm để xem
    Đóng lại
    Nhưng đêm đầu tiên của tôi trong buồng lái với những người thợ săn cũng là đêm cuối cùng. Ngày hôm sau, Johansen, thuyền phó mới bị Larsen Sói chuyển ra khỏi cabin đến ngủ ở chỗ dưới buồng lái, còn tôi được sở hữu cái buồng bé tin hin trong cabin, ngay từ ngày đầu tiên của hải trình nơi này đã có hai người ở. Đám thợ săn nhanh chóng hiểu được lí do của sự thay đổi này và họ làu bàu về nó suốt. Có vẻ Johansen làm sống lại từng sự kiện ban ngày trong giấc ngủ. Những lời nói, hét, rống ra lệnh liên tục của anh ta khiến Larsen Sói không chịu nổi, nên đã đẩy mối phiền hà này cho đám thợ săn.

    Sau một đêm mất ngủ, tôi ngồi dậy, dù còn yếu và đau đớn, cà nhắc vượt qua ngày thứ hai của mình trên tàu Bóng Ma. Thomas Mugridge ra lệnh cho tôi ra ngoài vào năm giờ rưỡi, khá giống cách Bill Sykes[1] ra lệnh cho chó của mình. Nhưng sự hung bạo của ông Mugridge lại được đáp trả bằng lòng nhân hậu và sự quan tâm. Tiếng ồn thừa thãi mà anh ta tạo ra (tôi đã mở mắt thao láo cả đêm) đã đánh thức một người trong số những người thợ săn; vì một cái giầy nặng chịch đã bay xuyên qua cảnh tranh tối tranh sáng, thế là ông Mugridge rít lên vì đau, khúm núm xin lỗi tất cả mọi người. Sau đó, ở trong bếp, tôi để ý thấy tai gã đã sưng tấy lên. Cái tai đó không bao giờ trở lại hình dạng ban đầu được nữa, nên bị cánh thủy thủ gọi là "Tai súp lơ".

    Ngày trôi qua với toàn những nỗi khốn khổ. Tôi đã lấy quần áo khô của mình ra khỏi bếp từ đêm trước, sau đó việc đầu tiên tôi làm là thay đám giẻ rách của gã đầu bếp ra và mặc chúng. Tôi kiểm tra ví. Ngoài một ít tiền lẻ (tôi có trí nhớ khá tốt trong những việc thế này), trong ví còn một trăm tám mươi lăm đô la cả tiền vàng và tiền giấy. Nhưng khi tôi mở ra xem, ngoài một ít đồng bạc lẻ, ví trống không. Tôi đã nói chuyện với gã đầu bếp về chuyện này khi lên boong thực hiện nhiệm vụ của mình ở bếp; tôi đã lường trước một câu trả lời không mấy thân thiện, nhưng tôi không ngờ được bài diễn văn hung hăng đón đợi mình.

    "Xem này, Hump đây mà," gã bắt đầu, vẻ độc ác ánh lên trong mắt, họng hầm hừ khe khẽ, "Muốn ăn đấm vào mũi hả? Mày nghĩ tao là trộm thì im mồm lại, không thì mày sẽ nhận ra mình đã phạm một sai lầm tồi tệ. Nếu đây là cách mày tỏ lòng biết ơn thì trời đánh tao! Mày trôi tới đây như một nùi rác bẩn thỉu, chính tao đã đưa mày vào bếp, đối xử tử tế với mày để được trả ơn như thế này đây. Lần sau mày hãy chết đi cho rảnh, tao sẽ chẳng thèm quan tâm đâu."

    Để kết thúc nỗi xấu hổ vô vàn, tôi rụt lại và chạy ra khỏi cửa bếp. Tôi biết làm gì nữa? Bạo lực, chỉ có bạo lực là được tôn trọng trên con tàu toàn kẻ cục súc này. Tôn trọng luân thường đạo lí là một khái niệm xa lạ. Bạn hãy tưởng tượng xem: Một người đàn ông bình thường, mảnh khảnh, cơ bắp yếu ớt, người đã sống một cuộc đời bình lặng êm đềm, chưa từng biết tới bất kì hình thức bạo lực nào – một người như thế có thể làm gì? Chẳng có lí do gì để tôi phải đứng lại đối diện với con quái vật lốt người đó, giống như lí do tôi không nên đứng lại đối diện với một con bò điên.

    Lúc đó tôi đã nghĩ vậy, vì cảm thấy cần phải tự thanh minh và xoa dịu lương tâm của mình. Nhưng tự thanh minh như thế không khiến tôi hài lòng. Tới tận bây giờ tôi vẫn không thể quay đầu nhìn lại sự việc đó và tha thứ cho bản thân. Tình cảnh đó không cho phép các cách hành xử hợp lí diễn ra, nó yêu cầu nhiều hơn cái kết luận lạnh lùng về nguyên do hành động. Khi xem xét bằng tư duy thông thường, đó không phải chuyện đáng xấu hổ, nhưng tôi vẫn thẩy nhục nhã khi nhớ lại, nói xét nhân phẩm của một con người, tôi cảm thấy rằng nhân phẩm của mình đã bị cười nhạo và sỉ nhục.

    "Nhìn nó chạy kìa! Nhìn nó chạy kìa! Tao nghe nó khóc đấy. Cái chân thì èo uột thế kia! Quay lại đây, thằng bám váy mẹ! Tao không sợ mẹ mày đâu, còn lâu!" Tôi quay lại, tiếp tục công việc, chuyện kết thúc ở đó, dù nó vẫn kéo đến những sự việc tiếp theo. Tôi soạn bàn ăn sáng trong cabin vào lúc bảy giờ để đợi sẵn nhóm thợ săn và chỉ huy tàu. Rõ ràng cơn bão đã kéo đến đêm qua, dù mặt biển vẫn lặng và gió vẫn thổi. Buồm đã được căng vào phiên gác sáng, tàu Bóng Ma đang chạy bằng tất cả các buồm, trừ hai buồm đỉnh và buồm phụ rời.

    Tôi nghe được rằng có ba cánh buồm được căng ngay sau bữa sáng. Tôi cũng nhận ra Larsen Sói nóng lòng muốn tận dụng sức gió từ cơn bão để đẩy thuyền về phía tây nam, vào vùng biển mà ông hi vọng sẽ bắt kịp làn gió mậu dịch. Trước khi gặp cơn gió mạnh mẽ mà ông ta hi vọng sẽ góp phần lớn công sức đưa tàu tới Nhật Bản, vòng theo hướng nam tới vùng nhiệt đới và rồi lại về hướng bắc khi ông đã tiến tới gần bờ biển châu Á.

    Sau bữa sáng, tôi lại gặp một sự kiện cực kì khó chịu. Khi tôi sửa xong chén bán, tôi lau chùi bếp lò và mang tro than lên boong để đem đổ. Larsen Sói và Henderson đang đứng gần bánh lái, mải mê nói chuyện. Anh thủy thủ Johnson đang điều khiển tàu. Khi tôi bắt đầu lại gần sườn đón gió, tôi thấy ông ta chợt hất đầu và lầm tưởng rằng đó là hành động hàm ý chào buổi sáng. Thật ra, ông ta định cảnh báo tôi phải đổ tro ở sườn khuất gió. Không hề biết mình đã hiểu lầm, tôi đi qua chỗ Larsen Sói và gã thợ săn, hất tro ngược vào gió. Gió thổi chúng lại, không chỉ vào tôi, mà còn vào cả Henderson và Larsen Sói.

    Ngay giây tiếp theo, gã thợ săn đá tôi như đá một kẻ vô lại. Tôi không biết rằng một cú đá có thể đau như thế. Tôi loạng choạng lùi lại, tựa vào cabin trong tình trạng sắp ngất tới nơi. Mọi thứ trước mắt tôi quay cuồng, tôi như ốm vậy. Cơn buồn nôn ngập ứ tôi, may là tôi chịu đựng được, bò tới mạn sườn đúng lúc để không làm bẩn sàn. Nhưng Larsen Sói thì không đi theo tôi. Sau khi phủi tro dính trên quần áo, ông ta tiếp tục trò chuyện cùng Hendersen.

    Johansen, người thấy tất cả sự vụ từ bục đuôi tàu, đã cho vài thủy thủ đi lên dọn dẹp.

    Cũng sáng hôm đó, sau đó một lúc lâu, tôi chứng kiến một điều ngạc nhiên khác hẳn. Theo hướng dẫn của gã đầu bếp, tôi đi tới phòng riêng của Larsen Sói để dọn phòng và giường. Trên tường, gần đầu giường là một giá đầy những sách. Tôi liếc qua chúng, kinh ngạc nhận ra những cái tên như Shakespheare, Tennyson, Poe và De Quincey[2] . Có cả những tác phẩm khoa học với những cái tên tiêu biểu như Tyndall, Proctor, Darwin[3] và tôi nhận ra cuốn "Kỉ Nguyên Hoang Tưởng" của Bulfinch[4], "Lịch Sử Văn Học Anh và Mĩ" của Shaw[5], hai cuốn lớn "Lịch Sử Tự Nhiên của Johnson". Có cả một số cuốn sách ngữ pháp như sách của Metcalf, Reed và Kellogg; tôi mỉm cười khi thấy một bản "Tiếng Anh của Dean". Tôi không thể liên hệ những cuốn sách này với người đàn ông mà mình biết, tôi cũng thắc mắc không biết ông ta có thể đọc chúng không. Nhưng khi tôi đi tới bên giường, tôi đã tìm thấy, cuộn trong chăn như thế ông ta đã nằm xuống đó ngủ, là cuốn Browning[6] bản đầy đủ. Nó được mở ở đoạn "Trong ban công," và tôi để ý đây đó có những chỗ được gạch chân bằng bút chì. Ngoài ra, khi thuyền nghiêng ngả hất cuốn sách chệch đi, một tờ giấy đã rơi ra. Nó được vẽ kín những bản đồ và công thức tính toán gì đó.

    Đây là bằng chứng cho thấy người đàn ông khủng khiếp đó không phải là một kẻ cục súc vô tri như những gì người ta sẽ đoán nếu chỉ vào cách hành xử hung bạo của ông ta. Ngay lập tức, ông ta trở nên huyền bí. Nếu chỉ xét về một khía cạnh, người ta có thể lí giải bản tính của ông ta, nhưng hai khía cạnh này cùng hội tụ sẽ khiến người ta bối rối. Tôi đã để ý thấy vốn ngôn ngữ của ông ta rất tốt, tuy bị làm hỏng vì một vài chỗ thiếu chính xác. Đương nhiên, trong những câu nói thường ngày với các thủy thủ và thợ săn, đôi lúc nó rối tung lên toàn những lỗi, có lẽ đó là vì phương ngữ; nhưng đôi lần ông ta nói chuyện với tôi, ngôn ngữ được sử dụng rất rõ ràng và chính xác.

    "Tôi đã bị cướp," tôi nói với ông ta vào một lúc sau, khi thấy ông đang đi lại trên đuôi tàu một mình.

    "Thưa ông," ông ta sửa lại, không gay gắt, nhưng nghiêm nghị.

    "Tôi đã bị cướp, thưa ông," tôi chỉnh lại theo. "Chuyện đó xảy ra như thế nào?" Ông ta hỏi.

    Thế là tôi kể cho ông ta toàn bộ sự việc: Quần áo của tôi được bỏ lại để hong khô ở bếp như thế nào, và tôi đã suýt bị gã đầu bếp đánh như thế nào khi nhắc về vấn đề đó. Ông ta mỉm cười khi nghe bài diễn văn của tôi.

    "Trộm à," ông ta kết luận, "Gã bếp đã trộm. Anh nghĩ cuộc đời khốn khổ của anh đáng giá ngần đó thôi sao? Hãy coi đó là một bài học. Rồi anh sẽ phải học tự lo giữ lấy tiền của mình đi. Tôi cho là, cho tới bây giờ, anh vẫn để luật sư hoặc là tay quản lí tài chính nào đó lo việc này cho mình."

    Tôi có thể nghe thấy tiếng cười khinh bỉ câm lặng vang lên giữa những câu nói đó, nhưng vẫn hỏi tiếp, "Làm thế nào tôi có thể lấy lại tiền?"

    "Đó là việc của anh. Anh không có luật sư hay quản lí tài chính nào ở đây, nên tự lo lấy thân đi. Có lấy một xu cũng phải giữ cho chắc. Một kẻ để tiền của mình lung tung như anh thì mất là đáng đời. Hơn nữa, anh có tội. Anh không có quyền cám dỗ đồng loại phạm tội như vậy. Anh đã cám dỗ thằng Bếp, nó rơi vào bẫy. Anh đã đẩy linh hồn bất diệt của nó vào vòng nguy hiểm. Mà phải rồi, anh có tin vào sự bất diệt của linh hồn không?" Ông ta lười nhác hé mí mắt khi hỏi thế, vậy mà tôi tưởng như trông thấy như một hố đen mở ra trước mắt và tôi đang nhìn vào linh hồn ông ta. Nhưng đó chỉ là một ảo ảnh. Dù thế nào chăng nữa, không con người nào có thể nhìn thấy linh hồn Larsen Sói, chứ đừng nói là nhìn sâu vào linh hồn ông ta; tôi tin chắc điều đó. Đó là một linh hồn vô cùng cô độc, tôi dần hiểu ra, chưa bao giờ bị lột trần kể cả trong những khoảng khắc hiếm hoi nó tự hé lộ.

    "Tôi thấy được sự bất diệt trong mắt ông," tôi trả lời, bỏ từ "thưa ông" đi – tôi đang thử, tôi cho rằng cuộc trò chuyện này đã đủ thân mật để được phép làm vậy.

    Ông ta không hề để ý. "Nếu thế, tôi cho là anh đã thấy một thứ có sự sống, nhưng nó không nhất thiết phải sống mãi."

    "Tôi thấy được nhiều hơn thế," tôi táo gan tiếp tục.

    "Tức là anh thấy được ý thức. Anh thấy được ý thức về sự sống đang diễn ra; nhưng, không có gì xa hơn thế, không hề có sự sống vĩnh cửu." Ông ta suy nghĩ rất rõ ràng và trình bày suy nghĩ của mình rất tốt! Ông tò mò nhìn rôi, rồi quay đầu liếc về phía mặt biển xám xịt lộng gió. Đôi mắt ông ảm đạm hẳn, đường môi mím lại gay gắt và khắc nghiệt. Rõ ràng là ông ta đang cảm thấy bi quan.

    "Vậy, kết cuộc nằm ở đâu?" Ông đột nhiên hỏi, quay lại phía tôi. "Nếu tôi là một linh hồn bất diệt, thì tại sao lại thế?" Tôi khựng lại. Làm thế nào tôi có thể giải thích lí tưởng của mình cho người đàn ông này? Làm thế nào tôi có thể cất lời về cảm giác khi rơi, về dòng âm nhạc trong giấc mơ, về một điều xác tín nhưng lại vượt ra ngoài giới hạn ngôn từ? "Vậy ông tin điều gì?" Tôi hỏi ngược lại.

    "Tôi tin rằng sự sống là một mớ hỗn độn," ông ta trả lời ngay lập tức. "Nó giống như men rượu, một thứ chuyển động và có thể chuyển động trong một phút, một giờ, một năm, một trăm năm, nhưng rồi cuối cùng sẽ dừng chuyển động. Cá lớn nuốt cá bé để chúng có thể tiếp tục chuyển động, kẻ mạnh nuốt kẻ yếu để chúng tiếp tục duy trì được sức mạnh. Kẻ may ăn nhiều và sống dai nhất, có vậy thôi. Anh hiểu gì về những điều đó?" Ông ta đưa tay với vẻ thiếu kiên nhẫn chỉ về nhóm thủy thủ đang làm gì đó với những dây chằng ở giữa tàu.

    "Chúng chuyển động. Sứa cũng biết chuyển động. Chúng di chuyển để kiếm ăn để có thể tiếp tục di chuyển. Anh cũng thế. Chúng sống vì cái bụng mình, bụng chúng lại giữ chúng tồn tại. Một vòng luẩn quẩn, anh chẳng đi tới đâu được cả. Chúng cũng vậy. Tới khi kết thúc, chúng vẫn giậm chân tại chỗ. Chũng không di chuyển nữa. Chúng chết."

    "Họ có những giấc mơ," tôi ngắt lời; "những giấc mơ sáng ngời, chớp nhoáng.."

    "Hoặc cơn đói cồn cào," ông ta kết luận thẳng thừng.

    "Nhiều hơn thế.."

    "Cơn đói. Hoặc chúng có những cơn đói khát mạnh hơn và gặp nhiều may mắn hơn trong việc thỏa mãn cái bụng mình." Giọng ông ta rất khắc nghiệt. Không hề có sự lười biếng trong đó. "Anh hãy tự nhìn đi, chúng mơ về những hành trình may mắn sẽ mang về cho mình nhiều tiền hơn, mơ trở thành chủ những con tàu, mơ tìm được vận may – nói ngắn gọn lại, mơ được sống tốt hơn nhờ trèo lên đầu đồng loại của mình, được sống qua đêm dài với giấc mơ đẹp, để những công việc bẩn thỉu cho kẻ khác. Anh và tôi cũng giống chúng. Chẳng có gì khác biệt, ngoại trừ việc chúng ta ăn nhiều hơn, ăn ngon hơn. Tôi đang ăn chúng, cả anh cũng vậy. Nhưng trong quá khứ, anh ăn nhiều hơn tôi. Anh ngủ trên giường êm, mặc quần áo đẹp, ăn những món ngon. Ai làm ra giường, quần áo và những bữa ăn đó? Không phải anh. Anh chưa bao giờ làm ra bất cứ thứ gì bằng mồ hôi nước mắt của mình. Anh sống nhờ vào thu nhập cha anh kiếm được. Anh chẳng khác nào con cốc biển xà xuống cướp những con cá mà ó biển bắt được. Anh là một trong số người làm nên thứ người ta gọi là chính phủ, những kẻ là ông chủ của tất cả những người khác, kẻ ăn đồ ăn những người khác kiếm được và sẽ ăn luôn cả họ nữa. Anh mặc áo ấm. Họ may quần áo, nhưng họ run cầm cập trong manh áo rách và cầu xin anh, hoặc xin luật sư hoặc gã quản lí tài chính nắm giữ tiền bạc của anh một công việc."

    "Những chuyện đó nằm ngoài vấn đề rồi." Tôi hét lên.

    "Không hề." Giờ ông ta nói gấp gáp, mắt lóe lên. "Đó là sự tham lam, đó là sự sống. Sự bất diệt của tính tham đó có tác dụng gì, gợi cảm giác gì? Kết cuộc là gì? Tất cả là vì điều gì? Anh không làm ra đồ ăn, nhưng đồ ăn anh đã ăn và lãng phí có thể cứu nhiều mạng sống của những kẻ khốn khổ làm ra thức ăn nhưng lại không được ăn. Anh phục vụ cho kết cuộc bất diệt nào? Họ thì sao? Cứ xem tôi và anh đi. Anh khoe khoang gì về sự bất diệt khi cuộc đời anh đối nghịch với tôi? Anh muốn trở lại đất liền, mảnh đất tươi tốt cho tính tham của anh phát triển. Chính quyết định của tôi đã giữ anh lại trên chiếc tàu này, nơi tính tham của tôi phát triển. Và tôi sẽ tiếp tục giữ anh ở đây. Tôi có thể khiến anh trưởng thành, hoặc tàn phá anh. Anh có thể chết hôm nay, tuần này, hoặc tháng tới. Tôi có thể giết anh ngay bây giờ, chỉ bằng một cú đấm, vì anh quá yếu ớt. Nhưng nếu chúng ta bất diệt, thì lí do cho tất cả những chuyện này là gì? Tham lam như anh và tôi, cuộc đời cả hai tôi không giống thứ sự bất diệt cần đến. Vậy tất cả những chuyện này là vì cái gì? Tại sao tôi lại giữ anh ở đây?"

    "Bởi vì ông mạnh hơn," tôi xoay xở thốt lên.

    "Nhưng tại sao lại mạnh hơn?" Ông ta lập tức tiếp tục những câu hỏi không hồi kết. "Bởi vì tôi có nhiều men rượu hơn anh. Anh có thấy không? Anh có thấy không?"

    "Nhưng đấy là tuyệt vọng," tôi phản đối.

    "Tôi đồng ý với anh," ông ta đáp. "Thế thì tại sao lại chuyển động làm gì, vì chuyển động nghĩa là sống? Không có chuyển động sẽ trở thành một phần của con men thì sẽ không có tuyệt vọng. Nhưng – thế mà lại có – chúng ta sống và di động, dù chẳng có lí do gì cả, nó cứ xảy ra bởi bản chất của sự sống là để sống và chuyển động, để muốn được sống và chuyển động. Nếu không phải vì thế, sống sẽ là chết. Bởi vì sự sống có trong anh nên anh mới mơ về sự bất diệt của bản thân. Sự sống có trong anh đang sống và muốn được sống mãi. Ha! Sự vĩnh hằng của tính tham!"

    Ông ta đột ngột xoay gót và xông lên trước. Ông ta dừng lại ở bục đuôi tàu và gọi tôi theo.

    "Nhân tiện, thằng đó thó được bao nhiêu vậy?" Ông ta hỏi.

    "Một trăm và tám mươi đô la, thưa ông," tôi trả lời.

    Ông ta gật đầu. Một lát sau, khi tôi bắt đầu đi xuống cầu thang để soạn bàn ăn cho bữa tối, tôi nghe ông ta to tiếng rủa sả ai đó ở giữa tàu.

    [1] Bill Sykes: William "Bill" Sikes, nhân vật trong tác phẩm Oliver Twist của Charles Dickens

    [2] Shakespheare, Tennyson, Poe và De Quincey: Các nhà thơ, nhà văn nổi tiếng của Anh và Mĩ.

    [3] Tyndall, Proctor, Darwin: Các nhà khoa học nổi tiếng vào thế kỉ 19.

    [4] Thomas Bulfinch: Nhà văn người Mĩ, nổi tiếng nhất với tác phẩm Bulfinch"s Mythology.

    [5] Thomas Budd Shaw: Nhà văn người Mĩ vào thế kỉ 19.

    [6] Browning: Hay Robert Browning, nhà thơ và nhà biên kịch người Anh.
     
    Nguyễn Ngọc Nguyên thích bài này.
  7. Chanh97hh

    Bài viết:
    73
    Chương 6

    Bấm để xem
    Đóng lại
    Sáng ngày hôm sau, cơn bão đã ngưng, tàu Bóng Ma lướt nhẹ trên mặt biển êm đềm lặng gió. Thi thoảng, luồng gió nhẹ sẽ thổi qua, Larsen Sói kiểm tra sàn sau tàu liên tục, mắt ông ta dõi nhìn mặt biển phía đông bắc, hướng gió tín phong sẽ thổi.

    Cánh đàn ông lên hết trên boong bận rộn chuẩn bị cho những con thuyền đủ loại của mình trước mùa săn bắt. Có bảy chiếc xung quanh, ngoài con thuyền ba lá của thuyền trưởng, các thợ săn sẽ dùng sáu thuyền còn lại. Ba người bao gồm một thợ săn, một tay chèo, một một người lái sẽ thành một tổ thuyền. Trên tàu buồm, những tay chèo và lái thuyền là thuyền viên. Những người thợ săn đáng ra cũng phải chịu sự chỉ huy của gác tàu, luôn luôn nghe lệnh Larsen Sói.

    Tôi đã học tất cả những điều này và nhiều điều khác nữa. Tàu Bóng Ma được xem là tàu buồm nhanh nhất trong cả đội tàu ở San Francisco và Victoria. Thực ra, nó từng là một du thuyền cá nhân, được thiết kể để chạy nhanh nhất có thể. Những đường nét và phụ kiện của nó, dù tôi không biết gì về những thứ này, đã tự chứng tỏ khả năng của chúng. Johnson đang kể cho tôi về con tàu trong cuộc trò chuyện ngắn ngủi vào phiên gác hai tiếng[1] * tối ngày hôm qua. Anh ta kể rất nhiệt tình, tình yêu của anh dành cho con tàu xinh đẹp chẳng khác nào những kẻ mê ngựa với ngựa hay. Anh ta tỏ ra ghê sợ viễn cảnh tương lai, tôi được giải thích rằng trong các thuyền trưởng tàu săn hải cẩu, Larsen Sói có tiếng tăm rất tệ. Chính tàu Bóng Ma là thứ cám dỗ Johnson kí hợp đồng tham gia chuyến đi, nhưng anh ta bắt đầu hối hận rồi.

    Theo như anh ta nói, tàu Bóng Ma là một tàu buồm mười tám tấn có thiết kế tuyệt đẹp. Sườn ngang, nói cách khác là chiều rộng của nó có độ dài bảy mét, chiều dài hơn hai mươi bảy mét. Long cốt bằng chì tuyệt hảo, tuy không biết rõ trọng lượng chính xác nhưng luôn giữ tàu ổn định, dù thân tàu luôn căng những tấm vải khổng lồ. Từ boong tới mối dây trên cột đỉnh buồm chính là khoảng hơn ba mươi mét, cột buồm mũi lại có cột đỉnh ngắn hơn khoảng hai mét rưỡi tới ba mét. Tôi kể ra những chi tiết đó để kích thuớc thế giới trôi nổi nhỏ bé chứa hai mươi hai con người này được chú ý hơn. Đây là một thế giới cực kì nhỏ bé, nó là một dấu chấm, một con bọ giữa đại dương, tôi lấy làm ngạc nhiên khi người ta dám mạo hiếm du hành vượt biển trên một vật quá nhỏ bé và mong manh tới vậy.

    Larsen Sói cũng nổi tiếng về độ liều lĩnh khi lái tàu. Tôi đã nghe Henderson và một người thợ săn tên là Standish, một người California, bàn luận về điều đó.

    Hai năm trước, ông ta đã đưa tàu Bóng Ma vượt qua một cơn bão ở Biển Bering, thế nên các cột buồm hiện tại được lắp lại khỏe hơn, chắc chắn hơn. Người ta nói khi lắp lại chúng, ông ta đã nói thà lật thuyền còn hơn mất những cột gỗ đó.

    Tất cả những người trên tàu, trừ Johansen, người đã vui hơn bởi được thăng chức, đều vì lí do nào đó mới lên tàu Bóng Ma. Một nửa số họ là thủy thủ vùng nước sâu, lí do của họ là không biết gì về tàu lẫn thuyền trưởng hết. Những gã thợ săn đều đã được nghe về lời đồn, họ bắn rất giỏi, nhưng cũng nổi tiếng về tính nóng nảy thích gây gổ tới nỗi không thể đăng kí đi lên bất kì con tàu tử tế nào.

    Tôi đã làm quen được với một thuyền viên khác. Anh ta tên là Louis, một gã Ireland vùng Nova Scotia có gương mặt tròn vui tính, một người bạn thân thiện, sẵn sàng nói bất kì điều gì miễn là tìm được người chịu nghe. Vào buổi chiểu, khi đầu bếp đã ngủ gật còn tôi bận gọt đống khoai tây bất tận, Louis sẽ nhảy vào bếp để "kiếm chuyện". Lí do anh ta lên tàu là vì đã kí trong lúc say. Anh ta quả quyết với tôi hết lần này tới lần khác rằng việc lên tàu là điều cuối cùng anh ta dám nghĩ đến nếu tỉnh táo. Có vẻ anh ta đã đi săn hải cẩu theo mùa cả hơn chục năm nay và được coi là một trong hai hoặc ba người lái thuyền giỏi nhất trong cả đội tàu.

    "Ôi, chàng trai," anh ta lắc đầu ái ngại với tôi, "Anh đã lên con tàu tệ nhất; dù lúc đó anh có say như tôi hay không. Săn hải cẩu đúng là thiên đường của thủy thủ, nếu chúng ta lên bất cứ con tàu nào khác. Đầu tiên là thuyền phó, nhưng, nhớ lời tôi, sẽ còn nhiều người nữa phải chết trước khi chuyến đi kết thúc. Nơi đây, đứng giữa anh và tôi và hai cột lan can là con quỷ Larsen Sói, còn tàu Bóng Ma là con tàu địa ngục kể từ khi lão làm chủ nó. Sao tôi biết hả? Sao tôi biết? Sao tôi quên được lão ngày ở Hakodate hai năm trước, khi lão nổi điên lên bắn bốn người của chính mình? Chẳng phải lúc đó tôi đang nằm trên Emma L cách đó chưa đến một trăm mét sao? Năm đó lão còn dùng tay đấm chết một người. Đúng thế, ông ta đã giết chết gã.. Ôi. Đầu gã vỡ toang như vỏ trứng ấy. Lão là một con quái thú, Larsen Sói là con quái thú khủng khiếp nhất trong Khải Huyền; lão sẽ không có kết cục tốt đẹp đâu. Nhưng nhớ là tôi chưa nói gì với anh đó; tôi chưa bao giờ rỉ ra một từ nào cả; vì Louis già bệu sẽ sống sót qua chuyến hành trình này, dù thằng con trai út của mẹ anh đi ngủ với cá."

    "Larsen Sói!" anh ta khịt mũi sau một lúc. "Nghe mà xem, có thấy không! Ông ta là sói, ông ta không thâm độc như một số kẻ. Nhưng ông ta không hề có tim. Sói, ông ta chỉ là sói thôi. Anh không thắc mắc về danh tiếng của ông ta sao?"

    "Nhưng nếu ông ta có tiếng xấu tới vậy," tôi hỏi, "làm thế nào ông ta thuê được người lên tàu?"

    "Anh làm thế nào để thuê người làm bất cứ việc gì trên đất và biển của Chúa trời?" Louis vặn lại với khí thế hừng hực của người Celt. "Làm thế nào anh gặp được tôi trên thuyền nếu tôi không say như lợn lúc kí tên? Có những kẻ không thể lên thuyền của những người tử tế hơn, như đám thợ săn, có những kẻ không biết, như đám ngu ở tàu buôn kia. Nhưng họ sẽ lên tàu, họ sẽ lên tàu rồi hối tiếc hết cả đời còn lại. Tôi có thể khóc thương đám tội nghiệp đó, nếu tôi quên trên đời còn có Louis già béo bệu cùng bao khốn khổ. Mà tôi không nói một lời nào đâu, nhớ chưa, không một lời nào."

    "Đám thợ săn láu cá lắm," anh ta lại tiết lộ, vì không chịu được bệnh thừa lời hành hạ. "Nhưng cứ đợi đến lúc chúng chọc vào lão mà xem. Lão sẽ xử lí chúng. Nếu là lão, lão sẽ khiến trái tim thối rữa thâm độc của chúng biết sợ Chúa lần nữa. Hãy nhìn gã thợ săn kia kìa. Horner, Horner" Lươn ", người ta gọi gã thế đó, giờ nó ít lời như đám ba phải, có nói cũng lít nhít như con gái, anh sẽ nghĩ tưởng bơ còn rắn hơn miệng gã. Nhưng gã có giết lái thuyền của mình vào năm ngoái không? Tôi đã nghĩ đó là một tai nạn đáng tiếc, nhưng rồi tôi gặp tay chèo cùng tổ thuyền đó ở Yokohama, thế mới sáng mắt ra. Cả Smoke nữa, cái thằng đen đúa quỉ quyệt – bọn người Nga đã nhốt gã ba năm trong mỏ muối ở Siberia vì săn trộm cá ở Đảo Copper, trên đất Nga? Còng cả tay lẫn chân của gã với thuyền phó lại. Vậy hai gã đó có bao giờ gây gổ đánh lộn không? Smoke đã chuyển bạn mình lên đỉnh hầm mỏ bằng giỏ treo; mỗi lần một miếng, hôm nay cái chân, ngay mai cái tay, ngày kia cái đầu, cứ vậy cho tới hết."

    "Không thể nào có chuyện đó được!" Tôi thốt lên, sau khi nỗi sợ hãi qua đi.

    "Chuyện gì?" Anh ta hỏi lại, nhanh như chớp. "Tôi chẳng nói gì cả. Tôi điếc, còn anh thì đần, nếu muốn được yên thân; tôi chưa bao giờ mở miệng nói bất kì điều gì về họ lẫn lão. Chúa nguyền rủa linh hồn ấy! Biết đâu lão sẽ thối rữa để ăn năn trong mười ngàn năm nữa, rồi đi xuống tầng địa ngục thấp nhất từng có!" Johnson, người đã cào xước ngực tôi khi tôi mới lên tàu, có vẻ là người không được chia nhiệm vụ ở mũi tàu hay đuôi tàu rõ ràng như những người khác. Thực ra, anh ta chẳng có gì rõ ràng hết. Có người bị ấn tượng bởi sự thẳng thắn và nam tính của anh ta, nhưng rồi lại bị thất vọng bởi những biểu hiện có thể bị nhầm với tính rụt rè. Nhưng anh ta không rụt rè. Anh ta can đảm bảo vệ lòng tin và nhân phẩm của mình. Anh ta sẽ đứng ra bảo vệ những điều đó, như lần đầu tiên chúng tôi gặp mặt, anh ta bị nhầm tên thành Yonson vậy. Dựa vào biểu hiện đó và chính con người anh ta, Louis đã đưa ra nhận xét và tiên đoán thế này.

    "Nó là một đứa ổn, cái thằng đầu đá Johnson đang ở khoang mũi với chúng ta," anh ta nói. Nó là thủy thủ giỏi nhất trong đám trên khoang mũi. Nó là tay chèo của tôi. Nhưng nó gặp rắc rối nên mới phải tìm đến Larsen Sói, giống như khói sẽ bay lên trên vậy. Chỉ mình tôi biết thôi. Tôi đoán trước được như nhìn cách mây cuộn tròn trước cơn bão. Tôi trò chuyện với nó như là anh em, nhưng nó không ưa nói chuyện hoặc toàn hiểu nhầm ý tôi. Nó nổi cáu khi không được như ý, mà lúc nào ở đây cũng lắm kẻ mách lẻo sẵn sàng truyền lời tới tai Sói. Sói rất mạnh, nên lão ghét sức mạnh, mà lão nhận ra Johnson rất mạnh – chẳng khúm núm chút nào, mấy câu "Vâng, thưa ông," "Cảm ơn, thưa ông," mà cậu ta thốt lên đơn giản vì bị chửi hoặc đánh thôi. Ôi, gió đến rồi! Gió đến rồi! Chúa mới biết tới bao giờ tôi sẽ có tay chèo khác. Tại sao thằng ngốc đó lại phải lên tiếng khi Lão Già gọi nó là Yonson, "Tên tôi là Johnson, thưa ông," rồi lại còn đánh vần ra từng chữ cái một. Anh phải thấy bản mặt Lão Già! Tôi cứ nghĩ lão sẽ xông tới cho nó một trận ngay cơ. Lão không làm thế, nhưng rồi sẽ cho nó một trận thôi, lão sẽ đập nát trái tim thằng đầu đá đó, hoặc làm theo cái cách tôi chưa từng chứng kiến, cách mấy gã trên thuyền của lão từng chết. "

    Thomas Mugridge càng ngày càng tai quái. Tôi buộc phải gọi gã bằng" ông "mỗi khi mở miệng. Một trong số lí do cho cớ sự ấy là vì Larsen Sói có vẻ thích gã. Theo như tôi biết, chuyện thuyền trưởng thân thiết với đầu bếp là chuyện chưa từng xảy ra, nhưng rõ ràng Larsen Sói đang làm như vậy. Thi thoảng ông ta sẽ thò đầu xuống bếp, thân mật châm chọc Mugridge. Và có một lần, vào chiều nay, ông ta đứng ở bục đuôi tàu và nói chuyện với gã tới tận mười lăm phút tròn. Khi hai người họ dứt chuyện, Mugridge trở vào bếp, hào hứng lạ thường, thậm chí còn vừa làm việc vừa ngâm nga những bài hát vùng Coster bằng giọng nam the thé lộn xộn.

    " Tao luôn thân thiết với cấp trên, "gã cất giọng tự tin nói với tôi." Tao biết tại sao, vì tao luôn biết cách để được yêu quý. Thuyển trưởng trước của tao ấy, tao chẳng phải nghĩ ngợi gì khi tạt vào cabin trò chuyện hay làm một ly. Ông ta nói với tao, "Mugridge, Mugridge, anh sinh lầm chỗ rồi." "Sao lại thế?" tao hỏi lại. "Anh đáng ra phải sinh trong nhà quyền quý, không phải làm việc kiếm sống." Tao mà nói dối thì trời đánh tao đi. Ông ấy đã nói thế với tao, còn tao ngồi ngay ở trong cabin riêng của ông ấy, vui vẻ lại thoải mái, hút một điếu thuốc, còn uống rượu rum nữa. "Giọng lách cha lách chách của gã khiến tôi mất tập trung. Tôi chưa bao giờ thấy ghét giọng ai đến thế. Giọng gã lổn nhổn và nhầy nhụa, nụ cười thì giả lả, chưa kể đến tính tự phụ khủng khiếp khiến tôi ghê tởm tới nỗi đôi lúc toàn thân run lên. Về mặt tích cực, thì hẳn tôi sẽ không còn gặp kẻ đáng ghê tởm và khó ưa hơn gã nữa. Gã nấu nướng bẩn thỉu không thể tả; nhưng gã là kẻ làm ra tất cả đồ ăn trên tàu, nên tôi buộc phải chọn lựa cẩn thận những gì cho vào miệng từ những phần ít bẩn nhất trong chỗ đồ gã nấu.

    Đôi bàn tay khiến tôi gặp phiền nhiễu lớn, vì chúng không quen làm việc. Móng tay bị đổi màu, nhuộm đen đi, còn lớp da thì nhẵn những ghét, tới nỗi có dùng bàn chải cũng không hết nổi. Tiếp đó, những vết rộp xuất hiện hành hạ tôi không dứt. Tôi còn bị vết bỏng lớn ở cẳng tay vì không giữ được thăng bằng một lần tàu nghiêng nên đã bị ném vào bếp lò. Đầu gối tôi cũng chẳng tốt hơn. Cục sưng không biến mất, nó vẫn ở nguyên trước xương bánh chè. Khập khiễng trên cái chân đó từ sáng tới tối càng khiến nó tệ đi. Tôi cần nghỉ ngơi, ấy là nếu cái chân này còn có thể lành lại.

    Nghỉ ngơi! Tôi chưa bao giờ hiểu nghĩa từ này. Tôi đã nghỉ ngơi cả cuộc đời này và còn không biết điều đó. Nhưng nếu giờ tôi có thể ngồi yên nửa tiếng đồng hồ không làm gì, không cả nghĩ ngợi, thì đó sẽ là nửa tiếng dễ chịu nhất đời. Nhưng mặt khác, chuyện này cũng khiến tôi sáng ra nhiều điều. Từ giờ trở đi, tôi sẽ biết coi trọng cuộc sống của những con người lao động. Tôi chưa từng nghĩ rằng làm việc lại là một điều tệ hại. Từ năm giờ rưỡi sáng tới mười giờ đêm, tôi là nô lệ của tất cả mọi người, không có một giây rảnh rang cho chính mình trừ lúc trộm lười biếng vào cuối phiên gác hai tiếng buổi tối. Tôi sẽ dừng lại một phút để nhìn ra mặt biển lấp lánh ánh mặt trời, hoặc nhìn một người thủy thủy đang đu lên cột buồm đỉnh, siết dây chằng ở rầm néo buồm, rồi sau đó tôi sẽ nghe cái giọng đáng ghét vang lên," Ê, mày đó, Hump! Đừng có chểnh mảng! Tao vẫn coi chừng mày đấy. "

    Có mùi căng thẳng tỏa ra từ buồng lái, có tin đồn là Smoke và Henderson đã đánh nhau. Henderson có vẻ là một trong số những thợ săn giỏi nhất, một gã ù lì và khó bị kích động; nhưng hẳn gã kích động nên mặt Smoke mới có một bên mắt sưng và thâm tím, trông ác độc hơn hẳn khi vào cabin dùng bữa tối.

    Một chuyện tồi tệ xảy ra ngay trước bữa tối đã cho tôi thấy sự tàn nhẫn và hung bạo của những người đàn ông này. Có một tay mới trong nhóm thuyền viên, tên là Harrison, một thằng nhóc nông thôn trông khá lóng ngóng. Tôi cho là nó đã nuôi giấc mơ phiêu lưu nên mới thực hiện chuyến đi đầu tiên này của mình. Gió thổi nhẹ và thất thường, nên con tàu bị chệch hướng, có lúc những cánh buồm bật từ bên nọ sang bên kia và họ phải cử người trèo lên chỉnh dây nâng buồm đỉnh.

    Không hiểu sao, khi Harrison trèo lên, dây góc buồm bị mắc vào cuối mối buộc ở cuối dây nâng buồm. Theo như tôi biết, có hai cách để gỡ nó ra – một là hạ xà buồm xuống, việc tương đối dễ dàng, không nguy hiểm; hai là trèo từ dây chằng lên cuối dây nâng buồm, một nhiệm vụ hết sức nguy hiểm.

    Johansen gọi Harrison leo ra dây nâng buồm. Ai cũng thấy là thằng nhóc đang sợ. Dù nó có giỏi tới đâu, thì nó cũng đang đứng trên boong tàu tới hơn hai chục mét, chỉ có thể bám vào những sợi dây chằng mỏng và đung đưa. Nếu sức gió ổn định thì còn đỡ, nhưng tàu Bóng Ma đã lắc lư suốt trên mặt biển dài, mỗi lần lắc những tấm vải lại phần phật kêu kéo dây nâng buồm quật tứ tung. Chỉ một lần quật, chúng có thể hất một con người xuống không khác một con ruồi.

    Lúc này, Harrison đã bắt đầu leo ra dây nâng buồm rồi. Tôi nhìn lên từ cửa bếp, có thể thấy rõ thằng bé run lẩy bẩy như lên cơn sốt rét. Nó di chuyển chậm chạp và cẩn trọng, nhích từng tấc một. Giữa nền trời xanh trong, trông nó như một con nhện khổng lồ bò trên mạng của mình.

    Nó phải leo ngược lên, vì buồm mũi ở rất cao; và dây nâng buồm chạy qua rất nhiều mối dây lên tới trên xà buồm và cột buồm, nên nó có nhiều chỗ để tay và chân. Nhưng gió gây cản trở lớn, gió không đủ mạnh lại không ổn định nên buồm không căng. Khi nó trèo được nửa đường, tàu Bóng Ma nghiêng một cú dài theo chiều gió và dựng thẳng trở lại ngay hõm sóng sâu hoắm. Harrison dừng lại và bám thật chặt. Từ hai mươi mét bên dưới, tôi có thể thấy cơ bắp nó căng ra vì cố bám lấy sự sống của chính mình.

    Cánh buồm rũ xuống, xà buồm vung ra giữa thuyền. Các dây chằng gião ra, dù chuyện xảy ra rất nhanh, tôi vẫn có thể thấy chúng tụt xuống vì sức nặng cơ thể hằng bé. Sau đó, xà buồm bật sang bên hết sức đột ngột, cánh buồm lớn bung ra như pháo bắn, ba hàng dây mép buồm bật vào vải bố vang như tiếng súng. Harrison đang lảo đảo giữa không trung. Nhưng nó đột ngột ngưng lảo đảo. Những dây chằng thoáng cái căng lại. Vang lên tiếng rít như roi quất vào không khí. Khớp xương của nó đã gẫy. Một bàn tay tuột khỏi chỗ bám. Bàn tay kia níu được thêm một vài giây, rồi cũng tuột theo. Cơ thể nó rơi thẳng xuống, nhưng nó xoay xở tự cứu bằng cách móc được chân lại. Thế là nó bị treo lơ lửng, đầu chúc xuống. Nó cố gắng với tay lên dây chằng lần nữa; nhưng nó chẳng làm được gì nhiều và lại bị treo ngược, thằng nhóc khốn khổ.

    " Tôi cá nó không muốn ăn tối nữa đâu, "tôi nghe thấy giọng Larsen Sói vọng ra từ bếp." Nhìn mắt cá nó đi. "Thật ra Harrison rất ốm yếu vì bị say sóng; nó đã đu người ở một chốn nguy hiểm quá lâu mà không di chuyển. Tuy nhiên, Johansen kiên quyết bắt nó hoàn thành nhiệm vụ.

    " Đáng xấu hổ, "Tôi nghe Johnson làu bàu bằng giọng tiếng Anh chính xác và cáu bẳn. Anh ta đang đứng ở mối buộc dây chính, cách chỗ tôi vài mét." Thằng nhóc đã sẵn sàng. Nó sẽ học được nhiều điều nếu có cơ hội. Nhưng chuyện này.. "Anh ta im bặt, trước khi quyết định thốt ra từ" giết người ".

    " Suỵt, im đi! "Louis thì thầm với anh ta." Mày còn thương mẹ mày thì ngậm mồm vào! "Nhưng Johnson vẫn cứ nhìn và tiếp tục làu bàu.

    " Nhìn đi, "tay thợ săn tên Standish nói với Larsen Sói," đó là tay chèo của tôi, tôi không muốn mất nó. "Chẳng sao đâu, Standish," ông ta trả lời. "Nó là tay chèo của anh khi nó ở trên thuyền, nhưng nó là thủy thủ của tôi khi nó đứng trên boong. Tôi muốn làm gì nó cũng được."

    "Nhưng chẳng có lí do gì.." Standish bắt đầu nói một tràng.

    "Chẳng sao đâu, sẽ ổn thỏa hết," Larsen Sói đáp lại. "Tôi đã nói rồi, đừng nhiều lời thêm nữa. Thằng nhóc đó là người của tôi, tôi sẽ nấu nó lên ăn nếu muốn." Vẻ giận dữ ánh lên trong mắt người thợ săn, nhưng anh ta quay gót và đi vào buồng lái chỗ bậc cầu thang rồi đứng ở đó và nhìn lên.

    Tất cả mọi người đều ở trên boong, mọi ánh mắt đều dõi lên cao, nơi mạng sống của một con người đang giãy giụa trước cái chết. Sự vô cảm của những người đàn ông này, những người cùng lúc được trao quyền kiểm soát sự sống của người khác, thật đáng kinh ngạc. Tôi, môt kẻ sống ngoài guồng quay của thế giới, chưa bao giờ dám mơ rằng chuyện này có thể xảy ra. Sự sống luôn là một điều gì đó thiêng liêng; nhưng ở đây nó chẳng là gì cả, chỉ là một con số mang tính thương mại. Tuy nhiên, tôi phải thừa nhận các thủy thủ đều đáng thương hại, như Johnson chẳng hạn; nhưng những kẻ chức cao hơn (thợ săn và thuyền trưởng) thì đều tàn nhẫn như nhau. Standish phản đối chỉ vì gã không muốn mất tay chèo của mình. Nếu đó là tay chèo của thợ săn khác, gã cũng sẽ như chúng, chỉ cảm thấy buồn cười.

    Còn về Harrison ư. Johansen phải mất tới mười lăm phút vừa chửi vừa mắng mới khiến nó tỉnh lại. Một lúc sau, nó leo ra được tới tới cuối xà buồm, bám chắc hơn nhờ móc hai chân vào nhau. Nó gỡ dây góc buồm, giờ thì đã rảnh tay trèo dốc xuống nếu bám theo các dây nâng buồm về tới cột buồm. Nhưng nó đã hết can đảm. Dù vị trí hiện tại của nó không an toàn, nó không muốn bỏ ra để leo vào vị trí không an toàn hơn trên những dây nâng buồm.

    Nó đưa mắt nhìn con đường mình sẽ phải đi rồi nhìn xuống boong. Mắt nó trợn trừng, người thì run cầm cầm. Tôi chưa từng thấy dấu vết của sự sợ hãi hiện hữu rõ rệt trên mặt một con người tới thế. Johansen gọi nó xuống trong vô vọng. Nó có thể bị hất xuống khỏi xà buồm bất cứ lúc nào, nhưng nó đã đầu hàng nỗi sợ. Larsen Sói, đi qua đi lại và trò chuyện với Smoke, không thèm để ý tới thằng nhóc nữa, dù có một lần ông ta hét với người cầm lái: "Anh đang chệch hướng đấy, chàng trai! Cẩn thận đấy, nếu không muốn gặp rắc rồi."

    "Vâng, thưa ông," lái tàu đáp lại, hạ vài nấc bánh lại xuống.

    Anh ta cảm thấy mắc tội vì đã khiến tàu Bóng Ma chệch hướng khá nhiều, để cơn gió nhẹ có thể làm căng buồm mũi và giữ nó ổn định. Anh ta đã cố gắng cứu Harrison khốn khổ khỏi cơn thịnh nộ của Larsen Sói.

    Thời gian trôi đi, sự hồi hộp khủng khiếp hành hạ tôi. Thomas Mugridge, mặt khác, lại coi đây là chuyện rất buồn cười, liên tục thò đầu ra khỏi cửa bếp để buông ra những lời nhận xét tự cho là hóm hỉnh. Tôi căm ghét gã! Và sự căm ghét đó qua khoảng thời gian đáng sợ này tăng tới mức khổng lồ! Lần đầu tiên trong đời tôi trải nghiệm cảm giác khát khao muốn giết người – "muốn thấy màu đỏ." như một trong số những nhà văn thuộc trường phái ấn tượng của chúng ta đã viết. Sự sống nói chung có lẽ vẫn là điều thiêng liêng, nhưng sự sống của một vài người cụ thể như Thomas Mugridge lại là một điều báng bổ. Tôi sợ hãi nhận ra mình đang muốn điều gì, một suy nghĩ chợt lóe qua đầu tôi: Liệu bản thân tôi có bị môi trường tàn nhẫn này ảnh hưởng không? – Tôi, một kẻ luôn phản đối hình phạt tử hình, cho rằng đó không phải công lí, dù là đối với những tội ác kinh hủng nhất.

    Nửa tiếng đồng hồ trôi qua, tôi chợt thấy Johnson và Louis gây sự với nhau. Cuộc cãi vã chấm dứt khi Johnson giật tay ra khỏi bàn tay giữ chặt của Louis và tiến lên. Anh ta đi qua boong, nhảy lên chỗ mối buộc dây buồm mũi và bắt đầu leo lên. Đôi mắt nhanh nhạy của Larsen Sói phát hiện ra ngay. "Ê, anh kia, anh định làm gì?" Ông ta hét lên.

    Johnson dừng leo. Anh ta nhìn thẳng vào mắt thuyền trưởng, chậm rãi đáp: "Tôi sẽ đưa thằng nhóc xuống."

    "Anh trèo xuống khỏi mối dây đó ngay, tránh xa nó ra! Có nghe không! Xuống ngay!" Johnson do dự, thói quen vâng lệnh chủ tàu trong nhiều năm đã chiến thắng, anh ta ủ rũ nhảy xuống và đi lên mũi tàu.

    Vào năm giờ rưỡi chiều, tôi xuống cabin để dọn bàn ăn; tôi không biết mình đã làm những chuyện đó thế nào, khi mà mắt và trí óc vẫn tràn ngập hình ảnh cậu bé trai mặt trắng bệch và run rẩy, kì cục bám trên xà buồm quật trái phải như một con bọ. Vào sáu giờ, khi tôi phục vụ bữa tối và đi lên boong để lấy đồ ăn ở trong bếp, tôi vẫn thấy Harrison ở đúng vị trí đó. Cuộc trò chuyện trên bàn ăn là về những việc khác.

    Dường như không ai quan tâm đến sự sống đang treo lơ lửng trên cao kia. Nhưng, khi đi về bếp một lần nữa, tôi vui mừng thấy Harrison lảo đảo đi từ mối dây buộc tới vòm mái mũi tàu. Cuối cùng cậu bé cũng dồn đủ can đảm để leo xuống.

    Trước khi đóng bút về câu chuyện này, tôi thấy mình buộc phải đề cập đên cuộc trò chuyện với Larsen Sói trong cabin lúc đang rửa chén bát. "Chiều nay trông anh rất nhợt nhạt," ông ta bắt đầu nói. "Có chuyện gì thế?" Tôi nhận ra ông ta thừa biết điều gì đã khiến tôi trông bệnh hoạn chẳng khác Harrison, ông đang nhử tôi. Tôi đáp: "Đó là vì cách cậu bé đó bị đối xử tàn nhẫn." Ông ta bật cười. "Giống say sóng, chắc thế. Một số người bị, một số người thì không."

    "Không phải," tôi phản đối.

    "Thế cả thôi," lão tiếp tục. "Trái đất này tràn ngập sự tàn nhẫn giống như biển cả tràn ngập sóng. Có những kẻ phát ốm vì điều này, có những kẻ phát ốm vì điều khác. Chỉ có lí do duy nhất đó thôi."

    "Nhưng ông nhạo báng mạng sống của một người, chẳng lẽ không có thứ gì có giá trị với ông sao?" Tôi hỏi.

    "Giá trị? Giá trị gì?" Ông ta nhìn tôi, đôi mắt lạnh nhạt và bất động, dường như chúng đang nở nụ cười hoài nghi. "Kiểu giá trị nào? Anh đánh giá chúng bằng cách nào? Ai đánh giá chúng?"

    "Tôi," tôi đưa ra câu trả lời.

    "Thế điều gì là có giá trị với anh? Hãy nói về sự sống của một người khác ấy. Nói đi, nào, có đáng giá? Giá trị cuộc sống? Làm sao tôi có thể đặt ra một giá trị hữu hình cho nó?" Không hiểu sao tôi, một kẻ luôn tràn đầy ý kiến về bất cứ thứ gì, lại câm bặt trước Larsen Sói. Tôi đã cho rằng tính cách của người đàn ông này là một phần nguyên do, nhưng phần lớn hơn là vì quan điểm hoàn toàn khác biệt của ông ta. Không như những người theo chủ nghĩa duy vật khác mà tôi đã gặp, những người tôi còn có điểm chung để trò chuyện, tôi không hề có điểm chung nào với ông ta. Có lẽ, đó cũng là lí do mà tâm trí đơn giản nguyên sơ của ông ta khiến tôi bối rối. Ông ta xông thẳng tới cốt lõi vấn đề, tấn công bằng những câu hỏi chi tiết tới không cần thiết, với tinh thần bi quan đẩy tôi vào vùng nước sâu không có gì chống đỡ. Giá trị cuộc sống ư? Làm sao tôi có thể đột nhiên trả lời câu hỏi ấy vào lúc này. Sự thiêng liêng của cuộc sống là một điều tôi coi là tiên đề hiển nhiên. Giá trị của nó là một lẽ tất yếu tôi chưa bao giờ nghi ngờ. Nhưng ông ta lại nghi ngờ điều hiển nhiên đó, tôi không biết phải nói gì.

    "Chúng ta đã nói về chuyện này ngày hôm qua," ông ta nói. "Tôi coi sự sống giống như men rượu, một thứ nuốt chửng những sự sống khác để có thể sống, và sự sống chỉ là tính tham được thỏa mãn. Thế nên, nếu xét theo giá trị cung cầu, sự sống là thứ rẻ mạt nhất trên thế giới. Trên đời có thừa đất, nước và không khí, nhưng nhu cầu của sự sống là vô hạn. Thiên nhiên quá hào phóng. Hãy nhìn lũ cá và cả triệu trứng của chúng. Tương tự, hãy nhìn anh và tôi. Trong bụng của chúng ta có lẽ đã từng chứa cả triệu sự sống khác. Nếu chúng ta có thể tìm đủ thời gian và cơ hội tận dụng giá trị của mọi sự sống đã chết đi trong ta, chúng ta sẽ trở thành cha của những đất nước và những lục địa đông nghẹt.

    " Sự sống ư? Ha ha! Không có giá trị gì hết. Thứ rẻ rúng nhất trong tất cả mọi thứ. Nó đi ăn mày mọi ngõ ngách. Thiên nhiên đã chìa bàn tay nuông chiều nó. Nơi chỉ đủ chỗ cho một cuộc sống, thiên nhiên gieo xuống cả ngàn sinh mạng, thế nên sinh mạng này ăn sinh mạng khác tới khi kẻ mạnh nhất và tham lam nhất trụ lại được. "

    " Ông đã đọc Darwin, "tôi nói." Nhưng ông đã hiểu nhầm, dẫn đến kết luận rằng nỗ lực vật lộn tồn tại tạo ra cuộc đời vô liêm sỉ và tan nát. "Ông ta nhún vai." Anh biết anh chỉ nói thế nếu là về cuộc sống của con người, chứ không phải lũ gà, lũ cá đã bị anh hay tôi hay bất cứ con người nào tiêu diệt. Sự sống của con người chẳng có gì khác, trừ chuyện anh cảm thấy và nghĩ rằng có lí do khác. Tại sao tôi lại phải trân trọng sự sống vốn rẻ mạt không hề có giá trị? Có nhiều thủy thủ hơn số lượng tất cả tàu bè trên biển cần, có nhiều công nhân hơn số lượng nhà máy cần. Tại sao, anh, kẻ sống trên đất liền, hiểu được rằng dù có dựng nhà cho những con người nghèo khổ sống trong khu ổ chuật của các thành phố, với bệnh tật và nghèo đói dày vò, thì vẫn còn nhiều hơn nữa những kẻ nghèo chết đi thèm khát một mẩu bánh mì hoặc một ít thịt (được tạo ra từ một sinh mạng bị hủy diệt), nếu hiểu anh sẽ biết phải làm gì. Anh đã bao giờ nhìn thấy phu tàu London đánh nhau như thú hoang vì một công việc chưa? "Ông ta bắt đầu đặt chân lên cầu thang, nhưng quay đầu lại để nói câu cuối cùng." Anh có biết, giá trị duy nhất của sự sống là thứ sư sống tự đặt cho mình, và đương nhiên giá trị đó sẽ bị thổi phồng, vì nó luôn tạo ra định kiến có lợi cho chính nó. Cứ nhìn thằng nhóc trèo lên buồm đi. Nó níu kéo như thể nó là một thứ vô cùng giá trị, một kho báu đáng giá hơn cả kim cương, hồng ngọc. Nó có coi anh như vậy không? Không. Còn tôi? Không hề? Với nó, câu trả lời là có. Nhưng tôi không chấp nhận cách đánh giá của nó.

    Nó đánh giá cao bản thân tới đáng buồn. Có quá nhiều sinh mạng đòi hỏi được sinh ra. Nếu nó trượt chân ngã, đánh rơi não mình xuống boong như mật ong chảy khỏi tổ, thế giới sẽ chẳng có tổn thất nào. Nó chẳng có giá trị gì với thế giới. Nguồn cung của sinh mạng quá lớn. Với nó, chỉ có nó là có giá trị, và để thể hiện giá trị đó hoang đường ra sao, khi chết, nó sẽ vô tình đánh mất bản thân. Chỉ mình nó coi chính mình đáng giá hơn kim cương, hồng ngọc. Kim cương và hông ngọc đã mất, đổ ra sàn để nước biển cuốn đi. Nó chẳng mất gì cả, vì muốn mất thì nó phải hiểu được định nghĩa của sự mất. Anh có thấy không? Anh có gì để nói chứ? "

    " Thưa ông, ít nhất, ông rất nhất quán, "đó là tất cả những gì tôi có thể nói, đoạn, tôi tiếp tục rửa bát.

    [1] Phiên gác hai tiếng: Nguyên văn" dog–watch", thuật ngữ hàng hải. Dog watch là khoảng ca làm việc từ 16 giờ tới 20 giờ, và sẽ được chia ra làm hai. Ca gác đầu vào buổi chiều từ 16 giờ tới 18 giờ. Ca gác hai tiếng tiếp theo vào buổi tối từ 18 giờ tới 20 giờ.
     
    Nguyễn Ngọc Nguyên thích bài này.
  8. Huong97@

    Bài viết:
    3
    Chương 7

    Bấm để xem
    Đóng lại
    Cuối cùng, sau ba ngày gặp đủ các loại gió, chúng tôi cũng bắt kịp gió tín phong. Tôi lên boong sau một đêm nghỉ ngơi dù chân vẫn sưng, để thấy tàu Bóng Ma đang rẽ sóng với tất cả các buồm mở rộng căng tràn làn gió mát đẩy từ phía sau, trừ các buồm phụ. Ồ, gió tín phong mới kì diệu làm sao! Chúng tôi căng buồm cả ngày và đêm, ngày hôm sau, và ngày hôm sau nữa, ngày tiếp ngày, cơn gió vẫn ổn định và mạnh mẽ. Con tàu tự đẩy mình đi. Không cần kéo và chỉnh dây góc buồm hay mối dây, không cần nâng buồm đỉnh, không có việc nào cần tới thủy thủ cả trừ lái tàu. Vào ban đêm, khi mặt trời đã lặn, các dây góc buồm chùng xuống; vào ban ngày, chúng nở ra vì hơi ẩm của sương và cần được kéo chặt lại – đó là tất cả những việc cần làm.

    Mười hải lí, mười hai hải lí, mười một hải lí, tốc độ của chúng tôi mỗi lần một khác; luôn luôn đắm mình trong làn gió tín phong dũng mãnh đẩy chúng tôi đi đúng hướng hai trăm năm mươi dặm một ngày. Nó khiến tôi vừa buồn vừa vui, vì chúng tôi càng ngày càng cách xa San Francisco và đang rẽ sóng hướng về vùng nhiệt đới. Thời tiết nóng dần lên rõ rệt. Vào phiên gác hai tiếng buổi tối, các thủy thủ lên boong, cởi trần và đổ từng xô nước lên người nhau bên mạn hông. Cá chuồn bắt đầu xuất hiện, vào ban đêm, đội gác xô nhau lên boong để bắt những con rơi xuống tàu. Vào sáng sớm, Thomas Mugridge rất dễ đút lót, căn bếp thơm lừng mùi rán, thi thoảng thịt cá heo sẽ được phục vụ ở mũi tàu và đuôi tàu nếu Johnson bắt được sinh vật tuyệt đẹp đó từ rầm néo cột buồm.

    Có vẻ Johnson dành toàn bộ thời gian rảnh rỗi của mình ở đó hoặc treo mình trên xà ngang, ngắm tàu Bóng Ma rẽ nước mà đi nhờ sức đẩy của những cánh buồm. Mắt anh ta sẽ rực sáng đam mê và trìu mến, anh ta ngây ngất nhìn những cánh buồm no gió, cuộn sóng bạc đầu và cách con tàu cưỡi lên những ngọn núi nước nhịp nhàng chạy về phía chúng tôi.

    Đêm và ngày đều là "niềm hân hoan kì diệu và hoang dại," dù tôi chẳng còn mấy thời gian riêng vì chuỗi công việc nhàm chán, tôi vẫn trộm được vài phút để ngắm nhìn sự huy hoàng bất tận của thế giới tôi chưa từng mơ được sở hữu. Trên cao, bầu trời một màu xanh trong vắt – xanh như chính mặt biển, còn mặt biển dưới chân mang sắc lam lấp lánh của sa tanh. Đường chân trời lơ thơ vài bóng mây bay bổng, chẳng bao giờ thay đổi hay di chuyển, như bức nền xanh làm nổi bật viên ngọc xanh hoàn mĩ là bầu trời.

    Tôi không thể quên được một đêm nọ, lúc đó thường thì tôi đã ngủ say, nhưng tôi lại nằm trên mũi tàu và nhìn xuống những gợn sóng lan sang hai bên đáy tàu. Âm thanh ấy nghe như tiếng rì rào suối chảy qua những viên sỏi rong rêu giữa thung lũng tĩnh lặng, bài ca thuần khiết đó mê hoặc tâm hồn tôi, tôi chẳng còn là Hump – gã bồi tàu, hay Van Weyden quí ông mơ mộng với sách vở suốt ba mươi lăm năm. Nhưng một giọng nói vang lên từ sau đã khiến tôi kinh ngạc, đó là giọng không lẫn vào đâu được của Larsen Sói, mạnh mẽ với sự cứng rắn không thể lay chuyển đầy nam tính và sự dịu dàng trân trọng từng từ được phát ra.

    Ôi, lộng lẫy thay màn đêm nhiệt đới, khi tàu rẽ trên những chùm tia sáng

    Giam giữ bầu trời nóng bỏng.

    Mũi tàu ầm rung lướt trên gò má ướt mẹ thiên nhiên

    Nơi cá voi sợ tránh ánh lửa hồng.

    Thân tàu lóe ánh nắng yêu thương,

    Dây thừng đẫm sương

    Vì chúng ta đang băng đi trên đường cũ, đường của chúng ta, đường hướng ra bao la,

    Phương nam đường dài ta đến, đường dài luôn mới.

    "Ê, Hump? Anh thấy sao hả?" Ông ta hỏi, ngừng ngâm nga và yêu cầu tôi.

    Tôi nhìn vào mặt ông ta. Nó phản chiếu ánh sáng như chính mặt biển, đôi mắt lấp lánh ánh sao.

    "Tôi thấy thật đặc biệt, hóa ra, ông cũng thể hiện sự hứng khởi," tôi lạnh nhạt đáp lại.

    "Tại sao không, đó là sự sống, đó là cuộc sống!" Ông ta hét lên.

    "Thứ tẻ nhạt và không có giá trị." Tôi ném trả lời ông ta lại cho chính ông ta.

    Ông ta phá ra cười, đây là lần đầu tiên tôi nghe được tiếng cười chân thành từ người này.

    "A, tôi không thể khiến anh hiểu được, không thể nhét nó vào đầu anh được, định nghĩa sự sống. Tất nhiên, sự sống là vô giá trị, trừ với chính bản thân sự sống. Tôi có thể nói cho anh rằng sự sống của tôi hiện có giá trị rất cao – với tôi. Nó là vô giá, mức giá này anh sẽ phải thừa nhận là quá cao, nhưng tôi biết làm sao được khi sự sống trong tôi đặt ra cái giá đó." Dường như ông ta chờ đợi những từ ngữ tiếp theo có thể tuôn ra thể hiện suy nghĩ bên trong mình, để tiếp tục: "Anh hiểu không, trong tôi tràn ngập cảm giác lâng lâng kì lạ; tôi cảm thấy nó vang vọng trong mình mọi lúc, dù tất cả quyền hành là của tôi. Tôi hiểu sự thật, biết chia ra thiện ác, đúng sai. Tầm nhìn của tôi rõ và xa. Tôi suýt có thể tin vào Chúa Trời."

    "Nhưng" – giọng ông ta thay đổi, ánh sáng tan biến khỏi gương mặt ấy – "ở tình cảnh nào thì tôi tìm thấy được niềm vui được sống, sự sung sướng của cuộc đời, hay tôi còn có thể gọi đó là niềm cảm hứng? Là khi một kẻ có bụng tốt được lấp căng dạ dày, khi cơn đói khát được thỏa mãn, khi mọi chuyện đều tốt.

    Đó là sự hối lộ cho sự sống, là sâm banh của máu, là sự sủi bọt của những cái men, những điều khiến con người có những suy nghĩ thiêng liêng, một số người sẽ thấy được Đức Chúa hoặc sáng tạo nên ông ta nếu họ không thể thấy ông ta. Đó là tất cả – men say cuộc sống, cách những cái men cử động và bò đi, sự ba hoa của cuộc sống điên khùng nhận ra rằng nó đang sống. Rồi – bang! Ngày mai tôi sẽ trả giá vì nó như những thằng say trả tiền rượu, vì những kẻ khốn khổ ấy bám chặt lấy hũ vàng rồi tỉnh lại trong nghèo khó. Tôi biết mình rồi sẽ phải chết, hẳn là ngay trên biển, khi đã không thể bò được nữa, để những thứ có thể bò phá hủy nốt phần còn lại của mình trong đại dương; tôi nuôi dưỡng, bồi đắp nên sức mạnh và chuyển động của cơ bắp của tôi để chúng trở thành sức mạnh và chuyển động trong vây, vảy và ruột cá. Bang! Và bang! Lại nữa nào. Sâm banh đã bắn ra rồi. Bọt và bong bóng đã phụt ra rồi, thứ đồ uống vô vị ấy."

    Ông ta đột nhiên bỏ đi như khi đến, nhảy xuống boong với sức nặng và sự dẻo dai của một con hổ. Tàu Bóng Ma vẫn rẽ sóng mà đi. Tôi để ý thấy mũi tàu kêu liu riu như tiếng ngáy, tôi lẳng lặng lắng nghe tiếng kêu ấy trong khi sức ảnh hưởng từ bài diễn văn đột ngột đi từ hân hoan tuột đỉnh tới tuyệt vọng dần rời bỏ tôi. Sau đó, vài thủy thủ vùng nước sâu đi từ eo tàu ra, cất cao giọng hát "Bài ca của gió tín phong" :

    Ồ, tôi là cơn gió các chàng thủy thủ vẫn yêu. Cơn gió dũng mãnh và mạnh mẽ, là tôi đấy; Họ theo dấu mây trên đầu tìm tôi. Trên màu xanh nhiệt đới vô tận.
     
    Nguyễn Ngọc Nguyên thích bài này.
  9. Huong97@

    Bài viết:
    3
    Chương 8

    Bấm để xem
    Đóng lại
    Đôi lúc tôi nghĩ Larsen Sói bị điên, hoặc ít nhất là có vấn đề về tâm thần vì tính khí bất thường và kì quái của ông ta. Nhưng có những lúc, tôi lại coi ông là người vĩ đại, một thiên tài chưa bao giờ tỏa sáng. Cuối cùng thì, tôi bị thuyết phục rằng ông ta là dạng người hoàn hảo thời nguyên thủy, sinh nhầm một ngàn năm rong thế kỉ đang chuyển mình sang thời đại văn minh. Ông ta có những biểu hiện rõ ràng nhất của những kẻ theo chủ nghĩa cá nhân. Không những thế, ông ta còn cô độc. Ông ta không hề thân thiết với bất cứ người nào trên tàu; tính kiên cường thái quá và sức mạnh tinh thần vượt trội đã ngăn cách ông ta và họ. Họ giống như lũ trẻ trước mặt ông, kể cả những người thợ săn cũng vậy. Ông ta cũng đối xử với họ như trẻ con, cực chẳng đã mới hạ mình xuống ngang tầm và chơi với họ như chơi với lũ cún cưng. Hoặc ông ta kiểm soát họ bằng bàn tay tàn nhẫn của bác sĩ giải phẫu, nắm lấy mạch thần kinh và khám xét linh hồn họ để tìm hiểu cái thứ gọi là linh hồn được làm từ gì.

    Tôi nhiều lần thấy ông ta châm chọc một gã thợ săn nào đó bằng đôi mắt lạnh và bình thản, song đôi lúc lại tỏ ra hứng thú, băn khoăn về hành động của họ, hoặc đáp trả, hoặc nổi xung cùng vẻ tò mò khá là nực cười đối với khán giả bất đắc dĩ là tôi. Từ góc nhìn của tôi, tôi cho rằng chúng là không phải cơn giận thật sự, có vài lần chúng chỉ là những cuộc thử nghiệm, phần lớn những lần còn lại chúng là thói quen hay thái độ cư xử mà ông ta cho là thích hợp khi đối diện với cấp dưới. Tôi hiểu, ngoại trừ lần xui rủi khi thuyền phó chết, ông ta chưa thực sự nổi giận trước mặt tôi bao giờ; tôi cũng không muốn thấy ông ta thực sự giận dữ và phô bày tất cả sức mạnh của mình.

    Trong khi tự hỏi về con người bất thường ấy, tôi sẽ kể điều đã xảy đến với Thomas Mugridge trong cabin và kết thúc câu chuyện về vụ việc tôi đã đề cập một hoặc hai lần trước. Hôm đó, bữa tối vào mười hai giờ vừa kết thúc, tôi đã dọn dẹp xong cabin thì Larsen Sói và Thomas Mugridge đi xuống cầu thang. Dù gã đầu bếp đã có một cái phòng riêng bé tí mở ra đằng cabin, nhưng chưa bao giờ dám lảng vảng hay nhìn vào bên trong cả. Gã vẫn thường đi tới đi lui trước đó một hai lần một ngày, giống như một bóng ma nhút nhát.

    "Anh biết chơi Nap hả," Larsen Sói nói bằng giọng khá vui vẻ. "Tôi biết mà, người Anh sẽ biết trò này. Tôi đã tự học nó trên tàu của người Anh." Thomas Mugridge đứng cạnh ông ta, mừng tới mụ mị cả người vì được thân thiết với thuyết trưởng. Cái bộ tịch kệch cỡm của gã, cố gắng tới sức cùng lực kiệt để tưởng tượng cuộc sống thảnh thơi của một người được sinh ra ở chốn cao sang, trông sẽ thật đáng tởm nếu không lố bịch đến thế. Gã lờ đi sự hiện diện của tôi, dù tôi cho rằng chẳng qua gã không có khả năng trông thấy mình. Đôi mắt màu nhạt mơ màng của gã lấp lánh như mặt biển lười biếng ngày hè, nhưng tôi không thể tưởng tượng ra chúng đang mang những ảo tưởng hạnh phúc nào.

    "Lấy bài đi, Hump," Larsen Sói ra lệnh khi họ ngồi xuống bàn, "mang thuốc lá và rượu whiskey ở giường của tôi ra."

    Tôi trở lại với những thứ được yêu cầu vừa lúc nghe thấy tiếng gã Cockney gợi ý rằng bản thân gã có chút bí ẩn –gã có thể là con trai một quý ông phạm sai lầm hay gì đó tương tự; hoặc gã là ngoại kiều bị người ta trả tiền để không được về Anh nữa – "trả rất hào phóng, thưa ông," nguyên văn lời gã là vậy; "trả rất hào phóng để tôi biến đi và không trở lại." Tôi mang ra những ly rượu đúng tiêu chuẩn, nhưng Larsen Sói nhíu mày, lắc đầu và chỉ tay ra hiệu bảo tôi mang cốc đế bằng ra. Tiếp đó, ông ta đổ đầy hai phần ba cốc bằng rượu whiskey không pha, – "thức uống cho một quý ông," trích lại lời Thomas Mugridge, – đoạn, họ chạm cốc tôn vinh trò chơi Nap cao quý, châm thuốc và bắt đầu xáo, chia bài.

    Họ chơi bài ăn tiền. Họ tăng dần số tiền đặt cược. Họ uống rượu whiskey, họ uống hết, tôi lại đổ thêm. Tôi không biết Larsen Sói có gian lận không – điều này hẳn ông ta làm được – nhưng ông ta thắng suốt. Tay đầu bếp liên tục về giường để lấy tiền. Mỗi lần đi, gã đều sẽ mang trở lại nhiều hơn vài đô la. Gã dần say xỉn, khó nhìn nổi lá bài đang cầm hay ngồi thẳng lưng nữa. Có một lần trước khi đi về giường, gã dùng ngón tay nhầy mỡ móc vào khuy áo Larsen Sói, tuyên bố liên tục: "Tôi có tiền. Tôi có tiền. Tôi bảo rồi, tôi là con trai một quý ông." Larsen Sói không bị rượu làm say, dù ông ta uống từng cốc một, thậm chí cốc ông ta còn đầy hơn. Ông ta chẳng thay đổi gì hết. Ông ta không tỏ ra vui vẻ khi thấy cảnh người khác trở nên ngốc nghếch.

    Cuối cùng, sau lời tuyên bố rằng bản thân sẽ thua như một quý ông, món tiền cuối cùng của gã đầu bếp bị nướng hết sạch vào trò chơi. Sau đó, gã gụp đầu vào tay và khóc. Larsen Sói tò mò nhìn gã, như thể đang quan sát và mổ sẻ, đoạn lại thay đổi suy nghĩ, cho rằng chẳng có gì đáng quan sát như kết luận ban đầu.

    "Hump," ông ta nói với tôi, cực kì lịch sự, "vui lòng đỡ ông Mugridge, giúp ông ấy lên boong. Ông ấy hiện không khỏe. Bảo Johansen dội cho vài xô nước muối nữa," đoạn sau ông ta hạ giọng để chỉ mình tôi nghe được.

    Tôi bỏ ông Mugridge lại trên boong, trong tay của một cặp thủy thủ đang cười toe toét đã được nghe về mệnh lệnh tiếp theo. Ông Mugridge mơ màng lẩm bẩm mình là con trai một quý ông. Nhưng khi tôi đi xuống cầu thang để dọn bàn, tôi nghe gã ré lên khi bị dội xô nước đầu tiên.

    "Một trăm tám mươi đô la chẵn." Ông ta nói to. "Đúng như tôi nghĩ. Lúc lên thuyền thằng ăn mày đó chẳng có xu nào."

    "Số tiền ông thắng được là của tôi, thưa ông." Tôi táo gan nói.

    Ông ta thưởng cho tôi nụ cười khó hiểu. "Hump, tôi đã dành thời gian học một ít ngữ pháp, và anh dùng từ sai rồi." Từng là của tôi, "anh phải nói vậy, chứ không phải" của tôi "."

    "Câu hỏi nên được đặt ra, không phải là về ngữ pháp, mà là đạo đức," tôi đáp lại.

    Phải một phút sau, ông ta mới cất tiếng.

    "Anh biết không, Hump," ông ta nói, với vẻ nghiêm túc đượm nỗi buồn khó hiểu, "đây là lần đầu tiên tôi nghe từ" đạo đức "từ miệng một con người. Anh và tôi là những người duy nhất trên con thuyền này hiểu nó nghĩa là gì." Có một lần trong đời, "ông ta tiếp tục, sau khi dừng lại một chút," Tôi đã mơ tới ngày sẽ được nói chuyện với những người sử dụng ngôn ngữ như thế, cái ngày tôi đưa được bản thân ra khỏi chốn mình được sinh ra, trò chuyện và hòa nhập với những kẻ nói về những điều như đạo đức. Nhưng đây là lần đầu tiên tôi nghe cách từ đó phát âm. Nhưng dù sao đi nữa, anh đã sai rồi. Đây không phải câu hỏi về ngữ pháp hay đạo đức, mà là thực tế. "

    " Tôi hiểu, "tôi nói." Thực tế rằng ông đã cầm tiền. "

    Mặt ông ta sáng lên. Ông ta có vẻ hài lòng về sự thông minh của tôi.

    " Nhưng nó lảng tránh câu hỏi thực sự, "tôi tiếp tục," rằng điều gì là đúng. "

    " À, "ông ta kêu lên, kèm theo một cái bĩu môi," Tôi thấy anh vẫn còn tin vào những thứ như đúng với sai. "

    " Vậy ông không tin sao, không một chút nào? "Tôi hỏi lại.

    " Không hề. Quyền lực là đúng, tất cả chỉ có thế. Yếu đuối là sai. Đó là cách nghèo nàn để nói rằng mạnh mẽ là tốt đẹp, yếu đuối là xấu xa, hoặc, mạnh thì sung sướng, vì sẽ được lợi, yếu thì khổ nhục, vì phải chịu thiệt. Như hiện tại, quyền sở hữu số tiền này là một điều sung sướng. Kẻ sở hữu nó đang sung sướng. Khi đang sở hữu số tiền này, nếu tôi đưa nó cho anh, thì tôi sẽ sai trước bản thân và sự sống trong tôi vì đã bỏ qua niềm sung sướng được sở hữu nó. "

    " Nhưng ông sai trái trước tôi vì giữ nó lại, "tôi phản đối.

    " Không hề. Con người sẽ không sai trước người khác. Con người chỉ sai trước chính bản thân mình. Tôi thấy rắng, nếu xét theo lợi ích của người khác, tôi đã luôn sai trái. Anh không thấy sao? Sao hai cái men lại sai khi nuốt chửng nhau được? Di sản chúng kế thừa là bản tính nuốt lấy nhau và cố để không bị nuốt chửng. Nếu không phải thế, chúng phạm tội. "

    " Thế ông không tin vào lòng vị tha sao? "Tôi hỏi.

    Ông ta đón nhận từ đó như thể nó quen thuộc lắm, nhưng phải mất một lúc để suy nghĩ." Để tôi xem; nghĩa từ này liên quan tới sự hợp tác, đúng chứ? "

    " Ồ, theo một cách nào đó thì đúng là có sự tương quan, "tôi đáp lời, lần này không lấy làm ngạc nhiên vì sự thiếu hụt trong kho từ vựng của ông ta, từ vựng và kiến thức ông ta có được đều qua tự đọc, tự học mà không có ai hướng dẫn, khối kiến thức của người nghĩ nhiều, nói ít, thậm chí chẳng nói gì." Một hành động vị tha là hành động được thực hiện vì lợi ích của người khác. Nó trái với ích kỉ, tức hành động thực hiện chỉ vì bản thân mình. "

    Ông ta gật đầu." Ồ, phải. Tôi nhớ ra rồi. Tôi đã đọc từ đó trong Spencer[1] . "

    " Spencer! "Tôi kêu lên." Ông đã đọc sách của ông ấy? "

    " Không nhiều, "ông ta thú nhận." Tôi hiểu được khá nhiều về "Các nguyên tắc thứ nhất," nhưng "Sinh học" khiến tôi rối trí, cuốn "Tâm lí học" thì khiến tôi bần thần suy nghĩ rất nhiều lần trong ngày. Tôi thật sự không thể hiểu những điều ông ta muốn nói. Tôi phải đóng sách lại để bảo vệ tâm thần mình, nhưng từ đó trở đi tôi đã quyết định cần sự chuẩn bị để đọc nó. Tôi không có nền tảng. Chỉ có Spencer và tôi hiểu tôi bị tổn hại nặng nề như thế nào. Nhưng tôi học được vài điều từ cuốn "Dữ liệu về đạo đức." Tôi đã đọc từ "vị tha" từ đó, và giờ tôi đã nhớ nó được dùng như thế nào rồi. "

    Tôi băn khoăn không biết người đàn ông này đã học được gì từ một tác phẩm như thế. Tôi nhớ đủ nhiều về những điều Spencer đã viết để hiểu rằng vị tha là nét bắt buộc phải có trong hạnh kiểm cao quí nhất theo lí tưởng của ông ta. Larsen Sói rõ ràng đã nghiên cứu kĩ những lời dạy của triết gia vĩ đại, nhưng chối bỏ và chọn lọc theo những gì ông ta cần và muốn.

    " Ông còn đọc những gì nữa? "Tôi hỏi.

    Đôi lông mày ông ta hơi nâng lên trong nỗ lực lặng im để cất thành lời những suy nghĩ ông ta chưa bao giờ có thể nói ra. Tôi cảm thấy tinh thần phấn khởi. Tôi đã mò mẫm chạm vào được phần linh hồn của ông ta, khi ông ta nỗ lực mò mẫm chạm vào linh hồn người khác. Tôi đang khám phá một lãnh thổ trinh nguyên. Một vùng đất vô cùng kì lạ đang tự trải ra ngay trước mắt tôi.

    " Không thể nói ngắn gọn được, "ông ta bắt đầu," Spencer đã từng viết thế này: Đầu tiên, con người hành động vì lợi ích chính mình – hành động như vậy là vì đạo đức và lợi ích. Thứ hai, anh ta phải hành động vì lợi ích của con cái mình. Thứ ba, anh ta phải hành động vì lợi ích của giống loài mình. "

    " Và phẩm hạnh cao quí nhất, tốt đẹp nhất, "tôi xen ngang," là hành động làm lợi cho đồng thời chính người đó, con cái người đó và giống loài của người đó. "

    " Tôi không đồng ý, "ông ta đáp lại." Không thấy nổi tính cần thiết, hay thường thức trong câu đó. Tôi bỏ qua giống loài và con cái. Tôi sẽ không hi sinh bất cứ thứ gì cho họ. Quá là ủy mị, hẳn anh cũng tự hiểu, ít nhất là với những người tin vào sự sống bất diệt. Nếu tôi tin vào sự bất diệt, lòng vị tha sẽ là một đề xuất kinh doanh đáng trả tiền. Tôi có thể nâng linh hồn mình lên theo bất kì độ cao nào. Nhưng nếu tôi không hề bất tử trước cái chết, mà chỉ là một cái men bò quẫy bị yếm thứ phép màu mang tên sự sống, thì thật vô đạo khi có những hành động hi sinh. Bất kì sự hi sinh nào đều sẽ khiến tôi mất đi cơ hội để bò và cử động đều ngu xuẩn; không chỉ ngu xuổn, mà còn sai trái trước chính bản thân tôi, quá nguy hại. Tôi không thể để mất bất kì cơ hội được bò, được cử động nào nếu tôi muốn ăn được nhiều con men nhất. Sự bất động vĩnh hằng chạm vào tôi khó hay dễ là do sự hi sinh hay ích kỉ trong thời gian tôi là con men bò quằn quại. "

    " Vậy ông là một người theo chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa duy vật, và hiển nhiên, chủ nghĩa khoái lạc. "

    " Những từ to tát, "ông ta cười." Nhưng chủ nghĩa khoái lạc là gì? "

    Ông ta gật đầu khi nghe tôi định nghĩa.

    " Và ngoài ra, "tôi tiếp tục," ông là người không thể tin tưởng bất cứ điều gì có thể mang tính ích kỉ vì lợi ích cá nhân? "

    " Giờ anh bắt đầu hiểu rồi đấy, "ông ta rạng rỡ nói.

    " Ông là người hoàn toàn không có cái mà thế giới gọi là đạo đức. "

    " Đúng thế. "

    " Một người đàn ông mọi người phải sợ hãi.. "

    " Cũng là một cách nói. "

    " Như cách người ta sợ rắn, hổ, hay cá mập? "

    " Giờ anh biết tôi rồi, "ông ta nói." Anh đã biết tôi như cách tôi thường được biết đến. Những kẻ khác gọi tôi là Sói. "

    " Ông là một loài quái vật, "tôi táo bạo nói thêm," anh chàng Caliban[2] băn khoăn về hung thần Setebos, một kẻ hành xử giống như ông, nông nổi thất thường theo ý thích bản thân trong những phút giây nhàn rỗi. "

    Trán ông ta nhăn lại trước sự mỉa mai đó. Ông ta không hiểu, và tôi nhanh chóng biết được rằng ông ta không biết bài thơ đó.

    " Tôi mới đang đọc Browning, "ông ta thú nhận," khá khó. Tôi không đọc được nhiều, tôi đã hết chịu nổi sách của ông ta. "

    Để không quá dài dòng, tôi xin nói luôn tôi đã lấy cuốn sách đó ra khỏi phòng riêng của ông ta và đọc to bài" Caliban ". Ông ta rất vui. Đó là cảm xúc sơ khai khi có cơ hội lí luận và phân tích những điều ông ta đã biết. Ông ta cắt ngang liên tục với những lời bình luận và chỉ trích. Khi tôi đọc xong, ông ta bảo tôi đọc lại nó lần thứ hai, rồi thứ ba. Chúng tôi bắt đầu thảo luận – về triết học, khoa học, tiến hóa và tôn giáo.

    Ông ta đã đối đầu với mối nguy hại từ những điều thiếu chính xác khi tự học, và tôi phải thừa nhận, ông ta có sự chắc chắn và thẳng thắn của một trí tuệ nguyên thủy. Sự đơn giản trong cách lí luận của ông ta mang sức mạnh của riêng nó, chủ nghĩa duy vật của ông ta còn hấp dẫn hơn chủ nghĩa duy vật phức tạp của Charley Furuseth. Theo Furuseth từng nói, tôi là một kẻ theo chủ nghĩa lí tưởng bản năng lại còn cứng nhắc nữa, nên tôi không bị anh ta mê hoặc; nhưng người đàn ông được gọi là Larsen Sói này đã tấn công tới những thành trì niềm tin cuối cùng của tôi bằng sức mạnh đáng tôn trọng dù không thể gây nên sự đồng tình.

    Thời gian trôi qua. Bữa tối đã sắp tới nhưng bàn vẫn chưa được dọn. Tôi trở nên bồn chồn và lo lắng, và tới khi Thomas Mugridge nhòm xuống cầu thang, nhợt nhạt và tức giận ra mặt, tôi đã chuẩn bị bỏ đi lo công việc của mình. Nhưng Larsen Sói hét lên với gã:

    " Bếp, tối nay mày bận đấy. Tao có việc với Hump, mày phải làm hết sức khi không có nó."

    Một lần nữa, điều chưa từng có đã xảy ra. Đêm đó, tôi ngồi ở bàn ăn với thuyền trưởng và đám thợ săn, trong khi Thomas Mugridge phục vụ và rồi thì rửa chén bát – ý thích bất chợt, một tâm trạng rất Caliban của Larsen Sói đã kéo đến tương lai rắc rối mà tôi có thể đoán trước được. Nhưng hiện tại, chúng tôi vẫn nói, và nói, trước sự ghê tởm của đám thợ săn không hiểu lấy một từ.

    [1] Spencer: Herbert Spencer, một triết gia; nhà lí thuyết chính trị tự do cổ điển; nhà lí thuyết xã hội học Anh.

    [2] Caliban và Setebos: Thơ của Robert Browning, chàng Caliban trong bài thơ dằn vặt với những câu hỏi về con người và đức tin.
     
    Nguyễn Ngọc Nguyên thích bài này.
  10. Chanh97hh

    Bài viết:
    73
    Chương 9

    Bấm để xem
    Đóng lại
    Ba ngày nghỉ ngơi, ba ngày trời thương cho tôi nghỉ ngơi là những gì tôi đạt được từ Larsen Sói, ăn trong bàn đặt ở cabin, chẳng làm gì khác ngoài thảo luận về cuộc sống, văn chương và vũ trụ, trong khi Thomas Mugridge thì bốc mùi và tức điên vì phải làm việc của cả tôi lẫn anh ta. "Cẩn thận giông bão đấy, tôi chỉ nói được đến thế thôi," là lời cảnh báo của Louis, sau khi tôi lên boong nửa tiếng, lúc Larsen Sói đang bận chỉnh nhóm thợ săn đứng thẳng hàng.

    "Không thể biết điều gì sẽ xảy ra được," Louis tiếp tục, để đáp lại yêu cầu muốn biết thêm nhiều thông tin của tôi. "Người đàn ông này lội ngược chiều gió, ngược dòng nước. Anh không thể đoán được lão ta sẽ làm gì. Anh có thể nghĩ mình đã hiểu lão và đang được lão yêu thích, khi lão cứ quấn lấy mình, nhưng cái chết đang chờ đợi và sẵn sàng vồ lấy anh và xé tất cả các cánh buồm chắc chắn thành mớ giẻ rách." Thế nên tôi không hề ngạc nhiên khi trước viễn cảnh giông tố Louis đang cảnh báo.

    Chúng tôi đã có một cuộc thảo luận sôi nổi – về cuộc sống, đương nhiên rồi – và táo bạo dần, tôi đã phán xét nghiêm khắc Larsen Sói và cuộc sống của Larsen Sói. Trên thực tế, tôi đã mổ xẻ, phân tích ông ta và đảo lộn linh hồn ông tỉ mỉ và triệt để như cái cách ông ta vẫn làm với người khác. Có lẽ tôi có điểm yếu khi thường dùng từ cay nghiệt, nhưng tôi đã phá bỏ mọi sự kiềm chế xuống nước, chém và đâm tới khi ông ta gầm lên. Gương mặt sậm màu đồng hun của ông ta đen đi vì thịnh nộ; đôi mắt ông bốc cháy. Chúng không còn rõ ràng hay tỉnh táo nữa – chẳng còn gì ngoài cơn giận đáng sợ của một kẻ điên. Đó là con sói bên trong ông ta mà tôi đã được thấy, một con sói điên loạn. Ông ta xông tới tôi, họng vang lên âm thanh như tiếng gầm, nắm lấy tay tôi. Tôi gồng người lại để giấu đi cơn run rẩy; nhưng lòng can đảm của tôi không thể nào đối chọi lại sức mạnh khổng lồ của người đàn ông này. Ông ta túm lấy đầu vai tôi chỉ bằng một tay, khi bàn tay đó siết lại tôi co người lại và ré lên. Chân tôi mềm nhũn. Tôi không tài nào đứng thẳng dậy và chịu đựng cơn đau được. Những cơ bắp buông tha nhiệm vụ. Cơn đau quá lớn. Đầu vai tôi đang bị nghiền nát như bột giấy.

    Dường như ông ta tỉnh táo lại chút ít, vì ánh mắt ông ta ánh lên sắc lẻm và bàn tay đã thả lỏng, đồng thời tiếng cười khe khẽ vang lên như tiếng gầm gừ. Tôi ngã vật ra sàn, cảm thấy sắp ngất tới nơi, còn ông ta ngồi xuống, chậm một điếu thuốc, quan sát tôi như mèo nhìn chuột. Khi quằn quại nằm đó, tôi thấy trong đôi mắt đó vẻ tò mò mình vẫn thường để ý, băn khoăn và lúng túng, truy vấn, truy vấn tới vĩnh viễn câu trả lời về mọi thứ trên đời.

    Cuối cùng, tôi cũng lồm cồm bò dậy được và đi lên cầu thang. Khoảng thời gian an lành đã chấm dứt, chẳng còn để làm nữa ngoài việc trở lại bếp. Tay trái tôi mất cảm giác như đã bị liệt, phải mất nhiều ngày sau tôi mới có thể dùng cả hai tay và mất hàng tuần cảm giác tê cứng và đau đớn mới chấm dứt. Ông ta chẳng làm gì hết ngoài đặt bàn tay lên cánh tay tôi và bóp. Không phải vặn hay giật. Ông ta chỉ nắm tay, siết lại tạo nên một áp lực vừa phải. Tôi không nhận ra ông ta đã làm gì cho tới tận ngày hôm sau, khi ông ta thò đầu vào cửa bếp, với vẻ thân thiện mới mẻ, và hỏi cánh tay của tôi thế nào rồi.

    "May mà nó không tệ hơn," ông ta cười.

    Tôi đang gọt vỏ khoai tây. Ông ta nhặt một củ từ trong chảo. Nó có kích cỡ vừa phải, cứng và chưa được được gọt vỏ. Ông ta phủ bàn tay lên nó, nắm lại và bóp, thế là bột khoai tây phòi ra giữa những kẽ tay như bùn nhão. Ông ta bỏ phần còn lại vào chảo và bỏ đi, để tôi lại với ảo tưởng về những gì đã có thể xảy ra với mình nếu con quái vật đó dồn sức lực vào tôi.

    Nhưng sau tất cả, ba ngày nghỉ ngơi rất đáng giá, vì nó giúp đầu gối tôi có cơ hội lành trở lại. Hiện tôi cảm thấy tốt hơn nhiều, chỗ xưng tấy đã xẹp bớt, xương bánh chè có vẻ đã trở về vị trí chính xác của nó. Ngoài ra, ba ngày nghỉ ngơi đã mang lại rắc rối đúng như tôi đã đoán. Thomas Mugridge muốn tôi phải trả giá cho ba ngày đó. Gã đối xử với tôi rất tàn ác, nguyền rủa liên tục, đổ hết việc của mình cho tôi. Gã thậm chí còn mạo hiểm giơ cao nắm đấm ra với tôi, nhưng vì tôi đã dần biến chính mình thành cầm thú như họ, nên tôi gầm gừ vào mặt gã tới nỗi gã phải thụt lui. Tôi có thể tưởng tượng được, đó không phải hình ảnh đẹp đẽ về mình, Humphrey Van Weden, đứng trong căn bếp tàu tồi tàn, ngồi chồm hỗm trong góc làm việc, mặt đối mặt với sinh vật định tấn công mình, môi nhếch lên và gầm gừ như chó, mắt long sòng sọc vì sợ và bất lực và lòng can đảm sinh ra từ nỗi sợ và bất lực. Tôi không thích hình ảnh đó. Nó gợi ra hình ảnh của một con chuột kẹt trong bẫy. Tôi không muốn để tâm tới cách hành xử đó, nhưng nó hiệu quả, vì đòn hăm dọa đã không hạ xuống.

    Thomas Mugridge lùi lại, trợn mắt nhìn hằn học và căm ghét y như tôi đang trừng mắt.

    Chúng tôi là hai con thú, đối đầu và nhe răng với nhau. Gã là kẻ nhát gan, không dám đánh tôi nếu tôi không cụp đuôi trước; nên gã chọn phương thức khắc để đe dọa tôi. Trong bếp chỉ có một con dao duy nhất dùng để cắt gọt mọi thứ. Trải qua bao năm sử dụng, nó đã trở thành lưỡi dao mỏng lét. Con dao trông rất dữ tợn, hồi đầu nó đã khiến tôi rùng mình mỗi lần sử dụng. Gã đầu bếp mượn Johansen một hòn đá và liên tục mài sắc con dao. Gã mài dao với vẻ phô trương hết sức, mắt gườm gườm nhìn tôi. Gã quẹt nó lên, xuống cả ngày. Thi thoảng, gã lại lôi dao và hòn đá ra mài. Lưỡi thép đã mỏng như dao cạo. Gã thử nó bằng cách tì phần thịt ngón cái hoặc lia nó qua móng tay, gã cạo lông bàn tay, cầm ngang lưỡi dao để nhìn cạnh sắc siêu mỏng, để thấy hoặc giả vờ tìm thấy một vết mẻ nhỏ xíu ở đâu đó. Thế là gã lại đặt dao lên đá, mài xoẹt, xoẹt, xoẹt tới khi tôi muốn phá ra cười, vì trông lố bịch quá.

    Nhưng như vậy thật đáng sợ, vì tôi biết gã có thể sử dụng nó, dưới sự hèn nhát đó là lòng can đảm của sự hèn nhát sẽ thúc giục gã làm rất nhiều điều mà bản chất gã không chấp nhận và sợ phải làm. "Thằng Bếp đang mài dao vì Hump đấy," lời đồn thổi đó được cánh thủy thủ thì thầm, một số gã còn trêu chọc gã về chuyện đó. Gã vui lòng tiếp nhận những câu đùa đó, gật đầu với vẻ bí hiểm như biết trước điều gì kinh khúng, tới khi George Leach, cậu nhóc bồi tàu trước đây, táo gan bày trò cợt nhả về đề tài này.

    Leach tình cờ là một trong những thủy thủ được sai dội cho Mugridge vài xô nước sau trò đỏ đen với thuyền trưởng. Rõ ràng Leach đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình nên Mugridge không tha thứ cho cậu ta được. Bọn họ lời qua tiếng lại, các vị tổ tiên đã nằm sâu dưới đất cũng bị gọi lên bằng những cái tên chẳng đẹp đẽ gì cho cam. Leach cười khanh khách buông ra mấy câu chửi bới đặc trưng của vùng Telegraph Hill, rồi trước khi cả cậu ta lẫn tôi nhìn ra được chuyện xảy ra như thế náo, cẳng tay phải của cậu ta đã bị chém từ khủy tới tận cổ tay bằng một đường lia dao. Gã đầu bếp lùi lại với vẻ thù hằn trên mặt, giơ dao ra trước phòng thủ.

    Nhưng Leach chẳng hề mất bình tĩnh, dù máu nó bắn ra boong như đài phun nước.

    "Tao sẽ tóm được mày, Bếp ạ," cậu ta nói, "Tao sẽ cho mày một trận. Tao chẳng vội đâu. Mày sẽ chẳng cầm nổi dao khi tao muốn tóm mày." Dứt lời, cậu ta từ tốn bước về phía trước. Gương mặt Mugridge hiện rõ vẻ sợ hãi vì điều mình đã làm và những điều sớm muộn kẻ bị gã đâm sẽ làm. Nhưng thái độ của gã đối với tôi càng dữ dội hơn bao giờ hết. Dù đang sợ hãi vì nhận ra hậu quả phải trả cho việc đã làm, gã cũng thấy đó là một bài học cho tôi, nên gã càng hống hách và phấn khích. Hơn thế nữa, trong lòng gã nảy sinh thứ dục vọng rất gần với sự điên cuồng, có cội nguồn từ màu máu đã đổ vì gã. Giờ gã nhìn thấy màu đỏ ở mọi góc nhìn. Phương diện tâm lí học này rất rối rắm, nhưng tôi vẫn đọc được suy nghĩ của gã dễ dàng như đọc sách in.

    Nhiều ngày trôi qua, tàu Bóng Ma vẫn rẽ sóng theo gió tín phong và tôi có thể thề mình đã nhìn thấy sự điên cuồng lóe lên trong mắt Thomas Mugridge. Tôi phải thú nhận tôi đã thấy sợ, rất sợ. Xoẹt, xoẹt, xoet, gã mài liên tục suốt cả ngày. Cái cách gã nhìn lưỡi dao và lườm tôi vô cùng khát máu. Tôi sợ phải quay lưng lại với gã, mỗi khi ra khỏi bếp tôi đi lùi – trò luôn chọc cười đám thủy thủ và thợ săn, những kẻ này sẽ tụ tập lại để chứng kiến cách tôi đi ra. Bầu không khí căng thẳng thật quá sức chịu đựng. Thi thoảng tôi nghĩ tâm trí mình sẽ chịu thua – để hòa nhập với con tàu của những kẻ hung bạo điên cuồng này. Từng tiếng, từng phút trôi qua, tính mạng tôi đều đang gặp nguy hiểm. Tôi là một linh hồn lạc bước, nhưng không có linh hồn nào dù ở trước hay sau đủ lòng thông cảm để giúp đỡ tôi. Có những lúc tôi đã nghĩ tới việc cầu xin Larsen Sói rủ lòng thương; nhưng hình ảnh đôi mắt khinh bỉ của ông ta hoài nghi về cuộc sống và phỉ nhổ nó mạnh mẽ tới nỗi buộc tôi phải kiềm chế. Vào những lúc khác, tôi nghiêm túc xét tới chuyện tự sát, mọi triết lí về hi vọng mới đủ để giữ tôi không băng qua phía bên kia của màn đêm.

    Rất nhiều lần, Larsen Sói cố dụ tôi thảo luận, nhưng tôi đáp lại bằng những câu cụt lủn và lẩn tránh ông ta. Cuối cùng, ông ta ra lệnh cho tôi ngồi vào bàn ăn trong cabin để đầu bếp làm việc thay mình. Thế là tôi nói thẳng, kể cho ông ta những gì tôi phải chịu đựng vì Thomas Mugridge và vì ba ngày ân huệ kia. Larsen Sói nhìn tôi với đôi mắt cười.

    "Vậy anh sợ hả?" Ông ta cười khẩy.

    "Đúng thế," tôi đáp lại trung thực và thách thức, "Tôi sợ."

    "Đó là con đường của những kẻ như anh," ông ta thốt lên, nửa như giận dữ; "tưởng tượng về linh hồn bất diệt của bản thân nhưng lại sợ chết. Chỉ vì một con dao sắc và thằng hèn như gã Cockney, ham muốn bấu víu lấy cuộc sống vượt lên trên tất cả sự ngu xuẩn của các người. Tại sao thế, bạn thân mến của tôi, anh sẽ sống mãi cơ mà. Anh là thần linh, một vì thần thì không thể bị giết. Thằng Bếp không làm hại anh được. Tôi đảm bảo với anh đó. Có gì đáng sợ chứ. Anh có cả sự bất diệt đang chờ. Anh là triệu phú của sự bất diệt, triệu phú với gia tài không bao giờ mất, kẻ sở hữu gia tài trường tồn trước trăng sao và vĩnh hằng như không gian, thời gian. Anh không thể thay đổi điều căn bản. Bất diệt tức là không có khởi đầu hay kết thúc. Vĩnh cửu là vĩnh cửu, dù anh chết ở đây ngay lúc này, anh sẽ tiếp tục sống ở nơi nào đó sau này.

    Thật đẹp xiết bao, rũ bỏ da thịt và giải thoát tinh thần bị cầm tù. Thằng Bếp không làm hại anh được. Nó chỉ đẩy anh lên con đường mà đằng nào anh cũng phải đi.

    Nhưng nếu anh chưa muốn bị đẩy lên đường, sao không đẩy thằng Bếp? Theo cách nghĩ của anh, nó hẳn là triệu phú của sự bất diệt. Anh không thể khiến nó phá sản, séc của nó luôn có hiệu lực. Anh không thể cắt đứt chiều dài cuộc sống của nó bằng cách giết chết nó, vì nó đâu có khởi đầu hay kết thúc. Nó buộc phải tiếp tục sống ở một nơi nào đó, bằng cách nào đó. Nên cứ đẩy nó đi. Xọc dao vào người nó, giải thoát linh hồn nó. Đúng thế, nơi đây là nhà ngục bẩn thỉu, anh đã nhân từ ban cho nó cơ hội phá vỡ cánh cửa. Ai mà biết được. Có lẽ một linh hồn tuyệt đẹp sẽ thoát về phía bầu trời xanh trong từ cái xác xấu xí đó. Đẩy nó đi, tôi sẽ thăng cho anh vào vị trí của nó, nó đang được bốn mươi lăm đô la một tháng đấy."

    Rõ ràng là tôi không thể tìm kiếm sự giúp đỡ hay thương hại từ Larsen Sói. Dù làm gì thì tôi cũng cần phải bảo vệ mình; lòng dũng cảm nảy sinh từ sự sợ hãi của tôi đã phát triển thành kế hoạch chiến đấu với Thomas Mugridge và thứ vũ khí của gã. Tôi mượn hòn đá mài của Johansen. Louis, lái thuyền, đã xin tôi sữa đặc và đường từ trước. Hộp cách li là nơi cất những thứ ngon lành như thế, được đặt dưới sàn cabin. Tôi đợi thời cơ và trộm năm hộp sữa đặc. Đêm đó, khi Louis trực trên boong, tôi đổi chúng cho anh ta lấy một con dao găm, cũng mỏng và đáng sợ như con dao bếp của Thomas Mugridge. Nó đã cùn và gì, nhưng tôi đưa hòn đá mài ra khi Louis quẹt lưỡi nó. Đêm đó, tôi ngủ ngon hơn mọi khi.

    Sáng hôm sau, sau bữa sáng, Thomas Mugridge bắt đầu mài xoẹt, xoẹt, xoẹt. Tôi lo lắng nhìn gã, vì tôi đang quì gối bới tro ra khỏi lò. Khi tôi quăng nó sang một bên, gã đang nói chuyện với Harrison, một cậu nhóc trông rất quê mùa chân chất, có gương mặt tràn đầy đam mê và thắc mắc.

    "Đúng thế," Mugridge nói, "sự sùng bái này khiến tao phải ở Reading hai năm. Nhưng tao có mà quan tâm ấy. Những thằng ngốc khác bị chỉnh đốn hết. Phải thấy tao múa dao thế này này." Gã lườm về hướng tôi để xem tôi có nghe không, rồi tiếp tục khoác loác về sức mạnh của mình.

    Tiếng gọi của thuyền phó đã cắt ngang câu chuyện của gã, Harrison đi ra đuôi tàu. Mugridge ngồi xuống ngưỡng cửa bếp và tiếp tục mài dao.

    Tôi đẩy xẻng ra và bình tĩnh ngồi trên hộp đựng than, đối diện với gã. Gã ban cho tôi ánh mắt độc địa. Tôi vẫn bình tĩnh, dù tim đang đập thình thịch, lẳng lặng lôi dao găm của Louis ra và mài nó lên đá. Tôi trông đợi vẻ kinh ngạc của gã người Cockney, nhưng ngạc nhiên thay, gã tỏ ra không hay biết tôi đang làm gì. Gã tiếp tục mài dao; tôi cũng vậy; suốt hai tiếng đồng hồ, chúng tôi ngồi đó, đối diện, mài, lại mài. Tin tức nhanh chóng lan ra trên thuyền, nửa con tàu tụ lại trước cửa bếp để xem cảnh đó.

    Những lời khích tướng và khuyên nhủ được ban phát miễn phí, Jock Horner, gã thợ săn nói năng nhỏ nhẹ có vẻ ngoài như chẳng làm hại lấy một con chuột, khuyên tôi nên bỏ qua phần xương sườn để đâm lên trên, đồng thời cũng dạy tôi thứ anh ta gọi là "cú xoắn Tây Ban Nha" trên lưỡi dao. Leach thò cánh tay băng bó tới trước, xin tôi để lại một ít tàn tích của gã bếp cho nó, còn Larsen Sói thì dừng lại đôi lần trước bục đuôi tàu, tò mò nhìn về thứ ông ta gọi là sự giãy dụa trườn bò của những cái men được ông ta coi là cuộc sống.

    Tôi có thể thoải mái nói rằng vào lúc đó tôi cũng hoài nghi về giá trị sai lầm của cuộc sống. Chẳng có thứ gì đẹp đẽ, thiêng liêng hết – chỉ có hai sinh vật hèn nhát chuyển động con dao trên hòn đá, và một nhóm những sinh vật động đậy, cũng hèn nhát không kém, đứng quan sát. Tôi dám chắc, một nửa trong số chúng rất nôn nóng muốn thấy chúng tôi đổ máu. Trò giải trí tuyệt vời cho chúng.

    Tôi không nghĩ sẽ có ai can thiệp, nếu chúng tôi lao vào nhau quyết sống chết.

    Mặt khác, tất cả chuyện này thật nực cười và trẻ con. Xoẹt, xoẹt, xoẹt, Humphrey Van Weyden mài sắc con dao trong bếp tàu và thử nó bằng ngón cái. Trong tất cả các tình huống, đây là tình huống khó tưởng tượng nhất. Tôi biết những người đồng trang lứa sẽ không thể nào tin vào cảnh này. Tôi bị gọi là "chị" Van Weyden suốt là có lí do, và "chị" Van Weyden có khả năng làm điều này sẽ ngạc nhiên lắm với Humphrey Van Weyden, kẻ không hề biết tới hân hoan hay hổ thẹn.

    Những chẳng có gì xảy ra cả. Cuối cùng, sau hai giờ đồng hồ, Thomas Mugridge cất dao và hòn đá đi, giơ tay ra.

    "Chúng ta trình diễn cho lũ khốn nạn này để làm gì?" gã hỏi. "Chúng không thích ta, chúng sẽ mừng lắm nếu thấy ta cắt họng nhau. Mày không tới nỗi tệ, Hump ạ. Mày dũng cảm đấy, cái bọn Mĩ tụi mày, theo cách nào đó thì tao thích mày. Nên tiến lên bắt tay đi." Có thể tôi hèn, nhưng tôi ít hèn nhát hơn gã. Đây rõ ràng là chiến thắng tôi giành được, nên tôi từ chối không tiến tới nắm bàn tay ghê tởm của gã.

    "Được thôi," gã cao ngạo nói; "không bắt tay thì thôi. Tao vẫn không bớt thích mày chỉ vì thế." Và để bảo vệ bản mặt còn sót lại của mình, gã quay đầu nổi giận với đám khán giả. "Cút khỏi cửa bếp của tao, bọn thối thây!"

    Mệnh lệnh này được củng cố bằng một ấm nước đang bốc khói, ngay khi nhìn thấy nó, cánh thủy thủ vội tránh hết ra. Với Thomas Mugridge, đó cũng là một dạng chiến thắng, giúp gã dễ dàng chấp nhận sự thất bại trước tôi, dù đương nhiên, gã phải cẩn thận hơn khi đuổi đám thợ săn đi.

    "Tao thấy thằng Bếp thắng," tôi nghe Smoke nói với Horner.

    "Mày cứ cá đi," người kia đáp. "Từ giờ nhà bếp là của Hump, thằng Bếp rụt vòi vào rồi." Mugridge nghe thấy và liếc nhanh về phía tôi, nhưng tôi chẳng hề tỏ ra hay biết về đoạn đối thoại đó. Tôi không nghĩ chiến thắng của mình có uy lực và tốt đẹp đến thế, nhưng tôi quyết định không từ bỏ bất cứ điều gì mình đạt được. Ngày tháng trôi đi, lời tiên tri của Smoke đã thành hiện thực. Gã Cockney trở nên nhún nhường và phục tùng tôi còn hơn Larsen Sói. Tôi không còn gọi gã là ông nữa, không phải rửa chảo mỡ hay gọt khoai tây nữa. Tôi chỉ làm việc của mình, và làm khi nào tôi thích, theo cách tôi thích. Ngoài ra, tôi cũng cột con dao găm vào hông, như cách thủy thủ làm và giữ thái độ gồm những phần bằng nhau của hách dịch, nhục mạ và khinh bỉ trước Thomas Mugridge
     
    Nguyễn Ngọc Nguyên thích bài này.
Từ Khóa:
Trạng thái chủ đề:
Đã bị khóa
Trả lời qua Facebook
Đang tải...