278 ❤︎ Bài viết: 809 Tìm chủ đề
Đọc: 104 Tìm: 0

Tổng Tập Truyện Ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương - Quyển 5

Tác giả: Nguyễn Nhuận Hồng Phương

Người đăng tải: Lê Gia Hoài​


41. Sự đời - Nguyễn Nhuận Hồng Phương​


20260826-091135-eb8868ad80.png


Người lái xe cho chiếc ô tô Atít màu én bạc rẽ xuống con đường làng trải bê tông. Anh cán bộ ngồi ở ghế trên quay lại:

- Thưa anh, tiện thể mình có vào chơi với "cụ Quân" không ạ?

"Cụ Quân" là tiếng gọi thân mật của cựu Bí thư Văn Quân lúc còn đương chức.

Ông họ Hoàng khẽ nhíu mày:

- Nhà "cụ" ở đây à?

- Dạ.. Tôi tưởng trước đây anh đã đến nhà Bí thư nhiều lần rồi chứ ạ? - Người cán bộ hỏi lại.

- Vào thì vào! - Ông họ Hoàng tránh trả lời - Nhưng đi tay không, ngượng bỏ mẹ..

- Anh dừng lại một chút! - Anh cán bộ bảo người lái xe - Tôi xuống mua biếu cụ gói bánh.

Nhưng khi lên xe, trên tay anh kèm thêm chùm vải rõ tươi, như vừa được hái từ trên cây xuống.

- Đã mùa chim tu hú kêu rồi đấy nhỉ? - Ông họ Hoàng bâng quơ.

- Hôm nay mười tư tháng sáu rồi anh! - Người lái xe phụ họa.

* * *

Nắng rãi trên mặt sân lát gạch bát kiểu cổ. Ngô, lạc, đỗ được tãi, phơi thành từng ô. Căn nhà xây ba gian, kiểu một thò hai thụt, tường hoa đón mái. Các cánh cửa đều mở báo hiệu chủ nhân hiện đang ở nhà. Mặc cho tiếng còi ô tô, trong nhà không có ai ra đón.

Ông họ Hoàng lấy tay che ánh nắng xói vào trán, chân ngần ngừ, mặt nhăn lại vì nhiệt độ chênh lệch:

- Hay để lúc khác?

Đáp lại lời ông là tiếng nói từ trong nhà vọng ra:

- Ai đấy? Cứ vào đi. Nhà này không nuôi chó đâu.

Người lái xe nhanh nhảu tiến lên trước mở cổng. Một bà già từ trong nhà đi ra:

- Mời các ông vào nhà chơi. Ông nhà tôi mệt nằm trong buồng, đi lại khó khăn lắm.

- Chết! - Ông họ Hoàng thảng thốt - Bác trai ốm lâu chưa ạ? Có nặng lắm không? Sao không cho đi Hà Nội?

- Thì cứ vào nhà đã! Nói là ốm nhưng vẫn nhúc nhắc được.

Người lái xe đặt chùm vải lên mặt tủ, cạnh chiếc ti vi mười bốn inh vỏ đỏ, rồi đến ngồi trên chiếc giường kê sát cửa sổ, tiện tay vớ tờ báo để ở đầu giường cầm lên đọc. Bà lão rót nước ra chén, mùi lá vối ủ nóng tỏa thơm nồng:

- Từ ngày về ông ấy chỉ uống nước vối thôi. - Bà nhấc chén nước mời anh cán bộ và ông họ Hoàng - Các bác uống tạm. - Bà quay lại phía người lái xe - Bác gì ra uống nước.

- Cảm ơn bà! - Người lái xe trả lời - Cháu ngồi ở đây gió đồng thổi vào mát quá!

- Nhà có cái quạt cây bị hỏng đang gửi chữa - Bà lão thanh minh - Còn cái quạt nhỏ để trong buồng cho ông lão.

Ông họ Hoàng hỏi:

- Thế bệnh của ông nhà bây giờ thế nào ạ?

Bà lão nhìn người hỏi, ký ức được đánh thức, quên cả câu cần trả lời:

- Tôi trông bác khí quen quen?

- Dạ thưa bác, - Anh cán bộ đỡ lời - Chúng em ngày xưa toàn là cán bộ dưới quyền của thủ trưởng Quân đấy ạ.

Cựu bí thư Văn Quân từ trong nhà bước ra. Mái tóc bạc óng gần chạm ngưỡng cửa trên - Thân hình mảnh khảnh khuất sau bộ áo quần pijama nền trắng, kẻ sọc xanh lụng thụng. Nhưng đôi mắt nhìn, tinh anh vẫn sáng, biểu trưng của một trí tuệ còn minh mẫn:

- Chào các đồng chí!

Cả ba người đứng dậy, xô đến chìa tay bắt. Ông nắm tay từng người lắc lắc:

- Mạnh khoẻ cả chứ? Vẫn công tác đều đều phải không? Thôi, có khó khăn phải khắc phục, Nhà nước ta còn nghèo..

Bà lão giở chiếc ghế vừa ngồi vừa nằm nhãn hiệu Xuân Hòa ra:

- Các bác thông cảm, ông lão không ngồi được ghế gỗ. Vô phép các bác cho ông lão ngồi ghế này tiếp các bác.

Ông họ Hoàng lên tiếng:

- Hôm nay huyện đi thị sát vùng công nghiệp đối tác với nước ngoài. Nhân tiện qua thăm bác. Nghe bác gái nói bác bị ốm. Sao bác không đi viện? Tiêu chuẩn của các bậc lão thành Cách mạng bây giờ cao lắm. Thiếu phương tiện bác điện thoại em sẽ nói văn phòng điều xe đưa bác đi.

Chọn cách ngồi thích hợp trên chiếc ghế, cựu Bí thư Văn Quân đáp lời:

- Cảm ơn các đồng chí! Mình ốm đau gì đâu, cảm cúm qua loa đấy mà, bà lão thương cứ nói quá lên đấy chứ! Hồi còn công tác bà ấy còn vậy huống chi bây giờ.

- Ông ấy giấu bệnh đấy các chú ạ! - Bà lão nhân thể có người đến chơi được dịp kể lể - Đêm nào cũng ở bên ông ấy nên tôi lạ gì. Vết thương bị từ hồi chiến dịch Tu Vũ, mỗi lần trở trời nó chả hành cho suốt tối đến sáng à? Ấy thế mà lúc nào mở miệng ra cũng chỉ có thương, có xót, lo lắng cho Nhà nước thôi. Tôi bảo: Bây giờ nhà nước mình giàu rồi. Ông ấy nói: Nếu giàu đã chẳng phải cho thuê đất, bán đất! - Ối dào! Lo như thế lo suốt đời các chú nhỉ?

Cựu Bí thư Văn Quân bẽn lẽn:

- Ừ thì mình trót được Đảng, Bác giáo dục thấm nhuần nên nhiều lúc nghe đài, đọc báo, xem truyền hình thấy gì lại cứ ngỡ mình còn đang làm việc. Thấy gì trái khoáy là lăn tăn..

- Thưa bác, - Anh cán bộ lái chuyện - Bác nên nghe bác gái đi kiểm tra xem thế nào..

- Thôi nhé! Chuyện của mình, mình lo. - Ông ngắt lời - Các đồng chí lo việc dân việc nước mà bớt chút thời gian vào thăm thế này là quý lắm rồi.

Anh cán bộ lắc đầu nghĩ: "Vẫn vậy! Tính khí lúc nào cũng lo cho người khác, chỉ quên chính bản thân mình." Nghĩ vậy, rồi anh nhìn ông họ Hoàng.

Ông họ Hoàng đứng dậy - Thưa anh, bây giờ chúng em xin phép..

Cựu Bí thư chống tay đứng dậy?

- Để mình tiễn. - Nói rồi ông bảo bà lão - Bà đưa tôi "chiếc gậy Trường Sơn".

Bà lão cầm cái gậy dựa trong góc nhà mang ra cho ông. Ông cầm lấy, nói nhỏ với bà lão:

- Chốc nữa bà cầm quà của các đồng chí cho, mang sang lớp mẫu giáo chia cho lũ trẻ.

Mọi người nhường ông đi trước. Vô tình, thân hình cao gầy của cựu Bí thư Văn Quân thành bóng râm che nắng cho thân hình thấp, béo của ông họ Hoàng. Một ý nghĩ so sánh không rõ nghĩa chợt nẩy ra trong đầu anh cán bộ đi cùng.

Ra tới cổng, ông Quân quay lại nói:

- Không phải mình không nghĩ. Có điều lên nằm ở viện, mình có tiêu chuẩn nhưng còn bà lão không có lại già yếu rồi, ở nhà cũng dở mà lọ mọ lên hầu hạ mình cũng tội. Con cái chúng ngoan nhưng kinh tế cũng có hạn, đi đi lại lại tốn kém lắm.

Nắm chặt tay từng người ông lắc lắc:

- Nói thế để các đồng chí biết chứ không phải kể khổ. Thôi, tạm biệt! Chúc thượng lộ bình an.

* * *

Cả ba người ngồi trên xe không ai nói với ai một câu. Tiếng máy ầm ì, khí mát thổi ra từ đầu ống có nhiều lỗ trông như tổ ong bò vẽ. Xe đi qua nhà trẻ, những khuôn mặt ngây thơ nhìn ra, những bàn tay tí xíu giơ lên vẫy trong như cánh hoa năm cánh xòe nở..

Chợt tiếng nói của ông họ Hoàng vang lên, phá tan sự im lặng, cắt đứt ý nghĩ của người cán bộ:

- Nói cho cùng, lúc còn đương chức đương quyền không biết lo xa thì bây giờ ai lo hộ thân mình?

Anh cán bộ thấy gáy mình lạnh buốt. Ngoảnh lại, hơi lạnh từ trong ống thổi ra ngưng thành màu trắng bạc.​

Nguyễn Nhuận Hồng Phương
 
278 ❤︎ Bài viết: 809 Tìm chủ đề

42. Tấm áo màu hoa đào - Nguyễn Nhuận Hồng Phương​


20260826-091514-04fe82d7da.png


Tiếng máy nổ dừng đột ngột, thanh âm vụt tắt trong màn chiều đang loang dần trên những tràn đồi tím xẫm màu hoa sim, trả lại sự yên tĩnh cho một vùng quê bán sơn địa.. Trên cao, từng đàn chim nối đuôi nhau mải miết bay thành hai đường chéo, trông như những mũi tên lao thẳng vào quả cầu màu da cam, khiến chùm tia sáng đỏ đọc hình dẻ quạt vụn gãy vào đường chân trời tối lịm.

Hòa thở phào, khuôn mặt giãn ra như vừa rũ khỏi khối nặng thanh âm ngột ngạt, bức bối và màn bụi ố bẩn, vẩn đục đè nặng trái tim mình. Hòa bíu cột hiên đứng dậy, nhẹ nhàng bước từng bước như không muốn khuấy động sự trở lại của một chiều cuối thu thanh lặng. Đàn gà con liếp chiếp lon ton chạy theo, con chó nhỏ buộc ở chân cột hiên miệng rít rả, hai chân tung lên cao bới cào về phía trước. Ra đến bờ ao, Hòa ngồi khoanh vòng, thong thả ném từng nắm cỏ xuống. Tiếng cỏ rơi lào xào đánh thức khứu giác của đàn cá. Hàng trăm cái đầu ngoi ngả bươn mình vỗ sóng, há miệng tròn như chữ O vừa đớp vừa thổi bóng. Hòa nghe rõ tiếng cá ăn lép bép và những quả bong bóng nổ lách tách.

Hòa đưa mắt nhìn quanh, đôi tròng con ngươi khỏa rộng, từ trong tinh mắt ánh ỏi thứ ánh sáng dài dại, mờ mẫn, hiu hắt và thảm đạm. Một cơn gió chuyển mùa bật chợt ùa đến vuốt nhẹ lên sống lưng, hơi lạnh thấm qua làn áo mỏng khiến Hòa ớn nhột. Bắt đầu mùa đông rồi. Hòa rùng mình so vai, đôi mắt nhắm nghiền, và tự nhiên thấy lòng mình trống vắng, hẫng hụt; thứ trống vắng bất thường, lạ lẫm, bởi hình ảnh và những động thái thân quen từ bao lâu đã gắn chặt vào tâm trí như một tiềm thức tì vết thành con đường mòn tưởng là mãi mãi..

Có một thời Trại Đạo Cường được nói lái là "Trại Cường Đạo". Theo truyền ngôn: Người lập ra trại là ông Đạo Cường. Đạo Cường nguyên là Phó tướng của bà Đặng Thị Nhụ- vợ ba của lãnh tụ Đề Thám. Lúc quân khởi nghĩa tan rã, bà Đặng Thị Nhụ bị quân Pháp bắt; phó tướng Đạo Cường dẫn theo một số gia binh về đây ẩn trốn rồi xây cơ, dựng nghiệp, ỷ vào thế rừng núi Tam Sơn hiểm trở, án ngữ con lộ sang tỉnh Thái, xứ Bắc Ninh, Bắc Giang, tiếng tăm vang dội cả một vùng, thời đó, người ta gọi nơi ấy là vùng "đất nghịch". Tuy vậy Phó tướng Đạo Cường quy định, chỉ đánh cướp bọn quan binh Tây và lũ tham quan tay sai bán nước. Của nả mang về một phần chia cho các gia binh trong trại, phần cứu giúp dân nghèo các nơi, số còn lại tích luỹ mong có ngày khởi nghiệp phục hận. Để ghi nhớ công ơn, sau khi ông chết dân trại Đạo Cường lập miếu thờ tôn ông là Thành Hoàng, hằng năm mở hội từ ngày mùng 5 đến mùng 8 tết Nguyên đán, diễn trò kể lại những chiến tích lì kì, mạo hiểm của một thời lừng lẫy.. Vậy mà tất cả nay không còn nữa. Trại Đạo Cường bị đào bới, bật phá, bung bét, hoang hoải như vừa trải qua một trận chiến. Từng vạt đất nhám màu, hoang ố, lịm đỏ như tiết đông vun dồn thành đống. Luỹ tre rào quanh trại bị đốn lửng, sắp hàng lộn xộn, nhập nhoạng dưới bóng chiều tà như những thân hình mang án tử; lẫn trong cảnh trơ hoang, tàn lụi, đôi, ba ngọn tre sót lại úa vàng, lả lớt, phất phơ như cờ đuôi nheo hụt gió. Bức tranh một vùng quê thanh bình, êm ả giờ đây chỉ còn là một bức vẽ trống hoác, nguệch ngoạc và vô cảm. Thứ duy nhất còn lại đó chính là khu đất của gia đình Hòa HHHH. Tồn tại như một chiếc đinh thép găm sâu vào lòng đất.

Nhà của Hòa nằm trên một mảnh đồi thoải. Nhà ba gian, kiểu cổ, cửa bức bàn, tường vây đá ong, kèo, cột gỗ xoan đào; dui, mè tre cật ngâm; mái lợp ngói mũi Làng Canh. Sườn đồi có nương trồng sắn; dưới chân đồi dăm thửa ruộng cấy lúa; một cái ao vừa thả cá vừa chứa nước và một mảnh đất trồng rau. Hòa khoanh vùng lãnh địa của mình bằng hàng cây sơn trà. Thời "mở cửa", đất đai có giá, những kẻ buôn đất cứ như lũ điên, nhao về làm cả cái Trại Đạo Cường này sôi sùng sục y như chảo nấu thịt trâu ngày hội. Năm triệu một mét vuông, rồi đến mười triệu, mười hai.. Mười lăm triệu.. Nhưng không hẳn vì tiền, mà điều Hòa nghĩ nhất đó là lời trăng trối của ông nội trước khi chết dặn lại: "Đây là mảnh đất của tổ tiên để lại, cháu nhớ giữ để về sau cho con cho cháu..". Vậy mà đùng một cái, tỉnh có chủ trương giải tỏa Trại đạo Cường xây dựng "Khu công nghiệp công nghệ cao"..

- Anh Hòa ơi, cho chúng em rửa nhờ cái tay nhé?

Tiếng hỏi cắt đứt luồng suy tư của Hòa. Không ngoảnh nhìn, không đáp lại, Hòa vẫn biết đó là cánh lái máy ủi xuống ao nhờ rửa chân tay. Rửa thì rửa nhưng đừng cho máy ủi đất của "ông" là được. Ý nghĩ trong đầu Hòa phụt ra nhưng Hòa kìm được. Nói với bọn này làm gì! Chẳng qua cũng là cánh làm thuê, theo lệnh chủ, bảo ủi thì ủi, bảo san thì san, chứ tội tình gì.

- Anh Hòa ơi- Tiếng nói của một người công nhân lái máy ủi lan trên những vòng xoáy nước- Cả trại Đạo Cường chuyển rồi mà sao anh không đi? Ở đây một mình anh không thấy buồn à?

- Ừ phải đấy! - Tiếng một giọng phụ họa rẻo như lạt buộc - Anh Hòa chuyển đi cho tay gạt của chúng em đỡ mỏi. Anh không lái máy anh không biết, chứ mỗi lần đường xích của chúng em ủi đến phần đất của anh lại phải về số, kéo cần gạt, quay đầu mệt lắm.

Đáp lại lời mấy tay công nhân là cái đầu quay phắt lại và đôi mắt nhìn trừng trừng của Hòa. Tay lái máy ủi chột dạ:

- Ấy là thấy anh buồn thì em bảo vậy, chứ không có ý gì đâu. Nhưng nói thật với anh, trước, sau thì anh cũng phải đi. Cứ như em thì em nhận tiền đền bù lâu rồi.

Hòa đứng dậy đến gốc nhãn rút phắt một thanh củi, lăm lăm đi thẳng tới cầu ao, vung lên:

- Bọn mày Chính quyền không phải, Ban giải tỏa thì không. Ai khiến chúng mày tuyên truyền? Nói thêm câu nữa xem nào?

Nhìn nét mặt khó chịu và cây gậy cứng lịm trong tay Hòa, mặt mấy tay lái máy ủi xám ngoét, bấm nhau, khỏa vội nước chuồn lên bờ đi thẳng. Hòa ném vút cây gậy vào hàng cây sơn trà:

- Cút! Từ nay đừng có thằng nào bén mảng đến đây!

Chưa bõ cơn giận, Hòa xăm xăm đi lên nhà, ngồi phịch xuống giường. Mẹ kiếp! - Hòa chửi đổng thành tiếng. Bóng tối trong nhà cho Hòa nghĩ đến điện. Không có điện đã làm sao? Hòa với tay lấy chiếc đèn dầu trên rương thờ xuống- Ngày xưa cụ tổ không có điện mà vẫn sống đấy thôi! – Ý nghĩ lụi tắt khi ngọn diêm loé lửa. Ngọn đèn dầu tỏa màu yếu lả. Hòa nghiêng đèn xem dầu. Còn lưng bầu. Hòa khêu bấc, ánh sáng nhỉnh hơn một chút nhưng vẫn không tài nào soi khắp ba gian nhà rộng thông thênh.

Có tiếng còi xe "Pin.. Pin.. Pin.." vọng vào. Lại có thằng quan huyện hay quan xã đến tuyên truyền, giải thích đây! – Hòa tự nhủ- "bố" đang "ngứa' đây. Thằng nào vào đây mà nhố nhăng thì ông cho một búa! Nghĩ sao làm vậy Hòa cúi xuống thò tay vào gậm giường rút chiếc búa ra..

- Hòa ơi, cháu có nhà không? - Tiếng một người đàn bà vang lên.

" Cạch ". Chiếc búa rơi xuống nền nhà như một dấu chấm than, Hòa nhảy phốc ra cửa, reo:

- Cô Tư!.. Cô Tư.. Trời ơi, cô về với cháu đấy ư? - Hòa ôm riết lấy người đàn bà, hai chân khuỵu xuống, nức nở- Cô Tư ơi.. Thế mà cháu cứ ngỡ cô quên thằng bé khốn khổ này rồi..

Cô Tư nâng Hòa lên, dìu vào nhà, nhẹ nhàng vỗ về:

- Hòa ơi, tha lỗi cho cô nhé. Không phải cô quên đâu, nhất là vào ngày giỗ bố cháu, nhưng mấy năm vừa rồi cô còn tham gia công tác ở địa phương, bận việc nên không về được. Kì này cô được nghỉ rồi nên mới có điều kiện..

- Thế sao cô về muộn vậy?

- Cô đi xe khách về bến xe Vĩnh An thì thuê tắc xi về đây ngay. Lẽ ra sớm đấy nhưng lúc qua Cầu Vượt thì bị tắc đường nên mới bị muộn. Thế giỗ bố cháu hôm nay cháu làm mấy mâm?

Hòa vẫn khư khư nắm chặt lấy tay cô Tư như sợ buông ra thì cô biến mất:

- Cô ơi, tình hình nước sôi, lửa bỏng thế này, dân Trại Đạo Cường chuyển đi hết rồi, chán, cháu chẳng làm gì cả, trưa nay chỉ trầu, nước, hoa quả nhì nhằng thắp hương cho bố cháu thôi.

Giọng cô Tư trầm hẳn xuống:

- Lẽ ra muốn gì cũng phải có mâm cơm cúng cháu ạ, không thì phải tội chết. Cháu ra xách cái túi vào đây cho cô, thế nhà bị mất điện lâu chưa?

Hòa xách chiếc túi vào đưa cho cô Tư:

- Họ cắt điện mấy tháng nay rồi. Để cháu thắp đèn tọa đăng.

Hòa đặt túi trên giường, bắc ghế trèo lên tháo chiếc đèn treo trên xà nhà xuống. Loay hoay mãi vẫn không được. Hòa lầm bầm:

- Dầu hết, bấc lại thối rồi cô ạ.

Cô Tư nói:

- Để cô lấy đèn pin.

Ánh sáng đèn pin sáng hơn đèn dầu. Lúc này hai người mới nhìn rõ nhau và mọi vật cũng có vẻ tỏ hơn.

- Thế sao cô không cho cái Tèo về cùng? - Hòa hỏi.

Cô Tư cười:

- Bây giờ em Tèo gọi tên theo khai sinh rồi. Vũ Thị Kim Thêu. Cháu mà gặp em thì nhớ gọi là Thêu. Đừng gọi nó là Tèo nữa nhé!

Vũ Thị Kim Thêu, cái tên hay nhỉ. Hình ảnh cái Tèo cũn cỡn gầy như thanh củi, xùm xòa trong chiếc áo bông màu hoa đào năm nào hiện ra trong đầu Lều bật thành câu hỏi:

- Bây giờ cái Tèo.. À.. À.. À.. Thêu lớn lắm rồi cô nhỉ?

- Ừ– Cô Tư mở làn lấy các thứ ra đặt lên bàn- Nếu tình cờ hai anh em gặp nhau ngoài đường chắc cháu cũng chẳng nhận ra. Mà từ độ cô đưa em về cũng phải đến mấy năm rồi còn gì.

Hòa không đáp lại, mặc cô Tư lầm rầm khấn vái, lọ mọ xuống bếp, lục cục nhóm bếp. Mùi hương cháy từ mớ cỏ guột tỏa ra thơm lựng. Lúc cô Tư xuống, nồi cơm vừa sôi. Hòa đẩy chiếc ghế gỗ cho cô:

- Cô ngồi xuống đây cho ấm. Trời mới chuyển mùa mà đã lạnh gớm. Chắc năm nay rét lắm cô nhỉ?

- Ừ- Cô Tư xoè tay hứng hơi lửa- Dự báo thời tiết nông vụ cảnh báo cho bà con nông dân biết: Vụ đông xuân năm nay sẽ có rét đâm, rét hại.

- Kệ- Giọng Hòa vẻ bất cần-" Mất mùa lúa được mùa khoai ". Không có gạo cháu đã có ngô, khoai, sắn, còn ao chuôm đầy cá. Lo gì đói hả cô.

Trong ánh lửa bập bùng, bóng Hòa in lên vách khiến cô Tư thốt thầm: Thằng bé giống anh Hạ thật! Bất chợt kí ức quá khứ xa xưa ùa về trong tâm trí..

Vụ mùa năm 1980, ngày đầu tiên anh Hạ về Vi Sơn quê chị" 3 cùng "với bà con nông dân. Vai đeo tay nải, quần xắn cao, xồng xộc bước vào trụ sở hợp tác xã, miệng bô bô:" Vị nào là Chủ nhiệm Hợp tác xã Vi Sơn ra đây tôi gặp! ". Chị Tư buông tập tài liệu xuống, ngẩng mặt lên:" Vâng, tôi là Tư, Chủ nhiệm Hợp tác xã Vi Sơn đây. Anh là ai và đến đây có việc gì? "." Tôi là ai không quan trọng- Anh Hạ đáp- còn muốn biết có việc gì thì mời chị đi theo tôi ". Nói rồi anh nắm tay chị lôi xềnh xệch ra ngoài cánh đồng, đến nơi vung tay chỉ xuống ruộng:" Chị là chủ nhiệm mà để xã viên cấy lúa thế kia hả? Kỹ thuật học chưa mà dầy di dầy dít, hàng lối vẹo va vẹo vọ. Định nhai rơm thay thóc phải không? "Chị Tư chưa biết nói sao, anh Hạ đã xăm xăm lội xuống ruộng, rút thước trong túi ra đo, đếm; khỏa nước đưa lên mũi ngửi, thè lưỡi nếm, đầu lắc như chuột ăn phải bả:" Nước dặt phèn là phèn, chua như dấm. Chị làm ăn như đồ mèo mửa. Suốt ngày đút chân vào gậm bàn. Tôi yêu cầu: Ngay ngày mai cho nhổ hết mạ lên, rắc vôi bột giảm tỉ lệ PH, xới xáo khau nước rồi cho cấy lại theo đúng tiêu chuẩn cho tôi! ".

Buổi đầu là thế. Nhưng sống lâu, vợ chồng chị Tư và bà con ở Vi Sơn càng hiểu và rất quý trọng anh cán bộ hạ phóng thô người, nói năng bốp chát, thẳng như ruột ngựa, miệng nói tay làm; ngày, đêm lặn lộn trên đồng ruộng. Thương và cảm thông với hoàn cảnh nghèo nàn lạc hậu của bà con Vi Sơn, anh Hạ mày mò đi các nơi tìm giống cây trồng, vật nuôi mang về, đến từng hộ xã viên vận động bà con làm. Nhưng trớ trêu, anh Hạ ở Vi Sơn được ba năm thì một tai họa bất ngờ xảy ra. Đó là một buổi trưa, anh Hạ đang ngồi uống nước với vợ chồng chị, thì có tiếng kêu cứu từ bờ sông:" Ới bà con ơi, có người bị lũ cuốn. ". Anh Hạ và chồng chị Tư nhảy bổ ra. Cơn lũ trái mùa từ thượng nguồn bất chợt đổ về, nước chảy cuồn cuộn, dâng cao, nhấn chìm chiếc cầu treo kết bằng cây rừng; mấy đứa trẻ đi học về không kịp vào bờ, bám vào những sợi dây trên cầu chới với kêu cứu. Cây cối, rác rưởi theo dòng trôi về lao ầm ầm như muốn dứt bung hàng cọc ghim chân cầu.

Anh Hạ hô:" Bây giờ tôi ra cho bọn trẻ khỏi sợ. Còn anh tìm đò bơi ra cứu các cháu. ". Nói rồi anh Hạ lao xuống nước. Lúc chồng chị Tư đưa đò ra đến nơi thì anh Hạ đã leo lên được cầu gom các cháu lại một chỗ. Nhưng khổ một nỗi, đò nhỏ, không chở hết người. Anh Hạ nói với chồng chị:" Anh đưa các cháu vào bờ trước rồi quay ra đón tôi ". Nhưng không ngờ, đó cũng là câu nói cuối cùng của anh Hạ. Khi chồng chị Tư chở mấy đứa trẻ cập bờ, thì dải cầu treo nơi anh Hạ đứng bị một cơn nước lớn ập đến nhổ bật hàng cọc ghim phăng phăng kéo đi.. Hình ảnh cuối cùng mà chị Tư không bao giờ quên được, đó là đôi bàn tay của anh Hạ chới với trong dòng nước ngàu ngã sôi ùng ục.. Liên tục hàng tháng trời bà con Vi Sơn bủa nhau về tận cửa sông phía hạ lưu mà vẫn không tìm thấy xác anh.

Hôm vợ chồng chị Tư theo xe của chính quyền Vi Sơn về Trại Đạo Cường làm tang lễ cho anh, tình cảnh thật buồn, đám tang thiếu người chết đã rầu càng thêm thảm. Lúc đó, Hòa còn nhỏ, ông nội Hòa còn sống và mẹ của Hòa chưa bỏ nhà đi biệt tích..

- Đã lâu cháu có nhận được tin gì của mẹ cháu không? - Cô Tư hỏi.

- Có cô ạ- Hòa đáp- Vài tháng trước có người buôn bán trên biên giới nói: Gặp mẹ cháu bán hàng thuê ở chợ Hà Khẩu cô ạ.

- Hòa này- Giọng cô Tư nhỏ nhẹ- Có bao giờ cháu nghĩ sẽ đi tìm mẹ không?

- Cháu nhớ mẹ cháu lắm cô Tư ạ- Hòa mở vung nồi, khỏa đũa ghế cơm cho đều- Dẫu thế nào thì đấy vẫn là người đẻ ra cháu. Mẹ có thể bỏ cháu chứ cháu không quên mẹ cháu được. Lẽ ra không có chuyện giải tỏa giải tung này thì cháu định cuối năm sẽ đi tìm mẹ cháu. Nhưng bây giờ..

Hòa buông lửng câu nói, thay vào đó là tiếng thở dài buồn bã, lòng cô Tư quặn thắt, cảm động vì Hòa có tấm lòng hiếu thảo đến vậy. Cô Tư lặng lẽ nhìn ngọn lửa nhảy nhót một lát rồi nói:

- Hòa này, lần này về cô muốn mời cháu lên nhà cô chú chơi vài ngày, nhân tiện bàn với cháu về việc đi tìm mẹ cháu. Hòa ạ, cô cũng là người mẹ nên cô hiểu, cô tin chắc với tấm lòng thơm thảo của cháu, khi gặp lại, mẹ cháu sẽ quay về, vậy ý cháu thế nào?

Hòa không đáp, lòng phân vân.. Nếu đi, biết đâu bọn giải phóng mặt bằng lợi dụng lúc không có người ở nhà cho máy ủi đến gạt phăng nhà mình đi thì sao? Như hiểu được ý nghĩ băn khoăn của Hòa, cô Tư thủ thỉ:

- Cháu đừng lo. Chưa được sự đồng ý hay thỏa thuận, không ai dám đến dỡ nhà của mình đâu. Điều đó đã được quy định trong Luật Đất đai rồi cháu ạ. À, sớm nay lúc đưa cô ra bến xe, Thêu nhắc đi nhắc lại với cô: Mẹ phải mời bằng được anh Hòa lên Vi Sơn đấy!

Hình ảnh tấm áo màu hoa đào hiện lên như một niềm thức nhớ, vẫy gọi, Hòa nhỏ nhẹ:

- Vâng, cháu cũng muốn lên thăm cô chú và em Tèo.. À quên, là em Thêu. Tiện thể thăm nơi ngày xưa bố cháu đã công tác- Giọng Hòa trầm hẳn xuống- Kể ra đi dăm ba bữa cũng chẳng sao. Nhà cháu có gì quý đâu mà sợ bị mất cắp. Nhưng nếu cháu đi, còn con chó con, để nó ở nhà một mình tội lắm cô ạ.

Cô Tư nghe Hòa nói bật cười:

- Thì mang theo nó đi càng vui chứ sao hả cháu.

* * *

Xe ô tô khách vòng vào bến đỗ, cửa mở, tiếng í ới gọi nhau chen lẫn tiếng rao hàng chộn rộn, hành khách lục tục đứng dậy, chờ cho vãn người, cô Tư bảo Hòa:" Mình cũng xuống đi cháu ". Hòa xách chiếc rọ nhốt con chó con bước xuống sân bến, một cô gái đi xe máy lao tới đỗ xịch trước mặt kèm theo tiếng reo:" Chào người miền xuôi lên thăm người miền ngược ". Hòa ngơ ngác, cô Tư cười:" Cha đẻ con gái, mắng mãi mà vẫn không chừa thói tinh nghịch. Thôi, bây giờ hai đứa đèo nhau về trước, để mẹ qua chợ mua vài thứ. À Thêu này, nhớ điện vào phòng bảo vệ nhà máy báo cho bố biết chiều nay nhà mình mở tiệc liên hoan đón anh Hòa nhé! ". Nói xong cô Tư khoác túi lên vai hòa vào dòng người trên đường.

Hòa ngẩn ngưòi nhìn cô gái. Tèo đấy ư? Con bé con loắt choắt, nhõng nhẽo, lùng nhùng trong tấm áo màu hoa đào bảy năm về trước, nay đã là một thiếu nữ dáng hình phổng phao, da trắng hồng, mịn màng như trái đào ngậm sương mai, đôi mắt lanh lợi, trong veo, hàm răng đều như hạt cườm giữa làn môi tươi tắn. Thêu đón chiếc rọ đựng con chó từ tay Hòa sang treo vào xe máy:" Em lạ lắm sao mà anh nhìn ghê thế? ". Hòa lắp bắp:" Anh.. Anh.. Anh không ngờ Tèo.. À.. À.. Thêu đã lớn thế này rồi ". Thêu nguýt:" Thế anh định không cho em lấy chồng hay sao mà cứ muốn em bé mãi như cái hồi em về nhà anh? ". Hòa đỏ bừng mặt, cô gái vờ không biết, đưa cho Hòa chiếc mũ bảo hiểm:" Anh đội vào rồi lên xe đi. - Thấy Hòa lóng ngóng cài mãi dây mũ không được, Thêu cầm lấy chiếc mũ nới khóa cho rộng ra- Anh để em đội cho nào. ". Hai khuôn mặt sát gần nhau, hương con gái thơm nồng, những lọn tóc đen nhánh bay vờn theo gió, bàn tay Thêu chạm nhẹ vào da thịt khiến Hòa có cảm giác là lạ.. Hòa chữa ngượng:" Từ đây về làng mình còn xa không em? ". Thêu cong tay gõ cồng cộc lên chiếc mũ đã nằm im trên đầu Hòa:" Thì chúng mình đang đứng ở bến xe khách Vi Sơn đấy thôi. Được rồi, bây giờ còn sớm, để em chở anh đi vòng quanh xem quê em có đẹp không nhé! ". Hòa rụt rè đưa tay bám nhẹ vào tà áo cô gái. Thêu khúc khích cười:" Bám chắc vào, gái Vi Sơn hiền lắm, không bắt vía đâu mà anh sợ "Nói rồi cô tăng ga, chiếc xe bon trên những con đường trải bê tông, những ngôi nhà cao tầng sơn màu tươi sáng, hàng cây xanh trồng trước cửa mướt mát tán tròn như mâm xôi vun vút lướt qua. Dọc theo dải phân cách từng chiếc cột điện đứng nghiêm ngắn như những người lính. Tất cả sạch sẽ và vuông vức tựa một bức tranh.

-" Thế sao cô Tư nói với anh quê em là làng cơ mà? ". Tiếng Hòa thoảng trong gió. Thêu cho xe vòng lên một khúc cua, dừng xe cạnh đường, đáp:" Thì nơi em vừa đèo anh đi qua chính là làng Vi Sơn của em đấy thôi! Nào, xuống đi anh, lên trên đồi thông, anh sẽ nhìn hết được làng Vi Sơn của em. ". Hòa có cảm tưởng mỗi lần cô gái nói" làng Vi Sơn của em "đôi môi của cô véo von như ca hát. Dường như âm thanh từ đó toát ra một vẻ tràn đầy tự mãn.

Hai người xuống xe, con chó con nhấm nhách sủa, quay tròn trong rọ đòi theo. Thêu mở miệng rọ nhấc con chó ra thả xuống đất:" Cún ngoan, ở yên đây chờ "chị" nhé! ". Con chó được tự do, mừng rỡn, cũn cỡn, cong đuôi chạy theo hai người, đến chân đồi cao, không leo lên được, miệng rên ư ử..

Thêu và Hòa dừng lại lưng chừng đồi, gió thổi, rừng thông reo" u.. U.. U.. "Như tiếng sáo mục đồng. Thêu khoát tay chỉ về phía xa:" Trước đây làng Vi Sơn cũ ở tận phía bờ sông kia kìa. Sau khi thực hiện kế hoạch xây dựng nông thôn mới, Vi Sơn được quy hoạch lại, người ta xẻ một con mương nước dẫn nước từ sông vào, đồng thời con mương đào ấy cũng là điểm giáp ranh giữa làng Vi Sơn và "Khu Công nghiệp Công nghệ Thực phẩm". Kia kìa, nơi chiếc cần cẩu tháp vươn lên như con hươu cao cổ đó là Nhà máy Chế biến Trà xanh; còn nơi có một cái ống khói cao và một cái ống khói thấp là Nhà máy Chế biến sắn khô, nơi bố em đang làm bảo vệ ở đấy, còn bên kia..

- Thế ở đây người ta cũng lấy hết đất đai à? - Hòa ngắt lời Thêu bằng một câu hỏi- Vậy còn ruộng đồng thì sao? Thêu kéo Hòa sát lại gần mình: "Anh có nhìn thấy mấy cái máy đang bừa trên cánh đồng kia không? Đấy là ruộng của các hộ nông dân Vi Sơn sau khi thực hiện" dồn điền, đổi thửa ". Bây giờ chúng em đi làm ruộng không vất vả như ngày xưa đâu. Cày, bừa, gặt hái dùng toàn bằng máy móc; muốn lấy nước vào ruộng chỉ cần mở van cống là xong; còn phân hóa học và thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ trong kho hợp tác xã lúc nào cũng sẵn..

Chợt tiếng điện thoại reo, Thêu mở máy áp lên tai:" Con chào bố.. Vâng.. Anh Hòa đang ở đây ạ. Vâng.. Vâng.. Con hiểu ạ. Vâng, con sẽ đưa anh ấy đến đi. Vâng, hẹn gặp bố ở nhà. Con chào bố ". Tắt máy điện thoại, Thêu quay lại bảo Hòa:" Xuống đi anh, bố em dặn đưa anh đến thăm một nơi ". Hòa hỏi:" Đi đâu hả Tèo.. À.. À.. Thêu? ". Thêu cười ý nhị không đáp. Hòa bẽn lẽn:" Anh lỡ miệng gọi là Tèo em có giận không? "Thêu chìa tay đỡ Hòa xuống dốc:" Đừng nghĩ thế anh, em chẳng giận đâu. Vì với anh, bao giờ em cũng là cái Tèo nhõng nhẽo đòi theo anh đi tắm suối Tiêu Hương ngày trước. Anh Hòa thấy có buồn cười không? Lúc ấy không hiểu làm sao, em chẳng biết xấu hổ là gì, cứ tồng ngồng giữa suối? ". Mặt Hòa đỏ rân rân khi nghe Thêu nhắc lại chuyện ngày xưa. Ừ, giá vẫn như ngày xưa thì vui biết mấy..

Hai người xuống đến chân đồi, con chó nhỏ chạy tới múa đuôi mừng rối rít. Thêu nhấc nó lên tay ve vuốt, vỗ về:" Cún con ngoan nhé, lát nữa về nhà mình, cún tha hồ mà nhảy nhót ". Hòa cúi xuống vạt cỏ ven đồi nhặt lên một quả thông:" Thêu này.. ". Thêu ngước đôi mắt trong veo nhìn:" Anh Hòa bảo gì em cơ? ". Hòa mân mê quả thông:" Anh hỏi, em đừng giận nhé.. Thêu.. Thêu đã.. Đã có ai chưa? ". Thêu treo rọ nhốt con chó vào mắc xe, đùa lại:" Anh hỏi ai là ai cơ? ". Hòa lúng túng tránh ánh mắt cô gái. Thêu tủm tỉm cười:" Trêu anh Hòa một tí cho vui thôi. Nhưng em xấu thế này thì ai người ta thèm. Anh Hòa xem ở Đạo Cường có anh nào ế thì giới thiệu cho em nhé! ". Hòa bẽn lẽn, ngượng nghịu, lấy tay tung hứng quả thông, Thêu chìa tay đón, áp quả thông lên môi mình:" Anh Hòa biết không,

Cứ mỗi lần thấy mùi hương quả thông, em lại nhớ đến rừng thông ở ven suối Tiêu Hương hồi em về Đạo Cường.. "." Tèo.. À à.. Thêu vẫn nhớ thật chứ? ". Thêu tủm tỉm cười, trèo lên xe nổ máy. Ở phía sau, đôi bàn tay chàng trai nhận từ hông người con gái từng làn hơi nóng hổi..

Chiếc xe trở lại làng Vi Sơn, vòng qua mấy ngã ba, ngã tư nữa thì đỗ lại cổng trường. Hòa nhìn tấm bảng hiệu" Trường tiểu học Lâm Văn Hạ xã Vi Sơn ". Buột miệng:" Sao lại có tên bố anh ở đây hả Thêu? ". Thêu chưa kịp đáp thì cổng trường mở, hàng trăm đưa trẻ mặc quần áo đồng phục ùa ra, chạy đên vây quanh, ríu rít như chim vỡ tổ:" A, chị Thêu đến các bạn ơi.. ". Các cô giáo nhìn thấy hai người rảo bước đến:" Có việc gì mà Bí thư đoàn Vi Sơn đến trường muộn thế? ". Thêu nói:" Giới thiệu với các cô giáo, đây là anh Hòa, con bác Lâm Văn Hạ, người đã được lấy tên đặt cho trường mình đấy! ". Tất cả xúm quanh, tíu tít hỏi chuyện. Một cô giáo cầm tay Hòa xiết chặt:" Anh Hòa ơi, em chính là người đã được bố anh cứu trong đợt lũ sông năm ấy đấy. Mọi người luôn nhớ đến công ơn của bác Hạ đã hết lòng vì nhân dân Vi Sơn.."

Tấm biển trường và những dòng chữ nhoè nhoẹt trước mắt Hòa. Tự trong tâm khảm hinh ảnh người cha hiện ra, ánh ỏi, rực rỡ như một luống quang chiếu.. Bố ơi- Hòa thầm thì- Con đã hiểu ra rồi, không có sự ngọt ngào nào không trải qua cay đắng; không có hạnh phúc nào không nếm trải khổ đau; không có thành công nào mà không có sự hy sinh của những Con Người..​

Nguyễn Nhuận Hồng Phương
 
278 ❤︎ Bài viết: 809 Tìm chủ đề

43. Tháng ngày chưa xa - Nguyễn Nhuận Hồng Phương​


20260826-091908-b728eb9c53.png


1

- Đấy là trận mở màn chiến dịch Đường 9 Nam Lào mùa Xuân năm 1971 - Thành ngồi xuống ghế rồi kể - Đơn vị chúng tôi được lệnh hành quân tập kết ở lòng suối V2. Trong kế hoạch tác chiến, nếu ém quân ở đấy, sẽ rất thuận lợi, quan sát được những cao điểm của đối phương. Men theo đường 9, bên kia là đồi Không Tên và đồi Con Thỏ, còn bên này là đồi Mâm Xôi nằm kề cao điểm 160, cùng với cao điểm 544 tạo thành thế zích zắc. Con suối vào mùa này hiền khô, ít nước, chảy róc rách. Nhưng vào mùa mưa đừng đùa! Chỉ nội một cơn mưa đầu nguồn thôi, nước đổ về dữ dội. Có lần nước dâng ngập hàng tuần liền. Không nhận được tiếp tế, đơn vị phải dè sẻn gạo, kiếm rau rừng độn thay.

Để thuận tiện, ngoài vũ khí mỗi người chúng tôi chỉ mặc một bộ quần áo và tấm bạt ni lông nguỵ trang khoác ngoài. Lúc xuất phát, trời nhá nhem tối, đường lại khó đi vì phải tránh những trảng rừng trống bị bom na pan đốt cháy. Từng vạt cỏ gianh trơ trụi vì nắng gió và bom đạn, ánh sáng đèn dù lúc tỏ lúc mờ, tiếng ầm ì của máy bay xen lẫn tiếng bom rền từ phía biển vọng tới.

Hàng quân theo nhau tiếp bước, nguỵ trang rập rờn, ánh lân tinh sau mũ chập chờn ẩn hiện. Đợi Phúc đi ngang, tôi bước cùng rồi thì thào: "Tớ để bức thư và chiếc lược làm bằng cánh bom bi ở túi cóc ấy. Nếu chẳng may có gì, thì coi đó là quà mừng đám cưới cậu và Hoa đấy nhé!". Nghe tôi nói, Phúc dúi vào tay tôi miếng lương khô, trêu: "Nếu thế thật thì đừng tiếc nhé!". "Nhưng ngược lại thì cậu có tiếc không?" - Tôi vặn lại. Phúc cười: "Nhớ thì nhắc lại thôi, chứ biết người ta có đợi được không mà mơ. Biết đâu khi hết chiến tranh, lúc về bạn ấy đã con bế con bồng rồi.."

Hoa, cô bạn học rất thân của hai thằng hiện ra trong đầu tôi. Hoa lớn trước tuổi, thân hình nở nang, học giỏi, dịu dàng, làn da trắng mịn màng, tóc tết đuôi sam, mặt trái xoan, cặp mắt đa cảm, khoé miệng tươi tắn, hàm răng hạt na.. Cả Phúc và tôi đều có tình ý với Hoa, nhưng không đứa nào dám vượt qua ranh giới, vì Hoa tỏ thái độ trung lập và rất "đàn chị", biết ý hai thằng bạn nên luôn giữ thái độ không nghiêng về phía ai, vì ngại làm mất tình bạn.

Hoa ơi! - Tôi thầm thì: Ngày mai mình và Phúc vào trận đây. Suốt từ hồi vào chiến trường rặt có hành quân và ẩn tránh thôi. Hết chui vào rừng sâu rồi lại hành binh sang Lào, cả vùng Trường Sơn này hễ chỗ nào an toàn là tìm đến! Muốn đánh nhau cho hả, nhưng chiến trận không thấy đâu, mà chỉ thấy bom dội và những cánh rừng cháy xơ xác. Trông thấy địch không được nổ súng, lệnh cấp trên phải chờ thời, lúc nào cũng nơm nớp lo tụi thám báo tập kích. Có đồng đội chưa biết mùi binh lửa đã chết, chết các kiểu, đang ăn bị bom dập, chết! Làm thằng lính trận vậy là khổ, thà hy sinh ngay trên trận mạc còn hơn phải chết vô ích thế. Háo hức xung phong đi, nhưng vào đây phải sống chui lủi tránh trớ, khó chịu lắm! Nhưng hôm nay tụi mình được lệnh vào trận, đối mặt với kẻ thù rồi. Hôm qua nghe cấp trên phố biến: Quân địch mở chiến dịch Lam Sơn 719, nhằm phá vỡ hệ thống hậu cần, cắt đứt đường tiếp vận của ta từ Lào sang, và đường mòn Hồ Chí Minh vào chiến trường miền Nam. Nhiệm vụ của đơn vị là chiến đấu phá vỡ âm mưu của địch, cho dù phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng. Mọi người nghe xong hồi hộp nhưng ai nấy đều phấn chấn, không còn những tính toán thiệt hơn, xác định trận chiến này không dành cho những kẻ hèn nhát..

2

Gần sáng trung đội triển khai xong kiềng phục kích. Tổ hoả lực tăng cường của tôi được bố trí chính diện, đối mặt với đường hành binh của địch. Đó là một trảng đồi thấp, chen giữa những vạt cỏ gianh có nhiều bụi sim và những cụm hoa mua. Trong lúc chờ, tôi nằm ngửa vắt tay lên trán ngửa mặt nhìn trời. Trong vạt mây âm u, xạm đen một ngôi sao nhấp nháy, lúc ẩn lúc hiện. Phía đồi Con Thỏ nhấp nhoá ánh đèn dù, cao điểm 160 lặng như tờ, mạn dưới, ánh sáng hắt lên thành quầng, đèn pha đan chéo nhau kẻ vệt trên nền trời. Tôi đoán phía ấy là Cửa Việt, nơi hạm đội hải quân đối phương neo bến. Lơ mơ.. Bỗng nhiên không hiểu sao tôi nhớ về quê hương. Nhớ cái thị xã Phúc An nhỏ bé, có dòng sông Tiền Châu trong vắt thơ mộng bao quanh; nhớ bãi vải Đạm Xuyên vào mùa quả chín, đỏ ối như những bó đuốc rực rỡ in trên nền trời xanh thẳm; nhớ mỗi lần ba đứa rủ nhau lên đầm Diệu hái sen. Đứa ngắt lá đội lên đầu Hoa, đứa bơi ra giữa đầm hái hoa cho Hoa áp lên môi, đôi mắt thiếu nữ long lanh trong chiều thu lộng gió, ngân nga tiếng sáo diều trên tầng không vời vợi..

- "Anh Thành mơ mộng gì đấy?". Lợi, trợ thủ B40 nằm cạnh quay sang hỏi. Tôi giật mình choàng tỉnh: "Cậu bảo cái gì cơ?". Lợi thủ thỉ: "Lát nữa có cái xe tăng nào" ngon ăn "anh cho em" xơi "một chiếc, kiếm cái bằng dũng sĩ diệt xe cơ giới, gửi về cho vợ em khoe với dân bản nhé!". "Cái thằng.. - Tôi cười - Bắn B40 mà cậu làm cứ như chia khẩu phần lương khô không bằng. Được, cứ để tớ khai hỏa đầu tiên, thông đồng bén giọt rồi đến lượt cậu. Nhưng nếu bắn nhớ phải bắn chính xác đấy!". Dặn Lợi vậy nhưng tôi lo. Mang tiếng xạ thủ chính, nhưng tôi đã bắn phát nào đâu! Nghĩ rồi tôi thầm ôn lại động tác xạ kích sử dụng B40..

Trời sáng dần, gió từ phía biển thổi vào lồng lộng, những đám mây vón hình túi nặng trĩu nước, đã có những hạt mưa lác đác rơi. Mọi người cởi quần áo dài để vào túi ni lông cho khỏi ướt. Thời gian chờ đợi nẫu cả ruột. Trong lúc đó bọn OV10 luôn quần đảo trên đầu. Không nói thì anh em cũng biết rồi đó. "Thằng" OV10 thuộc loại hiện đại và ranh ma lắm. Bay qua, lượn lại, chụp ảnh, dùng máy phân tích, so sánh ngay. Chỗ nào khác dấu, liền tương một quả bom khói xuống dựng cột làm tín hiệu, chỉ tích tắc sau, chưa nghe tiếng máy bay đã thấy đạn rốc két nổ, rồi bom các loại trút xuống ầm ầm, mặt đất rung chuyển, chao đảo đu đưa như khi ngồi võng..

Đang nghĩ, bỗng có tiếng ầm ì vọng đến. Không ai bảo ai bật dậy, thần kinh căng như dây đàn. Tôi áp tai xuống mặt đất nghe ngóng: Tiếng động cơ và xích sắt nghiến đường cộm lên dội vào tai. "Toàn trung đội sẵn sàng chiến đấu!". Tiếng B trưởng truyền lệnh. Cả trung đội không ai kịp mặc quần áo. Thôi được, quần đùi, áo lót cũng chơi! Tôi nghĩ rồi nhổm lên, một cành sim loà xoà trước mắt, tôi bẻ gãy căng mắt nhìn: Kia rồi! Trong màn sáng mờ sương, một đoàn xe nối đuôi nhau chạy từ phía đồi Con Thỏ hướng về phía cao điểm 160, đi trước là một chiếc xe M113, trên xe lố nhố bọn lính ngồi. Tôi nhìn sang nơi Nghĩa và Tần nằm phục, cả hai trần trụi, răng cắn chặt quai mũ, nét mặt lộ rõ vẻ căng thẳng. Tôi nhặt viên đất ném, cả hai quay lại. Tôi cười, tay vỗ vào khẩu B40 như muốn trấn an: Bình tĩnh đi các đồng chí! Nghĩa và Tần gật đầu, vỗ báng súng đáp lại.

B trưởng trườn đến chỗ tôi, chiếc áo cổ vuông ướt đẫm, anh chỉ tay về phía trước: "Đồng chí có nhìn thấy gò đất kia không?". Cái mô đất trông như mả thằng ăn mày làm gì ai không biết! Nghĩ vậy, tôi đáp: "Báo cáo Trung đội trưởng, có!". Anh nói: "Đồng chí cho tổ hỏa lực vận động lên đấy, khi nào thấy xe tăng chạy về phía ấy, không cần đợi lệnh, chủ động nổ súng tiêu diệt!". Nghe, tôi hiểu ngay ý B trưởng muốn đón lõng đánh phủ đầu đối phương. Tôi đáp: "Rõ!". B trưởng xiết chặt tay tôi, giọng đanh cứng: "Chắc thắng!" rồi quay về phía dưới. Chờ anh đi khỏi, tôi vẫy toàn tổ lại gần, đưa tay chỉ: "Các đồng chí có nhìn thấy gò đất cao nhất kia không? - Cả ba gật đầu. Tôi nói tiếp - Tôi sẽ vận động đến đấy xong thì từng đồng chí một lên tiếp. Đồng chí Lợi bám sát tôi, còn Tần và Nghĩa tản ra mỗi người cách nhau khoảng dăm mét. Khi bò, nhớ trườn nghiêng, lợi dụng địa hình, địa thế, đừng để mũi súng hếch lên trời kẻo máy bay trinh sát phát hiện ra. Các đồng chí rõ chưa?". "Rõ!". Cả ba đồng thanh đáp. Tôi chìa tay cho đồng đội nắm chặt rồi bắt chước B trưởng nói: "Chắc thắng". Xong rồi tôi lợi dụng những bụi cây thấp trườn đi. Cái gò đất nhìn tưởng gần, nhưng phải bò hai hơi mới tới. Đến nơi, tôi chọn chỗ cao nhất đưa mắt quan sát đoàn xe: Bọn địch cho xe chạy chậm, hình như chúng đánh hơi được điều gì nên dò dẫm cầm chừng. Tôi quay lại vẫy tay ra hiệu cho đồng đội tiến lên.

Lợi khoác súng AK, nghiêng người trườn đi rất nhanh, chiếc túi đựng đạn B40 nằm trên lưng gù cao. Cái thằng trông to béo thế mà thao tác rõ linh hoạt. Đúng là dân Cao Bằng, đi rừng núi quen có khác. Lợi bò tới, tôi vẫy Nghĩa lên tiếp. Nghĩa xạ thủ trung liên RPD, quê Nam Định, vào học Đại học Sư phạm năm thứ nhất thì xung phong nhập ngũ, ít nói nhưng thích làm thơ. Đến đâu rảnh lại mang thơ ra đọc và bình cho cả tổ nghe. Còn Tần quê gốc Quảng Ngãi, theo bố ra tập kết, công nhân lái tàu hỏa, thuộc diện được ưu tiên, nhưng nằng nặc đòi nhập ngũ, không được chấp nhận, Tần cắt máu viết đơn tình nguyện, vác chăn chiếu lên huyện đội nằm ăn vạ. Trong tổ mỗi thằng một quê, mỗi thằng một hoàn cảnh, một cá tính nhưng đoàn kết và thương nhau lắm.

3

Chúng tôi vừa ổn định xong thì có tiếng súng nổ. Bắt đầu rồi! Tôi thấy tim mình đập mạnh, nhưng nhớ bài học giảng viên dặn, liền hít một hơi lấy lại bình tĩnh rồi bảo Lợi: "Đưa đạn cho tôi". Quả đạn hình bi chuối, trơn nhẵn, bóng lộng như da lươn. Đây là lần đầu tiên tôi lắp đạn thật và đánh thật. Tôi nâng súng lên vai, tay bóp chặt cho đỡ run, nheo mắt ngắm vòng tiêu cự: Đoàn xe của chúng cách tôi khoảng 200 mét, chiếc M113 đi đầu, còn bốn cái M48 nối đuôi đi sau. Bọn nó có năm cái, tôi có sáu viên đạn. Tôi nhẩm tính. Như vậy đủ chơi, miễn là đừng có bắn trượt. Nhưng tại sao mấy chiếc xe đang đi dừng lại? Tôi rời mắt khỏi vòng tiêu cự quan sát. Chắc chúng hội ý! Tôi đoán. Bỗng đoàn xe đồng loạt rồ máy bỏ hướng cũ vòng sang phía đồi Không Tên, nơi đơn vị bạn phục. Tôi tiếc rẻ, quả tim trong lồng ngực bớt đập. Lợi thì thào: "Bọn chúng phát hiện ra bộ đội mình hay sao anh ạ". Thế này thì còn đánh đấm gì! Tôi căng mắt nhìn theo hướng đoàn xe chạy, tiếng súng nổ đì đẹt, rời rạc, đó là tiếng súng của địch, như vậy bọn nó bắn hù dọa. Bỗng nhiên, chiếc Mll3 quay ngoắt lại, những chiếc M48 chạy phía sau cũng bắt chước quay 180 độ lao về phía cao điểm 160.

A.. Bọn này chạy kiểu nghi binh. Nghĩ rồi tôi truyền lệnh: "Các đồng chí chú ý. Bây giờ tôi sẽ vận động đánh xe tăng. Nếu bộ binh địch xuất hiện các đồng chí bắn yểm trợ cho tôi". Vừa lúc ấy, bất ngờ pháo của địch từ phía Cam Lộ, Cửa Việt, Đông Hà bắn lên, kẻ thành từng vệt trên nền trời xám ngắt. Đạn cối từ đồi Con Thỏ và đồi Không Tên cũng không kém, thi nhau bắn dồn dập, đường đạn vượt qua đầu tổ hỏa lực rơi xuống phía sau. Hình như đối phương đã phát hiện ra trận địa của ta? Tôi quay lại nhìn về phía trung đội phục kích. Đạn pháo cày xới mặt đất, đạn cối nổ dựng thành từng cột khói bao trùm mù mịt khắp trận địa khiến tôi không tài nào nhìn thấy gì.

- Có đi.. Đi.. Địch.. Anh Thành ơi! - Bỗng tiếng Tần gào thất thanh át cả tiếng đạn nổ.

Tôi vội quay lại, nhấc súng lên vai. Bám sau đoàn xe, từng tốp lính xuất hiện. Bọn chúng mặc quần áo dã chiến, đội mũ sắt, tay lăm lăm tiểu liên cực nhanh, lò dò tiến lên. Lúc này những chiếc xe đã giảm tốc độ, pháo và đạn cối trên cao điểm cũng ngừng bắn. Chỉ còn mấy chiếc UTiTi quần đảo trên trời. Ra là chúng bắn dọn đường cho xe tăng và bộ binh tiến lên. Như vậy bọn chúng chưa phát hiện ra quân mình. Đánh thôi! Tôi nghĩ vậy, tay siết chặt nòng súng. Qua vòng tiêu điểm, chiếc xe Mll3 rõ dần, một tốp lính ôm súng ngồi trên xe. Cứ cho bọn mày ung dung đi. Tôi nghĩ rồi rê vòng tiêu cự đưa chiếc xe vào tầm ngắm. 200 mét.. L50 mét.. Rồi 100 mét.. "Bắn đi anh!". Tiếng Lợi giục. - Chưa được! Tôi thầm tính toán trong đầu - Đợi một tý nữa cho chắc, khi nào nhìn thấy đầu thằng lái tớ mới chơi! Nghĩ rồi tôi co chân lên, mắt liếc nhìn chỗ mình sẽ lăn tránh luồng khí thổi sau khi bắn. Đột ngột, không hiểu sao bỗng nhiên chiếc M113 tăng tốc, vọt lên. Cả đầu chiếc xe như trùm lên vòng tiêu cự. Tôi nhỏm người lên bóp cò, có cái gì nhẹ bẫng như trọng lực được giải thoát, theo phản xạ, tôi ôm súng liên tiếp lăn ngang, cùng lúc phía trước một tia chớp bùng sáng và sau đó vang lên tiếng nổ cực lớn: "Uỳnh!".

Cả khoảng trời một màu vàng ệch, đầu tôi âm âm như bị ai đấm vào mang tai. Phía trước một khối lửa bùng lên dữ dội, đụn khói cuồn cuộn bốc cao hình chiếc nấm, giống y như hình quả bom nguyên tử ném xuống Hi - Rô - Si - Ma trong phim tài liệu tôi được xem hồi còn ở nhà, nhưng cột khói của đạn B40 nhỏ hơn! Tôi ra hiệu cho Lợi lấy quả đạn khác lắp vào nòng, rồi nhìn "sản phẩm" của mình so sánh.

Trong lúc đó, phía bọn địch, những chiếc xe M48 chừng như hoảng, chúng cho xe lùi lại một quãng rồi dừng lại, từ trong lỗ hỏa mai trên xe, đạn vãi ra như trấu, mâm pháo trên thân xoay giật cục, khẩu đại liên trên nóc xe khai hỏa, đường đạn đan chéo cánh sẻ, chớp toé xanh lẹt. Bọn bộ binh không theo kịp xe tăng, chúng nháo nhào nằm phục xuống đất nhắm phía trước bắn loạn xạ.

Như đã hiệp đồng, Nghĩa rê nòng súng RPD lách qua khoảng giữa những chiếc xe, điểm hỏa từng loạt, cùng với súng AK của Tần là Lợi găm bọn bộ binh lại, tiếng đạn va vào xe tăng toé lửa. Có tiếng máy bay! Tôi ngó lên trời, trên cao, ba chiếc HU1A lượn lờ; ở tầm dưới, những chiếc máy bay UTiTi mở rộng vòng, lồng lộn quần đảo. Những bụi cây đổ rạp vì gió thổi, lúc máy bay nghiêng cánh, tôi nhìn rõ thằng lính cầm súng đứng ở cửa khoang máy bay khạc đạn xuống.

Có thể bọn này định đổ quân? Tôi nghĩ vậy. Nếu để bọn chúng đổ thêm quân tình thế nghe chừng bất lợi. Không nghĩ nhiều, tôi vẫy Lợi theo rồi vọt lên. Cách một trăm mét, tôi nằm xuống lấy thước ngắm: Chưa bắn được! Vẫn hơi xa. Tôi định vận động tiếp thì bọn bộ binh phát hiện ra. Chúng hè nhau chỉ trỏ rồi quay nòng súng về phía tôi nhả đạn. Tiếng đạn bay "chíu, chíu..". Lá cây rơi lả tả. Đạn bắn rát quá, tôi và Lợi đành phải chúi gằm mặt xuống đất tránh.

Tần ơi.. Nghĩa ơi.. Trong lúc nguy nan tôi thầm gọi. Tập trung hỏa lực đè bọn chúng đi, nếu cứ như thế này bọn mình không tiến lên được. Người ta nói những người lính chiến đấu cùng nhau có tai thần, mắt thánh, họ rất hiểu ý nhau. Không biết có đúng không, nhưng đúng lúc tôi thầm thì, tiếng trung liên RPD của Nghĩa và súng AK của Tần nổ nhất loạt. Rồi trong mớ âm thanh hỗn độn khét lẹt của chiến trường, tôi nghe rõ tiếng B trưởng hô: "Xung phong..", kèm theo đó là những tiếng "Xung phong" của đồng đội đáp lại. Tôi nhớ lúc ấy tôi còn nghe rõ cả tiếng hô của Phúc nữa. Vậy là có tiếp viện viện rồi. Trong lúc đó bọn bộ binh địch cuống cuồng lùi lại chúi sau những chiếc xe bọc thép. Tôi tận dụng khoảnh khắc bọn địch hoang mang, lao lên, khom người chạy theo hình zích zắc, chọn những lùm cây để ẩn. Kia rồi, có một mô đất, tôi ôm súng lăn ba vòng về phía ấy. Qua vòng ngắm, tôi nhìn rõ chữ M48 trên thân xe. Nhưng chỗ này nằm bắn không được, dễ bị chệch mục tiêu. Bỗng chiếc xe tăng lùi lại, hình như bọn chúng đã phát hiện ra tôi. Không tính toán nhiều, tôi bật dậy đứng thẳng người lên, nâng súng, bóp cò. Vừa kịp lăn sang bên, tiếng nổ mạnh dội ngược lại, tôi cảm giác hơi nóng phủ lên người rát bỏng và tất cả chiến trường câm lặng sau phát đạn B40 nổ, chỉ còn những quầng lửa và khói bốc lên từng đợt. Tháp pháo trên chiếc xe tăng rụng xuống, cả khối thép tan chảy như nham thạch của núi lửa phun trào..

Trên trời, những chiếc trực thăng vội vàng bay vọt lên, dạt về phía đồi Không Tên. Mẹ chúng mày! Tắt hết động cơ rồi hay sao mà không gào rú lên. - Tôi rủa thầm. Sự im lặng thật đáng sợ. Tôi không hiểu tại sao tất cả im lặng thế. Cả tiếng súng của ta nữa. Sao rồi Nghĩa ơi, Tần ơi, Lợi ơi, các đồng chí ơi.. Bỗng tôi thấy lành lạnh ở tai, liền đưa tay lên quệt, trời ơi máu! Những giọt máu đỏ tươi ộc ra từ lỗ tai. Thôi chết rồi, tại tiếng nổ quá gần đây mà! Tôi lấy vạt áo lau, máu vẫn chảy ra, tôi liền vặt một nắm lá sim nhai nát, nhét vào tai day day, đầu âm âm một lát rồi đỡ dần. Đã nghe thấy tiếng súng lọp bọp và tiếng động cơ xe tăng gào rú..

Vừa lúc ấy Lợi trườn tới. Nó nói gì mà nhỏ quá tôi nghe không rõ. Tôi chỉ lên tai ra hiệu. Lợi chìa tay ra hiệu xin tôi cho bắn. Ừ.. - Tôi trao khẩu B40 cho Lợi - Mình "xơi" 2 chiếc rồi. Để cho nó diệt một chiếc kiếm cái bằng dũng sĩ. Tôi nghĩ vậy rồi vỗ vai Lợi chỉ về chiếc M48 đang nhả đạn, gào to: "Chắc thắng!". Nói xong tôi xách khẩu AK của Lợi trườn lên mô đất, bắn yểm trợ.

Lợi lao lên rất nhanh. Trời ơi, cái thằng! - Tôi giật mình kêu lên. Vận động thế kia dễ ăn đạn lắm. Tự nhiên tôi thấy lo lắng Lợi sẽ bị thương. Tôi gào: "Lợi ơi, nằm xuống!". Tiếng thét của tôi rất to, Lợi nghe thấy lăn về phía phải, nhưng rồi lại đứng bật dậy đuổi theo chiếc xe. Thằng địch lái chiếc M48 cơ chừng đã phát hiện ra cái bi chuối lắp ở đầu súng của Lợi, nó rồ máy cho xe quay ngoắt lại chạy kiểu chữ chi. Lợi đuổi theo, mấy lần dừng lại định bắn nhưng lại thôi.

Trong lúc đó bọn bộ binh địch lùi lại nấp sau bờ đất bên kia đường, chúng tập trung hoả lực bắn về phía Lợi. Đang chạy bỗng tôi thấy Lợi chúi người về phía trước. "Thôi rồi Lợi ơi!". Tôi buột miệng, rồi hướng mũi súng về phía bọn bộ binh nhả đạn, vừa lo lắng nhìn theo: Lợi cố gượng nhỏm người nâng nòng súng lên, bắn! Trượt mất rồi! Tôi kêu lên, quả đạn B40 trườn trên thân tháp pháo xe tăng, vọt qua hàng chục mét rồi mới nổ. Cùng lúc đó Lợi trúng đạn khuỵu xuống.

Từ phía sau, tôi không kịp nghĩ, bật lên lao tới, rất may viên đạn nổ không trúng chiếc xe, nhưng lại ngăn được lũ giặc, nên tôi không bị trúng đạn. Khi tôi đến nơi, Lợi nằm sấp, máu từ lưng chảy thành vòi, khẩu súng B40 rơi bên cạnh. Không kịp suy xét, tôi vồ lấy khẩu súng đuổi theo chiếc xe, vừa chạy vừa lắp đạn. Tiếng đạn bay "chíu.. Chíu.. Chíu.." bên tai. Mặc! Tôi nhảy qua bụi cây, bờ đất, quyết tâm tiếp cận. Khi thấy có thể bắn được, tôi nâng súng hướng về chiếc xe tăng bóp cò: "Uỳnh". Lợi ơi, Thành trả thù cho Lợi đây! Tôi ôm súng lăn liền mấy vòng rồi quay về chỗ Lợi nằm.

Lợi bị chết ngay sau khi bắn phát đạn đầu tiên trên đời. Vết đạn xuyên từ ngực phá nát một mảng lưng, chiếc túi đựng đạn nằm vương bên cạnh thấm đẫm máu. Tần ôm Lợi khóc nức nở: "Lợi ơi.. Tỉnh lại đi, anh Thành, Tần và Nghĩa đang ở đây mà.. Lợi có nghe thấy không, Lợi ơi..". Cùng lúc đó B trưởng đến. Theo sau là Phúc. B trưởng kéo tay Tần: "Đừng khóc! Các đồng chí hãy chiến đấu trả thù cho đồng chí Lợi!". Tần vẫn ghì chặt Lợi không muốn rời. Còn tôi đứng trân trân nhìn. Tôi vuốt nước mưa trên mặt, xen vào đó là ý nghĩ ân hận se thắt trong trái tim. Giá như tôi không để cho Lợi bắn thì có lẽ cơ sự sẽ khác. Nhưng tất cả đã muộn rồi.. Trong lúc đó, Phúc phải dứt mãi Tần mới chịu buông ra. "Bây giờ tôi và đồng chí Tần đưa đồng chí Lợi về tuyến sau - B trưởng lệnh - Còn đồng chí Phúc ở lại thay đồng chí Lợi làm trợ thủ cho đồng chí Thành". Nghĩa đỡ Lợi lên vai Tần, Tần mếu máo: "Em đưa anh ấy về tuyến sau rồi em sẽ quay lại". Mặt B trưởng cứng đanh, giọng dứt khoát: "Các đồng chí triển khai chờ lệnh tôi hiệp đồng tác chiến cùng đơn vị". Nói rồi B trưởng bươn theo Tần. Tôi cắn chặt môi, nhìn theo thầm hứa: Lợi ơi, mình sẽ tiêu diệt chúng nó để trả thù cho Lợi..

4

Trời bắt đầu mưa nặng hạt, những chiếc xe tăng dừng lại, cả hai khẩu đại liên trên nóc tháp thi nhau nhả đạn. Lúc này bọn địch đang tổ chức phản công lại, có lẽ chúng đã phát hiện ra lực lượng của ta mỏng. Trên đường, hai chiếc M48 dàn hàng, phía sau là bọn bộ binh. Trên trời máy bay UTiTi quần đảo dữ dội. Tôi gọi Nghĩa và Phúc lại hội ý: "Các đồng chí có ý kiến gì không?". Phúc nói: "Bọn chúng ỷ thế vào xe cơ giới. Chỉ làm sao tiêu diệt được xe tăng là bọn chúng hết chỗ dựa". Nghĩa đồng tình: "Tôi đồng ý với ý kiến của Đồng chí Phúc. Vì nếu diệt được xe cơ giới, không những trung đội ta làm chủ được trận địa, mà còn tạo ra thế hiệp đồng với các đơn vị bạn". Nghe xong, tôi nói: "Thế này nhé. Lát nữa khi có lệnh tấn công, hai đồng chí cùng đơn vị thu hút hỏa lực địch, tạo điều kiện cho tôi tiến lên áp sát dùng B40 diệt bọn xe tăng". Nghĩa và Phúc đồng thanh đáp: "Rõ!". Tôi nắm chặt tay hai người siết chặt: "Chắc thắng!" rồi mở túi lấy đạn lắp vào. Còn một quả tôi quàng ngang vai, nằm chờ. Trong lúc đó Phúc và Nghĩa trườn ra cách nơi tôi nằm chừng hai mươi mét, ghếch khẩu RPD lên điểm cao, hướng về phía địch chờ. Vừa lúc đó tiếng B trưởng hô vang: "Xung phong..". Sau đó là tiếng súng nổ vang rền. Bọn địch quay súng hướng về phía quân ta bắn. Bọn nó trúng kế rồi! Tôi nhủ thầm rồi trườn vòng về phía hông bọn địch. Còn chừng vài chục mét, bọn bộ binh phát hiện ra, chúng la hét, quay súng về phía tôi. Mặc! Bươn thêm một đoạn, tôi quỳ lên, dồn hết lòng căm hận vào điểm hoả, ngón tay siết mạnh. Lợi ơi! Mình bắn đây! Quả đạn mang lòng căm thù bay trúng đích, tiếng nổ và vầng lửa màu da cam bùng phát dữ dội, khối thép hình con bọ cạp nhảy dựng lên rồi nhũn nhẹo, sụn ụp, chảy loang trên mặt đất.

Không dừng lại, tôi bật dậy tiếp tục tiến lên, tai ù đặc, không còn nghe tiếng đạn réo, không còn nghe tiếng động cơ gào rú, trước mắt tôi duy nhất mục tiêu là những con thú hình bọ cạp, những khối thép di động, mang lưỡi hái tử thần gieo trên mảnh đất này, và đã giết đồng đội tôi. Khói xộc vào mũi, miệng cay xè, đắng ngắt. Kia rồi, một chiếc M48 đang tháo chạy. Chạy đi đâu thoát? Tôi lắp đạn, lao lên đuổi theo chiếc xe tăng, mưa mỗi lúc một nặng hạt, tạt vào mắt nhòe nhoẹt. Tôi vừa chạy vừa lấy khuỷu tay lau mặt. Còn cách chừng năm chục mét, khoảng trống thoáng. Tôi nâng súng bóp cò rồi theo phản xạ lăn về bên trái.

"Uỳnh". Tiếng nổ dội lại, tôi thấy người mình nhẹ bẫng, trước mắt tất cả quay cuồng, mọi vật đảo lộn, lồng ngực bị nén, miệng há ra nhưng không thở được, có cái gì chẹn ngang cổ họng, đưa tay định móc ra nhưng không tài nào cử động nổi. Đúng lúc ấy, bất ngờ đạn pháo của địch nã tới tấp xuống trận địa. "Boong.. Bùm.. Boong.. Bùm..". Thôi chết, pháo từ phía Cửa Việt và mạn Đông Hà bắn lên, đây là pháo hạng nặng. Điều này có hiện tượng chúng thí quân. Như vậy bọn chúng định "hỏa táng" cả quân mình lẫn quân nó! Tôi hiểu ý định của đối phương, và biết nếu cứ nằm đây sẽ chết. Tôi cố cử động nhưng không nổi. Toàn thân cứng đờ, xương như vỡ vụn. Đúng lúc ấy, Phúc chạy tới, nâng đầu tôi lên, đưa tay rờ khắp người: "Thành ơi.. Thành ơi sao rồi?". Tôi ngúc ngắc đầu, cổ họng tức thở, không nói được. Phúc cởi áo, vắt nước mưa vào mồm tôi. Nước lạnh làm tôi thấy dễ thở hơn, há miệng, cố cử động lưỡi, phều phào: "Nghĩ.. Nghĩa.. Đâu?". "Có lệnh rút để tránh thương vong, nên tôi cho Nghĩa theo trung đội rút trước rồi. Bây giờ chỉ còn tôi với ông thôi. Phải cố lên đấy Thành ạ. Nếu không ra khỏi chỗ này, lát nữa máy bay đến dội bom là không còn đường về quê mẹ đâu". Nói rồi Phúc quàng súng B40 và 2 khẩu AK lên lưng, nghiêng người nhấc đầu tôi đặt lên đùi mình trườn đi. Thật may cho tôi và Phúc. Một quả đạn nổ ngay nơi chúng tôi vừa di chuyển ra khỏi, bùn đất văng tứ tung. Nhưng vui mừng không lâu, và đúng như Phúc tính toán. Pháo địch chuyển làn và đến lượt máy bay đến quần. Tiếng phản lực gào rú trên đầu, rồi từng loạt bom dội xuống. Trảng đất trống nơi tôi và Phúc nằm trở thành mục tiêu oanh kích của phi pháo và máy bay. Đầu tiên chúng rải bom phát quang, làm những thân cây bị phạt ngang đổ rạp. Nếu không nhanh chóng, lát nữa bọn chúng sẽ thả bom chùm, bom phá, bom bi, bom nổ và bom khoan.. Rất khó thoát. Hiểu tình thế, Phúc ra sức trườn đi, còn tôi dùng chân đẩy hỗ trợ đẩy thêm..

Cứ thế, Phúc kéo tôi được một quãng thì tôi đỡ. Tôi gượng ngồi lên, cảm giác thật khó khăn, cử động thế nào cũng thấy đau, xương cốt đau nhừ, những khớp nối trên người cứng nhắc. "Đỡ chưa?" - Phúc hỏi. Tôi khẽ gật đầu lết bò đi, nhưng không nhích nổi. Phúc lui người lại phía sau, lấy tay đẩy vào chân tôi ủn đi. Cứ thế, được một đoạn tôi thấy dễ chịu hơn, bớt đau, cử động dần thuần thục. Cả hai hướng về phía chân cao điểm l60. Tới sườn đồi Phúc đỡ tôi lên ngồi nghỉ. Lúc này pháo đã thôi bắn, và máy bay cũng ngừng ném bom. Chỉ còn hai chiếc UTiTi quần đảo trên không, chúng bay rất thấp, nhìn rõ cả thằng lái và tên lính giữ khẩu súng trên khoang lái. Chúng lượn đi lượn lại, nghiêng nghiêng ngó ngó, cái cánh quạt ở đuôi cán gáo xoay tít. Bọn chúng định làm gì mà săm soi kỹ thế nhỉ? Tôi chau mày suy đoán.

Bỗng trên trời xuất hiện ba chiếc HU1A. "Thôi rồi!" - Tôi thảng thốt. Bọn này có ý định đổ quân. Tôi nhìn quanh, chỗ này không an toàn. Phúc ra hiệu cho tôi bò đến chỗ có hố bom gần đấy. Được, chỗ này có thể chơi nhau được! Lúc lọt xuống hố bom tôi kiểm tra lại vũ khí: B40 hết đạn. Súng AK hai khẩu, đạn còn ba băng, thủ pháo năm quả. "Chơi chứ?" - Tôi hỏi. "Còn cái lai quần cũng đánh" - Phúc lấy câu nói của chị Út Tịch trong cuốn "Người mẹ cầm súng" đáp lại rồi lấy đạn ra lắp vào súng.

Dưới trảng đất trống, ba chiếc HUlA thay nhau lượn vòng, chúng đang sẵn sàng cho cuộc đổ bộ. "Bám thắt lực địch mà đánh" - Tôi nói. "Sao cơ?" - Phúc nhìn tôi hỏi lại. "Phải đánh gần!" - Tôi nói như ra lệnh. Phúc gật đầu: "Vậy phải bí mật vận động tiếp cận ngay. Để cho chúng đổ quân xuống là chết!". "Đi thôi - Thành khoát tay - Cậu hướng kia, tớ hướng này, hiệp đồng tác chiến. Phải đánh ngay từ lúc chúng vừa hạ cánh". ". Xong, hai thằng tôi nắm chặt tay nhau cùng nói:" Chắc thắng! ".

Lúc này mưa đã tạnh, trời sáng hơn, cả hai trườn ra khỏi hố bom, chia thành hai mũi, lợi dụng những bụi cây lúp xúp tiến lên. Tôi và Phúc bò cách nhau chừng mươi mét, hướng về trảng đất bằng phẳng, nơi những chiếc trực thăng thay nhau lượn vòng, bọn chúng đang xác định chỗ hạ cánh. Gần đến, tôi nấp trong một bãi cỏ gianh chưa bị cháy, rúc sâu vào giữa bụi để tránh bọn địch phát hiện. Bỗng một chiếc trực thăng tách ra lượn tới treo lơ lủng ngay trên đầu, những cụm cây sim và hoa mua bị gió thốc tưởng như bật gốc, bụi cỏ gianh gió lùa lúc xoắn lúc xõa sượi, cạnh lá cỏ cứa vào da thịt tôi rát bỏng. Gió giật mạnh khiến tôi phải dùng hai chân kẹp chặt một túm cỏ, xoay xỏa giơ súng lên tìm cách bắn, nhưng từng luồng gió xoáy quật vào người như muốn nhấc bổng tôi lên. Tôi buông vội súng lật người túm chặt lấy gốc cỏ kìm người xuống, khẩu súng bị gió thổi văng ra cách đấy một quãng. Tôi nằm sấp, ép người theo tư thế nằm bò ghì chặt. Thôi, đành chờ máy bay hạ cánh rồi tính. Nếu cần thì cùng chết! Nghĩ vậy rồi tôi rút quả thủ pháo đeo ở thắt lưng ra lăm lăm cầm trên tay.. Bỗng chiếc máy bay vọt lên cao, nghiêng cánh chao về phía hai chiếc máy bay kia. Gió thôi giật, đám cỏ gianh trở lại phủ kín. Tôi phải loay hoay một lúc mới ló đầu ra để quan sát được.

Chiếc trực thăng rời khỏi chỗ tôi bay sang mé trảng đất trống hợp cùng với hai chiếc kia; cách bụi cây nơi Phúc nấp gần đấy. Cả ba chiếc lượn lờ rồi một chiếc tách ra hạ độ cao. Đã nhìn rõ trong khoang lố nhố bọn lính, đứa nào đứa nấy đeo mặt nạ phòng độc, trông như một lũ quỷ, lăm lăm tay súng tiểu liên cực nhanh, tư thế chuẩn bị đổ bộ. Chiếc trực thăng hạ thấp, âm thanh giảm; đôi càng đung đưa, lúc lắc cách mặt đất chừng vài mét. Đánh đi, Phúc ơi.. - Ở bên nay tôi thầm thì giục. Như có thần giao cách cảm, đột nhiên từ trong lùm cây Phúc lao vút ra như mũi tên rời cung, động tác nhanh và bất ngờ. Phúc vung lựu đạn lên ném, đúng lúc cửa máy bay bật mở. Quả lựu đạn liệng theo hình vòng cung, rơi cách chiếc máy bay chừng vài thước." Oàng! ". Mấy tên lính vừa nhảy xuống lăn vội tránh đạn. Trên máy bay, một thằng bị thương nằm kẹt trên cửa, máu chảy tứa thành dòng, tay nó bám vào khung cửa, hai chân giãy giụa, kêu la ầm ĩ. Chiếc máy bay chực vọt lên, thằng bị thương bị bọn trên khoang đạp xuống nhưng không được. Phúc đứng thẳng người dậy, cặp khẩu súng AK lên siết cò, quét đạn về mấy tên dịch nằm dưới đất. Chiếc máy bay hoảng hồn rồ máy tốc lực bay lên. Phúc buông vội súng, rút lựu đạn lao theo, lấy hết sức bình sinh, ném, quả lựu đạn bay lên chui tọt vào khoang máy bay." Oàng ", tiếng nổ gọn và đanh, khối lửa bùng lên, chiếc trực thăng bén lửa, cháy như bó đuốc, cố vọt lên nhưng" bùng ", một tiếng nổ cực lớn xé toang chiếc máy bay làm nhiều mảnh, tung toé thành chùm hoa lửa, thằng lính bị thương rơi trong không gian xuống đất như một chiếc bao cát. Hai chiếc trực thăng còn lại vội vã bay vút lên cao chuồn thẳng.

Sau giây lát tròn mắt nhìn chiếc trực thăng bốc cháy. Tôi xách súng lao về chỗ Phúc vừa chạy, vừa reo: Trúng rồi Phúc ơi, trúng rồi.. Trúng rồi..". Thì bỗng "Oàng" rồi "Tằng.. Tằng.. Tằng..". Tiếng lựu pháo và súng tiểu liên cực nhanh nổ rát. Theo phản xạ tôi nằm xuống tránh đạn, ngóc đầu quan sát: Cách tôi chừng ba mươi mét, hai tên địch đang bắn về phía Phúc. Không thấy tiếng súng Ak của Phúc. Chắc nó sao rồi? Tôi nghĩ vậy rồi lao về phía tốp lính, rút lựu đạn ném. Sau tiếng lựu đạn nổ, tiếng súng im bặt. Tôi bật dậy chạy đến chỗ Phúc. Phúc nằm ngửa, người vắt lên bụi hoa sim, trên khoang bụng mớ ruột trắng hếu, lòng thòng thòi ra, máu loang thành bãi.. Tôi nâng đầu Phúc lên, gọi: "Phúc ơi.. Tớ đây.. Thành đây.. - Đôi mắt Phúc nhắm nghiền, ngực thoi thóp thở - Tôi nói trong nước mắt - Cố lên Phúc ơi.. Đừng chết nhé.. Cố lên.. Cố lên.. Hoa đang đợi Phúc ở nhà đấy..". Rồi tôi nhìn mớ ruột. May quá, mảnh đạn cắt ngang bụng, ruột không bị đứt. Tôi nhét mớ ruột vào rồi cởi phăng chiếc áo cổ vuông ra, xé, nối lại làm băng quấn vết thương rồi xốc Phúc lên..

Cả đơn vị ngỡ chúng tôi hy sinh, nhưng ngay trong đêm ấy tôi đưa Phúc về đơn vị và cấp cứu kịp thời. Nghĩa, Tần và các đồng đội từ hầm trú ẩn vui mừng chạy ra ôm lấy chúng tôi khóc nức nở..​

Phúc Yên Mùa Xuân Ất Tỵ 2025

Nguyễn Nhuận Hồng Phương
 
278 ❤︎ Bài viết: 809 Tìm chủ đề

44. Thế chân kiềng - Nguyễn Nhuận Hồng Phương​


20260827-014940-2b0fcf30bf.png


Đó là vào khoảng cách đây đã gần hai mươi năm.. - Người thợ già kể: Nằm ngửa mặt trong gầm xe, một tay vòng qua trục các đăng, còn tay kia cố đút chiếc cờ lê tròng cỡ 13 vào giác ốc để vặn. Mẹ kiếp! Mình chửi thầm. - Ốc ác gì mà khó vặn thế không biết! - Có tiếng chân "uỳnh uỵch" chạy trên sàn, đất bẩn rơi lả tả. - Thằng nào đấy? Có nhè nhẹ cái chân không? Rơi hết vào.. - Chưa nói xong, mình đã vội nghiêng đầu tránh mảng phân trâu khô bám ở hộp số rơi thẳng xuống mặt - Mẹ nó, suýt thì vào mồm - Mình rủa không thành tiếng - A, được rồi! - Cảm giác đầu bu lông bị miệng chiếc cờ lê xoay làm mình quên phắt chuyện chửi rủa và bụi, thay vào đấy là chút hài lòng sung sướng - Sự sung sướng của người thợ khi làm xong một việc khó.

Có tiếng hỏi:

- Xong chưa anh?

- Chưa! Nghỉ chút đã! - Mình nói rồi nằm ệch xuống manh chiếu trải dưới nền, khoan khoái giãn tấm lưng ê mỏi sau khi đã siết xong bốn con ốc bắt chặt trục các đăng vào với mâm phanh tay - Đây là chỗ khó nhất trong công đoạn làm tay của thợ gầm xe ô tô. Nếu siết lỏng, dễ bề gây tai nạn. Và, trong thực tế, cũng tại trong khi chạy, bốn con ốc bị đề se ra, tụt các đăng, làm con xe này gặp tai nạn. Chính thế nên mình phải thân chinh chui vào gầm kiểm tra lại.

Đỡ mỏi, mình chui ra khỏi gầm xe, cậu thợ phụ đang lắp bình ắc qui làu nhàu:

- Không biết thằng nào lấy mất cái dây mát? Tìm đâu cũng không thấy!

- Hỏi lái xe xem - Mình bảo.

- Nó chưa đến! Mà trong giấy bàn giao xe có ghi không anh?

- Bàn giao đồng bộ, ai ghi chi tiết? Tất cả lúc ấy nhận "hầm bà lằng", có để ý đâu! Thôi, chắc lại ra hàng đồng nát rồi! - Mình bảo tay thợ phụ - Mượn tạm của thằng 19 - H3 - 40 kia kìa. Nổ thử đã!

Máy xe "ặc ặc" một lúc rồi kêu ré lên, khói xanh, khói xám phun mù trời. Cabin rung từng hồi, kính chắn gió lăn tăn theo từng nhịp của bộ điều tốc. Người thợ máy nhấn ga thử cả bốn tốc độ:

- Tốt! Êm lắm anh ạ!

Mình nói với tay lái xe vừa đến:

- Vạn sự khởi đầu nan. Cậu lên chạy thử xem thế nào?

- Nghe máy nổ đã sướng cả tai! - Tay lái xe vỗ vỗ vào hông xe - "Ngựa chiến" của ta ơi, lên đường nào! - Tót một cái, bộ mông của hắn đã chễm trệ đặt lên chiếc ghế có bộ tựa trông như ngai vua.

Dẫu đã phục hồi bao nhiêu xe rồi, nhưng cảm giác lâng lâng mỗi lần làm xong và cho ô tô chạy thử vẫn trào dâng. Chiếc xe ra khỏi xưởng, ùa vào dòng xe chạy tấp nập ngược xuôi trên đường. Tiếng máy êm ru, thi thoảng, tiếng "xì xì" của vạn xả hơi thừa điểm nhịp. Mình và cậu thợ máy lắng nghe để phát hiện ra tiếng động bất thường? Nhưng tuyệt nhiên: Không! Đến chỗ đường rộng và vắng, xe đột ngột tăng tốc. Kim đồng hồ vọt lên tới 80km/giờ. Tay lái xe bảo:

- Tôi thử phanh.

Dứt câu nói, là cú đệm chân dứt khoát. Và, dẫu đã có tư thế chuẩn bị, mình và cậu thợ máy ngồi trên vẫn bị chúi về phía trước, suýt đập mặt vào kính chắn gió. Chiếc xe dừng lại đột ngột, rồi trả về theo quán tính, cả hai thằng bị giật ngược về chỗ cũ. Cái xương ghế phụ đập vào sườn mình đau nhói.

- "Tuyệt cú mèo". - Tay lái xe khen - Chỉnh phanh thế mới là chỉnh chứ! Xe ta băng qua bao núi ngàn sông.. Tay lái xe hát! Bài hát của người lái xe.

* * *

Vào một sáng cuối năm lạnh kinh người. Từng đợt gió đầu mùa thổi, cuộn bụi đường thành từng đợt lùa qua cửa cổng, ộc vào nhà. Mình cùng tốp thợ ngồi quanh chiếc la giăng ô tô lật ngửa thay bàn, uống nước chè, rít thuốc lào vặt chờ việc. Đứa nào đứa nấy so vai, kéo cổ áo trùm kín gáy, hai tay ôm cốc nước như muốn tận dụng hết hơi nóng cho đỡ rét. Trên vách, lủng lẳng mấy chiếc dây cu roa, vài cái ống cao su thuỷ lực; dưới đất, từng đống phụ tùng được tháo từ xe hỏng ra nằm ngổn ngang. Cả bọn đang nghe cậu thợ phụ kể chuyện tiếu lâm. Mình không để ý lắm, mặc dù mấy thằng há hốc mồm, nhe răng cười ngặt nghẽo.

Cái nghiệp làm chủ nó vậy! Không có việc làm, thợ chơi vẫn phải chi trả lương. Thuế vẫn phải đóng và.. Tiền vẫn phải tiêu. Xót cả ruột! Làm nghề sửa chữa xe ô tô như kẻ đi câu - Xe sửa vặt, như ta câu được cá đòng đong, mài mại; gặp xe vào cấp, tựa câu được cá trôi, mè, rô phi; nếu vớ được thằng nào va quệt thì ăn đủ! Có khác chi câu được chép đỏ có cái tên mĩ miều là cá Anh Vũ ở thượng nguồn ngã ba sông Việt Trì.

Vừa suy nghĩ, mình vừa lơ đễnh nhìn ra đường chờ đợi. Cát và bụi đường cuốn theo lốp xe lăn trên đường theo gió như vô tình tô đậm bức tranh thất nghiệp của cả xưởng..

Chợt có hai người đèo nhau bằng xe máy đỗ lại trước cửa. Mình đang định hỏi thì cha ngồi đằng sau nhảy xuống, lên tiếng:

- Tôi muốn gặp chủ xưởng.

Ông chủ xưởng (tức là mình đấy) hất hàm:

- Cần gì thì vào đây.

- Ở đây có nhận tiểu, trung, đại tu xe ô tô không?

Nghe câu nói gộp từ và hai tiếng "ô tô" vang lên, mình vọt đứng dậy:

- Cócócócócó.. - Mình đáp líu cả lưỡi - Mời các anh vào - Mình đưa mắt cho nhóm thợ. Cả bọn đứng dậy nhường chỗ cho khách.

Mình chọn cho vị khách hai cục gỗ sạch nhất, (lúc cần thì kê xe, lúc không có việc thay ghế ngồi):

- Mời các anh ngồi tạm.

Hai khách ngồi phịch xuống, một người vớ chiếc điếu cày, tay véo thuốc, nhúp cái bật lửa ga, nghiêng mặt giật miệng ba lần nhẹ rồi rít một hơi rõ dài. Mình nhìn anh ta: Chừng hơn bốn mươi tuổi. Mặt vuông, râu quai nón vừa được cạo, mắt sáng, lông mày vếch, mặc áo quần bảo hộ màu xanh. Cổ tay đeo đồng hồ Pônrôt. Mình đoán: Cha này là lái xe!

Quả thực, sau khi ngửa cổ phun làn khói trắng như sương sớm lên trần nhà, anh ta nói:

- Xe bị tuột gậy thần, rang cafe chân Hoàng Liên Sơn.

- Anh không việc gì chứ? - Mình hỏi.

- Dớ đẩn! Việc gì mà ngồi đây được với ông à! Không ai "nghẻo" - Tay lái xe nói thêm - Nhưng xe "ăn đủ".

- Xe gì hả anh? - Một cậu thợ phụ ngồi trên bàn nguội hỏi xuống.

- IPHA! 19.. - Tay lái xe đọc cả số biển đăng ký, rồi như khai khấu cung - Ca bin: Rúm! Sát si: Cong! Két nước: Vỡ! Mặt máy: Nứt! Đáy các te: Thủng! Hộp số: Rời khỏi bệ.. Nói tóm lại- Hắn nói như khoe - Một "pha ngoạn mục".

- Người không việc gì là tốt rồi! - Mình an ủi, rồi hỏi - Xe chở hàng lên đấy hả anh?

- Trên đường về mới bỏ mẹ chứ lại.. - Tay lái xe sửa sai - Lúc lên chở hàng cho cơ quan; lúc về xe không, tranh thủ "đánh quả" gỗ thì..

- Xe kéo về chưa? - Mình ngắt lời.

- Kéo thế nào được! Phải thuê máy ủi san đường; thuê cần cẩu cẩu lên; gọi xe cõng về - Bây giờ nằm trước cửa cơ quan.

- Thế bây giờ anh định thế nào?

Tay lái xe không trả lời mà bảo người đi cùng:

- Này, tôi trả tiền, rồi ông về trước đi. Xong việc tôi "ôm" xe khác.

- Thiếu gì phương tiện! Tôi sẽ cho thợ đưa anh về - Mình đế theo, lời hứa đầy thiện cảm, lòng vui sướng vì xưởng sắp có việc làm.

* * *

- Thế tôi mới đến xưởng anh! - Tay lái xe nói.

- Nhưng.. - Mình chần chừ - Sợ cơ quan anh không đồng ý?

- Ông không sợ! Tôi phải đền cơ mà! Đền 100%! Tôi có từ chối trách nhiệm đâu! Có cái, tôi là công nhân làm gì ra số tiền nhiều như thế? Cơ quan cần xe hoạt động thì phải cho tôi "vay tạm ứng" để sửa. Sửa xong, tiền tôi trả dần cứ quịt đâu? Vả, lương hàng tháng của tôi, tài vụ quản lí sợ gì mà "nó" không trừ. Trừ đến lúc về hưu là cùng chứ gì?

Mình quả thực chưa bao giờ lâm vào tình trạng này. Giá hồi ấy có bảo hiểm như bây giờ rồi thì dễ. Nhưng, vào thời điểm đó lấy đâu ra. Mà không nhận việc lấy đâu tiền trả lương cho anh em? Tết nhất sắp đến nơi rồi, mà.. - Mình nghĩ - Nói cho cùng, mình chỉ nhận phần công lao động của mình và anh em ở xưởng thôi chứ có lấy hơn đâu? Mình chậc lưỡi:

- Cụ thể thế nào anh cứ nói, anh em mình cùng bàn.

- Có thế chứ! - Tay lái xe giảng giải - Thế này nhé: Tình trạng xe bị sao thì ông rõ rồi. Bây giờ ông lên phương án sửa chữa, thay thế, viết báo giá, thảo hợp đồng! Hết bao nhiêu ông cứ nhân với ba lần. Một: Ông! Một: Tôi! Một: Tôi bật đèn xanh cho ông gặp ai ông cứ gặp! Nếu cần hóa đơn đỏ, đã có ở chợ giời, việc đó tôi sẽ lo.. Một cây làm chẳng lên non.. - Tay lái xe kết luận - Làm gì cũng phải tạo thế chân kiềng mới chắc ông ạ!

- À, ra là "thế chân kiềng.." - Tôi lẩm bẩm.​

Nguyễn Nhuận Hồng Phương
 
278 ❤︎ Bài viết: 809 Tìm chủ đề

45. Thú chơi sang - Nguyễn Nhuận Hồng Phương​


20260827-015227-61a8b5691b.png


Theo sự phân công của Sở văn hóa, tôi đến tìm hiểu, lấy tài liệu đình làng Thọ. Đây là quần thể di tích xã, huyện đề nghị Nhà nước cấp chứng nhận Di tích Lịch sử Văn hóa. Đang loay hoay xem những hàng chữ Hán tạc ở bia đá dựng ngoài sân đình thì bỗng có người vỗ vào vai. Quay lại, tôi thấy một người chừng sáu mươi tuổi, cao nhẳng, thân gầy, chân hạc, mặc complê màu cháo lòng, đầu đội mũ phớt xám nhạt, dưới trán lòa xòa mái tóc màu bạch kim, đi giày mõm ngoé, lâu ngày chưa đánh xi bạc thếch. Nhìn thái độ ngơ ngác của tôi, anh nói luôn: "Đằng ấy không biết tớ cũng phải, nhưng tớ biết đằng ấy! Đằng ấy là con anh Tiến, phó Ban bảo tàng tỉnh hồi năm bẩy ba, bẩy tư đúng, không? Bố về hưu nay đến lượt con nối nghiệp. Được! Được!" - Sau hai câu "được" nặng trịch, thấy tôi im lặng thừa nhận, anh tự giới thiệu: "Tớ là Trần Thuyết, bút danh Dạ Lan, tác giả tập thơ" Hương đồng nội "đây! Hồi còn công tác ở Ty Văn hóa tớ sang chỗ bố đằng ấy luôn". - "À.." tôi khẽ reo rồi thưa: "Dạ! Biết tiếng bác lâu rồi giờ mới được gặp.."

Tôi đã đọc thơ anh qua tập "Hương đồng nội" xuất bản vào đầu thập kỷ bảy mươi. Thơ anh nhuyễn, nhiều hình tượng độc đáo. Có bài được chọn vào sách giáo khoa để giảng dạy cho học sinh trường tiểu học.

Sau khi hỏi tên, anh Thuyết kéo tôi vào chỗ các cụ trông coi đình giới thiệu bô bô: "Xin giới thiệu với các cụ: Đây là đồng chí Phan Văn Khuê, chuyên viên nghiên cứu về di tích lịch sử, truyền thống văn hóa và những tập tục, thuần phong mĩ tục của đình, chùa, miếu mạo.. Hôm nay đồng chí về giúp xã ta làm thủ tục trình nhà nước đề nghị công nhận xếp hạng đình làng Thọ là Di tích Lịch sử Văn hóa. Vậy, rất mong các cụ giúp đỡ để đồng chí Khuê hoàn thành nhiệm vụ".

Nghe anh trịnh trọng giới thiệu về tôi, các bô lão trong làng rất phấn khởi. Cụ nào cụ nấy tíu tít bắt tay, làm tôi ngượng chín cả người. Còn anh nhìn tôi nháy nháy mắt ranh mãnh. Một cụ xoa xoa tay nói với tôi: "Chẳng mấy khi các ông vì công, vì việc của làng, tiện thể có cả nhà thơ ở đây, chúng tôi mời các ông trưa nay ở lại dùng bữa..". Tôi dang định từ chối thì anh Thuyết nhanh nhảu: "Mấy khi đằng ấy đã về đây? Thôi! Chiều lòng các cụ một tý! Đằng nào thì cũng sắp trưa rồi!"

* * *

Giai thoại về thi sĩ Dạ Lan tức Trần Thuyết mà tôi được nghe đại loại như thế này: Sau hòa bình 1954, ở xã thiếu giáo viên, nhờ chút vốn liếng Quốc ngữ, ủy ban xã mời anh Thuyết làm thầy giáo dạy cho đám trẻ trong làng. Anh rất thích thơ và cũng hay làm thơ. Hồi xưa hiếm nhà thơ và cũng không nhiều thơ như bây giờ. Bởi vậy, cái sự làm thơ của anh dễ được nổi tiếng, gây ấn tượng mạnh trong cả vùng. Cán bộ văn hóa tỉnh về địa phương công tác, đọc những bài thơ anh sáng tác, thấy có chất lượng đem về đăng ở tập san của tỉnh.

Lần đầu tiên được đăng thơ anh vui lắm, đem khoe khắp làng. Thơ anh chủ yếu viết ca ngợi làng quê và viết cho thiếu nhi. Cả làng gọi anh là "Thi sĩ của đồng quê". Mấy năm sau anh được chuyển lên làm cán bộ ở phòng Văn hóa sở Giáo dục tỉnh. Một lần đi lấy số liệu ở trường cấp I thuộc một huyện miền núi. Trong bữa cơm ăn cùng với bạn đồng nghiệp, anh cao hứng đọc thơ, có cô giáo miền xuôi tên Thu Lan cứ đòi anh chép thơ vào sổ tay của mình. Về nhà, cảm hứng anh sáng tác một bài thơ ca ngợi mùi hương hoa dạ lan đề tặng đích đanh cô. Nhận được thơ tặng, cô giáo viết thư cảm ơn. Nào ngờ thơ đi, thư lại hai người phải lòng nhau. Những bài thơ anh viết tặng cô ngày một lãng mạn, thắm thiết. Lần nào lên cộng tác anh cũng lấy lý do đường xa phải ở lại vài ba ngày.. Anh lấy bút danh Dạ Lan từ đấy.

Chuyện anh quan hệ với cô giáo đến tai cấp trên. Sợ bị mất cán bộ, tỉnh điều anh sang phụ trách mảng thơ thiếu nhi ở đài truyền thanh. Thân xa mà lòng không xa, thi nhân đành phải gửi thương, gửi nhớ của mình vào thơ tình tặng cô. Rồi thi thoảng lại lén lút gặp nhau. Chuyện vỡ lở, đến tai vợ anh, chị lên cơ quan làm ẫm ĩ ở phòng tổ chức đòi trả chồng về. Bị vợ làm mất mặt giữa cơ quan, anh làm đơn xin về hưu non.

* * *

Khi mặt đã đỏ lựng vì men rượu, anh Thuyết bắt đầu đọc thơ hầu các cụ. Càng uống anh nói càng hăng, có những bài thơ anh vừa đọc anh lại đọc lại, có câu chuyện anh vừa nói anh lại nhắc lại. Âm vực phát ra đã bị líu, thấy vậy tôi định gàn, nhưng cụ già ngồi cạnh rỉ tai: "Bác cứ kệ ông ấy, hết" bài "là ông ấy tự thôi đấy mà". Hình như ở đây họ quen tính anh rồi?

Thấy tôi kém uống, anh Thuyết nói: "Không uống được rượu thì làm sao biết làm thơ? Đằng ấy thấy từ xưa có thi sĩ nào không lấy cảm hứng thơ từ rượu không? Ở Việt Nam, từ cụ Tú Xương, cụ Yên Đổ, cụ Tản Đà, đến ông Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Nguyễn Bính.. Tuốt tuồn tuột.. Trong thơ đều có chất men, không nhiều thì ít. Thậm chí có ông còn chết vì rượu, khi chết còn cầm thơ trên tay.. Đằng ấy không nhớ nhà văn Phùng Quán trong tác phẩm" Trăng hoàng cung "đã viết:" Rượu là bậc thiên tài tạo nên ảo tưởng "đó sao?"

Nghe anh nói vậy, tôi im lặng ngầm nhận xét: - Ở anh có cái gì như bế tắc, mà khi bế tắc người ta thường hay uống rượu. Cứ ngẫm các nhân vật cả nam lẫn nữ ở phim truyện Hàn Quốc chiếu trên màn ảnh nhỏ trong chương trình truyền hình bây giờ mà xem. Mỗi lần gặp chuyện buồn hay chán nản là đạo diễn lại bố trí cho diễn viên uống rượu, mà uống rượu xong thì sẽ có các cử chỉ khác lạ. Có người quậy phá, có người ngủ, có người khóc.. Còn anh Thuyết thì: Uống rượu để nói thơ!

Tôi hỏi: "Dạo này bác còn viết không ạ?"... "

Viết chứ! - Anh trả lời - Ngoài viết ra bây giờ tớ có nhiệm vụ đến các câu lạc bộ thơ để giúp đỡ biên tập in thành sách. Đằng ấy cứ đến các làng trong tỉnh, nơi đâu có tổ thơ, có câu lạc bộ thơ hỏi đến Trần Thuyết tức Dạ Lan ai cũng biết! Đây! - Anh rút trong túi ra một tập thơ photo đưa cho tôi. Ngoài bìa sách có in chữ" Hương rừng "- Tớ vừa biên tập cho xã Phú Sơn, ấn hành năm mươi cuốn! Tặng đằng ấy một quyển". Dúi vào tay tôi cuốn sách rồi anh nâng chén rượu lên, ngửa cổ dốc đánh "ực" một cái.

Các cụ ngồi cùng mâm đã ý tứ cầm tăm xỉa răng, tôi cũng nhấp nhổm muốn đứng dậy, nhưng anh Thuyết cứ lờ đi như không có chuyện gì xảy ra. Anh lấy chai tự rót cho mình rồi tiếp tục: "Thơ và rượu là một thú chơi sang, như anh hùng gặp mĩ nhân. Rượu là cảm hứng của thơ, thơ là tinh tuý chiết xuất ra từ rượu, không giống nhau, nhưng là bóng là hình của nhau, tỉ như chàng trai nhớ thương người con gái, tỉ như người con gái gặp người con trai..". Thi sĩ Dạ Lan đang say sưa và cao hứng thì có một cô gái bước vào. Cô gái lễ phép chào các cụ, rồi quay vào nói nhỏ với anh Thuyết. Nghe xong, anh Thuyết lừ lừ nhìn rồi hất hàm: "Khách nào? Chắc mẹ con mày lại sợ tao say chứ gì?"... "

Dạ! Con không biết! - Cô con gái đáp - Mẹ con bảo là nếu bố không về thì mẹ con sẽ sang đấy!" Nghe thấy vậy anh Thuyết thả chân xuống đất khùa khùa tìm dép: "Mày về trước đi! Tí nữa tao về!". Chờ con gái ra khỏi cửa, anh Thuyết nói với tôi: "Đằng ấy thông cảm! Tớ về! Lúc nào rảnh mời đằng ấy đến nhà chơi". Trước khi về anh khật khưỡng vái chào các cụ rồi ngâm nga:

"Uống cho đất tỉnh trời say

Uống cho sáng phải giấu ngày vào đêm

Uống cho chân cứng đến mềm

Còn ta với cỏ nằm trên đất này.."

* * *

Buổi chiều, cụ Từ - người trông coi việc cúng lễ đình làng đưa tôi đi chụp ảnh một số lăng tẩm, miếu mạo thuộc quần thể đình làng Thọ. Mặt đường lát gạch đỏ, dọc hai bên đường là những rặng nhãn um tùm. Từng đám hoa "rồng rồng" trắng ngà vươn cao phất phơ in trên nền trời. Nắng chiều rực rỡ. Gió từ phía sông Cà Lồ thổi vào làng mát rượi.. Phía xa xa, ba đỉnh núi cao nhất trong dãy Tam Đảo như ba ngọn Kim tự tháp đứng uy nghi. Từng tầng mây bồng bềnh như những dải lụa buông dài trên triền núi hình yên ngựa thấp dần về phía Đông Bắc..

Đang say sưa thả hồn ngắm nhìn cảnh đẹp miền trung du tôi bỗng nghe tiếng ầm ầm. Từ trong ngõ, đám trẻ con chạy toé ra, theo sau là một người đàn bà vận quần đen, áo đông xuân đầu tóc rũ rượi, chân không dép, tay cầm phất trần lông gà xua xua: "Xem cái gì? Đồ trẻ ranh! Cút! Cút hết! Bà cho chúng mày một trận bây giờ". Cụ Từ bảo tôi: "Vợ chồng nhà Thuyết đấy! Thật rõ trò hề". Thấy tôi ngơ ngác chưa hiểu, cụ chép miệng: "Nói khí không phải, bác thông cảm, lúc ở ngoài đình bị vợ con gọi về là chúng tôi biết sẽ có chuyện, nhưng nhàm rồi nên chẳng ai để ý làm gì", như để phụ họa cho lời nói của cụ, tiếng người đàn bà kéo dài giọng: "Vâng.. Tôi là người ngu! Người dốt! Nhưng không có cái ngu, cái dốt của gái này thì lấy gì nuôi bốn đứa con? Lấy gì mà đổ vào mồm? Thơ với chả phú! Lại còn sang mới trọng.. Thử hỏi bao nhiêu năm qua ông đã đem được cái sang, cái trọng gì về cho nhà này? Không phải cậy làm bố mà ông muốn.." Nói tới đấy chợt thấy tôi và cụ Từ, vợ anh Thuyết bỗng im bặt, tay vân ve gấu áo.. Chị lấy tay hất ngược mái tóc rối bời để lộ khuôn mặt trắng xanh, bợt bạt như người suy dinh dưỡng chào cụ và tôi. Cụ Từ nói với chị: "Thôi, bà nghe tôi, đừng chấp người say". Người đàn bà được dịp kể lể: "Cụ và bác tính xem! Đã suốt ngày lang thang, đàn đúm rượu chè, thơ phú lại còn về hạch sách thì cụ và bác bảo làm sao mà chịu được? Đời thủa nhà ai bắt họp gia đình để khoán các con nộp tiền cho mình in thơ.. Có ít tiền dành dụm để cuối năm sửa sang lại mồ mả cho các cụ thì.." Bỗng anh Thuyết từ trong ngõ khuất nhảy ra, quần xắn ống thấp ống cao, chân nam đá chân chiêu, thân hình đổ xiêu, đổ vẹo, mặt tím đỏ, tay huơ huơ vào mặt vợ: "Mày định bêu riếu tao đấy hử? Đồ vô văn hóa! Đồ.. Đồ.. Đồ.." Còn bao nhiêu thứ "đồ" nữa anh văng ra mà tôi không tiện chép ra ở đây, vì ngại mình trở thành kẻ khiếm nhã.

* * *

Chia tay thôn Thọ, trên đường về vừa đi tôi vừa nghĩ: Hình như trong anh Thuyết, không những có một Nàng Thơ lúc nào cũng thường trực; mà còn có một ông thần Lưu Linh. Cả hai cứ xếp hàng lần lượt chờ.. Nàng Thơ thì thổn thức mà thần Lưu Linh thì nức nở. Còn anh, lúc nào quá đam mê, anh lôi cả Nàng Thơ và thần Lưu Linh ra hành hạ người vợ và cái gia đình khốn khó của mình.

Tôi ước gì trời cho người nào biết làm thơ thì chỉ biết làm thơ. Còn người nào biết uống rượu thì chỉ nên uống rượu. Nhưng nếu như vậy thì câu: "Một bầu rượu, một túi thơ" sẽ phải rời khỏi "cẩm nang" của những bậc thi nhân như anh Thuyết và nó chẳng còn là "một thú chơi sang" nữa!​

Nguyễn Nhuận Hồng Phương
 
278 ❤︎ Bài viết: 809 Tìm chủ đề

46. Trong rác không có rác - Nguyễn Nhuận Hồng Phương​


20260827-015528-9a7a896167.png


1

Trong lý lịch, phần khai về nghề nghiệp chị ghi: Công nhân Công ty đô thị. Nhưng ở khu phố người ta quen gọi là chị Bờ quét rác.

Chị Bờ ục ịch, da đen xỉn, mặt rỗ nhằng nhịt, môi dầy, thâm như da quả cà muối ủng. Dáng đi tất ta tất tưởi, lúc nào cũng vội vội vàng vàng như bị ma đuổi. Xấu như thế mà chị vẫn có con. Có con nhưng không có chồng. Chính sách được sinh con ngoài giá thú cho chị hưởng hạnh phúc tình mẫu tử. Chị đẻ hai đứa đúng như theo chương trình kế hoạch hóa gia đình quy định. Hỏi về bố của những đứa trẻ, chị nói không giấu giếm: "Đứa đầu kiếm được ở bến xe. Hôm ấy mát trời bà tổ trưởng nghỉ ốm. Nhập nhoạng tối, mình quàng khăn kín mặt," hắn "chủ động đến gạ gẫm. Tôi bảo:" Đây không cần tiền! Đây cần con! Đáp ứng thì vào rạp hát ngoài trời.. ". Gần chín tháng sau con Bến ra đời. Lần hai ở công viên. Một" tướng "bộ đội về phép bị trộm cắp" chôm "hết cả tiền. Mình thương hại cho mấy chục nghìn rồi bảo:" Ông cho tôi xin thằng con trai. Đầu tiên hắn ta ớ ra, tôi chủ động tấn công, đưa vào hè Câu lạc bộ những người cao tuổi. Khi vào cuộc.. Người đâu mà khiếp.. Chia tay, hắn hỏi địa chỉ, tôi bảo: "Ông đừng bận tâm, tôi làm tôi chịu! Để ông dính vào rách chuyện. Không chừng bà xã của ông lại" tẩn "cho tôi một mẻ tong đời". Thế là có thằng Viên.

2

Còn ít hôm nữa là đến ngày Quốc khánh 2-9. Trong cuộc họp toàn Công ty, ông giám đốc quán triệt với các tổ lao công về tầm quan trọng của ngày lễ năm nay. Yêu cầu các tổ phải làm xong công việc quét rác hàng ngày trước sáu giờ sáng. Nghe xong, chị Bờ xì một tiếng: "Chẳng có gì mới! Thế mà họp với chả hành. Vẽ chuyện!" Ông Giám đốc nghe thấy hỏi: "Chị Bờ nói gì đấy?". "Tôi bảo anh nói chẳng có gì mới cả! Năm nào chúng tôi chả phải làm vậy! Cứ gì ngày lễ chúng tôi mới làm tốt? Ba trăm sáu nhăm ngày trừ ngày mồng một tết, còn ngày nào chẳng như ngày nào". "Chị hay thắc mắc lắm đấy nhé! Không họp, đến khi kiểm tra lại lý do này, lý do nọ". "Anh bảo ai lý do này, lý do nọ? - Không ngờ chị Bờ nổi đóa lên - Chúng tôi đi làm đêm, bẩy giờ sáng mới về. Còn bao nhiêu việc phải lo. Lương ba trăm hai mươi nghìn, ăn gì? Ngồi đây họp mất ngày, mất buổi. Tôi hỏi Công ty có trả thêm giờ cho chúng tôi không? Sao các anh không gọi tổ trưởng lên phổ biến rồi về giao nhiệm vụ cho chúng tôi? Làm sai cứ trừ vào lương. Ai hưởng trợ cấp cán bộ lên mà họp, chúng tôi xin các vị miễn cho". Ông Giám đốc cau mặt nhìn chị: "Được! Nhà chị nhớ đấy! Đến khi bị trừ lương đừng có kêu".

Tan họp, chị Bờ qua chợ mua thêm cái chổi để con Bến đêm về quét phụ giúp. "Không khéo lão ấy thù mình thì rách chuyện". Chị nghĩ như vậy rồi tất tả về nhà. Nhà chị Bờ ở trong ngõ, hai gian, một chái. Tường chát toóc xi, mái lợp ngói xi măng, hai gian để ở. Còn gian chái làm bếp. Đồ đạc trong nhà giá trị nhất là cái phích Trung Quốc. Cửa không bao giờ khóa. "Mở cửa để cho trộm nó vào nhà, nếu thấy thiếu gì nó còn đem cho." Chị Bờ hay nói đùa như vậy. Quả thật, đời sống của gia đình chị dưới mức trung bình. Đầu tắt mặt tối như vậy nhưng khổ vẫn hoàn khổ. Cái nghèo đeo đuổi chị như hình với bóng. Hơn nữa hai mươi năm làm nghề thì gần mười lăm năm chị làm ở nơi vất vả nhất đó là bến xe. Vất vả vì nhiều rác, nhưng bù lại nhặt được những thứ có giá trị, vỏ lon đồ hộp, giấy vụn, vỏ chai, bao bì túi ni lông các loại.. Đêm đêm chị Bờ đeo hai cái bao trên vai, một trước, một sau; vừa quét vừa nhặt, chọn những cái gì bán được bỏ vào bao; đem về tuyển lựa đem ra hàng thu mua đồ phế liệu. Khi con Bến đã lớn giúp được việc quét rác, chị Bờ có điều kiện nhặt được đồ phế thải nhiều, cuộc sống vì vậy đôi lúc dễ thở hơn.

Chị Bờ đặt nồi cơm lên bếp vừa lúc Bến về. Bến mười sáu tuổi. Trông nó, không ai nghĩ đó là con của chị Bờ. Bến đẹp lạ lùng, da mịn màng, trắng trẻo, khuôn mặt đoan trang, đôi mắt đen láy ngây thơ như mắt bê non, mũi dọc dừa, khoé miệng xinh xắn, hàm răng đều như hạt na, bằng chằn chặn.. Đi bên mẹ, Bến là sự đối lập về khuôn mẫu và hình hài. Không ai tin chị có thể đẻ ra thiên thần như vậy.

- Em Viên chưa về hả mẹ? Bến hỏi.

- Em nó bảo với mẹ hôm nay đi thăm cô giáo bị ốm.

- Thế mẹ có cho em tiền góp với lớp mua quà cho cô giáo không?

- Còn đồng nào mà đưa? Gạo trong thùng cũng hết rồi kia kìa..

Bến ngồi thừ xuống ngưỡng cửa, cái nghèo không làm cho nó quên lòng tự trọng. Và, nó không muốn em nó phải xấu hổ với bạn bè. Nhưng sự khốn khó cứ đổ xuống đầu nhà nó. Mẹ nó lam lũ quen đã đành, còn nó và thằng Viên mỗi đứa chỉ một bộ quần áo tươm tất để lúc đi học mới mặc, về đến nhà phải cởi vội ra vắt lên mắc. Viên là con trai ăn mặc dễ hơn, nhưng cũng chỉ vào những mùa nóng nực thôi, chứ mùa đông duy nhất có cái áo bông Tầu rộng thùng thình quá đầu gối.

3

Hai mẹ con chị Bờ ra tới bến đã gần một giờ đêm. Những quán bán hàng ăn đêm muộn đang xếp đồ dọn về. Dăm ba cái xe chạy liên tỉnh nằm lù lù giữa bến. Một vài cô gái ăn sương lượn lờ cạnh vườn hoa, đôi ba con nghiện uể oải ngáp vặt, dặt dẹo ngồi tựa vào tường rào rạp Văn hóa ngoài trời. Thấy bóng chị cả đám đứng dậy lảng đi nơi khác. Cả bọn rất ngại dây vào mẹ con quét rác. Có lần chúng tập trung kéo cả bọn gây sự. Chị Bờ lăm lăm tuốt cán chổi: "Bà" truyền đời chúng mày biết. Rây vào ai chứ dây vào "ba" là không xong; mấy chục năm quét rác chưa thằng nào, con nào dám động đến lông chân "bà" đâu nhé! Nào! Thằng nào giỏi cứ xông vào.. ". Dưới ánh đèn cao áp, trông chị Bờ như" Ninda "trong phim Nhật Bản, khăn trùm kín đầu, duy nhất hở hai con mắt sáng quắc, long sòng sọc, hai chân khuỳnh khuỳnh, xuống tấn tay nắm chặt cán chổi chĩa cái đầu nhọn hoắt về phía địch thủ. Thấy vậy mấy thằng choai con bấm nhau lảng mất. Bến hỏi mẹ:" Lúc ấy mẹ có sợ không! "Chị trả lời:" Lúc ấy thì không, nhưng sau lúc chúng rút, tim cứ dập thình thịch. Nói mạnh nếu tất cả chúng nó nhẩy vào thì mẹ cũng chẳng biết làm thế nào, chắc phải kêu to cho mấy chú bảo vệ bến ra cứu. "

Chị Bờ dặn Bến:" Con ngồi chờ bác tổ trưởng ra thì quét. Mẹ tranh thủ vào trong rạp. Hôm nay có biểu diễn ca nhạc chắc nhiều thứ nhặt lắm. "Con Bến không trả lời mà dặn lại:" Mẹ cẩn thận, đừng mầy mò vào chỗ tối quá, dẫm vào mảnh thủy tinh thì khổ. "Chị Bờ rảo bước về phía sân nhà Văn hóa..

Bến ngồi một lúc thì chị tổ trưởng ra, thấy Bến chị hỏi:" Hai mẹ con nhặt được nhiều chưa? "." Dạ! Mẹ cháu sợ cháu đá vào kim tiêm chích không cho cháu nhặt "." Thế mẹ mày có đi ủng không "." Không ạ! Có một đôi mẹ cháu bắt cháu đi. Mẹ cháu bảo: "Lúc làm thay mẹ, con là người Nhà nước, con phải đi ủng mới đúng qui định. Còn mẹ nhặt rác là người tự do, cần gì ủng ()". "Đúng là con mẹ gàn". Chị tổ trưởng nghĩ vậy rồi nói với Bến: "Ở nhà bác còn đôi ủng cũ, mai bác đem cho mẹ cháu. Nhặt nhạnh toàn những chỗ bẩn, nhỡ ra thì khốn. Thôi, đeo khẩu trang vào, hai bác cháu mình nhúc nhắc làm đi, mấy hôm nay dân chúng về nghỉ lễ đi lại đông, rác nhiều.

Đêm mùa thu, sông Ngân Hà như dải lụa vắt ngang bầu trời, muôn vàn vì sao nhấp nháy. Mặt trăng tròn như quả bưởi chín vàng nằm lơ lửng trên cao. Trong yên tĩnh, tiếng chổi đều đều của hai bác cháu vang lên," quẹt.. Quẹt.. "Lưỡi chổi quét tới đâu rác được thu gom tới đấy, theo sau vệt chổi, những làn bụi mỏng cuộn lên dưới ánh sáng vàng vọt của ánh đèn cao áp. Hai bác cháu quét từ trong bến trước, ngoài đường và ngã tư quét muộn hơn vì gần sáng xe ít chạy qua. Chị tổ trưởng vừa quét vừa nghĩ đến câu chuyện sáng nay giữa chị Bờ và Ông Giám đốc công ty. Thực ra, người hiểu hoàn cảnh chị Bờ nhiều nhất là chị. Hai người đã làm với nhau được mấy chục năm rồi, chị lại là Ủy viên Ban chấp hành Công đoàn. Trong Công ty không tổ nào muốn nhận chị Bờ. Phần vì người ta không ưa tính bốp chát của chị, phần thì không thích tính tham lam càm cắp của chị Bờ. Nhiều câu chuyện truyền khẩu thêu dệt về chị Bờ. Người ta lấy chuyện của chị thay chuyện thư giãn. Đi ăn cưới hay dự tiệc liên hoan người ta cũng tránh ngồi với chị. Bắt buộc phải ngồi thì cũng mau mau đứng dậy bày tỏ thái độ khinh khi. Chị Bờ đến dự cưới cũng như di làm, vẫn những bộ quần áo lôi thôi, vá chằng vá đụp lại còn bẩn. Ăn rõ nhanh nhưng không đứng dậy mà ngồi đấy chờ. Chị chờ để nhặt thức ăn thừa cho vào túi mang về. Có lần lớ ngớ chị để tuột túi canh vào một ông khách làm bẩn cả bộ complê.. Những lần Công ty tổ chức cho công nhân viên chức liên hoan, chị Bờ đề đạt:" Tôi không liên hoan, phần của tôi, tôi lấy tiền "Trang bị bảo hộ lao động được phát chị mang ra chợ bán. Mọi người góp ý, chị trả lời:" Phần của tôi, tôi bán! Việc gì đến các người? Công việc tổ giao miễn tôi hoàn thành là được ". Công ty thực hiện phương cách chuyển đổi chỗ làm để nâng cao hiệu suất và đảm bảo công bằng nhưng chị Bờ tuyên bố:" Ngoài bến xe ô tô tôi không quét ở đâu cả! Quét ở công viên toàn là kim bơn tiêm và bao cao su.. Mẹ con tôi nhặt gì để bán mà sống? ". Chị tổ trưởng đành đề xuất với lãnh đạo coi đó là trường hợp cá biệt. Nghe xong ông giám đốc bảo:" Cơ quan mà có mấy bà Bờ thì loạn. "

4

Chị Bờ nhặt được hai bao đầy các loại phế liệu. Lâu lắm rồi chị mới nhặt được nhiều thế này. Chị mừng vì ngày mai chị sẽ có tiền cho thằng Viên trả cho bạn. Sáng nay lúc nó hỏi tiền chị phải bảo:" Con nói với bạn, mẹ đi vắng, nhờ bạn ủng hộ rồi trả sau ". Tiền cho con đã vậy còn tiền mua gạo? Nhớ đến gạo chị thở dài.. Thoáng nghĩ tới chị tổ trưởng nhưng chị Bờ gạt ngay ý nghĩ ấy ra khỏi đầu. Chị còn nợ chị tổ trưởng mấy chục nghìn vẫn chưa trả được. Và thực ra, hoàn cảnh gia đình chị tổ trưởng cũng chẳng giầu có gì. Có chăng chỉ là" tầng lớp trên "hơn chị mà thôi.

Lan man nghĩ con người thường hay mơ ước.. Đêm nay vì lo lắng ngày mai chưa có tiền đong gạo chị Bờ lại ước ao nhặt được tiền. Thực ra, không phải hôm nay chị mới ao ước. Chị đã nhiều lần ước ao gặp vận may này trong tưởng tượng.. Cái mơ mộng của kẻ nghèo khó thức dậy khi quá cùng cực, nó xoa dịu nỗi khốn khó, nhưng nó đánh thức sự ham muốn và niềm khát khao hy vọng.. Giống như người chơi xổ số hoặc mua lô tô, mua để chờ đợi, để hy vọng.. Chị Bờ không mất tiền mua ước mơ, mua khát vọng, nhưng niềm hy vọng và mong mỏi nhận được ở đống phế thải của thiên hạ nhân lên, hóa thân vào cái que cời rác. Chị bới mạnh hơn, cố gạt bỏ phần cặn bã để tìm cái còn dùng được cho vào bao, và biết đâu.. Biết đâu hoài vọng may mắn kia chẳng đến với chị..

Nhặt hết ở những chỗ tối và khuất, chị Bờ chọn hai cái bao không rồi lên lượm ở các bậc ngồi của khán giả. Chị định bụng nhặt một lúc nữa sẽ ra quét thay con Bến. Dẫu sao nó cũng sức ăn, sức ngủ. Chị Bờ thương con nhưng cái nghèo không thương chị, chị vẫn phải chia cho con những việc lẽ ra nó chưa phải làm. Bỗng chị đá vào một vật gì ở dưới chân, cái vật ấy chạy" lẹt xẹt "trên nền xi măng.. Lúc đầu chị không chú ý, nhưng linh tính như mách bảo, chị thần người nhìn. Dưới ánh trăng khuya, cái vật có hình hài như chiếc ví đựng tiền.. Tim chị Bờ đập thình thịch.. Mồ hôi túa ra.. Chị nhìn quanh nín thở và sợ hãi như người đang làm việc xấu.. Chân lập cập, tay run run khi cầm vào nó. Đúng là cái ví. Cái ví cộm, mặt da thẫm đen, tròn ủng, căng lựng vì những vật để ở trong. Chị Bờ lại nhìn quanh.. Không có ai, chị cầm cái ví lên đút vội vào ngực áo lót không cần biết trong đó đựng những gì.. Chị quẳng bao rác chạy thục mạng ra bến.. Chị càng chạy nhanh tiếng chân người đuổi theo càng rõ; tưởng có người đuổi, chị dừng lại quay nhìn.. Tịnh không một bóng người, chị đưa hai tay lên ngực ôm chặt lấy cái ví co cẳng chạy..

Thấy chị Bờ chạy đến, chị tổ trưởng hỏi:" Có gì mà chạy như ma đuổi thế? "Chị Bờ hốt hoảng:" Em.. Em.. "Con Bến thấy mẹ ôm ngực tưởng mẹ bị đau hỏi:" Mẹ sao thế? Bị đau bụng à? "Chị Bờ như người chết đuối vớ được cọc:" Không.. À.. Ừ mẹ đau bụng quá! Không biết ăn phải cái gì mà bây giờ đau thế? "Chị tổ truởng bảo:" Này con Bến! Dầu đây, xoa cho mẹ cháu. Xoa cả ngực cả lưng.. "Nghe vậy, chị Bờ cuống quýt:" Thôi.. Thôi.. Không cần xoa, chị và cháu cứ làm đi, em về, lúc nữa đỡ đau em ra ". Nói rồi chị cứ thế ôm bụng chạy. Chị tổ trưởng nhìn theo bộ dạng chị Bờ bật cười bảo với Bến:" Chắc lại bị "Tào Tháo" đuổi rồi ".

Chạy một mạch về nhà, chị Bờ xuống ngay bếp, thò tay vào ngực lấy cái ví giắt lên mái bếp rồi rón rén đi lên nhà. Trong nhà, tiếng ngáy của thằng Viên vang lên đều đều nhè nhẹ.. Chị sờ soạng tìm cái đèn dầu và bao diêm mang xuống bếp. Đánh mất mấy que diêm cái đèn cũng chỉ bừng lên rồi tắt phụt. Chị mang đèn ra sân giơ lên soi dưới ánh trăng, còn dầu nhưng bấc ngắn, chị Bờ mở cổ đèn ra rồi múc nước ở vại đổ vào. Dầu nổi lên ngấm vào bấc gặp lửa phát ra tiếng lách tách rồi bừng sáng, chị Bờ vội vàng vặn nhỏ bớt lại. Ánh sáng đèn tỏa một khoảng chỉ đủ cho chị Bờ nhận ra đấy là một cái ví màu nâu có những vệt loang lổ như da rắn. Chị mở ra.. Trời ơi.. Toàn tiền là tiền, lẫn trong những đồng tiền Việt Nam còn cả những tờ giấy màu xanh giống tiền âm phủ ngày tết chị mua thắp hương các cụ. Chị Bờ không tin vào mắt mình nữa, đây là lần đầu tiên chị thấy nhiều tiền như vậy. Chợt có tiếng động, chị giật mình va tay làm đổ chiếc đèn, gian bếp tối om, chị Bờ quay lại, một con mèo hoang tìm đực nhẩy vụt qua cửa bếp.. Tim chị Bờ đập như trống ngũ liên..

Chị Bờ quàng tay ôm riết lấy thằng Viên. Con ơi! Mẹ sẽ mua nhiều thứ cho con, con sẽ có cái áo đằng trước in hình" ông Bếch Khăm ", đằng sau có con số 7 mà con vẫn ước ao.. Bến ơi! Mẹ sẽ cho con tiền mua hàng chục thếp giấy vệ sinh Diana thay cho mớ vải màn cũ rích mỗi lần con thấy tháng.. Mẹ sẽ đong thật nhiều gạo cho các con ăn no.. Nếu còn tiền mẹ thuê thợ lợp lại mái nhà, thưng lại vách để mùa rét tới gió không lùa.. Cứ vậy, Chị Bờ thiếp đi mang vào giấc ngủ của mình niềm vui sướng của con người giàu có.. Chị Bờ mơ thấy mình và hai đứa con đang ở một nơi không có rác. Toàn hoa thơm cỏ lạ. Nhà cửa cao tầng, đường phố kết đèn chăng hoa lộng lẫy.. Cái gì cũng đẹp, các gì cũng sang trọng. Chỉ có điều mọi người đi ngược chiều lướt qua như những cái bóng, không nói không rằng. Họ nhìn mẹ con chị bằng đôi mắt xa lạ vô cảm. Ngay cả chị tổ trưởng chơi thân, thương chị như thế mà cũng chẳng thèm nói với chị một lời nào. Chị chạy theo níu lấy một người để nói. Người đó quay lại hất chị ngã bổ chửng giữa đường.. Ối chao! Bao nhiêu rác là rác trùm lên người chị. Chị Bờ vùng vẫy! Càng vùng vẫy, rác càng nhiều, cả những thứ chị nhặt để bán lấy tiền nuôi con cũng trùm lên người chị.. Chị gào lên kêu cứu:" Bến ơi! Viên ơi! Cứu mẹ với! Cứu mẹ với.. ". Con Bến, hằng Viên hiện ra trong bộ quần áo diêm dúa, bộ mặt lạnh tanh thét vào mặt mẹ:" Đồ ăn cắp.. Đồ ăn cắp.. ". Chị Bờ vùng tỉnh dậy.. Mồ hôi túa ra như tắm. Chị nhìn trân trân ra cửa, trời bắt đầu rạng sáng.

5

Ông Giám đốc cau mày cau mặt đi đi lại lại trong phòng. Ông bực bội vì hệ thống đèn cao áp ở vườn hoa và công viên bị cháy hàng loạt. Ông nhấc máy điện thoại:" Alô! Cho tôi gặp tổ trưởng điện.. Alô! Tổ trưởng đường đây đấy phải không? Cậu kiểm tra lại toàn bộ bóng đèn trong nội thị. Thay các bóng bị cháy. Lập biên bản rồi báo cáo cho tôi.. - Có tiếng gõ cửa - Ông giám đốc nghiêng mặt nhìn ra - Cứ vào - Cửa mở, chị Bờ hiện ra với cái mặt đen thủi, rỗ nhằng nhịt - Xúi quẩy, mới sáng ra con mẹ này đã ám. Ông giám đốc vừa nghe điện, vữa nghĩ, mắt lừ lừ nhìn chị. Ông cau mày kết thúc với đầu đây bên kia: - "Rồi.. Rồi.. Các cậu để mất điện vào ngày lễ tôi sẽ cắt lương, cắt cả tiền thưởng đừng có trách..". Dằn mạnh cái ống nghe, ông quay ra: "Chào chị Bờ! Mời chị ngồi! Có việc gì mà chị đến sớm thế?". Chị Bờ nhìn ông Giám đốc: "Công việc quét dọn tôi làm xong rồi, chẳng lẽ có việc gặp thủ trưởng không được à?". Ông giám đốc chột đạ: "Thôi mời chị có gì cứ trình bày, chị thông cảm, mấy hôm nay chuẩn bị cho ngày Quốc khánh nên chúng tôi phải tranh thủ thời gian..". "Vâng! - Chị Bờ ngắt lời ông giám đốc rồi giọng chị trở lên dè dặt - Báo cáo giám đốc: Trước khi trình bày, tôi xin có một điều kiện.. Nếu giám đốc chấp nhận tôi sẽ nói?". Ông giám đốc nhìn vẻ quan trọng trên gương mặt xấu xí của chị: "Chị cứ trình bầy nếu giải quyết được chúng tôi sẽ giải quyết, còn nếu không, chúng tôi sẽ giải thích cho chị biết". "Việc ấy nằm trong tầm tay các anh - Chị Bờ khẳng định rồi nhìn ông giám đốc giọng tha thiết - Tôi đề nghị các anh xét cho tôi được tạm ứng một tháng lương. Nhà tôi hết tiền mua gạo rồi". Ông giám đốc chau mày: "Chị phải đề đạt với Tổ trưởng chứ làm gì phải lên đây?". "Có lý do tôi mới lên - chị Bờ trở về với thái độ cố hữu của mình - Anh bảo làm đơn à? Nhiều lần tôi làm đơn có được giải quyết đâu! Chị tổ trưởng phải lấy tiền túi cho tôi vay. Anh có giải quyết cho tôi thì tôi nói! Còn nếu không tôi về". Nói rồi chị xăm xăm đứng dậy.. "Ấy! Sao chị nóng tính vậy? Thôi được! Tôi xin hứa sẽ cho chị vay lương. Nhưng lần sau chị cứ đề đạt với tổ, đưa lên chúng tôi sẽ giải quyết". Được lời như cởi tấm lòng, chị Bờ thò tay vào ngực rút cái ví ra: "Báo cáo giám đốc, hôm qua trong lúc lượm phế liệu tôi nhặt được cái ví này, tôi mang lên báo cáo để các anh giải quyết trả lại người bị mất. Mất thế này là khổ lắm! Không khéo ăn mày là cái chắc. Nếu không, về vợ con nó cắn nhá cho cũng chết.."

Ông giám đốc ngỡ ngàng, ông giám đốc bàng hoàng.. Ông mở ví ra, bao nhiêu tiền là tiền, những tờ ngân phiếu năm trăm.. Năm triệu.. Những đồng đô la.. Những giấy bạc một trăm nghìn gấp trong ví gọn gàng, bỏ ra bàn ngổn ngang.. Ông nhìn chị Bờ, mắt bỗng thấy cay cay.. Ông chợt hiểu cái "điều kiện" đưa ra mặc cả của người công nhân quét rác cùng với giá trị thực tế trong cái giá trị vô cùng cao đẹp của con người..​

Nguyễn Nhuận Hồng Phương
 
278 ❤︎ Bài viết: 809 Tìm chủ đề

47. Truyện viết ở Đầm Cò - Nguyễn Nhuận Hồng Phương​


20260827-020137-c694faa063.png


Gọi Tùng cò, bởi ngày đầu tiên gặp nhau ở kí túc xá sinh viên trường Đại học, tôi chưa gõ mà hắn đã xưng: Tôi tên Tùng, nhưng vì nhà ở Đầm Cò nên mọi người gọi vậy để phân biệt với những người trùng tên.

Không biết có phải vì sinh ra ở Đầm Cò mà cái biệt hiệu "cò" lại rất đúng với phong thái bề ngoài của Tùng: Khuôn mặt dài, lưỡng quyền nhô, xương cằm bạnh như hàm rắn; người cao, dáng mảnh khảnh, "đầu gối quá tai" bước cà nhắc theo đúng nhân gian thường ví: "Trông như Cò Hương".

Tùng cò và tôi trọ chung phòng và học cùng khoa "Tài nguyên và Môi trường". Tính Tùng cò hiền lành nếu không gọi là nhút nhát. Nói năng nhỏ nhẹ, ít giao du, học bài xong ngồi lì trong phòng đọc sách; thứ bảy, chủ nhật, ngày lễ không ở lại thành phố mà vội vội, vàng vàng ra bến leo tót lên xe khách về quê, tối mịt chủ nhật hoặc mờ sáng thứ hai mới có mặt ở trường. Một lần tôi hỏi đùa: Có em nào bỏ bùa mê thuốc lú cho cậu hay sao mà tuần nào cũng về? Mặt Tùng cò đỏ ửng, đưa tay gãi đầu: Không về người ta lại tưởng mình ra thành phố quên người nhà quê, phiền phức lắm.

Như vậy đích thị Tùng cò đã có người yêu và hai đứa chắc phải yêu nhau lắm lắm. Tôi đoán vậy và mặc dù rất thân, nhưng nói theo cách nói của bọn sinh viên không "xắn quần lội vào đời tư" của người khác nên tôi không hỏi. Nhưng học dở năm thứ ba thì đột ngột Tùng bỏ học cùng với tin bố Tùng phạm tội bắn chết người phải đi tù. Bặt tin từ ngày ấy, đột nhiên sau gần mười năm, tôi nhận tin Tùng mời về nhà chơi với lí do đơn giản: Nhớ hồi cùng học, tôi có hứa sẽ mời anh về ăn một bữa "lẩu cò".

Cưỡi xe máy hơn trăm cây số về tới ngã ba phố huyện quê Tùng. Tôi hỏi một em bé chăn bò. Đứa bé nhìn tôi suốt lượt như kiểm chứng rồi hỉ hả: "Vậy chú không phải là dân câu rồi. Chắc chú đến để học tập cách làm kinh tế của chú ấy chứ gì? Tôi ừ hữ, chú bé chỉ tay về dãy núi xa xa nói tiếp- Chú cứ theo dọc con đường kia, khi nào nhìn thấy vết cứt cò là đến cơ ngơi của chú Tùng cò.".

Đúng như lời chú bé chăn bò nói, ngoặt vào lối rẽ tôi bắt gặp những bãi phân cò trắng như vôi rắc. Trước cổng vào có một chiếc lán rộng và một tấm biển ghi rõ: "Khách đến Đầm Cò làm ơn để xe có động cơ ở đây và tránh gây tiếng động cho cò.". Tôi tắt máy dắt xe vào; trong lán đã có mấy chiếc ô tô bốn chỗ và hàng chục chiếc xe máy dựng thành hàng. Quanh bờ đầm, dưới những chiếc lều nhỏ lợp lá cọ nằm xen kẽ giữa hàng cây ăn quả lâu niên, các "đệ tử của Lão Vọng" mắt đắm đuối theo dõi phao câu, im phắc như tượng gỗ trong chùa; tay cầm cần theo tư thế sẵn sàng.. Giật.

Vậy ra đây là nguồn sống chính của Tùng. Tôi lẩm nhẩm rồi mở cổng đi vào. Đầm Cò rộng mênh mông ngoài trí tưởng, mặt đầm trải tít đến gần chân dãy núi; từng làn sóng nối nhau vỗ bờ ì oạp; giữa đầm một bãi nổi với cánh rừng bát ngát rời rợi màu xanh; gió thổi lộng, rừng cây đu đưa, nhấp nhoáng ẩn, hiện trong những cánh cò trắng phau rập rờn giữa màu xanh tinh khiết. Không khí trong lành và cảnh quan thơ mộng gợi trong tôi về với miền cổ tích..

Đang ngất ngây ngắm phong cảnh, đột ngột một con chó to bự, lông xù sồ ra kèm theo tiếng sủa vang. Tôi giật mình nghiêng người thủ thế. Con chó nhe nanh gầm gừ.. Một tiếng quát giật giọng từ trong lều ném ra: Lu, hỗn nào, vào! Con chó cum cúp quay lại. Tùng từ trong nhà bước ra.

Tôi không tưởng tượng nổi sự đổi thay của Tùng: Cái dáng "Trông như Cò Hương" biến đâu mất, trước mặt tôi là một thân hình vạm vỡ, da cháy nắng, đầu húi cua, bước đi nặng chịch chắc chắn đích thực một tráng nông chi điền.

Tùng mời tôi vào lều. Gọi lều bởi được ốp bằng những cây sậy, lợp cỏ gianh xuôi mái. Trong lều ngoài chiếc giường đan sạp nứa, cái đáng giá duy nhất là cây đàn ghi ta treo trên vách cạnh bức ảnh một nam. Một nữ đứng sóng đôi, cả hai đều mặc đồng phục Thanh niên xung phong thời chống Mĩ. Như đọc được ý nghĩ của tôi, Tùng rót bát nước mời tôi rồi nói: Tôi mua được mảnh đất hơn một trăm mét vuông ở khu giãn dân rồi; gạch, ngói, gỗ lạt, tre pheo, tiền công thợ cũng đủ rồi. Nhưng đợi khi nào bố tôi được ra tù thì sẽ khởi công. Tôi hỏi: Thế ông cụ bao giờ mãn hạn? Ngày mai- Tùng đáp- Bố tôi bị kết án mười năm, nhưng ông cải tạo tốt nên được hưởng chính sách ân xá tha trước thời hạn hai năm. Nhưng thôi, chuyện đâu bỏ đó, bây giờ ta đi ăn đã, chắc đi xa như thế anh cũng đói rồi.

Tùng kéo tôi ra ngồi ở bộ bàn ghế được đẽo gọt thô sơ từ những gộc cây còn nguyên rễ và sẹo mắt xù xì kê dưới tán một cây khế cành lá sum sê, núc nỉu quả và những chùm hoa tím xẫm. Ngay sát bờ đầm nơi chúng tôi ngồi neo chiếc thuyền thúng bằng sợi dây thừng bồng bềnh rỡn đùa cùng sóng nước..

Dường như đã chuẩn bị, trên mặt bàn bày sẵn bát đũa, vò rượu và mấy thỏi cơm lam. Tùng nhấc chiếc lò chứa than củi đặt lên mặt bàn, nhóm lửa, bật quạt thổi cho hồng rồi xuống giệ đầm xách giỏ cá lên - Tôi bảo anh lên ăn lẩu cò nhưng đó chỉ là nói đùa thôi- Tùng mở giỏ bắt ra những con cá rô màu vàng ươm- Từ ngày bố tôi đi tù tôi thề không bao giờ ăn thịt cò nữa. Thay lẩu cò, tôi đãi anh món cá rô đồng nướng than củi giành giành nhắm rượu và ăn với cơm lam. Cơm lam tay tôi làm, rượu tự nấu, cá bắt dưới đầm, cây giành giành mọc ven bãi nổi ở Đầm Cò lúc nào cũng sẵn.

Tùng xiên cá gác lên bếp than hồng, tiếng than reo tí tách, vẩy cá nở như hoa, Tùng lấy lông gà tẩm nước gừng phết lên từng lượt rồi lật đi lật lại, cá bén lửa tỏa mùi gừng thơm lựng. Cá chín, Tùng bóc, gỡ ruột bỏ đi rồi đặt vào bát tôi: Cá này phải ăn nóng mới ngon. Uống rượu xong thì ăn cơm lam. Các anh ở thành phố thiếu gì đặc sản, nhưng bảo đảm ăn xong bữa này anh sẽ nhớ đời.

Tùng rót rượu ra bát đưa cho tôi- Anh thông cảm, ở trên này chúng tôi có lệ uống rượu bằng bát. Nào mới anh- Tùng nâng bát rượu cụng vào bát của tôi. Cứ uống xong một ngụm Tùng lại chìa tay ra: Anh thông cảm, trên này có thông lệ cứ mỗi lần cụng là phải "giật giật, lắc lắc". Nói rồi Tùng cười, nụ cười như tự giễu với cái "văn hóa nửa mùa" ấy.

Tôi vừa nhâm nhi vừa nhìn Tùng. Quả thực tôi không tài nào nhận ra chàng sinh viên Khoa Tài nguyên và Môi trường ngày xưa nữa. Hết cả sự rụt rè, e nép; hết cả tiếng nói, cười nhỏ nhẹ. Thay vào đấy là một Tùng lanh lợi, tháo vát, vẻ bụi bụi của một người từng trải. Sau ba tuần rượu, Tùng kể:

- Bố mẹ tôi cùng đi Thanh niên xung phong một đợt- Tùng ngả người tựa vào gốc khế, nhìn về phía bãi nổi- Lúc ra quân thì làm đám cưới. Nhưng vì cả hai đều nhiễm chất độc màu da cam, nên chữa chạy thuốc thang mãi mới có tôi. Hồi ấy khu vực này làm gì có người. Khu đầm hoang mà anh, theo lời kêu gọi vỡ đất hoang hóa, phủ xanh đồi trọc, bố mẹ tôi xung phong ra đây. Mới đầu là vượt bờ, thưng ruộng, cấy lúa. Nhưng anh tính, đất ở đây ngập phèn, chạt váng vàng như đồng thau, bong bóng sủi tăm nổ như rang ngô, không khau nước được, lúa đến thì con gái úa rực như tơ tằm, gặt về những rơm là rơm. Sau mấy lần thất bại, bố mẹ tôi bàn nhau chuyển hướng. Bố tôi bảo: Các cụ ta có câu "Thứ nhất thả cá, thứ nhì gá bạc" Mình không có gan gá bạc thì chịu khó làm đầm thả cá. Thế là bố mẹ tôi ngày ngày sì sụi khơi dòng, vạ đất đắp bờ. Không có tiền mua cá giống, mẹ tôi ra chợ mua những mớ cá ế mang về; con sống thả đầm, con chết để ăn. Nhưng ông trời không thương bố tôi. Lúc tôi lên bảy tuổi thì mẹ tôi qua đời..

Tùng nhấp thêm ngụm rượu, mặt không còn lựng đỏ mà dài dại, tinh mắt đờ đẫn như gánh nặng quá khứ đang đè nặng lên tâm hồn. Tôi lo lắng sợ Tùng quá chén, nhưng Tùng lắc đầu:

- Anh an tâm đi. Tôi không phải là kẻ mượn rượu giải sầu. Hôm nay có anh nên tôi muốn trở về với những điều từ bao lâu nay ấp ủ trong lòng. Ai cũng có quá khứ, dẫu đó là niềm vui hay nỗi buồn. Và ai cũng muốn được thổ lộ, trần tình cho nguôi ngoai hoặc sẻ chia. Nhưng cuộc đời đâu giản đơn như ta nghĩ. Có những nỗi niềm ẩn khuất không thể thốt thành lời. Phải chăng đó là số phận? Mà sao số phận ấy lại đến với bố con tôi? Bố tôi suốt một đời tận tụy. Một thời tuổi trẻ hiến dâng cho đất nước; về già muốn vượt qua nghèo khó thì lại mắc vòng lao lý. Có đứa con duy nhất thì bỏ trường đại học về đây làm ông chủ hồ câu và trông nom một bãi cò hoang.

- Vậy ra ông cụ vẫn nghĩ anh đi học đại học? – Tôi hỏi.

- Đúng là bố tôi vẫn nghĩ tôi học xong đại học và đi làm rồi. Vì vậy tôi lo sợ cái ngày mai. Cái ngày bố tôi biết sự thật về đứa con mà ông đặt hết niềm hy vọng vào. Bằng cả tình yêu phụ tử và trách nhiệm máu thịt..

Đang nói Tùng dừng lời vì có người tới. Người khách là dân câu vì cái túi đựng đồ câu khoác trên vai nói lên điều đó. Tùng xởi lởi: Được con nào chưa mà anh về sớm thế? Ngồi làm với bọn em tợp rượu đã. Người khách câu gật đầu chào, hạ túi đồ, ngồi xuống, giọng tiếc nuối: Chán quá, tớ phải về vì vợ điện nhà có việc đột xuất. Hơi tiếc, mồi thả vừa chín, cá lượn vòng quanh, tăm nổi ùng ục.. Anh ta vừa nói vừa móc túi lấy tiền ra. Tùng xua tay: Em không lấy đâu. "Luật" rồi mà anh, ai đến câu ở Đầm Cò "bị móm" em không thu tiền, mồi thả xuống coi như để nuôi cá.

Người khách nhét tiền vào chỗ cũ: Đã là "luật" thì phải chấp hành thôi. Nhưng Tùng này- Người khách câu cầm bát rượu Tùng vừa rót chạm đánh "keng" vào bát của tôi, rồi ngửa cổ dốc "ực" một cái vào cổ họng- Cậu có cách kinh doanh khác bọn hồ câu dưới xuôi. Bọn dưới ấy, đã ném mồi, buông cần là nộp hết, được, hay "móm" không "oong, đơ" gì hết. Kiểu kinh doanh như cậu, thiệt trước mắt nhưng được cái về lâu dài- Kết luận xong người khách câu đứng dậy- Thôi, chúc các vị ngon miệng, "bai" nhé!

Chờ người khách đi khuất, tôi hỏi: Mỗi hôm quân bình thu được bao nhiêu hả Tùng? Tùng cười: Cũng tùy, nhưng vào thứ bảy, chủ nhật hay ngày lễ thì khá hơn. Dân câu thích câu ở Đầm Cò vì cảnh trí ở đây đẹp, môi trường sạch, có dòng đối lưu nên nước sạch, cá không bị ô nhiễm.

Tôi hỏi: Tiền thu thế nào? Tùng mân mê chén rượu: Tôi thu theo ca mà anh. Bốn tiếng gọi là một ca, mỗi ca năm mươi nghìn. Nửa tháng thả thêm cá một lần, loại bé nhất cũng trên cân một con. Đầm Cò sẵn phù du nên cá nhanh lớn. Anh tính, ngồi ôm cần câu cả ngày, không giật được con nào chán lắm. Mà tiền câu, tiền mồi tính ra nhiều hơn cả tiền mua cá ở chợ. Nhưng đã nghiện câu rồi, tuần không ngồi được một lần là không chịu được. Chả thế dân câu thường nói đùa với nhau: Nhìn phao câu nhiều hơn nhìn mặt vợ.

Tôi hỏi: Thế còn đàn cò, thu hoạch khá không? Tùng xiên thêm mấy con cá nữa đặt lên lò than: Không! Cá và cây ăn quả là nguồn thu chính của tôi, còn đàn cò là tôi làm theo ý nguyện của bố tôi. Anh biết không, tôi nhớ hồi còn nhỏ, một lần bồ bơi từ bãi nổi về, ông bế thốc tôi lên chạy ra bờ đầm, chỉ tay vào rừng cây trên bãi, reo: Tùng ơi, có cò tha rác về làm tổ trên cây rồi. Kia kìa.. Con có nhìn thấy không?

Tôi bé biết gì đâu, vả, những con cò với tôi chẳng là gì hết. Tôi chế súng cao su rình bắn, kiếm nhựa dính giăng bẫy bắt cò. Bố biết, không giận mà bắt tôi ngồi xuống trước mặt giảng giải: Theo cố nội kể cho bố biết, trước kia đây là nơi trú ngụ của các loài muông thú, nhưng nhiều nhất vẫn là đàn cò, vì thế nên mới gọi là Đầm Cò. Sau đợt Tây càn, bãi nổi bị đạn đại bác bắn vào cháy rụi nên muông thú, chim muông bỏ đi hết. Bây giờ tự nhiên có đàn cò về làm tổ, đó là điềm lành cho bố con mình. Con chim có tổ cũng như con người có nhà. Vậy nên con đừng phá, giữ yên ắng cho cò có nơi có chốn..

Những điều bố nói cộng với hành động của ông thấm dần vào tôi. Tôi nhớ mỗi lần đàn cò về muộn, bố không ăn cơm mà ra bờ đầm trông ngóng, cho đến khi những cánh cò như dải chớp trắng theo hình mũi tên bay về tổ ông mới thở phào nhẹ nhõm.. Với ông, dường như đàn cò là tất cả. Tôi bị lây tình yêu của bố, nên khi thi đại học tôi quyết định thi vào Khoa Tài nguyên và Môi trường.

Cho đến khi tôi vào đại học, đàn cò ở bãi nổi đã có trên một nghìn tổ. Bố tôi vui lắm. Ông thường ra ngồi ở đây, nhấp chén rượu ngắm đàn cò, gảy đàn và hát những bài hát nói về một thời Thanh niên Xung phong.

- Vậy sao anh không làm theo ý nguyện của ông cụ? – Tôi hỏi. Tùng nhìn tôi với ánh mắt đượm một nỗi buồn khó tả: Anh còn nhớ hồi còn ở kí túc xá không? - Thứ bảy, chủ nhật nào tôi cùng về. Thú thực với anh, lúc ấy tôi về vì tôi đang yêu. Nàng tên là Khế, học sau tôi hai lớp, nhà ở phố huyện, con út một chủ thầu bất động sản. Tôi bị nàng cuốn hút, nên yêu cả cái tên mà theo bạn bè cái tên không xứng với sự xinh đẹp của nàng. Tuy là con nhà giàu nhưng nàng không kênh kiệu. Có lần nàng nói với tôi: Em thích cái Đầm Cò của anh hơn cái biệt thự mà bố em xây làm của hồi môn cho em. Để chứng minh tình cảm của mình, nàng mang đến cho tôi một cây khế non và bảo: Anh trồng và chăm sóc cẩn thận và hãy coi đây là tấm lòng của em.. - Tùng vỗ tay vào thân cây khế - Cây khế này chính là cây khế nàng mang cho tôi đây, đã mấy mùa trổ hoa, đơm quả rồi mà mọi thứ vẫn còn dang dở..

Ngừng một lát Tùng nói tiếp: Chính tình yêu của nàng đã cho tôi vượt qua sự mặc cảm thân phận của mình. Nhưng sự đời thường không như ta nghĩ. Vào một buổi chiều ở trường về, lúc đến đường rẽ tôi gặp anh trai nàng đi từ trong nhà tôi ra, anh ta đỗ xịch xe lại trước mặt tôi, nét mặt hằm hằm: Này thằng Tùng kia, từ nay tao cấm mày gặp em gái tao, nếu không đừng trách tao nói trước. "Đũa mốc lại chòi mâm son". Buông xong câu thành ngữ anh ta rồ ga phóng vút đi.

Về đến nhà, tôi thấy bố tôi ngồi dưới gốc cây khế mặt buồn rượi. Tôi hỏi: Có chuyện gì đấy hả bố? Bố tôi thở dài: Bố con ông chủ thầu bất động sản muốn bố nhượng lại quyền thuê khu vực Đầm Cò để xây biệt thự mi ni. Trong thời gian ấy bố tôi lo lắm. Ông sợ khu Đầm Cò về tay người khác thì đàn cò sẽ mất. Bố tôi lên tỉnh đưa đơn yêu cầu. Thật may Ban Bảo vệ Tài nguyên và Môi trường cử cán bộ xuống xem xét. Họ đánh giá cao việc cải tạo môi trường và gây lại đàn cò của bố tôi nên làm văn bản đề nghị địa phương cho bố tôi kí lại hợp đồng.

Không chiếm được khu Đầm Cò, anh trai nàng tức giận, ngoài việc ngăn cấm hai đứa tôi gặp nhau, thi thoảng anh ta đi xuồng cao su vào bãi nổi bắn chim. Bố tôi bực lắm, nhưng sức yếu, người bảo vệ không có, mà bố tôi lại sao được với những kẻ cố tình phá phách. Sau mỗi lần như vậy, bố tôi lại đi thuyền thúng ra bãi nổi nhặt cò mang về, con chết thì chôn, con bị thương thì chạy chữa, lành lặn lại thả về bãi. Có nhiều lần, tôi thấy ông vừa chôn xác cò vừa gạt nước mắt..

Kể đến đây, dường như xúc động về những hồi ức được nói ra, đôi mắt Tùng đẫm lệ. Tôi dứt tờ giấy lau đưa cho Tùng. Tùng thấm nước mắt rồi lật tờ giấy nhặt những cánh hoa khế tím biếc rụng trên mặt đất để vào:

- Vào cái hôm định mệnh ấy, tôi chèo thuyền thúng sang bãi nổi với mục đích gặp anh ta nói chuyện. Khi đến nơi, tôi thấy anh ta đầu đội mũ nồi đỏ, mặc bộ quần áo rằn ri, miệng phì phèo thuốc lá; súng hai nòng lăm lăm trong tay. Thấy tôi nhưng anh ta coi như không có, giương súng lên ngắm bắn. Một tiếng nổ vang, đạn ghém tỏa thành vầng, khói bay mù mịt; lũ cò xáo xác; những con cò trúng đạn rơi xuống như sung rụng. Không kìm được, tôi kêu lên: Không được bắn! Bất cần, khẩu súng nhả thêm một phát nữa; những con cò đang bay lơ lửng trên bầu trời trúng đạn táp cánh rơi xuống ngay trước mặt. Tôi nhìn những con cò máu chảy đầm đìa, giãy đạp, nhoai nhóp, đôi cánh non tơ vãy vãy, vươn cần cổ, há mỏ ra kêu cứu.. Khiến lòng tôi quặn đau như chính mình trúng đạn..

Tôi thảng thốt, nghẹn ngào, rên rỉ: Dừng lại đi, tôi cầu xin anh đấy, xin hãy để cho đàn cò được yên. Nhưng anh ta không một chút động lòng, ung dung nạp thêm đạn và tiếp tục giơ lên ngắm. Không chịu được nữa, tôi lao đến chộp khẩu súng. Anh ta khỏe nhưng tôi nhanh; tôi giằng được khẩu súng, giương nòng súng chĩa thẳng vào ngực anh ta: Anh mà còn làm thế tôi sẽ cho anh một phát. Anh ta cười nham nhở, lấy chân di di những con cò đang giãy giụa dưới đất: Bắn đi! Bắn đi! Tao thách cả bố con mày đấy! Nói rồi anh ta vung chân đá những con cò bị thương nằm dưới đất như người ta đá bóng.

Tôi nhìn động thái của anh ta, nỗi tức giận ùa lên nghẹn đứng. Tôi cố kìm vì nghĩ dù sao đó cũng là anh trai của người yêu mình. Tôi lấy giọng ôn tồn: Anh đừng vào đây phá phách. Tôi hứa từ nay sẽ không quan hệ với em gái anh nữa. Anh ta cười sằng sặc: Mẹ kiếp, cha con mày là hạng "cứt nát có chóp". Mày về bảo thằng bố mày đừng cậy có vài năm mặc quần áo thanh niên xung phong mà tưởng đã to. Còn mày thì có thè lưỡi liếm gót chân cho tao như một con chó thì cũng đừng có mơ chui vào nhà tao..

Tôi trừng mắt nhìn anh ta: Anh nói tôi thế nào cũng được, nhưng đừng xúc phạm đến bố tôi. Anh ta kéo mũ lệch về phía sau, cười khẩy: Bố mày là "cái đinh" gì với tao. Cơm không ăn lại muốn ăn cứt. Thằng nào chê tiền của tao thì thằng ấy phải chịu phạt. Tao thề sẽ phá nát cái khu Đầm Cò này. Nói rồi anh ta xông vào tôi cướp lại súng. Theo phản xạ tức thì, tôi bóp cò. Một tiếng nổ vang lên chát chúa, trong màn khói, tôi thấy anh ta gục xuống như cây chuối đổ, viên đạn ghém bắn ở cự li gần xé toang lồng ngực, máu chảy tràn mặt đất..

Tôi đứng sững như trời trồng. Vừa lúc ấy bố tôi từ dưới đầm chạy lên, ông chạy tới cái xác lật lên rồi gào: Tùng ơi, con giết chết người ta rồi. Rồi bố tôi lao đến giằng lấy khẩu súng và nói như một sự tính toán sẵn: Tùng, con trốn ngay đi, mọi việc cứ để mặc bố. Tôi nghe theo chạy đi được một đoạn nghĩ thế nào quay lại: Bố, việc con gây ra cứ để con chịu. Bố tôi quỳ xuống chắp tay vái tôi: Tùng ơi, nghe bố đi ngay về trường, coi như việc này là do bố làm. Tôi cúi xuống nâng bố dậy: Bố ơi, bố già rồi, vào tù bố chịu sao nổi. Bố ôm lấy tôi giọng van vỉ: Tùng ơi, bố có mỗi mình con. Hãy nghe bố, trả lại Đầm Cò đừng bám ở đây nữa. Hãy cố gắng học cho xong rồi tìm nơi khác mà sống. Tôi dùng dằng không nỡ, chợt bố quay ngược súng tì vào ngực, giọng đanh cứng: Nếu con không nghe lời, bố sẽ chết tại đây. Tôi hoảng hốt thất thanh: Bố.. Bố.. Bố đừng làm thế, con.. Con.. Con sẽ nghe theo bố mà..

Tùng dừng lời, đăm đăm nhìn sang phía bãi nổi. Tôi bàng hoàng về những chi tiết Tùng vừa kể. Không gian như nghẽn lại sau sự thật phũ phàng; gió lặng, bóng cây rừng in hình trên mặt đầm sâu thẳm.. Một lát sau, tôi hỏi: Vậy từ trước đến nay Khế vẫn nghĩ người bắn anh trai mình là ông cụ?

- Đấy chính là bi kịch của đời tôi- Tùng nói sau khi bóc thỏi cơm lam để vào bát cho tôi- Anh biết không- Suốt một thời gian dài, cái chết của anh trai nàng luôn đeo đẳng, ám ảnh tôi như một sự trừng phạt. Tôi sợ phải sang bãi nổi, run rẩy đi qua nơi anh trai nàng trúng đạn. Ánh hoàng hôn tãi trên lá cây rừng như màu máu chảy ra từ thân xác ấy. Mỗi khi màn đêm buông, hơi sương bàng bạc trộn màu tăm tối như chiếc khăn tang khổng lồ trùm kín cả không gian, Đầm Cò hoang lạnh, cô độc, tiếng ếch nhái rên rỉ; từng đàn đom đóm chập chờn bay lẫn trong ánh lân tinh nhấp nháy.. Tôi cô đơn, nỗi cô đơn làm thân xác rã rời, tâm thần hoảng loạn. Đã không ít lần tôi muốn bỏ Đầm Cò mà đi. Nhưng hình ảnh người cha thân yêu lại hiện về trong giấc ngủ. Người nhìn tôi trìu mến, nắm tay dắt tôi đi từng bước.. Xung quanh, cánh cò, cánh vạc chao nghiêng, lượn vòng, ríu rít dưới vòm trời xanh biếc..

- Thế từ hồi ấy đến giờ Tùng có gặp lại Khế không? – Tôi hỏi. Tùng nhặt những cánh hoa rụng dưới đất để lên lòng bàn tay ve vuốt: Tôi làm gì còn tư cách để gặp nàng. Nhưng lối đời đâu chỉ là oan nghiêt, mà còn trớ trêu, cay đắng biết bao nhiêu. Thà rằng nàng đi lấy chồng, có một cuộc sống êm ả trong ngôi biệt thự của ông bố để lại thì có lẽ tôi cũng được an ủi phần nào. Nhưng không, sau khi tốt nghiệp sư phạm, nàng xin lên vùng cao dạy học, từ chối mọi lời cầu hôn và thề suốt đời không yêu ai nữa.. - Tùng buông tiếng thở dài- Người đời thường nói: "Nếu con người còn sống thì vết thương lòng tự nó sẽ lành thôi.". Nhưng với tôi, vết thương ngày càng khoét sâu, chà xát, nhức nhối, còn lương tâm thì luôn day dứt như một kẻ tội đồ trốn chạy, chui lủi trong một nấm mồ hoang lạnh..

Tôi định tìm lời an ủi Tùng, nhưng chưa biết nói sao thì Tùng bỗng đứng phắt dậy, vẻ mặt đanh cứng, bàn tay siết chặt những bông hoa, giọng quả quyết: Tôi nghĩ rồi anh ạ. Dẫu sự thật cay đắng, tàn nhẫn đến thế nào vẫn là sự thật, chờ bố tôi về xong tôi sẽ đến gặp nàng thú nhận. Cho dù tôi nhận từ nàng sự tha thứ hay nỗi hận thù còn hơn suốt đời tôi làm kẻ dối trá..

Đã cuối thu, hoàng hôn xuống nhanh, những tia nắng xuyên qua tán lá quanh bờ, hơi sương bàng bạc bảng lảng trên mặt đầm; một đàn cò từ trên cao sà xuống, chao nghiêng, lượn vòng, những đôi cánh rập rờn, cài xen, nhấp nháy.. Để tồn tại những chớp trắng tinh khiết trên vùng Đầm Cò, có những kiếp người phải vượt qua số phận cùng với một cuộc tình mang hương vị đắng đót đến tận lòng..​

Nguyễn Nhuận Hồng Phương
 
278 ❤︎ Bài viết: 809 Tìm chủ đề

48. Ước nguyện của anh Ơn - Nguyễn Nhuận Hồng Phương​


20260827-020404-54a75cb793.png

Nhìn Ơn, người ta khó đoán nổi tuổi. Thấp, gầy, hai vai so rụt, bước chân đi như lao thuổng; mắt trố, mở to quá khổ trên khuôn mặt hẹp như hạt đào tách khỏi vỏ; tóc vàng cháy, mọc chổng ngược và thưa như sao trời đêm tháng chạp.

Bố mẹ Ơn người Thái Bình. Năm Ất Dậu chống gậy, vác bị đi ăn xin đi phiêu bạt lên đây. Gặp khi Cách mạng cướp Chính quyền, bố mẹ Ơn được ủy ban khởi nghĩa chia đất. Bà con thị xã thương tình góp tre tranh dựng cho một căn nhà. Cảm cái Ơn ấy, nên khi sinh nở, ông bà đặt tên con là Ơn.

Phải cái, khi sinh ra chỉ số thông minh của Ơn không được như những đứa trẻ khác. Những năm được cắp sách tới trường ngồi tịt duy nhất ở lớp một. Đọc đánh vần, viết cũng đánh vần. Được ba chữ kín cả trang giấy. Hơn mười tuổi mồ côi mẹ, hai mươi tuổi mồ côi cha. Nhưng rất may, trước khi chết bố Ơn đã kịp truyền nghề sửa chữa vặt cho con. Ngày xưa bố Ơn làm thế nào, nay Ơn làm như vậy. Người hàng phố có tường rào bị đổ, công việc không bõ thuê khoán thợ, gọi Ơn đến xây; nhà nào muốn quét vôi bảo Ơn đến quét. Ngoài ra, ai nhờ việc gì thì Ơn làm việc ấy; dọn dẹp nhà cửa, lấy nước gạo, giặt giũ, chặt cây, tỉa lá.. Ơn chịu khó, thật thà, làm đúng việc được giao, không nề hà kêu ca. Phải cái làm chậm, mất thời gian. Xong việc, ai cho bao nhiêu Ơn cũng cầm. Trả tiền, gán gạo hay quần áo cũ cũng xong, ít, nhiều không tính. Chẳng thế, khối người lợi dụng, Ơn bỏ sức làm nhiều nhưng họ chi trả công ít. Kẻ xấu tính còn chịu, bầy nhầy. Dẫu vậy, Ơn không hề phàn nàn, trách cứ.

Ngoài công việc ra, Ơn thích chơi với trẻ con. Trẻ con ở cùng phố thường gọi Ơn là anh. Mặc! Gọi thế nào cũng được, Ơn chẳng nghĩ. Miễn là được đùa với chúng bằng cái giọng ngọng líu ngọng lô.

Có một điều trái ngược với hoàn cảnh độc thân của Ơn, đó là căn nhà bố mẹ Ơn để lại. Bề mặt tiền tám mét, sâu hơn hai chục mét. Nằm giữa dãy phố buôn bán sầm uất, gần cửa ô, sát bến xe, cạnh rạp hát, giao thông thuận, mở hàng gì bán cũng hợp. Từ ngày rậm rịch đất đai có giá, người hàng phố tấm tắc khen mảnh đất của Ơn đẹp như tranh vẽ và ngon như một khúc giò lụa.

Nó còn dễ nhận bởi trên đó là căn nhà cấp bốn lợp ngói đỏ Hương Canh nằm trơ trọi, lạc lõng giữa những ngôi nhà đổ mái bê tông, chồng ba, bốn, năm tầng. Người biết xuýt xoa mong cho anh Ơn có tiền xây nhà, mở cửa hàng cho đường phố đẹp như nhau. Người không biết đi qua ngẩn ngơ đứng ngắm, lòng tiếc rẻ ấm ức: "Giá đất ấy là của mình..".

Kẻ thiểu năng trí tuệ thường không để tới khả năng giá trị kinh tế mình có trong tay. Họ trọng sự ban phát của thiên hạ hơn. Của người bằng ngón tay Ơn coi là núi; của mình bạc triệu, bạc tỉ Ơn coi chẳng đáng gì. Chính vậy, Ơn coi nhà mình chỉ là nơi trú thân khi mưa gió; nơi đặt bát hương thờ bố mẹ. Có người hỏi thuê làm cửa hàng, Ơn lắc đầu. Người muốn thuê bị từ chối chửi đổng: "Đồ dở hơi, cám hấp!". Thì đúng là Ơn dở hơi thật. Không dở hơi cám hấp sao nhà Ơn chỉ dành cho lũ trẻ con đến phá phách, đùa nghịch? Ơn có nhà hay không có nhà chúng cũng đến, cứ như chỗ công cộng. Trong nhà đồ đạc chẳng có nên không sợ bị đổ vỡ. Những lúc ở nhà Ơn cũng nghịch, đùa, như bọn chúng. Giữa bọn trẻ, Ơn lộc ngộc, ngô nghê, bắt chước, reo hò, mồ hôi chảy đầm đìa. Khát nước, Ơn cùng lũ trẻ vục đầu vào chum nước mưa hứng từ cây cau uống ừng ực.

Thiểu năng trí tuệ nhưng có cái Ơn thông minh lắm. Đi làm, Ơn nhặt vỏ bao thuốc lá, hộp giấy các tông, mang về cắt, gập, dán thành đồ chơi, đi xin xi măng nặn, đắp lên các con vật. Đồ chơi Ơn làm trông ngộ nghĩnh, đáng yêu: Con vật chân lợn nhưng mõm chó, đuôi gà nhưng mình cá; cái nhà nào Ơn làm cũng giống cái nhà Ơn ở. Và trong căn nhà ấy chỉ có ba người. Ơn chỉ từng hình nói với bọn trẻ: "Tây pố, tây mẹ, tây Ơn" (Đây bố, đây mẹ, đây Ơn). Trẻ con hàng phố thiếu gì đồ chơi đẹp như súng, gươm, ô tô chạy pin, tàu hỏa, xe tăng, máy bay.. Nhưng vẫn thích được anh Ơn cho. Hình như trẻ con nhìn thấy được cái hồn trong những đồ chơi do Ơn tạo ra. Không khuôn mẫu, mực thước, tiêu chuẩn. Nó đơn giản như tấm lòng của Ơn: Không hiện đại, văn minh; không hào nhoáng, bóng bẩy. Ngây thơ, trong trẻo đến tận cùng.

Nhìn Ơn đùa với lũ trẻ, những người hàng xóm chép miệng: "Chẳng vợ con gì, sau này không biết mảnh đất thuộc về ai?" Kể ra họ lo cho Ơn là có lý do cả.

Cách đây ít năm, dưới Thái Bình nhũng người họ hàng với Ơn lên đây có ý định bán cơ ngơi này rồi đưa Ơn về quê. Họ mang đơn trình chính quyền. Ông trưởng khu đến nhà hỏi, Ơn lắc đầu:

- Ơn kông ti tâu.. Ơn kông ti tâu. (Ơn không đi đâu.. Ơn không đi đâu). Vừa nói, Ơn vừa chỉ lên ban thờ bố mẹ xua tay. Giọng nói ngọng, khó nghe nhưng ông trưởng khu vẫn hiểu và thể theo nguyện vọng của Ơn, ông bác đơn. Mấy người họ hàng ấm ức ra bến đón xe khách về thẳng.

Ơn nhìn theo vỗ tay, bọn trẻ con reo mừng vào hùa bắt chước. Lần đầu tiên kể từ khi làm người. Ơn được làm chỉ huy, có tiền hô hậu ủng. Cũng từ đấy người mà Ơn quý mến, tin tưởng nhất là ông trưởng khu. Thi thoảng Ơn đến nhà ông trưởng khu chơi, có việc gì làm được Ơn làm. Ông trả tiền, Ơn kiên quyết không lấy. Biết chuyện có người bình luận:

- Đấy, cứ bảo "cu" Ơn không biết gì nữa đi. Cũng ân, oán ra trò..

Gia đình ông trưởng khu thương quý Ơn lắm. Hàng tuần ông thường đảo qua xem Ơn sống ra sao? Có gì ngon, ông bảo con đem cho Ơn ăn. Tết đến may quần áo mới, mừng tuổi; đưa Ơn lên chùa thăm linh vị bố mẹ. Tháng tháng, bà vợ ông trưởng khu đong gạo, mua dầu, muối.. Quét dọn, khâu vá quần áo giúp Ơn.

* * *

Thời thế xoay vần, ông trưởng khu ngày xưa giờ đã nghỉ. Thị trấn được nâng cấp thành thị xã. Khu phố nơi Ơn ở đã chuyển lên cấp phường. Người có tiền của phá nhà cũ làm lại nhà mới, nguy nga, đồ sộ. Cửa hàng, cửa hiệu hàng hóa bầy bán ê hề; biển quảng cáo lộng lẫy. Tối đến, nhà nhà đèn điện nhấp nháy, chan hòa. Nhìn, cảm tưởng cả dẫy phố như con tàu nổi vừa cập bến.

Duy chỉ có nhà Ơn vẫn vậy! Lọt thỏm, tối om, rỉ cũ như một vết bẩn dây trên bộ quần áo sang trọng; như vết sứt trên miệng chiếc bát men.

Câu chuyện về ý đồ những người họ hàng Ơn tưởng đã hết. Ai ngờ, khi đất đai được coi là loại hàng hóa đặc biệt; mỗi mét vuông có thể dùng vàng dát kín, lấy tiền trải thay chiếu, thì lại thấy mấy người ấy từ dưới quê lên, thậm thụt vào ủy ban đưa đơn trình bầy giấy tờ gì gì đó? Có lần thấy họ đi cùng ông Chủ tịch phường và bộ sậu của ủy ban đến nhà Ơn đo đếm, xem xét. Ơn đứng ở cửa dang tay ra chắn. Người thư ký gạt tay Ơn ra để ông chủ tịch vào. Ơn cầm con dao xây vừa múa vừa thét, Ơn múa dao không bài bản, trông như một thằng điên. Ơn thét, giọng đã ngọng, ngọng thêm. Dân phố kéo tới xem nhìn không hiểu, nghe không rõ câu gì ra câu gì. Đành xét thái độ của Ơn mà đoán..

Ông chủ tịch thấy vậy, khoát tay ra hiệu cho mọi người rút lui, tránh va chạm.

Bà con kháo nhau: Phía họ hàng nhà Ơn móc nối với chính quyền để "thôn tính" mảnh đất của Ơn.

- Sáng hôm sau, mọi người thấy Ơn mua xi măng đắp hình người cầm súng đang ngắm bắn. Người hàng phố đi qua hỏi;

- Ơn đắp ai đấy?

Ơn bẽn lẽn:

- Ơn tấy! Ơn pắn tứa tướp nà Ơn. (Ơn đấy! Ơn bắn đứa cướp nhà Ơn) - Ơn chỉ vào mấy hình nhân đắp đất sét để cách đấy một quãng - Bọn xấu tịnh tến tướp nà Ơn tấy! Tến tây Ơn pắn: Tằng.. Tằng.. "(Bọn xấu định đến cướp nhà Ơn đấy! Đến đây, Ơn bắn: Tằng.. Tằng.) - Ơn giả tiếng súng làm người đó phì cười.

Ông cựu trưởng khu sang chơi. Ơn bi bô kể lại. Nghe xong ông bảo Ơn:

- Căn nhà và mảnh đất này thuộc quyền sở hữu của cháu. Cho hay bán; đi hay ở là quyền của cháu. Mặc kệ họ, cứ ý cháu mà làm. Có gì đã có chú.

Ơn cầm tay ông lắc lắc ra chiều đồng ý và tin cậy.

Dân phố thấy vậy sinh hoài nghi. Lòng tốt có thể, nhưng tốt quá e cần phải xem lại. Xấu có ý đồ, tốt có khi còn nhiều ý đồ hơn? Nhà ông trưởng khu đông người, lại ở trong ngõ, xá gì mà ông không nghĩ? Trước chưa nghĩ, nay sẽ nghĩ! Người thiểu năng như Ơn tin ai là tin lắm. Lòng tin cộng sự coi thường vật chất thì một căn nhà chứ có hai căn nhà nữa, nếu cho, chắc Ơn chỉ cho mỗi cựu trưởng khu mà thôi.

Có người gặp ông hỏi kháy:

- Sao ông không bảo thằng Ơn nhượng cho một nửa mà làm cửa hàng?

Ông im lặng cười buồn.

Kẻ hỏi không được trả lời nghĩ:" Im lặng ăn người. Rõ là kẻ xảo quyệt ".

Phía những người họ hàng Ơn nghe chuyện lồng lộn. Xen vào giữa những đợt lồng lộn là những bữa ăn nhậu của họ cùng với cán bộ ủy ban phường.

Hàng phố ngấm ngầm theo dõi cuộc" tỉ thí "giữa hai bên.

Riêng Ơn, sau hôm ấy Ơn như người khác hẳn.

Ơn ít đùa nghịch hơn. Lũ trẻ tới nhà, theo Ơn đi nhặt gạch vỡ, vét vôi cặn ở những thùng vôi cũ; xúc cát rơi vãi đem về cho Ơn xây hàng rào. Ơn nghĩ làm thế sẽ không cớ kẻ nào lấy được những gì là của Ơn. Một đứa trẻ nhìn Ơn bỗng kêu to:

- Ối giời ơi, đầu anh Ơn có tóc bạc.

Thế mới biết, đã phải nghĩ thì người như Ơn tóc cũng vẫn bạc.

Đất thị xã tăng giá đến chóng mặt. Những người họ hàng nhà Ơn thuê nhà trọ để toan tính, quyết tâm chờ thời.

* * *

Cái tin Ơn bị ung thư làm chấn động cả thị xã. Nhiều người đến thăm Ơn lắm. Ai cũng xót xa thương cảm, cố giấu nước mắt trong tình vị tha và lòng trắc ẩn. Họ nghĩ về kết cục của một gia đình, tới thân phận hẩm hiu của một con người. Lũ trẻ chơi với anh Ơn đến rất đông. Hình như Ơn cũng mường tượng ra mình sẽ không còn được ở với chúng bao lâu nữa. Ơn mang những con vật nặn, những căn nhà làm bằng bìa giấy; những con thuyền làm bằng vỏ hộp kẽm; những con quay gỗ, cái diều hình mặt trăng.. Ơn chia cho các bạn nhỏ của mình và nói:

- Nhận ti.. To Ơn vui.. (Nhận đi.. Cho Ơn vui.)

Những người họ hàng nhân thời cơ Ơn đau ốm lân la đến cùng với quà bánh trên tay. Ơn thờ ơ, đôi mắt vô cảm nhìn họ. Trong trái tim ngô nghê vẫn thầm nhớ đến một kỷ niệm cay đắng thời thơ ấu.

Đó là hồi mẹ ốm, bố đưa Ơn về quê nói lời nhờ vả. Đến nhà không ai tiếp. Ừ, một ông bố nhếch nhác, quần áo vá chằng vá đụp; trên lưng cõng thằng con dở khôn dở dại, nhớt dãi dề dề.. Có cho vay rồi lấy gì mà trả?

Rồi tới ngày mẹ sắp chết. Bố điện về quê mong có ai lên để cho nhà đỡ quạnh, mẹ có chết, hương hồn đỡ tủi. Biệt vô âm tín. Hôm đám ma, chỉ có bà con hàng phố đi đưa. Cu Ơn được ông trưởng khu dìu đi giật lùi đưa mẹ ra nghĩa trang.

Vậy thì có gì mà để Ơn phải nghĩ?

Tiếng nói của một người trong họ vang lên leo lẻo:

- Cháu phải nghĩ cháu ạ! Một giọt máu đào hơn ao nước lã. Cháu chết yểu là do số phận. Nhưng còn cái nhà và mảnh vườn (Ơn nhíu lông mày) nếu không bán thì cũng về tay Nhà nước.

Cháu đừng nghe ai xui dại mà đem của cho người ngoài (Ơn nằm ngoảnh mặt vào trong). Người ta chỉ xơn xớt cái mồm chứ ai người ta thương? Cháu có cho chúng ta, chúng ta còn nhớ ngày cúng giỗ cho, chứ thiên hạ ai người lo cho cháu? (Ơn ngáy to như người ngủ say ).

Để cho ăn chắc, những người họ hàng mời cán bộ ủy ban phường đến. Đứng giữa người nhà đại diện phát biểu:

- Trường hợp cháu Ơn của chúng tôi (Ông nhấn mạnh từ của chúng tôi) ơn nhờ phúc ấm tổ tiên qua khỏi là một điều mừng. Trường hợp có mệnh hệ nào, chúng tôi sẽ là người đứng ra mai táng chôn cất chu tất. Hết bao nhiêu chúng tôi cũng chi. Có ủy ban làm chứng. Trách nhiệm này thuộc về tổ tông, họ mạc nhà chúng tôi, - Ông quay người về phía người cán bộ - Thưa đồng chí, có phải thế không ạ?

Nằm trên giường Ơn đập chân đập tay kêu. Bà vợ ông cựu trưởng khu ngồi cạnh giường, đang xoa bóp cho Ơn cúi xuống nhẹ nhàng hỏi:

- Khó chịu lắm phải không cháu? Cháu đừng nghĩ gì nhé! Ăn ở đã có ông giời chứng giám.

Ơn nắm tay vợ ông cựu trưởng khu, nhỏm người lên ghé vào tai bà thì thầm. Ngôn ngữ của Ơn được bà hiểu rất nhanh. Bà gật gật. Người đại diện khó chịu:

- Đề nghị im lặng.. Nếu muốn phát biểu phải nói to cho mọi người cùng nghe.

Đáp lại lời vị đại diện là hai bàn tây gầy guộc của Ơn xua xua.. Bà vợ ông cựu trưởng khu thủng thẳng:

Cháu Ơn yêu cầu mọi người đi ra để cho cháu ấy nghỉ.

Ơn gật đầu xác nhận. Mọi người lần lượt rời khỏi nhà. Ơn nhìn bọn trẻ con vẫy tay ra ý:" Các bạn đừng đi ở lại với tôi".

Bệnh mới phát được một tháng mà nhìn Ơn xọm hẳn. Tụi trẻ xúm quanh giường cầm tay Ơn lắc lắc. Một đứa lên tiếng:

Anh Ơn khỏi bệnh đi để chơi với chúng em.

Cố nhịn đau, Ơn gật đầu, nghiêng mặt nhìn ra khoảng sân quen thuộc miệng nở nụ cười mãn nguyện..



* * *

Mấy hôm nay Ơn yếu lắm, đôi mắt vốn đã to nay càng to hơn, khuôn mặt hẹp nay càng hẹp hơn. Ơn mệt, giọng nói đã lạc. Muốn gì Ơn ra hiệu. Vợ chồng Ông bà cựu trưởng khu thay nhau ngồi cạnh Ơn. Ông biết đây là thời gian sống cuối cùng của Ơn.

Mấy người họ hàng đòi được chăm sóc. Nhưng cứ mỗi lần ai đến là hai mắt Ơn mở trừng trạo, đầu lắc lia lịa. Ơn biết đấy không phải là tình yêu thương mà là thủ đoạn. Dẫu có chết Ơn cũng chẳng nhờ. Cái thứ họ hàng ấy làm sao được phép sờ vào người Ơn, làm sao gửi gắm được niềm tin.

Ơn ra hiệu cho ông cựu trưởng khu nâng Ơn dậy. Ơn thì thầm vào tai ông, mái đầu bạc của ông gật lên, gật xuống. Ông nói với bà:

- Bà trông thằng Ơn, để tôi đi mời bà con khối phố sang, Ơn nó muốn nói lời cuối cùng.

Tựa lưng vào tường, Ơn mệt mỏi khẽ cúi chào những người hàng phố được mời đến. Trong đó có cả vị cán bộ phòng tư pháp Ủy ban phường. Có cả mấy người họ hàng dưới quê.

Khi đã đông đủ, Ơn vẫy ông cựu trưởng khu đến nói thì thầm. Ông cựu trưởng khu dịch lại:

- Cháu nó bảo tôi: Cháu cảm ơn tất cả mọi người.

Ơn lại thì thầm tiếp. Vị cựu trưởng khu lại dịch:

- Cháu Ơn có để lại một điều ước nguyện, muốn mọi người có mặt ở đây làm chứng hộ.

Ông đứng dậy, bê chiếc ghế kê cạnh bàn thờ rồi đứng lên. Ông nhấc bình bát hương, rút cuốn vở học sinh xuống.

Dẫu Ơn viết không đẹp, mỗi chữ to như con gà mái nhưng rất rõ ràng mạch lạc:

- Ước nguyện cuối cùng của Ơn là: Nơi đây sẽ được xây dựng thành nơi vui chơi cho trẻ em.

- Ơn nhờ vợ chồng bác trưởng khu cũ giúp đỡ Ơn hoàn thành ước nguyện này.

- Ơn chân thành cảm ơn bà con khối phố đã yêu thương đùm bọc, giúp đỡ Ơn. Cuối cùng Ơn gửi lời chào thân thiết tới các bạn nhỏ trong khu phố.

Ký tên: Ơn


Dưới chữ ký còn có dấu vân tay Ơn điểm chỉ.

* * *

Đám tang của Ơn đông người đưa tiễn lắm. Nhất là trẻ con. Chúng khóc nức nở, khóc như khóc người ruột thịt. Trên ngực mỗi đứa đều cài một tấm băng đen nhỏ. Những vòng hoa trắng trùm kín xe. Chỉ tiếc không có một tấm ảnh nào.

Có người nói: Cả đời Ơn chưa bao giờ được chụp ảnh. Trên nóc xe tang, một tờ giấy kẻ chữ thay cho bức chân dung:

Anh Ơn

Sinh năm: 1950

Người ta giật mình, vì tính ra Ơn đã 49 tuổi. Ở dưới không ghi ngày mất. Hỏi? Ban lễ tang trả lời: Đấy là ý của bọn trẻ con trong phường.

Ừ, phải rồi! Đối với chúng: Mãi mãi anh Ơn là người không có tuổi.​

Nguyễn Nhuận Hồng Phương
 
278 ❤︎ Bài viết: 809 Tìm chủ đề

49. Vẹt góc đồi thông - Nguyễn Nhuận Hồng Phương​


20260827-020631-9bb4787102.png


Hòa hẹn tôi đến chơi. Gia đình Hòa có một biệt thự xây dưới chân đồi thông. Mười lăm năm rồi còn gì. Tôi đã có một gia đình êm ấm; vợ là giáo viên hai đứa con một trai, một gái. Thời gian quả là khắc nghiệt. Nó như vừa mới hôm qua, nhưng lại như đã lâu lắm rồi. Cô bé Hòa tóc đuôi gà, áo quần cũn cỡn, thò lò mũi xanh ngày nào, nay đã là một mệnh phụ phu nhân đài các đưa móng tay búng tàn thuốc một cách điệu nghệ:

- Anh về chơi được mấy ngày?

- Tôi về xây lại mộ cho các cụ xong thì vào.

- Nhà anh ở quận mấy?

- Tôi không ở thành phố mà ở Đồng Nai.

Thấy nhà vắng vẻ tôi hỏi: "Anh Tân và các cháu đi đâu Hòa?". "Tân đi trại rồi". "Trại sáng tác Đại Lải à?" Tôi hỏi vì chợt nhớ Tân là cán bộ Văn hóa. "Không! Trại tù! Đúng hơn là tù ở trại. Bố ở tù, con lên thăm nuôi". Tôi trân trân nhìn Hòa như không hiểu. Hòa mở tủ lấy ra chai rượu và hai cái ly: "Thôi! Đừng nói chuyện buồn nữa! Uống với em một ly! Một ly cho mười lăm năm. Em mong cái ngày này mãi. Anh có uống được rượu không? Không uống được cũng vì Hòa mà uống. Vì cái còn lại trong em, trong anh của một thời thơ ấu dại dột và ngốc nghếch". Hòa nhìn tôi khẽ lắc đầu: "Kiên đừng nói, và cũng đừng hỏi. Hãy để cho em được vùi đầu vào kỷ niệm, được hối lỗi với chính mình, được hối lỗi với anh.."

1

Hồi bé, tôi và Hòa, con gái riêng của ông Khương bán thuốc cao ở cùng phố hay theo mẹ tôi lên chùa Thông chơi. Trong khi mẹ tôi cùng mọi người xì xụp lễ bái, tôi rủ Hòa đi về phía mả Tây xem những cây thập tự bằng đá khắc chữ Tây và chạm trổ hoa văn rất đẹp. Bên mé đồi có mả Tây toàn sỏi đầu ruồi, khô khốc. Ngoài mấy bụi cây sim, mua, hoa đơn còn toàn dứa dại, cây xương rồng và những bụi hoa xấu hổ. Tôi và Hòa trèo lên chốc mả bằng đá hoa cương ngồi tước lá dứa làm chong chóng, làm kèn thổi.. Hòa kém tôi hai tuổi, mặt mũi lúc nào cũng lem luốc, nguệch ngoạc, nhiều khi trong mũi còn thò ra một đoạn nhớt xanh lè. Mỗi lần như vậy tôi hay trêu: "Thò lò mũi xanh, ăn cắp bánh đúc chạy quanh nhà thờ". Hòa tức, lấy cành cây làm roi đuổi tôi vụt lấy vụt để.

Cũng không hiểu sao tôi lại thích Hòa? Ngày nào không gặp được tôi thấy nhớ. Có lần, Hòa theo bố đi chợ bán thuốc mấy ngày không về, một mình tôi tha thẩn lên đồi Thông chơi. Ngồi ngắm những hình chim muông, hoa lá mà hai đứa vẽ trên nắp mả bằng đá phấn non cậy dưới chân đồi. Nhớ Hòa, tôi tưởng tượng vẽ hình Hòa trên mặt đá hoa cương. Vẽ xong. Tôi viết hai chữ "Tặng Hòa" rồi ghi tên mình ở dưới. Bọn trẻ con cùng phố lên chơi thấy vậy vẽ thêm một thằng con trai tóc rễ tre, mắt ốc nhồi, mũi sư tử đứng cạnh rồi ghi "Hòa lấy Kiên". Hôm sau cùng tôi lên đồi, khi nhìn thấy hình vẽ Hòa hỏi: "Sao Kiên vẽ vậy?" Tôi thanh minh và hứa sẽ tìm đứa vẽ để đánh nhưng Hòa bảo: "Đừng! Kệ! Vẽ có phải là thật đâu mà sợ". Lúc đứng dậy ra về tôi thấy chỗ ngồi của Hòa có vệt máu, tôi hỏi: "Hòa bị đau ở đâu?" Hòa đỏ mặt ù té chạy thật nhanh xuống chân đồi.

2

Thằng con trai tên Tân chạc tuổi tôi. Dáng mảnh khảnh, tóc chải rẽ ngôi bóng mượt, mặt dài, mũi dọc dừa, mắt lúc nào cũng mơ mơ màng màng. Tân theo gia đình từ trên tỉnh chuyển về. Hôm đầu gặp nhau, nó mon men làm quen, tôi khinh khinh theo kiểu "ma cũ bắt nạt ma mới" : "Đừng cậy con cán bộ, tao chấp!" Thằng Tân nói giọng êm nhẹm: "Cho tớ chơi với, tớ sẽ dậy cậu thổi kèn". Nói rồi Tân móc trong túi ra một cây kèn Acmônica thổi luôn. Tân thổi bài gì tôi không biết, nhưng quả thật làm tôi mê liền. Tôi tựa lưng vào cây sữa nhìn Tân thổi, mắt Tân đung đưa theo nhịp nhạc, ngọn tóc hất hất rồi xõa xuống che mấy ngón tay trắng muốt cầm kèn đưa đi đưa lại trên đôi môi. Chợt có tiếng xuýt xoa: "Hay quá! Hay quá!". Tôi quay lại, Hòa đứng cạnh tôi từ bao giờ, Hòa nhìn Tân không chớp. Tân cũng thôi thổi kèn đi lại chỗ chúng tôi, tôi hỏi Hòa: "Có cho nó chơi với tụi mình không?". "Sao không? - Hòa đáp - Càng vui chứ sao?" Nghe Hòa nói vậy tôi hất hàm hỏi Tân: "Lên mả Tây không?". "Ở đâu?" Hòa nhanh nhảu: "Trên đồi thông ấy!". Tân ngơ ngác: "Đồi thông nào? - Đồi thông hai mộ á?". Tôi vặc: "Hai mộ nào? Chỉ có mả Tây đen, Tây trắng chứ mộ nào!". Tân thanh minh: "Đồi thông hai mộ - thơ của Tùng Giang ấy, các cậu không biết à?" Tôi cáu: "Đây không thơ phú gì cả! Chỉ có chùa, có mả Tây, lên thì đi, không đi thì thôi". Hòa hỏi: "Anh Tân sợ ma không?". "Ban đêm mới sợ, còn bây giờ thì không. Nhưng sao em biết tên anh?" Hòa không trả lời. Tôi bỗng ấm ức khi thấy Hòa và Tân xưng hô anh anh, em em với nhau. Tôi lầm lũi bước, tâm trạng hẫng hụt, nỗi buồn đầu tiên của thằng con trai tuổi mười sáu; nỗi buồn vô cớ đè nặng trong lòng. Tôi trút bực dọc vào những cọng cỏ may mọc cạnh lối lên dốc đồi thông.

Đêm ấy tôi không ngủ được; những hình ảnh ban chiều trên đồi thông ám ảnh tôi. Không hiểu sao tôi lại giận Hòa, ghét Tân. Tôi đi cùng chúng nó mà thấy mình như thừa ra. Tôi tước lá dứa làm chong chóng. Thằng Tân mon men gạ: "Kiên cho tớ một cái". Tôi có cớ nổi xung: "Mày thích thì đi mà làm! Tao không biết hầu đứa nào hết!". "Không cho thì bán! Tớ trả tiền". "A! Cái thằng công tử rởm này, mày lại giơ tiền ra với tao hả? - Nghĩ vậy tôi vặc" Mày có tiền tao cũng không bán! Thà tao vứt mẹ nó đi ". Nói rồi tôi cầm chong chóng xé ra từng chiếc một. Sắp xé tới cái cuối cùng thì Hòa nói:" Còn một cái cho tớ ". Nghe chữ tớ của Hòa, không nói không rằng tôi cầm cái chong chóng quẳng ra thật xa rồi nhảy từ trên ngôi mộ xuống:" Đứa nào thích ra mà nhặt! ". Hòa nhìn tôi trách móc rồi lẳng lặng nhặt chiếc chong chóng đưa cho Tân. Tôi nhổ nước bọt đánh toẹt một cái rồi bỏ hai đứa đứng ngơ ngác không hiểu vì sao tôi cáu bẳn như vậy mà về.

Tôi có ý lánh mặt Hòa. Muốn gặp nhưng lòng tự ái biến tôi thành một kẻ ích kỷ: Tôi không chờ Hòa đi học, tôi cũng không để dành cho Hòa những quả na Xiêm hay rủ Hòa trèo lên cây khế ngọt ở vườn nhà tôi nữa. Chiều ra chơi ở hè, tôi liếc xéo thấy Hòa mang thùng đi gánh nước. Giếng nước mãi ngoài bến ô tô nên khi Hòa quay lưng lại tôi cứ đứng lặng nhìn hút theo bóng của Hòa. Vẫn cái áo gụ bạc mầu, cái quần láng đen cũn cỡn xếch xác ngắn gần đầu gối, vẫn đôi bọng chân trắng như nõn cây dứa dại tôi bóc ở trên đồi và hai bàn chân nhỏ lấm tấm bụi. Đường chiều thưa người qua lại, ánh nắng xiên, bóng Hòa đổ về phía tôi đứng.. Bất giác tôi thở dài.

Không có tôi, Hòa đã có thằng Tân cùng lên đồi thông. Tôi cũng lên đồi nhưng không chơi với tụi nó mà đem truyện ra đọc hay đi tha thẩn một mình. Tôi cay đắng nhận ra tiếng kèn Acmônica của Tân thổi hay hơn cái kèn làm bằng lá dứa của tôi; những bài thơ nó đọc mềm mại, lả lướt dễ nghe hơn truyện kiếm hiệp của tôi. Và, Tân cũng hơn tôi về mọi mặt; con cán bộ, đẹp trai, chải chuốt, bóng bẩy.. Trước mặt Hòa và Tân, tôi tỏ vẻ khinh khỉnh, ra cái điều bất cần nhưng đêm về tôi luôn tưởng tượng ra cách trả thù. Có đêm mơ mình trở thành Người Nhạn Trắng trong tiểu thuyết" Vũng máu đào" "xuất quỷ nhập thần" ẩn hình, biến tướng, đột nhập vào nhà Tân để lại bức huyết thư; lúc mơ mộng cướp Hòa mang đi trên con tàu ở truyện "Cánh buồm đẫm máu". Tôi tự huyễn hoặc, lừa dối mình bằng những mớ tiểu thuyết ba xu như vậy. Nhưng rồi ý định báo thù, mọi sự ngông cuồng dần tan biến theo sự xoay vần của cuộc sống.

3

Nhà nước quy hoạch lại đô thị. Nghĩa địa Tây được di đời khỏi đồi thông để làm nhà Văn hóa ngoài trời. Chùa Thông bị liệt vào nạn bài trừ mê tín dị đoan. Chính quyền địa phương dỡ gạch, ngói của chùa đem về xây trụ sở. Trên nền chùa cũ thi thoảng mồng một hay ngày rằm có người nhớ chùa mắt trước mắt sau thắp vội mấy nén hương sợ có ai biết báo chính quyền thì khổ. Trên đồi còn lại cây đa xanh đứng trơ trọi, sự linh thiêng và tôn nghiêm không còn nữa. Nhiều gia đình tự tiện lên đồi vỡ đất trồng sắn, trồng cây thầu dầu..

Tân, Hòa và tôi cùng sinh hoạt ở Đoàn thanh niên khu phố. Đêm nào chúng tôi cũng ra tụ tập trụ sở. Thằng Tân biết nhạc, biết ngâm thơ, hát hay được bầu làm ủy viên chi đoàn phụ trách văn nghệ. Nó có vẻ tự hào lắm. Thỉnh thoảng bọn con gái túm tụm quanh Tân nghe nó đọc thơ "Đồi thông hai mộ". Hoặc nỉ non đọc thơ Vũ Hoàng Chương:

".. Đã hẹn với em rồi, không tưởng tiếc

Quãng đời xưa, không than khóc gì đâu!

Hãy buông lại gần đây làn tóc biếc.

Sát gần đây, gần nữa, cặp môi nâu.

Đêm nay lạnh, tìm em trên gác tối

Trong tay em dâng cả tháng năm thừa.

Có lẽ đâu tâm linh còn trọn lối.

Để đi về cay đắng những thu xưa.."

Dẫu ghét nó tôi cũng phải thừa nhận giọng nó đọc hay, mê hoặc người nghe. Nhưng là kẻ cố chấp tôi tỏ vẻ cóc cần. Từ bé tôi đã đưa vào sức mạnh bằng nắm đấm, bằng tinh thần thượng võ học mót được ở truyện trinh thám nên tôi không hay nghĩ lâu. Còn chuyện giữa tôi và Hòa cũng nhạt dần nếu không có một chuyện xảy ra.

Đó là một đêm mùa thu. Vòm trời xanh thăm thẳm, những chùm sao như xa hơn, ánh trăng sáng như dát bạc trên đồi thông, gió thổi lồng lộng. Tôi mặc quần đùi, cởi trần lên đồi chui vào giữa những luống sắn cao ngập đầu, cởi quần tự nhiên làm cái việc mình định làm.. Xong xuôi đang định đứng dậy, bỗng thấy có hai người đi qua. Dưới ánh trăng tôi nhận ra đấy là Tân và cái Tuyết con lão cai mả Tây. Tôi hồi hộp, tim đập loạn xạ y như mỗi lần đọc truyện gặp những pha ly kỳ hấp dẫn. Tôi đứng dậy quyết định theo bọn họ.

Tuyết hơn tôi hai tuổi, trắng trẻo, xinh đẹp, mỡ màng, hai vú ngồn ngộn to như hai quả dừa, nhọn hoắt như chóp nón quân tốt hỉn vẽ trong cây tam cúc. Tuyết bỏ học từ hồi lớp bẩy ở nhà làm kế toán, giữ tiền cho bố. Tôi được nghe những chuyện bẩn thỉu về bố Tuyết, nhất là vụ chuyển mả Tây. Ông ta móc ngoặc với bố Tân kê khống mả để lấy tiền. Thậm chí có chuyện đồn đại nói ông ta cho thợ đào mả chia xương cốt người thành hai, thành ba ngôi để thanh toán. Tôi nghe mà rụng rời cả chân tay, vì những chuyện ấy chưa bao giờ tôi đọc thấy ở tiểu thuyết cả.

Hai người men theo sườn đồi, đến bãi cỏ phía vắng nhất họ ngồi xuống. Tôi nằm ẹp nấp sau bụi hoa xấu hổ cách chỗ họ chừng hơn chục thước. Đêm càng khuya, trăng càng sáng, gió bớt mạnh vì mé đồi này khuất. Sương đêm thấm vào ngực lành lạnh. Tai tôi căng ra vì tò mò muốn xem họ nói gì.

- Sao hôm qua không ra?

- Hôm qua có người đến xem mặt.

- Định "bỏ nhau" hay sao mà cho người đến xem mặt?

- Đấy là ý ông già. Nhưng mà có lấy người ta đâu mà bắt người ta chờ?

- Không lấy được, nhưng muốn giữ.

- Nỡm ạ! Giỏi thì giữ mà làm của riêng.

- Không được là của riêng thì phải làm cho nó nẫu ra.

Rồi còn lại là những tiếng thì thào rên rỉ không rõ lời. Tôi nhủn người vì nhìn thấy những gì đang diễn ra trước mắt. Tân vật ngửa Tuyết ra, ánh trăng vô tình soi tỏ từng đường nét đẹp nhất mà tạo hóa ban tặng cho người phụ nữ. Người đàn bà dâng hiến, người đàn bà hưởng thụ. Người đàn ông khao khát, dữ dội, ham hố chiếm đoạt.. Tôi lịm đi, người hẫng hụt như bị rơi vào khoảng không bồng bềnh.. Lần đầu tiên trong đời tôi thấy niềm đam mê mạnh hơn lý trí, cố cưỡng lại sự thèm muốn, sự thèm khát càng bùng lên mạnh mẽ quyết liệt. Hành động của đôi trai gái làm cho đầu óc tôi quay cuồng man dại. Tôi ép chặt hai đùi lại cho tới khi thân thể bải hoải rã rời vì sự giải thoát vừa lạ vừa ngượng nghịu..

Tân và Tuyết đã ngồi lên. Tuyết nửa ngồi nửa nằm tựa vào vai Tân: "Anh định đi học nhạc à?". "Học là phụ, tránh đi bộ đội là chính". "Bố anh là trưởng ban Văn hóa lo gì? Học xong về đây công tác chứ?". "Tuỳ" ông già "sắp xếp". "Hỏi thật nhé! Có định thực bụng với con Hòa không đấy?". Tôi không nghe tiếng Tân trả lời, chỉ thấy Tân cúi xuống khỏa lấp miệng người đàn bà bằng một nụ hôn nồng nàn, dâm đãng.

Tôi hẹn gặp Hòa trên đồi Thông, mang chuyện của Tân và Tuyết kể cho Hòa nghe. Tôi nghĩ đấy là dịp lật tẩy trả thù kẻ tình địch của mình. Nhưng không ngờ, khi nghe xong Hòa bảo tôi: "Kiên có nhớ Kiên xé cái chong chóng như thế nào không? Đừng vì ghen tức, nhỏ nhen với người khác mà tự bôi xấu mình, Hòa không tin có chuyện đó, mặc dù Hòa biết bố anh Tân và bố chị Tuyết quan hệ với nhau rất thân". Tôi định thanh minh nhưng Hòa bảo: "Hòa biết Kiên rất quý Hòa, nhưng trái tim Hòa đã thuộc về Tân rồi. Anh Tân đi học xong hai đứa mình sẽ cưới".

Đêm ấy sau khi chia tay Hòa, tôi đi lang thang khắp đồi Thông. Tôi tự sỉ vả sự bồng bột ngốc nghếch của mình. Tôi ân hận lòng tốt đặt không đúng chỗ, buồn vì Hòa không tin tôi, còn nhạo báng cách trả thù hèn hạ của mình. Hòa cho tôi là kẻ không cao thượng, thiếu trung thực.. Tôi thiếp đi trên đồi thông cho đến khi mặt trời rọi vào mặt mới tỉnh dậy. Về đến nhà tôi nhận được giấy báo đi bộ đội.

4

Hòa chợt bảo tôi: "Tối nay anh với em lên đồi thông chơi đi?". Quả thực tôi bất ngờ vì lời đề nghị ấy. Thấy tôi im lặng Hòa nói: "Em chờ gặp anh bao nhiêu năm nay rồi. Nếu được làm lại từ đầu, em xin được bắt đầu từ cái đêm anh đến để nói về Tân. Em đã không nghe mà còn cho anh tầm thường. Em cho anh là kẻ không được ăn thì đạp đổ. Em thơ ngây, trong trắng tin Tân như tin chính tình yêu của mình vậy. Em tự hào lấy được Tân, hãnh điện đi bên Tân. Quả thực, đôi lúc em có nghĩ tới anh, nhưng nó chỉ thoảng qua với một chút đồi thông và những hình vẽ xấu xí trên phiến đá hoa cương.. Cho tới khi Tuyết đột ngột mang đứa con trả cho Tân em mới thấy mình ê chề làm sao. Lòng tin của em về Tân bị vỡ vụn. Em đập phá, em gào thét.. Đập phá mãi, gào thét mãi cũng chẳng ích gì. Em buồn lấy rượu làm vui. Cũng chẳng biết em và rượu làm bạn với nhau từ bao giờ. Tình yêu của em đối với Tân đã chết. Em và Tân ly thân. Hàng ngày Tân đi đâu, làm gì? Quan hệ với ai? Em không cần biết. Thậm chí Tân mở tiệc ăn mừng khi lên chức Giám đốc trung tâm Văn hóa em cũng chẳng mảy may để ý". "Tân bị tù vì tội gì?". Tôi hỏi. "Tàng trữ băng đĩa đồi trụy, bật đèn xanh cho các quán Karaoke. Bảo kê khu du lịch trá hình trên danh nghĩa Nhà nước". "Còn con riêng của Tân bây giờ ở đâu?". "Ở đây chứ ở đâu được hả anh? Tuyết quẳng trả cho Tân lúc nó mới năm tuổi". "Trời ơi! Tôi rùng mình, tôi không thể nghĩ rằng có thể nào Hòa chung sống, nuôi nấng, chăm sóc con riêng của chồng ngần ấy năm trời? Sức chịu đựng của con người chẳng lẽ không có giới hạn? Và, vì sao Hòa phải chịu khổ như thế? Tôi buột miệng:

- Sao Hòa không ly dị.

- Còn đứa con của anh ấy? Nếu ly dị nó sẽ sống ra sao? - Những giọt nước mắt lăn xuống gò má làm cho lớp phấn trên làn da của Hòa tróc loang thành vệt - Anh đã nghe tiếng đứa trẻ gào thét khi có bố bị tuyên án chưa? Xót xa và đau đớn lắm Kiên ơi! Tình yêu thương không có tội. Trong song sắt Tân là thằng tù, nhưng ở ngoài đời Tân vẫn là bố của chúng. Người đời còn dang tay âu yếm vuốt ve những kẻ" khác máu tanh lòng"thì làm sao em có thể quay mặt đi làm ngơ trước sự đau khổ của trái tim còn trong trắng ngây thơ?

5

Con tầu nặng nề rời sân ga. Tiếng rít của kim loại xiết vào nhau ken két. Tôi mở cửa sổ lưu luyến ngắm nhìn thị xã bé nhỏ miền trung du; sương thu lãng đãng thả từng làn tơ mỏng.. Xa xa, đồi thông phơi mình dưới ánh nắng ban mai. Một ngày mới bắt đầu. Tôi cảm giác đồi thông như bé lại. Nó nhỏ đi hay vì tôi lớn lên? Tòa biệt thự của Hòa nằm lọt thỏm dưới một góc đồi. Không biết Hòa đã dậy chưa? Đêm qua tôi không đến gặp em theo lời hẹn. Không! Tôi cố tình không tới thì đúng hơn. Gặp nhau để làm gì nữa Hòa ơi! Em đã chẳng nói hết rồi đấy sao?

Con tàu tăng tốc độ, quê hương tôi khuất dần.. Tôi nhoài người nhìn về phía đồi thông lần nữa. Ánh phản quang từ chiếc quạt thông gió trên nóc tòa biệt thự loé lên trong mắt tôi trước khi khuất hết tầm nhìn.. Bất chợt tôi nhớ tới cái chong chóng làm bằng lá dứa trên đồi thông của một thuở thiếu thời.​

Nguyễn Nhuận Hồng Phương

HẾT
 
Chỉnh sửa cuối:

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back