259 ❤︎ Bài viết: 763 Tìm chủ đề
72 0

Tổng tập truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương​


Tác giả: Nguyễn Nhuận Hồng Phương​


Người đăng tải: Lê Gia Hoài​


Phi lộ - Tổng tập truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương

Đăng tải trên dembuon.com

20260809-042637-7a86f74a2e.png


Bạn đọc thân mến!

Có những trang văn nếu chỉ nằm yên trong những giá sách riêng tư thì thật đáng tiếc. Văn chương vốn được sinh ra từ đời sống và cuối cùng vẫn hướng đến đời sống, đến sự sẻ chia giữa người viết với người đọc. Với mong muốn đưa những sáng tác của mình đến gần hơn với công chúng, nhà văn Nguyễn Nhuận Hồng Phương (Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã đồng ý cho phép đăng tải các tác phẩm truyện ngắn của ông trên dembuon.com.

Ở tuổi đã cao, nhà văn ít có điều kiện tiếp cận và sử dụng công nghệ để tự mình số hóa, biên tập và đăng tải một khối lượng sáng tác đã được ông tích lũy trong nhiều năm. Vì vậy, ông đã ủy quyền cho bạn văn Lê Gia Hoài, thành viên diễn đàn Việt Nam Overnight, thực hiện việc biên tập, số hóa và đăng tải các tác phẩm theo đúng phạm vi được hai bên thỏa thuận.

Việc này được xác lập bằng Hợp đồng cấp phép đăng tải và phổ biến tác phẩm văn học số 01/HĐ-CPT/2026, ký ngày 06/08/2026 tại tỉnh Phú Thọ. Theo hợp đồng, Nguyễn Nhuận Hồng Phương cấp phép cho Lê Gia Hoài đăng tải, lưu trữ và phổ biến các tác phẩm trên dembuon.com nhằm mục đích giới thiệu, lưu giữ và đưa các giá trị văn chương đến với bạn đọc; việc cấp phép là miễn phí và không phải là chuyển nhượng quyền tác giả.

Vì vậy, Tổng tập truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương được mở tại đây trước hết là một nỗ lực lưu giữ. Đó là cách để những trang viết đã đi qua nhiều năm tháng tiếp tục có đời sống mới trong môi trường số; để những câu chuyện về con người, quê hương, tình yêu, gia đình và những biến động của cuộc đời tiếp tục tìm được người đọc.

Mỗi tác phẩm đăng tải sẽ được ghi rõ tên tác giả Nguyễn Nhuận Hồng Phương, tôn trọng nội dung nguyên bản và các quyền nhân thân của nhà văn theo thỏa thuận cấp phép.

Xin cảm ơn dembuon.com đã mở một không gian để những trang văn ấy được trở lại với bạn đọc.

Và xin mời bạn đọc cùng bước vào thế giới truyện ngắn của Nguyễn Nhuận Hồng Phương – một thế giới được viết bằng vốn sống, ký ức, trải nghiệm và những suy tư của một người đã dành nhiều năm tháng để quan sát con người và ghi lại những câu chuyện của thời đại mình.

Lê Gia Hoài

Người được tác giả cấp phép đăng tải và phổ biến tác phẩm

1. Cọt kẹt - Nguyễn Nhuận Hồng Phương​


20260809-085233-4fecc41668.png


Nàng cứ đi mà không ngờ rằng, phía trước mặt một tai họa bất ngờ sắp ập xuống. Ngay sau nơi khuất kia, tên cướp đang rình chờ. Nó không thèm những trang sức đắt tiền được đeo trên người nàng, như vòng vàng khảm ngọc, nhẫn mặt đá saphia, dây chuyền nạm bạch kim.. Hoặc chiếc ví da căng phồng những đồng đô la Mĩ và giấy bạc ngân hàng Việt Nam.. "

- Mình ơi, mình!

Nhà văn buông vội bút, những cảm xúc đang chảy đột ngột ngưng lại. Ông cau mặt, hỏi vọng xuống:

- Gì đấy mình?

- Xuống đây tôi nhờ tí!

Nhà văn xỏ chân vào dép, đứng dậy đi xuống. Tiếng" cọt kẹt.. "Của những mảnh ván trên bậc cầu thang điểm nhịp dưới bước chân ông.

- Gì vậy? - Ông hỏi khi đã xuống hết bậc cuối.

- Trông hàng cho tôi một lúc.

Nhà văn ngồi nhìn ra cửa: Cuộc sống như dòng chảy. Xe chạy, người qua lại, ầm ĩ, náo nhiệt.. Tất cả như một mớ bòng bong, mù mịt, rối rắm. Nhưng ông biết, cuộc sống có quy luật riêng của nó. Và, chính ông là người đang tái tạo lại cái dòng chảy vĩnh hằng ấy. Để biến nó thành sự hiện hữu trong tâm linh, tồn tại trong đời sống tinh thần; để nó trở thành tài sản văn hóa phi vật thể của một thời đại.. Ông đang làm những điều mà không phải ai cũng làm được. Và người ta trầm trồ thán phục, cho tài năng có được của ông là do thiên phú. Ai người đã đọc những gì ông viết ra đều nói vậy.

Nhưng cái trời cho ấy, nhiều khi được nói lái ngược lại là trò chơi. Một trò chơi khó mà thiên hạ rất khó chơi.

Cái trò chơi khó ấy dành cho ông từ thủa còn ngồi trên ghế nhà trường. Khi người ta nhận ra cậu học sinh có năng khiếu thiên bẩm về Văn học. Từ đấy, nghiệp văn chương vận vào, ông trở thành một Nhà văn do trời định. Có một nữ sinh ngây thơ, xinh đẹp, sau khi đọc văn, mê ông như điếu đổ.

Giờ đây, dẫu năm tháng đã xa rồi. Nhưng mỗi khi nghĩ lại, ông vẫn nhớ mãi dư vị những nụ hôn đầu tiên của mối tình ngây thơ, trong trắng. Cảm giác đôi môi mình xao động, hiển hiện hơi ấm tỏa ra từ làn môi cô nữ sinh son trẻ, hôi hổi, nồng nàn, ngọt ngào, say đắm.. Hình như đó không phải là da thịt. Mà tựa như cánh sen mùa thu mang hương thơm thanh khiết, mang vị ngọt ngào như mật ong tưới vào tâm hồn, cùng với ánh trăng khuya, là những lời tình tự. Nàng thốt lên:

- Ôi, Tình Yêu của em..

Chàng định tìm trong vốn văn chương của mình những lời hoa mĩ nhất để đáp lại. Nhưng khỏa lấp môi chàng, là những nụ hôn tràn trề, mãnh liệt:

- Anh đừng nói gì nữa cả! Ôi, Tình Yêu của em.. - Nàng cọ má mình lên miệng chàng, da diết - Anh mãi mãi sẽ là Tình Yêu của em..

Cứ vậy, dường như trên đời này, có bao nhiêu tình yêu, nữ sinh gom lại, dồn hết vào nụ hôn dành cho chàng, khiến lưỡi chàng cứng đơ, khoé miệng chàng đờ đẫn. Nhựa tình vấn vít, quấn quýt, xoăn xuýt..

Có một khách mua hàng dựng xe, bước vào:

- Ông là ông chủ?

Nhà văn trả lời:

- Dạ.. Tôi là chủ nhà.

- Thế ai là người bán hàng?

- Dạ.. Vợ tôi.

- Thế bà ấy đâu? - Khách hàng hỏi.

- Tôi không biết!

- Thế mà cũng đòi là chủ nhà. - Ông khách ngoắt ra, lên xe nổ máy, vút đi, để lại một làn khói sặc mùi xăng sống.

Khi vợ về, ông nói:

- Có một khách hàng vào hỏi mua hàng.

- Thế họ hỏi mua gì?

- Không thấy ông ta hỏi mua gì. - Nhà văn trả lời.

- Vừa mới sáng ra.. - Hậu nữ sinh vẻ không đồng ý, vừa nói vừa nguýt - Sao không biết nói chuyện giữ chân người ta lại? Thế là xổng toi mất một con vịt.

Nhà văn định nói lại một câu gì đó, nhưng hậu nữ sinh đã cúi xuống nhúp mấy tờ giấy để trên ban thờ Thần Tài, châm vào ngọn đèn, đốt, rồi đưa tay hua tròn giải vía. Nhà văn né mặt tránh hơi nóng của lửa và bụi tàn tro. Ông đứng dậy, bước đi. Tiếng" cọt kẹt.. "Của những mảnh ván trên cầu thang điểm nhịp dưới bước chân ông.

* * *

".. Tiền không cần, vàng bạc, châu báu không cần? Vậy tên cướp kia định mưu mô gì đây? Hay tên cướp định cướp lấy phần trinh trắng của nàng. Cái phần duy nhất để đánh giá phẩm hạnh của người đàn bà? Nhưng giữa thập kỷ của thế kỷ hai mươi mốt này, sự trong trắng liệu có còn là phẩm giá? Có còn là chuẩn mực cho một tiêu chuẩn.. "

- Mình ơi, xuống tôi nhờ một cái!

Tiếng nói của hậu thân nữ sinh dứt Nhà văn ra khỏi cảm xúc. Nhà văn khẽ cau mày, đứng dậy đi xuống cầu thang. Tiếng" cọt kẹt.. "Của những mảnh ván cầu thang lại vang lên điểm nhịp dưới bước chân ông.

Hậu thân nữ sinh đón Nhà văn ngay dưới chân ở cầu thang:

- Ông mang ghế ra ngoài cửa ngồi trông hàng! - Rồi dẩu đôi môi ghé vào tai ông, hạ thấp giọng - Có hai con vịt béo vừa xổng từ cửa hàng bên kia sang đây. Ông trông hàng để mẹ con tôi lùa..

Nhà văn ngoái nhìn hai con vịt vừa xổng từ bên kia sang: Đó là hai người đàn ông ăn mặc kiểu quê mùa. Chắc vừa gặt hái xong, có tí thóc bán rồi lên tỉnh mua sắm. Nhà văn đoán vậy, rồi xách chiếc ghế ra. Như thói quen của một hành động đã thuộc, Nhà văn kê ghế sát với chỗ hàng hóa nhà mình bầy với hàng hóa nhà bên cạnh. Ông thận trọng đặt chân ghế đúng bên phần vạch sơn đã được quy định giữa nhà mình với nhà hàng xóm. Nhìn vạch sơn, ông chợt nghĩ tới những vạch kẻ qui định ở những nút giao thông trong thành phố. Tuy vậy, ở đây, nếu vi phạm, không bị công an phạt. Mà sẽ là những câu chửi cạnh khoé.

Sống ở nơi phố xá cực kì phiền phức. Nhất là bán cùng một mặt hàng. Ai cũng muốn bày biện hàng của mình tướn ra hè đường. Trật tự khu phố nhắc nhở; công an phường mang nghị định này, quy định nọ ra dọa rồi phạt! Chỉ được một lúc đâu lại hoàn đấy. Nhắc cứ nhắc, phạt cứ phạt! Nhà này bầy, nhà kia cũng bầy. Chẳng ai chịu kém ai. Luật lệ đâu bằng sự sống còn!

Có câu" Lộc ai nhà ấy hưởng ". Đành thế! Nhưng nhìn khách vào nhà người ta trong lòng cũng ghen tức, ấm ức, khó chịu. Trước đây, lúc rỗi rãi, Nhà văn và chồng bà hàng xóm, vốn là giáo viên về nghỉ một cục, cũng thi thoảng ngồi đối ẩm: Khi chén rượu, lúc cuộc cờ/Khi xem hoa nở khi chờ trăng lên.. Không, cũng đàm tiếu dăm ba câu chuyện trên trời dưới biển. Từ ngày chia vạch, khoanh vùng, cấm vi phạm giới tuyến bày hàng, thì những cuộc vui cũng chấm dứt! Tưởng như trên đời chưa gặp nhau bao giờ. Không phải họ muốn, mà cuộc sống và sự bon chen tạo ra vậy. Các bà vợ kiềng mặt nhau, mặt sát mặt không chào, không hỏi. Vui không qua, buồn chẳng tới. Những người chồng biết vậy, nhưng chẳng biết nói sao.

Giũa lúc đó, ở trong nhà, cuộc lùa vịt, đã tới hồi quyết liệt:

- Hàng bên cạnh đòi tôi có triệu rưỡi!

- Thì đây.. - Tiếng hậu tử của ông - Triệu rưỡi thì ông lấy loại này.

- Sao thế nhỉ.. - Giọng của khách chần chừ, băn khoăn - Hai cái giống y như một?

- Thì vưỡn.. - Hậu thân nữ sinh của ông kéo dài giọng - Giống.. Nhưng đây mới là Tàu xịn. Còn cái kia là Tàu đểu. Người trần, mắt thịt như các vị phân biệt thế nào được thật, giả? Tiền nào của nấy! Hai ông mua cái nào em cũng chiều.

Trong nhà đang mặc cả mua, bán. Ngoài này, người đàn bà hàng xóm bên cạnh đứng sát vạch, ở ngay cạnh Nhà văn ngồi. Mùi hơi người phả theo giọng nói:

- Đồ đểu giả! - Bà ta chửi bâng quơ - Khách vào hàng người ta lại nghiêng nghiêng ngó ngó, nháy mắt chèo kéo, lôi sang nhà mình..

- Xem lại xem! Hay lại vớ phải của nhái? Vác về được ba bẩy hai mươi mốt ngày, vợ nó chả thiến..

Hậu tử của Nhà văn đang giúp khách chằng buộc hàng vào yên xe, nghe vậy quay lại trừng mắt nhìn người hàng xóm:

- Đồ thối mồm!

Nhưng không vì vậy mà cái mồm sợ không khí bị ô nhiễm:

- Tàu xịn! Tàu đểu! Cả hai cùng một l.. Mẹ đẻ ra mà vẫn bịp bợm được.

Hai khách hàng đã đi rồi mà tiếng đối đáp cứ qua, lại như thoi dệt lượn trên đầu Nhà văn. Ông đứng dậy đi vào nhà, tiếng nói của người hàng xóm vẫn đuổi theo:

- Giả dối vậy mà lúc nào cũng mang cái mẽ văn chương ra mà khoe.

Đã vậy, khi bước lên bậc cầu thang, tiếng của hậu thân nữ sinh đuổi theo chì chiết:

- Người đâu đến lạ! Vậy mà không dám nói lại một câu? Đến lúc cần chữ nghĩa để đâu hết không biết!

Nhà văn khẽ cau mày, bước tiếp. Tiếng" cọt kẹt.. "Của những mảnh ván cầu thang vang lên điểm nhịp dưới bước chân ông.

* * *

".. Nàng hỏi, khi tên cướp nhảy xổ ra chặn đường:

- Ta van ngươi. Ngươi muốn gì ta sẽ cho ngươi hết! Châu báu ngọc ngà, đồ trang sức.. Miễn sao ngươi để cho ta được tự do.

- Ta không cần những thứ đó! - Tên cướp trả lời.

Nàng ngạc nhiên. Một tên cướp cản lối, chặn đường không cần châu báu, ngọc ngà, tiền bạc. Vậy hắn cần gì?

- Hay ngươi muôn chiếm thân xác ta?

- Ta không cần!

- Thế ngươi muốn gì?

- Tình yêu!

- Tình yêu nào? - Vẻ ngạc nhiên, nàng hỏi - Mà ngươi là ai chứ?

- Ta là ai ư? - Tên cướp cười sằng sặc - Ta chính là kẻ đã tạo ra Tình Yêu cho đàn bà..

- Mình ơi! - Có tiếng gọi.

Nhà văn buông vội bút. Những cảm xúc đang chảy đột ngột ngưng lại. Ông cau mặt, hỏi vọng xuống:

- Gì vậy?

Tiếng hậu thân nữ sinh xưa vang lên:

- Xuống trông hàng cho tôi một lúc đã!

Tiếng "cọt kẹt.." trên bậc ván cầu thang lại vang lên điểm nhịp dưới bước chân ông..​

Nguyễn Nhuận Hồng Phương
 
Chỉnh sửa cuối:
259 ❤︎ Bài viết: 763 Tìm chủ đề

2. Chuyện nhỏ trong thị trấn - Nguyễn Nhuận Hồng Phương​


20260809-091555-065c5286fc.png


Cứ mỗi lần thanh toán tiền hàng y như là hai người nói to. Cả dãy chợ quá quen với điệp khúc nên chả mấy ai thèm để ý. Quán nọ, quầy kia chăm chăm vào việc dọn hàng để chuẩn bị bắt đầu một phiên chợ mới. Tuy vậy, tiếng nói to vẫn gây cho một vài người khó chịu.

Cô hàng thịt ném nửa đùi con lợn vừa pha đánh "bụp" xuống phản ca cẩm:

- Chổi cùn rế rách lại bắt đầu đấy! Mới sáng ra, chưa có ma nào mở hàng đã được nghe "tuồng hét"..

Mụ bán xôi chè, cháo quẩy ngồi chờ khách nguýt dài:

- Có mấy đồng bạc thối mà cũng ầm ĩ như tiền trăm bạc vạn không bằng.

Con mẹ nửa đồng cốt, nửa hàng mã bê mấy con ngựa giấy xanh, đỏ, tím, vàng dựng ở chân cột quán nói vọng:

- Thôi xin bố! Xin mẹ! Bớt bớt cái miệng cho con nhờ.. Lạy thánh mớ bái, người đâu mà phiên nào cũng như phiên nào..

Mặc! Hai ông bà vẫn nói to. Ông oang oang:

- Phiên mười ba tôi chẳng đưa cho bà hai chục chổi nan. Ba chục rế, với năm đôi sảo là gì?

Bà cụ móm, cái cằm gí sát vào tai ông quát:

- Thì đã.. Nhưng ông chẳng cầm năm chục rồi còn gì?

Ông già nghiêng mặt vặn lại:

- Năm chục nghìn ấy là của số chổi phiên trước chứ phiên sau bà đã cho tôi tiền đâu?

- Ối giời ơi là giời! - Bà lão kêu lên thảm thiết như người bị mất của - Chỉ được cái ăn người.. Phiên mồng chín chẳng lấy của người ta bẩy mươi nghìn đồng bảo đem về đóng học cho thằng cháu là gì?

Chừng như chợt nhớ, ông già ngẩn người há miệng toe toét.. Nhìn cái miệng khó có thể biết ông đang cười hay đang mếu. Ba cái răng phía trên cộng với hai cái phía dưới có biểu hiện là cười, nhưng bờ lợi hở ra lam nham, chỗ thâm, chỗ đỏ lại như người đang nhăn. Chỉ có tiếng nói là còn rõ nghĩa:

- Thế mà tôi quên mất! Xin lỗi bà.. - Rồi ông hạ giọng: - Già cả bây giờ đầu óc nó lú lẫn.. Đâu như hồi còn trai trẻ..

Nói rồi ông đưa tay lên vành tai gãi gãi, xoa xoa, miệng ngập ngừng:

- Bà.. Bà cho tôi giựt ba chục..

Bà lão giật nảy người như đỉa phải vôi:

- Không được! Còn bao nhiêu chổi mọt ruỗng chưa bán được kia kìa..

Ông già khẩn khoản:

- Bà nể cái tình nghĩa..

Bà lão xua tay:

- Không tình nghĩa tình nghiếc gì cả! Sao ngày trước ông không bảo cái thằng con ông nó tình nghĩa với tôi?

Ông lão nghe vậy cáu:

- Này! Bà không cho tôi vay thì thôi! Đừng có dính cái thằng đã chết vào đấy! - Nói xong ông quay ngoắt hầm hầm bỏ đi. Hai chân trần không đi tất xỏ giầy cao cổ, ống quần xắn ngang bọng giẫm phải vũng nước sệt sệt làm bùn vàng tung toé.. Khuỷu tay ông vung mạnh lên như đang hành quân vậy.

Bà bán trầu cau đưa tay quét một quệt quanh vành môi gióng diết:

- Ông ấy giận bà rồi đấy!

Bà lão nhìn theo ông lẩm bẩm:

- Người đâu tính tình đến lạ? - Bà quay lại bảo con bé bán hoa: - Nhờ cháu chạy theo đưa cho ông ấy mấy chục, chắc là ông ấy cần lắm đấy! Con bé cầm tiền, nó nhìn bà, mồm toét ra như bông hoa loa kèn cắm trong bình..

Khách hàng không biết ngỡ ông bà là vợ chồng. Nhưng cả dãy chợ biết họ chỉ là bạn hàng. Dân trong thị trấn biết hai người là người hàng phố. Những người đồng tuổi biết bà chơi thân với người vợ đã quá cố của ông.

Nhìn theo hút con bé, bà thần người vì ân hận. Không biết trời xui đất khiến thế nào hôm nay bà lại buột ra câu hờn trách ấy? Chuyện đã qua, lẽ ra không nên nhắc lại làm gì.. Mà ông ấy làm gì nên tội? Chẳng qua giời đày thì phải chịu chứ ông ấy có muốn thế đâu? Con dại cái mang! Ông ấy chẳng đã chịu mấy năm trời rồi đấy ư?

Bà biết thể nào ông lão cũng giận bà. Nếu bà không nhường, chủ động gặp ông thì còn lâu ông mới gặp bà. Đan lát được gì lại sai con cháu đem ra giao, ghi vào mảnh giấy số lượng có kèm theo một dòng chữ: "Bà thanh toán để tôi còn lấy tiền tái sản xuất".

Ối dào! Làm cứ như ở doanh nghiệp Nhà nước không bằng. Tái sản xuất! Đồ tre đan bây giờ ai sử dụng mấy? Ế sưng ế sỉa! Chổi bán rẻ như cho không. Năm trăm một cái, ba trăm một cái.. Rế người ta cũng ít dùng! Xoong i-nốc, nồi nhôm cao cấp nấu bếp ga, bếp điện sáng bóng, sạch bong cần gì lót rế? Thi thoảng nhà nào có đám cưới, đám ma ra mua một ít rổ, rá, thúng, sảo mang về đựng xong ném bỏ, coi như hàng hóa rẻ tiền mau hỏng. Rổ rá bây giờ làm toàn bằng nhựa, màu xanh, đỏ, tím, vàng, rực rỡ, vừa đẹp lại vừa bền.. Có loại lại còn làm bằng thép không rỉ. Đồ tre đan ế ẩm bà chất thành đống đến nỗi mọt ăn, ỉa cứt trắng xóa, thải bỏ hàng loạt.. Bà cũng chẳng biết vì sao bà phải hứng đựng ông?

Nhiều lần định nhắc ông đan từ từ, ít một thôi! Nhưng mỗi lần nhìn ông lão gánh hàng ra bà lại mủi lòng không nỡ nói. Tất cả cuộc sống của mấy ông cháu nhìn vào thứ đồ đan ấy. Già sắp xuống lỗ rồi mà vẫn phải rửa đít, rửa đôi cho mấy đứa bé, đêm hôm chăm bẵm trẻ như nuôi con mọn.. Rõ tội! Nhưng đôi khi nghĩ tới thằng con của ông, bà lại giận. Bà giận nó đối xử với bà một; giận nó đối xử với ông hai.. Nó chết rồi, để khổ cho ông rồi! Nhưng tiếng đời đến bao giờ mới hết? Cơm không có ăn còn có người này cưu mang, áo không có mặc đã có bạn bè đùm dúm.. Chứ nỗi nhục của nó để lại rửa bao giờ mới sạch? Gánh nặng nó bắt ông gánh đến bao giờ mới vơi? Bỗng bà giật mình vì có tiếng hỏi:

- Bà có sọt tre bán không?

Bà ngẩng lên đáp tại như máy:

- Vâng! Mời bác xem hàng..

* * *

Ông già lấy dao phạt đứt mấy vòng lạt buộc bó tre. Trong bàn tay ông, con dao như biết nói. Loang loáng khoe mầu thép trắng bạc, lưỡi dao sắc ngọt, lách đến đâu róc đến đấy.. Tinh tre rời lả tả, tiếng nổ "lốp bốp" "lách tách", nước từ ruột ống tre tứa ra chảy ròng ròng. Thi thoảng ông lão phải dừng lại lấy khăn lau tay..

Ông học nghề đan lát từ bao giờ và học ở đâu không ai biết? Dân thị trấn chỉ biết ông mở hàng làm nghề này từ sau khi đứa con trai độc nhất của ông chết. Nó chết vì bị cảm nhập tâm, cấp cứu đưa vào viện không kịp. Bác sĩ kết luận nồng độ rượu trong người bệnh nhân cao, đột tử vì xuất huyết não.

Ông trút bực giận vào những cây tre vô tội. Câu nói đai lại của bà lão sáng nay làm cho ông buồn. Mặc dù ông biết bà lão nói xong cũng ân hận. Chính vì ân hận nên bà mới nhờ con bé hàng hoa chạy theo đưa tiền cho ông. Nhưng nỗi buồn bám vào lòng ông day dứt. Ông chuyển giận sang thằng con đã chết. Giá nó sống đàng hoàng, không mơ quyền chức, không tham tiền bạc, gìn giữ phẩm chất của một con người thì bây giờ ông vẫn còn con mà xã hội có một người cán bộ mẫn cán thì tốt biết bao nhiêu?

Nhớ cái ngày nó về khoe với ông:

- Căn cứ vào lý lịch gia đình, vào năng lực công tác của con, Tổ chức giới thiệu con ra ứng cử Hội đồng nhân dân thị trấn. Trúng cử, con sẽ tham gia vào thành phần lãnh đạo của địa phương..

Ông nhìn nó phấn khởi, tự hào, kiêu hãnh.. Tất cả hy vọng của đời ông đặt cả vào nó.. Nhưng sau một năm tham gia công tác ông thấy nó khác hẳn: Sáng, mặc chải chuốt có người đến đón ra quán cháo lòng tiết canh; trưa, cơm khách ở nhà hàng, khách sạn.. Tối khuya mới về, sặc sụa mùi rượu bia. Ông có nói nó bảo:

- Công việc ủy ban giao phải thế! Con là Trưởng ban tài chính, nắm quyền chi thu. Các đồng chí lãnh đạo cần con để quyết những đối sách kinh tế của địa phương.

Nó nói ông biết vậy. Tự ông thấy mình già, cổ lỗ, không theo kịp thời đại. Nhưng đêm nằm ông lại lo. Ông mường tượng những việc nó làm, những nơi nó đến, những điều nó quyết. Mới đảm trách chức vụ được gần một nhiệm kỳ mà nó mang về bao thứ đắt tiền: Dàn âm thanh năm thớt, vô tuyến mầu to như cái cửa sổ, xe máy Đờrim.. Rồi đùng một cái nó tuyên bố sẽ phá nhà xây lại. Cái nhà nằm giữa phố truyền lại từ đời các cụ. Ai đến chơi cũng tấm tắc khen nét chạm của thợ xưa. Ông nói với nó:

- Cái nhà cổ phá đi tiếc lắm! Ở thế được rồi, cần gì phải làm nhà khác? Nó nói với ông:

- Khả năng khóa sau con lên thay Phó Chủ tịch rồi. Bây giờ xây là đúng thời điểm. Chờ lên chức mới giở ra, dư luận lại bảo ỷ nhờ vào quyền thế..

Nghe nó nói, ông lo lắng, thấp thỏm.. Chạy tới tâm sự với bà lão. Bà lão nói với ông:

- Cái thời bây giờ nó khác rồi! Đâu như thời tôi với ông: Đeo huy hiệu Điện Biên thấy hãnh diện, miệng ăn muối vẫn vui, mồm hát những bài ca kháng chiến tự hào..

Nhưng nhà chưa kịp xây, chức Phó Chủ tịch cũng chưa đến thì nó đã bị đình chỉ công tác, làm kiểm điểm chờ nhận kỷ luật. Những thứ nó đem về được bán đi trả về cho công quỹ. Chán đời nó lao vào rượu chè, cờ bạc.. Mất quyền chức, hết tiền, vợ chồng nó cãi nhau, ly thân. Chồng ăn chả, vợ ăn nem, đánh nhau túc bục. Rồi một hôm, con vợ thu nhặt quần áo bỏ nhà đi biệt tăm, để lại cho ông mấy đứa trẻ và thằng chồng ngày đêm say xỉn.

Hôm đám ma, ngoài mấy người hàng phố, chẳng thấy một kẻ nào cùng hội cùng thuyền của nó tới tiễn đưa. "Phù thịnh ai phù suy". Ông không khóc được nữa! Nước mắt ông dành cho cái nhìn nhân tình thế thái. Trong khi đứng thay cháu chịu ơn người đời, ông chợt nhớ đến hai câu thơ ".. Được thời thân thích chen chân đến / Thất thế hương lư ngoảnh mặt đi.."

Nhưng có một người dẫu oán con, giận bố vẫn đến. Đấy là bà lão. Bà đến, không nói mà chỉ làm. Bà têm trầu, rót nước mời tang khách thay tang chủ. Bà lặng lẽ thưởng tiền cho đám thợ kèn, cảm ơn những người thăm viếng. Bà châm nhang đốt cho ké xấu số, đem mấy nén mang sang bàn thờ vợ ông lão cắm vào bát bình hương rồi đứng trầm ngâm.. Hình như bà đang tâm sự với người bạn gái những uẩn khúc trong lòng..

Qua tuần tứ cửu, bà lão sang chơi, ông than thở:

- Bà nhà tôi còn sống trông cảnh này cũng khổ. Người nào chết trước mới là người sướng, người ở lại trần gian cơ hồ cái khổ..

Bà lão an ủi:

- Giời đày, giời phạt thì phải chịu! Không con như tôi khổ theo đằng không con. Có con như ông khổ theo đằng có con. Rồi bà chặc lưỡi lẩy hai câu Kiều:

".. Bắt phong trần phải phong trần / Cho thanh cao mới được phần thanh cao.."

* * *

Ông mua bơm, sắm đồ vá săm ra ngồi ở đầu phố. Khốn nỗi, nhìn ông già người ta không dám vào, ngại phải trả tiền mà mình vẫn phải tự bơm lấy. Ngồi suốt từ sáng đến chiều không nổi dăm nghìn. Bà lão hàng ngày ở chợ về qua cám cảnh, khuyên nhủ:

- Ông già rồi ngồi ở ngã tư, ngã năm nắng gió, nhỡ cảm mạo phong hàn, mấy đứa bé trông vào ai? Tôi nghe lúc còn mồ ma ông nhà tôi kể: Hồi tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, hai ông chuyên môn đan sọt thồ cho dân công, đan mũ nan cho bộ đội cơ mà? Sao ông không làm nghề ấy?

Gợi ý của bà như một sự cứu cánh. Ông mở hàng làm nghề đan lát đồ tre nứa. Làm được hàng ông gửi bà bán. Duy có một điều trong lòng ông lúc nào cũng canh cánh, ngượng ngập với bà. Đó là chuyện xảy ra từ hồi thằng con trai ông còn sống vẫn đang công tác.

Dạo ấy, chủ trương của địa phương xây khu chợ mới. Các hộ trong thị trấn được đăng ký mua một gian ki ốt để bán hàng lâu dài. Bà lão ỷ chỗ bạn với ông, sang nhà đưa đơn nói với nó:

- Anh chọn cho cô một gian thuận tiện, mưa không tới mặt, nắng chẳng tới đầu, để lấy chỗ bán hàng kiếm miếng ăn hàng ngày.

Nó nhận lời, bà đinh ninh thế nào cũng được. Ai dè, khi xem danh sách bà bị gạt ra ngoài. Bà hỏi ông, ông hỏi nó, nó trả lời:

- Con là Trưởng ban tài chính nhưng cũng chỉ là thành viên. Không quyết được! Việc này do chánh phó Chủ tịch, do Ban quản lý. Chắc vì tại bà là hộ độc thân?

Cái lý do hộ độc thân đã hẳn! Vì vậy bà cũng không nghĩ ngợi gì nhiều. Bà tìm thuê lại một chỗ dãy ngoài trời dựng lều ngồi bán. Nắng hè thiêu rát mặt, gió bấc lạnh thấu xương, nhưng chẳng một câu kêu, không lời oán trách. Cho tới khi con ông lão bị mất chức, lòi ra chuyện quầy ki ốt mang tên bà nó đem bán cho người khác lấy tiền chênh lệch kiếm lời, bà mới biết. Có người xui bà kiện. Bà không kiện. Bà giữ cái tình với người bạn đã khuất, cái nghĩa đồng đội của chồng bà với ông lão cùng một thời kháng chiến đánh Pháp.

Bà không kiện nhưng bà oán nó. Nỗi oán giận lây sang cả ông lão. Nhớ ngày giỗ bạn, bà gửi lễ chứ không tới. Mãi đến ngày nó chết bà mới sang.

* * *

- Ông đang làm gì đấy?

Ông lão giật mình buông dao ngẩng mặt lên. Bà lão đi cùng với một người đàn ông trung tuổi. Ông chưa kịp nói bà lão đã nhanh nhảu:

- Đây là bác cán bộ ở Ban chống bão lụt. Bác ấy cần mua một số sọt tre đựng đá kè đê. Tôi đưa bác ấy vào xem ông định giá cả thế nào rồi làm hợp đồng sản xuất.

Ông lão lúng túng:

- Giá cả thế nào bà quyết chứ tôi biết đằng nào?

Bà lão cười, cái cằm móm vểnh ra:

- Nói vậy thôi! Tôi đã nhờ con cháu bán hoa thảo hợp đồng rồi. Tôi đưa khách vào thăm "cơ sở sản xuất" và đưa tiền đặt cọc cho ông. Ông nhận rồi tranh thủ mà làm kịp cho người ta.

Tiễn khách về, bà lão còn nán lại. Bà lặng lẽ châm nhang cắm vào bình hương thờ linh vị bạn, vào bát hương của đứa con ông lão. Hai bàn tay bà chắp trước ngực, đứng lặng hồi lâu như muốn nói với những người đã khuất một điều gì. Trên bàn thờ, làn khói mầu xanh lam quyện uốn từng vòng, từng vòng xoáy bốc lên. Tàn hương đốm đỏ lập loè chợt bừng thức, ngọn lửa loé sáng cháy bùng.. Trong mung lung huyền ảo, ánh sáng từ chân hương bị lửa hóa hắt lên hai tấm hình đặt trên bàn thờ. Bà lão thấy trên môi người bạn gái như hé nở nụ cười. Bà nhìn xuống tấm hình thằng bé. Đôi mắt của nó như cụp xuống, cố tránh ánh mắt bà, nhưng không giấu kịp hai ngấn lệ dưới mi mắt sắp chảy ra..

Ông lão bưng bát nước từ dưới bếp lên đứng đợi. Bà quay lại, đưa hai tay đón bát nuớc, mắt nhìn ông khẽ khàng nói:

- Mấy hôm trước đưa đám xuống nghĩa trang, tôi có đến thắp hương cho hai mẹ con bà ấy. Nhìn ngôi mộ chưa xây nó cứ tồi tội thế nào ấy.. Cuối năm thư thả ông xem nhờ người mua ít gạch, thuê mướn thợ, xây xướng cho mẹ con bà ấy ấm cúng. Thiếu đâu tôi sẽ ứng cho..

Nhìn hút bóng bà cho tới hết dãy phố, ông quay về chỗ làm. Nhấc con dao cắm trong thân tre, lấy tay gại gại, một ý nghĩ bất chợt nẩy ra trong đầu ông lão: Mai phải mua con dao khác! Con này mòn quá rồi..

Nguyễn Nhuận Hồng Phương
 
Chỉnh sửa cuối:
259 ❤︎ Bài viết: 763 Tìm chủ đề

3. Lật tẩy - Nguyễn Nhuận Hồng Phương​


20260809-092319-fa552e782d.png


Những tia máu đỏ quạch chằng chịt ngang dọc trong lòng trắng con ngươi. Cảm tưởng chỉ cần động mạnh, khối tinh lực long sòng sọc ấy rơi ra ngoài. Hắn đảo nhanh sang mấy thằng ngồi cùng chiếu:

Bên trái: Sáng cụt - biệt danh do bị máy ép mía chạy điện cắt đứt hai đốt ngón ở bàn tay phải, nổi danh lỳ lợm, sẵn sàng năm mươi năm mươi với đối thủ.

Vế bên phải: Sơn lòng gà - Biệt hiệu gắn liền với công việc làm ruột gà do vợ giao khoán: "Hàng ngày mổ bao nhiêu gà, có ngần nào lòng mề ông phải làm cho xong rồi muốn đi đâu thì tuỳ!". Khổ nỗi, cỗ bàn bây giờ thiên hạ vẫn trọng món thịt gà nên số lượng đặt ngày căng tăng. Dùng dao rạch nhuộm nhoạm, xối nước máy quấy quá cho xong rồi cứ vậy đút vào túi ni lông giao cho khách. Vợ chì chiết, Sơn vặc: "Thiên hạ ăn chứ cô ăn đâu mà lèm bèm?"

Đối diện: Một khuôn mặt có bộ râu quai nón xanh rì, chải đầu vadơlin bóng lộn, mang cái tên khá ấn tượng: Lý Hải, nhân vật cờ bạc bịp nổi tiếng trong phim xã hội đen của nước ngoài. Còn tên chính của y là Bươi con bà Bưởi, chủ hiệu vàng. Một kẻ cờ bạc các kiểu có hạng ở thị xã. Y giỏi thuật "tung hứng", "làm xiếc" (tiếng lóng của giới cờ bạc bịp). Với bộ bài trên tay, trong nháy mắt, cây dưới đáy đã lộn lên trên, hoặc đổi cây tẩy bằng một cây bất kỳ. Và quan trọng nhất là lượng tiền của y mang tới, kích thích sự thèm khát tất cả những kẻ cùng giới.

Nhưng ở đây, dẫu có ba đầu sáu tay Lý Hải cũng không dám khoe bản lĩnh. Tuy hắn không giỏi thuật đảo bài, không biết tung hứng, nhưng đã chơi bài với hắn không đứa nào dám qua mặt. Luật của hắn là sòng phẳng, làm sao để đối thủ móc tiền trong túi đặt xuống chiếu, tự nguyện rúc vào tròng rồi rút thòng lọng. Đó là điều hắn muốn. Kể cả hắn, nếu bị đối phương hạ gục, trong lòng cay cú nhưng bề mặt tỏ rõ sự khâm phục. Hắn nhìn theo chiếc gậy thu tiền của kẻ thắng, tự nhủ: "Chờ đấy! Cờ bạc ăn nhau về gà gáy".

Hồi nhỏ, bố hắn, một công chức mẫn cán lúc nào cũng thuyết giáo: "Cờ bạc là bác thằng bần..". Ở trường, mấy thằng bạn thiếu chân tú lơ khơ rủ, hắn lắc đầu: "Không biết!". Chúng bảo: "Ngồi vào chúng tao dậy. Dễ ợt..". Lên cấp hai, hắn cùng bạn bè ra quán dùng tiền chơi "đầu đít" : Tổng cộng dãy số sê ri ai hơn hoặc bé (tuỳ người cầm sòng xướng) thắng. Kẻ thua phải trả tiền. Cũng vui!

Vào cấp ba, bố hắn khuyên: "Con gắng học, nối nghiệp bố. Làm cán bộ được nhiều người trọng nể.."

Hắn trệu trạo nhai cơm độn bo bo, nhìn mẹ quẩy gánh ra ngã tư quạt ngô nướng bán. Mười hai giờ đêm, nghe tiếng mẹ vặn lưng răng rắc, tiếng loạt xoạt của tiền lẻ đổ ra mẹt, bụi than bay lên lẫn mày ngô cháy thoảng vào mũi..

* * *

Chợt Sơn lòng gà giục:

- Mời đại ca lên bài..

Hắn nhấc cây bài đưa lên săm soi rồi ném đánh "phạch" một cái xuống chiếu: "Mẹ kiếp! Pha". Gã chủ nhà tiến tới hai tay xoa vào nhau: "Ván này đại ca lại tha tụi đàn em.."

- Tha cái mẹ gì. Đen thì thua.. - Hắn vuốt mông cô bé tiếp viên, tay vướng gấu quần lót, hắn vỗ "đét" : - Đã bảo chỉ được mặc váy không.. Vướng bỏ mẹ..

- Đã dặn đứa nào hầu đại ca không được mặc xi-líp rồi mà.. - Gã nhà sòng dẩu mỏ vào hùa.

Con bé hai tay ôm mông miệng lắp bắp:

- Em.. Em đâu biết đại ca chọn em.

Gã nhà sòng lừ mắt:

- Chỉ giỏi cãi! Hôm nào có đại ca, cả bốn đứa đều không được mặc! Vào cởi ngay! Lần sau mà còn thế, ông trả về địa phương cho lấy chồng..

Con bé phụng phịu đi vào phòng, hắn phì cười vì cách nói của gã chủ, hai tinh cầu đảo sang bài của Lý Hải: Thằng này chắc chắn ăn.. Nhưng nước mẹ gì! Hai chục triệu. Mẹ kiếp! - Hắn rủa thầm - Chỉ có Sơn lòng gà là may, ba ván thu ba trăm triệu. Được! Cứ bảo lên con.. - Mắt nhìn sang phía Sơn, tay phải hắn vuốt cặp mông nần nẫn của con bé vừa ra - Có thế chứ!

Đúng như hắn nghĩ, Lý Hải lật tẩy: Con dầm nhép nheo mắt, miệng nở nụ cười may mắn..

- Trang ván mới, chủ sòng! - Hắn nói như ra lệnh.

* * *

Tốt nghiệp phổ thông, hắn không nghĩ mình vào được đại học. Sáng hôm đi thi, mẹ thổi một chõ xôi đỗ. Lấy lá sen hái ở đầm gói một gói to, mẹ hắn dặn: - Con cố ăn, thể nào cũng đỗ.

Điểm chuẩn 15, hắn được 14. Cộng một điểm ưu tiên của bố, đỗ! Ai cũng nói số hắn may. Khi cầm giấy báo học, mũi hắn thoảng mùi xôi gói lá sen của mẹ.. Ra trường, hắn được nhận về công tác ở cơ quan nơi bố về hưu. Mọi người nhắc đến bố hắn đều trầm trồ kính trọng ca ngợi tính liêm khiết. Nhưng hắn thì không! Hắn nhận thấy bố suột đời chỉ sống bằng lý tưởng suông. Ngoài lương hưu và chiếc xe đạp thống nhất cà tàng buộc chiếc xà cột vải bạt, còn chẳng có gì. Mẹ hắn vẫn vậy, đêm đêm nướng ngô bán ở ngã tư.

Năm năm học ở Hà Nội, ngoài kiến thức, hắn học được một điều: Ai cũng cố gắng vươn đến cái đích: Tiền! Có thật nhiều tiền.

Trong mọi cách để có nhiều tiền, hắn nghiệm thấy: Kẻ có quyền kiếm tiền nhàn hạ hơn cả!

Học năm thứ ba, một thằng bạn rủ hắn đến nhà chơi. Hắn trợn tròn mắt nhìn đồ nội thất kê trong phòng khách nhà nó: Trên tường treo khẩu súng săn hai nòng đen xì, Made in Germany. Vắt chéo là thanh kiếm Nhật chuôi sừng khảm bạc, thân cong vút, lưỡi mỏng tang, ánh thép sáng xanh như nước biển. Uy lực khí giới toát đằng đằng. Bàn ghế xalông gỗ quý mang từ Huế ra, nghe nói có một thời vua Bảo Đại đã ngự. Bộ sập chân quỳ dạ cá tuổi hơn một trăm năm. Chiếc tủ chùa cổ, trị giá mấy chục cây vàng. Gương Tầu tứ diện ghép khung gỗ hồng đào Quảng Đông. Thằng bạn khoe bố nó bảo: Gương này ngày xưa Nam Phương hoàng hậu đã soi nhiều năm..

Dùng bữa, có kẻ hầu đón hát xới, cơm gạo tám chan nước thịt gà ép cho bộ máy tiêu hóa dễ làm việc.

Tráng miệng bằng hoa quả nhập ngoại, lau mồm bằng khăn nóng tẩm dầu thơm nghi ngút..

Biết là bạn học cùng với con, ông bố dành ít phút trước khi ngả lưng nghỉ trưa để nói về Chủ nghĩa Xã hội, giảng giải về con đường phấn đấu của thanh niên trong thời đại mới. Rồi ông kết luận:

- Để có được ngày hôm nay, bác đã phải phấn đấu bao nhiêu năm. Kháng chiến ngủ hầm, xông lên đồn giết giặc bằng súng kíp, mã tấu. Bây giờ các cháu sướng hơn nhiều, lớn lên đã đầy đủ các thứ, phải biết rèn luyện sao cho xứng đáng với truyền thống cha ông..

Ra tới cổng, hắn còn ngoái lại nhìn tòa biệt thự để khẳng định rằng mình không mơ.

Ngồi nhâm nhi ly café bên bờ hồ Hoàn Kiếm, hắn hỏi: - Bố mày lấy đâu ra tiền mà giàu thế?

Thằng bạn cười vào mũi hắn: - Đồ tẩm! Bao giờ mày có quyền mày sẽ biết.

Hắn học thêm được một điều: Muốn có tiền trước hết phải có quyền!

* * *

Thưa anh, anh thêm bao nhiêu ạ?

Hắn nhìn xuống chiếu đánh giá tương quan lực lượng. Bài Sơn lòng gà và Sáng cụt pha. Bài của Lý Hải: Đôi đầm, đôi tây, quân tẩy úp mặt xuống chiếu, vân hoa nổi lăn tăn móc xích vào nhau như những câu hỏi. Còn mặt bài của hắn: Tam cửu, lẻ gi, tẩy xì. Hắn liếc nhanh:

Bộ râu quai nón của Lý Hải rung rung, đôi mắt đẹp như đàn bà đang mộng..

- Bao nhiêu rồi nhỉ? - Hắn hói.

- Dạ láng tư anh Bươi tố một trăm là tròn sáu trăm anh ạ. - Gã chủ sòng nhanh miệng.

- Năm trăm nữa đi! - Giọng hắn thoảng như lá mùa thu rụng.

Nghe hắn tố; đôi lông mày của Lý Hải nhíu lại. Đối phương thoóng cáy hay? - Lý Hải phóng nhãn quang vào lưng con tẩy, như muốn dùng tinh lực xuyên qua lớp bìa để thấy mặt bài bên kia. Ma trận của đối thủ khôn lường, hư hư thực thực. Y đã bỏ nhiều thời gian để nghiên cứu, nhưng chưa bao giờ đọc nổi một ý trên khuôn mặt vừa quyền uy, vừa ma giáo này. Đột nhiên, Lý Hải nhớ tới hình vẽ âm dương trên bài bói quẻ. Hai mảng tượng hình đối lập: Nét tối: Đen đúa, xẫm xịt, bức bối, biểu hiện dối lừa, man trá, xảo quyệt nhưng cứng câng, bất cẩn, vô hồn, lạnh lùng, tàn nhẫn. Nét sáng: Phản tỏa, chói lọi, rực rỡ, biểu cảm anh minh, trong trẻo, lấp lánh, nhưng hào nhoáng, trong veo, ẻo lả, mong manh, dễ vỡ.. Để trộn lẫn, hòa tan, hoặc tách ra cho bên sáng thật sáng, bên tối thật tối và khi cần sẽ bão hòa. Con người này như một loại dung dịch mà truyền hình hay quảng cáo: Ba trong một.

Lý Hải cân nhắc: Mặt bài nổi của hắn hơn, nhưng thế bài của đối thủ giống cái bẫy giương lên chờ.. Nếu cây tẩy kia là con cửu nữa thì.. Sập!

- Chơi đi. Lâu bỏ mẹ.. - Sơn lòng gà lầu bầu.

- Có gan theo, rét thì buông.. - Sáng ngáp, đưa tay che mồm, khe hở của hai đốt ngón cụt như cánh cửa sổ nhe ba cái răng ố sỉn.

- Cứ để nó tính! - Hắn lừ mắt - Tiền của nó hay của chúng mày? Biết điều thì ngồi im.

Lý Hải gật gật đầu, nhưng con mắt vẫn mê mải săm soi những lá bài. Và không ngờ chỉ thoáng chút ngần ngừ, Lý Hải đã bị hắn bắt được thóp. Để tăng áp lực, hắn quyết định khủng bố Lý Hải bằng cách vít gáy ả tiếp viên, cọ cái cằm nhẵn thín như đít bụt vào bầu má non tơ, thơm ngát mùi nước hoa. - Ôi! Đau em.. - Ả tiếp viên giãy nảy vì chạm phải vật cứng. Thằng đàn ông nhấc mông con đàn bà, thọc tay vào túi quần rút khẩu súng K59 ra ném xuống chiếu cợt nhả: "Sao có cái cứng em lại thích?"

Sơn lòng gà, Sáng cụt và tay chủ sòng he hé cười phụ họa, bỗng im bặt khi nhìn khẩu súng đen ngòm lạnh lẽo.

Sự đụng chạm da thịt khơi gợi lời gã thầy tướng phán về lá số tử vi hồi hắn mới nhậm chức: "Cậu vốn là Thiên Tướng trên trời, một lần đến dự tiệc ở vườn Ngự Thuỷ của Nam Hải Long Vương, gặp Đồng Cô Tiên Nữ. Trai tài, gái sắc, kẻ đầu mày, người cuối mắt, lén gặp nhau làm chuyện mây mưa. Quyền lực nhà trời không làm cho Thiên Tướng và Tiên Nữ quên ái tình. Hai người hò hẹn đầu thai xuống trần gian. Đồng Cô Tiên Nữ xin Thái Thượng Lão Quân một bài thuốc cho Thiên Tướng uống để đánh dấu. Cho nên về danh, cậu phát đường quan lộc. Khoảng chừng sau này còn thăng tướng. Dưới một người, trên muôn ngươi.. Nhưng mép không ria, cằm không râu, biểu hiện đào hoa. Đồng Cô Tiên Nữ chính là vợ cậu bây giờ. Đẹp, lắm mưu nhiều kế, nhờ đó mà tiền của chảy vào như nước. Nhưng phải cái tính khí hay ghen.."

Chẳng biết lời của lão ta nói có đúng không, nhưng hắn nghiệm thấy có nhiều cái không sai. Vợ hắn xinh đẹp, sắc sảo, phốp pháp, hừng hực. Con một vị chức sắc hàng đầu tỉnh. Có điều hắn ngại nhất vợ ghen. Sự ghen tuông thường trực trong cái nhìn rất.. Đàn bà. Đi công tác về muộn, không thể không bị "kiểm tra". Nhiều khi mệt bã người vì công việc nhưng hắn vẫn phải "cố".. Cũng không trách được thị. Tự hắn thấy mình có nhiều bóng hồng vây quanh. May mà thể chất đàn ông của hắn cũng khá. Có lần vừa lăn qua tay một ả, về đến nhà vẫn phải giả bộ với vợ như lần đầu gặp Đồng Cô Tiên Nữ vậy..

Vợ hắn ca cẩm: - Không hiểu anh thế nào? Hồi mới ra trường, nghèo kiết xác thì không thấy bài bạc. Bây giờ bổng lộc đầy ra đấy lại còn chúi mũi vào. Khéo lại đổ đốn với mấy con "phò" thì đẹp mặt!

Đúng là đồ.. "Từ trên trời rơi xuống". Không tiền chầu rìa cũng chẳng được, nói gì đến ngồi sới. Còn bổng lộc là chuyện khác. Có quyền ắt có kẻ cầu cạnh, bợ đỡ. Tiền đến nhà là lẽ đương nhiên. Cứ nhìn gương "ông bố" của hắn thì biết. Công tác bao năm mà suốt đời ở nhà cấp bốn do ông nội để lại. Được ưu tiên phân phối đôi lốp sao vàng lại nhường đồng đội, còn bánh xe đạp của mình buộc túm dây cao su. Giúp người thế đấy! Tận tình với đời thế đấy! Bù lại được cái gì? Không có mẹt ngô của vợ, chắc mái nhà dột lương tháng không đủ mua lá cọ dọi lại. Nghèo như vậy thử hỏi lấy tiền đâu mà chơi? Hơi sức đâu mà thưởng thức? Cho đến khi chết mới được người ta ném vào quan tài ít con tổ tôm làm "quân" hầu hạ dưới âm phủ ()

Đâu phải vì thiếu tiền mới chơi. Xì tố là "trò chơi" thời thượng dành cho giới "quý tộc mới", tước hiệu xã hội đen phong cho những kẻ vừa có quyền vừa có tiền. Ngoài việc đấu trí cao, thấp, bắt đối phương mửa tiền ra, cay cú nhưng vẫn phải tâm phục khẩu phục, còn là sự giao lưu của các giai tầng trong thời kinh tế mở cửa. Có những kẻ lấy tiền của thiên hạ dễ như bỡn. Thằng nào cũng béo như chim dẽ đồng sau mùa gặt, múp míp như chó thiến. So đẳng cấp, hắn tựa vào cái gậy quyền lực pháp luật trao cho để sinh lợi. Nhưng tiền thiên hạ mang đến cống nạp, nhờ chạy tội hộ chỉ tính từng chục hoặc đến trăm triệu là cùng. Còn bọn họ, dịch một dấu phẩy đã dư hàng tỷ. Có lần hắn chứng kiến một Giám Đốc Công ty xây dựng chơi bài, vờ thua Giám Đốc Sở xây dựng tỉnh một bàn thua vô lý.. Không dưới nửa tỷ. Ừ, Cụ Sêcpia chẳng viết là gì: ".. Dòi bọ ăn phân, cá đớp dòi bọ.. Ông vua xơi cá.. Rồi lại.." Hắn chấp nhận quy luật ấy thôi.

Có điều hắn đồng ý với vợ là không phải chỗ nào cũng sà vào. "Ăn tuỳ nơi, chơi tuỳ chốn", cổ nhân đã dạy, đừng quên!

Chẳng thế mà hắn chỉ chọn sòng này để vào: Kín đáo, núp dưới căn nhà ba tầng là một cái hầm chìm dưới mặt đất năm mét sau tun hút vào nửa quả đồi, có đầy đủ phương tiện phòng vệ, cảnh sát khu vực bảo kê. Còn điều kiện phục vụ, có thể sánh với khách sạn năm sao..

* * *

- Chung kết đi.. Lâu bỏ mẹ..

Tiếng thằng Sáng cụt vang lên cắt đứt dòng suy nghĩ của hắn. Hắn ngước mắt, đôi nhãn cầu lồi cao muốn bật ra ngoài chiếu thẳng mặt Lý Hải. Cái nhìn như thách thức, dọa nạt. Lưng Lý Hải gai ốc nổi cộm, ngứa ran. Da mặt căng như trống ếch phơi nắng, hàng râu quai nón đẫm mồ hôi. Y thấy như rơi vào mê hồn trận. Bỏ thì tiếc. Những hơn một tỷ! Nhưng nếu theo mà lọt cạm của đối phương thì.. Sao hôm nay mình đen thế nhỉ? - Lý Hải nghĩ - Từ lúc ngồi sới, ngoài văn bài thu được hai mươi triệu còn toàn dốc túi. Bây giờ lại bị dồn vào thế sinh tử. Gần như vô thức, bàn tay y lơ đễnh thò xuống quân tẩy. Bỗng Lý Hải rụt phắt tay lại như phải bỏng. Đối thủ của y, một tay đẩy mạnh ả tiếp viên, một tay cầm phắt khẩu súng K59 dưới chiếu lên, ngón tay móc vào vòng cò súng quay tít rồi đút vào túi quần, mặt lạnh tanh. Hành động như vô tình, nhưng làm cho Lý Hải chờn chợn. Đột nhiên mồm y lẩm nhẩm như bị ma ám: - Thôi.. Buông..

Chỉ chờ có vậy, hắn quờ chiếc cù nèo thọc vào đống tiền. Chợt có tiếng động lạ phía sau. Trực giác nghề nghiệp thức tỉnh, nhưng cảm giác đầu gậy chạm vào tiền làm hắn mờ mắt. Chắc là thằng chủ sòng mở cửa đi đái? Mỏ chiếc cù nèo ngoạm, gom đống tiền về phía hắn. Bỗng cửa phòng bật mở, tiếng động chát chúa đập mạnh vào tường, tiếp đó là tiếng hô:

- Tất cả ngồi im! Cảnh sát đây! Kẻ nào chống cự sẽ chết!

Theo phản xạ, hắn buông cù nèo, nắm báng súng. Nhưng một giọng nói đanh như thép vang lên:

- Thiếu tá, biết điều bỏ súng xuống!

Năm sáu chiến sỹ cảnh sát lăm lăm súng trong tay ập vào. Đèn palát loé sáng. Cả bọn cúi đầu ngoan ngoãn đưa tay vào còng.

* * *

Sáng hôm sau, khắp thị xã, chuyện hắn bị bắt quả tang đang đánh bạc được lan truyền.

Người bán phở gảy gảy cọng hành bám trên thành bát: - Lẽ ra phải bắt hắn từ lâu rồi mới phải.

Ông chủ hiệu giải khát hà hít hương vị café bốc lên từ phin lọc: - Trời có mắt.

Một người khách trầm ngâm: - Có người nói ông ta làm nhiệm vụ xâm nhập thực tế, vài hôm nữa lại được thả về đấy mà..

Riêng tôi, tác giả viết truyện này lại nghĩ: Giống như lá bài lật tẩy, chỉ kẻ nào dám lật mới thấy mặt thật của hoa bài.​

Nguyễn Nhuận Hồng Phương
 
Chỉnh sửa cuối:
259 ❤︎ Bài viết: 763 Tìm chủ đề

4. Vị đắng của ly champagne - Nguyễn Nhuận Hồng Phương​


20260809-094529-33bd6e20de.png


1.

Một lần tình cờ tôi gặp hai vợ chồng thầy giáo Phùng ở ngoài phố. Thầy chủ động dừng xe chào và giới thiệu tôi với vợ. Tôi chưa kịp nói gì thì vợ thầy đã đon đả: "Đấy! Từ ngày nhờ nhà bác để mở lớp dạy thêm em đã lên thăm hai bác được đâu. Cứ hẹn với" ông xã "mãi mà chưa đến được. Úi chao! Nhà em về cứ khen là các bác tốt lắm! Dễ dãi lắm!..

Thôi! Khất bác để lúc khác em sẽ đến hầu chuyện hai bác.. Hay là thế này - Đột ngột vợ thầy đổi hướng quay lại nói với chồng: - Hẹn hai bác đến ngày hiến chương các nhà giáo mời hai bác xuống liên hoan với vợ chồng chúng mình!"

Tôi mang lời mời của vợ thầy Phùng nói lại cho vợ tôi nghe. Nghe xong, vợ tôi bảo: "Em cũng định bàn với mình thu xếp hôm nào đến thăm gia đình thầy. Cái công vỡ vực, dạy dỗ con ông là đáng ơn lắm". Thế rồi vợ tôi tính toán đến chơi sẽ mua quà gì cho mẹ thầy, cho vợ chồng thầy, cho con thầy.. Tính toán xong vợ tôi kết luận: "Nói chung cũng không đi đâu mà thiệt. Được thân với gia đình ấy là nhất! Có người ốm đau cần vào bệnh viện đã có bác sĩ giúp. Học hành của mấy đứa trẻ con đã có thầy giáo giỏi kèm cặp". Nghe lý lẽ của vợ tôi đưa ra, tôi thấy cái câu ai nói "đàn bà là nửa thế giới" chưa hẳn đã đúng. Theo tôi, nếu không được một trăm phần trăm, thì đàn bà phải là "hai phần ba thế giới" mới phải.

2

Dáng người thầy Phùng thô, béo đậm nhưng thấp. Cái đầu đã to, thầy lại để mái tóc bồng bềnh nên trông càng to. Khuôn mặt vuông vức, trán rộng, giữa sống mũi trễ xuống khung gọng kính hình chữ "V" màu vàng choé; đằng sau kính là đôi mắt cận thị lồi lên như mắt cá vàng trong bể cảnh của nhà tôi. Khác với bề ngoài, thầy ăn nói nhỏ nhẹ như người Hà Nội, mỗi khi giảng văn giọng du dương như cha đạo giảng kinh trong nhà thờ. Quê thầy Phùng ở làng Vạn cách thị xã ba cây số. Thầy là con một. Mẹ góa chồng. Chồng bà là cán bộ kháng chiến, năm 1952, trên đường đi công tác, ông bị giặc Pháp bắt rồi xử bắn. Sau khi chồng chết, bà dồn hết sức lực, tình cảm để chăm sóc, nuôi nấng, dạy dỗ con. "Gái một con trông mòn con mắt", vì vậy, không thiếu những anh bộ đội hay những người đàn ông ở trong làng lân la muốn bù đắp cho bà. Nhưng bà không có ý xây dựng với ai. Đối với bà, con là tất cả.

Không phụ công bà, thầy Phùng tốt nghiệp Đại học sư phạm với tấm bằng hạng ưu. Được giữ lại trường, nhưng thầy không ở lại, mà xin về dạy ở trường cấp 3 thị xã để được gần mẹ. Ngày ấy, những người còn trẻ như thầy mà đã đỗ đạt cao thế là hiếm lắm. Mỗi lần thầy đi dạy về là từ trẻ nhỏ đến cụ già, bà lão ở làng đều kính cẩn: "Chào ông giáo ạ!" Thoạt đầu thầy thấy ngượng, nhưng sau nghe quen, thầy Phùng lại thấy vui tai, thấy hãnh diện..

Dạy học được ba năm thì thầy Phùng xây dựng gia đình. Vợ thầy là bác sĩ phòng khám ở bệnh viện đa khoa. Quê ở ngoại thành Hà Nội. Được điều động lên công tác sau khi thị xã được sát nhập về Thủ đô. Hai người quen nhau trong một lần nhà trường tổ chức khám sức khoẻ cho giáo viên và học sinh. Hằng - vợ thầy Phùng; thân hình cân đối, không đánh phấn mà da trắng như trứng gà bóc, khuôn mặt tròn, mắt lá răm, sống mũi thẳng, khóe miệng rộng. Khi nói, hai hàm răng rin rít, âm vực phát ra lanh lảnh. Nhìn Hằng người ta thấy toát ra uy lực của một người đàn bà giảo hoạt, trơn tru.. Ở bệnh viện ai cũng kiêng dè Hằng, không phải người ta sợ, mà người ta ngại va chạm, ngại làm bạn với một người sắc sảo và đầy tham vọng.

Sau ngày cưới, thầy Phùng muốn đưa vợ về làng ở với mẹ. Nhưng Hằng không đồng ý, viện lý do là phải trực ở bệnh viện. Thuyết phục không được, thầy Phùng theo vợ vào ở nhà tập thể của bệnh viện. Bà mẹ biết con dâu là người thành phố, lúc nào cũng bóng bẩy, sợ bẩn, không quen sống ở nông thôn. Còn con trai bà hình thức thô thiển, cục mịch; sóng đôi với vợ kém hẳn cái dáng bề ngoài. Hình như cái đẹp bao giờ cũng bắt cái xấu phải làm nô lệ cho mình?

Khi vợ chồng thầy Phùng có con, Hằng bảo đón mẹ chồng lên trông cháu cho đỡ phải thuê người. Nhà tập thể chật chội, có hơn chục mét vuông, kê giường ngang thì mất lối đi, kê dọc thì không kê được bàn uống nước. Thấy vậy, bà bảo con trai: "Sáng tôi lên sớm bế cháu cho mẹ nó đi làm, tối tôi về trông nhà. Từ đây về làng có vài cây số chứ xa xôi gì cho cam." Nghe mẹ nói thầy Phùng nhìn vợ. Hằng lặng im không tỏ thái độ gì.

Vậy là, mùa đông cũng như mùa hè, nắng cũng như mưa. Sáng bà dậy từ tinh mơ, ăn bát cơm nguội rồi tươn tả lên cho kịp giờ trông cháu. Chiều tối trao trả con cho chúng xong, bà lại tất tưởi về tưới luống rau, soát mấy ổ gà đẻ, nhặt trứng mai mang lên cho con, cho cháu. Sợ bà vụng, không biết chăm sóc trẻ con nên Hằng chuẩn bị hết các thứ sẵn. Hằng ngày, bà chỉ việc thực hành theo lời dặn của con dâu. Được cái bệnh viện gần nhà nên thỉnh thoảng Hằng lại đáo về bảo ban nhắc nhở cho bà khỏi quên. Cứ như vậy, hai đứa con, một trai, một gái, của vợ chồng thầy Phùng đều được bà bế ẵm. Chỉ đến khi các cháu của bà đã lớn, chúng không cần đến sự giúp đỡ của bà nữa. Bà lại thui thủi ở nhà một mình cùng với sự nín nhịn cố hữu của một người đàn bà quê mùa lam lũ.

3

Thế rồi thời cơ đổi đời của vợ chồng thầy đã đến. Đúng vào lúc lãnh đạo bệnh viện có chủ trương bán thanh lý nhà cho những gia đình ở khu tập thể, vợ chồng thầy Phùng đang bĩ không có tiền trả, thì bỗng đâu mấy trăm mét vuông đất thổ cư của nhà thầy ở làng cứ theo đà của thị trường vùn vụt lên giá vì nơi ấy nằm trong quy hoạch khu kinh tế trọng điểm của tỉnh; có mấy nhà máy liên doanh của nước ngoài về xây dựng. Bởi vậy, người tận Hà Nội cũng lên hỏi mua.. Thấy thế, vợ thầy bàn với chồng về nói với mẹ lên ở với con cháu cho sướng cái thân già lúc cuối đời. Thoạt đầu bà không đồng ý, vì bà đã quen ở làng một mình rồi, phần nữa, lên phố nào bà có quen ai, biết ai? Buối tối ở làng rỗi rãi còn chạy sang ông Năm, bà Sáu nói dăm ba câu chuyện, chứ trên ấy nhà nào biết nhà nấy, chán chết đi được.

Biết bà là người cổ, cố chấp, không nghĩ được xa, Hằng bàn với chồng thi hành chiến thuật "vết dầu loang". Nghĩa là nói với mẹ chỉ cắt bán một nửa, còn để lại một nửa. Nghe con nói, thấy có lý, bà đồng ý. Thế là thầy Phùng tìm người mua để bán. Tiếng là bà bán, giấy bà ký, nhưng người nhận tiền là thầy Phùng chứ bà có biết vàng ba chín, bốn chín, hay đô la, đô liếc gì đâu. Cầm vàng và tiền trong tay, thầy Phùng nói với bà: "Tiền và vàng con đưa cho vợ con cầm, khi nào mẹ cần chi tiêu gì thì bảo con". Nghe vậy bà nới: "Tôi cần làm gì? Cất giữ vào đâu? Anh chị đem mà chi dùng cho đủ, còn dư ít nào để dành về sau này cho các cháu." Nghe mẹ nói, thầy Phùng bảo: "Nhà con nói số tiền này chỉ vừa đủ để trả tiền thanh lý của bệnh viện, lấy đâu ra mà thừa?"

Nhìn người ta xây nhà, vợ thầy Phùng sốt ruột, nhưng bề ngoài thì làm như không có chuyện gì. Có mặt mẹ chồng, nếu ai nhắc chuyện xây nhà, bao giờ bà cũng thấy con dâu nói câu cảm ơn tôi chép miệng: "Lấy tiền đâu mà làm? Thôi! Vợ chồng em được như thế này đã là nhiều lắm rồi, cứ để đời sau cho con cái nó làm". Mỗi lần nghe con dâu nói vậy là mỗi lần bà mất ngủ. Không phải là bà không biết. Ngay cả con trai bà, bà thấy nó cũng khác, về thăm mẹ ít hơn. Có lần bà hỏi, thầy Phùng vùng vằng xẵng giọng: "Xấu hổ lắm! Sống không bằng bạn, bằng bè. Nhà cửa người ta thì khang trang, nhà mình cứ như cái ổ chuột.."

Bà biết vợ chồng nó muốn bán nốt đất để lấy tiền xây nhà. Bà nghĩ: Có một mẹ, mỗi con nếu bà bán rồi lên thành phố ở với chúng nó cho có mẹ, có con, có bà, có cháu thì cũng là chuyện thường tình, hợp lẽ. Nhưng điều bà băn khoăn mà chưa bao giờ bà nói với ai, đấy là sự đối xử của con dâu với gia đình nhà chồng. Từ ngày cưới, tính trên đốt ngón tay, may lắm được dăm lần con dâu về quê. Mang tiếng có con là bác sĩ ở bệnh viện mà người thân có phải đi bệnh viện cũng chẳng bao giờ nhờ vả được. Ngày giỗ bố chồng không đừng được bắt buộc phải về thì chỉ đáo qua, rồi lấy lý do phải đi họp hành hay phải trực ở bệnh viện là đi. Có lần bà nhắc con trai góp ý cho vợ. Nhưng khi thầy nhắc nhở vợ thì mâu thuẫn xẩy ra. Không biết thế nào mà bà mắc cái tội hay để ý, hay xét nét con dâu. Làm cho vợ chồng thầy Phùng cãi cọ nhau. Thầy Phùng đứng giữa hai dòng sáng, tối.

Bên kia là tương lai, trẻ trung tươi sáng, bên này là quá khứ già nua tối tăm. Có lần gặp người hàng xóm ở cùng khu nhà của vợ chồng thầy Phùng, bà được nghe kể lại: Trong khi xô xát, vợ thầy Phùng tuyên bố với chồng: "Tôi lấy chồng chỉ biết có chồng!"

Khi bà đem điều này nói lại thì thầy Phùng bảo bà: "Mẹ không đại lượng! Hay chấp! Mẹ cứ thế này chỉ làm khổ con khổ cháu thôi! Mà mẹ chết đi cũng có mang đi được đâu!" Cái lý: "Chết cũng có mang đi được đâu" làm cho bà tỉnh lại. Ừ! Người ta sống cũng vì con chết cũng vì con. Các cụ chẳng đã bảo: "Cá chuối đắm đuối vì con" là gì? Sau mấy đêm suy nghĩ bà cho nhắn con trai về..

4

Buổi sáng, ngày lễ Hiến chương các nhà giáo trời rất đẹp. Tiết trời đủ để đàn ông như tôi mặc comple; đàn bà như vợ tôi mặc áo dài màu tím, còn con trai tôi đĩnh đạc trong bộ quần áo bò mà vợ chồng tôi quyết định thưởng vì thành tích học văn của nó. Ngắm hai bố con, vợ tôi bảo: "Cả hai bố con đều tốt nghiệp lớp văn đặc biệt! Loại ưu! Đáng thưởng!"

Đón vợ chồng tôi ở cửa là thầy giáo Phùng. Đĩnh đạc trong bộ vestông buông cúc màu lông chuột, chiếc cavát xanh đen điểm chấm trắng hình hoa dâu; nổi trên nền là một chiếc cài mạ vàng có gán hình khóa son mầu đỏ lịch sự và sang trọng.

Vợ thầy Phùng từ trên gác xuống chào vợ chồng tôi. Cũng như lần gặp lần đầu vợ thầy đon đả: "Quý hóa quá! Trời ơi! Sao hai bác cho vợ chồng em nhiều quà thế? Các bác xuống chơi đã là quý lắm rồi, lại còn bầy vẽ.. Xem nào? Lại còn có cả quà cho bà em cơ à? Cái khăn nhung mầu đẹp quá! Tiếc quá! Bà em tối hôm qua lại về làng ăn cưới con ông bác.. Còn con cháu lớn học ở Hà Nội điện về báo phải ở lại trường để thăm thầy giáo. Bác cho thế này khi về là nó sướng lắm đây". Cứ như vậy, vợ thầy Phùng tỏ vẻ quý khách lắm, hiếu khách lắm!

- Vợ tôi cầm tay vợ thầy Phùng xuýt xoa: "Cô Hằng đẹp thật! Xinh quá! Thảo nào mà thầy giáo Phùng cứ một điều nhà tôi! Hai điều nhà tôi!.." Khi biết mẹ thầy Phùng đi vắng. Vợ tôi day dứt: "Tiếc quá, biết nhau lâu rồi mà chưa chào cụ được một câu là thất lễ lắm."

Thầy Phùng dẫn tôi đi tham quan nhà. Quả là một mô hình kiến trúc tầm cỡ. Nào là phòng khách, phòng ăn, phòng cho con trai, phòng riêng cho con gái. Nhất là khi thầy Phùng đưa tôi vào thăm phòng ngủ của hai vợ chồng thầy thì tôi thật sự phải ghen với thầy. Một cái giường kiểu Hồng Kông trải đệm Kim Đan, trên phủ một tấm ga mầu hồng, đầu giường là một chiếc gối đôi mầu trắng có thêu chữ nổi "hạnh phúc"; cạnh tường là chiếc tủ trang điểm được làm bằng gỗ Pơmu; sát trần gắn một máy điều hòa hai chiều nhãn hiệu LG màu trắng sứ.

Thầy dẫn tôi lên tầng ba rồi lên sân thượng. Khi qua gian thờ thấy trên bàn bầy hoa quả và nghi ngút khói hương. Tôi chưa hỏi thì thầy Phùng đã nói: "Ngày nào vợ tôi cũng thắp hương. Cô ấy hay đi lễ chùa và chăm công đức lắm."

Từ trên cao nhìn ra xa cái gì cũng đẹp, cũng lạ; cả khu phố nằm trong tầm mắt. Tôi lần tay vịn lan can đi ra đằng sau. Hướng đằng sau là cánh đồng trải rộng một màu xanh mướt.. Nhìn xuống dưới mé sân sau, tôi thấy còn một khoảng đất chừng dăm mét. Phía sát cuối tường rào có một căn nhà nhỏ lợp giấy dầu. Biết tôi có ý hỏi, thầy Phùng bảo:

"Cái nhà ngày xưa ở quê đem lên để chứa đồ lặt vặt. Nói rồi thầy giục tôi xuống với lý do ở trên này gió dễ bị cảm lạnh.

- Lúc quay lại chuẩn bị xuống, tôi chợt thấy từ trong cánh cửa căn nhà lợp giấy dầu thò ra một cái đầu người tóc bạc trắng. Tôi nhận ra đấy là một bà già; khi đôi mắt bà ngước lên chợt nhìn thấy tôi, bà vội vàng rụt đầu vào, hoảng hốt như kẻ ăn cắp bị bắt quả tang..

Tôi đi xuống dưới nhà mang theo cả nỗi băn khoăn.

Xuống tới tầng một thì nhà có khách. Thầy Phùng ra tiếp, còn tôi quyết định theo lối hành lang đi về phía sau nhà. Khi qua phòng ăn, tôi nghe thấy vợ thầy Phùng đang khoe với vợ tôi các thực vị được đặt mua ở một hiệu ăn nào đó..

Qua phòng ăn là bếp, rồi tới phòng vệ sinh, cuối hàng lang có cửa dẫn ra sân sau. Thấy cửa cài then, tôi quyết định mở rồi đi về phía căn nhà lợp giấy dầu, đẩy cửa bước vào.

Trước mặt tôi, một bà già tôi đã nhìn thấy khi đứng trên lan can sân thượng. Khuôn mặt bà gầy, hốc hác, tóp teo, da xạm xì. Thấy tôi, bà luống cuống hỏi:" Bác.. Bác là? "

Trước thái độ hoảng hốt của bà tôi trả lời:" Tôi là bạn của thầy giáo Phùng, thế.. Bà là ai? Bà lập tức đáp lại tắp lự: "Tôi là mẹ thằng Phùng".

Như người bị trúng đạn, tôi ớ ra. Thấy vậy, bà nói với tôi: "Bác lên trên nhà đi. Nếu không vợ chồng nó biết tôi gặp bác, nó lại mắng.. Tôi là người nhà quê, lên trên đấy chỉ tổ cho chúng nó xấu hổ. Tôi mãi thế này.. Quen rồi." Nghe bà nói, tôi chợt hiểu ra tất cả. Trước khi quay lên, tôi ngước nhìn căn nhà nơi bà cụ ở: Một cái giường tre trải chiếu đã ố vàng; trên dây phơi lòng thòng vài ba cái áo quần, dưới đất chỏng trơ mấy cái bát úp trên chiếc mâm đồng cổ..

5

Tất cả đã ngồi vào mâm. Thầy giáo Phùng bóc hộp lấy chai CHAMPAGNE ra. Sau tiếng nổ, nút chai bật vọt lên đến tận trần nhà để lại một cái dấu hình tròn. Bà chủ nhà hồ hởi nâng cao cốc rượu lóng lánh màu hổ phách:

- Nào! Xin mời nâng ly! Xin chúc mừng sức khỏe mọi người. Chúc cho tình cảm chúng ta mãi mãi dài lâu..

Tôi nâng ly lên, âm thanh của cốc chạm vào nhau ngân vang. Qua thành cốc pha lê, tôi chợt nhận ra khuôn mặt của vợ chồng thầy giáo trở lên kỳ dị, như khi ta soi vào một tấm gương cười ở trong phòng triển lãm các loại gương.

Cái ly nghiêng thêm chút nữa. Vị CHAMPAGNE chạm vào lưỡi tôi đắng ngắt.​

Nguyễn Nhuận Hồng Phương
 
Từ khóa: Sửa

Những người đang xem chủ đề này

  • Xu hướng nội dung

    Back