279 ❤︎ Bài viết: 827 Tìm chủ đề
Đọc: 144 Tìm: 0

Tiểu Thuyết: Bảo Vật Để Đời


Tác giả: Nguyễn Nhuận Hồng Phương


Người đăng tải: Lê Gia Hoài​


Thể loại: Tâm lý xã hội


Văn án: Review Truyện - Bảo Vật Để Đời - Hành Trình Nhận Diện Bản Ngã Và Giá Trị Chân Thực Của Con Người


20260910-111950-f92b3942e3.png


Mục Lục:

Phần I - Chương 1: Tiểu Thuyết - Bảo Vật Để Đời - Nguyễn Nhuận Hồng Phương

Phần I - Chương 2: Tiểu Thuyết - Bảo Vật Để Đời - Nguyễn Nhuận Hồng Phương

Phần I - Chương 3: Tiểu Thuyết - Bảo Vật Để Đời - Nguyễn Nhuận Hồng Phương

Phần I - Chương 4: Tiểu Thuyết - Bảo Vật Để Đời - Nguyễn Nhuận Hồng Phương

Phần I - Chương 5: Tiểu Thuyết - Bảo Vật Để Đời - Nguyễn Nhuận Hồng Phương

Phần I - Chương 6: Tiểu Thuyết - Bảo Vật Để Đời - Nguyễn Nhuận Hồng Phương

Phần I - Chương 7: Tiểu Thuyết - Bảo Vật Để Đời - Nguyễn Nhuận Hồng Phương

Phần I - Chương 8: Tiểu Thuyết - Bảo Vật Để Đời - Nguyễn Nhuận Hồng Phương
 
Chỉnh sửa cuối:
279 ❤︎ Bài viết: 827 Tìm chủ đề

Phần I - Chương 1​


20260910-112804-6d9ab42764.png

Lúc ấy Mai Thảo đứng trong khuôn viên Trường Cao đẳng Mỹ thuật, dưới tán cây phượng vĩ, gần cụm tượng 3 con ngựa phiên bản từ bức tranh "Tam mã" của danh hoạ Từ Bi Hồng. Ngay từ khi vào trường học, Mai Thảo đã rất mê cụm tượng này. Thường lúc rảnh, nàng dành ít phút đứng dưới gốc phượng vĩ ngắm nghía sau đó mới rời đi. Để độc giả hiểu rõ hơn, tác giả nên chua thêm mấy dòng về lịch sử ngôi trường này, và giải thích vì sao tác phẩm mang đậm bản sắc của quốc gia đông dân cư nhất thế giới lại nằm cạnh những kiệt tác nghệ thuật Tây - Âu trong khuôn viên của ngôi trường người Pháp xây dựng từ đầu thế kỷ 20:

Đó là vào thời giữa Ta và Tàu còn "Núi liền núi, sông liền sông..". Nay tuy vẫn "Núi liền núi, sông liền sông.." nhưng không còn "Chung một biển Đông" nữa, nên lập trường tư tưởng và quan điểm đã khác. May thay, từ lâu các nghệ sĩ trên thế giới đều cùng nhau thống nhất: Tất thảy các loại hình văn hoá nghệ thuật nói chung, trong đó có ngành hội hoạ không có biên giới. Mà đã không phân biên định thì ắt không nhuốm màu chính trị. Giới Văn - Nghệ sĩ thế giới quan niệm nghệ thuật mang đặc thù văn hoá có tiếng nói riêng và được liệt vào di sản chung của nhân loại. Bởi vậy, khi thế giới tổ chức Lễ tôn vinh hai hoạ phẩm của Danh họa Từ Bi Hồng đạt tỉ giá cực khủng: Hoạ phẩm "Người nô lệ và sư tử" 6, 9 triệu USD; và bức hoạ: "Hãy bỏ roi xuống" với giá 72 triệu HKD. Nhân dịp đó, các hoạ sĩ là giảng viên ở Trường Cao đẳng Mỹ thuật hưởng ứng, quyết định lấy nguyên mẫu bức tranh "Tam mã" của danh hoạ phiên bản thành cụm phù điêu đặt trong khuôn viên trường làm điểm nhấn tôn vinh.

Và bữa nay, như có duyên, đúng lúc Mai Thảo đem sách trả thư viện, thì hắn cũng có việc đến trường. Vì đang trong kỳ sinh viên nghỉ hè nên hắn cứ thế phóng thẳng xe vào. Giảm thanh ống pô của chiếc xe Minsk 125cc bị vỡ, tiếng nổ tằng tằng như pháo liên thanh, phá rách bầu không khí tĩnh lặng. Khi xe đến giữa sân chợt nhìn thấy Mai Thảo, hắn giảm ga, đỗ lại, xuống xe, tắt máy, khoác túi lên vai lững thững đi vào.

Nghe tiếng guốc lê loẹt quẹt trên nền gạch, Mai Thảo ngẩng lên nhìn: Trong trang phục bà ba màu nâu sồng, đầu trọc lốc, vai đeo túi nải, chân đi guốc mộc, trông hắn như một nhà sư đi khất thực. Đôi lông mày của Mai Thảo nhíu lại vẻ ngạc nhiên. Với nàng, cảnh tượng này không lạ, vì hàng ngày trên đường phố Thủ đô, nàng từng gặp nhiều sư sãi, thầy chùa cưỡi xe máy, thậm chí còn lái cả ô tô đi khất thực hoặc làm thiện nguyện. Nhưng lạ vì thời điểm này đang kỳ nghỉ hè, trường vắng như chùa Bà Đanh có ai mà vào. Nghĩ vậy rồi nàng kệ, trở về với niềm say mê của mình.

Như đoán được sự nhầm lẫn của thiếu nữ, hắn nhếch mép cười, cố tình gõ nhịp guốc to hơn, và cảm thấy thích thú với bộ giả trang của mình. Bỗng nhiên như phát hiện ra điều gì đó, hắn dừng lại nghiêng đầu chăm chú nhìn: Từ góc độ này, dưới nắng thu, mái tóc thiếu nữ ánh lên những đốm sáng, hoa nắng lấp lánh xuyên qua viền mi hình cung. Trên cao, lá phượng vĩ ngả màu, những quả non lượn cong như những chiếc lược màu xanh. Vài phiến lá lác đác rơi, lúc lắc, lúc lắc, nhẹ nhàng đậu trên mái tóc hoe vàng. Vô tình, nàng đưa tay vuốt vuốt, những ngón tay thon dài, trắng muốt, mịn màng như những thỏi hồng ngọc được chau chuốt cầu kỳ. Đột nhiên, tự thân xác, hệ thần kinh giao cảm của hắn phát ra một luồng sinh khí chạy dọc sống lưng, lan truyền, tác động làm cho tôi cũng bất ngờ bừng tỉnh theo hắn.

Tôi biết tâm thần hắn nhập định: Giữa cụm tượng "Tam mã", thân hình thiếu nữ nhập nhoà tạo ra nét chấm phá đan xen lẫn phần thú và phần người. Sự cách điệu hình tượng tự nhiên cấu thành hoạ tiết tương phản xuất hứng, khiến tay hắn quay quay như múa và cái đầu có vết sẹo hình con sên trắng nhởn ngọ nguậy không ngừng.. Nhưng rồi kinh nghiệm mỗi khi rung cảm trước vẻ đẹp của hình tượng, hắn nén kìm cảm xúc. Từ hệ giao cảm ảo ảnh chuyển sang thế chiêm sát thực thể, hắn bước tới thêm chút, nhướn cặp mắt ti hí lên, với cái nhìn xuất thần của một hoạ sĩ phát hiện ra kết cấu của một hoạ phẩm tương lai..

Cảm giác hắn nhìn mình, Mai Thảo quay lại bắt gặp đôi mắt hình phiến lá đào, từ trong tinh mắt man dại, lơ mơ tựa như mắt chó bị ngạt khói. Cái đầu trọc lốc, bóng lộng hằn vết sẹo hình con sên trắng nhởn như sống động trông rõ tởm.. Trán nàng khẽ nhíu lại khiến đôi lông mày uốn cong như nhành liễu táp gió. Trong khoảnh khắc, mặt nàng sẫm tối, khó chịu. Nàng ngoảy người, tấm áo hoa cụng quậy, vết hằn eo thắt nơi bờ hông chuyển động, khuôn mặt nghiêng, bờ môi mím, sống mũi vẽ lên một đường khum ương ngạnh.

Mặc! Không để ý đến phản ứng của thiếu nữ, hắn tập trung tinh lực vào khối hình và tưởng tượng để tìm ra khoảnh khắc.. Rồi đột nhiên như bừng thức, hắn bước nhanh đến chiếc ghế đá cách đây một quãng, ngồi xuống, mở túi nải lấy cây bút chì và tệp giấy trải lên đó, loay hoay chọn góc, đôi mắt đảo hoạt, lanh lợi, ngẩng lên, cúi xuống, hết nhìn xuống tấm giấy màu ngà rồi lại ngẩng lên chiêm sát hình tượng, cứ thế vài ba lần rồi bất ngờ vung bút..

Thú thực, tôi không thích công việc này của hắn. Có thể đó là sự ghen tài, lòng đố kỵ, nhỏ nhen, tính ích kỷ, tầm thường của loài mang tế bào sống có cảm xúc tư duy. Tuy biết vậy là xấu xa, ngầm ngã ý thức phản bội nhưng tôi không sửa được, như một điều khẳng định: Tôi và hắn đồng hành, đồng tính, thậm chí đồng loã nhưng chưa bao giờ là đồng chí.

Hắn biết vẽ từ hồi sáu tuổi. Mặc dù xuất phát điểm không phải con nhà nòi, nhưng nhiều người xem những bức vẽ và đồ vật nặn bằng đất sét, khen, bảo hắn có năng khiếu do trời phú. Còn ai biết chuyện đã xảy ra với hắn, lại cho đó là sự tác động đột biến, thể như những kẻ sau khi bị sét đánh hoặc điện giật không chết, bỗng nhiên trở thành Nhà ngoại cảm hay Phù thuỷ có công năng đặc biệt, nhìn thấu đất, xuyên trời, tâm sự được với các hồn ma, điều khiển cả âm binh tìm ra người đã chết cách đây vài chục năm, thậm chí hàng trăm, hàng ngàn năm (). Giải thích thế nào về chuyện này, may ra chỉ có trời biết, đất biết, còn loài người có chăng dăm nhà khoa học hoặc vài ông thầy tướng hiểu. Riêng tôi, những chuyện này rất mù mờ.

Nhưng có điều này tôi và nhiều người thừa nhận: Tài năng hội họa biến hắn thành kẻ vừa điên khùng vừa thông thái, nghĩa là năm mươi, năm mươi. Nếu hội họa cho hắn nâng tầm nhìn góc cạnh, thần thái qua thời gian bằng cảm nhận cuộc sống, phản ánh sự tồn tại của con người, của thiên nhiên thì đi một nhẽ. Đằng này, khi đam mê, hắn tôn vinh nghệ thuật bằng mọi giá. Mỗi khi hắn vẽ, tất cả dường như câm lặng, chỉ nghe tiếng sột soạt của ngọn cọ lướt trên mặt toan. Lúc ấy hắn không còn là hắn nữa, sự chủ định của tâm hồn lạc vào thế giới khác, một thế giới không của người đời, không chút dung tục. Mọi ý tưởng toát ra tác động từ ngọn cọ hắt lên những đường nét tưởng như vô thức nhưng hàm chứa nội dung chủ đạo trong nỗi niềm đam mê khao khát..

Nghệ thuật trong tâm tưởng của hắn hoá thành những mảng màu đậm, nhạt, biểu đạt hình thái loang lổ như tấm giẻ rách lấm màu. Thiên nhiên trong bức họa của hắn dường như không có mùa rõ rệt, con người và mọi sinh vật trong tranh của hắn đôi khi không định tính, mà trở thành quái thai, dị dạng, mọi hình thù biến đổi..

Tóm lại, với hắn: Mọi vật thể xung quanh dù là vô cơ hay hữu cơ đều mang dáng dấp của nghệ thuật, và trách nhiệm của hắn là tương tác thổi hồn vào đó làm cho nó thức dậy, sống động.. Để ai ai khi chiêm ngưỡng tác phẩm không cần giải thích, mà vẫn cảm giác hình như có một chút mình ở trong đó. Và đó chính là nghệ thuật cao siêu và đích thực. Rồi từ cái lý thuyết không ghi trong sách giáo khoa ấy, hắn vẽ ra những bức tranh hay tạo nên những khối hình nhiều khi như đánh đố người xem. Thường khi hoàn thành, hắn đứng ra xa, dành hàng giờ ngắm nghía, tự mãn, tự sướng, tự thưởng cho mình giây phút hưởng lạc, khoái trá, thoả mãn, đôi mắt lim dim, kẻ một đường chỉ tí tẹo, thươn dài, cùng vết sẹo hình con sên trên cái đầu trọc lốc gật gù đắc ý: Thế mới là nghệ thuật!

Chao ôi! Trái với thái độ của hắn, tôi buông tiếng thở dài, khẽ cụng quậy, xị mặt, rụt cổ, lạnh băng, liếc nhìn cái bản mặt vênh váo khó coi của hắn, tỏ ra khinh khi, đấm thèm vào cái nghệ thuật vô lối kia. Dẫu rằng tôi biết, kiểu đấu tranh, phản ứng của tôi chỉ biểu hiện cho tinh thần tiêu cực. Chống thì cứ chống, nhưng biết chắc không ai có thể bắt hắn thôi cái ý tưởng điên rồ ấy được. Vì thứ nghệ thuật hắn cho là siêu đẳng kia đã ngấm vào xương tuỷ của hắn rồi. Còn tôi, ngoài lý do mệt mỏi vì phải chạy theo tham vọng của hắn, còn một lý do khiến tôi ân hận, chút ân hận khi nhớ về thuở ban đầu, lúc mẹ hắn vào cữ sinh nở, bố hắn mời thầy tướng đến nhà gieo quẻ, bốc lá số tử vi. Gã thầy tướng phán hắn chỉ thọ được đến thời khắc "49 chưa qua 53 đã đến". Trời ạ, giá như tôi biết chỉ đồng hành được với hắn năm mươi năm trên đời thì tôi đi với hắn làm gì. Nhưng tất cả đã an bài, từ khi hắn là người, tôi không tách nổi ra khỏi hắn, thể như tấm thẻ bài thiên định buộc tôi lệ thuộc vào hắn nhiều hơn là nghĩa vụ của hắn đối với tôi. Nói cho gọn nghĩa: Đấng hoá công bắt tôi phải làm cái gậy trong tay hắn.

Thêm một điều khó chịu nữa, đó là những người ngắm nghía những gì của hắn vẽ ra. Chả biết họ có hiểu mô tê, răng rứa gì không, mà toàn thấy xuýt xoa, vào hùa, khen, bình, rặt những câu có cánh, thổi phồng hắn bằng những lời hoa mỹ. Tôi thì cho rằng bọn họ nịnh hở vì hắn là con một "Ông Tướng" theo đúng nghĩa đen. Còn hắn lại không nghĩ vậy. Ngụp lặn trong tiếng khen, từ lòng trắng mắt hắn toát ra một làn khói lơ mơ, hai viền mi rung rung sung sướng trông phát tởm lên được. Mà đã xong đâu, trong lúc ngụp lặn trong lời khen, hắn còn tự phụ, kênh kiệu, lầm tưởng cho rằng: Tay cọ của mình không ngang tầm với Mi - ken - lăng - giơ hay Lê - ô - na - đơ - vanh - xi thì cũng chẳng thua kém gì Pi - cat - xô. Thêm một thói đáng ghét của hắn nữa, là hắn không cần biết đến các họa sĩ nước nhà. Mỗi khi phải xem tranh của Tô Ngọc Vân hay bàn về tranh của vị họa sĩ mang biệt danh "Phái Phố". .. hắn bĩu môi, xì hơi mũi không ra chê và cũng không ra khen.

Thế đấy, tự mãn, vênh váo vậy, nhưng con đường hắn chọn vẫn là con đường chung của giới nghệ thuật, nên hắn vẫn cần đến công chúng. Không có công chúng những bức tranh của hắn chỉ là đồ vứt đi. Hắn chán bán tranh vỉa hè rồi, vì tranh vỉa hè cho hắn tiền nhưng không cho hắn danh, bây giờ là lúc hắn cần cho thiên hạ biết hắn là ai và tranh của hắn thế nào. Chao ôi, tưởng thế nào, nhưng qua sông vẫn phải lụy đò. Con đò danh vị chở hắn đi vẫn phải xuôi theo chiều nước thuận, nơi bến đỗ vẫn cùng với những kẻ thèm danh, hãnh tiến, nên hắn đành nuốt cái tôi vào bụng để tìm thầy, tìm thợ vãn mối khoa trương.

* * * Linh tính mách có người đang nhìn mình, Mai Thảo quay lại, bắt gặp hắn đang loay hoay vẽ. Vậy ra không phải là sư. Nhưng sao lại ăn mặc như thế nhỉ? Nàng tự hỏi rồi cúi xuống cầm túi xắc lên định bước đi thì hắn giật giọng như ra lệnh: - Đứng im! Mai Thảo ngẩng lên ngơ ngác: Hắn là ai và có quyền gì mà ra lệnh cho mình? Chợt nhận ra sự vô lý, hắn hạ giọng van vỉ: - Làm ơn đi em, cho anh vài phút thôi. Câu nói của hắn tách âm vực làm đôi, phần đầu thanh sảng ra lệnh, phần sau trầm đục rên rỉ. Ở nơi kín, tôi ngóc đầu lên nhìn, và biết hắn đang "thăng". Thường là vậy, những người đến làm mẫu vẽ không lạ gì thái độ lúc giật cục, lúc lả mềm, dặt dẹo như nhành liễu rỡn đùa trong làn gió thu bên ven hồ Trúc Bạch của hắn.

Người mẫu bất đắc dĩ không nghe, bước đi. Hắn nhảy bổ tới, chộp vai nàng giữ lại: - Thế.. Thế.. Thế.. Em cứ đứng nguyên như thế.. - Hắn giằng cuốn sách nàng đang cầm bỏ xuống bãi cỏ - Em đừng cầm sách, trông quê lắm.. Thế.. Thế.. Em co khuỷu tay lại.. Đứng dịch vào con ngựa ô và nghiêng hông sang bên này một chút.. Cứ vậy, hắn nói rồi chỉnh, sửa, mơn trớn xoay nàng như con Ma - nơ - canh ở tủ quầy bán quần áo. Mai Thảo rợn rợn khi bàn tay hắn cứ lướt đi lướt lại, qua làn vải mỏng thấm vào làn da thứ cảm giác là lạ.. Nàng phản ứng, nhưng chợt nhận thấy khuôn mặt hắn bệch bạc, ma dị, khiến chân tay nàng bủn rủn, rã rời. Từ nơi hắn phả ra luồng khí rát lạnh, ám muội, mê hoặc không cho nàng cưỡng lại. Nàng làm theo như máy, chấp nhận, thỏa hiệp dường như vô thức, vượt quá tính kiêu kỳ, ngạo mạn thường thấy ở nàng.

Chỉnh trang xong, hắn đi giật lùi, hai cánh tay giơ lên xua xua ra hiệu cho nàng đứng yên, đừng di chuyển. Cứ vậy, rồi khi lùi tới giá vẽ, hắn nâng bản nháp lên ngang tầm chăm chú nhìn rồi đột ngột đặt tờ giấy về chỗ cũ, cầm bút liên tiếp phảy.. Lát sau, hắn đặt bút xuống, đưa cẳng tay lên gạt những giọt mồ hôi rịn trên trán, buông tiếng thở phào như trút xong gánh nặng, lùi lại phía sau, đôi mắt chó khói lim rim phủ kín bức ký họa, cái đầu trọc gật gù từng nhịp làm cho vết sẹo hình con sên trên đầu nhảy múa như một vũ công.. Bỗng tiếng điện thoại reo, hắn cau mặt, lật bao da rút máy ra nhìn rồi đưa lên tai, nói luôn: - Thầy đấy hả.. Tới lâu rồi.. Đang ở sân trường.. Bị học trò của thầy bắt cóc.. - Cùng với đối thoại, hắn ranh mãnh liếc nhìn Mai Thảo - Nếu không bận việc, mời thầy xuống đây với tôi.. Ờ.. Ờ.. Ờ.. Vậy thì tốt, thầy xuống đi, tôi đợi..

A.. - Thoáng ý nghĩ trong đầu Mai Thảo - Thì ra anh ta có người quen ở trường. Nàng vặn vẹo người, cảm xúc ương ngạnh trở lại, cái cằm thon xinh xắn hất ngược: - Xong chưa đấy? Tiếng Mai Thảo ngân nga. Hắn nhét điện thoại vào bao, đáp: - Đã xong! - Hắn gật đầu, rồi theo thói quen cố hữu, hắn bước nhanh về phía nàng, móc túi hậu, xỉa ra một tờ tiền - Cảm ơn. Công của em đây! Mai Thảo nhìn hắn ngơ ngác: - Gì thế này? Hắn dúi vào tay nàng: - Đừng chê! Tôi trả cho em thế này là bằng tiền công cho người mẫu nửa ngày rồi đấy. Mai Thảo rụt tay lại, lắc đầu, đôi mắt mở rộng: - Nhưng.. Tại sao chứ? Hắn tránh cái nhìn của nàng: - Xin lỗi em. Tôi chẳng muốn lấy không của ai cái gì cả. Mai Thảo chợt hiểu, hắn coi mình như người mẫu. Lòng tự ái dâng trào, cảm giác bị xúc phạm, nàng hất hàm: - Anh coi tôi rẻ thế sao? Tưởng nàng chê ít, hắn ngượng nghịu vò tay, tiếng tiền giấy sột soạt, giọng hắn đầy chất thanh minh: - Có dăm phút thôi mà em. Tiếng nàng xẵng đanh: - Sòng phẳng nhỉ! Đây không cần! Nói rồi nàng bước đến giá vẽ, đưa tay cầm bức ký họa lên định xé. Chợt một làn gió vô tình thoảng qua cuốn tờ giấy vuột khỏi, khiến bàn tay nàng hẫng hụt. Nàng đưa mắt nhìn theo tờ giấy lượn lờ trong gió nhẹ nhàng đáp xuống thảm cỏ. Bối rối, nàng phân vân chưa biết làm sao, thì hắn bước tới, nhón tờ giấy lên, cong ngón tay khẽ búng chút bụi vương rồi đưa lại cho nàng: - Đây mới là phác thảo thôi mà em..

Lời thầm thì của hắn làm lòng nàng dịu lại. Nàng đón bức vẽ, mắt lướt nhẹ, chùm hoa nắng xuyên qua vòm lá trải lên mặt giấy rung rinh. Những nét vẽ uốn éo, sơ sài, loằng ngoằng, thể như nét vẽ của những đứa trẻ nghịch ngợm mới tập, nhưng lại rất có hồn. Ấy là ý nghĩ cảm nhận đầu tiên của nàng: - Bao giờ thì hoàn chỉnh? Nàng trả lại tờ giấy cho hắn, buông câu hỏi trống không. Hắn đáp: - Tuỳ thuộc vào cảm hứng. Mà cảm hứng thì còn phải chờ mà em. Nghe hắn nói, Mai Thảo bỗng cảnh giác. Chờ đợi gì nhỉ? - Nàng thầm hỏi, khoé môi nhếch lên hoài nghi - Lại cái trò tán tỉnh nhạt thếch. Nghĩ vậy nàng cúi xuống cầm cuốn sách lên quay gót bước đi. Chợt nàng dừng lại. Từ trong sảnh văn phòng ông họa sĩ già chuyên giảng về môn " Các trường phái hội họa" đi ra. Vậy hắn là người quen của thầy. Một sự trùng hợp ngẫu nhiên, vì nàng cũng mang tài liệu đến trả cho thầy. Nàng cất tiếng chào, ông họa sĩ già gật đầu, dặn: - Em đợi tôi tiếp anh chàng hoạ sĩ kia một lát nhé. Nói rồi ông đi tới chỗ hắn, cầm tờ giấy lên xem, nheo mắt nhìn rồi lại liếc về phía cô học trò, lẩm bẩm: - Ra là vậy! Hắn gấp giá vẽ lại: - Biết sao được, tại sắc đẹp học trò của thầy mê hoặc tôi đấy. Ông họa sĩ già trả lại cho hắn bức kí hoạ, nhún vai: - Cũng đáng vẽ đấy chứ. Hắn nhìn ông hoạ sĩ già, nháy mắt, nhếch mép: - Đáng thì đáng rồi, nhưng mới được phần xác, còn thiếu phần hồn. Ông họa sĩ già cười lớn còn hắn mặt lạnh băng. Mai Thảo đoán họ đang nói về mình, nàng bước đến khuất sau gốc phượng vĩ, vẻ lơ đi không để ý, nhưng thực tình nàng dỏng tai lắng nghe:

Có tiếng loạt xoạt của giấy rồi giọng hắn: - Đây là tất cả những thứ thầy cần, trong đó có cả lời đáp từ của tôi, thầy xem lại, sửa câu nào cứ sửa.

Họa sĩ già: - Ô kê! Chuyện nhỏ như con thỏ. Còn gần nửa tháng nữa cơ mà.

Hắn: - À này, thầy nhớ chuẩn bị bài "đít cua" cho mượt đấy!

Họa sĩ già: - Ngoài cánh báo chí, còn toàn là người trong giới, dăm câu, ba điều, gì phải chuẩn bị.

Hắn: - Đấy là việc của thầy, còn hôm ấy, thầy nhớ đến sớm nửa giờ để thống nhất chương trình.

Họa sĩ già: - Thế cậu định quỵt tôi bữa điểm tâm và tách cà phê khai ngôn ở quán 3 số 7 hay sao?

Hắn: - Để lúc khác, hôm ấy bận túi bụi, tiếp bao nhiêu khách, hầu thầy sao được.

- Nói vui thôi - Ông hoạ sĩ già cười, hở ra những chiếc răng màu sữa và bờ lợi đỏ au - Tôi mong buổi trưng bày suôn sẻ, khách đến tham quan đông, được báo chí kỳ vọng, giới hội hoạ đánh giá cao, và cầu mong bán được tranh.. - Ông hoạ sĩ già ngần ngừ không nói hết câu.

Có một khoảng im lặng rồi tiếng hắn: - Ý thầy nhắc khéo đến món tiền nợ chứ gì?

- Quả có thế thật - Ông hoạ sĩ già công nhận - Tôi đang cần tiền. Dưới quê có việc..

- An tâm đi! - Hắn ngang lời ông rồi nhấc ba lô lên vai, kết thúc cuộc nói chuyện - Thầy cứ nhiệt tình lo cho tôi xong vụ này đi rồi tính. Thôi, bai nghe! Hắn chào, không bắt tay, cứ vậy đi thẳng ra nơi để xe máy. Cái dáng lênh khênh, gầy oặt, vết sẹo hình con sên màu bạch tạng biến thành con bướm trắng lơ lửng trên khoang đầu trọc lốc lấp loáng, nhấp nhô bay lượn dưới ánh mặt trời.

Ông họa sĩ già đi tới chỗ Mai Thảo: - Em đưa sách thầy cầm đây cho. Mai Thảo đưa sách cho ông: - Thưa thầy, em mạn phép phô tô thêm một bản rồi ạ. Ông họa sĩ già cầm cuốn sách, nói: - Không sao, sách là tài sản chung của nhân loại. Em có mượn cuốn nào nữa không, thầy mở cửa thư viện cho? Mai Thảo đáp: - Em cảm ơn thầy. Xin phép thầy để lúc khác em sẽ tới ạ - Rồi nàng ngập ngừng hỏi - Thưa thầy.. Người lúc nãy là thế nào với thầy ạ? Ông họa sĩ già gõ nhẹ cuốn sách vào lòng bàn tay: - Cậu ta là bạn vong niên, bạn cùng nghề. Mai Thảo nhướng mắt: - Anh ấy tốt nghiệp khóa nào hả thầy? Ông họa sĩ già lắc đầu: - Không, cậu ta tự vẽ mà thành, ngay cả danh hiệu họa sĩ cũng do mọi người phong cho - Thấy Mai Thảo ngơ ngác chưa hiểu, ông họa sĩ già nói tiếp - Có phải ai học ở trường ra cũng trở thành họa sĩ đâu. Hàng ngày em cứ ra các công viên hay dạo quanh Hồ Gươm, sẽ thấy rất nhiều người vẽ tranh hay truyền thần và các loại hình nghệ thuật khác. Còn họa sĩ đích thực.. - Ông ngừng lại một chút như tìm từ giải thích cho cô học trò nhỏ rồi tiếp - Họa sĩ và tác phẩm là cả một vấn đề. Em đừng thấy ai hễ cầm cọ vẽ đã là họa sĩ. Có người vẽ cả đời không nổi một bức tranh có hồn - Ông phẩy tay - Mà thôi, muốn hiểu tranh của cậu ta vẽ thế nào, đầu tháng sau phòng trưng bày tranh của anh ta khai mạc, em đến mà xem. Đây là lần đầu tiên cậu ta trình làng những tác phẩm của mình. Mai Thảo hỏi: - Thưa thầy, trưng bày ở đâu ạ? - Ở Tràng Tiền, ngay địa điểm ngày trước triển lãm tranh của sinh viên ở trường ta đấy - Ông họa sĩ già đáp rồi nói thêm - Tranh của cậu ta vẽ khá ấn tượng. Hơn nữa, có một cái gì đấy ngoài trí tưởng, mang phong cách vừa cổ điển vừa cách tân. Tầm tư duy trừu tượng vượt qua sắc thái của một số họa sĩ trong nước. Nhưng thôi, tả không bằng thực, để em đến xem thực tế sẽ rõ. Biết đâu em có thể học hỏi được một điều gì đấy.

Chia tay ông họa sĩ già, Mai Thảo vào nhà gửi xe dắt xe ra nổ máy đi. Tuy vậy, suốt dọc đường về trong đầu nàng vẫn lảng vảng nghĩ tới những lời thầy giáo nói. Thầy vốn là người rất nghiêm khắc, kiệm lời khen, nhưng tranh của họa sĩ kia phải thế nào thì thầy mới đánh giá thế chứ. Lúc lên xe đi nàng chợt nhớ mình quên hỏi tên anh ta. Nhưng hỏi để làm gì nhỉ? Nàng bật cười tự nhạo, nhưng rồi không hiểu sao hình ảnh đôi mắt thươn dài có ánh mắt chứa đầy ám khí mê muội và cái đầu trọc lốc, nhẵn bóng có vết sẹo hình con sên nhảy múa cứ hiện lên rõ mồn một, ám ảnh tâm trí nàng..

Phần I - Chương 2: Tiểu Thuyết - Bảo Vật Để Đời - Nguyễn Nhuận Hồng Phương
 
Chỉnh sửa cuối:
279 ❤︎ Bài viết: 827 Tìm chủ đề

Phần I - Chương 2​


20260910-144021-cbdb0ee704.png

Người đàn bà giúp việc tên Nỡm từ trong nhà đi ra, chị ta chừng bốn mươi tuổi, dáng dấp kiểu nhà quê, quần đen, ống đũng, áo cánh xẻ tà màu gụ, mặt tròn, mắt lá răm, tóc búi, da chì, mỗi khi gặp ai cúi đầu xuống, lí nhí chào, giấu đi cái nhìn then lén như sợ bị người ta khinh bỉ. Mỗi lúc như vậy, bờ vai cong, nhô cao khiến cái cổ rụt lại trông vẻ kham nhẫn, thấp hèn.. Như đã quen việc, Nỡm dắt con chó nhỏ buộc về cuối vườn, rồi ra mở hộp điện, đóng cầu dao cho máy chạy. Tiếng máy rì rì, nước hút lên đổ vào ống cọn làm vòng guồng quay, rồi từ trong ống nước rót xuống thành từng lớp, lấp loáng như dòng bạc nung chảy đổ vào khuôn, thanh âm vọng vào cánh rừng thưa à à xen lẫn tiếng chày giã gạo khắc khoải, u hoài.. Đợi cho máy móc hoạt động trơn tru, Nỡm vào nhà cầm chiếc siêu đồng ra múc nước mưa đựng trong vò sành đặt dưới gốc cây cau, đem ra chỗ hắn ngồi, bắc lên chiếc lò đun bằng thứ than củi đượm lửa, lâu tàn. Đợi than bén, chị ta lùi lũi đi vào.

Hắn ngồi trầm tư, đưa mắt ngắm nhìn khu rừng tự tạo bao quanh ngôi nhà sàn của đồng bào dân tộc Mường. Kế đó là dãy núi được xếp bằng những cồ đá nhiều hình thù. Trong vách đá có hườm ngầm, nguồn nước được hút lên từ chiếc giếng khoan sâu dưới lòng đất, đổ vào bể chứa, tràn qua bờ đập rót vào cánh cọn guồng nước, và máng chày giã gạo, những công cụ sử dụng bằng sức nước của đồng bào vùng cao mà hắn đã cất công tìm mua bằng được. Ngay sát bờ kè đá trồng các loài cây thân gỗ.. Mặt nền đất rêu phong ẩm ướt, phía sau nhà rặng tre nứa mọc ken nhau vươn cao, ngọn lá phất phơ phủ lên mái nhà lợp cỏ gianh. Dọc theo khe suối, dưới tầng lá thấp, từng bụi song, mây quấn nhau như rắn làm tình. Rải rác quanh lối mòn những cụm hoa sim, hoa mua, rau dớn, dương xỉ, rau tàu bay, búi lá dong.. Mọc chen với những khóm chuối rừng cao ngổng, xanh ngát tôn màu đỏ rực của những bông hoa, khiến ta liên tưởng tới một góc rừng vùng Tây Bắc..

Nước sôi, hắn tráng ấm, nhúp vài đọt chè thả vào, chế nước rồi buông bộ mông teo tóp cùng với thân hình cao nhẳng lên chiếc ghế làm từ một gốc cây gỗ lũa, khá to, màu xám sừng, có nhiều khuông vẹt, sẹo lõm theo thớ và những hốc thủng do nước xói, xuyên qua tạo ra hình dáng tự nhiên. Phần gỗ cao nhất, cong, vòng, uốn ngả thành ngai tựa, tay ghế có một bên, còn bên kia được đẽo gọt tạo thành bàn trà, phần hõm gốc cây, nơi đặt bộ độc ẩm có tay cầm và một chiếc chén mắt trâu bằng đất nung. Đây là cõi riêng của hắn ngồi suy tư vào buổi chiều, sau những cơn "thăng" vì hội họa. Mưa như nắng, hắn không bao giờ bỏ thói quen ấy. Nắng đã có bóng cây, còn mưa có ô che cán làm bằng cây song, tán lợp lá cọ.

Nhìn bộ dạng khệnh khạng, chậm dề dề kiểu phớt Ăng - lê của hắn, tôi khó chịu. Cái tính khí kỳ quặc và lối cảm nhận, tư duy rởm mỗi khi thưởng thức vị trà thông qua màn độc ẩm của hắn khiến tôi phát nôn. Nhưng kệ! Hắn không để ý, mặc cho thời gian trôi, vừa nhấm nháp vị trà vừa thả cho hồn phiêu dạt. Những lúc đó đôi mắt hắn như nhỏ và kéo dài hơn, cảm tưởng hắn đang tập trung tinh lực nhìn vào điểm sáng nào đó trong góc rừng ám tối để tìm thấy nguồn năng lực tự thân.

Quá khứ là một cái gì đấy không thể thiếu, và hắn là kẻ không dễ quên. Dư vị ngọt ngào, cay đắng, niềm tự hào vui sướng, nỗi tủi hổ, sự khinh mạn bất chấp trôi theo ký ức rơi rớt lại: Thuở ấu thơ, trong căn nhà nơi hắn cất tiếng chào đời của các đấng sinh thành hiện lên trong tiềm thức, ném vào vùng hoài niệm hoà lẫn trong vị chát, đắng, thoảng thơm qua hương trà và màn tối của bóng chiều chạng vạng..

* * * Thuở bé, gia đình hắn ở ngoại ô có một khu vườn rộng. Với hắn, khu vườn ấy là cả một thế giới kỳ bí. Ba mặt hàng rào trồng cây duối dại, biên cách cuối cùng với hàng xóm là cái ao nhỏ. Bố kể: Cái ao ngày xưa ông nội đào để thả cá, nhưng kỳ thực, lý do chính ông nội dùng nơi đó để giấu những người trong hội kín. Hồi Kháng chiến 9 năm, cái ao ấy có hầm bí mật và con đường địa đạo ngầm xuyên lòng đất, một ngách dẫn vào nội thành, một ngách dẫn ra vùng ngoại ô..

Nghe chuyện, hắn nửa tin nửa ngờ, vì khi hắn nhận thức được, thì căn hầm bí mật và lối địa đạo ấy đã bị thời gian tàn phá làm nhoà dấu tích. Thành phố mở rộng, ngoại ô biến thành nội đô. Căn nhà cũ nay được xây mới và khu vườn cổ tích xưa chỉ còn lại một vài cây ăn trái lâu niên, trong đó có cây ổi đào cho quả bốn mùa là hắn nhớ nhất. Nhưng qua lời mẹ kể, trong bộ óc non nớt của hắn đầy ắp sự tưởng tượng về hành động phiêu lưu, mạo hiểm, thần bí, mưu lược, đầy phép thuật, biến hoá khôn lường của những người cùng thời với ông nội. Hắn nhớ lúc ông nội còn sống, động tí là đem thời đang hoạt động bí mật ra kể, hắn nghe đến nỗi chán vãi, và nhàm nhạt như cô giáo nói về loài trâu chuyên nhai lại thức ăn. Còn với bố, một sĩ quan an ninh, học tập, trưởng thành trong thời chống Mỹ cứu nước, sau đó là cuộc chiến Tây Nam tiêu diệt bọn diệt chủng Pôn Pốt, rồi cuộc đụng độ biên giới phía Bắc, không chỉ coi những sự kiện ấy là dấu ấn lưu tích, ghi nhớ công lao, truyền thống, niềm tự hào vẻ vang huyền thoại của dòng họ, để mỗi khi vào ngày lễ; ngày kỷ niệm lịch sử cách mạng mang ra ôn lại, thể như sắp đến tết Nguyên đán người ta đem đồ cổ ra lau, rửa, đánh bóng lại. Mà với bố đó còn là chỗ tựa vững chãi cho con đường thăng tiến, tạo đà tiến tới của bậc thang danh vọng..

Thường ngày, hắn leo lên cây ổi tìm quả ăn. Hắn thích những quả chim ăn dở nên phải leo cao. Mẹ sợ con trai ngã, lo lắng, bố hắn lại đồng tình: - Con trai phải biết trèo cây tự hái quả mà ăn. Mẹ cãi: - Các cụ dạy rồi: "Có phúc đẻ con biết lội, có tội đẻ con biết trèo". Anh là chúa chiều con. Bố cự lại: - Các cụ xưa lạc hậu, cổ hủ. Con trai thời loạn, có rèn luyện, xông pha mới đúc chí anh hùng, cứ như cô thì.. Bố chưa nói hết câu, mẹ nguýt: - Ba đời nhà anh độc đinh, đến đời anh chắc định để tiệt giống? Bị nói trúng điểm yếu, bố tịt ngắc, nhưng từ đấy mẹ cũng không cấm hắn leo trèo nữa.

Lên sáu tuổi, hắn thuộc từng cái sẹo, từng nhành non vừa nhú trên các cây trồng trong vườn. Một lần phát hiện trên ngọn cây ổi có tổ chim nằm ở chạc ba cao chót vót trên cùng. Hắn trèo lên, mê mải ngắm những sợi tơ quấn ổ có những chiếc lông mềm mại được đan, kết thật khéo léo. Ổ chim đẹp và lạ như một tạo vật kì diệu làm hắn mê mẩn. Trong ổ có hai quả trứng nhỏ nhắn, xinh xinh màu xanh ngọc, lấm tấm điểm xuyết những hạt màu nâu. Hắn cầm trên tay mân mê rồi để lại, trong óc nảy ra ý định rình, chờ khi nào trứng nở thành con sẽ bắt mang về nuôi..

Chợt có tiếng cười đùa lao xao từ bên nhà hàng xóm vọng sang. Bên ấy là tòa biệt thự của một gia đình viên chức cấp cao. Xung quanh kín cổng cao tường. Gọi là hàng xóm láng giềng, nhưng hắn chưa bao giờ nhìn thấy mặt chủ nhân. Cứ theo bố nói, thì toà biệt thự ấy trước kia là của một vị công sứ Pháp, sau 1954 chạy vào Nam, vợ chồng người viên chức kia được nhà nước phân cho.

Giữa khuôn viên tươi mát, bên những hàng cây trắc bách diệp và những chậu hoa cảnh đặt trong khu vườn xinh xắn. Dưới hồ sen hình bán nguyệt, có hai cô bé trạc tuổi mười lăm, mười sáu đang tắm. Cả hai buông tuồng, tự do đùa rỡn. Không biết vì tính tò mò hay vì bản năng sớm phát, hắn quên phắt tổ chim có những đường dệt đầy ma mị, quên cả cặp trứng nhỏ xinh điểm những nốt khảm kỳ lạ. Hắn lén nhìn xung quanh xem có ai không rồi nằm ép bụng trên chạc ba cây ổi, căng mắt nhìn sang: Nước hồ trong vắt, hai cô bé vùng vẫy bơi như cá, thi thoảng lật ngửa lượn lờ, thân thể mềm mại lấp ló, bọt sóng tung tăng, vệt áo màu hằn căng, núng nính cặp đùi mịn màng, trắng hồng lúc chìm, lúc nổi, gây cho hắn cảm giác là lạ..

Tôi lúc đó đang bị ép giữa khoảng tối và chật chội, chợt bị xúc giác của hắn đánh thức. Tôi uể oải cựa, hé mắt qua khe hẹp then lén nhìn ra.. Bỗng nhiên, từ trong nội thể, hệ thần kinh chỉ đạo của hắn, toát ra một ma lực siêu hình, vượt qua bản ngã trẻ thơ, kéo tôi theo từ đồng tình đến đồng loã. Cặp mắt hắn man dại, dài, hẹp như lá hạnh đào không chớp, còn thân hình tôi cưng cửng, nóng hôi hổi, rưng rức như phát sốt..

Trong khi đó, dường như thoả hiệp với sự háo hức của kẻ trèo trên cây, hai thiếu nữ bơi dưới hồ vô tư phô diễn thân thể. Sự vô tư vô tình chắp nối tính hiếu kỳ và niềm khao khát của kẻ tò mò. Hắn bươn ra ép sát người xuống chạc ba cây căng mắt nhìn cho rõ hơn. Hơi nóng từ tôi lúc đó cũng toát ra hầm hập làm cho vỏ cây nổ lách tách. Và, chính những tiếng nổ lách tách ấy nhắc tôi về sự nguy hiểm: Cành ổi giòn, dễ gãy. Cảm giác hiểm nguy, nhiệt lượng trong tôi giảm đáng kể, tôi oằn oại, càu nhàu, cưỡng lại chất xúc tác phát sinh dồn dập trong hệ thần kinh giao cảm của hắn. Nhưng rên rẩm vô ích, bởi dẫu cùng thể xác, bởi tôi chỉ là phụ thể, mang phần con lệ thuộc vào chất người của hắn nên đành khuất phục. Thậm chí còn đâm đà lao theo sự mẫn cảm, kích ứng, mê đắm, khát thèm của một trong cảm giác tứ khoái được muôn loài trên trái đất phân định mang đặc trưng giống đực..

Dẫu vậy, khi ở trên nhìn xuống, độ cao nhắc hắn đừng phân tâm, vì thân xác đang đu đưa, cheo leo trên ngọn cây. Và dưới kia, bốn đầu cọc tre đỡ những tấm ghi sắt gỉ hoen gỉ hoét làm cầu nhô lên như những cây cọc chống quân xâm lăng cắm trên sông Bạch Đằng trong trận thuỷ chiến kể ở bài học vỡ lòng.. Mặc! Phút thăng hoa đến cùng lực, sự thèm khát khám phá điều mới mẻ xuất hiện trong bản tính động dục khích lệ. Đôi tay hắn giơ lên vơ víu như muốn tìm khoảnh khắc.. Con mắt ham muốn vô độ căng như sợi chỉ, từ tròng con ngươi của hắn phát tiết bung ra luồng tinh chiếu gấp gáp kiếm tìm điểm đến..

Bỗng.. "Rắc.. Rắc.. Rắc..". Chuỗi âm thanh khô khốc vang lên như những nhát cắt. Tôi giật mình, cưỡng lại cơn mê muội và sức nóng giậm giật, muốn gào lên nhắc nhở hắn.. Thì.. Thêm một tiếng "Rắc" nữa khô, gọn, chát ngắc đập vào xúc giác đang thăng của hắn. Rồi, như hậu quả đã định, hắn rơi xuống mang theo tôi từ độ cao choáng ngợp. Không biết lúc đó hắn có ý thức được không? Còn tôi, nhiệt lượng tan loãng, rụt nhũn, nép đầu, lẩn vào phần tối và an toàn nhất để tránh. Sau đó là tiếng kêu thất thanh, tuyệt vọng chìm lịm cùng tiếng kim loại phản hồi khô khốc. Hắn ngất đi vì thương nạn, tôi ngất đi vì khiếp hãi.

Từ trong bếp, mẹ nghe tiếng con kêu, chạy vội ra. Mặt mẹ tái dại, cắt không còn hạt máu. Đầu đứa con trai của mẹ phồng bết, máu loang trên ngực áo, còn linh hồn bứt khỏi thể xác lơ lửng bay trong không trung. Rồi đúng như người xưa nói: Hễ có tử khí ắt tử thần xuất hiện. Từ phía xa, Thần Chết cưỡi mây đen, tay cầm lưỡi hái, nhếch mép cười khinh khi ào tới.. Trong khi đó, dưới kia, trên cầu ao, mẹ hắn cuống quýt ôm xác con trai gào thét. Vài người láng giềng chạy sang. Bà hàng xóm chuyên trồng hoa, đầy kinh nghiệm trường đời, gào to: - Kêu khóc gì nữa, hú hồn, hú vía cho nó còn may ra cứu được. Vậy là mẹ cuống cuồng vừa lay lả xác con vừa kêu gào: - Hú ba hồn, chín vía con ơi về với mẹ..

Từ trên thinh không, linh hồn hắn lửng lơ nhìn về cõi thế, nghe rõ tiếng mẹ kêu nhưng không tài nào nhúc nhắc được. Hắn ngán ngẩm vì đôi cánh thiên thần nhỏ xíu của mình bị giập, tướp máu; hắn gắng gỏi vận dụng chút thần kinh thoi thóp còn lại ngúc ngắc, nhưng cứng nhắc, chỉ thấy từ thân xác những tia máu tuôn trào. Cho thế mới đáng đời! - Tôi rủa thầm khi linh hồn hắn rên rẩm và chợt nhớ đến quẻ tử vi gã thầy tướng gieo, bốc lá số tử vi cho hắn: Thế mà dám phán số mệnh hắn sống đến năm mươi tuổi. Láo! Láo toét hết!

Tôi đang tiếc rẻ phận mình hẩm hiu chết yểu theo hắn, bỗng từ dưới trần gian vọng lên tiếng kêu the thé: - Ối giời ơi là giời! Nó là con trai sao lại hú chín vía? Lại chẳng có hương khói gì thế này. Bà làm thế có bằng tống tiễn thằng bé sớm về âm phủ! Nghe, tôi nhận ra đó là tiếng của mụ bán ngô nướng hàng ngày qua ngõ, và chợt hiểu: Vì sợ hãi, mẹ hắn gào bừa, biến hắn thành giống cái. Nhưng chỉ lát sau, tôi ngửi thấy mùi nhang trầm lẫn trong mùi ngô sém lửa bốc lên, rồi liền đó là tiếng mẹ hắn sửa sai: - Hú ba hồn, bảy vía con trai về với mẹ.. Mẹ hắn réo đúng bảy lần. Và vi diệu làm sao: Sau những lời khẩn cầu, những làn khói mỏng tang tỏa hương thơm dìu dịu, uốn éo, bay lên, quấn quýt bao quanh linh hồn thành một tấm khiên che, đỡ hắn..

Thật lạ kỳ, tựa phép thuật, khói nhang quyện đến đâu, mùi hương thơm thấm đến đó, linh hồn hắn được chải sạch, những vết máu đỏ lòm loãng tan rồi biến mất. Đôi cánh nhỏ thiên thần chuyển từ màu xám sang màu bạch ngọc. Trên cao, ánh dương quang bừng chiếu, đám mây xám tan dần.. Chùm tia sắc bảy màu rực rỡ quét lên linh hồn hắn. Một vạt mây ngũ sắc hình đài sen lướt tới, nhẹ nhàng nâng linh hồn hắn bay lên. Hình như lúc đó còn có cả tiếng nhạc tiễn reo vui và tiếng linh hồn hắn cười khanh khách..

Gã Thần Chết cưỡi trên vạt mây hắc ám, bặm môi tiếc rẻ, giương con mắt xếch ngược hằn học nhìn theo chiếc đài sen mang con mồi xa dần.. Còn tôi tỉnh ngộ, biết mình đã nhầm, cung số định mệnh đời hắn chưa hết. Lá số tử vi mà thầy tướng luận về đời hắn vẫn đúng! Nhưng có điều này thật lạ: Sau cú ngã ấy, tính tình hắn đổi khác, ù lì, ngơ ngơ, ít nói, nhưng bù lại, hắn trở thành đứa trẻ có tài hội hoạ.

Phần I - Chương 3: Tiểu Thuyết - Bảo Vật Để Đời - Nguyễn Nhuận Hồng Phương
 
Chỉnh sửa cuối:
279 ❤︎ Bài viết: 827 Tìm chủ đề

Phần I - Chương 3​


20260910-145502-338c6a0af9.png

* * * - Thưa ông chủ, điện thoại trong phòng reo mấy lần rồi ạ.

Tiếng Nỡm nhàn nhạt khiến hắn bừng tỉnh, thoát ly ký ức, mắt rời khỏi góc rừng, nhấc chén lên hớp nốt những giọt trà cuối cùng rồi đứng dậy đi vào. Trời tối, điện trong ngôi nhà sàn bật sẵn, bên ngoài guồng nước ngừng quay, chày thôi giã, suối ngừng chảy. Con Mực xích ở chân cột thấy chủ đi qua ngoáy đuôi, nhảy cầng cẫng, rên ư ử. Hắn ngồi xuống ve vuốt nó, con chó thè lưỡi liếm vào tay khiến hắn cảm giác nhột nhột.

Thêm một hồi chuông vọng xuống. Hắn vỗ về con chó, đứng dậy bước lên cầu thang. Nỡm dừng lại dưới chân cầu thang, hỏi theo: - Thưa ông, đêm nay.. - Thôi, về đi - Không để cho người đàn bà nói hết câu, hắn đáp trống không, nhưng đến lưng chừng cầu thang, hắn quay lại gọi - Nỡm này. Người đàn bà quay lại, háo hức: - Ông bảo gì ạ? Hắn dặn: - Mai đến sớm, tôi có việc đi vắng cả ngày. Mặt người đàn bà cụp lại không giấu vẻ thất vọng: - Vâng, tôi nhớ rồi - Đáp xong Nỡm dặn - Nghe điện xong ông nhớ ăn cơm kẻo nguội. Làm việc như thế ông dễ ốm mất. Người chứ phải cái máy đâu! - Giọng người đàn bà ái ngại. Hắn không đáp, đi lên, vào đến sàn nhà hắn nghe tiếng cót két, rên rả của xích xe đạp thiếu dầu xa dần, xa dần rồi lịm chìm trong chiều vắng.

Người đàn bà đi rồi, mình hắn trong ngôi nhà rộng thênh. Chút cảm giác trống trải xuất hiện, hắn thầm tiếc đã từ chối Nỡm ở lại. Còn tôi như thoát được gánh nặng, bởi nghĩ, nếu phải ngụp lặn, chung đụng thể xác với Nỡm là một điều bắt buộc và có vẻ như hạ đẳng. Tôi hiểu và hắn cũng vậy, việc chấp nhận lên giường với gái nạ dòng là có lý do. Còn đàn ông, thằng nào chả thích gái trẻ trung, xinh đẹp, và hắn cũng không là ngoại lệ. Vì mỗi lần thuê người làm mẫu vẽ, nhất là đến đoạn thoát y, phơi bày tất tần tật những gì quyến rũ, khêu gợi nhất. Đôi mắt chó khói của hắn rừng rực, hau háu; con tim trong lồng ngực đập dồn dập như trống hội làng cổ suý các đô vật. Còn tôi lâng lâng khao khát.. Tuy thế, bề ngoài hắn vẫn tỏ ra lạnh băng, cao ngạo, nói năng, giao tiếp lịch thiệp, khiến mọi người tưởng hắn là người đầy tư cách đứng đắn, không bị thói bờm xơm hoang dại mua chuộc.. Nhưng đấy là cái nhìn của thiên hạ, còn tôi thì biết tỏng tòng tong cái bụng dạ chứa đầy phân và vì sao hắn lại vậy. Thực tế trong mối quan hệ, vai trò giữa hoạ sĩ với người mẫu có một khoảng cách rất mong manh, tựa như lớp mạng nhện, thể như lớp bèo tấm nổi trên mặt nước, khoả cái là tan, muốn vượt qua không khó. Nhưng để biến một "Người mẫu" thành một "Con đĩ" trong thế giới kim tiền này thì giới hạn lại được đo bằng cung bậc. Mà cung bậc ấy chính là tiền. "Có tiền mua tiên cũng được. Không tiền mua lược chẳng xong.." . Hai câu vè mang hơi hướng cách ngôn ấy vin vào hoàn cảnh của hắn chính xác như một định lý toán học. Vì thế, Nỡm lại là người đàn bà đầu tiên mở cửa cho hắn vào vườn địa đàng ăn trái cấm. Còn tôi, vào hoàn cảnh ấy, tuy khiên cưỡng nhưng phải phục tùng vì háo hức..

Thêm một hồi chuông điện thoại nữa reo dứt hắn ra khỏi luồng suy tư. Hắn vào buồng cầm "con dế" lên nhìn số: Lại là điệp khúc thúc nợ. Đã nói có tiền sẽ trả, ai thèm ăn quỵt đâu mà thúc cứ như thúc tà.. Hắn nghĩ nhưng không nghe, ngao ngán ném trả lại chỗ cũ mặc cho "con dế" run rẩy rên rả những hồi âm cuối rồi im bặt. Bước ra ngoài hắn đi về phòng ăn. Bụng không thấy đói, nhưng nhớ đến nét mặt khẩn cầu và âm điệu dỗ dành của Nỡm nên hắn ngồi xuống, mở lồng bàn. Trong mâm, ngoài đĩa rau muống luộc, một đĩa cá rô đồng rán vàng rộm, mắt cá lộn tròng trắng ởn nhìn hắn như muốn hỏi: Bao giờ thì mi xơi ta? Hắn rót rượu ra chén, nâng lên tợp một ngụm, hơi men lan toả. Rượu của Nỡm mang đến dễ uống thật. Hắn "khà" một tiếng rồi thò tay nhúp con cá đưa lên miệng, đầu cá giòn tan, thơm ngậy, đánh thức vị giác, nhắc hắn từ sáng đến giờ chưa có một hạt gì trong bao tử.

Vừa nhấm nháp hắn vừa nghĩ tới bức tranh vẽ dở. Đêm qua, hắn mơ một giấc mơ kỳ lạ. Thiếu nữ xinh đẹp đứng bên bức phù điêu "Tam mã" trong khuôn viên Trường Cao đẳng Mỹ thuật hiện lên rỡ ràng, nhập nhoà với thân hình những con tuấn mã vừa kiêu hùng vừa thánh thiện. Mái tóc hoe vàng của nàng cuốn quyện với dải bờm của tuấn mã thành đường nét thanh tao, mềm mại, bồng bềnh, tha thướt, óng mượt như vuông lụa phơi dưới ánh chiều của cô thôn nữ trong bài thơ "Mưa xuân" của thi nhân Nguyễn Bính; và đôi mắt "Ngựa - Người" long lanh, ảnh ướt trong hoa nắng, tạo nên sự tương phản đan xen vừa mơn trớn, mời chào, vừa bặm trợn, kiêu kỳ, ương ngạnh. Nàng "Người - Ngựa" từ trong giấc mơ vươn cổ hí dài đánh thức hắn. Hắn chồm dậy, cứ quần đùi, áo may ô vội vã rời khỏi giường, chạy vào phòng bật đèn, mở ba lô lấy bức ký họa ra suy tưởng.. Ý đồ sáng tạo một tác phẩm xuất hiện trong đầu hắn.

Bị cơn thăng của hắn đánh thức đột ngột, nhưng bởi quá quen với hành động bột phát bất thường chập cheng ấy nên tôi không lạ. Tôi gà gật ngáp một cái rõ dài, nửa mơ, nửa tỉnh, mặc cho hắn xoay vần. Tôi chưa biết hắn thực hiện bức tranh ấy ra sao, nhưng có điều này thấy lạ: Tôi ngửi thấy mùi hương thơm của dầu lanh. Đây là thứ dầu hắn tích cóp, bớt xén từ những lần nhái tranh theo đơn đặt hàng của ông hoạ sĩ già. Nghèo nên phải vậy chứ nếu có tiền cóc phải ăn cắp - Hắn thầm nguỵ biện cho hành động ấy. Số dầu lanh "lây ống" hắn để dành lâu lắm rồi và cẩn thận cất tận đáy tủ. Thường thì khi vẽ, hắn hoà bột màu với dầu hoả cho rẻ, cách vẽ mà giới hoạ sĩ mỉa mai, dè bỉu phân hạng gọi đó là màu vẽ học trò. Nhưng bữa nay hắn lôi dầu lanh ra để phối màu, vậy thì bức tranh này phải rất ra gì mới vậy. Ý nghĩ ấy làm tôi tỉnh hẳn, giương con mắt độc nhất tròn xoe ra nhìn. Bản năng tôi ngo ngoe, ngọ nguậy, nhưng lý trí của hắn dìm niềm kích ứng của tôi xuống. Vào những lúc này, cả thể xác lẫn linh hồn hắn dồn vào tác phẩm. Thể như bọn họa sĩ thường nói với nhau: Đó là những giây phút các môn đệ hội hoạ bị "Thần Nghệ thuật" đày ải.

Qua lỗ thoáng như ô cửa sổ, mắt tôi lóa vì ánh đèn soi vào mặt toan và những mảng sơn dầu ướt nhợt, loáng nhoáng hắt ngược sáng lại. Tôi nghe tiếng đầu ngọn cọ chà lên mặt vải sột soạt, lúc khoan, lúc nhặt, lúc dài, lúc ngắn. Như vậy hắn đã bắt được thần thái của một hoạ phẩm với chủ đề tư tưởng lớn, và thực hiện nó trên một tấm vải toan khổ rộng bằng chất liệu sơn dầu. Nghĩ vậy, nhưng để kiểm chứng, tôi hé mắt nhìn xem mình đoán có đúng không: Một bức tranh hôn phối giữa "Người- Ngựa" dần hiện ra. Tuy chưa hoàn chỉnh, còn sơ khai, nhưng rõ ràng hắn đang vẽ theo ý đồ của giấc mơ. Tôi nhận ra hắn muốn thể hiện sự lai tạp trong bức tranh "Lưỡng thú" cả hai còn hoang sơ, trinh bạch. Trong gam màu sáng, tối, mờ ảo, chói gắt, từng vết cọ hiện ra như ma thuật; từ đường gân, thớ thịt, cơ bắp đến những đường cong, nét ẩn hiện của bức tranh toát lên vẻ ma giáo, khêu gợi lạ lùng..

Đêm tĩnh mịch, gió từ ngoài lùa qua kẽ nứt của những tấm ván lịa quanh nhà, lận mùi hoa dạ lan trồng ngoài ngõ đưa hương thơm thoảng. Phong phanh trong tấm áo ba lỗ và chiếc quần đùi ống dài, những dẻ xương sườn vặn vẹo, cong vồng; răng hắn nghiến vào nhau ken két, đôi mắt lúc tối sẫm lúc bừng sáng, con sên trên đầu vẫy cánh múa loạn, lấp loáng dưới ánh đèn. Cổ tay hắn dẻo quẹo, tiếng cọ vẽ liếm vào mặt toan loạt xoạt để lại những mảng màu bóng rợn. Chớm thu, thời tiết không lấy gì oi bức, thậm chí còn là một đêm lý tưởng cho một giấc ân ái ngon lành, nhưng niềm lạc thú sáng tạo khiến thân thể hắn nóng bừng, sau lưng, bờ vai, cái đầu trọc của hắn rịn những giọt mồ hôi.

Cứ thế.. Cứ thế.. Lúc hắn buông cọ vẽ thì mặt trời đã lên, và lý do nữa là hắn mệt. Hắn rũ xuống như tàu chuối ủng bẹ, ngả người ngay trên sàn nhà, không chút đắn đo, mê mệt thiếp một mạch, chỉ đến khi có tiếng động bên ngoài hắn mới dậy. Hắn vươn vai, ngáp, giơ tay xem đồng hồ: Đã 5 giờ chiều. Hắn vùng dậy, không ỏ ê đến bức tranh vẽ dở, vào phòng vệ sinh đánh răng, rửa mặt, thực hiện một trong danh mục "tứ khoái" rồi mặc quần áo đi xuống nhà. Đến chân cầu thang đã thấy Nỡm cầm quần áo chờ sẵn: - Ông thay quần áo ra để tôi giặt. Bộ ấy ông mặc gần một tuần rồi. Hắn nhấc ống tay áo ngửi ngửi, nhăn mũi, gật đầu xác nhận đã có mùi chua khăn khẳn, rồi tự nhiên "như người Hà Nội" lột bộ quần áo cũ vắt lên tay vịn cầu thang, mặc quần áo kia vào ngay trước mặt Nỡm không một chút ngại ngùng rồi lững thững đi ra góc tĩnh tâm.

Phần I - Chương 4: Tiểu Thuyết - Bảo Vật Để Đời - Nguyễn Nhuận Hồng Phương
 
Chỉnh sửa cuối:
279 ❤︎ Bài viết: 827 Tìm chủ đề

Phần I - Chương 4​


20260910-154423-b5b1e0d384.png

Mai Thảo sẽ không đến nếu hôm ấy không có việc đi qua Hồ Hoàn Kiếm. Nàng đi cùng người bạn gái. Lúc đi từ Nhà Hát Lớn qua phố Tràng Tiền, nhìn những lẵng hoa chúc mừng xếp hàng trước cửa phòng tranh, nàng sực nhớ lời ông hoạ sĩ già. Nàng phanh kít xe lại, rủ bạn: - Bọn mình vào xem tranh đi! - Tranh của ai đấy? - Cô bạn hỏi. Mai Thảo cười: - Hỏi dớ dẩn. Đã là tranh thì là của hoạ sĩ chứ của ai. - Quen không mà vào? - Cô bạn hỏi tiếp. Mai Thảo nhéo sườn bạn: - Quen, mà cũng không quen. Cô bạn nhìn Mai Thảo khó hiểu: - Đến xem tranh của người quen sao không mua hoa chúc mừng? Mai Thảo ngẩn người: - Ừ nhỉ! Nhưng.. - Nàng ngần ngừ, khuôn mặt họa sĩ đầu trọc hiện lên, đôi mắt ma mị chớp chớp.. Nàng lẩm bẩm thành tiếng - Có nên mua hoa không nhỉ? Cô bạn gái hất hàm, hỏi: - Đằng ấy hỏi tớ hay hỏi ai đấy? - Rồi cô bạn nói thêm - Nếu người quen thì phải có hoa. Vào tay không, ngượng chết! Mai Thảo nhìn dãy hàng hoa bên kia đường, lưỡng lự, rồi bỗng nhiên dứt khoát kéo tay bạn: - Gì mà chết với sống. Vào xem đã, tranh đẹp mới đáng tặng hoa. Nói rồi nàng dựng xe bên hè khoác tay bạn kéo vào.

Phòng trưng bày đông người, tuy vậy không khí trầm lắng, chỉ nghe tiếng trao đổi và những lời bình phẩm thì thầm nho nhỏ. Mai Thảo nhìn thấy ông họa sĩ già đứng cùng nhóm phóng viên trẻ. Hôm nay thầy ăn mặc rõ bảnh choẹ, xúng xính trong chiếc áo ghi lê màu xanh, cà vạt trắng kẻ sọc chéo, miệng cười hết chiều dơ, cốc rượu vang trên tay sóng sánh. Mai Thảo nhướng mắt nhìn khắp lượt, tự nhiên nàng muốn nhìn thấy hắn. Người bạn hỏi: - Bạn tìm ai đấy? Mai Thảo đáp: - Không! Miệng đáp vậy nhưng tai nàng nóng bừng thú nhận.

Một nam tiếp tân bê khay rượu tới, nghiêng mình điệu bộ: - Xin mời hai người đẹp. Mai Thảo lúng túng, cô bạn cùng đi nhấc hai ly, mồm liến thoắng: - Thanh kiu nhiều. Mai Thảo càu nhàu: - Không biết uống, cầm làm gì? Cô bạn nháy mắt: - Tại tay tiếp tân vừa đẹp trai vừa lịch sự, cầm cho anh ta sướng! Nào - Nói rồi cô chạm ly đánh cộc vào ly của Mai Thảo - Chúc mừng tay họa sĩ của bạn. Mai Thảo cự lại: - Đã quen đâu mà đằng ấy nói thế. Tuy vậy Mai Thảo vẫn nâng ly chạm rồi đưa lên nhắp một ngụm. Mùi rượu thơm quyến rũ. Nàng cảm thấy nóng ruột, không hiểu hắn ta ở đâu nhỉ? Nàng tự hỏi rồi đưa mắt tìm quanh..

- Này, bạn trông kìa! - Chợt người bạn cùng đi reo rồi cô kéo Mai Thảo đi về phía bức tranh treo giữa phòng - Bạn xem này, bức tranh này mới ngộ làm sao. Cả hai ngỡ ngàng trước bức tranh choán giữa tường, màu sắc còn tươi rực. Này! - Người bạn huých Mai Thảo - Sao đôi mắt nửa ngựa, nửa người lại giống mắt bạn thế nhỉ? Mai Thảo lừ mắt: - Bậy nào! Nói vậy nhưng trong thâm tâm nàng nhận ra tông hình phối màu trong bức tranh đúng là được phát triển từ bức ký họa hôm họa sĩ đầu trọc gặp mình ở sân trường - Nàng nghĩ - Tại sao hắn lại ghép mình hóa thân vào loài ngựa nhỉ? Sự tuỳ hứng kết hợp hay lối cách điệu? Tuy còn non nớt trong nghề, nhưng nàng nhận ra ý đồ của tác giả rất táo bạo, cuồng nhiệt nhưng không thiếu sự tế nhị trong từng nét vẽ và cách phối cảnh pha trộn giữa phần thú là phần người.. Không biết sao, tim nàng đập loạn xạ, thình thịch.. Thình thịch..

Dưới ánh sáng đèn, tổng thể bức tranh lấp loáng những đường nét đậm, nhạt; những gam màu lỏng, chặt, thể hiện phóng túng, mạnh mẽ; chủ thể bức tranh "Lưỡng thú" đồng điệu, cả hai đều mang tính hoang dại, cuồng khát đến mê mẩn. Đôi mắt Mai Thảo căng tròn, tâm hồn nàng bị bức tranh cuốn hút vào thế giới cuồng ảo. Có gì đấy kích ứng rộn rã mách bảo, một nửa của riêng nàng, ngây thơ, trinh trắng, khôi nguyên.. Còn nửa kia mang màu sắc hoang sơ, khai lập, trần trụi, đam đắm, dại khờ hướng về nhau đòi hỏi, khát tìm; nét chấm phá cách điệu, gần với sự đối xứng nhưng vẫn xác lập riêng biệt. Một linh hồn người mong manh, lắng dịu, hướng tới bản thể tự do cuồng nộ, đòi hỏi, vọng cầu thoả mãn; một linh hồn thú bạo liệt, quằn quại đòi ước niềm si mê ngây thơ, khờ khạo.. Tất cả vừa trừu tượng vừa hiện thực trong nét vẽ tài hoa, độc đáo.

Nàng chưa phải là họa sĩ đích thực. Phần ham thích khám phá mới bắt đầu. Thể như môn đồ mon men đến gần đạo lớn, ngỡ ngàng, tìm tòi giữa thế giới mông lung, huyễn hoặc của những gam màu ma mị. Nàng nhớ, niềm đam mê hội họa bắt nguồn từ lúc nàng nhận giải thưởng của cuộc thi vẽ tranh với chủ đề: "Vì một thế giới không chiến tranh". Nàng thể hiện bức tranh ấy lúc mười hai tuổi, tham gia theo phong trào, trách nhiệm, nghĩa vụ của một học trò. Nàng hiểu đơn thuần chiến tranh là chết chóc, đau thương, tàn khốc, tang tóc. Vậy là nàng tái tạo ngược lại, lấy hình ảnh: Lũ trẻ con nô đùa bên bầy chim bồ câu và những hàng cây xanh rờn trong sân chơi ở khu tập thể nơi gia đình nàng đang ở để thể hiện.

Tình cờ nàng chiếm giải đặc biệt. Ông họa sĩ già lúc ấy đang là Chủ tịch Hội đồng Giám khảo. Trong lễ trao giải, những lời bình của ông khiến nàng ngây ngất, vui sướng, ngỡ tưởng bức vẽ của mình mang lại hòa bình cho trái đất. Nàng ôm giải thưởng vào lòng, nhảy tưng tưng trên đôi chân xinh xẻo, và suốt ngày hát bài hát "Trái đất này là của chúng mình" và.. Vẽ.

Đời sống của hội họa xâm lấn, nâng nàng lên, sự ngộ nhận bồng bột khai chiến với niềm yêu thích, sự nhạy cảm của tâm hồn trinh bạch hoá thân vào sắc thái đa màu, đa diện và đa tưởng tượng.. Cứ thế, nàng men theo niềm đam mê không chủ định, với ước mơ bồng bềnh ảo ảnh: Rằng, mình sẽ tạo ra thế giới riêng bằng những tác phẩm vi diệu. Ông họa sĩ muốn ươm mầm tài năng, đến câu lạc bộ nơi nàng sinh hoạt, khích lệ, hướng nàng đến với ngôi đền nghệ thuật. Tốt nghiệp phổ thông, nàng thi vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật với số điểm cao.

Tuy vậy từ năng khiếu đến tài năng là cả một khoảng cách. Khác hẳn với lối vẽ cảm tính tự thân, nàng bỡ ngỡ với tất cả những gì khi bước chân vào trường. Từ trường phái đến những hoạ phẩm nổi tiếng của các danh họa trên thế giới và trong nước làm cho nàng choáng ngợp. Trong cái thế giới đầy màu sắc muôn hình muôn vẻ kia, nàng - dường như kẻ mù màu, như kẻ khiếm thị cầm cây gậy dò dẫm, lần mò.. Không có sách nào cho nàng một định lý, một quy tắc, một chỉ số; không thầy, cô nào khẳng định cho nàng con đường với một lối đi riêng. Tất thảy chỉ có kỹ thuật giáo điều, cách pha trộn màu đơn giản, lối cầm cọ và những bài giảng ước lệ mang nặng tính mô phỏng cóp - pi cứng nhắc. Sự nhàm nhạt trơn tru, dễ dãi cho nàng hiểu, muốn trở thành thợ vẽ thì dễ, còn để trở thành một hoạ sĩ mới khó làm sao..

Đứng trước bức tranh "Lưỡng thú" , nàng chưa thẩm định nổi, nhưng trước hết, tối thiểu đã gây cho nàng ấn tượng. Có gì đấy mà nàng chưa lý giải được sự bứt phá khỏi khuôn sáo sư phạm nàng học ở trường. Từ đường cong mềm mại, điểm cắt, nối thắt và khoảng cách giao thoa giữa con người và con thú gần như không giới hạn. Những gam màu hoà quyện vào nhau, phân tách một ranh giới vô định, tượng hình khiến cho nàng cảm nhận ra ý đồ sáng tạo nghệ thuật táo bạo, mới mẻ của một bàn tay khéo léo, vượt qua sự dung tục tầm thường đến với sự kỳ ảo, hoà quyện, hỗ trợ, tương ứng, tác thành một chủ thể giữa hiện thực và hoài vọng đòi giải phóng bản năng và lý trí..

- Một cuộc giao cấu bội thực.

Tiếng nói dứt Mai Thảo ra khỏi dòng suy tư. Nàng ngoảnh lại, nhận ra đó là một hoạ sĩ có tiếng trong giới hội hoạ mang biệt danh "Cây cọ". Nàng biết vì nhiều lần nhà trường đã mời ông đến phụ đạo giảng bài. Người cùng đi với ông, nàng không biết, nhưng chắc cũng là người cùng giới. Khuôn mặt ông ta dài ngoẵng và khi nói chiếc cằm có chòm râu xếch lên, nhìn dễ liên tưởng tới mõm của một chú sơn dương đang ăn lá:

- Tôi lại thấy ở đó phảng phất một cái gì đấy rất gần với những bức tranh ngựa của danh họa Từ Bi Hồng, Và nghiêm khắc hơn, nếu cho đó là cách sao chép kiểu láu cá núp sau một năng khiếu thiên bẩm.

- Chưa hẳn đã vậy. - Hoạ sĩ biệt danh "Cây cọ" lắc đầu - Tôi đồng ý với ông, bất cứ hoạ sĩ nào khi thể hiện chủ đề tư tưởng trong tác phẩm của mình, đều có tầm ảnh hưởng theo một trường phái hoặc một danh hoạ bậc thầy nào đó. Nhưng còn trong bức vẽ này, nếu cho đó là sự sao chép, thì có lẽ đó là sự ghen tài của lòng đố kỵ và thiếu công bằng - "Cây cọ" tiến lên khoát tay như đứng trước bục giảng - Anh nhìn xem, trong bức tranh này, cả mảng nền được phối màu, làm bật lên góc cạnh của không gian, thời gian vô định, sự liên tưởng mang khối trầm tích của vũ trụ, nó không dừng lại ở một nơi, không chết cứng ở một chỗ. Trong khối nền mênh mang màu sắc hoang sơ trần trụi man dại ấy, nổi bật và phá vỡ sự sinh tồn thuần túy là nỗi niềm trở trăn, khát thèm, quằn quại cùng khát vọng của hai cơ thể đang hướng tới miền khát vọng.. Tôi chưa nói nó là kiệt tác, nhưng tối thiểu đã vượt qua và khác hẳn với tính hiện thực bảo thủ mà danh hoạ họ Từ suốt đời thờ phụng.

- Vậy theo ý ông, bức tranh này nằm ở cỡ nào? - Người bạn có cái cằm vếch và bộ râu sơn dương ngắt lời.

- Không! - "Cây cọ" đáp lại - Tôi không xếp đặt thứ hạng, nhưng nếu nhận xét chủ quan, tôi cho rằng bức tranh này được thể hiện có chủ ý sáng tạo, không bâng quơ, lấy lệ..

- Thế ông cho rằng những họa sĩ khác khi vẽ không có chủ đề tư tưởng hay sao? - Bộ râu sơn dương hất lên cùng câu hỏi khá gắt.

- Ấy.. Xin anh đừng nói to quá! - "Cây cọ" hạ giọng khiến Mai Thảo phải căng tai để nghe - Tôi không nói họ không có chủ đề, nhưng xin anh để ý: Trong các cuộc trưng bày tranh ở đây, anh có thấy nhiều họa sĩ mang tới những bức tranh thiếu linh cảm rung động, biểu đạt thiếu chủ thể. Đôi khi tôi có cảm tưởng họ cố tình lấy số lượng làm thành phép tính cộng, rồi dựa vào sự lăng xê của truyền thông để lấy tiếng. Mà thường khi nổi tiếng sẽ đi đôi với cơ hội kiếm tiền..

- Vậy ông cho rằng thằng cha vẽ bức tranh này để thờ chắc?

Cùng với câu dè bỉu, Mai Thảo nhận ra đôi môi "sơn dương" của ông bĩu lên cùng chòm râu như hai quả chuối mắn nằm giữa một búi rễ cây.

- Anh đừng hiểu nhầm ý tôi. - "Cây cọ" tỏ ra kiên trì - Anh chớ tưởng vẽ tranh thờ là dễ. Theo tôi, tranh vẽ cho người đời đã khó, nhưng dâng linh hồn vào cõi tâm linh còn khó hơn. Khi vẽ tranh thờ, lúc ấy mình sẽ không còn là mình nữa, tâm hồn như lạc vào thế giới của thần linh. Sự giao thoa giữa hư và thực. Không nói đâu xa, thể như tác phẩm "Dưới chân Yên Tử" của anh thôi. Khi vẽ, tôi tin đâu anh có nghĩ người ta sẽ mang tranh của anh đặt vào một nơi tôn nghiêm như vậy. Đó có phải là tranh thờ không thưa anh? - "Cây cọ" đột ngột hỏi, và không đợi trả lời ông nói tiếp - Người cầm cọ thường ngộ nhận lấy những bức tranh của thợ vẽ làng quê ra nhạo báng. Theo quan niệm của tôi: Những người thợ vẽ tranh ở làng quê không mang sự háo danh của các hoạ sĩ, mà họ lấy đức tin cung kính với các bậc thần linh, sự siêu tưởng khiến cho linh hồn con người xao động. Nhà thơ biến nó thành thi phẩm, nhà văn biến nó thành văn phẩm, còn chúng ta hóa thân trên những bức vẽ. Xin đừng ai mang trình độ ra so đọ để cười cợt. Thể như anh thôi - "Cây cọ" hạ giọng kết luận - Khi vẽ bức tranh "Dưới chân Yên Tử" , tôi tin chắc anh phải rung động trước thiên nhiên kỳ thú, cảm động trước anh linh một vị vua dám từ bỏ ngai vàng về ở ẩn mà vẫn mưu cầu cho quốc thái dân an..

- Thôi đi ông! - Tác giả bức tranh "Dưới chân Yên Tử" ngắt lời, hất ngược chòm râu, đưa tay chỉ vào phía trong - Bọn họ ra kia kìa. Cuộc mua, bán bắt đầu rồi đấy, để xem sao!

"Cây cọ" dừng rao giảng cùng ông hoạ sĩ có chòm râu sơn dương quay lại. Mai Thảo nhìn theo tay ông chỉ: Từ phía trong, họa sĩ đầu trọc cùng tốp người đi ra. Nàng ngỡ ngàng, vì hôm nay từ hình dáng đến điệu bộ của hắn không như kiểu sư sãi lần gặp ở sân trường. Sơ vin chỉn chu, quần tím than, áo kẻ ca rô cộc tay màu lòng tôm, chân đi giày màu da đồng láng bóng như vừa quét một lớp dầu lanh. Tuy vậy, từ cổ trở lên, cái đầu trọc và đôi mắt chó khói vẫn i xì vậy, khiến trông tổng thể con người hắn thiếu đi sự đồng bộ. Nhìn đỏm dáng, lịch thiệp thế mà sao không tìm lấy cái mũ be rê hay mũ phớt mà đội nhỉ? - Mai Thảo nghĩ - Nếu là người thân, dứt khoát mình sẽ chọn cho anh ta một chiếc mũ hợp thời trang.. Chợt nàng đỏ bừng mặt vì ý nghĩ ngồ ngộ ấy. Thẹn thùng, đỏ mặt nàng lui lại nép vào cô bạn đi cùng lặng lẽ quan sát.

Đi cùng hắn là một người nước ngoài. Mai Thảo đoán ông ta người Bắc Âu, bởi nước da đỏ au, mảng ức trần nổi sần như cổ gà chọi. Tay áo vấn cao lộ rõ đám lông vàng óng như tơ tằm, mắt biếc, mũi khoằm, đầu của ông ta trọc không kém gì cái đầu của họa sĩ. Có chăng khoang đầu hói của vị khách nước ngoài bóng hơn nhưng lại thiếu cái sẹo hình con sên. Lăng xăng đi theo hai cái thủ cấp thiếu tóc ấy là gã thông ngôn. Bên cạnh sự to, cao, đồ sộ như hộ pháp của vị khách ngoại quốc, và độ dài ngoẵng của hoạ sĩ, gã thông ngôn tạo ra sự đối cảnh. Đã thấp bé, nhẹ cân lại còn gầy, nước da trắng yểu, sơ vin bằng thắt lưng da cá sấu, eo ót co dúm như ếch bị buộc, lủng lẳng trước ngực chiếc cà vạt màu tiết dê to như một tàu lá láng; dáng đi lanh chanh, cà nhắc khiến mọi cử động như con lật đật. Nhưng nếu để ý, sẽ nhận ra độ lọc lõi, lanh lợi, khôn khéo dày dạn của gã thông ngôn, trái với hình thức bề ngoài đã miêu tả, điều đó được thể hiện từ cặp đồng tử con ngươi luôn đảo chiều cùng với đôi tai thính, nhạy kết hợp động thái thuần thục như một cặp bài trùng giữa "Nghe và Nhìn" đúng lúc, kịp thời..

Đang đi phía sau, bỗng gã thông ngôn vượt lên, nghển cổ thổi vào tai hoạ sĩ điều gì đó. Họa sĩ phản ứng tức thì, hắn cau mặt, lắc đầu, vung tay băm mạnh vào không khí như chém kẻ vô hình:

- Vớ vẩn! Anh nói lại với lão ta: Tôi không bán với giá đó!

Đứng gần đấy, tác giả bức tranh "Dưới chân Yên Tử" nghe thấy, dí sát bộ râu dê vào tai "Cây cọ", nói như muốn chứng minh: - Ông thấy không? Bọn họ đang mặc cả kia kìa. Thằng cha nào chẳng vì tiền! "Cây cọ" nhìn ông bạn có chòm râu sơn dương bằng nửa con mắt "Xì" một tiếng vẻ không chấp, rồi nhích ra phía sau nhường đường cho tốp người vượt qua. Họa sĩ và vị khách nước ngoài cùng gã thông ngôn đi đến chỗ bức tranh. Khách tham quan bu lại, quây thành vòng, mấy tay phóng viên chen vào trong, đứng chếch sang một bên, loay hoay lựa hướng, chọn góc, giơ ống kính máy ảnh lên cắt cúp. Bị xô đẩy, Mai Thảo né người kéo cô bạn lùi lại phía sau đứng lên bệ cột cho tầm nhìn cao hơn để quan sát. Vậy ra đây là cuộc mua, bán bức tranh "Lưỡng thú" . Tự nhiên nàng thấy thích thú, tò mò muốn xem bức tranh kết cục sẽ ngã giá thế nào.

Vị khách nước ngoài trao đổi với gã thông ngôn một thôi một hồi. Âm hưởng thoát ra từ miệng ông ta léo nhéo, the thé như giọng đàn bà làm nũng chồng, hoà nhịp với những cái gật đầu như máy của gã thông ngôn. Cuối cùng gã thông ngôn quay lại nói với chủ bức tranh:

- Ngài đây nói bức tranh của ông chỉ đáng giá đến vậy, ông nên suy nghĩ lại.

Khuôn mặt hoạ sĩ chuyển từ đỏ sang tái xậm, vết sẹo hình con sên trên đầu giần giật, hắn đáp bằng Việt ngữ nhưng đôi mắt chó khói lại chĩa vào mặt vị khách nước ngoài, vẻ nhạo báng:

- Ông ta biết gì thẩm bình tranh của tôi mà đáng hay không đáng? Nhờ anh truyền đạt lại với quý ngài ý kiến của tôi: Giá là vậy. Thích thì mua, không thì bai!

Giọng gã thông ngôn vẫn hết sức mềm mỏng:

- Theo tôi, cái giá 10 ngàn USD là được rồi đấy. Ông biết giá đô hôm nay là bao nhiêu không? 1 trên 18 rồi. Tính ra bức tranh của ông suýt soát hai trăm triệu. Trong khi đó hôm trước tôi chứng kiến ngài đây mua bức tranh "Cổng làng" của họa sĩ Trần Thái với mức giá chưa tới 5 ngàn..

Chạm lòng tự ái, hoạ sĩ trọc nổi xung:

- Ai cho phép anh so đọ tranh của tôi với tranh người khác?

Gã thông ngôn nhún vai, phân vua:

- Tôi chỉ nói những gì tôi biết, còn quyền bán hay không là quyền của ông, làm sao ông lại nổi cáu với tôi? Nhưng ông có giận tôi vẫn nói để ông lưu ý: Tranh của ông và kể cả danh xưng của ông chưa có tiếng trên thị trường như tranh của các họa sĩ khác.

Nhận xét này thì đúng, hoạ sĩ trọc nín lặng công nhận, nhưng khó chịu vì bị bóc mẽ. Hắn đưa mắt gườm gã thông ngôn, mồm định văng ra một câu phản ứng, thì ông họa sĩ già đứng ngoài giơ tay vẫy ra hiệu cho hắn. Hắn lách đám đông theo ông hoạ sĩ già đi ra ngoài sảnh, cách chỗ Mai Thảo đứng một quãng. Tuy gần nhưng vì ồn ào tiếng người, nàng không nghe được; song, Mai Thảo đồ rằng ông họa sĩ già muốn làm trọng tài dàn xếp thương lượng. Nàng xoay người, gối cằm lên vai cô bạn ra vẻ không chú ý nhưng thực tình liếc mắt nhìn trộm:

Ngoài sảnh hiên, ông họa sĩ già và hắn chụm đầu trao đổi, tay ông hua hua như giảng giải, còn hắn nghiêng tai lắng nghe, con sên trên khoang đầu cử động gà gật vẻ hiểu, rồi mặt hắn nhẹ dần.. Chừng như lời quân sư đã thấm. Lát sau hắn đi vào, lúc qua chỗ Mai Thảo chợt nhận ra nàng, đôi mắt hắn chớp chớp, rực sáng lạ thường, không khác chi lúc phát hiện ra chủ thể một tác phẩm. Hắn reo lên như bắt được của:

- Chao ôi, em làm tôi bất ngờ đấy!

Mai Thảo đỏ mặt, lúng búng nàng định nói lời chúc tụng xã giao, nhưng không hiểu sao lưỡi cứng lại không nói nổi thành lời. Thẹn thùng, nàng bịn rịn kéo cô bạn sát lại như muốn lấy bạn làm lá chắn. Mặc cho nàng bối rối, hắn đột ngột tung ra một câu vãn:

- Vị khách nước ngoài kia trả tôi bức tranh này 10 ngàn USD. Theo em có nên bán hay không?

Biểu giá bức tranh không làm nàng ngạc nhiên, mà chính là câu hỏi hắn đưa ra buộc nàng ngỡ ngàng:

- Ơ.. Anh là hoạ sĩ, bán hay không là quyền anh chứ can dự gì đến tôi?

Hắn lắc đầu, cái nhìn bám riết lấy nàng:

- Cách đây đôi phút, khi tôi chưa gặp em, bức tranh đó có thể bán với giá ấy hoặc hơn. Nhưng bây giờ.. - Hắn ngập ngừng - Đã có em ở đây rồi, bức tranh không thuộc quyền của tôi nữa. Nếu em nói "Bán" tôi sẽ bán, còn nếu em bảo "Không", tôi sẽ không!

Nói rồi hắn khoanh tay rất điệu, nhìn Mai Thảo chờ đợi. Mặt nàng nóng bừng, tâm trí xao động, cúi đầu tránh ánh mắt hắn và những ống kính máy ảnh của các phóng viên chĩa vào. Lối đặt vấn đề và vẻ mặt chân tình rất chi thành thực của hắn khiến nàng bối rối. Hắn đã đưa nàng vào thế lưỡng nan. Cô bạn đi cùng đưa tay bóp nhẹ vào hông nàng, giục:

- Kìa, bạn trả lời anh ấy đi!

Từ nãy tới giờ ở nơi khu trú tôi vểnh tai nghe, chờ đợi kết cục cuộc mặc cả mua, bán bức tranh giữa hắn và vị khách nước ngoài. Tôi sửng sốt khi nghe bức tranh được giá đến vậy. Cái bức tranh hắn vẽ vẻn vẹn có vài đêm cộng với mươi phút ký họa mà được những 10 nghìn đô la. Một số tiền không nhỏ đối với hắn, kẻ lần đầu xuất hiện trên chiếu nghệ thuật của làng hội họa, và gấp bao nhiêu lần so với tổng thu nhập hàng năm trời khoác ba lô, xách giá vẽ, lận đận bán tranh kiếm sống ở bờ hồ và các công viên. Nay, vạn sự khởi đầu, và ngay lần đầu tiên ấy một trong bức tranh của hắn được một vị sành chơi người nước ngoài đặt giá cực cao. Tôi mừng thay cho hắn và thầm nghĩ, với số tiền bán tranh hôm nay, tối thiểu hắn sẽ trả bớt tiền nợ cho ông họa sĩ già, và nếu dư giả sẽ cải thiện phần nào đời sống kham khem đến lạ lùng của hắn.

Nhưng ai ngờ, khi gặp lại thiếu nữ kia, không hiểu ma xui, quỷ khiến thế nào, hắn bỗng trở chứng. Cái lối sống chấp chênh, điên điên, khùng khùng bất chợt nổi lên như kẻ hầu đồng nhập hồn. Câu hỏi của hắn làm cho thiếu nữ bối rối, còn tôi muốn nổi xung lên chửi rủa cái kiểu ngang xương, dớ dẩn đến thái quá của hắn. Đành rằng, khởi đề bức tranh bắt nguồn từ thiếu nữ, nhưng có phải ai cũng gặp may hai lần trong một cuộc đời, mà nhất là đời họa sĩ. Nhớ khi nghe tay thông ngôn dịch giá tiền vị khách nước ngoài trả, hắn rùng mình, phòng có điều hòa nhiệt độ mà lưng hắn nhướm mồ hôi lạnh. Hắn cố trấn tĩnh, chuyển sang thế chủ động, bằng sự mẫn cảm, nhanh nhạy của một thợ vẽ phiêu dạt, nắm bắt ngay được thần thái khách hàng, hắn liền khỏa mắt bao trùm lên bộ mặt đần đần, dài dại, đỏ tía, nổi sần như sủi cảo của vị khách nước ngoài. Trong tư trí hắn nảy sinh phép đảo chiều, úp lên mặt chiếc mặt nạ kiêu căng, ra dáng của một danh họa có tác phẩm giá trị.

Riêng tôi thì biết tỏng, đọc ra vị của hắn ngay. Thặng dư giá bức tranh đã vượt quá sự mong đợi của hắn. Ban đầu khi nghe, tôi còn ngỡ vị khách nước ngoài trả đùa hoặc tay thông ngôn dịch nhầm. Loại trừ lòng đố kị và tính ích kỷ nhỏ nhen, theo tôi, bức tranh "Lưỡng thú" bất quá đắt gấp đôi giá những bức tranh hắn bày bán ở Bờ Hồ, hay có thể cao tiền hơn bức tranh hắn nhại lại họa phẩm "Thiếu nữ bên hoa huệ" của danh hoạ Tô Ngọc Vân được ông họa sĩ già đặt hàng. Vậy mà hắn con tỏ vẻ làm kiêu..

Trong khi tôi rủa thầm thì Mai Thảo đứng như trời trồng. Nàng víu tay người bạn cho khỏi choáng. Đôi mắt bê non chớp chớp, tay, chân vặn vẹo, động tác cử động luôn thừa ra. Nhưng chính những động tác thừa ấy khiến nàng càng xinh đẹp, duyên dáng và đáng yêu. Tuy bị món tiền hấp dẫn làm lấp mề, nhưng tôi cũng không cưỡng nổi trước sắc đẹp và sự quyến rũ của nàng. Bất giác, từ tôi, thần kinh cảm biến lan nhiệt, khoanh đầu cụng quậy, lúc lắc, hơi nóng hưng phấn bốc dần.. Cùng lúc, tôi thấy hắn rùng mình, dòng sinh khí từ sống lưng chuyển động, hệ thần kinh kích hứng dần căng, đồng lõa cùng tôi. Về khoản này, tôi và hắn là tương cùng một giuộc, khăng khít, thân thiết tựa Bá Nha - Tử Kỳ. Hắn thừa biết tôi muốn gì, và ngược lại, tôi dư hiểu hắn thích gì.

Bên ngoài, giới nghệ sĩ và khách đến tham quan háo hức chờ đợi. "Cây cọ" thì thào với họa sĩ có chòm râu sơn dương: - Theo anh, liệu bức tranh ấy có bán được không? Chòm râu dê vênh lên cùng với nhịp đầu lắc và chất giọng mỉa mai: - Diễn cả đấy mà! Bức tranh ấy bán cho tôi 5 triệu Việt Nam đồng còn phải xét. Hoạ sĩ "Cây cọ" cự nự lại: - Với ông thì chỉ tranh của ông vẽ mới có giá. Nửa vành môi sơn dương bĩu ra: - Tôi đồ rằng: Tay hoạ sĩ trọc cùng với con bé và thằng cha phiên dịch kia Cô- ti - nhê với nhau âm mưu lùa thằng khách nước ngoài vào xiếc là cái chắc! Không tin, ông cứ chờ rồi sẽ rõ. Nghe vậy "Cây cọ" cau trán khó chịu, lầm bầm: - Ông chỉ đoán nhăng, đoán cuội.. - Không tin, ông cứ đợi đấy rồi xem! - Họa sĩ có chòm râu sơn dương ngắt ngang lời, nói như đúng rồi.

Không chịu nổi cái nhìn của hắn, Mai Thảo lên tiếng:

- Anh đã thỏa thuận bán cho người ta rồi cơ mà!

Hắn nghiêng mình điệu đà như vũ công mời bạn nhảy:

- Tôi chưa thỏa thuận. Và dù kể cả thỏa thuận rồi mà em nói "Không" thì giá cao nữa tôi cũng không bán. Em quyết định đi, tôi chờ..

Mai Thảo ngước đôi mắt trong veo nhìn hắn:

- Nhưng.. Vì sao vậy?

Hắn mỉm cười, đôi vai gầy so lại:

- Vì em là người cho tôi nguồn cảm hứng. Có em, tôi mới có bức tranh này.

Cặp môi hồng của Mai Thảo cong lên như hai cánh hoa:

- Nhưng anh đã trả công cho tôi rồi cơ mà.

- Đúng vậy! - Hắn đáp, giọng mềm như bún cuốn nem - Nhưng đó chỉ là những nét vẽ sơ khai, còn thiếu linh hồn. Trong cuộc đời đi vẽ, đã có nhiều thiếu nữ xinh đẹp được tôi ký họa, nhưng em biết không: Không ai lưu hồn tôi trong một giấc mơ kì diệu đến vậy. Em là người đầu tiên bước vào thế giới ảo của tôi nhưng rất hiện hữu..

Mai Thảo vui vì những câu có cánh của hoạ sĩ, nhưng nàng chưa biết trả lời sao. Nàng ngước mắt nhìn bức tranh rồi nhìn xuống bình hoa đặt trên mặt bàn, trong đó có những cành hoa thạch thảo, một loài hoa có sắc nhưng không hương mà nàng rất thích. Chợt ánh mắt nàng đột nhiên rạng ngời như người dò đường bỗng tìm ra đích đến. Nàng quay lại thì thào với người bạn cùng đi điều gì đó, thấy cô bạn nhoẻn cười gật đầu, Mai Thảo quay lại bảo hắn:

- Nhưng anh nên nhớ: Số tiền mười ngàn đô không phải là nhỏ.

- Tôi hiểu chứ em. - Hắn đưa tay lên đầu xoa vết sẹo - Người họa sĩ không lấy gió trời thay gạo, không lấy nước mưa thay cho rượu. Nhưng nếu phải bán đi một tác phẩm ta hằng yêu quý, có lẽ không khác gì tự tay bóp chết đứa con đẻ của mình.

Thêm lần nữa Mai Thảo lặng đi vì câu nói mùi mẫn của hắn:

- Nếu tôi quyết, anh sẽ không ân hận chứ?

- Không bao giờ! - Vết sẹo hình con sên lắc lắc cùng với lời hắn khẳng định.

Mai Thảo đột nhiên bước tới bình hoa để trên bàn, nàng chọn một cành thạch thảo mang đến trước mặt hắn. Hắn nhìn nàng như hỏi. Nàng nghiêng đầu, bờ mi đen láy, cong hình cánh cung duyên dáng cùng với câu hỏi:

- Tôi sẽ dùng cách bói hoa của người Pháp để quyết định, anh thấy được không?

Hắn ngắm những ngón tay trắng muốt của nàng, gật đầu:

- Quyền của em mà.

Nàng nhìn hắn vài giây như xác định rồi nâng cành hoa áp lên môi rồi bắt đầu:

- Bán.. Không bán.. Bán.. Không bán.. Bán.. Không bán..

Sau mỗi lời nàng buông ra là một cánh hoa rơi. Tất cả những người có mặt dường như nín thở. Họ hiểu tính khí thất thường của giới nghệ sĩ, nhưng đây là lần đầu họ chứng kiến một kiểu bói hoa dành cho cuộc mua, bán tranh.

Các phóng viên có mặt hối hả giơ máy ảnh lên chụp. Còn ông họa sĩ già thất vọng lắc đầu ngán ngẩm tựa lưng vào tường. Đã nghèo còn sĩ! Ông chăm chú nhìn bàn tay xinh xắn như những thỏi hồng ngọc được chau chuốt đang ngắt từng cánh hoa, lòng thầm mong câu cuối từ miệng cô học trò sẽ là từ "Bán". Là hoạ sĩ có thâm niên trong nghề, ông công nhận bức tranh ấy có hồn, nhưng hồn vía liệu có tồn tại được hay không nếu phần xác rách tướp? Hắn còn đang nợ ông đìa ra, ngay cả tiền tổ chức hôm nay cũng vậy, hắn chưa bỏ ra một hào một cắc. Tất cả vẫn là tiền túi ông bỏ ra. Ông muốn vực hắn dậy, phần vì ý thức của lớp người đi trước, phần vì hắn có tài thực sự. Nhưng trong cuộc sống, thiên tài đâu chỉ uống nước lã. Nghèo túng nhiều khi bắt người ta thành nhu nhược, hèn mọn..

Phần I - Chương 5: Tiểu Thuyết - Bảo Vật Để Đời - Nguyễn Nhuận Hồng Phương
 
Chỉnh sửa cuối:
279 ❤︎ Bài viết: 827 Tìm chủ đề

Phần I - Chương 5​


20260911-023022-8d34650826.png

Ông tình cờ gặp hắn bán tranh ở Bờ Hồ. Tuy vậy sự tình cờ cũng xuất phát từ nguyên do: Ông có một người bạn trước cùng học một trường nay mở Gallery trong thành phố Hồ Chí Minh, điện ra ngỏ lời muốn có một số bức tranh của các danh hoạ nổi tiếng. Tất nhiên không phải tranh gốc, mà chỉ là tranh chép. Phần nể bạn, phần nữa giá cả khá hời nên ông hứa giúp. Nhưng sao chép tranh trong trường không được, mà kết hợp với các hoạ sĩ là giảng viên lại càng không nên, vì một kín, mười hở nếu lộ ra sẽ bị phạm quy, danh vị của ông dễ bề huỷ hoại. Vậy là ông bỏ buổi lang thang trên Bờ Hồ và các công viên tìm đến các "Họa sĩ đường phố" để canh ty.

Ông dạo quanh một vòng Bờ Hồ, khá ngạc nhiên vì bây giờ có nhiều người kiếm ăn bằng nghề vẽ. Đủ cả, kí hoạ, truyền thần, nặn tượng, vẽ chân dung và bán tranh.. Đến hàng nào ông cũng sà vào xem, nhưng với con mắt nghiêm khắc và sành sỏi của một hoạ sĩ lão làng, rất khó để ông tìm ra một bức tranh hay một ai đấy có khả năng để ông hợp tác.

Đi mãi mỏi chân và chán vì chưa tìm được điều mong muốn, ông dừng lại dưới chân núi Độc Tôn, nơi có ngọn Tháp Bút đối xứng với Đài Nghiên trước lối lên cầu Thê Húc vào chùa Ngọc Sơn. Ông mua chai nước lọc rồi tìm chỗ ngồi. Đang loay hoay chợt nhìn thấy quầy bán tranh của hắn dựng ngay sát mép hồ. Gọi quầy cho oai, chứ thực tình là mấy sợi dây chăng từ cây liễu này sang cây liễu kia rồi treo tranh lên. Cành liễu mềm, gió dưới hồ thổi lộng, những bức tranh đu đưa như vẫy gọi. Ngần ngừ đôi chút rồi ông quyết định ra xem.

Nhác thấy bóng khách, đang vẽ, hắn không ngẩng lên mà nói đổng: - Chọn đi, sướng bức nào thì nói, giá tiền kẹp sẵn trên đó rồi, miễn mặc cả! Hắn ngồi chếch, chỉ nhìn thấy nửa mặt, nhưng nghe giọng, ông đoán hắn còn trẻ và thuộc người có cá tính. Ông nhập vai khách hàng đáp lại: - Cậu cứ mặc tôi. Nói rồi ông lấy kính đeo lên mắt, đi tới chăm chú nhìn hắn vẽ một lát rồi lượn vòng ra ngắm tranh. Lát sau, ông đến gần hắn, hỏi: - Cậu có nhận vẽ truyền thần không? Không nhìn lên, tay hắn trỏ về phía sau: - Thợ truyền thần ngồi ở đằng kia kìa, muốn thì đến đấy! - Không! - Khách nói - Tôi muốn cậu kia. Hắn ngẩng lên, nheo đôi mắt chó khói nhìn khách, buông xẵng một câu: - Tôi là hoạ sĩ chứ không phải thợ truyền thần! - Nhưng nếu cậu nhận, tôi sẽ trả công cao. - Khách nói tiếp. Nghe đến tiền, mắt hắn sáng lên át cả sự ngạc nhiên, hỏi lại: - Quanh Bờ Hồ này thợ truyền thần giết không hết, sao ông lại chọn tôi? - Chả sao cả. - Khách khủng khỉnh đáp, rồi bồi thêm câu kích động - Nếu cậu thấy khó quá, khả năng không làm được thì thôi vậy. Thế là hắn bị mắc vào cái bẫy khách giăng ra, tự ái nghề nghiệp khiến hoả bốc lên đầu, hắn hất hàm: - Truyền thần ai, ông đưa ảnh tôi xem. Khách tháo bức tranh treo trên dây đưa cho hắn: - Cậu vẽ lại bức tranh này thêm 3 bức giống hệt nhau, mỗi bức tôi trả tiền gấp năm lần. - Vậy là ý gì? - Ngạc nhiên hắn hỏi. Ông hoạ sĩ không trả lời câu hỏi của hắn mà móc ví lấy tiền đặt lên bức tranh: - Đây là tiền cọc, chủ nhật tới tôi đến lấy. Nhưng tôi giao kèo trước thế này: Nếu tranh không đạt 80 phần trăm tôi sẽ không trả tiền mà cậu còn bị phạt.

Sau lần thử tay nghề ấy ông canh ty và giao cho hắn nhái lại những bức tranh của các danh họa trong nước và trên thế giới rồi gửi vào Gallery trong thành phố Hồ Chí Minh. "Một công việc bẩn thỉu" , mồm hắn thổi ra câu nói đó sau mỗi lần nhận tiền, nhưng vì tồn tại nên hắn vẫn phải làm. Mỗi bức vẽ ông trả hắn giá cao, trong đó có cả giá của sự im lặng, còn những bức tranh hắn sao chép một thời lập lờ hư, thực, thao túng thị trường nghệ thuật, lừa mắt những kẻ nhiều tiền, sính chơi nhưng mù mờ về hội họa.

Mến hắn có thực tài, còn ông họa sĩ già lúc ấy đang ở cương vị Phó Hiệu trưởng và lại là người biết người, biết của. Ông muốn đưa hắn vào trường học để có bài bản, bằng cấp. Nhưng hắn không thích và từ chối thẳng: - Tôi là môn đệ của chủ nghĩa tự nhiên, thích tự do, phóng khoáng. Nếu muốn gò bó trong khuôn phép truyền thống, tôi đã không bỏ Trường Cảnh sát mà bố tôi đã xếp đặt. Vậy là đã rõ, đến bố hắn "trải chiếu hoa" đưa hắn theo ngành để nối nghiệp mà hắn còn bỏ thì.. Nghĩ vậy nhưng vị hoạ sĩ bậc thầy vẫn kiên trì khuyên nhủ: - Tôi tiếc là tiếc năng khiếu trời phú của cậu. Thời buổi này, dù sao có bằng cấp vẫn cứ hơn. Tưởng hắn nghe, không ngờ hắn quặc lại: - Thiên tài đâu cần trường. Thầy xem hàng trăm học sinh thầy dạy ở trường, tốt nghiệp đầy ra đấy có mấy ai thành đạt? Nghe hắn bài bây, đưa lí sự cùn ra, ông hoạ sĩ già không nài ép nữa. Tuy vậy mối quan hệ vong niên vẫn được duy trì, thậm chí ngày càng khăng khít hơn. Bởi dù chênh lệch tuổi tác hay tước vị xã hội, nhưng cả hai có tiếng nói chung đó là hội họa. Ông ràng buộc hắn vào những bức tranh sao chép, còn hắn nợ ông cả tình lẫn tiền theo đúng nghĩa đen..

* * * Mai Thảo mê mải ngắt. Những cánh hoa tím nhạt trải đầy dưới sàn nhà, bao con mắt đổ dồn vào đôi tay, hau háu chờ kết quả. Khi cánh hoa cuối rơi xuống cùng tiếng ngân lên của hai từ "Không bán" lẫn trong tiếng suýt xoa của mọi người, hoạ sĩ nở nụ cười mãn nguyện, không một chút tiếc nuối, hắn nói với gã thông ngôn:

- Cảm phiền anh thưa lại với quý ngài đây: Bức tranh đã có chủ.

Mặt gã thông ngôn biến dạng cau có:

- Ông mua bán như đồ trẻ ranh ấy!

Tôi tưởng hắn sẽ cáu. Nhưng không, hắn kéo tay gã thông ngôn thổi vào tai gã một câu nói sẽ sàng:

- Anh thấy đấy, tôi bán tranh nhưng đâu được nhận một cắc nào. - Gã thông ngôn há miệng định phản ứng lại một câu gì đó, nhưng hắn rút Card visit ấn vào tay gã, nói tiếp - Tôi hy vọng sẽ được tiếp anh ở đây.

Gã thông ngôn thụ động cầm tấm Card visit, hàng chữ "Prison" in hình lập khối, màu đen nổi trên nền đỏ đập vào nhãn quan, đánh thức thói quen dịch ngữ:

- "Nhà tù"? - Gã thông ngôn lẩm nhẩm, nhưng chưa hết ngạc nhiên, định hỏi, thì hoạ sĩ trọc đã bước nhanh đi.

Bên ngoài kia, hoạ sĩ "Cây cọ" liếc xéo tác giả bức tranh "Dưới chân Yên Tử", nâng ly tợp nốt những giọt rượu cuối cùng, cười khẩy:

- Ông đã thấy tôi nói đúng chưa. Đâu phải nghệ sĩ nào cũng vì tiền?

Nghe vậy, chòm râu sơn dương hất ngược lên cùng với một câu khá khiếm nhã văng ra nhưng rất phù hợp với hoàn cảnh bất thường mà tay hoạ sĩ đầu trọc vừa gây ra:

- Không vì tiền cũng vì gái! - Nói xong ông ta vùng vằng bỏ ra ngoài.

Lúc ấy, mặc dù núp trong chỗ kín, nhưng tôi vẫn nghe rõ tiếng thở dài lượt thượt của ông họa sĩ già. Mặt ông nhàu nhĩ như chiếc khăn lau bảng, bửa ra từng thớ vải. Ông đã tuột mất một con nợ. Món nợ mà ông cố công chạy chọt, tạo đà và đặt hết hy vọng vào buổi trưng bày tranh của hắn. Vì chỉ có thế, may ra hắn mới có tiền trả bớt cho ông. "Nhân đạo là tự sát". Đến lúc này ông hoạ sĩ già mới thấy phát ngôn của tay trùm Đức Quốc xã khét tiếng nói ra là bất hủ.

Qua ô vải, tôi đành lòng nhìn ông đau khổ, nhưng biết làm sao, kẻ phụ thể như tôi thì nỗi đời chỉ như dòng nước chảy, trôi qua là thôi. Duy nhất lúc ấy trong tôi ào ạt tràn đến, lấp đầy là ý dục cùng với sự ham thèm vô độ về hình ảnh một Mai Thảo trong trắng, ngây thơ, thân thể khêu gợi và nụ cười dâng hiến qua bức tranh có mệnh giá mười ngàn USD.. Nhưng đến bao giờ có những phút giây hoan lạc ấy, thì tôi chưa biết.

Phần I - Chương 6: Tiểu Thuyết - Bảo Vật Để Đời - Nguyễn Nhuận Hồng Phương
 
279 ❤︎ Bài viết: 827 Tìm chủ đề

Phần I - Chương 6​


20260911-023811-c86a51ff7f.png


- Cậu là đồ con tườu! - Ông họa sĩ già mặc dầu đã cố nén nhưng vẫn phải văng ra một câu trái với tính điềm đạm của ông. Hắn chăm chú nhìn ông: - Sợ tôi xù nợ thầy sao? Ông họa sĩ già càu nhàu: - Tôi không thể hiểu nổi cậu nữa.. Ông bực nên không nói hết câu. Hắn nhấc ly cà phê cung kính đặt trước mặt ông: - Đây là tách cà phê bù cho bài "đít cua" hôm khai mạc. Xin mời! Giọng hắn trơn tuột như da lươn đến khó chịu. Ông họa sĩ già quẳng mấy tờ báo lên mặt bàn: - Xem đây này. Cậu biết hay cố tình không đọc?

Hắn biết một vài tờ báo thổi phồng sự kiện, ví von ghép hắn là "Đôn - ki - hô - tê" thời hiện đại. Bọn phóng viên chua câu chuyện bán tranh cùng với bức vẽ ghép bản mặt hắn lên thân hình eo ếch, nghễu nghện cưỡi trên lưng con ngựa ô, cổ đeo một tệp đô la còn nửa sau con tuấn mã là thân hình eo ếch trần trụi của đàn bà. Hắn tắc lưỡi: - Chấp làm gì mấy thằng phóng viên lá cải. Mà biết đâu, qua vụ này tôi trở thành nổi tiếng cũng hay! - Nổi tiếng! - Ông họa sĩ già nhại - Cậu nổi tiếng vì biếu không cho gái gần hai trăm triệu thì đúng rồi. Ngoài ra cậu còn nổi tiếng vì từ hôm ấy chẳng có ma nào ngó ngàng đến phòng tranh..

Không để ý tới câu nói móc máy của ông họa sĩ già, hắn nhìn ra xa, tầm mắt vướng phải tán cây, từng chùm rễ thả dài lơ lửng. Giá không có cây đa chắn quán cà phê ba số 7 này sẽ đẹp hơn và tầm mắt bao quát mặt Hồ Gươm cũng mở rộng hơn. Vẻ đẹp cảnh quan làm hắn quên khuấy, cho tới khi ông họa sĩ già bực dọc, dồn nén vào ly cà phê đánh "cộc" xuống mặt bàn, hắn giật mình quay lại, hỏi: - Thầy vừa nói gì nhỉ? Nét mặt ông họa sĩ già nhăn như quả táo Tàu: - Tôi hỏi bao giờ thì cậu thanh toán nợ cho tôi? Hắn thủng thẳng, hỏi lại: - Nhưng thầy muốn tôi trả khoản nào trước? Giọng chủ nợ gay gắt: - Tôi muốn cậu thanh toán tất cả! Hắn nheo mắt: - Tất cả là bao nhiêu nhỉ? Ông họa sĩ già rút cuốn sổ ra đọc: - Một trăm hai triệu đồng vay mua đất; năm mươi triệu mua nếp nhà sàn; bảy mươi hai triệu giống cây và các công cụ miền núi như: Guồng nước, chày, cối giã gạo, khung dệt quay tơ, bàn thêu vải thổ cẩm.. Cộng với hai ba triệu tiền đá Lũng Cú, cùng với số tiền thuê phòng trưng bày tranh vừa rồi.. Hắn ngắt lời: - Thôi.. Thôi.. Sốt ruột! Thầy cứ đọc tổng số xem tất cả là bao nhiêu là o - ke, dài dòng văn tự mãi! Ông họa sĩ già kiêm chủ nợ lật sang trang bên kia, xướng: - Tổng tất cả là tám trăm bảy mươi hai triệu chưa cộng tiền trang trí, rượu, trà, thuốc, nước và tiền phong bao cho các phóng viên, nhà báo, lãnh đạo các hội..

Nghe, hắn ù tai, nếu cộng vào chắc ngót một tỷ.. Mẹ kiếp! Tích tiểu thành đại, tốt vay dày nợ. Nhưng không nợ thế mình làm sao có được cái "Prison". Chờ ông họa sĩ già ngừng lời, hắn gật gù, nói thản nhiên như không: - Kể ra nếu có tiền thì số nợ ấy cũng chẳng đáng là bao, nhưng tạm thời hiện tại tôi chưa lấy được tiền, vì ông bô, bà bô tôi chưa giải ngân. Ông họa sĩ già nói: - Đối với cậu là thế, nhưng với tôi, đây là tiền tích cóp, dành dụm cả đời đấy! Ra dáng nghĩ ngợi một chút, hắn nói: - Vậy thầy phải chờ khi nào ông bô tôi "củ ngỏm" đã. Lúc ấy tôi sẽ trả cả vốn lẫn lãi cho thầy. - Cậu gàn bỏ xừ ra - Ông họa sĩ già đập cái thìa lên miệng ly thành chuỗi âm thanh - Cậu chịu thua ông ấy một lần đã chết ai. Dẫu sao thì ông ấy cũng là bố cậu. Hắn gật đầu công nhận: - Thì có ai bảo ông ấy không phải là bố tôi đâu! Nhưng thắng, thua còn phải nghĩ. Ông họa sĩ già bám vào cái phao hắn vừa tung ra: - Vậy cậu chịu hạ mình về gặp ông ấy đi. Lẽ đời là nước mắt chảy xuôi mà. Hắn lắc đầu: - Gặp dễ ợt, nhưng như thế là trái quy luật. Ông họa sĩ nổi đóa: - Quy luật gì? Làm gì có cái quy luật bố phải đến gặp con. Cậu chỉ nói vớ vẩn! - Ấy thế mà có đấy! - Hắn đưa tay lên đầu sờ cái sẹo, nhúp được con kiến gió, thả vào lòng bàn tay, con kiến bò lổm ngổm, hắn buông nó rơi vào khoảng không, giọng tưng tửng - Đó là quy luật bảo tồn nòi giống, nghĩa vụ của đời trước với đời sau, mỗi thế hệ phải chịu trách nhiệm cho một thế hệ. Rất tiếc thầy chưa có con nên không phải chịu cái quy luật ấy.

Thật quá quắt! Ông họa sĩ bị chạm nọc: - Tôi thế nào mặc tôi! Không khiến cậu phải lo hộ. Thôi! - Ông đứng phắt dậy, gằn giọng - Tôi không rỗi hơi ngồi đây nghe lý luận xằng bậy của cậu được. Điều quan trọng bây giờ là cậu làm sao thì làm, phải nhanh chóng thanh toán dứt điểm cho tôi. Hắn gật đầu: - Thì trước, sau tôi sẽ trả thầy không thiếu một xu. Nhưng nếu đúng như lá số tử vi, thì ông bô tôi thọ đến 105 năm tuổi. Nghe chừng, theo quy luật "Bảy mươi xưa nay hiếm" của cụ Đỗ Phủ là thọ hơi lâu. Có nhẽ tôi còn "đi" trước ông ấy. Nhưng mà này! - Giọng hắn rỉ rả - Thầy một thân một mình, lương hưu dăm, bảy triệu một tháng, chưa kể đến tiền bán tranh, tiền giảng bài tăng ca, tiền trách nhiệm trông coi thư viện, lại không có nhân tình, nhân ngãi gì, vậy thầy cần tiền làm gì nhỉ?

Thật bầy nhầy hết chỗ nói. Ông họa sĩ già nghĩ: Mình gặp phải đỉa trâu rồi. Chờ bố nó chết có lẽ mình chết trước. Đành phải lựa thôi. Ông ngồi xuống, giọng mềm mỏng: - Nói thật với cậu, bình thường thì không sao, nhưng dưới quê, cuối năm nay dòng họ tôi xây nhà thờ Tổ. Tôi lại là trưởng họ, không có ý kiến không xong. Mà cậu biết đấy, đâu chỉ có ý kiến suông? Dẫu sao tôi cũng mang tiếng là người thành đạt nhất trong họ.. Hắn cười ha hả: - Thầy không khác gì ông bô tôi. Thoát ly mấy chục năm bây giờ sắp xuống lỗ mới đem lý thuyết "Lá rụng về cội" làm lẽ đời để sống. Thôi được, thế này nhé! - Hắn dừng lại nhìn bản mặt háo hức của chủ nợ kết luận - Cùng quá, tôi sẽ bán cái "Prison" đi để lấy tiền trả cho ông. Tụi buôn bán địa ốc đang sướng thâu tóm chỗ ấy để xây nhà nghỉ. Cùng quá tôi lại trở về với giấc mơ của "Ông lão và con cá vàng" vậy. Ông họa sĩ già đứng phắt dậy: - Bán hay không tuỳ cậu. Cậu không cần kể khổ. Bây giờ tôi mới thấm câu các cụ xưa dạy: "Thương người thì khó đến thân". Cái tôi cần là cậu thanh toán sòng phẳng cho tôi. Để cho hết tình hết nghĩa, tôi gia hạn cho cậu thời gian ba tháng phải thanh toán hết. Cậu nhớ đấy! Thôi! Chào! Sau ba nhịp khẳng định, bỏ lại nguyên tách cafe chưa uống, ông họa sĩ già nện gót thình thịch trên bậc thang bước xuống, mặc cho hắn giương cặp mắt ti hí nhìn theo và ngỡ ngàng vì lần đầu tiên hắn thấy người họa sĩ bậc thầy giận dữ..

Phần I - Chương 7: Tiểu Thuyết - Bảo Vật Để Đời - Nguyễn Nhuận Hồng Phương
 
279 ❤︎ Bài viết: 827 Tìm chủ đề

Phần I - Chương 7​


20260911-024422-2ba106af7b.png


Ông họa sĩ già đi rồi, hắn quẩn quanh với món tiền nợ và thời hạn ba tháng. Mà đâu chỉ có vậy. Ngoài món nợ ông hoạ sĩ già, hắn còn mấy khoản nữa cần thanh toán. Hắn lẩm nhẩm: Cái "Prison" bây giờ bán đi chắc trả nợ cũng hòm hòm. Nghe đâu dạo này đất đai, nhà cửa đang lên giá. Nhưng bán xong rồi ở vào đâu? Ở khách sạn không có tiền, nhà trọ bình dân thì vẽ vời vào đâu. Còn về nhà thì dứt khoát không rồi. Hắn không thích mang tiếng là kẻ nhổ rồi lại liếm. Mối hận với bố như một lời nguyền độc. Hắn không giấu đôi khi trong đầu lòi ra ý nghĩ mong bố chết. Bố chết hắn được lợi nhiều thứ. Có tiền trả nợ và không phải đinh tai, nhức óc nghe những bài giảng luân thường đạo lý, cùng với những lời thuyết giáo không đâu vào đâu. Nào là những bài học lịch sử, truyền thống nọ truyền thống kia.. Bố hắn từng công khai bài xích hắn theo con đường nghệ thuật. Bố hắn cho rằng mấy thứ nghệ thuật là vô bố, không thiết thực. Là đàn ông phải biết dấn thân vào công cuộc cách mạng, giữ gìn phẩm chất truyền thống của cha, ông.. Cứ theo bố hắn nói, thì chỉ có những người như ông nội và bố mới có lý tưởng sống, còn mọi thứ trên đời cần xét lại.

Nhưng "Cha sinh con, trời sinh tính" . Sau cú ngã, ngoài dư tích vết sẹo hình con sên để lại trên đầu, hắn trở chứng, ít cười, ít nói, ù lì, lầm lũi như một đứa trẻ thiểu năng. Đang học bài, tự dưng hắn đứng dậy, vác sách tha thẩn ra vườn vẽ, hoặc men xuống vệ ao móc đất sét nặn. Gặp cái gì hắn cũng mân mê, ngắm nghía, bỡ ngỡ, lạ lùng y như lần đầu tiên Cô - lôm - bô tìm ra Mũi Hảo Vọng.. Rồi hôm sau đến lớp nộp bài, thay đáp số cho bài toán tập là những bức vẽ phong cảnh hay một bức tĩnh vật nào đó. Dẫu thầy giáo thừa nhận hắn có năng khiếu hội hoạ, nhưng vẫn phải hạ bút cho điểm 0 và phê ý kiến nhận xét gửi về gia đình.

Cứ lai nhai học hành như vậy, nhưng cuối cùng hắn cũng tốt nghiệp cấp ba. Khi bàn đến tương lai, "Ông Tướng" hướng con trai vào học Trường Cảnh sát Nhân dân. Hắn viện cớ học lực có hạn, sợ thi không đủ điểm. "Ông Tướng" lệnh: - Cứ đăng ký thi vào trường ấy. Mọi việc đã có ta lo! Và đúng là "Ta lo" thật. Vì mấy môn thi mặc dù hắn cố tình làm sai để "được trượt" nhưng không hiểu sao vẫn đỗ, thậm chí điểm cao. Hắn vào trường nhưng học buổi đực, buổi cái. Nhà trường nể "Ông Tướng" nên làm ngơ. Được thể, ngày ngày hắn vượt rào trốn ra, tha thẩn đàn đúm với giới họa sĩ giang hồ, la cà ở các công viên, vườn hoa, bờ hồ. Cực chẳng đành, giáo viên phản ảnh đến tai bố. Sốt ruột, "Ông Tướng" đùng đùng cử sĩ quan hầu cận ra bờ hồ điệu hắn về, thuyết giáo, dỗ dành, dọa nạt và cuối cùng hai bố, con chung kết bằng một chuỗi đối thoại:

Bố: - Sao mày bỏ học?

Con: - Không thích!

Bố: - Mày muốn gì?

Con: - Vẽ!

Bố: - Vẽ gì?

Con: - Vẽ tranh!

Bố: - Tranh gì?

Con: - Tranh nghệ thuật!

Bố: - Nghệ thuật gì?

Con: - Nghệ thuật vẽ, thưa "Ông Tướng"!

Bố hắn mang lon cấp tướng thật, và thường ngày mọi người thưa gửi cấp hiệu tướng, tai ông nghe dễ chịu. Nhưng hai từ "Ông Tướng" từ miệng thằng con trai nói ra, nghe đểu giả làm sao ấy. "Ông Tướng" nổi đóa:

- Ai dạy mày ăn nói thế?

Con: - Đời dạy, cả cái đất nước này chả đang gọi ông là "Ông Tướng" là gì.

Cái lý cùn chặn họng của thằng con khiến "Ông Tướng" phát khùng:

- Mày chọn tao sẽ có tất cả! Còn nếu chọn nghề vẽ, đừng vác mặt về nhà, coi như tao không có mày. Tất cả tài sản khi chết, chúng tao cống hiến hết cho nhà nước!

Hắn hiểu "chúng tao" đây gồm có cả mẹ. Hắn nhìn mẹ, xác định thái độ. Mẹ hắn nước mắt chảy vòng quanh nhìn con xót xa. Dòng nước mắt chứa đựng tình mẫu tử cho hắn hiểu hắn vẫn có mẹ, còn mẹ là có nửa gia tài. Hắn trình bày quan điểm của mình bằng cách xách giá vẽ đứng dậy bước đi. Mẹ thất thanh gào:

- Đừng đi.. Con ơi..

Hắn dừng lại trước bậu cửa, tiếng "Ông Tướng" lảnh lót:

- Nó muốn đi cứ để nó đi! Để xem đi được bao lâu?

Đáp lại, hắn xốc giá vẽ lên vai, mang theo cả tiếng khóc dấm dứt của mẹ và khuôn mặt đanh cứng, xám lạnh như Bao Chửng của bố. Và rồi sau cuộc ra đi hắn hiểu thêm một quy luật bất thành văn: Cha mẹ cần con cái hơn con cái cần cha mẹ. Bố hắn tung tin: Nếu cần sẽ lấy vợ hai, đẻ đứa con khác. Nghe, hắn cười nhạo: Thách! Các kẹo "Ông Tướng" cũng không dám. Với bố, tuy có tuổi, nhưng bởi được phục dịch, hưởng lợi theo tiêu chuẩn cấp chức, nên thân thể còn tráng kiện, ắt tinh dịch dồi dào. Nhưng khốn thay, cái lon tướng đeo trên ve áo và nơi yên nghỉ ngàn thu trong nghĩa trang dành cho các bậc công thần còn trọng thể và thiết thực hơn những gì cuộc đời mơn trớn, đôi lúc le lói sự thèm khát.. Bố hắn là khuôn mẫu cho thiên hạ noi gương, thể như người mẫu khoe sắc diện ngồi cho hắn vẽ. Tuy thế, người mẫu cho hắn vẽ có thể thay, nhưng còn danh vị, bộ quân phục và cái lon cấp tướng cùng với nơi yên nghỉ ngàn thu kia, ràng buộc ông như chiếc vòng kim cô Phật tổ neo trên đầu gã Bật Mã Ôn như định mệnh an bài..

Đang nghĩ bỗng con dế lên tiếng, hắn liếc nhìn màn hình vội cầm lên. Tin nhắn của Mai Thảo: "Chiều nay em và đứa bạn tới nhà anh, được không?". Được quá chứ lị! Hắn đợi tin này đã mấy ngày nay. Không ai có thể vô tình trước bức tranh khi giá trị thước đo nghệ thuật được tính bằng hai mươi ngàn đô la. Nhưng giá em đi một mình thì hơn. Nghĩ vậy nhưng hắn hiểu và thông cảm. Dù sao cũng là lần đầu hò hẹn nàng ngượng nên rủ bạn cùng đi. Hắn gửi tin nhắn lại cho nàng bằng hai chữ "Ok" rồi đứng dậy khoác ba lô lên vai, chợt nhận thấy tách cà phê mời chủ nợ còn nguyên. Từ đáy cốc, khuôn mặt ông hoạ sĩ cùng với món tiền nợ và thời hạn ba tháng hiện ra. Hắn đăm đăm nhìn, một cơn gió từ hồ thổi tới, mặt nước cà phê xao động, khuôn hình chủ nợ lung liêng, biến thành khuôn mặt bố hắn mặc quân phục cấp tướng nằm thẳng đơ trong cỗ quan tài trong suốt như pha lê..

Hình ảnh ấy cứ lảng vảng, ám ảnh trong đầu, cho tới khi xe máy của hắn hoà vào dòng người chật như nêm ở lối rẽ lên cầu Chương Dương mới quên món nợ và hình ảnh "Ông Tướng" nằm trong cỗ áo quan. Mọi ý nghĩ giờ đây dồn vào cuộc gặp gỡ Mai Thảo khiến lòng hắn phơi phới y hệt vòng bánh xe lăn. Hắn tưởng tượng nàng mặc quần bò gin và chiếc áo màu thiên thanh cổ trễ thùa ren. Vượt qua những đường cong uyển nhã, khuất sau lớp vải căng cứng kia là làn da nõn nà và khối hình gợi cảm.. Trí tưởng của hắn thật phóng khoáng khiến tôi bật dậy, ngóc đầu lên. Hơi nóng phả từ da thịt hắn truyền sang tôi ấm dần cùng với sự ham muốn râm ran..

Tôi ngạc nhiên, dẫu sự ngạc nhiên ấy không phải lần đầu. Hắn không lạ gì thân xác đàn bà. Cây cọ của hắn mòn vẹt vì đã vẽ bao nhiêu là bao nhiêu, kể cả những người đàn bà luống tuổi đến những thân hình thiếu nữ. Nhưng chưa bao giờ tôi thấy tâm trạng hắn như lần này. Hay là hắn định cưa Mai Thảo lấy làm vợ? - Tôi tự hỏi. Nhưng rồi tôi lại phản bác về nhận định này. Hắn sống đơn thân còn chật vật huống hồ định kiếm dây buộc mình? Nhưng cũng không biết thế nào với hắn. Cái đồ ôn vật này rất sẵn ngòi nổ. Cái đầu hắn khác chi khối thuốc TNT, bất cứ lúc nào có thể nổ nên chẳng biết thế nào mà lần. Tư tưởng hắn là mớ bòng bong, là cuộn len người đàn bà Châu Âu luôn gỡ..

Lúc qua đầu cầu bên kia hắn dừng xe trên đê tạt vào quán tạp hoá mua một gói kẹo. Cầm gói kẹo lên tay, hắn tưởng tượng đến hàm răng trắng bóng của nàng ngập trong màu tím ngắt và hương vị của bột Sô - cô - la toả ra quyến rũ..

Phần I - Chương 8: Tiểu Thuyết - Bảo Vật Để Đời - Nguyễn Nhuận Hồng Phương
 
279 ❤︎ Bài viết: 827 Tìm chủ đề

Phần I - Chương 8​


20260911-025422-6eb9485dbe.png


Theo sự chỉ dẫn in trên Card visit, Mai Thảo đi xe máy đến nhà hắn. Mặc dù biết tính tình nghệ sĩ thường lập dị hay nổi hứng bất thường. Nhưng khi đứng trước lối vào, nàng không khỏi ngạc nhiên về cách bài trí của hắn có phần khoe mẽ nhưng cũng hết sức trí tuệ và khoa học:

Ngay đầu dốc đê đường xuống nhà dựng một tấm biển ghép hộp hình chữ nhật bằng đồng hun, giữa dập nổi hàng chữ: Prison màu vàng bóng lộng; phía dưới viết một câu tiếng Anh và được dịch sang Việt ngữ: "Dưới một chính quyền có thể bỏ tù bất kỳ ai một cách không chính đáng, nơi phù hợp duy nhất cho người chính trực cũng là nhà tù" đặt ngay ngắn cạnh bức tượng David Henry Thoreau bán thân người Mỹ tạc bằng đá hoa cương. - Ông là một tài năng xuất chúng mẫu mực ở thế kỷ XIX, được nhân loại vinh danh cho nhiều mỹ từ điển hình là: Nhà văn, Nhà thơ, Nhà sử học, Nhà tự nhiên học, Nhà triết học, Nhà địa hình học..

Mai Thảo đọc, và phần nào hiểu vì sao chủ nhân lại lấy tên nơi ở của mình là Prison. Bởi theo hàm ý câu trích dẫn trên của David Henry Thoreau cho rằng: Không một động lực nào từ bên ngoài có thể kiểm soát lý trí và đạo đức của con người, kể cả lúc thể xác tự do hay bị giam cầm, nếu tự họ không cho phép.. Nhưng đó là sự khẳng định vai trò của vĩ nhân một khi đã trở thành yếu nhân, để lại dấu ấn sâu đậm trong tiến trình phát triển lịch sử xã hội. Còn hắn: Một họa sĩ vừa ti toe vượt qua vòng nghiệp dư, sao không lường cuộc sống của con người trong xã hội hiện tại bị hoàn cảnh tác động và chi phối.. Tất nhiên, nàng nghĩ: Không chỉ riêng hắn, mà tư tưởng của các nghệ sĩ đích thực luôn tâm niệm, cho dù bất cứ ở đâu, trong hoàn cảnh nào thì vẫn hướng tới chân trời tự biệt.. Nhưng thôi, nàng mỉm cười thích thú vì ý nghĩ của mình về hắn, rồi cho xe trôi xuống dốc, đi vào con đường chạy suốt từ chân dốc vào đến mép sân, rộng chừng 3 mét, lát gạch nghiêng theo hình mũi tên; ven hai bên đường trồng tre trúc đốt xanh, đốt vàng; cành và ngọn phía trên được uốn cong vào nhau, đan, cài tạo thành một mái che hài hòa rất đẹp, dáng dấp như một chiếc cổng chào hoa đón khách.

Mai Thảo vào đến sân đã thấy hắn ra đón. Hắn dắt xe, dựng chân chống lên rồi đưa nàng vào nơi đặt bộ bàn ghế song, mây cũ mèm, không biết Nỡm tha lôi từ bãi rác nào về, rồi vá víu lại kê vào đấy cho đủ lệ bộ. Tôi cảm tưởng hắn rất vui vì nàng đi một mình và mặc trang phục đúng như hắn tưởng tượng; quần gin, áo thiên thanh, cổ trễ, lớp ren thùa màu hồng hòa lẫn làn da trên bầu ngực đương thì vun cao, mịn màng, bày ra như nửa chiếc bánh dầy chưa gói kín.. Từ vùng khuất, xuyên qua ô thoáng của lớp vải dệt, tôi thoả sức ngắm nhìn rồi tưởng tượng và nảy sinh ra ý nghĩ thèm khát được cọ xát thân mình lên đó và tò mò còn muốn moi tìm những phần còn lại..

Trong khi tôi bị kích ứng, thì hắn lăng xăng pha cà phê, còn Mai Thảo nhăn mặt, khịt mũi vì ngửi phải mùi hôi ẩm rồi ngả lưng ra sau, hai tay nàng đặt lên vòng cong của thành ghế khỏa mắt nhìn quanh và tỏ vẻ ngạc nhiên. Vì dưới gầm nhà sàn, mọi thứ để ngổn ngang trông như một kho phế liệu tổng hợp. Những tấm ván thôi được hắn lôi từ nghĩa địa Văn Điển và các bãi tha ma về xếp đống cùng với các loại gỗ tạp; những cuốn cót cũ, hộp xốp, bìa giấy, bao tải, sắt, thép vụn.. Chồng chất như một bãi rác của một cửa hàng chuyên thu, mua phế liệu. Ngoài những thứ ô hợp, thì trên mặt bàn, ngay sát nơi nàng ngồi, đủ những thứ tạp phí lù. Hầu hết là album ảnh, báo và các quyển tạp chí. Vô duyên nhất là bức ảnh trong cuốn "Người đẹp toàn cầu" bị gấp trang, thòi ra một nửa, phô cặp đùi trắng lốp, đứng chéo kheo của một siêu mẫu nào đó, phần "ngã ba" được đậy điệm bằng chiếc lá nho bé tí tẹo trơ trẽn và khêu gợi. Tuy vậy, nàng không biểu hiện gì. Nhưng chính sự lơ đi không biểu hiện của nàng khiến tôi xấu hổ thay cho hắn, vì mọi thứ bày biện dưới gầm nhà sàn không xứng với nét trẻ trung, thanh thoát, kiêu sa, kiều diễm của nàng. Và tôi cũng chưa hiểu vì sao hắn không mời Mai Thảo lên tầng trên. Tuy trên đó cũng chẳng sạch sẽ hơn dưới gầm sàn là mấy, nhưng dẫu sao cũng đỡ bụi bặm hơn.

Hắn đặt tách cà phê trước mặt nàng, mở túi lấy gói kẹo bóc ra, mời: - Em uống nước và ăn kẹo đi. - Cảm ơn anh - Mai Thảo khẽ nhún vai rồi hỏi - Anh làm nghề xây dựng hay thu mua phế liệu mà tích nhiều cốp pha vậy? Hắn nhìn những đồ vật ngổn ngang, hỏi lại: - Em trông anh giống người làm nghề xây dựng lắm sao? Mai Thảo đáp: - Em nghĩ thế nào thì nói vậy thôi. Hắn khẽ nhếch mép, từ đôi mắt he hé phun ra thứ ánh sáng quái dị, hắn nói: - Ngoài nghệ thuật anh chẳng làm gì cả. Những thứ em nhìn thấy, là để phục vụ cho mục đích ấy thôi. Nàng nhíu cặp chân mày, vẻ chưa hiểu, đưa mắt nhìn lại những thứ xung quanh mình..

Vừa lúc đó, tiếng con Mực xích ngoài ngõ sủa nhấm nhách. Hắn và Mai Thảo cùng nhìn ra. Nỡm dắt xe đạp vào, theo sau là một người đàn ông cưỡi xe máy theo sau, tiếng nổ làm con chó kêu ăng ẳng.

- Sao bây giờ mới đến? - Hắn hỏi.

- Thưa ông chủ - Nỡm dựng xe đạp rồi đáp - Hôm qua ông đã chẳng dặn tôi phải tìm bằng được người phụ trách giải toả nghĩa địa đấy thôi.

Hắn "À" lên như sực nhớ rồi nói: - Vậy mà tôi quên mất - Rồi hắn chìa tay cho người đàn ông - Vậy ra ông là người đào mả tôi muốn gặp?

- Vâng chào anh! - Người đàn ông đào mả bắt tay hắn - Tôi nghe chị Nỡm nói, anh muốn gặp tôi?

- Vâng, đúng vậy. Mời ông ngồi - Hắn mời.

Vị khách bần thần nhìn mặt ghế thủng lỗ chỗ, vàng ệch, nhợt bóng vẻ e ngại. Thấy vậy Mai Thảo nhấp nhổm định đứng lên, hắn xua tay:

- Em cứ ngồi ở đấy, công việc nhanh thôi mà. - Rồi quay sang bảo ông đào mả - Không sao đâu, cứ ngồi tự nhiên. Trông cũ kĩ thế nhưng còn tốt và sạch lắm - Đợi khách yên vị, hắn nói luôn - Bãi tha ma ấy có bao nhiêu ngôi hả ông?

- Mộ vô chủ thì nhiều. - Ông đào mả đáp - Còn có chủ thì khoảng trên trăm. Nhưng anh biết thứ ấy làm gì. Định viết báo à?

- Báo chí gì. - Hắn khoát tay ra hiệu cho ông đào mả yên tâm - Tôi cần một trăm chiếc tiểu. Ông có thể giúp tôi không?

- Anh nói sao, tôi chưa hiểu? - Mặt ông đào mả đuỗn ra.

- Vậy là chị Nỡm chưa nói cho ông biết rồi. - Hắn giải thích - Chuyện là thế này: Tôi nghe chị Nỡm nói bãi tha ma làng ông có kế hoạch giải tỏa, mà tôi đang cần một trăm chiếc tiểu đất nung. Vì vậy tôi muốn gặp ông để bàn bạc cụ thể.

Hắn giải thích tường tận đến vậy mà ông đào mả vẫn chưa hiểu:

- Anh cần tiểu sành sao không lên lò gốm Hương Canh mà mua?

Hắn cau mày khó chịu vì khả năng tiếp thu của người đối thoại:

- Không! Tiểu mới thì tôi cần gì nhờ ông. Tôi cần loại tiểu đã qua cốt người chết. Vì vậy mới phải phiền đến ông.

- Nhưng anh cần thứ ấy làm gì? - Chừng như ông đào mả còn thắc mắc.

- Để làm gì đó là việc của tôi! - Hắn khoát tay một lần nữa - Điều quan trọng là ông có giúp tôi được không và xem giá cả thế nào?

Ông đào mả chăm chăm nhìn mặt kẻ đối thoại để xác định xem có bị điên hay tâm thần không. Rồi lại quay sang nhìn Mai Thảo, nhăn mặt khó hiểu: Điên hay thần kinh thì làm gì có gái đẹp như thế này ngồi hầu chuyện. Ông đào mả nghĩ vậy rồi nói:

- Tiền nong đếch gì. Anh dọn cho tôi là cái may, nếu không tôi vẫn phải cho xe chở đi đổ xuống sông. Hôm nào tôi khởi công, anh đến bồi dưỡng cho bọn đàn em bữa "mộc tồn" với dăm lít rượu Làng Vân là ok.

- Xong! - Hắn gật đầu coi như đã thỏa thuận rồi dặn thêm - Ông nhớ nhắc anh em khi đào cẩn thận kẻo vỡ tiểu. Hôm nào gom đủ thì ông báo cho chị Nỡm một tiếng để chị ấy điều chồng đánh xe công nông đến chở. À.. - Hắn sực nhớ - Ông cho tôi xin số di động để tiện liên lạc.

Ông đào mả lật bao da lấy máy ra, đọc:

- 0912.. Anh bấm lại cho tôi đi. Còn việc kia anh yên tâm, quân tôi thuộc hàng chuyên nghiệp rồi.

Hắn bấm máy, chờ ông đào mả ghi lại số, hắn rút ra tờ năm trăm nghìn đưa cho ông ta:

- Ông cầm một chút gọi là tiền xăng xe.

- Sao ông chủ cho nhiều thế! - Nỡm lên tiếng gàn - Hai trăm là được rồi.

- Không thành vấn đề. - Hắn vảy tay tỏ ra hào phóng - "Nhất kiến vi kiến". Ông cứ coi đây là lộc lá đầu tháng. - Hắn hất hàm về phía Mai Thảo, thanh minh - Ông thông cảm. Hôm nay tôi bận tiếp nữ họa sĩ đây, không tiếp ông được. Có gì ông cứ phôn cho tôi. - Giải thích cho khách xong, hắn hất hàm ra hiệu cho Nỡm tiễn khách.

Chờ hai người ra khuất, Mai Thảo hỏi:

- Anh lấy những thứ ấy làm gì?

Hắn không đáp, với tay lên bàn, rút ra một cuốn sách đưa cho nàng: - Em xem đi.

Mai Thảo đọc tiêu đề cuốn sách "Nghệ thuật Sắp đặt và Trình diễn" . Nàng hiểu đó là cuốn sách nói về một loại hình nghệ thuật của thế giới hiện đại. Ở trường cũng có tiết giảng về môn học này rồi. Nhưng ở trong nước vẫn là loại hình nghệ thuật mới mẻ, tuy đã có một số nghệ sĩ đã thử nghiệm..

- Em có ấn tượng gì không? - Hắn hỏi.

Mai Thảo rụt rè:

- Em vài lần đã được xem "Nghệ thuật Trình diễn và Sắp đặt" do một số nghệ sĩ thực hiện rồi. Nhưng nói thật với anh, em thấy cứ như thế nào ấy, hay là vì trình độ em kém nên chưa hiểu.

- Điều đó cũng dễ hiểu thôi. - Hắn nhìn nàng thông cảm - Vì thực ra, phần lớn những cuộc Trình diễn và Sắp đặt ấy còn mang tính vụn vặt, nhỏ lẻ. Thứ ngôn ngữ nghệ thuật bị hạ giá bởi nó nằm trong khuôn sáo bắt chước, hoặc lai tạp một cách vụng về. Bọn họ như lũ ngỗng con, thấy thiên nga vỗ cánh bay trên trời thì cũng vươn cổ lạch bạch, loạc choạc chạy theo. Họ quên mất tính độc lập, sự sáng tạo, cố tạo ra theo cách cảm nhận đơn điệu.

- Vì vậy anh muốn lấy những thứ đó, để thể hiện Nghệ thuật Trình diễn và Sắp đặt của riêng mình? - Mai Thảo gấp cuốn sách lại, hỏi.

- Cũng na ná như thế. - Hắn lắc đầu - Nhưng còn ý tưởng thì khác. Đại loại thế này: Thường thì những nghệ sĩ đương đại muốn biểu hiện tư tưởng mình thông qua thể loại để phản ánh cuộc sống. Nhưng em cứ tưởng tượng mà xem: Mọi sinh linh sinh ra trên trái đất này.. - Chợt hắn dừng lời, đứng dậy, rất tự nhiên cầm tay Mai Thảo - Dậy, ra ngoài này với anh. - Hắn dẫn nàng ra vườn, dang rộng cánh tay vươn về phía khu rừng - Nghệ thuật là sự tự do và phóng túng, không ràng buộc bất cứ một khuôn lệ nào.. Em chờ anh mấy phút. - Nói rồi hắn quay mặt về phía nhà sàn, gọi to - Nỡm đâu, xuống tôi nhờ đây?

- Dạ, tôi đây! - Tiếng Nỡm từ trên nhà vọng xuống. Rồi nghe bước chân Nỡm vỗ thình thịch trên bậc cầu thang như tiếng trống bục, lạch bạch đi tới chỗ hai người đứng, đầu cúi gằm, hỏi - Thưa ông chủ, có việc gì ạ?

- Ra đóng cho tôi cái cầu dao! - Hắn hất hàm ra hiệu.

- Vâng, thưa ông chủ, tôi đóng ngay đây ạ! - Tiếng Nỡm đáp lí nhí, nhưng trong lúc quay đi, ánh mắt sắc lẹm cong như lưỡi liềm của người đàn liếc xéo qua mặt thiếu nữ đứng bên ông chủ thể như mẹ chồng lườm nàng dâu..

Qua ô vải, tôi nhận ra cái liếc xéo thiếu thiện cảm và dáng đi ngúng nguẩy vẻ ghen hờn của Nỡm và sau đó tiếng Mai Thảo hỏi:

- Cô Nỡm là bà con họ hàng với anh à?

- Không. - Hắn đáp - Đó là người anh mướn làm giúp việc nhà.

- Vậy mà.. - Nàng buông lửng câu nói.

- Em nói sao cơ? - Hắn hỏi.

Mai Thảo không trả lời, nhưng tôi hiểu ý tò mò, thắc mắc, nghi ngờ trong nàng nảy sinh. Đàn bà mà! Giống cái thường vậy, trước kẻ đồng giới dù chưa trong ở "vai diễn" nào, thì mầm mống tị hiềm luôn trỗi dậy vì thói "Hoạn Thư" như nhau hết.. Có khác chăng, đó là phần thân xác: Mai Thảo trẻ trung, mơn mởn, tươi xinh, hơn hớn và ngây thơ như "Con nai vàng ngơ ngác.." trong bài thơ "Tiếng thu" của Thi nhân Lưu Trọng Lư; còn Nỡm đã ngoại tứ tuần, da dẻ nứt nẻ, khô nháp như ngói vỡ, vú vê nhẽo nhèo như hai quả mướp nướng; dáng dấp, đi đứng thô thiển khác gì con.. Tôi đang loay hoay tìm một loài vật nào đó để ghép cho Nỡm và nhăn mặt nhớ đến mỗi khi.. Thì vừa lúc máy bơm chạy cắt ngang dòng suy nghĩ. Nước từ hườm đá phun xối xả, suối róc rách chảy, tràn qua bờ đập ào ào đổ vào cánh cọn quay tít, bụi bọt tung trắng xoá; nhịp chày giã gạo lên, xuống thình thịch nhịp nhàng. Cả khu rừng bừng tỉnh, cây cối rì rào xao động, màu xanh mướt mát.. Mai Thảo reo thành tiếng, hai tay nàng bưng mặt ngẩn ngơ, ngỡ ngàng trước khung cảnh thiên nhiên kỳ ảo, tưởng mình lạc giữa núi rừng Tây Bắc huyền diệu trữ tình..

Nàng chưa hiểu ý đồ của hắn, nhưng mọi vật xung quanh khiến nàng thích thú. Nàng ngồi lên phiến đá kê sát bờ suối, ngửa mặt, thè lưỡi hứng bụi nước bay trong không gian.. Rồi tháo dép xăng đan, vén ống quần thả chân xuống, làn nước trong vắt, mát rượi, sóng nước mơn man bắp chân trần trắng muốt. Giờ đây trông nàng thật ngây thơ, bóng nàng in hình trên mặt nước lay động, rung rinh, lấp loáng. Vừa khoả nước nàng vừa nghĩ: Chẳng lẽ anh ta định lấy khu rừng tự tạo này để làm nghệ thuật ư? Điều đó đâu có mới. Nàng đã từng đến những trang trại có Nhà vườn, Nhà nghỉ cuối tuần nằm dưới chân núi Tam Đảo hay như Phủ Thành Chương ở huyện Sóc Sơn, có đầy đủ núi non, cảnh trí và những kỳ quan trên mọi miền đất nước được thu nhỏ. Vậy thì cái khu vườn của hắn đã thấm vào đâu.. Đang vậy, chợt cái bóng lều nghều của hắn trùm lên khuôn hình nàng trên mặt nước.. Mai Thảo vội đứng dậy, xoay người né, chẳng may vầng ngực thanh xuân chạm vào người hắn, mặt nàng ửng đỏ e lệ..

- Sẽ bắt đầu từ đây. - Hắn thản nhiên khoát hai cánh tay dài không khác gì tay vượn như muốn ôm trọn cảnh vật trước mặt - Sự sống là tương lai của cái chết và ngược lại. Thứ anh muốn là giải trình kiếp phận con người, loài động vật năng động và duy nhất biết tư duy ở cái hành tinh được sinh ra từ nước, lửa và không khí. Em nhớ lời anh nói nhé! - Hắn buông tay, xoay mặt lại đối diện với Mai Thảo, cứ như giữa nàng và hắn không còn khoảng cách - Anh muốn giải trình chứ không phải sắp đặt hay trình diễn.. Bởi nghệ thuật sắp đặt và trình diễn chỉ có thể cắt nghĩa cho những tiểu tiết cuộc sống chứ không phải tổng phổ của sự sống..

- Thế theo anh, cuộc sống và sự sống khác nhau ư? - Mai Thảo hỏi ngang lời hắn.

- Nhiều người cho rằng hai khái niệm ấy như nhau. - Hắn nói - Nhưng đó là suy nghĩ phiến diện nếu không gọi là thiểu năng. Bởi cội nguồn của sự sống là quá trình biến đổi kỳ diệu. Từ đó.. - Hắn dừng lời, nghiêng đầu tìm từ rồi giải thích tiếp - Từ đó mầm sống nảy sinh chuyển hoá theo điều kiện tự nhiên, tạo ra chuỗi tương tác của sự sống nguyên sinh đa dạng rồi hình thành nên cuộc sống. Vì vậy có thể nói cuộc sống là con đẻ của sự sống..

Trong lúc Mai Thảo đắm chìm vào lời thuyết trình rối rắm của hắn về cuộc sống và sự sống khác nhau thế nào, thì ở nơi trú ngụ tôi rất khó chịu. Với tôi, trên đời này chẳng có gì rạch ròi cả. Cái ông đẻ ra Chủ nghĩa Duy vật khư khư nói không có Chúa, trong khi ấy các Hồng y Giáo chủ ở nửa bán cầu bên kia khăng khăng bảo con người và muôn loài do Thượng đế nặn ra và Đức Ki tô chịu nạn thay cho nhân loại tồn tại.. Còn mấy vị sư sãi, hoà thượng lại khẳng định dương gian chỉ là nơi trú tạm, nơi thế giới bên kia mới là cõi ngụ vĩnh hằng của con người. Chưa ai biết hình thù, mặt mũi cái thế giới bên kia thế nào, mà chỉ thấy mỗi khi có ai chết, sư thầy cầm thiền trượng đi tiên phong, các vãi vác cờ phướn rồng rắn theo sau, miệng ê a nam mô cứ nghĩ đang đưa dắt linh hồn kẻ bạc mệnh về nơi cực lạc.. Vớ vẩn, ù xoẹ, lăng nhăng hết! Với tôi, quên những thứ lý thuyết vô bổ ấy đi. Người đời thực ra làm những chuyện rỉ chuyện gì cũng đều hướng tới nguồn cảm xúc thực dụng của "tứ khoái" mà thôi. Bốn khoái cảm ấy luôn hiện hữu trong tâm tưởng, hoài bão từ vĩ nhân cho đến dân thường, chẳng kẻ nào không ham muốn.. Bởi vậy, điều tôi muốn hắn đừng bỏ phí 10.000 USD dâng tặng nàng. "Không ai mất không cho ai cái gì!", tôi buộc phải nhớ lại câu hắn đã nói với Mai Thảo trong lần gặp đầu tiên ở sân Trường Mỹ thuật. Hắn làm thế ắt phải có mục đích chứ. "Ông mất chân giò, bà thò chai rượu" , cổ nhân dạy rồi, chẳng nhẽ nhìn nàng hơn hớn, phơn phởn thế kia mà để phí của giời à..

Cùng với ý nghĩ, tôi cụng quậy ra hiệu cho hắn, nhưng hắn cố tình phớt lờ, cứ thao thao bất tuyệt nói về "Nghệ thuật Giải trình sự sống" . Trong khi đó, không biết do vì nể được tặng bức tranh cao giá, hay bởi lý thuyết "Nghệ thuật Giải trình sự sống" lôi cuốn, mà tôi thấy nàng mở to cặp mắt bò tơ và đôi môi tươi hồng hé rạng như nụ hoa đào chúm chím đón gió xuân, nuốt từng lời nói của hắn..

- Một khi có điều kiện thực hiện, anh muốn mời em cùng tham gia. Đồng ý chứ cô bé xinh đẹp?

- Em thì biết làm gì cho anh được? - Cô bé xinh đẹp nói.

Hắn ngồi xuống cạnh nàng, thủ thỉ:

- Trong chương trình của anh, ở phần phối cảnh có trang trí những hoạ tiết nhằm nêu bật ý nghĩa chủ đề, mà công việc ấy cần đến óc thẩm mỹ và đôi tay tài hoa của họa sĩ. Chẳng lẽ em nỡ lòng từ chối anh sao?

Tiếng hắn nhẹ, thoảng, mơn man, tình tứ hoà trong thanh âm rì rào của dòng suối, làm cho cô bé xinh đẹp cúi đầu e lệ, những ngón tay thon thả, mềm mại đẹp như những thỏi hồng ngọc đan, chuốt vào nhau, biểu hiện sự bối rối phân vân chưa biết trả lời sao. Hắn đưa tay ngắt phiến lá đung đưa trước gió, ngửa lòng tay đỡ còn bàn tay kia ép xuống:

- Khó trả lời anh lắm sao em?

Nghe âm điệu, tôi ngỡ ngàng thực sự. Chưa bao giờ giọng nói của hắn ma mị chơi vơi như vậy. Đến như tôi đã theo hắn suýt ba mươi nồi bánh chưng rồi mà cũng chưa bao giờ được nghe âm hưởng nhẹ như tơ buông và ngọt như mía lùi như thế. Hình như Mai Thảo bị âm thanh nài nỉ của hắn làm xao động, bối rối chưa biết trả lời sao. Nhưng tôi tin nàng không từ chối. Bởi lẽ, hôm ở phòng trưng bày, sau khi dâng tặng bức tranh, hắn còn gọi xích lô chở bức tranh về cho nàng. Cùng với sự nhiệt tình, ân cần, chu đáo, hắn trao cho nàng tấm danh thiếp rồi thổi vào tai nàng một câu rất mùi mẫn: - Em đẹp nên em có quyền, nhưng anh hy vọng một ngày gần đây sẽ vinh hạnh được đón tiếp em ở Prison của anh.. Thế đấy! Quà tặng cao giá cùng lời chào mời có cánh, như thuyền neo bến đậu, vì thế nàng không thể khước từ, và bây giờ lại được chiêm ngưỡng khung cảnh thiên nhiên nên thơ như vầy thì nàng cưỡng sao nổi.. Tôi đang nghĩ vậy thì đúng lúc Nỡm xuất hiện, phá tan bầu không khí lãng mạn bằng một câu hỏi chuẩn chỉ với chức năng người giúp việc:

- Thưa ông chủ, khách có ăn cơm không để tôi còn đi chợ?

Hắn lườm Nỡm như một kẻ phá đám cuộc vui. Bởi hắn đang đợi câu trả lời của nàng; còn tôi thì đang cầu mong tình ý của hai kẻ khác giới nhích gần thêm nữa. Riêng Mai Thảo chưa biết trả lời sao, bỗng nghe Nỡm nói như chiếc phao cứu cánh, cho nàng thoát khỏi tình cảnh khó xử, nàng vội từ chối:

- Ấy.. Ấy.. Cháu cảm ơn cô. Cháu còn có việc bận phải về cô ơi. Cháu không ở lại được đâu cô ạ.

Nỡm bĩu môi, nguýt môi rồi cúi đầu chờ lệnh chủ. Hắn nhìn nàng còn câu nói dành cho Nỡm:

- Không mua, bán gì cả, lát nữa chúng tôi lên quán trên đê ăn?

- Ấy.. - Nỡm can - Quán ăn trên ấy mất vệ sinh mà đắt đỏ lắm thưa ông chủ.

Hắn định nói thì Mai Thảo lên tiếng:

- Em không ở lại đâu. Anh và cô đừng bận tâm. Thôi, em xin phép. - Nói rồi nàng quày quả bước đi.

Thấy vậy hắn vội đi theo, lúc qua chỗ Nỡm hắn dừng lại vài giây, gằn giọng:

- Vô duyên. Ra ngắt cầu dao điện!

Lệnh xong hắn đi vào, dắt xe máy cho Mai Thảo lên mặt đê. Cảm động trước sự ân cần chu đáo, trước khi nổ máy, nàng nhỏ nhẹ bảo hắn:

- Cảm ơn anh vì tất cả. Còn ý anh nói về chương trình lúc nãy, lần sau gặp lại Mai Thảo hứa sẽ trả lời anh..

Một câu hẹn làm cả hắn và tôi đều khấp khởi mừng thầm. Chả thế hắn đứng dõi theo cho đến khi bóng nàng khuất sau khúc đê vòng, còn thân thể tôi thì râm ran niềm hy vọng..
 

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back