34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 20 Ly Cơ được phong Tấn phu nhân Tử Văn lên làm Sở lịnh doãn

Trịnh Văn công thấy thế lực nước Tề mỗi ngày một mạnh, sợ nước Tề xâm lấn nước mình, mới sai sứ sang giảng hòa. Tề Hoàn công hội nước Tống, nước Lỗ, nước Trần và nước Trịnh cùng ăn thề ở đất U. Ăn thề xong, Tề Hoàn công về nước, lại bày một tiệc đại yến khao thưởng các quan. Tiệc đến nửa chừng, Bão Thúc Nha rót một chén rượu thật đầy đến trước mặt Tề Hoàn công để chúc thọ. Tề Hoàn công nói: - Tiệc rượu ngày hôm nay, vui vẻ biết chừng nào! Bão Thúc Nha nói: - Tôi nghe nói vua sáng bề tôi hiền, dẫu đang lúc vui vẻ mà không quên những lúc lo nghĩ. Tôi xin chúa công chớ quên lúc còn phải đi trốn, Quản Trọng (tức Quản Di Ngô) chớ quên lúc còn ở tù xa, Ninh Thích chớ quên lúc còn đang chăn trâu ở nơi thôn dã. Tề Hoàn công vội vàng đứng dậy sụp lạy hai lạy mà nói rằng: - Tôi cùng với các quan đều không quên, ấy là cái phúc to của nước Tề ta đó! Chu Huệ Vương sai Thiệu Bá Liên sang phong cho Tề Hoàn công làm bá chủ, được quyền đi đánh dẹp các nước chư hầu. Lại nói đến việc Vệ Sóc giúp Vương tử Đồi là một việc phản đối với nhà Chu, thế mà đã 10 năm nay, chưa kịp đem quân đến hỏi tội nước Vệ, nay giao việc ấy cho Tề Hoàn công. Tề Hoàn công mới phụng mệnh thiên tử đem quân đi đánh nước Vệ. Bấy giờ Vệ Huệ công (tức là Vệ Sóc) chết rồi, con là Xích lên nối ngôi đã được 3 năm, tức là Vệ Ý công. Vệ Ý công chưa kịp hỏi vì cớ gì mà đến đánh, vội vàng đem quân ra đối địch, thua chạy trở về. Tề Hoàn công kéo thẳng đến dưới chân thành, kể tội trạng Vệ Huệ công. Vệ Huệ công nói: - Đó là cái lỗi của tiên quân ta, chứ có dự gì đến ta! Nói xong, liền sai con trưởng là Công tử Khai Phương đem các đồ lễ vật ra xin giảng hòa với nước Tề. Tề Hoàn công nói: - Theo phép tiên vương nhà Chu ta thì không bắt tội đến đời con cháu. Nay Vệ đã biết tội thì ta cũng nên khoan thứ cho. Nói xong, liền cho nước Vệ giảng hòa. Công tử Khai Phương thấy nước Tề cường thịnh, xin sang làm quan ở nước Tề. Tề Hoàn công nói: - Nhà ngươi là con trưởng Vệ Hầu, tất ngày sau được lên nối ngôi, sao lại bỏ cái ngôi vua của mình mà muốn sang làm tôi nước ta là ý thế nào? Công tử Khai Phương nói: - Chúa công là một bậc hiền đức nhất trong thiên hạ, nếu được hầu gần ở tả hữu chúa công thì cái vẻ vang ấy chẳng sung sướng hơn là làm vua hay sao! Tề Hoàn công dùng cho làm quan đại phu, cũng thân yêu như là bọn Thụ Điêu và Dịch Nha. Người nước Tề gọi là "Tam quí" nghĩa là ba người được vua yêu trong đời bấy giờ. Công tử Khai Phương đem chuyện con gái nước Vệ có nhan sắc đẹp nói với Tề Hoàn công. Tề Hoàn công sai sứ đem lễ vật cưới về làm vợ thứ. Vệ Ý công không dám từ chối, sai người đưa Vệ Cơ sang Tề. Còn người vợ chính của Tề Hoàn công cũng là Vệ Cơ, bởi vậy mới gọi một người là Trưởng Vệ Cơ và một người là Thiếu Vệ Cơ, để cho có phân biệt. Hai người đều được Tề Hoàn công thương yêu cả. Tấn Hiếu công lúc còn làm thế tử, lấy nàng Giả Cơ làm vợ, đã lâu không con; lại lấy cháu gái vua Khuyển Nhung là nàng Hồ Cơ, sinh con là Trùng Nhĩ; và con gái Tiểu Nhung, sinh con là Di Ngô. Sau lại thông dâm với nàng Tề Khương, sinh được người con tên là Thân Sinh. Đến năm Tấn Hiến công lên nối ngôi, Giả Cơ đã chết rồi, mới lập Tề Khương làm phu nhân; bấy giờ Trùng Nhĩ đã 21 tuổi. Di Ngô cũng nhiều tuổi hơn Thân Sinh, nhưng mẹ Thân Sinh là Tề Khương, đã lập làm phu nhân, vậy nên Thân Sinh được lập làm thế tử. Lại cho quan đại phu là Đỗ Nguyên Khoản làm thái phó, Lý Khắc làm thiếu phó để cùng dạy bảo thế tử. Tề Khương lại sinh được một đứa con gái, rồi mất. Tấn Hiến công lại lấy chị của Giả Cơ là Giả Quân, cũng không có con, mới lấy đứa con gái Tề Khương cho Giả Quân làm con nuôi. Tấn Hiến công đem quân đi đánh nước Ly Nhung. Nước Ly Nhung xin hòa, và đem hai người con gái dâng Tấn Hiến công: Người lớn là Ly Cơ, người nhỏ là Thiếu Cơ. Nàng Ly Cơ nhan sắc rất đẹp, không kém gì Tức Vỉ, mà lại mưu mẹo trí trá, chẳng khác gì Đắc Kỷ khi xưa. Mỗi khi ở trước mặt Tấn Hiến công, giả cách thật thà trung thực, để làm cho Tấn Hiến công phải yêu; thỉnh thoảng lại bàn giúp những chính sự trong nước, mười câu nói trúng được đến chín câu. Bởi vậy Tấn Hiến công đem lòng yêu dấu, thường cùng với Ly Cơ ăn một mâm nằm một chiếu, được hơn một năm, Ly Cơ sinh một người con là Hề Tề; Thiếu Cơ cũng sinh một người con là Trác Tử. Tấn Hiến công đã yêu dấu Ly Cơ, lại mừng rằng Ly Cơ có con trai, mới chẳng nghĩ gì đến Tề Khương nữa, định lập Ly Cơ làm phu nhân, liền sai quan thái bốc là Quách Yển bói xem tốt xấu thế nào. Quách Yển bói phải quẻ xấu. Tấn Hiến công không nghe, lại sai Sử Tô bói lại, rồi lập Ly Cơ làm phu nhân. Sử Tô nói riêng với quan đại phu là Lý Khắc rằng: - Nước Tấn ta sắp mất, biết làm thế nào! Lý Khắc giật mình kinh sợ mà hỏi rằng: - Ai làm mất nước Tấn? Sử Tô nói: - Làm mất nước Tấn, tất là nước Ly Nhung. Lý Khắc không hiểu ý ra làm sao cả, lại hỏi. Sử Tô nói: - Ngày xưa vua Kiệt nhà Hạ đánh nước Thi, người nước Thi dâng nàng Muội Hỉ, vua Kiệt yêu nàng Muội Hỉ, đến nỗi mất nhà Hạ; vua Trụ nhà Ân đánh nước Tô, người nước Tô dâng nàng Đắc Kỷ, vua Trụ yêu nàng Đắc Kỷ, đến nỗi mất nhà Ân; vua U Vương nhà Chu đánh nước Bao, người nước Bao dâng nàng Bao Tự, vua U Vương yêu nàng Bao Tự, đến nỗi làm cho nhà Tây Chu phải suy mất. Nay chúa công ta đi đánh Ly Nhung, bắt lấy con gái nước ấy mà lại ham mê như thế, tài nào không phải mất nước. Gặp có quan thái bốc là Quách Yển đến, Lý Khắc thuật lại lời Sử Tô cho Quách Yển nghe, Quách Yển nói: - Nước Tấn ta chỉ loạn mà thôi, chứ chưa đến nỗi mất, cứ theo như quẻ bói khi tiên quân ta mới thụ phong ở nước Tấn này thì vận nước Tấn chưa mất. Lý Khắc nói: - Đến bao giờ thì loạn? Quách Yển nói: - Chỉ trong 10 năm nữa mà thôi. Tấn Hiến công yêu nàng Ly Cơ, muốn lập con là Hề Tề làm thế tử, một hôm nói cho Ly Cơ biết. Ly cơ trong bụng muốn lắm, nhưng ngặt vì một nỗi Thân Sinh đã lập làm thế tử rồi, nay vô cớ mà thay đổi đi, thì e rằng các quan không phục, tất có người can ngăn. Vả lại Trùng Nhĩ, Di Ngô cùng với Thân Sinh, ba người vẫn thân yêu nhau, nếu nói mà không làm được thì chúng biết đường phòng bị, chẳng cũng lỡ việc lắm sao! Nàng mới quì xuống mà nói với Tấn Hiến công rằng: - Thân Sinh được lập làm thế tử, các nước chư hầu ai cũng biết cả, vả lại Thân Sinh là người hiền, không có tội lỗi gì. Nay chúa công vì mẹ con thiếp mà bỏ người nọ lập người kia, để cho thiếp mang tiếng thì chẳng thà thiếp xin tự tử mà chết đi còn hơn. Tấn Hiến công ngỡ là bụng thực, từ bấy giờ không nói đến chuyện ấy nữa. Bấy giờ có hai quan đại phu là Lương Ngũ và Đông Quan Ngũ được Tấn Hiến công thân yêu, quyền thế to lắm, người nước Tấn vẫn gọi là hai ông Ngũ. Lại có một người phường hát tên là Ưu Thi, trẻ tuổi đẹp trai và khéo khôi hài, Tấn Hiến công rất yêu, vẫn cho tự tiện ra vào chỗ cung điện, không ngăn cấm chút nào cả, Ly Cơ cùng với Ưu Thi tư thông, tình ý rất thân mật, mới bàn nhau với Ưu Thi, để lập kế cướp ngôi của thế tử. Ưu Thi nói: - Bây giờ nên nghĩ cách khiến cho ba vị công tử đều ra trấn thủ ở ngoài cõi xa, khi ấy ta sẽ tùy cơ mà lập kế, nhưng việc ấy tất để các quan ngoài nói thì chúa công mới cho là thực. Nay hai ông Ngũ đang có quyền thế, phu nhân nên sai người đem vàng bạc giao kết với chúng, để khiến cho chúng nói với chúa công thì mới nên việc được. Lý Cơ liền đưa vàng bạc cho Ưu Thi để đem ra lễ lót Lương Ngũ và Đông Quan Ngũ, Ưu Thi vào nói với Lương Ngũ rằng: - Phu nhân muốn giao kết với ngài, vậy sai tôi đem lễ bạc này để kính biếu. Lương Ngũ giật mình kinh sợ, nói: - Phu nhân có dặn làm sao không? Nếu nhà ngươi không nói rõ ta không dám nhận. Ưu Thi đem mưu kế của Ly Cơ nói rõ cho Lương Ngũ nghe. Lương Ngũ nói: - Việc này tất phải có cả Đông Quan Ngũ giúp vào mới được. Ưu Thi nói: - Ly Cơ cũng có lễ vật kính biếu Đông Quan Ngũ như ngài ở đây. Nói xong, liền cùng với Lương Ngũ sang nhà Đông Quan Ngũ, ba người cùng thương nghị với nhau. Sáng hôm sau, Lương Ngũ nói với Tấn Hiến công rằng: - Đất Khúc Ốc là chỗ tiên quân ta ngày xưa đóng đô, hiện nay nhà tôn miếu tiên quân ta hãy còn ở đấy; còn đất Bồ và đất Khuất tiếp giáp với nước Nhung Địch, cũng là một nơi trọng địa. Ba chỗ ấy cần phải có người ra trấn thủ, xin chúa công cho thế tử ra trấn thủ ở đất Khúc Ốc, cho Trùng Nhĩ và Di Ngô ra trấn thủ đất Bồ và đất Khuất, như thế thì cơ nghiệp nước nhà vững như bàn đá, không còn lo ngại gì nữa. Tấn Hiến công nói: - Cho thế tử ra ở ngoài, phỏng có nên chăng? Đông Quan Ngũ nói: - Thế tử là một ông vua nhỏ trong nước, Khúc Ốc là một nơi kinh thành nhỏ trong nước, nếu không sai thế tử ra trấn thủ ở đấy thì còn sai ai cho bằng. Tấn Hiến công nói: - Đất Khúc Ốc thì đã phải rồi, nhưng đất Bồ và đất Khuất là một nơi hoang dã, sao lại cho các vị công tử ra ở đấy? Đông Quan Ngũ lại nói: - Không sửa sang thì là nơi hoang dã, bây giờ lập ra thành quách, tức là một nơi đô ấp chớ chi! Lương Ngũ và Đông Quan Ngũ lại đồng thanh mà cùng tán vào rằng: - Nếu như vậy thì nước Tấn ta ngày nay lại thêm ra mấy nơi đô thành nữa, trong thì thế lực chắc chắn, ngoài thì bờ cõi mở mang, từ đây trở đi, nước Tấn ta mỗi ngày một cường thịnh. Tấn Hiến công nghe lời, mới sai thế tử là Thân Sinh ra trấn thủ đất Khúc Ốc, quan thái phó là Đỗ Nguyên Khoan theo đi; sai Trùng Nhĩ ra trấn thủ đất Bồ, Hồ Mao theo đi; Di Ngô ra trấn thủ đất Khuất, Lã Di Xanh theo đi. Thân Sinh và hai vị công tử đã đi ra rồi, chỉ còn Hề Tề và Trác Tử ở gần Tấn Hiến công, Ly Cơ lại càng ngày đêm nghĩ cách để làm cho Tấn Hiến công phải mê hoặc. Bấy giờ Tấn Hiến công chia quân ra làm hai đạo: Thượng quân và hạ quân. Đạo thượng quân thì thuộc về Tấn Hiến công, còn đạo hạ quân thì giao cho Thân Sinh. Thân Sinh cùng với quan đại phu là Triệu Túc và Tất Vạn đem quân đi đánh được nước Cảnh, nước Hoắc và nước Ngụy. Công trạng Thân Sinh càng to bao nhiêu thì Ly Cơ lại càng có lòng ghen ghét bấy nhiêu, chỉ cố ý tìm mưu lập kế để làm hại. Lại nói chuyện Hùng Hi, Hùng Vận nước Sở cùng là con Tức Vỉ sinh ra, nhưng Hùng Vận tài trí hơn anh là Hùng Hi, Tức Vỉ có lòng yêu dấu, người trong nước cũng vẫn tin phục. Khi Hùng Hi đã lên nối ngôi, có ý ghét Hùng Vận, vẫn muốn tìm cớ để giết đi cho khỏi di họa về sau. Các quan bấy giờ nhiều người che chở cho Hùng Vận, bởi vậy Hùng Hi vẫn còn ngần ngại chưa quyết. Sau Hùng Hi sinh ra lười biếng, không thiết gì đến chính sự, chỉ hay đi săn bắn, ở ngôi ba năm mà chẳng làm một việc gì cả. Hùng Vận mật sai kẻ dũng sĩ đón đường khi Hùng Hi ra săn bắn mà giết đi, nói dối Tức Vỉ là Hùng Hi bị bệnh mà chết. Tức Vỉ có ý nghi, nhưng nói ra không tiện, liền sai các quan đại phu lập Hùng Vận lên nối ngôi, tức là Sở Thành Vương. Sở Thành Vương cho người chú là Vương Tử Nguyên làm quan lịnh doãn (tể tướng nước Sở). Vương Tử Nguyên từ khi anh là Sở Văn Vương chết đi, đã có ý muốn cướp ngôi; lại thấy chị dâu là Tức Vỉ nhan sắc xinh đẹp, cũng đem lòng tham muốn. Hùng Hi và Hùng Vận hãy còn trẻ tuổi mà lại là hàng cháu, vậy nên Vương Tử Nguyên không coi vào đâu, chỉ sợ có quan đại phu là Đấu Bá Tỷ vốn người chính trực, lại nhiều tài trí, vì thế mà chưa dám làm càn. Đến khi Đấu Bá Tỷ đã chết rồi, Vương Tử Nguyên không sợ hãi gì cả, mới làm một cái nhà ở bên cạnh cung Tức Vỉ, ngày nào cũng bắt nữ nhạc múa hát để làm cho Tức Vỉ phải động lòng. Tức Vỉ nghe tiếng, hỏi nội thị rằng: - Tiếng nữ nhạc múa hát ở đâu thế? Nội thị nói: - Ở bên nhà mới của quan lịnh doãn đó! Tức Vỉ nói: - Tiên quân ta ngày xưa chăm sự luyện tập quân mã để đánh dẹp các nước chư hầu, bởi vậy các nước đều phải thần phục nước Sở ta cả. Bây giờ quân nước Sở ta không tiến vào trung quốc được, đã đến 10 năm nay, thế mà quan lịnh doãn không biết nghĩ đến những điều xấu hổ ấy, chỉ ham mê đàn hát ở bên cạnh nhà gái góa này, chẳng cũng lạ lắm sao! Nội thị thuật lời nói ấy cho Vương tử Nguyên biết, Vương tử Nguyên nói: - Một người đàn bà còn có chí như vậy, nữa là ta lại không nghĩ đến hay sao! Nay ta không đánh được nước Trịnh thì sao đáng gọi là trượng phu. Nói xong liền cử đại binh đi đánh nước Trịnh. Trịnh Văn công nghe tin quân Sở kéo đến, họp các quan lại để thương nghị. Đỗ Thúc nói: - Quân nước Sở cường thịnh lắm, không thế nào địch nổi, chi bằng ta cho người xin giảng hòa. Sư Thúc nói: - Nước ta mới cùng với Tề giao hiếu, tất thế nào Tề cũng đem quân đến cứu. Ta hãy nên giữ vững để mà đợi quân nước Tề. Thế Tử Hoa bấy giờ còn trẻ tuổi, đang có lòng hăng hái, xin đem quân ra đối địch. Thúc Thiêm nói: - Trong ba người này, ta theo lời nói của Sư Thúc, nhưng cứ như ý tôi trộm nghĩ thì nước Sở chẳng bao lâu cũng phải rút quân về. Trịnh Văn công nói: - Lịnh doãn nước Sở thân hành đem quân đi, khi nào chịu rút về. Thúc Thiêm nói: - Xưa nay nước Sở đi đánh các nước, không dùng nhiều quân như thế bao giờ, lần này Vương tử Nguyên cố đánh lấy được để cho bằng lòng Tức Vỉ đó mà thôi. Nhưng đã có ý mong được thì tất là sợ thua, khi quân Sở kéo đến, tôi có cách làm cho phải lui. Các quan còn đang thương nghị, bỗng nghe báo quân Sở đã kéo đến nơi. Đỗ Thúc nói: - Quân Sở đã đến nơi rồi, nếu không giảng hòa thì hãy nên dời sang đất Đông Khâu để tránh quân Sở. Thúc Thiêm nói: - Không can chi mà sợ! Nói xong, sai quân giáp sĩ mai phục ở trong thành, rồi mở toang cửa thành ra, dân sự chợ búa vẫn đi lại như thường, không kinh hãi gì cả. Tướng nước Sở là Đấu Ngự Cương thấy vậy, có ý nghi hoặc, bảo Đấu Ngô rằng: - Quân Trịnh vững vàng như vậy, tất là có mưu kế định lừa ta vào thành, ta không nên tiến quân vội, hãy đợi quan lịnh doãn ta tới đây. Nói xong, liền đóng quân ở ngoài thành cách xa năm dặm. Được một lúc, đại binh của Vương tử Nguyên kéo đến, Đấu Ngự Cương thuật chuyện lại cho Vương tử Nguyên nghe. Vương tử Nguyên trèo lên gò cao, trông vào thành nước Trịnh, thấy bóng cờ ngọn giáo rất có thứ tự nghiêm chỉnh mới thở dài mà than rằng: - Nước Trịnh có ba người tài giỏi (Thúc Thiêm, Đỗ Thúc và Sư Thúc) rất nhiều mưu kế lạ, chẳng may mà quân ta bị thua thì còn mặt nào trở về trông thấy Tức Vỉ nữa. Âu là ta hãy cho quân do thám thật kỹ, rồi sẽ tiến binh. Ngày hôm sau, Vương tử Nguyên nghe tin Tề Hoàn công cùng với nước Tống, nước Lỗ đem quân đến cứu Trịnh, giật mình kinh sợ, bảo các tướng rằng: - Nay các nước chư hầu đem quân đến cứu Trịnh, trong đánh ra, ngoài đánh vào thì quân ta khó lòng địch nổi, thôi thì ta đánh Trịnh, tiến quân được đến đây, cũng gọi là thắng trận rồi, chi bằng ta rút quân trở về. Vương tử Nguyên truyền cho quân sĩ cuốn cờ im trống, ngay đêm hôm ấy lẻn ra khỏi địa giới nước Trịnh. Khi đã về đến địa giới nước Sở rồi, lại mở cờ rung trống, đem tin thắng trận báo với Tức Vỉ. Tức Vỉ nói: - Nếu lịnh doãn đi đánh Trịnh được thắng trận, nên cáo tế nhà thái miếu, rồi tuyên bá cho người trong nước cùng biết, chứ việc thắng trận ấy dự gì đến gái góa này! Vương tử Nguyên nghe nói, có ý thẹn thùng. Sở Thành Vương (Hùng Vận) thấy Vương tử Nguyên đi đánh Trịnh, không có công trạng gì mà rút quân về, từ bấy giờ không bằng lòng với Vương tử Nguyên. Lại nói chuyện Thúc Thiêm nước Trịnh đêm hốm ấy đang đi tuần ở trên mặt thành, trỏ vào dinh quân Sở mà bảo các tướng rằng: - Đây chỉ còn dinh không mà thôi, chứ quân Sở thì đã đi trốn hết rồi! Các tướng đều không tin, hỏi: - Tại sao ngài biết như vậy? Thúc Thiêm nói: - Dinh quan đại tướng thì bao giờ cũng phải có quân canh giữ nghiêm mật, nay thấy có đàn quạ đậu ở trên cây thì biết đấy chỉ là một cái dinh không mà thôi, ta chắc rằng quân Sở nghe tin các nước chư hầu đem quân đến cứu, vậy phải rút quân bỏ trốn trước. Được một lúc có quân báo rằng: - Các nước chư hầu đem quân đến cứu, chưa kịp vào đến địa giới nước Trịnh, nghe tin quân Sở bỏ trốn, vậy lại rút quân trở về. Bấy giờ các tướng đều phục Thúc Thiêm là người cao kiến. Vương tử Nguyên nước Sở từ khi đánh Trịnh không được công trạng gì, trong lòng áy náy, càng muốn cướp ngôi nước Sở, nhưng định tư thông với Tức Vỉ đã, rồi mới khởi sự. Gặp bấy giờ Tức Vĩ có bệnh. Vương tử Nguyên giả cách vào thăm, rồi đem cả chăn màn ở luôn trong cung ba ngày không ra. Quan đại phu là Đấu Liêm nghe tin, liền vào thẳng trong cung, đến tận giường nằm, trông thấy Vương tử Nguyên đang soi gương chải đầu, Đấu Liêm trách rằng: - Chỗ này có phải là chỗ chải gội hay sao! Quan lịnh doãn nên liệu mà lui ra! Vương tử Nguyên nói: - Dự gì đến nhà ngươi mà nhà ngươi dám nói? Đấu Liêm nói: - Lịnh doãn dẫu là chú vua thật, nhưng cũng là một kẻ bề tôi, vả lại quốc mẫu góa chồng cũng ở gần đây, nam nữ nên tị hiềm, sao lịnh doãn không nghĩ đến điều ấy. Vương tử Nguyên nổi giận nói: - Quyền chính nước Sở, nay ở trong tay ta, sao nhà ngươi dám nói càn. Nói xong, sai người trói Đấu Liêm lại, giam vào một chỗ, không cho ra nữa. Tức Vỉ sai nội thị đến báo với Đấu Cấu Ô Đồ (con Đấu Bá Tỷ). Đấu Cấu Ô Đồ tâu với Sở Thành Vương, rồi cùng với Đấu Ngự Cương, Đấu Ngô và Đấu Ban (con Đấu Cấu Ô Đồ) đem quân vào cung. Vương tử Nguyên đang cùng với cung nhân vui đùa, say rượu nằm ngủ, mơ màng tỉnh dậy, nghe nói có quân đến vây, vội vàng cầm gươm chạy ra. Gặp Đấu Ban cũng cầm gươm bước vào. Vương tử Nguyên quát mắng rằng: - Thằng ranh con này, mày dám làm loạn, à! Đấu Ban nói: - Ta không phải làm loạn, ta đến để trừ loạn đây! Hai bên giao chiến với nhau được mấy hiệp thì Đấu Ngự Cương và Đấu Ngô cũng tiến đến. Vương tử Nguyên liệu sức địch không nổi, vội vàng bỏ chạy, bị Đấu Ban chém một nhát, rơi đầu xuống đất. Đấu Cấu Ô Đồ cởi trói cho Đấu Liêm, cùng nhau đến thăm Tức Vỉ, rồi rút quân trở về. Lại nói chuyện tổ phụ Đấu Cấu Ô Đồ là Đấu Nhược Ngao, lấy con gái vua nước Viên, sinh ra Đấu Bá Tỷ. Đấu Nhược Ngao chết, Đấu Bá Tỷ còn bé, theo mẹ sang ở nước Viên. Viên phu nhân (vợ vua nước Viên) yêu lắm, cho ở trong cung, coi như là con đẻ. Viên phu nhân có một đứa con gái, cùng với Đấu Bá Tỷ là anh em đôi con dì với nhau. Từ thuở nhỏ vẫn cùng nhau chơi đùa ở trong cung, đến lúc lớn lên, tư thông với nhau, đứa con gái có thai. Viên phu nhân biết chuyện, liền cấm Đấu Bá Tỷ vào cung, rồi bảo đứa con gái, nói dối là có bệnh ốm, ở riêng một phòng. Sau đủ ngày đủ tháng, sinh được đứa con trai. Viên phu nhân sai người lấy áo bọc đứa bé ấy, đem bỏ ở Mộng Trạch. Bấy giờ vua nước Viên đang đi săn bắn, đi gần đến Mộng Trạch, trông thấy có một con hổ nằm phục ở gần đó, liền sai quân giương cung ra bắn. Bắn mãi không trúng mà con hổ cũng không sợ hãi gì cả. Vua nước Viên lấy làm lạ, sai người đến tận nơi xét xem thì thấy con hổ đang ẵm một đứa bé con mà cho bú. Vua nước viên nói: - Đó là thần vật, ta không nên trêu vào. Nói xong, đem quân trở về, nói với Viên phu nhân rằng: - Mới rồi ta đến Mộng Trạch, thấy có một chuyện rất lạ! Viên phu nhân hỏi: - Chuyện gì mà lạ? Vua nước Viên mới đem chuyện con hổ cho một đứa bé con bú thuật lại một lượt. Viên phu nhân nói: - Chúa công không biết rõ, đứa bé con ấy chính là thiếp sai người đem bỏ ở đấy. Vua nước Viên ngạc nhiên mà hỏi rằng: - Sao phu nhân lại có được đứa bé con mà đem bỏ ở đấy. Viên phu nhân nói: - Chúa công tha tội cho, thiếp xin kể rõ: Nguyên đứa bé con ấy là con gái ta cùng Đấu Bá Tỷ sinh ra, thiếp sợ mang tiếng, vậy phải sai người đem bỏ ở đấy. Nhưng thiếp nghe nói bà Nguyên Khương ngày xưa dẫm vào vết chân lớn mà sinh ra một đứa con. Nguyên Khương sợ hãi, đem quăng ra sông, có một đàn chim xuống lấy cánh ấp; Nguyên Khương cho là thần, lại đem về nuôi, đặt tên là Khí, tức là ông tổ sinh ra nhà Chu ta. Bây giờ đứa bé ấy có con hổ đến cho bú thì chắc là quí tử. Vua nước Viên nghe nói, sai người đi ẵm về, giao cho con gái nuôi, rồi năm sau gả người con gái ấy cho Đấu Bá Tỷ, sang ở nước Sở. Tiếng nước Sở gọi cho bú là cấu, gọi hổ là ô đồ. Đứa bé con ấy có hổ cho bú, bởi vậy mới đặt tên là Đấu Cấu Ô Đồ, tên tự là Tử Văn. Đấu Cấu Ô Đồ đã lớn, thông minh tài giỏi, đủ cả văn và võ. Cha là Đấu Bá Tỷ làm quan đại phu nước Sở. Đấu Bá Tỷ chết, Đấu Cấu Ô Đồ lại nối làm quan đại phu. Đến lúc Vương tử Nguyên chết, Sở thành Vương toan cho Đấu Liêm làm lịnh doãn. Đấu Liêm chối từ, nói: - Đang bấy giờ chỉ có nước Tề là đối địch với nước Sở ta. Nước Tề dùng Quản Di Ngô và Ninh Thích, vậy nên nước giàu quân mạnh, nay đại vương muốn chỉnh đốn lại chính trị nước Sở, để chống nhau với nước Tề thì tất phải dùng Đấu Cấu Ô Đồ làm lịnh doãn mới được. Các quan đồng thanh mà nói rằng: - Trừ phi Đấu Cấu Ô Đồ thì không ai làm nổi chức lịnh doãn. Sở Thành Vương nghe lời, cho Đấu Cấu Ô Đồ làm lịnh doãn. Sở Thành Vương nói: - Nước Tề dùng Quản Di Ngô, tôn là trọng phụ, chứ không gọi tên, nay ta dùng Đấu Cấu Ô Đồ, cũng không nên gọi rõ tên húy, cứ gọi tên tự là Tử Văn mà thôi. Đấu Cấu Ô Đồ đã làm lịnh doãn, bắt bao nhiêu những ấp riêng của các quan triều thần đều phải nộp một nửa vào công thố, thi hành ngay từ họ Đấu trước, các quan đều phải theo lệnh cả. Lại thấy Dĩnh Thành là nơi hiểm yếu, dời đô ra đấy để luyện tập quân mã; Khuất Hoàn là người hiền sĩ, cử cho làm quan đại phu; Đấu Chương là người tài giỏi, cử cho coi việc quân lữ. Con là Đấu Ban, cũng cử cho làm chức Thân công. Từ bấy giờ nước Sở cường thịnh. Tề Hoàn công nghe nói nước Sở dùng người hiền để chỉnh đốn lại chính trị, có ý sợ nước Sở mỗi ngày một mạnh, mới toan hội các nước chư hầu để đem quân đánh Sở, liền hỏi Quản Di Ngô. Quản Di Ngô nói: - Nước Sở là một nước lớn, đất rộng quân nhiều, thiên tử nhà Chu cũng không trị nổi, nay lại dùng Tử Văn làm lịnh doãn, ta khó lòng lấy binh lực mà đánh được; vả lại chúa công mới thu được lòng các nước chư hầu, cũng chưa có công đức gì to tát để khiến cho người ta tin phục, tôi sợ quân các nước vị tất đã chịu hết lòng với mình. Âu là ta hãy đợi thời cơ chớ nên nóng nảy thì mới giữ cho vạn toàn được. Tề Hoàn công nói: - Tiên quân ta ngày xưa báo thù cho mấy đời trước, đem quân sang chiếm lấy nước Kỷ, đến nay chưa chịu phục ta muốn đem quân đi đánh, phỏng có nên không? Quản Di Ngô nói: - Nước Chương dẫu nhỏ, nhưng là con cháu ông Thái Công thuở xưa, cùng với Tề ta cùng họ; tôi thiết tưởng chúa công không nên đánh, chỉ sai Thành Phủ đem quân đi diễu ở trên mặt thành nước Kỷ, tự khắc nước Chương sợ uy ta mà phải đầu hàng. Tề Hoàn công nghe lời, sai Thành Phủ đem quân đi. Vua nước Chương thấy vậy, đến xin đầu hàng. Tề Hoàn công khen Quản Di Ngô rằng: - Mưu kế của trọng phụ, trăm điều không sai một! Bỗng nghe báo nước Yên bị quân Sơn Nhung vào quấy nhiễu, sai sứ đến cầu cứu.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 21 Quản Trọng đoán biết thần Du Nhi Tề Hoàn sang đánh nước Cô Trúc

Quân Sơn Nhung tức là nước Linh Chi, phía tây giáp nước Yên, phía Đông Bắc giáp nước Tề và nước Lỗ. Khi trước đã đem quân sang xâm phạm địa giới nước Tề, bị Công tử Hốt nước Trịnh đánh thua, nay nghe tiếng nước Tề làm bá chủ, lại cử đại binh sang quấy nhiễu nước Yên, để khiến cho nước Yên không giao thông được với Tề. Yên Trang công chống cự không nổi mới sai sứ sang nước Tề cầu cứu. Tề Hoàn công hỏi Quản Di Ngô. Quản Di Ngô nói: - Quân Sơn Nhung xưa nay vẫn cậy sức mạnh, không chịu thần phục nhà Chu, dẫu không quấy nhiễu nước Yên, ta cũng còn nên đem quân đi đánh, huống chi là nước Yên nay lại sang cầu cứu với nước ta. Tề Hoàn công đem quân đi cứu nước Yên, qua sông Tề Thủy (giáp địa giới nước Lỗ). Lỗ Trang công ra nghênh tiếp. Tề Hoàn công đem việc đánh Sơn Nhung nói với Lỗ Trang công. Lỗ Trang công nói: - Hiền hầu đánh được quân Sơn Nhung thì chẳng những nước Yên đội ơn, cả đến nước tôi cũng đội ơn nhiều lắm, vậy xin hiền hầu cho tôi đem quân đi theo. Tề Hoàn công nói: - Tôi không dám phiền hiền hầu đến những nơi hiểm trở ấy, khi nào tôi không làm xong, bấy giờ tôi sẽ nhờ đến hiền hầu, cũng chưa lấy gì làm muộn. Nói xong, từ biệt Lỗ Trang công, rồi lại kéo quân đi. Vua nước Linh Chi tên là Mật Lư, đem quân sang quấy nhiễu nước Yên, đã hai tháng nay, bắt đàn bà con gái, không biết bao nhiêu mà kể, nghe nói đại binh Tề Hoàn công đến, vội vàng kéo lui. Tề Hoàn công đến nước Yên. Yên Trang công ra nghênh tiếp, tạ cái ơn Tề Hoàn công có công khó nhọc đem quân đến cứu. Quản Di Ngô nói: - Quân giặc chưa bị quân ta đánh đuổi, mà đã kéo lui, chi bằng ta thừa thế đuổi đánh, để trừ cho tiệt nọc đi. Tề Hoàn công khen phải, Yên Trang công xin đem quân đi làm tiên phong. Tề Hoàn công nói: - Nước Yên vừa mới bị quân giặc tàn phá, nỡ nào mà lại để cho đi tiên phong. Âu là hiền hầu cứ thong thả đi sau, làm thanh thế mà tiếp ứng cho, là đủ. Yên Trang công nói: - Cách đây 80 dặm, có một nước tên là Vô Chung, dẫu là loài Sơn Nhung, nhưng không thuộc nước Linh Chi, ta nên sai người đi dụ, để mượn chúng đưa đường. Tề Hoàn công liền sai Thấp Bằng đem vàng bạc đến dụ vua nước Vô Chung. Vua nước Vô Chung sai quan đại tướng là Hổ Nhi Ban đem hai nghìn quân đến giúp. Tề Hoàn công lại trọng thưởng cho, rồi sai đi làm tiên phong. Vua nước Linh Chi là Mật Lư nghe nói Tề Hoàn công đem quân đến đánh, sai mời quan đại tướng là Tốc Mãi vào thương nghị. Tốc Mãi nói: - Quân Tề ở xa đến đây, đi đường khó nhọc, ta nên đánh ngay thì có thể toàn thắng được. Mật Lư nghe lời Tốc Mãi, sai quân mai phục ở trong rừng để đợi quân Tề đến thì đổ ra mà đánh. Hổ Nhi Ban đem quân đến, cùng với Tốc Mãi giao chiến trong mấy hiệp, Tốc Mãi giả cách thua chạy, Hổ Nhi Ban đuổi theo. Đuổi đến giữa rừng, phục binh bốn mặt đổ ra vây lại. Hổ Nhi Ban cố đánh, chẳng may con ngựa bị thương, không chạy được nữa, Hổ Nhi Ban bị bắt. Đại binh của Tề Hoàn công tiến đến, cứu được Hổ Nhi Ban đem về. Hổ Nhi Ban trông thấy Tề Hoàn công, có ý thẹn thùng. Tề Hoàn công nói: - Đi đánh giặc thì được thua là việc thường, tướng quân chớ ngại. Nói xong, lại chọn một con ngựa hay ban cho. Hổ Nhi Ban cảm tạ vô cùng. Tề Hoàn công tiến quân đến núi Phục Long, truyền đóng quân ở trên núi, rồi đem những binh xa kết liền lại với nhau, làm một cái thành giả, canh giữ rất nghiêm mật. Sáng hôm sau, Mật Lư cùng với Tốc Mãi đem hơn một vạn quân đến khiêu chiến, bị thành ngăn cách không tiến lên được. Đến trưa hôm ấy, Quản Di Ngô đứng ở trên ngọn núi, trông thấy quân giặc tan tác, đều xuống ngựa nằm ở dưới đất, có ý trễ biếng, liền vỗ vào vai Hổ Nhi Ban mà bảo rằng: - Bây giờ tướng quân ra đánh thì có thể báo thù được. Hổ Nhi Ban vâng lệnh đem quân xuống đánh, Thấp Bằng nói với Quản Di Ngô rằng: - Tôi chỉ e quân giặc lập kế để đánh lừa ta. Quản Di Ngô nói: - Ta đã nghĩ cả rồi. Nói xong, truyền cho Thành Phủ đem một toán quân đi về phía tả, Tân Tu Vô đem một toán quân đi về phía hữu, để đuổi đánh những quân phục binh của giặc. Nguyên là quân Linh Chi chỉ quen dùng kế mai phục, thấy quân Tề không đánh, liền chia quân phục cả ở trong hang núi, rồi cho một toán quân ở ngoài giả cách xuống ngựa làm ra ý trễ biếng để đánh lừa quân Tề. Hổ Nhi Ban đem quân xuống vừa đến nơi thì quân giặc vội vàng bỏ chạy. Hổ Nhi Ban giục ngựa đuổi theo, bỗng nghe ở trên núi nổi hiệu thu quân, Hổ Nhi Ban quay ngựa trở lại. Mật Lư thấy Hổ Nhi Ban không đuổi theo, vội vàng nổi hiệu gọi quân phục binh ra đánh. Hai đạo phục binh đổ ra, bị quân Thành Phủ và quân Tân Tu Vô đánh một trận thất điên bát đảo. Quân Linh Chi thua chạy, tổn hại không biết bao nhiêu mà kể. Tốc Mãi nói với Mật Lư rằng: - Quân Tề đóng ở trên núi Phục Long này, trong 20 dặm không có suối nước nào cả, chỉ có một con sông Nhu Thủy, nếu ta lấp ngang đi, khiến cho nước sông không chảy tới được thì quân Tề không có nước mà uống, tất phải tan vỡ, khi ấy ta thừa thế đánh trận vào, chắc là được thắng. Lại một mặt sai sứ sang cầu cứu với nước Cô Trúc, mượn quân để đánh Tề, thế mới thật là kế vạn toàn, không lo ngại gì nữa. Mật Lư mừng lắm, theo kế của Tốc Mãi. Quản Di Ngô đang cùng với Hổ Nhi Ban thương nghị tiến binh, bỗng nghe báo quân giặc lấp ngang sông, quân Tề không có nước uống, chưa biết làm ra thế nào. Tề Hoàn công truyền cho quân sĩ đào núi lấy nước, ai đào được trước, sẽ có trọng thưởng. Thấp Bằng nói: - Chỗ nào có nước thì giống kiến thường biết, ta nên tìm chỗ có kiến mà đào. Quân sĩ đi tìm khắp mọi nơi, không thấy tổ kiến đâu cả, về nói với Thấp Bằng. Thấp Bằng nói: - Bây giờ đang mùa đông, giống kiến hay tìm chỗ ấm áp, tất làm tổ về phía có mặt trời mọc. Nên tìm cho được, chớ có đào bậy mà thành ra uổng công. Quân sĩ theo lời, sau đào được ở sườn núi, có một mạch nước rất trong. Tề Hoàn công nói: - Thấp Bằng thật là bậc thánh! Nói xong, liền đặt tên cái suối nước ấy là Thánh Toàn. Quân sĩ đào được nước rồi, mừng rỡ reo hò rất là vui vẻ. Mật Lư cho người đi do thám, thấy quân Tề đã lâu ngày mà không thiếu nước, giật mình kinh sợ nói: - Quân Tề dễ thường có thần giúp hay sao! Tốc Mãi nói: - Quân Tề dẫu có nước, nhưng lâu ngày hết lương thì tất phải lui. Mật Lư không lo sợ gì cả, ngày nào cũng cùng với Tốc Mãi uống rượu vui, bỗng nghe quân Tề kéo đến, Mật Lư và Tốc Mãi hoảng hốt bỏ chạy. Tân Tu Vô đuổi theo, bắt được khí giới và lương thực nhiều lắm, lại cứu được những đàn bà con gái nước Yên bị quân Linh Chi bắt khi trước, không biết bao nhiêu mà kể. Quân Linh Chi đều xin đầu hàng. Tề Hoàn công hạ lệnh cấm giết một người nào. Quân Linh Chi tranh nhau đem các đồ lễ vật đến lạy mừng. Tề Hoàn công hỏi: - Vua mày bây giờ trốn sang nước nào? Quân Linh Chi nói: - Nước tôi tiếp giáp với nước Cô Trúc, hai nước vốn giao hiếu với nhau, khi trước chúa công tôi đã cho người sang mượn quân nước Cô Trúc, nhưng chưa kịp đến, bây giờ chúa công tôi tất sang nước Cô Trúc. Tề Hoàn công hỏi: - Nước Cô Trúc mạnh hay là yếu, đường sá xa gần như thế nào? Quân Linh Chi nói: - Cô Trúc là một nước lớn, cách đây hơn 100 dặm, có một cái suối gọi là Ty Nhĩ, qua cái suối ấy tức là địa phận nước Cô Trúc, nhưng đường núi hiểm hóc khó đi lắm. Tề Hoàn công truyền cho quân sĩ nghỉ lại ba ngày rồi tiến binh sang đánh nước Cô Trúc, Mật Lư đi đến nước Cô Trúc, đem tin bại trận nói với vua Cô Trúc là Đáp Lý Kha. Đáp Lý Kha nói: - Ta vừa toan cất quân đến giúp, nhân có sự ngăn trở, chậm chân mất mấy ngày, chẳng ngờ nhà ngươi đã bị một trận thua to như vậy. Cái suối Ty Nhĩ ở đây sâu lắm, âu là ta thu hết thuyền bè khiến cho quân Tề không tài nào mà bay qua được; đợi khi chúng lui quân về, bấy giờ anh em ta đổ ra mà đánh, khôi phục lại bờ cõi, chắc là phải thắng. Quan đại tướng là Hoàng Hoa nói: - Tôi sợ quân Tề đóng bè mà sang, âu là ta cho quân đi tuần tiễu, phòng giữ rất cẩn thận mới được. Đáp Lý Kha nói: - Nếu quân Tề đóng bè thì ta tất phải biết, lo gì điều ấy. Đại binh của Tề Hoàn công kéo đi hơn 10 dặm đường, trông thấy trước mặt núi đá lởm chởm, cây cỏ rậm rạp, chắn ngang lối đi, không thể tiến binh được, Quản Di Ngô sai lấy lưu hoàng, diêm tiêu và các vật dẫn hỏa rắc vào các hàng cây cối, rồi phóng hỏa đốt lên. Lửa cháy ngùn ngụt, ánh sáng ngất trời, trong năm ngày năm đêm mới tắt, cây cỏ và các giống hồ thỏ đều hóa ra tro cả. Tề Hoàn công truyền phá núi mở đường để cho xe đi. Quản Di Ngô lại làm mấy bài ca "thượng sơn, hạ sơn" để cho quân sĩ vừa hát vừa đẩy xe cho vui. Quân sĩ cùng nhau reo hò, xe chạy như bay, lên được đến đỉnh núi Ty Nhĩ. Tề Hoàn công cùng với bọn Quản Di Ngô và Thấp Bằng đứng trên ngọn núi Ty Nhĩ, xem ngắm hình thế. Tề Hoàn công nói: - Ngày nay ta mới biết văn chương cũng có thể giúp sức cho người ta được nhiều! Quản Di Ngô nói: - Nhớ khi tôi còn ngồi trong tù xa, sợ người nước Lỗ đuổi theo, cũng có làm một bài ca khiến cho quân sĩ vui mà quên sự khó nhọc, thành ra đi được mau lắm. Tề Hoàn công nói: - Vì cớ gì? Quản Di Ngô nói: - Người ta, thân thể khó nhọc thì tinh thần mỏi mệt, nếu khiến cho tinh thần vui vẻ thì sự khó nhọc có thể quên đi được. Tề Hoàn công nói: - Như vậy thì trọng phụ thật là một người hiểu thấu nhân tình! Nói xong, lại truyền tiến binh. Đi qua mấy ngọn núi nữa, bỗng thấy quân sĩ đứng dừng cả lại, nói với Tề Hoàn công rằng: - Mặt trước hai bên núi đứng thẳng lên như tường, ở giữa có một lối đi nhỏ, chỉ đi được từng người một, chứ xe không tài nào đi vừa. Tề Hoàn công sợ xám mặt lại, bảo Quản Di Ngô rằng: - Chỗ này nếu quân giặc có phục binh thì ta tất bị thua! Tề Hoàn công vừa nói dứt lời thì trong khe núi có một vật xăm xăm chạy đến. Tề Hoàn công trừng mắt nhìn xem, thấy người chẳng phải người, thú chẳng phải thú, mình dài hơn một thước, mũ đen áo đỏ, hai chân đi đất, chạy đến trước mặt Tề Hoàn công, hai ba lần vái chào, hình như có ý mừng đón; lại giơ tay phải nắm lấy áo Tề Hoàn công, trỏ vào khe núi, rồi ù té chạy mất. Tề Hoàn công kinh sợ, hỏi Quản Di Ngô rằng: - Trọng phụ có trông thấy gì đó không? Quản Di Ngô nói: - Tôi không thấy gì cả. Tề Hoàn công thuật chuyện lại cho Quản Di Ngô nghe. Quản Di Ngô nói: - Đó là thần Du Nhi. Tề Hoàn công nói: - Thần Du Nhi là thế nào? Quản Di Ngô nói: - Tôi nghe ở bắc phương này có thần núi gọi là Du Nhi, chúa công trông thấy, chắc là thần ấy. Thần Du Nhi mừng đón và có ý mong cho chúa công đến đánh, tay phải nắm áo là có ý bảo về phía hữu có nước sâu, nên đi về phía tả. Vậy xin chúa công hãy đóng quân ở trên núi, cho người đi do thám trước, rồi sau sẽ tiến binh. Tề Hoàn công nghe lời, đóng quân ở trên núi, rồi cho quân sĩ đi do thám trước. Quân sĩ về báo rằng: - Cách núi này độ năm dặm, tức là suối Ty Nhĩ, nước suối sâu lắm, mà bao nhiêu thuyền bè bị vua Cô Trúc thu lấy mất cả, càng về phía hữu thì nước càng sâu, đến hơn một trượng, không thể nào qua được. Nhưng đi về phía tả, cách độ ba dặm, mặt nước dẫu rộng mà nông, lội không đến đầu gối. Tề Hoàn công nghe báo, vỗ tay mà nói rằng: - Như vậy thì cái triệu thần Du Nhĩ thật là ứng nghiệm. Yên Trang công nói: - Suối Ty Nhĩ không nghe nói có chỗ nào nông mà lội được bao giờ, chắc là thần giúp cho hiền hậu được thành công đó! Tề Hoàn công nói: - Từ đây sang Cô Trúc, còn xa hay gần? Yên Trang công nói: - Qua cái suối này đi về phía Đông có ba ngọn núi liền nhau: Một là Đoàn Tử Sơn, hai là Mã Tiên Sơn, ba là Song Tử Sơn, cả thẩy dài 30 dặm, đó là ba ngôi mộ của vua Cô Trúc ngày xưa; lại đi 25 dặm nữa thì đến kinh đô nước Cô Trúc. Quản Di Ngô nói: - Nếu ta họp quân ở cả một chỗ, lỡ khi gặp giặc thì tiến thoái đều khó, ta nên chia quân ra làm hai đạo mà đi. Tề Hoàn công truyền cho quân sĩ đốn tre ở trong rừng, lấy mây bó lại kết thành cánh bè, rồi chia quân ra làm hai đạo, hẹn nhau cùng đến cả ở Đoàn Tử Sơn. Vua nước Cô Trúc là Đáp Lý Kha nghe tin quân Tề đã đóng bè qua suối Ty Nhĩ, vội vàng sai Hoàng Hoa đem 5.000 quân ra nghênh chiến. Mật Lư nói với Hoàng Hoa rằng: - Tôi xin cùng với Tốc Mãi đem quân đi tiên phong. Hoàng Hoa nói: - Khi trước nước ngươi đã bị thua luôn, còn làm gì được mà cũng xin đi! Nói xong liền cưỡi ngựa đi ngay. Đáp Lý Kha bảo Mật Lư rằng: - Nhà ngươi nên đem quân đi trước để tiếp ứng cho Hoàng Hoa, rồi tôi sẽ đem quân đến sau. Mật Lư đem quân tới Mã Tiên Sơn, nghĩ đến sự Hoàng Hoa khinh bỉ mình, vẫn có ý căm tức. Hoàng Hoa đi gần đến suối Ty Nhĩ, gặp đại binh của Tề Hoàn công đánh cho một trận, quân sĩ chết mất quá nửa, còn bao nhiêu xin đầu hàng cả. Hoàng Hoa sợ hãi, chạy về Đoàn Tử Sơn. Khi đến Đoàn Tử Sơn, trông lên trên núi, đã thấy quân Tề đóng chật cả rồi, Hoàng Hoa bất đắc dĩ phải giả hình làm đứa kiếm củi, đi xuyên qua một con đường nhỏ, trốn về Mã Tiên Sơn. Khi đến Mã Tiên Sơn trông thấy có quân tiếp ứng, vội vàng chạy đến, mới biết là quân Mật Lư. Mật Lư nói: - Ngài là một ông tướng thường hay thắng trận, cớ sao lại trơ trọi một mình bỏ chạy đến đây! Hoàng Hoa xấu hổ, không biết dường nào mà kể! Hoàng Hoa đòi lấy cơm rượu, Mật Lư chỉ cho một thăng gạo rang; lại đòi lấy ngựa cưỡi, Mật Lư chỉ đưa cho một con ngựa xấu, Hoàng Hoa giận lắm, về nói với Đáp Lý Kha xin thêm quân để đi đánh báo thù. Đáp Lý Kha nói: - Vì khi trước ta không nghe lời tướng quân, đến nỗi thế này! Hoàng Hoa nói: - Tế hầu chỉ tức giận nước Linh Chi mà đem quân đến đây, chi bằng ta chém đầu vua tôi Mật Lư đem nộp Tề hầu, rồi cùng với nước Tề giảng hòa. Đáp Lý Kha nói: - Mật Lư cùng khốn mà về với ta, nỡ nào ta lại xử tệ như vậy! Quan tể tướng là Ngột Luật Cổ nói: - Tôi có một kế, có thể đánh vỡ được quân Tề. Đáp Lý Kha hỏi: - Kế gì? Ngột Luật Cổ nói: - Phía Bắc nước ta có một cái bể cát, không có nước và cây cỏ gì cả. Xưa nay người trong nước chết, thường hay quăng xác ra đấy, xương khô thành đống, ban ngày vẫn trông thấy ma quỷ hiện hình. Thỉnh thoảng có một thứ gió lạnh, ai gặp thứ gió ấy thì tối tăm mặt mũi lại mà chết ngay, lại có nhiều các giống độc xà và ác thú ở đấy. Nếu cho một người giả cách xin hàng, mà dụ quân Tề đến chỗ ấy thì chẳng cần phải đánh, tự khắc quân Tề phải dần mòn chết hết. Đáp Lý Kha hỏi: - Khi nào quân Tề lại chịu đến chỗ ấy. Ngột Luật Cổ nói: - Chúa công hãy tạm đem cung quyến tránh sang núi Dương Sơn, rồi sai người nói dối Tề Hầu rằng chúa công trốn đi, để cầu cứu với nước khác. Tề Hầu tất nhiên trúng kế ta mà đem quân đuổi theo. Hoàng Hoa xin đem quân đi, để giả cách đầu hàng Tề Hoàn công. Hoàng Hoa vừa đi, vừa nghĩ thầm trong lòng rằng: "Ta không chém đầu Mật Lư thì sao Tề Hầu tin là thực, âu là ta cứ chém đầu Mật Lư, khi đã thành công rồi, chắc chúa công ta cũng không nỡ bắt tội". Hoàng Hoa tức khắc đến Mã Tiên Sơn, vào yết kiến Mật Lư. Mật Lư đang chống giữ với quân nước Tề, nghe báo Hoàng Hoa đem quân đến, trong lòng mừng rỡ vội vàng ra đón. Hoàng Hoa nhân khi Mật Lư bất ngờ, rút gươm chém lấy đầu Mật Lư. Tốc Mãi nổi giận cầm đao xông lại đánh nhau với Hoàng Hoa. Đánh được mấy hiệp, Tốc Mãi biết sức mình không địch nổi, liền bỏ chạy sang đầu hàng Hổ Nhi Ban. Hổ Nhi Ban cho là giả dối, sai quân sĩ bắt Tốc Mãi đem chém. Hoàng Hoa đem đầu Mật Lư đến nộp Tề Hoàn công và xin đầu hàng, lại nói với Tề Hoàn công rằng: - Chúa công tôi đã đem cả cung quyến đi mượn quân nước khác về đánh báo thù. Tôi khuyên chúa công tôi đầu hàng, nhưng chúa công tôi không nghe. Nay tôi chém đầu Mật Lư đem nộp, nếu hiền hầu cho tôi làm tiên phong, tôi xin đem quân đi trước để dẫn đường cho hiền hầu. Tề Hoàn công thấy có đầu Mật Lư, mới tin lời Hoàng Hoa, cho làm tiên phong. Hoàng Hoa đem quân đi trước, dẫn đường cho Tề Hoàn công. Tề Hoàn công đi đến kinh thành nước Cô Trúc, thấy kinh thành bỏ không, càng tin lời nói Hoàng Hoa là thực liền cho Yên Trang công đem một toán quân đóng giữ lấy kinh thành, rồi sai Cao Hắc cùng với Hoàng Hoa đi trước, còn Tề Hoàn công cử đại binh theo sau. Đi được một quãng, trời đã gần tối, chẳng trông thấy toán quân Cao Hắc và Hoàng Hoa đâu cả, chỉ trông thấy một vùng cát trắng, mây kéo tối sầm, gió bắc lạnh lùng, ma kêu quỉ khóc. Quản Di Ngô bảo Tề Hoàn công rằng: - Tôi nghe nói ở cái xứ này có cái bể cát, là một nơi hiểm độc, dễ thường chỗ này, ta không nên đi vội. Tề Hoàn công truyền thu quân trở lại, nhưng quân sĩ lạc đường không biết lối nào mà ra. Tề Hoàn công thấy vậy sợ hãi. Quản Di Ngô nói: - Nước Vô Chung tiếp giáp với xứ này thì những ngựa già ở nước Vô Chung tất nhiên thuộc đường, âu là ta sai Hổ Nhi Ban (người nước Vô Chung) chọn mấy con ngựa già, thả cho đi trước, rồi quân ta theo sau thì có thể ra khỏi được. Tề Hoàn công theo kế ấy, quả nhiên ra khỏi được bể cát. Lại nói chuyện Hoàng Hoa đi trước, lập kế đánh lừa, đưa Cao Hắc về núi Dương Sơn. Cao Hắc thấy Hoàng Hoa cứ một mạch đi thẳng không có ý chờ đại binh kéo sau, mới sinh lòng nghi, dừng cương ngựa lại, không chịu đi vội, bị Hoàng Hoa bắt sống, đem đến nộp Đáp Lý Kha. Hoàng Hoa nói dối Đáp Lý Kha rằng: - Mật Lư thua trận ở Mã Tiên Sơn, bị quân Tề giết chết, nay tôi đã dùng kế trá hàng, lừa được quân Tề vào trong bể cát, lại bắt sống được tướng Tề là Cao Hắc về đây, xin chúa công định liệu. Đáp Lý Kha bảo Cao Hắc rằng: - Nếu nhà ngươi chịu đầu hàng thì ta sẽ phong chức cho. Cao Hắc trừng mắt lên nhìn mà quát mắng rằng: - Ta đây làm quan nước Tề, khi nào chịu thần phục những giống khuyển dương như mày! Nói xong, liền quay lại mắng Hoàng Hoa rằng: - Mày lập kế lừa ta đến đây, ta dẫu chết cũng chẳng tiếc gì, nhưng đại binh của chúa công ta tới nơi, thì vua tôi nhà ngươi bấy giờ hối không kịp? Hoàng Hoa nghe nói nổi giận, rút gươm chém chết Cao Hắc. Đáp Lý Kha lại đem quân về thu phục lấy kinh thành. Yên Trang công không giữ nổi, bỏ chạy về Đoàn Tử Sơn. Đại binh của Tề Hoàn công ra khỏi bể cát, lại kéo về kinh thành nước Cô Trúc. Trong khi đi đường, thấy nhân dân già trẻ dắt nhau đi lũ lượt. Quản Di Ngô sai người hỏi dò, mới biết là Đáp Lý Kha đã đuổi quân nước Yên thu phục lấy kinh thành rồi, bao nhiêu những dân khi trước tránh vào trong rừng, bây giờ lại trở về cả. Quản Di Ngô nói: - Như vậy thì ta đã nghĩ được kế để phá quân giặc! Nói xong liền sai Hổ Nhi Ban đem quân thay hình đổi dạng, đi lẫn với đám đông người, lẻn vào trong thành để làm nội ứng. Quản Di Ngô truyền cho quân sĩ vây kín cả ba mặt thành, chỉ trừ có một cửa phía Bắc, chờ cho Đáp Lý Kha chạy ra thì phục quân mà bắt lấy. Đáp Lý Kha nghe tin quân Tề kéo đến, giật mình kinh sợ, đem quân lên mặt thành để phòng giữ. Hổ Nhi Ban ở trong thành phóng hỏa làm hiệu rồi mở cửa thành cho quân Tề kéo vào. Hoàng Hoa vội vàng phù Đáp Lý Kha lên ngựa, mở cửa thành phía bắc ra để chạy trốn. Đi được ba dặm, bỗng thấy lửa cháy rực trời, trống vang dậy đất, Thành Phủ và Thấp Bằng đổ ra đón đánh. Đáp Lý Kha bị Thành Phủ bắt được, còn Hoàng Hoa và Ngột Luật Cổ chết ở trong đán loạn quân. Sáng hôm sau Tề Hoàn công kéo quân vào kinh thành nước Cô Trúc, chém đầu Đáp Lý Kha, đem bêu ở cửa bắc. Lại treo bảng phủ dụ dân Cô Trúc. Dân Cô Trúc thuật lại chuyện Cao Hắc bị giết, Tề Hoàn công thương tiếc vô cùng, rồi sai ghi tên vào sổ để khi về nước thì gia phong cho. Yên Trang công ở Đoàn Tử Sơn, nghe tin đại binh của Tề Hoàn công đã kéo về kinh thành nước Cô Trúc, cũng đem quân đến để chúc mừng. Tề Hoàn công nói: - Tôi đem quân sang giúp quí quốc, may mà đánh lấy được địa giới nước Linh Chi và nước Cô Trúc này kể hàng 500 dặm, bây giờ xin để biếu quí quốc. Yên Trang công nói: - Tôi nhờ hiền hầu giúp cho, mà giữ yên được nước nhà, cũng đã đội ơn lắm, có đâu lại còn mong dám thêm bờ cõi, xin hiền hầu giao cho người khác. Tề Hoàn công nói: - Linh Chi và Cô Trúc là một nơi hoang viễn, nếu giao cho người khác thì chúng lại quấy nhiễu. Hiền hầu chớ nên từ chối, nên nhận lấy mà mở mang bờ cõi, rồi sai sứ vào triều cống thiên tử nhà Chu, thế là tôi cũng được dự một phần vẻ vang đó. Yên Trang công không dám từ chối nữa. Tề Hoàn công truyền mở tiệc khao thưởng quân sĩ, lấy lại một khu ruộng ở dưới núi Tiểu Toàn Sơn để thưởng công cho Hổ Nhi Ban. Hổ Nhi Ban lạy tạ, cáo từ xin về. Tề Hoàn công nghỉ quân năm ngày, rồi kéo đại binh trở về nước Tề. Yên Trang công đi tiễn Tề Hoàn công ra khỏi địa giới nước Yên. Từ bấy giờ nước Yên mở rộng bờ cỏi, thành ra một nước lớn ở phương bắc. Các nước chư hầu nghe nói Tề Hoàn công đem quân cứu nước Yên, mà lấy được bao nhiêu đất, lại cho nước Yên tất cả, ai cũng sợ uy và phục bụng Tề Hoàn công. Tề Hoàn công về đến sông Tế Thủy (tiếp giáp địa giới nước Lỗ), Lỗ Trang công ra nghênh tiếp, bày tiệc ở bờ sô chúc mừng. Tề Hoàn công đem những đồ quí vật của nước Linh Chi và Cô Trúc, chia một nửa biếu Lỗ Trang công. Lỗ Trang công biết Quản Di Ngô có một cái ấp riêng tên gọi Tiểu Cốc ở địa giới nước Lỗ, muốn lấy lòng Quản Di Ngô, mới sai người đến sửa sang thành quách rất tử tế. Sau Lỗ Trang công mất, từ bấy giờ nước Lỗ lại sinh ra loạn to.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 22 Lỗ Quí Hữu giữ vững cơ đồ Tề Hoàn công trông thấy ma quỉ

Công tử Khánh Phủ là thứ huynh của Lỗ Trang công; em cùng mẹ với Công tử Khánh Phủ là Thúc Nha, tức là thứ đệ của Lỗ Trang công; còn người em cùng mẹ của Lỗ Trang công là Công tử Hữu, vì trong bàn tay có cái vết chữ "Hữu", mới đặt tên là Hữu, tên tự là Quí, vậy nên vẫn gọi là Quí Hữu. Trong ba anh em cùng làm quan đại phu, chỉ có Quí Hữu là hiền hơn cả; vả lại là em cùng mẹ của Lỗ Trang công ra chơi đất Lang Đài, trông thấy con gái họ Đảng là Mạnh Nhâm nhan sắc xinh đẹp, sai người đi triệu, Mạnh Nhâm không chịu đến. Lỗ Trang công lại sai người bảo rằng: - Nếu nghe lời ta thì rồi sau ta lập làm phu nhân. Mạnh Nhâm xin ăn thề, Lỗ Trang công thuận cho. Mạnh Nhâm mới trích cánh tay lấy máu cùng với Lỗ Trang công ăn thề. Lỗ Trang công đem Mạnh Nhâm về cung. Năm sau, Mạnh Nhâm sinh được một người con, tên là Công tử Ban. Lỗ Trang công muốn lập Mạnh Nhâm làm phu nhân, vào nói với mẹ là Văn Khương. Văn Khương không bằng lòng cho, nhất định bắt phải giao ước để lấy con gái Tề Tương công là Ai Khương làm vợ. Bấy giờ Ai Khương còn bé lắm, phải chờ đợi trong 20 năm trời mới có thể cưới được; bởi vậy Mạnh Nhâm dẫu chưa được lập làm phu nhân, nhưng trong 20 năm ấy vẫn làm chủ ở trong cung. Đến lúc Ai Khương về làm phu nhân nước Lỗ thì Mạnh Nhâm đã chết rồi. Ai Khương không có con. Em gái Ai Khương là Thúc Khương theo Ai Khương sang lấy Lỗ Trang công, sinh được Công tử Khải. Lúc trước Lỗ Trang công lại có một người thiếp là Phong Thị, sinh được Công tử Thân, Phong Thị đem Công tử Thân đến nhờ Quí Hữu lập làm thế tử. Quí Hữu nói: - Công tử Ban hơn tuổi, phải lập Công tử Ban. Phong Thị không dám nói nữa. Ai Khương dẫu được lập làm phu nhân, nhưng Lỗ Trang công vẫn có ý giận là con gái kẻ thù giết cha mình khi trước, bởi vậy mặt ngoài kính trọng, mà trong bụng vẫn ghét thầm. Ai Khương thấy Công tử Khánh Phủ mặt mũi khôi ngô, đem tình dan díu, liền cùng với Khánh Phủ tư thông; lại kết đảng với Thúc Nha (Em cùng mẹ với Khánh Phủ), muốn lập Khánh Phủ lên làm vua, Thúc Nha làm tể tướng. Lỗ Trang công nhân tiết trời không mưa, sắp đi tế đảo vũ, ngày hôm trước truyền cho bọn nhạc công tập diễn nhạc ở sân nhà quan đại phu là Lương Thị. Lương Thị có người con gái đẹp, vẫn đi lại với Công tử Ban. Công tử Ban bằng lòng, định sau lập thành phu nhân. Hôm ấy, con gái Lương Thị bắc thang lên tường để xem diễn nhạc. Ngữ Nhân Lạc đứng ở ngoài tường, trông thấy con gái Lương Thị đẹp, liền làm một bài ca để hát ghẹo. Công tử Ban nghe tiếng hát chạy ra, trông thấy Ngữ Nhân Lạc, nổi cơn ghen tức, sai người bắt vào, đánh cho 300 roi, bắn máu đít ra. Ngữ Nhân Lạc kêu van mãi, Công tử Ban mới tha cho, lại thuật chuyện với Lỗ Trang công. Lỗ Trang công nói: - Ngữ Nhân Lạc là người có sức khỏe, thiên hạ không mấy người địch nổi, nhà ngươi đánh hắn như vậy, tất hẳn đem lòng thù oán, chi bằng hắn đã vô lễ thì đem giết ngay đi, khiến khỏi lo ngại về sau. Nguyên Ngữ Nhân Lạc có tiếng là người sức khỏe lạ thường, đã một lần đứng trên chòi thành nhẩy xuống dưới đất; khi xuống đến nơi lại vùng ngay dậy, lấy tay bíu vào cột chòi mà lung lay, trên chòi đều chuyển động cả. Cũng vì có sức khỏe ấy, nên Lỗ Trang công khuyên Công tử Ban giết đi. Công tử Ban nói: - Ngữ Nhân Lạc dẫu có sức khỏe, chẳng qua là một đứa vũ phu mà thôi, có lo ngại gì! Ngữ Nhân Lạc quả nhiên đem lòng oán giận Công tử Ban, mới xin vào làm môn hạ Khánh Phủ. Năm sau, Lỗ Trang công ốm nặng, có ý nghi Khánh Phủ muốn cướp ngôi, mới giả cách gọi Thúc Nha vào hỏi chuyện để dò ý. Thúc Nha quả nhiên khen tài Khánh Phủ và nói với Lỗ Trang công nên lập Khánh Phủ lên nối ngôi. Lỗ Trang công nín lặng không nói gì cả. Thúc Nha cáo từ lui ra. Lỗ Trang công lại gọi Quí Hữu vào hỏi. Quí Hữu nói: - Chúa công ngày trước có ước với Mạnh Nhâm, nay đã không lập làm phu nhân, có lẽ nào lại còn bỏ cả người con nữa. Lỗ Trang công nói: - Khánh Phủ là một người tàn nhẫn, không có tư cách làm vua, Thúc Nha có ý bênh vực anh, chúa công không nên nghe. Dù thế nào tôi cũng xin hết sức mà phù Công tử Ban. Lỗ Trang công gật đầu, liền cấm khẩu không nói được nữa. Quí Hữu vội vàng sai nội thị nói dối là phụng mệnh Lỗ Trang công bảo Thúc Nha đến đợi ở nhà quan đại phu Hàm Quí. Thúc Nha tưởng thực, tức khắc đến nhà Hàm Quí. Quí Hữu sai bỏ thuốc độc vào hai bình rượu, đưa cho Hàm Quí, để bắt Thúc Nha uống. Lại viết riêng một bức thư đưa cho Thúc Nha bảo rằng: - Chúa công có lệnh bắt Công tử chịu uống thuốc độc mà chết đi thì con cháu sau nối đời được phong chức, nếu không tất phải giết chết cả nhà. Thúc Nha không chịu uống. Hàm Quí nắm tai Thúc Nha mà đổ vào. Được một lúc, Thúc Nha chảy máu mồm máu mũi ra mà chết. Chiều hôm ấy, Lỗ Trang công mất. Quí Hữu lập Công tử Ban lên nối ngôi. Công tử Ban nghĩ đến cái tình nhà mẹ (Mạnh Nhâm) là họ Đảng, nghe tin ngoại tổ là Đảng Thần chết, liền đến tận nhà để thăm. Khánh Phủ mật gọi Ngữ Nhân Lạc vào bảo: - Nhà ngươi không nhớ đến cái thù trận đòn ngày xưa hay sao? Này này, con giao long đã ra khỏi mặt nước, thì sức một người có thể bắt được. Sao nhà ngươi không đón ở nhà họ Đảng mà báo thù, có sự gì rồi ta sẽ bênh vực cho. Ngữ Nhân Lạc nói: - Nếu Công tử giúp cho, tôi xin vâng mệnh. Nói xong, liền giắt một con dao găm, đang đêm đến nhà họ Đảng, bấy giờ đã sang canh ba, trèo tường mà vào, đứng núp ở ngoài hiên. Đến lúc trời gần sáng, nội thị mở cửa ra lấy nước, Ngữ Nhân Lạc thừa cơ lẻn vào trong buồng ngủ. Công tử Ban vừa mới ở trên giường bước xuống, đang xỏ chân vào giầy, trông thấy Ngữ Nhân Lạc, giật mình kinh sợ mà hỏi rằng: - Mày đến đây làm gì? Ngữ Nhân Lạc nói: - Ta chỉ đến báo thù trận đòn năm trước đây! Công tử Ban liền rút thanh kiếm ở trên đầu giường, chém vào trán Ngữ Nhân Lạc chảy cả óc ra. Ngữ Nhân Lạc tay trái nắm lấy thanh kiếm, tay phải cầm dao đâm vào cạnh sườn Công tử Ban. Công tử Ban chết. Nội thị sợ hãi mà kêu rầm lên. Quân sĩ kéo vào bắt Ngữ Nhân Lạc. Ngữ Nhân Lạc vỡ óc không thể địch nổi, bị quân sĩ chém nát nhừ ra như tương. Quí Hữu nghe tin Công tử Ban chết biết là mưu của Khánh Phủ, tức thì trốn sang nước Trần. Khánh Phủ giả cách không biết, đổ tội cho Ngữ Nhân Lạc rồi giết cả nhà Ngữ Nhân Lạc để khỏi mang tiếng. Ai Khương muốn lập Khánh Phủ lên nối ngôi, Khánh Phủ nói: - Chưa giết nốt Công tử Thân và Công tử Khải thì chưa nên nối ngôi vội! Ai Khương nói: - Thế có nên lập Công tử Thân hay không? Khánh Phủ nói: - Công tử Thân đã lớn tuổi, ta khó kiềm chế, âu là ta lập Công tử Khải. Khánh Phủ thân hành sang nước Tề, đem tin Công tử Ban chết báo với Tề Hoàn công và mang lễ vật sang biếu Thụ Điêu, để nhờ Thụ Điêu nói với Tề Hoàn công công nhận cho Công tử Khải lên nối ngôi. Bấy giờ Công tử Khải mới lên 8 tuổi, tức là Lỗ Mẫn công. Lỗ Mẫn công là con Thúc Khương, mà Thúc Khương là em gái Ai Khương, vậy Lỗ Mẫn công tức là cháu gọi Tề Hoàn công bằng cậu. Lỗ Mẫn công trong sợ Ai Khương, ngoài sợ Khánh Phủ, mới sai sứ sang ước với Tề Hoàn công xin đến hội ở đất Lạc Cô (đất nước Tề). Khi đến hội, Lỗ Mẫn công nắm lấy áo Tề Hoàn công, nước mắt chảy xuống dòng dòng, thuật lại những chuyện Khánh Phủ làm loạn. Tề Hoàn công hỏi: - Các quan đại phu ở nước Lỗ bây giờ, ai là hiền hơn? Lỗ Mẫn công nói: - Chỉ có Quí Hữu là hiền hơn cả, nay tránh nạn trốn sang nước Trần. Tề Hoàn công nói: - Sao không sai người triệu về? Lỗ Mẫn công nói: - Nhưng lại sợ Khánh Phủ có lòng nghi. Tề Hoàn công nói: - Cứ bảo là phải theo ý tôi mà triệu Quí Hữu về thì ai dám trái mệnh. Nói xong, liền sai sứ sang nước Trần để triệu Quí Hữu. Lỗ Mẫn công chờ Quí Hữu đến, rồi cùng về nước Lỗ. Lỗ Mẫn công cho Quí Hữu làm tể tướng, nói thác là theo ý Tề Hoàn công. Tề Hoàn công sợ nước Lỗ có loạn, sau quan đại phu là Trọng Tôn Thu sang thăm và dò xem tình ý Khánh Phủ ra làm sao. Lỗ Mẫn công trông thấy Trọng Tôn Thu, chỉ ứa nước mắt xuống mà khóc, không nói được câu gì cả. Sau Trọng Tôn Thu vào yết kiến Công tử Thân, thấy Công tử Thân nghị luận những công việc nước Lỗ, rất có thứ tự, Trọng Tôn Thu khen rằng: - Công tử Thân thật là có tài trị nước! Nói xong, liền dặn Quí Hữu phải trông nom Công tử Thân, lại khuyên Quí Hữu nên trừ Khánh Phủ đi mới được. Quí Hữu ra hiệu giơ một cánh tay cho Trọng Tôn Thu xem. Trọng Tôn Thu hiểu ý là thế cô, một mình không làm gì được, mới bảo Quí Hữu rằng: - Để tôi về nói với chúa công tôi, nếu có sự nguy cấp gì, chúa công tôi sẽ giúp cho. Khánh Phủ cũng đem vàng bạc đến lễ Trọng Tôn Thu. Trọng Tôn Thu nói: - Nếu Công tử một lòng trung với nước nhà thì chúa công tôi cũng bằng lòng, chẳng những là tôi. Nói xong nhất định từ chối, Khánh Phủ sợ hãi lui ra. Trọng Tôn Thu về nói với Tề Hoàn công rằng: - Không trừ được Khánh Phủ thì nước Lỗ quyết không yên. Tề Hoàn công nói: - Ta đem quân sang mà trừ đi, phỏng có nên không? Trọng Tôn Thu nói: - Tội ác của Khánh Phủ chưa hiển hiện ra thì chưa nhân cớ gì mà trừ đi được, nhưng tôi xem ý Khánh Phủ, chẳng bao lâu tất cũng làm loạn, hãy chờ khi hắn làm loạn mà giết đi, ấy là trách nhiệm của bá chủ đó! Tề Hoàn công khen phải. Khánh Phủ vẫn muốn cướp ngôi, chỉ vì Lỗ Mẫn công là cháu ngoại Tề Hoàn công, và lại có Quí Hữu hết sức phù tá, vậy nên còn e sợ, chưa dám làm vội. Một hôm, có quan đại phu là Bốc Kỳ đến chơi. Khánh Phủ mời vào chốn thư phòng trông thấy Bốc Kỳ hầm hầm tức giận, Khánh Phủ lấy làm lạ, liền hỏi. Bốc Kỳ nói: - Tôi có một khu ruộng, tiếp giáp với khu ruộng của quan thái phó tên là Thận Bất Hại, bị Thận Bất Hại xâm chiếm mất, tôi vào nói với chúa công. Chúa công lại có ý bênh Thận Bất Hại, bảo tôi nhường cho hắn, tôi lấy làm tức lắm, vậy phải tới đây nhờ Công tử nói giúp với chúa công một câu cho. Khánh Phủ đuổi hết người xung quanh, rồi khẽ bảo Bốc Kỳ rằng: - Chúa công trẻ tuổi chưa biết gì, dẫu nói cũng vô ích, nếu nhà ngươi có thể làm được đại sự thì ta sẽ vì nhà ngươi mà giết Thận Bất Hại cho, nhà ngươi nghĩ thế nào? Bốc Kỳ nói: - Nhưng sợ có Quí Hữu thì việc làm không nổi, lại khó lòng mà thoát nạn được. Khánh Phủ nói: - Chúa công hãy còn trẻ tính, nhiều khi đang đêm vẫn ra ngoài phố chơi, nếu ta sai người đón đường mà giết đi, rồi đổ tiếng cho những quân trộm giặc thì còn ai biết được. Bấy giờ ta phụng mệnh quốc mẫu (tức là Ai Khương) lên nối ngôi thì đuổi Quí Hữu thật dễ như trở bàn tay. Bốc Kỳ vâng lời, mới tìm được kẻ dũng sĩ là Thu Á, đưa cho một con dao găm, sai đến phục ở ngoài cửa cung. Lỗ Mẫn công quả nhiên đang đêm ở trong cung ra. Thu Á nhảy xổ đến đâm chết. Các thị vệ kêu rầm lên, rồi xúm lại bắt. Bốc Kỳ đem người nhà đến đánh tháo cho Thu Á, Khánh Phủ đến tận nhà mà giết Thận Bất Hại. Quí Hữu nghe thấy việc biến cố như vậy, ngay đêm hôm ấy đến gõ cửa nhà Công tử Thân, vào gọi Công tử Thân dậy, thuật chuyện Khánh Phủ làm loạn, rồi hai người đem nhau trốn sang nước Châu. Người nước Lỗ bấy giờ vốn tin phục Quí Hữu, nghe tin Lỗ Mẫn công bị giết. Quí Hữu phải chạy trốn, cả nước đều náo động, căm tức Bốc Kỳ và Khánh Phủ. Khánh Phủ biết là lòng dân không phục, định trốn ra ngoại quốc, sực nghĩ đến Tề Hoàn công khi trước có mượn quân nước Cử để về phục quốc, âu là ta trốn sang nước Cử để nhờ nước Cử nói hộ với Tề Hoàn công. Vả lại Văn Khương khi trước có tư thông với thầy thuốc nước Cử, mà Ai Khương ngày nay tức là cháu gái Văn Khương, bây giờ ta sang nước Cử, mới có thể trông cậy được. Khánh Phủ nghĩ vậy, liền giả hình làm một người lái buôn, đem vàng bạc trốn sang nước Cử. Ai Khương nghe tin Khánh Phủ trốn sang nước Cử, cũng toan trốn sang. Các cung nhân bảo Ai Khương rằng: - Phu nhân vì việc Khánh Phủ mà mang oán với người trong nước, nay có Quí Hữu ở nước Châu, người trong nước ai cũng tin phục, chi bằng phu nhân trốn sang nước Châu mà nói với Quí Hữu bênh vực cho. Ai Khương nghe lời, trốn sang nước Châu, xin vào yết kiến Quí Hữu. Quí Hữu không tiếp, liền đem Công tử Thân về Lỗ, rồi sai người sang báo tin với Tề Hoàn công. Tề Hoàn công hỏi Trọng Tôn Thu rằng: - Nay nước Lỗ chưa có ai làm vua, ta có nên chiếm lấy hay không? Trọng Tôn Thu nói: - Lỗ vốn là một nước biết giữ lễ nghĩa, nay dẫu gặp sự cố, nhưng lòng người chưa quên cái công đức của Chu Công ngày xưa, ta chưa nên chiếm lấy vội. Vả lại Công tử Thân là người thông minh, am hiểu việc nước; Quí Hữu cũng là người có tài, tất dẹp yên được đảng loạn, chi bằng ta nhân dịp hãy sai người đem quân sang giúp. Tề Hoàn công nghe lời, sai quan thượng khanh là Cao Hề đem 3000 quân đóng tại nước Lỗ, rồi liệu thế mà khu xử; hễ Công tử Thân có tài làm vua được, thì lập cho làm vua, rồi hai nước giao hiếu với nhau, nếu không thì nhân tiện mà chiếm lấy đất nước Lỗ. Cao Hề đem quân đến nước Lỗ, lại vừa gặp Công tử Thân và Quí Hữu cùng đến. Cao Hề thấy Công tử Thân mặt mũi nghiêm trang, nói năng đứng đắn, có ý kính trọng, mới cùng với Quí Hữu bàn định, rồi lập Công tử Thân lên nối ngôi, tức là Lỗ Hi công. Cao Hề lại sai quân sĩ giúp người nước Lỗ đắp thành Lộc Môn để phòng giữ nước Châu và nước Cử. Quí Hữu sai Công tử Hề Tư theo Cao Hề sang nước Tề để tạ ơn Tề Hoàn công; một mặt sai người đem vàng bạc sang lễ vua nước Cử để nhờ giết hộ Khánh Phủ. Khi Khánh Phủ chạy sang nước Cử, đã đem các đồ châu báu vào lễ vua nước Cử. Đến bây giờ vua nước Cử lại tham lễ vật của nước Lỗ, mới sai người bảo Khánh Phủ rằng: - Nước Cử tôi nhỏ mọn lắm, nếu Công tử ở đây thì sợ lại sinh việc tranh chiến, xin Công tử hãy tạm tránh sang nước khác. Khánh Phủ còn dùng dằng chưa chịu đi. Vua nước Cử sai người đuổi. Khánh Phủ lại nghĩ đến Thụ Điêu nước Tề khi trước đã từng ăn lễ mà bênh vực cho mình, bấy giờ mới bỏ nước Cử trốn sang nước Tề. Quan trấn thủ ở bờ cõi nước Tề vốn biết Khánh Phủ là người tàn ác, chưa dám cho vào nước vội, mới tạm để ở trên sông Vấn Thủy. Công tử Hề Tư khi trước sang tạ ơn Tề Hoàn công, bấy giờ trở về đến sông Vấn Thủy, liền vào yết kiến Khánh Phủ, toan mời Khánh Phủ cùng về nước Lỗ. Khánh Phủ nói: - Ta về bây giờ thì tất Quí Hữu giết. Nhà ngươi hãy về nói với Quí Hữu trước, nếu Quí Hữu nghĩ đến tình tiên quân ngày xưa mà khoan dung cho thì không bao giờ ta dám quên ơn. Hề Tư về nước Lỗ, thuật lại lời nói của Khánh Phủ. Lỗ Hi công toan cho về. Quí Hữu nói: - Nếu kẻ giết vua mà không bắt tội thì còn ai sợ nữa! Quí Hữu lại bảo riêng với Hề Tư rằng: - Nếu Khánh Phủ chịu tự tử thì còn có thể tha cho con cháu sau, không đến nỗi tuyệt tự. Hề Tư lại đến trên sông Vấn Thủy, toan vào bảo Khánh Phủ, nhưng nể mặt lắm, không nỡ nói ra, mới đứng ở ngoài cửa gào khóc rầm lên. Khánh Phủ nghe tiếng khóc, biết là Hề Tư liền thở dài mà than rằng: - Hề Tư không vào mà gào khóc như thế thì ta khó lòng giữ toàn tính mệnh. Khánh Phủ tức thì cởi dây lưng thắt cổ mà chết. Hề Tư về báo tin với Lỗ Hi công. Lỗ Hi công có ý ngậm ngùi than thở. Bỗng thấy quân báo vua nước Cử sai em là Doanh Nô đem quân tới ngoài cõi nước Lỗ, nghe tin Khánh Phủ đã chết, đến đòi lễ tạ. Quí Hữu nói: - Người nước Cử có bắt hộ Khánh Phủ bao giờ mà dám nhận công! Nói xong, liền xin đem quân ra đánh. Lỗ Hi công cởi thanh bảo kiếm ở trong mình đưa tặng cho Quí Hữu mà bảo rằng: - Thanh bảo kiếm này tên gọi Mạnh Lao, dẫu dài không được một thước, nhưng lưỡi sắc lắm, thật là một thứ của quí ít có, xin để biếu thúc phụ. Quí Hữu đeo vào cạnh mình, rồi tạ ơn lui ra. Đi đến đất Lịch Trì, Doanh Nô đã bày trận sẵn để đợi. Quí Hữu nghĩ thầm trong lòng rằng: Bây giờ vua ta mới lên ngôi, việc nước chưa được yên ổn, nếu đánh mà không thắng thì lòng người náo động. Vả lại Doanh Nô là người tham mà không có mưu trí, chi bằng ta dùng kế tất đánh được hắn. Quí Hữu tiến ra trận tiền, mời Doanh Nô đến để nói chuyện. Quí hữu bảo Doanh Nô rằng: - Hai chúng ta không bằng lòng mà đánh nhau, chứ quân sĩ đâu có tội gì đâu! Tôi nghe Công tử có sức khỏe, tài đấu võ bằng tay, nay tôi xin bỏ đồ khí giới, mà cùng với Công tử quyết một trận sống mái. Doanh Nô khen phải, truyền cho quân sĩ đứng cả ra một bên, rồi cùng với Quí Hữu đấu võ. Hai người đấu võ với nhau trong 50 hợp, chưa phân được thua. Con trai Quí Hữu tên gọi Hành Phủ, bấy giờ mới lên 8 tuổi, Quí Hữu vẫn yêu dấu lắm, đi đâu cũng đem đi đấy. Hành Phủ đứng ở bên cạnh xem đấu võ, thấy Quí Hữu mãi không đánh được Doanh Nô, liền kêu to lên rằng: - Thanh Mạnh Lao để đâu? Quí Hữu biết ý, giả cách bị thua, lùi lại một bước để cho Doanh Nô xấn vào, rồi quay mình rút thanh Mạnh Lao chém thẳng một nhát vào người Doanh Nô, suốt từ trán xuống vai, bạt hẳn mất nửa đầu, mà lưỡi gươm không dây một tí máu nào, thật là một thanh gươm sắc rất quí. Quân nước Cử thấy Doanh Nô đã bị giết rồi, liền bỏ chạy toán loạn tất cả. Quí Hữu thắng trận, thu quân trở về. Lỗ Hi công thân hành ra đón, phong cho Quí Hữu làm thượng tướng và thưởng cho đất Phí Ấp. Quí Hữu nói: - Tôi cùng với Khánh Phủ và Thúc Nha đều là cháu vua Lỗ Hoàn công, tôi vì việc nước mà phải bỏ thuốc độc cho Thúc Nha chết, và bắt Khánh Phủ phải tự tử, thật là những việc bất đắc dĩ. Nay Khánh Phủ và thúc Nha không được tặng phong mà tôi lại được trọng thưởng thì ngày sau tôi còn mặt mũi nào mà trông thấy tiên quân ở dưới suối vàng. Lỗ Hi công nói: - Khánh Phủ và Thúc Nha đã có lòng phản nghịch như vậy thì có lẽ nào ta lại tặng phong cho được! Quí Hữu nói: - Khánh Phủ và Thúc Nha dẫu có lòng phản nghịch, mà chưa có cái gì là tang chứng, xin chúa công nghĩ đến tình thân thuộc mà tặng phong cho. Lỗ Hi công nghe lời, liền phong cho con Khánh Phủ là Công tôn Ngao ở đất Thành Ấp, tức là Mạnh Tôn Thị, còn Thúc Nha ở đất Hậu Ấp, tức là Thúc Tôn Thị, còn Quí Hữu ở đất Phí Ấp, tức là Quí Tôn Thị. Bấy giờ Mạnh Tôn Thị, Thúc Tôn Thị và Quí Tôn Thị ba nhà cùng cầm quyền chính nước Lỗ gọi là "Tam Hoàn". Tề Hoàn công nghe tin Ai Khương trốn sang nước Châu, mới bảo Quản Di Ngô rằng: - Lỗ Hoàn công và Lỗ Mẫn công bị giết, đều bởi con gái nước Tề (Văn Khương và Ai Khương) ta cả, nếu ta không trị tội, sao cho người nước Lỗ chịu phục. Quản Di Ngô nói: - Con gái đã về nhà chồng rồi, việc ấy không dự gì đến ta, nếu chúa công muốn trị tội thì nên phải giấu tiếng mới được. Tề Hoàn công khen phải, liền sai Thụ Điêu sang nước Châu để đưa Ai Khương về nước Lỗ. Ai Khương đi đến đất Di Địa, đêm ngủ ở nhà quán xá, Thụ Điêu bảo Ai Khương rằng: - Phu nhân một tay làm hại hai vua, nước Tề và nước Lỗ ai cũng biết cả, bây giờ phu nhân về, còn mặt mũi nào mà trông thấy nhà Thái Miếu nước Lỗ nữa, chi bằng phu nhân liệu mà tự tử đi thì còn có thể che được tiếng xấu. Ai Khương nghe nói, đóng kín cửa lại, một mình kêu khóc rầm rĩ, đến gần nửa đêm thì bỗng im lặng như tờ, Thụ Điêu đẩy cửa vào xem, thấy Ai Khương đã tự thắt cổ mà chết rồi. Thụ Điêu sai người phi báo Lỗ Hi công. Lỗ Hi công đưa linh cữu về nước Lỗ làm ma. Tề Hoàn công đã cứu nước Yên và giúp nước Lỗ, các nước chư hầu đều có lòng tin phục. Từ bấy giờ Tề Hoàn công giao hết quyền chính cho Quản Di Ngô, ngày nào cũng chỉ uống rượu và đi săn để cầu vui. Một hôm, Tề Hoàn công đi săn ở trong đại trạch, Thụ Điêu đi hầu, bỗng thấy Tề Hoàn công trừng mắt đứng nhìn, ngẩn cả người ra, không nói câu gì, mà lại có ý sợ hãi, Thụ Điêu hỏi rằng: - Chúa công thấy cái gì như vậy? Tề Hoàn công nói: - Ta vừa mới trông thấy một giống ma quỉ, hình dáng kỳ quái, nghĩ mà ghê sợ, vụt chốc lại biến đi mất, chắc là một cái điềm gở. Thụ Điêu nói: - Giống ma quỉ là thuộc về âm, cớ sao lại hiện ra ban ngày được. Tề Hoàn công nói: - Tiên quân ta ngày xưa đi săn ở đất Cô Phần, cũng đang ban ngày mà có giống ma quỉ hiện làm con lợn to. Âu là nhà ngươi mau mau gọi Trọng phụ cho ta hỏi. Thụ Điêu nói: - Trọng phụ có phải là thánh đâu mà biết hết được. Tề Hoàn công nói: - Ngày trước chúa công trông thấy thần Du Nhi kể hết hình dáng cho trọng phụ nghe, bởi vậy trọng phụ theo ý chúa công mà tán tụng vào, khiến cho chúa công vững lòng để tiến binh. Nay chúa công không nên nói rõ hình dáng ma quỉ ra vội, hãy hỏi thử xem trọng phụ có biết được hay không, Nếu trọng phụ biết được, mới thực là thánh. Tề Hoàn công nghe lời, thu quân trở về, trong lòng vẫn còn nghi sợ. Đêm hôm ấy thành ra bệnh sốt rét nặng, sáng hôm sau, Quản Di Ngô cùng các quan đại phu vào hỏi thăm. Tề Hoàn công bảo Quản Di Ngô rằng: - Hôm qua ta trông thấy một giống ma quỉ hiện lên lấy làm ghê sợ lắm, bây giờ trọng phụ thử đoán xem hình dáng nó ra làm sao? Quản Di Ngô không biết thế nào mà nói, mới trả lời rằng: - Để tôi xét xem. Thụ Điêu tủm tỉm cười mà nói với Tề Hoàn công rằng: - Tôi vẫn biết trọng phụ không thể nào nói được.. Tề Hoàn công mỗi ngày một đau nặng. Quản Di Ngô lấy làm lo lắm, mới sai người yết bảng ở ngoài cửa rằng: - Có ai biết mà nói được hình dáng giống ma quỉ của chúa công thì sẽ được trọng thưởng. Bỗng có một người nón mê áo rách, xin vào yết kiến Quản Di Ngô. Quản Di Ngô vái chào. Người ấy nói: - Chúa công bị bệnh có phải không? Quản Di Ngô nói: - Phải. Người ấy nói: - Chúa công trông thấy giống ma quỉ có phải không? Quản Di Ngô nói: - Phải. Người ấy nói: - Chúa công trông thấy ma quỉ ở trong đại trạch có phải không? Quản Di Ngô nói: - Nếu nhà ngươi có thể nói được hình dáng giống ma quỉ ấy thì ta sẽ trọng thưởng. Người ấy nói: - Xin cho tôi vào yết kiến chúa công để tôi nói. Quản Di Ngô nói: - Nếu nhà ngươi có thể nói được hình dáng giống ma quỉ ấy thì ta sẽ trọng thưởng. Người ấy nói: - Xin cho tôi vào yết kiến chúa công để tôi nói. Quản Di Ngô tức khắc vào cung, thấy Tề Hoàn công đang ngồi ở trên mấy lần nệm, bắt hai người thị nữ xoa lưng, và hai người thị nữ đấm chân. Thụ Điêu thì bưng chén nước trà đứng ở bên cạnh để dâng Tề Hoàn công. Quản Di Ngô nói: - Có một người nói được hình dáng giống ma quỉ ấy, tôi đã đem đến đây, xin chúa công cho vào yết kiến. Tề Hoàn công cho vào. Người ấy vào. Tề Hoàn công trông thấy người ấy nón mê áo rách, có ý không bằng lòng, liền hỏi người ấy rằng: - Trọng phụ bảo nhà ngươi nói được hình dáng giống ma quỉ ấy có phải không? Người ấy nói: - Chúa công tự làm hại chúa công đó mà thôi, chứ ma quỉ có làm hại được chúa công đâu! Tề Hoàn công nói: - Thế thì nhà ngươi bảo là có ma quỉ hay không? Người ấy nói: - Có ma quỉ: Ở nước thì có giống Võng Tượng, ở gò thì có giống Trăn, ở núi thì có giống Quì, ở đồng thì có giống Bàng Hoàng, ở đại trạch thì có giống Uy Đà. Tề Hoàn công nói: - Nhà ngươi thử nói hình dáng giống uy Đà xem ra làm sao? Người ấy nói: - Giống Uy Đà to lớn mà áo đỏ mũ đỏ. Giống ấy sợ tiếng xe chạy, hễ nghe tiếng xe chạy rầm rĩ thì ôm đầu mà đứng, ai trông thấy giống ấy tất là bậc bá chủ trong thiên hạ. Tề Hoàn công nghe lời, nét mặt tươi cười, đứng dậy mà nói rằng: - Chính ta trông thấy đó! Nói xong, tinh thần sảng khoái, bao nhiêu bệnh tật ở trong mình khỏi hết sạch cả. Lại hỏi người ấy rằng: - Nhà ngươi tên là gì? Người ấy nói: - Tên tôi là Hoàng Tử, là một kẻ nông phu ở cõi Tây nước Tề. Tề Hoàn công nói: - Nhà ngươi ở đây, ta cho nhà ngươi làm quan đại phu. Hoàng Tử chối từ mà nói rằng: - Tôi không muốn làm quan, chỉ mong rằng chúa công sửa sang chính trị, để nước nhà cường thịnh, khiến cho tôi được yên nghiệp làm ăn, thế là mãn nguyện rồi. Tề Hoàn công khen là người cao sĩ, tặng cho thóc lụa, rồi sai quân sở tại đến thăm tận nhà; lại trọng thưởng cho Quản Di Ngô. Thụ Điêu nói: - Hoàng Tử nói được, chứ trọng phụ có nói được đâu, mà dám nhận thưởng. Tề Hoàn công nói: - Nếu không có trọng phụ thì sao ta được nghe lời nói của Hoàng Tử. Thụ Điêu không dám nói nữa. Bấy giờ có nước Bắc Địch đem quân sang đánh nước Vệ. Vệ Ý công sai người đến cáo cấp với Tề Hoàn công. Các quan đại phu nước Tề xin đem quân đi cứu. Tề Hoàn công nói: - Quân ta vừa mới đi đánh Sơn Nhung về, hãy còn mỏi mệt, cần phải yên nghỉ, âu là để đến đầu sang năm, ta sẽ họp quân các nước chư hầu đi cứu Vệ. Đến cuối năm ấy, có quan đại phu nước Vệ là Ninh Tốc sang nước Tề, nói với Tề Hoàn công rằng: - Nước Bắc Địch đã phá nước vệ, giết mất Vệ Ý công rồi, nay phải sang đón Công tử Hủy về để nối ngôi. Tề Hoàn công than rằng: - Không sang cứu nước Vệ ngay, điều ấy là lỗi của ta đó!

Quay về bài gốc
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 23 Vệ Ý cho hạc ăn lộc quan Tề Hoàn cử binh đi đánh Sở

Nguyên Vệ Ý công lên ngôi đã chín năm trời mà tính rất lười biếng, chẳng thiết gì đến chính sự chỉ thích chơi một giống chim gọi là chim hạc. Giống chim hạc, tính ưa sạch sẽ mà hình dung rất thanh nhã, tiếng kêu đã hay, dáng múa cũng khéo. Vệ Ý công đã thích chơi như vậy thì người nước Vệ thường hay đem hạc đến tiến; mà ai tiến hạc cũng được trọng thưởng, thành ra trong cung nuôi đầy những hạc, kể hàng mấy trăm con. Vệ Ý công lại thưởng phẩm hàm và cấp lương bổng cho hạc, con hạc nào đẹp thì được ăn lộc quan đại phu. Mỗi khi Vệ Ý công đi chơi đâu, lại có mấy cái xe lớn, để cho chim hạc đứng mà đi dàn ở trước, gọi là Hạc tướng quân. Các người nuôi hạc bấy giờ cũng đều được hậu lương. Triều đình phải thu thuế của dân thật nặng, để được đủ tiền cấp lương cho hạc. Quan đại phu là Thạch Kỳ (con cháu sau Thạch Thác) vốn có tiếng là người trung trực, cùng với Ninh Tốc cùng cầm quyền chính nước Vệ. Hai người vẫn can Vệ Ý công luôn mà Vệ Ý công không nghe. Công tử Hủy là thứ huynh của Vệ Huệ công, biết cơ nước Vệ tất mất, trốn sang nước Tề. Tề Hoàn công gả con gái cho, rồi cho ở nước Tề. Bắc Địch là một nước cường thịnh. Vua Bắc Địch tên là Sưu Man xưa nay vẫn có ý muốn xâm phạm các nước ở trung quốc. Mới rồi, nghe tin Tề Hoàn công đi đánh Sơn Nhung, liền nổi giận mà nói rằng: - Quân Tề đã đi đánh Sơn Nhung như vậy là có ý khinh ta, ta nên nghĩ cách mà trị nước đi, để khiến cho quân Tề phải khiếp sợ. Nói xong, liền cử đại binh đi đánh nước Hình. Tề Hoàn công toan đem quân đi cứu nước Hình. Sưu Man (vua Bắc Địch) lại đem quân kéo sang nước Vệ. Vệ Ý công đang sai người xe hạc đi chơi, nghe báo có quân Bắc Địch đến đánh, giật mình kinh sợ, tức khắc hạ lệnh gọi quân để đi đánh giặc. Dân nước Vệ bỏ trốn cả, không ai dám ra lính. Vệ Ý công sai quan tư đồ đi bắt. Trong một lúc bắt được hơn 100 người đem về tra hỏi: - Vì cớ gì mà dám trốn lính? Dân nước Vệ nói: - Chúa công dùng một giống vật, cũng đủ đánh nổi được quân Bắc Địch, cần gì phải dùng đến lũ chúng tôi. Vệ Ý công hỏi: - Vật gì mà đánh nổi được quân giặc? Dân nước Vệ nói: - Chim hạc! Vệ Ý công hỏi: - Chim hạc thì đánh giặc thế nào được? Dân nước Vệ nói: - Chim hạc đã không đánh được giặc thì là một vật vô dụng, nay chúa công bỏ những người hữu dụng mà nuôi những vật vô dụng, bởi thế cho nên dân chúng tôi không phục. Vệ Ý công nói: - Nay ta đã biết tội! Ta xin theo ý dân mà đuổi hết chim hạc đi! Thạch Kỳ nói: - Xin chúa công làm ngay! Tôi e rằng đến bây giờ cũng đã muộn lắm rồi! Vệ Ý công tức khắc sai người đi đuổi bỏ chim hạc. Chim hạc được nuôi đã lâu ngày, quen chỗ ở rồi, cứ quanh quẩn mãi, không chịu đi đâu cả. Thạch Kỳ và Ninh Tốc thân hành đi khắp các nơi chợ búa để giảng dụ cho dân hiểu rõ những tình ý của Vệ Ý công đã biết hối lỗi, bấy giờ dân mới chịu ra lính, thì quân Bắc Địch đã kéo đến đất Huỳnh Trạch. Thạch Kỳ nói với Vệ Ý công rằng: - Quân Bắc Địch mạnh lắm, chớ nên khinh thường, để tôi xin sang cầu cứu với nước Tề. Vệ Ý công nói: - Ngày trước nước Tề đã phụng mệnh thiên tử đến đánh nước ta; dẫu đã lui quân về rồi, nhưng từ bấy đến nay ta cũng chưa sang tạ lại, bây giờ chắc hẳn Tề chẳng chịu đến cứu đâu. Âu là ta cứ liều đánh một trận để quyết được thua. Ninh Tốc nói: - Tôi xin đem quân ra đánh giặc, còn chúa công ở lại mà giữ thành. Vệ Ý công nói: - Nếu ta không thân hành đi đánh thì quân sĩ không chịu dụng tâm. Nói xong, liền giao quốc chính cho Thạch Kỳ, rồi đưa cho Thạch Kỳ một cái ngọc quyết mà dặn rằng: - Nhà ngươi phân xử việc nước, nên quyết đoán như cái ngọc quyết này! Lại đưa cho Ninh Tốc một cái tên, khiến cho Ninh Tốc chuyên việc giữ thành. Vệ Ý công lại bảo cả Thạch Kỳ và Ninh Tốc rằng: - Công việc trong nước, ta giao cả cho hai ngươi! Ta đi chuyến này, không đánh được quân Bắc Địch thì ta quyết không trở về. Thạch Kỳ và Ninh Tốc đều rỏ nước mắt mà khóc. Vệ Ý công cùng với quan đại tướng là Cừ Khổng đem quân đi đánh giặc. Trong khi đi đường, quân sĩ đều oán Vệ Ý công, ta thán nhiều lắm, có làm một bài ca rằng: "Hạc được ăn lương, dân phải cày? Hạc được ngồi xe, dân phải vác giáo! Quân giặc gớm ghê, mười phần chết chín! Nay hạc đi đâu, để ta khổ sở!" Vệ Ý công thấy quân sĩ hát như vậy, có ý buồn rầu. Quan đại tướng là Cừ Khổng lại hay nghiêm khắc, bởi vậy quân sĩ càng đem lòng tức giận. Khi đi đến đất Huỳnh Trạch, trông thấy quân giặc nhốn nháo, không có thứ tự nào cả. Cừ Khổng nói: - Người ta cứ đồn rằng quân Bắc Địch mạnh lắm, thật là nói bậy. Nói Xong, liền truyền cho quân sĩ đánh trống tiến vào. Quân Bắc Địch giả cách thua chạy, dụ cho quân Vệ đuổi theo, rồi hai bên phục binh đổ ra mà đánh. Quân Vệ vốn không có lòng đánh giặc lại thấy thế quân giặc mạnh tợn, tức thì chạy cả. Vệ Ý công và Cừ Khổng bị quân Bắc Địch vây kín mấy vòng. Cừ Khổng nói với Vệ Ý công rằng: - Bây giờ nguy cấp lắm, xin bỏ cờ đại bái xuống, mà chúa công thì thay hình đổi dạng, mới có thể chạy thoát được. Vệ Ý công thở dài mà than rằng: - Quân nước Vệ có lòng cứu ta thì lấy cờ đại bái làm dấu tích nếu không thì bỏ cờ đại bái cũng vô ích! Thôi thì ta liều một chết để tạ lòng dân nước ta mà thôi! Được một lúc, quân Bắc Địch kéo đến, Vệ Ý công và Cừ Khổng, đều bị hại cả, quân Bắc Địch chém nát ra như tương. Quân Bắc Địch bắt được quan thái sử nước Vệ là Hoa Long Hoạt và Lễ Khổng, toan đem ra chém. Hoa Long Hoạt và Lễ Khổng đã biết phong tục người Bắc Địch hay tin ma quỉ, mới lập kế nói dối rằng: - Ta đây là chức thái sử, giữ việc cúng tế, nay ta xin vì các ngươi mà cáo trước với thần linh; nếu không thì thần linh không giúp cho, các ngươi không chiếm lấy nước được. Sưu Man tin là nói thực, mới tha cho hai người lên xe về thành. Ninh Tốc đang mặc đồ binh phục đi tuần ở trên mặt thành, trông thấy Hoa Long Hoạt và Lễ Khổng về giật mình kinh sợ mà hỏi rằng: - Chúa công đâu? Hoa Long Hoạt và Lễ Khổng nói: - Quân ta tan vỡ cả rồi! Quân giặc cường thịnh lắm, nhà ngươi nên mau mau tìm đường tránh đi. Ninh Tốc mở cửa cho hai người vào. Lễ Khổng nói: - Ta với chúa công cùng ra, mà bây giờ không cùng vào với chúa công thì sao cho phải đạo; âu là ta theo chúa công ta xuống dưới suối vàng. Nói xong, tức thì rút gươm đâm cổ mà chết. Hoa Long Hoạt nói: - Ta giữ chức thái sử, không nên bỏ mất sử sách. Nói xong liền vào thành để thu nhặt những sử sách đem ra. Ninh Tốc và Thạch Kỳ đang đêm đưa cung quyến của Vệ Ý công và Công tử Thân chạy trốn. Hoa Long Hoạt ôm những sử sách đi theo. Người nước Vệ nghe tin hai quan đại phu là Ninh Tốc và Thạch Kỳ đã phải bỏ trốn, đều bồng con bế cháu đi theo, tiếng khóc như ri. Quân Bắc Địch thừa thắng kéo vào kinh thành nước Vệ, chém giết nhân dân nhiều lắm, lại cho một đạo quân đi đuổi theo Ninh Tốc và Thạch Kỳ. Ninh Tốc và Thạch Kỳ chạy đến sông Hoàng Hà, may nhờ có Tống Hoàn công đem quân đến đón, đã sắp sẵn thuyền bè để cho Ninh Tốc và Thạch Kỳ sang. Quân Bắc Địch mới không đuổi theo nữa, kéo vào kinh thành nước Vệ, bao nhiêu những vàng bạc thóc lụa, lấy hết sạch cả; lại phá hại cả thành quách, rồi thu quân về nước. Quan đại phu nước Vệ là Hoằng Diễn khi trước phụng mệnh Vệ Ý công sang sứ nước Trần, đến bây giờ trở về thì nước Vệ đã bị Bắc Địch tàn phá rồi. Hoằng Diễn nghe nói Vệ Ý công chết ở đất Huỳnh Trạch, mới chịu khó đi đến tận nơi để tìm xác. Trong khi đi đường, trông thấy máu mê xương thịt ngổn ngang đầy đống, cảnh tượng rất là sầu thảm; sau đi đến một chỗ, có lá cờ đại bái bỏ rơi đấy, Hoằng Diễn nói: - Cờ đại bái ở đây thì chắc là thi thể chúa công ta cũng quanh quẩn gần đây mà thôi. Đi được vài bước nữa, Hoằng Diễn nghe có tiếng người rên rỉ, mới tìm đến xem, trông thấy một nội thị gãy chân đang nằm đấy. Hoằng Diễn hỏi rằng: - Nhà ngươi có biết chúa công chết ở chỗ nào hay không? Nội thị trỏ vào một đống thịt mà bảo rằng: - Đó tức là thi thể chúa công ta đấy! Chính mắt tôi trông thấy chúa công bị quân giặc giết mà xả nhỏ ra, chỉ vì chân đau, vậy phải nằm chết ở đây, để chờ xem có người nước mình đến thì trỏ bảo cho biết. Hoằng Diễn trông thấy thi thể đã tan nát ra từng mảnh một, chỉ có một buồng gan hãy còn mà thôi. Hoằng Diễn khóc òa lên, rồi sụp lạy hai lạy ở trước buồng gan, coi như lúc Vệ Ý công hãy còn sống. Lạy xong, Hoằng Diễn nói: - Nay chúa công ta không có người thu táng, âu là đem cái thân ta để làm áo quan cho chúa công. Hoằng Diễn ngoảnh lại dặn người nhà rằng: - Khi ta đã chết rồi, nhà ngươi nên chôn ta ở trong rừng này, đợi bao giờ có vua mới thì nhà ngươi sẽ nói. Nói xong, liền cầm dao mổ bụng ra, lấy tay xách buồng gan của Vệ Ý công bỏ vào trong bụng, được một lúc thì chết. Người nhà theo như lời dặn, đem chôn ở trong rừng, rồi lấy xe đưa người nội thị bị thương ấy về và nghe ngóng tin vua mới. Ninh Tốc và Thạch Kỳ chiêu tập những di dân về đất Tào Ấp rồi lập Công tử Thân lên nối ngôi, tức là Vệ Đái công. Vệ Đái công nguyên trước đã có bệnh sẵn, lên nối ngôi được mấy hôm thì chết. Ninh Tốc lại sang nước Tề để đón Công tử Hủy về nối ngôi. Tề Hoàn công sai Công tử Vô Khuy đem quân đưa Công tử Hủy về nước, tức là Vệ Văn công. Người nhà Hoằng Diễn và người nội thị gãy chân cùng nhau đem chuyện Hoằng Diễn mổ bụng, bỏ gan Vệ Ý công vào, nói với Vệ Văn công. Vệ Văn công sai người đến đất Huỳnh Trạch để làm lễ an táng Vệ Ý công, rồi lại gia phong cho Hoằng Diễn và dùng con Hoằng Diễn ra làm quan. Vệ Văn công tính rất cần kiệm, vẫn đội mũ lụa xấu, mặc áo vải to, ăn cơm đỏ và canh rau, mà lại chịu khó thức khuya dậy sớm, sửa sang chính trị, khiến cho dân được yên ổn. Công Tử Vô Khuy cho 3000 quân đóng lại ở đất Tào Ấp để phòng giữ quân giặc, rồi trở về nước Tề. Công Tử Vô Khuy về đến nước Tề, vào yết kiến Tề Hoàn công, kể những công việc nước Vệ mới mở mang ở đất Tào Ấp và thuật lại chuyện Hoằng Diễn mổ bụng để đựng gan Vệ Ý công. Tề Hoàn công khen rằng: - Ông vua vô đạo mà có được người bề tôi trung như thế thì nước Vệ cũng chưa đến nỗi mất. Quản Di Ngô nói: - Nay ta bắt quân sĩ sang đóng đồn mà giữ hộ cho nước Vệ thì khó nhọc nhiều lắm, chi bằng đắp cho nước Vệ một cái thành, chỉ khó nhọc một lần, sẽ được yên ổn mãi mãi. Tề Hoàn công lấy làm phải, toan hội chư hầu để sang đắp thành hộ cho nước Vệ. Bỗng có sứ nước Hình đến cáo cấp nói quân Bắc Địch lại kéo đến đánh, xin cho quân cứu viện. Tề Hoàn công hỏi Quản Di Ngô rằng: - Ta có nên đi cứu nước Hình hay không? Quản Di Ngô nói: - Các nước chư hầu qui phục nước Tề ta, là vì nước Tề ta hay đi cứu những sự tai nạn của người; nay đã không cứu được nước Vệ rồi, lại không sang cứu nước Hình thì sao gọi là bá chủ được. Tề Hoàn công nói: - Thế thì bây giờ ta nên đi đắp thành cho nước Vệ trước hay là nên đi cứu nước Hình trước? Quản Di Ngô nói: - Ta hãy cứu xong nước Hình, rồi nhân thể mà về đắp thành cho nước Vệ, thế thì thật là một cái công to lắm. Tề Hoàn công khen phải, rồi truyền hịch cho các nước chư hầu đem quân đến hội ở đất Nhiếp Bắc để cùng đi cứu nước Hình. Quản Di Ngô lại nói với Tề Hoàn công rằng: - Quân Bắc Địch còn đang hăng hái, sức nước Hình cũng chưa suy kiệt. Nay ta chống nhau với quân giặc đang hăng hái thì khó nhọc nhiều lắm, vả lại giúp cho một nước chưa suy kiệt thì không lấy gì làm công to. Âu là ta hãy đợi thong thả: Nước Hình không chống nổi quân Bắc Địch thì nước Hình tất bị tàn phá; mà quân Bắc Địch đánh được nước Hình thì quân Bắc Địch tất phải mỏi mệt. Bấy Giờ ta đuổi quân giặc đã mỏi mệt, mà cứu cho một nước đã tàn phá, tất không khó nhọc mấy tí mà thành ra công to. Tề Hoàn công theo lời Quản Di Ngô, cứ đóng quân ở đất Nhiếp Bắc, giả cách nói còn đợi các nước chư hầu, rồi sai người đi dọ thám xem tin tức Bắc Địch đánh nước Hình ra làm sao. Quân Bắc Địch ra sức đánh nước Hình suốt ngày đêm trong hai tháng trời. Người nước Hình không thể chống giữ được, mới bỏ chạy tán loạn, kéo nhau đến dinh Tề Hoàn công để cầu cứu. Có một người khóc lăn ở dưới đất, tức là vua nước Hình, tên gọi Thúc Nhan. Tề Hoàn công vội vàng đỡ dậy, lấy lời ôn tồn mà úy dụ rằng: - Ta không kịp đến cứu, ấy là cái lỗi của ta đó! Nói xong, liền họp quân các nước để bàn cách đánh giặc. Vua Bắc Địch là Sưu Man cướp phá kho tàng nước Hình, lấy được của cải rất nhiều, cũng đã mãn nguyện, chẳng thiết gì đến sự tranh chiến nữa; lại nghe tin các nước kéo quân đến cứu, tức thì đốt cháy kinh thành nước Hình, rồi rút quân về. Các nước chư hầu kéo quân đến nơi thì quân Bắc Địch đã rút đi hết rồi. Tề Hoàn công truyền cho quân sĩ chữa tắt những nơi lửa cháy, lại hỏi Thúc Nhan rằng: - Thành cũ còn có thể ở tạm được nữa hay không? Thúc Nhan nói: - Dân bỏ đi mất quá nửa, đem nhau đến đất Di Nghi, bây giờ tôi xin theo ý dân mà dời đô sang ở đấy. Tề Hoàn công mới hội các nước chư hầu đắp thành ở đất Di Nghi để cho Thúc Nhan ở, và cấp cho trâu, ngựa, thóc, lụa, nhiều lắm. Vua tôi nước Hình mừng rỡ như là được về nước cũ. Tề Hoàn công lại đem quân các nước chư hầu sang đắp thành cho nước Vệ. Vệ Văn công ra nghênh tiếp. Tề Hoàn công trông thấy Vệ Văn công đội mũ lụa xấu, mặc áo vải to, có ý thương tình, mới bảo Vệ Văn công rằng: - Ta nhờ có quân các nước chư hầu, muốn đắp thành hộ quí quốc, chẳng hay quí quốc định đóng đô ở chỗ nào? Vệ Văn công nói: - Tôi đã chọn được đất Sở Khâu là một nơi cát địa nên đóng đô nhưng bây giờ đắp thành thì tổn phí lắm, một nước tàn phá này không thể nào lo nổi. Tề Hoàn công nói: - Việc đó để ta xin giúp. Nói xong, liền truyền cho quân các nước chư hầu đến đất Sở Khâu để đắp thành cho nước Vệ. Sở Thành Vương (Hùng Vận) từ khi dùng Tử Văn (Đấu Cấu Ô Đồ) làm lịnh doãn (Tể tướng nước Sở), vẫn sửa sang chính trị trong nước, muốn làm bá chủ cả các nước, nghe tin Tề Hoàn công cứu nước Hình, giúp nước Vệ khiến cho chư hầu ai cũng ca tụng công đức nước Tề, có ý không bằng lòng, mới bảo Tử Văn rằng: - Bây giờ các nước chư hầu đều một lòng qui phục nước Tề, mà không biết nước Sở ta là đâu cả, ta thật lấy làm xấu hổ lắm. Tử Văn nói: - Tề hầu sửa sang chính trị, đã gần 30 năm nay, các nước chư hầu ai cũng tin phục; vậy nước Tề ngày nay chưa có thể địch nổi, chỉ có nước Trịnh ở vào giữa khoảng phương Nam phương Bắc, làm cái phên che cho các nước trung quốc, nếu đại vương muốn mở mang bờ cõi thì tất phải đánh lấy nước Trịnh mới được. Sở Thành Vương nói: - Ai là người dám vì ta mà nhận cái việc đánh nước Trịnh ấy? Quan đại phu Đấu Chương xin đi đánh, Sở Thành Vương cho Đấu Chương đem quân thẳng đường tiến sang nước Trịnh. Nước Trịnh từ khi bị quân nước Sở sang quấy nhiễu ở đất Thuần Môn, vẫn ngày đêm phòng bị quân nước Sở. Nay nghe có tin báo nước Sở kéo quân đến đánh. Trịnh Văn công sợ hãi, sai quan đại phu là Đam Bá đem quân ra giữ đất Thuần Môn, và sai sứ sang cáo cấp với Tề Hoàn công. Tề Hoàn công hội các nước chư hầu để sắp sửa sang cứu nước Trịnh. Đấu Chương biết nước Trịnh đã có phòng bị sẵn, lại nghe nói nước Tề sắp sửa đến cứu, sợ đánh không nổi, liền kéo quân trở về. Sở Thành Vương nghe tin Đấu Chương kéo quân trở về, tức thì nổi giận, cởi thanh bảo kiếm vẫn đeo ở trong mình đưa cho Đấu Liêm, sai Đấu Liêm đi chém đầu Đấu Chương. Đấu Liêm tức là anh Đấu Chương, khi đi đến dinh Đấu Chương, mới giấu cái lệnh của Sở Thành Vương, không nói cho quân sĩ biết vội, rồi mật cùng Đấu Chương thương nghị. Đấu Liêm bảo Đấu Chương rằng: - Bây Giờ muốn cho khỏi tội thì tất phải lập công mới được. Đấu Chương sụp lạy mà xin vâng lời. Đấu Liêm nói: - Nước Trịnh thấy nhà ngươi kéo quân về, tất cho là nhà ngươi không trở lại nữa; bây giờ nhà ngươi lập tức lại kéo quân sang thì tất là đánh được nước Trịnh. Đấu Chương chia quân ra làm hai đạo, tự đem một đạo quân đi trước, còn đấu Liêm đem một đạo quân theo sau để tiếp ứng. Đấu Chương truyền cho quân sĩ cuốn cờ im trống kéo thẳng đến địa giới nước Trịnh. Quan đại phu nước Trịnh là Đam Bá đang đi tuần ở ngoài bờ cõi, nghe có giặc đến, hoảng hốt chưa biết là quân nước nào, vội vàng cưỡi ngựa ra nghênh chiến, chẳng ngờ Đấu Liêm đem quân đi lẻn về phía sau, để đánh hậu quân của Đam Bá. Mặt trước có quân Đấu Chương đánh, mặt sau có quân Đấu Liêm đánh, Đam Bá không thể địch nổi, bị Đấu Chương bắt sống, còn quân Trịnh thì chết mất quá nửa. Đấu Chương toan thừa thắng tiến thẳng vào kinh thành nước Trịnh. Đấu Liêm nói: - Ta chỉ cốt lập công để chuộc tội chết, may đánh được thế này, cũng đã đủ rồi, không nên khinh thường mà tiến binh làm gì nữa. Nói xong, thu quân trở về nước Sở. Đấu Chương vào yết kiến Sở Thành Vương, sụp lạy xin lỗi, nói: - Khi trước tôi lui quân về, là có ý lập kế để đánh lừa giặc, không phải sợ giặc mà không dám đánh. Sở Thành Vương nói: - Nhà ngươi đã có cái công bắt được tướng nước Trịnh (Đam Bá) thì ta hãy tha tội cho, nhưng nước Trịnh chưa chịu đầu hàng mà sao nhà ngươi đã vội lui quân về? Đấu Chương nói: - Tôi sợ quân ít, không đánh nổi nước Trịnh, lại làm tổn mất uy danh của nước Sở ta, vậy nên phải rút về. Sở Thành Vương nổi giận, nói: - Bây giờ nhà ngươi đổ lỗi tại quân ít, rõ là nhà ngươi sợ giặc; nay ta cấp thêm quân cho, nhà ngươi phải đi ngay, nếu không đánh được nước Trịnh thì đừng trông thấy mặt ta nữa! Đấu Liêm nói: - Xin đại vương lại cho hai anh em tôi cùng đi, nếu nước Trịnh không chịu đầu hàng thì chúng tôi xin bắt vua nước Trịnh đem về nộp đại vương. Sở Thành Vương thấy Đấu Liêm nói năng hăng hái như vậy, mới khen mà cho đi. Sở Thành Vương cho Đấu Liêm làm đại tướng. Đấu Chương làm phó tướng, cùng đem quân kéo sang nước Trịnh. Trịnh Văn công nghe tin Đam Bá bị bắt, lại sai người sang cầu cứu nước Tề. Quản Di Ngô nói với Tề Hoàn công rằng: - Trong mấy năm nay, chúa công cứu nước Yên, giúp nước Lỗ, lại đắp thành cho nước Hình và nước Vệ, các nước chư hầu đều một lòng tin phục chúa công vậy thì ngày nay chính là lúc chúa công có thề dùng quân các nước chư hầu được. Bây giờ chúa công muốn cứu nước Trịnh thì không gì bằng đánh nước Sở, mà đánh nước Sở tất phải hội quân các nước chư hầu. Tề Hoàn công nói: - Ta hội quân các nước chư hầu thì nước Sở tất biết mà phòng bị trước, ta khó lòng để đánh được. Quản Di Ngô nói: - Nước Sái là một nước có lỗi với chúa công, chúa công muốn đánh đã lâu, mà nước Sở lại tiếp giáp với nước Sái; nay chúa công mượn tiếng đi đánh nước Sái, nhân tiện đem quân sang đánh nước Sở thì nước Sở không biết đâu mà phòng bị kịp. Nguyên trước Sái hầu gả con gái là Sái Cơ cho Tề Hoàn công làm đệ tam phu nhân. Một hôm, Tề Hoàn công cùng với Sái Cơ chèo một cái thuyền nhỏ ở dưới ao, để hái hoa sen làm vui. Sái Cơ đùa bỡn, lấy nước té vào Tề Hoàn công. Tề Hoàn công giơ tay gạt đi không cho té vào mình. Sái Cơ biết là Tề Hoàn công sợ nước, mới cố ý làm cho thuyền lay động, nước bắn vào ướt áo Tề Hoàn công. Tề Hoàn công nổi giận, mắng rằng: - Đứa tiện tỳ này, mày không biết đạo thờ vua! Nói xong liền sai Thụ Điêu đuổi Sái Cơ về nước Sái. Sái hầu cũng giận lắm, nói: - Em gái ta đã gả cho mà lại đuổi về, thế thì còn tình nghĩa gì nữa! Sau Sái hầu lại đem Sái Cơ gả cho Sở Thành Vương, Sở Thành Vương lập làm phu nhân. Tề Hoàn công vẫn căm tức Sái hầu, bởi vậy Quản Di Ngô mới bảo Tề Hoàn công đem quân sang đánh nước Sái. Tề Hoàn công nói: - Nước Giang và nước Hoàng cũng tiếp giáp nước Sở, nước Sở thường sang quấy nhiễu, không thể chịu được, bởi vậy hai nước ấy có sai sứ sang giảng hòa với ta; nay ta muốn cùng với hai nước ấy thề ước với nhau, để khi đánh Sở, cho hai nước ấy làm nội ứng, phỏng có nên không? Quản Di Ngô nói: - Nước Giang và nước Hoàng xa nước Tề ta mà gần với nước Sở, xưa nay vẫn thần phục nước Sở, mới còn giữ được đến bây giờ; nay lại phản nước Sở để theo ta thì nước Sở tất nổi giận mà đem quân sang đánh. Bây giờ ta muốn đến cứu thì ngại vì một nỗi đường sá xa xôi, mà bỏ không đến cứu thì trái mất cái nghĩa giao hiếu; vả lại chư hầu biết bao nhiêu nước, cần gì phải nhờ đến mấy nước nhỏ mọn ấy, chi bằng chúa công cứ lấy lời ôn tồn mà từ chối đi là hơn. Tề Hoàn công nói: - Các nước xa xôi, có lòng một nghĩa mà về với mình, nay mình lại từ chối thì chẳng hóa ra làm cho người ta ngã lòng mất sao! Quản Di Ngô nói: - Xin chúa công cứ ghi lời nói của tôi lên trên tường, ngày sau chớ quên sự nguy cấp của nước Giang và nước Hoàng. Tề Hoàn công mới cùng với nước Giang và nước Hoàng giảng hòa, lại cùng với hai nước mật ước việc đánh Sở. Vua nước Giang và nước Hoàng nói với Tề Hoàn công rằng: - Người nước Thư vẫn giúp nước Sở làm những việc tàn ác, chúa công nên đem quân đến đánh. Tề Hoàn công nói: - Ta phải đánh lấy nước Thư trước, để tiệt vây cánh nước Sở. Nói xong, liền viết một phong thư sai người đưa cho vua nước Từ. Nguyên Tề Hoàng công lấy con gái nước Từ làm đệ nhị phu nhân. Nước Từ xưa nay vẫn qui phục nước Tề, mà lại ở tiếp giáp với nước Thư, bởi vậy Tề Hoàn công đem việc đánh Thư giao cho vua nước Từ. Vua nước Từ theo lời Tề Hoàn công, đem quân đi đánh lấy nước Thư, khi đánh được nước Thư rồi. Tề Hoàn công bảo vua nước Từ đóng quân ở kinh thành nước Thư để phòng khi có sự nguy cấp. Lỗ Hi công sai Quí Hữu sang xin lỗi và nói với Tề Hoàn công rằng: - Nước tôi có việc hiềm khích với nước Châu và nước Cử, nên không theo quí quốc sang đắp thành ở nước Hình cùng nước Vệ được. Nay nghe tin quí quốc hội với nước Giang và nước Hoàng để sắp sửa có việc tranh chiến, vậy nước tôi xin đem quân theo sau. Tề Hoàn công mừng lắm, cũng đem việc đánh Sở mật ước với nước Lỗ. Bấy giờ nước Sở đem quân đến đánh nước Trịnh. Trịnh Văn công toan xin giảng hòa để cho dân khỏi khổ sở. Quan đại phu là Khổng Thúc can rằng: - Không nên! Nước Tề đang sắp sửa đánh nước Sở là vì ta đó, ta hãy nên cố giữ để đợi xem sao. Trịnh Văn công nghe lời, lại sai người sang cáo cấp với Tề Hoàn công. Tề Hoàn công toan lập kế cho nước Trịnh, giả cách nói quân Tề sang cứu, để khiến cho nước Sở không dám hiến binh, rồi đem một toán quân sang hội với các nước chư hầu để đánh Sở. Tề Hoàn công đại hội các nước chư hầu, mượn tiếng đi đánh nước Sái, để đem quân sang đánh Sở. Tề Hoàn công cho Quản Di Ngô làm đại tướng. Lại sai Thụ Điêu đem quân đến đánh nước Sái trước. Nước Sái vẫn cậy thế nước Sở, không phòng bị chút nào cả; khi quân Tề kéo đến nơi, mới vội vàng đem quân ra chống giữ. Thụ Điêu diễu quân ở dưới chân thành nước Sái. Sái hầu trông rõ là Thụ Điêu, năm trước vẫn hầu hạ Sái Cơ ở trong Tề cung, đến sau hắn lại đưa Sái Cơ về nước Sái. Sái hầu biết Thụ Điêu là kẻ tiểu nhân, đêm hôm ấy sai người đem một xe vàng lụa đến lễ Thụ Điêu, để nhờ Thụ Điêu hãy hoãn binh cho. Thụ Điêu nhận lễ, rồi lại đem việc bí mật của Tề Hoàn công đại hội chư hầu, trước đánh Sái, sau đánh Sở, nói hết cả cho nước Sái biết, lại bảo với sứ giả nước Sái rằng: - Chẳng bao lâu nữa thì các nước chư hầu đem quân đến phá hủy kinh thành nước Sái, âu là người nước Sái nên liệu mà trốn trước đi. Sứ giả nước Sái về nói với Sái hầu. Sái hầu sợ hãi, đêm hôm ấy đem cung quyến mở cửa thành trốn sang nước Sở. Dân nước Sái thấy Sái hầu đi trốn, tức khắc vỡ chạy cả; Thụ Điêu tự nhận là công minh, sai người về phi báo với Tề Hoàn công. Sái hầu sang đến nước Sở, vào yết kiến Sở Thành Vương thuật lại những lời nói của Thụ Điêu. Sở Thành Vương biết rõ mưu kế của Tề Hoàn công, tức khắc truyền cho quân sĩ phải phòng giữ các nơi; rồi một mặt sai người đi triệu quân Đầu Chương ở nước Trịnh về. Mấy hôm sau, đại binh của Tề Hoàn công đến nước Sái. Thụ Điêu đem quân ra nghênh tiếp. Bảy nước chư hầu cùng kéo quân đến, nghi vệ rất là nghiêm chỉnh. Bảy nước ấy là: 1. - Tống Hoàn công (Ngự Thuyết), 2. - Lỗ Hi công (Thân), 3. - Trần Tuyên công (Chử Cữu), 4. - Vệ Văn công (Hủy), 5. - Trịnh Văn công (Thiệp), 6. - Tào Chiêu công (Ban), 7. - Hứa Mục công (Tân Thần). Kể cả bá chủ là Tề Hoàn công (Tiểu Bạch), cộng thành 8 nước. Bấy giờ Hứa Mục công đang ốm, cũng miễn cưỡng đem quân đến hội ở nước Sái, Tề Hoàn công khen cái công khó nhọc ấy, thăng tước cho ở trên Tào Chiêu công. Đêm hôm ấy Hứa Mục công mất. Tề Hoàn công đóng quân ở nước Sái ba ngày để đưa ma Hứa Mục công. Khi an táng Hứa Mục công rồi, Tề Hoàn công lại cử đại binh thẳng đường kéo sang nước Sở. Đi đến bờ cõi nước Sở, thấy có một người mũ áo chỉnh tề, đứng ở bên đường, khúm núm cúi chào mà nói rằng: - Ngài có phải là Tề hầu đó không? Tôi là sứ thần nước Sở, chờ ngài đã lâu lắm! Nguyên người ấy tên Khuất Hoàn, là một người quí tộc ở nước Sở, làm quan đại phu. Bấy giờ phụng mệnh Sở Thành Vương ra thương thuyết với quân nước Tề. Tề Hoàn công hỏi Quản Di Ngô rằng: - Sao người nước Sở lại biết trước là ta đem quân tới đây? Quản Di Ngô nói: - Tất là có người nào đem mưu kế của ta tiết lộ cho người nước Sở biết. Nhưng nay hắn đã sai sứ đến đây, là có ý muốn thương thuyết việc gì đó, để tôi xin đem đại nghĩa mà bẻ hắn, khiến cho hắn xấu hổ thì có lẽ không cần phải dùng đến sự tranh chiến mà tự khắc hắn phải phục. Nói xong, Quản Di Ngô ra tiếp kiến Khuất Hoàn. Hai người chắp tay vái chào nhau. Khuất Hoàn nói: - Chúa công tôi nghe tin quí quốc đem quân tới đây, vậy có sai tôi ra để nói với quí quốc rằng: Tề và Sở, nước nào làm vua ở nước ấy; nước Tề ở Bắc Hải, nước Sở ở Nam Hải, xa cách nhau biết là dường nào! Chẳng hay vì cớ gì mà quí quốc đem quân xâm phạm vào đất tôi, xin quí quốc ngỏ lời cho biết. Quản Di Ngô nói: - Ngày xưa vua Thành Vương nhà Chu phong cho tiên quân ta là Thái Công ở nước Tề, có dặn một câu rằng: "Các nước chư hầu, nước nào không theo mệnh thiên tử nhà Chu, thì tiên quân ta được quyền đem quân đi đánh dẹp". Từ khi nhà Chu dời sang Đông Đô, các nước chư hầu tiếm quyền, chúa công ta lại phụng mệnh làm bá chủ. Nước Sở nhà ngươi chỉ theo lệ mỗi năm phải cống cho thiên tử nhà Chu có một bó cỏ bao mao để dùng vào việc cúng tế, thế mà nước nhà ngươi dám bỏ liều không cống, bởi vậy ta phải đến đây để đòi. Vả lại vua Chiêu Vương nhà Chu ngày trước đi sang địa giới nước Sở mà không thấy trở về, ấy cũng là một cái lỗi của nước Sở đó; nước Sở nhà ngươi còn nói gì nữa! Khuất Hoàn nói: - Từ khi nhà Chu suy yếu, các nước chư hầu đều bỏ lễ triều cống, chẳng những là một nước Sở tôi. Nhưng việc cống cỏ bao mao ấy chúa công tôi xin chịu lỗi; còn việc vua Chiêu Vương không trở về là vì cớ đắm thuyền, xin quí quốc cứ hỏi ở ngoài bờ sông, chúa công tôi không biết chi cả. Khuất Hoàn này xin về nói lại với chúa công tôi. Nói Xong, Khuất Hoàn liền quay xe trở về. Quản Di Ngô bảo Tề Hoàn công rằng: - Người nước Sở còn hăng hái lắm, chưa có thể lấy lời nói mà bảo được, âu là ta phải tiến quân lên để dọa hắn mới được. Nói xong, truyền cho các nước đều tiến quân đến đóng ở đất Kinh Địa. Sở Thành Vương cho Tử Văn làm đại tướng đem quân ra đóng ở đất Hán Nam, để chống giữ với quân các nước. Tử Văn nói với Sở Thành Vương rằng: - Quản Di Ngô là một người giỏi binh pháp, nay đem quân các nước chư hầu đến đây tất là đã có mưu kế vạn toàn rồi, ta nên sai sứ đi một lần nữa để dò xem tình ý mạnh yếu thế nào, bấy giờ hoặc đánh hoặc hòa, ta sẽ tùy liệu. Sở Thành Vương nói: - Bây giờ biết sai ai cho được? Tử Văn nói: - Khuất Hoàn đã biết mặt Quản Di Ngô thì nên lại sai hắn đi. Khuất Hoàn nói: - Lần trước tôi đã nhận cái lỗi không cống cỏ bao mao. Nay đại vương sai người nào hơn tôi đi mới được. Sở Thành Vương nói: - Hoặc đánh hoặc hòa, ta giao quyền cho nhà ngươi được tùy ý. Khuất Hoàn phụng mệnh sang thương thuyết với quân nước Tề.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 24 Tề Hoàn tiếp đãi Sở đại phu Chư hầu tôn phục Chu thiên tử

Khuất Hoàn phụng mệnh Sở Thành Vương, lại đến chỗ quân Tề đóng, xin vào yết kiến Tề Hoàn công. Quản Di Ngô nói với Tề Hoàn công rằng: - Nước Sở lại cho sứ đến, tất là xin giảng hòa, chúa công nên tiếp đãi cho tử tế. Khuất Hoàn vào yết kiến Tề Hoàn công, sụp lạy hai lạy. Tề Hoàn công đáp lễ lại rất tử tế, rồi hỏi xem ý muốn thế nào? Khuất Hoàn nói: - Chúa công tôi vì cớ không cống cỏ bao mao, để quí quốc phải đem quân tới đây, chúa công tôi biết tội lắm rồi; nếu quí quốc chịu rút quân ra ngoài 30 dặm thì chúa công tôi xin vâng mệnh. Tề Hoàn công nói: - Nếu nhà ngươi biết giúp vua nước Sở để giữ lấy bổn phận, khiến cho ta có thể tâu lại với thiên tử được thì ta còn đòi gì nữa mà chẳng rút quân. Khuất Hoàn về nói với Sở Thành Vương rằng: - Tôi nói với Tề hầu, Tề hầu đã chịu rút quân rồi. Tôi lại có hẹn với Tề hầu xin đem cống cỏ bao mao, vậy đại vương chớ có thất tín. Sở Thành Vương lại sai đi do Thám xem các nước chư hầu đã rút quân về chưa. Quân sĩ về báo rằng: - Quân các nước đã rút ra ngoài 30 dặm, đóng tại đất Thiệu Lăng. Sở Thành Vương nói: - Tề hầu đã chịu rút quân, thế là có ý sợ ta! Nói xong, lại toan bỏ không cống cỏ bao mao nữa. Tử Văn nói: - Vua các nước chư hầu còn không nỡ thất tín với một kẻ thất phu (Khuất Hoàn), huống chi bây giờ đại vương lại muốn khiến cho kẻ thất phu thất tín với vua các nước hay sao! Sở Thành Vương nín lặng, không nói gì cả, rồi sai Khuất Hoàn đem mấy xe vàng lụa đến đất Thiệu Lăng để ban thưởng cho quân các nước chư hầu. Lại sai sửa soạn sẵn một xa cỏ bao mao, đem đến trình với Tề Hoàn công để rồi sai sứ vào cống Thiên tử. Lại nói chuyện Hứa Mục công mất, con Hứa Mục công là Nghiệp lên nối ngôi, tức là Hứa Hi công. Hứa Hi công cảm cái ơn Tề Hoàn công trông nom khi Hứa Mục công mất tại nước Sái, mới sai quan đại phu là bách Đà đem quân đến hội ở đất Thiệu Lăng. Khuất Hoàn vào yết kiến Tề Hoàn công, dâng các thứ vàng lụa để ban thưởng cho quân sĩ. Tề Hoàn công sai người phân phát cho quân các nước chư hầu. Khuất Hoàn lại đệ trình cỏ bao mao. Tề Hoàn công xem xong, lại giao trả Khuất Hoàn để sai sứ đem vào cống Thiên tử. Tề Hoàn công bảo Khuất Hoàn rằng: - Nhà ngươi đã được xem binh lực của trung quốc ta bao giờ chưa? Khuất Hoàn nói: - Tôi ở hẻo lánh về cõi phía Nam này, chưa được xem binh lực của trung quốc bao giờ. Nay xin quí quốc cho chúng tôi được xem một lượt. Tề Hoàn công liền đưa Khuất Hoàn đi xem tất cả các trại quân của các nước chư hầu. Bấy giờ quân các nước đóng liền nhau kể hàng mấy mươi dặm. Trong dinh quân Tề nổi hiệu trống lên thì quân bảy nước chư hầu đều theo mà đánh trống, khác nào như sấm sét vang trời. Tề Hoàn công nét mặt tươi cười, có ý tự đắc mà bảo Khuất Hoàn rằng: - Binh lực của trung quốc ta như thế này, phỏng đánh đâu mà không được. Khuất Hoàn nói: - Hiền hầu làm bá chủ ở trong trung quốc là vì biết tôn kính Thiên tử nhà Chu, mà chỉnh đốn việc chính trị, khiến cho nhân dân được yên ổn. Bởi vậy Hiền hầu đem lòng nhân đức mà xử với các nước thì nước nào là không phải phục; nếu chỉ cậy về binh lực mà thôi, thì nước Sở tôi dẫu nhỏ mọn thật, nhưng có thành Phương Thành, có sông Hán Thủy, thành cao hào sâu ấy dẫu trăm vạn quân đến, cũng chưa chắc đã làm gì nổi. Tề Hoàn công nghe nói, có ý thẹn thùng mà bảo Khuất Hoàn rằng: - Nhà ngươi thật là một người hiền ở nước Sở! Nay ta xin cùng với vua nước Sở giữ lấy chức phận của tiên quân ta ngày xưa nhà ngươi nghĩ thế nào? Khuất Hoàn nói: - Hiền hầu có lòng nghĩ đến nước tôi mà cho chúa công tôi được giảng hòa, thì chúa công tôi cũng xin vâng mệnh. Tề Hoàn công truyền mở tiệc thết đãi Khuất Hoàn. Ngày hôm sau, Tề Hoàn công lập đàn ở đất Thiệu Lăng để cùng với nước Sở ăn thề. Tề Hoàn công làm chủ tọa. Quản Di Ngô làm thư ký. Khuất Hoàn thay mặt vua nước Sở. Hai bên cùng lập điều ước giảng hòa với nhau. Quản Di Ngô nói riêng với Khuất Hoàn, xin tha cho Đam Bá về nước Trịnh, Khuất Hoàn cũng thay lời Sái hầu xin lỗi với Tề Hoàn công. Quản Di Ngô truyền thu quân về nước Tề. Trong khi đi đường, Bão Thúc Nha hỏi Quản Di Ngô rằng: - Nước Sở tiếm hiệu xưng vương, đó là một tội lớn, sao trọng phụ không nói đến lại chỉ nói về việc không cống cỏ bao mao, tôi không hiểu ý ra làm sao cả! Quản Di Ngô nói: - Nước Sở tiếm hiệu xưng vương đã ba đời nay rồi bởi vậy ta vẫn khinh bỉ coi như một loài rợ mọi; nếu ta bắt nước Sở lại cúi đầu mà nghe ta. Khi nước Sở không nghe thì tất ta phải đánh; đã sinh sự đánh nhau thì hai bên cùng thiệt hại, ít ra cũng rối loạn trong vài ba năm trời. Nay ta trách về việc không cống cỏ bao mao, khiến cho hắn có thể theo lời được; Sở đã chịu phục thì cái tiếng tăm ấy ta cũng đủ mà khoe khoang với các nước chư hầu và tâu lại với Thiên tử, chẳng hơn là gây việc chiến tranh lôi thôi, chưa biết bao giờ cho xong được. Bão Thúc Nha nghe lời, chịu lấy làm phải. Quan đại phu nước Trần là Đào Đô nghe tin Tề Hoàn công rút quân về nước, liền bàn với quan đại phu nước Trịnh là Thân hầu rằng: - Nếu để cho quân Tề đi qua địa giới nước Trần và nước Trịnh ta thì phải cung đốn những đồ lương thực khi dụng, tốn kém nhiều lắm, âu là ta nói với Tề hầu đi về phía Đông khiến cho nước Từ và nước Cử phải chịu sự cung đốn khó nhọc ấy, thì hai nước ta mới có thể ngồi yên được. Thân hầu khen phải, rồi bảo Đào Đồ nói với Tề Hoàn công. Đào Đồ vào nói với Tề Hoàn công rằng: - Hiền hầu đánh Sơn Nhung ở phía Bắc, đánh nước Sở ở phía Nam, nếu bây giờ lại diễu quân về qua phía Đông, khiến cho các nước ở phía Đông đều phải sợ uy nước Tề, như thế thì ai còn dám không phục. Tề Hoàn công nói: - Nhà ngươi nói phải đó! Được một lúc, Thân hầu xin vào yết kiến. Tề Hoàn công cho vào. Thân hầu vào nói với Tề Hoàn công rằng: - Tôi nghe nói phép đem quân đi, không nên qua thời nọ đến thời kia, là vì sợ nhân dân phải khó nhọc nay Hiền hầu đem quân đi đánh, từ mùa xuân sang mùa hạ, dầm mưu dãi gió, gối tuyết nằm sương, quân sĩ đều mỏi mệt cả. Bây giờ Hiền hầu rút quân về, đi qua đại giới nước Trần và nước Trịnh thì lương thực khí dụng lấy đâu cũng dễ; nhược bằng đi về phía Đông, ngộ có nước rợ mọi nào dám đón đường ngăn trở, thì lại phải sinh sự đánh nhau, biết làm thế nào? Vả Đào Đồ chỉ biết tư lợi về nước mình không phải là thực bụng, xin Hiền hầu nên xét cho kỹ. Tề Hoàn công nói: - Nếu không có nhà ngươi nói thì thật là lỡ cả việc của ta. Nói xong, liền sai người đi bắt Đào Đồ để trị tội. Lại bảo với Trịnh Văn công phải đem đất Hổ Lao thưởng công cho Thân hầu. Trịnh Văn công dẫu phải vâng mệnh, nhưng có ý không bằng lòng. Trần Tuyên công sai người đem đồ lễ đến xin lỗi hai ba lần, Tề Hoàn công mới tha tội cho Đào Đồ. Các nước chư hầu đều rút quân, nước nào về nước ấy. Tề Hoàn công thấy Quản Di Ngô có nhiều công trạng to, mới đem đất Biền Ấp hơn 300 nóc nhà của quan đại phu là Bá Thị Phong thêm cho Quản Di Ngô. Sở Thành Vương thấy các nước chư hầu đều rút quân về, lại toan thôi cống cỏ bao mao nữa. Khuất Hoàn nói: - Ta không nên thất tin với nước Tề. Vả lại chỉ vì nước Sở ta không vào cống hiến nhà Chu, khiến cho nước Tề được tiếng là biết tôn kính Thiên tử. Nay nhân có chuyện này mà ta sai sứ vào cống hiến nhà Chu thì ta cũng chẳng kém gì nước Tề cả. Sở Thành Vương nói: - Chỉ ngại về một điều ta đã xưng vương thì làm thế nào cho tiện? Khuất Hoàn nói: - Trong tờ biểu dâng vua nhà Chu, ta không nên nói trước, chỉ nên tự xưng là viễn thần mỗ mà thôi. Sở Thành Vương nghe lời, liền sai Khuất Hoàn đi sứ, đem 10 xe cỏ bao mao và các thứ vàng lụa vào dâng vua Huệ Vương nhà Chu. Chu Huệ Vương mừng lắm, nói: - Nước Sở bỏ bổn phận, không cống hiến đã lâu ngày, bây giờ lại biết qui thuận như thế, chẳng qua cũng là nhờ cái uy linh của tiên vương ta đó! Nói xong, liền sai làm lễ vào yết cáo ở nhà Thái miếu, rồi đem phần tế ban cho nước Sở, lại bảo Khuất Hoàn rằng: - Từ nay trở đi, nước Sở nhà ngươi chớ có xâm phạm các nước ở trung quốc. Khuất Hoàn sụp lạy hai lạy, rồi cáo từ lui ra. Khuất Hoàn vừa ra xong, thì Tề Hoàn công cho Thấp Bằng đến tâu về việc nước Sở đã chịu qui phục. Chu Huệ Vương tiếp đãi Thấp Bằng một cách rất trọng thể. Thấp Bằng tâu với vua Huệ Vương xin vào yết kiến ngôi thái tử. Chu Huệ Vương nghe nói, có ý không được vui, liền sai người con thứ là Vương tử Đái cùng với thái tử Trịnh cùng ra tiếp kiến. Thấp Bằng trông thấy nét mặt vua Huệ Vương nhà Chu có ý hoảng hốt không nhất định, khi về nước Tề, nói với Tề Hoàn công rằng: - Nhà Chu sắp loạn! Tề Hoàn công sắp loạn! Tề Hoàn công hỏi: - Tại làm sao? Thấp Bằng nói: - Người con trưởng vua nhà Chu tên là Trịnh, là con bà Khương Hậu, đã lập làm thái tử. Nay bà Khương Hậu mất, bà thứ hậu là Trần Vi được vua yêu, sinh người con tên là Đái. Vương tử Đái khéo ô mị, bởi vậy vua nhà Chu yêu lắm, muốn bỏ thái tử Trịnh mà lập Vương tử Đái làm thái tử. Khi vua nhà Chu cho Vương tử Đái và thái tử Trịnh ra tiếp kiến tôi, thì nét mặt có ý hoảng hốt, tất là trong lòng nghĩ về việc ấy. Tôi e rằng chẳng bao lâu sẽ có loạn to, chúa công làm bá chủ, cũng nên nghĩ đến. Tề Hoàn công sai triệu Quản Di Ngô vào để thương nghị, Quản Di Ngô nói: - Tôi có một kế có thể giữ yên được nhà Chu. Tề Hoàn công hỏi: - Trọng phụ có kế gì? Quản Di Ngô nói: - Ngôi thái tử không được vững vàng như vậy là vì không có vây cánh; nay viết một đạo biểu dâng vua nhà Chu, nói: Các nước chư hầu muốn yết kiến ngôi thái tử, xin nhà vua cho thái tử ra hội với các nước chư hầu. Nếu thái tử đã đi hội với các nước chư hầu thì cái phận vua tôi đã nhất định rồi, dẫu vua nhà Chu muốn thay đổi, cũng khó lòng mà thi hành được. Tề Hoàn công khen phải, liền truyền hịch cho các nước chư hầu, hẹn đến sang năm thì đại hội ở đất Thủ Chỉ (đất nước Vệ) ; rồi lại sai Thấp Bằng sang nói với vua Huệ Vương nhà Chu rằng các nước chư hầu muốn yết kiến ngôi thái tử để tỏ tấm lòng tôn kính. Chu Huệ Vương vốn không muốn cho thái tử đi hội với các nước chư hầu, nhưng sợ thế lực nước Tề, vả lại nước Tề nói cũng có lẽ phải, không từ chối thế nào được, mới phải nhận lời cho thái tử đi hội với các nước chư hầu. Thấp bằng về báo với Tề Hoàn công. Đầu năm sau, Tề Hoàn công sai Trần Kính Trọng sang đất Thủ Chỉ làm sẵn một cái nhà hành cung để đợi thái tử đến ở. Khi thái tử Trịnh đến, Tề Hoàn công đem các nước chư hầu vào lạy mừng. Thái tử Trịnh hai ba lần từ chối, không dám nhận lễ. Tề Hoàn công nói: - Chúng tôi là chư hầu, nay yết kiến thái tử cũng như là yết kiến Thiên tử, xin thái tử cứ cho như vậy. Thái tử Trịnh cảm tạ. Đêm hôm ấy, thái tử Trịnh sai người mời Tề Hoàn công đến nhà hành cung, đem việc Vương tử Đái muốn cướp ngôi nói chuyện với Tề Hoàn công. Tề Hoàn công nói: - Chúng tôi xin cùng với các nước chư hầu kết lập điều ước để cùng giúp thái tử, xin thái tử chớ lo ngại. Thái tử Trịnh sợ ở lâu thì phiền phức các nước chư hầu, toan cáo từ về nhà Chu. Tề Hoàn công nói: - Chúng tôi muốn lưu thái tử ở lại ít lâu, là có ý để cho Thiên tử biết cái lòng chúng tôi mến phục thái tử lắm, dẫu có mưu gì cũng phải thôi đi. Bây giờ đang mùa hạ nóng bức, đợi sang đến mùa thu mát trời, bấy giờ chúng tôi sẽ đưa thái tử về triều. Chu Huệ Vương thấy thái tử Trịnh mãi không trở về, biết là Tề Hoàn công có ý mến phục, trong lòng không được vui. Vả lại Trần Vỉ và Vương tử Đái ngày đêm ở bên cạnh, đem lời xúi giục, Chu Huệ Vương nhân thấy quan thái tể là Chu Khổng vào yết kiến, liền bảo Chu Khổng rằng: - Tề hầu mới rồi dẫn đánh được nước Sở, nhưng kỳ thực binh lực không hơn gì nước Sở. Vả người nước Sở đã biết thần phục nhà Chu ta, không hỗn láo như trước nữa, vậy thì nước Sở cũng chẳng kém gì nước Tề. Nay không biết Tề hầu có ý gì mà lại hội các nước chư hầu để rủ nhau qui phục thái tử, như thế thì định để trẫm vào ngôi bậc nào! Trẫm muốn nhờ nhà ngươi đưa một tờ mật thư cho Trịnh hầu, bảo Trịnh hầu bỏ Tề theo Sở, rồi đem tình ý của trẫm mà nói với vua Sở. Chu Khổng nói: - Nước Sở mà biết thần phục nhà Chu ta, cũng là công của Tề hầu, cớ sao nhà vua lại bỏ một nước họ hàng thân thiết xưa nay mà dùng một nước rợ mọi mới theo ta bây giờ! Chu Huệ Vương nói: - Trịnh Hầu không chịu bỏ nước Tề mà các nước chư hầu cũng cứ một lòng tin phục nước Tề mãi thì biết đâu rằng Tề hầu không có chi khác. Thôi thì ý trẫm cũng nhất quyết, nhà ngươi chớ nên từ chối. Chu Khổng không dám nói gì nữa. Chu Huệ Vương liền làm một tờ mật thư, niêm phong đóng hộp rất kỹ lưỡng, rồi giao Chu Khổng. Chu Khổng không hiểu trong thư nói những điều gì, cứ việc sai người mật đưa sang cho Trịnh Văn công. Trịnh Văn công mở thư ra đọc, trong thư nói: "Thái tử Trịnh không theo mệnh cha, mà rủ nhau lập bè đảng thì không thể cho nối ngôi được. Trẫm muốn lập thứ tử Đái làm thái tử, nếu hiền hầu bỏ nước Tề theo nước Sở để cùng giúp thái tử Đái thì trẫm xin giao hết quyền chính cho". Trịnh Văn công mừng lắm, bảo các quan đại phu rằng: - Tiên quân ta ngày xưa là Vũ công, Trang công nối đời làm chức khanh sĩ nhà Chu, đến đời Lệ công cũng có cái công khó nhọc giúp vua nhà Chu mà chưa được giữ quyền chính. Nay vua nhà Chu lại định giao quyền chính cho ta, thế thì các quan đại phu cũng nên mừng cho ta đó. Quan đại phu là Đỗ Thúc can rằng: - Nước Tề khi trước vì nước ta mà phải đem quân đi đánh Sở, bây giờ ta lại bỏ nước Tề theo nước Sở thì thành ra một kẻ bội ơn. Vả việc phù tá thái tử là một việc đại nghĩa, chúa công không nên làm trái ý thiên hạ. Trịnh Văn công nói: - Theo ý Tề hầu, sao bằng theo ý Thiên tử nhà Chu. Vả ý thiên tử nhà Chu không bằng lòng với thái tử, chứ ta có tiếc gì! Đỗ Thúc nói: - Ngôi thái tử nhà Chu, bao giờ cũng phải lập con trưởng, nếu theo ý riêng mà lập con thứ thì không ra thế nào! Này xem như vua U Vương yêu Vương tử Bá Phục, vua Hoàn Vương yêu Vương tử Khắc, vua Trang Vương yêu Vương tử Đồi đều đến nỗi phải tai vạ về sau. Nay chúa công không giữ lấy đại nghĩa mà lại muốn bắt chước như năm quan đại phu nhà Chu ngày xưa giúp Vương tử Đồi hay sao? Tôi e rằng thế nào sau chúa công cũng phải hối hận. Quan đại phu là Thân hầu nói: - Đó là mệnh Thiên tử, ai dám trái ý, nếu theo nước Tề mà hội nhau để giúp thái tử, thì thành ra bỏ mệnh Thiên tử hay sao! May một nước ta mà bỏ về cả. Vả thái tử Trịnh có bè đảng ở ngoài thì Vương tử Đái cũng có bè đảng ở trong, nào đã biết bên nào được, bên nào thua, chi bằng ta hãy bỏ về để xem sự thể ra sao. Trịnh Văn công theo lời của Thân hầu, giả cách nói trong nước có việc cần, không cáo từ mà đi ngay. Tề Hoàn công nghe tin Trịnh Văn công trốn về, tức thì nổi giận, toan đem quân sang đánh Trịnh. Quản Di Ngô nói: - Nước Trịnh cùng với nhà Chu tiếp giáp nhau, đó tất là có người nhà Chu xúi giục nước Trịnh. Dẫu một nước Trịnh bỏ về, cũng chẳng cần gì, xin chúa công cứ hội thề với các nước chư hầu, chờ khi hội thề xong bấy giờ ta sẽ liệu cho nước Trịnh. Tề Hoàn công khen phải, rồi truyền lập đàn ở đất Thủ Chỉ, để cùng với các nước chư hầu hội thề xin đồng tâm cùng giúp ngôi thái tử. Lời thề như sau: "Phàm các nước đồng minh ta, cùng nhau giúp ngôi thái tử, để giữ yên cơ nghiệp nhà Chu; nếu ai trái lời ước ấy thì quỉ thần chu diệt". Ngày hôm sau, thái tử trở về nhà Chu, Tề Hoàn công đem các nước chư hầu đi tiễn ra hết địa giới nước Vệ. Trịnh Văn công nghe tin các nước chư hầu hội thề với Tề Hoàn công, lại sắp sửa đem binh sang đánh Trịnh, mới không dám bỏ Tề mà theo Sở nữa. Sở Thành Vương nghe tin Trịnh Văn công bỏ về không dự hội với các nước chư hầu, mừng lắm nói rằng: - Phen này chắc hẳn ta thu phục được nước Trịnh. Nói xong, liền sai sứ sang thông tin cho Thân hầu biết rằng nước Sở muốn cùng với nước Trịnh giao hiếu. Nguyên Thân hầu khi trước đã làm quan nước Sở, vốn là người có tài nói khéo, tính tham mà rất ô mị. Sở Văn Vương vẫn có lòng tin yêu, đến khi Sở Văn Vương gần chết, sợ rằng người sau không có lòng dung hắn, mới tặng cho hắn một viên bạch bích, để hắn trốn sang nước khác mà tránh họa. Thân hầu trốn sang Trịnh, theo Trịnh Lệ công ở đất Lịch. Trịnh Lệ công lại tin yêu Thân hầu như Sở Văn Vương khi trước; đến lúc Trịnh Lệ công về phục quốc, liền cho Thân hầu làm quan đại phu. Các quan ở nước Sở bây giờ đều là quen thuộc với Thân hầu trước cả, bởi vậy, Sở Thành Vương mới thông tin cho Thân hầu, để Thân hầu xúi giục Trịnh Văn công bỏ nước Tề mà theo nước Sở, Thân hầu mật nói với Trịnh Văn công rằng: - Cứ như sự thế ngày nay, trừ phi nước Sở thì không còn nước nào địch nổi với nước Tề, huống chi ta giao hiếu với nước Sở, cũng là phụng mệnh Thiên tử. Nếu không như thế thì nước Tề và nước Sở bây giờ cùng thù nhau với nước Trịnh ta cả, nước Trịnh ta làm thế nào mà giữ nổi. Trịnh Văn công nghe lời, liền mật sai Thân hầu sang kết giao với nước Sở. Tề Hoàn công đem quân các nước chư hầu đến vây thành Tân Mật của nước Trịnh. Bấy giờ Thân hầu còn đang ở nước Sở nói với Sở Thành Vương rằng: - Nước Trịnh tôi sở dĩ xin kết giao với quí quốc là nghĩ rằng chỉ có quí quốc mới địch nổi nước Tề, nếu nay đại vương không cứu nước Trịnh thì tôi về chuyến này không biết nói thế nào cho được. Sở Thành Vương họp các quan lại để thương nghị. Quan lịnh doãn là Tử Văn nói: - Hữu Mục công vì việc họp quân ở đất Thiệu Lăng khi trước mà chết, nước Tề vẫn lấy làm thương xót. Nước Hứa lại một lòng thần phục nước Tề. Bây giờ đại vương đem quân đánh nước Hứa thì tất cả các nước chư hầu phải sang cứu, tự khắc giải vây được cho nước Trịnh. Sở Thành Vương theo lời, liền đem quân đi vây nước Hứa. Các nước chư hầu nghe tin nước Hứa bị vây, quả nhiên bỏ nước Trịnh mà sang cứu nước Hứa. Nước Sở lại rút quân về. Khi Thân hầu về đến nước Trịnh, có ý kiêu ngạo tự đắc là mình có cái công bảo toàn được cho nước Trịnh, thế nào Trịnh Văn công cũng phải gia phong. Trịnh Văn công thấy Thân hầu khi trước vừa mới được phong ở đất Hổ Lao, lấy làm quá hậu lắm rồi, mới không gia phong cho nữa. Thân hầu miệng không nói ra, nhưng trong lòng vẫn có ý oán vọng. Sang năm sau, Tề Hoàn công lại đem quân đánh nước Trịnh. Quan đại phu nước Trần là Đào Đồ từ khi theo Tề Hoàn công đi đánh Sở về, cùng với Thân hầu có sự hiềm khích, mới viết thư cho quan đại phu nước Trịnh là Đỗ Thúc rằng: "Thân hầu khi trước đã đem việc nước ô mị nước Tề, được thưởng đất Hổ Lao; ngày nay lại đem việc nước ô mị nước Sở, khiến cho Trịnh hầu mang tiếng là người phụ ân bội nghĩa, mà lại gây ra việc binh đao làm khổ sở nhân dân. Bây giờ giết Thân hầu đi thì không đánh mà tự khắc nước Tề phải rút quân về". Đỗ Thúc đem bức thư ấy đệ trình Trịnh Văn công. Trịnh Văn công vì cớ ngày trước không nghe lời Đỗ Thúc, trốn về không dự hội, để đến nỗi quân Tề hai lần đến đánh nước Trịnh, trong lòng lấy làm hổ thẹn, cũng đổ lỗi cho Thân hầu, mới gọi Thân hầu vào mà trách rằng: - Nhà ngươi nói chỉ có nước Sở mới địch nổi nước Tề nay quân Tề kéo đến, nào ta có thấy nước Sở đến cứu đâu? Thân hầu đang sắp sửa phân giải thì Trịnh Văn công truyền cho võ sĩ lôi ra chém, bỏ đầu trong một cái hộp, sai Đỗ Thúc đem sang nộp Tề Hoàn công mà nói rằng: - Ngày trước chúa công tôi quá nghe lời nói của Thân hầu mà bỏ không dự hội, nay xin chém đầu Thân hầu, và sai tôi đến xin lỗi quí quốc dung thứ cho. Tề Hoàn công vốn biết Đỗ Thúc là người hiền, mới thuận cho nước Trịnh giảng hòa, lại hội chư hầu ở đất Ninh Mãn (đất nước Tề). Trịnh Văn công vẫn ngại về có mệnh Thiên tử nhà Chu khi trước, không dám công nhiên đến dự hội, liền sai thế tử Hoa đi thay. Nguyên thế tử Hoa cùng với em là Công tử Tang đều là con bà đích phu nhân, bây giờ đích phu nhân được Trịnh Văn công yêu, mới lập Hoa làm thế tử. Sau lại lập thêm hai bà phu nhân nữa, đều có con trai cả. Chẳng được bao lâu đích phu nhân chết; lại có nàng Yên Cật là cung nữ ở nước Trịnh bấy giờ, một hôm nằm mộng thấy một người đàn ông tay cầm cành hoa lan bảo Yên Cật rằng: - Ta đây thủy tổ nhà ngươi nay cho ngươi cành hoa lan này mai sau sẽ sinh quí tử, khiến cho nước nhà được thịnh vượng. Nói xong, liền cầm cành hoa lan đưa cho. Yên Cật sực tỉnh dậy, thấy trong nhà mùi hương thơm ngào ngạt, đến sáng hôm sau, nói chuyện cho các cung nữ nghe. Các cung nữ đều cười mà chế rằng: - Ngày sau tất sinh được quí tử! Ngày hôm ấy, Trịnh Văn công vào cung, trông thấy Yên Cật, có ý bằng lòng. Các cung nữ đều nhìn nhau mà cười. Trịnh Văn công hỏi. Yên Cật mới thuật lại chuyện nằm mộng đêm hôm trước. Trịnh Văn công nói: - Đó là một cái triệu hay! Để ta tác thành cho nhà ngươi! Nói xong sai người lấy một cành hoa lan cho Yên Cật đeo, rồi đem lòng thương yêu Yên Cật. Sau Yên Cật có thai, sinh con đặt tên là Lan. Thế tử Hoa thấy cha nhiều vợ yêu như vậy, sợ mai sau lại bỏ mình mà lập người khác, mới bàn riêng với Thúc Thiêm, Thúc Thiêm nói: - Được hỏng đều có mệnh trời! Làm con nên phải giữ lấy đạo hiếu. Thế tử Hoa lại đến bàn với Đỗ Thúc. Đỗ Thúc cũng khuyên thế tử Hoa nên giữ lấy đạo hiếu. Thế tử Hoa có ý không bằng lòng. Công tử Tang (em thế tử Hoa) tính hay thích những sự kỳ quặc, chắp cánh chim duật để làm mũ đội. Sư Thúc can rằng: - Thế là không hợp lễ, Công tử chớ nên ăn mặc như vậy! Công tử Tang cũng có ý không bằng lòng, mới nói với anh là thế tử Hoa. Bởi vậy thế tử Hoa cùng với Thúc Thiêm, Đỗ Thúc và Sư Thúc thành ra hiềm khích. Đến bấy giò Trịnh Văn công sai thế tử Hoa sang hội với Tề Hoàn công. Thế tử Hoa sợ Tề Hoàn công bẻ lỗi, không muốn đi. Thúc Thiêm giục thế tử Hoa, bắt phải đi ngay. Thế tử Hoa càng đem lòng căm tức, khi vào yết kiến Tề Hoàn công xin đuổi hết người chung quanh, rồi nói với Tề Hoàn công rằng: - Quyền chính nước Trịnh tôi ngày nay đều ở trong tay Thúc Thiêm, Đỗ Thúc và Sư Thúc, khi trước phụ thân tôi bỏ không dự hội, cũng vì ba người ấy xúi giục, nếu Hiền hầu trừ bỏ ba người ấy đi thì tôi xin đem nước Trịnh tôi mà phụ thuộc với quí quốc. Tề Hoàn công đem lời nói của thế tử Hoa thuật lại cho Quản Di Ngô nghe. Quản Di Ngô can rằng: - Không nên! Các nước chư hầu sở dĩ qui phục nước Tề ta, là vì nước Tề ta biết giữ điều lễ và điều tín. Nay thế tử Hoa không theo mệnh cha, sao gọi là lễ; sang đây kết giao với ta mà lại lập những mưu phản nghịch nước mình, sao gọi là tín. Vả lại tôi nghe Thúc Thiêm, Đỗ Thúc và Sư Thúc đều là người hiền cả, dân nước Trịnh vẫn gọi ba người ấy là "Tam lương", ta không nên trái ý dân mà theo lời thế tử Hoa. Cứ như ý tôi nghĩ thì thế tử Hoa chẳng bao lâu sẽ có tai vạ. Tề Hoàn công bảo thế tử Hoa rằng: - Thế tử nói điều ấy, là một việc quan trọng, âu là để ta chờ khi Trịnh Hầu sang đây, sẽ cùng thương nghị. Thế tử Hoa thẹn đỏ mặt lên, toát mồ hôi ướt đầm cả người, rồi cáo từ xin về. Quản Di Ngô ghét thế tử Hoa là người gian giảo, cố ý đem lời nói của thế tử Hoa tiết lộ cho người nước Trịnh biết. Người nước Trịnh tức khắc phi báo Trịnh Văn công. Khi thế tử Hoa về đến nước Trịnh, nói dối Trịnh Văn công rằng: - Tề hầu thấy phụ thân không sang, không chịu cho giảng hòa, chi bằng ta theo nước Sở là hơn. Trịnh Văn công quát mắng rằng: - Thằng nghịch tử này, mày định bán nước, lại còn dám lập kế nói dối ta hay sao! Mắng xong, truyền đem thế tử Hoa giam vào nơi u thất. Thế tử Hoa khoét tường, định trốn ra đi. Trịnh Văn công biết, tức khắc truyền đem chém. Em cùng mẹ với thế tử Hoa là Công tử Tang sợ tội, bỏ trốn sang nước Tống. Trịnh Văn công sai người đuổi theo giết chết ở dọc đường. Trịnh Văn công cảm cái ơn Tề Hoàn công không nghe lời nói của thế tử Hoa, lại sai Đỗ Thúc sang tạ. Chu Huệ Vương ốm nặng, thái tử Trịnh sợ có sự biến loạn liền sai quan hạ sĩ là Vương Tử Hổ sang báo tin với Tề Hoàn công. Chẳng được bao lâu, Chu Huệ Vương mất, thái tử Trịnh cùng với các quan thương nghị, không phát tang vội, tức khắc sai người phi báo cho Vương Tử Hổ biết, để Vương Tử Hổ nói với Tề Hoàn công. Tề Hoàn công đại hội các nước chư hầu ở đất Thao (đất nước tào) họp nhau làm tờ biểu vào vấn an vua Huệ Vương nhà Chu. Trịnh Văn công cũng đến dự hội. Mỗi nước chư hầu sai một quan đại phu làm đại biểu, kể tên sau này: 1. - Quan đại phu nước Tề là Thấp Bằng, 2. - Quan đại phu nước Tống là Hoa Tú Lão, 3. - Quan đại phu nước Lỗ là Công Tôn Ngao, 4. - Quan đại phu nước Vệ là Ninh Tốc, 5. - Quan đại phu nước Trần là Viên Tuyển, 6. - Quan đại phu nước Trịnh là Tử Nhân Sư, 7. - Quan đại phu nước Tào là Công Tử Mậu, 8. - Quan đại phu nước Hứa là Bách Đà. Quan đại phu các nước chư hầu mượn tiếng vào vấn an vua Huệ Vương, họp cả ở kinh thành nhà Chu, nghi vệ rất nghiêm chỉnh. Thái tử Trịnh sai người tiếp đãi, rồi mới phát tang vua Huệ Vương. Quan đại phu các nước cùng nhau tôn thái tử Trịnh lên nối ngôi, tức là Chu Tương Vương. Trần Vỉ (vợ vua Huệ Vương) và Vương tử Đái có ý căm tức, lấy làm uất ức lắm, nhưng sợ uy các nước chư hầu, không dám có ý gì khác cả. Sang năm sau, Chu Tương Vương làm lễ xuân tế, sai quan thái tể là Chu Khổng đem phần tế ban cho Tề Hoàn công, để đáp lại cái công khó nhọc giúp đỡ. Tề Hoàn công nghe tin, lại đại hội chư hầu ở đất Quì Khâu. Tề Hoàn công cùng với Quản Di Ngô bàn đến công việc nhà Chu. Quản Di Ngô nói: - Nhà Chu mới rồi, chỉ vì con trưởng con thứ không nhất định, thành ra sắp có sự biến loạn. Nay chúa công cũng nên định ngôi thế tử trước, để khỏi di họa về sau. Tề Hoàn công nói: - Ta có 6 con, đều là vợ thứ: Công tử Vô Khuy nhiều tuổi hơn cả, mà nếu cứ lấy người hiền thì có Công tử Chiêu. Trưởng Vệ Cơ (mẹ Công tử Vô Khuy) hầu ta đã lâu, ta có hứa lời định lập Công tử Vô Khuy rồi; Dịch Nha và Thụ Điêu hai người ấy vẫn thường nói cho Vô Khuy. Ta vẫn yêu Công tử Chiêu là người hiền, nhưng ý ta chưa quyết, bây giờ xin tùy ý trọng phụ. Quản Di Ngô đã biết Dịch Nha và Thụ Điêu là người gian nịnh, mà vẫn là bè đảng của Trưởng Vệ Cơ; sợ ngày sau Công tử Vô Khuy lên nối ngôi thì trong ngoài hợp nhau mà làm loạn quốc chính. Công tử Chiêu là con Trịnh Cơ, bây giờ nước Trịnh lại vừa mới cùng ta giảng hòa, ta lập Công tử Chiêu thì thêm thân mật với nước Trịnh. Quản Di Ngô nghĩ thầm như vậy, mới nói với Tề Hoàn công rằng: - Nếu không có con hiền nối ngôi thì không giữ được cơ nghiệp bá chủ. Chúa công đã biết Công tử Chiêu là người hiền thì nên lập ngay mới phải. Tề Hoàn công nói: - Ta chỉ sợ Công tử Vô Khuy cậy là hơn tuổi, rồi lại sinh ra tranh nhau thì biết làm thế nào? Quản Di Ngô nói: - Nay nhân thể chúa công sắp đại hội các nước chư hầu, nên chọn xem trong các vua chư hầu có ông nào hiền thì đem việc Công tử Chiêu mà ủy thác cho, còn lo ngại gì nữa. Tề Hoàn công gật đầu. Bấy giờ Tống Hoàn công là Ngự Thuyết mất, thế tử Tư Phủ nhường ngôi cho Công tử Mục Di (thứ huynh của Tư Phủ) ; Mục Di không chịu nhận. Tư Phủ mới lên nối ngôi, tức là Tống Tương công. Tống Tương công theo lệnh bá chủ (Tề Hoàn công), dẫu đang có tang, cũng đến dự hội ở đất Quỳ Khâu, Quản Di Ngô bảo Tề Hoàn công rằng: - Vua nước Tống biết nhường ngôi cho Công tử Mục Di, đó là một người rất hiền. Vả lại đang có tang mà cũng đến dự hội, thế là biết kính trọng nước ta, chúa công nên đem việc Công tử Chiêu mà ủy thác cho người ấy. Tề Hoàn công theo lời, liền sai Quản Di Ngô đến nhà quán xá, để nói chuyện trước cho Tống Tương công biết. Tống Tương công đến yết kiến Tề Hoàn công. Tề Hoàn công cầm lấy tay Tống Tương công đem việc Công tử Chiêu mà ân cần dặn rằng: - Mai sau nhờ Hiền hầu trông nom cho, để khiến Công tử Chiêu giữ yên được cơ nghiệp. Tống Tương công khiêm nhượng, không dám nhận lời, nhưng trong lòng cảm tạ tấm lòng ủy thác của Tề Hoàn công, cũng đã lưu ý rồi. Hôm đến hội, các nước chư hầu họp cả trên đàn, cùng bái vọng thiên tử nhà Chu, rồi ban phần tế cho Tề Hoàn công. Tề Hoàn công toan bước xuống thềm để lạy tạ. Chu Khổng can rằng: - Thiên tử lại có truyền rằng hiền hầu năm nay đã già cả lắm thì tha lễ cho không phải lạy. Tề Hoàn công đã toan không lạy, Quản Di Ngô đứng bên cạnh nói rằng: - Thiên tử dẫu có lệnh truyền như vậy, nhưng kẻ thần hạ cứ nên giữ lễ mới phải. Tề Hoàn công nói: - Uy nghiêm thiên tử nhà Chu, lúc nào cũng như ở trước mặt, khi nào Tiểu Bạch (tên Tề Hoàn công) lại dám sai lễ. Nói xong, Tề Hoàn công liền bước xuống thềm sụp lạy hai lạy. Các nước chư hầu đều khen Tề Hoàn công là người biết giữ lễ. Tề Hoàn công nhân các nước chư hầu chưa tan, lại tuyên bá 5 điều cấm lệnh của vua nhà Chu. 1. - Không được lấp dòng nước chảy. 2. - Không được cấm đong thóc. 3. - Không được đổi con trưởng. 4. - Không được lấy thiếp làm vợ. 5. - Không được cho đàn bà dự vào việc chính trị. Tề Hoàn công lại cùng với các nước chư hầu thề ước rằng: Phàm các nước đồng minh ta phải cùng nhau giao hiếu. Thề ước xong, Tề Hoàn công bảo quan thái tể là Chu Khổng rằng: - Ta nghe đời tam đại (nhà Hạ, nhà Thương, nhà Chu) ngày xưa có lễ Phong Thiện, chẳng hay sự thể ra sao? Chu Khổng nói: - Đời tam đại ngày xưa, làm lễ Phong ở núi Thái Sơn, làm lễ Thiện ở núi Lương Phủ. Làm lễ Phong để tế trời, lấy nghĩa trời cao, vậy nên đắp đất lên mà tế; làm lễ Thiện để tế đất, lấy nghĩa đất thấp, vậy nên quét sạch đất đi mà tế, ấy là cái lễ rất trọng thể ở đời tam đại đó. Tề Hoàn công nói: - Nhà Hạ đóng đô ở đất An Ấp, nhà Thương đóng đô ở đất Bạc Ấp, nhà Chu đóng đô ở đất Phong Kiểu, chốn đô thành cách núi Thái Sơn và núi Lương Phủ rất xa, mà còn đi làm lễ Phong và lễ Thiện; nay hai núi ấy đều ở trong địa giới nước ta, vậy ta cũng muốn làm cái lễ trọng thể ấy, các ngài nghĩ thế nào? Chu Khổng thấy Tề Hoàn công có ý kiêu ngạo tự đắc, liền đáp lại rằng: - Hiền hầu cho là phải thì còn ai dám bảo là không phải! Tề Hoàn công nói: - Thôi hãy để đến mai, ta lại sẽ bàn. Các vua chư hầu đều tan về nhà quán xá cả, Chu Khổng nói riêng với Quản Di Ngô rằng: - Lễ Phong Thiện là một việc trọng thể của Thiên tử, tôi thiết tưởng nước chư hầu không nên nói đến, nay Trọng phụ lại không can được một câu hay sao? Quản Di Ngô nói: - Chúa công tôi là người hiếu thắng, phải nghĩ cách mà chữa đi, không có thể can thẳng được, để hôm nay tôi sẽ liệu nói. Đêm hôm ấy, Quản Di Ngô vào yết kiến Tề Hoàn công mà hỏi rằng: - Chúa công muốn làm lễ Phong Thiện thật thế không? Tề Hoàn công nói: - Sai lại không thật! Quản Di Ngô nói: - Lễ Phong Thiện bắt đầu từ thời Vô Hoài Thị đến đời Chu Thành Vương, cả thảy 73 nhà, đều là chịu mệnh trời làm Thiên tử, vậy mới được phép làm lễ Phong Thiện. Tề Hoàn công có ý không bằng lòng mà nói rằng: - Ta đây, phía nam đánh nước Sở, đến tận đất Thiệu Lăng, phía bắc đánh Sơn Nhung, Linh Chi và Cô Trúc; phía tây qua bãi Lưu Sa đến tận núi Thái Hàng. Các nước chư hầu, không ai dám trái ý :3 lần hội chư hầu về việc binh xa, 6 lần hội chư hầu về việc y thường thế thì dẫu đời tam đại chịu mệnh trời cũng chẳng qua như vậy mà thôi. Bây giờ ta làm lễ Phong Thiện để cho con cháu noi theo, chẳng cũng nên lắm sao? Quản Di Ngô nói: - Các vua đời xưa, nhân có điềm lành mới làm lễ Phong Thiện, nay chúa công cũng bắt chước mà làm, tôi e rằng những người kiến thức ở các nước, tất có ý chê cười chúa công. Tề Hoàn công nín lặng, ngày hôm sau không nói gì đến việc Phong Thiện nữa. Tề Hoàn công khi đã về nước, tự nghĩ mình có nhiều công trạng to, mới sửa sang cung điện một cách rực rỡ; phàm các thứ xe ngựa đồ dùng, đều sắm sửa lịch sự không khác gì ngôi Thiên tử. Người trong nước ai cũng chê là tiếm phạm. Quản Di Ngô cũng đắp một cái đài cao ba từng gọi là đài "Tam Qui" nghĩa là ba hạng người qui phục minh cả: Dân qui phục; chư hầu qui phục; các nước rợ mọi cũng qui phục. Lại lập ra Tắc Môn để che cửa; Phản Điếm đề tiếp sứ thần các nước. Bão Thúc Nha thấy vậy, có ý nghi hoặc mà hỏi rằng: - Vua xa xỉ, mình cũng xa xỉ; vua tiếm phạm mình cũng tiếm phạm, như thế thì sao cho phải? Quản Di Ngô nói: - Một ông vua trải bao sự cần khổ để lập nên công nghiệp, cũng phải có ngày kia được hưởng sự sung sướng ở đời, nếu mình đem lễ phép mà bó buộc thì người ta sinh chán. Tôi làm như thế, chẳng qua cũng là muốn vì chúa công ta mà chịu đỡ cái tiếng chê cười của thiên hạ. Bão Thúc Nha nghe nói, ngoài miệng dẫu vâng dạ, nhưng trong lòng cũng có ý không phục. Chu Khổng (quan thái tể nhà Chu) từ đất Quỳ Châu trở về nhà Chu. Đi đến nửa đường, gặp Tấn Hiến công cũng định đến dự hội. Chu Khổng nói: - Hội đã tan rồi! Tấn Hiến công dẫm chân xuống đất mà than rằng: - Nước tôi xa xôi quá, không được trông thấy những cảnh tượng vui vẻ ấy, làm sao mà vô duyên như vậy! Chu Khổng nói: - Hiền hầu cũng chẳng nên tiếc! Ngày nay Tề hầu cậy mình công to, có ý kiêu ngạo; nhưng trăng tròn thì tất phải khuyết, nước đầy thì tất phải tràn, tôi chắc rằng chẳng bao lâu nữa Tề sẽ đến ngày suy đốn. Dẫu chẳng dự hội cũng không hề chi! Tấn Hiến công liến quay xe trở về, đi đường bị bệnh, về đến nước Tấn thì mất. Từ bấy giờ nước Tấn lại đại loạn.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 25 Tuân Tức dâng ngựa để mượn đường Bách Lý nuôi trâu được làm tướng

Lại nói chuyện Tấn Hiến công trong thì mê hoặc nàng Ly Cơ, ngoài thì tin dùng Lương Ngũ và Đông Quan Ngũ, càng đem lòng ghét bỏ thế tử Thân Sinh mà yêu Hề Tề (con Ly Cơ) : Chỉ vì Thân Sinh một lòng kính thuận, lại thường đem quân đi đánh giặc, có nhiều công trạng, không lấy cớ gì mà bỏ được. Ly Cơ bàn với người tâm phúc là Ưu Thi rằng: - Bây giờ ta muốn bỏ thế tử mà lập Hề Tề thì làm kế gì cho được? Ưu Thi nói: - Hiện nay ba vị công tử (thế tử Thân Sinh cùng Công tử Di Ngô và Công tử Trùng Nhĩ) đều ở cõi xa cả, phu nhân còn lo ngại gì! Ly Cơ nói: - Ba vị công tử đều đã trưởng thành, giữ quyền chính lâu ngày, các quan trong triều ai cũng có lòng bênh vực, vậy nên ta chưa dám động đến. Ưu Thi nói: - Thế thì ta nên nghĩ kế mà trừ lần mới được. Ly Cơ nói: - Bây giờ nên trừ ai trước? Ưu Thi nói: - Trước hết phải trừ thế tử Thân Sinh! Vì Thân Sinh là người nhân từ mà chính trực lắm; chính trực thì không chịu những tiếng xấu, nhân từ thì không muốn hại người. Không chịu những tiếng xấu thì có điều gì tức giận, không ẩn nhẫn được; không hại người thì tất phải hại mình. Nay thế tử Thân Sinh, dẫu không được thân cận với chúa công ta cho lắm, nhưng chúa công ta vẫn biết là người hiền, nếu ta dèm là Thân Sinh có lòng phản nghịch thì tất chúa công không tin; phu nhân nên nhân khi đêm thanh vắng nỉ non khóc lóc, làm ra ý khen thế tử để vu tội cho, có khéo lắm thì mới đắt lời được. Đến nửa đêm hôm ấy, Ly Cơ tự nhiên khóc nức khóc nở. Tấn Hiến công ngạc nhiên lấy làm lạ, hỏi vì cớ gì mà khóc. Hỏi đi hỏi lại ba lần mà Ly Cơ nhất định không chịu nói. Tấn Hiến công cố ý hỏi mãi. Ly Cơ đáp rằng: - Thiếp tôi nói ra thì tất chúa công chẳng tin! Thiếp tôi sở dĩ phải khóc là e rằng thiếp tôi hầu hạ chúa công chẳng được bao lâu nữa! Tấn Hiến công nói: - Sao lại nói những câu quái gở như vậy? Ly Cơ gạt nước mắt mà đáp rằng: - Thiếp tôi nghe nói Thân Sinh là người mặt ngoài nhân từ mà trong lòng thì tàn nhẫn. Hiện nay Thân Sinh ở đất Khúc Ốc, hết lòng làm ơn với dân, là muốn mua chuộc lòng dân để sau này dùng đến. Thân Sinh thường nói chuyện với người ta rằng: Chúa công mê hoặc thiếp, tất có ngày sinh loạn, khắp cả trong triều ai cũng nghe tiếng, chỉ có một mình chúa công là chưa đến tai đó thôi. Thiếp chắc có một ngày kia vì việc dẹp loạn mà để tai vạ đến chúa công, chi bằng chúa công giết thiếp đi để khiến cho Thân Sinh bằng lòng, đừng nghĩ đến cái mưu ấy nữa, kẻo vì một mình thiếp mà làm khổ cả muôn dân. Tấn Hiến công nói: - Thân Sinh đã có lòng nhân từ với dân, chẳng lẽ lại không biết nhân từ với cha hay sao? Ly Cơ nói: - Thiếp cũng lấy điều ấy làm nghi lắm, nhưng thiếp nghe nói điều nhân của người tầm thường, cùng với điều nhân của người anh hùng không giống nhau: Người tầm thường lấy yêu người làm nhân, người anh hùng lấy lợi nước làm nhân, nếu việc làm mà lợi cho nước thì chẳng nghĩ đến tình thân cả. Tấn Hiến công nói: - Thân Sinh là người hay gìn giữ tính nết, lại không sợ mang tiếng ác hay sao? Ly Cơ nói: - Ngày xưa vua U Vương không giết Nghi Cữu, đuổi ra ở nước Thân. Thân hầu đem quân Khuyển Nhung về giết vua U Vương ở dưới núi Ly Sơn, lập Nghi Cữu lên làm vua, tức là vua Bình Vương, làm thủy tổ nhà Đông Chu ta, thế mà đến ngày nay người ta chỉ biết điều ác của vua U vương mà thôi, có ai chê vua Bình Vương điều gì đâu! Tấn Hiến công nghe nói động lòng, mới vén áo vùng dậy mà nói rằng: - Phu nhân nói phải đó! Bây giờ biết phải làm thế nào? Ly Cơ nói: - Chúa công nên mượn tiếng già yếu, giao quốc chính lại cho thế tử. Thế tử đã được quốc chính thì tất mãn nguyện mà tha cho chúa công. Vả, ngày trước Tấn Vũ công ta ở đất Khúc Ốc mà kiêm tính đất Dực, chẳng phải tình cốt nhục là gì! Vua Vũ công ta, chỉ vì không nghĩ đến tình thân, vậy nên mới gây dựng ra được nước Tấn. Cái chí thân sinh ngày nay, cũng như thế đó, thôi thì chúa công nên nhường. Tấn Hiến công nói: - Không nên! Ta có vũ và uy để đối với các nước chư hầu. Nay ta chịu mất ngôi thì sao gọi là vũ; có con mà không trị nổi thì sao gọi là uy. Đã mất vũ và uy, để cho người ta kềm chế mình được, thì dẫu sống cũng như chết. Thôi thì phu nhân chớ lo ngại, rồi ta sẽ định liệu. Ly Cơ nói: - Nay quân Xích Địch thường quấy nhiễu nước ta, chúa công nên sai Thân Sinh đem quân đi đánh, để xem hắn có khéo dùng binh hay không? Đánh không được giặc thì ta nhân cớ mà bắt tội, nếu đánh được giặc thì hắn tất cậy công làm càn, bấy giờ ta sẽ tìm cách nghiêm trị. Như vậy thì vừa đánh được giặc để yên bờ cõi, lại vừa biết được cái tài của Thân Sinh. Chúa công nên sai Thân Sinh đi. Tấn Hiến công khen phải, liền truyền lệnh sai Thân Sinh đem quân ở đất Khúc Ốc đi đánh nước Xích Địch. Quan Thái Phó là Lý Khắc can rằng: - Thế tử là một người nối dõi của nhà vua, vậy nên vua có đi đâu thì thế tử coi giữ quốc chính. Chức phận thế tử, chỉ ngày đêm hầu hạ ở bên cạnh vua, không nên để đi xa, huống chi lại còn sai đem quân đi đánh giặc thì sao cho phải. Tấn Hiến công nói: - Thân Sinh đã đi dánh giặc nhiều lần rồi! Lý Khắc nói: - Ngày trước là theo chúa công mà đem quân đi, bây giờ không nên để cho thế tử đi một mình. Tấn Hiến công cúi đầu mà than rằng: - Ta có chín người con, nào đã định ai là thế tử đâu; nhà ngươi chớ nói chi cho lắm! Lý Khắc nín lặng lui ra, thuật chuyện cho Hồ Đột nghe. Hồ Đột nói: - Nguy thay cho thế tử! Nói xong, liền viết thư cho Thân Sinh, khuyên Thân Sinh chớ đi đánh. Đánh mà được giặc thì càng thêm cho người ta ghét, chi bằng liệu mà trốn đi. Thân Sinh tiếp được thư, thở dài mà than rằng: - Chúa công sai ta đi đánh giặc, không phải là có ý yêu ta, chỉ muốn thử lòng xem ta ra làm sao. Nay ta trái mệnh chúa công thì tội to lắm, chẳng thà đánh giặc mà chết đi, còn giữ được danh tiếng về sau. Nói xong, liền đem quân đi đánh Xích Địch. Quân Xích Địch thua chạy. Thân Sinh sai người đem tin thắng trận báo với Tấn Hiến công. Ly Cơ nói: - Thế tử thật là người khéo dùng quân, biết làm thế nào bây giờ? Tấn Hiến công nói: - Thế tử chưa có tội lỗi gì, ta phải đợi mới được. Hồ Đột biết là nước Tấn sắp loạn, mới giả cách ốm, đóng cửa không đi đâu cả. Bấy giờ có nước Ngu và nước Quắc, hai nước ở liền nhau lại đều tiếp giáp với nước Tấn cả. Vua nước Quắc tên Xú, là người kiêu ngạo mà hay thích việc tranh chiến trường sang quấy nhiễu cõi phía nam nước Tấn. Tấn Hiến công muốn đem quân đi đánh nước Quắc. Ly Cơ nói: - Sao chúa công lại không sai Thân Sinh đi. Thân Sinh là người đã có uy danh, mà quân sĩ vốn tin phục thì chắc có thể thành công được. Tấn Hiến công đã nghĩ về lời nói Ly Cơ, lại sợ Thân Sinh sau khi đánh được Quắc, uy danh mỗi ngày một to, khó lòng kềm chế nổi, mới trù trừ không nhất quyết, liền hỏi quan đại phu là Tuân Tức rằng: - Nước Quắc có nên đánh không? Tuân Tức nói: - Ngu và Quắc đang giao hiếu với nhau, ta đánh Quắc thì Ngu tất cứu, nếu đánh Ngu thì Quắc tất cứu, vậy thì một nước ta mà địch nhau với hai nước, tôi chưa dám chắc là có được hay không? Tấn Hiến công nói: - Vậy thì ta không làm gỉ nổi nước Quắc. Tuân Tức nói: - Tôi nghe nói vua nước Quắc là người hiếu sắc, bây giờ chúa công tìm những con gái đẹp trong nước dạy nghề hát múa và cho ăn mặc rất lịch sự, đem hiến vua nước Quắc, lại lấy lới khiên tín mà xin giảng hòa, như vậy thì vua nước Quắc tất mừng rỡ mà nhận ngay. Kẻ kia đã say mê về thanh sắc thì tất lười biếng mà chẳng thiết gì đến chính sự; bấy giờ ta lại lễ đút vua Khuyển Nhung để khiến cho quấy nhiễu nước Quắc, rồi ta sẽ tìm cớ sang đánh, như thế thì có thể phá tan nước Quắc. Tấn Hiến công nghe lời, đem bộ nữ nhạc sang dâng vua nước Quắc. Vua nước Quắc toan nhận. Quan đại Phu là Chu Chi Kiều can rằng: - Đó là cái lưỡi câu của nước Tấn để câu nước Quắc ta đó, cớ sao chúa công lại tham mồi làm gì? Vua nước Quắc không nghe, cứ cho nước Tấn được giảng hòa. Từ bấy giờ vua nước Quắc chỉ say đắm về bộ nữ nhạc chẳng thiết gì đến chính sự cả. Chu Chi Kiều lại can. Vua nước Quắc nổi giận, sai ra trấn thủ ở đất Hạ Dương. Chẳng được bao lâu, vua Khuyển Nhung tham lễ vật của nước Tấn, quả nhiên đem quân sang quấy nhiễu nước Quắc. Quân kéo đến đất Vĩ Nhuế, bị quân nước Quắc đánh thua, vua Khuyển Nhung căm tức, liền cử đại binh sang đánh. Vua nước Quắc cậy mình vừa mới thắng trận, cũng đem quân ra đối địch ở đất Tang Điền. Tấn Hiến công lại hỏi Tuân Tức rằng: - Ngày nay nước Quắc đang phải giữ nhau với quân Khuyển Nhung, ta nên đem quân đánh nước Quắc hay không? Tuân Tức nói: - Nước Ngư và nước Quắc vẫn giao hiếu với nhau; tôi có một kế, có thể ngày nay lấy được nước Quắc mà ngày mai lấy được cả nước Ngu nữa. Tấn Hiến công hỏi: - Nhà ngươi có kế gì? Tuân Tức nói: - Chúa công nên đem nhiều lễ vật dâng cho vua nước Ngu mà mượn đường sang đánh nước Quắc. Tấn Hiến công nói: - Ta vừa mới giảng hòa với nước Quắc, không lấy cớ gì mà đánh cho được, vả lại nước Ngu khi nào chịu tin lời ta. Tuân Tức nói: - Chúa công mật sai người quấy nhiễu ở bờ cõi nước Quắc, tất nhiên nước Quắc phải sang trách ta, bấy giờ ta mượn chuyện mà nói với vua nước Ngu. Tấn Hiến công lại theo kế ấy, quả nhiên nước Quắc cho người sang trách, thành ra hai bên gây sự đánh nhau. Vua nước Quắc còn đang đối địch với quân Khuyển Nhung: Không kịp quản cố đến việc ấy. Tấn Hiến công nói: - Ngày nay đã tìm được cớ để đánh nước Quắc rồi, nhưng chẳng hay dùng lễ vật gì mà đưa cho vua nước Ngu được? Tuân Tức nói: - Vua nước Ngu dẫu là người tham, nhưng tất phải có đồ chí bảo đem sang thì mới làm cho hắn động lòng được. Bây giờ có hai thứ đem đi lễ, chỉ sợ chúa công không dứt tình bỏ được mà thôi. Tấn Hiến công nói: - Nhà ngươi hãy thử nói xem những thứ gì? Tuân Tức nói: - Vua nước Ngu thích nhất là ngọc quí và ngựa quí. Nay chúa công có ngọc bích Thùy Cức và cổ ngựa Khuất Sản xin đem hai thứ ấy dâng cho vua nước Ngu để mà mượn đường. Vua nước Ngu tham hai thứ ấy thì tất mắc kế ta. Tấn Hiến công nói: - Hai thứ ấy là vật chí bảo của ta, khi nào ta lại chịu đưa cho người khác! Tuân Tức nói: - Tôi vẫn biết chúa công không dứt tình mà bỏ được! Tuy Vậy ta mượn đường để đánh Quắc, mà Ngu không cứu thì Quắc tất mất; Quắc đã mất thì Ngu giữ làm sao được, bấy giờ ngọc bích và ngựa của ta để tạm ở kho ngoài, và đem cỗ ngựa của ta mà nuôi tạm ở chuồng ngoài đó mà thôi. Quan đại phu là Lý Khắc nói: - Nước Ngu có hai người bề tôi hiền: Cung Chi Kỳ và Bách Lý Hề là người thông minh và cao đoán lắm, chỉ sợ hai người ấy can bảo vua nước Ngu thì làm thế nào? Tuân Tức nói: - Vua nước Ngu là người tham mà ngu lắm, dẫu can bảo vị tất đã nghe. Tấn Hiến công liền đem ngọc bích giao cho Tuân Tức, để đem sang mượn đường nước Ngu. Vua nước Ngu, lúc mới nghe tin sứ giả nước Tấn đến mượn đường để đánh nước Quắc, tức thì nổi giận, đến lúc trông thấy ngọc bích và ngựa lại bớt giận làm lành, tay cầm ngọc bích, mắt nhìn cỗ ngựa mà hỏi Tuân Tức rằng: - Đó là những vật chí bảo của nước ngươi, thiên hạ ít có, mà sao nước ngươi lại chịu đem cho ta? Tuân Tức nói: - Chúa công tôi mến cái uy đức của hiền hầu, vậy xin đem các vật chí bảo này để sang dâng quí quốc. Vua nước Ngu nói: - Tuy vậy nước ngươi có muốn xin ta việc gì chăng? Tuân Tức nói: - Người nước Quắc thường sang quấy nhiễu cõi nam nước tôi: Chúa công tôi muốn cho yên nước mà phải xin giảng hòa với nước Quắc, thế mà nước Quắc lại sinh sự lôi thôi. Chúa công tôi mượn đường quí quốc để sang đánh nước Quắc, may mà đánh được thì bao nhiêu những của cải lấy ở nước Quắc về, xin đem dâng quí quốc tất cả. Chúa công tôi xin cùng với quí quốc giảng hòa. Vua nước Ngu bằng lòng lắm. Cung Chi Kỳ can rằng: - Chúa công chớ nên nghe! Tục ngữ có câu rằng: "Môi hở răng lạnh". Nước Tấn xưa nay vẫn xâm chiếm các nước khác, mà không dám động đến nước ta là vì nước ta cùng với nước Quắc biết giao hiếu mà giữ gìn lấy nhau. Nếu ngày nay nước Quắc mất thì ngày mai nước Ngu ta cũng chẳng còn. Vua nước Ngu nói: - Vua nước Tấn không tiếc đồ chí bảo mà đem cho ta, ta lại tiếc gì một lối đi nhỏ mà không cho nước Tấn. Vả lại thế lực nước Tấn, còn gấp mười nước Quắc; ta mất lòng nước Quắc mà có lòng nước Tấn thì có hại gì! Thôi, nhà ngươi cứ lui ra, không dự gì đến việc ấy. Cung Chi Kỳ lại toan nói nữa, Bách Lý Hề nắm lấy vạt áo. Cung Chi Kỳ biết ý mới thôi. Khi ở trong triều lui ra. Cung Chi Kỳ bảo Bách Lý Hề rằng: - Sao nhà ngươi không nói giúp vào một câu, mà lại ngăn ta nghĩa là thế nào? Bách Lý Hề nói: - Tôi thiết tưởng đem lời nói phải mà bảo người ngu, khác nào như đem châu ngọc mà ném ra đường cái. Ngày xưa vua Kiệt giết Long Bàng, vua Trụ giết Tỷ Can, cũng vì cớ hay can gượng. Nếu nhà ngươi càng cố can thì nguy cho nhà ngươi lắm. Cung Chi Kỳ nói: - Thế thì nước Ngu này tất phải mất, ta cùng nhà ngươi chẳng đi thì còn ở làm gì? Bách Lý Hề nói: - Nhà ngươi đi là phải, nhưng lại rủ thêm một người nữa lại chẳng to tội lắm sao! Âu là để tôi ở lại thong thả một chút. Cung Chi Kỳ đem cả họ hàng cùng đi, không biết đi đâu. Tuân Tức về nói với Tấn Hiến công rằng: - Vua nước Ngu đã nhận ngọc bích và ngựa, cho nước ta đi nhờ đường. Tấn Hiến công toan thân hành đi đánh nước Quắc, Lý Khắc nói: - Nước Quắc dễ đánh như không, cần gì chúa công phải đi. Tấn Hiến công hỏi: - Làm thế nào mà đánh được nước Quắc? Lý Khắc nói: - Nước Quắc đóng ở đất Thượng Dương nhưng cửa ngõ quan hệ ở đất Hạ Dương cả; đã đánh vỡ được đất Hạ Dương thì còn gì là nước Quắc nữa! Tôi dẫu hèn mạt, xin đương cái việc nhỏ nhặt ấy, nếu không đánh được, tôi xin chịu tội. Tấn Hiến công cho Lý Khắc làm chủ tướng. Tuân Tức làm phó tướng đem quân đi đánh nước Quắc. Tuân Tức sai người báo tin cho vua nước Ngu biết là đến hôm ấy thì quân nước Tấn kéo đến. Khi quân nước Tấn kéo đến, vua nước Ngu nói với Tuân Tức rằng: - Quí quốc đem cho tôi những đồ chí bảo ấy, tôi không biết lấy gì đền ơn lại được, vậy thì tôi xin đem quân đi đánh giúp. Tuân Tức nói: - Hiền hầu đem quân đi đánh giúp, không bằng cho chúng tôi lấy đất Hạ Dương. Vua nước Ngu nói: - Đất Hạ Dương của nước Quắc thì người nước Quắc giữ, tôi cho thế nào được? Tuân Tức nói: - Vua nước Quắc ngày nay đang đánh nhau với quân Khuyển Nhung ở đất Tang Điền, chưa phân được thua; bây giờ Hiền hầu giả cách đem quân sang đánh, giúp nước Quắc, rồi cho quân nước Tấn tôi đi lẫn vào thì có thể chiếm được đất Hạ Dương. Vua nước Ngu nghe lời, giả cách đem quân sang đánh giúp nước Quắc. Quan trấn thủ ở đất Hạ Dương là Chu Chi Kiều mở cửa quan cho quân nước Ngu sang; chẳng ngờ quân nước Tấn đi lẫn vào, khi qua được cửa quan rồi thì đổ ra mà đánh, không tài nào giữ lại được. Chu Chi Kiều sợ vua nước Quắc bắt tội, phải xin đầu hàng nước Tấn. Lý Khắc (chủ tướng nước Tấn) lại bắt Chu Chi Kiều dẫn đường để tiến binh vào đất Thượng Dương. Vua nước Quắc ở đất Tang Điền, nghe tin quân nước Tấn đã phá vỡ cửa quan rồi, vội vàng thu quân trở về, lại bị quân Khuyển Nhung đánh cho một trận, thiệt hại vô kể. Khi về đến đất Thượng Dương, vua nước Quắc luống cuống, không biết dùng mưu kế gì mà chống giữ. Quân nước Tấn bổ vây cả bốn mặt. Quân nước Quắc ở trong thành, lương thực hết cả, lại nhân vì đánh nhau luôn, quân sĩ mỏi mệt, dân trong thành ngày đêm kêu khóc, tình trạng rất khốn khổ. Lý Khắc bảo Chu Chi Kiều viết một bức thư bắn vào trong thành, dụ vua nước Quắc đầu hàng. Vua nước Quắc nói: - Tiên quân ta ngày xưa làm chức khanh sĩ nhà Chu, mà bây giờ lại chịu đầu hàng thì nhục biết dường nào! Đêm hôm ấy, vua nước Quắc đem cung quyến mở cửa thành trốn sang nhà Chu. Lý Khắc cũng không đem quân đi đuổi theo. Dân nước Quắc bầy đồ bái vọng đón Lý Khắc vào thành. Lý Khắc đem những của cải ở trong kho nước Quắc và bộ nữ nhạc, lại đưa biếu vua nước Ngu. Vua nước Ngu mừng lắm. Lý Khắc sai người về báo tin cho Tấn Hiến công biết, còn mình thì giả cách nói có bệnh đóng quân ở ngoài thành nước Ngu để yên nghỉ, đợi khi nào khỏi bệnh, sẽ kéo quân về. Vua nước Ngu thỉnh thoảng lại sang hỏi thăm. Được hơn một tháng, bỗng nghe báo Tấn Hiến công kéo quân đến. Vua nước Ngu hỏi: - Chẳng hay Tấn Hầu đến có việc gì? Quân nước Tấn nói: - Chúa công tôi sợ chưa đánh nổi nước Quắc, vậy phải đem quân đến tiếp ứng. Vua nước Ngu nói: - Ta đang muốn cùng với Tấn hầu nói chuyện, bây giờ tự nhiên Tấn hầu lại tới đây, thật là thỏa tấm lòng ao ước của ta. Nói xong, vội vàng đem quân ra nghênh tiếp. Tấn Hiến công ước với vua nước Ngu đi săn ở núi Cô Sơn. Vua nước Ngu định nhân tiện để khoe khoang với người nước Tấn, mới đem hết cả quân giáp sĩ trong thành ra đi săn. Bỗng nghe báo trong thành phát hỏa. Tấn Hiến công nói với vua nước Ngu rằng: - Đó tất là dân gian vô ý để cho lửa cháy, chẳng bao lâu rồi cũng tắt được, hai ta cứ việc đi săn. Quan đại phu nước Ngu là Bách Lý Hề mật tâu với vua nước Ngu rằng: - Tôi nghe đồn trong thành có biến loạn, chúa công nên về ngay mới được. Vua nước Ngu nói với Tấn Hiến công xin về trước. Về đến nửa đường, thấy dân nước Ngu lũ lượt đem nhau chạy trốn. Vua nước Ngu hỏi dân. Dân nước Ngu nói: - Quân Tấn đã chiếm mất đô thành rồi! Vua nước Ngu nổi giận, đem quân kéo thẳng về đô thành, trông thấy một viên đại tướng đứng ở trên mặt thành, uy phong rất lẫm liệt. Viên đại tướng ấy nói với vua nước Ngu rằng: - Ngày trước Hiền hầu cho ta mượn đường, ngày nay lại cho ta mượn nước, ta xin có lời cảm ơn. Vua nước Ngu giận lắm, thúc quân phá cửa thành. Trên mặt thành nổi hiệu trống, mũi tên bắn xuống như mưa. Vua nước Ngu lui quân thì lại bị quân Tấn Hiến công đánh ở mặt sau. Vua nước Ngu thở dài mà than rằng: - Tiếc thay! Ta không nghe lời cao của Cung Chi Kỳ ngày trước! Nói xong, ngoảnh lại thấy Bách Lý Hề đứng ở bên cạnh liền hỏi rằng: - Sao lúc bấy giờ nhà ngươi không can bảo ta! Bách Lý Hề nói: - Cung Chi Ký can, chúa công còn không nghe, khi nào chúa công lại nghe lời tôi! Bấy giờ tôi không can, là muốn lưu cái thân tôi để đến ngày này mà theo chúa công. Vua nước Ngu đang luống cuống, chưa biết làm ra thế nào, bỗng có một người ngồi trên xe ở đâu đi đến, tức là Chu Chi Kiều (quan tướng nước Quắc đã đầu hàng nước Tấn). Vua nước Ngu trông thấy, thẹn đỏ mặt. Chu Chi Kiều nói: - Hiền hầu nghĩ lầm mà bỏ nước Quắc tôi, đó là một sự đã qua, không thể nói lại được, bây giờ Hiền hầu trốn sang nước khác, chi bằng về với nước Tấn là hơn. Vua nước Tấn là người đại lượng, tất không nỡ hại Hiền hầu, mà lại có lòng thương, đối đãi một cách rất tử tế, xin Hiền hầu chớ ngại. Vua nước Ngu còn trù trừ chưa quyết. Tấn Hiến công đem quân đến, sai người mời vua nước Ngu. Vua nước Ngu bất đắc dĩ phải đến yết kiến. Tấn Hiến công cười và nói rằng: - Tôi đến đây lần này là cốt để đòi lại ngọc bích và ngựa của tôi! Nói xong, liền sai người lấy xe cho vua nước Ngu đi. Bách Lý Hề theo hầu vua nước Ngu. Có người bảo Bách Lý Hề rằng: - Sao nhà ngươi không ỏ mà đi, còn theo làm gì! Bách Lý Hề nói: - Ta làm quan ăn lộc của vua nước Ngu đã lâu, vậy ta phải cố theo để đền ơn. Tấn Hiến công vào trong thành nước Ngu. Tuân Tức ra nghênh tiếp, tay trái cầm ngọc bích, tay phải dắt ngựa mà nói với Tấn Hiến công rằng: - Ngày nay mưu kế của tôi đã thành rồi, tôi xin đem ngọc bích và ngựa nộp lại chúa công. Tấn Hiến công nghe nói bằng lòng. Tấn Hiến công bắt vua nước Ngu về, toan đem giết đi. Tuân Tức nói: - Vua nước Ngu là một đứa ngu ngốc, có làm gì được mà phải giết! Tấn Hiến công đối đãi rất tử tế, rồi lại tặng cho một viên ngọc bích khác và con ngựa khác, bảo vua nước Ngu rằng: - Ta không dám quên cái ơn cho mượn đường đi đánh nước Quắc. Tấn Hiến công cho Chu Chi Kiều làm quan đại phu. Chu Chi Kiều nói với Tấn Hiến công tiến Bách Lý Hề là người hiền. Tấn Hiến công muốn dùng Bách Lý Hề, sai Chu Chi Kiều đến dụ. Bách Lý Hề nói: - Hãy chờ cho hết đời chúa công tôi, bấy giờ tôi sẽ vâng lời. Chu Chi Kiều về, Bách Lý Hề thở dài mà than rằng: - Người quân tử bỏ nước mình mà đi, tất không chịu đến nước cừu địch, huống chi lại còn làm quan! Ta có làm quan, cũng không làm quan với Tấn. Chu Chi Kiều nghe Bách Lý Hề nói ghét là bới tỏ sự xấu của mình có ý không bằng lòng. Bấy giờ Tần Mục công tên là Nhâm Hiêu lên ngôi vua đã 6 năm, mà chưa lấy vợ, sai quan đại phu là Công tử Trí sang hỏi con gái trưởng của Tấn Hiến công là Bá Cơ làm phu nhân. Tấn Hiến công sai người bói được quẻ tốt, liền nhận lời gả Bá Cơ cho Tần Mục công, Công tử Trí cáo từ về nước. Trong khi đi đường, gặp một người mặt đỏ như son, mũi cao, râu rậm, hai tay cầm hai cái cày mà cày ruộng. Lưỡi cày ngập xuống dưới đất đến mấy thước. Công tử Trí thấy lạ sai người nhắc cái cày lên xem. Quân sĩ không ai nhắc nổi cả. Công tử Trí hỏi họ tên là gì? Người cày ruộng ấy nói: - Tên tôi là Công Tôn Chi, tên tự là Tử Tang. Có họ xa với vua nước Tấn. Công tử Trí nói: - Nhà ngươi là người có tài, sao lại phải đi cày ruộng? Công Tôn Chi nói: - Chỉ vì không có ai tiến dẫn cho. Công tử Trí nói: - Hay nhà ngươi có muốn theo ta sang nước Tần không? Công Tôn Chi nói: - Kẻ sĩ vì người tri kỷ, dẫu chết cũng đành! Nếu Công tử có lòng tiến dẫn cho thì còn gì hơn nữa! Công tử Trí cho ngồi lên xe đem về nước Tần, nói với Tần Mục công. Tần Mục công cho Công Tôn Chi làm quan đại phu. Lại sai Công tử Trí đem đồ lễ vật sang cưới Bá Cơ. Tấn Hiến công hỏi các quan rằng: - Nên cho ai đi theo hầu Bá Cơ. Chu Chi Kiều nói: - Bách Lý Hề không muốn làm quan với nước Tấn ta thì bụng hắn khó lường được, chi bằng ta sai hắn đi. Tấn Hiến công mới sai Bách Lý Hề đi theo hầu Bá Cơ. Bách Lý Hề vốn người nước Ngu, tên tự là Tỉnh Bá ngoài 30 tuổi, mới lấy người vợ là Đỗ Thị, sinh được một con trai. Bách Lý Hề nhà nghèo muốn đi lập công danh, nhưng sợ vợ con không trông cậy vào ai được, cứ quyến luyến mãi, không nỡ dứt tình. Đỗ Thị nói: - Thiếp nghe nói làm tài trai nên phải lập chí, nay phu quân không tìm đường đi lập công danh, mà cứ quyến luyến với vợ con ngồi xó nhà để làm cái gì! Thiếp có thể kiếm ăn lấy được, phu quân chớ phải lo ngại. Trong nhà chỉ có một con gà mái ấp, Đỗ Thị làm thịt để tiễn chân Bách Lý Hề. Dưới bếp hết cả củi đun, Đỗ Thị phải bẻ cái phên làm củi, thổi một nồi cơm gạo đỏ để cho Bách Lý Hề ăn. Bách Lý hề ăn cơm no rồi, từ giã vợ con ra đi. Đỗ Thị tay ẵm con, nắm lấy vạt áo Bách Lý Hề khóc mà dặn rằng: - Lúc được phú quí chớ có quên nhau. Bách Lý Hề sang nước Tề, xin vào yết kiến Tề Tương công nhưng không có ai tiến dẫn cho; sau cùng khốn quá phải đi ăn xin ở đất Diệt (đất nước Tề). Bấy giờ Bách Lý Hề đã bốn muơi tuổi đầu có người đất Diệt tên là Kiển Thúc trông thấy tướng mạo Bách Lý Hề, lấy làm lạ mà bảo rằng: - Nhà ngươi không phải là người đến nỗi đi ăn xin! Kiển Thúc hỏi đến họ tên, rồi mời về nhà thết cơm, bàn đến thời sự, Bách Lý Hề nói đâu ra đấy. Kiển Thúc thở dài mà than rằng: - Lấy cái tài của nhà ngươi mà phải cùng khốn như vậy, chẳng qua cũng là vận mệnh mà thôi. Nói xong liền giữ Bách Lý Hề ở trong nhà, kết làm anh em. Kiển Thúc hơn Bách Lý Hề một tuổi, Bách Lý hề gọi Kiển Thúc là anh. Kiển Thúc nhà cũng nghèo, Bách Lý Hề phải đi chăn trâu thuê cho người trong làng gần đấy để thêm lấy tiền ăn. Gặp bấy giờ Công tử Vô Tri giết Tề Tương công, lên nối ngôi làm vua, treo bảng cầu người hiền. Bách Lý Hề toan ra làm quan. Kiển Thúc nói: - Tiên quân ta còn có người con đi trốn ở nước khác, nay Vô Tri cướp ngôi, tất không thể giữ yên được. Bách Lý Hề mới thôi. Sau nghe tin Vương tử Đồi ở nhà Chu thích chơi trâu. Những người nuôi trâu đều được hậu lương cả. Bách Lý Hề lại nói với Kiển Thúc xin sang nhà Chu. Kiển Thúc dặn rằng: - Kẻ trượng phu không nên khinh thường mà đem thân theo người ta. Nếu đã làm quan với người ta, tới khi hoạn nạn mà bỏ thì là bất trung, không bỏ thì là bất trí, em đi lần này nên phải cẩn thận mới được. Ta thu xếp xong việc nhà, rồi cũng vào nhà Chu thăm em. Bách Lý Hề vào nhà Chu, yết kiến Vương tử Đồi, nói về cách nuôi trâu. Vương tử Đồi mừng lắm, toan nuôi làm gia thần. Gặp bấy giờ Kiển Thúc sang nhà Chu, Bách Lý Hề đưa vào yết kiến Vương tử Đồi. Khi trở ra về, Kiển Thúc bảo Bách Lý Hề rằng: - Vương tử Đồi chí to mà tài ít, lại thường hay chơi bời với những đứa xiểm nịnh, tất có ngày sinh sự làm càn, chắc rằng chẳng bao lâu rồi cũng hỏng thôi, chi bằng chúng ta bỏ đi là hơn. Bách Lý Hề nhân lâu ngày xa cách vợ con, có ý muốn về nước Ngu. Kiển Thúc nói: - Nước Ngu có một người bề tôi hiền là Cung Chi Kỳ, tức là người quen biết của ta, cùng ta cách biệt đã lâu, ta cũng muốn sang thăm hắn; nếu em muốn về nước Ngu thì để ta đi cùng một thể. Nói xong, liền cùng với Bách Lý Hề trở về nước Ngu. Bấy giờ vợ Bách Lý Hề là Đỗ Thị nghèo quá, không lấy gì đủ ăn được, đã lưu lạc tha phương, không biết đi đâu; Bách Lý Hề thấy vậy, thương xót vô cùng! Kiển Thúc vào yết kiến Cung Chi Kỳ, nói chuyện Bách Lý Hề là người hiền. Cung Chi Kỳ đem Bách Lý Hề tiến cho vua nước Ngu. Vua nước Ngu cho Bách Lý Hề làm quan trung đại phu. Kiển Thúc nói: - Ta xem vua nước Ngu là người kiến thức hẹp hòi mà lại hay tự đắc, cũng không phải là ông vua hiền. Bách Lý Hề nói: - Em nghèo khổ đã lâu, khác nào như con cá ở trên cạn, chỉ mong được một giọt nước để mà dưỡng thân! Kiển Thúc nói: - Em vì nghèo mà phải ra làm quan thì ta không thể ngăn em được, nhưng mai sau em có muốm thăm anh thì cứ đến ở làng Minh Lộc nước Tống. Chỗ ấy phong cảnh tĩnh mịch lắm, ta định đến ở đấy. Nói xong, từ giã Bách Lý Hề rồi đi. Bách Lý Hề làm quan với vua nước Ngu. Đến lúc vua nước Ngu mất nước, Bách Lý Hề cứ quanh quẩn không nỡ bỏ đi, thường phàn nàn một mình rằng: - Ta có tài mà không được gặp minh quân để tỏ cái tài của ta; lại già đời đi theo hầu người ta, khác nào đứa ăn đứa ở, còn gì nhục hơn nữa! Khi đi đến nửa đường, bỏ trốn sang nước Tống, bị nghẽn đường lại sang nước Sở, đến đất Uyển Thành (đất nước Sở). Người đi săn ở đất Uyển Thành, trông thấy Bách Lý Hề, ngờ là quân gian, bắt đem trói lại. Bách Lý Hề nói: - Tôi là người nước Ngu, vì nước Ngu mất, nên phải trốn đến đây. Người đi săn hỏi: - Nhà ngươi có biết nghề gì không? Bách Lý Hề nói: - Tôi khéo nuôi trâu. Người đi săn cởi trói cho Bách Lý Hề, rồi đem về cho nuôi trâu, chóng béo tốt lắm, tiếng đồn đến vua nước Sở. Vua nước Sở triệu Bách Lý Hề vào mà hỏi rằng: - Cách nuôi trâu phải thế nào? Bách Lý Hề nói: - Cho ăn phải có điều độ, không nên bắt làm mệt nhọc quá, lúc nào trong lòng cũng nghĩ đến trâu. Vua nước Sở nói: - Nhà ngươi nói phải lắm! Chẳng những cách nuôi trâu như thế mà thôi, dẫu cách nuôi ngựa cũng thế. Vua nước Sở cho Bách Lý Hề làm chức Ngữ nhân, ra chăn ngựa ở xứ Đông Hải. Tần Mục công xem trong sổ những người đi theo hầu Bá Cơ có tên Bách Lý Hề, mà không thấy người, lấy làm sự lạ, liền hỏi Công tử Trí. Công tử Trí nói: - Bách Lý Hề là bề tôi nước Ngu trước, bây giờ trốn đi rồi! Tần Mục công bảo Công Tôn Chi rằng: - Nhà ngươi trước có ở nước Tấn thì tất biết Bách Lý Hề là người thế nào? Công Tôn Chi nói: - Bách Lý Hề là một người hiền: Biết vua nước Ngu là người không thể can được thì không can, thế là người trí; theo vua nước Ngu sang ở nước Tấn, mà không chịu làm tôi nước Tấn, thế là người trung. Vả cũng là người có tài, chỉ vì chưa được gặp thời mà thôi. Tần Mục công nói: - Ước gì ta được Bách Lý Hề mà dùng thì hay! Công Tôn Chi nói: - Tôi nghe đồn vợ con Bách Lý Hề ở cả nước Sở, chắc là Bách Lý Hề trốn sang nước Sở, âu là ta sai người sang nước Sở mà hỏi dò xem. Tần Mục công sai người đi, lúc về báo với Tần Mục công rằng: - Bách Lý Hề ở xứ Nam Hải, chăn ngựa cho vua nước Sở. Tần Mục công nói: - Ta muốn cho người đem đồ lễ vật sang xin về, không biết vua nước Sở có cho không? Công Tôn Chi nói: - Nếu vậy thì không đem được Bách Lý Hề về. Tần Mục công hỏi: - Tại làm sao? Công Tôn Chi nói: - Vua nước Sở bắt Bách Lý Hề chăn ngựa chỉ vì không biết Bách Lý Hề là người hiền; bây giờ đem đồ lễ vật sang xin về khác nào bảo cho vua Sở biết. Vua nước Sở đã biết Bách Lý Hề là người hiền, tất nhiên dùng Bách Lý Hề, khi nào chịu cho ta. Chi bằng chúa công nói về cái tội Bách Lý Hề theo hầu mà dám bỏ trốn, rồi xin chuộc về để trị tội, ấy là kế của Quản Di Ngô ngày xưa đánh lừa nước Lỗ mà thoát thân đó. Tần Mục công khen phải, sai người đem năm bộ da dê sang biếu vua nước Sở mà nói rằng: - Nước tôi có một kẻ tiện thần là Bách Lý Hề, trốn sang quí quốc, vậy chúa công tôi muốn bắt về trị tội, để làm gương cho kẻ khác. Chúa công tôi xin đem năm bộ da để chuộc về. Vua nước Sở sợ mất lòng vua nước Tần, liền sai người bắt Bách Lý hề để giao trả. Khi Bách Lý Hề bị bắt, người xứ Đông Hải ai cũng bảo là tất phải tội chết, đều có ý thương xót mà ứa nước mắt xuống. Bách Lý Hề nói: - Tôi nghe vua nước Tần có chí muốn làm bá vương, có cần gì mà phải bắt tội một đứa theo hầu, nay đem tôi về là có ý muốn dùng tôi đấy. Chuyến này tôi đi tất được phú quí, can gì mà phải khóc. Nói xong, liền bước lên tù xa đi sang nước Tần. Tần Mục công sai Công Tôn Chi ra đón tận ngoài bờ cõi, rồi triệu vào tiếp kiến. Tần Mục công hỏi Bách Lý Hề rằng: - Năm nay nhà ngươi bao nhiêu tuổi? Bách Lý Hề nói: - Tôi vừa đến 70 tuổi. Tần Mục công than rằng: - Tiếc thay, già lắm rồi! Bách Lý Hề nói: - Chúa công sai tôi đi đuổi giống chim bay hay là đi bắt giống thú dữ thì tôi đã già thật, nhưng nếu khiến tôi bàn việc chính trị thì tôi còn trẻ nhiều! Ngày xưa ông Lã Vọng 80 tuổi đầu, đi câu ở bến sông Vị; vua Văn Vương đem về phong làm thượng phụ, rồi giúp nên cơ nghiệp nhà Chu. Nay tôi gặp chúa công, tôi thiết tưởng còn sớm hơn Lã Vọng được 10 tuổi. Tần Mục công thấy nói khí khái như vậy, có ý kính trọng mà hỏi rằng: - Nay nước ta tiếp giáp các nước Nhung Địch, không dự hội với trung quốc. Nhà ngươi nên bảo ta làm thế nào cho cường thịnh được. Bách Lý Hề nói: - Chúa công không nệ tôi là người hèn mạt già yếu mà hỏi đến tôi, tôi đâu lại còn dám tiếc lời không nói. Nguyên đất Ung Kỳ là một nơi hiểm trở, vua Văn Vương và Vũ Vương nhà Chu ngày xưa nhờ đất ấy mà cường thịnh, nay nhà Chu không biết giữ mà cho nước Tần ta, ấy là lòng trời muốn mở mang cho nước Tần ta đó! Vả lại ở cõi phía Tây này cả thảy đến vài mươi nước nhỏ, nếu ta kiêm tính các nước ấy thì đất có thể cày được, dân có thể dùng được, các nước chư hầu ở trung quốc, còn ai tranh nổi với chúa công; bấy giờ chúa công sẽ tìm cách mà tiến vào trung quốc, tôi dám chắc rằng nghiệp bá chủ cầm lỏng ở trong tay chúa công đó. Tần Mục công nghe lời, liền đứng ngay dậy mà nói rằng: - Nay ta được nhà ngươi giúp, khác nào như nước Tề được trọng phụ! Tần Mục công cùng với Bách Lý Hề nói chuyện với nhau trong 3 ngày, lấy làm hợp ý lắm. Tần Mục công liền phong cho Bách Lý Hề làm thượng khanh, giao lấy quyền chính trong nước. Bởi thế người nước Tần gọi Bách Lý Hề là "Ngũ cổ đại phu"; lại tương truyền nhau rằng: Bách Lý Hề là một người ở dưới mõm trâu mà vua nước Tần đem lên để dùng. Vì Bách Lý Hề đang ở nước Sở, nhà vua nước Tần đem năm bộ da dê đi chuộc về. Bách Lý Hề xin từ chức thượng khanh và tiến dẫn một người khác để thay mình.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 26 Bách Lý Hề nhận được vợ cũ Tần Mục công mộng thấy điềm lành

Tần Mục công biết cái tài của Bách Lý Hề, muốn phong làm chức thượng khanh. Bách Lý Hề nói: - Tôi có một người bạn tên là Kiển Thúc, tài gấp mười tôi, nay chúa công muốn sửa sang chính trị thì nên dùng Kiển Thúc mà cho tôi giúp vào. Tần Mục công nói: - Cái tài của nhà ngươi thì ta đã biết rõ rồi! Nhưng chưa biết Kiển Thúc là người thế nào? Bách Lý Hề nói: - Kiển Thúc là người hiền, chẳng những chúa công chưa biết, dẫu người nước Tề và nước Tống cũng chưa ai biết cả, nhưng mà chỉ có một mình tôi biết mà thôi. Nguyên khi trước tôi định theo Công tử Vô Tri ở nước Tề, Kiển Thúc can tôi rằng không nên, tôi liền bỏ nước Tề mà thoát được cái vạ Vô Tri; sau tôi định theo Vương tử Đồi nhà Chu, Kiển Thúc cũng can tôi rằng không nên, tôi lại bỏ nhà Chu mà thoát được cái vạ Vương tử Đồi; sau tôi theo vua nước Ngu, Kiển Thúc lại can tôi rằng không nên, nhưng bấy giờ tôi nghèo khổ quá, phải liều mà làm quan, thành ra bị người nước Tấn bắt. Hai lần trước, tôi theo lời Kiển Thúc thì thoát khỏi tai vạ, mà một lần sau không theo lời thì suýt nữa đến nỗi hại thân, xem thế thì biết cái tài trí của Kiển Thúc hơn người nhiều lắm. Bấy giờ Kiển Thúc ẩn thân ở làng Minh Lộc nước Tống, xin chúa công cho người đi triệu ngay về. Tần Mục công mới sai Công tử Trí giả hình làm người đi buôn, đem đồ lễ vật sang nước Tống để đón Kiển Thúc. Bách Lý Hề lại viết riêng một bức thư gởi sang. Công tử Trí đi đến làng Minh Lộc, gặp mấy người nông phu ngồi nghỉ ở trên bờ ruộng, cùng nhau gõ nhịp mà hát rằng: "Núi treo không thang hề.. đá mọc lủng củng; đường đi không đuốc hề.. bùn lầy xùng xục! Cùng ngồi ở trên bờ ruộng hề.. kia kìa suối ngọt mà đất nục; Chúng ta chân lắm tay bùn hề.. chăm chỉ về sự trồng thóc! Trời cho không mất mùa hề.. miếng ăn được sung túc; Hưởng trọn tuổi trời hề.. chẳng vinh mà cũng chẳng nhục!" Công tử Trí ngồi trên xe, nghe thấy bài hát có ý ung dung tự thích, không theo thói đời, mới bảo người đánh xe rằng: - Người ta thường nói: Làng nào có người quân tử ở thì đổi được những phong tục dở, nay ta tới làng Kiển Thúc ở, mà trong đám người cày ruộng cũng đều có cái tư cách cao thượng, thế thì chắc rằng Kiển Thúc là một bậc đại hiền. Nói xong liền xuống xe hỏi thăm mấy người cày ruộng rằng: - Nhà Kiển Thúc ở chỗ nào? Người cày ruộng nói: - Nhà ngươi hỏi làm gì? Công tử Trí nói: - Có người bạn cũ của Kiển Thúc là Bách Lý Hề gởi ta một bức thư đưa cho Kiển Thúc. Người cày ruộng trỏ mà bảo rằng: - Đi lên một quảng nữa có cái rừng trúc, bên tả có suối, bên hữu có đá, ở giữa có một cái nhà tranh, đó là nhà Kiển Thúc. Công tử Trí chắp tay vái chào, rồi lại lên xe đi độ nửa dặm nữa, đến cái nhà tranh ấy, đỗ xe ở ngoài, sai người gõ cửa gọi. Có một đứa trẻ con mở cửa ra mà hỏi rằng: - Quí khách đi đâu thế? Công tử Trí nói: - Tôi đến thăm Kiển Thúc tiên sinh. Đứa trẻ con nói: - Thầy tôi đi vắng. Công tử Trí hỏi: - Tiên sinh đi chơi đâu? Đứa trẻ con nói: - Thầy tôi cùng với hai cụ bên láng giềng đi xem suối Thạch Hương, độ một chốc nữa thì về. Công tử Trí không dám vào trong nhà vội, còn ngồi ở trên viên đá để đợi. Đứa trẻ con lại khép cửa, trở vào trong nhà. Lát sau có một người to lớn mắt tròn mày rậm, mặt vuông mình dài, lưng vác hai chiếc chân hươu, từ phía tây đi về. Công tử Trí thấy hình dáng khác thường, liền đứng dậy đón chào. Người ấy bỏ cái chân hươu xuống đất, cùng với Công tử Trí đáp lễ. Công tử Trí hỏi đến họ tên. Người ấy đáp rằng: - Tôi tên gọi Kiển Bính, tên tự là Bạch Ất. Công tử Trí hỏi: - Ông với Kiển Thúc là thế nào? Kiển Bính nói: - Ấy là thân phụ tôi đấy. Công tử Trí lại thi lễ mà nói rằng: - Tôi được nghe tiếng đã lâu! Kiển Bính hỏi: - Ngài là người ở đâu? Đến đây có việc gì? Công tử Trí nói: - Có người bạn cũ của cụ nhà, tên là Bách Lý Hề, nay làm quan ở nước Tần, gởi tôi bức thư đưa sang đây. Kiển Bính nói: - Xin mời vào ngồi chơi tạm trong nhà, thân phụ tôi cũng sắp về bây giờ! Nói xong, Kiển Bính liền đẩy hai cánh cửa, nhường cho Công tử Trí vào trước, rồi lại vác hai chân hươu vào sau, đưa cho đứa trẻ con cất đi. Kiển Bính mời Công tử Trí ngồi, cùng nhau bàn những việc cày ruộng trồng dâu, lại nói đến võ nghệ nữa. Kiển Bính nói đâu ra đấy, rất có thứ tự. Công tử Trí khen thầm trong lòng rằng: - Người cha có hiền thì người kia mới được như thế, Bách Lý Hề tiến dẫn thật quả không sai! Khi uống trà xong, Kiển Bính sai đứa trẻ con ra cửa đón Kiển Thúc. Được một lúc, đứa trẻ con chạy vào báo rằng: - Ông đã về! Bấy giờ Kiển Thúc cùng với hai ông cụ láng giềng về đến ngoài cửa, trông thấy có xe đỗ, ngạc nhiên mà nói rằng: - Người làng ta, làm gì có cái xe này? Kiển Bính ở trong nhà chạy ra thuật lại chuyện Công tử Trí. Kiển Thúc và hai ông cụ bên láng giềng cùng vào, chào hỏi Công tử Trí, rồi mời nhau ngồi. Kiển Thúc nói: - Mới rồi tiện nhi nói em tôi là Bách Lý Hề có gởi một bức thư, xin ngài cho xem. Công tử Trí đưa trình bức thư của Bách Lý Hề. Kiển Thúc mở ra đọc, trong thư đại lược nói rằng: "Em là Bách Lý Hề này không biết nghe lời anh dặn, suýt nữa thì mắc nạn ở nước Ngu, may mà vua nước Tần muốn dùng người hiền, chuộc em ở trong bọn chăn trâu chăn ngựa, em về giao cho quyền chính; nhưng em tự lượng sức hèn tài mọn, một mình không làm nổi, muốn nhờ anh giúp vào. Vua nước Tần cũng mến tiếng anh lắm, vậy có sai Công tử Trí đem lễ vật sang đón, xin anh nhận lời cho; nếu anh còn quyến luyến ở chỗ sơn lâm thì em cũng bỏ nước Tần mà theo anh sang ở đất Minh Lộc vậy". Kiển Thúc nói: - Tại sao vua nước Tần lại biết Bách Lý Hề? Công tử Trí thuật lại những chuyện Bách Lý Hề trốn sang nước Sở; vua nước Tần biết là người hiền, đem năm bộ da dê sang chuộc về, kể hết cả lại một lượt, rồi lại nói với Kiển Thúc rằng: - Chúa công tôi phong Bách Lý Hề làm chức thượng khanh, nhưng Bách Lý Hề tiến dẫn tiên sinh, muốn mời tiên sinh sang giúp cho thì mới dám nhận chức, vậy chúa công tôi có sai tôi mang lễ vật sang đây để mời tiên sinh. Nói xong, Công tử Trí liền sai người ra mở thùng xe đem các đồ lễ vật vào, bày la liệt ở trong nhà. Hai cụ láng giềng vốn là kẻ nông phu, xưa nay chưa được trông thấy những lễ vật ấy bao giờ, nhìn nhau lấy làm kinh dị, bảo Công tử Trí rằng: - Có quí nhân đến đây mà chúng tôi không biết, xin ngài tha lỗi cho. Công tử Trí nói: - Các cụ dạy quá lời! Chúa công tôi mong đợi Kiển Thúc tiên sinh đây khác nào như lúa khô mà mong mưa, nhờ hai cụ nói hộ cho một lời thì chúng tôi lấy làm cảm ơn lắm. Hai cụ bên láng giềng bảo Kiển Thúc rằng: - Vua nước Tần đã biết trọng người hiền như thế thì cũng không nên để cho quí nhân phải về không. Kiển Thúc nói: - Ngày trước vua nước Ngu không dùng Bách Lý Hề, đến nỗi mất nước. Nay vua nước Tần đã biết trọng người hiền mà dùng Bách Lý Hề thì một mình Bách Lý Hề cũng đã đủ rồi. Lão phu đây đã lâu không nghĩ đến việc đời nữa, xin tha cho lão phu. Các đồ lễ vật này, lão phu xin nộp lại, nhờ ngài nói hộ với vua nước Tần cho. Công tử Trí nói: - Nếu tiên sinh không đi thì Bách Lý Hề cũng không chịu nhận chức. Kiển Thúc ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi thở dài mà than rằng: - Bách Lý Hề là người có tài mà lâu nay chưa gặp được minh chủ, âu là ta cũng phải giúp Bách Lý Hề mà đi một phen mới được, nhưng chẳng bao lâu rồi ta cũng lại về đây cày ruộng mà thôi. Đứa trẻ con vào nói với Kiển Thúc rằng: - Chân hươu đã nấu chín rồi! Kiển Thúc sai vào đầu giường lấy chai rượu mới cất, đem ra để thết khách. Kiển Thúc mời Công tử Trí và hai ông cụ láng giềng cùng uống rượu, đũa tre chén đất, chủ khách cùng nhau thù tạc, đều no say vui vẻ cả. Trời đã gần tối, Kiển Thúc mời Công tử Trí ngủ ở lại trong nhà tranh. Sáng hôm sau, hai ông cụ bên láng giềng lại mời một tiệc rượu để tiễn chân. Trong khi uống rượu, Công tử Trí khen tài Kiển Bính, cũng mời sang nước Tần một thể. Kiển Thúc vâng lời, rồi đem các đồ lễ vật chia cho hai ông cụ láng giềng, nhờ trông nom hộ nhà cửa, lại dặn dò người nhà phải chăm chỉ công việc ruộng nương, không được trễ biếng. Kiển Thúc từ giã hai ông cụ láng giềng rồi cùng Kiển Bính và Công tử Trí lên xe thẳng đường tiến sang nước Tần. Khi gần đến bờ cõi nước Tần, Công tử Trí về trước, vào yết kiến Tần Mục công, nói với Tần Mục công rằng: - Kiển Thúc đã đến, và con trai là Kiển Bính cũng người có tài, tôi mời cả hai để chúa công dùng. Tần Mục công mừng lắm, liền sai Bách Lý Hề đi đón. Khi Kiển Thúc vào, Tần Mục công xuống thềm nghênh tiếp, mời ngồi và hỏi rằng: - Bách Lý Hề thường nói tiên sinh là người hiền, xin tiên sinh chỉ bảo cho. Kiển Thúc nói: - Nước Tần ta ở cõi chốn Tây này tiếp giáp với các nước Nhung Địch, đất hiểm quân mạnh, mà không được bằng các nước trung quốc là chỉ vì không có uy đức đó thôi. Không có uy thì sao cho người ta sợ; không có đức thì sao cho người ta mến; người ta không sợ, không mến thì làm bá chủ thế nào được. Tần Mục công nói: - Uy và đức, hai điều ấy điều nào nên làm trước? Kiển Thúc nói: - Nên lấy đức làm gốc, lại có uy để giúp vào. Nếu có đức mà không có uy thì sao giữ được nước, có uy mà không có đức thì sao yên được dân. Tần Mục công nói: - Ta muốn sửa đức mà lập uy thì nên làm thế nào? Kiển Thúc nói: - Dân nước Tần ta tập nhiễm phong tục rợ mọi, không biết lễ nghĩa, nay muốn cho dân biết tôn kính người trên tất phải dùng giáo hóa và hình phạt. Có giáo hóa thì dân biết ơn, có hình phạt thì dân biết sợ, bấy giờ kẻ trên người dưới, khác nào như thân thể trong một người. Quản Di Ngô giúp nước Tề mà sai khiến được thiên hạ, cũng vì lẽ ấy. Tần Mục công hỏi: - Cứ theo như lời nói của tiên sinh, có thể làm bá chủ thiên hạ được không? Kiển Thúc nói: - Thế cũng chưa đủ! Muốn làm bá chủ thiên hạ thì có ba điều nên kiêng: Chớ có tham lam; chớ có tức giận; chớ có vội vàng. Tham lam thì nhiều điều lầm lỗi; tức giận thì nhiều sự khó khăn; vội vàng thì nhiều việc tan nát. Chúa công biết kiêng ba điều ấy thì có thể làm nên cơ nghiệp bá chủ. Tần Mục công khen phải, rồi nói với Kiển Thúc rằng: - Tiên sinh thử nghĩ xem công việc ngày nay điều gì là cần hơn? Kiển Thúc nói: - Tề hầu già yếu, công nghiệp bá chủ mỗi ngày một suy kém, chúa công nên thu phục lấy các nước Nhung Địch ở về cõi Tây này; khi đã thu phục được rồi, bấy giờ sẽ tìm cách mà tiến vào trung quốc, dùng sự ân nghĩa mà chữa những điều khuyết điểm của Tề hầu, như thế thì còn ai tranh được ngôi bá chủ nữa. Tần Mục công bằng lòng mà nói rằng: - Tiên sinh và Bách Lý Hề thật là bậc tôn trưởng của thứ dân trong thiên hạ. Nói xong, liền phong Kiển Thúc làm hữu thứ trưởng. Bách Lý Hề làm tả thứ trưởng, cùng làm chức thượng khanh, gọi là hai quan tể tướng. Lại cho Kiển Bính làm quan đại phu. Từ bấy giờ nước Tần mỗi ngày một cường thịnh. Tần Mục công nghe đồn nước nào có người hiền tài cũng sai người đi tìm. Công tử Trí tiến người nước Tần là Tây Khất Thuật. Tần Mục công cũng triệu đến để dùng. Bách Lý Hề nghe đồn Do Dư nước Tấn là người có tài, mới hỏi thăm Công Tôn Chi, Công Tôn Chi nói: - Do Dư ở nước Tấn mãi không có ai dùng, nay đã làm quan ở nước Tây Nhung rồi! Bách Lý Hề có ý tiếc lắm. Lại nói chuyện vợ Bách Lý Hề là Đỗ Thị từ khi Bách Lý Hề đi vắng, vẫn làm thuê làm mướn để kiếm ăn; sau nghèo khổ quá, không lấy gì cho đủ được, mới đem con lưu lạc sang nước Tần, làm nghề đi giặt thuê. Con trai Bách Lý Hề tên là Thị, tên tự là Mạnh Minh, chỉ quen tính lêu lổng, theo người ta đi săn bắn, chẳng chịu làm ăn gì cả. Đỗ Thị thường đem lời khuyên bảo mà Mạnh Minh cũng không nghe. Đến lúc Bách Lý Hề làm tể tướng nước Tần, Đỗ Thị đã được nghe tiếng, lại hai ba lần trông thấy ngồi xe đi qua mà không dám nhận. Bấy giờ trong dinh Bách Lý Hề cần đến người giặt thuê, Đỗ Thị đã tình nguyện xin vào giặt, làm lụng rất chăm chỉ, người nhà đều có lòng yêu, nhưng vẫn chưa lần nào được giáp mặt Bách Lý Hề. Một hôm, Bách Lý Hề ngồi ở nhà trên, các phường nhạc gẩy đàn thổi sáo ở dưới thềm. Đỗ Thị nói với người nhà rằng: - Tôi cũng có biết âm nhạc, xin cho tôi đến dưới thềm nghe một vài bài đàn. Người nhà đưa Đỗ Thị đến dưới thềm, nói chuyện với các phường nhạc. Các phường nhạc hỏi Đỗ Thị rằng: - Trong các nghề âm nhạc, nhà ngươi biết những thứ nào? Đỗ Thị nói: - Tôi biết gẩy đàn, lại biết hát nữa. Các phường nhạc liền đưa cho một cây đàn cầm, Đỗ Thị ôm cây đàn mà gẩy, nghe tiếng rất ai oán! Các Phường nhạc đều chịu là hay; lại bảo Đỗ Thị hát chơi một bài. Đỗ Thị nói: - Từ khi tôi lưu lạc đến đây, chưa hề cất tiếng hát bao giờ nay muốn xin lên nhà trên hát hầu quan tể tướng một bài. Các phường nhạc lên nói với Bách Lý Hề. Bách Lý Hề cho lên. Đỗ Thị cúi đầu khép nép rồi cất tiếng hát. Hát rằng: "Bách Lý Hề, năm bộ da dê! Nhớ ngày nào cùng nhau ly biệt: Mổ con gà mái ấp, thổi nồi cơm gạo vàng. Chứ thương thì thương.. ngày nay giàu sang, quên ta hay sao!.. Bách Lý Hề, năm bộ da dê! Cha ăn thịt cá, con đói khóc dài; chồng mặc gấm vóc, vợ giặt thuê hoài! Chứ thương thì thương.. ngày nay giàu sang quên ta hay sao!.. Bách Lý Hề, năm bộ da dê! Nhớ ngày xưa, tiễn chàng ra đi, thiếp tôi nước mắt chứa chan, tới bây chừ, thấy chàng ngồi đó, thiếp tôi ruột đứt đôi cơn! Chứ thương thì thương.. ngày nay giàu sang, quên ta hay sao!.." Bách Lý Hề nghe câu hát ấy lấy làm ngạc nhiên, gọi đến trước mặt mà hỏi chuyện thì thành ra vợ mình khi trước liền ôm lấy mà khóc òa lên một hồi lâu, rồi hỏi đến đứa con, Đỗ Thị nói: - Nó vẫn đi săn bắn ở trong xóm. Bách Lý Hề sai người đi triệu đến. Vợ chồng cha con thành ra lại được sum họp cùng nhau. Tần Mục công nghe tin vợ con Bách Lý Hề mới đến sai người đem cho 1.000 chung thóc và một xe vàng lụa. Ngày hôm sau, Bách Lý Hề đem con là Mạnh Minh vào yết kiến Tần Mục công. Tần Mục công cho Mạnh Minh làm quan đại phu, cùng với Tây Khất Thuật và Kiển Bính đều giữ việc đi đánh giặc. Vua nước Khương Nhung là Ngô Lý đem quân sang quấy nhiễu. Tần Mục công sai Mạnh Minh, Tây Khất Thuật và Kiển Bính đem quân đi đánh. Ngô Lý bị thua, chạy sang nước Tấn. Vua nước Tây Nhung là Xích Ban thấy nước Tần cường thịnh, sai Do Dư đem lễ vật sang yết kiến Tần Mục công, để dò xem Tần Mục công là người thế nào. Tần Mục công đưa Do Dư đi chơi các nơi lâu đài vườn tược, có ý khoe khoang. Do Dư nói: - Chúa công sửa sang như thế này, bắt ma làm hay bắt người làm? Bắt ma làm thì khổ ma, bắt người làm thì khổ người! Tần Mục công nghe nói lấy làm lạ, liền hỏi Do Dư rằng: - Nước Tây Nhung không có lễ nhạc pháp độ gì cả thì lấy gì mà trị nước? Do Dư cười mà nói rằng: - Ấy chỉ có lễ nhạc pháp độ mà trung quốc đến nỗi hay biến loạn đó! Thánh nhân đời xưa lập ra văn pháp để bó buộc người ta mới được yên ổn một chút; sau này sinh ra khiêu dâm, chỉ mượn cái danh lễ nhạc để che chở thân mình, chỉ mượn cái uy pháp độ để đốc trách kẻ dưới, khiến cho nhiều người oán giận mà gây ra cuộc tranh chiến lẫn nhau. Còn như nước Tây Nhung tôi thì không thế, người trên thì lấy ân nghĩa mà tiếp đãi kẻ dưới, kẻ dưới thì lấy trung tín mà phụng thờ người trên, kẻ trên người dưới, không có hình tích gì với nhau, thế mới thật là đời thịnh trị. Tần Mục công nín lặng, không nói gì cả, sau đem lời nói của Do Dư thuật lại cho Bách Lý Hề nghe. Bách Lý Hề nói: - Do Dư là bậc đại Hiền ở nước Tấn, tôi vẫn nghe tiếng đã lâu! Tần Mục công nghe lời, có ý buồn mà nói rằng: - Do Dư là bậc đại hiền mà Tây Nhung dùng được, ấy là một sự lo cho nước Tần ta, biết làm thế nào? Bách Lý Hề nói: - Nội Sử Sưu là người mưu trí, chúa công nên bàn với hắn. Tần Mục công liền cho triệu Nội Sử Sưu vào để thương nghị, Nội Sử Sưu nói: - Vua Tây Nhung ở nơi rợ mọi, chưa được nghe âm nhạc của trung quốc ta bao giờ, nay chúa công sai người đem một bộ nữ nhạc đưa cho vua Tây Nhung; còn Do Dư thì giữ lại ở đây không cho về vội, khiến cho vua tôi ngờ vực lẫn nhau, chính sự sinh ra trễ biếng, như thế thì dẫu muốn lấy cả nước Tây Nhung cũng được, huống chi là một mình Do Dư. Tần Mục công khen phải, liền giữ Do Dư ở lại, cùng ăn một mâm, cùng nằm một chiếu; lại sai bọn Kiển Thúc, Bách Lý Hề và Công Tôn Chi thay đổi nhau mà tiếp đãi Do Dư, để dò hỏi những địa thế và binh lực của nước Tây Nhung. Một mặt sai Nội Sử Sưu đem bộ nữ nhạc sang dâng vua Tây Nhung là Xích Ban. Xích Ban bằng lòng lắm; từ bấy giờ ngày đêm say mê về bộ nữ nhạc, chẳng thiết gì đến chính sự cả. Do Dư ở nước Tần một năm mới về. Vua Tây Nhung thấy Do Dư về chậm, có ý không bằng lòng. Do Dư nói: - Tôi vẫn xin về luôn mà vua nước Tần cứ cố ý giữ lại mãi. Vua Tây Nhung nghi là có ý gì với nước Tần, từ bấy giờ không tin dùng Do Dư nữa. Do Dư thấy vua Tây Nhung say mê bộ nữ nhạc, chẳng thiết gì đến chính sự, lại cố ý can ngăn. Vua Tây Nhung không nghe lời. Tần Mục công nghe tin, sai người sang mật triệu Do Dư. Do Dư bỏ Tây Nhung về với Tần Mục công. Tần Mục công cho làm chức á khanh, cùng với Kiển Thúc và Bách Lý Hề cùng cầm quyền chính. Do Dư liền dâng kế đánh Tây Nhung. Khi quân nước Tần kéo sang đất Tây Nhung, đường đi lối lại đều thông thuộc cả. Vua Tây Nhung không chống cự nổi, phải đầu hàng nước Tần. Vua Tây Nhung xưa nay vẫn là đầu cả các nước Nhung Địch. Bấy giờ các nước nhỏ nghe thấy vua Tây Nhung phải đầu hàng nước Tần, cũng đều đem nhau đến đầu hàng cả. Tần Mục công mở tiệc ăn mừng. Các quan triều thần thay đổi nhau mà chúc thọ. Tần Mục công uống rượu say quá, khi vào trong cung, mê mẩn chẳng biết gì cả, nội thị thấy vậy đều lấy làm sợ hãi. Các quan triều thần nghe tin, kéo nhau vào vấn an. Thế tử Bình mời quan thầy thuốc vào xem mạch, mạch chạy như thường, nhưng mắt nhắm và không nói năng cử động được. Quan thầy thuốc nói: - Đó là việc quỷ thần. Xin sai người làm lễ cúng. Nội Sử Sưu nói: - Dẫu cúng cũng vô ích. Ngủ say như thế tất là có giấc mộng, nên chờ ít lâu, tự khắc tỉnh lại, chớ nên làm huyên náo. Thế tử Bình ngồi liền ở bên cạnh, bỏ ăn bỏ ngủ: Chờ đến ngày thứ năm, Tần Mục công mới tỉnh dậy, mồ hôi trán đầm đìa như mưa. Thế tử Bình quỳ xuống mà hỏi rằng: - Phụ thân nghe trong mình thế nào? Sao giấc ngủ lâu như thế? Tần Mục công nói: - Ta vừa mới ngủ được một lúc! Thế tử Bình nói: - Phụ thân đã ngủ năm ngày nay, tất là có mộng thấy gì lạ, chớ chẳng không. Tần Mục công ngạc nhiên mà hỏi rằng: - Sao nhà ngươi lại biết? Thế tử Bình nói: - Nội Sử Sưu nói thế. Tần Mục công liền gọi Nội Sử Sưu đến bên cạnh giường mà bảo rằng: - Mới rồi ta mộng thấy một người đàn bà, mặt hoa da ngọc, tay cầm cái ấn ngọc mà nói là phụng mệnh Ngọc Hoàng Thượng Đế đến triệu ta. Ta liền đứng dậy đi theo, bỗng thấy hình như đi ở trong đám mây, đến một cung điện, thềm cao chín thước, trên rủ rèm châu. Người đàn bà đưa ta vào lạy ở dưới thềm. Được một lúc rèm châu cuốn lên, trông thấy trên điện: Cột vàng tường gấm, hào quang rực rỡ, có một vị Ngọc Hoàng mũ miện áo bào, ngồi trên ngai vàng, hai bên có các quan đứng hầu, nghi vệ rất nghiêm chỉnh! Đức Ngọc Hoàng truyền ban cho chén rượu, một người nội thị bưng chén rượu bằng ngọc đưa cho ta, mùi hương ngào ngạt. Đức Ngọc Hoàng lại sai người đem một cái sổ tay ra, gọi tên ta mà tuyên cáo rằng: "Nhâm hiếu"! Nhà ngươi nghe lời trẫm mà dẹp loạn cho nước Tấn". Khi tuyên cáo xong, người đàn bà ấy bảo ta lạy tạ, rồi lại đưa ta về. Ta hỏi tên là gì? Thì người ấy tự xưng là Bảo phu nhân ở núi Thái Bạch. Nếu ta vì hắn lập đền thờ thì hắn sẽ phù hộ cho được nên nghiệp bá chủ. Ta lại hỏi nước Tấn có loạn gì thì hắn không chịu nói, bảo là việc trời không dám tiết lộ. Bấy giờ ta nghe tiếng chim trĩ kêu, bỗng sực tỉnh dậy, chẳng hay đó là điềm gì? Nội Sử Sưu nói: - Hiện nay Tấn hầu đang yêu Ly Cơ, ghét thế tử, tài nào mà khỏi loạn được. Đức Ngọc Hoàng truyền mệnh cho chúa công, ấy là cái phúc cho chúa công đó! Tần Mục công nói: - Bảo phu nhân là thế nào? Nội Sử Sưu nói: - Tôi nghe nói đời Tần Văn công ta ngày xưa, có người ở đất Trần Sương bắt được một con vật kỳ dị, đem dâng Tần Văn công. Khi đi đến nửa đường, bỗng gặp hai đứa trẻ bảo: Con vật ấy là loài Vị, nó hay ăn óc người chết ở dưới đất; con Vị cũng nói được như người mà bảo: Hai đứa trẻ kia là loài Trĩ tinh: Một con trống, một con mái, nếu bắt được con trống thì làm nên nghiệp vương, bắt được con mái thì làm nên nghiệp bá. Bấy giờ người Trần Sương liền bỏ con Vị mà đuổi theo bắt hai đứa trẻ. Hai đứa trẻ hóa ra hai con chim Trĩ mà bay mất. Người Trần Sương thuật chuyện lại cho Tần Văn công nghe. Tần Văn công sai chép chuyện ấy vào sách, hiện còn cất ở trong kho. Đất Trần Sương nay ở phía Tây núi Thái Bạch, chúa công nên ra đấy đi săn bắn để xem xét thì có thể biết rõ được. Tần Mục công mở sách ra xem, quả như lời nói của Nội Sử Sưu. Ngày hôm sau, Tần Mục công đi săn bắn ở núi Thái Bạch. Người ở Trần Sương chăng lưới bắt được con chim Trĩ, tự nhiên hóa ra con Thạch Kê bằng đá, trông rất kỳ dị, liền đem dâng Tần Mục công, Nội Sử Sưu nói: - Ấy tức là Bảo phu nhân đó! Đó là cái điềm bắt được con mái thì làm nên nghiệp bá! Chúa công nên lập đền thờ ở đất Trần Sương. Tần Mục công bằng lòng truyền lập đền thờ, gọi là đền Bảo phu nhân, sau quả nhiên Tần Mục công dẹp được loạn nước Tấn.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 27 Ly Cơ lập kế giết Thân Sinh Hiến công gần chết dặn Tuân Tức

Tấn Hiến công từ khi lấy được cả nước Ngu và nước Quắc, các quan triều thần đều vào chúc mừng, chỉ có Ly Cơ trong bụng không bằng lòng, bởi vì bản tâm muốn cho Tấn Hiến công sai thế tử Thân Sinh đi đánh Quắc, không ngờ lại hóa ra Lý Khắc đi thay, mà lại lập nên công trạng, chẳng còn nghĩ kế gì để hại thế tử Thân Sinh cho được nữa! Ly Cơ lại bàn riêng với Ưu Thi rằng: - Lý Khắc là đảng Thân Sinh, bây giờ công to chức trọng như vậy thì ta còn làm gì nổi! Ưu Thi nói: - Tuân Tức đem một viên ngọc bích và một cỗ ngựa mà bày mưu lập kế để lấy được nước Ngu cùng nước Quắc, thế thì tài còn gấp mấy Lý Khắc, mà công trạng cũng chẳng kém gì Lý Khắc, bây giờ phu nhân dùng Tuân Tức làm chức thái phó để dạy Tề Hề và Trác Tử thì mới có thể trị nổi Lý Khắc được. Ly Cơ nói với Tấn Hiến công, dùng Tuân Tức làm chức thái phó để dạy Tề Hề và Trác Tử. Ly Cơ lại bảo Ưu Thi rằng: - Nay Tuân Tức đã vào đảng với ta rồi! Nhưng còn Lý Khắc ở trong triều thì mưu kế của ta khó lòng mà thành được, bây giờ biết dùng kế gì mà trừ được hắn đi. Có trừ được Lý Khắc thì mới có thể hại nổi Thân Sinh. Ưu Thi nói: - Lý Khắc là người bề ngoài thì cương trực mà trong lòng hay lo sợ, nếu đem sự lợi hại mà bảo hắn thì hắn tất có ý bắt cá hai tay, bây giờ ta sẽ dụ hắn phải theo ta. Lý Khắc là người thích uống rượu, để tôi xin bày tiệc rượu mời hắn, rồi thử đem lời nói dò xem ý hắn thế nào, nếu hắn theo lời thì may cho phu nhân lắm, mà hắn không theo lời nữa thì tôi đây là một người phường hát, chẳng qua cũng là sự nói đùa bỡn đó thôi, có tội gì mà sợ! Ly Cơ khen phải. Ưu Thi liền đến nói với Lý Khắc rằng: - Quan đại phu lâu nay đi đánh dẹp nước Ngu và nước Quắc, khó nhọc nhiều lắm, tôi muốn đem chén rượu nhạt đến để ngồi hầu quan đại phu, gọi là mua vui trong một đôi lúc, chẳng hay quan đại phu nghĩ thế nào? Lý Khắc thuận cho. Ưu Thi liền mang rượu đến nhà Lý Khắc để mời Lý Khắc uống. Trong khi ăn tiệc, Lý Khắc và vợ là Mạnh Nương cùng ngồi. Ưu Thi sụp lạy hai lạy, dâng chén rượu để chúc mừng, rồi ngồi hầu rượu ở bên cạnh, chuyện trò đùa bỡn, rất vui vẻ! Rượu đã ngà ngà say. Ưu Thi đứng dậy múa để chúc thọ, rồi nói với Mạnh Nương rằng: - Bà lớn cho tôi ăn uống, tôi xin ca một bài hát mới để bà lớn nghe. Mạnh Nương rót chén rượu để thưởng cho Ưu Thi, và đưa cho một món thịt dê mà hỏi rằng: - Bài hát mới là bài gì? Ưu Thi nói: - Tên gọi là bài Hạ Dự! Quan đại phu đây được nghe bài hát ấy thì mới có thể giữ được phú quí. Nói xong, liền gõ nhịp hát. Hát rằng: "Chim Hạ Dự ngô ngô hề.. chi cho bằng ô ô! Người ta họp cả ở trong vườn hoa hề.. sao mày cứ đậu ở cành khô! Vườn hoa kia, tốt đẹp dường bao hề.. cành khô kia, tất có ngày bị lưỡi dao! Lưỡi dao sắp đến nơi hề.. cành khô kia biết làm thế nào!.." Ưu Thi hát xong, Lý Khắc cười hỏi: - Thế nào là vườn hoa? Thế nào là cành khô? Ưu Thi nói: - Thí dụ như người ta, mẹ đang làm phu nhân, con sắp sửa được nối ngôi vua, tức là một cái cây tươi tốt rườm rà, các giống chim nương tựa ở đấy, thế gọi là vườn hoa; nhược bằng mẹ đã chết rồi, con lại bị người ta dèm pha, chẳng bao lâu sẽ có tai vạ, tức là một cái cây gốc lay lá rụng, các giống chim còn nương tựa vào đâu, thế gọi là cành khô. Nói xong, liền cáo từ lui ra. Lý Khắc trong lòng áy náy, đứng dậy trở vào thư phòng, một mình lững thững, đi quanh trong nhà, vừa đi vừa nghĩ; nghĩ quẩn nghĩ quanh, không thể ngủ được, nghĩ thầm trong lòng rằng: Ưu Thi là một người yêu của chúa công và phu nhân bây giờ, vẫn được ra vào ở chỗ cung cấm, ngày hôm nay hát như thế tất là có ý. Hắn nói chưa hết lời, âu là sáng mai ta sẽ hỏi lại. Đến nửa đêm, ruột nóng như lửa, không thể nhịn được, Lý Khắc sai người gọi Ưu Thi đến để hỏi chuyện. Ưu Thi biết trước, đã sắp sửa mũ áo chỉnh tề đi theo người nhà vào thẳng đến tận chỗ giường nằm của Lý Khắc. Lý Khắc cho Ưu Thi ngồi ở bên cạnh giường, lấy tay vỗ vào đùi mà hỏi rằng: - Bài hát của nhà ngươi ca hôm nay, ta đã hiểu ý, có phải là trỏ thế tử Thân Sinh ở đất Khúc Ốc không? Tất là nhà ngươi có được biết chuyện làm sao nên nói cho ta hay, đừng giấu làm gì! Ưu Thi nói: - Tôi vẫn muốn nói đã lâu, nhưng chỉ hiềm ngài là quan thái phó của Thân Sinh, nên chưa dám nói, sợ ngài lấy làm quái dị mà thôi. Lý Khắc nói: - Nhà ngươi nói để cho ta biết cách mà tránh vạ, thế là nhà ngươi yêu ta, có gì mà quái dị! Ưu Thi cúi đầu ghé lại bên gối mà nói thầm rằng: - Chúa công đã hứa lời với phu nhân, định giết Thân Sinh mà lập Hề Tề rồi đó! Lý Khắc nói: - Ngộ chúa công nghĩ lại mà thôi đi chăng? Ưu Thi nói: - Chúa công yêu phu nhân, điều đó ngài đã biết; chúa công lại yêu Lương Ngũ và Đông Quan Ngũ, điều đó ngài cũng đã biết. Trong thì có phu nhân, ngoài thì có Lương Ngũ và Đông Quan Vũ, việc ấy còn thôi thế nào được! Lý Khắc nói: - Theo ý chúa công mà giết Thân Sinh thì ta không nỡ, mà giúp Thân Sinh để chống chúa công thì ta không dám, âu là ta cũng trung lập chẳng theo bên nào cả, mới có thể thoát nạn được. Ưu Thi nói: - Ngài nghĩ phải lắm! Khi Ưu Thi lui về rồi, Lý Khắc ngồi cho đến suốt sáng, đem quyển sách Sử Tô và Bốc Yển ghi chép mấy lời trong quẻ bói ngày trước, tính ra vừa được 10 năm, mới thở dài mà than rằng: - Việc bói toán cũng nghiệm thật! Nói xong, liền đến nhà quan đại phu là Phi Trịnh Phủ, đuổi hết người xung quanh đi, rồi bảo Phi Trịnh Phủ rằng: - Lời nói Sử Tô và Bốc Yển đến ngày nay mới nghiệm. Phi trịnh Phủ hỏi: - Ngài đã nghe thấy những gì? Lý Khắc nói: - Đêm mới rồi Ưu Thi có bảo tôi rằng: Chúa công sắp giết Thân Sinh mà lập Tề Hề. Phi Trịnh Phủ hỏi: - Vậy thì ngài trả lời thế nào? Lý Khắc nói: - Tôi bảo hắn là tôi cứ giữ trung lập mà thôi. Phi Trịnh Phủ nói: - Ngài nói như thế thì khác nào trông thấy lửa cháy mà lại cho thêm củi vào. Cứ như ngài bây giờ thì tôi thiết tưởng nên giả cách làm ra ý không tin; hắn thấy ngài không tin thì tất phải e sợ mà chưa dám làm vội: Bấy giờ ngài sẽ vì Thân Sinh mà lập thêm bè đảng để giữ gìn lấy ngôi thế tử, rồi sau tìm cách mà giãi bày với chúa công, khiến cho chúa công nghĩ lại, như thế thì còn có thể cứu vớt được. Nay ngài bảo là ngài trung lập thì Thân Sinh thành ra thế cô, chẳng bao lâu sẽ bị tai vạ. Lý Khắc dẫm chân xuống đất mà than rằng: - Tiếc thay! Tôi không bàn với ngài trước! Lý Khắc cáo từ trở về, giả cách ngã xe, rồi ngày hôm sau nói là bị thương ở chân, không vào triều được. Ưu Thi đem chuyện Lý Khắc nói lại cho Ly Cơ nghe. Ly Cơ rất bằng lòng; đêm hôm ấy nói với Tấn Hiến công rằng: - Lâu nay thế tử vẫn ở đất Khúc Ốc, chúa công nên cho người triệu về, nói là thiếp có lòng nhớ mong thế tử lắm, để thiếp mua chuộc lấy lòng thế tử, họa may thế tử nghĩ lại mà khỏi làm hại thiếp chăng. Chúa công nghĩ thế nào? Tấn Hiến công nghe lời, cho người triệu thế tử Thân Sinh về. Thân Sinh vào yết kiến Tấn Hiến công, rồi lại vào cung yết kiến Ly Cơ. Ly Cơ bày tiệc để thết đãi. Đêm hôm ấy, Ly Cơ lại khóc lóc mà nói với Tấn Hiến công rằng: - Thiếp muốn mua chuộc lòng thế tử mà bày tiệc để thết đãi, chẳng ngờ thế tử vô lễ quá! Tấn Hiến công nói: - Làm sao? Ly Cơ nói: - Khi thế tử rượu đã ngà ngà say, lại giở giọng đùa bỡn mà bảo thiếp rằng: "Cha ta già rồi! Đằng ấy nghĩ thế nào?" Thiếp nổi giận mà không trả lời. Thế tử lại nói: "Ông ta ngày xưa già, đem mẹ ta để lại cho cha ta, nay cha ta già, tất lại để đằng ấy cho ta chứ còn ai!". Nói xong toan xông lại mà nắm lấy tay thiếp, thiếp chống cự mãi mới chạy thoát. Nếu chúa công không tin thì xin chúa công cho thiếp cùng thế tử vào chơi trong vườn hoa, rồi chúa công đứng ở trên đài nhìn xem thì sẽ biết tình. Tấn Hiến công nghe lời. Sáng hôm sau, Ly Cơ triệu thế tử Thân Sinh cùng vào chơi trong vườn hoa. Ly Cơ đã lập kế sẵn; đem mật ngọt bôi vào mái tóc khi vào đến vườn hoa, ong bướm bay xúm xít lại, đậu khắp trên đầu. Ly Cơ nói với Thân Sinh rằng: - Kìa! Sao thế tử không đuổi hộ những ong bướm đi cho tôi. Thân Sinh vô tình, đi đằng sau lưng lấy tay áo xua đuổi đàn ong bướm. Tấn Hiến công đứng ở trên đài trông thấy, yên trí là Thân Sinh trêu ghẹo Ly Cơ trong lòng tức giận, toan bắt Thân Sinh để đem chém. Ly Cơ quì xuống mà tâu rằng: - Nay thiếp triệu đến mà chúa công đem giết đi thì làm cho thiếp mang tiếng là mưu giết thế tử. Và việc đó cũng là một việc ám muội, người ngoài chưa ai biết đến, chúa công nên nhịn. Tấn Hiến công liền cho Thân Sinh trở về Khúc Ốc, rồi mật sai người bới lông tìm vết để trị tội. Một hôm Tấn Hiến công đi săn ở đất Địch Hoàn. Ly Cơ lại cùng với Ưu Thi thương nghị, rồi sai người ra bảo thế tử Thân Sinh rằng: - Đêm qua thiếp nằm mộng thấy Tề Khương (mẹ Thân Sinh) kêu đói, không có gì ăn, thế tử nên mau mau mà cúng tế. Bấy giờ Tề Khương lại có nhà thờ ở đất Khúc Ốc, Thân Sinh liền làm lễ tế, rồi sai người đem phần tế biếu Tấn Hiến công. Tấn Hiến công đi săn chưa về, phần tế ấy để lại trong cung tới 6 ngày Tấn Hiến công mới về. Ly Cơ đem thuốc độc bỏ vào rượu và tẩm vào thịt mà đệ trình Tấn Hiến công, rồi nói: - Thiếp nằm mộng thấy Tề Khương kêu đói, nhân chúa công đi vắng, thiếp sai người ra bảo thế tử làm lễ tế Tề Khương; đây la phần tế của thế tử biếu chúa công đó! Tấn Hiến công toan rót rượu ra uống. Ly Cơ quì xuống mà can rằng: - Những đồ ăn từ ngoài đem đến, nên phải cho thử mới được. Tấn Hiến công khen phải, liền đem rượu rót thử xuống đất, tự nhiên đất vỡ tung ra. Lại gọi chó đến, cắt một miếng thịt ném cho con chó ăn thì con chó chết ngay. Ly Cơ giả cách không tin, lại gọi một đứa nội thị nhỏ ra bắt ăn thử. Đứa nội thị không chịu ăn. Ly Cơ cố bắt ép. Đứa nội thị vừa mới nuốt khỏi cổ họng thì đã hộc máu mồm máu mũi ra mà chết. Ly Cơ giả cách kinh hoảng, chạy xuống dưới thềm mà kêu ầm lên rằng: - Ối trời đất ôi! Cơ nghiệp này bao giờ cũng là của thế tử! Chúa công đã già rồi, thế tử lại không thể chờ đợi trong ít lâu được hay sao! Nói xong nước mắt chảy xuống ròng ròng, lại quì trước mặt Tấn Hiến công, nức nở nói rằng: - Thế tử sở dĩ bày ra mưu kế này chỉ tại mẹ con thiếp mà thôi, xin chúa công đem rượu thịt ấy mà cho thiếp ăn. Thiếp xin chết thay chúa công để cho thế tử được thỏa dạ! Nói xong cầm lấy chén rượu toan uống. Tấn Hiến công vội vàng giằng lấy, tức giận uất lên, không thể nói được nữa. Ly Cơ lăn xuống đất mà khóc, lại than thở rằng: - Thế tử nhẫn tâm quá! Cha đẻ ra mà còn muốn giết, huống chi là ai! Lúc trước chúa công toan bỏ đi, thiếp vẫn không muốn, đến khi trêu ghẹo thiếp ở trong vườn, chúa công cũng toan đem giết, thiếp lại cố xin hộ để đến ngày nay suýt nữa thì làm hại chúa công, thật là lỗi tại thiếp đó! Tấn Hiến công nín lặng giờ lâu, rồi giơ tay ôm lấy Ly Cơ, đỡ dậy bảo rằng: - Thôi, phu nhân cứ dậy, để ta tuyên cáo việc này cho các quan nghe, rồi giết đứa tặc tử ấy đi mới được. Nói xong, liền ra ngự triều, triệu các quan đại phu đến thương nghị. Các quan biết là chủ ý Tấn Hiến công quyết định như vậy, đều nhìn nhau mà không dám nói. Đông Quan Ngũ nói: - Thế tử vô đạo như vậy, tôi xin đem quân đi đánh. Tấn Hiến công sai Đông Quan Ngũ làm phó tướng, đem quân đi dánh đất Khúc Ốc. Hồ Đột dẫu đóng cửa ở trong nhà, không đi đến đâu, nhưng vẫn cho người dò la công việc trong triều, nghe tin Đông Quan Ngũ và Lương Ngũ đem quân đi dánh Khúc Ốc, tức khắc cho người tâm phúc đi mật báo cho Thân Sinh biết trước. Thân Sinh nói chuyện với quan thái phó là Đỗ Nguyên Khoản. Đỗ Nguyên Khoản nói: - Phần tế để trong cung đã 6 ngày thì rõ là người ở trong cung bỏ thuốc độc, thế tử nên làm một cái trạng khiếu oan, chẳng lẽ cả trong triều thần lại không ai dám nói hay sao! Còn hơn là cứ ngồi mà chịu chết. Thân Sinh nói: - Chúa công ta ngày nay say mê Ly Cơ quá, không có Ly Cơ thì ăn không được ngon, ngủ không được yên. Nay tôi khiếu oan mà không minh ra được thì lại càng thêm tội; may mà minh ra được thì vị tất chúa công phải trị tội Ly Cơ, mà khiến cho chúa công lại thêm một nỗi đau lòng, chi bằng tôi chịu chết đi cho rồi. Đỗ Nguyên Khoản nói: - Ta hãy trốn sang nước khác, để lo liệu về sau thế tử nghĩ thế nào? Thân Sinh nói: - Chúa công không xét cho là vô tội mà sai người đem quân đến đánh tôi, tôi đã mang cái tiếng là người giết cha thì dẫu đi đến đâu, người ta cũng coi tôi như một giống chim cú, chim quạ mà thôi. Nếu trốn đi mà đổ lỗi cho chúa công thì thành ra bêu cái tiếng ác của quân phụ cho các nước chư hầu người ta chê cười. Thôi thì một chết là hơn! Nói xong liền viết thư trả lời Hồ Đột rằng: - Thân Sinh này có tội, xin đành chịu chết! Nhưng chúa công nay già rồi, các công tử (trỏ Hề Tề và Trác Tử) hãy còn ít tuổi, xin ngài lưu ý giúp đỡ cho; tôi dẫu chết xuống suối vàng, thật cũng đội ơn nhiều lắm! Thân Sinh ngoảnh mặt về phía Bắc, sụp lạy hai lạy, rồi tự thắt cổ mà chết. Sáng hôm sau, Đông Quan Ngũ đem quân đến, thấy Thân Sinh đã chết liền bắt Đỗ Nguyên Khoản về nộp Tấn Hiến công và nói với Tấn Hiến công rằng: - Thế tử biết tội, đã tự tử mà chết trước rồi! Tấn Hiến công sai Đỗ Nguyên Khoản làm chứng vào cái tội trạng của Thân Sinh, Đỗ Nguyên Khoản kêu ầm lên rằng: - Trời có thấu nỗi oan này cho chăng! Tôi sở dĩ không chết đi mà chịu cho bắt về đây, chính là muốn giãi bày cái tâm địa của thế tử đó. Phần tế để ở trong cung đã 6 ngày, nếu có thuốc độc từ trước thì còn gì mà không biến vị! Ly Cơ đứng nấp ở sau bình phong, nghe thấy Đỗ Nguyên Khoản nói như vậy, vội vàng quát to lên rằng: - Đỗ Nguyên Khoản giữ chức thái phó mà thế tử làm phản, chẳng đem giết đi, còn để làm gì! Tấn Hiến công sai kẻ lực sĩ cầm cái dùi đồng đánh vào đầu Đỗ Nguyên Khoản, chảy óc ra mà chết. Các quan trong triều đều gạt nước mắt thương thầm. Đông Quan Ngũ và Lương Ngũ bảo Ưu Thi rằng: - Trùng Nhĩ và Di Ngô là một đảng với thế tử, thế tử dẫu chết rồi, nhưng hai vị công tử kia hãy còn, ta cũng lấy làm lo ngại. Ưu Thi bảo Ly Cơ lập kế để hại Trùng Nhĩ và Di Ngô. Đêm hôm ấy, Ly Cơ lại khóc nức nở mà nói với Tấn Hiến công rằng: - Thiếp nghe đồn Trùng Nhĩ và Di Ngô cùng dự mưu với Thân Sinh. Nay Thân Sinh chết đi thì hai vị công tử kia đổ lỗi tại thiếp, đã sẵn định đem quân về đánh để cướp và giết thiếp đi, chúa công cũng nên xét đến việc ấy. Tấn Hiến công còn có ý chưa tin. Sáng hôm sau ra triều, có người bảo rằng: - Trùng Nhĩ và Di Ngô định vào triều, khi đến cửa quan, nghe thấy việc thế tử Thân Sinh chết, đều lại quay xe đi cả. Tấn Hiến công nói: - Trùng Nhĩ và Di Ngô không cáo từ với ta mà bỏ đi ngay, tất là có dự mưu với Thân Sinh đó! Nói xong, liền sai Bột Đề đem quân sang đất Bồ để bắt Công tử Trùng Nhĩ; Giả Hoa đem quân sang đất Khuất để bắt Công tử Di Ngô, Hồ Đột gọi người con thứ là Hồ Yển đến trước mặt bảo rằng: - Công tử Trùng Nhĩ người có tướng lạ: Xương sườn dính nhau, con mắt hai đồng tử. Lại là người hiền minh, mai sau tất làm nên, vả nay thế tử Thân Sinh chết rồi, thì tất đến Trùng Nhĩ được nối ngôi, mày nên sang đất Bồ mà cùng với anh mày là Hồ Mao (bấy giờ Hồ Mao đã theo Trùng Nhĩ sang ở đất Bồ) cùng nhau giúp Trùng Nhĩ đi trốn. Hồ Yển vâng lời tức khắc sang đất Bồ để theo Trùng Nhĩ. Trùng Nhĩ sợ hãi, cùng với Hồ Mao và Hồ Yển cùng nhau đi trốn. Bỗng nghe báo Bột Đề đã đem quân đến vây nhà Trùng Nhĩ, Trùng Nhĩ cùng với Hồ Mao và Hồ Yển chạy ra vườn sau trốn đi. Bột Đề cầm gươm đuổi theo, Hồ Mao và Hồ Yển trèo tường ra trước, rồi đẩy bức tường để dắt Trùng Nhĩ. Bột Đề nắm được vạt áo Trùng Nhĩ, vừa giơ gươm toan chém thì vạt áo đứt, Trùng Nhĩ chạy thoát được. Bột Đề đem cái vạt áo ấy về nộp Tấn Hiến công. Trùng Nhĩ trốn sang nước Địch. Vua nước Địch hôm trước nằm mộng thấy con rồng xanh phủ ở trên mặt thành, bấy giờ có Trùng Nhĩ đến, liền vui vẻ mời vào. Được một lúc, lại có một bọn kéo đến, gọi cửa thành gấp lắm, Trùng Nhĩ ngỡ là quân đuổi theo, liền bảo trên mặt thành bắn tên xuống. Người dưới thành kêu ầm lên rằng: - Chúng tôi không phải là quân đuổi theo, đều là bề tôi ở nước Tấn tình nguyện đi theo Công tử. Trùng Nhĩ trèo lên trên mặt thành nhìn xem ai thì thấy một người đi đầu là Triệu Thôi, tên tự là Tử Dư (em Triệu Uy) hiện đang làm quan nước Tấn. Trùng Nhĩ nói: - Triệu Thôi đã tới đây thì ta không lo gì nữa! Nói xong, Trùng Nhĩ sai mở cửa đón Triệu Thôi vào. Trong bọn ấy có Tư Thần, Ngụy Thù, Hồ Xạ Cô, Điên Hiệt, Giới Tử Thôi, Nguyên Trẩn đều là những người danh tiếng; lại có bọn Hồ Thúc đến vài ba mươi người. Trùng Nhĩ giật mình, nói: - Các ngươi đang ở trong triều, sao lại đến cả đây thế này? Bọn Triệu Thôi đồng thanh trả lời: - Chúa công thất đức; yêu Ly Cơ, giết thế tử, chẳng bao lâu nước Tấn tất có loạn to. Chúng tôi vốn biết Công tử là người hiền minh, vậy xin quyết chí để theo Công tử. Trùng Nhĩ khóc mà nói rằng: - Các người có lòng giúp tôi, bao giờ tôi dám quên ơn. Ngụy Thù nói: - Công tử ở đất Bồ đã mấy năm nay, người đất Bồ ai cũng yêu mến, xin một lòng theo Công tử. Nếu Công tử nhờ người nước Địch giúp cho lại đem quân đất Bồ kéo về, tôi chắc rằng trong triều tất có người nổi lên làm nội ứng. Bấy giờ trừ những loạn đảng ở bên cạnh chúa công đi mà giữ yên được cơ nghiệp nước nhà, chẳng hơn là cứ trốn tránh mãi thế này hay sao! Trùng Nhĩ nói: - Nhà ngươi nói hăng hái lắm! Nhưng e rằng làm thế thì khiến cho quân phụ ta phải sợ hãi, cớ đâu ta dám theo lời. Ngụy Thù là một người dũng sĩ, thấy Trùng Nhĩ không theo lời, liền nghiến răng nghiến lợi, dẫm chân xuống đất mà nói rằng: - Công tử sợ bọn Ly Cơ như là hùm cọp rắn rết, còn bao giờ thành sự được. Hồ Yển bảo Ngụy Thù rằng: - Công tử không phải sợ bọn Ly Cơ, chỉ sợ hai chữ danh nghĩa mà thôi. Ngụy Thù không dám nói nữa. Nguyên Trùng Nhĩ từ thuở bé vốn là người có lễ phép mà lại biết trọng kẻ hiền sĩ, vậy nên đến khi trốn, nhiều người muốn theo: Chỉ có quan đại phu là Khước Nhuế cùng với Lã Di Xanh và Quắc Xạ (Công tử Di Ngô gọi là cậu), ba người ấy chạy sang đất Khuất, đem việc Giả Hoa sắp đến bắt báo cho Công tử Di Ngô biết. Công tử Di Ngô liền sai người đóng cửa thành lại để chống giữ. Giả Hoa không có ý muốn bắt Di Ngô, mật sai người vào bảo Di Ngô rằng: - Công tử nên trốn ngay đi, nếu không thì sắp có quân tiếp theo, không thể nào địch nổi! Công tử Di Ngô bảo Khước Nhuế rằng: - Trùng Nhĩ nay ở nước Địch, hay là ta cũng chạy sang nước Địch, phỏng có nên không? Khước Nhuế nói: - Chúa công vẫn bảo hai vị công tử thông mưu với nhau, bởi vậy mới sai người đem quân đi đánh; bây giờ cùng chạy đến cả một chỗ thì Ly Cơ lại có cớ mà nói được. Vả chúa công thế nào cũng sai người đem quân đi đánh nước Địch, chi bằng chạy sang nước Lương thì hơn. Nước Lương tiếp giáp với nước Tần, mà nước Tần nay đang cường thịnh; khi chúa công trăm tuổi rồi, ta có thể mượn binh lực nước Tần mà về nước được. Công tử Di Ngô liền chạy sang nước Lương. Giả Hoa giả cách đuổi theo không kịp, đem quân trở về. Tấn Hiến công nổi giận, truyền đem Giả Hoa ra chém. Phi Trịnh Phủ tâu rằng: - Ngày trước chúa công sai đắp thành cho hai vị công tử ở, bắt làm kiên cố quá, vậy nên nay không đánh nổi, chứ Giả Hoa có tội gì đâu! Lương Phủ cũng tâu rằng: - Di Ngô là người ngu hèn, không cần gì hắn, còn Trùng Nhĩ có tiếng là người hiền, hiện nay các quan trong triều đi theo nhiều lắm. Vả nước Địch là một nước thù với ta, nếu ta không đánh nước Địch mà trừ Trùng Nhĩ đi thì mai sau tất có tai vạ. Tấn Hiến công liền tha cho Giả Hoa; sai người triệu Bột Đề đến. Bột Đề nghe tin Giả Hoa suýt phải tội chết, có ý sợ hãi, mới nói với Tấn Hiến công, tình nguyện đem quân đi đánh nước Địch. Tấn Hiến công cho đi. Bột Đề đem quân đến nước Địch. Vua nước Địch cũng đem quân ra chống giữ. Quân hai bên giữ nhau đến hơn hai tháng. Phi Trịnh Phủ nói với Tấn Hiến công rằng: - Cha con không nên tuyệt tình quá! Hai vị công tử cũng chưa có tội trạng gì, nay đã chạy trốn mà còn cố theo để giết, chẳng hóa ra nhẫn tâm lắm sao! Vả quân ta vị tất đã đánh nổi nước Địch, nếu ta cố đánh mãi thì chỉ nghề nhọc quân mà để cho nước láng giềng người ta chê cười mà thôi. Tấn Hiến công nghĩ lại, triệu Bột Đề đem quân về. Tấn Hiến công nghi các vị công tử phần nhiều là đảng Trùng Nhĩ và Di Ngô, mai sau tất làm ngăn trở cho Hề Tề, liền hạ lệnh đuổi hết các vị công tử, rồi lập Hề Tề lên làm thế tử. Các quan trong triều chỉ có Đông Ngũ Quan, Lương Ngũ và Tuân Tức ưng ý mà thôi, còn ai cũng không bằng lòng, phần nhiều cáo ốm xin từ chức. Đến tháng chín năm ấy, Tấn Hiến công định sang hội với Tề Hoàn công ở đất Quì Khâu, nhưng sang không kịp, lại trở về nước. Trong khi đi đường, bị bệnh đau nặng, đến lúc về cung, Ly Cơ ngồi ở dưới chân mà khóc rằng: - Chúa công gặp sự gia biến, đuổi hết các vị công tử mà lập Hề Tề (con Ly Cơ) : Một mai chúa công trăm tuổi, thiếp là đàn bà, Hề Tề hãy còn bé, bấy giờ các vị công tử ỷ thế nước ngoài mà đem quân về thì mẹ con thiếp biết trông cậy vào đâu cho được! Tấn Hiến công nói: - Phu nhân chớ lo! Quan thái phó Tuân Tức vốn người trung thành, để ta đem thế tử Hề Tề mà ủy thác cho hắn. Nói xong, liền gọi Tuân Tức đến bên cạnh giường nằm mà hỏi rằng: - Ta nghe nói quân tử lấy điều trung tín làm gốc. Thế nào gọi là điều trung tín? Tuân Tức nói: - Hết lòng để thờ vua thì gọi là trung: Dẫu chết không sai lời thì gọi là tín. Tấn Hiến công nói: - Ta muốn đem thế tử Hề Tề ủy thác cho nhà ngươi, chẳng hay nhà ngươi có nhận lời chăng? Tuân Tức sụp lạy mà nói rằng: - Tôi xin hết sức giúp thế tử. Tấn Hiến công ứa hai hàng nước mắt xuống. Ly Cơ cũng rên rỉ khóc ở trong màn. Mấy hôm sau, Tấn Hiến công mất, Ly Cơ ẵm Công tử Hề Tề đưa cho Tuân Tức. Bấy giờ Hề Tề mới 11 tuổi. Tuân Tức đi theo mệnh lập Hề Tề lên nối ngôi. Ly Cơ cũng đi theo mệnh cho Tuân Tức làm chức thượng khanh, Lương Ngũ và Đông Quan Ngũ làm chức tả tư mã để tống thống binh quyền, đi tuần hành trong nước. Phàm các việc chính trị, bất cứ việc lớn việc nhỏ đều phải trình với Tuân Tức rồi mới được thi hành.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 28 Lý Khắc một tay giết hai vua Di Ngô nhờ Tần về nước Tấn

Tuân Tức lập Công tử Hề Tề lên nối ngôi, các quan trong triều đều đến bái mệnh cả, chỉ có Hồ Đột cáo ốm không đến. Lý Khắc nói riêng với Phi Trịnh Phủ rằng: - Bây giờ lập Hề Tề còn Trùng Nhĩ và Di Ngô làm sao? Phi Trịnh Phủ nói: - Việc này cốt ở tay Tuân Tức, để ta dò xem ý hắn thế nào. Nói xong, hai người đem xe đến nhà Tuân Tức, Tuân Tức mời vào, Lý Khắc nói: - Nay chúa công mất đi, Trùng Nhĩ và Di Ngô đều ở ngoài cả, ngài là quan đại thần trong nước, sao không đón Trung Nhĩ là một vị Công tử hơn tuổi để về nối ngôi, mà lại lập Hề Tề là con Ly Cơ thì sao cho người ta phục. Vả lại các bè đảng của các vị công tử, ai cũng oán mẹ con Hề Tề thâm nhập cốt tủy, chỉ sợ uy tiên quân ta ngày xưa mà thôi. Bây giờ nghe tin tiên quân mất rồi, tất nhiên sinh biến: Mặt ngoài thì nước Tần và nước Địch giúp vào, mặt trong thì người nước nhà nổi lên, bấy giờ ngài nghĩ cách gì mà giữ cho nổi! Tuân Tức nói: - Tôi chịu di mệnh của tiên quân ta mà lập Hề Tề thì tôi chỉ xin hết một lòng để giúp Hề Tề mà thôi, còn ngoài ra không biết có ai cả; nếu không giúp nổi thì đành chịu chết để đáp lại tấm lòng ủy thác của tiên quân ta thuở xưa. Phi Trịnh Phủ nói: - Thế thì chết uổng mà thôi, sao ngài không nghĩ lại. Tuân Tức nói: - Tôi đã nhận lời với tiên quân rồi, dẫu biết rằng chết uổng, cũng không dám sai lời. Lý Khắc và Phi Trịnh Phủ hai ba lần khuyên bảo mãi nhưng, Tuân Tức cứ một lòng sắt đá, nhất định không nghe. Lý Khắc và Phi Trịnh Phủ cáo từ lui ra. Hai người nói riêng với nhau rằng: - Ta nghĩ Tuân Tức là bọn đồng liêu với nhau, đem việc phải để đến bảo hắn; hắn lại nhất định không nghe thì biết làm thế nào? Phi Trịnh Phủ nói: - Hắn giúp Hề Tề ta giúp Trùng Nhĩ, mỗi đàng giúp một bên có ngại chi điều ấy! Nói xong, hai người liền mật ước với nhau, sai kẻ lực sĩ đi lẫn vào trong bọn thị vệ, nhân lúc Hề Tề đi đổ ra mà giết; bấy giờ có Ưu Thi đứng ở bên cạnh, cầm gươm đến cứu, cũng bị bọn lực sĩ giết chết. Tuân Tức nghe tin, giật mình kinh sợ, vội vàng chạy đến ôm lấy thây Hề Tề mà khóc rằng: - Ta chịu di mệnh để giúp thế tử mà giúp không nổi, thật là cái lỗi của ta! Nói xong, toan đập đầu vào cột. Ly Cơ vội vàng sai người ngăn lại mà can rằng: - Xin quan đại phu nghĩ lại, Hề Tề dẫu chết, còn Trác Tử cũng có thể giúp được! Tuân Tức liền sai bắt vài ba mươi người canh giữ Hề Tề ở đấy đem giết cả đi, rồi cùng với các quan lập Trác Tử lên nối ngôi. Bấy giờ Trác Tử mới lên 9 tuổi. Lý Khắc và Phi Trịnh Phủ giả cách không biết, không dự hội nghị. Lương Ngũ nói: - Việc giết thế tử này chính là Lý Khắc và Phi Trịnh Phủ vì Thân Sinh mà báo thù; nay không dự hội nghị lại càng rõ lắm, xin đem quân đến bắt để trị tội. Tuân Tức nói: - Hai ngưới ấy là lão thần ở nước Tấn ta, nhiều người qui phục, nếu trị mà không nổi thì lại thành ra hỏng việc, âu là ta hãy ẩn nhẫn một chút, rồi sẽ liệu dần. Lương Ngũ lui về, nói riêng với Đông Quan Ngũ rằng: - Tuân Tức là người trung, nhưng ít mưu kế, làm việc gì cũng nhút nhát lắm, không có thể trông cậy được! Nay Lý Khắc dẫu cùng với Phi Trịnh Phủ là một đảng, nhưng Lý Khắc vì việc Thân Sinh bị oan càng thêm căm tức; nếu ta trừ được Lý Khắc đi thì Phi Trịnh Phủ tự khắc phải sinh chán. Đông Quan Ngũ nói: - Dùng kế gì mà trừ cho được? Lương Ngũ nói: - Nay nhân lúc có tang, thế nào Lý Khắc cũng phải đi đưa đám, ta sai người đón đường mà giết đi thì chẳng khó nhọc gì cả, chỉ mất công một ngày thôi. Đông Quan Ngũ khen phải, rồi bảo Lương Ngũ rằng: - Đồ Ngạn Di là một người có sức khỏe mang nổi 3.000 cân, nếu ta đem tước lộc mà dỗ hắn thì có thể sai được. Nói xong, liền bảo Đồ Ngạn Di. Đồ Ngạn Di quen thân với quan đại phu là Chuy Xuyền, lại đem việc ấy đến bảo Chuy Xuyền và hỏi có nên làm hay không. Chuy Xuyền nói: - Việc Thân Sinh ngày xưa vì mẹ con Ly Cơ mà bị oan, người trong nước ai cũng thương xót, nay Lý Khắc và Phi Trịnh Phủ định giết đảng Ly Cơ, rồi đón Công tử Trùng Nhĩ vế nối ngôi, đó là một việc nghĩa cử! Nếu nhà ngươi giúp đứa gian nịnh thì chúng ta không tha nhà ngươi, mà muôn đời về sau, nhà ngươi còn đeo mãi cái tiếng xấu ấy, nhà ngươi chớ có nghe lời. Đồ Ngạn Di nói: - Chúng tôi dốt nát không biết gì, chẳng hay làm thế nào từ chối được. Chuy Xuyền nói: - Nhà ngươi từ chối thì tất hắn lại sai người khác, chi bằng cứ giả cách nhận lời, rồi phản lại mà giết bọn gian nịnh ấy, tức là nhà ngươi có công to, sau này được phú quí, vừa được danh tiếng, chẳng hơn là làm sự bất nghĩa mà chết thiệt thân ư! Đồ Ngạn Di nói: - Ngài dạy phải lắm! Chuy Xuyền nói: - Chỉ sợ nhà ngươi lại biến tâm mà thôi! Đồ Ngạn Di nói: - Nếu ngài không tin thì xin ăn thề. Nói xong, liền cắt tiết gà trống uống máu ăn thề. Đồ Ngạn Di lui về. Chuy Xuyền tức khắc thuật chuyện lại cho Phi Trịnh Phủ nghe. Phi Trịnh Phủ bàn nhau với Lý Khắc, rồi sửa soạn sẵn để định hôm đưa đám thì khởi sự. Đến hôm ấy, Lý Khắc cáo ốm không đi. Đồ Ngạn Di nói với Đông Quan Ngũ rằng: - Các quan đều đi đưa đám cả, chỉ có Lý Khắc không đi, đó là Lý Khắc đến ngày tận số! Xin ngài giao cho tôi 300 quân giáp binh, để tôi đến nhà Lý Khắc bắt mà giết đi là xong. Đông Quan Ngũ bằng lòng, liền giao cho Đồ Ngạn Di 300 quân giáp binh. Đồ Ngạn Di giả cách đến vây nhà Lý Khắc. Lý Khắc cố ý sai người báo tin cho Tuân Tức biết. Tuân Tức giật mình kinh sợ mà hỏi Đông Quan Ngũ. Đông Quan Ngũ nói: - Tôi nghe Lý Khắc sắp sửa nổi loạn, vậy có sai người đem quân đến vây nhà, không can ngại gì việc ấy! Tuân Tức ruột nóng như lửa, liền sai Lương Ngũ và Đông Quan Ngũ đem quân đi ngay để dò la tin tức, còm mình thì ẵm Trác Tử ngồi ở trong triều. Đông Quan Ngũ đi đến nửa đường, gặp Đồ Ngạn Di. Đồ Ngạn Di giả cách đến gần để nói có việc cần kíp, liền giơ tay bóp cổ Đông Quan Ngũ. Đông Quan Ngũ gãy cổ mà chết, quân sĩ bỏ chạy tán loạn cả. Đồ Ngạn Di thét to lên rằng: - Công tử Trùng Nhĩ đem quân nước Tần và nước Địch về hiện đóng ở ngoài thành. Ta đây phụng mệnh quan đại phu là Lý Khắc. Vì Thân Sinh mà báo thù, giết những đảng gian nịnh, để đón Công tử Trùng Nhĩ về làm vua. Trong bọn các ngươi, ai muốn theo thì đứng lại, ai không muốn theo thì cho đi! Quân sĩ thấy nói Trùng Nhĩ về làm vua, đều tình nguyện xin theo cả. Lương Ngũ nghe tin Đông Quan Ngũ bị giết, toan trở về trong triều để cùng với Tuân Tức đem Trác Tử đi trốn, chẳng ngờ lại bị Đồ Ngạn Di đuổi theo kịp; Lý Khắc, Phi Trịnh Phủ và Chuy Xuyền cũng kéo quân đến. Lương Ngũ biết không chạy thoát được, liền rút gươm đâm cổ, nhưng đâm không đứt, lại bị Đồ Ngạn Di nắm ngay được. Lý Khắc xông lại, giơ gươm chém Lương Ngũ đứt làm hai mảnh. Bấy giờ quan đại phu là Giả Hoa cũng đem quân đến đánh giúp, rồi cùng nhau kéo vào trong triều. Tuân Tức vẫn nghiễm nhiên không sợ hãi gì cả, tay trái ẵm Trác Tử, tay phải giơ ống tay áo để đỡ che. Trác Tử sợ hãi khóc ầm lên. Tuân Tức bảo Lý Khắc rằng: - Đứa bé này tội lỗi gì! Thôi thì nhà ngươi giết ta mà tha cho giọt máu của tiên quân. Lý Khắc nói: - Thân Sinh cũng là giọt máu của tiên quân ta đó! Nào bây giờ thấy ở đâu! Nói xong, liền ngoảnh mặt lại bảo Đồ Ngạn Di rằng: - Sao nhà ngươi không hạ thủ đi! Đồ Ngạn Di tức khắc giằng lấy Trác Tử mà ném xuống đất, chỉ nghe thấy đánh "nhóe" một tiếng thì Trác Tử đã chết tươi rồi. Tuân Tức nổi giận, giơ gươm đánh nhau với Lý Khắc, cũng bị Đố Ngạn Di chém chết. Lý Khắc lại kéo quân vào trong cung. Ly Cơ chạy trốn vào phòng Giả Quân. Giả Quân đóng cửa không cho vào. Ly Cơ lại chạy vào trong vườn, đâm đầu xuống hồ mà chết. Lý Khắc sai vớt xác lên mà đem xả ra; lại giết cả họ hàng nhà Lương Ngũ, Đông Quan Ngũ và Ưu Thi. Lý Khắc họp các quan ở trong triều mà bảo rằng: - Nay đã trừ được đảng loạn rồi! Trong bọn công tử, chỉ có Trùng Nhĩ là hiền mà nhiều tuổi hơn cả, nên lập lên làm vua. Các quan ai thuận thì ký tên vào một quyển sổ. Phi Trịnh Phủ nói: - Việc này tất phải có lão quan là Hồ Đột làm chủ mới được! Lý Khắc liền sai người đem xe đi đón Hồ Đột. Hồ Đột từ chối mà nói rằng: - Lão phu có hai con đi theo Công tử Trùng Nhĩ đi trốn, nay lão phu dự vào việc này thì sao cho tiện. Lão phu già rồi, điều ấy xin tùy ý các quan. Lý Khắc liền cầm bút viết ngay tên mình ở trên nhất, thứ nhì đến tên Phi Trịnh Phủ, dưới đến bọn Cung Chi Kỳ, Giả Hoa và Chuy Xuyền, cả thảy hơn 30 người, rồi sai Đồ Ngạn Di sang nước Địch đón Công tử Trùng Nhĩ. Trùng Nhĩ xem trong tờ biểu không thấy tên Hồ Đột, có ý nghi hoặc. Ngụy Thù nói: - Người ta đón mà không về, thế thì muốn ở mãi đây hay sao! Trùng Nhĩ nói: - Nhà ngươi không biết rõ, số là các công tử còn nhiều, cứ gì một ta. Vả Hề Tề và Trác Tử mới bị giết, đảng phái cũng hãy còn nhiều. Nay ta đã về thì không có thể lại đi được, nếu trời có lòng tựa, lo gì không có ngày được nối ngôi. Hồ Yển cũng lấy việc nhân lúc biến loạn để về lấy ngôi là một sự dở, liền khuyên Trùng Nhĩ không nên về. Trùng Nhĩ mới từ chối rằng: - Trùng Nhĩ này là một người có tội mới đi trốn, lúc cha còn đã không được phụng dưỡng, lúc cha chết thì càng không được trông nom, có đâu lại dám nhân sự biến loạn để về nối ngôi, xin các quan chọn người khác. Đồ Ngạn Di về bảo với Lý Khắc. Lý Khắc toan sai đi đón lần nữa. Quan đại phu là Lương Do Mỹ nói: - Trong bọn công tử, ai không có thể nối ngôi được, sao ngài không đi đón Di Ngô. Lý Khắc nói: - Di Ngô là người tham lam mà tàn nhẫn, không bằng Trùng Nhĩ. Lương Do Mỹ nói: - Chẳng còn hơn các công tử khác ư? Các quan đều cộng nhận Di Ngô. Lý Khắc bất đắc dĩ lại sai Đồ Ngạn Di và Lương Do Mỹ sang nước Lương để đón Di Ngô. Bấy giờ Công tử Di Ngô ở nước Lương, vua nước Lương gả con gái cho, sinh được một người con tên là Ngữ. Di Ngô ngày đêm mong trong nước có sự biến loạn để thừa cơ trở về; đến lúc nghe tin Tấn Hiến công mất, liền sai Lã Di Xanh đem quân vè đánh lẻn lấy đất Khuất. Tuân Tức nhân trong nước lắm việc, cũng chưa kịp hỏi đến. Sau Lã Di Xanh nghe tin Hề Tề và Trác Tử bị giết, các quan sai người đi đón Trùng Nhĩ về nối ngôi, liền sai người phi báo cho Di Ngô biết. Di Ngô cùng với Quắc Xạ và Khước Nhuế thương nghị, định đem quân về cướp ngôi. Bỗng thấy Lương Do Mỹ đến đón Di Ngô liền chắp tay để lên trán mà khấn trời rằng: - Thế này mới thật là lòng trời định cướp ngôi của Trùng Nhĩ mà cho ta đó! Nói xong, mừng rỡ hiện ra nét mặt, Khước Nhuế nói: - Trùng Nhĩ có phải là không muốn nối ngôi đâu, mà không chịu về, tất là có nghi ngại điều gì đây! Xin Công tử chớ tin vội. Vả các quan ở trong nước mà đón ai về nối ngôi, tất là có ý muốn cầu lợi. Ngày nay Công tử về nước, khác nào như người vào hang hùm, tất phải có đồ phòng thân, tôi thiết tưởng nên mượn thế nước ngoài để giúp sức cho thì mới có thể được. Mà các nước láng giềng ngày nay chỉ có Tần là mạnh hơn cả, Công tử nên sai người kết giao với Tần, nếu Tần chịu giúp sức cho thì ta không ngại gì nữa. Di Ngô theo lời, liền viết thư hẹn cho Lý Khắc một trăm vạn mẫu ruộng ở đất Phần Dương, và hẹn cho Phi Trịnh Phủ bảy mươi vạn mẫu ở đất Phụ Quì, sai Đồ Ngạn Di về báo tin trước, rồi lại viết một bức thư, sai Lương Do Mỹ sang sứ nước Tần, và thuật chuyện các quan đại phu ở nước Tấn cho sang đón Di Ngô về nối ngôi. Tần Mục công bảo Kiển Thúc rằng: - Khi trước ta đã nằm mộng thấy đức Ngọc Hoàng Thượng Đế sai ta dẹp loạn nước Tấn; nay ta nghe nói Trùng Nhĩ và Di Ngô đều là người hiền cả, ta định chọn mà giúp cho một người, chưa biết nên giúp ai. Kiển Thúc nói: - Trùng Nhĩ ở nước Địch, Di Ngô ở nước Lương, đều tiếp giáp nước ta cả, sao chúa công không sai người đến thăm để xét xem là người thế nào. Tần Mục công theo lời, liền sai Công tử Trí sang thăm Trùng Nhĩ trước, rồi sau thăm đến Di Ngô. Công tử Trí sang thăm Trùng Nhĩ, sai người nói riêng với Trùng Nhĩ rằng: - Công tử nên nhân dịp này mà về nước đi, chúa công tôi xin đem quân giúp cho Công tử. Trùng Nhĩ nói chuyện lại với Triệu Thôi. Triệu Thôi nói: - Người ta đón mình không chịu về, mà nay lại muợn thế nước ngoài để về thì còn ra thế nào! Trùng Nhĩ liền ra nói với Công tử Trí rằng: - Quí quốc có lòng giúp thì tôi xin cám ơn, nhưng cha tôi mới chết, có đâu tôi dám nghĩ đến điều ấy. Nói xong, phục xuống đất mà khóc. Công tử Trí biết là người hiền, trong bụng khen thầm, rồi cáo từ lui ra; lại sang nước Lương để thăm Di Ngô. Di Ngô bảo Công tử Trí rằng: - Ngài phụng mệnh vua Tần sang thăm tôi, có điều gì, xin ngài chỉ bảo cho. Công tử Trí lại bảo Di Ngô nên nhân dịp mà về nước. Di Ngô nói chuyện với Khước Nhuế. Khước Nhuế nói: - Vua nước Tần có yêu gì ta, chẳng qua cũng là chỉ muốn cầu lợi, Công tử nên hẹn trước mà xin cắt đất để cho Tần. Di Ngô nói: - Bây giờ mà cắt nhiều đất cho Tần thì chẳng thiệt hại nước Tấn ta lắm sao! Khước Nhuế nói: - Công tử không được về nối ngôi thì lấy gì mà có nước Tấn, nào phải là của riêng Công tử đâu mà Công tử tiếc! Di Ngô lại ra tiếp kiến Công tử Trí, cầm tay mà bảo rằng: - Lý Khắc và Phi Trịnh Phủ đã thuận cho tôi về nối ngôi, tôi đều có hẹn lời để báo đáp lại, không dám quên ơn; nếu quí quốc có lòng giúp tôi, khiến cho tôi giữ yên được cơ nghiệp thì tôi xin biếu năm thành, để gọi là đền ơn chút đỉnh. Nói xong, liền rút tờ ước thư ở trong tay áo ra đưa cho Công tử Trí. Nét mặt có ý tự đắc. Công tử Trí toan từ chối không nhận, Di Ngô lại nói: - Tôi có 40 nén hoàng kim, 6 đôi bạch ngọc, xin dâng Công tử, nhờ Công tử nói giúp với vua Tần cho, không bao giờ tôi dám quên ơn. Công tử Trí mới nhận lời. Khi về đến nước Tần, Công tử Trí thuật lại chuyện Trùng Nhĩ và Di Ngô cho Tần Mục công nghe. Tần Mục công nói: - Trùng Nhĩ hiền hơn Di Ngô nhiều lắm, ta nhất định giúp cho Trùng Nhĩ. Công tử Trí nói: - Chúa công giúp cho Trùng Nhĩ, là lo việc hộ nước Tấn, hay là muốn lấy tiếng với thiên hạ. Tần Mục công nói: - Đó là việc nước Tấn, có dự gì đến ta! Ta cũng muốn lấy tiếng với thiên hạ mà thôi. Công tử Trí nói: - Chúa công lo hộ cho nước Tấn thì nên chọn người hiền mà lập, nếu muốn lấy tiếng với thiên hạ thì không cần phải chọn. Dẫu lập ai mình cũng vẫn được tiếng, mà lập người hiền thì người ta hơn mình, lập kẻ bất hiền thì người ta kém mình, đàng nào lợi hơn? Tần Mục công nói: - Nghe lời nhà ngươi khiến ta tỉnh ngộ ra được! Nói xong, liền sai Công Tôn Chi đem quân giúp Di Ngô về nước Tấn. Vợ Tần Mục công là em thế tử Thân Sinh nước Tấn, tức là nàng Mục Cơ. Lúc bé Giả Quân (vợ thứ Tấn Hiến công) nuôi ở trong cung, Mục Cơ là người rất nhân đức, nghe tin Công Tôn Chi giúp Di Ngô về nước Tấn, liền gửi một bức thư cho Di Ngô, bảo khi về nước phải hậu đãi Giả Quân; còn các vị công tử khi trước chạy trốn, đều không có tội lỗi gì, nên cho về cả, để thêm nhiều vây cánh. Di Ngô sợ mất lòng Mục Cơ, cũng phúc thư lại, xin vâng lời dặn. Tề Hoàn công nghe tin nước Tấn có loạn, đem quân đến đất Cao Hương (đất nước Tấn), gặp nước Tần kéo đến; vua Huệ Vương nhà Chu cũng sai quan đại phu là Vương tử Đảng đem quân đến họp. Tề Hoàn công liền sai Thấp Bằng hội với quân nhà Chu và quân nước Tần cùng đưa Di Ngô về nước Tấn để nối ngôi, tức là Tấn Huệ công. Người nước Tấn ai cũng yêu mến Trùng Nhĩ là người hiền, đến lúc nghe tin Di Ngô về làm vua, đều có ý không bằng lòng. Tấn Huệ công đã lên nối ngôi, lập con là Ngữ làm thế tử, cho Hồ Đột, Quắc Xạ làm thượng đại phu; Đồ Ngạn Di làm hạ đại phu. Lại sai Vương Do Mỹ theo Vương tử Đảng sang nhà Chu, Hàn Giản theo Thấp Bằng sang nước Tề để tạ ơn. Công Tôn Chi nước Tần còn ở nước Tấn để đòi lấy năm thành. Tấn Huệ công có ý tiếc, liền họp các quan lại để thương nghị. Quắc Xạ đưa mắt nhìn Lã Di Xanh. Lã Di Xanh nói: - Chúa công khi trước phải khấn lễ với nước Tần là vì chưa được về nối ngôi thì nước Tấn chưa phải là của chúa công. Nay đã nối ngôi rồi, dẫu không cho nước Tần, nước Tần cũng chẳng làm gì nổi. Lý Khắc nói: - Chúa công mới lên nối ngôi, mà đã thất tín với một nước láng giềng cường thịnh thì quyết không nên. Khước Nhuế nói: - Nay mất năm thành tức là mất nửa nước Tấn, dẫu nước Tần cố sức sang đánh, cũng vị tất đã lấy nổi được năm thành ta; vả lại tiên quân ta ngày xưa trải bao khó nhọc mới mở mang được đất ấy, ta chớ nên bỏ hoài! Lý Khắc nói: - Đã biết là cơ nghiệp của tiên quân, sao lại hẹn cho người ta? Hẹn mà không cho thì thật làm nước Tần phải tức giận. Vả lại tiên quân ta ngày xưa ở đất Khúc Ốc, chẳng qua chỉ một khu đất nhỏ, mà biết sửa sang chính trị, rồi mở mang dần dần, thành ra một nước lớn. Nếu chúa công biết sửa sang chính trị ma giao hiếu với các nước láng giềng thì lo gì không có năm thành. Khước Nhuế quát to rằng: - Lời của Lý Khắc không phải là vì nước Tần, mà vì một trăm vạn mẫu ruộng ở đất Phần Dương, chỉ sợ chúa công không cho, vậy phải mượn việc nước Tấn để làm lệ mà theo. Phi Trịnh Phủ lấy cánh tay đẩy Lý Khắc. Lý Khắc biết ý, không dám nói nữa. Tấn Huệ công nói: - Bây giờ mình không cho thì là thất tín, mà cho thì lại làm cho nước mình phải suy yếu, hay là ta chịu một vài thành, phỏng có nên không? Lã Di Xanh nói: - Dẫu cho một vài thành, cũng không gọi là thủ tín được, mà chỉ xui cho nước Tần đem lòng tranh cạnh, chi bằng ta cứ từ chối đi là hơn. Tấn Huệ công liền sai Lã Di Xanh viết thư trả lời nước Tần. Trong thư đại lược nói rằng: "Lúc trước Di Ngô này có hẹn với quí quốc xin dâng năm thành, nay được về nước, nghĩ đến cái ơn quí quốc, toan y lời hẹn, nhưng các quan đại thần nước tôi đều nói rằng:" Đất nước Tấn là của tiên quân ngày xưa để lại. Sao chúa công lại dám tự tiện đem cho người khác ". Tôi cố cãi mãi mà không được, xin quí quốc hãy thư lại cho ít bữa, tôi không dám quên lời". Tấn Huệ công hỏi: - Ai là người dám vì ta sang sứ nước Tần? Phi Trịnh Phủ xin đi. Tấn Huệ công thuận cho. Nguyên Tấn Huệ công khi sắp về nước, có hứa lời cho Phi Trịnh Phủ 70 mẫu ruộng ở đất Phụ Quì, bây giờ Tấn Huệ công không cho nước Tần, khi nào chịu cho Lý Khắc và Phi Trịnh Phủ. Phi Trịnh Phủ ngoài miệng dẫu không nói ra, nhưng trong lòng có ý căm tức, mới xin đi sứ để định nói với nước Tần. Phi Trịnh Phủ theo Công Tôn Chi đến nước Tần, vào yết kiến Tần Mục công, đệ trình tờ quốc thư. Tần Mục công xem xong nổi giận, đập bàn mà nói rằng: - Ta vẫn biết Di Ngô không đáng làm vua, ngày nay quả nhiên ta bị hắn lừa dối. Nói xong, toan chém Phi Trịnh Phủ, Công Tôn Chi nói: - Đó không phải là tội Phi Trịnh Phủ, xin chúa công dung thứ cho. Tần Mục công vẫn còn chưa nguôi cơn giận, hỏi rằng: - Người nào xui cho Di Ngô phụ ơn ta, ta muốn đâm chết! Phi Trịnh Phủ nói: - Xin chúa công cho phép đuổi hết người chung quanh, để tôi xin nói. Tần Mục công truyền người xung quanh lui cả ra, rồi vẫy Phi Trịnh Phủ lại gần mà hỏi. Phi Trịnh Phủ nói: - Các quan đại phu nước tôi, ai cũng cám ơn quí quốc mà muốn nộp đất, chỉ có Lã Di Xanh và Khước Nhuế cố tình ngăn trở. Nay quí quốc cứ làm ra ý tử tế, gọi hai người ấy sang mà giết đi, rồi giúp cho Trùng Nhĩ về; bấy giờ tôi cùng Lý Khắc xin làm nội ứng mà đuổi Di Ngô, quí quốc nghĩ thế nào? Tần Mục công khen rằng: - Kế ấy phải đó! Ta cũng nghĩ như vậy. Nói xong, liền sai quan đại phu là Lãnh Chi theo Phi Trịnh Phủ sang nước Tấn, rồi lập kế dụ Lã Di Xanh và Khước Nhuế đến để giết đi.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 29 Tấn Hiến công bắt giết người trung Quản Di Ngô trối trăng việc nước

Chủ ý của Lý Khắc định đón Trùng Nhĩ vế nối ngôi, Trùng Nhĩ chối từ không chịu nhận. Di Ngô lại khấn lễ để xin về, bất đắc dĩ cũng phải theo ý mọi người mà lập Di Ngô, tức là Tấn Huệ công. Ai ngờ khi Tấn Huệ công đã được nối ngôi, những ruộng đất hẹn cho khi trước, chẳng được gì cả; mà Tấn Huệ công lại tin dùng bọn Lã Di Xanh và Khước Nhuế, còn bao nhiêu các quan cựu thần đều không coi ra gì. Lý Khắc đã có ý không phục, đến lúc khuyên Tấn Huệ công nên nộp đất cho nước Tần, là vì việc nước mà nói thì lại bị bọn Khước Nhuế cho là có ý riêng, bởi vậy Lý Khắc vẫn tức giận mà không dám nói ra, khi bãi triều về, hầm hầm lộ ra nét mặt. Sau Phi Trịnh Phủ phụng mệnh đi sứ nước Tần, bọn Khước Nhuế sợ rằng thông mưu với Lý Khắc, liền sai người dò thám ý tứ. Phi Trịnh Phủ cũng sợ Khước Nhuế có cho người dò thám, mới không từ biệt với Lý Khắc mà đi ngay. Khi Lý Khắc sai người mời Phi Trịnh Phủ sang để nói chuyện thì Phi Trịnh Phủ đã ra khỏi cửa thành rồi, Lý Khắc theo không kịp, lại phải trở về. Có người báo tin cho Khước Nhuế biết. Khước Nhuế vào nói với Tấn Huệ công rằng: Lý Khắc thấy chúa công giữ lấy quyền chính, lại không cho ruộng Phần Dương, có ý oán giận, nay nghe tin Phi Trịnh Phủ sang sứ nước Tần, lại thân hành đi đuổi theo, tức là có mưu làm phản. Vả lại Lý Khắc vẫn muốn lập Trùng Nhĩ, chứ không muốn lập chúa công nếu bây giờ thông mưu với Trùng Nhĩ thì khó lòng mà giữ nổi, chi bằng ta bắt tội chết để khỏi di họa về sau. Tấn Huệ công nói: - Lý Khắc là người có công với ta, nay lấy cớ gì mà giết được? Khước Nhuế nói: - Lý Khắc giết Tề Hề và Trác Tử, lại giết quan đại thần là Tuân Tức, kể tội thì đáng giết lắm, còn cái công đón chúa công về nước chẳng qua là một cái ơn riêng, nếu chúa công không vì ơn riêng mà bỏ nghĩa lớn thì tôi xin phụng mệnh đến giết Lý Khắc. Tấn Huệ công cho đi, Khước Nhuế đến nhà Lý Khắc, bảo Lý Khắc rằng: - Chúa công sai tôi đến nói cho ngài biết: Nếu không có ngài chúa công không được về nối ngôi, công ấy bao giờ dám quên, nhưng ngài giết hai vua và quan đại thần thì chúa công không dám vì ơn riêng ấy mà bỏ nghĩa lớn, xin ngài tự liệu lấy. Lý Khắc nói: - Không có người bị giết thì sao chúa công lên ngôi được! Nếu muốn bắt tội thì thiếu gì câu, tôi đã hiểu ý rồi! Khước Nhuế lại cố bách mãi. Lý Khắc rút gươm nhảy xuống đất mà kêu to lên rằng: - Trời ôi! Có thấu tình oan: Trung mà phải tội! Còn mặt mũi nào trông thấy Tuân Tức ở dưới đất nữa! Nói xong liền đâm cổ mà chết. Tấn Huệ công giết Lý Khắc rồi các quan có nhiều người không phục, như bọn Cung Hoa, Giả Hoa va Chuy Xuyền đều kêu ca oán giận. Tấn Huệ công muốn giết tất cả. Khước Nhuế nói: - Phi Trịnh Phủ còn đang ở nước ngoài mà ta giết nhiều người quá thì sợ hắn sinh nghi, âu là chúa công hãy chịu ẩn nhẫn một chút. Tấn Huệ công nói: - Mục Cơ nước Tần có dặn ta phải hậu đãi Giả Quân và cho hết các công tử về, nhà ngươi nghĩ thế nào? Khước Nhuế nói: - Các công tử ai không muốn tranh ngôi, chớ nên cho về: Còn việc hậu đãi Giả Quân để báo ơn Mục Cơ là phải lắm. Tấn Huệ công liền vào yết kiến Giả Quân. Bấy giờ Giả Quân nhan sắc cũng hãy còn xuân, Tấn Huệ công bỗng động lòng dâm dục mà bảo Giả Quân rằng: - Mục Cơ có dặn ta cùng với ngươi giao hoan, nhà ngươi nên bằng lòng. Nói xong, liền đứng dậy ôm lấy Giả Quân. Các cung nhân trông thấy, đều buồn cười mà tránh đi cả. Giả Quân sợ uy Tấn Huệ công, bất đắc dĩ phải nghe lời, rồi ứa hai hàng nước mắt mà bảo Tấn Huệ công rằng: - Thiếp trước hầu tiên quân đã không giữ được trọn đạo, nay lại hầu chúa công. Thần thiếp cũng chẳng tiếc gì, nhưng xin chúa công vì thế tử Thân Sinh ngày xưa mà giải tình oan khuất, để cho Mục Cơ được bằng lòng. Tấn Huệ công nói: - Hề Tề và Trác Tử bị giết thì minh oan của Thân Sinh đã giải được rồi! Giả Quân nói: - Thi thể Thân Sinh còn chôn tạm ở đất Khúc Ốc, xin chúa công làm lễ cải táng, để khiến cho hồn oan được yên, đó cũng là một điều ước mong của người trong nước. Tấn Huệ công sai em Khước Nhuế là Khước Khất sang đất Khúc Ốc đề cải táng cho Thân Sinh; lại sai Hồ Đột đến làm lễ tế ở trước mộ. Khi đào lên thì thi thể Thân Sinh vẫn còn nguyên như lúc sống, nhưng mùi thối không thể chịu được. Khước Khất thắp hương mà khấn rằng: - Thế tử lúc còn sống là người trong sạch, sao lúc chết lại hôi hám như vậy, xin thế tử chớ làm cho quan sĩ phải kính sợ. Khấn xong, bao nhiêu mùi hôi mất hết, lại thấy mùi hương thơm ngào ngạt. Quân sĩ mới thu liệm cải táng đi chỗ khác. Người đất Khúc Ốc kéo nhau đi đưa tất cả, ai cũng ứa nước mắt mà thương khóc. Đến ngày thứ ba, Hồ Đột đem đồ lễ đến tế; tế xong, sắp sửa trở về, bỗng có một toán quân sĩ kéo đến, xe ngựa đông lắm, Hồ Đột không biết là quân nào, vội vàng tránh ra một bên, trông thấy một người râu tóc bạc, mũ cao áo dài ở trên xe bước xuống, đến trước mặt Hồ Đột mà bảo rằng: - Thế tử muốn mời ngài lại để nói chuyện. Hồ Đột xem ai thì thành ra quan thái phó là Đỗ Nguyên Khoản. Trong khi hoảng hốt, Hồ Đột cũng quên mất, không nhớ là thế tử đã chết rồi, mới hỏi lại rằng: - Thế tử ở đâu? Đỗ Nguyên Khoản trỏ vào xe sau mà nói rằng: - Ấy xe thế tử đó! Hồ Đột liền đi đến trước xe, thấy thế tử Thân Sinh mũ áo đeo gươm, trông như lúc sống. Thân Sinh sai người dắt Hồ Đột lên ngồi xe, rồi bảo rằng: - Ngài cũng còn nhớ đến tôi chăng? Hồ Đột ứa nước mắt mà nói rằng: - Thế tử bị oan, dẫu người qua đường cũng phải thương xót, huống hồ chi Hồ Đột này, khi nào lại quên được! Thân Sinh nói: - Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế thương tôi là người nhân hiếu, cho tôi làm chủ ở đất Khúc Ốc này. Di Ngô xử với Giả Quân rất vô lễ, tôi ghét nó mà toan làm cho nó không cải táng được; nay vua nước Tần là người hiền, tôi muốn đem nước Tấn cho Tần, để người nước Tần giữ việc cúng tế tôi về sau, ngài nghĩ có nên không? Hồ Đột nói: - Thế tử ghét vua nước Tấn bây giờ, nhưng dân nước Tấn có tội gì! Mà sao thế tử muốn bỏ người cùng họ mà đi cầu người khác họ giữ việc cúng tế. Nếu như vậy thì tôi e rằng trái mất cái đạo nhân hiếu. Thân Sinh nói: - Ngài nói cũng phải, nhưng tôi đã tâu với Ngọc Hoàng Thượng Đế rồi! Để tôi sẽ tâu lại, có thể nào trong bảy ngày nữa tôi cho một người thầy đồng lên miệng báo cho ngài biết. Đỗ Nguyên Khoản đứng ở dưới xe, gọi Hồ Đột mà bảo rằng: - Thôi, ngài nên trở về! Nói xong, liền giơ tay dắt Hồ Đột xuống xe. Hồ Đột vấp chân ngã lăn xuống đất, giật mình tỉnh dậy, thành ra đang nằm ở nhà quán xá, liền hỏi người hầu xung quanh rằng: - Sao ta lại ở đây? Người xung quanh nói: - Khi tế vừa xong thì ngài ngã xuống, gọi mãi không tỉnh, chúng tôi phải vực lên xe rồi đưa ngài về đây. Hồ Đột biết là mình nằm mộng, có ý lấy làm lạ, nhưng không nói cho ai biết, giả cách kêu mệt nhọc, nghỉ lại ở nhà quán xá. Được bảy ngày nữa, bỗng có một người thầy đồng xin vào yết kiến. Hồ Đột sai đuổi hết người xung quang rồi cho vào. Người thầy đồng nói: - Thế tử Thân Sinh bảo tôi nói lại để ngài biết rằng: Hiện đã tâu với Ngọc Hoàng Thượng Đế thì Ngọc Hoàng Thượng Đế chỉ trị tội một mình hắn mà thôi, không hại gì đến nước Tấn cả. Hồ Đột giả cách không hiểu, hỏi lại rằng: - Trị tội một mình hắn là ai? Người thầy đồng nói: - Tôi chỉ biết nói thế thôi, còn không hiểu việc gì hết. Hồ Đột sai đem tiền bạc thưởng cho người thầy đồng, rồi dặn không được nói cho ai biết. Hồ Đột về nước, nói chuyện với con Phi Trịnh Phủ là Phi Báo. Phi Báo nói: - Chúa công làm nhiều điều càn dở, tất không an toàn được, có lẽ nước Tấn lại về tay Trùng Nhĩ mà thôi! Phi Trịnh Phủ cùng với quan đại phu nước Tần là Lãnh Chi trở về nước Tấn, mới về đến ngoài cõi nghe tin Lý Khắc bị giết. Phi Trịnh Phủ trong lòng nghi hoặc, toan quay sang nước Tần, nhưng lại nghĩ đến con là Phi Báo hiện đang ở nhà, nếu mình trốn đi thì tất con bị hại, bởi vậy trù trừ chưa quyết. Bỗng gặp quan đại phu là Cung Hoa, Phi Trịnh Phủ mới hỏi chuyện Lý Khắc, Cung Hoa kể lại đầu đuôi một lượt. Phi Trịnh Phủ hỏi: - Bây giờ tôi có nên về không? Cung Hoa nói: - Những người đồng chí với Lý Khắc còn nhiều, như Cung Hoa này cũng tức là trong đảng ấy. Nay chúa công chỉ giết một mình Lý Khắc, còn không liên lụy đến ai cả, huống chi ngài hiện đang đi sứ nước Tần, tôi thiết tưởng cứ nên làm như người không biết là hơn; bằng nay sợ mà không về thì thành ra mình lại tự thú là người có tội. Phi Trịnh Phủ nghe lời, liền trở về nước Tấn, đưa Lãnh Chi vào yết kiến Tấn Huệ công. Lãnh Chi dâng các đồ lễ vật, rồi đệ trình tờ quốc thư, Tấn Huệ công mở ra xem. Trong thư đại lược nói rằng: "Nước tấn và nước Tần, hai nước vốn là thân thuộc với nhau thì đất của nước Tấn cũng tức như của nước Tần. Các quan đại phu nước Tấn không chịu nộp đất, cũng là trung với nước mình, cớ đâu tôi lại tham muốn mà bỏ đi cái bụng tốt của các quan đại phu: Nhưng tôi có một việc cần, muốn cùng với quan đại phu Lã Di Xanh và quan đại phu Khước Nhuế cùng hội nghị. Xin mời sang ngay kẻo tôi mong đợi." Cuối thư lại có viết một câu rằng: "Nay xin trả lại cái tờ ước thư ngày trước". Tấn Huệ công là người kiến thức nhỏ nhen, thấy lễ vật của nước Tần rất hậu, lại trả lại tờ ước thư của mình xin nộp đất ngày trước, trong lòng mừng lắm, toan sai Lã Di Xanh và Khước Nhuế sang tạ ơn nước Tần. Khước Nhuế nói riêng với Lã Di Xanh rằng: - Nước Tần cho sứ đến, không phải là ý tử tế, nay xem của nhiều nói ngọt như vậy, tất là có ý muốn lừa ta. Chúng ta sang đến nơi, không khéo thì nước Tần bắt hiếp chúng ta phải nộp đất. Lã Di Xanh nói: - Tôi không ngờ người nước Tần lại tử tế với ta được đến như thế! Đó tất là Phi Trịnh Phủ nghe tin Lý Khắc bị giết, sợ không khỏi tội: Mới lập mưu với người nước Tần, muốn cho người nước Tần giết chúng ta đi, để hắn nổi loạn. Khước Nhuế nói: - Phi Trịnh Phủ cùng với Lý Khắc, nguyên vẫn là một đằng. Lý Khắc bị giết, Phi Trịnh Phủ tài nào mà không sợ, ngài nói phải đó. Nay trong triều thần thì đảng Lý Khắc và Phi Trịnh Phủ đến một nửa; nếu Phi Trịnh Phủ lòng nào tất nhiên nhiều người đồng mưu với hắn, chi bằng ta hãy bảo sứ nước Tần về trước, rồi ta sẽ dò xét xem. Lã Di Xanh khen phải, liền vào nói với Tấn Huệ công, hãy bảo Lãnh Chi về nước Tần trước, rồi sẽ cho Lã Di Xanh và Khước Nhuế sang sau. Lã Di Xanh và Khước Nhuế sai người tâm phúc ngày đêm chực ở cửa nhà Phi Trịnh Phủ để dò thám. Phi Trịnh Phủ thấy Lã Di Xanh và Khước Nhuế không sang nước Tần, liền mật cho người triệu bọn Kỳ Cử, Cung Hoa, Giả Hoa và Chuy Xuyền, vân vân, đêm hôm ấy đến nhà để hội nghị. Quân thám tử về báo Khước Nhuế. Khước Nhuế tức khắc cùng Lã Di Xanh thương nghị, sai người gọi Đồ Ngạn Di đến, bảo rằng: - Tai vạ nhà ngươi sắp đến nơi, nhà ngươi có biết không? Đồ Ngạn Di giật mình kinh sợ mà hỏi rằng: - Tôi làm gì mà nên tai vạ? Khước Nhuế nói: - Nhà ngươi ngày trước giúp Lý Khắc giết Hề Tề và Trác Tử, nay Lý Khắc đã bị giết, chúa công lại sắp giết cả nhà ngươi, chúng ta thấy nhà ngươi có công đón lập chúa công không nỡ để nhà ngươi bị giết, vậy nên chúng ta bảo cho mà biết. Đồ Ngạn Di vừa khóc vừa nói: - Tôi chỉ là một đứa vũ phu, bị người ta sai khiến, nào có biết thế là nên tội đâu! Xin ngài làm ơn cứu cho. Khước Nhuế nói: - Chúa công giận lắm, không thể nói được! Nay chỉ có một kế này, may ra thoát khỏi được chăng. Đồ Ngạn Di liền quì xuống hỏi kế, Khước Nhuế vội vàng đỡ dậy mà bảo rằng: - Nay Phi Trịnh Phủ cũng là một đảng với Lý Khắc, cùng các quan đại phu âm mưu, định giết chúa công mà đón Trùng Nhĩ về nối ngôi. Nhà ngươi giả cách sợ tội mà thông mưu cùng với Phi Trịnh Phủ; khi đã dò được thực tình rồi thì đem ra mà thú, rồi ta tâu với chúa công lấy ba mươi vạn mẫu ruộng ở đất Phụ Quì ngày trước hẹn cho Phi Trịnh Phủ ấy mà cho nhà ngươi, lại thăng chức cho để đền công nữa, nhà ngươi còn lo gì tội! Đồ Ngạn Di mừng mà nói rằng: - Nếu vậy thì thật là ngài cải tử hoàn sinh cho tôi đó, tôi xin hết lòng mà vâng lời, nhưng hiềm vì một nỗi tôi nói năng vụng lắm thì biết làm thế nào? Lã Di Xanh nói: - Để ta dạy nhà ngươi. Nói xong, liền nghĩ sẵn câu hỏi và câu trả lời, để cho Đồ Ngạn Di học thuộc lấy. Đêm hôm ấy, Đồ Ngạn Di đến gõ cửa Phi Trịnh Phủ, nói có việc bí mật. Phi Trịnh Phủ từ chối là đang say rượu nằm ngủ, không ra tiếp kiến, Đồ Ngạn Di đứng đợi, mãi đến canh khuya cũng không trở về. Phi Trịnh Phủ cho gọi vào. Đồ Ngạn Di vào đến nơi, liền quì xuống đất mà rằng: - Xin ngài cứu cho, kẻo tôi chết mất! Phi Trịnh Phủ giật mình, liền hỏi. Đồ Ngạn Di nói: - Chúa công bảo là tôi giúp Lý Khắc giết Hề Tề và Trác Tử, sắp đem chém tôi, xin ngài cứu cho! Phi Trịnh Phủ nói: - Nay quyền chính ở trong tay Lã Di Xanh và Khước Nhuế, sao nhà ngươi không đến mà kêu với người ta? Đồ Ngạn Di nói: - Điều ấy là mưu tự Lã Di Xanh và Khước Nhuế, tôi tiếc rằng không thể ăn thịt được hai người ấy. Kêu với họ thì có ích gì! Phi Trịnh Phủ còn chưa tin lời, lại hỏi rằng: - Thế thì bây giờ nhà ngươi định thế nào? Đồ Ngạn Di nói: - Công tử Trùng Nhĩ là người thân hiếu, trong nước ai cũng muốn tôn lên làm vua, mà vua nước Tần ngày nay đang ghét chúa công ta là người bội ước, cũng muốn lập Trùng Nhĩ, để Trùng Nhĩ mượn quân nước Tần và nước Địch; còn ngài ở trong hợp nhau với đảng Thân Sinh cũ mà làm nội ứng. Trước hết chém đầu Lã Di Xanh và Khước Nhuế, rồi đuổi chúa công đi mà lập Trùng Nhĩ, chắc hẳn phải nên việc. Phi Trịnh Phủ nói: - Nhà ngươi có giữ được một lòng như thế không? Đồ Ngạn Di liền cắn đầu ngón tay chảy máu ra mà thề rằng: - Nếu tôi sai lời thì xin chết cả họ. Phi Trịnh Phủ tin lời, hẹn đến canh ba đêm hôm sau thì lại hội nghị. Đêm hôm sau, Đồ Ngạn Di lại đến thì đã thấy Kỳ Củ, Cung Hoa, Giả Hoa và Chuy Xuyền đã ở đấy rồi; lại có Thúc Kiên, Nu Hổ, Đặc Cung và Điền Kỳ bốn người nữa, đều là môn hạ của Thân Sinh cũ, cùng với Phi Trịnh Phủ và Đồ Ngạn Di cả thảy 10 người, cùng nhau uống máu ăn thề để giúp Trùng Nhĩ. Phi Trịnh Phủ bày tiệc thết đãi, các người uống rượu say rồi đâu về đấy cả. Đồ Ngạn Di về báo Khước Nhuế biết, Khước Nhuế nói: - Nhà ngươi nói thế không có bằng cứ gì cả, làm thế nào lấy được bức thư của Phi Trịnh Phủ thì mới trị tội được. Đêm hôm sau, Đồ Ngạn Di lại đến nhà Phi Trịnh Phủ để xin tờ thư đem cho Trùng Nhĩ. Phi Trịnh Phủ đã viết sẵn sàng rồi, chín người cùng ký tên cả, chỉ thiếu có một mình Đồ Ngạn Di. Đồ Ngạn Di cũng cầm bút ký tên nốt. Phi Trịnh Phủ niêm phong kỹ càng, rồi giao cho Đồ Ngạn Di, dặn Đồ Ngạn Di phải cẩn thận, chớ tiết lộ cho ai biết. Đồ Ngạn Di được bức thư, quí như người được của đem thẳng đến nhà Khước Nhuế, Khước Nhuế xem xong, liền giấu kín Đồ Ngạn Di ở trong nhà, rồi đem bức thư cùng với Lã Di Xanh sang thuật chuyện lại cho quốc cữu là Quắc Xạ rằng: - Nếu không trừ ngay đi thì tất sinh biến loạn. Đêm hôm ấy, Quắc Xạ vào ngay trong cung, yết kiến Tấn Huệ công, rồi kể hết cái mưu Phi Trịnh Phủ, lại nói với Tấn Huệ công rằng: - Sáng mai ra triều, chúa công nên đem bức thư này ra làm chứng cớ mà trị tội đi. Ngày hôm sau, Tấn Huệ công ra triều, Lã Di Xanh, Khước Nhuế đã sai các võ sĩ phục sẵn ở xung quanh. Tấn Huệ công gọi Phi Trịnh Phủ mà hỏi rằng: - Ta đã biết rằng nhà ngươi định đuổi ta mà lập Trùng Nhĩ, nhà ngươi có chịu tội không? Phi Trịnh Phủ vừa toan phân giải thì Khước Nhuế chống gươm mà quát to lên rằng: - Nhà ngươi sai Đồ Ngạn Di đem thư đưa cho Trùng Nhĩ, may nhờ hồng phúc chúa công ta mà ta lại đón bắt được Đồ Ngạn Di ở ngoài thành. Bọn nhà ngươi cả thảy 10 người, Đồ Ngạn Di đã thú nhận cả rồi, nhà ngươi còn nói gì nữa! Tấn Huệ công cầm bức thư ném ra trước án. Lã Di Xanh nhặt lấy, rồi chiếu danh đọc lên, để cho võ sĩ bắt. Chỉ có Cung Hoa xin phép ở nhà, tức khắc sai người đi nã, còn 8 người ở đấy, đều ngơ ngác nhìn nhau mà không cãi thế nào được nữa. Tấn Huệ công truyền đem ra chém. Trong bọn ấy có Giả Hoa kêu ầm lên rằng: - Năm xưa tôi phụng mệnh tiên quân đi đánh chúa công, cái ơn tha cho chúa công đi trốn, xin chúa công nghĩ lại. Lã Di Xanh nói: - Ngày trước nhà ngươi làm tôi tiên quân mà tư tình với chúa công, ngày nay nhà ngươi làm tôi chúa công, lại tư tình với Trùng Nhĩ, thế là một đứa tiểu nhân phản phúc, càng nên giết lắm. Giả Hoa không nói thế nào được nữa. Tám người đều chết chém cả. Cung Hoa ở nhà nghe tin bọn Phi Trịnh Phủ bị giết, toan tức khắc vào triều để xin nhận tội. Em là Cung Tứ can rằng: - Vào thì tất chết, chẳng thà trốn đi còn hơn. Cung Hoa nói: - Ngày trước ta bảo Phi Trịnh Phủ cứ về, để đến nỗi Phi Trịnh Phủ chết, mà ta sống lấy một mình thì sao gọi là trượng phu được. Ta không phải là không muốn sống, nhưng ta không nỡ phụ lòng Phi Trịnh Phủ. Nói xong, không đợi cho người đến bắt, tức khắc vào thẳng trong triều để xin chịu tội. Tấn Huệ công cũng sai đem chém, Phi Báo nghe tin cha là Phi Trịnh Phủ bị giết, tức khắc trốn sang nước Tần. Tấn Huệ công muốn giết cả họ những người trong bọn Lý Khắc và Phi Trịnh Phủ. Khước Nhuế nói: - Trị tội người ta, không bắt đến vợ con, đó là phép đời xưa. Nay bọn phản nghịch đã bị giết cũng đủ làm gương cho kẻ khác rồi, cần gì giết lắm cho người ta kinh sợ. Tấn Huệ công mới tha không giết nữa, rồi phong Đồ Ngạn Di làm trung đại phu, thưởng cho mười vạn mẫu ruộng ở đất Phụ Quì. Phi Báo đến nước Tần, vào yết kiến Tần Mục công phục xuống đất mà khóc. Tần Mục công hỏi. Phi Báo đem chuyện Phi Trịnh Phủ bị giết mà thuật lại đầu đuôi một lượt, rồi nói với Tần Mục công nên đem quân sang đánh. Tần Mục công hội các quan để thương nghị. Kiển Thúc nói: - Nếu dân không phục thì tất sinh biến, chúa công nên đợi cho sinh biến, rồi sẽ sang đánh. Tần Mục công nói: - Ta cũng lấy làm nghi lắm, trong một lúc mà giết đến chín quan đại phu, nếu dân không phục thì sao thế được; huống chi ta sang đánh mà không có nội ứng thì làm gì nổi. Phi Báo liền ở lại làm quan đại phu nước Tần. Bấy giờ Vương tử Đái nhà Chu sai người xui nước Nhung Địch đem quân vào đánh kinh sư để định ở trong làm nội ứng. Chu Tương Vương sai người cấp báo với các nước chư hầu. Tần Mục công và Tấn Huệ công đem quân đến cứu. Quân Nhung Địch nghe tin các nước chư hầu đến cứu liền đốt phá cửa Đông Môn rồi kéo nhau về. Tấn Huệ công trông thấy Tần Mục công, có ý thẹn thùng. Tần Mục công lại tiếp được tờ mật thư của Mục Cơ kể tội mình vô lễ với Giả Quân, và không cho các công tử về nước; lại bảo nên đổi lỗi ngay đi mới được, bởi vậy Tấn Huệ công có ý nghi Tần Mục công, vội vàng rút quân về nước. Phi Báo xui Tần Mục công đánh lẻn quân nước Tấn. Tần Mục công nói: - Nay nước Tấn vì việc cứu nhà Chu mà đến đây, ta dẫu có thù riêng, cũng không nên đánh vội. Nói xong, liền rút quân về. Tề Hoàn công cũng sai Quản Di Ngô đem quân cứu nhà Chu, nghe tin quân Nhung Địch đã rút về rồi, liền sai người sang trách vua Nhung Địch. Vua Nhung Địch sợ uy nước Tề, sai người sang xin lỗi rằng: - Chúng tôi có dám xâm phạm kinh sư đâu, bởi vì Vương tử Đái xui chúng tôi làm vậy. Chu Tương Vương mới đuổi Vương tử Đái. Vương tử Đái chạy sang nước Tề. Quản Di Ngô đau nặng. Tề Hoàn công đến hỏi thăm thấy Quản Di Ngô gầy lắm, mới cầm lấy tay mà nói rằng: - Trọng phụ đau nặng lắm, bất hạnh mà có sự gì thì tôi biết giao quyền chính cho ai được? Bây giờ Ninh Thích và Tân Tu Vô cũng đều mất cả rồi, Quản Di Ngô thở dài mà than rằng: - Tiếc thay cho Ninh Thích! Tề Hoàn công nói: - Trừ Ninh Thích ra, lại không có ai nữa hay sao. Tôi muốn giao quyền chính cho Bão Thúc Nha, Trọng phụ nghĩ thế nào? Quản Di Ngô nói: - Bão Thúc Nha là người quân tử, nhưng không có tài chính trị, hay phân biệt thiện ác quá; yêu điều thiện thì phải, chứ ghét điều ác quá thì không ai chịu được, Bão Thúc Nha thấy ai có điều ác gì thì suốt đời không quên, đó cũng là một điều dở. Tề Hoàn công nói: - Thấp Bằng thế nào? Quản Di Ngô nói: - Thấp Bằng là người hay hỏi kẻ dưới mà không xấu hổ; lúc nào cũng lo nghĩ đến việc nước, có thể dùng được. Nói xong, liền thở dài mà than rằng: - Trời sinh Thấp Bằng, khác nào như cái lưỡi của tôi, nay tôi đã chết thì cái lưỡi cũng không sống được. Tôi e rằng chúa công dùng Thấp Bằng cũng chẳng được bao lâu! Tề Hoàn công nói: - Thế thì Dịch Nha thế nào? Quản Di Ngô nói: - Chúa công không hỏi, tôi cũng sắp nói. Dịch Nha, Thụ Điêu và Khai Phương, ba người ấy quyết không nên gần. Tề Hoàn công nói: - Dịch Nha làm thịt con để cho tôi ăn, thế là yêu tôi hơn yêu con, còn nghi gì nữa! Quản Di Ngô nói: - Tình người ta không gì yêu hơn con. Con mà nỡ như thế thì còn nghĩ gì đến vua! Tề Hoàn công nói: - Thụ Điêu tự hoạn mình đi để xin vào hầu tôi, thế là yêu tôi hơn yêu thân mình, còn nghi gì nữa! Quản Di Ngô nói: - Tình người ta không gì yêu hơn thân. Thân mà nỡ như thế thì còn nghĩ gì đến vua! Tề Hoàn công nói: - Khai Phương là Công tử nước Vệ, bỏ ngôi thế tử mà theo tôi; khi cha mẹ chết, cũng chẳng thiết về, thế là yêu tôi hơn cha mẹ, còn nghi gì nữa! Quản Di Ngô nói: - Tình người ta không gì thân hơn cha mẹ. Cha mẹ mà nỡ như thế, còn nghĩ gì đến vua! Vả lại ngôi thế tử sắp lên làm vua thì ai mà không muốn, nay Khai Phương bỏ ngôi thế tử theo chúa công thì tất còn muốn được hơn ngôi thế tử nữa, chúa công chớ nên gần; gần thì tất có ngày sinh loạn. Tề Hoàn công nói: - Ba người ấy theo hầu tôi đã lâu lắm, sao tôi không thấy trọng phụ nói đến bao giờ? Quản Di Ngô nói: - Tôi không nói ra là để chiều ý chúa công. Thí dụ như nước, tôi làm cái bờ đê, để khiến cho nước khỏi tràn chảy; nay bờ đê đã bỏ đi rồi thì khó lòng mà giữ được nước. Chúa công chớ nên gần. Tề Hoàn công nín lặng, rồi cáo từ lui ra.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 30 Tấn Huệ công bội ước cử binh Tần Mục Cơ giận thân tự tử

Quản Di Ngô đau nặng, dặn Tề Hoàn công đuổi Dịch Nha, Thụ Điêu và Khai Phương, lại tiến dẫn Thấp Bằng. Có người đem tin ấy báo với Dịch Nha. Dịch Nha vào yết kiến Bão Thúc Nha, rồi nói với Bão Thúc Nha rằng: - Ngày trước ngài tiến dẫn trọng phụ lên làm tể tướng, nay trọng phụ ốm, chúa công hỏi chuyện, trọng phụ lại nói ngài không có tài chính trị mà tiến dẫn Thấp Bằng, tôi rất lấy làm không bằng lòng! Bão Thúc Nha cười mà nói rằng: - Ấy chỉ vì thế mà ta mới tiến dẫn trọng phụ; trọng phụ là người trung với nước mà không vì bạn. Giả sử chúa công cho ta làm chức tư khấu để khu trừ những đứa gian nịnh thì ta làm được, chứ cho ta cầm quyền chính trong nước thì tức như nhà ngươi, còn dung thân vào đâu. Dịch Nha xấu hổ cáo lui. Ngày hôm sau, Tề Hoàn công lại đến thăm Quản Di Ngô thì Quản Di Ngô đã không nói được nữa. Bão Thúc Nha và Thấp Bằng đều chảy nước mắt khóc. Đêm hôm ấy, Quản Di Ngô mất. Tề Hoàn công vật mình lăn khóc, thương xót vô cùng, vừa khóc vừa nói: - Thương thay trọng phụ! Trọng phụ chết đi thật là trời bẻ cánh tay ta! Nói xong, liền sai quan thượng khanh là Cao Hổ (con Cao Hề) coi việc làm ma Quản Di Ngô. Bao nhiêu những thái ấp của Quản Di Ngô lại cho người con tất cả, và cho phép được nối đời làm quan đại phu. Dịch Nha nói với quan đại phu là Bá Thị rằng: - Ngày trước chúa công lấy đất Biền Ấp của nhà ngươi thưởng cho trọng phụ, nay trọng phụ mất rồi, nhà ngươi nên nói với chúa công mà đòi lại cái đất ấy, rồi ta cũng liệu cách nói giúp nhà ngươi. Bá Thị khóc mà nói rằng: - Vì ta không có công trạng gì, vậy nên chúa công mới lấy đất của ta mà thưởng cho trọng phụ. Nay trọng phụ dẫu mất rồi, nhưng công trạng của trọng phụ hãy còn, ta có mặt mũi nào mà xin đòi lại. Dịch Nha than rằng: - Trọng phụ mất rồi, mà còn khiến cho Bá Thị phải tâm phục như vậy, thế thì lũ chúng ta là tiểu nhân thật! Tề Hoàn công theo lời Quản Di Ngô dặn lại, liền giao quyền chính cho công tôn Thấp Bằng. Chưa được một tháng thì Thấp Bằng mất. Tề Hoàn công nói: - Trọng phụ thật là bậc thành, sao lại biết rằng Thấp Bằng không sống được bao lâu. Nói xong, liền sai Bão Thúc Nha thay Thấp Bằng. Bão Thúc Nha có ý xin từ chối. Tề Hoàn công nói: - Nay trong triều không ai bằng nhà ngươi, nhà ngươi còn nhường cho ai? Bão Thúc Nha nói: - Tôi là người yêu điều thiện mà ghét điều ác, chắc hẳn chúa công cũng đã biết, nếu chúa công dùng tôi thì tôi xin đuổi Dịch Nha, Thụ Điêu và Khai Phương. Tề Hoàn công nói: - Trọng phụ ngày xưa cũng có dặn ta như vậy, nay ta xin vâng lời. Nói xong, ngay ngày hôm ấy hạ lệnh đuổi Dịch Nha, Thụ Điêu và Khai Phương, không cho được vào triều. Bão Thúc Nha mới nhận chức tể tướng. Bây giờ có nước Hoài Di đem quân xâm phạm nước Kỷ. Nước Kỷ sai người sang cấp báo với nước Tề. Tề Hoàn công hội quân các nước chư hầu thân hành đi cứu nước Kỷ. Các nước chư hầu thấy Tề Hoàn công dùng Bão Thúc Nha làm tể tướng, không đổi chính trị của Quản Di Ngô, vậy nên vẫn phải theo lệnh. Tấn Huệ công từ khi lên nối ngôi, trong nước mất mùa liền 5 năm trời, kho tàng hết sạch cả, dân không lấy gì mà ăn. Tấn Huệ công muốn đong thóc ở nước khác về, mới nghĩ đến nước Tần là một nước láng giềng gần, mà lại có tình thân thuộc, chỉ hiềm vì một nỗi ngày trước phụ ước chưa đền, muốn nói mà không dám nói. Khước Nhuế nói: - Ta không phải phụ ước với nước Tần, chẳng qua ta chỉ xin hoãn mà thôi; nếu nay ta xin đong thóc mà Tần không cho, thế là Tần xử tệ với ta trước, bấy giờ ta sẽ phụ ước. Tấn Huệ công khen phải, rồi sai quan đại phu là Khánh Trịnh đem lễ vật sang nói với Tần Mục công xin đong thóc. Tần Mục công họp các quan lại hỏi rằng: - Nước Tấn khi trước hẹn biếu ta năm thành mà không chịu biếu, nay nhân trong nước mất mùa, lại sai sứ sang xin đong thóc, chẳng biết có nên cho hay không? Kiển Thúc và Bách Lý Hề đồng thanh nói rằng: - Thiên tai lưu hành, nước nào không có, nay ta giúp người thì trời tất giúp ta. Tần Mục công nói: - Ta làm ơn nước Tấn nhiều lắm rồi! Công Tôn Chi nói: - Làm ơn mà Tấn biết đền ơn thì có thiệt gì đến nước Tần ta, nếu Tấn không biết đền ơn thì trái tại nước Tấn, bấy giờ ta sẽ liệu kế, chúa công cứ cho. Phi Báo nghĩ đến thù cha ngày xưa, vùng vằng nói rằng: - Vua nước Tấn vô đạo, trời làm phải tai hại, ta nên thừa cơ đem quân sang đánh lấy nước Tấn. Do Dư nói: - Người có lòng nhân đức, không thừa cơ lúc người ta nguy cấp mà cầu lợi. Chúa công nên cho là phải. Tần Mục công nói: - Phụ ơn ta là vua nước Tấn, bây giờ bị đói là dân nước Tấn, ta không nỡ vì một ông vua mà làm khổ muôn dân. Nói xong, liền sai người vận tải mấy vạn hộc thóc sang nước Tấn. Dân nước Tấn đều cảm ơn Tần Mục công. Sang năm sau, nước Tần đói kém, nước Tấn lại được mùa. Tần Mục công bảo Kiển Thúc và Bách Lý Hề rằng: - May mà năm ngoái ta nghe lời hai ngươi cho nước Tấn đong thóc, nếu không thì năm nay ta mất mùa, cũng khó lòng mà sang đong thóc ở nước Tấn được. Phi Báo nói: - Vua nước Tấn là người tham mà vô tín, nay ta xin, vị tất đã cho. Tần Mục công không nghe, liền sai Lãnh Chi đem lễ vật sang nói với Tấn Huệ công xin đong thóc. Tấn Huệ công toan sai người vận thóc ở đất Hà Tây sang giúp nước Tần. Khước Nhuế nói: - Chúa công giúp thóc cho nước Tần, thế thì định lại cho cả đất hay sao? Tấn Huệ công nói: - Ta chỉ giúp thóc mà thôi, khi nào lại chịu cho đất. Khước Nhuế nói: - Vì cớ gì mà chúa công phải giúp thóc. Tấn Huệ công nói: - Vì năm trước Tần giúp thóc cho ta, vậy nên ta phải báo ơn. Khước Nhuế nói: - Nếu lấy việc nước Tần giúp thóc làm ơn, thế thì năm xưa nước Tần giúp chúa công về nối ngôi, cái ơn ấy to biết dường nào nay chúa công bỏ cái ơn lớn mà báo cái ơn nhỏ nghĩa là làm sao? Khánh Trịnh nói: - Năm ngoái tôi phụng mệnh sang nước Tần xin đong thóc thì vua Tần nhận lời cho ngay, thế là xử với ta rất tử tế, ta lại không cho nước Tần đong thóc, chắc là nước Tần oán giận ta lắm. Lã Di Xanh nói: - Tần cho ta đong thóc, không phải là có lòng yêu ta, chỉ cốt muốn cho ta nộp đất. Nay ta không giúp thóc thì nước Tần oán; ta giúp thóc mà không nộp đất thì nước Tần cũng oán, như vậy thì thế nào Tần cũng oán, cần gì mà giúp. Khánh Trịnh nói: - Thấy người ta có tai nạn mà không giúp là bất nhân, người ta làm ơn với mình mà mình quên ơn là bất nghĩa. Bất nhân, bất nghĩa thì sao giữ được nước. Hàn Giản nói: - Khánh Trịnh nói phải đó! Nếu năm ngoái Tần không cho ta đong thóc thì ta nghĩ thế nào? Quắc Xạ nói: - Năm ngoái trời làm ta đói, nước Tần không biết đánh lấy ta mà lại cho ta đong thóc, thế là nước Tần ngu; năm nay trời làm nước Tần đói, để cho ta lấy nước Tần, ta không nên trái ý trời. Cứ như ý tôi thì nên hội với nước Lương mà thừa cơ cùng đánh nước Tần. Tấn Huệ Công theo lời Quắc Xạ, liền chối từ mà bảo Lãnh Chi rằng: - Nước tôi mấy năm mất mùa luôn, dân phải phiêu bạt cả. Năm nay hơi được mùa một chút thì những dân phiêu bạt năm trước mới kéo nhau về, vậy nên thóc trong nước đủ dùng mà thôi, không có thể giúp quí quốc được. Lãnh Chi nói: - Chúa công tôi nghĩ tình thân thuộc, không bắt nộp đất, lại cho đong thóc, có lòng giúp quí quốc như vậy, mà quí quốc không đền ơn lại thì nay tôi trở về, biết nói ra làm sao cho được! Lã Di Xanh và Khước Nhuế quát to lên rằng: - Ngày trước nhà ngươi thông mưu với Phi Trịnh Phủ, toan đem lễ vật sang để dụ ta, may mà ta không mắc lừa, bây giờ lại còn nói khéo gì nữa! Nhà ngươi nên về nói với vua Tần; muốn ăn thóc của nước Tấn ta thì tất phải đem quân sang đánh mới được. Lãnh Chi tức giận mà lui ra. Khánh Trịnh nói riêng với Quách Yển rằng: - Chúa công ta bội ơn mà làm cho nước Tần tức giận như vậy thì tất có tai vạ. Quách Yển nói: - Nước Tấn ta sắp đến ngày mất! Lãnh Chi về đến nước Tần, nói với Tần Mục công rằng: - Nước Tấn không cho đong thóc, lại toan hợp quân Lương để sang đánh ta. Tần Mục công nói: - Không ngờ vua nước Tấn vô đạo đến thế là cùng! Để ta đánh nước Lương trước, rồi sau đánh nước Tấn. Bách Lý Hề nói: - Vua nước Lương hay làm khổ dân để đắp thành xây thành, người trong nước ai cũng ta oán, tất không có thể giúp được nước Tấn. Nay chúa công nên đem quân sang đánh Tấn, rồi sau sẽ đánh Lương. Tần Mục công khen phải, liền giao cho Kiển Thúc và Do Dư giúp thế tử Oánh giữ nước, rồi đem đại binh đi đánh nước Tấn. Tấn Huệ công họp các quan lại mà hỏi rằng: - Nay nước Tần tự nhiên vô cớ đem quân sang xâm phạm đất ta thì nên dùng kế gì để mà chống giữ? Khánh Trịnh nói: - Nước Tần vì chúa công bội ơn mà đem quân sang đánh, sao lại bảo là tự nhiên vô cớ được, cứ như ý tôi thì theo lời ước cũ mà nộp năm thành, rồi cùng với Tần giảng hòa. Tấn Huệ công nổi giận, nói: - Nước Tấn ta đường đường là một nước lớn như thế này mà phải nộp đất để giảng hòa thì ta còn mặt mũi nào mà làm vua nước Tấn nữa! Nói xong, truyền chém Khánh Trịnh. Quắc Xạ nói: - Chưa đem quân đi đánh, đã chém quan tướng thì tôi e rằng bất lợi, xin chúa công hãy tha Khánh Trịnh, để cho hắn được lập công mà chuộc tội. Tấn Huệ công nghe lời, rồi cử binh đi đánh, Tấn Huệ công vẫn dùng con ngựa tiểu tứ để kéo xe là ngựa của nước Trịnh đem biếu khi trước. Con ngựa ấy tầm nhỏ, lông mỡ, đi nhanh và êm lắm. Khánh Trịnh lại can rằng: - Cổ giả đi đánh giặc bao giờ cũng dùng ngựa nước mình, vì ngựa nước mình đã quen thủy thổ, không mấy khi lầm đường. Nay chúa công đi đánh giặc, lại dùng ngựa nước Trịnh, tôi thiết tưởng không nên. Tấn Huệ công lại mắng rằng: - Con ngựa ấy ta dùng đã quen rồi, nhà ngươi chớ nên nói lắm. Quân nước Tần sang đến nước Tấn, ba lần đánh ba lần được, các quan trấn thủ đều bỏ chạy cả. Quân Tần kéo thẳng đến đất Hàn Nguyên. Tấn Huệ công nghe tin quân Tần đã đến đất Hàn Nguyên, liền nhăn mặt lại nói rằng: - Quân giặc mạnh thế thì ta biết làm thế nào! Khánh Trịnh nói: - Chúa công tự làm cho giặc đến, còn nói gì nữa! Tấn Huệ công sai Hàn Giản đi dò thám xem quân nước Tần nhiều hay là ít. Hàn Giản trở về báo rằng: - Quân nước Tần dẫu ít không bằng ta, nhưng xem khí thế hăng say hơn ta nhiều lắm! Tấn Huệ công hỏi: - Tại làm sao vậy? Hàn Giản nói: - Chúa công lúc trước nhờ nước Tần giúp binh cho mà được về nối ngôi, sau nhờ nước Tần giúp thóc cho mà dân khỏi đói, mấy lần chịu ơn nước Tần mà không đền lại, bởi vậy vua tôi nước Tần đều một lòng tức giận mà đem quân đến đánh, thành ra khí thế mạnh lắm, không biết thế nào mà kể! Tấn Huệ công có ý giận mà rằng: - Đó là câu nói của Khánh Trịnh thì mới phải, sao nhà ngươi cũng nói thế? Ta đây quyết cùng với Tần đánh nhau một phen. Nói xong, liền sai Hàn Giản sang nói với Tần Mục công rằng: - Quí quốc lui quân về thì chúa công tôi cũng bằng lòng, nhược bằng không lui thì chúa công tôi dầu không muốn đánh, nhưng quân sĩ không nghe, biết làm thế nào? Tần Mục công cười mà nói rằng: - Đứa trẻ con ấy nay cũng kiêu lắm nhỉ! Nói xong, liền sai công tôn Chi ra đáp lại rằng: - Hiền hầu muốn làm vua thì tôi giúp quân, Hiền hầu muốn lấy thóc thì tôi giúp thóc, nay Hiền hầu muốn đánh nhau thì cớ đâu tôi lại dám trái ý. Hàn Giản lui về mà nói rằng: - Lý nước Tần thẳng như vậy thì ta tất phải thua chết mà thôi! Tấn Huệ công sai Quách Yển bói xem: Ai nên làm chức xa hữu. Quách Yển bói, không ai tốt cả, chỉ có Khánh Trinh tốt mà thôi. Tấn Huệ công nói: - Khánh Trịnh vào đảng với nước Tần, không nên dùng. Nói xong, liền sai Gia Bộc Đồ làm chức xa hữu, mà Khước Bộ Dương ngồi cầm cương xe. Bách Lý Hề trèo lên trên lũy, trông thấy quân nước Tần đông lắm, bảo Tần Mục công rằng: - Tấn hầu cố sức liều chết, chúa công chớ nên đánh. Tần Mục công trỏ lên trời mà nói rằng: - Nước Tấn phụ ơn ta nhiều lắm, không có trời thì thôi, nếu có trời thì ta đánh được nước Tấn. Nói xong, liền bày trận ở dưới chân núi để đợi quân nước Tấn đến. Được một lúc quân nước Tấn kéo đến. Đồ Ngạn Di cậy khỏe, tay cầm cái côn sắt nặng hơn một trăm cân, xông vào đánh nhau với Kiển Bính. Đánh được hơn 50 hiệp, hai người bỏ khí giới rồi quần thảo với nhau. Đồ Ngạn Di nói: - Ta liều chết với nhà ngươi, nếu nhà ngươi gọi người khác đến đánh hộ thì không giỏi! Kiển Bính nói: - Một mình ta quyết bắt sống nhà ngươi, mới là anh hùng. Hai người đều cấm quân sĩ không ai được đánh hộ, rồi vật nhau đi dần mãi về phía sau trận. Tấn Huệ công chia quân ra làm hai đạo để tiến vào. Tần Mục công cũng chia quân ra làm hai đạo để đối địch. Tấn Huệ công sai Khước Bộ Dương dong xe để vào giáp chiến, công tôn Chi trông thấy, hét lên một tiếng, to tiếng sấm. Con ngựa tiểu tứ của Tấn Huệ công chưa quen ra trận bao giờ, nghe tiếng công tôn Chi hét, liền kinh sợ lồng chạy, sa vào trong đám bùn lầy. Khước Hộ Dương cố sức gia roi đánh mãi, nhưng ngựa nhỏ sức yếu, không sao lên được. Đang lúc nguy cấp, gặp Khánh Trịnh đi đến. Tấn Huệ công gọi lại bảo rằng: - Khánh Trịnh! Nhà ngươi mau mau cứu ta với! Khánh Trịnh nói: - Quắc Xạ ở đâu mà gọi đến Khánh Trịnh này! Tấn Huệ công lại gọi Khánh Trịnh mà bảo rằng: - Nhà ngươi mau mau đem xe khác đến để cứu ta. Khánh Trịnh nói: - Chúa công dùng con ngựa tiểu tứ đã quen, để tôi đi gọi người khác đến cứu. Nói xong, liền quay xe đi về phía tả. Đạo quân Hàn Giản tiến lên đánh nhau với tướng nước Tần là Tây Khất Thuật. Đánh trong 30 hiệp, Tây Khất Thuật không thể đương nổi, Hàn Giản đâm cho một nhát, Tây Khuất Thuật bị thương. Lương Do Mỹ bảo Hàn Giản rằng: - Bắt một viên đại tướng ấy làm gì, chúng ta nên đuổi theo mà bắt vua Tần. Hàn Giản liền cùng với Lương Do Mỹ thúc quân đi đuổi bắt Tần Mục công. Tần Mục công than rằng: - Ngày nay ta lại bị nước Tấn bắt thì còn có trời nào nữa! Bỗng có một toán tráng sĩ hơn 300 người ở phía Tây kéo đến, vừa đi vừa reo ầm lên rằng: - Chớ làm hại ân chủ của ta! Tần Mục công ngẩng đầu lên xem thì thấy bọn tráng sĩ đều đầu bù tóc rối, chân đi giày cỏ, lưng đeo cung tên, tay cầm dao nhọn xông vào đánh quân nước Tấn. Hàn Giản và Lương Do Mỹ đang hoảng hốt nghênh chiến thì Khánh Trịnh chạy đến gọi mà bảo rằng: - Chúa công ta bị quân Tần vây sa vào trong đám bùn lầy, nhà ngươi phải mau mau đem quân đến cứu. Hàn Giản vội vàng kéo quân trở lại để đi cứu Tấn Huệ công. Không ngờ Tấn Huệ công đã bị công tôn Chi bắt được rồi; bọn Gia Bộc Đồ, Quắc Xạ và Khước Bộ Dương đều bị bắt cả. Hàn Giản dẫm chân xuống đất mà than rằng: - Khánh Trịnh làm hại ta rồi, vậy để cho ta bắt lấy vua Tần thì có phải hay không! Lương Do Mỹ nói: - Chúa công đã bị bắt thì chúng ta còn về làm gì nữa! Nói xong liền cùng với Hàn Giản bỏ binh khí chạy đến dinh quân Tần. Bọn tráng sĩ hơn 300 người cứu được Tần Mục công, lại cứu được cả Tây Khất Thuật nữa. Quân Tần thừa thế đuổi đánh. Quân Tấn chết không biết bao nhiêu mà kể. Khánh Trịnh nghe tin vua nước Tấn đã bị bắt rồi, tức khắc tìm đường bỏ trốn, gặp tướng nước Tấn là Nga Tích bị thương, nằm ở ngang đường, liền vực lên xe cùng trở về nước Tấn. Tần Mục công về đến đại dinh, bảo Bách Lý Hề rằng: - Ta không nghe lời nhà ngươi, suýt nữa thì bị người nước Tấn cười. Bọn tráng sĩ hơn 300 người vào yết kiến Tần Mục công. Tần Mục công hỏi rằng: - Các ngươi ở đâu mà lại liều chết để cứu ta như vậy? Bọn tráng sĩ nói: - Chúa công không nhớ chuyện mất ngựa năm xưa hay sao? Chúng tôi chính là bọn ăn thịt ngựa đó! Nguyên là năm xưa Tần Mục công đi săn ở núi Lương Sơn, đang đêm bỗng mất mấy con ngựa. Tần Mục công sai người đi tìm. Khi tìm đến dưới chân núi Kỳ Sơn, có một bọn hơn 300 người đang họp nhau ăn thịt ngựa, quân sĩ về báo với Tần Mục công, xin đem người đến vây thì có thể bắt cả được. Tần Mục công than rằng: - Ngựa đã chết rồi mà nay lại giết người nữa thì dân trong nước tất bảo ta là quý ngựa hơn người. Nói xong, lại truyền đem mấy chục hũ rượu ngon, sai người đưa đến núi Kỳ Sơn cho bọn ăn thịt ngựa mà bảo rằng: - Chúa công tôi thấy các ngươi ăn thịt ngựa mà không uống rượu thì hay sinh bệnh, vậy có sai tôi đem rượu ngon đến để cho các ngươi. Bọn ăn thịt ngựa chia nhau uống rượu, rồi bảo nhau rằng: - Chúng ta ăn trộm ngựa, đã không bắt tội thì chớ, chúa công lại lo chúng ta mắc bệnh mà đem cho rượu ngon, thế thì bao giờ chúng ta đền được cái ơn to này! Đến bấy giờ nghe tin Tần Mục công đi đánh Tấn, bọn tráng sĩ ấy rủ nhau đến đánh giúp. Lại vừa gặp Tần Mục công bị vây, bọn tráng sĩ mới xông vào để cứu. Tần Mục công hỏi chuyện đầu đuôi, rồi thở dài than rằng: - Bọn ăn trộm ngựa còn biết đền ơn, ai ngờ Tấn hầu mà lại tệ bạc như vậy! Nói xong, liền truyền hỏi trong bọn tráng sĩ ấy có ai muốn làm quan thì phong chức cho. Bọn tráng sĩ đồng thanh mà đáp rằng: - Chúng tôi chỉ đến để đền ơn chúa công đó thôi, chứ không muốn làm quan. Tần Mục công sai đem vàng lụa ra thưởng cho bọn tráng sĩ. Bọn tráng sĩ nhất định không nhận rồi cáo từ lui ra. Tần Mục công khen ngợi bọn tráng sĩ không biết dường nào. Khi thu quân về, điểm duyệt các tướng thì thấy thiếu một mình Kiển Bính. Tần Mục công sai quân sĩ đi tìm khắp mọi nơi, bỗng nghe thấy ở trong một cái hố đất có tiếng người thở, vội vàng đến xem thì Kiển Bính cùng với Đồ Ngạn Di hai người ôm nhau nằm ở trong hố; hai bên cùng mệt lử ra, không động đậy được nữa, nhưng tay vẫn còn nắm chặt lấy nhau, chẳng ai chịu buông. Quân sĩ xuống gỡ hai người ra, rồi vực lên xe đưa về. Tần Mục công hỏi thì Kiển Bính không thể nói được, có người biết chuyện đầu đuôi, thuật lại cho nghe. Tần Mục công khen rằng: - Hai người đều là người giỏi cả! Tần Mục công lại hỏi các quan xem có ai biết người tướng nước Tấn họ tên là gì không? Công tử Trí đến gần xem kỹ, mới nói với Tần Mục công rằng: - Đấy là Đồ Ngạn Di, một dũng sĩ ở nước Tấn. Khi trước tôi phụng mệnh sang thăm Trùng Nhĩ và Di Ngô thì hắn cũng có phụng mệnh đến đón Di Ngô, bởi vậy tôi có biết. Tần Mục công nói: - Người ấy ta có nên dùng không? Công tử Trí nói: - Giết Hề Tề, Trác Tử và Lý Khắc, đều một tay người ấy cả, bây giờ ta nên trị tội mà giết đi. Tần Mục công truyền đem Đồ Ngạn Di ra chém, rồi lại cởi áo cẩm bào trùm cho Kiển Bính, sai Bách Lý Hề xe về nước Tần để chữa thuốc, đến hơn nửa năm mới khỏi. Tần Mục công bảo Tấn Huệ công rằng: - Nhà vua không tha tôi, tôi cũng không có thể tha nhà vua được. Tấn Huệ công nín lặng mà cúi đầu xuống. Tần Mục công sai Công Tôn Chi đem quân giải Tấn Huệ công về nước Tần. Bọn Quắc Xạ, Hàn Giản, Lương Do Mỹ, Gia Bộc Đồ, Khước Bộ Dương, Quách Yển và Khướt Khất, đều đầu bù tóc rối, lũ lượt theo sau, trông rất thê thảm! Tần Mục công lại bảo các quan đại phu nước Tấn rằng: - Vua tôi nhà ngươi khi trước có bảo ta muốn lấy thóc nước Tấn thì phải đem quân đến mà lấy, nay ta bắt vua nước Tấn, chẳng qua là muốn để đòi thóc của nước Tấn đó mà thôi, không hề chi đâu, các ngươi chớ có lo ngại. Bọn Hàn Giản sụp lạy mà nói rằng: - Nhà vua thương chúa công tôi là người ngu mà có lòng khoan nhân thì hoàng thiên hậu thô, thật chứng giám cho câu nói của nhà vua đó. Tần Mục công về đến bờ cõi nước Tần, hội các quan để thương nghị. Tần Mục công hỏi: - Ta chịu mệnh trời mà dẹp loạn nước Tấn mà lập Di Ngô, nay vua nước Tấn bội ơn ta, tức là một kẻ có tội, ta định vua nước để tế trời, phỏng có nên không? Công tử Trí nói: - Chúa công nghĩ rất phải! Công tôn Chi can ngăn: - Không nên! Tấn là một nước lớn, ta bắt vua nó cũng đã quá lắm rồi, nay lại giết đi thì tất nhiên người nước Tấn thêm oán. Khi bấy giờ người nước Tấn báo thù nước Tần ta, lại tệ hơn nước Tần ta báo thù nước Tấn ngày nay! Công tử Trí nói: - Tôi thiết tưởng chẳng những giết vua nước Tấn mà thôi, lại còn lập Trùng Nhĩ lên làm vua nước Tấn, như thế thì dân nước Tấn ơn ta chẳng hết, lại còn oán về nỗi gì! Công tôn Chi nói: - Trùng Nhĩ là người nhân từ, khi trước đã không chịu vì việc cha chết mà về nối ngôi, huống chi ngày nay lại chịu nhân việc em chết mà về nối ngôi hay sao! Trùng Nhĩ không về mà lập người khác thì cũng chẳng khác gì Di Ngô; nếu Trùng Nhĩ chịu về thì tất lại nghĩ đến em mà oán nước Tần ta lắm. Như thế thì bỏ mất cái ơn của Di Ngô, mà mua thêm cái oán của Trùng Nhĩ, tôi thiết tưởng không nên. Tần Mục công nói: - Thế thì một đằng đuổi đi, một đằng giam lại và một đằng cho về; trong ba cách ấy cách nào lợi hơn? Công tôn Chi nói: - Giam lại thì có ích gì với nước Tần mà đuổi đi thì tất hại có người lập mưu đem vào nước Tấn, chi bằng ta cho vua nước Tấn lại về nối ngôi. Tần Mục công nói: - Thế ra mình đem quân sang đánh, chịu mất công không hay sao! Côn tôn Chi nói: - Tôi thiết tưởng nên bắt vua nước Tấn nộp cho ta năm thành ở đất Hà Đông, lại bắt thế tử Ngữ phải sang nước ta để làm tin rồi mới cho giảng hòa. Như thế thì vua nước Tấn không bao giờ dám quên ơn nước Tần; vả ngay sau cha chết con nối, nước Tấn đời ấy đời khác qui phục nước Tần ta thì còn gì lợi hơn nữa! Tần Mục công nói: - Nhà ngươi lại tính trước đến những mấy đời người! Nói xong, truyền đem Tấn Huệ công an trí ở Linh Đài Sơn, rồi thu quân về kinh thành. Bỗng thấy một lũ nội thị kéo đến, đều mặc đồ tang. Tần Mục công thấy lạ, liền hỏi. Lũ nội thị thuật lời nói của Mục Cơ rằng: - Trời làm tai vạ hai nước Tần và Tấn bất hòa với nhau; nay vua Tấn bị bắt thì thiếp cũng lấy làm xấu hổ lắm. Nếu đem vua Tấn về đây buổi sớm thì thiếp chết buổi sớm, đem về buổi chiều thì thiếp chết buổi chiều. Thiếp sai lũ nội thị mặc đồ tang đi đón chúa công, xin chúa công tha cho vua Tấn, tức là cho thiếp được khỏi chết! Tần Mục công giật mình kinh sợ, hỏi lũ nội thị rằng: - Hiện nay phu nhân ở trong cung, sự thể thế nào? Lũ nội thị nói: - Từ khi phu nhân tôi nghe tin vua Tấn bị bắt, liền đem thế tử mặc đồ tang, lên cái nhà tranh ở trên Sùng Đài; xung quanh dưới Sùng Đài bắt chất những củi khô nhiều lắm. Chúng tôi đưa cơm vẫn phải trèo qua đống củi mà đi. Phu nhân tôi lại có nói rằng: "Chờ khi nào đem vua Tấn về thì phu nhân tôi đốt lửa lên mà tự tử, để tỏ cái tình anh em". Tần Mục công thở dài mà than rằng: - May sao công tôn Chi lại khuyên ta đừng giết vua nước Tấn nếu không thì phu nhân chết rồi! Nói xong, liền truyền cho nội thị bỏ đồ tang phục đi, rồi về nói với Mục Cơ rằng: - Chúa công sắp tha cho vua nước Tấn đó! Lũ nội thị báo với Mục Cơ. Mục Cơ mới chịu về cung. Lũ nội thị quì xuống mà hỏi rằng: - Vua nước Tấn là người tham lợi, đã quên ơn chúa công tôi, lại không theo những lời ủy thác của phu nhân, đến nỗi ngày nay phải tù nhục, phu nhân còn thương nỗi gì! Mục Cơ nói: - Người nhân giả dẫu thù oán thế nào, cũng không bỏ được cái tình thân thuộc, nếu để cho vua Tấn chết ở nước Tần này thì cũng là lỗi của ta. Các nội thị đều ca tụng Mục Cơ là người hiền.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 31 Tấn Huệ công nổi giận giết tướng Giới Tử Thôi cắt thịt nuôi vua

Tấn Huệ công bị giam ở Linh Đài Sơn, vẫn tưởng rằng Mục Cơ thù oán với mình, không biết những việc Mục Cơ lập kế để xin hộ, liền bảo Hàn Giản rằng: - Ngày trước tiên quân ta nếu biết nghe lời Sử Tô mà không kết thân với Tần thì không đến nỗi có việc này! Hàn Giản nói: - Có phải là lỗi tại tiên quân kết thân với Tần đâu! Nếu Tần không nghĩ tình thân thuộc thì sao chúa công được về nối ngôi. Đã giúp cho chúa công về mà lại đem quân sang đánh, để gây sự thù oán thì nước Tần có muốn đâu thế, chúa công nên nghĩ lại. Tấn Huệ công nín lặng. Chẳng bao lâu, Tần Mục công sai công tôn Chi đến Linh Đài Sơn bảo Tấn Huệ công rằng: - Các quan nước tôi ai cũng dứt tình với nhà vua, nhưng chúa công tôi nể lời phu nhân tôi xin mà không dám dứt tình, vậy thì ngày trước nhà vua có hẹn với chúa công tôi xin nộp năm thành, nay phải nộp ngay đi, và lại phải sai thế tử Ngữ sang ở làm tin thì chúa công tôi cho nhà vua về. Bấy giờ Tấn Huệ công mới biết là Mục Cơ có lòng thương mình mà xin hộ cho, xấu hổ không biết dường nào, liền sai quan đại phu là Khước Khất về nước Tấn bảo Lã Di Xanh về việc nộp đất và đem thế tử Ngữ sang. Lã Di Xanh nước Tấn đem địa đồ và những sổ sách và dinh điền trong năm thành sang dâng nộp Tần Mục công. Tần Mục công hỏi: - Sao còn thế tử Ngữ chưa thấy đến? Lã Di Xanh nói: - Bởi nay trong nước không được yên, vậy nên thế tử tôi còn phải ở lại, chờ khi chúa công tôi về thì sẽ cho thế tử sang. Tần Mục công hỏi: - Vì cớ gì mà nước Tấn không được yên. Lã Di Xanh nói: - Trong nước tôi ngày nay thành ra hai đảng: Đảng quân tử thì tự xét lỗ mình, mà biết cám ơn quí quốc; còn đảng tiểu nhân thì không tự xét lỗi mình, mà đem lòng thù oán quí quốc, bởi thế thành ra không được yên? Tần Mục công nói: - Người nước Tấn có còn mong cho vua trở về hay không? Lã Di Xanh nói: - Đảng quân tử thì chắc là thế nào cũng được về, mà muốn đưa thế tử sang để giảng hòa với quí quốc; còn đảng tiểu nhân thì chắc là không về được, mà muốn tôn lập thế tử để chống cự nhau với quí quốc. Cứ như ý tôi nghĩ thì quí quốc bắt chúa công tôi cũng đủ lập uy, mà tha cho chúa công tôi lại càng tỏ đức. Vừa có uy, vừa có đức, cái công nghiệp của một bậc bá chủ đấy! Nếu ngày nay quí quốc không tha cho chúa công tôi thì chỉ làm cho đảng quân tử đau lòng mà đảng tiểu nhân căm dạ, phỏng có ích gì cho quí quốc, vậy tôi dám chắc rằng quí quốc không khi nào chịu bỏ cái nghiệp bá chủ ấy. Tần Mục công cười mà nói rằng: - Nhà ngươi nói cũng hợp ý với ta lắm! Nói xong, liền sai Mạnh Minh (con Bách Lý Hề) đi nhận lấy địa giới năm thành và đặt quan trấn thủ. Lại sai công tôn Chi đem quân cùng với Lã Di Xanh đưa Tấn Huệ công về nước. Các quan đại phu nước Tấn bị bắt khi trước cũng đều theo về cả, chỉ có Quắc Xạ ốm chết ở nước Tần. Nga Tích nước Tấn nghe tin Tấn Huệ công sắp về, bảo Khánh Trịnh rằng: - Ngày trước nhà ngươi gọi Hàn Giản đi cứu chúa công làm cho chúa công bị bắt, nay chúa công được về, nhà ngươi tất phải tội, âu là nhà ngươi liệu mà trốn sang nước khác. Khánh Trịnh nói: - Cứ như binh pháp: Làm tướng đem quân đi đánh giặc bị thua, cũng còn đáng tội chết, huống chi ta làm cho chúa công không về, ta cũng định đem gia quyến sang nước Tần xin chịu tội chết. Nay chúa công được về thì ta để cho chúa công trị tội ta mà làm gương cho kẻ khác, chứ việc gì phải trốn. Nga Tích nghe nói, thương mà thở dài, Tấn Huệ công về đến nước Tấn. Thế tử Ngữ đem các quan ra nghênh tiếp. Tấn Huệ công trông thấy Khánh Trịnh, có ý tức giận hỏi rằng: - Nhà ngươi còn mặt mũi nào trông thấy ta nữa! Khánh Trịnh nói: - Lúc trước chúa công biết theo lời tôi mà báo ơn nước Tần thì nước Tần tất không sang đánh; lần thứ hai biết theo lời tôi mà giảng hòa với nước Tần thì nước Tần cũng không sang đánh; đến lần thứ ba biết theo lời tôi mà không dùng ngựa Tiểu Tứ thì cũng không đến nỗi thua, thế là tôi tận trung với chúa công đó, sao tôi lại không dám ra đây để nghênh tiếp chúa công. Tấn Huệ công hỏi: - Ngày nay nhà ngươi còn nói gì nữa không? Khánh Trịnh nói: - Tôi có ba tội đáng chết: Cỏ lời nói trung mà khiến vua không nghe, thế là một tội; bói được làm chức Xa Hữu mà khiến vua không dùng, thế là hai tội; đi gọi người cứu vua mà khiến vua bị bắt, vậy là ba tội. Vậy tôi xin chịu tội chết. Tấn Huệ công không biết nói thế nào, sai Lương Do Mỹ kể tội Khánh Trịnh. Lương Do Mỹ bảo Khánh Trịnh rằng: - Nhà ngươi nói bấy nhiêu lời, đều không phải tội chết, nhưng có ba tội đáng chết, nhà ngươi có biết không? Chúa công đang ở trong đám bùn lầy, gọi nhà ngươi đến cứu mà nhà ngươi không đến đó là một tội đáng chết; ta sắp bắt được vua nước Tần, nhà ngươi gọi đi cứu chúa công, làm cho ta không bắt được, đó là hai tội đáng chết; các quan đều cố sức đánh mà bị bắt cả, chỉ có nhà ngươi thoát thân trốn về, đó là ba tội đáng chết. Khánh Trịnh ngoảnh lại bảo các quân sĩ rằng: - Các quân sĩ nghe tôi nói một lời: Có ai là người không dám cố sức đánh giặc, mà dám ngồi yên để xin chịu tội chết bao giờ? Nga Tích nói với Tấn Huệ công rằng: - Khánh Trịnh biết là tội chết mà không trốn thì thật là một kẻ dũng sĩ, chúa công nên tha, rồi sai đi đánh báo thù. Lương Do Mỹ nói: - Đánh nhau đã thua rồi, bây giờ lại dùng người có tội đi đánh báo thù, thế thì chỉ làm cho thiên hạ cười nước Tấn ta là không còn ai nữa! Gia Bộc Đồ cũng can Tấn Huệ công rằng: - Khánh Trịnh ba lần dâng lời nói trung, cũng đủ chuộc tội chết, bây giờ theo phép giết đi, chi bằng nghĩ lại mà tha cho thì chúa công cũng được cái tiếng nhân từ. Lương Do Mỹ lại nói: - Nước mà cường thịnh được là bởi biết theo phép, nếu không theo phép thì ai còn sợ hãi. Tôi chắc rằng tha một Khánh Trịnh thì từ nay trở đi, không ai chịu đem quân đi đánh giặc nữa! Tấn Huệ công truyền đem Khánh Trịnh ra chém. Nguyên Lương Do Mỹ khi trước vây Tần Mục công, đã sắp bắt được, bị Khánh Trịnh gọi đi cứu Tấn Huệ công, thành ra không bắt được vua Tần, bởi vậy thâm thù Khánh Trịnh, cố nói với Tấn Huệ công để giết Khánh Trịnh. Khi Khánh Trịnh bị giết, trời đất tối tăm, các quan đại phu, có nhiều người thương mà chảy nước mắt khóc. Nga Tích xin đem thi thể Khánh Trịnh về làm ma, để đền ơn Khánh Trịnh cứu mình khi trước (khi đánh nhau với Tần, Nga Tích bị thương, Khánh Trịnh vực lên xe đem về). Tấn Huệ công đã về nước rồi, sai thế tử Ngữ theo công tôn Chi sang ở nước Tần để làm tin, và xin thi thể Đồ Ngạn Di đem về làm ma, phong cho con trai Đồ Ngạn Di làm chức trung đại phu. Một hôm, Tấn Huệ công bảo Khước Nhuế rằng: - Trong ba tháng ta còn ở nước Tần, chỉ lo Trùng Nhĩ nhân dịp biến loạn mà đem quân về cướp ngôi đến bây giờ ta mới yên tâm. Khước Nhuế nói: - Còn Trùng Nhĩ ở ngoài thì vẫn là một cái họa tâm phúc, ta nên nghĩ cách mà trừ bỏ đi, để khỏi di hại về sau. Tấn Huệ công hỏi các quan rằng: - Có ai vì ai mà giết được Trùng Nhĩ thì ta sẽ trọng thưởng. Khước Nhuế nói: - Bột Đề năm trước đi đánh đất Bồ, đã chém đứt vạt áo Trùng Nhĩ; hắn vẫn sợ Trùng Nhĩ được về nối ngôi thì tất trị tội hắn. Nếu chúa công muốn giết Trùng Nhĩ thì tất phải dùng hắn mới được việc. Tấn Huệ công gọi Bột Đề vào, mật bảo lấy việc giết Trùng Nhĩ, Bột Đề nói: - Trùng Nhĩ ở nước Địch đã 20 năm nay, người nước Địch đánh nước Cao Như, bắt được hai người con gái: Thúc Ngỗi và Quí Ngỗi, đều có nhan sắc đẹp. Người nước Địch đem Quí Ngỗi gả cho Trùng Nhĩ, mà đem Thúc Ngỗi gả cho Triệu Thôi. Hai người đã có con cả, đều vui về vợ con, mà xử với nhau rất thân thiết. Nay tôi đem quân sang thì người nước Địch giúp Trùng Nhĩ mà sinh sự đánh nhau, chưa chắc đã bắt được; chi bằng tôi thuê mấy người lực sĩ, lẻn sang nước Địch, rình lúc Trùng Nhĩ ra chơi mà giết đi là tiện hơn. Tấn Huệ công khen phải, rồi cho Bột Đề 100 nén vàng để đi tìm kẻ lực sĩ, hẹn trong ba ngày phải khởi hành sang nước Địch. Hồ Đột là một vị lão quốc cữu ở nước Tấn bấy giờ, thấy Bột Đề tìm kẻ lực sĩ gấp lắm, dẫu tổn phí bao nhiêu tiền bạc, cũng không quản ngại, mới có lòng nghi, đi hỏi dò những kẻ nội thị. Trong đám nội thị có người biết chuyện, thuật lại cho Hồ Đột nghe. Hồ Đột giật mình kinh sợ, tức khắc viết một bức thư sai người sang nước Địch báo cho Trùng Nhĩ biết! Trùng Nhĩ đang cùng với Hồ Mao, Hồ Yển (hai con của Hồ Đột) theo vua nước Địch đi săn ở bến sông Vị. Bỗng có người xin vào yết kiến, nói có thư của lão quốc cữu (Hồ Đột) đưa sang. Hồ Mao và Hồ Yển nói: - Thân phụ ta vốn không hay viết thư gởi sang, tất là trong nước có việc gì đây! Nói xong liền cho vào yết kiến. Người nhà đệ trình bức thư của Hồ Đột. Hồ Mao và Hồ Yển mở thư ra xem. Trong thư nói: "Chúa công lập mưu định giết Công tử (Trùng Nhĩ), hiện nay sai Bột Đề, hạn trong ba ngày thì phải khởi hành. Anh em mày nên bẩm với Công tử, liệu mau mau trốn sang nước khác, chớ có chậm trễ mà mắc tai vạ!" Hồ Mao và Hồ Yển kinh sợ, vội vàng đem bức thư đệ trình Trùng Nhĩ. Trùng Nhĩ nói: Vợ con ta đều ở đây cả thì đây tức là nhà ta, bây giờ ta biết trốn đi đâu được! Hồ Yển nói: - Chúng ta tới đây, không phải là định lập nhà, là có chí muốn để lập nước, chỉ vì sức chưa đi xa được, vậy nên tạm dừng chân ở đây mà thôi. Nay ở đây đã lâu, cũng nên tìm sang nước lớn khác. Việc Bột Đề đến đây, chẳng qua cũng là lòng trời xui khiến, để giục cho Công tử phải lập chí. Trùng Nhĩ nói: - Nay định đi thì nên sang nước nào? Hồ Yển nói: - Nay Tề hầu dẫu già, nhưng công nghiệp bá chủ hãy còn, ta nên sang nước Tề. Trùng Nhĩ khen phải, mới không đi săn nữa, rồi về nói chuyện với vợ là Quí Ngỗi rằng: - Vua nước Tấn sai người đến đây để rình giết ta, vậy ta phải tránh nạn mà sang nước khác, rồi kết liên với Tần và Sở để về phục quốc. Nàng ở nhà trông nom hai con cho ta, đợi ta trong 25 năm, nếu không thấy ta về thì nàng sẽ đi lấy chồng. Quí Ngỗi khóc mà nói rằng: - Làm tài trai chí ở bốn phương, thiếp không dám ngăn trở, nhưng nay thiếp đã 25 tuổi, lại chờ 25 năm thì thiếp già đời mất, còn lấy ai nữa. Thôi thì thế nào thiếp cũng cố chí mà đợi Công tử, Công tử chớ lo ngại. Triệu Thôi cũng từ giã với vợ là Thúc Ngỗi. Ngày hôm sau, Trùng Nhĩ sai Hồ Thúc sắp sửa xe ngựa và Đầu Tu thu xếp tiền bạc để chực khởi hành. Bỗng thấy Hồ Mao và Hồ Yển hoảng chạy đến, nói là Hồ Đột ở nhà thấy Bột Đề đã khởi hành rồi, vậy nên không kịp viết thư, lại sai người sang giục Công tử phải đi ngay. Trùng Nhĩ nghe tin, kinh sợ mà rằng: - Sao Bột Đề đến chóng như vậy! Nói xong, không kịp chỉnh đốn đồ hành trang, tức khắc cùng với Hồ Mao và Hồ Yển dời bước đi ngay. Hồ Thúc thấy Trùng Nhĩ đã đi rồi, vội vàng sắp được một cái xe bò để đem theo cho Trùng Nhĩ ngồi, còn bọn Triệu Thôi thì lục đục đi đất theo sau. Trùng Nhĩ hỏi đến Đầu Tu sao không thấy đến, thì ra Đầu Tu đã cuốn hết vàng bạc bỏ trốn mất rồi! Trùng Nhĩ đã không có chỗ nương tựa, lại hết cả lương thực, tình trạng lúc ấy, trông rất thảm thương. Khi Trùng Nhĩ đi đã nửa ngày rồi, vua nước Địch mới biết, muốn đưa tặng những đồ tư trang, nhưng không thể nào kịp được. Vua nước Địch biết chuyện Tấn Huệ công sai Bột Đề sang chực giết Trùng Nhĩ, mới truyền cho các nơi quan ải, phàm người qua lại, phải khám xét thật kỹ. Bột Đề ở nước Tấn, nguyên là một kẻ hoạn quan, nay thay hình cải dạng để sang giết Công tử Trùng Nhĩ, bởi vậy mỗi khi bị quân nước Địch khám xét, không biết đàng nào mà ứng đối, thành ra không sang qua được nước Địch, lại phải uất ức mà trở về. Tấn Huệ công cũng không biết nghĩ cách gì cho được. Công tử Trùng Nhĩ định sang nước Tề, đường đi qua nước Vệ. Quan giữ cửa ải nước Vệ hỏi lai lịch từ đâu mà đến. Triệu Thôi nói: - Thầy ta là Công tử Trùng Nhĩ ở nước Tấn đi tránh nạn, được sang nước Tề, phải mượn đường của quí quốc. Quan giữ cửa ải vội vàng phi báo cho Vệ Văn công biết. Quan thượng khanh nước Vệ là Ninh Tốc nói với Vệ Văn công xin mời vào thành, Vệ Văn công nói: - Khi trước ta đắp thành ở đất Sở Khâu này, không nhờ gì đến người nước Tấn. Vả Trùng Nhĩ là một người đi trốn, có quan trọng gì, nếu mình đón vào thì lại phải thết đãi, tốn phí nhiều lắm, chi bằng ta không tiếp là hơn. Nói xong, liền truyền quân sĩ cấm Công tử Trùng Nhĩ vào thành. Trùng Nhĩ phải vòng quanh phía ngoài thành mà đi. Ngụy Thù và Điên Hiệt nói với Trùng Nhĩ rằng: - Vệ hầu vô lễ như vậy, Công tử nên sai người trách. Triệu Thôi nói: - Con rồng vàng mà thất thế thì cũng chẳng khác gì con giun, Công tử chớ nên trách người ta làm gì! Ngụy Thù và Điên Hiệt nói: - Hắn đã tệ bạc thì ta cướp dân thôn để lấy lương ăn, chắc hắn cũng không trách ta được nữa! Trùng Nhĩ nói: - Nếu cướp phá như vậy thì là quân đạo tặc, chẳng thà ta chịu nhịn đói còn hơn! Ngày hôm ấy, mấy thầy trò đi với nhau, chưa ai ăn cơm sáng cả, vừa nhịn đói, vừa đi. Buổi trưa, đi đến một chỗ gọi là đất Ngư Lộc, trông thấy bọn thợ cày ngồi ăn cơm ở trên bờ ruộng. Trùng Nhĩ sai Hồ Yển đến xin cơm. Bọn thợ cày hỏi: - Các người từ đâu đến đây? Hồ Yển nói: - Ta là người nước Tấn, thầy ta ngồi ở trên xe kia. Đi đường hết cả lương ăn, xin các người làm ơn cho một bữa. Bọn thợ cày cười mà nói rằng: - Người khỏe mạnh thế kia, không làm gì được mà ăn, lại đến xin cơm chúng ta. Chúng ta đi cày ruộng, có ăn no mới làm nổi việc, còn cơm đâu mà cho các ngươi. Hồ Yển nói: - Các ngươi không cho cơm thì cho ta xin một cái bát. Bọn thợ cày mới chơi nghịch, cầm một nắm đất đưa cho mà bảo rằng: - Nắm đất này đem nặn làm bát được! Ngụy Thù tức giận, mắng người thợ cày, rồi giằng lấy cái bát, đập vỡ tan ra. Trùng Nhĩ cũng tức giận, toan giơ roi đánh. Hồ Yển vội vàng ngăn lại mà nói rằng: - Được cơm thì dễ, chớ được đất thì khó! Được đất tức là cái triệu được nước. Đó chẳng qua cũng là trời mượn tay người thợ cày để cho Công tử đấy, sao Công tử lại giận? Công tử nên lạy tạ mà nhận lấy. Trùng Nhĩ theo lời xuống xe lạy tạ. Bọn thợ cày chẳng hiểu ý tứ ra sao, đều xúm nhau lại, cười mà bảo rằng: - Anh này thật là người điên rồ! Lại đi hơn mười dặm, thầy trò đều đói lả, không thể đi được nữa, ngồi nghỉ ở dưới gốc cây. Trùng Nhĩ đói quá, gối đầu vào đùi Hồ Mao mà nằm, Hồ Mao nói: - Triệu Thôi đi sau, hãy còn hồ cháo, ta nên đợi hắn đến. Ngụy Thù nói: - Có còn hồ cháo nữa thì một mình Triệu Thôi ăn chẳng đủ no, lấy đâu mà thừa. Các người bảo nhau đi lấy rau sam về luộc lên mà ăn, Trùng Nhĩ không thể nào nuốt được. Bỗng thấy Giới Tử Thôi đem một bát cháo thịt đến dâng. Trùng Nhĩ ăn lấy làm ngon lắm. Ăn xong, hỏi Giới Tử Thôi rằng: - Nhà ngươi lấy đâu được thế? Giới Tử Thôi nói: - Ấy là thịt đùi của tôi đó! Tôi nghe nói người hiếu tử bỏ thân để thờ cha mẹ, người trung thần bỏ thân để thờ vua. Nay Công tử không có gì ăn, vậy nên tôi phải cắt đùi tôi mà dâng Công tử. Trùng Nhĩ ứa nước mắt xuống mà rằng: - Ơn này biết bao giờ đền lại được! - Tôi chỉ mong cho Công tử về được nước Tấn, ấy là trọn cái đạo thần tử của tôi, khi nào tôi dám mong đền ơn. Được một lúc, Triệu Thôi đi đến, các người xúm lại hỏi: - Vì cớ gì mà đi chậm như vậy? Triệu Thôi nói: - Tôi bị gai đâm vào chân, không thể đi nhanh được. Nói xong, liền mở tráp ra, đem cái hồ Cháo đưa dâng Trùng Nhĩ. Trùng Nhĩ nói: - Nhà ngươi có biết đói hay không mà sao lại không ăn? Triệu Thôi nói: - Tôi dẫu đói, nhưng khi nào dám quên Công tử mà ăn lấy một mình. Hồ Mao ngoảnh lại, nói bỡn Ngụy Thù rằng: - Hồ cháo này giả sử vào tay anh thì đã tiêu hóa hết rồi! Ngụy Thù có ý hổ thẹn. Trùng Nhĩ cầm hồ cháo ấy đưa cho Triệu Thôi. Triệu Thôi đem hòa thêm nước lã vào rồi đun sôi lên, để chia cho khắp cả mọi người. Khi đi đến nước Tề. Tề Hoàn công vốn biết tiếng Trùng Nhĩ là người hiền, sai người ra mời vào công quán, bầy tiệc để thết đãi. Trong khi ăn tiệc, Tề Hoàn công hỏi Trùng Nhĩ rằng: - Công tử có đem nội quyến đi đó không? Trùng Nhĩ nói: - Cái thân trốn tránh này một mình còn chẳng kham nổi, khi nào lại dám đem cả nội quyến đi. Tề Hoàn công cười bảo rằng: - Tôi quen tính: Hễ đêm ngủ một mình thì lấy làm khó chịu, coi dài như một năm. Nay Công tử đi thế này mà không có người nâng khăn sửa túi, tôi lấy làm buồn cho Công tử lắm! Nói xong, liền chọn một người con gái đẹp ở trong họ gả cho Trùng Nhĩ, lại tặng cho 20 cỗ ngựa. Từ bấy giờ các người theo hầu Trùng Nhĩ đều có xe ngựa đi cả. Tề Hoàn công lại sai người đưa cấp các đồ lương thực. Trùng Nhĩ bằng lòng mà than rằng: - Trước ta vẫn nghe nói Tề hầu là người biết trọng đãi kẻ hiền sĩ, nay quả nhiên như vậy! Người ta làm nên được một bậc bá chủ cũng là phải lắm! Tề Hoàn công từ khi giao quyền chính cho Bão Thúc Nha, theo lời Quản Di Ngô đuổi bỏ Thụ Điêu, Dịch Nha và Khai Phương. Khi đã đuổi bỏ ba người ấy rồi thì ăn không được ngon, ngủ không được yên, trông mặt lúc nào cũng buồn bã, không thấy tươi cười. Trưởng Vệ Cơ nói với Tề Hoàn công rằng: - Chúa công đuổi Thụ Điêu, Dịch Nha và Khai Phương đi mà chính trị trong nước chẳng thấy hơn được cái gì! Thiếp thấy dung nhan chúa công mỗi ngày một giảm, chắc rằng những người hầu hạ xung quanh có nhiều điều không vừa ý, sao chúa công chẳng cho triệu mấy người cũ về. Tề Hoàn công nói: - Ta cũng nhớ mấy người ấy lắm, nhưng đã đuổi đi rồi lại triệu về thì sợ mất lòng Bão Thúc Nha chăng? Trưởng Vệ Cơ nói: - Dẫu Bão Thúc Nha cũng cần phải có người hầu hạ; nay chúa công già rồi, tội gì mà khổ thân! Chúa công cứ mượn cớ không có người nấu ăn mà triệu Dịch Nha về thì tự khắc Thụ Điêu và Khai Phương không phải triệu cũng về cả. Tề Hoàn công theo lời, sai người triệu Dịch Nha về để nấu ăn. Bão Thúc Nha can rằng: - Chúa công quên mất lời nói của trọng phụ rồi hay sao, sao lại triệu về? Tề Hoàn công nói: - Ba người ấy có ích cho ta mà không hại gì đến nước; lời nói của trọng phụ ngày xưa cũng khắc nghiệt quá! Nói xong, liền không nghe lời Bão Thúc Nha, lại triệu cả Thụ Điêu và Khai Phương nữa. Dịch Nha, Thụ Điêu và Khai Phương đều được phục chức như cũ, lại ngày đêm hầu hạ Tề Hoàn công. Bão Thúc Nha tức giận, thành ra ốm nặng, uất ức mà chết. Từ bấy giờ nước Tề lại sinh ra biến loạn.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 32 Án Nga Nhi thủ tiết chết theo Tề Công tử tranh ngôi nổi loạn

Tề Hoàn công không theo lời nói của Quản Di Ngô, lại dùng Dịch Nha, Thụ Điêu và Khai Phương. Bão Thúc Nha can bảo không được uất lên mà chết. Từ bấy giờ, ba người ấy lại càng không sợ hãi gì nữa, khinh Tề Hoàn công già cả không làm gì được, mới thông đồng nhau mà chuyên quyền. Bấy giờ có một người nước Trịnh tên là Tần Hoãn, tên tự là Việt Nhân, làm thuốc giỏi lắm: Sang ở đất Lư Thôn nước Tề, bởi vậy mới gọi là Lư y. Lúc Tần Hoãn còn nhỏ, mở một nếp quán xá, có Trường Tang Quân đến trọ, Tần Hoãn biết là người khác thường, không lấy tiền trọ. Trường Tang Quân cảm ơn, cho uống một viên thần dược, tự nhiên mắt sáng như gương, trông thấy cả ma quỉ; dẫu đứng cách bên kia tường mà cũng trông thấy được, bởi vậy đi làm thuốc, trông rõ hết cả lục phủ ngũ tạng trong mình người, thành ra nổi tiếng là một người tài xem mạch, người ta ví với Biển Thước ngày xưa, cũng gọi là Biển Thước tiên sinh. Biển Thước (tức là Tần Hoãn) sang chơi nước Quắc gặp thế tử nước Quắc ngộ cảm chết. Biển Thước nói chuyện với người nội thị rằng: - Tôi có thể chữa được bệnh cho thế tử. Người nội thị nói: - Thế tử đã chết rồi, còn sống lại thế nào được nữa! Biển Thước nói: - Hãy thử cho tôi chữa xem. Người nội thị vào báo với vua nước Quắc. Vua nước Quắc cho triệu Biển Thước vào. Biển Thước sai người học trò là Dương Lệ đem cái kim đá chích cho thế tử. Được một lúc, thế tử sống lại. Biển Thước lại cho uống thuốc chén, hơn hai tuần nữa thì khỏi hẳn. Từ bấy giờ Biển Thước nổi tiếng là một người cải tử hoàn sinh cho người ta được. Biển Thước đi chơi khắp thiên hạ, cứu được nhiều người lắm. Một hôm đi đến đất Lâm Tri vào yết kiến Tề Hoàn công, nói với Tề Hoàn công rằng: - Chúa công có bệnh ở thịt, nếu không chữa thì thành ra bệnh nặng. Tề Hoàn công nói: - Tôi chẳng có bệnh gì cả! Biển Thước lui ra. Sau 5 ngày lại vào yết kiến; nói với Tề Hoàn công rằng: - Bệnh chúa công đã ở huyết mạch, thế nào cũng phải chữa. Tề Hoàn công không trả lời. Sau 5 ngày nữa lại vào yết kiến, nói với Tề Hoàn công rằng: - Bệnh chúa công đã ở trong ruột và dạ dày rồi, nên phải chữa ngay đi. Tề Hoàn công lại không trả lời. Biển Thước lui ra. Tề Hoàn công than rằng: - Tệ quá! Thầy thuốc chỉ nghề hay vẽ trò! Người ta không có bệnh mà bảo là có bệnh. Qua 5 ngày nữa. Biển Thước lại vào yết kiến, trông thấy nét mặt Tề Hoàn công, vội vàng lui ra mà bỏ chạy. Tề Hoàn công sai người hỏi. Biển Thước nói: - Bây giờ bệnh chúa công vào đến xương tủy rồi! Bệnh ở da, thịt thì còn xoa thuốc được, bệnh ở huyết mạch thì còn tiêm thuốc được, bệnh ở ruột và dạ dày thì còn uống thuốc được, nay bệnh đã vào đến xương tủy thì dẫu trời cũng không chữa được nữa, bởi vậy tôi không nói mà lui ra. Lại qua 5 ngày nữa, Tề Hoàn công quả nhiên ốm nặng, sai người đến triệu Biển Thước. Người nhà Biển Thước nói: - Thấy tôi bỏ đi đã 5 hôm nay rồi! Tề Hoàn công hối hận vô cùng. Tề Hoàn công nguyên trước có 3 vị phu nhân là: Vương Cơ, Từ Cơ và Sái Cơ. Ba người đều không có con trai. Vương và Từ Cơ đều ốm chết cả, còn Sái Cơ cho về nước Sái. Sau lại lấy thêm 6 vị phu nhân nữa, đều có con trai cả: 1. - Trưởng Vệ Cơ, sinh Công tử Vô Khuy; 2. - Thiếu Vệ Cơ, sinh Công tử Nguyên (tức là Tề Huệ công) ; 3. - Trịnh Cơ, sinh Công tử Chiêu (tức là Tề Hiếu công) ; 4. - Cát Doanh, sinh Công tử Phan (tức là Tề Chiêu công) ; 5. - Mật Cơ, sinh Công tử Thương Nhân (tức là Tề Ý công) ; 6. - Tống Hoa Tử, sinh Công tử Ung. Còn những tỳ thiếp có con cũng nhiều, nhưng không được kể vào trong số 6 vị phu nhân ấy. Trong 6 vị phu nhân ấy, chỉ có Trưởng Vệ Cơ là hầu hạ Tề Hoàn công đã lâu; trong 6 vị công tử cũng chỉ có Vô Khuy là nhiều tuổi hơn cả. Trưởng Vệ Cơ thông nhau với Dịch Nha và Thụ Điêu, nói với Tề Hoàn công xin lập Công tử Vô Khuy làm thế tử. Sau Tề Hoàn công lại yêu Công tử Chiêu là người hiền, bàn với Quản Di Ngô, rồi đem Công tử Chiêu ủy thác cho Tống Tương công. Khai Phương quen nhau với Công tử Phan, cũng vì Công tử Phan mà mưu việc nối ngôi. Công tử Thương Nhân tính hay bố thí, nhiều người có lòng mến, lại nhân người mẹ được Tề Hoàn công yêu, cũng có ý muốn dòm dỏ sự nối ngôi. Trong đám 6 vị công tử ấy, chỉ có Công tử Ung là biết yên phận, còn 5 vị công tử kia đều lập bè đảng riêng, cùng nghi kỵ nhau. Tề Hoàn công dẫu là một ông vua anh hùng, nhưng vốn say mê tửu sắc, nay đã già rồi chí khí cũng sinh ra mê quẫn, lại tin dùng những lũ tiểu nhân, bởi vậy 5 vị công tử đều nói với mẹ xin Tề Hoàn công lập mình làm thế tử. Tề Hoàn công cứ hàm hồ không quyết định, đến bây giờ có bệnh ốm, phải nằm một chỗ; Dịch Nha thấy Biển Thước không chữa, biết là bệnh nguy, mới cùng Thụ Điêu thương nghị, rồi giả cách phụng mệnh Tề Hoàn công, yết thị ra ngoài cửa cung rằng: "Ta đang có bệnh ốm, không muốn nghe tiếng người nói, phàm các quan và họ tôn thất, cấm không cho ai được vào cung cả, truyền cho Thụ Điêu phải nghiêm giữ cửa cung, còn Dịch Nha thì đem quân đi tuần phòng xung quanh. Bao nhiêu chính sự trong nước, đợi khi ta khỏi rồi sẽ vào tâu". Thụ Điêu và Dịch Nha chỉ cho Công tử Vô Khuy cùng với Trưởng Vệ Cơ được ra vào trong cung, còn các vị công tử khác, dẫu muốn hỏi thăm cũng không được vào. Qua 3 ngày nữa, Tề Hoàn công cũng chưa chết, Thụ Điêu và Dịch Nha lại đuổi hết các thị vệ xung quanh, bất cứ trai gái, bắt ra tất cả, rồi đem khóa chặt cửa cung lại. Lại đắp một bức tường cao 3 trượng ở xung quanh chỗ ngủ của Tề Hoàn công, làm cho trong ngoài ngăn cách, không giao thông với nhau được; chỉ để một cái cửa nhỏ ở dưới chân tường, sớm tối sai một kẻ tiểu nội thị chui vào để dò xem Tề Hoàn công đã chết hay chưa. Tề Hoàn công nằm ở giường, không cựa quậy được nữa, gọi người hầu xung quanh, cũng chẳng thấy ai thưa, bỗng nghe đánh xịch một tiếng, có người đẩy cửa sổ bước vào. Tề Hoàn công trừng mắt lên nhìn xem ai thì thấy một người tiện thiếp là Án Nga Nhi. Tề Hoàn công nói: - Trong bụng ta thấy đói, chỉ muốn ăn cháo, nhà ngươi đi lấy cháo cho ta. Án Nga Nhi nói: - Bây giờ lấy đâu cho được cháo! Tề Hoàn công nói: - Được chén nước nóng thì cũng đỡ khát. Án Nga Nhi nói: - Nước nóng cũng không lấy đâu được! Tề Hoàn công hỏi: - Tại làm sao thế? Án Nga Nhi nói: - Dịch Nha và Thụ Điêu làm loạn, nghiêm giữ cửa cung, đã đắp một bức tường cao 3 trượng, làm cho trong ngoài ngăn cách, không giao thông với nhau được, còn ai đem được thức ăn, thức uống vào đây! Tề Hoàn công nói: - Nhà ngươi làm thế nào vào được? Án Nga Nhi nói: - Thiếp chịu ơn chúa công thương đến, vậy nên liều thân trèo qua tường vào đây, là để muốn được trông thấy lúc chúa công nhắm mắt mà thôi. Tề Hoàn công nói: - Thế tử Chiêu ở đâu? Án Nga Nhi nói: - Bị hai gã ấy ngăn cấm, không cho vào cung. Tề Hoàn công than rằng: - Trọng phụ (Quản Di Ngô) ngày xưa thật là bậc thánh! Vì ta không minh, để đến nỗi nên cơ hội này! Nói xong, liền cố sức kêu lên một tiếng thật to rằng: - Trời ôi! Ai ngờ ta đến nỗi này! Kêu luôn mấy tiếng, hộc máu ra đằng miệng, rồi lại bảo Án Nga Nhi rằng: - Ta có 6 người vợ yêu và 10 người con, mà không một người nào ở trước mặt cả, thành ra lúc ta chết, chỉ có một mình nhà ngươi; tiếc rằng ngày xưa ta không biết trước mà trọng đãi! Án Nga Nhi nói: - Chúa công cứ yên lòng, một may có điều gì, thiếp xin tình nguyện chết theo. Tề Hoàn công than rằng: - Ta chết xuống âm phủ, còn mặt mũi nào mà trông thấy trọng phụ nữa! Nói xong, lấy vạt áo phủ vào mặt, rồi thở dài mấy tiếng mà chết. Án Nga Nhi thấy Tề Hoàn công đã chết, liền lăn ra khóc một hồi. Muốn gọi người ngoài, nhưng tường cao, gọi không nghe tiếng được; muốn trèo tường ra, nhưng phía trong tường không có chỗ nào mà bám chân, nghĩ quanh nghĩ quẩn, lại thở dài mà than rằng: - Ta đã nói xin chết theo chúa công, còn những việc khâm liệm không dự gì đến ta. Nói xong, liền cổi áo trùm lên thi thể Tề Hoàn công, lấy hai cánh cửa sổ che kín lại, rồi ngồi dưới chân giường, lạy mấy lạy mà khấn rằng: - Xin linh hồn chúa công chớ đi xa vội, để đợi cho thiếp theo. Khấn xong, Án Nga Nhi đập đầu vào cột, vỡ óc ra mà chết. Đêm hôm ấy, đứa tiểu nội thị chui vào, trông thấy ở dưới chân cột, máu chảy lênh láng, có một cái thây người chết, giật mình kinh sợ, vội vàng bỏ ra, báo với Thụ Điêu và Dịch Nha rằng: - Chúa công đã đập đầu vào cột mà tự tử rồi! Thụ Điêu và Dịch Nha không tin, sai một lũ nội thị đục rộng tường ra, rồi hai người thân hành vào xem, thấy một cái thi thể đàn bà, có ý sợ hãi lắm. Trong đám nội thị có người nhận được mặt, nói với Thụ Điêu và Dịch Nha rằng: - Đây là thi thể của Án Nga Nhi. Lại mở hai cánh cửa ở trên đầu giường, thấy thi thể Tề Hoàn công, không biết chết từ bao giờ! Thụ Điêu bàn đến việc phát tang. Dịch Nha nói: - Thong thả! Ta hãy nên tôn lập Công tử Vô Khuy đã, rồi sau sẽ phát tang thì mới khỏi tranh nhau được. Thụ Điêu lấy làm phải. Hai người đến thương nghi với Trưởng Vệ Cơ rằng: - Chúa công nay đã mất rồi, cứ theo thứ tự lớn nhỏ thì nên lập Công tử Vô Khuy, nhưng khi chúa công hãy còn, đã có đem Công tử Chiêu ủy thác cho Tống Tương công để lập làm thế tử, các quan ai cũng biết cả, nếu nay nghe tin chúa công mất thì tất nhiên họ về đảng với thế tử Chiêu. Cứ như ý chúng tôi thi đêm hôm nay nên đem quân giết thế tử Chiêu đi mà lập Công tử Vô Khuy. Trưởng Vệ Cơ nói: - Ta là đàn bà, còn có biết gì, tùy ý các ngươi đấy! Bấy giờ Thụ Điêu và Dịch Nha đem quân đến Đông cung để định bắt thế tử Chiêu. Thế tử Chiêu từ khi không được vào cung thăm, có ý buồn bã, tối hôm ấy đang ngồi ở dưới bóng đèn, mơ mơ màng màng, trông thấy một người đàn bà đến bảo rằng: - Thế tử không đi ngay thì tai vạ sắp đến nơi! Thiếp là Án Nga Nhi, phụng mệnh chúa công đến đây để báo cho thế tử biết. Công tử Chiêu vừa toan hỏi chuyện đầu đuôi thì người đàn bà ấy lấy tay đẩy cho Công tử Chiêu một cái, ngã lăn xuống vực sâu. Công tử Chiêu giật mình tỉnh dậy, chẳng thấy người đàn bà đâu cả, thành ra một giấc chiêm bao. Công tử Chiêu thấy lạ, vội vàng sai người thắp đèn mở cửa sau đi sang nhà quan thượng khanh là Cao Hổ, thuật lại chuyện đầu đuôi trong giấc chiêm bao. Cao Hổ nói: - Chúa công mắc bệnh đã hơn nửa tháng nay, bị đứa gian thần làm cho trong ngoài ngăn cách, nay thế tử chiêm bao thấy như vậy, tất là sự chẳng lành, nên tạm tìm nơi để tránh nạn. Công tử Chiêu nói: - Bây giờ biết tránh đi đâu cho được! Cao Hổ nói: - Ngày xưa chúa công đã đem thế tử ủy thác cho vua nước Tống, nay thế tử nên sang nước Tống, thế nào vua Tống cũng có lòng giúp. Hổ này là một kẻ bề tôi để giữ nước, không dám đi theo thế tử, nhưng có một tên người nhà là Thôi Yển hiện đang làm chức giữ chìa khóa ở Đông môn, để tôi sai người bảo hắn mở cửa thành cho thế tử đêm hôm nay trốn ra. Nói chưa dứt lời thì bỗng nghe báo có quân đến vây nhà thế tử Chiêu. Thế tử Chiêu sợ xám cả mặt. Cao Hổ bảo thế tử Chiêu thay hình đổi dạng, rồi sai mấy người tâm phúc đưa ra Đông môn, dặn Thôi Yển mở cửa thành cho thế tử Chiêu ra. Thôi Yển nói: - Nay chúa công chưa biết còn hay là mất, tôi mở cửa thành cho thế tử trốn, tất là có tội; mà thế tử đang thiếu người theo hầu, nếu có lòng yêu mà cho tôi cùng theo sang nước Tống thì tôi xin đi. Thế tử Chiêu mừng lắm, nói: - Nhà ngươi cùng đi thì còn gì hơn nữa! Nói xong, Thôi Yển liền mở cửa thành, rồi đem xe ngựa cùng ngồi với thế tử Chiêu, thẳng đường trốn sang nước Tống. Thụ Điêu và Dịch Nha đem quân vây nhà thế tử Chiêu, chẳng tìm thấy tông tích đâu cả. Bấy giờ đã sang trống canh tư, Dịch Nha nói: - Chúng ta vây bắt thế tử Chiêu là muốn nhân lúc bất ngờ để làm cho được việc, nếu chậm đến sáng ngày mai mà các vị công tử khác biết tin, vào chiếm giữ lấy ngôi vua thì hỏng mất cả; chi bằng ta hãy trở về, tôn lập Công tử Vô Khuy đã, rồi dò xem ý các quan ra làm sao, ta sẽ liệu xử. Thụ Điêu nói: - Tôi cũng nghĩ như vậy! Nói xong, hai người cùng thu quân trở về. Các quan đại phu nghe tin Thụ Điêu và Dịch Nha đem quân đi, mới kéo nhau đến cửa cung để dò tin tức thì đã nghe nói Tề Hoàn công mất rồi; lại nghe tin thế tử Chiêu bị vây, biết rằng lũ gian thần thừa cơ nổi loạn, mới bàn nhau rằng: - Thế tử Chiêu là tự ý chúa công ta khi xưa lập nên, nếu thế tử có sự gì thì ta còn mặt mũi nào mà làm quan ở nước Tề này nữa! Khắp cả các quan đều nhao nhao bàn nhau để đi cứu thế tử Chiêu. Bỗng gặp Thụ Điêu và Dịch Nha kéo quân về, các quan đều xúm lại trước mặt hỏi: - Thế tử đâu? Dịch Nha chắp tay vái chào đáp lại rằng: - Thế tử Vô Khuy nay đang ở trong cung. Các quan đều nói: - Vô Khuy chưa lập làm thế tử bao giờ, không phải là vua chúng ta; nên lập thế tử Chiêu mới được. Thụ Điêu chống thanh kiếm xuống đất quát to lên rằng: - Thế tử Chiêu đã đuổi đi rồi! Nay phụng di mệnh của tiên quân lập Vô Khuy lên nối ngôi, nếu ai không bằng lòng theo thì chém cổ đi. Các quan đều hầm hầm nổi giận, sỉ mắng ầm lên rằng: - Lũ chúng bay là bọn gian thần, dối người chết lừa người sống, dám thừa cơ nổi loạn; nếu lập Công tử Vô Khuy thì chúng ta quyết không chịu theo. Quan đại phu là Quản Bỉnh (con Quản Di Ngô) bước ra nói rằng: - Nay ta đánh chết hai đứa gian thần này đi để trừ gốc loạn, rồi sau sẽ thương nghị. Nói xong, giơ cái hốt ngà, đánh ngay vào đầu Thụ Điêu. Thụ Điêu cất thanh kiếm lên đỡ. Các quan đang sắp sửa xông vào giúp Quản Bình, bỗng thấy Dịch Nha quát to lên rằng: - Quân giáp sĩ đâu, sao không kéo vào! Mấy trăm giáp sĩ tức khắc xông đến, đâm chém bừa đi. Các quan bấy giờ, trong 10 phần chết mất 3 phần, còn bị thương nhiều lắm, đều bỏ chạy cả. Dịch Nha và Thụ Điêu đánh tan các quan rồi thì trời vừa sáng rõ, liền vào trong cung đem Công tử Vô Khuy ra triều, sai nội thị rung chuông nổi trống, rồi bắt quân giáp sĩ bày hàng phục lạy để tôn Vô Khuy lên nối ngôi. Các quan chỉ có Dịch Nha và Thụ Điêu mà thôi. Vô Khuy vừa thẹn, vừa giận. Dịch Nha nói: - Nay ta chưa phát tang, vậy nên các quan triều thần chưa được tống cựu thì đã biết nghênh tân là cái gì! Việc này nên phải triệu họ Cao và họ Quốc đến, mới sai bảo các quan được. Vô Khuy theo lời, mới sai nội thị đi triệu họ Cao và họ Quốc. Nguyên Quốc Ý Trọng và Cao Hổ là hai nhà quí tộc ở nước Tề bấy giờ, nối đời làm chức thượng khanh, trong hàng các quan, ai cũng kính phục, bởi vậy Vô Khuy mới sai người triệu đến. Quốc Ý Trọng và Cao Hổ thấy nội thị đến triệu, biết là Tề Hoàn công đã mất rồi tức khắc mặc đồ tang phục đi vào trong triều. Dịch Nha và Thụ Điêu đón ở ngoài cửa mà bảo rằng: - Ngày nay vua mới lên ngôi, xin quan lão đại phu hãy tạm thay đồ cát phục đã. Quốc Ý Trọng và Cao Hổ nói: - Chưa tống táng vua cũ, mà đã lạy vua mới trước thì sao cho phải lễ. Trong các công tử, ai không phải con tiên quân, lão phu này có ý gì đâu, hễ ai chủ được việc tang thì lão phu xin theo. Dịch Nha và Thụ Điêu nín lặng, không nói gì được nữa! Quốc Ý Trọng và Cao Hổ khóc ầm lên rồi trở ra. Vô Khuy nói: - Nay chưa phát tang mà các quan lại có ý không phục thì biết làm thế nào? Thụ Điêu nói: - Công việc ngày nay khác nào như người bắt hổ, hễ có sức khỏe thì được, xin chúa công cứ ngồi yên, chờ khi các công tử vào triều, ta sẽ lấy binh lực mà hiếp dọa. Vô Khuy nghe lời. Trưởng Vệ Cơ bắt các nội thị trong cung đều mặc đồ quân trang cả, các cung nữ có người nào to lớn khỏe mạnh, cũng bắt mặc đồ quân trang để giả cách cho được nhiều quân giáp sĩ. Khai Phương nghe tin Dịch Nha và Thụ Điêu tôn lập Vô Khuy, liền bảo Công tử Phan (con Cát Doanh) rằng: - Thế tử Chiêu bây giờ không biết đi đâu, nếu Vô Khuy có thể lập được thì công tử lại không đáng lập hay sao! Nói xong liền cùng với Công tử Phan đem quân vào chiếm cứ nhà Hữu Điện. Công tử Thương Nhân (con Mật Cơ) cùng với Công tử Nguyên bàn nhau rằng: - Chúng ta cùng là huyết mạch của tiên quân cả, cơ nghiệp giang sơn, ai cũng có phần. Nay Công tử Phan đã chiếm cứ Hữu Điện; chúng ta nên chiếm cứ Tả Điện hễ thế tử Chiêu về đây thì ta sẽ nhường, bằng không thì chúng ta nhất định bắt chia nước Tề ra mới được. Công tử Nguyên lấy làm phải, liền đem quân vào chiếm cứ nhà Tả Điện. Còn Công tử Thương Nhân thì đem quân đóng ở triều môn, để cùng với Công tử Nguyên tiếp ứng lẫn nhau. Dịch Nha và Thụ Điêu sợ thế ba vị công tử, không dám ra đánh. Ba vị công tử cũng sợ thế Dịch Nha và Thụ Điêu, không dám xung đột, thành ra cứ giữ lẫn nhau cả. Bấy giờ chỉ có Công tử Ung là không muốn sinh sự bỏ trốn sang nước Tần. Tần Mục công dùng làm quan đại phu. Các vị công tử giữ nhau đến hơn hai tháng, không ai chịu lui. Cao Hổ nói: - Các vị công tử chỉ biết tranh ngôi, mà không nghĩ đến tang sự, nay ta nên liều chết mà nói việc này mới được. Quốc Ý Trọng nói: - Ngài vào nói trước, rồi tôi xin theo; hai ta cùng liều chết để báo ơn nước. Cao Hổ nói: - Chỉ có hai ta thì làm gì được, âu là ta rủ thêm nhiều người nữa cùng đến chốn triều đường để tôn Công tử Vô Khuy làm chủ tang, phỏng có nên chăng? Quốc Ý Trọng nói: - Vô Khuy nhiều tuổi hơn cả thì lập Vô Khuy cũng là phải chứ sao! Bấy giờ Quốc Ý Trọng và Cao Hổ rủ được các quan cùng mặc đồ tang phục kéo vào trong triều. Thụ Điêu ngăn lại hỏi rằng: - Lão đại phu đến đây là có ý gì? Cao Hổ nói: - Các vị công tử cứ tranh nhau mãi thì không biết bao giờ thôi, nay chúng tôi định đến để tôn Công tử Vô Khuy lên làm chủ tang. Thụ Điêu vái chào Cao Hổ mà mời vào. Cao Hổ lấy tay vẫy một cái, Quốc Ý Trọng và các quan kéo nhau cùng vào, nói với Công tử Vô Khuy rằng: - Chúng tôi nghe nói cái ơn sâu của cha mẹ to bằng trời đất, vậy nên lúc cha mẹ sống thì con phải tôn kính, lúc cha mẹ chết thì con phải phụng thờ, không bao giờ cha chết nằm đấy chưa tống táng mà các con cứ tranh nhau phú quý như thế; vả lại vua làm gương cho bề tôi, nếu vua bất hiếu, sao cho bề tôi trung được. Nay tiên quân chết đã 67 ngày rồi mà còn chưa nhập quan, trong lòng Công tử nghĩ có yên không? Nói xong, các quan đều phục xuống đất khóc. Vô Khuy cũng ứa nước mắt xuống nói rằng: - Cái tội bất hiếu của tôi thật là to lắm! Nào phải tôi không nghĩ đến, nhưng bọn Công tử Nguyên xử như vậy thì biết làm thế nào! Quốc Ý Trọng nói: - Thế tử đã bỏ đi mất rồi, nay chỉ có Công tử là nhiều tuổi hơn cả, nếu Công tử làm chủ tang được thì còn ai vào đấy mà nối ngôi; tôi xin lấy đại nghĩa trách bảo bọn Công tử Nguyên phải thôi đi. Vô Khuy gạt nước mắt nói rằng: - Tôi cũng muốn như vậy! Cao Hổ bảo Dịch Nha và Thụ Điêu cứ nghiêm giữ cửa cung, hễ các vị công tử có mặc đồ tang phục thì mới cho vào, nếu ai dám đem đồ binh khí vào thì tức khắc trị tội. Vô Khuy vào trong cung để định khâm liệm Tề Hoàn công. Thi thể Tề Hoàn công để đã lâu ngày, thịt nát cả ra, hôi thối không thể chịu được, dòi bọ bò ra cả ngoài tường, trông rất thê thảm. Vô Khuy vật mình lăn khóc. Các quan cũng đều khóc cả. Vô Khuy sai người lấy áo cẩm bào bọc lại để nhập quan. Còn thi thể Án Nga Nhi vẫn tươi như lúc sống, Cao Hổ khen là một người đàn bà trung liệt, cũng sai người nhập quan. Cao Hổ và các quan tôn Vô Khuy làm chủ tang, rồi đêm hôm ấy cùng ngủ cả bên linh cữu Tề Hoàn công. Công tử Nguyên, Công tử Phan và Công tử Thương Nhân nghe tin các quan đã khâm liệm Tề Hoàn công và tôn Vô Khuy lên làm chủ tang, biết là không thể tranh nổi, cũng đều rút quân về, và mặc đồ tang phục để vào cung. Thế tử Chiêu chạy sang nước Tống, vào yết kiến Tống Tương công, sụp lạy ở dưới đất, thuật lại chuyện Dịch Nha và Thụ Điêu nổi loạn. Tống Tương công họp các quan lại hỏi rằng: - Ngày xưa Tề Hoàn công có đem Công tử Chiêu ủy thác cho ta để lập làm thế tử, thấm thoát đã 10 năm trời, ta vẫn còn đinh ninh nhớ trong lòng; nay Dịch Nha và Thụ Điêu nổi loạn đuổi thế tử Chiêu, ta muốn hội các nước chư hầu để đem quân giúp cho thế tử Chiêu về nước. Nếu làm xong việc này thì có thể nối được cái cơ nghiệp bá chủ của Tề Hoàn công ngày trước, các ngươi nghĩ thế nào? Bỗng có một viên đại thần đứng ra tâu rằng: - Nước Tống ta có 3 điều không bằng nước Tề, làm bá chủ thế nào được. Tống Tương công nhìn xem ai thì tức là người thứ huynh của Tống Tương công tên gọi Công tử Mục Di, năm trước nhường ngôi cho Tống Tương công không chịu làm vua, vậy nên Tống Tương công cho làm chức thượng khanh. Tống Tương công hỏi Công tử Mục Di rằng: - Nhà người nói 3 điều không bằng nước Tề là những điều gì? Mục Di nói: - Nước Tề có núi Thái Sơn, bể Bột Hải là nơi hiểm trở, có đất Lang Gia, đất Tức mặc là chỗ phì nhiêu; mà ta thì nước nhỏ, đất xấu, quân ít, lương ít, thế là một điều không bằng; nước Tề có họ Cao và họ Quốc, lại có Quản Di Ngô, Ninh Thích, Thấp Bằng, và Bão Thúc Nha để sửa sang chính trị; mà ta thì trong triều không có người hiền tài, thế là hai điều không bằng; Tề Hoàn công đi đánh Đông dẹp Bắc, thường thấy những sự tốt lành; mà ta thì trong nước chỉ thấy những điều tai dị, thế là ba điều không bằng. Có ba điều không bằng nước Tề ấy thì giữ mình còn chẳng nổi, lấy sức đâu mà quản cố đến người khác được! Tống Tương công nói: - Ta lấy điều nhân nghĩa làm chủ, nếu không cứu người mồ côi thì sao gọi là nhân! Đã nhận lời người ta mà bỏ đi thì sao gọi là nghĩa! Nói xong, liền truyền hịch đi các nước chư hầu, hẹn đến tháng giêng năm sau cùng hội nhau đem quân đưa thế tử Chiêu về nước. Khi tờ hịch đến nước Vệ, quan đại phu nước Vệ là Ninh Tốc nói với Vệ Văn công rằng: - Không có đích tử thì lập trưởng tử, đó là lẽ thường, nay Công tử Vô Khuy nhiều tuổi hơn cả. Vả ngày trước có công đem quân sang giữ hộ nước Vệ ta thì tức là ân nhân của ta, xin chúa công chớ nên dự vào việc ấy. Vệ Văn công nói: - Chiêu được lập làm thế tử, thiên hạ ai cũng biết cả. Việc giữ hộ nước Vệ ta là tư ân, việc lập thế tử là công nghĩa, nếu vì tư ân mà bỏ công nghĩa thì ta không muốn. Khi tờ hịch đến nước Lỗ, Lỗ Hi công nói: - Tề Hoàn công ngày xưa đem thế tử Chiêu ủy thác cho vua nước Tống, chứ có ủy thác cho ta đâu. Nay ta chỉ biết người nào nhiều tuổi hơn thì nên lập, nếu Tống đánh Vô Khuy, ta quyết đem quân đi cứu. Đến năm sau, Tống Tương công hội quân nước Vệ, nước Tào và nước Châu cùng giúp thế tử Chiêu sang đánh Vô Khuy. Vô Khuy sai Dịch Nha đem quân đi đánh, lại sai Thụ Điêu cầm quyền chính trong nước, còn Cao Hổ và Quốc Ý Trọng thì chia giữ các nơi hiểm yếu. Cao Hổ bảo Quốc Ý Trọng rằng: - Trước ta lập Vô Khuy là vì khi bấy giờ chưa có ai đứng lên mà lo việc tang cho tiên quân, nay thế tử Chiêu đã về, lại được quân nước Tống giúp thì lý thuận mà thế mạnh lắm! Vả Dịch Nha và Thụ Điêu giết hại các quan, chuyên giữ quyền chính, tất có ngày nổi loạn, chi bằng ta trừ bỏ đi mà đón thế tử Chiêu về, để lập lên làm vua, cho các công tử khỏi có lòng dòm dỏ, họa may nước Tề ta mới yên ổn được. Quốc Ý Trọng nói: - Dịch Nha đang cầm quân ở ngoài cõi, nay ta mời Thụ Điêu đến, giả cách bàn việc, nhân mà giết đi, rồi đem các quan đi đón thế tử Chiêu về thay Vô Khuy, ta chắc Dịch Nha không làm gì nổi. Cao Hổ nói: - Kế ấy hay lắm! Nói xong liền sai quân giáp sĩ phục cả xung quanh, cho người mời Thụ Điêu đến bàn việc.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 33 Thế tử Chiêu trở về nước Tề Tống Tương công mắc lừa quân Sở

Cao Hổ nhân khi Dịch Nha đã đem quân đi rồi, mới sai người mời Thụ Điêu đến để bàn việc. Thụ Điêu không có ý nghi ngại, nghiễm nhiên đến ngay. Cao Hổ bày tiệc để thết đãi. Uống được vài chén rượu, Cao Hổ hỏi Thụ Điêu rằng: - Nay vua nước Tống hội quân các nước chư hầu đưa thế tử Chiêu về đây thì ta biết dùng cách gì chống lại được? Thụ Điêu nói: - Đã có Dịch Nha đem quân ra đánh rồi. Cao Hổ nói: - Nhưng quân Tống nhiều mà quân ta ít thì chống cự làm sao nổi? Lão phu muốn nhờ nhà ngươi một việc để cứu cho nước Tề ta. Thụ Điêu nói: - Tôi làm gì được! Nhưng ngài có sai việc gì thì tôi xin vâng mệnh. Cao Hổ nói: - Muốn mượn cái đầu của nhà ngươi, để xin lỗi với nước Tống. Thụ Điêu ngạc nhiên, liền đứng ngay dậy. Cao Hổ quát to lên rằng: - Quân giáp sĩ đâu? Quân giáp sĩ xông vào chém chết Thụ Điêu. Cao Hổ sai người mở toang cửa thành ra, rồi truyền bá cho dân trong nước biết rằng: - Thế tử Chiêu đã sắp về tới nơi rồi, ai bằng lòng thì đi theo ta. Dân trong nước vốn ghét Dịch Nha và Thụ Điêu, bởi vậy không phục Vô Khuy, nay thấy Cao Hổ đi đón thế tử Chiêu, đều kéo nhau đi theo, đến hơn nghìn người. Quốc Ý Trọng vào cung nói với Vô Khuy rằng: - Nay dân trong nước mến phục thế tử Chiêu, kéo nhau đi đón, lão phu không thể ngăn lại được, xin chúa công nên mau mau tìm phương tránh nạn. Vô Khuy hỏi: - Dịch Nha và Thụ Điêu ở đâu? Quốc Ý Trọng nói: - Dịch Nha đem quân đi chưa biết được hay là thua. Còn Thụ Điêu thì đã bị dân trong nước giết chết rồi! Vô Khuy nổi giận, nói: - Dân trong nước giết Thụ Điêu, có lẽ nào nhà ngươi lại không dự biết đến! Nói xong, toan sai người bắt Quốc Ý Trọng, Quốc Ý Trọng bỏ chạy. Vô Khuy tay chống thanh kiếm, đi ra cửa cung, truyền nội thị gọi quân để đi đánh giặc. Nội thị đi gọi khắp mọi nơi, chẳng ai chịu theo cả. Những người nhà trong bọn các quan khi trước bị Dịch Nha và Thụ Điêu giết hại, vì nỗi không theo Vô Khuy, nay nghe tin Cao Hổ giết Thụ Điêu mà đi đón thế tử Chiêu, đều có ý mừng rỡ, cùng kéo nhau cầm đồ binh khí đến Đông Môn để dò la tin tức, lại gặp Vô Khuy đi vừa đến đấy, liền xúm nhau lại vây bắt Vô Khuy. Nội thị quát ầm lên rằng: - Sao các ngươi dám vô lễ với chúa công? Mọi người đều nói: - Nào ai là chúa công? Nói xong, liền xông vào chém giết lũ nội thị. Vô Khuy chống cự không nổi, vội vàng xuống xe bỏ chạy, cũng bị chết nốt. Trong ngoài náo động cả lên, sau Quốc Ý Trọng phải đi phủ dụ, mọi người mới đâu về đấy. Quốc Ý Trọng sai người phi báo cho Cao Hổ biết. Dịch Nha đóng quân ở ngoài cõi, để chống nhau với quân Tống, tự nhiên đang đêm quân sĩ náo động, huyên truyền nhau rằng: - Vô Khuy và Thụ Điêu đều chết cả rồi, Cao Hổ đem người đi đón thế tử Chiêu về làm vua, chúng ta không nên theo bọn phản nghịch. Dịch Nha biết là quân sĩ có ý biến loạn, liền cùng với mấy tên người nhà tâm phúc, bỏ trốn sang nước Lỗ. Sáng hôm sau, Cao Hổ đến phủ dụ quân sĩ, rồi cùng nhau đi đón thế tử Chiêu. Cao Hổ đưa thế tử Chiêu về đến Lâm Tri, ở tạm ngoài nhà công quán, sai người vào báo cho Quốc Ý Trọng biết để đem các quan ra đón. Công tử Nguyên và Công tử Phan nghe tin thế tử Chiêu đã về, đến rủ Công tử Thương Nhân cùng đi đón. Công tử Thương Nhân không bằng lòng nói rằng: - Khi phát tang tiên quân ta thì thế tử Chiêu có dự đến đâu, mà nay lại cậy thế nước Tống để về nối ngôi, thật là một sự trái lẽ; bây giờ quân các nước chư hầu đã rút về cả, chúng ta nên đem quân ra giết thế tử Chiêu đi, để báo thù cho Công tử Vô Khuy, rồi trong bọn ba người chúng ta, tùy ý các quan đại thần, lập một người lên nối ngôi, cần gì mà phải sợ hãi nước Tống, làm cho cái uy phong bá chủ của tiên quân ta ngày xưa phải giảm mất đi. Công tử Nguyên nói: - Nếu vậy thì ta nên vào nói với Trưởng Vệ Cơ, rồi ta phụng mệnh mà làm thì phải lẽ hơn. Trưởng Vệ Cơ khóc mà nói rằng: - Nếu các ngươi vì Vô Khuy mà báo thù được thì ta dẫu chết cũng thỏa lòng. Nói xong, liền đem những người tâm phúc của Vô Khuy trước, hợp với bọn Công tử Nguyên, Công tử Phan và Công tử Thương Nhân cùng đem nhau ra để chống cự với thế tử Chiêu. Những người tâm phúc của Thụ Điêu cũng muốn vì chủ báo thù, mới nhập bọn với ba vị công tử, đem quân giữ các cửa thành. Quốc Ý Trọng sợ hãi, đóng chặt cửa lại, không dám ra đối địch. Cao Hổ bảo thế tử Chiêu rằng: - Vô Khuy và Thụ Điêu dẫu chết rồi, nhưng đảng phái hãy còn, vả có ba vị công tử làm chủ, đóng cửa thành không cho vào; nay mình muốn vào thì tất phải đánh, đánh mà không được thì thành ra lắm sự dở, chi bằng ta lại sang cầu cứu nước Tống là hơn. Thế tử Chiêu nói: - Việc này tùy ý quốc lão. Cao Hổ lại đem thế tử Chiêu chạy sang nước Tống. Tống Tương công mới thu quân về đến bờ cõi, lại thấy thế tử Chiêu đến, giật mình kinh sợ, hỏi vì cớ gì, Cao Hổ kể hết sự tình đầu đuôi. Tống Tương công nói: - Điều đó là chỉ vì ta thu quân về vội quá, nhưng còn có ta đây, thế tử lo gì chẳng vào được thành Lâm Tri. Nói xong, lại đem quân đưa thế tử Chiêu trở về nước Tề. Công tử Thương Nhân bảo Công tử Phan và Công tử Nguyên rằng: - Chúng ta cứ hợp sức nhau đem quân ra mà đánh, nếu đánh không được, khi ấy ta sẽ tìm phương tránh nạn. Công tử Nguyên và Công tử Phan lấy làm phải, đêm hôm ấy mở cửa thành cùng với Công tử Thương Nhân đem quân ra đánh, bị quân Tống đánh cho một trận thất điên bát đảo, Công tử Nguyên biết sức không địch nổi, liền cùng với mấy người tâm phúc bỏ trốn sang nước Vệ. Công tử Phan và Công tử Thương Nhân rút quân vào thành, toan đóng cửa lại, nhưng đóng không kịp, quân Tống kéo ồ vào. Thôi Yển đánh xe cho thế tử Chiêu thẳng vào trong thành. Quốc Ý Trọng nghe tin thế tử Chiêu đã vào thành rồi, liền cùng với Cao Hổ đem các quân ra đón, tôn thế tử Chiêu lên nối ngôi, tức là Tề Hiếu công. Tề Hiếu công được lên làm vua phong cho Thôi Yển làm quan đại phu, và đem các đồ vàng lụa ban thưởng cho quân nước Tống. Tống Tương công ở lại nước Tề mấy ngày, mới rút quân về. Lỗ Hi công đem đại binh sang nước Tề để định giúp Công tử Vô Khuy, đi đến nửa đường, nghe tin Tề Hiếu công đã lên nối ngôi rồi liền thu quân trở về. Từ bấy giờ nước Lỗ và nước Tề thành ra hiềm khích với nhau. Công tử Phan và Công tử Thương Nhân bàn nhau đổ lỗi cả cho Công tử Nguyên. Quốc Ý Trọng và Cao Hổ cũng biết, nhưng muốn cho Tề Hiếu công bỏ những điều hiềm khích, mới làm thinh không nói đến, chỉ trị tội mấy đứa thủ xướng là Dịch Nha và Thụ Điêu, giết hết những đồ đảng, còn thì tha tội cả. Đến tháng 8 năm ấy, Tề Hiếu công làm lễ an táng Tề Hoàn công ở trên núi Ngưu Thủ, và đem Án Nga Nhi phụ táng ở bên cạnh. Lại vì cớ Công tử Vô Khuy và Công tử Nguyên, mà đem hết cả nội thị trong hai cung, Trưởng Vệ Cơ và Thiếu Vệ Cơ bắt phải chôn theo cả, chết kể hàng mấy trăm người. Tống Tương công từ khi đưa được thế tử Chiêu về làm vua nước Tề, tự lấy làm có công to lắm, muốn đại hội thay Tề Hoàn công làm bá chủ, nhưng lại sợ các nước lớn khó lòng thu phục được, mới ước với các nước nhỏ là nước Đằng, nước Tào, nước Châu và nước Tắng đến hội ở phía Nam nước Tào. Vua nước Tào và vua nước Châu đã đến rồi, bấy giờ vua nước Đằng là Anh Tề mới đến. Tống Tương công không cho Anh Tề dự hội bắt giam vào một chỗ. Vua nước Tắng sợ uy nước Tống, cũng vội vàng đến dự hội, nhưng đã quá mất hai ngày rồi. Tống Tương công hỏi các quan rằng: - Nay ta mới khởi xướng việc hội chư hầu, mà nước Tắng là nước nhỏ lại dám khinh thường, bỏ quá hai ngày mới đến, nếu ta không trị tội thì còn uy lệnh gì nữa! Quan đại phu là Công tử Đãng nói: - Ngày xưa Tề Hoàn công đánh Nam dẹp Bắc, chỉ còn có nước Đông Di là chưa đánh nổi, nay chúa công muốn lập uy cho người ta sợ thì nên dùng vua nước Tắng để mà thu phục lấy nước Đông Di. Tống Tương công nói: - Dùng vua nước Tắng thì dùng thế nào? Công tử Đãng nói: - Nước Đông Di có thờ thần gió và thần mưa ở bên sông Thư Thủy, nay chúa công giết vua nước Tắng đi để dùng làm lễ vật mà tế các vị thần ấy thì chẳng những là các vị thần giáng phúc cho chúa công mà nước Đông Di nghe thấy việc ấy, tất cũng sợ hãi mà phải qui phục. Bấy giờ ta lại mượn sức Đông Di để mà đánh dẹp các nước chư hầu, như thế thì chắc làm nên được công nghiệp bá chủ. Công tử Mục Di can rằng: - Không nên! Đời xưa lấy việc sát sinh làm quan hệ, vậy nên việc tế lễ nhỏ không dám sát sinh, huống chi lại giết người mà tế lễ. Việc tế lễ là để cầu phúc cho người ta, nếu giết người mà tế lễ thì quỷ thần nào còn chứng giám. Vả thần gió mưa ở sông Thư Thủy chẳng qua là giống yêu quái mà thôi, nay chúa công lại theo tục Đông Di mà tế vị thần ấy thì còn ai là người phục chúa công. Tề Hoàn công làm bá chủ trong 40 năm, chỉ đi cứu giúp những kẻ hèn yếu để làm ơn cho thiên hạ, nay chúa công mới hội chư hầu đã giết người để tế giống yêu quái, tôi chắc rằng các nước chư hầu ai cũng khiếp sợ mà phản chúa công, chứ không khi nào người ta chịu phục. Công tử Đãng nói với Công tử Mục Di rằng: - Công tử nghĩ lầm! Công việc bá chủ của chúa công ta ngày nay cùng với Tề Hoàn công khác nhau nhiều lắm: Tề Hoàn công sửa sang chính trị trong nước hơn 20 năm mới hội chư hầu, nay chúa công có đợi được như thế hay không? Việc hoãn thì nên dùng ân đức, việc cấp thì nên dùng uy nghiêm, một đàng chóng, một đàng chậm, nên phải xét rõ mới được, nếu ta không theo Đông Di thì Đông Di tất có lòng nghi ngờ, ta không dọa chư hầu thì chư hầu tất có lòng khinh bỉ; trong chư hầu khinh bỉ, ngoài thì Đông Di nghi ngờ sao cho nên nghiệp bá chủ được. Ngày xưa vua Vũ Vương nhà Chu còn là chư hầu mà dám chém đầu thiên tử là vua Trụ, bởi thế lấy được thiên hạ, huống chi vua nước Tắng là một nước nhỏ, phỏng có hề gì, xin chúa công cứ làm. Tống Tương công liền giết vua Tắng để tế thần sông Thư Thủy, sai người triệu vua các nước Đông Di đến hội tế. Các nước Đông Di không ai đến cả. Vua nước Đằng là Anh Tề thấy vậy sợ hãi, sai người đem nhiều lễ vật đến để xin với Tống Tương công. Tống Tương công tha cho về. Quan đại phu nước Tào là Hi Phụ Cơ bảo vua Tào rằng: - Vua nước Tống là người nóng nảy mà bạo ngược như vậy thì chắc không làm gì nên, chi bằng ta bỏ về. Vua nước Tào bỏ về. Tống Tương công nổi giận, toan đem quân đánh nước Tào. Công tử Mục Di lại can rằng: - Nước Tào bỏ về, cũng chẳng hại gì đến chúa công, cần gì mà chúa công phải đem quân đi đánh. Tống Tương công không nghe, liền sai Công tử Đãng đem quân sang vây kinh đô nước Tào. Hi Phụ Cơ nghĩ kế để cùng với Công tử Đãng chống giữ, đã trong ba tháng mà Công tử Đãng không đánh nổi. Bấy giờ Trịnh Văn công ước với Lỗ, Tề, Trần, Sái cùng với Sở Thành Vương hội ở đất nước Tề. Tống Tương công nghe tin, sợ nước Tề và nước Sở tranh mất quyền bá chủ, vội vàng triệu Công tử Đãng thu quân trở về. Vua nước Tào sợ quân Tống lại đến đánh, sai người sang xin lỗi, từ bấy giờ Tào và Tống lại giảng hòa với nhau. Tống Tương công muốn làm bá chủ, nhưng thấy các nước nhỏ có nhiều nước không phục, còn nước lớn lại cùng với Sở hội thề, có ý tức giận, mới cùng với Công tử Đãng thương nghị. Công tử Đãng nói: - Các nước chư hầu ngày nay, có Tề và Sở là lớn hơn cả. Tề dẫu là dòng bá chủ, nhưng con cháu tranh nhau, thế nước suy yếu, chỉ có nước Sở là cường thịnh, nay tiếm hiệu xưng vương, ai cũng phải sợ, chúa công nên sai người sang lễ nước Sở để mượn thế mà hội chư hầu, rồi lại mượn thế chư hầu để trị lại nước Sở, ấy là kế quyền nghi tạm trong một thời. Công tử Mục Di lại can rằng: - Nước Sở dẫu vì ta mà hội chư hầu, nhưng khi nào nước Sở chịu nhường quyền cho ta, tôi e rằng làm như thế thì lại gây ra mối tranh chiến. Tống Tương công không nghe lời Công tử Mục Di, liền sai Công tử Đãng đem đồ lễ vật sang nói với Sở Thành Vương. Sở Thành Vương hẹn đến đầu năm sau thì hội ở đất Lộc Thượng (đất nước Tề). Công tử Đãng về nói với Tống Tương công. Tống Tương công nói: - Lộc Thượng là đất nước Tề, vậy thì ta cũng nên báo cho vua nước Tề biết. Tề Hiếu công cũng bằng lòng. Đến tháng giêng năm sau, Tống Tương công lập đàn sẵn ở đất Lộc Thượng để chờ Tề Hiếu công và Sở Thành Vương đến. Sang đầu tháng hai, Tề Hiếu công đến. Tống Tương công cậy cái công giúp Tề Hiếu công khi trước, trong khi tiếp kiến, có ý kiêu ngạo tự đắc. Tề Hiếu công cũng cảm ơn nước Tống, vậy nên tỏ lòng kính nể. Lại qua đến hơn 20 ngày nữa, Sở Thành Vương mới đến. Khi trèo lên đàn, Tống Tương công nghiễm nhiên tự nhận làm chủ tọa. Sở Thành Vương không bằng lòng. Tống Tương công nói với Sở Thành Vương và Tề Hiếu công rằng: - Tôi muốn nhờ uy linh của hai nhà vua để định đến tháng tám năm nay đại hội chư hầu ở nước tôi, nếu hai nhà vua có lòng yêu mà xướng bảo các nước chư hầu cho thì tôi được đội ơn nhiều lắm. Tề Hiếu công chắp tay vái nhường Sở Thành Vương. Sở Thành Vương cũng chắp tay vái nhường Tề Hiếu công. Hai vua cứ nhường nhau mãi, không ai chịu ký tên trước. Tống Tương công vẫn cầm tờ biên bản không đưa cho Tề Hiếu công, lại đưa cho Sở Thành Vương trước. Tề Hiếu công cũng có ý không bằng lòng. Sở Thành Vương mở xem tờ biên bản, thấy Tống Tương công đã ký tên trước rồi, mới cười thầm mà bảo Tống Tương công rằng: - Nhà vua cũng có thể hội được chư hầu, cần gì phải mượn đến tôi. Tống Tương công nói: - Nước Trịnh lâu nay vẫn chịu ơn với quí quốc, mà nước Trần và nước Sái thì mới rồi cũng cùng với quí quốc hội thề ở đất nước Tề, nếu không nhờ cái uy linh của nhà vua thì tôi e rằng các nước không chịu đến hội. Sở Thành Vương nói: - Thế thì vua nước Tề nên ký tên trước, rồi sau sẽ đến tôi. Tề Hiếu công nói với Sở Thành Vương rằng: - Nước tôi cũng là một nước chịu ơn nước Tống, có cần gì cho lắm, nghĩa là muốn nhờ cái uy linh của quí quốc thì hơn. Sở Thành Vương cười mà ký tên, rồi cầm bút đưa cho Tề Hiếu công. Tề Hiếu công nói: - Có nước Sở ký tên là đủ, bất tất phải có nước Tề. Nói xong nhất định không chịu ký. Số là Tề Hiếu công thấy Tống Tương công trọng Sở khinh Tề, nên có ý bất bình mà không chịu ký tên. Tống Tương công vẫn cậy mình có ơn với Tề Hiếu công vậy nên tưởng là Tề Hiếu công nói thực, liền cầm tờ biên bản mà cất đi. Sở Thành Vương về nước, nói chuyện lại cho quan lịnh doãn là Tử Văn nghe. Tử Văn nói: - Vua nước Tống là người cuồng bội như vậy, sao đại vương lại giúp nước Tống để hội chư hầu làm gì? Sở Thành Vương cười mà nói rằng: - Ta vẫn muốn làm chủ hội ở trung quốc đã lâu lắm, nhưng chưa có dịp nào cả, nay ta nhân nước Tống mà hội chư hầu, chẳng cũng nên lắm sao! Quan đại phu là Thành Đắc Thần nói: - Vua nước Tống là người hiếu danh mà không có mưu trí gì cả, khi hội chư hầu, ta đem quân giáp sĩ đến phục sẵn thì có thể bắt được. Sở Thành Vương nói: - Ta cũng nghĩ như vậy! Tử Văn nói: - Giúp người ta để hội chư hầu mà lại bắt người ta thì sao cho các nước chịu phục. Thành Đắc Thần nói: - Vua nước Tống muốn làm chủ hội, tất có ý kiêu ngạo với chư hầu, bấy giờ ta bắt vua nước Tống, để thị uy, rồi lại làm ơn mà tha cho, như vậy thì chư hầu phải phục mà theo nước Sở ta cả; chớ nên nệ điều nhỏ nhặt ấy mà bỏ mất cái cơ hội hay. Sở Thành Vương liền sai Thành Đắc Thần và Đấu Bột tuyển 500 giáp sĩ để đến hôm hội chư hầu thì phục sẵn mà bắt Tống Tương công. Tống Tương công từ khi ở đất Lộc Thượng về, có ý hớn hở vui mừng mà bảo Công tử Mục Di rằng: - Nước Sở đã thuận giúp ta để hội chư hầu rồi! Công tử Mục Di can rằng: - Nước Sở là giống man di, ngoài miệng nói như vậy, nhưng trong lòng chưa biết thế nào, tôi e rằng chúa công mắc lừa nước Sở. Tống Tương công bảo Công tử Mục Di rằng: - Nhà ngươi hay đa nghi lắm, ta đem lòng trung tín mà đãi người ta, khi nào người ta lại nỡ lừa dối. Nói xong, liền không nghe lời Công tử Mục Di, sai người truyền hịch đi các nước, hẹn đến hội ở đất Vu Địa (đất nước Tống) ; lại sai người sửa sang các công quán để nghênh tiếp vua chư hầu. Đến tháng bảy năm ấy, Tống Tương công sắp sửa xa giá đến đất Vu Địa. Công tử Mục Di can rằng: - Nước Sở cậy sức mạnh mà không biết giữ nghĩa, chúa công nên đem quân sĩ đi theo mới được. Tống Tương công nói: - Ta đã ước với chư hầu cùng nhau hòa hiếu, không dùng đến quân sĩ, nếu nay ta lại đem quân sĩ đi theo thì sao cho các nước chư hầu tin phục. Công tử Mục Di nói: - Chúa công muốn thư tín mà không dùng quân sĩ thì xin chúa công cứ đi trước, tôi sẽ đem quân sĩ phục sẵn ở ngoài 3 dặm để phòng khi có sự nguy cấp. Chúa công nghĩ thế nào? Tống Tương công nói: - Không nên! Nếu nhà ngươi đem quân sĩ đi theo thì khác nào như ta dùng quân sĩ. Khi Tống Tương công sắp đi, lại sợ Công tử Mục Di ở nhà đem quân đi tiếp ứng thì thành ra mình thất tín với các nước chư hầu, mới bảo Công tử Mục Di cùng đi. Công tử Mục Di nói: - Tôi ở nhà cũng không thể đành lòng được, vậy xin đi theo. Bấy giờ Tống Tương công và Công tử Mục Di cùng đi. Vua 6 nước: Sở, Trần, Sái, Hứa, Tào, và Trịnh đúng hẹn cùng đến cả. Chỉ có Tề Hiếu công có ý không bằng lòng, Lỗ Hi công chưa giao thông với nước Sở bao giờ, vậy nên hai vua ấy không đến hội, Tống Tương công sai nghênh tiếp vua 6 nước vào nghỉ ở các nhà công quán. Tống Tương công thấy các nước đều không có quân sĩ đi theo, bằng lòng mà nói rằng: - Ta vẫn biết nước Sở không khi nào đánh lừa ta! Quan thái sử chọn ngày để khai hội. Đầu trống canh năm hôm ấy ở trên đàn có đốt các cây đình liều sáng rực như ban ngày. Tống Tương công đến trước để đợi các vua chư hầu. Còn năm nước chư hầu là: 1. - Trần Mục công (Cốc), 2. - Sái Trang công (Giáp Ngọ), 3. - Trịnh Văn công (Tiệp), 4. - Hứa Hi công (Nghiệp), 5. - Tào Cung công (Tương). Năm nước đều lục tục đến dần. Đợi mãi đến sáng rõ, Sở Thành Vương (Hùng Vận) mới đến. Tống Tương công giữ lễ địa chủ vái chào các vua chư hầu, rồi sắp hàng hai bên cùng đứng. Các vua chư hầu đều sợ uy Sở Thành Vương, nhường Sở Thành Vương đứng đầu. Thành Đắc Thần và Đấu Bột đứng hầu sau lưng Sở Thành Vương. Vua các nước cũng đều có người đi theo hầu cả. Tống Tương công muốn làm chủ tọa, nhưng tự mình nói ra không tiện, mới đưa mắt để cho Sở Thành Vương nói. Sở Thành Vương cứ cúi đầu nín lặng, không nói gì cả. Các vua chư hầu cũng đều nhìn nhau, không ai dám nói trước, Tống Tương công không thể nhịn được, mới nghiễm nhiên đứng ra nói rằng: - Ngày nay tôi muốn theo lối Tề Hoàn công thuở trước, trên thì phụng mệnh thiên tử, dưới thì giao hiếu với các nước chư hầu, các quí quốc nghĩ thế nào? Các vua chư hầu nghe nói, cũng chưa ai đáp lại thế nào. Sở Thành Vương đứng thẳng ra phía trước nói với Tống Tương công rằng: - Nhà vua nói phải lắm! Nhưng không biết việc hội chư hầu ngày nay, ai làm chủ tọa? Tống Tương công nói: - Một là nhiều công trạng, hai là cao phẩm tước thì được làm chủ tọa, còn phải nói gì nữa! Sở Thành Vương nói: - Nước tôi nguyên là tước vương, nước Tống dẫu là tước công, nhưng cũng không ở trên tước vương được, như vậy thì tôi xin lỗi với các nước mà nhận làm chủ tọa. Nói xong, liền lên đứng ở đầu hàng trên nhất. Công tử Mục Di giằng tay áo Tống Tương công, để muốn cho Tống Tương công hãy chịu nhịn đi, rồi sau sẽ liệu. Tống Tương công vẫn đinh ninh rằng ngôi chủ tọa đã cầm lỏng trong tay, nay thấy Sở Thành Vương cư xử như vậy, tài nào mà không tức giận, liền xầm nét mặt lại mà bảo Sở Thành Vương rằng: - Nước tôi là tước công, lại là con cháu sau thiên tử nhà Ân trước, dẫu thiên tử nhà Chu ta bây giờ cũng phải có lòng kính trọng; nước Sở nay chẳng qua là tiếm hiệu xưng vương, vậy thì khi nào tước vương giả lại được ở trên tước công thật bao giờ! Sở Thành Vương nói: - Tôi đã là tước vương giả thì ai bảo nhà vua mời tôi đến đây? Tống Tương công nói: - Nhà vua đến đây là theo lời ước ở đất Lộc Thượng, có phải tôi không giao hẹn trước đâu. Thành Đắc Thần đứng bên cạnh quát to lên rằng: - Công việc ngày nay chỉ nên hỏi các vua chư hầu là vì nước Sở mà đến đây hay là vì nước Tống mà đến. Các vua chư hầu xưa nay vốn sợ thế nước Sở, đồng thanh mà đáp rằng: - Chúng tôi phụng mệnh vua nước Sở, vậy nên phải đến đây. Sở Thành Vương cười khanh khách mà nói với Tống Tương công rằng: - Nhà vua còn nói gì được nữa! Tống Tương công vừa toan cãi lại thì Thành Đắc Thần và Đấu Bột cởi ngay áo lễ phục ở ngoài ra, trong đã mặc áo giáp sẵn, sau lưng lại đeo một lá cờ lệnh. Thành Đắc Thần và Đấu Bột cầm lá cờ lệnh giơ cao lên rồi vẫy một cái, quân sĩ của Sở Thành Vương ở dưới đàn, đến hơn nghìn người cầm đồ binh khí kéo lên. Các vua chư hầu đều sợ mất vía cả. Thành Đắc Thần nắm ngay lấy hai tay áo Tống Tương công trói chặt lại, rồi cùng với Đấu Bột truyền cho quân sĩ thu hết các đồ vàng ngọc bày ở trên đàn. Tống Tương công trông thấy Công tử Mục Di đứng ở bên cạnh, liền ghé tai bảo thầm rằng: - Ta tiếc rằng không nghe lời nói của Công tử, đến nỗi thế này. Công tử nên mau mau về đi mà giữ lấy nước nhà, đừng nghĩ gì đến ta nữa. Công tử Mục Di biết là đi theo cũng vô ích mới bỏ Tống Tương công mà trốn về.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 34 Tống Tương công, lá cờ nhân nghĩa Tề Khương Thị, chén rượu biệt ly

Sở Thành Vương bắt Tống Tương công đem về công quán, rồi cho mời tất cả các vua chư hầu đến, kể tội Tống Tương công có 6 điều: 1. - Nước Tề đang có tang mà dám đem quân sang đánh, bỏ người nọ lập người kia, đó là một tội. 2. - Vua nước Đằng đến hội, hơi chậm một chút, mà dám giam trói làm nhục người ta, đó là hai tội. 3. - Giết vua nước Tắng để tế dâm thần, đó là ba tội. 4. - Vua nước Tào bỏ về là một điều lỗi nhỏ, mà dám cậy sức mạnh, đem quân đến vây đánh, đó là bốn tội. 5. - Con cháu sau một nước đã mất, mà không biết tự lượng tài đức mình, dám nhận làm bá chủ, đó là năm tội. 6. - Nhờ sức ta để hội các nước chư hầu, mà lại kiêu ngạo tự đắc, không biết giữ lễ, đó là sáu tội. Sở Thành Vương lại nói với các vua chư hầu rằng: - Lòng trời không tựa nước Tống, mà làm cho nước Tống mê mẩn, một mình dẫn thân đến đây để bị bắt, nay ta quyết đem quân vào phá thành Thư Dương (kinh đô nước Tống) báo thù cho nước Đằng và nước Tắng, xin các vua hãy ở cả lại đây, chờ khi tôi lấy được nước Tống rồi, sẽ cùng với các vua uống rượu chơi trong mươi ngày. Các vua chư hầu vâng dạ cả. Tống Tương công cứ ngây người ra như tượng gỗ, hai hàng nước mắt chảy xuống ròng ròng. Sở Thành Vương khao thưởng quân sĩ, rồi đem cả Tống Tương công tiến vào Thư Dương. Các vua chư hầu đều phụng mệnh Sở Thành Vương, ở cả lại đất Vu Địa, không ai dám về. Công tử Mục Di từ khi ở Vu Địa trốn về nước Tống, đem chuyện Tống Tương công bị bắt kể lại cho quan tư mã là công tôn Cố rằng: - Quân nước Sở chẳng bao lâu sẽ kéo đến đây, ta nên nghĩ cách để phòng bị. Công tôn Cố nói: - Trong nước chớ nên để một ngày nào không có vua, nay Công tử hãy quyền nhận ngôi vua để giữ lấy quyền chính thì mới yên nước được. Công tử Mục Di ghé tai công tôn Cố mà bảo thầm, nói tất phải như thế thì nước Sở mới tha cho chúa công ta trở về. Công tôn Cố khen phải, liền tuyên cáo với các quan trong triều rằng: - Chúa công ta vị tất đã về được, chúng ta nên tôn lập Công tử Mục Di lên nối ngôi. Các quan biết Công tử Mục Di là người hiền, đều bằng lòng cả. Công tử Mục Di lên nối ngôi, truyền cho quân sĩ canh các cửa thành rất nghiêm mật. Sở Thành Vương kéo đại binh đến, sai Đấu Bột nói với quân Tống rằng: - Vua Tống đã bị ta bắt tại đây rồi, sống chết ở trong tay ta, nay nước Tống nên phải mau mau mà nộp đất đầu hàng đi thì vua Tống sẽ được toàn tính mệnh. Công tôn Cố ở trên mặt thành đáp lại rằng: - Nước ta đã lập vua mới rồi, không khi nào chịu đầu hàng. Đấu Bột nói: - Vua Tống hãy còn đây, sao nước ngươi dám lập vua khác. Công tôn Cố nói: - Vua là để làm chủ trong nước, nước đã không có chủ thì tất phải lập vua khác. Đấu Bột nói: - Chúng ta định trả lại vua Tống thì nước Tống định lấy gì để mà tạ ơn? Công tôn Cố nói: - Vua cũ đã bị bắt, thế là làm nhục cho nước, dẫu về cũng không được làm vua nữa. Trả lại hay là không trả lại, điều đó tùy ý nước Sở, nếu nước Sở cố ý sinh sự đánh nhau thì nước Tống tôi cũng xin vâng mệnh. Đấu Bột thấy công tôn Cố nói ngang như vậy, liền tâu lại với Sở Thành Vương. Sở Thành Vương nổi giận, truyền cho quân sĩ xông vào phá thành. Quân Tống ở trên mặt thành, bắn tên xuống như mưa. Quân Sở chết và bị thương nhiều lắm. Đánh luôn ba ngày mà không thể phá nổi nước Tống. Sở Thành Vương nói: - Kẻ kia đã không thiết đến vua nữa thì ta giết quách đi. Thành Đắc Thần nói: - Ngày trước đại vương bẻ vua Tống về tội giết vua Tắng, bây giờ đại vương lại giết vua Tống thì còn ra thế nào. Vả lại giết vua Tống cũng không ích gì, đã chẳng lấy được nước Tống mà lại thêm oán, thì chi bằng tha cho thì hơn. Sở Thành Vương nói: - Ta không đánh nổi nước Tống mà lại phải tha cho vua Tống thì còn ra thế nào. Thành Đắc Thần nói: - Tôi có một kế: Mới rồi chỉ có Tề và Lỗ là không dự hội ở đất Vu Địa. Nước Tề đã hai ba lần cùng ta giao hiếu, chẳng kể làm gì; còn nước Lỗ là một nước lễ nghĩa, xưa nay vẫn giao hiếu với Tề, không biết Sở là đâu cả, nay ta đem những đồ lấy được của nước Tống đưa biếu vua Lỗ, và mời vua Lỗ đến hội ở đất Bạt Đô, Lỗ và Tống vốn thân thuộc với nhau, tất nhiên vua Lỗ phải thương tình mà xin hộ cho vua Tống, bấy giờ ta sẽ tha vua Tống để làm ơn với Lỗ, có phải là khiến cho hai nước cùng phải qui phục nước ta. Sở Thành Vương vỗ tay cười ầm lên và nói rằng: - Nhà ngươi thật là một người cao kiến! Nói xong, liền rút quân về đóng ở đất Bạc Đô, rồi sai người đem những đồ lấy được của nước Tống sang biếu Lỗ Hi công và đệ trình một bức thư. Thư rằng: "Vua nước Tống là người kiêu ngạo vô lễ, tôi đã bắt giam lại ở Bạc Đô rồi, vậy xin đem các đồ lấy được của nước Tống sang dâng quí quốc, và mời nhà vua sang hội để xử quyết việc ấy". Lỗ Hi công xem thư giật mình, trong lòng thương xót thay cho Tống Tương công, vẫn biết rằng nước Sở đem cho các đồ lấy được của nước Tống là có ý khoe khoang để dọa mình, nhưng sợ thế nước Sở, cũng phải nhận lời sang đất Bạc Đô hội với nước Sở. Bấy giờ 5 nước chư hầu: Trần, Sái, Trịnh, Hứa và Tào, khi trước đóng ở đất Vu Địa, cũng kéo sang đất Bạc Đô cả, kể cả Lỗ Hi công cộng thành 6 nước. Trịnh Văn công muốn tôn Sở Thành Vương làm bá chủ. Các vua chư hầu đều nhút nhát không ai dám nói. Lỗ Hi công cả quyết nói rằng: - Bá chủ tất phải chọn người nào có nhân nghĩa thì người ta mới phục, nay vua nước Sở cậy sức mạnh bắt giam vua Tống, làm cho lòng người nghi sợ. Chúng ta cùng với nước Tống cũng là bạn đồng minh với nhau, nay ta cúi đầu chịu theo nước Sở mà không biết cứu vua Tống thì chắc rằng thiên hạ người ta chê cười. Nếu nước Sở tha cho vua Tống để giữ lấy tình hòa hiếu thì chúng ta sẽ vâng mệnh. Các vua chư hầu đều nói rằng: - Vua Lỗ nói phải lắm! Thành Đắc Thần đem lời nói của Lỗ Hi công tâu với Sở Thành Vương. Sở Thành Vương nói: - Các vua chư hầu thuận cho ta làm bá chủ thì có đâu ta lại dám trái ý! Nói xong, truyền lập đàn để cùng với các vua chư hầu hội thề. Ngày hôm trước, Sở Thành Vương tha cho Tống Tương công được cùng với các vua chư hầu làm lễ tương kiến. Tống Tương công vừa thẹn vừa giận, có ý không được vui, nhưng bất đắc dĩ cũng phải vào tạ ơn các vua chư hầu. Trịnh Văn công cùng với các vua chư hầu tôn Sở Thành Vương lên làm bá chủ. Tống Tương công căm tức mà không dám nói ra. Khi hội thề xong, các vua chư hầu đều về nước cả. Tống Tương công nghe tin Công tử Mục Di đã lên làm vua nước Tống rồi, toan bỏ trốn sang nước Vệ. Công tử Mục Di sai người sang nói với Tống Tương công rằng: - Công tử Mục Di phải tạm quyền lên ngôi là để giữ hộ cho chúa công đó mà thôi, xin chúa công cứ về. Tống Tương công về nước. Công tử Mục Di lại trả ngôi lại cho Tống Tương công. Tống Tương công nguyên trước định làm bá chủ, bị Sở Thành Vương ăn hiếp, trong lòng oán giận, chỉ vì sức kém, không thể địch nổi; lại thấy Trịnh Văn công xướng nghị tôn Sở Thành Vương làm bá chủ, có ý căm tức, vẫn muốn đem quân đánh nước Trịnh. Đến năm sau, Trịnh Văn công lại sang triều kiến Sở Thành Vương. Tống Tương công nghe tin, giận lắm, liền cử đại binh sắp sang đánh Trịnh, mới giao quyền chính cho Công tử Mục Di để giúp Thế tử Vương Thần mà giữ nước. Công tử Mục Di can rằng: - Trịnh đang giao hiếu với Sở, nếu ta đánh Trịnh thì Sở tất sang cứu, vị tất ta đã đánh nổi, chi bằng ta hãy sửa sang chính trị trong nước để đợi thời là hơn. Quan tư mã là công tôn Cố thấy vậy, cũng tìm lời khuyên can. Tống Tương công nổi giận nói rằng: - Nhà ngươi không muốn đánh thì để ta đi một mình! Công tôn Cố không dám nói nữa, liền cùng với Tống Tương công đem quân sang đánh Trịnh. Có quân thám tử báo tin cho Trịnh Văn công. Trịnh Văn công sợ lắm, vội vàng sai người sang cáo cấp với Sở Thành Vương. Sở Thành Vương nói: - Nước Trịnh thờ ta như cha, ta nên đem quân sang cứu mới được. Thành Đắc Thần nói: - Ta cứu Trịnh không bằng đi đánh Tống. Sở Thành Vương hỏi: - Tại sao? Thành Đắc Thần nói: - Từ khi vua Tống bị bắt, người nước Tống đều sợ mất vía, nay vua Tống không tự lượng sức mình, dám cử đại binh đi đánh Trịnh, tất là trong nước bỏ không, ta đem quân sang đánh, chắc hẳn phải được, dẫu vua Tống kéo quân về, cũng không thể nào địch nổi. Sở Thành Vương khen phải, liền sai Thành Đắc Thần làm chánh tướng. Đấu Bột làm phó tướng, đem quân đi đánh Tống. Tống Tương công đánh nhau với Trịnh, nghe tin quân nước Sở kéo sang đánh Tống, vội vàng thu quân trở về, đóng ở phía nam sông Hoằng Thủy để đối địch với quân Sở. Thành Đắc Thần sai người đưa chiến thư cho Tống Tương công. Công tôn Cố bảo Tống Tương công rằng: - Nước Sở đem quân tới đây là cốt để cứu nước Trịnh, nay ta nói với nước Sở, xin không đánh Trịnh nữa thì nước Sở tất rút quân về. Tống Tương công nói: - Ngày xưa Tề Hoàn công đem quân sang đánh Sở, nay Sở đến đánh mà mình lại thôi thì, sao cho nối được công nghiệp bá chủ của Tề Hoàn công. Công tôn Cố lại nói: - Ngày nay áo giáp của ta không bền bằng nước Sở; đồ binh của ta không tốt bằng nước Sở; quân sĩ của ta không mạnh bằng nước Sở. Người nước Tống ta sợ quân nước Sở như giống rắn rết, chúa công chắc về cái gì mà dám đánh? Tống Tương công nói: - Kể binh giáp thì nước Sở hơn ta, nhưng kể nhân nghĩa thì ta hơn nước Sở. Ngày xưa Vũ Vương nhà Chu chỉ có ba nghìn quân mà đánh nổi ức vạn quân của vua Trụ, cũng nhờ về giữ được nhân nghĩa đó thôi, can chi mà sợ. Nói xong, liền phê vào chiến thư hẹn ngày giao chiến. Tống Tương công sai chế một lá cờ thật to để cắm ở trên xe; trong lá cờ có đề hai chữ "Nhân Nghĩa". Công tôn Cố phàn nàn mà nói riêng với quan đại phu là Dược Bộc Y rằng: - Sự tranh chiến cốt phải sát phạt mà lại nói nhân nghĩa, thì tôi thật không hiểu cái nhân nghĩa của chúa công ra thế nào! Chẳng qua là trời thu mất hồn phách của chúa công, tôi lấy làm nguy lắm. Bây giờ chúng ta nên nghĩ thế nào để giữ cho không đến nỗi mất nước. Thành Đắc Thần đóng quân ở phía Nam sông Hoằng Thủy. Đến ngày khai chiến, Đấu Bột nói với Thành Đắc Thần xin bắt đầu trống canh năm cho quân sĩ sang đò, kẻo sợ người nước Tống đánh chận ở bên kia bờ sông chăng. Thành Đắc Thần cười mà nói rằng: - Vua nước Tống là người gàn dở, có biết binh pháp là cái gì! Ta sang sớm thì đánh được sớm, sang trưa thì đánh được trưa, có cần gì mà sợ. Trời sáng rõ, quân Sở mới lục tục kéo sang. Công tôn Cố nói với Tống Tương công rằng: - Quân nước Sở chờ trời sáng rõ, mới kéo sang đò, thế là có ý khinh ta. Nay ta nhân lúc đang sang đò mà xông vào đánh thì tất có thể phá vỡ được, nếu để cho quân Sở sang xong thì Sở nhiều ta ít, địch làm sao nổi? Tống Tương công trỏ vào lá cờ mà bảo công tôn Cố rằng: - Nhà ngươi không trông thấy hai chữ "Nhân Nghĩa" hay sao? Ta dùng quân rất là đường hoàng, có lẽ nào nhân lúc người ta đang sang đò mà xông vào đánh bao giờ! Công tôn Cố lại nghĩ thầm mà phàn nàn một mình. Được một lúc, quân Sở sang đò xong rồi, Thành Đắc Thần đầu đội mũ ngọc, mình mặc áo giáp, tay cầm cái roi, đang trỏ bảo quân sĩ để sắp hàng bày trận, khí thế ngang nhiên, trông ra bộ không sợ ai cả. Công tôn Cố lại nói với Tống Tương công rằng: - Quân Sở còn đang sắp hàng bày trận, xin chúa công xông vào mà đánh ngay đi thì tất phải vỡ. Tống Tương công nhổ vào mặt công tôn Cố mà mắng rằng: - Chao ôi! Nhà ngươi chỉ tham cái lợi một lúc, mà không nghĩ đến điều nhân nghĩa muôn đời hay sao! Ta dùng quân rất là đường hoàng, có lẽ nào nhân lúc người ta chưa sắp hàng bày trận xong mà xông vào đánh bao giờ! Công tôn Cố lại bứt đầu bứt tai mà phàn nàn mãi. Quân Sở đã sắp hàng bày trận xong, quân Tống trông thấy khí thế hùng dũng, đều có ý sợ hãi. Tống Tương công truyền cho quân sĩ nổi hiệu trống. Quân Sở cũng nổi hiệu trống. Tống Tương công cầm cái giáo dài, cùng với hai tướng là Công tử Đãng và Hướng Si Thủ xông vào đánh trướng, bị quân Sở vây kín lại. Công tôn Cố theo vào để hộ giá thì lại bị tướng nước Sở là Đấu Bột đón đánh, may có tướng nước Tống là Hoa Tú Lão xông đến giao chiến với Đấu Bột. Công tôn Cố ra sức phá vòng vây của quân Sở, bỗng gặp Hướng Si Thủ (tướng nước Tống) mặt đầy những máu, gọi công tôn Cố mà bảo rằng: - Ngài mau mau vào mà cứu lấy chúa công! Khi công tôn Cố vào đến nơi thì thấy Công tử Đãng bị thương nặng nằm ở trên xe; lá cờ nhân nghĩa đã bị quân Sở lấy mất rồi. Tống Tương công mình bị mấy vết thương, phía đùi chân phải lại bị một mũi tên, đứt gân không đứng dậy được. Công tử Đãng trông thấy công tôn Cố đến, trừng mắt nhìn mà bảo rằng: - Quan tư mã cố sức mà giúp lấy chúa công, tôi đành chết ở đây thôi! Nói xong thì chết ngay. Công tôn Cố thương xót vô cùng, vực Tống Tương công lên xe, rồi cố sức phá vòng vây mà chạy. Hướng Si Thủ đi sau để ngăn quân Sở. Công tôn Cố và Tống Tương công về đến kinh đô nước Tống. Quân Tống chết không biết bao nhiêu mà kể, cha mẹ vợ con họ đều khóc lóc than thở, oán Tống Tương công không nghe lời công tôn Cố để đến nỗi thua. Tống Tương công nghe nói, thở dài mà than rằng: - Người quân tử ra trận, không đâm người đã bị thương rồi, không bắt người già hai thứ tóc, ta đây cũng chỉ cốt lấy điều nhân nghĩa, bắt chước chi những thói tàn bạo ấy. Người trong nước nghe thấy Tống Tương công nói như vậy, ai cũng chê cười. Quân Sở đã thắng trận rồi, lại thu quân sang đò sông Hoằng Thủy, định trở về nước Sở; vừa ra khỏi địa giới nước Tống thì nghe báo Sở Thành Vương đem đại binh đi tiếp ứng, hiện đang đóng quân ở đất Kha Trạch (đất nước Trịnh). Thành Đắc Thần liền sang đất Kha Trạch để yết kiến Sở Thành Vương và dâng các đồ lấy được của nước Tống. Sở Thành Vương nói: - Ngày mai vua nước Trịnh có định đem cả phu nhân đến đây khao thưởng quân sĩ; ta nên bày các đồ vật lấy được của nước Tống để khoe với vua Trịnh. Nguyên Trịnh Văn công lấy em gái Sở Thành Vương là Vu Thị, tức là nàng Văn Vu. Văn Vu nghĩ tình anh em, cũng theo Trịnh Văn công đến đất Kha Trạch để yết kiến Sở Thành Vương. Sở Thành Vương cho xem các đồ vật lấy được của nước Tống. Vợ chồng Trịnh Văn công cùng chúc mừng Sở Thành Vương, và khao thưởng các hàng quân sĩ. Ngày hôm sau. Trịnh Văn công mời Sở Thành Vương vào trong thành rồi bày tiệc để thết đãi rất là trọng thể. Văn Vu sinh được hai người con gái Bá Vu và Thúc Vu, bấy giờ chưa gả chồng, hãy còn ở nhà, Văn Vu sai lấy lễ cậu cháu ra yết kiến Sở Thành Vương. Sở Thành Vương mừng lắm. Trịnh Văn công cùng với vợ và con gái thay đổi nhau để mời rượu Sở Thành Vương, làm cho Sở Thành Vương rượu say túy lúy. Sở Thành Vương bảo Văn Vu rằng: - Nay ta quá vui, uống rượu say lắm, em và hai cháu nên đưa ta về. Văn Vu xin vâng lời. Trịnh Văn công tiễn Sở Thành Vương ra đến cửa thành, rồi trở về trước, còn Văn Vu và hai con gái theo Sở Thành Vương sang tận chỗ quân dinh. Sở Thành Vương trông thấy hai cháu gái có sắc đẹp, đêm hôm ấy bắt vào trong phòng ngủ để trêu ghẹo. Văn Vu tức giận, một mình thơ thẩn ở trong màn, cả đêm không ngủ được, nhưng sợ uy Sở Thành Vương, không dám nói ra. Ngày hôm sau, Sở Thành Vương đem các đồ lễ vật lấy được của nước Tống chia cho Văn Vu một nửa, rồi bắt hai cháu gái đem về nước Sở. Quan đại phu nước Trịnh là Thúc Thiêm than rằng: - Vua Sở càn dỡ như vậy thì toàn vẹn thế nào được! Lại nói chuyện Công tử Trùng Nhĩ nước Tấn sang đến nước Tề ở được 7 năm, gặp khi Tề Hoàn công mất, các con tranh nhau nối ngôi, trong nước đại loạn; đến khi Tề Hiếu công lên ngôi, lại đổi hết cả chính sự, giảng hòa với Sở, gây thù với Tống, thành ra nhiều chuyện lôi thôi. Bọn Triệu Thôi bàn riêng với nhau rằng: - Chúng ta theo Công tử Trùng Nhĩ sang đây là muốn nhờ binh lực nước Tề để về phục quốc, nay nước Tề lắm việc như vậy, thì tất là không giúp được Công tử ta rồi, chi bằng chúng ta sang nước khác để lo liệu. Nói xong, định thương nghị với Công tử Trùng Nhĩ. Bấy giờ Công tử Trùng Nhĩ say đắm nàng Tề Khương, ngày đêm chỉ uống rượu vui, chẳng thiết việc gì cả. Bọn Triệu Thôi chầu chực mãi trong 10 ngày mà không được gặp mặt. Ngụy Thù giận lắm, nói: - Chúng ta tưởng Công tử là người có chí, nên ra công lặn lội theo tới đây, nay ở nước Tề, thấm thoát đã 7 năm trời mà lười biếng ham mê như vậy, khiến cho chúng ta đến 10 ngày nay không được gặp mặt, thế thì bao giờ cho thành sự được! Hồ Yển nói: - Đây không phải là chỗ chúng ta họp nhau nói chuyện, các ngươi theo ta đến đằng kia. Nói xong, liền kéo nhau ra ngoài Đông môn, đến một chỗ gọi là Tang Âm. Chỗ ấy là một bãi dâu, dâu mọc xanh um cả, bóng mặt trời không chiếu đến đất. Triệu Thôi cùng với các vị hào kiệt xúm quanh một vòng ở dưới đất mà ngồi. Triệu Thôi hỏi Hồ Yển rằng: - Nhà ngươi định thế nào? Hồ Yển nói: - Công tử đi hay không cũng bởi ở chúng ta thôi. Chúng ta cứ thu xếp sẵn hành trang, rồi giả cách mời Công tử đi săn mà bắt ép phải đi thì mới được việc, nhưng trước hết hãy bàn định xem nên đi nước nào hơn. Triệu Thôi nói: - Nay vua Tống đang có chí muốn làm bá chủ, mà lại hay hiếu danh, ta nên sang đấy; bằng sang đấy mà không được bấy giờ ta sẽ sang Tần và Sở, tất thế nào cũng có nước giúp ta. Hồ Yển nói: - Tôi cùng với quan tư mã nước Tống là công tôn Cố có quen biết nhau, nay sang qua, thử xem hắn xử ra làm sao! Các người bàn định nhau một lúc thì tan, vẫn tưởng rằng ở nơi bãi dâu vắng vẻ không ai biết cả, ngờ đâu trong bụi dâu có một bọn thị nữ của Tề Khương hơn 10 người đang hái dâu về nuôi tằm nghe tiếng các người bàn định, liền đứng nép một chỗ rình xem sự tình ra làm sao. Khi nghe được hết cả sự tình rồi, về nói lại với Tề Khương. Tề Khương mắng rằng: - Chúng bay chỉ nói càn, có đâu những việc ấy! Nói xong, liền bắt bọn thị nữ ấy giam vào một cái phòng kín, đến nửa đêm giết chết cả đi; để cho công việc khỏi tiết lộ ra ngoài rồi vào đánh thức Trùng Nhĩ dậy mà bảo rằng: - Các ngươi theo hầu Công tử, định đem Công tử đi nước khác, có mấy đứa thị nữ hái dâu nghe được, về nói với thiếp, thiếp sợ công việc tiết lộ ra ngoài, hoặc sinh ra sự ngăn trở gì chăng, hiện đã giết bỏ mấy đứa ấy đi rồi, Công tử nên mau mau thu xếp để mà khởi hành. Trùng Nhĩ nói: - Người ta ở đời, quí hồ được vui vẻ sung sướng thì thôi, ta đành ở đây cho yên thân, nhất định không đi đâu cả! Tề Khương nói: - Từ khi Công tử đi trốn đến giờ, nước Tấn không năm nào được yên, ấy là lòng trời có ý đợi Công tử đó. Công tử đi chuyến này, tất thu phục được nước Tấn, xin Công tử phải quyết đoán mới được. Trùng Nhĩ ham mê Tề Khương, vẫn không chịu đi. Ngày hôm sau, bọn Triệu Thôi đứng ở ngoài cửa cung, sai người nói xin mời Công tử Trùng Nhĩ đi săn. Trùng Nhĩ còn đang nằm nghỉ chưa dậy, sai người ra bảo rằng: - Công tử hơi mệt trong mình, chưa dậy chải gội được, hôm nay không đi. Tề Khương nghe nói, sai người mời một mình Hồ Yển vào, rồi đuổi hết người chung quanh và hỏi Hồ Yển rằng: - Nhà ngươi mời Công tử đi săn là có ý gì? Hồ Yển nói: - Khi trước Công tử ở nước Địch, chẳng ngày nào không đi săn, từ khi sang đây, đã lâu lắm không đi, chúng tôi sợ sinh lười biếng, vậy phải đến mời, chứ có ý gì đâu! Tề Khương cười tủm tỉm mà nói rằng: - Lần này đi săn, không sang nước Tống thì tất sang nước Tấn và nước Sở, có phải thế không? Hồ Yển giật mình kinh sợ, nói: - Đi săn, có đâu lại xa như vậy! Tề Khương nói: - Các người muốn đem Công tử trốn đi, tôi đã biết cả rồi, lại còn giấu giếm gì nữa! Đêm mới rồi, tôi cũng cố khuyên Công tử, nhưng mà Công tử nhất định không nghe, âu là chiều hôm nay tôi bày một tiệc rượu, đổ cho Công tử thật say, rồi các người vực lên xe mà đem đi thì mới được việc. Hồ Yển sụp lạy nói rằng: - Nếu phu nhân dứt bỏ tình riêng, để giúp nên việc lớn cho Công tử thì hiền đức ấy thật không mấy người theo kịp! Nói xong, Hồ Yển cáo từ lui ra, về nói chuyện với bọn Triệu Thôi, rồi thu xếp các đồ hành trang, kéo nhau ra đợi sẵn ở ngoài cõi chỉ có Hồ Yển, Ngụy Thù và Điên Hiệt ba người đem hai cái xe nhỏ chực ở ngoài cửa cung, để chờ tin Tề Khương. Chiều hôm ấy, Tề Khương bày tiệc ở trong cung, mời Công tử Trùng Nhĩ uống rượu, Trùng Nhĩ nói: - Có việc gì mà bày tiệc làm vậy? Tề Khương nói: - Thiếp nghe nói Công tử có chí muốn về nước, gọi là có chén rượu nhạt để tiễn chân. Trùng Nhĩ nói: - Người ta ở đời, khác nào như bóng ngựa câu đi qua cửa sổ, quí hồ yên phận thì thôi, còn cầu cạnh làm chi nữa! Tề Khương nói: - Đã gọi là trượng phu thì nên lập chí! Nay các người theo hầu hết sức giúp Công tử, Công tử phải nghe lời mới được. Trùng Nhĩ có ý giận, bỏ chén rượu không uống nữa. Tề Khương nói: - Công tử thật không muốn đi, hay là nói dối thiếp? Trùng Nhĩ nói: - Ta quyết không đi, khi nào lại nói dối! Tề Khương vừa cười vừa nói: - Đi là cái chí của Công tử, mà không đi là cái tình của Công tử. Tiệc rượu này thiếp định để tiễn Công tử, bây giờ dùng để lưu Công tử chớ sao! Thiếp xin cùng với Công tử uống rượu thật vui! Trùng Nhĩ bằng lòng. Hai vợ chồng cùng nhau chén thù chén tạc, lại sai các thị nữ múa hát để dâng rượu cho Trùng Nhĩ, Trùng Nhĩ không thể uống được nữa. Tề Khương lại cố ép mãi, thành ra say quá, nằm phục xuống giường, Tề Khương lấy chăn đắp lại, rồi sai người gọi Hồ Yển. Hồ Yển biết là Trùng Nhĩ đã say rượu rồi, vội vàng đem Ngụy Thù và Điên Hiệt vào cung, cứ để nguyên cả chăn chiếu mà khiêng Trùng Nhĩ ra để lên trên xe. Hồ Yển cáo từ Tề Khương, rồi lên xe đem Trùng Nhĩ đi. Tề Khương ứa nước mắt xuống mà trở vào. Đi đến ngoài cõi nước Tề, cùng với bọn Triệu Thôi hợp làm một, đi suốt đêm hôm ấy được năm, sáu mươi dặm; gà gáy tứ phía, trời đã gần sáng, Trùng Nhĩ ở trong xe, mới lục đục cựa dậy, gọi người lấy nước uống. Bấy giờ Hồ Yển cầm cương xe ngồi ở bên cạnh, trả lời rằng: - Muốn uống nước thì xin đợi đến trời sáng. Trùng Nhĩ thấy chỗ nằm lúc lắc không được êm ái, lại nói: - Chúng bay đỡ ta xuống khỏi giường này. Hồ Yển nói: - Giường ở đâu! Xe đây mà! Trùng Nhĩ trừng mắt nhìn hỏi rằng: - Ai thế? Hồ Yển nói: - Tôi là Hồ Yển. Trùng Nhĩ hoảng hốt, tung chăn mà ngồi dậy, quát mắng rằng: - Chúng bay không nói trước cho ta biết, định đem ta đi đâu thế này! Hồ Yển nói: - Chúng tôi định đem nước Tấn mà dâng Công tử đó! Trùng Nhĩ nói: - Tấn chưa thấy đâu, đã bỏ mất Tề, ta không muốn đi! Hồ Yển nói dối rằng: - Bây giờ đi khỏi nước Tề đã hơn 100 dặm rồi! Nếu vua Tề biết Công tử trốn đi, tất nhiên cho quân đuổi bắt, ta chớ nên trở lại. Trùng Nhĩ hầm hầm nổi giận, trông thấy Ngụy Thù cầm ngọn giáo đi ở bên cạnh, liền giật lấy mà đâm Hồ Yển.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 35 Tấn Trùng Nhĩ trở về nước nhà Tần Hoài Doanh vui vầy duyên mới

Công tử Trùng Nhĩ tức giận Hồ Yển dùng kế đánh lừa mình, liền giật lấy ngọn giáo của Ngụy Thù để đâm Hồ Yển. Hồ Yển vội vàng xuống xe bỏ chạy. Trùng Nhĩ cũng xuống xe, cầm giáo đuổi theo. Bọn Triệu Thôi xúm nhau lại để khuyên can. Trùng Nhĩ vứt ngọn giáo xuống đất mà vẫn chưa nguôi cơn giận. Hồ Yển sụp lạy xin lỗi rằng: - Công tử giết tôi mà nên việc được thì tôi chết cũng còn hơn sống. Trùng Nhĩ nói: - Chuyến này đi được việc thì thôi, bằng không được việc thì ta quyết ăn thịt nhà ngươi! Hồ Yển cười mà đáp rằng: - Nếu không được việc thì Hồ Yển này chưa biết sống chết ở đâu, Công tử muốn ăn thịt cũng không được, nhược bằng được việc thì bấy giờ Công tử chẳng thiếu gì các đồ ngọc thực, thịt Hồ Yển này tanh hôi, bõ gì mà ăn. Bọn Triệu Thôi nói: - Chúng tôi thấy Công tử là người có chí, vậy nên bỏ cửa nhà và vợ con mà theo Công tử, cũng mong được chút công lưu truyền sử sách về sau. Nay Di Ngô là người vô đạo, người trong nước ai cũng muốn Công tử về làm vua, nhưng Công tử không nghĩ cách để về thì ai sang đây để đón Công tử cho được. Việc này thật là tự ý chúng tôi bàn nhau, không phải tại một mình Tử Phạm (tên tự của Hồ Yển), xin Công tử chớ nghĩ lầm. Ngụy Thù cũng nói to lên rằng: - Kẻ trượng phu nên lập chí để lưu truyền danh tiếng về sau, cớ sao lại cứ khu khu ham mê cái tình nhi nữ mà không nghĩ đến cơ nghiệp to tát của mình. Trùng Nhĩ nghiêm nét mặt lại đáp rằng: - Đã như vậy thì ta xin theo ý các ngươi. Hồ Mao dâng lương khô. Giới Tử Thôi dâng nước uống. Trùng Nhĩ cùng mọi người đều ăn. Bọn Hồ Thúc đi cắt cỏ cho ngựa, rồi sửa soạn hành trang, thẳng đường tiến sang nước Tào. Tào Cung công tính hay chơi bời, không thiết nghĩ gì đến chính trị, chỉ tin dùng những kẻ tiểu nhân xu nịnh. Bọn tiểu nhân ấy thấy những người theo hầu Công tử Trùng Nhĩ đều là tay hào kiệt cả, đem lòng ghen ghét, không muốn cho ở lâu tại nước Tào, liền xui Tào Cung công chớ nên tiếp đãi. Quan đại phu là Hi Phụ Cơ can rằng: - Nước Tào ta cùng nước Tấn nguyên là thân thuộc với nhau. Nay Công tử Trùng Nhĩ gặp lúc cùng khổ mà qua nước ta, ta nên tiếp đãi mới phải. Tào Cung công nói: - Tào là một nước nhỏ mà ở giữa các nước, những công tử các nước đi lại nhiều lắm, nếu ai cũng hậu đãi cả thì tốn kém vô cùng, chịu sao cho nổi. Hi Phụ Cơ nói: - Công tử Trùng Nhĩ có tiếng là người hiền, vả lại con mắt hai đồng tử, xương sườn dính liền nhau, ấy là một người có quí tướng, không nên coi như các vị công tử tầm thường khác. Tào Cung công nói: - Trùng Nhĩ con mắt hai đồng tử thì ta đã biết rồi, còn xương sườn dính liền với nhau là thế nào? Hi Phụ Cơ nói: - Nghĩa là mấy cái xương sườn dính liền với nhau làm một, đó là quí tướng lắm! Tào Cung công nói: - Ta không tin, hãy để Trùng Nhĩ ở nhà công quân, đợi khi nào tắm rồi ta sẽ đến xem. Nói xong, liền sai người mời Trùng Nhĩ vào công quán, và cấp các đồ ăn uống, chứ Tào Cung công không ra tiếp đãi. Trùng Nhĩ giận lắm không ăn. Tào Cung công lại sai người mời Trùng Nhĩ ra tắm. Trùng Nhĩ nhân khi đi đường sá bụi bẩn, cũng muốn tắm rửa cho được sạch sẽ, mới cởi áo để đi tắm. Tào Cung công cùng với mấy người cận thần, lẻn đến tận nơi để xem, cười nói ầm ĩ, rất là vô lễ, một lúc lại kéo nhau về cả. Bọn Hồ Yển thấy nói có người lạ, vội vàng chạy đến, cũng nghe tiếng cười nói rầm rĩ, hỏi ra mới biết là vua nước Tào. Trùng Nhĩ và bọn Hồ Yển đều không bằng lòng. Hi Phụ Cơ từ khi can Tào Cung công không nghe, trở về đến nhà, vợ là Lã Thị trông thấy nét mặt âu sầu, liền hỏi Hi Phụ Cơ rằng: - Chẳng hay trong triều hôm nay có việc gì mà phu quân coi ra ý buồn bã như vậy? Hi Phụ Cơ đem chuyện Trùng Nhĩ đến mà Tào Cung công không tiếp đãi kể lại cho vợ nghe. Lã Thị nói: - Mới rồi thiếp đi hái dâu ở ngoài cõi, trông thấy bọn Trùng Nhĩ đi qua, thiếp không trông rõ Trùng Nhĩ, nhưng thấy các người theo hầu đều là tay hào kiệt cả, xem thế đủ biết rằng Trùng Nhĩ tất có ngày thu phục được nước Tấn, bấy giờ đem quân sang đánh nước Tào ta thì ta hối sao cho kịp! Chúa công đã không nghe lời, phu quân nên nghĩ cách mà tư giao với Trùng Nhĩ; thiếp xin sửa soạn mấy bàn thực phẩm, rồi để lẫn ngọc bạch bích vào mà dâng Trùng Nhĩ. Phu quân nên đi ngay. Hi Phụ Cơ theo lời, đêm hôm ấy đến công quán yết kiến Trùng Nhĩ. Trùng Nhĩ đang đói bụng ngồi một mình, nghĩ đến Tào Cung công mà tức giận. Bỗng nghe có quan đại phu nước Tào là Hi Phụ Cơ xin vào yết kiến và dâng đồ thực phẩm. Trùng Nhĩ cho mời vào. Hi Phụ Cơ sụp lạy, trước hết xin lỗi hộ cho vua Tào, rồi sau mới thuật đến cái tình tư giao của mình và dâng đồ thực phẩm. Trùng Nhĩ khen rằng: - Không ngờ nước Tào mà có người bày tôi hiền như thế này, khi tôi phục quốc rồi, sẽ xin báo ơn lại. Trùng Nhĩ ngồi ăn, trông thấy trong mâm cơm có ngọc bạch bích, mới bảo Hi Phụ Cơ rằng: - Quan đại phu có lòng tử tế mà cho ăn, để tôi được khỏi đói, thế là quý lắm rồi, sao lại dùng đến ngọc bạch bích? Hi Phụ Cơ nói: - Đó là tấm lòng kính mến của chúng tôi, xin Công tử cứ nhận cho. Trùng Nhĩ nhất định không lấy ngọc bạch bích. Hi Phụ Cơ lui về, nói riêng một mình rằng: - Trùng Nhĩ cùng khổ như vậy, mà không tham ngọc bạch bích của ta, thế thì cái chi to tát biết thế nào mà lường cho được. Ngày hôm sau, Trùng Nhĩ đi. Hi Phụ Cơ lại tiễn ra ngoài thành, đến 10 dặm đường, rồi mới trở về, Trùng Nhĩ bỏ nước Tào đi sang nước Tống. Hồ Yển vào yết kiến quan tư mã nước Tống là công tôn Cố, nói: - Chúa công tôi không tự lượng sức mình, cùng với Sở đánh nhau, để đến nỗi thua trận bị thương, bây giờ cũng chưa dậy được; nhưng chúa công tôi vẫn nghe tiếng Trùng Nhĩ, có lòng kính mến đã lâu, nay Trùng Nhĩ đến, thế nào chúa công cũng trọng đãi. Công tôn Cố vào nói với Tống Tương công. Tống Tương công bấy giờ đang căm tức nước Sở, nghe nói Trùng Nhĩ đến, nghĩ thầm trong lòng rằng Tấn là một nước lớn, Công tử Trùng Nhĩ lại là người hiền, mai sau tất trị nổi nước Sở, mới có ý mừng rỡ; ngặt vì bị thương chưa khỏi, không ra nghênh tiếp được, liền sai công tôn Cố mời Trùng Nhĩ vào nhà công quán, trọng đãi như là vua chư hầu. Ngày hôm sau, Trùng Nhĩ cáo từ xin đi. Công tôn Cố lại phụng mệnh Tống Tương công ra mời ở lại, và hỏi riêng Hồ Yển rằng: - Khi Công tử qua nước Tề thì Tề Hoàn công tiếp đãi như thế nào? Hồ Yển kể lại những chuyện Tề Hoàn công gả Tề Khương cho Trùng Nhĩ và tặng Tống các đồ xe ngựa. Công tôn Cố về tâu với Tống Tương công. Tống Tương công nói: - Công tử năm xưa đã lấy con gái nước Tống ta rồi, nay ta xin tặng tống các đồ xe ngựa. Trùng Nhĩ cảm tạ vô cùng, ở lại trong mấy ngày nữa. Hồ Yển thấy bệnh tình của Tống Tương công không có cơ khỏi được, liền đem việc phục quốc bàn riêng với công tôn Cố. Công tôn Cố nói: - Công tử nay đi đường nhọc, muốn tạm nghỉ ở nước tôi thì nước tôi dầu nhỏ, cũng có thể cung cấp được; nhược bằng muốn nhờ binh lực nước tôi để phục quốc thì nước tôi vừa mới bại trận xong, khó lòng giúp nổi, xin Công tử đi cầu nước khác. Hồ Yển nói: - Ngài bảo thực như thế là phải lắm! Nói xong, liền bảo Trùng Nhĩ, rồi thu xếp hành trang để đi. Tống Tương công nghe nói Trùng Nhĩ đi, lại sai người đưa tặng các đồ lương thực và quần áo. Trùng Nhĩ đi rồi, Tống Tương công bệnh mỗi ngày một nặng, chẳng được bao lâu thì mất; lúc gần mất bảo Thế tử Vương Thần rằng: - Ta không nghe lời Tử Ngư (Công tử Mục Di), đến nỗi thua trận, nay con lên nối ngôi, việc gì cũng phải hỏi Tử Ngư mới được. Sở là một nước thù với ta, chớ cùng với Sở giao hiếu; còn Công tử Trùng Nhĩ khi về nước Tấn, tất có cơ làm chủ các nước chư hầu được, con nên giao hiếu với Tấn để giữ yên lấy nước nhà. Thế tử Vương Thần sụp lạy, Tống Tương công mất. Thế tử Vương Thần lên nối ngôi, tức là Tống Thành công. Trùng Nhĩ bỏ nước Tống đến nước Trịnh. Có người báo với Trịnh Văn công. Trịnh Văn công bảo các quan rằng: - Trùng Nhĩ phản cha mà đi trốn, các nước không ai tiếp đãi cả, đi đến đâu đói khát đến đấy, đó là người bất hiếu, chớ nên kính trọng. Quan thượng khanh là Thúc Thiêm can rằng: - Trùng Nhĩ có ba điều hay, thật là lòng trời muốn giúp, ta chớ nên coi thường. Trịnh Văn công hỏi: - Thế nào gọi là ba điều hay? Thúc Thiêm nói: - Trùng Nhĩ xưa nay vẫn có tiếng là người hiền, đó là một điều hay; từ khi đi trốn đến giờ, nước Tấn không lúc nào được yên, có cơ hội phục quốc được, đó là hai điều hay; Triệu Thôi, Hồ Yển là những bậc hào kiệt đời bây giờ, mà đều theo giúp Trùng Nhĩ cả, đó là ba điều hay. Trùng Nhĩ đã có ba điều hay ấy, chúa công phải trọng đãi mới được. Trịnh Văn công nói: - Trùng Nhĩ nay già rồi, còn làm gì nổi! Thúc Thiêm nói: - Nếu chúa công không trọng đãi Trùng Nhĩ thì nên đem giết đi, chớ để gây sự thù oán mà thành ra tai vạ về sau. Trịnh Văn công vừa cười vừa nói: - Nhà ngươi nói khí quá! Đã bảo ta trọng đãi, lại bảo ta giết đi. Dẫu ta trọng đãi hay là giết đi, cũng chẳng quan hệ chi đến điều ấy! Nói xong, truyền đóng cửa thành không cho Trùng Nhĩ vào. Trùng Nhĩ thấy Trịnh Văn công không nghênh tiếp, liền thẳng đường đi sang nước Sở, vào yết kiến Sở Thành Vương. Sở Thành Vương cũng trọng như vua các nước chư hầu. Trùng Nhĩ khiêm nhường không dám nhận lễ. Triệu Thôi đứng ở bên cạnh, bảo Trùng Nhĩ rằng: - Công tử trốn đi ở ngoài, hơn 10 năm nay, các nước nhỏ còn có ý khinh bỉ, huống chi là nước lớn; nay nước Sở lại trọng đãi như vậy, cũng là lòng trời xui khiến, xin Công tử cứ nhận. Trùng Nhĩ mới nhận lễ. Sở Thành Vương tiếp đãi rất cung kính. Trùng Nhĩ ứng đối cũng rất lễ phép. Hai người rất tương đắc. Trùng Nhĩ mới ở yên nước Sở. Một hôm, Sở Thành Vương cùng với Trùng Nhĩ đi săn ở đất Vân Mộng. Sở Thành Vương khoe khoang võ nghệ, bắn luôn hai phát, trúng được một con hươu và một con thỏ. Các tướng sụp lạy để chúc mừng. Bỗng có một con gấu chạy qua trước xe, Sở Thành Vương trông thấy, bảo Trùng Nhĩ rằng: - Sao Công tử không bắn đi? Trùng Nhĩ tay rút mũi tên, để vào cái cung; miệng lẩm nhẩm khấn rằng: - Nếu ta được về làm vua nước Tấn thì xin cho phát tên này trúng vào chân phải con gấu. Nói xong, giương cung ra bắn, trúng ngay vào chân phải con gấu. Sở Thành Vương kinh sợ cái tài Trùng Nhĩ mà khen rằng: - Công tử bắn giỏi lắm! Được một lúc, bỗng nghe tiếng quân sĩ huyên náo, kêu rầm cả lên. Sở Thành Vương thấy lạ, sai người hỏi. Quân sĩ về báo rằng: - Có một con thú ở trong hang núi chạy ra, giống gấu mà không phải gấu, mũi như mũi voi, đầu như đầu sư tử, chân như chân hổ, lông như lông sài, bờm như bờm dã thỉ, đuôi như đuôi trâu, mình to hơn mình ngựa, vằn nó đen trắng nham nhở, gươm giáo cung tên cũng không làm chết được. Nó ăn sắt như ăn bùn, dẫu những thỏi sắt bằng cái trục xe, mà nó cũng nhai biến ra được. Nó lại nhanh nhẹn lắm, người ta không thể trị nổi, bởi thế nên quân sĩ sợ hãi mà huyên náo cả lên. Sở Thành Vương bảo Trùng Nhĩ rằng: - Công tử sinh trưởng ở trung quốc, tất biết tên giống thú ấy. Trùng Nhĩ ngoảnh lại nhìn Triệu Thôi. Triệu Thôi nói: - Giống thú ấy tên là con mạc, bởi kim khí ở trong đất mà sinh ra, đầu nhỏ chân thấp, hay ăn các thứ đồng và sắt. Đem nước tiểu của nó mà tưới vào các loài kim thì các loài kim đều chảy ra nước cả. Xương nó rắn mà đặc, trong không có tủy, dùng làm gậy chống được. Da nó dùng làm chăn đắp, có thể trừ được những thứ lam chướng. Sở Thành Vương nói: - Thế thì dùng cách gì mà trị nó được? Triệu Thôi nói: - Da thịt nó đều như sắt cả, chỉ có một đường lỗ mũi là có thể dùng ngọn giáo bằng thép mà đâm vào; hoặc dùng lửa mà đốt lên thì chết ngay, bởi vì loài kim thường hay kỵ lửa. Triệu Thôi vừa nói xong, Ngụy Thù ở bên cạnh quát to lên rằng: - Tôi không cần phải dùng đồ binh khí, xin bắt sống được con thú ấy đem về dâng đại vương. Nói xong, liền ở trên xe bước xuống, chạy đi để bắt con thú ấy. Sở Thành Vương bảo Trùng Nhĩ rằng: - Tôi và Công tử, ta cùng đi xem ra làm sao. Nói xong, liền giục đánh xe đi để xem. Ngụy Thù trông thấy con thú ấy tức khắc nắm tay xông vào, đánh luôn mấy cái, con thú ấy không sợ hãi gì cả, kêu rầm rĩ lên như tiếng trâu rống, rồi chồm đứng dậy, thè lưỡi liếm Ngụy Thù mất cả một mảnh áo giáp. Ngụy Thù nổi giận, liền nhẩy mạnh một cái, cưỡi ngay lên mình con thú, hai tay bóp chặt lấy cổ. Con thú ấy vừa chồm vừa giãy, mà Ngụy Thù vẫn cưỡi ở trên lưng. Được một lúc, con thú ấy ngạt hơi, nằm phục vị xuống, không thể cựa quậy được. Ngụy Thù nhảy xuống, nắm lấy vòi con thú lôi đến trước mặt Sở Thành Vương và Trùng Nhĩ. Triệu Thôi sai quân sĩ lấy lửa hun vào đầu vòi, hơi lửa thấu vào, con thú ấy mềm cả mình mẩy ra, bấy giờ Ngụy Thù mới buông tay rút thanh bảo kiếm để chém, nhưng chém không đứt. Triệu Thôi nói: - Muốn lột lấy da con thú ấy thì phải hun lửa mới được. Sở Thành Vương theo lời, truyền cho quân sĩ đem lửa ra hun rồi lột da con thú ấy. Sở Thành Vương bảo Trùng Nhĩ rằng: - Các ngươi theo hầu Công tử thực là những tay hào kiệt, nước tôi không được ai như thế! Bấy giờ tướng nước Sở là Thành Đắc Thần đứng ở bên cạnh, hơi có ý không phục, liền nói với Sở Thành Vương rằng: - Đại vương khen bày tôi nước Tấn là người có dũng lực, tôi xin cùng với người nước Tấn đấu võ. Sở Thành Vương không cho, lại bảo Thành Đắc Thần rằng: - Người ta là khách, mình nên kính trọng mới phải. Ngày hôm ấy đi săn về, bày tiệc uống rượu rất vui vẻ. Trong khi ăn tiệc, Sở Thành Vương bảo Trùng Nhĩ rằng: - Khi Công tử đã về nước rồi, định lấy gì để đền ơn nước Sở tôi. Trùng Nhĩ nói: - Các đồ châu ngọc và con gái thì đại vương chẳng thiếu gì; còn các đồ sản vật thì quí quốc lại nhiều hơn nước tôi, tôi biết lấy gì mà đền ơn đại vương được. Sở Thành Vương vừa cười vừa nói: - Dẫu thế nào cũng tất có đền ơn, xin Công tử cho biết trước. Trùng Nhĩ nói: - Nhờ cái uy linh của đại vương mà tôi về nước Tấn được thì tôi xin cùng với đại vương giao hiếu để cho dân hai nước được yên ổn; hoặc bất đắc dĩ mà cùng với đại vương giao chiến nữa thì xin tạm lui trong ba xá để nhường đại vương. Tiệc xong, Thành Đắc Thần (tướng nước Sở) có ý tức giận, nói với Sở Thành Vương rằng: - Đại vương trọng đãi Trùng Nhĩ như thế, mà Trùng Nhĩ nói nhiều câu không được lịch sự, vậy thì ngày khác về nước Tấn, tất nhiên phụ ơn nước ta, xin đại vương cho phép tôi giết đi. Sở Thành Vương nói: - Công tử Trùng Nhĩ là người hiền, các người đi theo hầu cũng đều là những bậc tài giỏi cả, tựa hồ như có trời giúp; nước Sở ta cũng không nên trái ý Trời. Thành Đắc Thần nói: - Nếu đại vương không giết Trùng Nhĩ thì nên bắt lấy mấy người trong bọn Hồ Yển và Triệu Thôi, chớ để cho con hổ lại thêm cánh. Sở Thành Vương nói: - Dẫu bắt người ta ở lại, mình cũng không dùng được người ta, chỉ làm cho người ta oán, nay ta đang làm ơn với Trùng Nhĩ, không nên như thế. Bấy giờ vua nước Lương vô đạo, không biết thương dân, chỉ chăm về sự đắp thành đào hào, dân trong nước ai cũng ta oán, nhiều người trốn sang nước Tần. Tần Mục công thấy lòng dân oán vua Lương như vậy, liền sai Bách Lý Hề cử binh sang đánh lấy nước Lương. Bấy giờ con Tấn Huệ công là thế tử Ngữ vẫn ở làm con tin bên nước Tần đã lâu, nay nghe tin Tần Mục công đem quân sang đánh nước Lương, mới có lòng oán giận nước Tần (nguyên mẹ thế tử Ngữ là người nước Lương). Sau nghe tin Tấn Huệ công bị bệnh ốm mới nghĩ thầm trong bụng rằng: - Nay ta một mình ở nước ngoài, vạn nhất mà phụ thân ta mất đi, các quan đại phu lại lập người khác lên nối ngôi thì làm thế nào, chi bằng ta trốn về là hơn. Nghĩ xong, đêm hôm ấy nói chuyện với vợ là Hoài Doanh, rồi rủ vợ cùng trốn về nước Tấn. Hoài Doanh ứa nước mắt xuống đáp rằng: - Chúa công sai thiếp nâng khăn sửa túi hầu thế tử, là muốn khiến cho thế tử khỏi nhớ nhà, nếu thiếp lại đi theo thế tử thì tội to lắm! Thế tử muốn về cũng là phải, xin thế tử cứ tùy tiện, đừng nói chuyện với thiếp. Thiếp không dám theo thế tử, nhưng cũng xin giấu kín cho thế tử, mà không nói với ai cả. Thế tử Ngữ trốn về nước Tấn. Tần Mục công nghe tin thế tử Ngữ trốn đi, có ý giận lắm, bảo các quan đại phu rằng: - Hai cha con Di Ngô đều phụ ơn ta, ta tất phải báo thù. Nói xong, lại phàn nàn rằng: - Tiếc thay! Bấy giờ ta không lập Trùng Nhĩ lên làm vua nước Tấn! Tần Mục công tức khắc sai người đi dò la tông tích Trùng Nhĩ xem ở nước nào; nghe tin Trùng Nhĩ đang ở nước Sở đã mấy tháng nay, liền bảo công tôn Chi sang nước Sở để đón Trùng Nhĩ. Trùng Nhĩ giả cách nói với Sở Thành Vương rằng: - Tôi sang đây là có ý muốn nhờ đại vương, không muốn lại phiền đến vua Tần nữa. Sở Thành Vương nói: - Nước Sở tôi cùng với nước Tấn xa cách nhau lắm, mà nước Tần thì tiếp giáp với nước Tấn. Vua nước Tần vốn là người hiền, nay lại không bằng lòng với Di Ngô, ấy là một cái cơ hội trời giúp cho Công tử đó, Công tử nên đi. Trùng Nhĩ tạ ơn Sở Thành Vương, rồi đi sang nước Tấn. Tần Mục công nghe tin Trùng Nhĩ đến, mừng rỡ tiếp đón một cách rất trọng thể. Mục Cơ (vợ Tần Mục công) cũng kính mến Trùng Nhĩ mà ghét thế tử Ngữ, mới nói với Tần Mục công xin đem nàng Hoài Doanh gả cho Trùng Nhĩ. Tần Mục công bảo Mục Cơ báo trước với Hoài Doanh. Hoài Doanh nói: - Thiếp đã tủi phận mà kết duyên với thế tử Ngữ rồi, nay lại đem thân hầu hạ người khác hay sao! Mục Cơ nói: - Thế tử Ngữ quyết không sang đây nữa. Nay Trùng Nhĩ là người hiền mà lắm kẻ giúp, tất nhiên được về làm vua; nếu nhà ngươi kết duyên với Trùng Nhĩ thì khi Trùng Nhĩ về làm vua, tất nhiên nhà ngươi được lập lên làm phu nhân, thành ra Tần Tấn hai nước, đời đời cùng kết thân với nhau mãi. Hoài Doanh nín lặng giờ lâu, rồi nói rằng: - Nếu như vậy, thiếp có tiếc gì một thân thiếp mà chẳng khiến cho hai nước giữ được tình hòa hiếu. Tần Mục công lại sai công tôn Chi nói chuyện với Trùng Nhĩ. Trùng Nhĩ ngại về một điều Công tử Ngữ là cháu gọi mình bằng chú, toan từ chối, không nhận. Triệu Thôi nói với Trùng Nhĩ rằng: - Tôi nghe nói Hoài Doanh là người đẹp mà có tài, nước Tần vẫn có lòng yêu lắm, nếu ta muốn nhờ sức nước Tần thì nên phải lấy con gái nước Tần mới được, xin Công tử chớ từ chối. Trùng Nhĩ lại bàn với Hồ Yển. Hồ Yển hỏi: - Nay Công tử về nước, định làm tôi thế tử Ngữ, hay là định thay thế tử Ngữ mà lên làm vua? Trùng Nhĩ nín lặng, không nói gì cả. Hồ Yển nói: - Công tử định làm tôi thế tử Ngữ thì Hoài Doanh là quốc mẫu; nếu định thay thế tử Ngữ mà lên làm vua thì Hoài Doanh tức là người cừu địch, lại còn ngại gì nữa! Trùng Nhĩ có ý thẹn. Triệu Thôi nói: - Ta còn định cướp ngôi của thế tử Ngữ, huống chi là vợ. Muốn nên việc lớn mà còn giữ tiết nhỏ thì sau hối không kịp! Trùng Nhĩ nghe nói, mới thuận kết duyên với Hoài Doanh. Công tôn Chi vào nói với Tần Mục công. Tần Mục công chọn ngày tốt, rồi cho làm lễ cưới. Hoài Doanh nhan sắc đẹp hơn Tề Khương. Trùng Nhĩ mừng lắm, quên hết những sự khó nhọc trong khi đi đường. Tần Mục công vốn trọng Công tử Trùng Nhĩ, lại thêm có tình thân thuộc, càng hậu đãi Trùng Nhĩ hơn. Bọn Triệu Thôi và Hồ Yển cũng nhân dịp được kết giao với các quan đại phu nước Tần là bọn Kiển Thúc, Bách Lý Hề và công tôn Chi để bàn sự phục quốc. Thế tử Ngữ từ khi ở nước Tần trốn về, vào yết kiến Tấn Huệ công. Tấn Huệ công mừng lắm, nói: - Ta yếu đau đã lâu ngày, đang buồn rằng không có người phó thác, nay con trốn về đây được, ta mới yên lòng. Tháng chín năm ấy thì Tấn Huệ công đau nặng quá, mới gọi Lã Di Xanh và Khước Nhuế vào mà dặn rằng: - Hai ngươi nên cố sức giữ gìn cho thế tử Ngữ. Hiện nay các vị công tử, không phải lo ngại ai cả, chỉ nên phòng có Trùng Nhĩ mà thôi. Lã Di Xanh và Khước Nhuế sụp lạy xin vâng mệnh. Đêm hôm ấy, Tấn Huệ công mất. Lã Di Xanh và Khước Nhuế tôn thế tử Ngữ lên nối ngôi, tức là Tấn Hoài công. Tấn Hoài công lo Trùng Nhĩ ở ngoài, tất có ngày sinh biến, mới hạ lệnh rằng: - Phàm những người bày tôi nước Tấn theo Trùng Nhĩ đi trốn, hạn trong bảy tháng, họ hàng ở nhà phải viết thư gọi về. Ai đúng trong hạn mà về thì tha tội, lại được phục chức cũ; nếu quá hạn không về, đều kết án xử tử vắng mặt, mà cha con anh em ở nhà cũng bắt phải tội chết. Lão quốc cữu là Hồ Đột có hai con: Hồ Mao và Hồ Yển đều theo Trùng Nhĩ ở nước Tần. Khước Nhuế khuyên Hồ Đột nên viết thư gọi về. Hồ Đột nhất định không nghe. Khước Nhuế vào nói với Tấn Hoài công rằng: - Hai con của Hồ Đột đều là người tài giỏi cả, nay theo Trùng Nhĩ, khác nào như hổ thêm cánh, mà Hồ Đột không chịu gọi về thì cũng nên nghi lắm, chúa công thử gọi hắn vào mà bảo, xem ý tứ ra sao. Tấn Hoài công sai người đến triệu Hồ Đột. Hồ Đột biết ý, cùng với người nhà từ giã, rồi vào triều nói với Tấn Hoài công rằng: - Lão thần già ốm ở nhà, chẳng hay chúa công có việc gì mà triệu đến? Tấn Hoài công nói: - Hồ Mao và Hồ Yển ở nước ngoài, lão quốc cữu có viết thư gọi về hay không? Hồ Đột nói: - Tôi chưa viết thư gọi. Tấn Hoài công nói: - Ta đã có hạ lịnh "nếu quá hạn không về thì bắt tội thân thuộc ở nhà", lão quốc cữu không biết hay sao? Hồ Đột nói: - Hai con tôi theo hầu Trùng Nhĩ, cũng đã lâu ngày, tất phải một lòng trung với Trùng Nhĩ, cũng như các quan tại triều mà trung với chúa công. Giả sử nay hai con tôi có trốn về, tôi cũng kể tội mà giết đi, huống chi tôi lại còn gọi về làm gì! Tấn Hoài công nổi giận, sai hai người lực sĩ tuốt hai lưỡi gươm kề vào cổ Hồ Đột mà bảo rằng: - Nếu chịu gọi hai con về thì sẽ tha cho khỏi chết. Tấn Hoài công lại sai người đem giấy bút đến trước mặt Hồ Đột. Khước Nhuế cầm lấy tay Hồ Đột, bắt Hồ Đột phải viết. Hồ Đột kêu to lên rằng: - Không phải nắm tay, tự khắc ta viết! Nói xong viết mấy chữ thật to: "Con không hai cha, bày tôi không hai vua". Tấn Hoài công giận lắm, nói: - Mày không sợ chết à? Hồ Đột nói: - Tôi chỉ sợ làm con không giữ được đạo hiếu, làm bày tôi không giữ được đạo trung mà thôi! Còn như sự chết là thường, can chi mà sợ. Hồ Đột vươn cổ ra để cho mà đâm. Tấn Hoài công sai đem ra chém ở ngoài chợ. Quách Yển trông thấy, thở dài mà than rằng: - Chúa công mới lên nối ngôi, chưa có ân huệ gì cả, mà đã giết chết một người lão thần, thế thì chẳng bao lâu cũng hỏng mà thôi. Nói xong, tức khắc cáo ốm, không đi đến đâu cả. Người nhà Hồ Đột vội vàng trốn sang nước Tần để báo tin cho Hồ Mao và Hồ Yển biết.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 36 Tấn Hoài công trốn sang Cao Lương Tần Mục công phù lập Trùng Nhĩ

Hồ Mao và Hồ Yển theo Công tử Trùng Nhĩ ở nước Tần, nghe tin phụ thân là Hồ Đột bị Tấn Hoài công giết chết, liền vật mình lăn khóc. Triệu Thôi nói: - Người đã chết rồi, không thể sống lại được, dẫu thương cũng vô ích, chi bằng ta vào yết kiến Công tử để bàn việc phục quốc. Hồ Mao và Hồ Yển gạt nước mắt, cùng với Triệu Thôi vào yết kiến Trùng Nhĩ, rồi đem việc Hồ Đột bị hại nói với Trùng Nhĩ. Trùng Nhĩ bảo Hồ Mao và Hồ Yển rằng: - Hai ngươi chớ có lo phiền, chờ khi ta về nước, sẽ báo thù cho hai ngươi. Nói xong, liền đem việc nước Tấn vào nói với Tần Mục công. Tần Mục công nói: - Ấy là cái cơ hội Trời muốn cho Công tử trở về nước Tấn đó, Công tử chớ nên bỏ hoài! Tôi xin hết lòng mà giúp Công tử. Triệu Thôi đỡ lời Trùng Nhĩ mà nói với Tần Mục công rằng: - Nhà vua có lòng giúp thì xin giúp ngay cho, nếu để cho thế tử Ngữ (Tấn Hoài công) đã cải nguyên cáo miếu rồi thì vua tôi yên phận, cũng hơi khó một chút. Tần Mục công khen phải. Trùng Nhĩ cáo từ về nhà công quán. Bỗng nghe báo có người nước Tấn xin vào yết kiến để nói cơ mật. Trùng Nhĩ cho vào hỏi họ tên là gì? Người ấy sụp lạy mà nói rằng: - Tôi là con quan đại phu nước Tấn là Loan Chi, tên gọi Loan Thuẫn. Cha tôi thấy tân quân (Tấn Hoài công) bây giờ tính đa nghi mà lại tàn nhẫn, hay chém giết lắm, dân trong nước đều có lòng oán vậy mới sai tôi sang đây báo tin cho Công tử biết; nếu Công tử đem quân về đánh thì cha tôi xin làm nội ứng. Trùng Nhĩ mừng lắm đính ước với Loan Thuẫn, hẹn đến đầu năm sau thì về. Loan Thuẫn cáo từ trở về nước Tấn. Trùng Nhĩ khấn trời, rồi đem cỏ thi ra bói; bói được hào lục quẻ thái, liền gọi Hồ Yển vào đoán. Hồ Yển nói: - Quẻ này là một quẻ thượng cát, Công tử về nước, chẳng những được nối ngôi, lại có cơ làm bá chủ chư hầu nữa. Trùng Nhĩ đem lời nói của Loan Thuẫn bảo cho Hồ Yển biết. Hồ Yển nói: - Sáng mai Công tử nên vào nói với vua Tần để mượn quân về nước, chớ để chậm trễ. Ngày hôm sau, Trùng Nhĩ vào yết kiến Tần Mục công. Tần Mục công không đợi cho Trùng Nhĩ phải nói, liền bảo với Trùng Nhĩ rằng: - Tôi đã biết Công tử đang nóng về sự phục quốc, để tôi xin thân hành đem quân đưa Công tử về. Trùng Nhĩ tạ ơn lui ra. Phi Báo nghe tin Tần Mục công sắp đem quân đưa Trùng Nhĩ về nước, mới xin làm tiên phong. Tần Mục công thuận cho. Tháng chạp năm ấy, Tần Mục công bày một tiệc rượu ở Cữu Long Sơn để thết đãi Trùng Nhĩ và bọn Triệu Thôi, tặng cho mỗi người một đôi bạch bích, rồi cử đại binh đưa về nước Tấn. Thế tử Doanh nước Tần cũng có lòng kính mến Trùng Nhĩ lắm, đi tiễn chân đến sông Vị Dương, mới từ biệt trở về. Đại binh nước Tần kéo đến bờ sông Hoàng Hà, Tần Mục công truyền bày tiệc cùng với Trùng Nhĩ uống rượu, rồi ân cần dặn Trùng Nhĩ rằng: - Khi Công tử về nước, chớ quên công của vợ chồng tôi. Nói xong, liền chia một nửa quân, sai công tôn Trí và Phi Báo đưa Trùng Nhĩ sang sông Hoàng Hà, còn mình thì đóng quân ở Hà Tây để mong đợi tin tức. Bấy giờ Hồ Thúc là người theo hầu Trùng Nhĩ, từ khi đi trốn đến giờ, vẫn coi giữ các hành lý, đã trải nhiều phen bị khổ sở đói khát ở nước Tào và nước Vệ, bởi vậy vẫn có tính hà tiện, bấy giờ thu nhập được bao nhiêu những đồ chiếu nát màn rách đều xếp xuống thuyền cả; đến những đồ cơm rượu còn thừa, cũng coi như của quí, đem cả xuống thuyền. Trùng Nhĩ trông thấy bật cười bảo rằng: - Ngày nay sắp về làm vua nước Tấn, thiếu gì đồ châu báu, dùng chi đến những vật hủ nát ấy! Nói xong, liền sai người đem quăng bỏ ở trên bờ sông, không còn để một thứ gì lại. Hồ Yển thở dài mà than rằng: - Công tử chưa được phú quí, đã quên bần tiện, mai sau có mới nới cũ, coi lũ chúng ta chẳng khác nào như những vật hủ nát ấy, chẳng cũng uổng cái công khó nhọc trong 19 năm trời lắm sao! Chi bằng ta nhân lúc chưa qua sông này mà từ giã bỏ đi, họa may ngày khác Công tử còn có lòng nghĩ đến. Hồ Yển đem một đôi ngọc bạch bích của Tần Mục công tặng cho khi trước, quì dâng Trùng Nhĩ mà nói rằng: - Nay Công tử qua sông Hoàng Hà này tức là đến địa giới nước Tấn, trong có bày tôi nước Tấn, ngoài có các tướng nước Tần thì ngôi vua nước Tấn chắc hẳn phải về tay Công tử, dẫu có tôi theo, cũng không ích gì; tôi xin ở lại nước Tần để làm ngoại thần của Công tử. Trùng Nhĩ giật mình kinh sợ hỏi rằng: - Ta đang muốn cùng với nhà ngươi hưởng phú quí, sao nhà ngươi lại nói như vậy? Hồ Yển nói: - Vì tôi tự xét mình có ba tội nên không dám theo. Trùng Nhĩ nói: - Ba tội là những tội gì: Hồ Yển trả lời: - Tôi theo giúp Công tử, mà để cho Công tử phải khốn khổ ở đất Ngũ Lộc, thế là một tội; để cho Công tử bị vua Tào và vua Vệ khinh bỉ, thế là hai tội; đánh lừa đem Công tử đi, để cho Công tử phải tức giận thế là ba tội. Ngày trước Công tử còn ở nước ngoài, nên tôi không dám từ chối, nay Công tử đã về đến đây, xin Công tử cho tôi ở lại nước Tần, vì tôi theo hầu trong bấy nhiêu năm, sức vóc đã già yếu lắm rồi, khác nào như những đồ chiếu nát màn rách, không thể dùng được nữa! Trùng Nhĩ ứa nước mắt xuống nói rằng: - Nhà ngươi trách ta, thế là phải lắm, ta xin chịu lỗi. Nói xong, liền sai Hồ Thúc đem những đồ vật bỏ đi ấy đều thu nhặt lại tất cả. Trùng Nhĩ lại ngoảnh mặt xuống sông Hoàng Hà mà thề rằng: - Nếu ta về nước mà quên công các ngươi, không cùng nhau hưởng phú quí thì xin trời tru đất diệt! Thề xong, lại cầm một viên bạch bích ném xuống sông Hoàng Hà mà nói rằng: - Xin có thần Hà Bá chứng minh cho! Bấy giờ Giới Tử Thôi ngồi ở chiếc thuyền bên cạnh, nghe thấy Trùng Nhĩ cùng với Hồ Yển ăn thề, cười mà nói rằng: - Công tử về nước, chẳng qua là tự ý Trời. Hồ Yển lại toan nhận lấy làm công mình hay sao! Nay ta ở đồng triều với những phường tham phú quí như thế, ta cũng xấu hổ lắm! Từ bấy giờ Giới Tử Thôi có ý muốn đi ẩn. Trùng Nhĩ qua sông Hoàng Hà, đi đến đất Lịnh Hồ. Quan trấn thủ ở đất Lịnh Hồ là Đặng Hồn đem quân ra chống giữ, bị Phi Báo chém chết. Các quan trấn thủ khác đều xin đầu hàng cả. Tấn Hoài công nghe báo, giật mình kinh sợ, sai Lã Di Xanh làm chánh tướng, Khước Nhuế làm phó tướng đem quân ra đóng ở đất Lư Liễu, để chống cự với quân nước Tần. Công tử Trí nước Tần, liền viết một bức thư làm lời nói của Tần Mục công, sai người đưa cho Lã Di Xanh và Khước Nhuế. Trong thư đại lược nói rằng: "Nước Tần tôi làm ơn với nước Tấn nhiều lắm, mà cha con vua nước Tấn bây giờ lại đem lòng phụ ơn, coi nước Tần tôi như cừu địch; Công tử Trùng Nhĩ là người hiền, dân nước Tấn đều qui phục cả ấy là lòng Trời muốn cho làm vua nước Tấn đó. Nay tôi cử đại binh đóng ở trên sông Hoàng Hà, sai Công tử đưa Trùng Nhĩ về làm vua, nếu nhà ngươi biết nhân dịp này mà làm nội ứng thì sẽ tránh khỏi tai vạ về sau". Lã Di Xanh và Khước Nhuế xem xong bức thư, ngẩn người ra một lúc không biết nói thế nào cho được, muốn chống cự lại thì sợ quân nước Tần thế mạnh không thể địch nổi; muốn làm nội ứng để đón Trùng Nhĩ về làm vua thì lại sợ Trùng Nhĩ nhớ đến cái thù cũ mà giết mình để đền mạng cho Lý Khắc và Phi Trịnh Phủ chăng, bởi mới ngần ngại mãi, sau mới nghĩ được một kế, liền viết thư trả lời Công tử Trí. Trong thư đại lược nói rằng: "Chúng tôi nay tự xét rằng đối với Công tử là người có tội vậy nên không dám bãi binh, nhưng bổn tâm chúng tôi thật vẫn muốn tôn phù Công tử, nếu chúng tôi được cùng với các quan theo hầu Công tử ngày nay mà ăn thề một câu rằng: - Sau này quyết không làm hại lẫn nhau, bấy giờ chúng tôi sẽ xin vâng mệnh". Công tử Trí đọc bức thư trả lời, biết là Lã Di Xanh và Khước Nhuế có ý hồ nghi, liền một mình lên xe đi đến đất Lư Liễu, vào yết kiến Lã Di Xanh và Khước Nhuế. Lã Di Xanh và Khước Nhuế đón vào, rồi bày tỏ tâm sự cho Công tử Trí biết và nói rằng: - Chúng tôi vẫn muốn làm nội ứng, nhưng sợ Công tử Trùng Nhĩ không có lòng bao dung cho, vậy phải xin ăn thề. Công tử Trí nói: - Nếu nhà ngươi tạm lui quân về phía Tây Bắc, tôi sẽ nói lại với Công tử Trùng Nhĩ cho nhà ngươi được ăn thề. Lã Di Xanh và Khước Nhuế vâng lời, liền rút quân về đóng ở đất Châu Thành. Công tử Trí đem lời Lã Di Xanh và Khước Nhuế nói với Công tử Trùng Nhĩ, Công tử Trùng Nhĩ sai Hồ Yển và Công tử Trí đến đất Châu Thành ăn thề với Lã Di Xanh và Khước Nhuế. Thề xong, Lã Di Xanh và Khước Nhuế sai người theo Hồ Yển đi nghênh tiếp Trùng Nhĩ đến đất Châu Thành. Tấn Hoài công chờ mãi, không thấy tin tức Lã Di Xanh và Khước Nhuế, mới sai Bột Đề đi đốc chiến. Bột Đề đi đến nửa đường, nghe tin Lã Di Xanh và Khước Nhuế rút quân về đất Châu Thành cùng với Hồ Yển và Công tử Trí giảng hòa, định đón Trùng Nhĩ về làm vua, vội vàng về báo tin cho Tấn Hoài công biết. Tấn Hoài công giật mình kinh sợ, liền triệu các quân triều thần vào để thương nghị. Các quan triều thần xưa nay vẫn mến phục Trùng Nhĩ; lại thấy Tấn Hoài công chỉ tin dùng Lã Di Xanh và Khước Nhuế cũng có ý chán, nay Lã Di Xanh và Khước Nhuế đã làm phản rồi, chúng mới bảo nhau: Người thì cáo ốm, người thì cáo bận việc nhà, không vào dự hội. Tấn Hoài công thở dài than rằng: - Chẳng ngờ chỉ vì ta trốn về để mếch lòng nước Tần, mà đến nỗi thế này! Bột Đề nói: - Nay các quan triều thần cùng tư ước với nhau để đón vua mới, thế thì chúa công nên phải tránh đi mới được; tôi xin theo hầu chúa công mà trốn sang đất Cao Lương. Tấn Hoài công nghe lời, cùng với Bột Đề đi trốn. Lã Di Xanh và Khước Nhuế sai người đón Công tử Trùng Nhĩ về, rồi sụp lạy xin lỗi Công tử Trùng Nhĩ. Trùng Nhĩ lấy lời ngọt ngào mà phủ dụ. Bọn Triệu Thôi cũng cùng với Lã Di Xanh và Khước Nhuế bày tỏ tâm phúc, không nghi kỵ điều gì cả. Lã Di Xanh và Khước Nhuế bằng lòng, mời Công tử Trùng Nhĩ vào đất Khúc Ốc. Các quan triều thần rủ nhau đến đất Khúc Ốc để nghênh tiếp, rồi rước về kinh thành. Công tử Trùng Nhĩ lên nối ngôi, tức là Tấn Văn công. Xét Tấn Văn công từ năm 43 tuổi trốn sang nước Địch, năm 55 tuổi trốn sang nước Tề, năm 61 sang ở nước Tần, đến bấy giờ phục quốc lên làm vua thì đã 62 tuổi. Tấn Văn công khi đã lên làm vua rồi, mật sai người sang đất Cao Lương để giết Tấn Hoài công. Tấn Hoài công lên làm vua từ tháng chín năm trước, đến tháng hai năm sau thì bị giết, đầu đuôi mới được có 6 tháng. Bột Đề thấy Tấn Hoài công bị giết, lại trốn về nước Tấn. Tấn Văn công bày tiệc thết đãi quan tướng nước Tần là Công tử Trí, và khao thưởng quân sĩ. Phi Báo sụp lạy Tấn Văn công, xin phép cải táng cho cha là Phi Trịnh Phủ. Tấn Văn công thuận cho. Tấn Văn công muốn giữ Phi Báo ở lại để dùng, nhưng Phi Báo chối từ mà nói rằng: - Tôi đã trót sang làm quan với Tần thì không dám lại bỏ mà về với chúa công. Phi Báo cáo từ Tấn Văn công, rồi cùng với Công tử Trí trở về đất Hà Tây, báo tin cho Tần Mục công biết. Tần Mục công rút quân về nước. Lã Di Xanh và Khước Nhuế dẫu sợ thế nước Tần phải đón Trùng Nhĩ (Tấn Văn công) về nối ngôi, nhưng trong lòng vẫn nghi kỵ, lại xấu hổ với bọn Triệu Thôi, mới bàn nhau làm phản, lập mưu đốt cung mà giết Trùng Nhĩ, rồi lập một vị công tử khác; ngặt vì khắp trong triều bấy giờ không biết mưu với ai cho được, chỉ có Bột Đề là một kẻ cừu địch với Tấn Văn công khi trước, có thể bàn với hắn được, liền sai người đi gọi Bột Đề. Bột Đề thấy Lã Di Xanh và Khước Nhuế sai người gọi, vội vàng đến ngay. Lã Di Xanh và Khước Nhuế đem việc đốt cung nói với Bột Đề. Bột Đề bằng lòng nhận lời. Ba người cùng nhau uống máu ăn thề, hẹn ngày khởi sự. Bột Đề ngoài mặt dẫu nhận lời, nhưng trong lòng không cho làm phải, nghĩ thầm một mình rằng: - Ngày trước ta phụng mệnh Tấn Hiến công và Tấn Huệ công đi giết Trùng Nhĩ, chẳng qua là lúc bấy giờ ta chỉ biết một lòng vì chủ mà thôi. Nay Tấn Hoài công đã chết rồi, Trùng Nhĩ lên nối ngôi, nước Tấn mới được yên ổn; nếu ta lại làm những việc đại nghịch bất đạo ấy thì chẳng những rằng Trùng Nhĩ là người có Trời giúp, chưa chắc ta đã làm gì nổi, mà giả sử có giết được Trùng Nhĩ nữa thì các người theo hầu Trùng Nhĩ cũng vị tất đã để cho ta yên, chi bằng ta cáo giác việc này thì lại là một đường tiến thân được. Bột Đề lại nghĩ thầm: - Mình là người có tội, vào gọi cửa cung sao được. Đêm hôm ấy đến yết kiến Hồ Yển. Hồ Yển trông thấy Bột Đề, giật mình kinh sợ hỏi rằng: - Nhà ngươi đối với chúa công ta là người có tội to lắm, sao không tìm đường trốn tránh cho xa, mà lại đang đêm tới đây để làm gì? Bột Đề nói: - Tôi đến đây là có ý muốn xin vào yết kiến chúa công, nhờ quốc cữu tiến dẫn cho. Hồ Yển nói: - Nhà ngươi vào yết kiến chúa công thì thật là dấn thân vào chỗ chết! Bột Đề nói: - Tôi có một việc cơ mật, muốn vào yết kiến để nói với chúa công, mà cứu lấy tính mệnh cho người trong một nước. Hồ Yển liền đưa Bột Đề đến cửa cung, rồi gọi cửa vào trước, đem việc Bột Đề xin vào yết kiến báo với Tấn Văn công. Tấn Văn công nói: - Bột Đề còn có việc gì mà bảo là cứu được tính mệnh cho người trong một nước, chẳng qua là hắn tạ sự để nhờ quốc cữu tiến dẫn đó mà thôi. Hồ Yển nói: - Chúa công nay mới lên nối ngôi, cũng nên bỏ điều hiềm khích cũ mà cầu lời trung ngôn mới phải, xin chúa công cứ cho vào. Tấn Văn công có ý ngần ngừ, liền bảo nội thị truyền mắng Bột Đề rằng: - Ngày trước nhà ngươi chém đứt vạt áo của ta, cái áo hãy còn đó, ta trông thấy lúc nào vẫn còn có ý sờn lòng; sau nhà ngươi lại phụng mệnh Tấn Huệ công sang nước Địch để định giết ta, may mà lòng Trời giúp ta, nhà ngươi không thể giết nổi. Nay ta về nước, nhà ngươi còn mặt mũi nào trông thấy ta nữa! Thôi thì nhà ngươi nên tìm đường trốn tránh cho xa, kẻo ta bắt mà trị tội đó. Bột Đề cười khanh khách đáp rằng: - Chúa công ở nước ngoài lưu lạc 19 năm trời mà còn chưa hiểu thấu được thế tình hay sao! Hiếu Công ngày xưa là thân phụ của chúa công, mà Huệ Công cũng là thân đệ của chúa công đó, thế mà cha muốn giết con, em muốn giết anh, huống chi là Bột Đề này. Bột Đề này là một đứa tiểu thần, bấy giờ chỉ biết có Hiếu Công và Huệ Công mà thôi, nào đã biết chúa công là ai. Ngày xưa Quản Di Ngô vì Công tử Củ mà bắn trúng vào đai của Tề Hoàn công, thế mà Tề Hoàn công dùng Quản Di Ngô để nên được nghiệp bá; nếu Tề Hoàn công cũng nghĩ như bụng chúa công ngày nay thì thường phải báo cái thù bắn trúng vòng đai, mà bỏ cái cơ nghiệp bá chủ hay sao? Nay chúa công không cho tôi vào yết kiến, tôi cũng chẳng tổn hại gì, chỉ e rằng tôi đã đi rồi thì cái tai vạ của chúa công sắp đến nơi đấy! Nội thị vào nói với Tấn Văn công. Hồ Yển nói: - Bột Đề tới đây, tất có biết được chuyện gì mà muốn nói, xin chúa công cứ cho vào. Tấn Văn công sai người triệu Bột Đề vào. Bột Đề vào đến trong cung, không xin lỗi những việc về trước, chỉ sụp lạy hai lạy, rồi nói: - Tôi xin chúc mừng cho chúa công! Tấn Văn công nói: - Ta lên nối ngôi đã lâu, bây giờ nhà ngươi mới đến chúc mừng, chẳng cũng chậm lắm sao! Bột Đề nói: - Chúa công lên nối ngôi, cũng chưa đủ chúc mừng, nay gặp Bột Đề, mới giữ vững được ngôi ấy, vậy tôi xin chúc mừng chúa công. Tấn Văn công lấy làm lạ, đuổi hết người xung quanh đi rồi hỏi Bột Đề. Bột Đề đem việc Lã Di Xanh và Khước Nhuế mưu làm phản kể lại một lượt, rồi nói với Tấn Văn công rằng: - Chúa công nên tức khắc cùng với quốc cữu (Hồ Yển) trốn sang nước Tần, rồi đem quân Tần về thì mới có thể dẹp yên được cái loạn này. Tôi xin ở nhà để làm nội ứng mà giết Lã Di Xanh và Khước Nhuế. Hồ Yển nói: - Việc đã nguy cấp, tôi xin theo đi, còn công việc trong nước đã có Triệu Thôi lo liệu. Tấn Văn công lại dặn Bột Đề rằng: - Nhà ngươi nên cố sức, rồi ta sẽ trọng thưởng. Bột Đề cáo từ lui ra. Tấn Văn công cùng với Hồ Yển bàn định gọi mấy người nội thị tâm phúc vào, dặn bảo các công việc, và cấm không được tiết lộ ra cho ai biết. Đến canh năm đêm hôm ấy, Tấn Văn công giả cách cảm hàn đau bụng, sai một đứa nội thị nhỏ cầm đèn đưa ra nhà xí, rồi theo cửa sau, cùng với Hồ Yển lên xe trốn sang nước Tần. Sáng hôm sau, trong cung huyên truyền là chúa công có bệnh, các quan kéo đến hỏi thăm, đều không được vào. Người nội thị canh cửa nói: - Đêm hôm qua chúa công bị bệnh cảm hàn, có truyền cho chúng tôi nói với các quan hẹn trong mấy hôm nữa sẽ ra tiếp kiến. Các quan đều tưởng là Tấn Văn công ốm thật, Lã Di Xanh và Khước Nhuế nghe Tấn Văn công có bệnh, trong lòng mừng thầm mà nói rằng: - Thế mới thật Trời giúp cho ta giết Trùng Nhĩ! Tấn Văn công cùng với Hồ Yển đi đến địa giới nước Tần, sai người đưa mật thư cho Tần Mục công, ước đến hội nhau ở đất Vương Thành. Tần Mục công nghe nói Tấn Văn công thay hình đổi dạng trốn sang nước Tần, biết là trong nước Tấn có sự biến loạn, mới giả cách nói đi săn, rồi đến đất Vương Thành hội nhau với Tấn Văn công. Tấn Văn công đem việc Lã Di Xanh và Khước Nhuế làm phản nói cho Tần Mục công nghe. Tần Mục công cười mà nói rằng: - Ý Trời đã định, Lã Di Xanh và Khước Nhuế làm gì nổi! Tôi chắc rằng bọn Triệu Thôi ở nhà tất dẹp tan đám giặc ấy, nhà vua chớ ngại. Nói xong, liền sai công tôn Chi đem quân ra đóng ở cửa sông Hoàng Hà để nghe ngóng tin tức. Tấn Văn công hãy ở tạm đất Vương Thành. Bột Đề sợ Lã Di Xanh và Khước Nhuế có y nghi, mới giả cách đến nhà Khước Nhuế để bàn định mưu kế, rồi cùng với Lã Di Xanh vào đốt cung và chực giết Trùng Nhĩ, nhưng không thấy Trùng Nhĩ đâu cả, mới sợ hãi đem nhau đi trốn. Bọn Triệu Thôi tưởng là trong cung thất hỏa, vội vàng đem quân đi cứu, mãi đến sáng rõ mới biết là Lã Di Xanh và Khước Nhuế làm phản; lại tìm không thấy Tấn Văn công, đều giật mình kinh sợ, sau hỏi bọn nội thị mới biết là Tấn Văn công đã đi đâu mất từ mấy hôm trước rồi, Triệu Thôi nói: - Việc này hỏi đến Hồ quốc cữu (Hồ Mao và Hồ Yển) thì mới biết rõ được. Hồ Mao nói: - Em tôi là Hồ Yển, trong mấy hôm trước vào cung mà đến nay cũng chưa thấy về, tôi chắc rằng hắn đi theo chúa công đó, ý chừng chúa công biết cái mưu của Lã Di Xanh và Khước Nhuế, nên mới phòng bị trước như vậy. Nay chúng ta chỉ nên sửa sang lại các nơi cung điện để đợi chúa công về. Ngụy Thù nói: - Bọn phản nghịch định đốt cung mà giết chúa công, tội thật đáng chết, nay dẫu chạy trốn, chắc cũng chưa xa, để tôi xin đem quân đi đuổi bắt. Triệu Thôi nói: - Hai đứa phản nghịch ấy dẫu trốn đi, chẳng bao lâu rồi cũng bắt được, nay chúa công đi vắng, ta không nên động binh. Lã Di Xanh và Khước Nhuế nghe tin Tấn Văn công chưa chết, sợ các quan đại phu cử binh đuổi theo mới định trốn sang nước ngoài, nhưng chưa biết đến nước nào cho tiện. Bột Đề lại đánh lừa rằng: - Vua nước Tấn lập hay là bỏ, đều tự ý nước Tần cả, huống chi hai ngài cùng với vua Tần cũng có quen biết từ trước, nay hai ngài cứ sang đầu với vua Tần, nói dối là trong cung thất hỏa, Trùng Nhĩ đã chết cháy rồi, và xin đón Công tử Ung về làm vua. Khi Công tử Ung đã về nối ngôi thì Trùng Nhĩ dẫu sống cũng khó lòng mà tranh lại nổi. Lã Di Xanh nói: - Vua Tần khi trước đã cùng ta ăn thề ở đất Vương Thành, nay ta nên sang đầu, nhưng chẳng biết vua Tần có lòng dung nạp hay không? Bột Đề nói: - Để tôi xin sang trước nói xem thế nào, nếu vua Tần không nghe, bấy giờ ta sẽ liệu kế. Bột Đề đi đến cửa sông Hoàng Hà, nghe tin công tôn Chi đóng quân ở bên kia sông, liền đem sự tình đầu đuôi kể lại cho công tôn Chi biết. Công tôn Chi nói: - Bọn phản nghịch đã sang xin đầu như vậy, ta nên dụ mà giết đi. Nói xong, liền viết một bức thư giao Bột Đề cầm đưa cho Lã Di Xanh và Khước Nhuế. Trong thư đại lược nói rằng: "Khi Trùng Nhĩ về nước, có ước với chúa công tôi xin nộp đất, vậy nên chúa công tôi sai đóng quân ở đây để đợi cấm địa giới, sợ lại như Tấn Huệ công ngày trước; nay nghe tin Trùng Nhĩ bị chết cháy, mà hai người lại có ý muốn đón Công tử Ung, chúa công tôi cũng lấy làm bằng lòng lắm, xin hai ngài nên mau mau sang ngay để cùng bàn định". Lã Di Xanh và Khước Nhuế tiếp được thư, mừng lòng đi ngay. Đi đến đất Hà Tây, công tôn Chi ra nghênh tiếp, rồi bày tiệc thết đãi. Lã Di Xanh và Khước Nhuế vững dạ, không nghi ngại gì cả. Công tôn Chi sai người phi báo cho Tần Mục công, để Tần Mục công đến ở Vương Thành trước. Lã Di Xanh và Khước Nhuế chơi bời trong ba ngày, rồi nói với công tôn Chi xin vào yết kiến Tần Mục công. Công tôn Chi nói: - Chúa công tôi hiện đang ở đất Vương Thành, mời hai ngài qua đấy để cùng hội một thể; còn quân sĩ xin cho đóng lại đây, chờ khi hai ngài trở về, bấy giờ sẽ kéo sang nước Tấn, Lã Di Xanh và Khước Nhuế nghe lời, theo công tôn Chi sang đất Vương Thành. Khi đến đất Vương Thành, Bột Đề cùng công tôn Chi vào thành trước, yết kiến Tần Mục công. Tần Mục công sai Phi Báo ra đón Lã Di Xanh và Khước Nhuế, rồi bảo Tấn Văn công nấp sẵn ở phía sau bức bình phong, Lã Di Xanh và Khước Nhuế vào yết kiến Tần Mục công nói với Tần Mục công xin lập Công tử Ung. Tần Mục công nói: - Công tử Ung hiện đã ở đây rồi. Lã Di Xanh và Khước Nhuế đồng thanh mà nói rằng: - Nếu vậy xin cho chúng tôi được yết kiến vua mới. Tần Mục công gọi: - Vua mới đâu, xin mời ra đây! Bỗng thấy phía sau cái bình phong có một vị quí nhân, từ từ bước ra. Lã Di Xanh và Khước Nhuế ngẩng mặt lên nhìn xem ai thì tức là Tấn Văn công Trùng Nhĩ. Lã Di Xanh và Khước Nhuế giật mình kinh sợ, chẳng còn hồn vía nào cả, sụp lạy xin lỗi. Tần Mục công mời Tấn Văn công cùng ngồi. Tấn Văn công mắng Lã Di Xanh và Khước Nhuế rằng: - Mấy đứa nghịch tặc kia, ta có xử tệ gì với mày mà mày làm phản, nếu không có Bột Đề cáo giác, khiến cho ta biết mà tránh đi thì ngày nay ta đã ra tro rồi! Bấy giờ Lã Di Xanh và Khước Nhuế mới biết là Bột Đề làm phản mình, liền nói với Tấn Văn công rằng: - Bột Đề thật cùng với chúng tôi uống máu ăn thề, xin chúa công chớ có tha tội. Tấn Văn công cười mà nói rằng: - Nếu Bột Đề không cùng với các ngươi uống máu ăn thề thì sao biết hết được cái mưu của các ngươi như vậy! Nói xong, liền truyền cho võ sĩ đem Lã Di Xanh và Khước Nhuế ra chém, lại sai Bột Đề đi giám sát. Được một lúc, võ sĩ đem đầu Lã Di Xanh và Khước Nhuế nộp ở dưới thềm. Tấn Văn công sai Bột Đề đem đầu Lã Di Xanh và Khước Nhuế đến đất Hà Tây để phủ dụ quân sĩ, lại báo tin về cho người trong nước biết. Triệu Thôi cùng các quan đại phu rủ nhau đi đón Tấn Văn công.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 37 Giới Tử Thôi cõng mẹ đi ẩn Vương tử Đái tham sắc làm càn

Tấn Văn công đã giết được Lã Di Xanh và Khước Nhuế rồi, đứng dậy tạ ơn Tần Mục công và xin lấy lễ phu nhân đón nàng Hoài Doanh về nước. Tần Mục công nói: - Tiện nữ khi trước đã thất thân với Công tử Ngữ rồi, có đâu lại dám đương cái lễ tôn quí ấy. Tấn Văn công nói: - Nước tôi cùng với quí quốc giao hiếu đã mấy đời nay, nếu không dùng lễ phu nhân thì sao làm chủ được việc tôn tự, xin nhà vua chớ nên từ chối. Tần Mục công mừng lắm, liền cho Tấn Văn công làm lễ đón Hoài Doanh về nước. Khi về đến nước Tấn, Tấn Văn công lập Hoài Doanh làm phu nhân. Tấn Văn công nghĩ đến việc Lã Di Xanh và Khước Nhuế làm phản, có lòng tức giận, muốn giết hết những đồ đảng. Triệu Thôi can rằng: - Huệ công và Hoài công ngày xưa vì nghiêm khắc quá mà người ta oán, nay Chúa công nên khoan dung mới được. Tấn Văn công nghe lời, hạ lệnh đại xá cho đồ đảng Lã Di Xanh và Khước Nhuế. Những đồ đảng Lã Di Xanh và Khước Nhuế dẫu thấy Tấn Văn công đã đại xá cho, nhưng trong lòng không được yên, thường hay nói nhiều câu càn dỡ. Tấn Văn công thấy vậy, vẫn có ý lo. Một hôm, mới mờ mờ sáng, có kẻ tiểu lại là Đầu Tu xin vào yết kiến. Tấn Văn công đang xõa tóc gội đầu, nghe báo có Đầu Tu đến, nổi giận nói rằng: - Người ấy khi trước lấy trộm những tiền bạc của ta, khiến cho ta không có gì mà tiêu dùng, phải ăn xin ở nước Tào và nước Vệ, bây giờ còn mặt mũi nào trông thấy ta nữa! Nói xong, liền sai nội thị đuổi ra. Đầu Tu nói: - Có phải Chúa công đang gội đầu đó không? Người nội thị giật mình kinh sợ, nói: - Tại sao nhà ngươi biết? Đầu Tu nói: - Người ta lúc gội đầu cúi gập mình xuống, trong ruột điên đảo cả lên; trong ruột đã điên đảo thì lời nói ra tất cũng điên đảo, bởi thế mà không cho ta vào yết kiến. Ngày trước Chúa công dung tha cho Bột Đề mà thoát được cái nạn Lã Di Xanh và Khước Nhuế, bây giờ lại không dung tha cho Đầu Tu này được hay sao! Đầu Tu đến đây tất là có kế sách giữ yên được nước Tấn, nếu Chúa công không cho vào yết kiến thì Đầu Tu từ đây trốn đi! Người nội thị vội vàng vào tâu với Tấn Văn công. Tấn Văn công nói: - Đó là điều lỗi của ta! Nói xong, liền đội mũ mặc áo chỉnh tề, rồi cho Đầu Tu vào yết kiến. Đầu Tu vào, sụp lạy xin lỗi, rồi nói với Tấn Văn công rằng: - Chúa công có biết những đồ đảng Lã Di Xanh và Khước Nhuế độ bao nhiêu người không? Tấn Văn công cau lông mày lại mà đáp rằng: - Nhiều lắm! Đầu Tu nói: - Bọn ấy tự nghĩ mình tội to, dẫu Chúa công có lệnh đại xá rồi, nhưng vẫn đem lòng nghi ngại, Chúa công nên nghĩ cách nào mà khiến cho chúng được yên tâm. Tấn Văn công nói: - Muốn cho chúng yên tâm thì dùng cách gì cho được? Đầu Tu nói: - Ngày trước tôi lấy trộm tiền bạc của Chúa công, khiến cho Chúa công bị cơ khổ; cái tội ác của tôi ấy, người trong nước ai cũng biết cả, nay Chúa công đi chơi, nên dùng tôi làm một người đánh xe, để người trong nước trông thấy, đều biết là Chúa công không nghĩ đến điều thù oán cũ, thế thì ai còn đem lòng nghi ngại về nỗi gì! Tấn Văn công khen phải, giả cách đi ra tuần thành, dùng Đầu Tu làm người đánh xe. Những đồ đảng Lã Di Xanh và Khước Nhuế trông thấy, đều thì thào bảo nhau rằng: - Đầu Tu ngày trước lấy tiền bạc của Chúa công mà nay Chúa công còn dung tha, huống chi là người khác. Từ bấy giờ không dám nói càn dở gì nữa. Tấn Văn công từ khi còn làm Công tử đã lấy hai vợ: - Người vợ thứ nhất là Từ Doanh chết đi; người thứ hai là Bức Cật sinh được một trai tên là Hoan và một gái tên là Bá Cơ, sau Bức Cật chết ở đất Bồ. Lúc Tấn Văn công đi trốn, hai con là Hoan và Bá Cơ đều bỏ ở đất Bồ cả; bấy giờ Đầu Tu lại nhận lấy mà gởi nhà Toại Thị (người đất Bồ) nuôi hộ. Một hôm, Đầu Tu đem việc ấy nói với Tấn Văn công. Tấn Văn công giật mình mà hỏi rằng: - Ta tưởng hai đứa bé ấy vì việc loạn lạc mà chết đã lâu rồi! Nay hãy còn sống ư, sao đến bây giờ nhà ngươi mới nói? Đầu Tu nói: - Chúa công đi chu du các nước, đến đâu lấy vợ ở đấy, sinh hạ cũng được nhiều con; Công tử Hoan dẫu còn sống, nào biết Chúa công có thương đến hay không? Bởi vậy tôi chưa dám nói vội. Tấn Văn công nói: - Nếu nhà ngươi không nói thì thành ra để cho ta mang tiếng là người bất từ. Nói xong, liền sai Đầu Tu đến đất Bồ, trọng thưởng cho Toại Thị, rồi đón Công tử Hoan và Bá Cơ về, để cho nàng Hoài Doanh nhận làm con. Lại lập Công tử Hoan làm Thế tử và đem Bá Cơ gả cho Triệu Thôi, gọi là Triệu Cơ. Vua nước Địch nghe tin Tấn Văn công đã về nối ngôi, sai sứ đến chúc mừng, và đưa nàng Quí Ngỗi về nước Tấn. Tấn Văn công hỏi Quí Ngỗi rằng: - Năm nay nàng đã bao nhiêu tuổi? Quí Ngỗi nói: - Cách biệt trong 8 năm nay, bây giờ thiếp đã 32 tuổi rồi! Tấn Văn công nói bỡn rằng: - Còn may là cùng nhau cách biệt chưa đến 25 năm! Tề Hiếu công cũng sai người đưa nàng Khương Thị về nước Tấn. Tấn Văn công tạ ơn Khương Thị. Khương Thị nói: - Thiếp không phải là không tham sự vui thú vợ chồng với nhau, nhưng muốn cho Chúa công về, chính là mong đến ngày nay đó. Tấn Văn công đem những sự hiền đức của Quí Ngỗi và Khương Thị thuật lại cho Hoài Doanh nghe. Hoài Doanh cũng ngợi khen mãi, rồi xin nhường lại ngôi phu nhân. Bấy giờ Tấn Văn công định lại những ngôi bậc ở trong cung: - Cho Khương Thị làm phu nhân; thứ hai đến Quí Ngỗi, rồi thứ ba mới đến Hoài Doanh. Triệu Cơ (tức là nàng Bá Cơ, con gái Tấn Văn công) nghe tin Quí Ngỗi về, cũng khuyên chồng là Triệu Thôi cho người đi đón mẹ con Thúc Ngỗi. Triệu Thôi chối từ nói: - Chúa công đã gả nàng cho tôi, có đâu tôi còn dám nghĩ đến con gái nước Địch. Triệu Cơ nói: - Thiếp không như những kẻ khác mà muốn nghe câu nói bạc đức như vậy! Thiếp dẫu là con Chúa công thật, nhưng Thúc Ngỗi lấy trước, và đã có con; sao phu quân lại yêu người mới mà bỏ người cũ cho đành! Triệu Thôi ngoài miệng dẫu vâng dạ, mà trong lòng cũng chưa nhất quyết. Triệu Cơ liền vào cung tâu với Tấn Văn công rằng: - Xin phụ thân bảo Triệu tướng quân đón Thúc Ngỗi về, kẻo để cho con mang tiếng là người bất hiền. Tấn Văn công sai người sang nước Địch đón mẹ con Thúc Ngỗi về. Triệu Cơ xin nhường cho Thúc Ngỗi làm vợ cả. Triệu Thôi nhất định không nghe. Triệu Cơ nói: - Người ta hơn tuổi mà lấy trước, thiếp ít tuổi mà lại lấy sau. Vả thiếp nghe nói người con tên là Thuẫn, năm nay đã trưởng thành mà lại có tài, vậy thì thiếp nên nhường là phải; nếu phu quân không nghe thì thiếp xin về cung. Triệu Thôi bất đắc dĩ lại đem lời nói của Triệu Cơ tâu với Tấn Văn công. Tấn Văn công nói: - Con gái ta biết nhường như thế là phải! Nói xong, liền truyền gọi mẹ con Thúc Ngỗi vào triều, rồi cho Thúc Ngỗi làm vợ cả Triệu Thôi. Thúc Ngỗi cũng cố ý xin từ chối. Tấn Văn công giảng giải mãi, nói là Triệu Cơ ý muốn như vậy, Thúc Ngỗi mới chịu nhận. Bấy giờ Triệu Thuẫn mới 17 tuổi mà học hành thông thái, lại giỏi nghề cưỡi ngựa bắn cung, Triệu Thôi yêu lắm. Sau Triệu Cơ cũng sinh hạ được ba con là Triệu Đồng, Triệu Quát và Triệu Anh, nhưng tài giỏi đều không bằng Triệu Thuẫn. Tấn Văn công ban thưởng cho những người có công phục quốc, mới chia ra làm 3 hạng: Một là những người tòng vong; hai là những người tống khoản; bà là những người nghênh hàng. Trong ba hạng ấy lại tùy theo những người nào có công khó nhọc nhiều hay ít mà chia hơn kém; những người tòng vong thì Triệu Thôi và Hồ Yển là đầu; những người tống khoản thì Loan Chi và Khước Tần là đầu; những người nghênh hàng thì Khước Bộ Dương và Hàn Giản là đầu. Tấn Văn công lại đem năm đôi ngọc bích ban cho Hồ Yển để đền lại cái viên ngọc bích ném xuống sông Hoàng Hà khi trước. Lại nghĩ đến Hồ Đột bị chết oan, truyền lập miếu ở núi Mã Yên để thờ, đổi tên cái núi ấy, gọi là Hồ Đột. Ban thưởng công thần xong, yết một tờ chiếu ở trước cửa thành rằng: "Nếu người nào có công lao mà chưa dự thưởng thì cho phép được tự nói ra". Hồ Thúc nói với Tấn Văn công rằng: - Tôi theo Chúa công từ khi còn ở đất Bồ, cho đến khi đi chu du khắp các nước, lúc nào tôi cũng hầu hạ ở bên cạnh, nay Chúa công thưởng công cho những người tòng vong mà không nhớ đến tôi, chẳng hay tôi có tội gì? Tấn Văn công nói: - Trong bọn tòng vong, người nào lấy điều nhân nghĩa mà khuyên bảo ta thì là công đầu; người nào vì ta mà bàn mưu lập kế thì là thứ hai; người nào xông pha mũi tên hòn đạn để giữ gìn cho ta thì là thứ ba; còn những người nào chỉ có công theo hầu khó nhọc mà thôi thì lại ở dưới nữa. Vậy nên ta thưởng cho ba hạng trên trước, rồi sẽ đến nhà ngươi. Hồ Thúc thẹn mà lui xuống. Tấn Văn công truyền đem vàng lụa trong kho ban thưởng cho tất cả các người theo hầu, ai cũng lấy làm bằng lòng. Ngụy Thù và Điên Hiệt cậy mình vũ dũng, thấy Triệu Thôi và Hồ Yển đều là văn thần mà lại được trọng thưởng hơn mình, có ý không phục, thường vẫn kêu ca oán giận. Tấn Văn công vẫn nể là người có công lao, vậy nên không nói đến. Giới Tử Thôi cũng là một người trong bọn tòng vong, nhưng tính khí điềm đạm, từ khi mới về đến sông Hoàng Hà, thấy Hồ Yển có ý khoe công, đã lấy làm khinh bỉ, không muốn ở lẫn với bọn ấy; đến lúc Tấn Văn công lên nối ngôi, Giới Tử Thôi chỉ vào chúc mừng một lần đầu, rồi cáo ốm về nhà, yên phận nghèo khổ, vẫn đi khâu giày thuê để lấy tiền nuôi mẹ già. Khi Tấn Văn công ban thưởng công thần, không thấy Giới Tử Thôi, cũng quên đi mất, chẳng hỏi chi đến. Người láng giềng nhà Giới Tử Thôi là Giải Trương thấy Giới Tử Thôi không được thưởng, có ý không bằng lòng; lại thấy trên cửa thành có yết một tờ chiếu nói: "Nếu người nào có công lao mà chưa dự thưởng thì cho phép được tự nói ra", vội vàng gọi cửa báo tin cho Giới Tử Thôi biết. Giới Tử Thôi chỉ mỉm cười mà không nói gì cả. Bà mẹ ở dưới bếp nghe tiếng, bảo Giới Tử Thôi rằng: - Mày khó nhọc trong mười chín năm trời, lại thường cắt thịt đùi để dâng Chúa công, sao bây giờ mày không nói ra mà lĩnh lấy thưởng, họa may được một vài chung thóc, chẳng còn hơn đi khâu giày thuê hay sao! Giới Tử Thôi nói: - Các con Hiến công, cả thảy chín người, chỉ có Chúa công là hiền hơn cả. Huệ công và Hoài công không có đức, vậy nên trời truất ngôi mà để cho Chúa công. Các người theo hầu không biết ý trời, dám tự nhận là công minh, con nghĩ lấy làm xấu hổ lắm, chẳng thà đi khâu giày mà ăn còn hơn! Bà mẹ nói: - Mày dẫu không muốn làm quan, cũng nên vào yết kiến một lần, để khỏi uổng cái công lao cắt thịt đùi ngày trước. Giới Tử Thôi nói: - Con đã không muốn làm quan thì còn yết kiến làm gì! Bà mẹ nói: - Con làm được người liêm sĩ, có lẽ ta lại không làm được người mẹ người liêm sĩ hay sao! Vậy thì mẹ con ta tìm nơi rừng núi mà ẩn thân, chớ nên ở lẫn chỗ thị tỉnh này. Giới Tử Thôi mừng lắm, nói: - Con vẫn yêu chỗ Miên Thượng là một nơi núi cao hang sâu, nay con xin đem mẹ đến ở đấy. Nói xong, liền cõng mẹ đến đất Miên Thượng, làm nhà tại trong hang mà ở. Láng giềng hàng xóm không biết là đi đâu cả, chỉ có một mình Giải Trương biết mà thôi. Giải Trương viết một bức thư, đang đêm đem đến treo ở cửa Triều môn. Sáng hôm sau, có một người cận thần bắt được, đem vào dâng Tấn Văn công. Tấn Văn công mở ra đọc. Trong thư nói: "Có một con rồng, khi còn thất thế, đàn rắn đi theo, chu du thiên hạ. Rồng không có ăn, một rắn cắt đùi, nay rồng trở về, đã được yên sở. Đàn rắn theo vào, đều sung sướng cả, chỉ có một rắn, chẳng ai hỏi đến." Tấn Văn công đọc xong, giật mình mà nói rằng: - Đây là Giới Tử Thôi oán giận ta đó! Khi trước ta qua nước Vệ không có ăn, Giới Tử Thôi cắt thịt dâng ta; nay ta ban thưởng công thần mà quên mất Giới Tử Thôi, ấy là một điều lỗi của ta vậy. Tấn Văn công sai người đi triệu Giới Tử Thôi. Khi đến nơi thì Giới Tử Thôi đã đi đâu mất rồi! Tấn Văn công truyền bắt những người láng giềng để hỏi xem Giới Tử Thôi đi đâu; có ai biết mà chỉ dẫn thì thưởng cho làm quan. Giải Trương tâu với Tấn Văn công rằng: - Bức thư ấy không phải là của Giới Tử Thôi, chính là của tôi làm thay đó! Giới Tử Thôi không muốn cầu thưởng, đã cõng mẹ vào ẩn ở trong hang núi về đất Miên Thượng, vậy nên tôi viết bức thư ấy cho Chúa công nhớ đến. Tấn Văn công nói: - Nếu không được bức thư ấy thì có lẽ ta quên mất cái công của Giới Tử Thôi. Nói xong, liền cho Giải Trương làm chức hạ đại phu, lại bắt Giải Trương phải đưa đường vào Miên Thượng để tìm Giới Tử Thôi. Khi vào đến nơi thì chỉ thấy núi xanh rừng rậm, nước chảy hoa trôi, chim hót véo von, mây che mù mịt, mà chẳng thấy Giới Tử Thôi đâu cả. Quân sĩ bắt được mấy người làm ruộng gần đấy, Tấn Văn công gọi đến tận trước mặt mà hỏi. Người làm ruộng nói: - Mấy hôm trước, chúng tôi có trông thấy một người cõng bà cụ già ngồi nghỉ ở núi này, rồi vục nước suối mà uống; uống xong lại cõng bà cụ trèo lên trên núi, rồi không biết đi đâu! Tấn Văn công truyền đỗ xe ở dưới chân núi, sai người đi dò tìm các nơi. Trong mấy ngày trời mà chẳng thấy đâu cả. Tấn Văn công có ý không bằng lòng, bảo Giải Trương rằng: - Sao Giới Tử Thôi giận ta quá như vậy! Ta nghe nói Giới Tử Thôi la người chí hiếu, nếu ta đốt rừng thì Giới Tử Thôi tất phải cõng mẹ chạy ra. Ngụy Thù nói: - Trong bọn tòng vong, nhiều người có công lao, há phải là một mình Giới Tử Thôi đâu! Nay Giới Tử Thôi cố tình đi ẩn, để khiến Chúa công phải khó nhọc, đợi khi nào hắn tránh lửa chạy ra đây, tôi sẽ làm cho hắn phải xấu hổ. Nói xong, truyền cho quân sĩ phóng hỏa đốt cả mấy phía rừng. Lửa to gió mạnh, thành ra cháy lan đến mấy dặm, trong ba ngày mới tắt, mà Giới Tử Thôi nhất định không ra, mẹ con ôm nhau chết ở dưới một gốc cây liễu. Quân sĩ tìm được đống xương, Tấn Văn công trông thấy ứa nước mắt xuống mà khóc, truyền cho quân sĩ đem chôn ở chân núi, rồi lập miếu thờ, bao nhiêu những ruộng xung quanh núi đều để làm tự điền cả, đổi tên núi ấy là Giới Sơn. Ngày hôm đốt rừng, đang là tiết thanh minh mồng ba tháng ba. Sau người trong nước nhớ đến Giới Tử Thôi, vì Giới Tử Thôi chết cháy, vậy nên đến ngày hôm ấy không nỡ đốt lửa, phải làm sẵn lương khô để ăn, gọi là tiết Hàn thực, nghĩa là ngày hôm ấy cấm lửa, chỉ ăn đồ nguội. Tiết Hàn thực, nhà nào cũng cắm cành liễu ở ngoài cửa để chiêu hồn Giới Tử Thôi, cũng có nhà làm cỗ và đốt giấy để cúng tế. Tấn Văn công đã ban thưởng công thần rồi, lại chỉnh đốn các việc chính trị ở trong nước, thu dùng những người tài giỏi, cứu giúp những người nghèo khổ, từ bấy giờ trong nước mỗi ngày một cường thịnh. Chu Tương Vương sai quan Thái tể là Chu Khổng và quan Nội sử là Thúc Hưng đến gia phong cho Tấn Văn công. Tấn Văn công tiếp đãi rất là trọng thể. Thúc Hưng về tâu với Chu Tương Vương rằng: - Tấn hầu tất làm bá chủ các nước chư hầu được, ta cũng nên lấy làm mừng. Từ đó Chu Tương Vương có lòng thân với nước Tấn. Bấy giờ Trịnh Văn công cậy thế nước Sở để hà hiếp các nước yếu, thấy vua nước Hoạt thần phục nước Vệ mà không thần phục nước Trịnh, liền đem quân đi đánh nước Hoạt. Vua nước Hoạt sợ hãi, phải xin giảng hòa. Nước Trịnh mới rút quân về. Khi nước Trịnh đã rút quân về rồi, vua nước Hoạt lại thần phục nước Vệ, nhất định không theo Trịnh. Trịnh Văn công giận lắm, sai Công tử Sĩ Tiết làm chánh tướng, Đỗ Dũ Di làm phó tướng, lại cử đại binh sang đánh nước Hoạt. Vệ Văn công bấy giờ đang thân mật với Thiên tử nhà Chu, liền đem việc Trịnh Văn công đánh nước Hoạt vào tâu với Chu Tương Vương. Chu Tương Vương sai quan đại phu là Du Ty Bá đến nước Trịnh mà giảng giải hộ cho nước Hoạt. Trịnh Văn công nổi giận nói: - Trịnh và Vệ có khác gì nhau, sao Thiên tử nhà Chu lại trọng nước Vệ mà khinh nước Trịnh! Trịnh Văn công bắt Du Ty Bá giam lại một chỗ, để đợi khi đánh tan nước Hoạt rồi, bấy giờ sẽ tha. Du Ty Bá bị bắt, những người theo hầu trốn về báo tin cho Chu Tương Vương biết. Chu Tương Vương nổi giận mắng rằng: - Trịnh hầu khinh Trẫm quá lắm, Trẫm tất phải báo thù. Nói xong, liền hỏi các quan trong triều rằng: - Có ai dám vì Trẫm mà đến hỏi tội Trịnh hầu hay không? Hai quan đại phu là Đồi Thúc và Đào Tử nói với Chu Tương Vương rằng: - Nước Trịnh từ khi đánh được Tiên vương ta ngày xưa, càng không sợ hãi gì cả, nay lại cậy thế nước Sở, ta khó mà trị nổi. Tôi thiết tưởng nên mượn quân nước Địch thì mới đánh được nước Trịnh. Quan Đai phu là Phú Thần can rằng: - Không nên! Trịnh hầu dẫu vô đạo, nhưng là nước thân thuộc với ta, mà tổ tiên ngày xưa cũng có công với nhà Chu ta nhiều lắm; còn nước Địch là một nước rợ mọi mà không thân thuộc gì, ta quyết không nên mượn quân nước Địch. Đồi Thúc và Đào Tử nói: - Vua Vũ Vương ta ngày xưa đi đánh nhà Thương, các nước rợ mọi đều đến giúp cả, cứ gì phải nước cùng họ mới được. Chu Tương Vương khen phải, rồi sai Đồi Thúc và Đào Tử sang bảo vua nước Địch cử binh đi đánh Trịnh. Vua nước Địch vâng mệnh, giả cách đi săn, lẻn vào địa giới nước Trịnh, chiếm cứ lấy Lịch Thành, rồi sai sứ theo Đồi Thúc và Đào Tử sang nhà Chu để báo tin thắng trận. Chu Tương Vương nói: - Nước Địch có công với Trẫm, nay nhân Hoàng hậu mới mất Trẫm muốn lấy con gái nước Địch, các ngươi nghĩ thế nào? Đồi Thúc và Đào Tử nói: - Tôi nghe nói người nước Địch có câu hát rằng: "Thúc Ngỗi trước và Thúc Ngỗi sau, nhan sắc rực rỡ như ngọc châu" là nói nước Địch có hai người con gái đều tên gọi Thúc Ngỗi, mà nhan sắc đẹp cả. Thúc Ngỗi trước là con gái Cao Như đã gả cho vua Tấn rồi; còn Thúc Ngỗi sau là con gái vua nước Địch hiện nay vẫn chưa lấy chồng, xin nhà vua cho sang hỏi. Chu Tương Vương mừng lắm, lại sai Đồi Thúc và Đào Tử sang nước Địch để hỏi Thúc Ngỗi. Vua nước Địch sai người đưa Thúc Ngỗi đến. Chu Tương Vương muốn lập làm hoàng hậu. Phú Thần lại can rằng: - Nước Địch có công thì nhà vua nên ban thưởng, chứ sao lại lập con gái nước Địch làm hoàng hậu thì còn ra thể thống nào nữa! Tôi e rằng nước Địch tất có lòng dòm dỏ. Chu Tương Vương không nghe, liền lập Thúc Ngỗi làm hoàng hậu. Ngỗi hậu (tức là Thúc Ngỗi) dẫu có nhan sắc đẹp, nhưng tính hạnh không ra gì, khi ở Địch vẫn thích nghề cưỡi ngựa bắn cung, thường theo vua nước Địch đi săn, ngày nào cũng cùng với các tướng sĩ dong chơi, không câu thúc gì; nay làm hoàng hậu nhà Chu, cả ngày ở trong cung, không được đi đến đâu, cũng có ý buồn, một hôm nói với Chu Tương Vương rằng: - Thiếp từ thuở bé vẫn tập nghề cưỡi ngựa bắn cung, thân phụ thiếp cũng không cấm đoán gì cả, nay ở trong cung, lâu ngày không đi đến đâu, có lẽ sinh ra đau ốm. Sao Thiên tử không đi săn để cho thiếp được theo hầu. Chu Tương Vương đang yêu Ngỗi hậu, nói câu gì cũng nghe lời, liền sai quan Thái sử chọn ngày để đi săn ở Bắc Khâu Sơn. Chu Tương Vương muốn cho Ngỗi hậu được vui lòng, mới hạ lệnh treo giải: Hễ ai săn được nhiều các giống cầm thú thì sẽ trọng thưởng. Các Vương tử, Vương tôn nghe lệnh, đều đua nhau đuổi bắn các giống cầm thú thì sẽ trọng thưởng. Các Vương tử, Vương tôn nghe lệnh, đều đua nhau đuổi bắn các giống cầm thú để lĩnh thưởng. Trong bọn lĩnh thưởng có một người giỏi nhất, săn được nhiều giống cầm thú hơn cả là Vương tử Đái. Vương tử Đái mặt mũi khôi ngô, hình dung tuấn tú, trông rõ là một bậc quí nhân, tức là thứ đệ của Chu Tương Vương, người trong nước đều gọi là Thái thúc. Năm trước Vương tử Đái đã lập mưu muốn tranh ngôi, nhưng không làm xong; lại đi triệu quân Sơn Nhung về đánh nhà Chu, đến lúc việc tiết lộ ra, sợ tội, trốn sang nước Tề. Sau bà Huệ hậu hai ba lần nói với Chu Tương Vương, xin tha tội cho. Phú Thần cũng khuyên Chu Tương Vương nên lấy lòng nhân từ mà xử với anh em. Bởi vậy Chu Tương Vương bất đắc dĩ lại cho triệu về. Bấy giờ trong bọn đi săn, Vương tử Đái được lĩnh phần thưởng thứ nhất. Ngỗi hậu trông thấy, đem lòng yêu dấu, lại nói với Chu Tương Vương rằng: - Hôm nay trời hãy còn sớm, xin Thiên tử cho thiếp đi săn bắn chơi một lúc, để cho gân sức trong mình được khỏe mạnh. Chu Tương Vương nghe lời, liền truyền cho quân sĩ sửa soạn các đồ săn bắn để Ngỗi hậu đi săn. Ngỗi hậu cởi áo gấm dài ra, rồi mặc một cái áo cánh ngắn, thắt lưng ra ngoài, mình đeo túi tên, tay cầm cái cung đỏ, trông rất phong nhã. Chu Tương Vương trông thấy, cũng phải tủm tỉm cười thầm. Quân sĩ sắp xe để Ngỗi hậu đi. Ngỗi hậu nói với Chu Tương Vương rằng: - Đi xe không tiện bằng cưỡi ngựa, các thị nữ ở nước Địch theo hầu thiếp sang đây, đều biết cưỡi ngựa cả, xin Thiên tử thử cho cưỡi ngựa một phen. Chu Tương Vương truyền chọn các con ngựa tốt đem đến để cho Ngỗi hậu và các thị nữ cưỡi. Ngỗi hậu sắp sửa lên ngựa, Chu Tương Vương ngăn lại mà bảo rằng: - Khoan đã! Để Trẫm chọn xem trong các Vương tử có người nào cưỡi ngựa giỏi, cho đi theo hầu mà hộ vệ Hoàng hậu. Vương tử Đái xin đi. Các thị nữ đều cưỡi ngựa, xúm quanh ngựa Ngỗi hậu đi một bọn trước, còn Vương tử Đái cưỡi ngựa theo sau. Đi được một quãng, Vương tử Đái giục ngựa lên trước, theo kịp Ngỗi hậu, rồi hai người cùng thi tài phóng ngựa vòng qua sườn núi. Khi hai ngựa đi sắp hàng đều nhau, Ngỗi hậu dừng cương lại mà khen Vương tử Đái rằng: - Vương tử thật là một bậc đại tài! Thiếp nghe tiếng đã lâu, bây giờ mới được giáp mặt. Vương tử Đái ngồi trên mình ngựa cũng cúi đầu mà đáp lại rằng: - Tôi cũng mới học cưỡi ngựa, còn kém Hoàng hậu muôn phần! Ngỗi hậu nói: - Sáng mai Vương tử nên vào cung bà Huệ hậu, giả cách vấn an, rồi thiếp sẽ nói chuyện. Nói vừa dứt lời thì bọn thị nữ cưỡi ngựa đến, Ngỗi hậu liếc mắt đưa tình nhìn Vương tử Đái. Vương tử Đái se sẽ gật đầu, rồi quay ngựa lùi lại. Gặp bấy giờ ở chân núi có một đàn hươu nai chạy ra. Vương tử Đái bắn luôn hai phát, được một nai. Ngỗi hậu cũng bắn trúng một hươu. Mọi người đều vỗ tay reo mừng. Ngỗi hậu quay ngựa trở về. Chu Tương Vương ra đón. Ngỗi hậu đem con hươu dâng nộp Chu Tương Vương. Vương tử Đái cũng dâng nộp một hươu và một nai. Chu Tương Vương bằng lòng, thu quân trở về, rồi ban yến cho các quan triều thần, rất là vui vẻ. Ngày hôm sau, Vương tử Đái vào cung Huệ hậu giả cách vấn an, đã trông thấy Ngỗi hậu ở đấy rồi. Ngỗi hậu đem tiền bạc đút lót tất cả các cung nhân, cấm không được nói hở cho ai biết, rồi ngay hôm ấy cùng với Vương tử Đái tư thông ở trong một cái phòng riêng. Hai bên cùng nhau quyến luyến, khi từ giã ra về, Ngỗi hậu lại dặn Vương tử Đái rằng: - Thỉnh thoảng Vương tử cứ vào cung thăm thiếp nhé! Vương tử Đái nói: - Tôi chỉ sợ Thiên tử sinh nghi thì làm thế nào? Ngỗi hậu nói: - Thiếp có thể che chở được, Vương tử chớ ngại. Các cung nhân đều biết chuyện cả, vì Vương tử Đái là con yêu của Huệ hậu. Vả việc này cũng quan hệ đến thể thống, vậy nên không ai dám nói ra. Huệ hậu cũng vậy, lại dặn các cung nhân không được nói. Các cung nhân được nhiều tiền bạc thưởng tứ, đều có ý che chở cho Vương tử Đái, bởi vậy Vương tử Đái ngày nào cũng ở trong cung, suốt đêm đến sáng, mà Chu Tương Vương vẫn không biết gì cả. Trong bọn cung nữ có một người tên gọi Tiểu Đông, nhan sắc cũng khá, mà lại hiểu âm luật. Một hôm, Vương tử Đái đang cùng với Ngỗi hậu uống rượu, sai Tiểu Đông thổi ống ngọc tiêu, Vương tử Đái lại theo dịp mà hát; đến lúc Vương tử Đái say rượu, có ý lả lơi, giơ tay nắm lấy áo Tiểu Đông để trêu ghẹo. Tiểu Đông sợ hãi, cởi áo bỏ chạy. Vương tử Đái giận lắm, rút gươm đuổi theo, toan giết Tiểu Đông. Tiểu Đông vội vàng chạy đến cung Chu Tương Vương, kể hết những chuyện Vương tử Đái tư thông với Ngỗi hậu, Chu Tương Vương tức khắc cầm thanh bảo kiếm để đi giết Vương tử Đái.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 38 Chu Tương Vương tránh sang nước khác Tấn Văn công thu được lòng dân

Chu Tương Vương nghe lời Tiểu Đông nói, tức thì nổi giận, rút thanh bảo kiếm ở trên đầu giường, định đi giết Vương tử Đái. Đi được mấy bước, lại nghĩ thầm rằng: - Vương tử Đái là con yêu của Thái hậu (tức là Huệ hậu) nếu Trẫm giết đi, người ngoài không biết, tất cho là bất hiếu. Vả Vương tử Đái vũ nghệ giỏi lắm, vị tất Trẫm đã giết nổi, chi bằng Trẫm hãy chịu nhịn đợi đến sáng mai, xét được sự thực, bấy giờ ta sẽ trị tội Ngỗi hậu, tự khắc Vương tử Đái xấu hổ mà trốn đi nước khác. Chu Tương Vương thở dài một tiếng ném thanh bảo kiếm xuống đất, lại trở về cung, rồi sai nội thị đi dò thăm xem tình hình Vương tử Đái ra sao. Nội thị về báo rằng: - Vương tử Đái biết Tiểu Đông vào báo với Thiên tử, vậy đã tức khắc trốn đi rồi. Chu Tương Vương nói: - Khi ra vào cửa cung, làm sao không bẩm mệnh, đó cũng là tại Trẫm không phòng bị từ trước. Sáng hôm sau, Chu Tương Vương truyền bắt các thị nữ trong cung ra để tra hỏi thì đứa nào cũng chối không tất cả. Sau gọi Tiểu Đông ra đối chứng, bấy giờ các thị nữ đều thú nhận, đem bao nhiêu những tình hình trước sau nói hết với Chu Tương Vương. Chu Tương Vương truyền bắt Ngỗi hậu giam vào lãnh cung, khóa chặt cửa lại, chỉ cho khoét một lỗ thủng để đưa cơm nước mà thôi. Vương tử Đái sợ tội, trốn sang nước Địch. Huệ hậu lo phiền, từ bấy giờ cũng thành bệnh ốm. Đồi Thúc và Đào Tử nghe thấy Ngỗi hậu bị truất, giật mình kinh sợ mà nói rằng: - Ngày trước hai ta phụng mệnh Thiên tử sang mượn quân nước Địch để đánh nước Trịnh, sau hai ta phụng mệnh Thiên tử sang xin cưới Ngỗi hậu, nay Ngỗi hậu bị truất, tất nhiên vua Địch có ý căm tức. Vả Vương tử Đái trốn sang nước Địch, tất nhiên cũng kiếm chuyện để xui giục vua Địch, một mai vua Địch đem quân sang hỏi tội thì hai ta biết nói ra làm sao! Hai người tức khắc đánh xe đi theo Vương tử Đái, để bày mưu lập kế sang nói với vua nước Địch. Đồi Thúc và Đào Tử vào trước nói với vua nước Địch rằng: - Ngày trước chúng tôi vì Vương tử Đái mà sang thỉnh hôn, Thiên tử nghe nói người đẹp mới chiếm lấy rồi lập làm hoàng hậu; nhân một hôm đến thăm Thái hậu (tức là Huệ hậu) gặp Vương tử Đái, Vương tử Đái nói lại chuyện cũ, bị lũ cung nhân đặt điều gièm pha với Thiên tử, Thiên tử chẳng nghĩ đến cái công khó nhọc quí quốc đánh Trịnh khi trước mà đem Hoàng hậu giam vào lãnh cung, rồi đuổi Vương tử Đái đi, như thế thật là một người phụ bạc. Xin quí quốc đem quân sang đánh, mà lập Vương tử Đái lên làm vua để cứu lấy Hoàng hậu. Vua nước Địch tin lời, liền hỏi: - Vương tử Đái bây giờ ở đâu? Đồi Thúc và Đào Tử nói: - Hiện nay đang ở ngoài cõi. Vua nước Địch sai đón vào, rồi cho quan Đại tướng là Xích Đinh cùng với Đồi Thúc và Đào Tử đem quân giúp Vương tử Đái về đánh nhà Chu. Chu Tương Vương nghe tin quân nước Địch đến đánh, sai quan Đại phu là Đàm Bá đem việc Vương tử Đái làm loạn nói với Xích Đinh. Xích Đinh chém chết Đàm Bá rồi thẳng đương tiến sang nhà Chu. Chu Tương Vương nổi giận, sai quan Khanh sĩ là Nguyên Bá Quán làm chánh tướng, Mao Vệ làm phó tướng, đem quân ra đối địch. Nguyên Bá Quán biết quân nước Địch mạnh tợn, không thể đánh nổi, mới truyền cho quân sĩ lập kế cố thủ, không ra nghênh chiến. Xích Đinh giận lắm, liền lập kế làm một cái chòi cao ở Thúy Vân Sơn, trên cắm cờ hiệu Thiện tử, cho một người ăn mặc làm Vương tử Đái ngồi uống rượu ở trên chòi, và bắt các thị nữ múa hát. Lại sai Đồi Thúc và Đào Tử, mỗi người đem một nghìn quân phục sẵn ở sườn núi, đợi khi quân nhà Chu đến thì nghe hiệu súng nổ mà đổ ra đánh. Lại sai con là Xích Phong Tử đem năm trăm quân đến cửa dinh Nguyên Bá Quán khiêu chiến. Rồi giả cách thua chạy để dụ đến Thúy Vân Sơn. Khi Xích Phong Tử đem năm trăm quân đến khiêu chiến, Nguyên Bá Quán thấy quân ít, toan đổ ra đánh, Mao Vệ can rằng: - Nước Địch hay gian dối lắm, ta nên cẩn thận, chớ ra đánh vội, hãy đợi cho khi nào quân giặc mỏi mệt, bấy giờ sẽ liệu. Đến trưa hôm ấy, quân Địch giả cách mỏi mệt, xuống ngựa ngồi la liệt ở dưới đất, cũng có kẻ lại nằm nhoài ra nữa, vừa nằm vừa sỉ mắng Nguyên Bá Quán là người hèn nhát. Nguyên Bá Quán tức giận, đem quân ra cùng với Xích Phong Tử giao chiến. Đánh chưa được mươi hợp, Xích Phong Tử giả cách thua chạy. Nguyên Bá Quán đuổi theo. Khi gần đến Thúy Vân Sơn, Nguyên Bá Quán trông thấy Vương tử Đái đang uống rượu ở trên chòi, xung quanh có kéo cờ cắm tàn rất là rực rỡ, liền nổi giận mà mắng rằng: - Đứa nghịch tặc kia tất chết về tay ta! Nói xong, tức khắc xông lên để đánh. Bỗng nghe tiếng súng nổ, quân giặc ở hai bên sườn núi đổ ra: Phía tả có Đồi Thúc, phía hữu có Đào Tử, cùng đánh áp lại. Nguyên Bá Quán biết là trúng kế, vội vàng cởi áo Tử bào ra, rồi đi lẫn vào trong đám loạn quân để chạy trốn. Trong đám loạn quân có một người hỏi Nguyên Bá Quán rằng: - Tướng quân ôi! Chạy đi đường nào bây giờ? Đồi Thúc nghe tiếng, biết là có Nguyên Bá Quán ở đấy, vội vàng cố sức đuổi theo, bắt được hơn 30 người, Nguyên Bá Quán cũng bị bắt. Mao Vệ nghe tin Nguyên Bá Quán thua trận, tức khắc cho người về phi báo Chu Tương Vương để xin thêm quân tiếp ứng. Đồi Thúc đem Nguyên Bá Quán về nộp Vương tử Đái. Vương tử Đái truyền giam lại một chỗ. Đồi Thúc nói: - Nay Nguyên Bá Quán đã bị bắt, Mao Vệ tất sợ mất vía, nếu đêm hôm nay ta dùng kế hỏa công mà đem quân tiến đánh thì thế nào cũng bắt được Mao Vệ. Vương tử Đái khen phải, rồi nói với Xích Đinh. Đêm hôm ấy, Xích Đinh đem quân đến đốt phá dinh Mao Vệ. Đồi Thúc và Đào Tử cũng đem quân xông vào. Mao Vệ biết là sức không địch nổi, vội vàng mở cửa sau chạy trốn. Đi được một quãng, lại gặp quân Vương tử Đái. Vương tử Đái quát to lên rằng: - Mao Vệ! Mày chạy đường nào cho thoát! Nói xong, liền cầm giáo đâm chết Mao Vệ. Quân nước Địch toàn thắng, rồi vây kín kinh thành nhà Chu. Chu Tương Vương nghe tin Nguyên Bá Quán bị bắt và Mao Vệ chết, bảo Phú Thần rằng: - Bởi Trẫm không nghe lời nhà ngươi, đến nỗi nên cơ sự này! Phú Thần nói: - Nay quân Địch khí thế mạnh tợn lắm, xin Thiên tử hãy tạm tránh đi, chắc thế nào các nước chư hầu cũng có kẻ vì công nghĩa mà đem quân tảo trừ quân giặc. Chu Khổng nói: - Tôi thiết tưởng đem quân sĩ ra, còn có thể cố đánh một trận được, can gì phải bỏ mà đi. Thiệu Quá nói: - Cứ như ý tôi thiển nghĩ thì việc này bởi tại Ngỗi hậu, xin Thiên tử trị tội mà giết đi, rồi cố thủ để đợi quân chư hầu đến, thế là vạn toàn. Chu Tương Vương thở dài mà than rằng: - Vì Trẫm bất minh, để gây nên tai vạ! Nay Thái hậu (tức Huệ hậu) đang ốm nặng, Trẫm hãy tạm tránh đi để cho yên việc, rồi tùy các nước chư hầu. Chu Tương Vương lại bảo Chu Khổng và Thiệu Quá rằng: - Vương tử Đái đem quân về đây là chỉ vì Ngỗi hậu mà thôi, nhưng nếu Vương tử Đái chiếm lấy Ngỗi hậu, tất sợ người trong nước chê cười, không dám ở chốn kinh thành, thế thì Trẫm cũng lại về, hai ngươi cứ vững dạ. Chu Khổng và Thiệu Quá sụp lạy xin vâng mệnh, Chu Tương Vương hỏi Phú Thần rằng: - Địa giới nhà Chu ta chỉ tiếp giáp ba nước là: Trịnh, Vệ và Trần, nay Trẫm nên sang nước nào? Phú Thần nói: - Vệ và Trần đều là nước yếu cả, chi bằng ta sang nước Trịnh là hơn. Chu Tương Vương nói: - Ngày trước Trẫm đã mượn quân nước Địch sang đánh nước Trịnh, chẳng có lẽ Trịnh lại không oán Trẫm hay sao? Phú Thần nói: - Tôi khuyên nhà vua sang nước Trịnh, chính vì việc ấy đó! Số là tiên tổ nước Trịnh vẫn có công với nhà Chu ta, thì con cháu tất cũng không quên nhà Chu ta được. Mới rồi, nhà vua mượn quân nước Địch sang đánh nước Trịnh, nước Trịnh dẫu có ý không bằng lòng, nhưng vẫn ngày đêm mong cho nước Địch làm phản nhà Chu, để tỏ mình là một nước không trái đạo với Thiên tử. Bây giờ nhà vua sang Trịnh thì Trịnh tất vui lòng mà nghênh tiếp, còn oán nỗi gì! Chu Tương Vương mới quyết định trốn sang nước Trịnh. Phú Thần lại nói: - Nay nhà vua trốn đi, giả sử quân địch cố sức đuổi theo thì biết làm thế nào, để tôi xin đem quân ra mà ngăn cản quân Địch mới được. Phú Thần đem quân ra đánh nhau với quân Địch. Chu Tương Vương cùng với bọn Giản Sư Phủ và Tả Yên Phủ hơn mười người, thẳng đường trốn sang nước Trịnh. Phú Thần đánh nhau với Xích Đinh, giết được quân nước Địch nhiều lắm. Phú Thần cũng bị trọng thương, lại gặp Đồi Thúc và Đào Tử đến. Đồi Thúc và Đào Tử bảo Phú Thần rằng: - Ai cũng biết là nhà ngươi lấy lời nói trung mà can bảo Thiên tử, vậy thì ngày nay nhà ngươi cũng không đến nỗi chết. Phú Thần nói: - Ngày trước ta can bảo, Thiên tử không nghe, đến nỗi như thế này! Nếu bây giờ ta không cố sức chết mà đánh thì Thiên tử tất cho ta là không thực lòng. Nói xong, lại cố sức đánh một phen, rồi chết tại trận tiền. Phú Thần chết rồi, quân nước Địch mới biết là Chu Tương Vương mở cửa thành trốn đi. Khi quân nước Địch tới nơi thì cửa thành lại thấy đóng. Vương tử Đái truyền giải Nguyên Bá Quán đến, bắt gọi cửa thành. Chu Khổng và Thiệu Quá đứng ở trên mặt thành bảo Vương tử Đái rằng: - Chúng tôi vẫn muốn mở cửa thành ra đón, nhưng sợ quân nước Địch tiến vào cướp phá, vậy nên không dám. Vương tử Đái nói với Xích Đinh, xin cho quân nước Địch đóng ở ngoài thành, rồi sau sẽ đem tiền bạc ở trong kho ra để khao thưởng. Xích Đinh thuận cho. Vương tử Đái tiến vào kinh thành, trước hết đến ngay lãnh cung thả Ngỗi hậu ra, rồi sau vào yết kiến Huệ hậu. Huệ hậu đang ốm, trông thấy Vương tử Đái, mừng quá, cười sặc lên mà chết. Vương tử Đái không làm ma vội, còn vào trong cung để tư tình với Ngỗi hậu; lại đi tìm Tiểu Đông để giết. Tiểu Đông sợ tội, đã đâm đầu xuống giếng mà chết rồi! Ngày hôm sau, Vương tử Đái giả cách phụng di mệnh của Huệ hậu, lên ngôi Thiên tử và lập Ngỗi hậu lên làm Hoàng hậu; lại đem tiền bạc trong kho ra khao thưởng cho nước Địch, rồi phát tang làm ma Huệ hậu. Người nhà Chu có đặt thành một bài hát để chế nhạo. Vương tử Đái nghe thấy bài hát, biết là dân tình không phục, sợ sinh biến loạn, mới đem Ngỗi hậu dời sang ở đất Ôn Ấp, rồi sửa sang cung thất để ngày đêm cùng với Ngỗi hậu vui chơi; còn bao nhiêu việc chính trị, giao cho Chu Khổng và Thiệu Quá tất cả, Vương tử Đái tiếng là làm Thiên tử, nhưng không cùng với thần dân tiếp kiến bao giờ. Nguyên Bá Quán thừa cơ trốn về Nguyên Thành. Chu Tương Vương đi đến Dĩ Thành, ở đấy nhiều trúc mà không có nhà công quán, người ta cũng gọi là Trúc Xuyên. Chu Tương Vương hỏi thăm, biết là đã đến địa giới nước Trịnh, mới vào ngủ nhờ trong cái nhà tranh của một kẻ nông phu là Phong Thị. Phong Thị hỏi: - Chẳng hay ngài là quan chức gì? Chu Tương Vương hỏi: - Trẫm là Thiên tử nhà Chu, vì trong nước có giặc, nên phải tránh nạn đến đây. Phong Thị giật mình kinh sợ, sụp lạy xin lỗi mà rằng: - Em tôi đêm qua nằm mộng thấy ánh mặt trời đỏ chiếu vào trong nhà, quả nhiên hôm nay có quí nhân đến! Nói xong, liền sai người đi giết gà thổi xôi để dâng. Chu Tương Vương không biết là em Phong Thị, mới hỏi: - Người ấy là ai thế? Phong Thị nói: - Đấy là người em cùng cha khác mẹ với tôi đó! Vẫn cùng ở đây với tôi, ăn chung đổ lộn để phụng dưỡng mẹ già. Chu Tương Vương thở dài mà than rằng: - Anh em nhà ngươi là nhà làm ruộng mà cùng nhau hòa thuận được như thế! Trẫm làm Thiên tử mà lại bị người em cùng mẹ cư xử chẳng ra gì; Trẫm không bằng kẻ nông phu nhiều lắm! Chu Tương Vương nói xong, lại ứa nước mắt chảy xuống dòng dòng. Quan Đại phu là Tả Yên Phủ nói: - Ông Chu công ngày xưa là bậc đại thánh mà trong anh em cũng còn bất hòa với nhau, xin nhà vua chớ lấy làm phiền nghĩ, nên mau mau truyền hịch đi bảo các nước chư hầu. Chu Tương Vương viết thư, sai người đi bảo với các nước chư hầu như Tề, Tống, Trần, Trịnh và Vệ. Trong thư đại lược nói rằng: "Trẫm nay bất đức, để đến nỗi người em cùng mẹ là Vương tử Đái nổi loạn phải tránh sang Dĩ Thành là địa giới Trịnh, vậy xin nói để các nước chư hầu biết". Giản Sư Phủ nói: - Các nước chư hầu ngày nay, chỉ có Tần và Tấn muốn làm bá chủ; nước Tần có bọn Kiển Thúc và Bách Lý Hề; nước Tấn có bọn Triệu Thôi và Hổ Yến tất biết khuyên vua nước mình làm những việc công nghĩa, còn các nước khác thì chẳng trông cậy gì được! Chu Tương Vương liền sai Giản Sư Phủ sang bảo nước Tấn, và sai Tả Yên Phù sang bảo nước Tần. Trịnh Văn công nghe tin Chu Tương Vương tránh sang Dĩ Thành, cười mà nói rằng: - Ngày nay Thiên tử mới biết nước Địch không bằng nước Trịnh. Nói xong, tức khắc sai người sang Dĩ Thành lập nhà công quán để mời Chu Tương Vương vào ở, bao nhiêu những đồ nhật dụng, nước Trịnh đều cung cấp đủ cả, không thiếu một thứ gì. Chu Tương Vương trông thấy Trịnh Văn công, có ý thẹn thùng. Các nước Lỗ và Tống cũng đều sai sứ đến vấn an và dâng các món thực phẩm, chỉ có Vệ Văn công không đến. Quan Đại phu nước Lỗ là Tang Văn Trọng nghe nói Vệ Văn công không đến, thở dài mà than rằng: - Vua nước Vệ sắp đến ngày chết! Các nước chư hầu nên phải biết có Thiên Tử, cũng như cây phải có gốc, nước phải có nguồn. Nếu cây không gốc tất héo, nước không nguồn tất khô, tài nào mà không chết. Đến năm sau, Vệ Văn công chết. Thế tử Trịnh lên nối ngôi, tức là Vệ Thành công, quả như lời nói của Tang Văn Trọng. Giản Sư Phủ phụng mệnh Chu Tương Vương sang bảo Tấn Văn công. Tấn Văn công hỏi Hồ Yển. Hồ Yển nói: - Tề Hoàn công ngày xưa làm nên được công nghiệp bá chủ là vì biết giúp Thiên tử nhà Chu; nay Thiên tử nhà Chu có nạn, nếu nước Tấn ta không giúp thì nước Tần tất giúp. Nước Tần đã giúp thì công nghiệp bá chủ về tay nước Tần mất! Tấn Văn công sai Quách Yển bói một quẻ. Quách Yển bói được quẻ tốt. Tấn Văn công liền cử đại binh để định đi giúp Thiên tử nhà Chu. Khi Tấn Văn công sắp đi, lại nghe tin Tần Mục công đã cử đại binh đi giúp nhà Chu, hiện đang đóng quân ở trên sông Hoàng Hà. Hồ Yển nói: - Vua nước Tần vẫn có chí muốn giúp Thiên tử nhà Chu, nay còn đóng quân ở trên sông Hoàng Hà, chỉ vì chưa có lối nào mà đi qua các nước Đông Di được. Bây giờ Chúa công nên sai người sang bảo các nước Đông Di để xin mượn đường, rồi lại sai người sang bảo vua nước Tần rằng nước Tấn ta đã cử đại binh đi rồi, thế thì quân nước Tần tất phải lui về. Tấn Văn công khen phải, một mặt sai Hồ Xạ Cô đem vàng bạc sang lễ các nước Đông Di để xin mượn đường; còn một mặt sai Tư Thần đến trên sông Hoàng Hà nói với Tần Mục công. Tư Thần phụng mệnh Tấn Văn công vào nói với Tần Mục công rằng: - Thiên tử tránh nạn ở ngoài, quí quốc lấy làm lo thì Chúa công tôi cũng lấy làm lo. Hiện nay Chúa công tôi đã xin cử đại binh để thay quí quốc vào giúp Thiên tử, không dám phiền đến quí quốc phải đi xa xôi khó nhọc làm gì! Tần Mục công nói: - Ta sợ vua nước Tấn mới lập, chưa đủ quân để giúp Thiên tử, vậy phải vội vàng đến đây, nay vua nước Tấn đã cử đại binh đi giúp Thiên tử thì ta đây chỉ việc ngồi yên mà đợi tin mừng. Kiển Thúc và Bạch Lý Hề đều nói: - Việc này là một việc đại nghĩa, vua nước Tấn sợ Chúa công chia mất cái danh dự ấy, vậy nên sai người đến nói để làm ngăn trở quân ta, chi bằng ta cứ tiến binh, cùng với nước Tấn giúp Thiên tử. Tần Mục công nói: - Ta cũng biết việc này là một việc rất hay, nhưng quân ta không tiện đường đi, chỉ ngại về các nước Đông Di đem lòng ngăn trở. Nay vua Tấn mời lên làm vua, nếu không có công trạng gì thì sao giữ yên được nước, thôi thì ta nhường cho vua nước Tấn. Nói xong, liền sai Công tử Trí theo Tả Yên Phủ đến Dĩ Thành để thăm Chu Tương Vương, rồi lại rút quân về nước Tần. Tư Thần đem tin Tần Mục công lui quân về báo với Tấn Văn công. Tấn Văn công truyền tiến binh đến đất Dương Phàn. Quan trấn thủ ở đất Dương Phàn ra ngoài cõi để nghênh tiếp. Tấn Văn công sai bọn Khước Tần đem quân vây đất Ôn Ấp, lại sai bọn Triệu Thôi sang Dĩ Thành đón Chu Tương Vương trở về kinh thành. Chu Khổng và Thiệu Quá mở cửa thành đón Chu Tương Vương vào. Người đất Ôn Ấp nghe tin Chu Tương Vương đã trở về kinh thành, liền họp nhau lại giết chết Đồi Thúc và Đào Tử, rồi mở toang cửa thành để đón quân nước Tấn vào. Vương tử Đái vội vàng đem Ngỗi hậu lên xe, tìm đường trốn sang nước Địch, nhưng quân sĩ đóng cửa lại, không cho Vương tử Đái ra, Vương tử Đái rút gươm chém chết mấy người. Ngụy Thù vừa đi đến, quát to lên mà mắng rằng: - Thằng nghịch tặc kia, mày định chạy đi đằng nào! Vương tử Đái nói: - Nhà ngươi tha cho ta trốn, ngày khác ta xin đền ơn. Ngụy Thù nói: - Để tôi tâu Thiên tử đã, bấy giờ tôi sẽ tha! Vương tử Đái nổi giận, rút gươm ra đâm. Ngụy Thù nhảy ngay lên xe, chém chết Vương tử Đái. Quân sĩ bắt được Ngỗi hậu đem đến nộp Ngụy Thù, Ngụy Thù nói: - Nó là một đứa dâm phụ, để nó làm gì! Nói xong, truyền cho quân sĩ xúm lại mà bắn chết. Ngụy Thù đem hai cái xác Vương tử Đái và Ngỗi hậu đến nộp Khước Tần. Khước Tần nói: - Sao ngươi bắt được, lại không đóng cũi mà đem nộp để cho Thiên tử trị tội. Ngụy Thù nói: - Thiên tử tránh cái tiếng giết em, vậy mới mượn tay nước Tấn ta, thế thì ta giết ngay đi là hay lắm. Khước Tần truyền đem chôn hai cái xác ấy, rồi sai người đến đất Dương Phàn để báo tin cho Tấn Văn công biết. Tấn Văn công nghe tin Vương tử Đái và Ngỗi hậu đã bị giết rồi, liền vào kinh thành yết kiến Chu Tương Vương để báo tin thắng trận. Chu Tương Vương bày tiệc thết đãi, lại đem các đồ vàng lụa ra tạ ơn Tấn Văn công. Tấn Văn công sụp lạy mà nói rằng: - Trùng Nhĩ (tên Tấn Văn công) này không dám nhận các đồ vàng lụa, chỉ xin nhà vua gia ơn cho lúc chết được an táng bằng lễ toại đạo thì lấy làm đội ơn vô cùng. Chu Tương Vương nói: - Tiên vương ngày xưa đặt ra lễ để phân biệt trên dưới, chỉ quan hệ ở những lúc sinh tử ấy, Trẫm không dám vì ơn riêng mà bỏ phép công; nay Thúc phụ (Tấn Văn công) có công lớn, Trẫm không dám quên, Trẫm xin đem đất Ôn, đất Nguyên, đất Dương Phàn, và đất Toản Mao để gia phong cho Thúc phụ. Tấn Văn công cáo từ lui ra. Dân nhà Chu già trẻ lớn bé kéo nhau đi xem mặt Tấn Văn công, đứng chật ních cả đường cái, đều thì thào bảo nhau rằng: - Ngày nay lại thấy có Tề Hoàn công! Tấn Văn công sai Ngụy Thù đến nhận địa giới đất Dương Phàn, sai Điên Hiệt đến nhận địa giới đất Toản Mao, sai Loan Chi đến nhận địa giới đất Ôn, còn đất Nguyên thì Tấn Văn công thân hành đến để nhận địa giới. Bởi vì đất Nguyên là phong ấp của Nguyên Bá Quán; Nguyên Bá Quán vì cớ đánh giặc bị thua, nên vua nhà Chu đòi lại mà thưởng cho Tấn Văn công. Tấn Văn công sợ Nguyên Bá Quán không chịu, vậy phải thân hành đem quân đến. Điên Hiệt đến Toản Mao, Loan Chi đến đất Ôn. Quan trấn thủ ở đất Toản Mao và đất Ôn đều mở cửa thành ra nghênh tiếp. Còn Nguy Thù đến đất Dương Phàn thì quan trấn thủ ở đấy là Xương Cát bảo những người dưới rằng: - Nhà Chu còn được bao nhiêu đất mà gia phong cho nước Tấn nhiều như vậy, ta cũng là bề tôi nhà Chu, sao ta chịu phục. Nói xong, liền đem quân lên mặt thành để chống giữ. Ngụy Thù giận lắm, vây kín cả bốn mặt, rồi hạ lệnh rằng: - Nếu không chịu hàng thì giết chết sạch cả! Xương Cát đứng trên mặt thành trả lời rằng: - Đất Dương Phàn này là chỗ kinh kỳ, dân trong thành phần nhiều là họ hàng thân thích Thiên tử nhà Chu cả. Quý quốc cũng là bề tôi nhà Chu, sao lại tàn nhẫn đến thế. Ngụy Thù nghe lời, có ý cảm động, sai người báo với Tấn Văn công. Tấn Văn công viết một bức thư đưa cho Xương Cát. Trong thư đại lược nói rằng: "Bởi vì Thiên tử gia phong cho tôi, vậy nên tôi không dám trái mệnh, nếu tướng quân nghĩ đến những họ hàng thân thích của Thiên tử mà muốn đem quân đi nơi khác thì tôi cũng xin tùy ý tướng quân." Tấn Văn công sai người đến bảo Ngụy Thù hãy hoãn binh không nên đánh vội. Xương Cát tiếp được thư, liền truyền cho dân trong thành rằng: - Ai muốn về nhà Chu thì đi, ai muốn theo nước Tấn thì ở. Dân ở trong thành xin đi quá nửa. Xương Cát đem cả đến ở đất Chỉ Thôn, Ngụy Thù vào nhận lấy địa giới đất Dương Phàn. Tấn Văn công và Triệu Thôi đem quân đến Nguyên. Nguyên Bá Quán nói dối những người dưới rằng: - Quân nước Tấn vây đất Dương Phàn, bao nhiêu dân ở đấy giết chết sạch cả! Dân đất Nguyên sợ hãi, quyết chí chống giữ với quân nước Tấn, Quân nước Tấn bổ vây, Triệu Thôi bảo Tấn Văn công rằng: - Dân không phục nước Tấn ta là vì nước Tấn ta chưa có điều gì tín nghĩa cả; nay Chúa công nên giữ lấy tín nghĩa là không phải đánh mà tự khắc dân phục. Tấn Văn công nói: - Muốn giữ tín nghĩa thì phải làm thế nào? Triệu Thôi nói: - Xin Chúa công hạ lệnh cho quân sĩ chỉ giữ lương ăn trong ba ngày mà đánh đất Nguyên, nếu dân đất Nguyên không chịu hàng thì tức khắc giải vây về nước. Tấn Văn công theo lời. Đến ngày thứ ba quân sĩ báo với Tấn Văn công rằng: - Còn ngày hôm nay nữa thì hết lương ăn. Tấn Văn công chẳng nói gì cả. Đến đêm hôm ấy, dân Nguyên trèo qua thành ra nói với Tấn Văn công rằng: - Chúng tôi đã hỏi tin, biết là dân Dương Phàn không bị giết bao giờ; vậy đến ngày mai, chúng tôi xin mở thành để đón Chúa công. Tấn Văn công nói: - Hôm trước ta đã có hẹn trong ba ngày, nếu không đánh được đất Nguyên thì tức khắc giải vây rút về; hôm nay đã là ba ngày rồi thì sáng mai thế nào ta cũng rút quân. Quân sĩ đều can rằng: - Dân đất Nguyên đã định đến ngày mai mở cửa thành để đón Chúa công vào thì Chúa công nên tạm lưu lại một ngày nữa, dẫu có hết lương, xin cho người sang Dương Phàn lấy, cũng chẳng xa gì! Tấn Văn công nói: - Tín nghĩa là một điều quý, ta đã hạ lệnh hẹn trong ba ngày ai lại không biết, nếu nay lại tạm lui một ngày nữa thì là người thất tín, dẫu có được đất Nguyên, cũng không ích gì! Sáng sớm hôm sau, truyền giải vây rút quân về nước. Dân đất Nguyên bảo nhau rằng: - Vua nước Tấn thật là một ông vua hiền! Bấy giờ tranh nhau trèo lên mặt thành xin đầu hàng cả, rồi lại trèo qua mặt thành xuống, đi theo mời Tấn Văn công trở lại. Nguyên Bá Quán không thể nào ngăn cấm được nữa, cũng phải mở cửa thành xin hàng. Quân nước Tấn đi đã được 30 dặm, dân đất Nguyên theo kịp đến nơi; Nguyên Bá Quán cũng viết thư đến xin hàng. Tấn Văn công truyền đóng quân lại một chỗ, rồi một mình đi xe vào thẳng trong thành. Dân trong thành đều hoan hô, rất là vui vẻ! Tấn Văn công đãi Nguyên Bá Quán lấy lễ khanh sĩ, cho ở đất Hà Bắc, Tấn Văn công sai Triệu Thôi làm quan trấn thủ ở đất Ôn, kiêm lĩnh đất Toản Mao. Tấn Văn công từ khi cử đại binh đi giúp Thiên tử nhà Chu và thủ tín với dân đất Nguyên, mới có cơ làm được bá chủ.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 39 Triển Hỉ hỏi kế Liễu Hạ Huệ Ngụy Thù đốt nhà Hi Phụ Cơ

Tề Hiếu công bấy giờ có ý muốn làm bá chủ, vẫn định dùng binh lực mà khôi phục lại công nghiệp của Tề Hoàn công thuở trước, mới họp các quan đại phu lại mà hỏi rằng: - Đang đời Tiên quân ta là Hoàn công ngày xưa, năm nào cũng đánh đông dẹp bắc; nay ta cứ ngồi yên một chỗ, khác nào người nằm trong cái vỏ ốc, không biết mặt ngoài có việc chi chi cả, ta lấy làm xấu hổ lắm! Ta còn nhớ năm trước vua nước Lỗ định giúp Vô Khuy mà chống cự với ta, ta chưa báo được cái thù ấy; nay nước Lỗ phía bắc kết giao với Vệ, phía nam kết giao với Sở, giả sử đem quân sang đánh ta thì ta lấy gì địch lại cho nổi; bây giờ nước Lỗ đang gặp năm mất mùa, ta muốn thừa cơ mà đánh trước đi, các ngươi nghĩ thế nào? Quan Thượng khanh là Cao Hổ nói: - Nước Lỗ đang có nhiều nước giúp, ta đánh vị tất đã nổi. Tề Hiếu công nói: - Ta hãy thử sang đánh để xem các nước chư hầu có đồng lòng với nước Lỗ hay không? Tề Hiếu công cử binh sang xâm phạm phía bắc nước Lỗ. Quân sĩ phi báo với Hi công. Quan Đại phu là Tang Tôn Thần nói với Lỗ Hi công rằng: - Quân Tề sang đánh ta là có ý muốn báo thù, ta vị tất đã chống lại nổi, xin Chúa công sai sứ ra từ tạ là hơn. Lỗ Hi công nói: - Biết ai là người khéo ứng đối mà sai đi bây giờ! Tang Tôn Thần nói: - Tôi xin cử một người là con quan Tư không đời trước, tên gọi Triển Hoạch, tên tự là Tử Cầm, làm quan sĩ sư, được phong ở Liễu Hạ. Người ấy nho nhã mà thông minh lắm, biết nhiều nghĩa lý, chỉ vì làm quan không hợp thói đời, nên mới bỏ chức từ về; nếu sai người ấy làm sứ thần ra nói với vua Tề thì vua Tề tất phải kính trọng. Lỗ Hi công nói: - Ta cũng có nghe tiếng người ấy, chẳng hay bây giờ ở đâu? Tang Tôn Thần nói: - Hiện nay vẫn ở Liễu Hạ. Lỗ Hi công sai người đến triệu Triển Hoạch, Triển Hoạch cáo ốm không thể đi được. Tang Tôn Thần nói: - Triển Hoạch có người em tên gọi là Triển Hỉ, dẫu quan chức còn nhỏ, nhưng cũng có tài ứng đối; nay sai Triển Hỉ đến nhà Triển Hoạch mà hỏi xem nên dùng cách gì để ứng đối với vua Tề. Lỗ Hi công theo lời, Triển Hỉ đến Liễu Hạ, vào yết kiến Triển Hoạch, thuật lại những chủ ý của Lỗ Hi công. Triển Hoạch nói: - Vua Tề đem quân sang đánh ta là có ý muốn nối công nghiệp Tề Hoàn công ngày trước, nhưng không biết rằng muốn làm bá chủ thì trước hết phải tôn phù Thiên tử nhà Chu; nay ta đem di mệnh của Tiên vương ngày xưa mà trách vua Tề thì thiếu gì cách nói. Triển Hỉ về nói với Lỗ Hi công rằng: - Tôi đã hỏi được cách để ứng đối với vua Tề rồi! Lỗ Hi công đã sắp sẵn các đồ lễ vật để sai Triển Hỉ đi thương thuyết với quân nước Tề. Đi đến phía nam sông Vấn, gặp tiền đội quân nước Tề, tướng Tiên phong là Thôi Yển. Triển Hỉ liền đem các đồ lễ vật đệ trình Thôi Yển, xin đến yết kiến Tề Hiếu công, Thôi Yển đưa đến, Triển Hỉ nói với Tề Hiếu công rằng: - Chúa công tôi nghe tin xa giá nhà vua sắp sang qua địa giới nước tôi, vậy có sai tôi đưa các đồ lễ vật này để tiến dâng. Tề Hiếu công nói: - Người Lỗ nghe tin ta đem quân sang đánh có sợ hãi hay không? Triển Hỉ cười mà đáp rằng: - Bọn tiểu nhân thì thường có người sợ hãi, chứ bọn quân tử thì không sợ hãi gì cả. Tề Hiếu công nói: - Nước nhà ngươi, quan văn thì không ai mưu trí như Thi Bá; quan vũ thì không có ai vũ dũng như Tào Uế; vả đang gặp năm mất mùa, ngoài đồng không có cây cỏ nào được xanh tốt, thế thì còn chắc cậy vào đâu mà chẳng sợ hãi? Triển Hỉ nói: - Nước tôi không chắc cậy vào gì cả, chỉ chắc cậy về di mệnh của Tiên vương mà thôi; Tiên vương nhà Chu ta ngày xưa phong Thái công ở nước Tề, phong Tiên quân tôi là Bá Cầm ở nước Lỗ, khiến hai nước cắt máu giống vật mà ăn thề với nhau rằng: "Con cháu sau đời đời cùng giúp nhà Chu, chớ có làm hại lẫn nhau". Lời thề ấy còn giao cho quan Thái sử cất đi. Tề Hoàn công làm nên bá chủ, cũng vì biết hội chư hầu ở đất Kha để cùng nhau giúp Thiên tử; nay nhà vua lên ngôi đã được 9 năm, người nước tôi vẫn mong nhà vua lại sửa sang cái công nghiệp của Tề Hoàn công thuở trước. Bằng nay bỏ di mệnh của Tiên vương, trái lời thề của Thái công, để đến nỗi không giữ được cái công nghiệp của Tề Hoàn công thuở xưa thì tôi dám chắc rằng nhà vua tất không như thế. Bởi vậy mà nước tôi không lấy gì làm sợ hãi. Tề Hiếu công nói: - Nhà người về nói với vua nước Lỗ, ta xin cùng với nước Lỗ giảng hòa. Nói xong, liền rút quân về. Triển Hỉ về nói với Lỗ Hi công. Tang Tôn Thần nói: - Quân Tề dẫu lui, nhưng có ý khinh ta, tôi xin cùng với Trọng Toại mượn quân nước Sở để đánh nước Tề. Lỗ Hi công lấy làm phải, liền sai Trọng Toại làm chánh sứ, Tang Tôn Thần có quen nhau với tướng nước Sở là Thành Đắc Thần mới nhờ Thành Đắc Thần nói với Sở Thành Vương rằng: - Nước Tề bội ước ở đất Lỗi Thượng, nước Tống giao chiến ở sông Hoàng Thủy, đều là cừu địch của Sở cả; nếu đại vương định sang đánh thì tôi xin đem quân làm tiên phong. Sở Thành Vương mừng lắm, liền sai Thành Đắc Thần làm chánh tướng, Thúc hầu làm phó tướng, đem quân sang đánh Tề, chiếm lấy đất Dương Cốc, phong cho con Tề Hoàn công là Công tử Ung và sai Thúc hầu đóng đồn ở đấy để làm thanh viện cho nước Lỗ. Thành Đắc Thần thắng trận, thu quân về triều. Quan Lệnh doãn là Tử Văn, bấy giờ đã già rồi, xin nhường quyền chính lại cho Thành Đắc Thần. Sở Thành Vương nói: - Ta giận nước Tống hơn giận nước Tề, Thành Đắc Thần đã vì ta đánh nước Tề rồi, nhà ngươi nên vì ta đánh nước Tống, để báo thù cho nước Trịnh, khi đánh được Tống rồi, bấy giờ nhà ngươi sẽ từ chức. Tử Văn nói: - Tài trí tôi kém Thành Đắc Thần xa lắm, xin Đại vương cho Thành Đắc Thần thay tôi, tất có thể giúp Đại vương đánh Tống được. Sở Thành Vương nói: - Nước Tống đang thần phục nước Tấn, nay ta đánh Tống thì nước Tấn tất cứu, nếu không phải tay nhà ngươi thì sao địch nổi Tấn và Tống được, nhà ngươi nên vì ta mà giúp việc ấy. Nói xong, liền sai Tử Văn ra duyệt binh ở đất Khuê (đất nước Sở) để tuyên thị quân pháp. Tử Văn muốn làm cho tỏ tài trí của Thành Đắc Thần, ngày hôm ấy duyệt binh, chỉ làm thảo thảo xong việc mà thôi, cả buổi sáng chẳng giết một người nào. Sở Thành Vương nói: - Nhà ngươi ra duyệt binh mà không giết một người nào thì sao cho có uy được. Sở Thành Vương liền sai Thành Đắc Thần ra duyệt binh, ở đất Vĩ (đất nước Sở). Thành Đắc Thần ra duyệt binh, hiệu lệnh rất nghiêm trang, kẻ nào trái phép, đều trị tôi cả. Trong một ngày hôm ấy, 7 người bị đánh và 3 người bị xâu tai. Sở Thành Vương mừng lắm, nói: - Thành Đắc Thần thật có tài làm tướng. Tử Văn lại xin nhường quyền chính cho Thành Đắc Thần, Sở Thành Vương nghe lời, liền cho Thành Đắc Thần làm lệnh doãn, kiêm giữ chức nguyên soái. Các quan triều thần đều đến nhà Tử Văn để chúc mừng về việc tiến cử Thành Đắc Thần, chỉ có quan Đại phu là Vỉ Lã Thần nhân ốm không đến. Tử Văn bày tiệc để thết đãi. Khi tiệc đã nửa chừng, có người vào báo với Tử Văn rằng: - Có một cậu bé con ở ngoài cửa xin vào yết kiến. Tử Văn cho vào. Cậu bé khi vào đến nơi, chắp tay cúi đầu trông rất lễ phép. Trong khi ngồi ăn thì nghiễm nhiên tựa hồ không coi ai ra gì. Người ta nhận ra, mới biết là con trai Vĩ Lã Thần, tên gọi Vỉ Giả, mới 13 tuổi, Tử Văn lấy làm lạ hỏi rằng: - Ta tiến cử cho nước được một người đại tướng, các quan triều thần đều chúc mừng cả, sao nhà ngươi lại không chúc mừng? Vỉ Giả nói: - Các ngài cho là việc nên mừng, tôi thiết tưởng là một việc nên lo? Tử Văn nổi giận mà hỏi rằng: - Tại sao nhà ngươi lại bảo là một việc nên lo? Vỉ Giả nói: - Thành Đắc Thần là một người vũ dũng mà không có tài quyết đoán, chỉ có thể dùng để giúp việc tranh chiến được mà thôi, chứ giao cả quyền chính cho thì tất có ngày sinh hại. Tục ngữ có câu rằng: "Cứng quá thì gãy", tức là Thành Đắc Thần ngày nay đó! Thế thì ngài tiến cử một người để làm hỏng việc nước, còn mừng về nỗi gì! Nếu không làm hỏng việc nước thì bấy giờ tôi sẽ mừng, cũng chưa lấy chi làm muộn. Các quan đều nói rằng: - Đứa bé con ấy nói càn, không nên nghe lời. Vỉ Giả cười rầm lên mà lui ra. Các quan triều thần đều tan về cả. Ngày hôm sau, Sở Thành Vương cho Thành Đắc Thần làm thống tướng, cử đại binh cùng với quân Trần, Sái, Trịnh và Hứa sang đánh Tống, vây đất Mân Ấp, Tống Thành công sai quan Tư mã là Công Tôn Cố sang cáo cấp với Tấn Văn công. Tấn Văn công họp các quan triều thần lại để thương nghị. Tiên Trẩn nói: - Nước Sở là một nước có ơn riêng với Chúa công, mà nay cậy sức mạnh sang đánh nước Tề và nước Tống, ấy là lòng trời xui khiến để cho Chúa công được nên cái danh tiếng cứu kẻ hèn yếu; công nghiệp bá chủ cũng bởi ở một việc này! Tấn Văn công nói: - Ta muốn cứu nước Tề và nước Tống thì nên làm thế nào? Hồ Yển nói: - Nay nước Sở đang kết thân với Tào và Vệ, mà hai nước ấy lại đều là cừu địch của Chúa công; nếu Chúa công đem quân đánh Tào và Vệ thì tất Sở phải sang cứu, mà không quấy nhiễu nước Tề và nước Tống được nữa. Tấn Văn công khen phải, liền đem cái mưu ấy bảo Công Tôn Cố về nói trước với Tống Thành công, để Tống Thành công cứ vững lòng mà chống giữ với quân Sở. Công Tôn Cố vâng mệnh trở về nước Tống. Tấn Văn công lo ít quân, bàn với Triệu Thôi. Triệu Thôi nói: - Vua Vũ công ta ngày xưa ở đất Khúc Ốc, mới có một đạo quân, đến đời Hiến công lên thêm hai đạo, mà mở rộng bờ cõi kể hàng nghìn dặm, huống chi nước Tấn ta ngày xưa đã chia làm ba đạo quân được, ngặt vì một điều dân chưa biết lễ nghĩa, khó hợp mà dễ tan, nay Chúa công nên duyệt binh, để khiến cho dân biết thân yêu người trên, mới có thể dùng quân đi đánh các nước. Tấn Văn công nói: - Đã chia làm ba đạo quân thì cần phải có một quan nguyên soái, bây giờ biết dùng ai cho được? Triệu Thôi nói: - Người làm tướng có vũ dũng không bằng trí mưu, có trí mưu không bằng có học thức. Nay Chúa công muốn tìm kẻ có vũ dũng và trí mưu thì chẳng thiếu gì người; nếu muốn tìm kẻ có học thức thì tôi chỉ biết có một mình Khước Cốc mà thôi. Khước Cốc năm nay đã ngoại 50 tuổi mà vẫn còn chăm học lắm. Đã chăm học tất biết trọng nghĩa; đã trọng nghĩa tất biết thương dân; đã thương dân thì mới có thể làm đại tướng mà đem quân đi đánh giặc được. Tấn Văn công khen phải, liền sai người triệu Khước Cốc, cho làm chức nguyên soái. Khước Cốc chối từ không nhận. Tấn Văn công nói: - Ta biết cái tài của nhà ngươi thì nhà ngươi không nên từ chối. Tấn Văn công cố ép mãi, Khước Cốc mới chịu nhận. Tấn Văn công sai chọn ngày ra duyệt binh ở đất Bị Lư, chia quân làm ba đạo Trung quân, Thượng quân và Hạ quân. Sai Khước Cốc làm chánh tướng ở đạo Trung quân, mà lấy Khước Tần làm phó tướng; lại sai Hồ Yển làm chánh tướng ở đạo Thượng quân, Hồ Yển chối từ mà nói rằng: - Có anh tôi là Hồ Mao ở đấy, khi nào tôi là em mà dám trước anh. Tấn Văn công liền cho Hồ Mao làm chánh tướng ở đạo Thượng quân, mà lấy Hồ Yển làm phó tướng. Lại sai Triệu Thôi làm chánh tướng ở đạo Hạ quân. Triệu Thôi cũng từ chối. Tấn Văn công liền cho Loan Chi làm chánh tướng ở đạo Hạ quân, mà lấy Tiên Trẩn làm phó tướng. Khước Cốc trèo lên tường đài để truyền bá hiệu lệnh, các tướng đều tin phục cả. Bỗng có một trận gió to, làm gãy lá cờ đại tướng. Các tướng đều giật mình kinh sợ. Khước Cốc bảo các tướng rằng: - Gãy lá cờ đại tướng là cái triệu ta chẳng được cùng với các người đồng sự bao lâu nữa, nhưng Chúa công ta tất làm nên được bá chủ. Các tướng đều hỏi là tại làm sao. Khước Cốc chỉ cười mà không trả lời. Đầu năm sau, Tấn Văn công bàn mưu với Khước Cốc để định đi đánh Tào và Vệ. Khước Cốc nói: - Tôi đã bàn định với Tiên Trẩn rồi; nếu ta chia ra để đánh Tào và Vệ thì không địch nổi với quân Sở được. Nay ta nên mượn đường nước Vệ để sang đánh Tào, tất nhiên nước Vệ không nghe, vì nước Vệ đang giao hiếu với nước Tào. Khi bấy giờ ta đem quân qua sông Hoàng Hà, lẻn sang đánh nước Vệ. Đánh được Vệ rồi, ta sẽ thừa thế mà kéo quân sang nước Tào; vua nước Tào vốn không được lòng dân, lại thấy nước Vệ thua mà sợ uy ta thì ta tất phá vỡ được. Tấn Văn công mừng lắm nói: - Nhà ngươi thật là một tướng có học thức! Tấn Văn công sai người sang mượn đường nước Vệ để đi đánh nước Tần. Quan đại phu nước Vệ là Nguyên Huyến nói với Vệ Thành công rằng: - Khi vua Tấn còn đi trốn, có qua nước ta, bấy giờ Tiên quân ta không nghênh tiếp; nay sai người sang mượn đường để đánh Tào, nếu Chúa công không nghe thì nước Tấn tất đánh nước Vệ ta trước. Vệ Thành công nói: - Ta cùng với Tào thần phục nước Sở, nếu ta để cho nước Tấn mượn đường để đánh Tào thì e rằng chưa được lòng Tấn mà đã mua oán với nước Sở. Nước Tấn giận thì ta còn trông cậy có nước Sở, chứ nước Sở giận thì ta biết trông cậy vào đâu! Vệ Thành công không cho nước Tấn mượn đường. Sứ nước Tấn về báo với Tấn Văn công. Tấn Văn công nói: - Quả nhiên như lời bàn của quan nguyên soái (Khước Cốc) ! Tấn Văn công đem quân qua sông Hoàng Hà, kéo thẳng đến đất Ngũ Lộc (đất nước Vệ). Tấn Văn công nói: - Chỗ này là chỗ ngày trước Giới Tử Thôi cắt đùi cho ta ăn đây! Nói xong, hai hàng nước mắt chảy xuống ròng ròng. Các tướng đều có ý cảm động. Ngụy Thù nói: - Chúng ta nên đánh lấy thành này để rửa khỏi cái điều hổ thẹn năm xưa, cần gì mà phải thở dài! Tiêu Trẩn nói với Tấn Văn công rằng: - Ngụy Thù nói phải lắm! Xin Chúa công cho tôi đem quân đi đánh thành Ngũ Lộc. Ngụy Thù nói với Tiên Trẩn rằng: - Tôi xin giúp Tướng quân một tay. Hai người cùng đem quân đi ngay. Tiên Trẩn sai quân sĩ đem cờ đỏ cắm hết mọi nơi cao ở trong rừng núi. Ngụy Thù nói: - Tôi thiết tưởng binh pháp nên phải bí mật mới được; nay lại cắm cờ như vậy, khiến quân giặc biết trước mà phòng bị, chẳng hay là chủ ý thế nào? Tiên Trẩn nói: - Nước Vệ vốn thần phục nước Tề, bây giờ đổi ý mà theo nước Sở, người trong nước vẫn không thuận, chỉ sợ trung quốc ta đem quân đến đánh; nay Chúa công ta muốn nối công nghiệp bá chủ của Tề Hoàn công thuở xưa thì nên phải thị uy trước mới được. Dân thành Ngũ Lộc trông thấy cờ nước Tấn cắm khắp mọi nơi, chẳng biết quân Tấn nhiều hay ít, đều hoảng hốt trốn chạy cả, quan trấn thủ cũng không tài nào cấm nổi. Khi Tiên Trẩn kéo quân đến, không có ai chống giữ, liền chiếm ngay được thành Ngũ Lộc, rồi sai người báo tin cho Tấn Văn công. Tấn Văn công mừng lắm, bảo Hồ Yển rằng: - Ngày xưa Quốc cữu thấy đứa nông phu cho ta viên đất, bảo là cái triệu được đất, câu nói ấy đến bây giờ mới nghiệm! Nói xong, liền cho một viên lão tướng là Khước Bộ Dương làm quan trấn thủ ở thành Ngũ Lộc; còn đại binh thì tiến lên đóng ở đất Vu Địa (đất nước Vệ). Quan nguyên soái là Khước Cốc bỗng nhiên bị ốm. Tấn Văn công thân hành đến thăm. Khước Cốc nói: - Tôi cảm cái ân tri ngộ của Chúa công, vẫn định gia công cố sức để mà báo đền, nhưng mệnh trời có hạn, ứng vào cái triệu gẫy cờ ngày trước, vậy tôi xin có một lời để hiến Chúa công. Tấn Văn công nói: - Nhà ngươi muốn nói câu gì, ta cũng xin vâng lời. Khước Cốc nói: - Nay Chúa công đánh Tào và Vệ, chẳng qua cũng là muốn kiềm chế nước Sở; nhưng muốn kiềm chế nước Sở thì tất phải kết liên với nước Tề và nước Tấn. Nước Tề đang ghét Sở thì tất muốn liên kết với ta; Tề đã liên kết với ta thì tất nhiên Tào và Vệ sợ mà phải xin hòa, bấy giờ ta sẽ thu phục nước Tần, ấy là một cái kế sách hoàn toàn để mà kiềm chế nước Sở đó. Tấn Văn công khen phải, liền sai sứ sang giao hiếu với nước Tề, xin hai nước cùng kết liên với nhau để chống cự nước Sở. Bấy giờ Tề Hiếu công đã mất rồi, người trong nước lập em là Phan lên nối ngôi, tức là Tề Chiêu công. Tề Chiêu công mới lên nối ngôi, vì cớ nước Sở chiếm lấy đất Cốc, đang muốn kết liên với Tấn để chống cự nước Sở, mới thân hành sang Vu Địa hội với Tấn Văn công. Vệ Thành công thấy quân nước Tấn chiếm được đất Ngũ Lộc, vội vàng sai Ninh Du (con Ninh Tốc) đến nói với Tấn Văn công xin giảng hòa. Tấn Văn công nói: - Nước Vệ đã không cho ta mượn đường, nay sợ mà xin giảng hòa thì không phải là thực lòng, phen này ta quyết đem quân vào phá tan đất Sở Khâu (kinh thành nước Vệ). Ninh Du về nói với Vệ Thành công. Bấy giờ trong thành Sở Khâu thường vẫn huyên truyền là quân Tấn sắp đến, một buổi chiều năm lần kinh sợ. Ninh Du bảo Vệ Thành công rằng: - Nước Tấn đang tức giận ta lắm, mà người nước ta lại sợ hãi, xin Chúa công hãy tạm tránh đi; Nước Tấn biết Chúa công đã đi, tất không đến đánh đất Sở Khâu nữa, bấy giờ ta sẽ xin giảng hòa với Tấn để yên nước nhà. Vệ Thành công thở dài mà than rằng: - Khi vua nước Tấn còn đang đi trốn, Tiên quân ta không biết giữ lễ, nay ta lại không minh, không cho nước Tấn mượn đường, để đến nỗi di hại cho người trong nước, ta cũng chẳng còn mặt mũi nào mà ở đây được nữa! Vệ Thành công sai quan Đại phu là Nguyên Huyến cùng với em là Thúc Vũ giữ lấy quyền chính trong nước, còn mình thì tránh ra ở đất Tương Ngưu; một mặt sai quan Đại phu là Tôn Viêm sang cầu cứu nước Sở. Quan Nguyên soái nước Tấn là Khước Cốc đau nặng rồi mất. Tấn Văn công thương xót vô cùng, sai người đưa lĩnh cữu về nước Tấn để an táng, rồi cho Tiên Trẩn thăng làm chức nguyên soái, vì có cái công lấy được thành Ngũ Lộc; lại cho Tư Thần thay Tiên Trẩn làm phó tướng đạo Hạ quân. Tấn Văn công muốn diệt nước Vệ. Tiên Trẩn can rằng: - Tề và Tống bị nước Sở ức chế, ta mới đem quân đi cứu, nay chưa cứu được Tề và Tống mà đã diệt nước Vệ, thế thì không phải là nghĩa bá chủ đi cứu những nước hèn yếu; huống chi vua Vệ đã trốn đi nơi khác rồi, chi bằng ta đem quân sang đánh Tào. Tấn Văn công theo lời, đem quân sang vây nước Tào. Tào Cung công họp các quan triều thần lại để thương nghị. Quan Đại phu là Hi Phụ Cơ nói: - Vua nước Tấn đem quân tới đây là báo cái thù ngày xưa Chúa công khinh bỉ, đến tận nơi mà xem xương sườn, thế thì trong lòng tức giận lắm, ta không thể lấy sức mà địch nổi. Dám xin Chúa công cho phép tôi đi sứ để giảng hòa với Tấn mà cứu cho dân trong nước khỏi khổ sở. Tào Cung công nói: - Tấn đã không cho Vệ giảng hòa, khi nào lại cho ta giảng hòa. Quan Đại phu là Vu Lang nói với Tào Cung công rằng: - Tôi nghe khi trước vua Tấn qua nước ta, Hi Phụ Cơ có mời về nhà để thết đãi, nay lại xin đi sứ để giảng hòa, tất là có ý muốn bán nước, xin Chúa công chớ nghe. Chúa công nên chém Hi Phụ Cơ trước, rồi tôi sẽ có mưu kế lui được quân Tấn. Tào Cung công nói: - Hi Phụ Cơ bàn việc nước mà bất trung, đáng lẽ phải chịu tội chết, nhưng ta nghĩ là một người thế thần, vậy hãy dung thứ cho mà cách chức đuổi về. Hi Phụ Cơ lạy tạ về nhà, từ bấy giờ đóng cửa không đi đến đâu cả. Tào Cung công hỏi Vu Lang rằng: - Bây giờ nhà ngươi có mưu kế gì mà lui được quân Tấn không? Vu Lang nói: - Vua nước Tấn vừa được một trận, tất có lòng kiêu ngạo, tôi xin giả cách làm một tờ mật thư ước với vua nước Tấn: Đêm hôm nay mở cửa thành để ra hàng, chờ khi vua Tấn vào thì sập cửa thành xuống, rồi xúm lại mà bắn. Tào Cung công theo kế ấy. Vu Lang đưa thư cho Tấn Văn công xin làm nội ứng. Tấn Văn công tiếp được thư, toan tiến quân vào thành nước Tào. Tiên Trẩn nói: - Nước Tào cũng chưa thiệt hại gì mấy, mà đã xin hàng, chắc đâu không phải là kế dối, để tôi xin thử xem. Nói xong, liền chọn một người mặt đẹp râu dài, đội mũ mặc áo giả làm vua Tấn để tiến vào thành nước Tào. Bột Đề tình nguyện làm người đánh xe. Đêm hôm ấy, trên mặt thành đều cắm cờ hàng, rồi mở toang cửa thành ra để đón Tấn Văn công. Tấn Văn công giả đem hơn 500 quân kéo thẳng vào trong thành, chưa vào được một nửa, bỗng thấy cửa thành đóng sầm lại, tên bắn xuống như mưa, Bột Đề và hơn 200 người đều chết sạch cả. Tấn Văn công năm trước đi qua nước Tào, người nước Tào cũng nhiều kẻ biết mặt, nhưng trong lúc đang đêm rối rít, chẳng ai phân biệt được thật hay là giả, vẫn tưởng là Tấn Văn công chết rồi, mãi đến sáng rõ, mới biết là Tấn Văn công giả. Quân Tấn còn nhiều người chưa vào cửa thành, trốn về báo với Tấn Văn công. Tấn Văn công nổi giận, thúc quân đánh gấp lắm. Vu Lang lại hiến kế với Tào Cung công rằng: - Chúa công nên đem những quân Tấn đã bắn chết vừa rồi, chăng xác lên trên mặt thành, khiến cho quân Tấn nom thấy mà phải khiếp sợ, sinh lòng trễ biếng, chỉ chậm trong mấy ngày thì nước Sở tất đem quân đến cứu. Tào Cung công nghe lời. Quân Tấn trông thấy trên mặt thành nước Tào có chăng những xác người mình, đều đem lòng căm tức. Tấn Văn công bảo Tiên Trẩn rằng: - Giả sử quân ta thấy vậy mà sinh biến thì biết làm thế nào? Tiên Trẩn nói: - Phần mộ nước Tào, nay đều chôn ở ngoài phía Tây môn cả, ta nên chia lấy một nửa quân, đến đóng ở đấy, giả cách sắp sửa khai quật những phần mộ ấy, để làm cho dân trong thành phải sợ, sợ thì tất loạn, bấy giờ ta sẽ thừa cơ tiến đánh. Tấn Văn công khen phải, truyền cho quân sĩ nói phao lên rằng sắp sửa khai quật những phần mộ của người nước Tào. Rồi sai Hồ Mao và Hồ Yển đem quân đến đóng ở ngoài Tây môn, sắp sửa xuổng cuốc để đợi đến giờ ngọ hôm sau thì đào. Quân nước Tào nghe tin ấy, đều sợ hãi rối rít cả lên. Tào Cung công sai người trèo lên mặt thành nói với quân Tấn, xin tha cho, đừng khai quật phần mộ, lần này tình nguyện thật bụng mà ra đầu hàng. Tiên Trẩn cũng sai người trả lời rằng: - Nước người đánh lừa để giết quân ta, lại chăng xác ở trên mặt thành, vậy nên quân ta tức giận, nhất định khi quật phần mộ nước ngươi để báo thù; bây giờ nước ngươi nên đem những xác quân ta ấy khâm liệm tử tế mà đưa ra trả, thì ta sẽ rút quân trở về. Người nước Tào trả lời rằng: - Đã như vậy thì xin khoan hạn cho trong ba ngày! Tiên Trẩn nói: - Nếu trong ba ngày mà không đem trả, ta sẽ làm nhục đến tiên tổ nhà các ngươi. Tào Cung công quả nhiên đem những xác quân Tấn ở trên mặt thành xuống, khâm liệm tử tế để định xe ra trả quân Tấn. Tiên Trẩn mật sai Hồ Mao, Hồ Yển, Loan Chi và Tư Thần chia làm bốn đạo quân để mai phục sẵn, đợi khi nào người nước Tào mở cửa thành đưa những thi thể quân Tấn ra, bấy giờ sẽ tiến vào mà đánh. Đến ngày thứ tư, Tiên Trẩn sai người đứng dưới chân thành quát to lên rằng: - Ngày hôm nay có giao trả những thi thể quân ta hay không? Người nước Tào ở trên mặt thành trả lời rằng: - Xin quý quốc lui quân ra ngoài năm dặm, nước tôi sẽ giao trả. Tiên Trẩn nói với Tấn Văn công, xin lui quân ra ngoài năm dặm. Khi người nước Tào đang xe những thi thể quân Tấn ra thì các đạo phục binh của quân Tấn thừa cơ tiến vào. Tào Cung công đang đứng trên mặt thành, Ngụy Thù nhảy lên trói lại. Vu Lang trèo qua thành trốn chạy, lại bị Điên Hiệt chém chết. Tấn Văn công cùng các tướng vào thành lên ngồi ở trên nhà lầu, Ngụy Thù giải Tào Cung công đến nộp, Điên Hiệt thì dâng trình thủ cấp Vu Lang. Tấn Văn công truyền đem sĩ tịch của nước Tào ra xem, thấy những người làm quan đến chức đại phu kể hàng 300 người, đều chiếu họ tên bắt hết cả, không sót một người nào, nhưng không thấy họ Hi Phụ Cơ. Có người nói với Tấn Văn công rằng: - Hi Phụ Cơ vì cớ khuyên vua Tào giảng hòa với Tấn, đã bị vua Tào cách chức rồi. Tấn Văn công kể tội Tào Cung công rằng: - Cả nước ngươi có một người bề tôi hiền hòa mà nhà người không biết dùng, chỉ dùng một lũ tiểu nhân như trò trẻ con, tài nào mà không mất nước. Nói xong, liền sai giam lại một chỗ để chờ khi đánh được Sở rồi, sau sẽ phán xử; còn 300 người đang có quyền thế bấy giờ đều bị giết cả, tịch ký gia tài, đem thưởng cấp quân sĩ. Tấn Văn công lại hạ lệnh cho quân sĩ, cấm không ai được xâm phạm đến nhà Hi Phụ Cơ và chung quanh một xóm chỗ Hi Phụ Cơ ở, vì ngày trước Hi Phụ Cơ có cái ơn mời Tấn Văn công về nhà để thết đãi. Tấn Văn công chia quân làm hai đạo, một đạo đóng ở trong thành nước Tào, còn một đạo theo Tấn Văn công trở về đại dinh. Ngụy Thù và Điên Hiệt vẫn cậy nhiều công trạng, hay có ý kiêu ngạo, nay thấy Tấn Văn công trọng đãi Hi Phụ Cơ như vậy Ngụy Thù liền tức giận mà bảo Điên Hiệt rằng: - Chúng ta đi theo Chúa công đánh nước Tào, bắt vua chém tướng, biết bao nhiêu là công trạng, mà không thấy Chúa công nói đến; Hi Phụ Cơ chẳng qua chỉ thết đãi được một bữa cơm, ân huệ đáng là bao nhiêu, mà Chúa công trọng đãi quá, thật là không được công bằng. Điên Hiệt nói: - Người ấy nếu chịu làm quan thì tất Chúa công ta trọng dụng, bấy giờ ta lại bị hắn đè nén, chi bằng ta cho một mồi lửa để cho hắn chết đi là khỏi di hại về sau; dẫu Chúa công có biết nữa, cũng chẳng giết chúng ta được. Ngụy Thù lấy làm phải, rồi hai người cùng nhau uống rượu, đêm hôm ấy đem quân đến vây nhà Hi Phụ Cơ, phóng hỏa đốt lên, lửa cháy ngất trời. Ngụy Thù đang say rượu, cậy có sức khỏe, trèo lên trên cái chòi cửa, chạy đi chạy lại để dò tìm Hi Phụ Cơ mà bắt giết đi. Ai ngờ mấy cái cột chòi ở phía dưới đã bị lửa cháy, gãy mà đổ ra, Ngụy Thù ở trên chòi ngã lăn xuống đất, cái cột cháy ấy đè ngay vào ngực. Ngụy Thù hộc máu miệng ra, rồi vội vàng trèo qua nóc nhà để chạy, chỉ một suýt nữa thì chết cháy. Khi ra đến ngoài, Ngụy Thù đau quá, chỉ nằm bẹp xuống đất, không thể đi được. Điên Hiệt trông thấy, liền cởi áo bọc lại, rồi vực lên xe đem về. Hồ Yển và Tư Thần ở trong thành trông thấy ngọn lửa, vội vàng đem quân đến thì nhà Hi Phụ Cơ cháy đã tan nát cả rồi. Hi Phụ Cơ đem mấy người nhà đi chữa cháy, bị khói xông vào mắt, ngã lăn xuống đất, bất tỉnh nhân sự. Vợ Hi Phụ Cơ ẵm một đứa con mới lên 5 tuổi, tên là Hi Lộc chạy ra sau vườn, đứng nép ở dưới ao, mới được thoát nạn, còn mấy tên người nhà đều bị chết cháy cả. Xung quanh một vùng gần đấy, cả thảy cháy mất đến hơn 30 nóc nhà. Hồ Yển và Tư Thần dò xét biết là Ngụy Thù và Điên Hiệt phóng hỏa, giật mình kinh sợ, vội vàng sai người đến đại dinh để báo với Tấn Văn công. Đại dinh đóng xa năm dặm, đêm thấy ngọn lửa, chưa hiểu là chuyện gì, đến sáng hôm sau, Tấn Văn công tiếp được thư của Hồ Yển và Tư Thần, mới biết rõ đầu đuôi, liền thân hành đến để thăm Hi Phụ Cơ. Hi Phụ Cơ giương mắt nhìn Tấn Văn công, rồi dần dần nhắm lại mà chết. Tấn Văn công thương xót vô cùng. Vợ Hi Phụ Cơ ẵm Hi Lộc sụp lạy ở dưới đất, vừa lạy vừa khóc. Tấn Văn công cũng ứa nước mắt xuống mà bảo rằng: - Hiền tẩu chớ lo phiền, đã có tôi trông nom cho, không ngại gì cả. Nói xong, tức khắc truyền cho Hi Lộc dẫu còn trẻ con, cũng phong làm chức đại phu; lại chu cấp cho vàng lụa nhiều lắm, để tống táng Hi Phụ Cơ, rồi đem vợ con Hi Phụ Cơ sang ở nước Tấn, chờ khi vua Tào đã quy thuận rồi, bấy giờ lại cho về. Sau Hi Lộc làm quan đại phu ở nước Tào, Tấn Văn công muốn chém Ngụy Thù và Điên Hiệt. Triệu Thôi nói: - Hai người ấy ngày xưa đi tòng vong, khó nhọc trong 19 năm trời, mới đây lại có công trạng lớn, Chúa công nên dung thứ cho. Tấn Văn công nổi giận mà nói rằng: - Ta sở dĩ thủ tín với dân được là nhờ có pháp luật. Bề tôi không theo pháp luật thì sao gọi là bề tôi; vua không thi hành pháp luật với bề tôi được thì sao gọi là vua. Vua chẳng ra vua, bề tôi chẳng ra bề tôi thì sao giữ được nước! Nay các quan đại phu nhiều người có công với ta mà đều làm trái pháp luật cả thì từ nay trở đi, ta còn thi hành pháp luật gì được nữa! Triệu Thôi nói: - Chúa công nói phải lắm! Nhưng Ngụy Thù là người vũ dũng, các tướng không ai bằng, giết cũng nên tiếc; xin Chúa công giết một mình Điên Hiệt, cũng đủ làm gương cho kẻ khác, cần gì mà phải giết cả Ngụy Thù. Tấn Văn công nói: - Ta nghe Ngụy Thù đau ngực không dậy được, chẳng bao lâu cũng chết, còn tiếc gì mà chẳng trị tội để giữ cho pháp luật được nghiêm minh. Triệu Thôi nói: - Tôi xin phụng mệnh đến hỏi xem, nếu bệnh đã nguy thì Chúa công hãy trị tội, nhược bằng còn mạnh thì nên lưu một viên hổ tướng ấy để dùng về sau. Tấn Văn công gật đầu, liền sai Tuân Lâm Phủ đi đòi Điên Hiệt và sai Triệu Thôi đến thăm bệnh Ngụy Thù.

Quay về bài gốc

0SHARES
 

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back