34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 40 Tiên Trẩn lập kế lừa Đắc Thần Tấn Sở giao binh tại Thành Bộc

Triệu Thôi phụng mệnh Tấn Văn công đến thăm bệnh Ngụy Thù. Bấy giờ Ngụy Thù còn vết thương nặng ở ngực, vẫn nằm trên giường, chưa trở dậy được, nghe báo có quan đến thăm, liền hỏi người nhà rằng: - Cả thảy mấy người đến? Người nhà nói: - Chỉ có một mình quan Tư mã là Triệu Thôi. Ngụy Thù nói: - Hắn định đến dò xem ta có sống được hay không, nếu bệnh không sống được thì tất đem ta ra để trị tội. Nói xong, liền sai người nhà lấy lụa bó kín ngực lại, để định ra tiếp kiến Triệu Thôi. Người nhà nói: - Tướng quân đau nặng lắm, không nên cử động vội. Ngụy Thù quát to lên rằng: - Bệnh ta không đến nỗi chết, các ngươi chớ nói càn! Nói xong, liền đứng dậy, mũ áo chỉnh tề ra tiếp kiến Triệu Thôi. Triệu Thôi hỏi: - Nghe nói tướng quân bị thương nặng lắm, Chúa công có sai tôi đến hỏi thăm. Ngụy Thù nói: - Bởi có quân mệnh, nên tôi phải miễn cưỡng ra đây. Tôi cũng tự biết mình là tội đáng chết, nhưng may mà Chúa công ân xá cho tôi thì cái thân sống thừa này xin hết sức để báo đáp. Ngụy Thù lại nhảy lên mấy lần, để tỏ cho Triệu Thôi biết là sức mình còn mạnh. Triệu Thôi nói: - Tướng quân cứ yên lòng mà cố chăm chỉ thuốc men cho chóng khỏe, rồi tôi xin tâu lại với Chúa công. Triệu Thôi về tâu với Tấn Văn công rằng: - Ngụy Thù dẫu bị thương, nhưng gân sức còn mạnh lắm. Vả lại vẫn biết giữ phép làm tôi, nếu Chúa công tha cho thì sau này tất cũng dùng được việc. Tấn Văn công nói: - Nếu tha mà không trái với pháp luật thì ta có muốn giết làm gì! Được một lúc, Tuân Lâm Phủ đưa Điên Hiệt đến. Tấn Văn công mắng rằng: - Vì cớ gì mà nhà ngươi dám đốt nhà Hi Phụ Cơ? Điên Hiệt nói: - Giới Tử Thôi cắt thịt đùi để dâng Chúa công mà cũng bị chết cháy, huống chi là một bữa cơm của Hi Phụ Cơ. Tôi đốt như vậy là muốn cho Hi Phụ Cơ được phối hưởng ở đền thờ Giới Tử Thôi đó. Tấn Văn công nổi giận, nói: - Giới Tử Thôi chết cháy, có phải là lỗi tại ta đâu! Nói xong, liền ngoảnh lại hỏi Triệu Thôi rằng: - Điên Hiệt làm trái phép mà đốt nhà Hi Phụ Cơ thì nên bắt tội gì? Triệu Thôi nói: - Cứ theo pháp luật thì nên bắt tội chết. Tấn Văn công truyền đem Điên Hiệt ra chém, để làm lễ tế Hi Phụ Cơ, rồi bêu đầu ra Bắc môn mà yết thị rằng: - Từ nay ai làm trái phép thì nom vào đấy! Tấn Văn công lại hỏi Triệu Thôi rằng: - Ngụy Thù cùng đi với Điên Hiệt mà không biết can ngăn, nay nên bắt tội gì? Triệu Thôi nói: - Nên cách chức đi, và bắt phải lập công để chuộc tội. Tấn Văn công lại cách chức Ngụy Thù, cho Chu Chi Kiều thay. Các tướng sĩ thấy vậy, đều bảo nhau rằng: - Ngụy Thù và Điên Hiệt có công tòng vong khó nhọc trong 19 năm trời, nay làm trái phép mà cũng người thì bị giết, người thì bị cách chức, huống chi là kẻ khác! Thế mới thật là phép nước không riêng ai cả, chúng ta nên cẩn thận mới được. Từ bấy giờ các tướng sĩ đều biết giữ phép. Lại nói chuyện Sở Thành Vương đi đánh Tống, chiếm được đất Mân Ấp, đang đem quân vây đất Hoài Dương, định làm cho nước Tống khốn quẫn để phải đầu hàng, bỗng nghe báo có sứ thần nước Vệ là Tôn Viêm đến cáo cấp. Sở Thành Vương triệu vào hỏi. Tôn Viêm nói lại cho Sở Thành Vương nghe những chuyện nước Tấn đã chiếm mất đất Ngũ Lộc rồi, và vua nước Vệ phải chạy ra ở đất Tương Ngưu, nếu nước Sở không đem quân đến cứu thì thành Sở Khâu cũng khó lòng mà giữ nổi. Sở Thành Vương liền chia quân ra làm hai đạo, cho Thành Đắc Thần cùng các vua chư hầu ở lại vây Tống, còn mình thì đem quân đi cứu Vệ. Các vua chư hầu cũng đều lo trong nước có biến, cáo từ về cả, mỗi nước cho một viên đại tướng ở lại. Tướng nước Trần là Viên Tuyển, tướng nước Sái là Công tử An, tướng nước Trịnh là Thạch Quý, tướng nước Hứa là Bách Trù đều phải theo lệnh tướng nước Sở là Thành Đắc Thần cả. Sở Thành Vương đi đến nửa đường, nghe tin quân Tấn đã kéo sang đánh Tào, toan sang cứu Tào thì lại nghe tin quân Tần đã phá vỡ nước Tào, vua Tào đã bị bắt rồi. Sở Thành Vương giật mình kinh sợ mà nói rằng: - Nước Tấn dùng quân sao mà thần tốc như vậy! Sở Thành Vương liền đóng quân lại ở Thân Thành, sai người sang Cốc Địa gọi Công tử Ung và Dịch Nha về, rồi đem Cốc Địa giao trả nước Tề, mà cùng với Tề giảng hòa; lại sai người sang nước Tống, rút quân của Thành Đắc Thần về và bảo Thành Đắc Thần rằng: - Vua nước Tấn lưu lạc ở các nước ngoài trong 19 năm trời, nay tuổi ngoại 6 tuần mới về làm vua nước Tấn, bao nhiêu những dân tình thế cố đã từng trải nhiều lắm, chẳng qua cũng là lòng trời xui khiến, để làm cho nước Tấn được cường thịnh, ta khó lòng mà địch nổi, chi bằng ta hãy chịu nhường. Thành Đắc Thần cậy tài, nghe lệnh Sở Thành Vương, có ý căm tức, bảo các tướng rằng: - Quân ta chẳng bao lâu nữa thì phá vỡ kinh thành nước Tống, can gì mà bỏ! Thành Đắc Thần sai Đấu Việt Tiên đến nói với Sở Thành Vương rằng: - Xin chờ ít lâu để phá vỡ nước Tống, bấy giờ sẽ rút quân trở về, nhược bằng có gặp quân Tấn thì xin hết sức cố đánh, nếu đánh không được, xin chịu tội chết. Sở Thành Vương sai người gọi Tử Văn đến mà hỏi rằng: - Ta cho người triệu Thành Đắc Thần về, mà Thành Đắc Thần cố ý xin đánh, nhà ngươi nghĩ thế nào? Tử Văn nói: - Nước Tấn đem quân cứu Tống là muốn làm bá chủ, nhưng Tấn làm bá chủ thì tất nước Sở ta không lợi. Nay chỉ có nước Sở ta là đối địch nổi với Tấn, nếu ta nhường Tấn thì Tấn làm được bá chủ. Vả Tào và Vệ xưa nay vẫn giao hiếu với ta, thấy ta nhường Tấn, tất cũng theo Tấn. Bây giờ Chúa công hãy cho Thành Đắc Thần đóng quân ở đấy để khiến Tào và Vệ đều được vững lòng, chẳng cũng nên lắm sao! Nhưng Chúa công nên dặn Thành Đắc Thần phải cẩn thận, chớ nên khinh thường mà đánh nhau với Tấn; nếu bất đắc dĩ thì cùng Tấn giảng hòa để chia nhau nam bắc, còn không đến nỗi mất thể diện. Sở Thành Vương theo lời, dặn Đấu Việt Tiên về bảo Thành Đắc Thần rằng: - Chớ có khinh thường mà đánh nhau với Tấn, nếu Tấn cho giảng hòa thì nên giảng hòa. Thành Đắc Thần được tin Đấu Việt Tiên về nói, mừng thầm Sở Thành Vương không rút quân ngay, liền ngày đêm đánh Tống gấp lắm! Tống Thành công lúc trước thấy Công Tôn Cố về nói rằng vua Tấn sắp đem quân đi đánh Tào và Vệ để giải vây cho Tống, liền cố sức chống giữ. Sau thấy Thành Đắc Thần đánh gấp lắm cũng có ý lo sợ. Quan đại phu là Môn Doãn Ban nói với Tống Thành công rằng: - Vua Tấn chỉ biết đem quân đi đánh Tào và Vệ để cứu Tống, mà không biết rằng quân Sở vẫn đánh Tống gấp như thế này! Tôi xin liều chết trèo qua thành ra mà đến nói với vua Tấn. Tống Thành công nói: - Mình cầu người ta đến hai lần mà chỉ nói miệng không thì sao cho phải! Tống Thành công làm một quyển sổ biên những đồ bảo ngọc trong kho, đem dâng Tấn Văn công, hẹn khi nào lui được quân Sở rồi thì chiếu theo trong quyển sổ ấy mà đệ nạp. Môn Doãn Ban xin cho một người nữa đi theo. Tống Thành công cử Hoa Tú Lão cùng đi. Hai người từ biệt Tống Thành công, rồi trèo qua thành lẻn ra, để tìm đến đại dinh Tấn Văn công. Môn Doãn Ban và Hoa Tú Lão vào yết kiến Tấn Văn công, khóc mà nói rằng: - Nước Tống tôi chẳng còn mấy ngày nữa mà mất! Vậy Chúa công tôi sai chúng tôi đem một quyển sổ có biên những lễ vật nhỏ mọn này để dâng quý quốc, xin quý quốc thương tình mà đến cứu cho. Tấn Văn công bảo Tiên Trẩn rằng: - Việc nước Tống gấp lắm, nếu không đi cứu thì còn chi là Tống, mà nếu đi cứu thì tất phải đánh nhau với Sở. Ngày trước Khước Cốc đã bàn với ta rằng tất phải họp sức Tề với Tần thì mới kiềm chế nổi nước Sở, nay nước Sở giảng hòa với Tề, trả lại đất Cốc Địa; còn nước Tần thì lại không có hiềm khích gì với Sở cả, ta biết làm thế nào? Tiên Trẩn nói: - Tôi có một kế khiến cho Tề và Tần tự khắc phải đem quân đánh Sở. Tấn Văn công mừng lắm, hỏi: - Nhà ngươi có kế gì mà diệu như vậy? Tiên Trẩn nói: - Nước Tống lễ ta, kể cũng là hậu nhưng ta nhận lễ mà mới đi cứu thì gọi là nghĩa; chi bằng ta từ chối đi là hơn, khiến cho Tống đem những đồ lễ vật ấy mà chia biếu Tề và Tần, để Tề và Tần nói hộ với nước Sở. Khi Tề và Tần sai sứ đến nói với Sở mà nước Sở không theo, bấy giờ tất nhiên Tề, Tần phải sinh lòng hiềm khích với nước Sở. Tấn Văn công nói: - Giả sử Tề và Tần nói mà nước Sở nghe thì tất Tề và Tần phải bắt nước Tống thần phục nước Sở, ta còn ích gì? Tiên Trẩn nói: - Tôi lại có một kế khiến cho nước Sở không theo lời nước Tề và nước Tần được. Tấn Văn công nói: - Kế gì? Tiên Trẩn nói: - Nước Sở yêu Tào, Vệ mà ghét Tống. Nay ta đã đuổi vua nước Vệ, bắt vua nước Tào thì thổ địa của hai nước ấy đều ở trong tay ta, mà hai nước ấy lại tiếp giáp với nước Tống. Nếu ta đem thổ địa hai nước ấy cho Tống thì Sở lại càng ghét Tống lắm; Tề và Tần nói hộ, chắc Sở cũng không nghe nào! Khi bấy giờ Tề và Tần thương Tống mà giận Sở, tài nào không phải kết liên với nước Tấn ta. Tấn Văn công vỗ tay mà khen phải, rồi bảo Môn Doãn Ban biên các đồ bảo ngọc làm hai quyển sổ để đem biếu Tề và Tần. Môn Doãn Ban đi sứ Tần. Hoa Tú Lão đi sứ Tề. Hai người đã bàn định nhau những cách thương thuyết với Tần và Tề, cần phải khẩn thiết lắm mới được. Khi Hoa Tú Lão đến nước Tề, nói với Tề Chiêu công rằng: - Tần và Sở nay đang kình địch với nhau, cái nạn binh qua ấy tất phải nhờ quý quốc thì mới phân giải được. Nếu quý quốc có lòng giúp cho nước tôi thì chẳng những là nước tôi không dám tiếc các đồ bảo vật ngọc, mà từ rày trở đi, xin mỗi năm một lần cống hiến, không bao giờ dám thôi. Tề Chiêu công hỏi rằng: - Hiện bây giờ vua Sở đóng ở đâu? Hoa Tú Lão nói: - Vua Sở cũng muốn giải vây cho nước tôi, đã rút quân về đóng ở Thân Thành rồi, chỉ vì quan Lệnh doãn nước Sở là Thành Đắc Thần mới lên cầm quyền chính, vậy nên muốn lập công mà không chịu rút quân. Tề Chiêu công nói: - Vua Sở ngày trước lấy đất Cốc Địa của ta, nay lại giao trả mà cùng ta giảng hòa, vậy thì vua Sở cũng không có ý tham muốn; còn Thành Đắc Thần đã không chịu rút quân, để ta sai sứ đến nói giúp cho. Tề Chiêu công liền sai Thôi Yển sang nước Tống để nói với Thành Đắc Thần. Môn Doãn Ban đến nước Tần, cũng nói với Tần Mục công theo như lời Hoa Tú Lão. Tần Mục công cũng sai Công tử Trí đến nói với Thành Đắc Thần. Môn Doãn Ban và Hoa Tú Lão lại trở về đại dinh Tấn Văn công. Tấn Văn công bảo Môn Doãn Ban và Hoa Tú Lão rằng: - Ta đã diệt được nước Tào và nước Vệ, bao nhiêu những ruộng đất tiếp giáp nước Tống, ta xin để biếu nước Tống. Nói xong, liền sai Hồ Yển đưa Môn Doãn Ban đi nhận lấy ruộng đất nước Vệ, và Tư Thần đưa Hoa Tú Lão đi nhận lấy ruộng đất nước Tào. Các quan trấn thủ ở nước Tào và nước Vệ đều bị đuổi cả. Thôi Yển (sứ nước Tề) và Công tử Trì (sứ nước Tần) đang thương thuyết với Thành Đắc Thần, xin cho nước Tống được giảng hòa, bỗng thấy các quan trấn thủ ở nước Tào và nước Vệ kéo nhau đến, nói với Thành Đắc Thần rằng: - Quan Đại phu nước Tống là Môn Doãn Ban và Hoa Tú Lão cậy thế nước Tào đem quân sang chiếm cứ lấy ruộng đất của nước chúng tôi. Thành Đắc Thần nổi giận, bảo Thôi Yển và Công tử Trí rằng: - Người nước Tống ức hiếp nước Tào và nước Vệ như vậy, sao các ngài lại xin cho nước Tống giảng hòa, việc ấy tôi không dám vâng mệnh. Thôi Yển và Công tử Trí chán quá, tức khắc cáo từ lui về. Tấn Văn công nghe tin Thành Đắc Thần không theo lời Thôi Yển và Công tử Trí về chốn đại dinh rồi, bày tiệc để thết đãi. Trong khi dự tiệc, Tấn Văn công nói với Thôi Yển và Công tử Trí rằng: - Thành Đắc Thần kiêu ngạo vô lễ, nay sắp sửa giao chiến với nước tôi, xin hai quý quốc đem quân đến giúp cho. Thôi Yển và Công tử Trí nhận lời, rồi cáo từ về nước. Thành Đắc Thần họp các tướng sĩ lại mà thề rằng: - Nếu ta không lấy lại được nước Tào và nước Vệ thì dẫu chết cũng không chịu lui quân. Tướng nước Sở là Uyển Xuân nói với Thành Đắc Thần rằng: - Tôi có một kế khiến cho không phải giao chiến mà lấy lại được nước Tào và nước Vệ. Thành Đắc Thần hỏi: - Nhà ngươi có kế gì? Uyển Xuân nói: - Nước Tấn đuổi vua Vệ, bắt vua Tào, đều là vì nước Tống cả; nay Nguyên soái nên sai sứ đến nói với vua Tấn xin giảng hòa; hễ nước Tấn trả lại đất nước Tào và nước Vệ thì ta cũng giải vây cho nước Tống. Hai bên cùng rút quân trở về, chẳng cũng hay lắm sao! Thành Đắc Thần nói: - Giả sử nước Tấn không nghe thì biết làm thế nào? Uyển Xuân nói: - Nguyên soái nên bảo rõ cho người nước Tống rằng ta sắp thương thuyết để giảng hòa với Tấn mà giải vây cho Tống, vì nước Tống đang mong giải vây, khác nào như một kẻ bị tréo ngược mà mong người đến cởi; nếu vua Tấn không nghe lời thì chẳng những hai nước Tào và Vệ oán Tấn mà thôi, cả Tống cũng oán Tấn nữa. Bấy giờ ta họp ba nước oán Tấn ấy mà đánh một nước Tấn thì ta tất phải được. Thành Đắc Thần nói: - Nay ai là người dám sang thương thuyết với quân Tấn? Uyển Xuân nói: - Nếu Nguyên soái sai tôi thì tôi xin vâng mệnh. Thành Đắc Thần liền hoãn binh không đánh Tống vội, rồi sai Uyển Xuân sang thương thuyết với Tấn Văn công. Uyển Xuân đến đại dinh quân Tấn, vào nói với Tấn Văn công rằng: - Kẻ ngoại thần của Chúa công tôi là Thành Đắc Thần có lời nói với Chúa công rằng: - Tào và Vệ của nước Sở tôi, khác nào như nước Tống của quý quốc, nếu quý quốc trả lại đất cho Tào và Vệ thì nước tôi cũng xin giải vây cho Tống, hai bên cùng giảng hòa với nhau, khiến cho nhân dân khỏi phải lầm than khổ sở. Uyển Xuân nói chưa dứt lời thì Hồ Yển đứng ở bên cạnh, hầm hầm nổi giận mà mắng rằng: - Thành Đắc Thần nói vô lý quá! Định bỏ một nước Tống chưa lấy được mà đòi hai nước (Tào và Vệ) của ta đã lấy được rồi thì sao cho phải. Tiên Trẩn vội vàng ra hiệu giẫm vào chân Hồ Yển mà bảo Uyển Xuân rằng: - Kể tội nước Tào và nước Vệ cũng không đến nỗi đáng phải tuyệt diệt, Chúa công tôi vẫn muốn trả lại cho. Xin nhà ngươi hãy tạm nghỉ lại ở hậu dinh, để Chúa công tôi còn phải thương nghị xem nên thế nào là phải? Loan Chi liền đưa Uyển Xuân vào nghỉ ở hậu dinh. Hồ Yển hỏi Tiên Trẩn rằng: - Nguyên soái định nghe lời Uyển Xuân hay sao? Tiên Trẩn nói: - Lời xin của Uyển Xuân không nên nghe, mà cũng không nên không nghe. Hồ Yển nói: - Tại sao thế? Tiên Trẩn nói: - Uyển Xuân đến đây là bởi mưu kế của Thành Đắc Thần, muốn mua ơn với Tống mà đổ oán cho nước Tấn ta đó. Ta không nghe thì Tào, Vệ và Tống đều oán ta cả, mà ta chịu nghe thì nước Sở được ơn, chi bằng ta giảng hòa riêng với Tào và Vệ, để phân rẽ cái đảng ấy ra; lại bắt giam Uyển Xuân, làm cho Thành Đắc Thần phải tức giận mà đem quân sang đánh ta thì tự khắc thành ra giải vây cho nước Tống được. Nếu không dùng kế ấy Thành Đắc Thần giảng hòa riêng với Tống, tất nhiên Tống lại về bè với Sở mà bỏ ta. Tấn Văn công nói với Tiên Trẩn rằng: - Nguyên soái nghĩ phải lắm! Nhưng ngày trước ta có chịu ơn vua Sở, mà nay lại bắt giam sứ thần nước Sở thì còn ra thế nào. Loan Chi nói: - Vua Sở hà hiếp nước nhỏ, khinh bỉ nước lớn, nay Chúa công không muốn làm bá chủ thì thôi, nếu muốn làm bá chủ mà để cho vua Sở như vậy thì tất là một điều đáng xấu hổ. Chúa công chớ nên nghĩ một cái ơn riêng nhỏ mọn làm gì! Tấn Văn công khen phải, liền sai Loan Chi bắt giam Uyển Xuân ở đất Ngũ Lộc, giao cho quan trấn thủ ở đấy là Khước Bộ Dương phải gia tâm quản cố. Còn bao nhiêu những người theo hầu Uyển Xuân đều đuổi về cả, để khiến chúng truyền nói cho Thành Đắc Thần biết rằng: - Uyển Xuân vô lễ, đã bị nước Tấn bắt giam rồi, đợi khi nào bắt được Lệnh Doãn, sẽ giết một thể. Các người theo hầu Uyển Xuân đều len lét cúi đầu cáo từ trở về, để báo tin cho Thành Đắc Thần biết. Tấn Văn công bắt giam Uyển Xuân rồi, lại sai người bảo Tào Cung công rằng: - Chúa công tôi không phải là vì một điều hiềm nhỏ ngày xưa mà bẻ lỗi nhà vua đâu, chẳng qua chỉ vì nhà vua thần phục nước Sở đó mà thôi. Nay nhà vua sai người đưa thư sang tuyệt giao với Sở thì Chúa công tôi tức khắc trả lại nước Tào cho nhà vua. Tào Cung công đang mong được tha, liền viết ngay một bức thư đưa sang cho Thành Đắc Thần. Thư rằng: "Tôi sợ xã tắc nước tôi bị tàn phá, bất đắc dĩ phải thần phục nước Tần, không thể giao thông với quý quốc được nữa; nếu quý quốc trừ được nước Tấn, để giữ yên cho nước tôi thì có đâu nước tôi lại dám đổi lòng". Tấn Văn công lại sai người đến đất Tương Ngưu, bảo Vệ Thành công tuyệt giao với Sở thì trả lại nước cho Vệ. Vệ Thành công mừng lắm. Quan Đại phu nước Vệ là Ninh Du can rằng: - Đó là cái kế phản gián của nước Tấn, Chúa công chớ nên theo. Vệ Thành công không nghe lời Ninh Du, liền đưa thư tuyệt giao cho Thành Đắc Thần. Trong thư cũng nói như lời của Tào Cung công. Thành Đắc Thần nghe tin Uyển Xuân bị bắt, có ý căm tức mà nói rằng: - Trùng Nhĩ (tên Tấn Văn công) thật là một đứa lão tặc, quên ơn phụ nghĩa! Khi trước trốn sang nước ta, khác nào như con cá nằm trên mặt thớt, nay về làm vua, lại dám bắt giam sứ thần nước ta, để phen này ta thân hành đến mà nói rõ cho hắn biết. Thành Đắc Thần đang hầm hầm nổi giận, bỗng có quan báo rằng: - Nước Tào và nước Vệ có đưa thư đệ trình Nguyên soái. Thành Đắc Thần nghĩ thầm trong bụng rằng Tào và Vệ đang lúc khốn khổ này, còn có việc gì mà đưa thư cho ta nữa, hay là có do thám được tình hình nước Tấn mà định bảo riêng ta điều gì chăng, ấy là trời giúp cho ta được thành công đó. Đến lúc mở thư ra xem, mới biết Tào và Vệ tuyệt giao với Sở, lại càng căm tức vô cùng, quát to lên rằng: - Lão tặc Trùng Nhĩ kia! Hai bức thơ này chính là đứa lão tặc ức hiếp người ta phải viết đây! Nay ta hãy giải vây nước Tống, rút quân sang đánh Tấn; khi đã phá được quân Tấn rồi thì còn nước Tống suy yếu này tránh đàng nào cho thoát. Đấu Việt Tiêu nói: - Đại Vương khi trước đã có dặn nguyên soái không nên đánh nhau với Tấn, nếu Nguyên soái muốn đánh, phải bẩm mệnh Đại vương mới được. Vả Tề và Tần căm tức Nguyên soái không nghe lời giải vây cho Tống tất nhiên ngày nay đem quân giúp Tấn, vậy thì nước ta dẫu có Trần, Sái, Trịnh và Hứa giúp vào, nhưng địch lại với Tề và Tần sao nổi. Nguyên soái nên tâu với Đại vương, xin thêm quân rồi sẽ đi đánh. Thành Đắc Thần nói: - Nhà ngươi đi hộ ta, nên phải nhanh chóng mới được! Đấu Việt Tiêu phụng mệnh Thành Đắc Thần đến đất Thân Ấp nói với Sở Thành Vương xin thêm quân. Sở Thành Vương nổi giận, nói: - Ta đã dặn rằng chớ nên khinh thường đánh nhau với Tấn, nay Thành Đắc Thần lại cố xin ra đánh, phỏng có chắc được hay không? Đấu Việt Tiêu nói: - Thành Đắc Thần đã có nói: Nếu đánh không được, xin chịu tội chết. Sở Thành Vương vẫn không bằng lòng, chỉ sai Đấu Nghi Thân đem có bốn nghìn quân đi giúp Thành Đắc Thần mà thôi. Con Thành Đắc Thần là Thành Đại Tâm cũng xin đem quân đi đánh. Sở Thành Vương thuận cho. Đấu Nghi Thân cùng với Đấu Việt Tiêu đem quân đến nước Tống. Thành Đắc Thần trông thấy quân ít, không bằng lòng mà nói rằng: - Dẫu không thêm quân, ta cũng quyết đánh được Tấn! Nói xong, họp quân 4 nước chư hầu cùng đi đánh Tấn. Tấn Văn công họp các tướng lại để thương nghị. Tiên Trẩn nói: - Nước Sở từ khi đánh Tề vây Tống đến nay, quân sĩ đều đã mỏi mệt cả, ta nên đem quân ra đánh ngay, chớ để mất cái cơ hội ấy. Hồ Yển nói với Tấn Văn công rằng: - Ngày trước Chúa công ở trước mặt vua Sở, đã có hẹn một câu rằng: "Ngày khác gặp nhau ở Trung Nguyên thì xin tránh quân Sở 3 xá" nếu nay đem quân ra đánh, chẳng hóa ra thất tín với Sở lắm sao! Các tướng nghe lời Hồ Yển đều không bằng lòng mà nói rằng: - Chúa công ta là vua một nước, mà phải rút quân tránh một viên tướng nước Sở thì nhục biết dường nào! Điều ấy quyết không nên. Hồ Yển nói: - Cái ân huệ của vua nước Sở, ta không nên quên, nay ta rút quân tránh đi, nghĩa là tránh nước Sở, không phải tránh Thành Đắc Thần. Các tướng lại nói rằng: - Nếu ta lui mà quân Sở đuổi theo thì biết làm thế nào? Hồ Yển nói: - Nếu ta lui mà quân Sở đuổi theo thì trái lại quân Sở, bấy giờ ta sẽ đánh. Tấn Văn công nói: - Hồ Yển nói phải lắm! Tấn Văn công truyền lui quân ra ngoài 3 xá, đóng ở đất Thành Bộc. Tề Hiếu công sai người con Quốc Ý Trọng là Quốc Quý Phủ làm chánh tướng. Thôi Yển làm phó tướng; Tần Mục công cũng sai người con thứ là Công tử Mẫn làm chánh tướng, Kiển Binh làm phó tướng, cùng đem quân sang đất Thành Bộc, để giúp Tấn mà đánh Sở. Tống Thành công thấy quân Sở đã giải vây rồi, cũng sai quan Tư mã là Công Tôn Cố sang tạ ơn Tấn Văn công và giúp việc đánh Sở. Quân Sở thấy quân Tấn lui ra ngoài 3 xá, đều có ý mừng rỡ. Đấu Bột nói: - Vua Tấn đã chịu rút quân tránh chúng ta thì chúng ta cũng vẻ vang lắm rồi, chi bằng ta nhân điều ấy mà thu quân về, dẫu không công cũng được khỏi tội. Thành Đắc Thần nói: - Ta đã xin thêm quân, nếu không đánh một trận, còn ra thế nào! Nay quân Tấn lui về thì có ý nhát sợ, ta nên mau mau đuổi theo mới được. Các tướng nước Tấn nói với Tiên Trẩn rằng: - Nay quân Sở ngắm xem địa thế để lập đồn trại là có ý muốn thủ hiểm, ta nên đem quân đánh ngay. Tiên Trẩn nói: - Thành Đắc Thần đến đây là muốn cùng với quân ta giao chiến chứ không phải muốn thủ hiểm. Tấn Văn công cũng có ý nghi ngờ, không muốn đánh nhau với Sở. Hồ Yển nói: - Ta đánh Sở mà thắng thì có thể làm được bá chủ các nước chư hầu, nếu đánh không thắng ta rút quân về mà giữ thế thủ, nước Sở cũng chẳng làm gì ta nổi. Tấn Văn công cũng chưa nhất quyết, đêm hôm ấy nằm mộng thấy hình như trong khi mình còn đi trốn, đang ở nước Sở, cùng với vua nước Sở đùa bỡn vật nhau, nhưng yếu sức bị thua, ngã ngửa xuống dưới đất, vua Sở phục ở trên mình, đánh vỡ đầu ra, rồi hút lấy óc; đến lúc tỉnh dậy, lấy làm sợ lắm. Bấy giờ Hồ Yển cũng ngủ ở trong màn. Tấn Văn công gọi dậy, kể chuyện cho nghe và bảo rằng: - Cứ như cái mộng này thì ta đánh Sở không được. Ta bị Sở hút lấy óc, chắc là điềm xấu. Hồ Yển nghe nói, liền chúc mừng rằng: - Đó là cái triệu đại cát! Chúa công tất đánh được quân Sở. Tấn Văn công nói: - Thế nào bảo rằng đại cát? Hồ Yển nói: - Chúa công ngã ngửa ở dưới đất thì được ánh sáng mặt trời chiếu vào; vua Sở phục ở trên mình, nghĩa là phải phục xuống đất mà chịu tội. Óc là một vật nhu mềm, vua nước Sở hút óc của Chúa công, nghĩa là phải chịu yên phận nhu mềm mà thần phục Chúa công đó, xem thế thì tất Chúa công đánh được quân Sở. Bấy giờ Tấn Văn công mới không nghi ngờ gì nữa. Sáng hôm sau, Thành Đắc Thần đưa chiếu thư cho Tấn Văn công. Tấn Văn công mở ra xem. Thư rằng: "Quân Sở tôi muốn cùng với quân Tấn đùa bỡn nhau, xin nhà vua đứng trên xe mà xem, Thành Đắc Thần này cũng được nghé mắt một chút". Hồ Yển nói: - Chinh chiến là một việc quan hệ mà dám nói là đùa bỡn, kẻ kia coi thường như vậy thì tài nào mà khỏi thua. Tấn Văn công sai Loan Chi viết thư trả lời. Thư rằng: "Tôi còn nhớ ơn vua nước Sở, bởi phải rút quân lui 3 xá, không dám cùng với nguyên soái đối địch; nay nguyên soái muốn cho quân sĩ thử tài nhau để xem, có đâu tôi lại không vâng, đến sáng ngày mai xin ra tiếp kiến." Sứ nước Sở về rồi, Tiên Trẩn điểm duyệt quân sĩ cả thảy hơn năm vạn người, ấy là chưa kể quân Tề và quân Tần đến giúp. Tấn Văn công trèo lên gò cao đứng xem, trông thấy quân sĩ tiến thoái rất có thứ tự, bằng lòng mà khen rằng: - Tiên Trẩn dùng quân cũng theo lối như Khước Cốc ngày xưa, có thể đối địch với quân Sở được. Nói xong, liền sai đốn cây trên rừng xuống để sửa soạn các đồ chiến cụ. Tiên Trẩn truyền lệnh cho các hàng tướng sĩ, sai Hồ Mao và Hồ Yển đem toán thượng quân cùng với Phó tướng nước Tần là Kiển Bính tiến vào tả đội quân Sở, giao chiến với Đấu Nghi Thân; sai Loan Chi và Tư Thần đem toán hạ quân cùng với Phó tướng nước Tề là Thôi Yển tiếp vào hữu đội quân Sở giao chiến với Đấu Bột. Tiên Trẩn đã dặn bảo các tướng đủ kế sách; còn mình thì cùng với Khước Tấn và Kỳ Mãn đem toán trung quân để đối địch với Thành Đắc Thần. Tiên Trẩn lại sai Tuân Lâm Phủ và Sĩ Hội mỗi người đem 5.000 quân, chia làm hai cánh để phòng khi tiếp ứng; lại sai Quốc Quý Phủ (Chánh tướng nước Tề) và Công tử Mẫn (Chánh tướng nước Tần) đem quân đi phục sẵn ở phía sau quân Sở, để đợi khi quân Sở thua chạy thì xông vào mà chiếm cứ lấy đồn trại. Bấy giờ Ngụy Thù đã khỏi đau ngực rồi, tình nguyện xin làm tiên phong. Tiên Trẩn nói: - Tôi đã định nhờ Lão tướng quân một việc này: Từ đây đi về phía nam, đến đất Không Tang, là tiếp giáp với địa giới nước Sở, Lão tướng quân nên đem quân ra phục sẵn ở đấy, đợi khi quân Sở thua chạy trở về thì đổ ra mà bắt. Ngụy Thù mừng rỡ, vâng mệnh đi ngay. Bọn Triệu Thôi cùng với các quan văn vũ theo Tề Chiêu công lên đứng ở trên núi để xem đánh nhau. Tấn Văn công lại sai Chu Chi Kiều sửa soạn thuyền bè sẵn ở sông Nam Hà để đợi khi lấy được các xe lương thực của nước Sở thì vận tải đem về. Sáng sớm hôm sau, quân Tấn cùng với quân Sở đều bày trận ở dưới chân núi Hữu Sầu. Loan Chi nghe tin hữu đội nước Sở dùng quân Trần và quân Sái làm tiên phong, có ý mừng thầm, nói: - Khi nước Nguyên soái đã mật bảo ta rằng quân Trần và quân Sái nhát sợ mà dễ loạn; ta đánh tan quân Trần và quân Sái thì tự khắc hữu đội nước Sở phải thua. Loan Chi sai Kiển Bính ra đánh. Viên Tuyển nước Trần và Công tử Ấn nước Sái tranh nhau lập công, xin với Đấu Bột để ra nghênh chiến. Chưa kịp nghênh chiến thì bỗng thấy quân Tấn kéo lui, Viên Tuyển và Công tử Ấn giục quân đuổi theo. Đuổi được một quãng, nghe có súng nổ, quân mai phục của Tư Thần đổ ra đón đánh. Những ngựa kéo xe của quân Tư Thần đều đội lốt da hổ cả. Ngựa nước Sở trông thấy, ngỡ là hổ thật, sợ hãi lồng chạy, lại xông vào hữu đội quân Sở, không thể kìm hãm được nữa, thành ra vỡ quân, chết hại không biết bao nhiêu mà kể. Loan Chi liền sai quân sĩ thay hình đổi dạng, giả làm quân Trần, Sái, cầm cờ hiệu Trần, Sái chạy đến phi báo với Thành Đắc Thần, nói hữu đội quân Sở đã thắng trận rồi, nên mau mau tiến binh, để đuổi quân Tấn. Thành Đắc Thần đứng trên xe trông thấy quân Tấn chạy toán loạn, cát bụi bay mù cả trời, không biết là kế giả, mừng mà nói rằng: - Toán hạ quân của Tấn, đã thua thật rồi! Thành Đắc Thần truyền lệnh cho tả đội tiến binh. Đến Nghi Trân trông thấy lá cờ Đại bái của quân Tấn bay phấp phới, liền xông lại đánh. Hồ Yển đem quân ra nghênh chiến. Đánh được mấy hợp, bỗng thấy quân Tấn đại loạn, Hồ Yển vội vàng bỏ chạy, lá cờ Đại bái cũng thấy siêu dạt đâu mất. Đấu Nghi Thân ngỡ là quân Tấn tan vỡ, vội vàng giục tướng nước Trịnh và tướng nước Hứa cùng nhau đuổi theo. Đuổi được một quãng, bỗng nghe tiếng trống vang tai, Tiên Trẩn và Khước Tần đem quân đổ ra đánh chặn ngang, phá tan quân Sở ra làm hai đoạn, Hồ Yển đang chạy, cũng quay lại đánh Quân Trịnh và quân Hứa sợ hãi vỡ chạy, Đấu Nghi Thân không sao cản lại được nữa, lại gặp tướng nước Tề là Thôi Yển đem quân đến đánh, Đấu Nghi Thân bỏ cả đồ khí giới, trèo qua núi mà chạy trốn. Nguyên là toán hạ quân của Tấn giả cách thua chạy; Loan Chi sai đốn các cây ở trên núi buộc vào sau xe mà kéo lê đi, để làm cho cát bụi bay mù cả trời; Hồ Mao lại sai người kéo lá cờ Đại bái, để làm ra dáng thua chạy, đó đều là mưu kế của Tiên Trẩn đã định sẵn từ trước để lừa quân Sở. Thành Đắc Thần chưa biết là trúng kế, vẫn tưởng tả đội và hữu đội đều thắng trận cả, lại sai con trai là Thành Đại Tâm đem quân ra tiếp chiến. Kỳ mãn khi trước vâng mệnh Tiên Trẩn, chỉ giữ vững trận thế, không chịu đem quân ra đánh, bấy giờ thấy quân Sở nổi trống ra trận, Kỳ Mãn không thể nhịn được, sai người đi dò thám xem tướng nước Sở là ai. Quân sĩ về báo rằng: - Tướng nước Sở mới 15 tuổi. Kỳ Mãn nói: - Một đứa trẻ con ấy, chắc là vũ nghệ cũng chưa ra gì! Ta quyết đem quân bắt sống. Nói xong, tức khắc truyền nổi trống đem quân ra trận, cùng với Thành Đại Tâm giao chiến. Đánh nhau hơn hai mươi hiệp, chưa phân được thua. Đấu Việt Tiêu (tướng nước Sở) trông thấy Thành Đại Tâm đánh mãi nhịn không được, liền đứng ở trên xe, giương cung bắn một phát tên, trúng ngay vào giải mũ Kỳ Mãn. Kỳ Mãn giật mình kinh sợ, vội vàng lui về nhưng e náo động đại quân, vậy phải vòng quanh phía sau trận mà trốn chạy. Đấu Việt Tiêu quát lên rằng: - Một viên đại tướng ấy không cần đuổi làm chi, ta nên mau mau tiến binh để bắt lấy Nguyên soái nước Tấn là Tiên Trẩn.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 41 Thành Đắc Thần rút gươm tự tử Tấn Văn công phụng mệnh đăng đàn

Tướng nước Sở là Đấu Việt Tiêu cùng với Thành Đại Tâm không đuổi theo Kỳ Mãn, liền tiến binh xông vào đại quân nước Tấn. Bỗng thấy có hai toán quân Tấn đến tiếp ứng: Tuân Lâm Phủ đánh nhau với Đấu Việt Tiêu, Tiên Miệt đánh nhau với Thành Đại Tâm. Thành Đại Tâm cầm cờ vẫy quân tiến vào, hăng hái mà reo rầm lên: - Ngày nay ta thề quyết không để cho quân Tấn còn một mống nào sống sót. Nói chưa dứt lời thì bỗng thấy Tiên Trẩn kéo đại binh đến, bấy giờ Thành Đại Tâm mới biết là tả đội và hữu đội quân Sở đã tan vỡ cả rồi, giật mình kinh sợ, toan thu quân trở lại, nhưng không thể kịp, bị quân Tấn vây kín cả xung quanh. Thành Đại Tâm gia sức phá vỡ vòng vây, để đưa cha là Thành Đắc Thần chạy trốn. Khi Thành Đắc Thần đã ra khỏi rồi, Thành Đại Tâm không thấy Đấu Việt Tiêu đâu cả, lại quay vào tìm; chẳng ngờ Đấu Việt Tiêu đang xung đột ở trong đám quân Tấn để tìm cứu cha con Thành Đắc Thần, khi gặp được Thành Đại Tâm, mới biết là Thành Đắc Thần đã ra khỏi, liền cùng nhau phá vòng vây chạy trốn. Tấn Văn công đứng ở trên núi trông thấy quân Tấn đã được thắng trận, sai người nói với Tiên Trẩn để truyền dụ cho quân sĩ chỉ đuổi quân Sở ra khỏi địa giới nước Tống và nước Vệ thì thôi, không được đuổi nữa, và cũng không được giết hại nhiều người, để đến nỗi hai nước thất hòa, uổng phụ mất cái ơn vua Sở ngày trước. Tiên Trẩn truyền thu quân về, không đuổi theo quân Sở nữa, còn Kỳ Mãn khi trước dám trái lệnh ra đánh, cũng truyền bắt giam để trị tội. Trần, Sái, Trịnh và Hứa thấy hao binh tổn tướng nhiều lắm, đều bỏ trốn về nước cả. Thành Đắc Thần cùng với Thành Đại Tâm và Đấu Việt Tiêu ra khỏi vòng vây, đem nhau về nơi đồn trại. Bỗng gặp quân sĩ bảo rằng: - Đồn trại của ta, đã trông thấy cờ hiệu nước Tề và Tần cắm đặc cả rồi! Nguyên Quốc Quý Phủ (tướng nước Tề) và Công tử Mẫn (tướng nước Tần) nhân khi quân Sở bị vây, vào chiếm cứ lấy đồn trại của quân Sở, bao nhiêu lương thực thu được hết cả. Thành Đắc Thần bất đắc dĩ phải trèo qua núi đi về sông Thư Thủy. Đấu Nghi Thân và Đấu Bột cũng đem những quân tàn tốt đi theo. Đi đến đất Không Tang, bỗng nghe mấy tiếng súng nổ, có một toán quân chắn ngang đường, trên lá cờ tướng đề một chữ "Ngụy". Nguyên Ngụy Thù khi trước ở nước Sở, một mình đánh nổi con Mạc thú, người nước Sở ai cũng phục là tay hùng dũng, bấy giờ trông thấy, đều kinh sợ chẳng còn hồn vía nào cả. Đấu Việt Tiêu bảo Thành Đại Tâm phò tá lấy Nguyên soái là Thành Đắc Thần, rồi một mình cố sức xông lại đánh nhau với Ngụy Thù. Đấu Nghi Thân và Đấu Bột bất đắc dĩ cũng phải xông vào đánh giúp. Ba tướng nước Sở cùng nhau đánh với Ngụy Thù mà không địch nổi. Bỗng có một người phi ngựa ở phía bắc đi đến, quát to lên mà bảo Ngụy Thù rằng: - Quan Nguyên soái (Tiên Trẩn) vâng mệnh Chúa công truyền phải bãi chiến, tha cho các tướng bên Sở được sống mà về nước, để báo lại cái ơn vua Sở biết trọng đãi ta trong khi còn đi trốn. Ngụy Thù nghe lệnh, liền dừng tay không đánh nữa, lại bảo quân sĩ đứng tránh ra hai bên; để khiến các tướng nước Sở chạy đi cho thoát. Bọn Thành Đắc Thần cắm đầu đi thẳng. Đi đến đất Liên Cốc, Thành Đắc Thần điểm duyệt tướng sĩ thì thấy chết hại rất nhiều, mới thở dài mà than rằng: - Ta đem quân đi đánh Tấn là chủ ý muốn làm cho nổi cái uy danh nước Sở, chẳng ngờ mắc mưu nước Tấn, đến nỗi thua quân, thật là tội đáng chết lắm! Nói xong, liền cùng với Đấu Nghi Thân và Đấu Bột đều ở lại đất Liên Cốc, mà sai con là Thành Đắc Thần đến Thân Thành yết kiến Sở Thành Vương để xin chịu tội chết, Sở Thành Vương nổi giận mà mắng rằng: - Cha mày khi trước đã có nói: "Nếu không đánh được quân Tấn thì xin chịu tội chết", nay còn kêu ca gì nữa! Thành Đại Tâm sụp lạy mà nói rằng: - Cha tôi biết tội đã nhiều, toan liều mình tự tử, tôi cố ngăn lại, muốn để Đại vương trị tội, khiến cho phép nước được nghiêm minh. Sở Thành Vương nói: - Phép nước Sở xưa nay, ai đánh giặc bị thua, cũng phải chết cả, nhưng các tướng nên liệu mà tự tử đi, chớ để làm bẩn lưỡi gươm của ta. Thành Đại Tâm thấy Sở Thành Vương không có ý thương xót, khóc mà lui ra, lại sai người phi báo cho Thành Đắc Thần biết. Thành Đắc Thần than rằng: - Giả sử vua Sở tha cho ta, ta cũng chẳng còn mặt mũi nào mà sống làm gì nữa! Nói xong, liền ngoảnh mặt về phía bắc lạy hai lạy, rồi rút gươm tự vẫn mà chết. Vỉ Giả nghe tin Thành Đắc Thần bị thua, hỏi cha là Vỉ Lã Thần rằng: - Con nghe nói quan Lệnh doãn bị thua, chẳng hay có thực hay không? Vỉ Lã Thần nói: - Thực thế đấy! Vỉ Giả nói: - Chẳng hay Đại vương xử trí ra thế nào? Vỉ Lã Thần nói: - Thành Đắc Thần và các tướng đều xin chịu tội chết, Đại vương chẳng động lòng thương. Vỉ Giả nói: - Thành Đắc Thần tính khí ngang ngạnh mà kiêu ngạo, không làm việc một mình được, nếu có một người trí mưu nữa giúp vào thì mới có thể thành công. Nay dẫu bị thua, nhưng ngày khác báo thù được nước Tấn, tất là Thành Đắc Thần, phụ thân nên can Đại vương để mà lưu giữ người ấy lại. Vỉ Lã Thần nói: - Nay Đại vương đang tức giận, nói cũng vô ích. Vỉ Giả nói: - Phụ thân không nhớ lời nói của người thầy đồng ở Phạm Ấp tên là Duật Tự hay sao? Vỉ Lã Thần nói: - Con thử thuật lại cho cha nghe. Vỉ Giả nói: - Duật Tự là người tài xem tướng lắm! Lúc Đại vương ta còn làm thái tử Duật Tự có nói: - Đại vương cùng với Thành Đắc Thần và Đấu Nghi Thân, ba người ngày sau đều bất đắc kỳ tử. Đại vương nhớ lời ấy, khi lên làm vua, ban cho Thành Đắc Thần và Đấu Nghi Thân mỗi người một cái miễn tử bài, cốt để làm cho lời nói của Duật Tự không ứng nghiệm được nữa. Nay Đại vương đang khi tức giận, vậy nên không nhớ ra, nếu phụ thân nhắc đến thì quyết rằng Đại vương sẽ tha tội cho hai người ấy. Vỉ Lã Thần tức khắc vào tâu với Sở Thành Vương rằng: - Thành Đắc Thần tội dẫu đáng chết, nhưng khi trước Đại vương đã có cho một cái miễn tử bài, tôi thiết tưởng Đại vương cũng dung thứ. Sở Thành Vương ngạc nhiên mà rằng: - Có phải vì lời nói của Duật Tự khi trước hay không, nếu nhà ngươi không nhắc đến thì ta quên hẳn đi mất! Sở Thành Vương sai quan Đại phu là Phan Uông cùng với Thành Đại Tâm tức khắc truyền mệnh tha cho các tướng đều khỏi tội chết. Khi Phan Uông và Thành Đại Tâm đi đến Liêu Cốc thì Thành Đắc Thần chết đã nửa ngày rồi. Đấu Nghi Thân đã thắt cổ treo lên xà nhà, nhưng thân thể to lớn, đứt dây rơi xuống, lại vừa gặp có lệnh miễn tử đến, thành ra khỏi chết. Đấu Bột còn định thu táng thi thể Thành Đắc Thần và Đấu Nghi Thân, rồi mới tự tử, bởi vậy cũng khỏi chết. Thành Đại Tâm ở lại Liên Cốc để khâm liệm cho cha là Thành Đắc Thần; còn bọn Đấu Nghi Thân, Đấu Bột và Đấu Việt Tiêu theo Phan Uông về Thân Thành vào lạy tạ Sở Thành Vương. Sở Thành Vương thấy nói Thành Đắc Thần đã tự tử rồi, thương xót vô cùng, rồi truyền thu quân trở về kinh đô nước Sở, cho Vỉ Lã Thần lên làm lệnh doãn, truất Đấu Nghi Thân ra trấn thủ ở Thương Ấp, và Đấu Bột ra trấn thủ ở Tương Thành. Sở Thành Vương lại nghĩ thương Thành Đắc Thần, cho con là Thành Đại Tâm và Thánh Gia đều làm quan đại phu. Quan nguyên lệnh doãn nước Sở là Tử Văn, bây giờ đã trí sĩ về ở nhà, nghe tin Thành Đắc Thần bị thua, thở dài mà than rằng: - Quả như lời nói của Vỉ Giả ngày trước! Kiến thức của ta lại không bằng một đứa trẻ con, chẳng cũng xấu hổ lắm sao! Nói xong nghĩ mà căm tức, hộc máu ra miệng rồi nằm gục xuống, không dậy được nữa, gọi con là Đấu Ban đến mà dặn rằng: - Cha gần đến lúc chết, cha dặn lại con một câu này: Chú con là Đấu Việt Tiêu, từ khi mới sinh ra, dáng đi giống như hùm hổ, tiếng nói như giống sài lang, đó là một cái tướng diệt tộc, bấy giờ đã nói với ông là không nên nuôi, ông không nghe. Nay Vỉ Lã Thần chắc là không thọ, Đấu Bột và Đấu Nghi Thân cũng khó lòng giữ được chu toàn, sau này làm lệnh doãn nước Sở, phi tay con thì tất là Đấu Việt Tiêu, mà Đấu Việt Tiêu là người tàn ác, được cầm quyền chính, tất sinh lòng phản nghịch, dòng dõi họ Đấu ta không khéo thì đến nỗi tuyệt tự. Khi ta đã chết rồi, nếu Đấu Việt Tiêu lên làm lệnh doãn thì mày nên trốn đi, kẻo mà mắc phải tai vạ. Đấu Ban sụp lạy xin vâng mệnh. Tử Văn nói xong thì chết. Chẳng được bao lâu, Vỉ Lã Thần cũng chết. Sở Thành Vương nghĩ đến cái công Tử Văn, cho con là Đấu Ban lên làm lệnh doãn, Đấu Việt Tiêu làm quan tư mã, và Vỉ Giả làm quan công chính. Tấn Văn công thì khi đánh được Thành Đắc Thần, tiến quân vào đóng ở trong đồn trại quân Sở. Quân Sở bỏ lại lương thực nhiều lắm, quân Tấn lấy ra để ăn, lại nói đùa với nhau rằng: - Thế này mới thật là người nước Sở mời ta đến ở, lại thết đãi ta đây! Các tướng nước Tề và nước Tần đều vào chúc mừng Tấn Văn công. Tấn Văn công tạ lại, mà không dám nhận, nét mặt có sắc buồn rầu. Các tướng nói: - Chúa công đánh được giặc mà sao lại có ý không vui? Tấn Văn công nói: - Thành Đắc Thần vốn là người không chịu thua ai, ta dẫu thắng trận, phỏng đã chắc gì, bởi vậy ta có ý lo sợ. Bọn Quốc Quý phủ (tướng nước Tề) và Công tử Mẫn (tướng nước Tần) đều cáo từ xin về. Tấn Văn công đem một nửa những đồ lấy được của nước Sở, đưa tặng nước Tề và nước Tần. Tướng nước Tống là Công Tôn Cố cũng cáo từ về nước. Tiên Trẩn sai người giải Kỳ Mãn đến trước mặt Tấn Văn công, rồi kể những tội trái lệnh ra đánh, để đến nỗi bị thua. Tấn Văn công nói: - Nhà ngươi trái lệnh Nguyên soái như thế, nếu không có thượng quân và hạ quân đã đánh được quân Sở từ trước thì còn chống cự sao nổi. Tấn Văn công sai quan Tư mã là Triệu Thôi định tội, rồi chém đầu Kỳ Mãn để hiệu lệnh cho các quân sĩ biết rằng: - Từ nay trở đi, ai dám trái lệnh quan Nguyên soái thì trông gương vào đấy! Quân sĩ thấy vậy, lại càng nghiêm sợ. Tấn Văn công đóng ở Hữu Sầu 3 ngày, rồi thu quân về nước. Đi đến sông Nam Hà, quân sĩ báo rằng: - Dưới sông chưa thấy sửa soạn thuyền bè chi cả. Tấn Văn công sai người triệu Chu Chi Kiều, chẳng thấy Chu Chi Kiều ở đâu. Nguyên Chu Chi Kiều vốn là tướng nước Quắc, khi trước đầu hàng, về làm tôi nước Tấn. Đến lúc Tấn Văn công đánh Sở, Chu Chi Kiều theo đi, vẫn có ý muốn lập công; Tấn Văn công lại sai đi sửa soạn thuyền bè chực sẵn ở sông Nam Hà, để đợi đánh xong quân Sở thì về qua đấy. Bởi vậy Chu Chi Kiều không bằng lòng, lại vừa tiếp được tin vợ nhà ốm nặng. Chu Chi Kiều cũng nghĩ rằng quân Tấn đánh nhau với Sở, tất còn lâu ngày, liền lẻn về thăm vợ, ai ngờ mới được 6 ngày mà Tấn Văn công đã đánh xong quân Sở, thu quân trở về. Tấn Văn công không thấy Chu Chi Kiều, tức thì nổi giận, sai quân sĩ bắt thuyền của dân. Tiên Trẩn nói: - Dân ở xứ Nam Hà này, nghe tin ta đánh được quân Sở, ai không sợ hãi, nếu ta sai quân sĩ đi bắt thuyền, tất nhiên họ bỏ mà trốn cả, chi bằng ta hạ lệnh thuê tiền là tiện hơn. Tấn Văn công khen phải, rồi sai quân sĩ đi thuê thuyền. Được một lúc, thuyền đâu kéo đến, không biết bao nhiêu mà kể. Đại binh chèo thuyền qua sông. Tấn Văn công bảo Triệu Thôi rằng: - Ta đã báo thù được nước Tào và Vệ rồi, chỉ còn nước Trịnh là chưa báo được, nên nghĩ thế nào? Triệu Thôi nói: - Chúa công kéo quân qua nước Trịnh thì tự khắc nước Trịnh phải xin thần phục. Tấn Văn công nghe lời. Đi trong mấy ngày nữa, bỗng gặp toán quân từ phía đông kéo đến, có một vị quý nhân ngồi ở trên xe, Tướng đi tiền đội của quân Tấn là Loan Chi ngăn lại mà hỏi rằng: - Quân nào? Vị quý nhân ấy đáp rằng: - Ta là quan Khanh sĩ nhà Chu, tên gọi Vương tử Hổ. Thiên tử nhà Chu nghe tin vua Tấn đánh được quân Sở, để giữ yên trung quốc, vây muốn thân hành đến khao thưởng quân, có sai Hổ này đi báo trước cho biết. Loan Chi tức khắc đưa Vương tử Hổ lại yết kiến Tấn Văn công. Tấn Văn công hỏi các tướng rằng: - Nay Thiên tử muốn thân hành đến để khao thưởng quân nước Tấn ta thì lễ nghi nên thế nào? Triệu Thôi nói: - Từ đây sang Hành Ung cũng gần, ở đấy có một nơi gọi là Tiễn Thổ, đất phẳng mà rộng, ta nên tức khắc sửa soạn vương cung, rồi Chúa công đem các vua chư hầu đi đón Thiên tử đến ngự lại đấy để cùng nhau triều kiến cho khỏi trái đạo vua tôi. Tấn Văn công liền hẹn với Vương tử Hổ, định đến ngày mồng một tháng 5 thì đón Thiên tử sang đất Tiễn Thổ. Vương tử Hổ cáo từ trở về. Đại binh nước Tấn thẳng đường kéo binh sang Hành Ung. Đi được một quãng, lại gặp toán quân của sứ thần nước Trịnh là Tử Nhân Cửu. Nguyên Trịnh Văn công sợ quân Tấn đến hỏi tội, mới sai Tử Nhân Cửu đi giảng hòa. Tấn Văn công nổi giận, nói: - Nước Trịnh nghe tin quân Sở thua, rồi mới chịu xin giảng hòa thì không phải là thực lòng; chờ khi ta triều kiến Thiên tử xong, bấy giờ sẽ đem quân sang đánh Trịnh. Triệu Thôi nói: - Từ khi ta cử binh đến nay, đuổi vua Vệ, bắt vua Tào, lại phá được quân Sở, uy danh lừng lẫy biết dường nào! Có khiếm gì một nước Trịnh, xin Chúa công cứ nên cho giảng hòa, nếu nước Trịnh còn có lòng khác thì ta nghỉ quân mấy tháng, rồi sẽ sang đánh Trịnh, cũng chưa lấy gì làm chậm. Tấn Văn công mới cho nước Trịnh giảng hòa. Đại binh kéo đến Hành Ung, một mặt sai Hồ Mao và Hồ Yển đi sửa soạn vương cung ở đất Tiễn Thổ; còn một mặt sai Loan Chi vào kinh thành nước Trịnh để cùng với Trịnh Văn công ăn thề. Trịnh Văn công lại thân hành đến Hành Ung để tạ ơn Tấn Văn công đã cho giảng hòa. Tấn Văn công cùng với Trịnh Văn công khen Thành Đắc Thần nước Sở là người vũ dũng. Trịnh Văn công nói: - Thành Đắc Thần nay đã tự tử ở đất Liên Cốc rồi! Tấn Văn công giả cách thương tiếc. Khi Trịnh Văn công lui ra rồi. Tấn Văn công nói riêng với các tướng rằng: - Ngày nay ta được nước Trịnh thần phục, cũng chẳng lấy gì làm mừng, chỉ mừng rằng nước Sở đã mất Thành Đắc Thần mà thôi. Thành Đắc Thần đã chết rồi, còn các người khác, ta chẳng lo ngại gì nữa, các người có thể nằm yên được! Hồ Mao và Hồ Yển ra sức hơn một tháng trời, đã sửa soạn xong vương cung rồi, Tấn Văn công truyền hịch cho các nước chư hầu, hẹn đến mồng một tháng 5 phải hội nhau cả ở đất Tiễn Thổ. Bấy giờ Tống Thành công (Vương Thần), Tề Chiêu công (Phan) đều là những nước giao hiếu từ trước. Trịnh Văn công (Tiệp) là một nước mới quy phục. Còn như Lỗ Hi công (Thân) Trần Mục công (Khoản), Sái Trang công (Giáp Ngọ) đều là đảng nước Sở, nhưng sợ uy nước Tấn, cũng phải đến dự hội, Châu và Cử là các nước nhỏ, chẳng kể làm chi. Chỉ có Hứa Hi công (Nghiệp) thần phục nước Sở đã lâu, không muốn theo Tấn, Tần Mục công (Nhâm Hiếu) dẫu có giao hiếu với Tấn nhưng xưa nay chưa dự hội với trung quốc bao giờ, vậy cũng ngần ngại không đến. Vệ Thành công (Trịnh) trước tránh ra Tương Ngưu, Tào Cung công (Tượng) hiện còn giam ở Ngũ Lộc, Tấn Văn công đã hẹn trả lại nước cho, nhưng chưa nói rõ, bởi vậy cũng không được dự hội. Vệ Thành công nghe Tấn Văn công sắp họp chư hầu, bảo Ninh Du rằng: - Vua Tấn hội chư hầu mà không nói gì đến nước Vệ ta, thế thì nước Tấn còn căm tức ta lắm, có lẽ ta phải trốn đi nước khác. Ninh Du nói: - Nay Chúa công chỉ nghĩ một đường trốn đi mà thôi thì sau này ai là người giúp cho Chúa công được trở về nước, chi bằng Chúa công nhường ngôi cho Thúc Vũ, mà sai Nguyên Huyến đưa đến Tiễn Thổ để xin dự hội. Nếu lòng trời còn tựa nước Vệ mà Thúc Vũ được dự hội thì nước Vệ hãy còn, tức là ngôi của Chúa công hãy còn, huống chi Thúc Vũ vốn là người hiếu hữu, tất cũng khó lòng bất nhẫn mà trả lại cho Chúa công. Vệ Thành công dẫu trong lòng không muốn, nhưng đến địa vị ấy cũng không làm thế nào được, liền sai Tôn Viêm phụng mệnh nhường ngôi cho Thúc Vũ, theo như lời nói Ninh Du. Tôn Viêm phụng mệnh đi sang Sở Khâu để nói với Thúc Vũ. Vệ Thành công lại hỏi Ninh Du rằng: - Nay ta trốn sang nước nào? Ninh Du còn ngần ngừ chưa trả lời. Vệ Thành công nói: - Có nên sang nước Sở không? Ninh Du nói: - Nước Sở nay đang là một nước cừu địch với nước Tấn. Vả khi trước ta đã đưa thư tuyệt giao với Sở, bây giờ còn sang làm gì, chi bằng ta sang nước Trần. Nước Trần sắp sửa thần phục nước Tấn, ta lại có thể nhờ nước Trần mà giao thông với nước Tấn được. Vệ Thành công nói: - Đưa thư tuyệt giao, không phải tự ý ta, điều ấy hẳn nước Sở cũng biết. Vả nước Tấn và nước Sở sau này cũng chưa biết thế nào, Thúc Vũ theo Tấn mà ta theo Sở thì có phải lại giữ được cả hai bên không? Vệ Thành công đi sang nước Sở. Những quân sĩ nước Sở trông thấy Vệ Thành công, đều đuổi và sỉ mắng. Vệ Thành công bất đắc dĩ lại phải quay sang nước Trần, bấy giờ mới phục Ninh Du là người cao kiến. Tôn Viêm phụng mệnh Vệ Thành công đến bảo Thúc Vũ. Thúc Vũ nói: - Tôi xin quyền tạm để giữ lấy nước mà thôi, dẫu Chúa công nhường ngôi, có lẽ đâu tôi dám nhận. Nói xong, liền cùng với Nguyên Huyến đến đất Tiễn Thổ để hội với các nước chư hầu, rồi lại sai Tôn Viêm về nói lại cho Vệ Thành công biết rằng khi sang đến Tiễn Thổ thì thế nào cũng vì Vệ Thành công mà xin Tấn phục quốc cho. Nguyên Huyến nói: - Chúa công ta tính hay nghi ngờ lắm, ta không sai con theo sang thì sao cho Chúa công tin được. Nguyên Huyến liền sai con là Nguyên Dốc theo sang. Công tử Chuyên Khuyển bảo riêng với Nguyên Huyến rằng: - Chúa công chắc hẳn không trở về được, sao nhà ngươi không đem việc Chúa công nhường ngôi ấy mà truyền bá cho người trong nước biết rồi tôn lập Thúc Vũ lên làm vua, tất nhiên vua Tấn cũng bằng lòng, bấy giờ nhà ngươi nhờ uy nước Tấn thì thành ra cùng với Thúc Vũ cùng cầm quyền chính nước Vệ. Nguyên Huyến nói: - Thúc Vũ còn có lòng tử tế với anh, nữa là ta lại dám quên vua hay sao! Ta đi chuyến này, quyết nói với Tấn để xin trả lại nước cho Chúa công. Công tử Chuyên Khuyển nín lặng lui ra, nhưng lại sợ khi Vệ Thành công đã phục quốc rồi mà Nguyên Huyến tiết lộ lời nói ấy ra thì tất Vệ Thành công bắt tội, mới lập kế lẻn sang nước Trần, mật báo với Vệ Thành công, lại nói dối là Nguyên Huyến đã lập Thúc Vũ lên làm vua và nhờ uy nước Tấn bảo hộ. Vệ Thành công tin là chuyện thực, liền bảo Tôn Viêm. Tôn Viêm nói: - Việc ấy tôi không được biết. Nay Nguyên Dốc hiện đang ở đây, cha hắn có mưu gì thì hắn tất biết, sao Chúa công không gọi mà hỏi xem. Vệ Thành công lại hỏi Nguyên Dốc. Nguyên Dốc nói: - Việc ấy chắc hẳn không có. Ninh Du cũng nói rằng: - Nếu Nguyên Huyến có lòng bất trung thì sao lại chịu sai con đến ở đây, xin Chúa công chớ nghi ngờ. Công tử Chuyên Khuyển lại nói với Vệ Thành công rằng: - Nguyên Huyến lập mưu làm phản Chúa công, kể đã lâu ngày, nay cho con sang ở đây, chính là muốn dò xem tình hình Chúa công ra làm sao để mà phòng bị. Nếu Nguyên Huyến định xin với vua Tấn trả lại nước cho Chúa công thì tất Thúc Vũ không dám dự hội, nhược bằng Thúc Vũ dám công nhiên dự hội thì thật là chí định chiếm ngôi, Chúa công nên xét cho kỹ. Vệ Thành công mật sai người sang đất Tiễn Thổ để dò xem tình hình Thúc Vũ ra làm sao. Chu Tương Vương xa giá ngự sang Tiễn Thổ. Tấn Văn công đem các vua chư hầu ra đón ở ngoài 30 dặm rồi rước về chốn vương cung. Các vua chư hầu làm lễ triều kiến xong, Tấn Văn công đem các đồ lấy được của nước Sở ra dâng nộp. Chu Tương Vương bằng lòng nói: - Từ khi Tề Hoàn công tạ thế rồi, nước Sở lại cậy sức mạnh xâm phạm các nước trung quốc, nay được Thúc phụ (tức là Tấn Văn công) đem quân đánh Sở để giữ yên nhà Chu ta thì chẳng những một mình ta đội ơn, dẫu Tiên vương nhà Chu ta thuở xưa cũng đội ơn thúc phụ nhiều lắm. Ngày hôm sau, Chu Tương Vương sai Vương tử Hổ tuyên cáo cho Tấn Văn công làm bá chủ. Tấn Văn công lập một cái đàn ở bên cạnh vương cung để hội thề với các vua chư hầu. Đến hôm khai hội, Tấn Văn công lên đàn trước, còn các vua chư hầu lục tục theo sau. Nguyên Huyến hôm trước đưa Thúc Vũ vào yết kiến Tấn Văn công, hôm ấy Thúc Vũ quyền nhận ngôi vua nước Vệ, cũng được đứng phụ ở cuối tờ ước thư. Vương tử Hổ tuyên đọc lời thề rằng: "Phàm các nước đồng minh ta, nên cùng một lòng giúp nhà Chu, chớ tàn hại lẫn nhau, kẻ nào trái lời thề ấy thì quỷ thần tru diệt!". Các vua chư hầu đồng thanh mà nói rằng: - Xin phụng mệnh! Khi ăn thề xong, Tấn Văn công muốn đem Thúc Vũ vào triều kiến Chu Tương Vương và lập vua nước Vệ để thay Vệ Thành công. Thúc Vũ ứa nước mắt xuống, từ chối mà nói với Tấn Văn công rằng: - Ngày xưa Tề Hoàn công hội chư hầu ở đất Ninh Mãn, Thế tử Hoa nước Trịnh là con mà làm phản cha, Tề Hoàn công còn đem lời trách mắng; nay Chúa công đang noi theo cái công nghiệp của Tề Hoàn công thuở trước, mà lại muốn cho Thúc Vũ này là em mà làm phản anh hay sao! Nếu Chúa công có lòng thương tôi thì xin trả ngôi vua nước Vệ cho anh tôi, anh tôi sẽ dốc một lòng mà thần phục quý quốc. Nguyên Huyến cũng sụp lạy mà xin cho Vệ Thành công. Tấn Văn công thấy vậy mới gật đầu thuận cho.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 42 Chu Tương Vương thiết triều ở Hà Dương Vệ Nguyên Huyến khiếu oan cho Thúc Vũ

Chu Tương Vương thân hành đến Tiễn Thổ úy lạo Tấn Văn công, rồi lại trở về nhà Chu. Các vua chư hầu cũng cáo từ về nước cả. Vệ Thành công từ khi nghe lời Chuyên Khuyển nói, có ý nghi ngờ, mới sai người đến đất Tiễn Thổ để dò xem tình hình Thúc Vũ ra làm sao. Bấy giờ thấy Nguyên Huyến đưa Thúc Vũ vào dự hội với các vua chư hầu, chưa kịp xét kỹ, vội vàng về phi báo cho Vệ Thành công biết, Vệ Thành công nổi giận, nói: - Nếu vậy thì Thúc Vũ tự làm vua nước Vệ rồi. Nói xong, liền sỉ mắng Nguyên Huyến là đứa phản tặc, tham cầu phú quý, phù lập Thúc Vũ lên làm vua; lại sai con đến ở đây để dò xét tình hình, khi nào ta lại dung tha cho cha con Nguyên Huyến. Con Nguyên Huyến là Nguyên Dốc toan tìm lời phân giải. Vệ Thành công rút gươm chém một nhát, rơi đầu xuống đất. Những người theo hầu Nguyên Dốc vội vàng trốn về báo tin cho Nguyên Huyến biết. Nguyên Huyến nói: - Con ta sống chết chẳng qua cũng là tại số, Chúa công dẫu phụ lòng Nguyên Huyến này, nhưng Nguyên Huyến này có đâu dám phụ lòng Thúc Vũ! Tư Mã Man bảo Nguyên Huyến rằng: - Chúa công đã có lòng nghi thì nhà ngươi há chẳng nên tị hiềm mà từ chức bỏ về, để tỏ cái lòng trung thành của mình ra! Nguyên Huyến thở dài mà than rằng: - Nếu tôi từ chức bỏ về thì ai cùng với Thúc Vũ mà giữ nước này! Con ta bị giết là một việc riêng, có lẽ nào mà vì một việc riêng mà không nghĩ đến nước hay sao! Nói xong, liền bảo Thúc Vũ viết thư xin Tấn Văn công trả lại ngôi vua cho Vệ Thành công. Tấn Văn công khi phụng mệnh Thiên tử lên làm bá chủ, hội thề với các nước chư hầu, bấy giờ thu quân về nước. Dân nước Tấn, già trẻ lớn bé tranh nhau đi đón, rất là vui vẻ. Tấn Văn công về đến trong triều, bàn việc ban thưởng cho các công thần, lấy Hồ Yển làm công đầu, thứ nhì Tiên Trẩn. Các tướng đều nói rằng: - Việc đánh nhau ở đất Thành Bộc mà ta phá được quân Sở, đều nhờ công Tiên Trẩn cả, nay lại lấy Hồ Yển làm đầu là cớ làm sao? Tấn Văn công nói: - Khi đánh nhau ở Thành Bộc, Tiên Trẩn bảo ta rằng: "Nên đánh ngay quân Sở, chớ có bỏ mất dịp may" mà Hồ Yển bảo ta rằng: "Nên lui tránh quân Sở, chớ nên bỏ mất điều tín", bởi vậy ta nên xét rằng đánh được quân giặc, chẳng qua là cái công trong một thời mà giữ được điều tín, mới thật là cái lợi về sau mãi mãi, thế thì Hồ Yển ở trên Tiên Trẩn là phải. Các tướng đều tâm phục cả. Hồ Yển lại tâu với Tấn Văn công rằng: - Tuân Tức ngày xưa chết vì cái nạn Hề Tề và Trác Tử, trung tiết đáng khen, xin Chúa công gia ân mà dùng những con cháu sau, để làm gương cho các bề tôi khác. Tấn Văn công nghe lời, liền triệu con trai Tuân Tức là Tuân Lâm Phủ, cho làm quan đại phu. Chu Chi Kiều đang ở nhà với vợ con, nghe tin Tấn Văn công sắp đến, vội vàng đón đường để yết kiến. Tấn Văn công truyền giam lại một chỗ, đến khi ban thưởng công thần xong, sai quan Tư mã là Triệu Thôi nghị tội Chu Chi Kiều. Chu Chi Kiều kêu van vì cớ vợ ốm, Tấn Văn công nói: - Kẻ bề tôi đã một lòng thờ vua thì dẫu thân mình cũng chẳng dám tiếc, huống chi là vợ con. Nói xong truyền đem ra chém. Tấn Văn công từ khi đem quân đi đánh Sở, lần thứ nhất chém Điên Hiệt, lần thứ hai chém Kỳ Mãn, đến bây giờ lại chém Chu Chi Kiều. Ba người ấy đều là bậc danh tướng mà làm việc trái phép, cũng bị giết cả, bởi vậy các tướng ai ai cũng sợ hãi mà phải theo lệnh, cũng vì thế nên Tấn Văn công làm bá chủ được các nước chư hầu. Một hôm, Tấn Văn công ngự triều, đang cùng với Hồ Yển bàn việc nước Tào và nước Vệ, bỗng tiếp được thư của nước Vệ gởi đến, Tấn Văn công hỏi: - Đó tất là thư của Thúc Vũ xin hộ cho anh. Tấn Văn công mở thư ra xem. Thư rằng: "Chúa công không nỡ làm diệt nước Vệ thì xin Chúa công tha cho vua nước Vệ tôi. Hiện nay người nước Vệ ai cũng một lòng để mong Chúa công làm việc nghĩa ấy, xin Chúa công nghĩ lại". Trần Mục công cũng sai sứ đến nước Tấn, xin lỗi hộ cho Vệ Thành công. Tấn Văn công viết thư trả lời thuận cho Vệ Thành công về nước, lại hạ lệnh cho Khước Bộ Dương chớ có đem quân ngăn trở. Thúc Vũ được tin Tấn Văn công tha cho Vệ Thành công về nước, vội vàng sai người sang nước Trần để đón Vệ Thành công về nước. Công tử Chuyên Khuyển bảo Vệ Thành công rằng: - Thúc Vũ làm vua nước Vệ đã lâu, người trong nước ai cũng quy phục, lại đồng minh với các nước ngoài, nay dẫu cho người sang đón. Chúa công chớ nên tin vội. Vệ Thành công nói: - Ta cũng lấy làm lo lắm! Nói xong, liền sai Ninh Du đến Sở Khâu trước để dò xét xem tình hình ra làm sao. Ninh Du đến Sở Khâu, gặp bấy giờ Thúc Vũ đang bàn việc ở trong triều. Ninh Du vào triều, trông thấy Thúc Vũ vẫn ngồi ở gian bên cạnh. Thúc Vũ trông thấy Ninh Du, vội vàng chạy ra đón vào, tiếp đãi rất lễ phép. Ninh Du giả cách hỏi rằng: - Ngài đã quyền ngự ngôi vua, mà ngài lại ngồi ở gian bên cạnh thì sao cho trọng thể thống? Thúc Vũ nói: - Ngôi chính ở giữa là chỗ anh tôi ngự xưa nay, tôi ngồi ở gian bên cạnh, cũng còn có ý sợ hãi, khi nào lại dám ngự ở gian giữa. Ninh Du nói: - Bây giờ tôi mới biết rõ lòng ngài! Thúc Vũ nói: - Tôi vẫn đêm ngày mong nhớ anh tôi lắm, quan Đại phu nên khuyên anh tôi mau mau về triều, để cho tôi được yên lòng. Ninh Du mới đính ước, hẹn đến ngày mồng một tháng 6 thì đưa Vệ Thành công về nước. Khi Ninh Du cáo từ lui ra, các quan trong triều nghe tin, đều xúm nhau bàn luận, chỉ sợ vua cũ lại về thì tất nhiên trị tội những kẻ ở nhà, bởi vậy ai cũng lấy làm lo ngại. Ninh Du nói với các quan rằng: - Tôi phụng mệnh vua cũ đến đây để truyền bảo cho các quan biết rằng khi vua cũ về nước, quyết không bắt tội ai cả; nếu các quan không tin thì tôi xin cùng với các quan ăn thề. Các quan đều nói: - Nếu ăn thề với nhau thì còn nghi ngại gì nữa! Ninh Du liền cùng với các quan ăn thề. Các quan đều bằng lòng cả. Thúc Vũ lại sai quan Đại phu là Trương Dương chuyên giữ quốc môn, phàm những người về đảng Vệ Thành công thì bất cứ lúc nào, cũng cho vào ngay. Ninh Du về nói với Vệ Thành công rằng: - Thúc Vũ thật lòng mà đợi Chúa công về, chứ không có ý gì làm phản cả. Vệ Thành công cũng có lòng tin. Chuyên Khuyển khi trước đã đem lời gièm pha Thúc Vũ, vậy nên sợ tội, lại nói với Vệ Thành công rằng: - Tôi chỉ e Thúc Vũ cùng với Ninh Du ước định nhau để làm hại Chúa công, chi bằng Chúa công cứ nhân lúc bất ngờ, trước hẹn mà về ngay thì mới có thể vẹn toàn được. Vệ Thành công theo lời, truyền sắp sửa xa giá để về nước Vệ. Chuyên Khuyển xin làm tiền khu. Vệ Thành công cho đi. Ninh Du nói: - Tôi đã hẹn ngày với người trong nước rồi, nay Chúa công trước hẹn mà về thì người trong nước tất có lòng nghi hoặc. Chuyên Khuyển quát to lên rằng: - Ninh Du không muốn cho Chúa công chóng về là chủ ý thế nào? Ninh Du không dám can ngăn nữa, chỉ xin với Vệ Thành công cho đi trước để hiểu dụ người trong nước, khiến được yên lòng. Vệ Thành công nói: - Nhà ngươi hiểu dụ cho người trong nước biết rằng ta vội về là có lòng nhớ nước, chứ không vì cớ gì cả. Ninh Du đi xong. Chuyên Khuyển lại nói với Vệ Thành công rằng: - Ninh Du xin về trước, cũng nên nghi lắm, Chúa công phải đi mau mới được. Vệ Thành công truyền cho quân sĩ đi mau. Ninh Du về đến quốc môn, Trương Dương hỏi biết là người của Vệ Thành công, tức khắc mở cửa cho vào. Ninh Du nói: - Chúa công sắp về đến nơi! Trương Dương nói: - Sao chưa đến hẹn mà đã về ngay như vậy? Nhà ngươi vào thành báo tin cho Thúc Vũ biết, để tôi đi đón Chúa công. Ninh Du vừa mới quay mình đi khỏi thì Chuyên Khuyển đã đến nơi rồi. Chuyên Khuyển nói: - Chúa công đang đi sau! Trương Dương vội vàng đem quân đi đón. Chuyên Khuyển tiến thẳng vào thành. Bấy giờ Thúc Vũ đang đốc thúc các quân sĩ quét dọn dinh thất, rồi ngồi gội đầu ở giữa sân, thấy Ninh Du vào báo tin Vệ Thành công về, nửa sợ nửa mừng, vừa toan hỏi vì cớ gì mà không đúng hẹn, lại nghe có tiếng xe ngựa rầm rầm, tưởng là Vệ Thành công đã về, tóc còn chưa ráo, vội vàng lấy tay vén tóc, chạy ra để đón, chẳng ngờ lại là Chuyên Khuyển. Chuyên Khuyển sợ để Thúc Vũ sống thì sau anh em hỏi nhau, lại bày tỏ tội mình ra, liền giương cung bắn một phát tên, trúng ngay vào bụng Thúc Vũ. Thúc Vũ ngã gục xuống. Ninh Du vội vàng chạy lại để cứu thì đã không kịp rồi! Nguyên Huyến nghe tin Thúc Vũ bị giết, giật mình kinh sợ mà sỉ mắng Vệ Thành công rằng: - Vô đạo hôn quân! Mày giết oan một người vô tội, trời nào có dung mày, phen này ta quyết sang kêu với vua Tấn, thử xem mày có ngồi yên được hay không! Nguyên Khuyến lăn khóc một lúc, rồi bỏ trốn sang nước Tấn. Vệ Thành công về đến quốc môn, thấy Trương Dương ra đón. Vệ Thành công hỏi chuyện, Trương Dương nói: - Thúc Vũ có dặn tôi rằng Chúa công muốn về lúc nào cũng cứ để cho vào, không được ngăn trở. Vệ Thành công thở dài mà than rằng: - Em ta quả không có ý gì khác cả. Khi vào đến trong thành, trông thấy Ninh Du nước mắt ràn rụa, chạy lại mà nói rằng: - Thúc Vũ đang gội đầu, nghe tin Chúa công về, vội vàng mừng rỡ, lấy tay vén tóc, chạy ra để đón, ai ngờ bị Chuyên Khuyển bắn chết, khiến cho tôi thất tín với người trong nước, xin Chúa công xét cho. Vệ Thành công nét mặt có ý hổ thẹn mà đáp rằng: - Ta đã biết Thúc Vũ bị oan rồi. Nói xong, liền tiến thẳng vào trong triều. Các quan nghe tin, lục tục ra đón, kẻ trước người sau, không được đều nhau, Ninh Du đưa Vệ Thành công đến xem thi thể Thúc Vũ. Hai mắt Thúc Vũ mở trừng trừng như sống. Vệ Thành công ôm đầu Thúc Vũ để kề lên trên đùi, rồi khóc òa lên rằng: - Em ôi! Vì em mà anh được về, nay vì anh mà em phải chết, đau lòng anh lắm em ôi! Bỗng trông thấy hai mắt Thúc Vũ sáng quắc lên, rồi dần dần nhắm lại. Ninh Du nói: - Không giết Chuyên Khuyển thì sao cho thỏa cái linh hồn Thúc Vũ. Vệ Thành công tức khắc sai người bắt Chuyên Khuyển. Bấy giờ Chuyên Khuyển toan đi trốn, nhưng bị Ninh Du sai người bắt ngay được, đem về nộp Vệ Thành công. Chuyên Khuyển nói với Vệ Thành công rằng: - Tôi giết Thúc Vũ cũng là vì Chúa công! Vệ Thành công nổi giận, nói: - Mày cố tình gièm pha em ta, lại tự tiện giết đi, nay còn toan đổ lỗi cho ta hay sao! Nói xong, truyền đem ra chém; lại truyền lấy lễ quốc quân hậu táng cho Thúc Vũ. Người nước Vệ khi trước nghe tin Thúc Vũ bị giết, đều huyên náo cả lên, nay thấy Vệ Thành công chém Chuyên Khuyển và hậu táng cho Thúc Vũ, trong nước mới được yên ổn. Quan Đại phu nước Vệ là Nguyên Huyến trốn sang nước Tấn, vào yết kiến Tấn Văn công, sụp lạy ở dưới đất, thuật lại những chuyện Vệ Thành công nghi ngờ Thúc Vũ mà sai Chuyên Khuyển bắn chết. Nguyên Huyến vừa nói vừa khóc. Tấn Văn công động lòng thương xót, đem lời yên ủi Nguyên Huyến, mời ra nghỉ ở nhà công quán, rồi họp các quan triều thần lại để thương nghị. Tấn Văn công hỏi các quan rằng: - Ta nhờ sức các ngươi một lần đánh nhau mà thắng được quân Sở, lại phụng mệnh Thiên tử, hội chư hầu ở đất Tiễn Thổ, bởi vậy công nghiệp bá chủ chẳng kém gì Tề Hoàn công thuở xưa, nhưng nước Tần không dự hội, nước Hứa không vào triều, nước Trịnh dẫu xin ăn thề mà vẫn có lòng nghi hoặc, nay vua Vệ về nước mà dám tự tiện giết em là một người đã dự hội với ta, nếu ta không đem quân đi đánh thì sao cho thu phục được chư hầu, các người tính thế nào? Tiên Trẩn nói: - Nước nào làm điều trái phép thì bá chủ tất phải đem quân đi đánh. Hồ Yển nói: - Làm bá chủ muốn thu phục được chư hầu, tất phải nhờ cái uy linh của Thiên tử, nay Thiên tử thân hành đến khao thưởng Chúa công, mà Chúa công chưa vào triều kiến Thiên tử, vậy thì lấy gì cho người ta phục, chi bằng Chúa công đại hội chư hầu để vào triều kiến Thiên tử, nếu nước nào không đến, bấy giờ ta sẽ kể về tội tiết mạn Thiên tử mà đem quân đi đánh. Triệu Thôi nói: - Tử Phạm (tên tự Hồ Yển) nói phải lắm! Nhưng tôi e rằng việc vào triều kiến Thiên tử khó lòng mà làm xong được. Tấn Văn công nói: - Tại sao mà khó lòng? Triệu Thôi nói: - Các nước chư hầu đã lâu nay không vào triều kiến Thiên tử, bây giờ Chúa công đem quân vào chốn kinh sư thì tất nhiên Thiên tử có lòng nghi ngại, chi bằng ta đại hội chư hầu ở đất Ôn Ấp rồi đem Thiên tử đến đây để mà triều kiến thì tiện được nhiều điều lắm; một là vua tôi không ngờ vực nhau; hai là các nước chư hầu không phải đi xa khó nhọc; ba là ở đấy đã sẵn có cung thất của Vương tử Đái làm ngày trước, không phải tốn công sửa soạn chút nào. Tấn Văn công nói: - Làm thế nào mà đem được Thiên tử đến đây? Triệu Thôi nói: - Nay Thiên tử đang muốn thân với nước Tấn ta, xin Chúa công cho tôi vào sứ nhà Chu mà nói về việc ấy. Tấn Văn công bằng lòng, liền sai Triệu Thôi vào nhà Chu, Triệu Thôi tâu với Chu Tương Vương rằng: - Chúa công tôi cảm cái ơn Thiên tử thân hành đến khao thưởng, nay xin đem các nước chư hầu vào kinh sư để làm lễ triều kiến. Chu Tương Vương nín lặng, truyền cho Triệu Thôi hãy nghỉ ở nhà công quán, rồi gọi Vương tử Hổ vào để thương nghị. Chu Tương Vương bảo Vương tử Hổ rằng: - Tấn hầu xin đem quân đến kinh sư để làm lễ triều kiến, tất là có ý khác, Trẫm muốn từ chối thì nên làm thế nào? Vương tử Hổ nói: - Tôi xin đến tiếp kiến sứ thần nước Tấn, để dò xét xem tình ý thế nào, nên từ chối thì tôi từ chối. Vương tử Hổ đến tiếp kiến Triệu Thôi. Triệu Thôi nói đến việc Tấn Văn công xin vào triều. Vương tử Hổ nói: - Tấn hầu muốn hội các nước chư hầu để vào triều kiến Thiên tử, thật là một việc rất hay, nhưng ngặt vì các nước chư hầu họp cả ở kinh sư thì phiền nhiễu quá, dân nhà Chu không hiểu rõ, đem lòng nghi kỵ mà sinh điều nọ tiếng kia, lại thành ra mất lòng Tấn hầu, chi bằng Tấn hầu thôi đi là hơn. Triệu Thôi nói: - Chúa công tôi thực lòng nhớ mến Thiên tử, hiện đã truyền hịch đi các nước chư hầu, ước định họp nhau cả ở đất Ôn Ấp; nếu nay thôi đi chẳng thì hóa ra chuyện đùa bỡn hay sao? Vương tử Hổ nói: - Vậy thì nên làm thế nào? Triệu Thôi nói: - Tôi nghĩ có một kế nhưng không dám nói ra. Vương tử Hổ nói: - Ngài có kế gì hay, tôi xin theo ý. Triệu Thôi nói: - Đời xưa Thiên tử có lễ đi tuần thú, để xem tục dân, huống chi Ôn Ấp là một nơi kinh kỳ, nay Thiên tử mượn tiếng đi tuần thú ngự ra đất Hà Dương (tức là Ôn Ấp), rồi Chúa công tôi đem các vua chư hầu đến làm lễ triều kiến, phỏng có nên chăng? Vương tử Hổ nói: - Ngài bàn kế ấy thật là tiện cả đôi đường, để tôi xin tâu lại với Thiên tử. Vương tử Hổ vào triều, đem lời nói Triệu Thôi tâu lại với Chu Tương Vương. Chu Tương Vương mừng lắm, hẹn đến ngày mồng một tháng mười thì ngự ra Hà Dương. Triệu Thôi về nói với Tấn Văn công. Tấn Văn công bá cáo các chư hầu biết. Đến hôm ấy, Tề Chiêu Công (Phan), Tống Thành công (Vương Thần), Lỗ Hi công (Thân), Sái Trang công (Giáp Ngọ), Tần Mục công (Nhâm Hiếu) và Trịnh Văn công (Tiệp) đều lục tục đến cả. Tần Mục công nói với Tấn Văn công rằng: - Ngày trước quí quốc hội chư hầu ở đất Tiễn Thổ, nước tôi ngại về đường xá xa xôi, vậy nên không đến dự hội được, ngày nay nước tôi xin theo hàng với các nước chư hầu. Tấn Văn công nhận lời. Bấy giờ, Tần Mục công (Khoản) mới mất, con là Sóc mới lên nối ngôi, tức là Tần Cung công. Tần Cung công sợ uy nước Tấn, cũng mặc đồ tang phục mà đến dự hội. Các nước nhỏ như nước Châu và nước Cử cũng đến dự hội cả. Vệ Thành công tự biết mình có tội, đã toan không đi, Ninh Du can rằng: - Nếu ta không đi thì lại càng thêm tội, tất nhiên nước Tấn đem quân đến đánh. Vệ Thành công bất đắc dĩ phải đi. Ninh Du, Hàm Trang Tử, Sĩ Vinh, ba người cùng đi theo Vệ Thành công. Khi Vệ Thành công đi đến đất Ôn Ấp, Tấn Văn công không cho vào yết kiến, lại phái một toán quân bắt mà giam lại. Các nước chư hầu họp tại Ôn Ấp, cả thảy mười nước là: 1- Tấn 2- Tề 3- Tống 4- Lỗ 5- Sái 6- Tần 7- Trịnh 8- Trần 9- Châu 10- Cử Chỉ có nước Hứa là một mực thủ hiểm, không chịu theo lệnh Tấn Văn công. Đúng ngày mồng 1 tháng 10 thì Chu Tương Vương ngự đến. Tấn Văn công đem các vua chư hầu đi đón, rồi làm lễ triều kiến, mũ áo cân đai trông rất nghiêm chỉnh. Khi triều kiến xong, Tấn Văn công đem sự tình Thúc Vũ nước Vệ bị oan tâu với Chu Tương Vương và xin sai Vương tử Hổ cùng xử quyết cái án ấy. Chu Tương Vương thuận cho, Tấn Văn công mời Vương tử Hổ về nhà công quán, rồi sai người gọi Vệ Thành công. Vệ Thành công mặc áo tù y đến. Quan Đại phu nước Vệ là Nguyên Huyến cũng đến. Vương tử Hổ nói với Tấn Văn công rằng: - Chẳng lẽ hai vua tôi lại đối tụng với nhau thì không tiện, xin cho người khác vào thay. Nói xong, truyền cho Vệ Thành công lui xuống nhà dưới. Ninh Du theo liền bên cạnh Vệ Thành công, không dời ra một bước nào cả, Hàm Trang Tử thay Vệ Thành công vào đối tụng với Nguyên Huyến. Sĩ Vinh được quyền làm trị ngục quan để đối chứng việc ấy. Nguyên Huyến miệng nói trơn như nước chảy, kể hết đầu đuôi từ khi Vệ Thành công trốn ra ở đất Tương Ngưu, dặn lại Thúc Vũ giữ nước như thế nào, về sau vì thế nào mà giết chết Nguyên Dốc và lại giết Thúc Vũ. Hàm Trang Tử nói: - Đó là tại Chuyên Khuyển đem lời gièm pha, để khiến cho Chúa công nghe lầm, không can dự gì đến Chúa công. Nguyên Huyến nói: - Chuyên Khuyển lúc trước có nói với tôi xin lập Thúc Vũ, nếu tôi nghe lời thì khi nào Chúa công lại được trở về, chỉ vì tôi nghĩ đến cái lòng yêu anh của Thúc Vũ mà tôi cự tuyệt Chuyên Khuyển, ai ngờ Chuyên Khuyển lập kế báo thù, nhưng nếu Chúa công không có lòng nghi kỵ Thúc Vũ thì Chuyên Khuyển gièm pha thế nào nổi. Tôi sai con tôi là Nguyên Dốc theo hầu Chúa công, để tỏ bày tâm tích, ấy chính là cái lòng tốt của tôi, thế mà tự nhiên vô cớ, không có tội gì, bắt đem giết đi, suy cái việc giết con tôi là Nguyên Dốc thì đủ biết Chúa công có cái lòng định giết Thúc Vũ. Sĩ Vinh bẻ lại rằng: - Nhà ngươi vì sự con mình bị giết mà đem lòng thù oán chứ không phải vì Thúc Vũ. Nguyên Huyến nói: - Tôi vẫn thường nói: Giết con là oán riêng, giữ nước là việc lớn, có đâu tôi dám vì oán riêng mà bỏ việc lớn. Ngày trước Thúc Vũ dâng thư xin với vua Tấn phục quốc cho anh thì bức thư ấy chính tay tôi làm, nếu tôi đem lòng thù oán, khi nào tôi chịu như thế. Việc giết Nguyên Dốc, trước tôi cũng cho là một sự nghe lầm, tất có ngày phải hối mà nghĩ lại, ngờ đâu di lụy đến Thúc Vũ ngày nay! Sĩ Vinh nói: - Thúc Vũ không có ý cướp ngôi, Chúa công ta cũng đã xét tình rồi. Việc bị Chuyên Khuyển giết, không phải tự ý Chúa công. Nguyên Huyến nói: - Chúa công đã biết thúc Vũ không có ý cướp ngôi, những lời Chuyên Khuyển nói, toàn là bịa đặt cả, vậy thì sao không trị tội Chuyên Khuyển, mà lại nghe lời hắn, trước hẹn đem quân về nước, khi về nước lại cho hắn làm tiền khu, có phải là rõ ràng mượn tay Chuyên Khuyển để giết Thúc Vũ, sao lại bảo rằng không biết. Hàm Trang Tử cúi đầu không nói được một câu nào. Sĩ Vinh lại bẻ Nguyên Huyến rằng: - Thúc Vũ dẫu bị oan khổ, nhưng Thúc Vũ là bề tôi, Chúa công là vua; xưa nay bề tôi bị vua giết oan, biết bao nhiêu mà kể cho xiết! Vả Chúa công đã giết Chuyên Khuyển và làm lễ hậu táng cho Thúc Vũ, thế là thưởng phạt phân minh lắm rồi, còn tội gì nữa! Nguyên Huyến nói: - Ngày xưa, vua Kiệt giết oan Long Bàng, vua Thang cử binh đánh vua Kiệt; vua Trụ giết oan Tỉ Can, vua Vũ Vương cử binh đánh vua Trụ. Vua Thang và vua Vũ Vương đều là bề tôi của vua Kiệt vua Trụ cả, thế mà trông thấy người trung lương bị oan khổ, cũng phải cử binh để giết kẻ hung tàn, huống chi Thúc Vũ cùng với Chúa công là tình anh em, mà lại có công giữ nước, không phải như Long Bàng và Tỉ Can mà thôi, Chúa công ngày nay chẳng qua còn là chư hầu, chưa phải là Thiên tử như vua Kiệt và vua Trụ, sao lại cho là vô tội được. Sĩ Vinh cùng từ, không cãi sao được nữa, lại nói lảng rằng: - Chúa công dẫu trái nữa, nhưng nhà ngươi là bề tôi, nếu đã một lòng tận trung với Chúa công thì sao khi Chúa công về nước, nhà ngươi không ra triều kiến mà lại bỏ trốn, là nghĩa thế nào? Nguyên Huyến nói: - Tôi cùng Thúc Vũ giữ nước, thật là vâng mệnh Chúa công, thế mà Chúa công còn không bao dung Thúc Vũ, khi nào lại có lòng bao dung đến tôi. Tôi trốn đi, không phải là sợ chết tham sống, chỉ muốn vì Thúc Vũ mà bày tỏ cái oan khổ này! Tấn Văn công nghe nói, ngoảnh lại bảo Vương tử Hổ rằng: - Xem Sĩ Vinh và Nguyên Huyến nói bấy nhiêu lời thì bên nào cũng có lẽ phải, nhưng Nguyên Huyến lý thẳng hơn. Vua nước Vệ là bề tôi Thiên tử, tôi không dám trị tội, nay hãy xin trị tội những kẻ về đảng với vua nước Vệ. Nói xong, liền sai đem chém tất cả những kẻ về đảng với Vệ Thành công. Vương tử Hổ nói: - Tôi nghe nói Ninh Du là một quan đại phu hiền ở nước Vệ, mà trong việc này Ninh Du cũng khuyên bảo, nhưng vua nước Vệ không nghe. Vả việc này không can dự gì đến Ninh Du, chớ nên bắt tội. Sĩ Vinh được quyền trị ngục quan mà xét đoán không minh thì nên trị tội trước nhất. Hàm Trang Tử biết là trái lẽ, không cãi câu nào, cũng nên giảm bớt tội cho. Tấn Văn công theo lời, truyền chém đầu Sĩ Vinh, chặt chân Hàm Trang Tử, còn Ninh Du thì tha không hỏi đến. Tấn Văn công cùng Vương Tử Hổ đem những lời nói của hai bên nguyên, bị vào tâu với Chu Tương Vương và xin trị tội Vệ Thành công. Chu Tương Vương nói: - Thúc phụ xử đoán thật là minh lắm! Nhưng Trẫm e rằng vì bề tôi mà giết vua thì sao cho phải đạo, chứ Trẫm có tư tình gì với vua Vệ đâu! Tấn Văn công sợ hãi, sụp lạy mà xin lỗi rằng: - Kẻ hạ thần không nghĩ đến điều ấy, Thiên Tử đã dạy như vậy thì xin giải vua Vệ về kinh sư để tùy lượng trên xử đoán. Tấn Văn công truyền cho quân sĩ canh giữ Vệ Thành công để giải về kinh sư; lại một mặt cho Nguyên Huyến trở về nước Vệ lập vua khác. Nguyên Huyến về đến nước Vệ, cùng với các quan triều thần thương nghị, nói dối là Vệ Thành công đã bị tội chết rồi, nay phụng mệnh Thiên Tử về lập vua khác. Các quan triều thần cùng cử em ruột Thúc Vũ là Công tử Thích, tên tự là Tử Hà. Công tử Thích vốn là người nhân hậu. Nguyên Huyến nói: - Lập Công tử Thích là phải lắm, anh chết thì để cho em. Nói xong, liền tôn Công tử Thích lên nối ngôi. Nguyên Huyến làm tể tướng. Từ bấy giờ nước Vệ mới hơi được yên ổn.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 43 Ninh Du lập kế cứu vua Vệ Chúc Vũ thương thuyết lui quân Tần

Khi các vua chư hầu làm lễ triều kiến xong, Chu Tương Vương trở về nhà Chu. Tấn Văn công và các vua chư hầu kéo nhau đi tiễn. Tiên Miệt giải Vệ Thành công về kinh sư. Bấy giờ Vệ Thành công hơi có bệnh, Tấn Văn công sai quan thầy thuốc là Y Diễn đi theo, giả cách chữa bệnh cho Vệ Thành công, kỳ thực thì sai đánh thuốc độc cho chết, mà giao cho Y Diễn phải làm đắc lực, nếu không thì trị tội. Tấn Văn công lại dặn riêng Tiên Miệt phải cùng với Y Diễn lưu ý về việc ấy. Chu Tương Vương về rồi, Tấn Văn công bảo các vua chư hầu rằng: - Ta phụng mệnh Thiên Tử, được chuyên giữ việc đánh dẹp các nước. Nay người nước Hứa một lòng theo Sở, không thần phục nhà Chu; Thiên Tử nhà Chu tới đây, các vua đều phải đến triều kiến cả, thế mà nước Hứa ở gần đây, có ý khinh thường, dám coi như không, vậy tôi xin cùng với các vua chư hầu đến hỏi tội nước Hứa. Các vua chư hầu đều xin vâng mệnh. Tấn Văn công cùng với tám nước chư hầu là Tề, Tống, Lỗ, Sái, Trần, Tần, Cử và Châu đem quân tiến sang nước Hứa. Chỉ có Trịnh Văn công nguyên trước thân thuộc nước Sở, vì sợ uy nước Tấn, phải đến dự hội, nhưng thấy Tấn Văn công đối đãi với vua Tào và vua Vệ, có ý không bằng lòng, nghĩ thầm trong lòng rằng: - Khi vua Tấn còn đi trốn, nước ta đã thất lễ với hắn, chắc hắn cũng không quên được cái thù ấy, xem như hắn đối đãi với vua Tào và vua Vệ thì biết, chi bằng ta cứ tư thông với Sở, phòng khi hoạn nạn, ta có chỗ mà lui thân. Quan Thượng khanh nước Trịnh là Thúc Thiêm thấy Trịnh Văn công trù trừ, có ý muốn làm phản nước Tấn, mới can Trịnh Văn công rằng: - May mà vua Tấn đã cho ta giảng hòa, Chúa công chớ nên làm phản, nếu làm phản thì tất có tai vạ. Trịnh Văn công không nghe, nói dối là trong nước có bệnh dịch, phải về làm lễ cầu cúng, rồi cáo từ Tấn Văn công xin về; lại sai người sang giao hiếu với Sở, và nói với Sở Thành Vương rằng: - Vua Tấn ghét nước Hứa thần phục quí quốc mà đem quân các nước chư hầu đền đánh, nước tôi sợ uy quí quốc, không dám dự hội, xin nói để quí quốc biết. Người nước Hứa nghe tin các nước chư hầu đến đánh, cũng sai người cáo cấp với Sở Thành Vương. Sở Thành Vương nói: - Quân ta mới thua, không nên sinh sự với Tấn vội, đợi khi nào nước Tấn chán việc tranh chiến, bấy giờ ta sẽ cùng Tấn giảng hòa. Sở Thành Vương không đem quân đi cứu Hứa. Các nước chư hầu đem quân vây đất Dĩnh Dương (kinh thành nước Hứa). Bấy giờ Tào Cung công vẫn bị giam ở trong thành Ngũ Lộc, chờ mãi không thấy Tấn Văn công có lệnh truyền tha, muốn tìm một người có tài ngôn luận sang kêu với Tấn Văn công. Có một viên quan nhỏ ở nước Tào là Hầu Nhu xin đi và đem theo nhiều đồ lễ vật. Tào Cung công cho đi. Hầu Nhu nghe tin các nước chư hầu họp ở nước Hứa, mới đi tắt đến đất Dĩnh Dương, xin vào yết kiến Tấn Văn công. Gặp bấy giờ Tấn Văn công nhân khi hành quân mệt nhọc, bị cảm hàn. Đêm hôm ấy nằm mộng thấy một con ma đội mũ mặc áo, kêu với Tấn Văn công xin cho bữa ăn. Tấn Văn công quát to lên một tiếng thì con ma ấy lui ra, từ đó bệnh thế mỗi ngày một nặng, cứ nằm liệt một chỗ không dậy được, định triệu quan Tái bốc là Quách Yển vào để bói một quẻ. Hầu Nhu biết vậy, mới đem một xe vàng lụa đưa cho Quách Yển và kể hết sự tình, nhờ Quách Yển mượn việc quỉ thần nói hộ cho nước Tào, Quách Yển nhận lời, khi vào yết kiến Tấn Văn công, bói được quẻ "thiên trạch" Tấn Văn công hỏi: - Quẻ này tốt xấu thế nào? Quách Yển nói: - Cứ như quẻ này thì tất có những vị quỉ thần không ai cúng tế, mà đến kêu với Chúa công xin tha tội cho. Tấn Văn công nói: - Việc cúng tế quỉ thần, ta không ngăn cấm bao giờ. Vả quỉ thần còn có tội gì mà phải xin tha. Quách Yển nói: - Cứ như tôi thiển nghĩ thì hoặc giả là nước Tào chăng! Chúa công đã ngỏ lời trả lại cho nước Tào và nước Vệ, nay nước Vệ đã được phục quốc rồi, mà nước Tào chưa được phục quốc, vậy nên tiên tổ nước Tào báo mộng mà kêu với Chúa công chăng. Tấn Văn công nghe nói, bỗng thấy trong mình khoan khoái, bệnh thế nhẹ đi đến một nửa, liền sai người triệu Tào Cung công ở đất Ngũ Lộc, cho về nước Tào, mà bao nhiêu những ruộng đất của nước Tào đều trả lại cả. Tào Cung công mừng lắm, tức khắc đến thẳng đất Dĩnh Dương, tạ ơn Tấn Văn công, rồi cùng với các chư hầu vây nước Hứa, Tấn Văn công dần dần khỏi bệnh. Hứa Hi công thấy nước Sở không đem quân đến cứu, mới mở cửa ra thành xin hàng. Tấn Văn công cùng các vua chư hầu đều rút quân về nước. Trong khi từ biệt Tần Mục công ước với Tấn Văn công rằng: - Ngày sau có việc chiến tranh gì thì Tấn Tần hai nước tất phải giúp đỡ lẫn nhau. Tấn Văn công về đến nửa đường, nghe tin Trịnh Văn công sai sứ tư thông với Sở, tức thì nổi giận, toan đem quân đi đánh. Triệu Thôi can rằng: - Chúa công mệt nhọc mới khỏi. Vả quân các nước chư hầu đều tan về cả, chi bằng ta hãy nghỉ yên trong một năm, rồi sau sẽ liệu kế đánh Trịnh. Tấn Văn công truyền rút quân về. Chu Tương Vương về đến kinh sư, truyền cho quan Thái Tể nghị tội Vệ Thành công, rồi giam vào một nơi tù thất. Chu Tương Vương muốn bảo toàn cho Vệ Thành công, chỉ vì sợ trái ý Tấn Văn công, mới phải giam lại một chỗ, nhưng kỳ thực thì vẫn có lòng khoan đãi. Ninh Du lúc nào cũng theo liền Vệ Thành công, chẳng rời ra một bước. Phàm các đồ ăn uống, Ninh Du đều nếm trước tất cả, rồi mới tiến dâng Vệ Thành công. Tiên Miệt đã nhiều lần giục Y diễn đánh thuốc độc cho Vệ Thành công, ngặt vì Ninh Du phòng bị rất cẩn mật, vậy nên Y Diễn không làm nổi, bất đắc dĩ phải đem thực tình nói với Ninh Du rằng: - Vua Tấn là người nghiêm khắc lắm, nếu ai trái ý thì tất bị giết, nay tôi phụng mệnh vua Tấn sai đánh thuốc độc cho vua Vệ, mà làm không được việc thì tính mệnh tôi cũng khó lòng được bảo toàn, vậy thì nhà ngươi nên ngơ đi, để cho tôi khỏi chết. Ninh Du ghé tai bảo thầm rằng: - Nhà ngươi đã nói thực với ta thì ta cũng xin bàn mưu hộ nhà ngươi. Vua Tấn nay đã già rồi, hay tin việc ma quỉ, mới rồi vua Tào được tha, cũng chỉ vì một câu nói của người thầy bói; nay nhà ngươi làm nhẹ thuốc độc chứ, để dâng Chúa công ta mà giả thác về việc quỉ thần thì vua Tấn tất không trị tội. Chúa công ta thế nào cũng xin hậu tạ. Y diễn hiểu ý lui ra. Ninh Du giả cách phụng mệnh Vệ Thành công đến xin rượu thuốc của Y diễn về để chữa bệnh, rồi nhân tiện đưa cho Y diễn một hòm bảo ngọc. Y Diễn bảo Tiên Miệt rằng: - Vua Vệ đã đến ngày tận số! Nói xong, liền hòa thuốc độc vào bình rượu đem dâng Vệ Thành công, nhưng làm thuốc độc rất nhẹ, lại pha thêm thuốc khác để cho nó lẫn sắc đi, ai trông cũng không biết được. Ninh Du xin nếm trước. Y diễn giả cách không cho, rồi cố ép Vệ Thành công mà đổ vào miệng, bắt phải uống ngay. Vệ Thành công mới uống được mấy hớp thì Y Diễn trợn mắt, ngả lăn xuống giữa sàn, miệng hộc máu tươi ra, bất tỉnh nhân sự. Bình rượu rơi vỡ, thuốc độc lênh láng cả dưới đất. Ninh Du giả cách giật mình kinh ngạc, sai người vực Y Diễn dậy, hồi lâu mới dần dần tỉnh lại. Ninh Du hỏi: - Tại sao vậy? Y Diễn nói: - Lúc tôi đang đổ rượu thuốc, bỗng thấy một hình nhân mình cao hơn một trượng, mặt mũi khôi ngô, ở trên trời rơi xuống, bước vào trong nhà, tự xưng là Đường Thúc (tổ tiên nước Tấn) đến cứu vua Vệ rồi cầm cái dùi đồng đập vỡ bình rượu thuốc, làm cho tôi chẳng còn hồn vía nào nữa! Vệ Thành công cũng tự nói là mắt trông thấy như lời nói của Y Diễn. Ninh Du giả cách nổi giận nói: - Thế ra mày dùng thuốc độc để hại Chúa công ta, nếu không được thần nhân đến giải cứu thì còn gì nữa! Ta cùng với mày quyết không cùng sống. Nói xong liền xông lại đánh Y Diễn. Các người xung quanh đều khuyên can Ninh Du. Tiên Miệt nghe tin cũng vội vàng chạy đến, bảo Ninh Du rằng: - Vua Vệ đã được thần nhân giúp, tất nhiên hưởng lộc còn lâu dài, để tôi sẽ nói với Chúa công tôi. Vệ Thành công dẫu có phải uống thuốc độc, nhưng thuốc làm rất nhẹ, bởi vậy ốm qua loa rồi lại khỏi. Tiên Miệt cùng Y Diễn về nước Tấn, đem việc ấy nói lại Tấn Văn công. Tấn Văn công tin là chuyện thực, liền tha Y Diễn mà không trị tội. Lỗ Hi công nguyên là thân thuộc với Vệ, nghe tin Y Diễn dâng thuốc độc mà Vệ Thành công không chết, Tấn Văn công lại không trị tội Y Diễn, mới hỏi Tang Thôn Thần rằng: - Vua Vệ có thể về nước được hay không? Tang Thôn Thần nói: - Về được. Lỗ Hi công nói: - Tại sao mà biết? Tang Tôn Thần nói: - Vua Tấn trị tội vua Vệ, không dùng hình pháp mà lại sai Y Diễn đánh thuốc độc; Y Diễn làm không xong việc mà vua Tấn không dám giết Y Diễn, thế là sợ cái tiếng giết vua Vệ. Vua Vệ đã không chết thì có lẽ nào mà ở già đời ở nhà Chu hay sao! Nay chúa công làm ơn xin vua Tấn tha cho vua Vệ thì khi vua Vệ được về nước rồi, tất càng thêm thân tình với nước Lỗ ta. Các nước chư hầu, ai không phải phục cái cao nghĩa ấy. Lỗ Hi công bằng lòng, liền sai Tang Tôn Thần đem 10 đôi bạch bích vào dâng Chu Tương Vương để xin hộ cho vua Vệ, Chu Tương Vương nói: - Việc ấy là tự ý vua Tấn, nếu vua Tấn bằng lòng thì Trẫm có ghét gì vua Vệ. Tang Tôn Thần nói: - Chúa công tôi cũng sắp sai tôi sang nói với vua Tấn, nhưng nếu không bẩm mệnh Thiên tử trước thì tôi không dám đi. Chu Tương Vương nhận ngọc bạch bích, tỏ là có ý thuận cho. Tang Tôn Thần lại sang nước Tấn, vào yết kiến Tấn Văn công, cũng dâng 10 đôi bạch bích và nói với Tấn Văn công rằng: - Chúa công tôi với vua Vệ là tình thân thuộc, mà vua Vệ có tội thì Chúa công tôi không được yên lòng. Nay nhà vua đã tha tội cho vua Tào, vậy Chúa công tôi cũng xin đem lễ mọn này mà chuộc tội cho vua Vệ. Tấn Văn công nói: - Vua Vệ hiện nay ở kinh sư nhà Chu, việc này phải bẩm mệnh Thiên tử, chứ ta không dám tự chuyên. Tang Tôn Thần nói: - Nhà vua thay quyền Thiên tử để ra lệnh cho các nước chư hầu, nếu nhà vua bằng lòng tha tội cho vua Vệ thì tức là mệnh lệnh của Thiên tử đó. Tiên Miệt nói với Tấn Văn công rằng: - Chúa công vì nước Lỗ mà tha cho vua Vệ thì hai nước Lỗ, Vệ cùng thần phục Chúa công, còn gì lợi hơn nữa. Tấn Văn công thuận cho, liền sai Tiên Miệt cùng với Tang Tôn Thần sang tâu với Chu Tương Vương, rồi tha cho Vệ Thành công về nước. Bấy giờ Nguyên Huyến đã lập Công tử Thích lên làm vua nước Vệ, sửa sang thành quách, canh giữ rất nghiêm ngặt. Vệ Thành công sợ khi mình về nước, tất nhiên Nguyên Huyến không cho vào, mới bàn mưu với Ninh Du. Ninh Du nói: - Tôi nghe Chu Chuyên, Dã Cận khi trước có công phù lập Công tử Thích, mà xin làm quan khanh không được, bởi vậy trong lòng oán giận, nay ta nên kết với một người, tên gọi Khổng Đạt; người ấy kiến thức rộng lắm, cũng có quen Chu Chuyên và Dã Cận, bây giờ Chúa công bảo Khổng Đạt hẹn cho Chu Chuyên và Dã Cận làm chức quan khanh, để sai hai người ấy giết Nguyên Huyến, Nguyên Huyến chết rồi thì chẳng sợ ai nữa! Vệ Thành công nói: - Nhà ngươi vì ta mà mưu việc ấy, nếu sự đã thành rồi, ta có tiếc gì một chức quan khanh. Ninh Du liền sai người tâm phúc giả cách nói phao là Vệ Thành công dẫu được tha tội, không mặt mũi nào mà về nước, sắp sửa tránh sang ở nước Sở; rồi đem tờ thủ thư của Vệ Thành công giao cho Khổng Đạt, bảo hắn mật kết với Chu Chuyên và Dã Cận. Chu Chuyên và Dã Cận bàn nhau rằng: - Nguyên Huyến đêm nào cũng đi tuần ở trên mặt thành, nếu ta phục binh mà giết chết đi, rồi kéo vào trong cung giết nốt Công tử Thích, bấy giờ đi đón Chúa công, như thế chắc là hai ta có công to lắm! Nói xong, hai người đều cho quân phục sẵn để đến đêm thì khởi sự. Đêm hôm ấy Nguyên Huyến đi tuần tới cửa Đông môn, trông thấy Chu Chuyên và Dã Cận đi đến, Nguyên Huyến giật mình kinh sợ mà hỏi rằng: - Hai ngài đến đây có việc gì? Chu Chuyên nói: - Tôi nghe người đồn rằng vua cũ ta đã vào nước Vệ, sắp sửa tới đây, quan Đại phu lại không biết hay sao? Nguyên Huyến ngạc nhiên mà nói rằng: - Tin đồn ấy từ đâu mà lại? Dã Cận nói: - Tôi nghe Ninh Du có cho người vào thành, ước với các quan triều thần đi đón, Đại phu tính thế nào? Nguyên Huyến nói: - Đó là lời nói càn, ta chớ nên tin. Vả ngôi vua nhất định rồi, không có lẽ nào lại đón vua cũ. Chu Chuyên nói: - Quan Đại phu tay cầm quyền nước, nên phải trông xa muôn dặm, việc lớn như thế mà không biết thì người ta còn dùng ngài làm gì nữa! Dã Cận liền nắm hai tay Nguyên Huyến. Nguyên Huyến đang vùng vằng không chịu mà chống cự lại, Chu Chuyên cầm dao, quát to một tiếng, chém vỡ đầu Nguyên Huyến. Phục binh bốn mặt đổ ra. Những quân sĩ đi theo Nguyên Huyến đều bỏ chạy tán loạn cả. Chu Chuyên và Dã Cận đem quân đi diễu ở ngoài đường, reo ầm lên rằng: - Vua Vệ đã đem quân Tề và quân Sở về, đóng tại ngoại thành rồi! Nhân dân trong nước, đâu ở yên đấy, cấm không ai được náo động. Người nước Vệ bấy giờ nhà nào cũng đóng cửa thật chặt, không ai dám ra; các quan triều thần cũng nửa tin nửa ngờ, chưa hiểu sự thể ra làm sao cả, đều khoanh tay ngồi yên, để nghe ngóng tin tức. Chu Chuyên và Dã Cận kéo vào trong cung. Công tử Thích đang cùng với em là Công tử Nghi uống rượu. Công tử Nghi nghe nói mặt ngoài có chính biến, liền rút gươm cầm tay đi ra cửa cung, bị Chu Chuyên giết chết. Chu Chuyên lại vào tìm Công tử Thích, nhưng không thấy đâu cả, bấy giờ trong cung náo động cả lên; đến sáng ngày mai, mới biết Công tử Thích đã đâm đầu xuống giếng mà chết rồi. Chu Chuyên và Dã Cận đem thủ thư của Vệ Thành công tuyên yết ở chốn triều đường, rồi họp các quan đi đón Vệ Thành công về nước. Vệ Thành công về nước, chọn ngày vào tế ở nhà Thái miếu, lại theo lời ước cũ phong cho Chu Chuyên và Dã Cận làm chức quan khanh, cho vào làm bồi tế. Đầu trống canh năm ngày hôm ấy, Chu Chuyên mũ áo lên xe vào tế. Vừa vào đến cửa miếu, tự nhiên hai mắt trợn ngược, rồi quát to lên rằng: - Chu Chuyên! Mày là đứa tiểu nhân, tham chức quan khanh mà hại ta! Cha con ta một lòng vì nước, nay phải ngậm oan ở dưới suối vàng, để cho mày được mũ áo đi bồi tế, phỏng có sướng hay không? Ta chỉ bắt mày đem đến nộp Thúc Vũ và Công tử Thích, xem mày nói ra làm sao. Ta đây chính là quan Đại phu Nguyên Huyến đó. Nói xong, đổ máu mồm máu miệng ra, rồi chết tươi ở trong xe. Dã Cận đến sau, trông thấy giật mình kinh sợ, vội vàng cởi mũ áo quan khanh ra, giả cách nói bị bệnh cảm hàn mà trở về. Vệ Thành công đến nhà Thái miếu, phải cho Ninh Du cùng Khổng Đạt vào bồi tế thay cho Chu Chuyên và Dã Cận. Khi Vệ Thành công về triều thì đã tiếp được thư của Dã Cận xin từ chức quan khanh. Vệ Thành công thấy Chu Chuyên chết lạ như vậy, nên cũng không ép Dã Cận nữa, liền cho từ chức. Chưa được một tháng thì Dã Cận cũng ốm mà chết. Vệ Thành công nghĩ Ninh Du có công bảo giá toan dùng làm chức thượng khanh. Ninh Du nhường cho Khổng Đạt làm thượng khanh, Ninh Du làm Á khanh. Khổng Đạt bàn mưu với Vệ Thành công, đem việc Công tử Thích chết đổ lỗi cho Chu Chuyên và Dã Cận rồi sai sứ đến tạ ơn Tấn Văn công. Tấn Văn công cũng bỏ đi, không hỏi đến việc ấy nữa. Bấy giờ nước Tấn nghỉ quân đã được hơn một năm, Tấn Văn công họp các quan triều thần lại mà hỏi rằng: - Người nước Trịnh ngày trước vô lễ với ta, ta chưa báo thù, nước Trịnh lại bỏ ta mà theo Sở, ta muốn họp các vua chư hầu đến hỏi tội nước Trịnh, các ngươi nghĩ thế nào? Tiên Trẩn nói: - Các nước chư hầu đã động binh luôn mãi, nay vì cớ nước Trịnh mà lại động binh thì không phải là cách giữ yên trung quốc. Huống chi một quân nước ta cũng đủ dùng rồi, cần gì phải mượn đến quân chư hầu. Tấn Văn công nói: - Khi trước vua Tần từ biệt ta có ước với ta rằng sau này hai nước có việc chiến tranh, tất phải giúp đỡ lẫn nhau. Tiên Trẩn nói: - Nước Trịnh là một nơi trọng yếu ở trung quốc, bởi vậy Tề Hoàn công ngày xưa muốn làm bá chủ, tất phải tranh lấy nước Trịnh; nay ta ước với nước Tần cùng đánh thì Tần tất tranh mất, chi bằng ta chỉ dùng quân nước nhà mà thôi. Tấn Văn công nói: - Đất nước Trịnh tiếp giáp với địa giới nước Tấn ta mà xa nước Tần thì nước Tần còn lợi về cái gì. Nói xong, liền sai người sang ước với nước Tần, hẹn đến thượng tuần tháng chín cùng cử binh đi đánh Trịnh. Khi Tấn Văn công cử binh đi đánh Trịnh, cho Công tử Lan đi theo, Công tử Lan nguyên là thứ đệ của Trịnh Văn công, năm trước trốn sang nước Tấn, làm quan đại phu, đến lúc Tấn Văn công lên ngôi, Công tử Lan hầu hạ tay chân, một lòng trung cẩn, bởi vậy Tấn Văn công có lòng yêu. Lần này cho Công tử Lan đi theo là muốn dùng Công tử Lan làm một người hướng đạo, Công tử Lan chối từ, nói: - Người quân tử dẫu ở nước ngoài cũng không dám quên nước cũ của cha mẹ mình. Nay Chúa công sang đánh Trịnh, tôi không dám dự biết vào việc ấy. Tấn Văn công khen rằng: - Nhà ngươi thật là một người không bội bản! Nói xong liền lưu Công tử Lan ở Đông Đô, từ bấy giờ có ý muốn phù lập làm vua nước Trịnh. Quân Tấn đã vào địa giới nước Trịnh; Tần Mục công cũng đem quân kéo đến, thẳng tiến đến sông Khúc Vị. Quân Tấn đóng ở Hàm Lăng, về phía tây thành nước Trịnh. Quân Tần đóng ở đất Dĩ Nam, về phía Đông thành nước Trịnh. Quân Tấn và quân Tần ngày đêm vây kín bốn mặt. Trịnh Văn công sợ hãi, không biết làm ra thế nào, quan Đại phu là Thúc Thiêm nói với Trịnh Văn công rằng: - Tấn Tần hợp sức nhau thì thế mạnh lắm, ta không thể chống nổi nhưng nếu được một người biện sĩ ra nói với vua Tần, khiến cho nước Tần lui quân. Tần lui quân thì nước Tấn thế cô, ta chẳng sợ gì nữa! Trịnh Văn công nói: - Ai có thể ra nói với vua Tần được? Thúc Thiêm nói: - Dật Chi Hồ có thể dùng được. Trịnh Văn công liền sai Dật Chi Hồ. Dật Chi Hồ nói: - Việc ấy tôi không thể đương nổi, tôi xin cử một người để thay tôi. Người ấy ứng đối, miệng nói trơn như nước chảy, nhưng nay đã già rồi, nếu Chúa công phong chức cho mà khiến ra nói với vua Tần, chắc là vua Tần phải nghe. Trịnh Văn công hỏi: - Người nào vậy? Dật Chi Hồ nói: - Người ấy ở đất Khảo Thành, tên gọi Chúc Vũ, năm nay đã ngoài 70 tuổi, xin Chúa công trọng đãi mà sai đi thì tất được việc. Trịnh Văn công liền triệu Chúc Vũ vào triều. Khi Chúc Vũ vào, đầu râu tóc bạc, lưng đã hơi còng, chân bước lẩy bẩy. Các quan trông thấy ai cũng phải cười thầm. Chúc Vũ sụp lạy Trịnh Văn công mà nói rằng: - Chẳng hay Chúa công triệu lão thần có việc gì? Trịnh Văn công nói: - Dật Chi Hồ nói nhà ngươi có tài ngôn ngữ hơn người, ta muốn phiền nhà ngươi ra nói với vua Tần; nếu vua Tần chịu lui quân thì ta sẽ trọng dụng nhà ngươi. Chúc Vũ sụp lạy hai lạy mà chối từ rằng: - Tôi sức hèn tài mọn, đang lúc trai trẻ còn chẳng làm nên việc gì, nay đã già yếu, gân sức mỏi mệt, động cất tiếng nói lại ho hen, vậy tôi nói với vua Tần sao được. Trịnh Văn công nói: - Để cho nhà ngươi già mà không đắc dụng, ấy là cái lỗi của ta đó! Nay ta phong cho nhà ngươi làm chức á khanh, nhà ngươi cố đi giúp ta. Dật Chi Hồ đứng bên cạnh, lại nói hộ rằng: - Đại trượng phu già mà không đắc dụng, chẳng qua cũng là số mệnh. Nay Chúa công đã biết đến tiên sinh mà dùng, tiên sinh chớ nên từ chối. Chúc Vũ mới nhận lời. Bấy giờ quân Tần và quân Tấn vây thành gấp lắm; đêm hôm ấy, Chúc Vũ sai kẻ tráng sĩ dòng dây qua thành, xuống cửa Đông môn, rồi đi thẳng đến dinh quân Tần. Quân Tần không cho vào. Chúc Vũ đứng ngoài cửa dinh khóc ầm lên. Quân Tần bắt đem vào nộp Tần Mục công. Tần Mục công hỏi: - Nhà ngươi là người ở đâu? Chúc Vũ nói: - Lão thần là quan Đại phu nước Trịnh, tên gọi Chúc Vũ. Tần Mục công nói: - Vì việc gì mà nhà ngươi khóc? Chúc Vũ nói: - Tôi khóc vì nước Trịnh sắp mất. Tần Mục công nói: - Nước Trịnh sắp mất, sao nhà ngươi lại đến khóc ở dinh ta? Chúc Vũ nói: - Lão thần khóc nước Trịnh và khóc cả nước Tần nhân thể; nước Trịnh mất chẳng đáng tiếc, chỉ tiếc thay cho nước Tần! Tần Mục công nổi giận mà mắng rằng: - Nước ta có điều gì đáng tiếc? Nhà ngươi nói không hợp lý thì ta chém đầu đi! Chúc Vũ nét mặt không sợ hãi gì cả, ung dung mà đáp rằng: - Tấn Tần hợp sức mà đánh Trịnh thì Trịnh tất phải mất, không đợi nói nữa! Trịnh mất mà có ích được cho Tần, chẳng kể làm chi, nhưng chẳng những không ích mà lại có hại thì sao Chúa công lại chịu nhọc quân tốn của để giúp việc cho người khác như vậy! Tần Mục công nói: - Chẳng những không ích mà lại còn có hại là nghĩa thế nào? Chúc Vũ nói: - Nước Trịnh ở phía đông nước Tấn, nước Tần ở phía tây nước Tấn, đông tây cách nhau kể hàng nghìn dặm. Nước Tần có thể qua nước Tấn mà chiếm được nước Trịnh hay không? Nước Trịnh mất thì địa giới nước Trịnh thuộc về nước Tấn, chứ nước Tần có ích gì! Tần Tấn hai nước cùng giáp giới, thế lực vẫn ngang nhau, nếu nước Tấn mỗi ngày một cường thịnh thì nước Tần tất mỗi ngày một suy yếu. Nay Chúa công mở đất hộ nước Tấn, làm cho nước mình suy yếu đi, tôi thiết tưởng bậc trí giả có đâu lại như thế! Vả Tấn Huệ công ngày xưa hẹn biếu Chúa công năm thành, khi đã về nước rồi thì lại bội ước, điều đó Chúa công cũng đã biết; Chúa công thì ơn với Tấn đã mấy đời, mà có thấy Tấn báo ơn chút nào không? Vua Tấn từ khi về nước, luyện binh tuyển tướng, chỉ chăm về việc đi tiếm đất nước ngoài, ngày nay mở đất ở phía đông, đã làm mất nước Trịnh rồi, ngày khác muốn mở đất ở phía Tây thì cái tai vạ ấy tất phải đến nước Tần. Chúa công lại không rõ việc nước Ngu và nước Quắc ngày xưa hay sao? Nước Tấn mượn đường nước Ngu để diệt nước Quắc; khi đã diệt được Quắc rồi thì lại quay về mà đánh nước Ngu. Vua Ngu dại dột mà giúp Tấn, đến nỗi mất nước, điều ấy thật nên lấy làm răn! Chúa công thi ơn với Tấn, đã chẳng ích gì, mà nước Tấn lập kế dùng Chúa công thì cái kế ấy lại khó lường được! Chúa công là trí giả mà mắc mưu Tấn như thế, vậy nên tôi đau lòng thay cho nước Tần! Tần Mục công ngẫm nghĩ hồi lâu, có ý cảm động, gật đầu mà nói rằng: - Quan Đại phu nói phải lắm! Bách Lý Hề nói với Tần Mục công rằng: - Chúc Vũ là một người biện sĩ, muốn cho ta bất hòa với Tấn, Chúa công chớ nên nghe. Chúc Vũ nói: - Nếu Chúa công giải vây cho nước tôi thì nước tôi xin kết nạp điều ước, bỏ Sở để hàng Tần; khi nào nước Tần có việc mà đi qua nước tôi thì nước tôi cung cấp. Tần Mục công có ý bằng lòng, liền cùng với Chúc Vũ lập điều ước, lại sai Kỷ Tử, Phùng Tôn và Dương Tôn ba tướng đóng quân lại để giữ hộ cho nước Trịnh. Có quân thám tử báo tin cho Tấn Văn công. Tấn Văn công nổi giận. Hồ Yển ở bên cạnh, nói với Tấn Văn công, xin đem quân đuổi theo để đánh quân Tần.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 44 Thúc Thiêm lâm hình cãi vua Tấn Huyền Cao giả bệnh khao quân Tần

Tần Mục công giảng hòa riêng với nước Trịnh, kết lập điều ước, rồi rút quân về. Tấn Văn công nổi giận. Hồ Yển nói với Tấn Văn công rằng: - Quân Tần dẫu đi, nhưng cũng chưa xa, tôi xin đem quân đi đuổi đánh. Quân Tần đã có lòng về thì tất không có chí muốn đánh, tôi chắc rằng chỉ một trận là đủ phá được quân Tần; ta đã phá được quân Tần thì quân Trịnh sợ mất vía, không đợi đánh mà tự khắc phải hàng. Tấn Văn công nói: - Không nên! Ngày xưa ta nhờ sức vua Tần mà về phục quốc, nếu không có vua Tần thì sao ta được thế này, bởi vậy Thành Đắc thần vô lễ với ta, mà ta còn lui quân ba xá để báo lại cái ơn ấy, huống chi là vua Tần! Vả không có quân Tần, ta cũng vây nổi nước Trịnh, chớ có lo gì! Nói xong, liền chia quân ra mấy mặt, cứ việc vây thành nước Trịnh, Trịnh Văn công lại bảo Chúc Vũ rằng: - Tần chịu lui quân là nhờ sức nhà ngươi, nhưng quân Tấn chưa lui thì biết làm thế nào? Chúc Vũ nói: - Tôi nghe nói vua Tấn yêu Công tử Lan lắm, nay ta sai người đón Công tử Lan về mà giảng hòa thì tất thế nào vua Tấn cũng thuận cho. Trịnh Văn công nói: - Việc này lại phải nhờ đến lão đại phu đi giúp cho mới được. Thạch Thân phủ nói với Trịnh Văn công rằng: - Chúc Vũ nhọc lắm rồi, để tôi xin đi thay. Nói xong, liền đem các đồ lễ vật đến dinh Tấn Văn công, xin vào yết kiến. Tấn Văn công cho vào, Thạch Thân Phủ sụp lạy dâng các đồ lễ vật và nói với Tấn Văn công rằng: - Chúa công tôi vì cơ ở gần nước Sở, nên vậy không dám ra mặt chống cự với Sở, nhưng kỳ thực vẫn thần phục nhà vua. Nay nhà vua đem quân đến đánh, chúa công tôi biết tội đã nhiều, có sai tôi đem các đồ lễ vật đến để tạ tội. Chúa công tôi có một người em là Công tử Lan, nay được hầu hạ nhà vua, xin nhà vua thương tình mà cho nước tôi được giảng hòa, nước tôi xin đón Công tử Lan về để cùng coi giữ quyền chính, không bao giờ dám đổi lòng. Tấn Văn công nói: - Nước ngươi lập kế khiến cho Tần lui quân là có ý khinh ta một mình không đánh nổi; nay lại xin giảng hòa, chẳng qua là muốn dùng kế hoãn binh để đợi quân Sở đến cứu viện đó thôi, nếu nước ngươi muốn cho ta lui quân thì tất phải theo ta hai điều: Thạch Thân Phủ nói: - Hai điều là những gì, xin nhà vua cứ dạy. Tấn Văn công nói: - Một là phải lập Công tử Lan làm thế tử; hai là phải đem Thúc Thiêm sang nộp ta thì ta mới cho là thực. Thạch Thân Phủ về nói với Trịnh Văn công. Trịnh Văn công nói: - Ta chưa có con trai, mà ta nghe Công tử Lan ngày xưa có ứng vào mộng triệu, nay ta lập làm thế tử cũng có thể được; còn Thúc Thiêm là bề tôi tay chân của ta, ta bỏ đi thế nào cho đành! Thúc Thiêm nói: - Vua Tấn đòi bắt tôi, nếu tôi không sang thì không chịu lui quân, vậy thì có đâu tôi dám sợ chết mà để cho Chúa công lo nhục. Xin Chúa công cứ cho tôi đi. Trịnh Văn công nói: - Ta không nỡ để cho nhà ngươi đi vì nhà ngươi đi thì tất phải chết! Thúc Thiêm nói: - Chúa công không nỡ để cho tôi chết, mà nỡ để cho trăm họ phải lầm than khổ sở hay sao! Vậy thì bỏ một mạng tôi mà cứu được trăm họ, Chúa công tiếc gì! Trịnh Văn công ứa nước mặt khóc mà cho đi. Thạch Thân Phủ đưa Thúc Thiêm sang nộp Tấn Văn công và xin đón Công tử Lan về để lập thế tử. Tấn Văn công bằng lòng, bảo Thạch Thân Phủ hãy đợi ở trong dinh, rồi sai Hồ Yển đến Đông Đô triệu Công tử Lan. Tấn Văn công trông thấy Thúc Thiêm, quát to lên mà mắng rằng: - Nhà ngươi cầm quyền chính nước Trịnh, mà để cho Trịnh thất lễ với ta, đó là một tội; nước Trịnh đã dự hội với ta, mà lại bội ước, đó là hai tội! Nói xong liền sai quân sĩ đem vạc dầu ra để sắp sửa mổ Thúc Thiêm. Thúc Thiêm vẫn cứ nghiễm nhiên, không sợ hãi gì cả, chắp tay mà nói với Tấn Văn công rằng: - Tôi đành phận chết, nhưng xin nhà vua hãy cho tôi nói hết lời! Tấn Văn công nói: - Nhà ngươi muốn nói điều gì? Thúc Thiêm nói: - Khi trước nhà vua qua nước tôi, tôi có nói với Chúa công tôi rằng: - Nhà vua là người hiền minh, mà các người theo hầu hạ đều là những bậc tài giỏi cả, vậy thì khi về nước tất làm bá chủ; đến khi nhà vua hội chư hầu ở đất Ôn Địa, tôi lại khuyên Chúa công tôi một lòng thờ Tấn, chớ có bội ước, nhưng trời làm hại nước tôi, khiến cho lời nói của tôi không được dùng. Nay nhà vua bắt tôi, Chúa công tôi cũng thương là vô tội, toan không cho đi; tôi xin liều một mình để cứu cho trăm họ. Thương ôi! Việc gì cũng liệu được trước thế là điều trí; một lòng giúp nước, thế là điều trung; không tránh lúc hoạn nạn thế là điều dũng; liều mình để cứu trăm họ, thế là điều nhân. Có người bề tôi đủ cả nhân, trí, trung, dũng như thế, mà ai ngờ pháp luật nước Tấn phải bắt đem mà mổ đi! Nói xong, tay nắm cái vạc dầu mà kêu to lên rằng: - Từ nay trở đi, những người làm bề tôi, nên lấy Thúc Thiêm này làm răn! Tấn Văn công nghe lời, có ý cảm động, liền truyền tha cho Thúc Thiêm, và bảo Thúc Thiêm rằng: - Ta thử nhà ngươi đó thôi! Nhà ngươi thật là một người liệt sĩ! Từ bấy giờ có ý trọng đãi. Một hôm, Công tử Lan ở Đông Đô, Tấn Văn công bảo cho biết sự thể nước Trịnh đón về, lại sai Thúc Thiêm và bọn Thạch Thân Phủ phải lấy lễ tử tế mà yết kiến, rồi đón cho vào trong thành nước Trịnh. Trịnh Văn công lập Công tử Lan làm thế tử. Bấy giờ Tấn Văn công mới rút quân về nước. Năm ấy, Ngụy Thù say rượu, ngã xe gãy tay, bệnh cũ lại phát, rồi hộc máu miệng ra mà chết. Tấn Văn công cho con Ngụy Thù là Ngụy Khỏa được nối quan tước. Chưa bao lâu, Hồ Mao và Hồ Yển cũng đều ốm chết cả. Tấn Văn công thương xót vô cùng mà khóc rằng: - Ta được thoát nạn mà có ngày nay là nhờ sức của hai Quốc cữu, chẳng ngờ hai Quốc cữu lại bỏ ta mà đi, khiến cho ta như người mất cánh tay phải, thương ôi! Tư Thần nói với Tấn Văn công rằng: - Chúa công tiếc tài hai vị Quốc cữu, tôi xin cử một người khác cũng có tài làm khanh tướng được. Tấn Văn công nói: - Nhà ngươi định cử ai? Tư Thần nói: - Ngày trước tôi đi sứ qua đồng Ký Giã, trông thấy một người đang cày ruộng, người vợ đem cơm đến bờ ruộng, hai tay bưng đưa cho chồng, người chồng cũng có nét mặt kính mà đỡ lấy. Lúc người chồng ăn thì người vợ đứng hầu bên cạnh, trong hai vợ chồng với nhau mà còn kính trọng nhau như khách lạ, huống chi là khi đối với người khác. Tôi nghe nói người biết giữ lễ phép là người có đức hạnh, bởi vậy tôi mới đến hỏi họ tên thì tức là con trai Khước Nhuế, tên gọi Khước Khuyết. Nếu nước Tấn ta dùng được người ấy thì cũng chẳng kém gì Hồ Quốc cữu. Tấn Văn công nói: - Cha là người có tội, chẳng lẽ mình lại dùng người con! Tư Thần nói: - Nghiêu, Thuấn là cha mà có con là Đan Chu và Thương Quân là người dở; Cổn là cha mà có con là vua Vũ là bậc thánh, thế mới biết người ta hay dở, cha con không can thiệp gì với nhau. Nay Chúa công lại nghĩ điều ác của người cha mà bỏ cái tài hữu dụng của người con hay sao! Tấn Văn công khen phải mà bảo rằng: - Nhà ngươi triệu đến đây cho ta. Tư Thần nói: - Tôi sợ người ấy trốn sang nước khác thì người ta dùng mất, vậy đã mời về ở tại nhà tôi. Xin Chúa công sai sứ đến triệu, mới phải đạo cầu hiền. Tấn Văn công theo lời, sai nội thị phụng mệnh đem mũ áo đến triệu Khước Khuyết. Khước Khuyết sụp lạy mà chối rằng: - Tôi là một kẻ nông phu ở Ký Giã, Chúa công không nghĩ đến tôi mà khoan dung cho, cũng đã đội ơn lắm rồi, huống chi còn dám lạm dự quan tước. Nội thị về nói với Tấn Văn công. Tấn Văn công hai ba lần sai nội thị ra khuyên mời, Khước Khuyết mới đội mũ mặc áo vào triều. Khước Khuyết mình dài 9 thước, mũi cao mặt to, tiếng nói sang sảng như tiếng chuông. Tấn Văn công trông thấy mừng lắm, liền cho Tư Thần làm chánh tướng ở đạo hạ quân, mà lấy Khước Khuyết làm phó tướng. Nước Tấn lại mới lập ra hai đạo quân là tân thượng quân và tân hạ quân. Tân thượng quân thì cho Triệu Thôi làm chánh tướng, mà lấy Cơ Trịnh làm phó tướng. Tân hạ quân thì cho Tư Anh (con Tư Thần) làm chánh tướng, mà lấy Tiên Đô làm phó tướng. Sở Thành Vương nghe tin nước Tấn sửa sang quân chính, có ý sợ hãi, mới sai quan Đại phu là Đấu Chương xin giảng hòa. Tấn Văn công nghĩ đến ơn cũ, cũng bằng lòng cho, sai quan Đại phu là Dương Xử Phủ sang báo sính với Sở. Trịnh Văn công mất. Các quan tôn người em Trịnh Văn công là Công tử Lan lên nối ngôi, tức là Trịnh Mục công, quả ứng vào cái triệu nằm mộng thấy cành hoa lan ngày trước. Tấn Văn công ốm nặng, gọi bọn Triệu Thôi, Tiên Trẩn, Hồ Xạ Cô và Dương Xử Phủ vào nghe di mệnh, để sau tôn Thế tử Hoan lên ngôi. Lại sợ các vị công tử khác có lòng tranh cạnh, mới cho Công tử Ung (con nàng Đỗ Kỳ) sang làm quan ở nước Tần; Công tử Lạc (con nàng Doanh Thần) sang làm quan ở nước Trần; còn người con bé là Hắc Điến thì cho sang làm quan ở nhà Chu, để cầu thân với Thiên tử. Tấn Văn công mất, ở ngôi được 8 năm, sống lâu được 68 tuổi. Thế tử Hoan lên nối ngôi, tức là Tấn Tương công. Tấn Tương công đem linh cữu Tấn Văn công đưa ra quàn ở đất Khúc Ốc. Khi linh cữu ra khỏi cửa thành, tự nhiên trong có tiếng kêu to lên như tiếng trâu rống, mà linh cữu nặng lắm, xe không đi được. Các quan triều thần, ai cũng sợ hãi. Quan Thái bốc là Quách Yển bói một quẻ, rồi đoán trong quẻ bói rằng: - Trong mấy ngày nữa thì có giặc tự tây phương đến, nhưng quân ta đánh được, bởi vậy Tiên quân báo trước cho chúng ta biết. Các quan triều thần đều lạy tạ ở trước linh cữu. Bấy giờ linh cữu lại đi được như thường. Tiên Trẩn nói: - Tây phương tức là nước Tần. Tiên Trẩn liền sai người đi dọ thám xem tin tức nước Tần ra làm sao. Lại nói chuyện 3 tướng nước Tần là Kỷ Tử, Phùng Tôn và Dương Tôn đóng quân để giữ hộ cho nước Trịnh, thấy nước Tấn đưa Công tử Lan về nước Trịnh mà nước Trịnh lập làm thế tử mới tức giận mà nói rằng: - Chúng ta đóng quân ở đây để giúp nước Trịnh mà chống cự quân Tấn, ai ngờ nước Trịnh lại đầu hàng nước Tấn, vậy thì chúng ta thật là uổng công. Nói xong, liền sai người mật báo với Tần Mục công. Tần Mục công trong lòng cũng có ý giận, nhưng nể Tấn Văn công không dám nói ra, đến lúc Công tử Lan lên làm vua nước Trịnh, tiếp đãi bọn Kỷ Tử cũng không ra gì. Kỷ Tử mới cùng với Phùng Tôn và Dương Tôn thương nghị rằng: - Chúng ta đóng đồn ở đây không biết bao giờ cho xong việc, chi bằng ta mật tâu với Chúa công ta đem quân sang đánh lẻn lấy nước Trịnh thì chúng ta mới có lợi to được. Trong khi ba người đang thương nghị với nhau, lại nghe tin Tấn Văn công mất, Kỷ Tử liền chắp tay để lên trán mà khấn rằng: - Ấy là lòng trời tựa cho chúng ta được thành công đó! Kỷ Tử sai người tâm phúc về mật tấu với Tần Mục công rằng: - Nước Trịnh giao cho chúng tôi giữ mặt Bắc Môn, nếu Chúa công cho một đạo quân lẻn sang đánh Trịnh, đã có chúng tôi làm nội ứng thì tất phá vỡ được. Nước Tấn đang có tang, tất không sang cứu nước Trịnh; vả vua Trịnh cũng mới lên nối ngôi, việc phòng thủ chưa sửa sang lắm, Chúa công chớ nên bỏ mất cái cơ hội này. Tần Mục công tiếp được mật thư, liền cùng với Kiển Thúc và Bách Lý Hề thương nghị. Kiển Thúc và Bách Lý Hề đồng thanh mà can rằng: - Nước Tần ta xa cách nước Trịnh kể hàng nghìn dặm, không thể chiếm cứ lấy đất nước Trịnh được, chẳng qua chỉ lợi về những đồ châu báu mà thôi. Ta đem quân đi nghìn dặm, tài nào che được mắt thiên hạ, nếu kẻ kia biết mà phòng thủ trước, có phải là ta uổng công khó nhọc lắm không? Vả mình đem quân đi sang đóng đồn để giữ hộ cho người ta, mà nay lại đánh người ta, sao gọi là tín, nhân lúc người ta có tang mà đánh, sao gọi là nhân, việc này thành thì lợi nhỏ, không thành thì hại lớn, sao gọi là trí. Suy trong ba điều ấy thì chúng tôi chắc là việc ấy không nên làm. Tần Mục công không bằng lòng mà đáp rằng: - Ta đây, ba lần lập vua cho nước Tấn, hai lần dẹp loạn cho nước Tấn, uy danh lừng lẫy khắp trong thiên hạ, chỉ vì vua Tấn đánh được quân Sở ở Thành Bộc, vậy nên ta nhường cho làm bá chủ, nay vua Tấn tạ thế rồi, thiên hạ còn ai địch nổi với ta. Nước Trịnh theo Tấn, chẳng qua như chon chim tựa người, có lúc cũng phải bay đi, chi bằng ta nhân cơ hội này sang diệt nước Trịnh, rồi đổi cho Tấn mà lấy đất Hà Đồng thì Tấn tất phải nghe, sao lại bảo rằng không lợi. Kiển Thúc lại nói: - Sao Chúa công không sai người sang viếng tang nước Tấn, nhân tiện mà viếng nước Trịnh để dò xem tình hình nước Trịnh có nên đánh hay không? Chớ nên nghe lời bọn Tử Kỷ vội. Tần Mục công nói: - Nếu đợi đi viếng tang rồi mới đem quân sang đánh thì những đi cùng về, đã gần một năm, sao cho hợp với binh pháp. Binh pháp qui hồ nhanh chóng như tiếng sấm vang, không ai bưng tai kịp, nay nhà ngươi già lẫn, không hiểu điều ấy! Nói xong, liền sai người mật báo cho bọn Kỷ Tử biết trước rằng đến thượng tuần tháng hai thì đem quân tới Bắc Môn để đánh Trịnh, rồi tức khắc cho Mạnh Minh (con Bách Lý Hề) làm chánh tướng, Tây Khất Thuật và Kiển Bính (con Kiển Thúc) làm phó tướng, đem hơn hai nghìn quân thẳng đường tiến sang nước Trịnh. Khi Mạnh Minh và Kiển Bính đem quân đi, Bách Lý Hề cùng với Kiển Thúc ra tiễn, khóc mà bảo rằng: - Thương ôi! Ta trông thấy con đi mà không được trông thấy con về. Tần Mục công giận lắm, sai người trách Bách Lý Hề và Kiển Thúc rằng: - Sao nhà ngươi lại dám khóc quân ta, muốn làm cho quân ta ngã lòng hay sao! Bách Lý Hề và Kiển Thúc nói: - Tôi có dám khóc quân đâu, tôi chỉ khóc riêng đứa con tôi mà thôi. Kiển Bính thấy cha khóc, toan từ chối không đi, Kiển Thúc nói: - Cha con ta ăn lộc nước Tần bấy lâu, nay con chết để báo ơn nước Tần cũng phải đạo. Nói xong, liền đưa cho Kiển Bính một bức thư, niêm phong rất kỹ, lại dặn một câu rằng: - Con cứ theo lời trong bức thư này! Kiển Bính vâng lời rồi đi, nhưng trong lòng vừa nghi hoặc, vừa buồn rầu, chỉ có Mạnh Minh cậy tài vũ dũng, chắc là thế nào cũng thành công, không lấy làm nghĩ. Khi đại binh đã đi xa rồi Kiển Thúc cáo ốm không vào triều và xin từ chức. Tần Mục công cố ép mãi. Kiển Thúc cáo là ốm nặng, rồi xin về ở Điệt Thôn, Bách Lý Hề đến tận nhà hỏi thăm, bảo Kiển Thúc rằng: - Tôi không phải là không biết cơ mà từ chức đâu, tôi sở dĩ còn lại là mong có ngày được trông thấy mặt con tôi, xin có điều gì Ngô huynh chỉ bảo cho. Kiển Thúc nói: - Quân Tần ta đi chuyến này tất thua, Hiền đệ mật bảo Công Tôn Chỉ sắp sẵn mấy chiếc thuyền đón ở sông Hoàng Hà, may ra các tướng thoát về được thì có đường mà trốn. Bách Lý Hề nói: - Ngô huynh dạy như vậy, tôi xin vâng lời. Tần Mục công nghe nói Kiển Thúc quyết chí xin về làm ruộng, mới tặng cho vàng đỏ 20 cân, lụa hoa 100 tấm. Các quan triều thần đều kéo nhau đi tiễn Kiển Thúc, ra ngoài cửa quan mới về. Bách Lý Hề cầm tay Công Tôn Chi, đem lời nói của Kiển Thúc thuật lại cho nghe và dặn Công Tôn Chi rằng: - Việc này, Kiển Tiên sinh không ủy thác cho ai mà ủy thác cho Tướng quân, là vì Tướng quân trung dũng, biết hết lòng mà lo việc nước nhà, Tướng quân nên lưu ý, chớ tiết lộ cho người ngoài biết. Công Tôn Chi nói: - Xin vâng lời. Nói xong, liền sắp sẵn mấy chiếc thuyền lớn để ra đón ở bên sông Hoàng Hà. Mạnh Minh thấy Kiển Thúc đưa cho Kiển Bính một phong mật thư, nghi là trong thư tất có kỳ kế để phá quân Trịnh, đêm hôm ấy nói với Kiển Bính xin cho xem. Kiển Bính mở thư ra đọc. Trong thư có mấy hàng chữ như sau này: "Chuyến đi này, không lo gì quân Trịnh, chỉ lo quân Tấn mà thôi. Chỗ hào sơn địa thế hiểm lắm, con nên cẩn thận. Không khéo thì ta phải nhặt xương con ở chỗ ấy đó!" Mạnh Minh trông thấy, liền ngoảnh mặt đi không nom nữa, mà nói rằng: - Thôi thôi! Các cụ già lẫn rồi! Kiển Bính cũng cho là vị tất đã đến như thế. Quân Tần khởi hành từ tháng chạp năm trước, đến tháng giêng năm sau qua cửa Bắc môn nhà Chu. Mạnh Minh nói: - Đây là chỗ thiên tử ở, ta nên kính lễ mới phải! Nói xong, truyền cho các tướng đều hạ mũ trụ, xuống xe đi đất. Tướng Tiên phong quân Tần là Bao Man Tử, vốn người có tài vũ dũng, khi đi khỏi cửa Bắc môn rồi, lại lên xe phóng ngựa chạy như bay. Mạnh Minh khen rằng: - Giả sử ai cũng như Bao Man Tử thì việc gì làm chẳng xong! Các tướng sĩ nghe nói, đều nhao nhao bảo nhau rằng: - Sao chúng ta lại chịu kém Bao Man Tử! Bấy giờ các tướng sĩ đều ganh đua nhau đi trước, quân kéo mau quá, trông như gió cuốn, như chớp nhoáng, vụt một nhát đã không thấy đâu nữa. Chu Tương Vương sai Vương tử Hổ và Vương Tôn Mãn ra xem quân Tần. Vương tử Hổ tâu với Chu Tương Vương rằng: - Quân Tần trông có vẻ vũ dũng như thế, còn nước nào địch nổi! Bấy giờ Vương Tôn Mãn tuổi hãy còn nhỏ, nghe lời Vương tử Hổ, mỉm cười mà không nói gì. Chu Tương Vương hỏi: - Cậu bé con kia! Ý nghĩ thế nào? Vương Tôn Mãn nói: - Cứ theo như trong lễ thì các nước đem quân qua chỗ Thiên tử ở, tất phải cuốn áo giáp và bỏ đồ binh khí rồi đi cho mau, bây giờ quân Tần chỉ hạ mũ trụ mà thôi, thế là không biết giữ lễ! Quân đã không biết giữ lễ tài nào khỏi rối loạn, chuyến đi này tôi chắc là quân Tần phải thua! Nước Trịnh có một người lái buôn, tên gọi Huyền Cao, vẫn làm nghề buôn trâu. Từ khi Vương tử Đái nhà Chu thích chơi trâu ở nước Trịnh và nước Vệ đem trâu đến bán, được lãi to lắm, bởi vậy Huyền Cao còn giữ nghề ấy. Huyền Cao dẫu là người lái buôn, nhưng vẫn có lòng trung quân ái quốc, chỉ vì không gặp người tiến dẫn, thành ra chẳng ai biết đến. Bấy giờ Huyền Cao buôn được mấy trăm con trâu béo, định đem sang nhà Chu để bán. Khi đến bến Lê Dương, gặp một người bạn quen tên là Kiển Tha. Kiển Tha mới ở nước Tần về. Huyền Cao hỏi Kiển Tha rằng: - Nước Tần độ này có chuyện gì lạ không? Kiển Tha nói: - Trong hồi tháng chạp mới rồi, nước Tần có sai ba tướng đem quân đi, hình như muốn đánh lẻn nước Trịnh, chẳng bao lâu nữa quân Tần sẽ sang đến nơi. Huyền Cao giật mình kinh sợ mà nói rằng: - Nước cha mẹ của ta, nay có cái tai nạn ấy, ta không nghe tiếng thì thôi, nếu nghe tiếng mà không cứu thì một mai nước nhà suy mất, ta còn mặt mũi nào mà trở về nữa! Huyền Cao nghĩ ngay một kế, từ biệt Kiển Tha, rồi một mặt sai người phi báo cho nước Trịnh biết mà phòng bị trước; lại một mặt chọn 20 con trâu béo để sửa soạn làm lễ khao quân. Huyền Cao ngồi một cái xe nhỏ đi đón quân Tần. Đi đến đất Diên Tân nước Hoạt, gặp tiền đội quân Tần, Huyền Cao đón ngang dọc đường mà nói với quân Tần rằng: - Tôi là sứ thần nước Trịnh, xin yết kiến quan Nguyên soái. Quân tiền đội báo với Mạnh Minh, Mạnh Minh giật mình, nghĩ thầm trong lòng rằng tại sao nước Trịnh biết có quân ta đến mà sai sứ thần ra đón! Âu là ta hãy tiếp kiến, để xem thế nào. Mạnh Minh nói xong, liền ra tiếp kiến Huyền Cao. Huyền Cao giả cách phụng mệnh vua Trịnh nói với Mạnh Minh rằng: - Chúa công tôi nghe ba vị tướng công sắp sửa đem quân sang nước tôi, vậy có sai tôi dâng lễ mọn này, để khao các hàng quân sĩ. Nước tôi tiếp giáp các nước lớn, thường hay có việc can thiệp, nhờ có quân quí quốc đóng đồn để giữ hộ cho, nhưng nước tôi vẫn lo sợ rằng lỡ khi có sự gì biến loạn, lại đắc tội với quí quốc, bởi vậy phải hết sức ngày đêm phòng giữ, không dám trễ nãi, xin ba vị tướng quân xét cho. Mạnh Minh nói: - Vua Trịnh sai nhà ngươi ra khao quân ta, sao không có quốc thư? Huyền Cao nói: - Chúa công tôi nghe tin các ngài khởi hành từ tháng chạp, mà quân đi gấp lắm, sợ đợi sửa tờ quốc thư thì không kịp nghênh tiếp, bởi vậy chỉ truyền miệng cho tôi ra đây, xin các ngài tha lỗi. Mạnh Minh ghé tai Huyền Cao mà bảo nhỏ rằng: - Chúa công tôi sai chúng tôi đem quân đi đây là định đánh nước Hoạt, không phải có ý đến nước Trịnh đâu! Nói xong truyền quân đóng lại ở đất Diên Tân, Huyền Cao tạ ơn lui ra. Tây Khất Thuật và Kiển Bính hỏi Mạnh Minh rằng: - Tướng quân đóng lại đây là có ý gì? Mạnh Minh nói: - Quân ta đi xa xôi ngàn dặm, chỉ cốt nhân lúc nước Trịnh bất ngờ để tiến đánh, nay người nước Trịnh đã biết mà phòng bị trước, ta đánh cũng chẳng được nào. Vả lại ta muốn vây nước Trịnh thì lại không có quân tiếp ứng, chi bằng tiện đây ta đánh lẻn nước Hoạt, để khỏi mang tiếng là đem quân đi mà không được việc gì. Đêm hôm ấy, ba tướng nước Tần chia quân làm ba mặt lẻn vào đánh lấy thành nước Hoạt, vua nước Hoạt bỏ chạy sang nước Địch. Quân Tần bắt những con gái và thu lấy các đồ bảo ngọc của nước Hoạt đem về. Quân Tần bỏ về rồi, nước Hoạt tàn phá, sau bị nước Vệ kiêm tính mất. Trịnh Mục công tiếp được mật báo của người buôn là Huyền Cao, chưa lấy gì làm tin lắm, tức thì sai người dò thám bọn Kỷ Tử xem tình hình thế nào. Bấy giờ đã thượng tuần tháng hai, bọn Kỷ Tử đang sửa soạn binh mã và các đồ khí giới, chỉ đợi quân Tần đến nơi thì trong ngoài họp sức nhau mà đánh Trịnh. Quân sĩ về báo Trịnh Mục công. Trịnh Mục công sợ hãi, liền sai lão đại phu là Chúc Vũ đến yết kiến bọn Kỷ Tử, đưa biếu mỗi người một trăm tấm lụa mà bảo rằng: - Các ngài đóng quân ở nước tôi, nước tôi vì cớ khoản đốn mà bao nhiêu hươu nai ở chốn Nguyên Phố đã hết sạch cả, nay nghe tin các ngài đang sửa soạn quân mã, tất là muốn thu quân về nước. Hiện nay Mạnh Minh cùng các tướng đã tiến quân đến nước Hoạt, sao các ngài không đi theo. Kỷ Tử giật mình, nghĩ thầm trong lòng rằng: - Mưu kế của ta đã tiết lộ ra rồi thì dẫu quân Tần ta có kéo đến nơi, cũng không làm gì nổi, mà lại thêm đắc tội với vua Tần, bấy giờ chúng ta chẳng những không ở yên được nước Trịnh, mà muốn về nước Tần cũng không được nữa! Kỷ Tử xin lỗi với Chúc Vũ, rồi bỏ trốn sang nước Tề. Phùng Tôn và Dương Tôn cũng sợ tội, bỏ trốn sang nước Tống, Những quân Tần đóng đồn ở đấy, không có chủ tướng, họp nhau toan nổi loạn. Trịnh Mục công sai Dật Chi Hồ đem lương thực cấp phát cho quân Tần về nước, rồi ghi công Huyền Cao, cử cho làm chức quận úy. Từ bấy giờ nước Trịnh mới được yên ổn. Tấn Tương công đang thủ tang ở đất Khúc Ốc, nghe tin nước Tần sai Mạnh Minh thống cử đại binh đi về phía đông, không biết là đi đâu, liền họp các quan triều thần lại để thương nghị. Tiên Trẩn đã cho người đi do thám, biết rõ cái mưu quân Tần định lẻn đánh nước Trịnh, tức khắc vào yết kiến Tấn Tương công.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 45 Mạnh Minh cậy tài bị Tấn vây Tiên Trẩn cởi giáp cho Địch bắn

Quan Nguyên soái nước Tấn là Tiên Trẩn đã biết rõ cái mưu quân Tần định lẻn đánh nước Trịnh, mới vào nói với Tấn Tương công rằng: - Vua Tần trái lời Kiển Thúc và Bách Lý Hề mà đem quân đi kể hàng nghìn dặm, định lẻn đánh nước người ta, chính ứng vào cái lời của quan Thái bốc là Quách Yển nói có giặc ở Tây phương đến, ta nên mau mau đón đường mà đánh, chớ bỏ mất cái cơ hội này! Loan Chi nói: - Vua Tần có ơn với Tiên quân ta ngày xưa to lắm, nay ta chưa đền ơn mà đã chực đón đánh thì đối với Tiên quân, sao cho phải đạo? Tiên Trẩn nói: - Nay ta đánh Tần, chính là theo được cái chí của Tiên quân đó! Tiên quân tạ thế đi, các nước đồng minh đều đến viếng tang cả, chỉ có nước Tần không đến viếng tang, thế là nước Tần vô lễ với ta lắm, Tiên quân ta ở dưới suối vàng, chắc cũng tức giận, lại còn ân nghĩa gì! Vả nước Tần đã có giao ước với ta rằng hai nước có việc binh thì đồng lòng giúp nhau thế mà khi vây nước Trịnh, nước Tần bội ước rút quân, đủ biết là nước Tần không được tử tế. Nước Tần đã không đủ tín với ta thì cần gì ta phải nhớ ơn nước Tần nữa! Loan Chi nói: - Quân Tần chưa xâm phạm gì nước ta, mà ta đón đánh thì chẳng cũng quá lắm sao! Tiên Trẩn nói: - Ngày trước nước Tần giúp Tiên quân ta, không phải yêu gì nước Tấn, chẳng qua là muốn làm ơn để giữ lấy nước mình. Khi Tiên quân ta làm bá chủ các nước chư hầu, nước Tần dẫu ngoài mặt phải theo, nhưng trong lòng vẫn ghét, nay nhân lúc ta có tang mà đem quân sang đánh Trịnh, thế là có ý khinh ta không dám cứu Trịnh, tất cũng có ngày lẻn đánh nước ta. Tục ngữ có câu rằng: "Một ngày tha giặc, di họa mấy đời!". Nếu ta không đánh Tần thì sao tự lập được. Triệu Thôi nói: - Nước Tần dẫu nên đánh, nhưng Chúa công ta đang lúc có tang mà gây việc chiến tranh, tôi sợ không hợp lễ. Tiên Trẩn nói: - Người ta để tang là cốt giữ cho trọn đạo hiếu, vậy thì đánh giặc để giữ yên nước nhà, còn điều gì hiếu hơn nữa! Nếu các ngài cho là không nên thì một mình tôi cũng xin đem quân đi đánh. Bọn Tư Thần đều tán thành lời nói của Tiên Trẩn. Tấn Tương công nói: - Quan Nguyên soái liệu xem quân Tần sang đánh Trịnh, độ bao giờ trở về? Khi về thì đi qua đường nào? Tiên Trẩn tính đốt ngón tay, rồi đáp lại rằng: - Tôi chắc quân Tần không đánh nổi Trịnh, chẳng qua trong bốn tháng nữa về qua tới đây, mà khi về thì tất đi qua dãy núi Hào Sơn. Dãy núi ấy giáp giới nước ta và nước Tần, từ đông tới tây, cách nhau ba mươi lăm dặm; chỗ ấy hiểm lắm, núi cao rừng rậm, nếu ta phục một đạo binh ở đấy, rồi đổ ra mà đánh thì bắt sống được hết quân Tần. Tấn Tương công nói: - Việc đó, ta ủy thác cho quan Nguyên soái. Tiên Trẩn liền sai con là Tiên Thả Cư cùng với Đồ Kích đem năm nghìn quân phục ở phía tả núi Hào Sơn; sai con Tư Thần là Tư Anh cùng với Hồ Cúc Cư đem năm nghìn quân phục ở phía hữu núi Hào Sơn, đợi khi quân Tần đến thì đổ ra mà đánh. Lại sai con Hồ Xạ Cô cùng với Hàn Tử Dư đem năm nghìn quân phục ở phía tây núi Hào Sơn, rồi đẵn gỗ lấp ngang đường, để cho quân Tần không đi được; sai con Lương Do Mỹ là Lương Hoằng cùng với Lai Câu đem năm nghìn quân phục ở phía đông Hào Sơn, đợi khi quân Tần qua đó thì đem quân ra mà đuổi. Tiên Trẩn cùng với bọn Triệu Thôi và các tướng theo Tấn Tương công đem quân đóng ở ngoài Hào Sơn hai mươi dặm để tiếp ứng. Quân Tần diệt được nước Hoạt, về gần đến dãy núi Hào Sơn, Kiển Bính nói với Mạnh Minh rằng: - Chỗ Hào Sơn này đường hiểm lắm, khi trước phụ thân tôi đã có lời dặn, quan Nguyên soái nên cẩn thận mới được. Mạnh Minh nói: - Ta đem quân đi nghìn dặm, còn chẳng sợ hãi gì, huống chi đi khỏi dãy núi Hào Sơn này tức là địa giới nước nhà, còn ngại gì nữa! Tây Khất Thuật nói: - Quan Nguyên soái cũng nên phòng xa, sợ khi quân Tấn có mai phục, đổ ra mà đánh thì ta chống lại làm sao cho nổi. Mạnh Minh nói: - Tướng quân sợ Tấn như thế, tôi xin đi trước, nếu có quân mai phục, để mặc tôi đối địch. Mạnh Minh sai Bao Man Tử đi tiên phong, đệ nhị đội đến Mạnh Minh, đệ tam đội đến Tây Khất Thuật, đệ tứ đội đến Kiển Bính, mỗi toán quân cách nhau đến một hai dặm. Bao Man Tử tay cầm cái phương thiên họa kích nặng 80 cân sắt, tự đắc là thiên hạ không ai địch nổi. Khi đi đến phía đông Hào Sơn, bỗng có một viên đại tướng đem quân ra đón đường mà hỏi rằng: - Nhà ngươi có phải là Đại tướng nước Tần tên gọi Mạnh Minh đó không? Chúng ta chờ đợi đã lâu lắm rồi! Bao Man Tử nói: - Nhà ngươi họ tên chi đó? Nên nói trước cho ta biết. Viên đại tướng ấy đáp lại rằng: - Ta đây là Đại tướng nước Tấn, tên gọi Lai Câu! Bao Man Tử nói: - Nước ngươi có Loan Chi và Ngụy Thù đến, họa chăng đối địch với ta được mấy hợp, ngươi là đứa vô danh tiểu tốt, biết điều thì tránh ra một bên để quân ta đi, kẻo ta cho một ngọn kích này thì không toàn được tính mệnh! Lai Câu giận lắm, xông lại đánh Bao Man Tử. Bao Man Tử cầm kích đánh vào cái gỗ ngang ở trên xe Lai Câu, gẫy làm hai đoạn. Lai Câu thấy sức mạnh như vậy, khen rằng: - Ta vẫn nghe tiếng Mạnh Minh, thật cũng không sai. Bao Man Tử bật cười mà nói rằng: - Ta là một viên tiểu tướng, tên gọi Bao Man Tử! Còn Nguyên soái ta khi nào thèm giao chiến với lũ chuột, chúng bay nên mau mau tránh đi, kẻo Nguyên soái ta tới đây thì không còn mống nào sống sót! Lai Câu nghĩ thầm: Tiểu tướng nước Tần mà còn giỏi như thế, huống chi là Mạnh Minh, không biết giỏi đến đâu! Lai Câu liền quát to lên mà bảo Bao Man Tử rằng: - Ta tránh cho nhà ngươi đi, nhà ngươi chớ nên xâm phạm đến quân ta. Nói xong, thu quân lại đứng dẹp một bên, để nhường cho Bao Man Tử đi. Bao Man Tử tức khắc sai quân truyền báo với quan Nguyên soái là Mạnh Minh rằng: - Nước Tấn có một toán quân mai phục, đã bị tôi đánh tan rồi, xin Nguyên soái mau mau tiến binh, hễ qua khỏi dãy núi Hào Sơn này thì không còn lo ngại gì nữa. Mạnh Minh nghe nói mừng lắm, liền giục Tây Khất Thuật và Kiển Bính cùng nhau tiến binh. Lai Câu thu quân về yết kiến Lương Hoằng, khen Bao Man Tử là người tài giỏi. Lương Hoằng cười mà nói rằng: - Dẫu cá kềnh cá giao mà đã chui vào lưới sắt cũng chẳng cựa quậy được nữa! Chúng ta nên tránh ra một bên cho quân Tần đi qua hết, rồi sẽ đuổi đánh thì chắc được toàn thắng! Bọn Mạnh Minh kéo quân qua phía đông núi Hào Sơn, đi được mấy dặm, núi đá cheo leo, cây rừng rậm rạp, đường lối rất hiểm trở, xe ngựa không tài nào đi được, nhưng thấy quân tiền đội của Bao Man Tử đi đã xa rồi, Mạnh Minh mới bảo các tướng sĩ rằng: - Bao Man Tử đi đã xa như vậy thì chắc là không còn có quân mai phục nữa! Nói xong, truyền cho quân sĩ bỏ mũ trụ áo giáp ra, rồi dắt ngựa mà đi đất, không có hàng ngũ nào cả. Đi được một quãng, bỗng nghe báo ở mặt sau có quân Tấn đuổi theo. Mạnh Minh nói: - Ta đi còn như thế này thì chúng đuổi cũng chẳng dễ nào! Ta chỉ sợ có quân ngăn trở, chứ không sợ có quân đuổi theo. Mạnh Minh truyền cho các đội quân đều mau mau kéo trước, còn mình thì đi sau, để đối địch với quân Tấn. Lại đi khỏi mấy ngọn núi nữa, bỗng nghe báo có nhiều cây gỗ bỏ chặn ngang đường, quân không đi được. Mạnh Minh nói: - Nếu vậy thì có quân mai phục! Mạnh Minh trèo lên ngọn núi đứng nom, trông thấy ở khe núi có cắm một ngọn cờ đỏ cao hơn ba trượng, trên lá cờ đề một chữ "Tấn", còn dưới thì có nhiều cây gỗ bỏ ngang lấp cả lối đi. Mạnh Minh nói: - Đây là quân Tấn lập kế để làm nghi binh đó! Nói xong, truyền cho quân sĩ nhổ lá cờ đỏ, rồi giở những cây gỗ ra mà đi. Ai ngờ lá cờ đỏ ấy là ký hiệu của quân Tấn, quân Tấn thấy mất lá cờ đỏ, biết là quân Tần đã kéo đến, tức khắc bốn mặt đổ ra đón đánh. Kiển Bính truyền cho quân sĩ đứng lại để đối địch bỗng thấy ở trên ngọn núi có một vị Tướng quân, tức là Hồ Xạ Cô, quát to lên rằng: - Tướng Tiên phong của nhà ngươi là Bao Man Tử, ta đã bắt trói ở đây rồi, nhà ngươi nên mau mau đầu hàng đi thì mới bảo toàn được tính mệnh. Nguyên là Bao Man Tử cậy có sức khỏe, xung đột đi trước, bỗng sa xuống một cái hầm sâu, bị quân Tấn bắt trói lại. Kiển Bính sợ lắm, sai người truyền báo cho Tây Khất Thuật và Mạnh Minh biết. Mạnh Minh thấy chỗ ấy trên đèo dưới suối, dẫu có thiên binh vạn mã cũng không thể giao chiến được, mới truyền cho đại quân lui về phía đông Hào Sơn để cùng với quân Tấn đối địch. Quân Tần vừa lui lại một quãng thì bỗng thấy một viên Đại tướng là Lương Hoằng, và một viên Phó tướng là Lai Câu đem năm nghìn quân Tấn đổ ra đón đánh. Mạnh Minh kinh hãi, truyền cho quân sĩ theo hai dãy núi hai bên trèo đèo vượt suối để tìm lối đi, bỗng thấy ở đầu núi phía tả, chiêng trống ầm ĩ, có một viên đại tướng quát to lên rằng: - Ta đây là Đại tướng nước Tấn, tên gọi Tiên Thả Cư, Mạnh Minh nên mau mau đầu hàng đi! Mạnh Minh trông sang đầu núi phía hữu, lại thấy hiệu cờ của một viên Đại tướng nước Tấn, tên là Tư Anh. Quân Tần trèo đèo vượt suối, đều bị quân Tấn chém bắt mất nhiều. Mạnh Minh tức giận, lại cùng với Tây Khất Thuật và Kiển Bính chạy về phía trước. Ai ngờ trong đống cây gỗ ngổn ngang dọc đường, đều có lưu hoàng diêm tiêu là vật dẫn hỏa, bị tướng nước Tấn là Hàn Tử Tư châm lửa đốt lên, cháy lan mấy mặt. Phía sau lại có quân Lương Hoằng tiến đến, thành ra quân Tần không có đường nào mà chạy thoát được. Mạnh Minh bảo Kiển Bính rằng: - Kiển Tiên sinh (trỏ Kiển Thúc) thật là thần toán! Ngày nay chúng ta đành chết ở đây mà thôi! Tướng quân nên cùng với Tây Khất Thuật thay hình đổi dạng tìm đường trốn đi, họa may có người nào thoát về nước được tâu với Chúa công ta, để ngày khác đem quân sang đánh báo thù thì ta dẫu chết xuống suối vàng cũng được thỏa dạ. Tây Khất Thuật và Kiển Bính khóc mà rằng: - Chúng ta sống chết có nhau, mặt nào lại bỏ trốn! Tây Khất Thuật nói chưa dứt lời thì quân sĩ đã bỏ chạy tán loạn cả. Mạnh Minh cũng không còn kế gì, đành ngồi ở khe núi mà chịu chết. Tiên Thả Cư cùng các tướng bắt Mạnh Minh, Tây Khất Thuật, Kiển Bính và Bao Man Tử giải về đại dinh để nộp Tấn Tương công. Tấn Tương công hỏi tên Mạnh Minh, Tây Khất Thuật và Kiển Bính, lại hỏi đến Bao Man Tử là người nào? Lương Hoằng nói: - Viên ấy dẫu là tiểu tướng, nhưng có tài vũ dũng hơn người, khi trước Lai Câu ra đối địch với hắn, đã bị thua một trận, nếu hắn không sa xuống hầm sâu thì cũng khó lòng mà bắt được. Tấn Tương công ngạc nhiên, rồi nói: - Hắn có tài vũ dũng như thế, để hắn tất có ngày sinh biến! Tấn Tương công gọi Lai Câu đến gần trước mặt mà bảo rằng: - Ngày trước nhà ngươi bị hắn đánh thua, nay ta cho phép nhà ngươi được chém đầu hắn ở trước mặt ta, để cho thỏa dạ. Lai Câu vâng mệnh, đem Bao Man Tử trói vào cái cột ở giữa sân, rồi tay cầm thanh đao, toan bổ vào đầu Bao Man Tử. Bao Man Tử thét to lên rằng: - Mày đã bị ta đánh thua, nay dám xâm phạm đến ta hay sao! Bao Man Tử tiếng hét to quá, khác nào như một tiếng sét ở lưng chừng trời, làm cho cửa nhà chuyển động tất cả. Trong khi Bao Man Tử miệng thét thì hai tay vùng vằng, bao nhiêu những dây trói đứt hết sạch cả. Lai Câu giật mình kinh sợ, tay chân rụng rời, đánh rơi thanh đao xuống đất. Bao Man Tử tức khắc cướp lấy đao, bỗng có một viên tiểu tướng tên gọi Lang Đàm, đứng bên cạnh trông thấy, vội vàng cầm đao xông vào chém đầu Bao Man Tử, rồi đem nộp ở trước mặt Tấn Tương công. Tấn Tương công mừng lắm nói: - Tài vũ dũng của Lai Câu lại không bằng một viên tiểu tướng! Nói xong, liền cách chức Lai Câu không dùng nữa, mà cho Lang Đàm làm chức xa hữu, Lang Đàm tạ ơn lui ra, tự đắc là Tấn Tương công biết tài mà dùng mình, mới không đến yết kiến quan Nguyên soái là Tiên Trẩn. Tiên Trẩn không bằng lòng. Ngày hôm sau Tấn Tương công cùng các tướng thu quân trở về Khúc Ốc, định làm lễ an táng Tấn Văn công rồi, sẽ giải bọn Mạnh Minh về Giáng Đô (kinh thành nước Tấn) để hành hình. Bấy giờ Tấn Văn công phu nhân là Doanh Thị (con gái nước Tần) cũng hội táng ở đất Khúc Ốc đã biết tin bọn Mạnh Minh bị bắt, nhưng giả cách vô tình mà hỏi Tấn Tương công rằng: - Ta nghe nói quân Tấn thắng trận, bọn Mạnh Minh đều bị bắt cả, đó là cái phúc lớn của nước nhà, chẳng hay đã đem bọn ấy mà hành hình chưa? Tấn Tương công nói: - Chưa! Doanh Thị nói: - Tần Tấn hai nước xưa nay vẫn kết thân với nhau, bọn Mạnh Minh muốn lập công, gây việc tranh chiến, để làm cho hai nước sinh ra thù oán, ta chắc rằng vua Tần tất ghét giận bọn ấy lắm, nếu ta tha cho về nước thì vua Tần cũng đem mà giết đi, vậy thì cần gì phải giết cho thêm thù oán. Tấn Tương công nói: - Bọn Mạnh Minh đang đắc dụng bên nước Tần, nay ta bắt được mà lại tha cho về thì e rằng hại cho nước Tấn. Doanh Thị nói: - Quân pháp nước Sở, hễ ai đem quân đi đánh giặc mà bị thua, đều phải tội chết, bởi vậy Thành Đắc Thần phải tự tử, huống chi nước Tần lại không có quân pháp hay sao! Vả Tấn Huệ công ngày xưa bị vua Tần bắt, vua Tần biết trọng đãi, lại tha cho về, Tần đã có ơn với ta như thế, vậy thì mấy viên đại tướng ấy, cần gì cứ phải tự tay ta giết mới được thỏa lòng, chẳng hóa ra nước ta bạc tình lắm sao! Tấn Tương công nghe nói đến việc vua Tần tha cho Tấn Huệ công ngày trước, có ý cảm động, tức khắc truyền tha cho bọn Mạnh Minh về nước. Bọn Mạnh Minh được tha, chẳng vào lạy tạ nữa, cứ việc cắm đầu trốn đi. Tiên Trẩn đang ngồi ăn cơm ở nhà, nghe tin Tấn Tương công tha bọn Mạnh Minh, vội vàng nhả miếng cơm ra mà vào yết kiến Tấn Tương công; nét mặt còn hầm hầm tức giận, hỏi Tấn Tương công rằng: - Bọn tù nhân nước Tần đâu cả? Tấn Tương công nói: - Mẫu phu nhân (trỏ Doanh Thị) xin tha cho về nước để mặc vua Tần giết đi, ta đã theo lời mà tha rồi! Tiên Trẩn nổi giận, nhổ vào mặt Tấn Tương công mà mắng rằng: - Ối chao ôi! Đứa nhục tử này chẳng biết gì cả! Bọn vũ phu trăm cay nghìn đắng mới bắt được tướng nước Tần, nay vì một câu nói của người đàn bà mà uổng công không! Thế mới thật thả hổ về rừng, tất có ngày hối không kịp nữa! Tấn Tương công bấy giờ mới nghĩ ra, lấy áo chùi mặt mà xin lỗi với Tiên Trẩn rằng: - Điều ấy ta xin chịu lỗi! Tấn Tương công ngoảnh lại hỏi các tướng rằng: - Có ai dám đuổi theo tướng nước Tần hay không? Dương Xử Phủ xin đi. Tiên Trẩn bảo Dương Xử Phủ rằng: - Tướng quân dùng lời nói khéo mà lừa bắt được thì thật là công to lắm! Dương Xử Phủ tức khắc lên ngựa truy phong, cầm đao đi đuổi theo bọn Mạnh Minh. Bọn Mạnh Minh từ khi được tha trốn đi, vừa đi vừa bàn nhau rằng: - Chúng ta có qua khỏi sông Hoàng Hà mới chắc được sống, nếu không thì còn sợ vua Tấn hối lại mà đuổi theo, khó lòng thoát nạn! Khi đi đến bến sông Hoàng Hà, chẳng có một chiếc thuyền nào cả, bọn Mạnh Minh thở dài mà than rằng: - Thế này thì thật là trời hại chúng ta! Bỗng thấy một ông lão đánh cá chèo chiếc thuyền nhỏ ở phía tây đi đến, đang ngâm nga mà hát rằng: "Con vượn kia được thoát cũi (ý-ý-ý-a) con chim kia được sổ lồng! Nay đã gặp có ta đây (ý-ý-ý-a) dẫu thua cũng là thành công!" Mạnh Minh nghe câu hát, có ý lấy làm lạ, liền gọi mà bảo rằng: - Ông lão đánh cá kia ôi! Cho chúng tôi sang với! Ông lão đánh cá nói: - Lão chỉ chở người Tần, chứ không chở người Tấn! Mạnh Minh nói: - Chúng tôi là người Tần đây! Mau mau cho chúng tôi sang! Ông lão đánh cá nói: - Nhà ngươi có phải là người bị thua ở Hào Sơn đấy không? Mạnh Minh nói: - Chính phải rồi! Ông lão đánh cá nói: - Ta phụng tướng lệnh của Công Tôn Chi, cắm thuyền ở đây để đón các ngài đã lâu lắm! Chiếc thuyền này nhỏ không thể chở được, nhưng Tướng quân nên men bờ sông đi độ nửa dặm nữa, đã có thuyền lớn đợi ở đó. Ông lão đánh cá ấy nói xong, lại chèo thuyền về phía tây. Thuyền đi như bay. Bọn Mạnh Minh đi về phía tây, chưa được nửa dặm, quả nhiên có mấy chiếc thuyền lớn đậu ở dưới sông, cách bờ độ một quãng ngắn. Ông lão đánh cá đứng ở đấy để mời bọn Mạnh Minh xuống thuyền. Chưa kịp mở lái thì trông lên bờ, thấy có một vị tướng quân cưỡi ngựa đi đến, tức là Dương Xử Phủ. Dương Xử Phủ gọi to lên rằng: - Các tướng nước Tần kia, hãy thư thả một chút! Bọn Mạnh Minh nghe tiếng, đều giật mình kinh sợ. Dương Xử Phủ trông thấy bọn Mạnh Minh đã xuống thuyền rồi, liền nghĩ ngay một kế, giả cách phụng mệnh Tấn Tương công, đem con ngựa đến cho Mạnh Minh rồi nói với Mạnh Minh rằng: - Tôi phụng mệnh Chúa công đem con ngựa lương mã này đưa tặng Tướng quân để tỏ lòng kính mến, xin Tướng quân nhận cho. Dương Xử Phủ định lừa cho Mạnh Minh lên bờ nhận ngựa thì thừa cơ mà bắt lấy, nhưng Mạnh Minh không chịu lên, chỉ đứng ở mũi thuyền mà đáp lại rằng: - Chúng tôi đội ơn vua Tấn không giết cũng đã cảm tạ lắm rồi, nay lại còn cho ngựa, chúng tôi không dám nhận. Chuyến này chúng tôi về thoát được thì sau 3 năm nữa, chúng tôi lại xin sang tạ ơn vua Tấn. Dương Xử Phủ vừa toan đáp lại thì thấy các thủy thủ đã bẻ lái chèo thuyền. Thuyền chèo vào giữa dòng sông, rồi vùn vụt đi thẳng. Dương Xử Phủ ngao ngán mà trở về, đem lời nói của Mạnh Minh tâu với Tấn Tương công. Tiên Trẩn tức giận mà nói rằng: - Hắn nói sau 3 năm nữa sẽ sang tạ ơn là ý nói sau 3 năm nữa sẽ sang báo thù đó, chi bằng ta nhân dịp hắn mới thua, đem quân đánh trước đi là hơn. Tấn Tương công lấy làm phải, mới bàn định việc cử binh đi đánh Tần. Tần Mục công nghe tin bọn Mạnh Minh bị nước Tấn bắt, vừa buồn vừa giận, quên ăn quên ngủ; sau mấy ngày nữa lại nghe tin bọn Mạnh Minh được tha về, mừng rỡ tỏ ra nét mặt, kể sao cho xiết! Các quan đều nói: - Bọn Mạnh Minh làm nhục nước, nên bắt tội chết. Ngày trước vua Sở giết Thành Đắc Thần để làm cho quân sĩ phải khiếp sợ, nay Chúa công cũng nên theo phép ấy. Tần Mục công nói: - Ta không nghe lời Bách Lý Hề và Kiển Thúc, để di lụy đến bọn Mạnh Minh, thế là lỗi tại ta đó! Nói xong liền thân hành ra đón ở ngoài cõi, rồi lại dùng Mạnh Minh làm chủ tướng, càng có ý trọng đãi lắm. Bách Lý Hề nói: - Cha con tôi ngày nay lại được gặp nhau, thật là một sự bất ngờ! Bách Lý Hề cáo lão xin về nhà nghỉ. Tần Mục công dùng Do Dư và Công Tôn Chi làm tả, hữu thứ trưởng, để thay Kiển Thúc và Bách Lý Hề. Tấn Tương công đang bàn việc đánh Tần, bỗng nghe báo có vua nước Địch là Bạch Bộ Hồ đem quân đến đánh, đã tiến vào đất Cơ Thành. Tấn Tương công giật mình kinh sợ, nói: - Ta với nước Địch không có hiềm khích gì với nhau, mà sao vua Địch lại đem quân sang xâm phạm bờ cõi. Tiên Trẩn nói: - Tiên quân (Tấn Văn công) ta ngày xưa trốn sang ở nước Địch, vua nước Địch đem hai người con gái là Thúc Ngỗi và Quí Ngỗi gả cho Tiên quân ta cùng Triệu Thôi, trong mười mấy năm trời, vẫn một lòng trọng đãi. Khi Tiên quân ta về nước, vua nước Địch có sai người sang mừng, lại đưa Thúc Ngỗi và Quí Ngỗi về nước ta, thế mà Tiên quân ta không hề có sai sứ sang tạ ơn lần nào cả, bởi vậy vua Địch cũng giận, nhưng nể mà không nói. Nay con là Bạch Bộ Hồ lên nối ngôi, cậy có sức mạnh, mới đem quân sang đánh ta. Tấn Tương công nói: - Tiên quân ta ngày xưa lo công việc bá chủ, không kịp nghĩ đến ơn riêng, nay vua Địch lại nhân lúc nước ta có tang mà đem quân sang đánh, thế tức là một nước cừu địch với ta, quan Nguyên soái nên vì ta mà đem quân ra đối địch. Tiên Trẩn sụp lạy hai lạy mà từ chối rằng: - Khi trước tôi nghe tin bọn Mạnh Minh được tha về, nghĩ nóng nẩy quá, dám nhổ vào mặt Chúa công, thật là một tội vô lễ thì không đáng làm chức nguyên soái, xin Chúa công chọn người khác. Tấn Tương công nói: - Nguyên soái vì việc nước mà tức giận, đó là bởi cái lòng trung thành, ta lại không rõ hay sao! Nay ta muốn chống lại với quân nước Địch, trừ phi Nguyên soái thì không ai đương nổi, quan Nguyên soái chớ nên từ chối. Tiên Trẩn bất đắc dĩ phải vâng mệnh. Khi ở trong triều ra, Tiên Trẩn thở dài mà than rằng: - Ta vốn muốn chết với quân Tần, ai ngờ lại thành ra chết với quân Địch! Các quan triều thần không ai hiểu ý ra làm sao cả. Tấn Tương công thu quân trở về Giáng Đô (kinh thành nước Tấn) Tiên Trẩn trèo lên tướng đài, điểm duyệt quân sĩ, rồi hỏi các tướng rằng: - Nào! Ai là người dám lĩnh chức tiên phong? Bỗng có một người ngang nhiên bước ra mà nói rằng: - Tôi xin đi! Tiên Trẩn nhìn xem ai thì tức là Lang Đàm, hiện mới lĩnh chức xa hữu. Nguyên trước Lang Đàm mới được lĩnh chức, không chịu vào yết kiến Tiên Trẩn, bởi thế Tiên Trẩn có ý không bằng lòng, ngày nay lại thấy Lang Đàm xin đi tiên phong, càng thêm ghen ghét, mới mắng Lang Đàm rằng: - Mày là một đứa tân tiến tiểu tốt, mày chém chết một thằng giặc mà được trọng dụng, nay đã có ý kiêu ngạo tự đắc, dám khinh trong bọn tướng sĩ ta không có ai là người tài giỏi hay sao? Lang Đàm nói: - Tiểu tướng tình nguyện gia sức giúp việc nước nhà, sao Nguyên soái lại ngăn trở như vậy? Tiên Trẩn nói: - Ở đây không thiếu gì người gia sức, mày có tài trí gì mà dám cậy hơn người. Tiên Trẩn liền thét đuổi Lang Đàm, cách chức không dùng nữa, cho Hồ Cúc Cư thay vào, vì có cái công giáp chiến ở Hào Sơn khi trước, Lang Đàm cúi đầu thở dài, hầm hầm mà lui ra, bỗng gặp người bạn là Tiên Bá ở ngoài đường. Tiên Bá hỏi rằng: - Tôi nghe quan Nguyên soái đang tuyển tướng để đi đánh giặc, sao nhà ngươi lại lững thững đi đâu đây? Lang Đàm nói: - Tôi đã tình nguyện đi tiên phong, để gia sức mà giúp việc nước nhà, ai ngờ lại gặp phải lúc Nguyên soái ngài nổi giận, mắng tôi là tài trí gì mà dám cậy mình hơn các tướng, hiện nay đã cách chức tôi, không dùng nữa rồi. Tiên Bá nổi giận nói: - Tiên Trẩn, nó đã ghét người tài giỏi, âu là hai ta cùng nhau vào giết chết nó đi, để cho hả cái lòng bất bình của chúng ta. Dẫu có chết nữa cũng được thỏa lòng! Lang Đàm nói: - Không nên! Không nên! Đại trượng phu chết phải có nghĩa. Chết mà không có nghĩa thì không gọi là vũ dũng được! Chúa công biết ta là người vũ dũng mà dùng ta làm chức xa hữu, nay Tiên Trẩn cách chức ta đi, nếu ta làm điều bất nghĩa mà chết thì thành ra Tiên Trẩn được tiếng là cách chức một người bất nghĩa, vậy nên hãy thư thả mà đợi dịp sẽ hay. Tiên Bá thở dài mà than rằng: - Nhà ngươi thật là một người cao kiến, ta không bằng được. Nói xong, cùng nhau trở về, Tiên Trẩn dùng con là Tiên Thả Cư làm tiên phong, rồi đem quân sang đóng ở Cơ Thành. Tiên Trẩn họp các tướng lại mà bảo rằng: - Ở Cơ Thành này có một chỗ hang lớn, trong hang rộng lắm, mà hai bên cây cối rậm rạp, có thể phục binh được. Loan Thuẫn (con Loan Chi) và Khước Khuyết nên đem hai đạo quân phục ở chỗ ấy, đợi khi nào Tiên Thả Cư giao chiến với quân Địch, giả cách thua chạy vào trong hang, bấy giờ đổ ra mà đánh thì chắc là bắt được vua Địch; còn Hồ Tần (con Hồ Mao) và Hồ Cúc Cư đem hai đạo quân đi tiếp ứng, để phòng khi quân Địch đến cứu. Ngày hôm sau, vua Địch là Bạch Bộ Hồ đem hơn 100 quân kỵ mã đến đánh. Tiên Thả Cư ra nghênh chiến được mấy hợp, giả cách thua. Bạch Bộ Hồ không biết là kế giả, gia sức đuổi theo, bị Tiên Thả Cư dụ vào trong hang. Phục binh ở hai bên đổ ra đón đánh. Bạch Bộ Hồ tả xung hữu đột, hơn 100 quân kỵ mã chết đã gần hết. Quân Tấn cũng tổn hại rất nhiều. Được một lúc Bạch Bộ Hồ phá tan mấy vòng quân Tấn mà không ai địch nổi. Khi ra gần đến cửa hang, gặp một viên Đại tướng là Khước Khuyết giương cung bắn trúng vào mặt Bạch Bộ Hồ. Bạch Bộ Hồ ngã ngựa, tức thì chết ngay. Khước Khuyết nhận mặt, biết là vua nước Địch, liền cắt lấy đầu để đem về nộp Tiên Trẩn. Tiên Trẩn nghe tin Bạch Bộ Hồ bị bắn, ngửa mặt lên trời mà reo mừng rằng: - May cho vua Tấn ta lắm! May cho vua Tấn ta lắm! Tiên Trẩn lấy bút viết một tờ biểu để trên thư án, không nói cho các tướng biết, rồi cùng với mấy người tâm phúc tức khắc xông vào trận địa quân Địch. Em Bạch Bộ Hồ là Bạch Đôn, chưa biết là Bạch Bộ Hồ đã chết, toan đem quân đi tiếp ứng, bỗng thấy có một viên Đại tướng (tức là Tiên Trẩn) xồng xộc xông đến, Bạch Đôn vội vàng ra nghênh chiến. Tiên Trẩn vai vác cái giáo, trợn mắt thét to một tiếng, mí mắt rách hết cả, máu chảy ròng ròng xuống mặt. Bạch Đôn kinh sợ, lui lại mấy mươi bước, nhưng trông thấy Tiên Trẩn không có quân theo, liền truyền cho quân Địch xúm quanh lại, giương cung ra bắn. Tiên Trẩn hăng hái ra sức, giết chết ba người đầu mục và hơn 20 người quân sĩ, mà khắp mình không bị phải mũi tên nào cả, bởi vì quân Địch thấy Tiên Trẩn là người vũ dũng, đều khiếp đảm, thành ra run tay, bắn chẳng trúng được phát nào. Vả Tiên Trẩn mình mặc mấy lần áo giáp, dẫu trúng cũng không vào được. Tiên Trẩn thấy quân Địch bắn mãi không trúng, mới thở dài mà than rằng: - Ta không giết giặc thì không tỏ được cái tài vũ dũng của ta, nay quân giặc đã biết ta là người vũ dũng, còn giết lắm làm gì! Thôi thì ta đành chết ở đây cho rồi! Tiên Trẩn nói xong, liền cởi áo giáp ra để cho quân Địch bắn một lúc, mũi tên cắm vào như lông dím. Khi chết rồi mà người đứng trơ trơ, không hề chuyển động. Bạch Đôn toan chém lấy đầu, nhưng thấy Tiên Trẩn vẫn trợn mắt vểnh râu như người còn sống, nghĩ lại khiếp sợ, không dám vào chém. Trong đám quân Địch, có người nhận được mặt, nói với Bạch Đôn rằng: - Người ấy là quan Nguyên soái nước Tấn, tên gọi Tiên Trẩn. Bạch Đôn liền cùng với các quân sĩ sụp lạy, rồi bảo nhau rằng: - Ngài thật là một bậc thần nhân! Nói xong, lại quì ở trước mặt Tiên Trẩn mà khấn rằng: - Thần có cho chúng tôi đem về nước để thờ cúng thì xin ngả xuống. Tiên Trẩn vẫn đứng yên như trước. Bạch Đôn lại khấn rằng: - Hay là thần muốn về nước Tấn thì chúng tôi xin đưa về. Khấn xong, tự nhiên Tiên Trẩn ngã xuống.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 46 Vua Sở vì con bị giết oan Quân Tần chết trận được cúng tế

Vua nước Địch là Bạch Bộ Hồ bị giết rồi, quân sĩ trốn về báo với Bạch Đôn. Bạch Đôn khóc rằng: - Khi trước ta đã nói là quân Tấn có trời giúp, không thể đánh nổi, mà anh ta không nghe lời, để đến nỗi bị hại! Bạch Đôn sai người sang nói với quân Tấn, xin đem thi thể Tiên Trẩn đổi lấy thi thể Bạch Bộ Hồ. Lại nói chuyện Khước Khuyết khi chém được thủ cấp Bạch Bộ Hồ, cùng với các tướng đem về nộp quan Nguyên soái, nhưng không thấy Tiên Trẩn đâu cả, liền hỏi các quân sĩ. Quân sĩ đều nói: - Quan Nguyên soái ngài vừa đi khỏi, có truyền cho chúng tôi phải canh giữ cẩn mật, không biết ngài đi đâu! Tiên Thả Cư nghe nói, có ý nghi ngờ, bỗng thấy ở trên thư án có một tờ biểu, vội vàng lấy xem. Trong tờ biểu nói như sau này: "Trung quân Đại phu là Tiên Trẩn có lời tâu bày để Chúa công xét cho; nguyên khi trước chúng tôi vì nóng nẩy quá, không biết giữ lễ, Chúa công đã không trị tội, lại dùng làm Nguyên soái. Ngày nay thắng trận, tất sao Chúa công lại sắp sửa ban thưởng đến chúng tôi, nếu tôi về mà nhận thưởng thì thành ra một kẻ có tội cũng được dự thưởng, còn lấy gì làm phép cho kẻ khác. Vậy tôi xin liều thân xông vào quân Địch, để mượn tay quân Địch giết chết cho rồi! Con tôi là Tiên Thả Cư có thể thay tôi được, tôi xin nói để Chúa công biết" Tiên Thả Cư nói: - Nếu vậy thì thân phụ tôi xông vào quân Địch mà chết mất rồi! Nói xong, khóc òa lên một hồi rồi toan xông vào quân Địch để tìm Tiên Trẩn. Bấy giờ các tướng xúm lại can ngăn, xin hãy sai người đi do thám trước xem Nguyên soái sống chết thế nào, rồi sẽ tiến binh. Bỗng có quân báo em vua Địch là Bạch Đôn sai người đến xin đổi thi thể Tiên Trẩn lấy thi thể Bạch Bộ Hồ (tức là vua Địch). Tiên Thả Cư nghe tin cha là Tiên Trẩn chết, liền vật mình lăn khóc, rồi hẹn với quân Địch đến ngày mai thì đem thi thể đổi lẫn cho nhau. Tiên Thả Cư lại bảo các tướng rằng: - Quân Địch hay gian dối lắm, ngày mai ta cũng phải nên phòng bị mới được! Nói xong, truyền cho các tướng đều phục quân sẵn để phòng khi có việc giao chiến. Ngày hôm sau, Tiên Thả Cư mặc đồ tang phục, ra nơi trận tiền để nhận thi thể Tiên Trẩn. Bạch Đôn sợ vong hồn Tiên Trẩn thiêng liêng, nhổ hết những mũi tên ra, đem nước trầm hương tắm rửa, lại phủ thêm một cái áo cẩm bào, đặt lên trên xe như người còn sống, rồi đưa ra trận tiền giao trả Tiên Thả Cư. Quân Tấn cũng đem thủ cấp Bạch Bộ Hồ giao trả cho quân Địch. Bạch Đôn trông thấy quân Tấn chỉ giao trả có thủ cấp Bạch Bộ Hồ mà thôi, không được đủ thân thể, liền không bằng lòng mà nói rằng: - Quân Tấn đánh lừa ta, sao không giao đủ thân thể? Tiên Thả Cư sai người truyền bảo Bạch Đôn rằng: - Có muốn tìm đủ thân thể thì nhà ngươi phải vào hang đá mà tìm ở trong đống xác người chết. Bạch Đôn giận lắm, cầm cái Khai sơn phủ, vẫy quân xông vào để đánh. Tướng nước Tấn là Hồ Xạ Cô đem quân ra đối địch. Hai bên vừa giao chiến được mấy hợp thì phía tả có Khước Khuyết, phía hữu có Loan Tần đổ ra đón đánh. Bạch Đôn thấy quân Tấn đông quá, vội vàng quay ngựa bỏ chạy. Quân tấn tranh nhau đuổi đánh, quân Địch chết hại rất nhiều. Hồ Xạ Cô giục ngựa đuổi theo Bạch Đôn. Khi đuổi gần đến nơi, Bạch Đôn trông thấy, liền hỏi Hồ Xạ Cô rằng: - Ta trông tướng quân quen mặt lắm, có phải Hồ Xạ Cô đó không? Hồ Xạ Cô nói: - Phải! Bạch Đôn nói: - Vậy tôi xin có lời chào Tướng quân! Cha con Tướng quân khi trước ở nước tôi 12 năm trời, nước tôi có điều gì bạc đãi đâu; ngày nay Tướng quân nên nghĩ lại một chút, tôi chính là em ruột Bạch Bộ Hồ tên gọi Bạch Đôn đây. Hồ Xạ Cô thấy Bạch Đôn nhắc lại chuyện cũ, không nỡ giết chết, liền đáp lại rằng: - Thôi thì ta khoan tha cho nhà ngươi, nhà ngươi nên mau mau thu quân về ngay, chớ ở đây nữa! Hồ Xạ Cô quay ngựa trở lại. Đêm hôm ấy, Bạch Đôn rút hết quân kéo về nước Địch. Bạch Bộ Hồ không có con trai, Bạch Đôn phát tang, rồi lên nối ngôi làm vua nước Địch. Quân Tấn thắng trận rồi, các tướng về yết kiến Tấn Tương công, đệ trình tờ di biểu của Tiên Trẩn. Tấn Tương công thương xót vô cùng, truyền đem thi thể Tiên Trẩn ra xem, trông thấy hai mắt vẫn mở trừng trừng như lúc còn sống, vội vàng ôm lấy thi thể mà khóc rằng: - Tướng quân vì việc nước mà chết! Sống khôn chết thiêng! Xem mấy lời di biểu này thì đủ biết Tướng quân là người trung nghĩa. Tấn Tương công nói xong, sụp lạy ở trước linh cữu Tiên Trẩn, phong cho con Tiên Trẩn là Tiên Thả Cư thay cha làm chức Nguyên soái. Bấy giờ hai mắt Tiên Trẩn mới nhắm lại, về sau người nước Tấn có lập đền thờ ở đất Cơ Thành. Tấn Tương công khen Khước Khuyết có công giết được Bạch Bộ Hồ, lại phong cho đất Ký Ấp mà bảo rằng: - Nhà ngươi biết đổi lại cái lỗi của thân phụ nhà ngươi ngày xưa, vậy nên ta trả lại cho đất Ký Ấp là đất ăn lộc của thân phụ nhà ngươi trước. Tấn Tương công lại bảo Tư Thần rằng: - Nhà ngươi có công cử Khước Khuyết, nếu ngươi không nói thì sao ta biết Khước Khuyết mà dùng! Tấn Tương công đem đất Tiêu Mao thưởng cho Tư Thần. Nước Hứa và nước Sái từ khi Tấn Văn công mất đi, lại thần phục nước Sở. Tấn Tương công cho Dương Xử Phủ làm đại tướng, đem quân sang đánh nước Hứa và nước Sái. Sở Thành vương sai Đấu Bột và Thành Đại Tâm đem quân đi cứu. Đi đến bến sông Tri Thủy, trông thấy quân Tấn ở bờ bên kia, liền truyền cho quân sĩ đóng lại ở bờ sông bên này. Hai bên chỉ cách nhau một dòng nước chảy. Quân Tấn bị quân Sở ngăn trở, không qua sông được, đã hơn hai tháng, thành ra hết cả lương ăn. Dương Xử Phủ định rút quân về, nhưng sợ người nước Sở đuổi theo, lại e rằng người ta cười mình phải chịu kém quân Sở, mới lập kế sai sứ sang nói với tướng nước Sở là Đấu Bột rằng: "Đã đến thì không sợ, đã sợ thì không đến, Tướng quân muốn đánh nhau với quân Tấn tôi thì quân Tấn tôi xin rút quân lùi lại một xá, để nhường cho Tướng quân qua sông mà bày trận, rồi ta sẽ cùng nhau giao chiến; nếu Tướng quân không muốn qua sông thì Tướng quân cũng nên lùi lại một xá, để nhường quân Tấn tôi qua sông mà bày trận và xin định ngày giao chiến. Bằng nay không tiến không lui thì hai bên cùng nhọc công tốn của, phỏng có ích gì! Xin Tướng quân nghĩ lại" Đấu Bột nổi giận, nói: - Nước Tấn khinh ta không dám qua sông hay sao! Nói xong, toan đem quân qua sông để đánh Tấn. Thành Đại Tâm vội vàng ngăn lại mà nói rằng: - Người nước Tấn xin rút quân lùi lại một xá là nói dối để dụ quân ta sang đó mà thôi, ngài chớ nên tin vội! Nếu quân ta sang được một nửa, tất quân Tấn đánh ngay, bấy giờ ta tiến cũng dở mà thoái cũng dở, chi bằng ta hãy rút quân, nhường cho quân Tấn sang trước. Đấu Bột khen phải, rồi truyền quân sĩ lùi lại ba mươi dặm (tức là một xá) để nhường cho quân Tấn qua sông. Sứ nước Tấn về nói với Dương Xử Phủ. Dương Xử Phủ tuyên bá cho các quân sĩ rằng: - Tướng nước Sở là Đấu Bột sợ thế quân ta, hiện đã rút quân trốn đi rồi! Quân sĩ tưởng thực, đều huyên truyền bảo nhau, Dương Xử Phủ lại nói: - Quân Sở đã trốn đi rồi thì ta còn qua sông làm gì nữa! Bây giờ ngày hết tết đến, tiết trời lại rét, âu là ta hãy thu quân về nghỉ, rồi sau sẽ liệu. Dương Xử Phủ thu quân trở về nước Tấn. Đấu Bột chờ đã hai ngày mà không thấy quân Tấn qua sông, sai người đi dò thám thì ra quân Tấn rút về đã xa rồi, mới cũng truyền lệnh thu quân về nước. Lại nói chuyện Sở Thành Vương có người con trưởng tên là Thương Thần, khi trước Sở Thành Vương muốn lập làm Thái tử, hỏi ý kiến Đấu Bột. Đấu Bột nói: - Nước Sở ta mấy đời nay vẫn lập con thứ, không lập con trưởng. Vả tôi xem tướng mạo Thương Thần, mắt như mắt cú, tiếng như tiếng beo, thì là người có tính tàn nhẫn, ngày nay Đại vương yêu mà lập lên, ngày khác lại ghét mà truất đi, tất hắn nổi loạn. Sở Thành Vương không nghe, liền lập Thương Thần làm Thái tử, và cho Phan Sùng làm chức Thái phó. Thương Thần nghe nói Đấu Bột không muốn lập mình làm Thái tử, có ý căm tức; đến lúc Đấu Bột đem quân đi cứu nước Sái, lại không giao chiến với Tấn mà rút quân về, Thương Thần mới đem lời gièm pha mà nói với Sở Thành Vương rằng: - Đấu Bột ăn lễ của Dương Xử Phủ, vậy nên mới rút quân về. Sở Thành Vương tin lời, khi Đấu Bột về, không cho vào yết kiến, lại sai người đưa cho một thanh kiếm. Đấu Bột không dùng kế gì mà giãi tỏ ra cho được, liền cầm thanh kiếm đâm cổ mà chết. Thành Đại Tâm vào yết kiến Sở Thành Vương, sụp lạy kêu khóc, thuật lại cái cớ Đấu Bột rút quân về, không phải là ăn lễ của Dương Xử Phủ; nếu bắt tội về việc rút quân thì Thành Đại Tâm này cũng xin chịu tội. Sở Thành Vương nói: - Nhà ngươi nói làm chi nữa! Ta cũng lấy việc ấy làm hối hận. Sở Thành Vương từ bấy giờ có ý nghi Thái tử Thương Thần; sau Sở Thành Vương lại yêu người con thứ tên là Chức, muốn bỏ Thương Thần mà lập Chức làm Thái tử, nhưng lại sợ Thương Thần nổi loạn, mới định tìm cớ để giết đi. Cung Nhân nghe được tin ấy nói với Thương Thần, Thương Thần còn ngần ngừ chưa cho điều ấy làm thực, thuật chuyện lại cho quan Thái phó là Phan Sùng nghe. Phan Sùng nói: - Tôi xin hiến một kế, có thể dò xét được điều ấy thực hay là giả. Thương Thần hỏi: - Kế gì? Phan Sùng nói: - Em gái Đại vương ta lấy chồng ở nước Giang, gọi là nàng Giang Vu, nay về thăm Đại vương ta, ở chơi trong cung lâu ngày, tất biết rõ điều ấy. Thái tử nên bày một tiệc rượu, mời Giang Vu đến ăn tiệc, rồi trong khi ăn tiệc, cố ý làm ra bộ khinh bỉ, để khiến cho Giang Vu phải tức giận. Giang Vu đã tức giận, tất thế nào cũng nói lộ điều ấy ra. Thương Thần nghe lời, bày tiệc rượu để mời nàng Giang Vu. Lúc Giang Vu mới đến thì Thương Thần tiếp đãi rất lễ phép, khi uống rượu tới nửa chừng, dần dần làm ra bộ khinh bỉ, sai người nhà bếp đưa món ăn mà không thèm đứng dậy mời, lại cố ý ngoảnh mặt nói chuyện riêng với mấy đứa thị nữ hầu rượu. Giang Vu hai lần hỏi chuyện, đều không trả lời. Giang Vu giận lắm, đập bàn đứng dậy mà sỉ mắng Thương Thần rằng: - Mày tệ quá như thế, thảo nào mà Đại vương định giết mày để lập Công tử Chức. Thương Thần giả cách xin lỗi. Giang Vu không thèm nhìn mặt, lên xe đi ngay, vừa đi vừa sỉ mắng Thương Thần thậm tệ. Ngay đêm hôm ấy, Thương Thần đến bảo Phan Sùng và hỏi kế để cầu thoát nạn. Phan Sùng nói: - Thái tử có thể chịu cúi đầu mà thần phục Công tử Chức được hay không? Thương Thần nói: - Ta là con trưởng mà phải thần phục con thứ thì chịu thế nào được! Phan Sùng nói: - Nếu không chịu thần phục người ta thì chi bằng trốn sang nước khác. Thương Thần nói: - Trốn cũng vô ích, chỉ thêm nhục mà thôi! Phan Sùng nói: - Trừ hai điều ấy thì chẳng còn kế gì nữa! Thương Thần lại cố ý hỏi mãi. Phan Sùng nói: - Có một kế này rất thần hiệu, nhưng chỉ sợ Thái tử không nỡ làm. Thương Thần nói: - Trong lúc đang nguy cấp này, lại còn điều gì là điều không nỡ! Phan Sùng ghé tai mà bảo rằng: - Chỉ làm đại sự thì mới có thể đổi họa làm phúc được! Thương Thần nói: - Việc đó ta phải làm! Nói xong, liền tụ tập quân sĩ, đến nửa đêm vào vây cung Sở Thành Vương. Phan Sùng tay cầm thanh kiếm, cùng với mấy người lực sĩ đi thẳng đến trước mặt Sở Thành Vương. Các nội thị sợ hãi, đều bỏ chạy tán loạn cả. Sở Thành Vương hỏi Phan Sùng rằng: - Nhà ngươi vào đây có việc gì? Phan Sùng nói: - Đại vương làm vua đã 46 năm rồi, cũng nên thôi đi! Nay người trong nước đều mong có vua mới, xin Đại vương truyền ngôi lại cho Thái tử. Sở Thành vương kinh sợ mà nói rằng: - Ta bằng lòng nhường ngôi lại cho, nhưng chẳng biết các ngươi có để cho ta sống hay không? Phan Sùng nói: - Vua nọ chết thì vua kia mới lập nên, chứ có lẽ nào một nước hai vua bao giờ! Sao Đại vương đã già mà còn chưa hiểu việc đời! Sở Thành Vương nói: - Ta vừa mới sai nhà bếp nấu món chân gấu, đợi chín cho ta ăn một miếng thì dẫu chết ta cũng cam lòng! Phan Sùng quát to lên rằng: - Món chân gấu thì còn lâu mới chín được, hay là Đại vương định dùng dằng đợi người đến cứu đó chăng! Xin Đại vương tự liệu đi, chớ để cho tôi phải động đến. Phan Sùng cởi dây lưng ném ở trước mặt Sở Thành Vương. Sở Thành Vương ngửa mặt lên trời mà kêu rằng: - Đấu Bột giỏi thật! Đấu Bột giỏi thật! Ta không nghe lời Đấu Bột, đến nỗi phải tai vạ, còn nói gì nữa! Nói xong, liền cầm lấy dây lưng mà buộc vào cổ. Phan Sùng sai mấy người đứng hai bên nắm lấy đầu dây mà kéo, được một lúc thì tắt hơi. Giang Vu nghe tin, thở dài mà than rằng: - Thôi! Chính ta làm hại anh ta rồi đó! Giang Vu cũng thắt cổ tự tử. Thương Thần đã giết xong Sở Thành Vương, nói dối là Sở Thành Vương bị cảm mà chết, sai người báo tang cho các nước chư hầu biết, rồi lên nối ngôi, tức là Sở Mục Vương. Sở Mục Vương gia phong cho Phan Sùng làm chức thái sư và giao binh quyền cho, để coi giữ vương cung. Quan Lệnh doãn nước Sở là Đấu Ban cùng các quan đều biết là Sở Thành Vương bị giết mà không ai dám nói. Đấu Nghi Thân nghe tin Sở Thành Vương bị giết, cùng với quan Đại phu là Trọng Qui bàn mưu để giết Sở Mục Vương, chẳng ngờ việc tiết lộ ra, Sở Mục Vương truyền cho quan Tư mã là Đấu Việt Tiêu bắt Đấu Nghi Thân và Trọng Qui mà giết đi. Ngày trước có người thầy đồng tên là Duật Tự đã nói: Sở Thành Vương cùng với Thành Đắc Thần và Đấu Nghi Thân ba người đều bất đắc kỳ tử, đến bây giờ quả nhiên ứng nghiệm. Đấu Việt Tiêu có ý muốn làm lệnh doãn, mới nói với Sở Mục Vương rằng: - Tôi thấy Đấu Ban nói chuyện với người ta, thường phàn nàn về nỗi cha con nhà hắn chịu ơn Tiên vương nhiều lắm, mà không giúp nên được cái chí lớn của Tiên vương ngày xưa thì lấy làm xấu hổ. Hắn muốn lập Công tử Chức lên làm vua; mới rồi Đấu Nghi Thân làm phản là mưu tự Đấu Ban, nay Đấu Nghi Thân đã bị giết rồi, Đấu Ban có ý lo sợ, tôi e rằng hắn lại bày mưu khác, Đại vương nên phải phòng bị mới được. Sở Mục Vương đem lòng nghi Đấu Ban, mới triệu Đấu Ban vào, sai đi giết Công tử Chức. Đấu Ban chối từ không chịu đi. Sở Mục Vương nổi giận, nói: - Nhà ngươi muốn giúp nên cái chí lớn của Tiên vương ngày xưa có phải không? Sở Mục Vương liền cầm cái dùi đồng đánh chết Đấu Ban. Công tử Chức sợ hãi, định chạy sang nước Tấn. Đấu Việt Tiêu đuổi theo đến ngoài cõi, giết chết Công tử Chức. Sở Mục Vương cho Thành Đại Tâm làm lệnh doãn, chưa được bao lâu thì Thành Đại Tâm chết, Sở Mục Vương liền cho Đấu Việt Tiêu làm lệnh doãn, và cho Vĩ Giả làm quan tư mã. Sau Sở Mục Vương lại nhớ đến công Tử Văn ngày xưa, mới cho Đấu Khắc Hoàng (con Đấu Ban, cháu Tử Văn) làm quan châm doãn. Tấn Tương công nghe tin Sở Thành Vương chết, bảo Triệu Thuẫn rằng: - Thế là lòng trời đã chán nước Sở rồi! Triệu Thuẫn nói: - Vua Sở trước dẫu là bạo ngược, nhưng còn có thể đem điều lễ nghĩa mà phân giải được, chứ như Thương Thần (tức là Sở Mục Vương) ngày nay thì cha nó, nó còn chẳng thiết, huống chi là ai! Tôi e rằng nó còn làm nhiều điều tai hại cho các nước chư hầu nữa. Mấy năm sau, quả nhiên Sở Mục Vương đem quân đi đánh các nước chư hầu, đúng như lời nói của Triệu Thuẫn. Tướng nước Tần là Mạnh Minh nói với Tần Mục công, xin đem quân đi đánh Tấn để báo thù trận thua ở Hào Sơn khi trước, Tần Mục công khen mà cho đi. Mạnh Minh liền cùng với Kiển Bính và Tây Khất Thuật đem quân đi đánh Tấn. Tấn Tương công vẫn lo nước Tần đem quân sang đánh báo thù, ngày nào cũng sai người đi dò thám, khi được tin Mạnh Minh lại sắp sang đánh, mới cười mà bảo rằng: - Nước Tần nay đã sắp sang tạ ơn ta đó! Tấn Tương công cho Tiên Thả Cư làm chánh tướng, Triệu Thôi làm phó tướng, Hồ Cúc Cư làm chức xa hữu, để đợi quân Tần sang đến nơi thì đánh. Khi đại binh sắp khởi hành, Lang Đàm nói với Tiên Thả Cư xin đi theo. Tiên Thả Cư cho đi. Bấy giờ bọn Mạnh Minh chưa sang đến nơi, Tiên Thả Cư bảo các tướng rằng: - Đợi cho quân Tần đến mà đánh, chi bằng ta kéo sang mà đánh quân Tần. Tiên Thả Cư nói xong, liền kéo quân sang đất Bành Nha (đất nước Tần) để đón quân Tần. Khi quân Tần đến nơi, hai bên đã bày trận thế, Lang Đàm nói với Tiên Thả Cư rằng: - Tiên Nguyên soái (tức là Tiên Trẩn, cha Tiên Thả Cư) chê tôi là người vô dũng, vậy nên truất bỏ không dùng, nay Tướng quân hãy thử cho tôi ra trận, tôi không dám cầu công, chỉ mong rửa được cái điều xấu hổ trước mà thôi. Lang Đàm cùng với bạn là Tiên Bá đem hơn một trăm người xông thẳng vào trong đám quân Tần. Bọn Lang Đàm đi đến đâu thì quân Tần tan ra đến đấy, sau Tiên Bá bị Kiển Bính giết chết. Tiên Thả Cư đứng ở trên xe, trông thấy quân Tần rối loạn, mới giục quân tiến vào. Bọn Mạnh Minh không thể chống lại được, tức Nguyên khi trước Mạnh Minh bị quân Tấn bắt, Tấn Tương công đã tha cho về, sau lại sai người đuổi theo giả cách ban cho con ngựa để lừa bắt, khi bấy giờ Mạnh Minh đã đứng ở dưới thuyền, ngoảnh lại bảo rằng: - Mấy năm nữa tôi xin sang tạ ơn. Thì bỏ chạy. Tiên Thả Cư tìm cứu Lang Đàm ra thì thân thể Lang Đàm chỗ nào cũng bị thương cả, được hơn một ngày rồi chết. Quân Tấn đã được thắng trận, kéo nhau trở về. Tiên Thả Cư tâu với Tấn Tương công rằng: - Ngày nay thắng trận là nhờ sức của Lang Đàm, chứ không dự gì đến tôi. Tấn Tương công truyền theo lễ quan Thượng đại phu để an táng Lang Đàm ở Tây Quách, bắt các quan triều thần đều phải đi đưa cả. Mạnh Minh thua trận chạy về nước Tần, tự nghĩ mình lần này tất phải tội chết, ai ngờ Tần Mục công chẳng trách giận gì cả, lại sai người ra đón và vẫn giao quyền chính cho như trước. Mạnh Minh tự nghĩ xấu hổ vô cùng, mới dốc một lòng sửa sang quyền chính, lại đem hết những của riêng ra để tư cấp cho những nhà có người chết trận, ngày nào cũng luyện tập quân sĩ, để định có ngày sang đánh báo thù nước Tấn. Cuối năm ấy, Tấn Tương công lại sai Tiên Thả Cư liên hợp với quan Đại phu nước Tống là Công tử Thành, quan Đại phu nước Trần là Viện Tuyển, quan Đại phu nước Trịnh là Công tử Quí Sinh, cùng đem quân sang đánh Tần, chiếm lấy đất Giang và đất Bành Nha, rồi rút quân về, lại nói giỡn một câu rằng: - Mới rồi nước Tần sang tạ ơn thì ngày nay ta đáp lại đó! Mạnh Minh không đem quân đi đánh quân Tấn, người Tần đều cho là nhát, chỉ có Tần Mục công vẫn tin Mạnh Minh là người giỏi, thường bảo các quan triều thần rằng: - Mạnh Minh tất có ngày báo thù được quân Tấn, chỉ chưa gặp thời đó thôi. Đến tháng 5 năm sau, Mạnh Minh luyện tập quân sĩ đều đã tinh nhuệ cả rồi, mới xin Tần Mục công đi đánh, lại nói với Tần Mục công rằng: - Nếu lần này không báo thù được nước Tấn thì quyết không sống mà về làm gì! Tần Mục công nói: - Quân ta đã ba lần bị quân Tấn đánh thua rồi! Nếu lần này lại thua thì ta cũng chẳng còn mặt mũi nào mà về nước nữa! Tần Mục công nói xong, liền chọn ngày cử đại binh đi đánh Tấn; phàm các quân sĩ; phải đi tòng chinh, đều tư cấp cho người nhà rất hậu. Các quân sĩ thấy vậy, đều hăng hái xin hết sức. Khi đại binh đã qua sông Hoàng Hà, Mạnh Minh truyền đem bao nhiêu thuyền bè đốt hết sạch cả. Tần Mục công lấy làm lạ mà hỏi rằng: - Tại sao quan Nguyên soái lại đốt hết cả thuyền bè như vậy? Mạnh Minh nói: - Quân có khí thế thì mới đánh được giặc! Quân ta thua luôn mãi, khí thế đã mất hết cả rồi, nay tôi đốt hết thuyền bè đi là tỏ cho quân ta biết rằng chỉ có tiến chứ không có thoái, khiến cho khí thế quân ta được thêm hăng hái, nếu quân ta đã thắng trận rồi thì lo gì mà không có thuyền bè mà trở về. Tần Mục công khen phải, Mạnh Minh kéo quân đi tiên phong, xông vào đánh lấy thành Vương Quan. Quân nước Tấn phi báo Tấn Tương công. Tấn Tương công họp các quan triều thần lại để thương nghị. Triệu Thôi nói: - Nước Tần căm tức ta nhiều lần, lần này vua Tần thân hành cử đại binh sang, cố chết mà đánh ta, ta không thể địch nổi; chi bằng ta hãy tạm nhường quân Tần, khiến cho quân Tần đắc chí, rồi sau ta sẽ xin giảng hòa. Tiên Thả Cư cũng nói với Tấn Tương công rằng: - Vua Tần lấy việc ngày trước thua ta làm xấu hổ, mà các tướng nước Tần cũng đều hăng hái, nếu không thắng được ta thì thế tất không thôi. Chúa công nên nghe lời Tử Dư (tức là Triệu Thôi) là phải! Tấn Tương công truyền cho quân sĩ các nơi đều một mực cố thủ, không được giao chiến với quân Tần. Do Dư bảo Tần Mục công rằng: - Quân Tấn sợ ta rồi! Ta nên nhân dịp này đem quân đến dãy núi Hào Sơn, thu nhặt lấy những hài cốt quân ta bị chết ngày trước để mà mai táng, cho khỏi điều hổ thẹn. Tần Mục công theo lời, kéo quân thẳng tới Hào Sơn, quân Tấn không thấy có một người nào dám ra ngăn trở cả. Tần Mục công sai người thu nhặt lấy những hài cốt quân Tần chết trận khi trước, đem mai táng ở một nơi, rồi giết trâu bò để làm lễ cúng tế. Tần Mục công mặc đồ tang phục đứng rót rượu để làm lễ, lại ứa nước mắt khóc òa lên. Mạnh Minh và các tướng đều sụp lạy mà khóc cả. Quân sĩ trông thấy, ai cũng chảy nước mắt. Dân ở đất Giang và đất Bành Nha nghe tin Tần Mục công thắng được quân Tấn, liền cùng nhau tụ họp, đuổi bỏ các quan trấn thủ nước Tấn đi, rồi lại theo về nước Tần. Tần Mục công thu quân trở về nước Tần, ban thưởng cho Mạnh Minh, Kiển Bính và Tây Khất Thuật. Vua Tây Nhung là Xích Ban, khi trước thấy quân Tần hai ba lần bị thua, có ý khinh nước Tần hèn yếu, định làm phản nước Tần. Đến lúc Tần Mục công thắng được quân Tấn, thu quân trở về, toan rẽ sang đánh Tây Nhung. Do Dư mới nói với Tần Mục công, xin truyền hịch cho Tây Nhung, bắt phải triều cống, nếu không chịu triều cống, bấy giờ sẽ đánh. Xích Ban nghe tin Mạnh Minh nước Tần thắng được quân Tấn, đang có lòng lo sợ, thấy có tờ hịch, vội vàng rủ nhau hơn 20 nước nhỏ ở phía Tây phương cùng vào triều cống nước Tần, tôn Tần Mục công làm bá chủ tất cả các nước ở Tây phương. Uy danh Tần Mục công đồn đến chốn kinh sư nhà Chu. Chu Tương Vương bảo Doãn Vũ công rằng: - Ngày xưa Trùng Nhĩ (tức là Tấn Văn công) nước Tấn đại hội chư hầu, Trẫm sách phong cho làm bá chủ; nay Nhâm Hiếu (tức là Tần Mục công) nước Tần cường thịnh, chẳng kém gì nước Tấn, Trẫm cũng muốn sách phong cho, nhà ngươi nghĩ thế nào? Doãn Vũ công nói: - Nước Tần dẫu cường thịnh, nhưng chưa có công trạng gì với nhà Chu ta, nay lại có ý bất hòa với Tấn mà vua Tấn ngày nay hiện đang noi theo được công nghiệp của cha trước là Tấn Trùng Nhĩ. Nếu ta sách phong cho Tần thì mếch lòng Tấn chi bằng ta sai sứ ban thưởng cho Tần, thế thì Tần biết ơn ta, mà Tấn cũng chẳng oán gì ta được. Chu Tương Vương theo lời.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 47 Lộng Ngọc cưỡi phượng theo Tiêu Sử Triệu Thuẫn bội Tần lập Di Cao

Tần Mục công đã làm bá chủ các nước ở Tây phương. Chu Tương Vương sai Doãn Vũ công đem một cái trống đồng ban thưởng cho Tần Mục công. Tần Mục công cáo là tuổi già, không vào triều được, sai Công Tôn Chi sang nhà Chu để tạ ơn. Năm ấy Do Dư ốm chết, Tần Mục công thương tiếc vô cùng, liền cho Mạnh Minh thay Do Dư làm chức hữu thứ trưởng (tức là tể tướng). Công Tôn Chi khi ở nhà Chu về, biết ý Tần Mục công muốn trọng dụng Mạnh Minh, cũng cáo lão về nghỉ. Tần Mục công có một người con gái bé, lúc người con gái ấy mới sinh, gặp có kẻ đem dâng viên ngọc phác. Tần Mục công sai thợ dũa đi, thành một viên ngọc sắc biếc mà đẹp lắm. Đến lúc người con gái đầy tuổi, trong cung bày đồ toái bàn, người con gái nhặt ngay viên ngọc, rồi ngắm nghía mãi, bởi vậy mới đặt tên là Lộng Ngọc. Lúc nàng Lộng Ngọc lớn lên, nhan sắc xinh đẹp tuyệt trần, lại thêm tính thông minh, có tài thổi ống sinh mà không học ai cả, mà thành âm điệu. Tần Mục công sai thợ làm một cái ống sinh bằng ngọc để cho nàng Lộng Ngọc thổi. Nàng Lộng Ngọc thổi ống sinh ấy, tiếng trong như tiếng chim phượng. Tần Mục công yêu lắm, lại lập một cái lầu để cho nàng Lộng Ngọc ở, đặt tên là Phượng Lâu; trước lầu có xây một cái đài, cũng đặt tên là Phượng Đài. Năm Lộng Ngọc đã 15 tuổi, Tần Mục công muốn tìm một người giai tế, Lộng Ngọc thề rằng: - Tìm người nào tài thổi ống sinh, có thể họa với ta được, ta mới chịu lấy làm chồng, còn ai thì ta cũng chẳng thiết. Tần Mục công sai sứ đi tìm, chẳng được một người nào tài thổi ống sinh cả. Một hôm Lộng Ngọc đang ngồi ở trên lầu, cuốn rèm ngắm cảnh, trông thấy trời quang mây tạnh, vừng trăng sáng tỏ như gương, truyền cho thị nữ đốt một lò hương, rồi đem ống sinh ra thổi. Bấy giờ gió mát hây hẩy, bỗng nghe có tiếng người họa, lúc gần lúc xa, Lộng Ngọc lấy làm lạ, mới dừng ống sinh lại không thổi nữa, rồi lắng tai nghe thì thấy tiếng họa ấy cũng im đi, mà còn hơi văng vẳng. Lộng Ngọc nghĩ ngẩn người ra, một mình lưỡng lự canh chầy, đem cái ống sinh đặt ở đầu giường rồi nằm xuống ngủ. Lộng Ngọc đang nằm ngủ, bỗng thấy về phía tây nam trên trời cửa mở rộng ra, hào quang ngũ sắc, rực rỡ như ban ngày, có một chàng trẻ tuổi, mũ lông áo hạc, cưỡi con chim phượng ở trên trời xuống, đứng trước Phượng Đài mà bảo Lộng Ngọc rằng: - Ta đây làm chủ ở núi Họa Sơn, Ngọc Hoàng Thượng Đế sai ta kết duyên với nàng, đến ngày trung thu này đôi ta gặp nhau, ấy là duyên số đã định sẵn như vậy! Chàng trẻ tuổi ấy nói xong, thò tay vào bên mình, cởi cái ống ngọc tiêu, rồi đứng tựa vào lan can mà thổi. Con chim phượng đứng bên cũng vươn cánh ra, vừa kêu vừa múa. Tiếng phượng kêu cùng với tiếng ngọc tiêu xướng họa ăn nhau như một, theo điệu cung thương, nghe rất êm ái, Lộng Ngọc mê mẫn tâm thần mà hỏi rằng: - Khúc này là khúc ở đâu? Chàng trẻ tuổi ấy nói: - Đấy là khúc "Họa Sơn ngâm" đó! Lộng Ngọc lại hỏi: - Khúc này có học được không? Chàng trẻ tuổi ấy nói: - Khi ta đã kết duyên với nàng rồi thì khó gì mà ta không dạy nàng được! Chàng trẻ tuổi ấy đến gần trước mặt mà cầm lấy tay Lộng Ngọc. Lộng Ngọc giật mình tỉnh dậy, thành ra một giấc chiêm bao. Sáng hôm sau, Lộng Ngọc thuật lại chuyện chiêm bao cho Tần Mục công nghe. Tần Mục công sai Mạnh Minh cứ theo như hình tượng người trong mộng mà đến dò tìm ở núi Họa Sơn. Kẻ nông phu ở đấy trỏ lên núi mà bảo Mạnh Minh rằng: - Từ hôm rằm tháng 7 mới rồi, có một người lạ mặt, đến làm nhà ở trên đỉnh núi này, ngày nào cũng xuống mua rượu uống, đến buổi chiều lại thổi chơi một khúc ngọc tiêu, ai nghe cũng lấy làm thích lắm, không biết là người ở đâu. Mạnh Minh lên núi, quả nhiên thấy có một người mũ lông áo bạc, trông như một vị thần tiên. Mạnh Minh biết là không phải người thường, mới đến trước mặt vái chào mà hỏi họ tên người ấy. Người ấy nói: - Tôi họ Tiêu tên Sử. Chẳng hay ngài là ai? Đến đây có việc gì? Mạnh Minh nói: - Tôi là chức hữu thứ trưởng nước này, tên gọi Mạnh Minh. Chúa công tôi có một người con gái yêu, còn đang kén chồng. Người con gái Chúa công tôi, tài thổi ống sinh, muốn tìm được một người như thế nữa mà kết duyên; nay nghe ngài am hiểu việc âm nhạc, vậy Chúa công tôi sai đến đón! Tiêu Sử nói: - Tôi không có tài cán gì, chỉ gọi là hơi biết âm nhạc một đôi chút mà thôi, có đâu tôi dám vâng mệnh. Mạnh Minh nói: - Xin ngài cứ cùng tôi về yết kiến Chúa công. Khi về đến kinh thành, Mạnh Minh vào tâu Tần Mục công trước, rồi sau đưa Tiêu Sử vào. Tần Mục công ngồi ở trên Phượng Đài, Tiêu Sử sụp lạy mà tâu rằng: - Chúng tôi ở nơi thảo dã, chưa hiểu lễ phép, có điều gì sơ suất, xin Chúa công miễn thứ cho. Tần Mục công thấy Tiêu Sử hình dung thanh nhã, không phải người thường, cũng có ý hơi bằng lòng, mới cho ngồi ở bên cạnh mà hỏi rằng: - Ta nghe nhà ngươi tài thổi ống tiêu, tất là cũng tài thổi ống sinh nữa! Tiêu Sử nói: - Tôi chỉ biết thổi ống tiêu, không biết thổi ống sinh. Tần Mục công nói: - Ta định tìm một người tài thổi ống sinh, nay nhà ngươi chỉ biết thổi ống tiêu mà thôi thì không làm rể ta được. Tần Mục công nói xong, bảo Mạnh Minh đưa Tiêu Sử ra. Lộng Ngọc sai nội thị tâu với Tần Mục công rằng: - Tiêu với sinh cũng là một loài, người ta đã tài thổi ống tiêu thì sao Chúa công không bảo dạo chơi một khúc, để cho người ta được phô tài. Tần Mục công lấy làm phải, lại bảo Tiêu Sử thổi ống tiêu. Tiêu Sử mới thổi một khúc thì thấy có gió mát hây hẩy; thổi đến khúc thứ hai thì mây che bốn mặt; đến khúc thứ ba thì có một đôi bạch hạc múa lượn ở trên không, lại có mấy đôi khổng tước bay về, và các giống chim kêu ríu rít. Một lúc lâu rồi mới tan đi. Tần Mục công rất bằng lòng. Bấy giờ Lộng Ngọc đứng ở trong rèm trông thấy, cũng bằng lòng mà nói rằng: - Người ấy thật đáng làm chồng ta! Tần Mục công lại hỏi Tiêu Sử rằng: - Nhà ngươi có biết ống tiêu và ống sinh làm từ đời nào không? Tiêu Sử nói: - Ống sinh làm ra từ đời Nữ Oa, ống tiêu làm ra từ đời Phục Hi. Tần Mục công nói: - Nhà ngươi hãy thử kể rõ nguyên ủy cho ta nghe. Tiêu Sử nói: - Nghề tôi ở ống tiêu, vậy tôi xin kể nguyên ủy ống tiêu: Ngày xưa vua Phục Hi ghép trúc làm ống tiêu, chế theo hình chim phượng, tiếng thổi cũng giống tiếng chim phượng. Thứ lớn gọi là Nhã Tiêu, ghép liền hai mươi ba ống, dài một thước bốn tấc; thứ nhỏ gọi là Tụng tiêu, ghép liền mười sáu ống, dài hai thước một tấc. Cả hai thứ ấy gọi chung một tiếng là Tiêu quản, còn thứ không có đáy thì là Đỗng tiêu. Về sau vua Hoàng Đế sai Linh Luân lấy trúc ở Côn Khuê, chế làm ống địch; ống địch có bảy lỗ, cầm ngang mà thổi, cũng giống tiếng chim phượng, trông giản tiện lắm! Người đời sau thấy ống Tiêu quản phiền quá, mới chỉ dùng một ống địch rồi cầm mà thổi dọc. Thứ dài gọi là tiêu, thứ ngắn gọi là địch, bởi vậy cái ống tiêu đời nay, không phải như ống tiêu đời xưa. Tần Mục công lại hỏi: - Sao nhà ngươi thổi ống tiêu mà lại có các giống chim bay đến? Tiêu Sử nói: - Ống tiêu dẫu mỗi đời một khác, nhưng tiếng thổi bao giờ vẫn giống tiếng chim phượng. Chim phượng là đầu các giống chim, bởi vậy các giống chim nghe tiếng phượng, đều kéo nhau đến cả. Ngày xưa vua Thuấn chế ra khúc nhạc Tiêu Thiều mà chim phượng còn bay đến, huống chi là các giống chim khác! Tiêu Sử ứng đối trơn như nước chảy, tiếng nói lại sang sảng. Tần Mục công càng bằng lòng lắm, bảo Tiêu Sử rằng: - Ta có một người con gái tên gọi Lộng Ngọc, cũng hơi biết âm nhạc, không muốn gả cho những đứa ngu ngốc, vậy xin cùng với nhà ngươi kết duyên. Tiêu Sử nghe nói, nghiêm nét mặt lại, rồi sụp lạy hai lạy mà từ chối rằng: - Tôi vốn là người thôn dã, có đâu dám sánh với bậc tôn quí! Tần Mục công nói: - Con gái ta vốn có lời thề nguyện, muốn chọn được người nào tài thổi ống sinh thì mới lấy làm chồng, nay nhà ngươi thổi ống tiêu mà lại cảm động được đến trời đất và muôn vật, như vậy thì lại hơn người thổi ống sinh nhiều lắm. Vả con gái ta khi trước đã có điềm mộng, ngày nay lại chính là tiết trung thu rằm tháng tám, duyên trời định sẵn, nhà ngươi chớ nên chối từ. Tiêu Sử lạy tạ. Tần Mục công sai quan Thái sử chọn ngày để làm lễ cưới. Quan Thái sử nói: - Hôm nay là ngày trung thu, trăng vừa tròn bóng, xin Chúa công cho làm lễ cưới, để hợp với cái nghĩa đoàn viên. Tần Mục công truyền cho Tiêu Sử tắm gội, thay mũ áo mới, rồi sai người đưa đến Phượng lâu, để cùng với Lộng Ngọc kết duyên. Ngày hôm sau, Tần Mục công phong cho Tiêu Sử làm trung đại phu. Tiêu Sử dẫu làm trung đại phu, nhưng không dự gì đến quyền chính cả, ngày nào cũng vui chơi ở chốn Phượng Lâu; lại không ăn cơm, chỉ thỉnh thoảng uống mấy chén rượu mà thôi. Lộng Ngọc học được phép tiên của Tiêu Sử cũng không ăn cơm. Tiêu Sử lại dạy Lộng Ngọc thổi ống tiêu. Vợ chồng ở với nhau ước được nửa năm, có một đêm, hai vợ chồng nhân khi bóng trăng vằng vặc, đem ống tiêu ra thổi, bỗng thấy một con phượng xuống đậu ở bên tả, và một con rồng xuống phục ở bên hữu. Tiêu Sử bảo Lộng Ngọc rằng: - Ta vốn là người tiên trên trời, Ngọc Hoàng Thượng Đế thấy sử sách ở trần gian, nhiều chỗ tán loạn, vậy nên giáng sinh ta xuống họ Tiêu ở nhà Chu để sửa sang lại. Người nhà Chu thấy ta có công về việc sử sách, mới gọi ta là Tiêu Sử, đến nay đã hơn trăm năm rồi. Ngọc Hoàng Thượng Đế cho ta làm chủ ở núi Họa Sơn, vì ta cùng nàng có tiền duyên với nhau, nhờ một khúc ngọc tiêu mà được cùng nhau tác hợp, nhưng cũng không nên ở mãi chốn trần gian này! Nay rồng cùng phượng đã đến đón ở đây, chúng ta nên cùng đi. Lộng Ngọc toan vào từ biệt cha, Tiêu Sử can rằng: - Không nên! Đã là thần tiên thì chớ nên vì chút tình riêng mà còn quyến luyến! Bấy giờ Tiêu Sử cưỡi con rồng, Lộng Ngọc cưỡi con phượng, cùng bay lên trời. Ngày hôm sau, nội thị vào báo Tần Mục công. Tần Mục công thở dài mà than rằng: Thế mới biết việc thần tiên cũng có thật! Giả sử bây giờ rồng phượng đến đón ta thì ta cũng chẳng thiết gì ngôi vua! Tần Mục công liền sai người đến núi Họa Sơn để tìm, nhưng chẳng thấy tông tích đâu cả, mới truyền lập đền thờ, gọi là đền Tiêu Nữ. Tần Mục công từ bấy giờ chán việc chiến tranh, giao hết quốc chính cho Mạnh Minh, rồi ngày nào cũng ham mê đường tu luyện. Chẳng được bao lâu, Công Tôn Chi cũng mất. Mạnh Minh tiến dẫn con Tử Xa Thị là Yêm Tức, Trọng Hàng và Kiểm Hổ, Tần Mục công đều cho làm quan đại phu. Một hôm, Tần Mục công ngồi ở trên Phượng Đài, ngắm cảnh trăng sáng, lại nhớ đến con gái là Lộng Ngọc, bỗng chợp mắt ngủ đi, trông thấy Tiêu Sử và Lộng Ngọc đem một con phượng đến đón Tần Mục công lên chơi cung trăng, khí lạnh buốt vào tận xương, đến lúc tỉnh dậy, liền bị bệnh cảm hàn, trong mấy ngày thì tạ thế, ai cũng cho là Tần Mục công đắc đạo thành tiên. Tần Mục công nguyên trước lấy con gái Tấn Hiếu công, sinh Thế tử Oánh, đến bấy giờ Thế tử Oánh lên nối ngôi tức là Tần Khang công. Tần Khang công an táng Tần Mục công theo tục nước Tần, dùng một trăm bảy mươi bảy người đem chôn sống. Trong số người chôn theo ấy có cả ba con Tử Xa Thị, người nước Tần ai cũng thương tiếc. Lại nói chuyện Tấn Tương công lập con là Di Cao làm thế tử, cho thứ đệ là Công tử Lạc sang làm quan ở nước Trần. Bấy giờ Triệu Thôi, Loan Chi, Tiên Thả Cư và Tư Thần đều chết dần tất cả. Năm sau, Tấn Tương công ra duyệt binh ở đất Di (đất nước Tấn), toan cho Sĩ Cốc và Lương Ích Nhĩ làm tướng ở đạo trung quân, lại cho Cơ Trịnh Phủ và Tiên Đô (con Tiên Trẩn) làm tướng ở đạo thượng quân. Con Tiên Thả Cư là Tiên Khắc nói với Tấn Tương công rằng: - Họ Hồ và họ Triệu có công to với Tấn, Chúa công chớ nên bỏ con cháu sau mà không dùng. Vả Sĩ Cốc và Lương Ích Nhĩ đều chưa có chiến công, đã làm ngay đại tướng, sao cho người ta phục. Tấn Tương công theo lời, mới cho Hồ Xạ Cô làm trung quân nguyên soái, mà lấy Triệu Thuẫn làm phó tướng; cho Cơ Trịnh Phủ làm thượng quân nguyên soái, mà lấy Tuân Lâm Phủ làm phó tướng; cho Tiên Miệt là hạ quân nguyên soái, mà lấy Tiên Đô làm phó tướng. Hồ Xạ Cô trèo lên tướng đài, tuyên bố hiệu lệnh cho các tướng sĩ, có ý kiêu ngạo, không coi ai ra gì cả. Quan Tư mã là Du Biền can rằng: - Tôi nghe việc binh cốt nhất là một điều hòa thuận, nay các tướng đều là những bậc thế thần, Nguyên soái chớ có khinh bỉ. Ngày xưa Thành Đắc Thần chỉ vì kiêu ngạo mà phải thua nước Tấn, Nguyên soái nên lấy làm răn. Hồ Xạ Cô nổi giận, quát to lên rằng: - Nay ta đang tuyên bá hiệu lệnh cho các tướng sĩ, kẻ thất phu kia, sao dám nói càn! Nói xong, truyền nọc Du Biền đánh một trăm roi. Các tướng sĩ trông thấy đều có ý không phục. Sĩ Cốc và Lương Ích Nhĩ nghe nói Tiên Khắc bảo Tấn Tương công không dùng mình, mới đem lòng oán giận. Tiên Đô không được chức thượng quân nguyên soái, cũng có ý oán giận Tiên Khắc. Bấy giờ Dương Xử Phủ đang sang sứ nước Vệ, không dự biết việc ấy, đến lúc Dương Xử Phủ về nước, nghe tin Hồ Xạ Cô được làm nguyên soái, liền mật tâu với Tấn Tương công rằng: - Hồ Xạ Cô là người kiêu ngạo, không đáng làm chức nguyên soái, chỉ có con Triệu Thôi là Triệu Thuẫn, người ấy rất hiền, mà lại có tài, Chúa công muốn chọn quan nguyên soái thì nên dùng Triệu Thuẫn. Tấn Tương công theo lời, liền ra duyệt binh ở đất Đổng. Hồ Xạ Cô chưa biết ý Tấn Tương công muốn dùng người khác, vẫn nghiễm nhiên tự nhận làm trung quân nguyên soái. Tấn Tương công gọi Hồ Xạ Cô mà bảo rằng: - Ngày trước ta cho nhà ngươi làm nguyên soái, nay ta lại muốn cho Triệu Thuẫn làm nguyên soái, mà cho nhà ngươi làm phó tướng để giúp Triệu Thuẫn. Hồ Xạ Cô không dám nói gì, vâng dạ mà lui xuống. Tấn Tương công liền cho Triệu Thuẫn làm trung quân nguyên soái, mà lấy Hồ Xạ Cô làm phó tướng; còn thượng quân và hạ quân vẫn để yên như cũ. Triệu Thuẫn từ khi cầm quyền chính trong nước, chỉnh đốn pháp lệnh, người trong nước ai cũng kính phục. Có người bảo Dương Xử Phủ rằng: - Ngài nói thẳng mà không kiêng nể thì thật là người một lòng vì nước, nhưng ngài không sợ người ta oán giận hay sao? Dương Xử Phủ nói: - Nếu có lợi cho việc nước thì ta chẳng sợ gì oán giận! Ngày hôm sau, Hồ Xạ Cô vào yết kiến Tấn Tương công, nhân lúc vắng vẻ có một mình, mới hỏi Tấn Tương công rằng: - Chúa công nghĩ đến cái công lao của tiền nhân tôi ngày xưa, mà cho tôi làm nguyên soái, nay lại đổi cho người khác, chẳng hay tôi có tội gì, xin Chúa công chỉ bảo cho biết, hay là vì cái công lao của tiền nhân tôi là Hồ Yển không bằng cái công lao của Triệu Thôi? Tấn Tương công nói: - Không phải có cớ gì khác đâu! Chỉ vì Dương Xử Phủ nói với ta rằng nhà ngươi không mấy người phục, khó làm được đại tướng, bởi vậy mà ta phải đổi người khác. Hồ Xạ Cô nín lặng lui ra. Đến tháng ba năm ấy, Tấn Tương công ốm gần chết, mới triệu quan Thái phó là Dương Xử Phủ và quan Thượng khanh (tức là chức Trung quân Nguyên soái) là Triệu Thuẫn, cùng các quan Triều thần đến cạnh giường nằm mà dặn rằng: - Ta đây nối theo nghiệp cha, đánh đông dẹp bắc, chưa hề chịu kém ai, ngày nay chẳng may cùng với các ngươi từ biệt; Thế tử Di Cao tuổi hãy còn nhỏ, các ngươi nên hết lòng giúp Thế tử mà giao hiếu với các nước láng giềng, để giữ lấy công nghiệp bá chủ. Các quan triều thần đều sụp lạy xin vâng mệnh. Tấn Tương công mất. Ngày hôm sau, các quan triều thần định tôn Thế tử Di Cao lên nối ngôi. Triệu Thuẫn nói: - Nước ta ngày nay gặp lúc lắm việc, phải đối địch với nước Tần và nước Địch, không nên lập vua nhỏ; nay có Công tử Ung hiện đang làm quan ở nước Tần ta nên đón về làm vua. Các quan triều thần không ai dám nói gì. Hồ Xạ Cô nói: - Chi bằng ta lập Công tử Lạc! Công tử Lạc nay đang làm quan ở nước Trần, chỉ sáng đi thì chiều đến nơi mà thôi. Triệu Thuẫn nói: - Không được! Trần là một nước nhỏ mà ở xa, Tần là nước lớn mà ở gần. Ta sang nước Trần đón vua, cũng không thêm được thân ái, mà sang nước Tần đón vua thì lại bỏ được các điều thù oán năm xưa, và lại thêm vây cánh cho ta nữa. Cứ như thế thì tất phải đón Công tử Ung mới được! Các quan triều thần đều nín lặng cả. Triệu Thuẫn liền sai Tiên Miệt làm chánh sứ, Sĩ Hội làm phó sứ sang nước Tần báo tang và đón Công tử Ung về làm vua. Lúc Tiên Miệt sắp đi, Tuân Lâm Phủ ngăn lại mà bảo rằng: - Phu nhân và Thế tử đều ở đây cả, mà lại sang nước khác đón vua tôi e rằng nếu việc không thành thì tất có biến, sao nhà ngươi không cáo ốm mà từ chối đi! Tiên Miệt nói: - Quyền chính ở tay Triệu Thuẫn, sao lại có biến được. Tuân Lâm Phủ nói riêng với người khác rằng: - Ta cùng với Tiên Miệt là bạn đồng liêu với nhau, vậy nên ta phải thực lòng mà bảo, nhưng hắn không nghe, ta e rằng khó lòng đã về được. Hồ Xạ Cô thấy Triệu Thuẫn không theo ý mình, có lòng tức giận mà nói rằng: - Họ Hồ và họ Triệu, có kém gì nhau! Ta quyết rằng phen này có họ Triệu thì không họ Hồ! Hồ Xạ Cô mật sai người sang nước Trần đón Công tử Lạc về, để tranh cướp lấy ngôi vua. Có người báo tin với Triệu Thuẫn. Triệu Thuẫn sai Công Tôn Chử Cữu đem hơn một trăm người phục sẵn ở dọc đường, đón Công tử Lạc mà giết chết đi. Hồ Xạ Cô thấy vậy, càng tức giận mà nói rằng: - Làm cho Triệu Thuẫn được cầm quyền chính là bởi Dương Xử Phủ, nay có các nước đến hộ tang, Dương Xử Phủ ra ngủ ở ngoài cõi để tiếp đãi, ta sai người đâm chết, thật dễ như chơi! Triệu Thuẫn đã giết Công tử Lạc thì ta giết Dương Xử Phủ chứ sao! Hồ Xạ Cô bàn mưu với em ruột là Hồ Cúc Cư. Hồ Cúc Cư nói: - Việc ấy tôi có thể làm được! Hồ Cúc Cư liền cùng với người nhà giả hình làm kẻ trộm, nửa đêm trèo tường vào chỗ Dương Xử Phủ ở. Dương Xử Phủ đang ngồi xem sách ở bên cây nến. Hồ Cúc Cư xông đến mà đánh, trúng vào vai Dương Xử Phủ. Dương Xử Phủ giật mình bỏ chạy. Hồ Cúc Cư đuổi theo giết chết, rồi cắt đầu đem về. Người nhà Dương Xử Phủ có kẻ nhận được mặt Hồ Cúc Cư, chạy về báo với Triệu Thuẫn, Triệu Thuẫn không tin mà mắng rằng: - Quan Thái phó họ Dương bị kẻ trộm giết chết, sao nhà ngươi lại dám vu oan cho Hồ Cúc Cư. Triệu Thuẫn sai người đi khâm liệm cho Dương Xử Phủ. Đến tháng mười năm ấy, làm lễ an táng Tấn Tương công ở đất Khúc Ốc. Bà phu nhân là Mục Doanh và Thế tử Di Cao cũng đi đưa đám. Mục Doanh bảo Triệu Thuẫn rằng: - Quan Thượng khanh ôi! Tiên quân tôi có tội gì? Thế tử có tội gì? Mà ngài lại bỏ Thế tử, rồi đi đón vua ở nước khác? Triệu Thuẫn nói: - Đó là việc quan trọng của nước nhà, không phải tự ý riêng một mình tôi! Khi đã làm lễ an táng Tấn Tương công rồi, rước thần chủ vào nhà miếu. Triệu Thuẫn đứng ở trong miếu, bảo các quan đại phu rằng: - Tiên quân ta ngày xưa chỉ biết dùng pháp luật mà làm bá chủ được chư hầu, nay linh cữu Tiên quân hãy còn để đấy, mà Hồ Cúc Cư dám tự tiện giết chết quan Thái phó, khiến cho triều thần ai cũng lo sợ, tội ấy không thể tha được! Triệu Thuẫn bắt Hồ Cúc Cư giao cho quan Tư khấu kết án mà chém đi, Triệu Thuẫn lại sai người đến khám nhà Hồ Cúc Cư, tìm thấy đầu Dương Xử Phủ, rồi đem chắp vào thi thể của Dương Xử Phủ để an táng. Hồ Xạ Cô sợ Triệu Thuẫn biết cái mưu ấy tự mình bày ra, nhân đêm hôm ấy trốn sang nước Địch, vào đầu với vua nước Địch là Bạch Đôn. Bấy giờ nước Địch có một người tên gọi Kiều Như, mình dài một trượng năm thước, bởi vậy mới gọi là Trường Địch. Trường Địch có sức khỏe, mang nổi nghìn cân, đầu rắn như đồng, trán cứng như sắt, cầm gạch ngói mà đập vào, cũng không thể xây xát được. Bạch Đôn (vua nước Địch) dùng cho làm tướng, sai đi đánh nước Lỗ. Lỗ Văn công sai Thúc Tôn Đắc thần đem quân ra đối địch. Bấy giờ đang tiết mùa đông, sương mù nhiều lắm, quan Đại phu là Phú Phủ Chung Sanh biết rằng trời sắp mưa tuyết, mới bảo Thúc Tôn Đắc Thần rằng: - Kiều Như (tức là Trường Địch) là người vũ dũng lạ thường, không lấy sức khỏe mà địch nổi, phải dùng mưu kế thì mới đánh được! Nói xong, liền sai người đào mấy cái hầm hố ở các nơi hiểm yếu, rồi đem đất và cỏ phủ kín mặt trên. Đêm hôm ấy quả nhiên trời mưa tuyết to lắm, mặt đất phẳng lỳ những tuyết, không biết chỗ nào là hầm hố cả. Phú Phủ Chung Sanh đem một toán quân đến cướp phá đồn trại của Kiều Như. Kiều Như đem quân ra đánh. Phú Phủ Chung Sanh giả cách thua chạy. Kiều Như vội vàng đuổi theo. Phú Phủ Chung Sanh đã có ý đi tránh những nơi hầm hố. Kiều Như vô tình, ngã lăn xuống hố. Thúc Tôn Đắc Thần đem quân ra đuổi đánh quân Địch. Phú Phủ Chung Sanh cầm giáo đâm suốt qua cổ họng Kiều Như. Kiều Như chết, Phú Phủ Chung Sanh đem xác để lên một cái xe lớn rồi kéo đi, ai trông thấy cũng phải kinh sợ. Năm ấy Thúc Tôn Đắc Thần nhân sinh được đứa con trai trưởng, mới đặt tên là Thúc Tôn Kiều Như, để kỷ niệm cái công thắng trận ấy. Từ bấy giờ nước Lỗ, nước Tề và nước Vệ cùng họp sức nhau để đánh nước Địch. Bạch Đôn thua chạy rồi chết, các nước mới diệt nước Địch. Hồ Xạ Cô lại chạy sang nước Lộ, nương tựa vào quan Đại phu nước Lộ là Phong thư. Triệu Thuẫn nói: - Hồ Xạ Cô có công với Tiên quân ta nhiều lắm, ta giết Hồ Cúc Cư là muốn cho Hồ Xạ Cô được yên lòng, ai ngờ hắn lại sợ tội bỏ trốn; nay ta nỡ lòng nào mà khiến cho hắn phải bơ vơ một mình ở nơi đất khách. Nói xong, liền sai Du Biền đưa vợ con Hồ Xạ Cô sang nước Lộ, giao trả Hồ Xạ Cô. Du Biền vừa sắp sửa khởi hành, những người nhà Du Biền nói với Du Biền rằng: - Ngày trước ngài đã bị Hồ Xạ Cô làm sỉ nhục một lần, cái thù ấy cũng nên báo lại; nay quan Nguyên soái sai ngài đưa vợ con Hồ Xạ Cô sang nước Lộ, đó là trời cho ta cái dịp để báo thù! Ta nên giết cả đi. Du Biền gạt luôn đi mà bảo rằng: - Không nên! Không nên! Nguyên soái đem việc ấy giao cho ta là có lòng tin cậy ta. Nguyên soái muốn giao trả người ta, mà ta lại giết đi thì tất Nguyên soái giận ta lắm. Nếu ta nhân lúc người ta nguy cấp mà làm hại thì không phải là nhân! Làm một việc mà để cho người ta giận thì không phải là trí. Du Biền mời vợ con Hồ Xạ Cô lên xe đưa đi, còn bao nhiêu gia tài của Hồ Xạ Cô, đều biên vào trong một quyển sổ, mà đem sang trả tận nơi, không mất tí gì cả. Hồ Xạ Cô thấy vậy, thở dài mà than rằng: - Du Biền là người hiền mà ta không biết! Nay ta phải chạy trốn thế này, cũng là đáng lắm! Triệu Thuẫn tự bấy giờ kính trọng Du Biền, có ý muốn dùng cho làm quan to. Tiên Miệt và Sĩ Hội sang đến nước Tần, xin đón Công tử Ung về làm vua. Tần Khang công mừng mà nói rằng: - Tiên quân ta ngày xưa hai lần lập vua cho nước Tấn, nay ta lại lập Công tử Ung! Như vậy thì các vua nước Tấn đều tự tay nước Tần ta lập cả. Tần Khang công sai Kiển Bính đem quân đưa Công tử Ung về nước Tấn. Bà Mục Doanh (vợ Tấn Tương công) từ khi đưa đám Tấn Tương công xong rồi, ngày nào cũng cứ mờ mờ sáng đã ẵm Thế tử Di Cao vào chốn triều đường ngồi khóc và bảo các quan đại phu rằng: - Con trưởng của Tiên quân đây! Làm sao các ngài lại bỏ đi!.. Lúc đã tan buổi triều, lại đi xe đến nhà Triệu Thuẫn, nói với Triệu Thuẫn rằng: - Khi Tiên quân sắp mất có đem đứa bé này ủy thác cho ngài, nay Tiên quân dẫu khuất mặt đi rồi, nhưng lời nói ấy bên tai hãy còn văng vẳng; nếu ngài lập người khác thì định để đứa bé này vào chỗ nào? Thôi thì mẹ con tôi cũng liều một thác cho rồi! Nói xong, lại vật mình lăn khóc. Người trong nước nghe nói, ai cũng có lòng thương xót bà Mục Doanh mà đỗ lỗi cho Triệu Thuẫn. Các quan đại phu cũng lấy việc đi đón Công tử Ung làm thất sách. Triệu Thuẫn lo lắm, bàn mưu với Khước Khuyết rằng: - Tiên Miệt đã sang nước Tần để đón Công tử Ung rồi, có lẽ nào ta lại lập Thế tử Di Cao được. Khước Khuyết nói: - Ngày nay bỏ Thế tử Di Cao mà lập Công tử Ung, ngày khác Thế tử Di Cao lớn lên, tất lại sinh biến, chi bằng ta kịp sai người sang nước Tần để gọi Tiên Miệt về! Triệu Thuẫn nói: - Ta lập vua đã, rồi sẽ sai sứ đi thì mới đắc thể! Triệu Thuẫn họp các quan triều thần lập Thế tử Di Cao lên ngôi, tức là Tấn Linh công. Bấy giờ Tấn Linh công còn bé, mới lên bảy tuổi. Các quan triều thần vừa lạy mừng xong thì bỗng nghe báo có đại binh quân Tần hiện đã đưa Công tử Ung về đến sông Hoàng Hà rồi. Các quan đại phu nói: - Nay ta thất tín với nước Tần, biết nói lại làm sao cho được. Triệu Thuẫn nói: - Nếu ta lập Công tử Ung thì Tần là một nước thân ái với ta, nay ta không chịu lập thì Tần lại thành ra một nước cừu địch, chi bằng ta cứ đem quân ra đánh. Triệu Thuẫn sai quan Thượng quân Nguyên soái là Cơ Trịnh Phủ ở nhà để phù tá Tấn Linh công, còn mình thì đem quân đi đối địch với quân Tần. Quân Tần đến đất Linh Hồi, nghe báo phía trước có quân Tấn, vẫn tưởng là đến đón Công tử Ung, vậy nên không phòng bị gì cả. Tiên Miệt đi trước đến chỗ quân Tấn đóng, vào yết kiến Triệu Thuẫn. Triệu Thuẫn nói cho biết là đã lập Thế tử Di Cao rồi. Tiên Miệt trừng mắt lên mà bảo rằng: - Tự ai bàn mưu đi đón Công tử Ung, mà nay lập Thế tử Di Cao! Nói xong, liền đứng ngay dậy, quay mình đi ra, lại gặp Tuân Lâm Phủ, Tiên Miệt bảo Tuân Lâm Phủ rằng: - Tiếc thay ta không nghe lời nhà ngươi trước, để đến nỗi thế này! Tuân Lâm Phủ can rằng: - Ngài là bề tôi nước Tấn, bỏ nước Tấn sao được! Tiên Miệt nói: - Ta đã phụng mệnh sang nước Tần để đón Công tử Ung thì Công tử Ung tức là vua ta, mà nước Tần tức là một nước phù tá cho vua ta; nay ta lại chịu trái lời nói trước mà cầu lấy sự phú quí ở chốn cố hương hay sao! Tiên Miệt lại đi sang với quân Tần. Triệu Thuẫn nói: - Tiên Miệt đã không chịu theo Tấn thì ngày mai quân Tần tất tiến sang đánh ta; chi bằng đêm hôm nay ta nhân lúc quân Tần bất ngờ mà sang đánh ngay thì có thể thắng được. Nói xong, truyền cho quân sĩ sửa soạn binh mã để đêm hôm ấy sang đánh quân Tần, quân Tần đang ngủ, hoảng hốt vùng dậy, bỏ chạy tán loạn cả. Quân Tấn đuổi mãi đến tận đất Qua Thủ (giáp giới Tần và Tấn). Kiển Bính liều chết, mới chạy thoát được, còn Công tử Ung thì chết trong đám loạn quân. Tiên Miệt than rằng: - Triệu Thuẫn bội ước ta, nhưng ta không nên bội ước nước Tần? Nói xong, liền trốn sang nước Tần, Sĩ Hội cũng than rằng: - Ta cùng với Tiên Miệt đi sứ, nay Tiên Miệt đã trốn sang nước Tần, ta cũng không nên trở về nước Tấn một mình nữa! Nói xong, cũng theo Tiên Miệt trốn sang nước Tần. Tần Khang công đều cho làm quan đại phu. Tuân Lâm Phủ nói với Triệu Thuẫn rằng: - Ngày xưa Hồ Xạ Cô chạy sang nước Địch, ngài nghĩ tình đồng liêu, sai người đưa vợ con đi theo; nay Tiên Miệt và Sĩ Hội cùng tôi cũng là đồng liêu với nhau, tôi xin bắt chước lối cũ. Triệu Thuẫn nói: - Nhà ngươi trọng nghĩa như vậy, chính hợp với ý ta. Triệu Thuẫn sai người đem gia quyến và tài sản của Tiên Miệt cùng Sĩ Hội đưa sang nước Tần. Việc đánh nhau mới rồi, các tướng nước Tấn đều có công thắng trận cả; chỉ có Khoái Đắc là bộ tướng của Tiên Khắc (trung quân phó nguyên soái) cứ thẳng đường đuổi theo mãi, lại bị quân Tần đánh thua, Tiên Khắc đã toan theo quân luật đem Khoái Đắc ra chém. Các tướng đều xin hộ Khoái Đắc. Tiên Khắc nói với Triệu Thuẫn, rồi truất bỏ lộc điền của Khoái Đắc. Khoái Đắc đem lòng căm tức. Cơ Trịnh Phủ, Sĩ Cốc và Lương Ích Nhĩ vốn chơi thân với nhau, từ khi Triệu Thuẫn lên làm trung quân nguyên soái, Sĩ Cốc và Lương Ích Nhĩ đều mất hết quyền thế, mới cùng với Cơ Trịnh Phủ cùng oán giận Triệu Thuẫn. Bấy giờ Triệu Thuẫn đang đem quân đi đánh quân Tần. Cơ Trịnh Phủ cùng Sĩ Cốc và Lương Ích Nhĩ họp mà thương nghị rằng: - Triệu Thuẫn chuyên quyền, bỏ người nọ lập người kia, chẳng coi ai ra gì, nay đại binh nước Tần đưa Công tử Ung về đây, Triệu Thuẫn đang đem quân ra đánh, chi bằng chúng ta thừa cơ nổi loạn, làm phản Triệu Thuẫn bỏ Di Cao (tức là Tấn Linh công) đi mà đón Công tử Ung về, như vậy thì quyền chính nước Tấn đều do ở trong tay chúng ta cả.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 48 Năm tướng bàn nhau làm loạn Tấn Thọ Dư lập kế đánh lừa Tần

Cơ Trịnh Phủ cùng với Sĩ Cốc và Lương Ích Nhĩ, ba người bàn nhau, chỉ đợi quân Tần thắng trận, thì thừa cơ nổi loạn, mà tranh lấy quyền chính của Triệu Thuẫn, chẳng ngờ Triệu Thuẫn phá tan được quân Tần, trong lòng lại càng căm tức. Bấy giờ Tiên Đô làm tướng ở đạo hạ quân, thấy chủ tướng mình là Tiên Miệt bị Triệu Thuẫn đánh lừa mà phải trốn sang nước Tần, cũng có ý căm tức Triệu Thuẫn. Khoái Đắc bị Tiên Khắc truất mất lộc điền, đem lòng oán giận, mới bàn mưu với Sĩ Cốc. Sĩ Cốc nói: - Tiên Khắc cậy thế Triệu Thuẫn, làm nhiều điều ngang ngược, nếu được một người can đảm giết chết Tiên Khắc đi thì Triệu Thuẫn thế cô, không làm gì được nữa, nhưng việc này trừ phi tay Tiên Đô thì không ai làm nổi. Khoái Đắc nói với Sĩ Cốc rằng: - Tiên Đô thấy chủ tướng mình là Tiên Miệt bị Triệu Thuẫn đánh lừa mà phải trốn sang Tần, cũng có ý căm tức Triệu Thuẫn. Sĩ Cốc nói: - Nếu vậy thì khó gì mà không giết được Tiên Khắc. Nói xong, liền ghé vào tai Khoái Đắc mà bảo thầm mưu kế giết Tiên Khắc. Khoái Đắc mừng lắm, nói: - Để ta sẽ nói với Tiên Đô! Nói xong, tức khắc đến yết kiến Tiên Đô, Tiên Đô nói với Khoái Đắc rằng: - Triệu Thuẫn bội ước với Tiên Miệt, lại lẻn đánh quân Tần, chẳng có tín nghĩa chút nào cả, ta cũng khó lòng mà ở với hắn được! Khoái Đắc đem lời Sĩ Cốc nói với Tiên Đô. Tiên Đô nói: - Nếu vậy thì là phúc cho nước Tấn lắm! Bấy giờ hết mùa đông, sang mùa xuân, Tiên Khắc đi ra Cơ Thành để bái yết nhà miếu ông tổ là Tiên Trẩn. Tiên Đô sai người phục ở ngoài Cơ Thành, đợi khi Tiên Khắc đi đến nơi thì đổ ra mà giết chết. Các người theo hầu Tiên Khắc thấy vậy, đều bỏ chạy tán loạn cả. Triệu Thuẫn nghe tin Tiên Khắc bị giết, tức thì nổi giận, truyền cho quan Tư khấu phải ra sức để bắt quân gian; hạn trong năm ngày phải bắt cho được. Bọn Tiên Đô luống cuống, cùng với Khoái Đắc bàn mưu, cố ý xui giục Sĩ Cốc và Lương Ích Nhĩ nên mau mau khởi sự. Lương Ích Nhĩ nhân lúc uống rượu say, nói lộ chuyện cho Lương Hoằng biết. Lương Hoằng kinh sợ mà nói rằng: - Nếu vậy thì chết cả họ, chứ chẳng chơi đâu! Lương Hoằng tức thì mật báo Du Biền. Du Biền vào nói với Triệu Thuẫn, Triệu Thuẫn tức khắc truyền cho quân sĩ phải sửa soạn sẵn để đợi lệnh sai khiến. Tiên Đô thấy vậy, vội vàng sang nhà Sĩ Cốc, giục kíp khởi sự. Cơ Trịnh Phủ muốn đợi đến ngày thượng nguyên, nhân khi Tấn Linh mở tiệc tứ bô thì thừa cơ nổi loạn, bởi vậy cứ phân vân mãi, chưa quyết định ra làm sao. Triệu Thuẫn sai Du Biền đến vây nhà Tiên Đô, bắt Tiên Đô đem bỏ ngục. Lương Ích Nhĩ và Khoái Đắc trong khi bối rối, toan cùng Cơ Trịnh Phủ nổi loạn. Triệu Thuẫn sai đem việc Tiên Đô muốn nổi loạn đến báo với Cơ Trịnh Phủ và mời Cơ Trịnh Phủ vào triều để bàn việc. Cơ Trịnh Phủ nói: - Triệu Thuẫn sai người mời ta đến để bàn việc, thế là vẫn không có ý nghi ta! Cơ Trịnh Phủ khinh thường mà đến ngay. Nguyên Triệu Thuẫn vì Cơ Trịnh Phủ đang làm thượng quân nguyên soái, sợ hắn họp quân nổi loạn, mới giả cách sai người đến triệu. Cơ Trịnh Phủ không biết là kế giả, vội vàng đi thẳng vào triều. Triệu Thuẫn giữ ở trong triều để bàn việc Tiên Đô, rồi mật sai Tuân Lâm Phủ, Khước Khuyết và Long Thuẫn đem quân đi bắt Sĩ Cốc, Lương Ích Nhĩ và Khoái Đắc cùng bỏ ngục cả. Bọn Tuân Lâm Phủ về đến trong triều, trông thấy Cơ Trịnh Phủ, liền quát to lên rằng: - Cơ Trịnh Phủ cũng là một người ở trong đám khởi loạn, mà làm sao không bắt bỏ ngục? Cơ Trịnh Phủ nói: - Lúc trước các ngài đem quân đi vắng cả, tôi còn không nổi loạn, huống chi ngày nay các ngài đã thắng được quân Tần rồi, mà tôi lại sinh sự để muốn cầu lấy cái chết hay sao! Triệu Thuẫn nói: - Nhà ngươi còn dùng dằng mà chưa nổi loạn, là có ý đợi Tiên Đô và Khoái Đắc đó thôi, ta đã dò biết hết sự tình, còn cãi gì được nữa! Cơ Trịnh Phủ cúi đầu chịu vào ngục. Triệu Thuẫn tâu với Tấn Linh công, xin đem bọn Cơ Trịnh Phủ ra chém, cả thẩy năm người (Cơ Trịnh Phủ, Sĩ Cốc, Lương Ích Nhĩ, Khoái Đắc và Tiên Đô). Tấn Linh công hãy còn ít tuổi, chỉ vâng dạ mà thôi. Khi Tấn Linh công đã vào cung, bà Mục Doanh (Mẹ Tấn Linh công) nghe tin bọn Cơ Trịnh Phủ bị bắt mới hỏi Tấn Linh công rằng: - Quan Tướng quốc xử trí việc ấy ra thế nào? Tấn Linh công nói: - Quan Tướng quốc xin trị tội mà đem chém tất cả. Mục Doanh nói: - Bọn Cơ Trịnh Phủ nổi loạn, là vì tranh quyền lẫn nhau, chứ không can dự gì đến việc thoán nghịch. Vả việc mưu giết Tiên Khắc chẳng qua chỉ một vài người mà thôi, nay một lúc giết chết năm quan đại thần thì ta e rằng trong triều còn lấy ai mà dùng nữa? Ngày hôm sau, Tấn Linh công đem lời nói của Mục Doanh thuật lại cho Triệu Thuẫn nghe. Triệu Thuẫn nói: - Bọn hắn nổi loạn, nếu không giết đi thì lấy gì mà làm gương cho kẻ khác. Nói xong, truyền đem bọn Cơ Trịnh Phủ ra chém, lại cho con Tiên Khắc là Tiên Cốc làm quan đại phu. Người nước Tấn thấy Triệu Thuẫn nghiêm khắc như vậy, ai cũng sợ hãi. Hồ Xạ Cô ở nước Lộ nghe thấy việc ấy, cũng giật mình mà nói rằng: - May thay cho ta, ta được khỏi chết! Một hôm, quan Đại phu nước Lộ là Phong Thư hỏi Hồ Xạ Cô rằng: - Triệu Thuẫn ví với Triệu Thôi, hai người ấy ai hơn? Hồ Xạ Cô nói: - Triệu Thôi khác nào như mặt trời mùa đông, Triệu Thuẫn khác nào như mặt trời mùa hạ. Mặt trời mùa đông ấm áp thì ai cũng yêu, mặt trời mùa hạ nóng dữ thì ai cũng sợ! Phong Thư cười mà bảo rằng: - Nhà ngươi đã là một viên túc tướng mà cũng sợ Triệu Thuẫn! Lại nói chuyện Sở Mục Vương từ khi cướp ngôi lên làm vua, cũng có chí lớn muốn làm bá chủ Trung Nguyên, nghe tin Tấn Linh công mới lập, Triệu Thuẫn chuyên quyền, các viên đại phu cùng giết lẫn nhau, liền họp triều thần lại để thương nghị, muốn đem quân sang đánh nước Trịnh. Quan Đại phu là Phạm Sơn nói: - Vua Tấn tuổi hãy còn nhỏ, các bề tôi chỉ tranh quyền lẫn nhau, còn nghĩ gì đến chư hầu, nay ta thừa cơ đem quân sang đánh lấy các nước phía bắc thì còn ai đương nổi. Sở Mục Vương bằng lòng, liền sai Đấu Việt Tiêu làm chánh tướng, Vĩ Giả làm phó tướng, đem quân đi đánh Trịnh, còn mình thì đóng đại binh ở đất Lang Uyên để tiếp ứng; lại sai Công tử Tiên làm chánh tướng, Công tử Phiệt làm phó tướng, đem quân đi đánh Trần. Trịnh Mục công nghe tin quân Sở đến đánh, vội vàng sai Công tử Kiên, Công tử Mang và Lạc Nhĩ, ba người đem quân ra ngoài cõi để chống cự với quân Sở; lại dặn phải giữ thế thủ, chớ nên giao chiến, rồi một mặt cho người sang cáo cấp với nước Tấn. Đấu Việt Tiêu ngày nào cũng đem quân khiêu chiến. Quân Trịnh nhất định không ra. Vĩ Giả mật nói với Đấu Việt Tiêu rằng: - Từ trận Thành Bộc đến giờ, quân Sở ta đã lâu không kéo sang nước Trịnh, người nước Trịnh chắc đợi có quân nước Tấn đến cứu, vậy mới cố giữ thế thủ mà không giao chiến với ta. Nay ta nên nhân lúc quân Tấn chưa đến, dụ ra mà đánh thì có thể báo được cái thù năm xưa; nếu để chậm lâu ngày, các nước chư hầu đem quân đến cứu thì e rằng lại giống như việc Thành Đắc Thần ngày trước, biết làm thế nào! Đấu Việt Tiêu nói: - Nay muốn dụ quân Trịnh ra thì làm thế nào? Vĩ Giả ghé tai mà bảo mưu kế. Đấu Việt Tiêu nghe lời, liền giả cách nói lương thực sắp hết, truyền cho quân sĩ đi ăn cướp ở các dân thôn, còn mình thì ngày nào cũng ngồi ở trong màn uống rượu, nghe hát, đến nửa đêm mới thôi. Có người đến đất Lang Uyên báo tin cho Sở Mục Vương biết. Sở Mục Vương nghi là Đấu Việt Tiêu có lòng khinh giặc, đã toan đem quân đến để đốc chiến. Phạm Sơn nói với Sở Mục Vương rằng: - Vĩ Giả là người trí sĩ, tất có mưu có kế chi đấy. Tôi chắc rằng chỉ trong mấy ngày nữa, quyết phải có tin thắng trận. Bọn Công tử Kiên (tướng nước Trịnh) thấy quân Sở không đến khiêu chiến nữa, trong lòng nghi hoặc mới sai người đi do thám xem tình hình quân Sở ra làm sao. Quân thám tử về báo với Công tử Kiên rằng: - Quân Sở ngày nào cũng kéo nhau đi cướp phá các dân thôn, còn Đấu Việt Tiêu thì chỉ một việc nghe hát và uống rượu; trong khi rượu say, lại sỉ mắng người nước Trịnh ta là hèn mạt không làm gì được! Công tử Kiên mừng mà nói rằng: - Quân Sở đi cướp phá các dân thôn thì trong đồn trại tất bỏ không, mà Nguyên soái nước Sở ngày nào cũng nghe hát, uống rượu, còn thiết gì đến việc quân nữa! Đêm hôm nay ta đem quân sang cướp phá đồn trại quân Sở, có thể toàn thắng được. Công tử Mang và Lạc Nhĩ đều lấy làm phải. Đêm hôm ấy, ba người cùng đem quân lẻn đến dinh quân Sở đứng xa trông thấy đèn sáng rực rỡ, lại nghe có tiếng hát véo von. Công tử Kiên nói: - Đấu Việt Tiêu sắp đến ngày tận số! Công tử Kiên tức thì vẫy quân xông vào. Quân Sở không chống cự gì cả. Công tử Kiên tiến vào tận trong trại, mấy người nhạc công bỏ chạy tán loạn, chỉ còn có Đấu Việt Tiêu vẫn thấy ngồi trơ, không động đậy chút nào. Công tử Kiên đứng gần nhìn kỹ xem sao thì ra một người bằng cỏ kết lại, chứ không phải Đấu Việt Tiêu thật, bấy giờ mới biết là trúng kế, giật mình kinh sợ, toan quay trở ra. Bỗng thấy ở phía sau trại súng nổ ầm ì, có một viên đại tướng đem quân đuổi đánh, quát to lên mà bảo rằng: - Ta là Đấu Việt Tiêu đây! Công tử Kiên vội vàng cùng với Công tử Mang và Lạc Nhĩ tìm đường trốn chạy. Chạy chưa được một dặm, lại nghe có tiếng súng nổ, Vĩ Giả đem một toán quân chắn ngang giữa đường. Phía trước có Vĩ Giả, phía sau có Đấu Việt Tiêu, hai phía cùng đánh ập lại. Quân Trịnh thua to. Công tử Mang và Lạc Nhĩ bị bắt. Công tử Kiên chạy lại để cứu, cũng bị quân Sở bắt nốt. Trịnh Mục công kinh sợ, bảo các quan triều thần rằng: - Ba tướng nước ta đều bị bắt cả, mà vẫn chưa thấy quân Tấn đến cứu, biết làm thế nào? Các quan triều thần nói: - Thế quân Sở mạnh lắm! Nếu ta không xin hàng thì sẽ bị quân Sở phá vỡ, dẫu nước Tấn cũng không thể cứu nổi. Trịnh Mục công liền sai Công tử Phong (con Trịnh Mục công) đem các đồ lễ vật đến dinh quân Sở để xin giảng hòa. Đấu Việt Tiêu sai người tâu Sở Mục Vương. Sở Mục Vương thuận cho, truyền tha Công tử Kiên, Công tử Mang và Lạc Nhĩ, rồi lại thu quân trở về nước Sở. Bấy giờ Công tử Tiên (tướng nước Sở) đem quân đi đánh nước Trần bị thua, quan Phó tướng là Công tử Phiệt bị quân nước Trần bắt. Công tử Tiên mới đón đường tâu với Sở Mục Vương xin thêm quân để đi đánh báo thù. Sở Mục Vương giận lắm, toan kéo quân sang nước Trần. Bỗng thấy nước Trần sai sứ đem Công tử Phiệt sang xin giảng hòa. Sở Mục Vương mở thư ra xem. Trong thư đại lược nói rằng: "Nước tôi là một nước nhỏ mọn, chưa được giao tiếp với quí quốc lần nào, nay quí quốc đem quân sang nước tôi, những quan trấn thủ ở ngoài bờ cõi nước tôi không biết giữ phép, có thất lễ với Công tử Phiệt, tôi lấy làm lo sợ lắm, vậy phải sai sứ sang tạ tội. Từ nay trở đi, nước tôi một lòng thần phục quí quốc, xin quí quốc dung thứ cho". Sở Mục Vương xem xong, cười mà bảo rằng: - Nước Trần sợ ta đến hỏi tội, vậy phải xin giảng hòa, thật là biết cơ trời! Nói xong, thuận cho nước Trần giảng hòa. Sở Mục Vương lại truyền hịch cho vua Trịnh, vua Trần và vua Sái hẹn đến tháng mười năm ấy thì hội nhau ở đất Quyết Lạc (đất nước Tống). Lại nói chuyện Triệu Thuẫn nước Tấn thấy người nước Trịnh đến cáo cấp, liền họp quân bốn nước Tống, Lỗ, Vệ và Hứa để cùng sang cứu nước Trịnh. Chưa sang đến nước Trịnh, đã nghe tin nước Trịnh theo Sở, và quân Sở đã lui rồi; lại nghe tin nước Trần cũng theo Sở. Quan Đại phu nước Tống là Hoa Ngẫu, cùng quan Đại phu nước Lỗ là Công tử Toại đều nói với Triệu Thuẫn xin đem quân sang đánh Trần và Trịnh. Triệu Thuẫn nói: - Chỉ vì ta không cứu nhanh, để đến nỗi hai nước phải theo Sở, chứ hai nước ấy có tội lỗi gì! Chi bằng ta rút quân về mà sửa sang chính sự trong nước. Nói xong, liền rút quân về. Cuối mùa thu năm ấy, vua Trần (Sóc) và vua Trịnh (Lan) đều đến cả ở Tức Địa để đón Sở Mục Vương. Sở Mục Vương hỏi: - Khi trước tôi có hẹn đến hội ở đất Quyết Lạc, sao hai vua lại còn ở đây! Vua Trần và vua Trịnh đồng thanh mà đáp rằng: - Chúng tôi sợ đến chậm thì có lỗi, vậy phải họp nhau ở đây để đón Đại Vương, rồi cùng đi một thể. Sở Mục Vương bằng lòng. Bỗng nghe báo vua Sái (Giáp Ngọ) đã đến ở đất Quyết Lạc rồi. Sở Mục Vương liền cùng với vua Trần và vua Trịnh đi gấp đến đất Quyết Lạc. Khi Sở Mục Vương đến, vua Sái ra đón, dùng lễ thần hạ, sụp lạy hai lạy. Vua Trần và vua Trịnh giật mình, nói riêng với nhau rằng: - Vua Sái chịu nhún mình quá như vậy, vậy thì vua Sở tất cho chúng ta là vô lễ! Vua Trần và vua Trịnh mới cùng nhau nói với Sở Mục Vương rằng: - Đại vương thân hành tới đây mà vua Tống không đến nghênh tiếp, xin Đại vương cho đem quân đi đánh. Sở Mục Vương cười mà nói rằng: - Tôi đem quân tới đây, chính là cố ý muốn đánh nước Tống. Bấy giờ Tống Thành công (Vương Thần) đã mất rồi, con là Chử Cữu (tức là Tống Chiêu công) lên nối ngôi, mới được ba năm, hay tin dùng bọn tiểu nhân, khinh bỉ họ Công tộc, bởi vậy trong họ Công tộc nổi loạn, giết quan Tư mã là Công tử Ngang. Quan Tư thành là Đãng Ý Chư bỏ chạy sang nước Lỗ, nhờ có quan Tư khấu là Hoa Ngự Sự hết sức điều đình để triệu Đãng Ý Chư về, nước Tống mới được yên ổn. Hoa Ngự Sự nghe tin Sở Mục Vương hội chư hầu ở đất Quyết Lạc, có ý muốn dòm dỏ nước Tống, mới nói với Tống Chiêu công rằng: - Nước nhỏ mà không chịu thần phục nước lớn thì sao giữ được nước, nay nước Trần và nước Trịnh đều theo Sở cả, Chúa công cũng nên thân hành đến mà nghênh tiếp vua Sở; nếu chờ khi vua Sở đem quân đến đánh, rồi mới xin giảng hòa thì sao cho kịp! Tống Chiêu công lấy làm phải, mới thân hành đến đất Quyết Lạc để nghênh tiếp Sở Mục Vương và mời Sở Mục Vương đi săn bắn ở rừng Mạnh Chư. Sở Mục Vương bằng lòng. Tống Chiêu công cùng với các vua chư hầu theo Sở Mục Vương đi săn. Sở Mục Vương truyền lệnh cho các vua chư hầu đi săn, trong xe đều phải đem theo một cái mồi lửa, phòng khi lấy lửa. Đến lúc đi săn, Sở Mục Vương đang ham đuổi một đàn hồ, đàn hồ chạy vào trong hang sâu, Sở Mục Vương ngoảnh lại hỏi Tống Chiêu công lấy mồi lửa để hun đốt đàn hồ. Tống Chiêu công không đem mồi lửa đi theo. Quan Tư mã nước Sở là Thân Vô Úy nói với Sở Mục Vương rằng: - Vua Tống trái lệnh như vậy, nếu Đại vương không trị tội thì cũng nên đánh người theo hầu vua Tống để giữ phép. Nói xong, liền thét nọc người dong xe của Tống Chiêu công, đánh 300 roi, để làm gương cho các nước chư hầu. Tống Chiêu công có ý hổ thẹn. Bấy giờ nước Sở cường thịnh lắm, sai Đấu Việt Tiêu sang sứ nước Tề và nước Lỗ, nghiễm nhiên tự nhận làm bá chủ Trung Nguyên. Nước Tấn biết vậy mà cũng không kiềm chế nổi. Tần Khang công họp các quan triều thần lại mà thương nghị rằng: - Ta nghĩ việc Linh Hồ mà căm tức nước Tấn, đến nay đã 5 năm trời; bây giờ Triệu Thuẫn nước Tấn chuyên quyền, giết hại các quan đại thần, không biết sửa sang chính trị. Trần, Sái, Trịnh, Tống đều bỏ Tấn theo Sở cả, mà Tấn cũng không làm gì nổi, xem thế thì đủ biết Tấn đã suy nhược lắm rồi; nay ta không đánh Tấn, còn đợi đến bao giờ! Các quan đại phu đều nói: - Chúa công muốn đánh Tấn, chúng tôi xin hết sức! Tần Khang công giao quốc chính cho Mạnh Minh, rồi sai Tây Khất Thuật làm chánh tướng, Kiển Bính làm phó tướng, Sĩ Hội làm tham mưu, đem quân sang nước Tấn đánh lấy đất Cơ Mã. Triệu Thuẫn nghe báo, tức khắc muốn đem quân ra đối địch. Bấy giờ Triệu Thuẫn làm trung quân nguyên soái, cho Tuân Lâm Phủ làm trung quân phó nguyên soái, thay chân Tiên Khắc; dùng Đề Di Minh làm chức xa hữu; lại cho Khước Khuyết làm thượng quân nguyên soái, thay chân Cơ Trịnh Phủ. Triệu Thuẫn có người em họ tên gọi Triệu Xuyên, là con rể Tấn Tương công, xin làm thượng quân phó nguyên soái. Triệu Thuẫn bảo Triệu Xuyên rằng: - Nhà ngươi tuổi trẻ, hãy còn hăng hái, chưa từng trải việc đời, không nên làm vội. Nói xong, liền cho Du Biền làm thượng quân phó Nguyên soái, lại sai Loan Thuẫn làm hạ quân phó nguyên soái, thay chân Tiên Miệt; cho con Tư Thân là Tư Giáp làm hạ quân phó nguyên soái thay chân Tiên Đô. Triệu Xuyên lại xin đem tư thuộc của mình phụ theo với đạo thượng quân để lập công trạng. Triệu Thuẫn thuận cho. Con Hàn Tử Dư, tên gọi Hàn Quyết, từ lúc bé vẫn ở nhà Triệu Thuẫn, bấy giờ khuyết chức tư mã, Triệu Thuẫn liền tâu với Tấn Linh công mà dùng Hàn Quyết. Đại binh tự Giáng Đô (kinh thành nước Tấn) kéo ra, trông rất nghiêm chỉnh! Đi chưa được mười dặm, bỗng thấy có một người rẽ hàng quân quay xe trở lại. Quan Tư mã Hàn Quyết hỏi. Người dong xe ấy nói: - Quan Triệu Tướng quốc (tức là Triệu Thuẫn) bỏ quên các đồ uống rượu, vậy có sai tôi trở lại lấy. Hàn Quyết nổi giận, nói: - Đại binh đang đi mà sao nhà ngươi dám rẽ hàng quân trở lại, tất phải đem chém mới được! Người dong xe ấy khóc mà kêu rằng: - Việc này là bởi lệnh quan Triệu Tướng quốc! Hàn Quyết nói: - Ta làm chức tư mã, chỉ biết quân pháp, chứ không biết quan Tướng quốc nào cả. Nói xong, truyền chém người dong xe ấy và phá vỡ cả xe đi. Các tướng nói với Triệu Thuẫn rằng: - Ngài cử Hàn Quyết làm tư mã, mà Hàn Quyết dám giết người dong xe của ngài, thật là một kẻ phụ ơn, chớ nên dùng làm gì! Triệu Thuẫn cười nhạt, rồi sai người đi triệu Hàn Quyết. Các tướng đều nghĩ Triệu Thuẫn tất làm nhục Hàn Quyết. Hàn Quyết đến, Triệu Thuẫn đang ngồi, đứng dậy, tỏ ý kính trọng mà bảo rằng: - Nhà ngươi biết giữ phép như vậy thì thật không uổng cái công ta tiến dẫn! Nhà ngươi nên cố đi. Hàn Quyết lạy tạ rồi lui ra. Triệu Thuẫn lại bảo các tướng rằng: - Sau này Hàn Quyết tất được cầm quyền chính nước Tấn! Họ Hàn đã sắp đến ngày hưng thịnh! Quân Tấn đóng đồn ở đất Hà Khúc. Du Biền hiến kế rằng: - Quân Tần dưỡng uy sức nhuệ trong mấy năm trời, mới sang đánh ta thì ta không thể địch nổi; nay ta cố thủ mà không ra đánh lâu ngày tự khắc quân Tần phải lui. Khi quân Tần đã lui, bấy giờ ta sẽ đuổi đánh thì tất được toàn thắng. Triệu Thuẫn theo lời. Tần Khang công thấy quân Tấn không đánh, mới hỏi kế Sĩ Hội. Sĩ Hội nói: - Triệu Thuẫn mới dùng một người tên gọi Du Biền. Người ấy nhiều mưu trí lắm! Nay quân Tấn không ra đánh tức là dùng mưu của Du Biền, muốn làm cho quân ta lâu ngày mỏi mệt. Tôi nghe Triệu Xuyên là con rể Tấn Tương công thuở trước, có nói với Triệu Thuẫn xin làm thượng quân phó nguyên soái, mà Triệu Thuẫn không cho, lại dùng Du Biền. Nay Triệu Thuẫn dùng mưu Du Biền, Triệu Xuyên không bằng lòng, bởi vậy xin đem tư thuộc mình đi theo đạo thượng quân là có ý muốn tranh công của Du Biền. Nếu ta đến đánh đạo thượng quân thì tất Triệu Xuyên cậy sức mạnh, vội vàng ra nghênh chiến. Chỉ dùng kế ấy, mới đánh nổi được quân Tấn. Tần Khang công theo lời, liền sai Kiển Bính đến đánh đạo thượng quân. Khước Khuyết và Du Biền đều cố thủ không ra. Triệu Xuyên nghe tin quân Tần đến, tức khắc đem tư thuộc của mình ra nghênh chiến. Kiển Bính quay xe bỏ chạy. Xa đi rất nhanh. Triệu Xuyên đuổi theo đến hơn mười dặm, không kịp mà trở về, thấy bọn Du Biền không đem quân tiếp ứng, mới gọi các tướng sĩ mà mắng rằng: - Ta đem quân đi tới đây là cốt để đánh giặc, nay giặc đến mà không ra đánh, vậy thì trong đạo thượng quân này đều là đàn bà cả hay sao! Các tướng sĩ nói: - Quan Nguyên soái đã định sẵn mưu kế để phá quân giặc, chúng tôi không dám trái lệnh. Triệu Xuyên lại mắng rằng: - Lũ chuột ấy lại còn có mưu kế gì! Chẳng qua là sợ chết mà thôi. Ai sợ quân Tần, chứ ta đây quyết không sợ. Ta quyết đem quân ra đánh một trận để cho khỏi thẹn với quân Tần. Triệu Xuyên lại tiến quân ra đánh, vừa đi vừa reo to lên rằng: - Ai có can đảm thì đi theo ta! Các tướng sĩ không ai theo cả. Chỉ có quan hạ quân Phó Nguyên soái là Tư Giáp khen rằng: - Người ấy thật là một người tốt, ta nên giúp mới phải! Quan Thượng quân Nguyên soái là Khước Khuyết vội vàng sai người đem việc Triệu Xuyên báo cho Triệu Thuẫn biết. Triệu Thuẫn giật mình kinh sợ mà nói rằng: - Đứa điên cuồng ấy đem quân ra, tất bị quân Tần bắt, ta cứu mới được! Nói xong, liền truyền cho các quân cùng ra cả, để giao chiến với quân Tần. Lại nói chuyện Triệu Xuyên tiến sang quân Tần, cùng với Kiển Bính giao chiến. Đánh được hơn ba mươi hợp, hai bên đang xung đột cùng nhau, Tây Khất Thuật vừa toan xông đến để đánh giúp Kiển Bính, bỗng thấy đại binh quân Tần kéo ra, mới không dám đánh, lại nổi hiệu thu quân trở về, Triệu Thuẫn thấy vậy cũng thu quân về. Triệu Xuyên về đến dinh quân Tấn, hỏi Triệu Thuẫn rằng: - Tôi định độc lực ra phá vỡ quân Tần, để rửa thẹn cho các tướng, sao ngài lại nổi hiệu thu quân? Triệu Thuẫn nói: - Tần là một nước lớn, chớ nên khinh thường, ta phải dùng kế mới phá vỡ được. Triệu Xuyên nói: - Dùng kế! Dùng kế! Nghĩ mà chán quá! Nói chưa dứt lời thì bỗng thấy có sứ thần nước Tần đưa chiến thư đến. Triệu Thuẫn sai Du Biền ra tiếp kiến. Sứ nước Tần đưa bức thư cho Du Biền. Du Biền đệ trình Triệu Thuẫn. Triệu Thuẫn mở ra xem. Trong thư nói: "Các chiến sĩ của hai nước ta đều chưa thiếu ai cả, xin đến ngày mai quyết một trận thắng phụ". Triệu Thuẫn nhận lời. Sứ nước Tần về rồi. Du Biền bảo Triệu Thuẫn rằng: - Tôi thấy sứ nước Tần ngoài miệng dẫu nói xin khai chiến nhưng trông mắt ngơ ngác nhìn quanh, hình như có ý sợ hãi ta lắm. Tôi chắc rằng đêm hôm nay quân Tần tất bỏ trốn, xin Nguyên soái sai một toán quân ra phục sẵn ở bên sông Hoàng Hà, chờ khi quân Tần qua sông, sẽ đổ ra mà đánh, tôi chắc là quân ta tất được toàn thắng. Triệu Thuẫn khen phải, rồi toan sai quân đi mai phục. Tư Giáp nghe thấy mưu ấy, liền nói với Triệu Xuyên. Triệu Xuyên cùng với Tư Giáp kéo nhau đến cửa dinh quân Tấn mà reo ầm lên rằng: - Các quân sĩ, hãy nghe ta nói một câu: Nước Tấn ta binh cường tướng mạnh, có kém gì nước Tần, nay nước Tần đưa chiến thư, ta đã nhận lời rồi, mà còn đem quân mai phục, để làm kế đánh trộm thì sao gọi là trượng phu được! Triệu Thuẫn nghe nói, liền gọi Triệu Xuyên và Tư Giáp đến mà bảo rằng: - Ta có ý ấy đâu! Các người chớ làm cho quân sĩ náo động! Quân thám tử của nước Tần đem lời nói Triệu Xuyên và Tư Giáp về nói với Tần Khang công. Đêm hôm ấy quân Tần bỏ trốn, rút về mặt Hà Ấp, qua Đào Lâm Tái mà về nước Tần. Triệu Thuẫn cũng thu quân trở về, rồi trị tội những kẻ làm tiết lộ quân tình, vì Triệu Xuyên là con rể Tấn Tương công, lại là em họ Triệu Thuẫn, mới được tha tội; còn Tư Giáp thì phải cách bỏ quan tước, đuổi sang ở nước Vệ. Triệu Thuẫn nói: - Ta không nên quên công của Tư Thần ngày xưa! Nói xong, lại cho con Tư Giáp là Tư Khắc là hạ quân phó nguyên soái. Triệu Thuẫn sợ quân Tần lại đến, mới sai quan Đại phu là Thiêm Gia ra ở Hà Ấp để trấn thủ Đào Lâm Tái. Du Biền nói với Triệu Thuẫn rằng: - Trận đánh nhau vừa rồi, bày mưu kế cho nước Tần là bởi Sĩ Hội. Nếu người ấy còn ở nước Tần thì chúng ta cũng khó lòng mà ngồi yên được. Triệu Thuẫn lấy làm phải, họp các quan đại phu lại để thương nghị. Triệu Thuẫn hỏi rằng: - Nay Hồ Xạ Cô ở nước Lộ, Sĩ Hội ở nước Tần, hai người đều lập mưu để hại nước Tấn ta thì các quan nghĩ thế nào? Tuân Lâm Phủ nói: - Công lao của họ Hồ ngày xưa, ta cũng nên nhớ, nay xin triệu Hồ Xạ Cô về mà phục chức cho. Khước Khuyết nói: - Hồ Xạ Cô nhiều công lao, nhưng có cái tội giết hại quan đại thần, nếu ta phục chức cho thì lấy gì mà làm gương cho kẻ khác, chi bằng ta triệu Sĩ Hội. Sĩ Hội là người nhu thuận mà nhiều mưu trí, dẫu có trốn sang nước Tần, nhưng không phải là tội. Nước Lộ xa mà nước Tần gần, nay ta muốn trừ cái hại nước Tần thì nên triệu Sĩ Hội về. Triệu Thuẫn nói: - Nước Tần đang trọng dụng Sĩ Hội, ta triệu thì tất nước Tần không cho về, biết làm thế nào? Du Biền nói: - Tôi có quen một người tên gọi Thọ Dư, tức là cháu Ngụy Thù, hiện nay ăn lộc ở Ngụy Ấp. Người ấy khéo bày mưu kế; muốn triệu Sĩ Hội về, chỉ giao cho người ấy là được việc! Nói xong, lại ghé vào tai Triệu Thuẫn mà bảo mưu kế. Triệu Thuẫn mừng lắm, nói: - Nhà ngươi vì ta mà đến gọi người ấy. Chiều hôm ấy, Du Biền đến nhà Thọ Dư. Thọ Dư mời vào, Du Biền xin vào phòng kín để nói chuyện, rồi đem mưu kế định triệu Sĩ Hội bảo với Thọ Dư. Thọ Dư nhận lời. Du Biền về nói với Triệu Thuẫn. Ngày hôm sau, Triệu Thuẫn vào tâu với Tấn Linh công rằng: - Người nước Tần thường hay sang xâm nhiễu nước Tấn ta, ta nên bắt các quan ấp tể ở Hà Đông phải mộ quân ra trấn thủ bến sông Hoàng Hà; lại bắt cả những người có ấp ăn lộc, cũng phải đi đốc biện về việc ấy, nếu để sai xuyễn thì tức khắc trị tội. Tấn Linh công thuận cho. Triệu Thuẫn nói: - Ngụy Ấp là một ấp lớn, nếu Ngụy Ấp chịu xướng suất lên thì các ấp đều phải theo cả. Nói xong, truyền gọi Thọ Dư, bắt phải hết sức mà đốc biện về việc ấy. Thọ Dư nói với Triệu Thuẫn rằng: - Chúa công nghĩ đến tiền nhân thuở xưa mà cho tôi ăn lộc ở Ngụy Ấp, nhưng tôi chưa hề có quen việc quân lữ bao giờ. Huống chi sông Hoàng Hà dài hơn một trăm dặm, chỗ nào quân giặc cũng có thể sang đò được, dẫu đem quân ra trấn thủ, chẳng qua vô ích mà thôi. Triệu Thuẫn nổi giận, nói: - Sao nhà ngươi lại dám trái lệnh ta! Hạn cho nhà ngươi trong ba ngày, phải đem quân tịch đến trình, nếu chưa làm xong thì chiếu quân pháp mà trị tội. Thọ Dư tức giận lui ra, vừa đi vừa phàn nàn; khi về đến nhà, lại có ý buồn bã, không được bằng lòng. Vợ con thấy vậy, đều xúm lại hỏi. Thọ Dư nói: - Triệu Thuẫn ác nghiệt quá, bắt ta đem quân ra giữ các cửa sông Hoàng Hà thì biết bao giờ cho xong việc! Các ngươi nên thu thập gia tư, cùng ta trốn sang nước Tần để theo Sĩ Hội là hơn cả. Nói xong, truyền cho người nhà sắp sửa xe ngựa. Đêm hôm ấy uống một bữa rượu thật say, vì cớ món ăn không được sạch sẽ, lại đánh người nhà bếp hơn một trăm roi; đánh xong, vẫn còn hầm hầm tức giận mà bảo người nhà bếp rằng: - Thế nào ta cũng giết chết nhà ngươi đi mới được! Người nhà bếp tức khắc đem việc Thọ Dư phản Tấn theo Tần đi báo Triệu Thuẫn. Triệu Thuẫn sai Hàn Quyết đến bắt. Hàn Quyết thả cho Thọ Dư chạy thoát, chỉ bắt vợ con đem về bỏ ngục. Thọ Dư đi suốt mấy đêm sang đến nước Tần, vào yết kiến Tần Khang công, kể tội Triệu Thuẫn ác nghiệt, bắt giam vợ con, chỉ có một mình trốn thoát sang đây, xin đầu hàng nước Tần. Tần Khang công hỏi Sĩ Hội xem việc ấy thực hay là giả? Sĩ Hội nói: - Người nước Tấn hay gian dối lắm, ta chớ nên tin; Thọ Dư đầu hàng thực thì có đem được thứ gì sang dâng nước Tần ta mới phải! Thọ Dư thò vào trong tay áo, rút ra một quyển sổ, tức là sổ biên những thổ địa nhân dân tại Ngụy Ấp, đem dâng Tần Khang công mà nói rằng: - Nếu Chúa công thu dụng cho tôi thì tôi đem Ngụy Ấp mà dâng nộp chúa công. Tần Khang công lại hỏi Sĩ Hội rằng: - Có nên nghe lời Thọ Dư hay không? Thọ Dư đưa mắt cho Sĩ Hội và sẽ giẫm vào chân ra hiệu cho Sĩ Hội. Sĩ Hội dẫu ở nước Tần, nhưng trong lòng vẫn nhớ nước Tấn; khi thấy Thọ Dư ra hiệu, mới nói với Tần Khang công rằng: - Nước Tần ta khi trước bỏ năm thành ở đất Hà Đông mà không lấy, là vì tình thân thuộc với Tấn, bây giờ nước Tấn giao chiến với ta luôn mấy năm nay thì ta có lẽ gì mà không chiếm lấy năm thành ở đất Hà Đông ấy. Vả năm thành ở đất Hà Đông thì Ngụy Ấp là lớn hơn cả, nếu ta chiếm được Ngụy Ấp, rồi nhân đấy mà lấy luôn cả năm thành, còn gì hơn nữa! Tôi chỉ e rằng quan trấn thủ ở Ngụy Ấp sợ uy người nước Tấn, không dám về với nước ta mà thôi. Thọ Dư nói: - Quan trấn thủ ở Ngụy Ấp dẫu là bề tôi nước Tấn, nhưng vẫn chịu ơn họ Ngụy tôi; nếu Chúa công đem một toán quân đóng đồn ở Hà Tây để làm thanh viện thì tôi có thể dụ cho họ phải theo. Tần Khang công ngoảnh lại bảo Sĩ Hội rằng: - Nhà ngươi đã am hiểu việc nước Tấn, nên cùng đi với ta. Tần Khang công cho Tây Khất Thuật làm chánh tướng, Sĩ Hội làm phó tướng, đem quân sang đóng đồn ở Hà Tây. Quân thám tử của nước Tần về báo rằng: - Phía trước có một toán quân Tấn đóng đồn, không biết là ý tứ gì. Thọ Dư nói: - Đó tất là người Ngụy Ấp nghe có tin quân Tần mà phòng bị sẵn đấy! Vì chúng chưa biết tôi ở bên này. Nay được một người nào am hiểu việc nước Tấn, cho cùng sang trước với tôi, đem sự họa phúc mà dụ bảo chúng thì chúng tất phải theo. Tần Khang công sai Sĩ Hội cùng đi với Thọ Dư. Sĩ Hội sụp lạy mà rằng: - Người nước Tấn tàn ác như giống hổ lang, không biết thế nào mà lường cho được! Chuyến này tôi phụng mệnh sang dụ bảo mà chúng chịu theo thì là một sự may phước cho nước Tần, vạn nhất chúng không theo mà bắt tôi ở bên ấy, tôi e rằng Chúa công lại cho tôi là người không làm nổi việc mà trị tội vợ con tôi. Như vậy có phải là không ích gì cho Chúa công, mà vợ con tôi cũng phải chịu những sự oan khổ, hối sao cho kịp! Tần Khang công không biết là Sĩ Hội nói dối, mới bảo Sĩ Hội rằng: - Nhà ngươi cứ nên hết lòng vì ta mà đi, lấy được Ngụy Ấp thì ta sẽ hậu thưởng, nếu người nước Tấn có bắt giữ, nhà ngươi ở bên ấy, ta xin sai người đem vợ con sang trả, để tỏ tấm lòng yêu mến bấy lâu. Nói xong, lại trỏ sông Hoàng Hà mà thề với Sĩ Hội. Quan Đại phu nước Tần là Nhiễu Triều can Tần Khang công rằng: - Sĩ Hội là một người mưu thần của nước Tấn, chuyến này về Tấn, khác nào như con cá lớn được ra bể, khi nào còn trở lại nữa! Sao Chúa công quá nghe lời Thọ Dư mà giúp cho nước cừu địch với mình được thêm một người mưu thần ấy? Tần Khang công nói: - Việc này ta có thể tin được, nhà ngươi chớ lo ngại! Sĩ Hội và Thọ Dư từ biệt Tần Khang công rồi đi. Nhiễu Triều ra tiễn, đem một cái roi da tặng cho Sĩ Hội mà bảo rằng: - Nhà ngươi chớ khinh nước Tần ta không có trí sĩ; chỉ tiếc Chúa công ta không chịu nghe lời ta mà thôi! Nhà ngươi cầm cái roi này đánh ngựa mà về cho mau, nếu chậm thì chắc có tai vạ. Sĩ Hội lạy tạ, rồi giục ngựa đi mau.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 49 Công tử Bão phóng tiền mua nước Tề Ý công tham sắc hại thân

Sĩ Hội cùng với Thọ Dư qua sông Hoàng Hà, đi về phía đông. Đi chưa được nửa dặm, trông thấy có một viên tướng trẻ tuổi đem một toán quân đến đón. Viên tướng ấy, ngồi ở trên xe, cúi đầu mà chào Sĩ Hội. Sĩ Hội lại gần nhìn xem ai thì tức là Triệu Sóc (con Triệu Thuẫn). Sĩ Hội hỏi Triệu Sóc rằng: - Nhà ngươi đem quân đến đây là có ý gì? Triệu Sóc nói: - Tôi phụng mệnh cha tôi, tới đây để đón ngài về triều, mặt sau sắp sửa có đại binh kéo đến. Nói chưa dứt lời thì bỗng nghe có một tiếng súng nổ, quân Tấn kéo đến đông như nước chảy, đem Sĩ Hội và Thọ Dư về triều. Quân thám tử nước Tần về báo với Tần Khang công. Tần Khang công nổi giận, toan đem quân qua sông để đánh Tấn. Lại nghe báo bên kia sông có đại binh nước Tấn kéo đến, chủ tướng là Tuân Lâm Phủ và Khước Khuyết. Tây Khất Thuật nói với Tần Khang công rằng: - Đại binh nước Tấn đã đến tiếp ứng như thế, tất không để cho quân ta sang qua sông được, chi bằng ta hãy rút về. Nói xong, liền rút quân về. Bọn Tuân Lâm Phủ thấy quân Tần rút về, cũng đem quân về nước Tấn. Sĩ Hội trốn sang nước Tần đã ba năm trời, ngày nay lại về nước Tấn, ngẫm nghĩ trong lòng, xiết bao cảm khái, vào yết kiến Tấn Linh công, sụp lạy xin lỗi. Tấn Linh công nói: - Nhà ngươi có tội gì đâu! Tấn Linh công cho Sĩ Hội làm quan đại phu, Triệu Thuẫn tâu với Tấn Linh công thưởng cho Thọ Dư mười cỗ xe, để đền cái công khó nhọc đi triệu được Sĩ Hội. Tần Khang công sai người đưa vợ con Sĩ Hội về trả nước Tấn, và bảo Sĩ Hội rằng: - Ta không nỡ trái lời thề ở sông Hoàng Hà! Sĩ Hội cảm cái nghĩa của Tần Khang công, cũng viết thư cám ơn và khuyên Tần Khang công nên nghỉ việc binh, để nuôi sức dân mà giữ yên bốn cõi. Tần Khang công nghe lời, từ bấy giờ Tần Tấn hai nước không gây việc chiến tranh, được đến vài ba mươi năm. Chu Khoảnh Vương lên ngôi được sáu năm thì thăng hà. Thái tử Ban lên nối ngôi, tức là Chu Khuông Vương. Sở Mục Vương mất. Thế tử Lữ lên nối ngôi, tức là Sở Trang Vương. Triệu Thuẫn thấy nước Sở mới có tang, muốn nhân cơ hội ấy khôi phục lại công nghiệp bá chủ của nước Tấn trước, liền đại hội chư hầu ở đất Tân Thành. Tống Chiêu công (Chử Cữu), Lỗ Văn công (Hưng), Trần Linh công (Bình Quốc), Vệ Thành công (Trịnh) Trịnh Mục công (Lan) và Hứa Chiêu công (Tích Ngã) đều đến dự hội. Tống Chiêu công, Trần Linh công và Trịnh Mục công đều xin lỗi với Triệu Thuẫn rằng: - Ba nước chúng tôi khi trước bất đắc dĩ mới phải theo Sở. Triệu Thuẫn cùng đều lấy lời ngọt ngào mà phủ dụ. Các nước chư hầu lại thần phục nước Tấn, chỉ có nước Sái là vẫn theo Sở như cũ, không đến dự hội. Triệu Thuẫn sai Khước Khuyết đem quân đi đánh nước Sái. Nước Sái xin giảng hòa. Khước Khuyết mới thu quân về nước. Tề Chiêu công (Phan) vẫn định đến dự hội, nhưng bị bệnh, chưa kịp đến đã mất; con là Thế tử Xá lên nối ngôi. Mẹ Thế tử Xá là con gái nước Lỗ, tên gọi Thúc Cơ, tức là nàng Chiêu Cơ. Nàng Chiêu Cơ dẫu là Tề Chiêu công phu nhân, nhưng không đắc sủng, mà con là Thế tử Xá, tài học lại tầm thường, bởi vậy người trong nước không có lòng kính trọng. Công tử Thương Nhân là con nàng Mật Cơ (thiếp hầu Tề Hoàn công) vốn có chí muốn cướp ngôi, chỉ vì Tề Chiêu công tiếp đãi rất hậu, vậy nên không nỡ làm vội, vẫn định chờ cho Tề Chiêu công mất, rồi mới khởi sự. Mấy năm sau, Tề Chiêu công triệu Công tử Nguyên ở nước Vệ về giao quốc chính cho. Công tử Thương Nhân thấy Công tử Nguyên là người hiền, vẫn có lòng ghen ghét; lại muốn mua chuộc lòng dân, mới đem hết gia tài cấp phát cho những kẻ nghèo khổ, bởi vậy dân trong nước ai cũng tâm phục. Đến lúc Thế tử Xá được lên nối ngôi, bỗng gặp có sao chổi hiện, Công tử Thương Nhân mới sai người bói xem tốt xấu thế nào. Người thầy bói nói: - Đó là cái triệu nước Tống, nước Tề và nước Tấn có loạn, mà vua ba nước đều bị giết cả. Công tử Thương Nhân nói: - Nếu vậy thì làm loạn nước Tề, chắc là tay ta! Nói xong, liền sai kẻ tử sĩ vào đâm chết Thế tử Xá. Công tử Thương Nhân thấy Công tử Nguyên hơn tuổi mình, mới nói dối Công tử Nguyên rằng: - Thế tử Xá không đáng làm vua; tôi làm việc này là vì anh đó! Công tử Nguyên giật mình kinh sợ mà nói rằng: - Ta vẫn biết nhà ngươi muốn làm vua đã lâu, sao bây giờ lại đổ cho ta. Ta thờ nhà ngươi thì được, chứ nhà ngươi không thể thờ ta được; ta chỉ mong rằng nhà ngươi làm vua, mà bao dung cho ta được trọn đời làm một kẻ thường dân ở nước Tề này, thế là mãn nguyện! Công tử Thương Nhân lên nối ngôi, tức là Tề Ý công. Công tử Nguyên ghét Tề Ý công làm những việc tàn nhẫn, mới cáo ốm về nhà, đóng cửa không đi đến đâu cả, cũng không vào triều nữa. Nàng Chiêu Cơ thương con chết oan, ngày đêm kêu khóc. Tề Ý công thấy vậy, bắt giam vào một nơi, lại cho ăn uống rất kham khổ. Nàng Chiêu Cơ đút tiền cho các cung nhân để đưa tin sang cho Lỗ Văn công biết. Lỗ Văn công sợ thế nước Tề mạnh, sai người sang nói với Chu Khuông Vương, muốn nhờ uy Chu Khuông Vương xin Tề Ý công tha cho nàng Chiêu Cơ. Chu Khuông Vương sai Đan Bá sang nước Tề, bảo Tề Ý công rằng: - Đã giết con thì thôi, còn giam mẹ làm gì! Sao không tha cho người ta về nước Lỗ, để tỏ cái lòng quảng đại của nước Tề. Tề Ý công vẫn muốn giấu việc giết Thế tử Xá, bấy giờ nghe lời Đan Bá, mặt đỏ bừng lên, không nói gì cả. Đan Bá lui về nhà công quán. Tề Ý công truyền đem nàng Chiêu Cơ sang cung khác, rồi sai người nói lừa Đan Bá rằng: - Chúa công tôi đối với Quốc mẫu (tức là nàng Chiêu Cơ), vẫn phải giữ lễ, huống chi lại có lệnh Thiên tử, chắc thế nào cũng xin vâng lời, sao Vương sứ không vào yết kiến Quốc mẫu, để tỏ tấm lòng quyến cố của Thiên tử. Đan Bá tưởng thực, vội vàng vào cung yết kiến nàng Chiêu Cơ. Nàng Chiêu Cơ ứa nước mắt xuống, kể những nông nỗi oan khổ. Đan Bá chưa kịp trả lời, bỗng thấy Tề Ý công ở đâu sực đến, quát to lên mà mắng rằng: - Đan Bá sao dám tự tiện vào trong cung mà tư thông với Quốc mẫu, định làm việc bậy bạ hay sao! Ta quyết đem việc này tâu với Thiên tử. Nói xong, truyền đem Đan Bá và nàng Chiêu Cơ mỗi người giam vào một nơi; lại căm tức Lỗ Văn công dám mượn uy lệnh Thiên tử mà áp chế nước mình, mới đem quân đi đánh Lỗ. Lỗ Văn công sai quan Thượng khanh là Quí Tôn Hàng Phủ (con Công tử Hữu) sang cáo cấp với nước Tấn. Triệu Thuẫn vâng lệnh Tấn Linh công hội các nước chư hầu là Tống, Vệ, Sái, Trần, Trịnh, Tào và Hứa ở đất Hỗ Địa, để thương nghị việc đánh Tề. Tề Ý công sai người sang lễ đút nước Tấn và tha Đan Bá về nhà Chu, lại cho nàng Chiêu Cơ về nước Lỗ. Các nước chư hầu đều rút quân về nước cả. Lỗ Văn công nghe tin nước Tấn không sang đánh Tề, cũng sai Công tử Toại sang lễ đút nước Tề để xin giảng hòa. Lại nói chuyện Tống Tương công phu nhân là Vương Cơ, tức là nữ huynh Chu Tương Vương, thân mẫu Tống Thành công, (Vương Thần) và Tổ mẫu Tống Chiêu công (Chữ Cữu). Tống Chiêu công từ khi còn làm Thế tử, vẫn cùng với Công tử Ấn, Công Tôn Khổng Thúc và Công Tôn Chung Ly đi săn bắn; đến khi lên ngôi làm vua, việc gì cũng nghe lời ba người ấy, bỏ hết cả chính trị, chỉ hàng ngày rủ nhau đi săn bắn để mua vui mà thôi. Quan Tư mã Lạc biết cơ nước Tống tất loạn, mới nhường quan chức cho Công tử Ấn. Quan Tư thành là Công Tôn Thọ cũng sợ tai vạ, xin cáo lão về hưu. Tống Chiêu công lại dùng người con Công Tôn Thọ là Đãng Ý Chư làm quan tư thành, Tống Tương công phu nhân là Vương Cơ đã già mà còn đa dâm. Tống Chiêu công có người thứ đệ tên gọi Công tử Bão, mặt đẹp như con gái, Vương Cơ đem lòng dan díu, một hôm mời Công tử Bão uống rượu say, rồi ép duyên với Công tử Bão. Công tử Bão cố sức chống cự, mới ra thoát khỏi, nhưng Vương Cơ vẫn không dứt tình được, liền muốn bỏ Tống Chiêu công mà lập Công tử Bão. Tống Chiêu công sợ các chi họ về Mục công và Tương công mạnh thế lắm, mới bàn mưu với Công tử Ấn để đuổi ra nước khác. Vương Cơ biết mưu, tức khắc mật báo cho hai chi họ ấy biết. Hai chi họ ấy nổi loạn, vây bắt Công tử Ấn và Công Tôn Chung Ly ở chỗ triều môn mà giết đi. Quan Tư thành là Đãng Ý Chư sợ hãi trốn sang nước Lỗ. Công tử Bão và các quan đại phu đứng ra điều đình với hai chi họ ấy để giảng hòa, không dám hỏi đến tội giết chết Công tử Ấn và Công Tôn Chung Ly; lại sai người sang nước Lỗ triệu Đãng Ý Chư về mà phục chức cho. Công tử Bão nghe tin Công tử Thương Nhân (tức là Tề Ý công) ở nước Tề, phóng tài hóa để thu nhân tâm mà cướp được ngôi vua, cũng bắt chước đem hết gia tài chu cấp cho những kẻ nghèo khổ. Năm thứ bảy đời Tống Chiêu công, nước Tống mất mùa, Công tử Bão đem thóc gạo phát cho dân đói; lại kính kẻ già, tôn người hiền, phàm những người nào từ bảy mươi tuổi trở lên, cứ mỗi tháng lại sai người biếu thóc, lụa và các thứ thực phẩm; còn những người nào có nghề khéo tài giỏi, đều thu dùng mà cấp lương cho; các quan công, khanh, đại phu thì tháng nào Công tử Bão cũng có đồ biếu; trong họ Tôn Thất, bất cứ thân sơ, hễ hơi có việc gì, cũng đem tiền bạc đến tư giúp. Đến năm thứ tám đời Tống Chiêu công, nước Tống lại mất mùa to, Công tử Bão hết cả tiền của. Vương Cơ lại đem của riêng ở trong cung ra mà đưa cho Công tử Bão. Bởi vậy cả nước ai cũng khen Công tử Bão là người nhân đức, mà muốn cho Công tử Bão làm vua. Công tử Bão biết là người trong nước ai cũng bằng lòng với mình, mới bàn mưu với Vương Cơ để định giết Tống Chiêu công. Vương Cơ nói: - Nghe nói Chử Cữu (tên Tống Chiêu công) sắp đi săn ở đất Mạnh Chư. Hôm ấy ta dặn Công tử Tu (em cùng mẹ với Công tử Bão) đóng cửa thành lại, rồi nhà ngươi đem người đi giết Chử Cữu thì chắc phải xong việc. - Công tử Bão theo lời. Quan Tư thành là Đãng Ý Chư là người hiền, xưa nay Công tử Bão vẫn kính trọng, bấy giờ nghe biết cái mưu của Công tử Bão, liền nói với Tống Chiêu công rằng: - Chúa công chớ nên đi săn, nếu đi săn thì tất không trở về được. Tống Chiêu công nói: - Nếu có kẻ định nổi loạn thì dẫu ta ở nhà, cũng không tránh được nào! Nói xong, liền sai quan Hữu sư là Hoa Nguyên và quan Tả sư là Công Tôn Hữu ở nhà để giữ nước, còn mình thì chuyển vận các đồ bảo ngọc trong kho, thẳng đường tiến ra Mạnh Chư. Tống Chiêu công mới ra khỏi cửa thành thì Vương Cơ sai người triệu Hoa Nguyên và Công Tôn Hữu vào mà giữ ở trong cung, rồi sai Công tử Tu đóng chặt cửa thành lại. Công tử Bão bảo quan Tư mã là Hoa Ngẫu tuyên cáo với các quân sĩ rằng: - Ta phụng mệnh Vương Cơ tôn lập Công tử Bão lên làm vua mà trừ bỏ vô đạo hôn quân đi, các ngươi nghĩ thế nào? Quân sĩ đều reo ầm lên rằng: - Xin vâng mệnh! Người nước Tống nghe nói, ai cũng thuận cả. Hoa Ngẫu đem quân đuổi theo Tống Chiêu công. Tống Chiêu công đi đến nửa đường nghe tin có biến, Đãng Ý Chư khuyên Tống Chiêu công chạy sang nước khác. Tống Chiêu công nói: - Trên từ Tổ mẫu (trỏ Vương Cơ), dưới đến người trong nước ai cũng là cừu địch với ta, huống chi là các nước chư hầu, còn nước nào chịu giúp ta nữa. Ta chết ở nước khác, chẳng thà chết ở nước nhà còn hơn! Nói xong, truyền đóng quân lại, rồi nấu cơm ăn, để cho các người theo hầu được ăn no cả. Ăn xong, Tống Chiêu công bảo các người theo hầu rằng: - Việc này là lỗi tại ta, chứ các ngươi có dự gì đến! Các ngươi theo hầu ta trong mấy năm, ta chưa có gì đền công, nay có các đồ bảo ngọc ở đây, ta chia tặng cho các ngươi. Các ngươi nên trốn đi, kẻo mà chết oan! Các người theo hầu đều khóc mà nói rằng: - Xin Chúa công cứ đi, nếu có quân đuổi theo, chúng tôi sẽ hết sức cố đánh. Tống Chiêu công nói: - Chỉ chết uổng mà thôi, không được ích gì. Các ngươi chớ quyến luyến ta nữa! Được một lúc, quân Hoa Ngẫu kéo đến vây kín Tống Chiêu công, rồi tuyên cáo với quân sĩ rằng: - Ta phụng mệnh Vương Cơ, chỉ giết một mình đứa vô đạo hôn quân mà thôi, không hại gì đến các ngươi cả. Tống Chiêu công vội vàng xua đuổi những người theo hầu đi. Các người theo hầu tan chạy đến quá nửa, chỉ còn Đãng Ý Chư vẫn chống gươm đứng ở bên cạnh. Hoa Ngẫu lại tuyên cáo mệnh lệnh của Vương Cơ triệu Đãng Ý Chư về. Đãng Ý Chư thở dài mà than rằng: - Làm bề tôi mà lúc hoạn nạn lại bỏ vua thì sống làm gì cho nhục, chẳng thà chết đi còn hơn! Hoa Ngẫu cầm giáo xông vào để giết Tống Chiêu công. Đãng Ý Chư lấy mình che cho Tống Chiêu công, rồi cầm gươm đánh nhau với Hoa Ngẫu. Quân Hoa Ngẫu xúm lại, giết Đãng Ý Chư trước, giết Tống Chiêu công sau. Các người theo hầu Tống Chiêu công, ai không trốn đi cũng bị giết cả. Hoa Ngẫu đem quân về báo với Vương Cơ. Bọn Hoa Nguyên và Công Tôn Hữu cùng với các quan triều thần đều tán tụng Công tử Bão là người nhân đức, nên lập làm vua. Vương Cơ truyền lập Công tử Bão lên nối ngôi, tức là Tống Văn công. Hoa Ngẫu vừa triều hạ xong, về nhà đau bụng, chết ngay lập tức. Tống Chiêu công khen Đãng Ý Chư là người trung thần, mới dùng người em là Đãng Hủy làm quan tư mã, để thay cho Hoa Ngẫu. Tống Văn công lại cho người em cùng mẹ là Công tử Tu làm quan tư thành, để thay cho Đãng Ý Chư. Triệu Thuẫn nghe tin nước Tống có loạn giết vua, liền sai Tuân Lâm Phủ làm đại tướng, hội quân nước Vệ, nước Trần và nước Trịnh để sang đánh Tống, Quan Hữu sư nước Tống là Hoa Nguyên đến nói với quân Tấn, kể hết những sự tình người trong nước muốn tôn lập Công tử Bão, lại đưa mấy xe vàng lụa làm lễ khao quân và xin giảng hòa với Tấn. Tuân Lâm Phủ toan nhận. Trịnh Mục công nói: - Chúng tôi dựng cờ dóng trống để theo Tướng quân sang đánh Tống là muốn trừ những đứa loạn tặc, Tướng quân lại cho nước Tống giảng hòa thì những đứa loạn tặc còn sợ gì nữa! Tuân Lâm Phủ nói: - Tề và Tống có khác gì nhau, ta đã khoan dung cho Tề, có lẽ nào lại nghiêm khắc với Tống hay sao! Vả người nước Tống ai cũng muốn cho Công tử Bão lên làm vua thì ta tiếc gì mà chẳng công nhận cho! Nói xong, liền cho nước Tống được giảng hòa, Trịnh Mục công lui ra mà nói rằng: - Nước Tấn không nghĩ gì đến công nghĩa, chỉ tham các đồ lễ vật mà thôi thì làm bá chủ thế nào nổi! Nay vua Sở mới lập, chẳng bao lâu tất cũng gây việc chiến tranh, chi bằng ta bỏ Tấn theo Sở, để giữ yên lấy nước nhà là hơn. Trịnh Mục công liền sai sứ sang giao thông với Sở. Nước Tấn biết vậy mà không làm gì nổi. Tề Ý công (Thương Nhân) là người ngang ngược, từ khi cha là Tề Hoàn công hãy còn, đã có một lần cùng với quan Đại phu là Bính Nguyên tranh nhau ruộng đất. Tề Hoàn công giao cho Quản Di Ngô xử đoán việc ấy. Quản Di Ngô thấy Công tử Thương Nhân (tức là Tề Ý công) lý khuất, mới xử cho Bính Nguyên được nhận ruộng đất ấy. Công tử Thương Nhân căm tức lắm, đến lúc giết Thế tử Xá mà lên làm vua, liền chiếm lấy những ruộng đất của Bính Nguyên; lại thâm thù Quản Di Ngô về bè với Bính Nguyên, cũng tước bỏ phong ấp của họ Quản. Họ Quản sợ tội, trốn sang nước Sở, con cháu làm quan ở nước Sở. Tề Ý công vẫn còn căm tức Bính Nguyên. Bấy giờ Bính Nguyên đã chết rồi, Tề Ý công nhân khi đi săn qua mộ Bính Nguyên, sai quân sĩ khai quật lên mà chặt bỏ chân đi. Con Bính Nguyên là Bính Súc đang đi theo hầu ở bên cạnh. Tề Ý công hỏi Bính Súc rằng: - Cứ như tội thân phụ nhà ngươi thì phỏng có đáng chặt hay không? Chắc nhà ngươi cũng oán giận ta lắm. Bính Súc đáp rằng: - Cha tôi lúc sống được khỏi tội chết, đã là may mắn lắm rồi, huống chi một nắm xương khô ấy, có đâu tôi dám oán giận. Tề Ý công bằng lòng mà khen rằng: - Thế mới thật con lại chữa được lỗi cho cha! Tề Ý công lại đem những ruộng đất chiếm lấy khi trước trả lại cho Bính Súc. Bính Súc xin chôn cho cha. Tề Ý công thuận cho. Tề Ý công lại mua những con gái đẹp trong nước, ngày nào cũng ham mê sự vui chơi, nghe nói quan Đại phu là Diêm Chức có người vợ rất đẹp, nhân dịp tết Nguyên Đán, mới ra lệnh: Phàm các vợ quan đại phu đều phải vào triều ở trong nội cung tất cả. Vợ Diêm Chức cũng vâng lệnh vào triều. Tề Ý công trông thấy đẹp, có ý bằng lòng, giữ lại không cho về, sai người bảo Diêm Chức rằng: - Phu nhân ở trong nội cung muốn kết bạn với vợ ngươi, vậy thì ngươi nên tìm vợ khác. Diêm Chức giận lắm mà không dám nói ra. Về phía Tây nam môn nước Tề có cái ao, tên gọi Thân Trì. Nước ao trong sạch, có thể tắm được. Bên ao có nhiều những khóm trúc rườm rà. Bấy giờ đang tháng 5 mùa hạ, Tề Ý công định ra Thân Trì để nghỉ mát, mới cho Bính Súc và Diêm Chức đi hầu. Quan Hữu sư là Hoa Nguyên nói riêng với Tề Ý công rằng: - Chúa công chặt chân cha Bính Súc và lấy vợ Diêm Chức, hai người ấy chắc đâu không oán giận Chúa công. Vậy thì các quan nước Tề thiếu gì người mà sao Chúa công lại hay thân cận hai người ấy. Tề Ý công nói: - Hai người ấy chưa hề thấy oán giận ta bao giờ, nhà ngươi chớ nghi ngại! Nói xong, liền ngự xe ra chơi Thân Trì, uống rượu rất vui. Tề Ý công rượu say, thấy nóng bức quá, mới sai lấy một cái giường gấm kê ở trong bụi trúc để nằm cho mát. Bính Súc và Diêm Chức cùng tắm ở dưới ao. Bính Súc oán giận Tề Ý công lắm, vẫn muốn giết đi để báo thù cho cha, nhưng chưa được ai đồng lòng với mình, thấy Diêm Chức cũng có cái thù mất vợ, toan cùng Diêm Chức thương nghị mà khó mở mồm nói ra, nhân khi cùng tắm ở dưới ao, nghĩ ngay một kế, cầm cái dóng trúc đánh vào đầu Diêm Chức. Diêm Chức nổi giận mà mắng rằng: - Sao nhà ngươi dám khinh ta như vậy! Bính Súc tủm tỉm cười mà bảo rằng: - Người ta cướp vợ của nhà ngươi mà nhà ngươi còn không giận, ta đánh một cái, đã có hề gì! Diêm Chức nói: - Mất vợ dẫu là một điều xấu hổ của ta, nhưng so với sự chặt chân cha thì đằng nào nhục hơn? Nhà ngươi chẳng thiết gì đến cha, mà lại trách ta không biết nghĩ đến vợ, sao lại ngu tối như thế! Bính Súc nói: - Ta có mấy lời tâm phúc, vẫn muốn bảo nhà ngươi mà không dám nói, là chỉ sợ nhà ngươi quên mất cái thù xưa thì dẫu ta có nói, cũng không ích gì cả. Diêm Chức nói: - Bụng người ta, ai cũng vậy, bao giờ quên được, chỉ vì sức không làm nổi. Bính Súc nói: - Nay đứa thù say rượu, đang nằm ngủ ở trong bụi trúc, mà theo hầu đây chỉ có hai ta mà thôi, ấy là trời cho ta cái dịp để báo thù, ta chớ nên bỏ hoài mất cơ hội. Diêm Chức nói: - Nhà ngươi dám làm đại sự, ta xin giúp một tay. Hai người cùng lau mình mặc áo, rủ nhau vào trong bụi trúc, trông thấy Tề Ý công đang nằm ngủ say, tiếng ngáy như sấm, lại có mấy tên nội thị đứng ở bên cạnh. Bính Súc bảo mấy tên nội thị rằng: - Lúc Chúa công tỉnh rượu, tất thế nào cũng khát nước, các ngươi nên phải sửa soạn sẵn mới được. Mấy tên nội thị đi sửa soạn nước uống. Diêm Chức nắm lấy tay Tề Ý công. Bính Súc bóp cổ, rồi rút gươm cắt lấy đầu. Hai người khiêng thi thể Tề Ý công giấu vào trong bụi trúc, rồi đem đầu ném xuống dưới ao. Khi các nội thị đem nước uống đến, Bính Súc bảo rằng: - Thương Nhân giết vua mà cướp ngôi, nay ta trừ bỏ đi rồi, có Công tử Nguyên là người hiền, nên lập làm vua. Các nội thị vâng dạ, không ai dám nói câu gì. Bính Súc cùng với Diêm Chức tiến vào trong thành, lại bày tiệc uống rượu, hoan hô với nhau. Có người báo với hai quan thượng khanh là Cao Khuynh (con Cao Hổ) và Quốc Quí Phủ (con Quốc Ý Trọng). Cao Huynh nói: - Bọn Bính Súc làm càn như vậy, ta nên kể tội mà bắt giết đi, để làm gương cho kẻ khác. Quốc Quí Phủ nói: - Một đứa giết vua, ta đã không trừ nổi, mà người ta trừ được thì sao gọi là tội! Bính Súc cùng Diêm Chức uống rượu xong, sai lấy một cỗ xe lớn, xếp những của cải lên, và đem vợ con ra cửa Nam môn. Người nhà khuyên Bính Súc nên đi mau. Bính Súc nói: - Thương Nhân vô đạo, người trong nước nghe tin chết, ai cũng lấy làm may, ta còn sợ gì nữa! Nói xong, cứ việc thủng thỉnh mà đi, đi sang nước Sở. Cao Huynh và Quốc Quí Phủ họp các quan triều thần lại để thương nghị, rồi lập Công tử Nguyên lên làm vua, tức là Tề Huệ công. Lại nói chuyện Lỗ Văn công tên là Hưng, là con nàng Thanh Khương (con gái Tề Hoàn công). Lỗ Văn công lấy con gái Tề Chiêu công là Khương Thị làm phu nhân, sinh được hai con là Ác và Thị; lại lấy con gái nước Tần là Kính Doanh làm thiếp, cũng sinh được hai con là Tiếp và Thúc Miện. Trong bốn người con ấy chỉ có Tiếp là lớn tuổi hơn cả, mà Ác lại là con bà đích phu nhân, bởi vậy mới lập Ác làm thế tử. Bấy giờ quyền chính nước Lỗ đều ở tay Tam Hoàn cả: 1. - Mạnh Tôn Thị là Công tử Ngao, sinh con là Cốc và Nạn; 2. - Thúc Tôn Thị là Công Tôn Tư, sinh con là Thúc Trọng Bành Sinh và Thúc Tôn Đắc Thần. Lỗ Văn công cho Thúc Trọng Bành Sinh làm chức thái phó để dạy Thế tử Ác. 3. - Quí Tôn Thị là Quí Vô Dật (con Quí Hữu) sinh con là Quí Tôn Hàng Phủ, tức là Quí Văn Tử. Lỗ Trang công có người con thứ là Công tử Toại, tức là Trọng Toại, nhân vì Công tử Ngao đắc tội với Trọng Toại, chết ở nước ngoài, bởi vậy Mạnh Tôn Thị (tức là Công Tôn Ngao) mất quyền, bao nhiêu quyền chính ở nước Lỗ về tay Trọng Thị (tức là Trọng Toại), cùng với Thúc Tôn Thị và Quí Tôn Thị. Lại nói chuyện Công Tôn Ngao vì cớ gì mà đắc tội? Nguyên Công Tôn Ngao lấy con gái nước Cử là Đái Kỷ (sinh con là Cốc), và Thanh Kỷ (sinh con là Nạn). Đến lúc Đái Kỷ chết, Công Tôn Ngao lại muốn con gái nước Cử là Dĩ Thị, người nước Cử từ chối rằng: - Còn nàng Thanh Kỷ đó, nên cho làm kế thất. Công Tôn Ngao nói: - Em tôi là Trọng Toại chưa có vợ, xin cưới Dĩ Thị cho em tôi. Người nước Cử bằng lòng cho. Đến năm thứ bảy đời Lỗ Văn công, Công Tôn Ngao phụng mệnh sang sứ nước Tấn, nhân tiện xin đón Dĩ Thị về cho Trọng Toại. Khi Dĩ Thị về đến đất Y Lăng (đất nước Cử), Công Tôn Ngao đứng trên mặt thành, trông thấy Dĩ Thị có sắc đẹp, đêm hôm ấy cùng với Dĩ Thị ép duyên, rồi đưa về nhà. Trọng Toại thấy Công Tôn Ngao chiếm mất vợ mình, căm tức vô cùng, vào nói với Lỗ Văn công, xin đem quân đến đánh. Thúc Trọng Bành Sinh can rằng: - Không nên, nếu vậy thì sinh ra cuộc biến loạn! Lỗ Văn công cho người triệu Công Tôn Ngao đến, bắt phải đem Dĩ Thị trả lại cho nước Cử, để cho Trọng Toại khỏi giận. Bấy giờ Công Tôn Ngao và Trọng Toại, hai anh em lại giảng hòa như cũ. Công Tôn Ngao vẫn có lòng nhớ Dĩ Thị, năm sau lại phụng mệnh sang viếng tang Chu Tương Vương, liền bỏ không sang nhà Chu, đem ngay tiền của trốn sang nước Cử, cùng với Dĩ Thị đoàn tụ. Lỗ Văn công cũng không nghĩ đến việc ấy nữa, cho con Công Tôn Ngao là Cốc nối dòng Mạnh Tôn Thị. Sau Công Tôn Ngao nhớ nước Lỗ muốn về, sai người nói với con là Mạnh Tôn Cốc. Mạnh Tôn Cốc liền xin với chú là Trọng Toại. Trọng Toại bảo Mạnh Tôn Cốc rằng: - Nếu cha mày muốn về thì phải theo ta ba điều: Không được vào triều, không được dự quốc chính, không được đem Dĩ Thị về. Mạnh Tôn Cốc sai người sang nói với Công Tôn Ngao. Công Tôn Ngao muốn về lắm, vậy phải theo lời. Công Tôn Ngao về nước Lỗ trong tám năm quả nhiên chỉ đóng cửa, không đi đến đâu cả; một hôm lại đem hết tiền của trốn sang nước Cử. Mạnh Tôn Cốc nghĩ ngợi nhớ cha, hơn một năm thì chết. Con là Trọng Tô Miệt (tức là Mạnh Hiến Tử) hãy còn nhỏ, Lỗ Văn công liền cho Mạnh Tôn Nạn nối làm quan khanh. Chưa được bao lâu, Dĩ Thị chết, Công Tôn Ngao muốn về nước Lỗ, mới đem hết gia tài lễ đút Lỗ Văn công và Trọng Toại, mà sai con là Mạnh Tôn Nạn đứng xin lỗi cho cha. Lỗ Văn công thuận cho. Khi Công Tôn Ngao về qua nước Tề, ốm không đi được, rồi chết ở đất Đường Phụ. Mạnh Tôn Nạn xin đem thi thể Công Tôn Ngao về chôn ở nước Lỗ. Mạnh Tôn Nạn là con người có tội, vậy nên không dự quyền chính. Quí Tôn Hàng Phủ nhường Trọng Toại và Thúc Trọng Bành Sinh. Thúc Tôn Đắc Thần là chú, việc gì cũng phải đến hỏi. Thúc Trọng Bành Sinh tính nết hiền hậu, làm chức thái phó, mà Thúc Tôn Đắc Thần chuyên giữ binh quyền, bởi vậy chỉ có Trọng Toại và Thúc Tôn Đắc Thần là cầm quyền chính nước Lỗ. Nàng Kính Doanh cậy thế Lỗ Văn công yêu, mà giận rằng con mình không được lập làm Thế tử, mới đem tiền của lễ đút Trọng Toại mà nhờ binh vực cho con là Công tử Tiếp. Trọng Toại nghĩ thầm: Thúc Trọng Bành Sinh là quan thái phó của Thế tử Ác thì tất không chịu đồng mưu với mình, mà Thúc Tôn Đắc Thần, tính tham ăn lễ, có thể lấy lợi mà dụ được, liền đem những lễ vật Kính Doanh cho, chia biếu Thúc Tôn Đắc Thần mà bảo rằng: - Đây là những lễ vật của Kính Doanh nhờ ta đưa biếu nhà ngươi. Trọng Toại lại bảo Công tử Tiếp thỉnh thoảng đến thăm Thúc Tôn Đắc Thần để tỏ lòng kính mến, bởi vậy Thúc Tôn Đắc Thần cũng có lòng yêu. Đến năm Lỗ Văn công mất, Thế tử Ác làm chủ tang, lên nối ngôi, các nước chư hầu đều sai sứ đến thăm viếng. Bấy giờ Tề Huệ công (tức là Công tử Nguyên) mới lên nối ngôi, muốn đổi lại những chính bạo ngược của Tề Ý công (tức là Công tử Thương Nhân) khi trước, cũng sai sứ đến viếng tang Lỗ Văn công. Trọng Toại bảo Thúc Tôn Đắc Thần rằng: - Tề, Lỗ thuở xưa vẫn giao hiếu với nhau, bởi Tề Hiếu công gây nên thù oán, truyền mãi cho đến Tề Ý công là Thương Nhân, nay Công tử Nguyên mới lên ngôi, ta chưa sai người sang mừng, mà đã đến viếng tang nước ta, và nhân cơ hội này giao kết với Tề để làm vây cánh cho Công tử Tiếp. Hai người cùng rủ nhau sang sứ nước Tề.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 50 Trọng Toại tôn lập Công tử Tiếp Triệu Thuẫn khuyên can Tấn Linh công

Trọng Toại cùng với Thúc Tôn Đắc Thần sang nước Tề để chúc mừng vua mới và tạ ơn nước Tề đã sai sứ sang viếng tang. Tề Huệ công mời ăn tiệc, nhân hỏi Trọng Toại và Thúc Tôn Đắc Thần rằng: - Chẳng hay vua mới nước Lỗ sao lại đặt tên là Ác. Thế gian thiếu gì tên đẹp mà lại dùng một chữ xấu xí ấy. Trọng Toại nói: - Tiên quân tôi lúc mới sinh Thế tử Ác, có sai quan Thái sử bói xem tốt xấu thế nào; quan Thái sử bảo rằng trong số tất phải ác tử không được hưởng lộc, vậy nên Tiên quân tôi mới đem chữ "Ác" đặt tên để mà trấn áp những sự dở đi. Nhưng Thế tử Ác nguyên là đích tử mà phải lập, chứ Tiên quân tôi vẫn không có lòng yêu; Tiên quân tôi chỉ yêu người con hơn tuổi nhất là Công tử Tiếp. Công tử Tiếp tính nết hiền hậu, biết kính trọng các quan đại thần, khắp người trong nước ai cũng muốn cho lên làm vua. Tề Huệ công nói: - Đời xưa cũng có phép được lập người con hơn tuổi, huống chi lại là con yêu. Thúc Tôn Đắc Thần nói: - Nước Lỗ tôi vẫn quen lệ lập đích tử, khi nào không có đích tử mới lập người con hơn tuổi, bởi vậy Tiên quân tôi bỏ Công tử Tiếp mà lập Công tử Ác, người trong nước chẳng ai thuận cả. Nếu quí quốc có lòng vì nước tôi đổi lập vua hiền thì Công tử Tiếp xin cùng với quí quốc làm hôn nhân, rồi dốc một lòng mà thần phục quí quốc. Tề Huệ công bằng lòng, nói: - Nay hai quan đại phu cầm quyền mà làm được việc ấy, ta cũng xin theo ý. Trọng Toại cùng với Thúc Tôn Đắc Thần xin uống máu để ăn thề và lập tờ hôn ước. Tề Huệ công thuận cho. Bọn Trọng Toại về đến nước Lỗ, bảo Quí Tôn Hàng Phủ rằng: - Ngày nay công nghiệp bá chủ của nước Tấn đã suy kém rồi, nước Tề sắp lại cường thịnh. Nước Tề muốn đem đích nữ gả cho Công tử Tiếp, như vậy thì nước ta càng thêm vây cánh. Quí Tôn Hàng Phủ nói: - Chúa công bây giờ là cháu gọi vua Tề bằng cậu, vua Tề có con gái, sao không gả cho Chúa công mà lại gả cho Công tử Tiếp. Trọng Toại nói: - Vua Tề nghe nói Công tử Tiếp là người hiền, muốn giao hoan với Công tử Tiếp, nhận làm cậu cháu; còn như bà phu nhân Khương Thị là con gái Tề Chiêu công, các con Tề Hoàn công coi như cừu địch, vậy nên bốn đời vua nước Tề đều lấy em thay anh. Kẻ kia chẳng nghĩ gì đến anh, huống chi là cháu. Quí Tôn Hàng Phủ nín lặng, khi lui về, thở dài mà than rằng: - Đông môn thị đã muốn có ý khác rồi! Nói xong, liền mật bảo với Thúc Trọng Bành Sinh. Thúc Trọng Bành Sinh nói: - Ngôi vua đã định rồi, ai còn dám có ý khác! Thúc Trọng Bành Sinh cũng chẳng nghĩ gì đến. Trọng Toại cùng với Kính Doanh bàn mưu đem bọn dũng sĩ phục ở trong chuồng ngựa, sai người bảo là ngựa mới đẻ con. Kính Doanh bảo Công tử Tiếp cùng với vua Lỗ (tức là Công tử Ác) và Công tử Thị Thân Bành ra chuồng ngựa để xem. Bọn dũng sĩ đổ ra, cầm côn gỗ đánh chết vua Lỗ, lại giết chết cả Công tử Thị nữa. Trọng Toại nói: - Quan Thái phó là Thúc Trọng Bành sinh hãy còn, nếu chưa trừ bỏ được người ấy thì tất không xong việc. Trọng Toại liền sai nội thị giả cách phụng mệnh vua Lỗ đến triệu Thúc Trọng Bành Sinh. Thúc Trọng Bành Sinh sắp sửa vào cung. Người nhà là công Nhiễm Vụ Nhân vẫn biết cái mưu của Trọng Toại, nghi là có ý gì khác, mới can Thúc Trọng Bành Sinh rằng: - Quan Thái phó chớ vào, vào thì tất chết. Thúc Trọng Bành Sinh nói: - Vua sai người triệu thì dẫu chết ta cũng đành lòng. Công Nhiễm Vụ Nhân nói: - Nếu vua triệu thật quan Thái phó đã không chết, chỉ e rằng không phải vua triệu thì chết uổng mà thôi. Thúc Trọng Bành Sinh không nghe. Công Nhiễm Vụ Nhân nắm lấy vạt áo mà khóc. Thúc Trọng Bành Sinh dứt đứt vạt áo, rồi đi thẳng vào cung; không thấy vua Lỗ đâu cả, mới hỏi các nội thị. Các nội thị nói: - Chúa công đi ra chuồng ngựa, để xem ngựa mới đẻ. Các nội thị liền đưa Thúc Trọng Bành Sinh đi ra chuồng ngựa. Bọn dũng sĩ lại đổ ra giết chết Thúc Trọng Bành Sinh, rồi đem thi thể chôn ở trong đống phân ngựa. Kính Doanh sai người bảo Khương Thị rằng: - Chúa công cùng Công tử Thị đều bị ngựa đá chết rồi. Khương Thị khóc ầm lên, rồi đi ra chuồng ngựa để xem. Khi Khương Thị đến thì thi thể vua Lỗ và Công tử Thị đã đưa ra ngoài cung môn. Quí Tôn Hàng Phủ nghe tin, biết ngay là mưu kế của Trọng Toại, không dám nói ra, lại bảo riêng Trọng Toại rằng: - Nhà ngươi tàn ngược quá, ta nghĩ không đang tâm! Trọng Toại nói: - Đấy là mưu của Kính Doanh, chứ ta có dự đâu đến. Quí Tôn Hàng Phủ nói: - Giả sử nước Tấn đem quân đến hỏi tội thì ta biết nói ra thế nào? Trọng Toại nói: - Xem việc nước Tề và nước Tống trước thì đủ biết. Kẻ kia giết vua lớn mà còn chẳng ai hỏi tội, huống chi ta giết hai đứa trẻ con ấy, còn lo ngại gì! Quí Tôn Hàng Phủ ôm lấy thi thể vua Lỗ mà khóc, đến nỗi khản cả tiếng. Trọng Toại nói: - Quan Đại thần nên phải bàn việc lớn trong nước, sao lại bắt chước thói đàn bà! Quí Tôn Hàng Phủ mới gạt nước mắt không khóc nữa. Thúc Tôn Đắc Thần đến hỏi Trọng Toại rằng: - Anh tôi là Thúc Trọng Bành Sinh ở đâu? Trọng Toại chối là không biết. Thúc Tôn Đắc Thần cười mà rằng: - Anh ta có chết đi thì cũng là trung thần; cái chí anh ta như thế, can gì phải giấu! Trọng Toại mới nói thực với Thúc Tôn Đắc Thần và bảo với các quan triều thần rằng: - Công việc ngày nay, cần phải lập vua trước đã. Công tử Tiếp là người hiền mà lại nhiều tuổi hơn cả các công tử, nên lập lên làm vua. Các quan triều thần đều vâng dạ xin theo, rồi cùng tôn lập Công tử Tiếp lên làm vua, tức là Lỗ Tuyên công. Thúc Tôn Đắc thần bới đống phân ngựa, đem thi thể Thúc Trọng Bành Sinh ra mà làm lễ an táng. Khương Thị nghe tin hai con bị giết, Trọng Toại lập Công tử Tiếp lên làm vua, vật mình lăn khóc, chết đi sống lại đến mấy lượt. Trọng Toại lại nịnh Lỗ Tuyên công, viện lẽ mẫu dĩ tử quí, xin tôn Kính Doanh lên làm Quốc mẫu. Khương Thị buồn rầu, ngày đêm khóc lóc, sai thị nữ thu xếp đồ đạc để sắp sửa trở về nước Tề. Trọng Toại lại giả cách sai người lưu lại mà nói rằng: - Chúa công bây giờ dẫu không phải phu nhân sinh ra, nhưng phu nhân vẫn là đích mẫu, bao giờ Chúa công cũng trọng đãi, can gì mà phu nhân phải về nước Tề. Khương Thị mắng rằng: - Thằng giặc Trọng Toại kia! Mẹ con ta có phụ bạc gì với mày mà mày lại làm những việc tàn ngược như vậy, nên còn định nói lừa ta, quỉ thần có biết, tất chẳng dung tha cái tội ấy! Khương Thị không vào yết Kính Doanh nữa, tức khắc lên xe đi ngay. Khi đi qua những chỗ chợ to phố lớn, Khương Thị lại khóc to lên mà kêu rằng: - Trời đất ôi! Trời đất ôi! Hai con nhỏ của tôi có tội lỗi gì! Thân tôi đây có tội lỗi gì! Mà thằng giặc Trọng Toại nỡ lòng giết con đích mà lập con thứ. Nay tôi từ biệt nước Lỗ không bao giờ về nữa. Người trong nước nghe nói, ai cũng động lòng thương xót, có kẻ lại chảy nước mắt khóc. Ngày hôm ấy nước Lỗ đến nỗi tan chợ, bởi vậy mới gọi Khương Thị là Ai Khương; lại vì cớ trở về nước Tề, cũng gọi là Xuất Khương. Xuất Khương về đến nước Tề, cùng với Chiêu công phu nhân, mẹ con gặp nhau, đem những sự oan khổ nói chuyện với nhau, rồi hai mẹ con cùng khóc lóc. Tề Huệ công thấy khóc lóc như vậy, có ý ghét không muốn nghe, mới sai người làm riêng một cái cung để cho hai mẹ con ở. Lại nói chuyện em cùng mẹ Lỗ Tuyên công là Thúc Miện, vốn người trung thực, thấy anh là Công tử Tiếp nhờ sức Trọng Toại, giết em mà lên làm vua, trong lòng khinh bỉ mới không vào chúc mừng. Lỗ Tuyên công sai người triệu Thúc Miện, muốn dùng cho làm quan to. Thúc Miện cố ý từ chối không làm. Có người bạn Thúc Miện hỏi Thúc Miện vì cớ gì mà không làm quan, Thúc Miện nói: - Không phải là tôi có ghét gì phú quí, nhưng trông thấy anh tôi lại nhớ đến các em, vậy nên tôi không đành lòng. Người bạn nói: - Công tử đã cho anh bất nghĩa thì sao không bỏ mà sang nước khác? Thúc Miện nói: - Anh tôi chưa hề có tuyệt tình với tôi, sao tôi nỡ tuyệt tình trước. Gặp bấy giờ Lỗ Tuyên công sai sứ đến thăm hỏi và đem vàng lụa đưa tặng cho Thúc Miện. Thúc Miện chối từ không lấy mà nói rằng: - Tôi đây cũng không đến nỗi đói rét, có đâu lại còn dám tham! Sứ giả hai ba lần nói mãi. Thúc Miện bảo rằng: - Khi nào tôi có thiếu dùng, tôi sẽ xin đến lấy, chứ bây giờ thì quyết không dám nhận. Người bạn nói: - Công tử không chịu làm quan, cũng đủ tỏ cái nghĩa khí rồi, nay trong nhà túng tiêu, chúa công có tặng tống thì xin cứ nhận, can gì mà từ chối! Dẫu Công tử nhận, cũng không ai dám bảo là tham. Thúc Miện chỉ cười, chẳng nói một câu gì cả. Người bạn thở dài mà lui ra. Sứ giả về nói Lỗ Tuyên công. Lỗ Tuyên công nói: - Em ta vốn nghèo, như vậy thì không biết lấy gì mà tiêu cho đủ. Lỗ Tuyên công sai người đêm đến rình xem Thúc Miện làm gì thì thấy đang thắp đèn ngồi khâu giày, để ngày hôm sau đem bán lấy tiền ăn. Lỗ Tuyên công than rằng: - Chú mày muốn học lối Bá Di, Thúc Tề thuở xưa, hái rau vi ở núi Thủ Dương mà ăn hay sao! Thôi thì ta cũng tùy ý. Thúc Miện suốt đời không chịu ăn lộc của anh, mà cũng không nói đến lỗi của anh bao giờ. Người nước Lỗ ai cũng khen Thúc Miện là người có nghĩa khí. Đến đời Lỗ Thành công lại dùng người con là Công Tôn Anh Tề làm quan đại phu. Bấy giờ ngoài Họ Thúc Tôn Thị, thêm có Thúc Thị, Thúc Lão, Thúc Cung, Thúc Chiếp, Thúc Ưởng và Thúc Nghệ, đều là con cháu sau Thúc Miện cả. Trọng Toại nhân khi tết Nguyên Đán, tâu với Lỗ Tuyên công rằng: - Nay Chúa công nội chủ chưa có ai, ngày trước tôi đã cùng với vua Tề kết lập tờ hôn thư, việc ấy Chúa công chớ nên để chậm. Lỗ Tuyên công nói: - Bây giờ nên sai ai sang sứ Tề? Trọng Toại nói: - Việc này tự tôi bày ra. Xin Chúa công cho tôi đi. Lỗ Tuyên công liền sai Trọng Toại sang nước Tề thỉnh hôn. Tháng hai năm ấy, đón con gái nước Tề là Khương Thị về, lập làm phu nhân. Trọng Toại lại mật tâu Lỗ Tuyên công rằng: - Chúa công mới lên làm vua, tất phải dự hội với các nước chư hầu thì ngôi vua mới vững bền được. Chúa công nên lễ đút vua Tề, để vua Tề cho Chúa công dự hội. Lỗ Tuyên công khen phải, liền sai Quí Tôn Hàng Phủ sang tạ ơn vua Tề về việc kết hôn và nói với vua Tề rằng: - Chúa công tôi nhờ ơn nhà vua mà được nối ngôi, nếu không một lần dự hội với chư hầu, chắc nhà vua cũng có ý thẹn thay. Nay nhà vua nghĩ tình cho được dự hội, thì Chúa công tôi sẽ xin đem ruộng đất ở Tế Tây mà hiến nhà vua. Tề Huệ công bằng lòng, ước định đến tháng 5 năm ấy thì cùng với Lỗ Tuyên công hội nhau ở đất Bình Châu (đất nước Tề). Đêm hôm ấy, Lỗ Tuyên công đến trước. Tề Huệ công đến sau, làm lễ tương kiến. Trọng Toại bưng những sổ biên ruộng đất ở Tế Tây đưa nộp Tề Huệ công. Tề Huệ công nhận ngay. Lỗ Tuyên công từ biệt Tề Huệ công rồi về. Trọng Toại nói: - Ngày nay ta mới có thể nằm yên được! Từ bấy giờ nước Lỗ thường sai sứ sang triều cống nước Tề, đến sau Tề Huệ công nghĩ cái tình tử tế của nước Lỗ, liền giao trả cho nước Lỗ những ruộng đất ở Tề Tây. Lại nói chuyện Sở Trang Vương (Lữ) lên làm vua đã ba năm trời mà không làm một việc gì cả, ngày nào cũng chỉ đi săn bắn và cùng với mỹ nữ uống rượu mua vui ở trong cung. Sở Trang Vương ra lệnh tuyên yết ở chốn triều môn rằng: - Nếu ai dám can thì bắt phải tội chết! Quan Đại phu là thân Vô Úy vào yết kiến Sở Trang Vương, thấy Sở Trang Vương tay phải ôm Trịnh Cơ, tay trái ôm Sái Nữ, xung quanh chỗ ngồi đều đầy những đồ âm nhạc. Sở Trang Vương hỏi Thân Vô Úy rằng: - Quan Đại phu tới đây có muốn uống rượu không? Có muốn nghe hát không? Hay là muốn nói câu gì đó! Thân Vô Úy nói: - Tôi tới đây không phải là muốn uống rượu và nghe hát, nguyên vì mới rồi tôi đang đi chơi, có người đem một câu đố nói với tôi, mà tôi không đoán ra được, vậy tôi muốn tâu để Đại vương nghe. Sở Trang Vương nói: - Câu đố gì mà quan Đại phu không đoán ra được, nói cho ta nghe. Thân Vô Úy nói: - Có một con chim lớn, lông đủ năm sắc đẹp, đậu ở trên gò cao nước Sở đã 3 năm nay, mà không thấy bay, cũng không thấy kêu, không biết là con chim gì? Sở Trang Vương hiểu là có ý can mình, mới cười mà bảo rằng: - Ta đã biết rồi! Con chim ấy không phải là chim thường, 3 năm không bay, bay tất cao đến tận trời; 3 năm không kêu, kêu tất làm cho người ta phải khiếp sợ. Nhà ngươi hãy đợi mà xem. Thân Vô Úy sụp lạy rồi lui ra. Đợi trông mấy hôm, Sở Trang Vương vẫn chơi bời như cũ. Quan Đại phu là Tô Tòng xin vào yết kiến. Khi vào, trông thấy Sở Trang Vương, liền khóc òa lên; Sở Trang Vương nói: - Tại sao mà khóc lóc như vậy? Tô Tòng nói: - Tôi khóc là vì nỗi thân tôi sắp chết mà nước Sở cũng sắp mất? Sở Trang Vương nói: - Vì cớ gì mà nhà ngươi chết, lại vì cớ gì mà nước Sở mất? Tô Tòng nói: - Tôi muốn can Đại Vương tất không nghe mà giết tôi. Tôi chết thì nước Sở không ai dám can nữa, mà Đại vương cứ say đắm tửu sắc, chẳng thiết gì đến chính trị, còn gì mà nước Sở không mất! Sở Trang Vương sầm nét mặt lại mà bảo rằng: - Ta đã có lệnh: Ai can thì bắt tội chết, sao nhà ngươi đã biết là chết mà dám can, chẳng cũng ngu lắm sao! Tô Tòng nói: - Tôi dẫu ngu cũng chưa đến nỗi ngu lắm như Đại Vương. Sở Trang Vương nổi giận mà nói rằng: - Sao nhà ngươi lại dám bảo là ta ngu lắm? Tô Tòng nói: - Đại vương làm vua một nước, quân mã hùng cường, các nước chư hầu ai cũng sợ hãi mà phải đến triều cống, đó là cái lợi muôn đời; nay say đắm tửu sắc, chẳng thiết gì đến chính trị, khiến cho nước lớn đánh ở mặt ngoài, nước nhỏ phản ở mặt trong, thế là chỉ ham cái vui một lúc mà bỏ cái lợi muôn đời, không phải ngu là gì! Cái ngu của tôi, chẳng qua là đến chết mà thôi, nhưng Đại vương giết tôi thì đời sau tất gọi tôi là trung thần, ví tôi với Long Bàng và Tỷ Can thuở trước, vậy thì tôi chẳng ngu chút nào! Còn cái ngu của Đại vương thì tôi e rằng cầu làm một đứa thất phu mà không thể được! Thôi, tôi nói đến đây là hết, tôi xin mượn cái thanh gươm của Đại vương đeo, mà đâm cổ ở trước mặt Đại vương, để khỏi trái với cái mệnh lệnh của Đại vương đã ban bố. Sở Trang Vương vội vàng đứng dậy, ngăn Tô Tòng mà bảo rằng: - Lời nói của quan Đại phu thật là trung trực lắm, vậy ta xin nghe. Nói xong, liền sai bỏ hết những đồ âm nhạc đi, đuổi Trịnh Cơ, xa Sái Cơ, rồi lập Phàn Cơ làm chủ ở trong cung. Sở Trang Vương thường có nói rằng: - Khi trước ta hay săn bắn, Phàn Cơ thường có can mà ta không nghe, sau Phàn Cơ bỏ không ăn thịt các giống cầm thú. Ấy là một người hiền nội trợ của ta đó! Sở Trang Vương lại dùng Vỉ Giả, Phan Uông và Khuất Đãng để chia quyền của quan lệnh doãn là Đấu Việt Tiêu, và chỉnh đốn lại các công việc chính trị trong nước. Sai Công tử Qui Sinh (người nước Trịnh sang làm quan ở nước Sở) đem quân đi đánh Tống, cùng với quân nước Tống đánh nhau ở Đại Cức, bắt được quan Hữu sư nước Tống là Hoa Nguyên. Sai Vỉ Giả đem quân sang cứu Trịnh, cùng với quân nước Tấn đánh nhau ở Bắc Lâm, bắt được tướng nước Tấn là Giải Dương. Sang năm sau, mới tha cho Hoa Nguyên và Giải Dương về nước. Từ bấy giờ thế lực nước Sở mỗi ngày một cường thịnh. Sở Trang vương có ý muốn làm bá chủ Trung Nguyên. Quan Thượng khanh nước Tấn là Triệu Thuẫn thấy nước Sở cường thịnh, muốn kết với Tần để chống cự nước Sở. Triệu Xuyên hiến kế rằng: - Tần có thuộc quốc gọi là nước Sùng, phụ thuộc nước Tần đã lâu, nay ta đem quân đi đánh Sùng thì Tần tất phải cứu, bấy giờ ta sẽ giảng hòa. Triệu Thuẫn theo lời, liền tâu với Tấn Linh công sai Triệu Xuyên đem quân đi đánh Sùng. Triệu Sóc nói với Triệu Thuẫn rằng: - Nước Tần từ xưa vẫn thâm thù với ta, nay ta lại đánh thuộc quốc của Tần, chắc là nước Tần giận lắm, khi nào chịu giảng hòa. Triệu Thuẫn nói: - Chủ ý ta đã nhất định rồi! Triệu Sóc lại nói với Hàn Quyết. Hàn Quyết tủm tỉm cười, rồi ghé tai Triệu Sóc mà bảo rằng: - Triệu Tướng quốc làm việc này là muốn giúp cho Triệu Xuyên để giữ lấy quyền thế họ Triệu, không phải là muốn giảng hòa với Tần. Triệu Sóc nín lặng mà lui ra. Nước Tần nghe tin nước Tấn đánh Sùng, không đến cứu Sùng, lại đem quân đi đánh Tấn, vây đất Tiêu Ấp. Triệu Xuyên rút quân về để cứu Tiêu Ấp. Quân Tần mới lui về. Triệu Xuyên từ bấy giờ được giữ binh quyền. Du Biền ốm chết, Triệu Xuyên lại thay chức của Du Biền. Tấn Linh công đã lớn tuổi, sinh ra hoang dâm bạo ngược, ham sự chơi bời, tin yêu một quan Đại phu tên gọi Đồ Ngạn Giả, tức là con Đồ Kích, cháu Đồ Ngạn Di. Đồ Ngạn Giả khéo hót nịnh, bởi vậy nói câu gì Tấn Linh công cũng nghe. Tấn Linh công sai Đồ Ngạn Giả lập một cái vườn hoa ở trong kinh thành, đi tìm những thứ hoa cỏ lạ trồng ở trong vườn. Trồng nhiều nhất là hoa đào, cứ về mùa xuân thì hoa đào nở ra, trông như hoa gấm, mới đặt tên là Đào Viên. Trong vườn ấy có xây một cái đài cao ba từng; khoảng giữa lại có lập một cái lầu gọi là Giáng Tiên Lâu. Cột vẽ hoành sơn, gạch hoa ngói đỏ, bốn bề bao lơn con tiện, đứng trên ấy mà trông xuống thì phố xá, thành quách đều như ở trước mặt cả. Tấn Linh công thấy vậy, có ý bằng lòng, thường thường lên lầu cùng với Đồ Ngạn Giả thi nhau giương cung bắn chim, uống rượu làm vui. Một hôm, Tấn Linh công truyền cho phường hát múa hát ở trên đài, nhân dân xúm quanh ở ngoài vườn để xem. Tấn Linh công bảo Đồ Ngạn Giả rằng: Bắn chim sao bằng bắn người, ta cùng với nhà ngươi hãy thử chơi. Ai bắn trúng mắt thì được giải nhất, bắn trúng vai và cánh tay thì tha không kể, nếu bắn không trúng thì phạt một đấu rượu thực to. Tấn Linh công bắn về phía hữu. Đồ Ngạn Giả bắn về phía tả. Nhân dân ở ngoài vườn, người thì mũi tên trúng vào mang tai, người thì mũi tên trúng vào cạnh sườn, đều nhốn nháo bỏ chạy cả, lại kêu ầm lên rằng: - Ai bắn cung như vậy! Tấn Linh công giận lắm, truyền cho quân sĩ cùng bắn, tên ra như mưa, nhân dân người vỡ đầu, kẻ sẩy trán, người lòi mắt, kẻ gẫy răng, tiếng khóc như ri. Tấn Linh công đứng ở trên đài trông thấy, ném cái cung xuống đất mà cười ha hả, bảo Đồ Ngạn Giả rằng: - Ta chơi ở cái đài này, chưa có hôm nào vui như hôm nay! Từ bấy giờ dân nước Tấn không ai dám đi qua đến đấy nữa! Người nhà Chu đem dâng Tấn Linh công một con mãnh khuyển, tên gọi là Linh Ngao, mình cao ba thước, sắc như than đỏ, mà lại tinh khôn lắm, biết theo ý người. Người nào có lỗi, Tấn Linh công vẫn gọi Linh Ngao sai cắn. Con Linh chồm lên, cắn vào tận mặt, kỳ chết mới thôi. Tấn Linh công dùng một người nuôi con Linh Ngao, mỗi ngày cho ăn mấy cân thịt dê. Con Linh Ngao cũng khéo theo ý người nuôi, bảo sao được vậy. Người nuôi con Linh Ngao ấy gọi là Ngao nô, được ăn lộc quan trung đại phu. Tấn Linh công truyền cho các quan đại phu vào triều ở trong cung. Mỗi lần coi triều hoặc đi chơi đâu thì Ngao nô vẫn dắt con Linh Ngao hầu ở bên cạnh, ai trông thấy cũng phải khiếp sợ. Bọn Triệu Thuẫn thường khuyên Tấn Linh công nên dùng người hiền, xa kẻ nịnh, và chăm nom việc chính trị trong nước. Tấn Linh công cứ như người điếc, chẳng thèm để lời nói vào tai, lại có ý nghi kị. Một hôm tan triều, các quan đại phu đều lui về cả, chỉ có Triệu Thuẫn và Sĩ Hội còn đứng ở cửa cung. Hai người đang nói chuyện với nhau, than thở về việc nước, bỗng thấy có hai người nội thị khiêng một cái giỏ tre ở trong cung ra. Triệu Thuẫn nói: - Sao lại có cái giỏ tre từ trong cung ra như vậy? Tất là có cớ sao đây! Nói xong, liền gọi hai người nội thị mà bảo rằng: - Đem lại đây xem, đem lại đây xem! Hai người nội thị cắm đầu đi thẳng, không nói gì cả. Triệu Thuẫn hỏi rằng: - Trong giỏ tre đựng cái gì thế! Nội thị nói: - Ngài là quan Tướng quốc, nếu ngài muốn xem thì xin ngài đến mà xem, chứ chúng tôi không dám nói. Triệu Thuẫn trong lòng càng nghi, rủ Sĩ Hội cùng đến để xem, trông thấy một cánh tay của người thò ra phía ngoài giỏ. Triệu Thuẫn và Sĩ Hội liền nắm giỏ tre lại, thành ra ở trong có một cái thây người chết. Triệu Thuẫn giật mình kinh sợ, hỏi đầu đuôi tại làm sao. Nội thị không dám nói. Triệu Thuẫn nói: - Nếu nhà ngươi không chịu nói thì ta chém đầu nhà ngươi trước. Nội thị mới chịu nói: - Người này nguyên là một tên thiện phu, Chúa công sai nấu món thịt gấu, nấu mãi không xong, Chúa công giục hai ba lần mới được, mà khi Chúa công nếm thì lại chưa chín, bởi vậy Chúa công mới đánh chết, chém làm mấy khúc, rồi sai chúng tôi đem khiêng bỏ ra ngoài đồng. Chúa công đe hẹn thời khắc cho mà đi, nếu chậm thì chúng tôi có tội. Triệu Thuẫn lại tha cho nội thị cứ việc khiêng đi. Nội thị đi khỏi rồi, Triệu Thuẫn bảo Sĩ Hội rằng: - Chúa công bạo ngược quá! Coi mạng người như cỏ rác. Nước nhà chẳng bao lâu sẽ đến ngày nguy vong. Âu là hai ta cùng vào khuyên can. Sĩ Hội nói: - Hai ta khuyên can mà Chúa công không nghe thì sau không ai dám nói nữa, chi bằng để tôi vào trước, nếu tôi khuyên can mà Chúa công không nghe, bấy giờ quan Tướng quốc sẽ vào. Tấn Linh công đang ngồi ở trên thềm, trông thấy Sĩ Hội vào, biết là có ý muốn khuyên can, liền bảo Sĩ Hội rằng: - Quan Đại phu chớ nói, ta đã biết tội rồi, để ta xin đổi. Sĩ Hội sụp lạy mà tâu rằng; - Người ta ai là không có lỗi, mà không biết lỗi là người ngu. Chúa công biết lỗi tất đổi, thế là một điều đại phúc cho nước nhà, chúng tôi lấy làm mừng lắm. Nói xong lui ra, thuật chuyện lại với Triệu Thuẫn. Triệu Thuẫn nói: - Chúa công nếu có lòng đổi lỗi thì chỉ trong ngày hôm nay tất có chính lệnh khác. Ngày hôm sau, Tấn Linh công truyền sắp xa giá đi ra chơi Đào Viên. Triệu Thuẫn nói: - Xem Chúa công cử động như thế thì có phải là người biết đổi lỗi đâu, hôm nay ta phải nói mới được. Triệu Thuẫn tức khắc đến đứng trước cửa Đào Viên để đợi khi xa giá Tấn Linh công đến thì ra mà kiến. Tấn Linh công ngạc nhiên mà hỏi rằng: - Ta chưa hề có triệu nhà ngươi bao giờ, sao nhà ngươi lại đến đây? Triệu Thuẫn sụp lạy xin lỗi và tâu với Tấn Linh công rằng: - Tôi nghe nói dẫu ông vua vô đạo đến đâu cũng chưa ai lấy việc giết người làm vui bao giờ! Nay Chúa công nuôi chó để cắn người, bắn cung để hại người, lại vì một điều lỗi nhỏ mà xả thây đứa thiện phu; mạng người rất là quan trọng, mà Chúa công coi rẻ như vậy thì sao cho giữ yên được nước nhà. Nếu tôi không nói thì không ai dám nói nữa, xin chúa công quay xe về triều, nghĩ đổi lỗi trước, khiến cho nước nhà khỏi sự biến loạn thì tôi dẫu chết cũng được thỏa lòng! Tấn Linh công có ý thẹn thò, lấy vạt áo che mặt mà bảo rằng: - Nhà ngươi hãy lui về, để cho ta chơi một hôm nay nữa, từ mai trở đi, ta xin theo lời. Triệu Thuẫn đứng chắn cửa vườn, không cho Tấn Linh công vào. Đồ Ngạn Giả ở bên cạnh, liền nói: - Quan Tướng quốc khuyên can Chúa công, thế là phải lắm, nhưng xa giá đã đến đây, chẳng lẽ về không, cũng khiến cho người ta chê cười, âu là quan Tướng quốc hãy lui về, đến buổi triều sáng mai, rồi sẽ thương nghị. Tấn Linh công cũng nói với Triệu Thuẫn rằng: Buổi triều sáng mai, ta sẽ triệu nhà ngươi! Triệu Thuẫn bất đắc dĩ đứng tránh ra một bên, để cho Tấn Linh công đi, rồi trừng mắt ra nhìn Đồ Ngạn Giả mà mắng rằng: - Làm cho nước nhà đến nỗi nguy vong là bởi lũ này! Nói xong, vẫn còn hầm hầm tức giận. Đồ Ngạn Giả theo Tấn Linh công vào chơi trong vườn. Tấn Linh công đang vui cười, Đồ Ngạn Giả bỗng thở dài mà nói rằng: - Tiếc thay, cuộc vui chỉ có một lần này mà thôi! Tấn Linh công nói: - Sao quan Đại phu lại nói như vậy? Đồ Ngạn Giả nói: Tôi chắc rằng sáng mai thì Triệu Tướng quốc lại nói lôi thôi, không để cho Chúa công được đến đây nữa. Tấn Linh công nổi giận mà nói rằng: - Từ xưa đến nay, chỉ có bề tôi bị vua kiềm chế, chưa nghe thấy vua bị bề tôi kiềm chế bao giờ. Lão ấy còn sống thì thật là không tiện cho ta lắm, ta biết dùng kế gì mà trừ đi cho được. Đồ Ngạn Giả nói: - Tôi có biết một người tên gọi Thư Nghê. Người ấy nhà nghèo, tôi vẫn chu cấp cho, bởi vậy cảm cái ơn tôi, vẫn xin cố sức chết để mà đền báo. Nếu sai người ấy giết chết Triệu Tướng quốc đi thì Chúa công tha hồ mà vui chơi, không lo gì nữa! Tấn Linh công nói: - Nếu làm được việc ấy thì công nhà ngươi to lắm! Đêm hôm ấy, Đồ Ngạn Giả mật triệu Thư Nghê đến, cho ăn cơm uống rượu, rồi bảo Thư Nghê rằng: - Triệu Thuẫn chuyên quyền, nay ta phụng mệnh Chúa công sai nhà ngươi đến giết đi, nhà ngươi nên phục ở cửa nhà Triệu Thuẫn, đợi đến đầu canh năm, khi hắn vào triều thì xông lại đâm chết, chớ có làm hỏng việc. Thư Nghê vâng lệnh, liền dắt một cây dao nhọn đến dinh Triệu Thuẫn, trông thấy cửa mở toang ra, xe ngựa đã sắp sẵn ở ngoài cửa. Trên thềm bóng đèn lờ mờ, Thư Nghê mới lẻn vào núp ở một chỗ tối. Bấy giờ Triệu Thuẫn mũ áo đại triều, tay cầm cái hốt, nghiễm nhiên ngồi ở gian giữa (nguyên là Triệu Thuẫn muốn vào triều nhưng trời còn sớm quá, vậy nên ngồi đấy để đợi cho sáng). Thư Nghê thấy vậy, giật mình kinh sợ, lui ra ngoài cửa, thở dài mà than rằng: - Người ta một lòng cung kính như thế kia, tức là trung thần, nếu ta giết người trung thần thì là bất trung, không giết thì là trái mệnh vua, lại là bất tín. Bất trung bất tín thì còn sống làm gì nữa! Thư Nghê lại đứng giữa cửa mà nói to lên rằng: - Ta là Thư Nghê đây, thà trái mệnh vua, không nỡ giết người trung thần! Nay ta tự tử mà chết, nhưng sau này tất Chúa công lại sai người khác đến, quan Tướng quốc nên phải phòng bị mới được. Nói xong, liền đập đầu vào cây hòe ở trước cửa, vỡ óc ra mà chết. Người nhà Triệu Thuẫn náo động cả lên, vội vàng vào cáo với Triệu Thuẫn. Quan Xa hữu của Triệu Thuẫn là Đề Di Minh nói với Triệu Thuẫn rằng: - Quan Tướng quốc ngày nay không nên vào triều nội, nếu vào triều thì tôi e rằng có biến. Triệu Thuẫn nói: - Chúa công đã hẹn với ta hôm nay vào triều sớm, nếu ta không vào thì là không biết giữ lễ, còn việc chết sống đã có số mệnh, ta có lo gì! Triệu Thuẫn truyền cho người nhà đem Thư Nghê chôn ở dưới gốc cây hòe rồi lên xe vào triều. Tấn Linh công thấy Triệu Thuẫn không chết, liền hỏi Đồ Ngạn Giả về việc Thư Nghê thế nào. Đồ Ngạn Giả nói: - Thư Nghê đi không thấy về, có người nói là đập đầu vào cây hòe mà chết, chưa rõ vì cớ gì. Tấn Linh công nói: Kế ấy mà không thành thì biết làm thế nào? Đồ Ngạn Giả nói: - Tôi còn có một kế, chắc hẳn thế nào cũng giết được Triệu Thuẫn. Tấn Linh công nói: - Kế gì? Đồ Ngạn Giả nói: - Ngày mai Chúa công mời Triệu Thuẫn vào uống rượu tại trong cung, rồi phục sẵn quân giáp sĩ ở phía sau tường, đợi khi đang uống rượu dở dang, Chúa công giả cách mượn thanh gươm của Triệu Thuẫn đeo để xem; tất nhiên Triệu Thuẫn phải cởi gươm mà đưa cho Chúa công. Bấy giờ tôi đứng bên, sẽ quát to lên là Triệu Thuẫn rút gươm, toan sự hại vua, quân sĩ đâu, mau mau đến để cứu giá; quân sĩ đổ ra, bắt mà giết đi. Như vậy thì người ngoài ai cũng bảo là Triệu Thuẫn làm phản bị giết. Chúa công tránh được cái tiếng giết quan đại thần. Chúa công nghĩ thế nào? Tấn Linh công khen phải, rồi theo kế mà làm. Ngay hôm sau, Tấn Linh công ra triều, bảo Triệu Thuẫn rằng: - Quan Tướng quốc đã hết lòng khuyên bảo ta, nay ta có sửa tiệc rượu ở trong cung, để tạ ơn quan Tướng quốc. Nói xong, liền bảo Đồ Ngạn Giả đưa Triệu Thuẫn vào cung. Quan Xa hữu của Triệu Thuẫn là Đề Di Minh theo vào. Khi bước lên thềm, Đồ Ngạn Giả bảo Đề Di Minh rằng: - Nay Chúa công cùng với quan Tướng quốc uống rượu, cấm người khác không ai được lên thềm cả. Đề Di Minh liền đứng ở dưới thềm. Triệu Thuẫn sụp lạy hai lạy, rồi ngồi ở bên hữu Tấn Linh công. Đồ Ngạn Giả đứng hầu bên tả. Khi uống rượu mới được ba tuần, Tấn Linh công bảo Triệu Thuẫn rằng: - Ta nghe nói thanh gươm của quan Tướng quốc đeo tốt lắm, quan Tướng quốc cho ta xem. Triệu Thuẫn không biết là kế lừa, toan cởi gươm ra để đưa. Đề Di Minh ở dưới thềm trông thấy, quát to lên rằng: - Bề tôi hầu rượu vua, theo lễ không được uống quá ba chén, cớ sao lại rút gươm ở trước mặt vua như thế? Triệu Thuẫn biết ý, liền đứng ngay dậy. Đề Di Minh hầm hầm tức giận, bước thẳng lên trên thềm vực Triệu Thuẫn xuống. Đồ Ngạn Giả gọi Ngao nô thả con Linh Ngao đuổi theo. Theo kịp đến gần cửa cung, Đề Di Minh cầm ngay cái dúi đồng đánh con Linh ngao gẫy cổ. Con Linh ngao chết. Tấn Linh công giận lắm, truyền cho quân sĩ đuổi bắt Triệu Thuẫn. Đề Di Minh đứng chắn ngang lại, để cho Triệu Thuẫn chạy trước. Quân giáp sĩ tới nơi, đâm nát Đề Di Minh ra, lập tức chết ngay. Triệu Thuẫn đang chạy, thấy có một người đuổi kịp đến nơi. Triệu Thuẫn sợ lắm. Người ấy nói: - Quan Tướng quốc chớ sợ, tôi đến cứu ngài đây? Triệu Thuẫn hỏi: - Nhà ngươi là ai? Người ấy nói: - Quan Tướng quốc không nhớ người nằm nhịn đói ở trong bụi dâu khi xưa hay sao! Linh Chiếp tức là tên tôi đó! Nguyên từ hồi 5 năm về trước, Triệu Thuẫn có đi săn ở Cửu Nguyên Sơn, ngồi nghỉ trong bụi dâu, trông thấy một người con trai nằm lăn dưới đất. Triệu Thuẫn nghi là thích khách mới sai người ra bắt. Người ấy đói không trở dậy được, hỏi đến họ tên thì người ấy nói: - Tên tôi là Linh Chiếp. Tôi sang học nước Vệ, đã ba năm nay, bây giờ trở về, tiền lưng hết cả, không lấy gì mà ăn, nhịn đói đã ba ngày hôm nay rồi! Triệu Thuẫn nghe nói thương lắm, sai người mang cho cơm và nem. Linh Chiếp chia đôi, đem một nửa bỏ vào trong cái giỏ con của mình, còn một nửa để ăn. Triệu Thuẫn hỏi: - Nhà ngươi cất đi một nửa để làm gì thế? Linh Chiếp nói: - Tôi còn mẹ già, mẹ tôi ở Tây môn. Tôi đi vắng đã lâu ngày, chưa biết mẹ tôi còn hay là mất; nay chỉ cách đây có mấy dặm, may mà mẹ tôi hãy còn thì tôi xin đem cái lộc của quan Tướng quốc ban cho này về dâng mẹ tôi. Triệu Thuẫn khen là hiếu tử, bảo cứ ăn hết đi, rồi lại lấy cơm và thịt khác ra cho, để xếp vào giỏ. Linh Chiếp lạy ta rồi đi. Sau Linh Chiếp ứng mộ ra lính, lại gặp ở trong số quân giáp sĩ đuổi bắt Triệu Thuẫn ấy, Linh Chiếp nghĩ đến cái ơn Triệu Thuẫn cứu mình ngày trước, vậy mới cố sức để cứu Triệu Thuẫn. Bấy giờ người nhà Triệu Thuẫn bỏ chạy tán loạn cả. Linh Chiếp ghé lưng cõng Triệu Thuẫn, chạy ra triều môn. Bọn giáp sĩ giết xong Đề Di Minh, lại kéo nhau đuổi theo Triệu Thuẫn. Gặp có Triệu Sóc đem quân đến đón Triệu Thuẫn, tức khắc vực Triệu Thuẫn lên xe. Triệu Thuẫn vội vàng gọi Linh Chiếp bảo cùng lên xe thì Linh Chiếp đã bỏ trốn rồi. Bọn giáp sĩ thấy quân Triệu Sóc đông lắm, mới không đuổi theo nữa, Triệu Thuẫn bảo Triệu Sóc rằng: - Nay ta không thể về nhà được! Một là sang nước Địch, hai là sang nước Tần, phải tìm một chỗ để nương thân mới xong. Bấy giờ hai cha con (Triệu Thuẫn và Triệu Sóc) cùng ra cửa Tây môn, đi về phía tây.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 51 Xem bản thảo, Đổng Hồ chép thẳng Dứt giải mũ, Hứa Cơ bắt gian

Tấn Linh công lập mưu giết Triệu Thuẫn, dẫu không giết được, nhưng thấy Triệu Thuẫn trốn đi thì trong lòng cũng mừng rỡ, khác nào như đứa học trò được rời thầy học ra, sự mừng rỡ ấy kể sao cho xiết! Liền đem cung quyến đến ở luôn ngày đêm tại chốn Đào Viên, không về cung nữa. Triệu Xuyên đang đi săn ở Tây Giao trở về, gặp cha con Triệu Thuẫn và Triệu Sóc. Triệu Xuyên hỏi chuyện đầu đuôi và bảo Triệu Thuẫn rằng: - Thúc phụ chớ sang nước khác vội, hãy đợi trong mấy ngày, tôi sẽ có tin báo. Triệu Thuẫn nói: - Nếu vậy thì ta hãy tạm đóng ở Thủ Dương Sơn để đợi tin tức, nhưng nhà ngươi nên cẩn thận, chớ để cho lại thêm tai vạ. Triệu Xuyên từ biệt Triệu Thuẫn và Triệu Sóc, rồi trở về kinh thành, nghe tin Tấn Linh công chơi ở Đào Viên, mới giả cách vào yết kiến và xin lỗi với Tấn Linh công rằng: - Tôi là thân thích với người có tội, khi nào lại còn dám hầu hạ ở bên cạnh Chúa công, xin Chúa công cho tôi được từ chức. Tấn Linh công tin là lòng thực, mới phủ dụ Triệu Xuyên rằng: - Triệu Thuẫn đã nhiều lần khinh bỉ ta, ta không thể chịu được, chứ có can dự gì đến nhà ngươi, nhà ngươi cứ yên tâm mà cung chức. Triệu Xuyên lạy tạ, rồi lại tâu rằng: - Tôi thiết tưởng làm vua chỉ quý hơn người ta về cách chơi bời sung sướng mà thôi, nay Chúa công dẫu có bày ra các đồ âm nhạc, nhưng số nội cung chưa đủ, còn lấy gì làm vui! Tề Hoàn công thuở xưa, biết bao nhiêu là phi tần, ngoài vị chánh cung, lại còn sáu bà như phu nhân nữa; Tiên quân ta là Tấn Văn công, từ khi còn trốn đi ở các nước, đến đâu cũng lấy vợ, lúc trở về nước ngoại sáu mươi tuổi, mà phi tần hãy còn đầy đàn, nay chúa công đã lập ra đài cao vườn rộng như thế này mà sao không sai người đi tuyển những con gái đẹp, về dạy múa hát để làm trò vui, chẳng cũng hay lắm sao! Tấn Linh công nói: - Nhà ngươi nói chính hợp ý ta! Nay ta muốn tuyển lấy những con gái đẹp trong nước thì biết sai ai cho được. Triệu Xuyên nói: - Quan Đại phu là Đồ Ngạn Giả có thể đương nổi việc ấy. Tấn Linh công liền sai Đồ Ngạn Giả đi tuyển con gái, bất cứ trong thành ngoài ấp, phàm có con gái từ hai mươi tuổi trở lên, bắt phải làm sổ khai trình cả, hạn trong một tháng thì về báo tin. Triệu Xuyên mượn việc ấy để sai Đồ Ngạn Giả đi biệt chỗ khác, rồi lại tâu với Tấn Linh công rằng: - Những quân thị vệ của Chúa công ở chốn Đào Viên này hãy còn ít lắm, tôi có tuyển được hai trăm lính tinh dũng, xin Chúa công cho sung vào làm quân thị vệ. Tấn Linh công thuận cho. Triệu Xuyên về dinh, tuyển lấy hai trăm quân giáp sĩ. Bọn giáp sĩ ấy hỏi Triệu Xuyên rằng: - Chẳng hay Tướng quân định sai chúng tôi đi đâu? Triệu Xuyên nói: - Chúa công chẳng thương gì đến dân tình, chỉ vui chơi ở chốn Đào Viên, nay có sai ta tuyển bọn các ngươi vào đấy, để ngày đêm tuần giữ. Bọn các ngươi đây, ai là người không có vợ con nhà cửa mà đi theo vào đấy chuyến này, ăn sương nằm gió, biết bao giờ thôi. Bọn giáp sĩ ấy đều than thở mà nói rằng: - Đứa vô đạo hôn quân như vậy, sao không chóng chết. Nếu Triệu Tướng quân (trỏ Triệu Thuẫn) còn ở nhà, tất không có việc này. Triệu Xuyên nói: - Ta có một câu này, muốn thương nghị cùng các ngươi, chẳng biết có nên không? Bọn giáp sĩ ấy đều nói: - Nếu Tướng quân cứu được cho chúng tôi thoát khỏi cái nông nỗi khổ sở này thì ơn tái sinh ấy bao giờ chúng tôi quên được. Triệu Xuyên nói: - Chỗ Đào Viên này không kín đáo lắm như chốn thâm cung. Cứ đến canh hai đêm hôm nay, các ngươi xông vào trong vườn, giả cách đòi xin ban thưởng, chờ khi ta vẫy tay áo làm hiệu thì các ngươi giết hôn quân đi rồi ta sẽ đón quan Tướng quốc về mà lập vua khác, các ngươi nghĩ thế nào. Bọn giáp sĩ ấy đều nói: - Chúng tôi xin vâng mệnh! Triệu Xuyên đều cho bọn giáp sĩ ăn cơm uống rượu, sai chực sẵn ở ngoài cửa Đào Viên, rồi vào tâu với Tấn Linh công. Tấn Linh công trèo lên đài xem, thấy trong bọn giáp sĩ người nào cũng tráng kiện. Tấn Linh công bằng lòng, giữ Triệu Xuyên ở lại hầu rượu. Uống rượu đến canh hai, bỗng nghe thấy mặt ngoài có tiếng huyên náo. Tấn Linh công kinh sợ, không biết là cớ gì, liền hỏi Triệu Xuyên. Triệu Xuyên nói: - Ý chừng các quân thị vệ xua đuổi những kẻ đi đêm đó mà thôi, để tôi xin ra dụ bảo, chớ làm kinh động thánh giá. Triệu Xuyên sai thắp đèn lồng, ở trên đài bước xuống. Bọn giáp sĩ 200 người đã phá cửa vào đến nơi. Triệu Xuyên bảo bọn giáp sĩ đứng yên cả dưới đài, rồi lại trèo lên tâu với Tấn Linh công rằng: - Quân sĩ biết là Chúa công ngự tiệc, vậy muốn xin Chúa công ban thưởng cho những lộc thừa, chứ không có ý gì khác cả. Tấn Linh công truyền cho nội thị đem rượu ban thưởng cho các quân sĩ, rồi đứng tựa bao lơn mà trông xuống. Triệu Xuyên đứng bên cạnh, gọi to lên rằng: - Chúa công thân hành ra đây để ban thưởng cho các ngươi, các ngươi nên phải lĩnh tạ. Nói xong, giơ tay áo vẫy một cái. Các quân sĩ trông biết là Tấn Linh công, liền kéo ồ nhau lên, Tấn Linh công sợ hãi, bảo Triệu Xuyên rằng: - Quân giáp sĩ trèo lên lầu làm gì thế, nhà ngươi nên truyền bảo phải xuống mau! Triệu Xuyên nói: - Quân sĩ nhớ đến quan Tướng quốc là Triệu Thuẫn, muốn xin Chúa công cho đón về. Tấn Linh công chưa kịp trả lời thì đã bị quân giáp sĩ xúm lại đâm, tức thì chết ngay. Thị vệ xung quanh đều bỏ chạy tán loạn cả. Triệu Xuyên nói: - Nay đã trừ được hôn quân rồi, các ngươi chớ nên giết bậy một người nào, phải theo ta đi đón quan Tướng quốc về triều. Đồ Ngạn Giả đang đi tuyển con gái đẹp ở ngoài cõi xa, nghe báo Tấn Linh công bị giết, giật mình kinh sợ, biết là mưu kế của Triệu Xuyên, nhưng không dám nói ra, lẻn về nơi dinh phủ. Bọn Sĩ Hội nghe tin ấy, cũng vội vàng chạy đến Đào Viên, chẳng thấy một người nào cả, biết là Triệu Xuyên đi đón Triệu Thuẫn, mới đem các cửa Đào Viên khóa chặt lại, để đợi khi Triệu Thuẫn về. Triệu Thuẫn về đến kinh thành, đi thẳng vào Đào Viên. Các quan triều thần đều họp đông đủ cả. Triệu Thuẫn phục ở bên cạnh thi thể Tấn Linh công mà khóc òa lên, rất là thảm thiết, tiếng khóc vang động đến ngoài vườn. Dân nước Tấn nghe tiếng, đều bảo nhau rằng: - Xem thế thì biết quan Tướng quốc là người trung thành. Việc này chẳng qua chỉ bởi Chúa công ta gây nên tai vạ, chứ không phải lỗi tại quan Tướng quốc. Triệu Thuẫn truyền rước thi thể Tấn Linh công sang chôn ở đất Khúc Ốc, rồi một mặt họp các quan triều thần để bàn lập vua mới. Bấy giờ Tấn Linh công chưa có con trai. Triệu Thuẫn nói: - Từ khi Tiên quân ta mất đi, tôi đã có xướng nghị rằng không nên lập vua nhỏ, vì nhiều người không thuận, mà thành ra đến có việc này, bây giờ ta nên phải cẩn thận mới được. Sĩ Hội nói: - Trong nước có vua lớn thì là một điều đại phúc, quan tướng quốc dạy phải lắm! Triệu Thuẫn nói: - Tiên quân ta (tức là Tấn Văn công) ngày xưa còn có một người con. Lúc mới sinh ra, bà mẹ nằm mộng thấy thần nhân giơ bàn tay đen xoa vào đứa bé, bởi vậy mới đặt tên là Hắc Điến, ngày nay đang làm quan ở nhà Chu, hiện đã nhiều tuổi, tôi muốn đón về để lập lên làm vua. Các quan không ai dám trái ý, đồng thanh mà nói rằng: - Quan Tướng quốc nghĩ rất phải! Triệu Thuẫn muốn gỡ cái tội giết vua cho Triệu Xuyên, mới sai Triệu Xuyên sang nhà Chu đón Công tử Hắc Điến về nước Tấn. Công tử Hắc Điến vào triều nhà Thái miếu, rồi nối ngôi lên làm vua, tức là Tấn Thành công. Tấn Thành công đã lên ngôi, giao hết quyền chính cho Triệu Thuẫn, lại đem con gái gả cho Triệu Sóc, tức là nàng Trang Cơ. Triệu Thuẫn tâu với Tấn Thành công rằng: - Mẹ tôi nguyên là con gái nước Địch. Bà Triệu Cơ (con gái Tấn Văn công gả cho thân phụ Triệu Thuẫn là Triệu Thôi) tôi thuở xưa nhường cho mẹ tôi làm vợ cả, vậy nên tôi được làm đích tử nhận chức trung quân, nay con bà Triệu Cơ tôi là Triệu Đồng, Triệu Quát và Triệu Anh đều đã lớn tuổi cả, tôi lại xin nhường lại cái quyền chức ấy. Tấn Thành công nói: - Quan Tướng quốc không phải nhường, để ta sẽ dùng cho làm quan cả. Nói xong, liền cho Triệu Đồng, Triệu Quát và Triệu Anh cùng làm quan đại phu. Triệu Xuyên nói riêng với Triệu Thuẫn rằng: - Đồ Ngạn Giả ngày trước xu nịnh Tiên quân để làm hại họ Triệu ta. Việc Đào Viên này chỉ có Đồ Ngạn Giả ra ý không thuận, nếu không trừ bỏ người ấy đi thì họ Triệu ta cũng khó lòng mà yên được. Triệu Thuẫn nói: - Người ta không bắt tội nhà ngươi thì chớ, nhà ngươi lại định bắt tội người ta hay sao! Họ Triệu ngày nay chỉ nên cùng với các quan triều thần thân ái với nhau, chớ nên gây ra những việc thù oán. Triệu Xuyên mới không dám nói đến Đồ Ngạn Giả. Đồ Ngạn Giả cũng một lòng theo ý họ Triệu để được khỏi tội. Triệu Thuẫn vẫn lấy việc Đào Viên làm không bằng lòng, một hôm sang chơi sử quán, đòi lấy bản thảo của quan Thái sử là Đổng Hồ để xem chép việc Đào Viên ra làm sao. Đổng Hồ đem bản thảo đưa trình Triệu Thuẫn. Triệu Thuẫn mở ra xem, trông thấy trong bản thảo chép rõ rằng: "Mùa thu tháng bảy năm Ất Sửu, Triệu Thuẫn giết vua Di Cao ở chốn Đào Viên". Triệu Thuẫn giật mình kinh sợ, nói: - Quan Thái sử lầm rồi! Ta đã chạy ra Hà Đông cách kinh thành hơn hai trăm dặm, ta có biết đâu đến việc giết vua, mà quan Thái Sử lại đổ lỗi cho ta, chẳng cũng oan lắm sao! Đổng Hồ nói: - Ngài làm quan Tướng quốc, trốn đi chưa khỏi địa giới nước nhà mà có việc giết vua này; khi ngài về lại không trị tội quân giặc, như thế mà bảo việc này không phải tự ngài làm chủ mưu, còn ai tin được. Triệu Thuẫn nói: - Bây giờ có thể chữa lại được không? Đổng Hồ nói: - Đã gọi là tín sử thì có thế nào phải chép như thế, bởi vậy đầu tôi có thể cắt được, chứ bản thảo này không thể chữa lại được. Triệu Thuẫn thở dài mà than rằng: - Thế mới biết cái quyền chép sử lại trọng hơn cái quyền làm tướng quốc! Tiếc thay, bấy giờ ta chưa ra khỏi địa giới, để đến nỗi chịu tiếng xấu muôn đời, hối sao cho kịp! Từ bấy giờ Triệu Thuẫn một lòng tận trung với Tấn Thành công, rất là kính cẩn. Triệu Xuyên cậy có công to xin làm chức chính khanh. Triệu Thuẫn sợ mang tiếng, không dám cho làm. Triệu Xuyên tức giận, phát ra cái ung ở đàng lưng mà chết. Con Triệu Xuyên là Triệu Chiên xin nối giữ chức vị của cha. Triệu Thuẫn bảo Triệu Chiên rằng: - Đợi khi nào nhà ngươi lập được công trạng thì dẫu ngôi khanh tướng cũng chẳng khó gì! Năm ấy Chu Khuông Vương mất. Em là Du lên nối ngôi, tức là Chu Định Vương. Năm Chu Định Vương lên nối ngôi, Sở Trang Vương đem quân đánh đất Lục Hồn, qua sông Lạc Thủy, kéo quân đến địa giới nhà Chu, định dùng uy lực áp chế Thiên tử mà cùng với nhà Chu chia đôi thiên hạ. Chu Định Vương sai quan Đại phu là Vương Tôn Mãn đến úy dụ Sở Trang Vương, Sở Trang Vương hỏi: - Tôi nghe nói vua Đại Vũ ngày xưa có đúc chín cái đỉnh, từ nhà Hạ, nhà Thương đến nhà Chu ta vẫn tương truyền nhau lấy làm của quý, nay để ở đất Lạc Dương. Chẳng hay hình dáng cái đỉnh ấy lớn bé và nặng nhẹ thế nào, xin quan Đại phu nói cho tôi được biết. Vương Tôn Mãn nói: - Vua Đại Vũ nhà Hạ đúc nên chín cái đỉnh, đến đời vua Kiệt vô đạo, mới dời sang nhà Thương; vua Trụ nhà Thương bạo ngược, chín cái đỉnh ấy lại thiên sang nhà Chu, xem thế thì biết đời nào có nhân đức thì mới giữ nổi chín cái đỉnh ấy. Khi vua Thành Vương nhà Chu tôi để chín cái đỉnh ấy ở Lạc Dương, đã coi bói một quẻ thì biết rằng nhà Chu tôi truyền được ba mươi đời, cả thảy bảy trăm năm; năm nay vận mệnh nhà Chu hãy còn, nhà vua chớ nên hỏi đến đỉnh vội! Sở Trang Vương hổ thẹn, từ bấy giờ không dám có ý nom dòm nhà Chu nữa. Lại nói chuyện quan lệnh doãn nước Sở là Đấu Việt Tiêu từ khi thấy Sở Trang Vương chia mất quyền chính của mình, trong lòng oán giận, lại cậy sức mình là người tài giỏi và đời trước có công lao, dân trong nước ai cũng tin phục, mới có ý muốn làm phản, thường vẫn nói rằng: - Nhân tài nước Sở chỉ có một mình Vĩ Giả mà thôi, còn thì chẳng kể vào đâu cả! Khi Sở Trang Vương đi đánh Lục Hồn, cũng lo Đấu Việt Tiêu làm phản, mới bảo Vĩ Giả ở lại để giữ nước. Đấu Việt Tiêu thấy Sở Trang Vương đem quân đi vắng, mới quyết chí nổi loạn, định đem hết những quân của bản tộc để ra khởi sự. Đấu Khắc (con Đấu Ban) không theo. Đấu Việt Tiêu giết chết Đấu Khắc, rồi đem quân đến giết quan Tư mã là Vĩ Giả. Con Vĩ Giả là Vĩ Ngao đem mẹ chạy trốn sang Mộng Trạch. Đấu Việt Tiêu ra đóng đồn ở đất Chưng Giã để chặn đường Sở Trang Vương trở về. Sở Trang Vương nghe tin Đấu Việt Tiêu nổi loạn, tức khắc rút quân về nước, Về gần đến đất Chương Lạp, Đấu Việt Tiêu đem quân ra đối địch. Quân Sở Trang Vương trông thấy Đấu Việt Tiêu đeo cung cầm giáo, đi lại hăng hái ở trận tiền, đều có ý sợ hãi. Sở Trang Vương nói: - Họ Đấu mấy đời có công với nước, nay chẳng thà để cho Đấu Việt Tiêu phụ ta, chứ ta không nỡ phụ Đấu Việt Tiêu. Nói xong, liền sai quan Đại phu là Tô Tùng sang điều đình với Đấu Việt Tiêu, thuận cho giảng hòa và tha cho cái tội giết quan Tư mã. Đấu Việt Tiêu nói: - Ta xấu hổ không muốn làm lệnh doãn, lại còn mong ân xá gì nữa! Có dám đánh thì cứ đem quân tới đây. Tô Tùng hai ba lần phủ dụ mà Đấu Việt Tiêu không nghe. Khi Tô Tùng về rồi, Đấu Việt Tiêu truyền nổi hiệu trống tiến quân sang đánh. Sở Trang Vương hỏi các tướng rằng: - Các tướng, có ai dám đối địch với Đấu Việt Tiêu hay không? Quan Đại tướng là Nhạc Bá vâng mệnh ra trận. Con Đấu Việt Tiêu là Đấu Bí Hoàng liền đem quân ra nghênh chiến. Phan Uông trông thấy Nhạc Bá không đánh nổi Đấu Bí Hoàng, cũng giục ngựa ra trận. Em Đấu Việt Tiêu là Đấu Kỳ cũng đem quân ra giao chiến với Phan Uông. Sở Trang Vương ngồi ở trên xe, cầm dùi đánh trống để đốc chiến. Đấu Việt Tiêu đứng đàng xa trông thấy, bắn ngay một mũi tên, cắm vào cái giá trống. Sở Trang Vương sợ hãi, rơi mất dùi trống, các tướng đem mộc ra đỡ. Đấu Việt Tiêu lại bắn mũi tên nữa cắm vào cái mộc. Sở Trang Vương vội vàng truyền lệnh thu quân. Đấu Việt Tiêu lại cố sức tiến đánh, may nhờ có Hữu quân đại tướng là Công tử Trắc và Tả quân đại tướng là Công tử Anh Tề, hai mặt đổ lại, bấy giờ Đấu Việt Tiêu mới chịu lui quân. Nhạc Bá và Phan Uông nghe hiệu, cũng thu quân trở về. Về đến đất Hoàng Hử, Sở Trang Vương truyền đem hai cái tên của Đấu Việt Tiêu ra xem thì thấy dài gấp rưỡi cái tên khác, cánh tên bằng lông hạc, đốc tên bằng răng báo, mũi tên sắc không biết thế nào mà kể! Các người xung quanh trông thấy, ai cũng lắc đầu le lưỡi, lấy làm sợ hãi, cho là thần tiễn. Đêm hôm ấy, Sở Trang Vương đi tuần các dinh, nghe thấy quân sĩ chỗ nào cũng họp nhau bàn về cái thần tiễn của Đấu Việt Tiêu, khó lòng đánh nổi. Sở Trang Vương mới lập kế sai người truyền bá cho các quân sĩ biết rằng: - Đời Tiên quân ta là Sở Văn Vương ngày xưa nghe nói người Nhung Man làm tên tốt lắm, sai sứ đi hỏi; người Nhung Man mới đem dâng ta hai cái tên, gọi là Thấu Cốt Phong, vẫn để ở nhà Thái Miếu. Nay Đấu Việt Tiêu lấy trộm được cái tên ấy, nhưng bắn hai phát ấy là hết mất rồi, còn sợ gì nữa! Chỉ đến ngày mai là ta đánh tan được. Bấy giờ quân sĩ mới được yên lòng. Sở Trang Vương hạ lệnh rút quân sang nước Tùy, giả cách nói định mượn quân các nước ở Hán Đông về đánh Đấu Việt Tiêu. Tô Tùng nói với Công tử Trắc rằng: - Giặc mạnh ở trước mặt mà lui quân thì e hỏng việc. Công tử Trắc nói: - Đấy tất là Đại vương lập kế đó thôi! Chúng ta vào yết kiến thì tự khắc biết rõ. Đêm hôm ấy Công tử Trắc cùng với Công tử Anh Tề vào yết kiến, Sở Trang Vương nói: - Đấu Việt Tiêu mạnh thế lắm, không thể địch nổi, phải dùng kế mới đánh được. Sở Trang Vương đem mật kế bảo hai tướng và sai hai tướng đem quân đi mai phục. Hai tướng vâng lệnh đem quân đi. Gà gáy hôm sau, Sở Trang Vương truyền cho đại binh kéo lui. Đấu Việt Tiêu nghe tin, tức khắc đem quân đuổi theo. Quân Sở Trang Vương cố sức đi gấp qua đất Cánh Lăng. Đấu Việt Tiêu cũng cố sức đuổi theo, một ngày một đêm đi hơn 200 dặm, đến cầu Thanh Hà, trông thấy quân Sở Trang Vương đang thổi cơm ở bên kia cầu, lại cố sức đuổi theo cho kịp. Khi Đấu Việt Tiêu đến nơi thì quân Sở Trang Vương bỏ cả nồi niêu mà chạy. Đấu Việt Tiêu lại hạ lệnh đuổi theo, cố bắt cho kỳ được Sở Trang Vương, rồi mới được ăn cơm sáng. Quân Đấu Việt Tiêu đang lúc mỏi mệt, lại phải nhịn đói để mà đuổi theo, cố theo kịp đến toán quân của Phan Uông. Phan Uông bảo Đấu Việt Tiêu rằng: - Nhà ngươi muốn bắt vua Sở thì sao không cố đi mau lên một chút! Đấu Việt Tiêu tưởng là bảo thực, mới bỏ Phan Uông, lại cố đuổi theo 60 dặm nữa, đến địa giới Thanh Sơn, gặp toán quân của Hùng Phụ Cơ. Đấu Việt Tiêu hỏi Hùng Phụ Cơ rằng: - Vua Sở ở đâu? Hùng Phụ Cơ nói: - Vua Sở chưa đi đến đây! Đấu Việt Tiêu trong lòng nghi ngờ, lại bảo Hùng Phụ Cơ rằng: - Nhà ngươi bắt vua Sở cho ta thì khi ta lên làm vua, sẽ cho nhà ngươi được dự quyền chính. Hùng Phụ Cơ nói: - Ta trông quân sĩ nhà ngươi đều mỏi mệt cả, nên phải cho ăn no thì mới giao chiến được. Đấu Việt Tiêu lấy làm phải, mới đóng quân lại để nấu cơm ăn. Quân Đấu Việt Tiêu đang nấu cơm, bỗng thấy Công tử Trắc và Công tử Anh Tề hai mặt đem quân đến đánh. Quân Đấu Việt Tiêu đói mệt, không thể đánh được, bỏ chạy về phía nam, lui về cầu Thanh Hà, thì cái cầu ấy đã phá gẫy từ bao giờ rồi. Nguyên Sở Trang Vương khi trước đem quân phục ở bên cầu, đợi cho Đấu Việt Tiêu đi qua khỏi thì phá gẫy cái cầu ấy để chặn lối trở về. Đấu Việt Tiêu thấy cầu bị phá gẫy, giật mình kinh sợ, truyền cho quân sĩ dò xem nước sông nông sâu thế nào để tìm đường sang. Bỗng nghe ở bên kia bờ sông có tiếng súng nổ, một toán quân Sở quát to lên rằng: - Quân Nhạc Bá đóng đây, Đấu Việt Tiêu mau mau xuống ngựa mà đầu hàng đi! Đấu Việt Tiêu giận lắm, truyền cho quân sĩ đứng bên này sông giương cung ra bắn. Trong toán quân Nhạc Bá có một viên tiểu tướng có tài nghệ bắn cung, tên gọi Dưỡng Do Cơ nói với Nhạc Bá xin cùng với Đấu Việt Tiêu bắn thi. Nhạc Bá thuận cho. Dưỡng Do Cơ đứng ở bờ sông bên này, quát to lên mà bảo Đấu Việt Tiêu rằng: - Mặt sông rộng như thế này, tên nào mà bắn cho thấu! Tôi nghe nói quan lệnh doãn (tức là Đấu Việt Tiêu) tài bắn lắm, vậy tôi xin cùng ngài bắn thi. Hai bên nên đứng giáp ở trên nhịp cầu, mỗi bên bắn ba phát, ai may thì sống. Đấu Việt Tiêu hỏi rằng: - Nhà ngươi là ai? Dưỡng Do Cơ nói: - Tôi là Tiểu tướng thuộc về toán quân Nhạc Bá, tên gọi Dưỡng Do Cơ. Đấu Việt Tiêu có ý khinh bỉ, mới bảo Dưỡng Do Cơ rằng: - Nhà ngươi muốn bắn thi thì hãy nhường ta bắn trước ba phát. Dưỡng Do Cơ nói: - Đừng nói ba phát, dẫu đến trăm phát, tôi cũng không sợ! Nếu ai phải tránh thì là không giỏi. Nói xong, liền ra đứng ở trên nhịp cầu về phía sông bên này. Đấu Việt Tiêu đứng ở nhịp cầu bên kia, giương cung bắn ngay một phát, tưởng rằng phát tên này bắn ra thì Dưỡng Do Cơ lộn cổ xuống sông mà chết. Ai ngờ Dưỡng Do Cơ trông thấy mũi tên đến, tay cầm đốc cung, gạt liền một cái, mũi tên ấy rơi xuống dưới sông. Dưỡng Do Cơ lại quát to lên mà bảo Đấu Việt Tiêu rằng: - Bắn nữa đi! Bắn nữa đi! Đấu Việt Tiêu lại giương cung nhằm thẳng vào Dưỡng Do Cơ bắn luôn một phát nữa. Dưỡng Do Cơ ngồi sụp xuống thì mũi tên ấy qua đầu mà bay đi mất. Đấu Việt Tiêu nói: - Nhà ngươi bảo là ai tránh không giỏi, cớ sao lại ngồi sụp xuống, như vậy không phải là trượng phu. Dưỡng Do Cơ nói: - Quan lệnh doãn còn được bắn một phát nữa, đến phát này thì tôi không dám tránh; nếu phát này không trúng thì ngài lại phải nhường cho tôi bắn. Đấu Việt Tiêu nghĩ thầm: Nếu hắn không tránh thì phát tên này tất phải trúng. Đấu Việt Tiêu tức khắc giương cung ra bắn. Dưỡng Do Cơ đứng vững hai chân, không cựa cạy chút nào; khi mũi tên tới nơi, liền há mồm thật to, cắn chặt ngay lấy. Đấu Việt Tiêu bắn ba phát tên cùng không trúng cả, có ý sợ hãi, nhưng trót đã hẹn lời, cũng phải để cho Dưỡng Do Cơ bắn lại, mới bảo Dưỡng Do Cơ rằng: - Nay ta nhường cho ngươi bắn lại ba phát, nếu bắn không trúng, bấy giờ nhà ngươi phải nhường ta. Dưỡng Do Cơ cười mà bảo rằng: - Khi nào đã đến ba phát. Tôi chỉ bắn một phát thì tính mệnh quan lệnh doãn đi đời mà thôi. Đấu Việt Tiêu nói: - Nhà ngươi nói khoác làm gì thế, hãy thử bắn xem nào! Đấu Việt Tiêu nghĩ thầm: Hắn bắn phát tên này mà trúng, chẳng kể làm chi, nhược bằng không trúng thì ta còn sợ gì nữa, tha hồ cho hắn bắn. Ai ngờ Dưỡng Do Cơ là người bắn giỏi lắm, trăm phát trúng cả trăm. Bấy giờ Dưỡng Do Cơ giả cách giương cung ra bắn, nhưng tay vẫn giữ lấy tên. Đấu Việt Tiêu nghe tiếng dây cung văng vẳng, tưởng là tên đến, mới nghiêng mình tránh về phía tả. Dưỡng Do Cơ nói: - Tên vẫn còn ở tay tôi, nào đã bắn đâu! Quan lệnh doãn bảo ai tránh là không giỏi, cớ sao lại tránh? Đấu Việt Tiêu nói: - Còn sợ người ta tránh thì sao gọi là bắn giỏi! Dưỡng Do Cơ lại giả cách giương cung ra bắn. Đấu Việt Tiêu lại tránh về phía hữu. Dưỡng Do Cơ thừa cơ bắn luôn một phát suốt qua đầu Đấu Việt Tiêu chết ngay lập tức. Quân Đấu Việt Tiêu thấy chủ tướng đã chết rồi, bỏ chạy tán loạn, Công tử Trắc và Công tử Anh Tề chia đường đuổi theo, giết được quân Đấu Việt Tiêu nhiều lắm. Con Đấu Việt Tiêu là Đấu Bí Hoàng trốn sang nước Tấn, sau vua Tấn dùng làm quan đại phu, phong cho ở đất Miêu, gọi là Miêu Bí Hoàng. Sở Trang Vương đã được toàn thắng, thu quân trở về kinh thành, đem bao nhiêu người họ Đấu, bất cứ lớn bé, đều chém chết cả. Chỉ còn con Đấu Ban là Đấu Khắc Hoàng hiện đang làm quan Châm doãn, phụng mệnh Sở Trang Vương sang sứ nước Tề, bấy giờ về đến nước Tống, nghe tin Đấu Việt Tiêu nổi loạn, các người theo hầu đều can Đấu Khắc Hoàng không nên về vội. Đấu Khắc Hoàng không nghe. Khi Đấu Khắc Hoàng về đến kinh thành nước Sở, vào nói với quan Tư khấu xin chịu tội và bảo rằng: - Tổ phụ ta ngày xưa là Tử Văn đã biết Đấu Việt Tiêu có tướng làm phản, tội đến nỗi diệt tộc; khi sắp tạ thế, có dặn thân phụ tôi trốn sang nước khác. Thân phụ tôi nghĩ ơn nước Sở, không nỡ bỏ đi, thành ra bị Đấu Việt Tiêu giết chết. Nay tôi cùng họ với kẻ phản nghịch, lại không theo được lời dặn của tổ phụ tôi, vậy thì còn sống làm gì! Xin chịu tội chết. Sở Trang Vương nghe nói, thở dài mà than rằng: - Tử Văn ngày xưa thật là thần nhân! Huống chi có công to với nước Sở, nỡ nào mà để cho tuyệt tự. Nói xong, liền tha tội cho Đấu Khắc Hoàng, vẫn cho làm quan, lại đổi tên là Đấu Sinh, nghĩa là đáng chết mà được sống. Sở Trang Vương khen Dưỡng Do Cơ có công bắn chết Đấu Việt Tiêu, cho làm chức xa hữu; nghe nói Ngưu Khâu là người hiền, cho quyền làm chức lệnh doãn. Sở Trang Vương liền mở một tiệc đại yến ở trên Tiệm Đài, triệu các quan triều thần đến dự tiệc; cho cả các phi tần theo đi. Sở Trang Vương bảo các quan triều thần rằng: - Ta không uống rượu nghe hát đã sáu năm trời nay; bây giờ dẹp yên được bọn phản nghịch rồi, ta xin cùng với các ngươi bày một tiệc vui, gọi là Thái Bình Yến. Phàn các quan viên văn vũ, bất cứ to nhỏ, đều được dự tiệc tất cả. Các quan triều thần sụp lạy, rồi theo thứ tự vào ngồi. Chức bào nhân dâng món ăn; chức thái sử tấu nhã nhạc. Khi mặt trời đã gần lặn, tiệc rượu còn đang vui, Sở Trang Vương truyền thắp nến lên uống rượu nữa, lại sai một người hầu yêu là Hứa Cơ đi mời khắp các quan triều thần mỗi người một chén rượu. Các quan triều thần đều đứng dậy để uống, bỗng có một trận gió to, bao nhiêu nến thắp ở trên điện tắt hết sạch cả. Các nội thị còn đang đi châm lửa chưa đến. Trong các quan đại phu có một người trông thấy Hứa Cơ đẹp, nhân lúc tối tăm, thò tay nắm lấy vạt áo. Hứa Cơ tay trái giằng vạt áo, tay phải rờ được giải mũ của người ấy. Giải mũ đứt, người ấy sợ lắm, vội vàng buông tay ra. Hứa Cơ lấy được cái giải mũ, rón rén đi đến trước mặt Sở Trang Vương, ghé tai mà tâu rằng: - Thiếp vâng mệnh Đại vương ra mời các quan uống rượu, mà có một người vô lễ, dám nhân lúc tắt nến, nắm lấy vạt áo thiếp, thiếp đã dứt được giải mũ của người ấy, xin Đại vương giục thắp nến mà xét xem. Sở Trang Vương vội vàng truyền cho nội thị chớ thắp nến vội và bảo các quan triều thần rằng: - Ngày nay ta bày tiệc, mong cùng với các ngươi mua vui, các ngươi nên bỏ cả giải mũ đi, rồi cùng ta uống rượu thật say. Nếu ai không dứt giải mũ thì chưa được vui lắm. Các quan triều thần đều dứt bỏ hết giải mũ. Bấy giờ Sở Trang Vương mới cho thắp nến, thành ra không biết người nào nắm vạt áo Hứa Cơ cả. Tiệc xong, trở về trong cung, Hứa Cơ tâu với Sở Trang Vương rằng: - Thiếp nghe nói con trai, con gái phải có phân biệt, huống chi là vua tôi. Đại vương sai thiếp mời các quan uống rượu là để tỏ lòng kính mến, nay người ấy nắm lấy vạt áo thiếp mà Đại vương không trị tội, thì còn ra thể thống gì nữa! Sở Trang Vương cười mà bảo rằng: - Ta bày tiệc rượu này là muốn khiến các quan đều được cùng vui, bởi vậy mới sai thắp nến để uống rượu thêm. Rượu say sinh ra chớt nhả, chẳng qua cũng là thường. Nếu ta trị tội một người thì làm cho các quan không được vui thì ta không muốn! Hứa Cơ nghe nói, phục là người có lượng. Về sau người ta gọi tiệc rượu ấy là "Tuyệt anh hội". Một hôm, Sở Trang Vương cùng với Ngu Khâu bàn việc chính trị, đêm đã khuya, mới trở về cung. Bà phu nhân là Phàn Cơ hỏi Sở Trang Vương rằng: - Ngày hôm nay trong triều có việc gì mà Đại vương về chậm như vậy? Sở Trang Vương nói: - Ta cùng với Ngu Khâu bàn việc, thành ra khuya quá mà không biết. Phàn Cơ nói: - Ngu Khâu là người thế nào? Sở Trang Vương nói: - Ngu Khâu là người hiền ở nước Sở ta. Phàn Cơ nói: - Cứ như ý thiếp thì Ngu Khâu vị tất đã là người hiền? Sở Trang Vương nói: - Tại sao nàng biết Ngu Khâu không phải là người hiền? Phàn Cơ nói: - Ngu Khâu mỗi lần cùng với Đại vương bàn việc chính trị, thường đến đêm khuya, mà đã lâu nay chưa thấy Ngu Khâu tiến cử một người nào cả, thế là định đem cái trí thức một mình mà khiến cho bao nhiêu người tài giỏi không được tiến dùng, sao gọi là người hiền. Sở Trang Vương khen phải. Ngày hôm sau đem lời Phàn Cơ thuật lại cho Ngu Khâu nghe. Ngu Khâu nói: - Vậy mà tôi chưa kịp nghĩ đến điều ấy, để nay tôi xin xét xem. Ngu Khâu liền hỏi khắp các quan triều thần, xem có ai biết người hiền thì nói. Đấu Sinh nói với Ngu Khâu rằng: - Tôi có biết người con của Vĩ Giả tên gọi Vĩ Ngao là người hiền, Vĩ Ngao vì tránh cái nạn Đấu Việt Tiêu mà đi ẩn ở Mộng Trạch, người ấy thật là có tài làm tướng quốc! Ngu Khâu vào tâu với Sở Trang Vương. Sở Trang Vương nói: - Vĩ Giả ngày xưa là người trí sĩ thì con Vĩ Giả tất cũng không phải tầm thường, nếu nhà ngươi không nói, có lẽ ta quên đi mất! Sở Trang Vương sai Ngu Khâu cùng với Đấu Sinh đi đến Mộng Trạch để triệu Vĩ Ngao. Nguyên Vĩ Ngao tên tự là Tôn Thúc, bởi vậy người ta vẫn gọi là Tôn Thúc Ngao. Tôn Thúc Ngao đem mẹ đi tránh nạn, sang ở Mộng Trạch, làm ruộng kiếm ăn. Một hôm, Tôn Thúc Ngao vác cày đi ra đồng, thấy ở dưới ruộng có con rắn hai đầu, giật mình kinh sợ mà nói rằng: - Ta nghe nói con rắn hai đầu là vật chẳng lành, ai trông thấy cũng tất phải chết. Vậy thì ta khó lòng mà sống được! Tôn Thúc Ngao lại nghĩ thầm trong lòng rằng nếu ta để con rắn ấy sống thì sau này có ai trông thấy, lại thêm nguy hiểm cho người ta, chi bằng một mình ta đành chịu mà thôi. Tôn Thúc Ngao nghĩ vậy, mới giơ cái cày đánh chết con rắn, chôn ở bờ ruộng, rồi trở về nhà khóc với bà mẹ. Bà mẹ hỏi cớ làm sao, Tôn Thúc Ngao nói: - Con nghe nói ai trông thấy con rắn hai đầu thì tất phải chết. Nay con trông thấy, con lo lắng không sống mà nuôi mẹ được, vậy nên con khóc. Bà mẹ nói: - Bây giờ con rắn ấy ở đâu? Tôn Thúc Ngao nói: - Con sợ người khác lại trông thấy, đã giết mà chôn đi rồi. Bà mẹ nói: - Người ta làm được một điều thiện, trời tất phù hộ cho. Nay con trông thấy con rắn hai đầu, sợ di lụy đến người khác, phải đem chôn đi, thế thì lòng thiện biết là dường nào! Con tất không chết mà lại được phúc nữa. Mấy hôm sau, bọn Ngu Khâu phụng mệnh Sở Trang Vương đến triệu Tôn Thúc Ngao. Bà mẹ mới cười mà bảo Tôn Thúc Ngao rằng: - Đấy là vì việc con chôn rắn mà được phúc đó, con ạ! Tôn Thúc Ngao đem mẹ theo bọn Ngu Khâu về kinh thành nước Sở. Sở Trang Vương cùng với Tôn Thúc Ngao nói chuyện suốt trong một ngày, lấy làm bằng lòng lắm, mới bảo Tôn Thúc Ngao rằng: - Các quan triều thần nước Sở ta ngày nay không ai có kiến thức bằng nhà ngươi cả. Nói xong, liền cho Tôn Thúc Ngao làm lệnh doãn. Tôn Thúc Ngao chối từ mà rằng: - Tôi mới ở chỗ thảo dã tới đây, Đại vương đã vội giao quyền chính cho, tôi e người ngoài không phục. Vậy tôi xin theo sau các quan đại phu. Sở Trang Vương nói: - Ta đã biết tài nhà ngươi thì nhà ngươi không nên từ chối. Tôn Thúc Ngao hai ba lần từ chối không được, mới nhận làm chức lệnh doãn. Tôn Thúc Ngao chỉnh đốn chính trị nước Sở, lập ra quân pháp, cho Ngu Khâu coi đạo trung quân, Công tử Anh Tề coi đạo tả quân, Công tử Trắc coi đạo hữu quân, Dưỡng Do Cơ coi đạo hữu quảng, Khuất Đãng coi đạo tả quảng, hiệu lệnh nghiêm trang, để giữ cho dân trong nước được yên ổn; lại đắp đê khơi sông để tiện việc làm ruộng, dân nước Sở ai cũng ca tụng công đức. Các quan triều thần nước Sở thấy Sở Trang Vương tin dùng Tôn Thúc Ngao, trong lòng không phục, đến lúc thấy Tôn Thúc Ngao sửa sang chính trị, việc gì cũng có thứ tự, mới tấm tắc mà khen rằng: - May thay cho nước Sở ta được người bày tôi hiền ấy chẳng kém gì Tử Văn thuở xưa. Tử Văn thuở xưa làm lệnh doãn khiến cho nước Sở được cường thịnh, nay có Tôn Thúc Ngao, khác nào Tử Văn sống lại! Bấy giờ Trịnh Mục công (Lan) mất, Thế tử Di lên nối ngôi, tức là Trịnh Linh công. Công tử Tống và Công tử Quy Sinh cầm quyền chính nước Trịnh, vẫn bắt cá hai tay, chưa biết theo Tấn hay là theo Sở. Sở Trang Vương mới cùng với Tôn Thúc Ngao thương nghị, định đem quân sang đánh Trịnh. Bỗng nghe tin Trịnh Linh công bị Công tử Quy Sinh giết. Sở Trang Vương bảo Tôn Thúc Ngao rằng: - Nhân việc này mà ta đem quân sang đánh Trịnh, lại càng có cớ lắm!

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 52 Công Tử Tống nghĩ ghen miếng ăn Trịnh Linh công quá mê sắc đẹp

Công tử Quy Sinh, tên tự là Tử Gia, Công tử Tống, tên tự là Tử Cống, hai người đều là quý tộc ở nước Trịnh. Bấy giờ đang năm đầu Trịnh Linh công, Công tử Tống và Công tử Quy Sinh hẹn nhau cùng vào triều. Bỗng đâu ngón thực chỉ của Công tử Tống tự nhiên rung động. Công tử Tống mới giơ ngón tay cho Công tử Quy Sinh xem. Công tử Quy Sinh lấy làm lạ. Công tử Tống nói: - Bao giờ ngón thực chỉ của tôi rung động thì ngày hôm ấy thế nào tôi cũng được ăn một món gì quý lạ. Khi trước tôi đi sứ nước Tấn, được ăn Thạch hoa ngư (cá) ; sau sang sứ nước Sở một lần được ăn Thiên nga (ngỗng), một lần được ăn Hợp hoan quất (quýt), ngón thực chỉ đều báo trước cho biết, mà lần nào cũng nghiệm cả. Chưa biết chừng ngày hôm nay được ăn món gì đây! Khi Công tử Tống và Công tử Quy Sinh vào gần đến triều môn, thấy nội thị phụng mệnh đi gọi tể phu gấp lắm! Công tử Tống hỏi nội thị rằng: - Nhà ngươi gọi tể phu có việc gì? Nội thị nói: - Có người ở Hán Giang về, mua được một con giải to lắm, nặng hơn hai trăm cân, đem dâng Chúa công. Chúa công nhận mà thưởng cho người ấy, bây giờ buộc con giải ở dưới thềm, sai tôi đi gọi tể phu vào làm thịt, để định bày tiệc thết các quan đại phu. Công tử Tống nói: - Đó tức là một món ăn quý lạ, ngón thực chỉ của ta rung động quả có nghiệm. Khi vào đến trong triều, trông thấy chân cột ở dưới thềm có buộc một con giải thật to, hai người cứ nhìn nhau mà cười. Đến lúc yết kiến Trịnh Linh công, nét mặt hai người vẫn còn hớn hở. Trịnh Linh công hỏi: - Hai ngươi hôm nay có sự gì mà vui mừng như vậy? Công tử Quy Sinh nói: - Lúc Công tử Tống cùng với tôi sắp vào triều thì ngón thực chỉ rung động, Công tử Tống có nói: Hễ ngón thực chỉ rung động thì bao giờ cũng được ăn một món gì quý lạ. Nay trông thấy dưới thềm có buộc con giải to, chắc là thế nào Chúa công ngự tiệc, cũng có gia ân đến chúng tôi. Vì ngón thực chỉ có nghiệm, vậy nên chúng tôi buồn cười. Trịnh Linh công nói đùa rằng: - Nghiệm hay không, cái quyền ấy còn ở tay ta! Khi tan triều trở về, Công tử Quy Sinh bảo Công tử Tống rằng: - Vị ngon dẫu có, nhưng Chúa công không triệu nhà ngươi thì làm thế nào? Công tử Tống nói: - Đã bày tiệc để thết đãi các quan, có lẽ nào lại quên ta được! Đến lúc sắp ngự tiệc, nội thị đi triệu khắp cả các quan đại phu. Công tử Tống hớn hở vào triều trông thấy Công tử Quy Sinh, liền cười mà bảo rằng: - Tôi vẫn chắc rằng Chúa công thế nào cũng có triệu tôi! Được một lúc, các quan triều thần đều đến cả. Trịnh Linh công mời ngồi, rồi bảo các quan triều thần rằng: - Thịt giải là một món ăn quý lạ, ta không dám ăn một mình, xin cùng với các ngươi cùng uống rượu. Các quan triều thần đồng thanh mà rằng: - Chúa công có của ngon vật lạ gì cũng nhớ đến chúng tôi, chúng tôi biết lấy gì mà báo đền cho được! Chức tể phu đem món thịt giải dâng Trịnh Linh công. Trịnh Linh công nếm mà khen ngon, rồi sai người ban cho các quan mỗi người một bát thịt giải, và một đôi đũa ngà, mà đưa từ bàn dưới cho đến bàn trên. Khi đưa đến bàn nhất, bàn nhì, chỉ còn có một bát thịt giải, Chức tể phu tâu với Trịnh Linh công rằng: - Thịt giải hết cả rồi, chỉ còn một bát, Chúa công dạy đưa cho ai? Trịnh Linh công nói: - Đưa cho Tử Gia (tức là Công tử Quy Sinh). Chức tể phu bưng bát thịt giải đưa đến trước mặt Công tử Quy Sinh. Trịnh Linh công cười rầm lên mà bảo rằng: - Ta định ban cho các ngươi mà lại thiếu một mình Tử Cống (tức là Công tử Tống) không có, thế là Tử Cống số không được ăn thịt giải. Ngón thực chỉ sao bảo là nghiệm được! Nguyên Trịnh Linh công cố ý truyền cho nhà bếp làm thiếu một bát thịt giải, khiến cho ngón thực chỉ của Công tử Tống không nghiệm để mà giễu cười. Ai ngờ Công tử Tống đã trót nói khoác với Công tử Quy Sinh, ngày nay các quan đều được ăn cả, mà mình không được ăn, thẹn quá hóa giận, mới chạy thẳng đến trước mặt Trịnh Linh công, thò tay vào bát thịt giải, lấy một miếng cầm ăn, vừa ăn vừa nói: - Tôi đã được ăn rồi, ngón thực chỉ khi nào không nghiệm! Nói xong, tức khắc lui ra. Trịnh Linh công cũng nổi giận, ném đũa xuống mà nói rằng: - Công tử Tống hỗn láo, khinh ta như vậy, hay là cho nước Trịnh không có lưỡi gươm sắc chém được đầu hắn đó chăng! Bọn Công tử Quy Sinh đều sụp lạy mà tâu rằng: - Công tử Tống cậy tình thân thuộc, muốn được thừa huệ Chúa công, có phải dám vô lễ đâu, xin Chúa công tha lỗi cho. Trịnh Linh công hầm hầm tức giận. Các quan triều thần đều không được vui mà tan về cả. Công tử Quy Sinh tức khắc đến nhà Công tử Tống mà bảo rằng: - Ngày hôm nay Chúa công có ý tức giận lắm, sáng mai Công tử nên vào triều xin lỗi. Công tử Tống nói: - Hễ mình khinh người ta thì người ta cũng khinh mình, dẫu ai cũng vậy, nay Chúa công khinh tôi trước, lại còn trách nỗi gì! Công tử Quy Sinh nói: - Đã đành rằng thế, nhưng theo lễ vua tôi thì Công tử nên phải xin lỗi. Ngày hôm sau, hai người lại cùng vào triều, Công tử Tống cứ nghiễm nhiên không chịu xin lỗi. Công tử Quy Sinh không bằng lòng, mới tâu với Trịnh Linh công rằng: - Công tử Tống sợ Chúa công quở trách, nay đến xin lỗi, nhưng khủng khiếp quá không nói nên lời, xin Chúa công khoan dung cho. Trịnh Linh công nói: - Ta có lỗi với Tử Cống (tức là Công tử Tống) chứ, Tử Cống lại còn có sợ gì ta nữa! Nói xong, tức thì vùng vằng đứng dậy. Khi tan triều trở về, Công tử Tống mời Công tử Quy Sinh đến nhà mà bảo rằng: - Chúa công tức giận ta lắm, thế nào cũng trị tội ta, chi bằng ta nổi loạn mà giết ngay đi thì ta mới khỏi chết được. Công tử Quy Sinh lấy tay bưng tai mà bảo Công tử Tống rằng: - Chết nỗi! Giống vật mình nuôi lâu ngày còn chẳng nỡ giết, huống chi là vua một nước, sao Công tử lại nói khinh thường như vậy! Công tử Tống nói: - Ta nói bỡn đó thôi, xin chớ tiết lộ cho người khác biết. Công tử Quy Sinh cáo từ trở về. Công tử Tống dò biết Công tử Quy Sinh cùng với em Trịnh Linh công là Công tử Khứ Tật chơi bời thân thiết lắm, mới đặt điều nói phao ở trong triều rằng: - Tử Gia (tên tự Công tử Quy Sinh) cùng với Tử Lương (tên tự Công tử Khứ Tật) hai người ngày đêm bàn nhau, không biết định làm việc gì! Ta e rằng việc ấy rất nguy hiểm cho nước Trịnh ta! Công tử Quy Sinh vội vàng nắm lấy tay Công tử Tống dắt đến chỗ vắng người mà bảo rằng: - Sao Công tử lại ăn nói càn rỡ như vậy! Công tử Tống nói: - Nhà ngươi không đồng mưu với ta, thế nào ta cũng khiến cho nhà ngươi phải chết trước ta một ngày! Công tử Quy Sinh vốn người nhu nhược, không dám quyết đoán, nghe lời Công tử Tống nói, sợ hãi mà hỏi rằng: - Nhà ngươi định làm ra thế nào? Công tử Tống nói: - Chúa công vô đạo, xem một việc chia thịt giải này là đủ biết, nếu làm đại sự thì ta cùng nhà ngươi lập Tử Lương (tức là Công tử Khứ Tật) lên làm vua, rồi cầu thân với Tấn mà giữ lấy nước nhà. Công tử Quy Sinh nghĩ ngợi hồi lâu, rồi đáp lại rằng: - Thôi, mặc Công tử muốn làm gì thì làm, ta cũng không tiết lộ cho ai biết cả. Công tử Tống liền tụ họp người nhà, nhân khi Trịnh Linh công đi làm lễ thu tế, ngủ ở trai cung, đem cái bì đất để đè lên trên mình Trịnh Linh công mà làm cho chết đi, rồi nói dối là Trịnh Linh công bị bệnh trúng áp. Công tử Quy Sinh biết việc ấy mà không dám nói ra. Ngày hôm sau, Công tử Quy Sinh và Công tử Tống bàn nhau lập Công tử Khứ Tật lên làm vua. Công tử Khứ Tật kinh sợ, chối từ mà nói rằng: - Tiên quân ta có tám người con. Nay định lập người hiền, thì tôi không có tài đức gì cả, mà định lập người nhiều tuổi thì đã có Công tử Kiên. Tôi dẫu chết thì thôi, chứ không dám quá phận như vậy! Bấy giờ Công tử Quy Sinh và Công tử Tống mới lập Công tử Kiên lên làm vua, tức là Trịnh Tương công. Nguyên Trịnh Mục công thuở xưa, cả thảy có mười ba người con. Trịnh Linh công (Di) bị giết. Trịnh Tương công (Kiên) nối ngôi làm vua. Còn mười một người con nữa là: 1. Công tử Khứ Tật, tên tự là Tử Lương; 2. Công tử Hỉ, tên tự là Tử Hãn; 3. Công tử Phi, tên tự là Tử Tứ; 4. Công tử Phát, tên tự là Tử Quốc; 5. Công tử Gia, tên tự là Tử Khổng; 6. Công tử Yển, tên tự là Tử Du; 7. Công tử Phú, tên tự là Tử Ấn; 8. Công tử Phong; 9. Công tử Vũ; 10. Công tử Nhiên; 11. Công tử Chí. Trịnh Linh công ghét các em hay bè đảng, chỉ sợ ngày sau sinh biến, mới bàn riêng với Công tử Khứ Tật, định để một mình Khứ Tật ở nhà, còn thì đuổi hết các em đi sang nước khác. Công tử Khứ Tật nói: - Tiên quân ta thuở xưa, lúc mới sinh ra, có ứng vào cái mộng cành lan, đó là một cái điềm họ ta sẽ được hưng thịnh. Anh em trong một nhà cũng ví như cái cây có cành, có lá, nếu đem cắt bỏ cành lá đi mà để cho gốc rễ trơ trọi ra đấy thì là cái cây ấy chẳng bao lâu phải khô héo. Nay Chúa công có bao dung được các em thì thôi, nhược bằng không bao dung được mà phải đuổi đi thì tôi cũng xin đi, chứ nỡ đâu một mình ở lại, mai sau còn mặt mũi nào trông thấy Tiên quân ở dưới suối vàng! Trịnh Linh công nghe nói cảm động, mới cho cả mười một người em đều làm đại phu, cùng cầm quyền chính nước Trịnh. Năm sau, Sở Trang Vương sai Công tử Anh Tề làm đại tướng đem quân sang đánh Trịnh và hỏi nước Trịnh rằng: - Sao nước Trịnh dám giết vua. Nước Tấn sai Tuân Lâm Phủ đem quân sang cứu Trịnh. Nước Sở mới rút quân về đánh nước Trần. Năm thứ ba đời Chu Định Vương quan Thượng khanh nước Tấn là Triệu Thuẫn mất, Khước Khuyết thay làm trung quân nguyên soái, nghe nói nước Trần cùng với nước Sở giảng hòa, liền tâu với Tấn Thành công, đem quân bốn nước Tống, Vệ, Trịnh, Tào kéo sang đánh nước Trần. Tấn Thành công đi đến nửa đường bị bệnh mà chết. Tuân Lâm Phủ liền rút quân về, rồi lập thế tử Nho lên làm vua, tức là Tấn Cảnh công. Năm ấy Sở Trang Vương đánh Trịnh, đóng quân ở đất Liễu Phân (đất nước Trịnh), Khước Khuyết (nước Tấn) đem quân sang cứu Trịnh, lẻn đánh quân Sở. Quân Sở bị thua, người nước Trịnh ai cũng mừng rỡ, chỉ có một mình Công tử Khứ Tật là nét mặt có ý buồn rầu. Trịnh Tương công thấy lạ, liền hỏi. Công tử Khứ Tật nói: - Nước Tấn đánh được quân Sở, chẳng qua là may đó mà thôi. Tôi chỉ sợ quân Sở căm tức mà lại sang đánh Trịnh thì có thể trông cậy về nước Tấn được mãi hay không? Tôi chắc rằng chẳng bao lâu nữa mà quân Sở lại kéo sang đánh! Đến năm sau, Sở Trang Vương lại sang đánh Trịnh, đóng quân ở phía bắc sông Dĩnh Thủy. Gặp bấy giờ Công tử Quy Sinh bị bệnh chết, Công tử Khứ Tật mới trị cái tội nếm thịt giải khi trước, giết chết Công tử Tống, đem phanh thây ở trong triều, lại đẽo áo quan của Công tử Quy Sinh và đuổi gia quyến đi nước khác, rồi sai sứ sang xin lỗi với Sở Trang Vương rằng: - Nước tôi có kẻ phản nghịch là Công tử Quy Sinh và Công tử Tống, nay đã trị tội cả rồi, vậy Chúa công tôi xin cho vua Trần cùng sang ăn thề mà giảng hòa với quý quốc. Sở Trang Vương thuận cho, định họp vua Trần và vua Trịnh cùng ăn thề ở đất Thần Lăng, sai sứ sang ước hẹn với vua Trần. Khi sứ giả ở nước Trần về, nói vua Trần bị quan Đại phu là Hạ Trưng Thư giết chết, trong nước đại loạn. Nguyên Trần Linh công (Bình Quốc) là con Trần Cung công (Sóc) vốn người lười biếng lêu lổng, không có uy nghi gì cả, lại ham mê tửu sắc, chẳng thiết gì đến chính trị, tin dùng hai quan đại phu là Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ. Hai người ấy đều là một phường tửu sắc, bởi vậy một vua và hai bầy tôi cùng ý hợp tâm đầu nhau, nói cười đùa bỡn rất là chớt nhả, không còn e lệ gì nữa! Bấy giờ trong triều có một người bày tôi là Tiết Giã gặp việc gì cũng hay nói, Trần Linh công vẫn có ý nể sợ. Lại có quan Đại phu là Hạ Ngự Thúc. Nguyên người cha Hạ Ngự Thúc là Công tử Chiếu Tây (con Trần Định công), tên tự là Tử Hạ, bởi vậy Ngự Thúc dùng chữ "Hạ" làm họ, gọi là Hạ Ngự Thúc, vẫn nối đời làm quan tư mã nước Trần, ăn lộc ở đất Châu Lâm. Hạ Ngự Thúc lấy con gái nước Trịnh làm vợ, gọi là nàng Hạ Cơ. Hạ Cơ, mắt phượng mày ngài, môi son má phấn, dáng dấp đã chẳng kém gì Ly Cơ, Tức Vĩ, lẳng lơ lại có phần hơn Đắc Kỷ, Văn Khương, ai trông thấy cũng phải tâm thần mê mẩn. Hạ Cơ lại còn một sự kỳ dị nữa là năm mới mười lăm tuổi, nằm mộng thấy một chàng trai đẹp, mũ ngọc áo lông, tự xưng là thượng giới thiên tiên, cùng với Hạ Cơ giao hợp, rồi dạy Hạ Cơ lấy những phép hấp tinh đạo khí, rất nên thần diệu. Khi Hạ Cơ đi lấy chồng, đã cùng người thứ huynh của Trịnh Linh công là Công tử Man, anh em tư thông với nhau, chưa được ba năm thì Công tử Man ốm quặt quẹo mà thành ra chết non; sau lấy Hạ Ngự Thúc, sinh được một người con trai, tên gọi là Hạ Trưng Thư. Hạ Trưng Thư tên tự là Tử Man, năm mười hai tuổi thì cha là Hạ Ngự Thúc ốm chết. Hạ Cơ thường có ngoại tình, mới để Hạ Trưng Thư ở trong thành theo thầy học tập, còn mình thì về ở đất Châu Lâm. Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ nguyên trước là bạn đồng liêu với Hạ Ngự Thúc, trông thấy Hạ Cơ đẹp, vẫn có ý nom dòm. Hạ Nữ có một con thị nữ tên gọi là Hà Hoa, là người rất tinh quái, vốn đã hiểu biết tính chủ. Một hôm Khổng Ninh cùng với Hạ Trưng Thư đi săn, nhân tiễn đưa Hạ Trưng Thư đến Châu Lâm, rồi ngủ chơi ở đấy, Khổng Ninh chịu phí tâm cơ, mật kết cùng Hà Hoa, đưa cho cành trâm, nhờ nói hộ với chủ, bởi thế mới được cùng Hạ Cơ tư thông. Khổng Ninh lấy trộm cái cẩm đương (quần trong bằng gấm) của Hạ Cơ đem ra khoe với Nghi Hàng Phủ. Nghi Hàng Phủ sinh lòng say mê, cũng đem tiền của mật kế với Hà Hoa, để nhờ tiến dẫn hộ. Hạ Cơ xưa nay trông thấy Nghi Hàng Phủ là người thân thể cao lớn, mặt mũi đầy đặn, cũng có lòng yêu, mới bảo Hà Hoa mời đến. Nghi Hàng Phủ khéo dùng cách để làm cho Hạ Cơ được bằng lòng, bởi vậy Hạ Cơ yêu hơn Khổng Ninh. Nghi Hàng Phủ bảo Hạ Cơ rằng: - Ngày trước quý nương có cho Khổng Ninh một cái cẩm đương, nay đã có lòng yêu đến tôi, cũng nên cho tôi cái gì để làm kỷ niệm. Hạ Cơ cười mà bảo rằng: - Cái cẩm đương ấy là hắn lấy trộm của thiếp, chứ không phải thiếp tặng cho. Hạ Cơ ghé tai bảo nhỏ rằng: - Dẫu nằm cùng giường với nhau, nhưng cũng có kẻ hậu người bạc. Nói xong, liền cởi cái bích la nhu (áo cánh bằng lụa) đưa tặng cho Nghi Hàng Phủ. Nghi Hàng Phủ bằng lòng lắm, từ bấy giờ đi lại rất thân mật; còn Khổng Ninh thì mỗi ngày một nhạt dần. Nghi Hàng Phủ vì Khổng Ninh khi trước đem cái cẩm đương khoe khoang với mình, nay được cái bích la nhu, lại đem khoe khoang với Khổng Ninh. Khổng Ninh hỏi chuyện Hà Hoa, biết là Nghi Hàng Phủ cùng với Hạ Cơ thân mật lắm, mới sinh lòng ghen ghét, tìm kế để phá đám, nghĩ thầm trong lòng rằng Chúa công ta ngày nay là người dâm dục, nghe đồn Hạ Cơ đẹp, vẫn có lòng ham muốn, đã nhiều lần nói đến, chỉ tiếc rằng cờ chẳng tới tay; chi bằng ta dắt Chúa công vào, Chúa công phải ơn ta. Vả Chúa công có bệnh hôi nách, chắc là Hạ Cơ cũng không bằng lòng cho lắm, bấy giờ ta thừa cơ mà hưởng chung cái cuộc vui thú, làm cho Nghi Hàng Phủ phải nhạt bớt đi một vài phần cho thỏa tấm lòng căm tức của ta, ấy chính là diệu kế đó! Khổng Ninh lẻn vào yết kiến riêng với Trần Linh công, nhân khi đàm luận, nói đến chuyện Hạ Cơ là người đẹp, thiên hạ không ai bằng; Trần Linh công nói: - Ta cũng nghe đồn từ lâu, nhưng năm nay chắc đã gần đến bốn mươi tuổi, ta chỉ e rằng hoa đào tháng ba còn gì là xuân nữa! Khổng Ninh nói: - Hạ Cơ khéo giữ nhan sắc lắm, năm nay vẫn còn như con gái mười tám tuổi. Bấy giờ lửa dục của Trần Linh công đã nổi lên đùng đùng, nét mặt đỏ bừng mà bảo Khổng Ninh rằng: - Nhà ngươi có kế gì khiến cho ta được đi lại với Hạ Cơ thì ta không dám quên công. Khổng Ninh nói: - Hạ Cơ nhà ở Châu Lâm. Chỗ ấy có nhiều cây cối, phong cảnh rất đẹp, sáng mai Chúa công giả cách ra chơi Châu Lâm, tất thế nào Hạ Cơ cũng phải nghênh tiếp. Hạ Cơ có một con thị nữ, tên gọi là Hà Hoa, người rất tinh quái, để tôi xin đem ý Chúa công bảo nó khéo nói với Hạ Cơ, chắc thế nào cũng êm chuyện. Trần Linh công cười mà bảo rằng: - Việc này ta chắc ở nhà ngươi đó! Ngày hôm sau, Trần Linh công truyền sắp xa giá ra chơi Châu Lâm, cho quan Đại phu là Khổng Ninh đi theo. Khổng Ninh sai người đưa tin trước cho Hạ Cơ để mà sửa tiệc sẵn, lại tỏ ý cho con Hà Hoa biết, bảo nói với Hạ Cơ. Trần Linh công đến Châu Lâm, Hạ Cơ mặc đồ lễ phục ra rước vào trong nhà, rồi sụp lạy mà tâu rằng: - Con trai thiếp là Hạ Trưng Thư đi trọ học vắng nhà, không biết Chúa công tới đây, vậy nên không kịp nghênh tiếp, xin Chúa công tha lỗi. Tiếng nói của Hạ Cơ thỏ thẻ như chim oanh, nghe rất êm tai! Trần Linh công trông thấy nét mặt Hạ Cơ, chẳng khác gì một vị thiên tiên, trong bọn phi tần, ít người ví nổi, mới bảo Hạ Cơ rằng: - Thôi ta miễn lễ cho quý nương, ta nghe nói quý nương ở đây có cái vườn hoa đẹp, vậy ta muốn vào xem một chút. Hạ Cơ nói: - Từ khi phu quân thiếp tạ thế đi rồi, cái vườn này bỏ hoang không ai quét dọn, thiếp xin cáo tội trước với Chúa công. Hạ Cơ ứng đối rất lưu loát. Trần Linh công càng thêm có lòng yêu mến, truyền cho Hạ Cơ cởi bỏ lễ phục ra, để đưa vào ngoạn cảnh ở vườn hoa. Hạ Cơ cởi bỏ lễ phục ra, trong mình lại có một bộ áo rất nhã đạm, trông khác nào như đóa lê hoa ở dưới bóng trăng, chùm mai nhị ở trong đám tuyết, ưa nhìn biết dường nào! Hạ Cơ đưa Trần Linh công vào chốn hậu viên. Trong vườn dẫu chẳng lấy gì làm rộng cho lắm, nhưng có đủ hoa tươi đá lạ, cây đẹp cỏ thơm, một dòng nước chảy quanh, mấy gian nhà thủy tạ, khoảng giữa lại có một cái hiên cao, tức là chỗ yến khách. Hai đầu có hai dẫy nhà, lối đi thông vào nơi nội tẩm. Phía trong nữa có một cái chuồng ngựa; còn về phía tây vườn có một chỗ đất bỏ không, để làm chỗ tập bắn. Trần Linh công còn đang ngoạn cảnh thì trong hiên đã bày một bàn thịnh soạn. Hạ Cơ bưng chén rượu đứng mời. Trần Linh công cho ngồi hầu ở bên cạnh, Hạ Cơ khiêm nhượng không dám vào ngồi! Trần Linh công nói: - Có lẽ nào chủ nhân lại không ngồi! Thôi thì hôm nay ta hãy miễn lễ vua tôi cho, cứ ngồi lại uống rượu cho vui. Trần Linh công truyền cho Khổng Ninh ngồi bên hữu, Hạ Cơ ngồi bên tả. Trong khi uống rượu, Trần Linh công cứ nhìn Hạ Cơ chòng chọc, con mắt không hề thấy chớp. Hạ Cơ cũng liếc mắt đưa tình. Trần Linh công nhân lúc tửu hứng, lại càng si tình, ngồi ngẩn người ra. Khổng Ninh ở bên cạnh tán tụng thêm vào, thành ra mềm môi uống mãi, không biết bao nhiêu mà kể! Mặt trời đã lặn về tây, người nhà thắp nến, lại uống một chập nữa. Trần Linh công say quá, nằm gục xuống đấy mà ngủ, tiếng ngáy khè khè. Khổng Ninh bảo riêng Hạ Cơ rằng: - Chúa công nghe tiếng quý nương là người đẹp, ngày nay tới đây, muốn cùng quý nương giao hoan, quý nương chớ có trái ý. Hạ Cơ mỉm cười, không nói gì cả. Khổng Ninh tức khắc truyền cho quân sĩ đều ra ngoài yên nghỉ. Hạ Cơ sửa soạn các đồ gối thêu mền gấm, lại tắm gội sạch sẽ để chờ khi vua ngự. Bấy giờ chỉ để có một con thị nữ là Hà Hoa đứng hầu ở cạnh Trần Linh công. Được một lúc, Trần Linh công tỉnh rượu mở mắt nhìn, trông thấy Hà Hoa liền hỏi: - Ai đấy? Hà Hoa quỳ xuống mà tâu rằng: - Tiện tỳ tên gọi Hà Hoa, phụng mệnh chủ mẫu cho tôi ra đây hầu hạ Chúa công. Nói xong, liền dâng một chén nước mai thang để giã rượu. Trần Linh công hỏi: - Nước mai thang này, ai nấu mà khéo nhỉ? Hà Hoa nói: - Tâu Chúa công, tiện tỳ nấu đó. Trần Linh công nói: - Nhà ngươi biết nấu mai thang, vậy thì nhà ngươi có làm mối giúp ta được hay không? Hà Hoa giả cách không hiểu mà đáp rằng: - Tiện tỳ dẫu không quen làm mối, nhưng cũng xin hết lòng, chẳng hay Chúa công bằng lòng ai. Trần Linh công nói: - Ta vì chủ mẫu nhà ngươi mà ruột gan rối loạn. Nếu nhà ngươi giúp ta được thì ta sẽ trọng thưởng. Hà Hoa nói: - Chủ mẫu tôi phận hèn, sợ không đáng hầu quý nhân, nếu Chúa công có lòng nghĩ đến thì tiện tỳ xin đưa vào. Trần Linh công mừng lắm, sai Hà Hoa cầm đèn lồng để đưa đường. Đường đi khuất khúc, rồi vào đến phòng Hạ Cơ. Hạ Cơ đang ngồi một mình ở dưới bóng đèn, ngẩn ngơ chờ đợi, bỗng nghe xịch có tiếng giày, toan hỏi xem ai thì Trần Linh công đã bước vào đến trong cửa. Hà Hoa cầm đèn quay ra. Trần Linh công không nói năng gì cả, cởi áo đi nằm, rờ tay vào da Hạ Cơ, mát lạnh cả người. Trong khi giao hợp, chẳng khác gì khuê nữ. Trần Linh công thấy lạ, liền hỏi. Hạ Cơ nói: - Thiếp có một phép lạ, dẫu khi sinh dục cũng chẳng qua chỉ trong ba ngày thì đã lại hoàn nguyên như cũ. Trần Linh công khen rằng: - Ta được gặp quý nương chẳng khác gì được gặp một vị thần tiên trên trời! Sức khỏe của Trần Linh công đã không bằng Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ, lại có bệnh hôi nách, chỉ vì là ông vua một nước, vậy nên Hạ Cơ cũng hám lợi mà không quản ngại. Trần Linh công thấy vậy, lấy làm một sự gặp gỡ ít có! Gần đến gà gáy, Hạ Cơ giục Trần Linh công trở dậy, Trần Linh công nói: - Ngày nay ta được cùng với Ái khanh giao hợp, ta nghĩ trong bọn phi tần không khác gì đất bùn. Chẳng hay Ái khanh có nghĩ đến ta chút nào chăng? Hạ Cơ ngờ Trần Linh công đã biết việc Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ đi lại với mình, mới nói với Trần Linh công rằng: - Xin thú thực cùng Chúa công, từ khi phu quân thiếp tạ thế rồi, thiếp không thể ngăn cấm được dục tình, cũng có đi lại với người khác, nay đã được hầu hạ Chúa công thì từ đây trở đi, thiếp không dám tiếp ai nữa! Trần Linh công nói: - Ái khanh xưa nay giao tiếp những ai, nên kể thực cho ta biết, can chi mà phải giấu giếm! Hạ Cơ nói: - Hai quan đại phu Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ vì cớ đi lại trông nom cho con nhỏ của thiếp, thành ra dan díu, ngoài ra không có một ai. Trần Linh công cười mà bảo rằng: - Thảo nào mà Khổng Ninh cứ khen Ái khanh. Nếu chưa trải qua, sao có biết được. Hạ Cơ nói: - Tiện thiếp biết tội đã nhiều, xin Chúa công thứ cho. Trần Linh công nói: - Khổng Ninh có cái công tiến dẫn Ái khanh, ta còn nhớ ơn, Ái khanh chớ ngại. Ta chỉ ước ao được cùng Ái khanh đi lại lâu dài, còn thì mặc ý Ái khanh, ta chẳng cấm làm gì! Hạ Cơ nói: - Nếu mà Chúa công cứ thường thường đi lại thì có khó gì chẳng được lâu dài với nhau. Trần Linh công trở dậy, Hạ Cơ cởi cái áo lót mình mặc vào cho Trần Linh công mà nói rằng: - Chúa công trông thấy cái áo này cũng như trông thấy tiện thiếp. Hà Hoa lại cầm đèn lồng đưa Trần Linh công theo lối cũ ra chỗ hiên trước. Sáng hôm sau, Hạ Cơ mời Trần Linh công lên nhà trên ngự cơm sáng. Cơm xong, Khổng Ninh lại theo Trần Linh công về triều. Các quan triều thần đều họp cả ở triều môn để chờ đợi. Trần Linh công truyền cho miễn triều, rồi đi thẳng vào trong cung. Nghi Hàng Phủ nắm lấy áo Khổng Ninh, cố hỏi xem tối hôm trước Trần Linh công ngủ ở đâu. Khổng Ninh không thể giấu được, mới phải nói thật cả. Nghi Hàng Phủ biết là Khổng Ninh tiến dẫn, mới giẫm chân xuống đất mà gắt rằng: - Món nhân tình tốt như thế mà sao lại để nhường cho Chúa công hưởng một mình! Khổng Ninh nói: - Chúa công lấy làm đắc ý lắm! Nhưng khi nào chúng ta mất phần được mà lo! Hai người cười sằng sặc rồi trở về. Ngày hôm sau, Trần Linh công ra triều, đợi lúc các quan tan về cả, mới gọi Khổng Ninh đến trước mặt mà tạ ơn tiến dẫn Hạ Cơ, lại gọi Nghi Hàng Phủ vào mà hỏi rằng: - Có cái thú như thế mà không tâu với ta, hai người lại hưởng trước là nghĩa làm sao? Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ đồng thanh mà tâu rằng: - Thần đẳng quả không có gì cả! Trần Linh công nói: - Chính Hạ Cơ đã thú với ta như vậy, các người lại còn giấu giếm gì! Khổng Ninh nói: - Thí dục như một món ăn, bày tôi phải nếm trước, nếu nếm mà không thấy ngon thì không dám tiến dâng. Trần Linh công cười mà bảo rằng: - Thí dụ như món chân gấu thì nhường cho ta ăn trước, cũng được chớ sao? Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ đều bưng miệng cười, Trần Linh công lại nói: - Ta cùng hai ngươi dẫu đều đi lại với nàng, nhưng nàng có tặng riêng ta một vật để làm kỷ niệm. Nói xong, liền vạch cái áo lót mình cho Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ xem và bảo rằng: - Hạ Cơ cho ta đây, hai ngươi có thế này không? Khổng Ninh nói: - Tôi cũng có! Trần Linh công hỏi: - Nàng tặng cho nhà ngươi cái gì? Khổng Ninh vén áo, trông thấy cái cẩm đương, rồi nói với Trần Linh công rằng: - Hạ Cơ tặng cho tôi đây! Chẳng những tôi có, mà Nghi Hàng Phủ cũng có. Trần Linh công lại hỏi Nghi Hàng Phủ. Nghi Hàng Phủ cởi cái bích la nhu đưa Trần Linh công. Trần Linh công bật cười mà nói rằng: - Ba ta người nào cũng đều có một vật đem tùy thân để làm tang chứng; ngày khác đi ra Châu Lâm, có thể cùng quần với nhau ở trong một giường được. Một vua và hai bày tôi đùa bỡn nhau ở chốn triều đường, tiếng đồn đến ngoài, làm cho một người bày tôi trung thực phải nghiến răng nghiến lợi mà kêu lên rằng: - Triều đình là một nơi hành chính mà nhảm nhí như vậy thì còn gì mà không mất nước! Nói xong liền đi thẳng vào triều để định can Trần Linh công.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 53 Sở Trang Vương trả lại đất Trần Tấn Cảnh công đem quân cứu Trịnh

Trần Linh công cùng với Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ đem những đồ vật của Hạ Cơ tặng cho, đùa bỡn với nhau ở chốn triều đường. Quan Đại phu là Tiết Giã nghe nói, liền vào triều để định can Trần Linh công. Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ vốn sợ Tiết Giã là người chính trực, nay thấy không triệu mà tự nhiên đến, biết là có ý muốn đem lời ngăn bảo, mới cáo từ với Trần Linh công mà lui ra. Trần Linh công cũng đứng dậy, toan trở vào trong cung. Tiết Giã bước rảo đến trước mặt, nắm lấy vạt áo Trần Linh công rồi quỳ xuống mà tâu rằng: - Tôi nghe nói vua tôi phải có lễ phép, trai gái phải có phân biệt, nay vua tôi cùng đùa bỡn ở chốn triều đường, nói những chuyện dâm loạn, chẳng còn ra thể thống nào cả, như vậy thì tài nào mà không mất nước, xin Chúa công nghĩ lại. Trần Linh công thẹn toát mồ hôi ra, lấy áo che mặt mà bảo rằng: - Nhà ngươi bất tất phải nói lắm, ta đã biết hối rồi! Tiết Giã cáo từ lui ra, Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ đứng ở ngoài cửa, trông thấy Tiết Giã đang hầm hầm nổi giận mà lui ra, mới lẩn vào trong đám đông người để tránh Tiết Giã. Tiết Giã trông thấy, gọi Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ lại mà trách rằng: - Vua có điều thiện, bày tôi nên bày ra, vua có điều bất thiện, bày tôi nên giấu đi. Nay hai người đã xui vua làm điều bất thiện, mà lại còn tuyên bố ra để khiến cho nhân dân ai cũng biết cả, thế thì còn ra thể thống gì, sao hai ngươi không biết xấu hổ! Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ không biết nói sao cho được, chỉ vâng dạ xin lỗi. Tiết Giã đi khỏi, Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ lại vào yết kiến Trần Linh công, thuật lại những lời nói của Tiết Giã và tâu với Trần Linh công rằng: - Từ nay trở đi Chúa công chớ đi chơi Châu Lâm nữa! Trần Linh công nói: - Vậy thì hai ngươi có đi nữa hay không? Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ nói: - Tiết Giã chỉ cốt can Chúa công, chứ có việc gì đến chúng tôi. Vậy nên chúng tôi đi được, mà Chúa công không nên đi. Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ lại tâu rằng: - Nếu Chúa công lại đi nữa thì chúng tôi e rằng Tiết Giã nói không ra thế nào! Trần Linh công nói: - Hai ngươi có kế gì mà khiến cho Tiết Giã đừng nói nữa không? Khổng Ninh nói: - Nếu muốn cho Tiết Giã đừng nói thì chỉ có dùng một cách mà khiến cho hắn mở miệng ra không được. Trần Linh công cười mà nói rằng: - Hắn có miệng thì hắn nói, ta dùng cách gì mà cấm được hắn? Nghi Hàng Phủ nói: - Tôi hiểu câu nói của Khổng Ninh rồi! Người ta chết thì không mở miệng được, sao Chúa công chẳng hạ lệnh giết chết Tiết Giã đi thì có phải được vui thú suốt đời hay không! Trần Linh công nói: - Ta giết thế nào được! Khổng Ninh nói: - Hay là để tôi sai một người rình mà đâm chết đi? Trần Linh công nói: - Nhà ngươi cứ làm! Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ cáo từ lui ra, rồi bàn nhau đem tiền của thuê thích khách rình ở những nơi hẻo lánh, chờ khi Tiết Giã vào triều thì đón mà giết đi. Người nước Trần thấy vậy, cho là Trần Linh công sai người giết, chứ không biết cái mưu của Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ. Từ khi Tiết Giã chết rồi, Trần Linh công không sợ hãi ai nữa, thường thường cùng với Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ ra chơi Châu Lâm. Trước còn giấu giếm, sau lâu ngày quen thói, cũng chẳng nghĩ gì đến tai tiếng. Người nước Trần có làm một bài thơ "Châu Lâm" để chê Trần Linh công. Hạ Trưng Thư dần dần khôn lớn, biết chuyện người mẹ như vậy, trong lòng khác nào như bị dao đâm, chỉ ngại có Trần Linh công, không biết làm ra thế nào. Mỗi khi Trần Linh công sắp ra Châu Lâm thì lại giả cách tạ sự đi vắng, để cho khuất mắt; còn bọn trai dâm loạn ấy cũng nhân được Hạ Trưng Thư đi vắng thì lấy làm mừng. Thời giờ thấm thoát, ngày tháng thoi đưa, Hạ Trưng Thư đã mười tám tuổi, cao lớn đẹp đẽ, có sức khỏe, lại giỏi nghề bắn cung. Trần Linh công muốn lấy lòng Hạ Cơ mới cho Hạ Trưng Thư nối chức của cha làm quan tư mã, coi giữ binh quyền. Hạ Trưng Thư tạ ơn, rồi vào bái yết Hạ Cơ. Hạ Cơ dặn rằng: - Đấy là ân điển của Chúa công cho con đó! Con nên một lòng vì nước, chớ nghĩ đến việc nhà. Hạ Trưng Thư từ biệt Hạ Cơ vào triều cung chức. Một hôm, Trần Linh công cùng với Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ lại ra chơi Châu Lâm. Hạ Trưng Thư cảm cái ơn được làm tư mã, về nhà bày tiệc để thết đãi. Hạ Cơ vì có con ở đấy, không dám ra hầu rượu. Trần Linh công cùng với Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ trong khi say rượu, cười nói đùa bỡn, múa tay hoa chân. Hạ Trưng Thư trông thấy, nghĩ mà sinh chán, lại đem lòng ghét, mới lui vào sau cái bình phong để đứng nghe xem thế nào. Trần Linh công bảo Nghi Hàng Phủ rằng: - Hạ Trưng Thư cao lớn đẹp đẽ, trông giống nhà ngươi lắm, hay là con rơi của nhà ngươi đấy? Nghi Hàng Phủ cười mà nói rằng: - Hạ Trưng Thư hai mắt trông lau láu rất giống Chúa công. Khổng Ninh ở bên cạnh nói bông rằng: - Chúa công và Nghi Hàng Phủ hãy còn ít tuổi, sinh thế nào được hắn, vì mẹ hắn đa tình, tôi chắc hắn là giống tạp chủng, dẫu mẹ hắn cũng không nhớ được là con của ai! Nói xong ba người lại vỗ tay cười ầm lên. Hạ Trưng Thư nghe nói, hổ thẹn vô cùng, tức thì hầm hầm nổi giận, vào khóa chặt cửa phòng của Hạ Cơ lại, rồi lén qua cửa ngang ra ngoài, truyền cho quân sĩ vây kín xung quanh phủ, không được để cho Trần Linh công cùng Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ chạy ra. Quân sĩ vâng lệnh, vây kín xung quanh phủ. Hạ Trưng Thư mình mặc áo nhung trang, tay cầm thanh bảo kiếm, đem một toán quân tiến vào cửa giữa, quát to lên rằng: - Mau mau bắt lũ dâm tặc! Trần Linh công đang cười nói khề khà, chẳng biết tí gì cả. Khổng Ninh nghe tiếng, vội vàng nói với Trần Linh công rằng: - Nguy cấp lắm rồi! Hạ Trưng Thư đánh lừa ta rồi! Nay đem quân vào tới đây kêu bắt dâm tặc, ta biết chạy đường nào cho thoát. Nghi Hàng Phủ nói: - Cửa trước nó đã vây kín thì ta chạy về cửa sau. Ba người xưa nay ở nhà Hạ Cơ đã thông thuộc cả đường lối. Trần Linh công định chạy vào phòng Hạ Cơ, để cầu Hạ Cơ cứu cho. Chẳng ngờ khi vào đến nơi, thấy cửa phòng đã khóa chặt, lại càng sợ hãi, liền chạy ra sau vườn. Hạ Trưng Thư cầm kiếm đuổi theo. Trần Linh công nhớ rằng ở bên cạnh chuồng ngựa có cái tường thấp có thể nhảy qua được, mới chạy về phía chuồng ngựa. Hạ Trưng Thư quát to lên rằng: - Hôn quân kia! Mày chạy đường nào cho thoát! Hạ Trưng Thư giương cung bắn ngay một phát, nhưng bắn không trúng. Trần Linh công chạy vào chuồng ngựa, toan tìm chỗ ẩn thân, chẳng may bị đàn ngựa cắn đá, vội vàng lui ra. Hạ Trưng Thư đuổi kịp đến nơi, lại bắn thêm một phát nữa, trúng vào giữa bụng Trần Linh công. Trần Linh công chết ở cạnh chuồng ngựa. Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ trông thấy Trần Linh công chạy về phía đông, biết là Hạ Trưng Thư tất nhiên đuổi theo, mới quay về phía tây chạy vào trường tập bắn, tìm chỗ rào thủng chui ra được, không dám về nhà, rủ nhau trốn sang nước Sở. Hạ Trưng Thư bắn chết Trần Linh công, rồi kéo quân vào thành, nói dối là Trần Linh công say rượu ngộ cảm mà chết, lập Thế tử Ngọ lên nối ngôi, tức là Trần Thành công. Trần Thành công trong lòng căm tức Hạ Trưng Thư, nhưng sức không làm gì nổi, vậy phải ẩn nhẫn không dám nói ra; Hạ Trưng Thư cũng sợ các nước chư hầu đem quân đến hỏi tội mình, mới cố ép Trần Thành công phải sang giảng hòa với nước Tấn. Lại nói chuyện sứ nước Sở phụng mệnh Sở Trang Vương sang hẹn Trần Linh công đến hội ở đất Thần Lăng. Khi sang chưa đến nước Trần nghe tin có loạn, mới quay trở về; lại vừa gặp Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ trốn sang nước Sở, vào yết kiến Sở Trang Vương, giấu kín những chuyện vua tôi dâm loạn, chỉ nói việc Hạ Trưng Thư làm phản giết Trần Linh công cũng giống như lời nói của sứ Sở về báo khi trước. Sở Trang Vương mới họp các quan triều thần lại để thương nghị. Bấy giờ nước Sở có quan đại phu tên gọi Khuất Vu, tên tự là Tử Linh (con Khuất Đãng). Khuất Vu mặt mũi khôi ngô, văn vũ toàn tài, chỉ phải có một bệnh đa tình, vẫn chuyên học "phòng trung bí thuật" của ông Bành Tổ; mấy năm trước sang sứ Trần, gặp Hạ Cơ đi chơi, trông thấy người đẹp, lại nghe đồn nghề chơi có nhiều cách lạ, bởi vậy trong lòng đã nay ước mai ao. Đến lúc nghe nói Hạ Trưng Thư làm phản, Khuất Vu muốn nhân việc ấy để mà sang lấy Hạ Cơ, mới cố khuyên Sở Trang Vương đem quân sang đánh Trần. Quan lệnh doãn là Tôn Thúc Ngao cũng nói là Hạ Trưng Thư nước Trần nên đánh. Sở Trang Vương mới đưa một đạo hịch cho nước Trần. Trong đạo hịch nói như sau: "Vua Sở có lời biểu thị cho người nước Trần biết: Hạ Trưng Thư có tội giết vua, quỷ thần và người đều tức giận cả, nước ngươi không đánh được, vậy ta phải đem quân đánh hộ nước ngươi. Tội ai thì người ấy chịu! Quân dân nước Trần nên phải một lòng yên lặng, không được náo động". Người nước Trần trông thấy đạo hịch ấy, ai cũng đổ lỗi cho Hạ Trưng Thư, mà muốn nhờ tay nước Sở giết đi, đều không có ý chống cự với quân Sở. Sở Trang Vương cùng với các tướng là: Công tử Anh Tề, công tử Trắc và Khuất Vu đem đại binh kéo thẳng đến kinh thành nước Trần, chẳng có ai chống cự lại cả. Hạ Trưng Thư biết người trong nước oán mình, trốn ra Châu Lâm. Bấy giờ Trần Thành công còn đang ở nước Tấn chưa về, quan đại phu là Viên Pha (cháu bốn đời Viên Đào Đồ) cùng với các quan triều thần thương nghị rằng: - Vua nước Sở đem quân sang đây, chỉ cốt để trị tội Hạ Trưng Thư; chi bằng ta bắt Hạ Trưng Thư đem nộp vua Sở rồi xin giảng hòa. Các quan triều thần đều lấy làm phải. Viên Pha liền sai con là Kiều Như đem quân tới Châu Lâm để bắt Hạ Trưng Thư. Kiều Như chưa kịp đi thì quân Sở đã kéo đến dưới chân thành. Nước Trần lâu nay, chính lệnh không ra gì. Vả Trần Thành công đi vắng, không ai làm chủ, dân nước Trần mới mở cửa thành cho quân Sở vào. Sở Trang Vương kéo quân vào hỏi bọn Viên Pha rằng: - Hạ Trưng Thư ở đâu? Viên Pha nói: - Hiện nay ở Châu Lâm. Sở Trang Vương lại hỏi: - Sao các quan triều thần ở nước ngươi lại dung túng cho Hạ Trưng Thư mà không trị tội. Viên Pha nói: - Không phải là chúng tôi không muốn trị tội, nhưng thế không làm gì nổi. Sở Trang Vương liền sai Viên Pha đi dẫn đường rồi đem đại binh tiến sang Châu Lâm, để công tử Anh Tề đóng một toán quân ở trong thành. Hạ Trưng Thư đang thu thập gia tài, định đem mẹ là Hạ Cơ trốn sang nước Trịnh, nhưng chưa kịp đi thì quân Sở vây kín Châu Lâm, bắt Hạ Trưng Thư. Sở Trang Vương không thấy Hạ Cơ đâu cả, sai tướng sĩ lục tìm thì bắt được ở sau vườn; còn Hà Hoa không biết trốn đi đâu mất. Hạ Cơ sụp lạy Sở Trang Vương mà tâu rằng: - Thiếp chẳng may gặp cơn nước nhà suy biến, phận liễu bồ sống chết ở trong tay đại vương; nếu đại vương rộng lượng mà rủ lòng thương thì xin cho thiếp được sung vào làm kẻ tỳ dịch. Hạ Cơ nét mặt đã tươi đẹp, lại dịu dàng. Sở Trang Vương trông thấy tâm thần mê mẩn, bảo các tướng rằng: - Các phi tần nước Sở ta dẫu nhiều, nhưng chưa ai đẹp bằng Hạ Cơ, ta muốn đem về cung, các ngươi nghĩ thế nào? Khuất Vu can rằng: - Đại vương đem quân sang đây là cốt để trị kẻ có tội, nếu lấy Hạ Cơ thì thành ra người tham sắc, sao gọi là bá chủ được. Sở Trang Vương nói: - Tử Linh (tên tự của Khuất Vu) nói phải lắm, ta không dám lấy nữa! Nhưng người đàn bà này là một giống vưu vật, nếu để mắt ta trông thấy thì ta khó lòng nhịn được. Sở Trang Vương truyền cho quân sĩ đuổi Hạ Cơ đi. Bấy giờ công tử Trắc đứng ở bên cạnh, cũng mê sắc đẹp của Hạ Cơ, lại thấy Sở Trang Vương không dùng, mới quỳ xuống mà tâu rằng: - Tôi chẳng may góa vợ, xin đại vương cho tôi. Khuất Vu lại can rằng: - Đại vương không nên cho. Công tử Trắc giận lắm, nói: - Tử Linh không bằng lòng cho ta lấy Hạ Cơ là bởi cớ sao? Khuất Vu nói: - Người đàn bà ấy là một vật bất tường ở trong trời đất, cứ những điều tôi đã biết mà nói thì công tử Man và Hạ Ngự Thúc chính cũng vì nó mà chết non, vua Trần và Hạ Trưng Thư vì nó mà bị giết. Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ vì nó mà phải chạy trốn, nước Trần cũng vì nó mà phải tan nát, xem thế thì biết là bất tường, thiên hạ thiếu gì người đẹp mà lại lấy như thế, đến nỗi di họa về sau! Sở Trang Vương nói: - Cứ như lời Tử Linh nói thì ta cũng lấy làm sợ lắm. Công tử Trắc lại bảo Khuất Vu rằng: - Nếu vậy thì chịu thôi, tôi cũng không dám! Nhưng nhà ngươi bảo đại vương không nên lấy, và tôi không nên lấy, vậy thì nhà ngươi tưởng cũng không nên lấy. Khuất Vu nói luôn mấy câu rằng: - Tôi chịu thôi! Tôi chịu thôi! Sở Trang Vương nói: - Nếu để vô chủ thì tất nhiên có người tranh. Ta nghe nói Tương Lão mới rồi vợ chết, âu là ta cho Tương Lão lấy làm vợ kế. Bấy giờ Tương Lão cũng đem quân theo Sở Trang Vương, ở toán hậu đội. Sở Trang Vương triệu đến, gả Hạ Cơ cho. Hai vợ chồng cùng nhau lạy tạ Sở Trang Vương rồi lui ra. Khuất Vu can Sở Trang Vương và công tử Trắc không nên lấy Hạ Cơ là có ý muốn giữ phần cho mình, nay thấy Sở Trang Vương đem gả cho Tương Lão, cũng có ý tiếc, nhưng nghĩ thầm trong lòng rằng: Tương Lão chịu nổi Hạ Cơ thế nào được, chẳng qua chỉ trong năm sáu tháng, một năm thì Hạ Cơ cũng lại góa chồng mà thôi! Bấy giờ ta sẽ định liệu. Sở Trang Vương đóng đô ở Châu Lâm một đêm rồi trở về kinh thành nước Trần. Công tử Anh Tề đón vào trong thành. Sở Trang Vương truyền đem Hạ Trưng Thư ra cửa thành mà phân thây, theo lối Tề Tương Công xử tội Cao Cừ Di ngày trước. Sở Trang Vương trị tội Hạ Trưng Thư rồi, thu hết những bản đồ nước Trần, lập làm một huyện của nước Sở, cho công tử Anh Tề làm quan trấn thủ, để quản trị dân nước Trần, còn bọn Viên Pha, đều bắt đem về nước Sở cả. Các nước phụ thuộc của nước Sở ở nam phương nghe tin Sở Trang Vương diệt được nước Trần, đều đến triều hạ, chỉ có quan đại phu nước Sở là Thân Thúc Thời đi sứ nước Tề chưa về (bấy giờ Tề Huệ công mất, thế tử Vô Giả lên nối ngôi, tức là Tề Khoảnh công. Tề và Sở vẫn giao hiếu với nhau, bởi vậy Sở Trang Vương mới sai Thân Thúc Thời sang viếng vua cũ và mừng vua mới) ; đến lúc về, thấy Sở Trang Vương diệt được nước Trần mà không chúc mừng câu nào cả. Sở Trang Vương sai nội thị ra trách mắng Thân Thúc Thời rằng: - Hạ Trưng Thư vô đạo giết vua, ta đem quân sang hỏi tội, thu được bản đồ nước Trần, các nước phụ thuộc của ta đều đến triều hạ cả, mà nhà ngươi chẳng nói gì đến hay có ý cho việc ta đánh Trần là không phải chăng? Thân Thúc Thời nói: - Có một người dắt trâu đi tắt qua ruộng người ta, giẫm nát cả lúa má, người chủ có ruộng giận lắm, cướp lấy trâu. Như cái kiện ấy mà đến tai đại vương thì đại vương định xử ra làm sao? Sở Trang Vương nói: - Dắt trâu giẫm lúa, dẫu tổn hại cũng chẳng là bao nhiêu, mà lại cướp lấy trâu thì chẳng cũng quá lắm ru! Nếu ta xử cái kiện ấy phạt nhẹ đứa dắt trâu mà trả trâu cho nó, nhà ngươi nghĩ có phải không? Thân Thúc Thời nói: - Sao đại vương xử kiện thì minh như thế mà xử với nước Trần thì lại tối như vậy! Hạ Trưng Thư có tội giết vua, cũng chưa đến nỗi đáng mất nước; đại vương trị tội hắn là đủ, nay lại diệt nước Trần thì khác nào như chuyện cướp trâu, còn mừng về nỗi gì! Sở Trang Vương nói: - Nhà ngươi nói phải lắm! Thân Thúc Thời nói: - Đại vương đã cho lời tôi nói làm phải thì sao không bắt chước việc trả trâu lại cho người ta? Sở Trang Vương tức khắc triệu quan đại phu nước Trần là Viên Pha vào mà hỏi rằng: - Hiện nay vua nước Trần đi đâu? Viên Pha nói: - Khi trước ở nước Tấn, bây giờ không biết đi đâu? Nói xong, nước mắt chảy xuống ròng ròng. Sở Trang Vương động lòng thương xót mà bảo rằng: - Nay ta định trả lại nước cho nhà ngươi, nhà ngươi nên tìm đón vua Trần về, rồi một lòng thần phục nước Sở ta, chớ có quên cái ơn ấy. Sở Trang Vương lại triệu Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ, tha cho về nước để cùng giúp vua Trần. Viên Pha dẫu biết là tai vạ nước Trần bởi tại Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ, nhưng ở trước mặt Sở Trang Vương, không dám nói đến, chỉ cùng nhau lạy tạ rồi lui ra. Khi bọn Viên Pha gần ra khỏi địa giới nước Sở thì gặp Trần Thành công ở nước Tấn về, nghe tin nước nhà bị diệt, cũng toan sang để kêu với Sở Trang Vương. Viên Pha thuật lại cái lòng tử tế của Sở Trang Vương cho Trần Thành công nghe, rồi vua tôi cùng nhau trở về nước Trần. Quan trấn thủ nước Trần là công tử Anh Tề đã tiếp được thư của Sở Trang Vương triệu về nước Sở, mới đem bản đồ nước Trần giao trả lại cho Trần Thành công. Khổng Ninh về nước chưa được một tháng, nhiều khi ban ngày trông thấy Hạ Trưng Thư đến bắt đền mạng rồi thành ra bệnh điên cuồng, nhảy xuống ao mà chết. Đêm hôm Khổng Ninh chết, Nghi Hàng Phủ cũng nằm mộng thấy Trần Linh công, Khổng Ninh và Hạ Trưng Thư, ba người cùng đến bắt Nghi Hàng Phủ. Nghi Hàng Phủ cũng kinh sợ mà chết tươi, đó là những sự quả báo của đứa dâm loạn! Công tử Anh Tề về đến nước Sở vào yết kiến Sở Trang Vương. Sở Trang Vương nói: - Ta đã trả lại nước Trần rồi, sẽ xin đền cho nhà ngươi chỗ khác. Công tử Anh Tề xin khu ruộng ở đất Thân và đất Lã. Sở Trang Vương toan thuận cho. Khuất Vu liền nói với Sở Trang Vương rằng: - Đất Thân và đất Lã là một nơi trọng yếu, nước Sở ta dùng để chống giữ với nước Tấn, không nên đem thưởng cho ai cả. Sở Trang Vương mới thôi, không cho công tử Anh Tề nữa. Đến lúc Thân Thúc Thời cáo lão, Sở Trang Vương đem đất Thân phong cho Khuất Vu. Khuất Vu chẳng từ chối mà nhận ngay. Công tử Anh Tề vì thế thành ra hiềm khích với Khuất Vu. Sở Trang Vương thấy nước Trần dẫu thần phục mình, nhưng còn nước Trịnh vẫn theo nước Tấn, mới cùng các quan triều thần thương nghị việc đánh Trịnh. Quan lệnh doãn là Tôn Thúc Ngao nói với Sở Trang Vương rằng: - Ta đánh Trịnh thì nước Tấn tất đến cứu, vậy phải đem đại binh đi mới được. Sở Trang Vương liền cử đại binh tiến sang đánh Trịnh. Tương Lão đi theo làm tiền bộ. Viên phó tướng thuộc toán quân của Tương Lão tên là Đường Giao xin với Tương Lão rằng: - Trịnh là một nước nhỏ, bất tất phải phiền đến đại binh, tôi xin đem thủ hạ một trăm người để mở đường đi trước. Tương Lão khen mà cho đi. Đường Giao cố sức xông pha đi trước, quân nước Trịnh không ai đương nổi, vì thế mà đại binh của Sở Trang Vương tiến thẳng được đến địa giới nước Trịnh. Sở Trang Vương thấy quân tiền bộ, đi được nhanh chóng như vậy, mới khen Tương Lão rằng: - Ta không ngờ nhà ngươi đã già mà còn mạnh mẽ lắm! Tương Lão nói: - Đó không phải là công tôi, nhờ có viên phó tướng là Đường Giao cố sức, mới được vậy! Sở Trang Vương triệu Đường Giao đến, toan trọng thưởng. Đường Giao nói: - Tôi chịu ơn đại vương to lắm, ngày nay gọi chút báo đền, có đâu lại dám lĩnh thưởng. Sở Trang Vương ngạc nhiên mà hỏi rằng: - Ta có biết nhà ngươi bao giờ mà nhà ngươi bảo là chịu ơn ta? Đường Giao nói: - Trong tiệc rượu dứt giải mũ mà có người nắm vạt áo Hứa Cơ, tức là tôi đó! Đại vương rộng lượng tha mà không giết, vậy nên tôi phải cố sức để báo đền. Sở Trang Vương nói: - May làm sao! Giả sử bấy giờ ta thắp nến lên để trị tội thì sao bây giờ lại có người vì ta mà cố sức như vậy! Sở Trang Vương truyền ghi lấy công Đường Giao để đợi khi đánh Trịnh xong trở về thì sẽ trọng dụng. Đường Giao nói chuyện với mọi người rằng: - Tội ta đáng chết mà đại vương không giết, vậy nên ta cố sức để báo đền, nay đã nói rõ ra rồi, chẳng lẽ ta là người có tội mà ngày sau lại để cho đại vương trọng dụng mình hay sao! Đêm hôm ấy Đường Giao tức khắc bỏ trốn, không biết đi đâu mất. Sở Trang Vương nghe nói khen rằng: - Đường Giao thật là một người liệt sĩ! Đại binh nước Sở vây thành nước Trịnh, cả thảy mười bảy ngày. Trịnh Tương công cậy có quân Tấn đến cứu, không chịu giảng hòa, quân sĩ chết hại nhiều lắm. Phía Đông Bắc thành nước Trịnh có một chỗ lở hơn mười trượng, quân Sở sắp sửa trèo vào. Sở Trang Vương nghe trong thành có tiếng khóc rầm rĩ, động lòng thương xót, truyền cho quân sĩ hãy lui lại mười dặm. Công tử Anh Tề nói với Sở Trang Vương rằng: - Ta nên nhân lúc thành lở mà tiến vào, cớ sao lại lui quân? Sở Trang Vương nói: - Người nước Trịnh chỉ biết sợ uy ta, chưa biết mến đức ta nay ta lui quân là để tỏ cho nước Trịnh biết ta có lòng nhân đức. Trịnh Tương công thấy Sở lui quân, ngờ là nước Tấn đã đem quân đến cứu, mới chữa những nơi thành lở, rồi cố sức chống giữ. Sở Trang Vương biết là nước Trịnh không đầu hàng; lại tiến quân vây thành hơn ba tháng. Tướng nước Sở là Nhạc Bá, phá cửa thành tiến vào. Sở Trang Vương truyền cho quân sĩ không được nhiễu hại dân. Trịnh Tương công trần vai áo dắt đàn dê ra đón quân Sở mà xin lỗi rằng: - Tôi là kẻ ngu dại, không biết thần phục quý quốc, khiến cho đại vương nổi giận phải đem quân tới nước tôi; nay tôi biết tội đã nhiều, xin đại vương rộng lượng thương cho nước tôi làm nước phụ thuộc không đến nỗi tuyệt diệt thì nước tôi được đội ơn nhiều lắm. Công tử Anh Tề nói với Sở Trang Vương rằng: - Nước Trịnh cùng quá, mới chịu đầu hàng, nếu ta tha cho thì rồi lại làm phản, chi bằng ta diệt hẳn đi. Sở Trang Vương nói: - Nếu ngày nay ta diệt nước Trịnh mà Thân Thúc Thời hãy còn thì tất lại đem cái chuyện "cướp trâu giẫm lúa" mà cười ta đó. Sở Trang Vương truyền lui quân ba mươi dặm, rồi cho nước Trịnh giảng hòa. Trịnh Tương công thân hành đến đại dinh quân Sở xin ăn thề, và cho người em là công tử Khứ Tật sang ở làm tin. Sở Trang Vương truyền rút quân về đóng ở Diên Địa. Quân thám tử về báo với Sở Trang Vương rằng: - Nước Tấn cho Tuân Lâm Phủ làm chánh tướng. Tiên Cốc làm phó tướng, đem quân sang cứu Trịnh, hiện đã qua sông Hoàng Hà rồi. Sở Trang Vương hỏi các tướng rằng: - Quân Tấn sắp đến, nên về hay là nên đánh? Quan lệnh doãn là Tôn Thúc Ngao nói với Sở Trang Vương rằng: - Nước Trịnh chưa xin hòa thì ta nên đánh nhau với Tấn; nay Trịnh đã giảng hòa, ta lại còn sinh sự với Tấn làm gì nữa, chi bằng ta giữ cho toàn quân mà về. Có kẻ bế nhân là Ngũ Xâm tâu với Sở Trang Vương rằng: - Quan lệnh doãn nói thế là không phải! Nước Trịnh cho sức ta không bằng Tấn, vậy nên mới theo Tấn, nay quân Tấn đến mà ta rút về thì thật ta không bằng. Vả nước Tấn biết Trịnh theo Sở thì tất đánh Trịnh, vậy ta đánh Tấn để cứu Trịnh, chẳng cũng nên lắm ru! Tôn Thúc Ngao nói với Sở Trang Vương rằng: - Quân nước Sở ta, năm trước sang đánh Trần, năm nay sang đánh Trịnh, nhọc mệt lắm rồi, nếu nghe lời Ngũ Xâm mà đánh không được Tấn thì dẫu ăn thịt hắn, cũng không đáng cái tội của hắn vậy. Ngũ Xâm nói: - Nay đánh mà được thì quan lệnh doãn là người vô mưu, nếu đánh không được thì thịt Ngũ Xâm này tất bị quân Tấn ăn mất, còn đâu mà để phần người nước Sở. Sở Trang Vương liền hỏi ý tất cả các tướng, đưa cho mỗi người một cái bút để viết vào bàn tay: Ai định đánh thì viết chữ "Chiến", ai định lui thì viết chữ "Thoái". Các tướng viết xong, Sở Trang Vương sai mở bàn tay ra xem thì trong tay viết chữ "Thoái" chỉ có bốn người là: Quan trung quân nguyên soái Ngu Khâu, quan liên doãn Tương Lão, tỳ tướng Sái Cưu Cư và Bành Danh. Còn bọn Công tử Anh Tề, công tử Trắc, công tử Cốc Thần, Khuất Đãng, Phan Đảng, Nhạc Bá, Dưỡng Do Cơ, Hứa Bá, Hùng Phụ Bá và Hứa Yển hơn hai mươi người đều viết chữ "Chiến" cả. Sở Trang Vương nói: - Ngu Khâu là bậc lão thành, nay cùng với quan lệnh doãn hợp ý nhau, vậy thì lui quân về là phải. Sở Trang Vương truyền đến sáng mai thì rút quân về. Đêm hôm ấy, Ngũ Xâm xin vào yết kiến nói với Sở Trang Vương rằng: - Đại vương sợ gì nước Tấn mà lại phải bỏ nước Trịnh như vậy? Sở Trang Vương nói: - Khi nào ta lại bỏ nước Trịnh. Ngũ Xâm nói: - Quân Sở ta vây nước Trịnh ba tháng mới thu phục được nước Trịnh, nay quân Tấn đến mà ta rút về, khiến cho nước Tấn được công cứu nước Trịnh, thế thì chẳng phải ta bỏ nước Trịnh là gì? Sở Trang Vương nói: - Quan lệnh doãn bảo ta rằng đánh Tấn vị tất đã được, vậy nên ta phải bỏ. Ngũ Xâm nói: - Tôi đã tính trước cả rồi! Tuân Lâm Phủ nước Tấn mới lên làm trung quân nguyên soái, chưa có uy tín gì cho người ta phục; quan phó tướng là Tiên Cốc, nguyên là con Tiên Thả Cư, cháu Tiên Chẩn, cậy thế mấy đời có công, làm nhiều điều kiêu ngạo, xem thế thì các tướng nước Tấn, không đồng tâm với nhau, dẫu nhiều quân đến đâu, cũng có thể phá tan được. Vả đại vương làm vua một nước mà phải sợ các tướng nước Tấn, để cho thiên hạ người ta chê cười thì sao cho nước Trịnh chịu phục. Sở Trang Vương ngạc nhiên mà nói rằng: - Ta dẫu không khéo dùng quân, cũng chẳng chịu thua các tướng nước Tấn! Nói xong, liền sai người bảo quan lệnh doãn Tôn Thúc Ngao tiến binh đánh ở Quản Thành để đợi quân Tấn đến thì đánh.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 54 Sở Trang đuổi quân Tuân Lâm Phủ Ưu Mạnh đóng vai Tôn Thúc Ngao

Tấn Cảnh công nghe tin Sở Trang Vương thân hành đem quân sang đánh Trịnh, mới sai Tuân Lâm Phủ làm trung quân nguyên soái, Tiên Cốc làm phó nguyên soái, để đem quân sang cứu. Khi đi đến sông Hoàng Hà, có quân thám tử báo rằng: - Nước Trịnh bị nước Sở vây thành, đợi mãi không thấy quân ta đến cứu, đã ra đầu hàng nước Sở rồi. Quân Sở đã sắp sửa rút về. Tuân Lâm Phủ triệu các tướng vào để hội nghị. Sĩ Hội nói: - Ta đã không kịp sang cứu, nay đánh nhau với Sở, cũng chẳng ra thế nào, chi bằng ta hãy rút về, rồi sau sẽ định liệu. Tuân Lâm Phủ khen phải, truyền rút quân về. Bỗng có một viên đại tướng đứng dậy can rằng: - Không nên! Nước Tấn ta làm bá chủ được chư hầu là vì biết bênh vực những kẻ hèn yếu, nay nước Trịnh đợi mãi không thấy quân ta đến cứu, mới phải đầu hàng nước Sở; ta đánh được quân Sở thì nước Trịnh tất lại về với ta. Nếu ta bỏ nước Trịnh mà tránh quân Sở thì các nước nhỏ còn trông cậy về nỗi gì? Tôi chắc rằng nước Tấn ta không làm bá chủ được chư hầu nữa. Quan nguyên soái rút quân về thì tôi cũng xin đem thủ hạ của tôi ra tiến đánh một trận. Tuân Lâm Phủ nhìn xem ai thì tức là quan phó nguyên soái tên gọi Tiên Cốc, Tuân Lâm Phủ bảo Tiên Cốc rằng: - Vua nước Sở thân hành đem quân tới đây, binh nhiều tướng mạnh, nếu ta đem một toán quân sang đánh, khác nào như ném thịt vào miệng con hổ đói mà thôi, phỏng có ích gì! Tiên Cốc gầm thét lên mà rằng: - Nếu ta không đi thì khiến cho người ta bảo: Đường đường nước Tấn mà không có một người nào dám đánh, chẳng cũng xấu hổ lắm ru! Chuyến này ta đi, dẫu chết tại trận tiền, cũng còn được tiếng là người có chí khí. Tiên Cốc nói xong, tức khắc lui ra. Ra đến cửa dinh, gặp anh em Triệu Đồng và Triệu Quát, Tiên Cốc bảo Triệu Đồng và Triệu Quát rằng: - Quan nguyên soái sợ nước Sở, muốn rút quân về, chỉ một mình ta quyết đem quân sang đánh. Triệu Đồng và Triệu Quát nói: - Đại trượng phu nên phải như thế! Anh em tôi cũng xin đem quân bản bộ đi theo tướng quân. Ba người cùng nhau đem quân qua sông Hoàng Hà. Tuân Thủ không thấy Triệu Đồng và Triệu Quát, liền hỏi quân sĩ, mới biết là hai người ấy đã theo Tiên Cốc sang qua sông Hoàng Hà để chực đón đánh quân Sở rồi, liền giật mình kinh sợ, vào nói với quan tư mã là Hàn Quyết. Hàn Quyết vào bảo Tuân Lâm Phủ rằng: - Quan nguyên soái không biết việc Tiên Cốc qua sông Hoàng Hà hay sao? Nếu gặp quân Sở thì tất bị thua, ngài làm nguyên soái mà để cho Tiên Cốc bị thua thì lỗi ở ngài đó! Tuân Lâm Phủ kinh sợ hỏi kế. Hàn Quyết nói: - Việc đã lỡ như vậy rồi, chi bằng ta kéo cả đại binh sang, đánh được thì ngài có công, mà đánh thua thì cả các tướng cùng phải chịu tội, chẳng hơn là chịu tội một mình hay sao! Tuân Lâm Phủ khen phải, rồi truyền kéo đại binh qua sông Hoàng Hà. Tiên Cốc nghe tin, mừng mà nói rằng: - Ta vẫn biết là quan nguyên soái phải theo lời nói của ta! Trịnh Tương công cho người đi do thám, biết là quân Tấn cường thịnh lắm, chỉ sợ một mai thắng được quân Sở thì lại trị tội nước Trịnh sao dám theo Sở, mới họp các quan triều thần lại để thương nghị. Quan đại phu là Hoàng Thú nói: - Tôi xin sang sứ quân Tấn để khuyên Tấn đánh Sở, Tấn được thì theo Tấn, Sở được thì theo Sở. Bên nào mạnh thế thì ta theo, chớ có lo gì! Trịnh Tương công khen rằng, rồi sai Hoàng Thú đi. Hoàng Thú đến nói với quân Tấn rằng: - Chúa công tôi mong quý quốc đến cứu, khác nào như lúc đại hạn mà mong mưa, bất đắc dĩ mới phải theo Sở để khỏi tàn hại, không phải dám bỏ quý quốc. Nay quân Sở đã thắng được nước Trịnh rồi, có ý kiêu ngạo. Vả quân Sở đi lâu ngày, cũng đã mỏi mệt, nếu quý quốc cố đánh thì nước Trịnh tôi cũng xin theo sau. Tiên Cốc nói: - Ta đánh được Sở và làm cho nước Trịnh phải phục, chỉ cốt ở một trận này! Loan Thư nói: - Người nước Trịnh hay phản phúc lắm, ta chớ nên tin lời! Triệu Đồng và Triệu Quát nói: - Nước Trịnh xin theo ta để cùng đánh Sở thì cái cơ hội ấy chớ nên bỏ hoài! Ta nên theo lời Tiên Cốc. Hai người nói xong, liền không vâng lệnh của Tuân Lâm Phủ, tự liệu theo Tiên Cốc cùng với Hoàng Thú định ước đánh Sở. Trịnh Tương công lại sai sứ đến quân Sở, khuyên Sở Trang Vương giao chiến với Tấn. Quan lệnh doãn nước Sở là Tôn Thúc Ngao lo quân Tấn cường thịnh, nói với Sở Trang Vương rằng: - Người nước Tấn không có ý quyết chiến, chi bằng ta cho người sang giảng hòa; giảng hòa mà không được, bấy giờ ta sẽ giao chiến thì lỗi tại nước Tấn. Sở Trang Vương lấy làm phải, liền sai Sái Cưu Cư sang quân Tấn xin giảng hòa. Tuân Lâm Phủ mừng lắm, nói: - Nếu vậy thì là phúc cả cho hai nước! Tiên Cốc trỏ vào mặt Sái Cưu Cư mà mắng rằng: - Nước ngươi đã cướp thuộc quốc của ta, nay lại còn giảng hòa! Dẫu nguyên soái ta cho hòa, ta cũng nhất định không chịu, ta quyết đánh cho chẳng còn một mống nào trở về, để khiến nước ngươi biết tay Tiên Cốc này. Nhà ngươi nên mau mau về báo với vua Sở, liệu mà trốn trước đi, kẻo nữa khôn toàn tính mệnh. Sái Cưu Cư bị Tiên Cốc sỉ mắng một hồi, rồi cúi đầu lui ra. Ra đến cửa dinh lại gặp anh em Triệu Đồng và Triệu Quát. Triệu Đồng và Triệu Quát giơ gươm trỏ vào mặt Sái Cưu Cư mà bảo rằng: - Nếu mày còn sang đây lần nữa thì ta sẽ cho mày một lưỡi gươm này! Sái Cưu Cư ra khỏi dinh quân Tấn, lại gặp tướng nước Tấn là Triệu Chiên. Triệu Chiên giương cung giơ vào mặt Sái Cưu Cư mà bảo rằng: - Mày là miếng thịt ở đầu mũi tên của ta, chẳng bao lâu ta sẽ bắt sống, nay hãy cho mày về mà báo trước cho vua Sở mày biết. Sái Cưu Cư nói về với Sở Trang Vương. Sở Trang Vương giận lắm, hỏi các tướng xem có ai dám sang khiêu chiến với quân Tấn không? Quan đại tướng là Nhạc Bá xin đi. Nhạc Bá ngồi một cái xe tiến sang vòng quân Tấn, gặp một bọn quân hơn mười người. Nhạc Bá bắn chết một người, rồi quay xe trở về. Quân Tấn chia ra làm ba toán đuổi theo: Toán đi giữa là Bảo Quý; toán đi phía tả là Bàng Ninh; toán đi phía hữu là Bàng Cái, Nhạc Bá thét to lên rằng: - Ta bắn về phía tả thì trúng ngựa, bắn về phía hữu thì trúng người, nếu bắn không trúng tức là ta thua! Nhạc Bá giương cung bắn luôn mỗi bên một phát, phát bên tả trúng suốt ba bốn con ngựa, xe không đi được nữa, phát bên hữu trúng mặt Bàng Cái, còn quân sĩ bị thương rất nhiều. Bởi vậy toán quân phía tả và phía hữu đều không dám theo nữa, chỉ có toán quân đi giữa là Bảo Quý cố sức đuổi gần đến nơi. Nhạc Bá chỉ còn có một phát tên, toan giương cung ra bắn Bảo Quý, nhưng lại nghĩ thầm rằng: - Nếu phát tên này ta bắn không trúng thì tất nhiên bị hại! Nhạc Bá còn đang nghĩ ngợi thì bỗng có một con hươu to ở đâu chạy qua trước mặt. Nhạc Bá liền bắn chết con hươu ấy rồi sai người đưa biếu Bảo Quý để khao quân sĩ. Bảo Quý thấy Nhạc Bá bắn chẳng sai phát nào, trong lòng cũng có ý sợ hãi, nhân Nhạc Bá sai người biếu con hươu, mới giả cách khen rằng: - Tướng nước Sở biết giữ lễ như vậy thì ta không dám xâm phạm. Bảo Quý quay xe trở về. Tướng nước Tấn là Ngụy Kỳ biết Bảo Quý thả cho Nhạc Bá chạy, trong lòng giận lắm, nói: - Nước Sở có người đến khiêu chiến, mà nước Tấn ta không ai dám sang trận địa quân Sở, tôi e rằng người nước Sở tất cũng cười ta, vậy tôi xin sang để dò xem quân Sở mạnh yếu thế nào. Triệu Chiên cũng nói với Tuân Lâm Phủ rằng: - Tôi xin cùng đi với Ngụy tướng quân (tức là Ngụy Kỳ). Tuân Lâm Phủ nói: - Khi trước nước Sở sang thỉnh hòa, với ta rồi mới khiêu chiến. Nay các ngươi sang quân Sở, cũng phải thỉnh hòa trước để gọi là đáp lễ lại. Ngụy Kỳ xin vâng lệnh. Triệu Chiên đưa Ngụy Kỳ lên xe trước mà bảo rằng: - Tướng quân báo lại việc Sái Cưu Cư, còn tôi xin báo lại việc Nhạc Bá. Quan thượng quân nguyên soái là Sĩ Hội nghe tin Triệu Chiên và Ngụy Kỳ sang trận địa quân Sở, vội vàng vào yết kiến Tuân Lâm Phủ để can không nên đi. Khi vào đến nơi thì hai tướng đã đi rồi, Sĩ Hội mới nói riêng với Tuân Lâm Phủ rằng: - Ngụy Kỳ và Triệu Chiên là người nóng nảy, không biết tùy cơ ứng biến, tất làm cho quân Sở tức giận; nếu quân Sở bất thình lình mà đến đánh ta thì ta làm thế nào? Bấy giờ quan phó tướng là Khước Khắc cũng đến nói với Tuân Lâm Phủ rằng: - Tình ý nước Sở khó mà lường được, ta nên phòng bị trước! Tiên Cốc thét to lên rằng: - Sắp giao chiến lại còn phòng bị gì nữa! Tuân Lâm Phủ không biết đàng nào mà quyết đoán, Sĩ Hội lui ra nói riêng với Khước Khắc rằng: - Quan nguyên soái chẳng khác gì người bù nhìn! Thôi, chúng ta phải tự liệu lấy mới được. Sĩ Hội nói xong, liền bảo Khước Khắc rủ quan thượng quân đại phu là Hàn Xuyên đem quân bản bộ ra phục ở trước núi Ngao Sơn. Quan trung quân đại phu là Triệu Anh Tề cũng lo quân Tấn thua, sai người sắp thuyền sẵn ở cửa sông Hoàng Hà để phòng khi chạy trốn. Ngụy Kỳ vẫn ghét Tuân Lâm Phủ, muốn làm cho Tuân Lâm Phủ mang tiếng, khi có trước mặt Tuân Lâm Phủ chỉ nói việc thỉnh hòa nhưng khi đến quân Sở thì lại thỉnh chiến. Tướng nước Sở là Phan Đảng biết chuyện khi trước Sái Cưu Cư sang sứ quân Tấn, bị tướng nước Tấn sỉ nhục, nay thấy Ngụy Kỳ đến, tính sự báo thù, vội vàng bước vào đại dinh thì Ngụy Kỳ trong dinh ra khỏi. Phan Đảng tức khắc giục ngựa đuổi theo. Ngụy Kỳ đi đến một quãng rừng, nghe có tướng Sở đuổi theo, toan quay lại để đối địch; bỗng thấy trong rừng có sáu con hươu lớn, nhân nghĩ đến việc nước Sở biếu khi trước, liền giương cung bắn chết một con, sai người đem biếu Phan Đảng mà nói rằng: - Khi trước Nhạc tướng quân (tức là Nhạc Bá) có cho quân Tấn tôi một con hươu, nay quân Tấn tôi xin đáp lễ lại. Phan Đảng nghĩ thầm trong lòng rằng: - Quân Tấn cũng bắt chước lối cũ của ta như vậy, nếu ta đuổi theo thì chẳng hóa ra người nước Sở ta vô lễ lắm ru! Cùng truyền quay xe trở lại. Ngụy Kỳ về đến dinh quân Tấn nói với Tuân Lâm Phủ rằng: - Vua nước Sở nhất định không cho giảng hòa, định đánh một trận để quyết thắng phụ. Tuân Lâm Phủ hỏi: - Còn Triệu Chiên ở đâu? Ngụy Kỳ nói: - Tôi đi trước, hắn đi sau, thành ra tôi không được gặp. Tuân Lâm Phủ nói: - Nước Sở đã không cho giảng hòa thì Triệu Chiên tất nhiên bị hại. Tuân Lâm Phủ sai Tuân Dinh đem quân đi đón Triệu Chiên. Nguyên Triệu Chiên đang đêm đi đến cửa dinh quân Sở, trải chiếu xuống đất ngồi đem rượu ra uống, rồi sai hơn hai mươi người giả cách nói tiếng nước Sở, lẻn vào trong dinh quân Sở. Quân Sở biết là giả, nắm lại để hỏi. Người ấy rút dao đâm chết một người trong đám quân Sở. Quân Sở náo động cả lên đốt đuốc đuổi bắt được mấy người, còn mấy người trốn thoát chạy ra, trông thấy Triệu Chiên vẫn còn ngồi trên chiếu, vội vàng ôm lên xe. Tìm đến người dong xe thì đã mắc trong đám quân Sở, không ra được rồi. Triệu Chiên phải cầm lấy cương ngựa, ngựa đói không thể đi được. Sở Trang Vương nghe nói có giặc lẻn đến, liền thân hành đem quân ra đuổi. Quân đuổi gấp lắm, Triệu Chiên vội vàng bỏ xe trốn vào trong rừng. Tướng nước Sở là Khuất Đãng trông thấy cũng xuống xe đuổi theo. Triệu Chiên cởi áo giáp treo ở trên cây thông để chạy cho dễ. Khuất Đãng lấy được áo giáp và xe ngựa đem về nộp Sở Trang Vương. Sở Trang Vương vừa toan quay xe trở về thì thấy Phan Đảng chạy đến. Phan Đảng trỏ về phía Bắc mà bảo Sở Trang Vương rằng: - Trông những cát bụi bay mù thế kia thì biết đại binh nước Tấn sắp sửa kéo đến! Nguyên những cát bụi ấy là bởi có toán quân của Tuân Dinh phụng mệnh Tuân Lâm Phủ đi đón Triệu Chiên; Phan Đảng trông không rõ tưởng là đại binh quân Tấn, làm cho Sở Trang Vương sợ hãi, mặt xám xanh lại, may gặp có toán quân của quan lệnh doãn là Tôn Thúc Ngao kéo đến, Sở Trang Vương mới được yên lòng. Sở Trang Vương hỏi Tôn Thúc Ngao rằng: - Sao quan lệnh doãn biết có đại binh nước Tấn sắp tới mà đem quân ra cứu ta? Tôn Thúc Ngao nói: - Tôi không biết có đại binh nước Tấn, nhưng tôi sợ đại vương khinh thường xông vào quân giặc, vậy nên tôi phải đem quân tiếp ứng, còn đại binh ta cũng sắp tới đây bây giờ. Sở Trang Vương ngoảnh về phía Bắc, trông lại một lượt, thấy đám cát bụi cũng không lấy gì làm cao, mới bảo Tôn Thúc Ngao bằng: - Không phải đại binh nước Tấn. Tôn Thúc Ngao nói: - Nay các tướng đã đều đến cả, xin đại vương cứ truyền lệnh tiến hành, nếu ta đánh được một toán thì các toán khác đều phải vỡ tan. Sở Trang Vương liền truyền lệnh tiến binh. Tuân Lâm Phủ cũng đem quân ra đối địch, nhưng quân Sở nhiều quá, không thể nào địch nổi, tức khắc bỏ chạy tán loạn. Tuân Dinh đi đón Triệu Chiên, không thấy đâu cả, lại gặp tướng nước Sở là Hùng Phụ Cơ, hai bên giao chiến với nhau, nhưng Tuân Dinh thấy quân Sở đông quá, cũng phải bỏ chạy, bị Hùng Phụ Cơ bắt sống. Tướng nước Tấn là Bàng Bá, đem hai con là Bàng Ninh và Bàng Cái cùng ngồi một cái xe nhỏ để chạy trốn; lại gặp Triệu Chiên cũng đang bơ vơ chạy trốn, hai chân giẫm đất, bàn chân rách nát. Triệu Chiên trông thấy kêu to lên rằng: - Ai đi xe thế kia, xin cứu tôi với! Bàng Bá nghe biết là tiếng Triệu Chiên, bảo hai con chớ ngoảnh cổ lại. Hai con không hiểu ý cha, tức thì ngoảnh cổ nom lại phía sau xem ai. Triệu Chiên trông thấy, liền gọi bảo rằng: - Bàng Bá cho ta lên xe với! Hai con nói với Bàng Bá. Bàng Bá giận lắm, nói: - Đã như vậy thì hai con nhường chỗ cho người ta! Bàng Bá tức thì đuổi hai con xuống mà cho Triệu Chiên lên. Bàng Ninh và Bàng Cái mất xe, thành ra chết ở trong đám loạn quân. Tuân Lâm Phủ và Hàn Quyết cùng một bọn tàn tốt chạy men bờ sông Hoàng Hà, ngoảnh lại trông thấy Tiên Cốc bị thương ở trán, máu chảy đầm đìa, đang xé áo chiến bào ra để buộc, Tuân Lâm Phủ liền trỏ vào mặt Tiên Cốc mà bảo rằng: - Tướng quân hăng hái lắm mà sao cũng như thế! Đi đến cửa sông Hoàng Hà, gặp Triệu Quát cũng đến, Triệu Quát nói với Tuân Lâm Phủ rằng: - Anh tôi là Triệu Anh Tề, khi trước có sắp sẵn thuyền bè, nay đã qua sông rồi, mà chẳng bảo cho chúng tôi biết, như vậy thì còn ra nghĩa lý gì nữa! Tuân Lâm Phủ nói: - Những lúc nguy cấp này, còn bảo nhau sao kịp! Trịnh Quát vẫn hầm hầm tức giận, từ bấy giờ cùng với Triệu Anh Tề thành ra hiềm khích. Tuân Lâm Phủ nói: - Quân ta không thể đánh mau với Sở được nữa, bây giờ nên mau mau nghĩ kế để qua sông Hoàng Hà. Tuân Lâm Phủ liền sai Tiên Cốc đi tìm thuyền, nhưng tìm được ít lắm, không có mấy chiếc. Tuân Lâm Phủ chưa kịp qua sông thì lại thấy có một toán quân, rối rít chạy đến. Tuân Lâm Phủ nhìn xem quân nào thì tức là toán quân của Triệu Sóc và Loan Thư bị tướng nước Sở là công tử Trác đánh đuổi, cũng chạy đến đấy, Tuân Lâm Phủ ngoảnh về phía Nam, trông thấy cát bụi bay, ngỡ là quân Sở đuổi tới, mới đánh trống mà hạ lệnh rằng: - Ai sang được trước thì sẽ có thưởng! Quân sĩ tranh cướp thuyền chở, thành ra giết hại lẫn nhau. Dưới thuyền người đã đầy rồi, mà còn nhiều người chen lấn nhau nước xuống đến nỗi đắm mất hơn ba mươi chiếc thuyền. Tiên Cốc đứng ở trong thuyền lại thét to lên rằng: - Quân sĩ có đứa nào bíu vào mái chèo và mạn thuyền thì lấy dao mà chặt tay đi. Các thuyền đều theo lệnh lấy dao ra chặt thì ngón tay rơi vào trong thuyền, khác nào như hoa rụng, rồi bốc từng bốc mà ném xuống sông. Trên bờ người khóc như ri, nghe rất sầu thảm! Mặt sau lại có bọn Tuân Thủ, Triệu Đồng, Ngụy Kỳ, Bàng Bá và Bảo Quý lục tục kéo đến. Tuân Thủ đã xuống thuyền rồi, không trông thấy con là Tuân Dinh, sai người đứng ở trên bờ gọi rầm lên! Có người biết là Tuân Dinh bị bắt, nói với Tuân Thủ. Tuân Thủ nói: - Con ta đã bị bắt thì ta không chịu về không! Tuân Thủ tức thì lên bờ, để lại xông vào đám quân Sở. Tuân Lâm Phủ can rằng: - Tuân Dinh đã bị bắt thì tướng quân đi cũng vô ích. Tuân Thủ nói: - Nếu tôi bắt được tướng nước Sở thì cũng có thể đòi lại được con tôi. Ngụy Kỳ vốn chơi thân với Tuân Dinh, bởi vậy cũng xin theo đi. Tuân Thủ mừng lắm, đem mấy trăm quân trở lại. Quân sĩ nhiều người vẫn kính phục Tuân Thủ, vậy nên đều vui theo cả; có người đã xuống thuyền rồi, nghe nói Tuân Thủ định trở lại để tìm Tuân Dinh, cũng đều lên bờ xin theo. Tuân Thủ là người bắn giỏi lắm, bấy giờ xông vào quân Sở, trông thấy tướng nước Sở là Tương Lão đang đi thu thập những ngựa xe và khí giới của quân Tấn bỏ sót, chẳng ngờ quân Tấn thình lình trở lại, vậy nên không kịp đề phòng, bị Tuân Thủ bắn cho một phát, ngã lăn xuống đất. Công tử Cốc Thần trông thấy Tương Lão bị mũi tên, vội vàng đến cứu. Ngụy Kỳ xông vào, giao chiến với công tử Cốc Thần. Tuân Thủ lại bắn luôn phát nữa, trúng ngay vào cánh tay phải của công tử Cốc Thần. Công tử Cốc Thần đau quá, đứng lại để nhổ mũi tên, bị Ngụy Kỳ bắt sống và lấy thêm cả cái xác của Tương Lão mang về. Tuân Thủ nói: - Đem công tử Cốc Thần và xác Tương Lão này cũng đủ chuộc lại được con ta, ta nên trở về. Nói xong liền giục ngựa về ngay. Khi quân Sở biết mà đuổi theo thì đã không kịp. Công tử Anh Tề (tướng nước Sở) đem quân đuổi đánh Sĩ Hội (tướng nước Tấn). Sĩ Hội vừa đánh vừa chạy, may nhờ có quân của Củng Sóc tiếp ứng, mới chạy thoát được. Công tử Anh Tề cố sức đuổi theo, lại gặp tướng nước Tấn là Khước Khắc đem quân đến. Công tử Anh Tề thấy vậy, phải thu quân trở về. Tuân Thủ về đến cửa sông Hoàng Hà, thấy toàn quân của Tuân Lâm Phủ chưa qua sông hết, có ý kinh sợ; may nhờ có toán quân của Triệu Anh Tề đã qua sông rồi, có người đem thuyền sang đón, quân Tấn mới qua được sông Hoàng Hà. Đại binh quân Sở đã kéo đến Bí Thành, Ngũ Xâm nói với Sở Trang Vương xin mau mau đuổi theo để đánh quân Tấn. Sở Trang Vương nói: - Nước Sở ta từ khi thua Tấn ở đất Thành Bộc, vẫn lấy làm xấu hổ, nay được một trận này, đủ rửa cái thẹn năm xưa, nhưng hai bên rồi cũng nên giảng hòa với nhau, ta còn giết hại làm gì nữa. Sở Trang Vương truyền đóng quân lại. Trịnh Tương công biết là quân Sở thắng trận, thân hành đến Bí Thành khao thưởng quân sĩ, đón Sở Trang Vương về đất Hành Ung, mời vào ở trong vương cung, mở tiệc chúc mừng. Phan Đảng nói với Sở Trang Vương xin thu xác quân Tấn đắp làm một cái đài gọi là "Kinh quán", để kỷ niệm vũ công của người nước Sở. Sở Trang Vương nói: - Ta cũng may mà đánh được quân Tấn, sao đáng gọi là vũ công. Sở Trang Vương truyền cho quân sĩ nhặt chôn những xác người chết, lại làm văn tế thần sông Hoàng Hà, rồi thu quân về nước Sở. Khi về đến nước Sở, ban thưởng công thần, cho Ngũ Xâm làm quan đại phu. Quan lệnh doãn là Tôn Thúc Ngao thở dài mà than rằng: - Đánh được quân Tấn mà công của Ngũ Xâm thì ta cũng nên xấu hổ mà chết. Sau Tôn Thúc Ngao nghĩ tức mà thành ra ốm nặng. Tuân Lâm Phủ về nước Tấn, vào yết kiến Tấn Cảnh công. Tấn Cảnh công toan chém. Các quan triều thần đều cố sức can rằng: - Tuân Lâm Phủ là một bậc đại thần. Việc đánh Sở này bởi tại Tiên Cốc trái lệnh, đến nỗi thua quân, nay chúa công giết một Tiên Cốc, cũng đủ làm gương cho kẻ khác. Ngày xưa nước Sở giết Thành Đắc Thần mà Tấn Văn công mừng, nước Tần tha Mạnh Minh mà Tấn Tương công sợ, xin chúa công tha tội cho Tuân Lâm Phủ để khiến được lập công về sau. Tấn Cảnh công theo lời, liền chém Tiên Cốc, phục chức cho Tuân Lâm Phủ, và sai luyện tập quân mã, đợi ngày khác đi đánh báo thù. Quan lệnh doãn nước Sở là Tôn Thúc Ngao ốm nặng, dặn con là Tôn An rằng: - Ta có một tờ di biểu khi ta chết rồi, mày nên đem dâng đại vương. Đại vương có cho mày làm quan thì mày chớ nhận. Tài mày nhỏ mọn, không nên dự vào đám quan thường. Nếu đại vương có phong ấp cho mày, mày phải từ chối; bất đắc dĩ mà từ chối không được thì nên xin đất Tẩm Khâu. Tẩm Khâu là một chỗ đất xấu, chẳng ai thèm tranh đến, họa may con cháu về sau mới được hưởng cái lộc ấy. Nói xong thì chết. Tôn An đem tờ di biểu vào dâng Sở Trang Vương. Sở Trang Vương mở ra đọc. Tờ di biểu như sau này: "Sau là kẻ có tội, đại vương lại cử cho làm lệnh doãn, trong mấy năm nay không có công trạng gì, nghĩ mình cũng lấy làm hổ thẹn. Nay nhờ cái uy linh của đại vương được toàn hoạt mà chết, thật là may cho tôi! Tôi chỉ được đứa con ngu dốt, không thể cho làm quan được; còn cháu tôi là Viễn Bằng là người có tài nên dùng. Tuân Thủ và Bàng Bá, mới rồi dẫu bị thua, nhưng chúa công chớ nên khinh thường. Dân nước Sở ta khổ về việc chiến tranh đã lâu chúa công nên nghĩ lại mà khiến cho dân được yên nghỉ. Người ta đến lúc sắp chết, câu nói thường hay hợp lẽ phải, xin chúa công xét cho". Sở Trang Vương đọc xong, thở dài mà than rằng: - Tôn Thúc Ngao gần chết mà vẫn không quên được việc nước. Trời làm cho Tôn Thúc Ngao chết, cũng là một sự không may cho ta. Sở Trang Vương thân hành đến nhà Tôn Thúc Ngao, ôm lấy áo quan mà khóc. Các quan đi theo hầu, cũng đều khóc cả. Ngày hôm sau, Sở Trang Vương cho công tử Anh Tề làm quan lệnh doãn, và cho Viễn Bằng làm quan châm doãn. Sở Trang Vương lại muốn cho Tôn An làm quan công chính, nhưng Tôn An theo lời cha dặn, nhất định xin từ chối, trở về làm ruộng. Sở Trang Vương có yêu một kẻ ưu nhân là Mạnh Thù Nho, vẫn gọi là Ưu Mạnh. Ưu Mạnh người lùn không đầy năm thước, nguyên là một người làm trò rất khéo, lại tài khôi hài, bởi vậy Sở Trang Vương yêu lắm. Một hôm Ưu Mạnh ra chơi ngoài đồng, gặp Tôn An đi kiếm củi, quẩy một gánh củi trở về, Ưu Mạnh đón mà hỏi rằng: - Sao công tử chịu khó nhọc mà gánh củi như vậy? Tôn An nói: - Cha tôi làm tướng quốc trong mấy năm trời, không lấy một đồng tiền của ai; đến lúc chết chẳng còn tí gì, bởi vậy tôi phải gánh củi. Ưu Mạnh thở dài mà than rằng: - Công tử vững lòng, thế nào đại vương cũng nhớ mà sắp triệu đến công tử! Ưu Mạnh về nghĩ kế: Chế ra một bộ mũ áo giống như của Tôn Thúc Ngao ngày trước, lại bắt chước những dáng điệu ăn nói của Tôn Thúc Ngao; luyện tập trong ba ngày, trông giống như thực chẳng khác gì Tôn Thúc Ngao phục sinh! Gặp bấy giờ Sở Trang Vương ngự yến ở trong cung, triệu Ưu Mạnh vào làm trò. Ưu Mạnh sai một người khác ra trò trước, đóng vai Sở Trang Vương làm ra bộ tưởng nhớ Tôn Thúc Ngao, còn mình thì đóng vai Tôn Thúc Ngao ra trò. Sở Trang Vương (vai trò) trông thấy giật mình kinh sợ mà nói rằng: - Ô hay! Tôn Thúc Ngao hãy còn sống à? Ta tưởng nhớ nhà ngươi lắm, nhà ngươi nên ở lại mà giúp ta! Ưu Mạnh nói: - Tôi đây chỉ giống Tôn Thúc Ngao đó mà thôi, có phải là Tôn Thúc Ngao thật đâu! Sở Trang Vương (vai trò) nói: - Ta tưởng nhớ Tôn Thúc Ngao mà không được trông thấy, nay thấy nhà ngươi giống Tôn Thúc Ngao, cũng khiến cho ta được đỡ nhớ. Ta cho nhà ngươi cứ làm tướng quốc, nhà ngươi chớ từ. Ưu Mạnh nói: - Đại vương dùng tôi quá lạm như vậy, khi nào tôi dám nhận, nhưng tôi có lão thê ở nhà, để tôi xin về bàn với lão thê tôi, rồi mới dám vâng mệnh. Ưu Mạnh trở vào buồng trò, một lúc lại bước lên sàn hát mà tâu với Sở Trang Vương (vai trò) rằng: - Vừa rồi tôi có bàn với lão thê tôi thì lão thê tôi khuyên tôi chớ nhận. Sở Trang Vương (vai trò) hỏi: - Lão thê tôi có đặt một bài hát để khuyên tôi, vậy tôi xin hát. Nói xong, liền hát: - "Quan tham không nên làm, thế mà nên làm! Quan liêm nên làm, thế mà không nên làm. Quan tham không nên làm, đã tham thì tất đê hạ; mà nên làm là con cháu được lên xe xuống ngựa! Quan liêm nên làm, đã liêm thì tất cao khiết; mà không nên làm là vì con cháu phải ăn đói mặc rét! Chàng chẳng thấy: Quan lệnh doãn nước Sở ta là Tôn Thúc Ngao, lúc sống làm quan không lấy của ai một đồng nào. Chẳng may thất lộc đi rồi, con cháu nghèo hèn đói khát, chỉ có cái túp chui ra chui vào.. Chàng, chàng ôi! Chàng chớ học đòi Tôn Thúc Ngao. Quân vương nào có nhớ công lao!" Sở Trang Vương trông thấy Ưu Mạnh lời ăn tiếng nói, giống như Tôn Thúc Ngao thuở xưa đã động lòng thương xót, sau nghe đến bài hát của Ưu Mạnh, bỗng ứa nước mắt xuống mà nói rằng: - Khi nào ta dám quên công Tôn Thúc Ngao! Sở Trang Vương liền sai Ưu Mạnh đi triệu Tôn An. Tôn An mặc áo rách, đi đôi giày cỏ, vào yết kiến Sở Trang Vương. Sở Trang Vương hỏi: - Nhà ngươi đến nỗi cùng khốn như thế ư? Ưu Mạnh đứng bên cạnh, đỡ lời mà tâu rằng: - Nếu không cùng khốn thì đã không tỏ được cái nhân đức của quan lệnh doãn ngày trước! Sở Trang Vương nói: - Tôn An khi trước đã từ chối làm quan, nay ta nên phong cho một cái ấp lớn. Tôn An lại cố ý xin từ chối. Sở Trang Vương nói: - Ta đã quyết định như thế, nhà ngươi chớ nên từ chối. Tôn An nói: - Nếu đại vương nghĩ đến chút công lao của cha tôi, mà muốn cho tôi được ấm no thì xin phong cho tôi ở đất Tẩm Khâu là đủ. Sở Trang Vương nói: - Tẩm Khâu là nơi đất xấu, có lợi gì cho nhà ngươi! Tôn An nói: - Khi cha tôi gần mất có dặn tôi như vậy, nếu không phong cho đất Tẩm Khâu thì tôi không dám nhận. Sở Trang Vương theo lời. Về sau, người ta đều cho Tẩm Khâu là một nơi đất xấu, không ai thèm tranh đến. Con cháu Tôn Thúc Ngao cứ nối đời được hưởng cái lộc ấy. Tuân Lâm Phủ nước Tấn nghe tin Tôn Thúc Ngao chết, biết là quân Sở chưa có thể đi cứu Trịnh được, mới tâu với vua Tấn xin đem quân đi đánh Trịnh. Tuân Lâm Phủ cướp phá bờ cõi nước Trịnh, rồi thu quân trở về. Các tướng nói với Tuân Lâm Phủ xin vây nước Trịnh. Tuân Lâm Phủ nói: - Ta vây nước Trịnh, cũng chưa chắc đã lấy nổi, vạn nhất nước Sở đem quân đến cứu thì lại thành ra thêm việc, chi bằng ta hãy để cho người nước Trịnh phải sợ ta. Trịnh Tương công thấy vậy, quả nhiên sợ lắm, sai sứ sang bàn mưu với nước Sở và đưa người em là công tử Chương sang nước Sở đổi lấy công tử Khứ Tật về nước Trịnh để cùng cầm quyền chính trong nước, Sở Trang Vương nói: - Nếu nước Trịnh biết thủ tín thì chẳng cần gì phải giữ người làm tin. Sở Trang Vương nói xong, liền cho về tất cả, rồi họp các quan triều thần lại để thương nghị.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 55 Giắt dao lẻn vào dinh quân Sở Kết cỏ bắt được tướng nước Tần

Sở Trang Vương họp các quan triều thần lại để thương nghị việc chống nhau với Tấn. Công tử Trắc nói với Sở Trang Vương rằng: - Nước Tống xưa nay vẫn một lòng theo Tấn, nay ta đem quân đi đánh Tống thì Tấn tất phải sang cứu, khi nào còn dám tranh nước Trịnh của ta. Sở Trang Vương nói: - Nhà ngươi bàn dẫu phải nhưng ta chưa có cớ gì mà đánh Tống được. Tiên quân ta ngày xưa đánh Tống một trận ở sông Hoằng Thủy, vua Tống bị thương chết, thế mà nước Tống cũng chịu nhịn ta; đến khi ta hội chư hầu ở đất Quyết Lạc, vua Tống lại hết sức cung phụng nước ta. Sau Tống Chiêu công bị giết, công tử Bảo lên ngôi, nay đã mười tám năm rồi, ta muốn đánh Tống mà chưa tìm được cớ gì cả. Công tử Anh Tề nói: - Khó gì điều ấy! Vua Tề đã mấy lần triều sinh nước ta, mà ta chưa đáp lại, nay ta sai người sang sứ nước Tề, mượn đường đi qua Tống, nếu Tống không cho hay là vô lễ với sứ nước ta thì ta sẽ gây sự đem quân sang đánh. Sở Trang Vương nói: - Bây giờ nên sai ai đi sứ? Công tử Anh Tề nói: - Thân Vô Úy khi trước đã có theo tiên quân ta sang hội ở đất Quyết Lạc. Người ấy nên sai đi. Sở Trang Vương liền sai Thân Vô Úy đi sang sứ nước Tề. Thân Vô Úy tâu với Sở Trang Vương rằng: - Sang sứ nước Tề, tất phải đi qua nước Tống, xin đại vương cấp cho một đạo văn thư để mượn đường. Sở Trang Vương nói: - Nhà ngươi sợ nước Tống dám ngăn trở hay sao! Thân Vô Úy nói: - Khi trước tiên quân ta hội chư hầu ở Quyết Lạc, rồi cùng với các vua chư hầu đi săn ở Mạnh Chư, vua Tống trái lệnh, tôi bắt người thị vệ mà giết đi, bởi vậy nước Tống oán giận tôi lắm. Nay tôi qua nước Tống, nếu đại vương không cấp cho một đạo văn thư mượn đường thì nước Tống tất giết tôi. Sở Trang Vương nói: - Trong đạo văn thư sang nước Tề, ta đề tên là Thân Chu, không dùng cái tên cũ Thân Vô Úy nữa! Thân Vô Úy chưa chịu đi mà nói rằng: - Tên thì đổi được, nhưng mặt không thể đổi được. Sở Trang Vương nổi giận, nói: - Nếu nước Tống giết nhà ngươi thì ta quyết vì nhà ngươi báo thù, mà đem quân diệt nước Tống. Thân Vô Úy không dám từ chối nữa. Ngày hôm sau đưa người con là Thân Tê vào yết kiến Sở Trang Vương mà tâu rằng: - Tôi chết vì việc nước, xin đại vương trông nom con tôi. Sở Trang Vương nói: - Đó là việc của ta, nhà ngươi chớ lo ngại! Thân Chu (tức là Thân Vô Úy) từ giã rồi đi. Người con là Thân Tê tiễn ra đến ngoài cõi. Thân Chu dặn rằng: - Cha đi chuyến này, tất chết ở nước Tống, con nên tâu với đại vương để báo thù cho cha, con chớ quên lời cha dặn. Hai cha con cùng ứa nước mắt mà từ giã nhau. Thân Chu đi đến địa giới nước Tống. Quan trấn thủ ở nước Tống biết là sứ nước Sở, đòi xem văn thư. Thân Chu nói: - Ta phụng mệnh vua Sở, chỉ có đạo văn thư sang sứ nước Tề, chứ không có đạo văn thư mượn đường nước Tống. Quan trấn thủ giữ Thân Chu lại, rồi sai người phi báo Tống Văn công. Bấy giờ Hoa Nguyên đang cầm quyền chính nước Tống, tâu với Tống Văn công rằng: - Nước Sở là một nước cừu địch với ta, nay sai sứ qua nước ta mà không có văn thư mượn đường, thế là khinh ta quá lắm, xin chúa công bắt sứ nước Sở mà giết đi. Tống Văn công nói: - Ta giết sứ nước Sở thì nước Sở tất đem quân sang đánh ta, ta biết làm thế nào? Hoa Nguyên nói: - Chẳng thà bị quân Sở đem quân sang đánh, còn hơn là để cho nước Sở khinh ta; nước Sở đã khinh ta thì rồi thế nào cũng đem quân sang đánh ta. Đằng nào ta cũng bị quân Sở đánh, chi bằng ta hãy giết sứ Sở đi, để cho khỏi hổ thẹn. Hoa Nguyên sai người bắt Thân Chu giải về triều. Thân Chu vào đến trong triều, Hoa Nguyên trông thấy nhớ ngay là Thân Vô Úy, lại càng tức giận mà mắng rằng: - Ngày trước nhà ngươi dám giết thị vệ của tiên quân ta, nay đổi tên là Thân Chu để tránh cho khỏi chết hay sao! Thân Chu biết mình thế nào cũng chết, mới quát to lên mà mắng rằng: - Thằng Bảo (tên Tống Văn công) kia, mày thông gian tổ mẫu giết chết đích điệt, may mà thoát nạn, lại còn dám vô lễ với sứ thần nước lớn. Quân Sở ta kéo sang đây thì vua tôi mày xác tan ra như cám. Hoa Nguyên sai cắt lưỡi Thân Chu trước, rồi sau mới chém, lại đốt văn thư của nước Sở, đem tro ném ra ngoài cõi. Người theo hầu Thân Chu về báo với Sở Trang Vương. Sở Trang Vương đang ăn cơm, nghe tin Thân Chu bị giết, ném đũa xuống chiếu rồi đứng ngay dậy, sai quan tư mã là công tử Trắc sửa soạn binh mã để thân hành sang đánh Tống; lại cho Thân Tê (con Thân Chu) làm chức quân chính để theo đi đánh. Quân nước Sở vây kín thành Thư Dương (tức là kinh thành nước Tống), bốn mặt đánh gấp lắm. Hoa Nguyên cố sức chống giữ, lại sai quan đại phu là Nhạc Anh Tề lẻn sang cáo cấp với nước Tấn. Tấn Cảnh công toan đem quân đi cứu, mưu thần là Bá Tôn can rằng: - Tuân Lâm Phủ đem đại binh đi đánh quân Sở mà còn bị thua ở đất Bí Thành, ấy là lòng trời giúp cho nước Sở đó! Nay ta đi cứu Tống, vị tất đã nên việc. Tấn Cảnh công nói: - Hiện bây giờ chỉ có nước Tống là thân với ta, nếu ta không cứu thì bỏ mất nước Tống! Bá Tôn nói: - Nước Sở cách xa nước Tống hai nghìn dặm, lương thực khó vận lắm. Nay ta sai người sang nước Tống, nói là đại binh đã sắp tới nơi, khiến cho nước Tống cố sức mà chống giữ, chẳng qua chỉ vài tháng là quân Sở phải rút quân về, thế là ta không đánh Sở mà có cái công cứu được nước Tống. Tấn Cảnh công khen phải, hỏi các quan triều thần xem có ai dám sang sứ nước Tống. Quan đại phu là Giải Dương xin đi. Tấn Cảnh công nói: - Việc này trừ phi Tử Hổ (tên tự của Giải Dương) thì cũng khó lòng ai đương nổi! Giải Dương mặc đồ vi phục đi sang nước Tống, bị quân Sở bắt được, đem nộp Sở Trang Vương. Sở Trang Vương nhận biết là tướng nước Tấn tên gọi Giải Dương, mới hỏi Giải Dương rằng: - Nhà ngươi đến đây có việc gì? Giải Dương nói: - Tôi phụng mệnh chúa công tôi đến dụ nước Tống cứ cố sức chống giữ để đợi quân cứu viện. Sở Trang Vương nói: - Ngày trước nhà ngươi đã bị tướng nước ta là Vĩ Giả bắt được, ta không nỡ giết mà tha cho về, nay nhà ngươi lại chui đầu vào lưới thì còn nói gì nữa! Giải Dương nói: - Tấn và Sở vẫn là cừu địch với nhau thì tôi bị giết là phải lắm lại còn nói gì! Sở Trang Vương khám trong mình Giải Dương, bắt được đạo văn thư, liền mở ra xem, xem xong bảo rằng: - Kinh thành nước Tống chẳng qua chỉ nay mai thì phá vỡ mà thôi, bây giờ nhà ngươi nói trái lại những lời trong văn thư mà bảo nước Tống rằng: "Nước Tấn tôi ngày nay nhiều việc cần kíp, không thể nào sang cứu được, sợ để cho nước ngươi mong đợi thì lỡ cả công việc. Vậy chúa công tôi có sai tôi đến nói cho nước ngươi biết". Như thế thì người nước Tống không còn mong đợi gì nữa, tất phải ra hàng; nhân dân hai nước tránh khỏi được cái vạ chiến tranh khổ sở. Khi việc đã thành rồi, ta sẽ trọng thưởng nhà ngươi và cho làm quan ở nước Sở ta. Giải Dương cúi đầu nín lặng, không nói gì cả. Sở Trang Vương nói: - Nếu không nghe lời thì ta chém đầu đi! Giải Dương vốn không muốn nghe lời, nhưng sợ mình chết trong đám quân Sở thì không có ai đem lời vua Tấn mà truyền bảo cho nước Tống biết, mới giả cách xin vâng mệnh. Sở Trang Vương để Giải Dương đứng ở trên xe, bắt phải truyền bảo cho người nước Tống. Giải Dương liền gọi người nước Tống mà bảo rằng: - Ta là sứ nước Tấn, tên gọi Giải Dương, bị quân Sở bắt được, bảo ta dụ nước ngươi ra hàng, nhưng nước ngươi đừng có nghe, chúa công ta sắp sửa đem đại binh đến cứu. Sở Trang Vương nghe tiếng, liền sai lôi xuống mà mắng rằng: - Nhà ngươi đã nhận lời với ta mà lại bội ước là người thất tín, chớ trách ta tàn ác. Sở Trang Vương truyền cho võ sĩ đem Giải Dương ra chém. Giải Dương chẳng sợ hãi chút nào cả, thong dong mà đáp rằng: - Sao đại vương lại bảo là tôi thất tín! Nếu tôi theo lời đại vương thì lại thất tín với nước Tấn tôi lắm. Giả sử nước Sở có người bề tôi nào ăn lễ của nước khác mà trái lời đại vương thì đại vương cho là người biết thủ tín hay sao? Tôi xin chịu chết để tỏ ra rằng: Điều tín của nước Sở khác người nhiều lắm! Sở Trang Vương khen rằng: - Nhà ngươi thật là một người trung thần không sợ chết! Nói xong, liền tha cho về. Hoa Nguyên nước Tống nghe thấy Giải Dương nói là quân Tấn sắp sửa sang cứu, lại càng cố sức chống cự với quân Sở. Công tử Trắc (tướng nước Sở) sai quân sĩ làm một cái chòi cao ở phía ngoài thành nước Tống để ở. Từ đó nom vào trong thành mà xét xem tình hình nước Tống. Hoa Nguyên (tướng nước Tống) cũng làm một cái chòi ở phía trong thành để nom ra. Hai bên giữ nhau từ tháng chín năm trước đến tháng năm năm sau, trong thành nước Tống, lương thực hết sạch cả, nhiều người bị chết đói. Hoa Nguyên đem những lời trung nghĩa khuyên bảo kẻ dưới, bởi vậy người nước Tống đều một lòng vì nước mà cố giữ, dẫu khổ sở đến đâu cũng không ngã lòng. Sở Trang Vương không biết làm thế nào. Quân sĩ lại tâu với Sở Trang Vương rằng: - Lương thực trong dinh, chỉ còn bảy ngày nữa thì hết. Sở Trang Vương nói: - Ta không ngờ nước Tống mà khó đánh được như thế! Nói xong, liền đứng lên trên xe để xét xem tình hình quân sĩ nước Tống, thì thấy quân sĩ nước Tống rất nghiêm chỉnh. Sở Trang Vương thở dài, rồi triệu công tử Trắc để bàn việc quân về. Thân Tê (con Thân Vô Úy) sụp lạy Sở Trang Vương, khóc mà nói rằng: - Cha tôi liều chết để phụng mệnh đại vương, nay đại vương lại thất tín với cha tôi hay sao! Sở Trang Vương nét mặt có ý hổ thẹn. Thân Thúc Thời bấy giờ đang làm người dong xe cho Sở Trang Vương, mới hiến kế rằng: - Nước Tống không chịu hàng là vì biết chừng quân ta không ở lâu được, nếu ta truyền cho quân sĩ làm nhà ở, và cày ruộng để lấy thóc ăn, tỏ cho nước Tống biết là quân ta còn ở đây trường cửu thế thì nước Tống tất sợ mà phải đầu hàng. Sở Trang Vương khen phải, truyền cho quân sĩ đi đốn gỗ làm nhà ở xung quanh thành. Trong mười người thì để năm người vây thành, còn năm người cày ruộng, cứ mười ngày lại thay đổi nhau một lần. Hoa Nguyên nghe thấy tin ấy, nói với Tống Văn công rằng: - Quân Sở không có ý rút về mà quân Tấn cũng không thấy đến cứu, biết làm thế nào, âu là tôi lẻn vào dinh quân Sở để uy hiếp công tử Trắc, bắt phải cho giảng hòa thì họa chăng mới được việc. Tống Văn công nói: - Nước ta còn hay là mất, quan hệ ở việc này lắm, quan tướng quốc nên phải cẩn thận mới được! Hoa Nguyên dò biết là công tử Trắc vẫn ngủ ở trên chòi cao, lại dò biết hết cả họ tên những người thị vệ của Sở Trang Vương. Đêm hôm ấy thay hình đổi dạng, trèo qua thành xuống, đến dinh quân Sở. Gặp quân Sở đang đi tuần, Hoa Nguyên hỏi rằng: - Quan nguyên soái có ở trên chòi không? Quân Sở nói: - Có! Hoa Nguyên lại hỏi: - Ngài đã ngủ chưa? Quân Sở nói: - Mấy ngày hôm nay, ngài bận việc khó nhọc quá, hôm nay đại vương cho một chén rượu để uống. Ngài uống xong đã đi ngủ rồi! Hoa Nguyên vội vàng trèo thẳng lên trên chòi. Quân Sở ngăn lại. Hoa Nguyên nói: - Hôm nay đại vương có việc cơ mật, dặn bảo quan nguyên soái, mới rồi lại có cho quan nguyên soái uống rượu, vậy nên đại vương sợ quan nguyên soái say rượu mà ngủ quên đi mất, sai tôi đến đây để thương thuyết lại, rồi về nói ngay cho đại vương biết. Quân Sở tưởng là thực, để cho Hoa Nguyên trèo lên. Trên chòi đèn thắp còn sáng, công tử Trắc cởi áo, nằm ngủ đã say, Hoa Nguyên trèo ngay lên giường nằm, se sẽ lấy tay lay công tử Trắc. Công tử Trắc tỉnh dậy, bị Hoa Nguyên nắm lấy hai cánh tay Công tử Trắc vội vàng hỏi: - Ai thế này? Hoa Nguyên nói sẽ mà đáp rằng: - Quan nguyên soái chớ sợ! Tôi là Hoa Nguyên nước Tống đây! Phụng mệnh chúa công tôi lẻn sang đây để xin giảng hòa, quan nguyên soái nghe lời thì hai nước cùng nhau giao hiếu, nhược bằng không nghe thì cái số mệnh của tôi và quan nguyên soái cùng hết ở trong đêm hôm nay! Hoa Nguyên tay trái giữ công tử Trắc, tay phải rút một con dao nhọn ở trong mình ra. Trông dưới bóng đèn, thấy lưỡi dao sáng quắc. Công tử Trắc vội vàng đáp rằng: - Ta nên cùng nhau thương nghị, cớ sao lại dùng cách thô bỉ thế này! Hoa Nguyên rụt lưỡi dao lại xin lỗi rằng: - Quan nguyên soái chớ lấy làm lạ! Vì sự thế gấp quá, cho nên tôi phải làm như vậy. Công tử Trắc nói: - Tình hình nước Tống bây giờ thế nào? Hoa Nguyên nói: - Chẳng nói giấu gì quan nguyên soái, nước tôi lương thực hết cả, cùng khốn lắm rồi! Công tử Trắc giật mình mà nói rằng: - Tình hình nước Tống đã đến nỗi cùng khốn quá như vậy à! Cớ sao nhà ngươi lại chịu đem thực tình mà bảo ta? Hoa Nguyên nói: - Người quân tử thấy người ta cùng khốn thì có lòng thương, tôi chắc quan nguyên soái là quân tử, vậy nên không dám giấu. Công tử Trắc nói: - Thế thì vì cớ gì mà không chịu đầu hàng? Hoa Nguyên nói: - Tình hình nước tôi dẫu cùng khốn, nhưng chí khí dân nước tôi vẫn còn hăng hái, vậy nên vua tôi cố sức chống giữ, thà rằng cùng chết với nhau, còn hơn chịu nhục mà đầu hàng quý quốc, ăn thề ở dưới chân thành. Nếu quan nguyên soái có lòng quân tử rút quân ra ngoài ba mươi dặm thì chúa công tôi xin một lòng thần phục quý quốc, không bao giờ dám trái lời. Công tử Trắc nói: - Ta cũng chẳng nói giấu gì nhà ngươi, dinh quân Sở ta cũng chỉ còn có lương ăn trong bảy ngày, nếu quá bảy ngày nước ngươi không đầu hàng thì cũng phải rút quân về. Mới rồi, sai quân sĩ làm nhà ở và cày ruộng, là lập kế để khiến cho nước ngươi sợ đó mà thôi. Sáng mai ta tâu với vua Sở lui quân ba mươi dặm, vua tôi nhà ngươi chớ có thất tín. Hoa Nguyên nói: - Tôi xin cùng với quan nguyên soái ăn thề, hai bên đều không sai lời nhau! Công tử Trắc cùng Hoa Nguyên ăn thề xong, lại giao kết với nhau làm anh em. Công tử Trắc đem một lá cờ lệnh tiễn đưa cho Hoa Nguyên, dặn phải đi mau. Hoa Nguyên có lá cờ lệnh tiễn ấy, công nhiên đi thẳng, lại trèo qua vào trong thành nước Tống, đem lời công tử Trắc tâu với Tống Văn công. Sáng hôm sau, công tử Trắc cũng đem lời Hoa Nguyên thuật lại cho Sở Trang Vương nghe, và tâu với Sở Trang Vương rằng: - Suýt nữa thì mạng tôi chết về lưỡi dao của Hoa Nguyên đêm hôm qua rồi, may mà Hoa Nguyên có lòng từ đem tình hình trong nước bảo thực với tôi và xin tôi rút quân; tôi đã nhận lời rồi, đại vương nên rộng lượng mà khoan dung cho nước Tống. Sở Trang Vương nói: - Nước Tống cùng khốn như thế, ta nên cố đánh cho kỳ được. Công tử Trắc sụp lạy mà tâu rằng: - Quân ta chỉ còn có lương ăn trong bảy ngày, tôi đã trót bảo thực với Hoa Nguyên rồi. Sở Trang Vương nổi giận mà nói rằng: - Sao nhà ngươi lại nói thực với quân giặc? Công tử Trắc nói: - Một nước Tống nhỏ mọn như vậy, còn có người bề tôi không chịu nói dối, huống chi là đường đường nước Sở ta mà lại không có hay sao! Bởi vậy tôi cũng nói thực. Sở Trang Vương nguôi cơn giận mà bảo rằng: - Quan tư mã nói phải lắm! Sở Trang Vương hạ lệnh rút quân, ra đóng ở ngoài ba mươi dặm. Thân Tê thấy Sở Trang Vương đã hạ lệnh rút quân về, không dám ngăn trở, nhưng vật mình ôm bụng mà kêu khóc. Sở Trang Vương sai người khuyên bảo Thân Tê rằng: - Nhà ngươi chớ phiền! Thế nào ta cũng làm cho tỏ được lòng hiếu của nhà ngươi! Hoa Nguyên phụng mệnh Tống Văn công đến dinh quân Sở để xin làm tờ giao ước. Công tử Trắc theo Hoa Nguyên vào thành nước Tống, cùng với Tống Văn công ăn thề. Tống Văn công sai Hoa Nguyên đưa linh cữu Thân Chu sang trả quân Sở, và xin theo sang ở lại nước Sở để làm tin. Sở Trang Vương rút về nước Sở, làm lễ an táng cho Thân Chu rất trọng thể! Các quan triều thần đều phải đi đưa tất cả. Sở Trang Vương lại cho Thân Tê được nối chức cha làm quan đại phu. Hoa Nguyên ở nước Sở, nhân có công tử Trắc, lại kết giao với công tử Anh Tề. Một hôm hai người ngồi chơi với nhau, bàn đến thời sự, công tử Anh Tề thở dài mà than rằng: - Nay Tấn và Sở, hai bên chống nhau, chiến tranh luôn mãi, biết bao giờ cho thiên hạ được thái bình! Hoa Nguyên nói; - Cứ như ý tôi nghĩ thì Tấn và Sở không bên nào chịu thua, nếu được một người đứng lên nói cho hai bên giảng hòa với nhau. Các nước phụ thuộc của bên nào thì triều cống về bên ấy, rồi cùng nhau yên nghỉ, khiến cho nhân dân tránh khỏi những sự lầm than khổ sở, chẳng cũng may cho đời lắm ru! Công tử Anh Tề nói: - Việc ấy, nhà ngươi có làm nổi hay không? Hoa Nguyên nói: - Tôi có quen một người tướng nước Tấn là Loan Thư, năm trước tôi sang sứ nước Tấn, Loan Thư cũng có nói đến việc ấy, tiếc rằng không có ai ở giữa mà liên hợp hai nước với nhau được. Ngày hôm sau, công tử Anh Tề đem lời Hoa Nguyên nói với công tử Trắc. Công tử Trắc nói: - Hai nước còn chưa chán sự tranh chiến, việc ấy đã bàn đến thế nào được. Sau Hoa Nguyên ở Sở được sáu năm thì Tống Văn công (Bảo) chết, con là Tống Cung công (Cố) lên nối ngôi. Hoa Nguyên mới về nước Tống để chịu tang. Tấn Cảnh công nghe tin quân Sở vây Tống đã hơn một năm, mới bảo Bá Tôn rằng: - Nước Tống cố giữ được như vậy, cũng đã mỏi mệt lắm rồi; ta chớ nên thất tín, phải đem quân đi cứu mới được. Tấn Cảnh công toan đem quân đi cứu Tống, bỗng nghe báo có sứ nước Lộ đưa mật thư đến. Nguyên xưa nước Lộ tức là một giống Xích Địch, ở tiếp giáp với nước Lê, đến đời Chu Bình Vương, vua nước Lộ đuổi vua nước Lê mà chiếm lấy đất, từ đó nước Lộ mỗi ngày một cường thịnh. Bấy giờ vua nước Lộ tên gọi Anh Nhi, lấy người chị Tấn Cảnh công là Bá Cơ làm phu nhân. Anh Nhi hèn yếu, quan tướng quốc là Phong Thư chuyên quyền; khi trước có Hồ Xạ Cô là công thần nước Tấn trốn sang ở nước Lộ, Phong Thư còn e sợ, không dám càn rỡ lắm, từ lúc Hồ Xạ Cô chết rồi, Phong Thư không còn e sợ ai cả, muốn cho vua Lộ tuyệt giao với Tấn, liền vu tội cho Bá Cơ, bảo vua nước Lộ giết đi. Một hôm, Phong Thư cùng với vua nước Lộ (tức là Anh Nhi) đi săn ở ngoài cõi, nhân khi uống rượu say, thi nhau bắn chim. Phong Thư bắn ngay vào mắt vua nước Lộ, rồi ném cái cung xuống đất, cười mà nói rằng: - Bắn không trúng, nên phạt một chén rượu. Vua nước Lộ không thể nhịn được, mà muốn trị tội thì sức không nổi, mới làm tờ mật thư đưa sang nước Tấn, xin nước Tấn đem quân sang mà hỏi tội Phong Thư cho. Bá Tôn nói với Tấn Cảnh công rằng: - Nay ta giết Phong Thư, chiếm lấy đất nước Lộ và cả mấy nước xung quanh nữa thì phía Tây Nam nước Tấn ta mỗi ngày một mở rộng. Cái cơ hội ấy chớ nên bỏ hoài! Tấn Cảnh công cũng giận vua nước Lộ về việc giết vợ là Bá Cơ (chị Tấn Cảnh công), mới sai Tuân Lâm Phủ làm đại tướng, Ngụy Khỏa (con Ngụy Thù) làm phó tướng, đem quân đi đánh nước Lộ. Phong Thư đêm quân ra đất Khúc Lương để chống cự với quân Tấn, bị quân Tấn đánh thua, bỏ chạy sang nước Vệ, Vệ Mục công (Tốc) đang cùng với nước Tấn giao hiếu, liền bắt Phong Thư đưa sang nộp quân Tấn. Tuân Lâm Phủ sai giải Phong Thư về Giáng Đô (kinh thành nước Tấn) để trị tội mà giết đi. Quân Tấn kéo thẳng vào kinh thành nước Lộ. Vua nước Lộ là Anh Nhi ra đón. Tuân Lâm Phủ kể tội Anh Nhi giết oan Bá Cơ rồi bắt đem về nước Tấn, lại giả cách nói: Dân nước Lê có lòng nhớ mến vua cũ, liền tìm con cháu vua nước Lê, đắp thành cho ở một chỗ, mượn tiếng là khôi phục cho nước Lê, nhưng kỳ thực lập kế để diệt nước Lộ. Vua nước Lộ là Anh Nhi nghĩ đến nước mà thương xót, rồi tự vẫn chết. Người nước Lộ lập đền thờ. Tấn Cảnh công sợ Tuân Lâm Phủ chưa đánh được nước Lộ, mới đem đại binh đóng ở Tắc Sơn để tiếp ứng. Khi Tuân Lâm Phủ đánh được nước Lộ rồi, đến Tắc Sơn báo tin thắng trận, mới lưu quan phó tướng là Ngụy Khỏa ở lại nước Lộ, để giữ lấy nước ấy. Bỗng có một toán quân kéo đến nước Lộ, hỏi ra mới biết là đại tướng nước Tần tên gọi Đỗ Hồi. Nguyên từ khi Tần Khang công chết, con là Tần Cung công (Đạo) lên nối ngôi, nhân việc Triệu Xuyên sang đánh Sùng là một nước phụ thuộc của Tần, bởi vậy Tần mới kết giao với Phong Thư để chống nhau với Tấn. Được bốn năm thì Tần Cung công chết, con là Tần Hoàn công (Vinh) lên nối ngôi. Bấy giờ đang là năm thứ mười một đời Tần Hoàn công, nghe tin nước Tấn sang đánh Phong Thư, toan đem quân đến cứu, lại nghe tin nước Tấn đã giết Phong Thư, bắt vua nước Lộ, mới sai Đỗ Hồi đem quân sang để tranh lấy địa giới nước Lộ. Đỗ Hồi vốn là một người lực sĩ đã có danh tiếng ở nước Tần, hàm răng nhọn hoắt, khóe mắt tròn xoe, tay cứng như đồng, mặt đen tựa sắt, râu xồm tóc quăn, mình cao hơn trượng, lại có sức khỏe, vẫn thường cầm một cái khai sơn đại phủ, nặng một trăm hai mươi cân, nguyên cũng là một giống Bạch Địch. Khi trước đã có một lần ở Thanh My Sơn Đỗ Hồi đâm chết luôn năm con hổ, rồi lột da đem về, Tần Hoàn công nghe nói là người vũ dũng, cho làm xa hữu tướng quân; lại một lần nữa. Đỗ Hồi đem ba trăm người phá vỡ được hơn một vạn quân giặc ở Xa Nga Sơn bởi vậy uy danh mỗi ngày một lừng lẫy, làm đến đại tướng. Ngụy Khỏa thấy Đỗ Hồi đem quân đến, tức khắc bày trận để đợi giao chiến. Đỗ Hồi cầm cái khai sơn đại phủ, đem ba trăm quân xông đến tận nơi, chém giết quân Tấn, khác nào như một vị thiên thần giáng hạ. Quân Tấn sợ hãi, không thể nào địch nổi. Ngụy Khỏa nhất định không ra, bỗng nghe báo có tướng nước Tấn là Ngụy Kỳ (em Ngụy Khỏa) đem quân đến tiếp ứng. Ngụy Kỳ nói với Ngụy Khỏa rằng: - Chúa công sợ đảng Xích Địch kết liên với nước Tần mà sinh biến vậy có sai tôi đến để tiếp ứng. Ngụy Khỏa thuật chuyện những sự vũ dũng của tướng nước Tần là Đỗ Hồi, không ai địch nổi. Ngụy Kỳ không tin mà nói rằng: - Làm gì đám giặc cỏ ấy! Ngày mai tôi ra trận, thế nào cũng quyết đánh tan được. Ngày hôm sau, Đỗ Hồi lại đến khiêu chiến. Ngụy Kỳ tức giận toan xông ra đánh. Ngụy Khỏa cố ý ngăn lại. Ngụy Kỳ không nghe, đem quân ra giao chiến với Đỗ Hồi. Đỗ Hồi lại múa cái khai sơn đại phủ, tả xung hữu đột, chém giết quân Tấn, Ngụy Kỳ thua to, may nhờ có Ngụy Khỏa đem quân ra tiếp ứng, mới về được trong trại. Đêm hôm ấy, Ngụy Khỏa đang ngồi ở trong trại, nghĩ quanh nghĩ quẩn, không biết dùng mưu kế gì, đang mơ mơ màng màng, bỗng nghe tiếng người ghé tai và đọc ba chữ: "Thanh Thảo Bi"; đến lúc tỉnh dậy, không hiểu là nghĩa làm sao mà chợp mắt ngủ đi thì lại thấy như trước, mới nói chuyện với Ngụy Kỳ. Ngụy Kỳ nói: - Cách đây độ mười dặm, có một cái bãi cỏ, tên gọi "Thanh Thảo Bi", hoặc là quân Tần sau này tất phải thua trận ở đấy, vậy tôi xin đem một toán quân đến mai phục sẵn, rồi anh lập kế dụ quân giặc đến, hai bên cùng đánh thì mới phá vỡ được. Ngụy Kỳ liền đem quân đến mai phục sẵn ở Thanh Thảo Bi. Ngụy Khỏa giả cách truyền lệnh rút quân trở về Lê Thành, quả nhiên Đỗ Hồi đem quân đuổi theo. Ngụy Khỏa giao chiến qua loa mấy hiệp rồi giả cách thua chạy, dụ Đỗ Hồi đến gần Thanh Thảo Bi. Quân mai phục của Ngụy Kỳ ở hai bên đổ ra, cùng với quân Ngụy Khỏa vây chặt lấy Đỗ Hồi. Đỗ Hồi chẳng sợ hãi chút nào cả, vẫn cầm cái khai sơn đại phủ, tả xung hữu đột; dần dần lui về phía Thanh Thảo Bi, bỗng thấy Đỗ Hồi mỗi bước lại ngã một cái, khác nào như người trượt chỗ nước băng. Quân Tấn thấy vậy reo rầm cả lên. Ngụy Khỏa ngẩng trông thấy một ông lão già, mình mặc áo vải, chân đi giầy đay, đang kết những dây cỏ lại, để làm cho vướng chân Đỗ Hồi. Ngụy Khỏa và Ngụy Kỳ đi đến nơi, bắt sống được Đỗ Hồi. Quân Đỗ Hồi thấy chủ tướng bị bắt, đều bỏ chạy tán loạn cả, bị quân Tấn đuổi bắt, trong ba trăm người chỉ trốn thoát được bốn, năm chục người mà thôi. Ngụy Khỏa hỏi Đỗ Hồi rằng: - Mày cậy có sức khỏe, cớ sao cũng bị bắt? Đỗ Hồi nói: - Không biết hai chân ta vướng phải vật gì mà khó cử động quá, đó là lòng trời hại ta, chứ không phải là sức ta không đánh nổi. Ngụy Khỏa nghĩ lấy làm lạ. Ngụy Kỳ bàn với Ngụy Khỏa rằng: - Đỗ Hồi đã có sức khỏe, nếu ta để sống thì e lại sinh biến. Ngụy Khỏa nói: - Ý ta cũng nghĩ như vậy! Nói xong, truyền chém Đỗ Hồi, rồi đem đầu về Tắc Sơn nộp Tấn Cảnh công để lấy công. Đêm hôm ấy, Ngụy Kỳ nằm ngủ, lại thấy ông lão già ngày hôm trước đến trước mặt vái chào mà nói rằng: - Tướng quân có biết vì cớ gì mà Đỗ Hồi bị bắt hay không. Vì tôi kết cỏ lại để làm cho vướng chân mà ngã đó. Ngụy Khỏa kính sợ, nói rằng: - Tôi chưa được biết cụ bao giờ, sao cụ lại giúp tôi như vậy, tôi biết lấy gì mà trả ơn cụ! Ông lão già nói: - Tôi là thân phụ nàng Tổ Cơ. Tướng quân biết theo lời trị mệnh của tiền nhân mà gả chồng cho con gái tôi, vậy tôi cảm cái ơn ấy, đến đây để giúp tướng quân, sau này con cháu tướng quân còn được đời đời vinh hiển mãi. Nguyên xưa thân phụ Ngụy Khỏa là Ngụy Thù có một người thiếp yêu tên gọi Tổ Cơ. Mỗi khi Ngụy Thù đi đánh giặc lại dặn Ngụy Khỏa rằng: - Nếu ta ra trận mà chết đi, mày nên gả Tổ Cơ cho một người nào tử tế, khiến Tổ Cơ có chỗ mà nương tựa, chớ để cho hắn phải khổ sở thì ta dẫu chết cũng được yên lòng! Đến lúc Ngụy Thù ốm nặng, lại dặn Ngụy Khỏa rằng: - Tổ Cơ là người thiếp yêu của ta, khi ta chết rồi, mày phải đem nàng ấy mà chôn theo ta, khiến cho ta ở dưới suối vàng có người làm bạn. Nói xong thì chết. Ngụy Khỏa an táng cho cha, không bắt Tổ Cơ phải chôn theo. Ngụy Kỳ nói: - Anh không nhớ lời dặn lúc cha gần mất hay sao? Ngụy Khỏa nói: - Thân phụ ta lúc thường vẫn dặn ta sau này gả chồng cho Tổ Cơ, đến lúc gần mất, lại dặn phải đem chôn theo, đó là lời dặn lúc mơ hoảng mà thôi; bởi vậy người hiếu tử nên theo trị mệnh, chớ theo loạn mệnh. Sau Ngụy Khỏa gả Tổ Cơ cho một người học trò. Vì Ngụy Khỏa có cái âm đức ấy, vậy nên linh hồn thân phụ Tổ Cơ mới hiện lên kết cỏ để báo ơn. Ngụy Khỏa thuật chuyện chiêm bao cho Ngụy Kỳ nghe. Ngụy Kỳ lấy làm chuyện lạ lùng. Vua tôi nước Tần nghe tin Đỗ Hồi thua trận, đều sợ hãi mất vía. Tấn Cảnh công thưởng công Ngụy Khỏa, phong cho đất Linh Hồ, lại đúc một quả chuông để kỷ niệm công thắng trận. Sau người Tấn lấy cớ quả chuông ấy tự Tấn Cảnh công đúc nên, bởi vậy mới gọi quả chuông là "Cảnh chung". Tấn Cảnh công lại sai Sĩ Hội đem quân đi diệt nước Điền Thị, nước Lưu Vu và nước phụ thuộc của Lưu Vu là nước Đạc Thần. Mấy nước ấy đều là giống Xích Địch, từ đó địa giới các giống Xích Địch thuộc về nước Tấn tất cả. Bấy giờ nước Tấn mất mùa, kẻ trộm nhiều lắm, Tuân Lâm Phủ dùng được một người có tài khéo dò xét để tìm bắt quân kẻ trộm, người ấy tên gọi là Khước Ung. Khước Ung thường ra chơi chợ, bỗng trỏ vào một người bảo là kẻ trộm, bắt đem về tra hỏi, quả nhiên là kẻ trộm thật. Tuân Lâm Phủ hỏi Khước Ung rằng: - Tại sao ngươi lại biết được như vậy? Khước Ung nói: - Tôi trông con mắt người ấy: Nom thấy những hàng hóa ở chợ thì có ý tham, nom thấy những người ở chợ thì có ý thẹn, sau nom thấy tôi đi tới nơi thì có ý sợ, bởi thế mà tôi biết là kẻ trộm. Khước Ung mỗi ngày bắt được mấy chục đứa kẻ trộm, mà kẻ trộm càng ngày càng nhiều. Quan Đại phu là Dương Thạch Chức nói với Tuân Lâm Phủ rằng: - Quan nguyên soái dùng Khước Ung để bắt trộm, nhưng tôi e rằng kẻ trộm chưa bắt hết mà Khước Ung chết đến nơi! Tuân Lâm Phủ giật mình kinh sợ mà hỏi rằng: - Tại làm sao thế?

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 55 Giắt dao lẻn vào dinh quân Sở Kết cỏ bắt được tướng nước Tần

Sở Trang Vương họp các quan triều thần lại để thương nghị việc chống nhau với Tấn. Công tử Trắc nói với Sở Trang Vương rằng: - Nước Tống xưa nay vẫn một lòng theo Tấn, nay ta đem quân đi đánh Tống thì Tấn tất phải sang cứu, khi nào còn dám tranh nước Trịnh của ta. Sở Trang Vương nói: - Nhà ngươi bàn dẫu phải nhưng ta chưa có cớ gì mà đánh Tống được. Tiên quân ta ngày xưa đánh Tống một trận ở sông Hoằng Thủy, vua Tống bị thương chết, thế mà nước Tống cũng chịu nhịn ta; đến khi ta hội chư hầu ở đất Quyết Lạc, vua Tống lại hết sức cung phụng nước ta. Sau Tống Chiêu công bị giết, công tử Bảo lên ngôi, nay đã mười tám năm rồi, ta muốn đánh Tống mà chưa tìm được cớ gì cả. Công tử Anh Tề nói: - Khó gì điều ấy! Vua Tề đã mấy lần triều sinh nước ta, mà ta chưa đáp lại, nay ta sai người sang sứ nước Tề, mượn đường đi qua Tống, nếu Tống không cho hay là vô lễ với sứ nước ta thì ta sẽ gây sự đem quân sang đánh. Sở Trang Vương nói: - Bây giờ nên sai ai đi sứ? Công tử Anh Tề nói: - Thân Vô Úy khi trước đã có theo tiên quân ta sang hội ở đất Quyết Lạc. Người ấy nên sai đi. Sở Trang Vương liền sai Thân Vô Úy đi sang sứ nước Tề. Thân Vô Úy tâu với Sở Trang Vương rằng: - Sang sứ nước Tề, tất phải đi qua nước Tống, xin đại vương cấp cho một đạo văn thư để mượn đường. Sở Trang Vương nói: - Nhà ngươi sợ nước Tống dám ngăn trở hay sao! Thân Vô Úy nói: - Khi trước tiên quân ta hội chư hầu ở Quyết Lạc, rồi cùng với các vua chư hầu đi săn ở Mạnh Chư, vua Tống trái lệnh, tôi bắt người thị vệ mà giết đi, bởi vậy nước Tống oán giận tôi lắm. Nay tôi qua nước Tống, nếu đại vương không cấp cho một đạo văn thư mượn đường thì nước Tống tất giết tôi. Sở Trang Vương nói: - Trong đạo văn thư sang nước Tề, ta đề tên là Thân Chu, không dùng cái tên cũ Thân Vô Úy nữa! Thân Vô Úy chưa chịu đi mà nói rằng: - Tên thì đổi được, nhưng mặt không thể đổi được. Sở Trang Vương nổi giận, nói: - Nếu nước Tống giết nhà ngươi thì ta quyết vì nhà ngươi báo thù, mà đem quân diệt nước Tống. Thân Vô Úy không dám từ chối nữa. Ngày hôm sau đưa người con là Thân Tê vào yết kiến Sở Trang Vương mà tâu rằng: - Tôi chết vì việc nước, xin đại vương trông nom con tôi. Sở Trang Vương nói: - Đó là việc của ta, nhà ngươi chớ lo ngại! Thân Chu (tức là Thân Vô Úy) từ giã rồi đi. Người con là Thân Tê tiễn ra đến ngoài cõi. Thân Chu dặn rằng: - Cha đi chuyến này, tất chết ở nước Tống, con nên tâu với đại vương để báo thù cho cha, con chớ quên lời cha dặn. Hai cha con cùng ứa nước mắt mà từ giã nhau. Thân Chu đi đến địa giới nước Tống. Quan trấn thủ ở nước Tống biết là sứ nước Sở, đòi xem văn thư. Thân Chu nói: - Ta phụng mệnh vua Sở, chỉ có đạo văn thư sang sứ nước Tề, chứ không có đạo văn thư mượn đường nước Tống. Quan trấn thủ giữ Thân Chu lại, rồi sai người phi báo Tống Văn công. Bấy giờ Hoa Nguyên đang cầm quyền chính nước Tống, tâu với Tống Văn công rằng: - Nước Sở là một nước cừu địch với ta, nay sai sứ qua nước ta mà không có văn thư mượn đường, thế là khinh ta quá lắm, xin chúa công bắt sứ nước Sở mà giết đi. Tống Văn công nói: - Ta giết sứ nước Sở thì nước Sở tất đem quân sang đánh ta, ta biết làm thế nào? Hoa Nguyên nói: - Chẳng thà bị quân Sở đem quân sang đánh, còn hơn là để cho nước Sở khinh ta; nước Sở đã khinh ta thì rồi thế nào cũng đem quân sang đánh ta. Đằng nào ta cũng bị quân Sở đánh, chi bằng ta hãy giết sứ Sở đi, để cho khỏi hổ thẹn. Hoa Nguyên sai người bắt Thân Chu giải về triều. Thân Chu vào đến trong triều, Hoa Nguyên trông thấy nhớ ngay là Thân Vô Úy, lại càng tức giận mà mắng rằng: - Ngày trước nhà ngươi dám giết thị vệ của tiên quân ta, nay đổi tên là Thân Chu để tránh cho khỏi chết hay sao! Thân Chu biết mình thế nào cũng chết, mới quát to lên mà mắng rằng: - Thằng Bảo (tên Tống Văn công) kia, mày thông gian tổ mẫu giết chết đích điệt, may mà thoát nạn, lại còn dám vô lễ với sứ thần nước lớn. Quân Sở ta kéo sang đây thì vua tôi mày xác tan ra như cám. Hoa Nguyên sai cắt lưỡi Thân Chu trước, rồi sau mới chém, lại đốt văn thư của nước Sở, đem tro ném ra ngoài cõi. Người theo hầu Thân Chu về báo với Sở Trang Vương. Sở Trang Vương đang ăn cơm, nghe tin Thân Chu bị giết, ném đũa xuống chiếu rồi đứng ngay dậy, sai quan tư mã là công tử Trắc sửa soạn binh mã để thân hành sang đánh Tống; lại cho Thân Tê (con Thân Chu) làm chức quân chính để theo đi đánh. Quân nước Sở vây kín thành Thư Dương (tức là kinh thành nước Tống), bốn mặt đánh gấp lắm. Hoa Nguyên cố sức chống giữ, lại sai quan đại phu là Nhạc Anh Tề lẻn sang cáo cấp với nước Tấn. Tấn Cảnh công toan đem quân đi cứu, mưu thần là Bá Tôn can rằng: - Tuân Lâm Phủ đem đại binh đi đánh quân Sở mà còn bị thua ở đất Bí Thành, ấy là lòng trời giúp cho nước Sở đó! Nay ta đi cứu Tống, vị tất đã nên việc. Tấn Cảnh công nói: - Hiện bây giờ chỉ có nước Tống là thân với ta, nếu ta không cứu thì bỏ mất nước Tống! Bá Tôn nói: - Nước Sở cách xa nước Tống hai nghìn dặm, lương thực khó vận lắm. Nay ta sai người sang nước Tống, nói là đại binh đã sắp tới nơi, khiến cho nước Tống cố sức mà chống giữ, chẳng qua chỉ vài tháng là quân Sở phải rút quân về, thế là ta không đánh Sở mà có cái công cứu được nước Tống. Tấn Cảnh công khen phải, hỏi các quan triều thần xem có ai dám sang sứ nước Tống. Quan đại phu là Giải Dương xin đi. Tấn Cảnh công nói: - Việc này trừ phi Tử Hổ (tên tự của Giải Dương) thì cũng khó lòng ai đương nổi! Giải Dương mặc đồ vi phục đi sang nước Tống, bị quân Sở bắt được, đem nộp Sở Trang Vương. Sở Trang Vương nhận biết là tướng nước Tấn tên gọi Giải Dương, mới hỏi Giải Dương rằng: - Nhà ngươi đến đây có việc gì? Giải Dương nói: - Tôi phụng mệnh chúa công tôi đến dụ nước Tống cứ cố sức chống giữ để đợi quân cứu viện. Sở Trang Vương nói: - Ngày trước nhà ngươi đã bị tướng nước ta là Vĩ Giả bắt được, ta không nỡ giết mà tha cho về, nay nhà ngươi lại chui đầu vào lưới thì còn nói gì nữa! Giải Dương nói: - Tấn và Sở vẫn là cừu địch với nhau thì tôi bị giết là phải lắm lại còn nói gì! Sở Trang Vương khám trong mình Giải Dương, bắt được đạo văn thư, liền mở ra xem, xem xong bảo rằng: - Kinh thành nước Tống chẳng qua chỉ nay mai thì phá vỡ mà thôi, bây giờ nhà ngươi nói trái lại những lời trong văn thư mà bảo nước Tống rằng: "Nước Tấn tôi ngày nay nhiều việc cần kíp, không thể nào sang cứu được, sợ để cho nước ngươi mong đợi thì lỡ cả công việc. Vậy chúa công tôi có sai tôi đến nói cho nước ngươi biết". Như thế thì người nước Tống không còn mong đợi gì nữa, tất phải ra hàng; nhân dân hai nước tránh khỏi được cái vạ chiến tranh khổ sở. Khi việc đã thành rồi, ta sẽ trọng thưởng nhà ngươi và cho làm quan ở nước Sở ta. Giải Dương cúi đầu nín lặng, không nói gì cả. Sở Trang Vương nói: - Nếu không nghe lời thì ta chém đầu đi! Giải Dương vốn không muốn nghe lời, nhưng sợ mình chết trong đám quân Sở thì không có ai đem lời vua Tấn mà truyền bảo cho nước Tống biết, mới giả cách xin vâng mệnh. Sở Trang Vương để Giải Dương đứng ở trên xe, bắt phải truyền bảo cho người nước Tống. Giải Dương liền gọi người nước Tống mà bảo rằng: - Ta là sứ nước Tấn, tên gọi Giải Dương, bị quân Sở bắt được, bảo ta dụ nước ngươi ra hàng, nhưng nước ngươi đừng có nghe, chúa công ta sắp sửa đem đại binh đến cứu. Sở Trang Vương nghe tiếng, liền sai lôi xuống mà mắng rằng: - Nhà ngươi đã nhận lời với ta mà lại bội ước là người thất tín, chớ trách ta tàn ác. Sở Trang Vương truyền cho võ sĩ đem Giải Dương ra chém. Giải Dương chẳng sợ hãi chút nào cả, thong dong mà đáp rằng: - Sao đại vương lại bảo là tôi thất tín! Nếu tôi theo lời đại vương thì lại thất tín với nước Tấn tôi lắm. Giả sử nước Sở có người bề tôi nào ăn lễ của nước khác mà trái lời đại vương thì đại vương cho là người biết thủ tín hay sao? Tôi xin chịu chết để tỏ ra rằng: Điều tín của nước Sở khác người nhiều lắm! Sở Trang Vương khen rằng: - Nhà ngươi thật là một người trung thần không sợ chết! Nói xong, liền tha cho về. Hoa Nguyên nước Tống nghe thấy Giải Dương nói là quân Tấn sắp sửa sang cứu, lại càng cố sức chống cự với quân Sở. Công tử Trắc (tướng nước Sở) sai quân sĩ làm một cái chòi cao ở phía ngoài thành nước Tống để ở. Từ đó nom vào trong thành mà xét xem tình hình nước Tống. Hoa Nguyên (tướng nước Tống) cũng làm một cái chòi ở phía trong thành để nom ra. Hai bên giữ nhau từ tháng chín năm trước đến tháng năm năm sau, trong thành nước Tống, lương thực hết sạch cả, nhiều người bị chết đói. Hoa Nguyên đem những lời trung nghĩa khuyên bảo kẻ dưới, bởi vậy người nước Tống đều một lòng vì nước mà cố giữ, dẫu khổ sở đến đâu cũng không ngã lòng. Sở Trang Vương không biết làm thế nào. Quân sĩ lại tâu với Sở Trang Vương rằng: - Lương thực trong dinh, chỉ còn bảy ngày nữa thì hết. Sở Trang Vương nói: - Ta không ngờ nước Tống mà khó đánh được như thế! Nói xong, liền đứng lên trên xe để xét xem tình hình quân sĩ nước Tống, thì thấy quân sĩ nước Tống rất nghiêm chỉnh. Sở Trang Vương thở dài, rồi triệu công tử Trắc để bàn việc quân về. Thân Tê (con Thân Vô Úy) sụp lạy Sở Trang Vương, khóc mà nói rằng: - Cha tôi liều chết để phụng mệnh đại vương, nay đại vương lại thất tín với cha tôi hay sao! Sở Trang Vương nét mặt có ý hổ thẹn. Thân Thúc Thời bấy giờ đang làm người dong xe cho Sở Trang Vương, mới hiến kế rằng: - Nước Tống không chịu hàng là vì biết chừng quân ta không ở lâu được, nếu ta truyền cho quân sĩ làm nhà ở, và cày ruộng để lấy thóc ăn, tỏ cho nước Tống biết là quân ta còn ở đây trường cửu thế thì nước Tống tất sợ mà phải đầu hàng. Sở Trang Vương khen phải, truyền cho quân sĩ đi đốn gỗ làm nhà ở xung quanh thành. Trong mười người thì để năm người vây thành, còn năm người cày ruộng, cứ mười ngày lại thay đổi nhau một lần. Hoa Nguyên nghe thấy tin ấy, nói với Tống Văn công rằng: - Quân Sở không có ý rút về mà quân Tấn cũng không thấy đến cứu, biết làm thế nào, âu là tôi lẻn vào dinh quân Sở để uy hiếp công tử Trắc, bắt phải cho giảng hòa thì họa chăng mới được việc. Tống Văn công nói: - Nước ta còn hay là mất, quan hệ ở việc này lắm, quan tướng quốc nên phải cẩn thận mới được! Hoa Nguyên dò biết là công tử Trắc vẫn ngủ ở trên chòi cao, lại dò biết hết cả họ tên những người thị vệ của Sở Trang Vương. Đêm hôm ấy thay hình đổi dạng, trèo qua thành xuống, đến dinh quân Sở. Gặp quân Sở đang đi tuần, Hoa Nguyên hỏi rằng: - Quan nguyên soái có ở trên chòi không? Quân Sở nói: - Có! Hoa Nguyên lại hỏi: - Ngài đã ngủ chưa? Quân Sở nói: - Mấy ngày hôm nay, ngài bận việc khó nhọc quá, hôm nay đại vương cho một chén rượu để uống. Ngài uống xong đã đi ngủ rồi! Hoa Nguyên vội vàng trèo thẳng lên trên chòi. Quân Sở ngăn lại. Hoa Nguyên nói: - Hôm nay đại vương có việc cơ mật, dặn bảo quan nguyên soái, mới rồi lại có cho quan nguyên soái uống rượu, vậy nên đại vương sợ quan nguyên soái say rượu mà ngủ quên đi mất, sai tôi đến đây để thương thuyết lại, rồi về nói ngay cho đại vương biết. Quân Sở tưởng là thực, để cho Hoa Nguyên trèo lên. Trên chòi đèn thắp còn sáng, công tử Trắc cởi áo, nằm ngủ đã say, Hoa Nguyên trèo ngay lên giường nằm, se sẽ lấy tay lay công tử Trắc. Công tử Trắc tỉnh dậy, bị Hoa Nguyên nắm lấy hai cánh tay Công tử Trắc vội vàng hỏi: - Ai thế này? Hoa Nguyên nói sẽ mà đáp rằng: - Quan nguyên soái chớ sợ! Tôi là Hoa Nguyên nước Tống đây! Phụng mệnh chúa công tôi lẻn sang đây để xin giảng hòa, quan nguyên soái nghe lời thì hai nước cùng nhau giao hiếu, nhược bằng không nghe thì cái số mệnh của tôi và quan nguyên soái cùng hết ở trong đêm hôm nay! Hoa Nguyên tay trái giữ công tử Trắc, tay phải rút một con dao nhọn ở trong mình ra. Trông dưới bóng đèn, thấy lưỡi dao sáng quắc. Công tử Trắc vội vàng đáp rằng: - Ta nên cùng nhau thương nghị, cớ sao lại dùng cách thô bỉ thế này! Hoa Nguyên rụt lưỡi dao lại xin lỗi rằng: - Quan nguyên soái chớ lấy làm lạ! Vì sự thế gấp quá, cho nên tôi phải làm như vậy. Công tử Trắc nói: - Tình hình nước Tống bây giờ thế nào? Hoa Nguyên nói: - Chẳng nói giấu gì quan nguyên soái, nước tôi lương thực hết cả, cùng khốn lắm rồi! Công tử Trắc giật mình mà nói rằng: - Tình hình nước Tống đã đến nỗi cùng khốn quá như vậy à! Cớ sao nhà ngươi lại chịu đem thực tình mà bảo ta? Hoa Nguyên nói: - Người quân tử thấy người ta cùng khốn thì có lòng thương, tôi chắc quan nguyên soái là quân tử, vậy nên không dám giấu. Công tử Trắc nói: - Thế thì vì cớ gì mà không chịu đầu hàng? Hoa Nguyên nói: - Tình hình nước tôi dẫu cùng khốn, nhưng chí khí dân nước tôi vẫn còn hăng hái, vậy nên vua tôi cố sức chống giữ, thà rằng cùng chết với nhau, còn hơn chịu nhục mà đầu hàng quý quốc, ăn thề ở dưới chân thành. Nếu quan nguyên soái có lòng quân tử rút quân ra ngoài ba mươi dặm thì chúa công tôi xin một lòng thần phục quý quốc, không bao giờ dám trái lời. Công tử Trắc nói: - Ta cũng chẳng nói giấu gì nhà ngươi, dinh quân Sở ta cũng chỉ còn có lương ăn trong bảy ngày, nếu quá bảy ngày nước ngươi không đầu hàng thì cũng phải rút quân về. Mới rồi, sai quân sĩ làm nhà ở và cày ruộng, là lập kế để khiến cho nước ngươi sợ đó mà thôi. Sáng mai ta tâu với vua Sở lui quân ba mươi dặm, vua tôi nhà ngươi chớ có thất tín. Hoa Nguyên nói: - Tôi xin cùng với quan nguyên soái ăn thề, hai bên đều không sai lời nhau! Công tử Trắc cùng Hoa Nguyên ăn thề xong, lại giao kết với nhau làm anh em. Công tử Trắc đem một lá cờ lệnh tiễn đưa cho Hoa Nguyên, dặn phải đi mau. Hoa Nguyên có lá cờ lệnh tiễn ấy, công nhiên đi thẳng, lại trèo qua vào trong thành nước Tống, đem lời công tử Trắc tâu với Tống Văn công. Sáng hôm sau, công tử Trắc cũng đem lời Hoa Nguyên thuật lại cho Sở Trang Vương nghe, và tâu với Sở Trang Vương rằng: - Suýt nữa thì mạng tôi chết về lưỡi dao của Hoa Nguyên đêm hôm qua rồi, may mà Hoa Nguyên có lòng từ đem tình hình trong nước bảo thực với tôi và xin tôi rút quân; tôi đã nhận lời rồi, đại vương nên rộng lượng mà khoan dung cho nước Tống. Sở Trang Vương nói: - Nước Tống cùng khốn như thế, ta nên cố đánh cho kỳ được. Công tử Trắc sụp lạy mà tâu rằng: - Quân ta chỉ còn có lương ăn trong bảy ngày, tôi đã trót bảo thực với Hoa Nguyên rồi. Sở Trang Vương nổi giận mà nói rằng: - Sao nhà ngươi lại nói thực với quân giặc? Công tử Trắc nói: - Một nước Tống nhỏ mọn như vậy, còn có người bề tôi không chịu nói dối, huống chi là đường đường nước Sở ta mà lại không có hay sao! Bởi vậy tôi cũng nói thực. Sở Trang Vương nguôi cơn giận mà bảo rằng: - Quan tư mã nói phải lắm! Sở Trang Vương hạ lệnh rút quân, ra đóng ở ngoài ba mươi dặm. Thân Tê thấy Sở Trang Vương đã hạ lệnh rút quân về, không dám ngăn trở, nhưng vật mình ôm bụng mà kêu khóc. Sở Trang Vương sai người khuyên bảo Thân Tê rằng: - Nhà ngươi chớ phiền! Thế nào ta cũng làm cho tỏ được lòng hiếu của nhà ngươi! Hoa Nguyên phụng mệnh Tống Văn công đến dinh quân Sở để xin làm tờ giao ước. Công tử Trắc theo Hoa Nguyên vào thành nước Tống, cùng với Tống Văn công ăn thề. Tống Văn công sai Hoa Nguyên đưa linh cữu Thân Chu sang trả quân Sở, và xin theo sang ở lại nước Sở để làm tin. Sở Trang Vương rút về nước Sở, làm lễ an táng cho Thân Chu rất trọng thể! Các quan triều thần đều phải đi đưa tất cả. Sở Trang Vương lại cho Thân Tê được nối chức cha làm quan đại phu. Hoa Nguyên ở nước Sở, nhân có công tử Trắc, lại kết giao với công tử Anh Tề. Một hôm hai người ngồi chơi với nhau, bàn đến thời sự, công tử Anh Tề thở dài mà than rằng: - Nay Tấn và Sở, hai bên chống nhau, chiến tranh luôn mãi, biết bao giờ cho thiên hạ được thái bình! Hoa Nguyên nói; - Cứ như ý tôi nghĩ thì Tấn và Sở không bên nào chịu thua, nếu được một người đứng lên nói cho hai bên giảng hòa với nhau. Các nước phụ thuộc của bên nào thì triều cống về bên ấy, rồi cùng nhau yên nghỉ, khiến cho nhân dân tránh khỏi những sự lầm than khổ sở, chẳng cũng may cho đời lắm ru! Công tử Anh Tề nói: - Việc ấy, nhà ngươi có làm nổi hay không? Hoa Nguyên nói: - Tôi có quen một người tướng nước Tấn là Loan Thư, năm trước tôi sang sứ nước Tấn, Loan Thư cũng có nói đến việc ấy, tiếc rằng không có ai ở giữa mà liên hợp hai nước với nhau được. Ngày hôm sau, công tử Anh Tề đem lời Hoa Nguyên nói với công tử Trắc. Công tử Trắc nói: - Hai nước còn chưa chán sự tranh chiến, việc ấy đã bàn đến thế nào được. Sau Hoa Nguyên ở Sở được sáu năm thì Tống Văn công (Bảo) chết, con là Tống Cung công (Cố) lên nối ngôi. Hoa Nguyên mới về nước Tống để chịu tang. Tấn Cảnh công nghe tin quân Sở vây Tống đã hơn một năm, mới bảo Bá Tôn rằng: - Nước Tống cố giữ được như vậy, cũng đã mỏi mệt lắm rồi; ta chớ nên thất tín, phải đem quân đi cứu mới được. Tấn Cảnh công toan đem quân đi cứu Tống, bỗng nghe báo có sứ nước Lộ đưa mật thư đến. Nguyên xưa nước Lộ tức là một giống Xích Địch, ở tiếp giáp với nước Lê, đến đời Chu Bình Vương, vua nước Lộ đuổi vua nước Lê mà chiếm lấy đất, từ đó nước Lộ mỗi ngày một cường thịnh. Bấy giờ vua nước Lộ tên gọi Anh Nhi, lấy người chị Tấn Cảnh công là Bá Cơ làm phu nhân. Anh Nhi hèn yếu, quan tướng quốc là Phong Thư chuyên quyền; khi trước có Hồ Xạ Cô là công thần nước Tấn trốn sang ở nước Lộ, Phong Thư còn e sợ, không dám càn rỡ lắm, từ lúc Hồ Xạ Cô chết rồi, Phong Thư không còn e sợ ai cả, muốn cho vua Lộ tuyệt giao với Tấn, liền vu tội cho Bá Cơ, bảo vua nước Lộ giết đi. Một hôm, Phong Thư cùng với vua nước Lộ (tức là Anh Nhi) đi săn ở ngoài cõi, nhân khi uống rượu say, thi nhau bắn chim. Phong Thư bắn ngay vào mắt vua nước Lộ, rồi ném cái cung xuống đất, cười mà nói rằng: - Bắn không trúng, nên phạt một chén rượu. Vua nước Lộ không thể nhịn được, mà muốn trị tội thì sức không nổi, mới làm tờ mật thư đưa sang nước Tấn, xin nước Tấn đem quân sang mà hỏi tội Phong Thư cho. Bá Tôn nói với Tấn Cảnh công rằng: - Nay ta giết Phong Thư, chiếm lấy đất nước Lộ và cả mấy nước xung quanh nữa thì phía Tây Nam nước Tấn ta mỗi ngày một mở rộng. Cái cơ hội ấy chớ nên bỏ hoài! Tấn Cảnh công cũng giận vua nước Lộ về việc giết vợ là Bá Cơ (chị Tấn Cảnh công), mới sai Tuân Lâm Phủ làm đại tướng, Ngụy Khỏa (con Ngụy Thù) làm phó tướng, đem quân đi đánh nước Lộ. Phong Thư đêm quân ra đất Khúc Lương để chống cự với quân Tấn, bị quân Tấn đánh thua, bỏ chạy sang nước Vệ, Vệ Mục công (Tốc) đang cùng với nước Tấn giao hiếu, liền bắt Phong Thư đưa sang nộp quân Tấn. Tuân Lâm Phủ sai giải Phong Thư về Giáng Đô (kinh thành nước Tấn) để trị tội mà giết đi. Quân Tấn kéo thẳng vào kinh thành nước Lộ. Vua nước Lộ là Anh Nhi ra đón. Tuân Lâm Phủ kể tội Anh Nhi giết oan Bá Cơ rồi bắt đem về nước Tấn, lại giả cách nói: Dân nước Lê có lòng nhớ mến vua cũ, liền tìm con cháu vua nước Lê, đắp thành cho ở một chỗ, mượn tiếng là khôi phục cho nước Lê, nhưng kỳ thực lập kế để diệt nước Lộ. Vua nước Lộ là Anh Nhi nghĩ đến nước mà thương xót, rồi tự vẫn chết. Người nước Lộ lập đền thờ. Tấn Cảnh công sợ Tuân Lâm Phủ chưa đánh được nước Lộ, mới đem đại binh đóng ở Tắc Sơn để tiếp ứng. Khi Tuân Lâm Phủ đánh được nước Lộ rồi, đến Tắc Sơn báo tin thắng trận, mới lưu quan phó tướng là Ngụy Khỏa ở lại nước Lộ, để giữ lấy nước ấy. Bỗng có một toán quân kéo đến nước Lộ, hỏi ra mới biết là đại tướng nước Tần tên gọi Đỗ Hồi. Nguyên từ khi Tần Khang công chết, con là Tần Cung công (Đạo) lên nối ngôi, nhân việc Triệu Xuyên sang đánh Sùng là một nước phụ thuộc của Tần, bởi vậy Tần mới kết giao với Phong Thư để chống nhau với Tấn. Được bốn năm thì Tần Cung công chết, con là Tần Hoàn công (Vinh) lên nối ngôi. Bấy giờ đang là năm thứ mười một đời Tần Hoàn công, nghe tin nước Tấn sang đánh Phong Thư, toan đem quân đến cứu, lại nghe tin nước Tấn đã giết Phong Thư, bắt vua nước Lộ, mới sai Đỗ Hồi đem quân sang để tranh lấy địa giới nước Lộ. Đỗ Hồi vốn là một người lực sĩ đã có danh tiếng ở nước Tần, hàm răng nhọn hoắt, khóe mắt tròn xoe, tay cứng như đồng, mặt đen tựa sắt, râu xồm tóc quăn, mình cao hơn trượng, lại có sức khỏe, vẫn thường cầm một cái khai sơn đại phủ, nặng một trăm hai mươi cân, nguyên cũng là một giống Bạch Địch. Khi trước đã có một lần ở Thanh My Sơn Đỗ Hồi đâm chết luôn năm con hổ, rồi lột da đem về, Tần Hoàn công nghe nói là người vũ dũng, cho làm xa hữu tướng quân; lại một lần nữa. Đỗ Hồi đem ba trăm người phá vỡ được hơn một vạn quân giặc ở Xa Nga Sơn bởi vậy uy danh mỗi ngày một lừng lẫy, làm đến đại tướng. Ngụy Khỏa thấy Đỗ Hồi đem quân đến, tức khắc bày trận để đợi giao chiến. Đỗ Hồi cầm cái khai sơn đại phủ, đem ba trăm quân xông đến tận nơi, chém giết quân Tấn, khác nào như một vị thiên thần giáng hạ. Quân Tấn sợ hãi, không thể nào địch nổi. Ngụy Khỏa nhất định không ra, bỗng nghe báo có tướng nước Tấn là Ngụy Kỳ (em Ngụy Khỏa) đem quân đến tiếp ứng. Ngụy Kỳ nói với Ngụy Khỏa rằng: - Chúa công sợ đảng Xích Địch kết liên với nước Tần mà sinh biến vậy có sai tôi đến để tiếp ứng. Ngụy Khỏa thuật chuyện những sự vũ dũng của tướng nước Tần là Đỗ Hồi, không ai địch nổi. Ngụy Kỳ không tin mà nói rằng: - Làm gì đám giặc cỏ ấy! Ngày mai tôi ra trận, thế nào cũng quyết đánh tan được. Ngày hôm sau, Đỗ Hồi lại đến khiêu chiến. Ngụy Kỳ tức giận toan xông ra đánh. Ngụy Khỏa cố ý ngăn lại. Ngụy Kỳ không nghe, đem quân ra giao chiến với Đỗ Hồi. Đỗ Hồi lại múa cái khai sơn đại phủ, tả xung hữu đột, chém giết quân Tấn, Ngụy Kỳ thua to, may nhờ có Ngụy Khỏa đem quân ra tiếp ứng, mới về được trong trại. Đêm hôm ấy, Ngụy Khỏa đang ngồi ở trong trại, nghĩ quanh nghĩ quẩn, không biết dùng mưu kế gì, đang mơ mơ màng màng, bỗng nghe tiếng người ghé tai và đọc ba chữ: "Thanh Thảo Bi"; đến lúc tỉnh dậy, không hiểu là nghĩa làm sao mà chợp mắt ngủ đi thì lại thấy như trước, mới nói chuyện với Ngụy Kỳ. Ngụy Kỳ nói: - Cách đây độ mười dặm, có một cái bãi cỏ, tên gọi "Thanh Thảo Bi", hoặc là quân Tần sau này tất phải thua trận ở đấy, vậy tôi xin đem một toán quân đến mai phục sẵn, rồi anh lập kế dụ quân giặc đến, hai bên cùng đánh thì mới phá vỡ được. Ngụy Kỳ liền đem quân đến mai phục sẵn ở Thanh Thảo Bi. Ngụy Khỏa giả cách truyền lệnh rút quân trở về Lê Thành, quả nhiên Đỗ Hồi đem quân đuổi theo. Ngụy Khỏa giao chiến qua loa mấy hiệp rồi giả cách thua chạy, dụ Đỗ Hồi đến gần Thanh Thảo Bi. Quân mai phục của Ngụy Kỳ ở hai bên đổ ra, cùng với quân Ngụy Khỏa vây chặt lấy Đỗ Hồi. Đỗ Hồi chẳng sợ hãi chút nào cả, vẫn cầm cái khai sơn đại phủ, tả xung hữu đột; dần dần lui về phía Thanh Thảo Bi, bỗng thấy Đỗ Hồi mỗi bước lại ngã một cái, khác nào như người trượt chỗ nước băng. Quân Tấn thấy vậy reo rầm cả lên. Ngụy Khỏa ngẩng trông thấy một ông lão già, mình mặc áo vải, chân đi giầy đay, đang kết những dây cỏ lại, để làm cho vướng chân Đỗ Hồi. Ngụy Khỏa và Ngụy Kỳ đi đến nơi, bắt sống được Đỗ Hồi. Quân Đỗ Hồi thấy chủ tướng bị bắt, đều bỏ chạy tán loạn cả, bị quân Tấn đuổi bắt, trong ba trăm người chỉ trốn thoát được bốn, năm chục người mà thôi. Ngụy Khỏa hỏi Đỗ Hồi rằng: - Mày cậy có sức khỏe, cớ sao cũng bị bắt? Đỗ Hồi nói: - Không biết hai chân ta vướng phải vật gì mà khó cử động quá, đó là lòng trời hại ta, chứ không phải là sức ta không đánh nổi. Ngụy Khỏa nghĩ lấy làm lạ. Ngụy Kỳ bàn với Ngụy Khỏa rằng: - Đỗ Hồi đã có sức khỏe, nếu ta để sống thì e lại sinh biến. Ngụy Khỏa nói: - Ý ta cũng nghĩ như vậy! Nói xong, truyền chém Đỗ Hồi, rồi đem đầu về Tắc Sơn nộp Tấn Cảnh công để lấy công. Đêm hôm ấy, Ngụy Kỳ nằm ngủ, lại thấy ông lão già ngày hôm trước đến trước mặt vái chào mà nói rằng: - Tướng quân có biết vì cớ gì mà Đỗ Hồi bị bắt hay không. Vì tôi kết cỏ lại để làm cho vướng chân mà ngã đó. Ngụy Khỏa kính sợ, nói rằng: - Tôi chưa được biết cụ bao giờ, sao cụ lại giúp tôi như vậy, tôi biết lấy gì mà trả ơn cụ! Ông lão già nói: - Tôi là thân phụ nàng Tổ Cơ. Tướng quân biết theo lời trị mệnh của tiền nhân mà gả chồng cho con gái tôi, vậy tôi cảm cái ơn ấy, đến đây để giúp tướng quân, sau này con cháu tướng quân còn được đời đời vinh hiển mãi. Nguyên xưa thân phụ Ngụy Khỏa là Ngụy Thù có một người thiếp yêu tên gọi Tổ Cơ. Mỗi khi Ngụy Thù đi đánh giặc lại dặn Ngụy Khỏa rằng: - Nếu ta ra trận mà chết đi, mày nên gả Tổ Cơ cho một người nào tử tế, khiến Tổ Cơ có chỗ mà nương tựa, chớ để cho hắn phải khổ sở thì ta dẫu chết cũng được yên lòng! Đến lúc Ngụy Thù ốm nặng, lại dặn Ngụy Khỏa rằng: - Tổ Cơ là người thiếp yêu của ta, khi ta chết rồi, mày phải đem nàng ấy mà chôn theo ta, khiến cho ta ở dưới suối vàng có người làm bạn. Nói xong thì chết. Ngụy Khỏa an táng cho cha, không bắt Tổ Cơ phải chôn theo. Ngụy Kỳ nói: - Anh không nhớ lời dặn lúc cha gần mất hay sao? Ngụy Khỏa nói: - Thân phụ ta lúc thường vẫn dặn ta sau này gả chồng cho Tổ Cơ, đến lúc gần mất, lại dặn phải đem chôn theo, đó là lời dặn lúc mơ hoảng mà thôi; bởi vậy người hiếu tử nên theo trị mệnh, chớ theo loạn mệnh. Sau Ngụy Khỏa gả Tổ Cơ cho một người học trò. Vì Ngụy Khỏa có cái âm đức ấy, vậy nên linh hồn thân phụ Tổ Cơ mới hiện lên kết cỏ để báo ơn. Ngụy Khỏa thuật chuyện chiêm bao cho Ngụy Kỳ nghe. Ngụy Kỳ lấy làm chuyện lạ lùng. Vua tôi nước Tần nghe tin Đỗ Hồi thua trận, đều sợ hãi mất vía. Tấn Cảnh công thưởng công Ngụy Khỏa, phong cho đất Linh Hồ, lại đúc một quả chuông để kỷ niệm công thắng trận. Sau người Tấn lấy cớ quả chuông ấy tự Tấn Cảnh công đúc nên, bởi vậy mới gọi quả chuông là "Cảnh chung". Tấn Cảnh công lại sai Sĩ Hội đem quân đi diệt nước Điền Thị, nước Lưu Vu và nước phụ thuộc của Lưu Vu là nước Đạc Thần. Mấy nước ấy đều là giống Xích Địch, từ đó địa giới các giống Xích Địch thuộc về nước Tấn tất cả. Bấy giờ nước Tấn mất mùa, kẻ trộm nhiều lắm, Tuân Lâm Phủ dùng được một người có tài khéo dò xét để tìm bắt quân kẻ trộm, người ấy tên gọi là Khước Ung. Khước Ung thường ra chơi chợ, bỗng trỏ vào một người bảo là kẻ trộm, bắt đem về tra hỏi, quả nhiên là kẻ trộm thật. Tuân Lâm Phủ hỏi Khước Ung rằng: - Tại sao ngươi lại biết được như vậy? Khước Ung nói: - Tôi trông con mắt người ấy: Nom thấy những hàng hóa ở chợ thì có ý tham, nom thấy những người ở chợ thì có ý thẹn, sau nom thấy tôi đi tới nơi thì có ý sợ, bởi thế mà tôi biết là kẻ trộm. Khước Ung mỗi ngày bắt được mấy chục đứa kẻ trộm, mà kẻ trộm càng ngày càng nhiều. Quan Đại phu là Dương Thạch Chức nói với Tuân Lâm Phủ rằng: - Quan nguyên soái dùng Khước Ung để bắt trộm, nhưng tôi e rằng kẻ trộm chưa bắt hết mà Khước Ung chết đến nơi! Tuân Lâm Phủ giật mình kinh sợ mà hỏi rằng: - Tại làm sao thế?

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 55 Giắt dao lẻn vào dinh quân Sở Kết cỏ bắt được tướng nước Tần

Sở Trang Vương họp các quan triều thần lại để thương nghị việc chống nhau với Tấn. Công tử Trắc nói với Sở Trang Vương rằng: - Nước Tống xưa nay vẫn một lòng theo Tấn, nay ta đem quân đi đánh Tống thì Tấn tất phải sang cứu, khi nào còn dám tranh nước Trịnh của ta. Sở Trang Vương nói: - Nhà ngươi bàn dẫu phải nhưng ta chưa có cớ gì mà đánh Tống được. Tiên quân ta ngày xưa đánh Tống một trận ở sông Hoằng Thủy, vua Tống bị thương chết, thế mà nước Tống cũng chịu nhịn ta; đến khi ta hội chư hầu ở đất Quyết Lạc, vua Tống lại hết sức cung phụng nước ta. Sau Tống Chiêu công bị giết, công tử Bảo lên ngôi, nay đã mười tám năm rồi, ta muốn đánh Tống mà chưa tìm được cớ gì cả. Công tử Anh Tề nói: - Khó gì điều ấy! Vua Tề đã mấy lần triều sinh nước ta, mà ta chưa đáp lại, nay ta sai người sang sứ nước Tề, mượn đường đi qua Tống, nếu Tống không cho hay là vô lễ với sứ nước ta thì ta sẽ gây sự đem quân sang đánh. Sở Trang Vương nói: - Bây giờ nên sai ai đi sứ? Công tử Anh Tề nói: - Thân Vô Úy khi trước đã có theo tiên quân ta sang hội ở đất Quyết Lạc. Người ấy nên sai đi. Sở Trang Vương liền sai Thân Vô Úy đi sang sứ nước Tề. Thân Vô Úy tâu với Sở Trang Vương rằng: - Sang sứ nước Tề, tất phải đi qua nước Tống, xin đại vương cấp cho một đạo văn thư để mượn đường. Sở Trang Vương nói: - Nhà ngươi sợ nước Tống dám ngăn trở hay sao! Thân Vô Úy nói: - Khi trước tiên quân ta hội chư hầu ở Quyết Lạc, rồi cùng với các vua chư hầu đi săn ở Mạnh Chư, vua Tống trái lệnh, tôi bắt người thị vệ mà giết đi, bởi vậy nước Tống oán giận tôi lắm. Nay tôi qua nước Tống, nếu đại vương không cấp cho một đạo văn thư mượn đường thì nước Tống tất giết tôi. Sở Trang Vương nói: - Trong đạo văn thư sang nước Tề, ta đề tên là Thân Chu, không dùng cái tên cũ Thân Vô Úy nữa! Thân Vô Úy chưa chịu đi mà nói rằng: - Tên thì đổi được, nhưng mặt không thể đổi được. Sở Trang Vương nổi giận, nói: - Nếu nước Tống giết nhà ngươi thì ta quyết vì nhà ngươi báo thù, mà đem quân diệt nước Tống. Thân Vô Úy không dám từ chối nữa. Ngày hôm sau đưa người con là Thân Tê vào yết kiến Sở Trang Vương mà tâu rằng: - Tôi chết vì việc nước, xin đại vương trông nom con tôi. Sở Trang Vương nói: - Đó là việc của ta, nhà ngươi chớ lo ngại! Thân Chu (tức là Thân Vô Úy) từ giã rồi đi. Người con là Thân Tê tiễn ra đến ngoài cõi. Thân Chu dặn rằng: - Cha đi chuyến này, tất chết ở nước Tống, con nên tâu với đại vương để báo thù cho cha, con chớ quên lời cha dặn. Hai cha con cùng ứa nước mắt mà từ giã nhau. Thân Chu đi đến địa giới nước Tống. Quan trấn thủ ở nước Tống biết là sứ nước Sở, đòi xem văn thư. Thân Chu nói: - Ta phụng mệnh vua Sở, chỉ có đạo văn thư sang sứ nước Tề, chứ không có đạo văn thư mượn đường nước Tống. Quan trấn thủ giữ Thân Chu lại, rồi sai người phi báo Tống Văn công. Bấy giờ Hoa Nguyên đang cầm quyền chính nước Tống, tâu với Tống Văn công rằng: - Nước Sở là một nước cừu địch với ta, nay sai sứ qua nước ta mà không có văn thư mượn đường, thế là khinh ta quá lắm, xin chúa công bắt sứ nước Sở mà giết đi. Tống Văn công nói: - Ta giết sứ nước Sở thì nước Sở tất đem quân sang đánh ta, ta biết làm thế nào? Hoa Nguyên nói: - Chẳng thà bị quân Sở đem quân sang đánh, còn hơn là để cho nước Sở khinh ta; nước Sở đã khinh ta thì rồi thế nào cũng đem quân sang đánh ta. Đằng nào ta cũng bị quân Sở đánh, chi bằng ta hãy giết sứ Sở đi, để cho khỏi hổ thẹn. Hoa Nguyên sai người bắt Thân Chu giải về triều. Thân Chu vào đến trong triều, Hoa Nguyên trông thấy nhớ ngay là Thân Vô Úy, lại càng tức giận mà mắng rằng: - Ngày trước nhà ngươi dám giết thị vệ của tiên quân ta, nay đổi tên là Thân Chu để tránh cho khỏi chết hay sao! Thân Chu biết mình thế nào cũng chết, mới quát to lên mà mắng rằng: - Thằng Bảo (tên Tống Văn công) kia, mày thông gian tổ mẫu giết chết đích điệt, may mà thoát nạn, lại còn dám vô lễ với sứ thần nước lớn. Quân Sở ta kéo sang đây thì vua tôi mày xác tan ra như cám. Hoa Nguyên sai cắt lưỡi Thân Chu trước, rồi sau mới chém, lại đốt văn thư của nước Sở, đem tro ném ra ngoài cõi. Người theo hầu Thân Chu về báo với Sở Trang Vương. Sở Trang Vương đang ăn cơm, nghe tin Thân Chu bị giết, ném đũa xuống chiếu rồi đứng ngay dậy, sai quan tư mã là công tử Trắc sửa soạn binh mã để thân hành sang đánh Tống; lại cho Thân Tê (con Thân Chu) làm chức quân chính để theo đi đánh. Quân nước Sở vây kín thành Thư Dương (tức là kinh thành nước Tống), bốn mặt đánh gấp lắm. Hoa Nguyên cố sức chống giữ, lại sai quan đại phu là Nhạc Anh Tề lẻn sang cáo cấp với nước Tấn. Tấn Cảnh công toan đem quân đi cứu, mưu thần là Bá Tôn can rằng: - Tuân Lâm Phủ đem đại binh đi đánh quân Sở mà còn bị thua ở đất Bí Thành, ấy là lòng trời giúp cho nước Sở đó! Nay ta đi cứu Tống, vị tất đã nên việc. Tấn Cảnh công nói: - Hiện bây giờ chỉ có nước Tống là thân với ta, nếu ta không cứu thì bỏ mất nước Tống! Bá Tôn nói: - Nước Sở cách xa nước Tống hai nghìn dặm, lương thực khó vận lắm. Nay ta sai người sang nước Tống, nói là đại binh đã sắp tới nơi, khiến cho nước Tống cố sức mà chống giữ, chẳng qua chỉ vài tháng là quân Sở phải rút quân về, thế là ta không đánh Sở mà có cái công cứu được nước Tống. Tấn Cảnh công khen phải, hỏi các quan triều thần xem có ai dám sang sứ nước Tống. Quan đại phu là Giải Dương xin đi. Tấn Cảnh công nói: - Việc này trừ phi Tử Hổ (tên tự của Giải Dương) thì cũng khó lòng ai đương nổi! Giải Dương mặc đồ vi phục đi sang nước Tống, bị quân Sở bắt được, đem nộp Sở Trang Vương. Sở Trang Vương nhận biết là tướng nước Tấn tên gọi Giải Dương, mới hỏi Giải Dương rằng: - Nhà ngươi đến đây có việc gì? Giải Dương nói: - Tôi phụng mệnh chúa công tôi đến dụ nước Tống cứ cố sức chống giữ để đợi quân cứu viện. Sở Trang Vương nói: - Ngày trước nhà ngươi đã bị tướng nước ta là Vĩ Giả bắt được, ta không nỡ giết mà tha cho về, nay nhà ngươi lại chui đầu vào lưới thì còn nói gì nữa! Giải Dương nói: - Tấn và Sở vẫn là cừu địch với nhau thì tôi bị giết là phải lắm lại còn nói gì! Sở Trang Vương khám trong mình Giải Dương, bắt được đạo văn thư, liền mở ra xem, xem xong bảo rằng: - Kinh thành nước Tống chẳng qua chỉ nay mai thì phá vỡ mà thôi, bây giờ nhà ngươi nói trái lại những lời trong văn thư mà bảo nước Tống rằng: "Nước Tấn tôi ngày nay nhiều việc cần kíp, không thể nào sang cứu được, sợ để cho nước ngươi mong đợi thì lỡ cả công việc. Vậy chúa công tôi có sai tôi đến nói cho nước ngươi biết". Như thế thì người nước Tống không còn mong đợi gì nữa, tất phải ra hàng; nhân dân hai nước tránh khỏi được cái vạ chiến tranh khổ sở. Khi việc đã thành rồi, ta sẽ trọng thưởng nhà ngươi và cho làm quan ở nước Sở ta. Giải Dương cúi đầu nín lặng, không nói gì cả. Sở Trang Vương nói: - Nếu không nghe lời thì ta chém đầu đi! Giải Dương vốn không muốn nghe lời, nhưng sợ mình chết trong đám quân Sở thì không có ai đem lời vua Tấn mà truyền bảo cho nước Tống biết, mới giả cách xin vâng mệnh. Sở Trang Vương để Giải Dương đứng ở trên xe, bắt phải truyền bảo cho người nước Tống. Giải Dương liền gọi người nước Tống mà bảo rằng: - Ta là sứ nước Tấn, tên gọi Giải Dương, bị quân Sở bắt được, bảo ta dụ nước ngươi ra hàng, nhưng nước ngươi đừng có nghe, chúa công ta sắp sửa đem đại binh đến cứu. Sở Trang Vương nghe tiếng, liền sai lôi xuống mà mắng rằng: - Nhà ngươi đã nhận lời với ta mà lại bội ước là người thất tín, chớ trách ta tàn ác. Sở Trang Vương truyền cho võ sĩ đem Giải Dương ra chém. Giải Dương chẳng sợ hãi chút nào cả, thong dong mà đáp rằng: - Sao đại vương lại bảo là tôi thất tín! Nếu tôi theo lời đại vương thì lại thất tín với nước Tấn tôi lắm. Giả sử nước Sở có người bề tôi nào ăn lễ của nước khác mà trái lời đại vương thì đại vương cho là người biết thủ tín hay sao? Tôi xin chịu chết để tỏ ra rằng: Điều tín của nước Sở khác người nhiều lắm! Sở Trang Vương khen rằng: - Nhà ngươi thật là một người trung thần không sợ chết! Nói xong, liền tha cho về. Hoa Nguyên nước Tống nghe thấy Giải Dương nói là quân Tấn sắp sửa sang cứu, lại càng cố sức chống cự với quân Sở. Công tử Trắc (tướng nước Sở) sai quân sĩ làm một cái chòi cao ở phía ngoài thành nước Tống để ở. Từ đó nom vào trong thành mà xét xem tình hình nước Tống. Hoa Nguyên (tướng nước Tống) cũng làm một cái chòi ở phía trong thành để nom ra. Hai bên giữ nhau từ tháng chín năm trước đến tháng năm năm sau, trong thành nước Tống, lương thực hết sạch cả, nhiều người bị chết đói. Hoa Nguyên đem những lời trung nghĩa khuyên bảo kẻ dưới, bởi vậy người nước Tống đều một lòng vì nước mà cố giữ, dẫu khổ sở đến đâu cũng không ngã lòng. Sở Trang Vương không biết làm thế nào. Quân sĩ lại tâu với Sở Trang Vương rằng: - Lương thực trong dinh, chỉ còn bảy ngày nữa thì hết. Sở Trang Vương nói: - Ta không ngờ nước Tống mà khó đánh được như thế! Nói xong, liền đứng lên trên xe để xét xem tình hình quân sĩ nước Tống, thì thấy quân sĩ nước Tống rất nghiêm chỉnh. Sở Trang Vương thở dài, rồi triệu công tử Trắc để bàn việc quân về. Thân Tê (con Thân Vô Úy) sụp lạy Sở Trang Vương, khóc mà nói rằng: - Cha tôi liều chết để phụng mệnh đại vương, nay đại vương lại thất tín với cha tôi hay sao! Sở Trang Vương nét mặt có ý hổ thẹn. Thân Thúc Thời bấy giờ đang làm người dong xe cho Sở Trang Vương, mới hiến kế rằng: - Nước Tống không chịu hàng là vì biết chừng quân ta không ở lâu được, nếu ta truyền cho quân sĩ làm nhà ở, và cày ruộng để lấy thóc ăn, tỏ cho nước Tống biết là quân ta còn ở đây trường cửu thế thì nước Tống tất sợ mà phải đầu hàng. Sở Trang Vương khen phải, truyền cho quân sĩ đi đốn gỗ làm nhà ở xung quanh thành. Trong mười người thì để năm người vây thành, còn năm người cày ruộng, cứ mười ngày lại thay đổi nhau một lần. Hoa Nguyên nghe thấy tin ấy, nói với Tống Văn công rằng: - Quân Sở không có ý rút về mà quân Tấn cũng không thấy đến cứu, biết làm thế nào, âu là tôi lẻn vào dinh quân Sở để uy hiếp công tử Trắc, bắt phải cho giảng hòa thì họa chăng mới được việc. Tống Văn công nói: - Nước ta còn hay là mất, quan hệ ở việc này lắm, quan tướng quốc nên phải cẩn thận mới được! Hoa Nguyên dò biết là công tử Trắc vẫn ngủ ở trên chòi cao, lại dò biết hết cả họ tên những người thị vệ của Sở Trang Vương. Đêm hôm ấy thay hình đổi dạng, trèo qua thành xuống, đến dinh quân Sở. Gặp quân Sở đang đi tuần, Hoa Nguyên hỏi rằng: - Quan nguyên soái có ở trên chòi không? Quân Sở nói: - Có! Hoa Nguyên lại hỏi: - Ngài đã ngủ chưa? Quân Sở nói: - Mấy ngày hôm nay, ngài bận việc khó nhọc quá, hôm nay đại vương cho một chén rượu để uống. Ngài uống xong đã đi ngủ rồi! Hoa Nguyên vội vàng trèo thẳng lên trên chòi. Quân Sở ngăn lại. Hoa Nguyên nói: - Hôm nay đại vương có việc cơ mật, dặn bảo quan nguyên soái, mới rồi lại có cho quan nguyên soái uống rượu, vậy nên đại vương sợ quan nguyên soái say rượu mà ngủ quên đi mất, sai tôi đến đây để thương thuyết lại, rồi về nói ngay cho đại vương biết. Quân Sở tưởng là thực, để cho Hoa Nguyên trèo lên. Trên chòi đèn thắp còn sáng, công tử Trắc cởi áo, nằm ngủ đã say, Hoa Nguyên trèo ngay lên giường nằm, se sẽ lấy tay lay công tử Trắc. Công tử Trắc tỉnh dậy, bị Hoa Nguyên nắm lấy hai cánh tay Công tử Trắc vội vàng hỏi: - Ai thế này? Hoa Nguyên nói sẽ mà đáp rằng: - Quan nguyên soái chớ sợ! Tôi là Hoa Nguyên nước Tống đây! Phụng mệnh chúa công tôi lẻn sang đây để xin giảng hòa, quan nguyên soái nghe lời thì hai nước cùng nhau giao hiếu, nhược bằng không nghe thì cái số mệnh của tôi và quan nguyên soái cùng hết ở trong đêm hôm nay! Hoa Nguyên tay trái giữ công tử Trắc, tay phải rút một con dao nhọn ở trong mình ra. Trông dưới bóng đèn, thấy lưỡi dao sáng quắc. Công tử Trắc vội vàng đáp rằng: - Ta nên cùng nhau thương nghị, cớ sao lại dùng cách thô bỉ thế này! Hoa Nguyên rụt lưỡi dao lại xin lỗi rằng: - Quan nguyên soái chớ lấy làm lạ! Vì sự thế gấp quá, cho nên tôi phải làm như vậy. Công tử Trắc nói: - Tình hình nước Tống bây giờ thế nào? Hoa Nguyên nói: - Chẳng nói giấu gì quan nguyên soái, nước tôi lương thực hết cả, cùng khốn lắm rồi! Công tử Trắc giật mình mà nói rằng: - Tình hình nước Tống đã đến nỗi cùng khốn quá như vậy à! Cớ sao nhà ngươi lại chịu đem thực tình mà bảo ta? Hoa Nguyên nói: - Người quân tử thấy người ta cùng khốn thì có lòng thương, tôi chắc quan nguyên soái là quân tử, vậy nên không dám giấu. Công tử Trắc nói: - Thế thì vì cớ gì mà không chịu đầu hàng? Hoa Nguyên nói: - Tình hình nước tôi dẫu cùng khốn, nhưng chí khí dân nước tôi vẫn còn hăng hái, vậy nên vua tôi cố sức chống giữ, thà rằng cùng chết với nhau, còn hơn chịu nhục mà đầu hàng quý quốc, ăn thề ở dưới chân thành. Nếu quan nguyên soái có lòng quân tử rút quân ra ngoài ba mươi dặm thì chúa công tôi xin một lòng thần phục quý quốc, không bao giờ dám trái lời. Công tử Trắc nói: - Ta cũng chẳng nói giấu gì nhà ngươi, dinh quân Sở ta cũng chỉ còn có lương ăn trong bảy ngày, nếu quá bảy ngày nước ngươi không đầu hàng thì cũng phải rút quân về. Mới rồi, sai quân sĩ làm nhà ở và cày ruộng, là lập kế để khiến cho nước ngươi sợ đó mà thôi. Sáng mai ta tâu với vua Sở lui quân ba mươi dặm, vua tôi nhà ngươi chớ có thất tín. Hoa Nguyên nói: - Tôi xin cùng với quan nguyên soái ăn thề, hai bên đều không sai lời nhau! Công tử Trắc cùng Hoa Nguyên ăn thề xong, lại giao kết với nhau làm anh em. Công tử Trắc đem một lá cờ lệnh tiễn đưa cho Hoa Nguyên, dặn phải đi mau. Hoa Nguyên có lá cờ lệnh tiễn ấy, công nhiên đi thẳng, lại trèo qua vào trong thành nước Tống, đem lời công tử Trắc tâu với Tống Văn công. Sáng hôm sau, công tử Trắc cũng đem lời Hoa Nguyên thuật lại cho Sở Trang Vương nghe, và tâu với Sở Trang Vương rằng: - Suýt nữa thì mạng tôi chết về lưỡi dao của Hoa Nguyên đêm hôm qua rồi, may mà Hoa Nguyên có lòng từ đem tình hình trong nước bảo thực với tôi và xin tôi rút quân; tôi đã nhận lời rồi, đại vương nên rộng lượng mà khoan dung cho nước Tống. Sở Trang Vương nói: - Nước Tống cùng khốn như thế, ta nên cố đánh cho kỳ được. Công tử Trắc sụp lạy mà tâu rằng: - Quân ta chỉ còn có lương ăn trong bảy ngày, tôi đã trót bảo thực với Hoa Nguyên rồi. Sở Trang Vương nổi giận mà nói rằng: - Sao nhà ngươi lại nói thực với quân giặc? Công tử Trắc nói: - Một nước Tống nhỏ mọn như vậy, còn có người bề tôi không chịu nói dối, huống chi là đường đường nước Sở ta mà lại không có hay sao! Bởi vậy tôi cũng nói thực. Sở Trang Vương nguôi cơn giận mà bảo rằng: - Quan tư mã nói phải lắm! Sở Trang Vương hạ lệnh rút quân, ra đóng ở ngoài ba mươi dặm. Thân Tê thấy Sở Trang Vương đã hạ lệnh rút quân về, không dám ngăn trở, nhưng vật mình ôm bụng mà kêu khóc. Sở Trang Vương sai người khuyên bảo Thân Tê rằng: - Nhà ngươi chớ phiền! Thế nào ta cũng làm cho tỏ được lòng hiếu của nhà ngươi! Hoa Nguyên phụng mệnh Tống Văn công đến dinh quân Sở để xin làm tờ giao ước. Công tử Trắc theo Hoa Nguyên vào thành nước Tống, cùng với Tống Văn công ăn thề. Tống Văn công sai Hoa Nguyên đưa linh cữu Thân Chu sang trả quân Sở, và xin theo sang ở lại nước Sở để làm tin. Sở Trang Vương rút về nước Sở, làm lễ an táng cho Thân Chu rất trọng thể! Các quan triều thần đều phải đi đưa tất cả. Sở Trang Vương lại cho Thân Tê được nối chức cha làm quan đại phu. Hoa Nguyên ở nước Sở, nhân có công tử Trắc, lại kết giao với công tử Anh Tề. Một hôm hai người ngồi chơi với nhau, bàn đến thời sự, công tử Anh Tề thở dài mà than rằng: - Nay Tấn và Sở, hai bên chống nhau, chiến tranh luôn mãi, biết bao giờ cho thiên hạ được thái bình! Hoa Nguyên nói; - Cứ như ý tôi nghĩ thì Tấn và Sở không bên nào chịu thua, nếu được một người đứng lên nói cho hai bên giảng hòa với nhau. Các nước phụ thuộc của bên nào thì triều cống về bên ấy, rồi cùng nhau yên nghỉ, khiến cho nhân dân tránh khỏi những sự lầm than khổ sở, chẳng cũng may cho đời lắm ru! Công tử Anh Tề nói: - Việc ấy, nhà ngươi có làm nổi hay không? Hoa Nguyên nói: - Tôi có quen một người tướng nước Tấn là Loan Thư, năm trước tôi sang sứ nước Tấn, Loan Thư cũng có nói đến việc ấy, tiếc rằng không có ai ở giữa mà liên hợp hai nước với nhau được. Ngày hôm sau, công tử Anh Tề đem lời Hoa Nguyên nói với công tử Trắc. Công tử Trắc nói: - Hai nước còn chưa chán sự tranh chiến, việc ấy đã bàn đến thế nào được. Sau Hoa Nguyên ở Sở được sáu năm thì Tống Văn công (Bảo) chết, con là Tống Cung công (Cố) lên nối ngôi. Hoa Nguyên mới về nước Tống để chịu tang. Tấn Cảnh công nghe tin quân Sở vây Tống đã hơn một năm, mới bảo Bá Tôn rằng: - Nước Tống cố giữ được như vậy, cũng đã mỏi mệt lắm rồi; ta chớ nên thất tín, phải đem quân đi cứu mới được. Tấn Cảnh công toan đem quân đi cứu Tống, bỗng nghe báo có sứ nước Lộ đưa mật thư đến. Nguyên xưa nước Lộ tức là một giống Xích Địch, ở tiếp giáp với nước Lê, đến đời Chu Bình Vương, vua nước Lộ đuổi vua nước Lê mà chiếm lấy đất, từ đó nước Lộ mỗi ngày một cường thịnh. Bấy giờ vua nước Lộ tên gọi Anh Nhi, lấy người chị Tấn Cảnh công là Bá Cơ làm phu nhân. Anh Nhi hèn yếu, quan tướng quốc là Phong Thư chuyên quyền; khi trước có Hồ Xạ Cô là công thần nước Tấn trốn sang ở nước Lộ, Phong Thư còn e sợ, không dám càn rỡ lắm, từ lúc Hồ Xạ Cô chết rồi, Phong Thư không còn e sợ ai cả, muốn cho vua Lộ tuyệt giao với Tấn, liền vu tội cho Bá Cơ, bảo vua nước Lộ giết đi. Một hôm, Phong Thư cùng với vua nước Lộ (tức là Anh Nhi) đi săn ở ngoài cõi, nhân khi uống rượu say, thi nhau bắn chim. Phong Thư bắn ngay vào mắt vua nước Lộ, rồi ném cái cung xuống đất, cười mà nói rằng: - Bắn không trúng, nên phạt một chén rượu. Vua nước Lộ không thể nhịn được, mà muốn trị tội thì sức không nổi, mới làm tờ mật thư đưa sang nước Tấn, xin nước Tấn đem quân sang mà hỏi tội Phong Thư cho. Bá Tôn nói với Tấn Cảnh công rằng: - Nay ta giết Phong Thư, chiếm lấy đất nước Lộ và cả mấy nước xung quanh nữa thì phía Tây Nam nước Tấn ta mỗi ngày một mở rộng. Cái cơ hội ấy chớ nên bỏ hoài! Tấn Cảnh công cũng giận vua nước Lộ về việc giết vợ là Bá Cơ (chị Tấn Cảnh công), mới sai Tuân Lâm Phủ làm đại tướng, Ngụy Khỏa (con Ngụy Thù) làm phó tướng, đem quân đi đánh nước Lộ. Phong Thư đêm quân ra đất Khúc Lương để chống cự với quân Tấn, bị quân Tấn đánh thua, bỏ chạy sang nước Vệ, Vệ Mục công (Tốc) đang cùng với nước Tấn giao hiếu, liền bắt Phong Thư đưa sang nộp quân Tấn. Tuân Lâm Phủ sai giải Phong Thư về Giáng Đô (kinh thành nước Tấn) để trị tội mà giết đi. Quân Tấn kéo thẳng vào kinh thành nước Lộ. Vua nước Lộ là Anh Nhi ra đón. Tuân Lâm Phủ kể tội Anh Nhi giết oan Bá Cơ rồi bắt đem về nước Tấn, lại giả cách nói: Dân nước Lê có lòng nhớ mến vua cũ, liền tìm con cháu vua nước Lê, đắp thành cho ở một chỗ, mượn tiếng là khôi phục cho nước Lê, nhưng kỳ thực lập kế để diệt nước Lộ. Vua nước Lộ là Anh Nhi nghĩ đến nước mà thương xót, rồi tự vẫn chết. Người nước Lộ lập đền thờ. Tấn Cảnh công sợ Tuân Lâm Phủ chưa đánh được nước Lộ, mới đem đại binh đóng ở Tắc Sơn để tiếp ứng. Khi Tuân Lâm Phủ đánh được nước Lộ rồi, đến Tắc Sơn báo tin thắng trận, mới lưu quan phó tướng là Ngụy Khỏa ở lại nước Lộ, để giữ lấy nước ấy. Bỗng có một toán quân kéo đến nước Lộ, hỏi ra mới biết là đại tướng nước Tần tên gọi Đỗ Hồi. Nguyên từ khi Tần Khang công chết, con là Tần Cung công (Đạo) lên nối ngôi, nhân việc Triệu Xuyên sang đánh Sùng là một nước phụ thuộc của Tần, bởi vậy Tần mới kết giao với Phong Thư để chống nhau với Tấn. Được bốn năm thì Tần Cung công chết, con là Tần Hoàn công (Vinh) lên nối ngôi. Bấy giờ đang là năm thứ mười một đời Tần Hoàn công, nghe tin nước Tấn sang đánh Phong Thư, toan đem quân đến cứu, lại nghe tin nước Tấn đã giết Phong Thư, bắt vua nước Lộ, mới sai Đỗ Hồi đem quân sang để tranh lấy địa giới nước Lộ. Đỗ Hồi vốn là một người lực sĩ đã có danh tiếng ở nước Tần, hàm răng nhọn hoắt, khóe mắt tròn xoe, tay cứng như đồng, mặt đen tựa sắt, râu xồm tóc quăn, mình cao hơn trượng, lại có sức khỏe, vẫn thường cầm một cái khai sơn đại phủ, nặng một trăm hai mươi cân, nguyên cũng là một giống Bạch Địch. Khi trước đã có một lần ở Thanh My Sơn Đỗ Hồi đâm chết luôn năm con hổ, rồi lột da đem về, Tần Hoàn công nghe nói là người vũ dũng, cho làm xa hữu tướng quân; lại một lần nữa. Đỗ Hồi đem ba trăm người phá vỡ được hơn một vạn quân giặc ở Xa Nga Sơn bởi vậy uy danh mỗi ngày một lừng lẫy, làm đến đại tướng. Ngụy Khỏa thấy Đỗ Hồi đem quân đến, tức khắc bày trận để đợi giao chiến. Đỗ Hồi cầm cái khai sơn đại phủ, đem ba trăm quân xông đến tận nơi, chém giết quân Tấn, khác nào như một vị thiên thần giáng hạ. Quân Tấn sợ hãi, không thể nào địch nổi. Ngụy Khỏa nhất định không ra, bỗng nghe báo có tướng nước Tấn là Ngụy Kỳ (em Ngụy Khỏa) đem quân đến tiếp ứng. Ngụy Kỳ nói với Ngụy Khỏa rằng: - Chúa công sợ đảng Xích Địch kết liên với nước Tần mà sinh biến vậy có sai tôi đến để tiếp ứng. Ngụy Khỏa thuật chuyện những sự vũ dũng của tướng nước Tần là Đỗ Hồi, không ai địch nổi. Ngụy Kỳ không tin mà nói rằng: - Làm gì đám giặc cỏ ấy! Ngày mai tôi ra trận, thế nào cũng quyết đánh tan được. Ngày hôm sau, Đỗ Hồi lại đến khiêu chiến. Ngụy Kỳ tức giận toan xông ra đánh. Ngụy Khỏa cố ý ngăn lại. Ngụy Kỳ không nghe, đem quân ra giao chiến với Đỗ Hồi. Đỗ Hồi lại múa cái khai sơn đại phủ, tả xung hữu đột, chém giết quân Tấn, Ngụy Kỳ thua to, may nhờ có Ngụy Khỏa đem quân ra tiếp ứng, mới về được trong trại. Đêm hôm ấy, Ngụy Khỏa đang ngồi ở trong trại, nghĩ quanh nghĩ quẩn, không biết dùng mưu kế gì, đang mơ mơ màng màng, bỗng nghe tiếng người ghé tai và đọc ba chữ: "Thanh Thảo Bi"; đến lúc tỉnh dậy, không hiểu là nghĩa làm sao mà chợp mắt ngủ đi thì lại thấy như trước, mới nói chuyện với Ngụy Kỳ. Ngụy Kỳ nói: - Cách đây độ mười dặm, có một cái bãi cỏ, tên gọi "Thanh Thảo Bi", hoặc là quân Tần sau này tất phải thua trận ở đấy, vậy tôi xin đem một toán quân đến mai phục sẵn, rồi anh lập kế dụ quân giặc đến, hai bên cùng đánh thì mới phá vỡ được. Ngụy Kỳ liền đem quân đến mai phục sẵn ở Thanh Thảo Bi. Ngụy Khỏa giả cách truyền lệnh rút quân trở về Lê Thành, quả nhiên Đỗ Hồi đem quân đuổi theo. Ngụy Khỏa giao chiến qua loa mấy hiệp rồi giả cách thua chạy, dụ Đỗ Hồi đến gần Thanh Thảo Bi. Quân mai phục của Ngụy Kỳ ở hai bên đổ ra, cùng với quân Ngụy Khỏa vây chặt lấy Đỗ Hồi. Đỗ Hồi chẳng sợ hãi chút nào cả, vẫn cầm cái khai sơn đại phủ, tả xung hữu đột; dần dần lui về phía Thanh Thảo Bi, bỗng thấy Đỗ Hồi mỗi bước lại ngã một cái, khác nào như người trượt chỗ nước băng. Quân Tấn thấy vậy reo rầm cả lên. Ngụy Khỏa ngẩng trông thấy một ông lão già, mình mặc áo vải, chân đi giầy đay, đang kết những dây cỏ lại, để làm cho vướng chân Đỗ Hồi. Ngụy Khỏa và Ngụy Kỳ đi đến nơi, bắt sống được Đỗ Hồi. Quân Đỗ Hồi thấy chủ tướng bị bắt, đều bỏ chạy tán loạn cả, bị quân Tấn đuổi bắt, trong ba trăm người chỉ trốn thoát được bốn, năm chục người mà thôi. Ngụy Khỏa hỏi Đỗ Hồi rằng: - Mày cậy có sức khỏe, cớ sao cũng bị bắt? Đỗ Hồi nói: - Không biết hai chân ta vướng phải vật gì mà khó cử động quá, đó là lòng trời hại ta, chứ không phải là sức ta không đánh nổi. Ngụy Khỏa nghĩ lấy làm lạ. Ngụy Kỳ bàn với Ngụy Khỏa rằng: - Đỗ Hồi đã có sức khỏe, nếu ta để sống thì e lại sinh biến. Ngụy Khỏa nói: - Ý ta cũng nghĩ như vậy! Nói xong, truyền chém Đỗ Hồi, rồi đem đầu về Tắc Sơn nộp Tấn Cảnh công để lấy công. Đêm hôm ấy, Ngụy Kỳ nằm ngủ, lại thấy ông lão già ngày hôm trước đến trước mặt vái chào mà nói rằng: - Tướng quân có biết vì cớ gì mà Đỗ Hồi bị bắt hay không. Vì tôi kết cỏ lại để làm cho vướng chân mà ngã đó. Ngụy Khỏa kính sợ, nói rằng: - Tôi chưa được biết cụ bao giờ, sao cụ lại giúp tôi như vậy, tôi biết lấy gì mà trả ơn cụ! Ông lão già nói: - Tôi là thân phụ nàng Tổ Cơ. Tướng quân biết theo lời trị mệnh của tiền nhân mà gả chồng cho con gái tôi, vậy tôi cảm cái ơn ấy, đến đây để giúp tướng quân, sau này con cháu tướng quân còn được đời đời vinh hiển mãi. Nguyên xưa thân phụ Ngụy Khỏa là Ngụy Thù có một người thiếp yêu tên gọi Tổ Cơ. Mỗi khi Ngụy Thù đi đánh giặc lại dặn Ngụy Khỏa rằng: - Nếu ta ra trận mà chết đi, mày nên gả Tổ Cơ cho một người nào tử tế, khiến Tổ Cơ có chỗ mà nương tựa, chớ để cho hắn phải khổ sở thì ta dẫu chết cũng được yên lòng! Đến lúc Ngụy Thù ốm nặng, lại dặn Ngụy Khỏa rằng: - Tổ Cơ là người thiếp yêu của ta, khi ta chết rồi, mày phải đem nàng ấy mà chôn theo ta, khiến cho ta ở dưới suối vàng có người làm bạn. Nói xong thì chết. Ngụy Khỏa an táng cho cha, không bắt Tổ Cơ phải chôn theo. Ngụy Kỳ nói: - Anh không nhớ lời dặn lúc cha gần mất hay sao? Ngụy Khỏa nói: - Thân phụ ta lúc thường vẫn dặn ta sau này gả chồng cho Tổ Cơ, đến lúc gần mất, lại dặn phải đem chôn theo, đó là lời dặn lúc mơ hoảng mà thôi; bởi vậy người hiếu tử nên theo trị mệnh, chớ theo loạn mệnh. Sau Ngụy Khỏa gả Tổ Cơ cho một người học trò. Vì Ngụy Khỏa có cái âm đức ấy, vậy nên linh hồn thân phụ Tổ Cơ mới hiện lên kết cỏ để báo ơn. Ngụy Khỏa thuật chuyện chiêm bao cho Ngụy Kỳ nghe. Ngụy Kỳ lấy làm chuyện lạ lùng. Vua tôi nước Tần nghe tin Đỗ Hồi thua trận, đều sợ hãi mất vía. Tấn Cảnh công thưởng công Ngụy Khỏa, phong cho đất Linh Hồ, lại đúc một quả chuông để kỷ niệm công thắng trận. Sau người Tấn lấy cớ quả chuông ấy tự Tấn Cảnh công đúc nên, bởi vậy mới gọi quả chuông là "Cảnh chung". Tấn Cảnh công lại sai Sĩ Hội đem quân đi diệt nước Điền Thị, nước Lưu Vu và nước phụ thuộc của Lưu Vu là nước Đạc Thần. Mấy nước ấy đều là giống Xích Địch, từ đó địa giới các giống Xích Địch thuộc về nước Tấn tất cả. Bấy giờ nước Tấn mất mùa, kẻ trộm nhiều lắm, Tuân Lâm Phủ dùng được một người có tài khéo dò xét để tìm bắt quân kẻ trộm, người ấy tên gọi là Khước Ung. Khước Ung thường ra chơi chợ, bỗng trỏ vào một người bảo là kẻ trộm, bắt đem về tra hỏi, quả nhiên là kẻ trộm thật. Tuân Lâm Phủ hỏi Khước Ung rằng: - Tại sao ngươi lại biết được như vậy? Khước Ung nói: - Tôi trông con mắt người ấy: Nom thấy những hàng hóa ở chợ thì có ý tham, nom thấy những người ở chợ thì có ý thẹn, sau nom thấy tôi đi tới nơi thì có ý sợ, bởi thế mà tôi biết là kẻ trộm. Khước Ung mỗi ngày bắt được mấy chục đứa kẻ trộm, mà kẻ trộm càng ngày càng nhiều. Quan Đại phu là Dương Thạch Chức nói với Tuân Lâm Phủ rằng: - Quan nguyên soái dùng Khước Ung để bắt trộm, nhưng tôi e rằng kẻ trộm chưa bắt hết mà Khước Ung chết đến nơi! Tuân Lâm Phủ giật mình kinh sợ mà hỏi rằng: - Tại làm sao thế?

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 57 Vu Thần kết duyên với Hạ Cơ Trình Anh đền ơn cho Triệu Thuẫn

Quân Tấn đuổi theo Tề Khoảnh công đến đất Viên Lâu. Tề Khoảnh công sợ hãi, họp các tướng lại để hỏi kế. Quốc Tá nói với Tề Khoảnh công rằng: - Tôi xin đem cái kỷ hiến và cái ngọc khánh sang lễ nước Tấn để xin giảng hòa; còn những đất ta xâm chiếm của nước Lỗ và nước Vệ khi trước thì trả lại cho hai nước ấy. Tề Khoảnh công nói: - Theo như lời nhà ngươi thì ta xử với Tấn quá phải lắm rồi, nếu Tấn không nghe thì thế nào cũng phải cố sức đánh! Quốc Tá vâng mệnh đem kỷ hiến và ngọc khánh sang dinh quân Tấn, vào nói với Hàn Quyết. Hàn Quyết nói: - Vì nước Tề hay xâm chiếm nước Lỗ và nước Vệ, vậy thì chúa công tôi phải sai chúng tôi đem quân tới đây, chứ chúa công tôi thù gì với nước Tề. Quốc Tá nói: - Tôi xin tâu với chúa công tôi trả lại những đất xâm chiếm của Lỗ và Vệ thì tướng quân nghĩ thế nào? Hàn Quyết nói: - Việc ấy quyền tại quan nguyên soái (trỏ Khước Khắc) tôi, chứ tôi không dám quyết. Nói xong, liền đưa Quốc Tá vào yết kiên Khước Khắc. Khước Khắc trông thấy Quốc Tá, hầm hầm nổi giận. Quốc Tá đối đáp rất có lễ phép. Khước Khắc nói: - Nước ngươi đã sắp mất đến nơi, lại còn muốn dùng lời nói khéo để làm kế hoãn binh hay sao! Nếu thực lòng xin giảng hòa thì phải theo ta hai điều. Quốc Tá nói: - Hai điều là những điều gì, xin ngài cho biết. Khước Khắc nói: - Một là nước ngươi phải đưa Tiêu Quân sang ở nước ta để làm tin; hai là trong địa giới nước Tề phải đắp một con đường từ Tây sang Đông, để vạn nhất sau này nước Tề có bội ước thì ta giết người làm tin ấy, và đem quân sang đánh có thể đi từ Tây sang Đông được. Quốc Tá nổi giận mà nói rằng: - Quan nguyên soái nghĩ lầm! Tiêu Quân là ai, tức là thân mẫu chúa công tôi, cũng chẳng khác gì thân mẫu vua nước Tấn, có lẽ nào lại đem quốc mẫu làm tin bao giờ! Còn ruộng đất ở trong nước tôi còn phải tùy theo địa thế, nếu vì nước Tấn mà đổi tất cả thì khác gì một nước đã mất rồi. Quan nguyên soái nói như thế là ý không muốn cho nước tôi giảng hòa. Khước Khắc nói: - Không muốn cho giảng hòa thì nước ngươi làm gì nổi! Quốc Tá nói: - Quan nguyên soái chớ có khinh nước Tề tôi quá! Nước tôi dẫu bị thua một trận, nhưng chưa lấy gì làm tổn hại cho lắm, quan nguyên soái không cho hòa thì tôi xin thu thập quân mã, cùng với quan nguyên soái quyết chiến một trận nữa. Một trận không được thì hai trận, nếu hai trận không được thì ba trận, nếu ba trận cũng không được thì bấy giờ nước Tề tôi là của nước Tấn, cần gì còn phải gởi người làm tin và đắp đường từ Tây sang Đông làm gì! Tôi cũng xin từ biệt quan nguyên soái. Quốc Tá liền ném cái kỷ hiến và cái ngọc khánh xuống đất, rồi chắp tay vái chào mà lui ra. Quý Tôn Hàng Phủ và Tôn Lương Phu đứng ở sau màn nghe nói, chạy ra bảo Khước Khắc rằng: - Làm như vậy thì nước Tề giận ta quá lắm, tất có sức đánh ta, không có lẽ ta thắng mãi, chi bằng ta theo lời là hơn. Khước Khắc nói: - Sứ nước Tề đã đi rồi thì biết làm thế nào? Quý Tôn Hàng Phủ nói: - Ta nên sai người đuổi theo mà gọi lại. Khước Khắc liền sai người đuổi theo, mời Quốc Tá hãy trở lại dinh quân Tấn. Khước Khắc bảo Quý Tôn Hàng Phủ và Tôn Lương Phu cùng Quốc Tá làm lễ tương kiến, rồi lại nói với Quốc Tá rằng: - Tôi sợ không làm được việc thì có lỗi với chúa công tôi, bởi vậy tôi chưa dám nhận lời, nay quan đại phu nước Lỗ và nước Vệ (trỏ Quý Tôn Hàng Phủ và Tôn Lương Phu) đã cùng nói với thì tôi cũng không dám trái ý. Quốc Tá nói: - Quan nguyên soái đã thuận cho nước tôi giảng hòa thì xin uống máu ăn thề: "Nước Tề nhận phải triều cống nước Tấn, lại trả những đất xâm chiếm của nước Lỗ và Vệ. Nước Tấn nhận phải rút quân về và không được xâm phạm của cải nước Tề". Hai bên cùng uống máu ăn thề xong. Khước Khắc lại tha cho Phùng Sửu Phủ trở về nước Tề. Tề Khoảnh công cho Phùng Sửu Phủ làm thượng khanh. Bọn Khước Khắc thắng được quân Tề, trở về nước Tấn. Tấn Cảnh công đều gia phong thái ấp cho, lại cho làm tân trung nguyên soái, Triệu Quát làm phó; Củng Sóc làm tân thượng quân nguyên soái, Hàn Xuyên làm phó; Tuân Trụ làm hạ quân nguyên soái, Triệu Chiên làm phó, đều được phong chức quan khanh cả. Quan tư khấu là Đồ Ngạn Giả thấy họ Triệu hưng thịnh, càng đem lòng ghen ghét ngày đêm chỉ cố tìm sự lầm lỗi của họ Triệu để dèm pha với Tấn Cảnh công; lại mật kết với họ Loan và Khước, khiến cho hai họ ấy cùng về bè với mình. Tề Khoảnh công từ khi bị thua về, hết lòng sửa sang chính trị để báo thù nước Tấn. Vua tôi nước Tấn cũng sợ nước Tề báo thù, không giữ được nghiệp bá chủ, lại bắt các nước phải trả lại nước Tề những đất mà nước Tề đã xâm chiếm khi trước, từ bấy giờ các nước chư hầu cho nước Tấn là không có tín nghĩa, mới không tin phục nước Tấn nữa. Lại nói chuyện Hạ Cơ nước Trần từ khi kết duyên với quan liên doãn nước Sở là Tương Lão, chưa được một năm thì Tương Lão phải đi đánh trận ở Bí Địa. Hạ Cơ mới cùng với con riêng của Tương Lão là Hắc Yêu tư thông; đến lúc Tương Lão bị chết trận, Hắc Yêu say mê Hạ Cơ, không đi tìm xác Tương Lão, người trong nước ai cũng chê cười, Hạ Cơ lấy làm xấu hổ, muốn mượn tiếng đi tìm xác Tương Lão để trở về nước Trịnh (nguyên Hạ Cơ là con gái nước Trịnh, trước lấy chồng ở nước Trần). Tước thân công ở nước Sở là Khuất Vu thuê người mật báo với Hạ Cơ rằng: - Thân công có lòng yêu mến nàng lắm, nếu nàng về nước Trịnh hôm nào thì hôm ấy ngài sẽ sang cưới ngay. Khuất Vu lại sai người nói với Trịnh Tương công rằng: - Hạ Cơ muốn về nước nhà, sao nhà vua không sai người đón về. Trịnh Tương công quả nhiên sai sứ sang nước Sở để xin đón Hạ Cơ. Sở Trang Vương hỏi các quan đại phu rằng: - Vua Trịnh lại sai sứ sang đón Hạ Cơ là vì cớ gì? Khuất Vu tâu với Sở Trang Vương rằng: - Hạ Cơ muốn tìm xác Tương Lão, người nước Trịnh có ý muốn giúp cho được việc, vậy nên mới sai người sang đón về. Sở Trang Vương nói: - Xác Tương Lão chết ở nước Tấn, người nước Trịnh giúp thế nào được? Khuất Vu nói: - Tuân Dinh là con yêu của Tuân Thủ, nay bị giam ở nước Sở ta, Tuân Thủ thương nhớ lắm! Bây giờ Tuân Thủ mới được lên làm chức trung quân phó tướng ở nước Tấn, lại quen biết với quan đại phu nước Trịnh là Hoàng Thú, tất thế nào rồi cũng nhờ Hoàng Thú điều đình với nước Sở ta, xin đem thi thể công tử Cốc Thần (con Sở Trang Vương) và Tương Lão sang đổi lấy Tuân Dinh về. Vua nước Trịnh vì việc giao chiến ở Bí Địa, sợ nước Tấn đem quân sang hỏi tội, cũng muốn nhân việc này để lấy lòng nước Tấn, đó là tình thực, chứ không còn nghi ngờ gì nữa! Nói chưa dứt lời thì Hạ Cơ vào biệt Sở Trang Vương, tâu việc xin về nước Trịnh, vừa tâu vừa khóc, hai hàng nước mắt lã chã châu rơi. Lại nói với Sở Vương Trang rằng: - Nếu không tìm được xác Tương Lão thì thiếp xin thề không trở về nước Sở nữa! Sở Trang Vương có lòng thương mà cho đi. Hạ Cơ đi sang nước Trịnh. Khuất Vu lại mật đưa thơ cho Trịnh Tương công xin cưới Hạ Cơ làm vợ. Trịnh Tương công không biết việc Sở Trang Vương và công tử Anh Tề khi trước muốn lấy Hạ Cơ, lại thấy Khuất Vu đang được trọng dụng ở nước Sở, cũng muốn kết thân, mới nhận đồ lễ cho cưới. Người nước Sở không ai biết chuyện ấy cả. Khuất Vu lại sai người sang bảo Tuân Thủ nước Tấn đem thi thể công tử Cốc Thần và Tương Lão sang đổi lấy Tuân Dinh về. Tuân Thủ viết thư cho Hoàng Thú (quan đại phu nước Trịnh) để nói hộ với Sở Trang Vương. Sở Trang Vương muốn được thi thể con mình là công tử Cốc Thần, mới tha cho Tuân Dinh được trở về nước Tấn. Đến lúc quân nước Tấn đánh Tề, Tề Khoảnh công sai sứ sang cầu nước Sở, gặp bấy giờ nước Sở mới có tang, chưa đem quân sang cứu, sau nghe tin quân Tề thua trận, quan đại phu nước Tề là Quốc Tá đã xin giảng hòa với Tấn. Sở Cung Vương mới bảo các quan triều thần rằng: - Nước Tề theo Tấn là vì nước Sở ta chưa kịp đến cứu, chứ không phải là bản thân của nước Tề. Nay ta nên cử binh đi đánh Lỗ và Vệ để báo thù cho nước Tề, có ai dám vì ta đem cái chủ ý ấy sang nói cho vua Tề biết. Khuất Vu xin đi. Sở Cung Vương nói: - Nhà ngươi đi qua nước Trịnh, nên ước với vua Trịnh đến tháng mười đem quân sang hội nhau ở địa giới nước Vệ, và cũng nói cho vua Tề biết. Khuất Vu về nhà thu xếp tiền của và cho gia quyến đi trước, còn mình thì ở lại sau, rồi thẳng đường tiến sang nước Trịnh. Khuất Vu đem lời nói của vua Sở vào ước với vua Trịnh rồi lui ra nhà quán cùng với Hạ Cơ làm lễ thành thân. Đêm hôm ấy Hạ Cơ nỉ non bên gối, hỏi Khuất Vu rằng: - Việc này khi trước phu quân có tâu với vua Sở không? Khuất Vu đem chuyện Sở Trang Vương và Công tử Anh Tề khi trước đều muốn lấy Hạ Cơ nói lại cho Hạ Cơ nghe, lại bảo Hạ Cơ rằng: - Ta vì ái khanh mà chịu phí bao nhiêu tâm cơ, ngày nay ba sinh mới phỉ mười nguyền, ta không dám về nước Sở nữa; sáng mai ta cùng với ái khanh tìm chốn nương thân, cùng nhau bách niên giai lão, ái khanh nghĩ thế nào? Hạ Cơ nói: - Phu quân đã không về nước Sở thì việc sứ Tề này biết làm thế nào? Khuất Vu nói: - Ta chẳng đi sứ Tề nữa! Ngày nay cùng với nước Sở chống nhau, chỉ có nước Tấn, âu là ta cùng ái khanh sang ở nước Tấn. Ngày hôm sau, Khuất Vu viết vội một biểu giao cho người hầu đem về tâu với Sở Cung Vương, rồi cùng Hạ Cơ trốn sang nước Tấn. Tấn Cảnh công đang lấy việc thua nước Sở làm xấu hổ, nghe tin Khuất Vu đến, mừng lắm nói rằng: - Thế này thật là trời đem người ấy đến giúp ta! Tấn Cảnh công nói xong, liền cho Khuất Vu làm quan đại phu, lại phong cho đất Hình Địa để làm ấp ăn lộc. Khuất Vu mới bỏ họ Khuất, lấy chữ Vu làm họ, đặt tên là Thần. Từ bấy giờ gọi là Vu Thần. Sở Cung Vương tiếp được tờ biểu của Vu Thần, liền mở ra đọc. Trong tờ biểu đại lược nói rằng: "Vua Trịnh đem Hạ Cơ ép gả cho tôi; tôi trót dại, không thể từ chối được. Nay tôi sợ đại vương trị tội, vậy phải trốn qua nước Tấn; còn việc sứ Tề xin đại vương chọn sai người khác. Tôi cam chịu tội chết!" Sở Cung Vương nổi giận, triệu công tử Anh Tề và công tử Trắc vào mà đưa xem. Công tử Trắc nói: - Nước Sở ta và nước Tấn xưa nay vốn là cừu địch với nhau, nay Vu Thần trốn sang nước Tấn, tức là làm phản nước Sở ta, ta nên đem quân đi đánh. Công tử Anh Tề nói: - Hắc Yêu tư thông với kế mẫu là Hạ Cơ, cũng là có tội, nên đem quân đến bắt. Sở Cung Vương theo lời, liền sai công tử Anh Tề đem quân đến vây bắt những tộc đảng của Vu Thần, và sai công tử Trắc đến bắt Hắc Yêu mà chém đi. Bao nhiêu những gia tài của Vu Thần đều bị Công tử Anh Tề và công tử Trắc chiếm lấy hết cả. Vu Thần nghe tin tộc đảng của mình bị giết, mới đưa thư cho công tử Anh Tề và công tử Trắc, đại lược nói rằng: "Các ngươi xui giục vua Sở làm những việc tham tàn, giết hại kẻ không có tội; ta quyết làm cho các ngươi phải khổ sở ở nơi đường sá mà chết!" Bọn công tử Anh Tề giấu bức thư ấy đi, không dám nói cho Sở Cung Vương biết. Vu Thần vì nước Tấn bày mưu lập kế, để sang thông hiếu với nước Ngô; rồi đem những phép xa chiến dạy người nước Ngô; lại cho con là Hồ Dung sang làm quan hành nhân ở nước Ngô để thông tin tức cho nước Ngô và nước Tấn. Từ bấy giờ nước Ngô mỗi ngày một cường thịnh, chiếm lấy những thuộc quốc ở phía Đông của nước Sở. Vua nước Ngô là Thọ Mộng mới tiếm hiệu xưng vương. Sở Cung Vương cho công tử Anh Tề làm đại tướng, cùng với quân nước Trịnh sang đánh Vệ, tàn phá bờ cõi nước Vệ, rồi lại đem quân sang xâm chiếm nước Lỗ, đóng đồn ở đất Dương Kiều. Trọng Tôn Miệt (tướng nước Lỗ), đem những thợ khéo và các con gái biết thêu dệt ở trong nước, mỗi thứ một trăm người sang dâng nước Sở để xin giảng hòa. Nước Tấn cũng đem quân ước với Lỗ Thành công cùng sang đánh Trịnh. Lỗ Thành công lại theo. Năm thứ 20 đời Chu Định Vương, Trịnh Tương công (Kiên) mất, thế tử Phi lên nối ngôi, tức là Trịnh Nhiệu công. Trịnh Nhiệu công cùng với nước Hứa tranh nhau địa giới. Vua nước Hứa sang kêu với Sở Cung Vương, Sở Cung Vương cho vua nước Hứa là phải lẽ, sai người trách Trịnh Nhiệu công. Trịnh Nhiệu công tức giận, mới bỏ Sở theo Tấn. Năm ấy, Khước Khắc nước Tấn bị thương, què mất cánh tay trái, liền cáo lão về nhà, chẳng được bao lâu thì mất. Loan Thư thay làm chức trung quân nguyên soái (tức là quan tướng quốc). Năm sau công tử Anh Tề sang đánh Trịnh, Loan Thư đem quân đi cứu. Tấn Cảnh công thấy nước Trịnh và nước Tề đều thần phục mình, có ý kiêu ngạo, lại tin dùng Đồ Ngạn Giả, và ham sự chơi bời săn bắn như Tấn Linh công thuở xưa. Triệu Đồng và Triệu Quát có ý bất hòa với anh là Triệu Anh, vu cho việc dâm loạn, rồi đuổi sang nước Tề, Tấn Cảnh công cũng không thể nào ngăn cấm nổi. Bấy giờ núi Lương Sơn tự nhiên đổ lấp một khúc sông. Nước sông ba ngày không chảy được. Tấn Cảnh công sai quan thái sử bói xem tốt xấu thế nào. Đồ Ngạn Giả đút tiền cho quan thái sử để nói về việc hình phạt không hợp lẽ. Tấn Cảnh công nói: - Ta dùng hình phạt chưa hề có làm quá bao giờ, sao lại bảo là không hợp lẽ? Đồ Ngạn Giả nói với Tấn Cảnh công rằng: - Hình phạt không hợp lẽ là thế nào? Không đáng tội mà trị tội, cùng với đáng tội mà không trị tội, đều gọi là không hợp lẽ. Triệu Thuẫn giết vua Linh công ta ở Đào Viên, việc ấy chép vào sử sách, đó là một cái tội không thể dung tha được; thế mà vua Thành công không trị tội, lại giao quyền chính trong nước cho, đến bây giờ con cháu làm quan, đầy khắp trong triều, thế thì lấy gì làm răn cho kẻ khác được. Và tôi nghe tin bọn Triệu Đồng và Triệu Quát cậy nhiều vây cánh, có ý muốn làm phản, Triệu Anh can ngăn không được, phải chạy ra nước ngoài; còn họ Loan và họ Khước, cũng sợ thế họ Triệu, không dám nói ra. Việc núi Lương Sơn đổ này, chính là ý trời muốn khiến chúa công giãi tỏ cái oan của vua Linh công trước và trị tội họ Triệu đó! Tấn Cảnh công từ trận đánh nhau ở Bí Địa đã ghét bọn Triệu Đồng và Triệu Quát chuyên quyền, mới tin lời Đồ Ngạn Giả, liền hỏi Hàn Quyết. Hàn Quyết nói: - Việc giết vua Linh công ở Đào Viên, không dự gì đến Triệu Thuẫn. Vả Triệu Thôi ngày xưa là người có công to với nước, sao chúa công lại nghe lời nói đứa tiểu nhân mà nghi con cháu sau một bậc công thần như vậy! Tấn Cảnh công vẫn còn hồ nghi, lại hỏi Loan Thư và Khước Kỳ. Đồ Ngạn Giả đã dặn Loan Thư và Khước Kỳ cứ hàm hồ, không chịu gỡ tội cho họ Triệu. Tấn Cảnh công mới cho lời nói Đồ Ngạn Giả là thực, liền ghi tội Triệu Thuẫn vào cái mộc bài giao cho Đồ Ngạn Giả mà bảo rằng: - Nhà ngươi liệu thế nào cho khỏi kinh động người trong nước thì cứ việc mà làm. Hàn Quyết biết mưu của Đồ Ngạn Giả, đêm hôm ấy đến báo với Triệu Sóc, và bảo Triệu Sóc nên đi trốn. Triệu Sóc nói: - Thân phụ tôi này xưa chỉ vì không chịu để cho tiên quân giết, đến nỗi phải mang tiếng xấu về sau. Nay Đồ Ngạn Giả phụng mệnh chúa công thì dẫu biết chết, tôi cũng không dám tránh, nhưng vợ tôi hiện đang có thai, đã gần đến tháng, giả sử sinh gái, chẳng nói làm chi, may mà sinh trai thì còn có thể giữ được nòi giống họ Triệu. Một giọt máu thừa ấy, xin tướng quân bảo toàn cho thì tôi dẫu hồn về chín suối, cũng được hả dạ! Hàn Quyết khóc rằng: - Tôi chịu ơn Triệu tướng quốc (trỏ Triệu Thuẫn) ngày xưa, mới được thế này, ơn ấy khác nào như cha với con! Ngày nay tôi sức hèn tài mọn, không thể chém được đầu giặc (trỏ Đồ Ngạn Giả), còn một việc này, tôi xin hết sức! Nhưng quân giặc căm tức đã lâu, nay nhân dịp báo thù, tất không nề ai cả, chi bằng ngài hãy cho công chúa (vợ Triệu Sóc là con gái Tấn Thành công) tránh nạn vào ở trong cung, mai sau sinh đặng con trai thì tất có cơ báo thù lại được. Triệu Sóc vâng lời rồi hai người gạt nước mắt mà từ biệt nhau. Triệu Sóc ước riêng với vợ là Trang Cơ rằng: - Ngày sau sinh con gái thì đặt tên là Văn, nếu sinh con trai, nên đặt tên là Vũ, bởi vì văn là vô dụng mà vũ thì mới báo thù được. Triệu Sóc lại nói chuyện cho Trình Anh biết. Trình Anh hộ tống Trang Cơ đi một cái xe kín lẻn trốn vào cung, ở với người mẹ là Thành phu nhân (mẹ Tấn Cảnh công). Sáng hôm sau Đồ Ngạn Giả đem quân vây nhà họ Triệu, lấy cái mộc bài của Tấn Cảnh công ghi tội Triệu Thuẫn treo ở trước cửa, rồi kể tội họ Triệu phản nghịch và bắt bọn Triệu Sóc, Triệu Đồng, Triệu Quát, Triệu Chiên cùng già trẻ trai gái trong nhà đem giết tất cả. Con Triệu Chiên là Triệu Thắng bấy giờ đang ở đất Hàm Đan, vậy mới thoát nạn, bỏ trốn sang nước Tống. Đồ Ngạn Giả không tìm thấy Trang Cơ, liền nói: - Trang Cơ không cần phải bắt vội, nhưng nghe đâu đã có thai, vạn nhất sinh con trai thì lại còn cái giống phản nghịch, thêm di họa về sau! Quân sĩ bảo rằng: - Nửa đêm hôm qua, có người đi một cái xe kín vào cung. Đồ Ngạn Giả nói: - Đó tất là Trang Cơ. Đồ Ngạn Giả vào tâu với Tấn Cảnh công rằng: - Toàn gia bọn phản nghịch đã trừ hết được rồi, chỉ còn có công chúa (trỏ Trang Cơ) trốn vào trong cung, xin tâu để chúa công định liệu. Tấn Cảnh công nói: - Để sau này hễ sinh con trai thì ta sẽ trừ nốt! Đồ Ngạn Giả ngày đêm sai người dò thám xem Trang Cơ sinh trai hay sinh gái. Mấy hôm sau, Trang Cơ quả nhiên sinh được con trai. Thành phu nhân truyền cho cung nhân nói dối là sinh con gái. Đồ Ngạn Giả không tin, muốn sai một người vú vào cung để khám nghiệm xem. Trang Cơ sợ hãi, cùng với Thành phu nhân thương nghị, nói dối là đứa con gái sinh ra đã chết mất rồi. Bấy giờ Tấn Cảnh công say mê tửu sắc, bao nhiêu chính sự trong nước giao hết cho Đồ Ngạn Giả muốn làm gì thì làm. Đồ Ngạn Giả nghi Trang Cơ không phải là sinh con gái, và con cũng chưa chết, mới thân hành đem những nữ bộc vào để khám xét trong cung. Trang Cơ đem đứa cô nhi gói vào trong quần, rồi khấn trời rằng: - Lòng trời định làm tuyệt họ Triệu thì hãy khiến đứa cô nhi này khóc; nếu họ Triệu không đến nỗi tuyệt tự thì lại xin cho đứa cô nhi này cứ nằm im như không. Khi nữ bộc dắt Trang Cơ ra ngoài, rồi vào khám xét trong cung thì chẳng thấy gì cả. Đứa cô nhi ở trong quần cứ nằm im, không kêu khóc chút nào. Đồ Ngạn Giả khám xong trở về, nhưng lòng vẫn còn nghi hoặc. Có người báo là cô nhi đã đem ra khỏi cung môn rồi, Đồ Ngạn Giả liền yết thị rằng: "Hễ ai tố cáo được đích tin đứa cô nhi ấy thì thưởng cho một nghìn nén vàng, nếu biết mà không nói thì cũng coi như là oa tàng và phản nghịch, toàn gia phải chịu tội chết". Đồ Ngạn Giả lại truyền cho quân sĩ canh giữ cửa cung rất nghiêm mật; ai ra vào đều khám xét thật kỹ. Triệu Thuẫn khi trước có hai người môn khách tâm phúc là Công Tôn Chử Cữu và Trình Anh. Bấy giờ hai người nghe tin Đồ Ngạn Giả vây nhà họ Triệu, liền bàn nhau đến cứu. Trình Anh nói: - Kẻ kia phụng mệnh chúa công đến bắt họ Triệu thì chúng ta dẫu liều chết, cũng chẳng ích gì! Công Tôn Chử Cữu nói: - Vẫn biết là không ích gì, nhưng ân chủ mình có nạn, có lẽ nào mà mình không đến cứu. Trình Anh nói: - Trang Cơ (vợ Triệu Sóc) hiện đang có thai, nếu sinh đặng con trai thì ta cùng nhà ngươi hết lòng ủng hộ, chẳng may mà sinh con gái thì bấy giờ chúng ta hãy chết, cũng chưa chậm gì! Đến lúc nghe tin Trang Cơ sinh con gái. Công Tôn Chử Cữu khóc mà nói rằng: - Lòng trời định làm tuyệt họ Triệu hay sao! Trình Anh nói: - Chưa lấy gì làm chắc, âu là ta hãy dò xét xem. Trình Anh liền đút tiền các cung nhân để báo tin cho Trang Cơ. Trang Cơ biết Trình Anh là người trung nghĩa, mới viết một chữ "Vũ" đưa ra. Trình Anh mừng thầm rằng: Công chúa (trỏ Trang Cơ) quả nhiên sinh đặng con trai rồi. Sau Đồ Ngạn Giả vào khám xét trong cung, không thấy gì cả, Trình Anh mới bảo Công Tôn Chử Cữu rằng: - Cô nhi họ Triệu vẫn ở trong cung mà Đồ Ngạn Giả không tìm thấy, đó mới thật là lòng trời, nhưng chẳng qua giấu được một lúc mà thôi; sau này việc tiết lộ ra, Đồ Ngạn Giả tất lại khám xét, âu là ta phải lập kế đem ra mà giấu ở một nơi xa thì mới bảo toàn được. Công Tôn Chử Cữu ngẫm nghĩ trong nửa ngày rồi hỏi Trình Anh rằng: - Một đàng sống để giữ lấy cô nhi, một đàng liều thân mà chịu chết, đàng nào khó hơn? Trình Anh nói: - Liều chết thì dễ, chứ giữ lấy cô nhi là một việc khó. Công Tôn Chử Cữu nói: - Nhà ngươi nhận lấy việc khó để ta làm việc dễ cho. Nhà ngươi nghĩ thế nào? Trình Anh nói: - Bây giờ nhà ngươi định kế gì? Công Tôn Chử Cữu nói: - Làm thế nào tìm được một đứa cô nhi khác, nói dối là cô nhi của họ Triệu, ta ẵm đem vào giấu ở trong núi Thú Dương, rồi nhà ngươi ra thú, để cho Đồ Ngạn Giả vào bắt. Khi hắn đã bắt được đứa cô nhi giả ấy rồi thì đứa cô nhi thật mới có thể thoát nạn được. Trình Anh nói: - Tìm đứa cô nhi khác, không khó, chỉ khó một nỗi làm sao mà đem cô nhi thật ở trong cung ra cho được toàn vẹn. Công Tôn Chử Cữu nói: - Trong bọn các tướng, chỉ có Hàn Quyết là chịu ơn họ Triệu rất nhiều, việc đem đứa cô nhi ở trong cung ra, có thể nhờ Hàn Quyết được. Trình Anh nói: - Ta mới sinh đặng đứa con trai, cũng gần ngày với đứa cô nhi họ Triệu, có thể thay được; nhưng nhà ngươi đã có cái tội giấu đứa cô nhi ấy, tất nhiên bị giết. Nhà ngươi chết trước ta thì ta sao đành lòng! Trình Anh nói xong, hai hàng nước mắt chảy xuống ròng ròng. Công Tôn Chử Cữu nổi giận mà nói rằng: - Đó là một việc hay cho ta sao nhà ngươi lại khóc. Trình Anh liền gạt nước mắt rồi từ giã lui về. Đêm hôm ấy, Trình Anh ẵm đứa con giao tay cho Công Tôn Chử Cữu; lại sang yết kiến Hàn Quyết, đưa cho Hàn Quyết xem chữ "Vũ" rồi sau mới nói đến cái mưu của Công Tôn Chử Cữu cho Hàn Quyết nghe. Hàn Quyết nói: - Trang Cơ đang có bệnh, sai ta đi tìm thầy thuốc, nếu nhà ngươi đánh lừa cho Đồ Ngạn Giả đi vào núi Thú Dương tự khắc ta có kế đem được cô nhi họ Triệu ra. Trình Anh liền nói phao cho mọi người biết rằng: - Quan tư khấu họ Đồ (tức là Đồ Ngạn Giả) muốn bắt cô nhi họ Triệu, sao lại tìm ở trong cung. Người nhà Đồ Ngạn Giả nghe nói, liền hỏi Trình Anh rằng: - Nhà ngươi có biết chỗ cô nhi họ Triệu ở đâu không? Trình Anh nói: - Cho ta một nghìn nén vàng, ta mới chịu bảo. Người nhà Đồ Ngạn Giả liền đưa Trình Anh vào yết kiến Đồ Ngạn Giả. Đồ Ngạn Giả hỏi họ tên là gì. Trình Anh nói: - Tôi là họ Trình tên Anh, cùng với Công Tôn Chử Cữu cùng làm tôi họ Triệu, nay công chúa (trỏ Trang Cơ) sinh đặng con trai, có sai người ẵm ra giao cho hai chúng tôi đem giấu. Nhưng tôi sợ sau này có người tố giác thì nghìn nén vàng thưởng về tay họ được, mà cả nhà tôi tất bị chết oan, vậy nên tôi phải thú thực. Đồ Ngạn Giả hỏi: - Nay đứa cô nhi ấy giấu ở đâu? Trình Anh nói: - Ngài cho đuổi hết người xung quanh đi, rồi tôi xin nói. Đồ Ngạn Giả tức khắc truyền cho tả hữu lui ra. Trình Anh nói với Đồ Ngạn Giả rằng: - Hiện nay giấu ở trong núi Thú Dương, đi ngay mới bắt được, nếu chậm thì trốn sang nước Tấn mất! Nhưng ngài nên thân hành đi, còn người khác phần nhiều là thân tình với họ Triệu trước, chớ nên ủy thác cho ai. Đồ Ngạn Giả nói: - Nhà ngươi đưa ta đi. Việc thực thì ta trọng thưởng cho, nếu không thì có tội. Trình Anh nói: - Tôi cũng vừa ở trong núi về đây, trong bụng đói quá, xin ngài cho ăn một bữa. Đồ Ngạn Giả sai người dọn cơm cho ăn. Trình Anh ăn xong, lại giục Đồ Ngạn Giả đi ngay. Đồ Ngạn Giả đem ba nghìn quân theo Trình Anh thẳng đường đi vào núi Thú Dương. Đường đi quanh co, kể hàng mấy dặm, trông thấy ở bên kia suối có mấy gian nhà gianh, cửa đóng kín mít. Trình Anh trỏ cái nhà ấy mà bảo Đồ Ngạn Giả rằng: - Đây tức là chỗ Công Tôn Chử Cữu giấu đứa cô nhi ở đó! Trình Anh đến trước gọi cửa. Công Tôn Chử Cữu mở cửa ra đón trông thấy quân sĩ, giả cách hốt hoảng chạy trốn. Trình Anh gọi mà bảo rằng: - Nhà ngươi chớ chạy, quan tư khấu họ Đồ, ngài đã biết đứa cô nhi họ Triệu ở đó; ngài thân hành đến bắt; nhà ngươi nên mau mau mà đem nộp đi. Nói chưa dứt lời thì quân sĩ trói ngay Công Tôn Chử Cữu lại, đem đến trước mặt Đồ Ngạn Giả. Đồ Ngạn Giả hỏi: - Đứa cô nhi họ Triệu bây giờ để đâu. Công Tôn Chử Cữu chối rằng: - Thực quả không có! Đồ Ngạn Giả sai quân sĩ vào khám trong nhà. Quân sĩ vào khám, trông thấy cửa phòng khóa kỹ lắm, liền phá cửa vào. Trong buồng tối tăm như mực, nghe có tiếng trẻ con sợ khóc, hình như đứa bé ấy được đặt nằm ở trên một cái giường tre. Trình Anh ẵm đứa bé ấy đem ra thì thấy tã lót toàn bằng gấm vóc, rõ là một đứa bé con nhà quý phái. Công Tôn Chử Cữu trông thấy, muốn chạy lại mà cướp lấy, nhưng bị trói không làm gì được, mới quát to lên mà mắng Trình Anh rằng: - Trình Anh thật là một đứa tiểu nhân! Khi trước họ Triệu bị bắt, ta ước với mày cùng nhau liều chết mà đến cứu, mày có bảo ta rằng: - Công chúa (trỏ Trang Cơ) đang có thai, nếu chết đi thì sau này ai là người phù tá cho cô nhi. Nay công chúa đem cô nhi giao cho mày với ta cùng giấu vào chỗ núi này, bây giờ mày lại tham nghìn nén vàng mà đi tố giác. Ta dẫu chết cũng chẳng tiếc gì, chỉ tiếc rằng không đền được cái ơn của họ Triệu. Công Tôn Chử Cữu cứ sỉ mắng Trình Anh luôn miệng; một điều: Tiểu nhân! Hai điều: Tiểu nhân! Trình Anh hổ thẹn, mặt đỏ bừng bừng mà bảo Đồ Ngạn Giả rằng: - Sao ngài không giết chết nó đi! Đồ Ngạn Giả truyền đem Công Tôn Chử Cữu ra chém, rồi xách đứa cô nhi họ Triệu ném mạnh xuống đất, chết tươi ngay lập tức. Khi Đồ Ngạn Giả thân hành vào núi Thú Dương để bắt cô nhi họ Triệu, bấy giờ chốn kinh thành nước Tấn, ai cũng bàn về việc ấy. Người thì mừng thay cho Đồ Ngạn Giả, người thì thương thay cho họ Triệu, bởi vậy các quân sĩ canh giữ ở cửa cung, cũng hơi trễ nải những việc khám xét. Hàn Quyết sai một người tâm phúc, giả cách làm thầy thuốc vào trong xem bệnh cho Trang Cơ, đem cái mảnh giấy chữ "Vũ" của Trình Anh đưa khi trước dán ở trên cái đẫy đựng thuốc. Trang Cơ trông thấy chữ "Vũ" liền hiểu ý ngay. Người thầy thuốc bắt mạch xong, giả cách theo lối đoán bệnh, nói qua mấy câu: Thai tiền, sản hậu, v. V.. Trang Cơ thấy cung nhân đứng xung quanh đều là tâm phúc với mình cả, liền đem đứa cô nhi đặt vào đẫy thuốc. Đứa cô nhi ấy kêu khóc ầm lên. Trang Cơ lấy tay vỗ ở ngoài đẫy thuốc mà khấn rằng: - Triệu Vũ! Triệu Vũ! Nhà ta trăm miệng chết oan, sự báo thù ấy, chỉ trông mong một thân con đó mà thôi, khi con ra cửa cung, chớ có kêu khóc. Trang Cơ dặn xong thì đứa cô nhi nín lặng không khóc nữa; khi đem ra cửa cung, cũng chẳng ai khám xét gì cả. Hàn Quyết đem đứa cô nhi họ Triệu ra, khác nào như người được của báu, liền giấu vào một nơi nhà kín, giao cho vú nuôi, dẫu người trong nhà cũng chẳng ai biết đến. Đồ Ngạn Giả về dinh, đem nghìn nén vàng thưởng cho Trình Anh. Trình Anh chối từ nhận thưởng. Đồ Ngạn Giả nói: - Nhà ngươi chỉ vì cầu thưởng mà ra thú, cớ sao lại còn chối từ? Trình Anh nói: - Tôi trước làm môn khách họ Triệu đã lâu, nay giết cô nhi họ Triệu để gỡ tội, đã là một điều bất nghĩa, huống chi lại còn dám tham vàng, nếu ngài nghĩ đến cái công nhỏ mọn của tôi thì tôi xin đem vàng ấy để thu táng cho một nhà họ Triệu, gọi là chút tình của tôi đối với họ Triệu ngày xưa. Đồ Ngạn Giả bằng lòng mà nói rằng: - Nếu vậy thì nhà ngươi thật là một người có tín nghĩa! Những di thi họ Triệu, ta cho phép nhà ngươi được đem cái vàng này mà thu táng. Trình Anh lạy tạ, nhận lấy nghìn nén vàng, rồi thu táng những di thi họ Triệu, ở bên cạnh mộ Triệu Thuẫn. Khi thu táng đã xong, lại đến tạ ơn Đồ Ngạn Giả. Đồ Ngạn Giả muốn dùng Trình Anh làm quan. Trình Anh ứa nước mắt mà nói rằng: - Tôi chỉ vì tham sống sợ chết mà bị cái tiếng bất nghĩa. Còn mặt mũi nào trông thấy người nước Tấn! Từ đây trở đi, xin đi biệt phương xa, để mà kiếm ăn nuôi miệng. Trình Anh cáo từ Đồ Ngạn Giả, rồi đến yết kiến Hàn Quyết. Hàn Quyết đem đứa cô nhi họ Triệu và một người vú nuôi giao cho Trình Anh. Trình Anh nhận làm con mình, đem vào núi Mạnh Sơn để nuôi giấu. Đến ba năm sau, Tấn Cảnh công ra chơi Tân Điền, thấy chỗ ấy ruộng đất tốt lắm, mới thiên đô ra ở đấy, gọi là Tân Giáng, còn đô thành cũ thì gọi là Cô Giáng. Các quan triều thần làm lễ chúc mừng. Tấn Cảnh công mời vào trong nội cung để bày tiệc thiết đãi. Trời đã gần tối, các nội thị sắp sửa thắp nến, bỗng có một trận gió cuốn, bốc vào trong điện, lạnh ngắt cả người, ai cũng kinh sợ. Gió vừa thoảng qua thì Tấn Cảnh công trông thấy một con ma đầu bù, mình dài hơi trượng, xõa tóc đến tận đất ở ngoài cửa bước vào quát to lên mà mắng rằng: - Trời ôi! Con cháu ta có tội gì mà nhà ngươi giết đi, ta đã tâu với Ngọc Hoàng Thượng đế, cho đến đây để làm chết nhà ngươi. Con ma ấy giơ cái dùi đồng đánh Tấn Cảnh công. Tấn Cảnh công kêu rầm lên rằng: - Các quan cứu ta với!.. Miệng kêu tay rút thanh kiếm chém con ma, chẳng ngờ lại chém phải ngón tay của mình. Các quan triều thần không hiểu ra làm sao, vội vàng xúm lại giật lấy thanh kiếm, Tấn Cảnh công hộc máu tươi ra đàng miệng, rồi ngã lăn xuống đất.

Quay về bài gốc

0SHARES
 
34,431 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
HỒI THỨ 58 Ngụy Tướng sang Tần đón thầy thuốc Dưỡng Thúc vì vua bắn kẻ thù

Tấn Cảnh công bị con ma đánh hộc máu tươi ra đàng miệng, ngã lăn xuống đất. Nội thị vực vào trong phòng, giờ lâu mới dần dần tỉnh lại. Các quan đều không được vui mà tan về cả. Từ bấy giờ Tấn Cảnh công thành ra ốm nặng. Nội thị tâu ở đất Tang Môn có người đại vu cao tay lắm, ban ngày trông thấy ma quỷ được, xin cho đi triệu đến. Tấn Cảnh công cho đi triệu. Tang Môn đại vu mới vào cửa phòng, đã nói ngay là có ma có quỷ. Tấn Cảnh công hỏi hình dáng ma quỷ ấy thế nào. Tang Môn đại vu nói: - Đầu bù tóc xõa, mình cao hơn trượng, thường hay lấy tay đánh vào ngực, trông rất hung tợn! Tấn Cảnh công nói: - Tang Môn đại vu nói chính hợp với mắt ta trông thấy. Con ma ấy bảo là ta giết oan con cháu nó, không biết nó là gì? Tang Môn đại vu nói: - Đó tất là người bề tôi có công ở đời trước mà nay con cháu chết oan rất thảm vậy! Tấn Cảnh công ngạc nhiên mà nói rằng: - Ý chừng người ấy là tổ họ Triệu! Đồ Ngạn Giả đứng bên cạnh, liền tâu với Tấn Cảnh công rằng: - Tang Môn đại vu nguyên là môn khách họ Triệu, vậy nên mượn chuyện này để nói gỡ cho họ Triệu, chúa công chớ nên nghe. Tấn Cảnh công nín lặng. Được một lúc lại hỏi Tang Môn đại vu rằng: - Con ma ấy có thể cúng được không? Tang Môn đại vu nói: - Con ma ấy đang có lòng căm tức, dẫu cúng cũng vô ích. Tấn Cảnh công nói: - Vậy thì đại hạn của ta thế nào? Tang Môn đại vu nói: - Tôi xin liều chết mà nói thẳng rằng chúa công không kịp nếm lúa mạch mới. Đồ Ngạn Giả bảo Tang Môn đại vu rằng: - Chỉ trong một tháng nữa thì lúa mạch chín. Chúa công dẫu có bệnh, nhưng tinh thần còn tráng kiện, khi nào đã đến thế! Nếu chúa công được nếm lúa mạch mới thì chém đầu nhà ngươi! Đồ Ngạn Giả nói xong, liền đuổi Tang Môn đại vu ra. Sau bệnh Tấn Cảnh công mỗi ngày một nặng thêm. Y sinh nước Tấn vào xem không biết là chứng bệnh gì, không dám cho thuốc. Quan đại phu là Ngụy Tướng (con Ngụy Kỳ) nói chuyện với mọi người rằng: - Ta nghe nói nước Tần có hai người danh y là Cao Hòa và Cao Hoãn. Hai người ấy học được phép của Biển Thước, chữa bệnh tài lắm hiện đang làm quan thầy thuốc ở nước Tần. Nay muốn chữa bệnh cho chúa công thì tất phải mời người ấy mới được. Mọi người đều nói: - Tần là một nước cừu địch với ta, khi nào lại chịu cho thầy thuốc sang chữa bệnh cho chúa công ta! Ngụy Tướng nói: - Có tai nạn gì thì giúp đỡ lẫn nhau, ấy là việc hay của nước láng giềng! Tôi dẫu hèn mọn, cũng xin đem ba tấc lưỡi mà bảo được nước Tần phải cho danh y sang cứu chữa. Mọi người đều nói: - Nếu được như vậy thì cả triều đều cám ơn nhà ngươi lắm. Ngụy Tướng tức khắc thẳng đường đi sang nước Tần. Tần Hoàn công hỏi Ngụy Tướng rằng: - Nhà ngươi sang đây có việc gì? Ngụy Tướng tâu rằng: - Chúa công tôi chẳng may bị bệnh, nghe nói quý thuốc có hai người danh y là Cao Hòa và Cao Hoãn, làm thuốc hay lắm, vẫn cải tử hoàn sinh được, vậy tôi sang mời, về chữa bệnh cho chúa công tôi. Tần Hoàn công nói: - Nước Tấn đã mấy lần vô lý, đánh nhau với quân ta; nước ta dẫu có danh y, khi nào lại chịu chữa bệnh cho vua Tấn! Ngụy Tướng nghiêm nét mặt mà bảo rằng: - Nhà vua nghĩ thế là sai lầm! Quý quốc cùng nước tôi lân cận với nhau, bởi vậy vua Hiến công tôi ngày xưa cùng vua Mục công ở quý quốc đã kết thân với nhau để định đời đời cùng nhau giao hiếu, thế mà vua Mục công lúc trước dẫu có giúp vua Huệ công tôi về nước, lại gây việc tranh chiến ở đất Hàn Nguyên; lúc sau dẫu có giúp vua Văn công tôi về nước, lại bội lời thề ước ở sông Dĩ Thủy, có phải là những sự thù oán, đều tự quý quốc gây ra cả đó không? Khi vua Văn công tôi tạ thế đi rồi, Tần Mục công lại quá nghe lời Mạnh Minh, khinh vua Tương công tôi còn trẻ tuổi, đem quân qua núi Hào Sơn, đánh lẻn nước phụ thuộc của nước tôi, để đến nỗi thua quân; nước tôi bắt được ba quan nguyên soái mà đều tha cho về, rồi sau quý quốc lại trái lời thề, đem quân sang cướp vương cung. Đời Linh công và Khang công tôi, đem quân đi đánh Sùng mà quý quốc lại đem quân sang cùng với nước tôi giao chiến; đến chúa công tôi bây giờ, sang hỏi tội nước Tề thì nhà vua lại sai Đỗ Hồi đem quân cứu Tề. Lúc thua không chừa, lúc được không thôi; những mối thù oán, đều là tại quý quốc cả! Nhà vua thử nghĩ xem như thế là nước tôi xâm phạm quý quốc, hay là quý quốc xâm phạm nước tôi? Nay chúa công tôi có bệnh, muốn cầu danh y của quý quốc, các quan triều thần nước tôi đều nói: "Tần là một nước cừu địch với ta, khi nào chịu cho!". Tôi cãi rằng: "Không phải! Vua Tần đã làm nhiều việc trái lẽ, chắc đâu là không biết hối: Chuyến này, nhân việc cầu danh y mà giữ lấy cái tình liên lạc của tiên quân ta thuở xưa", nếu nhà vua không cho thì lời nói của các quan triều thần nước tôi, đoán đã trúng lắm! Thế là nước láng giềng nên phải cứu giúp nhau, mà nhà vua bỏ cái nghĩa ấy; người thầy thuốc nên phải cứu giúp người mà nhà vua trái cái lòng ấy, tôi dám chê nhà vua lắm! Tần Hoàn công thấy Ngụy Tướng nói đâu ra đấy, có ý kính trọng, mới bảo Ngụy Tướng rằng: - Nhà ngươi trách ta như thế là phải, ta xin vâng lời. Tần Hoàn công truyền cho quan thầy thuốc là Cao Hoãn sang nước Tấn. Ngụy Tướng tạ ơn, rồi đưa Cao Hoãn về. Tấn Cảnh công ốm nặng, ngày đêm mong đợi thầy thuốc nước Tấn, bỗng nằm mộng thấy hai đứa bé con ở trong lỗ mũi chui ra. Một đứa nói: - Cao Hoãn nước Tấn là danh y đời bấy giờ, nếu hắn đến mà cho thuốc thì chúng ta tất bị thương, biết làm thế nào mà tránh được? Còn một đứa kia nói: - Nếu chúng ta tránh về phía trên mạng mỡ, phía dưới quả tim thì làm gì ta nổi! Được một lúc thì Tấn Cảnh công kêu đau bụng rầm rĩ cả lên, không thể chịu được. Ngụy Tướng đưa Cao Hoãn vào. Cao Hoãn xem mạch xong, nói với Tấn Cảnh công rằng: - Bệnh này không thể nào chữa được nữa! Tấn Cảnh công hỏi: - Tại sao? Cao Hoãn nói: - Bệnh này ở phía trên mạng mỡ, phía dưới quả tim, dẫu đốt cũng không thấu được, dẫu châm cũng không tới được, còn chữa làm sao, chẳng qua cũng là mệnh trời! Tấn Cảnh công khen rằng: - Nhà ngươi thật là danh y! Lời nói hợp với mộng của ta lắm! Tấn Cảnh công truyền đem lễ vật tiễn đưa Cao Hoãn trở về nước Tần. Bấy giờ có một người tiểu nội thị tên gọi Giang Trung, hầu hạ mỏi mệt quá, đang giữa ban ngày, bỗng chợp mắt ngủ đi, thấy mình cõng Tấn Cảnh công bay lên trên trời; khi tỉnh dậy, nói chuyện với những người xung quanh, lại vừa gặp Đồ Ngạn Giả vào cung thăm bệnh, nghe được cái mộng ấy, liền nói với Tấn Cảnh công rằng: - Trời là dương minh, bệnh là âm ám, nay thấy bay lên trên trời, thế là bỏ chỗ âm ám tới chỗ dương minh, bệnh chúa công tất gần đến ngày khỏi. Tấn Cảnh công hôm ấy thấy trong mình cũng hơi dễ chịu, lại nghe lời nói của Đồ Ngạn Giả, có ý mừng thầm. Bỗng có chức điền nhân đem lúa mạch mới vào dâng, Tấn Cảnh công muốn ăn ngay liền sai nhà bếp đem một nửa giã nhỏ ra để nấu cháo. Đồ Ngạn Giả căm tức Tang Môn đại vu về việc nói họ Triệu chết oan, mới tâu với Tấn Cảnh công rằng: - Ngày trước Tang Môn đại vu nói: "Chúa công không kịp nếm lúa mạch mới", nay câu nói ấy không nghiệm, xin triệu đến mà bảo cho hắn biết. Tấn Cảnh công theo lời, triệu Tang Môn đại vu vào, rồi sai Đồ Ngạn Giả quở trách rằng: - Lúa mạch mới để đây rồi, nhà ngươi còn dám bảo là chúa công không kịp nếm nữa hay thôi? Tang Môn đại vu nói: - Chưa chắc! Tấn Cảnh công nghe nói, sầm nét mặt xuống. Đồ Ngạn Giả nói: - Bề tôi mà dám nguyền rủa vua thì tội đáng chém! Đồ Ngạn Giả truyền đem Tang Môn đại vu ra chém, Tang Môn đại vu thở dài mà than thầm rằng: - Thương hại cho ta, vì một thuật nhỏ mọn mà đến nỗi thiệt đời! Quân sĩ đem đầu Tang Môn đại vu vào nộp, lại vừa gặp nhà bếp dâng bát cháo lúa mạch; bấy giờ trời đang mưa, Tấn Cảnh công toan cầm bát cháo lúa mạch để ăn, tự nhiên bụng phát chướng lên muốn đi ra ngoài, vội vàng gọi Giang Trung, bảo cùng ra nhà xí. Giang Trung cõng ra đến nơi thì Tấn Cảnh công đau bụng quá, đứng chân không vững ngã lăn xuống đống phân. Giang Trung lóp ngóp ẵm lên thì Tấn Cảnh công đã tắt hơi rồi, chung quy vẫn không kịp nếm lúa mạch mới. Quan thượng khanh là Loan Thư cùng các quan triều thần lập thế tử Châu Bồ lên nối ngôi, tức là Tấn Lệ công. Các quan triều thần công nghị rằng: - Giang Trung khi trước đã nằm mộng thấy cõng vua Cảnh công ta lên trời, sau đó cõng ra nhà xí, chính là ứng cái mộng ấy, phải dùng Giang Trung làm tuẫn táng. Người nước Tấn nhân việc Tấn Cảnh công chết về bệnh ma quỷ, đều bảo nhau là họ Triệu chết oan, nhưng họ Loan và họ Khước cùng với Đồ Ngạn Giả giao thông, còn Hàn Quyết dẫu là đảng họ Triệu, mà một mình thế cô, cũng không dám nói. Bấy giờ Tống Cung công sai quan thượng khanh là Hoa Nguyên sang nước Tấn để viếng vua cũ và mừng vua mới. Hoa Nguyên cùng với Loan Thư thương nghị, muốn cho Tấn và Sở giảng hòa với nhau, để khỏi gây ra việc tranh chiến. Loan Thư nói: - Nước Sở không nên tin! Hoa Nguyên nói: - Tôi có quen với công tử Anh Tề nước Sở, việc này giao cho người ấy được. Loan Thư liền sai con là Loan Hàm cùng với Hoa Nguyên sang nước Sở, vào yết kiến công tử Anh Tề. Công tử Anh Tề trông thấy Loan Hàm hãy còn trẻ tuổi, mặt mũi khôi ngô, liền hỏi Hoa Nguyên. Hoa Nguyên nói là con quan trung quân nguyên soái ở nước Tấn. Công tử Anh Tề muốn thử tài, mới hỏi Loan Hàm rằng: - Phép dùng quân của quý quốc thế nào? Loan Hàm nói: - Nghiêm chỉnh! Công tử Anh Tề lại hỏi: - Còn có cái gì giỏi hơn nữa không? Loan Hàm nói: - Nhàn hạ! Công tử Anh Tề nói: - Người ta rối loạn mà mình nghiêm chỉnh, người ta vội vàng mà mình nhàn hạ thì đánh đâu là chẳng được. Câu nói ấy thật giản dị mà có thể tóm tắt hết được phép dùng quân! Từ bấy giờ công tử Anh Tề có ý kính trọng Loan Hàm mới vào yết kiến Sở Cung Vương, để bàn định việc giảng hòa của hai nước (Tấn và Sở). Sở Cung Vương bằng lòng rồi hẹn ngày cho ăn thề. Ngày hôm ấy Sĩ Nhiếp nước Tấn và công tử Bí nước Sở cùng uống máu ăn thề ở ngoài cửa Tây môn nước Tống. Quan tư mã nước Sở là công tử Trắc không được dự bàn về việc ấy, mới nổi giận mà nói rằng: - Nam Bắc từ xưa vẫn không giao thông với nhau, nay công tử Anh Tề lại muốn chuyện cái công hợp nhất, làm thế nào ta cũng phải phá mới được. Công tử Trắc dò thám biết tin Vu Thần hợp với vua nước Ngô là Thọ Mộng cùng các quan đại phu nước Tấn, nước Lỗ, nước Tề, nước Tống, nước Vệ và nước Trịnh hội ở đất Chung Ly, mới nói với Sở Cung Vương rằng: - Nước Tấn giao thông với nước Ngô, tất là có ý mưu hại nước Sở ta. Nay Tống và Trịnh đều theo Tấn thì các nước phụ thuộc của Sở ta, không còn gì nữa! Sở Cung Vương nói: - Ta muốn đánh Trịnh, chỉ ngại lời thề ở Tây môn. Công tử Trắc nói: - Công việc ngày nay, đàng nào lợi thì làm, cần gì lời thề! Sở Cung Vương liền sai công tử Trắc đem quân đi đánh Trịnh. Nước Trịnh lại bỏ Tấn theo Sở. Tấn Lệ công giận lắm, họp các quan đại phu để bàn việc đánh Trịnh. Bấy giờ Loan Thư nước Tấn dẫu làm trung quân nguyên soái, nhưng quyền chính ở tay ba họ Khước: 1. - Khước Kỳ (con Khước Khắc) làm thượng quân nguyên soái. 2. - Khước Thù (em họ Khước Khắc) làm thượng quân phó tướng. 3. - Khước Chí (cháu Khước Bộ Dương) làm tân quân phó tướng. Con Khước Thù là Khước Nghị và em Khước Chí là Khước Khất đều làm quan đại phu. Bá Tôn là người ngay thẳng, đã nhiều lần đem việc họ Khước chuyên quyền nói với Tấn Lệ công, bảo nên chọn người nào tài giỏi, hãy cho làm quan, để nén bớt quyền thế đi thì mới bảo toàn được cho một nhà công thần. Tấn Lệ công không nghe lời. Ba họ Khước căm tức Bá Tôn, mới dèm Bá Tôn hay chê bai triều chính. Tấn Lệ công lại bắt Bá Tôn đem giết đi. Con Bá Tôn là Bá Châu Lê trốn sang nước Sở. Nước Sở dùng làm quan thái tể, để bàn mưu hại nước Tấn. Tấn Lệ công vốn có tính kiêu ngạo xa xỉ, ngoài thì tin yêu bọn Tư Đồng (con Tư Khắc, cháu Tư Giáp) là một lũ thiếu niên mà đều cho làm quan đại phu cả; còn trong thì những mỹ cơ ái tỳ, không biết bao nhiêu mà kể, ngày đêm vui chơi, chẳng thiết gì đến triều chính. Bởi vậy các quan triều thần ai cũng có ý chán nản. Sĩ Nhiếp thấy triều chính mỗi ngày một dở, không muốn đánh Trịnh. Khước Chí nói: - Nếu không đánh Trịnh thì sao cho chư hầu phục? Loan Thư nói: - Ngày nay bỏ mất nước Trịnh thì Tống và Lỗ tất cũng ly tán mà thôi. Ôn Quý (tức là Khước Chí) nói phải lắm! Miêu Bí Hoàng (hàng tướng nước Sở, sang làm quan ở nước Tấn) cũng khuyên Tấn Lệ công nên đánh Trịnh. Tấn Lệ công nghe lời, liền giao quốc chính cho Tuân Dinh, rồi đem quân tiến sang nước Trịnh; lại một mặt sai Khước Thù cùng Loan Áp sang mượn thêm quân Lỗ và Vệ để đánh giúp. Trịnh Thành công nghe nói quân Tấn thế lực mạnh lắm, toan sai người ra xin hàng. Quan đại phu là Diêu Câu Nhĩ nói: - Nước Trịnh ta nhỏ mọn, ở vào khoảng hai nước lớn, chỉ nên chọn xem nước nào mạnh thế hơn thì theo, cớ sao lại nay Sở mai Tấn, để đến nỗi năm nào cũng phải chịu cái tai vạ chiến tranh như thế này! Trịnh Thành công nói: - Vậy thì biết làm thế nào? Diêu Câu Nhĩ nói: - Cứ như ý tôi thì không gì bằng sang nước Sở cầu cứu. Hễ quân Sở đến thì ta cùng với nước Sở cố sức mà đánh vỡ quân Tấn, mới có thể giữ yên được trong mấy năm. Trịnh Thành công liền sai Diêu Câu Nhĩ sang nước Sở để cầu cứu. Sở Cung Vương vẫn ngại về lời thề ở Tây môn, không muốn cất quân, mới hỏi công tử Anh Tề. Công tử Anh Tề nói: - Vì ta thất tín, Tấn mới đem quân đánh Trịnh, nay ta lại cứu Trịnh mà đánh Tấn thì làm khổ dân mà vị tất đã đánh được, chi bằng ta hãy đợi thời. Công tử Trắc nói: - Người nước Trịnh không nỡ bội nước Sở ta, vậy nên mới đến cầu cứu. Nước ta trước đã không cứu Tề, nay lại không cứu Trịnh thì các nước chư hầu, ai còn muốn theo ta nữa. Tôi dẫu hèn mọn, cũng xin đem một toán quân theo đại vương đi cứu Trịnh. Sở Cung Vương bằng lòng, cho công tử Trắc làm đại tướng, rồi đem quân tiến sang nước Trịnh. Sĩ Nhiếp nghe tin quân Sở sang cứu Trịnh, bảo Loan Thư rằng: - Chúa công ta còn trẻ tuổi, không biết việc nước, nay ta giả cách sợ nước Sở mà lùi quân, khiến cho chúa công ta biết nghĩ lại, mới có thể giữ yên được nước nhà. Loan Thư nói: - Việc ấy tôi không dám làm! Sĩ Nhiếp lui ra, rồi thở dài mà than rằng: - Chuyến này thua là may, nếu thắng trận thì ta chỉ e rằng trong nước lại sinh ra biến loạn. Bấy giờ quân Sở đã kéo đến đất Yên Lăng. Quân Tấn không tiến binh được nữa, phải đóng lại ở Bành Tổ Cương. Ngày hôm sau nhằm vào ngày nguyệt tận, gọi là ngày hối; theo như binh pháp thì ngày hối phải kiêng cất quân, bởi vậy quân Tấn chẳng sửa soạn gì cả. Bấy giờ trời chưa sáng rõ, nghe báo quân Sở đã bày trận khiến cho quân Tấn không có chỗ mà bày trận nữa, nếu ta giao chiến tất là bất lợi, chi bằng ta hãy họp các tướng lại để thương nghị. Các tướng mỗi người nói một cách: Người thì nói nên đem quân xông ra mà phá trận quân Sở; người thì nói nên rút quân lùi về phía sau. Bấy giờ con Sĩ Nhiếp là Sĩ Mang, mới mười sáu tuổi, nghe các tướng bàn mãi mà không xong, liền vào nói với Loan Thư rằng: - Nguyên soái lo không có chỗ bày trận hay sao, tôi thiết tưởng đó là một việc rất dễ! Loan Thư nói: - Nhà ngươi có kế gì? Sĩ Mang nói: - Ta mật truyền quân sĩ đóng chặt cửa dinh lại, rồi đem bao nhiêu những bếp đun, san phẳng cả đi, còn giếng thì dùng ván bắc ngang lên mà lấp kín lại, như thế thì chỉ trong một hồi lâu là có thừa chỗ bày trận mà thôi. Khi đã bày trận xong sẽ mở cửa dinh ra để giao chiến với quân Sở, chắc là quân Sở chẳng làm gì ta nổi! Loan Thư nói: - Bếp và giếng là những chỗ cần dùng, nếu sau bếp lấp giếng thì lấy gì mà ăn? Sĩ Mang nói: - Ta hãy truyền cho quân sĩ sắp sẵn lương khô và nước uống đủ dùng trong một, hai ngày, đợi khi bày trận xong, sẽ cho những quân già yếu ra phía sau dinh, làm bếp khác và khai giếng thác. Sĩ Nhiếp vốn không muốn đánh, thấy con hiến kế nổi giận mà mắng rằng: - Việc binh thắng hay là phụ quan hệ ở mệnh trời. Mày còn trẻ tuổi phỏng đã biết cái gì mà dám nói láo! Sĩ Nhiếp liền cầm ngọn giáo đuổi theo, để định đâm Sĩ Mang. Các tướng vội vàng đổ ra, ôm Sĩ Nhiếp lại Sĩ Mang mới chạy thoát. Loan Thư cười mà bảo rằng: - Trí khôn của đứa trẻ ấy lại có phần hơn Phạm Mạnh (tức là Sĩ Nhiếp) ! Loan Thư theo kế Sĩ Mang, truyền cho quân sĩ san bếp lấp giếng, rồi định ngày giao chiến với quân Sở. Sở Cung Vương tiến áp đến dinh quân Tấn mà bày trận, trong lòng nghĩ thầm rằng ta nhân lúc bất ngờ mà làm như thế, tất nhiên quân Tấn phải rối loạn, sau thấy quân Tấn vẫn im lặng như tờ, mới hỏi quan thái tể là Bá Châu Lê rằng: - Tại sao mà quân Tấn vẫn im lặng như vậy, nhà ngươi là người nước Tấn, tất biết rõ cớ ấy? Bá Châu Lê nói: - Xin đại vương trèo lên chòi mà nom xem. Sở Cung Vương trèo lên chòi, cho Bá Châu Lê đứng ở bên cạnh, Sở Cung Vương hỏi: - Quân Tấn làm gì mà lúc chạy sang phía tả, lúc chạy sang phía hữu thế kia? Bá Châu Lê nói: - Đó là đang gọi quân. Sở Cung Vương nói: - Sao bây giờ lại họp cả ở trung quân như vậy? Bá Châu Lê nói: - Đó là họp để bàn mưu. Sở Cung Vương nói: - Căng màn ra làm gì thế kia? Bá Châu Lê nói: - Đó là làm lễ cáo với tiên quân. Sở Cung Vương nói: - Sao bây giờ lại cất màn đi? Bá Châu Lê nói: - Đó là đang tuyên bố hiệu lệnh. Sở Cung Vương nói: - Tại sao mà trong quân huyên náo, lại có nhiều cát bụi bay rầm lên như vậy? Bá Châu Lê nói: - Quân Tấn đang san bếp lấp giếng để lấy chỗ bày trận. Sở Cung Vương nói: - Xe đều đóng ngựa rồi! Tướng sĩ đều lên xe rồi! Bá Châu Lê nói: - Đó là kết thành trận thế. Sở Cung Vương nói: - Tướng sĩ đã lên xe, sao lại còn xuống? Bá Châu Lê nói: - Đó là sắp giao chiến mà còn cúng thần. Sở Cung Vương nói: - Ta xem quân Tấn thế lực hùng dũng lắm! Hay có vua Tấn ở đó chăng? Bá Châu Lê nói: - Đó là họ Loan và họ Phạm theo vua Tấn mà bày trận, ta chớ nên khinh thường. Sở Cung Vương biết hết tình hình quân Tấn, mới truyền cho quân sĩ phải sửa soạn sẵn, để đến ngày hôm sau giao chiến. Hàng tướng nước Sở là Miêu Bí Hoàng (con Đấu Việt Lâm trốn sang làm quan ở nước Tấn) đứng hầu ở bên cạnh Tấn Lệ công, tâu với Tấn Lệ công rằng: - Từ khi quan lệnh doãn nước Sở là Tôn Thúc Ngao chết đi, quân chính nước Sở chẳng có phép tắc nào cả, trong bọn tinh binh đã nhiều người già yếu không thể giao chiến được. Vả hai quan nguyên soái ngày nay đang bất bình với nhau, tôi chắc rằng ta chỉ đánh một trận thì phá vỡ được quân Sở. Ngày hôm ấy, hai bên vẫn còn giữ thế chưa giao chiến, tướng nước Sở là Phan Đảng ra sau dinh tập bắn chơi; bắn trúng luôn ba phát, các tướng đều reo mừng khen ngợi rầm rĩ cả lên, lại vừa gặp có Dưỡng Do Cơ đến, các tướng trông thấy đều nói: - Lại có một tay thần tiễn nữa đến kia! Phan Đảng nổi giận mà nói rằng: - Ta bắn như thế, phỏng đã kém Dưỡng Thúc (tức là Dưỡng Do Cơ) về cái gì? Dưỡng Do Cơ nói: - Nhà ngươi bắn trúng cái đích bia, chưa lấy gì làm lạ, như ta đây thật là đã trăm bước trúng cây dương. Các tướng đều hỏi: - Trăm bước trúng cây dương là thế nào? Dưỡng Do Cơ nói: - Trước đã có người đánh dấu một cái lá cây dương, ta đứng ở ngoài trăm bước bắn một phát mà trúng vào giữa cái lá ấy, bởi thế mới gọi là "trăm bước trúng cây dương". Các tướng nói: - Ở đây cũng có cây dương, nhà ngươi thử bắn được không? Dưỡng Do Cơ nói: - Sao lại không được! Các tướng mừng lắm nói: - Ngày nay ta lại được xem thần tiễn của Dưỡng Thúc! Các tướng lấy mực bôi vào một cái lá ở cây dương để cho Dưỡng Do Cơ đứng ngoài trăm bước mà bắn thử, Dưỡng Do Cơ đứng bắn một phát. Các tướng không thấy cái tên rơi xuống đất, đều xúm lại xem thì ra cái tên ấy vướng ở trên cành cây dương mà mũi tên xuyên qua cái lá đã bôi mực. Phan Đảng nói: - May được trúng đó thôi! Bây giờ ta theo thứ tự mà đánh dấu vào ba cái lá, nhà ngươi lại theo thứ tự mà bắn trúng được cả ba thì mới là tay giỏi. Dưỡng Do Cơ nói: - Ta chưa dám chắc, nhưng hãy xin bắn thử! Phan Đảng đánh dấu ba cái lá ở trên cây dương, mỗi cái một chỗ: Cái đề chữ "nhất", cái đề chữ "nhị" và cái đề chữ "tam". Dưỡng Do Cơ nhìn qua một lượt, rồi lui ra ngoài trăm bước, lại theo thứ tự: Nhất, nhị, tam mà bắn. Bắn luôn ba phát đều trúng tất cả. Các tướng cùng chắp tay vái Dưỡng Do Cơ mà khen rằng: - Nhà ngươi thật là thần nhân! Phan Đảng dẫu trong lòng khen thầm, nhưng lại muốn khoe tài của mình, mới bảo Dưỡng Do Cơ rằng: - Dưỡng Thúc bắn như thế cũng cho là giỏi, nhưng nghề bắn lại cần phải có sức khỏe mới được; ta đây có thể bắn suốt qua được mấy lần áo giáp, để ta thử bắn cho các ngươi đứng mà xem. Các tướng đều nói: - Chúng tôi muốn xem lắm! Phan Đảng sai quân sĩ xếp liền với nhau năm lần áo giáp. Các tướng nói: - Thôi thế cũng đã đủ rồi! Phan Đảng lại sai để thêm hai lần nữa, cả thảy là bảy lần. Các tướng đều nghĩ thầm: Bảy lần áo giáp có khi dầy gần tới một thước, tài nào bắn xuyên qua được? Phan Đảng sai đem bảy lần áo giáp treo lên trên cái đích bia, rồi đứng ở ngoài trăm bước, cố sức thẳng cánh giương cung bắn ngay một phát, chỉ nghe tiếng cái tên bay vụt đi, không thấy rơi xuống đất. Các tướng xúm lại xem, ai nấy đều reo ầm lên rằng: - Hảo tiễn! Hảo tiễn! Nguyên Phan Đảng bắn mạnh quá, cái tên ấy suốt qua bảy lần áo giáp, như đinh đóng cột, không thể lay động được. Phan Đảng nét mặt có ý khoe khoang, truyền cho quân sĩ đem mấy lần áo giáp đó xuống, và cứ để cái tên ấy y nguyên như vậy, định đưa khắp cho cả dinh cùng xem, Dưỡng Do Cơ bảo các tướng rằng: - Khoan đã! Đừng hạ xuống vội, để thử bắn một phát nữa xem sao! Các tướng nói: - Ừ, phải đó! Để chúng ta xem tài Dưỡng Thúc chuyến nữa! Dưỡng Do Cơ nói: - Nếu cứ theo lối cũ mà bắn như vậy thì không lấy gì làm lạ; ta đây có một cách bắn khác kiểu! Dưỡng Do Cơ nói xong, liền bắn ngay một phát. Phát tên ấy không cao, không thấp, không lệch về hai bên, lại cắm thẳng ngay vào cái đốc tên của Phan Đảng mà đẩy sang phía bên kia, còn cái tên của Dưỡng Do Cơ thì lại thế vào chỗ thủng ấy. Các tướng trông thấy ai cũng lắc đầu lè lưỡi mà khen là tài. Bấy giờ Phan Đảng mới chịu phục mà nói rằng: - Dưỡng Thúc thật là người giỏi, ta không thể theo kịp! Các tướng nói: - Nay Tấn, Sở hai nước sắp giao chiến với nhau, chính là lúc cần dùng người tài lắm, hai vị tướng quân đã có tài giỏi như vậy, ta nên tâu đại vương biết! Các tướng sai quân sĩ khiêng mấy lần áo giáp ấy đến trước mặt Sở Cung Vương, Dưỡng Do Cơ và Phan Đảng cũng cùng đến cả. Các tướng đem những việc hai người bắn thi với nhau thuật lại cho Sở Cung Vương nghe, và tâu với Sở Cung Vương rằng: - Nước ta có người bắn giỏi như thế thì dẫu trăm vạn quân Tấn cũng chẳng làm gì nổi! Sở Cung Vương nổi giận mà mắng rằng: - Làm tướng đánh giặc, cần phải dùng mưu kế, chứ sao lại cầu may ở một mũi tên! Các ngươi chỉ nghĩ như thế thì tất có ngày lại chết về nghề tài của mình! Sở Cung Vương liền thu lấy cái tên của Dưỡng Do Cơ, cấm từ sau không được bắn nữa. Dưỡng Do Cơ hổ thẹn mà lui ra. Đầu trống canh năm hôm sau, Tấn Lệ công và Sở Cung Vương cùng truyền cho quân sĩ nổi hiệu trống đem quân ra trận. Trịnh Thành công cũng đem quân nước Trịnh đến tiếp ứng cho quân Sở. Tấn Lệ công vừa đem quân ra, tiến thẳng đến trận địa quân Sở, chẳng ngờ có một chỗ bùn lầy, xe Tấn Lệ công sụt bánh xuống đấy, ngựa không thể nào kéo nổi. Con Sở Cung Vương là Hùng Phiệt hãy còn trẻ tuổi, đang hăng hái lắm, trông thấy Tấn Lệ công sa lầy, liền thúc quân đến đánh. Tướng nước Tấn là Loan Hàm vội vàng ở trên xe nhẩy xuống cố sức hai tay đẩy hai bánh xe của Tấn Lệ công, bấy giờ ngựa mới ra khỏi được. Khi Hùng Phiệt đem quân đến nơi thì vừa gặp có toán quân của Loan Thư đến. Loan Thư quát to lên rằng: - Tiểu tướng không được vô lễ! Hùng Phiệt trông thấy trên lá cờ đề bốn chữ "trung quân nguyên soái" biết là đại binh giật mình kinh sợ, vội vàng bỏ chạy. Loan Thư đuổi theo, bắt sống được Hùng Phiệt. Quân Sở thấy Hùng Phiệt bị bắt đều đổ xô lại cứu, nhưng Sĩ Nhiếp và Khước Chí vừa đem quân đến, bởi vậy quân Sở sợ có mai phục, lại phải thu quân trở về. Quân Tấn cũng không đuổi theo quân Sở nữa. Loan Thư giải Hùng Phiệt về nộp Tấn Lệ công. Tấn Lệ công toan chém. Miêu Bí Hoàng nói với Tấn Lệ công rằng: - Vua Sở nghe tin con bị bắt, ngày mai tất nhiên đem quân đến đánh, ta nên bỏ Hùng Phiệt vào tù xa, đem ra trận tiền mà dụ vua Sở. Tấn Lệ công khen phải. Sáng hôm sau Loan Thư truyền mở cửa dinh để sửa soạn khai chiến với quân Sở. Quan đại tướng là Ngụy Kỳ bảo Loan Thư rằng: - Đêm qua tôi nằm mộng thấy mình giương cung bắn trúng vầng mặt trăng, một giải hào quang ở trong mặt trăng tóe thẳng xuống đất, tôi vội vàng lùi lại, chẳng ngờ trượt chân sa xuống chỗ bùn lầy, rồi giật mình tỉnh dậy không biết đó là điềm gì? Loan Thư đoán rằng: - Cùng họ với nhà Chu ta là mặt trời thì khác họ tất là mặt trăng, bắn trúng mặt trăng, tất là bắn trúng vua Sở; nhưng lùi lại mà sa vào bùn lầy thì không phải là điềm lành, tướng quân nên cẩn thận mới được! Ngụy Kỳ nói: - Nếu phá vỡ quân Sở thì tôi dẫu chết cũng được thỏa lòng! Loan Thư liền cho Ngụy Kỳ đem quân ra trận, giao chiến với tướng nước Sở là Doãn Tương. Hai người giao chiến mới được mấy hiệp thì quân Tấn đem cái tù xa Hùng Phiệt ra. Sở Cung Vương trông thấy hầm hầm nổi giận, tức khắc giục ngựa tiến vào để định cướp lấy Hùng Phiệt đem về. Ngụy Kỳ trông thấy Sở Cung Vương, không giao chiến với Doãn Tương nữa, rồi quay lại đuổi theo Sở Cung Vương, bắn một phát tên, trúng ngay vào mắt bên tả. Sở Cung Vương vội vàng bỏ chạy, cố nghiến răng mà rút cái tên ra, cầm ném xuống đất. Cái đồng tử dính ở đầu mũi tên. Có một đứa tiểu tốt nhặt lấy mà dâng Sở Cung Vương và nói rằng: - Đây là mắt rồng, đại vương không nên bỏ đi! Sở Cung Vương cầm bỏ vào trong túi tên. Quân Tấn thấy Ngụy Kỳ thắng trận, đều cùng nhau tiến binh. Quan nguyên soái nước Sở là công tử Trắc cố sức chống cự, mới cứu thoát được Sở Cung Vương. Quân Khước Chí (tướng nước Tấn) vây Trịnh Thành công. Người dong xe của Trịnh Thành công đem lá cờ đại tinh giấu vào trong túi cung. Trịnh Thành công mới chạy thoát được. Bấy giờ Sở Cung Vương giận lắm, truyền gọi thần tiễn tướng quân là Dưỡng Do Cơ đến để cứu giá. Dưỡng Do Cơ vâng mệnh chạy đến, nhưng trong mình chẳng có một cái tên nào cả. Sở Cung Vương rút hai cái tên đưa cho Dưỡng Do Cơ và bảo rằng: - Người bắn ta vừa rồi là người râu xồm mặc áo bào xanh, tướng quân nên vì ta mà báo thù. Tướng quân đã là người bắn giỏi, tưởng cũng không cần phải dùng đến nhiều tên mới được. Dưỡng Do Cơ lĩnh lấy hai cái tên ấy, rồi tức khắc tiến sang quân Tấn, gặp một người râu xồm mặc áo bào xanh, tức là Ngụy Kỳ. Dưỡng Do Cơ quát to lên mà mắng Ngụy Kỳ rằng: - Đứa thất phu kia! Sao mày dám bắn đại vương ta? Ngụy Kỳ vừa toan trả lời thì Dưỡng Do Cơ bắn một phát tên trúng ngay vào cổ. Ngụy Kỳ ngã gục xuống đất mà chết ngay. Loan Thư tức khắc mang quân đến cướp lại được thi thể Ngụy Kỳ, đưa về dinh Tấn. Dưỡng Do Cơ còn thừa một cái tên, đem về nạp Sở Cung Vương và tâu rằng: - Tôi nhờ cái uy linh của đại vương, đã bắn chết được viên tướng râu xồm mặc áo bào xanh ấy rồi. Sở Cung Vương mừng lắm, liền cởi ngay áo cẩm bào ban cho Dưỡng Do Cơ lại ban cho một trăm cái tên bằng ngà. Bây giờ quân Sở đều gọi Dưỡng Do Cơ là Dưỡng Nhất Tiễn; nghĩa là chỉ bắn một phát tên thứ nhất đã trúng được ngay, không phải bắn đến phát tên thứ hai. Bấy giờ quân Tấn đuổi theo quân Sở gấp lắm, Dưỡng Do Cơ đứng chắn ngang đường, giương cung ra bắn. Quân Tấn không dám đến gần. Tướng nước Sở là công tử Anh Tề và công tử Nhâm Phu nghe tin Sở Cung Vương bị thương, đều đem quân đến tiếp ứng, lại hỗn chiến một chập nữa, rồi quân Tấn mới chịu lui về. Loan Hàm trông thấy lá cờ lệnh doãn, biết là toán quân của Anh Tề mới nói với Tấn Lệ công rằng: - Khi trước tôi sang sứ nước Sở. Quan lệnh doãn nước Sở là công tử Anh Tề có hỏi tôi về việc dùng binh của nước Tấn ta, tôi đáp rằng nghiêm chỉnh và nhàn hạ. Nay hỗn chiến với nhau, chưa thấy cái gì là nghiêm chỉnh; hai bên cùng lui, chưa thấy cái gì là nhàn hạ, tôi xin sai người đem rượu sang dâng công tử Anh Tề, để theo được như lời ngày trước. Tấn Lệ công khen phải. Loan Hàm sai một người mang hũ rượu sang quân công tử Anh Tề mà nói với công tử Anh Tề rằng: - Chúa công tôi thiếu người, đang sai Loan Hàm cầm giáo đứng hầu ở bên cạnh, vậy không thể đến đây mà khao quân quý quốc được, có sai tôi thay mặt đem dâng hũ rượu này. Công tử Anh Tề nhớ đến câu nói nghiêm chỉnh và nhàn hạ khi trước, mới khen rằng: - Tiểu tướng quân thật là nhớ việc lắm! Nói xong, liền nhận hũ rượu ấy, rồi rót một chén mà uống, lại bảo sứ giả rằng: - Ngày mai ta sẽ ra trận tiền để tạ lại. Sứ giả nước Tấn về thuật lại cho Loan Hàm nghe. Loan Hàm nói: - Vua nước Sở bị một mũi tên như thế, mà quân Sở còn chưa chịu lui quân thì biết làm thế nào? Miêu Bí Hoàng nói: - Ta cứ sửa soạn sẵn để sáng mai quyết một trận thắng phụ, chứ có sợ gì quân Sở. Bấy giờ Khước Thù cùng Loan Áp đi mượn quân nước Lỗ và nước Vệ đã trở về, nói là hai nước hiện đã đang cất quân sang gần đến nơi, chỉ còn cách đây độ hai mươi dặm. Quân thám tử báo tin cho Sở Cung Vương biết. Sở Cung Vương kinh sợ mà nói rằng: - Quân Tấn đã nhiều mà nay quân Lỗ và quân Vệ lại còn đến giúp, biết làm thế nào? Sở Cung Vương tức khắc sai người đi triệu quan trung quân nguyên soái đến để thương nghị.

Quay về bài gốc

0SHARES
 

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back