34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 59 Tư Đồng cậy thế Tấn Lệ công Triệu Vũ báo thù Đồ Ngạn Giả

Quan trung quân nguyên soái nước Sở là công tử Trắc, vốn là người nghiện rượu, mỗi lần uống kể hàng trăm bầu không thôi, mỗi lần say kể hàng suốt ngày không tỉnh. Sở Cung Vương vẫn biết như vậy, trong khi đi trận thường nghiêm cấm công tử Trắc uống rượu. Bấy giờ Tấn và Sở gây việc tranh chiến, công tử Trắc đang làm trung quân nguyên soái, không dám uống một hớp rượu nào cả. Khi Sở Cung Vương bị mũi tên trở về vừa thẹn vừa giận, công tử Trắc nói với Sở Cung Vương rằng: - Nay quân hai bên đều đã mỏi mệt, ngày mai đại vương hãy cho đình chiến một hôm, để tôi xin nghĩ kỹ mưu kế mà báo thù lại nước Tấn. Công tử Trắc về dinh, ngồi đến nửa đêm, chưa nghĩ được mưu kế gì. Có một tên người nhà là Cốc Dương, vốn là đầy tớ thân cận của công tử Trắc, trông thấy công tử Trắc lo nghĩ buồn rầu, nhân có giấu được ba lọ rượu thật ngon, liền hâm một lọ, đem dâng công tử Trắc. Công tử Trắc cầm ngửi chén rượu, ngạc nhiên hỏi rằng: - Rượu à! Cốc Dương dẫu biết là công tử Trắc muốn uống, nhưng sợ người xung quanh lộ chuyện ra ngoài, mới giả cách nói: - Không phải rượu, đây là nước tiêu thang đó! Công tử Trắc hiểu ý, uống một hơi hết ngay. Vị ngọt hương thơm, không biết thế nào mà kể! Uống xong lại hỏi: - Còn nước tiêu thang không? Cốc Dương nói: - Bẩm còn! Cốc Dương lại rót một chén đầy dâng. Công tử Trắc lâu ngày thèm rượu quá, cứ gọi Cốc Dương lấy nước tiêu thang mãi. Rót xong liền uống, uống xong lại gọi, thành ra uống nhiều quá, say lử người ra, rồi nằm phục trên chiếu mà ngủ. Sở Cung Vương nghe tin quân Tấn định đến ngày hôm sau thì giao chiến mà quân Lỗ và quân Vệ cũng đến đánh giúp vội vàng sai nội thị đi triệu công tử Trắc để thương nghị mưu kế. Ai ngờ công tử Trắc đã bị ma men làm cho mê mẩn, say tít cung thang, gọi cũng chẳng thưa, lôi cũng chẳng dậy, chỉ ngửi thấy mùi rượu nồng nực cả lên. Nội thị vào tâu với Sở Cung Vương. Sở Cung Vương lại sai người gọi, cả thẩy đến mười tin luôn, nhưng càng gọi gấp bao nhiêu thì công tử Trắc lại càng ngủ lỳ bấy nhiêu. Cốc Dương thấy vậy, khóc mà nói rằng: - Ta yêu nguyên soái mà dâng rượu, ai ngờ thành ra hại nguyên soái! Nay đại vương biết thì tính mệnh ta cũng khó mà toàn vẹn được, chi bằng ta trốn đi. Sở Cung Vương thấy công tử Trắc không đến, không biết làm thế nào, mới phải sai người triệu công tử Anh Tề. Công tử Anh Tề vốn phản đối công tử Trắc, liền tâu Sở Cung Vương rằng: - Tôi đã biết là quân Tấn mạnh thế lắm, không thể đánh được, vậy nên lúc trước vẫn không muốn cứu Trịnh. Việc này đều tại quan tư mã (trỏ công tử Trắc) cả, nay quan tư mã tham chén quá say, tôi cũng không biết mưu kế gì cho được, chi bằng đêm hôm nay rút quân về, để tránh khỏi những sự thảm nhục. Sở Cung Vương nói: - Đã đành rằng thế, nhưng nay quan tư mã say rượu quá, tất bị quân Tấn bắt được, chẳng nhục quốc thể lắm ru! Sở Cung Vương gọi Dưỡng Do Cơ vào và bảo rằng: - Ta giao cho nhà ngươi phải ủng hộ quan tư mã về nước. Nói xong, hạ lệnh rút quân. Trịnh Thành công đem quân đi tiễn ra khỏi địa giới. Chỉ còn Dưỡng Do Cơ ở lại sau. Dưỡng Do Cơ nghĩ thầm: Bây giờ đợi cho quan tư mã tỉnh rượu thì biết đến bao giờ! Dưỡng Do Cơ sai người vực công tử Trắc dậy, đem một cái dây da trói lại, rồi để lên xe, cho theo toán quân đi trước, còn mình thì cùng với ba trăm quân cung tên, thong thả đi sau. Sáng hôm sau, quân Tấn mở cửa dinh ra để giao chiến, kéo thẳng đến dinh quân Sở, chẳng thấy một người nào cả, biết là quân Sở đã trốn đi rồi. Loan Thư toan đem quân đuổi theo. Sĩ Nhiếp cố ý can. Loan Thư lại nghe báo khắp địa giới nước Trịnh, chỗ nào cũng có quân phòng thủ, biết là thế không làm gì nổi, mới truyền rút quân trở về nước Tấn. Quân Lỗ và quân Vệ đều về nước cả. Công tử Trắc đi được năm mươi dặm đường, dần dần tỉnh rượu, thấy tay chân đều vướng bận, mới kêu ầm lên rằng: - Ô hay! Ai trói ta thế này? Quân sĩ nói: - Quan tư mã say rượu quá, Dưỡng tướng quân (tức là Dưỡng Do Cơ) sợ đi xe không vững, vậy nên phải làm như thế. Nói xong, liền cởi trói cho công tử Trắc. Công tử Trắc hai mắt hãy còn hoa mờ cả lên, ngoảnh lại hỏi quân sĩ rằng: - Xe ngựa ta đi đâu thế này? Quân sĩ nói: - Đường về nước ta đó! Công tử Trắc lại hỏi: - Tại sao lại về? Quân sĩ nói: - Đêm qua đại vương mấy lần ra triệu quan tư mã, vì quan tư mã say rượu quá, vậy nên đại vương sợ quân Tấn đến đánh, không có ai chống lại nổi, đã phải rút quân trở về. Công tử Trắc khóe mà nói rằng: - Cốc Dương làm hại ta rồi! Công tử Trắc truyền gọi Cốc Dương thì ra Cốc Dương đã trốn đi đâu mất. Sở Cung Vương đi khỏi hai trăm dặm, mới được yên lòng. Lại sợ công tử Trắc lo tội mà tự tử, mới sai người truyền bảo rằng: - Ngày Tử Ngọc (tên tự Thành Đắc Thần) thua trận mà bị tội, là vì khi bấy giờ tiên quân ta không đi; nay ta thân hành đem quân đi thì tội tại ta, không dự gì đến quan tư mã. Công tử Anh Tề muốn cho công tử Trắc tự tử mà chết, sai người nói với công tử Trắc rằng: - Việc Tử Ngọc ngày xưa thua trận mà tự tử, hẳn quan tư mã cũng đã biết; giả sử đại vương không trị tội, quan tư mã còn mặt mũi nào mà nhìn quân sĩ ngày nay! Công tử Trắc nghe nói, thở dài mà than rằng: - Quan lệnh doãn (tức là công tử Anh Tề) trách ta thế là phải lắm, có lẽ nào ta lại dám tham sống làm gì! Nói xong, công tử Trắc tự thắt cổ mà chết. Sở Cung Vương thương tiếc, không biết thế nào mà kể! Tấn Lệ công thắng được quân Sở, tự lấy làm thiên hạ vô địch, càng có ý kiêu ngạo lắm. Sĩ Nhiếp biết là thế nào nước Tấn cũng loạn, đem lòng lo nghĩ, thành ra ốm nặng, liền sai quan thái chúc cúng thần, để khấn xin cho được chóng chết. Chưa được bao lâu thì Sĩ Nhiếp chết. Bấy giờ Tư Đồng là người khéo nịnh hót, Tấn Lệ công có lòng tin yêu, muốn cho làm quan khanh, nhưng ngặt vì một nỗi chức quan khanh không khuyết. Tư Đồng mới tâu với Tấn Lệ công rằng: - Nay ba họ Khước đều giữ binh quyền, vây cánh to lắm, làm nhiều điều trái phép, chỉ sợ sau này lại sinh lòng phản nghịch, ta nên trừ trước đi; nếu trừ được họ Khước thì chức quan khanh khuyết nhiều, bấy giờ tùy ý chúa công, yêu ai thì cho người ấy. Tấn Lệ công nói: - Họ Khước chưa có sự gì phản nghịch cả, mà ta giết đi thì e rằng các quan triều thần không ai chịu phục. Tư Đồng lại tâu rằng: - Trận đánh ở Yên Lăng, Khước Chí đã vây vua Trịnh, mà cùng vua Trịnh tư ước, rồi tha cho đi, xem thế thì biết là tất có tư thông với Sở. Chúa công nên gọi Hùng Phiệt (con Sở Cung Vương bị quân Tấn bắt được) vào mà hỏi thì tự khắc biết rõ sự thực. Tấn Lệ công sai Tư Đồng đi gọi Hùng Phiệt. Tư Đồng bảo Hùng Phiệt rằng: - Công tử có muốn về nước Sở không? Hùng Phiệt nói: - Tôi muốn về lắm, nhưng làm thế nào mà về được? Tư Đồng nói: - Công tử nghe ta điều này thì ta sẽ xin cho công tử được về. Hùng Phiệt nói: - Ngài bảo gì, tôi xin vâng mệnh! Tư Đồng liền ghé tai xui Hùng Phiệt, khi vào yết kiến Tấn Lệ công thì nói vu tội cho Khước Chí. Khi Hùng Phiệt vào yết kiến, Tấn Lệ công đuổi hết người xung quanh đi, rồi hỏi Hùng Phiệt rằng: - Khước Chí có tư thông với nước Sở ngươi hay không? Nhà ngươi nên nói thật thì ta sẽ cho nhà ngươi về nước. Hùng Phiệt tâu rằng: - Chúa công có tha tội thì tôi mới dám nói. Tấn Lệ công nói: - Ta đang muốn cho nhà ngươi nói thật, khi nào lại còn bắt tội! Hùng Phiệt nói: - Khước Chí cùng công tử Anh Tề nước tôi, hai người chơi thân với nhau, vẫn có thư tín đi lại, nói: "Nhà vua không tin quan đại thần, ngày đêm chơi bời, khiến cho nhân dân đều oán, không đáng làm vua; hiện nay ai cũng nhớ đến vua Tương công ngày xưa. Vua Tương công có người cháu tên là Chu, nếu quân Tấn thua trận thì ta sẽ lập Chu lên làm vua mà thần phục nước Sở". Tôi chỉ biết có một việc ấy, còn việc gì khác, thật quả tôi không được biết. Hùng Phiệt nói chưa dứt lời thì Tư Đồng lại tâu rằng: - Thảo nào mà trận đánh nhau ở Yên Lăng ngày trước, Khước Thù cùng công tử Anh Tề đối trận mà không bắn một phát tên nào, đủ biết là có ý tư thông với nước Sở. Xem thế thì việc Khước Chí tha vua Trịnh, còn ngờ gì nữa! Nếu chúa công chưa tin thì nên sai Khước Chí sang nhà Chu hiến tiệp, rồi cho người đi rình, tất nhiên thế nào Khước Chí cũng tư thông với Công tôn Chu để cùng nhau thương nghị. Tấn Lệ công khen phải, liền sai Khước Chí sang nhà Chu hiến tiệp. Tư Đồng mật sai người bảo Công tôn Chu rằng: - Quyền chính nước Tấn, một nửa ở tay họ Khước, nay Khước Chí sang hiến tiệp, công tôn nên nhân tiện cùng với Khước Chí giao kết thì sau này công tôn về nước, có phải cũng được thêm vây cánh hay không? Công tôn Chu lấy làm phải, khi Khước Chí đến, Công tôn Chu vào yết kiến, rồi hỏi thăm những công việc nước nhà, Khước Chí đều bảo thật tất cả. Hai người cùng nhau thương nghị trong nửa ngày trời. Tấn Lệ công sai người rình biết sự thể như vậy, liền cho lời nói Hùng Phiệt là thật, mới có ý muốn trừ đảng họ Khước. Một hôm, Tấn Lệ công cùng với cung nữ uống rượu, sai người nội thị là Mạnh Chương đi mua thịt hươu gấp lắm, để vội về làm tiệc. Bấy giờ trong chợ hết cả thịt hươu, lại vừa gặp Khước Chí đi săn về qua đến chợ, trên xe có mang theo một con hươu. Mạnh Chương chẳng hỏi gì cả, lấy ngay con hươu ấy đem đi. Khước Chí giận lắm, giương cung bắn chết Mạnh Chương, rồi lấy lại con hươu. Tấn Lệ công nghe tin nổi giận nói rằng: - Khước Chí khinh ta quá lắm! Nói xong, liền triệu bọn Tư Đồng, Di Dương Ngũ và Trường Ngư Kiểu đến bàn việc giết Khước Chí. Tư Đồng nói: - Ta giết Khước Chí thì Khước Kỳ và Khước Thù tất làm phản, chi bằng ta trừ cả đi. Di Dương Ngũ nói: - Đêm hôm nay ta nhân lúc bất ngờ, phụng mệnh chúa công đem quân lẻn đến thì có thể bắt được. Trường Ngư Kiểu nói: - Trong ba họ Khước cũng có nhiều quân sĩ lắm, nếu ta đến bắt mà không được thì lại di họa đến chúa công. Nay Khước Chí kiêm chức tư khấu, Khước Thù kiêm chức sĩ sư, chi bằng ta mượn việc kiện tụng để nhân tiện mà giết đi, rồi các ngươi đem quân tiếp ứng. Tấn Lệ công nói: - Kế ấy hay lắm! Để ta sai kẻ lực sĩ là Thanh Phí Khôi đi giúp nhà ngươi. Trường Ngư Kiểu dò biết hôm ấy ba họ Khước hội nghị ở nhà Giảng Vũ, liền cùng với Thanh Phí Khôi đem tiết gà bôi vào mặt, giả hình làm hai người đánh nhau, mỗi người tay cầm một con dao, kéo nhau vào nhà Giảng Vũ để kiện phải trái. Khước Thù không biết là kế giả, mới ngồi hỏi kiện. Thanh Phí Khôi giả cách đến gần bẩm nhỏ, rồi rút dao đâm trúng vào lưng Khước Thù. Khước Thù ngã lăn xuống đất. Khước Kỳ vội vàng giơ dao chém Thanh Phí Khôi, lại bị Trường Ngư Kiểu xông đến, hai người giao chiến với nhau, Khước Chí tức khắc chạy ra, lên xe bỏ trốn. Thanh Phí Khôi vội vàng đâm thêm Khước Thù một nhát nữa thấy Khước Thù đã chết rồi, cũng xông lại để đánh Khước Kỳ. Khước Kỳ dẫu là vũ tướng, nhưng Thanh Phí Khôi có sức khỏe lạ thường. Vả Trường Ngư Kiểu cũng là một tay nhanh nhẹn, một mình Khước Kỳ địch sao nổi hai người, cũng bị Thanh Phí Khôi đâm chết. Trường Ngư Kiểu thấy Khước Chí bỏ chạy, liền rủ nhau đuổi theo. Khước Chí đang chạy, lại gặp Tư Đồng và Di Dương Ngũ quát to lên rằng: - Ta phụng mệnh chúa công đi bắt bọn phản nghịch là họ Khước, chớ để cho nó chạy thoát được! Khước Chí sợ hãi, quay xe trở lại, vừa gặp Trường Ngư Kiểu đi đến nơi. Trường Ngư Kiểu nhảy ngay lên xe Khước Chí, rồi chém lấy đầu. Thanh Phí Khôi cũng chém lấy đầu Khước Kỳ và Khước Thù đem về nộp Tấn Lệ công. Quan thượng quân phó tướng là Tuân Yển nghe tin chủ soái của mình là Khước Kỳ bị hại, không biết người nào nổi loạn, tức thì đi xe thẳng tới triều môn để định vào tâu với Tấn Lệ công, rồi xin phụng mệnh cử binh đi đánh. Quan trung quân nguyên soái là Loan Thư cũng nghe tin ấy, vội vàng thẳng tới triều môn. Khi Loan Thư và Tuân Yển tới triều môn thì vừa gặp Tư Đồng kéo đến, Loan Thư và Tuân Yển nổi giận mắng rằng: - Ta tưởng là người nào nổi loạn, chẳng ngờ là lũ chuột này! Triều môn là một nơi cấm địa, sao nhà ngươi lại dám đem quân tới đây? Tư Đồng chẳng trả lời làm sao cả, liền bảo các quân sĩ rằng: - Loan Thư và Tuân Yển cùng với họ Khước hợp mưu phản nghịch, quân sĩ xông vào mà bắt, ai bắt được sẽ có trọng thưởng. Quân sĩ xúm lại nắm lấy Loan Thư và Tuân Yển kéo vào trong triều. Tấn Lệ công nghe tin bọn Trường Ngư Kiểu đã giết được ba họ Khước rồi, vội vàng ra ngự triều, lại thêm thấy quân sĩ kéo đến, giật mình kinh sợ mà hỏi Tư Đồng rằng: - Tội nhân đã giết được rồi, sao quân sĩ còn tụ hội đông như vậy? Tư Đồng tâu rằng: - Hiện bắt được kẻ đồng đảng với bọn phản nghịch là Loan Thư và Tuân Yển, xin chúa công xử đoán. Tấn Lệ công nói: - Việc này có can dự gì đến Loan Thư và Tuân Yển? Trường Ngư Kiểu quỳ gần trước mặt Tấn Lệ công mà tâu rằng: - Loan Thư vốn là người đồng đảng với họ Khước, Tuân Yển lại là bộ tướng của Khước Kỳ, nay ba họ Khước bị giết thì Loan Thư và Tuân Yển tất không yên tâm, rồi lại báo thù cho họ Khước, nếu chúa công không giết Loan Thư và Tuân Yển đi, thì khó lòng yên việc được! Tấn Lệ công nói: - Một lúc mà giết ba họ Khước, lại giết lây đến họ khác nữa thì ta không đành lòng! Tấn Lệ công truyền tha cho Loan Thư và Tuân Yển. Loan Thư và Tuân Yển tạ ơn lui ra. Trường Ngư Kiểu thở dài mà than rằng: - Chúa công không nỡ giết hai người ấy, nhưng ta chỉ e hai người ấy lại giết chúa công mà thôi. Nói xong liền bỏ trốn sang nước Tây Nhung. Tấn Lệ công trọng thưởng cho quân sĩ, rồi truyền đem đầu ba họ Khước ra bêu ở chốn triều môn trong ba ngày. Bao nhiêu những tộc đảng họ Khước còn đang làm quan ở trong triều, đều bị cách chức đuổi về cả; lại phong chức cho Tư Đồng thay Khước Kỳ làm thượng quân nguyên soái, Di Dương Ngũ thay Khước Thù làm tân quân nguyên soái, Thanh Phí Khôi thay Khước Chí làm tân quân phó tướng. Công tử Hùng Phiệt được tha về nước Sở. Loan Thư và Tuân Yển có ý thẹn mặt, không muốn đồng sự với Tư Đồng, thường cáo ốm không vào triều. Tư Đồng chắc đã có Tấn Lệ công cũng chẳng lấy làm nghĩ. Một hôm, Tấn Lệ công và Tư Đồng ra chơi nhà Tượng Lệ Thị ở phía Nam Thái Âm Sơn, cách kinh thành hơn hai mươi dặm, đi đã ba hôm chưa về. Tuân Yển nói riêng với Loan Thư rằng: - Chúa công vô đạo, nhà ngươi cũng đã biết. Nay chúng ta cáo ốm không vào triều, dẫu không việc gì, nhưng sau này bọn Tư Đồng sinh nghi thì tất lại vu cho ta có lòng oán vọng, ta e rằng cái vạ họ Khước khó lòng mà tránh khỏi được! Loan Thư nói: - Vậy thì biết làm thế nào? Tuân Yển nói: - Làm quan đại thần, nên lấy nước làm trọng, lấy vua làm khinh. Nay trong tay nhà ngươi cũng có kể hàng trăm vạn quân, nếu lập vua khác, ai là người dám trái ý. Loan Thư nói: - Có chắc làm nổi không? Tuân Yển nói: - Con giao long còn ở dưới vực sâu thì không ai dám làm gì, chứ đã lên cạn chỉ một đứa trẻ con cũng có thể trị nổi! Nay chúa công ra chơi nhà Tượng Lệ Thị, ba ngày chưa về, ấy tức là con giao long đã lên cạn đó, còn ngại cái gì! Loan Thư thở dài mà rằng: - Nhà ta mấy đời nay trung với Tấn, nay vì việc nước mà phải dùng kế này, thế nào mai sau cũng mang tiếng thí nghịch. Loan Thư và Tuân Yển giả cách nói đã khỏi bệnh, có việc cần kíp, muốn yết kiến Tấn Lệ công, rồi một mặt sai Trình Hoạt đem ba trăm quân phục sẵn ở Thái Âm Sơn. Loan Thư và Tuân Yển đến nhà Tượng Lệ Thị tâu với Tấn Lệ công rằng: - Chúa công bỏ việc triều chính, đi chơi đã ba ngày nay chưa về, khiến cho đám quan dân đều có lòng trông đợi, vậy chúng tôi đến đây để đón thánh giá về triều. Tấn Lệ công không thể từ chối được phải lên xe về triều. Tư Đồng đi trước, Loan Thư và Tuân Yển theo sau. Đi đến Thái Âm Sơn, bỗng nghe có tiếng súng nổ, phục binh đổ ra giết chết Tư Đồng. Tấn Lệ công kinh sợ, ở trên xe ngã lăn xuống đất. Loan Thư và Tuân Yển truyền cho quân sĩ bắt đem giam vào một nơi rồi đóng quân ở Thái Âm Sơn. Loan Thư bảo Tuân Yển rằng: - Ta chỉ e Sĩ Mang và Hàn Quyết sau này lại có ý khác, chi bằng ta sai người giả cách phụng mệnh chúa công đi triệu đến đây. Tuân Yển khen phải, liền sai người đi triệu Sĩ Mang và Hàn Quyết. Sứ giả đến triệu Sĩ Mang. Sĩ Mang hỏi: - Chúa công triệu ta có việc gì? Sứ giả luống cuống, không biết đàng nào mà trả lời Sĩ Mang nói: - Việc này đáng nghi lắm! Sĩ Mang sai người nhà dò thám xem Hàn Quyết có đi hay không thì ra Hàn Quyết cũng cáo ốm không chịu đi. Sĩ Mang nói: - Thế mới biết kiến thức của người trí giả thường vẫn giống nhau! Loan Thư thấy Sĩ Mang và Hàn Quyết không đến, lại hỏi Tuân Yển rằng: - Việc này tính thế nào? Tuân Yển nói: - Nhà ngươi đã cưỡi lên lưng hổ, lại còn định xuống hay sao! Loan Thư hiểu ý gật đầu, đêm hôm ấy sai Trình Hoạt dâng thuốc độc cho Tấn Lệ công uống vào chết ngay. Loan Thư truyền làm lễ an táng ở ngoài cửa Đông Môn. Sĩ Mang và Hàn Quyết nghe tin, cũng vội vàng đến để chịu tang, nhưng không hỏi gì về việc tại sao mà Tấn Lệ công chết. Khi an táng đã xong rồi, Loan Thư họp các quan đại phu ở trong triều để bàn lập vua mới. Tuân Yển nói: - Ngày trước việc ba họ Khước bị giết, Tư Đồng nói dèm bảo họ Khước muốn lập công tôn Chu lên làm vua, đó thành ra một lời sấm ngữ, ta nên đón mà lập công tôn Chu. Các quan đại phu đều bằng lòng cả. Loan Thư liền sai Tuân Doanh sang nhà Chu đón công tôn Chu về làm vua. Bấy giờ công tôn Chu đã mười bốn tuổi, người vốn thông minh, lại có trí lược, thấy Tuân Doanh đến đón, hỏi hết sự thể đầu đuôi, rồi cùng với Tuân Doanh trở về nước Tấn. Về đến đất Thanh Nguyên, Loan Thư, Tuân Yển, Sĩ Mang, Hàn Quyết cùng các quan đại phu đều họp ở đấy để nghinh tiếp. Công tôn Chu bảo các quan rằng: - Ta đây ở nước ngoài đã lâu, cũng chẳng muốn về nước cũ làm gì, huống chi lại còn mong làm vua! Nhưng làm vua chỉ quý về một điều chính lệnh ở trong tay mình, nếu lập lên làm vua mà không theo chính lệnh thì chẳng thà đừng lập! Các ngươi có chịu một lòng tin theo chính lệnh của ta hay không, cốt ở lúc này, bằng không thì các ngươi lập người khác, chứ ta không theo một cái hư danh để theo lối cũ như Châu Bồ làm vua ngày trước. Bọn Loan Thư đều sợ hãi sụp lạy mà nói rằng: - Chúng tôi mong vua hiền để mà thờ, có đâu lại dám trái mệnh. Khi lui ra ngoài, Loan Thư bảo các quan rằng: - Vua mới ngày nay không ví như vua cũ được. Chúng ta nên giữ gìn cẩn thận mới phải! Công tôn Chu tiến vào kinh thành, làm lễ cáo nhà Thái Miếu rồi lên nối ngôi, tức là Tấn Điệu công. Ngày hôm sau, Tấn Điệu công kể tội bọn Di Dương Ngũ và Thanh Phí Khôi, truyền cho quân sĩ đem ra chém tại triều môn, còn những tộc đảng đều đuổi sang nước khác; lại đem việc Tấn Lệ công chết, đổ tội cho Trình Hoạt, bắt đem căng thây ở ngoài chợ. Loan Thư thấy vậy khiếp đảm kinh hồn, suốt đêm không ngủ, ngày hôm sau tức khắc xin cáo lão, rồi tiến dẫn Hàn Quyết thay mình. Chưa được bao lâu Loan Thư sợ quá, thành bệnh nặng rồi chết. Tấn Điệu công nghe nói Hàn Quyết là người hiền, cho làm chức trung quân nguyên soái thay Loan Thư. Hàn Quyết giả cách vào tạ ơn, rồi tâu riêng với Tấn Điệu công rằng: - Chúng tôi nhờ công đời trước mới được thế này, mà công đời trước thì không ai hơn họ Triệu: Triệu Thôi giúp vua Văn công. Triệu Thuẫn giúp vua Tương công đều một lòng vì nước, giúp nên công việc bá chủ; đến đời vua Linh công, dùng kẻ gian thần là Đồ Ngạn Giả. Đồ Ngạn Giả lập mưu giết Triệu Thuẫn, Triệu Thuẫn phải chạy trốn mới được thoát nạn. Sau vua Linh công bị giết, vua Cảnh công nối ngôi, lại tin dùng Đồ Ngạn Giả nhân khi Triệu Thuẫn đã chết rồi, vu cho tội thí nghịch, rồi bắt giết cả nhà họ Triệu. Việc ấy dân trong nước ai cũng tức thay, may mà họ Triệu còn sót được một người con tên là Triệu Vũ. Nay chúa công đã trị tội bọn Di Dương Ngũ thì cũng nên nghĩ lại công họ Triệu ngày xưa! Tấn Điệu công nói: - Việc ấy ta cũng nghe nói, hiện nay Triệu Vũ ở đâu? Hàn Quyết nói: - Bấy giờ Triệu Vũ mới sinh. Đồ Ngạn Giả tìm bắt gấp lắm, có hai người môn khách họ Triệu là công tôn Chử Cữu và Trình Anh; công tôn Chử Cữu đem một đứa bé khác liều mình chịu chết để cứu thoát Triệu Vũ; còn Trình Anh đem Triệu Vũ vào giấu ở trong núi Mạnh Sơn, đã mười lăm năm nay rồi! Tấn Điệu công nói: - Nhà ngươi vì ta đi triệu về đây. Hàn Quyết nói: - Đồ Ngạn Giả còn ở trong triều, chúa công nên bí mật mới được. Tấn Điệu công nói: - Ta đã biết rồi! Hàn Quyết cáo từ lui ra, rồi thân hành đến núi Mạnh Sơn để đón Triệu Vũ và Trình Anh. Hàn Quyết đưa Triệu Vũ vào yết kiến Tấn Điệu công. Tấn Điệu công giấu Triệu Vũ ở trong cung, rồi giả cách nói có bệnh ốm. Hàn Quyết đem các quan triều thần vào cung để vấn an, Đồ Ngạn Giả cũng theo vào. Tấn Điệu công nói: - Các người có biết vì cớ gì mà ta thành bệnh ốm hay không? Chỉ vì trong sổ công lao có một điều chưa minh, vậy nên trong lòng ta không được khoan khoái. Các quan đại phu đều sụp lạy mà hỏi rằng: - Chẳng hay trong sổ công lao có điều gì chưa minh, xin chúa công dạy cho biết. Tấn Điệu công nói: - Triệu Thôi, Triệu Thuẫn đều có công to với nước, mà nỡ nào để cho tuyệt tự! Các quan đồng thanh đáp rằng: - Họ Triệu bị diệt tộc đã mười lăm năm nay, bây giờ chúa công dẫu nhờ công họ Triệu cũng chẳng còn ai mà phong được! Tấn Điệu công truyền gọi Triệu Vũ ra chào các quan triều thần. Các quan triều thần đều hỏi: - Chẳng hay tiểu lang quân này là người nào? Hàn Quyết nói: - Ấy tức cô nhi họ Triệu tên gọi Triệu Vũ đó! Còn cô nhi bị giết ngày trước là con Trình Anh, chứ không phải Triệu Vũ. Đồ Ngạn Giả bấy giờ chẳng còn hồn vía nào cả, như một người vay, cứ phủ phục ở dưới đất, không biết nói ra làm sao. Tấn Điệu công nói: - Việc này đều tại Đồ Ngạn Giả làm ra, nếu không diệt tộc Đồ Ngạn Giả thì sao cho thỏa chí oan hồn họ Triệu! Tấn Điệu công truyền đem Đồ Ngạn Giả ra chém, lại sai Hàn Quyết và Triệu Vũ đem quân vây nhà Đồ Ngạn Giả, bất cứ già trẻ lớn bé, đều giết sạch cả. Triệu Vũ xin đem đầu Đồ Ngạn Giả ra tế ở trước mộ Triệu Sóc, người nước Tấn ai cũng lấy làm hả lòng. Tấn Điệu công đã giết Đồ Ngạn Giả rồi, liền cho Triệu Vũ thay Đồ Ngạn Giả làm chức tư khấu, bao nhiêu lộc điền khi trước đều cấp cho Triệu Vũ tất cả. Tấn Điệu công lại nghe nói Trình Anh là người có nghĩa, muốn dùng làm chức quân chính. Trình Anh nói chuyện với mọi người rằng: - Lúc trước ta không chết vội là vì cô nhi họ Triệu, nay cô nhi họ Triệu đã báo được thù xưa rồi, có lẽ nào dám tham phú quý mà để cho công tôn Chử Cữu chịu chết một mình hay sao, âu là ta thác xuống suối vàng báo tin cho công tôn Chử Cữu biết. Trình Anh nói xong, đâm cổ chết, Triệu Vũ ôm lấy thi thể Trình Anh mà khóc, rồi tâu với Tấn Điệu công, xin thiên cả ngôi mộ công tôn Chử Cữu cùng chôn ở Vân Trung Sơn, gọi là "Nghĩa Chủng". Triệu Vũ nhớ ơn Trình Anh, để tang ba năm. Tấn Điệu công đã phong chức cho Triệu Vũ, lại sai người sang nước Tống gọi Triệu Thắng về, phong cho đất Hàm Đan. Bấy giờ Tấn Điệu công biết chọn những người tài giỏi, dùng cho làm quan, bởi vậy trong đám các quan triều thần, người nào cũng xứng đáng cả. Hãy kể mấy quan có danh tiếng như sau: 1. Hàn Quyết làm trung quân nguyên soái; 2. Sĩ Mang làm trung quân phó tướng; 3. Tuân Danh làm thượng quân nguyên soái; 4. Tuân Yển làm thượng quân phó tướng; 5. Loan Áp (con Loan Thư) làm hạ quân nguyên soái; 6. Sĩ Phường (con Sĩ Hội) làm hạ quân phó tướng; 7. Triệu Vũ làm tân quân nguyên soái; 8. Ngụy Tướng (con Ngụy Xứng) làm tân quân phó tướng; 9. Kỳ Hề làm trung quân úy; 10. Dương Thiệt Chức làm trung quân phó úy; 11. Ngụy Giáng (con Ngụy Thù) làm trung quân tư mã, coi việc thưởng phạt quân sĩ; 12. Chương Lão làm chức hậu yêm, coi việc tuần phòng; 13. Hàn Vô Kỵ (con Hàn Quyết) làm công tộc đại phu, coi việc dạy bảo con em các nhà công tộc; 14. Giả Tân làm tư thông; 15. Sĩ Ốc Trọc làm thái phó, coi việc dạy bảo thế tử; 16. Loan Củ làm thân quân nhúng ngự; 17. Tuân Tân làm xa hữu tướng quân; 18. Trình Trinh làm tán bộc, coi việc ngựa xe của vua; 19. Đạc Ất Khấu làm dư úy; 20. Tịch Yển làm dư tư mã. Các quan triều thần đã được nhiều người tài giỏi, cùng nhau chỉnh đốn lại chính trị trong nước, nhân dân cũng lấy làm bằng lòng. Các nước chư hầu như Tống, Lỗ v. V. Đều đến triều cống. Chỉ có Trịnh Thành công cảm cái ơn Sở Cung Vương vì mình mà phải tổn thương mất một con mắt, bởi vậy không chịu theo Tấn. Sở Cung Vương nghe tin Tấn Lệ công bị giết có ý mừng rỡ, đang nghĩ kế để báo thù: Lại nghe nói Tấn Điệu công biết thu dùng những người tài giỏi, trong ngoài ai cũng mến phục, có cơ lại làm được bá chủ, liền triệu các quan triều thần vào để thương nghị, muốn tìm cách làm nhiễu loạn Trung Nguyên, khiến cho nước Tấn không làm bá chủ được. Quan lệnh doãn là công tử Anh Tề chịu bó tay, không nghĩ được mưu kế gì cả. Công tử Nhâm Phu nói với Sở Cung Vương rằng "Các nước chư hầu ở trung nguyên, có nước Tống là một nước lớn, mà ở giữa khoảng nước Ngô và nước Tấn, nếu ta muốn nhiễu loạn trung nguyên thì nên bắt đầu từ Tống trước. Nay quan đại phu nước Tống là Ngư Thạch, Hướng Vi Nhân, Lâm Chu, Hướng Đái và Ngư Phủ, cả thẩy năm người, cùng với quan hữu sư là Hoa Nguyên có ác cảm, bỏ trốn sang ở nước Sở ta, nếu ta giúp binh lực cho bọn ấy, sai về đánh Tống, hễ đánh được Tống thì ta lại phong cho. Đó thật là một kế dùng quân giặc lại đánh quân giặc, vì Tấn không cứu Tống thì bỏ mất chư hầu, mà cứu Tống thì phải giao chiến với bọn Ngư Thạch, bấy giờ ta chỉ việc ngồi mà đợi xem thắng bại". Sở Cung Vương theo mưu ấy, liền sai công tử Nhâm Phu làm đại tướng dùng bọn Ngư Thạch đi dẫn đường, đem đại binh tiến sang đánh nước Tống.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 60 Tuân Dinh hiến kế chia quân ngạch Chư hầu đem binh vây Bức Dương

Sở Cung Vương dùng mưu kế của quan hữu doãn là công tử Nhâm Phu, thân thống đại binh, cùng với Trịnh Thành công sang đánh Tống, sai bọn Ngư Thạch đi dẫn đường, đánh được đất Bành Thành, cho bọn Ngư Thạch đóng quân ở đấy. Sở Cung Vương bảo bọn Ngư Thạch rằng: - Nước Tống đang giao thông với Ngô để chống cự nước Sở ta, mà đất Bành Thành này lại là một chỗ tiếp giáp Ngô và Tấn. Nay ta cho các ngươi đóng quân ở đây, tiến đánh thì có thể xâm chiếm được địa giới nước Tống, lui giữ thì cũng có thể ngăn trở được lối đi lại của quân Tấn và Ngô, vậy các ngươi nên phải cẩn thận, chớ để phụ tấm lòng của ta đã ủy thác cho các ngươi đó! Sở Cung Vương trở về nước Sở. Cuối năm ấy, Tống Thành công sai quan đại phu là Lão Tá đem quân vây đất Bành Thành. Ngư Trạch đem quân ra nghênh chiến, bị Lão Tá đánh thua. Quan lệnh doãn nước Sở là công tử Anh Tề nghe tin đất Bành Thành bị vây, đem quân đến cứu. Lão Tá cậy có sức mạnh, xông vào trong đám quân Sở, liền bị mũi tên mà chết. Công tử Anh Tề tiến binh sang xâm phạm nước Tống. Tống Thành công kinh sợ, sai quan hữu sư là Hoa Nguyên sang cáo cấp với nước Tấn. Hàn Quyết nói với Tấn Điệu công rằng: - Ngày xưa vua Văn công ta làm được bá chủ cũng bởi có việc cứu nước Tống. Cái cơ hay dở, ở một việc này, ta nên đem quân sang cứu mới phải. Hàn Quyết liền sai sứ đi mượn quân các nước chư hầu. Tấn Điệu công thân thống đại binh đến đóng ở đất Đài Cốc. Công tử Anh Tề nghe tin quân Tấn kéo đến, tức khắc rút quân trở về nước Sở. Đến năm sau, Tấn Điệu công đem quân tám nước chư hầu là: Tống, Lỗ, Vệ, Tào, Cử, Châu, Đằng và Tiết đến vây đất Bành Thành. Quan đại phu nước Tống là Hướng Thú sai quân sĩ đứng lên trên xe, gọi người trong thành mà bảo rằng: - Ngư Thạch là một đứa phản tặc, không thể dung tha được, nay nước Tấn sắp đem hai mươi vạn quân, đạp đổ cái thành này, không để sót một ngọn cỏ. Bọn các ngươi, nếu biết lẽ phải, nên bắt đứa phản tặc ấy đem nộp, chớ để cho những người vô tội cũng bị chết lây. Dân trong Bình Thành nghe thấy, biết là Ngư Thạch trái lẽ, liền mở cửa thành ra để đón quân Tấn. Tấn Điệu công tiến vào trong thành. Quân Sở bỏ chạy cả. Hàn Quyết bắt được Ngư Thạch, Loan Áp và Tuân Yển được Ngư Phủ. Hướng Thú (quan đại phu nước Tống) bắt được Hướng Vi Nhân và Hướng Đài, Trọng Tôn Miệt (quan đại phu nước Lỗ) bắt được Lân Chu đều giải đến nộp Tấn Điệu công. Tấn Điệu công truyền đem bọn Ngư Thạch ra chém, rồi kéo quân sang hỏi tội nước Trịnh. Quan hữu doãn nước Sở là công tôn Nhâm Phu đem quân sang xâm phạm địa giới nước Tống, để làm kế cứu Trịnh. Các nước chư hầu lại đem quân sang cứu Tống, rồi cùng nhau rút quân về nước cả. Năm ấy Chu Giản Vương mất, thái tử Tiết Tâm lên nối ngôi, tức là Chu Linh Vương. Chu Linh Vương từ khi mới sinh ra, phía trên miệng đã có râu ria mọc, bởi vậy người nhà Chu cũng gọi là Tỳ Vương. Năm đầu đời vua Tỳ Vương nhà Chu, Trịnh Thành công ốm nặng, bảo quan thượng khanh là công tử Phi rằng: - Vua Sở vì đem quân sang cứu nước ta mà bị thương hỏng mất một mắt, chưa bao giờ ta dám quên cái ơn ấy, sau khi ta chết các ngươi chớ có bội nước Sở. Trịnh Thành công nói xong thì chết. Bọn công tử Phi lập thế tử Khôn Ngoan lên nối ngôi, tức là Trịnh Hi công. Tấn Điệu công thấy người nước Trịnh chưa phục mới đại hội chư hầu ở Thích Địa (đất nước Vệ) để bàn việc đánh Trịnh. Quan đại phu nước Lỗ là Trọng Tôn Miệt hiến kế rằng: - Đất nước Trịnh không đâu hiểm bằng cửa quan Hổ Lao, đó là một chỗ Trịnh và Sở giao thông với nhau, nếu ta đắp một cái thành, rồi đóng quân để chẹn ngang chỗ ấy thì nước Trịnh tất phải theo ta. Vu Thần hiến kế rằng: - Sở và Ngô chỉ cách nhau một con sông, năm trước tôi sang sứ nước Ngô có ước với Ngô để cùng đánh Sở, từ bấy giờ nước Ngô thường sang xâm nhiễu những nước phụ thuộc của nước Sở, người nước Sở lấy làm khổ lắm. Nay ta lại sai sứ sang bảo Ngô đánh Sở; nước Sở phía Đông khổ về nước Ngô, thì phía Bắc tất không cùng tranh nhau nước Trịnh được. Tấn Điệu công theo cả hai kế. Bấy giờ, Tề Linh công cũng sai thế tử Quang cùng với quan thượng khanh là Thôi Trữ sang dự hội để mà vâng mệnh nước Tấn. Tấn Điệu công họp quân các nước chư hầu đắp thành ở cửa quan Hổ Lao, rồi lấy quân các nước: Nước lớn một nghìn quân, nước nhỏ năm trăm hoặc ba trăm quân, cho đóng giữ ở đấy. Trịnh Hi công sợ hãi, xin giảng hòa với nước Tấn. Quan trung quân úy nước Tấn là Kỳ Hề, đã ngoài bảy mươi tuổi, cáo xin về nghỉ. Tấn Điệu công hỏi: - Có người nào thay nhà ngươi được không? Kỳ Hề nói: - Không ai bằng Giải Hổ (con Giải Dương). Tấn Điệu công nói: - Ta nghe Giải Hổ là người thù với nhà ngươi, sao nhà ngươi lại còn tiến dẫn? Kỳ Hề nói: - Chúa công hỏi người nào có thể dùng được, chứ có phải là hỏi người thù của tôi đâu! Tấn Điệu công sai người đi triệu Giải Hổ, Giải Hổ chưa kịp đến nhậm chức thì đã ốm chết. Tấn Điệu công lại hỏi Kỳ Hề rằng: - Trừ Giải Hổ không kể, nhà ngươi còn biết ai nữa không? Kỳ Hề nói: - Thế thì không ai bằng Kỳ Ngọ! Tấn Điệu công nói: - Kỳ Ngọ có phải con nhà ngươi đó không? Kỳ Hề nói: - Chúa công hỏi người nào có thể dùng được, chứ có phải là hỏi người con của tôi đâu! Tấn Điệu công nói: - Nay quan trung quân phó úy là Dương Thiệt Chức cũng chết, nhà ngươi lại vì ta chọn hộ một người khác để thay. Kỳ Hề nói: - Dương Thiệt Chức có hai con là: Dương Thiệt Xích và Dương Thiệt Bật. Hai người ấy đều hiền cả, chúa công muốn dùng người nào thì dùng. Tấn Điệu công theo lời, cho Kỳ Ngọ làm trung quân úy, Dương Thiệt Xích làm trung quân phó úy. Các quan đại phu ai cũng bằng lòng. Con Vu Thần là Vu Hồ Dung phụng mệnh Tấn Điệu công sang sứ nước Ngô, vào yết kiến vua Ngô là Thọ Mộng, xin mượn quân để đánh Sở. Thọ Mộng thuận cho, sai thế tử Chư Phàn làm tướng, luyện quân ở bên sông Trường Giang. Quan lệnh doãn nước Sở là công tử Anh Tề nghe tin ấy, liền tâu với Sở Cung Vương rằng: - Quân Ngô chưa sang nước Sở ta bao giờ, nếu đã sang được một lần thì rồi lại sang quấy mãi, chi bằng ta đánh trước đi là hơn. Sở Cung Vương khen phải. Công tử Anh Tề tuyển chọn hai vạn thủy quân qua sông Trường Giang, phá đất Cưu Tư của nước Ngô; lại toan thuận dòng sông mà kéo quân thẳng xuống. Tướng nước Sở là Đặng Sưu nói với công tử Anh Tề rằng: - Sông Trường Giang này nước đang chảy xiết, tiến dễ mà lui khó, tôi xin đem một toán quân đi trước, nếu được lợi thì tiến, mà không lợi thì chẳng đến nỗi thua to. Quan nguyên soái cứ đóng quân ở Hách Sơn, rồi tùy cơ ứng biến, mới giữ vạn toàn được. Công tử Anh Tề khen phải, tức khắc cho Đặng Sưu đem một toán quân đi, toàn những quân kinh binh, một người có thể địch nổi mười người, cả thẩy một trăm chiếc thuyền. Thế tử Chư Phàn nghe tin đất Cưu Tư bị quân Sở chiếm mất, liền bảo các tướng rằng: - Quân Sở đã chiếm được đất Cưu Tư thì tất thừa thế kéo xuống, ta phải phòng bị trước mới được. Thế tử Chư Phàn sai công tử Di Muội đem một toán quân vài mươi chiếc thuyền ra Lương Sơn để làm kế dụ quân Sở: Còn công tử Dư Sài (em công tử Chư Phàn) đem một toán quân ra phục sẵn ở Thái Thạch Cảng. Đặng Sưu (tướng nước Sở) đem quân ra Hách Sơn, trông thấy ở Lương Sơn có binh thuyền của nước Ngô, vội vàng ra sức tiến đánh. Công tử Di Muội giả cách thua chạy. Đặng Sưu thúc quân đuổi theo, qua Thái Thạch Cảng, lại gặp đại binh của công tử Chư Phàn đến. Hai bên giao chiến với nhau. Đánh nhau được mười hợp thì công tử Dư Sài ở Thái Thạch Cảng đem phục binh đổ ra, theo phía sau đánh ập lại, tên bắn như mưa. Đặng Sưu bị ba phát tên vào mặt, rồi lại rút tên ra mà cố sức đánh. Công tử Di Muội truyền cho quân sĩ cầm giáo đâm vào thuyền quân Sở. Thuyền quân Sở vỡ đắm rất nhiều, Đặng Sưu bị bắt, tự tử mà chết. Quân Sở cũng chết hại rất nhiều. Công tử Anh Tề sợ tội, toan giấu sự thua trận đi, không tâu cho Sở Cung Vương biết, ai ngờ thế tử Chư Phàn thừa thắng đem quân tiến đánh, công tử Anh Tề thua to chạy về. Đất Cưu Tư lại thuộc về nước Ngô. Công tử Anh Tề tức giận thành bệnh, chưa về đến kinh thành nước Sở thì chết, Sở Cung Vương liền cho quan hữu doãn là công tử Nhâm Phu làm lệnh doãn. Công tử Nhâm Phu tính hay tham bỉ, thường bắt các nước phụ thuộc phải lễ đút, Trần Thành công không thể chịu được, mới sai Viên Kiều Như (cháu bốn đời Viên Đào Đồ) sang xin theo Tấn. Sở Cung Vương thấy nước Trần theo Tấn, đổ tội cho công tử Nhâm Phu, rồi đem giết đi; lại dùng người em là công tử Trịnh (tên tự là Tử Nang) làm lệnh doãn, cử binh sang đánh Trần. Bấy giờ Trần Thành công (Ngọ) chết, thế tử Nhược lên nối ngôi, tức là Trần Ai công. Trần Ai công sợ nước Sở thế mạnh, lại xin theo Sở. Tấn Điệu công nghe tin giận, toan cử binh cùng Sở tranh nhau nước Trần, bỗng nghe báo có vua nước Vô Chung là Gia Phủ sai quan đại phu là Mạnh Lạc đem những da hổ, da báo cả thẩy một trăm chiếc đèn dâng Tấn Điệu công và tâu rằng: - Các nước Sơn Nhung, từ khi Tề Hoàn công đem quân đi đánh, đã dẹp yên tất cả, mới rồi nhân nước Yên và Tần suy yếu, các nước Sơn Nhung lại sang xâm nhiễu, chúa công tôi nghe nói nhà vua ngày nay lại noi theo cái công nghiệp của Tề Hoàn công và Tấn Văn công thuở xưa, đã có tuyên bá cho các nước Sơn Nhung biết, vậy các nước ấy muốn giảng hòa, xin nhà vua định liệu. Tấn Điệu công hợp các tướng lại để thương nghị. Các tướng đều nói rằng: - Quân rợ mọi ấy không biết lẽ phải, ta nên đem quân đi đánh. Vua Tề Hoàn công thuở xưa, cũng phải trước đánh Sơn Nhung, sau đánh nước Sở, mới làm nên được bá chủ. Quan tư mã là Ngụy Giáng can rằng: - Không nên! Nay ta mới thâu phục được chư hầu, mà đã đem quân đi đánh Sơn Nhung thì quân Sở tất thừa hư sang quấy nhiễu, bấy giờ chư hầu lại bỏ Tấn theo Sở mà thôi. Sơn Nhung là giống cầm thú, chư hầu là tình anh em, nay bắt được giống cầm thú mà bỏ mất tình anh em, sao gọi là kế hay được! Tấn Điệu công nói: - Vậy thì ta có nên giảng hòa với các nước Sơn Nhung không? Ngụy Giáng nói: - Giảng hòa với các nước Sơn Nhung có năm điều lợi: Sơn Nhung tiếp giáp với nước ta, nhiều đất bỏ hoang, ta có thể mở rộng đất được, đó là một điều lợi: Sơn Nhung không quấy nhiễu ta nữa thì những dân ở bờ cõi được yên nghiệp làm ăn, đó là hai điều lợi; Quân sĩ của ta không phải khó nhọc về sự đánh dẹp đó là ba điều lợi; Sơn Nhung đã thần phục thì các nước chư hầu cũng phải sợ hãi, đó là bốn điều lợi; Ta không phải lo về mặt Bắc (tức là phía Sơn Nhung) thì có thể dốc một lòng mà mở mang về mặt Nam (tức là phía nước Sở) được, đó là năm điều lợi. Có 5 điều lợi ấy can gì mà chúa công không theo. Tấn Điệu công bằng lòng, liền sai Ngụy Giáng làm sứ thần đi giảng hòa với các nước Sơn Nhung. Ngụy Giáng cùng với Mạnh Lạc (quan đại phu nước Vô Chung) đến nước Vô Chung, để cùng với vua nước Vô Chung là Gia Phủ thương nghị việc giảng hòa. Gia Phủ sai người đi triệu các nước Sơn Nhung mà bảo rằng: - Nay vua Tấn làm bá chủ ở Trung Nguyên, có sai sứ thần sang đây, để cùng với các nước ngươi giảng hòa. Các nước ngươi nên một lòng thần phục, từ đây trở đi không được quấy nhiễu. Các nước Sơn Nhung đều xin ăn thề, lại bảo nhau đem các đồ thổ sản đến dâng Ngụy Giáng, Ngụy Giáng nhất định không lấy gì cả. Các nước Sơn Nhung đều khen Ngụy Giáng là liêm khiết, lại càng có ý kính trọng. Ngụy Giáng về tâu lại với Tấn Điệu công, Tấn Điệu công bằng lòng. Bấy giờ quan lệnh doãn nước Sở là công tử Trịnh, chỉ vì cửa quan Hổ Lao có quân Tấn đóng, vậy không dám kéo qua sông Dĩ Thủy, phải theo đường nước Hứa mà tiến sang nước Trịnh. Trịnh Hi công (Khôn Ngoan) sợ lắm, họp sáu quan khanh lại để thương nghị. Trong sáu quan khanh kể tên sau: 1. Công tử Phi, tên tự là Tử Tứ; 2. Công tử Phát, tên tự là Tử Quốc; 3. Công tử Gia, tên tự là Tử Khổng (Ba người này đều là con Trịnh Mục công, đối với Trịnh Hi công là hàng thúc tổ phụ) ; 4. Công tôn Chiếp, tên tự là Tử Nhĩ (con công tử Khứ Tật) ; 5; Công tôn Mại, tên tự là Tử Kiều (con công tử Yển) ; 6. Công tôn Xá, tên tự là Tử Triền (con công tử Hỉ) (Ba người này đều là cháu Trịnh Mục công, đối với Trịnh Hi công thì là hàng thúc phụ). Sáu quan khanh ấy đều là bậc trên Trịnh Hi công cả; chuyên giữ quyền chính nước Trịnh, mà Trịnh Hi công lại là người kiêu ngạo, không biết kính trọng, bởi vậy vua tôi vẫn bất hòa với nhau, nhất là công tử Phi lại càng bất hòa lắm. Trong khi hội nghị, Trịnh Hi công chủ ý muốn cố giữ để đợi quân Tấn đến cứu. Công tử Phi nói: - Tục ngữ có câu rằng: "Nước xa không cứu được lửa gần", chi bằng ta theo Sở. Trịnh Hi công nói: - Tấn và Sở chẳng nước nào thương ta cả, ta cũng chẳng cứ phải chọn nước nào, hễ nước nào mạnh thế thì ta theo, nay ta cứ đem lễ vật ra đợi sẵn ở ngoài cõi, Sở đến thì ăn thề với Sở, mà Tấn đến thì ăn thề với Tấn. Hai nước mạnh chọi nhau mãi thì tất phải một nước thua, bấy giờ ta xem nước nào thắng thì ta theo để giữ cho nhân dân được yên ổn thế là hay hơn cả! Trịnh Hi công không theo lời, lại bảo công tử Phi rằng: - Cứ như lời của nhà ngươi thì nước Trịnh ta chỉ những ăn thề mà không năm nào được yên cả. Trịnh Hi công sai sứ sang cầu cứu nước Tấn. Các quan đại phu đều sợ trái ý công tử Phi, không ai dám đi sứ. Trịnh Hi công giận lắm, thân hành đi lấy. Đêm hôm ấy Trịnh Hi công ngủ ở nhà quán xá, công tử Phi sai người đến giết, rồi nói dối là Trịnh Hi công ngộ cảm mà chết, lập ngươi em là Gia lên nối ngôi, tức là Trịnh Giản công. Công tử Phi sai người nói dối quân Sở rằng: - Việc theo Tấn đều là tự ý Khôn Ngoan (tức là Trịnh Hi công), nay Khôn Ngoan đã chết rồi, vậy nước tôi lại xin theo quý quốc. Công tử Trinh nước Sở lại cho nước Trịnh giảng hòa. Tấn Điệu công nghe tin nước Trịnh lại theo Sở, liền hỏi các quan đại phu rằng: - Nay Trần và Trịnh cùng theo Sở cả, ta nên đánh nước nào trước? Tuân Dinh nói: - Nước Trần nhỏ mọn, dẫu có theo ta hay không, cũng không quan hệ gì cả; còn nước Trịnh là một nơi trọng yếu, nếu muốn làm bá chủ tất phải đi thu phục nước Trịnh. Thà mất mười nước Trần, chứ không nên bỏ mất một nước Trịnh! Hàn Quyết nói: - Tử Vũ (tên tự của Tuân Dinh) là người có kiến thức, tất thu phục được nước Trịnh, tôi nay tuổi già sức yếu, xin đem chức trung quân nguyên soái nhường lại cho Tử Vũ. Tấn Điệu công không cho. Hàn Quyết cố xin mãi. Tấn Điệu công bất đắc dĩ phải cho Tuân Dinh thay Hàn Quyết làm trung quân nguyên soái, đem đại binh đi đánh Trịnh. Quân Tấn kéo đến cửa quan Hổ Lao. Người nước Trịnh xin ăn thề, Tuân Dinh thuận cho. Đến lúc Tấn về, Sở Cung Vương lại thân hành đem quân sang đánh Trịnh. Người nước Trịnh lại theo Sở, Tấn Điệu công giận lắm, hỏi các quan đại phu rằng: - Người nước Trịnh phản phúc, quân ta đến thì theo, quân ta về lại phản, nay muốn làm cho người nước Trịnh phải một lòng theo ta thì nên dùng kế gì? Tuân Dinh hiến kế rằng: - Nước Tấn ta không thu phục được nước Trịnh là vì người nước Sở cố sức mà tranh. Nay muốn thu phục được nước Trịnh thì tất phải đối địch với Sở, mà muốn làm cho Sở phải khốn quẫn thì nên dùng một kế: Dĩ dật đãi lao. Tấn Điệu công nói: - Thế nào gọi là: Dĩ dật đãi lao? Tuân Dinh nói: - Quân nước mình không nên dùng luôn, dùng luôn thì người mình nhọc; quân chư hấu không nên lấy luôn, lấy luôn thì chư hầu oán. Trong nhọc mà ngoài oán, cứ như thế thì không bao giờ thắng được nước Sở. Tôi xin chia ra làm ba đạo quân, mỗi đạo lại có mấy nước chư hầu phụ thuộc vào để thay đổi nhau mà đối địch với quân Sở. Sở tiến thì ta lui, Sở lui thì ta tiến, đem một đạo quân của ta mà làm cho nước Sở không lúc nào được yên, như thế thì nước Sở khốn quẫn, bấy giờ nước Trịnh tất phải một lòng theo ta. Tấn Điệu công khen phải, liền sai Tuân Dinh luyện quân ở đất Khúc Lương, chia làm ba đạo để định phép thay đổi nhau. Tuân Dinh trèo lên tướng đàn. Trên tướng đàn có cắm một lá cờ đại bái sắc vàng, trong đề mấy chữ trung quân nguyên soái Trí, dưới tướng đài chia quân ra làm ba đạo: - Đạo thứ nhất, thượng quân nguyên soái là Tuân Yển, phó tướng là Hàn Khởi, ba nước: Lỗ, Tào, Châu đem quân theo vào đạo ấy; trung quân phó tướng là Phạm Mang (tức là Sĩ Mang, sau đổi làm họ Phạm) đi tiếp ứng. - Đạo thứ hai, hạ quân nguyên soái là Loan Áp, phó tướng là Sĩ Phương, ba nước: Tề, Đằng, Tiết đem quân theo vào đạo ấy; trung quân thượng đại phu là Ngụy Hiệt đi tiếp ứng. - Đạo thứ ba, tân quân nguyên soái là Triệu Vũ, phó tướng là Ngụy Tướng, ba nước: Tống, Vệ, Nghệ đem quân theo vào đạo ấy; trung quân hạ đại phu là Tuân Hội đi tiếp ứng. Tuân Dinh truyền lệnh rằng: - Trong ba đạo quân, cứ thay đổi đi đánh Trịnh, hễ Trịnh chịu giảng hòa thì lại rút về ngay, cấm giao chiến với quân Sở. Công tử Dương Can là em cùng mẹ với Tấn Điệu công, mới mười chín tuổi, đang làm chức trung quân nhung ngự, tính khí hãy còn hăng hái, chưa từng ra trận bao giờ, nghe nói Tuân Dinh luyện quân để sắp đi đánh Trịnh, vẫn múa tay hoa chân, chỉ mong được ra nơi chiến trường, nhưng không thấy Tuân Dinh dùng đến, mới tình nguyện xin đi tiên phong. Tuân Dinh nói: - Ngày nay ta luyện quân là chỉ muốn tiến cho chóng, lại thoái cho chóng, không cần đánh được quân giặc, tiểu tướng quân dẫu khỏe mạnh, cũng không dùng làm gì! Công tử Dương Can cố ý xin mãi. Tuân Dinh nói: - Tiểu tướng quân đã cố ý xin như vậy thì cho làm bộ hạ quan Tuân đại phu (tức là Tuân Hội) để tiếp ứng đạo tân quân. Công tử Dương Can nói: - Đạo tân quân đến lần thứ ba mới ra đánh thì đợi sao cho được, xin cho thuộc vào đạo thượng quân. Tuân Dinh không cho. Công tử Dương Can cậy thế là em Tấn Điệu công, đem ngay quân bản bộ của mình, đi theo vào toán quân Phạm Mang. Quan tư mã là Ngụy Giáng trông thấy công tử Dương Can dám rẽ hàng quân để đi lên trước, liền đánh trống mà tuyên cáo với các tướng rằng: - Công tử Dương Can dám trái tướng lệnh, đi loạn hàng quân, tội đáng chết chém, nay nể là em chúa công, vậy phải giết người dong xe để thay mạng. Ngụy Giáng truyền cho quân sĩ bắt người dong xe đem chém, công tử Dương Can căm tức vô cùng, vội vàng vào thuật chuyện lại cho Tấn Điệu công biết và khóc mà nói rằng: - Ngụy Giáng khinh bỉ như vậy thì tôi không còn mặt mũi nào mà trông thấy các tướng nữa! Tấn Điệu công vốn có lòng yêu em, không kịp hỏi rõ, liền nổi giận mà nói rằng: - Ngụy Giáng làm nhục em ta, ta tất phải giết không thể tha. Tấn Điệu công truyền gọi quan trung quân phó úy là Dương Thiệt Chức, sai đi bắt Ngụy Giáng. Dương Thiệt Chức nói với Tấn Điệu công rằng: - Ngụy Giáng là người có chí khí xưa nay vẫn không tránh những việc khó khăn, không chối những điều tội lỗi. Nếu việc quân xong tất nhiên thế nào cũng đến đây tạ tội, bất tất phải cho đi triệu. Được một lúc thì quả nhiên Ngụy Giáng đến, tay phải cầm kiếm, tay trái cầm tờ tâu, sắp sửa vào triều để tạ tội, vừa đến triều môn thì nghe tin Tấn Điệu công toan sai người đi bắt mình, liền nổi cơn tức giận, giao tờ tâu cho người nhà, rồi toan cầm kiếm để tự tử. Bỗng có hai viên quan ở đâu hăm hở chạy đến, tức là quan hạ quân phó tướng Sĩ Phường và quan chủ - hậu đại phu Trương Lão, Sĩ Phường và Trương Lão trông thấy Ngụy Giáng toan tự tử, vội giằng lấy thanh kiếm mà nói rằng: - Chúng tôi nghe nói quan tư mã (trỏ Ngụy Giáng) vào triều, tất là vì việc công tử Dương Can, vậy chúng tôi vội vàng tới đây, định cùng nhau vào tâu để chúa công biết, chẳng hay vì cớ gì mà quan tư mã lại liều mình như thế? Ngụy Giáng thuật lại những chuyện Tấn Điệu công toan sai Dương Thiệt Chức đi bắt mình. Sĩ Phường và Trương Lão nói: - Quan tư mã cứ theo phép công mà làm, can gì lại phải liều mình! Âu là để chúng tôi vào tâu với chúa công. Sĩ Phường và Trương Lão đem tờ tâu của Ngụy Giáng vào dâng Tấn Điệu công. Tấn Điệu công mở ra xem. Trong tờ tâu đại lược như sau: "Chúa công không chê tôi là một kẻ hèn mạt mà sai tôi làm chức tư mã. Tôi nghe nói việc quân quan hệ ở quan nguyên soái, mà quan nguyên soái quan hệ ở mệnh lệnh; chỉ vì không theo mệnh lệnh mà trận Hà Khúc và trận Bí Thành ngày xưa đến nỗi bị thua. Mới rồi tôi có giết một kẻ không theo mệnh lệnh để giữ lấy chức phận quan tư mã. Việc ấy xúc phạm đến ngự đệ, vậy tôi biết tội đã nhiều, xin chịu một gươm ở bên cạnh để chúa công khỏi trái với tấm lòng thân ái ngự đệ". Tấn Điệu công xem xong hỏi Sĩ Phường và Trương Lão rằng: - Ngụy Giáng bây giờ ở đâu? Sĩ Phường và Trương Lão nói: - Ngụy Giáng sợ tội đã toan tự tử, chúng tôi cố can mãi, hiện bây giờ đang đứng ngoài cửa cung. Tấn Điệu công hoảng hốt đứng dậy, không kịp xỏ giầy, liền bước ngay ra ngoài cửa cung, cầm lấy tay Ngụy Giáng mà bảo rằng: - Câu nói của ta là tình riêng, việc làm của nhà ngươi là phép công. Ta không biết dạy em để phạm đến phép công, đó là lỗi tại ta, chứ nhà ngươi có hề chi! Dương Thiệt Chức ở bên cạnh nói to lên rằng: - Chúa công đã xá tội cho thì Ngụy Giáng nên lui ra. Ngụy Giáng lạy tạ. Dương Thiệt Chức cùng với Sĩ Phường và Trương Lão cùng lạy Tấn Điệu công mà chúc mừng rằng: - Chúa công có người bề tôi biết giữ phép như thế, chắc là nên được nghiệp bá chủ! Bốn người cùng cáo từ Tấn Điệu công rồi lui về. Tấn Điệu công vào cung sỉ mắng công tử Dương Can là người không biết giữ phép, suýt nữa thì khiến cho ta mang tiếng xấu, giết lầm một người tướng yêu mến của ta! Tấn Điệu công lại sai nội thị giải công tử Dương Can đến một quan công tộc đại phu là Hàn Vô Kỵ để bắt phải học lễ trong ba tháng, rồi mới được vào yết kiến. Công tử Dương Can lấy làm hổ thẹn vô cùng. Tuân Dinh chia quân xong vừa toan đi đánh Trịnh bỗng có sứ thần nước Tống đưa văn thư đến. Tấn Điệu công mở xem mới biết nước Sở và nước Trịnh thường đem quân qua nước Bức Dương sang xâm phạm địa giới nước Tống. Vì thế nước Tống phải sai sứ sang cáo cấp với nước Tấn. Quan thượng quân nguyên soái là Tuân Yển nói với Tấn Điệu công rằng: - Nước Sở đã thu phục được Trần và Trịnh rồi mà lại sang xâm phạm nước Tống là có ý muốn cùng nước Tấn ta tranh nghiệp bá chủ. Nay nước Bức Dương là con đường của quân Sở sang đánh Tống, nếu ta đem quân thẳng tiến Bức Dương thì chỉ đánh một trận có thể chiếm lấy được, rồi phong cho quan đại phu nước Tống là Hướng Thú ở đấy, vì hắn có công ở trận Bành Thành khi trước, để hắn ở đấy mà chẹn đường quân Sở, cũng là một kế hay! Tuân Dinh nói: - Bức Dương dẫu nhỏ, nhưng thành quách vững bền lắm, nếu ta đánh mà không được, tất bị các nước người ta chê cười. Quan trung quân phó tướng là Sĩ Mang nói: - Trận Bành Thành, ta đang đánh Trịnh thì Sở xâm Tống để cứu Trịnh; trận Hổ Lao, ta đang cùng với Trịnh giảng hòa thì Sở lại xâm Tống để báo thù. Vậy ta muốn thu phục nước Trịnh thì trước hết phải lập mưu giữ vững nước Tống mới được. Tuân Yển nói phải đó! Tuân Dinh nói: - Hai ngươi có chắc là diệt được nước Bức Dương hay không? Tuân Yển và Sĩ Mang đồng thanh đáp rằng: - Xin nguyên soái cứ chắc ở hai chúng tôi, nếu không thành công thì hai chúng tôi xin chịu tội. Tấn Điệu công nói: - Bá Du (tên tự của Tuân Yển) khởi xướng lên mà Bá Hà (tên tự của Sĩ Mang) giúp vào thì lo gì không được thành công. Tấn Điệu công liền phái đạo quân thứ nhất đi đánh Bức Dương. Nước Lỗ, nước Tào và nước Châu đem quân theo vào đạo ấy. Quan đại phu Bức Dương nói với vua Bức Dương rằng: - Quân Lỗ đóng ở Bắc môn, ta giả cách mở cửa thành ra đánh, khiến cho quân Lỗ kéo vào; chờ khi vào được nửa chừng, bấy giờ ta hạ cánh cửa treo ở trên xuống mà chặn ngang. Quân Lỗ đã thua thì quân Tào, quân Châu tất sợ, tự khắc khí thế của nước Tấn cũng phải nhụt đi! Vua Bức Dương dùng kế ấy. Tướng nước Lỗ là Mạnh Tôn Miệt (tức là Trọng Tôn Miệt) đem bộ thuộc của mình là Thúc Lương Ngột (thân phục đức Khổng Tử), Tần Cận Phụ và Địch Tây Di đánh cửa Bắc môn. Tần Cận Phụ và Địch Tây Di trông thấy cánh cửa treo mở lên, liền cậy sức khỏe tiến vào trước. Thúc Lương Ngột đi theo sau. Bỗng nghe trên mặt thành có tiếng cót két thì cánh cửa treo buông sầm ngay xuống ngay giữa đỉnh đầu Thúc Lương Ngột. Thúc Lương Ngột tức khắc ném cái giáo xuống đất hai tay nâng đỡ cánh cửa từ từ đẩy lên. Toàn hậu đội nước Lỗ thấy vậy, nổi hiệu thu quân. Tần Cận Phụ và Địch Tây Di vội vàng quay mình trở ra. Tướng Bức Dương là Vân Ban ở trong thành đem quân đuổi theo, trông thấy Thúc Lương Ngột đang giơ tay đỡ cánh cửa treo để cho quân Lỗ lui ra, liền giật mình kinh sợ, nghĩ thầm trong lòng rằng: Cánh cửa treo tự trên buồng xuống, nặng kể có nghìn cân, nếu không sức khỏe đỡ lên thế nào nổi, nay ta ra tới đấy mà bị người ấy buông xuống thì phỏng còn gì là tính mệnh. Vân Ban không dám đuổi theo nữa, mới dừng xe lại đứng xem. Thúc Lương Ngột đợi cho quân mình lui ra hết, rồi quát to lên rằng: - Ta đây là một người danh tướng nước Lỗ, tên gọi Thúc Lương Ngột, có ai muốn ra đối địch thì nhân khi ta chưa buông tay này nên mau mau mà ra. Người trong thành không ai dám nói gì cả. Vân Ban giương cung toan bắn. Thúc Lương Ngột nghiêng mình trở ra, rồi buông hai tay không đỡ nữa. Cánh cửa treo lại sập thẳng xuống đất. Thúc Lương Ngột về dinh bảo Tần Cận Phụ và Địch Tây Di rằng: - Tính mệnh hai tướng quân vừa rồi thật ở trong tay ta! Tần Phụ Cận nói: - Nếu hậu đội không nổi hiệu thu quân thì chúng ta cố sức xông vào đã phá vỡ thành Bức Dương rồi! Địch Tây Di nói: - Để đến ngày mai chỉ một mình ta phá vỡ thành Bức Dương cho họ biết cái tài lực nước Lỗ. Ngày hôm sau Mạnh Tôn Miệt lại đem quân đến dưới thành để khiêu chiến, chia quân ra từng đội, mỗi đội năm trăm người. Địch Tây Di nói: - Ta không cần phải ai giúp, chỉ một mình ta là một đội! Địch Tây Di đem áo giáp buộc vào một cái bánh xe, để giương lên làm mộc, rồi cầm cái giáo thật dài, vừa múa vừa xông vào, chạy nhanh như bay. Quân Bức Dương đứng trên mặt thành, trông thấy Địch Tây Di hăng hái như vậy, mới dòng tấm vải xuống mà bảo rằng: - Ta dòng dây cho mà lên, có ai dám lên thì mới cho là giỏi! Nói chưa dứt lời thì trong đám quân Lỗ có một viên tướng bước ra đáp rằng: - Khi nào lại không dám! Viên tướng ấy tức là Tần Cận Phụ. Tần Cận Phụ hai tay bíu vào tấm vải rồi leo lên. Khi gần đến mặt thành thì quân Bức Dương lấy dao cắt đứt tấm vải. Tần Cận Phụ đang ở lưng chừng ngã lăn xuống đất. Thành Bức Dương cao kể mấy nhận (mỗi nhận tám thước), cứ như người khác mà ngã thì chẳng chết cũng bị trọng thương, thế mà Tần Cận Phụ không hề chi cả. Quân Bức Dương lại dòng tấm vải xuống bảo rằng: - Còn dám lên nữa không? Tần Cận Phụ đáp rằng: - Khi nào lại không dám! Tần Cận Phụ bíu tấm vải leo lên, lại bị quân trên mặt thành cắt đứt tấm vải ngã lăn xuống đất. Tần Cận Phụ vừa đứng dậy được thì quân trên mặt thành lại dòng tấm vải xuống hỏi tiếp: - Nào, nào! Còn dám lên nữa hay là thôi đấy! Tần Cận Phụ lại hăng hái đáp lại: - Nếu không dám lên thì sao gọi là người giỏi! Nói xong lại leo lên như trước. Quân Bức Dương ở trên mặt thành trông thấy Tần Cận Phụ đã hai lần ngã mà vẫn dám lên, cũng có ý run sợ, khi giơ dao cắt tấm vải, bị Tần Cận Phụ nắm mà kéo xuống. Người ấy ngã, chết ngay lập tức. Tần Cận Phụ cũng ngã theo xuống, lại gọi quân trên mặt thành mà bảo rằng: - Các ngươi còn dám dòng vải xuống nữa hay thôi? Quân Bức Dương đáp rằng: - Đã biết tài lực của tướng quân rồi, không dám dòng vải xuống nữa! Tần Cận Phụ sai đem ba đoạn vải ấy đưa khắp cho quân sĩ xem, mọi người đều lắc đầu le lưỡi. Mạnh Tôn Miệt khen rằng: - Kinh Thi có câu: "Sức khỏe như hổ", ba tướng (trỏ Thúc Lương Ngột, Tần Cận Phụ và Địch Tây Di) nay thật đương nổi câu ấy! Vân Ban thấy các tướng nước Lỗ đều mạnh tựa như thế, không dám ra đánh, truyền cho quân sĩ cố giữ thế thủ. Quân các nước vây thành Bức Dương đã hai mươi ngày mà chưa phá nổi, bỗng trời mưa to lắm. Trên mặt đất bị nước ngập sâu ba thước, quân sĩ sợ hoảng cả lên. Tuân Yển và Sĩ Mang tướng nước Tấn vội vàng vào thương nghị với Tuân Dinh để xin rút quân về.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 61 Tấn Điệu công cử binh đánh Sở Tôn Lâm Phủ nổi loạn đuổi vua

Quân Tấn và quân chư hầu vây thành Bức Dương trong 24 ngày mà chưa phá vỡ, bỗng trời mưa to lắm, trên mặt đất bị nước ngập sâu ba thước. Tuân Yển và Sĩ Mang lo sợ, vào nói với Tuân Dinh rằng: - Chúng tôi vẫn tưởng là thành nhỏ dễ đánh, ai ngờ vây mãi không phá được mà trời lại mưa to, nay đang mùa hạ, lại là mùa nước lên, sông Bào Thủy ở phía Tây, sông Tiết Thủy ở phía Đông Bắc, hai sông ấy đều thông nhau với sông Tứ Thủy, vạn nhất trời mưa mãi, nước mấy sông ấy tràn đến thì khó lòng mà thu quân được, chi bằng ta tạm rút về, rồi sau sẽ liệu. Tuân Dinh nổi giận, cầm cái ghế đang ngồi ném xuống trước mặt Tuân Yển và Sĩ Mang mà mắng rằng: - Ta đã bảo thành ấy dẫu nhỏ nhưng vững bền lắm, chưa dễ phá nổi, các ngươi dám tự quyết là đánh được; khi ở trước mặt chúa công, các ngươi cố ý xin đi đánh, để khiến cho ta phải đem quân tới đây. Nay đánh mãi không được, vừa gặp trời mưa, đã muốn rút quân về. Các ngươi muốn đến đây thì dễ, chứ muốn rút về thì khó, ta hạn cho bảy ngày nữa, nếu các ngươi không phá vỡ thành Bức Dương, ta sẽ chém đầu đi! Thôi muốn tốt thì lui ra, chớ vào yết kiến ta làm chi! Tuân Yển và Sĩ Mang sợ hãi, xám xanh cả mặt, vâng dạ mà lui ra, bảo các tướng bộ thuộc của mình rằng: - Quan nguyên soái nghiêm hạn trong 7 ngày nữa, nếu không phá vỡ thành Bức Dương thì chém đầu chúng ta; nay ta cũng nghiêm hạn cho các ngươi nếu trong 6 ngày nữa mà không phá vỡ thì ta cũng chém đâu các ngươi trước, rồi ta sẽ tự tử để giữ lấy quân pháp. Các tướng đều sợ hãi nhìn nhau. Tuân Yển và Sĩ Mang nói: - Quân pháp không phải là nói đùa, chúng ta phải xông pha tên đạn, ngày đêm có tiến mà không thoái. Nói xong, sai người ước với quân nước Lỗ, nước Tào và nước Châu để cùng nhau cố đánh. Bấy giờ thế nước đã hơi lui, Tuân Yển và Sĩ Mang thúc quân tiến đánh; tên đạn ở trên mặt thành bắn xuống như mưa, mà Tuân Yển và Sĩ Mang nhất định không tránh. Sau trong thành hết cả tên đạn, Tuân Yển mới bắc thang trèo lên, Sĩ Mang cũng lên theo, quân tướng các nước đều lục tục kéo nhau lên cả, Vân Ban đánh lại không nổi, chết ở trong đám loạn quân. Tuân Dinh vào thành, vua Bức Dương đem các quan triều thần ra xin hàng. Tấn Điệu công lo không đánh được thành Bức Dương, lại sai hai nghìn quân tinh binh đến để đánh giúp. Khi đi đến đất Sở Khâu (đất nước Vệ), nghe tin Tuân Dinh đã hạ được thành Bức Dương rồi, liền sai sứ đến nước Tống, đem thành Bức Dương phong cho quan đại phu nước Tống là Hướng Thú. Hướng Thú cùng với Tống Bình công thân hành đến đất Sở Khâu yết kiến Tấn Điệu công. Hướng Thú chối từ nhận phong, Tấn Điệu công liền giao cho Tống Bình công. Tuân Dinh đem những chuyện can đảm và dũng lực của 3 tướng (Thúc Lương Ngột, Tần Cận Phụ và Địch Tây Di) nước Lỗ thuật lại cho Tấn Điệu công biết, Tấn Điệu công đều ban thưởng cho, các tướng nước Lỗ lạy tạ, rồi thu quân về. Tấn Điệu công trách vua Bức Dương về tội khi trước giúp Sở, giáng làm thứ nhân, lại chọn một người trong tộc đảng của vua Bức Dương cho ở đất Hoắc Thành để giữ lấy việc cúng tế. Mùa thu năm ấy, Tuân Hội tạ thế, Tấn Điệu công thấy Ngụy Giáng là người biết giữ phép, cho thay Tuân Hội làm chức tân quân phó tướng; cho Trương Lão thay Ngụy Giáng làm chức tư mã. Mùa đông năm ấy, đạo quân thứ hai của Tấn lại sang đánh Trịnh, đóng đồn ở đất Ngưu Thủ (đất nước Trịnh) và đất Hổ Lao. Gặp bấy giờ người nước Trịnh là Úy Chỉ nổi loạn, giết công tử Phi, công tử Phát và công tử Triệt ở Tây Cung. Con công tử Tứ là công tôn Hạ (tên tự là Tử Tây) và con công tử Phát là công tôn Kiều (tên tự là Tử Sản) đều đem quân đi đánh Úy Chỉ. Úy Chỉ chạy về Bắc Cung, công tôn Mại giảng hòa để khiến cho quân Tấn lui về, khi quân Tấn đã lui rồi cũng đem quân đuổi đánh, liền giết chết được đảng Úy Chỉ, rồi lập công tử Gia làm thượng khanh. Loan Áp nói với Tuân Dinh rằng: - Ta nên nhân lúc nước Trịnh có loạn mà tiến đánh ngay thì tất có thể phá được. Tuân Dinh nói: - Nếu ta nhân lúc người ta có loạn mà đánh thì là bất nghĩa. Tuân Dinh truyền hoãn binh không đánh vội. Quan thượng khanh nước Trịnh là công tử Gia xin giảng hòa, Tuân Dinh thuận cho. Đến lúc công tử Trinh nước Sở đem quân cứu Trịnh thì quân Tấn đã rút về rồi. Nước Trịnh lại cùng với nước Sở giảng hòa. Năm sau, Tấn Điệu công lại cho đạo quân thứ ba sang đánh Trịnh. Toàn quân của Hướng Thú nước Tống kéo đến cửa Đông Môn. Quan thượng khanh nước Vệ là Tôn Lâm Phủ đem quân đóng ở Bắc Bỉ. Quan hạ quân nguyên soái nước Tấn là Triệu Vũ đóng ở ngoài Tây Giao. Tuân Dinh đem đại quân từ đất Bắc Lâm kéo qua phía Tây, tiến đến Nam môn, rồi sai người ước với các toán quân cùng vây nước Trịnh. Trịnh Giản công sợ lắm, lại xin giảng hòa. Tuân Dinh lại thuận cho, rồi lui quân về địa giới nước Tống. Trịnh Giản công thân hành đến khao thưởng quân sĩ cùng với Tuân Dinh uống máu ăn thề. Sở Cung Vương giận lắm, sai công tử Trinh sang mượn quân Tần để về đánh Trịnh. Bây giờ Sở Cung Vương phu nhân là em gái Tần Cảnh công (con Tần Hoàn công) hai nước đang có tình thân hiếu với nhau. Tần Cảnh công mới sai quan đại tướng là Doanh Thiêm đem quân sang giúp nước Sở. Sở Cung Vương đem đại binh thẳng đường sang Huỳnh Dương và đoan quyết rằng: - Lần này không diệt được nước Trịnh thì không chịu rút quân về. Trịnh Giản công từ khi giảng hòa với Tấn, biết chắc chắn rằng thế nào nước Sở cũng lại đem quân sang đánh, mới họp các quan triều thần lại để thương nghị. Các quan đại phu đều nói: - Hiện nay thế lực nước Tấn hơn Sở nhiều lắm, chỉ vì quân Tấn đi thì mau mà đến thì chậm, không mấy khi gặp được quân Sở để quyết thư hùng, thành ra hai bên cứ tranh nhau mãi; nếu quân Tấn giao chiến một trận thì quân Sở tự biết sức kém mà phải tránh xa, bấy giờ ta có thể một lòng theo Tấn được. Công tôn Xá Chi hiến kế rằng: - Ta muốn cho Tấn giao chiến thì phải làm cho Tấn tức giận, mà muốn làm cho Tấn tức giận thì không gì bằng đánh Tống. Nay Tống đang giao hiếu với Tấn, vậy ta buổi sớm đánh Tống thì buổi chiều quân Tấn tất sang đánh ta. Quân Tấn đến mau thì quân Sở chưa lui, bấy giờ ta sẽ có cớ mà nói với quân Sở. Các quan đại phu đều khen phải. Trong khi đang hội nghị thì có người báo tin nước Sở sang mượn quân nước Tần. Công tôn Xá Chi mừng mà nói rằng: - Đó là lòng trời khiến cho ta phải theo Tấn! Các quan đại phu đều không hiểu là ý làm sao. Công tôn Xá Chi nói: - Sở và Tấn cùng sang đánh thì nước Trịnh ta chịu thế nào nổi, chi bằng ta sai người ra nghênh tiếp quân Sở, rồi xui sang đánh Tống. Một là tránh khỏi cái hại quân Sở, hai là làm cho quân Tấn tức giận, có phải là được cả đôi đường không. Trịnh Giản công theo kế ấy, liền sai công tôn Xá Chi qua sông Dĩnh Thủy, đi chưa được một xá thì gặp quân Sở. Công tôn Xá Chi xuống xe, sụp lạy ở trước ngựa Sở Cung Vương, Sở Cung Vương sầm nét mặt hỏi rằng: - Nước Trịnh ngươi phản phúc không thực, ta định đem quân đến hỏi tội, nay nhà ngươi tới đây là có ý gì? Công tôn Xá Chi nói: - Chúa công tôi vẫn mến đức đại vương, sợ uy đại vương, muốn suốt đời nương tựa dưới bóng đại vương, không bao giờ dám đổi ý; ngặt vì nước Tấn bạo ngược, cùng với nước Tống xâm nhiễu nước tôi. Chúa công tôi sợ nước nhà bị tàn phá, bất đắc dĩ phải giảng hòa để quân Tấn lui về, khi quân Tấn đã lui rồi thì nước tôi lại là một nước phụ thuộc của đại vương. Chúa công tôi sợ đại vương không thấu cái nông nỗi ấy, nên sai tôi đến đây để giãi bày tâm sự, nếu đại vương sang hỏi tội nước Tống thì chúa công tôi xin đi làm tiên phong. Sở Cung Vương đổi giận làm lành bảo rằng: - Nếu vua Trịnh muốn theo ta đánh Tống thì còn nói gì nữa! Công tôn Xá Chi nói: - Khi tới đây thì chúa công đã sửa soạn quân sĩ để chực đón đại vương ở Đông Bỉ rồi! Sở Cung Vương nói: - Đã đành rằng thế, nhưng quân Tần hẹn ta hội ở đất Huỳnh Dương, ta phải đợi quân Tần mới được. Công tôn Xá Chi nói: - Nước Tần xa cách, tất phải qua Tấn và Chu mới sang đến nước tôi, đại vương sai sứ đi ngăn lại cũng có thể kịp; cứ như uy linh đại vương và thế lực quân sĩ thì cần gì phải mượn đến quân Tần! Sở Cung Vương bằng lòng, liền sai sứ đi tạ quân Tần để cho quân Tần trở về, rồi cùng với công tôn Xá Chi đi về phía Đông. Đi đến đất Hữu Sầm thì thấy Trịnh Giản công đã đem quân ra nghênh tiếp, liền cùng nhau sang đánh Tống, cướp phá địa giới nước Tống, rồi rút quân về. Tống Bình công sai Hướng Thú sang cáo cấp với nước Tấn, và kể chuyện nước Trịnh hợp quân với nước Sở. Tấn Điệu công tức thì nổi giận lại truyền cho đạo quân thứ nhất tiến sang đánh Trịnh. Tuân Dinh nói với Tấn Điệu công rằng: - Nước Sở phải sang mượn quân nước Tần là vì nước Sở trong mấy năm nay chỉ những đi lại mà không thể chịu được sự lao khổ; lần này sang đánh, ta nên tỏ cho nước Trịnh biết những sự cường thịnh của ta thì tự khắc nước Trịnh không dám theo Sở nữa! Tấn Điệu công khen phải, liền đại hội chư hầu là: Tống, Lỗ, Vệ, Tề, Tào, Cử, Châu, Đằng, Tiết, Kỷ và Tiểu Châu cùng đem quân sang đánh Trịnh, diễu quân ở phía Đông môn nước Trịnh, bắt được tù binh nước Trịnh rất nhiều. Trịnh Giản công bảo công tôn Xá Chi rằng: - Nhà ngươi muốn làm cho nước Tấn tức giận, để phải đem quân đến ngay, nay quả nhiên đến thật, nhà người tính thế nào? Công tôn Xá Chi nói: - Tôi xin một mặt sai người giảng hòa với Tấn, một mặt sai người cầu cứu với Sở. Quân Sở đến thì tất phải giao chiến với Tấn, bấy giờ ta chọn nước nào thắng thì theo; nếu quân Sở không đến thì ta giảng hòa với Tấn, rồi đem vàng ngọc mà lễ đút nước Tấn, để Tấn hết lòng bênh vực cho ta, ta còn lo gì nước Sở nữa! Trịnh Giản công khen phải, liền sai quan đại phu là Bá Biền sang giảng hòa với quân Tấn, và sai công tôn Lương Tiêu cùng quan thái tể là Thạch Sước sang nói với Sở Cung Vương rằng: - Hiện nay nước Tấn lại đem quân 11 nước chư hầu đến đánh nước tôi, nước tôi khó lòng mà giữ nổi, xin đại vương sang dẹp hộ quân Tấn, nếu không thì nước tôi bất đắc dĩ lại phải giảng hòa với Tấn, đại vương tha lỗi cho. Sở Cung Vương nổi giận, gọi công tử Trinh đến để hỏi kế. Công tử Trinh nói: - Quân ta mới rút về, chưa được nghỉ ngơi, đã đi thế nào được, chi bằng ta hãy nhường nước Trịnh cho Tấn, lo gì không có ngày lấy lại. Sở Cung Vương vẫn chưa nguôi cơn giận, truyền giam công tôn Lương Tiêu và Thạch Sước, không cho về nước. Tấn Điệu công đóng quân ở đất Tiêu Ngư. Sứ nước Trịnh là Bá Biền xin vào yết kiến, Tấn Điệu công cho vào, rồi nghiêm nét mặt hỏi Bá Biền rằng: - Nước ngươi chỉ mượn việc giảng hòa mà nói dối ta đã nhiều lần rồi! Lần này lại còn muốn dùng kế để hoãn binh hay sao! Bá Biền sụp lạy nói rằng: - Chúa công tôi hiện đã sai sứ sang tuyệt giao với quân Sở, có đâu còn dám hai lòng! Tấn Điệu công nói: - Ta đem lòng thành tín mà đãi nước ngươi, nếu nước người còn phản phúc nữa thì chẳng những một mình ta tức giận, các nước chư hầu cùng tức giận cả. Thôi thì nhà ngươi hãy về bàn lại với vua Trịnh. Bá Biền lại nói: - Chúa công tôi thành kính sai tôi tới đấy, thật là muốn một lòng thần phục nhà vua, xin nhà vua chớ nghi ngại. Tấn Điệu công nói: - Nếu vậy thì vua Trịnh phải ăn thề. Tấn Điệu công sai quan tân quân nguyên soái là Triệu Vũ cùng với Bá Biền vào thành để uống máu ăn thề với Trịnh Giản công. Trịnh Giản công xin thân hành đến dinh quân Tấn để cùng với các nước chư hầu ăn thề. Tấn Điệu công nói: - Nếu vua Trịnh có lòng thành tín thì tự khắc quỷ thần chứng giám, hà tất phải ăn thề một lần nữa! Tấn Điệu công truyền tha hết những tù binh nước Trịnh, và nghiêm cấm các quân không ai được xâm phạm một chút gì; còn toán quân của Hổ Lao cũng sai rút về hết, để mặc cho quân Trịnh giữ lấy. Các nước chư hầu đều can rằng: - Nước Trịnh chưa có thể tin được, nếu còn đem lòng phản phúc thì ta lại phải cho quân sang đóng Hổ Lao, chẳng cũng thêm khó một lần nữa! Tấn Điệu công nói: - Lâu nay tướng sĩ các nước khó nhọc về việc đánh Trịnh, nay ta muốn đem lòng thành tín mà đãi nước Trịnh, ta đã không phụ nước Trịnh thì nước Trịnh tất nhiên thế nào cũng không nỡ phụ ta! Nói xong liền bảo Trịnh Giản công rằng: - Ta biết nước Trịnh cũng khổ về việc tranh chiến mà muốn cùng nước Trịnh yên nghỉ; từ nay trở đi, theo Tấn hay là theo Sở, tùy ý nước Trịnh, ta cũng không cưỡng. Trịnh Giản công cảm động, ứa hai hàng nước mắt khóc mà nói rằng: - Nhà vua đem lòng thành tín mà đãi nước tôi, khi nào nước tôi còn dám làm phản! Trịnh Giản công cáo từ lui ra. Ngày hôm sau, Trịnh Giản công sai công tôn Xá Chi đem 3 người nhạc sư, 16 người nữ nhạc, 36 cái ca chung và cái bác khánh, 30 người nữ công, cùng các thứ binh xa, đến dâng Tấn Điệu công. Tấn Điệu công nhận, rồi đem 8 người nữ nhạc, 12 cái ca chung thưởng cho Ngụy Giáng mà bảo rằng: - Nhà ngươi khuyên ta giảng hòa với các nước Sơn Nhung, khiến cho chư hầu thân ái với ta, vậy ta xin với nhà ngươi cùng hưởng cái thú vui này. Tấn Điệu công lại đem một phần binh xa thưởng cho Tuân Dinh mà bảo rằng: - Nhà ngươi khuyên ta chia quân để làm cho Sở phải khốn quẫn, nay nước Trịnh chịu thần phục ta, cũng là công của nhà ngươi. Ngụy Giáng và Tuân Dinh đều từ chối mà nói rằng: - Đó là nhờ cái uy linh của chúa công, và cái công lao của các nước chư hầu chứ chúng tôi có tài lực gì! Tấn Điệu công nói: - Nếu không có hai ngươi thì sao ta được như thế này! Hai ngươi chớ từ chối. Ngụy Giáng và Tuân Dinh cùng nhau lạy tạ. Các nước chư hầu đều rút quân về nước cả. Tấn Điệu công sai người sang sứ các nước để tạ lại cái công khó nhọc đem quân đi giúp. Các nước chư hầu đều được bằng lòng. Từ bấy giờ nước Trịnh một lòng theo Tấn. Khi trước Tần Cảnh công đem quân sang đánh Tấn để cứu nước Trịnh, đánh được quân Tấn ở đất Lịch Địa, sau nghe tin nước Trịnh đã đầu hàng nước Tấn, liền rút quân về. Năm sau vua nước Ngô là Thọ Mộng ốm nặng gọi 4 con trai là: Chư Phàn, Dư Sái, Di Muội và Quý Trát đến bên cạnh giường nằm mà bảo rằng: - Trong 4 anh em mày, chỉ có Quý Trát là hiền hơn cả, nếu lập Quý Trát thì có thể làm cho nước Ngô ta được thịnh; xưa nay ta vẫn muốn lập Quý Trát làm thế tử, nhưng Quý Trát cố ý từ chối. Vậy thì khi ta chết rồi Chư Phàn truyền cho Dư Sái, Dư Sái truyền cho Di Muội, Di Muội truyền cho Quý Trát, cứ thay đổi nhau mà truyền cho em, chứ không được truyền cho con, cốt để cho Quý Trát được lên làm vua mà giữ lấy cơ nghiệp nước nhà, nếu ai trái mệnh ta, tức là bất hiếu. Vua nước Ngô nói xong thì chết. Chư Phàn nhường ngôi cho Quý Trát mà nói rằng: - Ấy là theo cái ý muốn của thân phụ ta đó! Quý Trát nói: - Khi thân phụ ta hãy còn, em đã cố từ ngôi thế tử, huống chi nay thân phụ tạ thế rồi, em lại nhận lấy ngôi vua hay sao! Nếu anh cố nhường thì em xin trốn sang nước khác. Chư Phàn bất đắc dĩ mới phải lên nối ngôi. Tấn Điệu công sai sứ sang nước Ngô để viếng tang vua cũ và chúc mừng vua mới. Qua năm sau, tướng nước Tấn là Tuân Dinh, Sĩ Phường và Ngụy Tướng đều ốm chết cả. Tấn Điệu công lại luyện quân ở Miêu Sơn muốn cho Sĩ Mang làm trung quân nguyên soái. Sĩ Mang từ chối mà nói rằng: - Bá Du (tên tự của Tuân Yển) còn nhiều tuổi hơn tôi, tôi xin nhường Bá Du. Tấn Điệu công liền cho Tuân Yển được thay Tuân Dinh làm trung quân nguyên soái, Sĩ Mang làm trung quân phó tướng; lại muốn cho Hàn Khởi làm thượng quân nguyên soái. Hàn Khởi nói: - Triệu Vũ là người hiền hơn tôi, tôi xin nhường Triệu Vũ. Tấn Điệu công liền cho Triệu Vũ thay Tuân Yển làm thượng quân nguyên soái, Hàn Khởi làm thượng quân phó tướng. Loan Áp vẫn làm hạ quân nguyên soái như cũ, Ngụy Giáng làm hạ quân phó tướng. Còn đạo tân quân chưa có ai làm nguyên soái, Tấn Điệu công nói: - Chẳng thà để ngôi không mà đợi người hiền, còn hơn dùng những người không xứng chức! Tấn Điệu công truyền cho bộ thuộc tân quân hãy phụ theo vào đạo hạ quân. Các quan đại phu đều nói: - Chúa công ta dùng người thật là cẩn thận lắm! Từ bấy giờ ai cũng cố giữ bổn phận, không dám trễ biếng. Nước Tấn lại cường thịnh, nối được cơ nghiệp như đời Tấn Văn công và Tấn Tương công thủa xưa. Sau Tấn Điệu công lại bỏ bớt đạo tân quân, chỉ còn có 3 đạo (thượng quân, trung quân và hạ quân) để giữ lễ chư hầu. Năm ấy Sở Cung Vương (Thẩm) chết, thế tử Chiêu lên nối ngôi, tức là Sở Khanh Vương. Vua nước Ngô là Chư Phàn sai quan đại tướng là Công Tử Đảng đem quân đi đánh Sở. Tướng nước Sở là Dưỡng Do Cơ đem quân ra nghênh chiến, bắn chết công tử Đảng. Quân nước Ngô bị thua rút về. Chư Phàn (vua nước Ngô) sai sứ sang cáo cấp với Tấn Điệu công. Tấn Điệu công hội chư hầu ở Hướng Địa để thương nghị. Quan đại phu nước Tấn là Dương Thiệt Bật (con thứ Dương Thiệt Chức) nói với Tấn Điệu công: - Nước Ngô nhân khi nước Sở có tang mà đem quân sang đánh thì thua là phải, can gì mà giúp; còn Tần là một nước láng giềng với ta, vả cùng ta có tình thân thuộc, mà khi trước lại theo Sở cứu Trịnh, đánh thua quân ta ở Lịch Địa, việc ấy nên báo thù. Nếu ta đánh được quân Tần thì thế lực nước Sở phải suy kém đi. Tấn Điệu công khen phải, liền sai Tuân Yển đem quân cùng với các nước chư hầu đi đánh Tần, còn mình thì đóng quân ngoài cõi để đợi tin tức. Tần Cảnh công nghe nói quân Tấn sắp đến, sai người đem mấy bì thuốc độc bỏ chìm ở thượng lưu sông Kinh Thủy. Quan đại phu nước Lỗ là Thúc Tôn Báo cùng với quân nước Cử sang đó uống phải nước sông, nhiều người bị thuốc độc chết. Các toán quân khác không ai dám sang đó nữa. Quan đại phu nước Trịnh là công tôn Kiền đem quân tiến sang, Bắc Cung Quát theo sau, từ bấy giờ các toán quân đều kéo nhau sang cả, đóng đồn ở Vực Lâm. Quan trung quân nguyên soái nước Tấn là Tuân Yển truyền lệnh cho các quân đều sửa soạn sẵn, để đến gà gáy hôm sau cứ theo đầu ngựa mình quay về phía nào thì đi phía ấy. Quan hạ quân nguyên soái là Loan Áp vốn không phục Tuân Yển, nghe thấy truyền lệnh như vậy nổi giận mà rằng: - Việc quân phải bàn với người nọ người kia, nếu mình có ý kiến gì cũng nên nói rõ cho người ta biết, có lẽ nào trong 3 đạo quân mà chỉ nom về đầu ngựa của một người! Đây ta cũng là hạ quân nguyên soái, đầu ngựa ta chỉ muốn quay về phía Đông. Loan Áp liền đem quân bộ thuộc rút về phía Đông. Quan hạ quân phó tướng là Ngụy Giáng nói: - Chức phận ta phải theo quan nguyên soái của ta, không theo lệnh Tuân Yển được! Ngụy Giáng cũng theo Loan Áp rút quân về. Tuân Yển nói: - Ta truyền lệnh không rõ, đó là lỗi của ta, nay các tướng đã không theo lệnh thì còn thành công sao được! Tuân Yển truyền cho các nước chư hầu đều rút quân về cả. Nước Tấn cũng rút quân về. Bấy giờ Loan Hàm làm chức nhung hữu ở đạo hạ quân, nhất định không chịu, bảo người con Phạm Mang (tức Sĩ Mang) là Phạm Ưởng rằng: - Ngày nay chỉ cốt sang báo thù nước Tần, nếu không thành công thì lại càng thêm xấu hổ. Hai anh em ta (Loan Hoàn là em Loan Áp) có lẽ nào lại cùng rút quân về, nhà ngươi có dám cùng ta sang đánh quân Tần hay không? Phạm Ưởng nói: - Nhà ngươi còn biết nghĩ đến điều quốc sỉ, sao tôi lại không theo. Phạm Ưởng cùng với Loan Hàm đem quân sang đánh nước Tần. Tần Cảnh công đang sai người đi do thám xem tình hình quân Tấn thế nào, bỗng thấy có một toán tiến đến, Tần Cảnh công sai công tử Vô Địa đem quân ra nghênh chiến. Loan Hàm và Phạm Ưởng hai người càng cố sức tiến đánh, giết được quân Tần nhiều lắm. Quân Tần sợ hãi, đã toan bỏ chạy, nhưng trông thấy toán quân của Loan Hàm và Phạm Ưởng không có quân tiếp ứng, liền nổi hiệu trống rồi đem quân vây kín xung quanh. Phạm Ưởng bảo Loan Hàm rằng: - Quân Tần thế mạnh lắm, không thể đương nổi! Loan Hàm không nghe, lại gặp có đại binh của tướng nước Tần là Doanh Thiềm kéo đến. Loan Hàm lại cố sức xung đột, một tay giết chết được mấy người nữa, rồi bị luôn bảy mũi tên mà chết. Phạm Ưởng cố sức phá vòng vây chạy thoát. Loan Áp trông thấy Phạm Ưởng về một mình, liền hỏi: - Em ta đâu? Phạm Ưởng nói: - Đã mắc nạn ở trong đám quân Tần rồi! Loan Áp nổi giận, cầm giáo đâm theo Phạm Ưởng. Phạm Ưởng không dám chống lại, ù té bỏ chạy. Loan Áp đuổi theo. Người cha Phạm Ưởng là Phạm Mang ngăn Loan Áp lại mà bảo rằng: - Sao nữ tế lại quá giận như vậy! Loan Áp vẫn còn hầm hầm nổi giận, quát to lên rằng: - Con ông rủ em tôi cùng sang đánh quân Tần, nay em tôi chết trận mà con ông sống về, thế có phải là con ông giết em tôi hay không? Ông chịu đuổi nó đi, tôi còn có thể tha thứ được, nếu không thì tôi tất phải giết nó để đền mạng cho em tôi! Phạm Mang nói: - Việc đó ta không được biết, âu là để ta đuổi nó đi! Phạm Ưởng nghe nói liền bỏ trốn sang nước Tần, đem sự tình đầu đuôi thuật lại cho Tần Cảnh công nghe. Tần Cảnh công mừng lắm, đãi lấy lễ thượng khanh. Một hôm, Tần Cảnh công hỏi Phạm Ưởng rằng: - Vua Tấn là người thế nào? Phạm Ưởng nói: - Là một ông vua hiền, biết người mà khéo dùng. Tần Cảnh công lại hỏi: - Các quan đại phu nước Tấn, ai hiền hơn cả? Phạm Ưởng nói: - Triệu Vũ, Ngụy Giáng, Dương Thiệt Bật, Trương Lão, Kỳ Ngọ và cha tôi là Phạm Mang đều là những bậc tài giỏi cả; còn các quan công khanh khác cũng đều biết giữ phép, làm cho trọn chức phận của mình, tôi chưa dám khinh thường mà bàn hết được. Tần Cảnh công lại hỏi: - Thế thì trong các quan đại phu nước Tấn, người nào có cơ suy vong trước? Phạm Ưởng nói: - Có họ Loan muốn suy vong trước. Tần Cảnh công nói: - Ý chừng vì cớ xa xỉ phải không? Phạm Ưởng nói: - Loan Áp dẫu xa xỉ cũng chưa việc gì, đến đời con là Loan Doanh thì tất không khỏi nạn được! Tần Cảnh công hỏi: - Tại cớ làm sao! Phạm Ưởng nói: - Loan Thư ngày xưa thương dân trọng sĩ, lòng người ai cũng yêu mến, bởi vậy dẫu có việc giết vua mà trong nước không ai nói đến, là vì nhờ có cái ân đức cũ; nay Loan Thư đã chết đi rồi, mà Loan Doanh lại là người không có nhân chính, tài nào giữ cho khỏi suy vong được! Tần Cảnh công khen rằng: - Nhà ngươi thật là một người hiểu lẽ lắm! Tần Cảnh công nhân có Phạm Ưởng, liền giao kết với Phạm Mang rồi sai người sang giảng hòa với nước Tấn, và xin cho Phạm Ưởng được phục chức, Tấn Điệu công thuận cho. Phạm Ưởng về nước Tấn, Tấn Điệu công cho Phạm Ưởng cùng Loan Doanh đều làm quan công tộc đại phu, và bảo Loan Áp không được thù oán Phạm Ưởng nữa. Từ bấy giờ Tần và Tấn lại giảng hòa với nhau. Đến năm ấy Loan Áp chết, con là Loan Doanh thay làm hạ quân phó tướng. Lại nói chuyện Vệ Hiến công tên là Hãn, thay cha là Vệ Định công lên nối ngôi vua, trong khi có tang mà không thương xót chút nào. Bà đích mẫu Vệ Hiến công thấy vậy, biết là không thể làm vua được, vẫn thường thường đem lời khuyên bảo, mà Vệ Hiến công không nghe; đến lúc hết tang, lại càng phóng túng lắm, chỉ tin dùng đứa xu nịnh, ham mê sự chơi bời, chẳng thiết gì đến chính trị cả. Vệ Định công ngày xưa có người em cùng mẹ là công tử Hắc Bối, vẫn cậy thế chuyên quyền; con công tử Hắc Bối là công tôn Phiếu lại nối tước của cha làm quan đại phu, cũng là một người có quyền lược. Quan thượng khanh là Tôn Lâm Phủ, quan á khanh là Ninh Thực thấy Vệ Hiến công vô đạo, đều cùng với công tôn Phiếu kết giao. Tôn Lâm Phủ lại mật kết với nước Tấn để làm ngoại viện, và đem những đồ bảo ngọc thiên sang Thích Địa (Ấp ăn lộc của Tôn Lâm Phủ), cho vợ con về đấy. Vệ Hiến công nghi Tôn Lâm Phủ có lòng làm phản, chưa dám nói ra. Một hôm, Vệ Hiến công hẹn Tôn Lâm Phủ và Ninh Thực cùng đến ăn cơm trưa. Tôn Lâm Phủ và Ninh Thực mặc đồ triều phục đứng đợi ở ngoài cung môn từ sáng đến trưa mà không thấy lệnh truyền cho vào; ở trong cung cũng không thấy có một người nào đi ra cả. Tôn Lâm Phủ và Ninh Thực sinh nghi. Vả trông trời đã xế chiều, cũng có ý mệt nhọc, mới cùng nhau gõ cửa xin vào yết kiến. Nội thị nói: - Chúa công đang tập bắn ở sau vườn. Hai ngài có muốn yết kiến thì mời hai ngài vào đây. Tôn Lâm Phủ và Ninh Thực nổi giận, nhưng cũng cố nhịn đói mà vào thẳng sau vườn, trông thấy Vệ Hiến công đang đội cái mũ da (thứ mũ dùng để đi săn) cùng với xạ sư là công tôn Đinh thị bắn. Vệ Hiến công trông thấy Tôn Lâm Phủ và Ninh Thực đến trước mặt, không bỏ cái mũ da xuống, lại đeo cung vào nách mà hỏi rằng: - Hai ngươi hôm nay đến đây có việc gì? Tôn Lâm Phủ và Ninh Thực đồng thanh đáp rằng: - Chúng tôi thấy chúa công hẹn cho ăn cơm trưa, chầu chực đến giờ, bụng đã đói lắm, không dám trái lệnh, vậy phải vào đây. Vệ Hiến công nói: - Ta ham bắn quá, thành ra quên mất, thôi thì hai ngươi hãy lui về, để đến hôm khác! Vệ Hiến công nói xong thì vừa gặp có đàn chim bay qua, vừa bay vừa kêu, Vệ Hiến công bảo công tôn Đinh rằng: - Ta cùng nhà ngươi bắn thi đàn chim này! Tôn Lâm Phủ và Ninh Thực hổ thẹn lui ra. Tôn Lâm Phủ nói riêng với Ninh Thực rằng: - Chúa công ham mê chơi bời, chỉ yêu những đứa tiểu nhân, không biết kính trọng các quan đại thần, chúng ta sau này khó lòng mà khỏi hại được, biết làm thế nào? Ninh Thực nói: - Chúa công vô đạo thì chỉ hại thân mà thôi, chứ hại chúng ta thế nào nổi? Tôn Lâm Phủ hỏi: - Ta muốn lập công tôn Phiếu làm vua, nhà ngươi nghĩ thế nào? Ninh Thực nói: - Việc ấy rất phải! Ta cùng nhà ngươi sẽ liệu thế mà làm. Hai người từ biệt nhau rồi về. Tôn Lâm Phủ về nhà, ăn cơm xong, ngay đêm hôm ấy sai người sang Thích Địa gọi bọn gia thần là Dữu Công Sai và Doãn Công Đà sửa soạn quân mã định nổi loạn, lại sai người con trưởng là Tôn Khoái vào yết kiến Vệ Hiến công, để dò xem ý tứ ra sao. Tôn Khoái vào tâu với Vệ Hiến công rằng: - Cha tôi là Tôn Lâm Phủ bị bệnh cảm phong, phải về dưỡng bệnh ở bến sông Hà, xin chúa công miễn thứ cho. Vệ Hiến công cười bảo rằng: - Cha ngươi chỉ vì đói quá mà thành bệnh đó thôi, nay ta không dám để cho nhà ngươi lại đói nữa! Vệ Hiến công truyền nội thị đem rượu ra cho Tôn Khoái uống, lại gọi nhạc công ra để hát. Quan thái sư tâu với Vệ Hiến công rằng: - Chẳng hay chúa công dạy hát bài gì? Vệ Hiến công nói: - Có chương cuối cùng trong thơ "Xảo ngôn" thật hợp với thời sự ngày nay, nhà ngươi hát bài ấy. Quan thái sư tâu rằng: - Bài thơ ấy ý không được hay, tôi thiết tưởng trong khi tiệc vui, không nên hát đến. Có một người nhạc công là Sư Tào nói át đi rằng. - Chúa công dạy bài hát gì thì cứ bài hát ấy, can gì lại nói lôi thôi! Nguyên Sư Tào gẩy đàn cầm hay lắm. Vệ Hiến công sai dạy một người thiếp yêu. Người thiếp yêu không nghe lời dạy. Sư Tào đánh 10 roi. Người thiếp yêu ấy vào mách với Vệ Hiến công. Vệ Hiến công đánh Sư Tào 300 roi ở trước mặt người thiếp yêu, bởi vậy Sư Tào căm tức, bấy giờ biết bài thơ ấy không hay, mà cố ý muốn hát, để làm cho Tôn Khoái phải tức giận. Sư Tào liền cất giọng hát rằng: "Kẻ kia là ai, ở bến sông Hà; không tài lực gì, mà muốn nổi loạn!" Chủ ý Vệ Hiến công là nhân thấy Tôn Lâm Phủ ở bến sông Hà có ý muốn nổi loạn, nên mượn câu hát, để khiến cho Tôn Lâm Phủ phải sợ. Tôn Khoái nghe câu hát, không bằng lòng, xin cáo từ lui ra. Vệ Hiến công nói: - Mới rồi bài hát của Sư Tào, nhà ngươi về nên thuật lại cho cha ngươi biết; cha ngươi dẫu ở xa, nhưng có điều gì, đây ta cũng biết cả, nên phải giữ gìn bệnh thể. Tôn Khoái sụp lạy lui ra, về nói chuyện lại với Tôn Lâm Phủ. Tôn Lâm Phủ nói: - Chúa công đã ghét ta quá lắm, chẳng lẽ ta cứ ngồi mà chịu chết hay sao! Có Cừ Viên (tên tự là Bá Ngọc, làm quan đại phu nước Vệ) là người hiền, nếu người ấy chịu đồng mưu với ta thì làm gì mà chẳng xong việc! Tôn Lâm Phủ lẻn đến yết kiến Cừ Viên mà bảo rằng: - Chúa công vô đạo nhà ngươi cũng đã biết, ta chỉ e rằng có ngày mất nước thì làm thế nào? Cừ Viên nói: - Bề tôi thờ vua, điều gì can được thì can, điều gì không can được thì đành bỏ mà đi, còn điều khác tôi không dám biết. Tôn Lâm Phủ liệu chừng Cừ Viên không thể lay động được, mới cáo từ trở về.. Ngay ngày hôm ấy, Cừ Viên bỏ trốn sang nước Lỗ. Tôn Lâm Phủ họp quân ở Khâu Cung để sắp đánh Vệ Hiến công. Vệ Hiến công sợ, sai sứ đến Khâu Cung giảng hòa với Tôn Lâm Phủ, Tôn Lâm Phủ bắt mà giết đi. Vệ Hiến công sai người rình xem Ninh Thực làm gì, thấy Ninh Thực đang sắp quân để tiếp ứng cho Tôn Lâm Phủ. Vệ Hiến công lại sai người gọi Bắc Cung Quát. Bắc Cung Quát cáo ốm không đến. Công tôn Đinh nói với Vệ Hiến công rằng: - Bây giờ việc đã nguy cấp, nên mau mau trốn sang nước khác còn có ngày lại trở về được. Vệ Hiến công liền đem một toán quân mở cửa Đông, định thẳng đường trốn sang nước Tề. Công tôn Đinh mang cung tên đi theo. Tôn Khoái và Tôn Gia (con thứ của Tôn Lâm Phủ) hai anh em đuổi theo đến Hà Trạch, đánh giáp một trận, toán quân của Vệ Hiến công bỏ chạy tán loạn cả, chỉ còn độ hơn mười người mà thôi; may nhờ có công tôn Đinh bắn giỏi lắm, không sai một phát nào, người nào đến gần, đều bị tên mà chết, bởi vậy mới bảo toàn cho Vệ Hiến công chạy thoát được. Tôn Khoái và Tôn Gia không dám đuổi theo nữa mà phải trở về, vừa đi được ba dặm thì thấy Dữu Công Sai và Doãn Công Đà đem quân đến, nói là vâng lệnh Tôn Lâm Phủ đi đuổi bắt Vệ Hiến công. Tôn Khoái và Tôn Gia nói: - Có một người bắn giỏi lắm, các tướng nên phải phòng bị mới được. Dữu Công Sai nói: - Người ấy chắc là thầy ta, tên gọi công tôn Đinh đó! (Nguyên Doãn Công Đà học nghề bắn của Dữu Công Sai, Dữu Công Sai, lại học nghề bắn của công tôn Đinh, ba người cùng một môn phái, cho nên đều biết tài nhau cả). Doãn Công Đà nói: - Hôn quân đi cũng chưa xa, ta hãy cố đuổi theo. Đuổi theo 15 dặm nữa thì vừa kịp Vệ Hiến công. Người dong xe của Vệ Hiến công bị thương, công tôn Đinh phải cầm cương xe cho Vệ Hiến công. Công tôn Đinh ngoảnh lại, trông thấy Dữu Công Sai còn ở đằng xa, mới bảo Vệ Hiến công rằng: - Người đuổi theo ấy là học trò tôi đó. Có lẽ nào học trò lại hại thầy, chúa công chớ ngại! Công tôn Đinh dừng xe lại để đợi. Dữu Công Sai đi đến nơi, ngoảnh lại bảo Doãn Công Đà rằng: - Thật là thầy ta rồi! Nói xong, liền xuống xe sụp lạy. Công tôn Đinh chào lại rồi vẫy tay bảo đi. Dữu Công Sai trèo lên xe mà nói rằng: - Công việc ngày nay, người nào cũng vì chủ mà làm. Nếu ta bắn thì bội thầy, mà không bắn thì là bội chủ; nay ta có một cách khiến cho trọn vẹn được cả đôi đàng! Dữu Công Sai liền cầm cái tên gõ xuống bánh xe, bẻ đầu mũi nhọn đi, rồi nói to lên rằng: - Xin thầy chớ sợ! Dữu Công Sai nói xong, bắn luôn bốn phát tên; phát trước trúng vào cái thức (cái chắn ngang ở trước mặt), phát sau trúng vào cái chẩn (cái chắn ngang ở sau lưng), còn hai phát nữa trúng vào hai bên tả hữu, chỉ trừ có Vệ Hiến công và công tôn Đinh ngồi ở giữa xe là không can gì! Dữu Công Sai bắn xong, tức khắc quay xe trở về. Công tôn Đinh cũng giục ngựa tiến đi mau. Doãn Công Đà lúc trước trông thấy Vệ Hiến công, đã toan giương cung ra bắn, nhưng vì có Dữu Công Sai là thầy mình ở đấy, vậy phải nhường quyền cho thầy. Khi về đến nửa đường, có ý hối lại, mới bảo Dữu Công Sai rằng: - Thầy cùng với công tôn Đinh là nghĩa thầy trò, vậy phải dụng tình như thế; còn như tôi đã cách đi một tầng rồi, thế thì ơn thầy chưa trọng bằng mệnh chủ, nếu không cố thành công, thì chẳng hóa ra bội chủ lắm ru! Dữu Công Sai nói: - Thầy ta (trỏ công tôn Đinh) bắn giỏi lắm, không kém gì Dưỡng Do Cơ, nhà ngươi không địch nổi đâu, khéo chẳng có mất mạng! Doãn Công Đà không tin lời Dữu Công Sai, lại quay đi đuổi theo Vệ Hiến công.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 62 Chư hầu đem quân vây Tề quốc Vua Tấn lập kế đuổi Loan Doanh

Doãn Công Đà không tin lời Dữu Công Sai, lại quay đi đuổi theo Vệ Hiến công. Đi được hơn 20 dặm, vừa theo kịp đến nơi. Công tôn Đinh hỏi rằng: - Nhà ngươi theo ta để làm gì? Doãn Công Đà nói: - Thầy ta là Dữu Công Sai, cùng với nhà ngươi là tình thầy trò; ta đây dẫu là học trò Dữu Công Sai, nhưng chưa hề có học nhà ngươi một ngày nào cả, vậy thì ta coi nhà ngươi khác nào như người qua đường mà thôi, có lẽ nào vì người qua đường mà bỏ công nghĩa hay sao! Công tôn Đinh nói: - Nhà ngươi đã học nghề bắn của Dữu Công Sai thì cũng nên biết cái nghề ấy từ đâu mà ra! Làm người chớ nên quên gốc, mau mau trở về đi, kẻo mất cả tử tế! Doãn Công Đà không nghe lời giương cung ra bắn công tôn Đinh. Công tôn Đinh chẳng sợ hãi chút nào cả, sẽ đưa dây cương cho Vệ Hiến công, rồi chờ khi mũi tên đến, giơ tay bắt lấy, bỏ vào cung bắn trả Doãn Công Đà. Doãn Công Đà nghiêng mình để tránh thì mũi tên trúng ngay vào cánh tay tả, vội vàng bỏ chạy. Công tôn Đinh lại bắn thêm một phát nữa. Doãn Công Đà chết ngay lập tức. Quân sĩ sợ hãi, bỏ xe chạy trốn. Vệ Hiến công bảo công tôn Đinh rằng: - Nếu không nhờ có thần tiễn của nhà ngươi thì tính mạng ta còn gì! Công tôn Đinh lại cầm lấy dây cương giục ngựa đi mau. Đi được hơn 10 dặm, lại thấy phía sau có một toán quân kéo đến. Vệ Hiến công nói: - Lại có quân đuổi theo thì làm thế nào mà chạy cho thoát được! Khi toán quân đi đến nơi thì hóa ra người em cùng mẹ với Vệ Hiến công là công tử Chuyên cố theo để hộ giá. Vệ Hiến công mới được yên lòng, liền cùng nhau chạy sang nước Tề. Tề Linh công cho ở Lai Thành. Tôn Lâm Phủ đã đuổi Vệ Hiến công rồi, mới bàn với Ninh Thực lập công tử Phiếu lên nối ngôi, tức là Vệ Thương công. Tôn Lâm Phủ lại sai người báo tin cho Tấn Điệu công biết. Tấn Điệu công hỏi Tuân Yển rằng: - Nước Vệ đuổi vua nọ lập vua kia, sao hợp lẽ phải, ta nên xử ra làm sao? Tuân Yển nói: - Vua Vệ vô đạo, chư hầu ai cũng biết, nay quan dân nước Vệ đều bằng lòng lập công tử Phiếu, âu là ta cứ mặc kệ thì hơn. Tấn Điệu công theo lời. Tề Linh công nghe tin Tấn Điệu công không hỏi cái tội đuổi vua của Ninh Thực nước Vệ, liền thở dài mà than rằng: - Vua Tấn đã có ý lười biếng rồi! Ta không nhân dịp này mà tranh lấy nghiệp bá chủ, còn đợi đến bao giờ! Tề Linh công đem quân sang cướp phá ấp Thành của nước Lỗ. Nguyên Tề Linh công lấy con gái nước Lỗ là Nhan Cơ làm phu nhân, không có con; người thiếp là Dung Cơ, sinh được một người con tên là Quang. Tề Linh công lập làm thế tử. Sau đó Tề Linh công lại có một người thiếp yêu là Nhung Tử, cũng không có con, em gái Nhung Tử là Trung Tử, sinh được một người con tên là Nha. Nhung Tử nhận Nha làm con mình. Tề Linh công lại có người vợ khác nữa sinh ra công tử Chử Cữu, nhưng Tề Linh công không có lòng yêu. Nhung Tử cậy thế Tề Linh công yêu, đòi lập Nha làm thế tử. Tề Linh công thuận cho. Trung Tử can rằng: - Chúa công lập Quang làm thế tử, kể đã lâu ngày! Thế tử Quang lại đã nhiều lần dự hội với chư hầu, nay tự nhiên vô cớ mà bỏ đi thì e rằng người trong nước không phục, sau không hối lại được nữa! Tề Linh công nói: - Bỏ hay là lập, quyền ở trong tay ta ai dám không phục. Tề Linh công sai thế tử Quang đem quân ra trấn thủ ở Tức Mặc. Thế tử Quang vừa đi xong thì Tề Linh công truyền lệnh bỏ thế tử Quang mà lập Nha làm thế tử; lại cho quan thượng khanh là Cao Hậu (con Cao Quốc) làm thái phó, và kẻ tự nhân là Túc Sa Vệ làm thiếu phó để dạy thế tử Nha. Lỗ Tương công nghe tin thế tử Quang phải bỏ, sai sứ sang hỏi xem vì cớ gì, Tề Linh công không thể trả lời được, lại lo nước Lỗ giúp thế tử Quang mà tranh nhau với thế tử Nha, liền đem quân đánh Lỗ, là có ý muốn dọa nước Lỗ, rồi sau sẽ giết thế tử Quang. Lỗ Tương công sai người sang cáo cấp với Tấn Điệu công. Gặp bấy giờ Tấn Điệu công ốm nặng, không sang cứu Lỗ được. Cuối năm ấy Tấn Điệu công mất, thế tử Bưu lên nối ngôi tức là Tấn Bình công. Lỗ Tương công lại sai sứ viếng tang và cáo cấp với Tấn Bình công. Tuân Yển nói với Tấn Bình công rằng: - Đợi sang mùa xuân, ta sẽ đại hội chư hầu, nếu nước Tề không đến, bấy giờ đem quân đi đánh, cũng chưa có gì làm chậm. Năm sau, Tấn Bình công đại hội chư hầu ở đất Khứu Lương. Tề Linh công không đến, cho quan đại phu là Cao Hậu đi thay. Tuân Yển nổi giận, toan bắt giam Cao Hậu. Cao Hậu trốn về, lại đem quân cướp phá ấp Phường của nước Lỗ, giết quan trấn thủ ở ấp Phường là Tang Niên. Thúc Tôn Báo nước Lỗ lại sang nước Tấn cầu cứu. Tấn Bình công liền sai Tuân Yển họp quân các nước chư hầu cùng sang đánh Tề. Tuân Yển vừa điểm duyệt quân mã xong, đêm hôm ấy nằm mộng thấy một người sứ giả mình mặc áo vàng, tay cầm cuốn văn thư, đến bắt Tuân Yển đi đối chứng. Tuân Yển đi theo người sứ giả. Đi đến một nơi dinh tòa to lớn, trên có đức vương giả ngồi, mũ cao áo dài. Sứ giả liền bảo Tuân Yển quỳ xuống dưới sân, Tuân Yển trông thấy những người cùng quỳ với mình là: Tấn Lệ công, Loan Thư, Trình Hoạt, Tư Đồng, Trường Ngư Kiểu và một bọn người nhà ba họ Khước. Trong lòng Tuân Yển lấy làm quái lạ, lại nghe thấy bọn Tư Đồng cùng với ba họ Khước cãi lý nhau lâu lắm, nhưng nghe không được rõ. Được một lúc thì thấy ngục tốt giải bọn ấy đi chỗ khác, chỉ còn có bốn người ở lại là: Tấn Lệ công, Loan Thư, Trình Hoạt và Tuân Yển mà thôi. Tấn Lệ công kể hết sự tình đầu đuôi trong khi bị giết. Loan Thư cãi rằng: - Việc ấy tự Trình Hoạt hạ thủ! Trình Hoạt nói: - Việc ấy chủ mưu tự Loan Thư, tôi chẳng qua phụng mệnh mà làm, sao lại đổ tội cho tôi được! Đức vương giả ở trên điện giáng chỉ rằng: - Lúc bấy giờ Loan Thư cầm quyền chính, nên trị tội thủ ác, làm cho trong 5 năm nữa thì con cháu phải tuyệt diệt. Tấn Lệ công có ý tức giận mà rằng: - Việc ấy cũng bởi tay Tuân Yển, sao Tuân Yển lại được vô tội. Tấn Lệ công liền đứng ngay dậy, cầm giáo đánh vào đầu Tuân Yển. Trong khi bấy giờ, Tuân Yển thấy đầu mình rơi xuống trước mặt, vội vàng lấy tay nhặt đầu, quỳ xuống mà đặt lên cổ, rồi chạy ra ngoài cửa điện. Tuân Yển đang chạy thì gặp người thầy đồng ở đất Ngạnh Dương tên gọi là Linh Cao. Linh Cao bảo Tuân Yển rằng: - Sao đầu nhà ngươi lại lệch như thế kia! Linh Cao lấy tay chữa lại, Tuân Yển đau quá, rồi sực tỉnh dậy thành ra một giấc chiêm bao, nghĩ thầm lấy làm lạ. Ngày hôm sau, Tuân Yển vào triều, quả nhiên lại gặp Linh Cao ở giữa đường. Tuân Yển cho Linh Cao lên ngồi cùng xe, rồi kể chuyện chiêm bao cho nghe. Linh Cao nói: - Thế là oan gia nó báo, sắp chết đến nơi! Tuân Yển hỏi: - Nay ta sang đánh Tề, phỏng có kịp hay không? Linh Cao nói: - Còn có thể đánh được nước Tề! Tuân Yển liền hội quân các nước chư hầu cùng sang đánh Tề. Cả thẩy 12 đạo quân là: 1. Tấn, 2. Tống, 3. Lỗ, 4. Vệ, 5. Trịnh, 6. Tào, 7. Cử, 8. Châu, 9. Đằng, 10. Tiết, 11. Kỷ, 12. Tiểu Châu. Tề Linh công sai quan thượng khanh là Cao Hậu giúp thế tử Nha giữ nước, còn mình thì đem đại binh ra đóng ở thành Bình Âm. Phía Nam thành Bình Âm có cái Phương môn. Tề Linh công sai Kỳ Quý Phủ đào một dãy hào sâu ở ngoài Phương môn, bề ngang rộng một dặm rồi tuyển quân tinh binh ra phòng giữ ở đấy. Bọn Túc Sa Vệ nói với Tề Linh công rằng: - Quân 12 nước vị tất đã đồng tâm được, ta nên nhân lúc mới đến mà đánh ngay, phá được một đạo thì các đạo đều sợ mất vía cả; nếu không đánh thì phải tìm nơi hiểm yếu mà giữ, chứ chắc gì ở một dãy hào phía ngoài Phương môn. Tề Linh công nói: - Một dãy hào sâu như thế, có họa bay thì mới sang được! Tuân Yển nghe nói quân Tề đào hào để giữ, cười bảo rằng: - Quân Tề sợ ta rồi, tất không dám giao chiến với ta, ta nên dùng kế mà phá vỡ! Tuân Yển truyền cho quân Lỗ, Vệ đi đường Tu Câu; quân Châu, Cử đi đường Thành Dương, đều qua đất Lang Gia tiến vào, còn mình thì đem đại binh qua đất Bình Âm, hẹn nhau cùng hội tại dưới thành Lâm Tri (kinh thành nước Tề). Bốn nước (Lỗ, Vệ, Châu, Cử) đều phụng mệnh đem quân đi. Tuân Yển lại sai quan tư mã là Trương Quân Thần (con Trương Lão) đi cắm cờ ở các nơi rừng núi, bó cỏ giả làm hình người, rồi mặc giáp vào, đặt ngồi trên xe và đem một cành cây buộc ở sau xe, khiến cho khi xe đi thì cát bụi bay rầm cả lên để làm nghi binh. Tuân Yển truyền cho quân sĩ, xe nào cũng phải chất đầy gỗ đá, và mỗi người lại mang thêm một bì đất; khi đến Phương môn, bao nhiêu những gỗ đá trong xe ném cả xuống đấy, lại bỏ mấy vạn cái bì đất xuống đấy nữa, thành ra chỉ trong một lúc mà chỗ hào sâu ấy lấp phẳng như mặt đất. Quân Tấn kéo ồ cả sang. Quân Tề không thể đương nổi, chết hại rất nhiều. Kỳ Quý Phủ suýt nữa bị quân Tấn bắt, bỏ trốn vào trong thành Bình Âm, tâu với Tề Linh công, Tề Linh công kinh sợ, mới trèo lên núi Vu Sơn đứng xem thì thấy ở trong rừng chỗ nào cũng có cờ cắm, giật mình nói rằng: - Quân các nước chư hầu, sao nhiều như vậy, âu là ta phải bỏ chạy. Tề Linh công hỏi các tướng xem ai là người dám đi hậu điến. Túc Sa Vệ nói: - Tôi xin đem một toán quân đi hậu điến, chúa công chớ có lo ngại! Tề Linh công mừng lắm. Bỗng có hai viên tướng tâu với Tề Linh công rằng: - Đường đường một nước Tề ta, lại không có người dũng sĩ nào mà phải dùng đến kẻ tự nhân (trỏ Túc Sa Vệ) đi hậu điến hay sao! Nếu vậy thì nước người ta cũng cười mình lắm! Hai chúng tôi xin để cho Túc Sa Vệ đi trước. Hai viên tướng ấy tức là Thực Sước và Quách Tối, vốn là hai tay dũng sĩ, sức địch muôn người. Tề Linh công nói: - Nếu được hai tướng quân đi hậu điến thì ta còn lo gì nữa. Túc Sa Vệ thấy Tề Linh công không dùng mình, hổ thẹn mà lui ra, bất đắc dĩ phải theo Tề Linh công đi trước. Đi được hơn 20 dặm đến chỗ Thạch Môn Sơn là một nơi hiểm yếu, hai bên đều núi đá cả, chỉ có một lối đi ở giữa, Túc Sa Vệ căm tức Thực Sước và Quách Tối, có ý muốn làm hại, mới đợi cho quân Tề đi hết rồi đem hơn 30 cỗ ngựa, giết chết cả đi mà bỏ lấp ở ngang đường, lại đem mấy cỗ xe lớn, cũng bỏ ở đấy. Thực Sước và Quách Tối lững thững đem quân đi sau; khi đi đến Thạch Môn Sơn, thấy ngựa chết và xe lổng chổng ngang đường, không đi qua được, mới bảo nhau rằng: - Đây tất là Túc Sa Vệ căm thù hai ta mà làm ra thế này! Hai người vội vàng truyền cho quân sĩ khiêng những xác ngựa và xe ấy bỏ đi chỗ khác, nhưng đường hẹp khó khiêng, thành ra tốn nhiều công lắm, mãi không đi được. Tướng nước Tấn là Châu Sước đem quân đuổi tới. Thực Sước vừa toan quay xe lại để nghênh chiến thì Châu Sước bắn ngay một phát tên, trúng vào vai bên tả của Thực Sước, Quách Tối giương cung toan bắn Châu Sước. Thực Sước lấy tay gạt đi không cho bắn. Châu Sước thấy vậy, cũng không bắn nữa. Thực Sước không sợ hãi gì cả, giơ tay rút mũi tên ra mà hỏi Châu Sước rằng: - Nhà ngươi là ai? Mà bắn trúng được vai Thực Sước này, cũng đáng khen cho là người giỏi! Xin nhà ngươi nói rõ họ tên? Châu Sước nói: - Ta đây là danh tướng nước Tấn, tên gọi Châu Sước. Thực Sước nói: - Nhà ngươi có biết ta là ai không? Danh tướng nước Tề tên gọi Thực Sước đây! Nhà ngươi không nghe thấy người ta có câu rằng: "Đừng có láo xược, sợ hai ông Sước!" Ta cùng nhà ngươi đều nổi tiếng là kẻ dũng sĩ, vậy thì yêu nhau vì tài, nỡ nào mà lại hại nhau! Châu Sước nói: - Nhà ngươi nói dẫu phải, nhưng người nào vì chủ người ấy, thế tất phải như vậy. Nếu nhà ngươi chịu đầu hàng thì tiểu tướng này có thể bảo toàn được cho nhà ngươi không chết. Thực Sước hỏi: - Hay là nhà ngươi lại nói dối ta? Châu Sước nói: - Nhà ngươi không tin thì ta xin thề: Nếu ta không bảo toàn được cho nhà ngươi, ta xin chết theo! Thực Sước nói: - Tính mệnh Quách Tối, ta cũng giao cho nhà ngươi đó! Thực Sước cùng với Quách Tối và các quân sĩ đều xin đầu hàng cả. Châu Sước đem Thực Sước và Quách Tối về nộp Tuân Yển, lại nói cho Tuân Yển biết hai tướng là người tài giỏi nên dùng. Tuân Yển truyền giam lại để đợi khi thu quân về rồi sẽ định liệu. Đại binh nước Tấn qua thành Bình Âm, thẳng đường tiến vào kinh thành nước Tề, quân Lỗ, Vệ, Châu, Cử cũng đều đến cả, vây kín bốn mặt thành Lâm Tri (tức là kinh thành nước Tề) rồi đốt phá nhiều nơi. Tề Linh công sợ hãi, mở cửa Đông ra chạy. Cao Hậu nghe nói, vội vàng chạy theo rút gươm cắt dây cương xe đi, rồi khóc mà can rằng: - Quân các nước dẫu hăng hái, nhưng đi xa như vậy, tất có sinh biến, chẳng bao lâu rồi cũng phải rút về. Nay chúa công bỏ đi thì kinh thành không thể giữ nổi, xin chúa công hãy ở lại 10 ngày nữa, nếu thế lực cùng quá, bấy giờ sẽ chạy, cũng chưa lấy gì làm chậm. Tề Linh công mới ở lại, không bỏ chạy nữa. Cao Hậu đốc thúc quân dân hết sức chống giữ. Quân các nước vây thành, đến ngày thứ sáu, bỗng có sứ nước Trịnh đem một phong thư của quan đại phu nước Trịnh là công tôn Xá Chi và công tôn Hạ đến phi báo với Trịnh Giản công, trong thư có một việc cơ mật rất khẩn yếu. Trịnh Giản công mở ra xem, đại lược như sau: "Tôi là công tôn Xá Chi và công tôn Hạ phụng mệnh chúa công cùng với Tử Khổng (tức là công tử Gia) giữ nước, chẳng ngờ Tử Khổng có lòng phản nghịch, tư thông với Sở, toan làm nội ứng cho quân Sở vào đánh Trịnh. Hiện nay quân Sở đã đóng ở đất Ngư Lăng, chẳng bao lâu sẽ kéo đến nơi, việc nguy cấp lắm, vậy xin chúa công tức khắc rút quân về mà cứu lấy nước nhà." Trịnh Giản công sợ lắm, đem ngay bức thư ấy vào trình Tấn Bình công. Tấn Bình công triệu Tuân Yển đến để thương nghị. Tuân Yển nói: - Quân ta thẳng đường kéo vào Lâm Tri, đang muốn thừa cơ phá vỡ nước Tề, nay nước Tề chưa phá vỡ được, mà nước Trịnh lại có quân Sở đến đánh; nếu để cho Trịnh mất nước thì lỗi tại ta, chi bằng ta hãy rút quân về cứu nước Trịnh. Lần này ta dẫu không phá vỡ nước Tề, nhưng vua Tề chắc cũng kinh sợ mà từ sau không dám xâm phạm nước Lỗ nữa! Tấn Bình công khen phải, liền rút quân về. Trịnh Giản công cáo từ với Tấn Bình công rồi xin về trước. Tấn Bình công thấy quân Sở lại sang đánh Trịnh, có ý lấy làm lo, khi về đến đất Chúc A, cùng với các vua chư hầu uống rượu mà không được vui vẻ. Quan thái sư coi về việc nhạc, tức là Sư Khoáng tâu với Tấn Bình công rằng: - Tôi xin dùng âm luật mà bói xem tốt xấu thế nào. Sư Khoáng liền thổi ống luật, hát khúc nam phong, rồi lại hát khúc bắc phong thì thấy êm ái dễ nghe, mà khúc nam phong không mạnh, lại có nhiều tiếng túc sát. Sư Khoáng nói: - Khúc nam phong (trỏ nước Sở) không mạnh thì quân Sở chẳng những không công trạng, lại sắp có tai vạ, chỉ trong 3 ngày nữa, ta sẽ biết tin. Nguyên Sư Khoáng tên tự Tử Giã, là người học trò thông minh thứ nhất ở nước Tấn, lúc bé học âm luật, thường bực mình về nỗi không được chuyên, mới phàn nàn rằng: Nghề không được tinh là tại bụng nghĩ nhiều thứ, bụng nghĩ nhiều thứ là tại con mắt hay nhìn, liền lấy lá ngải đốt mù mắt đi, để chuyên tâm về đường âm luật, bởi vậy tinh nghề âm luật lắm, nghe tiếng chim kêu cũng có thể biết được tốt xấu. Bấy giờ làm quan thái sư ở nước Tấn, coi về việc nhạc, Tấn Bình công tin yêu lắm, đi đâu cũng đem đi theo. Tấn Bình công nghe Sư Khoáng nói như vậy, liền đóng quân lại, rồi sai người đi dò thám xem tin tức quân Sở ra làm sao. Chưa được 3 ngày, có quan đại phu nước Trịnh là công tôn Mại đến báo tin quân Sở đã lui rồi. Tấn Bình công lấy làm lạ, liền hỏi kỹ đầu đuôi. Công tôn Mại nói: - Nước Sở, thì khi Tử Canh (tức là công tử Ngọ) thay Tử Mang (tức là công tử Trinh) làm lệnh doãn, muốn báo cái thù đời trước, mới lập quân đánh Trịnh, Công tử Gia (nước Trịnh) tư thông với Sở, hẹn khi quân Sở đến thì giả cách nghênh chiến để đem quân ra đón. May nhờ có công tôn Xá Chi và công tôn Hạ biết cái mưu ấy, đem quân giữ thành, rồi nghiêm cấm những kẻ ra vào, công tử Gia không dám ra đón quân Sở. Tử Canh (quan lệnh doãn nước Sở) đem quân qua sông Dĩnh Thủy, không thấy công tử Gia ra đón, liền đóng đồn ở dưới núi Ngư Sĩ, gặp trời mưa tuyết, mấy ngày không thôi, trong dinh nước sâu hơn thước, quân sĩ đều tìm chỗ cao để ẩn mưa, rét quá, chết hại rất nhiều, ai cũng có lòng oán. Tử Canh bất đắc dĩ phải rút quân về! Nay chúa công tôi đã trị tội giết chết công tử Gia rồi, sợ phiền đến quân các nước, vậy có sai tôi đi đến đây, để tâu với nhà vua. Tấn Bình công mừng lắm, nói: - Tử Giã (tên tự của Sư Khoáng), thật là thánh về nghề âm luật. Tấn Bình công truyền cho các nước chư hầu đều rút quân về, Tuân Yển về đến nửa đường, bỗng nhiên trên đầu nẩy một cái ung, đau lắm không thể chịu được, mới ở lại đất Chước Ung. Được hai tháng thì cái ung ấy vỡ, rồi lồi mắt ra mà chết. Thực Sước và Quách Tối nhân dịp Tuân Yển chết, phá cũi mà ra, trốn về nước Tề. Phạm Mang và con Tuân Yển là Tuân Ngô đưa linh cữu Tuân Yển về nước Tấn. Tấn Bình công cho Phạm Mang thay Tuân Yển làm trung quân nguyên soái, và cho Tuân Ngô thay Phạm Mang làm trung quân phó tướng. Tháng 5 ấy, Tề Linh công có bệnh ốm, quan đại phu là Thôi Chữ bàn mưu với Khánh Phong, sai người đem xe đón thế tử Quang ở Tức Mặc về. Khánh Phong đang đêm đem quân gọi cửa quan thái phó là Cao Hậu (về đảng thế tử Nha). Cao Hậu mở cửa ra đón, Khánh Phong bắt mà giết đi. Thế tử Quang và Thôi Chữ vào cung, giết nàng Nhung Tử (mẹ nuôi thế tử Nha), lại giết cả thế tử Nha. Tề Linh công nghe tin kinh sợ, hộc máu ra đằng miệng mà chết. Thế tử Quang lên nối ngôi, tức là Tề Trang công. Chức tự nhân là Túc Sa Vệ đem gia quyến chạy sang ở Cao Đường. Tề Trang công sai Khánh Phong đem quân đi đuổi. Tức Sa Vệ chiếm cứ Cao Đường mà chống cự lại. Tề Trang công đem đại binh đến vây, đã hơn một tháng mà chưa phá vỡ được. Công Lũ người ở Cao Đường vốn có dũng lực, Túc Sa Vệ dùng để giữ cửa Đông. Công Lũ biết Túc Sa Vệ là không thành sự được, mới đứng trên mặt thành bắn một bức thư xuống ước với Tề Trang công, xin đến nửa đêm hôm ấy thì làm nội ứng cho quân Tề trèo qua phía Đông Bắc vào thành. Tề Trang công có ý không tin. Thực Sước và Quách Tối nói với Tề Trang công rằng: - Việc ấy hai chúng tôi xin đi, để báo lại cái thù Túc Sa Vệ làm hại hai chúng tôi ở Thạch Môn khi trước. Tề Trang công nói: - Các ngươi đi trước, phải cẩn thận mới được, rồi ta sẽ đem quân tiếp ứng. Thực Sước và Quách Tối đem quân tới phía Đông Bắc chờ đến nửa đêm, bỗng thấy ở trên mặt thành có dòng mấy cái thừng xuống. Thực Sước và Quách Tối cùng các quân sĩ đều bíu thừng leo lên. Công Lũ đưa vào bắt Túc Sa Vệ. Quách Tối mở cửa thành cho quân Tề kéo ồ vào, trong thành náo động, cùng giết lẫn nhau, ước độ một trống canh mới thôi. Tề Trang công vào thành. Công Lũ và Thực Sước trói Túc Sa Vệ giải đến trước mặt Tề Trang công. Tề Trang công xỉ mắng Túc Sa Vệ và bảo rằng: - Ta có phụ bạc gì mày, mà mày lại giúp công tử Nha để hại ta, nay công tử Nha còn đâu! Mày đã giúp công tử Nha thì cho xuống âm phủ để mà giúp một thể. Túc Sa Vệ cúi đầu không nói gì cả. Tề Trang công truyền đem Túc Sa Vệ ra chém, lấy thịt làm mắm, chia cho các quan mỗi người một ít; lại cho Công Lũ trấn ở Cao Đường, rồi rút quân trở về. Quan thượng khanh nước Tấn là Phạm Mang vì lần trước đánh Tề chưa được thành công lại tâu với Tấn Bình công, xin đem quân sang đánh. Khi kéo quân đến sông Hoàng Hà, nghe tin Tề Linh công mất, bảo các quân sĩ rằng: - Nước Tề mới có tang mà đem quân sang đánh thì là bất nhân! Phạm Mang nói xong, liền đem quân về. Quan đại phu nước Tề là Án Anh nói với Tề Trang công rằng: - Nước Tấn thấy ta có tang mà không sang đánh, nếu ta bội Tấn thì là bất nghĩa, chi bằng ta cùng Tần giảng hòa, khiến cho hai nước khỏi sự binh đao khổ sở. Án Anh tên tự là Bình Trọng, mình không đầy 5 thước, vốn là một người hiền sĩ thứ nhất ở nước Tề. Tề Trang công cũng sợ quân Tấn lại đến đánh, mới phải nghe lời Án Anh, sai người sang xin lỗi nước Tấn. Tấn Bình công đại hội chư hầu ở đất Thiền Uyên cùng với Tề Trang công uống máu ăn thề, từ bấy giờ hai nước giảng hòa với nhau. Lại nói chuyện quan hạ quân phó tướng là Loan Doanh, tức là con Loan Áp. Loan Áp là con rể Phạm Mang. Con gái Phạm Mang gả cho Loan Áp, tên gọi nàng Loan Kỳ. Bấy giờ họ Loan kể từ Loan Tân, Loan Thành, Loan Chi, Loan Thuẫn, Loan Thư, Loan Áp cho chí Loan Doanh cả thẩy bảy đời cùng làm khanh tướng quyền quý không ai bằng, các quan văn võ trong triều, nửa là môn hạ, nửa là thân thuộc. Loan Doanh lại là người biết khiêm kính, phóng tài hóa thu nhân tâm, vậy nên các tử sĩ như Châu Sước, Hình Khoái, Hoàng Uyên, và Cơ Di, đều về tay Loan Doanh cả. Lại có Đốc Nhung là một người vũ dũng, sức mang nổi mấy nghìn cân nặng, tay cầm hai cái kích đâm đâu thì trúng đấy, không ai địch nổi, lúc nào cũng theo hầu ở cạnh mình Loan Doanh. Còn bọn gia thần của Loan Doanh như: Hạnh Du và Châu Tân (em Châu Sước), không biết bao nhiêu mà kể. Khi Loan Áp (cha Loan Doanh) chết, vợ là nàng Loan Kỳ mới 40 tuổi, chưa dứt hẳn được lòng tình dục, mỗi khi Châu Tân vào phủ để trình bẩm Loan Doanh về việc gì thì nàng Loan Kỳ lại đứng đằng sau bình phong dòm ra, trông thấy Châu Tân là người đẹp trai, liền sai một đứa thị nữ bảo y, rồi cùng Châu Tân tư thông với nhau. Nàng Loan Kỳ đem những quý vật trong nhà tặng cho Châu Tân. Khi Loan Doanh theo Tấn Bình công đi đánh Tề, Châu Tân công nhiên ngủ ở trong phòng ngủ, không còn sợ hãi gì nữa. Loan Doanh về, nghe biết chuyện ấy nhưng ngại vì thể diện thân mẫu mình, mới mượn việc khác để trừng trị những quân sĩ canh cửa, nghiêm cấm bọn gia thần tự do xuất nhập. Nàng Loan Kỳ bấy giờ một là thẹn quá hóa giận, hai là tình dục khôn chừa, ba là sợ Loan Doanh làm hại mất tính mệnh Châu Tân, nhân khi về mừng sinh nhật người cha là Phạm Mang, liền nói với cha rằng: - Loan Doanh sắp nổi loạn, biết làm thế nào? Phạm Mang nói: - Sự thể đầu đuôi thế nào, kể rõ cho ta biết! Nàng Loan Kỳ nói: - Loan Doanh vẫn thường nói: "Phạm Ưởng giết chú ta (trỏ Loan Hàm), cha ta khi trước đuổi đi, nay còn cho về nước, đã khỏi tội chết lại được làm quan, họ Phạm mỗi ngày một thịnh thì họ Loan mỗi ngày một suy, ta chết thì thôi, chứ làm thế nào cũng giết họ Phạm", bởi vậy ngày đêm cùng với bọn Trí Khởi, Dương Thiệt Hổ tụ họp ở trong nhà kín, bàn mưu muốn đuổi hết các quan đại phu để lập bè đảng mình, vì sợ con tiết lộ chuyện ấy ra, vậy nên truyền quân sĩ canh cửa, nghiêm cấm con về thăm nhà. Hôm nay con miễn cưỡng về đây, ngày khác vị tất đã lại được trông thấy thân phụ, tình cha con với nhau, con xin nói thật. Bấy giờ Phạm Ưởng đứng bên cạnh cũng nói thêm vào rằng: - Con cũng nghe nói như vậy, nay thật quả nhiên! Kẻ kia vây cánh nhiều lắm, ta phải phòng bị trước mới được. Một con trai và một con gái, cùng nói như nhau, tài nào mà Phạm Mang không phải tin lời. Phạm Mang liền mật tấu với Tấn Bình công, xin đuổi họ Loan. Tấn Bình công hỏi riêng quan đại phu là Dương Tất. Dương Tất vốn ghét họ Loan mà yêu họ Phạm, mới nói với Tấn Bình công rằng: - Loan Thư ngày xưa, chính là giết vua Lệ công ta, mà được truyền đời cho đến Loan Doanh, nay chúa công trị họ Loan đi, để tỏ cái tội thí nghịch thì thật là một điều đại phúc của nước nhà. Tấn Bình công nói: - Loan Thư có cái tiếng lập tiên quân ta, còn tội trạng Loan Doanh thì chưa được rõ, làm thế nào mà trừ được? Dương Tất nói: - Loan Thư mượn tiếng lập tiên quân ta để che điều tội ác của mình. Tiên quân ta quên cái thù chung mà nhớ cái ơn riêng, nay chúa công lại ngơ đi thì hại càng to lắm! Nếu tội trạng của Loan Doanh chưa rõ, ta nên trừ bỏ những vây cánh mà xá tội cho hắn, đợi khi hắn có nổi loạn, bấy giờ ta sẽ trọng trị. Tấn Bình công khen phải, rồi triệu Phạm Mang vào cung để bàn về việc trừ đảng họ Loan. Phạm Mang nói: - Loan Doanh ở nhà mà mình trừ bỏ đảng hắn thì khác nào như giục hắn nổi loạn, chi bằng chúa công sai hắn đi đắp thành ở Trứ Ấp. Hắn đã đi rồi thì đảng hắn không có ai làm chủ, mới có thể trừ bỏ được! Tấn Bình công khen phải, liền sai Loan Doanh đi đắp thành ở Trứ Ấp. Khi Loan Doanh sắp đi, người trong đảng Loan Doanh là Cơ Di can rằng: - Họ Loan ta nhiều người oán lắm, hẳn ngài cũng đã biết. Việc đắp thành này không phải là việc cấp, can gì phải sai đến ngài, âu là ngài thử chối từ, dò xem ý chúa công ra làm sao để mà phòng bị. Loan Doanh nói: - Mệnh vua, sao ta lại chối từ! Ta mà có tội thì dẫu chết cũng không nên tránh, nhược bằng không tội thì người trong nước đều có lòng thương ta, ai hại ta nổi! Loan Doanh liền sai Đốc Nhung dong xe, thẳng đường tiến sang Trứ Ấp. Loan Doanh đi được 3 ngày. Tấn Bình công ra coi triều, bảo các quan đại phu rằng: - Cái tội thí nghịch của Loan Thư ngày trước, ta chưa trừng trị, mà nay con cháu đầy trong triều, ta lấy làm xấu hổ lắm, các quan nghĩ thế nào? Các quan đại phu đồng thanh đáp rằng: - Nên đuổi họ Loan! Tấn Bình công truyền đem tội trạng Loan Doanh yết thị ở quốc môn, rồi sai Dương Tất đem quân đi đuổi Loan Doanh. Bao nhiêu tộc đảng ở trong nước đều đuổi tất cả. Loan Nhạc và Loan Phường đem người nhà cùng với Châu Sước, Hình Khoái đi theo Loan Doanh. Còn bọn Dương Thiệt Hổ cũng đi theo sau, khi ra đến cửa thành đã đóng chặt rồi, nghe tin quan quân đi tìm bắt đảng phái họ Loan mới tụ hội người nhà, định đến đêm hôm ấy nổi loạn, phá cửa Đông môn mà ra. Họ Triệu có người môn khách tên là Chương Giám ở cạnh nhà Dương Thiệt Hổ, nghe được cái mưu ấy, đến báo với họ Triệu. Họ Triệu sang nói với Phạm Mang. Phạm Mang liền sai con là Phạm Ưởng đem 300 quân đến vây nhà Dương Thiệt Hổ.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 63 Kỳ Hề ra sức cứu Dương Thiệt Phạm Ưởng lập kế hiếp Ngụy Thư

Cơ Di đang ở trong nhà Dương Thiệt Hổ, đợi Hoàng Uyên đến để định nửa đêm hôm ấy thì nổi loạn, chẳng ngờ Phạm Ưởng đem quân vây nhà Dương Thiệt Hổ, bao nhiêu gia đinh của Dương Thiệt Hổ ở mặt ngoài không dám tụ tập, đều bỏ đi cả. Dương Thiệt Hổ bắc thang trèo lên mặt tường hỏi Phạm Ưởng rằng: - Tiểu tướng quân đem quân tới đây có việc gì? Phạm Ưởng nói: - Nhà ngươi xưa nay vẫn là đảng Loan Doanh, nay lại định mưu phá vỡ cửa thành để ra tiếp ứng đó tức là tội phản nghịch. Ta phụng mệnh chúa công đến đây để bắt nhà ngươi. Dương Thiệt Hổ nói: - Ta có thế bao giờ! Việc này tự ai nói ra? Phạm Ưởng liền gọi Chương Giám đến trước mặt để làm chứng. Dương Thiệt Hổ vốn người khỏe lắm, lấy tay cậy một viên đá trên mặt tường, ném trúng vào đỉnh đầu Chương Giám. Chương Giám vỡ đầu ra. Phạm Ưởng giận lắm, truyền quân sĩ phóng hỏa đốt cháy nhà Dương Thiệt Hổ. Dương Thiệt Hổ vội vàng nói với Cơ Di rằng: - Chúng ta chẳng thà liều chết, còn hơn ngồi để đợi trói. Dương Thiệt Hổ cầm cái kích xông ra trước. Cơ Di cầm thanh kiếm theo sau. Hai người cùng quát rầm lên, rồi xông qua đám lửa mà ra. Phạm Ưởng trông thấy, truyền cho quân sĩ giương cung ra bắn. Hai người bị mũi tên lăn xuống, quân sĩ dùng câu liêm lôi ra thì đã gần chết rồi, liền trói lại để trên xe. Quan trung quân phó tướng là Tuân Ngô cũng đem quân đến tiếp ứng. Đi đến nửa đường thì gặp Hoàng Uyên. Hoàng Uyên cũng bị Tuân Ngô bắt được. Bây giờ Phạm Ưởng và Tuân Ngô hợp quân làm một, rồi giải Dương Thiệt Hổ, Cơ Di và Hoàng Uyên đến nộp quan trung quân nguyên soái là Phạm Mang. Phạm Mang nói: - Đảng họ Loan còn nhiều, chỉ bắt có 3 người này thì chưa trừ hết được. Phạm Mang chia quân đi tầm nã các nơi. Trong thành Giáng Đô đêm hôm ấy xiết bao huyên náo. Khi trời sáng rõ, Phạm Ưởng bắt Tri Khởi, Tịch Yển và Châu Tân; Tuân Ngô bắt được bọn Trung Hàng Hỉ, Tân Du, Dương Thiệt Xích và Dương Thiệt Bật đều giải đến triều môn để đợi lệnh Tấn Bình công. Lại nói chuyện Dương Thiệt Xích, tên tự là Bá Hoa, Dương Thiệt Bật, tên tự là Thúc Hường cùng với Dương Thiệt Hổ dẫu đều là con Dương Thiệt Chức cả, nhưng Dương Thiệt Hổ là con người thứ mẫu sinh ra. Mẹ Dương Thiệt Hổ nguyên trước là thị tì của vợ Dương Thiệt Chức, nhan sắc xinh đẹp. Dương Thiệt Chức muốn lấy, mà vợ Dương Thiệt Chức không cho. Bấy giờ Dương Thiệt Xích và Dương Thiệt Bật đều đã lớn tuổi, can mẹ không nên ghen. Người mẹ cười bảo rằng: - Ta có phải là người ghen đâu! Nhưng ta nghe nói người nào đẹp lắm thì lại hại nhiều, thí dụ như chỗ núi cao vực lớn thường hay sinh ra giống long xà. Ta e rằng lúc đã sinh ra giống long xà thì lại làm tai vạ cho chúng bay về sau đó. Bọn Dương Thiệt Xích cố ý nói mãi, người mẹ mới cho Dương Thiệt Chức lấy, sau sinh ra Dương Thiệt Hổ. Khi Dương Thiệt Hổ đã lớn lên, mặt đẹp như người mẹ mà có sức khỏe lạ thường, Loan Doanh yêu lắm. Bởi Dương Thiệt Hổ là người thân của Loan Doanh, thành ra Dương Thiệt Xích và Dương Thiệt Bật đều bị bắt cả. Quan đại phu là Nhạc Vương Phụ, tên tự là Phúc Ngư, vốn là người tin yêu của Tấn Bình công, Nhạc Vương Phụ xưa nay nghe tiếng anh em Dương Thiệt Xích và Dương Thiệt Bật là người hiền, vẫn muốn kết giao mà chưa được, bấy giờ thấy nói hai người bị bắt, mới vội vàng đi đến triều môn. Khi đến triều môn, vừa gặp Dương Thiệt Bật. Nhạc Vương Phụ phủ dụ bảo rằng: - Nhà ngươi chớ lo! Ta vào yết kiến chúa công, thế nào cũng cố sức xin cho nhà ngươi. Dương Thiệt Bật nín lặng, không nói gì cả. Nhạc Vương Phụ có ý thẹn. Dương Thiệt Xích nghe nói, liền trách mắng Dương Thiệt Bật rằng: - Anh em ta ngày nay mà chết thì họ Dương Thiệt không còn một ai nữa! Nhạc Vương Phụ nay đang được chúa công tin yêu, nói gì nghe nấy, nếu nhờ hắn nói giùm một tiếng, may ra có được tha chăng, cớ sao em lại nín lặng, không có ý cầu cạnh người ta. Dương Thiệt Bật cười nói rằng: - Người ta chết sống đã có số mệnh. Nếu lòng trời giúp ta thì nhờ có quan lão đại phu họ Kỳ (tức là Kỳ Hề), chứ Nhạc Vương Phụ làm gì được! Dương Thiệt Xích nói: - Nhạc Vương Phụ lúc nào cũng hầu liền ở bên cạnh chúa công mà em bảo rằng không làm gì được; còn quan lão đại phu họ Kỳ đã cáo lão về nhà rồi, em lại bảo rằng nhờ có người ấy, ta thật không hiểu ra làm sao! Dương Thiệt Bật nói: - Nhạc Vương Phụ chẳng qua chỉ xu nịnh mà thôi, chúa công bảo phải thì rằng phải, bảo trái thì rằng trái; còn như quan lão đại phu họ Kỳ, thấy ai là bậc hiền tài thì bất cứ kẻ thù hay người thân, cũng đều tiến cử cho chúa công biết, có lẽ nào lại bỏ sót họ Dương ta hay sao! Được một lúc, Tấn Bình công ra ngự triều. Phạm Mang đem những tên người bị bắt trong đảng họ Loan, tâu với Tấn Bình công, Tấn Bình công trông thấy tên mấy anh em Dương Thiệt Xích, cũng có ý nghi, mới hỏi Nhạc Vương Phụ rằng: - Dương Thiệt Xích và Dương Thiệt Bật có dự đến cái mưu của Dương Thiệt Hổ hay không? Nhạc Vương Phụ vẫn căm về việc Dương Thiệt Bật không chịu nói với mình, mới tâu Tấn Bình công rằng: - Còn ai thân hơn anh em, có lẽ nào lại không biết! Tấn Bình công truyền đem giam cả vào ngục, để giao cho quan tư khấu nghị tội. Bấy giờ Kỳ Hề đã cáo lão về ở đất Kỳ, con là Kỳ Ngọ là bạn đồng liêu với Dương Thiệt Xích, liền sai người phi báo cho cha biết, để cha viết thư đưa về Phạm Mang mà xin tha cho Dương Thiệt Xích. Kỳ Hề nghe tin, giật mình nói rằng: - Dương Thiệt Xích và Dương Thiệt Bật đều là người hiền ở nước Tấn ta, nay có việc oan uổng lạ lùng thế này, ta nên thân hành đi cứu. Kỳ Hề tức khắc đi xe thẳng tới kinh thành, chưa kịp đến hỏi Kỳ Ngọ, liền vào yết kiến Phạm Mang. Phạm Mang nói: - Quan đại phu già yếu mà chịu dầm sương dãi gió tới đây, tất có muốn chỉ bảo điều gì chăng? Kỳ Hề nói: - Tôi vì một việc quan hệ đến nước nhà mà tới đây, chứ không phải việc thường! Phạm Mang kinh sợ hỏi rằng: - Chẳng hay việc gì mà để lão đại phu phải phiền lòng như vậy? Kỳ Hề nói: - Nước nhà mà giữ yên được là nhờ về người hiền. Dương Thiệt Chức khi trước có công với nước Tấn ta, con là Dương Thiệt Xích và Dương Thiệt Bật đều nối được nghiệp cha, nay chỉ vì một người con thứ không ra gì mà giết tất cả thì phỏng có đáng tiếc hay không? Ngày xưa Khước Nhuế phản nghịch mà con là Khước Khuyết vẫn được làm quan. Cha con cũng không can liên với nhau nữa là anh em! Nhà ngươi đem một lòng thù riêng mà giết hại kẻ vô tội, ta lấy làm nguy cho nước Tấn lắm! Phạm Mang vội vàng đứng dậy xin lỗi rằng: - Quan lão đại phu dạy phải lắm! Nhưng chúa công còn chưa nguôi cơn giận, xin quan lão đại phu cùng tôi vào triều để tâu với chúa công. Phạm Mang cùng Kỳ Hề lên xe vào triều, tâu với Tấn Bình công rằng: - Dương Thiệt Xích và Dương Thiệt Bật không giống tính Dương Thiệt Hổ, tất không dự biết đến việc họ Loan. Vả cái công lao của Dương Thiệt Chức thủa xưa, chớ nên quên vội! Tấn Bình công nghĩ ra, liền tha cho Dương Thiệt Xích và Dương Thiệt Bật đều được nguyên chức, còn Trí Khởi, Trung Hàng Hỉ, Tịch Yển, Châu Tân và Tân Du đều phải giáng làm thứ nhân, chỉ có Dương Thiệt Hổ, Cơ Di và Hoàng Uyên phải xử tử mà thôi. Dương Thiệt Xích và Dương Thiệt Bật được tha, vào triều lạy tạ. Khi trở ra về, Dương Thiệt Xích bảo Dương Thiệt Bật rằng: - Ta nên đến tạ ơn quan lão đại phu họ Kỳ. Dương Thiệt Bật nói: - Quan lão đại phu họ Kỳ vì nước mà nói, có phải là vì riêng ta đâu, cần gì phải tạ! Nói xong, liền lên xe về nhà. Dương Thiệt Xích không đành lòng, thân hành đến nhà Kỳ Ngọ, để xin yết kiến Kỳ Hề. Kỳ Ngọ nói: - Thân phụ tôi vào yết kiến chúa công, rồi trở về đất Kỳ ngay, có ở lại đây đâu! Dương Thiệt Xích nói: - Quan lão đại phu họ Kỳ vốn không nghĩ đến sự làm ơn cho ta. Thế mới biết kiến thức của ta không bằng Dương Thiệt Bật! Châu Tân từ khi bị cách chức vẫn đi lại với nàng Loan Kỳ (mẹ Loan Doanh, con gái Phạm Mang). Phạm Mang nghe biết việc ấy, sai kẻ lực sĩ đến tận nhà mà đâm chết Châu Tân. Quan trấn thủ ở đất Khúc Ốc tên gọi Tư Ngọ, nguyên trước là môn khách của Loan Thư. Loan Doanh đi qua Khúc Ốc, Tư Ngọ cung cấp rất trọng hậu. Loan Doanh nói đến việc đắp thành ở Trứ Ấp. Tư Ngọ hẹn xin đem quân ở Khúc Ốc sang giúp. Loan Doanh ở lại Khúc Ốc trong ba ngày. Bọn Loan Nhạc đến báo tin, nói Dương Tất đã đem quân đuổi theo. Đốc Nhung (là người dong xe của Loan Doanh) nói: - Nếu Dương Tất đến đây thì chống cự lại, vị tất đã làm gì nổi! Châu Sước và Hình Khoái (hai người đều là bộ hạ của Loan Doanh) nói: - Chỉ vì việc ấy chúng tôi sợ ân chủ thiếu người, vậy phải đến đây để phù tá. Loan Doanh nói: - Nào ta có tội gì đâu, chẳng qua họ thù oán mà vu cho ta, nếu ta chống cự thì kẻ kia lại có cớ mà nói, chi bằng ta trốn đi, để đợi khi chúa công xét rõ lại. Tư Ngọ cũng can rằng không nên chống cự. Loan Doanh vội vàng từ biệt Tư Ngọ rồi trốn sang nước Sở. Khi Dương Tất đem quân đến Trứ Ấp, người Trứ Ấp nói với Dương Tất rằng: - Loan Doanh chưa tới đây, mới đến Khúc Ốc, đã bỏ trốn rồi. Dương Tất lại thu quân về, trong khi đi đường, tuyên bá những tội trạng của họ Loan. Dân nước Tấn đều biết họ Loan là bậc công thần. Vả Loan Doanh là người quảng đại bác ái, vậy nên ai cũng thương xót. Phạm Mang nói với Tấn Bình công nghiêm cấm họ Loan đi theo Loan Doanh, ai theo thì bắt tội chết. Kẻ gia thần của Loan Doanh là Tân Du nghe tin Loan Doanh ở nước Sở liền đem mấy xe gia tài đi theo. Ra đến cửa thành bị quân sĩ bắt được, đem nộp Tấn Bình công. Tấn Bình công hỏi Tân Du rằng: - Ta đã có lời nghiêm cấm, sao nhà ngươi dám trái lệnh? Tân Du sụp lạy nói rằng: - Tôi ngu dốt lắm! Không hiểu chúa công cấm theo họ Loan là nghĩa làm sao? Tấn Bình công nói: - Theo họ Loan tức là không có vua, vậy nên ta cấm. Tân Du nói: - Nếu cấm kẻ không có vua thì tôi tất là không chết! Tôi nghe nói mình làm tôi người nào thì người ấy tức là vua mình, ông cha nhà tôi đã 3 đời làm tôi họ Loan thì họ Loan tức là vua của tôi, chỉ vì tôi không dám quên vua, vậy nên phải theo họ Loan cớ sao lại cấm! Vả Loan Doanh dẫu có tội, chúa công đuổi đi mà không nỡ giết, cũng là nghĩ đến cái công lao về đời trước của họ Loan, mà muốn bảo toàn cho Loan Doanh. Nay Loan Doanh bơ vơ ở nơi đất khách, đồ dùng không có, áo mặc không đủ, một mai vì thế mà chết đi thì có phải cái nhân đức của chúa công không được trọn vẹn. Tôi đi chuyến này là muốn giữ hết cái trung nghĩa của tôi, mà nêu được cái nhân đức của chúa công đó! Tấn Bình công bằng lòng bảo rằng: - Nhà ngươi ở lại đây để thờ ta, ta sẽ đem cái lộc của họ Loan cho nhà ngươi. Tân Du nói: - Tôi đã nói họ Loan là vua của tôi, nếu tôi bỏ vua ấy mà theo vua khác thì sao cấm được những kẻ không có vua! Chúa công mà giữ tôi thì tôi xin tự tử. Tấn Bình công nói: - Thôi thì ta cũng nghe lời mà cho nhà ngươi đi, để nhà ngươi giữ được cái chí ấy. Tân Du lạy tạ, rồi đem mấy xe gia tài, cứ việc ngang nhiên thẳng cửa thành đi ra. Loan Doanh ở địa giới nước Sở đã được mấy tháng, toan vào Dĩnh Đô yết kiến vua Sở, nhưng nghĩ thầm rằng ông cha mình đã mấy đời giúp Tấn để cừu địch với Sở, giả sử vua Sở không dung ta thì làm thế nào; lại toan đi sang nước Tề, chỉ vì tiền lưng hết sạch cả, không thể đi được, may gặp Tân Du đem mấy xe gia tài đến, bấy giờ Loan Doanh mới sửa soạn để đi sang nước Tề. Tề Trang công từ khi thua Tấn ở trận Bình Âm, lấy làm xấu hổ, muốn dùng những kẻ dũng sĩ, đặt ra một đội Dũng Tước, cho ăn lộc bằng các quan đại phu, tìm những người mang nổi nghìn cân, bắn trúng qua bảy lần áo giáp thì cho sung vào đội ấy. Trước đã có Thực Sước và Quách Tối, sau lại được bọn Giả Cử, Bính Cư, công tôn Ngao, Phong Cụ, Tạc Phủ, Tương Doãn và Lâu Yên, cả thẩy 9 người. Tề Trang công ngày nào cũng triệu vào trong cung, cùng nhau bắn bia hay là đấu kiếm để làm trò vui. Một hôm, Tề Trang công ngự triều nghe báo có quan đại phu nước Tấn là Loan Doanh bị đuổi trốn sang nước Tề, liền mừng mà nói rằng: - Ta vẫn muốn báo thù nước Tấn, nay có Loan Doanh đến thì thật là được việc cho ta! Tề Trang công toan sai người đi nghênh tiếp Loan Doanh. Quan đại phu là Án Anh can rằng: - Không nên! Nước nhỏ thờ nước lớn, nên phải giữ điều tín. Ta mới cùng nước Tấn ăn thề, mà nay lại dung nạp Loan Doanh, giả sử người nước Tấn đến trách thì ta biết nói thế nào? Tề Trang công cười to lên mà bảo Án Anh rằng: - Nhà ngươi nói thế là sai lầm! Nước Tề ta cùng nước Tấn ngang hàng với nhau, sao lại gọi là lớn với nhỏ? Ngày trước ta chịu thề với Tấn, chẳng qua chỉ vì sự nguy cấp trong một thời mà thôi, chứ có lẽ nào ta lại chịu thần phục nước Tấn mãi như Lỗ, Vệ, Tào và Châu hay sao? Tề Trang công không nghe lời Án Anh, liền sai người đi đón Loan Doanh vào triều. Loan Doanh sụp lạy Tề Trang công, vừa khóc vừa kể hết những nông nỗi bị đuổi. Tề Trang công nói: - Nhà ngươi chớ lo! Ta sẽ giúp nhà ngươi lại được về nước Tấn. Loan Doanh lạy tạ. Tề Trang công bầy tiệc thết đãi. Trong khi ăn tiệc, Châu Sước và Hình Khoái đứng hầu ở bên cạnh Loan Doanh, Tề Trang công trông thấy Châu Sước và Hình Khoái thân thể to lớn liền hỏi họ tên. Hai người nói thực cả. Tề Trang công nói: - Trận đánh ở Bình Âm khi trước mà bắt được Thực Sước và Quách Tối của ta có phải là hai người đó không? Châu Sước và Hình Khoái sụp lạy xin lỗi. Tề Trang công nói: - Ta mến tiếng các ngươi đã lâu lắm! Tề Trang công truyền dọn cơm rượu cho hai người ăn uống. Lại bảo Loan Doanh rằng: - Ta muốn phiền nhà ngươi một điều, nhà ngươi chớ nên từ chối. Loan Doanh nói: - Nếu chúa công có cần đến điều gì thì dẫu thân thể chúng tôi cũng không dám tiếc. Tề Trang công nói: - Ta không dám phiền gì cả, chỉ xin mượn hai người dũng sĩ để làm bạn với ta. Loan Doanh không dám từ chối, phải nhận lời ngay, rồi hầm hầm lên xe, trở về nhà công quán, vừa đi vừa phàn nàn rằng: - May mà hắn chưa trông thấy Đốc Nhung, chẳng có thì cũng chiếm mất thôi. Tề Trang công được Châu Sước và Hình Khoái, sung vào ở cuối hàng Dũng Tước, Châu Sước và Hình Khoái có ý không phục. Một hôm Châu Sước và Hình Khoái cùng với Thực Sước và Quách Tối đứng hầu ở bên cạnh Tề Trang công. Châu Sước và Hình Khoái giả cách ngạc nhiên trỏ vào mặt Thực Sước và Quách Tối bảo rằng: - Hai ngươi là tù nhân ở nước ta, làm sao lại được đến đây? Quách Tối nói: - Ngày trước chúng ta bị Túc Sa Vệ đánh lừa, chứ không như các ngươi phải theo người ta đi trốn. Châu Sước giận lắm nói: - Mày như miếng thịt ở trong miệng ta, lại còn dám cựa quậy hay sao! Thực Sước cũng nổi giận, nói: - Ngày nay mày ở trong nước ta, tức là miếng thịt ở trong mâm cơm của ta đó! Hình Khoái nói: - Các ngươi đã không bằng lòng với ta thì ta lại xin về với chủ cũ (trỏ Loan Doanh). Quách Tối nói: - Đường đường một nước Tề, có lẽ cứ phải nhờ đến hai người mới được hay sao! Bốn người cãi nhau, mặt đỏ bừng bừng, đều rút gươm ra đánh nhau. Tề Trang công dùng lời nói ngọt để khuyên can, và đem rượu cho uống, lại bảo Châu Sước và Hình Khoái rằng: - Ta vẫn biết hai ngươi không chịu ở dưới người! Tề Trang công liền đổi tên Dũng Tước chia làm hai ban: 1. Hữu ban là Long Tước thì Châu Sước và Hình Khoái cầm đầu, lại chọn được người nước Tề là Lư Bồ Quý và Vương Hà thuộc về ban ấy; 2. Tả ban là Hổ Tước thì Thực Sước và Quách Tối cầm đầu, còn bọn Giả Cử thuộc về ban ấy. Các người được dự vào trong hai ban ấy đều lấy làm vinh hạnh, chỉ có Châu Sước, Hình Khoái, Thực Sước và Quách Tối, bốn người ấy không hòa thuận với nhau mà thôi. Bấy giờ Thôi Chữ và Khánh Phong có công lập Tề Trang công đều được làm thượng khanh, cầm quyền chính trong nước, Tề Trang công thường vẫn đến nhà hai người để uống rượu mua vui, hoặc là bắn bia đấu kiếm, không còn phân biệt vua tôi chi nữa. Vợ cả Thôi Chữ sinh được hai con là Thôi Thành và Thôi Cương; cách mấy năm sau thì người vợ ấy chết. Thôi Chữ lại kết duyên với em gái Đông Quách Yển. Em gái Đông Quách Yển nguyên trước là vợ Đường công vẫn gọi là nàng Đường Khương sinh được một con, tên gọi là Đường Vô Cữu. Khi Đường công chết, Thôi Chữ đến viếng tang, trông thấy nàng Đường Khương có sắc đẹp, mới nói với Đông Quách Yển xin cưới làm vợ kế, cũng sinh được một con, tên gọi là Thôi Minh. Thôi Chữ yêu nàng Đường Khương lắm, liền dùng Đông Quách Yển và Đường Vô Cữu làm gia thần, đem con nhỏ là Thôi Minh ủy thác cho; lại bảo nàng Đường Khương rằng: - Đợi khi nào Thôi Minh khôn lớn, sẽ lập làm đích tử. Một hôm, Tề Trang công uống rượu ở nhà Thôi Chữ. Thôi Chữ sai Đường Khương ra mời rượu. Tề Trang công trông thấy người đẹp, liền đút tiền cho Đông Quách Yển để tư thông với nàng Đường Khương. Thôi Chữ dần dần biết chuyện, gọi hỏi nàng Đường Khương, nàng Đường Khương nói: - Thật có như vậy! Kẻ kia cậy thế là vua một nước mà bắt hiếp thì thiếp chống cự lại thế nào được! Thôi Chữ nói: - Vậy thì làm sao mà nàng không nói với ta? Đường Khương nói: - Thiếp tự nghĩ mình có tội, nên không dám nói. Thôi Chữ nín lặng hồi lâu, rồi nói: - Việc ấy không can dự gì đến nàng! Từ bấy giờ Thôi Chữ có ý muốn giết Tề Trang công. Vua nước Ngô là Chư Phàn sai người sang nước Tấn cầu hôn. Tấn Bình công gả con gái cho. Tề Trang công bàn mưu với Thôi Chữ rằng: - Ta muốn giúp cho Loan Doanh trở về nước Tấn mà chưa được dịp nào, nghe nói quan trấn thủ ở Khúc Ốc là người thân với Loan Doanh, nay ta muốn mượn việc tống dắng mà đưa Loan Doanh về Khúc Ốc, để khiến cho Loan Doanh lẻn đánh nước Tấn phỏng có nên chăng? Thôi Chữ đang căm tức Tề Trang công muốn cho Tề Trang công kết oán với Tấn, đợi khi nước Tấn đem quân sang đánh thì đổ lỗi cho Tề Trang công mà giết đi, để du nịnh nước Tấn, bấy giờ Tề Trang công muốn giúp cho Loan Doanh, chính là trúng phải kế ấy. Thôi Chữ liền nói với Tề Trang công rằng: - Người Khúc Ốc dẫu vì họ Loan, nhưng vị tất đã làm gì nổi, chúa công nên đem một toán quân đi tiếp ứng, giả cách nói sang đánh Vệ, rồi cùng với Loan Doanh hai mặt đánh ụp vào, mới có thể phá vỡ được nước Tấn. Tề Trang công khen phải, rồi đem cái mưu ấy nói với Loan Doanh. Loan Doanh mừng lắm. Kẻ gia thần của Loan Doanh là Tân Du can rằng: - Tôi theo ngài tới đây là để tận trung với ngài, vậy thì tôi cũng muốn cho ngài tận trung với vua Tấn. Loan Doanh nói: - Nhưng vua Tấn không nhận ta là bề tôi thì biết làm thế nào? Tân Du nói: - Ngày xưa vua Trụ giam vua Văn Vương ở ngục Dữu Lý, mà vua Văn Vương vẫn một lòng thần phục vua Trụ; nay vua Tấn chẳng nghĩ đến công lao của họ Loan ta trước mà đuổi ngài khiến ngài phải lưu lạc ở nước ngoài, ai là người không thương xót. Nếu ngài làm điều bất trung thì trong khoảng trời đất, còn ai dung ngài nữa! Loan Doanh không nghe. Tân Du khóc mà nói rằng: - Nếu vậy thì ngài đi chuyến này, không khỏi chết được, tôi xin liều chết để tiễn chân ngài. Tân Du nói xong rút gươm đâm cổ mà chết. Tề Trang công tìm một người con gái trong họ để làm dắng nữ, sai quan đại phu là Tích Quy Phủ đưa sang nước Tấn; rồi dùng nhiều xe kín, để Loan Doanh và nhiều đảng phái ngồi ở trong xe, đưa đến Khúc Ốc. Châu Sước và Hình Khoái xin theo Loan Doanh. Tề Trang công sợ Châu Sước và Hình Khoái về nước Tấn mất, mới sai Thực Sước và Quách Tối đi thay, lại dặn Thực Sước và Quách Tối rằng: - Hai ngươi theo quan tướng quân họ Loan cũng tức như là theo ta! Khi đến Khúc Ốc Loan Doanh lẻn vào trong thành, đang đêm gọi cửa nhà quan trấn thủ ở đấy là Tư Ngọ. Tư Ngọ kinh sợ không biết việc gì. Khi mở cửa ra trông thấy Loan Doanh, liền giật mình mà hỏi rằng: - Sao ngài lại đến đây được? Loan Doanh nói: - Xin vào nhà kín để nói chuyện. Tư Ngọ liền mời Loan Doanh vào trong nhà kín. Loan Doanh cầm lấy tay Tư Ngọ, muốn nói mà chưa nói, tự nhiên nước mắt chảy xuống ròng ròng. Tư Ngọ nói: - Ngài có việc gì, xin cứ nói cho biết, can gì mà thương khóc như vậy! Loan Doanh liền gạt nước mắt nói rằng: - Tôi chỉ vì các họ Phạm, họ Triệu thù oán mà đến nỗi phải lưu lạc ở nước ngoài, nay vua Tề thương tôi là người vô tội, đưa tôi tới đây, mà quân Tề cũng sắp sửa đến sau. Nếu nhà ngươi chịu đem quân Khúc Ốc vào đánh Giáng Đô thì quân Tề đánh mặt ngoài, chúng ta đánh mặt trong, chắc là phải vỡ. Khi bấy giờ ta bắt những kẻ thù oán với ta mà giết chết đi, rồi phụng mệnh vua Tấn để giảng hòa với Tề. Họ Loan mà nổi lên được, chỉ cốt ở một việc này mà thôi. Tư Ngọ nói: - Thế nước Tấn đang mạnh, các nhà họ Phạm và họ Triệu vẫn hòa thuận với nhau, tôi sợ chưa làm gì nổi, lại thêm hại vào mình. Loan Doanh nói: - Ta có kẻ dũng sĩ là Đốc Nhung, một người có thể đương nổi một toán quân. Vả Thực Sước và Quách Tối đều là bậc anh tài ở nước Tề bây giờ; còn Loan Nhạc và Loan Phường cũng đều sức khỏe bắn giỏi, như thế thì nước Tần dẫu mạnh, cũng chẳng sợ gì! Ngày xưa ta giúp Ngụy Giáng ở đạo hạ quân, cháu hắn là Ngụy Thư có nhờ vả điều gì, ta vẫn trông nom cho cả, kẻ kia vẫn muốn báo ơn ta; nếu được họ Ngụy làm nội ứng thì mười phần xong được đến tám chín. Vạn nhất không thành mà chết, ta cũng thỏa lòng! Tư Ngọ nói: - Đợi đến ngày mai, tôi sẽ dò xem nhân tâm thế nào mới có thể làm được. Bọn Loan Doanh cùng nhau ẩn trong nhà kín. Đến ngày hôm sau, Tư Ngọ giả cách nói có nằm mộng thấy Cung Thế Tử (tức là Thân Sinh), rồi sửa lễ vào nhà thờ Cung Thế Tử để tế. Tế xong, mời tất cả các quan thuộc đến uống rượu, Loan Doanh phục sẵn sau bình phong. Khi uống rượu được ba tuần thì bọn âm nhạc cất tiếng lên. Tư Ngọ liền gạt đi mà nói rằng: - Ngày xưa Cung Thế Tử chết oan bây giờ chúng ta nỡ nào ngồi mà nghe âm nhạc! Mọi người nghe nói, đều có ý cảm động. Tư Ngọ lại nói: - Bề tôi cũng như con. Nay họ Loan mấy đời có công to, mà cả triều cố ý dèm pha, để đến nỗi phải đuổi, phỏng có khác gì Cung Thế Tử hay không! Mọi người đều nói: - Việc ấy, cả nước ai cũng bất bình! Chẳng hay chàng nhụ tử họ Loan còn có thể về nước được không? Tư Ngọ nói: - Giả sử nhụ tử họ Loan bây giờ đã về ở đây thì các ngươi định xử ra làm sao? Mọi người đều nói: - Nếu được chàng nhụ tử họ Loan làm chủ thì chúng tôi xin hết sức, dẫu chết cũng đành lòng! Trong bọn ngồi ở đấy, có nhiều người chảy nước mắt khóc. Tư Ngọ nói: - Các ngươi chớ phiền; chàng nhụ tử họ Loan hiện ở đây rồi! Tư Ngọ vừa nói xong thì Loan Doanh ở phía sau bình phong đi ra vái chào mọi người. Mọi người đều sụp lạy. Loan Doanh thuật lại đầu đuôi vì cớ gì mà về được nước Tấn, lại nói với mọi người rằng: - Nếu được trở về Giáng Đô thì dẫu chết cũng thỏa lòng! Mọi người đều hớn hở xin theo. Ngày hôm ấy, uống rượu rất vui rồi tan. Đến hôm sau, Loan Doanh viết một tờ mật thư, nhờ người lái buôn tại Khúc Ốc đưa đến cho Ngụy Thư ở Giáng Đô. Ngụy Thư cũng thấy việc họ Triệu và họ Phạm làm tàn ác quá, khi tiếp được mật thư, liền viết thư trả lời rằng: - Chúng tôi vẫn mặc sẵn áo giáp ở trong mình để đợi. Khi nào quân Khúc Ốc đến, xin ra nghênh tiếp. Loan Doanh được tin mừng lắm. Tư Giáp đem quân Khúc Ốc giao cho Loan Doanh. Những tộc đảng họ Loan, người nào tráng kiện đều xin theo cả, chỉ có người già yếu mới chịu ở lại Khúc Ốc. Đốc Nhung làm tiên phong. Thực Sước và Loan Nhạc ở bên hữu. Quách Tối và Loan Phường ở bên tả. Đêm hôm ấy thẳng đường tiến về Giang Đô. Từ Khúc Ốc đến Giáng Đô chỉ cách nhau có 60 dặm, đi một đêm đến nơi ngay, rồi phá lần thành ngoài mà vào, tiến thẳng đến Nam môn mà người Giáng Đô không ai biết gì cả. Những quân sĩ canh giữ ở cửa thành, không kịp phòng bị, chỉ trong một hồi lâu, bị Đốc Nhung phá vỡ. Quân Loan Doanh kéo ồ vào thành, như vào một nơi không có người ở. Bấy giờ Phạm Mang ở nhà, vừa ăn cơm sáng xong bỗng thấy Nhạc Vương Phụ hoảng hốt chạy đến báo việc Loan Doanh đã vào Nam môn. Phạm Mang giật mình kinh sợ, liền gọi con là Phạm Ưởng đem quân ra chống cự. Nhạc Vương Phụ nói: - Việc đã nguy cấp lắm! Ta nên đưa chúa công chạy vào cố cung thì mới có thể giữ vững được. Phạm Mang lo trong nước có người làm nội ứng cho họ Loan. Nhạc Vương Phụ nói: - Các quan đại phu đều ghét họ Loan cả, chỉ đáng lo có một mình họ Ngụy mà thôi; nếu ta phụng mệnh chúa công đi triệu ngay đến đây thì có thể giữ được. Phạm Mang khen phải, liền sai Phạm Ưởng phụng mệnh đến triệu Ngụy Thư. Nhạc Vương Phụ nói: - Việc chưa rõ thế nào, hãy nên kín tiếng mới được! Tấn Bình công đang có tang, Phạm Mang và Nhạc Vương Phụ đều mặc áo giáp ở trong, rồi phủ đồ tang phục ở ngoài, trùm kín đầu lại, đi thẳng vào cung, tâu với Tấn Bình công, lại đưa Tấn Bình công chạy vào cố cung. Phạm Ưởng đến nhà Ngụy Thư, trông thấy quân sĩ ở nhà Ngụy Thư đứng sắp hàng cả ở ngoài cửa, Ngụy Thư mặc đồ nhung phục ngồi ở trên xe, toan đi đón Loan Doanh. Phạm Ưởng chạy ngay đến trước mặt mà bảo Ngụy Thư rằng: - Họ Loan nổi loạn, nay chúa công đang ở cố cung, cha tôi và các quan đại thần đều họp ở đấy cả, có sai tôi đến đây đón ngài. Ngụy Thư chưa kịp trả lời. Phạm Ưởng nhảy ngay lên xe, tay phải cầm gươm, tay trái nắm lấy đai Ngụy Thư, làm cho Ngụy Thư kinh sợ không biết nói thế nào được nữa, rồi Phạm Ưởng truyền cho người dong xe đi mau. Người dong xe hỏi đi về phía nào? Phạm Ưởng quát to lên rằng: - Đi sang cố cung! Bấy giờ xe Ngụy Thư đi thẳng sang cố cung.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 64 Đường nghìn dặm, Tân Du theo chủ Lệ hai hàng, Mạnh Khương khóc chồng

Phạm Mang dẫu sai con là Phạm Ưởng đi triệu Ngụy Thư, nhưng chưa biết hay dở thế nào, trong lòng áy náy, không thể đánh được, mới trèo lên mặt thành để nom, trông thấy Phạm Ưởng và Ngụy Thư cùng ngồi một xe ở phía xa đi đến, liền mừng mà nói rằng: - Nếu vậy thì họ Loan thật là thế cô, chẳng làm gì nổi! Nói xong, truyền mở cửa cung đón vào. Ngụy Thư trông thấy Phạm Mang, nét mặt có ý hoảng hốt. Phạm Mang cầm lấy tay mà bảo rằng: - Người ngoài không hiểu rõ, bảo là tướng quân tư thông với họ Loan, nhưng tôi đây vẫn biết tướng quân không phải là người như thế. Nếu tướng quân vì tôi mà diệt được họ Loan, tôi xin đem đất Khúc Ốc đền công cho tướng quân. Khi bấy giờ Ngụy Thư đã vào trong lao lung của Phạm Mang rồi, bất đắc dĩ phải vâng mệnh, rồi cùng vào yết kiến Tấn Bình công để bàn mưu dẹp giặc. Được một lúc thì Triệu Vũ, Tuân Ngô, Trí Sóc, Hàn Vô Kỵ (con trưởng Hàn Quyết), Hàn Khởi (con thứ Hàn Quyết), Kỳ Ngọ, Dương Thiệt Xích, Dương Thiệt Bật và Trương Mạnh Địch đều lục tục đến cả. Mỗi người lại đem theo một toán quân, rất nghiêm chỉnh! Cố cung có hai cửa quan. Phạm Mang sai Triệu Vũ và Tuân Ngô giữ cửa Nam quan; anh em Hàn Vô Kỵ giữ cửa Bắc quan; còn bọn Kỳ Ngọ thì đi tuần xung quanh bốn mặt. Hai cha con Phạm Mang và Phạm Ưởng cứ ở liền bên cạnh Tấn Bình công. Loan Doanh tiến quân vào trong thành không thấy Ngụy Thư ra đón, có ý nghi ngờ, mới đóng quân ở Thị Khẩu, rồi sai người đi dò thám tin tức. Quân thám tử về báo với Loan Doanh rằng: - Vua Tấn đã chạy vào cố cung, nhân dân đều theo vào đấy cả, cả Ngụy Thư cũng vào. Loan Doanh nổi giận nói: - Ngụy Thư đánh lừa ta! Ta mà gặp mặt thì quyết đâm cho một nhát! Loan Doanh vỗ vào lưng Đốc Nhung mà bảo rằng: - Nhà ngươi cố sức phá vỡ cố cung thì ta không dám quên công. Đốc Nhung nói: - Tôi xin chia quân làm đôi, tôi đánh Nam quan; còn ngài thì đem các tướng đánh Bắc quan, thử xem ai vào được trước! Bấy giờ Thực Sước và Quách Tối dẫu theo Loan Doanh, nhưng vẫn căm tức Châu Sước và Hình Khoái, mà Châu Sước và Hình Khoái lại là người của Loan Doanh đem sang nước Tề, để khiến cho Tề Trang công tin yêu Châu Sước và Hình Khoái mà khinh bỉ Thực Sước và Quách Tối, bởi vậy Thực Sước và Quách Tối thành ra căm tức Loan Doanh. Huống chi Loan Doanh động mở miệng ra thì chỉ khoe khoang cái tài giỏi của Đốc Nhung mà không nghĩ gì đến Thực Sước và Quách Tối cả, như thế thì khi nào Thực Sước và Quách Tối lại chịu cố sức. Loan Doanh trông cậy có một mình Đốc Nhung, bấy giờ Đốc Nhung tay cầm hai cái kích, ngồi xe đi thẳng tới cố cung, đứng ngoài cửa Nam quan xem tình thế, rồi đi đi lại lại, uy phong lẫm lẫm, khác nào như một vị hung thần giáng hạ, quân Tấn vốn biết là người vũ dũng, ai trông thấy đều sợ khiếp đảm. Triệu Vũ cũng tấm tắc khen tài. Bộ hạ của Triệu Vũ có hai viên dũng tướng, tên gọi Giải Ung và Giải Túc là anh em ruột với nhau, xưa nay đã có tiếng là người giỏi đánh giáo. Giải Ung và Giải Túc nghe thấy chủ tướng (trỏ Triệu Vũ) mình khen Đốc Nhung, có ý không phục nói với Triệu Vũ rằng: - Đốc Nhung dẫu giỏi, anh em tôi cũng xin đem một toán quân ra để bắt sống. Triệu Vũ nói: - Nhà ngươi nên cẩn thận, chớ có khinh thường. Giải Ung và Giải Túc mở cửa quan ra, đứng ở phía trong lần hào, quát to lên bảo Đốc Nhung rằng: - Nhà ngươi có phải Đốc Nhung không? Ta tiếc cho nhà ngươi là một anh hùng mà lại đi theo đứa phản nghịch! Mau mau đầu hàng đi thì còn có thể đổi họa làm phúc được. Đốc Nhung nghe nói nổi giận, truyền cho quân sĩ lấp một khúc hào để sang. Quân sĩ còn đang đội đất, vác đá để lấp hào. Đốc Nhung nóng nẩy, cầm hai ngọn kích chống thẳng xuống đất, rồi nhảy vót qua bên kia hào. Giải Ung và Giải Túc giật mình kinh sợ cùng cầm giáo đến đánh Đốc Nhung. Đốc Nhung hai tay cầm hai cái kích để đánh Giải Ung và Giải Túc. Đốc Nhung mạnh sức quá, đánh gẫy cái giáo của Giải Túc. Giải Túc vội vàng bỏ chạy. Giải Ung run sợ, bị Đốc Nhung đâm cho một ngọn kích ngã lăn xuống đất. Đốc Nhung lại đi đuổi theo Giải Túc. Giải Túc mạnh lắm, chạy thẳng đến Bắc môn, leo thành mà vào. Đốc Nhung không đuổi kịp, liền quay lại định đâm chết Giải Ung thì quân sĩ nước Tấn đã cứu Giải Ung đem vào cửa quan rồi. Đốc Nhung tức giận, chống cái kích xuống đất mà quát to lên rằng: - Còn ai dám ra đối địch với ta nữa không? Trong cửa quan không ai dám ra cả. Đốc Nhung về dinh, rồi truyền cho quân sĩ sửa soạn để ngày mai lại đánh. Giải Ung bị thương nặng quá, đêm hôm ấy chết. Triệu Vũ thương xót vô cùng. Giải Túc nói: - Ngày mai tôi xin ra quyết chiến một trận nữa để báo thù cho anh tôi. Tôi dẫu chết cũng được thỏa lòng! Tuân Ngô nói với Triệu Vũ rằng: - Bộ hạ ta, có một tướng gọi là Mâu Đăng, hắn có hai người con là Mâu Cương và Mâu Kính. Hai người ấy đều có sức khỏe mang nổi nghìn cân, hiện đang thuộc về đạo quân thị vệ của chúa công, tôi xin bảo Mâu Đăng tức khắc gọi hai con đến, để sáng mai cùng ra trận với Giải Túc. Ba người đánh một thì khi nào lại đến nỗi thua được! Triệu Vũ nói: - Nếu vậy thì hay lắm! Tuân Ngô bảo Mâu Đăng đi gọi hai con. Sáng sớm hôm sau, Mâu Cương và Mâu Kinh đều đến cả. Triệu Vũ trông thấy thân thể to lớn và mạnh mẽ, liền phủ dụ mấy câu, rồi sai cùng với Giải Túc ra trận. Sáng hôm sau, quân Đốc Nhung đã lấp bằng được một khúc hào, tiến thẳng dưới cửa quan để khiêu chiến. Mâu Cương, Mâu Kính và Giải Túc mở cửa quan ra. Đốc Nhung quát to lên rằng: - Chúng bay không sợ chết à? Ba người không nói năng gì cả, xúm lại đánh Đốc Nhung. Đốc Nhung chẳng sợ hãi chút nào, đang ngồi trên xe, nhảy xổ xuống đất, hai tay tầm hai cái kích, múa lên mà đánh. Trục xe của Mâu Cương, bị Đốc Nhung đánh gẫy, Mâu Cương bất đắc dĩ cũng phải ở trên xe nhẩy xuống, lại bị Đốc Nhung đánh một ngọn kích chết ngay. Mâu Kinh giận lắm, cố sức xông vào, nhưng không thể nào vào được. Mâu Đăng ở trên cửa quan, liền nổi hiệu thu quân, rồi mở cửa cho Mâu Cương và Giải Túc vào. Đốc Nhung truyền cho quân sĩ phá cửa quan. Trên cửa quan bắn xuống, tên đạn như mưa, quân sĩ nhiều người bị thương. Đốc Nhung vẫn không sợ hãi chút nào, thật là một viên dũng tướng. Triệu Vũ và Tuân Ngô thua luôn hai trận, sai người cáo cấp với Phạm Mang. Phạm Mang nói: - Một mình Đốc Nhung còn không đánh nổi thì dẹp thế nào được đảng họ Loan. Đêm hôm ấy, Phạm Mang đốt đèn ngồi, nét mặt buồn bã. Có một người đứng hầu bên cạnh, sụp lạy hỏi rằng: - Quan nguyên soái nét mặt buồn bã, ý chừng lo về việc Đốc Nhung, phải không? Phạm Mang nhìn xem ai liền nhận ra Phi Báo, Phi Báo nguyên là một người thủ hạ của Đồ Ngạn Giả, tên gọi là Phi Thành, sau vì việc Đồ Ngạn Giả mà phải tội, sung vào làm lệ nhân để phục dịch việc quan. Phạm Mang nghe Phi Báo nói, lấy làm lạ, liền hỏi Phi Báo rằng: - Nhà ngươi có kế gì trừ được Đốc Nhung thì ta trọng thưởng cho. Phi Báo nói: - Tôi là một người có tên trong sổ tội ác, dẫu tài giỏi đến đâu, cũng không bao giờ tiến thân được; nếu quan nguyên soái xóa tên tôi ở trong sổ tội án đi thì tôi xin giết Đốc Nhung để đền ơn lại. Phạm Mang nói: - Nhà ngươi giết được Đốc Nhung thì ta sẽ tâu với chúa công đốt cả sổ tội án đi, mà dùng nhà ngươi làm trung quân nha tướng. Phi Báo nói: - Quan nguyên soái chớ nên thất tín! Phạm Mang thề rằng: - Nếu ta thất tín thì xin có mặt trời soi xét! Nhưng chẳng hay nhà ngươi phải dùng bao nhiêu quân mã? Phi Báo nói: - Khi trước Đốc Nhung còn ở Giáng Đô, có quen với tôi, vẫn cùng tôi đấu võ. Người ấy tính nóng nảy, chỉ thích đánh nhau độc lực, nếu dùng quân mã thì không thể đánh được. Tôi xin đi một mình, tự khắc có kế bắt được Đốc Nhung. Phạm Mang nói: - Hay là nhà ngươi lại định trốn đi mà không trở lại nữa? Phi Báo nói: - Tôi còn mẹ già, năm nay 78 tuổi, còn có con nhỏ, vợ dại, sao tôi lại chịu làm điều bất trung bất hiếu ấy, để phạm tội lần nữa! Nếu tôi trái lời thì cũng xin có mặt trời soi xét! Phạm Mang mừng lắm, cho Phi Báo ăn cơm uống rượu, và thưởng cho một bộ áo giáp. Phi Báo trong mặc áo giáp, ngoài mặc áo nhung, đầu đội mũ cao, chân đi giày cỏ, lưng giắt con dao nhọn, tay cầm một cái dùi đồng nặng 52 cân, từ biệt Phạm Mang mà nói rằng: - Tôi đi chuyến này, giết được Đốc Nhung thì thôi, bằng không thì cũng chết vì tay Đốc Nhung, quyết không cùng sống được. Phạm Mang nói: - Ta cũng thân hành ra để xem nhà ngươi cố sức. Phạm Mang truyền thắng xe, rồi cùng với Phi Báo đi đến cửa Nam quan. Triệu Vũ và Tuân Ngô ra tiếp kiến Phạm Mang, kể chuyện Đốc Nhung tài giỏi, làm hại mất hai tướng. Phạm Mang nói: - Ngày nay Phi Báo xin một mình ra trận, chỉ nhờ về hồng phúc của chúa công ta. Phạm Mang nói chưa dứt lời thì Đốc Nhung đã đến khiêu chiến ngoài cửa quan. Phi Báo đứng trên cửa quan, gọi Đốc Nhung mà bảo rằng: - Nhà ngươi có còn nhớ Phi Đại, (Báo Hành Đại vậy nên Phi Báo tự xưng là Phi Đại, năm xưa vẫn thường gọi như thế) hay không? Đốc Nhung nói: - Nay Phi Đại cũng định liều chết mà ra đó chăng? Phi Báo nói: - Ai sợ nhà ngươi, chớ Phi Báo quyết không sợ! Nhà ngươi nên truyền cho quân sĩ lui lại phía sau, rồi hai ta cùng nhau giao chiến, hai tay chọi với hai tay, binh khí chọi với binh khí, thử xem ai sống ai chết, để lưu tiếng anh hùng về mai sau này! Đốc Nhung nói: - Nhà ngươi nói hợp ý ta lắm! Đốc Nhung truyền cho quân sĩ lui lại phía sau. Phi Báo mở cửa quan ra, giao chiến với Đốc Nhung. Hai bên đánh nhau hơn 20 hiệp, chưa phân thắng bại. Phi Báo giả cách nói: - Khoan đã! Ta còn dở có một chút việc cần! Phi Báo trông thấy phía Tây có một chỗ tường thấp, liền chạy thẳng vào đấy. Đốc Nhung đuổi theo, quát to lên rằng: - Chạy đàng nào cho thoát! Bọn Phạm Mang đứng ở trên cửa quan, trông thấy Đốc Nhung đang đuổi theo Phi Báo, đều sợ toát mồ hôi ra, ai ngờ Phi Báo dụng kế, khi chạy đến chỗ tường thấp, nhảy qua vào phía trong. Đốc Nhung cũng nhảy theo vào. Phi Báo nấp dưới cây lớn, chờ khi Đốc Nhung nhảy vào; nhân lúc bất ngờ, cầm dùi đồng đánh ngay một cái trúng vào giữa đầu. Đốc Nhung vỡ óc ra mà chết, chân phải còn đá vào ngực Phi Báo, bật mất một mảnh giáp. Phi Báo rút lưỡi dao nhọn cắt lấy đầu Đốc Nhung, rồi lại nhảy qua tường ra. Trên cửa quan nom thấy Phi Báo tay xách một cái đầu lâu, đầm đìa những máu, biết là đã giết được Đốc Nhung, liền mở rộng cửa quan, Giải Túc và Mâu Cương đem quân ra đuổi đánh. Quân họ Loan thua chạy, một nửa bị giết, một nửa đầu hàng, không mấy người trốn thoát. Phạm Mang rót một chén rượu, ngửa mặt lên trời mà chúc rằng: - Thế này mới thật là nhờ cái hồng phúc của chúa công ta! Chúc xong, lại rót một chén rượu thưởng cho Phi Báo, rồi đưa Phi Báo vào yết kiến Tấn Bình công. Tấn Bình công ghi công của Phi Báo, cho vào bậc thứ nhất. Loan Doanh đem quân đánh cửa Bắc quan, lúc trước được tin thắng trận của Đốc Nhung, Loan Doanh bảo các tướng sĩ rằng: - Nếu ta có hai Đốc Nhung thì cố cung này còn gì mà không phá vỡ! Thực Sước nghe nói, ra hiệu lấy chân dẫm vào chân Quách Tối, Quách Tối cũng đưa mắt đáp lại. Hai người đều cúi đầu, chẳng nói câu gì. Loan Nhạc và Loan Phường muốn lập công trạng, cố xông pha tên đạn để đánh Bắc quan. Hàn Vô Kỵ và Hàn Khởi Nhân thấy Nam quan thua luôn, cũng không dám ra đánh, chỉ giữ thế thủ mà thôi. Đến ngày thứ ba, Loan Doanh tiếp được tin Đốc Nhung bị giết, toán quân đều tan mất cả, tay chân run sợ, không biết làm ra thế nào, mới gọi Thực Sước và Quách Tối đến thương nghị. Thực Sước và Quách Tối cười mà nói rằng: - Đốc Nhung còn bị thua, huống chi là chúng tôi! Loan Doanh nước mắt chảy xuống ròng ròng. Loan Nhạc nói: - Chúng ta liều chết để mà cố đánh. Canh ba đêm hôm nay truyền cho quân sĩ phóng hỏa đốt cửa quan, may ra có thể vào được! Loan Doanh nghe theo kế ấy. Tấn Bình công thấy Đốc Nhung chết, mở tiệc ăn mừng. Hàn Vô Kỵ và Hàn Khởi cũng đều đến dự tiệc. Khi tiệc vừa tan, Hàn Vô Kỵ và Hàn Khởi trở về Bắc quan, bỗng thấy lửa cháy ngút trời, quân sĩ của Loan Doanh phá cửa quan tiến vào, Loan Nhạc đi trước, Loan Phường theo sau, chiếm được một lần cửa ngoài. Bọn Hàn Vô Kỵ lui vào giữ lần cửa trong, rồi sai người cáo cấp với Phạm Mang sai Ngụy Thư ra Nam quan, để thay cho Tuân Ngô đem quân về Bắc quan đánh giúp. Anh em Hàn Vô Kỵ cùng với Tấn Bình công trèo lên trên đài, trông thấy quân Loan Doanh đóng ở lần cửa ngoài im lặng như tờ. Phạm Mang nói: - Đó tất là có kế! Nên truyền cho quân sĩ ra sức phòng giữ. Đêm hôm ấy, quân Loan Doanh lại phóng hỏa đốt cửa quan, nhưng quân Tấn phòng bị sẵn, chăng mấy lần da trâu có tẩm nước, lửa không thấu qua được. Phạm Mang nói: - Giặc đã tiến đến tận nơi, nếu ta để lâu không dẹp được thì quân Tề lại thừa thế sang đánh, thật là nguy cho nước nhà lắm! Phạm Mang sai con là Phạm Ưởng cùng Phi Báo đem một toán quân, đi qua cửa Nam quan vòng qua cửa Bắc quan, để đánh mặt ngoài, hẹn đúng thời khắc cho anh em Hàn Vô Kỵ biết, đợi khi bấy giờ thì Tuân Ngô cùng Mâu Cương đem một toán quân mở cửa quan đánh ra, khiến cho quân Loan Doanh hai mặt bị đánh không tài nào mà xoay kịp. Lại sai Triệu Vũ và Ngụy Thư đem quân đóng ở ngoài phía Nam để đón đường Loan Doanh thua chạy. Phạm Mang truyền bảo đâu đấy, lại phụng Tấn Bình công lên đài để đứng xem. Phạm Ưởng lúc đi, nói với Phạm Mang rằng: - Con hãy còn trẻ tuổi, chưa có trọng vọng, xin mượn hiệu cờ đạo trung quân. Phạm Mang thuận cho. Phạm Ưởng cầm kiếm lên xe, cầm cờ đại bái mà đi ra cửa Nam quan; lúc sắp đi, bảo những người thuộc hạ rằng: - Trận đánh ngày nay, có tiến không thoái. Chẳng may mà thua thì ta quyết tự vẫn trước, chứ không để cho các ngươi chết một mình. Quân sĩ nghe nói, đều vui lòng xin theo. Tuân Ngô vâng lời Phạm Mang, truyền cho quân sĩ sửa soạn sẵn để đợi lệnh khai chiến. Được một lúc, Tuân Ngô trông thấy quân Loan Doanh rối loạn, lui ra lần cửa ngoài, biết là toán quân của Phạm Ưởng đã đến, liền nổi hiệu trống, mở rộng cửa quan, Mâu Cương đi trước, Tuân Ngô theo sau, đem quân ra đánh. Loan Doanh cũng sợ quân Tấn trong ngoài giáp công, đã sai Loan Phường lấp lần cửa ngoài, chia quân canh giữ. Toán quân của Tuân Ngô không thể ra được. Khi Phạm Ưởng đem quân đến. Loan Doanh trông thấy lá cờ đại bái, giật mình kinh sợ mà nói: - Nguyên soái nước Tấn thân hành đến đây hay sao! Loan Doanh sai người đi dò thám, mới biết là toán quân của Phạm Ưởng. Loan Doanh nói: - Nếu vậy thì không sợ! Loan Nhạc truyền cho các quân sĩ giương cung ra bắn. Em Loan Nhạc là Loan Vinh can rằng: - Quân ta nên phải hà tiện mũi tên mới được, chứ bắn hão cũng vô ích! Loan Nhạc mới không bắn nữa. Được một lúc, Loan Vinh trông thấy có một cái xe ở đằng xa đi đến, trong xe có một viên tướng mũ mao áo bào, hình dung cổ quái, liền trỏ mà bảo Loan Nhạc rằng: - Người ấy tên gọi Phi Báo, tức là người giết Đốc Nhung của ta đó, nên bắn chết đi! Loan Nhạc nói: - Đợi hắn đến gần độ một trăm bước, bấy giờ ta sẽ bắn. Nói chưa dứt lời, lại thấy có một cái xe ở bên đi ngang qua. Loan Nhạc nhìn rõ trong xe là Phạm Ưởng, mới nghĩ thầm rằng: - Ta bắn giết Phạm Ưởng, chẳng còn hơn bắn giết Phi Báo hay sao! Liền đuổi theo Phạm Ưởng mà bắn. Loan Nhạc xưa nay bắn cung, trăm phát trúng cả trăm, chẳng ngờ một phát tên ấy lại thành ra không trúng. Phạm Ưởng ngoảnh lại, trông thấy Loan Nhạc, quát to mắng rằng: - Phản tặc! Mày gần chết đến nơi, lại còn bắn ta! Loan Nhạc quay xe lui chạy, không phải sợ Phạm Ưởng, mà chỉ vì phát tên ấy bắn không trúng, vậy nên định dụ hắn đuổi theo đến gần, rồi sẽ bắn phát khác. Thực Sước và Quách Tối trông thấy, sợ Loan Nhạc bắn trúng, lại thành công được, mới reo ầm lên rằng: - Quân họ Loan thua rồi! Người trong xe nghe tiếng kêu, lại ngỡ là toán quân khác bị thua, ngẩng đầu trông bốn mặt, cầm cương không vững, ngựa lồng chạy quanh, bánh xe va phải cây hòe ở bên đường, rồi đổ ở đấy. Loan Nhạc ngã lăn xuống đất, vừa gặp Phi Báo đi đến, Phi Báo tức khắc đâm chết Loan Nhạc. Loan Vinh sợ hãi vội vàng bỏ chạy. Thực Sước và Quách Tối cũng không dám trở về nước Tề, Thực Sước chạy sang nước Vệ, Quách Tối chạy sang nước Tần. Loan Doanh nghe tin Loan Nhạc chết, vật mình lăn khóc, quân sĩ đều có lòng thương. Loan Phường với Loan Doanh chạy về phía Nam. Tuân Ngô và Phạm Ưởng hợp quân đuổi theo. Loan Phường liều chết cố đánh một trận, quân Tấn mới chịu lui về. Loan Doanh và Loan Phường đều bị trọng thương, đi được một quãng đường, lại gặp toán quân của Ngụy Thư. Loan Doanh ứa nước mắt và bảo Ngụy Thư rằng: - Tướng quân không nhớ năm xưa tôi còn là đồng sự với tướng quân hay sao? Nay tôi đành phận chết vào tay tướng quân. Ngụy Thư không nỡ giết, liền tránh cho Loan Doanh chạy đi. Loan Doanh và Loan Phường chạy về Khúc Ốc. Được một lúc, Triệu Vũ đi đến, hỏi Ngụy Thư rằng: - Loan Doanh đi qua, sao không đuổi theo mà bắt lấy? Ngụy Thư nói: - Kẻ kia như con cá trong hũ, tự khắc đã có người nhà bếp làm thịt. Tôi nghĩ đến cái tình tiên nhân tôi ngày xưa, vậy nên không nỡ cầm đao mà giết. Triệu Vũ nghe nói, cũng động lòng thương, không đuổi theo nữa. Phạm Mang biết là Loan Doanh đã chạy qua mà Ngụy Thư tha cho đi, nhưng làm ngơ không nói đến, liền bảo Phạm Ưởng rằng: - Quân của Loan Doanh là người Khúc Ốc. Kẻ kia vây cánh đã hết cả, nhà ngươi chỉ đem một toán quân vây Khúc Ốc thì tự khắc dẹp xong. Tuân Ngô cũng xin theo. Phạm Mang thuận cho. Phạm Ưởng và Tuân Ngô đem quân vây Khúc Ốc. Phạm Mang lại mời Tấn Bình công trở về cung cũ, rồi đem sổ tội án đốt bỏ đi, thành ra vì một Phi Báo mà cả thảy hơn 20 nhà cùng được khỏi tội. Phạm Mang lại xin cho Phi Báo làm trung quân nha tướng. Tề Trang công từ khi giúp quân cho Loan Doanh trở về nước Tấn, cũng sửa soạn quân mã, cho Vương Tôn Huy làm đại tướng, Thân Tiên Ngu làm phó tướng, Châu Sước và Hình Khoái làm tiên phong, Án Ly làm hợp hậu, còn bọn Giả Cử thì cho đi hộ giá, chọn ngày cất quân, để sang đánh nước Vệ. Người nước Vệ cố giữ không dám ra đánh. Quân Tề kéo thẳng qua đất Đế Khâu sang địa giới nước Tấn, đánh lấy đất Triều Ca. Tề Trang công lên núi Triêu Dương để khao quân, rồi chia làm hai đạo: Vương Tôn Huy đi về phía tả, qua ải Mạnh Môn; Tề Trang công cùng hai đạo Long Tước và Hổ Tước đi về phía hữu, qua Cơ Sơn. Hai đạo hẹn nhau cùng kéo đến Thái Hàng Sơn thì hợp làm một. Khi Tề Trang công đi đến Cơ Sơn, Hình Khoái đêm ngủ trần ở dưới chân núi, bị con rắn độc cắn, sưng bụng lên mà chết. Tề Trang công thương tiếc vô cùng. Khi hai đạo quân đến Thái Hàng Sơn, Tề Trang công trèo lên ngọn núi, nom về Giáng Đô (kinh thành nước Tấn) để nghĩ kế đánh Tấn; bỗng nghe Loan Doanh đã thua chạy về Khúc Ốc, đại binh nước Tấn đuổi theo, cũng sắp đến nơi, liền thở dài than rằng: - Nếu vậy thì hỏng việc rồi, còn làm gì được nữa! Nói xong, truyền rút quân về. Quan trấn thủ ở đất Hàm Đan là Triệu Thắng (con Triệu Chiên) đem quân đuổi theo. Tề Trang công tưởng là đại binh nước Tấn, vội vàng bỏ chạy, chỉ để Án Ly ở lại sao mà đối địch. Án Ly thua trận, bị Triệu Thắng chém chết. Phạm Ưởng và Tuân Ngô vây thành Khúc Ốc hơn một tháng, bọn Loan Doanh đánh lại không nổi, trong thành chết mất quá nửa đành chịu vỡ tan. Tư Ngọ rút gươm đâm cổ chết. Loan Doanh và Loan Vinh đều bị bắt cả. Loan Doanh phàn nàn rằng: - Tiếc thay ta không nghe lời Tân Du, đến nỗi thế này! Tuân Ngô muốn giam Loan Doanh để giải về Giáng Đô, Phạm Ưởng bảo Tuân Ngô rằng: - Chúa công ta không quyết đoán, vạn nhất hắn kêu van mà lại tha thì kẻ thù của ta, bao giờ cho trừ được! Đêm hôm ấy, mật sai người thắt cổ Loan Doanh mà giết chết đi, lại giết cả Loan Vinh nữa. Bao nhiêu những tộc đảng họ Loan, giết chết sạch cả, chỉ có Loan Phường trèo qua thành trốn sang nước Tống được. Bọn Phạm Ưởng rút quân về. Tấn Bình công đem việc họ Loan bá cáo cho các nước chư hầu biết. Các nước chư hầu phần nhiều sai người đến chúc mừng. Phạm Mang nước Tấn xin cáo lão về nghỉ. Tấn Bình Công cho Triệu Vũ thay cầm quyền chính. Tề Trang công chưa đánh được nước Tấn vẫn còn căm tức, khi vào đến địa giới nước Tề, không chịu vào vội mà bảo các tướng sĩ rằng: - Trận Bình Âm ngày trước, người nước Cử lại toan lẻn đánh vào Tề, thù ấy ta phải báo lại mới được! Tề Trang công liền đóng đồn ở ngoài thành để điểm duyệt quân mã. Tề Trang công trọng đãi bọn Châu Sước và Giả Cử, cho mỗi người 5 cỗ xe, gọi là ngũ thặng tân. Giả Cử khen người Lâm Tri là Hoa Chu và Kỷ Lương có tài võ dũng. Tề Trang công tức khắc cho triệu Hoa Chu và Kỷ Lương vào yết kiến Tề Trang công. Tề Trang công cho hai người chung nhau một cỗ xe để đi theo quân mà lập công trạng. Hoa Chu lui về giận lắm, không ăn cơm và bảo Kỷ Lương rằng: - Chúa công đặt ra ngũ thặng tân là vì cái tài vũ dũng, nay triệu hai ta đến, cũng vì cái tài vũ dũng. Thế mà kẻ kia thì mỗi người được 5 cỗ xe, chúng ta hai người chung nhau một cỗ, có phải là biết dùng ta đâu chẳng qua làm nhục ta đó mà thôi, chi bằng ta từ chối mà đi phương khác. Kỷ Lương nói: - Tôi còn có mẹ già, để tôi xin hỏi mẹ tôi đã. Kỷ Lương về hỏi người mẹ. Người mẹ nói: - Mày sống mà vô nghĩa, chết mà vô danh thì dẫu được dự vào ngũ thặng tân, người ta cũng cười mày. Mày nên phải cố gắng chớ nên trái mệnh vua. Kỷ Lương đem lời nói của người mẹ, thuật lại cho Hoa Chu nghe, Hoa Chu nói: - Người đàn bà còn không quên mệnh vua, huống chi là ta! Hoa Chu cùng với Kỷ Lương theo hầu Tề Trang công. Tề Trang công nghỉ trong 3 ngày, rồi để Vương Tôn Huy đóng quân ở lại, còn mình thì đem đại binh đi đánh nước Cử. Hoa Chu và Kỷ Lương cùng xin đi tiền đội. Tề Trang công hỏi rằng: - Hai ngươi muốn dùng bao nhiêu quân mã? Hoa Chu và Kỷ Lương nói: - Chúa công cho hai chúng tôi chung nhau một cỗ xe, cũng đã đủ rồi, chúng tôi xin đi trước. Tề Trang công muốn thử tài, cười cho đi. Hoa Chu và Kỷ Lương thay đổi nhau cầm cương xe. Khi sắp đi, hai người phàn nàn rằng: - Giả sử có một người nữa làm xa hữu thì có thể đương nổi một đội! Có người lính trẻ tuổi chạy đến nói rằng: - Tôi là người bản quốc, tên gọi Thấp Hầu Trọng. Tôi mến cái tài võ dũng của hai tướng quân, nên muốn theo. Ba người cùng ngồi một xe, thẳng đường tiến sang nước Cử. Ngày hôm sau, vua nước Cử là Lê Tị công biết quân Tề sắp đến thân hành đem 300 giáp sĩ ra đi tuần, gặp xe Hoa Chu và Kỷ Lương toan bắt lại hỏi, Hoa Chu và Kỷ Lương trừng mắt quát to lên rằng: - Hai ta là tướng nước Tề, có ai dám cùng ta quyết chiến hay không? Lê Tị công giật mình kinh sợ, nhưng không thấy có quân tiếp ứng, mới truyền cho quân sĩ vây kín lại. Hoa Chu và Kỷ Lương bảo Thấp Trọng Hầu rằng: - Nhà ngươi cứ đánh trống luôn cho ta! Hai người nói xong, mỗi người cầm một cái kích, xuống xe xông vào đánh, quân nước Cử chết đến một nửa. Lê Tị công nói: - Ta đã biết cái võ dũng của hai tướng quân rồi, hai tướng quân chớ nên tử chiến ta xin cùng với hai tướng quân chia nhau nước Cử. Hoa Chu và Kỷ Lương đồng thanh đáp rằng: - Nếu bỏ nước mà về với giặc thì sao gọi là trung; đã phụng mệnh vua mà không hết lòng thì sao gọi là tín. Tôi chỉ biết xông vào mà giết cho nhiều là bổn phận làm tướng còn cái lợi nước Cử, tôi nào dám nghĩ đến! Hai người lại cầm kích tiến đánh. Lê Tị công không thể đương nổi, vội vàng bỏ chạy. Đại binh của Tề Trang công đến nơi, nghe nói Hoa Chu và Kỷ Lương thắng được quân Cử, sai sứ triệu mà bảo rằng: - Ta đã biết cái tài của hai tướng quân rồi, hai tướng quân bất tất phải tiến đánh nữa, ta xin cùng với hai tướng quân chia nhau nước Tề. Hoa Chu và Kỷ Lương đồng thanh mà đáp rằng: - Chúa công đặt ra ngũ thặng tân mà tôi không được dự, thế là bỉ cái tài của tôi; nay lại đem lợi phủ dụ, thế là khinh cái bụng của tôi. Tôi chỉ biết xông vào mà giết cho nhiều là bổn phận làm tướng; còn cái lợi nước Tề, tôi nào dám nghĩ đến! Hai người liền chắp tay vái sứ giả rồi lại thẳng đường tiến vào cửa thành nước Cử. Lê Tị công sai người đào sẵn một ngòi chắn ngang đường, rồi đốt than ở dưới. Lửa cháy ngùn ngụt lên, Hoa Chu và Kỷ Lương không thể bước qua được, Thấp Hầu Trọng nói: - Người ta dám liều chết thì mới được danh tiếng về đời sau! Tôi có thể khiến cho hai tướng quân qua ngòi được! Thấp Hầu Trọng cắp một cái mộc nằm đè lên trên đống than lửa để cho Hoa Chu và Kỷ Lương dẫm mà đi qua. Hoa Chu và Kỷ Lương bước qua được cái ngòi, ngoảnh lại trông Thấp Hầu Trọng đã cháy xém cả người rồi! Hoa Chu và Kỷ Lương liền đứng nhìn mà khóc. Được một lúc, Kỷ Lương gạt nước mắt, Hoa Chu còn khóc chưa thôi. Kỷ Lương nói: - Nhà ngươi sợ chết hay sao! Làm sao mà khóc lâu như thế! Hoa Chu nói: - Nào ta có sợ chết đâu; chỉ tiếc thay cho người này cũng võ dũng như ta, mà lại chết trước ta, nên ta thương lắm! Lê Tị công thấy Hoa Chu và Kỷ Lương đã qua được ngòi lửa, vội vàng truyền cho quân sĩ phục sẵn ở hai bên cửa thành đợi khi đến gần thì bắn. Hoa Chu và Kỷ Lương thẳng cửa tiến vào, quân sĩ hai bên bắn ra như mưa. Hoa Chu và Kỷ Lương đến nơi, lại giết chết được 27 người nữa. Kỷ Lương bị thương nặng mà chết ngay. Hoa Chu bị mấy mươi mũi tên không thể đánh được nữa, chịu cho người nước Cử bắt, nhưng chưa tắt hơi, Lê Tị công sai đem vào trong thành. Tề Trang công tiếp được sứ giả về nói, biết là Hoa Chu và Kỷ Lương có lòng quyết tử, liền dẫn đại binh đến theo. Khi đến cửa thành nước Cử, nghe nói 3 người đều chết cả, tức thì nổi giận, toan thúc quân tiến đánh, Lê Tị công sai sứ đến xin lỗi với Tề Trang công rằng: - Chúa công tôi trông thấy xe đi, không biết là đại quốc sai đến, vậy nên lầm lỡ mà trót xâm phạm. Vả đại quốc chết có 3 người mà nước tôi bị giết hơn trăm người rồi; kẻ kia có ý liều chết chứ không phải là tại nước tôi. Chúa công tôi sợ uy đại quốc, sai tôi đến đây tạ tội, từ nay trở đi, xin một lòng triều cống nước Tề, không dám sai lời. Tề Trang công còn chưa nguôi cơn giận, không thuận cho giảng hòa. Lê Tị công lại sai sứ ra cố xin, xin đưa Hoa Chu và thi thể Kỷ Lương sang trả, lại xin đem vàng lụa sang khao thưởng quân sĩ. Tề Trang công còn chưa thuận cho, bỗng tiếp được tin cấp báo của Vương Tôn Huy, nói: - Vua Tấn cùng với vua các nước Tống, Lỗ, Vệ, Trịnh hội nhau ở đất Di Nghi, để bàn mưu đánh Tề, xin mời chúa công mau mau rút quân về nước. Tề Trang công mới cho nước Cử giảng hòa. Lê Tị công đem vàng lụa sang khao thưởng cho quân nước Tề, lại đưa Hoa Chu và thi thể Kỷ Lương sang trả. Còn thi thể Thấp Hầu Trọng ở trong đống lửa đã hóa ra tro rồi, không còn gì nữa. Tề Trang công ngay ngày hôm ấy, truyền rút quân về, sai đem thi thể Kỷ Lương quàn ở ngoài cõi nước Tề. Khi Tề Trang công về đến nơi, gặp vợ Kỷ Lương là nàng Mạnh Khương ra đón thi thể chồng ở ngoài cõi. Tề Trang công dừng xe, sai sứ đến viếng. Nàng Mạnh Khương nói với sứ giả rằng: - Chồng thiếp có tội thì không dám nhận lời viếng của chúa công, nhược bằng vô tội thì chồng thiếp cũng còn cái túp lều của tiền nhân để lại, chứ chỗ này có phải chỗ viếng tang đâu, thiếp không dám nhận. Tề Trang công có ý thẹn nói rằng: - Đó là điều lỗi của ta! Tề Trang công sai sứ đến tận nhà Kỷ Lương để viếng tang. Nàng Mạnh Khương lúc sắp đem linh cữu chồng chôn ở ngoài thành, ôm linh cữu mà khóc, nước mắt ràn rụa, sau hết nước mắt, chảy máu tươi ra, tự nhiên thành nước Tề lở mất mấy thước, người ta bảo rằng vì cái tình thương của nàng Mạnh Khương cảm động, đến nỗi như thế. Hoa Chu về đến nước Tề, vết đau nặng quá, chưa được bao lâu cũng chết. Vợ Hoa Chu khóc chồng, cũng bội phần thương xót. Năm ấy nước lên to lắm, sông Hoàng Hà đầy tràn, mặt nước sâu hơn thước. Tấn Bình công lại thôi không đánh Tề nữa. Quan hữu khanh nước Tề là Thôi Chữ, ghét Tề Trang công dâm loạn, vẫn muốn đợi quân Tấn đến đánh thì thừa cơ khởi sự, đã cùng với quan tả khanh là Khánh Phong thương nghị định khi nào sự thành, chia đôi nước Tề. Sau Khi nghe Tấn Bình công vì nước lụt mà hoãn việc đánh Tề, trong lòng uất ức. Bấy giờ Tề Trang công có một người nội thị tên gọi Giả Thụ, vì một việc nhỏ mà bị Tề Trang công đánh 100 roi. Thôi Chữ biết là Giả Thụ oán giận, liền đút tiền cho để kết làm tâm phúc, phàm Tề Trang công làm việc gì thì Giả Thụ đều đến báo cho Thôi Chữ biết.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 65 Thôi Chữ phục quân giết Tề Trang Ninh Hỉ lập mưu giết Vệ Hiến

Vua nước Cử là Lê Tị công nhân vì giảng hòa với nước Tề, năm ấy tuân hành sang Lâm Tri (kinh thành nước Tề) để triều cống. Tề Trang công mừng lắm, bày tiệc ở Bắc Bỉ để thết đãi Lê Tị công. Phủ đệ của Thôi Chữ cũng ở Bắc Bỉ. Thôi Chữ định thừa cơ để giết Tề Trang công, mới giả cách cáo ốm, không đến dự tiệc rồi mật sai người tâm phúc đến hỏi tin Giả Thụ. Giả Thụ mật báo rằng: - Chúa công định tiệc xong thì đến thăm quan tướng quốc. Thôi Chữ cười nói rằng: - Chúa công có nghĩ gì đến bệnh của ta, ta có bệnh thì chúa công càng có lợi, chẳng qua chỉ muốn làm việc vô sỉ đó thôi! Thôi Chữ lại bảo vợ là nàng Đường Khương rằng: - Ngày nay ta muốn trừ bỏ đứa vô đạo hôn quân ấy đi, nàng chịu theo kế ta thì ta không nói sự xấu của nàng, ngay sau lại lập con nàng làm đích tử, nếu nàng không theo lời nói của ta thì ta chém đầu mẹ con nàng trước. Nàng Đường Khương nói: - Vợ thì phải theo chồng. Ngài bảo gì mà thiếp chẳng theo. Thôi Chữ sai Đường Vô Cữu phục quân ở hai bên cạnh nhà, Thôi Thành và Thôi Cương phục quân ở bên trong cửa, Đông Quách Yển phục quân ở bên ngoài cửa, hẹn nhau đến bấy giờ thì rung chuông làm hiệu, lại sai người mật báo cho Giả Thụ biết. Tề Trang công say mê nàng Đường Khương quên ăn quên ngủ, chẳng lúc nào không nghĩ đến, chỉ vì Thôi Chữ phòng giữ nghiêm mật, vậy nên không dám thường thường vãng lai, hôm ấy nghe nói Thôi Chữ cáo ốm, lấy làm may lắm, thần hồn mê mẩn, tưởng ngay đến nàng Đường Khương, trong khi ngự yến với Lê Tị công, chỉ qua loa cho xong việc thì thôi, rồi đi thẳng đến nhà Thôi Chữ để thăm bệnh. Người canh cửa nhà Thôi Chữ nói dối rằng: - Quan tướng quốc tôi đau nặng quá! Hiện uống thuốc xong vừa mới đi nằm. Tề Trang công hỏi: - Nằm ở chỗ nào? Người canh cửa nói: - Nằm ở ngoại tẩm. Tề Trang công mừng lắm, đi thẳng vào nội thất. Bấy giờ Châu Sước, Giả Cử, công tôn Ngao và lũ người theo hầu. Giả Thụ bảo rằng: - Tính chúa công ta xưa nay, hẳn các người đã biết, sao các người không đứng cả ra bên ngoài, theo vào làm gì để kinh động quan tướng quốc. Bọn Châu Sước khen phải, liền đứng cả ngoài cửa. Chỉ có Giả Cử không chịu ra ngoài mà nói rằng: - Một mình ta đứng lại đây thì phỏng có hại gì! Nói xong liền đứng ở nhà giữa. Giả Thụ đóng cửa giữa, rồi đi trở vào. Người canh cửa cũng đóng cửa lớn ở ngoài mà khóa chặt lại. Tề Trang công vào đến nội thất. Nàng Đường Khương trang điểm rất lịch sự ra đón, nhưng chưa kịp nói một câu nào thì có đứa thị tỳ chạy đến bảo nàng Đường Khương rằng: - Quan tướng quốc kêu khô miệng, muốn uống nước mật thang. Nàng Đường Khương nói với Tề Trang công rằng: - Thiếp đi lấy nước mật thang đã, rồi thiếp sẽ đến ngay. Nàng Đường Khương theo đứa thị tỳ rón rén qua cửa ngang rồi đi. Tề Trang công tựa bao lơn đứng đợi. Đợi mãi không thấy, bỗng nghe dưới nhà có tiếng gươm giáo, Tề Trang công ngạc nhiên nói rằng: - Quái lạ! Ở chỗ này lại có quân sĩ hay sao! Tề Trang công liền gọi Giả Thụ không thấy Giả Thụ thưa. Được một lúc quân sĩ hai bên đổ ra. Tề Trang công kinh sợ, biết rằng có biến, vội vàng chạy ra cửa sau thì cửa sau đã đóng chặt rồi. Tề Trang công sức khỏe, phá cửa mà ra, trèo lên trên một cái lầu. Đường Vô Cữu đem quân giáp sĩ vây lầu quát to lên rằng: - Ta phụng mệnh quan tướng quốc đến bắt dâm tặc! Tề Trang công đứng trên lầu bảo Đường Vô Cữu rằng: - Ta là vua nhà ngươi, nhà ngươi tha cho ta! Đường Vô Cữu nói: - Quan tướng quốc truyền như vậy ta không dám trái mệnh. Tề Trang công nói: - Quan tướng quốc ở đâu? Ta xin thề rằng ta không làm hại gì quan tướng quốc cả! Đường Vô Cữu nói: - Quan tướng quốc ốm, không thể đến đây được! Tề Trang công nói: - Ta biết tội của ta rồi! Nhà ngươi khoan cho ta được vào nhà Thái Miếu mà tự tử để tạ lại quan tướng quốc, phỏng có nên chăng? Đường Vô Cữu nói: - Chúng ta chỉ biết bắt những đứa dâm tặc, chứ không biết vua là ai cả; thôi thì liệu mà tự tử ngay đi, chớ để phải chịu nhục. Tề Trang công bất đắc dĩ nhảy qua cửa sổ, trèo lên hoa đài toan leo tường để chạy. Đường Vô Cữu giương cung bắn theo, trúng ngay vào đùi chân bên tả của Tề Trang công. Tề Trang công ở trên tường ngã lăn xuống đất. Quân giáp sĩ kéo đến, đâm chết Tề Trang công. Đường Vô Cữu sai người rung mấy tiếng chuông làm hiệu. Bấy giờ trời đã mờ tối, Giả Cử ở nhà giữa, lắng nghe thấy mấy tiếng chuông, lại thấy Giả Thụ mở cửa, cầm đèn đi ra mà bảo rằng: - Trong nhà có giặc, chúa công sai triệu nhà ngươi, nhà ngươi vào trước đi để ta còn ra báo với bọn Châu Sước. Giả Cử nói: - Đưa đèn cho ta! Giả Thụ đưa đèn cho Giả Cử, giả cách tuột tay rơi xuống đất, đèn tắt. Giả Cử cầm kiếm đi dò mà vào. Vào đến cửa giữa, Giả Cử vướng dây ngã xuống đất. Thôi Cương ở bên cửa chạy ra, giết chết Giả Cử. Bọn Châu Sước ở ngoài cửa, không biết chuyện gì cả. Đông Quách Yển giả cách thân tình, mời sang một cái nhà bên thắp đèn uống rượu; lại bảo bọn Châu Sước hãy cởi bỏ kiếm ra, để ngồi uống rượu cho vui, rồi cả các người theo hầu đều được uống rượu. Đang uống rượu, bỗng nghe thấy trong nhà Thôi Chữ có tiếng chuông rung, Đông Quách Yển nói: - Chắc bây giờ chúa công ta đang uống rượu! Châu Sước nói: - Vậy chúa công ta không e quan tướng quốc à! Đông Quách Yển nói: - Quan tướng quốc ốm nặng, còn phải e gì nữa! Được một lúc lại nghe tiếng chuông rung. Đông Quách Yển nói: - Để tôi vào xem có việc gì chăng? Đông Quách Yển vừa đi khỏi thì quân giáp sĩ đổ ra. Bọn Châu Sước vội vàng tìm kiếm thì ra Đông Quách Yển đã sai người lấy trộm mất từ bao giờ rồi! Châu Sước giận lắm, trông thấy trước cửa có viên đá, liền vác viên đá ấy để đánh; chẳng ngờ Lũ Nhân vừa đi đến nơi, Châu Sước đánh lầm phải. Lũ Nhân gãy một chân. Châu Sước sợ hãi bỏ chạy. Công tôn Ngao nhổ cái cọc buộc ngựa mà múa. Quân giáp sĩ nhiều người bị thương. Sau quân giáp sĩ giơ đuốc đốt. Công tôn Ngao cháy hết cả râu tóc. Bấy giờ cửa lớn bỗng thấy mở toang. Thôi Thành và Thôi Cương lại đem quân giáp sĩ ở trong kéo ra. Công tôn Ngao giơ tay nắm gãy cánh tay của Thôi Thành. Thôi Cương cầm kích đâm chết công tôn Ngao, lại giết chết cả Lũ Nhân nữa. Châu Sước cướp được cái kích của quân giáp sĩ, lại quay lại để đánh. Đông Quách Yển quát to lên rằng: - Hôn quân dâm loạn, đã bị giết rồi! Không can dự gì đến các ngươi cả, sao các ngươi chẳng lưu cái thân lại, để mà thờ vua mới? Châu Sước ném cái kích xuống đất mà nói rằng: - Ta là một người đi trốn, chịu ơn trọng đãi của vua Tề, nay đã không cứu được vua Tề, mà lại làm hại Lũ Nhân, chẳng qua cũng là tại trời! Ta nên liều mình báo ơn vua Tề, chứ nỡ nào mà tham sống để mang tiếng cười ở nước Tề và nước Tấn hay sao! Nói xong, liền đập đầu vào tường đá. Ba bốn viên đá vỡ tung ra, đầu của Châu Sước cũng vỡ. Bính Sư nghe tin Tề Trang công chết cũng tự đâm cổ chết ở ngoài triều môn. Phong Cụ thắt cổ chết ở trong nhà. Đạc Phủ và Trương Doãn rủ nhau đến khóc Tề Trang công, đi đến nửa đường, nghe tin bọn Giả Cử chết cả cũng đều tự tử. Vương Hà rủ Lư Bồ Quí cùng tử tiết. Lư Bồ Quí nói: - Chết cũng vô ích! Chi bằng ta trốn đi, rồi sau sẽ liệu, may ra có một người nào trở về được thì ta lại tiến dẫn cho nhau. Vương Hà nói: - Nếu vậy thì xin ăn thề. Thề xong, Vương Hà bỏ trốn sang nước Cử. Lư Bồ Quí lúc sắp đi, bảo em là Lư Bồ Miết rằng: - Chúa công đặt ra dũng tước là cần để hộ giá, nay ta vì chúa công mà chết, cũng không ích gì cả. Ta đi rồi, nhà ngươi cố cầu cạnh mà làm tôi Thôi Chữ và Khánh Phong để xin cho ta về, bấy giờ ta sẽ vì chúa công mà báo thù thì dẫu chết cũng đáng! Lư Bồ Miết nhận lời. Lư Bồ Quí trốn sang nước Tấn. Lư Bồ Miết xin vào làm tôi Khánh Phong. Khánh Phong dùng làm gia thần. Thân Tiên Ngu trốn sang nước Sở, sau làm quan hữu doãn ở nước Sở. Bấy giờ các quan đại phu nước Tề, nghe tin Thôi Chữ nổi loạn đều đóng cửa đợi tin, không ai dám đến cả, chỉ có Án Anh đến thẳng tận nhà Thôi Chữ, gối đầu vào đùi Tề Trang công mà khóc. Khi Án Anh ra về, Đường Vô Cữu bảo Thôi Chữ rằng: - Tất phải giết Án Anh đi thì mới khỏi có kẻ bỉ báng! Thôi Chữ nói: - Án Anh vốn có tiếng là người hiền, nếu ta giết đi thì sợ mất lòng người trong nước! Án Anh đến bảo Trần Tu Vô (cháu tằng tôn Trần Kính Trọng) rằng: - Sao nhà ngươi không bàn lập vua mới? Trần Tu Vô nói: - Thế thần nước Tề ta thì có họ Cao, họ Quốc, mà cầm quyền chính ngày nay thì có họ Thôi, họ Khánh, chứ tôi làm gì nổi! Án Anh về, Trần Tu Vô nói: - Loạn tặc ở trong triều, ta không nên cùng hắn đồng sự. Nói xong, liền bỏ sang nước Tống. Án Anh lại đến nói với Cao Chỉ và Quốc Hạ. Cao Chỉ và Quốc Hạ đều nói: - Việc ấy quyền tại họ Thôi và họ Khánh, tôi làm gì nổi! Án Anh thở dài mà về. Khánh Phong sai con là Khánh Xá đi bắt những dư đảng của Tề Trang công, đuổi giết gần hết, rồi đem xe đón Thôi Chữ vào triều. Thôi Chữ sai người đi triệu họ Cao và họ Quốc đến để bàn lập vua mới. Họ Cao và họ Quốc nhường quyền cho Thôi Chữ và Khánh Phong. Khánh Phong lại nhường quyền cho Thôi Chữ. Thôi Chữ nói: - Con vua Linh công là công tử Chử Cữu, năm nay đã lớn tuổi. Người mẹ là con gái quan đại phu nước Lỗ tên gọi Thúc Tôn Kiều Như. Lập người ấy thì ta có thể giao hiếu với nước Lỗ được. Các quan triều thần đều vâng dạ xin theo. Thôi Chữ lập công tử Chử Cữu lên làm vua, tức Tề Cảnh công. Bấy giờ Tề Cảnh công hãy còn nhỏ, Thôi Chữ tự lập là hữu tướng, lại lập Khánh Phong làm tả tướng, cùng với các quan triều thần ăn thề ở nhà Thái Miếu rằng: - Các ngươi, hễ ai không đồng tâm với họ Thôi và họ Khánh thì đã có mặt trời soi xét! Thôi Chữ thề xong đến Khánh Phong rồi đến họ Cao với họ Quốc, cũng theo lời thề ấy, khi đến Án Anh, Án Anh ngửa mặt lên trời mà thề rằng: - Nếu các ngươi biết tận trung với vua để làm lợi cho nước mà tôi không đồng tâm thì xin có mặt trời soi xét! Thôi Chữ và Khánh Phong đều sầm nét mặt lại. Cao Chỉ và Quốc Hạ nói: - Việc hai tướng quốc làm ngày nay, chính là việc trung vua lợi nước đó! Thôi Chữ và Khánh Phong mới bằng lòng. Bấy giờ vua nước Cử là Lê Tị công hãy còn ở nước Tề, Thôi Chữ và Khánh Phong phụng Tề Cảnh công ăn thề với Lê Tị công. Lê Tị công trở về nước Cử. Thôi Chữ sai Đường Vô Cữu đem những thi thể Châu Sước và Tề Trang công cùng chôn ở Bắc Quách, giảm bớt lễ số, không cho dùng binh khí; bảo rằng sợ lại loạn ở dưới âm phủ! Thôi Chữ sai Thái Sử Bá chép vào sử là bị bệnh sốt rét mà chết. Thái Sử Bá không nghe, biên vào thẻ rằng: "Ngày Ất hợi, tháng 5, mùa hạ, Thôi Chữ giết vua là Quang (tên Tề Trang công)" Thôi Chữ trông thấy nổi giận, giết Thái Sử Bá. Thái Sử Bá có ba người em là Trọng, Thúc, Quí. Trọng lại chép như trước. Thôi Chữ lại giết đi. Thúc cũng chép như thế. Thôi Chữ lại giết. Quí lại chép. Thôi Chữ cầm lấy cái thẻ mà bảo Quí rằng: - Ba anh mày đều chết cả, còn mày không sợ chết à? Nếu mày chịu chép khác đi thì ta tha chết cho. Quí nói: - Có thế nào thì chép thế là cái bổn phận của nhà làm sử, nếu trái bổn phận mà sống thì thà chết còn hơn! Ngày xưa Triệu Xuyên giết Tấn Linh công, quan thái sử Đổng Thừa thấy Triệu Thuẫn là chính khanh mà không biết trị tội quân giặc, còn chép rằng: "Triệu Thuẫn giết vua là Di Cao" mà Triệu Thuẫn không lấy làm quái. Thế thì biết bổn phận nhà sử không thể bỏ được! Giả sử tôi không chép, thiên hạ tất cũng có người khác chép! Tôi không chép cũng không thể che được sự xấu của quan tướng quốc, mà lại để cho thức giả người ta chê cười, vậy tôi liều chết mà chép, còn tùy ý quan tướng quốc! Thôi Chữ thở dài than rằng: - Ta sợ nước nhà nghiêng đổ, bất đắc dĩ mà phải làm việc này! Nhà ngươi dẫu chép thẳng, thiên hạ tất cũng xét tấm lòng cho ta! Nói xong, liền ném cái thẻ đưa trả Quí. Quí cầm cái thẻ đi ra, sắp đến cửa Sử Quán, lại gặp Nam sử thị hỏi đi đâu. Nam sử thị nói: - Ta nghe nói anh em nhà ngươi đều chết cả, sợ bỏ mất cái việc ngày Ất hợi, tháng 5, mùa hạ mới rồi, vậy nên ta cầm thẻ để đem chép. Quí đưa cái thẻ của mình chép cho xem. Nam sử thị mới về. Thôi Chữ lấy việc Thái Sử Quí chép làm xấu hổ, mới đổ tội cho Giả Thụ mà giết đi. Tấn Bình công thấy nước sông đã rút xuống, lại họp chư hầu ở Di Nghi, để bàn mưu đánh Tề. Thôi Chữ sai quan tể tướng là Khánh Phong đem việc Tề Trang công chết cáo với quân Tấn và nói rằng: - Triều thần chúng tôi sợ đại quốc đến đánh thì không giữ yên được nước nhà, vậy đã thay đại quốc mà trị kẻ có tội rồi. Nay vua mới chúng tôi là Chử Cữu, xin một lòng thần phục đại quốc. Khi trước đại quốc đã chiếm đất Triều Ca thì lại xin đem đất ấy dâng đại quốc. Thôi Chữ sai đem các đồ tế khí và các đồ nhạc khí sang dâng Tấn Bình công, lại đem lễ vật biếu các vua chư hầu nữa. Tấn Bình công bằng lòng, rút quân về nước. Các vua chư hầu cũng đều về cả. Từ bấy giờ Tề và Tấn lại giảng hòa với nhau. Thực Sước ở nước Vệ, nghe nói Châu Sước và Hình Khoái đều chết cả, lại trở về nước Tề. Khi Vệ Hiến công (Hãn) trốn sang nước Tề vốn biết Thực Sước là người võ dũng, sai công tôn Đinh đem lễ vật đến triệu. Thực Sước lại theo Vệ Hiến công. Năm ấy, vua nước Ngô là Chư Phàn sang đánh Sở đi qua đất Sào. Tướng đất Sào là Ngưu Thần đứng ở bên cái tường thấp bắn chết Chư Phàn. Các quan triều thần nước Ngô theo lời dặn của Thọ Mộng khi gần chết, mới lập em Chư Phàn là Dư Sái lên làm vua. Dư Sái nói: - Anh ta không phải vì đất Sào mà chết, chẳng qua theo lời dặn của tiên vương (trỏ Thọ Mộng) mà cố ý liều chết, để cho chóng truyền ngôi đến Quí Trát (em Dư Sái) đó thôi. Từ bấy giờ Dư Sái đêm nào cũng khấn trời để cầu chóng chết. Các quan đều nói: - Người ta ai cũng muốn thọ, nay đại vương lại muốn được chóng chết, chẳng cũng trái tính lắm ru! Dư Sái nói: - Vua Thái Vương ta ngày xưa bỏ con trưởng lập con nhỏ, mới nên được đại nghiệp, nay anh em ta là bốn người, cứ theo thứ tự mà truyền cho nhau. Nếu ai cũng thọ cả thì Quí Trát già mất! Bởi vậy ta phải cầu chóng chết. Lại nói chuyện quan đại phu nước Vệ là Tôn Lâm Phủ và Ninh Thực đã đuổi Vệ Hiến công (Hãn), mới lập em Vệ Hiến công là Phiên lên làm vua tức là Vệ Thương công. Sau Ninh Thực ốm nặng, bảo con là Ninh Hỉ rằng: - Họ Ninh ta mấy đời nay vẫn một lòng trung quân. Việc đuổi vua này là tự họ Tôn cả, chứ ta không có ý gì, thế mà người trong nước đều bảo họ Tôn và họ Ninh đuổi vua, ta không thể nào giải tỏ ra được, sau này còn mặt mũi nào mà trông thấy tổ phụ ở dưới đất! Con làm thế nào mà đem được vua cũ về để che lỗi cho ta, thế mới là hiếu tử; nếu không thì dẫu con có cúng tế, cha cũng không hưởng đâu! Ninh Hỉ sụp lạy, vừa khóc vừa nói: - Con xin cố gắng. Ninh Hỉ nối cha làm chức tả tướng, từ bấy giờ có chí muốn đem Vệ Hiến công về, ngặt vì Thương công vẫn đi dự hội với các vua chư hầu trong nước không có biến cố gì cả; quan thượng khanh là Tôn Lâm Phủ lại là cừu địch với Vệ Hiến công, bởi vậy không thể làm thế nào được. Năm thứ 24 đời Chu Linh Vương, Vệ Hiến công chiếm được đất Di Nghi, mới sai công tôn Đinh lẻn vào thành Đế Khâu bảo Ninh Hỉ rằng: - Nhà ngươi biết đổi lại cái ý của cha mà giúp cho ta về nước thì quyền chính nước Vệ, ta giao hết cho nhà ngươi, ta chỉ giữ một việc cúng tế ma thôi. Ninh Hỉ vẫn nhớ lời cha dặn, nay lại thấy Vệ Hiến công nói giao hết quyền chính cho, lấy làm mừng lắm, nhưng nghĩ thầm trong lòng rằng: - Bây giờ vua Vệ đang mong về nước, cho nên dỗ ngọt ta, đến khi về rồi, lại sinh lòng khác, bấy giờ biết là thế nào? Công tử Chuyên là người hiền mà thủ tín, nếu hắn nhận cho một lời thì sau này không thể sai được. Nghĩ xong liền viết một tờ mật thư đưa lại cho Vệ Hiến công. Trong thư đại lược nói rằng: "Đó là quốc gia đại sự, một mình tôi không thể làm nổi. Người trong nước ngày nay ai cũng có lòng tin lời Tử Tiên (tên tự của công tử Chuyên), nếu hắn nhận cho một lời thì mới có thể bàn định được". Vệ Hiến công bảo công tử Chuyên rằng: - Ta phục quốc được là nhờ Ninh Hỉ, ngô đệ nên vì ta mà đi một chút. Công tử Chuyên dẫu đã vâng lời, nhưng vẫn nấn ná không chịu đi. Vệ Hiến công cố giục mãi. Công tử Chuyên nói: - Thiên hạ có ông vua nào lại không quyền chính! Chúa công bảo rằng giao hết quyền chính cho Ninh Hỉ, tôi chắc sau này tất không giữ lời được, chẳng hóa ra khiến cho tôi thất tín với Ninh Hỉ lắm ru! Bởi vậy mà tôi không dám vâng mệnh. Vệ Hiến công nói: - Nay ta nương náu ở đây thì lấy đâu ra quyền chính. Nếu ta giữ được việc cúng tế tiền nhân, cũng đủ mãn nguyện rồi, khi nào lại dám sai lời để di lụy đến ngô đệ. Công tử Chuyên nói: - Chúa công đã nhất quyết thì tôi nào dám từ chối để hỏng việc của chúa công. Nói xong liền lẻn sang Đế Khâu, vào yết kiến Ninh Hỉ lại thuật cái ước của Vệ Hiến công. Ninh Hỉ nói: - Nếu công tử nhận lời cho thì tôi xin hết sức! Công tử Chuyên ngửa mặt lên trời mà thề rằng: - Nếu tôi trái lời thì không được ăn thóc của nước Vệ! Ninh Hỉ nói: - Lời thề của công tử, vững như núi Thái Sơn! Công tử Chuyên về, thuật lại cho Vệ Hiến công nghe. Ninh Hỉ đem lời dặn của cha nói với Cừ Viên. Cừ Viên bưng tai chạy, vừa chạy vừa nói: - Tôi đã không dự đến việc vua đi, đâu có dám biết việc vua về! Cừ Viên bỏ nước Vệ sang ở nước Lỗ. Ninh Hỉ lại nói với quan đại phu là Thạch Ác (con Thạch Giả, cháu Thạch Tắc) và Bắc Cung Di (con Bắc Cung Quát), Thạch Ác và Bắc Cung Di đều tán thành vào. Ninh Hỉ lại nói với Hữu tể Cốc. Hữu tể Cốc gạt đi mà bảo rằng: - Không nên! Vua mới lập nên, đã 11 năm trời chưa có điều gì thất đức, nay định đem vua cũ về, tất phải bỏ vua mới. Nếu vậy thì cha con nhà ngươi, hai đời đều có tội cả, thiên hạ còn ai tha được nữa! Ninh Hỉ nói: - Ta chịu lời dặn của tiền nhân ta, việc này không thể nào mà thôi được! Hữu tể Cốc nói: - Ta thử đi yết kiến vua cũ, để xem tính hạnh bây giờ thế nào rồi mới có thể bàn được. Ninh Hỉ khen phải. Hữu tể Cốc lẻn sang Di Nghi, xin vào yết kiến Vệ Hiến công. Vệ Hiến công đang rửa chân, nghe tin Hữu tể Cốc đến, không kịp xỏ giày, đi đất ra, hớn hở bảo Hữu tể Cốc rằng: - Nhà ngươi từ chỗ quan tả tướng (trỏ Ninh Hỉ) đến đây tất có tin hay. Hữu tể Cốc nói: - Tôi tiện đường sang thẳng đây, quan tả tướng không biết. Vệ Hiến công nói: - Sao nhà ngươi không về nói với quan tả tướng mau mau giúp việc cho ta. Quan tả tướng dẫu không muốn đem ta về, nhưng lại không muốn cầm quyền chính nước Vệ hay sao! Hữu tể Cốc nói: - Làm vua chỉ sướng về có quyền chính, nếu không quyền chính thì làm vua làm gì! Vệ Hiến công nói: - Không phải thế! Làm vua chỉ cốt được danh hiệu tôn quí, ăn ngon mặc tốt, lên xe xuống ngựa, cửa cao nhà rộng, của lắm tiền nhiều, vào trong thì vui thú với đám phi tần, ra ngoài thì rong chơi về sự săn bắn, cứ gì phải có cầm quyền chính, mới lấy làm sướng hay sao! Hữu tể Cốc nín lặng lui ra, lại vào yết kiến công tử Chuyên. Hữu tể Cốc thuật những lời nói của Vệ Hiến công cho công tử Chuyên nghe. Công tử Chuyên nói: - Bởi chúa công lưu lạc lâu ngày mong được về nước, cho nên nói như vậy! Chứ làm vua thì cốt phải kính lễ đại thần, thu dụng hiền tài, làm việc gì phải có lòng nhân, nói câu gì phải giữ chữ tín, như vậy thì mới được cái danh hiệu tôn quí của ông vua. Chúa công còn lạ gì mà không biết điều ấy! Hữu tể Cốc về bảo Ninh Hỉ rằng: - Ta vào yết kiến chúa công, nghe câu nói thêm bẩn cả tai! Chúa công vẫn giữ thói cũ. Ninh Hỉ nói: - Nhà ngươi có vào yết kiến công tử Chuyên hay không? Hữu tể Cốc nói: - Công tử Chuyên nói phải lắm nhưng chắc rằng chúa công không theo được! Ninh Hỉ nói: - Ta chắc có công tử Chuyên, vả lại ta vâng lời dạy của tiên phu ta thuở xưa, làm thế nào thì ta cũng phải giúp! Hữu tể Cốc nói: - Nếu muốn khởi sự, nên phải đợi thời. Bấy giờ Tôn Lâm Phủ đã già, cùng với con trưởng là Tôn Khoái về ở Thích Ấp; còn để cho hai con thứ là Tôn Gia và Tôn Tương ở trong triều. Tôn Gia phụng mệnh Vệ Thương công sang sứ nước Tề, chỉ có một mình Tôn Tương ở nhà. Gặp bấy giờ Vệ Hiến công lại sai công tôn Đinh đến giục Ninh Hỉ khởi sự, Hữu tể Cốc mới bảo Ninh Hỉ rằng: - Nhà ngươi muốn khởi sự, nên nhân dịp lúc này! Ta bắt được Tôn Tương thì làm xong việc! Ninh Hỉ khen phải, liền sai Hữu tể Cốc và công tôn Đinh đem quân đến bắt Tôn Tương. Phủ đệ của họ Tôn kiên cố lắm, không kém gì cung vua, lại có hai viên gia tướng Ung Thư và Chử Đái thay nhau đi tuần phòng. Hôm ấy, Chử Đái đang đi tuần, trông thấy Hữu tể Cốc đem quân đến, vội vàng đóng cửa, trèo lên trên lầu đứng hỏi. Hữu tể Cốc nói: - Ta muốn thương nghị với Tôn tướng quân (trỏ Tôn Tương) có một việc cần. Chử Đái nói: - Muốn thương nghị việc gì, sao được đem quân đến? Nói xong toan giương cung ra bắn. Hữu tể Cốc vội vàng lui lại, rồi thúc quân phá cửa. Tôn Tương thân hành đứng ở trên cửa để đốc quân chống giữ. Chử Đái truyền cho quân sĩ giương cung chõ ra cửa sổ mà bắn. Người nào đến gần, liền bắn chết ngay. Ung Thư nghe nói có giặc, cũng đem quân đến tiếp ứng. Hữu tể Cốc biết chừng đánh không nổi, rút quân trở về. Tôn Tương thúc quân đuổi theo. Khi đến nơi, Tôn Tương cầm cái câu liêm móc vào xe của Hữu tể Cốc mà lôi lại. Hữu tể Cốc kêu ầm lên, bảo công tôn Đinh bắn mau. Công tôn Đinh nhìn thấy Tôn Tương, liền giương cung ra, bắn trúng vào ngực. Ung Thư và Chử Đái vội vàng cứu lấy Tôn Tương đem về. Hữu Tề Cốc về nói với Ninh Hỉ rằng: - Nhà họ Tôn khó đánh lắm! Nếu không nhờ thần tiễn của công tôn Đinh bắn trúng Tôn Tương thì hắn còn đuổi theo tôi mãi. Ninh Hỉ nói: - Lần thứ nhất mà đã đánh không được hắn thì lần sau càng khó đánh nữa! Nhưng đã bắn được Tôn Tương thì quân sĩ tất nhiên rối loạn, đêm hôm nay ta lẻn đến mà đánh, nếu không thành công, ta tức khắc trốn đi, để tránh tai vạ. Ta cùng họ Tôn quyết không có thể cùng đứng được. Nói xong liền một mặt sắp sửa đồ đạc, cho vợ con ra ngoài cõi trước, phòng khi thua quân, thoát thân không kịp; lại một mặt sai người đi do thám tin tức nhà họ Tôn. Quân thám tử về báo rằng: - Trong nhà họ Tôn, nghe có tiếng khóc. Kẻ ra người vào coi bộ hoảng hốt. Ninh Hỉ nói: - Đó tức là Tôn Tương bị thương nặng mà chết rồi! Nói chưa dứt lời thì bỗng thấy Bắc Cung Di đến, nói Tôn Tương đã chết, nên đánh ngay mới được. Canh 3 đêm hôm ấy, Ninh Hỉ cùng với Bắc Cung Di, Hữu tể Cốc và công tôn Đinh đem quân đến nhà họ Tôn. Ung Thư và Chử Đái đang ôm lấy thi thể của Tôn Tương mà khóc, nghe báo có quân họ Ninh đến liền mặc áo giáp lên ngựa thì quân họ Ninh đã phá vỡ lần cửa ngoài. Bọn Ung Thư vội vàng đóng cửa giữa lại, nhưng quân sĩ bỏ chạy tán loạn cả, không có người chống giữ, cũng bị quân họ Ninh phá vỡ. Ung Thư trèo qua tường sau mà trốn, chạy sang Thích Ấp. Chử Đái chết ở trong đám loạn quân. Bấy giờ trời đã sáng rõ. Ninh Hỉ chém lấy đầu Tôn Tương, đem vào yết kiến Vệ Thương công và nói với Vệ Thương công rằng: - Họ Tôn chuyên quyền đã lâu, vẫn có ý phản nghịch, tôi đã đem quân đến đánh, chém được đầu Tôn Tương đây rồi! Vệ Thương công nói: - Họ Tôn phản nghịch, sao nhà ngươi không nói trước với ta, đã chẳng coi ta ra gì thì còn yết kiến ta làm gì nữa! Ninh Hỉ đứng dậy, rút gươm nói rằng: - Chúa công bởi họ Tôn lập nên, không phải là phụng mệnh tiên quân, nay dân nước Vệ đều có lòng nhớ vua cũ, xin chúa công nhường ngôi lại, để nên được cái đức Nghiêu, Thuấn. Vệ Thương công nổi giận nói: - Nhà ngươi tự tiện giết kẻ thế thần, toan sự bỏ vua, chính là người bề tôi phản nghịch! Ta lên làm vua đã 13 năm trời nay, thà chết thì thôi, chứ không chịu nhục! Vệ Thương công tức thì cầm giáo đuổi theo Ninh Hỉ. Ninh Hỉ lui ra ngoài công môn, Vệ Thương công trông thấy quân họ Ninh đã đứng đầy cả ngoài cửa, mới lùi trở lại. Ninh Hỉ truyền cho quân sĩ xông vào bắt Vệ Thương công. Thế tử Đốc nghe biến, cầm gươm đến cứu, cũng bị công tôn Đinh đâm chết. Ninh Hỉ đem Vệ Thương công giam trong nhà Thái Miếu, rồi bắt phải uống thuốc độc mà chết. Ninh Hỉ sai người đi đón vợ con về nơi phủ đệ, và họp các quan triều thần bàn đón vua cũ (tức là Vệ Hiến công). Các quan đều đến cả, chỉ có Thái Thúc Nghi (con Vệ Thành công, cháu Vệ Văn công), đã hơn 60 tuổi, cáo ốm không đến. Có người hỏi tại làm sao, Thái Thúc Nghi nói: - Mới và cũ đều là vua cả! Nhà nước không may có những chuyện như thế này, lão thần nỡ nào dự biết đến. Ninh Hỉ thiên những cung quyến của Vệ Thương công ra ngoài rồi quét dọn cung thất, sai Hữu tể Cốc, Bắc Cung Di và công tôn Đinh sang Di Nghi đón Vệ Hiến công về. Vệ Hiến công đi gấp trong 3 ngày tới nơi. Quan đại phu là công tôn Miễn Dư ra nghênh tiếp tận ngoài cõi. Vệ Hiến công cảm tình ấy, cầm lấy tay mà bảo rằng: - Chẳng ngờ ngày nay lại là vua tôi! Từ bấy giờ Vệ Hiến công yêu công tôn Miễn Dư lắm. Vệ Hiến công vào yết nhà Thái Miếu, rồi ra coi triều, các quan đều đến lạy mừng cả, chỉ có Thái Thúc Nghi cáo ốm không vào triều. Vệ Hiến công sai người trách rằng: - Nhà ngươi không muốn cho ta về nước hay sao, sao lại chống cự với ta làm vậy? Thái Thúc Nghi nói: - Ngày xưa chúa công đi, tôi không theo được, thế là một tội; khi chúa công ở ngoài, tôi không có tin tức gì đi lại chúa công, thế là hai tội; khi chúa công muốn về tôi không dự biết việc gì cả, thế là ba tội. Nếu chúa công đem ba tội ấy mà trách tôi thì tôi tránh sao cho khỏi chết. Thái Thúc Nghi sai người nhà thắng xe, toan trốn đi nước khác. Vệ Hiến công thân hành đến để mời ở lại. Thái Thúc Nghi trông thấy Vệ Hiến công, nước mắt chảy xuống ròng ròng, tâu xin làm lễ an táng cho Vệ Thương công. Vệ Hiến công thuận cho, bấy giờ Thái Thúc Nghi mới chịu ở lại nhận chức. Vệ Hiến công giao hết quyền chính cho Ninh Hỉ, lại phong cho thực ấp 3.000 nhà. Bọn Bắc Cung Di, Hữu tể Cốc, Thạch Ác, và công tôn Miễn Dư, đều thăng tước lộc. Công tôn Đinh và Thực Sước, có công tòng vong, công tôn Vô Địa và công tôn Thần, đời cha tử tiết bởi vậy đều được phong làm đại phu. Còn bọn Thái Thúc Nghi, Tề Ác, Khổng Cơ và Chử Sư Giáp đều nguyên chức cũ. Vệ Hiến công lại sai người sang nước Lỗ triệu Cừ Viên về phục chức cho. Tôn Gia khi trước phụng mệnh Vệ Thương công đi sứ Tề, về đến nửa đường, nghe tin biến loạn, liền chạy thẳng sang Thích Ấp. Tôn Lâm Phủ biết là Vệ Hiến công tất không để cho mình được yên, mới đem việc Ninh Hỉ nói với Tấn Bình công, và xin Tấn Bình công cho quân sang giữ hộ Thích Ấp. Tấn Bình công cho 300 quân sang giúp. Tôn Lâm Phủ để cho quân Tấn đóng đồn ở đất Mao Thị, tại phía đông Thích Ấp. Tôn Khoái can Tôn Lâm Phủ rằng: - Quân Tấn đóng ở đấy mà ít như thế thì chống cự lại với quân Vệ sau nổi! Tôn Lâm Phủ cười nói rằng: - Có 300 quân ấy, ta cũng không ích gì. Ta chỉ để ở đấy cho quân Vệ giết cả đi thì tất nhiên nước Tấn nổi giận mà hết lòng giúp ta vậy! Tôn Khoái chịu là cao kiến. Ninh Hỉ nghe tin Tôn Lâm Phủ mượn quân nước Tấn, mà nước Tấn chỉ có 300 quân sang, mừng mà nói rằng: - Nếu nước Tấn thực lòng giúp Tôn Lâm Phủ thì khi nào lại chỉ cho có 300 quân sang! Ninh Hỉ liền sai Thực Sước đem 1.000 quân đi đánh đất Mao Thị.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 66 Miễn Dư giết hại nhà Ninh Hỉ Thôi Chữ mắc lừa mưu Khánh Phong

Thực Sước đem 1.000 quân sang đánh quân Tấn giết chết sạch cả, chiếm lấy đất Mao Thị, rồi sai người báo tin với Ninh Hỉ, Tôn Lâm Phủ nghe nói quân Vệ sang đánh đất Mao Thị, liền sai Tôn Khoái và Ung Thư đem quân đến cứu. Tôn Khoái sai người dò thám biết là quân Tấn đã chết hết cả, lại biết Thực Sước là một tướng có tiếng võ dũng ở nước Tề, không dám đối địch, liền rút quân về báo với Tôn Lâm Phủ. Tôn Lâm Phủ nổi giận nói rằng: - Một mình Thực Sước mà không dám đối địch, huống chi là đại binh nước Vệ thì làm thế nào! Nhà ngươi phải đi lần nữa, nếu không thành công, chớ nhìn mặt ta! Tôn Khoái buồn rầu mà lủi ra, cùng với Ung Thư thương nghị. Ung Thư nói: - Một mình Thực Sước, địch nổi muôn người, khó lòng đánh nổi, ta nên phải dùng kế mà lừa thì mới được! Tôn Khoái nói: - Phía tây đất Mao Thị, có một chỗ tên gọi Vi Thôn, chung quanh cây cối rậm rạp; giữa thôn có một cái núi đất nhỏ, ta sai người đào hố ở chân núi, lấy cỏ phủ kín đi. Nhà ngươi dụ hắn đến đây, rồi ta đóng quân ở trên núi, xỉ mắng cho hắn một lúc, tất nhiên hắn phải nổi giận mà xông lên đánh ta thì mắc kế của ta đó! Ung Thư nghe lời, đem quân sang đất Mao Thị, giả cách đi do thám. Khi gặp quân Thực Sước, làm ra dáng sợ hãi, quay đầu bỏ chạy. Thực Sước cậy có sức khỏe, lại thấy Ung Thư ít quân, tức khắc đuổi theo. Ung Thư chạy quanh mãi về đến Vi Thôn, rồi tắt vào trong đám cây rậm. Thực Sước nghi trong đám cây rậm có quân phục, không dám tiến vào; bỗng trông thấy trên ngọn núi đất có một toán quân và một viên tướng hãy còn trẻ tuổi. Viên tướng ấy réo tên Thực Sước mắng rằng: - Mày là một đứa không ra gì ở nước Tề, họ Loan đã phải thải bỏ mày đi, không thể dùng được; nay mày đem thân sang ăn hại nước Vệ chẳng biết xấu hổ, lại còn thò mặt ra. Mày không biết họ Tôn ta là một nhà thế thần đã 8 đời nay, mà mày dám xâm phạm, thế thì mày thật là không bằng giống cầm thú! Thực Sước nghe nói nổi giận. Trong quân Thực Sước có người biết mặt Tôn Khoái, mới nói với Thực Sước rằng: - Viên tướng ấy là con trưởng của Tôn Lâm Phủ, tên gọi Tôn Khoái. Thực Sước nói: - Ta bắt được Tôn Khoái, tức là trừ được nửa Tôn Lâm Phủ! Thực Sước tức thì giục ngựa thẳng tới chân núi, chẳng ngờ cả người lẫn ngựa ngã lăn xuống hố. Tôn Khoái đã sai quân sĩ sắp sẵn cung tên, để khi Thực Sước ngã xuống thì xúm lại mà bắn. Thực Sước chết ở dưới hố. Tôn Khoái dùng câu liêm kéo thi thể Thực Sước lên rồi cắt lấy đầu đem về nộp Tôn Lâm Phủ. Tôn Lâm Phủ nói: - Bây giờ quân Tấn trách ta không cứu để cho quân Tấn bị giết thì ta có lỗi, chi bằng ta giấu việc này đi mà nói là thua. Nói xong liền sai Ung Thư sang cấp báo với nước Tấn. Tấn Bình công nghe tin quân Tấn bị giết, có ý giận, sai quan chính khanh là Triệu Vũ đại hội chư hầu ở đất Thiền Uyên, sắp đem quân đánh Vệ. Vệ Hiến công và Ninh Hỉ thân hành sang nước Tấn để kể tội Tôn Lâm Phủ. Tấn Bình công bắt mà giam lại. Quan đại phu nước Tề là Án Anh nói với Tề Cảnh công rằng: - Vua Tấn vì Tôn Lâm Phủ mà bắt vua Vệ, như thế thì những đứa cường thần đều cậy quyền mà làm càn! Chúa công nên sang xin với vua Tấn, khiến cho trọn cái ơn khi trước đã cứu vua Vệ. Tề Cảnh công khen phải, liền sai sứ ước với Trịnh Giản công để cùng sang nước Tấn mà xin hộ cho vua Vệ. Tấn Bình công dẫu có ý nể, nhưng trước đã nghe lời Tôn Lâm Phủ, vậy nên chưa chịu tha. Án Anh nói riêng với Dương Thiệt Bật rằng: - Nước Tấn là bá chủ thì bổn phận nước Tấn nên phải đè nén kẻ cường bạo, bênh vực kẻ yếu. Tôn Lâm Phủ khi trước đuổi vua, đã không đem quân đến đánh, nay lại vì Tôn Lâm Phủ mà bắt vua Vệ, như thế thì phỏng còn ai dám làm vua nữa. Ngày xưa vua Văn công nghe lầm lời nói của Nguyên Huyến mà bắt Vệ Thành công đem nộp thiên tử nhà Chu, thiên tử nhà Chu còn cho là trái lẽ, vua Văn công xấu hổ phải tha, huống chi mình là chư hầu mà lại bắt giam vua chư hầu là nghĩa làm sao? Các ngươi không biết can, thế là vào đảng với bề tôi mà đè nén vua, tài nào cho khỏi mang tiếng! Tôi e rằng nước Tấn không giữ được nghiệp bá chủ, vậy nên phải nói riêng với nhà ngươi. Dương Thiệt Bật liền nói với Triệu Vũ để cố xin Tấn Bình công. Tấn Bình công tha cho Vệ Hiến công về nước, nhưng vẫn không chịu tha Ninh Hỉ. Hữu tể Cốc bảo Vệ Hiến Công đem 12 người nữ nhạc sang dâng Tấn Bình công để xin chuộc Ninh Hỉ. Tấn Bình công bằng lòng, tha cho Ninh Hỉ về, Ninh Hỉ từ khi về, càng có ý kiêu ngạo, việc gì cũng tự tiện quyết đoán, không bẩm mệnh Vệ Hiến công. Các quan đại phu vẫn đến họp ở nhà riêng của Ninh Hỉ để bàn việc chính trị. Vệ Hiến công chỉ ngồi chắp tay, không dự một việc gì cả. Bấy giờ quan tả sư nước Tống là Hướng Thú (cháu huyền tôn của Tống Hoàn công) có quen Triệu Vũ nước Tấn, lại quen cả lệnh doãn nước Sở là Khuất Kiến nữa. Hướng Thú sang sứ nước Sở, nói đến việc Hoa Nguyên nước Tống ngày xưa, muốn cho Tấn và Sở giảng hòa với nhau. Khuất Kiến nói: - Việc ấy rất hay! Chỉ vì chư hầu chia bè đảng, thành ra khó giảng hòa; bây giờ khiến cho những nước phụ thuộc Tấn và Sở đều sang triều cống lẫn nhau, coi nhau như một nhà thì sự chiến tranh mới có thể thôi đi được. Hướng Thú khen phải, liền xướng nghị việc vua Tấn và vua Sở hội nhau ở nước Tống để cùng nhau giảng hòa. Nước Sở từ đời Cung Vương đến bấy giờ thường bị nước Ngô xâm nhiễu, Khuất Kiến muốn kết liên với Tấn để được chuyên một mặt chống cự nước Ngô; còn Triệu Vũ thì nhân thấy quân Sở hay sang đánh Trịnh, cũng muốn giảng hòa để cho được yên việc, bởi vậy việc hai bên đều thuận theo cả, sai sứ đi bảo các nước phụ thuộc với mình. Khi sứ nước Tấn đến nước Vệ, Ninh Hỉ không báo cho Vệ Hiến công biết, liền sai Thạch Ác đi dự hội. Vệ Hiến công nghe nói giận lắm, phàn nàn với công tôn Miễn Dư. Công tôn Miễn Dư nói: - Tôi xin lấy lẽ phải mà đến trách bảo Ninh Hỉ. Công tôn Miễn Dư liền đến bảo Ninh Hỉ rằng: - Hội với chư hầu là một việc lớn, sao ngài lại không báo cho chúa công biết. Ninh Hỉ không bằng lòng nói rằng: - Khi trước công tử Chuyên đã có ước với ta, ta có ví như các bề tôi khác như thế nào được! Công tôn Miễn Dư về nói với Vệ Hiến công rằng: - Ninh Hỉ vô lễ quá lắm! Sao chúa công không giết đi. Vệ Hiến công nói: - Nếu không có Ninh Hỉ thì sao ta được thế này! Ta đã có lời ước, không nên hối lại. Công tôn Miễn Dư nói: - Tôi chịu ơn chúa công không biết lấy gì đến đáp lại được, xin tự đem gia thuộc mà trừ bỏ họ Ninh đi, nếu thành sự thì lợi cho chúa công mà không thành thì chỉ một mình tôi chịu hại thôi. Vệ Hiến công nói: - Nhà ngươi liệu mà làm, chớ để di lụy đến ta. Công tôn Miễn đến bảo hai người em họ là công tôn Vô Địa và công tôn Thần rằng: - Quan tướng quốc (trỏ Ninh Hỉ) chuyên quyền, các ngươi hẳn đã biết! Chúa công ta cứ giữ một điều tín nhỏ, mà ẩn nhẫn không chịu nói, mai sau thế lực hắn một ngày một to thì tai vạ cũng chẳng kém gì họ Tôn trước, biết làm thế nào? Công tôn Vô Địa và công tôn Thần nói: - Sao không giết đi! Công tôn Miễn Dư nói: - Ta đã nói với chúa công, nhưng chúa công không theo, chi bằng chúng ta nổi lên mà giết hắn, may mà thành sự thì phúc cho chúa công, nhược bằng không thành thì chúng ta trốn sang nước khác là cùng! Công tôn Vô Địa nói: - Hai anh em tôi xin hết sức về chuyện ấy! Công tôn Miễn Dư xin uống máu ăn thề. Bấy giờ nhà Ninh Hỉ đang mở tiệc xuân yến, công tôn Vô Địa bảo công tôn Miễn Dư rằng: - Nhà Ninh Hỉ đang mở tiệc xuân yến, tất không có phòng bị, để tôi xin thử vào trước, rồi nhà ngươi kế sau. Công tôn Miễn Dư nói: - Sao không bói xem! Công tôn Vô Địa nói: - Việc tất phải làm, còn bói chi nữa? Công tôn Vô Địa và công tôn Thần đem quân đến nhà Ninh Hỉ. Phía trong cửa nhà Ninh Hỉ xưa nay vẫn có đặt một cái máy cạm. Cái máy cạm ấy, đào đất làm hố sâu, trên lát ván gỗ, dưới có cựa gà; hễ chạm phải cựa gà thì cái ván gỗ ấy bật lên mà người ngã lăn xuống hố. Ban ngày cất đi, đêm lại bày ra, để phòng giữ quân gian. Ngày hôm ấy, nhà Ninh Hỉ nhân mở tiệc xuân yến, bao nhiêu người họp cả ở nhà trong, đang xem làm trò, không có ai trông cửa, mới bày cái máy cạm ấy ra để khỏi phải canh giữ, công tôn Vô Địa không biết, chạm phải cựa gà, ngã lăn xuống hố. Người nhà Ninh Hỉ kinh sợ, tranh nhau kéo ra để bắt, bắt được công tôn Vô Địa, công tôn Thần cầm giáo đến cứu, người nhà Ninh Hỉ đông lắm, không thể địch nổi, liền bị giết chết. Ninh Hỉ hỏi công tôn Vô Địa rằng: - Ai xui nhà ngươi đến đây? Công tôn Vô Địa trừng mắt mắng rằng: - Mày cậy công mà chuyên quyền, làm tôi không trung. Anh em ta vì nước mà giết mày, nay sự không thành là tại số mệnh, chứ nào có ai xui ta được! Ninh Hỉ giận lắm, trói công tôn Vô Địa vào cột, đánh cho đến chết, rồi mới đem chém. Hữu tể Cốc nghe tin Ninh Hỉ bắt được quân gian, đang đêm đi xe đến để hỏi thăm. Người nhà Ninh Hỉ vừa mới ra mở cửa thì gặp công tôn Miễn Dư đem quân đến; công tôn Miễn Dư thừa cơ lẻn vào, chém ngay Hữu tể Cốc ở bên ngoài cửa. Người nhà Ninh Hỉ, bấy giờ náo động cả lên. Ninh Hỉ trong khi hoảng hốt, chưa hiểu đầu đuôi, liền hỏi: - Người nào nổi loạn làm vậy? Công tôn Miễn Dư nói: - Cả nước đều một lòng như thế, định hỏi người nào! Ninh Hỉ sợ hãi bỏ chạy. Công tôn Miễn Dư cầm gươm đuổi theo, chạy quanh cái cột ba vòng. Ninh Hỉ bị hai lưỡi gươm, chết ở chân cột. Công tôn Miễn Dư giết hết người nhà Ninh Hỉ, rồi về báo với Vệ Hiến công. Vệ Hiến công truyền đem thi thể Ninh Hỉ và Hữu tể Cốc đặt ở trong triều. Công tử Chuyên nghe nói đi đất vào thẳng trong triều, ôm lấy thi thể Ninh Hỉ mà khóc rằng: - Không phải là chúa công thất tín, chính tại ta lừa nhà ngươi. Nhà ngươi chết, ta còn mặt mũi nào đứng ở trong triều nước Vệ này nữa! Khóc xong, lại kêu trời ba tiếng thật to, rồi trở về nhà, tức khắc đem cả vợ con trốn sang nước Tấn. Vệ Hiến công sai người mời ở lại. Công tử Chuyên không nghe. Khi đi đến sông Hà, Vệ Hiến công lại sai quan đại phu là Tề Ác đuổi theo mời lại. Công tử Chuyên nói: - Muốn cho ta trở về nước Vệ, trừ phi làm thế nào mà khiến cho Ninh Hỉ sống lại mới được. Tề Ác cố ý khuyên can mãi. Công tử Chuyên đem 2 con trĩ đứng trước mặt Tề Ác, rút gươm cắt đầu đi mà thề rằng: - Tôi và vợ con tôi từ đây trở đi, còn đứng ở đất nước Vệ, ăn thóc nước Vệ nữa thì chết như đôi trĩ này! Tề Ác biết là không thể nói được phải quay trở về. Công tử Chuyên trốn sang nước Tấn, ẩn ở đất Hàm Đan. Vợ chồng con cái làm nghề khâu giầy để kiếm ăn, cả đời không nói gì đến chuyện nước Vệ nữa. Tề Ác về nói với Vệ Hiến công. Vệ Hiến công thở dài, truyền mai táng cho Ninh Hỉ và Hữu tể Cốc, lại muốn lập công tôn Miễn Dư làm chức chính khanh, công tôn Miễn Dư nói: - Tôi chưa có danh vọng gì cả, xin chúa công hãy cho Thái Thúc Nghi. Vệ Hiến công liền cho Thái Thúc Nghi coi giữ quyền chính. Từ bấy giờ nước Vệ mới được yên ổn. Lại nói chuyện quan tả sư nước Tống xướng nghị việc Tấn, Sở bãi binh, bấy giờ quan chính khanh nước Tấn là Triệu Vũ, quan lệnh doãn nước Sở là Khuất Kiến đều đến hội ở nước Tống; các quan đại phu các nước cũng đều lục tục đến cả. Thuộc quốc của nước Tấn là Lỗ, Vệ, Trịnh theo nước Tấn đóng dinh ở ở phía tả, thuộc quốc của nước Sở là Sái, Trần, Hứa theo nước Sở đóng dinh ở phía hữu. Nước Tống là địa chủ, không cần phải nói đến. Hai bên nghị định: Cứ chiếu lệ đến kỳ triều sính thì thuộc quốc nước Sở đến triều sính nước Tấn, mà thuộc quốc nước Tấn đến triều sính nước Sở. Còn nước lớn như Tề, Tần thì cho là địch thể, không kể vào số thuộc quốc. Thuộc quốc nhỏ của Tấn như Châu, Cử, Đằng, Tiết; thuộc quốc nhỏ của Sở như Đốn, Hồ, Thẩm, Mi. Nước nào có thể triều sính được thì tùy ý, bằng không thì cho phụ theo với các nước lân cận. Nghị định như vậy rồi sắp sửa cùng nhau uống máu ăn thề ở Tây môn nước Tống. Khuất Kiến nước Sở mật truyền cho quân sĩ đều mặc áo giáp ở trong mình, để định đến lúc ăn thề thì xông vào mà giết Triệu Vũ nước Tấn. Bá Châu Lê cố can. Khuất Kiến mới thôi. Triệu Vũ nghe nói quân Sở có mặc áo giáp ở trong, mới hỏi Dương Thiệt Bật để nghĩ cách phòng bị. Dương Thiệt Bật nói: - Hội thề lần này cốt để bãi binh, nếu nước Sở làm như vậy thì nước Sở thất tín với chư hầu trước, chư hầu còn ai phục nữa, ngài nên thủ tín, không can chi mà lo ngại! Đến lúc sắp hội thề, Khuất Kiến nước Sở muốn vào sáp huyết trước, sai Hướng Thú truyền bảo cho nước Tấn biết. Hướng Thú đến dinh quân Tấn, không dám nói ra; người theo hầu phải nói thay cho Hướng Thú. Triệu Vũ (nước Tấn) nói: - Tiên quân ta là vua Văn công ngày xưa, phụng mệnh thiên tử nhà Chu ở đất Tiễn Thổ, làm chủ chư hầu, sao nước Sở lại trước Tấn được? Hướng Thú về, thuật chuyện lại với Khuất Kiến, Khuất Kiến nói: - Nếu nói vương mệnh thì nước Sở ta cũng phụng mệnh vua Huệ Vương nhà Chu. Tấn và Sở ngang hàng với nhau. Tấn làm chủ đã lâu ngày nên phải nhường lại cho Sở; nếu không thì ra Sở vẫn phải chịu kém Tấn, sao gọi là ngang hàng được! Hướng Thú lại sang nói lại với Triệu Vũ. Triệu Vũ nhất định không nghe. Dương Thiệt Bật bảo Triệu Vũ rằng: - Làm bá chủ cốt ở đức, chứ không ở thế! Có đức thì dẫu sáp huyết sau, chư hầu người ta vẫn tin theo; không có đức thì dẫu sáp huyết trước, chư hầu người ta cũng làm phản. Vả chăng hội thề lần này là chủ ý để bãi binh, mà bãi binh là một việc lợi cho thiên hạ, nếu tranh nhau sáp huyết thì phải dụng binh, dụng binh thì phải thất tín, ngài nên nhường cho Sở. Triệu Vũ nghe lời, nhường cho nước Sở sáp huyết trước. Hai bên uống máu ăn thề với nhau, rồi tan về cả. Quan đại phu nước Vệ là Thạch Ác đang dự hội, nghe tin Ninh Hỉ bị giết, không dám trở về nước Vệ, liền theo Triệu Vũ chạy sang nước Tấn. Quan hữu tướng nước Tề là Thôi Chữ từ khi giết vua Trang công, lập vua Cảnh công, uy danh lừng lẫy ở nước Tề. Quan tả tướng là Khánh Phong, tính hay uống rượu, lại hay đi săn bắn, không mấy khi ở nhà, bởi vậy quyền chính trong tay Thôi Chữ cả. Thôi Chữ lại còn ngang ngược lắm. Khánh Phong trong lòng cũng hơi có ý ghét. Thôi Chữ nguyên trước có hẹn với nàng Đường Khương định lập Thôi Minh làm đích tử, nhưng thấy trưởng tử là Thôi Thành bị gãy cánh tay, không nỡ nói ra. Thôi Thành biết ý, xin nhường ngôi đích tử lại cho Thôi Minh, mà xin cho đất Thôi Ấp để dưỡng lão. Thôi Chữ thuận cho. Đông Quách Yển và Đường Vô Cữu không nghe mà nói rằng: - Thôi Ấp tất phải để cho đích tử! Thôi Chữ bảo Thôi Thành rằng: - Ta muốn định đem Thôi Ấp phong cho nhà ngươi, nhưng Đông Quách Yển và Đường Vô Cữu không nghe, biết làm thế nào! Thôi Thành nói chuyện với Thôi Cương. Thôi Cương nói: - Ngồi đích tử ta còn nhường cho, mà lại tiếc ta một chỗ Thôi Ấp hay sao? Cha ta hãy còn mà bọn Đông Quách Yển đã ngang ngược như thế; huống chi khi cha ta mất thì anh em chúng ta dẫu cầu làm đầy tớ cũng vị tất đã được! Thôi Thành nói: - Ta hãy nhờ quan tả tướng (tức là Khánh Phong) xin hộ cho ta! Thôi Thành và Thôi Cương đến nói với Khánh Phong. Khánh Phong nói: - Thân phụ nhà ngươi chỉ một mực nghe lời Đông Quách Yển và Đường Vô Cữu, dẫu ta có nói, cũng vị tất đã nghe. Ta e sau này bọn ấy lại làm hại thân phụ nhà ngươi mà thôi, sao nhà ngươi không trừ đi. Thôi Thành và Thôi Cương nói: - Chúng tôi cũng muốn như vậy, nhưng sức hèn tài mọn, không thể làm nổi. Khánh Phong nói: - Để thong thả ta sẽ bàn xem! Thôi Thành và Thôi Cương về. Khánh Phong đem chuyện ấy nói với Lư Bồ Miết. Lư Bồ Miết nói: - Họ Thôi loạn thì họ Khánh ta càng lợi chớ sao! Khánh Phong mới nghĩ ra. Được mấy ngày nữa, Thôi Thành và Thôi Cương lại đến, kể những điều ác của Đông Quách Yển và Đường Vô Cữu. Khánh Phong nói: - Nếu nhà ngươi cử sự thì ta giúp binh khí cho. Nói xong, liền đưa cho Thôi Thành và Thôi Cương một trăm áo giáp cùng các đồ binh khí. Thôi Thành và Thôi Cương mừng lắm, đêm hôm ấy đem quân mặc áo giáp, cầm đồ binh khí, đến phục ở xung quanh nhà Thôi Chữ. Đông Quách Yển và Đường Vô Cữu ngày nào cũng đến yết kiến Thôi Chữ. Thôi Thành và Thôi Cương chờ khi Đông Quách Yển và Đường Vô Cữu vào cửa, truyền cho quân sĩ đổ ra mà đâm chết. Thôi Chữ giận lắm, vội vàng gọi người nhà thắng xe để đi thì người nhà đã bỏ trốn sạch cả rồi, chỉ còn có một tên ngữ nhân ở chuồng ngựa, liền sai tên ngữ nhân ấy thắng xe và một đứa trẻ con ngồi dong xe, đến yết kiến Khánh Phong, kể những nông nỗi gia nạn. Khánh Phong giả cách không biết ngạc nhiên nói rằng: - Họ Thôi và họ Khánh, cũng tức là một nhà. Mấy đứa trẻ con mà dám càn dỡ như vậy! Ngài có muốn bắt, tôi xin giúp sức. Thôi Chữ tưởng thực, tạ ân mà nói rằng: - Nếu ngài trừ hộ hai đứa nghiệt tử ấy để cho nhà họ Thôi tôi được yên ổn thì tôi xin bắt Thôi Minh phải thờ ngài làm cha. Khánh Phong liền triệu Lư Bồ Miết đến, sai đem quân đi, rồi dặn riêng cho biết, để theo kế mà làm. Lư Bồ Miết phụng mệnh, tức khắc đem quân đi ngay. Thôi Thành và Thôi Cương thấy Lư Bồ Miết đem quân đến, đóng cửa không cho vào. Lư Bồ Miết dụ rằng: - Ta phụng mệnh quan tả tướng (tức là Khánh Phong) mà tới đây là để làm lợi cho nhà ngươi, chứ nhà ngươi có hại gì! Thôi Thành bảo Thôi Cương rằng: - Hay là quan tả tướng muốn vì ta mà trừ bỏ Thôi Minh đó chăng? Thôi Cương nói: - Cũng có lẽ! Thôi Cương mở cửa cho Lư Bồ Miết vào. Lư Bồ Miết vào trước, quân giáp sĩ kéo ồ theo sau. Thôi Thành và Thôi Cương ngăn lại không được, mới hỏi Lư Bồ Miết rằng: - Quan tả tướng ngài dạy thế nào? Lư Bồ Miết nói: - Thân phụ nhà ngươi đến kêu với quan tả tướng, quan tả tướng sai ta đi lấy đầu các ngươi. Nói xong, truyền cho quân giáp sĩ chém lấy đầu Thôi Thành và Thôi Cương. Thôi Thành và Thôi Cương chưa kịp trả lời thì đầu đã rơi xuống đất. Lư Bồ Miết cho quân giáp sĩ cướp lấy hết những đồ đạc trong nhà, không còn một cái gì, lại phá tan cả. Nàng Đường Khương sợ hãi, thắt cổ ở trong phòng mà chết; chỉ có Thôi Minh vốn ra nước ngoài từ trước, nên không mắc nạn. Lư Bồ Miết treo đầu Thôi Thành và Thôi Cương ở trên xe, rồi về nói lại với Thôi Chữ. Thôi Chữ trông thấy hai cái đầu ấy, vừa thương vừa giận, lại hỏi Lư Bồ Miết rằng: - Chẳng hay nội thất ta có kinh sợ hay không? Lư Bồ Miết nói: - Bẩm không, hiện đang ngủ yên chưa dậy. Thôi Chữ có ý mừng, bảo Khánh Phong rằng: - Ta muốn về, ngặt vì đứa trẻ con này, không quen dong xe, xin cho mượn một người khác. Lư Bồ Miết nói: - Để tôi đi dong xe hầu quan tướng quốc. Thôi Chữ tạ ơn Khánh Phong hai ba lần, rồi lên xe trở về. Khi về đến phủ, thấy cửa mở toang cả, không có một người nào liền đi thẳng vào trong phòng. Vào đến trong phòng thì thấy nàng Đường Khương thắt cổ, hãy còn treo ở đấy. Thôi Chữ chẳng còn hồn vía nào, toan quay lại hỏi Lư Bồ Miết thì Lư Bồ Miết đã về từ bao giờ rồi! Thôi Chữ đi tìm khắp cả, không thấy Thôi Minh đâu, liền khóc òa lên rằng: - Nay ta bị Khánh Phong đánh lừa, cửa nhà tan nát, còn sống làm chi nữa! Nói xong Thôi Chữ cũng thắt cổ mà chết. Đến nửa đêm hôm ấy Thôi Minh lẻn về phủ, lấy trộm thi thể Thôi Chữ và nàng Đường Khương, bỏ vào trong một cái áo quan, rồi để lên xe đem ra, đào một cái huyệt ở bên cạnh tổ mộ mà chôn giấu xuống đấy. Chỉ có một mình ngữ nhân biết mà thôi, còn ngoài ra không ai biết cả. Chôn xong, Thôi Minh trốn sang nước Lỗ. Khánh Phong tâu với Tề Cảnh công rằng: - Thôi Chữ có tội giết tiên quân ta thuở xưa, vậy nên tôi phải trừ bỏ. Tề Cảnh công chỉ vâng dạ mà thôi. Khánh Phong từ bấy giờ một mình làm tướng quốc, sai người đi triệu Trần Tu Vô trở về nước Tề. Trần Tu Vô cáo lão. Con là Trần Vô Vũ được nối chức của cha. Bấy giờ Ngô và Sở thường đánh nhau luôn. Sở Khang Vương luyện tập quân chu sư để sang đánh Ngô, nhưng Ngô có phòng bị, Sở không làm gì nổi, lại phải rút quân về. Vua nước Ngô là Dư Sái mới lên làm vua được 2 năm, vốn là người cậy có sức khỏe hay liều chết, giận nước Sở lại đánh mình, liền sai quan tướng quốc là Khuất Hồ Dung (con Vu Thần) sang dụ nước Thư Cưu là thuộc quốc nước Sở làm phản nước Sở. Quan lệnh doãn nước Sở là Khuất Kiến đem quân đánh nước Thư Cưu. Dưỡng Do Cơ (tướng nước Sở) nói với Khuất Kiến xin đi làm tiên phong. Khuất Kiến nói: - Tướng quân già lắm rồi. Thư Cưu là một nước nhỏ, đánh tất phải được, không dám phiền đến tướng quân. Dưỡng Do Cơ nói: - Nước ta đánh nước Thư Cưu thì Ngô tất đem quân sang cứu, tôi đã nhiều lần đánh nhau với quân Ngô, biết hết tình hình, vậy xin theo đi, dẫu chết cũng thỏa! Khuất Kiến thấy Dưỡng Do Cơ nói đến sự chết, trong lòng cũng hơi áy náy. Dương Do Cơ nói: - Tôi chịu ơn Tiên Vương thuở trước, vẫn muốn liều mình để báo đáp mà chưa có dịp nào, nay đầu râu đã khác xưa cả, ví thử một mai ốm chết ở nơi xó nhà thì chẳng hóa ra ngài phụ cái lòng tôi lắm ru! Khuất Kiến thấy ý Dưỡng Do Cơ đã nhất quyết, mới thuận cho đi, sai quan đại phu là Tức Hoàn đi giúp. Dưỡng Do Cơ đi đến Ly Thành (kinh thành nước Thư Cưu). Em vua Ngô là Di Muội cùng quan tướng quốc là Khuất Hồ Dung đem quân sang cứu nước Thư Cưu. Tức Hoàn muốn đợi đại binh nước Sở kéo đến, rồi mới khai chiến, Dưỡng Do Cơ nói: - Người nước Ngô chỉ giỏi nghề đánh thủy, nay bỏ thuyền lên trên cạn, mà nghề bắn cung cũng không lấy gì làm tài, ta nên nhân lúc mới đến mà đánh ngay đi thì có thể phá vỡ được. Dưỡng Do Cơ tay mang cung tên, xông vào đánh trước, bắn chỗ nào thì chỗ ấy có người chết. Quân Ngô lui chạy. Dưỡng Do Cơ đuổi theo, trông thấy Khuất Hồ Dung ở trên xe, liền mắng Khuất Hồ Dung rằng: - Thằng giặc phản quốc kia! Mày còn mặt mũi nào mà trông thấy ta nữa! Dưỡng Do Cơ toan bắn Khuất Hồ Dung. Khuất Hồ Dung quay xe trở lại, đi nhanh như bay. Dưỡng Do Cơ kinh sợ nói rằng: - Người nước Ngô cũng tài giỏi về nghề dong xe hay sao! Tiếc thay ta không bắn ngay một phát! Nói chưa dứt lời thì quân Ngô đem xe vây kín bốn mặt. Quân Ngô đứng ở trên xe đều là những tay bắn giỏi, hàng vạn mũi tên cùng bắn một lúc. Dưỡng Do Cơ chết ngay ở trận tiền. Tức Hoàn chạy về báo với Khuất Kiến. Khuất Kiến thở dài mà rằng: - Dưỡng thúc (tức là Dưỡng Do Cơ) thật là cố ý mà liều chết. Khuất Kiến liền phục quân ở Nhi Sơn, rồi sai Tử Cương đem quân đi dụ quân Ngô. Tử Cương giao chiến với quân Ngô được hơn 10 hiệp thì vội vàng bỏ chạy. Khuất Hồ Dung nghi là có quân phục, không dám đuổi theo. Di Muội trèo lên chỗ cao đứng trông, không thấy quân Sở, bảo Khuất Hồ Dung rằng: - Quân Sở đã trốn hết rồi! Di Muội liền kéo quân ra đuổi. Đuổi đến chân núi Nhi Sơn, Tử Cương quay lại đánh, phục binh bốn mặt đổ ra, vây kín Di Muội lại. Di Muội cố sức đánh giải vây mà không ra nổi. May nhờ có quân Khuất Hồ Dung đến, mới phá vỡ vòng vây, đem được Di Muội ra. Quân Ngô bị thua bỏ về. Khuất Kiến liền diệt nước Thư Cưu. Năm sau, Sở Khang Vương lại muốn đánh Ngô, sai sứ sang mượn quân Tấn. Tấn Cảnh Công sai em là công tôn Hàm sang giúp. Nước Ngô đem quân giữ vững cửa sông. Quân Sở không thể nào vào được, liền sang xâm Trịnh, vì nước Trịnh lâu nay vẫn thần phục nước Tấn. Quan đại phu nước Sở là Xuyên Phong Thú, bắt được tướng nước Trịnh là Hoàng Hiệt ở trận tiền, công tử Vi muốn tranh lấy để nhận công. Xuyên Phong Thú không nghe. Công tử Vi lại kêu với Sở Khang Vương rằng: - Tôi đã bắt được tướng nước Trịnh là Hoàng Hiệt, lại bị Xuyên Phong Thú tranh mất. Được một lúc, Xuyên Phong Thú giải Hoàng Hiệt đến nộp, và cũng nói là công tử Vi muốn tranh công, Sở Khang Vương không biết quyết đoán ra thế nào, mới sai quan thái tể là Bá Châu Lê xét việc ấy. Bá Châu Lê tâu rằng: - Tù nước Trịnh (trỏ Hoàng Hiệt) là quan đại phu chứ không phải là người thường, ta chỉ hỏi tù nhân thì tự khắc cũng biết. Bá Châu Lê để Hoàng Hiệt đứng ở dưới sân, Bá Châu Lê đứng ở bên hữu, công tử Vi và Xuyên Phong Thú đứng ở bên tả. Bá Châu Lê chắp tay hướng vào công tử Vi mà bảo Hoàng Hiệt rằng: - Ông này là công tử Vi, em đại vương ta đó. Lại hướng vào Xuyên Phong Thú mà nói: -Ông này là Xuyên Phong Thú, quan huyện doãn ở ngoài Phương thành! Trong hai ông này, ông nào bắt được nhà ngươi, nhà ngươi phải nói thực. Hoàng Hiệt nghe nói, hiểu ý Bá Châu Lê thiên vị công tử Vi, mới giả cách trừng mắt nhìn kỹ công tử Vi mà nói rằng: - Tôi bị công tử bắt được. Xuyên Phong Thú giận lắm, liền rút ngay cái giáo cắm ở cái giá gần đó, toan đâm chết công tử Vi. Công tử Vi sợ hãi bỏ chạy. Xuyên Phong Thú đuổi theo không kịp. Bá Châu Lê khuyên giải mãi, Xuyên Phong Thú mới thôi. Bá Châu Lê nói với Sở Khang Vương chia đôi cái công ấy, rồi lại bày một tiệc rượu, bắt hai người phải giảng hòa với nhau. Lại nói chuyện nước Việt ở giáp giới nước Ngô. Vua nước Việt là dòng dõi vua Vũ nhà Hạ, bắt đầu từ Vô Dư, truyền mãi cho đến Doãn Thường. Doãn Thường chăm việc sửa sang chính trị, nước Việt mới cường thịnh. Nước Ngô thấy nước Việt cường thịnh, lấy làm lo lắm. Vua nước Ngô là Dư Sái lên nối ngôi, mới được bốn năm, liền đem quân sang đánh nước Việt, bắt được tôn nhân nước Việt, đem về chặt chân, sai giữ chiếc thuyền Dư Hoàng. Một hôm, Dư Sái đi chơi thuyền, say rượu nằm ngủ, tôn nhân cởi thanh gươm của Dư Sái, đâm chết Dư Sái, bấy giờ các nội thị mới biết, liền giết tôn nhân đi. Em Dư Sái là Di Muội theo thứ tự lên nối ngôi, giao quyền chính cho Quí Trát. Quí Trát xin bãi việc chiến tranh và giao thông với các nước lớn. Di Muội theo lời, liền sai Quí Trát sang sứ nước Lỗ để xem xét những âm nhạc về đời ngũ đại và âm nhạc của các nước. Quí Trát xem đến đâu, bình phẩm đến đấy, câu nào cũng đích đáng, người nước Lỗ phục là một tay tri âm. Sau sang sứ nước Trịnh, chơi thân với công tôn Kiều; sang nước Vệ, chơi thân với Cừ Viên; sang nước Tấn chơi thân với Triệu Vũ, Hàn Khởi và Ngụy Thư, toàn là những bậc hiền thần đời bấy giờ, xem thế đủ biết Quí Trát là người hiền.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 67 Lư Bồ Quí đuổi được Khánh Phong Sở Linh Vương tranh làm bá chủ

Con trưởng vua Linh Vương nhà Chu tên là Tấn, tên tự là Tử Kiều, vốn người thông minh lạ thường, hay thổi ống sinh theo tiếng chim phượng hoàng, Chu Linh Vương lập làm thái tử. Năm 17 tuổi, đi chơi sông Y và sông Lạc, lúc về ốm chết. Chu Linh Vương thương lắm. Có người báo với Chu Linh Vương rằng: - Chúng tôi trông thấy thái tử cưỡi con hạc trắng đang thổi ống sinh, lại nhắn bảo người ở đấy rằng: "Các ngươi nói lại Thiên Tử biết là ta đi theo Phù Khâu công đi chơi Trung Sơn, vui vẻ quá chừng! Thiên tử chớ có phiền nghĩ". Chu Linh Vương sai đào mộ Phù Khâu công lên xem thì chỉ thấy có áo quan không, mới biết là đã thành tiên đi rồi. Sau Chu Linh Vương nằm mộng thấy thái tử Tấn cưỡi hạc đến đón, khi tỉnh dậy, còn nghe văng vẳng tiếng sinh ở ngoài cửa. Chu Linh Vương nói: - Con ta đến đón thì ta nên đi! Chu Linh Vương truyền ngôi cho con thứ là Quí, rồi tự nhiên chết. Quí lên nối ngôi, tức là Chu Cảnh Vương. Năm ấy, Sở Khang Vương cũng chết. Quan lệnh doãn là Khuất Kiến liền lập người em cùng mẹ với Sở Khang Vương lên làm vua, chưa được bao lâu Khuất Kiến cũng chết. Công tử Vi thay làm lệnh doãn. Lại nói chuyện quan tướng quốc nước Tề là Khánh Phong, từ khi chuyên giữ quyền chính, càng sinh ra hoang dâm càn rỡ. Một hôm, uống rượu ở nhà Lư Bồ Miết. Lư Bồ Miết sai vợ ra mời rượu, Khánh Phong trông thấy có ý bằng lòng, liền cùng với vợ Lư Bồ Miết tư thông, rồi giao cả quyền chính cho con là Khánh Xá, đem vợ cùng nàng hầu và của cải sang ở nhà Lư Bồ Miết. Khánh Phong tư thông với vợ Lư Bồ Miết, Lư Bồ Miết cũng cùng với vợ và nàng hầu của Khánh Phong tư thông. Hai bên không kiêng kỵ gì nữa, nhiều khi họp nhau uống rượu đùa bỡn, say rượu lại kể hết cả ra, các người xung quanh, ai cũng phải bưng miệng mà cười. Khánh Phong và Lư Bồ Miết vẫn không lấy gì làm nghĩ. Lư Bồ Miết nói với Khánh Phong triệu người anh là Lư Bồ Quí ở nước Lỗ về. Khánh Phong thuận cho. Khi Lư Bồ Quí đã về đến nước Tề, Khánh Phong để cho theo hầu người con là Khánh Xá. Khánh Xá sức khỏe hơn người, thấy Lư Bồ Quí cũng có sức khỏe, và lại khéo nói, nên có lòng yêu quí, gả người con gái là Khánh Khương cho Lư Bồ Quí. Lư Bồ Quí chỉ dốc một lòng báo thù cho Tề Trang công, nhưng không biết đồng tâm với ai được, mới nhân khi theo Khánh Xá đi săn bắn, hết sức khen cái tài võ dũng của Vương Hà. Khánh Xá hỏi: - Vương Hà bây giờ ở đâu? Lư Bồ Quí nói: - Hiện đang ở nước Cử. Khánh Xá sai người đi triệu về. Vương Hà về nước Tề. Khánh Xá cũng có lòng yêu. Thôi Chữ và Khánh Phong nổi loạn, sợ người ta ám sát, đi đâu cũng có quân sĩ cầm giáo phòng giữ xung quanh, sau thành ra lệ quen. Khánh Xá tin yêu Lư Bồ Quí và Vương Hà mới dùng hai người ấy cầm giáo theo hầu ở bên cạnh. Cứ theo lối cũ thì công gia cung đồ ăn của các quan khanh, đại phu mỗi ngày dùng hai con gà. Bấy giờ Tề Cảnh công hay ăn chân gà, một bữa ăn hết mấy chục con; các quan khanh, đại phu cũng đều bắt chước, thành ra gà là một món ăn quí giá mua đắt quá, ngự trù chi tiêu không đủ, phải sang nói với Khánh Xá để xin thêm. Lư Bồ Quí muốn tỏ điều ác của Khánh Xá, mới xui Khánh Xá không cho, bảo ngự trù rằng: - Đồ ngự thiện tùy ý mà làm, cứ gì phải món gà! Bấy giờ ngự trù lấy thịt vịt cho vào. Lũ nhà bếp lại tưởng thịt vịt không phải là đồ ngự thiện, ăn vụng đi mất. Ngày hôm ấy, quan đại phu là Cao Mại (tên tự là Tử Vĩ) và Loan Táo (tên tự là Tử Nhã) ngồi hầu cơm. Tề Cảnh công, trông thấy mâm cơm không có món chân gà, chỉ có xương gà mà thôi, nổi giận nói rằng: - Họ Khánh cầm quyền chính mà dám bớt đồ ngự thiện, khinh ta đến thế này là cùng! Nói xong, không ăn bỏ ra. Cao Mại toan đến trách Khánh Phong. Loan Táo can ngăn mãi, Cao Mại mới thôi. Sau có người nói chuyện với Khánh Phong, Khánh Phong bảo Lư Bồ Miết rằng: - Cao Mại và Loan Táo có ý giận ta, biết làm thế nào? Lư Bồ Miết nói: - Giận thì giết đi, chứ can chi mà sợ! Lư Bồ Miết nói chuyện với anh là Lư Bồ Quí. Lư Bồ Quí bàn mưu với Vương Hà rằng: - Cao Mại và Loan Táo đang giận nhau với họ Khánh, ta có thể nhờ sức được. Đêm hôm ấy, Vương Hà đến yết kiến Cao Mại, nói với Cao Mại rằng: - Họ Khánh đang muốn trị họ Cao và họ Loan. Cao Mại nổi giận nói: - Khánh Phong ngày xưa thực đồng mưu với Thôi Chữ để giết vua Trang công, nay họ Thôi đã diệt rồi, chỉ còn họ Khánh, ta nên vì tiên quân (trỏ Tề Trang công) mà báo thù. Vương Hà nói: - Tôi vẫn có chí ấy! Quan đại phu mưu việc ngoài, tôi mưu việc trong, làm gì mà không nổi! Cao Mại đi bàn mưu với Loan Táo định thừa cơ khởi sự. Bọn Trần Vô Vũ, Bão Quốc (cháu Bão Thúc Nha) và Án Anh đếu biết cả, nhưng ai cũng ghét họ Khánh chuyên quyền, không ai chịu nói. Lư Bồ Quí và Vương Hà bói việc đánh họ Khánh, trong quẻ bói có câu rằng: "Con hổ rời huyệt, con bưu thấy huyết". Lư Bồ Quí đem đến hỏi Khánh Xá rằng: - Có người muốn đánh kẻ thù, bói được quẻ này, không biết tốt hay xấu? Khánh Xá nói: - Đánh được! Hổ cùng bưu là cha con, đã phải rời huyệt và thấy huyết, còn gì mà không đánh được! Chẳng hay kẻ thù là ai? Lư Bồ Quí nói: - Một người trong đám hương lý. Khánh Xá không nghi hoặc gì cả. Tháng 8 năm ấy Khánh Phong đem Khánh Tự và Khánh Di đi săn bắn ở Đông Lai; lại cho Trần Vô Vũ đi theo. Trần Vô Vũ từ biệt cha là Trần Tu Vô. Trần Tu Vô bảo rằng: - Họ Khánh nguy đến nơi! Nếu con cùng đi thì ta e rằng mắc nạn, sao không từ chối đi? Trần Vô Vũ nói: - Nếu từ chối thì hắn sinh nghi, vậy nên con không dám từ chối. Để khi con đã đi rồi, thân phụ lấy cớ khác mà triệu con về. Nói xong, liền đi theo Khánh Phong. Lư Bồ Quí mừng lắm nói: - Trong quẻ bói có câu "con hổ rời huyệt" thật là nghiệm lắm! Lưu Bồ Quí định chờ khi Khánh Xá ra thu tế thì khởi sự. Trần Tu Vô biết tin, sợ con là Trần Vô Vũ mắc nạn với Khánh Phong, liền nói dối là vợ mình ốm, sai người đi triệu Trần Vô Vũ về. Trần Vô Vũ nhờ Khánh Phong bói hộ một quẻ, nhưng trong lòng khấn thầm rằng: "Quẻ bói này cho biết sự tốt xấu của họ Khánh". Khánh Phong bói xong, đoán quẻ rằng: - Quẻ này là quẻ diệt thân. Bệnh thể của lão phu nhân chưa khỏi được. Trần Vô Vũ nước mắt chảy ròng ròng. Khánh Phong thương lắm, liền cho Trần Vô Vũ về. Khánh Tự trông thấy Trần Vô Vũ lên xe, hỏi Trần Vô Vũ rằng: - Nhà ngươi đi đâu? Trần Vô Vũ nói: - Mẹ tôi ốm vậy nên tôi phải về. Nói xong, quay xe đi ngay, Khánh Tự vào nói với Khánh Phong rằng: - Trần Vô Vũ nói dối, chứ không phải mẹ ốm! Tôi sợ trong nước có biến, tướng công nên chóng về. Khánh Phong nói: - Đã có con ta ở nhà, còn lo gì nữa! Trần Vô Vũ về qua sông Hà, phá cầu và đục thuyền ra để Khánh Phong không có đường về, mà Khánh Phong vẫn không biết. Bấy giờ đã thượng tuần tháng tám. Lư Bồ Quí tu tập quân sĩ để sắp khởi sự. Người vợ là nàng Khánh Khương (con gái Khánh Xá) hỏi Lư Bồ Quí rằng: - Phu quân có việc gì mà không bàn với thiếp thì tất không làm nổi. Lư Bồ Quí cười nói rằng: - Đàn bà biết gì mà đòi bàn mưu! Nàng Khánh Khương nói: - Phu quân không nghe nói có người đàn bà tài trí hơn đàn ông hay sao! Vua Vũ Vương có 10 bề tôi giỏi; trong 10 người ấy kể cả bà Ấp Khương, sao lại bảo là đàn bà không bàn mưu được. Lư Bồ Quí nói: - Ngày xưa quan đại phu nước Trịnh là Ung Củ, đem mật mưu của vua Trịnh tiết lộ ra cho vợ là nàng Ung Cơ biết, mà đến nỗi bị giết, lại hại cả vua, ta rất lấy làm sợ. Nàng Khánh Khương nói: - Đàn bà cốt phải theo chồng, chồng nói thì vợ nghe, huống chi lại có quân mệnh. Nàng Ung Cơ nghe mẹ mà làm hại chồng, đó là một sự xấu trong đám khuê các, còn nói làm gì! Lư Bồ Quí nói: - Giả sử nàng là Ung Cơ thì nàng xử thế nào? Nàng Khánh Khương nói: - Giúp được thì giúp, bằng không thì thôi, cũng không tiết lộ ra cho ai biết. Lư Bồ Quí nói: - Nay chúa công ta ghét họ Khánh chuyên quyền, có bàn mưu với họ Cao và họ Loan để đuổi tộc đảng nhà nàng, vậy nên ta phải phòng bị, nàng chớ tiết lộ cho ai biết. Nàng Khánh Khương nói: - Quan tướng quốc (trỏ Khánh Phong) vừa mới đi săn, có thể thừa cơ được. Lư Bồ Quí nói: - Muốn đợi đến ngày thu tế. Nàng Khánh Khương nói: - Thân phụ thiếp vốn người ngang ngạnh, lại đam mê tửu sắc, không có ai nói khích thì hoặc giả lại không đi, biết làm thế nào. Thiếp xin dùng kế cố ý ngăn lại thì việc đi thu tế mới quyết định được. Lư Bồ Quí nói: - Ta đem tính mệnh phó thác cho nàng, nàng chớ bắt chước Ung Cơ ngày trước. Nàng Khánh Khương đến bảo Khánh Xá rằng: - Con nghe nói họ Cao và họ Loan định đến ngày thu tế này thì hại thân phụ, xin thân phụ chớ đi. Khánh Xá nổi giận, nói: - Hai họ ấy như giống cầm thú, sống chết ở trong tay ta, khi nào dám như vậy; dẫu có thế nữa, ta cũng không sợ! Nàng Khánh Khương về nói với Lư Bồ Quí. Đến kỳ thu tế, Tề Cảnh công vào làm lễ ở nhà Thái miếu. Các quan đại phu đều đi theo cả. Khánh Thăng hiến tước. Quân họ Khánh đóng kín xung quanh nhà Thái miếu. Lư Bồ Quí và Vương Hà cầm giáo đứng ở bên cạnh Khánh Xá, không rời ra một bước nào. Họ Trần và họ Bão, hai nhà ấy có mấy tên ngữ nhân, khéo làm trò lắm, đang múa hát ở đường Ngư Lý, cố ý làm cho ngựa của Khánh Xá phải lồng chạy. Quân họ Khánh đuổi theo bắt được ngựa, đem buộc một chỗ rồi đem cởi áo giáp ra, xúm lại xem làm trò. Quân họ Cao, họ Loan, họ Trần và họ Bão họp cả ở trước cửa nhà Thái miếu. Lư Bồ Quí giả cách ra ngoài, mật truyền cho quân sĩ vây kín xung quanh, rồi trở vào đứng ở sau lưng Khánh Xá cầm ngược ngọn giáo, để ra hiệu cho Cao Mại biết. Cao Mại hiểu ý sai người nhà gõ cửa ba tiếng, quân sĩ kéo ồ cả vào. Khánh Xá kinh sợ đứng dậy, Lư Bồ Quí ở sau lưng đâm ngay một cái trúng vào cạnh sườn. Vương Hà cầm giáo đánh vào vai bên tả, gãy hẳn bả vai. Khánh Xá trông thấy Vương Hà, liền nói: - Thế ra chúng bay nổi loạn à? Nói xong, giơ tay phải cầm lấy hồ rượu ném vào Vương Hà. Vương Hà chết ngay lập tức, Lư Bồ Miết truyền cho quân sĩ bắt ngay Khánh Thăng giết đi. Khánh Xá bị thương nặng, đau quá không thể chịu được, ôm lấy cột nhà Thái miếu mà rung, chuyển động cả nhà Thái miếu, rồi kêu to lên một tiếng mà chết. Tề Cảnh công thấy vậy, kinh sợ toan chạy. Án Anh mật tâu rằng: - Các quan triều thần vì tiên quân mà diệt họ Khánh để yên nước nhà, chứ không có ý gì khác cả. Tề Cảnh công mới yên lòng, lên xe về cung. Lư Bồ Miết đem quân đi trừ họ Khánh, rồi chia giữ các cửa thành để chống nhau với Khánh Phong. Khánh Phong đi săn, về đến nửa đường, gặp người nhà Khánh Xá đến báo tin. Khánh Phong giận lắm, tiến quân vào phía cửa Tây, nhưng trong thành canh phòng nghiêm mật, không thể phá nổi. Quân Khánh Phong dần dần bỏ trốn hết cả. Khánh Phong sợ hãi chạy sang nước Lỗ. Tề Cảnh công sai người nói với nước Lỗ chớ nên dung nạp đứa phản nghịch. Người nước Lỗ toan bắt Khánh Phong đưa trả nước Tề, Khánh Phong nghe tin sợ hãi, lại chạy sang nước Ngô. Vua Ngô là Di Muội để cho Khánh Phong ở đất Chu Phương, và cấp lương cho rất hậu, có phần giàu hơn khi ở nước Tề, để khiến cho Khánh Phong dò xét tình hình nước Sở. Quan đại phu nước Sở là Tử Phục Hà nghe tin, bảo Thúc Tôn Báo rằng: - Khánh Phong sang ở Ngô, lại càng giàu lắm, chẳng có lẽ trời phúc cho đứa dâm nhân hay sao! Thúc Tôn Báo nói: - Thiện nhân mà giàu thì là phúc, dâm nhân mà giàu thì là họa. Cái họa của Khánh Phong sắp đến nơi, sao gọi là phúc được. Nước Tề từ khi Khánh Phong đi trốn thì Cao Vĩ cùng Loan Táo cầm quyền chính, mới tuyên bố tội trạng của Thôi Chữ cùng Khánh Phong cho người trong nước biết, rồi đem chăng thây Khánh Xá ở trong triều; lại trao giải thưởng để tìm áo quan của Thôi Chữ, hễ ai biết mà tố cáo ra thì cho một viên ngọc bích của Thôi Chữ ngày trước. Tên ngữ nhân nhà Thôi Chữ ngày trước tham được ngọc bích, liền chỉ dẫn chỗ chôn Thôi Chữ. Bấy giờ sai người đào lên thì thấy hai cái thây (Thôi Chữ và nàng Đường Khương). Tề Cảnh công toan đem hai cái thây ấy mà chăng ra. Án Anh can rằng: - Mình trị tội người đàn bà thì không hợp lẽ phải. Tề Cảnh công mới truyền đem một thây Thôi Chữ ra chăng ở giữa chợ. Người nước Tề xúm lại xem, nhiều người còn nhớ mặt, bảo rằng: - Chính là thây Thôi Chữ đó! Các quan đại phu chia nhau những thái ấp của Thôi Chữ và Khánh Phong, thấy gia tài của Khánh Phong đều ở nhà Lư Bồ Miết, liền trị Lư Bồ Miết về tội dâm loạn, đuổi sang ở nước Bắc Yên. Lư Bồ Quí cũng theo sang. Bao nhiêu gia tài của hai họ ấy, các quan triều thần mỗi người lấy một ít, tan nát mất cả. Chỉ có Trần Vô Vũ không lấy một tí gì. Nhà Khánh Phong có hơn 100 xe gỗ, các quan đại phu bàn để cho Trần Vô Vũ. Trần Vô Vũ lại đem phân phát cho người trong nước tất cả. Bởi vậy người trong nước đều ca tụng Trần Vô Vũ là người nhân đức. Năm sau, Loan Táo chết, con là Loan Thi nối làm quan đại phu, cùng với Cao Mại cùng cầm quyền chính. Cao Mại nghĩ đến con Cao Hậu là Cao Chỉ, có ý hiềm rằng trong một nước mà hai họ Cao, mới đuổi Cao Chỉ. Cao Chỉ cũng chạy sang Bắc Yên. Con Cao Chỉ là Cao Kiên chiếm giữ đất Lư Ấp. Tề Cảnh công sai quan đại phu là Lư Khâu Anh đem quân đến vây. Cao Kiên nói: - Ta không phải làm phản, chỉ vì sợ họ Cao không có người cúng tế. Lư Khâu Anh hứa lời lập hậu cho họ Cao. Cao Kiên bỏ trốn sang nước Tấn. Lư Khâu Anh về nói với Tề Cảnh công. Tề Cảnh công truyền lập Cao Yên để giữ việc cúng tế họ Cao. Cao Mại căm tức mà rằng: - Sai Lư Khâu Anh đi là cốt để trừ bỏ họ Cao, nay bỏ một người lại lập một người, thế thì phỏng có khác gì không! Cao Mại mật sai người giết chết Lư Khâu Anh. Các công tử như bọn Tử Sơn, Tử Thương và Tử Chu thấy việc ấy đều có ý bất bình, thường thường nghị luận về việc ấy. Cáo Mại giận lắm, mượn việc khác mà đuổi hết các công tử đi. Người trong nước ai cũng sợ hãi. Chưa được bao lâu, Cao Mại chết, con là Cao Cương nối làm đại phu. Cao Cương hãy còn ít tuổi, chưa được làm thượng khanh vậy nên quyền chính nước Tề về cả tay Loan Thi. Bấy giờ Tấn và Sở giảng hòa, các nước đều được yên nghỉ. Quan đại phu nước Trịnh là Lương Tiêu (tên tự là Bá Hữu, con công tôn Chiếp, cháu công tôn Khứ Tật) đang làm thượng khanh, cầm quyền chính nước Trịnh. Tính kiêu ngạo xa xỉ, lại thích uống rượu, mỗi bận uống rượu thường say suốt đêm; trong khi uống rượu, không muốn tiếp một người nào, không muốn nghe một việc gì, mới sai làm một cái hầm ở dưới đất, đem những đồ uống rượu và âm nhạc bày ở trong cái nhà ấy để xuống đấy uống rượu. Dẫu bọn gia thần đến cũng không được vào yết kiến. Một hôm đang giữa trưa, Lương Tiêu nhân khi say rượu, vào triều nói với Trịnh Giản công, định sai công tôn Hắc (tên tự là Tử Tích, con công tử Tứ, sau đổi là họ Tứ) sang sứ nước Sở. Công tôn Hắc đang cùng với công tôn Hạ (tên tự là Tử Nam, con công tôn Mại) tranh nhau định lấy em gái Từ Ngô Phạm, vậy nên không muốn đi xa, mới đến yết kiến Lương Tiêu để xin tha việc đi sứ. Người canh cửa không cho vào mà bảo rằng: - Quan tướng quốc đã xuống nhà hầm rồi, tôi không dám vào bẩm. Công tôn Hắc giận lắm, đêm hôm ấy cùng với Ấn Đoàn (con công tử Phong) đem quân vây nhà Lương Tiêu, rồi phóng hỏa đốt cháy. Lương Tiêu đang say rượu, người nhà vực lên xe chạy sang đất Ung Lương (đất nước Trịnh). Lương Tiêu tỉnh rượu, nghe tin công tôn Hắc đem quân đánh mình, căm tức vô cùng. Lương Tiêu ở Ung Lương được mấy ngày thì các gia thần dần dần kéo đến, thuật lại những chuyện trong nước, nói các họ đang kết ước với nhau để chống cự họ Lương, chỉ có họ Quốc và họ Hãn là không dự vào việc ấy. Lương Tiêu mừng mà nói rằng: - Tất thế nào họ Quốc và họ Hãn cũng có lòng giúp ta! Nói xong, liền đem quân về đánh cửa Bắc Môn nước Trịnh. Công tôn Hắc sai cháu là Tử Đái cùng với Ấn Đoàn đem quân ra đánh. Lương Tiêu thua, trốn vào trong nhà hàng làm thịt dê, bị quân Tử Đái giết chết. Bao nhiêu gia thần Lương Tiêu cũng bị giết sạch cả. Công tôn Kiều (tên tự là Tử Sản, con công tử Phát) ôm lấy thi thể Lương Tiêu mà khóc rằng: - Anh em cùng hại nhau. Trời ơi! Sao mà khốn nạn làm vậy! Công tôn Kiều thu cả những thi thể gia thần và Lương Tiêu cùng chôn ở thôn Đầu Thành. Công tôn Hắc giận lắm, nói: - Tử Sản (tức công tôn Kiều) lại vào đảng với họ Lương hay sao! Công tôn Hắc toan đem quân đi đánh công tôn Kiều. Quan thượng khanh là Hãn Hổ (tên tự là Tử Bi, con công tử Xá) can rằng: - Tử Sản biết giữ lễ cả với người chết, huống chi là người sống! Điều lễ là gốc trong nước, nếu giết người biết giữ lễ thì không nên. Công tôn Hắc mới thôi. Trịnh Giản công giao quyền chính cho Hãn Hổ. Hãn Hổ nói: - Tôi không bằng Tử Sản. Trịnh Giản công liền giao cho công tôn Kiều cầm quyền chính. Công tôn Kiều đã cầm quyền chính nước Trịnh, mới chỉnh đốn những pháp luật, phong tục và cách thức làm ruộng; lại kể tội công tôn Hắc mà giết đi. Đúc ra hình thư để khiến cho dân biết sợ phép; lập ra hương hiệu để khiến cho dân biết lỗi mình, bởi vậy trong nước ai cũng ca tụng công đức. Một hôm, người nước Trịnh đi ra cửa Bắc Môn, trong khi hoảng hốt, trông thấy Lương Tiêu mình mặc áo giáp, đầu đội mũ trụ, tay cầm cái giáo, vừa đi vừa nói: - Tử Đái và Ấn Đoàn hại ta, ta tất phải giết chết! Người ấy về thuật chuyện với người khác, rồi thành bệnh ốm. Bấy giờ trong nước huyên truyền nhau, cho là hồn Lương Tiêu đến, kéo nhau chạy trốn như là chạy loạn. Chưa được bao lâu thì Tử Đái bị bệnh mà chết. Mấy ngày nữa, Ấn Đoàn cũng chết. Người trong nước đều sợ lắm, ngày đêm náo động cả lên. Công tôn Kiều nói với Trịnh Giản công cho con Lương Tiêu là Lương Chỉ làm đại phu, để giữ việc cúng tế họ Lương; lại lập con công tử Gia là công tôn Tiết. Từ bấy giờ người trong nước mới không huyên náo nữa. Chức hành nhân là Du Cát (tên tự là Tử Vũ) hỏi công tôn Kiều rằng: - Lập hậu cho Lương Tiêu mà trong nước khỏi huyên náo là cớ làm sao? Công tôn Kiều nói: - Phàm những đứa hung ác, khi chết đi hồn phách không tan được, hay làm tai làm quái, nếu có chỗ nương tựa thì không như thế nữa. Ta lập hậu cho là muốn cho có chỗ nương tựa. Du Cát nói: - Nếu vậy thì lập Lương Chỉ mà thôi, cần gì phải lập đến công tôn Tiết, chẳng có lẽ lại lo công tử Gia cũng làm tai làm quái nữa hay sao! Công tôn Kiều nói: - Lương Tiêu có tội, không nên lập hậu, nếu nhân việc làm tai làm quái mà lập hậu thì người trong nước tất mê hoặc về truyện quỉ thần, vậy nên ta mượn cớ khác mà lập hậu cả cho họ Lương và họ Khổng, để khiến cho người trong nước khỏi mê hoặc. Du Cát nghe nói mới chịu phục là người giỏi. Sái Cảnh công cưới con gái nước Sở là Vu Thị làm vợ thế tử Ban, rồi lại tư thông với Vu Thị. Thế tử Ban giận lắm, nói: - Cha đã chẳng ra cha thì cần gì phải giữ đạo con! Thế tử Ban lập kế nói dối là đi săn, rồi cùng với mấy người nội thị tâm phúc phục sẵn ở trong phòng Vu Thị. Sái Cảnh công tưởng là thế tử Ban đi vắng, liền đi thẳng vào phòng Vu Thị. Thế tử Ban và mấy người nội thị đổ ra đâm chết Sái Cảnh công rồi sai người cáo với chư hầu là Sái Cảnh công ngộ cảm mà chết. Lại tự lập lên làm vua, tức là Sái Linh công. Năm ấy trong cung nước Tống đang đêm phát hỏa. Các cung nữ trông thấy lửa cháy, bẩm với vợ vua Tống là nàng Bá Cơ (con gái nước Lỗ) để tránh xa nơi khác. Bá Cơ nói: - Cứ theo trong lễ thì người đàn bà, nếu không có phó mẫu ở bên cạnh thì trong khi đang đêm không được đi đâu cả. Dẫu lửa cháy dữ dội đến đâu, ta đây cũng không nên trái lễ. Khi phó mẫu đến nơi thì Bá Cơ đã chết cháy rồi, người nước Tống ai cũng thương tiếc. Tấn Bình công thương nước Tống có cái công hợp thành mà lại bị hỏa hoạn, mới họp chư hầu ở đất Thiền Uyên, quyên tiền để giúp nước Tống. Năm thứ tư đời Chu Cảnh Vương, Tống và Sở vì cớ khi trước kết minh ở nước Tống nay lại định hội nhau ở đất Quắc (đất nước Trịnh). Bấy giờ công tử Vi thay Khuất Kiến làm lệnh doãn. Công tử Vi là thứ tử Sở Cung Vương, tuổi đã lớn, vốn có tính kiêu ngạo, cậy mình tài giỏi, khinh Hùng Mi (vua Sở) hèn yếu, việc gì cũng chuyên quyết cả; thấy Viễn Yểm là người trung thực, vu cho tội phản nghịch, bắt đem giết đi mà cướp lấy nhà; lại giao kết với quan đại phu là Viễn Bái và Ngữ Cử, để âm mưu những sự phản nghịch. Một hôm công tử Vi đi săn, dùng hiệu cờ tinh kỳ của vua Sở. Đi đến Vu Ấp, quan trấn thủ đất Vu Ấp là Thân Vô Vũ kể tội công tử Vi tiếm phận, rồi thu lấy cờ tinh kỳ mà cất vào kho, bởi vậy công tử Vi hơi nhục. Đến bấy giờ công tử Vi sắp sang dự hội ở đất Quắc, liền nói với vua Sở xin sang sứ nước Trịnh trước, để định hỏi con gái họ Phong (dòng dõi công tử Phong). Lúc công tử Vi sắp đi, tâu vói vua Sở là Hùng Mi rằng: - Nước Sở ta đã xưng vương thì ngôi ở trên chư hầu. Phàm sứ thần nước Sở, xin cho dùng lễ vua chư hầu, để khiến các nước biết nước Sở là tôn trọng. Vua Sở thuận cho. Công tử Vi tiếm dùng nghi vệ thiên tử, lại bắt hai người cầm giáo đi dàn mặt. Khi đến địa giới nước Trịnh, người nước Trịnh tưởng là vua Sở, vội vàng phi báo với vua Trịnh. Vua Trịnh sợ hãi, thân hành ra ngoài thành để nghênh tiếp, đến khi trông thấy, mới biết là Công tử Vi. Công tôn Kiều thấy vậy có ý ghét công tử Vi, sợ để cho hắn vào trong thành thì lại sinh biến, liền sai chức hành nhân là Du Cát chối từ rằng nhà công quán trong thành đổ nát, chưa kịp chữa lại, xin mời ở tạm ngoài thành. Công tử Vi sai Ngũ Cử vào trong thành để xin cưới con gái họ Phong. Vua nước Trịnh thuận cho. Khi sắp cưới, công tử Vi lại có ý muốn đánh lẻn vào nước Trịnh, định mượn tiếng đón con gái họ Phong rồi thừa cơ đánh Trịnh. Công tôn Kiều nói: - Cái lòng công tử Vi, không biết thế nào mà lường được; tất phải cấm vào thành. Du Cát nói: - Để tôi ra thương thuyết với công tử Vi. Du Cát ra yết kiến công tử Vi mà nói rằng: - Quan lệnh doãn (trỏ công tử Vi) định đem quân vào đón con gái họ Phong, nhưng trong thành nước tôi nhỏ hẹp, không thể dung nổi, xin dọn một chỗ ở ngoài thành để làm lễ cưới. Công tử Vi nói: - Chúa công đã có lòng yêu tôi mà cho cưới con gái họ Phong, nếu đón ngoài thành sao cho thành lễ? Du Cát nói: - Cứ theo như lễ thì đồ binh khí không được đem vào thành, nay quan lệnh doãn muốn dùng quân đón để cho trọng sự thể thì nên bỏ đồ binh khí. Ngũ Cử mật nói với công tử Vi rằng: - Người nước Trịnh đã biết phòng bị rồi, ta nên bỏ đồ binh khí. Ngũ Cử truyền cho quân sĩ bỏ hết đồ binh khí mà vào đón con gái họ Phong. Khi làm lễ cưới xong, công tử Vi mới ra dự hội với chư hầu. Triệu Vũ nước Tấn cùng với các quan đại phu nước Tống, Lỗ, Tề, Vệ, Trần, Sái, Trịnh và Hứa đều ở đấy cả. Công tử Vi sai người nói với Triệu Vũ rằng: - Sở và Tấn khi trước đã hội thề với nhau, ngày nay bất tất phải sáp huyết nữa, chỉ đem lời hòa ước cũ mà tuyên bá lại để cho các ngài chớ quên mà thôi. Kỳ Ngọ bảo Triệu Vũ rằng: - Lời nói công tử Vi là có ý sợ nước Tấn ta vào sáp huyết trước, bởi vì lần trước ta nhường cho Sở, tất lần này Sở nhường cho ta, nếu giảng lại cái hòa ước cũ thì bao giờ Sở cũng vẫn ở trước, ngài nghĩ thế nào? Triệu Vũ nói: - Công tử Vi sang dự hội mà nghi vệ theo như vua Sở, thế là có ý kiêu ngạo, chi bằng ta để cho hắn kiêu ngạo một thể! Ký Ngọ nói: - Đã đành rằng thế, nhưng lần trước Khuất Kiến cho quân sĩ mặc áo giáp ở trong để đến dự hội, may mà không sinh ra chuyện gì; nay công tử Vi tất lại quá hơn nữa, ngài phải phòng bị mới được. - Việc hội chư hầu này cốt để theo cái ước bãi binh, ta chỉ biết thủ tín mà thôi, còn điều khác ta chẳng ngại chi cả. Khi khai hội, công tử Vi xin giảng lại hòa ước cũ. Triệu Vũ vâng lời. Khi tan hội, công tử Vi vội về. Quan đại phu các nước đều biết công tử Vi rồi sau tất nhiên làm vua nước Sở. Trong lòng Triệu Vũ vẫn lấy việc giảng lại ước cũ để cho Sở đứng trước Tấn làm xấu hổ, sợ người ta nghị luận, mới đem cái nghĩa thủ tín nói đi nói lại mãi cho quan đại phu các nước nghe. Khi Triệu Vũ về đi qua nước Trịnh, có quan đại phu nước Lỗ là Thúc Tôn Báo cùng đi. Triệu Vũ lại nói với Thúc Tôn Báo. Thúc Tôn Báo nói: - Tướng công nghĩ cái ước bãi binh có thể giữ được lâu hay sao! Triệu Vũ nói: - Chúng ta được ngày nào hay ngày ấy, cần gì mà lo đến chuyện lâu dài. Thúc Tôn Báo nói riêng với quan đại phu nước Trịnh và Hãn Hổ rằng: - Triệu Vũ sắp chết đến nơi! Nghe lời nói có ý trễ biếng lắm, không nghĩ gì đến chuyện lâu dài. Vả lại chưa đầy 50 tuổi, mà đã bo bo như ông già 80 tuổi, còn sống lâu sao được! Chưa được bao lâu thì Triệu Vũ quả nhiên ốm chết. Hàn Khởi thay cầm quyền chính nước Tấn. Công tử Vi ở nước Sở về nước gặp Hùng Mi đang ốm trong cung. Công tử Vi vào cung hỏi thăm, giả cách nói có việc cơ mật, đuổi hết nội thị đi, rồi cởi giải mũ, đánh vào gáy Hùng Mi. Một lúc thì Hùng Mi chết. Hùng Mi có hai con là Hùng Mô và Hùng Bình, nghe thấy việc ấy cầm gươm đâm công tử Vi; nhưng công tử Vi sức khỏe lắm, hai người không thể địch nổi, đều bị công tử Vi giết chết. Em Hùng Mi là Hùng Tị (tên tự là Tử Can) và Hùng Hắc Quang (tên tự là Tử Tích) nghe tin cha con Hùng Mi bị hại, sợ mắc tai vạ, đều trốn đi cả. Hùng Tị trốn sang nước Tấn. Hùng Hắc Quang trốn sang nước Trịnh. Công tử Vi cáo với các chư hầu rằng: - Vua nước tôi là Hùng Mi thất lộc đi, có quan đại phu là công tử Vi lên nối ngôi. Ngũ Cử đổi lại rằng: "Các con vua Cung Vương tôi thì công tử Vi nhiều tuổi hơn cả". Bấy giờ công tử Vi lên làm vua, đổi tên là Hùng Kiền, tức là Sở Linh Vương. Sở Linh Vương cho Viễn Bãi làm lệnh doãn, Đấu Thành Nhiên làm giao doãn. Quan thái tể là Bá Châu Lê, bấy giờ đang có công sự ở tại đất Giáo. Sở Linh Vương sợ Bá Châu Lê không phục, sai người đi giết chết, rồi cho Viễn Khải Cương làm quan thái tể. Lại lập trưởng tử là Hùng Lộc lên làm thế tử. Sở Linh Vương từ khi lên làm vua, càng kiêu ngạo lắm, có ý muốn làm bá chủ ở trung nguyên, sai Ngũ Cử sang nước Tấn đòi họp chư hầu; lại nghĩ con gái họ Phong hèn hạ, không đáng làm phu nhân, mới sai người sang cầu hôn ở nước Tấn. Tấn Bình công thấy Triệu Vũ mới mất, sợ thế nước Sở, không dám trái ý, điều gì cũng nghe cả. Năm ấy Trịnh Giản công và Hứa Điệu công sang nước Sở. Sở Linh Vương lưu lại để đợi tin báo của Ngũ Cử. Khi Ngũ Cử về Sở, nói vua Tấn thuận cho cả hai việc. Sở Linh Vương bằng lòng, sai sứ ước với chư hầu đến tháng 3 năm sau thì đại hội ở đất Thân. Trịnh Giản công xin đến đất Thân trước, để nghênh tiếp chư hầu. Sở Linh Vương thuận cho. Mùa xuân năm sau, chư hầu lục tục đến dự hội, chỉ có Lỗ và Vệ mượn cớ khác từ chối đến. Nước Tống sai quan đại phu là Hướng Thú đi thay, còn các nước nhỏ như bọn Sái, Trần, Từ và Đằng đều đến tất cả. Sở Linh Vương đem quân đến đất Thân. Chư hầu đều lại yết kiến. Quan tả doãn là Ngũ Cử tâu với Sở Linh Vương rằng: - Tôi nghe nói muốn làm bá chủ, tất phải được lòng chư hầu, muốn được lòng chư hầu, tất phải giữ lễ. Nay đại vương mới hội chư hầu, có Hướng Thú nước Tống và công tôn Kiều nước Trịnh đều là người biết lễ, ta càng phải nên cẩn thận mới được. Sở Linh Vương nói: - Đời cổ giả, cái lễ hội chư hầu thế nào? Ngũ Cử nói: - Vua Khải nhà Hạ hội chư hầu ở Quân Đài, vua Thang nhà Thương hội chư hầu ở Cảnh Bạc, vua Vũ Vương nhà Châu hội chư hầu ở Mạnh Tân, vua Thành Vương hội chư hầu ở Kỳ Dương, vua Khang Vương hội chư hầu ở Phong Cung, vua Mục Vương hội chư hầu ở Đồ Sơn, Tề Hoàn công hội chư hầu ở Thiệu Lăng, Tấn Văn công hội chư hầu ở Tiễn Thổ. Trong 6 vương 2 công ấy hội chư hầu, đều có đặt ra lễ, tùy ý đại vương chọn lấy mà dùng. Sở Linh Vương nói: - Nay ta muốn làm bá chủ thì nên dùng cái lễ của vua Hoàn công nước Tề hội chư hầu ở Thiệu Lăng, nhưng chẳng hay cái lệ ấy thế nào? Ngũ Cử nói: - Tôi nghe nói vua Hoàn công nước Tề đánh được Sở, lui quân về Thiệu Lăng. Nước Sở sai quan đại phu là Khuất Hoàn sang quân Tề, vua Hoàn công dàn quân 8 nước để khoe cho Khuất Hoàn biết là cường thịnh, rồi mới họp chư hầu cùng với Khuất Hoàn ăn thề. Nay chư hầu mới phục, đại vương cũng nên phô trương thế lực, khiến cho chư hầu sợ hãi thì còn nước nào dám trái lệnh. Sở Linh Vương nói: - Ta muốm dùng quân khiến cho chư hầu sợ hãi, bắt chước như việc vua Hoàn công nước Tề đánh Sở ta khi xưa, chẳng hay trước hết nên đánh nước nào? Ngũ Cử nói: - Khánh Phong nước Tề giết vua, trốn sang nước Ngô; nước đã không trị tội lại cấp lương và cho ở đất Chu Phương, khiến cho hắn được giàu hơn trước, bởi vậy người nước Tề oán giận lắm. Nước Ngô là cừu địch với ta, nếu ta mượn tiếng hỏi tội Khánh Phong mà đem quân đánh Ngô thì thật là nhất cử lưỡng đắc. Sở Linh Vương khen phải, liền dàn quân để dọa chư hầu, rồi hội thề ở đất Thân. Sở Linh Vương thấy mẹ vua nước Từ là con gái nước Ngô, nghi vua Từ bè đảng với nước Ngô, giam lại trong ba ngày. Vua Từ xin đi hướng đạo để đánh Ngô. Sở Linh Vương mới tha, rồi sai quan đại phu là Khuất Thân, đem quân chư hầu đi đánh Ngô, vây đất Chu Phương, bắt Khánh Phong và giết hết những tộc đảng của Khánh Phong. Khuất Thân nghe nói người nước Ngô có phòng bị, liền thu quân về, đem Khánh Phong nộp Sở Linh Vương, Sở Linh Vương toan giết Khánh Phong để tuyên bá cho chư hầu biết. Ngũ Cử can rằng: - Mình không có điều gì trái thì mới kể tội người ta được, nếu ta giết Khánh Phong thì tất thế nào hắn cũng quai mồm mà kể xấu. Sở Linh Vương không nghe, truyền trói Khánh Phong đem ra trước hàng quân, kề dao vào cổ, rồi bắt Khánh Phong phải tự mình lại kể tội mình rằng: "Quan đại phu các nước nghe ta nói: Chớ ai như Khánh Phong nước Tề, giết vua đi rồi hiếp con mồ côi mà ăn thề với các quan đại phu". Khánh Phong quát to lên rằng: - Quan đại phu các nước nghe ta nói: Chớ ai như Thái tử của Sở Cung Vương, tên Vi; giết vua là Hùng Mi, rồi cướp ngôi mà ăn thề với chư hầu. Các người đứng xem, đều bưng miệng cười. Sở Linh Vương hổ thẹn, truyền giết ngay Khánh Phong đi. Sở Linh Vương từ đất Thân trở về nước Sở, thấy Khuất Thân ở đất Chu Phương đã rút quân trở về, không chịu tiến binh, liền nghi là tư thông với Ngô, bắt đem giết đi, rồi cho Khuất Sinh (con Khuất Kiến) thay làm quan đại phu. Viễn Bãi sang nước Tấn đón nàng Cơ Thị về, lập làm Sở Linh Vương phu nhân. Năm ấy, vua Ngô là Di Muội đem quân đánh Sở, tiến vào đất Cúc, đất Lịnh và đất Ma, để báo thù trận đánh ở Chu Phương khi trước. Sở Linh Vương giận lắm, đem quân chư hầu sang đánh Ngô. Vua nước Việt là Doãn Thường giận nước Ngô hay sang quấy nhiễu, cùng quan đại phu là Thường Thọ Quá đem quân đến hội với nước Sở. Tướng nước Sở là Viễn Khải Cương đi tiên phong đem quân chu sư đến Thước Ngạn, bị người nước Ngô phá vỡ. Sở Linh Vương thân hành đem đại quân đến đất La Nhuế. Vua Ngô là Di Muội sai người em họ là Quệ Do đến khao thưởng quân sĩ nước Sở. Sở Linh Vương giận lắm, bắt Quệ Do toan giết để lấy máu bôi vào mặt trống, nhưng sai sứ giả ra hỏi trước một câu rằng: - Khi nhà ngươi sang đây, đã có bói xem tốt xấu thế nào không? Quệ Do nói: - Bói được quẻ tốt lắm! Sứ giả nói: - Đại vương ta định lấy máu nhà ngươi bôi mặt trống, còn tốt cái nỗi gì! Quệ Do nói: - Nước tôi bói là bói sự chung của nhà nước, chứ có vì sự xấu tốt riêng của một người đâu! Chúa công tôi sai tôi sang tới đây khao thưởng quân sĩ là để dò xem đại vương nóng nảy hay là khoan hòa mà nghĩ cách đối đãi. Đại vương vui vẻ mà nghênh tiếp sứ thần thì nước tôi sinh lòng trễ biếng, tất có ngày phải suy mất; nếu dùng máu sứ thần mà bôi mặt trống, khiến cho nước tôi biết là đại vương căm tức, phải hết sức phòng bị thì chắc chống nổi với đại vương, còn gì tốt hơn điều ấy! Sở Linh Vương nói: - Xem thế thì người ấy thật là hiền sĩ! Nói xong, liền tha cho về. Sở Linh Vương đem quân đến địa giới nước Ngô, thấy nước Ngô phòng bị nghiêm mật lắm, không thể đánh nổi, liền rút quân về. Bấy giờ Sở Linh Vương mới thở dài mà than rằng: - Ngày trước ta giết oan Khuất Thân! Sở Linh Vương từ khi về nước, xấu hổ về việc đánh trận vô công, mới bày ra việc thổ mộc, định đem vật lực và chế độ để khoe với chư hầu. Truyền làm một cái cung gọi là cung Chương Hoa, dài rộng 40 dặm; ở giữa xây một cái đài cao, trông ra bốn mặt, gọi là Chương Hoa Đài, cũng gọi là Tam Hưu Đài. Trong cái cung ấy, cửa nhà rất là mỹ lệ; cho dân ở chung quanh. Bao nhiêu những kẻ có tội mà trốn đi, đều gọi cho về ở đấy. Khi làm xong cái cung ấy, sai sứ đi triệu chư hầu đến để khánh thành.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 68 Tấn Bình công thích nghe âm nhạc Trần Vô Vũ chịu phóng gia tài

Sở Linh Vương có một cái tính thiên, hay yêu người lưng nhỏ. Bất cứ trai gái, phàm người nào vòng lưng thô lớn thì Sở Linh Vương ghét, không muốn nhìn. Khi đã làm nên cái cung Chương Hoa, tuyển những mỹ nhân lưng nhỏ, cho vào ở đấy, lại đặt tên là Tế Yêu Cung. Các cung nhân muốn cho Sở Linh Vương yêu, đều ăn ít hoặc nhịn đói để cầu cho lưng nhỏ, thậm chí có người đói quá đến nỗi chết mà cũng không biết hối. Người trong nước bắt chước, đều cho lưng to là xấu, không ai dám ăn no; dẫu các quan triều thần trong khi vào triều, cũng dùng thắt lưng mà thắt chặt lại để cho vua khỏi ghét. Sở Linh Vương quyến luyến ở Tế Yêu Cung ngày đêm uống rượu mua vui, những tiếng âm nhạc, không lúc nào im lặng. Một hôm Sở Linh Vương đang uống rượu ở trên đài, bỗng thấy dưới dài có tiếng huyên náo, được một lúc thì Phan Tử Thần điệu một viên quan đến trước mặt Sở Linh Vương. Sở Linh Vương nhìn xem ai thì là quan trấn thủ ở đất Vu Áp, tên gọi Thân Vô Vũ. Sở Linh Vương kinh sợ hỏi cớ. Phan Tử Thần nói: - Thân Vô Vũ không phụng mệnh mà dám tự tiện vào chốn vương cung, bắt kẻ thủ tốt, thế là một người vô lễ, vậy nên tôi phải bắt giải tới đây, để đại vương trị tội. Sở Linh Vương hỏi Thân Vô Vũ rằng: - Nhà ngươi bắt ai làm vậy? Thân Vô Vũ nói: - Tôi bắt một tên lính canh cửa của tôi. Nguyên tên lính ấy trước tôi sai nó canh cửa, nó lấy trộm tửu khí của tôi, rồi trèo tường trốn đi; tôi tầm nã đã hơn một năm nay mà không bắt được, bây giờ nó sung vào làm thủ tốt ở đây, vậy nên tôi bắt. Sở Linh Vương nói: - Hắn đã làm thủ tốt ở đây thì nhà ngươi nên tha cho hắn. Thân Vô Vũ nói: - Tôi nghe nói trong một nước có người trên kẻ dưới, kẻ dưới phải phục tòng người trên thì nước mới khỏi loạn. Tôi có tên lính canh cửa mà tôi không thi hành được pháp lệnh của tôi, khiến cho nó ẩn nấp vào chốn vương cung. Nếu quân trộm giặc nó đã có chỗ ẩn núp thì còn ai ngăn cấm được nữa. Chẳng thà tôi chịu tội chết, chứ không dám vâng lệnh. Sở Linh Vương khen phải, liền bắt tên lính ấy giao trả Thân Vô Vũ và xá cái tội tự tiện vào chốn vương cung. Thân Vô Vũ lạy tạ, lui ra. Qua mấy ngày nữa, quan đại phu nước Sở là Viễn Khải Cương sang sứ nước Lỗ, cố mời Lỗ Chiêu công đến nước Sở. Sở Linh Vương mừng lắm, Viễn Khải Cương tâu với Sở Linh Vương rằng: - Vua Lỗ lúc trước không chịu đi, tôi phải giảng giải cái tình hòa hiếu của tiên quân nước Lỗ là Thành công khi trước cùng với quan đại phu nước ta là Anh Tề ăn thề ở đất Thục, và dọa lấy những sự tranh chiến, bấy giờ vua Lỗ mới sợ mà phải đi. Vua Lỗ là người hiểu lễ phép lắm, xin đại vương phải lưu tâm, chớ để cho vua Lỗ chê cười. Sở Linh Vương nói: - Vua Lỗ là người thế nào? Viễn Khải Cương nói: - Vua Lỗ mặt trắng mình cao, râu dài hơn thước, trông rất đẹp. Sở Linh Vương liền mật truyền chọn lấy 10 người to lớn râu dài, cho đội mũ áo thật lịch sự, bắt tập lễ trong 3 ngày, rồi sai làm chức thấn tướng để ra tiếp kiến Lỗ Chiêu công. Lỗ Chiêu công ngạc nhiên lấy làm lạ, cùng với 10 người ấy vào chơi cung Chương Hoa. Khi vào đến cung Chương Hoa, Lỗ Chiêu công trông thấy lâu đài mỹ lệ, khen ngợi vô cùng. Sở Linh Vương hỏi Lỗ Chiêu công rằng: - Bên quí quốc có cái cung nào đẹp như thế này không? Lỗ Chiêu công đứng khúm núm mà đáp lại rằng: - Nước tôi nhỏ mọn có đâu dám sánh với quí quốc! Sở Linh Vương nét mặt có ý kiêu ngạo, cùng với Lỗ Chiêu công trèo lên Chương Hoa Đài. Đài cao chót vót mỗi từng lại có bao lơn và mái hiên. Đi đến từng nào thì ở đấy lại có một bọn mỹ đồng múa hát và chuốc rượu; khi đến từng cao nhất, tiếng tơ tiếng trúc nghe văng vẳng như ở lưng chừng trời, khác nào như một nơi thần tiên động phủ, không phải là chốn trần gian. Lỗ Chiêu công uống rượu say, cáo từ lui ra. Sở Linh Vương đem một cái cung đại khuất đưa tặng Lỗ Chiêu công. Ngày hôm sau, Sở Linh Vương nghĩ đến cái cung ấy, lại có ý tiếc nói chuyện với Viễn Khải Cương. Viễn Khải Cương nói: - Tôi xin bảo vua Lỗ phải trả lại cái cung ấy. Viễn Khải Cương liền đến yết kiến Lỗ Chiêu công, giả cách không biết hỏi rằng: - Hôm qua nhà vua ngự tiệc với đại vương tôi, đại vương tôi có tặng nhà vua cái gì không? Lỗ Chiêu công đưa cái cung cho Viễn Khải Cương xem. Viễn Khải Cương trông thấy cái cung, sụp lạy chúc mừng. Lỗ Chiêu công nói: - Làm gì một cái cung mà phải chúc mừng! Viễn Khải Cương nói: - Cái cung này có danh tiếng lắm. Khi trước Tề, Tấn và Việt đều sai người đến cầu, mà đại vương tôi không cho ai cả, ngày nay lại đưa tặng nhà vua, tất thế nào Tề, Tấn và Việt cũng có lòng ghen tức; quí quốc nên phòng bị ba nước kia mà giữ lấy của báu này, vậy tôi xin chúc mừng. Lỗ Chiêu công có ý buồn rầu mà nói rằng: - Tôi không biết cái cung này báu đến như thế, nếu vậy thì tôi không dám nhận. Lỗ Chiêu công liền sai người đem cái cung ấy trả lại Sở Linh Vương, rồi cáo từ xin về. Ngũ Cử nghe thấy chuyện ấy, thở dài mà than rằng: - Đại vương ta khó lòng mà giữ cho toàn vẹn được! Vì việc khánh thành, sai sứ đi triệu chư hầu, không nước nào chịu đến, chỉ có một mình nước Lỗ, mà lại còn tiếc một cái cung để cho thất tín với người ta. Đã tham mà tiếc của mình như thế tất muốn lấy của người, tài nào không có kẻ thù oán, giữ sao cho toàn vẹn được! Tấn Bình công nghe tin nước Sở vì việc khánh thành cung Chương Hoa mà sai sứ đi triệu chư hầu, mới bảo các quan đại phu rằng: - Sở là một nước mọi rợ mà còn biết đem sự lâu đài mỹ lệ khoe với chư hầu, huống chi nước Tấn ta lại chịu kém hay sao! Quan đại phu là Dương Thiệt Bật nói: - Làm bá chủ mà muốn cho chư hầu tâm phục thì cốt trọng ở điều nhân đức. Cái cung Chương Hoa là một điều dở của nước Sở, sao chúa công lại muốn bắt chước? Tấn Bình công không nghe liền lập một cái cung ở bên sông Phần, thuộc về địa giới Khúc Ốc, làm theo kiểu cung Chương Hoa nước Sở, to lớn không bằng, nhưng tinh xảo có phần hơn, đặt tên là Tư Kỳ Cung; cũng sai sứ đi triệu chư hầu. Các vua chư hầu nghe tin ấy, đều lấy làm chê cười, nhưng cũng phải sai sứ đến chúc mừng. Trịnh Giản công khi trước sang dự hội với Sở Linh Vương, chưa đến triều nước Tấn bao giờ; Vệ Linh công mới lên ngôi cũng chưa đến triều nước Tấn, bởi vậy hai vua ấy đều định nhân việc khánh thành Tư Kỳ Cung thì đến yết kiến Tấn Bình công một thể. Vệ Linh công đi đến sông Bộc Thủy, trời tối, nằm ngủ ở nhà quán xá. Đêm hôm ấy, nằm mãi không ngủ được, nghe văng vẳng có tiếng đàn cầm, liền khoác áo trở dậy, ngồi tựa gối mà nghe. Tiếng đàn ty tỷ rất nhỏ mà có thể nghe rõ được, xưa nay chưa có ai gảy được như thế! Vệ Linh công hỏi các người xung quanh thì đều tâu là không nghe có tiếng gì cả. Vệ Linh công vốn là người thích âm nhạc, có quan thái sư tên là Quyên, tinh nghề âm nhạc, Vệ Linh công yêu lắm, đi đâu cũng đem đi theo, bấy giờ sai người triệu sư Quyên (tức là quan thái sư mà tên là Quyên). Sư Quyên đến. Tiếng đàn vẫn chưa dứt, Vệ Linh công bảo Sư Quyên rằng: - Nhà ngươi thử lắng tai nghe, tựa hồ tiếng ma quỉ. Sư Quyên nghe một hồi lâu thì tiếng đàn im. Sư Quyên nói: - Tôi đã nhận được đại lược rồi. Nếu nghe thêm một đêm nữa thì tôi có thể gảy được. Vệ Linh công truyền ở lại thêm một hôm nữa. Nửa đêm hôm ấy, lại nghe có tiếng đàn. Sư Quyên lấy đàn cầm mà tập gảy theo, bắt chước được hết những cái thần diệu. Khi đến nước Tấn, triều kiến xong rồi, Tấn Bình công bày tiệc ở trên đài Tư Kỳ để thết đãi Vệ Linh công. Rượu đã ngà ngà say. Tấn Bình công nói với Vệ Linh công rằng: - Tôi vẫn nghe tiếng nước Vệ có Sư Quyên là người tinh nghề âm nhạc, chẳng hay nhà vua có cho theo đó không? Vệ Linh công nói: - Hiện đang đứng ở dưới đài. Tấn Bình công nói: - Cho gọi lên đây. Vệ Linh công bèn cho gọi Sư Quyên lên. Tấn Bình công cũng cho gọi Sư Khoáng. Người tướng giả tức khắc dắt Sư Khoáng đến. Sư Quyên và Sư Khoáng hai người chào nhau. Tấn Bình công cho Sư Khoáng ngồi rồi bảo Sư Quyên ngồi bên cạnh Sư Khoáng, Tấn Bình công hỏi Sư Quyên rằng: - Độ này có khúc âm nhạc nào mới không? Sư Quyên nói: - Mới rồi trong khi đi đường, tôi có được nghe một khúc đàn, xin cho tôi mượn cây đàn cầm để tôi gảy. Tấn Bình công sai người bắc ghế, đem một cây đàn cầm để ở trước mặt Sư Quyên. Sư Quyên lên dây gảy. Mới gảy được mấy tiếng, Tấn Bình công khen hay. Khi gảy đến nửa chừng, Sư Khoáng lấy tay gạt đi mà bảo rằng: - Thôi thôi, khúc nhạc vong quốc ấy chớ nên gảy! Tấn Bình công nói: - Tại sao biết? Sư Khoáng nói: - Về cuối đời nhà Ân, có sư Diên là quan coi âm nhạc, cùng với vua Trụ làm ra khúc My My, vua Trụ nghe lấy làm thích lắm, tức là khúc này. Đến khi vua Vũ Vương ta đánh vua Trụ, sư Diên ôm đàn chạy về phía đông, nhảy xuống sông Bộc Thủy. Từ bấy giờ có ai hiếu âm mà đi qua đấy thì lại có tiếng đàn văng vẳng ở dưới nước. Khúc này sư Quyên nghe được ở trong khi đi đường, tất là lại trên sông Bộc Thủy. Vệ Linh công nghĩ thầm lấy làm lạ. Tấn Bình công lại bảo Sư Khoáng rằng: - Đó là âm nhạc về đời trước, dẫu gảy nghe chơi, phỏng có hại gì! Sư Khoáng nói: - Vua Trụ vì mê khúc đàn ấy đến nỗi mất nước, đó là một sự bất tường, vậy nên chớ gảy. Tấn Bình công nói: - Ta thích nghe âm nhạc mới. Sư Quyên hãy vì ta gảy hết khúc đàn ấy. Sư Quyên lại lựa dây rồi gảy nốt khúc đàn ấy. Tiếng đàn êm ái, lên bổng xuống chìm, như than như khóc. Tấn Bình công bằng lòng hỏi Sư Khoáng rằng: - Khúc đàn này thuộc về điệu gì? Sư Khoáng nói: - Đó là điệu thanh thương. Tấn Bình công nói: - Điệu thanh thương mà nghe hay như thế à? Sư Khoáng nói: - Điệu thanh thương dẫu hay, cũng chưa bằng điệu thanh chủy. Tấn Bình công nói: - Nhà ngươi có thể gảy cho ta điệu thanh chủy được hay không? Sư Khoáng nói: - Không nên! Ông vua có đức mới được nghe điệu ấy, nay chúa công bạc đức, vậy không nên nghe. Tấn Bình công nói: - Ta thích nghe âm nhạc mới, nhà ngươi chớ nên chối từ. Sư Khoáng bất đắt dĩ phải cầm lấy đàn mà gảy. Mới gảy một khúc, có một đàn chim hạc ở phương Nam bay đến, đậu trước cung môn, đếm cả thảy được 8 đôi. Gảy khúc nữa thì chim hạc bay xuống đứng sắp hàng ở dưới thềm, mỗi bên 8 con. Gảy thêm khúc nữa thì chim hạc vũ cánh mà múa, vươn cổ mà kêu, theo vần cung thương, tiếng vang đến tận trời. Tấn Bình công vỗ tay mà khen. Các người đứng xem ai cũng lắc đầu lè lưỡi, lấy làm sự lạ. Tấn Bình công truyền lấy chén bạch ngọc chi, rót đầy rượu vào, rồi đứng dậy cầm đưa cho Sư Khoáng. Sư Khoáng đỡ lấy uống. Tấn Bình công khen rằng: - Âm nhạc đến như điệu thanh chủy thì không còn gì hơn nữa! Sư Khoáng nói: - Còn chưa bằng điệu thanh dốc. Tấn Bình công ngạc nhiên mà rằng: - Lại có thứ hay hơn thanh chủy nữa à! Sao nhà ngươi không cho ta nghe nốt. Sư Khoáng nói: - Điệu thanh dốc không như điệu thanh chủy, tôi không dám gảy. Ngày xưa vua Hoàng Đế hội các thần ở núi Thái Sơn rồi làm ra điệu thanh dốc; vua đời sau đức bạc, không sai khiến được các thần, vậy nên thần và người mới cách tuyệt nhau. Nếu bây giờ gảy khúc ấy thì các thần lại hiện xuống cả, không khéo thì có tai vạ. Tấn Bình công nói: - Ta nay đã già rồi, nếu được nghe điệu thanh dốc mà chết cũng thỏa lòng! Sư Khoáng nhất định chối từ không chịu gảy. Tấn Bình công đứng dậy, hai ba lần cố ý nài ép mãi. Sư Khoáng bất đắt dĩ lại phải ôm cầm mà gảy. Mới gảy một khúc, có đám mây đen ở phương Tây hiện lên; gảy khúc nữa thì bỗng nổi một cơn giông, bao nhiêu những ngói ở trên nóc điện bay tung lên và cột hiên gãy hết, lại thấy một tiếng sét thật to, rồi mưa như trút nước xuống. Dưới đài nước ngập mấy thước, còn trong đài chỗ nào cũng ướt cả. Tấn Bình công sợ hãi, cùng với Vệ Linh công nằm phục vào một nơi. Khi mưa gió đã im lặng rồi, các nội thị mới vực Tấn Bình công và Vệ Linh công ở trên đài xuống. Đêm hôm ấy, Tấn Bình công vì sợ mà thành bệnh, nằm mộng thấy một vật sắc vàng, to bằng cái bánh xe, lù lù đến trước mặt. Trông kỹ ra thì hình con ba ba, phía trước hai chân, phía sau có một chân, đi đến đâu thì nước tuôn ra đến đấy. Tấn Bình công kêu lên một tiếng, giật mình tỉnh dậy. Sáng hôm sau, các quan vào cung để vấn an. Tấn Bình công nói chuyện lại cho các quan nghe. Các quan đều không hiểu ra làm sao cả. Được một lúc, nghe báo có Trịnh Giản công đến, hiện đã ở ngoài nhà công quán. Tấn Bình công sai Dương Thiệt Bật ra tiếp kiến. Dương Thiệt Bật mừng mà nói rằng: - Nếu vậy thì cái mộng của chúa công có thể đoán ra được. Các quan đều xúm lại hỏi cớ. Dương Thiệt Bật nói: - Quan đại phu nước Trịnh là Tử Sản (tên tự của công tôn Kiều) vốn người học rộng lắm, tất thế nào vua Trịnh cũng cho người ấy đi theo. Ta sẽ đem cái mộng của chúa công ta mà hỏi người ấy. Khi Dương Thiệt Bật ra tiếp kiến Trịnh Giản công và nói cho Trịnh Giản công biết là vua Tấn có bệnh, không thể ra tiếp kiến được. Bấy giờ Vệ Linh công cũng vì sợ mà hơi mệt trong mình, mới cáo từ về nước. Trịnh Giản công cũng cáo từ xin về, cho công tôn Kiều ở lại, để thăm bệnh Tấn Bình công. Dương Thiệt Bật hỏi công tôn Kiều rằng: - Chúa công tôi nằm mộng thấy một vật hình như con ba ba, mình vàng mà ba chân, không hiểu là thế nào? Công tôn Kiều nói: - Ngày xưa vua Nghiêu sai ông Cổn đi trị thủy. Ông Cổn làm không được việc, vua Nghiêu mới chặt một chân mà đem đày ra Đông Hải. Cái linh hồn ông Cổn, hóa làm con rồng vàng. Từ khi con ông Cổn là vua Vũ lên nối ngôi, cho đến bây giờ vẫn cúng tế; nhà Chu suy đồi, quyền chính ở bá chủ, bá chủ nên giúp thiên tử để tế các thần. Hoặc giả vua Tấn bây giờ chưa tế thần ấy chăng. Dương Thiệt Bật đem lời công tôn Kiều tâu lại với Tấn Bình công. Tấn Bình công sai quan đại phu là Hàn Khởi đi tế thần Cổn, bấy giờ bệnh mới hơi bớt. Tấn Bình công khen công tôn Kiều rằng: - Tử Sản (tên tự của công tôn Kiều) thật là một người bác vật! Khi công tôn Kiều sắp về nước Trịnh, nói riêng với Dương Thiệt Bật rằng: - Vua Tấn không biết thương dân, và bắt chước sự xa xỉ của nước Sở, thế là cái lòng nghĩ đã thiên đi rồi, nay lại có tật bệnh, còn cứu làm sao được nữa! Mới rồi, tôi nói chuyện thần Cổn là muốn mượn chuyện ấy để khiến cho vua Tấn được nguôi lòng đó mà thôi. Bấy giờ có người hành khách đang buổi sáng sớm đi qua đất Ngụy Du (đất nước Tấn), nghe ở dưới chân núi có tiếng mấy người họp nhau bàn việc nước Tấn; khi tới gần, nom kỹ chẳng thấy người nào cả, chỉ có hơn chục viên đá mà thôi. Đi khỏi rồi, lại nghe thấy như trước. Người ấy vội vàng ngoảnh cổ ngay lại thì ra tiếng nói ở trong viên đá mà ra, mới giật mình kinh sợ, rồi thuật chuyện lại cho thổ nhân ở đấy biết. Thổ nhân nói: - Chúng tôi nghe thấy đá nói đã mấy ngày nay rồi, chỉ vì chuyện quái dị nên không dám nói đến. Sau có nhiều người đồn thổi đến Giáng Đô (kinh thành nước Tấn). Tấn Bình công triệu Sư Khoáng đến mà hỏi rằng: - Tại sao người đá lại biết nói? Sư Khoáng tâu rằng: - Đó là việc quỉ thần xui khiến ra như vậy. Quỉ thần theo với lòng dân, dân có yên thì quỉ thần mới yên, nay chúa công sửa sang lâu đài, khiến cho dân tốn tiền hao sức, bởi thế mà đá biết nói. Tấn Bình công im lặng. Sư Khoáng cáo lui ra, bảo Dương Thiệt Bật rằng: - Thần và người đều oán giận cả thì chúa công không sống lâu được! Được hơn một tháng nữa, Tấn Bình công lại ốm nặng rồi chết. Các quan triều thần lập thế tử Di lên nối ngôi, tức là Tấn Chiêu công. Lại nói đến chuyện quan đại phu nước Tề là Cao Mại đuổi Cao Chỉ và giết Lư Khâu Anh, cả triều ai cũng không bằng lòng, đến đời con là Cao Cương nối cha làm chức đại phu, tuổi trẻ nghiện rượu, Loan Thi cũng nghiện rượu, bởi vậy hai người rất là tương đắc với nhau, mà không có ý thân thiết với Trần Vô Vũ và Bão Quốc. Trong bốn họ (Cao, Loan, Trần, Bão) ấy chia làm hai đảng. Họ Cao cùng họ Loan, mỗi khi uống rượu say, lại nói xấu họ Trần và họ Bão. Họ Trần và họ Bão biết chuyện, mới đem lòng nghi kỵ. Một hôm, Cao Cương nhân khi say rượu, đánh đứa tiểu thụ. Loan Thi đã không xin hộ, lại xúi thêm vào. Đứa tiểu thụ căm tức, đêm hôm ấy sang báo với Trần Vô Vũ rằng: - Họ Cao cùng họ Loan đang họp quân, để định đến sáng ngày mai thì sang đánh họ Trần và họ Bão. Đứa tiểu thụ nói xong, lại sang báo với Bão Quốc. Bão Quốc tin lời, vội vàng sai tiểu thụ đến ước với Trần Vô Vũ để cùng đánh họ Cao và họ Loan. Trần Vô Vũ tức khắc đem quân định sang nhà Bão Quốc. Đi đến nửa đường, gặp Cao Cương đang đi xe. Cao Cương đã ngà ngà say, ngồi trên xe chắp tay vái chào Trần Vô Vũ và hỏi rằng: - Ngài đem quân đi đâu đấy? Trần Vô Vũ trả lời rằng: - Tôi định đi đánh một đứa đầy tớ làm phản. Trần Vô Vũ lại hỏi Cao Cương rằng: - Ngài định đi đâu? - Tôi định sang uống rượu với họ Loan. Trần Vô Vũ từ biệt Cao Cương, rồi thẳng tới nhà Bão Quốc, đã thấy Bão Quốc đang họp quân để sắp đi. Trần Vô Vũ thuật lại lời Cao Cương cho Bão Quốc nghe và nói với Bão Quốc rằng: - Không biết hắn có sang uống rượu với họ Loan thật hay không? Âu ta thử sai người đi dó thám. Bão Quốc sai người sang dò thám nhà họ Loan. Người nhà về báo rằng: - Họ Cao và họ Loan đang cởi hết cả áo mũ ra, rồi cùng nhau ngồi xổm uống rượu. Bão Quốc nói: - Nếu vậy thì đứa tiểu thụ nói càn rồi! Trần Vô Vũ nói: - Đứa tiểu thụ dẫu nói càn, nhưng Cao Cương gặp ta ở giữa đường, thấy ta đem quân đi, có hỏi ta đi đâu thì ta trả lời là đi đánh đứa đầy tớ làm phản. Nay Cao Cương thấy ta không đánh ai cả, tất sinh lòng nghi, hoặc lập mưu mà đuổi ta trước thì bấy giờ ta hối lại sao kịp, chi bằng ta nhân hắn lúc uống rượu say này mà đánh trước đi là hơn. Bão Quốc khen phải, tức khắc cùng với Trần Vô Vũ đem quân đến nhà Loan Thi, vây kín cả bốn mặt. Loan Thi đang cầm chén rượu sắp uống, nghe tin họ Trần và họ Bão đem quân đến vây, giật mình kinh sợ, đánh rơi chén rượu xuống đất. Cao Cương dẫu say rượu, nhưng còn có định kiến, bảo Loan Thi rằng: - Chúng ta vào triều, phụng mệnh chúa công để đi đánh họ Trần và họ Bão thì tất phải được. Loan Thi tức khắc cùng với Cao Cương đem quân mở cửa sau, phá vòng vây chạy vào tới cung môn. Trần Vô Vũ và Bão Quốc đem quân đuổi theo. Tề Cảnh công ở trong cung, thấy bốn họ đem quân kéo đến, không biết là việc gì, vội vàng truyền cho quân sĩ đóng chặt cửa Hổ Môn lại. Cao Cương và Loan Thi không vào được mới đóng quân ở bên hữu Hổ Môn. Trần Vô Vũ và Bão Quốc cũng đóng bên tả. Hai bên cùng chống giữ nhau. Được một lúc thì Án Anh đi xe đến. Bốn họ đều sai người gọi. Án Anh không ngoảnh lại mà nói rằng: - Tôi chỉ biết theo mệnh vua, không dám có ý riêng với ai cả. Quân sĩ mở cửa cho Án Anh vào yết kiến Tề Cảnh công. Tề Cảnh công nói rằng: - Nay bốn họ cùng đánh nhau, đem quân đến đây ta nên xử ra thế nào? Án Anh nói: - Họ Cao và họ Loan chuyên quyền cậy thế, kể đã lâu ngày, đuổi Cao Chỉ, giết Lư Khâu Anh, khiến cho người trong nước ai cũng tức giận nay lại đem quân tiến vào Hổ Môn, tội ấy không thể tha được; còn họ Trần và họ Bão chưa phụng mệnh vua mà dám đem quân đến đây, cũng không phải là vô tội, xin chúa công định liệu. Tề Cảnh công nói: - Cái tội của họ Cao, họ Loan nặng hơn họ Trần, họ Bão, nên ta trừ họ Cao, họ Loan đi. Nhưng bây giờ biết sai ai cho được? Án Anh nói: - Quan đại phu là Vương Hắc có thể sai được. Tề Cảnh công truyền cho Vương Hắc đem quân giúp họ Trần cùng họ Bão, để đánh họ Cao và họ Loan. Cao Cương và Loan Thi bị thua chạy ra Đại Cù. Người trong nước ghét Cao Cương và Loan Thi đều xúm lại đánh. Cao Cương vẫn chưa tỉnh rượu, không thể địch nổi. Loan Thi chạy ra Đông Môn. Cao Cương cũng chạy theo, Vương Hắc cùng với họ Trần và họ Bão đuổi kịp đến nơi, lại cùng nhau giao chiến ở Đông Môn. Quân Cao Cương và Loan Thi bỏ chạy tán loạn cả. Cao Cương và Loan Thi trốn sang nước Lỗ. Trần Vô Vũ cùng với Bão Quốc đuổi hết họ Cao và họ Loan đi, rồi chiếm lấy gia sản. Án Anh bảo Trần Vô Vũ rằng: - Nhà ngươi tự tiện đuổi kẻ thế thần mà lại chiếm lấy tài lợi thì thế nào người ta cũng chê cười nhà ngươi, sao nhà ngươi không biết đem những tài lợi ấy mà nộp cho công khố, có phải ai cũng bảo nhà ngươi là người có nhượng đức, sẽ có ích cho nhà ngươi về sau này nhiều lắm. Trần Vô Vũ nói: - Đa tạ cái lời ngài chỉ giáo, tôi xin vâng mệnh. Trần Vô Vũ liền đem những gia sản về phần mình chiếm được của họ Cao và họ Loan biên vào quyển sổ, đem dâng Tề Cảnh công. Tề Cảnh công bằng lòng. Trần Vô Vũ lại có đồ lễ vật riêng đem dâng bà Mạnh Cơ là thân mẫu Tề Cảnh công. Bà Mạnh Cơ nói với Tề Cảnh công rằng: - Trần Vô Vũ trừ bỏ kẻ quyền thần để khiến cho nước nhà được cường thịnh, mà bao nhiêu tài lợi, lại nộp vào công khố cả. Cái nhượng đức thật là đáng khen! Sao không đem đất Cao Đường mà phong cho hắn. Tề Cảnh công theo lời. Họ Trần từ bấy giờ mới giàu. Trần Vô Vũ có ý muốn cho người ta khen mình, mới nói với Tề Cảnh công, xin triệu các công tử về, vì các công tử khi trước bị Cao Mại đuổi, thật là vô tội. Tề Cảnh công nghe lời. Trần Công tử sai người đi triệu các công tử về mà bao nhiêu áo mặc và đồ dùng của các công tử, Trần Vô Vũ xuất của nhà ra để cung đốn cả. Các công tử thấy vậy cảm tạ vô cùng. Trần Vô Vũ lại thi ân với họ nhà vua, phàm các công tử, công tôn người nào không có lương, đều xuất của nhà mà chu cấp cho. Những người nghèo khổ trong nước đến vay thóc, lúc cho vay thì đong đấu lớn, lúc đem trả thì đem đấu nhỏ; người nào cùng quá, không thể trả được thì đốt văn tự đi. Bởi vậy người trong nước ai cũng ca tụng cái lòng nhân đức của Trần Vô Vũ. Tề Cảnh công dùng Án Anh làm tướng quốc. Án Anh đều thấy lòng dân đều mến phục họ Trần, thường nói riêng với Tề Cảnh công và khuyên Tề Cảnh công phải mở lòng làm ơn với dân thì mới thu được nhân tâm, nhưng Tề Cảnh công không biết theo. Lại nói chuyện Sở Linh Vương khánh thành cung Chương Hoa, các vua chư hầu đến ít lắm, sau nghe nói nước Tấn khánh thành cung Tư Kỳ, chư hầu đều đến đông cả, mới có ý bất bình, triệu Ngũ Cử vào để thương nghị, muốn cất quân sang đánh trung nguyên. Ngũ Cử nói: - Đại vương lấy nghĩa lý triệu chư hầu, nếu chư hầu không đến thì mới nên trách, chứ lấy việc thổ mộc triệu chư hầu, mà trách rằng chư hầu không đến thì sao cho người ta phục. Nay đại vương muốn đánh trung nguyên, nên tìm kẻ nào có tội mà đánh thì mới khỏi mang tiếng. Sở Linh Vương nói: - Ngày nay nước nào là nước có tội mà nên đánh? Ngũ Cử nói: - Thế tử Ban nước Sái giết cha mà cướp lấy ngôi vua, đến nay đã 9 năm. Lúc đại vương mới hội chư hầu, vua Sái có đến dự hội, bởi vậy ẩn nhẫn mà không giết, nhưng những đứa loạn tặc, dẫu đến con cháu vẫn không khỏi tội, huống chi là đang đời mình. Nước Sái lại tiếp giáp với nước Sở ta, nếu đánh Sái mà chiếm lấy đất thì điều nghĩa và điều lợi, được trọn cả đôi đường. Ngũ Cử nói vừa dứt lời thì có tin báo Trần Ai công (Nịch) chết, con là công tử Lưu lên nối ngôi. Ngũ Cử nói với Sở Linh Vương rằng: - Thề tử Yển Sư nước Trần có tên trong sổ chư hầu, sao ngày nay lập công tử Lưu. Nếu vậy thì thế tử Yển Sư bây giờ để đâu! Cứ như ý tôi nghĩ thì tất là nước Trần lại có biến loạn.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 69 Sở Linh Vương cậy thế hùng cường Án Bình Trọng thi tài ăn nói

Trần Ai công tên là Nịch. Người chánh phi là Trịnh Cơ, sinh con là Yển Sư, đã lập làm thế tử. Còn người thứ phi sinh ra công tử Lưu; người tam phi sinh ra công tử Thắng. Người thứ phi khéo nịnh được yêu, khi đã sinh được công tử Lưu, Trần Ai công muốn lập làm thế tử, nhưng vì đã lập Yển Sư rồi, không lấy cớ gì mà bỏ đi được, mới lấy người em là công tử Chiêu làm thái phó, công tử Quá làm thế phó để giúp cho công tử Lưu. Năm ấy Trần Ai công ốm nặng, đã lâu không ra coi triều, công tử Chiêu bảo công tử Quá rằng: - Con thế tử Yển Sư là công tôn Ngô, năm nay đã lớn tuổi. Nếu thế tử Yển Sư lên nối ngôi thì tất là công tôn Ngô làm thế tử, bao giờ truyền đến công tử Lưu được. Nay chúa công ốm nặng, quyền chính ở trong tay chúng ta, chi bằng giả cách phụng mệnh chúa công giết thế tử Yển Sư đi mà lập công tử Lưu thì ngày sau khỏi hối. Công tử Quá khen phải, liền cùng với quan đại phu là Trần Khổng Hoán thương nghị. Trần Khổng Hoán nói: - Thế tử Yển Sư ngày nào cũng vào cung hỏi thăm chúa công 3 lần, sớm tối ở bên cạnh chúa công, ta không thể nói dối được, chi bằng ta sai người nấp ở cửa cung, đợi khi ra vào mà đâm chết là hơn. Công tử Quá bàn nhau với công tử Chiêu, rồi giao việc ấy cho Trần Khổng Hoán và ước với Trần Khổng Hoán rằng: - Khi đã lập công tử Lưu rồi, sẽ phong cho ấp lớn. Trần Khổng Hoán sai một người lực sĩ tâm phúc đứng lẫn vào trong đám quân sĩ canh cửa. Quân sĩ canh cửa tưởng là người theo hầu thế tử Yển Sư, vậy không nghi ngờ gì cả. Thế tử Yển Sư vào thăm bệnh xong, đang đêm ra đến cung môn, người lực sĩ tắt đèn, rồi đâm chết đi. Chỗ cung môn náo loạn. Được một lúc, công tử Chiêu và công tử Quá đến, giả cách khinh sợ, một mặt sai người tầm nã quân giặc, còn một mặt nói với vua Trần ốm nặng, nên lập công tử Lưu nối ngôi. Trần Ai công biết chuyện, có ý tức giận, rồi thắt cổ mà chết. Công tử Chiêu phụng công tử Lưu đứng chủ tang, rồi lập lên làm vua, lại sai quan đại phu là Vu Trưng Sư đến cáo với vua Sở là Trần Ai công ốm nặng mà chết. Bây giờ Ngũ Cử đang đứng hầu ở bên cạnh Sở Linh Vương thấy nói nước Trần đã lập công tử Lưu lên làm vua, không biết Yển Sư đi đâu, có ý nghi hoặc, bỗng nghe báo có người con thứ ba của Trần Ai công là công tử Thắng và người cháu gọi bằng chú là công tôn Ngô (con thế tử Yển Sư) xin vào yết kiến. Sở Linh Vương cho vào. Công tử Thắng và công tôn Ngô sụp lạy, vừa lạy vừa khóc. Công tử Thắng tâu rằng: - Đích huynh tôi là thế tử Yển Sư bị công tử Chiêu và công tử Quá bày mưu giết đi, để đến nỗi thân phụ tôi phải thắt cổ mà chết, rồi tự tiện lập công tử Lưu lên làm vua. Chúng tôi sợ bị hại, vậy phải đem nhau sang đây để nhờ ơn quí quốc. Sở Linh Vương hỏi Vu Trưng Sư. Lúc trước Vu Trưng Sư còn chối, nhưng bị công tử Thắng biện bác, không thể cãi lại được. Sở Linh Vương nổi giận mắng Vu Trưng Sư rằng: - Nhà ngươi tức là đảng công tử Chiêu và công tử Quá! Sở Linh Vương truyền đem Vu Trưng Sư ra chém. Ngũ Cử tâu với Sở Linh Vương rằng: - Đại vương đã giết Vu Trưng Sư thì nên giúp công tôn Ngô trị tội công tử Chiêu và công tử Quá; như thế thì đường đường chính chính, ai là người không phải phục. Đã dẹp yên nước Trần rồi, sẽ tiến quân sang nước Sái, tôi chắc rằng có thể noi theo được cái công nghiệp của Trang Vương ta thuở xưa. Sở Linh Vương bằng lòng, mới đem quân sang đánh Trần. Công tử Lưu nước Trần nghe tin Vu Trưng Sư bị giết, sợ có tai vạ, không dám lên làm vua, liền trốn sang nước Trịnh. Có người bảo công tử Chiêu sao không đi theo công tử Lưu. Công tử Chiêu nói: - Nếu quân Sở đến, ta sẽ có kế làm cho phải lui. Sở Linh Vương đem quân đến nước Trần. Người nước Trần đều thương thế tử Yển Sư chết oan, trông thấy công tôn Ngô về, ai cũng mừng rỡ, kéo nhau ra đón rước. Công tử Chiêu thấy việc đã nguy cấp lắm, sai người mời công tử Quá để thương nghị. Công tử Quá đến, hỏi công tử Chiêu rằng: - Khi trước ngài nói có kế làm cho quân Sở phải lui, chẳng hay là kế gì? Công tử Chiêu nói: - Tất phải dùng một vật mới lui được quân Sở, ta muốn mượn nhà ngươi. Công tử Quá lại hỏi: - Chẳng hay vật gì? Công tử Chiêu nói: - Cái đầu nhà ngươi. Công tử Quá kinh sợ, vừa toan đứng dậy thì công tử Chiêu truyền cho quân sĩ xúm lại đánh chết mà chém lấy đầu. Công tử Chiêu đem đầu công tử Quá sang quân Sở, sụp lạy Sở Linh Vương mà tâu rằng: - Việc giết thế tử Yển Sư mà lập công tử Lưu, đều là lỗi tại công tử Quá. Nay tôi nhờ uy đại vương, chém công tử Quá đem nộp xin đại vương dung thứ cho tôi. Sở Linh Vương thấy công tử Chiêu nói năng khiêm tốn, đã có ý hơi bằng lòng. Công tử Chiêu lại quì gần ở trước mặt Sở Linh Vương mà mật tâu rằng: - Vua Trang Vương nước Sở ngày xưa dẹp yên nước Trần, đã lấy nước Trần làm quận huyện, sau lại phong cho nước Trần; thành ra uổng công. Nay công tử Lưu sợ tội bỏ trốn, nước Trần không có ai làm chủ, xin đại vương lấy làm quận huyện chớ để cho lại về quyền họ khác. Sở Linh Vương mừng lắm nói: - Lời nói nhà ngươi chính hợp với ý ta! Âu là nhà ngươi hãy về trước, mà quét dọn cung thất để đợi ta sang tới đó. Công tử Chiêu lạy tạ rồi lui ra. Công tử Thắng nghe nói Sở Linh Vương tha cho công tử Chiêu về nước, lại vào tâu với Sở Linh Vương rằng: - Việc giết thế tử Yển Sư, thủ mưu tự công tử Chiêu, đến lúc định khởi sự thì công tử Quá sai quan đại phu là Trần Khổng Hoán làm, nay lại đổ tội cho công tử Quá để mong được tạ tội, như thế thì tiên quân và tiên thế tử tôi ở dưới suối vàng sao cho được hả lòng? Công tử Thắng vật mình lăn khóc, quân sĩ trông thấy ai cũng cảm động. Sở Linh Vương dỗ bảo rằng: - Công tử chớ lo, ta sẽ liệu cách phân xử. Ngày hôm sau, công tử Chiêu sắp sửa xa giá ra đón Sở Linh Vương vào thành. Sở Linh Vương ngồi ở trên triều đường. Các quan triều thần đều đến yết kiến. Sở Linh Vương gọi Trần Khổng Hoán lên mà mắng rằng: - Việc giết thế tử Yển Sư, đều bởi tay nhà ngươi, nếu không giết đi thì sao làm gương cho kẻ khác được! Sở Linh Vương truyền cho quân sĩ đem Trần Khổng Hoán ra chém, rồi đem đầu Trần Khổng Hoán và đầu công tử Quá bêu ở quốc môn. Sở Linh Vương lại bảo công tử Chiêu rằng: - Ta cũng muốn dung tha cho ngươi lắm, nhưng vì công luận, không thể đừng được. Nay ta tha tội chết cho mà nhà ngươi nên đem gia quyến ra ở xứ Đông Hải. Công tử Chiêu kinh sợ không dám cãi lại, sụp lạy rồi lui ra. Sở Linh Vương sai người đem công tử Chiêu ra an trí ở nước Việt. Công tử Thắng và công tôn Ngô sụp lạy Sở Linh Vương, tạ cái ơn dẹp hộ quân giặc. Sở Linh Vương bảo công tôn Ngô rằng: - Ta vẫn muốn lập nhà ngươi lên làm vua nước Trần, nhưng mà đảng công tử Chiêu và công tử Quá còn nhiều, tất lại thù oán, làm hại nhà ngươi, nhà ngươi nên theo ta về nước Sở. Sở Linh Vương truyền đổi nước Trần làm quận huyện nước Sở. Sở Linh Vương thấy Xuyên Phong Thú khi trước dám tranh cái công bắt Hoàng Hiệt nước Trịnh, thế là người không xiểm nịnh, mới cho Xuyên Phong Thú trấn thủ ở đó, gọi là Trần công. Người nước Trần đều lấy làm không bằng lòng. Sở Linh Vương đem công tôn Ngô về nước, nghỉ quân một năm rồi mới đi đánh Sái. Ngũ Cử hiến kế rằng: - Cái tội ác của vua Sái (tức là Sái Linh công, tên là Ban), nay đã lâu ngày, nếu ta đem quân hỏi tội thì kẻ kia tất cãi lại, chi bằng ta dụ đến để giết đi. Sở Linh Vương theo kế ấy, mới giả cách ra tuần du ở Thân Địa và sai người mang lễ vật sang mời Sái Linh công. Sứ nước Sở đem quốc thư đệ trình Sái Linh công. Sái Linh công mở ra đọc. Trong thư đại lược như sau: "Tôi khát vọng nhà vua lắm, mời nhà vua sang hội ở Thân Địa. Gọi là có các đồ lễ vật nhỏ mọn này để khao thưởng kẻ hầu hạ nhà vua, xin nhà vua nhận cho". Sái Linh công truyền sắp xa giá toan đi. Quan đại phu là công tôn Qui Sinh can rằng: - Vua Sở là người tham mà không thực, nay sai sứ tới đây mà lễ nhiều nói ngọt, tất là có ý dụ ta. Chúa công chớ nên đi. Sái Linh công nói: - Nước Sái ta không bằng một huyện của nước Sở, nếu triệu mà ta không đi, tất là kẻ kia đem quân đến đánh, tài nào mà địch lại nổi! Công tôn Qui Sinh nói: - Vậy thì xin lập thế tử đã rồi hãy đi. Sái Linh công nghe lời, lập con là Hữu làm thế tử, và giao cho công tôn Qui Sinh giúp thế tử Hữu để giữ nước, rồi tức khắc đi xe sang Thân Địa. Sái Linh công vào yết kiến Sở Linh Vương. Sở Linh Vương nói: - Tôi cùng nhà vua biệt nhau, thấm thoát đã 8 năm, thế mà mừng thay cho nhà vua, nhan sắc vẫn còn như cũ. Sái Linh công nói: - Nước tôi nhờ ơn đại vương mà được dự hội với chư hầu, chưa biết lấy gì mà đền ơn lại. Mới rồi, nghe nói đại vương đánh được nước Trần, đã toan sang mừng, chẳng ngờ đại vương lại cho sứ đến triệu, vậy tôi xin sang đây để bái yết. Sở Linh Vương bày tiệc để thết đãi Sái Linh công, hát xướng linh đình, rất là trọng thể, Sở Linh Vương sai Ngũ Cử cho các người theo hầu Sái Linh công uống rượu ở ngoài quán. Sái Linh công vui chén uống mãi thành ra quá say. Sở Linh vương ném cái chén rượu làm hiệu thì có quân sĩ ở chung quanh đổ ra, trói Sái Linh công lại, mà Sái Linh công vẫn còn say rượu chẳng biết gì cả. Sở Linh Vương sai người tuyên bá rằng: - Vua Sái giết cha cướp ngôi, nay ta phải thay trời mà trị tội; còn những người theo hầu vua Sái, ai xin hàng thì có thưởng và cũng tha cho được về. Xưa nay Sái Linh công tiếp đãi các tướng sĩ, rất có ân lễ, bởi vậy các tướng sĩ không ai chịu hàng cả. Sở Linh Vương truyền cho quân Sở vây kín lại rồi bắt tất cả. Bấy giờ Sái Linh công rượu đã hơi tỉnh, mới biết là mình bị trói, trừng mắt nhìn Sở Linh Vương nói rằng: - Tôi có tội gì? Sở Linh Vương nói: - Mày giết cha đi mà cướp ngôi, thật là một đứa càn dỡ, bây giờ mới chết, cũng là muộn lắm rồi! Sái Linh công thở dài than rằng: - Tiếc thay ta không nghe lời công tôn Qui Sinh! Những người theo hầu Sái Linh công bị giết, cả thảy 70 người, dẫu đến kẻ hầu hạ cũng bị giết cả. Sở Linh Vương ghi tội Sái Linh công vào cái mộc bản, đem yết lên cho người trong nước biết, và sai Công tử Khí Tật đem quân thẳng đường sang nước Sái. Thế tử Hữu nước Sái, từ khi Sái Linh công đi sang Thân Địa rồi, vẫn sai người dò thám tin tức, bỗng nghe Sái Linh công bị giết, quân Sở sắp sang đến nơi, liền sửa soạn quân mã để phòng giữ. Quân Sở kéo đến, vây kín thành nước Sái đến hai ba vòng. Công tôn Qui Sinh nói với Thế tử Hữu rằng: - Nước Sái ta dẫu phụ thuộc nước Sở đã lâu, nhưng khi Tấn và Sở giao ước bãi binh với nhau, tôi cũng dự vào đó, chi bằng ta sai sứ sang cầu cứu với nước Tấn, nước Tấn nghĩ đến lời giao ước ấy, tất phải cứu ta. Thế tử Hữu nghe lời, đang muốn tìm một người để sai sang sứ nước Tấn. Nguyên trong số 70 người bị Sở Linh Vương giết ở Thân Địa khi trước, có một người tên gọi là Sái Lược, là thân phụ Sái Hựu. Sái Hựu muốn báo thù cho cha, vậy mới nói với Thế tử Hữu xin sang sứ nước Tấn. Sái Hựu đang đêm trèo qua thành trốn đi sang sứ nước Tấn, vào yết kiến Tấn Chiêu công, vừa khóc vừa kể những nông nỗi Sái Linh công bị giết. Tấn Chiêu công họp các quan triều thần lại để thương nghị. Tuân Ngô (con Tuân Yển) nói với Tấn Chiêu công rằng: - Nước Tấn ta làm bá chủ thì trách nhiệm phải bênh vực các nước chư hầu. Trước đã không cứu Trần, nay lại không cứu Sái thì sao gọi là bá chủ được. Tấn Chiêu công nói: - Vua Sở nay vốn là người bạo ngược, mà binh lực ta không địch nổi thì biết làm thế nào? Hàn Khởi nói: - Dẫu biết là không địch nổi, chẳng lẽ cứ ngồi yên hay sao! Ta nên họp quân chư hầu mà đi đánh mới phải. Tấn Chiêu công liền sai Hàn Khởi hội chư hầu ở đất Quyết Ngận. Tống, Tề, Lỗ, Vệ, Trịnh và Tào đều sai quan đại phu đến để dự hội. Hàn Khởi nói đến việc cứu Sái, quan đại phu các nước đều lắc đầu cả, không ai dám nhận lời Hàn Khởi. Hàn Khởi nói: - Các ngươi sợ nước Sở như thế thì định để cho nước Sở cứ mỗi ngày một lấn dần như tằm ăn dâu hay sao! Nếu quân Sở đánh xong Trần, Sái, rồi dần dần đánh đến các nước thì bấy giờ Chúa công tôi cũng không dám bàn gì nữa! Các người đều nhìn nhau, không ai dám trả lời. Bấy giờ quan Hữu sư nước Tống là Hoa Hợi cũng dự hội. Hàn Khởi bảo Hoa Hợi rằng: - Khi trước quan Hữu sư nước Tống là Hoa Nguyên xướng nghị lên mà khiến cho Tấn và Sở hội nhau ở nước Tống để giao ước bãi binh, nếu nước nào trái lời thì các nước cùng đánh. Nay nước Sở bội ước đánh Trần và Sái mà nhà ngươi cứ khoanh tay không nói một câu nào, thế thì không phải là tại nước Sở thất tín, chính là tại nước ngươi khinh mạn chư hầu đó! Hoa Hợi sợ hãi mà đáp rằng: - Khi nào nước tôi dám khinh mạn chư hầu, chẳng qua là tại nước Sở mọi rợ, không nghĩ gì đến tín nghĩa, nước tôi cũng không thể làm thế nào được. Nay các nước nghỉ chân đã lâu mà bỗng nhiên khởi sự chiến tranh thì vị tất đã thắng được Sở, chi bằng ta theo lời giao ước ấy mà sai sứ đến xin vua Sở tha cho nước Sái, chắc là vua Sở không thể chối từ được nữa. Hàn Khởi thấy quan đại phu các nước đều có ý sợ nước Sở, liệu việc cứu Sái không thể nào cổ động được, mới bàn viết một bức thư sai quan Đại phu là Hồ Phủ sang Thân Địa đệ trình Sở Linh Vương. Sái Hựu thấy các nước không chịu đem quân cứu Sái, khóc mà trở về. Hồ Phủ sang đến Thân Địa, vào yết kiến Sở Linh Vương đệ trình bức thư. Sở Linh Vương mở thư ra xem. Trong thư đại lược như sau này: "Ngày trước hội thề ở nước Tống, có giao ước cùng nhau bãi binh, đến khi hội thề ở Quắc Địa lại nhắc lại ước cũ, đã có quỉ thần chứng giám. Chúa công tôi cùng chư hầu noi theo lời giao ước ấy, không dám gây việc chiến tranh. Nay Trần, Sái có tội, quí quốc đem quân đi đánh, dẫu bởi việc nghĩa, nhưng chẳng qua cũng là tòng quyền. Chư hầu thấy tội nhân đã giết được rồi mà việc binh hãy còn chưa bãi, đều đến trách Chúa công tôi sao không biết bênh vực những kẻ hèn yếu. Chúa công tôi lấy làm xấu hổ lắm, nhưng vẫn chưa dám cất quân, là vì sợ trái lời giao ước, vậy phải sai tôi là Hàn Khởi, cùng với quan đại phu các nước, đưa bức thư này, xin Đại vương tha cho nước Sái. Nếu Đại vương nghĩ đến lời giao ước mà để cho nước Sái được toàn vẹn thì Chúa công tôi và các nước đồng minh đều cám ơn Đại vương lắm, chẳng những là người nước Sái." Cuối bức thư, quan đại phu các nước đều ký tên cả. Sở Linh Vương trông thấy, cười mà nói rằng: - Ta đã sắp phá vỡ được nước Sái mà các ngươi muốn đem câu nói đến giải vây hay sao, nếu vậy thì khinh ta là trẻ con quá! Nhà ngươi về nói lại cho vua Tấn biết: Trần, Sái là nước phụ thuộc của ta, không dự gì đến nước Tấn mà nước Tấn phải trông nom hộ. Hồ Phủ toan cố ý nài xin thì Sở Linh Vương đứng dậy đi trở vào, cũng không viết giấy trả lời gì cả. Hồ Phủ căm tức mà trở về. Vua tôi nước Tấn dẫu giận nước Sở, nhưng cũng không biết làm thế nào. Sái Hựu về đến nước Sái, bị quân Sở bắt được, giải đến nộp Công tử Khí Tật. Công tử Khí Tật bắt hiếp Sái Hựu phải đầu hàng. Sái Hựu không nghe. Công tử Khí Tật đem giam ở hậu quân. Công tử Khí Tật biết quân Tấn không đến cứu, lại càng cố sức đánh thành nước Sái. Công tôn Qui Sinh nói với Thế tử Hữu rằng: - Bây giờ việc đã nguy cấp rồi, tôi xin liều mình sang dinh quân Sở để xin quân Sở rút về, nếu quân Sở nghe cho thì dân ta không đến nỗi tàn hại. Thế tử Hữu nói: - Công việc trong thành, trông cậy ở một tay ngài, sao ngài nỡ bỏ tôi mà đi. Công tôn Qui Sinh nói: - Nếu Thế tử không bằng lòng cho tôi đi thì con tôi là Triều Ngô, có thể sai đi được. Thế tử Hữu gọi Triều Ngô đến, khóc mà sai đi. Triều Ngô vào yết kiến Công tử Khí Tật. Công tử Khí Tật tiếp đãi tử tế. Triều Ngô nói: - Công tử đem quân đánh nước tôi, nước tôi chắc thế nào cũng mất, nhưng chưa được rõ là vì tội gì? Nếu vì tội Tiên quân tôi thất đức thì Thế tử nước tôi có tội gì? Tôn xã nước tôi có tội gì? Xin Công tử thương mà xét cho. Công tử Khí Tật nói: - Ta cũng biết nước Sái không đáng phải tuyệt diệt, nhưng ta phụng mệnh vua Sở sang đây, nếu không thành công thì tất có tội. Triều Ngô nói: - Tôi còn có một câu nữa, xin đuổi hết người xung quanh cho tôi được nói. Công tử Khí Tật nói: - Nhà ngươi cứ nói, người xung quanh ta không hề chi cả. Triều Ngô nói: - Vua Sở được nước không phải là chính đạo, Công tử hẳn cũng đã biết. Phàm người biết nghĩ, ai là không giận. Nay lại trong làm khổ dân về việc thổ mộc, ngoài làm khổ dân về việc can qua, lòng tham không chán, năm trước diệt Trần, năm sau lừa Sái. Công tử không nghĩ đến thù chung mà cố sức để giúp, tôi e rằng đến khi tai vạ, chắc là Công tử cũng phải chịu một phần. Công tử vốn là người hiền, mà lại có cái điềm đương bích, người nước Sở ai cũng muốn cho Công tử lên làm vua; nay Công tử đem quân quay về mà trị tội kẻ giết vua, hại dân ấy thì còn ai dám chống lại với Công tử nữa. Chẳng hơn là thờ một ông vua vô đạo mà mua oán với thiên hạ hay sao! Nếu Công tử nghe lời, tôi xin đem quân nước tôi đi làm tiên phong mà giúp Công tử. Công tử Khí Tật nổi giận, nói: - Đứa thất phu kia, dám đem lời nói khéo để làm chia rẽ vua tôi nước ta, tội đáng chém chết, nhưng ta hãy gửi cái đầu ở trên cổ nhà ngươi đó, cho nhà ngươi về truyền bảo Thế tử Hữu mau mau mà ra hàng đi thì còn được toàn tính mệnh! Công tử Khí Tật truyền quân sĩ đuổi Triều Ngô ra. Nguyên là khi trước Sở Cung Vương có một người thiếp yêu, sinh được năm con: Người con trưởng là Hùng Chiêu, tức là Sở Khang Vương; người thứ hai là Vi, tức là Sở Linh Vương; người thứ ba là Tị, tên tự là Tử Can; người thứ tư là Hắc Quang, tên tự là Tử Tích; còn người thứ năm là Công tử Khí Tật. Trong năm người con ấy, Sở Cung Vương muốn chọn một người để lập làm thế tử mà chưa biết lập ai, mới tế các thần, rồi chôn một viên ngọc bích ở giữa sân nhà Thái miếu, sai năm con vào lễ, để xem ai đứng chính giữa viên ngọc bích ấy, tức là người ấy có phúc, về sau được nối ngôi vua. Khang Vương vào trước, đứng lễ quá lên trước chỗ chôn ngọc bích; Linh Vương vào sau, lúc lễ với tay đến chỗ ngọc bích; Tử Can và Tử Tích thì cách ngọc bích xa lắm. Công tử Khí Tật bấy giờ tuổi hãy còn nhỏ, người vú ẵm vào lễ đứng chính giữa ở trên ngọc bích, Sở Cung Vương trong lòng biết là thần giúp, bởi vậy rất yêu Công tử Khí Tật. Khi Sở Cung Vương chết, Công tử Khí Tật hãy còn nhỏ, thành ra Khang Vương lên nối ngôi, nhưng các quan đại phu nước Sở nghe thấy việc chôn ngọc bích ấy, ai cũng biết rằng về sau Công tử Khí Tật lên làm vua. Bấy giờ Triều Ngô nước Sái nói đến cái điềm đương bích, Công tử Khí Tật sợ lời nói ấy truyền bá ra thì tất Sở Linh Vương ghen ghét, vậy nên giả cách đuổi Triều Ngô ra. Triều Ngô trở vào trong thành, thuật lại lời nói của Công tử Khí Tật cho Thế tử Hữu nghe. Thế tử Hữu nói: - Làm vua thì phải vì nước mà chết, đó là lẽ chính, ta đây dẫu chưa nối ngôi, nhưng ta phụng mệnh giữ nước thì cũng nên vì nước mà liều mình, chẳng hơn là chịu cúi đầu làm nô lệ mà thờ kẻ cừu địch hay sao! Thế tử Hữu cố sức chống với quân Sở. Thành nước Sái bị vây từ tháng 7 mùa hạ, đến tháng 11 mùa đông, Công tôn Qui Sinh mệt nhọc thành bệnh, nằm không dậy được. Trong thành lương hết, chết đói mất quá nửa. Quân Sở trèo lên mặt thành, đông như đàn kiến, liền phá vỡ thành nước Sái. Thế tử Hữu đành ngồi mà chịu trói. Công tử Khí Tật vào thành phủ dụ nhân dân, rồi bắt Thế tử Hữu và Sái Hựu giải về nộp Sở Linh Vương, còn Triều Ngô vì có nói về đương bích mà được tha. Chưa được bao lâu, Công tôn Qui Sinh chết, Triều Ngô mới theo Công tử Khí Tật. Bấy giờ Sở Linh Vương đã về Dĩnh Đô (kinh thành nước Sở), nằm mộng thấy một người vào yết kiến, tự xưng là thần Cửu Cương Sơn, bảo Sở Linh Vương rằng: - Nhà ngươi tế ta, ta cho nhà ngươi được thiên hạ! Khi Sở Linh Vương tỉnh dậy, mừng lắm, liền sắp xa giá ra Cửu Cương Sơn. Gặp Công tử Khí Tật báo tin diệt được nước Sái. Sở Linh Vương toan giết Thế tử Hữu để tế thần. Thân Vô Vũ can Sở Linh Vương rằng: - Ngày xưa Tống Tương công giết vua Tắng để tế thần Thư Thủy mà chư hầu làm phản, Đại vương chớ nên theo điều ấy. Sở Linh Vương nói: - Thế tử Hữu là con một người có tội (chỉ Công tử Ban), ta cũng coi như giống súc sinh mà thôi. Thân Vô Vũ lùi ra, thở dài mà than rằng: - Đại vương bạo ngược quá làm vậy thì toàn vẹn làm sao cho được! Thân Vô Vũ liền cáo lão về làm ruộng. Sái Hựu thấy Thế tử Hữu bị giết, thương khóc trong ba ngày, Sở Linh Vương cho là trung, rồi tha tội mà dùng. Sái Hựu nghĩ đến cha là Sái Lược khi trước cũng bị Sở Linh Vương giết, mới có chí định báo thù, bảo Sở Linh Vương rằng: - Các nước chư hầu theo Tấn mà không theo Sở là vì Tấn gần mà Sở xa, nay Đại vương đã đánh được Trần, Sái, tiếp giáp với Trung Nguyên, nếu đắp thành cho cao rộng, rồi đặt thêm quân để thị uy với chư hầu thì nước nào mà không phải sợ. Bấy giờ sẽ tiến sang đánh Ngô và Việt, trước tự phía Đông Nam, sau đến phía Tây Bắc, tôi chắc rằng có thể thay nhà Chu mà làm thiên tử được. Sở Linh Vương nghe nói bằng lòng, từ bấy giờ mới có ý tin dùng Sái Hựu. Sở Linh Vương truyền đắp thành ở Trần, Sái, cao rộng thêm ra, rồi cho Công tử Khí Tật trấn thủ ở nước Sái, để đền lại cái công diệt Sái. Lại đắp hai cái thành ở phía Đông và phía Tây gọi là Bất Lang thành, để giữ địa thế nước Sở. Sở Linh Vương tự lấy làm thiên hạ không nước nào cường thịnh bằng nước Sở, chẳng bao lâu nước Sở sẽ thu được cả thiên hạ, mới gọi quan Thái bốc vào để bói xem bao giờ thì được làm vương. Quan Thái bốc nói: - Ngài đã xưng vương rồi, lại còn bói làm gì! Sở Linh Vương nói: - Nay còn có nhà Chu thì Sở ta chưa phải là vương thật; có thu được hết thiên hạ mới thật là vương. Quan Thái bốc hơ mai rùa để bói. Tự nhiên mai rùa vỡ. Quan Thái bốc nói: - Thế này là việc không thành. Sở Linh Vương cầm mai rùa ném xuống đất, rồi vùng vằng đứng dậy mà kêu to lên rằng: - Trời ôi! Trời tiếc gì mà không cho ta được thiên hạ! Nếu vậy thì sinh ta làm gì! Sái Hựu tâu với Sở Linh Vương rằng: - Việc cốt tại người, chứ cái xương khô (chỉ cái mai rùa) ấy biết gì! Sở Linh Vương bằng lòng. Chư hầu thấy nước Sở cường thịnh, đều có ý sợ hãi, sai sứ đến triều cống. Quan Đại phu nước Tề là Án Anh (tên tự là Bình Trọng) phụng mệnh Tề Cảnh công sang sứ nước Sở. Sở Linh Vương bảo các quan triều thần rằng: - Án Anh mình không đầy 5 thước, mà chư hầu ai cũng khen là người hiền. Nay các nước chỉ có Sở ta là cường thịnh cả, ta muốn làm cho Án Anh phải sỉ nhục, để tỏ cái uy của nước Sở, các ngươi nghĩ xem có kế gì? Quan Thái tể là Viễn Khải Cương mật tâu rằng: - Án Anh là người tài ứng đối, tất phải dùng nhiều cách mới làm sỉ nhục được hắn. Viễn Khải Cương liền đem mưu kế nói với Sở Linh Vương. Sở Linh Vương nghe lời. Đêm hôm ấy, Viễn Khải Cương đem quân ra khoét một cái lỗ nhỏ ở bên cửa đông môn, vừa vặn độ 5 thước, rồi truyền cho quân canh cửa, đợi khi nào sứ nước Tề đến thì đóng chặt cửa giữa lại, rồi bảo chui qua cái lỗ nhỏ ấy mà vào. Được một lúc Án Anh mặc áo cừu rách, đi cái xe xấu và con ngựa gầy, đến cửa đông môn, thấy cửa thành đóng, liền dừng xe lại, sai người gọi cửa. Quân canh cửa trỏ vào cái lỗ nhỏ ở bên cạnh mà bảo Án Anh rằng: - Ngài đi qua cái chỗ ấy, cũng rộng rãi chán, cần gì phải mở cửa! Án Anh nói: - Đó là lỗ chó chui, chứ không phải chỗ người đi. Có sang nước chó thì mới vào cửa chó, chứ sang nước người thì tất phải đi cửa người. Quân canh cửa đem lời nói ấy phi báo Sở Linh Vương, Sở Linh Vương nói: - Ta muốn giỡn hắn, ai ngờ lại bị hắn giỡn lại! Sở Linh Vương truyền mở cửa thành cho Án Anh vào. Án Anh vào trong thành, thấy có một toán xa kỵ, người nào cũng to lớn lực lưỡng và rậm râu, tay cầm một ngọn giáo thật dài, trông như vị thiên thần, đến đón Án Anh, có ý muốn tỏ cho biết Án Anh là người thấp lùn, bé nhỏ. Án Anh nói: - Hôm nay ta sang sứ đây là vì việc giao hiếu, chứ không phải là muốn gây việc chiến tranh, dùng làm chi những kẻ vũ sĩ ấy! Án Anh nói xong bảo vũ sĩ đứng ra một bên, rồi giục xe thẳng tới triều môn. Ngoài triều môn có hơn 10 viên quan, đều mũ cao áo dài, đứng sắp hàng hai dãy. Án Anh xuống xe, chắp tay vái chào. Trong hàng các quan, có một viên trẻ tuổi hỏi Án Anh rằng: - Ngài có phải là Án Bình Trọng, người ở đất Di Duy (tức là Lai Địa) đó không? Án Anh nhìn xem ai thì là con Đấu Vi Qui, tên gọi là Đấu Thành Nhiên, hiện đang làm giao doãn. Án Anh đáp rằng: - Phải! Chính là tôi đó! Chẳng hay ngài định dạy điều gì? Đấu Thành Nhiên nói: - Nước Tề, kể từ đời Thái công thuở xưa, vốn là một nước cường thịnh, sao từ khi Hoàn công mất đi rồi mà trong nước nhiễu loạn, tranh cướp lẫn nhau, hết bị Tấn đánh, lại bị Tống đánh. Cứ như vua Tề ngày nay, cũng chẳng kém gì Hoàn công, mà cái hiền đức của Ngài phỏng có thua gì Quản Trọng (tức là Quản Di Ngô), sao Ngài không biết giúp vua Tề để chấn hưng cái cơ nghiệp cũ, mà chịu cúi đầu thờ nước lớn, như đám nô bộc, thật tôi không hiểu ra làm sao! Án Anh đáp rằng: - Có biết thời vụ mới gọi là tuấn kiệt, có thông cơ biến mới gọi là anh hào. Từ khi nhà Chu suy, Tề và Tấn làm bá chủ ở Trung Nguyên, Tần là bá chủ ở Tây Nhung, Sở làm bá chủ ở Nam Man, dẫu bởi có nhân tài, nhưng chẳng qua cũng là do khí vận. Kìa như Tấn Tương công và Tần Mục công cường thịnh biết bao mà sau cũng phải hèn yếu; nước Sở từ khi vua Trang Vương mất đi, cũng thường bị quân Tấn và quân Ngô đến đánh, cứ gì một nước Tề. Chúa công tôi hiểu cái lẽ ấy, bởi vậy vẫn luyện tập quân mã để mà đợi thời; nay sai tôi sang tới đây là theo cái lẽ giao hiếu với lân quốc, sao gọi là nô bộc được! Ngài có phải là dòng dõi Tử Văn đó không? Tử Văn khi xưa là một bậc danh thần nước Sở, biết thời vụ, thông cơ biến, mà sao lời nói của Ngài lại trái với Tử Văn nhiều lắm! Đấu Thành Nhiên thẹn đỏ mặt lên, rồi cúi đầu lui ra. Được một lúc, trong hàng bên tả lại có một người hỏi Án Anh rằng: - Án Bình Trọng tự đắc là người biết thời vụ, thông cơ biến, nhưng trong khi Thôi Chữ và Khánh Phong nổi loạn, các triều thần nước Tề, từ Giả Cử trở xuống, bao nhiêu người tử tiết. Trần Văn Tử cũng bỏ cả cơ nghiệp mà đi. Ngài là thế gia ở nước Tề, mà đã không dám đánh giặc, cũng không biết tử tiết, còn bo bo giữ lấy cái danh vị làm chi! Án Anh nhìn xem ai thì tức là quan Thượng đại phu nước Sở, tên gọi Dương Mang, tên tự là Tử Hà. Án Anh đáp rằng: - Người có tiết lớn thì không cần những sự tầm thường. Ông vua vì nước mà chết thì bề tôi nên chết theo, nay vua Trang công tôi không phải vì nước mà chết, những người chết theo, toàn là vì tình riêng. Tôi dẫu hèn mạt, có đâu dám liều chết để mua lấy cái hư danh ấy! Vả bề tôi gặp lúc trong nước có nạn, không thể làm gì được thì mới nên bỏ đi. Tôi không đi là để lập vua mới mà giữ lấy nước, chứ có phải là tham danh vị đâu! Nếu ai cũng đi cả thì việc nước còn trông cậy nỗi gì! Huống chi những sự biến loạn, nước nào không có. Ngài chắc các quan triều thần nước Sở đều là những người một lòng tử tiết cả hay sao. Ngài chỉ biết trách người mà không biết trách mình! Dương Mang nín lặng không đáp lại được nữa. Bỗng thấy trong hàng bên hữu lại có một người ra hỏi Án Anh rằng: - Ngài nói là ngài muốn lập vua mới để giữ lấy nước, câu nói ấy có ý viển vông quá! Trong khi họ Thôi và họ Khánh giết lẫn nhau, họ Trần và họ Bão tranh quyền nhau, chẳng thấy Ngài có cái mưu kế gì lạ cả. Nếu có lòng báo quốc sao lại như thế! Án Anh cười mà nói rằng: - Ngài biết điều ấy, nhưng chưa biết điều khác! Trong khi bấy giờ, tôi ở liền bên cạnh Chúa công, rồi bày mưu lập kế để giữ yên nước nhà, những kẻ bàng quan tài nào mà biết rõ được! Trong hàng bên tả lại có một người ra bảo Án Anh rằng: - Đại trượng phu gặp thời, đã có đại tài lược, tất có đại qui mô! Tôi xem ra thì Ngài khó lòng mà tránh khỏi được cái tiếng bỉ lận. Án Anh nhìn xem ai thì tức là quan Thái tể nước Sở, tên gọi Viễn Khải Cương. Án Anh nói: - Tại sao ngài biết là tôi bỉ lận? Viễn Khải Cương nói: - Thân danh ngài làm ông tướng quốc thì những mũ áo và xe ngựa, tưởng cũng nên trang sức để tỏ cái ân huệ của vua, cớ sao lại mặc áo cừu rách, cưỡi con ngựa gầy mà đi sứ nước ngoài như vậy, chẳng có lẽ lương ăn không đủ hay sao! Tôi nghe nói cái áo cừu của Ngài may từ thuở bé, đã 30 năm nay không thay, mà mỗi khi tế lễ, ngài dùng con lợn nhỏ quá, đến nỗi vai lợn không chật mâm, không phải bỉ lận là gì? Án Anh vỗ tay cười ầm lên mà nói rằng: - Sao kiến thức của Ngài thiển cận như vậy! Tôi từ khi làm tướng quốc đến giờ, suốt trong họ hàng nhà tôi đều được mặc áo đẹp, ăn miếng ngon, không ai phải đói rét; những người hàn sĩ nhờ tôi mà được ấm no, cả thẩy đến hơn 70 nhà, thế thì muốn tỏ cái ân huệ của vua, còn gì bằng điều ấy! Án Anh chưa nói dứt lời thì trong hàng bên hữu lại thấy có một người chỉ tay vào mặt Án Anh mà vừa cười vừa nói: - Tôi nghe nói vua Thành Thang mình cao chín thước là bậc hiền vương, Tử Tang sức địch muôn người là bậc danh tướng, nay ngài mình thấp không đầy 5 thước, sức yếu không trói nổi một con gà, chỉ nghề bẻo lẻo mồm miệng, tự đắc là tài, tôi tưởng nên lấy làm xấu hổ lắm! Án Anh nhìn xem lại thì tức là cháu Công tử Chân, tên gọi Nang Ngõa, tên tự là Tử Thường, hiện đang làm chức xa hữu. Án Anh tủm tỉm cười mà đáp rằng: - Tôi nghe nói cái quả cân dẫu nhỏ, bao giờ cũng đè được nghìn cân; cái bánh lái dẫu dài, bao giờ cũng ngâm ở dưới nước. Trường Địch người cao mà bị giết ở Lỗ, Nam Cung Vạn sức khỏe mà bị giết ở Tống, thân thế của Ngài có khi cũng gần giống như vậy! Tôi đây có tài cán gì, nhưng hỏi thì phải nói, sao Ngài lại chê là bẻo lẻo mồm miệng. Nang Ngõa không biết nói thế nào cho được. Bỗng nghe báo có quan Lệnh doãn là Viễn Bãi đến. Các quan đều sắp hàng đứng đợi. Ngũ Cử mời Án Anh vào triều, rồi bảo các quan đại phu rằng: - Án Bình Trọng là hiền sĩ ở nước Tề, sao các Ngài lại nói quá như vậy. Được một lúc Sở Linh Vương ra ngự triều. Ngũ Cử đưa Án Anh vào yết kiến. Sở Linh Vương trông thấy Án Anh liền hỏi rằng: - Quái lạ! Nước Tề thiếu người hay sao! Án Anh nói: - Người nước Tề tôi, hà hơi thì thành ra mây, vẩy mồ hôi thì thành ra mưa, đi thì phải chen vai, đứng thì phải chen chân, sao gọi là thiếu người. Sở Linh Vương nói: - Thế thì sao lại sai đứa bé này sang sứ nước ta? Án Anh nói: - Nước tôi vẫn có lệ: Người hiền sang sứ nước hiền, người ngu sang sứ nước ngu, người bé sang sứ nước bé. Tôi, người bé nhỏ mà hèn mạt, vậy mới phụng mệnh sang sứ nước Sở. Sở Linh Vương nghe nói có ý hổ thẹn, nhưng trong lòng lấy làm lạ. Gặp bấy giờ có chức giao nhân đem dâng hợp hoan quất (quýt). Sở Linh Vương cầm ngay một quả đưa cho Án Anh. Án Anh cắn ăn cả vỏ. Sở Linh Vương vỗ tay cười mà bảo rằng: - Người nước Tề dễ thường không ăn quýt bao giờ! Cớ sao lại không bóc vỏ? Án Anh nói: - Cứ theo trong lễ thì vua đưa cho quả gì, bề tôi cũng không được bóc vỏ mà quẳng đi. Nay Đại vương đưa cho tôi, cũng như là Chúa công tôi đưa cho tôi vậy. Đại vương không truyền cho bóc vỏ, nên tôi phải ăn cả. Sở Linh Vương có ý kính phục, mời ngồi uống rượu. Được một lúc, có ba bốn người vũ sĩ giải một tên tù đi qua dưới thềm. Sở Linh Vương hỏi: - Tên tù ấy người ở đâu? Vũ sĩ tâu: - Người nước Tề. Sở Linh Vương hỏi: - Tên tù ấy phạm tội gì? Vũ sĩ tâu: - Tội ăn trộm. Sở Linh Vương ngoảnh lại bảo Án Anh rằng: - Người nước Tề dễ thường quen tính ăn trộm hay sao? Án Anh biết là Sở Linh Vương cố ý bày ra để chế nhạo mình, mới đáp lại rằng: - Tôi nghe nói thứ quýt ở xứ Giang Nam, đem sang trồng ở xứ Giang Bắc thì hóa ra chua, là tại thổ nghi không giống nhau. Nay người nước Tề, khi ở nước Tề thì không ăn trộm, khi sang Sở thì hóa ra ăn trộm, thế là tại thổ nghi nước Sở, chứ có tại gì nước Tề! Sở Linh Vương nín lặng hồi lâu nói rằng: - Ta định chế nhạo nhà ngươi, chẳng ngờ lại bị nhà ngươi chế nhạo! Sở Linh Vương tiếp đãi Án Anh rất lễ phép, rồi tiễn về nước Tề! Tề Cảnh công khen cái công của Án Anh, tôn làm thượng tướng, cho một cái áo cừu giá nghìn vàng, lại muốn phong thêm thái ấp cho nữa, nhưng Án Anh đều từ chối cả. Tề Cảnh công lại muốn làm cho Án Anh một cái nhà mới. Án Anh cũng cố ý xin thôi. Một hôm, Tề Cảnh công ra chơi nhà, trông thấy vợ Án Anh, mới hỏi Án Anh rằng: - Đấy có phải là nội tử nhà ngươi đó không? Án Anh tâu rằng: - Phải! Tề Cảnh công cười mà nói rằng: - Chao ôi! Già mà xấu lắm! Ta có đứa ái nữ, trẻ mà đẹp, để ta cho nhà ngươi. Án Anh nói: - Lúc trẻ trung, người ta lấy mình là mong rằng lúc già nua có thể nhờ vả được; vợ tôi dẫu già mà xấu nhưng khi nào tôi nỡ phụ lòng! Tề Cảnh công khen rằng: - Vợ con chẳng nỡ phụ, huống chi là vua! Từ bấy giờ Tề Cảnh công có lòng tin yêu Án Anh lắm.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 70 Giết ba anh, Sở Bình Vương lên ngôi Hội chư hầu, Tấn Chiêu công làm chủ

Bấy giờ đang năm thứ 12 đời Chu Cảnh Vương, Sở Linh Vương đã diệt được Trần và Sái rồi, lại thiên các nước nhỏ sang phía Kinh Sơn, bởi vậy nhiều người oán giận. Sở Linh Vương vẫn tự đắc là thiên hạ cầm chắc trong tay mình, chỉ ngày đêm vui chơi ở Chương Hoa Đài, lại toan sai sứ sang nhà Chu đòi lấy chín cái đỉnh để đem về nước Sở. Quan Hữu doãn là Trịnh Đan can rằng: -Nay Tề, Tấn còn mạnh; Ngô, Việt chưa theo thì nhà Chu dẫu sợ ta, chư hầu tất cũng không phục. Sở Linh Vương không bằng lòng mà hỏi rằng: - Có một điều này, suýt nữa ta quên đi mất! Khi trước ta hội chư hầu ở Thân Địa, xá tội cho vua Từ, ai ngờ vua Từ lại bội ta mà theo Ngô; nay ta đánh Từ trước, đánh Ngô sau, khiến cho từ sông Giang trở về phía đông, đều là phụ thuộc của ta cả, thế thì thiên hạ đã về tay ta đến một nửa rồi. Sở Linh Vương giao cho Viễn Bãi và Sái Hựu phải giúp Thế tử Lộc để giữ nước, còn mình thì luyện tập quân mã ở cuối sông Di Thủy, và sai quan Tư mã Đốc đem quân sang vây thành nước Từ. Đại binh Sở Linh Vương đóng ở Kiền Khê để làm thanh viện. Mùa đông năm ấy, tuyết xuống nhiều lắm, ở trên mặt đất, tuyết dầy đến hơn 3 thước. Sở Linh Vương hỏi nội thị rằng: - Ngày trước nước Tần có dâng ta cái áo phục đào cừu và cái nệm thúy vũ bị, các ngươi đem ra đây cho ta. Nội thị đem áo và nệm đưa cho Sở Linh Vương. Sở Linh Vương mặc áo phục đào cừu, khoác nệm thúy vũ bị, đầu đội mũ da, chân đi giày da, tay cầm cái tử ty tiên (roi) ra ngoài trướng đứng xem tuyết. Gặp có quan Hữu doãn là Trịnh Đan đến yết kiến. Sở Linh Vương bỏ mũ và nệm xuống, rồi đứng nói chuyện với Trịnh Đan. Sở Linh Vương nói: - Trời rét quá đi mất! Trịnh Đan nói: - Đại vương mặc mấy lần áo cừu, đứng trong trướng hổ, mà còn rét như thế, huống chi quân sĩ áo thì ít, chân thì trần, đầu đội mũ trụ, mình mặc áo giáp, tay cầm đồ binh, đứng ở trong đám gió tuyết thì khổ biết dường nào! Sao Đại vương không tạm rút quân đánh Từ về, đợi đến qua xuân khí trời ấm áp, bấy giờ sẽ liệu. Sở Linh Vương nói: - Nhà ngươi nói rất phải! Nhưng ta từ khi dụng binh đến nay, đánh đâu được đấy, ta chắc rằng chỉ nay mai thì việc đánh Từ tất có tin thắng trận. Sở Linh Vương nói chưa dứt lời thì thấy có quan Tả sử là Ỷ Tướng đi qua trước mặt. Sở Linh Vương chỉ vào Ỷ Tướng mà bảo Trịnh Đan rằng: - Đây là một người bác vật, phàm các sách như tam phần, ngũ điển, bát sách, cửu khâu, đều thông hiểu cả, nhà ngươi nên trọng đãi người ta. Trịnh Đan nói: - Đại vương khen quá lời! Ngày xưa vua Mục Vương nhà Chu đi dong chơi khắp thiên hạ, tước Sái công là Mưu Phủ làm thơ Kỳ Thiều để can vua Mục Vương, vua Mục Vương nghe lời can mà trở về, tránh khỏi được tai vạ. Thế mà tôi đem thơ ấy hỏi Ỷ Tướng, Ỷ Tướng không biết. Ấy là việc bản triều mà còn không biết, huống chi là việc đời xưa! Sở Linh Vương hỏi: - Bài thơ Kỳ Thiều thế nào, nhà ngươi đọc cho ta nghe. Trịnh Đan đọc. Sở Linh Vương lại hỏi nghĩa. Trịnh Đan cắt nghĩa. Sở Linh Vương biết là Trịnh Đan có ý can mình, mới nín lặng không nói gì cả, ngẫm nghĩ hồi lâu rồi bảo Trịnh Đan rằng: - Nhà ngươi hãy lui ra, để ta nghĩ lại xem. Đêm hôm ấy, Sở Linh Vương đã toan rút quân về, bỗng nghe báo quan Tư mã Đốc đánh được quân Từ, hiện đang vây thành nước Từ. Sở Linh Vương nói: - Nếu vậy thì nước Từ có thể diệt được. Sở Linh Vương nhất định cứ đóng quân ở Kiền Khê, từ đông sang xuân, ngày nào cũng săn bắn làm vui; lại toan bắt dân phải sửa soạn lâu đài ở đấy, không nghĩ gì đến sự về nước cả. Trịnh Đan nói: - Nước Từ cùng với Trần, Sái không giống nhau. Trần, Sái gần Sở, xưa nay vẫn phụ thuộc nước Sở; còn nước Từ thì ở phía đông bắc nước Sở, cách xa hơn 3.000 dặm, lại vẫn phụ thuộc nước Ngô. Đại vương tham cái công đánh Từ, khiến cho quân sĩ phải chịu những sự khổ sở, vạn nhất trong nước có nội biến, quân sĩ sinh lòng chán thì tôi lấy làm nguy lắm! Sở Linh Vương cười mà rằng: - Xuyên Phong Thú ở nước Trần, Công tử Khí Tật ở nước Sái, còn Ngũ Cử giúp Thế tử Lộc giữ nước, đó tức là 3 nước Sở, ta còn sợ gì! Bấy giờ có Triều Ngô (con quan Đại phu nước Sái là Qui Sinh) theo hầu tước Sái công là Khí Tật, ngày đêm vẫn nghĩ mưu để khôi phục nước Sái, mới cùng với Quan Tòng (người nước Sở) thương nghị. Quan Tòng nói: - Vua Sở gây ra việc chinh chiến, đem quân đi lâu ngày không về, nhân dân ai cũng oán giận, ta nên nhân cơ hội này mà khôi phục lại nước Sái. Triều Ngô nói: - Bây giờ làm thế nào mà khôi phục được. Quan Tòng nói: - Hùng Kiền (tên Sở Linh Vương) lập lên làm vua, ba vị công tử (Tử Can, Tử Tích và Khí Tật) đều không phục, chỉ vì sức không làm gì nổi. Nay ta giả mệnh Sái công (tức là Khí Tật) triệu Tử Can và Tử Tích về, rồi hiếp Sái công phải khởi sự mà chiếm lấy nước Sở. Nước Sở đã bị phá thì Hùng Kiền mất sào huyệt, còn làm gì được nữa. Đến đời tự vương sau, tất nhiên ta phục được nước Sái. Triều Ngô nghe lời, sai Quan Tòng giả mệnh Sái công là Khí Tật đi triệu Tử Can (tức là Công tử Tị) ở nước Tấn, và Tử Tích (tức là Công tử Hắc Quang) ở nước Trịnh, nói Khí Tật định lấy quân Trần, Sái đưa hai vị công tử về nước để chống nhau với Hùng Kiền. Tử Can và Tử Tích mừng lắm, tức khắc đi sang nước Sái để hội nhau với Khí Tật. Quan Tòng về báo với Triều Ngô. Triều Ngô đón đường nói với Tử Can và Tử Tích rằng: - Sái công thật không có ý gì cả, nhưng ta có thể hiếp Sái công, bắt phải theo được. Tử Can và Tử Tích nghe nói, nét mặt sợ hãi. Triều Ngô nói: - Hùng Kiền đem quân đi, lâu ngày không về, trong nước không có phòng bị, mà Sái Hựu nghĩ đến cái thù giết cha, chỉ mong cho có bạn. Đấu Thành Nhiên làm chức giao doãn, vẫn thân nhau với Sái công; nếu Sái công khởi sự thì hắn tất làm nội ứng. Xuyên Phong Thú dẫu đã được phong ở Trần, nhưng vẫn không phục Hùng Kiền, nếu Sái công cho người triệu thì hắn tất theo ngay. Đem quân Trần, Sái đánh lấy một nước Sở không có phòng bị, khác nào như lấy của ở trong túi mình, hai Công tử còn lo nỗi gì! Tử Can và Tử Tích nghe nói mới được yên lòng, liền cùng với Triều Ngô uống máu ăn thề. Trong tờ ước thư lại để tên Sái công đứng đầu. Thề xong, Triều Ngô đưa Tử Can và Tử Tích lẻn vào Sái thành. Sái công đang ngồi ăn cơm sáng, bỗng thấy Tử Can và Tử Tích đến, giật mình kinh sợ, toan đứng dậy tránh mặt. Triều Ngô chạy đến nắm lấy vạt áo Sái công mà bảo rằng: - Việc đã đến nơi rồi, Ngài còn định đi đâu! Tử Can và Tử Tích ôm lấy Sái công, rồi vừa khóc vừa nói: - Hùng Kiền vô đạo, giết anh và cháu, lại đuổi bọn chúng tôi. Hai tôi tới đây là muốn nhờ binh lực nhà ngươi để báo thù cho anh. Khi thành sự rồi, sẽ để cho nhà ngươi làm vua. Khí Tật hoảng hốt không biết làm thế nào, mới đáp lại rằng: - Xin hãy thong thả rồi tôi sẽ thương nghị. Triều Ngô nói: - Hai công tử có đói thì cùng ăn cơm với Sái công. Tử Can và Tử Tích ăn cơm xong. Triều Ngô giục phải làm ngay, liền tuyên cáo cho mọi người đều biết rằng: - Sái công triệu hai công tử đến đây, để cùng khởi sự, hiện cùng nhau ăn thề ở ngoài cõi, nay cho hai công tử vào Sở trước. Khí Tật ngăn lại mà bảo rằng: - Sao lại nói oan cho ta! Triều Ngô nói: - Mới rồi, ăn thề ở ngoài cõi, trong tờ ước thư có tên Ngài đứng đầu, Ngài còn giấu chi nữa! Âu là mau mau khởi sự để cùng hưởng phú quí! Triều Ngô lại tuyên cáo ở ngoài chợ cho người nước Sái biết rằng: - Vua Sở vô đạo, diệt nước Sái ta, nay Sái công cho ta phục quốc. Bọn các ngươi đều là dân nước Sái, nỡ nào để cho nước nhà suy vong, nên rủ nhau theo Sái công và hai công tử cùng sang đánh Sở. Người nước Sái nghe nói, đều bảo nhau cầm binh khí đến họp ở cửa Sái công. Triều Ngô nói với Sái công rằng: - Lòng dân đã quả quyết như vậy, Ngài nên phủ dụ mà dùng lấy, nếu không thì sinh biến. Khí Tật nói: - Nhà ngươi bắt ta phải trèo lên mình hổ, bây giờ định làm ra thế nào? Triều Ngô nói: - Hai công tử nay còn ở ngoài cõi, Ngài nên mau mau đem quân nước Sái họp với hai công tử, rồi tôi xin sang bảo Trần công (tức là Xuyên Phong Thú) đem quân theo Ngài. Khí Tật vâng lời, đem quân họp với Tử Can và Tử Tích. Triều Ngô sai Quan Tòng sang Trần, để nói với Trần công. Quan Tòng đi đến nửa đường gặp một người nước Trần, tên gọi Hạ Khiết, tức là cháu Huyền tôn Hạ Trưng Thư, cùng với Quan Tòng vốn quen biết nhau Quan Tòng mới đem việc phục Sái nói với Hạ Khiết. Hạ Khiết nói: - Ta theo hầu Trần công, cũng là có ý muốn phục Trần, nay Trần công ốm nặng, nhà ngươi bất tất phải sang nữa, cứ về trước đi, rồi ta sẽ đem quân Trần sang giúp. Quan Tòng về báo với Sái công. Triều Ngô lại viết một tờ mật thư đưa cho Sái Hựu, bảo làm nội ứng. Sái công sai gia thần là Tu Vụ Mâu làm tiên phong, Sử Áp làm phó tiên phong, lại sai Quan Tòng làm hướng đạo, đem quân đi trước. Gặp bấy giờ Hạ Khiết cũng đem quân Trần đến. Hạ Khiết nói với Sái công rằng: - Xuyên Phong Thú đã chết rồi, tôi đem đại nghĩa hiểu dụ người nước Trần, vậy nên đều vui lòng mà theo cả. Sái công mừng lắm, sai Triều Ngô đốc xuất quân Sái và Hạ Khiết đốc xuất quân Trần, thẳng đường tiến sang Dĩnh Đô. Sái Hựu nghe tin Sái công đem quân đến, tức khắc sai người tâm phúc ra ngoài thành để tống khoản. Đấu Thành Nhiên thân hành ra đón Sái công. Quan Lệnh doãn là Viễn Bãi đang đem quân để giữ thành thì Sái Hựu đã mở cửa cho quân Sái vào. Tu Vụ Mâu vào trước, reo to lên rằng: - Sái công đã giết được vua Sở ở Kiền Khê rồi, đại binh sắp sửa tới đây! Người trong nước ghét Sở Linh Vương vô đạo, đều muốn cho Sái công làm vua, không chống cự gì cả. Viễn Bãi toan đem Thế tử Lộc đi trốn, nhưng quân Tu Vụ Mâu đã vây kín vương cung, Viễn Bãi không vào được, liền về nhà tự đâm cổ mà chết. Sái công đem đại binh vào đến vương cung, gặp Thế tử Lộc và Công tử Bãi Địch, đều giết chết cả, rồi lập Tử Can lên làm vua. Tử Can từ chối. Sái công nói: - Bao giờ cũng phải lập người nhiều tuổi hơn, chớ nên từ chối. Tử Can mới lên nối ngôi, rồi cho Tử Tích làm lệnh doãn và Sái công làm tư mã. Triều Ngô nói riêng với Sái công rằng: - Việc này thủ xướng tự Ngài, sao Ngài lại nhường cho người khác làm vua? Sái công nói: - Vua Sở hãy còn ở Kiền Khê, đã lấy gì làm yên được. Vả lại ta tranh ngôi với anh thì người ta cũng chê cười ta. Triều Ngô hiểu ý, mới hiến kế rằng: - Quân sĩ theo vua Sở ra ở Kiền Khê, bị nhiều sự khổ sở, tất nhiên muốn về; nếu ta sai người đến dụ, chắc hẳn chúng nó bỏ hết, bấy giờ đại binh ta kéo đến thì có thể bắt được vua Sở. Sái công khen phải, liền sai Quan Tòng đến Kiền Khê dụ quân sĩ rằng: - Sái công đã vào kinh thành nước Sở giết hai con vua Sở và lập Tử Can lên làm vua rồi. Vua mới có lệnh rằng phàm các quân sĩ, hễ ai về ngay thì tha cho, ai về sau thì bắt tội cắt mũi; nếu ai theo vua Sở cũ thì trị tội ba họ, ai đem đồ ăn, đồ uống cho vua Sở cũ cũng trị tội như thế. Quân sĩ nghe lệnh, tức khắc tan mất quá nửa. Sở Linh Vương hãy còn say rượu, nằm ngủ ở trên đài. Trịnh Đan hoảng hốt vào báo. Sở Linh Vương nghe nói hai con bị giết, ở trên giường ngã lăn xuống đất rồi khóc ầm lên. Trịnh Đan nói: - Quân sĩ đã ly tán như vậy thì Đại vương nên mau mau trở về. Sở Linh Vương gạt nước mắt mà nói rằng: - Có ai mà yêu con cũng như ta hay không? Trịnh Đan nói: - Giống cầm thú còn biết yêu con, huống chi là người. Sở Linh Vương thở dài mà than rằng: - Ta giết con người ta nhiều lắm thì bây giờ người ta lại giết con ta! Được một lúc, nghe báo vua mới (tức là Tử Can) sai Sái công làm đại tướng, cùng với Đấu Thành Nhiên đem quân Trần và Sái đến Kiền Khê. Sở Linh Vương giận lắm nói: - Ta đãi Đấu Thành Nhiên không có điều gì tệ bạc, mà sao hắn lại phản ta! Chẳng thà ta liều chết mà đánh, còn hơn ngồi để chịu trói. Sở Linh Vương rút quân đi qua Tương Châu, toan về đánh kinh thành nước Sở. Trong khi đi đường, quân sĩ bỏ trốn nhiều lắm. Sở Linh Vương rút gươm chém chết mấy người mà vẫn không ngăn cấm được. Khi đến đất Si Lương chỉ còn độ 100 người đi theo mà thôi. Sở Linh Vương nói: - Thế này còn làm gì được nữa! Nói xong, liền cởi mũ áo treo lên cành liễu. Trịnh Đan nói: - Đại vương hãy về gần đến nơi, để xem xét tình ý người trong nước thế nào. Sở Linh Vương nói: - Người trong nước đều làm phản, còn đợi làm gì nữa! Trịnh Đan nói: - Nếu không thế thì xin trốn sang nước khác, rồi mượn quân về đánh, cũng có thể được. Sở Linh Vương nói: - Chư hầu còn ai yêu ta nữa! Điều đại phúc có lẽ đâu được gặp mãi, chẳng qua chỉ thêm nhục mà thôi. Trịnh Đan thấy Sở Linh Vương không nghe lời, sợ mắc tai vạ, liền cùng với Ỷ Tướng trốn về Sở. Sở Linh Vương không thấy Trịnh Đan, tay chân rụng rời, cứ quanh quẩn ở đất Ly Trạch. Quân sĩ chẳng còn ai cả, chỉ trơ có một mình, trong bụng đói quá, toan tìm vào chốn hương thôn để kiếm cái ăn thì lại không biết đường. Dân ở đấy có kẻ biết là Sở Linh Vương, nhưng lại nghe những quân sĩ đi trốn nói là pháp lệnh của vua mới nghiêm khắc lắm nên sợ hãi bỏ tránh xa cả. Sở Linh Vương suốt trong 3 ngày không được một hột cơm, một giọt nước nào vào miệng, đói quá nằm lả ở dưới đất, chỉ còn có hai con mắt mở trừng trừng, nhìn những kẻ qua người lại, xem có ai quen thuộc biết mà cứu mình chăng. Bỗng gặp có một người đi đến, Sở Linh Vương nhìn xem ai thì tức là một người lính canh cửa khi trước tên gọi Quyên Nhân Trù. Sở Linh Vương gọi mà bảo rằng: - Quyên Nhân Trù! Nhà ngươi cứu ta với! Quyên Nhân Trù nghe tiếng gọi, liền đến trước mặt sụp lạy. Sở Linh Vương nói: - Ta đói đã ba ngày nay rồi! Nhà ngươi kiếm cho ta một bát cơm, họa may có sống được chăng? Quyên Nhân Trù nói: - Ai cũng sợ lệnh vua mới, tôi còn kiếm đâu được cơm. Sở Linh Vương thở dài, bảo Quyên Nhân Trù đến ngồi gần ở bên cạnh, rồi kê đầu gối vào đùi Quyên Nhân Trù để ngủ. Quyên Nhân Trù chờ cho Sở Linh Vương ngủ say, liền nhắc đầu Sở Linh Vương để vào tảng đất, rồi bỏ trốn đi. Khi Sở Linh Vương tỉnh dậy, gọi Quyên Nhân Trù không thấy thưa, mới rờ tay lên đầu thì thấy mình gối vào tảng đất. Sở Linh Vương kêu trời mà khóc, tiếng đã khan cả đi. Lúc nữa, lại có một người đi xe qua, nghe thấy tiếng Sở Linh Vương, xuống xe để nom thì quả là Sở Linh Vương thật, mới sụp lạy ở dưới đất mà hỏi rằng: - Làm sao Đại vương đến nỗi thế này? Sở Linh Vương nước mắt đầy mặt mà hỏi rằng: - Nhà ngươi là ai? Người ấy tâu rằng: - Tôi là Thân Hợi, là con quan trấn thủ ở Vu Địa tên gọi Thân Vô Vũ. Cha tôi hai lần đắc tội với Đại vương, mà Đại vương không giết, vậy nên khi cha tôi gần mất có dặn tôi rằng "Khi nào Đại vương có hoạn nạn gì thì mày phải cố sức mà theo". Tôi nhớ câu ấy, không bao giờ dám quên. Mới rồi tôi nghe tin kinh thành bị phá, Tử Can cướp ngôi, tôi tức khắc ngày đêm thẳng tới Kiền Khê để tìm Đại vương, mà tìm mãi không thấy. May sao lòng trời run rủi, nay lại gặp đây. Bây giờ chỗ nào cũng là đảng Sái công, Đại vương không nên đi đâu cả. Tôi có nhà tại Cức thôn, cũng gần đây, xin Đại vương tạm vào nhà tôi, rồi sẽ thương nghị. Nói xong, liền đem lương khô dâng Sở Linh Vương. Sở Linh Vương cố nuốt xuống cổ, mới dần dần tỉnh lại. Thân Hợi vực Sở Linh Vương lên xe, rồi đưa về Cức thôn. Sở Linh Vương xưa nay ở cung Chương Hoa, lâu đài rực rỡ, nay thấy nhà Thân Hợi lụp xụp, cúi đầu mới chui vào được, nghĩ cũng đau lòng, hai hàng nước mắt chảy xuống giàn giụa. Thân Hợi quì mà tâu rằng: - Xin Đại vương cứ yên lòng, ở đây tĩnh mịch lắm, không có ai đi lại, Đại vương hãy đợi trong mấy ngày, để xem tình hình trong nước thế nào, rồi sẽ định liệu. Sở Linh Vương thổn thức không nói ra tiếng. Thân Hợi lại quì để dâng các đồ thực phẩm. Sở Linh Vương chỉ khóc mà không ăn uống gì cả. Thân Hợi lại sai hai đứa con gái vào hầu, để cho Sở Linh Vương vui lòng, nhưng Sở Linh Vương cứ than thở cả đêm, đến đầu canh năm thì không nghe thấy tiếng than thở nữa. Hai người con gái mở cửa ra, báo với cha là Thân Hợi rằng: - Đại vương đã thắt cổ chết rồi! Thân Hợi nghe nói Sở Linh Vương chết, ngậm ngùi thương tiếc, rồi khâm liệm đem chôn. Lại bắt hai người con gái đem chôn theo. Sái công cùng với Đấu Thành Nhiên, Triều Ngô và Hạ Khiết sang Kiền Khê để đánh Sở Linh Vương. Đi đến nửa đường, gặp Trịnh Đan và Ỷ Tướng thuật chuyện Sở Linh Vương nay thị vệ bỏ trốn hết, chỉ có một thân một mình, đành liều chịu chết, vì không nỡ trông thấy, nên bỏ mà về tới đây. Sái công nói: - Bây giờ hai người định đi đâu? Trịnh Đan và Ỷ Tướng nói: - Chúng tôi định về nước Sở. Sái công nói: - Hai ngươi hãy theo ta, cùng tìm xem tông tích vua Sở ở đâu, rồi sau sẽ về một thể. Sái công đem đại binh đến đất Si Lương, chẳng thấy vua Sở đâu cả. Dân đấy biết là Sái công, liền đem mũ áo vua Sở đến nộp và nói với Sái công rằng: - Mũ áo này là ba hôm trước chúng tôi bắt được ở trên cành liễu. Sái công hỏi rằng: - Vua Sở đã chết hay là còn sống, nhà ngươi có biết không? Người ấy nói: - Không biết. Sái công nhận lấy mũ áo, rồi trọng thưởng cho người ấy. Sái công lại toan cố tìm Sở Linh Vương. Triều Ngô nói với Sái công rằng: - Vua Sở bỏ mũ áo thế này là thế cùng lực kiệt lắm rồi, chắc cũng chết ở nơi ngòi rãnh, bất tất phải cố tìm nữa; nhưng nay Tử Can lên ngôi, nếu để chậm thì hắn thu thập được nhân tâm, ta khó lòng mà trừ nổi! Sái công nói: - Thế thì nên làm thế nào? Triều Ngô nói: - Người trong nước chưa rõ vua Sở sống chết thế nào, ta nhân lúc lòng dân chưa định này mà sai vài mươi tên quân giả cách thua trận chạy về, nói đại binh của vua Sở sắp tới, rồi lại sai Đấu Thành Nhiên về báo tin với Tử Can. Tử Can và Tử Tích đều là những kẻ nhát sợ vô mưu, nghe thấy tin ấy, tất nhiên kinh khiếp mà tự tử, bấy giờ Ngài cứ việc đem quân về, ung dung lên ngôi làm vua, chẳng còn lo ngại điều gì nữa! Sái công khen phải, liền sai Quan Tòng đem hơn 100 quân giả cách thua trận, chạy về Dĩnh Đô, vừa chạy vừa kêu rằng: - Sái công thua trận bị giết rồi! Đại binh của vua Sở cũng sắp sửa tới nơi! Người trong nước tin là sự thật, ai cũng kinh sợ. Được một lúc, Đấu Thành Nhiên đến, cũng nói như vậy, người trong nước càng tin lắm, đều trèo cả lên mặt thành để trông ngóng. Đấu Thành Nhiên vào báo với Tử Can rằng: - Vua Sở giận lắm, định đem quân về trị tội Đại vương, Đại vương nên liệu kế, khỏi đến nỗi đê nhục. Tôi đây cũng xin đi trốn! Đấu Thành Nhiên nói xong, hoảng hốt bỏ đi ngay. Tử Can triệu Tử Tích vào, rồi nói lại cho Tử Tích nghe. Tử Tích nói: - Thế này thì thật Triều Ngô làm hại ta! Hai anh em (Tử Can và Tử Tích) ôm nhau mà khóc. Lại nghe đồn quân Sở Linh Vương đã kéo vào thành. Tử Tích rút gươm đâm cổ mà chết. Tử Can kinh sợ, cũng rút gươm tự tử. Trong cung náo động, hoạn quan và cung nữ sợ mà tự tử cũng nhiều, chết nằm ngổn ngang ở trong cung. Tiếng khóc như ri! Đấu Thành Nhiên lại đem quân vào, thu dọn những thây người chết, rồi đem các quan quần thần ra đón Sái công. Khi Sái công đến, người trong nước chưa biết, vẫn tưởng là Sở Linh Vương, đến lúc thấy Sái công, mới biết những tin hoảng báo trước, đều là mưu kế của Sái công bày ra cả. Sái công vào thành lên ngôi vua, đổi tên là Hùng Cư, tức là Sở Bình Vương. Dân nước Sở chưa ai biết là Sở Linh Vương chết, thường thường náo động, có khi đang đêm huyên truyền nhau là Sở Linh Vương về, ai nấy đều kinh sợ. Sở Bình Vương lo lắm, mới bàn mưu với Quan Tòng, mật sai người lấy một cái thây người chết, đội mũ mặc áo Sở Linh Vương vào, thả ở thượng lưu sông Hán Thủy để cho trôi trở xuống, nói dối là thi thể Sở Linh Vương, vớt lên đem quàn ở đất Si Lương để làm lễ an táng, và hiểu dụ cho người trong nước biết, từ bấy giờ dân Sở mới được yên lòng. Cách 3 năm sau, Sở Bình Vương lại sai người tìm thi thể Sở Linh Vương. Thân Hợi mới bảo chỗ cho biết. Sở Bình Vương lại đem về làm lễ an táng. Lại nói chuyện Tư mã Đốc sang vây nước Từ, lâu ngày không đánh được, sợ tội không dám rút quân về, liền tư thông với nước Từ, cứ đóng đồn giữ ở đấy; sau nghe tin Sở Linh Vương chết rồi mới dám rút quân về. Về đến đất Dự Chương, bị Công tử Quang nước Ngô (con trưởng Chư Phàn) đem quân đón đánh. Công tử Quang bắt được Tư mã Đốc, rồi thừa thế chiếm lấy ấp Châu Lai của nước Sở. Khi Sở Bình Vương đã lên ngôi vua rồi, có làm lễ an táng cho Tử Can và Tử Tích. Cho Đấu Thành Nhiên làm lệnh doãn, Dương Mang (tên tự là Tử Hà) làm tả doãn. Nghĩ thương Viễn Yểm và Bá Châu Lê khi trước bị oan mà chết, mới cho con Bá Châu Lê là Bá Khước Uyển làm hữu doãn và em Viễn Yểm là Viễn Xạ cùng Viễn Việt đều làm đại phu; còn Triều Ngô, Hạ Khiết và Sái Hựu đều cho làm hạ đại phu. Lại thấy Công tử Phường là người dũng cảm, cho làm chức tư mã. Bấy giờ Ngũ Cử đã chết rồi, Sở Bình Vương nghĩ đến khi trước là người hay trực gián, mới phong cho con là Ngũ Xa ở đất Liên, gọi là Liên công. Con Ngũ Xa là Ngũ Thượng cũng phong cho ở đất Đường, gọi là Đường công. Còn như bọn Viễn Khải Cương, Trịnh Đan và các quan triều thần đều được nguyên chức cũ. Sở Bình Vương lại muốn phong chức cho Quan Tòng. Quan Tòng nói là tổ phụ đời trước đã có giữ nghề bói, nay xin làm chức bốc doãn. Sở Bình Vương thuận cho. Các quan triều thần đều sụp lạy tạ ơn, chỉ có Triều Ngô và Sái Hựu xin từ chức mà đi. Sở Bình Vương hỏi cớ làm sao. Triều Ngô và Sái Hựu đều nói: - Chúng tôi đem quân giúp Đại vương là có ý muốn cầu phục nước Sái. Nay Đại vương đã lên ngôi vua, mà tôn tự nước Sái chúng tôi vẫn chưa có ai cúng tế, chúng tôi còn mặt mũi nào mà đứng ở trong triều Đại vương. Ngày xưa vua Linh Vương tham sự chiếm đất, để cho lòng người oán giận; bây giờ Đại vương muốn thu lấy lòng người thì nên phục quốc cho nước Trần và nước Sái mới phải. Sở Bình Vương khen phải, mới sai người tìm những dòng dõi vua Trần và vua Sái, được con Thế tử Yển Sư nước Trần tên là Ngô và con Thế tử Hữu nước Sái tên Lư; liền sai quan thái sư chọn ngày tốt phong cho Ngô làm Trần hầu tức là Trần Huệ công, Lư làm Sái hầu tức là Sái Bình công. Triều Ngô và Sái Hựu theo Sái Bình công trở về nước Sái. Hạ Khiết theo Trần Huệ công trở về nước Trần. Những quân Trần, Sái đều được khao thưởng, rồi nước nào lại rút về nước ấy. Bao nhiêu những châu báu của Trần, Sái mà khi trước Sở Linh Vương lấy về, đem chứa ở trong kho nước Sở, bấy giờ đều trả lại cho Trần, Sái cả. Sáu nước nhỏ mà khi trước Sở Linh Vương bắt thiên về phía Kinh Sơn, bấy giờ đều được trở về chốn cũ, bởi vậy vua tôi các nước ấy đều mừng rỡ và cám ơn Sở Bình Vương vô cùng. Con trưởng Sở Bình Vương tên là Kiến, tên tự là Tử Mộc (người mẹ là con gái nước Sái) bấy giờ tuổi đã lớn, được thế tử. Sở Bình Vương lại cho Liên công là Ngũ Xa làm chức thái sư. Có một người nước Sở tên là Phí Vô Cực, xưa nay vẫn theo hầu Sở Bình Vương, khéo xu nịnh lắm, Sở Bình Vương có lòng yêu, cho làm đại phu. Phí Vô Cực xin theo Thế tử Kiến. Sở Bình Vương mới cho làm chức thiếu sư, lại cho Phấn Dương làm Đông cung tư mã. Sở Bình Vương thấy trong nước được thái bình, chỉ ngày đêm vui chơi về đường thanh sắc. Nước Ngô chiếm mất ấp Châu Lai, Sở Bình Vương cũng chẳng nghĩ gì đến sự báo phục. Phí Vô Cực dẫu làm chức thiếu sư, nhưng ngày nào cũng theo hầu ở bên cạnh Sở Bình Vương. Thế tử Kiến ghét Phí Vô Cực là người xu nịnh, có ý khinh bỉ. Quan Lệnh doãn là Đấu Thành Nhiên cậy công chuyên quyền, Phí Vô Cực gièm với Sở Bình Vương mà giết đi, rồi cho Dương Mang làm lệnh doãn. Thế tử Kiến thường nói chuyện Đấu Thành Nhiên là chết oan, bởi vậy Phí Vô Cực lo sợ, thành ra hiềm khích với Thế tử Kiến. Phí Vô Cực lại tiến dẫn Yên Tương Sư, Sở Bình Vương cho làm chức hữu lĩnh, cũng có lòng yêu lắm. Lại nói chuyện nước Tấn từ khi lập ra Tư Kỳ cung, chư hầu đều có lòng chán; đến đời Tấn Chiêu công lên làm vua, lại muốn chỉnh đốn lại công nghiệp của đời trước, nghe nói Tề Cảnh công cho Án Anh sang sứ nước Sở, cũng sai người đến trách nước Tề sao không sang triều kiến nước mình. Tề Cảnh công thấy Tấn và Sở trong nước nhiều việc biến loạn, có ý muốn thừa thế lên làm bá chủ, mới định nhân tiện sang triều kiến nước Tấn để xem Tấn Chiêu công là người thế nào. Khi Tề Cảnh công sang Tấn, cho kẻ dũng sĩ là Cổ Giã Tử đi theo. Đi đến sông Hoàng Hà, Tề Cảnh công có con ngựa tả tham buộc ở mạn thuyền. Tề Cảnh công vốn yêu con ngựa ấy lắm, đang đứng xem chức ngữ nhân cho ngựa ăn, bỗng thấy một trận mưa to, sóng gió ầm ầm, thuyền nghiêng cả đi, có con giải lớn thò đầu lên trên mặt nước, há miệng thật to ghếch vào mạn thuyền, tha con ngựa tả tham lôi xuống sông. Tề Cảnh công kinh sợ. Cổ Giã Tử đứng ở bên cạnh, nói với Tề Cảnh công rằng: - Chúa công chớ kinh sợ! Tôi xin đi tìm! Cổ Giã Tử nói xong, cởi áo cầm gươm, nhảy xuống dưới nước, bập bềnh trong làn sóng, trôi đi đến 9 dặm, rồi chẳng thấy tông tích đâu cả. Tề Cảnh công thở dài mà than rằng: - Cổ Giã Tử chết mất rồi! Được một lúc, sóng gió im lặng, trông thấy có máu chảy ở mặt nước, Cổ Giã Tử tay trái kéo đuôi ngựa tả tham, tay phải xách một cái đầu con giải, đầm đìa những máu, ở dưới nước lên. Tề Cảnh công kinh sợ mà khen rằng: - Thế thì thật là thần dũng! Tiên quân ta ngày xưa đặt đội Dũng tước, cũng chưa có ai được giỏi như vậy! Tề Cảnh công liền hậu thưởng cho Cổ Giã Tử. Khi đến nước Tấn, Tề Cảnh công vào yết kiến Tấn Chiêu công. Tấn Chiêu công bày tiệc thết đãi. Nước Tấn thì Tuân Ngô làm tướng lễ. Nước Tề thì Án Anh làm tướng lễ. Khi rượu đã ngà ngà say, Tấn Chiêu công nói với Tề Cảnh công rằng: - Bây giờ không biết lấy gì làm vui, xin đánh đầu hồ. Tề Cảnh công vâng lời. Thị vệ bày cái hồ ra và dâng một nắm tên để đánh. Tề Cảnh công nhường cho Tấn Chiêu công đánh trước. Tấn Chiêu công đang cầm cái tên ở trong tay, Tuân Ngô nói to lên mà khấn rằng: "Có gò thịt cao, có ao rượu sâu, Chúa công tôi trúng phát tên này thì làm chủ chư hầu!" Tấn Chiêu công buông mạnh một cái thì cái tên ấy trúng vào hồ, còn các cái tên khác, Tấn Chiêu công ném cả xuống đất. Các quan triều thần nước Tấn thấy vậy, đều sụp lạy chúc mừng Tấn Chiêu công. Tề Cảnh công có ý không bằng lòng, khi cầm cái tên để đánh đầu hồ, cũng khấn rằng: "Có gò thịt cao, có ao rượu sâu, tôi trúng phát tên này thì thay nhà vua mà làm chủ chư hầu!" Tề Cảnh công cũng buông mạnh một cái, trúng ngay vào trong hồ. Tề Cảnh công cười to lên, rồi ném nắm tên xuống đất. Án Anh cũng sụp lạy chúc mừng Tề Cảnh công. Tấn Chiêu công sầm nét mặt lại. Tuân Ngô nói với Tề Cảnh công rằng: - Nhà vua khấn thế là không phải! Chỉ vì cớ nước Tấn tôi nối đời làm bá chủ mà nay nhà vua mới tới đây, sao nhà vua lại dám nói là thay Chúa công tôi làm chủ chư hầu! Án Anh thay lời Tề Cảnh công mà đáp rằng: - Bá chủ có nhất định bao giờ, ai có đức thì người ấy được. Ngày xưa nước Tề làm bá chủ, rồi đến nước Tấn thay; nước Tấn có đức thì ai dám không phục, nhược bằng không đức thì Ngô và Sở cũng có thể thay Tấn được, huống chi là Tề! Dương Thiệt Bật nói: - Hiện nay nước ta đang làm chủ chư hầu, việc gì phải bói đầu hồ mới biết! Tuân Ngô nói thế là không phải! Tuân Ngô biết là lỗi ở mình, nín lặng không nói gì cả. Cổ Giã Tử đứng ở dưới thềm nói to lên rằng: - Ngày đã về chiều, nên bãi cuộc rượu! Tề Cảnh công cáo từ lui ra. Ngày hôm sau, trở về nước Tề. Dương Thiệt Bật nói với Tấn Chiêu công rằng: - Chư hầu đã sắp có lòng ly tán, nếu không dùng binh lực thì sao giữ được quyền bá chủ. Tấn Chiêu công khen phải, liền truyền lệnh tập quân mã và sai sứ sang nhà Chu xin cho một người vương thần đến, để hẹn tới tháng 7 năm ấy thì đại hội chư hầu ở đất Bình Khâu (đất nước Vệ), Chư hầu nghe nói có vương thần dự hội, đều phải đến cả. Tấn Chiêu công giao cho Hàn Khởi giữ nước rồi đem đại binh thẳng đường tiến sang Bộc Dương (kinh thành nước Vệ). Quân đóng cả thảy 30 trại. Chư hầu thấy quân Tấn nhiều thịnh như vậy, đều có ý sợ. Khi khai hội, Dương Thiệt Bật bưng chậu máu dâng lên mà nói rằng: - Tiên thần nước tôi là Triệu Vũ quá tin lời ước bãi binh mà giao hiếu với nước Sở; vua Sở là Hùng Kiền (tức là Sở Linh Vương) thất tín, đến nỗi diệt vong. Nay Chúa công tôi muốn bắt chước như kỳ hội Tiễn Thổ khi trước, trên nhờ ơn Thiên tử, dưới giữ yên Trung Nguyên, xin các nước cùng nhau uống máu ăn thề để đừng thất tín. Các vua chư hầu đều cúi đầu mà đáp rằng: - Xin vâng mệnh! Chỉ có Tề Cảnh công nín lặng không nói gì cả. Dương Thiệt Bật nói với vua Tề rằng: - Nhà vua có ý không muốn ăn thề hay sao? Tề Cảnh công nói: - Chư hầu không phục thì mới phải ăn thề, nếu ai cũng vâng mệnh thì còn thề làm gì nữa! Dương Thiệt Bật nói: - Kỳ hội ở Tiễn Thổ khi trước, nước nào là nước không phục, mà sao cũng phải ăn thề! Nhà vua không theo thì Chúa công tôi thế tất phải đem quân đến hỏi tội. Dương Thiệt Bật nói chưa dứt lời thì nghe hiệu trống đánh, các trại quân đều cắm cờ đại bái cả. Tề Cảnh công có ý sợ, mới đổi giọng đáp rằng: - Quí quốc còn cho việc ăn thề là không thể bỏ được, có đâu tôi lại dám không theo! Bấy giờ Tấn Chiêu công uống máu ăn thề trước, rồi sau đến chư hầu, từ Tề, Tống trở xuống đều ăn thề cả. Vương thần là Lưu Trí không thể ăn thề, chỉ đứng chứng kiến mà thôi. Nước Châu và nước Cử đem việc nước Lỗ thường sang xâm nhiễu cáo với Tấn Chiêu công. Tấn Chiêu công trách Lỗ Chiêu công rồi bắt quan Thượng khanh nước Lỗ là Thúc Tôn Ý Như giam lại một chỗ. Tử Phục Huệ Bá nói riêng với Tuân Ngô rằng: - Nước Lỗ to gấp mười nước Châu và nước Cử, nếu Tấn bỏ Lỗ thì Lỗ tất theo Tề và Sở, chẳng cũng thiệt cho Tấn lắm ru! Vả khi Sở đánh Trần và Sái, Tấn đã không cứu, mà nay lại còn bỏ một nước anh em hay sao! Tuân Ngô khen phải, nói chuyện với Hàn Khởi. Hàn Khởi vào tâu với Tấn Chiêu công. Tấn Chiêu công liền tha cho Thúc Tôn Ý Như về nước Lỗ. Từ bấy giờ chư hầu đều có ý không phục nước Tấn.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 71 Vì quả đào, cùng nhau sống chết Tham gái đẹp, quên tình cha con

Tề Cảnh công đến dự hội ở Bình Khâu, dẫu sợ binh uy nước Tấn mà phải ăn thề, nhưng trong lòng biết là nước Tấn không có chí lớn, vì vậy muốn khôi phục lại cái công nghiệp bá chủ của Tề Hoàn công thuở xưa, khi về nước, bảo quan Tướng quốc là Án Anh rằng: - Nước Tấn làm bá chủ ở phía tây bắc, ta làm bá chủ ở phía đông nam, cũng được chứ sao! Án Anh nói: - Nước Tấn sinh sự thổ mộc để làm khổ dân bởi vậy mà chư hầu ly tán. Nay Chúa công muốn làm bá chủ, không gì bằng thương dân. Tề Cảnh công nói: - Thương dân thì làm thế nào? Án Anh nói: - Giảm bớt hình phạt thì dân khỏi oán, nhẹ bớt thuế má thì dân biết ơn. Tiên vương ngày xưa hễ thấy dân nghèo khổ tất phát thóc kho mà chu cấp cho dân, nay Chúa công cũng nên bắt chước. Tề Cảnh công phát thóc kho ra để chu cấp cho những người nghèo khổ. Người trong nước ai cũng bằng lòng. Tề Cảnh công bắt các nước chư hầu ở đông phương phải sang triều cống nước Tề. Nước Từ không chịu theo. Tề Cảnh công sai Điền Khai Cương làm tướng, đem quân đi đánh Từ. Hai bên đánh nhau ở đất Bồ Toại (đất Từ). Điền Khai Cương chém được tướng nước Từ là Doanh Sảng và bắt giáp sĩ hơn 500 người. Vua Từ sợ lắm, sai sứ đến xin giảng hòa với nước Tề. Tề Cảnh công liền ước với vua Đàm, vua Cử và vua Từ cùng ăn thề ở đất Bồ Toại. Vua Từ đem cái đỉnh của nước Thân Phủ đến lễ đút lót Tề Cảnh công. Vua tôi nước Tấn dẫu biết như vậy, mà không dám hỏi đến. Từ bấy giờ nước Tề mỗi ngày một cường thịnh cùng với nước Tấn đều làm bá chủ. Tề Cảnh công thưởng cái công Điền Khai Cương dẹp được nước Từ, và công Cổ Giã Tử chém được con giải, đều cho vào hàng Ngũ thặng tân. Điền Khai Cương lại tiến dẫn Công tôn Tiệp là người vũ dũng. Nguyên Công tôn Tiệp mặt như chàm đổ, hai mắt ốc nhồi, mình cao hơn trượng, sức khỏe mang nổi mấy nghìn cân nặng. Tề Cảnh công trông thấy lấy làm lạ, mới cùng Công tôn Tiệp đi săn ở Đông Sơn. Trong khi đang đi săn, bỗng trông thấy một con hổ, trán có đốm trắng, ở khe núi gầm thét chạy ra, toan vồ con ngựa của Tề Cảnh công. Tề Cảnh công giật mình kinh sợ. Công tôn Tiệp ở trên xe nhảy xuống, chẳng có gươm giáo gì cả, hai tay không xông vào bắt con hổ ấy, tay trái nắm lấy gáy con hổ, tay phải đấm mạnh một cái, con hổ chết ngay lập tức, thành ra cứu thoát được Tề Cảnh công, Tề Cảnh công khen là vũ dũng, cũng cho dự vào hàng Ngũ thặng tân. Công tôn Tiệp liền cùng với Điền Khai Cương và Cổ Giã Tử kết làm anh em, tự xưng là Tam kiệt ở nước Tề, cậy mình có công to và sức khỏe, vẫn thường khinh bỉ các quan triều thần, nhiều khi ở trước mặt Tề Cảnh công mà ăn nói hỗn láo, chẳng có lễ phép chút nào cả. Tề Cảnh công tiếc cái tài vũ dũng của ba người ấy, cũng có ý khoan dung cho. Bấy giờ trong triều có một kẻ nịnh thần là Lương Khâu Cứ, Tề Cảnh công yêu lắm. Lương Khâu Cứ trong thì xiễm nịnh Tề Cảnh công để được tin dùng, ngoài thì giao kết với Tam kiệt để thêm vây cánh. Bấy giờ có Trần Vô Vũ đang phóng tài hóa thu nhân tâm, có cơ muốn chiếm nước Tề, mà Điền Khai Cương lại là thân thuộc với Trần Vô Vũ. Án Anh lấy làm lo lắm, vẫn muốn lập kế trừ đi, nhưng sợ Tề Cảnh công không nghe, lại sinh kết oán với bọn Tam kiệt, vì thế cũng không dám nói. Một hôm Lỗ Chiêu công vì cớ không phục nước Tấn, muốn kết giao với Tề, thân hành sang triều kiến Tề Cảnh công. Tề Cảnh công bày tiệc để thết đãi. Nước Lỗ thì Thúc tôn Nhược (con Thúc Báo) làm tướng lễ. Nước Tề thì Án Anh làm tướng lễ. Bọn Tam kiệt chống gươm đứng ở dưới thềm, có ý kiêu ngạo, không coi ai ra gì! Lỗ Chiêu công và Tề Cảnh công rượu đã ngà ngà say, Án Anh tâu rằng: - Trong vườn kim đào đã có quả chín, xin sai người ra trẩy để chúc thọ hai vua. Tề Cảnh công nghe lời, truyền cho viên lại đem kim đào đến dâng. Án Anh tâu rằng: - Kim đào là một thứ của quí hiếm có, tôi xin thân hành đến để giám trích. Án Anh lĩnh chìa khóa cửa vườn rồi đi ngay. Tề Cảnh công nói với Lỗ Chiêu công rằng: - Đời Tiên công tôi ngày xưa, có người ở Đông Hải đem cái hột đào đến để dâng, nói là "Vạn thọ kim đào", nguyên giống ở Độ Sách Sơn ngoài bể, cũng gọi tên là Bàn Đào nữa. Nước tôi trồng đã hơn 30 năm, cành lá rất tốt, chỉ khai hoa mà không kết quả, mãi đến năm nay, mới bói được mấy quả, tôi lấy làm quí lắm, vậy phải khóa cửa vườn lại, nay nhân có nhà vua tới đây, tôi xin đem ra để dâng nhà vua. Lỗ Chiêu công chắp tay cám ơn. Ít lâu nữa thì Án Anh đưa tên viên lại bưng mâm đào vào dâng. Trong mâm có sáu quả đào, quả nào cũng to bằng cái bát, sắc đỏ như viên than hồng, mùi hương ngào ngạt, thật một thứ của quí. Tề Cảnh công hỏi rằng: - Chỉ có bấy nhiêu quả đào thôi à? Án Anh nói: - Còn ba bốn quả nữa chưa chín, bởi vậy chỉ trẩy có sáu quả. Tề Cảnh công sai Án Anh mời rượu, Án Anh tay bưng chén ngọc tước, đến dâng trước mặt Lỗ Chiêu công. Thị vệ bưng mâm đào đến. Án Anh chúc một câu rằng: "Đào to bằng đấu, thiên hạ ít có; hai vua cùng ngự, nghìn năm hưởng thọ!". Lỗ Chiêu công uống xong chén rượu, cầm ăn một quả đào ngon ngọt lạ thường. Lỗ Chiêu công khen mãi. Thứ đến Tề Cảnh công. Tề Cảnh công cũng uống một chén rượu, cầm ăn một quả đào. Tề Cảnh công ăn xong, lại bảo quan Đại phu nước Lỗ là Thúc tôn Nhược rằng: - Thứ đào này quí lắm! Quan đại phu có tiếng là người hiền, nay lại làm tướng lễ ở đây, cũng nên xơi một quả. Thúc tôn Nhược quì xuống mà tâu rằng: - Hiền đức của tôi còn kém quan Tướng quốc (chỉ Án Anh) muôn phần. Quan Tướng quốc trong thì sửa sang chính trị, ngoài thì khiến cho chư hầu phục, có công to lắm, vậy thứ đào này nên nhường để quan Tướng quốc xơi, tôi đâu dám tiếm! Tề Cảnh công nói: - Đã như vậy thì ban cho cả hai người, mỗi người một chén rượu và một quả đào. Án Anh và Thúc tôn Nhược lạy tạ rồi lĩnh lấy. Án Anh tâu với Tề Cảnh công rằng: - Trong mâm còn hai quả đào, Chúa công nên truyền lệnh cho các quan người nào có công lao nhiều thì nói ra mà lĩnh lấy quả đào ấy. Tề Cảnh công khen phải, rồi sai thị vệ truyền dụ các quan rằng: - Trong hàng các quan ai có công lao nhiều, đáng được ăn quả đào này thì cho được phép đứng ra mà tâu. Đã có quan Tướng quốc xét công lao mà cho đào. Công tôn Tiệp đứng ra mà tâu rằng: - Ngày xưa tôi theo Chúa công đi săn ở Đông Sơn, ra sức mà giết được hổ thì cái công ấy thế nào? Án Anh nói: - Cái công bảo giá to ngất trời ấy, còn gì hơn nữa! Án Anh nói xong, đưa cho một chén rượu và một quả đào. Công tôn Tiệp lĩnh lấy rồi lui xuống. Cổ Giã Tử đứng ra mà tâu rằng: - Giết hổ chưa lấy gì làm lạ! Khi trước tôi giết được con giải yêu quái ở sông Hoàng Hà, khiến cho Chúa công đang nguy mà lại yên. Cái công ấy thế nào? Tề Cảnh công nói: - Ta còn nhớ lúc bấy giờ sóng gió dữ dội, nếu không có Tướng quân chém được con giải ấy thì thuyền ta tất phải đắm, đó thật là một cái công lạ nhất đời! Đáng uống rượu và ăn đào lắm! Án Anh vội vàng đưa rượu và đào cho Cổ Giã Tử. Bỗng thấy Điền Khai Cương bước lên mà nói rằng: - Tôi phụng mệnh Chúa công đi đánh Từ, chém được tướng Từ, bắt sống được hơn 500 quân Từ. Vua Từ cùng vua Đàm, vua Cử đều sợ hãi mà xin hòa, tôn Chúa công lên làm minh chủ, cái công ấy có đáng ăn đào hay không? Án Anh tâu với Tề Cảnh công rằng: - Cái công của Điền Khai Cương ví với hai tướng trước, lại còn gấp mười! Nhưng nay hết đào rồi thì tạm cho một chén rượu, đợi đến năm khác sẽ hay. Tề Cảnh công bảo Điền Khai Cương rằng: - Công nhà ngươi to lắm, chỉ tiếc thay nói chậm, thành ra hết cả đào. Điền Khai Cương chống thanh gươm mà nói rằng: - Giết hổ và chém giải, chẳng qua là những việc nhỏ nhặt mà thôi. Ta đây xông pha tên đạn ở ngoài nghìn dặm, biết bao nhiêu là công khó nhọc, lại không được ăn đào, chịu nhục ở trước mặt hai vua, để tiếng cười về mai hậu, còn mặt mũi nào mà đứng ở trong triều đình nữa? Điền Khai Cương nói xong, đâm cổ chết ngay. Công tôn Tiệp giật mình, cũng rút gươm mà nói rằng: - Chúng ta công nhỏ mà được ăn đào, họ Điền công to mà không được ăn đào. Ta ăn đào mà không biết nhường, sao gọi là liêm; thấy người ta chết mà không theo, sao gọi là dũng! Công tôn Tiệp nói xong, cũng đâm cổ mà chết. Cổ Giã Tử kêu ầm lên rằng: - Ba chúng ta kết nghĩa với nhau, thề cùng sống chết, nay hai người đã chết, ta còn tham sống làm gì! Cổ Giã Tử nói xong lại cũng đâm cổ mà chết. Tề Cảnh công vội vàng sai người ngăn lại, nhưng đã không kịp. Lỗ Chiêu công đứng dậy mà bảo rằng: - Tôi nghe ba tướng ấy đều là những bậc tài giỏi nhất thiên hạ, tiếc thay trong một buổi sớm mà chết mất cả ba người! Tề Cảnh công nghe nói, sầm nét mặt lại, có ý không bằng lòng. Án Anh thong dong mà đáp rằng: - Đó chẳng qua là mấy kẻ vũ dũng ở nước tôi mà thôi, dẫu có chút công nhỏ mọn, cũng không đáng tiếc. Lỗ Chiêu công nói: - Ở bên quí quốc, những kẻ vũ dũng như thế phỏng được mấy người? Án Anh đáp rằng: - Những kẻ bày mưu lập kế ở chốn miếu đường, có tài làm tướng quốc hoặc làm nguyên soái thì đến vài ba mươi người, còn những kẻ vũ dũng ấy thì chẳng qua dùng để Chúa công tôi sai khiến mà thôi, dẫu sống hay là chết, nước Tề tôi cũng không hơn thiệt gì cả! Tề Cảnh công nghe nói, mới được yên lòng. Án Anh lại rót rượu mời Lỗ Chiêu công và Tề Cảnh công, hai vua cùng uống rượu thật vui rồi tan về. Khi Lỗ Chiêu công về rồi, Tề Cảnh công gọi Án Anh mà hỏi rằng: - Trong việc mới rồi, nhà ngươi nói khoe khoang để giữ thể diện cho nước Tề ta; nhưng ta e rằng Tam kiệt đã chết rồi, thì lấy ai mà thay vào đấy cho được! Án Anh nói: - Tôi xin tiến cử một người giỏi hơn Tam kiệt. Tề Cảnh công hỏi: - Nhà ngươi định tiến cử ai? Án Anh nói: - Có Điền Nhương Thư, văn vũ toàn tài, dùng làm đại tướng được. Tề Cảnh công nói: - Người ấy cùng một họ với Điền Khai Cương có phải không? Án Anh nói: - Người ấy dẫu cùng họ với Điền Khai Cương, nhưng về ngành thứ, mà Điền Khai Cương cũng không biết trọng đãi, vậy nên người ấy vẫn ẩn ở Đông Hải. Chúa công muốn tuyển tướng thì không ai bằng người ấy! Tề Cảnh công nói: - Nhà ngươi đã biết là người giỏi, sao không tâu ngay? Án Anh nói: - Người giỏi, chẳng những chọn vua mới ra làm quan, lại cần phải chọn bạn nữa, chứ như bọn Điền Khai Cương và Cổ Giã Tử thì khi nào Điền Nhương Thư chịu đứng cùng hàng! Tề Cảnh công ngoài miệng dẫu không nói ra, nhưng trong lòng hiềm về nỗi họ Điền vẫn thân thuộc với Trần Vô Vũ, vậy nên ngần ngại không quyết định. Một hôm, có biên lại báo tin rằng: - Nước Tấn thấy nói Tam kiệt đã chết, cất quân sang đánh mặt đông; nước Yên cũng thừa cơ đem quân sang xâm nhiễu mặt bắc. Tề Cảnh công sợ lắm, liền sai Án Anh đem lễ vật ra Đông Hải đón Điền Nhương Thư vào triều. Điền Nhương Thư giảng giải binh pháp hợp ý Tề Cảnh công lắm. Ngay ngày hôm ấy, Tề Cảnh công cho Điền Nhương Thư làm nguyên soái đem quân đi đánh Tấn và Yên. Điền Nhương Thư tâu với Tề Cảnh công rằng: - Tôi vốn nhà hèn hạ ở chốn thôn dã, nay Chúa công giao binh quyền cho, e rằng lòng người không phục, xin Chúa công chọn cho một người nào mà trong nước vẫn kính trọng xưa nay, để sai làm giám quân thì hiệu lệnh của tôi mới có thể thi hành được. Tề Cảnh công theo lời, sai quan Đại phu là Trang Giả đi làm giám quân. Điền Nhương Thư và Trang Giả cùng lạy tạ lui ra. Ra đến ngoài triều môn, Trang Giả hỏi Điền Nhương Thư rằng: - Quan Nguyên soái định đến bao giờ thì cất quân đi? Điền Nhương Thư nói: - Giờ ngọ ngày mai, tôi xin đợi Ngài ở quân môn để cùng đi, xin Ngài chớ sai hẹn. Đến giờ ngọ ngày hôm sau, Điền Nhương Thư truyền cho quân sĩ cắm cây gỗ làm nêu để xem bóng mặt trời và sai người đến giục Trang Giả. Trang Giả còn ít tuổi, vốn là người kiêu ngạo, lại cậy thế Tề Cảnh công yêu, chẳng coi Điền Nhương Thư ra gì cả; vả lại vẫn tưởng mình làm giám quân thì muốn thế nào cũng được. Ngày hôm ấy họ hàng bạn hữu đều bày tiệc tiễn chân, Trang Giả vui chén quá say, thấy sứ đến giục, chẳng buồn đứng dậy. Điền Nhương Thư đợi mãi, bóng mặt trời đã xế về tây, mà vẫn chưa thấy Trang Giả đến. Điền Nhương Thư mới trèo lên tướng đài tuyên bá hiệu lệnh cho các quân sĩ. Khi mặt trời đã gần chiều, mới trông thấy Trang Giả đi một cái xe ngựa ở đàng xa lững thững đến, nét mặt còn ra vẻ say rượu. Trang Giả đi đến quân môn, thủng thỉnh xuống xe, trèo lên tướng đài. Điền Nhương Thư cứ nghiễm nhiên ngồi không đứng dậy mà hỏi Trang Giả rằng: - Quan Giám quân vì cớ gì mà bây giờ mới đến? Trang Giả chắp tay vái mà đáp rằng: - Nhân vì tôi sắp khởi hành, họ hàng bạn hữu đều bày tiệc tiễn chân, thành ra hơi chậm mất một chút. Điền Nhương Thư nói: - Phàm người làm tướng, trong ngày chịu mệnh vua thì phải quên nhà mình; khi đã tuyên bá lệnh hiệu cho các quân sĩ thì phải quên cha mẹ mình; khi tay cầm dùi trống, xông pha tên đạn thì phải quên cả thân mình. Nay nước giặc sang xâm nhiễu, ngoài biên thùy náo động, Chúa công ta ngủ không yên giấc, ăn không ngon miệng, đem việc đánh giặc ủy thác cho hai ta, cũng mong sớm tối lập công để cứu khổ cho trăm họ, còn lòng nào mà cùng với họ hàng bạn hữu bày cuộc vui nữa! Trang Giả tủm tỉm cười mà đáp rằng: - Cũng may mà còn kịp hành kỳ, quan Nguyên soái bất tất phải quá trách. Điền Nhương Thư nổi giận, đập bàn mà mắng rằng: - Mày cậy được Chúa công yêu mà làm cho quân sĩ sinh lòng trễ biếng, nếu lúc ra trận như thế thì hỏng hết cả công việc! Điền Nhương Thư truyền gọi chức quân chính đến mà hỏi rằng: - Cứ theo quân pháp, hễ hẹn mà đến chậm thì nên bắt tội gì! Chức quân chính đáp rằng: - Cứ theo quân pháp thì đem chém! Trang Giả nghe nói phải đem chém mới có ý sợ, vội vàng ở trên tướng đài chạy xuống. Điền Nhương Thư truyền cho quân sĩ trói Trang Giả lại, rồi đem ra quân môn để chém. Bấy giờ Trang Giả không còn một chút hơi rượu nào cả, van van lạy lạy xin tha tội cho. Những người theo hầu Trang Giả chạy đến báo tin với Tề Cảnh công. Tề Cảnh công giật mình kinh sợ, liền gọi Lương Khâu Cứ, sai cầm cờ tiết bảo Điền Nhương Thư tha tội chết cho Trang Giả, lại dặn phải đi xe thật mau, kẻo không kịp việc, nhưng đi đến nơi Trang Giả đã chết rồi. Lương Khâu Cứ không biết, tay cầm cờ tiết, đi xe thẳng tiến vào quân môn. Điền Nhương Thư truyền cho quân sĩ ngăn lại, rồi hỏi chức quân chính rằng: - Vào quân môn mà dám đi xe mau như vậy thì nên bắt tội gì! Chức quân chính đáp rằng: - Cứ theo quân pháp thì cũng đem chém. Lương Khâu Cứ mặt như chàm đổ, mình nhường dẽ run, kêu là phụng mệnh mà đến, chứ không phải tự ý mình. Điền Nhương Thư nói: - Đã có mệnh vua thì tha cho không chém, nhưng làm thế nào cũng phải giữ quân pháp, vậy thì ta phá xe giết ngựa đi để thay mạng cho sứ giả. Lương Khâu Cứ được khỏi chết, cúi đầu len lén mà đi. Quân sĩ thấy vậy, ai cũng sợ hãi. Đại binh của Điền Nhương Thư chưa kéo ra đến nơi mà quân Tấn nghe tin đã bỏ trốn đi rồi. Quân Yên cũng rút về. Điền Nhương Thư đuổi theo mà đánh, chém được hơn một vạn đầu giặc. Người nước Yên thua to, phải đem lễ vật sang xin hòa. Khi Điền Nhương Thư rút quân về. Tề Cảnh công thân hành ra đón, phong làm chức Đại Tư mã, sai giữ binh quyền. Chư hầu nghe tiếng Điền Nhương Thư, ai cũng kính phục. Tề Cảnh công trong có Án Anh, ngoài có Điền Nhương Thư, bởi vậy trong nước mỗi ngày một cường thịnh. Tề Cảnh công thấy nước nhà đã được cường thịnh, ngày nào cũng đi săn và uống rượu để cầu vui, còn quyền chính giao hết cho Án Anh, khác nào như Tề Hoàn công dùng Quản Di Ngô khi trước. Một hôm, Tề Cảnh công ở trong cung cùng với cung nữ uống rượu; đến nửa đêm, bỗng nhớ đến Án Anh, truyền cho nội thị đem các đồ uống rượu đưa đến nhà Án Anh, rồi báo trước cho Án Anh biết rằng: - Chúa công sắp đến! Án Anh đội mũ mặc áo, cầm hốt đứng chắp tay ở ngoài cửa để đón. Tề Cảnh công chưa kịp xuống xe, Án Anh chạy lại, kinh sợ mà hỏi rằng: - Chư hầu có việc gì chăng, hay là nước nhà có việc gì chăng? Tề Cảnh công nói: - Không! Án Anh nói: - Thế thì sao đang đêm Chúa công lại thân hành ra nhà tôi? Tề Cảnh công nói: - Quan Tướng quốc công việc khó nhọc, nay ta có rượu ngon và các thứ âm nhạc, không dám vui một mình, xin cùng với quan Tướng quốc cùng vui! Án Anh nói: - Việc giao kết chư hầu và giữ yên nước nhà thì tôi xin hết sức; còn những cuộc bày tiệc vui để hầu hạ Chúa công thì đã có người khác, tôi không dám dự đến. Tề Cảnh công quay xe trở lại, rồi sang nhà quan Tư mã Điền Nhương Thư. Nội thị đến báo trước cho Điền Nhương Thư biết. Điền Nhương Thư đầu đội mũ trụ, mình mặc áo giáp, tay cầm cái kích, đứng ở ngoài cửa để đón. Khi xe Tề Cảnh công đến, Điền Nhương Thư cúi đầu mà hỏi rằng: - Chư hầu có nước nào quấy nhiễu hay là đại thần có người nào phản nghịch chăng? Tề Cảnh công nói: - Không! Điền Nhương Thư nói: - Thế thì sao đang đêm Chúa công lại thân hành ra nhà tôi? Tề Cảnh công nói: - Nào có việc gì khác đâu, chỉ vì ta nhớ đến cái công khó nhọc của Tướng quân, vậy ta có rượu ngon và các thứ âm nhạc, muốn cùng với Tướng quân cùng vui! Điền Nhương Thư nói: - Việc đánh nước cừu thù và dẹp kẻ phản nghịch thì tôi xin hết sức; còn những việc bày cuộc vui để hầu hạ Chúa công thì thiếu gì người, sao Chúa công lại hỏi đến kẻ giới trụ. Tề Cảnh công có ý không được vui. Các nội thị hỏi: - Chúa công định về cung hay đi đâu? Tề Cảnh công nói: - Đi sang nhà quan Đại phu là Lương Khâu Cứ. Nội thị lại báo trước cho Lương Khâu Cứ biết. Lương Khâu Cứ tay trái ôm đàn cầm, tay phải cắp ống can, miệng hát nghêu ngao ra đón Tề Cảnh công ở tận ngoài đường. Tề Cảnh công bằng lòng, mới cởi mũ áo ra, rồi cùng với Lương Khâu Cứ uống rượu vui, và nghe các thứ âm nhạc mãi đến gà gáy mới trở về cung. Ngày hôm sau, Án Anh và Điền Nhương Thư cùng vào triều tạ tội, lại can Tề Cảnh công không nên đang đêm ra uống rượu ở nhà các quan. Tề Cảnh công nói: - Ta không có hai ngươi thì lấy ai mà trị nước, không có Lương Khâu Cứ thì lấy ai mà làm vui. Ta không trở ngại công việc của hai ngươi, hai người cũng chớ nên can dự đến công việc của ta! Bấy giờ ở Trung Nguyên có nhiều việc, nước Tấn không thể quản cố được. Tấn Chiêu công lên làm vua được sáu năm thì mất, Thế tử Khí Tật lên nối ngôi, tức là Tấn Khoảnh công. Năm thứ nhất đời Tấn Khoảnh công, Hàn Khởi và Dương Thiệt Bật đều ốm chết cả. Ngụy Thư cầm quyền chính. Tuân Lịch và Phạm Ưởng đều có tiếng là người hay ăn lễ. Kẻ gia thần của Kỳ Doanh tên là Kỳ Thắng tư thông với vợ Ô Tang (cũng là gia thần của Kỳ Doanh). Kỳ Doanh bắt Kỳ Thắng. Kỳ Thắng lễ đút Tuân Lịch. Tuân Lịch nói với Tấn Khoảnh công mà gièm Kỳ Doanh. Tấn Khoảnh công lại bắt Kỳ Doanh. Dương Thiệt Thực Ngã (con Dương Thiệt Bật) là đảng Kỳ Doanh, liền giết Kỳ Thắng. Tấn Khoảnh công nổi giận giết Kỳ Doanh và Dương Thiệt Thực Ngã, lại diệt cả những tộc đảng họ Kỳ và họ Dương Thiệt. Người nước Tấn nghe nói, ai cũng thương là oan. Sau Lỗ Chiêu công bị kẻ cường thần là Quý tôn Ý Như đuổi. Tuân Lịch (nước Tấn) lại ăn tiền của Quý tôn Ý Như mà không giúp cho Lỗ Chiêu công. Tề Cảnh công hội chư hầu ở Yên Lăng để bàn mưu giúp cho Lỗ Chiêu công về nước, bởi vậy ai cũng kính phục. Từ bấy giờ danh tiếng Tề Cảnh công mới lừng lẫy. Lại nói chuyện vua nước Ngô là Di Muội lên làm vua được 4 năm thì ốm nặng, theo lời cha anh dặn ngày trước, muốn truyền ngôi cho em là Quý Trát. Quý Trát từ chối mà nói rằng: - Quyết không bao giờ ta chịu nhận! Dẫu Tiên vương ta ngày xưa có di mệnh, nhưng ta cũng không dám theo, bởi vì ta coi sự phú quí khác nào như gió thu thoảng qua mà thôi, ta có thiết gì! Quý Trát liền trốn về đất Diên Lăng. Các quan triều thần nước Ngô lập con Di Muội là Châu Vu lên làm vua, cải tên là Liêu, tức là Vương Liêu. Con Chư Phàn là Công tử Quang giỏi về việc binh, Vương Liêu dùng cho làm tướng. Công tử Quang cùng với quân Sở giao chiến ở đất Trường Ngạn (đất nước Sở), giết được quan Tư mã nước Sở là Công tử Phường. Người nước Sở kinh sợ, phải đắp thành ở đất Châu Lai để phòng giữ nước Ngô. Bấy giờ Phí Vô Cực khéo xu nịnh, Sở Bình Vương (Lư) yêu lắm. Sái Bình công đã lập đích tử tên là Chu làm thế tử. Người thứ tử tên là Đông Quốc muốn tranh mới lễ tiền cho Phí Vô Cực để nhờ nói hộ với Sở Bình Vương. Phí Vô Cực nói với Sở Bình Vương đuổi Triều Ngô nước Sái sang nước Trịnh; đến lúc Sái Bình công mất, Thế tử Chu lên nối ngôi, Phí Vô Cực lại giả mạo truyền mệnh Sở Bình Vương bắt người nước Sái phải đuổi Thế tử Chu đi mà lập Đông Quốc lên làm vua. Sở Bình Vương thấy vậy, hỏi Phí Vô Cực rằng: - Tại sao người nước Sái đuổi Thế tử Chu. Phí Vô Cực nói: - Thế tử Chu định làm phản nước Sở ta, người nước Sái không bằng lòng, vậy nên đuổi đi. Sở Bình Vương cũng không hỏi gì đến nữa. Phí Vô Cực ghét Thế tử Kiến (con Sở Bình Vương), muốn làm cho cha con phải lìa rẽ nhau, nhưng chưa có kế gì. Một hôm, Phí Vô Cực tâu với Sở Bình Vương rằng: - Thế tử đã lớn tuổi, sao Đại vương không cầu hôn cho Thế tử, mà muốn cầu hôn thì không đâu bằng nước Tần. Tần là một nước cường thịnh mà xưa nay vẫn giao hiếu với Sở, nếu ta kết hôn với Tần thì thế lực Sở càng thêm lừng lẫy. Sở Bình Vương nghe lời, sai Phí Vô Cực sang nước Tần cầu hôn cho Thế tử Kiến. Tần Ai công họp các quan triều thần để thương nghị. Các quan triều thần đều nói: - Ngày xưa nước Tần ta và nước Tấn vẫn kết hôn với nhau, nay nước Tấn đã lâu không đi lại với ta, mà nước Sở hiện đang cường thịnh, vậy ta nên cho nước Sở kết hôn. Tần Ai công liền hẹn gả em gái là nàng Mạnh Doanh cho nước Sở. Sở Bình Vương lại sai Phí Vô Cực đem các đồ lễ vật sang nước Tần xin cưới. Phí Vô Cực sang đến nước Tần, đệ trình các đồ lễ vật. Tần Ai công bằng lòng, sai Công tử Bồ đưa nàng Mạnh Doanh sang nước Sở. Đồ hành trang cả thảy một trăm cỗ xe, các dắng thiếp theo hầu kể có vài ba mươi người. Nàng Mạnh Doanh vào từ biệt với anh là Tần Ai công, rồi đi. Trong khi đi đường, Phí Vô Cực trông thấy nàng Mạnh Doanh sắc đẹp tuyệt trần, lại thấy trong đám dắng thiếp có một người dáng điệu đứng đắn lắm, hỏi dò ra mới biết là Tề nữ (con gái nước Tề). Nguyên trước thân phụ Tề nữ sang làm quan ở nước Tần, Tề nữ theo sang từ thuở bé, đến sau vào làm thị nữ trong cung, hầu nàng Mạnh Doanh. Phí Vô Cực dò biết như vậy, nhân đêm hôm ấy ngủ ở nhà quán xá, mật triệu Tề nữ đến mà bảo rằng: - Ta trông thấy nàng có quí tướng, muốn giúp cho nàng được làm vợ ngôi thế tử; nếu nàng chịu theo kế ta thì sau này phú quí không biết đâu mà kể! Tề nữ cúi đầu nín lặng. Phí Vô Cực về trước một hôm, vào tâu với Sở Bình Vương, nói nàng Mạnh Doanh đã đến, còn cách xa độ ba xá. Sở Bình Vương hỏi Phí Vô Cực rằng: - Nhà ngươi đã được trông thấy mặt chưa? Nhan sắc thế nào? Phí Vô Cực biết Sở Bình Vương là phường tửu sắc, định khoe khoang cái vẻ xinh đẹp của nàng Mạnh Doanh để làm cho Sở Bình Vương phải động lòng, may sao lại gặp Sở Bình Vương hỏi đến, chính trúng vào kế của Phí Vô Cực. Phí Vô Cực đáp rằng: - Mắt tôi trông thấy con gái đã nhiều, nhưng chưa thấy người nào đẹp như nàng Mạnh Doanh! Chẳng những trong cung nước Sở không có ai bằng, dẫu tương truyền các bậc tuyệt sắc đời xưa như Đắc Kỷ và Ly Cơ, cũng chỉ nghe tiếng đồn mà thôi, chứ e rằng nàng Mạnh Doanh đẹp muôn phần, vị tất đã được một! Sở Bình Vương nghe nói, mặt đỏ bừng lên, ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi thở dài mà than rằng: - Ta đây xưng vương làm gì cho nó uổng! Chẳng gặp người tuyệt sắc ấy, thật cũng phí một đời! Phí Vô Cực xin đuổi hết những người xung quanh rồi mật tâu với Sở Bình Vương rằng: - Nếu Đại vương yêu sắc đẹp của nàng Mạnh Doanh thì sao Đại vương không lấy? Sở Bình Vương nói: - Ta đã cưới cho Thế tử, nếu vậy thì sợ hại đến luân lý. Phí Vô Cực tâu rằng: - Có việc gì mà hại! Nàng Mạnh Doanh dẫu cưới cho Thế tử, nhưng chưa về đến nơi; nay Đại vương đón vào cung, còn ai dám nghị luận. Sở Bình Vương nói: - Ta khóa miệng được các quan, chứ bưng thế nào được miệng Thế tử! Phí Vô Cực nói: - Tôi xem trong đám dắng thiếp có Tề nữ là người đứng đắn, cho giả làm nàng Mạnh Doanh được. Tôi xin đưa nàng Mạnh Doanh vào cung, rồi đem Tề nữ tiến cho Thế tử, như vậy thì hai bên cùng phải giấu kín cả, thật là trọn vẹn mọi bề! Sở Bình Vương mừng lắm, dặn Phí Vô Cực phải bí mật lắm mới được. Phí Vô Cực bảo Công tử Bồ nước Tần rằng: - Hôn lễ nước Sở không giống các nước, tất phải vào cung yết kiến Đại vương tôi đã, rồi mới cùng với Thế tử thành thân. Công tử Bồ xin vâng mệnh. Phí Vô Cực đưa nàng Mạnh Doanh và các dắng thiếp vào cung để yết kiến Sở Bình Vương, rồi để nàng Mạnh Doanh ở đấy; lại bắt các cung nữ giả làm dắng thiếp nước Tần, còn Tề nữ thì giả làm nàng Mạnh Doanh, đưa sang cung Thế tử Kiến. Các quan triều thần và Thế tử Kiến đều không biết mưu gian của Phí Vô Cực. Sở Bình Vương sợ Thế tử Kiến biết được nàng Mạnh Doanh, mới cấm Thế tử Kiến không được vào cung, rồi ngày đêm chỉ cùng với nàng Mạnh Doanh uống rượu mua vui, chẳng thiết gì đến chính trị cả. Bấy giờ bề ngoài cũng có nhiều người thì thào nghi việc nàng Mạnh Doanh. Phí Vô Cực sợ Thế tử Kiến biết, mới bảo Sở Bình Vương rằng: - Nước Tấn làm bá chủ được lâu năm, chỉ vì tiếp giáp với Trung Nguyên. Vua Linh Vương ta ngày xưa đắp thành ở Trần, Sái là có ý muốn tranh nghiệp bá chủ, nay ta trả lại cho Trần, Sái mà lui về ở phương nam thì bao giờ cho cường thịnh được, sao Đại vương không sai Thế tử ra trấn thủ ở đất Thành Phủ, để giao thông với phương bắc, còn Đại vương thì chuyên một mặt mà mở mang phương nam, như vậy thì có thể thu hết được thiên hạ. Sở Bình Vương ngần ngừ chưa quyết. Phí Vô Cực lại ghé tai mật tâu rằng: - Việc nàng Mạnh Doanh, lâu ngày thì tất phải tiết lộ, nếu để cho Thế tử đi xa, chẳng cũng lợi cả đôi đường hay sao! Sở Bình Vương nghĩ ra, liền sai Thế tử Kiến đi trấn thủ ở đất Thành Phủ, cho Phấn Dương làm quan tư mã ở đất Thành Phủ, lại dặn Phấn Dương rằng: - Nhà ngươi thờ Thế tử, cũng như là thờ ta! Ngũ Xa biết Phí Vô Cực là người xu nịnh vẫn muốn can Sở Bình Vương. Phí Vô Cực biết vậy, lại tâu Sở Bình Vương sai Ngũ Xa sang Thành Phủ, để giúp Thế tử. Khi Thế tử Kiến đã đi rồi, Sở Bình Vương lại lập nàng Mạnh Doanh làm chánh hậu và đuổi Sái Cơ (mẹ Thế tử Kiến) về đất Viên Dương; bấy giờ Thế tử Kiến mới biết nàng Mạnh Doanh đã bị cha đổi mất mà không thể làm thế nào được. Nàng Mạnh Doanh dẫu được Sở Bình Vương yêu dấu, nhưng thấy Sở Bình Vương già cả, trong lòng rất không được vui. Sở Bình Vương biết vậy cũng không dám hỏi. Được hơn một năm Mạnh Doanh sinh con trai. Sở Bình Vương yêu quí lắm, đặt tên là Trân (sau là Sở Chiêu vương). Khi Trân đã được đầy tuổi tôi, Sở Bình Vương hỏi nàng Mạnh Doanh rằng: - Nàng từ khi vào cung đến giờ, thường hay buồn rầu, ít được vui vẻ là cớ làm sao? Nàng Mạnh Doanh nói: - Thiếp vâng mệnh anh thiếp, sang hầu hạ Đại vương. Thiếp vẫn tưởng rằng vừa đôi phải lứa với nhau, khi đã vào tới cung, mới biết là Đại vương nhiều tuổi. Thiếp không dám oán Đại vương, nhưng chỉ tiếc rằng sinh sau đẻ muộn quá! Sở Bình Vương cười mà nói rằng: - Cái đó là bởi số phận! Ta đây dẫu già nhưng nàng kết duyên với ta thì làm chánh hậu đã sớm được mấy năm rồi! Nàng Mạnh Doanh nghe nói, trong lòng nghi hoặc, mới dò hỏi các cung nữ. Các cung nữ không thể giấu được, thuật chuyện lại cho nghe. Nàng Mạnh Doanh thở dài, rồi ứa nước mắt khóc. Sở Bình Vương biết ý, hết sức chiều chuộng, hẹn lập Trân làm thế tử, bấy giờ nàng Mạnh Doanh mới hơi yên lòng. Phí Vô Cực vẫn lấy làm lo sợ Thế tử Kiến sau này nối ngôi thì tất trị tội mình, mới lại tâu với Sở Bình Vương rằng: - Tôi nghe tin Thế tử cùng với Ngũ Xa bàn mưu phản nghịch, mật sai người giao thông với Tề và Tấn, Đại vương nên phải phòng bị mới được. Sở Bình Vương nói: - Thế tử vốn là người hiếu thuận, có đâu những việc ấy! Phí Vô Cực nói: - Thế tử vì việc nàng Mạnh Doanh mà đem lòng oán giận. Nay ở đất Thành Phủ, vẫn luyện tập quân mã, thường khen vua Mục Vương ngày xưa nổi loạn mà được an hưởng nước Sở, con cháu nhiều thịnh, thế là có ý muốn bắt chước. Nếu Đại vương không trừ bỏ đi thì tôi xin trốn trước để khỏi tai vạ. Sở Bình Vương muốn bỏ Thế tử Kiến mà lập Trân làm Thế tử, lại nghe lời nói của Phí Vô Cực, cũng hơi động lòng, toan hạ lệnh bỏ Thế tử Kiến. Phí Vô Cực lại tâu rằng: - Thế tử đang giữ binh quyền ở ngoài, nếu hạ lệnh bỏ thì khác nào như giục Thế tử làm phản. Ngũ Xa lại làm chủ mưu cho Thế tử, chi bằng Đại vương triệu Ngũ Xa về đã, rồi sau đem quân bắt Thế tử thì mới có thể trừ bỏ được. Sở Bình Vương khen phải, sai người triệu Ngũ Xa. Ngũ Xa về. Sở Bình Vương hỏi rằng: - Thế tử Kiến đem lòng phản nghịch, nhà ngươi có biết không? Ngũ Xa vốn là người chính trực, liền đáp lại rằng: - Đại vương chiếm lấy vợ Thế tử, cũng đã quá lắm rồi, nay lại nghe lời đứa tiểu nhân mà bỏ tình cốt nhục, Đại vương nỡ lòng nào như thế! Sở Bình Vương có ý thẹn, truyền bắt Ngũ Xa mà giam lại. Phí Vô Cực tâu với Sở Bình Vương rằng: - Ngũ Xa dám nói như vậy, quả nhiên là có lòng oán vọng. Nếu Thế tử biết Ngũ Xa bị bắt thì nổi loạn, đem quân Tề và quân Tấn về, ta khó lòng mà đương nổi! Sở Bình Vương nói: - Ta muốn sai người đi giết Thế tử, chưa biết dùng ai? Phí Vô Cực nói: - Sai người khác đi thì Thế tử tất chống cự được, chi bằng mật dụ cho quan Tư mã là Phấn Dương phải bắt Thế tử mà giết đi. Sở Bình Vương liền sai người mật dụ Phấn Dương rằng: - Giết Thế tử thì được trọng thưởng, tha Thế tử thì phải tội chết. Phấn Dương tức khắc sai người báo cho Thế tử Kiến biết để mà mau mau đi trốn. Thế tử Kiến kinh sợ. Bấy giờ Tề nữ đã sinh con trai, đặt tên là Thắng. Thế tử Kiến liền đem vợ con chạy sang nước Tống. Phấn Dương biết Thế tử Kiến đã trốn rồi, mới bảo người Thành Phủ trói mình lại giải về Dĩnh Đô nộp Sở Bình Vương. Phấn Dương tâu với Sở Bình Vương, nói Thế tử đã trốn mất rồi. Sở Bình Vương nổi giận mà mắng rằng: - Việc này tự miệng ta nói ra, vào đến tai nhà ngươi, còn ai biết nữa mà bảo Thế tử! Phấn Dương nói: - Chính tôi bảo Thế tử! Ngày trước Đại vương có dặn tôi rằng: "Nhà ngươi thờ Thế tử cũng tức như là thờ ta!". Tôi vâng lời dặn ấy, không dám hai lòng, vậy nên phải bảo Thế tử. Sau nghĩ ra mới biết là mắc tội thì hối lại không kịp! Sở Bình Vương nói: - Nhà ngươi đã tha Thế tử, lại dám đến yết kiến ta, thế thì không sợ chết hay sao? Phấn Dương nói: - Tôi đã không theo được lời dặn sau cùng của Đại vương, nếu lại sợ chết mà không đến thì thành ra hai tội. Vả Thế tử chưa có cái tang chứng gì là phản nghịch, nếu đem trị tội chẳng cũng oan lắm ru! Thế tử sống thì tôi dẫu chết cũng được thỏa lòng! Sở Bình Vương động lòng, có ý hổ thẹn, ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi bảo Phấn Dương rằng: - Phấn Dương dẫu có trái mệnh, nhưng tấm lòng trung trực, thực cũng đáng khen! Sở Bình Vương xá tội cho Phấn Dương, vẫn cho được làm quan Tư mã ở Thành Phủ. Sở Bình Vương lập con nàng Mạnh Doanh là Trân làm Thế tử, lại cho Phí Vô Cực làm chức thái sư. Phí Vô Cực tâu rằng: - Ngũ Xa có hai con là Ngũ Thượng và Ngũ Viên đều là bậc tài giỏi, nếu để trốn sang nước Ngô thì tất hại cho nước Sở, chi bằng ta bắt Ngũ Xa phải viết thư triệu về. Kẻ kia tin lời cha, tất rủ nhau về cả, bấy giờ ta giết hết đi, mới có thể trừ được hậu hoạn. Sở Bình Vương mừng lắm, sai người vào ngục đem Ngũ Xa ra rồi đưa giấy bút mà bảo rằng: - Nhà ngươi xui Thế tử làm phản, đáng lẽ thì phải chết chém, nhưng ta nghĩ đến cái công tổ phụ nhà ngươi, không nỡ bắt tội. Nhà ngươi nên viết thư triệu hai con về, ta sẽ phong quan chức cho. Ngũ Xa biết là Sở Bình Vương đánh lừa, định triệu về mà giết cả đi, mới tâu với Sở Bình Vương rằng: - Con trưởng tôi là Ngũ Thượng, tính nết hiền lành, nghe tôi triệu thì tất về ngay; còn con thứ tôi là Ngũ Viên văn vũ toàn tài, mà tính nhẫn nại, mai sau có thể làm nên được; vả lại là một người tinh lanh lắm, vị tất đã chịu về. Sở Bình Vương nói: - Nhà ngươi cứ theo lời ta mà triệu về, còn về hay là không, không can dự gì đến nhà ngươi! Ngũ Xa không dám trái mệnh, liền viết một bức thư, trong thư đại lược như sau này: "Ta có lời cho hai con là Thượng và Viên biết rằng: Ta vì nói thẳng trái ý Đại vương mà phạm tội, nhưng Đại vương nghĩ đến công của Tổ phụ ta ngày xưa, không nỡ giết chết, vậy có theo lời bàn của các quan mà tha tội cho, lại muốn phong quan chức cho hai con nữa. Hai con nên mau mau về triều, nếu chậm thì có tội". Ngũ Xa viết xong đệ trình Sở Bình Vương. Sở Bình Vương xem qua, lại truyền đem Ngũ Xa vào ngục, và sai Yên Tương Sư đem thư sang Đường Ấp để triệu Ngũ Thượng và Ngũ Viên. Khi Yên Tương Sư sang đến Đường Ấp thì Ngũ Thượng cùng Ngũ Viên đã sang Thành Phủ rồi. Yên Tương Sư lại sang Thành Phủ, trông thấy Ngũ Thượng liền đem lời chúc mừng. Ngũ Thượng nói: - Thân phụ tôi đang bị giam, còn vui gì mà chúc mừng! Yên Tương Sư nói: - Đại vương quá nghe người ta nói, bắt giam Tôn công (chỉ Ngũ Xa), may có các quan bảo nhận, tâu rằng nhà Tôn công về trước đã ba đời trung trực. Bây giờ Đại vương nghĩ lại, lại cho Tôn công làm tướng quốc và phong cho hai ngài: Thượng làm Hồng đô hầu, Viên làm Cái hầu. Tôn công bị giam đã lâu, nay mới được tha, mong nhớ hai ngài lắm, vậy có sai tôi mang thư đến đây để đón. Ngũ Thượng nói: - Thân phụ tôi bị giam, lòng tôi thật đau như cắt, được tha là may, khi nào lại dám mong quan chức! Yên Tương Sư nói: - Đó là mệnh Vua, Ngài chớ nên từ chối. Ngũ Thượng mừng lắm, đem bức thư vào nhà trong đưa cho em là Ngũ Viên xem.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 72 Dụ hai con, Sở Bình lập kế Nghĩ một đêm Ngũ Viên bạc đầu

Ngũ Viên tên tự là Tử Tư, người ở Giám Lợi, mình cao một trượng, lưng rộng mười ôm, mày dài một thước, mắt sáng như điện, sức khỏe lạ thường, lại văn vũ toàn tài, là con Ngũ Xa, em Ngũ Thượng. Ngũ Thượng cùng với Ngũ Viên đều theo cha sang đất Thành Phủ. Yên Tương Sư phụng mệnh Sở Bình Vương ra dụ Ngũ Thượng, Ngũ Viên vào triều. Yên Tương Sư vào yết kiến Ngũ Thượng trước, đưa bức thư của Ngũ Xa, rồi nhân xin vào yết kiến Ngũ Viên. Ngũ Thượng cầm bức thư vào nhà trong cho Ngũ Viên xem và bảo rằng: - May thay, thân phụ ta được khỏi tội, hai ta được phong hầu, em nên ra tiếp kiến sứ giả. Ngũ Viên nói: - Thân phụ ta được khỏi tội, cũng đã là may, hai ta có công gì mà được phong hầu, chẳng qua chỉ lừa ta đó mà thôi. Ta về thì tất bị hại. Ngũ Thượng nói: - Hiện có thư của thân phụ ta, khi nào lại giả dối. Ngũ Viên nói: - Thân phụ ta một lòng tận trung với nước, nay bị tội oan, biết là thế nào rồi sau chúng ta tất báo thù, vậy thân phụ cũng muốn cho chúng ta chết cả đi, để khỏi lo về sau. Ngũ Thượng nói: - Em nói thế chẳng qua là ức đạc mà thôi, vạn nhất bức thư này là chân tình thì cái tội bất hiếu của chúng ta để đâu cho hết! Ngũ Viên nói: - Để em xin bói một quẻ. Ngũ Viên nói xong, liền đoán rằng: - Cứ như quẻ bói này, thì vua dối bề tôi, cha dối con. Nếu về thì tất bị hại, chứ chẳng khi nào được phong hầu! Ngũ Thượng nói: - Không phải ta có tham gì sự phong hầu, chỉ là mong được trông thấy thân phụ. Ngũ Viên nói: - Người nước Sở sợ anh em ta ở ngoài, vậy nên chưa dám giết thân phụ ta, nếu ta lầm mà về thì chỉ khiến cho thân phụ ta chóng chết mà thôi. Ngũ Thượng nói: - Cái tình cha con với nhau, nếu được trông thấy mặt thì ta chết cũng thỏa lòng! Ngũ Viên thở dài mà than rằng: - Về mà cùng chết, phỏng có ích gì! Nếu anh muốn thì từ đây em xin từ biệt. Ngũ Thượng khóc mà nói rằng: - Em định đi đâu? Ngũ Viên nói: - Ai có thể báo thù được nước Sở thì em xin theo. Ngũ Thượng nói: - Trí lực của anh không bằng em thì anh nên về Sở, còn em thì đi nước khác. Anh lấy sự theo cha làm hiếu, em lấy sự báo thù làm hiếu, mỗi người một chí. Từ đây trở đi, anh em ta không được trông thấy nhau nữa! Ngũ Viên sụp lạy bốn lạy để từ biệt Ngũ Thượng. Ngũ Thượng gạt nước mắt, ra tiếp kiến Yên Tương Sư, nói em là Ngũ Viên không muốn phong hầu, không thể cưỡng được. Yên Tương Sư đưa Ngũ Thượng về yết kiến Sở Bình Vương. Sở Bình Vương truyền bắt Ngũ Thượng giam lại. Ngũ Xa thấy một mình Ngũ Thượng về triều, liền thở dài mà than rằng: - Ta vẫn biết là Ngũ Viên không chịu về! Phí Vô Cực lại tâu với Sở Bình Vương rằng: - Còn một Ngũ Viên, nên sai bắt ngay, nếu chậm thì hắn trốn mất! Sở Bình Vương nghe lời, liền sai quan Đại phu là Vũ Thành Hắc đem quân đi bắt Ngũ Viên. Ngũ Viên nghe tin quân Sở đến bắt mình, khóc mà nói rằng: - Nếu vậy thì cha, anh tôi không khỏi chết được. Ngũ Viên liền bảo vợ là Giả Thị rằng: - Ta muốn trốn sang nước khác, mượn quân về để báo thù cho cha, anh, không thể trông nom đến nàng được thì biết làm thế nào? Giả Thị trừng mắt nhìn Ngũ Viên mà nói rằng: - Đại trượng phu nghĩ đến cái thù của cha, anh, lòng đau cắt, lại còn lòng mà tưởng người đàn bà! Phu quân nên mau mau trốn đi, chớ nghĩ đến thiếp! Giả Thị nói xong, liền vào trong nhà tự thắt cổ mà chết, Ngũ Viên vật mình lăn khóc, đem thi thể Giả Thị hãy chôn tạm vào một nơi, rồi thu xếp khăn gói, mình mặc áo bào trắng, đeo kiếm cầm cung trốn đi. Đi chưa được nửa ngày thì quân Sở đã kéo đến vây nhà, không tìm thấy Ngũ Viên, đoán chừng Ngũ Viên tất chạy về phía đông, mới tức khắc đuổi theo. Đuổi theo ước độ 300 dặm, đến một chỗ đồng không mông quạnh, Ngũ Viên giương cung bắn chết người dong xe của Vũ Thành Hắc, lại nhằm Vũ Thành Hắc, toan bắn luôn một phát nữa. Vũ Thành Hắc sợ hãi xuống xe bỏ chạy. Ngũ Viên bảo Vũ Thành Hắc rằng: - Ta vẫn định bắn chết nhà ngươi, nhưng hãy tha cho để về mà báo với vua Sở biết rằng: Nước Sở muốn còn giữ được cúng tế thì chớ giết cha, anh ta, bằng không thì tất ta phải diệt nước Sở mới hả được cái lòng căm tức của ta. Vũ Thành Hắc cúi đầu đi thẳng, về báo với Sở Bình Vương. Sở Bình Vương giận lắm, sai Phí Vô Cực giải cha con Ngũ Viên ra chợ để chém. Khi sắp chém, Ngũ Thượng sỉ mắng Phí Vô Cực một cách rất tàn tệ, bảo là một đứa xu nịnh, làm hại kẻ trung lương. Ngũ Xa ngăn Ngũ Thượng mà bảo rằng: - Cần gì mà phải nói cho rờm, ai nịnh ai trung, sau này sẽ có công luận! Nhưng ta chắc rằng Ngũ Viên còn sống thì vua tôi nước Sở cũng khó lòng ngồi yên được mà ăn! Sở Bình Vương nói: - Ngũ Viên dẫu trốn, nhưng đi tất chưa xa, ta nên sai người đuổi theo. Sở Bình Vương truyền cho quan Tả tư mã là Thẩm Doãn Thú phải đem quân đi đuổi bắt cho kỳ được. Ngũ Viên đi đến bờ sông đại giang, liền nghĩ ngay một kế: Cởi cái áo bào trắng đang mặc treo ở trên cành liễu, lại đem đôi giầy bỏ ở bên bờ, rồi thay đôi giầy cỏ cứ men bờ sông mà đi. Thẩm Doãn Thú đuổi theo đến bờ sông, bắt được giầy và áo của Ngũ Viên, đem về tâu với Sở Bình Vương rằng: - Không biết Ngũ Viên đi phương nào mất! Phí Vô Cực tâu với Sở Bình Vương rằng: - Tôi có một kế làm cho Ngũ Viên không còn đường nào mà trốn. Sở Bình Vương hỏi kế gì? Phí Vô Cực nói: - Một mặt chiêu yết đi các xứ, bất cứ người nào, hễ bắt được Ngũ Viên thì thưởng 50.000 thạch thóc và cho làm thượng đại phu; còn ai chứa chấp hoặc buông tha cho Ngũ Viên thì cả nhà chết chém. Bao nhiêu những người đi lại ở chỗ bờ sông hoặc cửa ải, đều phải khám xét thật kỹ. Lại sai sứ đi bảo khắp các nước chư hầu, không nước nào được dung cho Ngũ Viên ở. Như thế thì kẻ kia không có đường trốn, dầu chưa bị bắt mà thế cô một mình thì cũng chẳng làm gì nổi! Sở Bình Vương theo kế ấy, sai người vẽ hình tượng Ngũ Viên để đi tầm nã các mặt. Ngũ Viên men bờ sông đi về phía đông, định trốn sang nước Ngô, nhưng ngặt vì đường sá xa xôi, chưa thể đi được; lại nghĩ muốn sang nước Tống để tìm Thế tử Kiến, mới theo con đường Thư Dương mà đi. Đi đến nửa đường, bỗng trông thấy một toán xe ngựa tấp nập. Ngũ Viên ngờ là có quân Sở đón đường, phải đứng nấp ở trong xó rừng, sau nhìn kỹ mới biết là người bạn cũ của mình tên gọi Thân Bao Tư. Thân Bao Tư nhân đi sứ nước ngoài, về qua đến đây. Ngũ Viên chạy ra, đứng ở bên xe. Thân Bao Tư vội vàng xuống xe tiếp kiến và hỏi Ngũ Viên rằng: - Nhà ngươi vì cớ gì mà phải lủi thủi đi một mình như vậy! Ngũ Viên đem việc Sở Bình Vương giết oan cha và anh mình nói cho Thân Bao Tư nghe, vừa nói vừa khóc. Thân Bao Tư nghe nói, cũng động lòng thương mà hỏi rằng: - Bây giờ nhà ngươi định đi đâu? Ngũ Viên nói: - Ta nghe nói kẻ thù của cha mẹ thì không khi nào mình cùng đội trời; nay ta định trốn sang nước khác, mượn quân về đánh Sở, mà ăn thịt vua Sở, xé thây Phí Vô Cực, mới hả được tấm lòng căm tức của ta! Thân Bao Tư can rằng: - Vua Sở dẫu vô đạo, nhưng thế nào cũng là vua, nhà ngươi đã mấy đời ăn lộc vua, nỡ nào mà lại làm phản! Ngũ Viên nói: - Ngày xưa vua Kiệt và vua Trụ bị kẻ bề tôi giết, cũng chỉ vì vô đạo, nay vua Sở dâm loạn, lấy tranh vợ của con, lại nghe lời xu nịnh mà làm hại kẻ trung lương, ta mượn quân về Dĩnh Đô là để quét rửa những sự ô uế cho nước Sở đó, huống chi lại là báo thù cho cha và anh ta nữa. Nếu ta không diệt Sở thì ta thề rằng không còn đứng ở trên đời! Thân Bao Tư nói: - Ta muốn bảo nhà ngươi báo thù nước Sở thì là bất trung, mà bảo nhà ngươi đừng báo thù thì là bất hiếu. Thôi tùy ý nhà ngươi, ta cũng vì tình bạn hữu mà không tiết lộ cho ai biết cả, nhưng nhà ngươi định làm cho Sở nguy thì ta đây quyết giữ cho Sở yên! Ngũ Viên từ biệt Thân Bao Tư rồi đi ngay. Đi đến nước Tống, tìm thấy Thế tử Kiến, hai người cùng ôm nhau mà khóc, rồi kể những tội ác của Sở Bình Vương. Ngũ Viên nói: - Thế tử đã vào yết kiến vua Tống chưa? Thế tử Kiến nói: - Nước Tống đang có loạn, vậy nên ta chưa vào yết kiến. Lại nói chuyện vua Tống tên là Tá, là con một người thiếp yêu của Tống Bình công. Tống Bình công nghe lời kẻ tự nhân là Y Lệ, giết Thế tử Tọa mà lập Tá. Tống Bình công mất. Tá lên nối ngôi tức là Tống Nguyên công. Tống Nguyên công người xấu xí mà tính nhu nhược, lại không có tín nghĩa, ghét quan Thế khanh là Hoa Cường Thịnh, mới cùng với bọn Công tử Dần, Công tử Ngự Nhung, Hướng Thắng và Hướng Hành bàn mưu trừ bỏ họ Hoa. Hướng Thắng nói cho Hướng Ninh (con Hướng Thú) biết. Hướng Ninh quen thân với Hoa Hướng, Hoa Định và Hoa Hợi, mới bảo bọn ấy nổi loạn. Hoa Hợi giả cách cáo ốm. Các quan triều thần đều đến hỏi thăm, Hoa Hợi bắt Công tử Dần và Công tử Ngự Nhung đem giết đi, giam Hướng Thắng, Hướng Hành vào trong kho. Tống Nguyên công nghe tin, vội vàng lên xe thân hành đến nhà họ Hoa xin tha cho Hướng Thắng và Hướng Hành. Hoa Hợi lại hiếp Tống Nguyên công phải giao thế tử và một người thân thuộc để làm tin, mới chịu nghe lời. Tống Nguyên công nói: - Ngày xưa nhà Chu và nước Trịnh cũng gửi người làm tin với nhau, nay ta giao thế tử cho nhà ngươi thì nhà ngươi cũng phải giao người làm tin với ta. Hoa Hợi thương nghị, rồi cho con mình là Hoa Vô Cảm cùng con Hoa Định là Hoa Khải, con Hướng Ninh là Hướng La sang ở làm tin với Tống Nguyên công. Tống Nguyên công cũng cho Thế tử Loan và người em là Công tử Địa sang ở làm tin với Hoa Hợi. Hoa Hợi mới tha cho Hướng Thắng và Hướng Hành theo Tống Nguyên công về triều. Tống Nguyên công và phu nhân nhớ Thế tử Loan lắm, ngày nào cũng đến nhà Hoa Hợi để thăm Thế tử Loan, ăn cơm xong mới về. Hoa Hợi lấy làm bất tiện, toan đưa Thế tử Loan sang trả, Tống Nguyên công mừng lắm. Hướng Ninh không nghe, bảo Hoa Hợi rằng: - Ta phải bắt Thế tử sang làm tin vì Chúa công không biết thủ tín, nếu ta trả Thế tử thì tai vạ tất đến nơi! Tống Nguyên công nghe tin Hoa Hợi lại không trả Thế tử Loan, tức thì nổi giận, sai quan Tư mã là Hoa Phí Toại đem quân đánh Hoa Hợi. Hoa Phí Toại nói: - Còn Thế tử ở đấy, sao Chúa công không nghĩ! Tống Nguyên công nói: - Chết sống đã có mệnh, ta không thế nào chịu được những điều sỉ nhục này! Hoa Phí Toại nói: - Chúa công đã nhất quyết thì có đâu tôi dám trái ý. Hoa Phí Toại liền sửa soạn quân mã để sang đánh Hoa Hợi. Tống Nguyên công đem những người của Hoa Hợi cho sang ở làm tin là Hoa Vô Cảm, Hoa Khải và Hướng La, đều chém tất cả. Con Hoa Phí Toại là Hoa Đăng quen thân với Hoa Hợi, liền chạy sang bảo Hoa Hợi. Hoa Hợi vội vàng sắp quân để nghênh chiến, nhưng lại bị thua. Hướng Ninh toan giết Thế tử Loan. Hoa Hợi nói: - Ta đã đắc tội với vua, nay lại còn giết Thế tử thì người ta tất nghị luận! Hoa Hợi đem những người làm tin giao trả, rồi cùng với đảng phái trốn sang nước Trần. Hoa Phí Toại có ba con: Con trưởng là Hoa Khu, con thứ là Hoa Đa Liêu, còn Hoa Đăng tức là con thứ ba. Hoa Đa Liêu vốn bất hòa với Hoa Khu, nhân cái loạn Hoa Hợi, mới tâu với Tống Nguyên công rằng: - Hoa Khu đồng mưu với Hoa Hợi và Hoa Đăng, nay sai người sang nước Trần triệu Hoa Hợi là có ý muốn làm nội ứng. Tống Nguyên công nghe lời, sai kẻ tự nhân là Nghi Liêu đi bảo Hoa Phí Toại. Hoa Phí Toại nói: - Việc này tất là tại Hoa Đa Liêu nói gièm, nhưng Chúa công đã nghi Hoa Khu thì xin đuổi đi. Kẻ gia thần của Hoa Khu là Trương Mang nghe được tin ấy, sang hỏi Nghi Liêu. Nghi Liêu không chịu nói. Trương Mang rút gươm ra mà bảo rằng: - Nếu nhà ngươi không nói thì ta đâm chết. Nghi Liêu sợ hãi, nói thực tất cả. Trương Mang về báo với Hoa Khu, xin giết Hoa Đa Liêu. Hoa Khu nói: - Một mình Hoa Đăng phải đi trốn đã đau lòng thân phụ lắm rồi, nay anh em ta lại tàn hại lẫn nhau thì còn ra thế nào, âu là ta chịu nhường mà tránh đi. Hoa Khu đi từ biệt với cha là Hoa Phí Toại, Trương Mang trông thấy hầm hầm nổi giận, chém chết Hoa Đa Liêu và hiếp Hoa Phí Toại cùng chạy ra ở Nam Lý. Lại sai người đến nước Trần triệu bọn Hoa Hợi về để cùng mưu phản. Tống Nguyên công sai Nhạc Đại Tâm làm đại tướng đem quân vây Nam Lý. Hoa Đăng lại sang mượn quân nước Sở. Sở Bình Vương sai Viễn Việt đem quân sang giúp họ Hoa. Ngũ Viên nghe tin quân Sở sắp đến, liền cùng Thế tử Kiến chạy sang nước Trịnh. Tấn Khoảnh công cũng đem quân chư hầu đến giúp Tống Nguyên công. Chư hầu không muốn giao chiến với Sở, liền khuyên Tống Nguyên công rút quân vây Nam Lý về, để thả cho bọn Hoa Hợi chạy sang nước Sở, rồi hai bên cùng nhau bãi binh. Bấy giờ quan Thượng khanh nước Trịnh là Công tôn Kiều mới mất. Trịnh Định công thương tiếc vô cùng, lại vốn biết Ngũ Viên là người tài giỏi. Vả nước Trịnh đang giao hiếu với Tấn mà cừu địch với Sở, vậy nên Trịnh Định công nghe tin Thế tử Kiến đến, lấy làm mừng lắm, sai người mời vào nhà quán xá và tiếp đãi một cách rất tử tế. Thế tử Kiến và Ngũ Viên mỗi lần vào yết kiến Trịnh Định công lại kể lể những nỗi oan tình, vừa nói vừa khóc. Trịnh Định công nói: - Nước Trịnh ta là nước nhỏ, quân ít, không làm gì được. Nhà ngươi muốn báo thù thì sao không bàn mưu với nước Tấn. Thế tử Kiến để Ngũ Viên ở lại nước Trịnh, rồi đi sang nước Tấn, vào yết kiến Tấn Khoảnh công. Tấn Khoảnh công hỏi hết đầu đuôi, cho ra ở nhà quán xá, rồi họp sáu quan khanh lại để thương nghị. Bọn sáu quan khanh ấy kể tên sau này: 1. Ngự Thư, 2. Hàn Bất Tín, 3. Triệu Ưởng, 4. Phạm Ưởng, 5. Tuân Di, 6. Tuân Lịch. Bấy giờ sáu quan khanh cầm quyền chính, không ai chịu kém ai, Tấn Khoảnh công nhu nhược, việc gì cũng không dám chuyên quyết, mà trong bọn sáu quan khanh, chỉ có Ngụy Thư và Hàn Bất Tín có tiếng là người hiền, còn 4 người kia toàn là những phường tham quyền cậy thế, nhất là Tuân Di lại hay ăn lễ lắm. Khi Công tôn Kiều còn cầm quyền chính nước Trịnh thì các quan khanh đều phải sợ cả; đến khi Du Cát thay Công tôn Kiều, Tuân Di nước Tấn mới đòi ăn lễ của Du Cát. Du Cát không theo, từ bấy giờ Tuân Di ghét nước Trịnh. Khi vào thương nghị, mật tâu với Tấn Khoảnh công rằng: - Nước Trịnh xưa nay vẫn không nhất định, lúc thì theo Tấn, lúc thì theo Sở. Nay Thế tử Kiến ở nước Trịnh, nước Trịnh tất tin lời. Nếu Thế tử Kiến chịu làm nội ứng cho ta, để đem quân sang đánh Trịnh thì khi đánh được Trịnh ta sẽ phong cho Thế tử Kiến, rồi sau này tìm cách diệt Sở, chẳng cũng nên lắm ru! Tấn Khoảnh công theo kế ấy, liền sai Tuân Du đến bảo Thế tử Kiến. Thế tử Kiến nhận lời, rồi từ biệt Tấn Khoảnh công trở về nước Trịnh bàn mưu với Ngũ Viên. Ngũ Viên can rằng: - Ngày xưa tướng nước Tần là Kỷ Tử và Dương Tôn cũng bàn mưu đánh nước Trịnh, đã chẳng được thành sự, lại không có chỗ mà dung thân. Người ta đang lấy điều trung tín mà đãi mình, sao mình lại nỡ hại người ta. Việc ấy tôi thiết tưởng không nên làm. Thế tử Kiến nói: - Ta đã nhận lời với vua tôi nước Tấn rồi! Ngũ Viên nói: - Ta không làm nội ứng cho Tấn, cũng chưa đến có tội gì; nếu muốn lập mưu lẻn đánh nước Trịnh thì tín nghĩa đều mất cả, còn ra thế nào! Thế tử làm việc này, tôi chắc rằng tai vạ sắp đến. Thế tử Kiến tham được nước Trịnh, mới không nghe lời can của Ngũ Viên, liền đem gia tài mộ riêng những quân vũ dũng, lại giao kết với các người hầu gần Trịnh Định công để dùng làm vây cánh. Tấn Khoảnh công mật sai người sang hẹn với Thế tử Kiến, nhưng chẳng ngờ việc tiết lộ ra, có người vào đầu thú với Trịnh Định công. Trịnh Định công cùng Du Cát thương nghị, triệu Thế tử Kiến vào uống rượu ở trong vườn, rồi cấm người hầu không được theo vào. Khi uống được mấy chén, Trịnh Định công hỏi Thế tử Kiến rằng: - Ta đây đem lòng tử tế mà dung nạp cho Thế tử, cớ sao Thế tử lại lập tâm định mưu hại ta như vậy? Thế tử Kiến nói: - Tôi có như thế bao giờ! Trịnh Định công gọi người đến đối chứng. Thế tử Kiến không thể chối được nữa. Trịnh Định công truyền cho kẻ lực sĩ bắt Thế tử Kiến đem mà giết đi, lại giết cả những người ăn tiền của Thế tử mà không đầu thú, cả thảy hơn 20 người. Ngũ Viên đang ở nhà quán xá, tự nhiên thấy rùng mình, mới nghĩ thầm rằng không khéo thì thế tử nguy mất! Được ít lâu, người theo hầu Thế tử Kiến trốn về nhà quán xá nói việc Thế tử Kiến bị giết. Ngũ Viên tức khắc cùng con Thế tử Kiến là Công tử Thắng thẳng đường tiến sang nước Ngô, nhưng sợ có quân Trịnh đuổi theo, vẫn phải ngày ẩn đêm đi, trăm cay nghìn đắng, không biết đâu mà kể! Đi qua được nước Trần, biết không phải là chỗ dung thân được, lại đi về phía đông trong mấy ngày nữa, sắp đến cửa Chiêu quan. Chỗ cửa Chiêu quan hai bên núi cả; ra khỏi cửa quan ấy có một con sông thông sang nước Ngô được. Mới rồi, nhân việc Ngũ Viên đi trốn, Sở Bình Vương sai quan Tư mã là Viễn Việt đóng quân ở đấy. Ngũ Viên đi đến Lịch Dương Sơn, chỉ cách cửa Chiêu quan độ 60 dặm mới ngần ngừ không dám đi vội, còn ẩn nấp trong rừng rậm. Bỗng gặp ông lão chống gậy đi tắt vào trong rừng. Ông lão ấy trông thấy Ngũ Viên, có ý lấy làm lạ, mới đến trước mặt mà vái chào. Ngũ Viên cũng chào lại. Ông lão già ấy nói: - Nhà ngươi có phải là Ngũ Viên đó không? Ngũ Viên giật mình kinh sợ mà đáp rằng: - Sao Ngài lại hỏi đến câu ấy? Ông già ấy nói: - Lão đây là học trò của ông Biển Thước, tên gọi Đông Cao Công lúc thuở trẻ lấy nghề làm thuốc mà du lịch khắp các nước, nay đã già cả, về nghỉ ở đây. Mấy năm trước quan Viễn Tướng quân (trỏ Viễn Việt) có bệnh, mời lão đến thăm, lão trông thấy trên cửa quan có treo bức tranh vẽ Ngũ Viên, giống nhà ngươi lắm, vậy lão hỏi. Nhà ngươi bất tất phải giấu, lão ở sau núi này, nhà ngươi quá bộ lại chơi, lão sẽ nói chuyện. Ngũ Viên biết không phải là người thường, mới cùng Công tử Thắng đi theo Đông Cao Công. Đi được vài dặm, có một cái nhà gianh. Đông Cao Công vái Ngũ Viên mời vào. Vào đến trong nhà Ngũ Viên sụp lạy hai lạy. Đông Cao Công vội vàng đáp lễ lại mà bảo rằng: - Chỗ này không phải là chỗ nhà ngươi ở đây được! Đông Cao Công lại đưa Ngũ Viên và Công tử Thắng đi về phía tây, vào cái cửa then nhỏ sang qua vườn trúc. Sau vườn có ba gian nhà đất, cửa bé bằng lỗ thủng cùng nhau chui vào. Trong nhà đất ấy có bày bàn ghế, hai bên khoét hai cái cửa sổ con, để cho ánh sáng chiếu vào. Đông Cao Công nhường cho Ngũ Viên ngồi trên. Ngũ Viên trỏ vào Công tử Thắng mà bảo rằng: - Có Tiểu chủ tôi ở đây, tôi xin đứng bên. Đông Cao Công hỏi là ai. Ngũ Viên nói: - Đây tức là con Thế tử Kiến nước Sở tên gọi Công tử Thắng, còn tôi chính thực là Ngũ Viên, thấy Ngài là người nhân đức, vậy không dám giấu. Vua Sở giết cha và anh tôi, làm thế nào tôi cũng phải báo thù, xin ngài chớ tiết lộ. Đông Cao Công mới mời Công tử Thắng ngồi trên, còn mình và Ngũ Viên mỗi người ngồi một bên. Đông Cao Công bảo Ngũ Viên rằng: - Lão đây chỉ biết cứu người, khi nào lại có lòng hại người. Giấu nhà ngươi ở đây một năm, hai năm cũng không ai biết, nhưng cửa Chiêu quan canh phòng nghiêm mật lắm, nhà ngươi làm thế nào mà đi qua được, tất phải nghĩ một kế gì cho được vạn toàn. Ngũ Viên quì xuống mà hỏi rằng: - Ngài có kế gì cứu thoát tôi được thì sau này tôi xin hậu tạ. Đông Cao Công nói: - Chỗ này hẻo lánh, không có ai biết, nhà ngươi cứ ở đây, rồi lão sẽ nghĩ một kế đưa nhà ngươi và Công tử đi qua cửa quan được. Ngũ Viên lạy tạ. Đông Cao Công ngày nào cũng làm rượu thết đãi. Đã được 7 ngày mà không nói gì đến kế đưa qua cửa quan cả. Ngũ Viên nói với Đông Cao Công rằng: - Trong lòng tôi đang nghĩ về việc báo thù, coi một khắc như một năm, nếu nấn ná mãi ở đây thì khác nào như kẻ chết rồi. Ngài đã là người cao nghĩa cũng nên thương tình đôi chút. Đông Cao Công nói: - Lão nghĩ đã kỹ lắm, nhưng còn đợi một người nữa đến đây! Ngũ Viên hồ nghi không quyết. Muốn từ giã Đông Cao Công để đi thì sợ không qua được cửa quan, thêm mắc tai vạ; muốn cố ở để đợi thì lại sợ trễ mất thời giờ, mà cũng chưa biết là đợi ai cả. Nghĩ quanh nghĩ quẩn, trằn trọc suốt đêm, không thể ngủ được, trong lòng đau đớn, khác nào dao đâm. Đang nằm vùng dậy chạy xung quanh nhà, chẳng ngờ trời đã sáng rõ. Đông Cao Công đẩy cửa bước vào, trông thấy Ngũ Viên, kinh sợ mà hỏi rằng: - Râu tóc nhà ngươi cớ sao mà khác hẳn đi làm vậy! Hay là vì nghĩ quá mà hóa như thế? Ngũ Viên không tin, cầm lấy gương soi thì ra râu tóc đã trắng xóa cả. Ngũ Viên mới ném cái gương xuống đất rồi nức nở mà khóc rằng: - Hai mái tóc đã bạc cả mà chẳng làm nên được một việc gì! Trời ôi là trời!.. Đông Cao Công nói: - Nhà ngươi chớ lấy làm buồn, đó là một cái triệu hay lắm! Ngũ Viên gạt nước mắt mà hỏi rằng: - Thế nào lại bảo là triệu hay? Đông Cao Công nói: - Nhà ngươi mặt mũi khôi ngô, người ta dễ nhận lắm, nay râu tóc trắng xóa, trông lạ hẳn đi, có thể che mắt được thiên hạ. Vả người bạn già của lão cũng đã tới nơi thì kế lão may ra thành được. Ngũ Viên hỏi: - Ngài định làm thế nào? Đông Cao Công nói: - Người bạn lão tên gọi Hoàng Phủ Nột, ở Long Động Sơn, cách đây 70 dặm. Người ấy mình cao 9 thước, mày rộng 8 tấc, trông dáng hơi giống nhà ngươi. Nay bảo hắn giả hình làm nhà ngươi mà nhà ngươi thì giả hình làm đứa theo hầu. Khi hắn bị bắt, chúng đang lao nhao rối rít thì nhà ngươi lẻn qua cửa quan được. Ngũ Viên nói: - Cái kế của ngài dẫu khéo, nhưng di lụy đến quí hữu thì tôi không đành lòng! Đông Cao Công nói: - Không hại gì cả, lão sẽ có cách giải cứu. Lão đã bàn kỹ với Hoàng Phủ Nột rồi. Ông ta là người khảng khái, đã nhận lời ngay, bất tất phải lo ngại. Đông Cao Công sai người mời Hoàng Phủ Nột vào để chào Ngũ Viên. Ngũ Viên trông thấy, quả nhiên giống mình thật, trong lòng mừng lắm. Đông Cao Công lại dùng một thứ thuốc để Ngũ Viên bôi mặt, làm cho khác hẳn đi. Khi trời đã nhá nhem tối, Đông Cao Công bảo Ngũ Viên cởi cái áo trắng đưa cho Hoàng Phủ Nột mặc, còn Ngũ Viên thì mặc áo cánh ngắn, giả làm người theo hầu. Công tử Thắng cũng ăn mặc như đứa trẻ con nhà quê. Ngũ Viên và Công tử Thắng sụp lạy Đông Cao Công bốn lạy và nói rằng: - Sau này nên việc thì quyết xin hậu tạ. Đông Cao Công nói: - Lão thương nhà ngươi bị oan, vậy nên muốn giúp, chứ có mong tạ làm gì! Đêm hôm ấy, Ngũ Viên cùng Công tử Thắng theo Hoàng Phủ Nột đi sang cửa Chiêu quan. Mờ mờ sáng hôm sau thì vừa đến nơi. Tướng nước Sở là Viễn Việt truyền cho quân sĩ canh phòng nghiêm mật. Phàm những người đi qua phải tra xét rất kỹ lưỡng. Trên cửa quan có treo một bức tranh Ngũ Viên để dễ đối chứng. Khi Hoàng Phủ Nột đến cửa quan, quân sĩ trông thấy hình dáng giống trong tranh lắm, mình mặc áo trắng, mà lại có ý sợ hãi, liền bắt giữ lại rồi phi báo với Viễn Việt. Viễn Việt cỡi ngựa ra xem, mới nhác trông thấy, đã bảo là "Chính phải rồi!", rồi truyền cho quân sĩ bắt lấy đem về, Hoàng Phủ Nột giả cách không biết chuyện gì, chỉ van lạy xin tha cho. Bấy giờ các quân sĩ và nhân dân ở xung quanh đấy nghe tin bắt được Ngũ Viên, đều nô nức kéo nhau đến xem. Ngũ Viên nhân lúc cửa quan mở rộng, cùng Công tử Thắng đi lẫn vào trong đám đông người, ăn mặc khác thường, râu tóc lại trắng xóa, vả lại ai cũng tưởng là Ngũ Viên đã bắt được rồi, không tra xét gì nữa, thành ra Ngũ Viên và Công tử Thắng đi thoát qua được. Viễn Việt đem Hoàng Phủ Nột ra tra hỏi, bắt làm tờ cung, để định giải về Dĩnh Đô. Hoàng Phủ Nột cãi rằng: - Tôi là ẩn sĩ ở Long Động Sơn, tên gọi Hoàng Phủ Nột, có hẹn với một người bạn là Đông Cao Công để cùng đi chơi, không dám làm điều gì trái phép cả, sao lại bắt trói thế này? Viễn Việt nghe tiếng Hoàng Phủ Nột nói, nghĩ thầm trong lòng rằng: - Ngũ Viên mắt sáng như điện, tiếng kêu như chuông. Người này hình dáng dẫu giống, nhưng tiếng nói hơi nhỏ, hay vì cớ giãi gió dầm sương mà thành ra thế chăng? Viễn Việt còn đang nghi hoặc thì nghe báo có Đông Cao Công vào yết kiến. Viễn Việt truyền đem Hoàng Phủ Nột giải đi một nơi, rồi mời Đông Cao Công vào. Đông Cao Công nói với Viễn Việt rằng: - Chúng tôi nhân đi chơi qua đây, nghe đồn tướng quân đã bắt được kẻ vong thần là Ngũ Viên, vậy tôi xin có lời mừng. Viễn Việt nói: - Quân sĩ có bắt được một người mặt giống Ngũ Viên, nhưng hắn chưa chịu thú nhận. Đông Cao Công nói: - Quan Tướng quân cùng cha con Ngũ Viên cùng làm quan một triều, có lẽ nào lại không nhận được rõ mặt hay sao? Viễn Việt nói: - Ngũ Viên mắt sáng như điện, tiếng kêu như chuông, người này mắt nhỏ mà tiếng bé. Ta ngờ là vì cớ khổ sở lâu ngày mà thành ra thế. Đông Cao Công nói: - Tôi cũng có biết mặt Ngũ Viên, xin cho tôi xem qua, sẽ rõ hư thực. Viễn Việt truyền giải Hoàng Phủ Nột đến. Hoàng Phủ Nột trông thấy Đông Cao Công, vội vàng gọi mà bảo rằng: - Ông hẹn tôi cùng đi chơi, sao không đến mau, để tôi phải chịu nhục thế này! Đông Cao Công nói với Viễn Việt rằng: - Tướng quân lầm rồi! Đây là người bạn tôi, tên gọi Hoàng Phủ Nột, có hẹn tôi cùng đi chơi, chờ nhau ở đây, chẳng ngờ hắn lại đi trước. Nếu Tướng quân không tin thì hiện tôi đã có tờ quá quan văn điệp này, sao Tướng quân lại vu cho là vong thần được. Đông Cao Công liền thò tay vào trong tay áo lấy tờ quá quan văn điệp ra đệ trình Viễn Việt. Viễn Việt có ý thẹn, đứng dậy cởi trói cho Hoàng Phủ Nột và rót một chén rượu mời uống mà bảo rằng: - Việc này là tại quân sĩ nó bắt lầm, xin ông chớ lấy làm lạ! Đông Cao Công nói: - Quan Tướng quân giữ phép triều đình như thế là phải, có việc gì mà lạ! Viễn Việt lại đem vàng lụa đưa tặng Đông Cao Công và Hoàng Phủ Nột. Hai người tạ ơn lui ra. Viễn Việt lại truyền cho quân sĩ phải canh giữ nghiêm mật như trước. Ngũ Viên qua được cửa Chiêu quan, trong lòng mừng thầm, thẳng đường đi mau. Đi được mấy dặm, bỗng gặp một người, Ngũ Viên nhìn xem ai thì tức là Tả Thành, hiện đang làm lính canh ở cửa Chiêu quan. Nguyên hắn là người ở đất Thành Phủ, khi trước đã có theo hầu cha con Ngũ Viên đi săn bắn, vậy nên nhận được rõ mặt lắm. Tả Thành trông thấy Ngũ Viên, kinh sợ mà hỏi rằng: - Triều đình đang tầm nã Ngài gấp lắm, sao ngài lại qua được cửa quan? Ngũ Viên nói: - Đại vương biết ta có một viên dạ minh châu, bắt ta phải đem nộp, nay viên dạ châu ấy về tay người khác, ta còn phải đi tìm. Mới rồi, ta đã bẩm mệnh quan Viễn Tướng quân (chỉ Viễn Việt), Ngài cho ta đi. Tả Thành không tin mà nói rằng: - Đại vương có truyền lệnh: Ai tha Ngài thì cả nhà bị chém. Vậy xin Ngài hãy cùng tôi trở về cửa quan, để tôi hỏi lại chủ tướng, rồi sau sẽ đi. Ngũ Viên nói: - Nếu bắt ta trở lại để hỏi chủ tướng thì ta nói là viên hạt châu ấy đã giao cho nhà ngươi, nhà ngươi khó lòng mà gỡ tội được. Chi bằng nhà ngươi làm ơn tha cho ta đi, lại thành ra tử tế. Tả Thành vốn biết Ngũ Viên là bậc anh hùng, không thể đương nổi, mới tha cho đi. Khi về đến cửa quan, cũng giấu kín chuyện ấy, không dám nói gì đến cả. Ngũ Viên đi mau một quãng nữa, trông thấy sông đại giang, mặt nước mông mênh, làn sóng cuồn cuộn, lại không có một chiếc thuyền bè nào. Ngũ Viên, mặt trước khổ về sông chắn, mặt sau khổ về quân theo, trong lòng đang bồn chồn về nỗi nguy cấp, bỗng thấy có một ông lão đánh cá ngồi chiếc thuyền nhỏ, bơi ngược dòng nước đi lên. Ngũ Viên mừng mà nói rằng: - Trời còn không nỡ hại ta! Nói xong, liền gọi ông lão đánh cá mà bảo rằng: - Cụ đánh cá ơi, cho tôi sang với! Cụ đánh cá ơi, mau mau cho tôi sang với! Ông lão đánh cá ấy toan ghé thuyền để đón, nhưng trông thấy trên bờ lại có người đi, mới lên tiếng mà hát rằng: "Kìa kìa bóng dâu (y-y-ý-a) đã xế ngang đầu.. Đôi ta hẹn nhau (y-y-ý-a) trong" bụi hoa lau! "Ngũ Viên nghe câu hát, hiểu ý, liền men vào bờ sông đi thẳng xuống bãi lau, nấp vào trong bụi hoa lau. Một lúc lâu, ông lão đánh cá ghé thuyền vào bờ, không trông thấy Ngũ Viên đâu cả, lại lên tiếng mà hát rằng:" Mặt trời đã xế (y-y-ý-a) lòng ta thường lo! Mặt trăng đã mọc (y-y-ý-a) sao không sang đò.. "Ngũ Viên và Công tử Thắng ở trong bụi hoa lau chui ra. Ông lão đánh cá vội vàng gọi xuống thuyền. Hai người xuống thuyền. Ông lão đánh cá cầm mái chèo, từ từ bơi đi. Một lúc sang tới bờ bên kia, ông lão đánh cá bảo Ngũ Viên rằng: - Đêm qua lão nằm mộng thấy sao tướng tinh rơi vào trong thuyền. Lão biết là có người lạ qua đây, vậy nên lão đón, tình cờ lại gặp nhà ngươi, nhà ngươi quyết không phải là người thường, nên nói thực cho lão biết. Ngũ Viên liền nói thực họ tên cho nghe. Ông lão đánh cá ái ngại thay mà bảo rằng: - Lão trông nét mặt nhà ngươi có ý đói, để lão đi lấy cơm cho ăn. Nhà ngươi hãy đợi đây một chút. Ông lão đánh cá liền buộc thuyền ở dưới gốc cây, để vào trong xóm lấy cơm ra cho Ngũ Viên và Công tử Thắng ăn. Ông lão đánh cá đi mãi không thấy đến. Ngũ Viên bảo Công tử Thắng rằng: - Lòng người khó dò lắm, chắc đâu là hắn không gọi người để bắt ta. Hai người lại cùng nhau nấp vào trong bụi hoa lau. Một lúc sau, ông lão đánh cá đem cơm canh cá thịt đến dưới gốc cây, không trông thấy Ngũ Viên đâu cả, mới gọi to lên rằng: - Người trong bụi lau ơi! Người trong bụi lau ơi! Lão có định hại nhà ngươi để cầu lợi đâu! Ngũ Viên ở trong bụi lau thưa mà đi ra. Ông lão đánh cá nói: - Lão biết nhà ngươi đói, đi lấy cơm cho ăn, sao nhà ngươi lại trốn? Ngũ Viên nói: - Tính mệnh tôi bây giờ ở trong tay Cụ! Tôi đang lúc lo nghĩ, trong lòng bàng hoàng, chứ cũng không phải là trốn. Ông lão đánh cá dọn cơm cho ăn. Ngũ Viên và Công tử Thắng ăn no rồi, lúc sắp đi, Ngũ Viên cởi thanh kiếm đưa cho ông lão đánh cá mà bảo rằng: - Thanh kiếm này là của Tiên vương ban cho. Ông cha tôi đeo thanh kiếm này đã 3 đời rồi. Giá đáng 100 nén vàng, xin để đền ơn cụ. Ông lão đánh cá cười mà bảo rằng: - Lão nghe nói vua Sở có treo giải: Ai bắt được Ngũ Viên cho thóc năm vạn thạch và tước thượng đại phu. Như thế lão còn chẳng ham, có lẽ nào lại tham cái thanh kiếm 100 nén vàng làm gì! Vả thanh kiếm này cần dùng cho nhà ngươi, chứ lão có dùng chi đến. Ngũ Viên nói: - Cụ đã không nhận thanh kiếm, xin cụ cho biết họ tên để sau này hậu tạ. Ông lão đánh cá nổi giận mà nói rằng: - Lão thấy nhà ngươi bị oan, vậy nên thương mà giúp nhà ngươi, nhà ngươi lại đem câu hậu tạ mà dử lão, thế thì sao gọi là trượng phu được! Ngũ Viên nói: - Cụ dẫu không mong báo, nhưng lòng tôi sao đành! Ngũ Viên lại cố nài cho ông lão đánh cá nói họ tên. Ông lão đánh cá bảo rằng: - Ngày nay gặp nhau đây, ngươi là kẻ mang tội đi trốn, lão là người tha kẻ có tội, còn hỏi họ tên làm gì! Huống chi lão kiếm ăn ở trên mặt nước, bèo trôi sóng dạt, dẫu hỏi họ tên, cũng không mấy khi đã gặp. Vạn nhất lòng trời xui khiến, lại được gặp nhau thì lão gọi nhà ngươi là" Người trong bụi lau ", nhà ngươi gọi lão là" Ông lão đánh cá", thế cũng là đủ! Ngũ Viên lạy tạ rồi đi. Đi được mấy bước, lại quay trở lại bảo ông lão đánh cá rằng: - Giả sử mặt sau có quân đuổi theo thì xin cụ đừng tiết lộ cho biết.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 73 Ngũ Viên giả dại, hát ở Ngô Thị Chuyên Chư dâng cá, đâm chết Vương Liêu

Ông lão đánh cá đã chở thuyền cho Ngũ Viên qua sông, lại dọn cơm cho ăn, mà không chịu nhận lấy thanh kiếm. Ngũ Viên đã đi, lại sợ có quân đuổi theo, liền quay trở lại, dặn ông lão đánh cá chớ tiết lộ cho ai biết. Ông lão đánh cá thở dài mà than rằng: - Lão làm ơn cho nhà ngươi mà nhà ngươi lại nghi lão. Giả sử có quân đuổi theo thì dẫu ai chở sang mặc lòng, lão cũng không thể nào mà giãi tỏ ra được. Thôi thì lão liều chết để cho nhà ngươi khỏi nghi. Ông lão đánh cá cởi dây buộc thuyền ra, quẳng cả mái chèo đi, rồi làm cho thuyền phải lật úp lại, chết đuối ở giữa dòng sông. Ngũ Viên thấy ông lão đánh cá chết đuối, cũng thở dài mà than rằng: - Thương hại thay! Tôi nhờ Cụ mà sống, Cụ vì tôi mà chết!.. Ngũ Viên và Công tử Thắng đi đến Phiên Dương, đói quá, phải xin ăn, gặp một người con gái đang ngồi giặt ở bến sông Lại Thủy, có đem theo một giỏ cơm. Ngũ Viên dừng chân đứng lại mà hỏi người con gái ấy rằng: - Bà có làm ơn cho tôi xin một bữa ăn được không? Người con gái ấy cúi đầu mà đáp lại rằng: - Thiếp ở nhà với mẹ, đã 30 năm nay chưa gả chồng, có đâu lại dám đem cơm cho một người khách lạ! Ngũ Viên nói: - Tôi gặp bước cùng khốn này, phải xin một bữa, Bà rủ lòng thương mà cho còn ngại nỗi gì! Người con gái ngẩng đầu trông thấy Ngũ Viên mặt mũi khôi ngô, liền bảo Ngũ Viên rằng: - Thiếp trông mặt nhà ngươi không phải là người thường, chẳng lẽ lại vì một điều nhỏ mọn mà để cho nhà ngươi phải đói khát hay sao? Người con gái liền mở giỏ cơm ra đưa cho Ngũ Viên. Ngũ Viên và Công tử Thắng chỉ ăn một ít mà thôi. Người con gái ấy nói: - Các ngươi còn phải đi xa, sao không ăn cho no! Hai người lại ngồi ăn hết cả. Lúc sắp đi, bảo người con gái rằng: - Bà rủ lòng thương mà cho ăn, không bao giờ dám quên ơn. Chúng tôi đây thật là bọn đi trốn, giả sử gặp người khác, xin Bà chớ tiết lộ. Người con gái có ý buồn rầu mà than rằng: - Mẹ góa con thơ, 30 năm nay thiếp vẫn một lòng trinh tiết, nào ngờ vì một giỏ cơm mà thành ra nói chuyện với đàn ông, còn gì là trinh tiết nữa! Thôi, các ngươi đi đi. Ngũ Viên từ biệt rồi đi. Đi được mấy bước, ngoảnh đầu trông lại, thấy người con gái ôm một viên đá lớn, rồi nhảy xuống sông tự tử. Ngũ Viên thương xót vô cùng, mới cắn đầu ngón tay, lấy máu viết 20 chữ lên trên một viên đá rằng: "Nàng ngồi giặt, ta đi xin. Ta bụng đói, nàng chết đuối. Sau mười năm nữa, báo ơn nghìn vàng.." Ngũ Viên viết xong, lại sợ người khác trông thấy, lấy đất lấp kín lại. Đi được hơn 300 dặm đến đất Ngô Xu. Trông thấy một người tráng sĩ trán dô, mắt sâu, dáng như hổ, tiếng to như sấm, đang đánh nhau với một người tráng sĩ khác, ai can cũng không được. Bỗng có một bà lão ở trong nhà bước ra, gọi mà bảo rằng: - Chuyên Chư! Không nên thế! Người tráng sĩ ấy có ý sợ hãi, rồi xuôi tay trở vào trong nhà. Ngũ Viên lấy làm lạ, hỏi người đứng bên rằng: - Tráng sĩ như thế kia mà sao lại sợ một người đàn bà! Người đứng bên nói: - Người ấy sức khỏe địch nổi muôn người, xưa nay không hề sợ ai cả; lại vốn là một người có nghĩa khí, thấy ai có sự bất bình, thường liều chết để cứu giúp. Bà lão đứng trong cửa mà gọi mới rồi, tức là mẹ người ấy đó. Chuyên Chư tức là họ tên người ấy đó. Người ấy có hiếu với mẹ lắm, dẫu đang giận đến đâu mà nghe mẹ bảo, cũng phải thôi ngay. Ngũ Viên khen rằng: - Thế mới thật là người giỏi! Hôm sau, Ngũ Viên tìm vào yết kiến Chuyên Chư, Chuyên Chư ra nghênh tiếp, hỏi lai lịch của Ngũ Viên. Ngũ Viên nói thật họ tên và kể hết những nông nỗi mình bị oan. Chuyên Chư nói: - Ngài bị cái oan to như thế, sao không tìm vào yết kiến vua Ngô để mượn quân báo thù. Ngũ Viên nói: - Vì chưa có người tiến dẫn. Chuyên Chư nói: - Hôm nay Ngài hạ cố tới đây, có định bảo tôi điều gì chăng? Ngũ Viên nói: - Tôi mến cái hiếu đức của Ngài, muốn cùng Ngài kết giao. Chuyên Chư mừng lắm, liền vào nói với mẹ, rồi cùng Ngũ Viên kết làm anh em. Ngũ Viên hơn Chuyên Chư hai tuổi, Chuyên Chư phải gọi bằng anh. Ngũ Viên lại vào bái kiến bà mẹ Chuyên Chư. Chuyên Chư cũng đem vợ con ra chào Ngũ Viên, rồi giết gà làm cơm ăn, vui vẻ như anh em ruột. Chuyên Chư lại mời Ngũ Viên và Công tử Thắng ngủ ở đấy một đêm. Ngày hôm sau. Ngũ Viên bảo Chuyên Chư rằng: - Anh xin từ giã em để vào kinh thành mà tìm cách đầu với vua Ngô. Chuyên Chư nói: - Vua Ngô là người vũ dũng mà kiêu ngạo, không bằng Công tử Quang biết thân người hiền, kính kẻ sĩ, sau này có cơ thành sự được. Ngũ Viên nói: - Em đã chỉ bảo, anh xin nhớ lời. Sau này có lúc dùng đến em, xin em chớ từ chối. Chuyên Chư nhận lời. Ngũ Viên và Công tử Thắng từ giã rồi đi. Đi đến đất Mai Lý. Chỗ ấy thành quách hẹp hòi, chợ búa lụp xụp, kẻ đi người lại, chẳng ai quen thuộc với mình, Ngũ Viên mới giấu Công tử Thắng ở ngoài cõi, rồi xõa tóc bôi mặt, giả cách điên cuồng, tay cầm ống tiêu, đến giữa chợ ngồi thổi để ăn xin những khách qua đường. Ngũ Viên cầm ống tiêu thổi một bài như sau này: "Ngũ Tử Tư! Ngũ Tử Tư! Tấm thân lưu lạc đến bao giờ!.. Trăm cay nghìn đắng, chứ thương thì thương.. Chưa báo thù được cho cha, dẫu sống cũng dư! Ngũ Tử Tư! Ngũ Tử Tư! Một đêm lo nghĩ đầu bạc phơ!.. Kinh hồn mất vía, chứ thương thì thương.. Chưa báo thù được cho anh, dẫu sống cũng dư! Ngũ Tử Tư! Ngũ Tử Tư! Hoa lau bụi nọ, bến sông kia!.. Liều chết cố sống, chứ thương thì thương.. Chưa báo thù được cho thân, dẫu sống cũng dư!.." Người trong chợ không ai hiểu gì cả. Lại nói chuyện Công tử Quang nước Ngô là con vua Ngô trước tên gọi Chư Phàn. Khi Chư Phàn chết, đáng lẽ Công tử Quang được lên nối ngôi, nhưng Chư Phàn vâng lời cha dặn, muốn truyền ngôi cho các em để theo thứ tự cho đến Quý Trát, bởi vậy Dư Sái và Di Muội (em Chư Phàn) được theo thứ tự lên làm vua. Đến khi Di Muội chết, Quý Trát không chịu nối ngôi, đáng lẽ lại lập con Chư Phàn mới phải, nhưng Vương Liêu (con Di Muội) có lòng tham, tự lập lên làm vua. Công tử Quang không phục, muốn giết Vương Liêu, ngặt vì trong bọn triều thần đều là đảng Vương Liêu cả, không biết bàn mưu với ai. Công tử Quang ẩn nhẫn trong lòng, tìm được một người xem tướng, tên gọi Bị Ly, cử cho làm chức coi giữ ở Ngô Thị, dặn phải tìm những kẻ hào kiệt. Một hôm, Ngũ Viên thổi ống tiêu đi qua Ngô Thị, Bị Ly thấy tiếng sầu thảm, mới lắng tai nghe, rồi chạy ra xem, kinh sợ mà nói rằng: - Tôi xem tướng người ta đã nhiều, chưa có ai lạ như Ngài! Bị Ly liền vái chào, mời ngồi lên trên. Ngũ Viên khiêm nhượng không dám ngồi. Bị Ly nói: - Tôi nghe tin nước Sở giết một người trung thần là Ngũ Xa, con là Ngũ Tử Tư trốn đi nước ngoài, chẳng hay Ngài có phải là Ngũ Tử Tư chăng? Ngũ Viên khúm núm chưa kịp trả lời, Bị Ly lại nói: - Tôi không phải là muốn làm hại Ngài, bởi tôi thấy Ngài tướng mạo kỳ dị, tôi muốn giúp cho Ngài được nên phú quí. Ngũ Viên mới nói thực tất cả. Người hầu Bị Ly, nghe được chuyện ấy, vào báo với Vương Liêu; Vương Liêu gọi Bị Ly đến, bắt phải đưa Ngũ Viên vào yết kiến. Bị Ly một mặt sai người báo riêng cho Công tử Quang biết; còn một mặt bảo Ngũ Viên tắm gội, thay áo để vào yết kiến Vương Liêu. Vương Liêu trông thấy mặt, có ý làm lạ, mới cùng Ngũ Viên nói chuyện, biết Ngũ Viên là người hiền, cho làm quan đại phu. Ngày hôm sau, Ngũ Viên vào lạy tạ, nói đến những sự cha và anh mình bị oan, nghiến răng nghiến lợi, hai mắt quắc lên như nẩy lửa ra. Vương Liêu khen là người có khí khái, mới nhủ lòng thương, nhận giúp cho để báo thù. Công tử Quang vốn biết tiếng Ngũ Viên là người trí dũng, có ý muốn dùng, nghe nói Ngũ Viên vào yết kiến Vương Liêu, sợ Vương Liêu dùng mất, liền vào nói với Vương Liêu rằng: - Tôi nghe nói kẻ vong thần nước Sở là Ngũ Viên chạy sang nước ta, Đại vương cho là người thế nào? Vương Liêu nói: - Ngũ Viên là người hiền mà có hiếu. Công tử Quang nói: - Đại vương thấy thế nào mà biết là hiền và hiếu? Vương Liêu nói: - Ngũ Viên vũ dũng khác thường, cùng với ta bàn việc nước, đều hợp lẽ cả, thế tức là hiền; nghĩ đến tình oan của cha và anh mà không lúc nào dám quên, có nói với ta xin mượn quân để báo thù, thế tức là hiếu. Công tử Quang nói: - Đại vương có nhận lời cho mượn quân hay không? Vương Liêu nói: - Ta thương tình hắn, đã nhận lời cho rồi! Công tử Quang can rằng: - Xưa nay ông vua một nước lớn, không vì kẻ thất phu mà cất quân bao giờ! Nước ta đã nhiều phen giao chiến với Sở mà chưa được lần nào đại thắng; nếu giúp quân cho Ngũ Viên, chẳng hóa ra coi một kẻ thất phu trọng hơn điều quốc si hay sao! Được thì kẻ kia hả dạ, thua thì quân ta thêm nhục, việc này quyết không nên! Vương Liêu lấy làm phải, liền bãi cái nghị định đánh Sở. Ngũ Viên nghe tin Công tử Quang can Vương Liêu như vậy, mới phàn nàn rằng: - Công tử Quang đang có ý muốn nổi loạn, còn nói chuyện giúp ai được nữa! Ngũ Viên xin từ chức đại phu. Công tử Quang lại nói với Vương Liêu rằng: - Ngũ Viên thấy Đại vương không chịu cất quân mà xin từ chức đại phu, thế là có ý oán giận. Đại vương không nên dùng. Vương Liêu mới không dùng Ngũ Viên nữa, chỉ cấp cho 100 mẫu ruộng ở Dương Sơn. Ngũ Viên và Công tử Thắng cùng nhau về cày ruộng ở Dương Sơn. Công tử Quang liền tìm đến yết kiến Ngũ Viên và giúp cho thóc lụa, lại hỏi Ngũ Viên rằng: - Nhà ngươi đi lại trong nước Ngô và nước Sở, có gặp người nào tài giỏi như nhà ngươi nữa không? Ngũ Viên nói: - Tôi thì ra gì mà kể, nhưng tôi có gặp Chuyên Chư, thật là một người tài giỏi! Công tử Quang nói: - Ta muốn nhờ nhà ngươi mà giao kết với Chuyên Chư có được không? Ngũ Viên nói: - Chuyên Chư ở cách đây cũng không xa lắm, xin cho triệu đến, chỉ ngày mai thì tới nơi. Công tử Quang nói: - Đã là một người tài giỏi thì ta xin đến tận nơi mà mời, khi nào dám sai người triệu. Công tử Quang nói xong, liền cùng với Ngũ Viên đi xe đến nhà Chuyên Chư. Chuyên Chư đang ngồi mài dao ở ngoài phố, để sắp đi làm thịt lợn cho người ta, trông thấy ngựa xe rộn rịp, đã toan chạy trốn. Ngũ Viên ngồi trên xe gọi mà bảo rằng: - Anh đây mà!.. Chuyên Chư vội vàng dừng tay mài dao lại, chờ xe Ngũ Viên đến. Ngũ Viên xuống xe chào Chuyên Chư, lại chỉ Công tử Quang mà bảo Chuyên Chư rằng: - Đây là một vị trưởng Công tử ở nước Ngô, mến yêu cái tài giỏi của em, muốn đến yết kiến, em chớ nên từ chối. Chuyên Chư nói với Công tử Quang rằng: - Tôi là một kẻ hèn mọn, có tài gì mà làm phiền lòng Công tử. Chuyên Chư vái chào Công tử Quang mà mời vào. Nhà tranh cửa túp, phải cúi đầu mới vào được. Công tử Quang vái chào Chuyên Chư và giải tỏ tấm lòng kính mến. Chuyên Chư đáp lễ lại. Công tử Quang đưa biếu các đồ vàng bạc. Chuyên Chư nhất định từ chối. Ngũ Viên ở bên cạnh cố khuyên mãi, Chuyên Chư mới chịu nhận. Từ bấy giờ Chuyên Chư thành ra người của Công tử Quang. Công tử Quang ngày nào cũng sai người đưa cho gạo thịt, mỗi tháng lại cấp vải lụa cho, và thỉnh thoảng đến hỏi thăm bà mẹ Chuyên Chư. Chuyên Chư cảm phục cái lòng tử tế ấy, một hôm hỏi Công tử Quang rằng: - Tôi là một kẻ hèn mọn ở chốn thôn dã, đội ơn Công tử chu cấp cho, không biết lấy chi báo đáp. Sau này Công tử có sai việc gì tôi xin hết sức! Công tử Quang liền đuổi hết người xung quanh mà giải tỏ cái ý muốn đâm chết Vương Liêu. Chuyên Chư nói: - Vua trước là Dư Sái mất thì con là Vương Liêu đáng được nối ngôi, cớ sao Công tử lại muốn giết? Công tử Quang thuật lại di mệnh của tổ phụ xưa và bảo Chuyên Chư rằng: - Quý Trát đã không chịu nhận ngôi thì phải trả lui người con đích trưởng. Người con đích trưởng tức là ta đây, chứ sao Vương Liêu lại nối ngôi được. Ta đây sức yếu không làm gì nổi, muốn nhờ tay nhà ngươi. Chuyên Chư nói: - Sao không sai một người cận thần nhân lúc thong thả nói cho Vương Liêu nghe, thuật lại những lời di mệnh của vua trước, khiến cho Vương Liêu phải thoái vị, cần gì mà dùng đến kiếm sĩ cho tổn thương hòa khí trong nhà. Công tử Quang nói: - Vương Liêu là người tham cậy khỏe, chỉ biết lợi chứ không biết nghĩa, nếu nói với hắn thì lại thêm hại mình. Ta cùng với Vương Liêu không thể cùng đứng được. Chuyên Chư hăng hái mà đáp rằng: - Công tử nói phải lắm! Nhưng tôi còn có lão mẫu, chưa dám liều chết. Công tử Quang nói: - Ta cũng biết nhà ngươi mẹ già con thơ, nhưng trừ phi nhà ngươi thì không ai giúp ta được việc ấy. Nếu thành sự thì mẹ già và con thơ của nhà ngươi tức là mẹ già và con thơ của ta, ta xin hết lòng cấp dưỡng, không dám phụ ơn nhà ngươi. Chuyên Chư ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi đáp lại rằng: - Muốn làm việc gì cũng tất phải nghĩ cho kỹ thì mới vạn toàn được. Con cá ở dưới vực sâu mà vào trong tay người đánh cá là vì có cái mồi thơm, nay muốn đâm chết Vương Liêu, tất phải tìm xem Vương Liêu sở thích cái gì để mà tiến dâng thì mới đến gần được. Chẳng hay Vương Liêu sở thích cái gì? Công tử Quang nói: - Vương Liêu chỉ thích ăn. Chuyên Chư nói: - Trong các món ăn thì món nào thích hơn cả? Công tử Quang nói: - Thích nhất là món cá nướng. Chuyên Chư nói: - Nếu vậy thì tôi xin từ giã Ngài một độ. Công tử Quang nói: - Nhà ngươi định đi đâu? Chuyên Chư nói: - Tôi xin đi học làm món ăn, mới có cơ đến gần Vương Liêu được. Chuyên Chư đi sang Thái Hồ để học nướng cá. Nướng cá trong ba tháng ai ăn cũng lấy làm ngon. Khi Chuyên Chư đã học được nghề nướng cá rồi, lại về yết kiến Công tử Quang. Công tử Quang giấu kín Chuyên Chư ở trong phủ và gọi Ngũ Viên đến mà bảo rằng: - Chuyên Chư đã học được nghề nướng cá rồi, làm thế nào mà đến gần Vương Liêu được. Ngũ Viên nói: - Ta không trị nổi chim hồng và chim hộc là vì nó có lông cánh, vậy muốn trị chim hồng và chim hộc thì tất phải cắt lông cánh nó trước. Tôi nghe nói con Vương Liêu là Công tử Khánh Kỵ mình cứng như sắt, sức địch muôn người, tay vồ được giống chim đang bay, chân đá được giống thú rất mạnh. Vương Liêu đã được một Khánh Kỵ lúc nào cũng đi liền bên cạnh, ta khó làm gì nổi; huống chi lại còn hai em là Yểm Dư và Chúc Dung đều là người tài giỏi, lại đang giữ binh quyền, thế thì bây giờ muốn giết Vương Liêu, phải trừ bỏ ba người ấy trước. Nếu không trừ bỏ ba người ấy thì dẫu may ra có thành sự nữa, Công tử cũng không yên mà nối ngôi được. Công tử Quang ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi bảo Ngũ Viên rằng: - Nhà ngươi nghĩ phải lắm! Thôi thì nhà ngươi hãy về làm ruộng, đợi có dịp nào, ta sẽ thương nghị. Ngũ Viên cáo từ lui ra. Năm ấy vua Cảnh Vương nhà Chu mất. Người đích tử đã được làm thái tử, tên là Mãnh, người thứ tử tên là Mang, còn người thứ tử mà lớn tuổi hơn cả tên là Triều. Chu Cảnh Vương yêu Vương tử Triều lắm, dặn quan Đại phu là Tân Mạnh, muốn cho Vương tử Triều làm thái tử, nhưng chưa kịp cho thì mất. Lưu Chí cũng chết, con là Lưu Quyển vốn có hiềm khích với Tân Mạnh, liền cùng Đan Kỳ giết Tân Mạnh, rồi lập Thái tử Mãnh, tức là Chu Điệu Vương. Doãn Cố, Cam Du và Thiệu Hoán đều là vây cánh Vương tử Triều, mới cùng nhau họp quân, sai quan Thượng tướng là Nam Cung Cực đến đánh Lưu Quyển. Lưu Quyển bỏ chạy sang đất Dương. Đan Kỳ phụng Thái tử Mãnh đóng ở đất Hoàng. Vương tử Triều sai Tầm Miện đem quân sang đánh. Tầm Miện thua, chết. Tấn Khoảnh công nghe nói nhà Chu biến loạn, sai quan đại phu là Tịch Đàm và Tuân Lịch đem quân sang lập Thế tử Mãnh, đóng ở Vương Thành. Doãn Cố cũng lập Vương tử Triều ở kinh sư. Chưa được bao lâu, Thái tử Mãnh ốm chết, Đan Kỳ và Lưu Quyển lại lập người em là Vương tử Mang, tức là Chu Kính Vương, đóng ở Địch Toàn. Người nhà Chu gọi Vương tử Mang là Đông Vương, gọi Vương tử Triều là Tây Vương. Hai bên cùng chống cự nhau, đã sáu năm chưa thôi. Thiệu Hoán chết. Nam Cung Cực cũng bị sét đánh mà chết. Quan Đại phu nước Tấn là Tuân Lịch lại đem quân chư hầu sang giúp Chu Kính Vương, đưa về kinh sư, bắt Doãn Cố. Vương tử Triều vỡ quân. Con Thiệu Hoán là Thiệu Ngân đem quân đánh Vương tử Triều. Vương tử Triều bỏ chạy sang nước Sở. Các nước chư hầu đắp thành hộ cho nhà Chu, rồi rút quân về. Chu Kính Vương cho Thiệu Ngân là người phản phúc, bắt đem ra cùng chém với Doãn Cố. Người nhà Chu đều lấy làm sướng. Bấy giờ người mẹ Thế tử Kiến nước Sở đang ở đất Vấn Dương, Phí Vô Cực sợ làm nội ứng cho Ngũ Viên, mới xui Sở Bình Vương giết đi. Người mẹ Thế tử Kiến nghe tin, mật sai người sang cầu cứu với vua Ngô là Vương Liêu. Vương Liêu sai Công tử Quang đem quân sang đất Vấn Dương để đem người mẹ Thế tử Kiến về nước Ngô. Công tử Quang đi đến đất Chung Ly, tướng nước Sở là Viễn Việt đem quân ra chống cự và sai người phi báo cho Sở Bình Vương biết. Sở Bình Vương cho quan Lệnh doãn là Dương Mang làm đại tướng, lại đòi lấy quân sáu nước là Trần, Sái, Hồ, Thẩm, Đốn và Hứa. Vua Hồ tên là Khôn, vua Thẩm tên là Sính, thân hành đem quân đến. Trần sai quan Đại phu là Hạ Khiết đến. Nước Đốn, nước Hứa, nước Sái cũng sai quan đại phu đến. Quân Hồ, Thẩm, Trần đóng ở phía hữu. Quân Đốn, Hứa, Sái đóng ở phía tả. Còn đại binh của Viễn Việt đóng ở giữa. Công tử Quang nghe tin, sai người phi báo với Vương Liêu. Vương Liêu cùng Công tử Yểm Dư (em Vương Liêu) đem đại binh đến đóng ở đất Kê Phủ (đất nước Sở). Gặp bấy giờ quan Lệnh Doãn nước Sở là Dương Mang ngộ cảm mà chết, Viễn Việt thay làm đại tướng, Công tử Quang mới nói với Vương Liêu rằng: - Nước Sở mất quan đại tướng thì quân sĩ đã ngã lòng rồi! Chư hầu theo Sở dẫu nhiều, nhưng đều là sợ thế mà theo, chứ không phải thực lòng. Vua Hồ và vua Thẩm không quen việc chiến tranh; Hạ Khiết nước Trần là người vũ dũng mà không có mưu gì; còn nước Đốn, nước Hứa và Sái xưa nay vẫn bị nước Sở ức hiếp, trong lòng không phục, khi nào chịu ra công. Nay ta đem quân đánh Hồ, Thẩm và Trần thì mấy nước ấy phải vỡ chạy trước; mấy nước ấy đã vỡ chạy thì đại binh nước Sở tất kinh sợ mà phải thua. Xin Đại vương cho quân già yếu ra trước để dụ Sở, còn quân cường tráng thì phục ở phía sau. Vương Liêu theo kế ấy, chia quân làm ba đạo: Công tử Quang ở phía hữu; Công tử Yểm Dư ở phía tả; còn mình đem đại binh đi ở giữa. Trước hết hãy sai 3000 tội nhân xông vào hữu dinh quân Sở. Bấy giờ đang ngày hối tháng 7 mùa thu. Theo phép binh gia thì phải kiêng ngày, vậy nên vua Hồ, vua Thẩm và Hạ Khiết nước Trần đều không phòng bị, bỗng nghe quân Ngô kéo đến, liền mở cửa dinh ra đánh. Bọn tội nhân nước Ngô không có kỷ luật nào cả, đứa chạy đứa đứng. Quân Sở tranh nhau đuổi bắt, cũng thành ra chẳng có hàng ngũ nào. Công tử Quang ở phía hữu thừa cơ tiến đánh, đâm chết Hạ Khiết ở dưới chân ngựa. Vua Hồ, vua Thẩm sợ hãi bỏ chạy cũng bị Công tử Yểm Dư bắt được. Quân Sở chết hại rất nhiều, còn giáp sĩ bị bắt sống hơn 800 người. Công tử Quang truyền đem vua Hồ và vua Thẩm ra chém, rồi tha bọn giáp sĩ về, để báo cho tả dinh quân Sở biết rằng vua Hồ, vua Thẩm và Hạ Khiết nước Trần đều bị giết cả rồi. Quân nước Đốn, nước Hứa và nước Sái sợ hãi, cùng nhau chạy trốn. Vương Liêu và hai đạo quân tả hữu cùng tiến vào. Đại tướng nước Sở Viễn Việt chưa kịp bày trận, quân sĩ đã trốn mất quá nửa. Quân Ngô ở phía sau xông đến, giết được nhiều lắm, người chết như rạ, máu chảy thành suối. Viễn Việt thua to, chạy thẳng một mạch 50 dặm đường. Công tử Quang vào đất Vấn Dương, đem người mẹ Thế tử Kiến đưa về nước Ngô. Viễn Việt nghe tin, lại đem quân sang Vấn Dương thì quân Ngô đã rút về từ bao giờ rồi. Viễn Việt biết cơ không đuổi theo được, mới thở dài mà than rằng: - Ta phụng mệnh vua Sở ra giữ cửa Chiêu quan mà để cho Ngũ Viên trốn thoát được, thế là vô công; nay đã làm vỡ quân 7 nước, lại để mất bà mẹ Thế tử Kiến, thế là có hai tội. Vô công mà có hai tội thì còn mặt mũi nào trông thấy vua Sở nữa. Viễn Việt nói xong, thắt cổ mà chết. Sở Bình Vương nghe tin quân Ngô mạnh thế lắm, trong lòng lo sợ, mới cho Nang Ngõa thay Dương Mang làm lệnh doãn. Nang Ngõa hiến kế, bảo Dĩnh Thành thấp hẹp, lại mở đất ở phía đông, đắp thêm một cái thành lớn, cao hơn thành cũ 7 thước và rộng thêm 20 dặm. Gọi tên cái thành cũ là Kỷ Nam Thành, vì ở sau núi Kỷ Sơn; còn thành mới gọi tên là Dĩnh Thành. Thiên đô sang đóng ở đấy. Lại đắp một cái thành về phía tây để làm cánh tay hữu, gọi tên là Mạch Thành. Ba thành theo hình chữ Phẩm liên lạc với nhau. Người nước Sở ai cũng khen cái công của Nang Ngõa. Thẩm Doãn Thú cười mà nói rằng: - Tử Thường (tên tự của Nang Ngõa) không nghĩ gì đến đức chính mà chỉ chăm việc đắp thành. Nếu quân Ngô kéo đến thì dẫu mười Dĩnh Thành cũng không giữ nổi! Nang Ngõa muốn báo thù trận Kê Phủ, mới hết sức sửa sang thuyền bè và luyện tập quân thủy. Trong ba tháng, quân thủy đã thành thuộc rồi, Nang Ngõa theo sông Đại Giang tiến sang địa giới nước Ngô. Công tử Quang nước Ngô nghe tin quân Sở kéo đến, vội vàng ra nghênh chiến thì Nang Ngõa đã rút quân về rồi. Công tử Quang nói: - Quân Sở vừa mới rút về, tất không phòng bị. Công tử Quang lẻn sang đánh ấp Sào, diệt được ấp Sào, lại diệt cả ấp Chung Ly nữa, rồi rút quân về. Sở Bình Vương nghe tin hai ấp bị diệt, giật mình kinh sợ, thành ra ốm nặng, mới triệu Nang Ngõa và Công tử Thân (tên tự là Tử Tây, là thứ trưởng tử của Sở Bình Vương) đến cạnh giường nằm mà đem Thế tử Trân ủy thác cho hai người ấy. Dặn xong thì mất. Nang Ngõa bàn riêng với Bá Khước Uyển rằng: - Thế tử Trân tuổi hãy còn nhỏ. Và người mẹ đáng lẽ là vợ Thế tử Kiến, không phải chính đích. Tử Tây (tức là Công tử Thân) đã lớn tuổi mà lại có đức hạnh, nếu lập Tử Tây thì nước Sở mới có cơ cường thịnh được! Bá Khước Uyển đem lời nói Nang Ngõa kể với Công tử Thân. Công tử Thân nổi giận mà nói rằng: - Nếu bỏ Thế tử Trân, tức là tỏ sự xấu của Đại vương ta trước. Mẹ Thế tử Trân là con gái nước Tần, hiện đã lập làm phu nhân, nếu bỏ Thế tử Trân thì mất lòng một nước lớn ở ngoài. Trong ngoài cùng oán cả, có phải quan Lệnh doãn làm hại ta không! Sao lại rồ dại như thế! Nếu còn nói đến việc ấy nữa thì tất phải giết chết Nang Ngõa. Nang Ngõa sợ, mới lập Thế tử Trân lên nối ngôi, cải tên là Chẩn, tức là Sở Chiêu Vương. Nang Ngõa vẫn làm lệnh doãn. Bá Khước Uyển làm tả doãn. Yên Tương Sư làm hữu doãn, Phí Vô Cực vì cái ơn trước làm sư phó nay cũng được cầm quyền chính. Trịnh Định công nghe nói người nước Ngô đem mẹ Thế tử Kiến về, mới sai người đem các đồ châu ngọc sang tiễn tống, để giải cái thù khi trước giết Thế tử Kiến. Mẹ Thế tử Kiến đến nước Ngô. Vương Liêu cho ở ngoài Tây môn, sai Công tử Thắng (con Thế tử Kiến) phụng dưỡng. Ngũ Viên nghe tin Sở Bình Vương chết, vật mình lăn khóc cả ngày không thôi. Công tử Quang lấy làm lạ mà hỏi rằng: - Vua Sở là kẻ thù với nhà ngươi, nhà ngươi nghe tin chết nên lấy làm mừng, cớ sao lại khóc. Ngũ Viên nói: - Tôi khóc không phải là thương vua Sở, tôi tiếc rằng không được bêu đầu hắn để cho hả tấm lòng căm tức của tôi! Ngũ Viên nghĩ giận về việc không được bêu đầu Sở Bình Vương, suốt ba đêm không ngủ, tìm được một kế, liền nói với Công tử Quang rằng: - Công tử muốn khởi sự, còn chưa được dịp hay sao! Công tử Quang nói: - Ta nghĩ ngày nghĩ đêm mà chưa có dịp nào. Ngũ Viên nói: - Nay vua Sở mới chết, trong triều nước Sở không có ai là người tài giỏi cả, sao Công tử không tâu với Vương Liêu đem quân sang đánh. Công tử Quang nói: - Giả sử Vương Liêu lại sai ta đi thì biết làm thế nào? Ngũ Viên nói: - Công tử giả cách ngã xe đau chân thì tất Vương Liêu không khi nào có sai đến. Bấy giờ sẽ tiến dẫn Công tử Yểm Dư và Công tử Chúc Dung làm tướng; lại sai Công tử Khánh Kỵ đi mượn quân Trịnh, Vệ để cùng đánh Sở. Thế là một lượt mà trừ được ba kẻ vây cánh của Vương Liêu. Vương Liêu thực sắp đến ngày tận số! Công tử Quang lại hỏi rằng: - Ba đứa ấy dẫu đi rồi, nhưng còn Quý Trát ở trong triều. Quý Trát thấy ta cướp ngôi, khi nào chịu để yên. - Nay Ngô và Tấn đang giao hiếu với nhau, Công tử tâu với Vương Liêu sai Quý Trát sang sứ nước Tấn, để dò xét tình hình trong Trung Nguyên. Vương Liêu là người hay kiêu ngạo mà không có mưu trí, tất nhiên nghe lời. Khi Quý Trát đi sứ về thì chuyện đã xong rồi, còn nói gì được nữa! Công tử Quang sụp lạy Ngũ Viên mà nói rằng: - Ta được nhà ngươi thật là trời giúp! Ngày hôm sau, Công tử Quang vào tâu với Vương Liêu. Vương Liêu hớn hở mà theo lời. Công tử Quang nói: - Việc này đáng lẽ tôi xin ra sức, nhưng ngặt vì ngã xe, thành ra đau chân, đang phải chữa thuốc, không thể đi được. Vương Liêu nói: - Thế thì ta biết sai ai bây giờ? Công tử Quang nói: - Việc này là một việc lớn, không phải người rất thân, không thể ủy thác được. Xin Đại vương phải chọn cho kỹ. Vương Liêu nói: - Yểm Dư và Chúc Dung có nên không? Công tử Quang nói: - Tất phải sai những người ấy thì mới được việc! Công tử Quang lại nói: - Xưa nay Tấn và Sở tranh nhau làm bá chủ, nước Ngô ta vẫn là thuộc quốc, bây giờ Tấn đã suy rồi, mà Sở lại thua luôn, chư hầu đều có lòng ly tán, chưa biết về tay ai, ta nên sai Công tử Khánh Kỵ sang mượn quân Trịnh, Vệ để cùng đánh Sở, rồi lại sai Quý Trát sang sứ nước Tấn để dò xét xem tình hình trong Trung Nguyên thế nào, còn Đại vương thì luyện tập quân thủy, phòng khi dùng đến, chắc có thể tranh được nghiệp bá chủ! Vương Liêu mừng lắm, sai Yểm Dư và Chúc Dung đem quân đi đánh Sở, và sai Quý Trát sang sứ nước Tấn. Còn Công tử Khánh Kỵ không sai đi. Yểm Dư và Chúc Dung đem hai vạn quân sang vây Ấp Tiềm của Sở. Quan thủ ở Ấp Tiềm giữ thế thủ không ra đánh, rồi sai người cáo cấp với Sở Chiêu Vương. Bấy giờ Sở Chiêu Vương mới lên làm vua, hãy còn ít tuổi, nghe tin quân Ngô vây Ấp Tiềm, hoảng hốt kinh sợ. Công tử Thân nói với Sở Chiêu Vương rằng: - Người nước Ngô nhân khi ta có tang mà đem quân sang đánh, ta nên cho những quân già yếu ra nghênh chiến, để cho hắn khinh thường mà tiến vào; rồi sai quan Tả tư mã là Thẩm Doãn Thú đem một vạn quân bộ sang cứu Ấp Tiềm; lại sai Tả Doãn là Bá Khước Uyển đem một vạn quân thủy đi chẹn phía sau quân Ngô. Như thế thì ta có thể phá vỡ quân Ngô được. Sở Chiêu Vương mừng lắm, liền sai Thẩm Doãn Thú và Bá Khước Uyển đem quân đi. Yểm Dư và Chúc Dung đang vây Ấp Tiềm, nghe tin có quân Sở đến cứu, giật mình kinh sợ, chia quân làm hai đạo: Một nửa vây thành, còn một nửa ra nghênh chiến. Thẩm Doãn Thú không đánh, sai quân đem đá lấp hết các đường để cho quân Ngô không có lối mà kiếm củi và lấy nước. Bá Khước Uyển đem quân thủy chẹn các cửa sông. Quân Ngô tiến thoái đều khó cả, mới phải đóng làm hai đồn, để nương tựa nhau mà ra sức chống giữ với quân Sở, còn một mặt sai người về cáo cấp cùng Vương Liêu. Công tử Quang nói với Vương Liêu rằng: - Khi trước tôi muốn mượn quân Trịnh và Vệ, chính vì cớ ấy. Bây giờ sai ngay Công tử Khánh Kỵ đi, tưởng cũng chưa chậm. Vương Liêu sai Khánh Kỵ đi mượn quân Trịnh. Ngũ Viên bảo Công tử Quang rằng: - Công tử có thanh kiếm trủy thủ đó không? Muốn dùng Chuyên Chư, chính là lúc này! Công tử Quang nói: - Phải đó! Ngày xưa vua nước Việt là Doãn Thường sai Âu Giã Tử làm năm thanh kiếm, đem ba thanh sang dâng nước Ngô ta, một là Trạm Lư, hai là Bàn Đỉnh, ba là Ngư Trường. Ngư Trường tức là thanh kiếm trủy thủ vậy. Hình nó dẫu bé nhỏ mà sắc lắm, cắt vào sắt như cắt bùn. Tiên vương ban cho ta, ta vẫn lấy làm quí báu, giấu ở đầu giường để phòng khi nguy cấp. Thanh kiếm ấy mấy đêm nay cứ sáng rực lên, ý chừng cái của thần vật ấy nó muốn uống máu Vương Liêu đó chăng! Công tử Quang đem thanh kiếm trủy thủ ra đưa cho Ngũ Viên xem. Ngũ Viên ngợi khen một lúc lâu, rồi gọi Chuyên Chư đến, đưa thanh kiếm ấy cho. Chuyên Chư không đợi phải bảo, đã hiểu ý ngay, khảng khái mà đáp rằng: - Vương Liêu ngày nay thật là nên giết, hai em và Công tử đều đi xa cả; kẻ kia thế cô, làm gì ta nổi! Nhưng việc liều chết này tôi không dám tự chủ, xin về nói lại với mẹ già tôi đã, rồi mới dám vâng mệnh. Chuyên Chư về nhà, trông thấy người mẹ, chưa nói đã khóc. Người mẹ nói: - Chuyên Chư con ôi, sao con buồn rầu như vậy! Hay là Công tử định dùng con đó chăng? Cả nhà ta chịu ơn Công tử đã nhiều, chưa biết lấy chi báo đáp. Trung hiếu sao cho trọn cả đôi đường. Con cứ đi đi, chớ có vì mẹ mà ngần ngại. Con giúp nên việc cho Công tử để danh tiếng về đời sau thì mẹ đây dẫu chết cũng được vui lòng! Chuyên Chư cứ quyến luyến mãi không nỡ bỏ đi. Người mẹ nói: - Mẹ muốn uống một hớp nước suối thật trong, con hãy đi lấy cho mẹ uống. Chuyên Chư vội vàng xuống suối lấy nước. Khi trở về nhà, không trông thấy mẹ đâu cả, mới hỏi người vợ. Người vợ nói: - Mới rồi tôi thấy mẹ kêu nhọc mệt, muốn vào buồng nằm nghỉ, dặn tôi chớ có làm náo động, rồi đóng chặt cửa lại. Chuyên Chư trong lòng nghi ngờ, mới mở cửa sổ dòm vào thì thấy người mẹ đã thắt cổ chết ở trên giường. Chuyên Chư vật mình lăn khóc, vội đem thi thể người mẹ chôn ở ngoài Tây môn. Chôn xong, bảo người vợ rằng: - Ta chịu ơn Công tử nhiều lắm, vẫn muốn liều chết để báo ơn, chỉ vì còn mẹ già, vậy nên chưa dám. Nay mẹ già đã mất rồi, ta phải đi báo ơn Công tử. Sau khi ta chết thì mẹ con nhà mày, thế nào Công tử cũng cấp dưỡng cho. Chớ có làm ngăn trở công việc của ta nhé! Chuyên Chư vào yết kiến Công tử Quang, thuật lại chuyện người mẹ tự tử cho Công tử nghe. Công tử Quang có ý phàn nàn, rồi tìm lời khuyên giải mãi, sau mới bàn đến việc giết Vương Liêu. Chuyên Chư nói: - Sao Công tử không bày một tiệc rượu để mời Vương Liêu. Nếu Vương Liêu chịu đến thì việc này trong mười phần đã xong được tám chín phần. Công tử Quang liền vào yết kiến Vương Liêu và nói với Vương Liêu rằng: - Tôi có một tên nhà bếp ở Thái Hồ về, mới học được nghề nướng cá khéo lắm, ngon lắm, thật là một món ăn khác thường! Xin mời Đại Vương quá bộ đến nhà tôi nếm món ăn ấy. Vương Liêu xưa nay vốn thích ăn cá nướng, mới vui lòng mà nhận lời ngay, hẹn đến ngày hôm sau thì sang chơi. Đêm hôm ấy, Công tử Quang sai giáp sĩ phục sẵn ở trong phòng kín, lại sai Ngũ Viên đem 100 tử sĩ tiếp ứng mặt ngoài. Ngày hôm sau, Công tử Quang lại sang mời Vương Liêu. Vương Liêu vào nói với người mẹ rằng: - Công tử mời con sang uống rượu, hoặc giả có mưu gì chăng? Người mẹ nói: - Công tử Quang vẫn đem lòng tức giận, lần này mời con, tất có ý khác, sao con không từ chối đi? Vương Liêu nói: - Từ chối thì sinh ra hiềm khích, chi bằng ta phòng giữ cho nghiêm mật, chắc không làm gì nổi. Vương Liêu mặc mấy lần áo giáp, rồi truyền cho quân sĩ phải sắp hàng từ cửa cung cho đến nhà Công tử Quang. Vương Liêu đi đến cửa nhà Công tử Quang. Công tử Quang ra đón vào. Vương Liêu ngồi chiếu giữa. Công tử Quang đứng hầu bên cạnh. Những người thân tín của Vương Liêu đứng đầy cả ở trong nhà và ngoài thềm. Hơn 100 người lực sĩ đứng xung quanh Vương Liêu, đều cầm giáo dài và gươm sắc. Khi nhà bếp dâng món ăn đi qua dưới sân, đều phải cởi áo, khám xét thật kỹ, rồi mới cho quì xuống đất mà dâng lên; lại còn hơn 10 lực sĩ tuốt gươm đi kèm hai bên cạnh. Nhà bếp đặt món ăn lên bàn, không dám ngẩng trông, rồi lại quì gối mà lui xuống. Công tử Quang rót chén rượu kính mời Vương Liêu, giả cách khuỵu chân, làm bộ đau đớn mà tâu với Vương Liêu rằng: - Chân tôi, chỗ đau vẫn chưa khỏi, mỗi khi phát đau, buốt đến tận xương, tất phải dùng lụa buộc chặt lại thì mới đỡ. Xin Đại vương miễn thứ cho tôi được ra ngoài buộc chân, rồi lại vào ngay. Vương Liêu nói: - Được! Vương huynh cứ đi! Công tử Quang khập khiễng bước dần từng bước, đi vào nhà trong. Được một lúc Chuyên Chư dâng món cá nướng, cũng bị khám xét như mấy người trước. Ai ngờ lưỡi gươm trủy thủ đã để ở trong bụng con cá. Lực sĩ đi kèm hai bên, Chuyên Chư quỳ gối đi đến trước mặt Vương Liêu. Chuyên Chư lấy tay xé con cá rút lưỡi gươm trủy thủ ra, đâm thẳng vào bụng Vương Liêu, sức đâm mạnh quá, suốt ba lần áo giáp, thò lưỡi gươm ra phía sau lưng. Vương Liêu kêu một tiếng thật to, rồi chết ngay lập tức. Lực sĩ xúm lại đâm chết Chuyên Chư nát nhừ người ra. Công tử Quang ở trong nhà, biết là Vương Liêu chết rồi, mới đem quân ra giết những đảng phái Vương Liêu. Quân theo hầu Vương Liêu bỏ chạy tán loạn cả. Bao nhiêu những thị vệ ở mặt ngoài lại bị Ngũ Viên đuổi đánh. Công tử Quang lên xe vào triều, tuyên bá cái tội Vương Liêu bội ước tự lập, rồi quyền tạm nối ngôi, để đợi Quý Trát về nước. Công tử Quang truyền đem thi thể Vương Liêu ra an táng theo như lễ thường; lại hậu táng cho Chuyên Chư, phong con là Chuyên Nghị làm thượng khanh; phong Ngũ Viên làm chức hành nhân, đãi như lễ khách mà không bắt làm tôi; chức thị lại là Bị Ly có cái công tiến dẫn Ngũ Viên, được thăng làm đại phu; đem tiền thóc trong kho cấp phát cho những dân cùng khổ, bởi vậy người trong nước ai cũng bằng lòng. Công tử Quang còn e có Công tử Khánh Kỵ ở ngoài, sai người dò thám xem lúc nào về nước thì báo trước cho biết. Công tử Quang đem đại binh đóng ở trên sông Giang để đón đường Công tử Khánh Kỵ về. Công tử Khánh Kỵ nghe tin, tức khắc bỏ trốn. Công tử Quang phi ngựa đuổi theo. Công tử Khánh Kỵ bỏ xe mà chạy bộ, chạy nhanh như bay, ngựa đuổi theo không kịp. Công tử Quang truyền cho quân sĩ giương cung ra bắn. Công tử Khánh Kỵ giơ tay bắt lấy mũi tên, không phát nào trúng được vào mình cả. Công tử Quang biết chừng không thể bắt được, mới truyền cho quan trấn thủ ở phía Tây Bỉ phải phòng bị nghiêm mật, rồi rút quân về. Mấy hôm sau, Quý Trát ở nước Tấn về nước Ngô, biết tin Vương Liêu đã chết, liền đi thẳng qua mộ Vương Liêu khóc mà để tang. Công tử Quang thân hành ra tận mộ sở, xin nhường lại ngôi vua và nói với Quý Trát rằng: - Đó là theo ý tổ phụ và các thúc phụ ta ngày xưa! Quý Trát nói: - Muốn thế nào thì được thế, lại còn nhường cái gì! Quý hồ giữ được cúng tế, yên được nhân dân thì tức là vua ta đó! Công tử Quang không thể nài ép được mới lên nối ngôi vua, xưng hiệu là Hạp Lư. Quý Trát lấy việc tranh nhau ấy làm xấu hổ, về ở đất Diên Lăng, suốt đời không nói gì đến việc nước Ngô nữa. Yểm Dư và Chúc Dung bị quân Sở vây ở Ấp Tiềm, mong mãi không thấy quân Ngô sang cứu, đang cùng nhau thương nghị để tìm kế thoát thân, bỗng nghe báo Công tử Quang giết Vương Liêu, cướp ngôi vua, hai người liền giật mình, lăn khóc, rồi bảo nhau rằng: - Công tử Quang đã giết vua cướp ngôi như vậy thì tất không để cho chúng ta được yên thân! Hai người nói xong, toan sang đầu nước Sở, nhưng lại sợ nước Sở không tin, chưa biết làm thế nào. Chúc Dung nói: - Nay cứ giữ chết ở đây thì bao giờ cho xong việc, chi bằng ta nhân đêm tìm đường trốn sang nước khác để liệu tính về sau. Yểm Dư nói: - Hiện quân Sở đang vây kín bốn mặt, chúng ta như chim ở trong lồng, làm thế nào mà thoát thân được! Chúc Dung nói: - Tôi có một kế: Truyền cho tướng sĩ hai đồn, hẹn đến ngày mai thì khai chiến, rồi nửa đêm hôm nay tôi cùng anh thay hình cải dạng tìm đường lẻn trốn, quân Sở tất không ngờ. Yểm Dư khen phải, truyền sửa soạn quân mã để sắp khai chiến. Yểm Dư và Chúc Dung cùng mấy người tâm phúc giả hình làm toán quân đi tuần tiễu, rồi tìm đường lẻn trốn. Yểm Dư trốn sang nước Từ. Chúc Dung trốn sang nước Chung Ngô. Sáng hôm sau, quân sĩ hai đồn không thấy chủ tướng đâu cả, đem nhau chạy trốn trở về nước Ngô, bỏ lại các đồ giáp binh rất nhiều, đều bị tướng nước Sở là Bá Khước Uyển bắt được. Các tướng nước Sở muốn nhân lúc nước Ngô có loạn, đem quân sang đánh, Bá Khước Uyển nói: - Khi trước nước Ngô nhân lúc nước ta có tang mà sang đánh, thế là bất nghĩa. Ta lại còn bắt chước làm gì! Bá Khước Uyển liền cùng với Thẩm Doãn Thú rút quân trở về, đem các đồ giáp binh bắt được của quân Ngô dâng nộp Sở Chiêu Vương, Sở Chiêu Vương chia các đồ giáp binh ấy ra làm hai phần, đem một nửa ban thưởng cho Bá Khước Uyển, lại có lòng kính trọng, việc gì cũng hỏi Bá Khước Uyển. Phí Vô Cực thấy vậy, ghét Bá Khước Uyển lắm, mới nghĩ ra một kế để làm hại Bá Khước Uyển.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 74 Giết Vô Cực tỏ lòng Nang Ngõa Đâm Khánh Kỵ nổi tiếng Yêu Ly

Phí Vô Cực đem lòng ghen ghét Bá Khước Uyển, mới cùng Yên Tương Sư thương nghị, nghĩ ra một kế, nói dối quan Lệnh doãn nước Sở là Nang Ngõa rằng: - Tử Ác (tên tự Bá Khước Uyển) muốn bày tiệc mời Ngài, nhờ tôi nói trước để dò xem ý Ngài có lòng hạ cố đến chăng? Nang Ngõa nói: - Nếu hắn có lòng mời thì can gì mà không đi! Phí Vô Cực lại nói với Bá Khước Uyển rằng: - Quan Lệnh doãn có nói chuyện với tôi, muốn sang chơi uống rượu ở nhà Ngài, chẳng hay Ngài có vì Quan lệnh doãn mà sửa một tiệc rượu được không? Bá Khước Uyển không biết là mưu lừa, liền đáp lại rằng: - Tôi phận hèn chức nhỏ, lại được Quan lệnh doãn quá yêu đến, còn gì vinh hạnh bằng! Sáng mai tôi xin sửa tiệc để mời Quan lệnh doãn, nhờ Ngài nói giúp cho. Phí Vô Cực nói: - Ngài mời Quan lệnh doãn, định dùng thứ gì để kính tặng? Bá Khước Uyển nói: - Tôi không biết Quan lệnh doãn Ngài thích cái gì! Phí Vô Cực nói: - Tính Quan lệnh doãn chỉ thích các đồ giáp binh. Nay thấy các đồ giáp binh ta bắt của quân Ngô khi trước, Ngài được một nửa, vậy muốn uống rượu mà xem, nhân tiện mượn các đồ giáp binh ấy. Ngài nên cho đem cả ra đây, để tôi chọn xem những cái nào tốt. Bá Khước Uyển sai đem cả các đồ giáp binh ra cho Phí Vô Cực xem. Phí Vô Cực chọn những cái tốt hơn, cả thảy được 50 chiếc, rồi bảo Bá Khước Uyển rằng: - Thôi thế cũng là đủ! Ngài cho bày cả ở phía trong cửa, rồi che màn đi. Hễ Quan lệnh doãn hỏi đến thì mang ra mà dâng, tất nhiên Quan lệnh doãn lấy làm quí báu; còn các thứ khác thì Quan lệnh doãn Ngài không thích gì cả. Bá Khước Uyển tin là nói thực, mới mắc màn ở trong cửa, bày các đồ giáp binh, rồi nhờ Phí Vô Cực đi mời Nang Ngõa. Khi Nang Ngõa sắp đi, Phí Vô Cực lại nói với Nang Ngõa rằng: - Lòng người ta không biết đâu mà lường! Tôi xin sang trước đó để dò xét xem tình ý thế nào rồi Ngài hãy sang. Phí Vô Cực đi một lúc, chạy hộc tốc trở về, vừa nói vừa thở mà bảo Nang Ngõa rằng: - Xuýt nữa thì tôi làm hại Quan lệnh doãn! Tử Ác mời Ngài hôm nay, không phải là lòng tử tế, tất có ý muốn hại Ngài. Tôi trông thấy trong màn ở phía bên cửa, có bày các đồ giáp binh, Ngài vô ý mà sang hôm nay, tất nhiên bị hại. Nang Ngõa nói: - Ta cùng Tử Ác không có hiềm khích gì, làm sao lại thế? Phí Vô Cực nói: - Kẻ kia cậy được Dại vương yêu, muốn thay Ngài làm lệnh doãn. Vả tôi nghe Tử Ác mưu với nước Ngô. Khi quân ta sang cứu ấp Tiềm, các tướng muốn nhân nước Ngô có loạn đem quân sang đánh. Tử Ác ăn tiền của nước Ngô, cho làm việc bất nghĩa, rồi bắt quan Tư mã (tức là Thẩm Doãn Thú) phải rút quân về. Ngày trước nước Ngô nhân nước ta đang có tang mà đánh, nay nước ta lại nhân nước Ngô có loạn mà sang đánh, chính là một dịp báo thù, nếu không ăn tiền của Ngô, sao chịu rút quân! Tử Ác mà đắc chí thì nước Sở nguy mất! Nang Ngõa còn chưa tin, sai người khác đi xem. Khi về đều nói trong màn ở phía bên cửa nhà Bá Khước Uyển quả có giáp binh thật. Nang Ngõa nổi giận, liền sai người triệu Yên Tương Sư đến, nói cho biết việc Bá Khước Uyển muốn hại mình. Yên Tương Sư nói: - Bá Khước Uyển cùng với Dương Lập Trung, Dương Hoàn và Dương Đà đồng mưu với nhau đã lâu, vẫn muốn cầm quyền chính nước Sở. Nang Ngõa nói: - Nó là một đứa thất phu ở nước khác đến mà lại dám làm loạn, ta quyết đâm chết mới nghe. Nang Ngõa liền tâu với Sở Chiêu Vương, sai Yên Tương Sư đem quân đến bắt Bá Khước Uyển. Bá Khước Uyển biết là mắc mưu Phí Vô Cực, mới đâm cổ mà chết. Con Bá Khước Uyển là Bá Hi sợ hãi bỏ trốn. Nang Ngõa truyền đốt nhà Bá Khước Uyển. Người trong nước không ai chịu đốt. Nang Ngõa càng giận lắm, liền hạ lệnh rằng: - Ai không chịu đốt nhà Bá Khước Uyển thì cũng bắt tội. Nguời trong nước ai cũng biết Bá Khước Uyển là người hiền, nhưng vì cái lệnh của Nang Ngõa, đều cầm một nắm rơm ném vào nhà Bá Khước Uyển. Nang Ngõa truyền cho quân sĩ vây kín nhà Bá Khước Uyển, rồi phóng hỏa đốt. Chỉ trong một lúc, cửa nhà hóa ra tro than cả. Nang Ngõa giết hết những tộc đảng nhà Bá Khước Uyển, lại bắt cả Dương Lập Trung, Dương Hoàn và Dương Đà, vu cho tội thông mưu với Ngô, đều đem giết chết. Người trong nước ai cũng thương là oan. Một hôm, Nang Ngõa nhân đêm sáng trăng, trèo lên lầu chơi, nghe văng vẳng bên tai có tiếng hát ở phía ngoài chợ. Bài hát như sau: "Đừng ai bắt chước Bá Khước Uyển, trung mà bị oan. Tấm thân đã uổng, nắm xương cũng tàn! Nước Sở không có vua, chỉ có họ Phí và họ Yên! Quan lệnh doãn khác nào tượng gỗ, bị chúng sai khiến. Trời có thấu chăng? Báo ứng hiển hiện". Nang Ngõa vội vàng sai người đi dò xét xem ai hát thì thấy trong phố xá nhà nào cũng bày đèn hương nghi ngút để cúng lễ. Hỏi ra mới biết là cúng Bá Khước Uyển vì trung mà bị oan, cầu cho thấu đến trời. Người nhà về báo với Nang Ngõa. Nang Ngõa mới vào hỏi các quan trong triều. Bọn Công tử Thân đều nói Bá Khước Uyển không có tư thông với Ngô bao giờ. Nang Ngõa có ý hối. Thẩm Doãn Thú nghe nói người trong nước đều nguyền rủa Quan lệnh doãn, mới vào bảo Nang Ngõa rằng: - Người trong nước ai cũng oán Ngài, Ngài có biết không? Phí Vô Cực là một kẻ sàm nhân ở nước Sở này, cùng với Yên Tương Sư đồng đảng với nhau, lập mưu đuổi Triều Ngô và Sái hầu Chu; lại xui tiên vương làm những điều càn dỡ, để đến nỗi Thế tử Kiến chết tại đất ngoài. Trước đã làm cho cha con Ngũ Xa chết oan, nay lại làm cho Bá Khước Uyển cùng ba họ Dương đều chết oan cả. Người trong nước oán hai người ấy thâm nhập cốt tủy, đều đổ lỗi là tại Ngài dung túng đến nỗi như thế, mà ai cũng nguyền rủa Ngài. Một mai nước Sở có việc gì thì giặc nổi mặt ngoài, dân phản mặt trong, tôi lấy làm nguy cho Ngài lắm! Chi bằng Ngài trừ lũ ấy đi thì mới yên việc được. Nang Ngõa sợ hãi, đang ngồi, đứng dậy mà bảo Thẩm DoãnThú rằng: - Đó thật là điều lỗi của tôi! Xin quan Tư mã (chỉ Thẩm Doãn Thú) giúp tôi một tay để mà trừ bỏ hai thằng giặc ấy. Thẩm Doãn Thú nói: - Nếu vậy thì phúc cho nước nhà lắm, tôi xin vâng mệnh. Thẩm Doãn Thú sai người truyền bá cho dân trong nước biết rằng: - Quan Tả doãn (tức là Bá Khước Uyển) bị chết oan đều là tại Phí Vô Cực và Yên Tương Sư, quan Lệnh doãn đã rõ cái mưu gian ấy, nay định đem quân đi đánh. Dân trong nước ai muốn theo thì cho đi. Nói chưa dứt lời mà dân trong nước đều đua nhau cầm binh khí đi trước. Nang Ngõa kể tội Phí Vô Cực và Yên Tương Sư, rồi bắt đem chém, bêu đầu ở ngoài chợ. Người trong nước không đợi quan Lệnh doãn truyền bảo, đều tranh nhau đem lửa đến đốt nhà Phí Vô Cực và Yên Tương Sư. Nang Ngõa lại giết hết những tộc đảng Phí Vô Cực và Yên Tương Sư, từ bấy giờ người trong nước không oán giận nữa. Vua nước Ngô là Hạp Lư hỏi Ngũ Viên rằng: - Ta muốn cho nước được cường thịnh để tranh nghiệp bá chủ, nên làm thế nào? Ngũ Viên sụp lạy, rồi ứa nước mắt khóc mà đáp rằng: - Tôi là một kẻ tội nhân ở nước Sở! Cha và anh tôi bị oan, chết chẳng ai chôn, giỗ chẳng ai cúng, nên tôi phải đem thân sang đây để trông nhờ Đại Vương. May mà Đại Vương không bắt tội, khi nào lại còn dám dự đến việc chính trị nước Ngô. Hạp Lư nói: - Không có nhà ngươi thì ta còn phải chịu nhục ở dưới kẻ khác, nay nhờ nhà ngươi chỉ bảo mà được đến thế này, còn định đem việc chính trị trong nước phó thác cho nhà ngươi, cớ sao đang nửa chừng mà nhà ngươi lại có ý chán, hoặc là nhà ngươi cho ta không đánh giúp hay sao! Ngũ Viên nói: - Không phải thế! Tôi nghe nói người thân bao giờ cũng hơn người sơ, người gần bao giờ cũng hơn người xa. Tôi là một kẻ lưu lạc ở nước khác đến, có đâu mà dám đứng trên bọn mưu thần ở nước Ngô này! Huống chi cái thù lớn của tôi chưa báo được thì lòng tôi rối bời, còn nghĩ ra được mưu kế gì? Hạp Lư nói: - Mưu thần nước Ngô, không ai bằng nhà ngươi, nhà ngươi chớ nên từ chối. Khi công việc nước ta được tạm yên rồi, bấy giờ ta sẽ vì nhà ngươi báo thù. Nhà ngươi muốn thế nào ta chiều theo ý. Ngũ Viên nói: - Bây giờ Đại Vương muốn thế nào? Hạp Lư nói: - Nước ta ở về phía Đông nam này đất thấp mà ẩm, lại hay có nước lụt. Ruộng nương không mở mang ra được, nhân dân làm ăn không được chắc chắn. Nay muốn cho nước được cường thịnh thì nên phải thế nào? Ngũ Viên nói: - Dân có yên ổn thì nước mới được cường thịnh, tất phải sửa sang thành quách và luyện tập quân mã, khiến cho mặt trong có thể giữ nước được, mà mặt ngoài có thể đánh giặc được. Hạp Lư nói: - Nhà ngươi nói phải lắm! Vậy thì việc ấy ta giao cho nhà ngươi. Ngũ Viên liền đi xem ngắm hình thế, chọn được một nơi đất tốt ở phía đông bắc núi Cô Tô, tức thì đắp một cái thành lớn, rộng 47 dặm, chia làm 8 cửa như sau này: Bàn Môn và Xà Môn ở về phía nam; Tề Môn và Bình Môn ở về phía Bắc; Lâu Môn và Tượng Môn ở về phía đông; Xương Môn và Tư Môn ở về phía tây. Thành quách đã đắp xong rồi, đón Hạp Lư thiên đô vào ở đấy, rồi tuyển mộ quân sĩ, dạy cho biết những phép chiến trận. Lại đắp một cái thành nữa ở phía nam Phượng Hoàng Sơn, để phòng giữ nước Việt gọi là Nam Vũ Thành. Hạp Lư cho thanh kiếm Ngư Trường (tức là lưỡi gươm trủy thủ mà Chuyên Chư đâm Vương Liêu) là vật bất tường, mới bỏ vào rương phong kín lại mà không dùng đến. Đắp một cái thành ở Ngưu Thủ Sơn, đúc mấy nghìn thanh kiếm, gọi là Biển Chư. Lại tìm được người nước Ngô tên gọi Can Tương, cùng với Âu Giã Tử học một thầy, cho ở cửa Tượng Môn để đúc những thanh kiếm thật sắc. Can Tương đi tìm những thứ vàng thật tốt và sắt thật tốt, rồi chọn ngày chọn giờ, sai các đồng nam và đồng nữ cả thảy 300 người ngày đêm đốt than nấu suốt ba tháng, mà vàng sắt đều không chảy. Can Tương không biết tại cớ làm sao. Người vợ là nàng Mạc Gia bảo Can Tương rằng: - Những của thần vật tất phải đợi nhân khí rồi mới thành được. Nay phu quân đúc kiếm, trong ba tháng không xong, hoặc giả thần vật còn phải đợi nhân khí đó chăng? Can Tương nói: - Ngày xưa thầy ta cũng đúc mãi không thành kiếm, rồi hai vợ chồng nhảy vào trong lò, bấy giờ mới thành; về sau ai đúc kiếm ở chân núi ấy cũng phải làm lễ tế lò, mới dám mở ra. Nay ta đúc mãi không được, hay là cũng phải như thế! Nàng Mạc Gia nói: - Thầy ta bỏ thân để đúc nên thần kiếm, khó gì mà ta không dám bắt chước. Nàng Mạc Gia liền tắm gội sạch sẽ, ra đứng ở bên lò, rồi sai các đồng nam và đồng nữ kéo bễ đốt than. Khi lửa đang cháy dữ thì nàng Mạc Gia nhảy vào trong lò. Được một lúc, vàng và sắt đều chảy ra cả, đúc nên được hai thanh kiếm: Thanh đúc trước, đặt tên là Can Tương; thanh đúc sau, đặt tên là Mạc Gia. Can Tương giấu thanh đúc trước (tức là thanh kiếm Can Tương) đi, rồi đem thanh kiếm Mạc Gia đến dâng Hạp Lư. Hạp Lư cầm thanh kiếm chém vào viên đá, viên đá tức thì đứt đôi ra. Hạp Lư thưởng cho Can Tương một trăm nén vàng. Sau Hạp Lư biết là Can Tương giấu mất một thanh kiếm, sai người đến đòi và giao hẹn: Nếu không thì sẽ giết chết. Can Tương đem thanh kiếm ra xem. Thanh kiếm ở trong bao nhảy ra, hóa thành con rồng xanh. Can Tương cưỡi con rồng xanh ấy bay lên trời mất. Sứ giả về nói với Hạp Lư. Hạp Lư thở dài, từ bấy giờ càng quí thanh kiếm Mạc Gia lắm. Thanh kiếm Mạc Gia sau không biết về đâu mất. Cách hơn 600 năm, đến triều nhà Tấn, có quan Thừa tướng tên gọi Trương Hoa trông thấy trên trời có khí lạ, liền triệu một người giỏi nghề xem thiên văn là Lôi Hoán đến mà hỏi, Lôi Hoán nói: - Đó là cái tinh bảo kiếm, ở về địa phận Phong Thành. Trương Hoa tức khắc bổ cho Lôi Hoán ra làm huyện lệnh ở Phong Thành. Lôi Hoán đào nền nhà ngục thất, bắt được cái rương bằng đá dài hơn sáu thước, rộng ba thước. Mở rương ra xem, trong có 2 thanh kiếm, dùng thứ đất ở núi Tây Sơn mà đánh đi thì ánh sáng rực rỡ. Lôi Hoán đem một thanh kiếm đưa cho Trương Hoa, còn một thanh nữa lưu lại để dùng. Trương Hoa xem thanh kiếm rồi bảo rằng đây tức là thanh kiếm Can Tương, còn thanh kiếm Mạc Gia đi đâu mất. Tuy vậy mà thần vật thế nào rồi cũng lại hợp với nhau. Sau Lôi Hoán với Trương Hoa cùng đeo kiếm đi qua bến Diên Bình Tân, tự nhiên hai thanh kiếm nhảy xuống nước mất. Vội vàng sai người lặn xuống nước tìm thì thấy hai con rồng ngũ sắc, vểnh râu trừng mắt làm cho người ấy sợ mà trở về. Từ bấy giờ mất tích hai thanh kiếm ấy. Lại nói chuyện vua nước Ngô là Hạp Lư quí thanh kiếm Mạc Gia lắm, lại thuê người làm cái kim câu, ai làm được giỏi thì thưởng 100 nén vàng. Người trong nước đua nhau làm kim câu để dâng. Có một người câu sư tham giải thưởng to, giết chết hai con, lấy máu tưới vàng, đúc thành hai cái kim câu, đem dâng Hạp Lư. Qua mấy ngày nữa, câu sư đến cửa cung xin lĩnh thưởng. Hạp Lư hỏi: - Người ta dâng kim câu nhiều lắm, sao một mình nhà ngươi dám đến lĩnh thưởng? Cái kim câu của nhà ngươi có khác gì người ta không? Câu Sư nói: - Tôi muốn được thưởng, đã giết chết hai con để đúc thành hai cái kim câu ấy, người khác bì thế nào được! Hạp Lư truyền đem hai cái kim câu ấy ra xem. Các thị vệ tâu rằng: - Hai cái kim câu ấy đã bỏ lẫn vào trong đám kim câu khác, trông giống nhau lắm, không thể chọn mà lấy riêng ra được. Câu Sư nói: - Xin Đại vương cho tôi xem. Các thị vệ đem cả đống kim câu ra để ở trước mặt câu sư. Câu sư cũng không biết cái nào mà chọn, mới gọi tên hai đứa con mà bảo rằng: - Ngô Hồng và Hỗ Kê ơi! Ta ở đây, sao hai con không hiển linh trước mặt Đại Vương. Câu sư nói chưa dứt lời thì hai cái kim câu ở trong đống nhảy ra, ấp vào ngực câu sư. Hạp Lư kinh sợ mà bảo rằng: - Ừ, thế thì nhà ngươi nói thực! Hạp Lư liền thưởng cho câu sư 100 nén vàng. Từ bấy giờ cũng quí hai cái kim câu ấy như thanh kiếm Mạc Gia, đeo luôn trong mình. Bấy giờ Bá Hi nước Sở sợ tội chạy trốn, nghe nói Ngũ Viên đã làm quan ở nước Ngô, mới trốn sang nước Ngô, vào yết kiến Ngũ Viên! Ngũ Viên trông thấy Bá Hi, ứa nước mắt khóc, rồi đưa Bá Hi vào yết kiến Hạp Lư. Hạp Lư hỏi Bá Hi rằng: - Nước ta ở về nơi hẻo lánh xứ Đông Hải này, mà nhà ngươi chẳng quản xa xôi nghìn dặm, cố tìm tới đây, tất cũng có nghĩ được điều gì hay để bảo ta chăng? Bá Hi nói: - Đời ông (Bá Châu Lê) và đời cha (Bá Khước Uyển) tôi vẫn một lòng tận trung với Sở. Nay cha tôi không có tội gì mà bị chết oan, tôi phải bơ vơ chạy trốn, nghe nói Đại vương là người cao nghĩa, đã thu dùng Ngũ Viên, cho nên tôi đem thân tới đây, sống chết cũng nhờ ở trong tay Đại Vương vậy. Hạp Lư có lòng thương, cho làm quan đại phu, để cùng Ngũ Viên bàn việc nước. Quan đại phu nước Ngô là Bị Ly hỏi riêng Ngũ Viên rằng: - Ngài nghĩ thế nào mà tin Bá Hi như vậy? Ngũ Viên nói: - Sự oan uổng của Bá Hi cũng chẳng khác gì tôi. Tục ngữ có câu "Đồng bệnh tương liên", hẳn Ngài còn lạ gì điều ấy. Bị Ly nói: - Ngài chỉ biết mặt ngoài, chưa biết mặt trong. Tôi trông Bá Hi, mắt nhìn như mắt chim ưng, chân đi như dáng con hổ, thế là người tham nịnh tàn ác, chớ nên đến gần. Nếu người ấy được trọng dụng thì tất di lụy đến ngài. Ngũ Viên không cho là phải, cùng với Bá Hi thờ vua Ngô. Lại nói chuyện Công tử Khánh Kỵ trốn sang ở Ngãi Thành, chiêu nạp những tử sĩ, kết liên với lân quốc, muốn đợi thời cơ để về nước Ngô mà đánh báo thù. Hạp Lư nghe được cái mưu ấy, bảo Ngũ Viên rằng: - Việc Chuyên Chư ngày trước, thật là ta nhờ sức của nhà ngươi. Nay Khánh Kỵ lại có lòng muốn báo thù, ta ăn không biết ngon, nằm không được yên, nhà ngươi nên vì ta mà nghĩ giúp điều ấy. Ngũ Viên nói: - Tôi cùng với Đại Vương mưu việc giết Vương Liêu, cũng đủ là bất trung rồi; nay lại mưu giết cả con Vương Liêu nữa, thế thì còn trời đất nào! Hạp Lư nói: - Ngày xưa vua Vũ Vương nhà Chu đánh vua Trụ, lại giết cả Vũ Canh (con vua Trụ) người nhà Chu chẳng thấy ai chê cả. Nếu Khánh Kỵ hãy còn thì cũng như là Vương Liêu chưa chết, nhà ngươi chớ nên vì một điều nhỏ mọn mà gây nên cái tai vạ về sau. Ta lại có một tay như Chuyên Chư thì việc này mới xong được! Nhà ngươi tìm tòi những kẻ trí dũng, kể đã lâu ngày, vậy nhà ngươi có biết ai không? Ngũ Viên nói: - Việc này khó khăn lắm! Tôi có quen một người bé nhỏ, có thể bàn mưu được. Hạp Lư nói: - Khánh Kỵ sức khỏe lắm, một người bé nhỏ thì làm gì nổi! Ngũ Viên nói: - Người này dẫu nhỏ bé, nhưng sức khỏe địch nổi muôn người. Hạp Lư hỏi: - Người nào thế? Tại sao nhà ngươi biết là giỏi, thử nói cho ta nghe? Ngũ Viên nói: - Người ấy họ là Yêu, tên là Ly, là người nước Ngô, ngày xưa tôi thấy hắn dám sỉ mắng một người tráng sĩ tên gọi Tiêu Khâu Tố, vậy nên biết là người giỏi. Hạp Lư hỏi: - Việc người ấy sỉ mắng một người tráng sĩ thế nào? Ngũ Viên nói: - Tiêu Khâu Tố vốn người Đông Hải, có người bạn làm quan ở Ngô mà chết. Tiêu Khâu Tố sang Ngô để thăm bạn, đi qua bến Hoài Tân, toan cho ngựa xuống uống nước. Tân lại bảo Tiêu Khâu Tố rằng: - Con sông này có thủy thần, trông thấy ngựa thì hay bắt mất, ông đừng cho ngựa xuống uống nước. Tiêu Khâu Tố nói: - Tráng sĩ đứng đây, thủy thần nào dám hiện lên. Tiêu Khâu Tố sai người nhà dắt ngựa xuống sông cho uống nước. Quả nhiên con ngựa ấy rít lên mà sa xuống nước mất. Tân lại nói: - Thủy thần bắt mất ngựa rồi! Tiêu Khâu Tố nổi giận, xoay trần người ra, rồi cầm kiếm nhảy xuống nước để đánh nhau với thủy thần. Thủy thần hóa phép nổi sóng rất dữ dội mà không làm gì nổi Tiêu Khâu Tố. Cách ba ngày đêm Tiêu Khâu Tố ở dưới nước nổi lên, bị thần đánh mù mất một mắt. Khi đến nước Ngô, vào viếng tang người bạn, trong khi đang ngồi nói chuyện, mới làm bộ lên mặt kiêu ngạo với mọi người, ăn nói không có lễ phép. Bấy giờ Yêu Ly cũng ngồi ở đấy, có ý bất bình, bảo Tiêu Khâu Tố rằng: - Nhà ngươi có ý kiêu ngạo với mọi người, xem chừng tự đắc là dũng sĩ đó chăng. Ta nghe nói kẻ dũng sĩ đã đánh nhau với ai, chẳng thà chết chứ không chịu nhục. Nay nhà ngươi đánh nhau với thủy thần, chịu mất ngựa không dám đuổi theo, lại bị hỏng mất một con mắt. Nghĩ nên hổ thẹn biết dường nào, mà còn đeo đẳng cái thân sống thừa ấy, thế là đồ vô dụng ở trong khoảng trời đất, còn mặt mũi nào trông thấy ai nữa! Tiêu Khâu Tố bị nhục, có ý hổ thẹn, nín lặng không nói gì cả, rồi cáo từ lui ra. Chiều hôm ấy, Yêu Ly về nhà nói chuyện với vợ rằng: - Hôm nay ta làm nhục một kẻ dũng sĩ là Tiêu Khâu Tố ở trong đám tang gia, hắn căm tức vô cùng! Đêm nay thế nào cũng đến báo thù. Ta nên nằm sẵn ở giữa nhà để đợi người đến. Nàng chớ có đóng cửa. Người vợ vốn biết Yêu Ly là giỏi, mới theo lời, bỏ ngỏ cửa. Tiêu Khâu Tố quả nhiên nửa đêm hôm ấy giắt dao đến nhà Yêu Ly, trông thấy cửa ngỏ, mới đi thẳng vào, thấy một người rũ tóc nằm ở phía dưới cửa sổ, tức là Yêu Ly. Yêu Ly thấy Tiêu Khâu Tố đến cứ nghiễm nhiên mặc kệ, không thèm cựa cạy, cũng không có ý sợ hãi. Tiêu Khâu Tố cầm dao kề cổ Yêu Ly mà kể tội rằng: - Nhà ngươi có ba điều đáng chết, đã biết hay chưa? Yêu Ly nói: - Chưa biết! Tiêu Khâu Tố nói: - Nhà ngươi làm nhục ta trong đám tang gia, đó là một điều đáng chết; khi về nhà không biết lo xa mà dám bỏ ngỏ cửa, đó là hai điều đáng chết; trông thấy ta mà không chạy trốn, đó là ba điều đáng chết. Thế thì tự nhà ngươi muốn chết, còn oán gì ta nữa! Yêu Ly nói: - Ba điều ấy cũng chưa đáng chết, nhưng nhà ngươi có ba điều hèn, đã biết hay chưa? Tiêu Khâu Tố nói: - Chưa biết! Yêu Ly nói: - Ta làm nhục nhà ngươi trong đám đông người, mà nhà ngươi không dám nói lại một câu nào, đó là một điều hèn; ngươi vào nhà ta mà không lên tiếng, có ý lẻn trộm, đó là hai điều hèn; cầm dao kề vào cổ ta, rồi mới nói khoác, đó là ba điều hèn. Nhà ngươi có ba điều hèn ấy, lại còn trách ta thì thật là đáng khinh bỉ! Tiêu Khâu Tố mới rụt con dao lại mà khen rằng: - Kể cái vũ dũng của ta, đời không mấy kẻ bằng, mà Yêu Ly lại còn hơn ta, thế thì thật là một người dũng sĩ! Nếu ta giết người dũng sĩ cũng mang tiếng với đời, mà không giết thì ta cũng khó lòng mà gọi vũ dũng được! Tiêu Khâu Tố nói xong, liền ném dao xuống đất, đập đầu vào cửa sổ mà chết. Ngũ Viên lại nói với Hạp Lư rằng: - Trong khi Tiêu Khâu Tố đến viếng tang, tôi cũng có ngồi đấy, vậy nên tôi biết rõ, xem thế thì có phải là Yêu Ly sức khỏe địch nổi muôn người đó không? Hạp Lư nói: - Nhà ngươi triệu đến đây cho ta. Ngũ Viên đến yết kiến Yêu Ly và bảo rằng: - Vua Ngô mến cái tài giỏi của nhà ngươi, muốn được trông mặt. Yêu Ly kinh sợ mà nói rằng: - Ta là người thường dân hèn mọn, có tài giỏi gì mà dám ứng triệu. Ngũ Viên hai ba lần giải bày những tình ý kính mến của vua Ngô, Yêu Ly mới theo Ngũ Viên vào triều. Hạp Lư lúc trước nghe Ngũ Viên khoe khoang cái tài giỏi của Yêu Ly, vẫn tưởng người khôi ngô lạ thường, đến lúc trông thấy hình thù thấp bé, mặt mũi xấu xí, có ý không bằng lòng, mới hỏi Yêu Ly rằng: - Ngũ Viên nói Yêu Ly là dũng sĩ, có phải nhà ngươi đó chăng? Yêu Ly nói: - Tôi bé nhỏ, không có sức khỏe, gió thổi mạnh thì ngã, nhưng Đại Vương muốn sai gì, tôi cũng xin cố làm! Hạp Lư nín lặng, không nói gì cả. Ngũ Viên biết ý, liền tâu rằng: - Con ngựa hay không cần to lớn, quí hồ sức khỏe, có thể mang nặng và đi xa được thì thôi. Yêu Ly hình dáng dẫu xấu, nhưng tài trí lạ thường, nếu không dùng người ấy thì không thể thành sự được, xin Đại Vương chớ bỏ hoài. Hạp Lư mời Yêu Ly vào trong hậu cung, cho ngồi. Yêu Ly nói: - Tôi xem ý Đại Vương, chắc là lo nghĩ về Công tử Khánh Kỵ. Nhưng tôi có thể giết chết hắn được. Hạp Lư cười mà bảo rằng: - Khánh Kỵ sức khỏe như voi, chạy nhanh hơn ngựa, ta e rằng nhà ngươi không địch nổi! Yêu Ly nói: - Giết được người ta cốt ở trí khôn, không ở sức khỏe. Tôi được đến gần Khánh Kỵ thì giết hắn như cắt tiết con gà mà thôi. Hạp Lư nói: - Khánh Kỵ là người minh trí, vẫn hay chiêu nạp những kẻ vong mệnh ở bốn phương, nhưng thấy nhà ngươi là người trong nước, khi nào lại quá tin mà cho nhà ngươi đến gần. Yêu Ly nói: - Khánh Kỵ đã chiêu nạp những kẻ vong mệnh, định mưu hại nước Ngô thì tôi giả cách làm một người có tội đi trốn. Xin Đại Vương giết vợ con tôi, chặt cánh tay phải của tôi. Khánh Kỵ tất phải tin tôi mà cho đến gần, như thế mới có thể nên việc được! Hạp Lư ra ý buồn bã và nói rằng: - Nhà ngươi không có tội gì, ta nỡ nào mà làm hại nhà ngươi như thế! Yêu Ly nói: - Tôi nghe nói, vui vợ con mà không biết hết đạo thờ vua thì sao gọi là trung; ham cửa nhà mà không biết lo việc giúp vua thì sao gọi là nghĩa. Nếu tôi giữ trọn cái tiếng trung nghĩa thì dẫu chết sạch cả nhà, cũng được thỏa lòng! Ngũ Viên đứng bên cạnh cũng nói với Hạp Lư rằng: - Yêu Ly vì nước quên nhà, vì chủ quên mình, thế mới thật là bậc hào kiệt! Khi nào nên việc rồi, Đại Vương sẽ truy tặng cho vợ con, để lưu danh tiếng về sau, chỉ thế là đủ! Hạp Lư thuận cho. Ngày hôm sau, Ngũ Viên cùng Yêu Ly vào triều. Ngũ Viên xin cử Yêu Ly làm tướng, đem quân đi đánh Sở. Hạp Lư mắng rằng: - Ta xem sức khỏe của Yêu Ly dẫu đánh một đứa trẻ con, cũng vị tất đã nổi, huống chi là đánh Sở! Vả ngày nay công việc trong nước mới yên, ta không muốn động binh. Yêu Ly nói: - Nếu vậy thì Đại vương bất nhân quá! Ngũ Viên giúp Đại vương lấy được nước Ngô mà Đại vương không báo thù hộ cho Ngũ Viên hay sao. Hạp Lư nổi giận mắng rằng: - Nhà ngươi là một đứa dã nhân, biết đâu được đại sự trong nước, sao lại dám đương triều nói hỗn với ta như vậy! Hạp Lư truyền cho lực sĩ bắt Yêu Ly đem chặt một cánh tay phải đi, rồi giam vào trong ngục. Lại sai người bắt giam cả vợ con Yêu Ly nữa. Ngũ Viên thở dài mà lui ra. Các quan triều thần đều không biết chủ ý thế nào cả. Mấy hôm sau Ngũ Viên mật truyền cho quân canh ngục phải khoản đãi Yêu Ly. Yêu Ly thừa cơ lẻn trốn. Hạp Lư giết vợ con Yêu Ly, rồi đem đốt thây ở giữa chợ. Yêu Ly trong khi đi trốn, gặp ai cũng kể những nỗi oan khổ, rồi tìm đến nước Vệ, vào yết kiến Công tử Khánh Kỵ. Khánh Kỵ nghi là nói dối, không nhận cho theo. Yêu Ly cởi áo ra cho Khánh Kỵ xem, Khánh Kỵ trông thấy cụt một cánh tay phải, mới tin là thực, liền hỏi rằng: - Vua Ngô đã giết vợ con ngươi, chặt cánh tay nhà ngươi, nay nhà ngươi định theo ta làm gì? Yêu Ly nói: - Tôi nghe nói vua Ngô giết thân phụ Công tử mà cướp ngôi vua, nay Công tử kết liên với chư hầu, định về đánh báo thù, vậy tôi đem cái thân sống thừa này đến theo Công tử. Tôi đã biết rõ hết tình nình nước Ngô; cứ như cái tài vũ dũng của Công tử mà lại dùng tôi làm hướng đạo thì chắc có thể về nước được. Công tử báo thù cho thân phụ, tôi cũng báo thù cho vợ con tôi. Khánh Kỵ nghe nói, vẫn chưa lấy làm tin lắm. Được ít lâu, có người tâm phúc của Khánh Kỵ, đi thám ở nước Ngô về, đem việc vợ con Yêu Ly bị đốt ở giữa chợ, thuật lại cho Khánh Kỵ nghe. Khánh Kỵ mới thực lòng tin dùng Yêu Ly, hỏi Yêu Ly rằng: - Ta nghe nói vua Ngô dùng Ngũ Viên và Bá Hi làm mưu chủ, luyện binh tuyển tướng, trong nước cường thịnh lắm, mà ta quân ít sức yếu, làm thế nào để báo thù được? Yêu Ly nói: - Bá Hi là đồ vô mưu, không lo gì người ấy, chỉ có một mình Ngũ Viên là trí dũng kiêm toàn, nhưng nay cũng đã có hiềm khích với vua Ngô rồi! Khánh Kỵ nói: - Ngũ Viên là một người ân nhân của vua Ngô, nay vua tôi nước Ngô đang tương đắc với nhau, sao bảo là có hiềm khích? Yêu Ly nói: - Công tử chỉ biết điều ấy, nhưng chưa biết điều khác. Ngũ Viên sở dĩ tận trung với vua Ngô là muốn mượn quân để đánh Sở mà báo thù cho cha anh, nay Sở Bình Vương đã chết, Phí Vô Cực cũng chết, mà vua Ngô thì an hưởng phú quí, chẳng nghĩ đến việc báo thù cho Ngũ Viên. Tôi vì cớ nói giúp cho Ngũ Viên mà bị vua Ngô giết hại, tôi chắc rằng trong lòng Ngũ Viên cũng oán vua Ngô lắm! Tôi trốn thoát được cũng là nhờ cái công chu toàn của NgũViên đó! Ngũ Viên có dặn tôi rằng: "Đi chuyến này, thử dò xem ý Công tử thế nào, nếu Công tử chịu vì tôi báo thù thì tôi xin làm nội ứng cho Công tử, để chuộc lại cái tội đồng mưu với vua Ngô năm xưa". Nếu Công tử không nhân việc này đem quân về đánh, mà để cho vua tôi hắn lại liên hợp với nhau thì tôi dám nói quyết rằng cái thù của Công tử và của tôi, chẳng còn ngày nào báo được. Yêu Ly nói xong, khóc ầm lên rồi toan đập đầu vào vách mà chết. Khánh Kỵ vội vàng ôm lại mà bảo rằng: - Khoan đã! Ta xin theo lời nhà ngươi! Ta xin theo lời nhà ngươi! Khánh Kỵ liền đem Yêu Ly về Ngải Thành, dùng làm tâm phúc, sai luyện tập quân sĩ và sửa sang thuyền bè, định trong ba tháng nữa thì theo dòng sông mà tiến sang đánh quân Ngô, Khánh Kỵ và Yêu Ly cùng ngồi một thuyền. Khi đi đến giữa dòng, thuyền sau còn cách xa quãng. Yêu Ly nói với Khánh Kỵ rằng: - Công tử nên ngồi lên mũi thuyền để ra lệnh cho các quân sĩ. Khánh Kỵ lên ngồi trên mũi thuyền. Yêu Ly có một tay, cầm cái giáo ngắn đứng hầu. Bỗng giữa sông nổi lên một trận gió. Yêu Ly quay mình đứng về đầu gió, mượn sức gió thổi, cầm giáo đâm suốt vào bụng Khánh Kỵ, ngọn giáo thò ra phía sau lưng. Khánh Kỵ xách ngược Yêu Ly lên, dìm đầu xuống nước ba lần, rồi lại ẵm để lên trong lòng, cúi nhìn mà cười và bảo rằng: - Thiên hạ lại còn có kẻ dũng sĩ này dám cả gan mà đâm ta! Các quân sĩ xúm lại để đâm Yêu Ly, Khánh Kỵ gạt đi mà bảo rằng: - Người này là dũng sĩ! Chớ nên trong một ngày mà làm chết cả hai kẻ dũng sĩ của thiên hạ. Các ngươi chớ nên giết hắn làm gì, nên tha cho hắn về Ngô để tỏ lòng trung. Khánh Kỵ đẩy Yêu Ly xuống dưới chân, rồi giơ tay rút ngọn giáo, máu chảy ộc ra rồi chết!

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 75 Tôn Vũ dạy cung nữ tập trận Nang Ngõa bắt chư hầu lễ tiền

Khánh Kỵ gần chết, dặn quân sĩ chớ giết Yêu Ly. Quân sĩ tha Yêu Ly. Yêu Ly không chịu đi mà bảo quân sĩ rằng: - Ta có ba điều không thể dung được. Dẫu Công tử tha ta, ta cũng không tham sống làm gì! Mọi người đều hỏi: - Thế nào gọi là ba điều không thể dung được? Yêu Ly nói: - Vì đạo thờ vua mà giết cả vợ con, thế là bất nhân; vì vua mới mà giết con vua cũ, thế là bất nghĩa; nên việc cho người mà đến nỗi tàn hại cả thân và nhà, thế là bất trí. Có ba điều ác ấy, còn mặt mũi nào mà đứng trên cõi đời! Yêu Ly nói xong, liền đâm đầu xuống sông. Người lái thuyền lại vớt Yêu Ly lên. Yêu Ly nói: - Nhà ngươi vớt ta làm gì? Người lái thuyền nói: - Nhà ngươi về nước, tất được tước lộc, sao lại không về? Yêu Ly nói: - Ta không tiếc vợ con và tính mệnh, huống chi là tước lộc. Các ngươi đem xác ta về nước Ngô mà lấy trọng thưởng. Yêu Ly giật lấy thanh kiếm của người đứng bên, chặt bỏ chân đi, rồi tự đâm cổ mà chết. Các người rủ nhau đem thi thể Yêu Ly và Khánh Kỵ sang nộp vua Ngô là Hạp Lư. Hạp Lư bằng lòng, trọng thưởng cho các người, rồi dùng lễ thượng khanh an táng Yêu Ly ở dưới cửa thành mà dặn rằng: - Ta nhờ cái tài vũ dũng của nhà ngươi để giữ thành cho ta. Hạp Lư lại truy tặng cho vợ con Yêu Ly nữa. Lập miếu thờ chung Yêu Ly với Chuyên Chư. Dùng lễ Công tử an táng Khánh Kỵ ở bên mộ Vương Liêu. Đại yến các quan triều thần, Ngũ Viên khóc mà tâu với Hạp Lư rằng: - Những kẻ thù của Đại Vương đều trừ được cả, còn kẻ thù của tôi biết bao giờ trả xong! Bá Hi cũng ứa nước mắt mà xin quân đánh Sở. Hạp Lư nói: - Việc ấy để sáng mai hãy bàn. Ngày hôm sau Ngũ Viên và Bá Hi lại vào yết kiến Hạp Lư. Hạp Lư nói: - Ta muốn vì hai người đem quân đánh Sở, nhưng chẳng biết sai ai làm tướng cho được? Ngũ Viên và Bá Hi đồng thanh mà đáp rằng: - Tùy ý Đại Vương, chúng tôi xin hết sức! Hạp Lư nghĩ thầm rằng Ngũ Viên và Bá Hi đều là người Sở, nếu đã báo thù được thì khi nào lại chịu ra sức giúp, mới nín lặng không nói gì cả, ngẩng mặt hứng gió nam mà thở dài. Ngũ Viên hiểu ý, lại nói với Hạp Lư rằng: - Đại Vương sợ nước Sở lắm quân nhiều tướng hay sao? Hạp Lư nói: - Chính thế! Ngũ Viên nói: - Tôi xin cử một người chắc là đánh được. Hạp Lư hớn hở mà hỏi rằng: - Nhà ngươi định cử ai? Cái tài người ấy thế nào? Ngũ Viên nói: - Người ấy họ Tôn tên Vũ, cũng là người nước Ngô ta. Hạp Lư nghe nói người nước Ngô, có ý mừng rỡ. Ngũ Viên lại tâu rằng: - Người này tinh thông thao lược, có làm ra 13 thiên binh pháp. Đời không mấy người biết tài. Hiện nay ẩn ở La Phù Sơn. Nếu được người ấy làm quân sư thì thiên hạ không ai địch nổi, huống chi là Sở! Hạp Lư nói: - Nhà ngươi thử vì ta triệu đến đây. Ngũ Viên nói: - Người này không phải tầm thường, nên phải đem lễ vật đến đón thì có lẽ mới chịu ra. Hạp Lư theo lời, mới lấy mười nén hoàng kim, một đôi bạch bích, sai Ngũ Viên đến La Phù Sơn đón Tôn Vũ. Ngũ Viên vào yết kiến Tôn Vũ, giải bày những tình ý kính mến của Hạp Lư. Tôn Vũ mới theo Ngũ Viên vào yết kiến Hạp Lư. Hạp Lư xuống thềm mà đón, rồi mời ngồi, hỏi các sách binh pháp. Tôn Vũ đem mười ba thiên binh pháp đệ dâng Hạp Lư. Hạp Lư sai Ngũ Viên đọc cả lên một lượt. Ngũ Viên đọc. Mỗi khi đọc hết một chương thì Hạp Lư lại khen nức nở. Kể tên 13 thiên binh pháp ấy như sau này: 1. Thủy Kế Thiên; 2. Tác Chiến Thiên; 3. Mưu Công Thiên; 4. Quân Hình Thiên; 5. Binh Thế Thiên; 6. Hư Thực Thiên; 7. Quân Tranh Thiên; 8. Cửu Biến Thiên; 9. Hành Quân Thiên; 10. Địa Hình Thiên; 11. Tưu Địa Thiên; 12. Hỏa Công Thiên; 13. Dụng Gián Thiên. Hạp Lư ngoảnh lại bảo Ngũ Viên rằng: - Xem các sách binh pháp này, thật là có tài hiểu hết mọi việc trong khoảng trời đất, chỉ tiếc thay ta đây nước nhỏ quân ít, biết làm thế nào? Tôn Vũ nói: - Cứ như binh pháp của tôi thì chẳng những dùng trong đám quân sĩ mà thôi, dẫu đến đàn bà con gái biết theo hiệu lệnh của tôi, cũng có thể đem đi đánh giặc được. Hạp Lư vỗ tay cười mà nói rằng: - Sao nhà ngươi nói viển vông quá vậy, có lẽ nào đàn bà con gái mà lại cầm gươm tập trận được! Tôn Vũ nói: - Đại vương bảo lời nói của tôi là viển vông thì Đại vương cho phép tôi luyện tập các cung nữ, nếu không luyện tập được tôi xin chịu tội. Hạp Lư truyền dem 300 cung nữ giao cho Tôn Vũ luyện tập. Tôn Vũ nói: - Xin Đại vương chọn cho hai người sủng cơ để làm đội trưởng thì hiệu lệnh mới có thể thi hành được. Hạp Lư lại truyền gọi hai người sủng cơ là Tả Cơ và Hữu Cơ đến trước mặt mà bảo Tôn Vũ rằng: - Hai nàng này là người yêu của ta, phỏng có làm đội trưởng được hay không? Tôn Vũ nói: - Làm được! Nhưng phàm việc binh tất phải có thưởng phạt thì hiệu lệnh mới được nghiêm chỉnh, xin Đại vương cho lập một người làm chấp pháp, một người làm quân lại để truyền bá hiệu lệnh, hai người làm cổ lại để cầm trống và mấy người làm nha tướng để cầm gươm giáo đứng ở trên đàn cho trọng sự thể. Hạp Lư đều thuận cho cả. Tôn Vũ chia đám cung nữ ra làm tả đội và hữu đội, cho Tả Cơ quản lĩnh tả đội, còn Hữu Cơ quản lĩnh hữu đội. Hai đội đều mặc binh phục và cầm binh khí. Tôn Vũ tuyên bá hiệu lệnh có ba điều: 1. Không được hỗn loạn hàng ngũ; 2. Không được cười nói ầm ĩ; 3. Không được làm trái pháp luật. Tôn Vũ hẹn đến sáng ngày mai thì đến hội tại nơi giáo trường để tập trận. Hạp Lư trèo lên trên đài để ngồi xem. Đầu canh năm ngày hôm sau, hai đạo cung nữ đều đến giáo trường. Người nào cũng mình mặc áo giáp, đầu đội mũ trụ, tay phải cầm kiếm, tay trái cầm mộc. Tả Cơ và Hữu Cơ thì đóng quần áo tướng, đứng ở đầu hàng quân. Tôn Vũ thân hành ra chỉ bảo mẫu mực và bày thành trận thế. Lại truyền đem hai lá cờ vàng trao cho Tả Cơ và Hữu Cơ để cầm đứng trước, còn các cung nữ đứng ở sau. Hai đội phục cả hai bên để nghe lệnh. Tôn Vũ hạ lệnh rằng: - Hễ nghe thấy hồi trống thứ nhất thì hai đội liền đứng dậy cả; hồi trống thứ hai thì tả đội quanh về bên hữu, mà hữu đội quanh về bên tả; hồi trống thứ ba thỉ giơ kiếm ra như thể đánh nhau; nghe thấy hiệu thanh la thì rút quân kéo lui. Các cung nữ đều bưng miệng cười. Chức cổ lại đánh một hồi trống. Các cung nữ kẻ ngồi kẻ đứng, không được đều nhau. Tôn Vũ đứng dậy mà nói rằng: - Hiệu lệnh không minh và pháp luật không tin là tội quan tướng đó! Tôn Vũ truyền cho chức quân lại tuyên bá hiệu lệnh một lần nữa. Chức cổ lại đánh một hồi trống, các cung nữ đều đứng dậy nhưng nghiêng nghiêng vẹo vẹo, đổ xô vào nhau, vẫn cười như trước. Tôn Vũ liền vén hai tay áo, cầm lấy dùi mà đánh trống. Lại tuyên báo hiệu lệnh như trước. Tả Cơ và Hữu Cơ cùng các cung nữ đều cười tất cả. Tôn Vũ giận lắm, cau mày trừng mắt, liền gọi: - Chức chấp pháp đâu! Chức chấp pháp đến quì ở trước mặt. Tôn Vũ nói: - Hiệu lệnh không minh và pháp luật không tin là tội quan tướng đó! Đã tuyên bá hiệu lệnh mà quân sĩ không theo thì tội tại quân sĩ đó! Cứ theo quân pháp nên trị tội gì? Chức chấp pháp nói: - Nên chém! Tôn Vũ nói: - Quân sĩ không thể giết hết được, ta nên trị tội hai người đội trưởng! Tôn Vũ truyền đem hai người nữ đội trưởng ra chém để làm gương cho các quân sĩ. Các nha tướng trông thấy Tôn Vũ hầm hầm nổi giận, không dám trái mệnh, liền trói Tả Cơ và Hữu Cơ điệu ra. Hạp Lư ngồi ở trên đài trông thấy, vội vàng sai Bá Hi cầm cờ tiết đến nói với Tôn Vũ rằng: - Ta đã biết cái tài dụng binh của Tướng quân rồi. Nhưng hai nàng ấy là người nâng khăn sửa túi của ta mà rất hợp ý ta lắm. Ta không có hai nàng ấy thì ăn không biết ngon, xin Tướng quân tha cho. Tôn Vũ nói: - Việc quân không phải là việc đùa! Tôi đã chịu mệnh làm tướng rồi thì khi ở trong đám quân, dẫu có mệnh vua cũng không được phép theo nữa. Nếu theo mệnh vua mà tha cho kẻ có tội thì sao cho quân sĩ phục. Tôn Vũ truyền chém ngay Tả Cơ và Hữu Cơ, đem bêu đầu ở trước hàng quân. Các cung nữ đều sợ run cầm cập, không dám ngẩng nhìn. Tôn Vũ lựa chọn hai người khác ở trong hai đội ấy cho làm tả đội trưởng và hữu đội trưởng, lại nổi trống và tuyên bá hiệu lệnh: Hồi trống thứ nhất đều đứng dậy cả; hồi trống thứ hai đều đi vòng quanh; hồi trống thứ ba hai bên đều hợp chiến, lại đánh thanh la rút quân kéo lui. Lúc tiến lúc lui đều được đúng khuôn phép, không sai một chút nào. Từ trước đến sau đều im lặng như tờ. Bấy giờ Tôn Vũ sai chức chấp pháp đến tâu với Hạp Lư rằng: - Quân đội đã được chỉnh tề rồi, xin tùy ý Đại vương sai khiến, bây giờ dẫu Đại vương sai nhảy vào đống lửa, cũng không ai dám lùi tránh. Hạp Lư thương Tả Cơ và Hữu Cơ lắm, sai làm lễ hậu táng ở Hoành Sơn, rồi lập bàn thờ, gọi là Ái Cơ Từ. Vì cái lòng thương Tả Cơ và Hữu Cơ, mới có ý không muốn dùng Tôn Vũ. Ngũ Viên nói với Hạp Lư rằng: - Đại vương muốn đánh Sở mà làm bá chủ trong thiên hạ, mong tìm được người tướng giỏi. Người tướng giỏi, cần nhất là một điều quả quyết, nếu không Tôn Vũ thì ai là người dám trèo non vượt suối, trải qua nghìn dặm mà sang đánh Sở bây giờ! Gái đẹp dễ có, chứ tướng giỏi khó tìm, nay thương hai nàng ấy mà bỏ mất một tướng giỏi thì khác nào như tiếc đám cỏ xấu mà bỏ mất lúa tốt hay không? Hạp Lư mới tỉnh ngộ ra, liền phong Tôn Vũ làm thượng tướng quân, gọi là quân sư, giao việc đánh Sở. Ngũ Viên hỏi Tôn Vũ rằng: - Bây giờ tiến binh nên làm thế nào? Tôn Vũ nói: - Phàm việc dụng binh, trước hết phải giữ gìn mặt trong đã, rồi mới có thể đánh mặt ngoài được. Tôi nghe nói em Vương Liêu là Yểm Dư ở nước Từ, Chúc Dung ở nước Chung Ngô, hai người ấy đều có ý muốn báo thù. Ngày nay ta nên trừ bỏ hai người ấy, rồi sẽ tiến binh đánh Sở. Ngũ Viên khen phải, tâu với Hạp Lư. Hạp Lư nói: - Từ và Chung Ngô đều là nước nhỏ, ta sai sứ đến bảo bắt hộ, tất phải nghe lời. Hạp Lư liền sai hai người: Một người sang Từ bắt Yểm Dư và một người sang Chung Ngô bắt Chúc Dung. Vua Từ là Chương Vũ không nỡ để cho Yểm Dư chết, mới mật sai người báo Yểm Dư. Yểm Dư trốn đi, lại gặp Chúc Dung. Hai người bàn nhau chạy sang nước Sở. Sở Chiêu Vương mừng mà nói rằng: - Hai Công tử ấy đều thâm oán nước Ngô, ta nên nhân lúc chúng cùng khốn mà kết nạp. Sở Chiêu Vương cho hai Công tử ở đất Thư Thành, để luyện tập quân mã mà chống nhau với nước Ngô. Hạp Lư giận nước Từ và nước Chung Ngô, sai Tôn Vũ đem quân đi đánh. Vua Từ là Chương Vũ chạy sang nước Sở. Tôn Vũ bắt vua nước Chung Ngô đem về, lại lẻn sang đánh Thư Thành, giết Yểm Dư và Chúc Dung. Hạp Lư muốn thừa thắng tiến vào đánh Dĩnh Đô (kinh thành nước Sở). Tôn Vũ nói với Hạp Lư rằng: - Sức dân đã mỏi mệt, chưa nên dùng vội. Tôn Vũ nói xong, liền rút quân về. Ngũ Viên hiến kế rằng: - Phàm ít mà thắng được nhiều, yếu mà thắng được mạnh là tất phải có hiểu cái lẽ dĩ dật đãi lao. Tấn Điệu công ngày xưa chia quân làm ba đạo để làm cho Sở phải khó nhọc, mới đánh được Sở ở đất Tiêu Ngư. Kẻ cầm quyền nước Sở ngày nay đều là những phường ngu dốt không biết gì, xin Đại vương cũng chia quân làm ba đạo để cho sang quấy nhiễu nước Sở, cứ thay đổi nhau, Sở ra thì ra về, mà Sở về thì ra lại ra, khiến cho kẻ kia mỏi mệt, bấy giờ ta sẽ kéo cả ra mà đánh thì tất phá vỡ được. Hạp Lư khen phải, mới chia quân làm hai đạo, cho sang quấy nhiễu bờ cõi nước Sở. Nước Sở đem quân ra cứu, nước Ngô lại rút về, làm cho người nước Sở rất khổ. Hạp Lư có người con gái yêu tên là Thắng Ngọc. Một hôm ăn tiệc, người nhà bếp dâng món cá hấp. Hạp Lư ăn một nửa, còn thừa đưa cho Thắng Ngọc. Thắng Ngọc nổi giận, nói: - Đại vương cho con cá ăn dở, thế là làm nhục ta, ta còn sống làm gì nữa! Thắng Ngọc lui ra, liền tự tử mà chết. Hạp Lư thương lắm mới làm một cái lăng thật to ở ngoài cửa Sương môn, đào hào đắp lũy, những chỗ đất đào thành ra cái hồ lớn (tức là hồ Nữ Phần bây giờ) ; lại tạc đá hoa để làm quách, bao nhiêu những vàng bạc châu báu ở trong kho, đem chôn gần nửa phần; lại chôn thêm cả một thanh bảo kiếm là thanh kiếm Bàn Dĩnh. Sai người múa bạch hạc ở giữa chốn Ngô Thị. Dân kéo đến xem hàng vạn người, nhân tiện bảo các người xem đều vào cửa Toại môn để tống táng. Trong cửa Toại môn có làm một cái máy. Khi dân đã kéo ồ vào, liền giật máy cho cửa đóng sập lại, rồi đem đất lấp. Kể hàng vạn người, vừa trai vừa gái, đều chết tất cả. Hạp Lư nói: - Ta khiến cho hàng vạn người chết theo thì con gái ta ở dưới suối vàng không đến nỗi buồn bã! Đến bây giờ tục nước Ngô: Trên nhà tang đình hay làm con bạch hạc là bởi chuyện này. Lại nói chuyện Sở Chiêu Vương, một hôm đang nằm trong cung bỗng sực thức dậy, thấy bên gối nằm có hào quang sáng rực, liền ngoảnh trông, bắt được một thanh bảo kiếm. Sáng hôm sau, sai triệu Phong Hồ Tử là một người giỏi xem kiếm vào cung, rồi đưa thanh kiếm cho xem. Phong Hồ Tử trông thấy thanh kiếm, kinh sợ mà nói rằng: - Đại vương lấy đâu được thế này! Phong Hồ Tử nói: - Đêm qua ta ngủ dậy, bắt được ở bên gối, chẳng hay đó là thanh kiếm gì? Phong Hồ Tử nói: - Đây là thanh kiếm Trạm Lư của một người kiếm sư tên gọi Âu Giã Tử đúc ra. Ngày xưa vua nước Việt đúc được năm thanh kiếm. Vua nước Ngô là Thọ Mộng muốn lấy, vua nước Việt mới đem dâng ba thanh là Ngư Trường, Bàn Dĩnh và Trạm Lư. Thanh kiếm Ngư Trường, sau đâm chết Vương Liêu, thanh kiếm Bàn Dĩnh sau chôn theo con gái Hạp Lư, chỉ còn có một thanh kiếm Trạm Lư này. Tôi nghe nói thanh thần kiếm này thiêng liêng lắm, hễ ông vua làm điều trái lẽ thì thanh kiếm này biến đi mất, mà thanh kiếm này hiện ra ở nước nào thì nước ấy được cường thịnh. Nay vua Ngô giết Vương Liêu để cướp ngôi, lại chôn sống hàng vạn người để chết theo con gái, người nước Ngô ai cũng oán giận, vậy nên thanh kiếm Trạm Lư này bỏ chỗ vô đạo mà đến chỗ hữu đạo đó! Sở Chiêu Vương bằng lòng, quí thanh kiếm Trạm Lư lắm, rồi đeo luôn ở cạnh mình, lại tuyên bá cho người trong nước biết, lấy làm một cái điềm hay. Hạp Lư mất thanh kiếm, sai người đi dò tìm. Có kẻ bảo là thanh kiếm ấy đã về nước Sở. Hạp Lư nổi giận nói: - Đó tất là vua Sở đút tiền cho những người thị vệ ta để lấy trộm thanh kiếm của ta! Hạp Lư tức thì giết chết mấy chục người thị vệ vẫn hầu chung quanh; lại sai Tôn Vũ, Ngũ Viên và Bá Hi đem quân đi đánh Sở, và sai sứ sang mượn quân nước Việt. Vua nước Việt là Doãn Thường chưa tuyệt giao với Sở, không chịu phát binh. Khi bọn Tôn Vũ đã đánh được đất Lục và đất Tiềm của nước Sở, không thấy có quân tiếp ứng, liền rút quân về. Hạp Lư giận nước Việt không chịu phát binh đánh Sở, toan quay sang đánh. Tôn Vũ can rằng: - Năm nay tuế tinh ở về địa phận nước Việt. Ta đánh Việt tất không lợi. Hạp Lư không nghe, đem quân đánh Việt; phá vỡ quân nước Việt ở đất Huề Lý, cướp lấy của cải rồi lại rút về. Tôn Vũ nói riêng với Ngũ Viên rằng: - Sau bốn mươi năm nữa, chắc là nước Việt cường thịnh mà nước Ngô phải suy vong! Năm sau, quan Lệnh doãn nước Sở là Nang Ngõa đem quân đánh Ngô, để báo thù trận đánh ở đất Lục và đất Tiềm khi trước. Hạp Lư sai Tôn Vũ và Ngũ Viên đem quân ra nghênh chiến, phá vỡ quân nước Sở ở đất Sào, bắt được tướng Sở là Can Phồn đem về. Hạp Lư nói: - Chưa vào tới Dĩnh Đô (kinh thành nước Sở) thì dẫu phá vỡ quân Sở, cũng là vô công! Ngũ Viên nói: - Tôi có lúc nào quên được Dĩnh Đô đâu, chỉ vì nước Sở đang cường thịnh, chớ nên khinh thường. Nang Ngõa (quan Lệnh Doãn nước Sở) dẫu không được lòng dân, mà chưa ai ghét cả, nhưng tôi nghe Nang Ngõa hay ăn tiền, chẳng bao lâu chư hầu tất cũng sinh biến, bấy giờ ta sẽ nhân dịp mà đánh Sở. Hạp Lư giao cho Tôn Vũ luyện tập thủy quân; còn Ngũ Viên thì ngày nào cũng sai người dò thám công việc nước Sở. Một hôm nghe báo có nước Đường và nước Sái sai sứ sang thông hiếu, hiện đã tới cõi ngoài. Ngũ Viên mừng mà nói rằng: - Đường và Sái đều là thuộc quốc của nước Sở nay tự nhiên sai sứ sang thông hiếu với ta, tất bởi có lòng oán Sở. Ấy là cái cơ hội trời khiến cho ta phá Sở, tiến vào Dĩnh Đô đó! Nguyên các nước chư hầu thấy Sở Chiêu Vương bắt được thanh kiếm Trạm Lư, đều đến chúc mừng. Đường Thành công và Sái Chiêu công cũng đến. Sái Chiêu công có một đôi dương chi bạch ngọc bội và hai bức ngân điêu thử cừu, mới đem mỗi thứ một chiếc dâng Sở Chiêu Vương để làm lễ chúc mừng, còn thì để mình đeo và mặc. Nang Ngõa trông thấy thích lắm, sai người đòi lấy. Đường Thành công có một đôi ngựa rất quí, tên gọi Túc Sương, đem đôi ngựa ấy thắng xe đi đến nước Sở, đi nhanh mà êm lắm! Nang Ngõa cũng có ý thích, sai người đòi lấy, Đường Thành công không cho. Khi Đường Thành công và Sái Chiêu công vào triều xong, Nang Ngõa nói dèm với Sở Chiêu Vương rằng: - Đường và Sái tư thông với Ngô, nếu tha cho về thì tất dẫn Ngô sang đánh Sở, chi bằng ta bắt giữ lại. Sở Chiêu Vương truyền cho giam Đường Thành công và Sở Chiêu Vương ở nhà quán xá, cho 1.000 quân canh giữ. Bấy giờ Sở Chiêu Vương còn ít tuổi, quyền chính đều ở tay Nang Ngõa. Đường Thành công và Sái Chiêu công bị giam ở Sở, đã ba năm trời. Thế tử nước Đường không thấy Đường Thành công về, sai quan Đại phu là Công tôn Triết đến nước Sở thăm tin, mới biết là Đường Thành công bị giam. Công tôn Triết nói riêng với thị vệ rằng: - Chúa công ta tiếc đôi ngựa mà chịu giam mãi ở nước Sở, sao lại trọng súc vật mà khinh nước nhà như thế! Chi bằng chúng ta lấy trộm đôi ngựa ấy đem dâng quan Lệnh doãn nước Sở; dẫu khi Chúa công về nước, có trị chúng ta về tội trộm ngựa thì chúng ta cũng cam lòng! Các thị vệ theo lời, liền đem rượu cho kẻ ngữ nhân uống thật say, rồi lấy trộm đôi ngựa đem dâng Nang Ngõa và nói với Nang Ngõa rằng: - Chúa công tôi có lòng kính mến quan Lệnh Doãn, vậy sai chúng tôi đem đôi ngựa quí này đến dâng. Nang Ngõa mừng lắm, nhận lấy đôi ngựa. Ngày hôm sau vào tâu với Sở Chiêu Vương rằng: - Nước Đường đất nhỏ quân ít, dẫu ta có tha cho về, cũng chẳng làm gì ta nổi. Sở Chiêu Vương nghe lời, tức thì tha cho Đường Thành công về nước. Khi Đường Thành công đã về đền nước Đường. Công tôn Triết và các thị vệ đều sụp lạy ở trước sân để xin chịu tội. Đường Thành công nói: - Nếu các ngươi không đem ngựa mà dâng cho đứa tham phu ấy thì làm sao ta được về nước. Đó là cái lỗi của ta, các ngươi cũng chớ oán ta mà thôi. Đường Thành công trọng thưởng cho Công tôn Triết và các thị vệ. Sái Chiêu công nghe nói Đường Thành công dâng ngựa được về, cũng đem áo cừu và ngọc bội dâng Nang Ngõa. Nang Ngõa lại nói với Sở Chiêu Vương rằng: - Sái cũng như Đường, ta đã tha cho Đường thì còn giữ Sái làm gì nữa. Sở Chiêu Vương theo lời. Sái Chiêu công cáo từ lui về, trong lòng căm tức; khi đến sông Hàn Thủy, cầm viên bạch bích ném xuống sông mà thề rằng: - Nếu ta không đánh được Sở mà lại qua sông này nữa thì xin chết như thế này! Khi về nước tức khắc cho Thế tử Nguyên sang ở làm tin tại nước Tấn, để mượn quân đánh nước Sở. Tấn Định công đem việc Nang Ngõa tham lam vào tố cáo với Chu Kinh Vương. Chu Kinh Vương sai quan khanh sĩ là Lưu Quyền đem quân đến giúp. Tống, Tề, Lỗ, Vệ, Trần, Trịnh, Hứa, Tào, Cử, Châu, Đốc, Hồ, Đăng, Tiết, Kỷ, Tiểu Châu Tử và Sái, cả thẩy 17 nước chư hầu đều oán Nang Ngõa là người tham lam mà đem quân theo Tấn. Sĩ Ưởng nước Tấn làm đại tướng, Tuân Dinh làm phó tướng, đem quân chư hầu đi hội ở đất Thiệu Lãng, Tuân Di nghĩ mình vì Sái đánh Sở là có công với Sái, vậy cũng muốn đòi ăn tiền, sai người bảo Sái Chiêu công rằng: - Tôi nghe nói nhà vua có áo cừu và ngọc bội, đem dâng vua nước Sở, sao đến nước tôi không có gì cả. Chúng tôi vì nhà vua mà cất quân đi, kể hàng nghìn dặm, chẳng hay nhà vua định lấy gì mà khao thưởng quân sĩ của nước tôi? Sái Chiêu công nói: - Tôi thấy quan Lệnh doãn nước Sở là người tham lam, vậy nên bỏ Sở mà theo Tấn. Nay ngài nghĩ cái nghĩa minh chủ mà đem quân đánh Sở thì 500 dặm đất ở Kinh Tương kia đều là khao thưởng quân sĩ cả, còn gì lợi hơn! Tuân Di nghe nói, có ý hổ thẹn. Bấy giờ trời mưa to luôn mãi, quan khanh sĩ nhà Chu bị bệnh sốt rét, Tuân Di mới nói với Sĩ Ưởng rằng: - Ngày xưa Tề Hoàn công cường thịnh như thế mà còn chịu đóng quân ở Thiệu Lăng để giảng hòa với Sở. Tiên quân nước ta là Văn công chỉ được Sở có một trận mà việc tranh chiến cứ lan man mãi không thôi. Nước ta từ khi cùng Sở giảng hòa, hai bên vẫn không hiềm khích gì với nhau, vậy thì ta không nên gây ra việc tranh chiến. Huống chi độ này mưa nhiều nước lụt, bệnh sốt rét đang phát, tôi e rằng tiến lên vị tất đã đánh được Sở, mà lui về lại bị quân Sở đuổi theo, ta nên lo trước mới được. Sĩ Ưởng cũng là một đứa tham phu, muốn ăn tiền của nước Sái, nhưng chưa được mãn nguyện, mới mượn cớ mưa nhiều nước lụt, tiến binh không lợi, cho Thế tử Nguyên trở về nước Sái rồi hạ lệnh rút quân. Các nước chư hầu thấy nước Tấn rút quân, cũng đều rút quân về nước cả. Sái Chiêu công thấy các nước rút quân về, trong lòng chán ngán, khi về qua nước Thẩm giận vua Thẩm không theo đánh Sở, mới sai quan Đại phu là Công tôn Tinh đem quân đánh Thẩm, bắt vua Thẩm giết đi, để cho hả cái lòng oán Sở, Nang Ngõa giận lắm, đem quân đánh Sái, vây thành nước Sái. Công tôn Tinh nói với Sái Chiêu công rằng: - Ta không trông cậy về nước Tấn được, chi bằng sang cầu viện nước Ngô. Các quan nước Ngô như Ngũ Viên, Bá Hi đều là cừu địch với Sở, tất thế nào cũng giúp ta. Sái Chiêu công nghe lời, liền sai Công tôn Tinh sang ước với Đường Thành công để cùng đi mượn quân nước Ngô. Lại cho người con thứ là Công tử Kiền sang ở làm tin, Ngũ Viên đưa vào yết kiến Hạp Lư và nói với Hạp Lư rằng: - Đường và Sái oán giận nước Sở mà xin làm tiên phong để sang đánh Sở. Cứu Sái là một cái tiếng tốt, đánh Sở là một cái lợi to. Đại vương muốn tiến binh vào Dĩnh Đô thì nên nhân cơ hội này! Hạp Lư nhận lời, rồi sai Công tôn Tinh về trước để báo cho Sái Chiêu công biết. Hạp Lư đang bàn việc tiến binh, bỗng nghe báo có Quân sư là Tôn Vũ xin vào yết kiến. Hạp Lư mời vào. Tôn Vũ nói với Hạp Lư rằng: - Nước Sở khó đánh là vì có nhiều thuộc quốc, ta chưa dễ tiến đến tận nơi được. Nay vua Tấn xướng lên một câu mà 18 nước họp; trong 18 nước ấy thì Trần, Hứa, Hồ và Đốn đều là thuộc quốc của nước Sở, mà cũng bỏ Sở theo Tấn, xem thế thì biết người ta đều oán Sở, chẳng những Đường và Sái, phen này nước Sở thế cô rồi! Hạp Lư bằng lòng, sai Bị Ly và Chuyên Nghị giúp Thế tử Ba giữ nước, cho Tôn Vũ làm đại tướng, Ngũ Viên và Bá Hi làm phó tướng, Công tử Phu Khái làm tiên phong, Công tử Sơn đốc vận lương thực, rồi đem 60.000 quân Ngô theo đường thủy qua sông Hoài, tiến sang nước Sái. Nang Ngõa thấy Ngô thế to lắm, liền giải vây nước Sái mà chạy về, lại sợ quân Ngô kéo qua sông Hàn Thủy, mới đóng quân giữ ở đấy và sai người về Dĩnh Đô cáo cấp. Sái Chiêu công ra nghênh tiếp Hạp Lư, rồi kể những tội ác của vua tôi nước Sở, vừa kể vừa khóc. Được một lúc Đường Thành công cũng đến. Đường Thành công và Sái Chiêu công tình nguyện cùng theo đánh Sở. Lúc sắp khởi hành, Tôn Vũ truyền cho quân sĩ lên cả đường bộ, còn bao nhiêu thuyền bè cứ để ở khúc sông Hoài. Ngũ Viên thấy vậy, hỏi riêng Tôn Vũ. Tôn Vũ nói: - Ta đi đường thủy thì ngược nước mà chậm, khiến cho quân Sở phòng bị trước được, khó lòng phá nổi. Ngũ Viên rất lấy làm phục. Đại binh nước Ngô qua đường Dự Chương tiến thẳng đến đóng ở phía Bắc sông Hán Thủy, còn quân Sở đóng ở phía nam. Nang Ngõa ngày đêm chỉ lo quân Ngô tiến đến, nghe nói thuyền bè nước Ngô đóng cả ở khúc sông Hoài, bấy giờ yên mới lòng. Sở Chiêu Vương nghe tin quân Ngô sắp sang đánh, liền họp các quan lại để hỏi kế. Công tử Thân nói: - Tử Thường không phải là tài đại tướng. Đại vương nên sai quan Tư mã là Thẩm Doãn Thú đem quân đi giữ cho quân Ngô khỏi sang qua sông Hán Thủy, kẻ kia đi xa xôi không có tiếp ứng thì tất không ở lâu được! Sở Chiêu Vương theo lời, Thẩm Doãn Thú đem 15.000 quân hợp cũng Nang Ngõa để chống giữ với quân Ngô. Thẩm Doãn Thú đem quân tới nơi. Nang Ngõa đón vào. Thẩm Doãn Thú hỏi rằng: - Quân Ngô đi đường nào mà đến đây chóng được như vậy? Nang Ngõa nói: - Quân Ngô bỏ thuyền bè ở khúc sông Hoài, rồi theo đường bộ qua Dự Chương tới đây. Thẩm Doãn Thú cười ha hả mà nói rằng: - Người ta nói Tôn Vũ dụng binh như thần, cứ như ta xem thì khác nào trò trẻ. Nang Ngõa hỏi: - Sao vậy? Thẩm Doãn Thú nói: - Người nước Ngô tập quen thuyền bè, lợi về sự đánh thủy, nay lại bỏ thuyền bè ở khúc sông Hoài để đi cho chóng, vạn nhất thua trận thì lấy đường nào mà chạy về. Ta nghĩ cũng nực cười! Nang Ngõa nói: - Quân kia hiện đang đóng ở phía bắc sông Hán Thủy, ta dùng kế gì mà phá được Thẩm Doãn Thú nói: - Tôi chia cho Ngài năm ngàn quân. Ngài cứ theo dọc bờ sông Hán Thủy mà đóng đồn, bao nhiêu thuyền bè bắt để cả ở bên này sông, lại sai quân thủy đi tuần khắp mặt sông, khiến cho quân Ngô không thể nào mà sang qua sông được, rồi tôi đem đại binh qua đường Tân Tức đi thẳng sang sông Hoài, đốt hết những thuyền bè của quân Ngô đi lại, dùng gỗ, đá lấp con đường Hán Đông. Khi bấy giờ Ngài đem quân qua sông Hán Thủy đánh vào mặt trước, tôi đem quân đánh mặt sau. Kẻ kia thủy bộ đều nghẽn cả, không có đường mà chạy, chắc hẳn là ta bắt sống được vua tôi nước Ngô. Nang Ngõa mừng lắm, nói: - Tôi chịu kém cái tài cao đoán của quan Tư mã. Thẩm Doãn Thú cho quan Đại tướng là Vũ Thành Hắc coi năm ngàn quân ở lại để giúp Nang Ngõa, còn mình đem đại binh tiến thẳng về con đường Tân Tức.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 76 Hạp Lư tiến vào Dĩnh Đô Ngũ Viên khai quật mộ vua Sở

Thẩm Doãn Thú đem quân đi rồi, quân Ngô và quân Sở vẫn chống giữ nhau ở hai bên bờ sông Hán Thủy. Được mấy ngày, Vũ Thành Hắc muốn xu nịnh Nang Ngõa, mới nói với Nang Ngõa rằng: - Quân Ngô bỏ thuyền lên cạn thì còn lấy gì làm tài giỏi, lại không thuộc địa thế, vậy nên quan Tư mã đã chắc là tất thua. Nay quân Ngô cố đánh đã trong mấy hôm mà không thể qua sông được thì tất sinh lòng trễ biếng, ta nên tiến binh sang mà đánh ngay. Một người tướng yêu của Nang Ngõa tên gọi Sử Hoàng cũng nói: - Người trong nước ngày nay yêu Ngài thì ít, mà yêu quan Tư mã thì nhiều. Nếu quan Tư mã đem quân đốt được thuyền bè nước Ngô thì trận đánh Ngô này, quan Tư mã được công đầu. Như ngài đây làm quan lệnh doãn, quyền cao chức trọng mà đã bị mấy lần thua trận, nay lại nhượng cái công đầu ấy cho quan Tư mã thì còn mặt mũi nào đứng đầu hàng trăm quan nữa! Tôi chắc rằng quan Tư mã tất thay Ngài làm lệnh doãn mà thôi, chi bằng ta theo cái kế của Vũ Thành Hắc đem quân qua sông mà quyết một trận thắng phụ. Nang Ngõa tin lời nói ấy, mới truyền tiến binh qua sông Hán Thủy, sang bày trận ở Tiểu Biệt Sơn. Sử Hoàng đem quân ra khiêu chiến. Tôn Vũ sai tướng Tiên phong là Công tử Phu Khái đem quân ra đối địch. Công tử Phu Khái chọn ba trăm quân dũng sĩ, đều dùng thứ gỗ tốt làm tay thước, gặp quân Sở đâu thì đánh túi bụi vào đầu. Quân Sở thấy vậy, đều kinh sợ không thể địch nổi, bị quân Ngô đánh cho một trận. Sử Hoàng thua to chạy về, Nang Ngõa bảo Sử Hoàng rằng: - Nhà ngươi xui ta qua sông Hán Thủy, nay mới đánh có một trận mà đã bị thua, còn mặt mũi nào trông thấy ta nữa! Sử Hoàng nói: - Nay đại binh vua Ngô đóng ở dưới núi Đại Biệt Sơn, chi bằng đêm nay đương lúc bất ngờ, đem quân sang đánh thì có thể bắt sống vua Ngô được. Nang Ngõa theo lời, liền tuyển một vạn quân, định đêm hôm ấy theo con đường tắt tiến sang Đại Biệt Sơn. Tôn Vũ được tin Công tử Phu Khái thắng trận, các tướng đều đến chúc mừng. Tôn Vũ nói: - Nang Ngõa là một người ngu dốt, nay Sử Hoàng dẫu thua trận, nhưng chưa lấy gì làm tổn hại cho lắm. Đêm nay tất thế nào cũng lẻn đến mà đánh đại binh ta, ta nên phòng bị trước mới được. Tôn Vũ sai Công tử Phu Khái và Chuyên Nghị đem quân bản bộ phục hai bên Đại Biệt Sơn, và sai Đường Thành công cùng Sái Chiêu công chia quân làm hai đạo để tiếp ứng. Lại sai Ngũ Viên đem 5.000 quân lẻn sang Tiểu Biệt Sơn để đánh đại binh của Nang Ngõa, còn Bá Hi thì đem quân tiếp ứng. Tôn Vũ lại sai Công tử Sơn bảo hộ vua Ngô (Hạp Lư) sang đóng đồn ở Hán Âm Sơn để tránh nơi xung đột. Trống canh ba đêm hôm ấy, quả nhiên Nang Ngõa đem quân lẻn đến đại dinh của quân Ngô, thấy im lặng như tờ, chẳng có phòng bị gì cả; khi tiến vào trong dinh, cũng chẳng thấy vua Ngô đâu cả. Nang Ngõa nghi có quân phục, vội vàng trở ra, bỗng gặp hai đạo quân của Chuyên Nghị và Công tử Phu Khái ở hai bên đổ ra đánh. Đường Thành công quát to lên mà bảo Nang Ngõa rằng: - Trả lại đôi ngựa Túc Sương của ta thì ta tha chết cho nhà ngươi! Sái Chiêu công cũng quát to lên mà bảo rằng: - Trả lại áo cừu và ngọc bội của ta thì ta tha cho! Nang Ngõa vừa buồn vừa thẹn, vừa tức, vừa sợ. Trong khi nguy cấp, may nhờ có toán quân của Vũ Thành Hắc kéo đến, cứu được Nang Ngõa chạy. Chạy được mấy dặm, nghe báo đại doanh của mình đã bị tướng nước Ngô là Ngũ Viên cướp mất rồi, còn Sử Hoàng thua trận, không biết chạy đi đâu mất. Nang Ngõa kinh sợ chẳng còn hồn vía nào cả, đem lũ bại binh chạy sang đất Bách Cử, được một lúc lâu thì thấy Sử Hoàng cũng đem bại binh đến đấy, mới cùng nhau lập ra đồn trại. Nang Ngõa nói: - Tôn Vũ dụng binh thật là tài giỏi! Chi bằng ta hãy trốn về, để xin thêm quân rồi lại giao chiến. Sử Hoàng nói: - Ngài đem đại binh đi đánh Ngô, nay bỏ mà trốn về, vạn nhất quân Ngô qua sông Hán Thủy, tiến thẳng vào Dĩnh Đô thì cái tội ấy đổ cho ai được, chi bằng cố sức mà đánh, dẫu chết tại trận tiền cũng còn để được cái tiếng thơm về sau. Nang Ngõa còn đang ngần ngại thì nghe báo Sở Chiêu Vương đã cho một toán quân đến tiếp ứng. Nang Ngõa vội vàng ra nghênh tiếp thì trông thấy quan Đại tướng là Viễn Xạ. Viễn Xạ nói: - Đại vương nghe tin quân Ngô thế to lắm, sợ quan Lệnh doãn không thể đánh nổi, vậy có sai tôi đem 10.000 quân đến đây để trợ chiến. Viễn Xạ lại hỏi đến những sự đánh nhau về trước. Nang Ngõa thuật lại, nét mặt có ý bẽn lẽn. Viễn Xạ nói: - Nếu quan Lệnh doãn theo lời quan Tư mã thì can gì đến nỗi thế này! Bây giờ chỉ có một kế: Đào hào, đắp lũy, không đánh nhau nữa, đợi toán quân của quan Tư mã về rồi sẽ cùng nhau hợp chiến. Nang Ngõa nói: - Chỉ vì ta khinh thường sang đánh đại doanh quân Ngô, thành ra bị quân Ngô cướp mất đại doanh của mình, chứ nếu hai bên cứ đối trận với nhau thì quân Ngô cũng chẳng mạnh hơn quân Sở ta được. Nay tướng quân mới đến đây, nên nhân cái nhuệ khí của ta mà quyết chiến một trận. Viễn Xạ không nghe, lập riêng một nơi đồn trại khác, cách đồn trại Nang Ngõa những hơn 10 dặm. Nang Ngõa cậy mình quyền cao chức trọng, không sợ Viễn Xạ. Viễn Xạ cũng khinh Nang Ngõa là người ngu dốt, có ý không chịu. Hai bên thành ra bất hòa, việc gì cũng không bàn bạc với nhau nữa. Tướng nước Ngô là Công tử Phu Khái dò biết là Nang Ngõa và Viễn Xạ bất hòa với nhau, mới vào nói với vua Ngô là Hạp Lư rằng: - Nang Ngõa tham mà bất nhân, có nhiều người oán; Viễn Xạ dẫu đến trợ chiến, nhưng không chịu theo hiệu lệnh, bởi vậy quân sĩ đều sinh lòng trễ biếng, nếu ta đuổi đánh thì có thể phá vỡ được. Hạp Lư không nghe. Công tử Phu Khái lui ra mà nói rằng: - Dẫu Đại vương không nghe, nhưng ta vẫn cứ đi, may ra phá vỡ quân Sở thì có thể tiến vào Dĩnh Đô được. Sáng hôm sau, Công tử phu Khái tự đem quân bản bộ sang đánh Nang Ngõa. Tôn Vũ nghe tin, vội vàng sai Ngũ Viên đem quân đi tiếp ứng. Công tử Phu Khái tiến vào đánh trại Nang Ngõa. Nang Ngõa không phòng bị gì cả. Trong trại náo loạn. Vũ Thành Hắc liều chết để đánh. Nang Ngõa không kịp lên xe, đi đất chạy ra sau trại, đùi chân trái bị một mũi tên, may nhờ có Sử Hoàng đem quân đến, vực Nang Ngõa lên xe và bảo Nang Ngõa rằng: - Quan Lệnh doãn liệu mà tránh đi, còn tôi xin liều chết ở đây. Nang Ngõa cởi bỏ áo bào ra, rồi ngồi xe đi thẳng, không dám trở về Dĩnh Đô, liền trốn sang nước Trịnh. Ngũ Viên tiến quân đến. Sử Hoàng sợ Ngũ Viên đuổi theo Nang Ngõa, mới cầm kích xông vào đánh, giết chết quân Ngô hơn 200 người. Quân Sở chết hại cũng độ số ấy. Sử Hoàng bị trọng thương mà chết. Vũ Thành Hắc đánh nhau với Công tử Phu Khái, nhưng đánh không nổi, cũng bị Công tử Phu Khái chém chết. Con Viễn Xạ là Viễn Diên nghe tin Nang Ngõa bị thua, vào nói với cha, xin đem quân ra cứu. Viễn Xạ không cho, lại thân hành ra đứng ở cửa dinh nghiêm cấm quân sĩ không ai được náo động, nếu náo động thì chém. Những bại binh của Nang Ngõa đều về với Viễn Xạ. Viễn Xạ điểm lại, còn có hơn một vạn; mới hợp cả lại, thành một đạo quân. Bấy giờ quân thế lại mạnh. Viễn Xạ nói: - Quân Ngô thừa thắng kéo đến đây thì ta không thể địch nổi, chi bằng ta nhân lúc quân Ngô chưa đến mà rút về Dĩnh Đô, rồi sau sẽ liệu. Viễn Diên đi trước, Viễn Xạ đi sau. Công tử Phu Khái nghe tin Viễn Xạ rút về, liền đem quân đuổi theo. Theo đến đất Thanh Phát, quân Sở đang sắp thuyền để qua sông. Quân Ngô toan xông vào đánh. Công tử Phu Khái can rằng: - Dẫu giống thú mà mình làm quá lắm, nó còn cắn lại, huống chi là người. Nay ta xông vào đánh gấp thì tất họ phải liều chết để cự lại, chi bằng ta hãy tạm đóng quân một nơi, đợi khi quân Sở qua sông được nửa chừng, bấy giờ đổ ra mà đánh. Ta chắc rằng quân Sở kẻ nào đã qua sông rồi thì mong được thoát nạn, kẻ nào chưa qua sông thì tranh nhau mà sang, còn ai muốn đánh nữa. Công tử Phu Khái tức thì lui 20 dặm mà đóng quân lại. Khi bọn Tôn Vũ kéo đến, nghe lời nói của Công tử Phu Khái, ai cũng khen phải. Hạp Lư bảo Ngũ Viên rằng: - Ta có người em như thế thì lo gì mà không tiến vào Dĩnh Đô được. Ngũ Viên nói: - Tôi nghe Bị Ly đã có xem tướng Công tử Phu Khái, nói Phu Khái là người chân lông mọc ngược, tất có ngày phản nghịch. Dẫu tài giỏi thật, nhưng chớ nên giao quyền cho. Hạp Lư nghe nói, không cho là phải. Viễn Xạ nghe tin quân Ngô đuổi theo, đã toan bày trận để đối địch, sau lại nghe tin quân Ngô kéo lui, mới mừng mà nói rằng: - Ta vẫn biết người nước Ngô nhát không dám đuổi kỳ cùng! Viễn Xạ hạ lệnh cho quân sĩ sắp sửa để kéo qua sông. Trong mười phần quân Sở mới qua sông được ba phần thì Công tử Phu Khái đem quân đến. Quân Sở tranh nhau sang đò, thành ra đại loạn. Viễn Xạ không thể nào ngăn cấm được nữa, phải bỏ mà chạy trốn. Quân Ngô theo sau đuổi đánh, cướp được cờ trống, gươm giáo rất nhiều. Tôn Vũ sai quân Đường và quân Sái cướp lấy những thuyền bè dưới sông để phòng khi dùng đến. Viễn Xạ chạy đến đất Ung Lạp, quân sĩ đều đói, không thể đi được, mừng rằng chạy được xa rồi, mới cùng nhau nấu cơm ăn. Khi cơm vừa chín thì quân Ngô lại kéo đến. Quân Sở chưa kịp ăn, bỏ cả cơm mà chạy. Quân Ngô sẵn cơm, liền ăn cho no rồi lại đuổi theo. Quân Sở ngã xéo lên nhau, chết hại không biết bao nhiêu mà kể! Viễn Xạ đổ xe, bị Công tử Phu Khái đâm chết. Con Viễn Xạ là Viễn Diên cũng bị quân Ngô vây kín. Viễn Diên cố sức đánh mà không thể ra thoát được. Bỗng nghe ở phía đông bắc, lại có tiếng quân reo. Viễn Diên nói: - Quân Ngô lại kéo đến nữa thì tính mệnh ta không toàn! Nguyên đó là toán quân của quan Tư mã nước sở, tên gọi Thẩm Doãn Thú kéo sang Tân Tức, nhưng nghe tin Nang Ngõa thua trận, mới theo đường cũ lui về. Về đến đất Ung Lạp, vừa gặp quân Ngô đang vây Viễn Diên. Thẫm Doãn Thú mới chia quân làm ba toán mà tiến vào. Công tử Phu Khái không thể địch nổi, giải vây mà chạy. Thẩm Doãn Thú cố đánh một trận. Quân Ngô chết mất hơn 1.000 người. Thẩm Doãn Thú toan đuổi theo thì gặp đại binh của Hạp Lư đến. Hai bên cùng đóng quân lại để chống giữ nhau. Thẩm Doãn Thú bảo kẻ gia thần là Ngô Câu Ty rằng: - Quan Lệnh doãn vội đánh, làm cho kế của ta không thành, chẳng qua cũng là lòng trời. Nay thế giặc đã to quá, âu là sáng mai ta quyết chiến một trận, may mà thắng thì là phúc cho nước Sở, nhược bằng không thắng thì ta xin gửi nhà ngươi giữ hộ cái đầu của ta, chớ để cho quân Ngô bắt được. Thẩm Doãn Thú lại bảo Viễn Diên rằng: - Thân phụ nhà ngươi đã chết về tay giặc thì nhà ngươi không nên chết nữa, nên mau mau về đi mà nói với Tử Tây (tên tự của Công tử Thân) để nghĩ cách giữ lấy Dĩnh Đô mới được. Viễn Diên sụp lạy mà nói rằng: - Xin quan Tư mã cố sức mà tảo trừ giặc Ngô để lập nên công lớn. Nói xong nước mắt chảy xuống ròng ròng, từ biệt Thẩm Doãn Thú rồi đi. Ngày hôm sau, hai bên bày trận giao chiến. Thẩm Doãn Thú xưa nay xử với quân sĩ rất có ân nghĩa; quân sĩ cảm cái ơn ấy đều cố sức để đánh giặc. Công tử Phu Khái dẫu có tài vũ dũng, nhưng không thể địch nổi, đã sắp phải thua chạy. May gặp đại binh của Tôn Vũ, phía hữu có Ngũ Viên và Sái Chiêu công, phía tả có Bá Hi và Đường Thành công, cùng nhau xông vào đánh quân Sở. Quân Sở bỏ chạy tán loạn. Thẩm Doãn Thú bị mấy mũi tên, nằm gục ở trên xe, không thể đánh được nữa, liền gọi Ngô Câu Ty mà bảo rằng: - Ta nay đã thành ra người vô dụng rồi, nhà ngươi nên mau mau lấy đầu ta mà đem về tâu với Đại vương. Ngô Câu Ty không nỡ. Thẩm Doãn Thú cố sức gào lên một tiếng rồi nhắm mắt lại. Ngô Câu Ty bất đắc dĩ cầm thanh kiếm chém lấy đầu Thẩm Doãn Thú, rồi bọc lại mà mang về Dĩnh Đô. Quân Ngô thừa thế, cứ việc thẳng đường mà tiến. Viễn Diên về trước, vào Yết kiến Sở Chiêu Vương, kể những chuyện Nang Ngõa và thân phụ là Viễn Xạ bị giết, vừa kể vừa khóc. Sở Chiêu Vương kinh sợ, vội vàng triệu bọn Công tử Thân và Công tử Kết đến để thương nghị, toan đem quân ra tiếp ứng. Bỗng thấy Ngô Câu Ty đến, đệ trình cái đầu Thẩm Doãn Thú và thuật lại những chuyện thua trận là bởi quan Lệnh doãn không theo kế quan Tư mã, đến nỗi như thế! Sở Chiêu Vương khóc mà nói rằng: - Ta không biết dùng quan Tư mã ngay từ trước, ấy là cái lỗi của ta! Sở Chiêu Vương sỉ mắng Nang Ngõa là một kẻ gian thần, làm việc nước mà lại còn tham sống thì thịt Nang Ngõa dẫu giống khuyển thỉ cũng không thèm ăn. Ngô Câu Ty nói: - Quân Ngô mỗi ngày một tiến, Đại vương nên nghĩ cách để mà phòng giữ lấy Dĩnh Đô. Sở Chiêu Vương một mặt sai người triệu Thẩm Chư Lương (con Thẩm Doãn Thú) để đem đầu người cha về mà làm lễ an táng, lại phong cho Thẩm Chư Lương làm Diệp công, một mặt bàn bỏ Dĩnh Đô chạy về phía tây. Công tử Thân khóc mà can rằng: - Xã tắc lăng tẩm ở Dĩnh Đô cả, nếu Đại vương bỏ đi thì biết bao giờ lại về được! Sở Chiêu Vương nói: - Nước Sở ta chỉ hiểm về sông Hán Thủy, nay quân Ngô đã sắp kéo đến nơi, chẳng lẽ ta cứ bó tay mà ngồi chịu trói hay sao! Công tử Kết nói: - Những tráng đinh trong thành hãy còn mấy vạn. Đại vương nên đem thóc lụa trong kho ban thưởng cho mọi người, để biết cảm ơn mà cố sức chống giữ; lại sai sứ sang bảo các nước về phương Hán Đông đem quân vào đánh giúp. Quân Ngô tiến vào đất ta, lương thực khó vận, tài nào mà ở lâu được. Sở Chiêu Vương nói: - Quân Ngô lấy lương ở nước ta, lo gì sự thiếu ăn. Ta xem như Đốn, Hồ theo Tấn; Trần, Sái theo Ngô thì biết là các thuộc quốc đều có lòng bỏ ta, ta còn trông cậy nỗi gì. Công tử Thân lại nói: - Tôi xin đem quân ra, cố sức mà đánh giặc, nếu đánh không được, bấy giờ sẽ chạy, cũng chưa lấy gì làm chậm. Sở Chiêu Vương nói: - Nước ta còn hay mất, nay ở tay hai anh (chỉ Công tử Thân và Công tử Kết), nên làm thế nào thì làm, ta đây cũng không được biết. Sở Chiêu Vương gạt nước mắt trở vào trong cung. Công tử Kết thương nghị, sai quan Đại tướng là Đấu Sào đem 5000 quân ra giữ Mạch Thành để phòng đường bắc; quan Đại tướng là Tống Mộc đem 5000 quân ra giữ Kỷ Nam Thành để phòng đường tây bắc. Công tử Thân đem một vạn quân đóng ở Lỗ Phục Giang để phòng mặt đông. Chỉ còn phía tây Xuyên Giang, phía nam Tương Giang, đều là nơi hiểm trở, không phải là đường quân Ngô tiến vào, bất tất phải phòng bị. Công tử Kết đem bọn Công tôn Do Vu, Công tôn Ngữ, Chung Kiến, Thân Bao Tư đi tuần ở trong thành rất là nghiêm mật. Vua Ngô là Hạp Lư họp các tướng để hỏi kỳ tiến vào Dĩnh Đô. Ngũ Viên nói với Hạp Lư rằng: - Quân Sở dẫu thua luôn, nhưng Dĩnh Đô vẫn còn toàn thịnh. Vả lại ba thành liên tiếp với nhau, chưa dễ đánh nổi! Lỗ Phục Giang ở phía tây là một lối tắt vào Sở, tất Sở có quân phòng bị. Nay ta cứ theo mặt bắc tiến vào, chia quân làm ba đạo: Một đạo đánh Mạch Thành; một đạo đánh Kỷ Nam Thành; còn đại vương thì đem đại binh kéo thẳng vào Dĩnh Đô. Như vậy thì khác nào sấm vang không kịp bưng tai, kẻ kia giữ chỗ này mất chỗ nọ, ta có thể phá vỡ Dĩnh Đô được. Tôn Vũ khen phải, Hạp Lư liền sai Ngũ Viên và Công tử Sơn đem một vạn quân đi đánh Mạch Thành, quân Sái theo giúp đạo ấy; Tôn Vũ và Công tử Phu Khái đem một vạn quân đi đánh Kỷ Nam Thành, quân Đường theo giúp đạo ấy; còn mình thì cùng với bọn Bá Hi đem đại binh tiến vào đánh Dĩnh Đô. Ngũ Viên đi mấy ngày, đã gần đến Mạch Thành, nghe nói có quan Đại tướng nước sở là Đấu Sào đóng quân ở đấy, liền sai lập đồn trại, rồi thay hình đổi dạng, cùng với hai tên lính đi xem xét địa thế. Đi đến một làng, thấy người trong làng đang bắt con lừa xay lúa mạch. Người ấy cầm roi đánh con lừa, con lừa chạy thì cái cối xay quay chuyển đi rồi hột lúa mạch lấm tấm rơi xuống. Ngũ Viên thấy vậy, sực nghĩ ra mà rằng: - Ta tìm được kế để phá Mạch Thành rồi! Ngũ Viên liền trở về dinh, mật truyền cho quân sĩ, mỗi người phải tìm một cái túi vải, trong có chứa đất, lại phải làm một bó cỏ, hẹn đến đầu canh năm sáng hôm sau thì đem nộp, ai không có sẽ bị chém; lại truyền lệnh mỗi người đến đầu canh năm sáng hôm sau, phải có bao nhiêu đá vụn, nếu không cũng chém. Sáng hôm sau chia quân làm hai đạo: Sái Chiêu công đem một đạo quân đến phía đông Mạch Thành, còn Công tử Kiền (con Sái Chiêu công) đem một đạo quân đến phía tây Mạch Thành, hai đạo truyền cho quân sĩ đem đất đá và cỏ đắp một cái thành nhỏ. Ngũ Viên thân hành đứng đốc xuất quân sĩ, chỉ trong một lúc thì đắp xong. Một cái thành hẹp mà dài, giống hình con lừa, gọi là Lư Thành, còn một cái thành tròn, giống hình cối xay, gọi là Ma Thành. Sái Chiêu công không hiểu ra ý làm sao cả. Ngũ Viên cười mà nói rằng: - Phía đông có con lừa, phía tây có cối xay thì tất xay nhỏ được bột lúa mạch. Đấu Sào ở Mạch Thành nghe tin quân Ngô đắp hai thành ở phía đông và phía tây, vội vàng đem quân ra đánh. Khi đi đến nơi thì trông thấy hai thành đã ra cách vững bền lắm rồi. Đấu Sào đến thành phía đông. Trên thành cờ cắm san sát, tiếng mõ canh không lúc nào im. Đấu Sào giận lắm, toan xông vào đánh thì thấy cửa thành mở rộng, có một viên thiếu niên tướng quân đem quân ra nghênh chiến. Đấu Sào hỏi họ tên. Viên tướng ấy đáp rằng: - Ta đây là con vua Sái, tên gọi Công tử Kiền. Đấu Sào nói: - Đứa nhụ tử kia không phải là tay đối địch với ta. Chẳng hay Ngũ Viên ở đâu mà không thấy? Công tử Kiền nói: - Ngũ Viên đã đi đánh Mạch Thành của nhà ngươi rồi! Đấu Sào càng giận, cầm kích xông vào đánh Công tử Kiền. Hai bên đánh nhau được độ hơn 20 hợp, bỗng có quân thám tử đến báo với Đấu Sào rằng: - Quân Ngô đã đến đánh Mạch Thành, xin tướng quân mau mau mà rút quân về. Đấu Sào sợ mất nơi sào huyệt, vội vàng rút về. Quân sĩ thấy vậy sợ hãi, thành ra rối loạn. Công tử Kiền thừa thế đánh một trận, nhưng không dám đuổi theo. Đấu Sào về đến Mạch Thành, gặp Ngũ Viên đang dàn quân để vây thành. Đấu Sào chào Ngũ Viên mà bảo rằng: - Lâu nay Ngài vẫn được mạnh giỏi chứ? Sự oán về đời trước nhà Ngài do tại Phí Vô Cực, nay đứa xu nịnh ấy đã bị giết rồi, Ngài còn căm tức vì nỗi gì nữa! Cái ơn ba đời làm quan ở nước nhà, tôi tưởng Ngài chưa có thể quên được. Ngũ Viên đáp rằng: - Tiền nhân ta có công to với sở, vua Sở không nghĩ, lại giết oan cha anh ta và muốn giết ta nữa. May mà trời giúp, mới được thoát nạn. Cay đắng trong mười chín năm nay cho đến bây giờ. Nhà ngươi có xét tình thì nên mau mau tránh xa, chớ cùng ta xung đột, để bảo toàn lấy tính mệnh. Đấu Sào liền mắng rằng: -Đứa phản tặc kia, nếu ta tránh mày thì còn ra thế nào! Đấu Sào cầm kích xông vào đánh Ngũ Viên. Ngũ Viên cũng cầm kích ra nghênh chiến. Hai bên đánh nhau, mới được mấy hợp, Ngũ viên bảo Đấu Sào rằng: - Nhà ngươi đã mệt nhọc rồi, ta cho nhà ngươi vào thành, đến sáng mai sẽ đánh. Đấu Sào nói: - Ngày mai sẽ quyết chiến một trận! Hai bên cùng rút quân. Người trong Mạch Thành liền mở cửa để đón quân Đấu Sào vào. Đến nửa đêm, tự nhiên trên mặt thành nghe có tiếng reo: - Quân Ngô đã vào trong thành rồi! Nguyên trong quân Ngũ Viên có nhiều người trước là quân Sở sang đầu hàng, bởi vậy Ngũ Viên cố ý thả cho Đấu Sào vào thành, rồi sai những quân ấy đánh tráo với bọn quân Sở mà lẻn vào trong thành, đến nửa đêm hôm ấy giòng dây qua mặt thành cho quân Ngô leo vào. Khi quân Đấu Sào biết thì trên mặt thành đã có hơn 100 quân Ngô reo ầm cả lên; ở ngoài thành thì có quân Ngũ Viên tiếp ứng. Quân Đấu Sào thấy vậy bỏ chạy tán loạn. Đấu Sào ngăn cấm không được, cũng phải bỏ chạy. Ngũ Viên không đuổi theo nữa, chiếm lấy Mạch Thành rồi sai người báo với Hạp Lư. Tôn Vũ đem quân qua Hổ Nha Sơn quanh vào Đương Dương Bản, trông thấy sông Chương Giang ở phía bắc thế nước to lắm, kỷ Nam Thành thì thế đất hơi thấp, phía tây có Xích Hồ, nước hồ trông vào Kỷ Nam Thành và Dĩnh Đô. Tôn Vũ nghĩ ngay một kế truyền cho quân sĩ lên đóng cả ở gò cao, sắp sẵn thuổng cuốc, đến đêm hôm ấy thì đào một cái ngòi sâu, tháo nước sông Chương Giang cho chảy vào Xích Hồ, lại đắp một cái đê dài để chắn nước, làm cho mặt nước cao hơn mặt đất vài ba trượng. Bấy giờ vừa gặp mùa đông, gió tây nổi lên, liền tháo nước cho chảy vào Kỷ Nam Thành. Quan trấn thủ Kỷ Nam Thành tên gọi Tống Mộc, tưởng là nước lên, truyền cho dân chạy về Dĩnh Đô để tránh nước; chẳng ngờ thế nước một ngày một lớn, cả xứ Dĩnh Đô cũng trắng xóa như bể. Tôn Vũ sai người đẵn tre ở trên núi, ghép làm thuyền bè. Quân Ngô tiến thẳng đến tận kinh thành nước Sở, bấy giờ người Sở mới biết là quân Ngô tháo nước sông Chương Giang, ai cũng sợ hãi bỏ chạy tán loạn. Sở Chiêu Vương biết là Dĩnh Đô không thể giữ nổi, mới sai Trâm Doãn Cố sắp thuyền, rồi cùng với em gái là Qui Vu xuống thuyền để chạy. Công tử Kết đang đứng trên mặt thành thúc quân giữ nước, nghe nói Sở Chiêu Vương đã xuống thuyền chạy, bất đắc dĩ cũng phải chạy theo. Tôn Vũ phụng Hạp Lư tiến vào trong thành, rồi sai người đi phá cái đê ngang chắn nước, khiến cho nước lại rút về sông Chương Giang, lại chia quân đi giữ các mặt. Ngũ Viên ở Mạch Thành cũng đến yết kiến Hạp Lư. Hạp Lư ngồi ở trên điện sở Chiêu Vương, các quan triều thần đều vào lạy mừng. Đường Thành công và Sái Chiêu công cũng vào yết kiến. Hạp Lư mừng lắm, bầy tiệc mua vui. Đêm hôm ấy, Hạp Lư ngủ ở trong cung Sở Chiêu Vương. Các thị vệ bắt được Sở Chiêu Vương phu nhân, đem dâng Hạp Lư. Hạp Lư toan cho vào hầu đêm, nhưng còn ngần ngại. Ngũ Viên bảo Hạp Lư rằng: - Nước còn chiếm lấy, huống chi là vợ! Hạp Lư mới cho vào hầu. Có người tâu với Hạp Lư, nói mẹ Sở Chiêu vương là nàng Mạnh Doanh, tức là vợ Thế tử Kiến, khi trước Sở Bình Vương thấy đẹp mà chiếm lấy, nay cũng mới đứng tuổi, chưa lấy gì làm già. Hạp Lư động lòng, sai người đến triệu. Mạnh Doanh không chịu ra. Hạp Lư nổi giận sai người đi bắt. Mạnh Doanh đóng chặt cửa phòng lại, rồi lấy thanh kiếm đập vào cửa mà nói rằng: - Thiếp nghe nói: Ông vua là tiêu biểu cho một nước. Cứ theo lễ thì trai gái không ngồi cùng giường, không ăn cùng mâm, để giữ cho có phân biệt. Nay nhà vua trái lễ mà bày cái gương dâm loạn cho người trong nước. Vị vong nhân này đâm cổ mà chết, chứ không dám theo lời. Hạp Lư hổ thẹn, mới xin lỗi mà nói rằng: - Ta kính mến nàng, muốn được trông mặt chứ có dám bậy bạ gì đâu! Đã thế thì thôi. Hạp Lư lại nghiêm cấm quân sĩ không ai được vào. Ngũ Viên tìm mãi, không bắt được Sở Chiêu Vương, mới cho bọn Tôn Vũ và Bá Hi chiếm cứ lấy các nhà quan đại phu, bắt những thê thiếp vào hầu hạ, để làm cho rất sỉ nhục. Đường Thành công. Sái Chiêu công cùng Công tử Sơn vào sục tìm nhà Nang Ngõa thì áo cừu và bội ngọc vẫn để nguyên phong ở trong rương; đôi ngựa Túc Sương cũng vẫn ở trong chuồng ngựa. Đường Thành công và Sái Chiêu công lấy lại những đồ vật của mình, đem dâng Hạp Lư. Hạp Lư thấy nhà Nang Ngõa có nhiều châu báu vàng bạc, cho phép các thị vệ tha hồ vào lấy, thành ra rơi bừa bãi ra cả ngoài đường. Công tử Sơn toan cướp lấy vợ Nang Ngõa. Công tử Phu Khái đến, lại đuổi Công tử Sơn mà cướp lấy. Ngũ Viên nói với Hạp Lư, muốn phá hủy nhà tôn miếu của nước Sở. Tôn Vũ can rằng: - Việc binh nên phải lấy điều nghĩa làm chủ thì mới có danh tiếng. Sở Bình Vương bỏ Thế tử Kiến mà lập con Tần nữ, tin nghe những đứa tham nịnh, giết hại những người trung lương, dùng cách tàn bạo mà đối đãi với chư hầu. Bởi thế, quân Ngô ta mới đến đây được. Nay đã phá vỡ kinh thành nước Sở rồi, ta nên lập ngay con Thế tử Kiến là Công tử Thắng lên làm vua Sở. Người nước Sở vẫn thương nhớ Thế tử Kiến, tất nhiên bằng lòng, mà Công tử Thắng cám ơn nước Ngô ta, không bao giờ dám bỏ sự triều cống. Thế thì Đại vương dẫu xá cho Sở, cũng như là chiếm lấy Sở, danh và thực trọn cả đôi đường. Hạp Lư muốn diệt nước Sở, mới không nghe lời Tôn Vũ, liền phá hủy nhà tôn miếu của nước Sở. Đường Thành công và Sái Chiêu công cũng cáo từ về nước. Hạp Lư lại bày tiệc ở Chương Hoa Đài, cho các quan triều thần uống rượu. Nhạc công tấu nhạc. Các quan triều thần đều vui vẻ cả, chỉ có Ngũ Viên vẫn buồn rầu, chảy nước mắt mà khóc. Hạp Lư bảo Ngũ Viên rằng: - Nay nhà ngươi đã được thỏa cái lòng báo thù nước Sở, cớ sao lại buồn rầu? Ngũ Viên gạt nước mắt đáp rằng: - Sở Bình Vương đã chết rồi, vua Sở bây giờ cũng trốn mất, thế thì cái thù của cha anh tôi, muôn phần chưa báo được một phần! Hạp Lư nói: - Nhà ngươi muốn thế nào? Ngũ Viên nói: - Xin Đại Vương cho tôi đào mả Sở Bình Vương lên, phá áo quan ra mà chém lấy đầu thì tôi mới hả được cái lòng căm tức. Hạp Lư nói: - Nhà ngươi giúp ta được nhiều việc, ta tiếc gì mà không cho đào nắm xương khô ấy lên, để báo được cái thù cũ. Ngũ Viên hỏi biết mộ Sở Bình Vương chôn ở ngoài cửa Đông môn, liền đem quân bản bộ đến. Khi đến nơi, thấy bốn mặt đồng cỏ xanh ngắt, một vùng nước hồ trong veo, chẳng biết mộ chôn ở chỗ nào cả. Ngũ Viên mới vật mình than khóc mà nói rằng: - Trời ơi! Trời không khiến ta báo được cái thù cho cha và anh ta hay sao! Bỗng thấy có một ông cụ già đi đến trước mặt, vái chào mà hỏi rằng: -Tướng quân muốn tìm mộ Sở Bình Vương để làm gì? Ngũ Viên nói: - Sở Bình Vương lấy tranh vợ của con, dùng kẻ xu nịnh, hại người trung lương, lại giết cha anh và tộc đảng của ta, lúc sống ta không thể đâm chết y được thì lúc chết ta cũng muốn xả xác y ra để báo thù cho cha ta và anh ta ở dưới suối vàng. Ông cụ già ấy nói: - Sở Bình Vương cũng biết mình làm nhiều người oán sợ có kẻ đào mả, vậy nên chôn ở giữa hồ. Tướng quân muốn tìm áo quan thì phải tát cạn cái hồ này mới lấy được. Ông cụ già nói xong, lại chỉ cho biết chỗ. Ngũ Viên sai người lặn xuống mò, rờ thấy có một cái quách bằng đá, liền sai quân sĩ mỗi người mang một túi đất xếp ở xung quanh mộ, rồi tát nước ra để đào lên xem. Khi mở cái quách đá ấy ra, trong có một cái áo quan rất nặng, mở áo quan ra xem, chỉ thấy mũ áo và mấy trăm cân sắt mà thôi. Ông cụ già nói: - Đấy là cái áo quan giả, còn cái áo quan thật ở bên dưới. Ngũ Viên liền sai đào một tầng nữa, quả nhiên có áo quan thật. Đem lôi xác ra, đích thị là xác Sở Bình Vương, da thịt vẫn còn nguyên cả. Ngũ Viên trông thấy, hầm hầm nổi giận, tay cầm cái roi đồng đánh luôn 300 roi. Xương rơi thịt nát. Ngũ Viên lại lấy chân giẫm trên bụng, rồi thò tay khoét mắt, kể tội rằng: - Lúc mày sống, có mắt cũng như không! Có mắt mà không biết ai là trung, là nịnh, lại giết oan cha ta và anh ta! Nói xong, cắt lấy đầu Sở Bình Vương, còn áo quan và xương, sai đem quẳng ở giữa đồng. Ngũ Viên đã đã đánh vào xác sở Bình Vương rồi, rồi lại hỏi ông cụ già rằng: - Tại sao cụ lại biết rõ chỗ chôn Sở Bình Vương và sự thể quan quách như thế? Ông cụ già nói: - Tôi có phải là ai đâu, chính là người thợ đá làm bấy giờ! Bấy giờ Sở Bình Vương sai bọn thợ đá chúng tôi hơn 50 người, làm một ngôi mộ giả. Khi làm xong, sợ bọn chúng tôi tiết lộ ra, đem giết hết sạch cả, chỉ có một mình lão trốn được. Nay cảm cái lòng hiếu nghĩa của tướng quân, vậy phải đến đây để mách bảo. Vả lại cũng báo thù cho hơn 50 cái hồn oan của bọn thợ chúng tôi khi xưa. Ngũ Viên sai đem vàng bạc thưởng cho ông cụ già. Lại nói chuyện Sở Chiêu Vương đi thuyền qua sông Thư Thủy, trốn vào Vân Trung, có một bọn giặc độ mấy trăm người, đang đêm xuống cướp thuyền, cầm giáo đánh Sở Chiêu Vương. Bấy giờ Công tôn Do Vu đứng ở bên cạnh, lấy lưng che chở cho sở Chiêu Vương, và quát to lên rằng: - Đây là vua Sở đó, các người làm gì thế! Công tôn Do Vu nói chưa dứt lời thì ngọn giáo trúng vào vai, máu chảy đầm đìa đến tận gót chân, rồi ngã gục xuống đấy. Bọn giặc nói: -Chúng ta chỉ biết tiền của, chứ không biết vua là ai cả. Đến như quan lệnh doãn đại thần, cũng còn ham ăn tiền, huống chi là chúng ta! Bọn giặc nói xong, bao nhiêu vàng bạc ở trong thuyền, lấy hết sạch cả. Châu Doãn Cố vội vàng ôm Sở Chiêu Vương chạy lên trên bờ. Sở Chiêu Vương kêu to lên rằng: - Có ai cứu em gái ta đó không? Quan Hạ đại phu là Chung Kiến ghé lưng cõng nàng Qui Vu đi theo Sở Chiêu Vương. Khi ngoảnh đầu trông lại thấy bọn giặc đã phóng hỏa đốt thuyền. Sở Chiêu Vương chạy được mấy dặm thì trời đã sáng rõ. Công tử Kết, Tống Mộc, Đấu Tân và Đấu Sào đều lục tục theo đến nơi. Đấu Tân nói với Sở Chiêu Vương rằng: - Nhà tôi ở Viên Ấp chỉ cách đây độ 40 dặm, xin Đại vương hãy tạm đến đó, rồi sau sẽ liệu. Được một lúc, Công tôn Do Vu cũng theo đến. Sở Chiêu Vương ngạc nhiên mà hỏi rằng: - Nhà ngươi bị thương nặng, làm thế nào mà khỏi được? Do Vu nói: - Tôi đau quá không dậy được, khi lửa cháy đến mình tôi, bỗng thấy có một người vực tôi lên bờ. Trong khi mơ màng, tôi nghe tiếng nói rằng: "Ta là quan Lệnh doãn nước Sở cũ, tên gọi Tôn Thúc Ngao. Nhà ngươi nói cho Đại vương biết: Quân Ngô chẳng bao lâu nữa sẽ phải rút về. Xã tắc nước ta vẫn còn vững bền mãi mãi." Nói xong, lại lấy thuốc dịt vào vai cho tôi. Khi tôi tỉnh dậy, hết cả đau đớn, vậy mới theo kịp đến đây. Sở Chiêu Vương nói: - Tôn Thúc Ngao trước, nguyên là người ở Vân Trung. Cái anh linh ấy đến nay vẫn còn chưa mất! Mọi người đều ngợi khen lấy, làm lạ lùng. Đấu Sào đem lương khô ra để cùng ăn với nhau. Châm Doãn Cố cầm bầu đi lấy nước để dâng Sở Chiêu Vương. Sở Chiêu Vương sai Đấu Tân đi tìm thuyền ở bến Thành Cữu. Đấu Tân trông thấy ở phía đông có một chiếc thuyền đi đến. Trong thuyền có cả đàn bà con trẻ. Nhìn kỹ thì ra thuyền của quan Đại phu là Lam Doãn Điệp, Đấu Tân gọi mà bảo rằng; - Đại vương ở đây, nhà ngươi nên đem thuyền lại để chở. Lam Doãn Điệp nói: - Ông vua đã mất nước rồi, ta còn chở làm gì! Lam Doãn Điệp nói xong, không hề ngoảnh cổ lại. Đấu Tân chờ đợi ít lâu nữa, lại thấy một chiếc thuyền đánh cá. Đấu Tân cởi áo ra, ném cho người lái thuyền. Người lái thuyền mới ghé thuyền vào bờ. Sở Chiêu Vương và nàng Qui Vu xuống thuyền đi sang Viên Ấp. Người em thứ hai của Đấu Tân là Đấu Hoài nghe nói Sở Chiêu Vương đến, vội vàng ra đón. Đấu Tân sai Đấu Hoài đi làm cơm. Khi Đấu Hoài dâng cơm, thường hay trông trộm Sở Chiêu Vương. Đấu Tân có ý nghi, mới cùng người em út là Đấu Sào vào hầu liền ở bên cạnh Sở Chiêu Vương. Đến nửa đêm, nghe có tiếng liếc dao. Đấu Tân mở cửa ra xem thì trông thấy Đấu Hoài tay cầm một con dao nhọn, nét mặt hầm hầm. Đấu Tân hỏi: - Em liếc dao để làm gì thế? Đấu Hoài nói: - Em định giết vua. Đấu Tân nói: - Vì cớ gì em đem lòng phản nghịch? Đấu Hoài nói: - Thân phụ ta (tức là Đấu Thành Nhiên) giữ một đạo trung, mà vua Bình Vương nghe lời Phí Vô Cực, lại đem giết đi. Vua Bình Vương đã giết thân phụ ta thì ta giết con vua Bình Vương để báo thù lại, chẳng cũng nên chăng? Đấu Tân nổi giận mà mắng rằng: - Vua cũng như là trời. Trời giáng họa cho ai thì người ấy phải chịu, chứ ai lại dám oán trời! Đấu Hoài nói: - Khi còn ở nước thì là vua, nay mất nước rồi thì là kẻ thù. Thấy kẻ thù mà không giết, sao gọi là người được. Đấu Tân nói: - Cổ ngữ có câu rằng: "Không nên oán đến đời con". Vả Đại vương đã biết hối cái lỗi của đời trước mà dùng anh em ta, nay lại nhân lúc Đại vương nguy cấp mà mình giết thì sao cho phải đạo. Nếu mày có lòng ấy, ta phải chém mày trước! Đấu Hoài cắp dao đi ra, vẫn còn chưa nguôi cơn giận. Sở Chiêu Vương thấy ngoài cửa có tiếng quát mắng, liền dậy mặc áo rồi đứng nghe trộm, nghe hết cả đầu đuôi, mới không dám ở Viên Ấp nữa. Đấu Tân, Đấu Sào cùng Công tử Kết thương nghị, rồi đem Sở Chiêu Vương chạy sang nước Tùy. Lại nói chuyện Công tử Thân đóng quân ở Lỗ Phục Giang, nghe tin Dĩnh Đô đã mất rồi, Sở chiêu Vương phải chạy trốn, sợ người trong nước tan tác, không có ai làm chủ, mới mặc đồ vương phục, đi xe vương dư, tự xưng là vua Sở, đóng ở đất Bế Tiết để cho yên lòng dân. Những dân chạy loạn đều theo về đấy. Sau Công tử Thân nghe tin Sở Chiêu vương ở nước Tùy, liền hiểu dụ cho dân biết, rồi tìm sang nước Tùy để theo Sở Chiêu Vương. Ngũ Viên vẫn căm tức về việc không bắt được Sở Chiêu Vương, mới nói với Hạp Lư rằng: - Chưa bắt được vua Sở thì chưa diệt được nước Sở, tôi xin đem một toán quân đi về phía tây để dò tìm mà bắt về. Hạp Lư thuận cho, Ngũ Viên đem quân đi dò tìm, nghe tin Sở Chiêu Vương ở nước Tùy, vội vàng thẳng đường tiến sang nước Tùy, đưa thư cho vua Tùy, bắt phải nộp Sở Chiêu Vương.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 77 Giọt lệ Bao Tư tràn sân Tần Chiếc thuyền Chiêu Vương về nước Sở

Ngũ Viên đóng quân ở phía nam nước Tùy, rồi sai sứ đưa thư cho vua Tùy. Trong thư đại lược như sau này: "Các nước ở xứ Hán Đông, thuộc về dòng dõi Thiên tử nhà Chu, nay bị nước Sở cắn nuốt gần hết, may mà trời giúp nước Ngô ta, cho đến hỏi tội vua Sở. Nếu nhà vua bắt vua Sở đem nộp thì những ruộng ở Hán Dương, sẽ để cho nhà vua tất cả. Đại vương tôi xin cùng nhà vua kết làm anh em, cùng thờ Thiên tử nhà Chu". Vua nước Tùy xem xong, liền họp các quan triều thần lại để thương nghị. Công tử Kết nước Sở, nét mặt cũng giống Sở Chiêu Vương, mới nói với vua Tùy rằng: - Nay việc đã nguy cấp đến nơi, tôi xin giả làm vua Sở, để đem nộp nước Ngô, may ra có thể thoát được. Vua Tùy sai quan thái sử bói xem tốt xấu thế nào. Trong quẻ bói có câu rằng: "Trị có ngày loạn, nguy có ngày yên, cũ chớ nên bỏ, mới chớ nên cầu. Tây lân là hổ, Đông lân là thịt". Vua Tùy nói: - Cũ là Sở mà mới là Ngô, thế này là quỉ thần bảo ta cứ theo Sở. Vua Tùy sai sứ ra trả lời Ngũ Viên rằng: - Nước tôi từ xưa đến nay vẫn phụ thuộc với Sở. Vua Sở qua đây, không thể nào mà từ chối được. Nay vua Sở đã đi sang nước khác rồi, xin Tướng quân xét cho. Ngũ Viên thấy Nang Ngõa ở Trịnh, nghi Sở Chiêu Vương cũng chạy sang Trịnh. Vả lại người nước Trịnh khi trước giết Thế tử Kiến, việc ấy cũng chưa báo thù, mới đem quân sang đánh Trịnh. Bấy giờ người bề tôi hiền nước Trịnh là Du Cát mới mất. Trịnh Định công sợ lắm, đổ lỗi cho Nang Ngõa. Nang Ngõa tự tử mà chết. Trịnh Định công đem xác Nang Ngõa ra nộp quân Ngô và nói với quân Ngô rằng: -Thực là vua Sở chưa thấy đến nước Trịnh! Quân Ngô vẫn không chịu lui, nhất định diệt nước Trịnh mà báo thù cho Thế tử Kiến. Các quan đại phu nước Trịnh xin liều đánh một trận để quyết thắng phụ. Trịnh Định công nói: - Quân mã ta phỏng có bằng nước Sở hay không? Nước Sở còn bị nước Ngô phá vỡ, huống chi là ta! Trịnh Định công liền hạ lệnh rằng: - Có ai lui được quân Ngô thì ta quyết xin chia quyền chính nước Trịnh cho. Lệnh ấy tuyên yết đã được ba ngày. Bấy giờ người con Ngư trượng nhân (ông lão đánh cá) cũng chạy loạn trốn ở trong thành nước Trịnh, nghe nói nước Ngô dùng Ngũ Viên làm chủ tướng, mới vào nói với Trịnh Định công, xin lập kế lui được quân Ngô. Trịnh Định công hỏi: - Nhà ngươi phải dùng bao nhiêu quân mã thì khiến cho Ngô lui được? Người ấy nói: - Tôi không phải dùng một lưỡi gươm nào, chỉ xin Chúa công cho tôi một chiếc mái chèo nhỏ để tôi vừa đi vừa hát, tự khắc quân Ngô phải lui. Trịnh Định công không tin, nhưng việc đã gấp lắm, chẳng biết làm thế nào, cũng phải đưa cho một cái mái chèo mà bảo rằng: - Nếu lui được quân Ngô thì sẽ cho trọng thưởng. Người con Ngư trượng nhân trèo qua thành ra, đi thẳng vào dinh quân Ngô, gõ mái chèo mà hát. Bài hát như sau này: "Lô trung nhân! Lô trung nhân! (người trong lau) Lưng đeo bảo kiếm thất tinh văn. Chẳng nhớ năm xưa chàng qua sông. Cơm nếp canh cá ai cho ăn?" Quân Ngô bắt được, giải vào nộp Ngũ Viên. Khi giải vào đến nơi, người ấy vẫn hát như trước. Ngũ Viên ngạc nhiên, đứng dậy mà hỏi rằng: - Nhà ngươi là ai? Người ấy cắp mái chèo mà đáp rằng: - Tướng quân không trông thấy tay tôi cầm cái gì hay sao! Tôi tức là con Ngư trượng nhân ở Ngạc Chử đó! Ngũ Viên động lòng thương xót mà nói rằng: - Thân phụ nhà ngươi vì ta mà chết, ta vẫn muốn báo ơn, nhưng không biết làm thế nào. Ngày nay may được gặp đây. Nhà ngươi trông thấy ta mà hát như thế là ý muốn điều gì? Người ấy nói: - Tôi chẳng muốn điều gì cả! Nguyên vua Trịnh tôi đã sợ binh uy của Tướng quân, có hạ lệnh cho người trong nước rằng: "Ai lui được quân Ngô thì ta xin chia quyền chính nước Trịnh cho". Tôi thiết nghĩ thân phụ tôi cũng có được biết Tướng quân, muốn xin Tướng quân xá cho nước Trịnh. Ngũ Viên thở dài mà than rằng: - Trời ơi! Ta được đến thế này, đều là nhờ ơn Ngư trượng nhân đó, khi nào ta dám quên! Ngũ Viên tức thì truyền giải vây, rồi rút quân về, người con Ngư trượng nhân về nói với Trịnh Định công. Trịnh Định công mừng lắm, phong cho một trăm dặm đất. Người trong nước gọi là Ngư đại phu. Ngũ Viên đã giải vây cho nước Trịnh, rút quân về đóng giữ ở nước Sở, rồi sai người đi chiêu dụ các nước phụ thuộc của Sở và dò tìm tin tức Sở Chiêu Vương. Lại nói chuyện Thân Bao Tư từ khi quân Ngô phá vỡ được kinh thành nước Sở, liền trốn vào ở trong hang đá đất Di Lăng, nghe tin Ngũ Viên đào mả và đánh vào thây Sở Bình Vương, lại đang dò bắt Sở Chiêu Vương, mới viết một bức thư sai người đưa cho Ngũ Viên. Trong thư đại lược nói rằng: "Nhà ngươi khi trước đã làm bề tôi Sở Bình Vương, nay lại đem thi thể Sở Bình Vương ra mà làm tàn nhục như vậy, dẫu gọi là báo thù nhưng cũng khí quá lắm! Làm quá thì không thể chịu được, nhà ngươi nên mau mau mà rút quân về, ta đây phải noi theo cái ước phục Sở". Ngũ Viên tiếp được bức thư, ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi bảo người mang thư rằng: - Ta nay bận nhiều việc, không thể viết thư trả lời được. Nhà ngươi vì ta mà nói lại với Thân Bao Tư rằng: Trung và hiếu không thể nào toàn vẹn được cả đôi. Ta nay già lẫn, vậy nên trái tính! Người mang thư về nói với Thân Bao Tư. Thân Bao Tư nói: - Ngũ Viên quyết chí định diệt nước Sở, chẳng lẽ ta cứ ngồi yên hay sao! Sở Bình Vương phu nhân ngày xưa là con gái Tần Ai công, thế thì Đại Vương ta ngày nay tức là cháu ngoại nước Tần. Vậy ta muốn khôi phục nước Sở, tất nhiên phải cầu viện với Tần mới được. Thân Bao Tư liền thẳng đường trốn sang nước Tần. Đi vội suốt ngày đêm, bàn chân xây xát, máu chảy đầm đìa, phải xé áo mà buộc. Khi đến Ung Châu, vào tâu với Tần Ai công rằng: - Nước Ngô tham như lợn, độc như rắn, lâu nay vẫn muốn cắn nuốt chư hầu, bây giờ bắt đầu từ nước Sở trước. Đại Vương tôi bị thua, phải chạy trốn ở nơi thảo dã, có sai tôi sang đây để cáo cấp với quí quốc, xin quí quốc nghĩ tình thân thuộc mà đem quân giải cứu cho. Tần Ai công nói: - Nước Tần ta hẻo lánh ở về phía tây thùy này, quân hiếm tướng ít, giữ mình không nổi, huống chi lại giúp được ai! Thân Bao Tư nói: - Sở và Tần tiếp giáp với nhau. Nay Sở bị Ngô đánh mà Tần không cứu, Ngô đã diệt Sở thì tất có ngày đánh Tần. Nhà vua giúp Sở, tức là giữ Tần đó; chẳng thà Sở về tay Tần, còn hơn để cho về tay Ngô. Nếu nhà vua cứu cho nước Sở khỏi mất thì nước Sở tôi xin đời đời thần phục nước Tần. Tần Ai công ngần ngại chưa quyết mà nói rằng: - Quan Đại phu hãy về nghỉ ở nhà công quán, để ta sẽ thương nghị với các quan triều thần. Thân Bao Tư nói: - Đại vương tôi còn đang chạy trốn trong nơi thảo dã, chưa được yên sở, khi nào tôi dám ra nghỉ ở nhà công quán. Bấy giờ Tần Ai công chỉ ham mê tửu sắc, chẳng thiết gì đến chính sự. Thân Bao Tư xin mãi mà Tần Ai công nhất định không chịu phát binh. Thân Bao Tư cứ đội mũ mặc áo đứng yên ở trong sân vua Tần, ngày đêm kêu khóc, không lúc nào im tiếng. Cứ như thế trong bảy ngày bảy đêm mà không ăn uống một tí gì cả. Tần Ai công thấy vậy, kinh ngạc mà rằng: - Bề tôi nước Sở biết nghĩ đến vua một cách khẩn thiết như thế ư! Nước Sở có bề tôi hiền như thế mà còn bị nước Ngô đánh, huống chi là ta không có người bề tôi hiền nào, khi nào nước Ngô lại để cho yên! Tần Ai công nói xong, ứa nước mắt khóc, lại đọc bài thơ Vô Y để tỏ ý sẽ phát binh sang giúp Sở. Thân Bao Tư lạy tạ, từ bấy giờ mới chịu ăn uống. Tần Ai công sai Đại tướng là Tử Bồ và Tử Hổ đem quân theo Thân Bao Tư sang cứu Sở. Thân Bao Tư nói: - Đại vương tôi ở nước Tùy, mong được quân cứu, khác nào như nắng to mà mong mưa, tôi xin về trước để báo với Đại vương tôi. Quan Nguyên soái đem quân qua đất Thương, đất Cốc mà sang phía đông, chỉ trong năm ngày có thể đi tới Tương Dương được, bấy giờ quay về phía nam mà sang Kinh Môn; còn tôi đây xin đem quân Sở qua Thạch Lương Sơn, cũng đi về phía nam, thế thì chỉ trong ba ngày có thể gặp nhau được. Quân Ngô đang cậy thắng, tất không phòng bị. Vả quân sĩ ở nước ngoài, lâu ngày muốn về, nếu ta phá vỡ một toán thì tự khắc phải tan cả. Tử Bồ nói: - Ta chưa thuộc đường lối ra sao, tất phải có quân Sở hướng dẫn mới được, quan Đại phu chớ sai hẹn. Thân Bao Tư về đến nước Tùy, vào yết kiến sở Chiêu Vương, thuật lại chuyện sang mượn quân Tần, hiện nay nước Tần đã phát binh sang cứu. Sở Chiêu Vương mừng lắm, bảo vua Tùy rằng: - Khi trước trong quẻ bói có câu: "Tây lân là hổ, Đông lân là thịt". Nước Tần ở phía Tây nước Sở mà nước Ngô ở về phía đông thì câu ấy thật ứng nghiệm! Bấy giờ bọn Viễn Diên, Tống Mộc cũng thu thập dư binh đến theo Sở Chiêu Vương. Công tử Thân và Công tử Kết thu thập quân sĩ nước Tùy để cùng tiến phát. Quân Tần đóng đồn ở Tương Dương để đợi quân Sở. Thân Bao Tư đưa bọn Công tử Thân và Công tử Kết vào yết kiến quân Tần, rồi quân Sở đi trước, quân Tần kéo sau. Đi đến sông Nghi Thủy thì gặp toán quân của Công tử Phu Khái (tướng nước Ngô). Tử Bồ bảo Thân Bao Tư rằng: - Quan Đại phu hãy đem quân Sở giao chiến với Ngô trước, rồi tôi sẽ tiếp sau. Thân Bao Tư ra trận, giao chiến với Công tử Phu Khái. Công tử Phu Khái cậy có sức mạnh, khinh bỉ Thân Bao Tư. Hai bên giao chiến ước hơn mười hợp, chưa chia thắng phụ. Tử Bồ và Tử Hổ đem quân đến tiếp ứng. Công tử Phu Khái trông thấy hiệu cờ có chữ Tần, kinh sợ mà nói rằng: - Cớ sao lại có quân Tần đến đây như vậy! Công tử Phu Khái vội vàng thu quân thì đã tan mất đến quá nửa. Bọn Công tử Thân và Công tử Kết thừa thế đuổi theo đến năm mươi dặm mới thôi. Công tử Phu Khái chạy về Dĩnh Đô, vào yết kiến Hạp Lư (vua Ngô). Thuật chuyện quân Tần mạnh lắm, không thể đương nổi. Hạp Lư có ý sợ. Tôn Vũ nói với Hạp Lư rằng: - Việc binh là việc nguy hiểm, nên dùng tạm chứ không nên dùng lâu. Vả đất nước Sở còn rộng, lòng dân chưa chịu phục Ngô, khi trước tôi xin Đại vương lập Công tử Thắng làm vua Sở, chính là vì điều ấy. Chi bằng bây giờ sai sứ sang nói với Tần, hẹn cho vua Sở về nước rồi cắt cõi tây nước Sở để thêm đất cho nước Ngô ta thì nước Ngô ta cũng không phải là không lợi. Nếu Đại vương cứ quyến luyến ở Sở để chống cự cùng với Sở, quân Sở tức giận mà cố gắng, quân Ngô kiêu ngạo mà trễ nải, lại thêm có quân Tần như giống hổ lang thì tôi chưa chắc đã vạn toàn được. Ngũ Viên biết chừng không thể bắt được Sở Chiêu Vương, cũng cho lời nói của Tôn Vũ là phải. Hạp Lư toan theo. Bá Hi nói với Hạp Lư rằng: - Quân ta từ khi khai chiến đến giờ, đi đến đâu phá vỡ đến đấy, chỉ đánh năm trận mà lấy được Dĩnh Đô, nay mới gặp quân Tần đã toan rút về, trước hăng hái thế nào mà sao ngày nay lại nhút nhát như vậy! Xin Đại vương cấp cho tôi một vạn quân, tôi quyết đánh cho quân Tần chẳng còn một mống nào trở về, nếu không đánh được, xin chịu tội chết. Hạp Lư khen mà cho đi. Tôn Vũ và Ngũ Viên cố can Bá Hi không nên đánh. Bá Hi không nghe, đem quân ra giao chiến với quân Sở, trông thấy tướng nước Sở là Công Tử Thân, liền quát to lên mà mắng rằng: - Mày thật là vạn phần chết rồi, khác nào như đống tro nguội, nay còn mong nóng lại hay sao! Công tử Thân cũng mắng rằng: - Mày là một đứa phản nghịch, bấy giờ còn mặt mũi nào trông thấy ta! Bá Hi giận lắm, cầm kích xông vào đánh Công tử Thân. Công tử Thân cũng cầm giáo nghênh chiến. Hai bên đánh nhau mới được mấy hợp thì Công tử Thân giả cách thua chạy. Bá Hi đuổi theo. Theo độ hai dặm thì phía tả có quân Thẩm Chư Lương, phía hữu có quân Viễn Diên, đổ ra mà đánh. Tướng nước Tần là Tử Bồ và Tử Hổ cũng đem quân xông thẳng vào giữa trận quân Ngô. Bá Hi cố sức xung đột mà không thể nào địch nổi, may nhờ có toán quân của Ngũ Viên kéo đến, mới cứu thoát được, Bá Hi vào yết kiến Hạp Lư, sụp lạy xin chịu tội. Tôn Vũ bảo riêng với Ngũ Viên rằng: - Bá Hi là người hay cậy công mà tự đắc, sau này tất làm tai vạ cho nước Ngô, chi bằng nhân việc thua trận này mà mượn quân pháp để chém đi cho rồi. Ngũ Viên nói: - Kẻ kia dẫu thua trận, nhưng về trước đã có công to. Vả ta đang đánh nhau với quân giặc, không nên chém một viên đại tướng. Ngũ Viên liền tâu với Hạp Lư xin tha tội cho Bá Hi. Quân Tần kéo đến tận Dĩnh Đô. Hạp Lư giao cho Công tử Phu Khái và Công tử Sơn giữ Dĩnh Đô, còn mình thì đem quân ra đóng ở Kỷ Nam Thành, sai Ngũ Viên, Bá Hi chia quân ra đóng ở Ma Thành và Lư Thành, để cùng nương tựa nhau mà chống cự với quân Tần, lại sai sứ đi mượn quân nước Đường và nước Sái. Tướng nước Sở là Tử Tây bảo Tử Bồ rằng: - Quân Ngô đã lấy Dĩnh Đô làm sào huyệt, nếu lại được Đường và Sái giúp vào thì khó lòng mà địch nổi; chi bằng ta thừa thế đem quân sang đánh Đường. Nước Đường đã phá thì nước Sái sợ mà không dám giúp, bấy giờ ta mới có thể phá được quân Ngô. Tử Bồ khen phải, liền cùng với Tử Kỳ đem quân sang diệt nước Đường, giết Đường Thành công. Sái Ai công sợ, không dám đem quân giúp Ngô nữa. Công tử Phu Khái vẫn cậy mình có công phá Sở, chỉ vì một trận bị thua ở Nghi Thủy, Hạp Lư mới sai cùng với Công tử Sơn đóng quân ở Dĩnh Đô, bởi vậy Công tử Phu Khái có ý không bằng lòng mà nghĩ thầm rằng: - Cứ theo thể lệ nước Ngô, anh phải truyền ngôi cho em thì sau này ta được nối ngôi; nay Đại vương lập Công tử Ba làm thế tử thì ta quyết không khi nào được lập nữa, chi bằng ta nhân lúc này đem quân về nước, cướp ngôi xưng vương, chẳng hơn là mai hậu lại phải tranh nhau hay sao! Công tử Phu Khái đem quân bản bộ lẻn ra cửa đông môn, qua Hán Thủy mà về nước Ngô, nói dối người nước Ngô rằng: Hạp Lư bị quân Tần đánh không biết chạy đi đâu mất, cứ theo thứ tự thì ta được lên nối ngôi. Công tử Phu Khái tự xưng là vua nước Ngô, sai người con là Phù Tang đem quân đóng ở Hoài Thủy, để chắn đường không cho Hạp Lư về. Thế tử Ba nước Ngô cùng với Chuyên Nghị thấy vậy, đem quân lên mặt thành chống giữ, không cho Công tử Phu Khái vào. Công tử Phu Khái sai sứ sang mượn quân nước Việt, hẹn khi thành sự, sẽ biếu năm thành để tạ ơn. Hạp Lư nghe tin quân Tần sang diệt nước Đường, giật mình kinh sợ toan họp các tướng lại để thương nghị. Bỗng thấy Công tử Sơn đến, báo việc Công tử Phu Khái không biết vì cớ gì mà đem quân lẻn về nước Ngô. Ngũ Viên nói: - Nếu vậy thì Công tử Phu Khái tất có lòng làm phản! Hạp Lư nói: - Bây giờ biết làm thế nào? Ngũ Viên nói: - Công tử Phu Khái là một kẻ vũ phu, chẳng làm gì nổi! Ta chỉ lo người nước Việt nhân chuyện này mà gây sự với ta. Đại vương nên rút quân về ngay, để dẹp loạn trong nước trước. Hạp Lư giao cho Tôn Vũ và Ngũ Viên đóng quân giữ Dĩnh Đô còn mình thì cùng với Bá Hi theo đường thủy về nước. Khi về đến sông Hán Thủy, được tin của Thế tử Ba cáo cấp, nói Công tử Phu Khái làm phản, lại đi mượn quân nước Việt về, thật là một sự rất nguy biến! Hạp Lư kinh sợ mà rằng: - Ngũ Viên đoán đã trúng lắm! Hạp Lư liền sai sứ sang Dĩnh Đô để rút quân Tôn Vũ và Ngũ Viên về; một mặt thì kéo thẳng về nước và truyền dụ cho các tướng sĩ biết rằng: - Ai bỏ Công tử Phu Khái mà về hàng ngay thì được nguyên chức, nếu chậm không hàng, sẽ bị giết chết. Toán quân của Phù Tang (con Công tử Phu Khái) ở sông Hoài Thủy nghe lệnh đều bỏ về với Hạp Lư cả. Phù Tang chạy sang Cốc Dương, Công tử Phu Khái toan bắt dân ra làm lính, nhưng người nước Ngô nghe tin Hạp Lư hãy còn, đều rủ nhau chạy trốn. Công tử Phu Khái đem quân bản bộ đón đánh Hạp Lư. Hạp Lư hỏi rằng: - Ta tin cậy nhà ngươi như tay chân, cớ sao nhà ngươi lại làm phản? Công tử Phu Khái nói: - Nhà ngươi giết Vương Liêu, cũng là làm phản chứ gì! Hạp Lư nổi giận, truyền cho Bá Hi ra đánh. Đánh được mấy hồi, Hạp Lư thúc cả đại binh vào. Công tử Phu Khái dẫu có sức khỏe, nhưng quân Hạp Lư nhiều quá, không thể địch nổi, thành ra thua to. Phù Tang đã sắp thuyền sẵn ở sông Giang để chờ Công tử Phu Khái, rồi đem nhau trốn sang nước Tống. Hạp Lư về đến nước Ngô, thế tử Ba đón vào trong thành, cùng bàn mưu để chống cự với nước Việt. Tôn Vũ tiếp được thư của Hạp Lư truyền rút quân về, đang cùng với Ngũ Viên thương nghị, bỗng nghe báo có một người trong đám quân Sở đưa bức thư đến cho Ngũ Viên. Ngũ Viên mở ra xem thì tức là bức thư của Thân Bao Tư gởi đến, trong thư đại lược như sau này: "Vua tôi nhà ngươi chiếm cứ Dĩnh Đô trong bấy nhiêu ngày mà không dẹp yên được nước Sở, đủ biết là ý trời không muốn làm cho nước Sở phải diệt. Nhà ngươi đã theo lời nói diệt Sở thì ta đây cũng quyết giữ được cái chí phục nước Sở, nhưng tình bạn hữu với nhau giúp nhau thì có, chứ hại nhau thì không nên; nếu nhà ngươi liệu bớt cái uy quân Ngô thì ta đây cũng không dùng hết cái sức quân Tần đó". Ngũ Viên đưa thư cho Tôn Vũ xem và bảo rằng: - Nước Ngô ta đem mấy vạn quân kéo thẳng vào kinh thành nước Sở, đốt nhà Tôn miếu, phá nền xã tắc, đánh vào xác người chết, chiếm lấy nhà người sống. Kể trong việc kẻ tôi mà báo thù vua, từ xưa đến nay, chưa bao giờ được thỏa như thế! Vả quân Tần dẫu đánh được ta một trận, nhưng cũng chưa tổn hại cho lắm. Binh pháp có câu rằng: "Thấy dễ thì tiến, thấy khó thì lui", may sao quân Sở chưa biết những sự nguy cấp của ta, ta nên lui về là phải. Tôn Vũ nói: - Nay ta rút về không thì bị quân Sở cười, chi bằng tâu với Đại vương mà xin phong cho Công tử Thắng. Ngũ Viên khen phải, mới viết thư trả lời Thân Bao Tư. Trong thư nói như sau này: "Sở Bình Vương đuổi người con vô tội, giết người bày tôi vô tội, ta đây xiết bao căm tức, vậy mới nên cơ sự này! Ngày xưa Tề Hoàn công không nỡ diệt nước Hình và nước Vệ; Tần Mục công ba lần lập vua cho nước Tần, để tiếng khen đến đời nay. Ta đây dẫu hèn mọn, cũng trộm biết cái nghĩa ấy. Nay con Thế tử Kiến là Công tử Thắng đang lưu lạc ở nước Ngô, chưa được yên sở; nếu nước Sở chịu đón Công tử Thắng về, để giữ lấy việc cúng tế Thế tử Kiến thì khi nào ta dám không rút quân mà giúp nên cái chí của nhà ngươi". Thân Bao Tư được tin, nói chuyện với Công tử Thân. Công tử Thân nói: - Ý ta cũng muốn lập Công tử Thắng! Công tử Thân sai người sang nước Ngô đón Công tử Thắng về. Thẩm Chư Lương can rằng: - Thế tử Kiến ngày xưa đã bị truất thì Công tử Thắng tức là một kẻ cừu địch, nay mình lại nuôi kẻ cừu địch để làm hại nước hay sao! Công tử Thân nói: - Thắng là một kẻ thất phu, không can chi điều ấy! Công tử Thân vâng mệnh Sở Chiêu Vương triệu Công tử Thắng về mà hẹn phong cho đại ấp. Tôn Vũ và Ngũ Viên liền hạ lệnh rút quân. Phàm những báu ngọc ở trong kho nước Sở, đều chất lên xe chở về. Lại thiên những dân Sở kể hàng vạn nhà sang ở chỗ đất hoang của nước Ngô. Ngũ Viên bảo Tôn Vũ theo đường thủy đi về trước, còn mình thì theo đường bộ qua Lịch Dương Sơn, định tìm Đông Cao Công để trả ơn. Khi đi đến nơi thì chẳng thấy nhà cửa đâu cả. Lại sai người sang Long Động Sơn để tìm Hoàng Phủ Nột, cũng chẳng thấy tông tích ở đâu. Ngũ Viên thở dài mà than rằng: - Thật là những bậc cao sĩ! Ngũ Viên nói xong, liền đến chỗ ở trước, sụp lạy hai lạy rồi đi. Khi đến cửa Chiêu quan, quân Sở đã bỏ trốn hết cả. Ngũ Viên sai phá cửa quan ấy. Khi qua bến Lại Thủy, Ngũ Viên than rằng: - Năm xưa ta bị đói ở đây, có xin cơm của một người con gái. Người con gái cho ta ăn cơm, rồi đâm đầu xuống sông mà chết. Ta có đề mấy câu ở trên viên đá, chẳng hay chữ có còn chăng! Ngũ Viên sai người đào lên xem thì chữ ở viên đá vẫn còn y nguyên như cũ. Ngũ Viên muốn đem ngàn nén vàng để đền ơn, nhưng không biết nhà ở đâu cả, mới sai ném vàng xuống vệ sông mà khấn rằng: - Lòng ta không phụ, nàng có thiêng liêng, xin nàng chứng giám! Khấn xong rồi đi. Đi chưa được một dặm, có bà lão ngồi bên cạnh đường, trông thấy quân Ngô kéo qua mà khóc. Quân sĩ bắt lại hỏi: - Vì cớ gì mà khóc? Bà lão già nói: - Ta có một người con gái chưa chồng, mẹ con cùng ở với nhau, đã 20 năm trời; sau ra đập sợi ở bến sông này có gặp một ông quân tử lỡ đường, mới đem cơm cho ăn, nhưng sợ việc tiết lộ ra, liền đâm đầu xuống sông mà chết. Lão nghe nói ông quân tử ấy tức là Ngũ Tướng quân. Nay Ngũ Tướng quân thắng Sở trở về mà chẳng thấy đền ơn cho con lão. Lão tủi rằng con lão chết uổng, vậy nên lão khóc. Quân sĩ bảo rằng: - Chủ tướng ta đây tức là Ngũ Tướng quân đó! Ngài muốn đem ngàn nén vàng đền cái ơn ấy mà không biết nhà ở đâu cả, hiện đã ném vàng xuống vệ sông, sao bà không đến đấy mà lấy. Bà lão ấy mới đến vệ sông lấy vàng đem về. Vua Việt là Doãn Thường nghe tin bọn Tôn Vũ rút quân về nước Ngô, biết là Tôn Vũ tài nghề dụng binh, khó lòng đánh nổi, mới cũng rút quân về. Nghĩ thầm: Việt chẳng kém gì Ngô, liền tự xưng là Việt Vương. Hạp Lư xét cái công phá Sở, cho Tôn Vũ đứng đầu. Tôn Vũ không muốn làm quan, lại xin về núi. Hạp Lư sai Ngũ Viên lưu lại. Tôn Vũ bảo Ngũ Viên rằng: - Ngài lại không biết đạo trời hay sao? Nóng lắm thì rét nhiều, xuân qua thì thu đến. Nay Đại vương cậy mình cường thịnh, tất sinh lòng kiêu sa, nếu ta không xin về thì rồi có hậu hoạn. Chẳng những tôi lo cho tôi, tôi lại còn lo cho Ngài nữa. Ngũ Viên không lấy làm phải. Tôn Vũ cố ý cáo từ về núi. Hạp Lư đưa tặng mấy xe vàng lụa. Trong khi đi đường, Tôn Vũ đều đem ban phát cho những dân nghèo khổ. Về sau không biết Tôn Vũ đi đâu mất. Hạp Lư cho Ngũ Viên làm tướng quốc, cũng theo lối như Trọng Phụ nước Tề và Tử Văn nước Sở khi trước, chỉ gọi tên tự của Ngũ Viên là Tử Tư mà thôi. Lại cho Bá Hi làm thái tể, cùng dự quốc chính. Đổi tên cửa Sương môn gọi là Phá Sở môn. Xây đá ở cửa Lưu môn về cõi nam, đóng quân ở đấy để chống giữ với nước Việt, gọi là Thạch môn quan. Quan Đại phu nước Việt là Phạm Lãi, cũng đắp thành ở Tích Giang để chống giữ với nước Ngô, gọi là Cố Lăng. Lại nói chuyện Công tử Thân và Công tử Kết trở về Dĩnh Đô, một mặt thu táng hài cốt Sở Bình Vương và sửa lại những tôn miếu xã tắc; một mặt sai Thân Bao Tư đem thuyền sang nước Tùy đón Sở Chiêu Vương. Sở Chiêu Vương giao ước với vua Tùy: - Hai nước quyết không xâm phạm nhau. Vua Tùy tiễn Sở Chiêu Vương xuống thuyền, rồi mới trở về. Sở Chiêu Vương đi đến giữa sông Đại Giang, ngồi ở trong thuyền ngẩng trông bốn mặt, lại nhớ đến những sự khổ sở trong khi lưu lạc năm xưa, bỗng thấy dưới mặt nước nổi lên một vật, to bằng cái đấu, sắc đỏ hồng hồng. Sai người vớt lên xem, rồi đem hỏi các quan, chẳng ai biết là vật gì cả. Sở Chiêu Vương liền cầm dao chặt đôi ra. Trong có một quả như quả dưa. Đem nếm xem thì thấy ngon ngọt lạ thường. Sở Chiêu Vương truyền đem chia cho mỗi người một miếng và bảo rằng: - Thứ quả này không biết tên là gì, âu là ta ghi lấy để đợi có nhà bác vật. Đi trong một ngày nữa, đến đất Vân Trung. Sở Chiêu Vương thở dài mà than rằng: - Đây là chỗ ta mất cướp hôm xưa đây, nên phải ghì lấy! Sở Chiêu Vương truyền cắm thuyền lại ở bên bờ sông, sai Đấu Tân đắp một cái thành nhỏ ở đấy, để cho những khách qua đường có chỗ vào mà trú ngụ. Bọn Công tử Thân và Công tử Kết đi ra ngoài Dĩnh Đô 50 dặm để nghênh tiếp Sở Chiêu Vương. Sở Chiêu Vương về đến Dĩnh Đô, trông thấy ngoài thành xương trắng đầy đường, trong thì cung khuyết tàn phá, bỗng nước mắt chảy xuống ròng ròng. Khi vào yết kiến người mẹ là nàng Mạnh Doanh, hai mẹ con trông nhau mà khóc. Sở Chiêu Vương nói: - Nước nhà chẳng may gặp phải đại biến, đến nỗi miếu xã bị phá, lăng mộ bị nhục. Cái thù này bao giờ báo lại cho được. Nàng Mạnh Doanh nói: - Ngày nay con đã về, trước hết cần phải thưởng phạt cho công minh, sau phủ dụ trăm họ, chờ khi nào thế lực sung túc, bấy giờ sẽ nghĩ cách báo thù. Sở Chiêu Vương sụp lạy, xin vâng mệnh. Đêm hôm ấy, Sở Chiêu Vương ngủ ở nhà Trai cung, sáng hôm sau vào tế cáo tôn miếu xã tắc, và đi thăm nom phần mộ, rồi mới ra coi triều để các quan vào lạy mừng. Sở Chiêu Vương nói: - Ta tin dùng những đứa tiểu nhân, đến nỗi gần mất nước, nếu không có bọn các ngươi thì bao giờ ta lại được trông thấy mặt trời. Làm mất nước là tội của ta, phục được nước là công của các ngươi đó! Các quan đại phu đều lạy tạ. Sở Chiêu Vương thết đãi các tướng nước Tần và khao thưởng quân Tần, rồi tiễn đưa về nước. Lại luận công hành thưởng, cho Công tử Thân làm lệnh doãn, Công tử Kết làm tả doãn. Thân Bao Tư có cái công to đi mượn quân Tần, Sở Chiêu Vương định cho làm hữu doãn. Thân Bao Tư nói: - Tôi sang mượn quân Tần là vì việc nước, chứ không phải vì thân tôi. Nay Đại vương đã phục quốc rồi, lòng tôi được thỏa, có đâu tôi dám nhận chức này để cầu lợi. Thân Bao Tư nhất định từ chối không nhận. Sở Chiêu Vương cố ép mãi. Thân Bao Tư đi trốn. Người vợ bảo Thân Bao Tư rằng: - Phu quân đem cả vợ con liều thân hoại thể, để mà đi mượn quân Tần về thu phục lại nước Sở, dẫu nhận thưởng cũng là xứng đáng, can gì phải trốn? Thân Bao Tư nói: - Lúc trước ta vì tình bạn hữu, không tiết lộ cái mưu của Ngũ Viên, để cho Ngũ Viên phá được nước Sở, đó là cái tội của ta. Mình có tội mà lại còn nhận công thì ta lấy làm xấu hổ lắm! Thân Bao Tư liền đem cả vợ con trốn vào rừng núi. Sở Chiêu Vương sai người tìm mãi không được, mới ban khen mà yết ở cửa nhà Thân Bao Tư rằng "Trung thần chi môn". Sở Chiêu Vương lại cho Do Vu làm hữu doãn mà bảo rằng: - Khi trước nhà ngươi vì che chở cho ta mà bị một mũi giáo ở đất Vân Trung, bao giờ ta dám quên ơn! Còn bọn Thẩm Chư Lương, Chung Kiến, Tống Mộc, Đấu Tân, Đấu Sào và Viễn Diên, đều được thăng chức cả. Sở Chiêu Vương lại triệu Đấu Hoài, toan thưởng. Công tử Thân can rằng: - Khi trước Đấu Hoài định hại Đại vương, nên đem trị tội, cớ sao lại thưởng. Sở Chiêu Vương nói: - Kẻ kia định báo thù cho cha, thế tức là hiếu tử. Đã là hiếu tử thì khó gì mà không làm được trung thần! Sở Chiêu Vương cũng cho làm đại phu. Lam Doãn Điệp xin vào yết kiến Sở Chiêu Vương. Sở Chiêu Vương giận về nỗi khi trước ở Thành Cữu không chịu ghé thuyền cho đi, toan bắt đem giết, mới sai người ra bảo Lam Doãn Điệp rằng: - Khi trước nhà ngươi bỏ ta ở nơi đường sá, nay lại còn xin vào yết kiến để lam gì? Lam Doãn Điệp nói: - Lam Doãn Ngõa ngày xưa quên ơn nhớ thù, đến nỗi bị thua ở Bắc Cử, cớ sao Đại vương lại còn bắt chước? Vả chiếc thuyền ở Thành Cữu sao êm ái bằng cái cung ở Dĩnh Đô. Tôi bỏ Đại vương ở Thành Cữu là có ý muốn cho Đại vương tỉnh ngộ lại. Ngày nay tôi tới đây là muốn xem Đại vương đã biết tỉnh ngộ hay chưa. Đại vương không xét những cớ mất nước mà nhớ cái tội tôi không ghé thuyền; tôi dẫu chết cũng chẳng tiếc gì, chỉ tiếc thay cho cái cơ nghiệp của nước Sở! Công tử Thân tâu với Sở Chiêu Vương rằng: - Lam Doãn Điệp nói thẳng lắm! Đại vương nên tha cho, để ghi lấy câu chuyện trong khi thất bại. Sở Chiêu Vương cho Lam Doãn Điệp vào yết kiến, lại cho được nguyên chức đại phu như cũ. Các quan triều thần thấy Sở Chiêu Vương độ lượng rộng rãi như vậy, ai cũng bằng lòng. Sở Chiêu Vương phu nhân nghĩ mình khi trước thất thân với Hạp Lư, xấu hổ không dám trông mặt Sở Chiêu Vương nữa, liền thắt cổ mà chết. Bấy giờ nước Việt đang gây sự với nước Ngô, nghe tin Sở Chiêu Vương phục quốc, sai sứ đến chúc mừng, nhân tiến một người tôn nữ. Sở Chiêu Vương lập làm kế thất, tức là Việt Cơ. Việt Cơ là người có hiền đức. Sở Chiêu Vương rất kính trọng. Sở Chiêu Vương lại nghĩ thương em gái là Qui Vu khi trước đi theo trong lúc hoạn nạn, muốn chọn một người rể hiền để gả. Qui Vu nói với Sở Chiêu Vương rằng: - Phép làm con gái, không được gần đàn ông. Khi trước Chung Kiến đã có cõng tôi thì tức là chồng tôi đó, tôi không muốn lại kết duyên với người khác nữa. Sở Chiêu Vương liền gả Qui Vu cho Chung Kiến; lại cho Chung Kiến làm tư nhạc đại phu. Sở Chiêu Vương lại nhớ đến sự hiển linh của quan Lệnh doãn cũ là Tôn Thúc Ngao, sai người lập đền thờ ở Vân Trung. Công tử Thân thấy Dĩnh Đô tàn phá, vả người nước Ngô ở đấy đã lâu, quen biết hết đường lối, mới tâu với Sở Chiêu Vương thiên đô sang đất Nhược gọi là Tân Dĩnh. Sở Chiêu Vương bày tiệc cùng với các quan triều thần uống rượu vui. Trong khi tiệc rượu đang vui quan Nhạc sư là Hồ Tử sợ Sở Chiêu Vương chỉ biết vui ngày nay mà quên cái khổ năm trước, lại giống như lối cũ Sở Bình Vương thuở xưa, mới ôm cây đàn đến trước mặt Sở Chiêu Vương mà tâu rằng: - Tôi có một khúc đàn "Cùng Nột", xin gẩy để Đại vương nghe. Sở Chiêu vương nói: - Ta sẵn lòng nghe lắm! Hồ Tử ôm cây đàn mà gẩy, tiếng nghe rất sầu thảm! Sở Chiêu Vương hiểu ý, nước mắt chảy xuống ròng ròng. Hồ Tử cất đàn cầm đi, rồi lui xuống dưới thềm. Sở Chiêu Vương truyền bãi tiệc. Từ bấy giờ chăm chỉ về việc chính trị. Khi Công tử Thắng về, Sở Chiêu Vương phong làm Bạch công. Lại đắp một cái thành cho Công tử Thắng ở, gọi là Bạch công Thành, sau thành ra một họ Bạch. Công tử Phu Khái ở nước Tống nghe tin Sở Chiêu Vương không nghĩ những điều thù oán cũ, mới trở về nước Sở. Sở Chiêu Vương biết là người vũ dũng, phong cho ở Đường Khê, gọi là Đường Khê Thị. Công tử Thân nghĩ việc làm mất nước Sở, căn nguyên bởi nước Đường và nước Sái, nay Đường đã diệt mà Sái hãy còn, mới xin Sở Chiêu Vương đem quân đi đánh Sái để báo thù. Sở Chiêu Vương nói: - Nay việc nước mới yên, ta chưa dám bắt dân phải khó nhọc. (Xét ở Xuân Thu truyện chép thì Sở Chiêu Vương năm thứ 10 phải chạy trốn, năm thứ 11 được phục quốc. Mãi đến năm thứ 20 mới đem quân đi đánh nước Đốn, bắt vua Đốn tên là Tường; năm thứ 21 đem quân đi đánh Hồ, bắt vua Hồ tên là Báo, để báo cái thù khi trước theo Tấn xâm Sở; năm thứ 22 vây nước Sái, hỏi cái tội khi trước theo Ngô vào Dĩnh Đô. Sái Chiêu công phải xin hàng. Sở Chiêu Vương thiên nước Sái sang khoảng sông Giang và Sông Nhữ. Còn trong 10 năm giữa thì Sở Chiêu Vương biết dưỡng sức cho dân được yên nghỉ, bởi vậy đánh đâu được đấy, lại làm cho nước Sở cường thịnh).

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 78 Lê Di hiến kế dùng Lai Binh Khổng Tử kể tội giết Thiếu chính

Tề Cảnh công thấy nước Tấn không đánh nổi nước Sở, chư hầu đều có ý chán, mới thay nước Tấn lên làm bá chủ. Lỗ Chiêu công khi trước bị quan Đại phu nước Lỗ là Quý tôn Ý Như đuổi. Tề cảnh công định giúp cho Lỗ Chiêu công về nước, nhưng Quý tôn Ý Như cố ý chống cự không theo. Lỗ Chiêu công lại sang cầu cứu nước Tấn. Quan Đại phu nước Tấn là Tuân Lịch cũng ăn tiền của Quý tôn Ý Như mà không chịu giúp cho Lỗ Chiêu công. Lỗ Chiêu Công phải chết ở nước ngoài. Quý tôn Ý Như liền bỏ Thế tử Diễn mà lập Công tử Tống lên nối ngôi, tức là Lỗ Định công. Lỗ Định công vì cớ Quý tôn Ý Như giao thông với Tuân Lịch nước Tấn, vậy nên theo Tấn mà không theo Tề. Tề cảnh công giận lắm, dùng Quốc Hạ làm tướng, đem quân sang quấy nhiễu bờ cõi nước Lỗ mà nước Lỗ cũng không thể đánh lại nổi. Chưa được bao lâu, Quý tôn Ý Như chết, con là Kỳ nối chức, tức là Quý Khang Tử. Nguyên trước Mạnh thị, Quý thị và Thúc thị ba họ ấy từ khi Lỗ Chiêu công còn ở nhà, cũng đã cùng nhau chia ba nước Lỗ. Họ nào cũng có dùng riêng gia thần để cầm quyền chính, thành ra vua Lỗ không có công thần. Bọn gia thần lại tiếm quyền của ba quan đại phu (Mạnh thị, Quý thị và Thúc thị), làm nhiều điều càn dỡ, không biết chủ mình là ai cả. Bấy giờ Mạnh tôn Vô Kị, Quý tôn Tư, Thúc tôn Châu Cừu, dẫu mỗi nhà có một cái ấp riêng, nhưng quyền chính đều về tay chức ấp tể. 1- Mạnh thị có Thành Ấp, chức ấp tể là Công Liêm Dương. 2- Quý thị có Phí Ấp, chức ấp tể là Công Sơn Bất Nhữu. 3- Thúc thị có Cấu Ấp, chức ấp tể là Công Nhược Diểu. Thành quách trong ba ấp ấy đều tự ba nhà lập riêng, rất là bền chặt, chẳng khác gì kinh thành ở Khúc Phụ. Trong ba chức ấp tể ấy thì Công Sơn Bất Nhữu ngang ngược hơn cả. Công Sơn Bất Nhữu lại có một người gia thần nữa họ Dương tên Hổ, tên tự là Hóa, vốn người trán to vai rộng, cao hơn chín thước, sức khỏe lạ thường, lại nhiều mưu trí. Lúc đầu Quý tôn Tư tin dùng, cho làm chức ấp tể; sau dần dần Dương Hổ chuyên hết quyền chính nhà Quý thị, thành ra Quý thị lại bị Dương Hổ áp chế, không biết làm thế nào được. Bấy giờ lại có quan Thiếu chính tên là Mão, vốn người học rộng nhớ dai, lại khéo nói lắm. Cả nước ai cũng cho là một người thông thái. Nhưng Thiếu chính Mão tính hay nham hiểm, phản phúc; khi thấy ba nhà kia thì tán tụng là có công giúp vua yên nước; khi thấy bọn Dương Hổ thì lại giả cách nói những giọng phù công thất (chỉ vua Lỗ) mà ức tư gia (chỉ ba nhà), làm cho hai bên cừu địch lẫn nhau, nhưng ai cũng yêu cái tài hùng biện của Thiếu chính Mão, vậy nên không ai tỏ được mưu gian. Lại nói chuyện Mạnh tôn Vô Kỵ tức là con Trọng tôn Quặc, cháu Trọng tôn Miệt. Khi Trọng tôn Quặc hãy còn, vẫn mến danh tiếng ông Khổng Tử nước Lỗ, bắt con là Mạnh tôn Vô Kỵ theo ông Khổng Tử để học lễ. Ông Khổng Tử nước Lỗ tên là Khâu, tên tự là Trọng Ni. Cha là ông Thúc Lương Ngột, khi trước làm quan đại phu ở Trâu Ấp, tức là một viên dũng tướng hai tay nâng nổi cái cánh cửa treo ở thành Bức Dương đó. Nguyên trước Thúc Lương Ngột lấy con gái họ Thi nước Lỗ mà không có con. Người thiếp sinh được một con, tên là Mạnh Bì thì lại có tật ở chân. Thúc Lương Ngột mới sai người đến nhà họ Nhan để cầu hôn. Họ Nhan có năm con gái, đều chưa gả chồng cả, có ý chê Thúc Lương Ngột đã già, mới bảo các con rằng: - Các con có đứa nào thuận kết duyên với quan đại phu ở Trâu Ấp đó không? Các con chẳng ai trả lời cả. Người con gái út tên là Trưng Tại, đứng dậy mà thưa rằng: - Phép làm con gái khi còn ở nhà phải theo lời cha. Cha đặt đâu con xin ngồi đấy, còn phải hỏi gì! Họ Nhan nghe nói lấy làm lạ, liền gả Trưng Tại cho Thúc Lương Ngột. Trưng Tại đã kết duyên với Thúc Lương Ngột rồi, vợ chồng lo về sự hiếm hoi, cùng nhau vào lễ cầu tự ở núi Ni Sơn. Trưng Tại trèo lên trên núi Ni Sơn, bao nhiêu lá cây đều rung động lên cả; khi làm lễ xong trở xuống thì lá cây lại rủ xuống như cũ. Đêm hôm ấy, Trưng Tại nằm mộng thấy thần Hắc Đế triệu đến mà bảo rằng: - Sau này nàng sẽ sinh được con thánh, nhưng khi nào lâm sản nên vào ở trong Không Tang. Đến khi tỉnh dậy thì thành ra có thai. Một hôm Trưng Tại lại mơ mơ mòng mòng như người chiêm bao, trông thấy năm ông cụ già đứng ở dưới sân, tự xưng là năm vì sao, dắt một con thú giống như con trâu con mà có một sừng, mình lại có vằn. Con thú ấy trông thấy Trưng Tại thì nằm phục ngay xuống mà nhả cái ngọc xích ở trong miệng ra. Trên cái ngọc xích có câu văn rằng: "Con nhà thủy tinh, nối đời suy Chu mà làm Tố Vương". Trưng Tại biết là điềm lạ, mới lấy giải lụa buộc vào sừng con thú ấy mà dắt đi. Khi tỉnh dậy, nói chuyện với Thúc Lương Ngột. Thúc Lương Ngột nói: - Con thú ấy tất là con kỳ lân. Gần đến sản kỳ, Trưng Tại hỏi Không Tang là chỗ nào. Thúc Lương Ngột nói: - Núi Nam Sơn có cái hang đá, tục vẫn gọi là Không Tang đó. Trưng Tại nói: - Khi tôi lâm sản, tất phải đến đấy. Thúc Lương Ngột hỏi: - Sao vậy? Trưng Tại thuật chuyện chiêm bao hôm trước, rồi sửa soạn đến ở cái hang đá Không Tang. Đến hôm ấy, có hai con rồng xanh ở trên trời xuống, phục ở hai bên sườn núi, lại có hai người thần nữ đem nước hương lộ đến gội đầu cho Trưng Tại. Gội xong thì biến đi. Khi Trưng Tại lâm sản, bỗng thấy trong hang đá có một thứ nước suối ấm chảy ra, để cho Trưng Tại tắm. Tắm xong, suối lại cạn ngay. Ông Khổng Tử sinh có tướng lạ: Môi như môi trâu, tay như tay hổ, vai như vai chim uyên, lưng như lưng con rùa, miệng rộng, hầu lộ, trán phẳng mà cao. Thúc Lương Ngột nói: - Vì ta cầu tự ở núi Ni Sơn mà được đứa bé này, vậy thì ta đặt tên là Khâu, tên tự là Trọng Ni (tức là ông Khổng Tử). Chưa được bao lâu thì Thúc Lương Ngột tạ thế. Trưng Tại hết lòng nuôi con. Ông Khổng Tử, khi lớn lên, mình dài 9 thước 6 tấc. Người có thánh đức, ham sự học hành lắm, đi chu du các nước. Khắp thiên hạ chỗ nào cũng có học trò. Vua các nước đều có lòng kính mến, nhưng bị các nhà quyền quí đem lòng ghen ghét, thành ra không nước nào dùng được. Bấy giờ ông Khổng Tử đang ở nước Lỗ, Mạnh tôn Vô Kỵ nói với Quý tôn Tư rằng: - Muốn dẹp yên được biến loạn thì tất phải dùng Khổng Khâu. Quý tôn Tư vừa đứng dậy thay áo thì có người ở Phí ấp đến báo rằng: - Chúng tôi đào giếng thấy một chỗ đất rỗng, trong có con dê, không biết là cớ sao? Quý tôn Tư muốn thử sức học của ông Khổng Tử, liền dặn người ấy không được nói, rồi vào bảo ông Khổng Tử rằng: - Có người đào giếng, bắt được con chó không biết là cớ sao? Ông Khổng Tử nói: - Cứ như ý tôi thì đó tất là con dê, chứ không phải con chó. Quý tôn Tư kinh sợ mà hỏi rằng: - Cớ sao lại biết? Ông Khổng Tử nói: - Tôi nghe nói loài sơn quái gọi là Quý Võng Lạng, loài thủy quái gọi là Long võng Tượng, loài thổ quái gọi là Phần Dương. Nay đào được một con vật ở dưới đất, tất là con Phần Dương đó. Quý tôn Tư nói: - Tại sao lại gọi là Phần Dương? Ông Khổng Tử nói: - Phần Dương nghĩa là con dê không phải đực, không phải cái. Chỉ có hình giống con dê mà thôi. Quý tôn Tư liền gọi người Phí Ấp vào hỏi thì quả nhiên như thế, càng kinh sợ mà khen rằng: - Khổng Khâu thật là một tay học giỏi, không mấy người bằng. Quý tôn Tư dùng ông Khổng Tử làm quan tể ở đất Trung Đô. Việc ấy đồn đến tai Sở Chiêu Vương. Sở Chiêu Vương sai sứ giả đưa đồ lễ và đem một vật bắt được ở dòng sông Giang khi trước đến hỏi ông Khổng Tử. Ông Khổng Tử nói: - Đấy là quả bèo, có thể bổ mà ăn được. Sứ giả nói: - Tại sao Ngài lại biết? Ông Khổng Tử nói: - Khi trước tôi có sang Sở, nghe đứa trẻ hát rằng: "Vua Sở qua sông, bắt được quả bèo, to bằng cái đấu, đỏ như mặt trời, bổ ra mà ăn, vị ngọt như mật". Vì thế mà tôi biết. Sứ giả nói: - Quả bèo có dễ tìm được không? Ông Khổng Tử nói: - Bèo là một vật lênh đênh trên mặt nước, không có nhất định mà kết thành quả được, thế thì trăm nghìn năm mới có một lần. Đó là cái triệu tan mà lại hợp, suy lại thịnh, đáng mừng thay cho vua Sở. Sứ giả về bảo Sở Chiêu Vương. Sở Chiêu Vương có lòng kính phục. Ông Khổng Tử làm quan ở Trung Đô, chính trị giỏi lắm. Các nước đều sai người đến xem để bắt chước. Lỗ Định công biết là người hiền, cho làm quan tư không. Năm thứ mười chín đời Chu Kính Vương. Dương Hổ muốn chuyên quyền nước Lỗ, mới bàn mưu với Công Sơn Bất Nhữu và Thúc tôn Chiếp, định giết Quý tôn Tư và Thúc tôn Châu Cừu, rồi cho Công Sơn Bất Nhữu thay Quý tôn Tư, Thúc tôn Chiếp thay Thúc tôn Châu Cừu, còn mình thì thay Mạnh tôn Vô Kỵ. Dương Hổ mến ông Khổng Tử là người hiền, muốn dùng để giúp việc cho mình mới sai người đến bảo ý cho ông Khổng Tử biết. Ông Khổng Tử không chịu theo. Dương Hổ sai người đem một con lợn chín đến biếu ông Khổng Tử. Ông Khổng Tử nói: - Đây là cái kế của Dương Hổ làm cho ta phải đến tạ ơn, để tiếp kiến mà dụ ta đó thôi. Ông Khổng Tử sai học trò rình lúc Dương Hổ đi vắng thì đến nhà Dương Hổ, đưa cái danh thiếp rồi về. Dương Hổ không dùng được ông Khổng Tử. Ông Khổng Tử mật nói với Mạnh tôn Vô Kỵ rằng: - Dương Hổ rồi tất làm loạn khởi từ họ Quý trước, Ngài nên phòng bị mới khỏi tai vạ. Mạnh tôn Vô Kỵ liền mộ 300 tráng sĩ, giả cách thuê làm nhà ở ngoài Nam môn, kỳ thực để phòng loạn. Mạnh tôn Vô Kỵ lại bảo quan tể ở Thành Ấp là Công Liễm Dương phải sửa soạn quân mã để khi có tin báo thì tức khắc đến cứu. Mùa thu tháng tám năm ấy, nước Lỗ sắp làm lễ Đế tế. Dương Hổ định sau ngày Đế tế làm tiệc mời Quý tôn Tư. Mạnh tôn Vô Kỵ nghe tin, liền nói: - Dương Hổ mời Quý tôn Tư, việc này khả nghi lắm! Mạnh tôn Vô Kỵ sai người báo với Công Liễm Dương, hẹn đến trưa hôm ấy thì đem quân tới Nam môn để tiếp ứng. Ngày hôm ấy Dương Hổ thân hành đến nhà Quý tôn Tư, mời Quý tôn Tư lên xe. Dương Hổ đi trước, Dương Việt (em họ Dương Hổ) đi sau. Xung quanh đều là đảng phái họ Dương cả. Chỉ có một người dong xe cho Quý tôn Tư là Lâm Sở, xưa nay vẫn là môn khách nhà họ Quý. Quý tôn Tư có lòng nghi, nói riêng với Lâm rằng: - Nhà ngươi có thể đưa xe ta tới nhà họ Mạnh được không? Lâm Sở hiểu ý. Khi đến con đường rộng, Lâm Sở rẽ dây cương quay xe về phía nam, rồi ra roi đánh ngựa. Ngựa lồng chạy mau lắm. Dương Việt trông thấy, gọi ầm lên rằng: - Kìm ngựa lại! Lâm Sở chẳng nói gì cả, lại ra roi đánh mãi, ngựa chạy càng mau. Dương Việt tức thì nổi giận, giương cung bắn Lâm Sở, nhưng bắn không trúng, cũng ra roi đánh ngựa kéo xe của mình. Trong khi vội vàng, đánh rơi roi ngựa. Dương Việt cúi xuống nhặt roi thì xe Quý tôn Tư đã xa rồi. Quý tôn Tư tới Nam môn, đi thẳng vào nhà họ Mạnh mà kêu lên rằng: - Họ Mạnh cứu ta với!.. Mạnh tôn Vô Kỵ sai ba trăm tráng sĩ phục sẵn ở phía trong hàng rào. Được một lúc, Dương Việt đến, thúc quân phá rào. Tráng sĩ ở trong bắn ra, chết hại rất nhiều. Dương Việt cũng bị mấy mũi tên mà chết, Dương Hổ ngoảnh lại, không trông thấy Quý tôn Tư, quay trở về lối trước, hỏi người đi đường rằng: - Các người có trông thấy xe quan tướng quốc không? Người đi đường nói: - Ngựa lồng, đã đi ra phía Nam môn rồi! Nói chưa dứt lời thì gặp quân đại binh của Dương Việt chạy đến. Dương Hổ mới biết là Dương Việt đã bị bắn chết, Quý tôn Tư đã trốn vào nhà họ Mạnh rồi, tức thì nổi giận, định đem quân vào triều để hiếp Lỗ Định công phải ra đánh họ Mạnh. Khi đến nửa đường, gặp Thúc tôn Châu Cừu, Dương Hổ lại hiếp cả Thúc tôn Châu Cừu, bắt phải đem quân cùng sang đánh họ Mạnh ở Nam môn, Mạnh tôn Vô Kỵ cố sức chống giữ. Dương Hổ sai lấy lửa đốt. Quý tôn Tư sợ lắm. Mạnh tôn Vô Kỵ thấy trời vừa đúng trưa, bảo Quý tôn Tư rằng: - Không sợ! Quân ở Thành Ấp đã sắp đến cứu. Nói chưa dứt lời thì thấy có một viên mãnh tướng ở phía đông đem quân đến, quát to lên mà mắng rằng: - Ta là Công Liễm Dương đây, các ngươi chớ xâm phạm đến chủ ta. Dương Hổ giận lắm, xông lại đánh Công Liễm Dương. Hai bên giao chiến nhau hơn năm mươi hợp, tinh thần Dương Hổ càng thêm hăng hái. Công Liễm Dương đã hơi có ý khiếp sợ. Thúc tôn Châu Cừu ở sau mặt trận kêu to lên rằng: - Dương Hổ thua rồi! Kêu vừa dứt lời thì tức khắc đem quân đưa Lỗ Định Công chạy về phía tây. Quân công đồ cũng chạy theo Lỗ Định công. Mạnh tôn Vô Kỵ phá rào đem quân ra đuổi. Gia thần nhà họ Quý là Khổ Việt cũng đem quân đến. Dương Hổ thế cô, chạy về giữ cửa Quán Dương quan. Ba nhà hợp quân đến đánh. Dương Hổ không thể địch nổi, sai đốt cửa Lai môn. Quân Lỗ tránh lửa phải kéo lui. Dương Hổ xông đống lửa mà ra, chạy sang nước Tề, vào yết kiến Tề Cảnh công, đem ruộng Quán Dương dâng nước Tề, để mượn quân đánh Lỗ. Quan đại phu nước Tề là Bão Quốc nói với Tề Cảnh công rằng: - Nước Lỗ đang dùng Khổng Khâu, ta không thể địch nổi, chi bằng ta bắt Dương Hổ và đem ruộng Quán Dương trả lại nước Lỗ, để lấy lòng Khổng Khâu. Tề Cảnh công nghe lời, bắt Dương Hổ giam ở Tây Bỉ. Dương Hổ cho quân canh uống rượu say, rồi trốn sang nước Tống. Nước Tống cho Dương Hổ ở đất Khuông. Dương Hổ ác ngược với người đất Khuông lắm. Người đất Khuông toan giết. Dương Hổ lại trốn sang nước Tấn, làm tôi Triệu Ưởng. Tề Cảnh công thấy Dương Hổ trốn mất, sợ người nước Lỗ nghi mình dung nạp, mới sai sứ đưa thư cho Lỗ Định công, nói rõ việc Dương Hổ trốn sang nước Tống, và ước với Lỗ Định công cùng hội ở núi Giáp Cốc để giảng hòa hiếu. Lỗ Định công hợp ba nhà cùng thương nghị. Mạnh tôn Vô Kỵ nói: - Người nước Tề hay nói dối, Chúa công chớ khinh thường mà đi dự hội làm gì? Quý tôn Tư nói: - Nước Tề đã nhiều lần đem quân đánh ta, nay Tề muốn hòa hiếu, cớ sao ta lại từ chối. Lỗ Định công nói: - Nay ta định sang hội với Tề, nên cho ai đi bảo giá. Mạnh tôn Vô Kỵ nói: - Tất phải dùng Khổng Khâu là một người gia sư của tôi. Lỗ Định công liền triệu ông Khổng Tử đến, giao việc tướng lễ để sang hội với Tề. Lúc Lỗ Định công sắp đi, ông Khổng Tử tâu rằng: - Tôi nghe nói có văn sự thì tất phải có vũ bị, hai điều ấy không thể bỏ một điều được. Xem như việc Tống Tương công sang hội ở Vu Địa khi trước thì ta cũng nên phải phòng bị. Xin Chúa công cho quan tư mã đem quân đi theo mới được. Lỗ Định công nghe lời, truyền cho quan Đại phu là Thân Câu Tu làm hữu tư mã, Nhạc Kỳ làm tả tư mã đem quân đi theo sau; lại sai quan Đại phu là Tư Vô Hoàn đem quân đến đóng gần nơi hội sở, cách độ trong mười dặm. Khi đến đất Giáp Cốc, Tề Cảnh công đã lập sẵn một cái đàn cao ba từng, cách thức trông rất giản lược. Tề Cảnh công đóng ở phía hữu, Lỗ Định công đóng ở phía tả. Bấy giờ quan Đại phu nước Tề là Lê Di vốn người có nhiều mưu trí. Từ khi Lương Khâu Cứ chết đi, Tề Cảnh công tin dùng Lê Di lắm. Đêm hôm ấy, Lê Di xin vào yết kiến. Tề Cảnh công cho vào. Lê Di vào, Tề Cảnh công hỏi rằng: - Có việc gì mà nhà ngươi đêm hôm tới đây như vậy? Lê Di tâu rằng: - Nước ta xưa nay vốn là cừu địch với nước Lỗ, chỉ vì nước Lỗ biết dùng Khổng Khâu, ta sợ mai sau hại đến nước Tề ta, vậy nên mới lập ra cái hội này. Tôi xem Khổng Khâu là người biết lễ mà không có vũ dũng, chẳng quen việc chinh chiến bao giờ. Sáng mai Chúa công ra khai hội, truyền đem phường nhạc các nước đến, để cho vua Lỗ được vui, rồi sai 300 quân Lai Di giả hình làm nhạc công, tiến vào mà bắt vua Lỗ và bắt cả Khổng Khâu nữa; còn tôi ở dưới đàn thì sẽ đem quân đuổi đánh quân Lỗ. Bấy giờ tính mệnh vua tôi nước Lỗ ở trong tay ta, tùy lượng Chúa công định liệu. Tề Cảnh công nói: - Việc này nên làm hay không, để ta phải bàn với quan Tướng quốc (chỉ Án Anh). Lê Di nói: - Quan Tướng quốc vốn chơi thân với Khổng Khâu. Nếu nói cho quan Tướng quốc biết thì việc này không thể làm được, xin Chúa công cứ giao cho tôi. Tề Cảnh công nói: - Ta cũng nghe lời ngươi, nhưng nhà ngươi phải cẩn thận lắm mới được. Lê Di tức khắc đi bảo với quân Lai Di. Ngày hôm sau, Tề Cảnh công và Lỗ Định công hội nhau ở trên đàn. Nước Tề thì Án Anh làm tướng lễ. Nước Lỗ thì ông Khổng Tử là tướng lễ. Hai bên cùng vái chào nhau. Khi làm lễ xong, Tề Cảnh công nói với Lỗ Định công rằng: - Tôi có đủ phường nhạc các nước, xin cùng với nhà vua cùng vui. Tề Cảnh công truyền cho người Lai Di lên tấu nhạc Lai Di. Bọn 300 người Lai Di tay cầm các đồ vũ mao và kiếm kích ở dưới đàn kéo lên. Miệng hát những tiếng líu lo, theo với âm nhạc. Khi người Lai Di lên đến nửa thềm, Lỗ Định công trông thấy, đã có ý lo. Ông Khổng Tử không sợ hãi gì cả, bước rảo sang đứng ở trước mặt Tề Cảnh công mà tâu rằng: - Hai nước ta đang hội nhau để tỏ tình hòa hiếu, nên dùng lễ Trung Quốc, sao lại dùng đến âm nhạc của giống mọi rợ như vậy, xin cho bỏ đi. Án Anh không biết là kế Lê Di, cũng tâu với Tề Cảnh công rằng: - Khổng Khâu nói thế, chính là hợp lễ. Tề Cảnh công có ý thẹn, liền truyền cho người Lai Di lui xuống. Lê Di thấy vậy giận lắm, lại gọi những phường nhạc nước Tề đến mà dặn rằng: - Hễ khi ăn tiệc đến nửa chừng, các ngươi hát bài thơ Tệ Cẩu rồi ra bộ bỡn cợt nhau, để làm cho vua tôi nước Lỗ phải tức giận thì ta sẽ trọng thưởng cho! Lê Di trèo lên trên đàn, tâu với Tề Cảnh công rằng: - Xin tấu âm nhạc trong cung để chúc thọ hai vua. Tề Cảnh công nói: - Âm nhạc trong cung, không phải là âm nhạc của rợ mọi, nên cho diễn ngay. Lê Di truyền cho phường nhạc ra diễn. Bọn phường nhạc hơn hai mươi người, đều thay hình vẽ mặt chia làm hai bên; một bên đóng nam, một bên đóng nữ, kéo nhau đến trước mặt Lỗ Định công, đứa nhảy đứa múa, hát toàn những giọng dâm loạn, vừa hát vừa cười. Ông Khổng Tử chống gươm trừng mắt nhìn Tề Cảnh công mà tâu rằng: - Kẻ thất phu dám cợt nhạo vua chư hầu thì tội đáng chết, xin cho quan Tư mã nước Tề chiếu phép hành tội. Tề Cảnh công không nói gì cả. Bọn phường nhạc lại cợt nhạo như trước. Ông Khổng Tử nói: - Hai nước ta đã giao hiếu với nhau như là anh em thì quan Tư mã nước Lỗ, tức là quan Tư mã nước Tề. Ông Khổng Tử nói xong, liền ngoảnh xuống dưới đàn mà vẫy Thân Câu Tu và Nhạc Kỳ. Thân Câu Tu và Nhạc Kỳ lên thẳng trên đàn, bắt hai tên đứng đầu trong bọn ca công đem xuống để chém; còn những đứa khác đều sợ mà bỏ chạy. Tề Cảnh công kinh hãi. Lỗ Định công tức khắc cáo từ. Lê Di lúc trước vẫn định đón ở dưới đàn để bắt Lỗ Định công, sau một là thấy ông Khổng Tử có tài ứng biến, hai là thấy Thân Câu Tu và Nhạc Kỳ đều là tay anh hùng, ba là nghe nói ở ngoài mười dặm có quân Lỗ đóng, mới phải cắm đầu lui về. Tề Cảnh công về, gọi Lê Di mà trách rằng: - Khổng Khâu làm tướng lễ, đều theo đạo cổ nhân, sao nhà ngươi lại xui ta dùng cách rợ mọi ấy, ta đang cùng với nước Lỗ giao hiếu, nay thành ra cừu thù. Lê Di sợ hãi xin chịu tội, không dám cãi một câu nào cả. Án Anh nói với Tề Cảnh công rằng: - Người quân tử đã biết lỗi thì dùng cách thành thực mà tạ lại, nay nước Lỗ có ba xứ ruộng ở Vấn Dương; một là Hoan Điền, Dương Hổ nước Lỗ đem dâng nước ta, đó là của bất nghĩa; hai là Vận Điền, năm trước nước ta lấy của nước Lỗ để cho Lỗ Chiêu công ở; ba là Quý Âm Điền, Tiên quân ta ngày xưa nhờ thế lực của nước Tấn mà lấy của nước Lỗ. Nước Lỗ mất ba xứ ruộng ấy vẫn lấy làm căm tức. Chúa công nên nhân dịp này đem ba xứ ruộng ấy trả lại nước Lỗ để xin lỗi thì vua tôi nước Lỗ tất phải bằng lòng và tình giao hiếu của ta và Lỗ càng thêm bền chặt. Tề Cảnh công bằng lòng, liền sai Án Anh đem ba xứ ruộng ấy trả lại nước Lỗ. Ruộng Vấn Dương nguyên trước là của Lỗ Hi công ban cho Quý Hữu, ngày nay nước Tề trả lại vua Lỗ, tức lại về tay họ Quý. Bởi vậy Quý tôn Tư cảm ơn ông Khổng Tử, truyền đắp thành ở đất Quý Âm, gọi là Tạ Thành để ghi cái công ấy, lại nói với Lỗ Định công thăng chức cho ông Khổng Tử làm Đại tư khấu. Bấy giờ có một con chim lớn, dài ước ba thước, mình đen cổ trắng, mỏ dài mà có một chân, tự phía nam nước Tề bay sang nước Lỗ, vũ hai cánh đứng múa ở ngoài đồng, người làm ruộng đuổi đi không được, rồi sau bay về phía bắc. Quý tôn Tư nghe có chuyện quái dị ấy, đem hỏi ông Khổng Tử. Ông Khổng Tử nói: - Con chim ấy tên gọi là Thương Dương, sinh ở bên Bắc Hải. Khi nào trời sắp mưa to thì con Thương Dương múa. Bởi vậy chỗ nào thấy con Thương Dương múa, tất là chỗ ấy sắp có cái hại mưa dầm, chỗ giáp giới Tề và Lỗ nên phải phòng bị mới được. Quý tôn Tư truyền cho dân ở đấy phải đắp đê và lợp nhà cho kỹ. Chưa được ba ngày thì quả nhiên trời mưa to lắm, sông Vấn Thủy nước đầy tràn lên. Nước Lỗ đã có phòng bị trước, vậy nên không hại gì cả. Việc ấy đồn đến nước Tề, Tề Cảnh công càng thêm kính phục ông Khổng Tử. Từ bấy giờ ông Khổng Tử nổi tiếng là một nhà bác học, khắp trong thiên hạ, ai ai cũng gọi là thánh nhân. Ông Khổng Tử tiến dẫn Trọng Do (tên tự là Tử Lộ) và Nhiễm Cầu (tên tự là Tử Hữu), Quý tôn Tư đều dùng cho làm gia thần. Một hôm, Quý tôn Tư hỏi ông Khổng Tử rằng: - Dương Hổ dẫu trốn đi, nhưng Công Sơn Bất Nhữu lại nổi lên, dùng cách gì mà trị được. Ông Khổng Tử nói: - Ta phải dùng lễ chế thì mới trị được. Cứ theo như lễ chế thì gia thần không được chứa giáp binh, quan đại phu không được đắp thành một trăm trĩ, bởi vậy chức ấp tể không trông cậy vào đâu mà dám nổi loạn. Sao Ngài không bắt Công Sơn Bất Nhữu phá thành và bỏ đồ giáp binh đi thì có phải yên việc không? Quý tôn Tư khen phải, nói với họ Mạnh và họ Thúc. Mạnh tôn Vô Kỵ nói: - Nếu có lợi cho nước nhà thì ta lại tiếc gì. Bấy giờ Thiếu chính Mão đang ghét ông Khổng Tử, muốn phá cái công ấy, mới sai Thúc tôn Chiếp mật báo cho Công Sơn Bất Nhữu biết. Công Sơn Bất Nhữu muốn giữ thành để làm phản, biết người nước Lỗ vốn kính trọng ông Khổng Tử, cũng muốn nhờ ông Khổng Tử giúp cho, sai người đem lễ vật và một bức thư cho ông Khổng Tử. Thư rằng: "Từ khi Tam Hoàn chuyên quyền, vua yếu, bề tôi mạnh, lòng người ai cũng oán giận. Tôi dẫu làm quan với họ Quý, nhưng vẫn một lòng mến điều công nghĩa, xin đem Phí Ấp nộp làm của công rồi giúp vua Tề trừ kẻ cường bạo, khiến cho nước Lỗ lại theo được cái nghiệp cũ của Chu công thuở xưa. Nếu Ngài cho là phải thì xin mời Ngài quá bộ sang Phí Ấp, ta sẽ bàn việc. Gọi là có chút lễ vật đem sang dâng Ngài, xin Ngài nhận cho". Ông Khổng Tử nói với Lỗ Định công rằng: - Nếu Công Sơn Bất Nhữu làm phản thì ta lại phải khó nhọc về việc dùng quân, xin Chúa công cho tôi sang Phí Ấp để bảo hắn phải nghĩ lại mà đổi lỗi đi, phỏng có nên chăng. Lỗ Định công nói: - Công việc nước nhà, ta trông cậy vào nhà ngươi cả, nhà ngươi chớ nên lúc nào rời bên cạnh ta. Ông Khổng Tử trả lại bức thư và các đồ lễ vật của Công Sơn Bất Nhữu. Công Sơn Bất Nhữu thấy Khổng Tử không nhận lời, liền sai người nói với quan tể ở Thành Ấp là Công Liễm Dương và quan tể ở Cấu Ấp là Công Nhược Diểu để cùng nổi loạn. Công Liễm Dương và Công Nhược Diểu đều không theo. Chức Mã chính ở Cấu Ấp tên gọi Hầu Phạm là người sức khỏe khéo bắn, người Cấu Ấp ai cũng sợ hãi. Hầu Phạm vẫn có chí muốn làm loạn, mới sai người giết Công Nhược Diểu, rồi tự xưng là quan tể ở Cấu Ấp, đem quân ở Cấu Ấp chống cự với ba nhà. Thúc tôn Châu Cừu nghe tin Hầu Phạm làm phản, đến bảo Mạnh tôn Vô Kỵ. Mạnh tôn Vô Kỵ nói: - Tôi xin giúp Ngài một tay để cùng trừ đứa phản nô ấy. Bấy giờ họ Mạnh cùng họ Thúc đem quân đến vây Cấu Ấp. Hầu Phạm cố sức chống giữ. Mạnh tôn Vô Kỵ không thể đánh nổi, bảo Thúc tôn Châu Cừu sang cầu viện nước Tề. Có kẻ gia thần họ Thúc tên gọi Tử Xích ở trong Cấu Ấp, giả cách theo Hầu Phạm. Hầu Phạm tin dùng lắm. Tử Xích bảo Hầu Phạm rằng: - Họ Thúc sai sứ sang mượn quân nước Tề. Vậy thì hai nước hợp quân đánh ta, ta địch thế nào nổi. Chi bằng ta đem Cấu Ấp sang hàng nước Tề. Nước Tề mặt ngoài dẫu thân với Lỗ, nhưng trong thực ghét Lỗ. Nếu Tề được Cấu Ấp thì có thể hiếp Lỗ được. Vậy thì Tề tất mừng lắm, mà phải đem chỗ đất to hơn ở nơi khác đền lại cho Ngài. Đằng nào Ngài cũng có đất ở, mà lại bỏ chỗ nguy đến chỗ yên được, còn gì lợi bằng! Hầu Phạm khen phải, rồi sai người sang xin hàng với nước Tề và nộp Cấu Ấp. Tề Cảnh công hỏi Án Anh rằng: - Họ Thúc mượn quân ta để đánh Cấu Ấp, nay Hầu Phạm lại nộp Cấu Ấp mà xin hàng, ta biết xử thế nào? Án Anh nói: - Ta đang cùng với Lỗ hòa hiếu, sao ta lại nhận cho kẻ phản thần nước Lỗ sang đầu hàng. Ta nên giúp họ Thúc là phải. Tề Cảnh công cười mà nói rằng: - Cấu Ấp là ấp riêng của họ Thúc, có dự gì đến vua Lỗ. Huống chi Hầu Phạm đang xâu xé với họ Thúc, đó là một việc không may cho Lỗ mà rất may cho Tề. Ta đã nghĩ được một kế cứ nhận lời cả hai bên để làm cho hại. Tề Cảnh công sai quan Tư mã là Điền Nhương Thư đóng quân ở giáp giới nước Lỗ để đợi khi có biến cố: Nếu Hầu Phạm đánh được họ Thúc thì chia quân giữ lấy Cấu Ấp, rồi đón Hầu Phạm về nước Tề; nếu họ Thúc đánh được Hầu Phạm thì giả cách nói là đem quân sang giúp họ Thúc mà đánh Cấu Ấp. Tùy cơ ứng biến, ấy là cái kế gian hùng của Tề Cảnh công đó. Tử Xích thấy Hầu Phạm đã sai sứ sang Tề rồi, lại bảo Hầu Phạm rằng: - Nước Tề vừa mới giao hiếu với Lỗ, chưa chắc đã chịu giúp ta, ta nên sắp sẵn các đồ binh giáp để ở cửa dinh. Tử Xích viết một bức thư, bắn ra ngoài thành cho quân Lỗ. Quân Lỗ nhặt được thư đem đưa cho Thúc tôn Châu Cừu. Thúc tôn Châu Cừu mở thư ra xem. Trong thư nói: "Tôi tên là Tử Xích đã lập mưu kế để đánh Hầu Phạm. Chẳng bao lâu nữa trong thành tất có nội biến, Chúa công không phải lo ngại". Thúc tôn Châu Cừu mừng lắm báo tin cho Mạnh tôn Vô Kỵ biết rồi sắp quân để đợi. Mấy hôm sau sứ giả ở nước Tề về, báo với Hầu Phạm, nói vua Tề đã bằng lòng nhận Cấu Ấp và định đổi cho một cái ấp khác. Tử Xích nghe tin, vào mừng Hầu Phạm, khi trở ra, sai người bá cáo cho nhân dân biết rằng: - Họ Hầu sai sứ giả xin đem Cấu Ấp phụ thuộc với Tề, sứ giả về nói: "Quân Tề sắp kéo sang đây!" biết làm thế nào? Bấy giờ nhân dân náo động, có nhiều người đến hỏi Tử Xích. Tử Xích nói: - Ta cũng nghe nói làm vậy, nhưng Tề đang giao hiếu với Lỗ, không muốn chiếm đất, định thiên dân sang ở đất Liêu Nhiếp nước Tề. Xưa nay người ta vẫn có câu "ở đâu xâu đấy" nay nghe nói sắp sửa phải bỏ xứ mình mà đi ai là người không sợ hãi. Mọi người nghe nói, huyên truyền bảo nhau, ai cũng oán giận. Một đêm Hầu Phạm đang uống rượu say. Tử Xích biết vậy, liền sai mấy chục người tâm phúc đi quanh thành mà kêu ầm lên rằng: - Quân Tề đã đến ngoài thành rồi! Chúng ta nên mau mau sắp đồ hành lý, chỉ trong ba ngày nữa đã phải bồng bế nhau đi! Nói xong lại khóc. Dân Cấu Ấp náo động, đến họp cả ở cửa Hầu Phạm. Những người già yếu khóc như ri, còn những kẻ cường tráng đều nghiến răng nghiến lợi, oán giận Hầu Phạm. Bỗng trông thấy cửa dinh có các đồ binh giáp, chúng liền cướp lấy, mặc áo giáp vào mình, tay cầm đồ binh, cùng nhau reo ầm lên mà vây chung quanh nhà Hầu Phạm. Quân sĩ giữ thành bấy giờ cũng theo chúng mà phản Hầu Phạm. Tử Xích vội vàng vào bảo Hầu Phạm rằng: - Dân Cấu Ấp không chịu phụ thuộc nước Tề, đều bảo nhau làm phản, Ngài có còn binh giáp không, để cho tôi ra đánh. Hầu Phạm nói: - Binh giáp của ta đều bị chúng cướp mất cả rồi! Bây giờ chỉ nghĩ làm thế nào cho tránh khỏi tai vạ. Tử Xích nói: - Tôi xin cố sức mà đưa Ngài đi trốn. Tử Xích ra bảo với mọi người rằng: - Các người nhường một lối để cho họ Hầu đi trốn. Họ Hầu trốn thì quân Tề cũng không đến nữa. Mọi người theo lời, nhường một lối cho đi. Tử Xích đi trước, Hầu Phạm đi sau, gia thuộc còn hơn một trăm người và hơn mười cỗ xe. Tử Xích đưa ra khỏi đông môn, rồi đem quân Lỗ vào thành mà phủ dụ nhân dân. Mạnh tôn Vô Kỵ toan đuổi theo Hầu Phạm, Tử Xích can rằng: - Tôi đã nhận lời cho hắn được trốn thoát rồi! Mạnh tôn Vô Kỵ mới tha không đuổi nữa, liền phá bớt Cấu Thành đi ba thước, rồi dùng Tử Xích làm quan tể ở đấy. Hầu Phạm chạy sang với quân Tề. Tướng nước Tề là Điền Nhương Thư biết là quân Lỗ đã phá vỡ Cấu Ấp, liền rút quân về. Tôn Thúc Châu Cừu và Mạnh tôn Vô Kỵ cũng trở về nước Lỗ. Lúc trước Công Sơn Bất Nhữu nghe nói Hầu Phạm chiếm cứ Cấu Ấp để làm phản, mà họ Thúc và họ Mạnh đem quân đi đánh. Công tôn Bất Nhữu mừng mà nói rằng: - Bây giờ họ Quý đang thế cô, ta thừa cơ lẻn đánh, có thể cướp được nước Lỗ. Nói xong liền đem quân Phí Ấp tiến vào đất Khúc Phụ. Thúc tôn Chiếp làm nội ứng, mở cửa thành cho Công Sơn Bất Nhữu vào. Lỗ Định công vội vàng triệu ông Khổng Tử đến hỏi kế. Ông Khổng Tử nói: - Quân công đồ hèn yếu lắm, không thể dùng được, tôi xin đưa Chúa công chạy sang với họ Quý. Ông Khổng Tử đưa Lỗ Định công chạy sang họ Quý. Trong cung họ Quý có một cái đài cao rất là bền chặt. Lỗ Định công ở đấy. Được một lúc, quan Tư mã là Thân Câu Tu và Nhạc Kỳ đều đem quân đến. Ông Khổng Tử bảo Quý tôn Tư đem hết binh giáp ra giao cho quan tư mã, để phục ở hai bên tả hữu. Còn bọn công đồ thì bày hàng ở trước đài. Công Sơn Bất Nhữu cùng Thúc tôn Chiếp thương nghị rằng: - Ta làm việc này, vẫn mượn tiếng là phù công thất mà ức tư gia. Nếu ta không phụng vua Lỗ làm chủ thì sao đánh nổi họ Quý. Nói xong liền vào cung để tìm Lỗ Định công, nhưng tìm không thấy. Biết là Lỗ Định công bỏ chạy sang nhà họ Quý, mới đem quân sang đánh nhau với bọn công đồ. Bọn quân công đồ vỡ chạy. Bỗng thấy Thân Câu Tu và Nhạc Kỳ ở hai bên đem quân tiến ra. Ông Khổng Tử phù Lỗ Định công đứng ở trên đài, bảo người Phí Ấp rằng: - Chúa công đứng đây, các ngươi lại không biết bỏ nghịch theo thuận hay sao! Nên mau mau cởi áo giáp ra hàng đi thì được tha tội. Người Phí Ấp biết ông Khổng Tử là bậc thánh nhân, ai dám không nghe, mới đều bỏ đồ binh mà sụp lạy ở dưới đài. Công Sơn Bất Nhữu và Thúc tôn Chiếp đã phá được Cấu Thành. Quý tôn Tư cũng sai phá bớt Phí Thành, chỉ còn để theo như phép cũ. Mạnh tôn Vô Kỵ cũng muốn phá Thành Ấp. Quan tể ở Thành Ấp là Công Liễm Dương hỏi kế của Thiếu chính Mão. Thiếu chính Mão nói: - Cấu Ấp và Phí Ấp vì làm phản mà phải phá thành, nếu lại phá cả Thành Ấp thì ta cũng chẳng khác gì lũ phản thần hay sao! Nhà ngươi cứ nói "Thành Ấp là để trấn thủ cõi bắc nước Lỗ. Nếu phá Thành Ấp thì khi quân Tề sang xâm cõi Bắc, ta lấy gì mà đương nổi". Cứ một mực giữ lời nói ấy thì dẫu chống cự lại mà không cho phá, cũng không gọi là làm phản được. Công Liễm Dương theo kế ấy, sai quân sĩ trèo lên mặt thành mà nói với Mạnh tôn Vô Kỵ rằng: - Tôi giữ cái thành này, không phải là vì họ Mạnh, chính là vì nước Lỗ, nếu phá đi thì sợ khi quân Tề kéo đến, không lấy gì mà đương nổi. Vậy xin liều chết mà cố giữ cái thành này không dám động đến một viên gạch. Ông Khổng Tử cười mà nói rằng: - Công Liễm Dương không khi nào nói được câu ấy, tất có người xui đó. Quý tôn Tư khen cái công ông Khổng Tử định được Phí Ấp, tự biết là tài đức mình không bằng, mới để cho ông Khổng Tử giúp làm việc tướng quốc. Việc gì cũng hỏi đến ông Khổng Tử, nhưng ông Khổng Tử nói câu gì thì Thiếu chính Mão lại cố ý dèm pha, khiến cho người nghe phần nhiều mê hoặc. Ông Khổng Tử mật tâu với Lỗ Định công rằng: - Nước Lỗ không cường thịnh lên được, là tại trung nịnh không phân biệt, thưởng phạt không công minh, thí dụ muốn trồng lúa tốt, tất phải trừ bỏ cỏ xấu. Xin Chúa công cho đem các đồ phủ việt trong nhà Thái Miếu ra bày ở dưới lưỡng quán để dùng về việc hình. Lỗ Định công thuận cho. Sáng hôm sau, Lỗ Định công truyền cho các quan triều thần hội nghị, để bàn việc phá Thành Ấp xem lợi hại thế nào. Các quan triều thần, người thì nói nên phá, người thì nói không nên phá. Thiếu chính Mão muốn đón ý ông Khổng Tử lại nói phá Thành Ấp có sáu điều tiện: 1. Để tôn trọng quyền vua không ai được bằng; 2. Để tôn trọng cái hình thế đô thành; 3. Để ức quyền tư môn; 4. Để khiến cho kẻ gia thần lộng quyền không có chỗ nương cậy; 5. Để yên lòng ba nhà (Mạnh, Thúc, Quý) ; 6. Để khiến cho các nước nghe việc nước Lỗ ta làm mà đều phải kính phục. Ông Khổng Tử tâu với Lỗ Định công rằng: - Thành Ấp nay đã thế cô, còn làm gì được. Huống chi Công Liễm Dương vẫn có lòng trung với nhà vua, sao dám bảo là lộng quyền. Thiếu chính Mão dùng lời nói khéo để làm loạn chính trị, khiến cho vua tôi ly gián nhau, cứ theo phép thì nên giết. Các quan triều thần đều nói: - Thiếu chính Mão là một người danh giá ở nước Lỗ ta, dẫu có nói lầm nữa, cũng chưa đến tội chết. Ông Khổng Tử lại tâu với Lỗ Định công rằng: - Thiếu chính Mão là người dối trá mà lại biện bác, làm cho người ta mê hoặc. Nếu không giết đi thì việc chính trị không thi hành nổi. Xin Chúa công cho đem phủ việt ra để trị tội. Ông Khổng Tử truyền cho lực sĩ trói Thiếu chính Mão ở dưới lưỡng quán mà giết đi. Các quan triều thần đều xám xanh cả nét mặt. Ba nhà trông thấy cũng phải sợ hãi. Từ khi giết được Thiếu chính Mão rồi, Lỗ Định công và ba nhà mới một lòng nghe lời ông Khổng Tử. Ông Khổng Tử mới chỉnh đốn những kỷ cương trong nước, dạy dân lấy những điều lễ nghĩa và liêm sỉ, vậy nên dân không nhiễu loạn mà chính trị mỗi ngày một hay. Ba tháng về sau, phong tục biến cải cả: Các nhà buôn gà lợn, không dám nhồi cám để dối người mua; trong khi đi đường bên trai bên gái, phân biệt khác nhau, không có hỗn loạn; thấy của rơi ngoài đường, nhưng không phải của mình thì không ai thèm nhặt; người các nước đến du lịch thì nước Lỗ đều tiếp đãi tử tế, không để thiếu thốn. Dân nước Lỗ làm một bài ca để tán tụng công đức ông Khổng Tử. Bài ca ấy truyền tụng sang đến nước Tề, Tề Cảnh công kinh sợ mà nói rằng: - Nếu vậy thì sau này nước ta tất bị nước Lỗ xâm chiếm, ta nên phải nghĩ kế để phòng bị.

Quay về bài gốc

0SHARES
 

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back