125,600 ❤︎ Bài viết: 11264 Tìm chủ đề
Tiểu luận môn học

Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Đề tài

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời - sự sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử dân tộc Việt Nam trong thời đại mới

MỤC LỤC

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH LỊCH SỰ VIỆT NAM VÀO CUỐI THẾ KỶ XIX, ĐẦU THẾ KỶ XX

1.1. Bối cảnh thế giới .

1.2. Bối cảnh trong nước .

Tiểu kết Chương 1

CHƯƠNG 2; QUÁ TRÌNH SÀNG LỌC CỦA LỊCH SỬ VÀ DÂN TỘC ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 14

2.1. Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến

2.2. Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng tư sản

2.3. Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng vô sản

Tiểu kết Chương 2

CHƯƠNG 3: SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM.. 34

3.1. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và Cương lĩnh chính trị đầu tiên

3.2. Giá trị thực tiễn của sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và Cương lĩnh chính trị đầu tiên

Tiểu kết Chương 3

PHẦN KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[\QUOTE]

Nếu các bạn có đóng góp hoặc bình luận về bài tiểu luận, hãy vào link này để thảo luận nhé [Thảo Luận - Góp Ý] Các Tác Phẩm Của Mạnh Thăng

P. S: Vui lòng không reup bài tiểu luận dưới mọi hình thức
 
125,600 ❤︎ Bài viết: 11264 Tìm chủ đề
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Trải qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã hun đúc nên nhiều đức tính, truyền thống tốt đẹp, tiêu biểu trong số đó là truyền thống yêu nước. Chính vì vậy, ngay từ khi thực dân Pháp nổ phát súng đầu tiên xâm lược nước ta năm 1858, nhân dân ta đã anh dũng đứng lên kháng chiến. Cuộc kháng chiến của giai cấp phong kiến thất bại, nước Việt Nam ta trở thành thuộc địa của thực dân Pháp. Không cam chịu ách đô hộ của thực dân, dưới ngọn cờ của hệ tư tưởng phong kiến, tiếp theo đó là hệ tư tưởng dân chủ tư sản, nhân dân ta tiến hành nhiều cuộc khởi nghĩa, nhiều phong trào đấu tranh giành lại độc lập, nhưng kết quả cuối cùng đều không thành công. Dân tộc ta lâm vào cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước. Trong đêm đen đó, vào đầu năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Đảng ra đời là kết quả của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước, là sự chuẩn bị kỹ lưỡng về tư tưởng, chính trị và tổ chức. Đảng ra đời với bản Cương lĩnh chính trị đầu tiên đúng đắn, gắn chặt độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội đã kết thúc cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, mở ra một tương lai tươi sáng cho dân tộc Việt Nam.

Từ thời điểm lịch sử mùa xuân năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, đầy gian khổ hy sinh, kết quả là Cách mạng Tháng Tám lịch sử năm 1945, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ

Cộng hòa. Nagy sau đó, Đảng lãnh đạo nhân dân tiến hành chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp gian lao mà anh dũng, kết thúc bằng chiến dịch Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Tiếp đó, Đảng lèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam đi qua 21 năm chống Mỹ cứu nước muôn vàn gian khổ (1954 – 1975). Kể từ ngày 30 – 04 1975, với chiến thắng của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc. Dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, nhân ta từng bước hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, tiến hành công cuộc Đổi mới toàn diện từ năm 1986. Sau 35 năm Đổi mới, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang dần hoàn thiện, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, vị thế của đất nước trên trường quốc tế ngày một vững chắc," đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay "[1] . Nhìn lại lịch sử chiến đấu và chiến thắng vẻ vang của Đảng, ta càng thấm thía hơn lời khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh:" Lịch sử

Đảng là cả một kho lịch sử bằng vàng "

Bên cạnh những thành công vang dội, lịch sử Đảng cũng ghi nhận không ít lần Đảng gặp những sai lầm, thiếu sót trong quá trình lãnh đạo cách mạng. Hiện nay, tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, Đảng viên đang là vấn đề rất nghiêm trọng, làm xói mòn, suy giảm niềm tin của nhân dân vào

Đảng. Lợi dụng những điều đó, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước ra sức xuyên tạc lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận công lao của Đảng đối với đất nước và dân tộc, đòi xóa bỏ Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Do vậy, việc làm rõ lịch sử Đảng nói chung sự ra đời của Đảng nói riêng, làm rõ sự ra đời của Đảng là sự kết hợp của Chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước, làm rõ việc Đảng trở thành lực lượng lãnh đạo duy nhất của cách mạng Việt Nam là sự tất yếu và là kết quả của quá trình sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử và dân tộc Việt Nam là các vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu trong giai đoạn hiện nay.

Vì những lý do đó, nhóm chúng em quyết định chọn đề tài" Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời – sự sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử dân tộc Việt Nam trong thời đại mới" làm bài tập lớn để kết thúc môn học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Xin cảm ơn cô TS. Đào Thị Bích Hồng đã nhiệt tình hướng dẫn và giải đáp các thắc mắc của nhóm. Vì thời gian có hạn, tiểu luận có thể còn nhiều thiếu sót. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ giảng viên và bạn đọc.

2. Nhiệm vụ của đề tài

Một là , làm rõ đặc điểm kinh tế, xã hội Việt Nam dưới chính sách thống trị, khai thác thuộc địa của thực dân Pháp.

Hai là, làm rõ những nguyên nhân thất bại của các phong trào yêu nước Việt Nam theo khuynh hướng chính trị phong kiến và tư sản cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ đầu 1930.

Ba là, làm rõ quá trình lựa chọn con đường cách mạng vô sản của Nguyễn Ái Quốc (1911-1920) và sự chuẩn bị của Nguyễn Ái Quốc về tư tưởng-chính trị và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam

Bốn là, làm rõ sự phát triển của phong trào cách mạng vô sản, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.

Năm là, làm rõ giá trị thực tiễn của sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
 
125,600 ❤︎ Bài viết: 11264 Tìm chủ đề
PHẦN NỘI DUNG

Chương 1 BỐI CẢNH LỊCH SỰ VIỆT NAM VÀO CUỐI THẾ KỶ XIX, ĐẦU THẾ KỶ XX

1.1. Bối cảnh thế giới


Từ nửa sau thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phương Tây nhanh chóng chuyển nhanh từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền (giai đoạn đế quốc chủ nghĩa). Nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đặt ra yêu cầu bức thiết về thị trường. Đó chính là nguyên nhân sâu xa dẫn tới những cuộc chiến tranh xâm lược các quốc gia phong kiến phương Đông, biến các quốc gia này thành thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, mua bán nguyên vật liệu, khai thác sức lao động và xuất khẩu tư bản của các nước đế quốc. Đến năm 1914, các nước đế quốc Anh, Nga, Pháp, Đức, Mỹ, Nhật chiếm một khu vực thuộc địa rộng 65 triệu km² với số dân 523, 4 triệu người (so với diện tích các nước đó là 16, 5 triệu km² và dân số 437, 2 triệu). Riêng diện tích các thuộc địa của Pháp là 10, 6 triệu km² với số dân 55, 5 triệu (so với diện tích nước Pháp là 0, 5 triệu km² và dân số 39, 6 triệu người)

Chủ nghĩa đế quốc xuất khẩu tư bản, đầu tư khai thác thuộc địa đem lại lợi nhuận tối đa cho tư bản chính quốc, trước hết là tư bản lũng đoạn; làm cho quan hệ xã hội của các nước thuộc địa biến đổi một cách căn bản. Các nước thuộc địa bị lôi cuốn vào con đường tư bản thực dân. Sự áp bức và thôn tính dân tộc của chủ nghĩa đế quốc càng tăng thì mâu thuẫn giữa dân tộc thuộc địa thực dân càng gay gắt, sự phản ứng dân tộc của nhân dân các thuộc địa càng quyết liệt. Và chính bản thân chủ nghĩa đế quốc xâm lược, thống trị các thuộc địa lại tạo cho các dân tộc bị chinh phục những phương tiện và phương pháp để tự giải phóng. Sự thức tỉnh về ý thức dân tộc và phong trào đấu tranh dân tộc để tự giải phóng khỏi ách thực dân, lập lại các quốc gia dân tộc độc lập trên thế giới chịu tác động sâu sắc của chính sách xâm lược, thống trị của chủ nghĩa đế quốc thực dân.

Đầu thế kỷ XX, trên phạm vi quốc tế, sự thức tỉnh của các dân tộc châu Á, bắt đầu từ cuộc Duy tân Minh Trị ở Nhật Bản và Cách mạng Tân Hợi năm 1911 ở Trung Quốc, cùng với phong trào dân chủ tư sản ở Đông Âu bắt đầu từ Cách mạng 1905 ở Nga đã tạo thành một cao trào thức tỉnh của các dân tộc phương Đông. Hàng trăm triệu người hướng về một cuộc sống mới với ánh sáng tự do.

Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thành công. Đối với nước Nga, đó là cuộc cách mạng vô sản, nhưng đối với các dân tộc thuộc địa trong đế quốc Nga thì đó còn là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, bởi vì trước cách mạng "nước Nga là nhà tù của các dân tộc" :

(1) Nước Nga theo chế độ quân chủ chuyên chế, do Nga hoàng đứng đầu.

(2) Dưới ách thống trị của Nga hoàng, đời sống của nông dân, công nhân, các dân tộc trong đế quốc Nga vô cùng cực khổ - Nga hoàng còn tham gia cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918), vơ vét sức người, sức của của nhân dân để tham gia vào cuộc chiến tranh đế quốc phi nghĩa

(3) Hơn nữa, Nga còn là một đất nước rộng lớn, lãnh thổ trải dài từ châu Âu sang châu Á, với hàng trăm dân tộc khác nhau cùng sinh sống.

Vì lẽ đó, khi cuộc cách mạng vô sản ở nước Nga thành công, các dân tộc thuộc địa của đế quốc Nga được giải phóng và được hưởng quyền dân tộc tự quyết, kể cả quyền phân lập, hình thành nên các quốc gia độc lập và quyền liên hợp, dẫn đến sự ra đời của Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết (1922). Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, chủ nghĩa Mác - Lênin từ lý luận đã trở thành hiện thực, mở ra một thời đại mới - thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc. Cách mạng Tháng Mười Nga nêu tấm gương sáng trong việc giải phóng các dân tộc bị áp bức.

Ngoài ra, sự ra đời của Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) vào tháng 3/1919 đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Đối với Việt Nam, Quốc tế Cộng sản có vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tháng 3-1919, Quốc tế Cộng sản được thành lập. Tại Đại hội II của Quốc tế Cộng sản (1920), Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V. I. Lênin được công bố. Luận cương nổi tiếng này đã chỉ ra phương hướng đấu tranh giải phóng các dân tộc bị áp bức. Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga và sự ra đời của Quốc tế Cộng sản, nhiều đảng cộng sản trên thế giới đã được thành lập. Tình hình thế giới đầy biến động đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến Việt Nam.
 
125,600 ❤︎ Bài viết: 11264 Tìm chủ đề
PHẦN NỘI DUNG

Chương 1 BỐI CẢNH LỊCH SỰ VIỆT NAM VÀO CUỐI THẾ KỶ XIX, ĐẦU THẾ KỶ XX


1.2. Bối cảnh trong nước


Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công xâm lược và từng bước thiết lập bộ máy thống trị ở Việt Nam, biến một quốc gia phong kiến thành thuộc địa nửa phong kiến. Hiệp ước Patơnốt (6/6/1884) được đầu hàng hoàn toàn thực dân Pháp, khiến Việt Nam trở thành "một xứ thuộc địa, dân ta là vong quốc nô, Tổ quốc ta bị giày xéo dưới gót sắt của kẻ thù hung ác"

Về chính trị: Thực dân Pháp áp đặt chính sách cai trị thực dân, tước bỏ quyền lực đối nội và đối ngoại của chính quyền phong kiến Nhà Nguyễn; phá vỡ khối đại đoàn kết cộng đồng quốc gia dân tộc, chia Việt Nam thành ba xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và thực hiện ở mỗi kỳ một chế độ cai trị riêng. Thực dân Pháp câu kết với giai cấp địa chủ để bóc lột kinh tế và áp bức chính trị đối với Nhân dân Việt Nam.

Về kinh tế: Thực dân Pháp thực hiện chính sách bóc lột, cướp đoạt ruộng đất để lập đồn điền; Do sự du nhập của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tình hình kinh tế Việt Nam có sự biến đổi: Quan hệ kinh tế nông thôn bị phá vỡ, hình thành nên những đô thị mới, những trung tâm kinh tế và tụ điểm cư dân mới đầu tư khai thác tài nguyên; xây dựng một số cơ sở công nghiệp, hệ thống đường giao thông, bến cảng phục vụ chính sách khai thác thuộc địa.

Về văn hóa: Thực dân Pháp thi hành triệt để chính sách văn hóa nô dịch, gây tâm lý tự ti, khuyến khích các hoạt động mê tín dị đoan. Mọi hoạt động yêu nước của Nhân dân ta đều bị cấm đoán. Chúng tìm mọi cách bưng bít và ngăn chặn ảnh hưởng của nền văn hóa tiến bộ trên thế giới vào Việt Nam và thi hành chính sách ngu dân để dễ bề cai trị.

1.2. 1 Tình hình giai cấp và mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam

Dưới tác động của chính sách cai trị và chính sách kinh tế, văn hóa, giáo dục thực dân, xã hội Việt Nam đã diễn ra quá trình phân hóa sâu sắc.

Giai cấp địa chủ: Giai cấp địa chủ câu kết với thực dân Pháp tăng cường chiếm đoạt ruộng đất, bóc lột, áp bức nông dân. Là chỗ dựa của chủ nghĩa đế quốc.

Tuy nhiên, trong nội bộ địa chủ Việt Nam lúc này có sự phân hóa, một bộ phận địa chủ có lòng yêu nước, căm ghét chế độ thực dân đã tham gia đấu tranh chống Pháp dưới các hình thức và mức độ khác nhau.

Giai cấp nông dân

Giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam, chiếm trên 90% dân số, bị thực dân và phong kiến áp bức bóc lột nặng nề.

Tình cảnh khốn khổ, bần cùng của giai cấp nông dân Việt Nam đã làm tăng thêm lỏng căm thủ đế quốc và phong kiến tay sai, làm tăng thêm ý chí cách mạng của họ trong cuộc đấu tranh giành lại ruộng đất và quyền sống tự do. Đây chính là lực lượng hãng hải và đông đảo nhất của cách mạng.

Giai cấp công nhân Việt Nam

Ra đời từ rất sớm, hình thành từ cuộc khai thác lần thứ nhất và phát triển khá mạnh mẽ trong cuộc khai thác lần thứ hai cả về số lượng lẫn chất lượng.

Ngoài những đặc điểm chung của giai cấp công nhân quốc tế, giai cấp công nhân Việt Nam còn có những đặc điểm riêng: Bị ba tầng áp bức bóc lột của đế quốc, phong kiến và tư sản người Việt; có quan hệ gắn bó mật thiết với giai cấp nông dân (họ vốn là những người nông dân bị bần cùng hóa) ; kế thừa truyền thống yêu nước, anh hùng, bất khuất của dân tộc.

Đặc biệt giai cấp công nhân Việt Nam vừa lớn lên đã tiếp thu ngay được ảnh hưởng mạnh mẽ của phong trào cách mạng thế giới và chủ nghĩa Mác Lênin. Do vậy họ sớm trở thành một lực lượng chính trị độc lập, thống nhất, tự giác trong cả nước. Trên cơ sở đó họ có đủ các điều kiện để trở thành giai cấp duy nhất lãnh đạo cách mạng nước ta.
 
125,600 ❤︎ Bài viết: 11264 Tìm chủ đề
PHẦN NỘI DUNG

Chương 1 BỐI CẢNH LỊCH SỰ VIỆT NAM VÀO CUỐI THẾ KỶ XIX, ĐẦU THẾ KỶ XX


1.2. Bối cảnh trong nước (tiếp)


Giai cấp tư sản Việt Nam

Bao gồm tư sản công nghiệp, tư sản thương nghiệp.. Trong giai cấp tư sản có một bộ phận kiêm địa chủ. Trở thành giai cấp từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất. Ngay từ khi mới ra đời, giai cấp tư sản Việt Nam đã bị tư bản Pháp chèn ép, kìm hãm nên số lượng ít, thế lực kinh tế yếu. Trong quá trình phát triển, giai cấp tư sản Việt Nam phân hóa thành hai bộ phận: Một bộ phận là tư sản mại bản, có quyền lợi gắn liền với đế quốc, câu kết chặt chẽ với đế quốc. Khi cách mạng nổ ra cần tiêu diệt bộ phận này. Hai là bộ phận tư sản dân tộc, là tầng lớp tư sản ít nhiều có tinh thần dân tộc, dân chủ chống đế quốc và phong kiến nhưng thái độ không kiên định, dễ thỏa hiệp. Khi cách mạng nổ ra cần lôi kéo họ đi theo cách mạng.

Tầng lớp tiểu tư sản Việt Nam

Bao gồm học sinh, trí thức, viên chức và những người làm nghề tự do.. Trong đó, giới trí thức và học sinh là bộ phận quan trọng của tầng lớp tiểu tư sản.

Đời sống của tiểu tư sản Việt Nam bấp bênh và dễ bị phá sản trở thành những người vô sản. Tiểu tư sản Việt Nam có lòng yêu nước, căm thù đế quốc, thực dân, lại chịu ảnh hưởng của những tư tưởng tiến bộ từ bên ngoài truyền vào. Vì vậy, đây là lực lượng có tinh thần cách mạng cao và nhạy cảm chính trị.

Được phong trào cách mạng rầm rộ của công nông thức tỉnh và cổ vũ, họ bước vào hàng ngũ cách mạng ngày càng đông và đóng một vai trò quan trọng trong phong trào đấu tranh của nhân dân, nhất là ở thành thị.

Nhận xét: Dưới chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, các giai cấp, tầng lớp mới trong xã hội Việt Nam được hình thành. Dù có địa vị kinh tế khác nhau, họ đều mang thân phận người dân mất nước và ở những mức độ khác nhau, đều bị thực dân áp bức, bóc lột. Trong xã hội Việt Nam, ngoài mâu thuẫn cơ bản có sẵn từ trước là mâu thuẫn giữa nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến, chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã làm nảy sinh mâu thuẫn một mâu thuẫn cơ bản mới: Mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và bọn tay sai. Trong xã hội Việt Nam nửa thuộc địa nửa phong kiến, đây không những là mâu thuẫn cơ bản, mà còn là mâu thuẫn chủ yếu, chi phối mọi sự vận động của xã hội.

Hai mâu thuẫn cơ bản đã phân tích ở trên đã đặt ra hai yêu cầu lịch sử mà dân tộc Việt Nam cần phải giải quyết: Một là, phải đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân; Hai là, xóa bỏ chế độ phong kiến, thực hiện cải cách ruộng đất, thiết lập chế độ dân chủ. Trong đó, chống đế quốc, giải phóng dân tộc - tức là giải quyết mâu thuẫn chủ yếu - là nhiệm vụ hàng đầu.
 
125,600 ❤︎ Bài viết: 11264 Tìm chủ đề
Tiểu kết Chương 1

Từ nửa sau thế kỷ XIX, các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Khao khát nguyên liệu, thị trường và nhân công rẻ mạt ở các vùng đất giàu tài nguyên nhưng lạc hậu về kinh tế, các nước đế quốc phương Tây đẩy mạnh chiến tranh xâm lược thuộc địa. Trong bối cảnh đó, Việt Nam đã trở thành thuộc địa của thực dân Pháp.

Đầu thế kỉ XX, tiếng vang của các cuộc cách mạng tư sản ở châu Á và như cuộc Duy tân Minh Trị và Cách mạng Tân Hợi lan đến nhiều nước thuộc địa ở châu Á. Đồng thời với đó, tư tưởng tư sản cũng từ các nước chính quốc lan đến thuộc địa qua sách báo, giáo dục. Những điều trên đã tạo nên một khuynh hướng chính trị dân chủ tư sản ở các nước thuộc địa, mà Việt Nam cũng không ngoại lệ.

Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thành công vang dội, như luồng ánh sáng mới xua tan mây mù che phủ con đường cứu nước ở các thuộc địa. Dưới ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười, phong trào công nhân phát triển, các đảng cộng sản được thành lập, phong trào giải phóng dân tộc theo khuynh hướng vô sản ở các thuộc địa - trong đó có Việt Nam - được hình thành.

Tại Việt Nam, dưới chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam có có sự thay đổi sâu sắc. Giai cấp địa chủ bị phân hóa thành hai bộ phận: Ột bộ phận hoàn toàn làm tay sai cho giặc, một bộ phận ít nhiều có tinh thần yêu nước. Giai cấp nông dân – chiếm số lượng đông đảo trong xã hội – bị bần cùng hóa nên có tinh thần chống Pháp mãnh liệt. Bên cạnh hai giai cấp trên đây, sự du nhập của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa vào Việt Nam đã làm nảy sinh các giai cấp, tầng lớp mới: Giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp tiểu tư sản. Các giai tầng trên, tuy có địa vị kinh tế - xã hội khác nhau, nhưng đều là người dân mất nước, đều ít nhiều có tinh thần chống xâm lược.

Cuộc xâm lược và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã làm nảy sinh trong lòng xã hội Việt Nam, bên cạnh mâu thuẫn giai cấp giữa nông dân và địa chủ, là mâu thuẫn dân tộc giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và bọn tay sai. Trong đó, mâu thuẫn dân tộc là mâu thuẫn chủ yếu.

Sứ mệnh lịch sử đặt ra cho toàn thể người dân Việt Nam lúc bấy giờ là phải giải quyết được hai mâu thuẫn kể trên. Trong đó, chống đế quốc, giải phóng dân tộc - tức là giải quyết mâu thuẫn chủ yếu - là nhiệm vụ hàng đầu. Khuynh hướng chính trị nào – phong kiến, tư sản hay vô sản – sẽ đủ sức để nhận lấy trách nhiệm lịch sử vẻ vang này?
 
125,600 ❤︎ Bài viết: 11264 Tìm chủ đề
Chương 2

QUÁ TRÌNH SÀNG LỌC CỦA LỊCH SỬ VÀ DÂN TỘC ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

2.1. Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến


Với tinh thần yêu nước và ý chí đấu tranh bảo vệ tổ quốc mạnh mẽ, nhân dân Việt Nam đã không khuất phục trước sự xâm lược của đế quốc Pháp và phản đối sự nhu nhược của triều đình phong kiến. Nhân dân ta đã không ngừng đấu tranh, vùng lên với các phong trào yêu nước. Các cuộc đấu tranh vũ trang chống Pháp liên tục nổ ra liên tục và rộng khắp. Tiêu biểu các các cuộc đấu tranh: Phong trào đấu tranh của nhân dân Nam Bộ, phong trào Cần Vương: Cuộc khởi nghĩa Bà Đình, Hương Khê, Bãi Sậy, và phong trào nông dân Yên Thế.

2.1. 1 Phong trào đấu tranh do giai cấp phong kiến lãnh đạo


Phong trào đấu tranh của nhân dân Nam Bộ: Sau khi triều đình nhà Nguyễn đã ký kết các Hiệp ước Nhâm Tuất (1862) và Giáp Tuất (1874) cắt Đông và Tây Nam Kỳ cho Pháp, nhân dân Nam Bộ đã nổi dậy đấu tranh chống Pháp quyết liệt mặc dù bị triều đình bỏ mặc, thực dân đàn áp. Tiêu biểu trong số đó như các cuộc khởi nghĩa của Trương Định, Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Trung Trực, Âu Dương Lân.. Các phong trào đấu tranh của nhân dân Nam Bộ nổ ra mạnh mẽ và rộng khắp, nhưng do lực lượng chênh lệch, thiếu sự quy tụ lực lượng và đường lối đúng đắn nên nhanh chóng bị thực dân Pháp đàn áp.

Phong trào Cần Vương: Ngay sau khi triều đình nhà Nguyễn ký hiệp ước Pa-tơ-nốt hoàn toàn đầu hàng thực dân Pháp (năm 1884), phái chủ chiến trong triều đình, đứng đầu là Tôn Thất Thuyết đã thay mặt vua Hàm Nghi ra Chiếu Cần Vương, kêu gọi toàn thể nhân dân đứng lên giúp vua cứu nước. Hưởng ứng lời kêu gọi đó, dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước, các phong trào đấu tranh nổ ra sôi nổi và rộng khắp trên cả nước, tiêu biểu như cuộc khởi nghĩa Ba Đình, Hùng Lĩnh (Thanh Hóa), Hương Khê (Hà Tĩnh), Bãi Sậy (Hưng Yên), Hưng Hóa (Phú Thọ, Yên Bái).. Các phong trào trên nổ ra rộng khắp, nhưng sau khi vua Hàm Nghi bị bắt, phong trào mất đi ngọn cờ quy tụ lực lượng và suy yếu dần, 15 chỉ còn tập trung ở các trung tâm lớn như Hương Khê. Sau khi Phan Đình Phùng hy sinh (năm 1896), phong trào Cần Vương kết thúc.
 
125,600 ❤︎ Bài viết: 11264 Tìm chủ đề
Chương 2

QUÁ TRÌNH SÀNG LỌC CỦA LỊCH SỬ VÀ DÂN TỘC ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM


2.1. 2 Phong trào đấu tranh của nông dân

Bên cạnh các phong trào đấu tranh dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu, vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, tại khu vực trung du miền núi Bắc Bộ, phong trào nông dân Yên Thế đã nổ ra với sự lãnh đạo của vị thủ lĩnh nông dân Hoàng Hoa Thám. Phong trào đã diễn ra vô cùng quyết liệt: Nghĩa quân đã xây dựng lực lượng, lập căn cứ, kiên cường vừa chiến đấu vừa lao động sản xuất và lập nhiều chiến công oanh liệt trong hơn 30 năm trời chống Pháp. Sau vụ Hà Thành đầu độc (năm 1908), thực dân Pháp dồn toàn lực đàn áp nghĩa quân, và sau khi Hoàng Hoa Thám hy sinh năm năm 1913, phong trào Yên

Thế chấm dứt.

Mặc dù là phong trào đấu tranh tự vệ của nông dân, không chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng "tôn quân" và phong trào Cần Vương, khởi nghĩa Yên Thế vẫn là phong trào yêu nước "mang nặng cốt cách phong kiến" : Cơ sở kinh tế của nó vẫn là nền kinh tế địa tô phong kiến, phạm vi của nó chỉ nằm trong vùng Yên Thế, mục đích phong trào nông dân này chỉ nhằm chống thực dân đặt ách cai trị lên vùng Yên Thế, không nói gì đến xây dựng một xã hội mới, nhà nước mới.

Nhận xét

Mặc dù diễn ra rất quyết liệt, rộng khắp, có một số phong trào trụ được trong thời gian dài nhưng kết cục chung của các phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến là thất bại. Từ phong trào đầu tiên ở Nam Bộ cho tới những cuộc khởi nghĩa cuối cùng, ta thấy điểm chung của các phong trào trên là chỉ diễn ra khu vực nhất định, ngay cả phong trào Cần Vương tuy nổ ra trên phạm vi từ miền núi Tây Bắc đến Bình Thuận nhưng cũng không có được một trung tâm chỉ huy thống nhất cho cả nước. Vì sao lại như vậy? Ngược dòng về đầu thế kỷ XIX, trước khi Pháp đến xâm lược, chế độ phong kiến Việt Nam lâm vào khủng hoảng trầm trọng và trở thành lực cản đối với sự phát triển của xã hội. Nhân dân ta đã chán ghét bọn vua quan nhà Nguyễn đến cùng cực và đã nhiều lần tổ chức khởi nghĩa 16 (chỉ trong 50 năm đầu nhà Nguyễn cai trị, hơn 400 cuộc khởi nghĩa đã nổ ra). Khi thực dân Pháp xâm lược, giai cấp phong kiến phản động chấp nhận ký kết các hiệp ước nhục nhã để giữ lại một chút địa vị, dựa hẳn vào sức mạnh của thực dân để tiếp tục được cai trị nhân dân. Kể từ các hiệp ước đầu hàng đó, giai cấp phong kiến vốn đã bị nhân dân chán ghét, nay càng bị nhân dân căm thù vì chúng sẵn sàng đặt quyền lợi của bản thân, giai cấp lên trên quyền lợi của cả dân tộc. Do vậy, đến khi các sĩ phu yêu nước nhân danh vua Hàm

Nghi ban Chiếu Cần Vương, nhân dân tham gia đấu tranh không phải là vì muốn khôi phục lại quyền lực cho dòng họ Nguyễn, không phải vì muốn khôi phục lại địa vị cho giai cấp phong kiến, mà là vì tinh thần yêu nước và một phần là vì uy tín cá nhân của các sĩ phu tại các địa phương mà họ đứng ra tổ chức khởi nghĩa. Vì nhân danh triều đình phong kiến - một lực lượng mà nhân dân chán ghét, căm thù, một tập đoàn cam tâm vứt bỏ lá cờ dân tộc để bảo toàn quyền lợi cho bản thân – để kêu gọi nhân dân đứng lên, các cuộc khởi nghĩa theo hệ tư tưởng phong kiến không thể nào tập hợp được đông đảo quần chúng đứng lên chống thực dân Pháp. Vì dựa trên cơ sở uy tín cá nhân của các sĩ phu tại địa phương, không có một lãnh tụ, tổ chức nào có năng lực, uy tín quy tụ toàn dân, nên phong trào đấu tranh chống Pháp cuối thế kỉ XIX không hình thành được trung tâm chỉ huy thống nhất cho cả nước. Vì "linh hồn" của các cuộc khởi nghĩa là các thủ lĩnh địa phương, nên sau khi họ hy sinh hoặc ra nước ngoài lánh nạn, khởi nghĩa tan rã là điều tất yếu. Vì mắc kẹt trong tư tường phong kiến, các sĩ phu, nông dân không nhìn ra được xu thế của thời đại, không nhìn ra vai trò của tình đoàn kết quốc tế; khi cần sự giúp đỡ, họ chỉ biết nhìn về phía Trung Hoa – nơi chế độ phong kiến cũng đang hấp hối. Đầu thế kỷ XX, khi tiếng súng trên núi rừng Hương Khê và Yên Thế lần lượt bị dập tắt, ngọn cờ dân tộc chính thức rời khỏi tay các sĩ phu, các phong trào mang hệ tư tưởng phong kiến. Cần có một lực lượng khác đứng ra lãnh lấy trách nhiệm giương cao ngọn cờ ấy lên, dẫn dắt dân tộc đấu tranh giành lại độc lập từ thực dân Pháp
 
125,600 ❤︎ Bài viết: 11264 Tìm chủ đề
Chương 2

QUÁ TRÌNH SÀNG LỌC CỦA LỊCH SỬ VÀ DÂN TỘC ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM


2.2. Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng tư sản

2.2. 1 Phong trào đầu thế kỷ XX


Vào đầu thế kỉ XX, thực dân Pháp bắt đầu công cuộc khai thác thuộc địa. Nền giáo dục Nho học từng bước bị thủ tiêu, các trào lưu tư tưởng mới, các thành tựu văn hóa, nghệ thuật, khoa học từ phương Tây ồ ạt tràn vào Việt Nam. Cùng với đó ở châu Á là cuộc Duy tân Minh Trị, là chiến thắng cùa Nhật Bản trước Đế quốc Nga năm 1906, là không khí sôi sục của cuộc Cách mạng Tân Hợi năm 1911. Những "tân báo, tân thư" mới mẻ đó như một chân trời mới đối với các trí thức Nho học nước ta thời ấy. Họ nhìn thấy ở tư tưởng tư sản, ở các cuộc cách mạng tư sản đó một hi vọng cứu nước mới, và họ, tiêu biểu là Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh lao vào con đường này với tất cả lòng nhiệt thành yêu nước.

Xu hướng bạo động do Phan Bội Châu tổ chức, lãnh đạo: Với chủ trương tập hợp lực lượng với phương pháp bạo động chống Pháp, xây dựng chế độ chính trị như ở Nhật Bản, phong trào theo xu hướng này tổ chức đưa thanh niên yêu nước Việt Nam sang Nhật Bảnhọc tập (gọi là phong trào "Đông Du"). Đến năm 1908, Chính phủ Nhật Bản câu kết vớithực dân Pháp trục xuất lưu học sinh Việt Nam và những người đứng đầu. Sau khi phong trào Đông Du thất bại, sự ảnh hưởng của cách mạng Tân Hợi (1911) Trung Quốc, năm 1912 Phan Bội Châu lập tổ chức Việt Nam Quang phục hội với tôn chỉ là vũ trang đánh đuổi thực dân Pháp, khôi phục Việt Nam, thành lập nước Cộng hòa Dân quốc Việt Nam.

Nhưng chương trình, kế hoạch hoạt động của Hội lại thiếu rõ ràng. Cuối năm 1913, Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt giam tại Trung Quốc cho tới đầu năm 1917 và sau này bị quản chế tại Huế cho đến khi ông mất (1940). Ảnh hưởng xu hướng bạo động của tổ chức Việt Nam Quang phục hội đối với phong trào yêu nước Việt Nam đến đây chấm dứt.

Với xu hướng cải cách của Phan Châu Trinh, cùng với những người cùng chí hướng muốn giành độc lập cho dân tộc nhưng không đi theo lối mòn của xu hướng bạo động của Phan Bội Châu, mà theo xu hướng cải cách đất nước. Phan Chu Trinh cho rằng "bất bạo động, bạo động tắc tử"; phải "khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh", phải bãi bỏ chế độ quân chủ, thực hiện dân quyền, khai thông dân trí, mở mang thực nghiệp. Để thực hiện được chủ trương ấy, Phan Châu Trinh đã đề nghị Nhà nước "bảo hộ" Pháp tiến hành cải cách. Khi phong trào Duy Tân lan rộng khắp cả Trung Kỳ và Nam Kỳ, đỉnh cao là vụ chống thuế ở Trung Kỳ (1908), thực dân Pháp đã đàn áp dã man, giết hại nhiều sĩ phu và nhân dân tham gia biểu tình. Nhiều sĩ phu bị bắt, bị đày đi Côn Đảo, trong đó có Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Đặng Nguyên Cẩn.. Phong trào chống thuế ở Trung Kỳ bị thực dân Pháp dập tắt, cùng với sự kiện tháng 12-1907 thực dân Pháp ra lệnh đóng cửa Trường Đông Kinh Nghĩa Thục phản ánh sự kết thúc xu hướng cải các trong phong trào cứu nước của Việt Nam.
 
125,600 ❤︎ Bài viết: 11264 Tìm chủ đề
Chương 2

QUÁ TRÌNH SÀNG LỌC CỦA LỊCH SỬ VÀ DÂN TỘC ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM


2.2. Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng tư sản


2.2. 2 Phong trào sau chiến tranh thế giới lần thứ I

Vì tư bản Pháp suy yếu do dốc toàn lực cho cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất, hoạt động kinh doanh của tư sản Việt Nam có cơ hội mở rộng torng giai đoạn trong và sau chiến tranh. Họ kinh doanh trong hầu hết các ngành kinh tế, một trong số họ đã có trong tay

Những sản nghiệp lớn như hầm mỏ, đồn điền, các công ty thương mại.. Trên cơ sở mở rộng và phát triển nhanh chóng về thế lực kinh tế, giai cấp tư sản Việt Nam đã thực sự trở thành một giai cấp xã hội, hệ tư tưởng tư sản được du nhập và có cơ hội nảy nở ở Việt Nam, phong trào đấu tranh theo hệ tư tưởng tư sản có điều kiện diễn ra mạnh mẽ, thu hút đông đảo các giai cấp, tầng lớp nhân dân tham gia.

Do tư bản Pháp độc quyền thị trường, hạn chế kinh doanh, chèn ép về nhiều mặt, vào những năm 1920, giai cấp tư sản đã tổ chức nhiều cuộc đấu tranh: Phong trào chấn hưng nội hóa, bài trừ ngoại hóa (1919), đấu tranh chống độc quyền thương cảng Sài Gòn và độc quyền xuất cảng lúa gạo Nam Kỳ của tư sản Pháp (1923). Một số tư sản lớn ở Nam Kỳ lập ra Đảng Lập hiến (năm 1925), nêu ra các khẩu hiệu đòi tự do, dân chủ. Nhưng khi thực dân Pháp nhượng bộ một số quyền lợi, họ lại thỏa hiệp với chúng.

Tầng lớp tiểu tư sản trí thức hăng hái tham gia các tổ chức tiến bộ, cách mạng như Việt Nam nghĩa đoàn, Hội Phục Việt, Đảng Thanh niên.. Nhiều tờ báo tiến bộ lần lượt ra đời như Chuông rè, An Nam trẻ, Người nhà quê.. Nhiều cuộc đấu tranh quyết liệt đã nổ ra: Cuộc đấu tranh đòi thả tự do cho Phan Bội Châu (1925), các cuộc truy điệu, để tang Phan Châu Trinh (1926).

Năm 1927, tại Bắc kỳ, tổ chức Việt Nam Quốc dân đảng do Nguyễn Thái Học lãnh đạo được thành lập. Đây là một chính đảng yêu nước, đấu tranh giành lại độc lập cho dân tộc. Lúc mới thành lập, chính cương của đảng không rõ ràng, tiêu chuẩn để trở thành đảng viên dễ dãi. Bản Chương trình hành động của Việt Nam Quốc dân đảng công bố năm 1929 chia chương trình hoạt động của Đảng thành bốn thời kỳ. Thời kỳ cuối cùng là bất hợp tácthực dân Pháp và nhà Nguyễn, cổ động bãi công, đánh đuổi giặc Pháp, đánh đổ ngôi vua, thiết lập dân quyền. Đảng chủ trương lấy lực lượng binh lính người Việt trong quân đội Pháp giác ngộ làm lực lượng chủ lực, tổ chức cơ sở của Đảng trong quần chúng rất ít.

Tháng 02 – 1929, Việt Nam Quốc dân đảng tổ chức vụ ám sát tên trùm mộ phu Badanh ở Hà Nội. Nhân sự kiện này, thực dân Pháp tiến hành khủng bố dã man các tổ chức của Việt Nam Quốc dân Đảng. Bị động trước tình thế, lãnh đạo chủ chốt của Đảng quyết định dốc hết lực lượng tiến hành cuộc bạo động cuối cùng ở Yên Bái vào tháng 02 - 1930. Cuộc khởi nghĩa nhanh chóng thất bại, bị đàn áp rất dã man. Vai trò lịch sử của Việt Nam Quốc dân đảng với tư cách là một chính đảng cách mạng vừa mới xuất hiện đã chấm dứt cùng với sự thất bại của khởi nghĩa Yên Bái. Thất bại của khởi nghĩa Yên Bái cũng đồng thời đánh dấu sự chấm hết vai trò của khuynh hướng chính trị tư sản trên vũ đài chính trị Việt Nam.
 
125,600 ❤︎ Bài viết: 11264 Tìm chủ đề
Chương 2

QUÁ TRÌNH SÀNG LỌC CỦA LỊCH SỬ VÀ DÂN TỘC ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM


2.3. Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng vô sản.

2.3. 1. Nguyễn Ái Quốc lựa chọn con đường cách mạng vô sản (1911-1920)


Những yếu tố tác động đến quyết định rời Việt Nam đi phương Tây (trước năm 1911) Từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, các tầng lớp nhân dân trong xã hội bị phân

Hóa sâu sắc, điêu đứng trong cảnh nước mất, nhà tan, bị áp bức về chính trị, bị bóc lột về kinh tế, bị đầu độc về văn hóa, bị tha hóa về con người, bị đọa đày trong đói rách về bệnh tật. Giai cấp cần lao lâm vào số phận nô lệ bi thảm, quyền sống của con người bị chà đạp

Thảm hại. Xã hội Việt Nam từ nước phong kiến độc lập trở thành thuộc địa nửa phong kiến. Thực dân Pháp dùng mọi thủ đoạn khai thác tài nguyên và bóc lột dã man của cải và sức lao động của nhân dân ta để làm giàu cho chính quốc.

Trong khi đó, tình hình thế giới trong thời gian này lại có những chuyển biến mạnh mẽ. Chủ nghĩa tư bản đã từ giai đoạn tự do cạnh tranh chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc. Trước sự hung hăng của chủ nghĩa đế quốc, phần lớn các nước Mỹ La-tinh, châu Á, châu Phi đã trở thành thuộc địa của chúng, trong đó có đất nước ta. Bên cạnh những mâu thuẫn xã hội đã tồn đọng nhiều năm trời, sự lan rộng của chủ nghĩa đế quốc đã làm phát sinh mâu thuẫn mới, đó là mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc thực dân. Vì thế, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa lan rộng, trong đó có đất nước ta.

Mặt khác, phong trào kháng chiến chống Pháp bùng lên và lan rộng trong cả nước. Các cuộc nổi dậy đều được thúc đẩy bởi tinh thần yêu nước nhiệt thành và ý chí căm thù giặc Pháp sôi sục. Song, trước sau đều bị thất bại vì chưa có một đường lối kháng chiến rõ ràng. Nhiều phong trào cứu nước do các sĩ phu và văn thân theo ý thức hệ phong kiến. Các phong trào Duy Tân, Đông Du dựa trên lý luận dân chủ tư sản đều bị thực dân Pháp đàn áp và dập tắt. Sự thất bại của các phong trào này, đặc biệt trong số đó là phong trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu đã khiến Nguyễn Ái Quốc thấy được nhiều hạn chế của con đường cứu nước của các bậc tiền bối: Không thể cứu nước trên lập trường phong kiến hay lập trường của giai cấp tư sản, tiểu tư sản. Các đường lối và phương pháp này đều không đáp ứng được yêu cầu giải phóng dân tộc trong điều kiện chủ nghĩa đế quốc đã trở thành hệ thống thế giới. Chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam đang đòi hỏi được đổi mới, đó là một nhu cầu cấp thiết của dân tộc lúc bấy giờ. Trước tình cảnh ấy, Nguyễn Tất Thành, khi đó mới 21 tuổi, đã quyết định ra đi tìm đường cứu nước với quyết tâm cháy bỏng: "Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu".

Trong khi đó, xét đến nước Pháp, đất nước đang là kẻ thù của Việt Nam, Người cần tìm hiểu về kẻ thù của mình, tìm hiểu về bản chất của kẻ cai trị mình. Bên cạnh đó, trong lịch sử, Pháp là nước nơi khai sinh ra bản tuyên ngôn Nhân quyền năm 1789 với khẩu hiệu: "Tự do, bình đẳng, bác ái". Đây là khẩu hiệu đã lôi cuốn Người quyết tâm xác thực và tìm kiếm những yếu tố làm nên khẩu hiệu ấy. Không những thế, Pháp còn là nước có nền văn minh tiên tiến và khoa học phát triển, vận dụng và học hỏi được từ sự phát triển này là một lợi thế rất lớn cho dân tộc ta. Hội tụ những yêu cầu thiết yếu, Người đã quyết định chọn Pháp là điểm đến đầu tiên trong quá trình học hỏi, nghiên cứu của mình. Như vậy, có thể thấy việc Nguyễn Tất Thành chọn châu Âu làm điểm đến không phải là một quyết định ngẫu nhiên mà là sự kết tinh của quá trình phân tích, suy luận kết hợp với bối cảnh trong nước và thế giới.
 
125,600 ❤︎ Bài viết: 11264 Tìm chủ đề
Chương 2

QUÁ TRÌNH SÀNG LỌC CỦA LỊCH SỬ VÀ DÂN TỘC ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM


2.3. Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng vô sản.

2.3. 1. Nguyễn Ái Quốc lựa chọn con đường cách mạng vô sản (1911-1920) (Tiếp)


Quá trình từng bước lựa chọn con đường cách mạng vô sản (từ năm 1911 đến năm

1920)

Trong khoảng thời gian từ năm 1911 đến năm 1920, Người đã bôn ba khắp các đại lục và tìm hiểu về các nước thuộc địa. Đặc biệt hơn cả, Người đã dừng chân tại các nước đế quốc lớn như Mỹ, Pháp, Anh. Trong thời gian này, Nguyễn Tất Thành đã tranh thủ học hỏi, nghiên cứu các học thuyết cách mạng, tự mình tham gia vào cuộc sống lao động sản xuất. Qua đó, Người đã hòa mình vào thực tiễn đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở cả các nước tư bản và thuộc địa. Điều này rất quan trọng vì đã giúp Người nắm bắt rõ thực tiễn thế giới, đồng cảm được với tình cảnh của người lao động. Trên cơ sở

Đó, Người đã rút ra kết luận có tính chất căn bản đầu tiên: "Ở đâu bọn đế quốc, thực dân cũng tàn bạo, độc ác; ở đâu những người lao động cũng bị bóc lột, áp bức nặng nề", và "Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: Giống người bóc lột và giống người bị bóc lột". Những nhận biết căn bản đó càng thôi thúc Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc quyết tâm tìm ra phương hướng giải phóng đất nước, giải phóng dân tộc. Từ sự đồng cảm với các dân tộc cùng cảnh ngộ, Người đã đến với chủ nghĩa quốc tế.

Năm 1917, Nguyễn Tất Thành từ nước Anh trở lại nước Pháp. Được Phan Chu Trinh và Phan Văn Trường giúp đỡ, Người hăng hái hoạt động chính trị trong Việt kiều và những người lao động Pháp. Thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 có ảnh hưởng rất lớn đến tình cảm và nhận thức của Người. Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng xã hội Pháp. Ngày 18/06/1919, với tên Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi bản yêu sách tới Hội nghị Vécxây yêu cầu về quyền tự do, dân chủ, bình đẳng dân tộc cho nhân dân An Nam. Tám yêu cầu không được chấp nhận, nhưng đã vạch trần bản chất giả dối của các cường quốc thống trị, đồng thời cũng đem lại cho Nguyễn Ái Quốc một nhận thức tỉnh táo là các dân tộc muốn được giải phóng chỉ có thể dựa vào sức lực của bản thân mình. Từ thực tế ấy, Người kết luận: "Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình".

Từ những hoạt động thực tiễn trên và nhất là tháng 7 năm 1920, lần đầu tiên Người tìm thấy con đường giải phóng dân tộc thông qua bản Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa của V. I. Lê-nin. Luận cương đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc những băn khoăn về con đường giành độc lập, tự do cho dân tộc, trả lời câu hỏi ai là người lãnh đạo, lực lượng tham gia và mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng ở các nước thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc.. Luận cương đã ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành thế giới quan cộng sản của Nguyễn Ái Quốc. Qua đó, tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc có sự chuyển biến lớn lao, từ sự đồng cảm với các dân tộc cùng cảnh ngộ, đến với chủ nghĩa quốc tế. Người đã nhìn thấy khả năng thực hiện ba mục tiêu lớn: Giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người.

Từ thời điểm đó, Nguyễn Ái Quốc theo sát những sự kiện chính trị thế giới đang diễn ra dồn dập, tác động mạnh đến chính trường nước Pháp, đặc biệt là Đại hội II của Quốc tế Cộng sản (QTCS) và Đại hội I các dân tộc phương Đông. Người tham dự cuộc mít tinh lớn của hàng vạn công nhân tại rạp xiếc ở Pa-ri. Tiếp sau đó, tháng 9-1920, Người theo sát tiến trình Đại hội I các dân tộc phương Đông, nhằm đưa đường lối, chính sách của Đại hội II QTCS vào cuộc sống, mà trước hết là tư tưởng "đoàn kết phương Tây vô sản và phương Đông bị áp bức".

Những sự kiện chính trị trên góp phần củng cố niềm tin vững chắc vào chủ nghĩa Mác Lê-nin, củng cố lập trường và bản lĩnh chính trị của Người. Cuối cùng, ta thấy được những thay đổi rõ rệt về chất trong tư tưởng và lập trường chính trị của Nguyễn Ái Quốc sau qua một hành trình dài bôn ba xứ lạ.
 
125,600 ❤︎ Bài viết: 11264 Tìm chủ đề
Chương 2

QUÁ TRÌNH SÀNG LỌC CỦA LỊCH SỬ VÀ DÂN TỘC ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM


2.3. Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng vô sản.

2.3. 2. Sự chuẩn bị của Nguyễn Ái Quốc về tư tưởng - chính trị và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam

Sau khi tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn, Nguyễn Ái Quốc đã tích cực hoạt động cả thực tiễn và lý luận. Người tập trung nghiên cứu và hoàn thiện tư tưởng để bắt đầu quá trình cứu nước. Trong thời gian này, Người nhận thấy cần tập trung chuẩn bị những điều kiện cần thiết về tư tưởng, chính trị và tổ chức để thành lập một chính Đảng vô sản kiểu mới ở Việt Nam.

Về chính trị

Tác phẩm Đường Cách mệnh (1927) của Người là sự chuẩn bị tập trung và chu đáo về lý luận chính trị cho Đảng ta, đặt nền tảng tư tưởng cho đường lối chính trị của cách mạng Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa. Đường Cách mệnh đã chỉ ra mục tiêu giải phóng dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ chủ yếu, trước hết của cách mạng Việt Nam và các nước thuộc địa là giải phóng dân tộc; về sự cần thiết phải đoàn kết giữa giai cấp vô sản ở chính quốc với giai cấp vô sản thuộc địa, đoàn kết giữa các nước thuộc địa hình thành mặt trận chung chống chủ nghĩa đế quốc; về khả năng nổ ra và giành thắng lợi trước cách mạng vô sản của cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa; cách mạng Việt Nam sau khi giành thắng lợi sẽ đi lên Chủ nghĩa xã hội. Cách mạng muốn thắng lợi phải có Đảng lãnh đạo, phải có lý luận khoa học dẫn đường và có đường lối, phương pháp cách mạng đúng đắn.

Về tư tưởng

Sự chuẩn bị về tư tưởng rõ nét nhất của Nguyễn Ái Quốc là thông qua hoạt động báo chí và tuyên truyền. Thời gian ở Pháp, Người cho xuất bản và làm chủ nhiệm kiêm chủ bút cho tờ Le'Paria (Người cùng khổ). Người viết khoảng 30 bài, tập trung tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân và truyền bá Chủ nghĩa Mác – Lênin vào các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam.

Ngoài ra, Người còn tham gia viết những bài báo khác như Nhân đạo, Đời sống công nhân, Thanh niên. Bên cạnh đó, tác phẩm "Bản án chế độ thực dân Pháp" tố cáo tội ác của thực dân Pháp. Ngoài ra, Người còn tham gia giảng dạy, thảo luận. Có thể thấy, Người đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để tuyên truyền tư tưởng của mình đến nhân dân.
 
125,600 ❤︎ Bài viết: 11264 Tìm chủ đề
Chương 2

QUÁ TRÌNH SÀNG LỌC CỦA LỊCH SỬ VÀ DÂN TỘC ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM


2.3. Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng vô sản.

2.3. 2. Sự chuẩn bị của Nguyễn Ái Quốc về tư tưởng - chính trị và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam (tiếp)

Về tổ chức

Năm 1923, Người đến Quảng Châu thành lập Tâm Tâm Xã. Thấm nhuần nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới của Chủ nghĩa Mác – Lênin,

Nguyễn Ái Quốc xác định Đảng Cộng sản phải có lý luận tiên phong dẫn được, phải giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, kỷ luật tự giác và nghiêm minh, đoàn kết thống nhất, gắn bó với nhân dân.

Tin tưởng vào thanh niên - thế hệ trẻ và là tương lai của dân tộc, Nguyễn Ái Quốc không những tập hợp thanh niên vào một tổ chức mà còn đào tạo họ thành những lớp người kiên trung của Đảng. Đó là Nguyễn Đức Cảnh, Trần Phú, Nguyễn Văn Cừ, Lê Hồng Phong..

Tháng 02/1925, Người thành lập "Cộng sản đoàn".

Tháng 06/1925, Người thành lập "Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội", tổ chức trung kiên là "Cộng sản đoàn".

Ở đây, chúng ta không khỏi thắc mắc, tại sao Nguyễn Ái Quốc không thành lập ngay một Đảng Cộng sản, mà chỉ thành lập tổ chức Hội, lấy một nhóm "Cộng sản đoàn" làm hạt nhân? Câu trả lời là, Đảng Cộng sản phải là sự kết hợp giữa lý luận Mác – Lenin và phong trào công nhân. Trong hoàn cảnh của những năm 1925, lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin mới chỉ được truyền bá một cách sơ lược trong nhóm thanh niên trí thức, chưa được truyền bá rộng rãi và thấm nhuần vào phong trào công nhân Việt Nam, nên chưa thể đặt vấn đề thành lập Đảng Cộng sản. Thành lập một tổ chức Hội, trong đó lấy "Cộng sản đoàn" – một tổ chức gần với Đảng hơn, mang tính cộng sản hơn làm hạt nhân, đây là sự sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc.
 
125,600 ❤︎ Bài viết: 11264 Tìm chủ đề
Chương 2

QUÁ TRÌNH SÀNG LỌC CỦA LỊCH SỬ VÀ DÂN TỘC ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM


2.3. Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng vô sản (tiếp)

Những điểm sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc trong việc vận dụng lý luận Mác - Lênin.

Thứ nhất, cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách

Mạng vô sản.

Đứng trước tình cảnh mất nước nhà tan của Việt Nam, cùng với những kinh nghiệm học hỏi từ những sự thất bại các cuộc cách mạng của các bậc tiền bối, ngày 05/06/1911, Nguyễn Tất Thành đã quyết tâm ra đi tìm được cứu nước. Trải qua nhiều năm học hỏi và làm việc xa xứ, Người đã tìm đến chủ nghĩa Mác-Lê nin. Dựa vào nền tảng đó, Người đã tìm ra được con đường đúng đắn cho dân tộc ta. Người khẳng định: "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản". Nguyễn Ái Quốc lựa chọn con đường cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga (1917), bởi theo Người: "Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Ngalà đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật". Con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng cách mạng vô sản, là cuộc cách mạng toàn diện, sâu sắc và triệt để. Cuộc cách mạng đó không chỉ giải phóng giai cấp, mà gắn liền với nó là giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội. Trên con đường cách mạng vô sản, Hồ Chí Minh vận dụng lý luận Mác - Lênin để xác định phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam là "làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản". Sau khi giành lại độc lập, nước ta phải tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cách mạng giải phóng dân tộc đi theo con đường cách mạng vô sản, tức là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Độc lập dân tộc là tiền đề của chủ nghĩa xã hội. Không có độc lập dân tộc thì không có gì cả. Độc lập dân tộc thể hiện ở việc giành và làm chủ chính quyền dân chủ nhân dân đặt nền móng cho chủ nghĩa

Xã hội. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không được tự do hạnh phúc thì độc lập cũng vô nghĩa. Chủ nghĩa xã hội là hạnh phúc và tự do. Vì vậy, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội phải được coi là tất yếu của sự phát triển độc lập của dân tộc, nhằm bảo đảm độc lập tự do của dân tộc và tạo ra một giai đoạn phát triển mới ở trình độ cao hơn trong toàn bộ quá trình cách mạng. Đây là luận điểm của Lê-nin về cách mạng vĩnh viễn - là sự phát triển sáng tạo của cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa, không có khoảng cách giữa hai phương diện này.

Nhận thức được thực tiễn rõ ràng đó, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác Lê-nin, áp dụng con đường cách mạng vô sản cho dân tộc ta và đem lại những thắng lợi vang dội.
 
125,600 ❤︎ Bài viết: 11264 Tìm chủ đề
Chương 2



QUÁ TRÌNH SÀNG LỌC CỦA LỊCH SỬ VÀ DÂN TỘC ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

2.3. Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng vô sản (tiếp)

Những điểm sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc trong việc vận dụng lý luận Mác - Lênin.

Thứ hai, cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

Nhiệm vụ lãnh đạo của Đảng Cộng sản là: Xác định mục tiêu của cách mạng, xây dựng đường lối cách mạng giải phóng dân tộc; thông qua cương lĩnh, tổ chức vận động, tập hợp các lực lượng cách mạng, xây dựng Mặt trận Dân tộc thống nhất. Đối với cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản phải thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ: Chống đế quốc và chống phong kiến, giành độc lập dân tộc, đem lại tự do và hạnh phúc cho nhân dân. Điều sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh là xây dựng một Đảng cộng sản dành cho nhân dân.

Theo tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta được xây dựng là đảng có đạo đức, văn minh, được trang bị lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, có bản lĩnh chính trị vững vàng; đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất đạo đức trong sáng, giàu trí tuệ, biết giải quyết mọi vấn đề nảy sinh ở Việt Nam. Và bắt kịp với thời đại. Đảng phải xây dựng mặt trận dân tộc rộng rãi, vững mạnh, bền vững, chân thành và đoàn kết, trong đó sức mạnh của Đảng là toàn dân tộc, toàn dân Việt Nam, con Lạc cháu Hồng. Đảng cũng biết tập hợp các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên toàn thế giới để chống kẻ thù chung là chủ nghĩa thực dân, thực hiện mục tiêu chung của nhân loại tiến bộ: Hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Thứ ba, cách mạng giải phóng dân tộc là sự nghiệp đoàn kết của toàn dân trên cơ sở liên minh công nông.

Nhận thức được việc Việt Nam ta là đất nước với tuyệt đại đa số dân số là nông dân, họ cũng là những người trực tiếp chịu nhiều sự áp bức, bóc lột nên họ luôn có ý thức phản kháng, sẵn sàng tham gia cách mạng. Chính vì thế, Người khẳng định cách mạng giải phóng dân tộc phải có sự tham gia của giai cấp nông dân và là sự nghiệp của toàn dân. Bên cạnh

Đó, lực lượng nông dân luôn mang trong mình truyền thống dân tộc, tinh thần yêu nước nồng nàn, lực lượng đông đảo. Do vậy, vấn đề giải phóng dân tộc ở Việt Nam, thực chất là vấn đề nông dân. Nông dân vừa là động lực, vừa là lực lượng đông đảo, nòng cốt, và cũng là đối tượng vận động của cách mạng. Đánh giá cao vai trò, sứ mệnh của giai cấp nông dân, nhưng Hồ Chí Minh luôn khẳng định, giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng và Đảng phải lãnh đạo xây dựng khối liên minh công - nông làm nòng cốt cho Mặt trận Dân tộc thống nhất.

Đây là sự phát triển và bổ sung của Hồ Chí Minh thêm cho lý luận Mác - Lênin về Đảng Cộng sản, định hướng cho việc xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam thành một đảng có sự gắn kết chặt chẽ với giai cấp công nhân, với nhân dân lao động và cả dân tộc trong mọi thời kỳ của cách mạng Việt Nam. Đảng có trách nhiệm to lớn không chỉ đối với giai cấp công nhân, mà còn đối với nhân dân lao động và cả dân tộc.
 
Chỉnh sửa cuối:
125,600 ❤︎ Bài viết: 11264 Tìm chủ đề
Chương 2

QUÁ TRÌNH SÀNG LỌC CỦA LỊCH SỬ VÀ DÂN TỘC ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

2.3. Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng vô sản (tiếp)

Những điểm sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc trong việc vận dụng lý luận Mác - Lênin.

Thứ tư, cách mạng giải phóng dân tộc phải được tiến hành bằng con đường cách mạng bạo lực, kết hợp đấu tranh chính trị của quần chúng với đấu tranh vũ trang; thực hiện khởi nghĩa từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa giành thắng lợi hoàn toàn. Học hỏi từ những thất bại của các bậc tiền bối, Hồ Chí Minh xác định phương pháp đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam phải được tiến hành bằng con đường cách mạng bạo lực, kết hợp đấu tranh chính trị của quần chúng với đấu tranh vũ trang; thực hiện khởi

Nghĩa từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa giành thắng lợi hoàn toàn. Tuy quan điểm của Người có xu hướng bạo lực, điều này không hề mâu thuẫn với tinh thần yêu chuộng hòa bình của nhân dân Việt Nam. Trong suốt quá trình đấu tranh, việc sử dụng bạo lực nhằm đạt được mục đích tối thượng là giải phóng dân tộc.

Dựa vào chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã nhận thức sâu sắc bản chất của chế độ thực dân: "Chế độ thực dân, tự bản thân nó, đã là một hành động bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu rồi". Từ đó, Người đã nhận thức được độc lập tự do không thể có được bằng cầu xin. Vì vậy, để thực hiện cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, cũng như cuộc đấu tranh để bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ CNXH, tất yếu phải dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền.

Nhận xét: Những luận điểm trên của Nguyễn Ái Quốc là sự bổ sung quan trọng cho chủ nghĩa Mác – Lê nin để phù hợp hơn với đặc điểm xã hội Việt Nam. Đây là kết quả của mười năm lao động trí tuệ miệt mài của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, là di sản quý giá Người để lại cho đời sau.
 
125,600 ❤︎ Bài viết: 11264 Tìm chủ đề
Chương 2

QUÁ TRÌNH SÀNG LỌC CỦA LỊCH SỬ VÀ DÂN TỘC ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM


2.3. Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng vô sản


2.3. 3. Sự phát triển của phong trào cách mạng vô sản

Giai đoạn trước năm 1925


Sau sự trở về của Nguyễn Ái Quốc, Người đã thấm nhuần tư tưởng cách mạng vô sản và tích cực truyền bá hệ tư tưởng vào Việt Nam. Với sự nhiệt huyết và lòng yêu nước nồng nàn, Hồ Chí Minh đã thành công trong việc truyền bá hệ tư tưởng và tạo ra những sự thay đổi mạnh mẽ lên con đường cách mạng của dân tộc Việt Nam.

Trong giai đoạn tự phát từ trước năm 1925, các phong trào vẫn còn diễn ra trong quy mô nhỏ hẹp, lẻ tẻ do chưa có người lãnh đạo cũng như chủ trương cách mạng đúng đắn. Đặc điểm chung của cách mạng trong thời gian này là trình độ giác ngộ của nhân dân vẫn còn thấp, số lượng người tham gia còn ít. Mục đích của các cuộc đấu tranh chủ yếu xoay quanh việc đòi quyền lợi, tăng lương, giảm giờ làm.. Hình thức đấu tranh chủ yếu của công nhân vẫn là đập phá máy móc, phá giao kèo hoặc bỏ trốn tập thể.

Từ năm 1922, phong trào bắt đầu có những khởi sắc, trong đó sự kiện đặc biệt là cuộc bãi công của 600 công nhân ở Sài Gòn - Chợ Lớn. Đây chính là một dấu hiệu mới trong việc tổ chức các phong trào công nhân, "lần đầu tiên một phong trào như thế đã nhóm lên ở thuộc địa". Năm 1925, phong trào công nhân đã xuất hiện nhiều cuộc bãi công có quy mô lớn và có tổ chức lãnh đạo ở một mức độ nhất định. Cuộc đấu tranh tiêu biểu là cuộc nổi dậy của công nhân Ba Son vào tháng 08/1925 đã giúp ngăn chặn mưu đồ đàn áp phong trào công nhân của thực dân Pháp.

Có thể thấy, đặc điểm chung của phong trào công nhân Việt Nam thời kỳ này còn ở mức độ thấp cả về tổ chức lẫn tư tưởng. Hầu hết các phong trào đều mang tính tự phát và không hề có mối liên kết. Tuy nhiên, có thể thấy cuộc bãi công Ba Son là dấu hiệu chuyển mình rõ rệt: Mục tiêu của các cuộc cách mạng đã được mở rộng từ kinh tế sang chính trị. Đây là dấu hiệu khởi đầu cho sự nhận thức về vai trò của công nhân trong các cuộc cách mạng của Việt Nam.
 
125,600 ❤︎ Bài viết: 11264 Tìm chủ đề
Chương 2

QUÁ TRÌNH SÀNG LỌC CỦA LỊCH SỬ VÀ DÂN TỘC ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

2.3. Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng vô sản


2.3. 3. Sự phát triển của phong trào cách mạng vô sản (tiếp)

Giai đoạn sau năm 1925

Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc đã tích cực hoạt động, truyền bá tư tưởng vào sâu trong nhân dân. Nhờ đó, giai cấp công nhân lần đầu được tiếp xúc với chủ nghĩa Mác Lê-nin. Trên cơ sở đó, giai cấp công nhân dần dần phát triển chủ nghĩa cộng sản và nhận thức rõ hơn vai trò của mình trong cách mạng Việt Nam. Phong trào công nhân càng ngày càng phát triển mạnh mẽ và có những thay đổi rõ rệt về chất.

Trong năm 1926, hàng loạt cuộc đấu tranh của công nhân đã nổ ra mạnh mẽ. Có thể kể tên các phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản ở giai đoạn này như: Cuộc bãi công của công nhân ở nhà máy sợi Nam Định, xi măng Hải Phòng.. đặc biệt là 2 cuộc đấu tranh với quy mô lớn như các đồn điền Cam Tiêm, Phú Riềng ở phía Nam. Các cuộc đấu tranh này đều nhằm vào hai mục tiêu chung là tăng lương và thay đổi giờ làm việc thành 8 giờ / ngày như công nhân Pháp. Ta có thể thấy rõ công nhân đã biết tới mục tiêu chung của giai cấp bằng cách đề ra các yêu sách phù hợp với quần chúng nhân dân.

Trong khoảng thời gian đó, những cán bộ đã được huấn luyện bởi Nguyễn Ái Quốc tại Quảng Châu đã về nước, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển mạnh mẽ phong trào công nhân cũng như truyền bá tư tưởng đến cho công nhân. Những cán bộ này không chỉ trực tiếp tham gia lãnh đạo đấu tranh mà còn tham gia vào phong trào "vô sản hóa". Cụ thể, những cán bộ được đưa đến các nhà máy, xí nghiệp, trực tiếp tham gia vào đời sống của công nhân. Điều này một mặt giúp họ tự rèn luyện bản thân, mặt khác có những điều kiện thuận lợi để truyền bá tư tưởng cho công nhân, nông dân Việt Nam.

Năm 1928 - 1929 là giai đoạn đỉnh cao của các phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản với hơn 40 cuộc đấu tranh có quy mô và chất lượng. Có thể thấy, đặc điểm của phong trào công nhân trong giai đoạn này là đã vượt ra khỏi phạm vi của một nhà máy, công xưởng, bước đầu có sự liên kết giữa nhiều ngành, nhiều địa phương và đã trở thành một phong trào liên tục, mạnh mẽ. Điều đó chứng tỏ trình độ giác ngộ của công nhân đã nâng lên rõ rệt và giai cấp công nhân đã trở thành một lực lượng chính trị độc lập, đi đầu và trực tiếp lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng. Cùng với sự lớn mạnh và trưởng thành của phong trào công nhân, phong trào đấu tranh của nông dân, tiểu tư sản và các tầng lớp yêu nước khác cũng phát triển, tạo nên một làn sóng cách mạng dân tộc khắp cả nước.

Sự chuyển biến mạnh mẽ đó đã đem đến một kết quả là ba tổ chức cộng sản đầu tiên của Việt nam ra đời trong năm 1929: Đông Dương Cộng sản Đảng (6/1929), An Nam Cộng sản Đảng (07/1929), Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (9/1929). Ba tổ chức được thành lập trong vòng nửa năm đã cho ta thấy hệ tư tưởng cộng sản đã chiếm ưu thế trong phong trào yêu nước Việt Nam. Qua đó, càng khẳng định lý luận cách mạng của Nguyễn Ái Quốc đã thấm nhuần vào trong cách mạng Việt Nam. Tuy việc thành lập 3 chính đảng thể hiện rằng phong trào yêu nước đã triển mạnh hơn, điều này cũng làm suy yếu và phân tán lực lượng cách mạng. Qua đó, những điều kiện để thành lập Đảng Cộng sản đã hoàn toàn chín muồi và yêu cầu thành lập một chính quyền chung đã được đặt ra.
 
125,600 ❤︎ Bài viết: 11264 Tìm chủ đề
Tiểu kết Chương 2

Ngay khi thực dân Pháp nổ tiếng súng đầu tiên xâm lược nước ta, nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước, đã đúng lên đấu tranh dưới ngọn cờ tư tưởng phong kiến. Suốt hơn 30 năm, từ Bắc chí Nam, từ miền xuôi cho đến miền ngược, các cuộc đấu tranh liê tiếp nổ ra, nhưng tựu chung đều thất bại một cách nhanhh chóng. Các phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến đều gặp kết cục thất bại, thứ nhất, là do họ đã giương lên ngọn cờ "trung quân ái quốc" lỗi thời, nêu lên khẩu hiệu phục hồi quyền lực cho dòng họ Nguyễn đã nhiều lần bán nước, nên hạn chế torng việc tập hợp lực lượng. Thứ hai, các phong trào này chủ yếu phụ thuộc vào uy tín của các thủ lĩnh địa phương, nên không thể hình thành được một trung tâm chỉ huy thống nhất cho các phong trào trong cả nước, và các phong trào tan rã nhanh chóng nếu thủ lĩnh bị bắt hoặc hy sinh. Thứ ba, vì mắc kẹt rong tư tưởng phong kiến, các sĩ phu, nông dân không nhìn thấy được sức mạnh của thời đại, không nhìn thấy được sự cần thiết phải đoàn kết quốc tế nên cô độc trong chiến đấu. Tuy thất bại, nhưng các phong trào này đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho các phong trào cứu nước thời kỳ sau, và cũng là minh chứng rõ ràng rằng, tự tưởng phong kiến không thể là lời giải cho vấn đề dân tộc ta đang gặp phải.

Chịu ảnh hưởng từ các trào lưu tư tưởng tiến bộ từ Nhật Bản, Trung Hoa và Pháp, các sĩ phu yêu nước đầu thế kỉ XX, tiêu biểu là Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh, hăm hở lao đầu vào khuynh hướng cứu nước mới: Khuynh hướng dân chủ tư sản. Dù với hai phương thức hành động khác nhau: Bạo động và cải cách, nhưng do không có cơ sở cả về kinh tế và chính trị trong nước, và cùng xem thường vai trò của công nông – hai lực lượng xã hội to lớn, hai ông đều gặp nhau ở một điểm: Trông chờ vào sự giúp đỡ của ngoại bang.

Đây không thể là con đường dẫn tới thành công, vì không một đế quốc nào mong một thuộc địa béo bở như Đông Dương được độc lập. Phong trào cứu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản đầu thế kỷ XX đã để lại cho chúng ta một bài học lớn: Trong cách mạng, không thể nào trông đợi một sự giúp đỡ từ bên ngoài.

Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, giai cấp tư sản Việt Nam được hình thành và bước lên vũ đài chính trị. Các phong trào đấu tranh của giai cấp tư sản diễn ra rầm rộ trên khắp các mặt trận với nhiều hình thức đa dạng. Tuy nhiên, không giống như giai cấp tư sản các nước, giai cấp tư sản bản xứ Việt Nam vốn đã nhỏ bé số lượng, èo uột và lệ thuộc về kinh tế, lại còn xem nhẹ vai trò của công nhân và nông dân, nên họ không có khả năng kinh tế cũng như lực lượng quần chúng đủ mạnh để tổ chức một cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ, mà chỉ có thể đòi hỏi một số quyền lợi kinh tế trước mắt hoặc tổ chức một cuộc bạo động bột phát, nhất thời như khởi nghĩa Yên Bái. Tóm lại, khuynh hướng chính trị tư sản cũng không phải là lời giải cho vấn đề giải phóng dân tộc Việt Nam.

Trong hoàn cảnh bế tắc về đường lối cứu nước đó, năm 1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành – với lòng yêu nước thương dân tha thiết, nhãn quan chính trị nhạy bén cùng tinh thần ham học hỏi – đã quyết chí ra đi tìm đường cứu nước. Trong khoảng thời gian từ năm 1911 – 1920, Người đã đi nhiều nơi, làm đủ mọi nghề, tiếp xúc với nhiều tầng lớp dân cư ở các nước khác nhau. Từ đó, Người nhận ra bản chất của chủ nghĩa đế quốc ở đâu cũng như nhau, và bắt đầu tham gia hoạt động trong phong trào công nhân. Năm 1920, nhân đọc được bản Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa của V. I. Lê-nin, Người chính thức từ một người yêu nước trở thành một chiến sĩ cộng sản. Người đã tìm thấy ở bản Luận cương của Lênin con đường để dẫn dắt dân tộc mình tới tự do, hạnh phúc.

Sau một thời gian ở Liên Xô, Người trở về Trung Quốc, thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên gồm những phần tử thnah niên ưu tú, tích cực xuất bản báo chí, huấn luyện chính trị, học tập lý luận, đào tạo thực tiễn.. chuẩn bị thật vững chắc về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho việc thành lập một Đảng Cộng sản. Lý luận Mác – Lênin được Người truyền bá không phải là lý luận được bê nguyên từ Phương Tây về, mà đã có sự bổ sung, phát triển cho phù hợp với đặc điểm Việt Nam, là thành quả lao động sáng tạo của Người.

Những hạt giống đươc Nguyễn Ái Quốc ươm từ Hội Việt nam Cách mạng Thanh niên được gửi về nước. Kể từ năm 1925, nhờ có lý luận Mác – Lênin, phong trào công nhân diễn ra rất mạnh mẽ, sôi nổi và rộng khắp, có phương pháp đấu tranh và mục đích chính trị rõ ràng – phong trào công nhân đã chuyển từ tự phát lên tự giác. Kể từ thời điểm năm 1925, giai cấp công nhân đã chính thức bước lên vũ đài chính trị với tư cách một lực lượng chính trị độc lập. Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào công nhân những năm 1928 – 1929 đã dẫn đến sự hình thành các tổ chức cộng sản, báo hiệu điều kiện để thành lập một Đảng Cộng sản ở Việt Nam đã chín muồi.
 
Chia sẻ bài viết
Trạng thái
Không mở trả lời sau này.

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back