278 ❤︎ Bài viết: 815 Tìm chủ đề
Đọc: 502 Tìm: 0

Tổng Tập Truyện Ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương - Quyển 3​


Tác giả: Nguyễn Nhuận Hồng Phương​


Người đăng tải: Lê Gia Hoài​


21. Không ăn thịt chó nữa - Nguyễn Nhuận Hồng Phương​


20260815-021242-732f62a0d5.png


Y Tuyên bố xanh rờn:

- Từ nay tớ không ăn thịt chó nữa!

Điều đó làm cho cả bọn ngạc nhiên. Một "môn đệ" trung thành với món khoái khẩu bây giờ tuyên bố "ly khai" - như con chiên sùng đạo rời khỏi đức tin của mình là sự không bình thường. Từ trước đối với y, món thịt chó đã trở thành nỗi "đam mê". Đến nỗi, y có thể ăn thịt chó bất kể lúc nào, không kiêng kỵ đầu năm hay mùng một, mùng hai đầu tháng chi cả. Ngay mắc việc đi xa, về gần, bằng phương tiện ô tô, tàu hỏa, xe máy hoặc máy bay tầu thuỷ.. Nhưng nếu có thịt chó y vẫn ăn.

Y nói:

- Đến mấy chú người Tây, nghe tớ nói đấy là "cầy" săn được ở trong rừng, chế biến theo kiểu việt Nam vừa ăn vừa khen nức khen nở.

- Cậu nói khoác! Những nước văn minh người ta coi chó là bạn, ai ăn? - Một thằng trong bọn cãi.

- Cậu hơi lầm đấy! Cậu bảo Hàn Quốc có là nước văn minh không? Đệ tử của nền văn minh Hoa Kỳ nhé! Thế mà món thịt chó còn được đóng hộp hẳn hoi nghe chưa? Có nhà máy sản xuất theo dây chuyền hiện đại đàng hoàng! Tám đô la một hộp! Mà cậu biết tám đô la là bao nhiêu tiền Việt không? Hơn một trăm nghìn! Một thằng ăn một hộp còn thòm thèm. Lấy đâu ra hơn trăm nghìn, dăm thằng ăn toái loái như ở Việt Nam ta? Này! - Y chận chộ - Nhưng bên đấy họ không làm món chả nướng hay dồi lòng như ta. Thịt chó mà thiếu hai món ấy thì chán chết được! Đến dân gian truyền miệng còn phải dùng văn chương thổi hồn vào nữa là.. - Rồi y đọc - Sống ở trên đời không ăn miếng dồi chó/ Chết xuống âm phủ hỏi biết có hay không?

Điều y nói ra có thể do bốc đồng. Nhưng chuyện sành thịt chó thì không ai trong bọn phủ nhận. Y có thể thao thao kể ra các loại thịt chó khắp các nơi.

Nào là thịt chó Nhật Tân, thịt chó Hàng Lược, thịt chó Yên Viên, thịt chó Nghĩa Lộ, Lai Châu; thịt chó Việt Trì, Thái Nguyên, Yên Bái..

- Nhưng, - Y nói - Quan trọng nhất vẫn là người chế biến và nấu. Khỏi cần tận mắt nhìn. Chỉ cần ngửi mùi "nhựa mận" tớ đã biết có bị đun quá lửa hay không! Đĩa thịt hấp bưng lên, xem thớ thái, tớ đã phán được con chó ấy bao tháng tuổi, già hay non, tơ tít hay quá thì? Thoảng hơi nướng mình đã biết tụi nó nướng chả và quay dồi lòng bằng than củi hay áp chảo gang? Các cậu biết không? - Y giảng giải - Ở mình thì chê chó đen, thích chó vàng. Nhưng mấy anh "Tàu khựa" lại thích nhất chó đen, mà phải là đen tuyền "nhất hắc, nhì hoàng, tam lang, tứ đốm..". Ấy, cái "anh người Tàu" tinh lắm! Cùng một loại nhưng cũng phân hạng. Chó thích chó đen, mèo thích mèo đen, gà thích gà đen, ngựa là thích ngựa bạch.. Không "úm ba la" như ta đâu!

Nghe y nói, trong bọn thằng nào đều ứa nước miếng, và, mũi đứa nào cũng tưởng tượng ra mùi ngạt ngào, quyến rũ ở nhà hàng "cầy tơ bẩy món" cùng với mùi mắm tôm chanh lừng lựng..

- Nhưng ăn thua gì! - Y nói khi cả bọn kéo đến nhà hàng, ngồi quanh mâm và thấy một đứa trong bọn khen tấm tắc miếng dồi nướng - Các cậu chưa được ăn món: "gan cuốn mỡ chài gói lá na" ở Nghĩa Lộ. Cứ gọi là mê tơi! Dồi ở đây gọi món ấy bằng "cụ tổ"!

Nghe y nói, tất cả bọn im thít! Nào ai đã được nếm món ấy đâu mà biết!

- Còn món "Cẩu chầu long môn" nữa! Có nói chắc các cậu cũng không hình dung ra. Đại loại thế này - Y đặt chén rượu xuống chiếu, cầm đôi đũa lên diễn giải - Na ná như người da đỏ nướng hươu, nai ấy! Mổ moi, nhét gia vị vào bụng, than củi đốt rừng rực phía dưới. Mà các cậu biết nhà hàng quay bằng phương tiện gì không? - Y hỏi, rồi trả lời - Bằng người! - Thấy mọi người sững lại ngơ ngác vì chưa hiểu, y cười phá lên - Hai nữ tiếp viên xinh đẹp ngồi quay "maniven" như các bà, các chị vùng xứ Kinh Bắc quay tơ dệt lụa; còn một nàng nữa, tay cầm xiên nhọn, tẩm vào bát nước hòa gia vị, chọc cho thịt chó nục nhừ. Hơi lửa bốc, môi, má các nàng hồng rực, mồ hôi đấm đìa, quần áo mỏng dán sát da, thân thể lồ lộ trông chẳng khác gì một thủa hồng hoang.. Mà này! - Y hạ giọng - Không biết các cậu thế nào, chứ mỗi lần ăn thịt chó xong, tớ thấy trong người cứ rậm rà rậm rật.. Đêm, bà xã mình lại ca cẩm: "Hôm nay lại thịt chó rồi phải không?".

Mê thịt chó và thịt chó tác dụng là vậy, mà bây giờ bỗng dưng y tuyên bố không ăn nữa, hỏi ai không ngạc nhiên?

* * *

Ngoài cái thú ẩm thực thịt chó ra, y còn một thú tiêu khiển nữa là bắn chim. Y có một khẩu súng hơi 9kg, kỷ niệm hồi du học ở Tiệp Khắc. Thi thoảng hắn đeo súng, cưỡi xe phân khối lớn đi chơi xa. Tôi chắc y bắn tồi, vì mỗi lần đi không thấy xách chim đem về. Tôi trêu:

- Cậu dọa chim chứ săn bắn gì!

- Tớ đi tiêu khiển là chính.

Một sớm, y cưỡi xe "Beo 350" đến rủ tôi:

- Đi bắn chim với tớ.

Ra khỏi ngoại ô, chúng tôi ngược lên phía Bắc. Gió cuối thu lùa sương lạnh táp lên mặt kính mũ bảo hiểm rỏ thành giọt. Làng xóm thưa thớt, thi thoảng mới gặp một phố nhỏ hay một xóm nằm kề đường xe chạy. Xa xa, sương giăng màn, những con đường đất đỏ mờ ảo dẫn lên khu dân cư trên đỉnh đồi. Những ngôi nhà tầng, chóp nhọn hoắt, cao vút, ẩn trong sương mờ, ngỡ như tòa lâu đài trong truyện cổ tích. Lưng đồi, từng nương chè kẻ ô, khoe cánh áo mướt mát mầu xanh lục, lấp lánh ánh ban mai, điểm vào đó, một vài cây đào, mận, cành khẳng khiu, lơ thơ lá, đứng khơ khấc đợi mùa xuân về. Dưới thung sâu, ruộng bậc thang trải dài như vỏ trai xếp lớp, vẽ vòng, trông như bức tranh hoàn chỉnh về một miền sơn cước.

Hơn chín giờ, y cho xe rẽ vào con đường đất mầu gan gà dẫn lên cánh rừng thông nhân tạo. Gió thổi, lá thông ngân thành tiếng; dưới nền đất, trên thảm cỏ xanh, vương đầy lá úa và lăn lóc những quả thông rơi màu gỗ úa. Không khí se se, trong lành, cảnh quan sạch, thoáng đãng, làm tôi nhớ tới những cánh rừng xứ ôn đới. Xe dừng lại trước căn nhà nhỏ gần bìa rừng. Y xuống xe bảo tôi:

- Đến rồi!

Từ trong nhà, một thằng bé chừng hơn mười tuổi chạy ra. Theo sau nó là một đàn chó gié (loại chó y thích ăn thịt nhất) nhanh nhách sủa đuổi khách. Thằng bé quay, vung chân đá, quát:

- Thôi! - Đàn chó chạy giật lùi, miệng im bặt.

Thằng bé, tay thọc lỗ mũi, mắt lơ láo:

- Năm nghìn tiền trông xe.

Người bạn tôi mở cốp lấy chiếc ống nhòm khoác lên người:

- Nếu chốc nữa nắng, lấy chiếu che cho bác cái xe.

Hai đứa tôi đi bộ ra khỏi cánh rừng, băng qua con suối cạn đến một khu vực trông như trang trại nằm trên trảng đồi thấp, sát gần chân dãy núi đá vôi. Xung quanh trại, chôn cọc bê tông, buộc rào dây thép như để đánh dấu địa phận hơn là rào phòng trộm. Khi đến gần cổng vào, gió lùa vào mũi mùi hôi nồng nặc. Khó chịu, tôi khạc nhổ:

- Mùi gì mà hôi như mùi chó?

- Thì đây là trại chó mà lại!

- Trại chó? - Tôi hỏi lại.

- Cứ đi rồi sẽ biết! Y trả lời rồi rút trong túi một chiếc băng khẩu - Đeo vào!

Có vài dãy nhà chạy dài, xây kiểu chuồng trại. Y giải thích:

- Trước đây là trại chăn nuôi lợn và gà của nông trường. Bây giờ bán lại cho một tay lái chó. Hắn cải tạo, mở thành trại nuôi chó.

- Nuôi chó nghiệp vụ à? - Tôi tò mò.

- Không! - Y lắc đầu - Chó thịt!

Ô hô! Từ cha sinh mẹ đẻ tôi chưa nghe thấy ai mở trại nuôi chó thịt bao giờ!

Như để trả lời nỗi tò mò của tôi, trên đường đi, lông chó như trải thảm, bám đầy trên tường, ở các cành cây trồng xung quanh trại; bay lơ lửng trên không trung.. Hai bên, từng ô chuồng, tường gạch xây thấp, phần trên giăng lưới mắt cáo; từng đàn chó to, mỗi con ước chừng trên hai mươi kg; lông mầu vàng ghếch mõm lên tường, đầu hướng về phía những nhân viên mặc quần áo xanh lá cây, mặt mũi bịt kín, xách xô thức ăn đổ vào máng ăn như chăn lợn. Tôi hơi lạ, là tại sao chúng không rít, ẩy tranh nhau, mà ngoan ngoãn sục ăn một cách hiền lành. Thấy người đi qua, chúng thờ ơ, không gầm gừ, không sủa. Hình như chúng được thuần hóa để quên đi những đức tính và chức năng nhạy cảm vốn có của loài chó? Tuy vậy, có lúc có con nhe nanh trắng nhởn gầm gừ với con bên cạnh, nhưng chỉ thoáng qua rồi lại vục mõm xuống ăn vội vã.

Người bạn bảo tôi:

- Đây là khu chó nuôi vỗ chờ ngày xuất chuồng. Hôm nay đầu tháng, chưa đến kỳ xuất. Vài hôm nữa ấy à? Vui như trẩy hội. Từ sáng đến tối, "lái chó" kìn kìn từ các nơi đổ về. Mỗi hôm trại xuất đến vài tấn.. - Anh chỉ tay - Khu trong là khu chó choai; trong nữa chó con; trong cùng là nơi phối giống, thụ tinh nhân tạo..

Chúng tôi đi giữa hai dãy nhà chạy dài vào cuối trại. Phân biệt giữa các hạng chó bằng cách nuôi và chăm sóc: Từ chó to đến chó nhỏ, phân lớp, chia hạng: Lũ chó choai được chăn nuôi ở chuồng thấp, chia ô, lốc nhốc chừng vài ba chục con trong một khoang. Đến nữa là lũ chó con. Điều đặc biệt là chúng giống hệt nhau, bằng chằn chặn, như cùng một khuôn đúc ra. Chúng kêu nhanh nhách, giơ những cái đầu tí xíu lên lắc lắc, mõm ngây thơ quờ quạng, mũi hà hít đánh hơi theo hướng đi của người. Tôi hỏi:

- Cha nào nghĩ ra trò kinh doanh này cũng "ác chiến".

- Cơ chế đẻ ra chứ thằng nào nghĩ ra được! Kinh tế lắm! Thời buổi văn minh, thịt chó càng giá trị mà.

Chợt tôi hỏi:

- Vậy sao cậu không ăn thịt chó nữa?

Y dừng lại, trợn tròn mặt nhìn tôi:

- Thế từ nãy cậu không phát hiện thấy cái gì à? - Y hỏi lại.

- Không! - Tôi ngơ ngác.

- Cậu nhìn lại xem, có thấy con nào cũng bị mù cả không? Chúng nó đâm chó mù mắt, chọc thủng nhĩ tai để nuôi cho chóng lớn, mau xuất chuồng và có xổng ra cũng không chạy được!

Tôi nhìn vào chuồng, những con chó mù giương đôi mặt vô hồn nhìn lại.​

Nguyễn Nhuận Hồng Phương
 
278 ❤︎ Bài viết: 815 Tìm chủ đề

22. Ma ăn cỗ - Nguyễn Nhuận Hồng Phương


20260815-021758-c135d882c7.png


Không thể hình dung nổi hình ảnh ông họ Hoàng dan díu với cô giáo Kim Xuyến. Bởi vậy, cứ nghĩ quá lên một chút, tưởng tượng ông họ Hoàng cùng cô Kim Xuyến giống như AĐam và EVa hái trái cấm ở vườn Địa đàng là thấy nó cứ.. Vô lý thế nào ấy.

Điều đó như một sự vu khống thô bạo, sự bôi nhọ thanh danh, sự hạ thấp uy tín, chứ rất khó tin đó là sự thật. Bởi, người ta biết từ xưa, ông họ Hoàng đã có mẫu số chung là người vợ. Một khuôn hình nhỏ nhắn, xinh xắn, mỏng mày hay hạt, có chức phận trong xã hội, lại duyên dáng, lịch lãm, khôn khéo trước các bạn bè là chính khách của chồng. Bà có chỉ số đặc trưng đảm đang ở vế thứ hai trong câu cách ngôn của dân gian đặc tả: ".. Sang vì vợ".

Nhưng ba cái quyết định bổ nhiệm cô Kim Xuyến trong một tháng từ giáo viên trường lên nhậm chức phó phòng Giáo dục, do chính tay ông họ Hoàng ký thì lại rất có lý cho sự hoài nghi của dư luận.

* * *

Nâng chén thứ sáu hay thứ bẩy gì đẩy, cụng với người bạn một thời lái xe cùng nhau trên đường Trường Sơn, tôi nói khích:

- Ông biết thế "đét" nào được lúc nào là lúc Ma ăn cỗ?

- Ông bảo tôi không biết tức là tôi không biết! Giọng lè nhè, nhưng câu nói còn rất tỉnh - Ông mời tôi uống là tôi uống! Ông bảo tôi say là tôi say.. Nhưng chuyện nào đi chuyện nấy. Khi nào tôi về hưu tôi sẽ viết hồi ký. Còn bây giờ: Lướt nhé! - Anh đứng dậy, chân khệnh khạng, bàn tay xoè năm ngón vẫy vẫy, cái cổ tay dẻo như không có khớp.

Anh đang lái xe cho ông họ Hoàng. Nghe nói, hình như anh ta có hơi hướng họ hàng gì với đằng vợ ông. Nhưng cái chính, bởi anh rất kiệm lời. Đi công tác về, cho xe vào gara xong là chui vào cái ổ của mình. Không la cà quán xá, không chuyện nhỏ, chuyện to. Ai hỏi gì về công việc có liên quan tới cơ quan? - Anh là môn đệ trung thành của nguyên tắc "3 không!". Còn về nghề nghiệp? - Anh giữ gìn xe sạch sẽ, tay lái chắc, cẩn thận, bảo đảm giờ giấc, trên đường chấp hành luật lệ an toàn giao thông nghiêm chỉnh!

Như vậy, tư chất kín đáo và phong cách cần mẫn bảo đảm cho chỗ đứng của anh trong suốt mười lăm năm qua ở bộ phận đứng đầu huyện. Và, là người duy nhất có uy tín được chọn ngồi bên trái ông họ Hoàng từ ngày ông lên cấp trưởng.

Tác giả viết câu này ra không thừa! Vì nếu ai đã làm thủ trưởng được cấp xe riêng ắt hiểu: Lái xe là cái tủ chứa thông tin sống nhiều luồng; là nhiệt kế đo độ nóng, lạnh, vui buồn của sếp; là mật mã của những chuyến đi xa về gần; là két đựng bí số những cuộc gặp gỡ riêng, chung.. Nói tóm lại, lái xe là nghĩa đen của công việc, nghĩa bóng của tinh thần. Làm việc bất kể giờ giấc, thời gian, phục vụ thủ trưởng tận tuỵ, hết lòng và kín đáo như một chiến sĩ tình báo vậy.

Chính thế, khi tôi hỏi, anh chỉ uống chứ không nói. Anh bảo:

- Cậu thân với tớ, cũng may lắm cho tớ được vài vại bia. Còn chỗ làm việc là "cần câu cơm". Cậu có ở hoàn cảnh tớ đâu mà cậu biết..

Anh dừng lại không nói hết câu. Tôi tắc tị hết lời chèo kéo.

* * *

Anh nhắn tin cho tôi qua số di động: "Chiều gặp nhau ở chỗ cũ." - Chỗ cũ tức là quán bia hơi ở cạnh Đầm Sen, nơi tôi với anh hay rủ nhau ra bù khú.

Khác với mọi lần, anh uống nhiều hơn. Khi đã ngấm, anh hỏi:

- Mấy hôm nay cậu có nghe đài truyền thanh không?

Tôi trả lời:

- Mình đang thu thập tài liệu viết bài kỷ niệm Chiến thắng Điện Biên phủ nên không chú ý.

- Ối ông kễnh ơi là ông kễnh ơi! Thiên hạ đứng xếp hàng dưới loa đài, vểnh tai mà nghe, còn cậu thì lơ mơ như gà sống thiến vậy!

- Thế có gì vậy?

- Đọc quyết định thu lại mấy chục suất đất vừa cấp!

Tôi tợp một ngụm bia:

- Thế thì liên quan gì đến tớ?

- Không liên quan tới ông nhưng liên quan tới tôi! Ông hiểu không?

- Sao? - Tôi hỏi - Liên quan thế nào?

- Trong quyết định thu hồi có suất đất của tớ được cấp!

- Lý do thu hồi? - Tôi hỏi.

- Không đúng tiêu chuẩn!

- Thế thì có gì mà cậu phải kêu ca?

- Khổ lắm! Tớ xin đâu mà lại có danh sách được cấp đất?

À, ra vậy - Tôi nghĩ, rồi hỏi:

- Cậu nói thế nào ấy chứ! Có danh sách được cấp đất lại không biết?

- Tớ xin thề với cậu: Đứa nào mà..

- Thôi thôi! - Tôi ngắt lời - Tớ lạ gì cậu mà phải thề với bồi. Cái chính bây giờ cậu định tính thế nào?

- Tớ đến nhờ cậu viết cái đơn.

- Kiện ai?

- Còn ai nữa vào đây mà cậu hỏi! Ngớ ngẩn thế không biết! - Anh vặc.

- Kiện Ban kiểm tra à? - Tôi hỏi.

- Cậu như con "tườu" ấy! Tố cáo cái đứa mạo danh tên tớ để được cấp đất ấy chứ thằng nào!

- Ai?

- Thế mà cũng hỏi? Nếu biết thằng nào, tớ đã cho nó "nhai bã trầu".

* * *

Vài hôm sau, anh lại nhắn tôi trên di động "Gặp nhau ỏ chỗ cũ!". Tôi hí hửng mang bản thảo đơn cho anh. Anh cầm, không đọc, vo viên:

- Thôi, xong rồi!

- Cái gì xong rồi? - Tôi ngỡ ngàng.

Anh không nói, nâng cốc bia làm một hơi. Khi độ ngấm kích thích, anh cầm cốc bia, mặt xì như quả bóng xẹp hơi:

- Thôi, uống đi! Uống để mà quên! Cuộc đời này éo le phức tạp lắm! Nghĩ mãi cũng đến vậy. Cậu là bạn tớ, thương tớ! - Anh dốc ngược cốc, như dốc cả bầu tâm sự vào bụng.

- Thế nghĩa là cậu định thôi chứ gì?

- Thôi là thôi thế nào? - Anh nhấc ghế nhích lại gần tôi - Tớ chưa nói, sếp đã nhận là mượn tên tớ để làm thủ tục cấp đất cho thằng em cô giáo Kim Xuyến. Thằng này ở trên Tuyên Quang, có nhà nghỉ to vật vã, cỡ năm sao, gần suối nước nóng.. - Anh nhìn quanh, giọng thì thầm - Chỗ tớ hay đưa Kim Xuyến với sếp lên du hí ấy mà..

Tôi ngán ngẩm nói:

- Cuối cùng cậu là thằng hèn.

- Cũng có thể! Nhưng đổi lại, sếp phải lòi ra cho tớ một mảnh đất.

- Đất nào?

- Suất đất hợp pháp mang tên vợ tớ từ hồi xửa hồi xưa..

-!​

Nguyễn Nhuận Hồng Phương
 
278 ❤︎ Bài viết: 815 Tìm chủ đề

23. Mùa xuân này em hát - Nguyễn Nhuận Hồng Phương


20260815-022047-dc85e1acf7.png

Tặng Trực

1/

Rõ ràng là điều đó không nên, không đúng, nhưng chẳng hiểu sao Kiều Dung không cưỡng nổi cái nhìn của người đàn ông ấy. Cái nhìn như xé toạc không gian thầm kín của nàng; cái không gian từ lâu đặc quánh, tối om như hũ nút, chằng chịt thứ mạng nhện của sự sắp đặt nghiệt ngã dành cho người đàn bà sống trên nhung lụa, trong ngôi biệt thự được vây kín thứ đạo đức hoang dại đặc trưng của thời hiện đại..

Tiếng chuông cổng dứt Kiều Dung ra khỏi dòng suy tư tản mạn, nàng đưa mắt nhìn màn hình Camera: Vài ba khuôn mặt đàn ông hiện ra.

- Vẫn là nhóm người mấy hôm trước đó đến thưa bà- Người đàn bà giúp việc nhanh nhảu- Đám người này dai gớm! Thưa bà, có tiếp hay cứ sao y bản chính ạ?

Kiều Dung xòe bộ móng tay vừa được chuốt mầu óng ánh:

- Chị cứ trả lời là tôi không có nhà- Nhưng khi người giúp việc cầm ống đàm thoại lên nàng phẩy tay- Thôi, chị ra mở cổng cho họ vào rồi chuẩn bị pha nước tiếp khách.

2/

Nàng ngỡ ngàng vì dẫn đầu tốp người là anh. Nhưng khác hẳn hình ảnh của một tài xế mặc đồng phục màu thiên thanh của hãng taxi đã quen: Tươi tắn, mạnh mẽ, nhanh nhẹn, lịch thiệp, tế nhị và cởi mở. Hôm nay anh như người lột xác, toàn bộ khuôn hình tỏ ra mô phạm; từ bộ quần áo bộ đội được sơ vin nghiêm ngắn đến nét mặt khô cứng, tay cầm cặp; bước từng bước đĩnh đạc, dứt khoát.. Nhìn động thái của anh, Kiều Dung chợt hiểu ngoài làm nghề lái taxi anh còn "có chân" trong chính quyền địa phương mà nàng chưa biết. Thấy anh vậy, nàng cũng làm tỏ vẻ như không quen, mở miệng chào khách rồi rót nước mời.

Đón chén nước nàng đưa, anh buông lời "Cảm ơn" nhưng không uống mà đặt chén nước xuống bàn, đưa mắt ra hiệu cho mọi người rồi mở cuốn sổ trịnh trọng, nói:

- Thưa bà Kiều Dung, chủ hộ ngôi biệt thự số 1 thuộc tổ 5 phường 9. Căn cứ vào tinh thần cuộc vận động "Mùa xuân cho mọi nhà" do Mặt trận Tổ quốc phát động. Hôm nay anh em chúng tôi đến gặp bà về việc vận động quyên tiền giúp đỡ cho các cháu thiếu nhi có hoàn cảnh khó khăn ở biên giới và hải đảo. Vậy rất mong được bà hưởng ứng.

- Xin lỗi các vị- Kiều Dung nhoẻn cười, đôi môi tô son hé nở như nụ hoa hồng và thanh âm thoát ra êm nhẹ như một lời ru- Chỉ có mỗi việc ấy mà phải để các vị vất vả, tôi thật có lỗi. Vậy số tiền phải đóng góp là bao nhiêu xin các vị cứ cho biết ạ.

- Thưa bà - Người cán bộ đi cùng đoàn mở bản danh sách thu tiền chìa ra- Việc này là tuỳ tâm mỗi người, chứ không đóng khung đâu ạ.

Kiều Dung lấy ví rút ra một xấp tiền nhưng phân vân chưa biết đưa bao nhiêu, nàng nhìn anh cầu cứu. Anh khẽ gật đầu:

- Trong khu phố ta, hộ đóng góp cao nhất là một trăm ngàn còn hộ thấp là mười ngàn. Việc đóng góp không bắt buộc mà tùy theo khả năng của mỗi gia đình.

Như gỡ được cái khó, Kiều Dung mở ví rút tờ tiền mệnh giá năm trăm ngàn đưa cho người cán bộ thu ngân:

- Thôi thì nhiều, ít cho tôi ủng hộ ngần này, gọi là có tý chút..

- Thay mặt Ban vận động xin cảm ơn bà- Đợi cho người cán bộ thu ngân nhận tiền, vào sổ xong anh nói- Thưa bà Kiều Dung, hôm nay ngoài việc đến quyên tiền cho phong trào "Mùa xuân cho mọi nhà", anh em chúng tôi đến đây còn muốn nhắc nhở gia đình về việc chấp hành nội quy của tổ dân phố cũng như của Uỷ ban Nhân dân phường đã ban hành..

Suýt phì cười vì thái độ vờ không quen biết và trịnh trọng của anh, nàng ngước đôi mắt trong veo nhìn anh:

- Vâng, có gì xin ông cứ nói ạ.

- Kể ra cũng không có gì to tát cả- Anh vê vê chén nước trong tay- Vì có ý kiến phản ánh của nhân dân, thì kể từ ngày bà chuyển về đây, mặc dù loa đài của tổ thông báo nhưng chưa một lần nào bà đến Nhà Văn hóa sinh hoạt cùng với bà con trong tổ. Ngoài ra, tôi nhận được nhiều ý kiến cho rằng bà.. - Chợt anh nhận ra từ ánh mắt của nàng có ý hờn trách, anh vội chữa- Tôi cũng đã giải thích cho mọi người thông cảm vì bà là Hoa khôi của Thành phố nên công việc bận, chưa có thời gian chứ không phải là cố ý không tham gia.

Ánh mắt Kiều Dung chuyển sang ý cảm ơn, nàng xoa tay:

- Thật có lỗi với chính quyền và nhân dân trong tổ. Tôi xin nhận khuyết điểm và hứa từ nay sẽ tham gia đầy đủ các phong trào của tổ.

3/

- Không tham gia, đóng góp gì hết! - Đó là câu trả lời của gã nam tính khi Kiều Dung thuật lại chuyện cán bộ tổ đến vận động và nhắc nhở. - Để anh phôn cho Chủ tịch phường, hỏi xem thằng tổ trưởng mặt ngang, mũi dọc nào mà dám đến quấy nhiễu người đoạt vương miện cuộc thi "Người đẹp thành phố" của anh? Vớ vẩn! "Nước ngập chó nhảy lên bàn thờ". Từ nay thằng nào đến quấy rầy em cứ bảo anh, anh sẽ cho nó về vườn..

Nàng nhăn mặt khó chịu về cách xưng hô miệt thị và cách ví von của gã. Nàng gỡ bàn tay của gã đặt trên mông nàng ra nhưng gã phản ứng lại bằng cách quàng tay ôm nàng vật xuống ghế xô - pha, ghì riết..

- Thôi anh.. - Nàng rên rỉ.

- Ơ.. - Gã nam tính nhỏm dậy - Theo hợp đồng hôm nay là "Đêm làm tình nghệ thuật" cơ mà.. Sao em lại giảm nhiệt vậy?

Nghe hai từ "hợp đồng" lạnh tanh của gã nàng rùng mình. Nhưng nàng đành chịu vì theo thỏa thuận giữa hai người: Trong một tuần gã đến với nàng hai buổi trưa và trọn một đêm thứ sáu. Vào hai buổi trưa ấy gã "làm tình" với nàng theo kiểu "truyền thống", nghĩa là ngủ với nhau như vợ chồng; còn đêm thứ sáu gã và nàng "mây mưa" theo kiểu hoang dại mà gã gọi đó là "Đêm làm tình nghệ thuật".

Để cho "Đêm làm tình nghệ thuật" nhiều màu sắc, buổi chiều, gã lái xe Lamborghini màu hoàng kim chở Kiều Dung đến một khách sạn nổi tiếng trong thành phố; phòng và đồ ăn đặt sẵn, ăn uống xong gã đưa nàng trở về biệt thự và cuộc biểu diễn của "Đêm làm tình nghệ thuật" bắt đầu. Trong tiếng nhạc du dương, gã điệu bộ nghiêng người chìa tay mời nàng nhảy. Cả hai quấn lấy nhau tha thướt, lả lướt theo tiếng nhạc; gã vừa nhảy vừa cởi váy áo của nàng ném xuống sàn nhà; cho đến khi vừa cởi hết thì bản nhạc cũng vừa dừng và cũng là lúc gã dìu nàng đến chiếc giường hình mặt nguyệt xoay từ từ đặt giữa phòng ngủ. Gã bế thốc nàng lên đặt vào giữa tấm đệm trải ga màu huyết dụ. Những tấm gương treo ngược trên trần và xung quanh phản chiếu hình hài một người đàn bà có sắc đẹp mê hồn như bức tượng "Venus" của Nhà điêu khắc Praxiteles lột tả thời cổ đại..

- Bữa nay em hơi mệt - Nói rồi nàng trườn ra khỏi thân xác gã - Để tuần sau em đền được không anh? -.

- Không được - Gã nắm hai vai nàng dằn xuống, rút xấp tiền đặt lên ngực nàng - Anh chờ mãi mới đến thứ sáu để thoát khỏi con "bò già" ở nhà. Chiều anh đi..

4/

Sau "Đêm làm tình nghệ thuật" gã rời khỏi biệt thự. Tiếng máy xe nhỏ dần để lại không gian trong sân những làn khói mỏng như tơ. Kiều Dung ngồi dậy, chiếc giường vẫn đang quay, tấm vải ga nhàu nhĩ, những dụng cụ "hỗ trợ tình dục" nhằm tăng thêm sự hấp dẫn và khoái cảm vứt bừa bãi. Nàng nhợm giọng đổ vật người xuống úp mặt trên gối, hai tay quờ quạng thổn thức, những dòng lệ đầm đìa ứa ra từ đôi mắt đẹp.. Nàng cảm thấy lòng trống rỗng, hụt hẫng, chơ vơ giữa ngôi biệt thự sang trọng nhưng câm lặng, vô hồn. Cảm giác bải hoải, ê chề sau một đêm ái ân cuồng loạn ùa về- thứ tình ái nhầy nhụa, bạo liệt đến tận cùng của niềm đam đắm nhục dục. Nhiều lúc nàng thấy sợ nhưng gã nam tính thì ngược lại. Với gã việc làm tình với Kiều Dung như một công trình chưa hoàn thiện, ngoài thỏa mãn xác thịt, còn là thứ để đào bới, phát hiện, khai thác và thi công..

Kiều Dung thấy lợm giọng buồn nôn. Bước vội xuống giường. Phải đi thôi, đi đâu thì chưa biết, nhưng chắc phải ra khỏi nhà, nếu không chắc mình sẽ điên mất. Nàng nghĩ vậy rồi cầm máy di động lên, một chút tần ngần nhưng rồi nàng quyết định bấm số..

5/

Cổng biệt thự mở, chiếc taxi của anh đã đỗ sẵn dưới lề đường. Nàng cảm giác như anh luôn sẵn sàng có mặt sau khi nghe nàng gọi. Vẫn như mọi khi: Anh gọn gàng trong trang phục màu thiên thanh của hãng taxi, khuôn mặt tươi tắn, cặp mắt sáng trong, nụ cười rạng ngời thay lời chào; chờ nàng đi đến, anh nhanh nhẹn mở cửa xe, đưa tay làm cữ để đầu nàng không va vào khung cửa. Chờ cho nàng ngồi vào ghế anh đóng lại rồi đi về khoang lái.

- Hôm nay em đi đâu? - Anh hỏi sau khi cho xe nổ máy.

- Anh cứ đi đi- Kiều Dung đáp- Em cũng chưa biết đi đâu cả.

Biết nàng có tâm sự, anh lặng lẽ bật xi nhan, bấm còi, bật xi – nhan xin đường cho ụ tụ hũa vào dòng xe chạy trên đường. Hôm nay mới là đầu tháng Chạp, vòm trời xám, gió se lạnh, mưa lay phay nhưng đường phố đã rộn ràng không khí đón xuân. Dọc hai bên phố hàng tết bày la liệt, trên đường những chiếc xe chở cành đào, cây mai và các loại cây cảnh hối hả trên các ngả đường trong thành phố..

- Sao anh không gọi em bằng bà như hôm trước - Kiều Dung chợt hỏi - Trông mặt tưởng hiền lành hóa ra đóng kịch khéo nhỉ?

- Anh không đóng kịch - Anh liếc nhìn nàng qua gương chiếu hậu - Đến nhà em là vì công việc, mà lúc đấy anh ở cương vị khác, mong Kiều Dung thông cảm..

- Em không thông - Nàng ngúng nguẩy - Không đóng kịch mà lại giấu em?

- Không - Anh ngơ ngác- Anh có giấu Kiều Dung điều gì đâu nhỉ.

- Giấu mình là cán bộ, là tổ trưởng dân phố - Nàng nguýt khiến vành môi cong lên vẻ đáo để - Lại còn moi móc khuyết điểm để "dìm hàng" người ta..

- Tưởng chuyện gì - Anh bật cười - Làm tổ trưởng dân phố chứ tướng tá gì đâu mà khoe.

Kiều Dung ngả người trên đệm, nàng ngắm nhìn anh qua gương bỗng nhớ đến lần đầu tiên gặp: Đó là lần nàng đi siêu thị mua đồ. Lúc lên xe máy đi được một đoạn thì bị hai tên cướp áp vào giật túi xách, chiếc xe mất thăng bằng, nàng loạng choạng tay lái, chỉ kịp hô: "Cướp.. Cướp.. Cướp..". Từ bên kia đường, một chiếc Taxi lao vút ra đuổi theo, đến ngã tư chiếc taxi chạy ngược chiều đường vòng xuyến chặn đầu xe của hai tên cướp lại. Người lái xe nhảy xuống, hai tên cướp cùng đường rút dao vung lên đâm.. Bằng một thế võ điêu luyện và uy dũng như trong phim, người lái xe né đòn rồi quật hai tên cướp gục xuống và giành lại chiếc túi cho nàng.

Lúc chia tay. Nàng đưa cho người lái taxi một ít tiền, anh từ chối và nói:

- Nếu cô có lòng muốn giúp đỡ, nếu đi đâu bằng taxi thì gọi cho tôi, đó cũng là một cách như trả ơn và vừa giúp đỡ mà.

Từ đó Kiều Dung coi việc đi taxi của anh như một nghĩa vụ; lâu dần anh nghiễm nhiên trở thành lái xe kiêm vệ sĩ của nàng.

- Em cứ định đi mãi như thế này ư? - Anh phá vỡ bầu không khí im lặng trong xe.

- Anh cứ đi đi, hôm nay em bao xe trọn ngày mà - Kiểu Dung nói.

- Nhưng đi đâu cũng phải có mục đích chứ? - Anh lắc đầu.

- Mục đích ư - Kiều Dung lơ đễnh nhìn qua kính chắn gió, giọng nàng thầm thì - Anh chẳng thấy em đang sống với mục đích mà cuộc đời này đã dành cho em đấy ư?

Câu nói đượm vẻ chua xót, không khí trong xe lắng xuống, nàng nghe rõ tiếng thở dài của anh. Đời mà anh, có ai đã nói ở đời này có ai cho không ai cái gì đâu. Em cũng vậy, một con bé sinh ra ở vùng quê nghèo, nhờ sắc đẹp được tuyển dụng làm người mẫu rồi được huấn luyện, được bảo trợ để trở thành hoa khôi. Và cái giá trả cho danh vị ấy là những đêm hoan lạc đầy thú tính.. Đổi lại em có tiền gửi về cho cha mẹ bớt khổ, cho em trai, em gái em được cắp sách đến trường.. Biết làm sao được, phận đàn bà ở thời nào cũng nhiều nỗi gian truân như kiếp luân hồi vậy. Ngày xưa nàng Kiều bán mình chuộc cha thì bây giờ em cũng chỉ là kẻ bắt chước thôi. Có chăng, nàng Kiều trước đây bị bán vào lầu xanh, còn em có "hợp đồng" làm "gái bao" sống trong biệt thự sang trọng, vật chất, tiền tài đầy đủ, có kẻ hầu người hạ; với yêu cầu học cách làm sao để "làm tình nghệ thuật" thật "đẳng cấp" cho một người có địa vị, có quyền lực. Người mà chỉ cần một cú phôn cũng có thể cho anh từ tổ trưởng trở về kiếp thường dân..

6/

- Em muốn đến thăm gia đình anh - Kiều Dung đột ngột đề nghị.

Anh không đáp, cho xe chạy đến vòng xuyến ngã tư quay lại, qua mấy phố chính đến đầu biệt thự của nàng thì rẽ vào một con ngõ nhỏ rồi dừng lại. Kiều Dung ngỡ ngàng:

- Thế nhà anh ngay đằng sau biệt thự em ở à?

- Đúng rồi, "Gần nhà xa ngõ" mà em - Anh tắt máy, mở cửa xe cho nàng - Em thông cảm, nhà anh ở tận trong cùng ngách này cơ.

Quả thật Kiều Dung chưa bao giờ nghĩ ở giữa thành phố lại có cái ngách quá nhỏ, lối đi vừa bé, vừa hẹp, vừa sâu như vậy. Đường đi chật chội, nhà cửa lồi ra thóp vào, có chỗ phải nghiêng người nhường cho người đi ngược chiều. Nàng buột miệng:

- Thế này mà anh cũng ở được thì em chịu.

- Ngách này toàn là nhà cổ, có lịch sử mấy trăm năm rồi. Vì vậy Nhà nước giữ lại làm Di sản Văn hóa - Anh nói - Giá trị truyền thống thì lớn nhưng giá trị sử dụng thì.. - Anh ngừng lời vì chưa tìm ra từ để miêu tả.

Đến cuối ngách, cùng đường thì tới. Ngôi nhà một gian hai trái, lợp ngói mũi, rêu mọc xanh rì, vách tường hở ra từng hàng gạch xây đỏ loét. Anh mở cửa, vén mành che cửa lên

- Mọi người đi đâu vắng hết hả anh?

- Nhà anh neo người, có hai vợ chồng thôi - Anh đáp.

- Thế chị đâu hả anh? – Nàng hỏi.

- Vợ anh ở trong này - Anh mở cửa buồng, gọi - Mình ơi, hôm nay nhà ta có khách quý đến chơi em à.

Kiều Dung sững người khi bước vào; trên giường, người phụ nữ nằm bất động, chiếc chăn trùm kín ngực, hở ra một khuôn mặt da bợt bạt như người bị ngâm nước lâu ngày. Kiều Dung lắp bắp:

- Vợ.. Vợ.. Vợ anh đấy ư?

- Ừ, vợ anh đấy. Cô ấy bị đột quỵ nằm một chỗ hơn chục năm rồi - Anh lấy ghế cho Kiều Dung ngồi rồi vén chăn ngồi lờn cạnh vợ, thủ thỉ - Để anh giới thiệu cho em biết nhé: Đây là cô Kiều Dung, hoa khôi của thành phố và là hàng xóm với nhà mình đấy em à – Anh lấy tay vuốt những sợi tóc vương trên trán vợ và nói như tâm sự, giọng vỗ về, an ủi - Trước đây em cũng xinh đẹp kém gì hoa khôi đâu nhỉ, vừa xinh đẹp lại vừa có giọng hát hay nữa. Anh nhớ hồi ấy mỗi khi tết đến, tổ dân phố tổ chức đón giao thừa em lại xung phong lên hát. Vậy mà bây giờ phải nằm một chỗ thế này chắc em nhớ lắm phải không?

Giọng anh nhẹ như ru, mắt người đàn bà hấp háy, nước mắt ứa ra, dường như chị hiểu được lời của chồng và những sự việc đang xảy ra. Kiều Dung rút khăn thấm nước mắt cho chị rồi hỏi:

- Thế anh chị được mấy cháu?

- Nếu cháu còn thì năm nay cũng vào học cấp ba rồi - Anh âu yếm - Vợ anh trước là giao liên. Lúc vợ anh mang bầu được sáu tháng thì lâm bệnh phải đưa vào viện, bác sĩ nói do ảnh hưởng chất độc màu da cam. Phải mổ để cứu mẹ không thì mất cả hai..

Kiều Dung bàng hoàng, vì sao nhiều nỗi thống khổ nghiệt ngã đè lên vai mỗi kiếp người như vậy. Nàng đứng dậy quay mặt đi then lén đưa tay gạt nước mắt rồi bước đến gần bức ảnh một người con gái mặc áo dài, tay cầm mic đứng trên sân khấu, phía sau là cành hoa đào rực rỡ..

- Bức ảnh ấy là khoảnh khắc lần cuối cùng vợ anh đứng hát trên sân khấu của Nhà Văn hóa khu phố mình đấy em à - anh giải thích.

Kiều Dung quay lại bắt gặp đôi mắt anh nhìn nàng; đôi mắt ấy hiển hiện một nỗi buồn xa xăm, gợi nhớ về những hoài niệm của một thời thật đẹp.. Nàng cúi xuống nắm lấy tay hai người ấp vào trong tay mình thổn thức:

- Mùa xuân này em sẽ hát.​

Nguyễn Nhuận Hồng Phương
 
278 ❤︎ Bài viết: 815 Tìm chủ đề

24. Ngày thường - Nguyễn Nhuận Hồng Phương


20260816-042006-119c902370.png

Dứt khoát đẩy chiếc phong bì dày cộm nằm trên bàn làm việc đến trước mặt ông khách:

- Thế thôi nhỉ? Công việc có lẽ chỉ có vậy? Còn cái này, xin gửi lại anh. Khi nào xong việc, nếu có điều kiện, lúc đó anh em ta ngồi vui vẻ với nhau một tý! Còn bây giờ, nguyên tắc vẫn cứ là nguyên tắc!

Ông khách ngần ngừ nửa cầm, nữa không:

- Khổ lắm! Chuyện "vui vẻ" với nhau lúc nào mà chả được! Còn cái này, có đáng gì mà anh ngại? Tôi thành tâm mà anh!

Vị Phó chủ tịch kiêm Trưởng ban giải phóng mặt bằng. Vâng! Thưa các bạn, đó là nhân vật chính trong câu chuyện này: Đứng dậy, miệng cười tươi, nhưng giọng khô như muối rang:

- Anh đã nói đến thành tâm! Vâng, thì tôi lại càng muốn chúng ta cần phải tôn trọng sự thành tâm ấy! Công việc đền bù chưa xong! Mặt bằng chưa giải phóng được! Còn bao đơn từ của bà con chưa được giải quyết! Nếu tôi đồng ý, chẳng hóa tự ép dân chúng chấp nhận những gì chưa thỏa đáng? Nếu vậy liệu có thành tâm không? - Nói rồi anh chìa tay chủ động - Công việc thế.. Thôi nhỉ?

Ông khách rời tay khỏi chiếc phong bì, giơ lên bắt, miệng chèo lèo:

- Báo cáo anh, còn có năm mươi hộ trong tổng..

- Còn một hộ chúng tôi cũng phải kiên trì thuyết phục. - Phó chủ tịch kiêm Trưởng ban giải phóng mặt bằng đỡ lời ông khách - Đâu cứ phải lúc nào cũng mang chính quyền ra dọa nạt? Các anh bị chậm, chúng tôi bị cấp trên "đì". Nhưng các vị có đứng ở trường hợp của bà con để cảm thông với người ta không? - Anh nói say sưa, quên bẵng mình đã không dưới hai lần kết luận đề tiễn khách - Chỗ kiếm cơm truyền đời của gia đình người ta. Bây giờ phải di dời, chuyển đến một nơi còn chưa biết mô tê răng rứa thế nào. Nếu gia đình các anh ở hoàn cảnh thế liệu có khó chịu không? Mà tôi nói để anh biết: Năm mươi hộ ấy mới là năm mươi hộ cần bàn. Còn những hộ đã nhận tiền đền bù, toàn ở đằng sau, thậm chí nhiều hộ còn thuộc diện "lấn chiếm".. Nhưng thôi, đó là chuyện nội bộ của chúng tôi! Khỏi bàn! Còn bây giờ, anh về xem lại mức đền bù. Đấy! Nội dung yêu cầu của nhân dân, tôi đã tổng hợp trong đó rồi. Nêu thống nhất, tôi sẽ mời bà con đến họp.

Ông khách mở cửa đi ra, bỗng có tiếng gọi giật lai:

- Này anh!

Ông quay lại, Phó chủ tịch kiêm Trưởng ban giải phóng mặt bằng, mặt cúi xuống đống giấy tờ, tay chỉ vào chiếc phong bì:

- Xin đừng quên!

* * *

Phố thị, đèn cao áp giăng như mắc cửi, từng quầng sáng giao thoa, tỏa ánh xuống mặt đường tấp nập xe chạy và người đi. Giữa công viên, cột hoa đăng muôn mầu nhấp nháy. Xung quanh vườn hoa, bãi cỏ, quán hàng bán ăn đêm xếp thành dãy, từng chiếc lều dựng tạm mọc san sát. Khi bóng tối bao trùm và ánh điện bừng sáng. Thay cho đi dạo hưởng thụ sự tĩnh lặng của công viên, là sự nhộn nhịp, ồn ào, tấp nập của kẻ ăn, người uống và những lời chào mời, chèo kéo.. Văn hóa tinh thần nhường chỗ cho văn hóa ẩm thực; hương hoa thiên nhiên nhường cho mùi vị sực nức của đồ ăn, thức uống. Từ phở gà, thịt chó, miến ngan, bún ốc, trứng vịt lộn, chim quay, gà tần.. Đến các loại ăn nhanh như bánh bao, bánh mì, ngô luộc.. Tất cả sôi sục, hôi hổi, trộn lẫn rồi lan tỏa, chan hòa vào không gian thành một hợp vị. Nhẹ và dễ nhận là mùi bột mì cháy từ những chiếc xe đẩy và mùi khét của các bắp ngô nướng.

Ngổn ngang, xen lẫn, xô bồ vậy, nhưng vẫn theo một trật tự riêng mà các chủ quán ngầm thỏa thuận. Bàn ghế nhựa giăng ra khắp nơi, mọi chốn; quang cảnh chỗ thì giống một bữa tiệc bắt đầu, chỗ thì giống như sắp tan.

Ăn xong, bạn muốn uống ư? Xin mời! Ngay dưới hè phố, có đầy đủ các dịch vụ phục vụ. Cafe, trà nóng, lạnh, nước vối, nhân trần đá, đủ! Cần thưởng thức đồ ngọt? Có ngay! Các loại, chè bưởi, chè sen, chè xôi, chè thập cẩm.. Đặc sản từ Huế do người Huế làm! Kẹo mè xửng, bánh đậu xanh Hải Dương, bánh gai Ninh Giang, bánh dầy Quán Gánh, chè lam Bắc Ninh.. Thôi thì đủ thứ! Có kể e phải dăm ba trang giấy mới hết. Xin mạn phép dùng đại từ v.. V.. Làm dấu chấm câu để chuyển đoạn.

* * *

Chiếc ô tô dạo quanh một vòng rồi dừng lại. Ông khách mà độc giả gặp ở ủy ban mở của xe bước xuống. Ông chủ động đến một quán ăn gần cuối công viên để ngồi. Chỗ ấy ít người qua lại, trông được ô tô; ánh sáng nhạt, nhưng không quá tối. Ông không hứng khởi lắm về chuyện ăn uống. Nhưng có lẽ, bởi ăn uống là nhu cầu tất nhiên. Vả, con cậu lái xe cao, đô như hộ pháp chắc đã đói mèm? Ông vẫy chủ quán lại nói nhỏ:

- Chị cho chúng tôi trước cái gì để nhắm.

Lập tức một đĩa chân gà và một chai rượu "sủi tăm" được bày ra. "Cao của gạo" hòa tan, dẫn nhanh trong huyết quản. Ông chậc:

- Rượu ở đây khá thật!

- Dạ! Rượu Chi Đông đấy ạ! - Chị chủ quán, chừng bốn mươi tuổi, tay bê đĩa thức ăn bốc hơi nghi ngút đi qua, đế theo - Rượu này chồng uống vợ say, thằng bé ngửi phải lăn quay ra nhà.

Vài tốp khách đang "nhậu" và cậu lái xe của ông bật cười vì câu pha trò của chị chủ quán. Còn ông, môi khẽ nhếch, mắt lơ đễnh ngắm gian quán: Tám cọc tre treo tấm bạt ni lông, võng như dù hết gió. Màu xanh của bạt ánh vào da người nên trông ai cũng như bị suy dinh dưỡng. Ông cau mày:

- Có mỗi mình chị phục vụ thôi ư?

- Dạ! Bác cứ yên tâm! Có đủ người cho bác sai! Em mới dọn nên vội. Xong ngay đây mà bác! - Bỗng chị giật giọng - Kìa.. Mình, nhặt rau nhanh lên!

Ông khách ngoái lại nhìn: À.. Chồng chị chủ quán đang lúi húi tận góc, cạnh mấy thùng đựng nước, ngay chỗ đặt chậu rửa bát. Bóng tối bị tấm bạt đè lên một quầng đen. Quay lại, ông hỏi chị chủ quán vừa bê thêm thức ăn ra:

- Sao chị không mướn người làm?

- Vậy có bằng nuôi người ta hả bác? - Chị trả lời - Cái công viên bé tị, trăm người mua, vạn người bán! Lời lãi bao nhiêu mà thuê? Ấy.. Thôi, khách sộp của em đến. - Chị tất tả chạy về quầy.

Một đôi nam nữ đèo nhau bằng xe máy lao thẳng như muốn đâm sầm vào, rồi phanh đánh "kít" trước quầy bán:

- Bà chủ quán! Chặt cho nửa "chú"!

Con gà luộc, nằm như đang lễ cụ bị con dao phanh đôi:

- Hai em lấy nửa nào? Chọn đi!

Cậu thanh niên ẩy vào sườn cô gải, ra hiệu: "Em!". Cô gái xuống xe, lấy móng ngón tay út gảy, hai thân con gà rời, ngã ngửa:

- Chặt thế này "bố" đứa nào chọn được nữa? Người đâu "bọ xít" thế không biết! Không bao giờ "để cửa" cho ai một tý! Thôi, gói vào! Hôm nay cho nhiều hành trần vào, đừng "ki bo" như hôm qua!

Chị chủ quán cười:

- Hôm qua nửa cân hành của chị đấy em ạ! - Chị quay lại - Đâu rồi? Đem hành lên đây để trần! Chưa nhặt hết thì đem lên đây một ít đã! Người đâu mà chậm thối chậm nát, tối kiến thế không biết!

Người đàn ông bê rổ hành lên. Chị chủ quán giơ tay đón, miệng sai tiếp:

- Lấy thêm cho cô chú ấy ít rau sống, chanh, ớt, tỏi, muối tiêu, mì chính.. Xong, tranh thủ xếp cho tôi các thứ lên bàn. Không chốc nữa đông khách, chạy không kịp, tìm không ra. Nhanh nhanh cái tay lên..

Không nhìn lại, nhưng ông khách hình dung ra công việc người chồng của chị chủ quán đang làm. Ông khó chịu "Đàn ông gì mà để đàn bà sai như vặt thịt mà cũng chịu được!".

Người lái xe hỏi:

- Em gọi phở nhé?

Ông khách xem đồng hồ:

- Ừ! Ăn xong, hết thời sự vào là vừa.

- Cho xin hai bát phở bà chủ ơi! - Người lái xe gọi.

- Xin có ngay, có ngay! Ăn tim gan hay gà hả các bác? - Không đợi nghe trả lời, chị quay lại. Còn đứng đực ra đấy à? Rửa thoáng cho tôi bó rau mùi để bỏ vào phở.

Một người khách nghe vậy, hỏi:

- Rau sống có rửa nước muối không đấy?

- Dạ! - Chị chủ quán giọng đưa như võng - Về cái khoản vệ sinh là các bác cứ yên tâm! - Chị lật con dao vỗ đánh "bụp" lên mấy lát hành củ như giữ nhịp - Rau là rau sạch, rửa bằng nước máy pha thuốc tím sát trùng.. - Quay lại phía chồng, chị gọi - Xong chưa? Quấy quá lên, phở nguội hết rồi kìa..

Thêm mấy tốp khách nữa vào quán. Chị nói với chồng:

- Bê hai bát phở ra chỗ bàn cuối ấy! - Rồi tiếng chị lại kẽo kẹt như đu xuân ngày tết - Ôi! Lâu quá mới thấy các em tới! Ăn gì để chị làm nào..

Ông khách dịch lui ghế ra lấy chỗ cho người bê phở. Theo thói quen, ngẩng mặt lên nói:

- Xin cám ơn! - Chợt ông kêu lên - Ơ.. Thế.. - Ông ngỡ ngàng, chưa tìm được từ thích hợp vì ngạc nhiên.

Người bê phở đặt nốt bát nữa xuống bàn:

- Thế anh và chú vẫn ở đây chưa về ư?

Người lái xe trợn tròn mắt:

- Bác.. Bác bác bác.. Bác Phó Chủ tịch.. Sao sao sao.. - Giống như sếp, người lái xe tắc nghẽn từ.

- Sao lại bê phở chứ gì? - Phó Chủ tịch kiêm Trưởng ban giải phóng mặt bằng, (Không! Bây giờ phải nói là chồng bà chủ quán, hay là người giúp việc mới đúng) đỡ lời - Cuộc sống mà! Cái gì cần làm ta vẫn phải làm chứ sao.

- Nhưng anh làm tôi ngạc nhiên quá! - Ông khách vẫn chưa hết ngỡ ngàng.

- Anh và chú tính! Nhà tôi: Ba cháu học đại học cả. Không làm lấy tiền đâu chu cấp cho chúng? Mà thôi! - Chợt anh ngắt lời - Chuyện nội bộ gia đình, mặc tôi! Còn anh, sao lại ở lại? À.. Tôi hiểu rồi!

Anh muốn gặp cấp trên của tôi chứ gì? - Không chờ câu trả lời anh nói tiếp - Nhưng nếu anh muốn nghe, tôi cho anh một lời khuyên: Đừng mất thời gian vô ích! Tôi chưa dám chắc ai cũng như tôi. Nhưng, mặt bằng nơi chúng ta đang cùng tháo gỡ? Sẽ vậy! Không ai dám đi ngược lại quyền lợi của dân cả..

- Ối giời ơi là giời.. - Tiếng chị chủ quán kêu thất thanh - Ban ngày ban mặt nói mãi ở công đường chưa chán hay sao mà ban đêm còn "diễn thuyết" ở đấy? Có rửa nhanh nhanh cho tôi mấy cái bát không thì bảo?

* * *

Đợi người lái xe trả tiền xong, ông khách rút cái tăm, cài lên miệng rồi đứng dậy. Ông định bước về phía vợ chồng chủ quản chào một câu xã giao. Được mấy bước, nghĩ thế nào, ông quay lại, khoát tay nói với người lái xe:

- Thôi, mình về.

Chiếc xe len lỏi giữa những dãy hàng quán. Ông nhắc người lái xe:

- Chạy từ từ thôi, không bụi bay vào thức ăn.​

Nguyễn Nhuận Hồng Phương
 
278 ❤︎ Bài viết: 815 Tìm chủ đề

25. Ngõ cụt - Nguyễn Nhuận Hồng Phương


20260816-042254-b549a2647a.png


Cái ngõ hẹp bề ngang, mấp mô, lồi lõm, lầy lội, nhoe nhoét bùn đất. Đã thế, giữa cua gấp còn chìa ra góc của căn nhà xây, làm khuất tầm nhìn cả hai phía. Không ai ưa, và mỗi lần đi qua cảm thấy nó cực kì vô lí.

Nhưng thường khi, vô lí với người này, lại có lí với người khác. Góc nhà chướng, vô lí với những người phải sử dụng cái ngõ làm lối đi như một sự bắt buộc. Vì sâu tun hút cuối ngõ, là tổ ấm hạnh phúc của hàng trăm con người sống ở khu tập thể công nhân viên. Tuy vậy, nó lại có lí với nguyên trạng của nhà máy như hiện nay.

Người để lại cái vừa có lí lại vừa vô lí ấy là vị Giám đốc nay đã nghỉ hưu. Tiền sử, khi còn đương quyền, ông cho tách khu tập thể công nhân viên ra thành một xóm, với mục đích quyết định thanh lí bán lai cho các hộ đang ở. Một quyết định thông minh, một sáng kiến tầm cỡ, vừa làm lợi cho Nhà nước lại vừa hợp với ý nguyện của mọi người; một chứng minh cho sự đúng hướng của cơ chế.

Nhưng khi hoạch định, do vướng ngôi nhà, nên cái ngõ bị thắt ngẫng, gấp khúc và bành trướng như đã kể ở trên. Mỗi lần đi tới đấy, nếu tránh nhau, người này phải lùi lại nhường cho người kia đi trước. Ban chấp hành Công đoàn đã kiến nghị đề nghị Giám đốc giải quyết.

Khốn thay, ngôi nhà chưa đủ tuổi lão hóa. Để cán bộ, công nhân viên an tâm, trong đại hội công nhân viên chức, ông Giám đốc phát biểu cam đoan với mọi người rằng: Khi nào ngôi nhà hết khấu hao, sẽ phá, mở rộng cho thông ngõ.

Miệng nhà quan có gang có thép, ai nấy sống trong khu tập thể chấp nhận thời gian chờ đợi, nuôi hi vọng rồi đến ngày cái ngõ được tháo cũi sổ lồng.

Nhưng, thời gian thấm thoắt thoi đưa, đã qua ba đời giám đốc rồi, góc tường vẫn sừng sững đứng. Những người sống trong khu tập thể có kẻ đã chết, có người còn sống, nhưng, cái ngõ vẫn giữ nguyên lịch sử.

May mắn thay, vừa hay nghe tin ngôi nhà đã hết khấu hao, chuẩn bị bán thanh lí.

May mắn nữa, người được mua thanh lí lại là người kế nhiệm. Thể nào người kế nhiệm chẳng thực hành lời hứa của người tiền nhiệm? Thế hệ nọ tiếp nối thế hệ kia, đạo lí cách mạng chẳng dạy thế là gì? Ai cũng tin là vậy!

Thực là một tin mừng cho những gia đình sống trong ngõ cụt.

Nhưng.. Đời còn có chữ "Nhưng".

Nhưng, điều trớ trêu là ông Giám đốc mới không muốn làm cái điều mà vị Giám đốc tiền nhiệm kia đã hứa và để lại. Ông đưa ra một ý kiến rất thuyết phục: Không có điều khoản nào mang tính pháp lí cho việc phải phá nhà để mở rộng ngõ!

Mọi công dân sống trong ngõ cụt nhất trí kí vào đơn kiến nghị. Ông Giám đốc đương chức ghi vào đơn trả lời không giải quyết. Lí do đơn giản vì nay xóm thợ kia đã thuộc quyền quản lí của Chính quyền địa phương.

Lập tức, đơn kiến nghị được đồng kính lên Chính quyền sở tại. Sau khi xem xét, ông Chủ tịch phường trả lời trong đơn: Rằng, ngôi nhà ấy thuộc quyền Nhà máy quản lí, địa phương không có trách nhiệm.

Sự việc đến lúc này nghe chừng tắc tị.

* * *

Anh Tam, hành nghề mài dao, kéo. Vốn không phải là công nhân của nhà máy. Anh mua lại gian nhà của một gia đình công nhân chuyển đi nơi khác, rồi đưa vợ con từ quê lên ở. Là người ngoại đạo, thờ ơ mọi điều xảy ra với thế giới bên ngoài. Nghe mọi người bàn tán, anh nói đổng:

- Tưởng chuyện gì, chứ chuyện ấy dễ ợt.

Câu nói của anh làm mồi cho chuyện thách đố. Anh rao giá:

- Một triệu đồng cho việc giải quyết.

Cả xóm đang lúc hăng: Đồng ý!

Tưởng nói chơi, ai ngờ là thật. Một tuần sau, dân ngõ cụt thấy đích thân ông Giám đốc chỉ huy cho thợ đập tường, dỡ gạch, mở rộng đường, nới tầm nhìn cho cái ngõ thông thoáng.

Cả xóm mừng, hò nhau mua chó về thịt tổ chức liên hoan. Trong bữa rượu, mọi người yêu cầu anh Tam kể. Hứng chí, anh thuật lại:

- Có gì đâu! Biết chắc mình có một triệu, tôi thuê thằng nghiện hết năm trăm. Nó đến nhà ông Giám đốc nói thẳng thừng: "Ông biết điều trả cho bà con xóm thợ sự công bằng. Nếu không, tôi sẽ cho cả nhà ông nhiễm HIV." - Kể xong, anh Tam cười khà khà - Chẳng qua tôi cũng vận dụng mưu lược, kế sách của Tôn Tử "lấy độc trị độc" mà thôi - Nếu ta cứ chờ cho kẻ tham có lương tâm e chẳng bao giờ có. Thôi thì cứ mượn cái ác để diệt cái tham có khi lại được việc.

Còn nghe nói, anh Tam không lấy năm trăm ngàn phần của mình mà ủng hộ cho xóm thợ thêm vào để bê tông hóa cái ngõ cụt ấy.​

Nguyễn Nhuận Hồng Phương
 
278 ❤︎ Bài viết: 815 Tìm chủ đề

26. Ngõ tường vi - Nguyễn Nhuận Hồng Phương


20260816-042551-12a19c861c.png

Gửi Thành!

Người lái xe ôm dừng xe, đưa tay chỉ:

Đó, đó! Tiệm bánh cuốn Thành Đô đó!

Tôi xuống xe móc tiền trả, cảm ơn anh rồi xách cặp đi vào. Trong quán có vài tốp người đang ăn. Tôi chọn bàn trống kê sát góc ngồi xuống. Mùi thịt nướng ngầy ngậy lẫn trong hơi bánh tráng nghi ngút bốc ra lùa vào mũi tôi quyến rũ. Một phụ nữ chừng bốn mươi tuổi đi tới: "Anh Hai Bắc kỳ zui lòng đợi chút, nghen". Vừa nói, chị ta vừa xăng xái thu dọn bát đĩa, mặt hướng về phía quầy, xướng: "Một suất, nghen !" Người đàn ông đứng sau quầy ngẩng mặt lên như xác nhận rồi lại cúi xuống hí húi với công việc. Tôi nhích ghế xoay lại cho dễ quan sát.

Y vẫn vậy, duy mái tóc tự nhiên bồng bềnh uốn ba làn nay đã bạc, mỏng, thưa, mỗi khi cử động lấp ló khoảng hói giữa đỉnh đầu. Y lật chiếc đĩa, xếp tệp bánh vào, khéo léo dùng kéo lách dưới kẹp bánh cắt thành từng lát nhỏ. Tiếng lách cách đều đều làm tôi nhớ tới tiếng kéo cách đây gần bốn mươi năm của một tay thợ cắt tóc điển trai có cái tên rất điệu: Ngọc Đoan.

1

Ngọc Đoan cắt tóc chỉ dùng kéo và lược. Y có đôi bàn tay thạo nghề và thật đẹp, trắng muốt, bờ móng chuốt lộng, thon thon hình búp măng như tay con gái. Vừa cắt y vừa bập kéo, tiếng kéo thanh sảng, giòn tan, rẻo và ngọt, có ma lực khiến bọn trai tơ ở phố Lào Cai rất mê.

Tôi bước vào hiệu vừa lúc Ngọc Đoan cắt xong cho một thanh niên. Y vắt tấm vải choàng lên thành ghế, bê chiếc gương nhỏ soi ngược cho khách xem phía sau, tay vuốt vuốt: "Gáy của bạn nông, tỉa cao trông trơ lắm" Chàng thanh niên rời khỏi ghế, nhoẻn cười, lấy tiền trả. Y nhã nhặn cảm ơn, lịch sự tiễn khách ra cửa rồi quay vào, nghiêng đầu, tay chỉ ghế: "Mời anh ngồi, tôi xin được phục vụ".

"Đầu anh tròn, tóc cứng, gáy vuông, để tóc dài không đẹp, có ba kiểu để anh chọn, một kiểu đầu hoa gáo, kiểu thứ hai móng lừa, kiểu thứ ba cắt theo kiểu đầu Nguyên soái Stalin" Y nói sau khi dùng lược chải đầu cho tôi. "Tuỳ anh, kiểu nào cũng được, miễn là gọn." Tôi trả lời, chợt nhìn thấy tấm huy hiệu thương binh lấp lánh đeo trên ngực y. Tôi liếc trong gương: Y còn trẻ, khuôn mặt thanh tú, sáng láng, da mịn màng kiểu học trò, nhiều lắm hai ba, hai bốn tuổi là cùng. Tôi đưa mắt thẩm tra: Chân, tay, thân thể lành lặn, chả có tý nào biểu hiện kẻ từng trải qua chinh chiến, vậy mà.. Thương binh?

"Tôi bị thương hồi ở Thanh niên xung phong- Y kể tự nhiên như hiểu tôi đang thắc mắc và đã quen từ lâu- Bị một cồ đá tảng từ trên cao lăn xuống, lúc tỉnh đã thấy mình nằm trong bệnh xá tiểu đoàn rồi". "Anh bị thương ở đâu?" Tôi buột miệng hỏi. "Hình như vào đầu" Y đáp, lấy tay ấn nhẹ đầu tôi xuống. Tiếng kéo lách cách giữ nhịp rộn rã. "Sao lại hình như?" Tôi hỏi. Y nghiêng đầu ngắm mái tóc của tôi trong gương, trả lời: "Lúc tỉnh dậy tay bác sĩ phụ trách ở bệnh xá tiểu đoàn nói." "Thế không chẩy máu à?" óc tò mò của tôi bật thành câu hỏi.

Tiếng kéo chuyển làn, răng lược bằm, cày vào tận chân tóc. "Không! - Y đáp- Thế mới lạ chứ! Chỉ sây sát một chút, tôi đoán một là nhờ cái mũ nên không bị chẩy máu, hai là vì tôi sợ quá nên ngất đi, chứ anh tính, hòn đá bằng nửa gian nhà, nếu nó đè, chắc người tôi nát như tương vằm rồi". "Thế căn cứ vào đâu mà họ kết luận anh bị thương?" Tôi hỏi cùng một cái lắc ngang. Y củng nhẹ lưng lược vào sọ tôi: "Hỏi thì cứ hỏi, nhưng đừng cựa quậy, cái kéo của tôi không có mắt đâu, dễ mất tai lắm đấy!" Dặn dò xong y nói tiếp:

"Lúc đi Thanh niên xung phong tôi mới mười tám tuổi. Tôi giống gen ông già đẻ ra tôi, háo sắc, phát dục sớm, hễ trông thấy bé nào" ngon ngon "là thích. Cùng đại đội tôi có một trung đội nữ, toàn các bé vừa trẻ, vừa xinh. Anh lên Lao Cai biết đấy, đàn bà vùng cao bà già còn yêu đôi má hồng. Huống chi bọn con gái mới lớn. Trông mơn mởn như hoa đào, hoa mận vào mùa xuân ở Sa Pa hay Bắc Hà ấy.."

Đang nói chợt y dừng kéo ngoảnh ra. Từ ngoài, hai thanh niên bước vào. Chắc là người quen, nhìn qua gương tôi thấy họ rất tự nhiên, cả hai ngồi xuống giường. Một trong hai người cầm cây đàn ghi ta lên tiếng: "Thế nào Ngọc Đoan, học chứ?". Ngọc Đoan vừa cắt vừa đáp: "Đồng ý! Bạn làm ơn ghi tên đăng ký hộ mình. À, thầy giáo có nói bao nhiêu tiền không?". Người thanh niên cầm ghi ta nằm kềnh xuống giường, gảy mấy hợp âm cùng câu trả lời: "Tiền trả theo từng giai đoạn, mỗi giai đoạn năm mươi đồng". Ngọc Đoan xin lỗi tôi, mở ngăn kéo lấy tiền đưa cho bạn: "Cậu nộp giúp, bảo với thầy Hải bắt đầu từ thứ bảy này mình đến".

Chờ cho hai thanh niên ra khỏi cửa, tôi hỏi: "Anh Đoan học gì đấy?" Ngọc Đoan cười: "Rỗi rãi bọn bạn rủ học chơi ghi ta, biết chút cho vui" Nói xong y hí húi tập trung vào công việc. TôI, mặc dù rất muốn nghe tiếp câu chuyện y đang kể, nhưng vì ngại nên không hỏi.

Ngoài trời bỗng tối sầm, gió thổi lộng, lùa vào hất tung tấm màn gió che cửa. Ngọc Đoan dừng tay kéo, hạ tấm phên xuống rồi bật điện. Y ca cẩm: "Trời với đất, dễ lật mặt thế không biết. Vừa nắng to mà đã mưa ngay được". Tôi đế bằng một câu thành ngữ: "Nắng Lào Cai mưa dai Yên Bái", thất thường lắm! ".

Quả thật, khi Ngọc Đoan cắt xong tóc cho tôi thì cơn mưa ập xuống. Nước mưa lọt qua những chỗ dột trên mái nhà bắt đầu lên tiếng. Ngọc Đoan cuộn chăn, màn vào chiếu dựng đứng lên góc tường; xuống bếp bê tất cả thùng, chậu, nồi, niêu, xoong, chảo, những vật dụng có thể mang ra để hứng. Những giọt nước tý tách rơi tạo một hợp âm vừa nghèo nàn vừa thiểu não. Rất may chỗ tôi ngồi, chủ nhân đã căng một tấm ni lông chống dột, đón dòng nước chảy ra ngoài cửa sổ. Ngọc Đoan ái ngại nhìn tôi:" Hay anh lấy áo mưa của tôi mà về, lúc nào tiện qua thì trả. "Tôi nhìn mái tóc được phiên bản từ đầu của ông Stalin trong gương, nói:" Đợi tạnh tôi về cũng được. ".

Mặc tôi ngồi, Ngọc Đoan chạy xuống bếp, lát sau y bê bát ngô rang và một cút rượu lên, kéo chiếc ghế đẩu thay bàn, rót rượu, đẩy một ly về phía tôi:" Mời anh, rượu Bắc Hà, ngô nếp Bát Xát đấy! ". Không khách sáo, tôi chạm chén với y. Rượu Bắc Hà, thứ rượu đặc trưng của đồng bào dân tộc nấu bằng ngô, ủ men lá vừa nặng độ vừa sốc, xộc lên mũi, bốc hỏa lên tận đầu. Tôi nhúp mấy hạt ngô thả vào miệng, vị ngô bùi, rẻo, ngậy thấm vào lưỡi làm dịu bớt nồng độ rượu. Uống liền hai chén, mặt Ngọc Đoan mái dần, đôi mắt của y trở nên xa xăm, giọng buồn buồn:

" Tôi không nghĩ mình lấy vợ sớm. Một cuộc tình như trong mơ, đến rất nhanh và đi cũng rất vội- Y dừng lời, uống thêm một chén rượu như để lấy đà- Bé tên Bảo Thoa, cái tên trùng với nhân vật trong "Hồng Lâu Mộng". Hơi nhỏ người một chút. Nhưng với tôi, lúc ấy Bảo Thoa rực rỡ như một bông hoa. Trong mắt người đang yêu, hình như mọi khiếm khuyết được khỏa lấp bằng một thứ tình cảm thật lạ, đam đắm và mê muội. Bảo Thoa ở C bộ, làm liên lạc viên, thi thoảng đi cùng với C trưởng Long xuống các trung đội kiểm tra. Bảo Thoa rất hợp với bộ quần áo mầu xanh lá cây. Dưới chiếc mũ mềm, đôi bím tóc tết đuôi sam xanh mượt, hàng tóc cắt ngắn che vầng trán nhỏ, khuôn mặt của bé thon như trái đào Vân Nam, lưỡng quyền hồng rực phơn phớt lông tơ, đôi mắt ủ trong hàng mi cong, lấp láy như hai viên huyền ngọc. Bảo Thoa hay cười, tiếng cười trong ngần như nước suối Mường Hum, cùng với tiếng cười là những bước đi nhún nhẩy ngây thơ, tinh nghịch.

Trong đơn vị, tôi là người biết cắt tóc nên hàng tháng được cấp trên phân công ở nhà mười ngày không phải ra hiện trường để phục vụ cho toàn đại đội. C bộ gần đấy, lúc rỗi, Bảo Thoa xuống lán, thi thoảng dúi cho tôi phong lương khô, bao thuốc lá Tam Thanh, gói chè Liên Hoa hoặc giúp tôi quét dọn nơi làm việc. Để "trả công", tôi trèo núi hái hoa kim ngân về cho Bảo Thoa pha nước uống và phơi khô để gội đầu. Bé thích lắm, mỗi lần nhận, mắt sáng rực, áp những nhành hoa lên má, hà hít, lấy răng nhấm nhấm. Trong mầu vàng dịu, đôi môi bé tươi hồng hé nở, tôi ghen thầm và ước ao được hóa thân thành những nhành hoa kim ngân may mắn kia. Dần dần tôi thích và yêu Bảo Thoa từ bao giờ không rõ nữa. Tuy chưa tỏ tình, nhưng tự trái tim, tôi ôm trọn hình ảnh Bảo Thoa như trái mận vàng cắn dở, càng thấm vị ngọt, chua, càng thèm, càng khao khát..

Một hôm, C trưởng Long xuống chỗ tôi cắt tóc. Vừa đặt mông xuống ghế, anh hỏi: "Đồng chí Đoan yêu Bảo Thoa phải không?" Tôi dừng tay kéo, đỏ mặt như người thú tội, lưỡng lự chưa biết trả lời sao. C trưởng Long nhìn tôi trong gương: "Kể ra Ngọc Đoan và Bảo Thoa đẹp đôi, nhưng kỷ luật của đơn vị quy định rồi. Là thủ trưởng, tôi nhắc đồng chí nên giữ gìn, phải cắt đứt ngay quan hệ ấy đi!".

Tôi "Vâng" nhưng trong lòng hoang mang trĩu nặng. Và, chưa bao giờ tôi cắt một cái tóc dở như thế. Dưới tay kéo của kẻ buồn vì thất vọng, mái tóc của C trưởng Long lam nham như chó gặm, thậm chí lúc cạo, lớ ngớ thế nào tôi làm sứt mũi anh. C trưởng Long không nói gì, lấy mẩu thuốc lá dịt vào, nhưng ngay hôm sau, tôi nhận được lệnh trở về đơn vị, ra hiện trường làm việc. Công việc cắt tóc của tôi do một thợ chính hiệu được mời từ huyện Bát Xát vào đảm nhận.

Từ đấy tôi ít gặp Bảo Thoa và hình như bé cũng cố tình tránh tôi. Khỏi kể nỗi đau buồn nản của kẻ thất tình. Tôi lao vào công việc như một thằng điên. Dường như không tháng nào tôi không được cấp giấy chứng nhận "Dũng sĩ". Nhưng trái với công việc, tôi như kẻ mất hồn. Khi đêm xuống, tôi ôm những nhành hoa kim ngân vào lòng, mùi hương thơm thoảng mang đầy kỷ niệm. Tôi nhớ em làm sao, cõi lòng tôi hoang đắng. Tình yêu đơn phương dày vò khiến tôi hẵng hụt, tôi vò nát nhành hoa kim ngân thổn thức.. "

Ngọc Đoan dừng kể, nghiêng chai dốc nốt những giọt rượu cuối. Vẫn chưa đầy, tôi nhấc chén mình lên san rượu sang cốc của y. Ngọc Đoan gật gù," cạch "vào ly của tôi rồi ngửa cổ uống hết, đôi mắt chuyển mầu, trong mảng nền trắng đục những tia máu hình dải quạt đỏ quạch, giần giật, khiến tôi hiểu y đang cố cưỡng lại một ký ức đáng quên đang trở lại dày vò cõi lòng y đến vô cùng. Tôi khuyên:" Nếu anh không muốn, xin đừng kể nữa ".

Ngọc Đoan lắc đầu:" Cho đến một ngày, tôi coi hôm đó là số phận. Đơn vị chúng tôi thông tuyến đường Bát Xát. Theo kế hoạch, chúng tôi phấn đấu quyết tâm hoàn thành kế hoạch trước thời hạn mười ngày. Không khí ra quân của đơn vị thật náo nức. Chiều hôm trước, tổ phá mìn cho nổ những khối đá nằm sát bờ sông Hồng. Tôi cùng tiểu đội trưởng một nhóm, hăm hở thọc mũi choòng vào những kẽ nứt làm đà, tiểu đội trưởng thả mũi choòng kế tiếp, những cồ đá bị mìn xé, được chúng tôi bẩy, lăn xuống chân núi ầm ầm, bụi đất bay mù mịt, cây rừng bị đá quăng quật đổ rạp, gãy răng rắc.

Lúc nghỉ giải lao, tôi và tiểu đội trưởng ngồi trên một phiến đá. Anh hỏi tôi: "Dạo này Ngọc Đoan có hay gặp Bảo Thoa không?" Tôi cười đau khổ: "Mình lính tráng, mơ gì được mà mơ". Tiểu đội trưởng móc túi lấy ra bao thuốc lá Trường Sơn: "Còn mỗi điếu, hút chung nhé!". Anh xoè lửa châm, rít một hơi rồi đưa cho tôi: "Tôi nghe nói C trưởng Long nhận Bảo Thoa làm anh em kết nghĩa." Tôi cười ruồi không đáp. Tiểu đội trưởng nhìn bộ mặt đưa đám của tôi, khuyên: "Thôi, buồn làm mẹ gì, nay mai xong chiến tranh, thiếu cha gì đàn bà!" Tôi ngửa cổ, thổi khói thuốc vào không trung, lơ mơ ngắm trời, ngắm núi. Chợt cây rừng phía trên chuyển động, tôi hét: "Tiểu đội trưởng.." Trong khoảnh khắc, tiểu đội trưởng lao vút sang trái, còn tôi bị đá hất xuống dưới, và sau đó không biết gì nữa.

Lúc tỉnh dậy, người tôi nhìn thấy đầu tiên chính là Bảo Thoa. Đôi mắt bé nhoè nhoẹt phủ kín tôi, giọng của bé thật nhẹ: "May quá, anh tỉnh rồi, anh làm em sợ quá!" Tôi nuốt từng câu nói của bé cùng với mùi tóc thoảng hương hoa kim ngân. Con bệnh tương tư khỏi hẳn, nhất là khi tôi được biết C trưởng Long đích thân cử Bảo Thoa đến chăm sóc tôi. Tôi cảm động, ân hận mình đã có ý trách nhầm anh. Có thể nói, thời gian ở bệnh xá là thời gian đẹp nhất của đời tôi. Đẹp vì luôn có Bảo Thoa bên cạnh. Bé tỏ ra là người bảo mẫu vừa nghiêm khắc vừa độ lượng. Bắt tôi uống thuốc đúng giờ, ngủ đúng giờ, những lúc rỗi, bé ngồi bên tôi trò chuyện tâm tình..

Bệnh xá tiểu đoàn đóng ở thung lũng Tà Loỏng, dưới chân dãy núi Hoàng Liên, có dòng suối Cốc San chảy qua. Lúc ấy vào mùa dâu da, thứ quả mầu đỏ, vỏ chua, lòng ngọt. Một lần Bảo Thoa rủ tôi đi hái. Tôi đeo ba lô cùng bé ngược dòng vào thung sâu lên tận đầu nguồn, nơi có con thác đổ nước xuống như rót bạc. Phía sau thác là hang động. Tôi nắm tay bé chui vào, trên vòm hang, hàng trăm nhũ đá muôn hình, muôn dạng nhuộm mầu sương sớm treo lơ lửng; ánh sáng bên ngoài xuyên qua thác, phản quang lên đám bụi nước thành ngàn vạn cánh hoa lấp lánh; hơi lạnh toát ra từ lòng động, cảnh tượng vừa nên thơ vừa bí hiểm. Càng vào sâu càng âm u, rờn rợn.

Tôi thì thào: "Em sợ không?" Bé nhúi đầu vào vai tôi: "Có anh, em chẳng sợ!" Trong hoang lạnh của những khối trầm tích, tôi ngửi thấy mùi da thịt bé nồng nàn cùng hương hoa kim ngân dìu dịu. Tôi hỏi một câu không đâu: "Hết hoa kim ngân chưa em?" Bé khúc khích cười: "Thế Ngọc Đoan không định lấy cho em nữa hay sao mà hỏi thế?" Tôi kéo bé sát vào mình: "Nếu em đồng ý, anh sẽ hái hoa kim ngân cho em suốt đời." Bé ngước mắt nhìn tôi: "Thật không anh?" Tôi đáp lại bé bằng nụ hôn vừa nồng nàn vừa vụng dại. Tôi nghe hơi ấm toát ra từ lồng ngực êm ái của thân hình thiếu nữ; tôi nghe con tim mình rộn ràng, run rẩy; không cưỡng lại bản năng, tôi thỏa hiệp với khao khát khôn cùng, chân tôi khuỵu xuống níu bé theo..

Nơi tận suối đầu nguồn, tôi mặc trái tim yêu buông thả, sự kìm nén bung ra.. Tôi lảm nhảm bao lời yêu không chừng mực. Cùng tôi, em chấp nhận niềm đam đắm giữa thiên nhiên kỳ bí. Những vách đã xa xưa, dòng nham thạch chai lì, đám bụi nước muôn mầu tung tẩy, tiếng thác đổ ì ầm, chứng kiến sự giao hoan không định trước..

Gần tháng sau, bé từ trên C bộ xuống gặp tôi, thì thào: "Hình như em có thai rồi." Tôi nhận tin ấy vừa sợ vừa lo lắng. Bảo Thoa gặng: "Bây giờ làm sao anh? Đơn vị biết thì chết!" Tôi nói: "Hay mình trốn?" Bảo Thoa lắc đầu: "Không được đâu anh, trốn sẽ mắc tội đảo ngũ, mang tiếng suốt đời.. – Ngập ngừng một lát, Bảo Thoa nói- Em tính thế này anh xem có được không?" Tôi nhìn bé chờ đợi như muốn có phép mầu từ cửa miệng bé thốt ra. "Em sẽ gặp anh Long, nhờ anh ấy giúp đỡ. Dẫu sao anh ấy cũng là anh kết nghĩa của em..". Đó là biện pháp bé đưa ra. Không còn cách nào khác, tôi nghe theo.

Ba tháng sau, được sự can thiệp, chở che của C trưởng Long, tôi và Bảo Thoa nhận giấy xuất ngũ, có giấy giới thiệu của đơn vị đi đăng ký kết hôn. Nhờ có quyết định chứng nhận thương tật, tôi được hưởng chế độ thương binh. Từ đấy tôi làm nghề cắt tóc. "

- Thế bây giờ mẹ con Bảo Thoa ở đâu? - Tôi buột miệng hỏi.

" Đấy chính là bi kịch đời tôi- Ngọc Đoan kể tiếp- Cháu bé sinh ra bụ bẫm, được ba cân bẩy, mẹ tròn con vuông. Trong số bạn bè cùng đi Thanh niên xung phong, người quan tâm nhất đến chúng tôi lại chính là C trưởng Long. Với tư cách anh kết nghĩa, thi thoảng đến thăm, cho quà, mua quần áo cho cháu. Tôi nhận sự quan tâm ấy với lòng biết ơn, tuyệt nhiên không có ý nghi ngờ. Cho đến lần sinh nhật cháu lần thứ ba, C trưởng Long tới. Cũng căn nhà này đây, sau khi ăn uống xong anh ta ra hiệu cho Bảo Thoa bế con ra ngoài. Còn lại hai chúng tôi, C trưởng Long hắng giọng giáo đầu: "Mình ra quân rồi, hôm nay đến nói chuyện với Ngọc Đoan cho mình đón mẹ con Bảo Thoa về".

Tôi trân trân nhìn anh ta: "Thủ trưởng nói gì em chưa hiểu?" C trưởng Long đáp: "Mình là lính, không thích nói vòng vo. Thực ra, mình và Bảo Thoa có quan hệ từ lâu rồi, hiềm vì lúc ấy đang ở quân ngũ. Vả, mình còn vướng vợ dưới xuôi. Nay tất cả mọi việc đã thu xếp ổn thỏa, chỉ còn việc của hai mẹ con Bảo Thoa nữa là xong.. - C trưởng Long ngập ngừng- Kể ra.. Mình biết làm thế là không đúng lắm với Ngọc Đoan, nhưng chẳng lẽ cứ để người khác nuôi con mình mãi..".

Không nghe hết câu, tôi hỏi: "Vậy còn chuyện kết nghĩa anh em, các người cũng dựng lên ư?" C trưởng Long rút ra một xấp tiền để xuống chiếu: "Chuyện kết nghĩa của tôi và Bảo Thoa cũng là điều bất đắc dĩ.." Như vậy bọn họ đã có âm mưu từ lâu rồi. Không chịu nổi, tôi vớ xấp tiền ném thẳng vào mặt hắn: "Đồ đểu, cút đi!". Những tờ tiền bay loạn trên không trung, anh ta lặng lẽ đứng dậy, đến cửa quay lại, nói: "Bù cho sự hi sinh ấy, tôi chẳng đã trả công cho cậu cái huy hiệu thương binh là gì!". Tôi đưa tay lên ngực dứt đứt chiếc huy hiệu ném theo, tấm huy hiệu đập vào tấm phên cửa rơi xuống nền nhà.

Phải chăng bởi cùng lúc tôi nhận vào mình tất cả những nỗi đau đắng của cuộc đời, hay như người nuốt nhiều quá nghẹn, tôi xé toang tấm áo mặc trên người, cuồng dữ, điên loạn, vừa gào thét, chửi rủa, vớ cái gì đập cái ấy, như con chó cùng đường, tôi vơ đồ đạc ném thành đống giữa nhà, chạy xuống bếp xách can dầu lên tưới vào, quẹt diêm định hóa thân cùng tất cả. Nhưng anh biết không, khi ngọn lửa loé sáng, đôi mắt bé Kim Ngân trong tấm hình hồi mới biết lẫy chớp chớp nhìn tôi. Tôi khuỵu xuống ôm tấm ảnh vào lòng tức tưởi. "Kim Ngân ơi". Tôi gọi, đáp lại tiếng tôi là sự im lặng đến ghê rợn. Bất lực, tôi vồ lấy chai rượu, tu một hơi cạn hết rồi đổ ụp xuống giường, úp mặt vào gối khóc tu tu.

Nửa đêm, tỉnh dậy trong trạng thái lơ mơ, tôi gọi: "Bảo Thoa ơi, rót cho anh cốc nước". Nhưng không tiếng trả lời. Tôi lật người ngồi dậy, ngơ ngác nhìn quanh. Hai mẹ con Bảo Thoa đi đâu mà bây giờ chưa về? Tôi thò chân khua dép, nhìn đồ đạc ngổn ngang, tiềm thức nhớ trở về, tôi tỉnh hẳn cùng với nỗi nhớ Bảo Thoa và bé Kim Ngân. Hình như trong cơn tột cùng của đau khổ, vượt qua thù hận con người sẽ tìm đến sự tha thứ? Với ai không biết, những tôi sẽ tha thứ mọi điều nếu cả hai mẹ con họ về bên tôi. Từ sâu thẳm trái tim mình, những kỷ niệm của tình vợ chồng, tình cha con vượt lên. Tôi thèm sao tiếng líu lo, u ơ gọi bố và những bước chân chập chững đầu đời tôi dắt cháu đi. Tôi úp chiếc gối xinh xinh thêu những nhành hoa kim ngân vào mặt hà hít tìm mùi thơm con trẻ. Bất chấp sự thật phũ phàng, tôi hiểu tình yêu của tôi với Bảo Thoa và bé Kim Ngân như chưa hề bị mất. Nhưng đáp lại, ba tháng sau tôi nhận giấy tòa gọi.

2

Sau buổi chiều mưa gió ấy, tôi kết thân với Ngọc Đoan. Y rủ tôi cùng học ghi ta, tôi cười: "Tay tớ quai búa từ năm mười bốn tuổi, bây giờ lại cầm vô lăng, học sao được!". Nói vậy nhưng đến chiều thứ bẩy tôi vẫn theo y đến nhà nhạc sĩ Thanh Hải. Nhà nhạc sĩ ở khu sơ tán của cơ quan trong một thung lũng nhỏ, xung quanh là rừng và núi đá. Nhạc sĩ là trưởng bộ môn của đoàn văn công, đẹp trai, trông rất giống người ý, tóc tự nhiên, bồng, xoăn tít, bện vào nhau đen nhánh, mặt dài, mắt lơ, mũi thẳng, môi mỏng, cằm thon, dáng đi nhanh nhẹn, tiếng nói trong vắt. Nhạc sĩ đã có vợ và hai đứa con gái, vợ anh là ca sĩ, gốc người dân tộc Nhắng.

Lúc tôi cùng Ngọc Đoan tới, nhạc sĩ Thanh Hải đang chơi ghi ta, anh gật đầu, đưa mắt ra ý bảo chúng tôi cứ tự nhiên. Ngọc Đoan và tôi rón rén ngồi xuống chiếc ghế băng kê cạnh cửa. Ngọc Đoan thì thầm: "Bản nhạc" Phiên chợ Ba Tư "đấy". Vốn là lính xế, tôi quen nghe tiếng máy chạy nhiều hơn, vả, khiếu thẩm âm của tôi có hạn, tôi nghe tiếng đàn như "vịt nghe sấm".

Trong lúc đó, Ngọc Đoan đắm chìm vào từng chuỗi thanh âm réo rắt. Y như lãng quên những niềm đau tận khổ, thân hình lắc lư, mắt lim dim, tâm hồn phiêu diêu trong phiên chợ đông người. Giữa ồn ã tiếng nói cười rộn rã, nhộn nhịp tiếng trống, tiếng thanh la, não bạt, lừa kêu, ngựa hí, điệu khúc dân vũ rộn ràng, sôi nổi; trong mớ tạp âm cộng hưởng, vút lên vệt thanh sắc réo rắt, ma dị của tiếng kèn múa rắn..

Bàn tay của nhạc sĩ như có phép mầu, từng chuỗi, từng chuỗi tiết tấu dồn nén rồi bung ra, quang cảnh đặc trưng miêu tả phiên chợ nửa bên kia vòng trái đất có sức hút kì lạ. Tiếng đàn đôi lúc như dứt ra, rơi xuống từng giọt, từng giọt trong trẻo, thanh khiết, rồi bỗng nhiên dồn dập, mạnh mẽ, dữ dội, vút cao như chim ưng tung cánh giữa trời xanh thắm, lúc đan kết, dịu dàng, da diết, hòa quện, lưu luyến, bịn rịn của những cặp tình nhân vui chợ chẳng muốn về..

Tiếng đàn dừng, những hợp âm cuối tan loãng vào thinh không, nhạc sĩ ôm đàn lưu luyến, đôi mắt mơ mòng, dường như hình ảnh của phiên chợ Ba Tư còn lưu hồn nhạc sĩ. Ngọc Đoan lẩm bẩm: "Hay quá!". Nhạc sĩ bừng tỉnh, đứng dậy bước tới chiếc bảng treo trên tường, kẻ khuông nhạc, vẽ một nốt khóa son rồi quay lại: "Nào, bắt đầu, hỡi các bạn, những nhạc sĩ tương lai của tôi".

Trái hẳn với tôi, Ngọc Đoan tỏ ra có năng khiếu âm nhạc, y nhận thức nhanh, ham học, luyện đàn thâu đêm suốt sáng. Nhạc sĩ Thanh Hải cũng rất mến cậu học trò nhiều triển vọng này. Chả thế, mới học được một kỳ, nhạc sĩ Thanh Hải tặng Ngọc Đoan chiếc đàn ghi ta coi như phần thưởng cho sự sáng dạ. Riêng tôi, nhạc sĩ khuyên: "Bạn học đàn cho vui, chứ bàn tay của bạn quen lái xe rồi, hơi cứng, học được nhưng mất thời gian lắm!". Tôi biết nhạc sĩ tế nhị nên nói vậy, chẳng nhẽ anh độp thẳng vào mặt tôi rằng, tôi thuộc loại "ngu lâu, dốt bền". Quả thực, trong khi tôi bập bùng, tiếng đàn kêu như thợ gò gõ thùng, thì Ngọc Đoan đã kết bài học thành những hợp âm có nhịp điệu. Tôi nản, một lần nói với y: "Số mình không chơi được đàn, đành làm Tử Kỳ nghe đàn của Bá Nha vậy". Và từ đó, "Tử Kỳ tôi" thôi ý tưởng trở thành nhạc sĩ.

Và nhân dịp nhận lệnh lên Lai Châu sáu tháng trung chuyển hàng sang nước bạn Lào, tôi bỏ học đàn luôn. Hết đợt, tôi về hôm trước thì hôm sau đến nhà Ngọc Đoan. Một cái biển "Ngọc Đoan nhận dạy đàn ghi ta" treo cạnh biển cắt tóc đập vào mắt tôi. Tôi không ngạc nhiên lắm vì hiểu khả năng của Ngọc Đoan. Vả, cái lối truyền âm như truyền đạo ấy đối với những người có năng khiếu cũng chả mấy. Thể như tôi dạy ông Chủ nhiệm Công ty học lái xe vậy, nhõn một tuần, không cần bằng bổi gì mà ông ấy một mình một Gát 69 rong ruổi khắp cả tỉnh.

Điều làm cho tôi ngạc nhiên, đó là quang cảnh đường vào nhà y. Thay cho cái ngõ vừa dốc vừa lầy, một lối đi được rải sỏi trắng, hai bên dựng gạch theo lối zích zắc, đổ đất trồng hoa. Nhưng tôi hơi lạ, không hiểu sao trong bồn duy nhất chỉ trồng hoa tường vi.

Ngọc Đoan đang cầm bình tưới. Nghe tiếng động, y ngẩng lên: "Anh về bao giờ?" Tôi không trả lời mà hỏi: "Dạo này" Bá Nha "vừa làm thầy dạy đàn và trồng hoa tường vi à?". Mặt y rựng đỏ như người bị bắt quả tang làm việc giấu, tay mơn man, vuốt ve chùm hoa mầu tím đỏ: "Hoa này là của người bạn mới quen cho tôi". Nét mặt và thái độ của y không qua nổi tôi. Tôi biết y có đàn bà. Chỉ đàn bà mới bắt được người đàn ông thích hoa. Tôi đang định hỏi thì y nói: "Tôi muốn cho anh nghe bài hát đầu tiên của tôi".

Tôi ngạc nhiên, y học được bao nhiêu mà đã sáng tác? Như để trả lời, y xách đàn ra, ngồi cạnh gốc hoa tường vi. Sau một vài hợp âm so dây thử tiếng, Ngọc Đoan cất tiếng hát: "ứớc gì ta đừng gặp/ ước gì lòng đừng mơ /Cơn khát nào vọng nuối/ Suối tình đã cạn khô? / Người đã đi qua đi qua/ Kể như là xa lạ/ Thì thôi, thì thôi đành/ Mặc niềm đau tàn tạ/ Xin đừng nhìn và em/ Đừng nhìn ta như vậy/ Có còn mơ được nữa/ Mảnh chiếu đời mong manh/ Có còn yêu được nữa/ Hỡi ngàn xanh ngàn xanh/ Có con đau được nữa/ Trái tim yêu chưa lành.."

Giọng y buồn thảm lạ, lời ca nhầu nhĩ như thi nhân nản đời bế tắc, còn giai điệu day dứt, vò xé na ná kiểu nhạc Trịnh Công Sơn. Tôi đoán vậy, chứ nào tôi có hiểu lắm đâu. Nhưng nhìn thái độ y tôi biết, y như kẻ đứng giữa ngã ba dòng suối Cốc San vào mùa nước lũ. Cái tâm trạng từng bị đột quỵ vì tình cảm làm y lo ngại. Trái tim con người mẫn cảm, không thờ ơ trước cái đẹp, nhậy cảm với kẻ khác giới. Nhưng nỗi đớn đau bị phản bội nhắc y, khuất lấp dưới nụ hồng xinh đẹp là những chiếc gai nhọn, sắc, dễ tướm máu..

Đang chơi, bỗng y lấy bàn tay đè lên những sợi dây đàn khiến dòng thanh âm tắt lịm. Mắt y lạc thần, đăm đăm nhìn những khóm hoa tường vi. Thời gian nặng nề trôi, kéo theo sự im lặng nghiệt ngã. Tôi phá tan sự im lặng ấy bằng một câu nói vô duyên: "Ngọc Đoan mới học mà đã sáng tác được thế là giỏi rồi". Y không đáp, đưa tay gảy mấy nốt nhạc rồi bỗng dưng mời tôi: "Anh có rỗi không, chiều nay tôi muốn anh đi với tôi?". Tôi không hỏi lý do mà hẹn với Ngọc Đoan bốn giờ chiều sẽ tới.

Buổi sinh nhật Thanh Hằng được tổ chức dưới chân mỏ đá, thứ đá trắng tinh khiết có tên khoa học là đá Đôlômít. Chúng tôi ngồi trên một bìa đá hình nấm mọc chìa ra ở lưng chừng núi. Bên dưới là khe nước ngầm chảy róc rách. Cảnh tượng thật nên thơ. Mặt trời dần khuất sau dãy núi Hoàng Liên. Những vạt nắng yếu ớt trải dài trong ngàn xanh, lả lớt, lịm chìm đổ mầu tím ngắt xuống những thung lũng xa xa. Từng đám hơi nước bảng lảng, kết tụ thành những đám mây mỏng tang bay là là trên các triền dốc, phủ lên những con đường quanh co ẩn hiện. Đâu đó, khắc khoải tiếng chim từ quy gọi bạn, tiếng tắc kè điểm nhịp, vòng vọng tiếng nai rừng tác mẹ, tiếng vượn hú gọi bầy.. Báo hiệu giây phút chia tay của một chiều sơn cước.

22 cây nến cắm quanh chiếc bánh sinh nhật hình trái tim, trên mặt bánh, bột mầu được tạo thành hai nhành hoa tường vi đỏ dịu, kết hình vương miện, ôm lấy hai chữ TH điểm xuyết bằng những hạt trân châu mầu dạ ngọc. Ngọc Đoan ghé tai tôi thì thào: "Bánh sinh nhật tự tay nhạc sĩ Thanh Hải làm cho Thanh Hằng đấy!".

Tôi hết nhìn chiếc bánh lại nhìn chủ nhân buổi sinh nhật. Trong mắt tôi, Thanh Hằng không đẹp, dáng thô, khuôn mặt khó tả, lưỡng quyền xuôi xuống phần má đầy đặn tạo một khoảng rộng có bờ, ấp vào cặp môi dầy láng bóng. Nhưng bù lại, dưới vầng trán thanh cao, cặp mắt to, mầu tro, chân mày cong hình dẫu ngã, gợi vẻ quý phái, thông minh và có học. Không kẻ đa tình nào có thể cưỡng lại đôi mắt thăm thẳm chứa đầy mơ mộng và tràn trề khêu gợi kia. Và tôi chợt hiểu vì sao bạn của tôi lại yêu hoa tường vi đến thế.

Tôi đang võ đoán thì nhạc sĩ Thanh Hải nói: "Hôm nay là sinh nhật của Thanh Hằng, mình đề nghị Ngọc Đoan làm nhiệm vụ" người hộ vệ ". Đề nghị" người hộ vệ "thắp nến giúp Thanh Hằng". Sắc mặt Ngọc Đoan bừng sáng, tay y luống cuống, que diêm trong tay run rẩy chực cháy, chực tắt. Thanh Hằng cúi xuống, khum tay che gió. Ngọn lửa bừng lên, tôi bắt gặp niềm vui kín đáo hiện trên khuôn mặt của hai người đang yêu.

Người "hộ vệ" thì thào: "Em thổi nến đi". Thanh Hằng đăm đăm nhìn quầng sáng giao thoa của những ngọn nến, ngần ngừ.. Bỗng dưng nàng quay lại bảo Ngọc Đoan: "Anh thổi nến cùng em nhé!". Trong vầng sáng lung linh, đôi mái đầu chụm lại, ánh sáng vụt tắt. Tôi nghe tiếng gã trai si tình thì thào: "Em cầu nguyện đi" Thanh Hằng vụm tay lên ngực. Tôi không hiểu người con gái kia đang thầm nguyện điều gì, còn chàng "Bá Nha" của tôi không cưỡng nổi tình cảm của mình, y ngồi ngây như tượng đá. Trong khi đó, nhạc sĩ Thanh Hải cầm đàn lên gảy khúc điệu "Chúc mừng sinh nhật". Âm thanh rộn ràng lan tỏa. Tôi ngước nhìn lên bầu trời, sao dầy như rắc bạc, một vệt sao băng loé lên, vút qua; vành trăng khuyết mỏng manh treo như chiếc lá, từng vạt mây mỏng tang lang thang bay về cuối trời vô định..

Tôi không cho đó là sự kết hôn vội vã. Nhất là khi tôi nhận ra những khóm tường vi ngày một cao và hoa nở nhiều hơn. Ngọc Đoan và Thanh Hằng là một đôi vợ chồng hạnh phúc. Ngày ngày, trong khi Ngọc Đoan ở nhà cắt tóc và dạy đàn, Thanh Hằng đi làm. Nàng công tác ở Phòng văn hóa thị xã và công việc của nàng cũng chính do nhạc sĩ Thanh Hải giúp.

Điểm xuyết cho bức tranh hạnh phúc ấy, thi thoảng, nhạc sĩ Thanh Hải tới. Họ cùng nhau đàm đạo về những bản nhạc, bài hát, về Phạm Duy, về Trịnh Công Sơn.. Và cả những bài ca do chính họ sáng tác. Thời gian như dòng chảy và hạnh phúc lứa đôi là sự chứng minh cho cuộc đời dần đẹp hơn. Cuối năm ấy Thanh Hằng sinh con trai. Hôm đón mẹ con Thanh Hằng ở bệnh viện về, không có xe con, tôi lái hẳn chiếc xe tải nhãn hiệu Giải Phóng của Trung Quốc đưa Ngọc Đoan đi. Ngọc Đoan hái một bó hoa tường vi cùng với bộ mặt hân hoan đón vợ về. Trong lễ đặt tên, Ngọc Đoan đặt tên con trai mình là Ngọc Toàn, y muốn hạnh phúc của gia đình trọn vẹn như ngọc.

Cuộc sống sẽ cứ thế nếu không có cuộc chiến tranh biên giới xẩy ra. Tôi đưa gia đình về quê, còn vợ chồng Ngọc Đoan đưa nhau vào Ban Mê Thuột sinh sống. Từ đấy bẵng tin nhau. Cho mãi đến hôm nay, nhân một chuyến công tác, tôi quyết định tìm bạn cũ.

3

Ngọc Đoan để tôi ngồi còn y xuống bếp chuẩn bị đồ nhậu. Tôi nhìn quanh, đồ đạc sơ sài, một chiếc giường nhỡ, tấm màn nửa treo nửa buông, chiếc bàn cắt tóc còn đủ lệ bộ đứng cạnh chiếc máy ép mía thủ công. Ngay phía trên treo chiếc đàn ghi ta. Tôi nhận ra đó là chiếc đàn nhạc sĩ Thanh Hải tặng y hồi còn ở Lao Cai. Chiếc đàn bị mạng nhện bao quanh một lớp, những sợi dây và núm khóa ngả mầu xám xỉn. Tôi biết như vậy "Bá Nha" đã bỏ đàn từ lâu.

Ngọc Đoan và tôi chạm li. Tôi nhận ra thứ men lá của vùng Bắc Hà. Tôi hỏi: "Ở Ban Mê Thuột anh lấy đâu ra rượu này?" Ngọc Đoan nói: "Cách đây ba năm tôi về Lao Cai, lúc vào mang theo một bình, đến hôm nay có anh tôi mới mở.". Tôi định cất tiếng hỏi, Ngọc Đoan xua tay: "Uống đã, tôi sẽ giải thích cho anh sau." Nói vậy nhưng y không uống mà ôm li tựa lên môi, mắt nhìn lên chiếc đàn: "Bây giờ hai người họ sống với chủ nhân chiếc đàn kia." Tôi bật như lò xo: "Anh nói sao?".

Ngọc Đoan uống hết chén rượu, nói: "Người đời có câu" Họa vô đơn chí, phúc bất trùng lai ". Còn tôi, họa suốt đời. Hai lần lấy vợ, hai lần có con thì hai lần đều không phải con mình. Nhiều khi tôi tự hỏi: Hay kiếp trước mình mang kiếp tò vò?" "Nhưng làm sao anh biết được?" - Tôi hỏi. Ngọc Đoan cười không thành tiếng: "Lúc ra tòa tôi cũng dùng lý lẽ ấy để biện hộ cố giữ Ngọc Toàn lại. Nhưng nhạc sĩ Thanh Hải cao tay hơn, ông ấy dùng ADN để chứng minh. Tôi thua và như anh thấy đấy, tôi còn lại tôi."

Tôi nghe mà không tin, vì sao một con người như Ngọc Đoan hai lần trong đời chịu chung một tai họa? Dường như thấu hiểu ý nghĩ của tôi, Ngọc Đoan nói: "Tôi nghiệm ra chỉ có rượu mới mang tính thuỷ chung. Phàm những vật sống, mọi điều chỉ là ước lệ. Thanh Hằng cũng vậy thôi. Tôi không trách cô ấy, cũng không hận nhạc sĩ Thanh Hải. Không có con trai, ông ấy tìm đến người nối dõi là điều tất nhiên.."

- Còn Ngọc Toàn, thái độ nó ra sao? - Tôi hỏi.

Ngọc Đoan không đáp, lặng lẽ đứng lên nhấc cây đàn xuống. Y nhẹ nhàng gỡ những sợi tơ nhện bọc quanh, lấy giẻ lau sạch những vết bụi, so lại dây rồi nói: "Anh còn nhớ những khóm hoa tường vi tôi trồng hồi còn ở Lao Cai không?" Tôi gật đầu: "Nhớ!" Ngọc Đoan nói tiếp: "Sau khi chia tay, tôi về Lao Cai thăm lại mảnh đất cũ. Tôi không ngờ mấy mươi năm đã trôi qua mà những cây hoa tường vi vẫn còn. Cái ngõ nhỏ xuống nhà tôi hai bên mọc kín, hoa nở nhiều đến nỗi những người ở đấy quen gọi thành tên" Ngõ Tường Vi ". Những cây hoa tường vi cho tôi về với những kỷ niệm khó quên. Đời mà anh, vui chóng quên, buồn dễ nhớ. Sau bốn mươi năm gặp lại, tôi muốn hát cho anh nghe lần cuối bài hát tôi viết vào dịp đó".

"Ngõ vắng xưa đâu rồi, mây chiều dăng phố núi/ mắt ai vương mầu đợi/ cho một mùa tường vi/ Ngỡ ngàng men lối nhỏ/ những cánh hoa rơi đầy/ bụi mờ vin sắc đỏ/ đã bao mùa tường vi? / Tường vi ơi có nghe/ tiếng lòng ai thổn thức/ mầu máu hay mầu hoa/ nhuộm cả chiều ly biệt/ Tường vi ơi tường vi/ ngõ hoa hay ngõ lòng/ men lối về ký ức/ gặp một chiều phôI phai.."

Lời ca buồn da diết chìm trong chiều cao nguyên. Đôi mắt Ngọc Đoan bỗng sáng rực. Bất thần, y vung cao cây đàn đập xuống nền nhà. Thân đàn gẫy gục, hộp đàn tan từng mảnh. Những sợi dây rung lên hợp âm cuối rồi lặng tắt.​

Nguyễn Nhuận Hồng Phương
 
278 ❤︎ Bài viết: 815 Tìm chủ đề

27. Người đàn ông hai đời vợ - Nguyễn Nhuận Hồng Phương


20260820-144513-9b9ff7a0da.png


Ban nói với tôi: "Gần đây mình thấy trong người khang khác.. Chuyến này đi gặp gỡ người thân, chào bạn bè lần cuối". Tôi thảng thốt nhận tin từ chính miệng Ban nói ra, lặng lẽ dang tay ôm riết lấy Ban. Biết nói gì đây với một người sắp về cõi vĩnh hằng.

Năm 1962, vì hoàn cảnh gia đình, tôi khai tăng tuổi lên Lào Cai làm công nhân lao động ở Nhà máy sản xuất đường.

Chiều, sau giờ làm việc tôi ra bờ sông Hồng ngồi, thẫn thờ nhìn dòng nước cuồn cuộn chảy, lòng da diết nhớ quê hương, nhớ bạn bè. Bỗng có tiếng gọi:

- Ê! Định "mọc rễ" ở đấy đến bao giờ? Cơm tập thể, đến muộn khỏi ăn!

Tôi ngoảnh lại: Một thanh niên mảnh dẻ, tóc rẽ ngôi láng mượt, mặt trái xoan, mắt hấp háy, hàm răng hô vàng khè vì khỏi thuốc. Tôi lên tiếng:

- Em chào anh.

- Anh em "chó" gì! Bỏ lối xưng hô ấy đi! Tớ tên Ban - Nguyễn Viết Ban, quê Hà Đông. Lên Lao Cai năm ngoái, làm ở tổ Cơ - Điện.

Tôi theo Ban xuống nhà ăn. Thời ấy, bếp cơm tập thể phải mua vé. Định xuất ba hào, gồm một bát to cơm độn ngô, lưng bát canh lõng bõng sắn, ba miếng thịt lợn thái mỏng tưởng có thể thay được lưỡi dao cạo, kèm theo vài ngọn rau muống xào hoặc mấy miếng su su luộc chấm muối.

Nhìn tôi nhai trệu trạo, Ban bảo:

- Rồi quen hết! Thằng nào mới lên đây cũng vậy. Cố mà ăn! Ăn xong sang phòng tớ chơi.

Gọi là phòng chứ thực ra hồi ấy nhà máy vừa thành lập, nơi ở là lán công trường của công nhân kiến trúc bàn giao lại. Căn phòng của Ban dán họa báo ba bề, sạp làm bằng nứa ken, trải chiếu cói trơn. Ban ở chung với Nam, một anh chàng có khuôn mặt khá điển trai, thân hình khoẻ mạnh, quê Hà Tĩnh. Nam học trung cấp hóa thực phẩm, về thực tập ở nhà máy.

Tôi không ưa Nam ngay từ lần gặp đầu tiên.

Không biết tại giọng khó nghe hay vì đôi mắt có cái nhìn ơ thờ, lờ đờ như chuột phải khói.

Một hôm, Ban khoe với tôi:

- Chủ nhật này vợ mình ở dưới quê lên.

Tôi ngạc nhiên vì chưa bao giờ Ban nói với tôi mình đã có vợ. Ban giải thích:

- Quê mình con trai lấy vợ sớm. - Rồi mời - Chủ nhật cậu đến ăn cơm với bọn tớ!

Tôi hiểu "bọn tớ" bao gồm cả Nam nên từ chối khéo:

- Chủ nhật mình phải làm cả ngày.

Tuy vậy tôi hẹn tối sẽ tới chơi.

Vợ Ban tên Liên, da trắng, môi đỏ chót, mắt lá răm, thân hình lẳn trong tà áo cánh, đường cong trên thân thể biểu hiện sự khao khát hừng hực của người đàn bà đang thì..

Trong khi nói chuyện, thi thoảng Liên đánh mắt về phía Nam tình tứ, hai người ném cho nhau những nụ cười ý nhị. Dẫu chưa yêu bao giờ nhưng linh tính của thằng con trai bảo tôi có điều gì không bình thường. Còn Ban dường như không để ý đến thái độ của vợ, anh nói như khoe:

- Vợ chồng mình nhờ anh Nam xin vào làm ở nhà máy.

Bẵng đi một dạo tôi nghe tin Liên bỏ chồng theo Nam. Ban như kẻ mất hồn, vẻ vô tư trong sáng biến mất. Thay vào đấy là sự đau khổ vô vọng đến tột cùng. Ban giục vào lòng tôi khóc ròng, hai tay cào cấu xuống sạp nứa bật máu. Tôi chưa trải qua cảm giác bị phụ tình, phản trắc, lừa dối, nhưng nhìn Ban, tôi biết lòng Ban tan nát, vò xé. Tan nát vì vợ phản bội, vò xé vì mất niềm tin vào tình bạn.

Có ai nói: "Nếu con người còn sống thì vết thương lòng tự nó sẽ lành thôi". Không biết có phải thế không mà một thời gian sau Ban gượng lại được. Anh lầm lũi đi làm nhưng tránh mọi quan hệ.

Tôi nghe một người bạn cùng làm kể: Lấy lý do kẻ giúp, người giúp, Nam che mắt Ban và mọi người, thì thọt quan hệ bất chính với Liên. Hết thời gian thực tập, nhân có nhà máy trong Hà Tĩnh nhận Nam vào làm việc, Nam rủ Liên bỏ trốn.

Cơm nước xong, lên phòng, Ban hỏi:

- Nghe nói lần đơn vị cậu dừng chân ở Hà Tĩnh, cậu có gặp Nam?

Tôi nhìn Ban ái ngại. Việc tôi gặp Nam là có thật! Nhưng có lên nói vào lúc bệnh tật của Ban đã đến giai đoạn cuối?

Sau sự việc xảy ra của vợ chồng Ban, cuối năm ấy tôi nhập ngũ. Qua thời gian huấn luyện, đơn vị hành quân vào chiến trường. Nhưng đến Hà Tĩnh thì được lệnh dừng lại chờ lệnh. Một lần, tôi dẫn tiểu đội đến phà Sơn Long trên sông Ngàn Phố thuộc huyện Hương Sơn nhận lương thực. Đang đi, tình cờ gặp Nam. Tôi định tương vào mặt cái thằng đểu một quả đấm, nhưng cố kìm lại và hỏi:

- Liên có khoẻ không?

Nam trả lời:

- Sắp đẻ rồi! Chiều nay mời ông đến chơi. Tôi sẽ cho người ra đón!

Phải đấu tranh tư tưởng lắm tôi mới quyết định đến gặp Nam. Phần nghĩ về chiến tranh - biết có gặp lại nhau nữa không mà thù với hận! Phần nữa muốn gặp Liên hỏi tại sao bỏ Ban?

Một người dân địa phương dẫn tôi đi, đến nơi giọng đặc sệt thổ ngữ:

- Ni rứa là nhà thủ trưởng. - Rồi gọi to – Thủ trưởng Nam! Thủ trưởng Nam mô hề.. Ra đón khách!

Trời! Tôi khẽ kêu và thầm nghĩ - Cái thằng phản trắc mà cũng có người gọi là thủ trưởng? Đúng là con tắc kè hoa.

Chỗ Nam ở gần nhà máy nơi Nam công tác. Đó là căn hầm được đào sâu trong lòng đất. Vào những năm sáu tám, sáu chín (1968 - 1969) vùng này là vùng trọng điểm bắn phá của không quân Mỹ. Từ ngày bến phà bị phát hiện, liên tục máy bay quần đảo, thả hàng ngàn tấn bom đạn xuống sông. Không đêm nào không có những chuyến hàng chở lương thực và thực phẩm bị đánh chìm. Nhà máy của Nam được giao nhiệm vụ tận dụng gạo bị ngâm trong nước lâu ngày chưng cất thành cồn y tế.

Phải xuống đến hai mươi bậc mới tới mặt bằng của căn hầm. Ánh sáng tỏa ra từ chiếc đèn làm bằng vỏ bom bi hình quả dứa treo thòng lõng giữa hầm. Căn hầm có hai phòng. Phòng ngoài, kê chiếc hòm đạn mười hai li bảy, xung quanh đặt ở ghế băng, có vẻ như phòng họp. Sát tường, đất được xẻ, đắp tạo thành bàn, trên mặt lỉnh kỉnh những chai lọ đựng hóa chất như ở phòng thí nghiệm.

Nam từ trong phòng bước ra, chiếc mũ rơm lủng lẳng sau lưng, tay cầm bi đông:

- Lâu lắm mới gặp ông! Ta làm ly tao ngộ.

- Liên đâu? - Tôi hỏi.

Nam nâng chén rượu tợp một tợp rồi trả lời:

- Dạo này chúng đánh rát quá? Tôi đưa Liên sơ tán về quê ngoại cách đây hai mươi cây số, chờ đẻ. Thôi, chuyện đàn bà sau hẵng nói! Ở đây ông thấy đấy! Chỉ có chiến tranh, bom dạn và chết chóc.. Gặp nhau được là quý lắm rồi. Nỏ biết nay mai sống chết mần răng? Tồn tại được ngày nào hay ngày ấy!

Nam giở xà cột bầy lên mặt hòm một ít trám đen luộc:

- Trám Liên gửi cho tôi đấy! Ăn trám mà nhớ Lào Cai quá! Nhớ một thời bạn bè đùm dúm nhau.

- Sao ông nỡ sử sự với Ban như vậy? - Tôi hỏi không úp mở.

- Ông về mà hỏi nó! Mần khổ đàn bà như vậy nỏ đáng mặt đàn ông!

- Ông nói sao? Ban làm khổ Liên?

- Chừ răng! Lấy nhau năm năm, nỏ mần nổi phần đàn ông.. Vừa trèo lên bụng con người ta đã "nhèo" mẹ nó rồi.

- Sao! Ông bảo sao? Tôi ngạc nhiên hỏi!

- Ở với nhau nhưng ông nỏ để ý. Đàn bà có thì, nó vì dục vọng cũng ước mơ mần tý con bế ẵm. Đằng này..

Vừa lúc đó, tiếng kẻng báo động dồn dập. Rồi liên tiếp những tiếng nổ dữ dội, tiếng máy bay gầm rú. Căn hầm rung bần bật, mấy quả trám trên mặt hòm bung lên không, chiếc đèn chao đi chao lại như đu nôi. Nam ngửa cổ dốc nốt chỗ rượu vào mồm tôi quát:

- Nghe bom ni chắc chúng đánh dữ! Thôi! Lúc nào rỗi nói tiếp! Bây chừ tui phải sang nhà máy. Đồng chí Giám đốc vừa hy sinh, trăm sự dồn cả vào tui.

Nhưng tôi không gặp lại Nam. Sau hôm đó đơn vị tôi nhận lệnh lên đường. Từ bấy đến nay chuyện đó đã trôi vào quên lãng, nếu như không có Ban gợi lại.

Chuyện gặp Nam tôi chưa hề kể với ai mà không hiểu tại sao Ban biết? Thấy tôi im lặng dường như không đòi hỏi trả lời, tay Ban vắt lên trán, tiếng thở đều đều như ngủ. Tôi xót xa nhìn, không nghĩ rằng sau mấy chục năm trời gặp lại, tình cảnh của bạn mình lại éo le như vậy! Tôi ngả người nằm xuống. Bỗng Ban lên tiếng:

- Chuyện cậu gặp Nam ở Hà Tĩnh là do vợ tớ kể!

- Vợ nào? Liên về với cậu rồi à? - Tôi hỏi giật giọng.

Ban ngồi dậy:

- Không! Thôn, vợ sau này của tớ ấy chứ!

Tôi nhìn Ban ngơ ngác vẫn chưa hiểu. Ban đột ngột đề nghị:

- Cậu có thuốc cho tớ xin điếu?

- Tưởng ông bỏ thuốc rồi?

- Đêm nay tớ muốn cùng cậu hút một điếu!

Tôi thôi hút thuốc đã lâu, nhưng nhìn thái độ của Ban tôi biết sẽ có điều hệ trọng Ban muốn thổ lộ. Tôi gọi đứa con đem lên cho bao thuốc và cái bật lửa.

Ban và tôi lặng im rít thuốc. Khói thuốc cay xè, đắng ngắt trong miệng. Khi chỉ còn lại một mẩu, Ban dùng hai ngón tay vê vê bẹp rúm, ngẩng mặt nhìn tôi:

- Chuyện tớ sắp kể chỉ có mình cậu biết! Sống để bụng! Chết mang meo! Nó là danh dự của cả một đời người.

Tôi đặt tay lên bàn tay gầy rộc của Ban bóp nhẹ.

- Cậu đi bộ đội năm trước thì năm sau tớ cũng đi. - Ban kể - Đơn vị được lệnh rông tuốt vào tận Tây Ninh. Hết miền Tây lại kéo nhau về miền Đông.. Sau giải phóng Sài Gòn được hai năm mình giải ngũ. Không lên Lào Cai nữa mà về thẳng quê. Ở nhà mình còn mẹ già. Vả lại, chiến trường lấy hết tuổi trẻ, lấy hết sức lực. Không thương binh cũng thành phế binh: Một ngày sốt nóng, ba ngày sốt rét, quặt lên quẹo xuống.. Mẹ mình đào giun đất sao vàng, tán nhỏ cho uống, mò ốc vặn hấp lá chè bắt ăn.

- Sau đó khỏi thì lấy vợ? - Tôi sốt ruột hỏi.

- Đâu có! Mình không có ý nghĩ lấy vợ. Như con chim bị tên bắn trượt sợ cành cong. Mình coi Thôn như em gái. Trước đây, khi mình chưa về, cô ấy là đội trưởng đội Thiếu niên, đến nhà mình với tư cách giúp đỡ gia đình chính sách. Lúc mình ra quân, Thôn đã học hết cấp ba, thi đại học trượt ở nhà. Thỉnh thoảng Thôn chạy đi chạy lại, lúc giúp bà cụ mua thuốc, lúc ra vườn hái lá xông. Cho tới bây giờ mình cũng không hiểu Thôn yêu mình vì cái gì? Một thằng vừa tàn vừa phế, vừa không có tương lai, lại còn già hơn Thôn đến mười mấy tuổi! Mình càng muốn xa, Thôn càng tìm cách gần gũi. Có hôm mình lên cơn sốt, đắp ba chăn mà vẫn run. Không ngại, Thôn đè người lên ôm lấy mình như muốn truyền hơi nóng sưởi ấm cho mình, khi tỉnh, mình lựa lời khuyên, Thôn không nghe. Thôn nói:

- Yêu là quyền của em. Tuổi tác chỉ là ước lệ, còn ốm đau, bệnh tật anh đâu có muốn? Mà tìm thầy, tìm thuốc rồi sẽ khỏi.

Mình chưa bao giờ thấy người con gái nào sẵn sàng hy sinh như Thôn. Mình đành phải nói thằng sự bất lực của mình cho Thôn biết. Nghe xong, không ngờ Thôn bảo:

- Em đã hỏi bác sĩ rồi! Ông bảo hôm nào đưa anh lên ông ta sẽ khám cho.

Thôn ép mình lên bệnh viện. Ông bác sĩ khám xong nói:

- Có thể phục hồi được chức năng hoạt động sinh dục, nhưng khả năng thụ tinh là khó. – Rồi ông khuyên - Không nên có con, vì khả nàng đứa bé sẽ bị dị tật bẩm sinh.

Nghe vậy, nét mặt Thôn thoáng buồn nhưng rồi cô quả quyết:

- Cần thiết chúng cháu xin con nuôi!

Thương Thôn, mình kiên quyết từ chối, tìm mọi cách khuyên răn, hờn giận, rũ bỏ, nhưng Thôn tỏ rõ thái độ:

- Nếu anh không đồng ý cưới em, em sẽ mang quần áo, chăn màn sang đây ở. Cho dù bị mang tiếng!

- Thế thái độ của gia đình Thôn? - Tôi hỏi.

Ban trả lời:

- Bà cùng mẹ Thôn và gia đình rất thương mình. Họ để tuỳ cho Thôn tự quyết. Vậy nên, năm l980 tụi mình lấy nhau. Năm 1983, Thôn sinh con. Bây giờ cháu đang học Đại học Luật.

- Thế nó không bị dị tật chứ? - Tôi hỏi.

- Không. Vì nó không phải là con mình!

Mặc hai mắt tôi trân trân nhìn, Ban rút điếu thuốc cầm trên tay vê vê.

- Chưa lần nào Thôn cáu giận hay tỏ ra buồn trước mặt mình. Nhưng mình biết Thôn giấu. Nhiều lần bế những đứa trẻ con hàng xóm, Thôn ghì chặt, thơm lên đôi má phính sữa thèm thuồng khao khát. Thiên chức làm mẹ thức dậy trong trái tim người phụ nữ. Có lúc mình đã nghĩ tới xin đứa con nuôi, nhưng rồi kiên quyết gạt bỏ ý nghĩ ấy. Dẫu sao đứa bé được người mẹ mang nặng đẻ đau vẫn tốt hơn, vả, Thôn cũng ao ước như thế.

Ban im lặng, anh cầm cái bật lửa bật từng nhát, ngọn lửa xanh lét bùng lên từng nhịp từng nhịp. Tôi bất giác nhón một điếu thuốc đưa lên miệng. Ban chìa ngọn lửa cho tôi châm. Nhìn làn khói mỏng như tơ bay, Ban nói:

- Chắc khi chết, linh hồn còn nhẹ hơn cả làn khói kia? - Rồi Ban tiếp tục - Đã nhiều đêm mình nghĩ tới cái chết. Trong chiến tranh, lúc phải đối mặt cái chết, mình và đồng đội khinh khi, cười ngạo nghễ, bất chấp nguy hiểm. Nhưng khi đất nước hòa bình, có thời gian bình tĩnh suy xét lại, và bây giờ khi kề cận với cái chết, lại thèm sống. Những thước phim của dĩ vãng hiện lên trong tâm tư. Mình khao khát được sống làm sao! Mình muốn sửa cái đã sai, tìm về quá khứ gục đầu vào đó mà hờn dỗi. Mình thấy mình sinh ra chỉ để làm khổ mọi người. Hai đời vợ không đáng mặt làm chồng. Hiếu nghĩa nhờ cậy một tay Thôn gánh chịu.. Ơn sâu tình nặng vậy mà không đền đáp nổi. Chính vậy, sau nhiều đêm mất ngủ, dằn vặt suy nghĩ, một buổi sáng mình nói với Thôn:

- Anh đi thăm người bạn ngày xưa cùng đơn vị.

Mình tìm đến ông bác sĩ dạo nọ đã khám cho mình. Sau khi nghe trình bày, ông bảo:

- Vợ chồng anh đều muốn tự sinh con là tốt. Y học có thể giúp được. Trước nay các bệnh viện đều có dịch vụ này. Không phải thụ tinh nhân tạo qua ống nghiệm đâu. Có điều, vợ chồng anh phải bàn bạc kỹ lưỡng với nhau, vì đứa con gạt bỏ mọi lương vương mới được. Dĩ nhiên người đàn ông được bệnh viện mời giúp anh sẽ không bao giờ được biết vợ chồng anh và ngược lại. Có thế mới đảm bảo sau này không có sự tranh chấp đứa con.

Nói đến đây, bác sĩ chăm chăm nhìn hồi lâu như để đọc ý nghĩ của mình, rồi ông bỗng hỏi:

- Anh có người bạn thân nào ở xa không?

Nghe bác sĩ hỏi mình nhớ tới ngay đến cậu liên lạc ở đơn vị cũ quê ở Hòa Bình:

- Dạ! Có!

Ông bác sỹ nói:

- Tôi chợt nảy ra ý này: Nếu anh có bạn chí cốt, nhất là bạn chiến đấu, hay ta thử nhờ người bạn đó giúp việc này? Anh tính sao? Điều quan trọng là phải làm sao để bạn anh thông cảm, đồng ý. Đối với vợ anh, tôi sẽ nói giúp. Còn anh, phải coi đó là sự can thiệp của y học, để chị ấy không bị mặc cảm.

Mình tức tốc lên Hòa Bình, đến nhà cậu liên lạc. Cha này được cái khoẻ mạnh, đẹp trai, ngày chưa nhập ngũ là đô vật có hạng ở vùng sơn cước. Ở chiến trường bao nhiêu năm mà chẳng bệnh tật nào xâm hại được. Cứ nhìn hai thằng con trai tồng ngồng của nó mà sướng cả mắt.

Gặp nhau tay bắt mặt mừng, nhưng khi nghe mình nói ý định, cậu ta dứt khoát từ chối. Hắn bảo:

- Cái công anh cứu em trong chiến trường kể như anh sinh em ra lần thứ hai. Nhưng việc anh nhờ em không làm nổi.

Mình biết cậu ta muốn nhắc lại hồi đơn vị bị máy bay oanh tạc ở cao điểm 325. Cả trung đội hy sinh. Bom đánh bay hai thằng xuống vực. Cậu ta bị một mảnh bom xé toạc bụng. May không đứt ruột. Mất nhiều máu nên bị ngất. Cậu ta to, mình cõng không nổi. Mình chặt cây rừng đan phên, trải tăng bạt lót, lấy dù làm dây, đẽo gỗ như vai trâu, kéo. Lúc cậu ta tỉnh dậy, phều phào: "Thủ trưởng cứ để em lại, chắc em không qua nổi". Phải mò mẫm mất năm ngày mới gặp được quân ta..

- Mình đến đây không phải để cậu kể ơn huệ. Mình trình bày hoàn cảnh cho cậu biết, mong cậu vì tình đồng chí giúp mình cứu lấy danh dự thằng đàn ông và để mẹ mình chết được nhắm mắt.

Nói mãi, thậm chí phải ra mặt hờn giận, dọa dẫm, cậu ta vẫn nhất quyết không đồng ý. Sau, hai thằng nhẩy xe về thẳng bệnh viện gặp ông bác sĩ. Nghe hai thằng trình bày, ông bác sỹ thoáng trầm ngâm, rồi cất giọng:

- Tưởng hai anh là chỗ bạn chiến đấu nên rất thông cảm và giúp nhau. Nhưng hóa ra.. Thôi được, anh yên tâm, bệnh viện lo cho việc này giúp anh. Anh về đưa chị ấy lên bệnh viện để khoa sản khám lại.

Nhận giấy hẹn của bác sĩ, Thôn vui vẻ đi lên ngay bệnh viện. Mấy hôm sau, có kết quả kiểm tra và giấy hẹn ngày Thôn có mặt ở bệnh viện để tiến hành việc.. Có con. Hóa ra, việc thụ tinh nhân tạo cũng đơn giản, ông ạ.

Đêm đầu tiên vợ chồng gặp nhau sau một tháng xa cách, Thôn khóc! Khóc rất nhiều.. Nước mắt chảy thành dòng trên ngực hai đứa. Mình hôn tới tấp lên đôi mắt giàu nghị lực và vầng ngực nõn nà của Thôn. Không ngờ, những ham muốn bừng thức.. Sự thèm khát trào dâng.. Lần đầu tiên kể từ ngày lấy nhau, mình đam mê thực sự, là một người đàn ông thật sự trên thân thể người vợ rất đỗi thương yêu. "Cảm ơn em!.. Cảm ơn em.." - Mình thì thầm, lả đi vì vui sướng.

Tôi gặng hỏi:

- Thế tại sao Thôn biết chuyện tôi gặp Nam?

- À.. Có gì đâu! Thôn là em gái út của Liên mà.

- Trời ơi! Lại có những chuyện quái quỷ thế ư? - Tôi nghĩ vậy và lặng đi.

Ban rút thuốc đưa cho tôi một điếu, một điếu bập vào môi. Ngọn lửa từ chiếc bật lửa loé sáng nhưng Ban chưa châm mà nhìn nó như sợ nó sẽ tắt:

- Còn một điều nữa mình muốn nói: Nam bây giờ là Chủ tịch Hội đồng quản trị một tập đoàn sản xuất rượu bia có tiếng ở miền Trung.

- Thái độ của hai chị em ra sao? - Tôi hỏi.

- Năm kia mẹ mình mất. Nghe tin, Liên về đội lễ sang chịu tang. Thấy mình khó xử, Thôn bảo: "Nghĩa tử là nghĩa tận! Anh nhận lễ để linh hồn mẹ vui lòng, phát khăn tang cho chị ấy để bà con và họ hàng biết vợ chồng mình trọng đạo lý ở đời".

Đấy! Tính cách của Thôn là vậy! Thôi! Ngủ đi, mai mình còn phải đi.​

Nguyễn Nhuận Hồng Phương
 
278 ❤︎ Bài viết: 815 Tìm chủ đề

28. Người đánh trống trường - Nguyễn Nhuận Hồng Phương


20260820-145204-78cba77a0b.png


Bốn mắt nhìn nhau, thoảng một chút ngỡ ngàng.. Sau giây phút sững sờ người đàn ông cúi xuống nhấc cây tre làm barie lên cho đoàn cán bộ bước vào. Người phụ nữ, khuôn mặt đoan trang, dịu dàng. Mái tóc được uốn lượn thành từng lọn nhỏ, che bớt vầng trán rộng. Nếu bờ vai không bị lệch làm cho dáng người bị nghiêng mỗi khi bước, có lẽ chị sẽ hoàn hảo hơn trong chiếc áo khoác ngoài màu tím nhạt. Chị quay lại hỏi nhỏ:

- Ông ta làm ở đây lâu chưa?

- Thưa chị: Ông Phổ là nhân viên hợp đồng làm nhiệm vụ trực cổng và đánh trống trường được bảy năm rồi ạ! - Người cán bộ tổ chức báo cáo.

- Ông ta ở một mình hay cả gia đình?

- Dạ.. - Người cán bộ ngạc nhiên vì thấy vị Thanh tra Sở Giáo dục hỏi rất kỹ về người đánh trống trường - Báo cáo chị: Ông ta quê ở tỉnh Vĩnh Phúc. Đã xây dựng ra đình nhưng vợ chồng bỏ nhau. Nghe đâu người vợ ngày xưa cũng quê vùng ta lên đấy dạy học. Ông ta bị án hai năm tù vì tội nhận hối lộ làm giả hồ sơ và tằng tịu với trẻ vị thành niên.

- Thế bây giờ hai người vẫn ở với nhau chứ?

- Cô học sinh về nhà bố mẹ để đẻ. Đứa con bị chết ngay sau khi ra dời. Ra tù, ông ta không dám về quê mà về đây. Đồng chí Hiệu trưởng thương hại vì trước kia hai người cùng học..

"Tùng! Tùng! Tùng.." Tiếng trống báo học đổ hồi.. Chị giật mình bước hụt, đầu chúi về phía trước, đau nhói bờ vai. Gượng sửa lại tư thế, chị chống tay vào đầu gối, gắng bước lên bậc tam cấp văn phòng.

L

Con bé bước vào nhà, vẻ quê mùa, hay tay vân ve tờ giấy cuộn tròn, người ngọ nguậy như con sâu đo: "Thưa cô.. Thầy Phổ có nhà không ạ?". Đang cho con bú, Thư ngẩng lên: "Em gặp thầy có việc gì?". "Dạ.. Thưa cô, em.. Em.. Em là Hoa, con ông Luân, người xóm Bái thôn Hàn ạ!". Con bé không trả lời vào câu hỏi mà xưng danh và địa chỉ. Thư cau mày. Là giáo viên Thư không thích học trò trả lời thiếu chính xác. Nhưng đây là con của bạn chồng nên cô ý tứ: "Em vào nhà chờ thầy - Thư nhìn đồng hồ - Mười một giờ kém mười lăm rồi! Thầy Phổ thường về đúng giờ lắm!". Đứa bé nghe tiếng người lạ, bỏ bú ngoảnh ra, mắt đen láy, môi hồng mầu cánh sen, hai mép ngấn sữa. Từ bầu vú căng mọng, từng giọt sữa rớt xuống cái má phinh phính.. "Bú đi con, sữa chẩy hết vào mặt rồi.. - Đứa bé lắc đầu, ưỡn người giẫy giọng. Thư day day bầu vú, kéo vội vạt áo xuống - Em lấy giúp cô cái khăn vắt trên mắc - Thư bảo con bé; nó quay lại với chiếc khăn trên tay:" Cô đưa em bế cho. Nào! Bé ngoan của chị.. Ra chị Hoa bế nào! "Nó hoạt bát nhanh nhẹn hẳn lên khi làm công việc bế ẵm trẻ con. Giọng nựng khéo đáo để, hệt một cô bảo mẫu; giở cái tã ra quấn lại, có ý kiểm tra giới tính rồi nâng đứa trẻ áp vào ngực, cằm cọ cọ vào má nó. Đứa trẻ đón nhận tình cảm ấy thích thú, cười khanh khách. Thư như bị thôi miên bởi sự khéo léo, cách vỗ về của Hoa với con mình. Khoảng cách giữa khách và chủ được thu hẹp lai. Đàn bà vốn dễ mủi lòng, để cảm thông. Hơn nữa cũng bởi con của mình cũng được người khác quan tâm, vồ vập, yêu quí, chăm ẵm.

2

- Hôm trước, trên điện thoại, tôi đã trả lời rồi cơ mà? Dưới này các lớp đều chật rồi, không còn chỗ nữa! Em về bảo với bố thế! - Phổ vừa móc cái áo lên mắc vừa nói. Nhìn mặt ỉu xìu của con bé, Thư mủi lòng:

- Anh xem còn khả năng nào giúp nó không?

- Biết gì mà tham gia? - Phổ xẵng giọng - Cô tưởng xin vào cấp ba như xin vào lớp một của cô à?

- Dẫu sao anh Luân cũng là bạn anh. - Thư cố vớt vát.

- Cứ là bạn thì phải giải quyết à? Nếu vậy, tôi ối bạn!

Vẻ thất vọng hiện lên mặt con bé, mắt nó rơm rớm:

- Thưa thầy.. Thầy cố cứu em.. Bố em bảo em đưa cho thầy cái này - Hoa rụt rè chìa tờ giấy cuộn tròn trên tay.

Nét mặt thầy giáo Phổ giãn dần theo từng hàng chữ.. Nhét tờ giấy vào túi, Phổ nói:

- Thôi được! Hẵng biết thế! Cứ về đi có gì tôi sẽ báo sau.

Thấy vậy, Thư bảo:

- Cũng trưa rồi, em ở đây ăn cơm với cô.

Hoa ngập ngừng:" Thưa cô, em xin phép thầy và cô.. Em về ạ ". Thư liếc mắt nhìn chồng rồi ý quay sang nháy nháy mắt:" Thầy đói lắm rồi, Hoa xuống lau bát, dọn cơm. Đưa em bé cho cô! "Hoa trả đứa bé cho Thư, đứng dậy đi xuống bếp. Bỗng nó hớt hải chạy lên:" Thưa cô, con mèo ăn vụng hết bát thịt rồi ạ! "Thầy Phổ nhìn vợ gầm gào:

- Tôi đã bảo cô bao nhiêu lần rồi? Mỡ để miệng mèo sao nó không ăn?

3

Ai cũng công nhận giống mèo có ích. Nếu không có mèo e cả thế giới này sẽ tràn ngập chuột? Không biết có phải vì lý do ấy hay bởi là thầy giáo dạy sinh vật nên thầy Phổ rất quý mèo? Thấy không bao giờ đánh con mèo. Con mèo nhà thầy nuôi thuộc giống mèo Xiêm. Lông ba màu: Đen, vàng, trắng; dáng như loài báo Châu Phi, mắt trong veo, lấp lánh như hòn bi ve dưới ánh mặt trời; móng vuốt sắc như loài hổ; đuôi dài, cong vút, cắt khúc kẻ khoang như rắn cạp nia. Thầy Phổ yêu nó lắm! Đi đâu về là dành thời gian vuốt ve âu yếm.. Con mèo của thầy có sở trường ăn những động vật còn sống. Nó vờn con mồi đến khốn khổ, dở sống, dở chết mới nhấm nháp, hưởng thụ. Thầy Phổ rất thích cái trò sinh vật vờn sinh vật.

Ngược lại, Thư không ưa. Con mèo của chồng đem về chỉ được cái mẽ bề ngoài, nó lười bắt chuột nhưng hay ăn vụng. Cái tội vụng trộm là một trong cái tội Thư ghét nhất! Lúc cho thì không ăn! Lúc vắng, mắt trước, mắt sau càm cắp chạy bay, chạy biến, ăn no, ăn chán, bụng căng tròn nhưng hở ra vẫn càm cắp. Thư ghét cả cách chăm sóc mèo của chồng: Nhìn những loài động vật như ếch, nhái, chim, cá.. Chồng mang về cho mèo chơi trò" tra tấn "là Thư lợm giọng. Mỗi lúc vậy, cô bế con ra bờ hồ ngồi.

4

Ở xã Yên có phố Yên. Trung tâm phố Yên có hồ Yên. Hồ Yên hình tam giác. Đường quanh hồ trải nhựa, cây cối bốn mùa in bóng xuống mặt nước, cỏ trên bờ kết dầy như trải thảm. Mé bên kia đường, những ngôi nhà xây theo kiểu hình ống tạo thành ba dãy phố. Có đủ các cửa hiệu, cửa hàng. Thời bao cấp lèo tèo, thời mở cửa sầm uất. Gia đình Thư ở giữa phố. Cái nhà một tầng thấp tè, lọt thỏm. Trước cửa, giàn hoa giấy rợp rạp như muốn che bớt sự khiêm tốn của đôi vợ chồng công chức.

Chiều nay, Thư bế con cùng Hoa mang chiếu ra bãi cỏ ven hồ. Hoa vào học ở trường cấp ba đã gần được một năm rồi. Thư chẳng hiểu tờ giấy viết gì? Ai viết? Như chuyện thần kỳ! Như có phép lạ. Chỉ một tuần sau, Hoa mang hòm xiểng, tư trang đến nhà Thư ở trọ. Nó đến trọ như người thân đi xa về. Lạ lẫm một chút rồi quen ngay. Thư biết mọi sự đều do Phổ sắp đặt. Thư không có ý kiến gì. Hình ảnh ban đầu Hoa ru nựng, yêu chiều đứa con làm xiêu lòng người mẹ.

Hoa đùa với đứa bé, tay nâng nó lên quá tầm. Khuôn mặt thiếu nữ nghiêng trong ráng chiều, mái tóc suôn mềm, đen nhánh, thoảng hương xà phòng gội. Chiếc quần gin bó chặt hai bắp đùi và cặp mông, quần lót lằn vệt căng cứng. Vạt áo hở hếch, lộ khoang bụng trắng ngần khoe cái rốn khêu gợi.. Tạo hóa đang hoàn thiện nốt phần còn lại. Thư nhìn Hoa ngạc nhiên. Cơ thể và tính cách Hoa như có phép màu. Không tìm đâu ra con bé còm nhom, rụt rè đến xin học ngày nào. Hoa như nụ hoa sớm khoe sắc không đợi mùa xuân về.

- Thôi! Trả con bé cho mẹ nó! Đi không muộn rồi! Tiếng gọi của Phổ làm cho Thư giật mình. Quay lại, cô thấy Phổ dắt xe máy đứng đợi bên kia đường; quần áo đóng bộ, chải chuốt như đi dự tiệc. Thư hỏi:

- Anh đi đâu?

- Đưa cái Hoa về nhà chứ đi đâu! Hỏi vớ vẩn! - Phổ cau mặt gắt.

Hoa trao trả con cho Thư:" Thưa cô, thầy đưa em về nhà. Hôm nay nhà em có việc ". Nói đoạn Hoa lên xe, hai tay ôm lấy sườn Phổ. Cái xe rồ máy lao vút đi, vương lại chút bụi mỏng cùng khói. Mấy người hàng phố đi dạo nhìn theo đôi trai gái rồi quay lại ái ngại nhìn mẹ con Thư. Những ánh mắt không bình thường! Bất giác, trong lòng Thư nhen lên một nỗi buồn man mác, hẫng hụt..

5

Trong buổi sinh hoạt chi bộ Đảng nhà trường. Đồng chí bí thư phát biểu:" Đồng chí Phổ nên xem lại quan hệ của mình với học sinh Hoa. Chúng tôi chưa có bằng chứng để kết luận. Nhưng dư luận và thư phản ánh của quần chúng gửi tới Ban giám hiệu và Chi bộ nhà trường là có. Vì vậy, trên quan điểm tình đồng chí và trách nhiệm của một thầy giáo. Tôi đề nghị tập thể Đảng góp ý cho đồng chí Phổ.. "

6

" Bốp, bốp.. "Hai cái tát cho sự hoài nghi. Má Thư sưng vều. Đứa bé sợ hãi ôm chặt lấy mẹ, nó không dám khóc. Lòng trắng con ngươi Phổ vằn vện những tia máu đỏ quạch, mầu mặt xám ngoét, cơn giận tràn hông:" Mày xui ai viết đơn tố cáo tao? Mày là con rắn độc! Đồ đàn bà lăng loàn, đồ thối thây.. "Thư ngồi trên giường nép sát tận tường. Đứa bé rúc vào lòng mẹ, đôi mắt ngơ ngác nhìn ông bố. Nó chưa hiểu. Mà đây là chuyện của người lớn, nó hiểu làm sao được? Mấy người hàng xóm thấy to tiếng chạy sang cửa ngó vào. Phổ quay lại:" Các vị cần gì? Các vị không thấy đây là chuyện riêng của gia đình tôi à? Mời các vị.. Cút! "Nghe câu đuổi những cái đầu vừa bạc vừa muối tiếu lảng.. Còn lại vài đứa trẻ tóc đỏ quạch, mũi thò lò, chưa thông tường đạo lý cố nán lại. Phổ điên tiết vớ lấy cái chổi. Cái chổi bay như đạn hỏa tiễn, vẽ một hình vòng cung rồi rơi đánh" bụp "vào chấn song cửa. Tụi trẻ kêu ré lên chạy dạt ra. Phổ quay lại:" Mày không khai ai xúi giục viết đơn, tao sẽ còn hành mày đến "nôn" ra thì thôi "." Tôi không biết chuyện viết đơn từ gì hết! Ai viết tôi không biết! Tốt nhất anh cho con Hoa đi ở chỗ khác." "Thế mày thú nhận rồi nhé!" Phổ tiến đến bên giường.. Thư ôm chặt lấy con, co cụm thế thủ. Bỗng có tiếng người nói:

- Yêu cầu đồng chí Phổ không được đánh người.

Ngoảnh lại, Phổ nhận ra đấy là ông tổ trưởng dân phố.

- Dạ.. Em chào bác! Bác vào chơi xơi nước! - Phổ chuyển gam.

- Tôi yêu cầu đồng chí không được đánh vợ!

- Dạ! Thưa bác: Em trót nóng. Nhưng mà tại.. Tại..

- Tại ai đồng chí chỉ được nói chứ không được hành hung. Vợ chồng không tránh được lúc xô xát. Đồng chí có quyền dạy vợ, nhưng không được hành hung! - Ông nhắc lại rồi nhấn mạnh - Hành hung là phạm pháp!

Chờ ông tổ trưởng làm xong phận sự quay ra, đi khuất, Phổ nhẩy phắt lên giường. Thư ôm gì lấy con, quay mặt vào tường tránh né. Phổ nắm tóc, giật ngửa người đàn bà: "Mày cùng một giuộc với lão ta phải không?" Người mẹ không nói! Không nghĩ đến mình chỉ sợ đòn giận rơi vào đứa trẻ. Phổ xoay người như con mèo chơi trò chơi vờn con mồi. Thư như con mồi nhỏ nhoi nằm dưới móng vuốt của loài thú ăn thịt. Ý nghĩ khôi hài chợt bật ra. Không hiểu thế nào trong lúc tột cùng Thư vẫn có thể lấy hình ảnh đối xứng để so sánh?

Bỗng "hự". Mắt Thư nảy đom đóm, đầu óc quay tít, những bông hoa trên giàn hoa giấy nhẩy tưng tưng.. Cái nhớ nhất mà Thư còn nhớ trước khi lịm đi là tiếng khóc ré lên của con mình.

7

Người bác sĩ lắc đầu: "Thai quá lớn, không làm thủ thuật được!". Nghe vậy, Phổ ngán ngẩm: "Thế có chết tôi không chứ! Bây giờ biết làm thế nào?" Vị bác sĩ ngỡ Phổ hỏi mình: "Anh để cho cô ấy đẻ! Tim thai đập khoẻ lắm!" Phổ nhìn ông: "Khoẻ cái con khỉ! Thôi! Hết bao nhiên tiền tôi gửi?"

Hoa gục đầu vào lòng Phổ thút thít: "Thế này mà bố em biết thì chết!" "Nín đi! - Phổ an ủi, vỗ về - Để rồi anh tính". Nói thế chứ tâm can thầy Phổ cũng rối bời. Cái thai trong bụng Hoa mỗi ngày một phát. Chết thật! Bây giờ ngẫm câu "Sinh nghề tử nghiệp" mới thấy đúng.

Trường xa, học sinh học bán trú nên Thư sáng đi chiều mới về. Đứa bé ở nhà trẻ. Phổ dạy theo tiết, hết giờ thường la cà quán xá, ăn uống tạm bợ, sinh hoạt thất thường. Từ ngày Hoa đến trọ, cô trở thành người quán xuyến. Thầy Phổ không phải sáng mì tôm, trưa mì tôm nữa! Hoa khéo nấu, khó tính như thầy Phổ còn phải thừa nhận. Đáp lại công lao cô học sinh chăm chỉ. Thầy Phổ nhận kèm cặp môn sinh vật. Đấy là môn Hoa dốt nhất! Hoa ngạc nhiên: Trong sinh hoạt, thầy Phổ nói năng không mấy dễ nghe. Nhưng khi thầy Phổ nói đến cơ thể và thuộc tính các loài. Như thể thầy mổ xẻ, giải phẫu, phanh phui chúng ra từng mô, từng món..

Rỗi rãi Hoa cùng thầy Phổ chăm sóc mèo. Cái thú "sinh vật vờn sinh vật" của Phổ trước đây Hoa phản đối, cho là trò dã man thì nay cô lại thích thú, say mê xem từ phút đầu tới phút cuối, Dần dần, Hoa là trợ thủ đắc lực của Phổ. Phổ cùng Hoa săm se, xoi mói, coi con vật là tội phạm. Xong việc, mọi người nhìn nhau hài lòng. Vật lim dim thỏa mãn.

Trái dấu sinh lực hút. Khác giới nẩy tình ý. Có thể là tình yêu, nhưng cũng có thể là tình dục. Tình dục thúc đẩy tình yêu - tình yêu dồn nén tình dục. Trước là cảm tính, sau là lý tính.

Một lần, thầy giảng bài học về cơ quan sinh dục khác giới. Thầy Phổ giảng như thuyết pháp. Học sinh xấu hổ không muốn nghe, đỏ mặt không dám nhìn hình minh họa. Về nhà, thầy Phổ phụ đạo thêm cho Hoa. Nghe, Hoa đỏ mặt vì rung động chứ không xấu hổ. Đỏ mặt vì thầy giảng sâu, giảng kỹ. Rung động vì trong căn phòng chỉ có hai người. Khuôn mặt Hoa bừng bừng làm cho thầy Phổ nhận ra sự đáng yêu. Đáng yêu là dấu hiệu đầu tiên của người con gái dành cho người đàn ông. "Con gái yêu bằng tai, con trai yêu bằng mắt". Thầy Phổ cúi sát xuống, đưa tay chỉ từng bộ phận cơ thể người in trong sách giáo khoa. Khi thầy nói đến sự giao phối, quá trình thụ tinh.. Hơi thở nồng nồng từ miệng Phổ phả trên vành tai tuổi dậy thì. Qua làn áo mỏng, ngực Hoa phập phồng. Người không cưỡng được lại bản năng. Kẻ không vượt qua được sự thèm thuồng.. Ngây thơ gặp từng trải. Con mèo vồ được con chuột. Tất cả như được định sẵn. Số phận đã an bài.

8

- Em đã ăn gì chưa?

Tiếng của ai nghe vừa quen vừa lạ, thoảng nhẹ như làn gió, hư hư, thực thực. Thư cựa mình, mở choàng mắt: Khuôn mặt của Phổ cúi sát gần mặt cổ. Thư giật mình người co rúm. Một phản ứng tự vệ! Phổ nhìn cô, vẻ quan tâm: "Anh trót quá tay.. Anh xin lỗi." Nghe Phổ nói, bỗng nhiên hiện lên trong đầu Thư: Động tác con mèo nằm giả chết; mặc cho con mồi lết lết tìm kế thoát thân rồi mới chồm lên bắt đầu một trò diễn mới. Cô im lặng, mệt mỏi nhắm mắt lại. Phổ lấy tay bóp bóp bờ vai vợ: "Em thương anh, đừng ký vào biên bản. Em mà ký anh sẽ mất tất cả! Em hãy nghĩ đến tình nghĩa vợ chồng.." Ôi! Tình nghĩa vợ chồng! Lời nói sao mà dễ nói vậy? Miệng lưỡi con người? Khi yêu, không ai không chiều người mình yêu. Khi lấy, không ai mang dùi đục đi hỏi vợ. Khi sống với nhau mới phơi bầy ra tất cả. Tha thứ ư? - Có thể! Nhưng tình nghĩa? - Đã hết! Liệu Thư có đứng dậy đi lại được không? Đòn đánh của Phổ làm cho Thư nằm liệt hai tháng nay. Một chữ ký của Thư: Phổ sẽ không còn gì. Cả danh dự lẫn việc làm. Một chữ ký của Thư: Phổ tồn tại như đã từng tồn tại. Giờ đây, vô tình Thư ở vị trí con mèo có nanh, có vuốt. Đổi lại, Phổ là con mồi xun xoe, sợ sệt.. Thư mỉm cười chua chát: "Tôi có thể tha thứ cho anh. Nhưng.. Với một điều kiện?" Cái gì em nói anh cũng nghe! Em nói đi! Thư mở to mắt nhìn Phổ: Sao lời hứa cũng dễ như lời nói nhỉ? Nó cũng giống như lời hứa trong một đêm trăng, bên bờ sông năm nào.. Để rồi cô giáo cấp I, xinh xắn, trẻ trung yêu say đắm đến cuồng si. Bất chấp mọi trở ngại, khờ dại hiến dâng.. Thư rùng mình: "Điều kiện là anh ký vào đơn ly hôn. Phần trách nhiệm nuôi con, anh phải chấp nhận nhường quyền vĩnh viễn cho người mẹ".

9

Ba tháng sau, Tòa xử cho hai người ly hôn. Thư vắng mặt gia đình lên đón hai mẹ con cô về quê để chữa trị vết thương. Thư giữ đúng lời hứa; nhận mình vô ý ngã nên bị thương. Phổ không bị truy tố vì tội ngược đãi vợ và đánh người gây thương tích.

Mọi hậu quả thầy giáo Phổ phải nhận mà tác giả kể ở đầu câu chuyện là do chính những gì Phổ gieo trồng. Gieo trồng và thu hoạch âu cũng là lẽ thường tình.

Xin hãy nghe lời Chúa phán: "Cây thập tự đời ai, người ấy vác".​

Nguyễn Nhuận Hồng Phương
 
278 ❤︎ Bài viết: 815 Tìm chủ đề

29. Người vắng mặt - Nguyễn Nhuận Hồng Phương


20260820-145416-def3f57f6d.png


1. Hoài niệm

Gần bến xe khách liên tỉnh, ngay ngã tư đầu ô thành phố, xen giữa những ngôi nhà cao tầng và các cửa hiệu bề thế nằm dọc theo đường Quốc lộ 2, có một quán hàng ăn, diện tích chừng hơn chục mét vuông. Đã chật chội, bức bí, ngột ngạt mà suốt ngày lại hứng chịu bụi cát của xe cộ chạy qua. Không những thế, hai bên đường cắm toàn biển hiệu giao thông. Xe ô tô, xe máy sợ bị cảnh sát bắt lỗi vi phạm nên không dám đỗ. Khách vãng lai đói bụng, có muốn ăn bát mì hay tô phở, nhìn cảnh quan như thế cũng ngán ngại, vì cái quán ấy gộp đủ 3 yếu tố: Vừa bé, vừa bẩn và vừa bụi.

Quán sá chật hẹp, cảnh quan phức tạp, điều kiện như vậy thì làm ăn buôn bán gì. Vậy mà bao năm qua nó vẫn tồn tại, mặc cho sự phát triển ồ ạt của xã hội giữa thời buổi thị trường biến động đến chóng mặt. Trong "Cái khó ló cái khôn". Ban ngày không bán được thì bán ban đêm. Cái ngã tư có bến xe liên tỉnh này đêm đến không thiếu khách khứa qua lại. Ấy là chưa kể đến những người lái tắc xi, lái xe ôm chuyên rình đón khách lỡ độ đường, hoặc các hạng người vì công chuyện này hay công chuyện khác, buộc phải lấy đêm làm ngày mò đến kiếm đồ ăn..

Làm chủ cái quán ấy là một cặp vợ chồng đã luống tuổi cùng với một cô con gái. Trong khi cô con gái xinh xắn, non tơ, mơn mởn như cải ngồng non, thì ông bố thân hình nhỏ nhắn, nhìn bề ngoài dáng dấp như một người có máu yêu nghệ thuật: Mặt trái xoan, mái tóc bồng bềnh, xoăn tự nhiên, vài lọn tóc hình xoắn ốc, dủ, xõa che vầng trán mỏng trên cặp mắt long lanh, lấp láy sau đôi tròng kính trắng, phủ lên cặp chân mày hình dấu ngã, có những nếp nhăn ghi dấu ấn thời gian.. So với chồng, người vợ tỏ vẻ sắc sảo hơn. Không xinh đẹp rực rỡ hay kiêu sa, quyến rũ, nhưng nếu quay lại thời gian mấy mươi năm trước, thì người phụ nữ này cũng thuộc vào hàng dễ làm xiêu lòng những chàng trai đa tình. Bởi ngay thời điểm như nắng về chiều rồi, mà khuôn mặt dù đã luống tuổi do phải thức đêm, thức hôm tảo tần với công việc bếp núc, vẫn lưu lại nét duyên dáng ở một thời xuân sắc, ánh mắt long lanh, động thái nhanh nhạy, miệng lưỡi hoạt ngôn, lưu loát..

Tuy vậy, sự tồn tại của cuộc sống là cả một vấn đề. Ngoài chuyện biến đêm thành ngày, vi phạm giờ giấc của chính quyền quy định, dân hàng phố luôn bực dọc, khó chịu với cái cảnh đang say giấc nồng bị đánh thức đột ngột vì tiếng ồn ào như chợ vỡ. Cái quán ấy không khác gì cái chuông đồng hồ báo thức vô tội vạ. Thậm chí đôi khi còn xảy ra những vụ rắc rối, khách khứa ăn uống, rượu chè quá chén gây gổ, cãi lộn, tới mức công an phải đến can thiệp. Sau mỗi lần sự việc xảy ra như thế, theo chức sắc quản lý, lãnh đạo tổ dân phố lại phải đến nhà tìm hiểu sự việc. Trong lúc cán bộ tổ lập biên bản, thì ông chồng và đứa con gái cúi đầu e nép, gượng gạo ngồi tận góc giường, còn bà vợ nửa nhăn, nửa mếu, rối rít xoa tay xin lỗi, xin tha và hứa này hứa nọ.. Vị Tổ trưởng kiêm Chi hội trưởng Cựu chiến binh, vốn bản tính nền nã, dễ cảm thông, chuyên giơ cao đánh khẽ, nhẹ nhàng ôn tồn nhắc nhở.

Nhưng rồi đâu lại hoàn đấy. Phê thì phê, nhắc thì nhắc, lập biên bản, phạt hành chính, cứ vậy, cứ thế, chẳng khác gì nước đổ đầu vịt, qua đôi ngày rồi lại như thường. Đêm đêm, kiểu sinh hoạt, cảnh bán hàng vẫn tái đi, tái lại, quanh quẩn như đèn cù rằm Trung thu. Để ngăn tiếng ồn, dân hàng phố lắp thêm cửa kính, trộn vữa xi măng bít lại những lỗ hổng, lấy bìa cát tông, kiếm mảnh xốp nhét kín các khe hở âm thanh có thể lọt vào, và nín lặng không ỉ eo, kêu ca gì nữa. Suy cho cùng, người nào cũng xuất thân từ lao động, đặt mình vào hoàn cảnh ấy, vẫn là vì miếng cơm, hớp nước, nào ai nỡ táng tận lương tâm, vô tình triệt đường mưu sinh của cái gia đình bé nhỏ làm ăn, sinh sống như bị giời đày ấy.

Tuy vậy thông cảm là một chuyện, còn có những việc không nghĩ cũng không được. Chả nói thì ai cũng biết: Dân chúng sống ở đô thị thời nào cũng thế, bề ngoài tỏ vẻ không để ý, sống kiểu mũ ni che tai, nhưng thực ra bên trong vẫn ngầm ngã xét nét, đố kỵ, săm soi. Họ xét nét, săm soi, đố kỵ vì ngoài chuyện biến đêm thành ngày, gây ra bao điều khó chịu, phiền phức cho cư dân và chính quyền sở tại, thì gia đình ấy có một bản sơ yếu lý lịch hết sức là mù mờ. Mù mờ ở chỗ: Người đàn bà là dân sở tại, nhưng còn gã đàn ông không có hộ khẩu, thậm chí không một mảnh giấy tùy thân. Nguyên do hai người tình cờ quen nhau trong một lần đi buôn. Không hiểu dan díu thế nào, hay bởi vì "Tiếng sét ái tình" mà say nhau như điếu đổ. Thế là gã đàn ông bỏ quê hương, bỏ việc làm, xách khăn gói theo người đàn bà về đây chẳng cưới cheo gì hết.

Nhưng đã là công dân, sống ở đâu cũng phải có tôn ti trật tự. Vị Tổ trưởng muốn tổ dân phố của mình hoàn thành chỉ tiêu văn hóa, và để đảm bảo quyền lợi của công dân, nên gặp gỡ yêu cầu gã trình bày hoàn cảnh. Gã khai đủ hai mặt giấy, kể lể mình là người có quê hương bản quán đàng hoàng, lại còn có nhiều công lao cống hiến cho xã hội. Nào là năm 1966 gã đã chích máu viết đơn xung phong đi bộ đội, ở binh chủng thông tin, huấn luyện ở Thái Nguyên. Nào là gã cùng đơn vị hành quân vào chiến trường miền Nam, chiến đấu ở khu "Tam giác sắt" thuộc vùng giáp ranh giữa Bà Rịa, Long Khánh và Biên Hòa. Gã khai lúc đó gã phụ trách máy truyền tin 15W ở Sở chỉ huy, trong một đơn vị có cái phiên hiệu mật danh rất đẹp và nữ tính là: "Đoàn Hải Yến". Gã ở đến khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, sau đó còn vào chiến trường Tây Nam sang Campuchia tiêu diệt lũ Pôn Pốt, cho đến khi chiến sự biên giới xảy ra, gã hành quân lên biên giới phía Bắc đánh nhau với bọn bành trướng sau đó mới ra quân với lon hàm Chuẩn úy..

Khai thì khai vậy, kể thì kể thế, nhưng khi hỏi đến giấy tờ thì gã đỏ mặt, ngượng ngập, gãi đầu, gãi tai, bao biện: Vì di chuyển nhiều nơi nên bị thất lạc. Vị lãnh đạo tổ dân phố tỏ ra rất cảm thông, khuyên nhủ gã tìm đơn vị cũ xác nhận lại giấy tờ, để vừa đảm bảo quyền pháp nhân, đồng thời được hưởng chế độ đãi ngộ. Nghe lời, gã bỏ công, bỏ sức, thậm chí còn bỏ tiền, bỏ của ra cạy cục, nhờ vả người nọ, người kia "biết đường đi, nước bước" giúp đỡ ngược, xuôi chạy chọt. Nhưng đến đâu người ta cũng lắc đầu. Vì thời gian trôi qua đã lâu, mọi thứ thay đổi, con người cũng đã khác. Cái đơn vị có phiên hiệu mĩ miều tít tận trong miền Nam kia thì bây giờ không còn tồn tại nữa. Ở vùng biên giới giờ đây đi lại đã thông thương, chẳng còn ai nhớ đến cái anh chàng chuẩn úy thấp bé, nhẹ cân ngày xưa nữa. Vả thời buổi này ai đâu rỗi hơi để ý đến những chuyện tồn tại mãi từ thế kỷ trước. Lâu dần, "Quá mù ra mưa", chính quyền sở tại thấy giục mãi, nhắc mãi cũng không giải quyết được, đành chịu, còn dân hàng phố thấy gã trơ lì, đành coi gã như một vết sẹo trên cái thân thể lành lặn. Vì thế quan hệ giữa gã với những người hàng phố, dẫu không nói ra, ngấm ngầm vẫn có một khoảng cách vô hình.

Chính cái khoảng cách vô hình, vô ảnh ấy khiến gã lúc nào cũng đau đáu trong lòng. Gã biết bề ngoài họ nói, cười giả lả thế thôi, chứ tận đáy tâm tư của bọn họ vẫn coi thường và khinh gã như mẻ. Buồn nhất là vào những ngày lễ trọng đại của dân tộc. Trong khi hội này, hội khác tụ tập liên hoan, quân trang, quân phục gọn gàng, huân, huy chương chói lòa trên ngực áo, người người tụ tập vui vẻ hát hò mừng reo, thì gã lủi thủi như kẻ sống ngoài vòng pháp luật, then lén như rắn mùng năm, nhìn thấy ai cũng không dám nhìn thẳng, tránh né như kẻ mắc lỗi..

2. Bước ngoặt

Đêm về khuya, quán vắng khách, trên đường thi thoảng có những chiếc xe ô tô chạy vút qua, vương lại đám khói bụi cùng với tiếng động cơ ầm ì ào lên rồi vắng lặng. Gió lạnh từ triền núi Tam Đảo thổi về, mang theo màn sương màu trắng sữa lễnh loãng, tan hòa trong quầng sáng của ngọn đèn chùm nghễu nghện đứng giữa vườn hoa vòng xuyến ngã tư. Trong bến xe, dăm ba chiếc ô tô chuyên chạy đường dài nằm im lìm, lừng lững trông như những con bọ hung khổng lồ nghỉ ngơi sau một ngày làm việc; vài quán nước le lói ánh đèn, thu hình, rúm ró, co ro trong những tấm vải bạt che từng cơn gió lạnh.

Vắng khách, gã đứng dậy, tắt bớt ngọn đèn trên gác xép, nơi vợ, con gã đang ngủ, rồi cầm mấy lon bia và đĩa lạc luộc ra ngoài hiên ngồi nhâm nhi. Kinh nghiệm bán hàng nhiều năm cho gã biết: Cứ vào độ sau tết Nguyên đán, dân chúng ít đi lại, hàng quán vắng ngơ, vắng ngắt, mở hàng theo lệ chứ lấy đâu ra khách khứa. Nghĩ rồi gã bật nắp lon ngửa cổ uống. Vị bia đắng dịu, gã nhăn mặt vì độ lạnh. Vừa lúc đó, có một chiếc xe máy từ dưới xuôi đi lên. Đến ngã tư, chiếc xe bấm đèn xin đường, tạt ngang sang dừng lại trước quán. Người lái là một người đàn ông, dáng to, cao, lững lững trông tựa một con gấu. Bên ngoài mặc áo bạt dài màu xám, thắt đai lưng kiểu dành cho sĩ quan quân đội. Đầu đội mũ sắt, khuôn mặt trùm kín bằng một chiếc khăn, mắt đeo kính gọng to, lồi phồng như mắt sư tử. Trong ánh điện tranh tối, tranh sáng, trông ông ta không khác gì hình ảnh của những tên khủng bố trong một bộ phim nào đó, khiến cho gã chủ quán giật mình chờn chợn.. Gã buông vội lon bia đứng dậy, thò tay vào ngăn kéo tủ quầy cầm lấy cán chiếc gậy chống cướp..

Không đợi gã mời chào, người đàn ông tắt máy, nhảy xuống, đạp chân chống, kèm theo câu hỏi: "Còn gì ăn không đồng chí?". Nghe giọng trầm ấm, thân thiện của khách, gã mỉm cười và thấy vui, tay rời khỏi cán gậy. Gã cười vì khách vào quán ăn lại hỏi còn gì ăn không. Còn vui, vì đã lâu mới có người gọi gã là đồng chí. Gã đáp lại bằng một câu hỏi có nhân xưng đồng dạng: "Thế đồng chí ăn gì, để tôi phục vụ?". "Gì cũng được – Người đàn ông cởi trang bị hộ thân trên người ra vắt lên thân xe, đáp – Cơm, mì, phở.. Có gì tôi ăn nấy". Hẳn đây là một người dễ tính và từng sống nhiều năm trong quân ngũ. Gã nghĩ. Vì chỉ có người đã từng trải qua đời lính mới dễ dãi như vậy. Gã đứng dậy, hỏi: "Đồng chí có dùng rượu hay bia không?". "Không! – Giọng người đàn ông dứt khoát – Uống vào, công an giao thông tóm được bị phạt chục triệu ngay. Hết cơm thì có mì hay miến, đồng chí làm cho tôi một đĩa to to là được". "Có mì Chũm, vợ tôi vừa mới lấy sáng nay – Gã trả lời rồi quyết định giúp vị khách - Vậy tôi xào mì với tim cật nhé!". "Vâng – Vị khách gật đầu, tháo găng tay ra – Đúng món khoái khẩu của tôi đấy. Đồng chí cho tôi thêm nhiều hành củ là được." Yên chí đi – Gã bê tích nước rót ra bát mời – Đồng chí ngồi uống nước, chờ tôi một lát ".

Rồi gã đi vào kệ, bật bếp ga, đặt chảo lên. Vợ gã thức giấc, hỏi vọng xuống:" Có cần em dậy nấu cho không, mình? "." Hai mẹ con cứ ngủ đi – Gã đáp – Xào có mỗi đĩa mì thôi mà ". Không nghe tiếng vợ đáp. Gã lấy mì ra ngâm nước, tra mỡ, chờ chảo nóng rồi đổ gia vị vào. Tiếng mỡ reo xèo xèo, lửa bén trùm miệng chảo. Tay gã xóc liên tục, ngọn lửa như nhảy múa. Mùi hành phi quyện với mùi tim cật chín thơm lựng tỏa khắp quán.. Một lúc sau, gã bê đĩa mì ra. Đĩa mì nóng hôi hổi, bốc hơi nghi ngút, những củ hành chẻ trông như những bông hoa phủ kín mặt đĩa. Vị khách gật gù, gắp một miếng cho vào miệng rồi tấm tắc:" Tôi từng là đầu bếp, nhưng công nhận nhìn đồng chí thao tác vừa nhanh, vừa khéo. Chất lượng lại đạt đúng 3 tiêu chuẩn: Ngon mắt, ngon mũi và ngon miệng "." Vâng – Gã đáp – Đồng chí có nhắc tôi mới nhớ: Đó là tiêu chuẩn quy định trong bếp ăn quân đội ". Nói xong gã đến quầy cầm lon bia dở lên uống tiếp.

Vị khách vừa ăn vừa nghiêng mặt nhìn gã chủ quán rồi ngờ ngợ.. Khuôn mặt này hình như đã gặp ở đâu rồi thì phải. Trông quen lắm. Vị khách ngừng ăn, nhíu mày, nhăn trán, buông đũa xuống bàn, nghiêng đầu, vỗ tay lên trán như cố lục tìm trí nhớ.. Gã chủ quán thấy khách dừng ăn, hỏi:" Mặn quá hay sao hả đồng chí? ". Vị khách không đáp mà hỏi theo ý mình:" Tôi hỏi khí không phải, ngày trước ông có đi bộ đội không? ". Gã cười khùng khục, đặt lon bia xuống đáp lại:" Hồi ấy những người ở tuổi tôi và tuổi ông, nếu không đi bộ đội, họa chăng chỉ có đui, què, sứt mẻ "." Vào lính, ông ở binh chủng nào? ". Vị khách hỏi tiếp." Tôi là lính thông tin – Không mấy khi được giãi bày, gã chủ quán cởi lòng, cởi ruột, khai tuồn tuột – Đơn vị tôi là đơn vị độc lập. Tháng 1 năm 1966 chúng tôi hành quân từ ga Phủ Lý, Nam Hà. Đi hơn 6 tháng mới vào được đến miền Đông Nam bộ. Trên đường đi ác liệt lắm. Ông tính xem, đơn vị 700 người, vào đến nơi còn có 200. Không chết vì bom, đạn hay gặp địch phục kích, thì cũng chết vì sốt rét ác tính. Quên đi thì thôi, chứ bây giờ mỗi lần nghĩ lại vẫn thấy sợ. May lúc đó tôi là lính báo vụ, chuyên môn đi theo chỉ huy nên mới không chết.. "." Thế sau khi giải phóng miền Nam anh ra quân à? ". Vị khách nghe chừng sốt ruột hỏi ngang." Không! – Gã chủ quán khoát tay ra hiệu – Ra là ra thế nào. Tôi còn chiến đấu ở chiến trường Tây Nam, cho đến khi xảy ra chiến sự biên giới phía Bắc, đơn vị tôi được điều lên đó quần nhau với tụi Tàu, hết chiến tranh sau đó mới ra quân cơ mà "." Thế hồi trên biên giới anh ở tỉnh nào? "Giọng vị khách giật cục. Gã đáp:" Tôi chốt ở huyện Quản Bạ.. "." Sao.. - Vị khách dừng nhai, tròn mắt, thảng thốt kêu rồi đưa tay dụi mắt, như sực nhớ ra – Vậy có phải anh là Lê Chí Hữu, trợ lý Phòng Tham mưu Tỉnh đội Hà Giang không? ". Lúc này đến lượt gã chủ quán ngớ người, giương mắt nhìn khách:" Sao.. Sao.. Sao.. ". Không để gã nói hết câu, vị khách đứng dậy, chồm tới nắm tay gã, lắc lắc:" Ôi, anh Hữu. Em là Bùi Văn Vệ, lính hậu cần Sư 313, Quân khu 2 đây. Anh còn nhớ em không? ".

Gã chủ quán ngỡ ngàng, nhưng rồi bộ nhớ trong đầu của gã đột nhiên thức tỉnh. Đúng rồi! Chính là thằng Vệ. Cái thằng to như hộ pháp, có giọng nói mang âm hưởng xứ Nghệ nặng chịch, oang oang như lệnh vỡ, mặt sạm đen thuốc súng, đã bao lần vượt qua mưa đạn của kẻ thù, gùi lương thực, thực phẩm tiếp tế lên chốt. Gã lặng người trong giây lát, rồi ôm choàng lấy người đồng đội, ghì riết, mắt chớp chớp như vẫn chưa tin đây là sự thật:" Vệ.. Vệ.. Có đúng là Vệ "khu chớ" phải không? "." Vậy là anh nhớ ra rồi hả? - Vị khách nói – Đúng là Vệ "khu chớ" đây "." Thế đi đâu mà lọ mọ đi đêm, đi hôm thế này? ". Gã chủ quán hỏi." Anh không nhớ mai là ngày gì à? ". Vệ không đáp mà hỏi lại. Mặt gã chủ quán ngây đuỗn:" Ngày gì cơ? "." Mai Hà Giang tổ chức Lễ Kỷ niệm gặp mặt các Cựu chiến binh tham gia chiến dịch biên giới tháng 2 năm 79 – Vệ nói rồi hỏi - Thế anh không nhận được giấy mời à? ".

Nghe, gã chủ quán xị mặt, không biết đáp sao. Vừa lúc đó, vợ gã thức dậy, từ gác xép đi xuống, nói chêm vào:" Ông ấy nhà tôi, ai người ta mời hả chú "." Em chào chị - Vệ quay lại chào rồi hỏi - Nhưng chị nói thế là sao? ". Người vợ kể lại tình hình của chồng mình, rồi thở dài:" Khổ lắm chú ạ. Anh Hữu chạy ngược, chạy xuôi, nhờ vả cả người này, người khác xin lại giấy tờ, nhưng chẳng đâu họ giải quyết. Mà chú tính, chân đi, mồm đi trong lúc đó hàng quán ế ẩm, tiền nong lấy đâu ra. Thế là anh ấy chán, suốt ngày ru rú trong nhà, ngại chả muốn đụng mặt ai "." Thế còn chế độ, anh Hữu có được đãi ngộ gì không hả chị? ". Vệ hỏi tiếp." Chế độ, chế đung gì – Người vợ than vãn – Đến hộ khẩu còn không được nhập, thẻ căn cước còn không được cấp, nói gì đến đãi ngộ. Người thông cảm đã đành, người vô tình còn cho anh ấy là đảo ngũ cơ ". Trán Vệ chau lại:" Thế còn chính quyền địa phương, họ đối xử với anh em thế nào hả chị? "Chính quyền họ tốt lắm – Người vợ đáp – Nhất là ông Tổ trưởng dân phố ấy. Ông ấy vốn là bộ đội phục viên nên rất cảm thông, thi thoảng lại sang nhà động viên. Nhưng mà như chú biết đấy. Giấy tờ là do mình làm thất lạc, mình phải chịu, họ có lòng tốt mấy cũng chẳng dám bảo đảm cho mình được". "Nhà ông Tổ trưởng gần đây không chị?". Người đàn bà chỉ tay sang bên kia đường: "Nhà ông ấy mở cửa hàng bán xe máy phía đường bên kia kìa". Vệ nhìn theo tay người đàn bà chỉ rồi quay lại nói với gã chủ quán: "Thôi, mọi chuyện để sau đã. Bây giờ anh mang rượu ra đây, anh em mình uống với nhau vài chén. Ôn cố tri tân, mừng cho cuộc gặp gỡ sau bao nhiêu năm. Sáng mai anh đưa em đến gặp chính quyền địa phương, rồi theo em lên Hà Giang một chuyến gặp lại đồng đội cũ..".

3. Hậu từ

Nhà Văn hóa tổ dân phố hôm nay trang hoàng rực rỡ. Mọi thứ dường như đều tươi mới, tưng bừng, lung linh trong ánh sáng đèn hoa. Phía dưới lá cờ Đảng, cờ Tổ quốc và ảnh lãnh tụ, là tấm phông gắn phiên hiệu Cựu chiến binh Việt Nam, và dòng chữ: "Lễ Kết nạp hội viên Hội Cựu chiến binh".

Ông Tổ trưởng kiêm Chi hội trưởng Cựu chiến binh cùng các hội viên, quân phục gọn gàng, tề chỉnh, trên ngực lấp lánh huân, huy chương các loại. Hôm nay, các cựu chiến binh vui vẻ, phấn khởi, vì sau bao nhiêu năm, ông chủ quán chuyên bán hàng ăn đêm được kết nạp vào Hội Cựu chiến binh. Đến dự còn có các vị lãnh đạo đại diện cho Đảng, Chính quyền và Hội Cựu chiến binh phường, và những người dân hàng phố mặc dù không phải là quân nhân, nhưng nghe tin cũng nô nức đến chúc mừng.

Lê Chí Hữu đầu đội mũ mềm, xúng xính trong bộ quân phục còn thơm mùi vải. Không hiểu do bộ quân phục mới hay vì xúc động, mà mỗi khi có người đến bắt tay, tặng hoa, ông lại bẽn lẽn, ngượng ngập như chú rể lần đầu cưới vợ. Còn người vợ và cô con gái của ông thì phấn khởi ra mặt, miệng tươi như hoa, luôn mồm cảm ơn, lăng xăng rót nước mời mọi người.

Sau Lễ công bố quyết định kết nạp, chủ tọa mời hội viên mới lên phát biểu. Lê Chí Hữu bước lên trước hàng quân, rập gót chân lập nghiêm, đưa tay lên chào, giọng run run:

- Thưa các đồng chí, đối với gia đình tôi, đây như một giấc mơ. Nhưng là một giấc mơ có thật. Thế là sau bao nhiêu năm xa rời quân ngũ, giờ đây tôi lại được trở về làm người Lính Cụ Hồ của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tôi được như thế này, ngoài sự giúp đỡ của các cơ quan, đoàn thể, còn có một người đồng đội mà trong ngày vui này, tôi rất muốn đồng chí ấy có mặt, nhưng..

Nói đến đây, Lê Chí Hữu nấc nghẹn, như người hụt hơi, mắt nhòa lệ, không nói lên lời, khiến vị Tổ trưởng kiêm Chi hội trưởng Cựu chiến binh phải nói đỡ:

- Thưa các đồng chí, người đã không quản vất vả, khó nhọc đi các nơi, tìm hồ sơ, và xác nhận lại thời gian phục vụ trong quân đội cho đồng chí Lê Chí Hữu của chúng ta, là cựu chiến binh Bùi Văn Vệ, nguyên Chủ nhiệm Hậu cần Sư đoàn 303 nay đã nghỉ hưu. Lẽ ra hôm nay đồng chí Vệ sẽ có mặt để chứng kiến giây phút trang trọng này để chung vui cùng với đồng chí Hữu và chúng ta. Nhưng thật tiếc, cách đây ít hôm, chúng tôi nhận được tin đột ngột: Do ảnh hưởng chất độc màu da cam, đồng chí Vệ mắc phải một căn bệnh hiểm nghèo, đang nằm điều trị ở bệnh viện quân y 108. Vì thế đồng chí ấy vắng mặt..

Tiếng ông nhỏ dần.. Nhịp đập trái tim của bao người có mặt trong căn phòng này bỗng dưng se thắt.. Ngoài kia không gian như dừng lại mang theo bao nỗi niềm lâng lâng khó tả, nhập nhòa vui, buồn trên khóe mắt của những người cựu chiến binh chan hòa trong ánh nắng chói chang của một ngày vào hạ..​

Nguyễn Nhuận Hồng Phương
 
278 ❤︎ Bài viết: 815 Tìm chủ đề

30. Người xin ra khỏi dòng họ - Nguyễn Nhuận Hồng Phương


20260820-145648-aa899bf0ec.png


Cụ trùm Bạ nắc nỏm: - Cái sự này có nhẽ từ thượng cổ mới có một chứ chả có hai! Phải họp lại mà tẩn cho nhà nó một mẻ chứ không thể để thế được..

Ông trưởng chi đắn đo: - Con phiền cụ chớ có nói với ai. Làng nước mà nghe thấy họ cười cho thối mũi ra.. Họ Trần, họ Phan chẳng nhìn họ Nguyễn Hữu ta bằng nửa con mắt chứ lại..

- Còn sao nữa! - Cụ trùm Bạ mắt hấp ha hấp háy; cong ngón tay bật bật thanh đóm đang cháy bùng bùng đánh "phựt" một cái, ngọn lửa phụt tắt, trơ mảnh tàn đen xì - Anh chạy mời ông trưởng họ sang tôi bảo! Chí ít tôi cũng là lão họ cao nhất cái họ này chứ lị..

- Dạ.. Ngay bây giờ ạ? - Ông trưởng chi hỏi.

- Anh đi ngay cho! Nếu không lão ấy lại chúi đầu vào "trăm hai mươi cây" đố mà tìm..

Nhìn ông trưởng chi loạch quạch lê đôi dép tổ ong để lại vết bùn trên mặt sân gạch, cụ trùm Bạ thở dài đánh thượt rõ mạnh. Hình như cụ muốn trút hết bực dọc trong người vào đó. Cái thở dài mang theo nỗi ngao ngán vì sự việc vừa xảy ra..

Chẳng là tối qua, bố con nhà lão Cù mang đơn gửi trưởng chi. Trong đơn trình bầy đề nghị được xin ra khỏi họ.. Hừ.. "Con sâu làm rầu nồi canh".. Mẹ cha nó chứ! Nhà nó có chết cũng chẳng ai thương! Nhưng chuyện này trong làng ngoài xóm mà biết, rồi lấy đó để kháo và giễu cợt thì còn gì là danh gia vọng tộc nữa..

1

Làng Lệ nằm ven dòng sông Hồng, có hơn hai ngàn suất đinh, dòng họ Nguyễn Hữu chiếm quá nửa; chia thành năm chi.. Từ xa xưa, họ Nguyễn Hữu có tiếng học giỏi, tài cao.. Truyền đồn từ đời nảo đời nào bao kẻ xênh xang mũ cao áo dài hưởng lộc vua ban.. Danh sách Trạng nguyên đề trên bia đá; ông Nghè, ông Cống, ông Hương.. Xếp chặt gia phả.. Chả cần nói đâu xa, ngay thời bây giờ, có người còn đang chức, đang quyền là cán bộ, là tướng, là tá ở Bộ nọ, Bộ kia.. Nhiều người về làng bỏ tiền mua đất, xây biệt thự làm nhà nghỉ cuối tuần. Mỗi khi ngày lễ, ngày tết kìn kìn chở của về làng.. Có doanh nhân buôn bán tiếng tăm dội sang cả biên giới nước Tầu.. Bia ghi công đức ở đình, chùa, miếu mạo của làng chật những tên con cháu dòng họ Nguyễn Hữu..

Thế mà bây giờ bố con lão Cù đám làm chuyện động trời như vậy.. A.. Hay bố con nó muốn làm nhục cái họ này? Nhưng cái họ này có làm gì bố con nhà lão ấy đâu nhỉ? Cái lão Nguyễn Hữu Cù hồi bé ngoài chọi quay sừng ra chẳng có gì là giỏi! Học thì dốt, ba năm mới lên nổi một lớp.. Đi bộ đội hàng chục năm khi phục viên về vẫn là anh lính quèn, công trạng gì mà kể với làng, với họ?

Đã không biết thân phận lại còn làm càn, làm bậy.. Cứ cái tội này ấy à.. Ngày xưa là bị đuổi thẳng thừng ra khỏi làng; gạch tên ra khỏi họ.. Tống khứ cho mất tăm, mặt dạng.. Nhưng bây giờ thời thế cái gì cũng tự do, dân chủ.. Trái, phải bình đẳng như nhau, vẫn có quyền phát biểu.. Hương ước làng chả ghi rõ là gì: "Mọi người trong làng, trong họ đều bình đẳng như nhau.." - Trách gì lão Cù không dựa vào đấy để quá trớn..

Cụ trùm Bạ đi đi lại lại.. Mấy cái đóm tre ngâm vô tội bị cụ bẻ gẫy làm nhiều khúc, rơi lả tả xuống nền nhà.. Sao ông trưởng chi đi lâu thế nhỉ? Hay thấy vui lại chúi vào đám bài rồi? Cái tệ bài bạc nói mãi mà sao các lão vẫn chưa chừa.. Nếu như cụ là Nhà nước có pháp luật trong tay ấy à.. Phải có hình phạt thật thích đáng! Mầm mống tội lỗi từ đấy mà ra chứ ở đâu? Bài bạc, tá lả, đề đóm.. Có đứa bán cả lúa non để sát phạt.. Có vị lãnh đạo trong thôn, trong xã mượn tiền quỹ "cá độ" bóng đá.. Đến khi bị phát hiện vội mang xe máy, bê đài, bê ti vi, đem cầm cố lấy tiền gỡ chức.. Suýt bị khai trừ ra Đảng mà vẫn không chừa.. Sốt ruột, cụ quyết định thân chinh đi tìm..

2

Ra tới ngã ba đầu làng, Cụ trùm Bạ lưỡng lự.. Chân định bước lên rẻo đường bê tông nhưng mắt cụ lại hướng về con đường đất pha cát dẫn tới bìa làng cuối bãi.. Sao hôm nay cụ mới nhận ra cùng một làng mà vẫn còn nẻo đường chưa được trải bê tông nhỉ? Hay bởi đó là con đường cụt nên không cần thiết? Ngày xưa, đây là con đường của lũ trẻ trong làng ra bãi chăn trâu, thả diều, thi chọi quay.. Cụ hình dung ra con quay sừng tự làm của lão Cù xoay tít.. Trong khi đó, những con quay của đám trẻ trâu ngắc ngắc mấy cái rồi nằm kềnh ra ăn vạ..

Hai người xấp xỉ tuổi nhau, nhưng trong họ cụ trùm Bạ ở ngành trên; tính ra, cụ bằng vai với bố đẻ lão Cù. Chỉ khi ra bãi chăn trâu là bằng nhau. Lũ trẻ trong làng không phân biệt họ hàng, trên dưới gì cả! Có hơn nhau là hơn cách chơi.. Diều bay cao, quay tít lâu là thắng. Vậy mà đã mấy chục năm rồi.. Tiếng đồng trang, đồng lứa nhưng đấy là hồi chăn trâu, cắt cỏ, thả diều, chọi quay ở bãi đầu làng, chứ lớn lên mấy ai quan hệ với lão Cù? Nhắc đến chẳng qua vì dây mơ, rễ má họ hàng tính suất đinh nộp khoản trong họ mà thôi.. Lão Cù điệu bộ, dáng dấp thuở nhỏ thế nào lớn lên vẫn vậy! Da đen thủi, cái lưng cong khi bước làm cái mặt lúc nào cũng cắm gằm xuống đất trông như kẻ có tội muốn né tránh người đời.. Nghèo rớt mùng tơi! Lấy vợ không ăn hỏi, cưới cheo gì; đến khi vợ chết cũng chẳng làm ma. Người trong họ cấm lấy được một miếng..

Nghĩ đến đấy, tự nhiên Cụ trùm Bạ quay ngoắt lại. Phăm phăm bước xuống con đường đất pha cát đi về cuối làng. Mặt đường bây giờ có to hơn chút đỉnh, nhưng hình lượn vẫn như xưa. Dẫu rất nhiều năm không đi trên con đường này, nhưng nếu cần nhắm mặt lại, cụ vẫn có thể bước đi đúng theo nó như thường.. Cát dưới chân lạo xạo cho cụ cảm giác thời thơ ấu còn là trẻ mục đồng: Nghễu nghện trên lưng trâu, đi cạnh là chú nghé hoa lông vàng hoe, bốn móng xinh xinh nhảy cỡn, tung tăng.. Thi thoảng lại lấy mõm thúc vào bầu vú mẹ..

Nhà lão Cù ở rìa làng, đây là khu đất lão được chia từ hồi cải cách. Mảnh đất thòi ra như khúc ruột thừa của lòng con gã khi mổ. Qua bãi đất bồi lên tới mặt đê. Trước kia, người ta chưa mở con đường lớn phía đầu làng, con đê vẫn có xe ô tô chạy; những người ở các làng lân cận bắt được con cua, con cá.. Trồng hái được quả bầu, quả bí, mớ rau.. Mang vào nội thành để bán thường đi tắt qua làng Lệ. Nhưng bây giờ, thi thoảng lắm mới có xe công nông chở cát đi trên đê trông như con bọ hung đội đất.. Người có hàng đi bán, đèo bằng xe máy chọn con đường trải nhựa êm như ru mà phóng. Còn vùng bãi ven đê được chia khoảnh cho dân trồng ngô cao sản..

3

Đón cụ Trùm là mấy đứa trẻ mặt mũi nhem nhuốc, trông như vừa được móc ở vũng bùn lên. Cụ đoán đấy là cháu nội lão Cù liền hỏi:

- Ông có nhà không cháu?

Mấy đứa trẻ nhao nhao:

- Nằm tịt trong giường chứ đi đâu được!

Cụ lại hỏi:

- Thế bố mẹ các cháu đi đâu?

- Bố đi "chợ người" còn mẹ đi "hôi".

À.. "Chợ người" thì cụ biết! - Đấy là sang Hà Nội, tập trung ở vườn hoa, công viên ngóng việc.. Xem có ai thuê mướn thì làm. Còn mẹ nó chắc lại đến nơi có ao hồ chờ người ta bắt xong xuống hôi.. Nghe tụi trẻ nói, cụ trùm Bạ định quay ra, nhưng mồm chúng đã ríu rít như mỏ sáo sậu:

- Ông ơi.. Nhà ta có khách.. Nhà ta có khách..

Cực chẳng đã, cụ trùm Bạ đành theo vào; cụ vén chiếc mành che chắn ruồi trước cửa: Trong nhà tối om. Cụ căng mắt nhìn.. Chợt có tiếng từ góc nhà vẳng ra: "Ai đến chơi nhà tôi đấy?" Sau câu hỏi là trận ho rũ rượi.. Tiếng ngắc giữa từng đợt tã tượi tưởng chừng như rứt từng miếng phổi ra khỏi lồng ngực.. Chờ cho lão Cù ngớt ho, cụ trùm hỏi:

- Tôi là trùm Bạ đây! Ông ốm đã lâu chưa? - Vừa nói cụ vừa cuốn cái mành lên để lấy ánh sáng từ ngoài vào.

Chừng như đã nhận ra người đến chơi, lão Cù vội vàng xoa tay, lập cập chạy ra quên đứt cả cơn ho:

- Kính cụ trùm.. Cháu bị ho mãn đấy mà.. Chẳng mấy khi cụ tới.. Các cháu lại đi vắng cả.. Chắc cụ sang có việc gì dậy bảo?

Cụ trùm nói lảng:

- Tôi nghe ông bị ốm sang xem thế nào.. Còn chuyện họ hàng đã có ông trưởng họ lo..

Lão Cù có vẻ ngượng với gia cảnh xoàng xĩnh của nhà mình: "Cụ thông cảm cho nhà cháu.. Mời cụ ngồi tạm.."

Ánh sáng từ sân hắt vào lộ rõ khuôn hình lão Cù: Còm róm trong chiếc áo bộ đội đã rách; mảng sườn để lộ làn da đen mủn; mái tóc lâu ngày chưa cắt bờm xờm ôm khuôn mặt tóp teo.. Lão lom khom đi ra nhưng không dám ngồi. Thấy vậy cụ trùm bảo: "Ông ngồi xuống ta nói chuyện". Lão Cù rón rén ngồi xuống mép chõng. Hai người im lặng chừng như khó nói.. Những điều cụ trùm ấp ủ mang tới chẳng biết bay đi đâu hết cả. Cụ đành hỏi chiếu lệ:

- Lâu nay công việc làm ăn thế nào?

- Dạ.. Nhà cháu thì làm ăn gì hả cụ? Cháu nó sang Hà Nội tìm việc, hôm được, hôm không.. Vợ nó hết việc đồng áng lại xem chỗ nào để hôi vét..

Không khí im lặng lại bao trùm căn nhà.. Đứa bé mang nước lên. Trong khi chờ lão Cù tráng ấm chén, cụ trùm tranh thủ ngắm cơ ngơi của bố con, ông cháu lão Cù: Cái nhà (nếu gọi chỗ ở là nhà) mái lợp lá mía lụp xụp, mạng nhện chăng ngang chăng dọc.. Góc tường cái bồ đựng thóc bẹp rúm một góc. Chắc trong bồ đã hết thóc?

Đã lâu cụ trùm Bạ không gặp cảnh này nên có phần bỡ ngỡ.. Chẳng lẽ trong dòng họ Nguyễn Hữu của cụ vẫn có người nghèo đến thế này ư?

- Thưa cụ - Lão Cù kính cẩn - Chúng cháu biết không có tổ họ thì lấy đâu ra mình! Nhưng quả thật nhà cháu neo tiền.. Cứ nay đóng, mai góp nhà cháu lấy đâu ra..

- Ông không nói thì thôi.. Cụ Trùm đắn đo - Nhưng ông đã nói thì tôi xin có nhời: Việc là việc chung của cả họ chứ riêng mình ai đâu! Nếu gia đình ông khó khăn cứ trình bày với ông trưởng chi, trưởng họ, đừng vì nghèo mà bỏ họ hàng, làng nước người ta cười cho..

- Dạ.. Thưa cụ, đâu có phải vì nghèo mà nhà cháu quên tổ nghiệp? Chẳng qua bí bức quá đành phải vậy.

Chừng như biết lão Cù có điều bậm bục trong lòng, cụ trùm gọi ý:

- Hay trong họ có gì làm cho nhà ông chưa vừa ý? Ông cứ nói tôi nghe;

Lão Cù ngẩng mặt, đôi mắt ánh lên vẻ khác thường; giống như hồi bé - Giữa bãi thi quay, quả quyết tung ra một tầm quay xoay tít.. Mà trùm Bạ chạy từ bãi chơi lên mặt đê hai lần con quay vẫn chưa đổ..

- Thưa cụ, vô phép cháu được nói. Cụ tin thì tin, không tin nhà cháu đành chịu. Nhưng cụ tính, ai đời xây mả tổ, vẽ ra những dăm triệu một ngôi? Cả khu mả hàng chục ngôi.. Tính ra hết năm sáu chục triệu.. Bổ bán mỗi suất đinh gánh năm trăm nghìn..

Ơ.. Sao khoản này cụ không được biết nhỉ? - Cụ trùm nghĩ.. - Tiếng của lão Cù đều đều như con quay xoáy sâu vào lớp đất bãi.. - Chả biết người chết có được hưởng không? Chỉ thấy mấy quán "cầy tơ" và nhà hàng karaôkê ở đầu làng là đắt hàng vì thi thoảng "Hội đồng họ" gặp nhau để "rút kinh nghiệm".. Bia đá bên họ Trần, họ Phan thuê chạm khắc có hai mươi nghìn đồng một cái. Bên "ta" vẫn kiểu cách vậy mà những ba, bốn chục nghìn.. Có hỏi lại bảo: "Đá bia họ Nguyễn Hữu là đá loại một.." ()

4

* * * Bước ra khỏi cổng nhà lão Cù lúc nào cụ trùm Bạ không nhớ rõ. Chân như thể đi trên mây.. Đầu óc lan man nghĩ tới mọi điều.. Những điều lão Cù nói có cái đúng, có cái sai.. Có việc cụ biết, có việc cụ chưa tường.. Nhưng sự thể cái nghèo, cái khó của gia đình lão Cù hiển hiện như hai cộng với hai là bốn vậy! Cụ đâu có biết trong lúc gia đình lão Cù nhịn ăn để có tiền nộp cho dòng họ xây đắp mả tổ, trùng tu nhà thờ, tạc bia công đức, mở tiệc khao mừng.. Cụ trùm Bạ chễm trệ ngồi trên chiếu nhất dành cho bậc lão họ - Mũ cao, áo dài đỏ rực, ngực thêu rồng, lưng in phượng.. Xung quanh con cháu tung hô "vạn tuế".. Ông trưởng họ xun xoe.. Gã trưởng chi khúm núm..

Bỗng người cụ chúi dụi về phía trước.. Cố lấy thăng bằng cho khỏi ngã, cụ chững người, ngoảnh lại xem mình vấp phải cái gì.. Ồ.. Đó là mô đất giáp ranh giữa rẻo đường đất và con đường trải bê tông..​

Nguyễn Nhuận Hồng Phương

Truyện Ngắn - Tổng Tập Truyện Ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương - Quyển 4
 
Chỉnh sửa cuối:

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back