Mai Thảo sẽ không đến nếu hôm ấy không có việc đi qua Hồ Hoàn Kiếm. Nàng đi cùng người bạn gái. Lúc đi từ Nhà Hát Lớn qua phố Tràng Tiền, nhìn những lẵng hoa chúc mừng xếp hàng trước cửa phòng tranh, nàng sực nhớ lời ông hoạ sĩ già. Nàng phanh kít xe lại, rủ bạn: - Bọn mình vào xem tranh đi! - Tranh của ai đấy? - Cô bạn hỏi. Mai Thảo cười: - Hỏi dớ dẩn. Đã là tranh thì là của hoạ sĩ chứ của ai. - Quen không mà vào? - Cô bạn hỏi tiếp. Mai Thảo nhéo sườn bạn: - Quen, mà cũng không quen. Cô bạn nhìn Mai Thảo khó hiểu: - Đến xem tranh của người quen sao không mua hoa chúc mừng? Mai Thảo ngẩn người: - Ừ nhỉ! Nhưng.. - Nàng ngần ngừ, khuôn mặt họa sĩ đầu trọc hiện lên, đôi mắt ma mị chớp chớp.. Nàng lẩm bẩm thành tiếng - Có nên mua hoa không nhỉ? Cô bạn gái hất hàm, hỏi: - Đằng ấy hỏi tớ hay hỏi ai đấy? - Rồi cô bạn nói thêm - Nếu người quen thì phải có hoa. Vào tay không, ngượng chết! Mai Thảo nhìn dãy hàng hoa bên kia đường, lưỡng lự, rồi bỗng nhiên dứt khoát kéo tay bạn: - Gì mà chết với sống. Vào xem đã, tranh đẹp mới đáng tặng hoa. Nói rồi nàng dựng xe bên hè khoác tay bạn kéo vào.
Phòng trưng bày đông người, tuy vậy không khí trầm lắng, chỉ nghe tiếng trao đổi và những lời bình phẩm thì thầm nho nhỏ. Mai Thảo nhìn thấy ông họa sĩ già đứng cùng nhóm phóng viên trẻ. Hôm nay thầy ăn mặc rõ bảnh choẹ, xúng xính trong chiếc áo ghi lê màu xanh, cà vạt trắng kẻ sọc chéo, miệng cười hết chiều dơ, cốc rượu vang trên tay sóng sánh. Mai Thảo nhướng mắt nhìn khắp lượt, tự nhiên nàng muốn nhìn thấy hắn. Người bạn hỏi: - Bạn tìm ai đấy? Mai Thảo đáp: - Không! Miệng đáp vậy nhưng tai nàng nóng bừng thú nhận.
Một nam tiếp tân bê khay rượu tới, nghiêng mình điệu bộ: - Xin mời hai người đẹp. Mai Thảo lúng túng, cô bạn cùng đi nhấc hai ly, mồm liến thoắng: - Thanh kiu nhiều. Mai Thảo càu nhàu: - Không biết uống, cầm làm gì? Cô bạn nháy mắt: - Tại tay tiếp tân vừa đẹp trai vừa lịch sự, cầm cho anh ta sướng! Nào - Nói rồi cô chạm ly đánh cộc vào ly của Mai Thảo - Chúc mừng tay họa sĩ của bạn. Mai Thảo cự lại: - Đã quen đâu mà đằng ấy nói thế. Tuy vậy Mai Thảo vẫn nâng ly chạm rồi đưa lên nhắp một ngụm. Mùi rượu thơm quyến rũ. Nàng cảm thấy nóng ruột, không hiểu hắn ta ở đâu nhỉ? Nàng tự hỏi rồi đưa mắt tìm quanh..
- Này, bạn trông kìa! - Chợt người bạn cùng đi reo rồi cô kéo Mai Thảo đi về phía bức tranh treo giữa phòng - Bạn xem này, bức tranh này mới ngộ làm sao. Cả hai ngỡ ngàng trước bức tranh choán giữa tường, màu sắc còn tươi rực. Này! - Người bạn huých Mai Thảo - Sao đôi mắt nửa ngựa, nửa người lại giống mắt bạn thế nhỉ? Mai Thảo lừ mắt: - Bậy nào! Nói vậy nhưng trong thâm tâm nàng nhận ra tông hình phối màu trong bức tranh đúng là được phát triển từ bức ký họa hôm họa sĩ đầu trọc gặp mình ở sân trường - Nàng nghĩ - Tại sao hắn lại ghép mình hóa thân vào loài ngựa nhỉ? Sự tuỳ hứng kết hợp hay lối cách điệu? Tuy còn non nớt trong nghề, nhưng nàng nhận ra ý đồ của tác giả rất táo bạo, cuồng nhiệt nhưng không thiếu sự tế nhị trong từng nét vẽ và cách phối cảnh pha trộn giữa phần thú là phần người.. Không biết sao, tim nàng đập loạn xạ, thình thịch.. Thình thịch..
Dưới ánh sáng đèn, tổng thể bức tranh lấp loáng những đường nét đậm, nhạt; những gam màu lỏng, chặt, thể hiện phóng túng, mạnh mẽ; chủ thể bức tranh "Lưỡng thú" đồng điệu, cả hai đều mang tính hoang dại, cuồng khát đến mê mẩn. Đôi mắt Mai Thảo căng tròn, tâm hồn nàng bị bức tranh cuốn hút vào thế giới cuồng ảo. Có gì đấy kích ứng rộn rã mách bảo, một nửa của riêng nàng, ngây thơ, trinh trắng, khôi nguyên.. Còn nửa kia mang màu sắc hoang sơ, khai lập, trần trụi, đam đắm, dại khờ hướng về nhau đòi hỏi, khát tìm; nét chấm phá cách điệu, gần với sự đối xứng nhưng vẫn xác lập riêng biệt. Một linh hồn người mong manh, lắng dịu, hướng tới bản thể tự do cuồng nộ, đòi hỏi, vọng cầu thoả mãn; một linh hồn thú bạo liệt, quằn quại đòi ước niềm si mê ngây thơ, khờ khạo.. Tất cả vừa trừu tượng vừa hiện thực trong nét vẽ tài hoa, độc đáo.
Nàng chưa phải là họa sĩ đích thực. Phần ham thích khám phá mới bắt đầu. Thể như môn đồ mon men đến gần đạo lớn, ngỡ ngàng, tìm tòi giữa thế giới mông lung, huyễn hoặc của những gam màu ma mị. Nàng nhớ, niềm đam mê hội họa bắt nguồn từ lúc nàng nhận giải thưởng của cuộc thi vẽ tranh với chủ đề: "Vì một thế giới không chiến tranh". Nàng thể hiện bức tranh ấy lúc mười hai tuổi, tham gia theo phong trào, trách nhiệm, nghĩa vụ của một học trò. Nàng hiểu đơn thuần chiến tranh là chết chóc, đau thương, tàn khốc, tang tóc. Vậy là nàng tái tạo ngược lại, lấy hình ảnh: Lũ trẻ con nô đùa bên bầy chim bồ câu và những hàng cây xanh rờn trong sân chơi ở khu tập thể nơi gia đình nàng đang ở để thể hiện.
Tình cờ nàng chiếm giải đặc biệt. Ông họa sĩ già lúc ấy đang là Chủ tịch Hội đồng Giám khảo. Trong lễ trao giải, những lời bình của ông khiến nàng ngây ngất, vui sướng, ngỡ tưởng bức vẽ của mình mang lại hòa bình cho trái đất. Nàng ôm giải thưởng vào lòng, nhảy tưng tưng trên đôi chân xinh xẻo, và suốt ngày hát bài hát "
Trái đất này là của chúng mình" và.. Vẽ.
Đời sống của hội họa xâm lấn, nâng nàng lên, sự ngộ nhận bồng bột khai chiến với niềm yêu thích, sự nhạy cảm của tâm hồn trinh bạch hoá thân vào sắc thái đa màu, đa diện và đa tưởng tượng.. Cứ thế, nàng men theo niềm đam mê không chủ định, với ước mơ bồng bềnh ảo ảnh: Rằng, mình sẽ tạo ra thế giới riêng bằng những tác phẩm vi diệu. Ông họa sĩ muốn ươm mầm tài năng, đến câu lạc bộ nơi nàng sinh hoạt, khích lệ, hướng nàng đến với ngôi đền nghệ thuật. Tốt nghiệp phổ thông, nàng thi vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật với số điểm cao.
Tuy vậy từ năng khiếu đến tài năng là cả một khoảng cách. Khác hẳn với lối vẽ cảm tính tự thân, nàng bỡ ngỡ với tất cả những gì khi bước chân vào trường. Từ trường phái đến những hoạ phẩm nổi tiếng của các danh họa trên thế giới và trong nước làm cho nàng choáng ngợp. Trong cái thế giới đầy màu sắc muôn hình muôn vẻ kia, nàng - dường như kẻ mù màu, như kẻ khiếm thị cầm cây gậy dò dẫm, lần mò.. Không có sách nào cho nàng một định lý, một quy tắc, một chỉ số; không thầy, cô nào khẳng định cho nàng con đường với một lối đi riêng. Tất thảy chỉ có kỹ thuật giáo điều, cách pha trộn màu đơn giản, lối cầm cọ và những bài giảng ước lệ mang nặng tính mô phỏng cóp - pi cứng nhắc. Sự nhàm nhạt trơn tru, dễ dãi cho nàng hiểu, muốn trở thành thợ vẽ thì dễ, còn để trở thành một hoạ sĩ mới khó làm sao..
Đứng trước bức tranh "Lưỡng thú"
, nàng chưa thẩm định nổi, nhưng trước hết, tối thiểu đã gây cho nàng ấn tượng. Có gì đấy mà nàng chưa lý giải được sự bứt phá khỏi khuôn sáo sư phạm nàng học ở trường. Từ đường cong mềm mại, điểm cắt, nối thắt và khoảng cách giao thoa giữa con người và con thú gần như không giới hạn. Những gam màu hoà quyện vào nhau, phân tách một ranh giới vô định, tượng hình khiến cho nàng cảm nhận ra ý đồ sáng tạo nghệ thuật táo bạo, mới mẻ của một bàn tay khéo léo, vượt qua sự dung tục tầm thường đến với sự kỳ ảo, hoà quyện, hỗ trợ, tương ứng, tác thành một chủ thể giữa hiện thực và hoài vọng đòi giải phóng bản năng và lý trí..
- Một cuộc giao cấu bội thực.
Tiếng nói dứt Mai Thảo ra khỏi dòng suy tư. Nàng ngoảnh lại, nhận ra đó là một hoạ sĩ có tiếng trong giới hội hoạ mang biệt danh
"Cây cọ". Nàng biết vì nhiều lần nhà trường đã mời ông đến phụ đạo giảng bài. Người cùng đi với ông, nàng không biết, nhưng chắc cũng là người cùng giới. Khuôn mặt ông ta dài ngoẵng và khi nói chiếc cằm có chòm râu xếch lên, nhìn dễ liên tưởng tới mõm của một chú sơn dương đang ăn lá:
- Tôi lại thấy ở đó phảng phất một cái gì đấy rất gần với những bức tranh ngựa của danh họa Từ Bi Hồng, Và nghiêm khắc hơn, nếu cho đó là cách sao chép kiểu láu cá núp sau một năng khiếu thiên bẩm.
- Chưa hẳn đã vậy. - Hoạ sĩ biệt danh
"Cây cọ" lắc đầu - Tôi đồng ý với ông, bất cứ hoạ sĩ nào khi thể hiện chủ đề tư tưởng trong tác phẩm của mình, đều có tầm ảnh hưởng theo một trường phái hoặc một danh hoạ bậc thầy nào đó. Nhưng còn trong bức vẽ này, nếu cho đó là sự sao chép, thì có lẽ đó là sự ghen tài của lòng đố kỵ và thiếu công bằng -
"Cây cọ" tiến lên khoát tay như đứng trước bục giảng - Anh nhìn xem, trong bức tranh này, cả mảng nền được phối màu, làm bật lên góc cạnh của không gian, thời gian vô định, sự liên tưởng mang khối trầm tích của vũ trụ, nó không dừng lại ở một nơi, không chết cứng ở một chỗ. Trong khối nền mênh mang màu sắc hoang sơ trần trụi man dại ấy, nổi bật và phá vỡ sự sinh tồn thuần túy là nỗi niềm trở trăn, khát thèm, quằn quại cùng khát vọng của hai cơ thể đang hướng tới miền khát vọng.. Tôi chưa nói nó là kiệt tác, nhưng tối thiểu đã vượt qua và khác hẳn với tính hiện thực bảo thủ mà danh hoạ họ Từ suốt đời thờ phụng.
- Vậy theo ý ông, bức tranh này nằm ở cỡ nào? - Người bạn có cái cằm vếch và bộ râu sơn dương ngắt lời.
- Không! -
"Cây cọ" đáp lại - Tôi không xếp đặt thứ hạng, nhưng nếu nhận xét chủ quan, tôi cho rằng bức tranh này được thể hiện có chủ ý sáng tạo, không bâng quơ, lấy lệ..
- Thế ông cho rằng những họa sĩ khác khi vẽ không có chủ đề tư tưởng hay sao? - Bộ râu sơn dương hất lên cùng câu hỏi khá gắt.
- Ấy.. Xin anh đừng nói to quá! -
"Cây cọ" hạ giọng khiến Mai Thảo phải căng tai để nghe - Tôi không nói họ không có chủ đề, nhưng xin anh để ý: Trong các cuộc trưng bày tranh ở đây, anh có thấy nhiều họa sĩ mang tới những bức tranh thiếu linh cảm rung động, biểu đạt thiếu chủ thể. Đôi khi tôi có cảm tưởng họ cố tình lấy số lượng làm thành phép tính cộng, rồi dựa vào sự lăng xê của truyền thông để lấy tiếng. Mà thường khi nổi tiếng sẽ đi đôi với cơ hội kiếm tiền..
- Vậy ông cho rằng thằng cha vẽ bức tranh này để thờ chắc?
Cùng với câu dè bỉu, Mai Thảo nhận ra đôi môi
"sơn dương" của ông bĩu lên cùng chòm râu như hai quả chuối mắn nằm giữa một búi rễ cây.
- Anh đừng hiểu nhầm ý tôi. - "
Cây cọ" tỏ ra kiên trì - Anh chớ tưởng vẽ tranh thờ là dễ. Theo tôi, tranh vẽ cho người đời đã khó, nhưng dâng linh hồn vào cõi tâm linh còn khó hơn. Khi vẽ tranh thờ, lúc ấy mình sẽ không còn là mình nữa, tâm hồn như lạc vào thế giới của thần linh. Sự giao thoa giữa hư và thực. Không nói đâu xa, thể như tác phẩm "Dưới chân Yên Tử" của anh thôi. Khi vẽ, tôi tin đâu anh có nghĩ người ta sẽ mang tranh của anh đặt vào một nơi tôn nghiêm như vậy. Đó có phải là tranh thờ không thưa anh? -
"Cây cọ" đột ngột hỏi, và không đợi trả lời ông nói tiếp - Người cầm cọ thường ngộ nhận lấy những bức tranh của thợ vẽ làng quê ra nhạo báng. Theo quan niệm của tôi: Những người thợ vẽ tranh ở làng quê không mang sự háo danh của các hoạ sĩ, mà họ lấy đức tin cung kính với các bậc thần linh, sự siêu tưởng khiến cho linh hồn con người xao động. Nhà thơ biến nó thành thi phẩm, nhà văn biến nó thành văn phẩm, còn chúng ta hóa thân trên những bức vẽ. Xin đừng ai mang trình độ ra so đọ để cười cợt. Thể như anh thôi -
"Cây cọ" hạ giọng kết luận - Khi vẽ bức tranh "Dưới chân Yên Tử"
, tôi tin chắc anh phải rung động trước thiên nhiên kỳ thú, cảm động trước anh linh một vị vua dám từ bỏ ngai vàng về ở ẩn mà vẫn mưu cầu cho quốc thái dân an..
- Thôi đi ông! - Tác giả bức tranh "Dưới chân Yên Tử" ngắt lời, hất ngược chòm râu, đưa tay chỉ vào phía trong - Bọn họ ra kia kìa. Cuộc mua, bán bắt đầu rồi đấy, để xem sao!
"Cây cọ" dừng rao giảng cùng ông hoạ sĩ có chòm râu sơn dương quay lại. Mai Thảo nhìn theo tay ông chỉ: Từ phía trong, họa sĩ đầu trọc cùng tốp người đi ra. Nàng ngỡ ngàng, vì hôm nay từ hình dáng đến điệu bộ của hắn không như kiểu sư sãi lần gặp ở sân trường. Sơ vin chỉn chu, quần tím than, áo kẻ ca rô cộc tay màu lòng tôm, chân đi giày màu da đồng láng bóng như vừa quét một lớp dầu lanh. Tuy vậy, từ cổ trở lên, cái đầu trọc và đôi mắt chó khói vẫn i xì vậy, khiến trông tổng thể con người hắn thiếu đi sự đồng bộ. Nhìn đỏm dáng, lịch thiệp thế mà sao không tìm lấy cái mũ be rê hay mũ phớt mà đội nhỉ? - Mai Thảo nghĩ - Nếu là người thân, dứt khoát mình sẽ chọn cho anh ta một chiếc mũ hợp thời trang.. Chợt nàng đỏ bừng mặt vì ý nghĩ ngồ ngộ ấy. Thẹn thùng, đỏ mặt nàng lui lại nép vào cô bạn đi cùng lặng lẽ quan sát.
Đi cùng hắn là một người nước ngoài. Mai Thảo đoán ông ta người Bắc Âu, bởi nước da đỏ au, mảng ức trần nổi sần như cổ gà chọi. Tay áo vấn cao lộ rõ đám lông vàng óng như tơ tằm, mắt biếc, mũi khoằm, đầu của ông ta trọc không kém gì cái đầu của họa sĩ. Có chăng khoang đầu hói của vị khách nước ngoài bóng hơn nhưng lại thiếu cái sẹo hình con sên. Lăng xăng đi theo hai cái thủ cấp thiếu tóc ấy là gã thông ngôn. Bên cạnh sự to, cao, đồ sộ như hộ pháp của vị khách ngoại quốc, và độ dài ngoẵng của hoạ sĩ, gã thông ngôn tạo ra sự đối cảnh. Đã thấp bé, nhẹ cân lại còn gầy, nước da trắng yểu, sơ vin bằng thắt lưng da cá sấu, eo ót co dúm như ếch bị buộc, lủng lẳng trước ngực chiếc cà vạt màu tiết dê to như một tàu lá láng; dáng đi lanh chanh, cà nhắc khiến mọi cử động như con lật đật. Nhưng nếu để ý, sẽ nhận ra độ lọc lõi, lanh lợi, khôn khéo dày dạn của gã thông ngôn, trái với hình thức bề ngoài đã miêu tả, điều đó được thể hiện từ cặp đồng tử con ngươi luôn đảo chiều cùng với đôi tai thính, nhạy kết hợp động thái thuần thục như một cặp bài trùng giữa "Nghe và Nhìn" đúng lúc, kịp thời..
Đang đi phía sau, bỗng gã thông ngôn vượt lên, nghển cổ thổi vào tai hoạ sĩ điều gì đó. Họa sĩ phản ứng tức thì, hắn cau mặt, lắc đầu, vung tay băm mạnh vào không khí như chém kẻ vô hình:
- Vớ vẩn! Anh nói lại với lão ta: Tôi không bán với giá đó!
Đứng gần đấy, tác giả bức tranh "Dưới chân Yên Tử" nghe thấy, dí sát bộ râu dê vào tai
"Cây cọ", nói như muốn chứng minh: - Ông thấy không? Bọn họ đang mặc cả kia kìa. Thằng cha nào chẳng vì tiền! "
Cây cọ" nhìn ông bạn có chòm râu sơn dương bằng nửa con mắt "Xì" một tiếng vẻ không chấp, rồi nhích ra phía sau nhường đường cho tốp người vượt qua. Họa sĩ và vị khách nước ngoài cùng gã thông ngôn đi đến chỗ bức tranh. Khách tham quan bu lại, quây thành vòng, mấy tay phóng viên chen vào trong, đứng chếch sang một bên, loay hoay lựa hướng, chọn góc, giơ ống kính máy ảnh lên cắt cúp. Bị xô đẩy, Mai Thảo né người kéo cô bạn lùi lại phía sau đứng lên bệ cột cho tầm nhìn cao hơn để quan sát. Vậy ra đây là cuộc mua, bán bức tranh "Lưỡng thú"
. Tự nhiên nàng thấy thích thú, tò mò muốn xem bức tranh kết cục sẽ ngã giá thế nào.
Vị khách nước ngoài trao đổi với gã thông ngôn một thôi một hồi. Âm hưởng thoát ra từ miệng ông ta léo nhéo, the thé như giọng đàn bà làm nũng chồng, hoà nhịp với những cái gật đầu như máy của gã thông ngôn. Cuối cùng gã thông ngôn quay lại nói với chủ bức tranh:
- Ngài đây nói bức tranh của ông chỉ đáng giá đến vậy, ông nên suy nghĩ lại.
Khuôn mặt hoạ sĩ chuyển từ đỏ sang tái xậm, vết sẹo hình con sên trên đầu giần giật, hắn đáp bằng Việt ngữ nhưng đôi mắt chó khói lại chĩa vào mặt vị khách nước ngoài, vẻ nhạo báng:
- Ông ta biết gì thẩm bình tranh của tôi mà đáng hay không đáng? Nhờ anh truyền đạt lại với quý ngài ý kiến của tôi: Giá là vậy. Thích thì mua, không thì bai!
Giọng gã thông ngôn vẫn hết sức mềm mỏng:
- Theo tôi, cái giá 10 ngàn USD là được rồi đấy. Ông biết giá đô hôm nay là bao nhiêu không? 1 trên 18 rồi. Tính ra bức tranh của ông suýt soát hai trăm triệu. Trong khi đó hôm trước tôi chứng kiến ngài đây mua bức tranh "Cổng làng
" của họa sĩ Trần Thái với mức giá chưa tới 5 ngàn..
Chạm lòng tự ái, hoạ sĩ trọc nổi xung:
- Ai cho phép anh so đọ tranh của tôi với tranh người khác?
Gã thông ngôn nhún vai, phân vua:
- Tôi chỉ nói những gì tôi biết, còn quyền bán hay không là quyền của ông, làm sao ông lại nổi cáu với tôi? Nhưng ông có giận tôi vẫn nói để ông lưu ý: Tranh của ông và kể cả danh xưng của ông chưa có tiếng trên thị trường như tranh của các họa sĩ khác.
Nhận xét này thì đúng, hoạ sĩ trọc nín lặng công nhận, nhưng khó chịu vì bị bóc mẽ. Hắn đưa mắt gườm gã thông ngôn, mồm định văng ra một câu phản ứng, thì ông họa sĩ già đứng ngoài giơ tay vẫy ra hiệu cho hắn. Hắn lách đám đông theo ông hoạ sĩ già đi ra ngoài sảnh, cách chỗ Mai Thảo đứng một quãng. Tuy gần nhưng vì ồn ào tiếng người, nàng không nghe được; song, Mai Thảo đồ rằng ông họa sĩ già muốn làm trọng tài dàn xếp thương lượng. Nàng xoay người, gối cằm lên vai cô bạn ra vẻ không chú ý nhưng thực tình liếc mắt nhìn trộm:
Ngoài sảnh hiên, ông họa sĩ già và hắn chụm đầu trao đổi, tay ông hua hua như giảng giải, còn hắn nghiêng tai lắng nghe, con sên trên khoang đầu cử động gà gật vẻ hiểu, rồi mặt hắn nhẹ dần.. Chừng như lời quân sư đã thấm. Lát sau hắn đi vào, lúc qua chỗ Mai Thảo chợt nhận ra nàng, đôi mắt hắn chớp chớp, rực sáng lạ thường, không khác chi lúc phát hiện ra chủ thể một tác phẩm. Hắn reo lên như bắt được của:
- Chao ôi, em làm tôi bất ngờ đấy!
Mai Thảo đỏ mặt, lúng búng nàng định nói lời chúc tụng xã giao, nhưng không hiểu sao lưỡi cứng lại không nói nổi thành lời. Thẹn thùng, nàng bịn rịn kéo cô bạn sát lại như muốn lấy bạn làm lá chắn. Mặc cho nàng bối rối, hắn đột ngột tung ra một câu vãn:
- Vị khách nước ngoài kia trả tôi bức tranh này 10 ngàn USD. Theo em có nên bán hay không?
Biểu giá bức tranh không làm nàng ngạc nhiên, mà chính là câu hỏi hắn đưa ra buộc nàng ngỡ ngàng:
- Ơ.. Anh là hoạ sĩ, bán hay không là quyền anh chứ can dự gì đến tôi?
Hắn lắc đầu, cái nhìn bám riết lấy nàng:
- Cách đây đôi phút, khi tôi chưa gặp em, bức tranh đó có thể bán với giá ấy hoặc hơn. Nhưng bây giờ.. - Hắn ngập ngừng - Đã có em ở đây rồi, bức tranh không thuộc quyền của tôi nữa. Nếu em nói "
Bán" tôi sẽ bán, còn nếu em bảo "
Không", tôi sẽ không!
Nói rồi hắn khoanh tay rất điệu, nhìn Mai Thảo chờ đợi. Mặt nàng nóng bừng, tâm trí xao động, cúi đầu tránh ánh mắt hắn và những ống kính máy ảnh của các phóng viên chĩa vào. Lối đặt vấn đề và vẻ mặt chân tình rất chi thành thực của hắn khiến nàng bối rối. Hắn đã đưa nàng vào thế lưỡng nan. Cô bạn đi cùng đưa tay bóp nhẹ vào hông nàng, giục:
- Kìa, bạn trả lời anh ấy đi!
Từ nãy tới giờ ở nơi khu trú tôi vểnh tai nghe, chờ đợi kết cục cuộc mặc cả mua, bán bức tranh giữa hắn và vị khách nước ngoài. Tôi sửng sốt khi nghe bức tranh được giá đến vậy. Cái bức tranh hắn vẽ vẻn vẹn có vài đêm cộng với mươi phút ký họa mà được những 10 nghìn đô la. Một số tiền không nhỏ đối với hắn, kẻ lần đầu xuất hiện trên chiếu nghệ thuật của làng hội họa, và gấp bao nhiêu lần so với tổng thu nhập hàng năm trời khoác ba lô, xách giá vẽ, lận đận bán tranh kiếm sống ở bờ hồ và các công viên. Nay, vạn sự khởi đầu, và ngay lần đầu tiên ấy một trong bức tranh của hắn được một vị sành chơi người nước ngoài đặt giá cực cao. Tôi mừng thay cho hắn và thầm nghĩ, với số tiền bán tranh hôm nay, tối thiểu hắn sẽ trả bớt tiền nợ cho ông họa sĩ già, và nếu dư giả sẽ cải thiện phần nào đời sống kham khem đến lạ lùng của hắn.
Nhưng ai ngờ, khi gặp lại thiếu nữ kia, không hiểu ma xui, quỷ khiến thế nào, hắn bỗng trở chứng. Cái lối sống chấp chênh, điên điên, khùng khùng bất chợt nổi lên như kẻ hầu đồng nhập hồn. Câu hỏi của hắn làm cho thiếu nữ bối rối, còn tôi muốn nổi xung lên chửi rủa cái kiểu ngang xương, dớ dẩn đến thái quá của hắn. Đành rằng, khởi đề bức tranh bắt nguồn từ thiếu nữ, nhưng có phải ai cũng gặp may hai lần trong một cuộc đời, mà nhất là đời họa sĩ. Nhớ khi nghe tay thông ngôn dịch giá tiền vị khách nước ngoài trả, hắn rùng mình, phòng có điều hòa nhiệt độ mà lưng hắn nhướm mồ hôi lạnh. Hắn cố trấn tĩnh, chuyển sang thế chủ động, bằng sự mẫn cảm, nhanh nhạy của một thợ vẽ phiêu dạt, nắm bắt ngay được thần thái khách hàng, hắn liền khỏa mắt bao trùm lên bộ mặt đần đần, dài dại, đỏ tía, nổi sần như sủi cảo của vị khách nước ngoài. Trong tư trí hắn nảy sinh phép đảo chiều, úp lên mặt chiếc mặt nạ kiêu căng, ra dáng của một danh họa có tác phẩm giá trị.
Riêng tôi thì biết tỏng, đọc ra vị của hắn ngay. Thặng dư giá bức tranh đã vượt quá sự mong đợi của hắn. Ban đầu khi nghe, tôi còn ngỡ vị khách nước ngoài trả đùa hoặc tay thông ngôn dịch nhầm. Loại trừ lòng đố kị và tính ích kỷ nhỏ nhen, theo tôi, bức tranh "Lưỡng thú" bất quá đắt gấp đôi giá những bức tranh hắn bày bán ở Bờ Hồ, hay có thể cao tiền hơn bức tranh hắn nhại lại họa phẩm "Thiếu nữ bên hoa huệ
" của danh hoạ Tô Ngọc Vân được ông họa sĩ già đặt hàng. Vậy mà hắn con tỏ vẻ làm kiêu..
Trong khi tôi rủa thầm thì Mai Thảo đứng như trời trồng. Nàng víu tay người bạn cho khỏi choáng. Đôi mắt bê non chớp chớp, tay, chân vặn vẹo, động tác cử động luôn thừa ra. Nhưng chính những động tác thừa ấy khiến nàng càng xinh đẹp, duyên dáng và đáng yêu. Tuy bị món tiền hấp dẫn làm lấp mề, nhưng tôi cũng không cưỡng nổi trước sắc đẹp và sự quyến rũ của nàng. Bất giác, từ tôi, thần kinh cảm biến lan nhiệt, khoanh đầu cụng quậy, lúc lắc, hơi nóng hưng phấn bốc dần.. Cùng lúc, tôi thấy hắn rùng mình, dòng sinh khí từ sống lưng chuyển động, hệ thần kinh kích hứng dần căng, đồng lõa cùng tôi. Về khoản này, tôi và hắn là tương cùng một giuộc
, khăng khít, thân thiết tựa Bá Nha - Tử Kỳ. Hắn thừa biết tôi muốn gì, và ngược lại, tôi dư hiểu hắn thích gì.
Bên ngoài, giới nghệ sĩ và khách đến tham quan háo hức chờ đợi.
"Cây cọ" thì thào với họa sĩ có chòm râu sơn dương: - Theo anh, liệu bức tranh ấy có bán được không? Chòm râu dê vênh lên cùng với nhịp đầu lắc và chất giọng mỉa mai: - Diễn cả đấy mà! Bức tranh ấy bán cho tôi 5 triệu Việt Nam đồng còn phải xét. Hoạ sĩ
"Cây cọ" cự nự lại: - Với ông thì chỉ tranh của ông vẽ mới có giá. Nửa vành môi sơn dương bĩu ra: - Tôi đồ rằng: Tay hoạ sĩ trọc cùng với con bé và thằng cha phiên dịch kia Cô
- ti - nhê với nhau âm mưu lùa thằng khách nước ngoài vào xiếc là cái chắc! Không tin, ông cứ chờ rồi sẽ rõ. Nghe vậy
"Cây cọ" cau trán khó chịu, lầm bầm: - Ông chỉ đoán nhăng, đoán cuội.. - Không tin, ông cứ đợi đấy rồi xem! - Họa sĩ có chòm râu sơn dương ngắt ngang lời, nói như đúng rồi.
Không chịu nổi cái nhìn của hắn, Mai Thảo lên tiếng:
- Anh đã thỏa thuận bán cho người ta rồi cơ mà!
Hắn nghiêng mình điệu đà như vũ công mời bạn nhảy:
- Tôi chưa thỏa thuận. Và dù kể cả thỏa thuận rồi mà em nói "
Không" thì giá cao nữa tôi cũng không bán. Em quyết định đi, tôi chờ..
Mai Thảo ngước đôi mắt trong veo nhìn hắn:
- Nhưng.. Vì sao vậy?
Hắn mỉm cười, đôi vai gầy so lại:
- Vì em là người cho tôi nguồn cảm hứng. Có em, tôi mới có bức tranh này.
Cặp môi hồng của Mai Thảo cong lên như hai cánh hoa:
- Nhưng anh đã trả công cho tôi rồi cơ mà.
- Đúng vậy! - Hắn đáp, giọng mềm như bún cuốn nem - Nhưng đó chỉ là những nét vẽ sơ khai, còn thiếu linh hồn. Trong cuộc đời đi vẽ, đã có nhiều thiếu nữ xinh đẹp được tôi ký họa, nhưng em biết không: Không ai lưu hồn tôi trong một giấc mơ kì diệu đến vậy. Em là người đầu tiên bước vào thế giới ảo của tôi nhưng rất hiện hữu..
Mai Thảo vui vì những câu có cánh của hoạ sĩ, nhưng nàng chưa biết trả lời sao. Nàng ngước mắt nhìn bức tranh rồi nhìn xuống bình hoa đặt trên mặt bàn, trong đó có những cành hoa thạch thảo, một loài hoa có sắc nhưng không hương mà nàng rất thích. Chợt ánh mắt nàng đột nhiên rạng ngời như người dò đường bỗng tìm ra đích đến. Nàng quay lại thì thào với người bạn cùng đi điều gì đó, thấy cô bạn nhoẻn cười gật đầu, Mai Thảo quay lại bảo hắn:
- Nhưng anh nên nhớ: Số tiền mười ngàn đô không phải là nhỏ.
- Tôi hiểu chứ em. - Hắn đưa tay lên đầu xoa vết sẹo - Người họa sĩ không lấy gió trời thay gạo, không lấy nước mưa thay cho rượu. Nhưng nếu phải bán đi một tác phẩm ta hằng yêu quý, có lẽ không khác gì tự tay bóp chết đứa con đẻ của mình.
Thêm lần nữa Mai Thảo lặng đi vì câu nói mùi mẫn của hắn:
- Nếu tôi quyết, anh sẽ không ân hận chứ?
- Không bao giờ! - Vết sẹo hình con sên lắc lắc cùng với lời hắn khẳng định.
Mai Thảo đột nhiên bước tới bình hoa để trên bàn, nàng chọn một cành thạch thảo mang đến trước mặt hắn. Hắn nhìn nàng như hỏi. Nàng nghiêng đầu, bờ mi đen láy, cong hình cánh cung duyên dáng cùng với câu hỏi:
- Tôi sẽ dùng cách bói hoa của người Pháp để quyết định, anh thấy được không?
Hắn ngắm những ngón tay trắng muốt của nàng, gật đầu:
- Quyền của em mà.
Nàng nhìn hắn vài giây như xác định rồi nâng cành hoa áp lên môi rồi bắt đầu:
- Bán.. Không bán.. Bán.. Không bán.. Bán.. Không bán..
Sau mỗi lời nàng buông ra là một cánh hoa rơi. Tất cả những người có mặt dường như nín thở. Họ hiểu tính khí thất thường của giới nghệ sĩ, nhưng đây là lần đầu họ chứng kiến một kiểu bói hoa dành cho cuộc mua, bán tranh.
Các phóng viên có mặt hối hả giơ máy ảnh lên chụp. Còn ông họa sĩ già thất vọng lắc đầu ngán ngẩm tựa lưng vào tường. Đã nghèo còn sĩ! Ông chăm chú nhìn bàn tay xinh xắn như những thỏi hồng ngọc được chau chuốt đang ngắt từng cánh hoa, lòng thầm mong câu cuối từ miệng cô học trò sẽ là từ "
Bán". Là hoạ sĩ có thâm niên trong nghề, ông công nhận bức tranh ấy có hồn, nhưng hồn vía liệu có tồn tại được hay không nếu phần xác rách tướp? Hắn còn đang nợ ông đìa ra, ngay cả tiền tổ chức hôm nay cũng vậy, hắn chưa bỏ ra một hào một cắc. Tất cả vẫn là tiền túi ông bỏ ra. Ông muốn vực hắn dậy, phần vì ý thức của lớp người đi trước, phần vì hắn có tài thực sự. Nhưng trong cuộc sống, thiên tài đâu chỉ uống nước lã. Nghèo túng nhiều khi bắt người ta thành nhu nhược, hèn mọn..
Phần I - Chương 5:
Tiểu Thuyết - Bảo Vật Để Đời - Nguyễn Nhuận Hồng Phương