34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 19: Lão Phụ Địa Lao

Khi thân mình chạm mặt nước, Dương Quá cả mừng, biết tính mạng tạm thời vẫn còn, nếu không hai người rơi từ trên cao mấy chục trượng như thế, khó lòng thoát chết. Xung lực đã lớn, chìm xuống đã sâu mà vẫn tiếp tục chìm, tựa hồ không có đáy. Chàng nín thở, đợi thế chìm chậm lại, tay trái ôm Công Tôn Lục Ngạc, tay phải quạt nước ngoi lên. Vừa lên tới mặt nước, hít được một hơi, đột nhiên xộc vào mũi một mùi tanh lợm giọng; đồng thời phía bên trái có sóng trào mạnh, tựa hồ có loài thủy tộc khổng lồ nào đó tấn công.

Một ý nghĩ chợt lóe lên trong óc chàng: "Tặc cốc chủ đẩy mình và nàng xuống chốn này, đâu có tử tế gì?" Liền phát chưởng tay phải đánh mạnh sang phía bên trái, "Bốp" một tiếng lớn, trúng phải một vật cứng, vừa lúc sóng lớn đẩy tới, chàng mượn thế chưởng mà ôm Công Tôn Lục Ngạc né sang bên phải.

Chàng không giỏi bơi lặn, sở dĩ chịu được lâu dưới nước chỉ là nhờ nội công nín thở. Lúc này trước mắt tối om, chỉ nghe phía bên trái và đằng sau có tiếng đẩy nước dồn dập, chàng hất mạnh tay phải, chạm vào một vật lớn thô ráp, lạnh ngắt, tựa hồ vảy của một loài thủy tộc, thì cả kinh: "Không lẽ trên thế gian quả có loài rồng độc?" Chàng dồn sức vào tay, đẩy mạnh, con quái vật kia bị chàng đẩy xuống sâu.

Chàng hít một hơi dài, chuẩn bị chìm người xuống, không ngờ chân đã đạp vào thực địa, vì sự việc xảy ra ngoài dự liệu, chân dùng sức không đúng cách, nên chân phải bị đau nhói.

Nhưng niềm vui khiến chàng quên cả cái đau, chàng giơ tay sờ soạng, thì ra là bờ đá của đầm sâu. Sợ quái vật lại tấn công, chàng vội nhoài người lên chỗ cao, ngồi vững vàng rồi, mới hết hoảng hồn. Công Tôn Lục Ngạc uống mấy ngụm nước, nửa tỉnh nửa mê.

Dương Quá đặt nàng nằm sấp, vắt qua đùi chàng, cho nước ộc ra. Chỉ nghe có tiếng quái vật bò lạch bạch lên bờ đá và mùi tanh càng lúc càng nồng nặc, có mấy con quái vật đã bò lên bờ.

Công Tôn Lục Ngạc ngồi dậy, ôm cổ Dương Quá, kinh ngạc hỏi:

– Con gì ghê vậy?

Dương Quá nói:

– Đừng sợ, cô nương hãy nấp sau lưng ta.

Công Tôn Lục Ngạc bất động, cứ ôm chặt chàng hơn, run rẩy nói:

– Cá sấu, cá sấu!

Hồi sống trên đảo Đào Hoa, Dương Quá từng thấy không ít cá sấu, biết giống vật này còn hung dữ hơn cả hổ báo trên đất liền; bấy giờ chàng với Quách Phù và huynh đệ họ Võ hễ gặp cá sấu là phải tránh cho xa, không dám trêu chọc. Không ngờ hôm nay bên vực sâu này chàng lại chạm trán với lũ cá sấu, bèn ngồi thật vững, chăm chú lắng nghe, qua tiếng chân phát hiện có ba con cá sấu đang bò lại gần.

Công Tôn Lục Ngạc nói nhỏ:

– Dương đại ca, không ngờ muội và đại ca lại mất mạng ở chốn này.

Giọng nói của nàng lại có phần tự an ủi. Dương Quá cười, nói:

– Dẫu có mất mạng, cũng phải giết vài con cá sấu đã.

Lúc này con cá sấu thứ nhất đã cách Dương Quá chưa đầy một trượng, Công Tôn Lục Ngạc kêu:

– Đánh nó đi!

Dương Quá nói:

– Chờ thêm chút nữa.

Chàng duỗi dài chân phải về phía bờ đầm, con cá sấu bò tới gần vài thước, ngoác to mồm để đớp chân chàng. Dương Quá co chân về, rồi đá ra một cú trúng ngay hàm dưới con cá sấu. Nó bị hất văng xuống đầm, chỉ nghe tiếng nước vang động, bầy cá sấu trong đó quẫy ngầu lên, hai con cá sấu khác thì đang bò tới gần.

Dương Quá tuy bị trúng độc hoa Tình, song võ công nguyên vẹn, cú đá vừa rồi phải đạt vài trăm cân lực đạo, sau khi đạp trúng mõm cá sấu, chàng cảm thấy đầu ngón chân đau buốt. Con cá sấu bắn xuống nước thì lại bơi lội như thường. Dương Quá nghĩ: "Lớp da của cá sấu quá dày, chỉ dùng tay không thế này, khó lòng chống chọi cả bầy cá sấu hung dữ, cuối cùng ta và Công Tôn cô nương sẽ thành mồi ngon của chúng mất, phải tìm cách giết sạch lũ cá sấu mới được". Chàng đưa tay sờ, muốn tìm một hòn đá to làm vũ khí, nhưng bờ đầm phẳng lì, một hạt cát cũng không có, chỉ thấy hai con cá sấu đang bò tới gần, vội hỏi:

– Cô nương có giắt bội kiếm bên mình hay không?

Công Tôn Lục Ngạc hỏi lại:

– Bội kiếm bên mình ư?

Nàng chợt nhớ trong đan phòng nàng đã cởi bỏ quần áo ngoài, chỉ còn đồ lót, vừa rồi lại nằm trong lòng chàng trai Dương Quá, bất giác cả thẹn, toàn thân nóng bừng, trong lòng êm dịu vô cùng.

Dương Quá toàn thần theo dõi lũ cá sấu tấn công, không biết nàng có gì lạ, tai nghe hai con cá sấu chỉ còn cách chàng hơn một trượng, tiếp sau chúng lại có hai con; nếu chàng phát chưởng, có thể đánh văng lũ cá sấu xuống đầm, nhưng rồi chúng sẽ lại bò lên ngay, như thế thật vô bổ, nội lực của chàng sẽ mất dần. Nghĩ vậy, chàng thủ thế sẵn, chờ hai con cá sấu tới cách ba thước mới cùng phóng hai chưởng, bốp bốp hai tiếng, trúng vào đầu cả hai con cá sấu. Cá sấu di động chậm, không biết tránh chưởng của Dương Quá, nhưng da chúng quá dày, nên chúng chỉ lịm đi một chút, tuột xuống đầm. Hai con phía sau lại trườn tới, Dương Quá dùng chân trái đạp mạnh nó văng xuống đầm, Công Tôn Lục Ngạc ôm không chắc, bị lăn tuột đi.

Công Tôn Lục Ngạc hốt hoảng kêu to, tay cố bám vào bờ đầm để leo lên. Dương Quá chìa tay kéo nàng. Lúc ấy một con cá sấu đã tới ngay bên cạnh, ngoác rộng hai hàm đớp vai Dương Quá. Lúc này đấm đá đều không kịp nữa, dẫu chàng có thể tránh được, song miệng con cá sấu không chừng sẽ ngoạm trúng thân mình Công Tôn Lục Ngạc; trong cơn nguy cấp, một tay chàng nắm hàm trên, một tay nắm hàm dưới con cá sấu vận lực, hét lớn một tiếng, chỉ nghe "roạt", mõm con cá sấu đã bị xé toạc làm đôi, nó chết thẳng cẳng.

Dương Quá tuy giết được con cá sấu hung dữ, song lưng chàng cũng vã mồ hôi lạnh. Công Tôn Lục Ngạc nói:

– Đại ca có bị thương không?

Dương Quá nghe giọng nói của nàng dịu dàng, đầy vẻ quan hoài, thì lòng hơi động, trả lời:

– Không sao.

Chàng vừa dùng lực quá mạnh, hai cánh tay hơi nhức. Công Tôn Lục Ngạc thấy con cá sấu nằm bất động trên bờ đầm, rất thán phục Dương Quá, nói:

– Đại ca tay không, làm sao đánh chết được nó vậy? Tối om om mà đại ca vẫn nhìn rõ được ư?

Dương Quá nói:

– Ta sống với cô cô trong tòa cổ mộ nhiều năm, chỉ cần có một tia sáng, là có thể nhìn thấy mọi vật.

Nhắc đến cô cô và tòa cổ mộ, chàng bất giác thở dài, đột nhiên toàn thân đau buốt, hết sức khó chịu, không khỏi hét tướng lên, đồng thời tung cước đá con cá sấu chết xuống đầm.

Hai con cá sấu đang bò dưới đầm lên, nghe tiếng kêu lạc giọng của chàng, hoảng sợ chuồi xuống nước.

Công Tôn Lục Ngạc vội nắm cánh tay chàng, một tay xoa xoa nhẹ gáy chàng, hi vọng giảm bớt cái đau cho chàng. Dương Quá tự biết mình trúng độc toàn thân, an nguy gì cũng chỉ sống được vài ngày nữa, nghe Công Tôn cốc chủ bảo phải ba mươi sáu ngày mới chết, nhưng đau đớn thế này vài lần nữa, chắc chẳng thể sống nổi; song sau khi chàng chết rồi, Công Tôn Lục Ngạc không có ai cứu hộ, há chẳng thảm thương lắm sao? Chàng nghĩ: "Nàng sở dĩ lâm vào cảnh này, chỉ là vì ta. Bất kể ta đau đớn thế nào, cũng phải cố chịu; chỉ mong cốc chủ nghĩ đến tình cha con, cuối cùng hồi tâm chuyển ý, cứu nàng lên". Ý đã quyết, chàng không nhớ đến Tiểu Long Nữ nữa, cơn đau nhức tức thì giảm hẳn, chàng nói:

– Công Tôn cô nương, đừng lo, ta nghĩ gia gia của cô nương sẽ xuống đây cứu cô nương. Cốc chủ chỉ hận một mình ta chứ vẫn yêu thương cô nương, chắc lúc này gia gia của cô nương đang hối hận đấy.

Công Tôn Lục Ngạc ứa lệ, nói:

– Hồi mẫu thân muội còn sống, gia gia đúng là rất yêu thương muội. Nhưng từ khi mẫu thân qua đời, gia gia đối với muội cứ ngày càng lạnh nhạt, nhưng trong lòng.. trong lòng.. muội biết là gia gia sẽ không hận muội.

Nàng chợt nghĩ đến rất nhiều điều lạ lùng khó hiểu, bèn nói:

– Dương đại ca, muội chợt nhớ, gia gia cứ tỏ vẻ sợ muội thì phải.

Dương Quá lấy làm lạ, hỏi:

– Cốc chủ sợ cô nương ư, sao lạ vậy?

Công Tôn Lục Ngạc nói:

– Đúng thế. Muội thấy mỗi lần gặp muội, thần sắc của gia gia lại mất tự nhiên thế nào ấy, tựa hồ giấu giếm chuyện gì rất hệ trọng, chỉ sợ muội biết. Mấy năm nay gia gia toàn tìm cách tránh mặt muội.

Nàng trước đây thấy phụ thân thần tình bất thường, tuy lấy làm lạ, nhưng đều nghĩ chắc là do mẫu thân nàng qua đời, phụ thân đau lòng, thành thử tính nết thay đổi, nhưng lần này nàng rơi xuống đầm cá sấu, hiển nhiên là do sự sắp đặt của cha nàng. Cha nàng đã di chuyển vị trí ba lò thuốc trong đan phòng, tức thị khởi động cơ quan lật ván sàn. Nếu bảo cha nàng hận Dương Quá, muốn đẩy chàng ta vào tử địa, thì không phải, Dương Quá đã trúng độc hoa Tình, chỉ cần không cho thuốc giải là xong; huống hồ khi chàng sắp rơi xuống bên dưới, cầm chắc cái chết, cớ sao cha nàng lại đẩy nàng xuống theo? Cái đẩy ấy đâu còn gì tình nghĩa cha con? Đó quyết không phải là sự lỡ tay trong cơn giận dữ, mà là một âm mưu định sẵn. Nàng càng nghĩ càng đau khổ, song cũng càng nhận biết rõ thêm. Bao hành vi cử chỉ lạ lùng của cha nàng, trước đây khó hiểu, giờ thì rõ ràng là xuất phát từ một chữ "sợ" mà ra. Nhưng vì sao thân sinh lại sợ nữ nhi của mình, thì nàng không thể hiểu nổi.

Lúc này bầy cá sấu trong đầm đang sôi sục tranh nhau xé xác con cá sấu chết, nhất thời không bò lên bờ nữa. Dương Quá thấy nàng ngẩn ngơ xuất thần, bèn hỏi:

– Phụ thân cô nương có chuyện bí mật gì bị cô nương bắt gặp hay không?

Công Tôn Lục Ngạc lắc đầu, nói:

– Không có. Gia gia xử sự công chính, ngay thẳng, mọi người trong sơn cốc ai cũng kính trọng gia gia. Hôm nay gia gia muội đối xử sai trái với đại ca, nhưng trước đây chưa hề làm chuyện gì không phải cả.

Dương Quá không biết sự việc ở Tuyệt Tình cốc, nên khó đoán thay cho nàng.

Đầm cá sấu lạnh như hố băng, hai người bị ướt, càng lạnh thấu xương. Dương Quá từng luyện nội công trên giường hàn ngọc, cái lạnh ở đây không đáng gì với chàng; nhưng Công Tôn Lục Ngạc thì cứ run cầm cập, nép vào người Dương Quá cho ấm. Dương Quá nghĩ cô nương này lâm tử địa, tất nhiên lo sợ, định pha trò vài câu cho nàng vui, thấy bầy cá sấu tranh ăn, mõm to răng nhọn, hình dạng gớm ghiếc, bèn cười, nói:

– Công Tôn cô nương, hôm nay hai ta bỏ mạng chốn này, kiếp sau cô nương muốn đầu thai thành gì? Thành con cá sấu xấu xí thế kia thì ta chẳng muốn chút nào.

Công Tôn Lục Ngạc mỉm cười, nói:

– Đại ca hãy biến thành hoa thủy tiên, vừa đẹp, vừa thơm, ai nhìn cũng ưa.

Dương Quá cười, nói:

– Biến thành hoa, cái đó ta nhường cho cô nương mới hợp, còn ta thì không cần.

Công Tôn Lục Ngạc cười, nói:

– Nếu Diêm vương muốn đại ca biến thành hoa Tình, đại ca có chịu hay không?

Dương Quá im lặng không đáp, thầm ân hận: "Ta và cô cô sử Ngọc nữ tố tâm kiếm pháp, gã tặc cốc chủ không thể địch nổi. Lúc ấy hắn đã chân tay luống cuống, sắp thua đến nơi. Ai ngờ cô cô trong kiếm thất lại bị gai hoa Tình đâm vào tay, mà" Ngọc nữ kiếm pháp "đòi hai người tâm linh phải tương thông, tình ý triền miên mới phát huy uy lực. Ôi, cũng là số trời định trước cả thôi. Không biết cô cô bây giờ thế nào?" Chàng vừa nhớ đến Tiểu Long Nữ, các vết thương lại nhưng nhức.

Công Tôn Lục Ngạc không nghe chàng trả lời, biết lẽ ra không nên nhắc đến hoa Tình, vội lái sang chuyện khác, nói:

– Dương đại ca, đại ca nhìn rõ lũ cá sấu, muội chỉ thấy trước mắt tối om, chẳng nhìn thấy gì cả.

Dương Quá cười, nói:

– Lũ cá sấu hình thù xấu xí lắm, không nhìn thấy chúng còn hơn.

Nói rồi chàng vỗ nhẹ vai Công Tôn Lục Ngạc, ngụ ý an ủi, cảm thấy vai nàng lạnh và trơn, mới chợt nhớ khi ở trong đan phòng nàng đã cởi bỏ quần áo ngoài, bây giờ không có gì che vai và bụng. Chàng giật mình, rụt tay lại Công Tôn Lục Ngạc nghĩ chàng có thể nhìn rõ trong bóng tối, nàng hầu như lõa thể trước mắt chàng thế này, bất giác kêu "Ôi chao!" tự nhiên lùi ra xa một chút.

Dương Quá cởi áo trường bào để khoác lên vai nàng, lúc cởi áo, chàng vừa nghĩ đến Tiểu Long Nữ, vừa nhớ Trình Anh từng may áo cho chàng, nghĩ đến Lục Vô Song từng sẵn sàng chết thay cho chàng; thấy trong đời may mắn chịu ơn của nhiều mỹ nhân, hổ thẹn chưa báo đáp được, bất giác thở dài não nuột.

Công Tôn Lục Ngạc mặc trường bào, thắt dây lưng cẩn thận, bỗng thấy trong túi áo của chàng có một cái gói nhỏ, bèn lấy ra đưa cho chàng, nói:

– Đại ca có cái gì thế? Lỡ đại ca cần dùng đến thì sao?

Dương Quá nhận lấy, thấy nằng nặng, bèn hỏi:

– Cái gì thế?

Công Tôn Lục Ngạc cười, nói:

– Vật ở trong túi của đại ca, sao lại hỏi muội?

Dương Quá xem kỹ, thấy cái bọc bằng vải thô này chàng chưa hề có, bèn mở ra, chợt sáng bừng trước mặt, thấy bên trong có bốn thứ, một con chủy thủ nhỏ bé, một viên ngọc to bằng hạt nhãn, phát quang xanh xanh, chiếu lên khuôn mặt Công Tôn Lục Ngạc. Chàng nghĩ: "Cổ nhân gọi là ngọc dạ quang, quả nhiên không sai".

Công Tôn Lục Ngạc bỗng reo lên:

– Ôi!

Nàng cầm lấy cái bình nhỏ màu phỉ thúy, nói:

– "Tuyệt Tình đơn" đây rồi.

Dương Quá kinh ngạc, vui mừng hỏi:

– Thứ này giải độc hoa Tình phải không?

Công Tôn Lục Ngạc giơ chiếc bình lắc lắc, cảm thấy bên trong có vật, mừng rỡ nói:

– Phải, muội tìm cả nửa ngày trong đan phòng chẳng thấy nó, hóa ra nó ở trong túi áo đại ca. Đại ca làm thế nào lấy được vậy? Lấy rồi sao còn chưa uống? Đại ca không biết đây chính là "Tuyệt Tình đơn" chứ gì?

Quá vui, nàng cứ hỏi dồn hết câu nọ câu kia, chẳng để cho Dương Quá trả lời.

Dương Quá gãi gáy, nói:

– Huynh chẳng hiểu gì hết, cái này.. cái lọ này sao lại ở trong túi của huynh, kỳ quái thật!

Nhờ ánh sáng viên dạ minh châu hắt vào chủy thủ, Công Tôn Lục Ngạc cũng nhìn được vật ở gần. Trong bọc, ngoài chuỳ thủ, viên ngọc, lọ "Tuyệt Tình đơn", còn có miếng da cừu vuông bảy, tám tấc gói nửa cái nấm linh chi. Công Tôn Lục Ngạc chợt nhớ ra, nói:

– Nửa cái nấm linh chi này là do Lão Ngoan đồng ngắt đây.

Dương Quá hỏi:

– Lão Ngoan đồng ư?

Công Tôn Lục Ngạc nói:

– Đúng vậy, phòng linh chi do muội trông coi; cái nấm linh chi này trồng trong cái liễn bạch ngọc. Lão Ngoan đồng đại náo thư, kiếm, đan, chi bốn phòng, hủy sách lấy kiếm, đẩy lò hái nấm, đều là do lão ta gây ra.

Dương Quá hiểu ra, nói:

– Phải rồi, phải rồi.

Công Tôn Lục Ngạc vội hỏi:

– Gì kia?

Dương Quá nói:

– Cái bọc này là do Chu lão tiền bối để vào túi của huynh.

Lúc này chàng đã biết Chu Bá Thông có ý ngầm giúp chàng, bèn đổi cách gọi từ "Lão Ngoan đồng" thành "Chu lão tiền bối". Công Tôn Lục Ngạc đã hiểu quá nửa, nói:

– Thì ra Lão Ngoan đồng tặng đại ca.

Dương Quá nói:

– Không phải thế. Vị tiền bối võ lâm ấy du hí nhân gian, hành sự quỉ thần khó biết, lấy cái mặt nạ và cây kéo lớn của huynh, huynh cố nhiên không biết; sau lại nhét cái bọc này vào túi áo của huynh, huynh cũng không phát giác được. Ôi, bản lĩnh của Chu lão tiền bối, một nửa huynh cũng không theo kịp.

Công Tôn Lục Ngạc gật đầu, nói:

– Đúng rồi, gia gia bảo lão lấy trộm mấy vật hệ trọng trong sơn cốc, không thể không bắt lão lại, nhưng khi lão.. cởi quần áo ra trước mặt mọi người, thì không thấy có giấu vật gì hết.

Dương Quá cười, nói:

– Lão cởi quần áo chỉ cốt đánh lừa cốc chủ, bởi vì lão đã nhét cái bọc này vào túi áo huynh rồi.

Công Tôn Lục Ngạc mở nút cái lọ nhỏ bằng ngọc phỉ thúy, nghiêng nhẹ cái lọ, đổ viên thuốc bên trong ra lòng bàn tay, đó là một viên thuốc màu đen, hình vuông, mùi tanh xộc lên mũi. Phàm là thuốc viên, thường làm hình tròn, hoặc hình bầu dục, cho dễ nuốt, đằng này lại là hình vuông, Dương Quá chưa từng thấy bao giờ. Công Tôn Lục Ngạc xem kỹ viên thuốc, rồi lắc lắc cái lọ, không còn viên nào nữa, nói:

– Chỉ có một viên, đại ca nhai luôn đi, khéo kẻo đánh rơi xuống đầm thì nguy.

Dương Quá đang định bỏ viên thuốc vào miệng, nghe nàng bảo chỉ có một viên, bất giác sững lại, hỏi:

– Chỉ có một viên thôi ư? Chỗ gia gia cô nương còn nữa hay không?

Công Tôn Lục Ngạc nói:

– Chỉ có một viên, nó mới quí. Nếu không, hà tất gia gia phải tức giận đến thế?

Dương Quá cả kinh, run run nói:

– Nói thế, cô cô của huynh khắp người cũng bị trúng thương hoa Tình, thì gia gia của cô nương cứu bằng cách nào?

Công Tôn Lục Ngạc thở dài, nói:

– Muội từng nghe đại sư huynh bảo rằng "Tuyệt Tình đơn" vốn có nhiều, về sau không biết tại sao lại chỉ còn một viên. Loại thuốc này bào chế cực khó, không thể tìm đủ các vị quí hiếm; cho nên đại sư huynh từng dặn mọi người phải hết sức đề phòng hoa Tình, chớ để gai đâm. Bị nhẹ thì vài ngày sau tự khỏi, không đáng ngại; nhưng trúng độc nặng, thì sẽ rất nguy, bởi vì "Tuyệt Tình đơn" chỉ có một viên, chỉ cứu được một người.

Dương Quá kêu lên:

– Chao ôi, sao gia gia của cô nương không tới cứu cô nương?

Công Tôn Lục Ngạc biết tâm ý của chàng, thấy chàng cho viên thuốc vào trong lọ, thì thở dài, nói:

– Dương đại ca, đại ca si tình đối với Long cô nương thế này, gia gia muội thật không biết xấu hổ! Đại ca chỉ mong muội mang viên thuốc này lên cứu Long cô nương.

Dương Quá bị nàng đoán trúng tâm sự, thì mỉm cười nói:

– Huynh vừa mong sao một người tốt bụng như cô nương thoát khỏi hiểm cảnh này, vừa mong cứu mạng cô cô của huynh. Coi như huynh có giải được độc hoa Tình, thì cũng chẳng thể sống chết dưới đầm cá sấu này. Vậy thì cứu chữa cho cô cô cần hơn.

Chàng nghĩ: "Cô cô mỹ lệ tuyệt luân, Công Tôn cốc chủ muốn lấy nàng làm vợ, cũng là lẽ thường tình. Cô cô không chịu lấy hắn, hắn bèn lừa nàng tới kiếm phòng, định giết nàng, mưu đồ thật hiểm ác; hắn thừa biết chỉ có mỗi một viên" Tuyệt Tình đơn ", đã bị người ta lấy trộm mất, cô cô bị trúng độc không thể cứu được nữa, sống thêm ba mươi sáu ngày là cùng, thế mà hắn vẫn cứ ép nàng phải thành thân với hắn, so với lũ cá sấu kia, e rằng hắn còn hung ác hơn".

Công Tôn Lục Ngạc biết dù có khuyên thế nào, chàng cũng chẳng chịu nhai viên "Tuyệt Tình đơn", nàng hối hận đi nói với chàng chỉ có một viên, bèn nói:

– Cái nấm linh chi này tuy không thể giải độc, nhưng có tác dụng cường kiện thân thể, đại ca mau nhai đi.

Dương Quá nói:

– Được!

Bèn bẻ nửa cái nấm làm hai, mình ăn một nửa, nửa kia đưa vào miệng Công Tôn Lục Ngạc, nói:

– Cũng chưa biết lúc nào gia gia của cô nương mới xuống cứu cô nương, hãy ăn một chút cho đỡ lạnh.

Công Tôn Lục Ngạc thấy vẻ ân cần của chàng, không nỡ từ chối, cũng há miệng nhai luôn. Cái nấm linh chi này trồng đã mấy trăm năm, hai người vừa nuốt vào bụng, lát sau đã cảm thấy toàn thân ấm áp dễ chịu, tinh thần phấn chấn, tâm trí cũng trở nên minh mẫn hơn. Công Tôn Lục Ngạc bỗng nói:

– Lão Ngoan đồng lấy trộm "Tuyệt Tình đơn", gia gia đương nhiên biết trước, thế mà lại bảo sẽ chữa trị cho đại ca, rõ ràng là để đánh lừa Long cô nương; ngay cả việc buộc muội đưa "Tuyệt Tình đơn" ra, cũng là hoàn toàn giả dối.

Dương Quá sớm đã nghĩ như vậy, nhưng không tiện nói để nàng đỡ đau khổ, bây giờ nghe nàng tự nói ra rồi, chàng mới nói:

– Sau khi gia gia cô nương thả cô rồi, cô nương hãy đề phòng cẩn thận, tốt nhất là nên rời khỏi sơn cốc.

Công Tôn Lục Ngạc thở dài, nói:

– Ôi, đại ca chưa biết con người gia gia muội đấy, gia gia đã đẩy muội xuống đầm cá sấu, đời nào còn để cho muội sống sót? Đại ca không muốn cho muội cùng chết với đại ca ư?

Dương Quá đang định nói vài lời an ủi, bỗng lại có một con cá sấu thong thả bò lên bờ đầm, chân trước sắp quơ tới miếng da cừu chìa ra từ trong cái bọc nhỏ. Dương Quá chợt nghĩ: "Mình chưa kịp xem miếng da cừu có gì lạ hay không". Chàng vung cây chuỳ thủ lên, nhắm chỗ chính giữa hai con mắt con cá sấu mà đâm một nhát; con dao nhỏ này cực sắc, lưỡi dao ngập sâu; con cá sấu giãy đành đạch vài cái rồi chết luôn. Dương Quá vui mừng nói:

– Chúng mình có con dao nhỏ này, lũ cá sấu gặp vận xui rồi.

Tay trái cầm miếng da cừu, tay phải chàng hướng lưỡi chủy thủ vào ánh sáng mờ phát ra từ viên dạ minh châu, để xem kỹ miếng da cừu. Miếng da cừu một mặt thô nháp, không có gì lạ; lật mặt sau, thấy có hình vẽ nhiều phòng ốc thì phải.

Dương Quá xem một hồi, thấy không có gì lạ, nói:

– Miếng da cừu này không có gì liên can.

Công Tôn Lục Ngạc vẫn ghé nhìn bên vai chàng, bỗng nói:

– Đấy là bản đồ Thủy Tiên sơn trang trong Tuyệt Tình cốc. Đại ca xem này, đây là con mương mà đại ca đi vào sơn cốc, đây là đại sảnh, đây là kiếm phòng, đan phòng, linh chi phòng..

Nàng vừa nói vừa chỉ vào bản đồ. Dương Quá chợt reo lên một tiếng, nói:

– Cô nương nhìn này, nhìn này.

Chàng chỉ gợn sóng bên dưới đan phòng. Công Tôn Lục Ngạc nói:

– Đó là đầm cá sấu. Ồ, chỗ này có thông đạo.

Hai người thấy bên cạnh đầm cá sấu có vẽ một thông đạo, thì tinh thần phấn chấn hẳn lên. Dương Quá đem bản đồ đối chiếu với địa thế của đầm cá sấu, nói:

– Nếu bản đồ vẽ thật, thì từ thông đạo này ắt phải có lối ra. Nhưng..

Công Tôn Lục Ngạc tiếp lời:

– Rất lạ là thông đạo lại đi chếch xuống dưới, đầm cá sấu đã sâu thế này, còn đi chếch xuống bên dưới nữa, thì sẽ tới đâu?

Trên miếng da cừu, thông đạo đi tới mép thì hết, không hiểu đấy là chỗ nào.

Dương Quá nói:

– Chuyện cái đầm cá sấu này, gia gia hoặc đại sư huynh của cô nương có kể cho cô nương biết hay không?

Công Tôn Lục Ngạc lắc đầu, nói:

– Đến hôm nay muội mới biết bên dưới đan phòng là đầm cá sấu đáng sợ thế này, chỉ e ngay cả đại sư huynh cũng không được biết. Nhưng.. nhưng.. nuôi ngần này cá sấu, tất định kỳ phải cho chúng ăn chứ, không biết gia gia vì sao..

Nàng nghĩ đến sự tàn ác của phụ thân, bất giác run rẩy cả người.

Dương Quá xem xét tình thế xung quanh, thấy phía sau bờ đá có một hõm tối đen, đoán là lối vào thông đạo, nhưng khoảng cách hơi xa, không thể nhìn rõ, nghĩ bụng: "Cứ cho chỗ ấy đúng là thông đạo, song không biết bên trong còn nuôi quái vật hung dữ gì nữa, có thể còn nguy hiểm hơn. Song cũng không thể ngồi đây khoanh tay chờ chết. Chi bằng mạo hiểm cầu sinh. Chỉ cần cứu Công Tôn cô nương khỏi nơi nguy hiểm, đưa" Tuyệt Tình đơn "vào miệng cô cô, coi như xong". Thế là chàng đưa chủy thủ cho Công Tôn Lục Ngạc, dặn:

– Huynh đi xem thử, cô nương đề phòng lũ cá sấu.

Chàng nhún chân một cái, nhảy ngay ra giữa đầm.

Công Tôn Lục Ngạc hoảng sợ kêu to. Dương Quá chân phải đạp lên bụng con cá sấu chết, mượn chỗ nhảy tiếp, chân trái đạp lên lưng một con cá sấu khác. Con cá sấu ấy chìm hẳn xuống nước, Dương Quá đã vọt sang bờ bên kia. Chàng đứng trên mép đầm, đưa tay sờ, reo lên:

– Quả nhiên có một cái hang lớn!

Công Tôn Lục Ngạc khinh công thua xa chàng, không dám nhảy qua. Dương Quá nghĩ, nếu trở sang cõng nàng, hai người quá nặng, không thể bay được, cũng không thể mượn cá sấu làm chỗ đặt chân; đến bước này phải mạo hiểm tới cùng, bèn gọi:

– Công Tôn cô nương, cô nương hãy cởi trường bào, nhúng nước rồi ném sang đây.

Công Tôn Lục Ngạc không rõ dụng ý, nhưng làm theo lời chàng, cởi trường bào, nhúng nước thật nhanh, buộc lại hai nút thành khoanh tròn, rồi gọi:

– Đón lấy này!

Rồi ném mạnh sang. Dương Quá đón lấy, cởi nút buộc, tìm trên vách đá một chỗ đứng vững chắc, tay trái bám chặt vào một mỏm đá chìa ra, tay phải khua khua chiếc trường bào ướt, nói:

– Cô nương hãy nghe thanh âm cho kỹ này.

Chàng vung trường bào, đập "bộp" vào cửa hang. Làm như thế ba lần, hỏi:

– Cô nương nhận biết cửa hang ở chỗ nào chưa?

Công Tôn Lục Ngạc nghe thanh âm, nhận vị trí, xác định phương vị gần xa, nói:

– Biết rồi.

Dương quá nói:

– Cô nương hãy nhảy sang, túm lấy trường bào, huynh sẽ kéo cô nương vào hang.

Công Tôn Lục Ngạc căng mắt ra nhìn, nhưng vẫn chỉ thấy phía ấy tối om om, thì rất sợ, nói:

– Muội không.. muội..

Dương Quá nói:

– Đừng sợ, nếu cô nương không túm trúng trường bào, có ngã xuống đầm, huynh sẽ nhảy xuống kéo cô nương lên, lúc trước còn không sợ lũ cá sấu, nữa là bây giờ có chủy thủ lợi hại rồi.

Nói đoạn lại quơ quơ trường bào.

Công Tôn Lục Ngạc nghiến răng, nhún chân bay người sang, nghe tiếng trường bào quơ quơ mà chộp lấy, tay phải chộp được gấu áo, tay trái thì không.

Dương Quá chỉ cảm thấy tay bị kéo xuống rất nặng, tức thời vặn cổ tay, lẳng trường bào để hất Công Tôn Lục Ngạc bay về phía cửa hang, sợ nàng đứng không vững, sau khi hất trường bào, chàng liền nhảy tới chỗ đó đưa tay đỡ nhẹ vào eo lưng nàng, đỡ nàng ngồi xuống bên cửa hang.

Công Tôn Lục Ngạc cả mừng, nói:

– Được rồi, đại ca tính giỏi thật đấy!

Dương Quá nói:

– Trong hang không biết còn có mãnh thú, độc vật quỉ quái gì không, chúng ta đành phó mặc cho số mệnh thôi.

Nói rồi chàng cúi khom người đi vào hang. Công Tôn Lục Ngạc đưa chủy thủ cho chàng, Dương Quá thì đưa trường bào cho nàng mặc vào.

Lối đi trong hang rất hẹp, hai người phải bò; vì hang ở bên đầm cá sấu, nên không khí ẩm thấp, tanh hôi. Dương Quá vừa bò vừa cười, nói:

– Sớm nay hai chúng ta còn cùng nhau ngắm hoa Tình dưới ánh ban mai trên non, nghe chim hót líu lo; ai ngờ giờ đây lại chui rúc chỗ hôi hám này, ta làm cho cô nương khổ sở quá chừng.

Công Tôn Lục Ngạc nói:

– Không phải lỗi của đại ca.

Hai người bò một hồi, lối đi rộng dần, đã có thể đứng thẳng mà đi. Đi một hồi lâu, vẫn chưa thấy tận cùng, mặt đất càng lúc càng bớt dốc nghiêng. Dương Quá nói đùa:

– Ồ, xem ra chúng ta khổ tận cam lai, sắp đến chốn đào nguyên.

Công Tôn Lục Ngạc thở dài, nói:

– Dương đại ca, đại ca lo buồn, hà tất phải cố làm cho muội vui..

Lời chưa dứt, bỗng nghe từ phía bên trái vọng lại từng tràng cười "hô hô, hô hô, hô hô!" Rõ ràng là tiếng cười, mà sao nghe giống như tiếng khóc, thê lương bi thiết dị thường. Dương Quá và Công Tôn Lục Ngạc bình sinh chưa từng nghe cái thứ tiếng cười không ra cười, khóc không ra khóc ấy; huống hồ giữa cái hang tối om om, âm thanh dị thường đột nhiên vang lên, làm cho người hoảng sợ còn hơn cả gặp độc xà quái vật. Dương Quá vốn rất bạo gan, cũng giật nảy mình, đầu cụng vào vách hang đau điếng. Công Tôn Lục Ngạc sợ toát mồ hôi hột, sởn cả gai ốc, vội ôm lấy Dương Quá.

Hai người không biết phải làm sao, tiến lên không dám, lùi lại thì tiếc. Công Tôn Lục Ngạc hỏi nhỏ:

– Là ma ư?

Ba tiếng ấy rất khẽ, không ngờ từ phía bên trái lại vang lên từng tràng nửa cười nửa khóc, rồi có tiếng nói:

– Không sai, ta là ma, ta là ma đây, hô hô, hi hi!

Dương Quá nghĩ: "Y đã tự xưng là ma, tức y không phải là ma", bèn nói to:

– Tại hạ là Dương Quá, cùng với Công Tôn cô nương hai người gặp nạn, chỉ mong thoát chết, hoàn toàn không có tà ý gì với người ngoài..

Người kia đột nhiên ngắt lời:

– Công Tôn cô nương ư? Công Tôn cô nương nào?

Dương Quá nói:

– Là Công Tôn Lục Ngạc, con gái của Công Tôn cốc chủ.

Đằng kia không có tiếng động gì, tựa hồ người kia đã biến mất tăm.

Khi người kia cười không ra cười, khóc không ra khóc, hai người đã hoảng sợ, lúc này đột nhiên lại lặng thinh, trong bóng tối càng đáng sợ hơn, hai người tựa sát vào nhau, không dám cử động.

Một lát sau, bỗng người kia quát:

– Công Tôn cốc chủ cái gì, có phải là Công Tôn Chỉ hay không?

Giọng nói đầy vẻ phẫn nộ, nhưng đã nghe rõ là giọng phụ nữ. Công Tôn Lục Ngạc đánh bạo nói:

– Gia gia của tiểu nữ đúng là Công Tôn Chỉ, lão tiền bối có quen biết với gia phụ chăng?

Người kia cười nhạt, nói:

– Ta quen biết y ư? Hi hi, ta quen biết y thôi ư?

Công Tôn Lục Ngạc không dám nói thêm. Lát sau, người kia lại quát hỏi:

– Tên ngươi là gì?

Công Tôn Lục Ngạc đáp:

– Vãn bối tên là Lục Ngạc, chữ đài trong đài hoa, chữ lục là màu xanh.

Người kia hỏi:

– Hừm, ngươi sinh năm nào, tháng nào, ngày nào, giờ nào?

Công Tôn Lục Ngạc nghĩ: "Quái nhân kia hỏi ngày sinh của mình làm gì không biết? Lỡ y dùng yêu pháp hại mình thì sao?" Bèn ghé tai hỏi nhỏ Dương Quá:

– Có nên nói ra không?

Dương Quá chưa kịp trả lời, người kia đã hỏi:

– Ngươi năm nay mười tám tuổi, sinh ngày mồng ba tháng Hai, vào giờ Tuất, phải không?

Công Tôn Lục Ngạc cả kinh, lắp bắp:

– Tiền bối.. sao tiền bối lại biết?

Đột nhiên nàng có linh tính khó bề giải thích, rằng quái nhân trong hang sẽ không hại nàng, bèn rời chỗ chạy nhanh về phía trước, qua hai khúc quành, trước mặt bỗng sáng bừng lên, chỉ thấy một bà bà trọc đầu, bán thân lõa thể, ngồi xếp chân bằng tròn dưới đất, vẻ mặt giận dữ, có uy.

Công Tôn Lục Ngạc kêu "Ối!" một tiếng kinh ngạc, đứng sững lại. Dương Quá sợ nàng gặp chuyện gì, vội chạy theo.

Đến nơi, thấy lão bà bà ngồi dưới đáy một hốc đá thiên tạo, trên đỉnh hốc đá có một lỗ hổng lớn, ánh sáng ban ngày rọi từ trên đó xuống hốc đá, từ đỉnh xuống tới đáy hốc đá phải sâu hơn trăm trượng, có lẽ lão bà bà kia đã sơ ý bị rơi qua lỗ hổng xuống hốc đá, nên không thể ra được. Từ dưới đáy hốc đá, dẫu có gọi to, người bên trên đi ngang qua cũng không nghe thấy; nhưng lão bà bà rơi từ trên cao như thế xuống đáy hốc đá mà không chết thì lạ thật. Dưới đáy hốc đá nơi ánh sáng rọi tới, có mấy cây táo lớn, không lẽ bà bà rơi xuống vướng cành cây nên thoát chết? Dương Quá thấy bà bà dùng vỏ cây, lá cây che thân, thì đoán ràng bà bà đã ở dưới hốc đá này nhiều năm, quần áo đã rách nát hết từ lâu.

Lão bà bà chẳng chú ý đến Dương Quá, chỉ chăm chú nhìn Công Tôn Lục Ngạc, rồi buồn bã nói:

– Cô nương, cô nương lớn lên xinh xắn lắm.

Công Tôn Lục Ngạc tiến lên một bước, thi lễ, nói:

– Xin chào lão tiền bối.

Lão bà bà ngửa mặt lên trời, cười vang, vẫn là cười không ra cười, khóc không ra khóc, nói:

– Lão tiền bối ư? Hô hô, hi hi!

Nói xong, sắc mặt giận dữ. Lục Ngạc không hiểu câu chào của mình vừa rồi có gì đắc tội với lão bà bà, thì hoảng sợ, quay sang cầu cứu Dương Quá.

Dương Quá nghĩ lão bà bà ở trong hốc đá lâu năm, tâm trí thất thường là lẽ đương nhiên; chàng bèn nhìn Lục Ngạc lắc đầu, mỉm cười, ngụ ý bảo nàng đừng lo; chàng đưa mắt quan sát địa hình, nghĩ cách leo lên đỉnh hốc đá. Thạch nhũ trên ấy tuy cách xa mặt đất, nhưng dựa vào khinh công của chàng, nếu mạo hiểm thì cũng có thể leo lên được lắm.

Lục Ngạc chăm chú quan sát bà bà, thấy bà bà tóc rất thưa, đã rụng gần hết, trông như trọc đầu, mặt đầy nếp nhăn, nhưng hai mắt sáng quắc có thần. Bà bà cũng nhìn Lục Ngạc không chớp mắt, hai người ấy cứ nhìn nhau, không để ý gì tới Dương Quá. Bà bà nhìn một hồi, bỗng hỏi:

– Ở eo lưng bên trái cô nương có một vết bớt màu hồng, phải vậy không?

Lục Ngạc lại cả kinh, nghĩ: "Vết bớt màu hồng trên thân thể mình, ngay gia gia còn chưa chắc biết, tại sao bà bà ở chốn này lại biết rõ đến thế? Bà bà còn biết rõ ngày sinh tháng đẻ của mình, xem chừng có quan hệ mật thiết với gia đình mình". Thế là nàng nhẹ nhàng hỏi:

– Lão tiền bối hẳn là quen biết gia gia của vãn bối, cũng quen biết mẫu thân quá cố của vãn bối, phải không?

Bà bà ngẩn người, nói:

– Quen biết mẫu thân quá cố của cô nương ư? Hô hô, dĩ nhiên ta quen biết.

Đột nhiên bà bà xẵng giọng, nói:

– Cô nương có vết bớt màu hồng hay không? Mau cởi áo ta coi, nếu nói dối nửa lời, ta sẽ lấy mạng ngươi đó.

Lục Ngạc quay nhìn Dương Quá, mặt đỏ bừng. Dương Quá vội ngoảnh mặt đi, xoay lưng về phía nàng.

Lục Ngạc cởi trường bào ra, trên eo lưng trắng ngần quả nhiên có một vết bớt màu hồng trông rất khả ái. Bà bà vừa nhìn thấy thì toàn thân run rẩy, nước mắt lưng tròng, dang rộng vòng tay, kêu lên:

– Con gái thân yêu của mẹ, mẹ thương nhớ con khổ biết bao!

Lục Ngạc nhìn mặt bà bà, đột nhiên thiên tính xúc động, nhào vào lòng bà bà, khóc gọi:

– Mẹ ơi, mẹ ơi!

Dương Quá nghe sau lưng chàng, người thì gọi con gái yêu, kẻ thì gọi mẹ, không khỏi kinh ngạc, ngoảnh lại thấy hai người kia ôm chặt lấy nhau, tấm lưng của Lục Ngạc cứ rung động từng chặp, mặt bà bà thì chan hòa nước mắt. Chàng nghĩ: "Không lẽ bà bà lại là mẹ của Công Tôn cô nương?"

Chợt thấy đôi lông mày của bà bà dựng lên, hệt như Công Tôn cốc chủ lúc xuất thủ, Dương Quá nghĩ: "Nguy rồi", vội bước lên một bước, sợ bà bà gia hại Lục Ngạc; song chỉ thấy bà bà vỗ vỗ nhẹ vào vai Lục Ngạc, quát:

– Đứng lên, nghe ta hỏi đây.

Lục Ngạc sững sờ, đứng dậy, lùi lại, chỉ kêu lên một tiếng:

– Mẹ!

Bà bà gằn giọng hỏi:

– Công Tôn Chỉ sai ngươi xuống đây làm gì? Hắn dặn ngươi dùng hoa ngôn xảo ngữ lừa dối ta, phải không?

Lục Ngạc lắc đầu, nói:

– Mẹ ơi, thì ra mẹ vẫn còn sống trên đời, mẹ!

Sắc mặt nàng vừa vui mừng, vừa đau khổ, đúng là chân tình mẫu nữ, làm gì có chút nào giả dối? Bà bà lại xẵng giọng hỏi:

– Công Tôn Chỉ hắn bảo ta chết rồi, phải không?

Lục Ngạc nói:

– Hài nhi khổ sở hơn mười năm, cứ ngỡ là con mồ côi mẹ, thì ra mẹ còn sống sờ sờ; ôi con mừng quá chừng!

Bà bà chỉ Dương Quá, hỏi:

– Hắn là ai? Ngươi dẫn hắn xuống đây làm gì?

Lục Ngạc nói:

– Mẹ, mẹ hãy nghe con kể.

Rồi nàng thuật lại đầu đuôi chuyện Dương Quá tới Tuyệt Tình cốc, trúng độc gai hoa Tình, hai người rơi xuống đầm cá sấu như thế nào; riêng chuyện Công Tôn Chỉ muốn lấy Tiểu Long Nữ, thì nàng không nhắc đến, sợ bà bà nổi cơn ghen mà buồn bực.

Chỗ nào thấy Lục Ngạc kể không rõ, bà bà căn vặn thật kỹ. Trừ chuyện Tiểu Long Nữ ra, mọi việc khác Lục Ngạc không chút giấu giếm. Bà bà càng nghe sắc mặt càng dịu dần, nhìn Dương Quá mỗi lúc một thân thiện hơn. Nghe Lục Ngạc kể Dương Quá giết cá sấu thế nào, che chở cho nàng ra sao, bà bà gật gù, khen:

– Tốt lắm, tốt lắm! Tiểu hóa tử, không uổng con gái ta thích ngươi.

Lục Ngạc đỏ bừng cả mặt, cúi đầu thẹn thùng.

Dương Quá thấy còn nhiều điều chưa tiện nói rõ lúc này, bèn nói:

– Công Tôn bá mẫu, chúng ta hãy nghĩ cách làm sao thoát ra khỏi đây.

Bà bà đột nhiên sa sầm mặt, quát:

– Công Tôn bá mẫu cái gì, từ này bốn tiếng ấy, ta cấm ngươi nhắc đến. Ngươi đừng tưởng ta chân tay vô lực, ta muốn giết người thật dễ như trở bàn tay.

Đột nhiên nghe "búp", một vật từ trong miệng bà bà bay ra, keng một tiếng, trúng vào cán cái chủy thủ Dương Quá đang nắm trong tay.

Dương Quá chỉ cảm thấy cánh tay bị chấn động mạnh, năm ngón tay tê dại, không cầm chắc được, chủy thủ rơi xuống đất. Chàng cả kinh, vội nhảy lùi lại, thấy bên cạnh chủy thủ có một hạt táo đang xoay tít dưới đất. Chàng nghĩ: "Mình đang nắm chặt chủy thủ như thế, dẫu kim luân của Kim Luân pháp vương, kim chử của Đạt Nhĩ Ba, kim đao của Công Tôn cốc chủ cũng chưa chắc đánh bật khỏi tay ta, đằng này bà bà chỉ thổi một hạt táo mà đủ đánh rơi binh khí của ta, tuy nói là ta không đề phòng, nhưng võ công của người này phải nói là cao thâm khôn lường".

Lục Ngạc thấy chàng biến sắc, vội nói:

– Dương đại ca, mẫu thân muội không có ý hại đại ca đâu.

Nàng bước tới kéo tay bà bà, nói:

– Mẹ, mẹ chỉ cho Dương đại ca cách xưng hô đi, Dương đại ca đâu đã biết.

Bà bà cười hì hì, nói:

– Được, lão nương đi không đổi họ, ngồi chẳng đổi tên; trên giang hồ người ta vẫn gọi ta là Thiết chưởng liên hoa Cầu Thiên Xích. Ngươi xưng hô với ta thế nào ư? Còn chưa quì xuống khấu đầu, gọi "nhạc mẫu đại nhân" hay sao?

Lục Ngạc vội nói:

– Mẹ, mẹ chưa biết rồi, Dương đại ca đối với con thanh thanh bạch bạch, Dương đại ca đối với con chỉ là hảo ý, không có ý gì khác.

Cầu Thiên Xích nổi giận:

– Hừ, thanh thanh bạch bạch ư? Không có ý gì khác ư? Thế quần áo của con đâu? Tại sao con chỉ mang đồ lót, rồi đi mặc trường bào của hắn?

Đột nhiên bà bà xẵng giọng:

– Tên tiểu tử họ Dương nếu định học thói bạc tình vô sỉ như Công Tôn Chỉ, thì ta sẽ cho hắn chết không có đất mà chôn. Tên tiểu tử kia, ngươi có lấy con gái ta không thì bảo?

Dương Quá thấy bà bà nói năng điên điên khùng khùng, bất chấp lý lẽ, mới gặp mặt, nói vài câu, đã bắt chàng phải lấy con gái bà ta. Nhưng nếu chàng cự tuyệt thẳng thừng, không tránh khỏi làm cho Lục Ngạc khổ tâm. Huống hồ vị bà bà này võ công cực cao, tính khí quái dị, chàng ứng đối không khéo, chỉ e bà ta lập tức hạ sát thì nguy. Hiện tại ba người đang bị hãm thân trong hốc đá, hãy tìm kế thoát thân trước đã, bèn mỉm cười, nói:

– Xin lão tiền bối cứ yên tâm, Công Tôn cô nương xả thân cứu vãn bối, vãn bối quyết không phải là nam tử bạc tình; ân đức ấy suốt đời không dám quên.

Câu này nói rất khéo, tuy không đáp ứng lấy Lục Ngạc làm vợ, nhưng bà bà nghe chừng thuận tai, nên gật đầu nói:

– Thế thì được.

Công Tôn Lục Ngạc tất nhiên hiểu ý Dương Quá, nàng nhìn chàng, ánh mắt có vẻ u oán, cúi đầu im lặng, sau đó nói với bà bà:

– Mẹ, tại sao mẹ lại ở đây? Tại sao gia gia lại bảo là mẹ đã qua đời, để cho hài nhi đau khổ mười mấy năm trời? Nếu hài nhi sớm biết mẹ ở đây, hài nhi đã liều chết đi tìm mẹ rồi.

Nàng thấy mẹ không có áo mặc, nếu đưa trường bào của Dương Quá cho mẹ, thì bản thân nàng lại hở hang, bèn xé vạt áo khoác lên vai mẹ.

Dương Quá nghĩ cái trường bào Tiểu Long Nữ khâu cho chàng bị lâm vào cảnh này, thì rất buồn, khiến cho chất độc hoa Tình bị kích động, toàn thân đau nhức một trận. Cầu Thiên Xích thấy vậy, vẻ mặt hơi thay đổi, tay phải run run thò vào bọc, tựa hồ muốn lấy ra thứ gì, nhưng rồi lại thôi, rút ra tay không.

Lục Ngạc để ý thần sắc và cử chỉ của bà bà, cầu xin:

– Mẹ, Dương đại ca bị trúng độc hoa Tình, mẹ có thể chữa trị được cho Dương đại ca phải không?

Cầu Thiên Xích buồn bã nói:

– Ta bị đẩy xuống đây, chính mình còn chẳng lo nổi, người khác không cứu ta thì chớ, ta làm sao cứu được ai?

Lục Ngạc nói:

– Mẹ cứu Dương đại ca, Dương đại ca sẽ biết cách cứu mẹ. Dẫu mẹ không cứu Dương đại ca, Dương đại ca cũng vẫn sẽ tận lực giúp mẹ. Có đúng thế không, Dương đại ca?

Dương Quá không ưa gì cái lão bà Cầu Thiên Xích cổ quái này, nhưng nể mặt Lục Ngạc, đúng là chàng sẽ tận lực giúp bà ta, bèn nói:

– Cái đó đương nhiên. Lão tiền bối ở đây lâu năm, thông thạo địa hình, xin hãy chỉ bảo đôi điều.

Cầu Thiên Xích lại thở dài, nói:

– Chốn này tuy nằm sâu dưới lòng đất, nhưng muốn thoát ra cũng không khó.

Bà bà nhìn Dương Quá một cái, nói:

– Chắc ngươi đang nghĩ, đã thoát ra không khó, tại sao cứ ở lỳ mãi đây chứ gì? Hừ, chân tay ta bị bẻ đứt hết gân mạch, mất hết võ công còn đâu.

Dương Quá sớm đã nhận thấy chân tay bà ta cử động không bình thường, Lục Ngạc thì cả kinh, hỏi:

– Mẹ từ trên cao ngã xuống, bị thương hay sao?

Cầu Thiên Xích rầu rĩ nói:

– Không phải thế! Là ta bị người hại.

Lục Ngạc càng kinh ngạc hơn, run run hỏi:

– Mẹ, kẻ nào hại mẹ vậy? Chúng ta tất phải trả thù.

Cầu Thiên Xích cười hô hô, nói:

– Trả thù ư? Ngươi có nỡ ra tay hay không? Kẻ bẻ đứt gân mạch của ta chính là Công Tôn Chỉ.

Lục Ngạc từ lúc biết Cầu Thiên Xích là mẫu thân của mình, trong lòng đã có dự cảm lờ mờ, nhưng khi nghe chính miệng mẹ nàng nói ra, nàng vẫn cứ bị chấn động mạnh, hỏi:

– Vì.. vì lẽ gì kia chứ?

Cầu Thiên Xích nhìn Dương Quá một cái, nói:

– Chỉ vì ta giết một người, một thiếu nữ xinh đẹp. Ôi, chỉ vì ta giết nữ nhân tâm ái của Công Tôn Chỉ.

Nói tới đây bà ta nghiến răng ken két. Lục Ngạc sờ sợ lùi ra xa bà bà, gần về phía Dương Quá hơn một chút. Nhất thời trong hốc đá lặng ngắt như tờ.

Cầu Thiên Xích bỗng nói:

– Các ngươi đói rồi chứ gì? Trong hốc đá chỉ có ăn táo cho đỡ đói mà thôi.

Nói đoạn bà ta bò như một con thú về phía trước, bò cực nhanh. Lục Ngạc và Dương Quá thấy tình cảnh đó cảm thấy thê lương. Song Cầu Thiên Xích đã quen bò như thế mười mấy năm nay, không cho là phiền.

Lục Ngạc định tới dìu bà ta, thì thấy bà ta nằm xuống dưới gốc một cây táo lớn.

Không biết năm nào tháng nào, gió thổi hạt táo qua lỗ hổng trên đỉnh hốc đá, rơi xuống dưới này, rồi hạt táo gặp đất, nảy mầm, thành cây, sau đó ra hoa, kết quả; dần dần mọc thành vườn táo năm, sáu chục cây lớn nhỏ thế này. Bấy giờ nếu không có hạt táo rơi xuống đây, hoặc rơi xuống nhưng không nảy mầm thành cây táo thì Dương Quá và Lục Ngạc lúc tới hốc đá này sẽ nhìn thấy một đám xương trắng và sẽ không thể ngờ đấy là di cốt của một vị dị nhân võ lâm. Lục Ngạc càng không thể ngờ đó chính là di cốt của mẹ nàng.

Cầu Thiên Xích nhặt dưới đất một hạt táo, bỏ vào miệng, ngẩng đầu thổi một cái, hạt táo bắn lên cao mấy trượng, trúng vào một cành cây, làm cho cành đó rung động một trận, mấy chục trái táo rơi xuống lộp độp.

Dương Quá gật đầu, nghĩ thầm: "Thì ra bà ta bị bẻ đứt gân mạch chân tay, mới buộc phải luyện thành tuyệt kỹ phun hạt táo, đủ thấy trời không chặn hết đường sống của con người". Nghĩ thế, tinh thần chàng bất giác phấn chấn hơn.

Lục Ngạc nhặt táo, đưa mời mẹ và Dương Quá ăn, nàng cũng ăn vài trái. Trong hốc đá dưới lòng đất, mời khách hầu mẹ, cử chỉ đâu ra đấy, cứ y như một nữ chủ nhân trẻ tuổi.

Cầu Thiên Xích gặp thảm cảnh trong đời, nỗi oán hận tích chứa trong lòng mười mấy năm, đừng nói bà ta bản tính thô bạo, ngay một người hiền lành cũng sẽ biến thành kẻ bất cận nhân tình, nhưng tình mẹ con là thuộc tính bẩm sinh, thấy đứa con gái ngày thương đêm nhớ của mình khỏe mạnh xinh xắn, xử sự đâu ra đó thì tình thương dần dần chiếm ưu thế, bà ta hỏi:

– Công Tôn Chỉ nói xấu những gì về ta?

Lục Ngạc nói:

– Gia gia không hề nhắc đến mẹ, hồi nhỏ hài nhi thường hỏi gia gia là hài nhi có giống mẹ hay không? Còn hỏi mẹ bị bệnh gì mà qua đời? Gia gia nổi giận, mắng hài nhi một trận, dặn từ sau không được hỏi. Mấy năm sau hài nhi lại hỏi, lại bị gia gia mắng.

Cầu Thiên Xích hỏi:

– Thế ngươi nghĩ sao?

Lục Ngạc nói:

– Hài nhi luôn đoán rằng mẹ nhất định vừa xinh đẹp, vừa hiền hòa, gia gia thương nhớ mẹ quá chừng, cho nên sau khi mẹ qua đời, mỗi khi ai nhắc đến mẹ, gia gia lại đau khổ; bởi thế từ đấy hài nhi không dám hỏi nữa.

Cầu Thiên Xích cười khẩy, nói:

– Bây giờ thì ngươi hoàn toàn thất vọng rồi chứ gì? Mẹ của ngươi vừa không xinh đẹp, lại chẳng hiền hòa, mà chỉ là một bà lão xấu xí, hung dữ. Sớm biết thế này, ta nghĩ ngươi không gặp ta thì hơn.

Lục Ngạc đưa hai tay ôm lấy cổ bà ta, dịu dàng nói:

– Mẹ, ý nghĩ của hai mẹ con ta giống nhau mà.

Rồi quay sang phía Dương Quá, nói:

– Dương đại ca, mẹ của muội đẹp đấy chứ, đúng không? Mẹ của muội đối tốt với muội, với cả đại ca, phải không?

Giọng nói của nàng đầy vẻ chân thành, trong lòng nàng, quả thật mẹ là người tốt nhất trong thiên hạ.

Dương Quá nghĩ: "Bà ta thời trẻ có thể đẹp, chứ bây giờ thì đẹp cái nỗi gì? Đối với cô nương hẳn là tốt, còn đối với ta thì vị tất bà ấy có hảo tâm". Nhưng Lục Ngạc đã hỏi vậy, chàng đành trả lời:

– Phải, cô nương nói rất đúng.

Giọng nói của chàng rõ ràng không thành khẩn như Lục Ngạc, Cầu Thiên Xích nghe lập tức hiểu ngay, nghĩ: "Ông trời thương hại, cho hai mẹ con ta được gặp nhau; hôm nay nó trìu mến thế, nhưng khó được như vậy mãi; nỗi oan ức của ta bấy lâu, ta phải nói rõ cho nó biết mới được". Thế là bèn nói:

– Ngạc nhi, ngươi hỏi ta vì sao thân hãm chốn này, vì sao Công Tôn Chỉ bảo ta đã chết, ngươi hãy ngồi xuống, ta thong thả kể cho mà nghe.

Cầu Thiên Xích chậm rãi kể:

– Ông tổ của Công Tôn Chỉ làm quan đời nhà Đường, sau tránh loạn An sứ, mang gia tộc di cư đến u cốc này. Ông tổ làm quan võ, Công Tôn Chỉ học võ nghệ gia truyền, cố nhiên là có thể coi y giỏi hơn người truyền thụ. Nhưng võ công thượng thừa thật ra là do ta dạy cho y.

Dương Quá và Lục Ngạc cùng ồ lên bất ngờ.

Cầu Thiên Xích kể tiếp:

– Các ngươi còn nhỏ, dĩ nhiên không biết đạo lý bên trong chuyện đó. Bang chủ bang Thiết Chưởng "Thiết Chưởng thủy thượng phiêu" Cầu Thiên Nhẫn chính là thân huynh trưởng của ta. Dương Quá, ngươi hãy kể cho Ngạc nhi nghe một chút lai lịch bang Thiết Chưởng.

Dương Quá ngẩn ra, nói:

– Bang Thiết Chưởng ư? Đệ tử kiến văn hạn hẹp, thực không biết bang Thiết Chưởng là gì.

Cầu Thiên Xích lớn tiếng mắng:

– Ngươi dám nói dối trước mặt ta? Uy danh của bang Thiết Chưởng chấn động đại giang nam bắc, cùng với Cái Bang là hai đại bang hội trong thiên hạ, tại sao ngươi lại không biết?

Dương Quá nói:

– Cái Bang thì vãn bối có nghe kể, nhưng bang Thiết Chưởng..

Cầu Thiên Xích mắng:

– Thế cũng đòi học võ nghệ, đến bang Thiết Chưởng cũng không biết..

Lục Ngạc thấy mẫu thân giận đỏ mặt tía tai, vội khuyên:

– Mẹ, Dương đại ca chưa đến hai mươi tuổi, từ nhỏ đã theo sư phụ luyện công trong thâm sơn, sự tình của võ lâm thế nào, Dương đại ca làm sao biết được kia chứ.

Cầu Thiên Xích mặc kệ lời con, miệng vẫn lầu bầu khó chịu.

Hai chục năm trước, thanh thế của bang Thiết Chưởng trên giang hồ quả rất hưng thịnh, nhưng tại cuộc luận kiếm lần thứ hai ở Hoa Sơn, bang chủ bang Thiết Chưởng Cầu Thiên Nhẫn đã qui y Phật môn, bái Nhất Đăng đại sư làm thầy, nên bang Thiết Chưởng lập tức tan rã. Khi đó Dương Quá vừa mới chào đời, sau này không nghe ai kể, tất nhiên chàng không biết. Bây giờ nghe Cầu Thiên Xích hỏi, chàng cứ há hốc miệng, không thể trả lời. Cầu Thiên Xích thì sống ở Tuyệt Tình cốc đã ngót ba mươi năm, cũng không nghe ai kể về các biến động trên giang hồ, chỉ biết bang Thiết Chưởng xưng hùng mấy trăm năm, hiện tại chắc càng hưng vượng, nghe Dương Quá bảo không biết gì về bang Thiết Chưởng, thì dĩ nhiên bà ta nổi cơn lôi đình.

Dương Quá tự dưng bị Cầu Thiên Xích mắng nhiếc một hồi, ban đầu chàng còn nhịn, sau nghe bà ta càng mắng càng dùng lời lẽ thậm tệ, thì tức giận, định đốp lại vài câu nhưng vừa ngẩng lên định nói, thì thấy Lục Ngạc chằm chằm nhìn mình, ánh mắt hết sức dịu dàng, âu yếm, như kẻ có lỗi. Chàng mềm lòng, nghĩ: "Mẹ nàng chửi mắng càng tệ, thì nàng đối với ta càng tốt. Mình chỉ cần xem nhu tình của mỹ nhân, chẳng cần chú ý đến lời lẽ của bà lão làm gì". Lòng hết bực, trí óc chợt lóe sáng, chàng bỗng nhớ lại: "Võ công của Hoàn Nhan Bình cô nương cùng một lộ với Công Tôn Chỉ thì phải, nàng ta bảo đã học công phu Thiết Chưởng, chắc là nàng ta có quan hệ với bang Thiết Chưởng". Chàng nhắm mắt nhớ lại đao pháp, quyền pháp mà Hoàn Nhan Bình sử dụng khi đấu với Gia Luật Tề, chàng nhớ lại được bảy, tám phần; rồi nhớ lại trận đấu mấy giờ trước đây giữa mình với Công Tôn Chỉ, càng lúc càng trở nên rõ ràng, bèn reo lên:

– Ôi, đệ tử nhớ ra rồi!

Cầu Thiên Xích hỏi:

– Nhớ cái gì?

Dương Quá nói:

– Ba năm trước, đệ tử từng gặp một vị kỳ nhân võ lâm động thủ với mười tám hảo hán giang hồ. Vị đó một mình tay không đối địch với mười tám người, kết quả là bên đối phương chín người bị trọng thương, chín người bị chết. Vị kỳ nhân kia nghe bảo là thuộc bang Thiết Chưởng.

Cầu Thiên Xích vội hỏi:

– Hình dạng vị đó thế nào?

Dương Quá nói đại:

– Người ấy đầu trọc, tuổi chừng lục tuần, mặt hồng hào, thân hình cao lớn, mặc áo bào xanh, tự xưng họ Cầu.

Cầu Thiên Xích liền quát:

– Nói láo! Hai vị ca ca của ta đầu không cạo trọc, thân hình thấp nhỏ, chưa khi nào mặc áo bào xanh. Ngươi thấy ta thân cao đầu trọc, tưởng ca ca của ta cũng thế chứ gì?

Dương Quá nghĩ bụng: "Nguy rồi!" nhưng vẻ mặt thản nhiên, cười nói:

– Lão tiền bối đừng nóng, đệ tử đâu có bảo vị đó là ca ca của lão tiền bối; không lẽ thiên hạ ai mang họ Cầu cũng đều là ca ca của lão tiền bối hay sao?

Cầu Thiên Xích không bắt bẻ được, đành hỏi:

– Thế ngươi thấy võ công của người ấy ra sao?

Dương Quá đứng lên, diễn lại vài đường quyền pháp của Hoàn Nhan Bình, rồi bổ sung chưởng thế thân pháp của Công Tôn Chỉ, sau đó chàng càng diễn càng thuận tay, trong hốc đá quyền phong cứ ù ù, chưởng ảnh cứ chập chờn, chiêu thức hao hao như Hoàn Nhan Bình, nhưng cao hơn nhiều lần.

Cầu Thiên Xích cao hứng nói:

– Ngạc nhi, Ngạc nhi, đó chính là công phu của bang Thiết Chưởng ta, con hãy nhìn cho kỹ.

Trong lúc Dương Quá diễn lại, Cầu Thiên Xích ở bên ngoài miệng nói tay chỉ, giảng giải những chỗ lợi hại trong quyền cước. Dương Quá cười thầm, nghĩ bụng: "Nếu diễn tiếp, chỉ e lộ tẩy mất", bèn thu thế, nói:

– Vị kỳ nhân võ lâm nọ đánh đến đây thì đại thắng, không đánh nữa.

Cầu Thiên Xích thập phần hoan hỉ, nói:

– Rất nhiều chiêu thức ngươi nhớ sai, thủ pháp cũng không đúng; nhưng sử được như thế cũng không dễ chút nào. Thế vị kỳ nhân võ lâm nọ tên là gì?

Dương Quá nói:

– Vị kỳ nhân võ lâm nọ đại thắng bèn lẳng lặng bỏ đi. Đệ tử chỉ nghe chín người bị thương nằm ngổn ngang dưới đất oán trách lẫn nhau, họ không dám hỏi tên vị lão gia tử họ Cầu bang Thiết Chưởng kia.

Cầu Thiên Xích vui vẻ nói:

– Vị kia quá nửa là đệ tử của ca ca ta rồi.

Bà ta bẩm sinh hiếu võ, hơn mười năm nay chân tay khó cử động, lúc này thấy Dương Quá diễn xuất công phu bản môn thì vui thích, thế là thao thao bất tuyệt giảng cho hai người nghe quyền pháp và khinh công của bang Thiết Chưởng.

Dương Quá nóng lòng ra khỏi nơi này để trao "Tuyệt Tình đơn" cho Tiểu Long Nữ uống, tuy nghe giảng về võ công thượng thừa kể cũng có ích, nhưng nghĩ đến Tiểu Long Nữ đang bị khổ sở, thì đâu còn bụng dạ nào nghiên cứu võ công, bèn nháy mắt ra hiệu cho Lục Ngạc. Lục Ngạc hiểu ý, nói:

– Mẹ, mẹ truyền thụ võ công cho gia gia khi nào?

Cầu Thiên Xích tức giận, nói:

– Hãy gọi y là Công Tôn Chỉ, không có gia gia gia giảm gì nữa!

Lục Ngạc nói:

– Vâng, mẹ kể luôn đi!

Cầu Thiên Xích hậm hực, nói:

– Đấy là chuyện hơn hai chục năm trước. Hai vị ca ca của ta gây rắc rối, tranh nhau..

Lục Ngạc ngắt lời:

– Hài nhi có hai vị cữu cữu ư?

Cầu Thiên Xích nói:

– Ngươi không biết sao?

Giọng xẵng hẳn, đầy ý trách cứ. Lục Ngạc nghĩ: "Làm sao con biết kia chứ?" bèn nói:

– Vâng, thì có ai kể cho hài nhi đâu.

Cầu Thiên Xích thở dài, nói:

– Ngươi.. ngươi quả nhiên không biết gì thật. Đáng thương! Đáng thương! Hai vị cữu cữu của ngươi là huynh đệ song sinh, đại cữu cữu là Cầu Thiên Trượng, nhị cữu cữu là Cầu Thiên Nhẫn. Hai vị cữu cữu giống nhau như đúc về tướng mạo, giọng nói; nhưng cách đối xử và tính nết thì khác hẳn nhau. Nhị ca võ công cực cao, đại ca chỉ bình bình mà thôi. Võ công của ta là do nhị ca đích thân truyền thụ. Đại ca thì thân với ta hơn nhiều. Nhị ca là bang chủ bang Thiết Chưởng, công việc đã bận bịu, lại chuyên cần luyện công, ít thời gian gặp ta, nên khi truyền thụ võ công, nhị ca rất nghiêm khắc, ít lời. Đại ca thì rất thân mật với ta, lúc nào cũng luôn miệng muội muội. Sau đại ca cãi nhau với nhị ca, thì ta đứng về phía đại ca.

Lục Ngạc hỏi:

– Mẹ, hai vị cữu cữu gây chuyện rắc rối gì vậy?

Cầu Thiên Xích bỗng mỉm cười, nói:

– Chuyện đó bảo là lớn thì lớn, bảo là nhỏ thì nhỏ, chỉ tại nhị ca quá cổ lỗ. Nên nhớ nhị ca làm bang chủ bang Thiết Chưởng, tám chữ "Thiết Chưởng thủy thượng phiêu Cầu Thiên Nhẫn" lừng lẫy giang hồ, còn danh tiếng Cầu Thiên Trượng của đại ca thì ít người hay biết. Khi xuất ngoại hành tẩu, để cho tiện lợi, đại ca có khi mượn tên nhị ca. Hai người tướng mạo giống nhau, lại là thân huynh đệ, mượn tên một chút thì đâu có gì ghê gớm? Song nhị ca không chấp nhận, bảo đại ca làm như thế là lừa dối. Đại ca hiền lành, bị nhị ca mắng nhiếc, chỉ cười hì hì. Có một lần nhị ca mắng đại ca dữ quá, chẳng nể nang gì đại ca. Ta ở bên cạnh, không nhịn được, mới lên tiếng bênh đại ca, nhận lỗi về mình, thế là nhị ca với ta cãi nhau một trận to, ta cả giận rời bỏ đỉnh Thiết Chưởng, từ đấy không quay về nữa. Ta một mình bôn ba giang hồ, có một lần truy sát một tặc nhân, vô ý đến Tuyệt Tình cốc này, cũng là nghiệt chướng kiếp trước, mới gặp.. tên ác tặc.. tên ác tặc Công Tôn Chỉ, thành thân với y. Ta hơn y mấy tuổi, võ công cũng cao hơn nhiều, sau khi thành thân, ta không chỉ truyền thụ hết toàn thân võ công cho y, mà còn chăm lo chu đáo mọi việc quần áo cơm nước, không để y phải vất vả chút nào. Võ công gia truyền của y kể cũng xảo diệu, nhưng có quá nhiều sơ hở, hoàn toàn nhờ ta dày công suy tính bổ túc. Có một phen Tuyệt Tình cốc bị cường địch tấn công, nếu không có ta liều chết chống trả, đánh lui chúng thì Tuyệt Tình cốc đã bị thiêu hủy rồi. Ai ngờ tên ác tặc chó má lấy oán trả ân, đủ lông đủ cánh rồi liền quên phắt bản lĩnh của mình nhờ đâu mà có, chẳng nhớ lúc nguy nan ai là người đã cứu mạng y.

Đến đây bà ta ngoạc mồm ra mà chửi bằng những lời tục tằn.

Lục Ngạc đỏ bừng cả mặt, nghe mẹ chửi cha thậm tệ trước mặt Dương Quá, nghĩ thật quá đáng, cứ luôn miệng gọi "Mẹ, mẹ", nhưng không ngăn được. Dương Quá vốn căm hận Công Tôn Chỉ, nghe bà ta chửi bới hắn thì khoái trá, cứ chêm vài lời, thêm dầu vào lửa, khiến Cầu Thiên Xích càng cao hứng; đấy là Dương Quá nể mặt Lục Ngạc, chứ không thì chàng cũng phải chửi Công Tôn Chỉ cho bõ tức.

Cầu Thiên Xích chửi chán chê, không còn ý gì mới, ý cũ cũng đã lặp lại đôi lần, mới đành ngừng chửi, kể tiếp:

– Cái năm ta hoài thai ngươi, Ngạc nhi, người phụ nữ bụng mang dạ chửa tính khí không tránh khỏi nóng nảy, tên ác tặc ngoài mặt tỏ ra tử tế, ai ngờ y lén lén lút lút hò hẹn với con tặc a hoàn trong sơn cốc. Sau khi ta sinh ngươi rồi, y và con tặc nô tì vẫn tiếp tục đi lại với nhau, ta không hề hay biết, cứ nghĩ hai người đã có đứa con gái khả ái thì y đối với ta sẽ càng tốt hơn mới phải. Ta bị đôi cẩu nam cẩu nữ ấy lừa dối mấy năm trời, mới tình cờ nghe thấy tên cẩu tặc và con tặc tì bàn nhau cao chạy xa bay khỏi Tuyệt Tình cốc, không bao giờ trở lại nữa.

Bấy giờ ta nấp sau một gốc cây lớn, nghe hai đứa bàn nhau, rằng sợ ta võ công cao cường, phải bỏ chạy càng xa càng tốt, y lại nói ta quản y quá chặt, làm cho y mất hết tự do, y bảo chỉ có sống với con tiện tì kia, cuộc đời y mới có lạc thú. Bao năm ta cứ tưởng y toàn tâm toàn ý với ta, giờ nghe y nói vậy thì tức muốn ngất đi, chỉ định xông ra cho mỗi đứa một chưởng chết tươi. Nhưng ta nghĩ đến ân nghĩa phu thê, còn cho rằng dẫu sao y cũng là người rất tử tế, chắc là bị con tiện tì kia dùng hoa ngôn xảo ngữ làm cho y mê muội, nên ta cố nén giận, đứng sau gốc cây nghe tiếp.

Chỉ nghe hai đứa ấy bàn nhau, nói hai ngày nữa, khi ta mải luyện công trong tịnh thất, bảy ngày bảy đêm không ra khỏi nhà, chúng sẽ thừa cơ bỏ trốn, đợi khi ta phát giác, thì đã cách bảy ngày, không tài gì đuổi kịp. Lúc ấy ta rùng mình, nghĩ bụng đúng là trời thương cho ta biết việc này, nếu không để chúng trốn đi lâu rồi, ta biết đi tìm nơi đâu?

Nói đến đây, Cầu Thiên Xích nghiến răng ken két, căm tức hết mức.

Lục Ngạc nói:

– Tì nữ nọ tên là gì? Diện mạo chắc phải xinh đẹp lắm?

Cầu Thiên Xích nói:

– Xinh cái rắm chó! Con tiện tì ấy chỉ được cái bảo sao nghe vậy, Công Tôn Chỉ bảo gì nó cũng vâng dạ, lại dùng toàn những lời đường mật, nào Công Tôn Chỉ là người tốt nhất, là đại anh hùng có bản lĩnh cao nhất trên thế gian, khiến cho tên ác tặc mê tơi. Hừ, con tiện tì ấy tên là Nhu Nhi. Cái gã ác tặc mười tám đời không tích đức Công Tôn Chỉ kia bản lĩnh thế nào, ta đâu có lạ gì? Như thế mà đòi là đại anh hùng ư? Y chưa bằng cái móng tay của đại ca ta, càng không thể so với nhị ca ta..

Dương Quá nghe đến đây, không khỏi thương hại thay cho Công Tôn Chỉ, nghĩ: "Hẳn là bà vợ quản thúc chồng chặt quá, mọi việc lớn việc nhỏ đều phải răm rắp làm theo lệnh bà ta, hắn còn bị bà ta khinh thường, nên cuối cùng sinh lòng phản bội". Lục Ngạc sợ bà mẹ lại chửi bới không dứt, vội hỏi:

– Mẹ, sau đó thế nào?

Cầu Thiên Xích kể:

– Ồ, bấy giờ hai tên cẩu nam cẩu nữ hẹn giờ Thìn ngày thứ ba lại gặp nhau ở chỗ này dể cùng trốn đi; trong hai ngày đó phải hết sức cẩn thận, không để lộ dấu vết kẻo ta phát hiện. Rồi hai đứa còn nói nhiều lời nhăng nhít với nhau; con tiện tì đắm đuối nhìn gã cẩu nam, làm như y là thần thánh pháp lực vô biên, là hoàng đế không bằng. Gã cẩu nam thì dương dương đắc ý lúc huênh hoang vỗ ngực, lúc ôm ôm ấp ấp mà hôn hít con tiện tì, khiến ta tức chết đi được. Sáng sớm ngày thứ ba, ta giả trang ngồi luyện công trong tịnh thất, Công Tôn Chỉ ở bên ngoài nhòm trộm vào mấy lần, vẻ mặt hí hửng lắm. Đợi y đi rồi, ta mới lập tức thi triển khinh công đến chỗ chúng hẹn nhau. Con tiện tì vô sỉ đã chờ sẵn tại đó từ sớm. Ta không nói gì, lẳng lặng tóm lấy nó quẳng vào bụi hoa Tình..

Dương Quá và Lục Ngạc cùng kêu ồ lên một tiếng. Cầu Thiên Xích nhìn hai người một cái, kể tiếp:

– Lát sau Công Tôn Chỉ cũng tới, thấy Nhu Nhi lăn lộn rên rỉ trong bụi hoa Tình, thì kinh hoàng thế nào khỏi nói cũng biết. Ta từ sau gốc cây nhảy ra, tóm lấy Mạch môn của y, cũng lẳng y vào bụi hoa Tình. Trong sơn cốc vốn có loại thuốc giải độc hoa Tình gia truyền gọi là "Tuyệt Tình đơn". Công Tôn Chỉ lăn lộn, kéo con tiện tì ra khỏi bụi gai, chạy về đan phòng lấy "Tuyệt Tình đơn" cứu chữa. Hô hô, y nhìn thấy gì, các người biết không?

Lục Ngạc nói:

– Mẹ, thế Công Tôn Chỉ thấy gì?

Dương Quá nghĩ bụng: "Chắc bà bà đã hủy hết" Tuyệt Tình đơn "chứ sao nữa?"

Cầu Thiên Xích quả nhiên nói:

– Hô hô, y thấy trên bàn trong đan phòng đặt một chậu thạch tín, mấy trăm liều "Tuyệt Tình đơn" ngâm trong đó. Muốn uống "Tuyệt Tình đơn", không khỏi ngộ độc thạch tín. Không uống thì cũng chết. Bài thuốc pha chế "Tuyệt Tình đơn" nguyên là bí mật gia truyền, gồm một số vị dược liệu khó kiếm, phải phơi xuân lộ thu sương, ba năm sau mới chế thành. Công Tôn Chỉ vội chạy sang tịnh thất, quì xuống xin ta tha mạng cho hai đứa chúng nó. Y biết ta nghĩ tình phu thê, chắc chắn không hủy hết "Tuyệt Tình đơn", còn giữ lại một ít. Y liên tiếp tự vả vào mặt mình, thề nếu ta tha mạng cho hai đứa, y sẽ lập tức đuổi Nhu Nhi ra khỏi sơn cốc, vĩnh viễn không gặp lại nó, không phản bội ta nữa. Ta nghe y cầu xin, mà cứ luôn miệng nhắc đến Nhu Nhi, thì trong lòng rất buồn, bèn lấy ra một viên "Tuyệt Tình đơn" đặt lên bàn, nói: "Ta chỉ lưu lại một viên, tức là chỉ cứu được một người. Cứu con tiện tì hay cứu mình, cái đó tùy ngươi". Công Tôn Chỉ lập tức cầm viên thuốc "Tuyệt Tình đơn" đi sang đan phòng. Ta vội đi theo. Lúc ấy con tiện tì đang quằn quại đau đớn ở dưới đất. Công Tôn Chỉ nói: "Nhu Nhi, ta cùng chết với nàng đây". Nói rồi rút kiếm ra. Nhu Nhi thấy thấy y tình thâm nghĩa trọng, thì hết sức cảm kích, cố gượng dậy, nói: "Hảo, hảo, thiếp sẽ cùng chàng kết thành phu phụ dưới cõi âm". Công Tôn Chỉ liền vung kiếm đâm chết nó. Ta ở bên ngoài cửa sổ nhìn thấy, thầm kinh hãi, chỉ sợ Công Tôn Chỉ sẽ đưa kiếm cứa cổ tự vẫn, nhưng không, y đưa thanh kiếm chùi chùi vào người Nhu Nhi cho sạch máu, rồi tra kiếm vào bao, ngoảnh ra cửa sổ, nói: "Xích tỷ tỷ, ta cam lòng hối hận, đã tự tay giết con tiện tì rồi, tỷ tỷ hãy tha thứ cho ta". Nói rồi y cho viên "Tuyệt Tình đơn" vào miệng. Ta rất bất ngờ, sự việc chứng tỏ y đã chân thành hối hận, thì ta cũng mãn ý. Hôm ấy Công Tôn Chỉ mở tiệc trong phòng, một mực xin ta tha tội, nói y đáng chết, nói hàng mấy trăm câu thề độc, rằng từ rày quyết không tái phạm.

Dương Quá nghĩ thầm: "Bà bà bị hắn lừa rồi!" Lục Ngạc rưng rưng nước mắt. Cầu Thiên Xích quát:

– Sao vậy? Ngươi thương con tiện tì hả?

Lục Ngạc lắc đầu không nói, nàng quả thật đau đớn vì người cha tàn nhẫn tuyệt tình.

Cầu Thiên Xích kể tiếp:

– Ta uống hai chén rượu, mỉm cười, lấy trong túi ra một viên "Tuyệt Tình đơn" nữa, đặt lên bàn, cười nói: "Vừa rồi ngươi hạ thủ quá vội, ta vốn chỉ định thử lòng ngươi một chút, ngươi nài nỉ thêm vài câu là ta sẽ đưa cho một viên" Tuyệt Tình đơn ", có phải đã cứu được mỹ nhân rồi không?"

Lục Ngạc vội hỏi:

– Mẹ, nếu lúc trước Công Tôn Chỉ cầu xin thêm, mẹ sẽ cho thêm một viên "Tuyệt Tình đơn" thật chứ?

Cầu Thiên Xích ngẫm nghĩ một lát, nói:

– Ta cũng không biết. Bấy giờ ta cũng từng nghĩ, chi bằng cứu mạng con tiện tì, đuổi nó đi, thì CôngTôn Chỉ sẽ cảm kích ta, không chừng sẽ cải tà qui chính, không dám làm bậy nữa. Nhưng Công Tôn Chỉ chỉ nghĩ đến mạng sống của y, vội vàng giết chết Nhu Nhi, vậy y không thể trách ta được. Công Tôn Chỉ cầm viên "Tuyệt Tình đơn" lên ngắm chán chê, rồi nâng chén, nói: "Xích tỷ tỷ, chuyện qua rồi, thôi không nhắc đến nữa. Con a hoàn kia chết rồi càng tốt. Tỷ tỷ hãy cạn chén này với ta". Công Tôn Chỉ cứ chuốc rượu mãi cho ta, ta thì đang vui, nên say mèm lúc nào cũng không biết. Lúc tỉnh dậy, đã nằm ở hốc đá này, gân mạch chân tay bị bẻ đứt hết. Tên ác tặc cũng chả dám nhìn mặt ta lấy một lần. Hừ, chắc y cho rằng xương cốt của ta cũng đã nát vụn cả rồi.

Cầu Thiên Xích kể xong sự việc, mắt lộ hung quang, thần sắc rất đáng sợ. Dương Quá và Lục Ngạc đều ngoảnh mặt đi, không dám nhìn mặt bà ta. Rất lâu, ba người không nói gì.

Lục Ngạc nhìn quanh, thấy nơi đây chỉ đá sỏi, cây lá, cỏ dại, buồn rầu hỏi:

– Mẹ, mẹ ở trong cái hốc đá này hơn mười năm, chỉ nhờ ăn táo mà sống thôi ư?

Cầu Thiên Xích nói:

– Phải, không lẽ tên ác tặc ngày ngày mang cơm đến cho ta hay sao?

Lục Ngạc ôm mẹ, thốt lên:

– Mẹ!

Dương Quá nói:

– Công Tôn Chỉ có nói gì với lão tiền bối về đường ra khỏi cái hốc đá này hay không?

Cầu Thiên Xích cười nhạt, nói:

– Ta sống với y nhiều năm, không hề biết bên dưới gia trang lại có cái hốc đá này, nếu hốc đá này có lối ra, tên ác tặc đã chẳng quẳng ta xuống đây. Lũ cá sấu thì quá nửa là y nuôi sau này, y sợ cuối cùng ta thoát ra được.

Dương Quá đi vòng quanh cái hốc đá một vòng, thấy ngoài lối vào đây, không có bất cứ thông lộ nào khác; ngẩng đầu nhìn lên lỗ hổng trên đỉnh hốc đá, thấy khoảng cách phải trên trăm trượng, tuy có mấy cây táo lớn, nhưng bất quá chỉ cao bốn, năm trượng, có chồng hai chục cây lên nhau, cũng chưa tới đỉnh. Chàng nghĩ một hồi, quả thực thúc thủ vô sách, bèn nói:

– Vãn bối leo lên cây xem thử.

Chàng liền nhảy lên một cây táo lớn, leo tới ngọn, nhìn lên vách đá, thấy nó lồi lõm, chứ không trơn trượt như ở sát dưới đáy hốc đá. Chàng nín thở, từ ngọn cây bám vách đá mà leo lên, mỗi lúc một cao, lòng mừng thầm, chàng ngó xuống, nói với Lục Ngạc:

– Công Tôn cô nương, nếu huynh leo được ra ngoài, huynh sẽ thả dây xuống kéo hai người lên.

Chàng leo lên chừng sáu bảy chục trượng, nhờ khinh công trác tuyệt, mấy phen hóa hiểm thành an, nhưng khi còn cách đỉnh hốc đá bảy, tám trượng, thì vách đá nhẵn nhụi dị thường, không còn chỗ đặt chân, bám tay, đã thế còn nghiêng vào trong, chỉ có rắn mối may ra bò được không rơi mà thôi. Dương Quá quan sát hình thế xung quanh, lỗ hổng trên đỉnh hốc đá có đường kính hơn một trượng, đủ để chui ra chui vào dễ dàng, trong óc đã có dự tính; chàng bèn tụt xuống đáy hốc đá, nói:

– Có thể ra được! Nhưng phải bện một sợi dây thật dài.

Chàng rút chủy thủ, bóc vỏ cây táo, bện một sợi dây. Công Tôn Lục Ngạc cả mừng, giúp chàng một tay, hai người bện rất nhanh, cũng mất hơn hai canh giờ, đến lúc sắc trời hoàng hôn, mới bện xong một sợi dây dài bằng vỏ cây.

Dương Quá cầm một đoạn sợi dây, dùng sức kéo mạnh mấy cái, nói:

– Không đứt được!

Chàng chặt một cành táo dài chừng một trượng rưỡi, buộc một đầu sợi dây vào giữa cành, rồi leo lên. Leo đến hết mức có thể leo, thì hai chân chàng sử công phu Thiên cân trụy, đứng vững trên vách đá, vận sức vào hai tay, quát một tiếng "Lên này!"

Chàng tung cành cây lên lỗ hổng. Chàng sử kình vừa vặn, khi cành cây rơi xuống ở thế nằm ngang, vừa hay vắt ngang giữa lỗ hổng. Chàng kéo dây, làm cho cành cây xê dịch sang mép lỗ hổng, hai đầu cành cây nằm chắc một chỗ, kéo thử sợi dây vài lần, biết là cành cây vắt qua chỗ chắc chắn, chịu được trong lượng cơ thể chàng. Thế là chàng hai tay bám vào sợi dây mà leo lên; cúi xuống, thấy hai mẹ con Cầu Thiên Xích và Lục Ngạc trong ánh sáng mông lung chỉ như hai chấm đen nho nhỏ. Chàng dồn sức vào tay, leo lên rất nhanh; trong giây lát đã bám tới cành cây vắt ngang bên mép lỗ hổng. Chàng co mạnh tay, hô một tiếng, đã bay người ra khỏi lỗ hổng, rơi trên mặt đất.

Chàng hít một hơi dài, đứng thẳng dậy, thấy trăng sáng vừa nhô lên sau núi. Sau khi bị giam hãm ở đầm cá sấu tối tăm, rồi ở trong hốc đá nửa ngày, lúc này chàng được tự do, cảm thấy khoan khoái vô cùng. Chàng nghĩ: "Mình và cô cô ở trong tòa cổ mộ tăm tối, tại sao không thấy khó chịu? Đủ thấy, tùy theo cảnh ngộ mà có tâm trạng này nọ; muốn thoát ra mà không ra được; hoặc không muốn ra ngoài, mà bị buộc phải ra, thì mới khổ sở".

Dương Quá thòng sợi dây xuống hốc đá. Cầu Thiên Xích vừa thấy Dương Quá chui ra khỏi lỗ hổng, liền mắng con gái:

– Ngươi ngu xuẩn lắm, sao lại để cho hắn thoát đi một mình? Hắn thoát ra rồi, còn nhớ gì đến chúng ta.

Lục Ngạc nói:

– Mẹ cứ yên tâm, Dương đại ca không phải hạng người như thế đâu.

Cầu Thiên Xích nổi giận nói:

– Bọn đàn ông khắp thiên hạ đều cùng một giuộc cả.

Đột nhiên bà ta nhìn kỹ toàn thân con gái, nói:

– Đồ ngốc, ngươi để cho hắn chiếm tiện nghi rồi phải không?

Lục Ngạc đỏ mặt, nói:

– Mẹ, mẹ bảo cái gì, hài nhi không hiểu.

Cầu Thiên Xích càng tức giận, nói:

– Ngươi không hiểu, sao lại đỏ mặt? Ta nói cho ngươi biết, đối với bọn đàn ông, không được buông thả hay nhẹ dạ nửa bước, chẳng lẽ ngươi còn chưa thấy tình cảnh của mẹ ngươi hay sao?

Bà ta đang lảm nhảm, thì Lục Ngạc đứng dậy đón đầu sợi dây mà Dương Quá dòng xuống, quấn một vòng chắc chắn vào ngang bụng mẹ, cười nói:

– Mẹ xem, Dương đại ca có nhớ đến chúng ta hay không nào?

Rồi nàng giật giật nhẹ, ngụ ý đã buộc xong.

Cầu Thiên Xích nói:

– Hừm, ta nói cho ngươi hay, từ rày trở đi, ngươi phải bám sát lấy hắn, nửa bước không rời. Trượng phu, trượng phu, nghĩa là trong vòng một trượng còn là chồng mình, ngoài một trượng đã không còn là chồng nữa, người biết chưa? Cha ngươi để cho mẹ ngươi mang tên Thiên Xích (ngàn thước), Thiên Xích tức là trăm trượng, hô hô, bên ngoài trăm trượng còn gì là trượng phu kia chứ?

Lục Ngạc vừa buồn cười, vừa thương cảm, nghĩ: "Mẹ đúng là muốn ta với chàng, nhưng chàng đâu có để ý gì đến ta đâu". Mắt nàng đỏ hoe, nàng vội ngoảnh đi. Cầu Thiên Xích định nói thêm, thì thấy sợi dây căng nơi bụng, thân hình được từ từ kéo lên. Lục Ngạc nhìn theo mẹ, tuy biết Dương Quá sẽ thả dây xuống cứu nàng, nhưng lúc này chỉ còn một mình trơ trọi dưới đáy hốc đá, bất giác nàng phát run, lo sợ dị thường.

Dương Quá kéo Cầu Thiên Xích qua lỗ hổng, cởi dây buộc bụng bà ta, rồi lại thả sợi dây xuống. Lục Ngạc buộc dây quanh bụng thật chắc, mới yên tâm, giật giật nhẹ vài lần; sợi dây căng, thân hình nàng đã được kéo lên. Nàng thấy các cây táo bên dưới càng lúc càng nhỏ dần, các ngôi sao trên đầu càng lúc càng sáng, chỉ vài trượng nữa là sẽ ra khỏi hốc đá, bỗng nghe phía trên có tiếng quát to, sợi dây chùng hẳn, thân hình nàng rơi nhanh xuống. Từ trên cao trăm trượng thế này mà rơi xuống, chắc chắn thịt nát xương tan. Lục Ngạc rú lên, suýt nữa ngất đi, chí cảm thấy thân hình rơi thẳng xuống, quả thực mình không làm gì được.

Dương Quá hai tay đang lần lượt kéo ngắn sợi dây đưa Lục Ngạc lên, sắp thành công rồi, chợt nghe có tiếng bước chân sau lưng, thì ra có kẻ lao đến tấn công. Chàng kinh ngạc, đành ngoảnh lại đón địch, hai tay kéo gấp sợi dây; nhưng kẻ kia quát to:

– Ngươi làm trò quỉ gì ở đây thế này?

Tiếp đó là tiếng gió ù ù, một thứ binh khí vừa to vừa nặng đánh tới sau lưng Dương Quá.

Dương Quá nghe tiếng gió, biết là gã lùn Phàn Nhất Ông tấn công, trong cơn nguy cấp đành dùng tay trái chộp đầu cây cương trượng đẩy ra, hóa giải miếng đòn đó. Trong bóng tối, Phàn Nhất Ông không nhìn thấy diện mạo của Dương Quá, nhưng biết đối phương võ công cao cường, bèn thu cây trượng về mà quét ngang người đối phương, dốc toàn lực, định đánh đứt đôi thân hình đối phương.

Lúc ấy Dương Quá tay phải giữ trọng lượng cơ thể của Lục Ngạc cộng với sức nặng đáng kể của sợi dây bằng vỏ cây, kéo dài một chút rất tốn sức, mắt thấy cương trượng đánh tới, vội giơ tay trái hóa giải. Không ngờ cây trượng của Phàn Nhất Ông phạt ngang quá mạnh, tay trái chàng vừa chạm vào thân cây trượng thì toàn thân chấn động, tay phải giữ sợi dây không chắc, sợi dây tuột tay, Lục Ngạc bị rơi thẳng xuống. Lục Ngạc rú lên trong hốc đá, ở bên trên, Dương Quá và Cầu Thiên Xích cũng cùng kêu "Ôi!" Dương Quá bất chấp cây trượng, nhoài người xuống miệng lỗ hổng, tay trái chộp vội lấy sợi dây. Nhưng Lục Ngạc đang rơi xuống cực nhanh, trọng lượng hàng trăm cân cộng với sức nặng gia tăng do rơi nhanh thành cả ngàn cân, kéo luôn Dương Quá chúi đầu, chân chổng ngược, rơi xuống hốc đá. Chàng võ công tuy cao, song cũng không tài gì lộn người lại được.

Cầu Thiên Xích đã mất hết võ công, ngồi bên cạnh lo lắng, thấy sợi dây dài trăm trượng tuột xuống hốc đá, mỗi lúc một ngắn dần, đầu sợi dây đằng kia là Dương Quá và Lục Ngạc sắp bị họa nát thây, đầu trên này bị hất lại bên cạnh Cầu Thiên Xích. Bà ta nhìn Phàn Nhất Ông, nghĩ: "Tên ác tặc hại người này, cho ngươi cùng chết một thể", bèn nhẹ nhàng, khéo léo lẳng đầu sợi dây khiến nó quấn mấy vòng quanh bụng Phàn Nhất Ông. Phàn Nhất Ông chợt cảm thấy có sợi dây thít chặt bụng mình, vội vàng sử công phu Thiên cân trụy, đứng cho vững; nhưng sức nặng của Dương Quá và Lục Ngạc cộng với lực rơi gia tốc cứ kéo Phàn Nhất Ông từng bước tới bên lỗ hổng. Phàn Nhất Ông thấy chỉ tiến thêm một bước nữa là sẽ lao xuống hốc đá; lão cả kinh, tay trái nắm sợi dây, tay phải bám chắc vào tảng đá bên lỗ hổng, hét một tiếng, cuối cùng giữ không cho sợi dây lôi xuống nữa.

Lúc này Lục Ngạc cách đáy hốc đá chỉ còn mươi trượng, thực là tính mạng ngàn cân treo sợi tóc. Phàn Nhất Ông dùng thần lực giữ được sợi dây không cho tuột xuống nữa rồi, mới đưa tay phải giữ sợi dây, tay trái gỡ sợi dây khỏi bụng mình, để cho kẻ địch rơi xuống đáy hốc đá. Đột nhiên Phàn Nhất Ông cảm thấy sau lưng hơi nhói, có một vật nhọn chĩa vào huyệt Linh Đài ở dưới đốt sống lưng thứ sáu, rồi một giọng phụ nữ quát: "Kéo người lên mau! Huyệt Linh Đài bị tổn hại, trăm mạch bị phế!"

Phàn Nhất Ông cả kinh, mười chữ "Huyệt Linh Đài bị tổn hại, trăm mạch bị phế!" chính là lời căn dặn của sư phụ khi truyền thụ cho lão công phu điểm huyệt; lão không dám trái lời, đành ráng sức dùng hai tay kéo Dương Quá và Lục Ngạc lên. Vừa rồi Phàn Nhất Ông phải vận thần lực giữ cho không bị kéo xuống, bây giờ cảm thấy tức ngực, cổ họng ngòn ngọt như muốn hộc máu, biết là tạng phủ đã bị nội thương, quả thật không muốn dùng sức chút nào, khổ nỗi đại huyệt yếu hại trên cơ thể đang bị kẻ địch khống chế, đành liều mạng gắng sức kéo được Dương Quá lên, thở phào nhẹ nhõm, lập tức cảm thấy tứ chi rã rời, lão hộc ra một ngụm máu tươi, ngã vật xuống đất. Phàn Nhất ông vừa buông tay, sợi dây tức thì tuột xuống, Cầu Thiên Xích hét to:

– Mau cứu người!

Dương Quá cũng không chờ lệnh của bà ta, vội giữ chặt sợi dây, kéo Lục Ngạc lên. Lục Ngạc mấy phen kéo lên tụt xuống, đã ngất xỉu. Dương Quá đưa tay điểm hai huyệt Phục Thố, Cự Cốt của Phàn Nhất Ông, làm cho lão ta không cựa quậy được, rồi chàng mới day ấn huyệt Nhân Trung để cứu tỉnh Lục Ngạc.

Lục Ngạc dần dần tỉnh lại, mở mắt ra, không biết mình đang ở đâu, dưới ánh trăng chỉ thấy Dương Quá mỉm cười nhìn mình, bất giác ngả vào người chàng, nói:

– Dương đại ca, chúng ta chết rồi sao? Đây là cõi âm phải không?

Dương Quá cười, nói:

– Phải, hai ta đều chết rồi.

Lục Ngạc nghe giọng nói của chàng có vẻ bỡn cợt, bèn ngẩng mặt nhìn cho rõ sắc mặt chàng, thì thấy bên cạnh, mẫu thân cũng đang nhìn nàng nửa cười nửa không, thì nàng cả thẹn, gọi:

– Mẹ!

Rồi đứng dậy.

Dương Quá thấy Cầu Thiên Xích tuy đã mất võ công, vẫn có thể chế ngự được Phàn Nhất Ông, cứu sống chàng, thì thầm thán phục, hỏi:

– Lão tiền bối dùng cách gì buộc gã lùn này phải vâng lệnh thế?

Cầu Thiên Xích mỉm cười, chìa ra một mảnh đá nhọn. Nên biết công phu điểm huyệt của Công Tôn Chỉ là do bà ta truyền thụ; Phàn Nhất Ông lại học Công Tôn Chỉ; ba người cùng một mạch, khẩu quyết giống nhau, bà ta đã ấn mảnh đá vào huyệt Linh Đài của Phàn Nhất Ông, lại nói "Huyệt Linh Đài bị tổn hại, trăm mạch bị phế!" Phàn Nhất Ông làm sao dám trái lời? Thực ra, kình lực trên tay của Cầu Thiên Xích bây giờ đã yếu ớt, với một mảnh đá nhỏ thế kia, không thể làm cho "trăm mạch bị phế được".

Dương Quá chỉ lượng cho sự an nguy của Tiểu Long Nữ, thấy Lục Ngạc và Cầu Thiên Xích đã thoát khỏi hiểm địa, Phàn Nhất Ông đã bị khống chế, bèn nói:

– Xin hai người chờ ở đây, tại hạ phải mang "Tuyệt Tình đơn" đi cứu người.

Cầu Thiên Xích lấy làm lạ, hỏi:

– Cái gì mà "Tuyệt Tình đơn"? Ngươi cũng có "Tuyệt Tình đơn" ư?

Dương Quá nói:

– Vâng, lão tiền bối xem có đúng loại thuốc ấy không?

Rồi chàng lấy trong túi ra chiếc lọ nhỏ, đổ ra viên thuốc hình vuông. Cầu Thiên Xích xem, ngửi ngửi, nói:

– Đúng rồi! Tại sao viên thuốc này rơi vào tay ngươi? Bản thân ngươi trúng độc hoa Tình, tại sao không uống ngay?

Dương Quá nói:

– Chuyện hơi dài, đợi vãn bối đi cứu người, rồi sẽ kể tỉ mỉ cho lão tiền bối nghe.

Đoạn chàng dợm bước đi.

Lục Ngạc vừa thương cảm, vừa quan hoài, buồn rầu nói:

– Dương đại ca, đại ca hãy cố tránh, đừng chạm trán với gia gia của muội.

Cầu Thiên Xích nổi giận, nói:

– Lại gia gia! Ngươi còn gọi y là gia gia, thì đừng gọi ta là mẹ nữa!

Dương Quá nói:

– Huynh đưa thuốc cứu chữa cô cô, Công Tôn cốc chủ quyết không ngăn trở đâu.

Lục Ngạc nói:

– Lơ cốc chủ lại nghĩ kế hãm hại đại ca thì làm sao?

Dương Quá cười nhạt, nói:

– Thì lúc đó hãy hay.

Cầu Thiên Xích hỏi:

– Ngươi đến chỗ Công Tôn Chỉ phải không?

Dương Quá đáp:

– Vâng.

Cầu Thiên Xích nói:

– Ta sẽ cùng đi với ngươi, có thể giúp ngươi một tay!

Dương Quá ban đầu chỉ nghĩ đến chuyện mang thuốc cứu Tiểu Long Nữ, không nghĩ gì khác; nghe Cầu Thiên Xích nói vậy, chợt thấy sáng ra: "Người vợ của tặc cốc chủ đã tới, hắn làm sao có thể thành thân với cô cô kia chứ?" Chàng cả mừng, chợt nghĩ: "Tuyệt Tình đơn chỉ có một viên, tuy cứu sống cô cô, nhưng ta không tránh khỏi chết", cũng không khỏi đau lòng.

Lục Ngạc thấy chàng chợt vui chợt buồn, lại nghĩ khi phụ mẫu nàng gặp nhau, không hiểu trời long đất lở sao đây; ruột gan rối bời. Cầu Thiên Xích thì hăng hái nói:

– Ngạc nhi, mau cõng ta đi nào!

Lục Ngạc nói:

– Mẹ phải rửa ráy, thay quần áo trước đã.

Nàng chỉ muốn làm cho cuộc gặp mặt của cha mẹ chậm lại chút nào hay chút ấy.

Cầu Thiên Xích cả giận, nói:

– Quần áo ta không có, thân thể bẩn thỉu là do kẻ nào gây ra? Chẳng lẽ..

Chợt nhớ đại ca Cầu Thiên Trượng thường đóng giả vai nhị ca Cầu Thiên Nhẫn, làm cho khối anh hùng hảo hán chốn giang hồ sợ mất vía; nghĩ mình bây giờ thế này, không còn là đối thủ của Công Tôn Chỉ, dẫu gặp mặt hắn, nhưng mối thù khó báo, chỉ có giả làm nhị ca, làm cho tên ác tặc hoảng sợ, sau đó chờ cơ hội hạ thủ hắn; may là hắn chưa từng gặp nhị ca lần nào, lại đoán là người vợ đã chết từ lâu trong hốc đá, chắc hắn sẽ không nghi ngờ, song lại nghĩ: "Ta với hắn là vợ chồng từng ấy năm, lẽ nào hắn không nhận ra ta?"

Dương Quá thấy bà ta ngẫm nghĩ chưa quyết, đã đoán được vài phần, hỏi:

– Tiền bối sợ Công Tôn Chỉ nhận ra phải không? Vãn bối có thứ này rất hay.

Chàng lấy ra cái mặt nạ. Đeo nó lên, diện mạo sẽ thay đổi hẳn, trông rất đáng sợ.

Cầu Thiên Xích cả mừng, nhận cái mặt nạ, nói:

– Ngạc nhi, chúng ta hãy tới cánh rừng phía sau gia trang, nấp ở đó, chờ ngươi đi kiếm cho ta một bộ quần áo vải gai, một cây quạt to là được.

Lục Ngạc vâng lệnh, cúi xuống cõng mẹ lên lưng. Dương Quá đưa mắt nhìn tứ phía, chỗ này là một đỉnh núi, bốn phía cây cối rậm rạp, sơn trang ở dưới chân núi, cách đây vài dặm.

Cầu Thiên Xích thở dài, nói:

– Ngọn núi này gọi là Lệ Quỷ phong, trong sơn cốc nhiều đời đồn rằng trên đỉnh núi này có ác quỉ, không ai dám lên, không ngờ hôm nay ta lại tái sinh trên đỉnh Lệ Quỉ này.

Dương Quá hỏi Phàn Nhất Ông:

– Lão mò lên đây làm gì?

Phàn Nhất Ông không chút sợ hãi, nói:

– Mau giết ta đi, khỏi cần nhiều lời.

Dương Quá nói:

– Công Tôn cốc chủ sai lão tới đây phải không?

Phàn Nhất Ông tức giận, nói:

– Phải, sư phụ sai ta ra trước núi sau núi quan sát, đề phòng kẻ gian trà trộn, quả nhiên không ngoài sở liệu của lão nhân gia cốc chủ, có kẻ giở trò quái quỉ ở đây.

Y vừa nói vừa nhìn Cầu Thiên Xích, nghĩ bụng không biết lão thái bà này là ai, mà Công Tôn cô nương lại gọi là mẹ. Phàn Nhất Ông nhiều tuổi hơn hai vợ chồng Cầu Thiên Xích, khi y bái Công Tôn Chỉ làm sư phụ, thì Cầu Thiên Xích đã bị hãm trong hốc đá nên hai người hoàn toàn không biết nhau; song nghe ba người bàn bạc với nhau, thì y thấy là đại bất lợi cho sư phụ.

Cầu Thiên Xích nghe y nói, biết y rất trung thành với Công Tôn Chỉ, thì không khỏi tức giận, bảo Dương Quá:

– Đập chết con quỉ lùn này đi, cho khỏi hậu họa.

Dương Quá quay nhìn Phàn Nhất Ông, thấy y không chút hoảng sợ, rõ ra là một trang hảo hán, thì chàng sinh lòng kính trọng, có ý tha chết y; nhưng lúc này đang cần có sự trợ giúp của Cầu Thiên Xích, không tiện làm phật ý bà ta, bèn nói:

– Công Tôn cô nương, cô nương hây cõng bá mẫu xuống núi trước, huynh sẽ liệu lý gã lùn này..

Công Tôn Lục Ngạc vốn biết đại sư huynh là người chính phái, không nỡ nhìn y bị chết oan uổng, nói:

– Dương đại ca, đại sư ca của muội không phải là kẻ xấu..

Cầu Thiên Xích quát:

– Đi mau! Đi mau! Ta nói gì ngươi cũng không nghe, làm con như thế ư?

Lục Ngạc không dám nói nữa, cõng mẹ đi xuống núi.

Dương Quá tới bên cạnh Phàn Nhất Ông, nói nhỏ:

– Phàn huynh, huynh bị điểm huyệt, sáu canh giờ sau sẽ tự giải khai. Hai ta không thù không oán, ta không muốn hại huynh.

Nói rồi chàng thi triển khinh công đuổi theo Lục Ngạc. Phàn Nhất Ông đang nhắm mắt chờ chết, không ngờ được Dương Quá tha mạng, nhất thời ngẩn ra chưa biết nói sao, chỉ trố mắt nhìn bóng ba người khuất dần trong đêm.

Dương Quá nóng lòng gặp Tiểu Long Nữ, thấy Lục Ngạc đi quá chậm, bèn nói:

– Cầu lão tiền bối, để vãn bối cõng một quãng nào.

Lục Ngạc ban đầu cảm thấy thần tình và lời lẽ giữa mẫu thân và Dương Quá rất lạnh nhạt, nàng cứ lo lo, giờ nghe chàng nói thế thì cả mừng, nói:

– Thế thì phiền đại ca vất vả một phen.

Cầu Thiên Xích nói:

– Ta mười tháng hoài thai, mới có được đứa con gái như hoa như ngọc, đem gả ngay cho ngươi, chẳng lẽ không đáng để ngươi cõng hay sao?

Dương Quá ngẩn ra, không tiện nói gì, chỉ cõng bà ta mà chạy băng băng xuống núi.

Cầu Thiên Nhẫn, ngoại hiệu "Thiết Chưởng thủy thượng phiêu", công phu khinh công có thể nói là độc bộ võ lâm, năm xưa đấu với Chu Bá Thông, hai người bám theo nhau hàng vạn dặm, từ Trung Nguyên đến Tây Vực, Lão Ngoan đồng võ công cao siêu như thế mà cũng không theo kịp. Công phu của Cầu Thiên Xích là do Cầu Thiên Nhẫn truyền thụ, khi võ công chưa bị phế, khinh công của bà ta cũng vào hàng cao thủ; lúc này nằm trên lưng Dương Quá, thấy chàng lướt đi tựa hồ chân không chạm đất, vừa nhanh vừa vững; thì vừa thán phục vừa lấy làm lạ, nghĩ: "Khinh công của tên tiểu tử này so với gia số của ta hoàn toàn khác, vậy mà không thua kém công phu Thiết Chưởng môn chút nào, quả không thể xem thường hắn". Cầu Thiên Xích vốn cho rằng con gái mình phải lấy tên tiểu tử này là không xứng, nhưng bây giờ thì dần dần cảm thấy cậu con rể tương lai này tựa hồ sẽ không làm xấu mặt con gái bà ta.

Chừng bằng thời gian ăn xong một bữa, Dương Quá đã cõng Cầu Thiên Xích xuống đến chân núi, ngoảnh lại, chờ hồi lâu Lục Ngạc mới theo kịp, nàng thở dồn, trán lấm tấm mồ hôi.

Ba người lẳng lặng vòng ra phía sau sơn trang, Lục Ngạc tìm vào nhà láng giềng hỏi mượn quần áo cho mình, cho mẫu thân, một cái trường bào cho Dương Quá, cái quạt bằng lá cây hương bồ cho mẹ. Cầu Thiên Xích đeo mặt nạ, mặc áo vải gai, tay cầm quạt, được Dương Quá và Lục Ngạc dìu hai bên, tiến vào cổng sơn trang. Khi đi vào cổng, ba người tâm trạng ngổn ngang. Cầu Thiên Xích xa cách đã hơn mười năm, lúc này trở về chốn cũ, lòng cảm khái muôn phần. Chỉ thấy trên cổng treo đèn lồng đỏ, nhìn vào trong có nhiều dải lụa treo mừng hỉ sự, từ đại sảnh vọng ra tiếng nhạc. Các gia đinh thấy Cầu Thiên Xích và Dương Quá thảy đều kinh ngạc, nhưng thấy có Lục Ngạc đi bên cạnh, họ không dám ho he gì cả.

Ba người đi thẳng vào đại sảnh, thấy khách khứa đầy nhà, đa phần là láng giềng bốn bên của Thủy Tiên trang trong Tuyệt Tình cốc. Công Tôn Chỉ toàn thân cát phục, ngồi đầu dãy bên trái. Tân nương đội mũ phượng, ngồi đầu dãy bên phải, tuy mặt che khăn hồng, nhưng thân hình mảnh mai, biết ngay là Tiểu Long Nữ.

Sân trong ánh lứa bừng sáng, ba tiếng pháo nổ vang, người chủ trì buổi lễ xướng to:

– Giờ lành đã tới, tân nhân cùng bái thiên địa!

Cầu Thiên Xích cười hô hố, làm lung lay các ngọn nến hồng, mái ngói cùng rung động, rồi sang sảng nói:

– Tân nhân cùng bái thiên địa, còn cựu nhân thì sao đây?

Cầu Thiên Xích tuy chân tay bị đứt gân mạch, nhưng nội công thì còn nguyên, trong hốc đá không có việc gì làm, ngày đêm khổ luyện, tu luyện mười bốn năm bằng hai mươi tám năm của người khác, hai câu vừa rồi nói ra làm cho mọi người váng tai, hoa mắt, mười mấy cây nến hồng trong sảnh bị tắt phụt.

Mọi người kinh ngạc, nhất tề ngoảnh ra. Công Tôn Chỉ nghe tiếng quát, vốn đã kinh dị, nhìn thấy Dương Quá và con gái an nhiên vô sự, đứng hai bên một vị khách mang mặt nạ, thì càng lo sợ, hỏi to:

– Tôn giá là ai?

Cầu Thiên Xích gằn giọng, cười khẩy, nói:

– Ta và ngươi nghi thuộc chí thân, ngươi giả trang không nhận ra ta ư?

Khi nói câu này, bà ta vận khí đan điền, giọng tuy không to, nhưng vang truyền rất xa. Tuyệt Tình cốc bốn bên là núi, một lát sau tiếng vọng dội trở lại, nghe vang vang mãi câu "ngươi giả trang không nhận ra ta".

Bọn Kim Luân pháp vương, Tiêu Tương Tử, Ni Ma Tinh, Doãn Khắc Tây dự lễ, nghe tiếng nói của Cầu Thiên Xích, biết là một nhân vật lợi hại, đều đưa mắt nhìn nhau.

Công Tôn Chỉ thấy người kia mặc áo vải gai, tay cầm cây quạt bằng lá hương bồ, đúng như vợ y từng miêu tả về người anh vợ là Cầu Thiên Nhẫn, thấy nội công của vị khách lại sung mãn; nhưng diện mạo thì kỳ bí, hệt như khi Chu Bá Thông đóng giả Tiêu Tương Tử, bên trong hẳn có chuyện bất thường, phải ngấm ngầm đề phòng, lạnh lùng đáp:

– Ta với tôn giá không hề quen biết, làm gì có chuyện nghi thuộc chí thân, nói nghe tức cười!

Doãn Khắc Tây thông thạo chuyện võ lâm, nhìn cái áo vải gai và cây quạt lá của Cầu Thiên Xích, liền hỏi:

– Các hạ phải chăng là Thiết Chưởng thủy thượng phiêu Cầu lão tiền bối?

Cầu Thiên Xích cười ha ha, phe phẩy cây quạt lá vài cái, nói:

– Ta cứ ngỡ người nhận biết lão hủ trên thế gian chết hết cả rồi, không dè còn một vị này.

Công Tôn Chỉ thản nhiên, nói:

– Tôn giá quả thật là Cầu Thiên Nhẫn, hay là hạng vô sỉ mạo danh người khác?

Cầu Thiên Xích giật mình, nghĩ bụng: "Tên ác tặc khôn ngoan thật, làm sao hắn biết ta không phải là Cầu Thiên Nhẫn?" Chưa hiểu đối phương phát hiện ra mình sơ hở chỗ nào, bà ta chỉ cười cười không đáp.

Dương Quá không thèm lý đến cảnh vợ chồng nhà họ tranh cãi, chàng lướt tới bên cạnh Tiểu Long Nữ, tay phải cầm viên "Tuyệt Tình đơn", tay trái hất tấm khăn hồng che mặt nàng, nói:

– Cô cô há miệng ra nào.

Tiểu Long Nữ chợt thấy Dương Quá, tim đập mạnh, vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, run run nói:

– Quá nhi.. Chàng khỏe rồi.

Nàng đã biết Công Tôn Chỉ lòng dạ tàn độc, sở dĩ nàng đáp ứng thành hôn với hắn, chỉ là để cứu mạng Dương Quá, giờ thấy chàng đột nhiên tới, lại ngỡ rằng Công Tôn Chỉ còn giữ chữ tín, đã đưa thuốc giải độc cho chàng. Dương Quá nhét viên "Tuyệt Tình đơn" vào miệng Tiểu Long Nữ, nói:

– Cô cô mau nuốt đi!

Tiểu Long Nữ không biết là thứ gì, nghe lời chàng nuốt xuống, cảm thấy mát ngay đến tận đan điền. Trong sảnh rối loạn, Công Tôn Chỉ thấy Dương Quá lại tới gây rắc rối, định ngăn chặn, song lại ngại quái khách mang mặt nạ, không biết có đúng là Thiết Chưởng thủy thượng phiêu Cầu Thiên Nhẫn hay chăng, nhất thời chưa dám phát tác.

Dương Quá xé nát cái mũ phượng Tiểu Long Nữ vừa đội, khoác tay nàng đứng sang một bên, nói:

– Cô cô, tên tặc cốc chủ khốn khổ rồi, chúng ta xem cảnh nhiệt náo kìa.

Tiểu Long Nữ tâm trí bối rối, tựa vào người Dương Quá, chưa biết nói gì.

Mã Quang Tá thấy Dương Quá bất ngờ trở lại, thì rất đỗi vui mừng, bước lại hỏi câu này câu nọ, không hiểu rằng Dương Quá và Tiểu Long Nữ lúc này không thích có ai quấy nhiễu họ.

Doãn Khắc Tây từng nghe Cầu Thiên Nhẫn hai chục năm về trước uy danh lừng lẫy nam bắc đại giang, là một nhân vật kiệt xuất, vừa rồi lại nghe tiếng nói vang động sơn cốc, nội công cực kỳ thâm hậu, bèn bước tới, chắp tay vái, cười nói:

– Hôm nay là ngày đại hỉ của Công Tôn cốc chủ, Cầu lão tiền bối cũng tới uống rượu mừng phải không?

Cầu Thiên Xích chỉ Công Tôn Chỉ, nói:

– Các hạ có biết hắn với lão hủ quan hệ thế nào hay không?

Doãn Khắc Tây nói:

– Vãn bối không biết, xin được thỉnh giáo.

Cầu Thiên Xích nói:

– Các hạ cứ hỏi hắn thì biết.

Công Tôn Chỉ nhắc lại câu hỏi:

– Tôn giá quả thật là Cầu Thiên Nhẫn ư? Kỳ quái thật!

Hắn vỗ tay một cái, sai một gã đệ tử áo xanh:

– Sang thư phòng, mang chiếc hộp thư ở trên giá phía đông ra đây.

Lục Ngạc lục thần vô chủ, thuận tay kéo một chiếc ghế để mẹ nàng ngồi. Công Tôn Chỉ thầm lấy làm lạ: "Nó và tên tiểu tử họ Dương rơi xuống đầm cá sấu, tại sao lại không chết kia chứ?"

Lát sau, gã đệ tử bưng hộp thư ra. Công Tôn Chỉ mở hộp, lấy ra một phong thư, lạnh lùng nói:

– Mấy năm trước ta có nhận được một bức thư của Cầu Thiên Nhẫn. Nếu tôn giá quả thật là Cầu Thiên Nhẫn, thì bức thư này là giả.

Cầu Thiên Xích giật mình, nghĩ: "Từ khi ta và nhị ca bất hòa, ta bỏ đi, không hề có tin tức gì, sao bỗng dưng lại có thư là sao? Không biết trong thư viết gì?"

Bèn nhìn qua Tiểu Long Nữ:

– Ta gửi thư cho ngươi hồi nào? Đừng có nói nhăng nói cuội.

Công Tôn Chỉ nghe giọng nói bây giờ chợt nhớ ra một người thì cả kinh, lưng toát mồ hôi lạnh, nhưng lại nghĩ: "Không thể nào, mụ ta đã chết trong hốc đá, lúc này chỉ còn là một nắm xương tàn mà thôi. Người này là ai kia chứ?" Bèn giở thư ra đọc to:

– "Thân gửi Chỉ đệ Xích muội, từ khi đại ca bỏ mạng bởi tay Quách Tĩnh, Hoàng Dung trên đỉnh Thiết Chưởng.."

Cầu Thiên Xích nghe câu đó, bất giác đau đớn, quát:

– Cái gì? Ai bảo đại ca ta bỏ mạng?

Bình sinh bà ta có thâm tình sâu xa với Cầu Thiên Trượng, nay bỗng nghe tin đại ca chết, thì toàn thân run rẩy, giọng nói cũng thay đổi. Bà ta vốn vận khí từ đan điền, giọng nói khó phân nam nữ, bây giờ đau đớn, nói giọng bình thường, lộ rõ mình là phụ nữ.

Công Tôn Chỉ nghe, hóa ra người trước mặt là nữ, lại nghe ba tiếng "đại ca ta", thì trong lòng cả sợ, chỉ đoán nhất định không phải đấy là Cầu Thiên Nhẫn, nên đọc tiếp:

– "Ngu huynh rất hổ thẹn vì mấy chục năm nay khiếm khuyết đạo bằng hữu, ngay cả chuyện thủ túc bất hòa, đều do lỗi của ngu huynh mà ra. Ngu huynh nửa đêm suy ngẫm, thấy mình hành ác đã nhiều, đắc tội đâu phải chỉ với đại ca hiền muội? Từ cuộc luận kiếm lần thứ hai ở Hoa Sơn, ngu huynh được Nhất Đăng đại sư điểm hóa, nay đã vứt bỏ đao giết người, qui y cửa Phật. Ngu huynh tu trì chưa lâu, tục duyên khó dứt, bên ngọn đèn khuya, vẫn thường nhớ những ngày huynh muội vui vầy bên nhau. Nay chỉ biết chúc đệ muội đa phúc mà thôi.."

Công Tôn Chỉ đọc một mạch, Cầu Thiên Xích chỉ khóc thầm, đến khi hắn đọc xong, thì bà ta không kìm được, khóc to lên, nói:

– Đại ca, nhị ca ơi hỡi, có biết muội khổ sở chừng nào hay chăng?

Rồi bà giật phăng cái mặt nạ ra, quát:

– Công Tôn Chỉ, ngươi còn nhận ra ta chứ?

Tiếng quát lớn lần này làm cho bảy, tám cây nến lớn trong đại sảnh tắt phụt, những ngọn còn lại cũng lay lắt.

Trong ánh nến mờ, mọi người thấy hiện ra một khuôn mặt cực kỳ già nua đau khổ của một lão bà, thì ai nấy kinh hãi, không dám mở miệng. Sảnh đường im phăng phắc, tất cả đều hồi hộp.

Đột nhiên một lão bộc từ góc sảnh chạy tới, gọi:

– Chủ mẫu, chủ mẫu chưa chết ư?

Cầu Thiên Xích gật đầu, nói:

– Trương nhị thúc, hóa ra nhị thúc còn nhớ ta.

Người lão bộc rất mực trung thành, thấy bà chủ bình an, mừng quá cứ rập đầu lia lịa, nói:

– Chủ mẫu, đây mới đúng là đại hỉ!

Trong đám tân khách, trừ bọn Kim Luân pháp vương, còn toàn là láng giềng ở Tuyệt Tình cốc, phàm những ai ngoài ba, bốn mươi tuổi đều nhận ra Cầu Thiên Xích, họ lập tức ùa tới hỏi thăm.

Công Tôn Chỉ quát to:

– Tất cả lùi ra cho ta!

Mọi người kinh ngạc nhìn hắn, thấy hắn chỉ mặt Cầu Thiên Xích, nói:

– Tiện nhân, ngươi còn dám vác mặt trở về gặp ta hay sao?

Lục Ngạc chỉ mong phụ thân nhận tội, đối xử tử tế với mẹ, không ngờ lại nghe Công Tôn Chỉ dùng lời lẽ như thế, bèn chạy lại quì trước mặt hắn, nói:

– Gia gia, mẹ hài nhi chưa chết, chưa chết mà. Gia gia mau nhận tội, xin mẹ lượng thứ là xong!

Công Tôn Chỉ cười khẩy, nói:

– Xin mụ ta lượng thứ ư? Ta đâu có làm điều gì sai trái?

Lục Ngạc nói:

– Cha đẩy mẹ xuống hốc đá, làm cho mẹ sống dở chết dở mười mấy năm trời. Cha, tại sao cha nỡ tàn nhẫn như thế với mẹ?

Công Tôn Chỉ lạnh lùng nói:

– Tại mụ ta hạ độc thủ trước, ngươi không biết hay sao? Mụ đã đẩy ta vào bụi hoa Tình, khiến ta bị gai đâm toàn thân, ngươi biết hay không? Mụ ngâm giải dược vào thạch tín, ta không uống cũng chết, mà uống vào cũng chết, ngươi biết hay không? Mụ còn buộc ta phải.. hạ sát tâm ái nhân của ta, ngươi có biết hay không?

Lục Ngạc khóc, nói:

– Hài nhi biết cả rồi, đó là Nhu Nhi chứ gì.

Công Tôn Chỉ mười mấy năm nay không nghe ai nhắc đến cái tên ấy, lúc này bất giác tái mặt, ngẩng lên trời lẩm bẩm "Không sai, là Nhu Nhi, Nhu Nhi!" Rồi hắn chỉ Cầu Thiên Xích, nghiến răng, nói:

– Là con tiện nhân tàn ác này đã buộc ta sát hại Nhu Nhi!

Mặt hắn càng lúc càng tức giận, miệng lẩm bẩm "Nhu Nhi, Nhu Nhi.."

Dương Quá nghĩ cả hai vợ chồng oan nghiệt nhà này đều không phải là người tốt, chàng trúng độc đã sâu, chỉ còn sống được vài ngày trên thế gian, trong mấy ngày ấy chàng muốn tìm một chỗ yên tĩnh để ở bên Tiểu Long Nữ, không còn bụng dạ nào xem vợ chồng Công Tôn Chỉ ai phải ai trái, chàng bèn kéo nhẹ vạt áo của Tiểu Long Nữ, nói nhỏ:

– Chúng mình đi thôi.

Tiểu Long Nữ nói:

– Người phụ nữ kia đúng là vợ hắn ư? Bà ta đúng là bị hắn nhốt mười mấy năm ư?

Nàng quả thật không thể tin trên đời lại có kẻ tàn ác như vậy. Dương Quá nói:

– Hai vợ chồng hắn trả thù nhau đó.

Tiểu Long Nữ nghiêng đầu ngẫm nghĩ giây lát, nói nhỏ:

– Chuyện này thiếp không hiểu, chẳng lẽ bà ta cũng bị ép phải thành thân với hắn như thiếp hay sao?

Theo cách hiểu của nàng, hai người nếu không bị ép thành hôn, ắt phải yêu thương nhau, chứ không thể sát hại nhau như vậy. Dương Quá lắc đầu, nói:

– Trên thế gian người tốt ít, kẻ ác nhiều, lòng dạ bọn người này thế nào, người ngoài khó đoán biết..

Bỗng nghe Công Tôn Chỉ quát to:

– Xéo đi!

Chân phải của hắn đá một cái, thân hình Lục Ngạc bay ra phía ngoài, bay đúng vào ngực Cầu Thiên Xích. Cầu Thiên Xích chân tay vô lực, chỉ nghiêng người né tránh, nhưng thân hình Lục Ngạc bay rất nhanh, "phịch" một cái, va vào vai người mẹ. Cầu Thiên Xích ngã ngửa cùng với chiếc ghế ra phía sau, cái đầu trọc đập vào cột đá, tóe cả máu; vội lồm cồm bò dậy.

Lục Ngạc bị cha đá một cú, ngã sấp xuống, ngất đi.

Comments

0 comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 20: Đại Hiệp Cứu Quốc

Dương Quá vốn muốn tách mình ra khỏi chuyện phải trái nơi đây, nhưng mắt thấy Công Tôn Chỉ hung bạo như vậy, chàng không nén được cơn giận, đang định bước ra đối đáp với hắn, thì Tiểu Long Nữ đã chạy tới đỡ Cầu Thiên Xích dậy, xoa xoa huyệt Ngọc Chẩm sau gáy cho bà ta, cầm máu, rồi xé vạt áo băng vết thương, xẵng giọng nói với Công Tôn Chỉ:

– Công Tôn tiên sinh, người này là nguyên phối phu nhân của tiên sinh, tại sao tiên sinh nỡ đối xử với bà ta như vậy? Tiên sinh đã có phu nhân, tại sao còn muốn lấy ta? Giả dụ ta lấy tiên sinh, mai này tiên sinh cũng sẽ đối xử với ta như thế chứ gì?

Mấy câu hỏi dồn dập này làm cho Công Tôn Chỉ cứng lưỡi, không thể trả lời.

Mã Quang Tá thích thú reo lên. Tiêu Tương Tử thì lạnh lùng nhận xét:

– Cô nương này nói rất đúng.

Công Tôn Chỉ quả thật si mê Tiểu Long Nữ, tuy bị nàng hỏi dồn cho cứng lưỡi, nhưng hắn không tức giận, chỉ nhẹ nhàng nói:

– Liễu muội, sao muội lại đi so mình với mụ ác bà kia? Ta nhất mực luyến ái muội còn chưa xong, nếu ta có ý xấu với muội, thì trời tru đất diệt.

Tiểu Long Nữ thản nhiên nói:

– Thiên hạ chỉ cần một mình Quá nhi yêu ta, tiên sinh có thích ta gấp trăm lần, ta cũng chẳng thiết.

Nói rồi nàng nắm chặt tay Dương Quá.

Dương Quá xúc động dị thường, nghĩ: "Cô cô đối với ta như vậy, mà ta chỉ còn được sống vài ngày, tất cả đều do tên ác tặc này", chàng bèn chỉ mặt Công Tôn Chỉ, nói:

– Ngươi bảo ngươi không có ý xấu gì đối với cô cô ta, hứ, ngươi đẩy ta xuống tử địa, lại lừa dối cô cô ta để thành hôn, như thế gọi là tốt ư? Cô cô bị trúng độc hoa Tình, ngươi thừa biết không có thuốc cứu, song không nói rõ cho cô cô ta biết, như thế là tử tế ư?

Tiểu Long Nữ kinh ngạc, run run hỏi:

– Thật vậy à?

Dương Quá nói:

– Đừng lo, cô cô ban nãy vừa uống thuốc rồi.

Nói đoạn mỉm cười, trong lòng vừa buồn vừa vui, nghĩ: "Ta đưa thuốc cho nàng rồi, ta tình nguyện vì nàng mà chết".

Công Tôn Chỉ nhìn Cầu Thiên Xích, lại nhìn Tiểu Long Nữ và Dương Quá, trong bụng hắn vừa đố kỵ, vừa thèm muốn, vừa tức giận, vừa hối hận, lại thất vọng, ngượng ngùng. Hắn vốn có công phu hàm dưỡng, nhưng lúc này lâm vào tình cảnh nửa muốn phát điên, liền cúi xuống rút từ dưới tấm chăn hồng "Âm dương song nhẫn", kim đao hắc kiếm đụng vào nhau "keng" một tiếng, hắn nói:

– Được lắm, hôm nay chúng ta sẽ cùng bỏ mạng một lượt!

Mọi người không ngờ trong đêm tân hôn giao bái, Công Tôn Chỉ lại giấu hung khí dưới chăn, bất giác cùng kêu ồ lên kinh ngạc.

Tiểu Long Nữ lạnh lùng nói:

– Quá nhi, đối với kẻ ác như hắn, không nên khách khí làm gì.

Keng một tiếng, nàng cũng rút từ trong bộ hỉ phục màu hồng của tân nương ra hai thanh kiếm, chính là hai thanh kiếm Quân tử và Thục nữ. Nàng tuy không am tường thế sự, nhưng đối với ác nhân, nàng hạ thủ không hề lưu tình. Hôm trả thù cho Tôn bà bà tại cung Trùng Dương, nàng đã làm cho đệ tử phái Toàn Chân kinh hồn táng đởm, Quảng Ninh tử Hách Đại Thông suýt nữa mất mạng. Hôm nay Công Tôn Chỉ làm cho nàng không được đoàn viên với Dương Quá, nàng đã có ý định liều mình từ sớm, giấu hai thanh kiếm dưới áo cưới, chờ Công Tôn Chỉ chữa trị xong cho Dương Quá, là nàng sẽ tìm cơ hội giao đấu với hắn, nếu không thắng, nàng sẽ tự vẫn, quyết không chôn vùi sự trinh khiết ở cái xó Tuyệt Tình cốc này.

Tân khách thấy cặp phu phụ tân hôn thủ sẵn đao kiếm, đều kinh ngạc, chỉ một số ít người, như Kim Luân pháp vương, đoán trước rằng cuộc hỉ sự này tất sẽ dẫn tới một trường hung sát; nhưng khi thấy Cầu Thiên Xích vừa bị đụng đã ngã chổng kềnh, chẳng tương xứng chút nào với nội công thâm hậu mà bà ta hiển thị, thì không khỏi ngạc nhiên.

Dương Quá nhận thanh kiếm Quân tử từ tay Tiểu Long Nữ, nói:

– Cô cô, hôm nay hai ta giết tên thất phu kia, trả thù cho Quá nhi!

Tiểu Long Nữ lấy làm lạ, hỏi:

– Trả thù cho Quá nhi ư?

Dương Quá đau lòng, nhưng nghĩ chuyện này không nên nói rõ cho nàng biết, chỉ nói:

– Tên ác tặc kia đã hại nhiều người.

Chàng vung kiếm đâm thẳng tới sườn trái của Công Tôn Chỉ. Chàng biết trận đấu này rất hung hiểm, chất độc hoa Tình trong người Tiểu Long Nữ tuy đã được giải, nhưng bản thân chàng bị trúng độc quá sâu, nếu song kiếm hợp bích để thi triển "Ngọc nữ tố tâm kiếm pháp", động đến chân tình, chàng sẽ bị đau buốt; thế là chàng thi triển kiếm pháp phái Toàn Chân, mỗi chiêu thức đều giữ pháp độ nghiêm cẩn. Lộ kiếm pháp này nếu do mấy lão đạo sĩ Mã Ngọc, Khưu Xứ Cơ xuất thủ, tất sẽ ngưng trọng, bình ổn và sâu lắng; còn Dương Quá sử thì không tránh khỏi thiếu niên lão thành, không được tự nhiên.

Công Tôn Chỉ biết sự lợi hại khi đối phương liên thủ, vừa vào trận liền thi triển "Âm dương đảo loạn nhẫn pháp", tay trái kim đao, tay phải hắc kiếm, chiêu số hết sức hung hiểm. Kiếm pháp Toàn Chân của Dương Quá là do Vương Trùng Dương sáng tạo, tuy không hung hiểm như kẻ địch, nhưng biến hóa tinh vi, Dương Quá chỉ thủ không công, tiếp liền ba chiêu của hắn. Tiểu Long Nữ quát một tiếng, vung kiếm Thục nữ đâm sau lưng Công Tôn Chỉ.

Công Tôn Chỉ vô cùng thất vọng: "Đóa hoa tươi thắm này lẽ ra là phu nhân tân hôn của ta, bây giờ lại liên thủ với kẻ khác đánh ta". Lại nghĩ: "Ác bà nương đột nhiên xuất hiện, bóc trần chuyện cũ, làm ta mất hết thể diện và uy tín, không chỉ không ép được Liễu muội thành hôn, mà ngay cơ nghiệp Tuyệt Tình cốc cũng không thể bảo tồn". Tuy gặp tình huống thúc thủ nan giải, nhưng hắn vẫn ỷ thế võ công cao siêu, chỉ cần hôm nay đánh bại Dương Quá, hắn sẽ đem Tiểu Long Nữ cao chạy xa bay. Hắn không biết rằng Tiểu Long Nữ đã uống giải dược Tuyệt Tình đơn, còn nghĩ nàng sẽ sống ba mươi sáu ngày nữa, trong ba mươi sáu ngày ấy hắn vẫn muốn nàng làm vợ hắn. Càng nghĩ tà tâm càng trỗi dậy, thủ pháp càng hung bạo.

Tiểu Long Nữ sử dụng "Ngọc nữ kiếm pháp", muốn tâm ý tương thông với Dương Quá, phát dương uy lực "Tố tâm kiếm pháp"; ai dè chàng trước sau không hề nhìn nàng, cứ vung kiếm cự địch riêng rẽ. Tiểu Long Nữ lấy làm lạ, hỏi:

– Quá nhi, sao chàng không nhìn thiếp?

Dương Quá nghe giọng nàng, lòng chấn động, lập tức đau nhói ở ngực, kiếm chiêu hơi chậm lại, xoạc một tiếng, ống tay áo chàng bị hắc kiếm xé rách. Tiểu Long Nữ cả kinh, đâm liền ba kiếm, ngăn chặn đòn công kích của Công Tôn Chỉ. Dương Quá nói:

– Quá nhi không thể nhìn cô cô, cũng không được nghe cô cô nói đâu.

Tiểu Long Nữ dịu dàng hỏi:

– Tại sao?

Dương Quá chỉ sợ lại gặp nguy hiểm, nên xẵng giọng đáp:

– Cô cô muốn Quá nhi chết, thì hãy nói năng âu yếm với Quá nhi!

Chàng vừa nổi giận, cơn đau hết ngay, đủ sức hóa giải chiêu kiếm của Công Tôn Chỉ.

Tiểu Long Nữ cảm thấy mình có lỗi, nói:

– Chàng đừng giận, thiếp không nói nữa vậy.

Đột nhiên nàng nghĩ: "Ô, mình đã được giải độc, chàng thì chưa! Thuốc giải có được, chàng không uống, đã dành cho ta rồi". Nghĩ đến đó, vừa cảm kích, vừa thương chàng, thâm tình vô hạn, uy lực của "Ngọc nữ tố tâm kiếm pháp" tăng lên tức thì, chiêu số sử ra che chở cho mọi chỗ yếu hại trên thân thể Dương Quá. Khi nàng che chở cho chàng, lẽ ra chàng phải phòng ngự giúp nàng, nhưng Dương Quá không dám liếc nhìn nàng, thành thử toàn thân nàng đầy sơ hở, rất dễ bị đòn của địch.

Công Tôn Chỉ tinh mắt, qua vài chiêu đã nhận ra sơ hở của nàng; nhưng hắn không muốn đả thương nàng, đao kiếm chỉ nhắm Dương Quá mà công kích mãnh liệt. Khi công kích thì như sóng dữ vỗ bờ, lúc phòng thủ thì tường đá sừng sững. Tiểu Long Nữ thì chỉ chăm chú bảo hộ cho Dương Quá, nên trong mấy chục chiêu, đôi bên vẫn ngang ngửa với nhau.

Lúc này Lục Ngạc đã tỉnh lại, nàng đứng bên mẹ xem cuộc đấu, thấy Tiểu Long Nữ tận lực phòng thủ cho Dương Quá, chẳng chú ý tới sự an nguy của mình, thì bất giác nghĩ bụng: "Nếu ở địa vị nàng là ta, vào lúc sinh tử hệ trọng, liệu ta có thể quên mình, chỉ lo cho chàng như vậy được chăng?" Nàng thở dài: "Ta cũng có thể làm được như Long cô nương. Tiếc rằng chàng không hề nghĩ đến ta".

Cầu Thiên Xích bỗng nói to:

– Giả đao phi đao, giả kiếm phi kiếm!

Dương Quá và Tiểu Long Nữ nghe cùng ngẩn người, chưa rõ dụng ý câu nói của bà ta. Cầu Thiên Xích lại nói to:

– Đao tức là đao, kiếm tức là kiếm!

Dương Quá đấu với Công Tôn Chỉ đây là lần thứ hai, chàng cố tìm ra chỗ bí ảo của "Âm dương đảo loạn nhẫn pháp", chỉ thấy đối phương cây hắc kiếm thanh mảnh cứ chém mạnh, còn cây kim đao nặng nề thì lại múa lượn linh hoạt, chiêu số xuất thủ tương phản hoàn toàn với cái lý của võ học. Nhưng nếu trước sau hắn cứ lấy đao làm kiếm, lấy kiếm làm đao thì là một chuyện; đàng này cứ bất chợt hiển thị đao pháp với kiếm pháp, biến hóa khôn lường, chẳng biết đâu mà lần. Lúc này bỗng nghe Cầu Thiên Xích nói mười sáu chữ kia, thì chàng nghĩ: "Không lẽ kiếm chiêu trên đao, đao chiêu trên kiếm của hắn toàn là giả?" Mắt thấy thanh hắc kiếm chém ngang vai, rõ ràng là chiêu số của đơn đao, Dương Quá bèn thử dùng kiếm Quân tử gạt đi, hai kiếm đụng nhau, keng một tiếng, cả hai người đều thoái lui một bước. Dương Quá mới biết, rốt cuộc hắc kiếm vẫn là kiếm, đao chiêu mà hắn sử dụng chỉ cốt làm cho đối phương hoa mắt; nhưng nếu đối phương võ công non kém, ứng phó vụng về, thì vẫn có thể bị đả thương bởi đao chiêu ấy.

Dương Quá vừa thử đã thành công, thì cả mừng, chăm chú theo dõi sự sơ hở trong đao kiếm của đối phương, nghĩ bụng, hắn sử dụng chiêu số đảo loạn, tuy kỳ diệu, song lộ tử chắc chắn không thuần nhất. Bỗng nghe Cầu Thiên Xích nói:

– Tấn công đùi bên phải, tấn công đùi bên phải!

Dương Quá thấy kim đao của Công Tôn Chỉ rung rung, hạ bàn thực ra không có gì sơ hở, nhưng chàng nghĩ Cầu Thiên Xích tuy chân tay vô lực, nhưng hiểu biết võ học còn nguyên, võ công của Công Tôn Chỉ lại là do bà ta truyền thụ, bà ta nhất định biết rõ hư thực của hắn, bèn theo lời mà xuất chiêu, đâm một liếm vào đùi bên phải của hắn. Công Tôn Chỉ đưa kim đao gạt ngang, đùi bên phải được che đỡ; nhưng việc chống đỡ đó để hở vai và sườn bên trái. Dương Quá không chờ Cầu Thiên Xích chỉ điểm, trường kiếm của chàng đã đâm toạc vạt áo dưới nách Công Tôn Chỉ. Hắn làu bàu chửi, nhảy lùi lại trừng mắt nhìn Cầu Thiên Xích, quát:

– Lão khất bà, cứ chờ đó, ta sẽ không tha cho mụ đâu.

Đoạn lại vung đao kiếm tấn công Dương Quá. Dương Quá chống đỡ, Cầu Thiên Xích lại nhắc:

– Đá sau lưng hắn.

Lúc này hai người đang đối diện nhau, muốn đá sau lưng hắn là không thể được, song Dương Quá đã tin vào sự chỉ dẫn của Cầu Thiên Xích, biết lời nói của bà ta hẳn có thâm ý, bèn vòng ra phía sau lưng đối phương. Công Tôn Chỉ chém chéo kim đao ra phía sau. Cầu Thiên Xích nói:

– Đâm giữa trán hắn!

Dương Quá nghĩ: "Mình vừa vòng ra sau lưng hắn, bà ta lại bảo mình đâm vào giữa trán hắn"; chàng cũng chẳng kịp nghĩ ngợi thêm, lập tức trở lại đối diện với kẻ địch, đang định đâm vào giữa trán hắn, thì Cầu Thiên Xích lại nói:

– Đâm vào mông hắn!

Lục Ngạc đứng bên, hai lòng bàn tay ướt mồ hôi vì hồi hộp, nàng cau mày, nghĩ: "Mẹ cứ nói loạn như thế, chẳng hóa ra lại giúp cha hay sao vậy?" Nàng nghĩ nhưng không nói. Mã Quang Tá thì không nhịn được, kêu to lên:

– Dương huynh đệ, chớ mắc lừa lão thái bà, bà ta muốn huynh đệ chết mệt đó!

Dương Quá vòng ra sau, trở lại trước mấy lần, đã lờ mờ đoán ra dụng ý của Cầu Thiên Xích, nghe bà ta bảo sao, chàng làm đúng như vậy, sau vài lần di chuyển, quả nhiên phát hiện sườn bên phải của Công Tôn Chỉ lộ rõ sơ hở. Trường kiếm của chàng đâm tới, xuyên qua áo, mũi kiếm sâu vào thịt hơn một tấc, máu tươi tức thì loang đỏ vạt áo Công Tôn Chỉ.

Mọi người ồ lên, cùng đứng dậy. Bọn Kim Luân pháp vương đều đã hiểu, nguyên Cầu Thiên Xích vừa rồi không chỉ dẫn cho Dương Quá thủ thắng như thế nào, mà là dạy chàng tìm cơ hội chiến thắng trong tình thế không thể thắng; hoàn toàn không chỉ ra chỗ sơ hở trong chiêu số của Công Tôn Chỉ, mà là muốn Dương Quá dẫn dụ đối phương từ chỗ không có sơ hở trong chiêu số đến chỗ bộc lộ sơ hở. Cầu Thiên Xích chỉ điểm vài lần liên tiếp, Dương Quá lập tức lĩnh hội được tinh nghĩa của võ học thượng thừa, lòng thầm thán phục: "Kẻ địch là cao thủ, rất khó tìm ra sơ hở trong chiêu số của hắn, sự chỉ dẫn của vị Cầu lão tiền bối đáng là bài học cho ta dùng suốt đời".

Nhưng muốn Công Tôn Chỉ bộc lộ sơ hở, không những võ công phải cao cường, mà còn phải thông thạo chiêu số mà hắn sử dụng, mới có thể trong vòng mươi chiêu, dẫn dụ hắn đi vào con đường sai lầm. Điều này chỉ Cầu Thiên Xích mới làm nổi; Dương Quá thì tuy biết cái lý như vậy, song chưa tự làm được, chàng theo lời chỉ dẫn của bà ta, liên tiếp tấn công tiền hậu tả hữu, phải sau hơn hai mươi chiêu, mới lại đâm một kiếm trúng đùi Công Tôn Chỉ.

Nhát kiếm này đâm tuy không sâu, nhưng rạch một đường dài năm, sáu tấc. Công Tôn Chỉ nghĩ: "Liễu muội cứ phòng hộ vững chắc cho tên tiểu tử họ Dương, khiến ta không đả thương được hắn; cứ đà này, hắn được lão khất bà chỉ điểm, ta sẽ bỏ mạng dưới kiếm của hắn mất". Năm nào để tự cứu mình, hắn từng đâm chết tình nhân; bây giờ trong cơn nguy cấp, hắn cũng chẳng tha cho Tiểu Long Nữ nữa, liền vung hắc kiếm chém mạnh vào vai Tiểu Long Nữ.

Dương Quá lo sợ, vội giơ kiếm đỡ cho nàng, chỉ nghe Cầu Thiên Xích nói to:

– Đâm eo lưng hắn!

Dương Quá sững sờ, nghĩ: "Cô cô bị tấn công, làm sao ta bỏ mặc không cứu? Nhưng Cầu lão tiền bối mỗi lần chỉ dẫn đều có thâm ý, chắc đấy là chiêu vây Ngụy cứu Triệu; chàng liền chuyển mũi kiếm đâm vào mạng sườn bên phải của Công Tôn Chỉ. Bỗng nghe Tiểu Long Nữ kêu" ối ", nàng bị thương vào cánh tay, thanh kiếm Thục nữ rơi xuống đất. Công Tôn Chỉ đưa chếch hắc kiếm chống đỡ một chiêu của Dương Quá.

Dương Quá cả kinh, vội nói:

– Cô cô mau lui ra, để Quá nhi một mình đối phó với hắn.

Chàng vừa quan tâm đến Tiểu Long Nữ, ngực lại đau nhói. Tiểu Long Nữ bị thương không nhẹ, đành lùi ra, xé vạt áo băng vết thương. Dương Quá cố chống trả, chàng trừng mắt nhìn Cầu Thiên Xích vì bà ta vừa chỉ dẫn sai.

Cầu Thiên Xích cười khẩy, nói:

– Ngươi trách gì ta? Ta chỉ giúp ngươi giết địch, ai bảo ngươi đi cứu người? Hừ, cô nương kia sống hay chết đâu có can hệ đến ta? Nó chết đi còn hay hơn là đằng khác!

Dương Quá giận nói:

– Hai vợ chồng lão tiền bối đúng là một cặp tương xứng, chẳng có lương tâm gì hết!

Cầu Thiên Xích cười, cũng không giận, thản nhiên xem hai người giao đấu.

Dương Quá liếc qua về phía Tiểu Long Nữ, thấy nàng dựa vào chiếc ghế, xé vạt áo băng vết thương, đoán nàng sẽ không sao, tinh thần hăng lên, kiếm chiêu chợt biến, từ kiếm pháp phái Toàn Chân đổi sang Ngọc nữ kiếm pháp. Công Tôn Chỉ thấy kiếm pháp của chàng đang ổn trọng đoan nghiêm, đột nhiên chuyển thành khinh linh thanh thoát, như thể hóa thành một người khác, thì hắn lấy làm lạ, nghĩ:" Kẻ này ngụy kế đa đoan, lại giở trò quỉ gì đây? "Nhưng khi tiếp chiêu, cảm thấy kiếm pháp của đối phương đúng là phong cách danh gia, cùng một lộ với Tiểu Long Nữ, thì hắn không nghi ngờ nữa, kim đao hắc kiếm cùng tấn công tới.

Sau hơn mười chiêu, Dương Quá lại dần dần núng thế, để Công Tôn Chỉ đẩy chàng lùi dần. Cầu Thiên Xích mấy lần lên tiếng chỉ điểm, nhưng Dương Quá giận bà ta có ý hại Tiểu Long Nữ, không thèm nghe lời bà ta, nghĩ bụng:" Ai cần mụ la lối kia chứ? "Chàng đâm liền bốn kiếm, cất giọng ngâm nga:

Dập dồn chân ngựa, sắc áo hồng tươi.

Lỏng buông tay khấu, mê mải rong chơi.

Miệng ngâm nga, kiếm chiêu phối hợp với câu thơ, động tác múa lượn cực kỳ uyển chuyển. Công Tôn Chỉ ngẩn người, hỏi:

– Cái gì vậy?

Dương Quá lại ngâm:

Gió bay điện chớp, cảnh vùn vụt trôi

Trung Nguyên tươi đẹp, mắt ai sáng ngời

Thơ bốn chữ một câu, kiếm chiêu cũng bốn chiêu một lớp, ngâm đến câu" Gió bay điện chớp, cảnh vùn vụt trôi ", thì kiếm pháp nhanh lạ thường, ở câu" Trung Nguyên tươi đẹp, mắt ai sáng ngời ", thì lại dìu dặt uyển chuyển. Công Tôn Chỉ chưa từng gặp lộ kiếm pháp thế này, nghe đối phương ngâm thơ êm tai, thế công lập tức chậm lại, hắn ngưng thần dò đoán ý thơ, nghĩ rằng kiếm chiêu của Dương Quá phù hợp với ý thơ, chỉ cần hiểu được ý thơ, là sẽ phá giải kiếm pháp.

Lại nghe Dương Quá ngâm:

Rời gót vườn lan, ruổi ngựa Hoa san.

Sông dài như lụa, rủ xuống non ngàn.

Mắt dõi cánh hồng, tay lộng cung đàn.

Mấy câu thơ này ngâm lên hết sức tự nhiên, kiếm pháp thì đại khai đại hợp, anh tuấn hùng vĩ, nhất là hai câu cuối thì kiếm chiêu cực kỳ phiêu hốt, tưởng đông hóa tây, hướng lên mà lại đánh xuống, một chiêu hai kiếm, khó phân hư thực.

Tiểu Long Nữ lúc này đã băng bó xong vết thương, thấy kiếm pháp của Dương Quá rất đẹp mắt, bèn hỏi:

– Quá nhi, là môn kiếm pháp gì vậy, ai dạy cho chàng thế?

Dương Quá cười, đáp:

– Quá nhi tự luyện đó, cô cô bảo có được không? Ít ngày trước Quá nhi nằm dưỡng thương, cạnh giường có một quyển thơ, Quá nhi xem nên nhớ. Chu Tử Liễu tiền bối tại anh hùng yến dùng thư pháp hóa nhập võ công, Quá nhi thì lấy thi cú hóa nhập võ công, xem chừng cũng được.

Tiểu Long Nữ khen:

– Hay lắm.

Bỗng nghe Kim Luân pháp vương tán thưởng:

– Dương huynh đệ, sự thông minh của huynh đệ khiến lão nạp thán phục vô cùng. Mấy câu tiếp theo hẳn sẽ là" Cúi đầu thấu hiểu, hồn du thái huyền, Vui như ngư khách, được cá quên thuyền. "

Công Tôn Chỉ chợt nghĩ:" Lão hòa thượng đang chỉ điểm cho ta ". Cũng không cần nghĩ xem Kim Luân pháp vương có dụng ý gì, đoán rằng sau câu" Cúi đầu thấu hiểu ", kiếm tất đánh xuống, bèn vung hắc kiếm thủ trước hạ bàn, còn kim đao thì phạt ngang trung bàn.

Kim Luân pháp vương văn võ toàn tài, tuy ẩn cư ở Tây Tạng, nhưng đọc hết bách gia kinh sử của người Hán, nghe Dương Quá ngâm thơ, lão ta đã biết câu tiếp theo là gì, bèn nói toạc ra, để giúp Công Tôn Chỉ trừ khử Dương Quá. Lần này Công Tôn Chỉ quả nhiên đi trước nửa bước, kiếm chiêu của Dương Quá chưa sử ra, đã bị đối phương chặn đứng, đao răng cưa lại phạt ngang trung bàn. May mà Dương Quá nghe Kim Luân pháp vương đọc bốn câu thơ kia, thôi không sử kiếm theo thơ, mà phòng thủ trung bàn, chàng dùng ngón giữa tay trái búng vào sống đao" coong "một tiếng. Công Tôn Chỉ cảm thấy cánh tay chấn động, hổ khẩu hơi tê, hắn kinh ngạc nghĩ bụng:" Tên tiểu tử này võ công cổ quái thật! "Cái búng vừa rồi của Dương Quá chính là công phu Đạn chỉ thần công mà Hoàng Dược Sư truyền thụ, bất quá chàng công lực chưa đủ, nên chưa thể khắc địch chế thắng. Nếu là cái búng của Hoàng Dược Sư, thì cây đao kia đã văng khỏi tay Công Tôn Chỉ rồi. Tuy nhiên nhờ cái búng ấy mà trong giây lát Dương Quá từ thế hạ phong giành lại thượng phong, trường kiếm múa tít, sử dụng Ngọc tiêu kiếm pháp do Hoàng Dược Sư truyền thụ. Ngọc tiêu kiếm pháp và Đạn chỉ thần công đều lấy việc tấn công huyệt đạo của địch làm chính, kiếm phối hợp với chỉ (ngón tay), tinh vi huyền diệu, tuy công phu của chàng chưa thành thục, nhưng đông kích dồn dập một trận, Công Tôn Chỉ cũng không dễ gì đối phó.

Lúc này Cầu Thiên Xích lại nhắc:

– Hắn đâm kiếm sườn phải, đao chém ngang cổ đó!

– Hắn thọc kiếm vai phải, thủ đao sườn trái đấy!

Bà ta cứ vạch ra trước từng lộ chiêu số của Công Tôn Chỉ. Như thế này, Dương Quá tất sẽ thắng chứ không thể bại, chàng không ngâm thơ nữa, Kim Luân pháp vương sẽ chẳng còn cách gì đoán biết kiếm ý của chàng. Âm dương song nhẫn của Công Tôn Chỉ tuy là võ học gia truyền, nhưng sau một phen được Cầu Thiên Xích gạn đục khơi trong, sáng tân bổ khuyết, chỉnh đốn hoàn toàn, mọi chiêu số đều bị Cầu Thiên Xích đoán biết, dù biến hóa thế nào cũng bị bà ta vạch trần.

Đang đấu say sưa, bỗng nghe Cầu Thiên Xích nói:

– Đao kiếm của hắn cùng tấn công thượng bàn đó.

Câu này thật là tai hại, nói ra đúng vào lúc đao kiếm của Công Tôn Chỉ vừa đánh ra, không thể biến đổi giữa chừng, thừa cơ hội cho Dương Quá né tránh. Dương Quá chúi người xuống tránh, đưa ngang kiếm che lưng, ngón tay trái đã điểm vào huyệt Khí Hải ở dưới rốn một tấc rưỡi của đối phương. Dương Quá điểm trúng huyệt, cả mừng, tưởng đối phương nhất định bị trọng thương, nào ngờ Công Tôn Chỉ lại điềm nhiên tung cước đá lên cằm chàng. Dương Quá kinh ngạc, vội nhảy sang bên cạnh mấy thước, lấy làm lạ về huyệt đạo của người này. Ở trận trước, chàng dùng chuông vàng rõ ràng đánh trúng huyệt của hắn, vậy mà hắn không việc gì; chàng còn đang mải nghĩ, đao kiếm của Công Tôn Chỉ đã đánh tới. Chỉ nghe Cầu Thiên Xích nói:

– Đao kiếm của hắn giao thoa, hữu kiếm công bên trái, tả đao công bên phải.

Dương Quá lập tức cố chống trả.

Xét về công lực mà nói, Dương Quá đã không địch nổi từ sớm, may nhờ có Cầu Thiên Xích vạch ra trước các chiêu số lợi hại của Công Tôn Chỉ. Lúc này hai bên đã trao đổi bảy, tám trăm chiêu, đám đệ tử sơn cốc cố nhiên kinh hồn táng đởm, bọn cao thủ như Tiêu Tương Tử cũng hoa cả mắt, không thể đoán kết cục trận này ai thắng ai bại.

Trong đao quang kiếm ảnh, Công Tôn Chỉ há miệng mà thở phì phò, Dương Quá thì mồ hôi ướt áo, hai người tiến thoái đã không còn linh hoạt như trước nữa.

Công Tôn Lục Ngạc nghĩ cứ đấu tiếp, một trong hai người ắt sẽ trọng thương, nàng không muốn Dương Quá bại trận, cung không nỡ nhìn phụ thân ngã xuống, bèn nói nhỏ với Cầu Thiên Xích:

– Mẹ, mẹ bảo họ đừng đánh nhau nữa, hãy ngồi lại phân định phải trái thì hơn.

Câu Thiên Xích nói:

– Hừm, rót hai chén trà mang lại cho ta!

Lục Ngạc vâng lời, mang hai chén trà đến trước mặt mẹ. Cầu Thiên Xích đưa hai tay gỡ miếng vải mà ban nãy Tiểu Long Nữ đã băng vết thương trên đầu bà ta, vừa gỡ ra, máu lập tức lại chảy. Lục Ngạc thốt lên:

– Mẹ!

Cầu Thiên Xích nói:

– Không chết được đâu!

Bà ta đặt băng trên gối, hai tay bưng hai chén trà, bốn ngón mỗi tay giữ chén, ngón cái thì chấm đẫm máu tươi mà nhúng vào trong chén trà. Máu tươi tan liền trong nước trà, không còn vết tích gì. Bà ta gọi to:

– Đấu mệt cả rồi, hãy uống một chén trà rồi đấu tiếp!

Rồi sai Lục Ngạc:

– Bưng ra cho họ giải khát, mỗi người một chén!

Lục Ngạc biết mẹ vô cùng oán hận phụ thân, quyết không có hảo tâm để cho phụ thân giải khát; việc này chắc hẳn bất lợi cho phụ thân; nhưng hai chén trà này chính nàng rót ra, không hề có độc, cũng không có gì lạ, có lẽ mẹ nàng thương hại Dương Quá, song nếu không cho phụ thân nàng được uống, phụ thân sẽ không chịu dừng đấu; Dương Quá cũng không thể uống; cả hai sẽ mệt lử. Thế là nàng bước ra giữa sảnh, nói to:

– Xin hãy dùng trà!

Dương Quá và Công Tôn Chỉ đã khát khô cả cổ, nghe Cầu Thiên Xích gọi, đều dừng tay nhảy sang một bên. Lục Ngạc bưng khay trà cho phụ thân trước.

Công Tôn Chỉ nghĩ bụng, trà này do Cầu Thiên Xích sai mang ra, chắc có gì bất thường, quá nửa là bị hạ độc bèn hất tay về phía Dương Quá, nói:

– Mang cho hắn uống trước!

Dương Quá không chút lo sợ, bưng luôn chén trà, uống một ngụm nhỏ. Công Tôn Chỉ nói:

– Được rồi, ngươi hãy đưa chén trà ấy cho ta.

Hắn giơ tay nhận chén trà từ tay Dương Quá. Dương Quá cười, nói:

– Trà do con gái ngươi rót, không lẽ lại có thuốc độc hay sao?

Chàng nói rồi bưng chén trà kia uống một hơi cạn sạch.

Công Tôn Chỉ nhìn mặt Lục Ngạc, thấy sắc diện bình hòa, nghĩ:" Ngạc nhi có tình ý đối với tên tiểu tử kia, tất nhiên không hạ độc vào trà, mình đã đổi lấy chén của hắn, còn ngại gì nữa ". Bèn cũng uống cạn một hơi, rồi gõ đao kiếm vào nhau keng một tiếng, nói:

– Không cần nghỉ, hãy đấu tiếp; nếu không được mụ già kia chỉ điểm, thì ngươi có mười cái mạng cũng đã táng dưới kim đao hắc kiếm của ta rồi.

Cầu Thiên Xích băng lại vết thương trên đầu, nói:

– Công phu bế huyệt của hắn đã trở nên vô hiệu, ngươi cứ việc đánh vào huyệt đạo của hắn.

Công Tôn Chỉ sững sờ, chỉ lờ mờ cảm thấy lưỡi có vị tanh tanh của máu thì kinh hoàng. Nguyên công phu bế huyệt gia truyền của hắn có một điều đại cấm kỵ, là trong ăn uống tuyệt nhiên không được có chất tanh, nếu không công phu lập tức bị mất hiệu nghiệm. Tổ tiên hắn sợ vô ý phạm kỵ, đã nghiêm huấn mọi người trong sơn cốc này phải ăn chay; người ngoài dẫu không luyện công phu thượng thừa ấy cũng phải ăn chay theo. Hắn xưa nay phòng phạm chu đáo, ai ngờ Cầu Thiên Xích thực hiện độc kế, đem hòa máu bà ta vào trà? Dương Quá uống thứ nước trà ấy đâu có tổn hại gì, còn công phu khổ luyện một đời của Công Tôn Chỉ thì hóa thành công cốc.

Trong cơn cuồng nộ, hắn ngoảnh nhìn Cầu Thiên Xích, thấy bà ta đang ngồi đặt đĩa táo ngọt dùng để thết khách trên đầu gối bà ta, thong thả nhai táo một cách ngon lành, rồi bà ta chậm rãi nói:

– Hai mươi năm trước ta đã bảo ngươi rồi, môn công phu của gia tộc Công Tôn nhà ngươi khó luyện dễ phá, đừng luyện thì hơn.

Công Tôn Chỉ mắt như tóe lửa, vung đao kiếm lao về phía Cầu Thiên Xích. Công Tôn Lục Ngạc hoảng hốt nhào tới che trước mặt mẹ, chỉ cảm thấy tiếng gió rít ngang tai, tựa hồ có ám khí bay qua. Công Tôn Chỉ rú lên một tiếng dài, mắt phải của hắn máu chảy ròng ròng, hắn quay người chạy ra, hai tay vẫn nắm đao kiếm. Một vệt máu tươi nhỏ dưới đất, thẳng ra cửa sảnh. Chỉ nghe tiếng kêu thảm thiết càng lúc càng xa của hắn, cuối cùng tắt lặng ngoài rừng. Mọi người trong sảnh nhìn nhau, không biết Cầu Thiên Xích đả thương Công Tôn Chỉ bằng cách nào. Chỉ có Dương Quá và Công Tôn Lục Ngạc mới biết Cầu Thiên Xích vừa sử dụng công phu phun hạt táo.

Trong lúc Dương Quá và Công Tôn Chỉ giao đấu, Cầu Thiên Xích ăn táo, đã ngậm sẵn trong miệng bảy, tám hạt táo. Bà ta thấy Công Tôn Chỉ võ công đại tiến, nếu mình phun hạt táo, hắn ắt tránh được, một đòn không trúng, hắn đã đề phòng thì sau đó khó lòng đả thương hắn. Thế là bà ta trước tiên dùng trà pha máu hủy hoại công phu bế huyệt của hắn, sau đó mới thừa cơ hắn nổi giận mà đột nhiên phun hạt táo. Mười mấy năm bà ta chỉ khổ luyện một môn võ công này, kình lực mạnh mẽ, sự chuẩn xác của nó không thua bất cứ thứ ám khí lợi hại nào trong thiên hạ. Nếu Công Tôn Lục Ngạc không bất ngờ nhảy ra che chắn trước mặt, thì Công Tôn Chỉ đã không chỉ mù cả hai mắt, mà còn bị hạt táo phun trúng giữa trán, chết ngay tại trận.

Lục Ngạc không nỡ lòng nào, nàng ngây ra, gọi:

– Gia gia, gia gia!

Rồi định chạy theo xem sao. Cầu Thiên Xích quát:

– Ngươi muốn gọi gia gia, muốn đi theo hắn thì vĩnh viễn đừng nhìn mặt ta nữa.

Lục Ngạc dừng bước, tiến thoái lưỡng nan, nhưng nghĩ trong chuyện này phụ thân sai trái, thảm cảnh mẹ nàng phải chịu nặng nề hơn nhiều, hơn nữa phụ thân đã đi xa, nàng có đuổi theo cũng chẳng kịp, bèn quay lại, đứng cúi đầu im lặng.

Cầu Thiên Xích thản nhiên ngồi trên ghế, nhìn hai bên, cười nhạt, nói:

– Được rồi, hôm nay các vị tới đây là để uống rượu mừng, tiệc rượu chưa xong, há để mất hứng?

Mọi người đều lạnh gáy trước mục quang của Cầu Thiên Xích, chỉ sợ bà ta đột nhiên phun ra thứ ám khí cổ quái. Mọi người của sơn cốc đều lo ngại, bọn Kim Luân pháp vương, Doãn Khắc Tây thì ngấm ngầm phòng bị.

Tiểu Long Nữ và Dương Quá thấy Công Tôn Chỉ rơi vào kết cục như vậy, cũng hết sức bất ngờ, bất giác cùng thở dài, đưa tay ra nắm chặt tay nhau; hai người tâm ý tương thông, kề vai nhau bước ra ngoài. Vừa tới cửa sảnh, thì nghe Cầu Thiên Xích đột nhiên quát to:

– Dương Quá, ngươi đi đâu vậy?

Dương Quá quay người lại, vái bà ta thật dài, nói:

– Cầu lão tiền bối, Công Tôn cô nương, chúng ta từ biệt ở đây thôi.

Chàng tự biết mạng mình không dài, nên không nói" Hẹn ngày tái ngộ ".

Lục Ngạc đáp lễ, buồn rầu im lặng. Cầu Thiên Xích mặt hầm hầm, xẵng giọng:

– Ta có đứa con gái độc nhất hứa gả cho ngươi, tại sao ngươi đã không gọi ta là nhạc mẫu, lại còn vội vàng bỏ đi?

Dương Quá ngẩn ra, nghĩ:" Lão bà hứa gả con gái cho ta, nhưng ta đâu có muốn ".

Cầu Thiên Xích nói:

– Ở đây đồ lễ, đèn nến đủ cả, tân khách cũng đông đủ, nhân sĩ võ lâm chúng ta cũng khỏi cần nhiêu khê, hai đứa ngươi bây giờ hãy thành thân luôn cho xong.

Bọn Kim Luân pháp vương thấy Dương Quá chỉ vì Tiểu Long Nữ đã phải hai phen ác đấu với Công Tôn Chỉ, lúc này nghe Cầu Thiên Xích nói thế, biết rằng lại sắp xảy ra một trận phong ba. Mọi người nhìn nhau, kẻ thì mỉm cười, người thì lắc đầu nhè nhẹ.

Dương Quá tay trái khoác tay Tiểu Long Nữ, tay phải đè lên cán kiếm Quân tử, nói:

– Mỹ ý của Cầu lão tiền bối, vãn bối vô cùng cảm kích. Nhưng vãn bối đã có ý trung nhân, quả thật không xứng với lệnh ái.

Nói rồi thong thả bước lùi, chàng sợ Cầu Thiên Xích trong cơn giận dữ lại phun hạt táo, nên tay đè cán kiếm phòng bị.

Cầu Thiên Xích giận dữ nhìn Tiểu Long Nữ một cái, lạnh lùng nói:

– Hừm, tiểu hồ ly tinh này quả nhiên quá ư xinh xắn, chẳng trách lão già thì mê muội, trai trẻ cũng điên đảo vì nó.

Lục Ngạc nói:

– Mẹ, Dương đại ca và Long cô nương sớm có ước hẹn nhân duyên, đầu đuôi thế nào, hài nhi sẽ kể cho mẹ nghe sau.

Cầu Thiên Xích quát:

– Cái gì? Ngươi coi mẹ của ngươi là hạng người nào hả? Lời ta đã hứa, há có thể thay đổi? Dương Quá, đừng nói con gái ta dung mạo xinh đẹp, hoàn toàn xứng đôi với ngươi, cho dù nó xấu như ma, hôm nay ngươi không lấy nó làm vợ thì không xong với ta.

Mã Quang Tá nghe bà ta nói năng ngang ngược, thì cười phá lên, nói to:

– Vợ chồng cốc chủ đúng là một cặp hoạt bảo, lão công ép khuê nữ nhà khác thành hôn với mình, lão bà cũng ép thiếu niên nhà người phải lấy con gái mình, muốn hay không cũng mặc ư?

Cầu Thiên Xích lạnh lùng nói:

– Đúng thế!

Mã Quang Tá cười ha hả," bộp "một tiếng, một hạt táo đột nhiên phun tới trán y, nhanh như một tia chớp.

Không thể né tránh, Mã Quang Tá kinh hãi nghiêng đầu, hạt táo làm y gãy mất ba cái răng cửa.

Mã Quang Tá cả giận, gầm lên, xông tới. Nhưng chỉ nghe" oạch oạch "hai tiếng, huyệt Hoàn Khiêu bên chân phải và huyệt Dương Quan bên chân trái của y cùng lúc bị hạt táo bắn trúng, y ngã khuỵu xuống, không đứng dậy nổi.

Ba hạt táo bắn đi với tốc độ quá nhanh, không kịp đối phó. Dương Quá lúc thấy Mã Quang Tá cả cười, biết rằng thể nào Cầu Thiên Xích cũng sẽ hạ độc thủ, chàng rút kiếm chạy lại cứu, nhưng đã chậm một bước, vội giơ tay đỡ Mã Quang Tá dậy, giải khai huyệt đạo cho y.

Mã Quang Tá thực sự thán phục, thấy Cầu Thiên Xích tay không động, chân không giơ, chỉ mấp máy môi mà đánh ngã y, liền nhổ ba cái răng gãy ra, nói:

– Lão thái bà, bản lĩnh của bà bà cao hơn ta, ta không dám đắc tội nữa.

Cầu Thiên Xích không thèm lý đến y, trừng mắt nói với Dương Quá:

– Ngươi nhất quyết không chịu lấy con gái ta phải không?

Lục Ngạc quá thẹn trước mặt mọi người trong đại sảnh, không nhịn được nữa, rút chuỷ thủ bên hông, chĩa mũi dao vào ngực mình, nói to:

– Mẹ, mẹ còn nói thế nữa, hài nhi sẽ chết ngay tại đây cho mẹ coi.

Cầu Thiên Xích chúm môi, bộp một tiếng, một hạt táo bắn tới, trúng cán chuỷ thủ khiến nó bay ngang, cắm vào một cây cột gỗ sâu mấy tấc, dưới ánh nến còn thấy cán dao rung rung.

Mọi người kêu ồ lên, cùng sởn gai ốc.

Dương Quá nghĩ ở đây thêm chỉ phí lời, chàng búng ngón tay vào thanh kiếm kêu tinh tinh, ngâm to:

Bơ vơ thỏ trắng lạc loài

Về đông nhưng cứ nhớ hoài trời tây

Không gì bằng áo mới may

Bằng em của những tháng ngày xa xưa

Rồi chàng khoác tay Tiểu Long Nữ mà quay mình đi.

Lục Ngạc nghe hai câu" Không gì bằng áo mới may, bằng em của những tháng ngày xa xưa ", thì càng đau lòng; nàng lấy tấm áo cũ rách mà Dương Quá đã thay ra, bưng hai tay đến trước mặt chàng, nói:

– Dương đại ca, bộ quần áo cũ tuy cũ vẫn hơn đấy.

Dương Quá nhận lấy, nói:

– Đa tạ cô nương.

Chàng và Tiểu Long Nữ đều biết Lục Ngạc cố ý che chắn, để mẹ nàng không thể phun hạt táo đả thương họ. Tiểu Long Nữ mỉm cười, gật đầu tỏ ý đa tạ, Lục Ngạc khẽ hất hàm ra phía ngoài, ngụ ý bảo hai người hãy mau mau rút đi.

Cầu Thiên Xích lẩm bẩm" Không gì bằng áo mới may, bằng em của những tháng ngày xa xưa ". Bỗng bà ta cao giọng gọi:

– Dương Quá, ngươi không chịu lấy con gái ta, ngay cả tính mạng ngươi cũng không muốn giữ hay sao?

Dương Quá cười nhạt, lùi thêm một bước, chân đã đặt trên ngưỡng cửa. Tiểu Long Nữ giật mình, nói:

– Hãy khoan.

Rồi nàng dõng dạc hỏi:

– Cầu lão tiền bối, lão tiền bối có đan dược trị độc hoa Tình hay không?

Lục Ngạc vốn vẫn nghĩ đến chuyện này, phụ thân trong tay chỉ có một viên" Tuyệt Tình đơn ", Dương Quá đã đưa cho Tiểu Long Nữ uống rồi, chất độc hoa Tình trong người chàng chưa được giải, nàng chỉ còn mong mẫu thân có cách gì chữa trị; nhưng mẫu thân ắt sẽ dùng cái đó để uy hiếp Dương Quá, buộc chàng lấy nàng làm vợ; nên nàng không dám mở miệng cầu xin; bây giờ tình thế gấp gáp, nàng cũng chẳng giữ kẽ nữa, liền nói với mẹ:

– Mẹ, nếu không có Dương đại ca cứu giúp, thì mẹ còn bị hãm trong hốc đá. Dương đại ca lại không hề đắc tội với mẹ. Chúng ta có ân báo ân, mẹ hãy mau tìm cách giải độc cho Dương đại ca.

Cầu Thiên Xích cười khẩy, nói:

– Có ân báo ân ư? Có thù báo thù ư? Ân cừu trên đời há phân minh rành rọt? Công Tôn Chỉ hắn đã báo ân ta rồi đấy!

Lục Ngạc nói to:

– Hài nhi căm hận nhất kẻ ba lòng hai ý, có mới nới cũ. Nếu Dương đại ca định quên người cũ, đòi lấy hài nhi, thì hài nhi dù chết cũng quyết không lấy chàng ta.

Mấy câu này Cầu Thiên Xích nghe rất hợp ý, nhưng nghĩ kỹ thấy ngay dụng tâm của con gái, biết nó rất thích Dương Quá, nếu Dương Quá bằng lòng lấy nó, nó sẽ chịu liền, có điều là tình thế trước mắt buộc phải tính cách cứu mạng Dương Quá cái đã.

Bọn Kim Luân pháp vương, Doãn Khắc Tây chứng kiến hai phen bức hôn, chỉ nhìn nhau tủm tỉm cười. Kim Luân pháp vương đến lúc này mới biết Dương Quá trúng độc, lão ta mừng thầm, chỉ mong chàng kiên trì đến cùng, đừng đáp ứng lấy Lục Ngạc để giữ mạng. Lão chỉ lo Dương Quá ngụy kế đa đoan, giả bộ đáp ứng, lấy được thuốc giải sẽ trở mặt. Nhưng lão ta nghĩ có mặt lão ở đây, tên tiểu tử kia có giở trò gian trá, lão ta cũng sẽ vạch trần, không để Cầu Thiên Xích mắc lừa.

Cầu Thiên Xích đưa mắt quét từ đông sang tây, thong thả nhìn mặt từng người, rồi nói:

– Dương Quá, ở đây có người mong ngươi sống, có kẻ muốn ngươi chết. Chính ngươi muốn sống hay chết, hãy tự nghĩ đi.

Dương Quá quàng tay sang eo lưng Tiểu Long Nữ, hiên ngang nói:

– Hai chúng tôi đây nếu không được sống bên nhau, thì cả hai chúng tôi thà cùng chết một lần.

Tiểu Long Nữ cười tươi, nói:

– Đúng vậy!

Nàng với Dương Quá tâm ý tương thông, ái tình của hai người nồng nàn đến mức họ coi rất nhẹ đại sự sinh tử.

Cầu Thiên Xích chưa hiểu tâm tư của Tiểu Long Nữ, nói:

– Nếu ta không ra tay cứu tên tiểu tử đó, hắn sẽ mất mạng, ngươi hiểu chưa? Hắn chỉ sống được ba mươi sáu ngày thôi, ngươi hiểu chưa?

Tiểu Long Nữ nói:

– Nếu lão tiền bối cứu mạng, hai chúng tôi được sống với nhau vài năm, dĩ nhiên đội ơn đại đức. Còn không, chỉ sống được ba mươi sáu ngày, hai chúng tôi cũng cam lòng! Quá nhi chết, vãn bối cũng chẳng thiết sống.

Nàng nói mấy câu đó, khuôn mặt xinh đẹp thản nhiên như không.

Cầu Thiên Xích nhìn Tiểu Long Nữ, lại nhìn Dương Quá, thấy hai người ấy nhìn nhau, tình si ý thành, bà ta chưa từng trải qua hay nghĩ đến trong đời, không ngờ nam nữ trên thế gian lại yêu thương nhau đắm đuối đến thế, bất giác nhớ đến kết cục phu thê bi thảm giữa mình với Công Tôn Chỉ, thì thở dài, hai dòng nước mắt lăn trên má.

Lục Ngạc sà vào lòng mẹ, khóc, nói:

– Mẹ, mẹ trị độc cho Dương đại ca, rồi hai mẹ con mình đi tìm cữu cữu, cữu cữu rất mong nhớ mẹ, phải vậy không?

Cầu Thiên Xích ứa nước mắt, lòng tràn ngập nhu tình, nhưng nghĩ đến câu nhị ca Cầu Thiên Nhẫn viết trong thư" Từ khi đại ca bị bỏ mạng dưới tay Quách Tĩnh, Hoàng Dung.. ", bản thân mình thì chân tay tàn phế, nhị ca lại đã xuất gia đi tu, nói là" buông đao đồ tể, qui y tam bảo ", như thế chẳng hóa ra mối thù của đại ca không bao giờ trả được hay sao? Dương Quá võ công không kém, hắn đã không chịu lấy con gái ta, thì ta phải sai hắn thay ta đi báo thù, cũng là một đại sự.

Nghĩ đến đó, Cầu Thiên Xích bèn nói:

–" Tuyệt Tình đơn "vốn không ít, nhưng ta đã ngâm vào thạch tín hủy đi, chỉ có ba viên. Ba viên ấy, tên gian tặc đã uống một viên, viên thứ hai khi ta say rượu, bị Công Tôn Chỉ lấy đi, sau đó Dương Quá ngươi có được ngươi đã đưa cho thiếu nữ kia uống. Trên thế gian chỉ còn một viên duy nhất, được ta cất giữ trong người đã hơn hai mươi năm nay. Sống ở Tuyệt Tình cốc mà không để sẵn trong người một viên" Tuyệt Tình đơn ", thì coi như sinh mạng không còn của mình nữa. Nay ta còn sống cũng chẳng lâu, con gái ta cũng vị tất ở lại chốn này..

Nói rồi bà ta thong thả lấy trong bọc ra viên" Tuyệt Tình đơn "độc nhất trên thế gian, dùng móng tay cắt thành hai, để một nửa viên giữa lòng bàn tay, nói:

– Viên thuốc này ta cho ngươi, ngươi không chịu làm nữ tế (con rể) ta cũng được, song ngươi phải đáp ứng làm cho ta một việc.

Dương Quá và Tiểu Long Nữ nhìn nhau, không ngờ cuối cùng bà ta lại có hảo tâm. Hai người tuy nói là không quan tâm đến chuyện sống chết, nhưng trước mắt có đường sống, tất nhiên hết sức vui mừng, cùng nói:

– Lão tiền bối muốn làm việc gì, chúng tôi sẽ tận lực.

Cầu Thiên Xích chậm rãi nói:

– Ta muốn ngươi đi lấy thủ cấp của hai người về giao tận tay ta.

Dương Quá và Tiểu Long Nữ vừa nghe, liền đoán rằng một trong hai kẻ mà Cầu Thiên Xích muốn giết hẳn là Công Tôn Chỉ. Đối với kẻ đó, Dương Quá tuyệt vô hảo cảm, hắn đã mù một mắt, công phu bế huyệt đã không còn, tuy chưa mất võ công, song giết hắn cũng không khó; có điều hắn là cha của Lục Ngạc, mà cô nương ấy đối với chàng lại si tình; giết cha nàng ta không khỏi khiến nàng ta đau khổ, thành thử nhất thời chàng chưa biết trả lời thế nào. Tiểu Long Nữ cũng nghĩ, Công Tôn Chỉ tuy tàn ác, song hắn có ơn cứu mạng nàng; nhìn sắc diện của Cầu Thiên Xích, nếu không làm theo yêu cầu của bà ta, bà ta sẽ không đời nào trao thuốc cho Dương Quá.

Cầu Thiên Xích nhìn nhìn vẻ lưỡng lự của hai người, lạnh lùng nói:

– Ta không biết hai kẻ ấy có quan hệ thế nào với các ngươi, song không thể không giết chúng.

Dương Quá nghe giọng điệu của Cầu Thiên Xích, thì dường như không phải là Công Tôn Chỉ, bèn hỏi:

– Cầu lão tiền bối có thù với ai? Muốn vãn bối lấy thủ cấp của ai?

Cầu Thiên Xích nói:

– Ngươi không nghe nhắc tên ác tặc trong bức thư ban nãy ư? Kẻ giết hại đại ca của ta là Quách Tĩnh, Hoàng Dung gì đó.

Dương Quá cả mừng, nói:

– Thế thì hay lắm! Hai kẻ đó chính là kẻ thù giết cha vãn bối. Cầu lão tiền bối không nhờ, vãn bối cũng phải giết hai kẻ đó để trả thù.

Cầu Thiên Xích lấy làm lạ, hỏi:

– Thật vậy ư?

Dương Quá chỉ Kim Luân pháp vương, nói:

– Vị đại sư kia cũng có hiềm khích với hai kẻ đó. Chuyện của vãn bối, vãn bối từng kể cho đại sư kia biết.

Cầu Thiên Xích nhìn Kim Luân pháp vương. Kim Luân pháp vương gật đầu, nói:

– Nhưng lần ấy vị Dương huynh đệ này lại đi giúp Quách Tĩnh, Hoàng Dung gây khó dễ với lão nạp.

Tiểu Long Nữ và Lục Ngạc rất ghét cái lão hòa thượng cứ chốc chốc xui nguyên giục bị kia, cùng hầm hầm nhìn lão ta. Kim Luân pháp vương giả bộ không thấy, mỉm cười, nói:

– Dương huynh đệ, chuyện đó có chứ?

Dương Quá nói:

– Đúng. Đợi tại hạ báo thù xong cho cha mẹ, sẽ thỉnh giáo đại sư vài chiêu.

Kim Luân pháp vương chắp tay, nói:

– Hay lắm, hay lắm!

Cầu Thiên Xích chìa bàn tay, nói với Dương Quá:

– Ta cũng không cần biết ngươi nói thật hay giả, ngươi hãy nhận thuốc mà uống trước đi.

Dương Quá bước tới nhận, thấy chỉ có nửa viên, thì hiểu ngay, cười, nói:

– Phải mang thủ cấp của hai người về đổi lấy nửa viên còn lại phải không?

Cầu Thiên Xích gật đầu, nói:

– Ngươi rất thông minh, nhìn một cái hiểu ngay, khỏi cần người khác nhiều lời.

Dương Quá nghĩ:" Cứ uống nửa viên này đã, còn hơn không có thuốc ". Chàng bèn bỏ thuốc vào miệng, nuốt theo nước bọt xuống bụng. Cầu Thiên Xích nói:

–" Tuyệt Tình đơn "này trên thế gian chỉ có một viên, ngươi đã uống nửa viên, nửa viên còn lại ta sẽ giấu ở một nơi bí mật. Mười tám ngày sau, nếu ngươi mang thủ cấp của hai người về đây, tất nhiên ta sẽ trao nốt cho ngươi; nếu không, dẫu ngươi có đem thân ta ra mà tra tấn hành hạ, dẫu ngươi có quăng ta trở lại hốc đá, ta cũng không cho ngươi. Cầu Thiên Xích ta nói lời như dao chém đá, nói sao làm vậy. Xin cáo biệt các vị quí khách, Dương đại gia, Long cô nương, hẹn mười tám ngày sau tái ngộ.

Nói xong nhắm mắt lại, không lý gì đến mọi người nữa.

Tiểu Long Nữ hỏi:

– Vì sao định thời hạn mười tám ngày?

Cầu Thiên Xích nhắm mắt, nói:

– Chất độc hoa Tình trong người Dương Quá sau ba mươi sáu ngày sẽ phát tác, vừa rồi hắn đã uống nửa viên" Tuyệt Tình đơn ", chất độc tụ vào một chỗ, khi phát tác sẽ nhanh gấp bội. Mười tám ngày sau uống nết nửa viên, sẽ lập tức giải hết độc. Bằng không.. thì.. hi hi!

Nói đoạn vung tay, ngụ ý bảo mọi người hãy mau lui ra.

Dương Quá và Tiểu Long Nữ biết không thể lý sự thêm với người này, bèn từ biệt Công Tôn Lục Ngạc, nhanh chóng rời Thủy Tiên trang. Dương Quá lại dùng thuyền rời khỏi Tuyệt Tình cốc, cùng Tiểu Long Nữ thi triển khinh công, băng qua núi cao mà ra.

Dương Quá ở trong sơn cốc chỉ có ba ngày, song số lần gian nan nguy hiểm, kề bên cái chết, trải qua trong ba ngày ấy không phải một, hai lần, giờ chàng được cùng ý trung nhân thoát khỏi hiểm địa, thật đúng như tái sinh kiếp khác. Hai người sánh vai đứng trên núi cao, nhìn xuống u cốc, chỉ thấy rừng cây âm u một màu xanh sẫm, trong lòng phơi phới, lâng lâng như đang đứng trên mây.

Dương Quá dắt tay Tiểu Long Nữ đi đến bên gốc một cây hòe lớn, nói:

– Cô cô!

Tiểu Long Nữ tựa lưng vào thân cây, mỉm cười, nói:

– Thiếp nghĩ chàng đừng gọi thiếp là cô cô nữa thì hơn.

Dương Quá trong thâm tâm đã không còn coi nàng là sư phụ, chàng gọi nàng là" cô cô "chỉ vì thói quen, nghe nàng nói vậy, thầm vui, nhìn chăm chú vào mắt nàng, hỏi:

– Quá nhi nên gọi là gì đây?

Tiểu Long Nữ nói:

– Chàng thích gọi là gì thì gọi, tùy ý chàng.

Dương Quá nghĩ một lát, nói:

– Thời gian sung sướng nhất đời của Quá nhi là khi sống với cô cô trong tòa cổ mộ; bây giờ Quá nhi gọi nàng là cô cô vậy thì từ giờ đến chết cứ gọi là cô cô thôi.

Tiểu Long Nữ cười, nói:

– Lúc thiếp đánh vào mông chàng, chàng cũng sung sướng hay sao?

Dương Quá vòng hai tay ôm nàng vào lòng, chỉ thấy hơi ấm của cơ thể nàng phảng phất hương hoa của núi rừng, thật khiến người ta say đắm, bèn âu yếm nói:

– Hai ta cứ thế này mười tám ngày, cũng đủ sướng lắm rồi, khỏi cần đi giết Quách Tĩnh, Hoàng Dung làm gì nữa. Thay vì bôn ba lao lực, liều chết giao đấu, hai ta hãy sống yên ổn sung sướng mười tám ngày còn hơn.

Tiểu Long Nữ mỉm cười, nói:

– Chàng muốn thế nào cũng được. Trước kia thiếp bắt chàng phải vâng lời thiếp, từ giờ thiếp sẽ nghe lời chàng.

Nàng bao năm lạnh lùng, nay thì từ trong lòng cho đến đầu mày cuối mắt, cả thân hình đều ôn nhu âu yếm, toàn tâm toàn ý chiều theo lời Dương Quá, lấy đó làm niềm sung sướng cao nhất.

Dương Quá ngẩn ngơ ngắm nàng, thong thả nói:

– Tại sao trong mắt cô cô có ngấn lệ?

Tiểu Long Nữ cầm tay chàng đặt lên má mình, dịu dàng nói:

– Thiếp.. không biết. Chắc là tại thiếp thích chàng quá đấy.

Dương Quá nói:

– Quá nhi biết cô cô đau lòng về điều gì rồi.

Tiểu Long Nữ ngẩng lên, nước mắt ứa ra ròng ròng, ngả người vào lòng chàng, khóc nấc lên:

– Quá nhi, chàng.. chúng mình chỉ còn mười tám ngày, làm sao cho đủ?

Dương Quá vỗ vỗ nhẹ vai nàng, dịu dàng nói:

– Phải rồi, Quá nhi cũng thấy không đủ.

Tiểu Long Nữ nói:

– Thiếp muốn chàng cứ mãi mãi như thế này với thiếp, một trăm năm, một ngàn năm, một vạn năm.

Dương Quá nâng cằm nàng lên, đặt vào đôi môi phớt hồng của nàng một cái hôn nhè nhẹ, nói:

– Đúng, gì thì cũng phải đi giết Quách Tĩnh, Hoàng Dung.

Đầu lưỡi chàng cảm thấy vị mằn mặn của nước mắt nàng, tình ý trong lòng trỗi dậy, toàn thân chàng run lên.

Bỗng nghe trên đỉnh gò cao bên trái có người cười to, nói:

– Muốn chàng chàng nàng nàng với nhau, cũng không cần vội thế.

Dương Quá ngoảnh đầu, thấy trên cái gò cách hơn mười trượng có năm người đứng kề vai nhau là Kim Luân pháp vương, Mã Quang Tá, Tiêu Tương Tử, Ni Ma Tinh và Doãn Khắc Tây; kẻ vừa nói là Kim Luân pháp vương. Chàng nghĩ mình và Tiểu Long Nữ rời khỏi sơn cốc một cách mau lẹ, không ngờ mấy người kia bám sát theo sau, hai người trùng phùng sau cơn đại nạn, ngoài đối phương ra, không còn để ý tới bất cứ ai và bất cứ cái gì khác; đang âu yếm nhau bên gốc hòe, thì bị năm người kia nhìn thấy.

Dương Quá nhớ lại trong Tuyệt Tình cốc, Kim Luân pháp vương mấy lần gây khó cho chàng, chút nữa chàng bỏ mạng vì lời lẽ của lão ta; sớm biết thế này, thì khi lão ta đang dưỡng thương trong ngôi nhà tranh trên đỉnh núi nọ, chàng lấy mạng lão ta cho xong, lại đi trị thương giúp lão; một vị tông chủ như lão mà lại đi lấy oán báo ơn. Tiếu Long Nữ thấy ánh mắt giận dữ của chàng, bèn nói:

– Mặc xác hắn, cả đời hắn cũng không có được một thời khắc sung sướng như chúng mình đâu.

Mã Quang Tá nói:

– Dương huynh đệ, Long cô nương, chúng ta hãy nhập bọn với nhau thì hơn. Ở chốn hoang sơn dã lĩnh, không rượu không thịt này, có gì đáng thăm thú đâu.

Dương Quá chỉ muốn được cùng Tiểu Long Nữ yên ổn giờ nào hay giờ ấy, lúc này lại bị kẻ khác quấy nhiễu, nhưng chàng biết Mã Quang Tá có hảo tâm, bèn đáp:

– Mã đại ca cứ đi trước, tiểu đệ sẽ theo sau.

Mã Quang Tá nói:

– Hay lắm, vậy huynh đệ mau lên một chút.

Kim Luân pháp vương cười hô hố, nói:

– Họ Mã, ngươi chờ làm gì phí công, họ còn luyến ái nhau ở chốn này mười tám ngày cơ.

Cầu Thiên Xích bảo sau mười tám ngày chất độc sẽ phát tác, mọi người trong đại sảnh đều nghe rõ; nhưng thấy Kim Luân pháp vương lúc này nhắc lại, thì Mã Quang Tá cả giận, túm lấy vạt áo Kim Luân pháp vương, nói:

– Lão trọc chết tiệt, bụng dạ lão sao mà hiểm độc thế! Cả bọn cùng đi với Dương huynh đệ tới sơn cốc, lão đã chẳng giúp Dương huynh đệ thì thôi, lại cứ nói này nói nọ là sao?

Kim Luân pháp vương cười khẩy, nói:

– Ngươi có buông tay ra không?

Mã Quang Tá nói:

– Ta không buông đấy, lão làm gì nào?

Kim Luân pháp vương đánh một quyền phải tới trước mặt, Mã Quang Tá nói:

– Ái chà, động thủ ư?

Y đưa bàn tay to như cái quạt lên chộp nắm đấm của Kim Luân pháp vương. Nào ngờ cú đấm của Kim Luân pháp vương chỉ là hư chiêu, tay trái lão ta giơ ra, túm sau lưng Mã Quang Tá, cương kình nhu kình cùng hất ra, thân hình hộ pháp của Mã Quang Tá tức thời bay xuống dốc, may nhờ da thịt dày, dốc núi lại đầy cỏ, nên y không bị trọng thương, nhưng trán sưng u tím bầm, y vừa kêu oai oái vừa bò lên.

Dương Quá thấy hai người động thủ, biết Mã Quang Tá sẽ bị đòn, vội tới giúp, mới chạy được ba bước, Mã Quang Tá đã bị hất văng đi. Mã Quang Tá tuy đần độn, song cũng biết đánh không lại lão hòa thượng, miệng vừa rên rỉ vừa kêu lên:

– Ối chao, úi chao, lão trọc đánh gãy tay ta rồi.

Kim Luân pháp vương được phong là đệ nhất quốc sư Mông Cổ, được vương tử Mông Cổ Hốt Tất Liệt mời tới Trung Nguyên, bọn Tiêu Tương Tử và Ni Ma Tinh vốn chưa phục, lúc này thấy lão ta ngang ngược như vậy thì tức giận, đưa mắt cho nhau. Tiêu Tương Tử nói:

– Đại sư võ công quả nhiên cao cường, không hổ danh hiệu đệ nhất quốc sư Mông Cổ.

Kim Luân pháp vương nói:

– Không dám, không dám..

Lão nhìn sắc diện, biết Ni, Tiêu hai gã định xuất thủ, mà Dương Quá và Tiểu Long Nữ thì cũng sẵn sàng ra tay, tâm ý của Doãn Khắc Tây ra sao chưa rõ. Lão tuy tự thị võ công cao siêu, nhưng nếu năm cao thủ kia hợp sức đánh lão, thì lão không thể địch nổi đã đành, chỉ e tính mạng khó toàn, nên ngoài miệng đối đáp trong đầu nghĩ cách thoát thân.

Lão không ngờ Mã Quang Tá lẻn tới sau lưng lão, giáng cho lão một quyền rất mạnh, trúng vào gáy lão. Võ công như Kim Luân pháp vương, Mã Quang Tá có đánh lén cũng khó, song lúc này lão mải chú ý tới mấy người kia, coi thường gã Mã Quang Tá đần độn, nên bị một quyền nặng như búa bổ, khiến lão nổ đom đóm mắt. Lão cả giận, thúc cùi chỏ ra phía sau, Mã Quang Tá bị thoi trúng ngực, kêu to một tiếng, gục xuống phía trước. Kim Luân pháp vương hơi nhún hai chân xuống, thân hình hộ pháp của Mã Quang Tá vừa hay đổ vắt qua vai lão, lão vác y chạy luôn xuống dốc. Mọi người kêu to, Dương Quá đuổi theo trước tiên.

Kim Luân pháp vương tuy vác một người khổng lồ nặng ngót ba trăm cân, song vẫn chạy như bay. Dương Quá, Tiểu Long Nữ, Ni Ma Tinh đều thi triển khinh công, song qua mấy chục trượng vẫn chưa đuổi kịp lão ta. Dương Quá và Tiểu Long Nữ lao nhanh hơn, sắp đến gần. Kim Luân pháp vương dừng lại, ngoảnh đầu, cười nhăn nhở, nói:

– Được, các ngươi muốn liên thủ, hay muốn đơn đả độc đấu thì bảo?

Đoạn lão đặt cái đầu của Mã Quang Tá đối diện với một tảng đá bên cạnh, sẵn sàng đập đầu gã kia vào đó.

Dương Quá vòng ra sau lưng lão ta, nói:

– Nếu lão đả thương Mã đại ca, chúng tôi sẽ liên thủ cùng tấn công.

Kim Luân pháp vương cười hô hố, đặt Mã Quang Tá xuống đất, nói:

– Kẻ đần độn như hắn, cũng được coi trọng thế ư?

Lão thò hai tay vào bọc, lúc rút ra thì tay trái bạch quang loang loáng, tay phải hoàng khí bừng bừng, ngân luân và đồng luân đã gõ vào nhau, nghe choang một tiếng, vang vọng núi rừng. Lão hỏi:

– Vị nào xông tới trước đây?

Doãn Khắc Tây cười hì hì, nói:

– Các vị chuyên về võ học, tại hạ thì lo chuyện mua bán, xin đứng ngoài quan đấu.

Kim Luân pháp vương nghĩ bụng:" Tên này không ngả theo bên nào, bớt được một kình địch ". Tiêu Tương Tử nghĩ cứ để người khác đấu với Kim Luân pháp vương trước, khi nào lão ta mỏi mệt rồi, mình sẽ nhảy vào thủ thắng, bèn nói:

– Ni huynh, võ công của huynh cao hơn tiểu đệ, mời huynh đấu trước!

Ni Ma Tinh nghe Tiêu Tương Từ nói, đã biết ý của gã kia, song tự phụ tu vi võ học độc bộ Thiên Trúc, bình sinh chưa gặp địch thủ, nghĩ mình không thắng Kim Luân pháp vương, thì cũng chẳng thể lạc bại, bèn tiện tay vác một hòn đá lớn bên dốc núi lên, nói:

– Được, tại hạ thử tài hai cái vòng tròn của đại sư.

Y vác đá đánh tới ngực Kim Luân pháp vương, hòn đá này nặng chí ít cũng ba trăm cân, mọi người thấy y không dùng binh khí, lại vác đá mà đánh, đều không khỏi kinh ngạc.

Kim Luân pháp vương cũng không ngờ gã lùn này lại có thần lực ghê gớm vậy, không dám coi thường, nghiêng người né tránh, dùng cái đồng luân quật ngang lưng Ni Ma Tinh. Ni Ma Tinh đưa tảng đá ra sau cản lại, đồng luân cự thạch va vào nhau, tia lửa tung tóe tứ phía. Kim Luân pháp vương cảm thấy cánh tay trái hơi tê dại, nghĩ:" Con quỉ lùn này võ công quái dị, thật không thể coi thường. Nhưng dù hắn khỏe đến mấy, vác khối đá nặng thế kia phỏng được bao lâu? "Thế là múa song luân xoay chuyển quanh người Ni Ma Tinh.

Dương Quá đỡ Mã Quang Tá dậy, rồi cùng Tiểu Long Nữ đứng xem giao đấu, thấy Ni Ma Tinh thần lực kinh nhân, võ công đặc dị, đều thầm kinh ngạc.

Hai người kia đấu một hồi, lực đạo của Ni Ma Tinh vẫn không suy giảm, đột nhiên y quát to:

– A bà tinh!

Đồng thời ném tảng đá tới người Kim Luân pháp vương.

Cú ném này là một môn võ công lợi hại của họ Thích ở Thiên Trúc, gọi là" Thích Ca trịch tượng công ". Trong kinh Phật có viết, Thích Ca Mâu Ni hồi làm thái tử, một hôm ra khỏi hoàng thành, có một con voi chắn đường, thái tử bèn túm chân con voi ném nó lên không trung, ba ngày sau con voi mới rơi xuống đất, tạo thành một cái khe sâu, nay gọi là khe Tếch Tượng (Ném voi). Cái đó dĩ nhiên là chuyện ngụ ngôn, ngụ ý Phật pháp là điều ngoài sức tưởng tượng. Sau các võ sĩ Thiên Trúc luyện thành môn ngoại công ném một vật nặng, bèn đặt tên như thế. Lúc này Ni Ma Tinh vận thần công ném đá, thấy khối đá lao vù vù về phía Kim Luân pháp vương.

Kim Luân pháp vương võ công tuy mạnh, nhưng đối với một vật nặng ngần kia, há dám chống chọi trực diện, vội nhảy tránh sang một bên. Ni Ma Tinh đột nhiên bay theo khối đá, song chưởng đẩy khối đá chuyển hướng bay, lại lao về phía Kim Luân pháp vương. Lần này đang đà bay, kình lực được gia tăng, nên khối đa bay nhanh và mạnh hơn lúc đầu.

Luận về võ công, Kim Luân pháp vương đúng là cao hơn Ni Ma Tinh, nhưng" Thích Ca trịch tượng công "là môn lão ta chưa từng đối phó, nhất thời lão trở tay không kịp, thấy khối đá đổi hướng, lại bay tới, lão ta đành nhảy tránh. Ni Ma Tinh thừa thắng truy kích, khối đá được đẩy tiếp, thế bay càng mãnh liệt thêm. Kim Luân pháp vương nghĩ bụng:" Cứ đà này, ắt mình sẽ bại dưới tay con quỷ lùn mất; phải lập tức dùng cách khác thôi. May mà hắn một mình ra đấu với mình, mình đánh chết hắn rồi, Tiêu Tương Tử sẽ không dám xông lại. Dương Quá và Tiểu Long Nữ trong người có độc, sử dụng "Ngọc nữ tố tâm kiếm pháp" sẽ không thể như ý ".

Bỗng nghe sau núi có tiếng vó ngựa rầm rập, thế như sấm động, tinh kỳ triển động, một đội nhân mã lao tới. Kim Luân pháp vương và Ni Ma Tinh mải đấu, không để ý. Bọn Dương Quá thấy đó là một đội kỵ binh Mông Cổ, ai nấy mang trường đao, cung nỏ. Đến cách vài chục trượng thì họ dừng lại, quan lãnh binh giơ tay làm hiệu toàn đội kìm ngựa, không tiến nữa.

Người đứng dưới cờ xem cuộc đấu giây lát, rồi giục ngựa chạy tới, gọi to:

– Dừng tay, dừng tay!

Người ấy mặc hoàng bào, tay cầm thiết cung, chính là vương tử Mông Cổ Hốt Tất Liệt.

Ni Ma Tinh nghe tiếng gọi, bay người lên đẩy khối đá lăn xuống dốc núi, kéo theo đất đá chuyển động rùng rùng.

Hốt Tất Liệt xuống ngựa, tay trái kéo Kim Luân pháp vương, tay phải kéo Ni Ma Tinh, cười nói:

– Thì ra hai vị đang trao đổi võ công ở đây, khiến tiểu vương đại khai nhãn giới.

Hốt Tất Liệt làm gì chẳng biết hai người đánh nhau thực sự, nhưng muốn giữ thể diện cho hai bên, mới bảo họ dừng tay. Kim Luân pháp vương mỉm cười, nói:

– Vị Ni huynh này võ học hết sức độc đáo, hiếm có, hiếm có!

Ni Ma Tinh lườm một cái, nói:

– Tại hạ cứ ngỡ đệ nhất quốc sư Mông Cổ tài giỏi lắm, hóa ra.. hi hi!

Kim Luân pháp vương cả giận, nghĩ bụng:" Chẳng lẽ ta không đánh lại ngươi được hay sao? "Đang định mở miệng đấu khẩu, thì Hốt Tất Liệt cười, nói:

– Chốn này phong cảnh hữu tình, há có thể không uống rượu! Tả hữu, mang rượu lại, chúng ta uống vài chén nào!

Người Mông Cổ sinh trưởng giữa thảo nguyên, quen màn trời chiếu đất, coi việc ăn uống giữa rừng hoang với trong nhà không khác gì nhau, thị vệ lập tức bày mâm rượu và món nhắm trên mặt đất.

Hốt Tất Liệt nhìn Tiểu Long Nữ, nghĩ thầm:" Nhân gian lại có thiếu nữ xinh đẹp nhường này ". Thấy nàng tay nắm vai kề với Dương Quá, thần tình thân mật, Hốt Tất Liệt bèn hỏi Dương Quá:

– Vị cô nương này là ai đây?

Dương Quá đáp:

– Đây là Long cô nương, là sư phụ của tiểu nhân, cũng là thê tử của tiểu nhân.

Sau một phen xuất sinh nhập tử ở Tuyệt Tình cốc, mọi thứ lễ giáo tập tục trói buộc con người khắp thiên hạ chàng không coi ra gì nữa, chỉ muốn hết thảy mọi người trên đời đều biết Dương Quá ta là người lấy sư phụ làm vợ đấy.

Người Mông Cổ đâu có lễ giáo tôn sư trọng đạo, nam nữ cách biệt như người Hán, Hốt Tất Liệt nghe Dương Quá nói vậy không hề lấy làm lạ, biết nữ nhân này là người truyền thụ võ nghệ cho Dương Quá, thì bất giác thêm kính nể, cười, nói:

– Quả nhiên là lang tài nữ mạo, thiên sinh khuê ngẫu, vừa lứa xứng đôi, hay lắm hay lắm! Nào, mọi người cùng cạn một chén chúc mừng hai vị.

Đoạn nâng ly rượu uống cạn một hơi. Kim Luân pháp vương mỉm cười, cũng uống cạn. Mấy người kia cùng uống. Riêng Mã Quang Tá uống liền ba chén.

Tiểu Long Nữ vốn không yêu ghét gì người Mông Cổ nay nghe Hốt Tất Liệt khen nàng với Dương Quá đẹp đôi, thì sung sướng uống nửa chén, dung sắc càng thêm kiều diễm, nghĩ thầm:" Một số người Hán bảo ta và Quá nhi không được thành thân, vị vương gia Mông Cổ này nói là "hay lắm", xem ra kiến thức của người Mông Cổ cao thật đấy ".

Hốt Tất Liệt cười, nói:

– Ba hôm không thấy các vị trở về, tiểu vương nhớ quá, ngặt nỗi thành Tương Dương quân vụ khẩn cấp, không thể chờ lâu, tiểu vương bèn dặn lại đại doanh, mời các vị lập tức đến bên thành Tương Dương hợp lực. Hôm nay may gặp ở đây, thật không gì bằng.

Kim Luân pháp vương nói:

– Thỉnh vấn vương gia, quân ta công thành Tương Dương có thuận lợi hay không?

Hốt Tất Liệt cau mày, nói:

– Viên tướng giữ thành Tương Dương Lã Văn Đức vốn là kẻ bất tài, nhưng tiểu vương lo nhất khi nghe có một người là Quách Tĩnh ở đó.

Dương Quá giật mình, hỏi:

– Quách Tĩnh quả đang ở trong thành Tương Dương ư?

Hốt Tất Liệt nói:

– Vị Quách Tĩnh ấy lại là bề trên của tiểu vương, hồi trẻ từng kết giao huynh đệ với tiên vương, từng là viên ái tướng số một của tổ phụ tiểu vương Thành Cát Tư Hãn. Người ấy trí dũng song toàn, cầm quân viễn chinh Tây Vực, kiến lập đại công. Tiên vương từng dặn tiểu vương, Nam triều chúa hôn thần gian, tướng binh nhu nhược, người tuy đông song khó địch nổi tinh binh Mông Cổ chúng ta, nhưng nếu gặp Quách Tĩnh thì phải hết sức thận trọng, nhất thiết không được sơ ý. Ôi, phụ vương quả có tiên kiến, quân ta đóng binh ngoài thành Tương Dương tấn công lâu rồi vẫn chưa hạ được, tất cả chỉ tại Quách Tĩnh ở trong đó.

Dương Quá đứng dậy, nói:

– Gã họ Quách ấy có mối thù lớn giết cha của tiểu nhân, tiểu nhân xin nhận lệnh đi lấy đầu hắn.

Hốt Tất Liệt vui mừng, nói:

– Tiểu vương mời các vị anh hùng hảo hán cũng chính là vì việc ấy. Nhưng nghe đồn Quách Tĩnh võ công đứng đầu người Hán ở Trung Nguyên, lại có không ít người tài năng dị thường trợ giúp, tiểu vương mấy lần phái dũng sĩ đi hành thích, thảy đều thất thủ, bị bắt hoặc bị giết, không một ai trở về. Dương huynh đệ tuy vũ dũng, song một tay khó vỗ thành tiếng, tiểu vương muốn mời các vị anh hùng cùng trà trộn vào thành Tương Dương, hợp lực hạ thủ. Chỉ cần giết được Quách Tĩnh, thành Tương Dương ắt buông tay đầu hàng.

Bọn Kim Luân pháp vương, Tiêu Tương Tử cùng đứng dậy ôm quyền, nói:

– Được vương gia sai khiến, chúng tôi xin tận lực.

Hốt Tất Liệt cả mừng, nói:

– Bất kể vị nào giết được Quách Tĩnh, mấy vị cùng đi đều có đại công. Riêng người đích thân hạ sát, tiêu vương sẽ tâu rõ với đại hãn, phong thưởng tước hiệu công hầu, hưởng danh hiệu đệ nhất dũng sĩ Đại Mông Cổ.

Bọn Tiêu Tương Tử, Ni Ma Tinh đối với tước hiệu công hầu không coi ra gì, nhưng nếu được phong danh hiệu đệ nhất dũng sĩ Đại Mông Cổ, dương danh thiên hạ, thì quả là thỏa nguyện bình sinh. Mông Cổ lúc này binh uy bốn cõi, cương giới rộng lớn cổ kim chưa từng có; cương thổ Tây Vực kéo dài mấy vạn dặm, hai phần ba Trung Quốc cũng thuộc về Mông Cổ, từ trung tâm đế quốc đến biên cương, phi ngựa thật nhanh cũng cả năm trời mới tới, nếu được phong danh hiệu đệ nhất dũng sĩ Đại Mông Cổ, anh hùng hào kiệt khắp thiên hạ sẽ đều phải kính nể. Bởi vậy ai cũng náo nức, ngay Kim Luân pháp vương cũng sáng mắt lên.

Dương Quá thản nhiên mỉm cười, lắc đầu. Tiểu Long Nữ âu yếm nhìn chàng, nghĩ thầm:" Tước hiệu công hầu, danh hiệu đệ nhất dũng sĩ Đại Mông Cổ mà làm gì? Ta chỉ mong chàng bình an sống sót mà thôi ".

Mọi người lại uống rượu, rồi đứng dậy. Các võ sĩ Mông Cổ dắt ngựa tới, Dương Quá, Tiểu Long Nữ, bọn Kim Luân pháp vương nhất tề lên ngựa, theo sau Hốt Tất Liệt, cùng phi nhanh về hướng nam, đến thành Tương Dương.

Dọc đường chỉ thấy mười nhà thì chín bỏ hoang, xương phơi đầy đồng, quân Mông Cổ gặp người Hán thường ngang ngược chém giết, Dương Quá nhìn thấy rất tức giận, định ra tay can thiệp, nhưng lại nể mặt Hốt Tất Liệt, nghĩ bụng:" Quân Mông Cổ tàn bạo thế này, chúng coi người Hán ta không bằng con heo con chó, chờ ta lấy đầu Quách Tĩnh, Hoàng Dung rồi sẽ giết một số quan quân Mông Cổ tàn ác nhất cho hả dạ ".

Mấy ngày sau thì đến bên ngoài thành Tương Dương. Bấy giờ đôi bên công thủ giao chiến đã hơn một tháng, chỗ nào cũng thấy gươm giáo gãy nát, máu đọng thây phơi, đủ biết chiến sự ác liệt chừng nào.

Quân Mông Cổ được tin Tứ đại vương Hốt Tất Liệt thân chinh lâm trận, thì nguyên soái, đại tướng toàn quân nghênh đón từ ngoài ba chục dặm. Thấy đại kỳ của Hốt Tất Liệt từ xa, các tướng soái nhất tề xuống ngựa, phủ phục hai bên đường.

Hốt Tất Liệt phóng ngựa tới gần, dừng ngựa nhìn quanh hồi lâu, rồi nói:

– Hừ, thành Tương Dương đánh lâu không hạ được, chẳng hóa ra hạ thấp uy danh của Đại Mông Cổ ta ư?

Các tướng cùng đáp:

– Tiểu tướng đáng chết, thỉnh Tứ đại vương trị tội.

Hốt Tất Liệt vung roi quất một cái, con ngựa chồm lên phía trước. Chư tướng hồi lâu không dám ngửng mặt, người người run sợ.

Dương Quá thấy Hốt Tất Liệt đối đãi với chàng và bọn Kim Luân pháp vương rất mực bình dị, nhưng đứng trước chư tướng thì rất uy nghiêm, nghĩ bụng:" Quân Mông Cổ binh cường mã tráng, kỷ luật nghiêm minh, Đại Tống làm sao địch nổi? "Chàng bất giác cau mày.

Hôm sau, trời vừa sáng, quân Mông Cổ đại cử công thành, tên bay, đá rơi như mưa, hướng cả vào trong thành. Tiếp đó quân sĩ vác thang áp vào tường thành, từ bốn phía ào ào leo lên bờ tường. Trong thành phòng thủ nghiêm mật, cứ tám binh sĩ cùng giữ một cây gỗ lớn, đẩy thang của địch ra khỏi tường thành. Giao chiến hồi lâu, cuối cùng có mấy trăm binh sĩ Mông Cổ leo lên được bờ thành. Trong quân Mông Cổ tiếng reo hò rầm trời, từng đội một trăm người ào lên theo như kiến cỏ. Bỗng từ phía sau nữ tường (bờ tường thấp, trên mặt thành) một đội cung thủ xuất hiện, tên bắn ra như mưa, làm cho viện quân Mông Cổ không thể leo lên; tiếp đó một đội quân Tống cầm đuốc lao tới, đốt cháy các cây thang, những binh sĩ Mông Cổ đang leo thang rơi xuống lả tả.

Trong tiếng hô rầm trời trong và ngoài thành, một đội hán tử dũng mãnh xách giáo dài kiếm sắc lao ra tấn công những tên lính Mông Cổ đã leo lên mặt thành. Đội hán tử này không mặc binh phục quân Tống; người thì áo đen, kẻ lại áo xanh, khi công kích cũng không thành đội hình, nhưng thân thủ hiển nhiên là những người có võ công. Những tên lính Mông Cổ đã leo lên mặt thành đều là dũng sĩ, thuộc loại vô địch, nhưng gặp đội hán tử này, sau vài hiệp đấu, cứ lần lượt bị hạ gục, kẻ nằm vắt ngang bờ thành, người thì rơi xuống chân thành tan thây. Giữa quân Tống có một hán tử trung niên đặc biệt uy mãnh, người đó mặc bộ y phục màu xám, tay không, tung hoành ngang dọc, thấy quân Tống bị nguy chỗ nào liền lao tới giải vây; người đó lao tới đâu, binh tướng Mông Cổ đều dạt cả ra, thật y như hổ xông vào đàn dê.

Hốt Tất Liệt thân chinh đứng dưới chân thành đốc chiến, thấy hán tử kia anh dũng như thế, bất giác ngây người hồi lâu, thở dài:" Dũng sĩ thiên hạ, liệu còn ai theo kịp người đó? "

Dương Quá đứng bên, hỏi:

– Vương gia có biết ai đấy chăng?

Hốt Tất liệt chột dạ, hỏi:

– Không lẽ đó là Quách Tĩnh?

Dương Quá nói:

– Chính hắn!

Lúc này mấy lính Mông Cổ đã leo lên mặt thành bị giết chỉ còn được vài mống, có ba tên bách phu trưởng ngoan cường nhất tay cầm giáo dài, tiếp tục chiến đấu. Tên vạn phu trưởng ở dưới chân thành thổi tù và, lại dồn quân công thành, hòng tiếp ứng ba tên bách phu trưởng trên kia.

Quách Tĩnh hú một tiếng dài, chạy tới. Một tên bách phu trưởng đâm mũi giáo về phía đó, Quách Tĩnh giơ tay chộp cán giáo, hất mạnh về phía trước, đồng thời tung chân trái đá chiếc mộc của tên bách phu trưởng thứ hai bay đi. Hai tên bách phu trưởng tuy dũng cảm, nhưng chịu sao nổi một hất một cước đầy thần lực của Quách Tĩnh? Cả hai ngã lộn mấy vòng, rơi xuống đất chết tươi.

Tên bách phu trưởng thứ ba đã nhiều tuổi, tóc muối tiêu, tự biết hôm nay khó toàn mạng, vung cây đao dài chém loạn xạ, thế như mãnh hổ. Quách Tĩnh dùng tay trái túm lấy cổ tay cầm đao của hắn, hữu chưởng định giáng tới, bỗng sững lại. Tên bách phu trưởng này cũng đã nhận ra Quách Tĩnh, liền kêu lên:

– Kim đao phò mã, là đại nhân đấy ư?

Nguyên hắn là thuộc hạ của Quách Tĩnh hồi tây chinh năm nào. Hôm nay hắn là một trong những dũng sĩ leo lên mặt thành đầu tiên.

Quách Tĩnh nghĩ đến tình xưa, nói:

– Ồ, ngươi là Ngạc Nhĩ Đa phải không?

Tên bách phu trưởng thấy Quách Tĩnh nhớ được tên mình, không khỏi rơm rớm nước mắt, thốt lên:

– Thưa, chính là tiểu nhân.

Quách Tĩnh nói:

– Nghĩ đến tình xưa, hôm nay ta tha mạng cho ngươi. Lần sau còn để ta bắt gặp, đừng trách ta vô tình.

Đoạn ngoảnh đầu, sai tả hữu:

– Lấy dây buộc, thả hắn xuống dưới chân thành!

Hai tráng đinh liền dùng dây thừng dài quấn ngang bụng Ngạc Nhĩ Đa, rồi thả hắn xuống dưới chân thành.

Ngạc Nhĩ Đa là một dũng sĩ lừng danh trong quân đội Mông Cổ, bị quân Tống buộc dây thả xuống dưới chân thành, binh sĩ Mông Cổ bên dưới đều lấy làm lạ, không hiểu có biến cố gì, nhất tề lùi lại vài chục trượng; trên mặt thành cũng ngừng bắn tên xuống, đôi bên bãi đấu. Ngạc Nhĩ Đa xuống đến dưới đất, quì xuống đất lạy tạ Quách Tĩnh, nói to:

– Có Kim đao phò mã ở đây, tiểu nhân quyết không dám tái phạm hổ giá.

Quách Tĩnh đứng trên mặt thành, thần uy lẫm liệt, nói lớn:

– Chủ soái Mông Cổ nghe đây: Đại Tống và Mông Cổ năm xưa đồng tâm kết minh, hợp lực diệt Kim, nay quân Mông Cổ nhà ngươi cớ sao xâm phạm cương giới của ta, sát hại bách tính của ta? Dân chúng Đại Tống ta đông gấp mười lần dân số Mông Cổ, nếu các ngươi không mau lui binh, nghĩa binh của Đại Tống ta vùng dậy, e rằng mười mấy vạn quân Mông Cổ các ngươi sẽ không có đất mà chôn.

Mấy câu này Quách Tĩnh nói bằng tiếng Mông Cổ trung khí sung mãn, từng câu từng chữ rành rọt; tường thành tuy cao, khoảng cách quân lính hai bên lại xa, nhưng mấy vạn binh tướng Mông Cổ đều nghe rõ, không khỏi nhìn nhau thất sắc.

Một tên vạn phu trưởng dẫn Ngạc Nhĩ Đa tới trước mặt Hốt Tất Liệt, bẩm cáo nguyên do. Ngạc Nhĩ Đa kể lại năm xưa từng cùng Quách Tĩnh tây chinh, Kim đao phò mã dùng binh như thần thế nào, khắc địch chế thắng ra sao, miêu tả đâu ra đấy. Hốt Tất Liệt sa sầm mặt, quát:

– Mang ra chém đầu!

Ngạc Nhĩ Đa kêu lên:

– Oan quá!

Tên vạn phu trưởng nói:

– Tứ đại vương minh xét cho, Ngạc Nhĩ Đa có nhiều chiến công..

Hốt Tất Liệt phẩy tay, bốn vệ sĩ lôi Ngạc Nhĩ Đa ra chém đầu, mang thủ cấp lại trình. Chư tướng thảy đều kinh hãi. Hốt Tất Liệt nói với tên vạn phu trưởng:

– Ngạc Nhĩ Đa được chôn cất như một liệt sĩ, ngoài ra hãy thưởng cho thê tử hắn mười cân vàng, ba mươi nô lệ, ba trăm con cừu.

Tên vạn phu trưởng ngơ ngác không hiểu, chỉ nói:

– Vâng, vâng.

Hốt Tất Liệt nói:

– Ta đã giết hắn, lại còn ban thưởng cho gia thuộc, các ngươi chưa hiểu lý do chứ gì?

Chư tướng nhất tề cúi mình, nói:

– Thỉnh Tứ đại vương chỉ bảo.

Hốt Tất Liệt nói:

– Tên bách phu trưởng ấy đã quì lạy Quách Tĩnh, cường điệu sự lợi hại của Quách Tĩnh, làm cho lòng quân dao động, không đáng chém đầu hay sao? Nhưng hắn đã dũng cảm leo lên thành đầu tiên, chiến đấu đến người cuối cùng, há không đáng ban thưởng?

Chư tướng đều bái phục.

Như thế là quân Mông Cổ đã mất nhuệ khí. Hốt Tất Liệt biết hôm nay dù tái công thành cũng chỉ tổn thất vô ích, chẳng được gì, thấy dưới chân thành ngổn ngang mấy ngàn xác binh sĩ Mông Cổ, toàn là những chiến binh tinh nhuệ từng qua trăm trận, thì rất đau lòng. Nhìn thành Tương Dương kiên cố, phòng thủ nghiêm mật, quả không có sơ hở nào, bất giác Hốt Tất Liệt thở dài, hạ lệnh lui quân bốn mươi dặm. Hai vệ sĩ tả hữu nhìn nhau, cùng tâu:

– Tiểu nhân xin phân ưu với Tứ đại vương, gì thì cũng phải giảm bớt nhuệ khí của bọn Nam man.

Nói xong họ nhảy lên ngựa, phi tới chân tường thành, giương cung, hai mũi tên bắn lên chỗ Quách Tĩnh.

Tài cưỡi ngựa của hai người ấy đã cao, thuật bắn cung lại chuẩn, đúng là ngựa phi như bay, tên lao như chớp. Dưới chân thành chỉ nghe" phựt phựt "hai tiếng, hai mũi tên đã bay vút tới ngực và bụng Quách Tĩnh. Quách Tĩnh không thể tránh, chỉ thấy mỗi tay chộp một mũi tên, rồi vung tay phóng xuống.

Hai vệ sĩ Mông Cổ chưa kịp quay ngựa chạy về, mũi tên đã phóng cắm vào ngực, cùng ngã ngựa. Quân Tống trên mặt thành reo hò như sấm, khua cả trống trận trợ uy.

Hốt Tất Liệt rầu rĩ dẫn quân lui về phía bắc. Đại quân đi được vài dặm, thì Dương Quá nói:

– Xin vương gia đừng lo buồn, tiểu nhân sẽ vào thành lấy đầu Quách Tĩnh.

Hốt Tất Liệt lắc đầu, nói:

– Quách Tĩnh trí dũng song toàn, quả nhiên danh bất hư truyền. Hôm nay vừa gặp, ta liền cảm thấy đành hoàn toàn thúc thủ.

Dương Quá nói:

– Tiểu nhân từng sống mấy năm với gia đình Quách Tĩnh, lại từng trợ giúp hắn, đối với tiểu nhân, hắn chắc hẳn sẽ không có ý đề phòng. Người đời có câu" Giáo đâm chỗ sáng dễ tránh, tên bắn trong tối khó phòng ".

Hốt Tất Liệt nói:

– Vừa rồi trong lúc công thành, Dương huynh đệ đứng bên cạnh tiểu vương, e rằng Quách Tĩnh ở trên thành đã nhìn thấy.

Dương Quá nói:

– Tiểu nhân đã nghĩ đến việc đó, nên lúc công thành, đã cùng Long cô nương đội mũ sụp xuống trán, dựng cổ áo che gáy, Quách Tĩnh nhất định không thể nhận ra.

Hốt Tất Liệt nói:

– Nếu vậy, chúc Dương huynh đệ lập đại công, ước hẹn phong thưởng, quyết không nuốt lời.

Dương Quá đa tạ, đang định quay mình, cùng Tiểu Long Nữ cáo biệt mọi người, thì nhìn thấy vẻ mặt khác lạ của bọn Kim Luân pháp vương, Tiêu Tương Tử, Ni Ma Tinh và Doãn Khắc Tây, chợt nghĩ:" Mấy người kia đều lo mình đi giết Quách Tĩnh, được phong danh hiệu đệ nhất dũng sĩ Đại Mông Cổ, nhất định sẽ tìm cách ngăn cản, khiến mình khó thành công ", bèn nói với Hốt Tất Liệt:

– Vương gia, tiểu nhân có một điều cáo bẩm; tiểu nhân đi giết Quách Tĩnh, là để báo thù riêng, cũng là đầu lấy thủ cấp của hắn mang về đổi lấy đan dược cứu mạng, nếu nhờ phúc của vương gia mà đại sự thành công, thì tiểu nhân quyết không dám nhận danh hiệu đệ nhất dũng sĩ Đại Mông Cổ.

Hốt Tất Liệt hỏi:

– Vì sao vậy?

Dương Quá nói:

– Tiểu nhân võ công còn thua xa các vị ở đây, làm sao dám nhận danh hiệu đó? Vương gia có đáp ứng việc đó, tiểu nhân mới dám động thân.

Hốt Tất Liệt thấy chàng lời lẽ thành khẩn, đúng là ý muốn của chàng; nhìn thần sắc mấy người kia, cũng đoán ra tâm ý của chàng, bèn nói:

– Đã thế, mỗi người có chí hướng riêng, tiểu vương cũng không ép.

Bọn Kim Luân pháp vương nghe Hốt Tất Liệt nói vậy, quả nhiên đều có vẻ hài lòng.

Dương Quá quay đầu ngựa, sánh vai cùng Tiểu Long Nữ phi về phía thành Tương Dương, dọc đường quẳng mũ, áo da, phục hồi lối trang phục của người Hán, đến dưới chân thành thì trời đã tối, thấy cổng thành đóng kín, từng tốp binh sĩ trên đầu thảnh cầm đuốc đi tuần phòng. Dương Quá gọi to:

– Tại hạ họ Dương tên Quá, đến xin bái kiến Quách Tĩnh Quách đại gia.

Tướng giữ thành nghe tiếng gọi, thấy chỉ có hai người, bèn bẩm cáo với Quách Tĩnh.

Lát sau, có hai thanh niên ra đầu thành, nhìn xuống dưới, một người nói:

– Thì ra là Dương đại ca, chỉ có hai vị thôi sao?

Dương Quá thấy huynh đệ họ Võ, nghĩ:" Quách Tĩnh giết cha ta, không biết khi đó phụ thân của huynh đệ họ Võ có ở bên cạnh trợ giúp hay không? "Nói:

– Võ đại ca, Võ nhị ca, Quách bá bá có ở trong thành hay không?

Võ Tu Văn nói:

– Mời vào hãy hay.

Họ ra lệnh binh sĩ mở cổng thành, hạ cầu treo, để Dương Quá và Tiểu Long Nữ đi vào trong thành.

Huynh đệ họ Võ dẫn hai người đến trước một tòa nhà lớn. Quách Tĩnh tươi cười ra cửa vái Tiểu Long Nữ một cái, nắm tay Dương Quá cười, nói:

– Quá nhi, hai người đến thật đúng lúc. Bọn Thát tử đang gấp rút công thành, có hai người đến trợ lực với ta, thật là phúc cho bách tính thành Tương Dương này.

Tiểu Long Nữ là sư phụ của Dương Quá, Quách Tĩnh dùng lễ ngang hàng đối đãi, trân trọng nhường lối vào nhà, đối với Dương Quá cũng vô cùng thân thiết.

Dương Quá bị Quách Tĩnh nắm tay kéo đi, nghĩ người này là kẻ thù giết cha mình, hận không thể rút kiếm đâm chết ngay, chỉ e ngại võ công của Quách Tĩnh, chưa dám ngang nhiên động thủ, phải gượng cười, nói:

– Quách bá bá vẫn khỏe.

Chàng căm hận nên không quì xuống khấu đầu.

Quách Tĩnh khoan dung đại độ, cũng không lưu tâm đến tiểu tiết. Tới đại sảnh, Dương Quá muốn vào nội đường bái kiến Hoàng Dung. Quách Tĩnh cười, nói:

– Quách bá mẫu của ngươi sắp lâm bồn, mấy hôm nay người không được khỏe, ngày mai gặp cũng được.

Dương Quá mừng thầm:" Hoàng Dung mưu trí hơn người, mình chỉ lo bị bà ta nhận ra chỗ sơ hở, nay bà ta sắp đến kỳ sinh nở, đúng là trời giúp ta thành công ".

Có người vào bẩm cáo:

– Lã đại soái mời Quách đại gia tới dự yến, mừng hôm nay đại thắng Thát tử.

Quách Tính nói:

– Ngươi về bẩm với đại soái, đa tạ ban yến. Ta có viễn khách quang lâm, không thể phụng bồi.

Trung quân thấy Dương Quá ít tuổi, chẳng có gì đặc dị, không hiểu tại sao Quách Tĩnh lại trân trọng với chàng như thế, đến mức từ chối dự tiệc mừng công để tiếp đãi chàng, thì không khỏi lấy làm lạ, trở về bẩm cáo với Lã Văn Đức.

Quách Tĩnh tự bày tiệc trong nhà thết đãi Tiểu Long Nữ và Dương Quá. Tham dự có Chu Tử Liễu, Lỗ Hữu Cước, huynh đệ họ Võ, Quách Phù. Chu Tử Liễu ngỏ lời cảm tạ Dương Quá về việc chàng đã lấy được thuốc giải của Hoắc Đô để trị độc cho ông ta. Dương Quá cười nhạt, nói vài lời khiêm tốn.

Quách Phù thấy Dương Quá tỏ vẻ lạnh nhạt, bèn gọi:

– Dương đại ca.

Quách Tĩnh nói:

– Phù nhi, hôm trước hài nhi bị Kim Luân pháp vương bắt giữ, nếu không được Dương đại ca xả mệnh cứu giúp, chẳng riêng gì hài nhi, mà ngay cả mẫu thân hài nhi cũng bị đại hoạn, tại sao con chưa lạy tạ Dương đại ca?

Dương Quá nói:

– Mọi người là người một nhà, hà tất phải lạy tạ?

Quách Phù không nói một lời, ngồi xuống. Trong suốt bữa tiệc, chỉ thấy nàng ta hơi cau mày, dường như có tâm sự gì, huynh đệ họ Võ luôn né tránh mục quang của nàng ta. Lỗ Hữu Cước và Chu Tử Liễu thì cao hứng thao thao bất tuyệt về trận thắng Thát tử hôm nay.

Ăn xong đã cuối canh một, Quách Tĩnh sai Quách Phù đưa Tiểu Long Nữ vào nội thất an nghỉ, còn mình thì kéo Dương Quá nằm chung một giường. Trước khi bước vào nội thất, Tiểu Long Nữ nhìn Dương Quá một cái đầy trìu mến, ngụ ý bảo chàng hãy cẩn thận. Dương Quá chỉ sợ lộ ra tâm sự, ngoảnh mặt đi, không dám nhìn nàng.

Quách Tĩnh dắt Dương Quá sang phòng ngủ của mình, khen ngợi chàng đối địch với Kim Luân pháp vương, tại tửu lâu và trong loạn thạch trận đã cứu được Hoàng Dung, Quách Phù cùng huynh đệ họ Võ; rồi hỏi sau đó chàng ở đâu. Dương Quá sợ nói nhiều lỡ lời, việc gặp Trình Anh, Lục Vô Song, Ngốc cô, Hoàng Dược Sư, chàng đều lờ đi, chỉ nói:

– Sau khi bị thương, điệt nhi nằm dưỡng thương trong một sơn cốc, rồi gặp sư phụ, bèn cùng đi tìm Quách bá bá.

Quách Tĩnh vừa cởi áo đi nằm, vừa nói:

– Quá nhi, hiện thời cường địch áp cảnh, thiên hạ Đại Tống như trứng để đầu đẳng. Thành Tương Dương là tấm lá chắn che đỡ một nửa giang sơn Đại Tống, nếu thành này thất thủ, chỉ e trăm họ của Đại Tống đều sẽ trở thành nô lệ của người Mông Cổ. Chính mắt ta từng chứng kiến thảm cảnh người Mông Cổ tàn sát dị tộc, thật khiến người ta sôi máu.

Dương Quá nghe đến đây, nhớ lại cảnh bạo hành đáng sợ của binh tướng Mông Cổ dọc đường tới đây, cũng bất giác nghiến răng căm hận.

Quách Tĩnh lại nói:

– Chúng ta luyện công học võ là để làm gì? Hành hiệp trượng nghĩa, cứu tế phò nguy cố nhiên là bổn phận, song cũng chỉ là tiểu hiệp mà thôi. Người trên giang hồ sở dĩ gọi ta là Quách đại hiệp, thật ra bởi vì kính trọng ta vì nước vì dân, xả thân trợ thủ thành Tương Dương. Song ta tài lực có hạn, không thể giải khốn cho dân, thực hổ thẹn với hai chữ" đại hiệp ". Ngươi thông minh tài trí gấp mười lần ta, tương lai nhất định sẽ hơn ta nhiều lắm. Điều này ta nói thật lòng. Chỉ mong ngươi hãy nhớ kỹ tám chữ" Vì nước vì dân, đại hiệp cứu quốc ", mai sau dương danh thiên hạ, trở thành bậc đại hiệp chân chính được muôn dân kính ngưỡng.

Những lời lẽ hết sức chân thành, khiến Dương Quá nghe mà xúc động, thấy Quách Tĩnh sắc mặt trang nghiêm, tuy biết Quách Tĩnh là kẻ thù giết cha, song cũng không khỏi kính nể, bèn đáp:

– Quách bá bá, sau khi Quách bá bá qua đời, điệt nhi nhất định sẽ ghi nhớ lời này.

Quách Tĩnh đâu ngờ Dương Quá đêm nay tới để hành thích mình, giơ tay xoa xoa đầu chàng, nói:

– Đúng, cúc cung tận tụy, chết cũng cam lòng. Nếu mất nước, Quách bá bá của ngươi tính mạng khó toàn. Nghe đồn Hốt Tất Liệt giỏi dùng binh, hôm nay hắn lui quân, vài hôm nữa ắt có một trường đại sát. Chúng ta sẽ chống trả một phen cho thật oanh liệt. Đêm đã khuya rồi, chúng ta ngủ thôi.

Dương Quá đáp:

– Vâng.

Rồi cởi áo nằm ngủ, giấu cái chủy thủ mang từ Tuyệt Tình cốc đi theo ở bên người, nghĩ:" Đợi khi mi ngủ say, ta đâm cho mi một dao; mi võ công cao cường đến mấy, cũng đâu biết mà tránh! "

Quách Tĩnh ban ngày ác chiến, đại hao tâm lực, vừa đặt mình đã ngủ luôn. Dương Quá thì ngổn ngang tâm sự, làm sao ngủ được? Chàng nằm trên giường, nghe Quách Tĩnh thở đều đều bằng mũi, hít vào thở ra rất chậm, thầm thán phục Quách Tĩnh nội công thâm hậu. Một hồi lâu sau, nghe bốn bề tĩnh lặng, chỉ vọng lại từ xa tiếng bước chân của binh lính tuần tiễu.

Thế là chàng bèn rón rén ngồi dậy, sờ cái chuỷ thủ giấu bên trong áo lót, nghĩ:" Sau khi mình đâm chết hắn, sẽ tới giết Hoàng Dung, giết luôn thai nhi sắp sinh. Đại sự thành công, sẽ cùng cô cô đến Tuyệt Tình cốc, lấy nửa viên "Tuyệt Tình đơn". Rồi mình và cô cô sẽ về ẩn cư ở tòa cổ mộ, tận hưởng hạnh phúc nhân gian, thây kệ thiên hạ là của Đại Tống hay của Mông Cổ ".

Nghĩ đến đó, chàng rất đắc ý, bỗng nghe bên nhà láng giềng có tiếng trẻ khóc to, tiếng người mẹ ru con, đứa bé nín dần rồi ngủ. Dương Quá chột dạ, nhớ có lần giữa đường lớn chàng thấy một tên lính Mông Cổ dùng giáo dài đâm vào bụng một đứa bé mà giơ lên đùa giỡn, đứa bé chưa chết hẳn, kêu khóc thảm thiết. Chàng nghĩ:" Bây giờ ta giết Quách Tĩnh, việc không khó. Nhưng Quách Tĩnh chết rồi, thành Tương Dương khó giữ, ngàn vạn đứa bé trong thành để cho binh sĩ Mông Cổ đem ra giết hại làm trò vui hay sao? Mình báo thù riêng, làm hại sinh mạng trăm họ như vậy, liệu có nên chăng? "

Nhưng chàng lại nghĩ:" Nếu mình không giết Quách Tĩnh, Cầu Thiên Xích không đời nào cho mình nửa viên "Tuyệt Tình đơn"; mình sẽ chết, cô cô cũng không sống nữa ". Ái tình của chàng với Tiểu Long Nữ, không có việc gì trên thế gian sánh được, thế là chàng quyết ý:" Thôi, thây kệ trăm họ trong thành Tương Dương, thây kệ giang sơn của Đại Tống; khi ta bị khổ, trừ cô cô ra, nào có ai thương ta? Người đời không thương ta, hà tất ta phải thương yêu họ? "Bèn giơ chủy thủ, dồn sức ra cánh tay, chĩa mũi dao nhọn vào giữa ngực Quách Tĩnh. Trong nhà đèn nến đã tắt, nhưng Dương Quá vẫn có thể nhìn được trong bóng tối. Chàng thấy vẻ mặt Quách Tnh hiền hòa, ý định thần nhàn, ngủ rất ngon lành, nhớ đến hồi chàng còn nhỏ, Quách Tĩnh hết lòng che chở, trên đảo Đào Hoa đối xử thân thiết với chàng ra sao, không quản đường xa ngàn dặm dẫn chàng lên núi Chung Nam học nghệ, rồi còn muốn đem đứa con gái duy nhất gả cho chàng, thì chàng bất giác nghĩ thầm:" Quách bá bá một đời chính trực, quang minh lỗi lạc, thực là một người trung hậu; một người như thế, thực không thể hại phụ thân ta. Lỡ Ngốc cô thần trí mơ hồ, nói năng lung tung thì sao? Nếu ta giết lầm người tốt, thì có chết vạn lần cũng không chuộc hết tội. Thôi, việc này phải hỏi cho rõ ràng rồi hãy tính ".

Thế là chàng cất chủy thủ vào người, suy nghĩ lại mọi việc từ ngày gặp vợ chồng Quách Tĩnh đến nay. Chàng nhớ Hoàng Dung đối với chàng thần sắc không lúc nào tử tế, có mấy lần hai vợ chồng họ đang nói chuyện với nhau, vừa thấy chàng đến liền nói sang chuyện khác; vợ chồng họ có điều hệ trọng giấu chàng, đó là điều chắc chắn, không còn nghi ngờ gì. Chàng lại nghĩ:" Quách bá mẫu nhận ta làm đệ tử, tại sao chỉ dạy đọc sách, không truyền thụ một chút võ nghệ? Quách bá bá đối tốt với ta, chẳng lẽ chỉ vì đã giết hại phụ thân ta, nên trong lòng bất an, muốn bù đắp lại phần nào? Song nếu Quách Tĩnh quả thật đã giết phụ thân ta, tại sao lại không hề đề phòng ta, ngủ chung một giường cùng ta. Chàng nhìn lên đỉnh màn, trằn trọc nghĩ ngợi mãi. Quách Tĩnh tuy ngủ song vẫn cảm nhận được hơi thở không đều của Dương Quá, bèn tỉnh lại, mở mắt ra, hỏi:

– Quá nhi, không ngủ được ư? Có sao không?

Dương Quá chột dạ, nói:

– Không sao.

Quách Tnh cười, nói:

– Nếu ngươi không quen nằm chung giường với người khác, thì ta ra bàn nằm cũng được.

Dương Quá vội nói:

– Không, không sao.

Quách Tĩnh nói:

– Được, vậy thì cố ngủ đi. Con nhà võ, cần nhất là ổn định tâm thần.

Dương Quá đáp:

– Vâng.

Lát sau, Dương Quá không nín được, nói:

– Quách bá bá, năm bá bá dẫn điệt nhi đến cung Trùng Dương học nghệ, ở chân núi Chung Nam, điệt nhi từng hỏi bá bá một việc.

Quách Tĩnh nói:

– Việc gì vậy?

Dương Quá nói:

– Lúc ấy Quách bá bá nổi giận vỗ vào tấm bia, khiến các đạo sĩ phái Toàn Chân hiểu lầm, Quách bá bá có nhớ điệt nhi hỏi câu gì hay không?

Quách Tĩnh nghĩ giây lát, nói:

– Phải rồi, hôm ấy ngươi hỏi ta, phụ thân ngươi qua đời như thế nào.

Dương Quá chằm chằm nhìn Quách Tĩnh, nói:

– Không, điệt nhi hỏi Quách bá bá, rốt cuộc là ai sát hại phụ thân điệt nhi.

Quách Tĩnh nói:

– Làm sao ngươi biết phụ thân ngươi bị sát hại mà chết?

Dương Quá nghẹn ngào nói:

– Chẳng lẽ phụ thân điệt nhi tự dưng lăn ra chết hay sao?

Quách Tĩnh im lặng một lát, thở dài, nói:

– Phụ thân ngươi chết không lành, nhưng không có ai sát hại cả, mà là phụ thân ngươi tự sát hại mình.

Dương Quá ngồi dậy, tâm tình kích động dị thường, nói:

– Quách bá bá nói dối điệt nhi. Trên đời làm gì có chuyện một người tự sát hại mình? Dẫu phụ thân điệt nhi có tự sát mà chết, hẳn cũng là do có kẻ bức tử.

Quách Tĩnh đau lòng, ứa nước mắt, thong thả nói:

– Quá nhi, tổ phụ ngươi và phụ thân ta là cốt nhục khác họ, phụ thân ngươi và ta cũng từng kết nghĩa kim lan. Phụ thân ngươi nếu chết oan, ta há không báo thù cho phụ thân ngươi?

Dương Quá giận run người, định nói toạc ra: "Là mi giết hại cha ta, làm sao mi báo thù kia chứ?" Nhưng nếu nói ra, Quách Tĩnh ắt đề phòng, muốn hành thích Quách Tĩnh sẽ vô cùng khó khăn, nên chàng chỉ gật đầu im lặng.

Quách Tĩnh nói:

– Chuyện của phụ thân ngươi có rất nhiều uẩn khúc, không thể vắn tắt vài lời. Hồi trước lúc hỏi ta, ngươi còn nhỏ, chưa hiểu nổi duyên do nội tình, nên ta chưa cho ngươi biết. Hiện tại ngươi đã trưởng thành, hiểu được trắng đen phải trái. Chờ đánh lui bọn Thát tử ta sẽ kể đầu đuôi cho người hay.

Nói đoạn lại trở mình ngủ tiếp.

Dương Quá vốn biết Quách Tĩnh nói một là một, chưa bao giờ nói dối, nghe mấy câu kia thì bán tín bán nghi, tự mắng mình: "Dương Quá ơi là Dương Quá, ngươi vốn hành sự quả quyết, tại sao hôm nay cứ lưỡng lự chần chừ như thế? Không lẽ ngươi sợ võ công hắn lợi hại hay sao? Đêm nay do dự, bỏ lỡ dịp may, ngày mai để Hoàng Dung nhận ra chỗ sơ hở, chỉ e cả cô cô cũng chết không có chỗ mà chôn đó". Chàng vừa nghĩ đến Tiểu Long Nữ, tinh thần lại phấn chấn, đưa tay sờ cái chủy thủ trong áo, con dao sát vào da thịt, ấm từ cán đến lưỡi.

Comments

0 comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 21: Ác chiến Tương Dương

Dương Quá đang định rút chuỷ thủ ra, bỗng nghe ngoài song có người gõ nhẹ ba tiếng, vội nhắm mắt nằm im.

Quách Tĩnh tỉnh giấc liền, ngồi dậy, hỏi:

– Dung nhi phải không? Có quân tình khẩn cấp chăng?

Ngoài song im lặng. Quách Tĩnh thấy Dương Quá ngủ, hơi thở đằng mũi đều đều, may đã ngủ được, không đánh thức chàng, nhẹ chân xuống giường, đi ra khỏi phòng, thấy Hoàng Dung đứng ở sân vẫy tay.

Quách Tĩnh tới gần, thấp giọng hỏi:

– Chuyện gì vậy?

Hoàng Dung không đáp, kéo chồng ra hậu viện, nhìn tứ phía, rồi nói:

– Tĩnh ca ca và Quá nhi đối đáp, muội đã nghe cả. Quá nhi không có hảo ý, Tĩnh ca ca biết hay không?

Quách Tĩnh kinh ngạc, hỏi:

– Không có hảo ý là thế nào?

Hoàng Dung nói:

– Muội cảm thấy lời hắn nói sớm có ý nghi ngờ vợ chồng mình giết hại phụ thân hắn.

Quách Tĩnh nói:

– Quá nhi có thể nghi ngờ, nhưng ta đã hứa sẽ kể tỉ mỉ nguyên do phụ thân hắn chết như thế nào cho hắn biết.

Hoàng Dung nói:

– Tĩnh ca ca có thế kể hết cho Quá nhi nghe được ư?

Quách Tĩnh nói:

– Phụ thân hắn chết thảm, ta vẫn luôn tự trách mình. Dương Khang huynh đệ tuy lầm đường lạc lối, nhưng chúng ta cũng không tận tình khuyên can, không tìm mọi cách cứu y.

Hoàng Dung nói:

– Hừ, người như thế còn cứu vãn làm sao được kia chứ? Muội chỉ hận không giết y sớm hơn, nếu không mấy vị sư phụ của Tĩnh ca ca đâu đến nỗi phải táng mạng ở đảo Đào Hoa?

Quách Tĩnh nghĩ lại chuyện đó, không khỏi thở dài não nề.

Hoàng Dung nói:

– Chu đại ca bảo Phù nhi tới nói với muội, rằng lần này Quá nhi đến thành Tương Dương thần sắc có vẻ kỳ quái, lại bảo ca ca nằm ngủ cùng giường với hắn. Muội lo ngại lỡ có bất trắc, ở ngoài song theo dõi từ lâu. Muội thấy ca ca ngủ riêng chỗ khác thì hơn. Nên nhớ lòng người khó đoán, mà phụ thân hắn.. rốt cuộc vì đánh một chưởng vào vai muội mà trúng độc chết đi.

Quách Tĩnh nói:

– Như thế không thể bảo là Dung nhi giết hại y được.

Hoàng Dung nói:

– Hai vợ chồng mình đều có ý giết y, kết quả là y vì đánh muội mà chết, thế thì so với việc chúng ta tự tay giết y, cũng đâu có gì khác mấy?

Quách Tĩnh trầm ngâm giây lát, nói:

– Dung nhi nói đúng. Thế thì ta không thể nói hết cho Quá nhi biết được. Dung nhi, nửa đêm rồi, Dung nhi hãy về phòng ngủ kẻo mệt. Hết đêm nay, ngày mai ta sẽ dọn vào ngủ trong quân doanh.

Quách Tĩnh biết ái thê đa mưu túc kế gấp trăm lần mình, tuy không tin Dương Quá có ác ý với mình, nhưng nàng đã nói như vậy, cũng nên nghe theo, thế là đặt tay vào eo lưng vợ, chậm rãi đi vào nội đường, nói:

– Quá nhi tận lực đoạt lại địa vị minh chủ võ lâm, chuyện đại sự quốc gia phân minh phải trái, hai phen cứu Dung nhi và Phù nhi, không nề hà nguy hiểm đối với bản thân, lòng hiệp nghĩa như thế, phụ thân hắn làm sao sánh nổi?

Hoàng Dung gật đầu, nói:

– Một trang thiếu niên như thế thật hiếm có. Nhưng trong lòng hắn có hai khúc mắc không thể gỡ nổi, một là nguyên do cái chết của phụ thân hắn, hai là tư tình giữa hắn với sư phụ. Ôi, muội phải nói khó lắm Long cô nương mới bỏ hắn mà đi, ai ngờ Quá nhi thần thông quảng đại, chẳng hiểu sao lại tìm được nàng ta. Nhìn thần tình sư đồ họ, thì từ rày không tài nào chia rẽ họ được nữa rồi.

Quách Tĩnh im lặng một lát, bỗng nói:

– Dung nhi thần thông quảng đại hơn cả Quá nhi, hãy cố nghĩ cách cứu hắn, đừng để hắn lầm đường lạc lối

Hoàng Dung thở dài, nói:

– Đừng nói chuyện của Quá nhi muội không có cách, ngay cả đại tiểu thư của chúng ta, muội cũng chưa biết làm thế nào mới ổn. Tĩnh ca ca, trong lòng muội chỉ có mình ca ca, trong lòng ca ca cũng chỉ có một mình muội. Nhưng con gái chúng ta lại có đồng thời hai gã thiếu niên lang quân, cuối cùng lại không dứt khoát được với hai huynh đệ họ Võ. Chuyện đó khiến cho người làm cha mẹ khó xử biết chừng nào.

Quách Tĩnh đưa Hoàng Dung vào phòng, đợi nàng nằm xuống giường đâu đấy, đắp chăn cho vợ, rồi ngồi xuống bên cạnh, cầm tay nàng, mỉm cười. Ngót một tháng nay hai vợ chồng đều bận rộn việc quân quốc, hiếm có thời khắc yên tĩnh bên nhau. Hai người nhìn nhau im lặng, trong lòng cảm thấy dễ chịu. Hoàng Dung đưa mu bàn tay của chồng cọ nhè nhẹ vào má mình, nói:

– Tĩnh ca ca, hài tử thứ hai của vợ chồng ta, Tĩnh ca ca hãy đặt tên cho con đi.

Quách Tĩnh cười, nói:

– Dung nhi thừa biết ta không thạo việc đó, lại còn định giễu ta ư?

Hoàng Dung nói:

– Tĩnh ca ca cứ nói xem ý ca ca thế nào nào. Nam tử khắp thiên hạ, không ai bằng được ca ca đâu.

Câu này Hoàng Dung nói ra với toàn bộ vẻ thành thật sâu xa.

Quách Tĩnh cúi xuống, thơm nhẹ lên má vợ, nói:

– Nếu Dung nhi sinh con trai, chúng ta sẽ gọi nó là Quách Phá Lỗ (phá ngoại xâm), còn nếu sinh con gái..

Nghĩ một lát, cười, nói:

– Ta nghĩ không ra, Dung nhi cứ đặt tên cho con thì được.

Hoàng Dung nói:

– Khưu Xứ Cơ đạo trưởng đặt cho ca ca chữ "Tĩnh", là để ca ca đừng quên cái nhục Tĩnh Khang. Nay nước Kim đã diệt xong, gót sắt Mông Cổ lại kéo đến giày xéo, hài nhi sinh ra trong thành Tương Dương, vậy thì gọi là Quách Tương, để mai sau nó nhớ mình đã ra đời ở chốn nào.

Quách Tĩnh nói:

– Được lắm, những mong nữ hài nhi sau này đừng quỉ quái như chị nó, lớn tướng rồi mà vẫn khiến cha mẹ lo lắng.

Hoàng Dung mỉm cười, nói:

– Nếu chỉ lo lắng thì cũng được, đằng này.. Muội chỉ mong sinh một nam hài nhi, để họ Quách có người nối dõi.

Quách Tĩnh vuốt tóc vợ, nói:

– Nam hài nhi hay nữ hài nhi cũng thế cả. Thôi ngủ đi, đừng nghĩ vẩn nghĩ vơ nữa.

Nói xong đắp kỹ chăn cho vợ, thổi tắt nến, rồi quay mình đi về phòng, thấy Dương Quá đang ngủ say, trống vừa điểm canh ba, leo lên giường ngủ tiếp.

Không ngờ hai vợ chồng nói gì với nhau, Dương Quá đã ẩn mình sau cửa nghe thấy tất cả. Quách Tĩnh, Hoàng Dung đi vào nội đường rồi, chàng cứ đứng ngây một chỗ, nghĩ đi nghĩ lại mấy câu Hoàng Dung vừa nói "Muội hận không giết phụ thân hắn sớm hơn.. phụ thân hắn rốt cuộc vì đánh một chưởng vào vai muội mà trúng độc chết đi.. Hai vợ chồng mình đều có ý giết y, kết quả là y vì đánh muội mà chết.." Chàng nghĩ: "Cha ta vì hai người ấy mà chết, điều đó thiên chân vạn xác, không còn nghi ngờ gì nữa. Hoàng Dung thật là giảo hoạt, đã có ý nghi ta, nếu đêm nay ta không hạ thủ, e rằng sẽ không còn dịp nào nữa." Chàng bèn về giường nằm im, chờ Quách Tĩnh trở lại.

Quách Tĩnh mở chăn ra, nghe tiếng ngáy nho nhỏ của Dương Quá, nghĩ: "Hài từ này ngủ ngon giấc thật", để khỏi đánh thức Dương Quá bèn rón rén nằm xuống bên cạnh. Lát sau, đang lơ mơ sắp thiếp đi, bỗng thấy Dương Quá thong thả trở mình, nhưng trong lúc trở mình vẫn cứ ngáy. Quách Tĩnh lấy làm lạ: "Bất cứ ai đang ngủ, lúc trở mình cũng đều ngừng ngáy. Hài tử này hô hấp dị thường, không lẽ khi luyện nội công hắn vận nghịch khí hay sao? Thật là bất thường!" Hoàn toàn không ngờ đấy là Dương Quá giả bộ đang ngủ say.

Dương Quá lại chậm rãi trở mình, thấy Quách Tĩnh không hay biết, bèn tiếp tục vừa ngáy nho nhỏ, vừa xuống khỏi giường. Nguyên ban đầu chàng định hành thích ở trong chăn, nhưng nghĩ khoảng cách quá gần, rất nguy hiểm, nếu lúc giãy chết Quách Tĩnh phóng ra một chưởng, chỉ e chàng khó toàn mạng, nên sau khi ngồi dậy, rút chuỷ thủ ra rồi, sợ đối phương võ công quá mạnh, bèn quyết định trước tiên hãy xuống đất, đâm một nhát trúng giữa ngực, rồi lập tức nhảy ra cửa sổ, lại lo mình ngừng ngáy sẽ làm cho Quách Tĩnh đang ngủ phát giác có chuyện, nên đã đứng dưới đất vẫn giả bộ ngáy.

Quách Tĩnh thì không hiểu nổi Dương Quá có chuyện gì, nghĩ: "Hài tử này bị bệnh mộng du hay sao? Nếu mình lên tiếng, e rằng nó giật mình, khí tức nghịch xung đan điền, sẽ lập tức bị tẩu hỏa nhập ma mất". Thành thử Quách Tĩnh không dám động đậy, cứ dỏng tai nghe động tĩnh.

Dương Quá tay phải cầm chuỷ thủ ngang ngực, bước tới trước giường, đột nhiên vận kình ra cánh tay, đang định đâm, thì nghe Quách Tĩnh hỏi:

– Quá nhi, ngươi mơ thấy ác mộng ư?

Dương Quá hoảng hồn giật mình, nhún hai chân một cái, xoay người lao ra cửa sổ. Chàng vọt đi nhanh, song Quách Tĩnh còn bay nhanh hơn, chân chàng chưa chạm đất, hai cánh tay đã bị Quách Tĩnh tóm chặt. Dương Quá biết võ công của mình thua xa đối phương, chống cự cũng vô dụng, bèn nhắm mắt không nói. Quách Tĩnh mang Dương Quá vào, đặt ngồi xuống giường, hai tay xuôi trước đan điền, chính là tư thế luyện khí Huyền môn. Dương Quá vừa tức vừa sợ: "Không biết hắn sẽ dùng cách độc ác gì để hành hạ ta?" Chàng bỗng nhớ đến Tiểu Long Nữ, bèn hít một hơi dài, định cất tiếng gọi thật to: "Cô cô, ta đã thất thủ bị bắt, cô cô mau trốn đi". Quách Tĩnh thấy Dương Quá đột nhiên cấp tốc vận khí, càng tưởng nhầm Dương Quá luyện công bất thường, nghĩ: "Trong lúc nguy cấp chỉ nên hít thở thong thả, chứ hô hấp gấp gáp thế này vô cùng nguy hiểm", vội đặt bàn tay vào bụng dưới của chàng.

Đan điền Dương Quá bị Quách Tĩnh vận nội kình thâm hậu án ngữ, kêu không thành tiếng, nghĩ đến sự an nguy của Tiểu Long Nữ, cố giằng ra đến đỏ mặt tía tai, khổ nỗi đan điền và toàn thân bị chế ngự, không thể cựa quậy được.

Quách Tĩnh thong thả nói:

– Quá nhi, ngươi luyện công quá gấp, như thế gọi là dục tốc bất đạt, hãy mau ngồi yên, để ta giúp ngươi thuận khí qui nguyên.

Dương Quá ngẩn người, chưa hiểu dụng ý của đối phương, chỉ cảm thấy một luồng khí ấm từ lòng bàn tay Quách Tĩnh truyền sang đan điền của mình, hết sức dễ chịu, lại nghe Quách Tĩnh nói:

– Ngươi hãy từ từ thở ra, để luồng khí ấm từ Thủy phần đến Kiện lý, qua Cự quyết, Cưu vĩ, đến Ngọc đường, Hoa cái, thông mạch Nhâm trước đã, đừng để ý đến các kinh mạch khác vội.

Dương Quá nghe mấy câu đó, lại cảm thấy Quách Tĩnh đang truyền nội công giúp mình thông mạch, thì đã đoán được tám, chín phần, nghĩ: "Ngượng quá đi mất! Thì ra Quách Tĩnh tưởng ta luyện công bị tẩu hỏa nhập ma, dẫn đến hành động điên khùng". Bèn ngầm vận nội tức, cố ý dẫn lung tung đi tứ phía ngang dọc, tựa hồ không thể khắc chế. Quách Tĩnh lo lắng, gia tăng nội lực lòng bàn tay để cứu giúp Dương Quá. Phái mất nửa canh giờ mới làm cho khí tức nghịch hành của Dương Quá hoàn toàn qui thuận.

Một phen vận khí vừa qua cố nhiên làm cho Dương Quá rã rời cả người, Quách Tĩnh cũng cảm thấy rất mệt mỏi. Hai người cùng đả tọa cho đến sáng, mới phục hồi nguyên khí. Quách Tĩnh mỉm cười, nói:

– Quá nhi, đã khỏe lại chưa? Không ngờ nội lực của ngươi cũng có thành tựu như vậy, chút nữa thì ta cũng chịu không giúp ngươi được.

Dương Quá biết Quách Tĩnh đã hao tổn nhiều công lực cứu trợ chàng, không khỏi cảm động, nói:

– Đa tạ Quách bá bá cứu hộ, điệt nhi đêm qua chút nữa thì bị tàn phế tứ chi.

Quách Tĩnh nghĩ bụng: "Đêm qua trong lúc mê ngủ, ngươi dùng dao định đâm ta, may mà tự ngươi không biết, chứ nếu biết chắc sẽ hổ thẹn lắm". Quách Tĩnh lo Dương Quá biết chuyện đó sẽ áy náy, bèn lái sang chuyện khác, nói:

– Ngươi hãy theo ta ra ngoài thành, xem xét việc phòng vụ xung quanh.

Hai người cưỡi chiến mã sánh vai ra ngoài thành. Quách Tĩnh nói:

– Quá nhi, nội công phái Toàn Chân là nội công chính tông trong thiên hạ, tiến cảnh tuy chậm, nhưng hoàn toàn không sợ sai phạm. Võ công các gia các phái, ngươi có thể học tất, nhưng nội công thì chỉ nên chuyên tu công phu Huyền môn mà thôi. Đợi khi quân địch lui binh, ta sẽ cùng luyện tập với ngươi.

Dương Quá nói:

– Chuyện điệt nhi bị tẩu hỏa đêm qua, Quách bá bá chớ kể cho Quách bá mẫu biết, kẻo Quách bá mẫu lại chê là điệt nhi học công phu bàng môn tả đạo của Long cô nương, làm cho Quách bá bá khổ sở một phen.

Quách Tĩnh nói:

– Dĩ nhiên ta sẽ không kể. Thực ra công phu của Long cô nương cũng không phải là bàng môn tả đạo, chẳng qua ngươi chưa lĩnh hội đầy đủ đó thôi.

Dương Quá nghĩ nếu Hoàng Dung biết chuyện, sẽ hiểu ngay chân tướng, nghe Quách Tĩnh đáp ứng không kể, thì mới an tâm.

Hai người phi ngựa về phía tây, thấy có một dòng mương nhỏ chảy ngang dưới chân núi. Quách Tĩnh nói:

– Dòng mương này tuy nhỏ, nhưng lừng danh, gọi là Đàn khê.

Dương Quá "a" lên một tiếng, nói:

– Điệt nhi nghe kể chuyện Tam quốc, Lưu hoàng thúc phóng ngựa nhảy qua Đàn khê, thì ra dòng mương ấy lại ở đây.

Quách Tĩnh nói:

– Lưu Bị ngày ấy cưỡi con ngựa tên là Đích Lư, người xem tướng ngựa bảo đó là con ngựa phản chủ. Không ngờ chính con ngựa Đích Lư ấy đã vọt qua Đàn khê, thoát khỏi truy binh, cứu sống Lưu hoàng thúc.

Nói đến đây, lại nhớ đến cha của Dương Quá là Dương Khang, thở dài nói tiếp:

– Thật ra người đời cũng đều như con ngựa Đích Lư, làm người thiện thì thiện, làm kẻ ác thì ác, người tốt kẻ xấu không nhất định. Tất cả đều do cái tâm mà ra.

Dương Quá chột dạ, liếc trộm Quách Tĩnh, thấy thần sắc có vẻ thương cảm, rõ ràng không có ý chê bai chàng, nghĩ: "Nói thì đúng, nhưng thế nào là ác, thế nào là thiện? Hai vợ chồng ngươi ngầm sát hại phụ thân ta, không lẽ lại là thiện? Nói thế mà không biết ngượng!" Chàng thán phục Quách Tĩnh mọi điều, nhưng mỗi khi nghĩ phụ thân bị chết bởi hai vợ chồng Quách Tĩnh, thì trong lòng lại sinh ác niệm.

Hai người phi ngựa một hồi, thấy bên đường có một tấm bia, trên khắc hàng chữlớn: "Đường công bộ lang Đỗ Phủ quê ở đây". Dương Quá nói:

– Thành Tương Dương quả không tầm thường, thì ra đây là quê hương của vị đại thi nhân.

Quách Tĩnh ngâm nga:

Đại thành thiết bất như,

Tiểu thành vạn trượng dư..

Liên vân liệt chiến cách,

Phi điểu bất năng du.

Hồ lai đản tự thủ,

Khởi phục ưu Tây Đô..

Gian nan phấn trường kích,

Vạn cổ dụng nhất phu.

Tạm dịch:

Thành to thừa sức vững bền.

Thành con muôn trượng tiếp liền trời mây..

Đó rào chiến thật là kiên cố,

Dù chim bay cũng khó vượt qua.

Quân Hồ hết lối xông pha,

Tây Đô còn cách đường xa ngại gì.

Kìa lối hiểm men đi chót vót,

Đường hẹp này chỉ lọt một xe.

Giáo dài cũng khó giờ nghề,

Một người chống vạn, quen lề từ xưa.

Dương Quá nghe Quách Tĩnh ngâm thơ khảng khái hiên ngang, cũng nhẩm theo:

Quân Hồ hết lối xông pha,

Tây Đô còn cách đường xa ngại gì.

Kìa lối hiểm men đi chót vót,

Đường hẹp này chỉ lọt một xe.

Giáo dài cung khó giờ nghề,

Một người chống vạn, quen lề từ xưa.

Quách bá bá, mấy câu thơ này hay thật, của Đỗ Phủ phải không?

Quách Tĩnh nói:

– Phải, mấy hôm trước Quách bá mẫu của ngươi đàm luận cùng ta về việc thủ thành Tương Dương, đã nhớ bài thơ này của Đỗ Phủ, đã viết ra cho ta đọc. Ta rất thích, đọc mấy chục lần, nhưng chỉ nhớ được mấy câu trên. Văn sĩ Trung Nguyên người nào cũng biết làm thơ, nhưng thiên cổ Đỗ Phủ vẫn là đệ nhất thi nhân, chính là vì Đỗ Phủ ưu quốc ái dân vậy.

Dương Quá nói:

– Quách bá bá bảo "Vì nước vì dân, là bậc đại hiệp", vậy thì dẫu là văn hay võ, cũng như nhau cả.

Quách Tĩnh thấy Dương Quá đã hiểu được thế, thì cả mừng, nói:

– Văn chương kinh thư, ta không am hiểu, nhưng thiết nghĩ làm người sống trên thế gian, dù là kẻ tầm thường, chỉ cần vì nước vì dân, thì đều là hảo hán thật sự, hào kiệt thật sự.

Dương Quá hỏi:

– Quách bá bá, bá bá bảo có thể giữ vững được thành Tương Dương hay không?

Quách Tĩnh ngẫm nghĩ hồi lâu, chỉ tay về phía tây nhấp nhô gò đống, cây cối xanh tươi, nói:

– Nhân vật lừng lẫy nhất ở Tương Dương từ xưa đến nay dĩ nhiên là Gia Cát Lượng. Cách đây hai chục dặm về phía tây là Long Trung, nơi Gia Cát Lượng từng ẩn cư cày cấy. Tài thao lược trị quốc an dân của Gia Cát Lượng, kẻ thô thiển chúng ta không thể sánh nổi. Vậy mà Gia Cát Lượng từng nói "Thần chỉ cúc cung tận tụy, chết cũng cam lòng, còn thành bại cuối cùng, thần cũng không biết". Ta cùng Quách bá mẫu của ngươi khi đàm luận về việc liệu có giữ được thành Tương Dương hay không, cũng chỉ biết tám chữ "Cúc cung tận tụy, chết cũng cam lòng" mà thôi.

Vừa nói tới dó, bỗng thấy các nạn dân chạy đến cổng thành thành từng đoàn dài, nhất thời bên ngoài tiếng gọi í ới, tiếng kêu khóc như ri.

Quách Tĩnh ngạc nhiên, nói:

– Tại sao binh lính trong thành không mở cổng thành cho dân chúng chạy vào?

Rồi phi ngựa một mạch tới chân thành, thấy binh lính sắp hàng trên mặt thành đang chĩa cung tên về phía nạn dân. Quách Tĩnh quát to:

– Các ngươi làm gì vậy? Mau mở cổng thành!

Thấy Quách Tĩnh, trên thành vội mở cổng thành để Quách Tĩnh và Dương Quá vào thành. Quách Tĩnh nói:

– Trăm họ bị quân Mông Cổ tàn sát, tại sao không để cho họ chạy vào thành?

Tướng giữ thành nói:

– Lã đại soái bảo có gian tế Mông Cổ trà trộn trong đám nạn dân, nên nhất thiết không được mở cổng thành để tránh tai họa.

Quách Tĩnh quát:

– Dù có một vài tên gian tế, há có thể vì thế mà phó mặc tính mạng hàng ngàn bách tính? Mau mở cổng thành!

Quách Tĩnh thủ thành đã lâu, mấy lần lập kỳ công, uy vọng lớn lao, tuy không quan chức, nhưng hiệu lệnh của Quách Tĩnh, tướng giữ thành không dám bất tuân, đành vừa cho mở cổng thành, vừa sai người phi báo với An phủ sứ Lã Văn Đức.

Trăm họ bồng bế, dìu dắt nhau chạy vào thành sắp dứt, bỗng thấy đằng xa bụi tung mù mịt, quân Mông Cổ từ phía bắc tràn tới. Quân Tống tản khai, nấp sau bờ thành phòng ngự. Chỉ thấy phía trước quân địch là một đoàn người áo quần lam lũ, tay cầm gậy, hàng ngũ rối loạn, cùng gọi to:

– Trên thành đừng bắn tên, chúng tôi đều là trăm họ của Đại Tống!

Núp sau lưng trăm họ là tinh binh thiết kỵ của Mông Cổ.

Từ Thành Cát Tư Hãn trở đi, quân Mông Cổ công thành đều xua bách tính của nước đối phương đi trước, lính giữ thành không nỡ bắn họ, là quân Mông Cổ bám theo sau lập tức tràn lên. Cách này vừa sát hại bách tính nước địch, vừa làm dao động lòng lính địch, có thể nói là nhất cử lưỡng tiện, tàn bạo đấy song thường thu được kỳ hiệu. Quách Tĩnh ở trong quân Mông Cổ lâu năm, dĩ nhiên biết rõ cách này, nhưng khổ nỗi không biết cách hóa giải. Chỉ thấy tinh binh Mông Cổ cầm giáo mác thúc nạn dân phải leo lên thành. Dân chúng tới mỗi lúc một gần, những người đầu tiên đang bắt đầu leo lên thang. Tương Dương An phủ sứ Lã Văn Đức cưỡi một con ngựa xanh, tuần thị trong thành, thấy tình thế nguy cấp, vội hạ lệnh:

– Giữ thành cần hơn, bắn!

Lính bắn tên xuống như mưa, dân chúng nhiều người trúng tên, rú lên ngã xuống, những người khác quay đầu chạy về phía sau. Quân Mông Cổ vung đao chém, đuổi dồn họ thành từng tốp leo lên thành.

Dương Quá đứng bên Quách Tĩnh, nhìn thảm trạng, tức giận vô cùng, chỉ nghe Lã Văn Đức thét: "Bắn!" là hàng loạt mũi tên lại bắn xuống như mưa. Quách Tĩnh thét lớn:

– Như thế không được, chớ giết lầm người tốt!

Lã Văn Đức nói:

– Tình thế nguy cấp, người tốt cũng đành phải giết.

Quách Tĩnh nói:

– Không được, sao lại đi giết lầm người tốt?

Dương Quá chột dạ, nghĩ thầm: "Không được giết lầm người tốt! Sao lại đi giết lầm người tốt?"

Quách Tĩnh nói to:

– Huynh đệ Cái Bang và các vị bằng hữu võ lâm, mọi người hãy theo ta!

Rồi chạy xuống phía cổng thành. Dương Quá chạy theo. Quách Tĩnh nói:

– Quá nhi, đêm qua ngươi luyện khí bị thương, hôm nay không nên dùng sức, hãy ở trên mặt thành quan sát cho ta.

Dương Quá thấy quân Mông Cổ tàn sát người Hán, coi người Hán đúng là không bằng dê chó, định theo Quách Tĩnh đi giết chúng một phen, nhưng nghe Quách Tĩnh nói vậy, đành trở lên mặt thành, không dám phân bua rằng đêm qua kỳ thực chàng không hề bị tẩu hỏa vì luyện công.

Quách Tĩnh dẫn một tốp hảo thủ võ lâm mở rộng cổng thành phía tây, xông ra, đánh vu hồi vào bên sườn quân Mông Cổ. Bọn Mông Cổ nấp sau lưng bách tính liền chia nhau ra đối địch. Đôi bên ập vào nhau, đã có hơn trăm tên Mông Cổ bị chém ngã ngựa. Thấy đội quân ngàn tên không cản nổi, đội quân ngàn tên thứ hai liền từ bên hông lao tới, vung trường đao xung sát. Quân Mông Cổ từng trải trăm trận, dũng mãnh thiện chiến, các võ sĩ do Quách Tĩnh chỉ huy tuy đều giỏi võ nghệ, song nhất thời cũng không dễ thủ thắng. Dân chúng bị dồn lên thành thấy quân Mông Cổ còn bận chiến đấu, không để ý tới họ nữa, bèn hò nhau chạy tản đi tứ phía.

Chỉ nghe từ phía đông có tiếng tù và nổi lên, tiếng vó ngựa dồn dập, hai đội quân ngàn tên Mông Cổ từ phía đó lao tới, tiếp sau lại có thêm hai đội quân ngàn tên từ phía tây ập lại, vây tròn nhóm võ sĩ Quách Tĩnh vào giữa.

Lã Văn Đức đứng trên mặt thành thấy uy thế của quân Mông Cổ như vậy thì cả sợ, không dám cho lính ra cứu.

Dương Quá đứng trên mặt thành quan chiến, trong óc cứ luẩn quẩn câu nói của Quách Tĩnh "Không được giết lầm người tất? Sao lại đi giết lầm người tốt?" Nhìn Quách Tĩnh đứng giữa trùng vây, nghĩ bụng: "Trên thành chỉ cần liên tục bắn tên, bắn chết một số bách tính, thì quân Mông Cổ không thể tấn công lên được. Quách bá bá thân lâm nguy nạn, hoàn toàn là do không nỡ giết lầm người tốt! Những người dân kia không hề quen biết gì, mà Quách bá bá còn xả thân cứu họ, vì cớ gì Quách bá bá lại giết chết phụ thân ta?"

Mắt nhìn cảnh chém giết dưới chân thành, trong óc chàng cứ quanh quẩn mấy câu hỏi: "Quách bá bá và phụ thân ta kết nghĩa kim lan, giao tình không phải tầm thường, vậy mà Quách bá bá lại hạ thủ, không lẽ phụ thân ta là kẻ xấu tuyệt nhiên không thể tha thứ?" Chàng từ nhỏ luôn tưởng tượng cha mình là một đấng nam nhi hào hiệp khảng khái, anh tuấn vũ dũng, hiếm có trong thiên hạ, bây giờ bỗng nhiên bảo chàng phải thừa nhận phụ thân là kẻ xấu kẻ ác, thì thật là không thể. Nhưng trong thâm tâm, chàng sớm lờ mờ cảm thấy cha mình thua xa Quách bá bá, có điều là mỗi lần nghĩ thế, chàng lại cố gạt bỏ ngay nó đi.

Lúc này dưới chân thành tiếng hò hét dậy trời, nhóm võ sĩ Quách Tĩnh tả xung hữu đột, song vẫn không thể thoát ra khỏi trùng vây. Chu Tử Liễu chỉ huy một đội nhân mã, huynh đệ họ Võ và Quách Phù cũng chỉ huy một đội nhân mã, muốn xông ra khỏi thành tiếp ứng, bỗng nghe tiếng tù và thổi gấp, lại thêm bốn đội quân ngàn tên Mông Cổ xông tới trước cổng thành. Hốt Tất Liệt dùng binh quả nhiên lợi hại, chỉ đợi trong thành mở cổng xông ra tiếp ứng, bốn đội quân ngàn tên kia sẽ lập tức tràn vào.

Lã Văn Đức cả sợ, cao giọng truyền lệnh:

– Cấm mở cổng thành!

Lại sai hai trăm đao phủ thủ nghiêm thủ hai bên cổng, kẻ nào dám mở cổng thành ra sẽ bị chém đầu tức thì. Đại tướng Vương Kiên chỉ huy đội quân cung nỏ từ trên mặt thành không ngớt phóng tên xuống.

Trong thành ngoài thành nháo nhào cả lên, các ý nghĩ trong đầu Dương Quá cũng đối chọi nhau, lúc thì chàng mong Quách Thành bỏ xác trong loạn quân vây hãm, lúc thì lại mong Quách Tĩnh đánh lui quân địch. Bỗng thấy thế trận của quân Mông Cổ rối loạn, mấy ngàn kỵ binh phải dạt sang hai bên như nước triều, Quách Tĩnh tay cầm giáo dài, lao ngựa đi, đằng sau các võ sĩ kết thành một khối hình vuông xung sát. Phương trận này rất nghiêm mật, chỉ giây lát đã áp tới cổng thành, Quách Tĩnh quay đầu ngựa, thân chinh cản hậu, cây giáo dài rung động, bảy tám tên lính Mông Cổ ngã ngựa. Binh tướng Mông Cổ nhất thời không dám tới gần.

Lã Văn Đức thấy Quách Tĩnh thoát hiểm thì cả mừng, vội nói lớn:

– Mở cổng! Chỉ được mở hé, không nên mở rộng!

Cổng thành được mở rộng chừng ba, bốn thước, đủ cho một người cưỡi ngựa đi vào, các võ sĩ lục tục vào thành. Lá hoàng kỳ trong quân Mông Cổ chao động, hai đội binh mã từ hai bên xông tới.

Lã Văn Đức gọi to:

– Quách Tĩnh huynh đệ! Vào thành mau! Đừng chờ người khác nữa!

Quách Tĩnh thấy bộ thuộc chưa thoát hiểm hết, đâu chịu vào thành trước, đã thế còn giục ngựa xông lên đánh hai tên dũng sĩ Mông Cố gần nhất. Nhưng đại quân đã động, giống như nước thủy triều, Quách Tĩnh tuy võ nghệ tinh thâm, sức một người làm sao ngăn nổi đại quân xung kích? Chu Tử Liễu trên mặt thành thấy tình thế nguy cấp, vội thả xuống một sợi dây dài, gọi:

Quách huynh đệ, nắm lấy này!

Quách Tĩnh ngoảnh đầu, thấy huynh đệ Cái Bang cuối cùng đã vào trong thành, có hơn mười tên lính Mông Cổ xông vào theo. Các đao phủ thủ vừa đánh chặn, vừa khép cổng thành, hai cánh cổng sắt nặng nề thong thả khép lại. Quách Tĩnh thét to một tiếng, dùng giáo đâm chết một tên thập phu trưởng, tung mình nhảy lên chộp lấy sợi dây. Chu Tử Liễu ráng sức kéo lên, Quách Tĩnh lập tức vọt lên cao hơn trượng.

Tên vạn phu trưởng đốc chiến phía Mông Cổ quát lớn:

– Bắn tên!

Lập tức cả ngàn cây cung cùng bắn. Quách Tĩnh trong lúc được kéo lên đã lường trước việc này, đã xé vạt trường bào, tay phải nắm sợi dây, tay trái cầm vạt áo múa dồn dập như một cái mộc che chắn mọi mũi tên. Chỉ có con ngựa vừa cưỡi dưới chân thành bị trúng mấy trăm mũi tên dài, trông như một con nhím khổng lồ. Chu Từ Liễu hai tay kéo nhanh, Quách Tĩnh lên cao dần.

Khi Quách Tĩnh còn cách bờ thành hai trượng, thì trong quân Mông Cổ đột nhiên phi tới một hòa thượng gầy mặc áo cà sa màu vàng, chính là Kim Luân pháp vương. Lão ta cầm lấy cung nỏ của một tên quân quan Mông Cổ, giương cung lên. Lão ta biết Quách Tĩnh và Chu Tử Liễu đều võ nghệ tinh thâm, nếu nhắm bắn vào người họ, họ nhất định tránh được, thế là lão nhắm bắn sợi dây. Mũi tên này thật độc địa, nó cách Quách, Chu hai người khoảng một trượng, cả hai không tài gì chống đỡ. Kim Luân pháp vương sợ hai người có cách hóa giải, lão liền bắn tiếp mỗi người một mũi tên. Mũi tên thứ nhất nghe "phựt" một tiếng, sợi dây dài đứt luôn, hai mũi tên sau bay nhanh về phía Quách, Chu.

Sợi dây đứt, thân hình Quách Tĩnh rơi xuống, mũi tên bắn Quách Tĩnh dĩ nhiên không trúng. Chu Tử Liễu chợt cảm thấy cánh tay nhẹ bẫng, kêu "Hỏng rồi!" thì một mũi tên đã bay đến trước mặt. Kẻ bắn mũi tên nội lực cực kỳ thâm hậu. Lúc này trên mặt thành đầy người, Chu Tử Liễu thầm biết nếu mình né đầu tránh, ắt người phía sau sẽ bị trúng thương, bèn dùng hai ngón tay trái nhắm thật chuẩn mũi tên, giơ ra hất cán mũi tên một cái, khiến nó bay chếch xuống dưới.

Quách Tĩnh thấy đứt dây, thầm kinh hãi, rơi xuống chân thành tuy có thể không bị thương, nhưng giữa vòng vây thiên binh vạn mã, làm sao thoát nổi? Lúc này quân địch đã áp sát, nếu quân ta mở cổng thành tiếp ứng, quân địch nhất định thừa cơ xông vào. Trong cơn nguy cấp không kịp nghĩ ngợi, Quách Tĩnh chạm chân trái vào tường thành một cái, thân hình vọt lên cao hơn trượng, chân phải chạm vào tường thành một cái, thân hình lại vọt lên cao hơn trượng. Môn võ công cao siêu "Thượng thiên thê" (thang lên trời) này hiếm ai đương thời nắm vững, người nào dẫu luyện thành, mỗi bước cũng chỉ lên cao được hai, ba thước mà thôi. Đằng này Quách Tĩnh leo tường thành, cứ mỗi bước vọt lên cao hơn trượng, võ công cao siêu đúng là kinh thế hãi tục. Nhất thời trên thành dưới thành im phăng phắc không một tiếng động, mấy vạn đạo mục quang đều chăm chú dồn vào thân hình Quách Tĩnh.

Kim Luân pháp vương thầm kinh hãi, biết công phu "Thượng thiên thê" phải thực hiện liền một mạch, chỉ cần giữa chừng có sự chệch choạc một chút, sẽ không thể leo lên tiếp được nữa. Lão ta bèn giương cung, phóng tiếp một mũi tên nhắm đón lưng Quách Tĩnh.

Tên đi như gió, quân sĩ trên thành dưới thành đều kêu to:

– Đừng có phóng tiễn!

Tất cả mọi người thấy Quách Tĩnh võ công kinh nhân, thật đáng khâm phục, đều mong Quách Tĩnh lên được mặt thành. Quân Mông Cổ tuy ở phe địch, song cũng sùng kính anh hùng hảo hán, thấy có kẻ đột nhiên bắn lén, thì không khỏi căm phẫn.

Quách Tĩnh nghe tiếng mũi tên xé gió sau lưng, nghĩ bụng: "Thôi nguy rồi!" đành đưa tay ra sau gạt đi. Mấy vạn binh sĩ đôi bên thấy Quách Tĩnh như có con mắt sau lưng, mũi tên bắn lén không làm gì nổi Quách Tĩnh, thì đồng thanh reo hò. Nhưng giữa tiếng reo hò rầm trời, thân hình Quách Tĩnh đã hơi trầm xuống, tuy còn cách mặt thành vài thước, mà lại không thể leo lên được nữa.

Trong lúc quân sĩ đôi bên ác chiến, trong lòng Dương Quá tựa hồ cũng có hai phe giằng xé. Nhìn Quách Tĩnh gặp nạn, thân hình được kéo lên rồi rơi xuống, sau đó lại đạp lên rồi rơi xuống, trong lòng Dương Quá mấy ý nghĩ cứ thoáng qua liền liền: "Hắn là kẻ thù đã giết cha ta, ta có giết hắn hay không? Có nên cứu hắn hay không?" Lúc Quách Tĩnh sử công phu "Thượng thiên thê" sắp lên tới mặt thành, Dương Quá đã định phát chưởng lăng không đánh cho Quách Tĩnh rơi xuống. Quách Tĩnh đang giữa không trung, không có chỗ nào mượn lực, tất nhiên sẽ bị trọng thương rơi xuống. Chàng hơi chần chừ, Quách Tĩnh đã bị Kim Luân pháp vương bắn mũi tên ngăn cản, không thể lên được nữa. Dương Quá tâm trạng rối bời, đột nhiên tay trái chộp lấy đầu sợi dây đứt mà Chu Tử Liễu đang cầm, nhoài người xuống, tay phải đã chộp được cánh tay Quách Tĩnh. Hành động rất bất ngờ, nhưng Chu Tử Liễu tùy cơ ứng biến, nhanh nhẹn dị thường, lập tức sử kình vào hai tay, để cho sợi dây kéo xuống một chút, rồi vận kình kéo lên cực gấp. Dương Quá và Quách Tĩnh vạch một vòng tròn giữa không trung, giống như hai con chim bay.

Binh sĩ trên thành dưới thành mấy vạn người nhìn cảnh ấy cùng há hốc miệng.

Quách Tĩnh đang ở giữa không trung, nghĩ bụng mình liên tiếp bị lão phiên tăng kia đánh lén, chưa có dịp trả đòn, chẳng hóa thua hắn? Thấy Kim Luân pháp vương lại lắp tên sắp bắn nữa, Quách Tĩnh chân trái vừa chạm mặt thành, tức thời chộp cung nỏ của một binh sĩ, cánh tay vượn dang ra, trường tiễn phóng ngay về phía Kim Luân pháp vương, hai mũi tên gặp nhau giữa chừng, mũi tên của Kim Luân pháp vương bị chẻ làm đôi. Lão ta ngẩn người, đột nhiên kình phong vọt tới, cây thiết cung trong tay bị gãy luôn.

Nên biết Kim Luân pháp vương và Quách Tĩnh võ công tuy ngang ngửa, nhưng Quách Tĩnh từ nhỏ đã ở Mông Cổ, được thần tiễn Triết Biệt truyền thụ thuật cung nỏ, cộng với nội lực tinh thâm, trở thành thiên hạ vô song về tuyệt kỹ cung tiễn, Kim Luân pháp vương không thể sánh kịp. Quách Tĩnh phóng liên tiếp ba mũi tên, mũi thứ nhất chẻ mũi tên đối phương, mũi thứ hai làm gãy cây cung của lão ta, mũi thứ ba nhắm cán cờ của Hốt Tất Liệt.

Lá cờ lớn này đang bay phần phật trong gió, giữa thiên binh vạn mã hiển lộ thập phần uy vũ, cán cờ bị mũi tên bắn trúng, gãy liền, lá cờ vàng tức thời xuội lơ. Quân sĩ trên thành dưới thành lại cùng kêu ồ lên.

Hốt Tất Liệt thấy Quách Tĩnh uy vũ như vậy, sĩ khí quân mình không còn, lập tức truyền lệnh thoái lui.

Quách Tĩnh đứng trên mặt thành, nhìn hàng ngũ quân Mông Cổ chỉnh tề, tuy rút lui nhưng trật tự đâu ra đó, người rút trước không vội, kẻ đoạn hậu không hoảng, bất giác thở dài, nghĩ: "Tinh binh Mông Cổ, quân Tống yếu kém quả không thể địch nổi". Nghĩ đến quốc sự cặp lông mày rậm bất giác nhíu lại. Chu Tử Liễu, Dương Quá thấy Quách Tĩnh dương oai trong trận địa quân địch, trước mục quang vạn chúng song không hề tỏ vẻ kiêu ngạo, thì trong lòng đều thán phục.

Hốt Tất Liệt lui binh mấy chục dặm, dọc đường lặng lẽ nghĩ cách phá thành, nghĩ có Quách Tĩnh ở đó thành Tương Dương quả thật khó hạ. Kim Luân pháp vương nói:

– Điện hạ chính mắt thấy đó, nếu tên tiểu tử Dương Quá không xuất thủ cứu viện, thì hôm nay Quách Tĩnh khó mà thoát chết. Lão nạp đã sớm nhận ra, Dương Quá là kẻ phản phúc vô thường.

Hốt Tất Liệt nói:

– Không đâu! Tiểu vương cho rằng Dương Quá đúng là muốn giết Quách Tĩnh để trả thù cho cha, y là một kẻ kiên cường dũng cảm, không phải hạng tiểu nhân thâm trầm gian trá.

Kim Luân pháp vương nghĩ khác, song không dám phản bác, chỉ nói:

– Chỉ mong được như điện hạ sở liệu.

Mông Cổ lui binh, thành Tương Dương chuyển nguy thành an, An phủ sứ Lã Văn Đức cao hứng mở tiệc mừng công tại phủ nguyên soái, Dương Quá cũng được mời làm thượng khách. Mọi người ai cũng không tiếc lời tán thưởng việc chàng lanh lẹ, bất chấp hiểm nguy, lao người tương cứu Quách Tĩnh. Huynh đệ họ Võ ngồi ở bàn bên, thấy Dương Quá vừa đến thành đã lập kỳ công, thì không khỏi sinh lòng đố kỵ, chỉ sợ sau lần này, Quách Tĩnh cảm ân cứu mạng, sẽ lại đem con gái gả cho chàng. Hai huynh đệ chẳng nói chẳng rằng, chỉ buồn bã nốc rượu.

Tan tiệc, họ trở về phủ của Quách Tĩnh. Hoàng Dung mời Dương Quá vào nội đường tương kiến, nói lời tán thưởng. Dương Quá khiêm tốn từ tạ. Quách Tĩnh nói:

– Quá nhi, hồi chiều ngươi dùng lực quá mạnh, ngực có bị đau tức hay không?

Quách Tĩnh lo cho Dương Quá đêm qua bị tẩu hỏa, hôm nay trên mặt thành ráng sức, dễ bị thương nội tạng.

Dương Quá sợ Hoàng Dung truy vấn nguyên do, vội nói:

– Không, không sao cả.

Rồi chàng lái ngay sang chuyện khác:

– Quách bá bá, công phu bay lên mặt thành của bá bá đúng là độc bộ võ lâm.

Quách Tĩnh mỉm cười, nói:

– Công phu ấy ta biết đã lâu, nhiều năm rồi không ôn luyện, khó tránh khỏi vụng về, nên mới bị như thế.

Kỳ thực, nếu đêm qua Quách Tĩnh không dùng chân lực trợ sức cho Dương Quá, đến nỗi hao tổn nguyên khí, thì trong lúc thi triển công phu "Thượng thiên thê", dẫu Kim Luân pháp vương có bắn lén, cũng chẳng làm gì được, nhưng Quách Tĩnh dĩ nhiên không đả động đến chi tiết ấy, chỉ nói:

– Năm xưa Đan Dương Tử Mã đạo trưởng ở Mông Cổ truyền thụ cho ta môn công phu đó, không ngờ hôm nay lại vận dụng ở đây. Nếu ngươi thích, vài hôm nữa ta sẽ truyền thụ cho ngươi.

Hoàng Dung thấy Dương Quá thần tình hoảng hốt, trong lúc trò chuyện vẫn mải nghĩ chuyện khác, hôm nay Dương Quá ra sức cứu Quách Tĩnh là việc vạn người cùng chứng kiến, tất nhiên càng không có gì khả nghi, song Hoàng Dung vẫn không yên tâm, nói:

– Tĩnh ca ca, hôm nay muội hơi khó ở, ca ca ở lại đây với muội.

Quách Tĩnh gật đầu, nói với Dương Quá:

– Quá nhi, hôm nay mệt rồi, ngươi sớm về phòng mà nghỉ ngơi.

Dương Quá từ biệt, một mình đi về phòng, nghe tiếng trống điểm canh điểm canh hai. Chàng ngồi bên bàn, nhìn ngọn nến cháy chập chờn, lòng đầy tạp niệm. Bỗng nghe có tiếng gõ cửa, rồi tiếng nói nhỏ nhẹ của thiếu nữ:

– Chưa ngủ ư?

Chính là giọng nói của Tiểu Long Nữ.

Dương Quá cả mừng, chạy ra mở cửa, thấy Tiểu Long Nữ mặc bộ quần áo màu xanh nhạt, đứng đó.

Chàng hỏi:

– Cô cô có việc gì thế?

Tiểu Long Nữ mỉm cười, nói:

– Thiếp đến ngắm chàng một chút.

Dương Quá cầm tay nàng, dịu dàng nói:

– Quá nhi cũng đang nhớ đến cô cô.

Hai người sánh vai thong thả đi về phía hoa viên, trong đó cây và hoa xen nhau, mùi hương thơm ngát. Tiểu Long Nữ nhìn vầng trăng khuyết trên trời, nói:

– Chàng không thể tự tay giết y được ư? Thời gian không còn nhiều nữa.

Dương Quá vội ghé tai nàng nói nhỏ:

– Ở đây lắm tai mắt, đừng nhắc việc ấy.

Tiểu Long Nữ trân trân nhìn chàng, nói:

– Đợi đến ngày trăng tròn, thì sẽ hết hạn mười tám ngày đó.

Dương Quá kinh ngạc, gập ngón tay đếm, tính ra từ lúc từ biệt Cầu Thiên Xích, đã qua chín ngày, nếu trong một vài ngày tới không giết được vợ chồng Quách Tĩnh, chất độc phát tác thì khó lòng trở về Tuyệt Tình cốc. Chàng khe khẽ thở dài, cùng Tiểu Long Nữ ngồi xuống một tảng đá. Hai người nhìn nhau im lặng, nhu tình mỗi lúc thêm nồng nàn, quên cả chuyện cừu hận, chiến trận.

Hồi lâu sau, bỗng nghe từ phía ngoài hòn non bộ vọng lại tiếng chân, có hai người tới bụi hoa gần đấy. Một giọng thiếu nữ nói:

– Huynh còn ép muội, thì muội dùng kiếm cứa cổ chết quách cho khỏi khổ thế này.

Giọng chàng trai hờn dỗi:

– Hừ, muội tam tâm lưỡng ý, huynh không biết đấy ư? Tên tiểu tử họ Dương vừa đến thành Tương Dương, đã ra mặt trước hết thảy mọi người. Những lời muội nói dạo trước, bây giờ quên hết rồi chứ gì?

Nghe giọng, chính là Quách Phù và Võ Tu Văn. Tiểu Long Nữ nhìn Dương Quá, nháy mắt trêu chàng, ngụ ý chàng đi tới đâu cũng để vương tơ lòng, làm cho không ít cô nương phải sầu não vì chàng. Dương Quá mỉm cười, kéo Tiểu Long Nữ lại sát mình, xua xua tay, ngụ ý nàng đừng lên tiếng, hãy nghe hai người kia nói.

Quách Phù nghe Võ Tu Văn nói thế, liền cao giọng gắt:

– Đã thế, mọi lời hai ta từng nói với nhau, coi như không cả đi. Muội sẽ một mình bỏ đi thật xa, vĩnh viễn không gặp Dương Quá, hai ta cũng vĩnh viễn không gặp nhau nữa.

Nghe dường như có tiếng Võ Tu Văn kéo áo Quách Phù và bị nàng đẩy ra, giọng nàng càng giận dỗi hơn:

– Huynh co co kéo kéo gì vậy? Người ta lộ mặt hay không thì can dự gì tới muội? Cha mẹ của muội dẫu đem muội gả cho hắn, muội thà chết cũng không chịu. Gia gia nếu ép muội, muội sẽ trốn đi một nơi thật xa. Tên tiểu tử Dương Quá từ nhỏ đã lên mặt ta đây, song muội không coi hắn ra gì. Gia gia thì cứ làm như hắn quí lắm, hừ, muội thấy hắn không phải là người tử tế.

Võ Tu Văn vội hùa theo:

– Đúng, đúng vậy. Vừa rồi coi như huynh có mắt như mù, Phù muội đừng giận nữa. Từ rày huynh còn như thế, sẽ bị chết mất xác, kiếp sau hóa thành con rùa đen ngu xuẩn.

Giọng nói đã rất vui vẻ. Quách Phù cười khúc khích. Dương Quá và Tiểu Long Nữ cũng nhìn nhau mỉm cười. Một người ngụ ý: "Cô cô thấy đó, Quá nhi bị người ta ghét đến thế mà". Người kia thì ngụ ý: "Thì ra thiếp đoán lầm, thiếp thích chàng, còn người khác không phải vậy". Nghe giọng nói của Quách Phù, tuy có vẻ giận dỗi trách cứ, làm cho Võ Tu Văn cuống quít lo sợ, nhưng thực ra trong lòng nàng đầy sự âu yếm.

Võ Tu Văn nói:

– Sư mẫu yêu chiều muội hơn cả, muội cứ ngày đêm cầu xin sư mẫu đi. Chỉ cần sư mẫu không đáp ứng gả muội cho gã họ Dương, thì sư phụ sẽ phải chịu.

Quách Phù nói:

– Hừ, huynh thì biết gì? Gia gia tuy vẫn nghe lời mẫu thân muội, nhưng khi gặp đại sự, mẫu thân muội không dám trái ý gia gia đâu.

Võ Tu Văn thở dài, nói:

– Muội đối với huynh cũng như thế thì hay biết mấy?

Chỉ nghe "bốp" một tiếng, Võ Tu Văn kêu "Ối!", vẻ đau đớn, nói:

– Tại sao muội lại đánh huynh?

Quách Phù nói:

– Ai bảo huynh ăn nói tùy tiện? Muội không lấy Dương Quá, nhưng cũng chẳng lấy con khỉ nhỏ là huynh đâu.

Võ Tu Văn nói:

– Được, tối nay rốt cuộc muội đã thổ lộ tâm sự, muội không chịu làm vợ ta, chỉ muốn làm chị dâu ta thôi. Ta nói cho muội biết, ta nói cho muội biết..

Chàng ta tức quá, không nói tiếp được nữa.

Quách Phù đột nhiên đổi sang giọng âu yếm:

Tiểu Võ ca ca, ca ca đối tốt với muội, đã nói cả ngàn vạn lần, muội đã biết chân tình của ca ca từ lâu. Đại ca của ca ca tuy không nói thế lần nào, song muội cũng biết Đại Võ ca ca si tình với muội. Dù muội lấy ai, thì một trong hai huynh đệ ca ca cũng đau lòng. Ca ca yêu thương muội, lại không biết lòng muội khó xử thế nào hay sao?

Võ Đôn Nhu, Võ Tu Văn từ nhỏ không có cha mẹ săn sóc, huynh đệ đối xử với nhau hết mực thuận hòa, nhưng vài năm trở lại đây, cả hai cùng si mê Quách Phù, tự nhiên sinh ra không ưa nhau. Võ Tu Văn cuống lên, ứa cả nước mắt ra. Quách Phù rút khăn tay đưa cho chàng ta, thở dài nói:

– Tiểu Võ ca ca, chúng mình sống bên nhau từ nhỏ, muội kính trọng đại ca của ca ca, song muội trò chuyện với ca ca thấy hợp hơn là với đại ca của ca ca. Hôm nay ca ca ép muội phải nói rõ ràng, nhưng nếu ở địa vị muội, ca ca sẽ nói sao đây?

Võ Tu Văn nói:

– Ta không biết. Ta chỉ nói với muội, rằng nếu muội lấy người khác, thì ta không sống nổi nữa.

Quách Phù nói:

– Thôi, hôm nay đừng nhắc chuyện này nữa. Hôm nay gia gia chút nữa mất mạng với kẻ địch, chúng mình ở đây cãi nhau thế này, gia gia mà nghe thấy, thì phiền phức lắm đó. Tiểu Võ ca ca, muội nói với ca ca câu này, nếu ca ca muốn được cha mẹ muội ưa thích, hãy lập nhiều chiến công có hơn không? Ca ca cứ suốt ngày bám theo muội, làm gì mà cha mẹ muội chẳng coi thường?

Võ Tu Văn nhảy cẫng lên, nói to:

– Đúng! Ta phải đi giết Hốt Tất Liệt, giải vây cho thành Tương Dương, khi đó muội có chịu lấy ta hay không nào?

Quách Phù cười, nói:

– Ca ca lập đại công, dù muội không muốn lấy ca ca, chỉ e cũng không xong. Nhưng bên cạnh Hốt Tất Liệt có bao nhiêu là vệ sĩ, chỉ riêng Kim Luân pháp vương, ngay cả gia gia còn chưa chắc đánh thắng hắn. Ca ca đừng có hồ tư loạn tưởng nữa, mau đi ngủ cho rồi.

Võ Tu Văn nhìn khuôn mặt xinh xắn của Quách Phù một hồi, rồi nói:

– Được, vậy muội đi ngủ sớm đi.

Chàng ta đi vài bước, bỗng dừng chân, ngoảnh đầu, hỏi:

– Phù muội, đêm nay muội có nằm mơ hay không?

Quách Phù cười, nói:

– Muội làm sao biết trước kia chứ?

Võ Tu Văn nói:

– Nếu có nằm mơ, muội nghĩ sẽ mơ chuyện gì?

Quách Phù mỉm cười, nói:

– Quá nửa muội sẽ nằm mơ gặp một con khỉ nhỏ.

Võ Tu Văn cả mừng, nhảy chân sáo mà đi.

Tiểu Long Nữ và Dương Quá ngồi phía sau bụi hoa nghe câu chuyện của hai người, không khỏi nhìn nhau mỉm cười, nghĩ hai người ấy, một thì si mê khổ sở, một thì tâm ý bất định, thật không sao sánh được với mối thâm tình của hai người mình, yêu thương nhau dù chết cũng không ân hận, trong lòng vô cùng sung sướng.

Võ Tu Văn đi rồi, Quách Phù ngồi lại một mình trên ghế đá, ngây ngây nhìn vầng trăng xuất thần một hồi lâu, thở dài một tiếng não nuột. Bỗng nhiên từ sau hòn non bộ đối diện có một người bước ra, nói:

– Phù muội, sao lại thở dài?

Chính là Võ Đôn Nhu. Dương Quá và Tiểu Long Nữ hơi ngạc nhiên, nghĩ chàng ta đã đến chỗ kia từ trước hai người, nếu chàng ta đến sau, hai người không thể không biết.

Quách Phù hơi giận, nói:

– Thì ra những gì muội nói với đệ đệ của ca ca, ca ca đều đã nghe hết cả rồi chứ gì?

Võ Đôn Nhu gật đầu, đứng đối diện xa xa với Quách Phù, nhưng ánh mắt chàng ta thì đầy vẻ đắm đuối. Hai người im lặng một hồi, Quách Phù hỏi:

– Ca ca muốn nói gì với muội thì nói đi!

Võ Đôn Nhu đáp:

– Không có gì. Huynh không nói thì muội cũng biết.

Nói đoạn thong thả quay mình bỏ đi.

Quách Phù nhìn theo Võ Đôn Nhu, thấy chàng ta đi khuất xa vào phía sau hòn non bộ, không hề ngoảnh lại một lần, nghĩ: "Bất luận là đại Võ hay tiểu Võ, giá trên thế gian chỉ có một người, có phải là hơn không?" Nàng thở dài, một mình đi về phòng.

Dương Quá chờ Quách Phù đi xa, cười hỏi:

– Nếu cô cô là nàng ta, cô cô sẽ lấy ai?

Tiểu Long Nữ nghiêng đầu nghĩ một lát, nói:

– Lấy chàng.

Dương Quá cười, nói:

– Không tính Quá nhi. Quách cô nương không thích Quá nhi chút nào. Quá nhi nói giả dụ cô cô là nàng ta, trong hai huynh đệ họ Võ, cô cô sẽ chọn lấy ai?

Tiểu Long Nữ "ừm" một tiếng, thầm so sánh huynh đệ họ Võ, cuối cùng lại nói:

– Thiếp vẫn chọn chàng.

Dương Quá cười sung sướng, lại cảm kích, vòng tay ôm nàng vào lòng, âu yếm nói:

– Người ta tam tâm nhị ý, cô cô của Quá nhi chỉ yêu một mình Quá nhi thôi.

Hai người tựa vào nhau, sung sướng ngồi đó cho đến khi trời sáng. Phương đông đã rạng, hai người vẫn chưa muốn rời nhau. Bỗng thấy một gia đinh hớt hải chạy tới, bẩm rằng Quách gia mời Dương đại gia vào sảnh đường có yếu sự cần thương lượng.

Dương Quá thấy thần tình của bộc nhân ấy, biết là có việc khẩn cấp, bèn từ biệt Tiểu Long Nữ, theo bộc nhân đi vào nội đường. Bộc nhân nói:

– Tiểu nhân chạy tìm khắp nơi, hóa ra Dương gia thưởng hoa trong hoa viên.

Dương Quá hỏi:

– Quách đại gia đợi ta lâu rồi phải không?

Bộc nhân thấp giọng nói:

– Hai vị Võ thiếu gia tự dưng không biết đi đâu, Quách đại gia và Quách phu nhân đều rất lo lắng, Quách cô nương thì đã khóc mấy lần rồi!

Dương Quá chợt hiểu nguyên do: "Huynh đệ họ Võ giành nhau lấy sư muội, đều muốn lập kỳ công, chắc là đã ra khỏi thành để đi hành thích Hốt Tất Liệt". Vào tới nơi, chỉ thấy Hoàng Dung mặc bộ quần áo rộng, ngồi một bên, dung sắc tiều tụy, Quách Tĩnh thì cứ đi đi lại lại, Quách Phù hai mắt đỏ hoe, chực khóc. Có hai thanh kiếm đặt trên bàn.

Quách Tĩnh vừa thấy Dương Quá, liền nói:

– Quá nhi, ngươi có biết huynh đệ họ Võ sang doanh trại quân địch làm gì hay không?

Dương Quá nhìn Quách Phù một cái, nói:

– Hai vị Võ huynh sang doanh trại quân địch ư?

Quách Tĩnh nói:

– Đúng vậy. Bọn trẻ các ngươi có chuyện gì đều nói với nhau, ngươi có đoán được chúng sang doanh trại quân địch làm gì hay không?

Dương Quá nói:

– Điệt nhi không hề lưu tâm. Hai vị Võ huynh cũng không nói gì với điệt nhi cả. Chắc là thấy khó giải vây cho thành Tương Dương, hai vị Võ huynh nôn nóng, định sang doanh trại quân địch giết đại tướng Mông Cổ, nếu thành công thì lập kỳ công.

Quách Tĩnh thở dài, chỉ hai thanh kiếm trên bàn, nói:

– Có lẽ thế, nhưng chúng thật không biết lượng sức mình, vũ khí đều bị người ta tước mất và gửi trả về nhà.

Chuyện này bất ngờ với Dương Quá, chàng đoán chắc rằng huynh đệ họ Võ sẽ thất bại. Trí tuệ và võ công của hai người ấy, làm sao đương đầu nổi với bọn Kim Luân pháp vương, Tiêu Tương Tử, Doãn Khắc Tây kia chứ? Không ngờ chỉ trong vòng mấy canh giờ, binh khí của hai người cũng đã bị gửi trả lại. Quách Tĩnh cầm một phong thư bị hai thanh kiếm đè lên, đưa cho Dương Quá, nhìn Hoàng Dung một cái, hai người cùng lắc đầu. Dương Quá mở thư ra xem, thấy viết:

"Đệ nhất hộ quốc pháp sư đại Mông Cổ Kim Luân pháp vương kính gửi Quách đại hiệp trong thành Tương Dương. Đêm qua, tình cờ gặp hiền đồ của Quách đại hiệp là huynh đệ họ Võ, tục ngữ có câu" Danh môn tất xuất cao đệ ". Lão nạp ngưỡng mộ phong thái Quách đại hiệp từ lâu, những mong có dịp hội kiến. Bữa trước tại anh hùng đại yến ở ải Đại Thắng, chúng ta gặp nhau ngắn ngủi, chưa kịp đàm luận sâu xa, nay viết thư này kính mời Quách đại hiệp đại giá, tới quân doanh uống vài ly rượu, chỉ giáo cho đôi điều, thật là vinh hạnh. Tôn giá tới nơi, nhị vị hiền đồ sẽ lập tức bình an trở về".

Lời lẽ trong thư khiêm nhường, tựa hồ chỉ mời Quách Tĩnh sang trò chuyện, nhưng ý tứ rõ ràng là bắt huynh đệ họ Võ làm con tin, Quách Tĩnh phải sang đón mới thả về. Quách Tĩnh đợi Dương Quá xem xong thư, hỏi:

Thế nào?

Dương Quá nghĩ bụng: "Quách bá mẫu mưu trí hơn ta nhiều lần, ta có diệu kế, lẽ nào bà ta không biết? Bà ta gọi ta tới bàn, dụng ý duy nhất là muốn ta và cô cô cùng đi với Quách bá bá sang doanh trại quân địch. Quách bá bá sang doanh trại quân địch, bọn Kim Luân pháp vương, Tiêu Tương Tử hợp lực có thể đánh bại, nhưng không dễ bắt giết được Quách bá bá. Có ta và cô cô cùng đi, Quách bá bá ắt có cách thoát thân". Lại nghĩ: "Nhưng nếu ta và cô cô đột nhiên trở giáo, một là xuất kỳ bất ý, hai là ưu thế đôi bên quá chênh lệch, bấy giờ lấy mạng Quách Tĩnh dễ như trở bàn tay. Ta không nỡ đích thân ra tay, mượn tay bọn Kim Luân pháp vương lấy mạng Quách Tĩnh, há chẳng hay lắm sao?" Bèn mỉm cười, nói:

– Quách bá bá, Quá nhi cùng sư phụ đi theo bá bá thì được. Quách bá mẫu đã thấy Quá nhi cùng sư phụ liên kiếm đánh bại Kim Luân pháp vương, ba người cùng đi, kẻ địch muốn bắt ở lại cũng không nổi.

Quách Tĩnh cả mừng, cười, nói:

– Ngươi thông minh lanh lợi, ngoài Quách bá mẫu ngươi ra, không ai theo kịp ngươi. Ý của Quách bá mẫu ngươi cũng đúng như vậy.

Dương Quá nghĩ: "Hoàng Dung ơi Hoàng Dung! Người thông minh nhất đời, hôm nay cũng bị mắc mưu ta rồi", chàng nói:

– Không nên chậm trễ, chúng ta nên đi ngay. Quá nhi và sư phụ sẽ đóng giả làm hai kẻ theo hầu Quách bá bá, để tôn thêm khí phách anh hùng đơn đao phó hội cho Quách bá bá.

Quách Tĩnh nói:

– Tốt lắm!

Quay sang Hoàng Dung, nói:

– Dung nhi, nàng đừng lo, có Quá nhi và Long cô nương đi cùng, dù xông vào đầm rồng hang hổ, ba chúng ta cũng sẽ bình an trở về.

Vừa sửa áo, vừa nói:

– Cho mời Long cô nương.

Hoàng Dung lắc đầu, nói:

– Không, ý của muội là chỉ cần một mình Quá nhi đi cùng Tĩnh ca ca. Long cô nương là một khuê nữ xinh tươi, chúng ta không nên để nàng ta phải đi vào chốn hung hiểm. Muội muốn Long cô nương ở lại với muội.

Dương Quá sững người, lập tức hiểu ý: "Quách bá mẫu quả nhiên có ý đề phòng mình. Bà ta giữ cô cô lại làm con tin, để mình không dám trở mặt. Nếu mình đòi cô cô đi cùng, chỉ càng tăng thêm sự nghi ngờ", bèn lặng thinh không nói.

Quách Tĩnh thì nói:

– Long cô nương kiếm thuật tinh diệu, nếu đi cùng sẽ trợ giúp được rất nhiều.

Hoàng Dung nói:

– Phá Lỗ, Tương nhi của ca ca sắp chào đời, có Long cô nương ở bên cạnh, muội mới có thể yên lòng.

Quách Tĩnh vội nói:

– Phải, phải đấy. Ta thật hồ đồ. Quá nhi, hai ta đi thôi.

Dương Quá nói:

– Để Quá nhi nói với cô cô một tiếng.

Hoàng Dung nói:

– Ta chuyển lời với nàng ta thì được rồi. Hai người sang doanh trại địch, nếu nửa ngày chưa thấy về, ắt là có chuyện lớn.

Dương Quá biết rằng đấu trí với Hoàng Dung thì chàng chỉ có thua, nhưng còn Quách Tĩnh chất phác thật thà, không phải là đối thủ của chàng, sau khi sang doanh trại quân Mông Cổ, chàng thừa sức đề phòng với Quách Tĩnh, sau đó trở về cứu Tiểu Long Nữ cũng chưa muộn, thế là liền theo Quách Tĩnh rời thành.

Quách Tĩnh cưỡi con ngựa quí màu huyết, Dương Quá thì cưỡi con ngựa gầy lông vàng, cước lực của cả hai con đều nhanh, chưa đầy nửa giờ đã tới đại doanh quân Mông Cổ.

Hốt Tất Liệt nghe báo Quách Tĩnh đã tới, vừa ngạc nhiên vừa vui mừng, vội cho mời vào trướng. Quách Tĩnh bước vào vương trướng, thấy một vương gia trẻ tuổi ngồi giữa, mặt vuông tai to, hai mắt lõm sâu, bất giác sững lại: "Người này giống phụ thân Đà Lôi của y như đúc". Nghĩ đến hồi trẻ có tình thâm nghĩa trọng với Đà Lôi, nay đã âm dương đôi ngả, Quách Tĩnh không khỏi thương cảm, chút nữa thì rơi nước mắt.

Hốt Tất Liệt đứng dậy nghênh đón, vái sát đất, nói:

– Tiên vương sinh thời vẫn thường nhắc đến Quách Tĩnh thúc thúc anh hùng đại nghĩa, tiểu điệt ngưỡng mộ đã lâu, hôm nay được thấy tôn nhan, thật là bình sinh như nguyện.

Quách Tĩnh vái đáp lễ, nói:

– Đà Lôi an đáp và ta tình hơn cốt nhục, hai mẹ con ta từ nhỏ đã được ơn mưa móc của Thành Cát Tư Hãn và sự trợ giúp của lệnh tôn. Lệnh tôn hồi trẻ rực rỡ như ánh dương, không may bất ngờ tạ thế, khiến ta nhớ đến lại đau lòng.

Hốt Tất Liệt thấy Quách Tĩnh lời lẽ chân thành thì rất xúc động, dẫn kiến bọn Tiêu Tương Tử, Ni Ma Tinh, Doãn Khắc Tây, rồi mời Quách Tĩnh ngồi trên.

Dương Quá đứng sau lưng Quách Tĩnh, giả bộ không quen biết mọi người. Bọn Kim Luân pháp vương không biết chàng đi cùng Quách Tĩnh sang đây với dụng ý gì, thấy chàng lờ mọi người đi, họ cũng không nói gì với chàng. Mã Quang Tá vừa mở miệng "Dương huynh.." chữ "đệ" chưa kịp thốt ra, thì Doãn Khắc Tây đã véo mạnh vào đùi y một cái, y kêu "Gì vậy?" Doãn Khắc Tây đã ngoảnh mặt làm ngơ. Mã Quang Tá không biết ai véo mình, làu bàu chửi, quên luôn việc chào hỏi Dương Quá.

Quách Tĩnh ngồi, sau khi uống một bát rượu sữa ngựa, chưa thấy huynh đệ họ Võ, đang định hỏi, thì Hốt Tất Liệt quay sang tả hữu phân phó:

– Mau mời hai vị Võ gia.

Vệ sĩ tả hữu vâng lệnh bước ra, dẫn vào Võ Đôn Nhu và Võ Tu Văn. Chân tay hai người bị trói bằng dây gân bò, bước đi rất khó khăn, chỉ có thể nhích dần từng chút một. Huynh đệ họ Võ thấy sư phụ thì hổ thẹn, cùng thốt lên:

– Sư phụ!

Và cúi gằm, không dám ngẩng mặt lên.

Huynh đệ họ Võ tham công mạo hiểm, tự tiện rời thành, gây náo loạn, Quách Tĩnh vốn mười phần giận dữ, nhưng thấy cả hai quần áo xộc xệch, người có vết máu, rõ ràng trải qua một phen ác chiến mới thất thủ bị bắt, lại đang bị trói chặt, không khỏi chuyển giận thành thương, nghĩ cả hai tuy sai phạm, nhưng cũng là vì nước vì dân, bèn ôn tồn nói:

– Nhân sĩ võ học, một đời thất bại vô số lần, cũng là chuyện thường.

Hốt Tất Liệt giả bộ trách mắng tả hữu:

– Ta bảo các người hãy khoản đãi tử tế hai vị Võ gia, sao lại vô lễ với họ như thế? Mau mau cởi trói.

Tả hữu vâng lệnh cởi trói cho hai người, nhưng sợi gân bò sau khi thít quá chặt, đã ăn sâu vào da thịt, nhất thời không cởi được ngay. Quách Tĩnh bước tới, cầm hai đầu sợi dây gân bò buộc trước ngực Võ Đôn Nhu, kéo nhẹ ra hai phía, "phựt" một tiếng, sợi dây đứt liền, tiếp đó lại giật đứt sợi dây trói Võ Tu Văn. Công phu ấy trông tựa hồ nhẹ nhàng, không có gì đáng nói, kỳ thực phải có nội công thâm hậu mới làm nổi.

Bọn Tiêu Tương Tử, Ni Ma Tinh, Doãn Khắc Tây nhìn nhau, thầm tán thưởng võ công của Quách Tĩnh. Hốt Tất Liệt nói:

– Mau bưng rượu ra tạ tội với hai vị Võ gia.

Quách Tĩnh thầm nghĩ, chuyến sang đây hôm nay chắc chắn không êm thấm, thể nào cũng xảy ra ác chiến, huynh đệ họ Võ nếu không về cho sớm, mình sẽ phải phân tâm chiếu cố, bèn chắp tay vái tứ phía, nói:

– Tiểu đồ mạo muội vô trạng, được vương gia cùng các vị giáo huấn, huynh đệ xin cảm tạ.

Rồi quay sang nói với huynh đệ họ Võ:

– Các ngươi về trước bẩm cáo sư mẫu, bảo ta hội kiến với con trai của cố nhân, xong xuôi sẽ về ngay.

Võ Tu Văn nói:

– Sư phụ, sư phụ..

Đêm qua y hành thích không thành, bị Tiêu Tương Tử bắt giữ, biết trong doanh trại quân địch quả nhiên cao thủ như ruồi, không khỏi lo cho sự an nguy của sư phụ. Quách Tĩnh phẩy tay, nói:

– Mau về đi! Các ngươi bẩm cáo với An phủ sứ, rằng hãy nghiêm thủ cổng thành, bất kể có biến cố gì cũng không được mở cổng thành, đề phòng quân địch tập kích.

Mấy câu này được nói ra sang sảng thần uy, cốt để bọn Hốt Tất Liệt biết rằng dù mình có gặp chuyện bất trắc, thành Tương Dương cũng quyết không đầu hàng.

Huynh đệ họ Võ thấy sư phụ thân chinh mạo hiểm cứu mình thì vừa cảm kích, vừa hối hận, không dám đa ngôn, bái biệt sư phụ trở về thành.

Hốt Tất Liệt cười, nói:

– Hai vị hiền đồ sang đây hành thích tiểu diệt, chắc Quách thúc phụ không biết.

Quách Tĩnh gật đầu, nói:

– Ta không hề biết trước việc đó. Hai đứa trẻ không biết trời cao đất dày, sang đây làm loạn.

Hốt Tất Liệt nói:

– Phải rồi, thiết tưởng tiểu diệt với Quách thúc phụ tương giao ba đời, Quách thúc phụ nể tình cố nhân, tất không làm vậy.

Quách Tĩnh nghiêm nghị nói:

– Điều đó chưa hẳn, đứng trước công nghĩa, phải coi nhẹ tư giao. Năm nào Đà Lôi cầm quân công phá thành Tương Dương, ta từng có ý hành thích nghĩa huynh, để đánh lui quân địch, song bấy giờ gặp lúc Thành Cát Tư Hãn lâm trọng bệnh, Mông Cổ lui quân, nên nghĩa kim lan của ta mới vẹn toàn. Cổ nhân đại nghĩa diệt thân, thân nhân còn có thể trừ diệt, huống hồ bằng hữu?

Mấy câu nói thẳng thừng, bọn Kim Luân pháp vương, Doãn Khắc Tây nhìn nhau biến sắc. Dương Quá nghĩ bụng: "Phải rồi, đâm chém nghĩa huynh nghĩa đệ vốn là trò đùa của Quách Tĩnh. Không biết phụ thân ta năm xưa có sai phạm gì đến nỗi bị hắn hạ độc thủ? Quách Tĩnh ơi là Quách Tĩnh, không lẽ trong đời ngươi chưa từng sai phạm điều gì hay sao?" Nghĩ đến đây, lòng oán hận lại trỗi dậy.

Hốt Tất Liệt thản nhiên, ngậm cười, nói:

– Đã vậy sao Quách thúc phụ còn bảo hai vị hiền đồ làm loạn?

Quách Tĩnh nói:

– Hai đứa hắn học nghệ chưa thành, không tự lượng sức, đòi sang hành thích, làm sao thành công? Hai đứa hắn bị bắt là chuyện nhỏ, để cho ngươi tăng cường đề phòng, người sau muốn sang hành thích thật không dễ chút nào, đó là chuyện lớn.

Hất Tất Liệt cười ha hả, nghĩ: "Từ lâu nghe Quách Tĩnh trung hậu chất phác, nói năng vụng về, nào ngờ miệng lưỡi của y cũng quá ư sắc sảo". Kỳ thực Quách Tĩnh trong bụng nghĩ gì thì nói ra như vậy, chỉ vì ý nghĩ trong bụng thông đạt, cho nên lời lẽ mới lợi hại.

Bọn Kim Luân pháp vương thấy Quách Tĩnh một mình tay không, dám sang đứng giữa thiên binh vạn mã của Mông Cổ mà không run sợ, khí phách như thế bọn họ không thể bì kịp, đều thầm khâm phục.

Hốt Tất Liệt thấy Quách Tĩnh hiên ngang, cũng không khỏi hỉ ái, nghĩ thầm nếu chiêu nạp được người này thì hơn là lấy mười tòa thành Tương Dương, nói:

– Quách thúc phụ, Triệu Tống vô đạo, vua hôn mê, dân khốn khổ, gian nịnh đương triều, trung thần hàm oan, tiểu điệt nói không sai chứ?

Quách Tĩnh nói:

– Không sai, hoàng đế Lý Tông là hôn quân vô đạo, tể tướng Giả Tự Đạo là một tên đại gian thần.

Mọi người nghe vậy đều ngẩn ra, hoàn toàn không ngờ Quách Tĩnh lại thẳng thắn chỉ trích quân thần triều Tống như thế.

Hốt Tất Liệt nói:

– Đúng, Quách thúc phụ là đại anh hùng hảo hán đời nay, tội gì phải bán mạng cho bọn hôn quân gian thần?

Quách Tĩnh đứng dậy, sang sảng nói:

– Quách mỗ này há để cho bọn hôn quân gian thần lợi dụng? Chỉ vì căm hận quân Mông Cổ tàn bạo, xâm lăng cương thổ nước ta, giết hại đồng bào ta, nên Quách mỗ ta đêm bầu nhiệt huyết của mình hiến cho ngàn vạn bách tính Thần Châu.

Hốt Tất Liệt vỗ tay xuống mặt bàn, nói:

– Nói rất hay, mọi người xin kính Quách thúc phụ một bát rượu.

Đoạn nâng bát rượu sữa ngựa lên uống cạn một hơi. Bọn tùy tùng thầm nóng ruột, chỉ sợ Hốt Tất Liệt nghĩ đến giao tình đời trước, lại xúc động trước lời lẽ của Quách Tĩnh mà để cho Quách Tĩnh về thành, sau muốn bắt lại cực khó, nhưng thấy Hốt Tất Liệt nâng bát rượu, thì cả bọn cũng đành phải uống theo mỗi người một bát. Vệ sĩ lại rót rượu vào đầy bát của mọi người.

Hốt Tất Liệt nói:

– Quí bang có một vị lão phu tử từng nói: "Dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh." (Dân là quí, rồi đến xã tắc, vua là nhẹ). Câu đó thật chí lý. Chỉ người có đức ở cao trên hết, mới lấy được thiên hạ. Đại Mông Cổ ta triều chính thanh bình, bách tính an cư lạc nghiệp, các đắc kỳ sở (ai muốn gì được nấy). Đại hãn Mông Cổ không nỡ nhìn con dân nam triều bị hãm trong vòng thống khổ, không có người cứu giải, nên mới điếu dân phạt tội (cứu dân, trừ bạo ngược), cử quân nam chinh, không ngại vất vả. Tâm ý đó không khác gì Quách thúc phụ, có thể nói là anh hùng sở kiến lược đồng. Nào chúng ta hãy cạn thêm một bát rượu nữa.

Bọn Kim Luân pháp vương nâng bát rượu lên môi. Quách Tĩnh hất mạnh ống tay áo, kình phong quạt đi, các bát rượu trên tay mọi người đều rơi xuống vỡ tan.

Quách Tĩnh quát to:

– Im đi! Quân Mông Cổ các ngươi từ khi xâm Tống đã giết hại dân chúng, thây chất đầy đồng, máu chảy thành sông. Trăm họ Đại Tống gia phá nhân vong, bao nhiêu người đã bỏ mạng bởi đao tiễn quân Mông Cổ, làm gì có chuyện điếu dân phạt tội?

Một cái hất mạnh ống tay áo, tuy bất ngờ, song bọn Kim Luân pháp vương thân mang tuyệt nghệ, vậy mà các bát rượu trên tay vẫn bị đánh rơi, họ đều cảm thấy mất mặt, cùng đứng bật dậy, chỉ chờ Hốt Tất Liệt phát tác là sẽ lập tức động thủ.

Nào ngờ Hốt Tất Liệt ngẩng mặt cười một tràng, nói:

– Quách thúc phụ anh hùng vô địch, binh tướng Mông Cổ ai nhắc đến cũng đều kính phục, hôm nay chính mắt chứng kiến, quả nhiên danh bất hư truyền. Tiểu vương bất tài, không dám làm tổn thương tình nghĩa của tiên phụ, bữa nay chỉ nói chuyện vui, không đàm luận quốc sự được chăng?

Quách Tĩnh chắp tay, nói:

– Đà Lôi có người con rộng lượng, chư vương Mông Cổ không ai sánh kịp, sau này tất sẽ gánh vác trọng nhiệm quốc gia. Ta có lời này thành thật khuyến cáo, không biết có muốn nghe hay chăng?

Hốt Tất Liệt nói:

– Xin lắng nghe lời giáo huấn của Quách thúc phụ.

Quách Tĩnh xoa tay, nói:

– Nam triều ta đất rộng người đông, coi trọng khí tiết. Nhân tài đâu đâu cũng có, từ cổ đến nay, không hề khuất phục dị tộc. Mông Cổ tuy nhất thời nhanh chóng mở rộng cương giới, nhưng sau này nhất định sẽ bị đuổi về vùng sa mạc phương bắc, bấy giờ nguyên khí bị tổn thất nặng nề, hối hận không kịp, mong vương gia suy nghĩ cho kỹ.

Hốt Tất Liệt cười, nói:

– Đa tạ minh giáo.

Quách Tĩnh nghe câu đáp giả dối, liền nói:

– Vậy thì từ biệt, có ngày gặp lại.

Hốt Tất Liệt ôm quyền, nói:

– Tiễn khách!

Bọn Kim Luân pháp vương nhìn nhau kinh ngạc, rồi cùng nhìn Hốt Tất Liệt, nghĩ: "Dễ gì cá chui vào lưới, há có thể thả hổ về rừng?" Nhưng Hốt Tất Liệt đã khách sáo tiễn khách ra khỏi vương trướng, bọn họ cũng không tiện động thủ.

Quách Tĩnh bước ra khỏi trướng, nghĩ: "Hốt Tất Liệt cử chỉ bất phàm, quả là kình địch", nháy mắt với Dương Quá, rảo bước đến chỗ buộc ngựa. Bỗng nhiên từ bên hông xông ra tám gã đại hán Mông Cổ, gã đi đầu nói:

– Ngươi là Quách Tĩnh phải không? Ở bên thành Tương Dương ngươi đã sát hại bao nhiêu huynh đệ của ta, hôm nay còn tới quân doanh Mông Cổ bọn ta huy võ dương oai. Vương gia thả cho ngươi đi, chứ bọn ta thì không.

Hắn thét một tiếng, tám gã đại hán cùng ùa tới, dùng thủ pháp đánh vật Mông Cổ, mười sáu cánh tay túm lấy Quách Tĩnh.

Thuật đánh vật của người Mông Cổ vốn vô địch thiên hạ, tám gã đại hán này lại là đệ nhất hảo thủ trong quân Mông Cổ, Hốt Tất Liệt cho mai phục bên ngoài trướng để bắt sống Quách Tĩnh. Nhưng Quách Tĩnh từ nhỏ lớn lên trên đất Mông Cổ, cười ngựa bắn cung đánh vật thành thạo từ nhỏ, thấy tám người ùa tới bèn múa hai tay, chân phải móc khèo, lập tức bốn gã đại hán bị Quách Tĩnh lẳng ra hơn một trượng, bốn gã còn lại thì ngã cả xuống đất. Quách Tĩnh sử dụng chính là thuật đánh vật chính tông của người Mông Cổ chẳng qua có căn cơ võ công, kình lực chân tay mạnh mẽ dị thường, thử hỏi tám gã đại hán làm sao địch nổi? Phía ngoài vương trướng của Hất Tất Liệt có một đội thân binh ngàn tên, người người đều giỏi thuật đánh vật, nhìn thủ pháp lợi hại của Quách Tĩnh đánh ngã cùng lúc tám hảo thủ trong quân, thần kỹ chưa từng thấy, thì không hẹn cùng đồng thanh reo hò.

Quách Tĩnh ôm quyền lắc lắc, cầm mũ xoay một vòng tung lên trời, đó là nghi thức đáp tạ người xem khi đô vật thắng trận, quan binh lại hoan hô như sấm. Tám gã đại hán lồm cồm bò dậy, sững sờ nhìn Quách Tĩnh, chưa biết nên xông vào hay là rút lui.

Quách Tĩnh bảo Dương Quá:

– Đi thôi!

Chỉ nghe tiếng tù và nổi lên dồn dập, đội quân ngàn tên chạy qua chạy lại, thì ra Hốt Tất Liệt điều động binh mã vây chặt Quách Tĩnh và Dương Quá thành nhiều lớp. Quách Tĩnh thầm kinh ngạc, nghĩ: "Hai người dẫu có bản lĩnh thông thiên, làm sao thoát được trùng vây quân mã? Không ngờ để đối phó với một mình ta, Hốt Tất Liệt lại" hưng sư động chúng "(điều động quá nhiều binh mã). Lo Dương Quá khiếp sợ, Quách Tĩnh giữvẻ mặt thản nhiên như không, nói:

– Hai ta có khoái mã, chỉ cần xông lên, đoạt lấy hai tấm khiên, đề phòng quân địch bắn ngựa.

Rồi ghé tai nói nhỏ:

– Đầu tiên chạy về hướng nam, sau đó ngoặt lên phía bắc.

Dương Quá ngẩn người:" Thành Tương Dương ở mạn nam, tại sao lại chạy về phía bắc? À phải, binh mã của Hốt Tất Liệt tập trung ở mạn nam, đề phòng hai người chạy về thành Tương Dương, nên mạn bắc tất nhiên bỏ trống. Đầu tiên chạy về hướng nam, sau đó ngoặt lên phía bắc, làm cho quân địch bất ngờ, trở tay không kịp, như thế mới thừa cơ vượt được vòng vây. Mình phải ngăn Quách Tĩnh lại bằng cách nào đây? "

Dương Quá đang nghĩ, thấy từ trong vương trướng của Hốt Tất Liệt có mấy bóng người lao ra chặn hậu, tiếp đến tiếng loong coong rền rĩ, đồng luân và thiết luân đã bay về phía hai con ngựa, chính là Kim Luân pháp vương ra tay ngăn chặn hai người thoát thân. Quách Tĩnh thấy thế bay của song luân quá cương mãnh, không dám giơ tay bắt, vội cúi đầu, hai tay ấn cổ hai con ngựa, hai con ngựa quì chân trước xuống, song luân vừa vặn bay qua đầu ngựa, lượn một vòng trong không trung, trở về tay Kim Luân pháp vương. Trong giây lát ấy Ni Ma Tinh và Doãn Khắc Tây đã chạy tới trước mặt hai người. Kim Luân pháp vương và Tiêu Tương Tử cũng lao tới, bốn kẻ vây tròn lấy hai người.

Kim Luân pháp vương, Tiêu Tương Tử đều là đệ nhất cao thủ, khi động thủ với người quyết không ỷ đông thủ thắng, nhưng Quách Tĩnh võ công quá mạnh, mỗi người kia đều muốn được phong danh hiệu" Đệ Nhất dũng sĩ Mông Cổ "chỉ sợ kẻ bên cạnh đoạt trước, chỉ thấy bạch quang, hoàng quang loang loáng, bốn người đều đã cầm binh khí trong tay. Kim Luân pháp vương cầm kim luân, Doãn Khắc Tây cầm ngọn nhuyễn tiên đính vàng ngọc, Tiêu Tương Tử cầm cây can bổng giống như cây gậy đưa đám, binh khí của Ni Ma Tinh cổ quái nhất, là một cây linh xà đoản tiên (roi ngắn), cứ thò thò thụt thụt trong tay hắn như lưỡi con rắn.

Quách Tĩnh nhìn dáng chạy và thủ pháp rút binh khí, thấy trong bốn người ấy, Doãn Khắc Tây tựa hồ võ công kém hơn, liền vung song chưởng đánh trước mặt Tiêu Tương Tử. Tiêu Tương Tử chọc cây can bổng vào lòng bàn tay Quách Tĩnh. Quách Tĩnh thấy đầu cây can bổng bịt sắt màu trắng, buộc một sợi dây màu trắng, giống như cây gậy mà người con trai chống khi đưa tang, đoán người này võ công cao thâm, binh khí sử dụng cổ quái, tất có chỗ đặc dị, tay phải bèn chuyển hướng, dùng chiêu" Thần long bãi vĩ "chộp lấy cái kim tiên của Doãn Khắc Tây. Doãn Khắc Tây đang định ra đòn, thì đầu cái kim tiên đã nằm trong tay đối phương, bèn thuận theo đà kéo của đối phương mà lao cả thân mình tới bên Quách Tĩnh, tay trái đã loang loáng một mũi chuỷ thủ. Chiêu này lấy công làm thủ, là một tuyệt chiêu trong mười tám tiểu cầm nã thủ.

Quách Tĩnh thốt lên" Hảo! "Hai tay cùng thi triển cầm nã thủ, tay phải vẫn nắm cái kim tiên không buông, tay trái thì đoạt chuỷ thủ. Lúc này tay phải đoạt binh khí trong tay phải của đối phương, tay trái đoạt binh khí trong tay trái đối phương, hai tay đã thành cái thế bắt chéo nhau. Mũi chuỷ thủ của Doãn Khắc Tây đâm tới, kẻ địch không thể không buông cái kim tiên để tránh mũi dao, ai ngờ kẻ địch đoạt luôn cả chuỷ thủ.

Lúc ấy kim luân của Pháp vương và cây can bổng của Tiêu Tương Tử đồng thời đánh tới. Quách Tĩnh giật cái kim tiên không được, quát to một tiếng, một luồng canh khí từ cái kim tiên truyền sang. Ngực Doãn Khắc Tây như bị giáng một nhát búa, mắt nổ đom đóm, miệng hộc ra một ngụm máu tươi. Quách Tĩnh đã buông cái kim tiên, đưa tay về chống đỡ. Doãn Khắc Tây tự biết mình bị thương không nhẹ, chậm rãi lùi ra xa, ngồi xuống đất vận khí đan điền, không để thổ huyết thêm.

Bọn Kim Luân pháp vương, Tiêu Tương Tử, Ni Ma Tinh thấy Quách Tĩnh vừa vào trận đã đả thương Doãn Khắc Tây, đều vừa mừng vừa lo, mừng vì bớt được một kẻ tranh giành danh hiệu" Đệ nhất dũng sĩ Mông Cổ ", lo vì Quách Tĩnh lợi hại như thế, e rằng mình cũng bị hạ thủ. Thế là ba người không dám mạo hiểm tấn công, thủ giữ môn hộ thật nghiêm.

Quách Tĩnh kiến chiêu chiết chiêu, quan sát kỹ binh khí đặc dị của Tiêu Tương Tử và Ni Ma Tinh. Cây can bổng rõ ràng được rèn bằng thép tinh, nhưng ngoài sức nặng và vẻ chắc chắn, nhất thời chưa biết còn có gì lạ hay không. Binh khí hình rắn của Ni Ma Tinh thì hết sức cổ quái, y như một con rắn độc, thân rắn uốn lượn mềm mại, đính theo vô số viên bi nhỏ bằng sắt, đầu rắn đuôi rắn đều nhọn hoắt. Lợi hại nhất là khi thân rắn uốn lượn, thì không thể đoán biết đầu rắn đuôi rắn chọc về hướng nào, chỉ thấy ngọn thiết xà đoản tiên trong tay Ni Ma Tinh chợt bay vọt lên, chợt bò ngoằn ngoèo bên dưới, biến ảo đa đoan, linh động vạn trạng. Quách Tĩnh hồi xưa từng thấy chiêu số cây xà trượng của Âu Dương Phong, quái xà trên đầu cây trượng là rắn thật, mà là rắn cực độc, còn binh khí hình rắn của Ni Ma Tinh dù lợi hại, nhưng là vật vô tri, xuất chiêu thu chiêu nhất định phải có qui củ khả tầm, nên chỉ có Kim Luân pháp vương là đáng gờm nhất.

Bốn người trao đổi mấy chiêu, bỗng nghe một người gầm lên như hổ, hùng dũng bước tới, sừng sững như một con trâu mộng, chính là Mã Quang Tá. Y cầm một cây côn bằng đồng vừa thô vừa dài, từ phía sau lưng Ni Ma Tinh bổ xuống đầu Quách Tĩnh. Bốn vị cao thủ đang giao đấu hăng say, ai nấy nghiêm thủ môn hộ, tuyệt không có sơ hở nào. Chưởng phong của Quách Tĩnh, kim luân của Pháp vương, cây can bổng của Tiêu Tương Tử, cây thiết xà của Ni Ma Tinh đan nhau qua lại, thành một lưới lực. Cây côn của Mã Quang Tá giáng xuống, chạm vào lưới lực của bốn đại cao thủ kia, tuy vô thanh vô tức, song cây côn bị hất ngược lên. Mã Quang Tá cảm thấv không ổn, quát to một tiếng, dồn lực ra hai cánh tay, ghìm cây côn giữa không trung, chỉ như thế mà máu tươi đã chảy thành dòng ở hai hổ khẩu. Y kêu to:

– Tà môn, tà môn!

Rồi vận kình, lại đánh mạnh xuống.

Kim Luân pháp vương đối diện với Mã Quang Tá, biết đòn này giáng xuống, Mã Quang Tá sẽ khốn khổ, lão ta chỉ nhếch mép cười. Dương Quá nhìn rõ, biết Mã Quang Tá khỏe như vâm, song võ công chưa bằng một thành của Quách Tĩnh, y xuất thủ cương mãnh thế kia, nếu Quách Tĩnh sử dụng" Hàng long thập bát chưởng "chính diện đối địch, thì Mã Quang Tá còn gì mạng sống? Dù Quách Tĩnh không hạ độc thủ, song đụng phải binh khí của Kim Luân pháp vương và Ni Ma Tinh, thì Mã Quang Tá thể nào cũng thụ thương, Dương Quá cảm mến gã hộ pháp chất phác, ngốc nghếch, từng mấy lần bênh vực chàng, thấy cây côn của y giáng xuống tất bị họa, bèn gọi to:

– Mã Quang Tá, tiếp chiêu!

Chàng đâm một nhát kiếm tới sau lưng Mã Quang Tá. Mã Quang Tá ngẩn ra, cây côn sững lại giữa không trung, ngạc nhiên nói:

– Dương huynh đệ, sao huynh đệ lại động thủ với ta?

Dương Quá nói:

– Đại ca ngốc lắm, vẫn chưa hiểu hay sao? Mau lùi ra xa nào!

Trường kiếm rung động, chàng đâm liền mấy nhát, khiến Mã Quang Tá chân tay luống cuống, liên tiếp thoái lui. Mã Quang Tá chân dài và to, mỗi bước rộng bằng hai bước của người thường, lùi hơn mười bước, đã cách xa hẳn chỗ Quách Tĩnh. Mã Quang Tá thấy kiếm quang cứ loang loáng trước mặt, phải toàn lực chống đỡ cũng không còn thời gian để nghĩ xem vì sao Dương Quá đột nhiên lại công kích y.

Dương Quá chờ Mã Quang Tá lùi thêm vài bước nửa, mới chĩa mũi kiếm xuống đất, nói nhỏ:

– Mã đại ca, đệ vừa cứu mạng đại ca đó, đại ca có biết hay không?

Mã Quang Tá nói to:

– Cái gì?

Dương Quá nói nhỏ:

– Đại ca nói khẽ thôi, đừng để bọn họ nghe thấy.

Mã Quang Tá trợn mắt, hỏi:

– Vì sao? Ta không sợ Quách Tĩnh.

Lời y vang to, đối với y, đó chỉ là giọng nói bình thường nhưng người nghe tưởng chừng y quát lên vậy. Dương Quá nói:

– Được rồi, đại ca đừng nói nữa, hãy nghe đệ nói đây.

Mã Quang Tá gật gật đầu. Dương Quá nói:

– Quách Tĩnh biết sử dụng yêu pháp, chỉ cần miệng niệm thần chú, là có thể lấy đầu kẻ khác, đại ca tránh xa ra thì hơn.

Mã Quang Tá trợn tròn hai mắt, bán tín bán nghi.

Dương Quá có ý cứu mạng Mã Quang Tá, nghĩ bụng nếu bảo Quách Tĩnh võ công cao cường, thì Mã Quang Tá sẽ không chịu thua, song nếu bảo Quách Tĩnh biết yêu pháp, quá nửa là Mã Quang Tá sẽ tin, lại nói:

– Đại ca giáng một côn xuống đầu hắn, côn chưa chạm vào đầu đã bật ngược lên, chẳng cổ quái lắm sao? Gã người Hồ buôn châu báu võ công rất lợi hại, vì sao vừa xuất thủ đã bị hắn đả thương?

Mã Quang Tá đã tin bảy, tám phần, lại gật gật đầu, nhìn về phía Kim Luân pháp vương, Tiêu Tương Tử.

Dương Quá đoán y đang nghĩ gì, nói:

– Lão hòa thượng vẽ bùa, trao bùa cho Tiêu Tương Tử và gã lùn, có bùa thì không sợ yêu pháp. Lão ta có cho đại ca lá bùa nào hay không?

Mã Quang Tá đáp:

– Không hề.

Dương Quá nói:

– Thấy chưa, lão trọc khốn kiếp không đáng là bằng hữu, lão ta cũng không cho đệ, trở về chúng ta sẽ tính sổ với lão ta.

Mã Quang Tá nói:

– Đúng thế, vậy chúng ta phải làm sao?

Dương Quá nói:

– Hai ta tụ thủ bàng quan, tránh càng xa bọn họ càng tốt.

Mã Quang Tá nói:

– Dương huynh đệ là người tốt, đa tạ huynh đệ nói cho ta biết.

Đoạn chống cây côn, từ xa quan sát nhóm Quách Tĩnh bốn người giao đấu.

Quách Tĩnh lúc này thi triển tuyệt học võ lâm" Hàng long thập bát chưởng ". Ba người kia vây chặt xung quanh, nghĩ rằng Quách Tĩnh nội lực thâm hậu đến mấy, cũng không thể cầm cự lâu dài. Họ không biết ngót hai chục năm nay Quách Tĩnh chăm luyện" Cửu Âm chân kinh ", ban đầu chân lực không hiển lộ, sau vài chục chiêu, kình lực của" Hàng long thập bát chưởng "chợt mạnh chợt yếu, chợt nhả chợt thu, đang chí cương lại sinh ra chí nhu, là thần công mà ngay cả Hồng Thất Công năm xưa cũng chưa lĩnh ngộ được. Quách Tĩnh dùng nó đương đầu với ba đại cao thủ, không những không núng thế, mà còn có thể nhắm chỗ sơ hở của đối phương mà phản kích, càng đấu càng thanh thoát tự nhiên.

Dương Quá đứng ngoài quan sát, thán phục vô cùng. Trong tòa cổ mộ, chàng từng luyện" Cửu Âm chân kinh "nhưng không có người chỉ dẫn, không biết chân kinh thần kỳ đến thế. Chàng bèn dùng công quyết chân kinh ấn chứng chưởng pháp của Quách Tĩnh, tức thì ngộ ra không ít quyền lý vô cùng ảo diệu, lòng thầm ghi nhớ, quên bẵng mối huyết hải thâm cừu và ý định đẩy Quách Tĩnh vào tử địa.

Võ công của Kim Luân pháp vương vốn ngang ngửa với Quách Tĩnh, Quách Tĩnh tuy có được không ít kỳ ngộ, song Kim Luân pháp vương lớn hơn hai mươi tuổi, cũng tức là có công lực nhiều hơn hai chục năm, hai người nếu đơn đả độc đấu, ngoài ngàn chiêu vẫn khó phân thắng bại. Lại thêm hai cao thủ Tiêu Tương Tử và Ma Tinh trợ lực, pháp vương thủ thắng vốn không khó, nhưng" Hàng long thập bát chưởng "của Quách Tĩnh quả thật uy lực quá mạnh, cộng với chưởng pháp có vận dụng" Thiên Cang Bắc Đẩu trận pháp "của phái Toàn Chân, một người mà như biến thành bảy, ngay từ đầu lại đả thương Doãn Khắc Tây, ba đối thủ trước lo giữ mình, không dám phóng tay công kích, nên tuy Quách Tĩnh lấy một địch ba, cũng vẫn ngang ngửa.

Lại đấu thêm mấy chục chiêu, kim luân của Pháp vương, đoản xà tiên của Ni Ma Tinh dần dần phát huy uy lực. Quách Tĩnh nghĩ:" Cứ đà này, cuối cùng mình sẽ không địch nổi. Quá nhi đấu với gã hộ pháp đằng kia, gã đó võ công tầm thường, mình phải nhanh chóng hội hợp với Quá nhi để tìm đường thoát thân ". Bốn người toàn lực quyết đấu, không để mắt, nên không biết rằng Dương Quá và Mã Quang Tá ở ngoài xa hơn mười trượng chỉ xem họ giao đấu.

Bỗng nghe một tiếng thét lạ, cây can bổng của Tiêu Tương Tử từ trên không bổ xuống. Quách Tĩnh nghiêng người né tránh, đột nhiên thấy trước mặt ám đen, từ đầu cây can bổng phun ra một luồng khói đen, mũi ngửi thấy mùi tanh lợm giọng, đầu óc hơi choáng váng. Quách Tĩnh biết là cây can bổng chứa chất độc, vội lùi lại. Tiêu Tương Tử thấy đối phương rõ ràng đã hít phải chất cực độc phả ra từ cây can bổng của hắn, mà lại không ngất đi, thì không khỏi kinh hãi, nghĩ:" Dẫu là mãnh thú như sư tử, hổ báo, hít phải "Độc sa thiềm thừ" của ta cũng ngất đi liền, đằng này hắn không sao, kỳ lạ thật ". Hắn lại xông tới, phóng" Độc sa thiềm thừ "một lần nữa.

Tại hoang sơn tỉnh Hồ Nam năm nào, Tiêu Tương Tử đang luyện công, từng nhìn thấy một con cóc từ trong cỗ quan tài thủng phun ra chất" Độc sa thiềm thừ "làm cho một con mãng xà lớn trúng độc quằn quại. Thế là Tiêu Tương Tử bắt cóc, lấy chất độc dịch, chế luyện thành" Độc sa thiềm thừ ", giấu vào trong lòng cây can bổng. Đuôi cây gậy có chốt, chỉ cần ấn ngón tay một cái, chất" Độc sa thiềm thừ "sẽ phun ra, từ trên phun xuống, uy lực càng mạnh. Hắn đã từng thử dùng mấy lần đối phó với mãnh thú, mãng xà, đều hiệu nghiệm tức thời. Không ngờ Quách Tĩnh nội lực thâm hậu, lại đủ sức kháng ngự chất kịch độc.

Kim Luân pháp vương và Ni Ma Tinh tuy không ở phía chính diện, chỉ hít sơ sơ một chút khí" Độc sa thiềm thừ ", đã tức ngực nôn nao, vội chạy ra xa. Tiêu Tương Tử đã nhét giải dược vào trong mũi, xông qua lớp khói đen mà truy kích. Quách Tĩnh giáng một chưởng" Kiến long tại điền "vào đầu gối hắn. Tiêu Tương Tửđưa cây can bổng đỡ gạt, chưa kịp phóng độc đã bị chưởng lực đẩy văng ra xa năm thước.

Quách Tĩnh thấy cây thiết đoản xà của Ni Ma Tinh ở gần bèn sử chiêu" Tiềm long vật dụng "đánh ra. Ni Ma Tinh vội giơ cây thiết đoản xà gạt đi, tay phải hắn nắm đuôi rắn, tay trái cầm đầu rắn, giơ lên ngang ngực chống đỡ. Đâu ngờ lực của chưởng này không nhắm vào giữa ngực, tuy lòng bàn tay Quách Tĩnh đối diện với giữa ngực hắn, mà là tỏa ra xung quanh. Ni Ma Tinh giơ ngang ngực đỡ, không thấy gì, biết là nguy hiểm, thì mặt và bụng dưới đã cảm thấy chưởng lực, may nhờ thân hình lùn tịt, hành động mau lẹ, vội nhoài người xuống đất mà lăn mấy vòng ra ngoài như một trái cầu.

Quách Tĩnh thấy có thể thừa dịp, gọi to:

– Quá nhi, đi thôi!

Đoạn nhảy mấy bước ra chỗ trống. Kim Luân pháp vương thấy Quách Tĩnh thoát khỏi vòng vây, liền lao tới. Sau lưng Quách Tĩnh cách binh tướng Mông Cổ chỉ vài trượng, mười mấy cây giáo dài chĩa tua tủa về phía mình. Quách Tĩnh hai tay gạt giáo, chộp hai tên binh sĩ ném về phía Kim Luân pháp vương, nói:

– Đón lấy này!

Kim Luân pháp vương nếu giơ tay đón, tất Quách Tĩnh sẽ chạy xa hơn, lão ta bèn nghiêng người, dùng vai trái hất một cái, làm cho hai tên lính bay đi hơn một trượng, rồi lao theo Quách Tĩnh.

Quách Tĩnh biết rằng chỉ cần đánh lại một chiêu, sẽ lập tức bị Kim Luân pháp vương bám riết, chỉ sau vài chiêu, Ni Ma Tinh và Tiêu Tương Tử lại xông đến, lúc ấy thật khó bề thoát đi, bèn đoạt hai cây giáo dài mà đâm về phía sau. Quách Tĩnh chân không dừng bước, sau lưng lại như có con mắt thứ ba, một mũi giáo đâm vai phải, một mũi giáo đâm vào ngực Kim Luân pháp vương, kình lực rất mạnh. Kim Luân pháp vương vội lẳng kim luân ra, keng keng hai tiếng, hai mũi giáo cùng gãy, nhưng khi nhìn Quách Tĩnh thì thấy đã lẫn vào trong quân Mông Cổ.

Quân Mông Cổ phụng mệnh Hốt Tất Liệt, xếp thành nhiều lớp dày đặc bên ngoài vương trướng để bắt sống Quách Tĩnh, lúc này để Quách Tĩnh xông vào giữa trận, binh tướng bắt không nổi, giết chẳng xong, chỉ nghe gươm giáo va nhau, tiếng hô hoán vang động, chỉ cản trở bọn Kim Luân pháp vương ba người truy kích mà thôi.

Quách Tĩnh ẩn mình trong quân mã, giống như vào rừng dày, xem ra còn dễ thoát thân hơn ở chỗ trống trải. Sau vài cái nhún, Quách Tĩnh vọt tới trước ngựa một tên bách phu trưởng, kéo hắn xuống ngựa, vọt lên yên, xông xáo ngang dọc, đột nhiên vòng ra phía sau, phi ngựa thật nhanh, miệng huýt sáo. Con ngựa quí hãn huyết đứng đằng xa, nghe tiếng chủ gọi, phóng đến như bay.

Dương Quá ở xa nhìn con hãn huyết phóng qua trước mặt chàng về phía Quách Tĩnh, thầm kêu" Hỏng mất! "Chàng nghĩ chỉ cần Quách Tĩnh cưỡi trên lưng con ngựa quí hãn huyết, thì Hốt Tất Liệt có tập trung binh mã khắp thiên hạ, cũng không thể đuổi kịp. Trong lúc gấp gáp, chàng chợt kêu to:

– Ối, đau quá trời!

Rồi lảo đảo chực ngã, miệng nói nhỏ với Mã Quang Tá:

– Đừng nói gì cả, mau tránh ra, càng xa càng tốt!

Tiếng kêu đau vận khí từ đan điền, tuy trong đám quân tạp loạn, Quách Tĩnh ắt nghe thấy, tất sẽ đến cứu, nếu Mã Quang Tá đứng bên cạnh, không chừng sẽ bị quách Tĩnh cho một chưởng chết tươi. Mã Quang Tá rất chịu nghe lời Dương Quá, tuy chưa hiểu dụng ý của chàng, song vẫn chạy về phía vương trướng.

Quách Tĩnh nghe tiếng kêu của Dương Quá, quả nhiên nôn nóng, không đợi con hãn huyết chạy tới, đã lập tức quay đầu ngựa lại xông vào trận, phóng đến chỗ Dương Quá. Kim Luân pháp vương đã hiểu ý Dương Quá, để cho Quách Tĩnh lướt qua bên cạnh, không ngăn cản, rồi quay mình chặn đường rút của Quách Tĩnh.

Quách Tĩnh phi ngựa đến trước mặt Dương Quá, gọi:

– Quá nhi, sao thế?

Dương Quá giả bộ lảo đảo, nói:

– Gã đại hán không phải địch thủ của tiểu điệt, nhưng chẳng hiểu vì sao tiểu điệt vừa vận chân lực, liền có luồng khí dội ngược, đan điền đau nhói như bị dao đâm.

Câu nói dối này không có điểm nào sơ hở, Mã Quang Tá võ công tầm thường, y vừa đánh một côn, Quách Tĩnh đã nhận biết, Dương Quá nếu bảo bị y đả thương, Quách Tĩnh sẽ sinh nghi, nhưng bảo là chàng vận khí bị dội ngược, thì nhìn bề ngoài không tài gì thấy được. Huống hồ đêm trước Quách Tĩnh đã tưởng lầm Dương Quá luyện công bị tẩu hỏa, vừa rồi kịch đấu, nội thương lại tái phát, cũng là chuyện thường.

Quách Tĩnh thấy chàng tay trái đặt ở bụng dưới, trán vã mô hôi, thương thế hẳn không nhẹ, vội nói:

– Mau ngồi sau lưng ta, ta đưa ngươi thoát đi.

Dương Quá giả bộ nói:

– Quách bá bá cứ thoát đi, tính mạng điệt nhi không đáng gì, Quách bá bá mới là rường cột của thành Tương Dương. Quân dân đều trông cậy vào một mình Quách bá bá.

Quách Tĩnh nói:

– Ngươi vì ta mà đến, làm sao ta có thể bỏ ngươi lại? Mau mau lên ngựa.

Dương Quá chần chừ do dự, Quách Tĩnh cúi xuống kéo chàng lên sau lưng mình, thì con ngựa bị trúng nhiều mũi tên, hí lên đau đớn, gục xuống chết. Quách Tĩnh trong đời trải bao phen hung hiểm, tình thế càng nguy cấp, dũng khí càng gia tăng, bình tĩnh ứng phó, nói:

– Quá nhi, đừng sợ, chúng ta nhất định thoát khỏi chốn này.

Đoạn đứng thẳng người dậy, cõng Dương Quá chạy về phía bắc.

Lúc này Kim Luân pháp vương, Ni Ma Tinh, Tiêu Tương Tử lại đánh tới. Quách Tĩnh nhìn bốn phía quân mã dồn lại, vòng vây siết chặt hơn lúc trước. Dưới lá đại kỳ bên vương trướng, Hốt Tất Liệt tay bưng bát rượu, đứng quan chiến cùng với một hòa thượng, giơ tay chỉ chỉ trỏ trỏ, rõ ràng nắm chắc phần thắng, thần tình cực kỳ đắc ý.

Quách Tĩnh quát to một tràng, cõng Dương Quá lao về phía Hốt Tất Liệt, chỉ sau vài lần nhấp nhô đã tới gần trước mặt. Thân binh hộ vệ hai bên cả kinh, mười mấy người chĩa đao, giáo dài ngăn chặn. Quách Tĩnh chưởng phong ù ù, một thân binh bị chưởng lực hất văng ra xa, chỉ vài bước nữa là chưởng lực có thể đánh tới chỗ Hốt Tất Liệt. Bọn thân binh liều chết cản đường, song địch sao nổi thần dũng của Quách Tĩnh? Kim Luân pháp vương thấy nguy cấp, phóng kim luân tới đầu Quách Tĩnh, Quách Tĩnh cúi đầu tránh, chân vẫn không dừng bước.

Dương Quá nghĩ:" Nếu Quách Tĩnh tóm được Hốt Tất Liệt, quân Mông Cổ tất ném chuột sợ vỡ lọ quí, phải để Quách Tĩnh thoát thân. Mình chưa hạ thủ, còn đợi khi nào? "Nhưng lại lên tiếng hỏi:

– Quách bá bá, phụ thân điệt nhi quả là tội ác quá lớn, Quách bá bá không thể không giết ư?

Quách Tĩnh sững lại, lúc này đâu có thời gian suy nghĩ, thuận miệng đáp luôn:

– Phụ thân ngươi nhận giặc làm cha, phản quốc hại dân, người người đều căm hận, muốn trừ bỏ.

Dương Quá nói:

– Được.

Thế là chàng không còn do dự gì nữa, giơ thanh Quân tử kiếm lên, đâm vào gáy Quách Tĩnh.

Đột nhiên một đạo bạch quang loáng qua trước mắt, một cây can bổng gạt kiếm của chàng đi. Dương Quá nhìn, thấy đó là cây can bổng của Tiêu Tương Tử, kinh ngạc nghĩ:" Mình đâm Quách Tĩnh, sao hắn lại ngăn cản? À phải rồi, nếu Quách Tĩnh chết bởi kiếm của ta, thì danh hiệu "Đệ nhất dũng sĩ Mông Cổ" sẽ thuộc về ta. Hừm, ta giết Quách Tĩnh là để báo thù cho cha, chứ thứ hư danh kia, ta đâu có thiết? "Chàng đâm nhanh mấy nhát, đánh bật cây can bổng của Tiêu Tương Tử, rồi thu kiếm về, lại đâm sau lưng Quách Tĩnh. Tiêu Tương Tử lại dùng cây can bổng gạt ra.

Lúc này Quách Tĩnh mải dùng chưởng lực đối phó với kim luân của Pháp vương và thiết đoản xà của Ni Ma Tinh, không hề biết Dương Quá đang giở trò ma sau lưng mình, cứ ngỡ chàng đang dốc lực chống chọi Tiêu Tương Tử, nói:

– Cẩn thận, cây can bổng của hắn có thể phóng độc.

Kim Luân pháp vương và Ni Ma Tinh đối diện với Quách Tĩnh, nhìn rõ, thấy Dương Quá hai lần sắp đắc thủ, đều bị Tiêu Tương Tử gạt ra, bèn đồng thanh quát:

– Tiêu Tương Tử, giở trò gì vậy?

Tiêu Tương Tử cười nham hiểm, vung cây can bổng đánh Quách Tĩnh, Quách Tĩnh nghiêng mình né tránh. Dương Quá lần thứ ba định hạ độc thủ, Tiêu Tương Tử lại dùng cây can bổng gạt trường kiếm của chàng. Quách Tĩnh lo Dương Quá đang bị nội thương, sợ chàng không chống nổi cây can bổng, bèn đánh về phía sau, vào ngực Tiêu Tương Tử, một chưởng. Tiêu Tương Tử vội thoái lui mấy bước.

Lúc này Dương Quá không còn ai ngăn cản, lại giơ kiếm đâm vào gáy Quách Tĩnh. Nào ngờ Tiêu Tương Tử sợ Dương Quá đắc thủ, vừa thoái lui đã chọc cây can bổng tới yếu huyệt sau lưng chàng, buộc chàng phải thu kiếm về tự cứu mình trước đã. Quách Tĩnh hữu chưởng đang tỷ đấu với nội lực thượng thừa của Kim Luân pháp vương, phát hiện mình và Dương Quá cùng ngộ hiểm, thì không nghĩ đến mình, mà quay lại cứu Dương Quá trước, tả chưởng sử chiêu" Thần long bãi vĩ ", đánh trúng cây can bổng, khiến Tiêu Tương Tử toàn thân nóng bừng, bộ mặt lạnh bỗng chốc đỏ tía.

Đúng lúc ấy, Ni Ma Tinh lăn đến, thiết xà đánh ra, đầu rắn đã chạm đến sườn trái Quách Tĩnh. Nội kình toàn thân của Quách Tĩnh có bảy thành đang đối phó với Kim Luân pháp vương, ba thành đánh bật cây can bổng của Tiêu Tương Tử, không còn gì chống đỡ thiết xà. Trong cơn nguy cấp, sườn trái bỗng co vào nửa thước, coi như tránh được đòn lợi hại nhất, song đầu rắn cũng đâm ngập vào bên sườn mấy tấc.

Quách Tĩnh vận khí, dùng cơ nhục đẩy ra, để đầu rắn không đâm sâu thêm được, đồng thời tung cước đá Ni Ma Tinh lộn đi vài vòng. Ni Ma Tinh thấy thiết xà đâm trúng chỗ yếu hại, chiêu này chắc chắn lấy mạng Quách Tĩnh, danh hiệu vinh quang" Đệ nhất dũng sĩ Mông Cổ "đã sắp thuộc về hắn, hắn cả mừng, không ngờ đối phương lại có công phu lợi hại, cú đá của Quách Tĩnh trúng ngực, làm gãy luôn ba dẻ xương sườn của hắn.

Tiêu Tương Tử và Ni Ma Tinh cùng lúc bị đánh bại, song Kim Luân pháp vương thì thừa cơ đẩy chưởng lực tới. Quách Tĩnh sườn trái đã thủng khí môn, không thể tiếp tục chống chọi, chí cảm thấy một luồng đại lực bài sơn đảo hải ập tới, nếu vận sức chống đỡ sẽ bỏ mạng tại chỗ, đành xuôi tay, dùng nội công thượng thừa hơn hai mươi năm của thân mình tiếp nhận chiêu này, người lảo đảo hộc ra một ngụm máu tươi. Mạng tuy nguy cấp, Quách Tĩnh vẫn còn lo cho Dương Quá, nói:

– Quá nhi, mau đi lấy ngựa, ta chặn địch cho ngươi.

Dương Quá chính mắt thấy Quách Tĩnh liều mạng cứu chàng, máu nóng bỗng trào dâng, còn nghĩ gì đến thù cũ? Chàng nghĩ:" Quách bá bá tình nghĩa sâu nặng, nếu ta không lấy mạng mình để cứu mạng Quách bá bá, thì sống trên thế gian cũng uổng ". Chàng bèn từ trên lưng Quách Tĩnh nhảy xuống đất, múa thanh kiếm Quân tử thành một vòng kiếm hoa bảo vệ Quách Tĩnh, thế như mãnh hổ, chiêu nào cũng là chiêu liều chết. Kim Luân pháp vương và Tiêu Tương Từ ngẩn cả ra, gọi:

– Dương Quá, ngươi làm gì vậy?

Dương Quá không trả lời, đâm Kim Luân pháp vương một kiếm, mũi kiếm rung rung, lại đâm Tiêu Tương Tử một nhát. Hai người kia thấy mắt chàng đỏ ngầu, thần tình đại dị, bất giác cùng lùi hai bước, cho rằng Dương Quá muốn danh hiệu vinh quang" Đệ nhất dũng sĩ Mông Cổ", độc chiếm công lao giết chết Quách Tĩnh.

Quách Tĩnh nói:

– Quá nhi đừng lo cho ta, hãy mau thoát đi.

Dương Quá nói:

– Quách bá bá, là điệt nhi hại bá bá, hôm nay điệt nhi sẽ cùng chết với Quách bá bá.

Kiếm quang loang loáng, chàng chỉ bảo vệ Quách Tĩnh, không nghĩ gì đến sự an nguy của mình.

Kim Luân pháp vương và Tiêu Tương Tử nhất tề vung binh khí tấn công Quách Tĩnh. Nhưng kiếm chiêu của Dương Quá hết sức linh động, không để cho hai kẻ kia tới gần. Mấy ngàn binh mã Mông Cổ vây xung quanh, hò reo rầm trời, nhìn ba người ác đấu.

Quách Tĩnh luôn miệng giục Dương Quá mau thoát đi, nhìn chàng nhất mực bảo vệ cho mình, thì vừa nóng ruột, vừa cảm kích, xúc động nội thương, không gắng gượng được thêm, hai gối mềm đi, ngồi phệt xuống đất.

Ni Ma Tinh bị gãy ba dẻ xương sườn, vẫn cố nhịn đau, giơ thiết xà chậm rãi lại gần để giết Quách Tĩnh. Dương Quá đâm liền mấy nhát kiếm, cúi xuống xốc Quách Tĩnh lên lưng, xông ra ngoài. Chàng võ công vốn đã không bằng Kim Luân pháp vương, giờ lại cõng thêm Quách Tĩnh, làm sao chịu nổi? Đấu vài hiệp nữa, xoẹt một cái, cánh tay trái của chàng bị kim luân của Pháp vương rạch một vết dài.

Comments

0 comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 22: Nữ Hài Tội Nghiệp

Quách Tĩnh và Dương Quá thấy không còn đường thoát, bỗng trong quân Mông Cổ binh tướng tản khai, một vị lão nhân thọt tay trái cầm thiết quải, tay phải múa thiết chùy, xung sát lao tới, gọi to:

– Dương công tử, mau chạy ra ngoài, có ta chặn hậu cho.

Dương Quá nhận ra đó là lão thợ rèn, đệ tử của đảo Đào Hoa Phùng Mặc Phong, thì rất kinh ngạc, mải đấu nên cũng không kịp nghĩ vì sao người ấy lại đột nhiên tới đây.

Nguyên Phùng Mặc Phong bị người Mông Cổ trưng nhập vào quân đội để sửa chữa binh khí, đã bí mật giết chết một viên thiên phu trưởng, một viên bách phu trưởng của Mông Cổ. Phùng Mặc Phong hành động kín đáo, chưa bị địch phát hiện. Hôm nay nghe tiếng quân sĩ hô hoán, từ trên chỗ cao ngó thấy Quách Tĩnh và Dương Quá bị vây, bèn múa cây thiết chùy mở đường máu xông vào.

Dương Quá vui mừng, vung kiếm đánh ra. Pháp vương dùng kim luân đón đỡ đồng thời cả kiếm chiêu lẫn cây thiết chùy của Phùng Mặc Phong, chỉ khi cây can bổng của Tiêu Tương Tử đâm tới lưng Quách Tĩnh, lão ta mới ngừng tấn công Dương Quá, để chàng hồi kiếm cứu Quách Tĩnh. Song khi kim luân của Pháp vương đánh tới Quách Tĩnh, thì Tiêu Tương Tử cũng dùng cây can bổng gạt đi. Nếu hai người đó không tranh công với nhau, thì Dương Quá dẫu xả thân tử chiến, Quách Tĩnh cũng đã sớm bỏ mạng rồi. Danh hiệu "Đệ nhất dũng sĩ Mông Cổ" mà bữa nọ Hốt Tất Liệt hứa hẹn cốt mong mọi người dũng mãnh, nào ngờ lại khiến họ ngăn cản lẫn nhau, hóa ra đại phản tác dụng. Nhưng tính mạng của Quách Tĩnh tuy giữ được nhất thời, quân Mông Cổ tứ bề đã vây chặt như thành đồng vách sắt. Kim Luân pháp vương và Tiêu Tương Tử tranh tiên. Ni Ma Tinh cố nén đau, cũng đang tìm chỗ sơ hở để ra đòn độc.

Đến lúc này Quách Tĩnh và Dương Quá đã đấu hơn nửa canh giờ, vầng dương đã hơi chếch. Pháp vương múa kim luân, chiêu số đột biến, đụng vào thanh kiếm Quân tử của Dương Quá. Kiếm Quân tử chém sắt như bùn, kim luân lập tức bị mẻ một miếng. Pháp vương tiện thể lẳng nó đi, cái kim luân bay tới với một tốc độ kinh người. Dương Quá sợ trúng người Quách Tĩnh, không dám né tránh, hồi kiếm gạt nó đi, cái kim luân bay chếch, lại sượt vào cánh tay phải của chàng, vết thương tuy không sâu, nhưng trúng mạch máu, máu tươi tức thời trào ra, trong vòng vài chiêu, chàng cảm thấy cánh tay yếu dần, mà kẻ địch thì tấn công dồn dập, không có lúc nào rảnh tay để băng bó, cầm máu vết thương.

Phùng Mặc Phong vung cây thiết chùy dốc sức cứu viện, nhưng Kim Luân pháp vương liên tiếp tung chưởng, khiến Phùng Mặc Phong phải vất vả chống đỡ, ngay bản thân mình cũng khó giữ mạng sống. Tiêu Tương Tử thấy có cơ hội, vội vung cây can bổng gạt thiết đoản tiên của Ni Ma Tinh, rồi vọt tới, bổ cây can bổng xuống đầu Quách Tĩnh, định phóng "độc sa".

Dương Quá cả kinh, trong cơn nguy cấp giơ tay trái chộp đầu cây can bổng, tay phải thuận thế đâm ra một kiếm. Lúc này môn hộ toàn thân chàng để ngỏ, Kim Luân pháp vương chỉ cần giáng một đòn nhẹ cũng đủ lấy mạng chàng, song lão ta có ý mượn tay chàng đánh Tiêu Tương Tử, để lão ta đẩy Phùng Mặc Phong ra, đưa tay chộp lấy sau lưng Quách Tĩnh, cốt bắt sống đối phương, lập được kỳ công. Tiêu Tương Tử không ngờ Dương Quá lại liều mạng như vậy, thân hình hắn chưa chạm xuống đất, cây can bổng đã bị Dương Quá nắm lấy, bạch quang loang loáng trước mắt, mũi kiếm đã đâm tới ngực, trong tình thế đó hắn đành buông cây can bổng, ngả người ra sau để bảo toàn tính mạng.

Phùng Mặc Phong cùng thi triển chùy và quải đánh gấp tới lưng Kim Luân pháp vương. Kim Luân pháp vương tay phải đưa luân gạt đỡ phía sau, keng keng hai tiếng, hổ khẩu hai tay Phùng Mặc Phong ứa máu, tay trái lão vẫn chộp sau lưng Quách Tĩnh. Phùng Mặc Phong gầm lên một tiếng, quăng cả chùy lẫn quải, dang hai tay ôm chặt lấy Kim Luân pháp vương, cả hai người cùng ngã lăn ra đất. Kim Luân pháp vương cả giận, vung chưởng đánh vào vai Phùng Mặc Phong, khiến cho lục phủ ngũ tạng của lão thọt lộn tùng phèo cả lên. Phùng Mặc Phong ở trong quân mắt thấy giặc Mông Cổ tàn bạo, xua dân đi đánh thành Tương Dương, thấy Quách Tĩnh một lòng tử chiến đánh lui quân địch, lão không quen biết gì Quách Tĩnh, càng không biết Quách Tĩnh là con rể của sư phụ lão, chỉ biết nếu Quách Tĩnh chết, thì thành Tương Dương khó đứng vững, thế nên lão quyết ý, thà mình bị đao kiếm băm vằm, cũng phải cứu cho Quách Tĩnh thoát hiểm. Kim Luân pháp vương xuất chưởng nhanh và mạnh, bộp bộp mấy cái, Phùng Mặc Phong lập tức gãy xương đứt gân, nội tạng trọng thương, nhưng hai tay của Phùng Mặc Phong vẫn ghì chặt, mười ngón tay hằn sâu vào da thịt của Pháp vương.

Binh tướng Mông Cổ vốn đứng ngoài quan đấu, biết Kim Luân pháp vương nhất định thành công, không vào góp tay, đột nhiên thấy Kim Luân pháp vương ngã chỏng gọng, Tiêu Tương Tử thì bật ra xa, bèn ùa vào.

Tình thế lúc này, dẫu Quách Tĩnh không bị trọng thương, thì Quách Tĩnh và Dương Quá hai người võ công mạnh mấy, cũng khó lòng chống chọi đồng thời ngàn vạn binh tướng. Dương Quá thở dài "Thế là hết!". Chàng vung cây can bổng của Tiêu Tương Tử múa loạn lên, đột nhiên nghe "tách" một tiếng, từ đầu cây can bổng phun ra một luồng khói đen, mười mấy binh tướng Mông Cổ trước mặt lập tức ngã xuống. Thì ra trong lúc vung cây can bổng, vô tình chàng đã chạm vào cái chốt phóng "Độc sa thiềm thừ" của nó. Dương Quá hơi kinh ngạc, chợt hiểu, cõng Quách Tĩnh chạy đi. Quân Mông Cổ tràn tới như thủy triều, mỗi lần chàng ấn chốt, khói phun ra, hàng chục binh tướng Mông Cổ lại ngã rạp. Binh tướng Mông Cổ tuy thiện chiến, song ai cũng tin có thần có ma, thấy mỗi lần Dương Quá vung cây can bổng, khói lại phun ra, hàng chục binh tướng ngã xuống, liền kêu to:

– Hắn có yêu pháp đấy, mau tránh ra!

Thân binh cận vệ của Hốt Tất Liệt dũng cảm tuyệt luân, nghĩ quân lệnh của vương gia như sơn, tuy thấy nguy hiểm, vẫn cứ lao tới. Dương Quá vung cây can bổng, khói phun ra, hàng chục tên lại ngã gục. Chàng huýt sáo miệng, con ngựa gầy phi tới. Dương Quá gắng sức đặt Quách Tĩnh lên lưng ngựa, cảm thấy tay chân rã rời, chính mình không còn đủ sức lên ngựa, đành đưa tay vỗ vỗ nhẹ vào mông nó, nói:

– Ngựa ơi, ngựa ơi, hãy phóng đi mau!

Con ngựa như có linh tính, thấy chủ không có sức nhảy lên lưng nó, nó ngẩng cổ hí một tiếng dài, chân vẫn không chạy đi. Dương Quá thấy quân Mông Cổ từ bốn phía đang tới gần, nghĩ độc sa trong cây can bổng dù lợi hại, song cũng sắp cạn, giơ kiếm lên định ấn vào mông ngựa giục nó chạy đi, song lại không nỡ, chỉ nói:

– Ngựa ơi, phóng đi nào!

Chàng ấn chuôi cây can bổng vào mông ngựa. Nhưng lúc này không còn sức, động tác không chuẩn xác, lại ấn cây bổng vào đùi Quách Tĩnh. Quách Tĩnh đang nửa mê nửa tỉnh, đột nhiên bị đau ở đùi, mở mắt ra, liền túm ngực Dương Quá kéo lên trên yên ngựa. Con ngựa hí một tiếng dài vui mừng, tung vó lao đi.

Chỉ nghe tiếng tù và dồn dập tứ phía, Quách Tĩnh huýt sáo miệng, con ngựa quí hãn huyết chạy theo, đại đội binh mã Mông Cổ cũng lao tới. Con ngựa hồng chạy bên con ngựa vàng, chốc chốc lại cọ cọ vào người Quách Tĩnh. Dương Quá biết con ngựa vàng tuy là tuấn mã, nhưng còn thua xa con ngựa hồng, bèn hít một hơi dài, ôm Quách Tĩnh nhảy sang lưng con ngựa hồng. Đúng lúc ấy, nghe sau lưng có tiếng loong cong, là kim luân bay tới. Dương Quá đau lòng nghĩ: "Phùng lão đã bị Pháp vương giết rồi". Chàng thấy tiếng kim luân bay tới rất gần, vội cúi rạp người trên lưng ngựa, hi vọng kim luân bay qua trên đầu, nhưng nghe âm thanh hóa ra lại ở dưới thấp, ngang chân con ngựa hồng.

Nguyên Kim Luân pháp vương sau khi đánh chết Phùng Mặc Phong thì đứng dậy, thấy Quách Tĩnh và Dương Quá đã lên ngựa, lão đuổi theo không kịp, bèn ném kim luân, nhắm đánh thật thấp bên dưới. Lão tính rằng nếu kim luân có đánh chết Dương Quá, thì con ngựa hồng vẫn chở Quách Tĩnh thoát đi được, chỉ có đánh trúng chân con ngựa, mới thật sự thành công.

Dương Quá nghe kim luân bay tới, bèn giơ kiếm gạt đi. Chàng thừa biết mình đã kiệt sức, nhát kiếm này khó lòng chống đỡ, nhưng không còn cách nào khác, thấy kim luân cách chân con ngựa chưa đầy hai thước, bèn giơ kiếm che chân ngựa, không ngờ rằng con ngựa hồng đã hăng lên, lao đi càng lúc càng nhanh, kim luân vẫn cách chân con ngựa chừng hai thước, không thể gần hơn. Dương Quá cả mừng, biết kim luân sẽ bay chậm dần, quả nhiên khoảng cách tăng lên ba thước, rồi bốn thước, năm thước, cuối cùng "cạch" một tiếng, nó rơi xuống đất.

Dương Quá đang mừng, bỗng nghe sau lưng tiếng con ngựa vàng hí lên đau đớn, nó bị trúng tên vào giữa bụng, ngã vật xuống, hai mắt nhìn chủ đầy lưu luyến. Dương Quá đau lòng, bất giác nước mắt ứa ra.

Con ngựa hồng phóng đi như tia chớp, nhanh hơn lưu tinh, giây lát đã bỏ truy binh xa mãi phía sau. Dương Quá ôm Quách Tĩnh, hỏi:

– Quách bá bá, thế nào rồi?

Quách Tĩnh ậm ừ rất nhỏ. Dương Quá thăm dò đằng mũi, thấy Quách Tĩnh hơi thở thô nặng, biết nhất thời chưa việc gì, đỡ lo phần nào, không gắng gượng thêm được nữa, lờ mờ phục xuống lưng ngựa, mặc cho con ngựa hồng đưa đi. Đột nhiên thấy trước mặt có vô số quân mã tới bắt Quách Tĩnh, chàng liền vung trường kiếm, thét to:

– Không được giết Quách bá bá của ta!

Chàng đâm chém hai bên loạn xạ, trước mắt lờ mờ người này kẻ nọ, múa kiếm một hồi, cuối cùng hình như chàng ngã ngựa, miệng còn quát:

– Hãy giết ta đi, giết ta đi, tại ta không tốt, đừng giết Quách bá bá.

Rồi trời đất quay cuồng, chàng ngất đi.

Không biết bao nhiêu lâu sau thì chàng tỉnh lại, gọi to:

– Quách bá bá, Quách bá bá, thế nào rồi? Đừng giết Quách bá bá!

Chỉ nghe bên cạnh một giọng nói dịu dàng:

– Quá nhi, cứ yên tâm, Quách bá bá tĩnh dưỡng đôi chút sẽ khỏe.

Dương Quá tỉnh hẳn, mở mắt thấy Hoàng Dung thần sắc vô cùng cảm kích. Phía sau Hoàng Dung là một người nước mắt lưng tròng, âu yếm chằm chằm nhìn chàng, chính là Tiểu Long Nữ. Dương Quá kinh ngạc hỏi:

– Cô cô, sao cô cô tới đây? Cô cô cũng bị quân Mông Cổ bắt ư? Chạy mau đi, chạy mau đi, mặc kệ Quá nhi.

Tiểu Long Nữ nói nhỏ:

– Quá nhi đã về đến nhà, đừng sợ. Chúng ta đều đang bình yên ở trong thành Tương Dương.

Dương Quá thở dài, cảm thấy tứ chi và toàn thân rã rời, lại nhắm nghiền mắt. Hoàng Dung nói:

– Quá nhi đã tỉnh rồi, không đáng ngại, cô nương hãy ở lại đây với Quá nhi.

Tiểu Long Nữ đáp ứng, hai mắt không rời Dương Quá. Hoàng Dung đứng dậy, đang định ra khỏi phòng, bỗng nghe "cạch" một tiếng nhẹ trên mái nhà, mặt hơi biến sắc, tay trái phẩy tắt ngọn nến.

Dương Quá thấy tối sầm, lại tỉnh, ngồi bật dậy. Chàng chỉ bị ngoại thương, do mất nhiều máu cộng với cuộc ác chiến kiệt sức, nên bị ngất đi, nhưng vừa rồi đã được nằm nghỉ nửa ngày, Hoàng Dung cho chàng uống linh dược trị thương bí truyền của đảo Đào Hoa là "Cửu hoa ngọc lộ hoàn", chàng trẻ tuổi khỏe mạnh, đã hồi phục quá nửa, thấy có kẻ địch trên mái nhà, lập tức sẵn sàng chống trả.

Tiểu Long Nữ chắn trước mặt chàng, nói nhỏ:

– Quá nhi đừng động, có thiếp ở đây.

Chỉ nghe trên mái có tiếng cười hô hô, tiếp đến tiếng nói sang sảng:

– Tại hạ đến gửi thư, chẳng lẽ Nam triều tiếp khách trong bóng tối? Nếu có chuyện không tiện để người ngoài trông thấy, thì tại hạ sẽ đến vào lúc khác vậy chăng?

Nghe giọng nói chính là đệ tử của Kim Luân pháp vương là vương tử Hoắc Đô. Hoàng Dung nói:

– Lễ tiết của Nam triều tùy người mà tiếp, thanh thiên bạch nhật đón tiếp quí khách quang minh chính đại, còn đêm tối thì tiếp hạng khách không mời mà đến.

Hoắc Đô cứng họng, nhẹ nhàng nhảy xuống sân, noi:

– Xin hãy chuyển thư này cho Quách Tĩnh Quách đại hiệp.

Hoàng Dung mở cửa phòng, nói:

– Mời vào nhà.

Hoắc Đô thấy trong phòng tối như mực, không dám bước vào, nói:

– Thư ở ngoài này, xin mời ra nhận.

Hoàng Dung nói:

– Tự xưng tân khách, sao không vào nhà?

Hoắc Đô cười khẩy, nói:

– Quân tử không vào chỗ hiểm, đề phòng ám toán đả thương.

Hoàng Dung nói:

– Trên thế gian há có bậc quân tử đem bụng dạ tiểu nhân đi đo lòng người?

Hoắc Đô nóng mặt, nghĩ bụng Hoàng bang chủ miệng lưỡi sắc sảo, đấu khẩu khó chiếm thượng phong, chi bằng im lặng, bèn căng mắt nhìn vào trong, hai tay chìa bức thư ra.

Hoàng Dung chĩa cây gậy trúc tới trước mặt Hoắc Đô. Hoắc Đô giật mình, nhảy lùi lại mấy thước, bức thư đã không còn trên tay nữa. Thì ra Hoàng Dung đã dùng đầu gậy khều dính phong thư. Hoàng Dung đã sắp lâm bồn, bụng to, không muốn tiếp khách, càng không muốn để kẻ địch nhìn thấy. Hoắc Đô hốt hoảng, nhuệ khí đột nhập vào thành đã giảm đi tám, chín phần, nói to:

– Thư đã chuyển, hẹn tối mai gặp lại.

Hoàng Dung nghĩ: "Thành Tương Dương để cho ngươi tự tiện ra vào, làm như trong thành không có người hay sao?" Bèn tiện tay cầm bình trà trên bàn hất một cái. Nước trà nóng bỏng vừa pha từ trong bình qua vòi bay nhanh ra sân.

Hoắc Đô sớm đã toàn thần đề phòng, sợ trong phòng bắn ra ám khí. Nhưng nước trà bay ra vô thanh vô tức không có tiếng gió như các loại ám khí, đến lúc phát giác thì cổ, ngực và tay phải đã bị trúng nước nóng như người phải bỏng, kinh hãi kêu "Ôi!" nhảy tránh sang một bên.

Hoàng Dung đứng bên cửa, nhân lúc hắn chưa đứng vững, gậy trúc chĩa ra, thi triển tự quyết chữ "bạn" (kéo ngã) trong Đả cẩu bổng pháp, giật một cái làm cho hắn ngã xuống. Hoắc Đô bật ngay dậy, nhưng Đả cẩu bổng lại khoèo một cái, cái giật thứ nhất nếu tránh được, tức thời nhảy đi, may ra tránh nổi cái khoèo thứ hai, đằng này cái thứ nhất đã bị ngã, muốn tránh cái thứ hai đâu có dễ? Chỉ thấy dưới chân vướng vít, ngã xuống, đứng lên lại ngã xuống mấy lần.

Hoắc Đô võ công vốn không kém, nếu chính thức động thủ với Hoàng Dung, cuối cùng dĩ nhiên hắn thua một bậc, song không đến nỗi ngay từ đầu đã bị đẩy ngã túi bụi thế này, chẳng qua khi nước trà nóng bỏng hắt vào người, hắn ngỡ mình bị trúng một thứ nước thuốc cực độc nào đó, phen này khó giữ mạng sống. Đang lúc bàng hoàng thì bị Hoàng Dung tập kích, chiêu thứ nhất đã bị đánh ngã, chiêu thứ hai càng không còn chỗ chống đỡ, cứ ngã giúi giụi sưng trán giập mũi.

Lúc ấy huynh đệ họ Võ nghe tiếng chạy tới. Hoàng Dung quát:

– Bắt tên tiểu tặc cho ta!

Hoắc Đô tình cấp trí sinh, biết là chỉ cần đứng lên sẽ lại bị khoèo ngã, bèn kêu "Ôi chao!" một tiếng thật to, giả bộ bị ngã rất đau, cứ nằm im không bò dậy. Huynh đệ họ Võ cùng sấn tới đè xuống, cây quạt nan bằng sắt của Hoắc Đô lập tức điểm huyệt đùi hai người, khiến cả hai cùng bị đẩy ngã, hắn gạt cây gậy trúc của Hoàng Dung, bay người dậy, bật lên bờ tường, ôm quyền, nói:

– Hoàng bang chủ, bổng pháp thật lợi hại, đồ đệ thì đúng là đồ bị thịt!

Hoàng Dung cười, nói:

– Ngươi đã trúng độc thủy, người khác ai thèm đụng tới thân xác ngươi?

Hoắc Đô nghe vậy cả sợ, nghĩ: "Thứ độc thủy làm bỏng da ấy có mùi trà, không biết là loại dược vật cổ quái gì nữa?" Hoàng Dung đoán tâm ý của hắn, nói:

– Ngươi bị trúng độc, mà tên gọi của độc thủy là gì cũng không biết, bị chết một cách mờ ám thì nhắm mắt sao nổi? Thôi để ta nói cho ngươi biết, thứ độc thủy ấy tên là "Tý Ngọ kiến cốt trà".

Hoắc Đô lẩm bẩm "Tý Ngọ kiến cốt trà". Hoàng Dung nói:

– Đúng thế, chỉ cần da thịt dính một giọt, toàn thân sẽ rữa nát lòi xương ra, bị giờ Tý không qua nổi giờ Ngọ, bị giờ Ngọ không qua nổi giờ Tý. Ngươi còn sống được sáu giờ, mau về nhà đi!

Hoắc Đô biết Hoàng bang chủ Cái Bang võ công đã cao cường, mưu trí lại khiến người khác khó lường, phụ thân là Hoàng Dược Sư sở học cực kỳ sâu xa, hai chữ "Dược Sư" đủ cho thấy tinh thông dược lý, Hoàng Dung thông minh tài trí cộng với sở học gia truyền, việc điều chế "Tý Ngọ kiến cốt trà" thật dễ như trở bàn tay, nhất thời hắn đứng ngây trên bờ tường, chưa biết nên chạy ngay về, hay là cúi đầu xin ban cho giải dược.

Hoàng Dung biết Hoắc Đô không phải kẻ ngu, bảo độc thủy cũng chỉ lừa hắn được một lúc, rồi hắn sẽ biết, bèn nói:

– Ta với ngươi vốn không thù oán, nếu ngươi không nói năng vô lễ, thì cũng không đáng phải mất mạng.

Hoắc Đô nghe câu nói có ngụ sinh cơ, bèn cũng chẳng nghĩ đến thân phận thể diện gì nữa, nhảy xuống sân, vái sát đất, nói:

– Tiểu nhân vô lễ, mong Hoàng bang chủ thứ tội!

Hoàng Dung nấp sau cánh cửa, búng nhẹ ngón tay ra cho hắn một viên "Cừu hoa ngọc lộ hoàn", nói:

– Nuốt ngay đi!

Hoắc Đô giơ tay đón viên thuốc, cho là tiên đan cứu mạng, nào dám chậm trễ, vội cho vào miệng, chỉ cảm thấy một mùi thơm mát thấu tận đan điền, toàn thân dễ chịu vô cùng, thì lại vái sát đất, nói:

– Đa tạ Hoàng bang chủ ban dược!

Đoạn từ từ bước lùi, đến tận chân tường mới xoay người nhảy lên, vội vã ra khỏi thành.

Hoàng Dung thấy Hoắc Đô đã đi xa, thở dài nhè nhẹ, giải huyệt cho huynh đệ họ Võ, nhớ đến câu nói của Hoắc Đô "bổng pháp thật lợi hại, đồ đệ thì đúng là đồ bị thịt!" Tuy đã dùng mưu hạ nhục kẻ địch, song trong lòng không một chút đắc ý, dùng Đả cẩu bổng pháp đánh ngã Hoắc Đô, dĩ nhiên lấy sự khéo léo là chính, nhưng cũng cảm thấy hơi đau âm ỉ trong bụng, bèn ngồi xuống ghế điều tức một hồi.

Tiểu Long Nữ thắp nến. Hoàng Dung mở thư ra đọc. Thư viết:

"Đệ nhất hộ quốc pháp sư Mông Cổ Kim Luân pháp vương kính gửi Quách đại hiệp túc hạ: Cuộc gặp hôm nay được thấy phong thái túc hạ, lão nạp thỏa nguyện bình sinh. Cũng định đêm nay tới đàm luận, nhưng e túc hạ chẳng ưng. Thôi thì sáng mai tái ngộ, xin đừng từ chối thiện chí của người từ phương xa ngàn dặm lặn lội tới đây".

Hoàng Dung lo lắng, đưa thư cho Dương Quá và Tiểu Long Nữ xem, nói:

– Thành Tương Dương tuy kiên cố, song không thể cản được cao thủ võ lâm. Quách bá bá của ngươi bị trọng thương, ta lại không tiện dùng sức, ngày mai cường địch tấn công, phải làm sao đây?

Dương Quá nói:

– Quách bá bá..

Tiểu Long Nữ lườm chàng một cái, ánh mắt đầy vẻ trách móc. Dương Quá biết nàng trách mình đã bất chấp tính mạng cứu sống Quách Tĩnh, nên không nói nữa. Hoàng Dung sinh nghi, lại hỏi:

– Long cô nương, Quá nhi cũng chưa lại sức, chỉ có thể trông cậy vào Long cô nương và Chu Tử Liễu đại ca chống địch mà thôi.

Tiểu Long Nữ vốn không quen giả dối, nghĩ sao nói vậy, thản nhiên nói:

– Tiểu nữ chỉ bảo vệ cho Quá nhi, người khác sống chết thế nào, không liên can đến tiểu nữ.

Hoàng Dung càng thấy kỳ quái, không tiện nói thêm, nói với Dương Quá:

– Quách bá bá bảo rằng phen này chỉ trông cậy vào ngươi được thôi.

Dương Quá nghĩ mình đã mấy phen định hại Quách Tĩnh, lòng thầm hổ thẹn, nói:

– Tiểu điệt vô năng, làm cho Quách bá bá trọng thương.

Hoàng Dung nói:

– Ngươi hãy nằm nghỉ thêm đi, khi kẻ địch tới, nếu chúng ta không có sức, thì dùng mưu vậy.

Rồi quay sang nói với Tiểu Long Nữ:

– Long cô nương, hãy theo ta, ta có vài lời muốn nói với cô nương.

Tiểu Long Nữ do dự, nói:

– Quá nhi..

Từ lúc Dương Quá trở về thành, Tiểu Long Nữ không rời giường chàng nửa bước, nghe Hoàng Dung bảo nàng ra ngoài nói chuyện, nàng lo Dương Quá lại bị thương. Hoàng Dung nói:

– Kẻ địch đã nói rõ ngày mai mới đến, đêm nay chắc sẽ vô sự. Chuyện ta sắp nói với cô nương, có liên quan đến Quá nhi.

Tiều Long Nữ gật đầu, nói nhỏ dặn Dương Quá đề phòng cẩn thận, rồi mới theo Hoàng Dung ra khỏi phòng.

Hoàng Dung dẫn Tiểu Long Nữ tới phòng mình, đóng cửa vào, hỏi:

– Long cô nương, cô nương muốn giết vợ chồng ta phải không?

Tiều Long Nữ dẫu tính nết thật thà, nhưng không đến nỗi ngu ngốc, nàng có ý giết vợ chồng Quách Tĩnh để cứu mạng Dương Quá, nếu Hoàng Dung dùng lời lẽ vòng vo, chắc nàng sẽ để lộ thực tình, đằng này Hoàng Dung nhắm đúng tính cách của nàng, hỏi thẳng một câu như vậy. Tiểu Long Nữ ấp a ấp úng:

– Tiểu.. tiểu nữ.. Các vị đối tốt với tiểu nữ như vậy tiểu nữ sao lại.. lại muốn giết các vị?

Hoàng Dung thấy nàng đỏ mặt, biết mình đoán trúng, liền nói:

– Cô nương khỏi cần giấu ta, ta biết từ đầu rồi. Quá nhi bảo vợ chồng ta hại chết phụ thân nó, nó phải giết vợ chồng ta để báo thù. Cô nương tâm ái Quá nhi, nên muốn giúp nó hoàn thành tâm nguyện đó.

Tiểu Long Nữ bị Hoàng Dung đoán trúng, không thể nói dối, biết Dương Quá đã để lộ chuyện, im lặng một lát, rồi thở dài, nói:

– Tiểu nữ thật sự không hiểu.

Hoàng Dung hỏi:

– Không hiểu cái gì?

Tiểu Long Nữ nói:

– Quá nhi hôm nay tại sao lại xả thân cứu Quách đại gia về đây? Quá nhi và Kim Luân pháp vương đã ước hẹn là sẽ cũng nhau hạ sát Quách đại gia kia mà.

Hoàng Dung nghe mà kinh hãi, tuy đoán biết Dương Quá có ý xấu, song hoàn toàn không ngờ Dương Quá lại đi câu kết với người Mông Cổ, bèn giả bộ như đã biết việc đó, nói:

– Chắc là Quá nhi thấy Quách đại gia đối với nó tình nghĩa sâu nặng, nên đến lúc quyết định, nó không nỡ hạ thủ.

Tiểu long Nữ gật đầu, buồn bã nói:

– Sự đã thế này, thì cũng chẳng còn gì để nói. Quá nhi đã thà xả thân cứu người, thì tùy chàng vậy thôi. Tiểu nữ đã sớm biết chàng là người tốt nhất trên đời, chàng thà chết chứ không chịu sát hại kẻ thù.

Hoàng Dung chưa hiểu mấy câu của Tiểu Long Nữ có ngụ ý gì, nhưng nhìn vẻ sầu khổ của nàng, bèn an ủi:

– Mối thù giết cha của Quá nhi còn có nhiều mắc mứu bên trong, rồi đây thong thả vợ chồng ta sẽ nói rõ cho nó biết. Nó bị thương không nặng, điều dưỡng vài bữa sẽ khỏe, cô nương đừng buồn.

Tiểu Long Nữ nhìn Hoàng Dung một hồi, đột nhiên hai dòng nước mắt lăn dài trên má, nghẹn ngào nói:

– Quá nhi.. Quá nhi chỉ còn sống được bảy ngày, điều dưỡng vài bữa mà làm gì?

Hoàng Dung kinh ngạc, vội hỏi:

– Sao lại chỉ còn sống được bảy ngày? Cô nương nói mau đi, chúng ta nhất định sẽ có cách cứu nó.

Tiểu Long Nữ chậm rãi lắc đầu, nhưng cuối cùng cũng thuật lại sự việc ở Tuyệt Tình cốc, Dương Quá trúng độc hoa Tình ra sao, Cầu Thiên Xích cho chàng nửa viên "Tuyệt Tình đơn", hạn trong mười tám ngày phải giết vợ chồng Quách Tĩnh, mang thủ cấp về mới cho nốt nửa viên còn lại thế nào, khi chất độc hoa Tình phát tác sẽ khổ sở ra sao, mà trên thế gian chỉ có nửa viên "Tuyệt Tình đơn" kia mới cứu sống được Dương Quá mà thôi.

Hoàng Dung càng nghe càng lạ, không thể ngờ huynh đệ Cầu Thiên Trượng, Cầu Thiên Nhẫn lại còn có người em gái là Cầu Thiên Xích, dẫn đến mối họa này.

Tiểu Long Nữ kể xong nguyên ủy, nói:

– Quá nhi chỉ còn sống được bảy ngày, dù đêm nay có giết hai người, cũng vị tất kịp về Tuyệt Tình cốc, tiểu nữ còn sát hại hai vị để làm gì? Tiểu nữ chỉ muốn cứu sống Quá nhi, còn chuyện thù hằn của phụ thân chàng, tiểu nữ chẳng cần biết.

Hoàng Dung ban đầu chỉ tưởng Dương Quá có ý xấu là để báo thù cho cha, đâu ngờ bên trong còn nhiều mắc mớ như vậy, hôm nay Dương Quá tận lực cứu Quách Tĩnh, tức là tự giết mình, tấm lòng nhân hiệp xả kỷ vị nhân thật là hiếm có trên đời. Hoàng Dung thong thả đứng dậy, thảng thốt đi đi lại lại, mưu trí tuyệt luân mà nay không có cách gì, lại nghĩ chỉ vài giờ nữa, cường địch đối phương kéo đến tấn công, tuy mình an ủi Dương Quá "nếu chúng ta không có sức, thì dùng mưu vậy". Nhưng dùng mưu gì đây? Có mưu gì bây giờ?

Tiểu Long Nữ toàn tâm toàn ý thâm ái Dương Quá. Trái tim Hoàng Dung thì chia đôi, một nửa dành cho chồng, một nửa dành cho con, chỉ nghĩ: "Làm sao để Tĩnh ca ca và Phù nhi bình an". Lại nghĩ: "Quá nhi có thể xả thân vì người, ta há không bằng hắn?" Bèn khảng khái nói với Tiểu Long Nữ:

– Long cô nương, ta có một cách cứu được tính mạng Quá nhi, cô nương có chịu làm theo lời ta hay chăng?

Tiểu Long Nữ cả mừng, toàn thân run rẩy, nói:

– Tiểu nữ.. tiểu nữ.. dù phải chết, chết không có gì khó, dù phải làm việc gì khó gấp mười lần chết.. tiểu nữ cũng.. cũng..

Hoàng Dung nói:

– Được việc này chỉ có ta và cô nương biết, nhất thiết không được lộ ra, ngay cả Dương nhi cũng không cho biết, nếu không sẽ mất linh.

Tiểu Long Nữ luôn miệng đáp ứng. Hoàng Dung nói:

– Ngày mai cô nương và Quá nhi liên thủ bảo vệ Quách đại gia, qua cơn nguy rồi, ta sẽ trao thủ cấp của ta cho cô nương, để Quá nhi cưỡi con ngựa hãn huyết về đổi lấy Tuyệt Tình đơn cho kịp.

Tiểu Long Nữ sững người hỏi:

– Phu nhân nói gì vậy?

Hoàng Dung dịu dàng nói:

– Cô nương tâm ái Quá nhi hơn cả tính mạng mình, phải không nào?

Tiểu Long Nữ gật đầu, nói:

– Phải, vì sao phu nhân biết?

Hoàng Dung cười nhạt, nói:

– Bởi vì ta tâm ái trượng phu cũng hệt như cô nương vậy. Cô nương chưa có hài nhi, chưa biết tình mẫu tử thế nào đâu, nó không thua gì tình nghĩa phu thê. Ta chỉ mong cô nương bảo vệ chồng con của ta bình yên, chứ không muốn gì hơn.

Tiểu Long Nữ trầm ngâm không đáp. Hoàng Dung lại nói:

– Nếu cô nương không liên thủ với Quá nhi, thì không thể đánh lui Kim Luân pháp vương. Quá nhi đã mấy phen xả thân cứu vợ chồng ta, ta cứu Quá nhi một lần không được hay sao? Con ngựa hãn huyết ngày đi ngàn dặm, chưa đầy ba hôm là về đến Tuyệt Tình cốc. Ta nói để cô nương biết, Cầu Thiên Xích và phụ thân của Quá nhi là do một tay ta sát hại, không liên quan gì đến Quách đại gia. Cầu Thiên Xích nhìn thấy thủ cấp của ta, dẫu chưa hoàn toàn hài lòng, cũng không thể không trao nốt giải dược cho Quá nhi. Sau đó hai người nếu có thể vì nước vì dân tiếp tục chống địch thì tất nhiên là hay nhất, nếu không dù hai người ẩn cư lánh đời trong thâm sơn u cốc, ta cũng vô cùng cảm kích.

Điều này được nói ra rành mạch, ngoài cái đó, quả không còn cách nào khác. Mấy hôm rày Tiểu Long Nữ chỉ nghĩ cách làm thế nào giết Quách Tĩnh, Hoàng Dung để cứu mạng Dương Quá, lúc này nghe chính miệng Hoàng Dung nói như vậy, trong lòng lại cảm thấy muôn phần áy náy, cứ lắc đầu rồi nói:

– Thế không được, thế không được!

Hoàng Dung đang định giải thích, bỗng nghe Quách Phù gọi ngoài cửa:

– Mẹ, mẹ ơi, mẹ đang ở đâu?

Giọng nói rất hốt hoảng. Hoàng Dung giật mình, hỏi:

– Phù nhi, chuyện gì vậy?

Quách Phù đẩy cửa bước vào, bất chấp sự hiện diện của Tiểu Long Nữ, sà vào lòng mẹ, nói:

– Mẹ, đại Võ ca ca và tiểu Võ ca ca..

Đang nói thì Quách Phù khóc nấc lên. Hoàng Dung cau mày, hỏi:

– Lại có chuyện gì?

Quách Phù nghẹn ngào nói:

– Huynh đệ.. Võ ca ca ra bên ngoài thành đánh nhau.

Hoàng Dung cả giận, xẵng giọng:

– Đánh nhau với ai? Huynh đệ chúng nó đánh lẫn nhau ư?

Quách Phù ít khi thấy mẹ giận như vậy, không khỏi lo sợ, run run nói:

– Vâng, hài nhi bảo họ đừng đánh nhau, nhưng bảo mãi họ cũng không nghe, nói.. nói rằng nhất định sống mái một phen.. họ.. nói sẽ chỉ có một người trở về, người thua dẫu không chết, cũng sẽ không trở về.. gặp hài nhi nữa.

Hoàng Dung càng nghe càng giận, nghĩ bụng tính mạng quân dân cả thành Tương Dương đang trứng để đầu đẳng, thế mà huynh đệ họ Võ lại vì chuyện tranh giành một cô nương mà tàn sát lẫn nhau. Hoàng Dung giận quá, làm động đến thai nhi, bụng đau quặn, trán vã mồ hôi, gằn giọng:

– Hẳn là ngươi ở giữa giở trò quỉ, ngươi mau nói thật tỉ mỉ cho ta nghe, không được giấu gì hết.

Quách Phù nhìn Tiểu Long Nữ một cái, hơi đỏ mặt, nói:

– Mẹ!

Tiểu Long Nữ nghĩ đến Dương Quá, chẳng hơi đâu nghe Quách Phù kể lại chuyện nhị Võ tranh nhau, bèn đi về chỗ Dương Quá, vừa đi vừa nghĩ đến những lời Hoàng Dung vừa nói.

Quách Phù đợi Tiểu Long Nữ ra khỏi phòng, nói:

– Mẹ, nhị Võ ca ca sang doanh trại Mông Cổ hành thích Hốt Tất Liệt, thất thủ bị bắt, khiến cho gia gia bị trọng thương, toàn do hài nhi không tốt. Việc ấy hài nhi không nói, chẳng hóa ra uổng công cha mẹ thương con hay sao?

Rồi nàng thuật lại huynh đệ họ Võ cùng lấy lòng nàng thế nào, nàng bảo họ phải giết giặc lập công để cha mẹ hài lòng ra sao. Hoàng Dung rất tức giận, song không mắng nhiếc, chỉ hầm hầm nhìn con.

Quách Phù nói:

– Mẹ bảo con phải làm thế nào kia chứ? Huynh đệ họ mỗi người đều có cái hay, con không biết thích ai hơn. Con bảo họ phải giết giặc lập công, chẳng phải đó là tâm ý của cha mẹ hay sao? Ai bảo họ vô dụng, vừa đi đã bị bắt?

Hoàng Dung nói:

– Võ công của chúng nó không mạnh, ngươi còn lạ gì nữa.

Quách Phù nói:

– Dương Quá thì sao? Dương Quá chỉ hơn nhị Võ ca ca vài tuổi, sao vẫn địch nổi Kim Luân pháp vương và làm náo loạn doanh trại quân Mông Cổ, mà đâu có bị bắt?

Hoàng Dung biết con gái từ nhỏ được mình nuông chiều đã quen, nó thừa biết sai vẫn cố cãi bướng, nên không truy vấn chuyện đã qua, chỉ hỏi:

– Đã về thành rồi, hà cớ gì lại ra ngoài thành đánh nhau?

Quách Phù nói:

– Mẹ, tại mẹ đấy, chỉ vì mẹ bảo họ là hai tên đồ đệ bị thịt.

Hoàng Dung ngẩn người, hỏi:

– Ta nói thế bao giờ?

Quách Phù nói:

– Con nghe nhị Võ ca ca nói, hồi nãy Hoắc Đô trao chiến thư, mẹ sai nhị Võ ca ca bắt hắn, họ bị hắn điểm huyệt, nên mẹ mắng họ là đồ bị thịt.

Hoàng Dung thở dài, nói:

– Tài nghệ kém người, còn biết nói sao? "Đồ đệ bị thịt" là Hoắc Đô hắn nói đó.

Quách Phù nói:

– Hoắc Đô hắn nói, mà mẹ không cải chính, tức là thừa nhận. Nhị Võ ca ca ức lắm, hai người nói này nói nọ, dẫn đến tranh cãi với nhau, đệ bảo huynh xuất thủ bắt Hoắc Đô quá chậm, huynh trách đệ chắn trước mặt, làm vướng chân tay. Đôi bên cãi nhau mỗi lúc một hăng, cuối cùng rút kiếm động thủ. Con bảo: "Hai người đánh nhau trong thành, để mọi người nhìn thấy, còn ra thể thống gì? Gia gia đang bị thương, hai người làm cho gia gia tức giận, thì muội sẽ không thèm nhìn mặt hai người nữa đâu". Thế là họ nói: "Được, hai ta ra ngoài thành đánh nhau vậy".

Hoàng Dung ngẫm nghĩ một lát, chán ngán nói:

– Trước mắt bao nhiêu việc nguy nan, chuyện này ta không quản nữa. Chúng nó thích gây sự thì mặc chúng.

Quách Phù níu cổ mẹ, nói:

– Mẹ, lỡ một trong hai người ấy bị tổn thương, thì con biết làm sao?

Hoàng Dung nổi giận:

– Chúng nó bị thương trong khi đánh địch, thì ta mới phải lo. Huynh đệ ruột thịt mà đánh lẫn nhau, có chết cũng đáng đời.

Quách Phù thấy thần sắc của mẫu thân nghiêm nghị, khác hẳn sự nuông chiều thường ngày, thì không dám nài nỉ, ôm mặt chạy đi.

Trời rạng sáng. Hoàng Dung một mình trong phòng, tuy giận huynh đệ họ Võ, nhưng đã nuôi dưỡng chúng từ nhỏ, nên cũng không thể bỏ mặc, lại nghĩ tới đại nạn hôm nay, bất giác nước mắt ứa ra. Nhớ đến thương thế của Quách Tĩnh, bèn đi sang phòng của chồng xem sao.

Quách Tĩnh đang ngồi vận công trên giường, sắc diện tuy nhợt nhạt, nhưng khí tức đã điều hòa, biết rằng chỉ cần nghỉ ngơi vài ngày sẽ đỡ, tình cảnh này lại làm cho Quách Tĩnh nhớ đến hồi trẻ, có lần hai người cùng dưỡng thương trong mật thất ở thôn Ngưu Gia phủ Lâm An.

Quách Tĩnh từ từ mở mắt, thấy có ngấn lệ trên mặt vợ, nói:

– Dung nhi, đã biết thương thế của ta không nguy hiểm, sao còn lo lắng? Dung nhi phải nghỉ ngơi mới được đó.

Hoàng Dung nói:

– Vâng. Mấy ngày nay Quách Phá Lỗ hoặc Quách Tương của Tĩnh ca ca trong bụng đạp dữ, chắc đòi gặp gia gia.

Hoàng Dung sợ Quách Tĩnh lo lắng, không nhắc đến việc Hoắc Đô chuyển chiến thư và huynh đệ họ Võ ra ngoài thành đánh nhau. Quách Tĩnh nói:

– Nàng hãy bảo nhị Võ tuần thị thủ thành, kẻ địch biết ta bị thương, e sẽ thừa cơ tập kích.

Hoảng Dung gật đầu đáp ứng. Quách Tĩnh lại nói:

– Thương thế của Quá nhi thế nào rồi?

Hoàng Dung chưa kịp trả lời, chợt nghe bên ngoài có tiếng chân, rồi giọng Dương Quá nói:

– Quách bá bá, điệt nhi chỉ bị ngoại thương, uống Cửu hoa ngọc lộ hoàn của Quách bá mẫu rồi thì không sao cả.

Đoạn đẩy cửa bước vào, nói:

– Điệt nhi đã ra bờ thành quan sát một vòng, mọi người đấu chí rất cao, chỉ riêng huynh đệ Võ gia..

Hoàng Dung ho một tiếng, nháy mắt với Dương Quá, chàng lập tức hiểu ý, nói tránh đi:

– Huynh đệ Võ gia bảo rằng Quách bá bá vì họ mà bị trọng thương, nếu quân địch kéo đến, họ quyết tử chiến để báo đáp ân đức của Quách bá bá.

Quách Tĩnh thở dài, nói:

– Sau chuyến này, hai đứa chúng nó cũng khôn ra được một chút, không nghĩ là việc thiên hạ quá dễ dàng nữa.

Dương Quá nói:

– Quách bá mẫu, cô cô không đi cùng với Quách bá mẫu hay sao?

Hoàng Dung nói:

– Ta trò chuyện với Long cô nương một lát, chắc là nàng ta về phòng ngủ rồi. Từ lúc ngươi bị thương về nàng ta chưa hề chợp mắt.

Dương Quá "ừm" một tiếng, nghĩ bụng Tiểu Long Nữ nói chuyện xong với Hoàng Dung, tất trở lại cho chàng biết, có điều là khi nàng trở lại, chàng đã ra ngoài mặt thành quan sát. Nguyên khi mới đến thành Tương Dương, chàng nhất tâm nhất ý giết vợ chồng Quách Tĩnh, nhưng sau mấy ngày ở bên, thấy hai người một lòng vì nước, không hề nghĩ đến bản thân, thì chàng rất cảm động. Tại quân doanh Mông Cổ, thấy Quách Tĩnh xả thân cứu hộ chàng, chàng mới quyết từ bỏ ý định giết vợ chồng họ, ngược lại, sẽ tận tâm báo đáp. Chàng tự biết chỉ còn bảy ngày nữa là chất độc hoa Tình sẽ phát tác, cốt sao trong thời gian ngắn ngủi còn lại làm được một hai việc tốt khỏi uổng làm người trên thế gian. Chàng cũng đoán Quách Tĩnh bị trọng thương, quân địch sẽ thừa cơ tấn công, nên vừa lại sức một chút đã ra ngoài mặt thành quan sát việc phòng bị.

Lúc này nhớ đến Tiểu Long Nữ, chàng định đi tìm nàng, bỗng nghe trên mái nhà, cách xa hơn mười trượng, vang lên tràng cười dài, tiếp đó có tiếng kim luân và thiết luân va nhau, chính là Pháp vương đã tới.

Quách Tĩnh hơi biến sắc, tiện tay kéo Hoàng Dung nấp ra phía sau mình. Hoàng Dung nói nhỏ:

– Quách ca ca, thành Tương Dương hệ trọng, hay là tình ái của hai ta hệ trọng hơn? Ca ca hệ trọng hơn, hay là muội hệ trọng hơn?

Quách Tĩnh buông tay Hoàng Dung, nói:

– Đúng, quốc sự trên hết!

Hoàng Dung cầm cây gậy trúc đứng trấn bên cửa, nghĩ bụng những lời mình nói với Tiểu Long Nữ, nàng ta chưa kịp kể lại với Dương Quá, không biết Dương Quá sẽ xuất thủ chống địch, hay là thừa cơ vừa báo tư thù, vừa để đổi lấy thuốc giải? Dương Quá tâm tính phù động, thiện ác khó biết, nếu hắn trở giáo theo giặc, thì đại sự ôi thôi, cho nên Hoàng Dung tuy cầm gậy trấn giữ cửa phòng, nhưng mục quang lại theo dõi Dương Quá.

Lời nói giữa hai vợ chồng Quách Tĩnh vừa rồi, Dương Quá nghe mà cảm thấy kinh tâm động phách. Chàng đã quyết ý trợ giúp Quách Tĩnh, cũng là vì cảm động trước đại nhân đại nghĩa của Quách Tĩnh, nay nghe bốn chữ "quốc sự trên hết", lại nhớ hôm trước ở bên ngoài thành Tương Dương, Quách Tĩnh có nói "Vì nước vì dân, mới là bậc đại hiệp", "cúc cung tận tụy, chết cũng cam lòng", lòng bỗng nhẹ nhõm, nhìn vợ chồng Quách Tĩnh tình nghĩa sâu nặng với nhau, nhưng lúc lâm nguy, cả hai chỉ lo nghĩ cho đất nước trước tiên, bản thân chàng thì chỉ nghĩ đến mối thù riêng và ái tình giữa mình với Tiểu Long Nữ, có lúc nào nghĩ gì đến đại sự quốc gia? Có lúc nào nghĩ đến nỗi thống khổ của trăm họ trong thiên hạ? So với họ, chàng thấy mình quá thấp hèn.

Lúc này, câu mà Hoàng Dung từng dạy chàng hồi nhỏ ở đảo Đào Hoa "sát thân thành nhân, xả sinh thủ nghĩa" bỗng sáng rõ trong óc dị thường, thế là chí khí trỗi dậy. Nhìn cường địch trước mặt, sinh tử tồn vong chỉ trong đường tơ kẽ tóc, nhiều điều bình thời không nghĩ đến hoặc chưa hiểu, đột nhiên trở nên sáng tỏ lạ lùng. Tâm trí chàng vươn cao, tựa hồ thân hình cũng cao lớn hẳn lên, thần thái bừng sáng, dường như đã biến thành một người khác.

Bao nhiêu ý nghĩ diễn ra trong óc chàng, kỳ thực chỉ trong giây lát. Hoàng Dung thấy sắc mặt Dương Quá từ mơ hồ trở nên ngượng ngùng, từ cảm động trở nên kiên định, không biết chàng đang nghĩ gì, bỗng nghe chàng nói nhỏ:

– Quách bá mẫu cứ yên tâm!

Rồi chàng rút kiếm Quân tử chạy ra ngoài cửa. Kim Luân pháp vương mỗi tay cầm một cái luân, đứng trên mái nhà, cười nói:

– Dương huynh đệ, ngươi lươn lươn lẹo lẹo, sáng nắng chiều mưa, thành kẻ tiểu nhân phản phúc, thật là quá đáng.

Nếu là ngày trước, Dương Quá nghe câu đó hẳn đã nổi giận, nhưng lúc này chàng suy nghĩ đơn giản, tâm cảnh thanh thản, nghĩ thầm: "Lão nói không sai, phải đến hôm nay, tâm ý ta đã quyết. Dù sống trăm năm hay một giờ, ta vĩnh viễn không phản phúc nữa", bèn cười nói:

– Pháp vương, lão nói đúng đấy. Chẳng hiểu ma xui quỉ khiến thế nào, ta lại giúp Quách Tĩnh chạy về. Nhưng từ khi vào thành Tương Dương, không biết ẩn thân nơi đâu, ta tìm mãi vẫn chưa ra, đang hối hận và chán nản đây. Lão có biết Quách Tĩnh trốn ở đâu hay không?

Đoạn nhảy lên mái nhà, đứng cách Kim Luân pháp vương vài thước.

Kim Luân pháp vương liếc chàng, nghĩ bụng tên tiểu tử này quỉ kế đa đoan, không biết hắn nói thật hay giả, cười hỏi:

– Nếu ta tìm thấy hắn thì sao?

Dương Quá đáp:

– Thì ta sẽ đâm một nhát.

Kim Luân pháp vương nói:

– Hừ, ngươi dám đâm hắn thật ư?

Dương Quá nói:

– Ai bảo là đâm Quách Tĩnh?

Kim Luân pháp vương ngạc nhiên:

– Vậy thì ngươi đâm ai?

Xoẹt một cái, kiếm Quân tử đâm vút tới sườn trái Kim Luân pháp vương, Dương Quá cười, nói:

– Dĩ nhiên là đâm lão!

Đôi bên đang cười nói, đột nhiên Dương Quá đâm đối phương một nhát, chiêu số dĩ nhiên rất lợi hại, lại bất ngờ ở khoảng cách rất gần, Kim Luân pháp vương nếu võ công chỉ như Tiêu Tương Tử và Ni Ma Tinh, thì đã mất mạng vì nhát kiếm này rồi. Lão ta trong cơn nguy cấp biến chiêu thần tốc, vận kình vào cánh tay trái hất nhanh lưỡi kiếm ra, nhưng kiếm Quân tử vô cùng sắc nhọn, đã rạch một đường dài, sâu gần một tấc, trên cánh tay lão ta, máu tươi chảy ròng ròng.

Kim Luân pháp vương biết Dương Quá giảo hoạt, nhưng hoàn toàn không ngờ chàng lại đột nhiên xuất chiêu vào lúc này, khiến lão ta vừa đột nhập thành Tương Dương đã bị thương, mất cả nhuệ khí, liền cả giận, kim luân trong tay phải tức thời tấn công liên tiếp hai chiêu, thiết luân trong tay trái cũng đánh ra. Dương Quá không lùi một bước, địch đánh ba chiêu, chàng cũng đánh trả ba kiếm, cười, nói:

– Trong quân Mông Cổ, ta bị kim luân của lão đả thương, bây giờ mới trả được một nhát kiếm. Kiếm của ta có phần cổ quái đấy, lão biết hay không hả?

Ngân luân của Pháp vương không ngừng công kích, song lão không nhịn được, phải hỏi:

– Có gì cổ quái?

Dương Quá cười, nói:

– Cái sự cổ quái ấy không phải do ta, lão chớ trách ta.

Pháp vương nói:

– Hoa ngôn xảo ngữ, quân vô liêm sỉ! Cái gì mà đừng trách ngươi?

Dương Quá dương dương đắc ý, nói:

– Thanh kiếm này ta mang theo từ Tuyệt Tình cốc, Công Tôn Chỉ có bôi thuốc độc, nay mai lão trúng độc không chết, thì cứ đi tìm Công Tôn Chỉ mà tính sổ với hắn.

Kim Luân pháp vương giật mình, nghĩ bụng không lẽ kiếm của Công Tôn Chỉ có bôi thuốc độc, nửa tin nửa ngờ, lão xuất chiêu chậm lại. Kỳ thực lưỡi kiếm đâu có bôi thuốc độc. Dương Quá nhớ lúc Hoàng Dung dùng nước trà nóng dọa Hoắc Đô, tự biết võ công không địch nổi Kim Luân pháp vương, bèn dùng lời lẽ làm cho đối phương bối rối tinh thần, thấy nói một câu đã hiệu nghiệm, liền chăm chú phòng ngự, thừa cơ đánh trả một chiêu, không để cho đối phương có thời gian băng bó vết thương. Vết thương ở cánh tay trái của Kim Luân pháp vương tuy không nặng, nhưng máu cứ chảy không cầm, dù không trúng độc, để lâu cũng sẽ đại giảm tinh lực, lão thấy tình thế này nên tốc chiến, thế là vung ngay song luân tấn công tới tấp.

Dương Quá biết tâm ý của lão, dùng kiếm phòng thủ nghiêm mật dị thường. Kình lực của song luân càng lúc càng mạnh, kim luân chém dọc, ngân luân phạt ngang, Dương Quá thấy không cản nổi, bèn nhảy tránh. Pháp vương xé vạt áo định băng vết thương, Dương Quá lập tức đâm kiếm tới. Cứ thế mấy lần, Kim Luân pháp vương chờ lúc chàng nhảy tránh, lão cũng nhảy lùi để đôi bên cách xa nhau, lão vội vã băng bó vết thương, cảm thấy chỗ đó có đau, nhưng không tê dại, ngứa ngáy, xem chừng lưỡi kiếm không bôi thuốc độc, bụng yên tâm phần nào.

Lúc này ở phía đông nam nghe có tiếng binh khí va chạm mạnh. Dương Quá liếc về phía đó, thấy Tiểu Long Nữ đang vung kiếm giao đấu với Tiêu Tương Tử và Ni Ma Tinh. Cây can bổng của Tiêu Tương Tử đã bị Dương Quá đoạt mất trong chiến trận với quân Mông Cổ, lúc hôn mê không biết Dương Quá vứt đi đâu, lúc này Tiêu Tương Tử lại cầm một cây can bổng giống hệt về hình dạng, chỉ không biết trong có chứa độc sa hay không. Dương Quá nghĩ hai vợ chồng Quách Tĩnh ở trong phòng bên dưới, nếu để Kim Luân pháp vương phát hiện, tai họa sẽ không nhỏ, phải dụ lão ta ra càng xa càng tốt, nhưng phải làm việc đó thật khéo, thế là chàng bèn nói:

– Cô cô, Quá nhi tới giúp cô cô đây!

Chàng nhảy mấy bước đã tới sau lưng Ni Ma Tinh, giơ kiếm đâm hắn.

Kim Luân pháp vương bị Dương Quá ám toán, dĩ nhiên tức lắm, nhưng mục đích chuyến đột nhập này là giết Quách Tĩnh, còn nhát kiếm cả tên tiểu tử kia để tính sổ sau cũng không muộn, thế là lão cất tiếng gào to:

– Quách Tĩnh Quách đại hiệp, lão nạp tới thăm đây, tại sao Quách đại hiệp không ra tiếp khách?

Lão gọi mấy tiếng, bốn bề không ai đáp lời, chỉ nghe phía tây bắc vọng lại tiếng hò hét, chính là hai đệ tử của lão, Hoắc Đô và Đạt Nhĩ Ba, đang vây đánh Chu Tử Liễu. Lão thấy Dương Quá cùng Tiểu Long Nữ đấu với Tiêu Tương Tử và Ni Ma Tinh thắng bại khó phân, bên dưới nhà tiếng người ồn ào, đó là binh tướng giữ thành biết có kẻ địch đột nhập, nên kéo tới bắt gian tế. Kim Luân pháp vương biết quân sĩ không làm gì nổi lão, nhưng quân số quá đông, sẽ làm cho lão vướng víu chân tay, nên gọi to:

– Quách Tĩnh bớ Quách Tĩnh, uổng anh danh một đời của nhà ngươi, hôm nay hóa thành con rùa đen rụt cổ nơi nao?

Lão gọi thách đấu một hồi, rồi chửi rủa thậm tệ, song vẫn không thấy hình bóng Quách Tĩnh, thì nghĩ: "Thành Tương Dương vạn hộ nhân gia, biết tìm hắn trốn chỗ nào? Hắn cam tâm nhịn nhục, để hắn dưỡng thương xong, thì càng khó đối phó hơn". Lão nghĩ giây lát, nảy ra độc kế, bèn nhảy từ trên mái nhà xuống đất, tìm thấy đống củi, cỏ ở nhà sau, lấy dụng cụ đánh lửa đốt lửa, châm cháy bốn, năm chỗ, rồi lại nhảy lên mái, nghĩ rằng khi lửa cháy lớn, kẻ trốn trong nhà sẽ phải chạy ra.

Dương Quá tuy tiếp chiến với Tiêu Tương Tử, nhưng ánh mắt vẫn chốc chốc theo dõi Kim Luân pháp vương, thấy lão ta đột nhiên phóng hỏa đốt nhà, hai phía nam bắc căn phòng của Quách Tĩnh đều có khói bốc lên, thì lo lắng, chút nữa bị thiết xà của Ni Ma Tinh quét ngang ngực, vội thót bụng nhảy tránh. Nếu không phải hôm qua Ni Ma Tinh bị Quách Tĩnh đánh gãy ba dẻ xương sườn, thì vừa rồi Dương Quá đã bị trọng thương bởi độc chiêu của hắn. Dương Quá nghĩ: "Hú vía!" Lại nghĩ: "Quách bá bá bị trọng thương, Quách bá mẫu sắp lâm bồn, lửa cháy lớn, nếu hai người không chạy ra khỏi nhà, tất bị chết thiêu, mà chạy ra, ắt chạm trán lão giặc trọc". Bèn đành để một mình Tiểu Long Nữ đương đầu với hai đại cao thủ, chàng đâm gấp Tiêu Tương Tử hai nhát kiếm, rồi nhảy xuống đất, xông qua màn khói đi tìm vợ chồng Quách Tĩnh.

Chỉ thấy Hoàng Dung đang ngồi bên giường Quách Tĩnh, khói dày từ cửa sổ tràn vào. Quách Tĩnh nhắm mắt vận công, Hoàng Dung hai mày hơi cau, sắc diện thản nhiên, thấy Dương Quá bước vào thì mỉm cười. Dương Quá thấy hai người không hề hoảng hốt, thì cũng yên tâm, chợt nghĩ ra một kế, nói nhỏ:

– Điệt nhi đi dẫn dụ kẻ địch, Quách bá mẫu mau dìu Quách bá bá tạm lánh đến một chỗ yên ổn.

Đoạn chàng khẽ nhấc lấy chiếc mũ khỏi đầu Quách Tĩnh, vọt ra ngoài qua song cửa.

Hoàng Dung ngẩn người, chưa hiểu Dương Quá bày trò gì, thấy màn khói dồn tới gần, bèn đưa tay đỡ Quách Tĩnh, nói:

– Chúng mình chuyển sang chỗ khác.

Vừa định dùng sức, đột nhiên bụng quặn đau, bất giác thốt lên tiếng "Ối!" đành ngồi xuống giường, lòng đại hận: "Con quỉ con, không sớm không muộn, nhè đúng lúc này mà ra đời, định hại chết cha mẹ sao con?"

Dương Quá nhảy ra ngoài cửa sổ, thấy bốn bề binh sĩ hò hét, người thì xách nước dập lửa, người thì bắn tên lên mái nhà. Chàng nhảy tới sau lưng một binh sĩ mặc áo xám, điểm huyệt, chụp cái mũ của Quách Tĩnh lên đầu người ấy, rồi cõng anh ta, nhảy lên mái nhà, kiếm vung loạn xạ.

Lúc này Tiểu Long Nữ đang đấu với Tiêu Tương Tử và Ni Ma Tinh, Chu Tử Liễu thì đấu với Hoắc Đô và Đạt Nhĩ Ba, đều đã núng thế. Kim Luân pháp vương thì đang múa song luân cách mặt Quách Phù chỉ vài tấc, truy vấn nàng về chỗ ở của cha mẹ nàng. Quách Phù đầu tóc rối bời, trường kiếm đã bị Kim Luân pháp vương làm gãy mũi, đành nghiến răng chống đỡ, coi như không nghe thấy câu hỏi của đối phương, trong bụng tức giận nghĩ: "Nhị Võ ca ca nếu không ra ngoài thành đánh nhau, có phải bây giờ ba người liên thủ, sợ gì lão giặc trọc này?" Không nhịn được, nàng buột miệng nói:

– Được, hai người cứ tranh giành nhau đi, bất kể ai thắng, cũng đừng có vác mặt về gặp ta nữa!

Kim Luân pháp vương ngạc nhiên hỏi:

– Cô nương nói gì vậy? Rốt cuộc thì Quách Tĩnh đang ở đâu?

Lão đang chờ câu trả lời của Quách Phù, bỗng thấy Dương Quá cõng một người chạy về hướng tây bắc, người được cõng hẳn là Quách Tĩnh, thế là lão bỏ Quách Phù, đuổi theo Dương Quá. Bọn Tiêu Tương Tử, Ni Ma Tinh, Hoắc Đô và Đạt Nhĩ Ba thấy vậy cũng bỏ đối thủ, chạy theo Kim Luân pháp vương. Chu Tử Liễu không dám chậm trễ, lao theo để hỗ trợ Dương Quá hộ vệ Quách Tĩnh.

Lúc Dương Quá nhảy lên mái nhà, chạy qua chỗ Tiểu Long Nữ, đã nháy mắt với nàng, mỉm cười, Tiểu Long Nữ biết chàng lại bày mưu lừa địch, chưa hiểu là kế gì, thấy địch đông và mạnh, nàng không yên lòng, cũng định đuổi theo giúp chàng, bỗng nghe dưới nhà vọng lên mấy tiếng khóc oa oa của trẻ sơ sinh. Quách Phù vui mừng nói:

– Mẹ sinh tiểu đệ rồi?

Đoạn nhảy xuống sân. Tiểu Long Nữ nổi lòng hiếu kỳ, biết Dương Quá đa mưu túc trí, lúc nãy mỉm cười tức là bảo nàng cứ yên tâm, bèn xuống xem hài nhi Hoàng Dung vừa sinh thế nào, rồi sẽ tính sau.

Kim Luân pháp vương đuổi gấp, càng lúc càng gần Dương Quá, mừng thầm: "Để xem phen này mi có thoát nổi tay ta hay không?" Thấy kẻ Dương Quá cõng đầu đội chiếc mũ hôm qua Quách Tĩnh đội, hẳn đúng là Quách Tĩnh.

Khinh công phái Cổ Mộ mà Dương Quá học được có thể nói là thiên hạ vô song, tuy cõng theo một người, nhưng càng chạy xa thêm bước nào, Quách bá bá sẽ càng bớt nguy hiểm chừng ấy. Chàng cắm đầu chạy, Kim Luân pháp vương nhất thời chưa đuổi kịp. Sau khi chạy một hồi trên mái, nghe tiếng chân ngay sau lưng, Dương Quá liền nhảy xuống đất, chạy lòng vòng trong các ngõ phố để trốn Kim Luân pháp vương.

Khinh công của Dương Quá tuy cao hơn Kim Luân pháp vương, nhưng phải cõng một người, nếu ở ngoài đồng trống, chắc đã bị đuổi kịp, nhưng đây là các ngõ ngách dễ dàng lẩn trốn, cho nên Kim Luân pháp vương chưa đuổi kịp. Hai người cứ chạy lòng vòng. Tiêu Tương Tử, Ni Ma Tinh và Chu Tử Liễu trước sau cũng chạy tới.

Kim Luân pháp vương bảo Ni Ma Tinh:

– Ni Ma huynh, hãy chặn ở đầu hẻm, để ta vào lùa con thỏ ấy ra.

Ni Ma Tinh trừng mắt, nói:

– Tại sao ta phải nghe lệnh của lão kia chứ?

Kim Luân pháp vương nghĩ gã lùn người Thiên Trúc này không chơi được, bèn nhảy lên bờ tường, đưa mắt tứ phía, thấy Dương Quá cõng Quách Tĩnh đang đứng nghỉ ở một góc tường gần đó. Lão cả mừng, rón rén bò tới gần, đang định nhảy xuống chộp, thì Dương Quá thét to một tiếng, chạy vào trong một đám khói dày, biến mất tăm.

Kim Luân pháp vương phóng hỏa cốt buộc Quách Tĩnh phải chui ra. Lúc này khói bao trùm nhiều chỗ, hóa ra khó tìm người. Lão đang ngó nghiêng, bỗng nghe có tiếng Đạt Nhĩ Ba "Đây rồi!" Kim Luân pháp vương lần về phía đó, thấy Đạt Nhĩ Ba đang vung cây kim chử đấu với Dương Quá. Kim Luân pháp vương nhảy vọt đến, trước hết chặn đường rút của Dương Quá. Dương Quá vọt tới bên Đạt Nhĩ Ba, ngân luân của Pháp vương đã bay tới.

Thế bay của ngân luân như gió, Dương Quá không kịp tránh, ngân luân xoẹt qua vai chàng, hớt đi một mảng lưng của người chàng cõng. Kim Luân pháp vương cả mừng, quát:

– Trúng rồi!

Dương Quá bất kể người kia sống chết, lại phóng chạy.

Dương Quá chạy tới đầu hẻm, chợt nghe một giọng khê nồng:

– Tiểu tử, đầu hàng đi!

Chính là Tiêu Tương Tử cầm can bổng phục ở đầu hẻm. Lúc này Dương Quá trước có kẻ chặn, sau có truy binh, ngẩng mặt lên, trên bờ tường có Ni Ma Tinh chực sẵn. Dương Quá tung mình nhảy lên bờ tường, Ni Ma Tinh dùng thiết xà đánh thẳng xuống đầu muốn buộc chàng phải nhảy xuống đường hẻm. Dương Quá nghĩ mình đã dụ địch hồi lâu, Quách Tĩnh và Hoàng Dung nhất định đã thoát cơn nguy hiểm, bèn hất gã binh sĩ trên lưng về phía Ni Ma Tinh, nói:

– Quách Tĩnh đây, cho ngươi đấy!

Ni Ma Tinh kinh ngạc và vui mừng, nghĩ Dương Quá phản phúc đột nhiên lại đầu hàng, đem đại công trao sang tay hắn, bèn giơ tay đón lấy. Dương Quá tung cước đá một cái trúng mông, hất hắn xuống đường hẻm. Ni Ma Tinh reo to:

– Ta tóm được Quách Tĩnh rồi, ta trở thành "Đệ nhất dũng sĩ Mông Cổ" rồi!

Tiêu Tương Tử và Đạt Nhĩ Ba há để cho hắn độc chiếm công lao, xông tới giành giật. Ba người kéo chân tay gã binh sĩ kia mỗi người về một phía, sức kéo ghê gớm, xé luôn xác người kia thành ba mảnh, chiếc mũ đội đầu rơi ra. Ba người nhìn kỹ, thì ra không phải Quách Tĩnh, đều đứng ngây tại chỗ, không biết nói gì.

Kim Luân pháp vương thấy Dương Quá cõng Quách Tĩnh mà chạy, sớm đoán tất có mưu kế gì, lão không đuổi theo nữa, thấy ba tên kia đột nhiên đứng ngây tại chỗ, thì lão chửi:

– Hừ, tên tiểu tử khốn kiếp!

Lão nghĩ hôm nay nếu không tìm được Quách Tĩnh, nhất định phải giết tên tiểu tử Dương Quá gian trá phản phúc cho khỏi uổng công đột nhập thành Tương Dương.

Nhưng lúc này không biết Dương Quá đã trốn chỗ nào. Lão nghĩ thầm: "Dương Quá đã cõng Quách Tĩnh giả, đánh lừa ta tốn bao thời gian đuổi theo, tức là Quách Tĩnh vẫn ở chỗ gần nơi ta phóng hóa. Hắn đã dùng gian kế, thì ta tương kế tựu kế để tóm hắn vậy". Bèn chạy về chỗ đang cháy mạnh nhất.

Dương Quá nấp dưới mái hiên một nhà nọ, quan sát động tĩnh, thấy Kim Luân pháp vương lại cắm cổ chạy về phía phòng ở của Quách Tĩnh. Chàng không biết Quách Tĩnh đã lánh đi xa chỗ đó chưa, trong lòng lo lắng, bèn bám theo. Chỉ thấy Kim Luân pháp vương chạy về gần đó, từ trên mái nhà nháy xuống đất, gọi to:

– Bớ Quách Tĩnh, thì ra ngươi vẫn chui rúc ở đây, mau ra tiếp lão nạp nào!

Dương Quá cả kinh, đang định nhảy xuống, bỗng nghe có tiếng binh khí va nhau, rồi tiếng kim Luân pháp vương quát to:

– Quách Tĩnh, đầu hàng cho mau!

Thì ra Kim Luân pháp vương dùng kim luân và thiết luân tự gõ vào nhau. Dương Quá cười thầm: "Lão giặc trọc, chút nữa thì ta mắc lừa lão, lão giả vờ vụng quá. Quách Tĩnh bị trọng thương, làm sao có thể dùng binh khí giao đấu với lão, sao lại cứ leng keng liên tiếp như thế kia chứ? Lão muốn lừa ta, ta nấp ở đây xem lão giở trò quỉ gì nữa".

Bỗng nghe Pháp vương quát to:

– Dương Quá, lần này thì ngươi nhất định phải chết này!

Dương Quá ngạc nhiên: "Sao lần này ta lại phải chết?" Lập tức chàng hiểu: "Lão không dụ được mình ra, bèn dụ Quách bá bá ra cứu mình". Lại nghe Pháp vương cười hô hố, nói:

– Dương Quá bớ Dương Quá, hôm nay ngươi được chết bởi tay ta, cũng coi như không uổng đâu.

Lời vừa dứt, từ trong đám khói có một bạch y thiếu nữ xông ra, vung kiếm đâm Pháp vương. Dương Quá gọi:

– Cô cô, Quá nhi ở đây cơ!

Nhưng Pháp vương đã múa kim luân chặn Tiểu Long Nữ lại. Nguyên Pháp vương la hét ầm ĩ, làm như Dương Quá đang gặp hung hiểm, Tiểu Long Nữ nghe vậy lo lắng, xông ra động thủ với lão ta. Dương Quá chạy tới, mỉm cười với Tiểu Long Nữ, sử "Ngọc nữ tố tâm kiếm pháp", kiếm quang bao quanh người lão. Pháp vương thầm kêu khổ: "Phen này mình tự chuốc họa vào thân, để cho hai đứa chúng nó song kiếm hợp bích mất rồi". Bốn bề khí nóng rừng rực, khói lửa lan rộng mù mịt.

Pháp vương cố sử dụng song luân chống đỡ song kiếm của hai người, vừa lùi gấp vào góc tây bắc. Dương Quá nói:

– Hôm nay không thể để cho lão ta đào thoát, phải diệt mầm họa này.

Mũi kiếm rung rung, thân theo kiếm đâm nhanh tới sau lưng Pháp vương.

Pháp vương từ sau lần thất thủ bởi "Ngọc nữ tố tâm kiếm pháp", vẫn suy ngẫm cách đối phó với pho kiếm pháp này. Lão biết hai người song kiếm hợp bích, ảo diệu vô cùng, hai người tâm linh hợp nhất, thành một cao thủ võ học bốn chân bốn tay, khó lòng chống đỡ, lúc này trong cơn nguy cấp, biết pho "Ngũ luân đại chuyển" của mình có nhiều sơ hở, cũng đành phải thử thi thố một phen, liền thò tay vào bọc, thế là vù vù vù trong không trung bay vòng ba cái luân, mỗi tay cầm một luân. Ngũ luân kim, ngân, đồng, thiết (sắt), diên (chì) nặng nhẹ, lớn nhỏ khác nhau, lão liên tiếp liệng ra, cái bay theo mặt phẳng, cái bay theo mặt nghiêng.

Dương Quá và Tiểu Long Nữ lập tức cảm thấy hoa cả mắt, hơi hoảng. Dương Quá đâm sang mé tả hai nhát kiếm, thân hình dựa sang bên phải. Tiểu Long Nữ hiểu ý kiếm Thục nữ đâm liên tiếp mấy nhát, chân di động dựa vào người Dương Quá. Hai người thấy chiêu số của địch quái dị, phải phòng thủ nghiêm mật, nhận rõ chiêu thuật của đối phương, rồi mới phản kích.

Ngũ luân của Pháp vương cứ bay vòng, lão thấy kiếm khí của hai người tung hoành, kết thành một đạo kiếm võng (tấm lưới đan bằng kiếm), ngũ luân uy lực tuy mạnh, song không thể lọt qua kiếm võng, thì tự than: "Ta thi triển ngũ luân mà chẳng làm gì nổi hai tên tiểu quỉ này song kiếm hợp bích". Lão đang thất vọng, bỗng trong bọc của Tiểu Long Nữ phát ra hai tiếng khóc "oa oa" của trẻ sơ sinh. Không riêng Pháp vương, mà cả Dương Quá cũng kinh ngạc, chiêu số của cả ba người đều chậm lại.

Tiểu Long Nữ khẽ vỗ vỗ tay trái vào bọc, nói:

– Bé ngoan đừng khóc, hãy xem ta đánh lui lão hòa thượng này.

Nào ngờ đứa bé càng khóc to hơn. Dương Quá hỏi nhỏ:

– Quách bá mẫu phải không?

Tiểu Long Nữ gật gật đầu, đâm một kiếm về phía Pháp vương.

Pháp vương dùng kim luân gạt kiếm, lão nghe không rõ câu hỏi của Dương Quá, nhất thời chưa hiểu Tiểu Long Nữ ôm theo đứa bé sơ sinh để làm gì, nhưng nghĩ nàng bận bịu như thế, kiếm pháp tất đại giảm uy lực, bèn dùng kim luân tấn công tới tấp về phía nàng.

Dương Quá tiếp lấy thế công của Pháp vương, hỏi nhỏ:

– Quách bá bá, Quách bá mẫu đều ổn cả chứ?

Tiểu Long Nữ đáp:

– Hoàng bang chủ đã đưa Quách đại gia thoát khỏi đám cháy..

Bỗng "choang" một tiếng, nàng gạt đồng luân trong tay trái Pháp vương, lại nói:

– Lúc ấy tình thế nguy cấp, cái xà nhà sắp rơi xuống, thiếp bèn chộp lấy nữ hài nhi này..

Dương Quá đâm một kiếm vào đùi bên phải của Pháp vương, hóa giải diên luân của lão ta tấn công Tiểu Long Nữ, nói:

– Là nữ hài nhi ư?

Chàng nghĩ Quách Tĩnh đã có con gái, lần này sẽ sinh nam hài nhi, ai dè lại là một nữ hài nhi, thì hơi bất ngờ. Tiểu Long Nữ gật đầu, nói:

– Là nữ hài nhi, chàng mau đón lấy này..

Đoạn tay trái thò vào bọc, định đưa đứa bé sang cho Dương Quá.

Nhưng trong tiếng khóc của đứa bé, Pháp vương công kích dữ dằn, ba cái luân bay phía trên sẵn sàng đánh xuống đầu, hai cái luân trong tay lão càng thêm lợi hại. Dương Quá toàn lực chống đỡ vất vả, làm sao có thể tiếp nhận đứa bé? Tiểu Long Nữ nói:

– Chàng mau ẵm đứa bé, cưỡi con ngựa hãn huyết mà..

Song luân của Pháp vương đánh tới trước mặt hai người, Tiểu Long Nữ chưa nói hết câu. Lúc này tâm trí mỗi người một ngả, "Ngọc nữ tố tâm kiếm pháp" giảm hẳn uy lực.

Dương Quá nghĩ chỉ có mình đỡ lấy đứa bé, Tiểu Long Nữ mới không bị phân thần thất thủ, bèn dần dần xích lại bên nàng, Tiểu Long Nữ cũng đang định trao đứa bé cho Dương Quá, hai người tâm ý hợp nhất, song kiếm lại múa tít, buộc Pháp vương lùi hai bước. Tiểu Long Nữ tay trái trao đứa bé qua, Dương Quá chính đang chìa tay đón, bỗng thiết luân bay chếch tới, đụng vào đứa bé. Tiểu Long Nữ sợ đứa bé bị thương, bèn buông nó ra, tay trái chộp lấy thiết luân. Thiết luân bay đến uy mãnh, mép thiết luân sắc như đao kiếm, nhưng Tiểu Long Nữ mang bao tay bằng sợi kim ti, vừa chạm thiết luân liền thuận thế hất nó bay ra ngoài, vòng lên trên, rồi chộp luôn nó.

Lúc ấy Dương Quá đã tiếp lấy đứa bé, thấy Tiểu Long Nữ chộp được thiết luân, thốt lên:

– Hay lắm!

Cái thiết luân này nếu nhắm đánh Tiểu Long Nữ, thì nàng không thể chộp được, nhưng vì nó nhắm đánh đứa bé, nên nàng mới đắc thủ. Tiểu Long Nữ chộp được thiết luân thì rất cao hứng, song vẻ mặt vẫn thản nhiên, bắt chước chiêu thức của Pháp vương, dùng thiết luân tấn công đối phương, gọi là dùng gậy ông đập lưng ông.

Pháp vương vừa ngạc nhiên vừa hổ thẹn, ngũ luân bị mất một cái, "Ngũ luân đại chuyển" tức thời bị hóa giải, lão thu hồi hai luân, hai tay chỉ còn sử dụng kim luân và ngân luân.

Dương Quá tay trái ẵm đứa bé, nói:

– Hai chúng ta hãy giết lão giặc trọc này, mọi việc tính sau.

Tiểu Long Nữ nói:

– Được!

Tay trái cầm thiết luân che ngực, cùng với Dương Quá song kiếm nhất tề tấn công. Trong tay nàng có thêm một loại binh khí lợi hại, lại rảnh tay vì không phải lo cho đứa bé, lẽ ra uy lực phải tăng mạnh, nào ngờ sau mấy chiêu kiếm pháp vẫn không hài hòa với Dương Quá. Nàng càng đấu càng lấy làm lạ, không biết rằng diệu chỉ của "Ngọc nữ tố tâm kiếm pháp" là hai người sử kiếm thuần nhất chung tình, bây giờ nàng lại có thêm cái thiết luân, chẳng khác gì có kẻ thứ ba xen vào giữa đôi tình nhân, như vậy làm sao tâm ý tương thông? Làm sao có thể hóa lòng nàng thanh lòng chàng? Hai người nhất thời chưa ngộ ra điều đó, lại đấu mấy hiệp, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ. Tiểu Long Nữ nóng ruột, nói:

– Hôm nay đấu không lại hắn, chàng mau mang đứa bé đến Tuyệt Tình cốc đi thôi..

Dương Quá đã hiểu dụng ý của nàng: Bây giờ nếu cưỡi con ngựa hãn huyết rời thành, thì nội nhật bảy ngày nhất định sẽ đến Tuyệt Tình cốc, tuy không lấy được thủ cấp của Quách Tĩnh, Hoàng Dung, nhưng mang con gái của họ về, hai vợ chồng Quách Tĩnh bị mất ái nữ, sẽ tìm đến đây, bấy giờ Cầu Thiên Xích có thể tìm cách trả thù. Như thế, Cầu Thiên Xích sẽ phải bằng lòng trao nốt nửa xiên tuyệt Tình đơn "cho chàng. Đợi khi giải độc xong rồi, chàng sẽ có cách cứu đứa bé thoát hiểm. Kế hoãn binh của chàng, Cầu Thiên Xích không thể không chấp nhận. Nếu là hai ngày trước đây Dương Quá sẽ không chút do dự đi ngay, nhưng bây giờ chàng đã vô cùng khâm phục tấm lòng son của Quách Tĩnh đối với đất nước, chàng thật không nỡ vì mình mà đẩy đứa bé sơ sinh của Quách Tĩnh vào vòng hung hiểm. Nếu bây giờ mang đứa con của Quách Tĩnh đến Tuyệt Tình cốc, bất kể thế nào cũng là thừa cơ người ta gặp nguy, không phải là hành vi của bậc đại trượng phu, bởi vậy, chàng nghĩ một lát, rồi nói:

– Cô cô, thế không được!

Tiếu Long Nữ nói:

– Chàng..

Đang nói thì kim luân của Pháp vương làm rách vai áo bên trái của nàng. Dương Quá nói:

– Làm như thế, Quá nhi còn mặt mũi nào nhìn Quách bá bá? Còn mặt mũi nào sử thanh kiếm này?

Chàng giơ thanh kiếm Quân tử. Tâm ý chàng đã thay đổi, Tiểu Long Nữ thì toàn tâm toàn ý mong giải độc cho chàng, nghe chàng muốn đối xử tử tế với kẻ thù giết cha, muốn làm một bậc quân tử có đức, thì bất giác kinh ngạc dị thường. Mỗi người theo đuổi một ý nghĩ, song kiếm càng khó phối hợp. Pháp vương thừa thế, thúc cùi chỏ trúng vai trái của Dương Quá.

Dương Quá cảm thấy nửa người tê dại, đứa bé chàng ẵm rơi xuống khỏi tay chàng. Ba người ác đấu trên mái nhà, đứa bé lúc này bị rơi xuống dưới đất. Dương Quá và Tiểu Long Nữ cùng kêu lên thảng thốt, muốn nhảy theo để đỡ, nhưng làm sao cho kịp?

Pháp vương nghe hai người đối đáp, đã biết đứa bé là con của Quách Tĩnh và Hoàng Dung, nghĩ đã không bắt được Quách Tĩnh, thì đành bắt con gái Quách Tĩnh làm con tin, rồi ép Quách Tĩnh đầu hàng, há không phải là một kỳ công? Thấy tình thế khẩn cấp liền vung tay phải, kim luân lập tức bay theo, đón đỡ bên dưới cái bọc bọc đứa bé.

Kim luân cách mặt đất dăm thước, bay theo đón đỡ bên dưới đứa bé, rồi bay ngang. Cả ba người cùng từ trên mái nhà nhảy xuống để đón lấy. Dương Quá đứng gần nhất, thấy kim luân bay thấp dần, sắp rơi xuống đất chàng bèn lăn một vòng tới đón lấy cả kim luân lẫn đứa bé, để đứa bé khỏi bị tổn thương. Đột nhiên từ bên cạnh có một cánh tay dài của ai đó vươn tới, chộp mất kim luân và đứa bé, phóng chạy đi liền.

Dương Quá đứng dậy, Pháp vương và Tiểu Long Nữ cũng chạy tới chỗ chàng. Tiểu Long Nữ nói:

– Là sư tỷ đấy.

Dương Quá thấy người kia mặc áo đạo bào màu vàng nhạt, tay phải cầm cây phất trần, nhìn sau lưng đúng là Lý Mạc Sầu, không biết từ đâu lại đến thành Tương Dương. Chàng biết người này tính nết nóng nảy, xuất thủ cực kỳ tàn bạo, đứa bé rơi vào tay mụ ta thì hậu quả sẽ tai hại vô cùng, bèn lập tức đuổi theo.

Tiểu Long Nữ gọi to:

– Sư tỷ! Sư tỷ! Đứa bé ấy có liên can lớn, sư tỷ mang nó đi đâu vậy?

Lý Mạc Sầu không hề ngoảnh lại, nói:

– Phái Cổ Mộ ta mấy đời đều là xử nữ, ngươi lại sinh con mà không biết xấu hổ hay sao?

Tiểu Long Nữ nói:

– Không phải là hài nhi của muội đâu, sư tỷ mau trả lại cho muội.

Nàng gọi mấy lần, khí lực giảm sút, tức thời tụt lại phía sau hơn mười trượng. Thấy ba người chạy về phía bắc, nàng không đuổi theo nữa.

Lúc này binh mã trong thành kéo đến, tiếng hò hét râm ran, hoặc đốc thúc cứu hỏa, hoặc truy tìm gian tế, Tiểu Long Nữ chạy ra phía mặt thành, thấy Lỗ Hữu Cước dẫn một nhóm bang chúng Cái Bang đi tuần ở cửa bắc, đề phòng địch thừa cơ từ bên ngoài tấn công vào thành khi bên trong có đám cháy, thấy Tiểu Long Nữ, bèn hỏi:

– Long cô nương, Hoàng bang chủ và Quách đại hiệp có khỏe không?

Tiểu Long Nữ không trả lời, hỏi lại:

– Có thấy Dương công tử và Kim Luân pháp vương, có thấy một nữ nhân ẵm đứa bé qua đây hay không?

Lỗ Hữu Cước chỉ ra bên ngoài thành, nói:

– Ba người đã nhảy ra ngoài mà đi rồi.

Tiểu Long Nữ sững sờ, tường thành cao ngần này, võ công giỏi mấy nhảy xuống cũng gãy chân gãy tay là nhẹ, làm cách nào ba người kia nhảy xuống bình yên? Đang định hỏi, bỗng nhìn thấy một đệ tử Cái Bang đang dắt con ngựa hãn huyết của Quách Tĩnh, bèn nghĩ:" Quá nhi dù đoạt lại được đứa bé mà không có con ngựa quí này, thì làm sao về Tuyệt Tình cốc cho kịp? "Nàng bèn vọt tới, cầm cương ngựa, nói với Lỗ Hữu Cước:

– Tiểu nữ có việc gấp ở ngoài thành, tạm dùng con ngựa này.

Lỗ Hữu Cước chỉ nghĩ đến Quách Tĩnh và Hoàng Dung, lại hỏi:

– Hoàng bang chủ và Quách đại hiệp có khỏe không?

Tiểu Long Nữ nhảy lên lưng ngựa, nói:

– Hai người khỏe, nhưng đứa bé Hoàng bang chủ vừa sinh đã bị nữ nhân kia cướp đi, tiểu nữ phải đoạt lại mới được.

Lỗ Hữu Cước giật mình, vội ra lệnh mở cổng thành.

Cổng thành chỉ mở vài thước, cầu treo chưa kịp hạ xuống, Tiểu Long Nữ đã phóng ngựa ra. Con hãn huyết thần tuấn phi phàm, vó sau nhún mạnh một cái đã bay qua dòng mương hộ thành. Binh tướng trên thành thấy cảnh ấy đồng thanh reo hò.

Tiểu Long Nữ ra ngoài thành, thấy ở một góc dưới chân thành có xác hai binh sĩ máu thịt bầy hầy, một con chiến mã cũng nằm vỡ đầu gãy chân, phóng tầm mắt ra xa, chỉ thấy núi non xanh xanh, đồng hoang khô cằn, không thấy bóng ba người đâu cả. Nàng bồn chồn lo lắng, vỗ vỗ bờm ngựa, nói:

– Mã nhi, mã nhi, ta đi cứu ấu chúa của ngươi đây, mau đưa ta đi đến nơi nào!

Không biết con ngựa có hiểu tiếng người hay chăng, nó nghển cổ, hí một tiếng dài, tung vó phi về hướng đông bắc.

Nguyên Dương Quá và Kim Luân pháp vương đuổi theo Lý Mạc Sầu đến bờ thành, đều nghĩ tường thành cao thế kia, Lý Mạc Sầu không còn đường lui, tất phải dừng lại. Nào ngờ Lý Mạc Sầu túm ngay lấy một binh sĩ, ném xuống chân tường và nhảy theo. Đợi lúc thân hình binh sĩ kia sắp chạm đất, chân trái Lý Mạc Sầu liền đạp vào vai người đó một cái, triệt tiêu hết thế rơi, thân hình nhẹ nhàng đáp xuống mặt đất, ngay cả đứa bé trong bọc cũng không bị chấn động, còn gã binh sĩ kia thì gẫy cổ chết không kịp kêu một tiếng.

Kim Luân pháp vương chửi thầm:" Nữ nhân quá ư lợi hại! "Lão bắt chước y hệt, cũng quẳng một binh sĩ xuống và nhảy theo.

Dương Quá quyết không nỡ làm như thế với con người. Chàng đẩy một con chiến mã xuống bên dưới tường thành, lúc nó sắp chạm đất thì chàng đạp lưng nó nhảy lên, con ngựa ngã vỡ đầu gãy chân mà chết, chàng bình yên đáp xuống, đuổi theo sau Kim Luân pháp vương. Hôm trước chàng đại chiến trong quân doanh Mông Cổ, bị Kim Luân pháp vương đánh bị thương hai chỗ, tuy không nặng, nhưng mất nhiều máu, hôm nay lại khổ chiến mấy giờ, quả đã yếu sức lắm, nhưng nghĩ đứa bé bất luận rơi vào tay Lý Mạc Sầu hay Kim Luân pháp vương đều lành ít dữ nhiều, nên vẫn gắng sức đuổi theo.

Ba người cước trình vốn đều mau lẹ, nhưng Lý Mạc Sầu ẵm thêm đứa bé, Pháp vương thì cánh tay bị thương, lưỡi kiếm rốt cuộc có bôi thuốc độc hay không chưa rõ, chốc chốc cứ lo chất độc phát tác, không dám dùng lực nhiều, bởi vậy mỗi người đều chạy không nhanh bằng lúc khác, chạy được vài dặm, thành Tương Dương đã ở xa sau lưng, khoảng cách giữa ba người vẫn là hơn chục trượng, Pháp vương đuổi không kịp Lý Mạc Sầu, Dương Quá đuổi không kịp Pháp vương.

Lý Mạc Sầu chạy thêm một hồi, thấy phía trước đồi núi nhấp nhô, chạy vài dặm nữa, vào đến rừng núi, thì gia tăng cước bộ, cốt vào một sơn cốc để dễ bề thoát thân. Lý Mạc Sầu nghe Tiểu Long Nữ bảo đứa bé này không phải là con nàng ta, nhưng thấy Dương Quá quyết chí đuổi theo, thì đoán chắc đó là nghiệt chủng của chàng với Tiểu Long Nữ, chỉ cần nắm giữ đứa bé, thì sẽ có thể buộc Tiểu Long Nữ truyền thụ" Ngọc nữ tâm kinh "cho mụ. Ba người chạy lên cao dần, bốn phía là rừng cây, sơn đạo hiểm trở. Pháp vương nghĩ nếu không chặn lại e nữ nhân kia sẽ lẩn vào chỗ cây cối râm rạp thì càng khó tìm. Lão chưa từng động thủ với Lý Mạc Sầu nhưng thấy khinh công của mụ cao siêu, hẳn phải là kình địch, ngũ luân của lão đã mất đi hai cái, cũng không định phóng luân khỏi tay, nhưng tình thế cấp bách, không thể chần chừ thêm, thế là quát to:

– Bớ bà nương kia, mau đặt đứa bé xuống sẽ được tha mạng, nếu trái lời thì đừng trách lão hòa thượng vô tình.

Lý Mạc Sầu cười khanh khách, càng chạy nhanh hơn. Pháp vương vung tay phải, ngân luân vạch một đường cầu vồng màu trắng, xé gió bay tới sau lưng Lý Mạc Sầu.

Lý Mạc Sầu nghe lai thế của binh khí kẻ địch rất lợi hại, không dám coi thường, đành xoay người lại, cầm cây phất trần chờ đợi, thấy ngân luân vòng gấp, ngân quang chói mắt, nếu để cây phất trần đụng luân, sẽ bị nó tiện gãy, đành né người tránh. Pháp vương sấn tới hai bước, đồng luân phóng đi, thoạt tiên nó bay ra ngoài, rồi mới vòng trở lại. Lý Mạc Sầu vẫn chưa dám tiếp chiến, phải lùi ba bước, cong người, dùng khinh công thượng thừa né tránh. Khoảng cách với Pháp vương chỉ còn chưa đầy ba trượng. Pháp vương tay trái đón lấy ngân luân, tay phải phóng diên luân đánh tới vai trái của Lý Mạc Sầu.

Lý Mạc Sầu múa cây phất trần thành vạn điểm kim châm khiến Pháp vương hoa mắt. Diên luân của Pháp vương hóa giải chiêu đó, tay phải lão tiếp lấy chiếc đồng luân bay về, hai tay giao nhau, ngân đồng hai luân đụng vào nhau, choang một tiếng vang động sơn cốc hồi lâu. Lúc này ngân luân bên tay trái đã chuyển sang tay phải, đồng luân bên tay phải đã chuyển sang tay trái, trong lúc di chuyển hai luân, lão thi triển sát chiêu. Lý Mạc Sầu gặp đại địch thì tinh thần phấn chấn, không ngờ lão hòa thượng cao gầy này lại xuất chiêu mạnh mẽ, thần tốc như thế, mụ liền thi triển sở học bình sinh mà ứng chiến.

Hai người đấu mấy chiêu, thì Dương Quá đuổi tới. Chàng đứng bên ngoài vài trượng quan sát, vừa điều hòa hơi thở, vừa chờ cơ hội đoạt lại đứa bé. Chàng thấy hai người càng đấu càng nhanh, ba cái luân bay lượn, một cây phất trần lật lên lật xuống. Nói về võ công và nội lực, Pháp vương đều cao hơn một bậc, huống hồ Lý Mạc Sầu tay còn phải ẵm đứa bé, nội dưới trăm chiêu, mụ ta ắt phải thua. Nào dè ban đầu mụ ta sợ binh khí của Pháp vương đả thương đứa bé, nhưng mỗi lần cái luân sắp đụng đứa bé, Pháp vương lại vội vàng thu chiêu, Lý Mạc Sầu nghĩ một chút liền ngộ ra:" Lão trọc muốn cướp đứa bé, tức thị không lấy mạng nó ". Với tâm tính độc ác của mình, dĩ nhiên mụ không cần quan tâm đến sự sống chết của người khác, một khi đã nhận ra tâm tư của Pháp vương, mỗi khi Pháp vương tung sát thủ, mụ không ngần ngại giơ đứa bé che đỡ chỗ yếu hại của mình, thế là đứa bé chẳng những không hề vướng víu, mà còn trở thành một tấm khiên cực kỳ uy lực, chỉ cần giơ nó ra, mọi tuyệt chiêu hung hiểm của Pháp vương đều phải lập tức thu hồi.

Pháp vương liên tiếp đánh mấy luân, đều bị Lý Mạc Sầu dùng đứa bé hóa giải, Dương Quá thấy vậy thì rất lo, hai người kia chỉ cần xuất thủ thiếu chuẩn xác một chút, còn gì là tính mạng đứa bé? Chàng đang định ra tay đoạt lấy đứa bé, thì thấy Pháp vương dùng ngân luân đánh từ ngoài vào trong, đồng luân từ tay trái cũng bay ra, song luân tạo thành một cái vòng ôm quanh hai vai Lý Mạc Sầu. Lý Mạc Sầu hơi đỏ mặt, thầm chửi Pháp vương xuất chiêu không giữ thể diện trang nghiêm của người xuất gia, bèn vung cây phất trần ra phía sau hất ngân luân đi, tay trái ẵm đứa bé che trước ngực. Pháp vương sớm tính đến điều này, lão búng ngón tay trái cho đồng luân đột nhiên bay chếch, tấn công mặt Lý Mạc Sầu.

Đồng luân cách Lý Mạc Sầu chưa đến một thước, đột nhiên bay chếch lên mặt, lai thế kình cấp dị thường, thực không dễ chống đỡ. Phải nói là Lý Mạc Sầu một đời tung hoàng giang hồ, trải vài trăm trận lớn nhỏ, kinh lịch lâm địch nhiều hơn hẳn Pháp vương, trong cơn nguy cấp liền ngửa người ra sau, hai chân bám vững như đóng đinh xuống đất, cây phất trần trả đòn, đánh vào vai đối phương. Pháp vương vội né vai cho cây phất trần sượt qua, tả chưởng thuận thế chém mạnh xuống vai trái của Lý Mạc Sầu. Cánh tay của Lý Mạc Sầu lập tức tê dại vô lực, khẽ kêu" Ôi chao! "Nhảy tránh ra, cảm thấy tay nhẹ bẫng, đứa bé đã bị Pháp vương đoạt mất.

Pháp vương đang cả mừng, bỗng nghe tiếng gió bên cạnh, Dương Quá nhào tới đoạt lấy đứa bé rồi lăn đi ngay, trường kiếm múa tít thành một đạo kiếm võng che chắn phía sau, tiếp đó chàng đứng thẳng dậy, trường kiếm sử chiêu" Thuận thủy thôi chu ", ngăn chặn không cho hai kẻ địch tới gần. Nguyên chàng thấy đứa bé nằm trong tay Pháp vương, chỉ chậm một phiến khắc sẽ khó bề đoạt lại, bèn thừa lúc lão ta ẵm chưa chắc, nhào tới giành lấy, đứa bé truyền qua tay ba người chỉ trong giây lát.

Lý Mạc Sầu khen:

– Dương Quá, thủ pháp khá lắm!

Pháp vương cả giận, song luân cùng tấn công, tiếng ngân bất tuyệt. Dương Quá đâm kiếm nhứ nhứ, quay người định chạy, bỗng nghe sau lưng tiếng gió ù ù, Lý Mạc Sầu đã vung cây phất trần chặn lối, cười, nói:

– Dương Quá, đứng lại! Hãy đấu với lão hòa thượng, rồi sẽ tính sau!

Dương Quá thấy đồng luân của Pháp vương đã bay tới trước ngực chưa đầy nửa thước, đành dùng kiếm chống đỡ.

Hai người giao đấu liền mấy ngày, chiêu số, nội công của đối phương đều biết rõ, xuất thủ đều lấy nhanh đánh nhanh, chỉ thấy hai thân hình di động, ba đạo bạch quang bay lượn trên dưới, thoáng chốc đã đấu hơn hai chục chiêu. Lý Mạc Sầu thầm kinh ngạc:

– Sao mới cách ít ngày, mà võ công của tên tiểu tử đã tiến đến bước này?

Kỳ thực võ công của Dương Quá cố nhiên có bước tiến dài, một phần vì chàng tự biết mình còn được sống không lâu, để báo đáp ơn dưỡng dục của Quách Tĩnh, chàng quyết ý liều chết, gặp hiểm chiêu thường không tự cứu, lấy hiểm chiêu đánh trả hiểm chiêu, buộc Pháp vương phải biến chiêu. Dương Quá không lo cho tính mạng của mình, song lại lo cho sự an nguy của đứa bé, không như Lý Mạc Sầu dùng đứa bé che chắn nơi yếu hại của mình. Tuy chàng thấy lúc Pháp vương đấu với Lý Mạc Sầu, lão tránh đả thương đứa bé, song chàng nghĩ đây là đứa con của Quách Tĩnh, thật không dám sơ xuất mạo hiểm chút nào, chỉ lo bảo vệ đứa bé, thành thử càng lúc càng bị Pháp vương dồn vào thế cực kỳ hung hiểm.

Pháp vương thấy Lý Mạc Sầu chẳng thèm lo cho đứa bé, thì lão ta cố tránh đụng phải đứa bé, còn bây giờ thấy Dương Quá lo cho đứa bé, thì lão ta lại tấn công nhắm vào đứa bé nhiều hơn là nhắm vào Dương Quá. Điều đó làm cho Dương Quá luống cuống chân tay, không chống đỡ nổi, gọi to:

– Lý sư bá, mau giúp đệ tử đánh lui lão trọc, chuyện khác sẽ tính sau không muộn.

Lý Mạc Sầu biết Pháp vương sẽ không đả thương đứa bé, bất chấp Dương Quá lớn tiếng xin cứu trợ, mụ cứ chắp tay sau lưng, vẻ nhàn tản.

Lại đấu một hồi, Dương Quá cảm thấy ngực đau âm ỉ, biết nội lực của mình không bằng đối phương, sẽ không thể cầm cự lâu, lâu rồi không nghe đứa bé khóc, sợ có chuyện gì, giữa lúc túi bụi vẫn cúi đầu nhìn đứa bé một cái, thấy khuôn mặt nhỏ mi thanh mục tú, vô cùng xinh xắn, đang mở to đôi mắt đen láy nhìn chàng. Dương Quá vốn bất hòa với Quách Phù, song đối với nữ hài trong bọc này chàng bỗng có thiện cảm lạ thường:" Ta lúc này liều mạng vì bé, nếu may mắn cứu sống bé, bảy ngày sau ta chết đi, bé sẽ lớn lên như tỷ tỷ của bé, liệu lúc ấy bé có còn nhớ đến ta? "Quá xúc cảm, chàng ứa nước mắt.

Lý Mạc Sầu ở bên ngoài thấy Dương Quá thế cùng lực kiệt, sắp bỏ mạng bởi song luân, định xông vào cứu viện, nhưng lại nghĩ:" Tên tiểu tử này võ công đại tiến, vừa hay có lão hòa thượng diệt trừ hắn, khỏi lo sau này ". Thế là mụ tiếp tục tụ thủ bàng quan.

Trong ba người, Pháp vương võ công cao nhất, Lý Mạc Sầu tàn ác nhất, nhưng luận về quỉ kế đa đoan, thì họ thua Dương Quá. Sau cơn xúc động, chàng lập tức nghĩ cách thoát thân:" Quách bá mẫu từng kể chuyện Tam Quốc, rằng hồi ấy Tào Ngụy mạnh nhất, Thục Hán chống Tào, liên minh với Tôn Quyền ". Lý Mạc Sầu đã không chịu giúp mình, thì mình giúp Lý Mạc Sầu vậy, bèn đâm liền hai kiếm ngăn chặn Pháp vương, rồi lùi nhanh hai bước, đột nhiên trao đứa bé cho Lý Mạc Sầu, nói:

– Cho sư bá đấy!

Việc này hoàn toàn bất ngờ đối với Lý Mạc Sầu, mụ ta chưa rõ dụng ý của chàng, thuận tay đón lấy đứa bé.

Dương Quá nói:

– Lý sư bá, mau ẵm đứa bé chạy đi, để đệ tử ngăn chặn lão giặc trọc cho!

Chàng đâm hai kiếm, không cho Pháp vương tới gần. Lý Mạc Sầu nghĩ:" Thì ra hắn tưởng mình sẽ nể tình sư môn, không sát hại đứa bé, trong cơn nguy cấp bèn trao đứa bé cho mình, thật không còn gì bằng ". Mụ không ngờ hiểm kế của Dương Quá chĩa mũi dùi ác đấu sang phía mụ. Mụ vừa chạy thì Pháp vương lập tức bỏ Dương Quá, dùng ngân luân tấn công sau lưng mụ. Chiêu này cực nhanh, Lý Mạc Sầu vừa dợm bước chạy, ngân luân đã như hình với bóng, bay tới sau lưng mụ. Lý Mạc Sầu không còn cách nào khác, đành quay lại dùng cây phất trần chống đỡ.

Dương Quá thấy mưu kế hữu hiệu thì thở phào nhẹ nhõm. Chàng lo cho đứa bé, không tụ thủ bàng quang chờ hai đấu thủ lưỡng bại câu thương, làm ngư ông đắc lợi mà hít một hơi dài, tiếp đó vung kiếm tấn công Pháp vương.

Lúc này là chính ngọ, ánh nắng qua kẽ lá rọi xuống dưới. Dương Quá phấn chấn, trường kiếm càng đắc tâm ứng thủ, nghe" keng "một tiếng, đồng luân bị kiếm Quân tử chém mẻ một miếng. Pháp vương thầm lo, xuất chiêu càng lợi hại hơn. Dương Quá chợt nghĩ ra một kế, nói:

– Lý sư bá! Sư bá hãy cẩn thận với cái luân kia. Nó bị kiếm của đệ tử đánh mẻ, đã dính độc, sư bá đừng để nó chạm vào da thịt.

Lý Mạc Sầu hỏi:

– Tại sao?

Dương Quá nói:

– Vì kiếm của Dương Quá có bôi thuốc độc rất lợi hại!

Ban nãy Pháp vương bị kiếm Dương Quá rạch một đường ở cánh tay, vẫn ngay ngáy lo lưỡi kiếm có bôi thuốc độc, nhưng đánh nhau hồi lâu, vết thương không có dị cảm, lão đã yên tâm, bây giờ nghe Dương Quá nhắc đến, bất giác lại giật mình:" Công Tôn Chỉ là kẻ nham hiểm, chỉ sợ lưỡi kiếm quả có bôi thuốc độc ". Vừa nghĩ thế, nhuệ khí lập tức giảm hẳn.

Lý Mạc Sầu vung cây phất trần, nói:

– Quá nhi, hãy dùng kiếm có độc mà đâm lão ta.

Đoạn vung tay, làm như phóng ám khí ra. Pháp vương múa luân che chắn vùng ngực. Lý Mạc Sầu vừa rồi hư trương thanh thế, thấy Pháp vương võ công cao cường, có phóng băng phách ngân châm cũng vô ích, chỉ cần ngăn trở lão ta, thế là thoát ra khỏi uy lực của song luân.

Pháp vương tuy nghi ngờ kiếm của Dương Quá có bôi thuốc độc, song vết thương không ngứa, cũng không sưng, quả không muốn đi chuyến này phải về tay không, thấy Lý Mạc Sầu bỏ chạy, bèn đuổi gấp.

Dương Quá nghĩ cứ đánh đuổi kiểu này, không biết bao giờ mới chấm dứt, để cho đứa bé phải chịu cảnh phong hàn giữa trời, dù có cứu được, sau này cũng khó nuôi, chỉ có hai người hợp lực đánh lui Pháp vương, mới là thượng sách, bèn gọi to:

– Lý sư bá, không cần chạy nữa! Lão giặc trọc bị trúng độc rồi, chẳng sống được lâu nữa đâu.

Lời vừa dứt, chỉ thấy Lý Mạc Sầu chui vào một cái hang trên sườn núi.

Pháp vương sững lại, không dám xông vào. Dương Quá không biết Lý Mạc Sầu cướp đứa bé để làm gì, chỉ sợ mụ ta hạ độc thủ, chàng sớm đã bất kể hiểm nguy, liền giữ kiếm che ngực, xông vào hang, thấy ngân quang loang loáng, chàng vung kiếm gạt rơi ba mũi băng phách ngân châm, nói:

– Lý sư bá, là đệ tử đây!

Trong hang tối om, nhưng hai mắt chàng đã quen nhìn trong bóng tối, thấy Lý Mạc Sầu tay trái ẵm đứa bé, tay phải còn cầm mấy cái băng phách ngân châm, chàng bèn xoay mình ra phía ngoài để thể hiện thiện ý, nói:

– Hai chúng ta hãy liên thủ đánh lùi lão giặc trọc đã.

Chàng cầm kiếm giữ cạnh cửa hang.

Pháp vương đoán hai người nhất thời chưa dám xông ra, bèn ngồi xuống bên ngoài cửa hang, cởi băng ra xem vết thương, thấy chỗ đó hồng tươi, không có dấu hiệu trúng độc, lấy tay ấn vào, có cảm giác hơi đau, lại thử vận công, tứ chi bách hạch không có chỗ nào bế tắc, thì vừa mừng vừa giận, mừng vì lưỡi kiếm của Dương Quá không hề bôi thuốc độc, giận vì mắc lừa tên tiểu tử, lo ngay ngáy cả nửa ngày trời. Nhìn vào hang, thấy cửa hang cỏ mọc cao, chỉ vừa rộng cho một người chui vào, thân hình lão cao lớn, chui vào đó xoay trở rất bất tiện, e rằng sẽ bị người nấp bên trong ám toán.

Lão chưa nghĩ ra cách gì, bỗng nghe có tiếng gọi của gã lùn người Thiên Trúc là Ni Ma Tinh:

– Đại hòa thượng, lão đang ở đâu?

Pháp vương đáp:

– Lão nạp ở đây, có ba con thỏ chui vào hang, lão nạp phải lùa chúng chạy ra.

Ni Ma Tinh sau khi vào thành Tương Dương, trên đường trở về quân doanh Mông Cổ, từ xa nhìn thấy ba chiếc luân của Pháp vương bay lượn, biết lão ta đang động thủ, bèn định rõ phương hướng, chạy đến, thấy lão ta đang chăm chú theo dõi cửa hang, thì mừng thầm, hỏi:

– Quách Tĩnh trốn vào trong cái hang ấy ư?

Pháp vương nói:

– Hừ, một con thỏ đực, một con thỏ cái, một chú thỏ con.

Ni Ma Tinh càng mừng, nói:

– Ồ! Trừ vợ chồng Quách Tĩnh, còn có cả tên tiểu tử Dương Quá.

Pháp vương không buồn để ý đến lời nói của Ni Ma Tinh, nhìn tứ phía, đã có chủ định, đi vơ cỏ khô và củi ném trước cửa hang, đốt lửa. Lúc này gió tây nam thổi mạnh, đẩy từng luồng khói dày vào trong hang.

Khi Pháp vương chất củi, Dương Quá đã biết ý đồ của lão ta, chàng nói với Lý Mạc Sầu:

– Đệ tử đi sâu vào hang, xem có lối khác thoát ra hay không.

Rồi chàng đi vào trong, chừng bảy, tám trượng thì đến chỗ tận cùng, liền quay ra, nói nhỏ:

– Lý sư bá, bọn chúng hun khói, chúng ta phải làm thế nào?

Lý Mạc Sầu nghĩ:" Xông ra thì đấu không lại lão hòa thượng, nấp trong hang dĩ nhiên chết ngạt, chỉ còn cách vứt bỏ đứa bé, một mình thoát đi, mình với lão hòa thượng vô oán vô cừu, lão ta sẽ không bám theo mình nữa ". Thế là mụ chẳng lo, chỉ cười khẩy.

Lát sau, khói dồn vào hang càng dày hơn, Dương Quá và Lý Mạc Sầu nín thở, nhất thời không sao, nhưng đứa bé thì vừa ho vừa khóc. Lý Mạc Sầu cười nhạt, hỏi:

– Ngươi thương nó lắm hả?

Dương Quá đã ẵm đứa bé mà xả thân ác đấu, trong lòng nảy sinh tình yêu thương nó, nghe nó khóc ngằn ngặt, bèn nói:

– Để đệ tử ẵm nó cho!

Chàng giơ hai tay, lại gần hai bước. Lý Mạc Sầu quát:

– Đừng lại gần ta! Ngươi không sợ băng phách ngân châm ư?

Dương Quá lùi lại, nghe bốn chữ" băng phách ngân châm ", bỗng nhớ lại hồi nhỏ, lần đầu tiên gặp Lý Mạc Sầu, chàng chỉ cầm ngân châm trong tay một lát, thân đã bị trúng độc. Chàng liền xé vạt áo, bọc mấy ngón tay phải, đi ra gần cửa hang nhặt ba cái ngân châm mà Lý Mạc Sầu phóng lúc chàng bước vào hang, chàng cắm chuôi ngập dưới đất, chĩa mũi nhọn lên trên chừng một tấc, lại phủ một chút cát mỏng che mũi ngân châm khỏi sáng. Lúc này bên ngoài cửa hang chất củi cỏ, khói lại dày, nên Pháp vương và Ni Ma Tinh không nhìn thấy chàng làm gì ở bên trong.

Dương Quá bố trí xong, trở vào, nói nhỏ:

– Đệ tử đã có kế đánh lui kẻ địch, sư bá hãy nựng cho đứa bé đừng khóc.

Rồi chàng nói to:

– Hay quá, đằng sau hang có lối ra, chúng ta đi mau thôi!

Giọng nói đầy vẻ mừng rỡ. Lý Mạc Sầu kinh ngạc, còn ngỡ quả thật có lối thoát ra khỏi hang. Dương Quá ghé tai nói rất nhỏ:

– Là giả đó, đệ tử muốn đánh lừa lão trọc.

Pháp vương và Ni Ma Tinh nghe tiếng reo vui mừng của Dương Quá, tiếp đến trong hang im lìm, tiếng khóc của đứa bé nhỏ dần rồi lặng hẳn, tưởng rằng mấy người trong hang đã chuồn ra cửa hậu. Ni Ma Tinh không nghĩ nhiều, phóng ngay sau dốc núi để đón đầu. Pháp vương khôn ngoan hơn, lão nghe kỹ tiếng khóc của đứa bé chỉ nhỏ đi, chứ không phải xa dần, biết là Dương Quá giả trá, lừa cho lão ra sau núi sẽ mang đứa bé thoát ra cửa trước, bèn cười thầm, nghĩ:" Cái kế điệu hổ ly sơn của ngươi cũng đòi mang ra thi thố với ta ư? "Bèn nấp ở bên cạnh cửa hang, lăm lăm ngân luân, chờ Dương Quá bước ra.

Dương Quá gọi:

– Lý sư bá, lão trọc đi rồi, chúng ta ra thôi.

Rồi chàng hạ giọng, nói rất nhỏ:

– Chúng ta cùng kêu thét dụ lão trọc vào hang.

Lý Mạc Sầu chưa rõ mưu kế của Dương Quá, nhưng biết tên tiểu tử này cực kỳ giảo hoạt, chính mụ từng bị vài vố với chàng, chắc chàng đã bố trí đâu ra đó, mụ nắm đứa bé trong tay, chỉ cần đuổi được Pháp vương đi, lo gì không đem đứa bé đổi lấy" Ngọc nữ tâm kinh ", bèn gật đầu.

Hai người cùng kêu lên" Ôi chao! "Dương Quá giả trang bị thương rất nặng, rên rỉ nói:

– Sư bá.. tại sao lại.. hạ độc thủ.. với đệ tử?

Rồi nói nhỏ:

– Sư bá hãy giả vờ sắp bỏ mạng.

Lý Mạc Sầu liền nói to:

– Được, hôm nay dù.. ta bị chết bởi tay ngươi, cũng không thể để cho ngươi.. sống sót.

Càng về cuối, tiếng nói càng lịm dần như đứt hơi. Pháp vương ở bên ngoài nghe vậy cả mừng, nghĩ hai người tranh giành đứa bé, chưa ra đến bên ngoài đã tàn sát lẫn nhau, xem chừng đều lưỡng bại câu thương. Lão ta sợ rằng đứa bé cũng bị chết, thì không còn gì để uy hiếp Quách Tĩnh, bèn gạt củi, xông vào hang, mới đi được hai bước, chợt thấy gan bàn chân trái đau nhói.

Lão ứng biến cực nhanh, lập tức nhún mạnh chân phải, bật ra khỏi hang, lúc chân trái chạm đất thì đùi tê dại, suýt nữa bị ngã. Với nội công thâm hậu, dù có bị chém vài nhát, khi nhảy như thế lão cũng vẫn đứng vững như thường, đằng này.. Lão biết gan bàn chân đã đạp phải ám khí cực độc, định cởi hài ra xem sao, thì Ni Ma Tinh trở lại, nói:

– Tên tiểu tử đánh lừa đấy, đằng kia không có lối ra, Quách Tĩnh và vợ hắn vẫn còn ở trong hang.

Pháp vương không cởi hài nữa, thản nhiên nói:

– Ni Ma huynh đoán đúng, nhưng trong hang không hề thấy động tĩnh gì, chắc là chúng nó bị ngất đi vì hun khói rồi.

Ni Ma Tinh cả mừng, không ngờ cuối cùng hắn lại có dịp bắt sống Quách Tĩnh. Hắn cũng chẳng nghĩ tại sao Pháp vương không đoạt lấy công lao đó, hắn múa thiết xà che đỡ chỗ yếu hại trước mình, tiến thẳng vào trong hang. Ba mũi băng phách ngân châm Dương Quá đã cắm giữa lối, bất kể kẻ tiến vào là ai cũng sẽ giẫm trúng. Ni Ma Tinh đạp chân phải trúng ngân châm, bị đau chưa kịp dừng, thì chân trái cũng đạp trúng mũi ngân châm khác. Thiên Trúc là xứ nhiệt đới nóng bức, người nước ấy đi chân đất, Ni Ma Tinh cũng không đi hài, tuy da bàn chân dày như da bò, nhưng ngân châm rất sắc nhọn, đã cắm sâu vào da thịt hơn tấc. Ni Ma Tinh tính khí táo tợn, cái đau nhỏ dưới chân hắn không coi ra gì, dùng thiết tiên quét sát đất một lượt, nghĩ không còn cái gai nào nữa, đang định bước tiếp vào để bắt sống vợ chồng Quách Tĩnh, thì hai chân bỗng tê dại, đứng không vững, ngã khuỵu xuống, mới biết đã trúng độc, vội lăn ra khỏi hang. Ra đó, hắn thấy Pháp vương cởi hài, chân trái bị sưng tím, đang vận khí ngăn chất độc lan rộng.

Ni Ma Tinh cả giận, chửi:

– Lão trọc khốn kiếp, lão thừa biết bị trúng độc, sao còn nói để ta mắc lừa?

Pháp vương mỉm cười, nói:

– Ta mắc lừa, huynh cũng mắc lừa, ai thiệt hơn ai kia chứ?

Ni Ma Tinh không nén nổi cơn giận, quát lớn:

– Ni Ma mỗ hôm nay cóc cần bắt Quách Tĩnh nữa, đã thế ta cùng chết với lão trọc khốn kiếp!

Hai chân hắn đã tê hệt, hắn dùng tay trái đẩy xuống đất, lăn mình tới, thiết xà trong tay phải quật xuống đầu Pháp vương. Pháp vương giơ đồng luân gạt thiết xà, tiếp đó thúc ngang cùi chỏ một cái. Ni Ma Tinh không tránh được, bị trúng đòn vào vai.

Ni Ma Tinh gân cốt tuy săn chắc, nhưng bị cú thúc đau điếng, nổi trận lôi đình, bất kể sống chết, ôm ghì lấy Pháp vương mà há to mồm cắn một cái trúng huyệt Khí Xả ở cổ Pháp vương. Nếu là lúc khác, Pháp vương đâu để cho hắn lại gần ôm lấy mình? Dù có ôm được, cũng không đời nào có thể cắn trúng đại huyệt của lão? Nhưng lúc này Pháp vương biết rằng bàn chân bị trúng độc châm rất nặng, lão phải dồn toàn bộ nội lực chống lại khí độc, không để cho khí độc chạy qua huyệt Khúc Tuyền nằm giữa bắp chân và bắp đùi. Làm được như thế, dù bị phế bỏ một bên chân cũng không đến nỗi mất mạng, cho nên lúc Ni Ma Tinh lăn tới, lão đã không còn nội lực, chỉ dùng ngoại công chống trả. Ni Ma Tinh thì dốc toàn lực cắn vào huyệt đạo đối phương, giữ chặt răng tại chỗ.

Pháp vương khoèo chân phải một cái, hai chân của Ni Ma Tinh đã liệt, cả hai người cùng ngã chổng kềnh. Pháp vương dùng tay đẩy đối phương ra, nhưng đại huyệt bị chế ngự, lực cánh tay yếu hẳn, làm sao đẩy nổi? Lão đành đưa bàn tay ra sau, úp lên huyệt Đại Chùy ở gáy, đề phòng Ni Ma Tinh hạ độc thủ lấy mạng lão ta. Hai người vốn là đệ nhất cao thủ, nhưng sau khi bị trúng độc, đánh nhau cận thân kiểu này thì cả hai chẳng còn giữ thể diện gì nữa.

Hai người lăn dưới đất, lăn dần đến mép vực. Pháp vương thấy trước, kêu to:

– Mau buông tay ra, chỉ tiến thêm chút nữa, cả hai sẽ đều lăn xuống vực nát xương bây giờ!

Nhưng Ni Ma Tinh lúc này đã mất hết lý trí. Hắn không vận khí chống chọi chất độc nên nội lực thâm hậu hơn hẳn Pháp vương, cứ dùng sức mà đẩy tới, Pháp vương không chặn lại nổi. Thấy còn cách mép vực chỉ vài thước, bên dưới là vực sâu, Pháp vương tình cấp trí sinh, gọi to:

– Quách Tĩnh ra kìa!

Ni Ma Tinh giật mình, hỏi:

– Nó đâu?

Hắn nói, thế là răng đã buông huyệt đạo của Pháp vương. Pháp vương vận sức vào tả chưởng, đánh vào mặt Ni Ma Tinh. Ni Ma Tinh biết mắc lừa, cúi đầu tránh, cong lưng húc thẳng. Chưởng này của Pháp vương vốn chỉ cốt Ni Ma Tinh phải lùi ra sau, lão quên mất rằng hai chân của đối phương đã trúng độc, không còn tuân theo sự điều khiển, làm sao lùi ra sau được nữa? Thấy đối phương không lùi, mà còn húc về phía mình, Pháp vương kinh hãi, cơ thể cả hai lại ôm lấy nhau, bỗng cảm thấy bên dưới trống không, cả hai cùng rơi xuống vực.

Lý Mạc Sầu thấy kỳ mưu của Dương Quá thành công, thầm thán phục tên tiểu tử quả nhiên lợi hại, nghe tiếng hai kẻ ở bên ngoài quát tháo ẩu đả, biết đã không còn nguy hiểm, bèn cất bước đi ra khỏi hang, thì vừa hay nghe tiếng rú kinh hãi của Pháp vương cùng Ni Ma Tinh phát ra khi bị rơi xuống vực.

Mép vực cách cửa hang hơn mười trượng, lại có một khối đá che khuất, nên từ trong hang không nhìn được, không biết hai người kia gặp chuyện gì, Lý Mạc Sầu nói:

– Này tiểu tử, họ làm trò gì vậy?

Dương Quá không ngờ hai người kia lăn xuống vực, trầm ngâm nói:

– Lão trọc rất xảo quyệt, chúng ta giả trang đấu nhau bị thương, không chừng lão ta cũng bắt chước y hệt để lừa chúng ta.

Lý Mạc Sầu cũng nghĩ thế, nói nhỏ:

– Hừ, hắn định lừa ta ra khỏi hang để lấy thuốc giải của ta.

Mụ chậm rãi tiến ra cửa hang để ngó ra ngoài xem thử, Dương Quá nói:

– Cẩn thận, có ngân châm ở dưới đất.

Lời vừa buột miệng, chàng liền hối hận:" Hà tất có thiện chí nhắc nhở nữ ma đầu? "

Lý Mạc Sầu giật mình, vội thu chân lại. Lúc này lửa ở cửa hang đã tắt, trong hang lại tối mò, mụ không thể nhìn trong bóng tối như Dương Quá, không biết ba mũi ngân châm cắm ở chỗ nào, nếu cứ đi liều, tất đạp phải. Tuy mụ có thuốc giải, nhưng chất độc của ngân châm rất mạnh, chữa trị sẽ đau đớn, hơn nữa, khi đó Dương Quá sẽ thừa cơ tấn công, chỉ e tính mạng cũng khó giữ, bèn nói:

– Ngươi mau thu dọn ngân châm, còn đứng ngây ở đó làm gì thế?

Dương Quá nói:

– Hãy đợi một chút, để hai người kia chết vì chất độc, chúng ta sẽ ra cũng không muộn.

Lý Mạc Sầu hừ một tiếng, quả thật mụ e ngại Dương Quá, ở trong cái hang tối mò đầy rẫy nguy hiểm, võ công của mụ chưa chắc đã hơn, mưu trí càng thua kém, cứ cúi đầu nghĩ cách ra khỏi hang.

Bên ngoài hang tĩnh lặng, hai người trong hang mỗi người im lặng theo đuổi ý nghĩ của mình. Đột nhiên đứa bé khóc to, từ lúc chào đời nó chưa được bú, bây giờ đói bụng.

Lý Mạc Sầu nói:

– Sư muội đâu rồi? Nàng ta đến hài tử của mình bị đói cũng bỏ mặc ư?

Dương Quá nói:

– Ai bảo đó là hài tử của cô cô? Đấy là con gái của Quách Tĩnh Quách đại hiệp.

Lý Mạc Sầu nói:

– Hừ, ngươi đem uy danh Quách đại hiệp đe dọa ta, tưởng ta sợ ư? Nếu là con của kẻ khác, ngươi đâu lo lắng cho nó đến thế? Chắc nó là nghiệt chủng của hai sư đồ nhà ngươi.

Dương Quá cả giận, gằn giọng:

– Đệ tử quyết ý kết hôn với cô cô thật đấy, nhưng đôi bên chưa thành thân, làm sao có con kia chứ? Sư bá nói thế không biết ngượng mồm hay sao?

Lý Mạc Sầu cười khẩy, bĩu môi nói:

– Ngươi bảo ta ngượng mồm, sao ngươi và sư phụ ngươi lại xằng bậy với nhau?

Dương Quá đối với Tiểu Long Nữ kính nể như thần thánh, đâu cho phép kẻ khác miệt thị nàng như vậy. Chàng càng tức giận, quát:

– Sư phụ của ta băng thanh ngọc khiết, sư bá chớ có ăn nói hồ đồ.

Lý Mạc Sầu nói:

– Băng thanh ngọc khiết ư? Tiếc rằng vết son trinh nữ trên cánh tay đã không còn.

Xoẹt một tiếng, Dương Quá đã rút kiếm đâm tới ngực Lý Mạc Sầu, nói:

– Sư bá chửi ta không sao, nhưng xuất ngôn làm nhục sư phụ ta, thì hôm nay ta quyết liều chết với sư bá.

Chàng đâm liền ba nhát. Kiếm pháp đã cao, chàng lại nhìn rõ trong bóng tối, Lý Mạc Sầu toàn phải nghe tiếng gió mà chống đỡ, tuy chưa sơ suất, nhưng chỉ vài chiêu đã nguy hiểm bội phần, may mà Dương Quá sợ đánh rát quá, Lý Mạc Sầu sẽ đả thương đứa bé, nên chàng chưa hạ độc thủ.

Hai người đấu hơn mười chiêu, đứa bé bỗng lại khóc to, lần này khóc hồi lâu không nín.

Dương Quá lo lắng, lập tức thu kiếm, run giọng hỏi:

– Sư bá làm cho nó bị thương hay sao vậy?

Lý Mạc Sầu thấy Dương Quá quan hoài đứa bé như vậy, càng tin rằng nó là hài nhi thân sinh của chàng, nói:

– Hiện thời nó chưa chết đâu, nhưng nếu ngươi không nghe lệnh ta, thì ngươi biết rồi đấy, ta đủ gan bóp chết nó.

Dương Quá lạnh xương sống, biết mụ ta giết người không chớp mắt, đừng nói một đứa bé sơ sinh, ngay cả một gia đình hàng chục mạng người, mụ cũng giết không còn một mống chỉ vì lý do không đâu, chàng nói:

– Sư bá chỉ cần đừng vũ nhục sư phụ đệ tử, thì đệ tử dĩ nhiên sẽ vâng lệnh sư bá.

Lý Mạc Sầu thấy Dương Quá đấu dịu, biết rằng chỉ cần đứa bé ở trong tay mình, Dương Quá sẽ không dám làm gì, bèn nói:

– Được, ta sẽ không chửi sư phụ ngươi. Bây giờ ngươi đi ra, xem hai người kia bị trúng độc thế nào rồi.

Dương Quá bước ra, nhìn tứ phía, không thấy Pháp vương và Ni Ma Tinh đâu cả, chàng sợ Pháp vương ngụy kế đa đoan, nấp chỗ nào đó, nên dùng kiếm đâm vào mấy bụi cỏ rậm, không thấy gì lạ, mới trở vào hang, nói:

– Không thấy họ đâu, chắc là sau khi trúng độc, họ đã chạy đi xa rồi.

Lý Mạc Sầu nói:

– Hừ, đã trúng độc ngân châm của ta, làm sao chạy đi xa được kia chứ? Ngươi hãy nhổ ba cái ngân châm cho ta coi.

Dương Quá nghe đứa bé khóc đã lâu, nghĩ cần phải đi kiếm thức ăn cho nó, vội dùng vạt áo nhổ ngân châm, đưa cho Lý Mạc Sầu.

Lý Mạc Sầu cất ngân châm vào bao, ra khỏi hang.

Dương Quá theo sau, hỏi:

– Sư bá mang đứa bé đi đâu?

Lý Mạc Sầu nói:

– Đem nó về nhà của ta.

Dương Quá vội nói:

– Sư bá cần đứa bé để làm gì, nó có phải do sư bá sinh ra đâu kia chứ?

Lý Mạc Sầu đỏ mặt, rồi xẵng giọng nói:

– Đừng nói vớ vẩn. Ngươi hãy mang" Ngọc nữ tâm kinh "đến cho ta, ta sẽ trao đứa bé cho ngươi, không đụng đến một sợi tóc của nó.

Đoạn thi triển khinh công đi về hướng bắc.

Dương Quá theo sau, nói:

– Sư bá phải cho nó bú đã chứ?

Lý Mạc Sầu quay đầu lại, mặt đỏ bừng, quát:

– Tên tiểu tử này nói năng lung tung, không ra thể thống gì cả!

Dương Quá ngạc nhiên:

– Ô hay, sao lại bảo đệ tử nói năng không ra thể thống gì? Đứa bé không được bú thì nó chết mất à?

Lý Mạc Sầu nói:

– Ta là xử nữ giữ thân như ngọc, làm sao có sữa để cho nó bú?

Dương Quá mỉm cười, nói:

– Lý sư bá, Dương Quá bảo phải cho nó bú, dĩ nhiên không phải bú sữa sư bá..

Lý Mạc Sầu không nhịn được cười, mụ ở vậy không lấy chồng, cả đời chỉ quen với đao kiếm, việc nuôi con quả thật không biết tí gì, hỏi:

– Lấy sữa đâu cho nó bú? Cho nó ăn cơm có được không?

Dương Quá nói:

– Sư bá thử xem nó đã mọc răng hay chưa?

Lý Mạc Sầu nhìn miệng đứa bé, lắc đầu:

– Không có chiếc răng nào.

Dương Quá nói:

– Chúng ta đến một bản làng nào đó, tìm một nữ nhân đang nuôi con nhỏ, cho đứa bé bú nhờ là được.

Lý Mạc Sầu mừng rỡ, nói:

– Ngươi quả nhiên đầy mưu trí.

Hai người lên mỏm núi, nhìn tứ phía, thấy ở thung lũng phía tây có khói bếp bốc lên. Họ thi triển khinh công, chẳng mấy chốc đã đến một cái bản nhỏ. Xung quanh thành Tương Dương, các thôn trang thị trấn gần đường lớn, đã bị quân Mông Cổ phá hủy, chỉ còn vài bản làng nhỏ trong núi rừng heo hút.

Lý Mạc Sầu đẩy cửa, xộc vào các nhà, đến nhà thứ tư, thấy có một thiếu phụ đang cho con bú, đứa bé hơn một tuổi.

Lý Mạc Sầu cả mừng, giằng đứa bé đang bú ra đặt trên giường lò, rồi đặt nữ hài nhi vào lòng thiếu phụ kia, nói:

– Hài nhi này đói, ngươi mau cho nó bú đi.

Đứa con của thiếu phụ trên giường lò khóc tướng lên, thiếu phụ thương con, vội bế lấy nó. Dương Quá thấy thiếu phụ để hở ngực, vội ngoảnh mặt đi, chỉ nghe Lý Mạc Sầu quát:

– Ta bảo ngươi cho đứa bé của ta bú, ngươi không nghe hả? Ai cho phép ngươi bế con ngươi?

Nghe hịch một cái, Dương Quá giật mình ngoảnh lại, thấy đứa con của thiếu phụ bị ném xuống chân tường, đầu bê bết máu, không biết còn sống hay chết. Thiếu phụ quá đau đớn, đặt đứa con của Quách Tĩnh đấy, nhào tới bế con của mình, vừa khóc vừa gọi. Lý Mạc Sầu cả giận, vụt cây phất trần xuống lưng thiếu phụ.

Dương Quá vội giơ kiếm cản lại, nghĩ:" Thiên hạ sao lại có nữ nhân ngang ngược đến thế không biết? ", miệng thì nói:

– Lý sư bá, sư bá đánh chết chị ta, thì người chết làm sao cho bú được nữa?

Lý Mạc Sầu quát:

– Ta lo cho hài nhi của ngươi, ngươi lại đi lo chuyện bao đồng?

Dương Quá nghĩ:" Đã nói rõ không phải là hài nhi của mình, mụ cứ một mực bảo là con của mình; mà nếu là con của mình, tại sao còn nói mình lo chuyện bao đồng? "Chàng chỉ cười, nói:

– Đứa bé đói quá rồi, hãy để cho nó bú đi đã.

Đoạn chàng đưa tay bế đứa bé. Lý Mạc Sầu chĩa cây phất trần ngăn lại, nói:

– Ngươi dám cướp đứa bé hả?

Dương Quá đành lùi bước, cười nói:

– Thôi thôi, đệ tử không bế nó nữa.

Lý Mạc Sầu bế đứa bé lên, định đưa cho thiếu phụ, quay lại, thì thiếu phụ đã chạy đâu mất. Nguyên chị ta thấy hai người tranh chấp, đã ôm con mình trốn đi lối cửa sau. Lý Mạc Sầu cả giận, chạy ra sân, thấy thiếu phụ đang ôm con chạy đi, mụ vung cây phất trần đánh tới, hai mẹ con thiếu phụ lập tức vỡ đầu nát óc chết liền. Mụ tiếp tục tìm phụ nữ có sữa trong bản, nhưng gặp toàn nam giới. Mụ tức giận châm lửa đốt mấy nhà rồi mới rời bản.

Dương Quá thấy Lý Mạc Sầu hung bạo, thầm thở dài, lặng lẽ đi sau mụ. Hai người đi mấy dặm giữa sơn dã, đứa bé khóc đã mệt, ngủ thiếp đi trong bọc của Lý Mạc Sầu.

Lý Mạc Sầu đang đi, chợt kêu" Ôi"và dừng bước, thấy hai con báo gấm nhỏ đang đùa giỡn vật nhau. Mụ bước tới, định đá con báo nhỏ đi, bỗng từ trong bụi cỏ gần đó vang lên một tiếng hộc, một con báo gấm lớn lao vọt ra. Lý Mạc Sầu giật mình, nhảy dạt sang bên trái. Con báo lớn lập tức chuyển mình, lại nhảy bổ tới, giơ chân trước để vồ. Lý Mạc Sầu vụt cây phất trần một cái, trúng giữa hai mắt nó. Con báo đau đớn rống lên, càng hung hãn hơn, nhe hàm răng sắc nhọn, nằm phục dưới đất, hai con mắt xanh lè nhìn chằm chằm kẻ thù, chờ cơ hội lao tới.

Lý Mạc Sầu vung tay trái, hai mũi ngân châm phóng đi, nhắm tơi cặp mắt của con báo lớn. Dương Quá kêu:

– Hãy khoan!

Chàng dùng kiếm gạt hai mũi ngân châm, ngay lúc đó con báo cũng đã tung mình nhảy lên cao hơn một trượng, từ trên không nhào xuống. Dương Quá cũng nhảy lên, sau khi múa kiếm đánh rơi hai mũi ngân châm, chàng dùng hữu chưởng giáng một đòn vào gáy con báo. Con báo bị đau gầm to, rơi xuống đất, lại chồm dậy, lao tới Dương Quá. Dương Quá né người tránh, tả chưởng đánh ra, chưởng này sử năm thành nội lực, con báo trúng đòn lăn một vòng về phía sau.

Lý Mạc Sầu lấy làm lạ, hai mũi ngân châm của mụ vốn đã có thể giết con báo, vì sao Dương Quá lại xuất thủ cứu con báo, để rồi phí sức đánh nhau với nó? Thấy chàng một hữu chưởng, một tả chưởng, khiến con báo ngã xuống chồm lên, lại ngã xuống, nhưng đòn của chàng tránh vị trí yếu hại của con báo, nghe tiếng gầm của nó mỗi lúc một nhỏ dần, sau khi bị hơn mười chưởng của Dương Quá, con báo hết chịu nổi, liền bỏ chạy. Dương Quá chộp lấy đuôi nó để kéo lại, nhưng chộp hụt. Chàng đang định thi triển khinh công đuổi theo, thấy con báo chạy đi vài trượng, thì quay lại kêu mấy tiếng, gọi hai con báo nhỏ chạy theo. Dương Quá chợt nảy ra một ý, hai tay chàng chộp gáy hai con báo nhỏ, giơ cao chúng lên.

Con báo mẹ thương con, thấy con mình bị bắt, nó bất chấp tính mạng của mình, lại nhảy bổ tới chỗ Dương Quá. Dương Quá ném hai con báo nhỏ về phía Lý Mạc Sầu, nói:

– Sư bá giữ hộ, đừng đánh chết chúng!

Rồi chàng cũng tung mình nhảy lên, còn cao hơn cả con báo mẹ, đáp xuống giữa không trung trúng lưng nó, túm lấy hai tai nó ghì xuống. Con báo giãy giụa, nhưng toàn thân bị chế ngự, cái mồm bị ghìm xuống đất.

Dương Quá gọi:

– Lý sư bá, hãy lấy vỏ cây tết hai sợi dây để trói bốn chân con báo.

Lý Mạc Sầu nói:

– Hừ, ta không rỗi rãi cùng đùa với ngươi.

Mụ quay người đi. Dương Quá vội nói:

– Ai đùa kia chứ? Con báo mẹ này có sữa đó!

Lý Mạc Sầu chợt hiểu, mừng rỡ, cười nói:

– Ngươi giỏi lắm!

Liền bóc vỏ cây, bện thành mấy sợi dây, trước hết buộc chặt mồm con báo, rồi trói hai chân trước, chân sau của nó lại.

Dương Quá phủi bụi trên mình, mỉm cười, đứng dậy. Con báo không cựa quậy được, ánh mắt lộ vẻ sợ hãi. Dương Quá xoa đầu nó, cười, nói:

– Bọn ta xin mi làm vú em một chút thôi, chứ không giết mi đâu.

Lý Mạc Sầu ôm đứa bé kề miệng nó vào vú con báo. Đứa bé đói ngấu, tức thì há miệng mút lấy núm vú. Con báo mẹ rất nhiều sữa, đứa bé bú một lát đã no, nhắm mắt ngủ liền.

Lý Mạc Sầu và Dương Quá nhìn đứa bé bú, ánh mắt không rời khuôn mặt nhỏ nhoi xinh xắn của nó, thấy nó ngủ ngon rồi, vẻ mặt hơi lộ vẻ tươi cười, thì hai người cảm thấy trong lòng hết sức dễ chịu, cũng nhìn nhau cười.

Nụ cười này làm cho sự đề phòng vốn có giữa hai người đối với nhau tan biến. Lý Mạc Sầu sắc mặt dịu dàng, miệng lẩm nhẩm hát, tay vỗ vỗ nhẹ đứa bé.

Dương Quá lấy cỏ mềm trải dưới một gốc cây thành cái ô, nói:

– Sư bá hãy đặt bé ngủ ở đây?

Lý Mạc Sầu liền xua xua tay làm hiệu đừng nói to, kẻo đứa bé thức giấc. Dương Quá lè lưỡi, thấy đứa bé ngủ ngon, chàng thở dài nhẹ nhõm, quay đầu lại, thấy hai con báo nhỏ đang rúc đầu vào vú mẹ chúng.

Bốn bề thoang thoảng mùi hoa, gió thổi nhẹ, sát khí không còn, người và thú cùng yên ổn.

Dương Quá mấy ngày trải qua bao biến cố, đến lúc này mới cảm thấy phần nào thư thái, mặc dù cạnh chàng bên này là nữ ma đầu giết người không chớp mắt, bên kia là một con thú dữ.

Lý Mạc Sầu ngồi bên đứa bé sơ sinh, thong thả phe phẩy cây phất trần đuổi muỗi rừng cho bé. Cây phất trần này đã giết không biết bao nhiêu người, nhân sĩ võ lâm thấy nó ai cũng kinh hồn táng đởm, lúc này lần đầu tiên trong đời mụ ta dùng nó làm việc lành. Dương Quá thấy mụ ta chăm chú nhìn đứa bé, sắc mặt chợt vui chợt buồn, lúc cảm động, lúc thanh thản, thì chàng cũng nhớ lại nhiều chuyện trong đời mình. Chàng không biết thân thế của Lý Mạc Sầu, chỉ nghe Trình Anh và Lục Vô Song kể sơ sơ, nghĩ mụ ta hành sự tàn ác ngang ngược ắt là do phải từng trải một phen cực kỳ khốn khổ, chàng vốn lâu nay căm hận mụ, giờ bất giác có ý thương hại mụ.

Một hồi lâu, Lý Mạc Sầu ngẩng đầu lên, bắt gặp cái nhìn của Dương Quá, hơi sững sờ, nói nhẹ nhàng:

– Trời sắp tối rồi, tối nay làm gì đây?

Dương Quá nhìn tứ phía, nói:

– Chúng ta không thể mang vị vú em này đi theo, vậy hãy tìm một cái hang trú tạm, ngày mai sẽ định sau.

Lý Mạc Sầu gật đầu.

Dương Quá đi tìm trước sau, phát hiện một cái hang khả dĩ qua đêm, bèn lấy cỏ mềm trải hai cái ổ, một lớn một nhỏ trong đó, nói:

– Lý sư bá, sư bá nghỉ ngơi một chút, để đệ tử đi tìm thức ăn.

Nửa canh giờ sau, chàng trở về, mang theo ba chú thỏ rừng, mười mấy trái cây dại. Chàng cởi dây buộc mõm con báo, cho nó ăn một con thỏ. Rồi nhóm lửa nướng hai con còn lại để mình và Lý Mạc Sầu ăn.

Xong đâu đấy, chàng nói:

– Lý sư bá, sư bá ngủ đi, đệ tử sẽ nằm canh ở bên ngoài.

Chàng lấy sợi dây dài, buộc ngang giữa hai cây, nằm trên đó.

Bản sự này là tâm pháp luyện công của phái Cổ Mộ, Lý Mạc Sầu nhìn thấy không lấy làm lạ. Trừ có thời gian đồng hành với nữ đệ tử Hồng Lăng Ba, suốt đời mụ một mình lai vãng, đêm nay có Dương Quá đi cùng, được chàng hầu hạ chu đáo, khác hẳn tình cảnh những ngày đơn độc giữa hoang sơn dã lãnh, bất giác mụ thở dài.

Comments

0 comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 23: Thủ Túc Tình Cừu

Dương Quá ngủ đến nửa đêm, bỗng nghe từ phía tây bắc vọng đến từng chập tiếng chim điêu, âm thanh không được trong trẻo, nhưng rất có khí thế. Chàng nổi tính hiếu kỳ, lần theo âm thanh tìm đến. Nghe tiếng chim điêu lúc kêu lúc dừng, vang vọng hơn hẳn tiếng kêu của cặp chim điêu trên đảo Đào Hoa. Chàng đi xuống thấp dần, rồi tiến vào một sơn cốc, lúc này tiếng chim điêu đã gần phía trước, chàng nhẹ bước, vén cành cây mà nhìn, bất giác không khỏi kinh dị.

Phía trước là một con chim điêu thân hình cực lớn, cao hơn cả con người, diện mạo hết sức xấu xí, lông thưa, tựa hồ bị người ta vặt đi già nửa; màu vàng vàng đen đen, hiển nhiên vô cùng bẩn thỉu, diện mạo thì có phần giống cặp chim điêu trên đảo Đào Hoa, nhưng xấu xí hơn rất nhiều. Con chim điêu xấu xí này mỏ khoằm, có cái mào to đỏ như máu, trên thế gian có ngàn loài chim, chưa thấy loài mãnh cầm nào dị dạng như nó. Nó sải bước đi đi lại lại, nghển cao đầu trông khí khái uy vũ.

Con chim điêu xấu xí kêu một hồi, chỉ nghe phía bên trái có tiếng phì phì, dưới ánh trăng bốn con độc xà màu ngũ sắc nhất tề lao như tên bắn tới chỗ con chim điêu. Con điêu mổ liền bốn cái, bốn con độc xà chết tươi, cú mổ nào cũng chuẩn xác, nhanh nhẹn, y như một đệ nhất cao thủ võ lâm. Thần kỹ mổ chết tươi bốn con độc xà khiến Dương Quá há mồm kinh ngạc, từ chỗ coi thường con chim điêu xấu xí, hóa thành khâm phục nó. Con chim điêu há to mồm, nuốt một con độc xà vào bụng. Dương Quá nghĩ: "Bắt con chim điêu này đem về đấu với cặp chim điêu của Quách Phù, chắc không thể thua". Chàng đang nghĩ cách bắt con chim điêu, bỗng ngửi thấy mùi tanh nồng nặc, chắc là có một con mãng xà bò tới gần.

Con chim điêu ngẩng cao đầu, kêu khẹc khẹc liền ba tiếng, tựa hồ khiêu chiến với kẻ địch. Chỉ nghe vù một cái, một con mãng xà đầu to như cái bát lớn, hình tam giác, vắt mình từ trên cây cao đối diện lao xuống tấn công con chim điêu. Con chim điêu không hề né tránh, mà ngẩng cao đầu, cái mỏ khoằm mổ nhanh trúng mắt bên phải con mãng xà. Cổ con chim điêu vừa ngắn vừa thô, tưởng đâu không tiện chuyển động, ai dè nó co duỗi nhanh như tia chớp, Dương Quá tuy rất tinh mắt, cũng không nhìn rõ nó đã mổ trúng mắt con mãng xà như thế nào.

Con mãng xà mù mắt phải, đau đớn, há miệng táp trúng cái mào đỏ như máu của con chim điêu. Dương Quá cũng bị bất ngờ, thốt lên tiếng "Ối". Con mãng xà đớp trúng, cái thân dài hai trượng từ trên cây đột nhiên trườn xuống, cuốn quanh thân hình con chim điêu mấy vòng, Dương Quá thấy con chim điêu khó bề toàn mạng.

Dương Quá không muốn con chim điêu bị hại bởi con mãng xà, bèn nhảy ra, vung kiếm chém con mãng xà; đột nhiên con chim điêu bật cánh bên phải ra vỗ vào tay Dương Quá một cái thật mạnh, khiến thanh kiếm Quân tử của chàng văng khỏi tay, bay ra xa mấy trượng. Chàng đang kinh ngạc, thì thấy con chim điêu mổ lia lịa vào thân con mãng xà, mỗi cú mổ lại làm cho máu con mãng xà bắn phọt ra. Dương Quá nghĩ: "Chẳng lẽ ngươi nắm chắc phần thắng hay sao mà không muốn ta giúp một tay?"

Con mãng xà siết chặt vòng quấn, con chim điêu ráng sức chống chọi, lông dựng đứng cả lên. Thấy con chim điêu không chịu nổi, Dương Quá nhặt một cục đá to nện liên tiếp vào thân con mãng xà, vòng siết của con mãng xà hơi lỏng ra, con chim điêu lại nghển cổ mổ nhanh một cái vào mắt trái con mãng xà. Con mãng xà cắn lung tung, lúc này nó đã mù cả hai mắt, đâu còn có thể cắn trúng cái gì. Hai cái vuốt của con chim điêu quặp chỗ bảy tấc đầu mãng xà, đè gí xuống đất, trong khi cái mỏ vẫn mổ lia lịa. Con chim điêu như có thần lực, con mãng xà toàn thân quằn quại, nhưng đầu bị đè gí dưới đất, một hồi lâu thì chết thẳng cẳng.

Con chim điêu ngẩng lên, kêu to ba tiếng, rồi quay sang phía Dương Quá, kêu mấy tiếng dịu dàng.

Dương Quá nghe tiếng kêu của con chim điêu có vẻ thiện ý, bèn thong thả tới gần, cười nói:

– Điêu huynh, huynh thần lực kinh nhân, tại hạ thán phục, thán phục.

Con chim điêu kêu khẽ vài tiếng, bước tới bên chàng, giơ cánh đụng nhẹ vào vai chàng. Dương Quá thấy con chim điêu thông linh như thế, thì rất mừng, đưa tay vuốt ve lưng nó.

Con chim điêu dùng mỏ ngậm vạt áo của Dương Quá mà kéo kéo, rồi nhả ra, bước đi trước. Dương Quá biết nó có dụng ý, bèn theo sau. Con chim điêu xấu xí đi nhanh dị thường, trên lớp cỏ cao trong sơn cốc, nó đi như ngựa phi, Dương Quá phải thi triển khinh công mới theo kịp. Con chim điêu đi xuống thấp dần, vào một thâm cốc. Lại đi hồi lâu, tới trước một cái hang lớn, con chim điêu cúi đầu ba cái, kêu ba tiếng, rồi ngoảnh lại nhìn Dương Quá.

Dương Quá thấy nó tựa hồ hành lễ với cái hang, nghĩ: "Có lẽ đây là nơi trú ngụ của một vị cao nhân tiền bối, con chim điêu này hẳn là được vị đó thuần dưỡng, vậy mình cũng phải giữ lễ mới được". Chàng bèn quì xuống, vái mấy cái, nói to:

– Đệ tử Dương Quá khấu kiến tiền bối, xin lượng thứ cho cái tội tự tiện tới đây.

Chàng đợi một lát, không có ai trả lời.

Con chim điêu lại kéo gấu áo chàng, bước vào hang. Trong hang tối om, không biết có kỳ sĩ võ lâm, hay là quái vật gì của rừng rú, chàng rất hồi hộp, nhưng đã không màng chuyện sống chết, nên cứ bước vào.

Cái hang này rất nông, đi chưa đầy ba trượng, đã hết. Trong hang ngoài một cái bàn và một chiếc ghế đá, không có vật gì khác. Con chim điêu chĩa mỏ vào một góc hang kêu vài tiếng, Dương Quá thấy ở đó có một đống đá cao cao lổn nhổn, trông như mộ phần, chàng nghĩ: "Chắc là nơi vị kỳ nhân nằm xuống, tiếc rằng con chim điêu không biết nói, ta không thể biết thân thế của vị đó". Chàng ngẩng đầu, thấy trên vách hang hình như có khắc chữ, nhưng bị rêu phủ, không thể nhìn rõ trong bóng tối. Dương Quá đốt một cành củi khô, xoa xoa lớp rêu, quả nhiên hiện ra ba hàng chữ khắc sâu vào đá bằng vũ khí nhọn. Ba dòng chữ viết:

"Tung hoành giang hồ hơn ba chục năm, giết sạch cừu khấu, đánh bại mọi anh hùng, thiên hạ không có đối thủ, chẳng còn cách nào khác, đành ẩn cư thâm cốc làm bạn với chim điêu. Ô hô, bình sinh chỉ mong có một địch thủ mà không được, thật đáng buồn".

Bên dưới đề "Kiếm ma Độc Cô Cầu Bại".

Dương Quá đọc đi đọc lại ba dòng chữ mấy lần, vừa ngạc nhiên vừa thán phục, cũng cảm nhận được nỗi buồn cô đơn của vị kỳ nhân tiền bối không tìm được đối thủ kia, người đành vào thâm cốc ẩn cư, không hiểu võ công cao siêu bậc nào mà được người đời gọi là "Kiếm Ma". Ngoại hiệu "Cầu Bại" ắt là đi khắp thiên hạ tìm người có thể đánh thắng mình mà không tìm được, cuối cùng về nhắm mắt xuôi tay chốn này, kết thúc một đời oanh liệt.

Chàng cúi đầu hồi lâu, rồi giơ que củi cháy quan sát trong hang một lát, không tìm thấy di tích nào khác, trên nấm mộ cũng không có vật gì biểu thị, chàng đoán rằng sau khi vị kỳ nhân qua đời, con chim điêu đã lấy đá đắp lên trên thế này.

Chàng cảm thấy kính ngưỡng vị dị nhân tiền bối, bèn sụp xuống trước mộ vái bốn cái. Con chim điêu thấy chàng có lễ giáo với mộ phần, dường như rất vui, nó giơ cánh đụng nhẹ vài lần vào vai chàng.

Dương Quá nghĩ: "Vị Độc Cô tiền bối trong di ngôn gọi chim điêu là bạn, chú thần điêu này tuy là giống vật, song là tiền bối của mình, mình gọi chim điêu là" huynh "quả là phải phép". Bèn nói:

– Điêu huynh, hai ta giải cấu tương phùng, cũng là có duyên. Tại hạ xin từ biệt, điêu huynh ở lại làm bạn với mộ phần của Độc Cô tiền bối, hay là đi theo tại hạ nào?

Thần điêu kêu mấy tiếng, coi như trả lời. Dương Quá không hiểu ý, chỉ thấy nó đậu bên cạnh ngôi mộ đá không đi theo. Chàng nghĩ: "Các vị tiền bối võ lâm chưa hề nhắc đến Độc Cô Cầu Bại, vậy thì người ấy phải là nhân vật sống bảy, tám chục năm về trước. Thần điêu sống ở đây lâu như thế, lưu luyến đất này, tất sẽ không đi theo ta". Chàng đưa tay ôm cổ chim điêu, vỗ về thân thiết một hồi, rồi mới ra khỏi hang.

Bình sinh ngoài tình lưu luyến với Tiểu Long Nữ, chàng chưa từng có một ai tri kỷ, hữu hảo, đêm nay gặp chim điêu, tuy một người một chim, nhưng sau khi ở trong hang với nhau lại lưu luyến không nỡ rời, đi vài bước lại quay đầu nhìn. Mỗi lần chàng quay đầu lại, chim điêu kêu lên một tiếng, đôi bên đã cách nhau mấy chục trượng, trong bóng tối chim điêu vẫn nhìn rõ như thường, mỗi lần Dương Quá quay đầu lại, chim điêu lại kêu lên một tiếng. Dương Quá bỗng thấy nhiệt huyết trào dâng, liền nói to:

– Điêu huynh hỡi điêu huynh, tại hạ còn sống chẳng được mấy ngày nữa, chờ xong việc đứa bé của Quách bá bá, sau khi vĩnh biệt cô cô, tại hạ sẽ trở lại đây, nằm xuống bên cạnh mộ Độc Cô đại hiệp, coi như không uổng tấm thân.

Đoạn chàng chắp tay vái dài, rồi rảo bước.

Nghĩ đến ấu nữ của Quách Tĩnh, chàng nhặt thanh kiếm Quân tử, vội trở về hang; vừa tới cửa hang, đã nghe Lý Mạc Sầu nói:

– Ngươi đi đâu về thế? Vừa nãy có một cô hồn dã quỷ, cứ đi qua đi lại than khóc sụt sùi, khó chịu quá chừng!

Dương Quá nói:

– Làm gì có ma quỉ nào?

Lời chưa dứt, bỗng nghe có tiếng khóc to từ xa vọng tới.

Dương Quá kinh ngạc, nói nhỏ:

– Lý sư bá, sư bá hãy trông nom đứa bé, cứ để đệ tử đối phó với hắn.

Chỉ nghe tiếng khóc tới càng lúc càng gần, một người vừa khóc vừa than:

– Khốn khổ thân ta, khốn khổ thân ta? Vợ đã bị người giết hại, hai đứa con lại đi tàn sát lẫn nhau.

Dương Quá nhìn kỹ, dưới ánh trăng thấy một đại hán đầu bù tóc rối, ôm mặt khóc to, đi lòng vòng rất nhanh, quần áo rách nát, không nhìn rõ mặt.

Lý Mạc Sầu nói:

– Hừ, thì ra là một gã điên, ngươi mau đuổi hắn đi, kẻo hắn làm đứa bé thức giấc bây giờ.

Gã đại hán kia vẫn vừa khóc vừa than:

– Trên thế gian ta chỉ còn hai đứa con, chúng lại đi đánh giết nhau, thử hỏi lão già này còn sống để làm gì kia chứ?

Tiếng khóc thật ai oán não nề. Dương Quá chợt nghĩ: "Không lẽ là người ấy?" chàng bèn thong thả ra khỏi hang, gọi to:

– Có phải Võ lão tiền bối đó chăng?

Người kia khóc lóc giữa chốn hoang sơn lúc nửa đêm vì quá đau khổ, không ngờ chốn này lại có người, bèn nín khóc, quát hỏi:

– Ngươi là ai? Lén lút làm trò quỉ gì ở đây?

Dương Quá nói:

– Tiểu nhân là Dương Quá, tiền bối có phải là Võ Tam Thông Võ lão tiền bối hay chăng?

Người kia chính là Võ Tam Thông, phụ thân của huynh đệ họ Võ. Tại phủ Gia Hưng năm nào, lão bị thương bởi ngân châm của Lý Mạc Sầu, ngất lịm đi, lúc tỉnh lại thấy vợ là Võ tam nương phủ phục dưới đất, đang hút máu độc từ miệng vết thương trên đùi trái của lão. Võ Tam Thông giật mình kinh hãi, nói:

– Tam nương, chất độc ngân châm lợi hại vô cùng, sao nàng lại hút như thế?

Đoạn vội đẩy vợ ra. Võ tam nương nhổ ra một ngụm máu độc, mỉm cười, nói:

– Máu đen đã chuyển sang màu hồng, không việc gì nữa.

Võ Tam Thông thấy hai gò má của vợ đã đen sạm lại, bất giác cả kinh, run run nói:

– Tam nương, nàng.. nàng..

Võ tam nương xả thân trị độc cho chồng, biết mình sắp chết, đưa tay xoa đầu hai đứa con, nói nhỏ:

– Sau khi tướng công thành thân với thiếp, tướng công cứ luôn rầu rĩ không vui. Bước đi lầm lẫn đã hết bề cứu vãn. Thiếp chỉ mong tướng công nuôi dưỡng hai con nên người, làm cho chúng suốt đời hữu ái và hòa thuận với nhau..

Lời chưa dứt, đã tắt thở.

Võ Tam Thông quá xúc động, bệnh điên lại tái phát, nhìn hai đứa con trai gục đầu xuống xác mẹ mà khóc, lão cũng không hiểu gì, lẳng lặng bỏ đi.

Lang bạt giang hồ điên điên khùng khùng như thế mấy năm, bệnh điên của lão cũng đỡ dần. Tứ Thủy Ngư Ổn sau khi tham dự anh hùng đại yến ở ải Đại Thắng trở về, dọc đường đồng hành với bằng hữu võ lâm, lúc nhàn đàm nghe họ nhắc đến một nhân vật rất giống sư đệ Võ Tam Thông của mình, cất công tìm kiếm, cuối cùng gặp được.

Võ Tam Thông biết tin hai đứa con trai đã trưởng thành thì cả mừng, bèn tìm đến thành Tương Dương, đúng lúc Kim Luân pháp vương đột nhập vào thành, Quách Tĩnh bị thương nặng, Hoàng Dung lâm bồn. Võ Tam Thông sau khi gặp Chu Tử Liễu và Quách Phù, nghe tin hai con mình ra ngoài thành đánh nhau, nhớ lại lời vợ nói lúc lâm chung, thì vô cùng đau khổ, vội đi tìm, phát hiện có tiếng binh khí va chạm trong một ngôi miếu đổ nát, bèn chạy vào, đúng là thấy Võ Đôn Nhu và Võ Tu Văn đang đấu kiếm với nhau trong đó. Lão xa con đã lâu, nay hai con đã trưởng thành, khó lòng nhận ra, nhưng nhìn chúng tay phải sử kiếm, tay trái sử dụng "Nhất dương chỉ", bèn quát dừng.

Huynh đệ họ Võ gặp lại cha, sung sướng ứa nước mắt, nhưng vừa nhắc đến Quách Phù, hai huynh đệ lại chẳng ai chịu nhường ai. Võ Tam Thông tức giận mắng chửi, hoặc ôn tồn khuyên nhủ hai con đừng tâm ái Quách Phù, cũng đều vô ích. Huynh đệ họ Võ trước mặt cha không dám tỏ ý thù hằn nhau, nhưng chỉ cần người cha đi đâu đó một lát, huynh đệ hai người lại tranh cãi nhau. Họ hẹn nửa đêm hôm nay sẽ tới chốn hoang sơn quyết một phen thắng bại. Võ Tam Thông nghe lén chuyện đó, bi phẫn vô cùng, đến trước chỗ họ hẹn nhau để ngăn chặn cuộc quyết đấu. Lão càng nghĩ càng đau lòng, nên vừa rồi khóc hu hu như vậy.

Võ Tam Thông đang trong tâm trạng như thế, bỗng thấy có một gã thiếu niên từ trong hang bước ra, liền quát to:

– Ngươi là ai? Tại sao biết tên ta?

Dương Quá nghe lão thừa nhận, bèn nói:

– Võ lão bá, tiểu điệt là Dương Quá, hồi nhỏ cùng sống với nhị huynh Đôn Nhu và Tu Văn tại phủ Quách đại hiệp trên đảo Đào Hoa, rất ngưỡng mộ uy danh của Võ lão bá.

Võ Tam Thông gật đầu, nói:

– Ngươi tới đây làm gì? Phải rồi, Đôn Nhu và Tu Văn hẹn quyết đấu ở đây, ngươi là kẻ làm chứng. Ngươi đã quen biết với hai đứa ấy, tại sao không tìm cách ngăn chúng? Lại còn xúi bẩy cho chúng đánh nhau, còn gọi là bằng hữu được sao?

Giọng càng về cuối càng xẵng, lão đem trút cơn giận dữ xuống đầu Dương Quá, miệng nói, chân bước, vung bàn tay hộ pháp để giáo huấn cho tên tiểu tử một trận.

Dương Quá thấy lão râu tóc dựng đứng, thần uy lẫm lẫm, thiết nghĩ tự dưng chẳng nên động thủ với lão ta làm gì, bèn lùi hai bước, cười nói:

– Tiểu điệt không hề biết nhị vị Võ huynh đến đây tỷ võ, xin lão bá đừng trách lầm người.

Võ Tam Thông quát:

– Còn hoa ngôn xảo ngữ ư? Nếu ngươi không biết trước, tại sao còn chờ sẵn ở đây? Thế gian rộng lớn, cớ gì nhà ngươi mò đến chốn hoang sơn cùng cốc này?

Dương Quá chưa biết nên giải thích thế nào với lão ta. Võ Tam Thông thấy chàng lúng túng, cho rằng chàng không phải là người tử tế, hồi trẻ lão bị thất tình, mỗi khi gặp một thanh niên tuấn tú, lão lại có ác cảm, lão nghĩ bụng: "Tên tiểu tử này chắc gì quen biết hai đứa con ta, hắn lén lút ở đây, chắc là có gian kế". Bèn vung hữu chưởng vỗ xuống vai Dương Quá. Chàng vội né tránh, chưởng của Võ Tam Thông đánh trượt, lão liền chuyển sang thúc cùi chỏ. Dương Quá thấy đối phương xuất chiêu kình lực trầm hậu, chàng không dám coi thường, lại né tránh. Võ Tam Thông nói:

– Hảo tiểu tử, khinh công khá lắm, mau rút kiếm ra động thủ nào!

Lúc ấy đứa bé ở trong hang chợt thức giấc, khóc oa oa mấy tiếng. Dương Quá nghĩ: "Lão này có mối thù sát thê với Lý Mạc Sầu, để họ giáp mặt nhau, khó tránh cảnh tử đấu, mình khó bảo hộ được đứa bé". Bèn cười, nói:

– Võ lão bá, tiểu điệt là vãn bối, đâu dám động thủ với lão bá? Nhưng nếu lão bá cứ coi tiểu điệt là kẻ xấu, thì đành vậy, tiểu điệt xin nhường lão bá ba chiêu, nếu lão bá không đánh chết được tiểu điệt, thì lão bá phải lập tức rời khỏi chốn này, thế nào?

Võ Tam Thông cả giận, quát:

– Tên tiểu tử cuồng vọng, vừa rồi ta ra đòn lưu tình, chưa hạ độc thủ, ngươi dám coi thường ta ư?

Ngón trỏ tay phải của lão sử công phu "Nhất dương chỉ". Lão khổ luyện mấy chục năm, công lực thâm hậu. Dương Quá thấy ngón tay trỏ của lão rung động, thế đến tuy chậm, nhưng các đại huyệt của chàng ở nửa thân trên đã nằm trong tầm khống chế của ngón tay đó; chàng chưa biết đối phương sẽ điểm huyệt nào, bèn dùng ngón giữa búng ngón trỏ của lão ta, chính là chàng sử dụng công phu "Đạn chỉ thần thông" của Hoàng Dược Sư.

"Đạn chỉ thần thông" và "Nhất dương chỉ" nổi danh ngang nhau mấy chục năm, nhưng Dương Quá công lực còn nông, sở học ngắn ngủi, học rồi lại chưa chuyên tâm khổ luyện, làm sao sánh nổi Võ Tam Thông chuyên tâm mấy chục năm? Hai ngón tay đụng nhau, Dương Quá chỉ cảm thấy cánh tay mình chấn động, toàn thân phát nhiệt, chàng phải loạng choạng lùi năm, sáu bước, mới không bị ngã.

Võ Tam Thông nghĩ: "Hừ, tên tiểu tử này quả nhiên từng sống ở đảo Đào Hoa". Một là nể mặt Hoàng Dược Sư, hai là thấy chàng còn nhỏ tuổi mà đã chống đỡ nổi tuyệt kỹ "Nhất dương chỉ" của lão, lão đâm ra mến mộ, nói:

– Chỉ thứ hai tới, nếu không đỡ được thì đừng đỡ, để khỏi chấn thương nội tạng, ta không muốn lấy mạng ngươi đâu.

Rồi lão sấn tới mấy bước, lại xuất chiêu, lần này nhắm vào bụng dưới của Dương Quá.

Các yếu huyệt phía dưới mà chiêu này khống chế còn rộng hơn chiêu trước, cả mười hai đại huyệt vùng bụng, từ U Môn, Thông Cốc, xuống đến Trung Chú, Tứ Mãn, đến tận Hoành Cốt, Hội Âm, đều bị đe dọa. Dương Quá thấy thế đến cực nhanh, nếu dùng "Đạn chỉ thần thông" ngăn lại, e không chỉ gãy ngón tay, mà nội tạng cũng bị chấn thương, bèn sử gấp một chiêu "Cầm tâm vận thông", xoẹt một cái, kiếm Quân tử được rút khỏi bao, chắn trước bụng hai tấc. Ngón tay của Võ Tam Thông sắp chạm lưỡi kiếm, vội thu về, chiêu thứ ba lập tức tiếp nối, nhắm tới mi tâm Dương Quá, thiết tưởng chàng không sao đưa kiếm lên che đỡ nổi. Dương Quá thấy thế đến quá lẹ, không thể hóa giải, trong cơn nguy cấp liền sử dụng công phu "Cửu Âm chân kinh", rùn người xuống chui qua háng Võ Tam Thông. Chiêu này tuy mau lẹ, nhưng tư thế bần tiện, mất hết thể diện; có điều chàng là vãn bối, chui qua háng tiền bối cũng không đáng ngại.

Võ Tam Thông không kịp thốt lên một tiếng "ái chà" thì đối phương đã vỗ nhẹ một chưởng xuống vai trái của lão, tiếp đó nghe Dương Quá vừa cười vừa nói:

– Võ lão bá, chiêu thứ ba của lão bá quá lợi hại.

Võ Tam Thông ngẩn người, xuôi tay lùi ra, buồn bã nói:

– Hừm, đúng là thiếu niên anh hùng, lão nạp vô dụng.

Dương Quá vội tra kiếm vào bao, cúi mình nói:

– Tiểu điệt tránh chiêu của lão bá trông thật khó coi, nếu là tỷ võ thật sự, coi như tiểu điệt đã thua rồi.

Võ Tam Thông cảm thấy được an ủi phần nào, thở dài, nói:

– Cũng không hẳn thế. Vừa rồi nếu ngươi đâm ta một kiếm sau lưng, thì ta đã mất mạng. Lão nạp thô lậu, đánh không lại một gã oắt con thông minh lanh lợi..

Lời chưa dứt, bỗng nghe từ xa có tiếng bước chân, có hai người sánh vai đi tới. Dương Quá kéo tay áo Võ Tam Thông, hai người nấp vào sau một bụi cây. Hai người kia đến gần, chính là Võ Đôn Nhu và Võ Tu Văn.

Võ Tu Văn dừng bước, nhìn tứ phía, nói:

– Đại ca, chỗ này địa thế rộng rãi, ở đây được rồi.

Võ Đôn Nhu nói:

– Được!

Hắn vốn ít nói. Xoẹt một cái, trường kiếm đã rút hỏi bao. Võ Tu Văn không rút kiếm, nói:

– Đại ca, hai ta từ nhỏ mồ côi mẹ, phụ thân bỏ đi xa, hai ta sống bên nhau chưa từng hơn thua nửa câu, hôm nay đến nước này, đại ca không trách huynh đệ chứ?

Võ Đôn Nhu nói:

– Huynh đệ, chuyện này là định mệnh, hai ta đều không tự quyết được.

Võ Tu Văn nói:

– Bất kể ai sống ai chết, suốt đời cũng không được để lộ chuyện này, kẻo gia gia và Phù muội đau lòng.

Võ Đôn Nhu gật đầu, nắm cánh tay Võ Tu Văn. Huynh đệ hai người lặng lẽ nhìn nhau hồi lâu.

Võ Tam Thông thấy hai con nói năng với nhau ôn tồn, rõ ràng có thâm tình, thì cũng được an ủi, định bước ra, mắng chúng không nên hành động ngu xuẩn hồ đồ, bỗng nghe cả hai đứa con cùng nói to:

– Thế thôi!

Và cùng nhảy lùi lại. Võ Tu Văn đâm liền ba kiếm, dưới ánh trăng chỉ thấy ánh kiếm loang loáng, xuất thủ mau lẹ dị thường. Võ Đôn Nhu đỡ gạt cả, chiêu thứ ba mới đánh trả hai kiếm, nhát nào cũng nhắm chỗ yếu hại của Võ Tu Văn. Võ Tam Thông nhìn thấy giật mình, song Võ Tu Văn đã né mình tránh được.

Giữa chốn hoang sơn chỉ nghe tiếng song kiếm đụng nhau liên miên bất tuyệt, huynh đệ hai người cứ lăn xả vào nhau mà đâm chém, xuất thủ không một chút dung tình, khiến Võ Tam Thông vừa lo lắng vừa đau lòng. Cả hai đều là con ruột, từ nhỏ lão vốn yêu thương chúng như nhau, giờ thấy hai đứa đánh nhau như hai kẻ thù, cứ đà này ắt có một trong hai đứa tử thương, nếu lão quát dừng, tất chúng sẽ ngừng đấu. Nhưng hôm nay không đấu, ngày mai chúng ta sẽ lại quyết một phen sống mái, lão đâu có thể kè kè ở bên chúng để ngăn chặn? Lão càng nhìn càng đau lòng, nghĩ mà cám cảnh cho mình, nước mắt cứ chảy ròng ròng.

Dương Quá từ bé có hiềm khích với huynh đệ họ Võ, sau này trùng phùng, đôi bên cũng chẳng ưa gì nhau. Chàng vốn đã sẵn thành kiến, cũng chẳng độ lượng, thấy hai kẻ đó đánh nhau, lúc đầu cũng thích thú; nhưng nhìn Võ Tam Thông đau khổ thế kia, nghĩ mình còn sống được vài ngày, chợt nghĩ: "Ta một đời chưa làm việc gì có ích cho người khác, sau khi ta chết, cô cô dĩ nhiên sẽ đau lòng, ngoài ra, nhớ đến ta chỉ có vài hồng nhan tri kỷ như Trình Anh, Lục Vô Song, Công Tôn Lục Ngạc mà thôi. Hôm nay, ta phải làm một việc tốt để Võ lão bá suốt đời nhớ đến ta mới được". Ý đã quyết, chàng ghé tai nói nhỏ với Võ Tam Thông:

– Võ lão bá, tiểu điệt có một kế có thể làm cho hai vị lệnh lang bãi đấu.

Võ Tam Thông ngảnh đầu, quệt nước mắt nhìn chàng, vẻ cảm kích, nhưng bán tín bán nghi, không biết chàng có diệu kế gì cởi bỏ mối xung đột kia.

Dương Quá nói nhỏ:

– Có điều phải đắc tội với hai vị lệnh lang, mong lão bá đừng trách.

Võ Tam Thông nắm chặt hai tay chàng, xúc động nói không nên lời. Thời trẻ lão không được nếm mùi tình ái, lấy vợ chỉ là theo lệnh cha mẹ, sau đó bị tình nghiệt trói buộc, nhưng từ ngày vợ chết, nhớ ân tình người vợ xả thân cứu mình, mối tình si của lão đối với Hà Nguyên Quân nhạt dần, bao nhiêu tình thương lão dồn cho con, chỉ mong hai đứa con bình yên hòa thuận, thì dù lão chết cũng cam lòng. Trong cảnh tuyệt vọng lúc này, đột nhiên nghe Dương Quá nói vậy, thật y như gặp Bồ tát cứu khổ cứu nạn.

Dương Quá nhìn thần sắc của lão, bất giác chạnh lòng: "Nếu cha ta còn sống, chắc cũng yêu ta như vậy". Chàng dặn:

– Dù thế nào lão bá cũng không được để cho họ phát giác, nếu không kế sách sẽ mất linh.

Lúc ấy huynh đệ họ càng đấu càng ác liệt, họ cùng sử dụng Việt nữ kiếm pháp. Đây là công phu vốn do Hàn Tiểu Oanh trong Giang Nam thất quái truyền thụ, hai người từ nhỏ đã cùng luyện với nhau không biết bao nhiêu lần, nhưng đêm nay là trận sống mái, nên đôi bên chiết chiêu khác hẳn ngày thường. Võ Tu Văn nhanh nhẹn khinh linh, sấn tới lui về, nhắm chỗ sơ hở tấn công. Võ Đôn Nhu nghiêm thủ môn hộ, thi thoảng đâm một kiếm, chiêu thức hiểm ác, kình lực trầm hùng.

Dương Quá nhìn một hồi, nghĩ: "Quách bá bá võ công cao cường, quán tuyệt đương thời, nhưng đệ tử tựa hồ chưa nắm được thủ pháp, huynh đệ họ Võ tư chất bình thường, xem ra chưa học được hai thành võ công của Quách bá bá". Đột nhiên chàng cười to, thong thả bước ra.

Huynh đệ họ Võ kinh ngạc, nhảy lùi lại, nhận ra Dương Quá, thì cùng quát to:

– Các hạ tới đây làm gì?

Dương Quá cười, đáp:

– Thế hai vị tới đây làm gì?

Võ Tu Văn cười nhạt, nói:

– Huynh đệ ta nửa đêm vô sự, ra đây luyện kiếm.

Dương Quá nghĩ: "Tiểu Võ cơ trí, nhanh miệng nói dối", chàng cười khẩy, nói:

– Luyện kiếm đến mức bất chấp tính mạng, hì hì, dụng công như thế là sao?

Võ Đôn Nhu giận nói:

– Các hạ đi chỗ khác thì hơn, chuyện riêng của huynh đệ ta, không cần các hạ quản.

Dương Quá cười khẩy, nói:

– Nếu quả thật hai vị luyện công, tại hạ dĩ nhiên không quản làm gì. Nhưng trong lúc xuất chiêu, hai vị toàn nghĩ đến Phù muội của tại hạ, tại hạ không quản sao được?

Huynh đệ họ Võ nghe năm chữ "Phù muội của tại hạ" thì chấn động, bất giác tay cầm kiếm đều run run. Võ Tu Văn gằn giọng:

– Các hạ hồ thuyết bát đạo gì vậy?

Dương Quá nói:

– Phù muội là thân sinh nhi nữ của Quách bá bá và Quách bá mẫu phải không nào? Đại sự hôn nhân trước hết phải theo ý muốn của cha mẹ, đúng thế chứ? Quách bá bá từ sớm đã hứa gả Phù muội cho tại hạ, hai vị lại vờ làm như không biết, ở đây quyết đấu tranh giành vị hôn thê của tại hạ, hai vị có còn coi Dương Quá này là người nữa hay chăng?

Lời lẽ của chàng thật nghiêm trang, huynh đệ họ Võ lập tức cứng lưỡi. Họ biết Quách Tĩnh đúng là luôn có ý chọn Dương Quá làm con rể, chỉ riêng Hoàng Dung và Quách Phù chưa ưng, bây giờ đột nhiên bị Dương Quá nói trúng tâm sự, huynh đệ nhìn nhau, không biết đối đáp thế nào. Võ Tu Văn nhanh trí, cười khẩy, nói:

– Hừ, vị hôn thê, nói nghe dễ thế! Hôn sự đã có môi giới hay chưa? Các hạ đã có lễ dạm hỏi hay chưa? Có lễ đính hôn hay chưa?

Dương Quá cũng cười khẩy, nói:

– Được, thế hai vị đã có cha mẹ đến thưa chuyện, có môi giới gì hay chưa?

Thời nhà Tống trọng nhất lễ giáo, đại sự hôn nhân không thể thiếu việc cha mẹ và có môi giới đến thưa chuyện. Huynh đệ họ Võ vốn quyết thắng bại một phen, kẻ bại sẽ tự sát, người thắng sẽ cầu hôn với Quách Phù, khi ấy Quách Phù không còn sự lựa chọn nào khác, tất bằng lòng, bấy giờ sẽ cầu xin vợ chồng Quách Tĩnh; không ngờ Dương Quá lại nhảy ngang vào. Võ Tu Văn ngẫm nghĩ một lát, nói:

– Sư phụ có ý gả Phù muội cho các hạ, có thể có việc đó. Nhưng sư mẫu có ý gả nàng cho một trong hai huynh đệ ta. Hiện thời cả ba chúng ta đều chưa có danh phận, rồi đây Phù muội thuộc về ai, điều đó chưa thể nói trước.

Dương Quá ngửa mặt cười ha hả.

Võ Tu Văn thấy chàng cười mãi không thôi, giận nói:

– Cười cái gì kia chứ? Tại hạ nói sai hay sao?

Dương Quá nói:

– Phải, sai quá, sai quá rồi. Quách bá bá cố nhiên thích tại hạ, Quách bá mẫu lại càng thích hơn, hai vị huynh đệ làm sao sánh nổi tại hạ kia chứ?

Võ Tu Văn nói:

– Hừ, các hạ chỉ bẻm mép, có ai tin được?

Dương Quá cười, nói:

– Tại hạ cần gì phải bẻm mép? Quách bá mẫu cũng đã hứa gả Phù muội cho tại hạ từ lâu, nếu không tội gì tại hạ chịu tận lực cứu nhạc phụ nhạc mẫu kia chứ? Tất cả chỉ là vì Phù muội đó. Các hạ nói đi, sư mẫu của các hạ có tự bảo sẽ gả Phù muội cho huynh đệ các hạ hay không nào?

Huynh đệ họ Võ nhìn nhau, quả nhiên sư mẫu chưa lần nào nói đến việc đó, cũng không hề ngụ ý gì việc đó, hay là sư mẫu đã hứa gả cho tên tiểu tử họ Dương thật rồi? Huynh đệ vốn định sống mái với nhau, bây giờ xuất hiện cường địch, hai người bất giác xích lại gần nhau.

Dương Quá bữa nọ nghe lén được cuộc trò chuyện giữa Quách Phù với huynh đệ họ Võ, chàng cố ý để cho họ đố kỵ với mình, bèn cười, nói:

– Phù muội từng kể với tại hạ, hai vị ca ca họ Võ cứ bám riết lấy nàng, nàng đành phải khéo nói để cả hai người cùng vui. Hô hô, trên thế gian làm gì có một thiếu nữ cùng lúc tâm ái hai nam nhân kia chứ? Phù muội của tại hạ đoan trang trinh thục, càng không có lý nào như thế. Tại hạ nói thực với hai vị đây, hai vị cùng thích Phù muội, nhưng Phù muội không thích cả hai vị đâu.

Rồi chàng nhại giọng Quách Phù bữa nọ, nói:

– Tiểu Võ ca ca, ca ca quí muội, tâm ái muội, nhưng không biết lòng muội có bao nhiêu điều khó nói hay sao? Đại Võ ca ca, ca ca sao lạ thế, có muốn nói gì với muội thì nói đi?

Huynh đệ họ Võ tái mặt. Mấy câu ấy là của Quách Phù nói riêng với họ, bấy giờ hoàn toàn không có kẻ thứ ba, nếu nàng ta không tự kể lại, làm sao Dương Quá hay biết kia chứ? Hai người lòng đau như cắt, nghĩ Quách Phù trước sau không chịu hứa hôn, thì ra là vì thế.

Dương Quá nhìn thần sắc hai người, biết kế của mình đã thành, nghiêm nghị nói:

– Tóm lại, Phù muội là vị hôn thê của tại hạ, mai này tại hạ và nàng bách niên hảo hợp, bạch đầu giai lão, tương kính như tân, tử tôn..

Chàng nói đến đây, bỗng nghe phía sau có tiếng thở dài, nghe như của Tiểu Long Nữ, bèn buột miệng thốt lên hai tiếng "Cô cô!" không thấy tiếng trả lời, chợt hiểu đấy là âm thanh do Lý Mạc Sầu ở trong hang phát ra, nữ nhân đó quyết không thể chạm trán với huynh đệ họ Võ, chàng bèn nói to:

– Huynh đệ hai vị tự tác đa tình, chỉ làm trò cười cho người khác. Tại hạ nể mặt nhạc phụ nhạc mẫu, chuyện này bỏ qua cho hai vị. Hai vị hãy mau trở về thành Tương Dương, giúp nhạc phụ nhạc mẫu của tại hạ thủ thành, đó mới là việc nên làm.

Chàng cứ luôn miệng nhắc gọi vợ chồng Quách Tĩnh là nhạc phụ nhạc mẫu. Huynh đệ họ Võ thất vọng nắm lấy tay nhau. Võ Tu Văn buồn rầu nói:

– Được, Dương đại ca, chúc đại ca và Quách sư muội phúc.. phúc thọ vô cương. Huynh đệ tại hạ sẽ đi thật xa, trên thế gian coi như không có huynh đệ tại hạ nữa.

Nói xong cả hai cùng quay người đi.

Dương Quá mừng thầm, nghĩ hai người đã căm hận chàng, ắt căm hận cả Quách Phù, từ đây trở đi sẽ hữu ái hòa mục với nhau, như mong muốn của người cha già.

Võ Tam Thông nấp sau bụi cây, nghe Dương Quá nói một phen khiến cho hai ái nhi của lão không đánh nhau nữa, thì cả mừng, thấy hai đứa dắt nhau bỏ đi, không nén nổi, bèn gọi to:

– Nhu nhi, Văn nhi, ta sẽ cùng đi với các ngươi.

Nhị Võ nghe tiếng cha gọi, sững lại, cùng thốt lên "Gia gia!". Võ Tam Thông vái Dương Quá một cái thật dài, nói:

– Dương huynh đệ, ân tình hậu ý của huynh đệ, lão phu xin ghi nhớ suốt đời.

Dương Quá bất giác cau mày, sao lão lại đi nói câu ấy trước mặt nhị Võ. Võ Tu Văn đã sinh nghi, nói:

– Đại ca, lời tiểu tử vừa nói chưa chắc đã là thật.

Võ Đôn Nhu không nhanh trí, nhanh miệng bằng tiểu đệ, nhìn cha, rồi nhìn Võ Tu Văn, gật đầu.

Võ Tam Thông thấy sự tình như vậy, vội nói:

– Đừng hiểu lầm, ta không nhờ Dương huynh đệ đến khuyên hai ngươi đâu.

Huynh đệ họ Võ vốn chỉ hơi nghi, nghe phụ thân nói hớ như vậy, lập tức nghĩ đến việc Dương Quá và Quách Phù lâu nay bất hòa với nhau, Dương Quá có tình ý với Tiểu Long Nữ, những lời vừa rồi quá nửa là bịa đặt. Võ Tu Văn nói:

– Đại ca, chúng ta hãy trở vào thành Tương Dương hỏi Phù muội cho rõ ràng.

Võ Đôn Nhu nói:

– Phải, kẻ khác hoa ngôn xảo ngữ, chúng ta không thể mắc lừa.

Võ Tu Văn nói:

– Gia gia, hãy cùng tới thành Tương Dương. Sư phụ, sư mẫu là người quen cũ của gia gia, gia gia đến thăm họ luôn thể.

Võ Tam Thông ấp úng:

– Ta.. ta..

Lão đỏ mặt, không biết nói sao, định nghiêm nghị trách mắng hai đứa con về tội ác đấu, nhưng lại sợ chúng vâng lời trước mặt, sau lưng lại quyết sống mái với nhau.

Dương Quá lạnh lùng nói:

– Võ nhị ca, hai chữ "Phù muội", hai vị không được gọi nữa. Từ rày trở đi, tại hạ không cho phép hai vị chẳng những nhắc đến, mà ngay cả nghĩ thôi cũng không được.

Võ Tu Văn tức giận nói:

– Hừ, thiên hạ lại có kẻ ngang ngược vô lý thế ư? Hai chữ "Phù muội" ta đã gọi bảy, tám năm nay, không chỉ gọi hôm nay, mà mai sau còn gọi như thế. Phù muội, Phù muội, Phù muội của ta..

Bỗng "bốp" một tiếng, Võ Tu Văn đã bị Dương Quá cho một cái tát.

Võ Tu Văn nhảy lui hai bước, gằn giọng nói:

– Được, họ Dương kia, đã nhiều năm chúng ta chưa đánh nhau.

Võ Tam Thông quát:

– Văn nhi, sao tự dưng lại đi đánh nhau?

Dương Quá quay sang, nghiêm trang nói:

– Võ lão bá, rốt cuộc lão bá sẽ đứng về bên nào?

Nói về lý, Võ Tam Thông tất nhiên sẽ giúp con mình, nhưng Dương Quá vừa rồi làm như thế hiển nhiên cốt để ngăn chặn hai đứa con của lão tàn sát lẫn nhau, thành thử lão cứng lưỡi, không trả lời được. Dương Quá nói:

– Đã thế, xin lão bá cứ ngồi yên một chỗ, tiểu điệt sẽ không đả thương đến tính mạng họ, mà họ cũng không thể đả thương nổi tiểu điệt, lão bá hãy xem cảnh náo nhiệt một lúc.

Dương Quá ít tuổi hơn nhiều, nhưng Võ Tam Thông bất giác nghe lời chàng, ngồi xuống một tảng đá.

Dương Quá rút kiếm Quân tử, hàn quang nhoáng lên, "phập" một cái, chặt đứt ngang thân một cây tùng lớn. Phần ngọn cây tùng đổ rạp sang một bên, chỗ thân cây bị chém ngang phẳng lì. Huynh đệ họ Võ thấy kiếm của chàng sắc bén như thế thì nhìn nhau tái mặt. Dương Quá tra kiếm vào bao, cười, nói:

– Đối phó với hai vị, đâu cần dùng kiếm?

Chàng thuận tay bẻ một cành cây tuốt lá, thành một cây bổng dài ba thước, nói:

– Tại hạ bảo nhạc mẫu rất quí tại hạ, hai vị chưa chịu tin, vậy tại hạ chỉ sử dụng cây bổng này, hai vị cứ việc sử kiếm cùng đánh. Hai vị vừa có thể sử dụng võ công do nhạc phụ nhạc mẫu tại hạ truyền thụ, vừa có thể sử dụng Nhất dương chỉ do Chu sư thúc của hai vị truyền thụ, tại hạ sẽ chỉ sử dụng võ công do nhạc mẫu truyền thụ; nếu tại hạ sử nhầm công phu của môn phái khác, coi như tại hạ bị thua.

Nhị Võ vốn sợ Dương Quá võ công cao cường, lần trước thấy chàng hai phen ác đấu với Kim Luân pháp vương, chiêu số quái dị, họ không hiểu nổi; lúc này nghe chàng luôn miệng nhạc phụ nhạc mẫu, tựa hồ Quách Phù đã thật sự là vợ chàng, bảo họ không căm tức sao được? Huống hồ chàng ngạo mạn, lấy một địch hai, dùng cành cây đấu với kiếm sắc, còn bảo chỉ giới hạn trong việc sử dụng công phu mà Hoàng Dung truyền thụ riêng cho chàng, huynh đệ họ Võ nghĩ bụng họ đã chiếm ba phần lợi thế, nếu không thắng chàng, thì cũng chẳng còn mặt mũi nào sống trên đời.

Võ Đôn Nhu cảm thấy thắng như vậy không vẻ vang gì, lắc đầu, định lên tiếng, thì Võ Tu Văn đã cướp lời:

– Được, đấy là các hạ tự cao tự đại, chứ không phải huynh đệ tại hạ nài ép các hạ. Nếu các hạ sử dụng nhầm võ công của phái Toàn Chân hoặc phái Cổ Mộ thì sao?

Hắn nghĩ chàng võ công tuy cao, chẳng qua là dựa vào học được công phu thượng thừa của phái Toàn Chân và phái cổ Mộ, chứ hồi ở đảo Đào Hoa, đánh nhau với huynh đệ họ, chàng đã bị no đòn, đâu có bản lĩnh gì?

Dương Quá nói:

– Chúng ta tỷ võ lần này, không phải vì oán hận hồi nhỏ, cũng không vì oán hận hôm nay, mà chỉ vì Phù muội. Nếu tại hạ thua, mà còn nhìn Phù muội một lần, nói với Phù muội một câu, thì sẽ là hạng vô liêm sỉ, không bằng con heo con chó. Nhưng nếu hai vị thua thì sao?

Câu vừa rồi cốt để buộc huynh đệ họ Võ cũng phải nói y như vậy. Võ Tu Văn đành nói:

– Huynh đệ tại hạ mà thua, cũng sẽ vĩnh viễn không gặp Phù muội nữa.

Dương Quá hỏi Võ Đôn Nhu:

– Còn các hạ thì sao?

Võ Đôn Nhu tức giận, nói:

– Huynh đệ ta đồng tâm nhất ý, há có dị ngôn?

Dương Quá cười, nói:

– Hay lắm, nếu hôm nay hai vị bị thua mà không giữ lời, thì sẽ là hạng vô liêm sỉ, không bằng con heo con chó, phải vậy chăng?

Võ Tu Văn nói:

– Phải. Các hạ cũng vậy. Tiếp chiêu!

Đoạn trường kiếm đâm nhanh tới đùi Dương Quá. Võ Đôn Nhu cũng đâm vào sườn trái của chàng, thành thế tả hữu giáp công.

Dương Quá nhảy lên, nói:

– Huynh đệ đồng tâm, chém đứt kim loại, huynh đệ hai vị liên thủ, quả nhiên lợi hại.

Võ Đôn Nhu chém tới, Dương Quá vẫn né tránh, chưa đánh trả, nói:

– Thê tử như quần áo, huynh đệ như chân tay, quần áo rách, có thể vá, chân tay đứt, không liền lại! Câu thơ ấy, hai vị từng nghe rồi chứ?

Võ Tu Văn nói:

– Các hạ chớ nhiều lời. Sư mẫu truyền thụ riêng cho các hạ công phu gì, sao không đem ra thi triển?

Võ Đôn Nhu không nói một lời, chỉ lẳng lặng vung kiếm.

Dương Quá nói:

– Được, cẩn thận này, công phu tinh diệu mà nhạc mẫu tại hạ truyền thụ là đây!

Nói đoạn giơ cây bổng sử tự quyết chữ "Bạn" (móc giật) trong Đả cẩu bổng pháp, đồng thời ngón trỏ tay trái điểm nhứ vào huyệt đạo của Võ Đôn Nhu. Võ Đôn Nhu vội lùi ra sau né tránh, Võ Tu Văn kêu "ái", đã bị cây bổng giật ngã một cái.

Võ Đôn Nhu thấy huynh đệ bất lợi, đâm nhanh một nhát kiếm tới Dương Quá. Dương Quá nói:

– Đúng, huynh đệ ruột thịt, có nạn cùng chịu.

Cây bổng di động, nhoáng một cái đã đập "bộp" một cái vào mông Võ Đôn Nhu. Cây bổng di chuyển không nhanh, nhưng toàn đánh vào bộ vị đối phương không ngờ tới, Đả cẩu bổng pháp biến ảo vô phương, quỉ thần khó lường. Võ Đôn Nhu trúng đòn tuy không đau, nhưng rõ ràng đã thua một chiêu, thầm lo sợ.

Võ Tu Văn bật dậy, nói:

– Đấy là Đả cẩu bổng pháp, đâu phải công phu sư mẫu truyền thụ riêng? Chẳng qua khi sư mẫu truyền thụ cho Lỗ Hữu Cước, các hạ học lỏm được vài chiêu, không được tính.

Dương Quá giơ cây bổng ra, Võ Tu Văn lại ngã "oạch" một cái, bổ nhào về phía trước, Võ Đôn Nhu vội phạt ngang trường kiếm bảo hộ cho huynh đệ.

Dương Quá chờ Võ Tu Văn bò dậy, cười, nói:

– Ba chúng ta cùng nhìn thấy, tại sao tại hạ học được, hai vị thì không? Nhạc mẫu tại hạ chỉ nói cho Lỗ trưởng lão biết khẩu quyết, còn chiêu số sau đó nhạc mẫu truyền thụ riêng cho tại hạ. Ngay cả Phù muội của tại hạ cũng không được biết, hai vị hiểu sao nổi?

Võ Tu Văn không biết Dương Quá từng có những cuộc kỳ ngộ, khi Hồng Thất Công và Âu Dương Phong tỷ võ bằng cách đấu khẩu, đã nói chiêu số cho chàng nghe; hắn nghĩ lời Dương Quá quá nửa là thật, nếu không làm sao chàng chỉ nghe khẩu quyết mà có thể sử cây bổng, trong khi hắn chẳng hiểu gì. Hắn cố cãi lý:

– Cái đó là do phẩm cách của từng người, Đả cẩu bổng pháp vốn chỉ do bang chủ Cái Bang sử dụng, chúng ta vô tình nghe thấy, chưa được lệnh sư mẫu, ai dám học lỏm? Chỉ có hạng tiểu nhân ti tiện mới để bụng ghi nhớ. Các hạ không biết xấu hổ, không sợ người ta chê cười hay sao?

Dương Quá cười ha hả, nhứ nhứ cây bổng, bộp bộp hai tiếng, đánh trúng lưng hai người. Huynh đệ họ Võ vội nhảy lùi, đỏ bừng cả mặt. Dương Quá cười, nói:

– Hiện tại không có người đối chứng, tại hạ dù có đánh thắng hai vị bằng Đả cẩu bổng pháp, hai vị cũng chỉ tâm phục, khẩu chẳng phục. Thôi được, tại hạ sẽ sử dụng môn công phu mà nhạc mẫu bí mật truyền thụ cho tại hạ để hai vị thấy.

Chàng nhìn Võ Đôn Nhu, lại nhìn Võ Tu Vãn, hỏi:

– Võ công của nhạc mẫu tại hạ là do ai truyền thụ?

Võ Tu Văn tức giận đáp:

– Các hạ không biết ngượng mồm, cứ một điều nhạc mẫu, hai điều nhạc mẫu, bọn ta không nói chuyện nữa.

Dương Quá cười, nói:

– Sao lại để ý chuyện vặt đó? Được, tại hạ hỏi huynh, trước khi sư mẫu của huynh bái Hồng lão bang chủ làm sư phụ, võ công là do ai truyền thụ?

Võ Tu Văn nói:

– Sư mẫu bọn ta là con gái của Đào Hoa Hoàng đảo chủ, võ công là do Hoàng đảo chủ đích truyền, thiên hạ ai mà chẳng biết?

Dương Quá nói:

– Đúng, hai vị sống ở đảo Đào Hoa lâu năm, có biết tuyệt kỹ của Hoàng đảo chủ là công phu gì hay không?

Võ Tu Văn nói:

– Hoàng đảo chủ bác đại tinh thâm, văn tài võ lược, môn nào cũng thông, đâu phải chỉ có một tuyệt kỹ.

Dương Quá nói:

– Nói thế cũng đúng, luận về kiếm, Hoàng đảo chủ sử dụng kiếm pháp gì?

Võ Tu Văn nói:

– Các hạ biết rồi sao còn hỏi? Ngọc tiêu kiếm pháp của Hoàng đảo chủ độc bộ võ lâm, lừng danh thiên hạ, người trên giang hồ ai chẳng biết.

Dương Quá nói:

– Hai vị đã gặp Hoàng đảo chủ hay chưa?

Võ Tu Văn nói:

– Hoàng đảo chủ vân du thiên hạ, xuất quỉ nhập thần, ngay sư phụ, sư mẫu cũng khó tìm gặp Hoàng đảo chủ, bọn tiểu bối chúng ta làm sao có duyên kiến diện?

Dương Quá nói:

– Thế Ngọc tiêu kiếm pháp của Hoàng đảo chủ, hai vị đã được thấy hay chưa?

Võ Tu Văn cười khẩy, nói:

– Có một năm vào dịp sinh nhật Hoàng đảo chủ, sư mẫu mở tiệc mừng, tiệc xong sư mẫu có sử một lần, huynh đệ tại hạ và Phù muội được ngắm một phen. Bấy giờ Dương huynh đã đến phái Toàn Chân tìm minh sư rồi.

Dương Quá cười, nói:

– Đúng, sau đó nhạc mẫu tại hạ.. thôi được, sau đó sư mẫu của huynh có bí mật truyền thụ Ngọc tiêu kiếm pháp cho tại hạ.

Huynh đệ họ Võ đưa mắt nhìn nhau, đều chưa tin, nghĩ dạo trước Dương Quá tuy bái Hoàng Dung làm sư phụ, nhưng họ biết sư mẫu chỉ dạy chàng học chữ, đọc sách, chứ không hề dạy võ công; cho nên khi đánh nhau với hai người ở đảo Đào Hoa, chàng không phải là đối thủ của họ, cuối cùng đả thương Võ Tu Văn, theo Kha công công nói, là môn Cáp mô công của Tây độc Âu Dương Phong. Thiết tưởng Ngọc tiêu kiếm pháp là công phu tinh diệu, ngay Quách Phù là ái nữ duy nhất còn chưa được sư mẫu truyền thụ. Dương Quá từ khi ở núi Chung Nam trở về, mỗi lần gặp sư mẫu đều ngắn ngủi, sư mẫu dù có ý truyền thụ Ngọc tiêu kiếm pháp cho Dương Quá, cũng chưa có thời gian rảnh rỗi.

Dương Quá giơ cây bổng lên múa nhẹ, nói:

– Nhìn coi, đây là "Tiêu sử thừa long"!

Chàng lấy cành cây thay kiếm, chĩa nhanh, "bộp" khẽ một tiếng, đã trúng ngực Võ Đôn Nhu. Nếu đổi cây bổng là thanh kiếm sắc nhọn, thì Võ Đôn Nhu đã bị đâm xuyên qua ngực, còn gì mạng sống.

Võ Tu Văn hành động cực nhanh, trường kiếm đâm tới sườn phải của Dương Quá, song vẫn bị chậm một bước, Dương Quá đã thu cây bổng về, thúc trúng đùi bên phải của Võ Tu Văn, chiêu này đánh sau mà đến trước, mũi kiếm chưa chạm thân thể đối phương, thì cổ tay đã bị cây bổng chọc trúng, thanh kiếm sẽ tuột khỏi tay. Hắn vội thu kiếm biến chiêu, chân trái đá ra, cây bổng của Dương Quá lại chọc tới vai Võ Đôn Nhu, thân người sấn tới theo cây bổng, không tránh mà hóa ra tránh cước của Võ Tu Văn. Võ Tu Văn đá hụt, Võ Đôn Nhu thì vội đưa kiếm che đỡ môn hộ mới không bị trúng đòn thêm.

Sau vài chiêu, nhị Võ đã rối loạn chân tay, cố thủ còn chưa xong, nói gì thi triển kiếm pháp đối phó với cây bổng của đối phương? Dương Quá miệng gọi tên chiêu số:

– Sơn ngoại thanh âm, Kim thanh ngọc thần, Phụng khúc trường minh, Hướng cách lâu đài, Trác ca trung lưu..

Cây bổng đâm chọc liên tiếp, tiêu sái tự nhiên, chiêu nào cũng tấn công, chưa đợi nhị Võ hóa giải chiêu này đã xuất chiêu tiếp theo dồn dập, buộc nhị Võ kề vai nhau chống đỡ, không dám rời nhau nửa bước. Huynh đệ họ Võ từng xem Hoàng Dung sử kiếm pháp này, chỉ biết là nó tuấn nhã hoa tiêu, đâu ngờ lại diệu dụng đến thế. Nghe Dương Quá gọi tên các chiêu số, tựa hồ ngày trước Hoàng Dung từng nói qua, hai người bị chế ngự, tình thế quẫn bách, đau lòng nghĩ rằng Ngọc tiêu kiếm pháp chắc quả thật do Hoàng Dung truyền thụ riêng cho Dương Quá. Họ đâu biết Dương Quá từng nhiều ngày ở bên Hoàng Dược Sư, được Hoàng Dược Sư đích thân truyền thụ hai tuyệt kỹ Ngọc tiêu kiếm pháp và Đạn chỉ thần công?

Dương Quá thấy hai người thần sắc thê thảm, cũng không nỡ; nhưng nghĩ phải làm đến cùng, đã giúp Võ Tam Thông thì giúp đến nơi đến chốn; hôm nay nếu không làm cho hai gã này tâm phục khẩu phục, vĩnh viễn không dám nhìn mặt Quách Phù, thì hai gã sẽ còn vì nàng ta mà tàn sát nhau một mất một còn mới thôi. Trị bệnh phải trị tận gốc, thế là chàng tiếp tục thi triển Ngọc tiêu kiếm pháp dồn ép huynh đệ họ Võ, khiến họ càng đấu càng kinh hãi, phải nghiến răng chống trả một cách tuyệt vọng.

Việt nữ kiếm pháp mà huynh đệ họ Võ học được vốn cũng là môn kiếm pháp cực kỳ lợi hại, nhưng họ chưa luyện đến hỏa hầu, Quách Tĩnh lại vụng về, không biết giải thích tường tận cái huyền diệu tinh vi của môn kiếm pháp ấy cho hai gã đệ tử. Cho nên nhị Võ nếu tỷ thí với hảo thủ giang hồ thì chắc thắng, còn đấu với Dương Quá tất nhiên không nổi, mà tự họ cũng không hiểu vì sao. Ngọc tiêu kiếm pháp Dương Quá cũng chưa luyện kỹ, có điều võ công của chàng cao hơn hai gã kia mấy bậc, huống hồ hai gã vừa đau lòng vừa tức giận, khó tránh xuất thủ bấn loạn.

Dương Quá không hạ độc thủ, song từ từ truyền nội lực ra cây bổng. Nhị Võ đấu một hồi, cảm thấy cây bổng trong tay đối phương dường như có sức hút rất mạnh, cứ dẫn kiếm của họ chệch đi, khi thì sang bên phải, khi thì sang bên trái, không trúng đích. Lực hút của cây bổng mạnh đến mức cuối cùng dẫn kiếm của hai gã đâm lẫn nhau. Võ Đôn Nhu đâm Dương Quá một chiêu, lại suýt trúng người Võ Tu Văn; còn Võ Tu Văn đâm Dương Quá một kiếm, song Võ Đôn Nhu phải dốc sức chống đỡ mới không bị trúng đòn.

Dương Quá cười một tràng dài, nói:

– Cái tinh diệu của Ngọc tiêu kiếm pháp không dừng ở đó, hãy cẩn thận này!

Cây bổng của chàng đụng vào lưỡi kiếm của Võ Đôn Nhu, cây bổng chẳng hề hấn gì, trong khi Võ Đôn Nhu cảm thấy tay mình bị kéo mạnh ra ngoài, thanh kiếm mấy lần bị tuột khỏi tay, y phải cố ghìm lại, cây bổng của Dương Quá thuận thế đẩy chếch đi, luôn cả thanh kiếm của Võ Tu Văn cũng bị hút lấy, bị kéo xuống, cả hai mũi kiếm cùng chĩa xuống sát đất. Nhị Võ ráng sức rút về, thì chân trái của Dương Quá đã đạp lên hai cán kiếm, còn cây bổng thì chọc nhẹ lần lượt vào yết hầu từng gã, kèm theo tiếng cười, hỏi:

– Đã phục chưa?

Nếu đổi cây bổng thành vật nhọn sắc, thì hai gã đã đứt họng, dù chỉ là cây bổng, song dùng lực mạnh, thì hai gã cũng sẽ bị trọng thương. Nhị Võ mặt xám ngoét, không nói một lời. Dương Quá nhấc chân trái về lùi lại ba bước, thấy thần sắc nhị Võ thì nhớ lại hồi nhỏ từng bị hai gã ẩu đả làm nhục, hôm nay mới cho hai gã bẽ mặt, chàng không khỏi đắc ý.

Lúc này huynh đệ họ Võ không còn nghi ngờ gì nữa, tin chắc Dương Quá quả nhiên được Hoàng Dung truyền thụ tuyệt kỹ, nhưng từ nhỏ cả hai đã si mê Quách Phù, nếu bại trận này, sẽ vĩnh viễn không thể gặp nàng ta, thật không cam lòng; lại nghĩ cuộc đấu vừa khởi đầu đã bị đối phương chiếm tiên cơ, sau đó toàn phải luống cuống chống đỡ, chưa thi triển được võ nghệ sở học, ngay môn Nhất dương chỉ mới luyện cũng chưa kịp thi thố. Võ Tu Văn đột nhiên nói to:

– Đại ca, nếu chúng ta dừng tay, thì sống trên đời còn có ý vị gì nữa? Chi bằng hãy liều chết cùng hắn!

Võ Đôn Nhu nói:

– Đúng thế!

Hai gã lại xông tới, cũng không buồn nghiêm thủ các vị trí yếu hại, mà chỉ dốc sức tấn công.

Biến chiêu kiểu này, quả nhiên uy lực tăng mạnh, hai gã chỉ công không thủ, liều chết một phen với Dương Quá. Cây bổng của Dương Quá nhắm vào chỗ yếu hại của họ, họ cũng bất chấp, tay phải sử kiếm, tay trái thì thi triển môn Nhất dương chỉ, quyết lấy mạng đối phương. Dương Quá cười, nói:

– Được, đấu thế này mới thú vị một chút!

Chàng quẳng cây bổng đi, luồn lách như tia chớp giữa hai thanh kiếm. Nhị Võ càng hung hăng hơn, song vẫn không sao đâm trúng đối thủ.

Võ Tam Thông nhìn ba người động thủ, nhất thời mong Dương Quá đắc thắng, để hai đứa con của lão ta tuyệt tình với Quách Phù, song khi thấy hai đứa con liên tiếp gặp hiểm chiêu, có lúc lại mong chúng đánh bại Dương Quá, tâm trạng cứ thay đổi không ngừng.

Bỗng nghe Dương Quá hú một tiếng dài, búng ngón tay vào hai thanh kiếm của nhị Võ, tinh tinh hai tiếng, hai thanh kiếm bay lên trời. Dương Quá tung mình nhảy lên, mỗi tay chộp một thanh kiếm, cười, nói:

– Công phu Đạn chỉ thần công này cũng là do nhạc mẫu tại hạ truyền thụ đó.

Đến bước này, huynh đệ họ Võ tự biết đấu thêm với chàng sẽ càng thêm nhục. Dương Quá đảo chuôi kiếm, tung nhẹ trả lại, nói:

– Xin lỗi đã đắc tội.

Võ Tu Văn nhận kiếm, rầu rĩ nói:

– Thôi, tại hạ vĩnh viễn không còn gặp Phù muội nữa.

Đoạn đưa kiếm lên cứa ngang cổ tự vẫn. Võ Đôn Nhu cùng một ý như huynh đệ, cũng đưa kiếm lên cứa ngang cổ tự vẫn. Dương Quá kinh ngạc, bay người tới búng hai thanh kiếm ra ngoài, hai lưỡi kiếm đụng nhau cùng gãy đôi.

Lúc ấy Võ Tam Thông cũng nhảy vào, mỗi tay tóm cổ một đứa con, xẵng giọng nói:

– Hai ngươi vì một đứa con gái mà tự kết liễu tính mạng mình, thật uổng là một trang hảo hán.

Võ Tu Văn ngẩng lên, buồn bã nói:

– Gia gia, gia gia.. cũng vì một nữ nhân.. mà đau khổ suốt cả đời đó thôi? Hài nhi..

Lời chưa dứt, hắn thấy trên mặt phụ thân nước mắt ròng ròng, chợt nghĩ hai gã tàn sát lẫn nhau, quả thật làm cho người cha già đau lòng, thế là hắn khóc nấc lên. Võ Tam Thông buông tay, ôm hắn vào lòng, tay trái cũng ôm Võ Đôn Nhu, cha con ba người dính thành một chùm. Võ Đôn Nhu nghĩ mình luôn chân tình tâm ái Quách Phù, thế mà nàng ta ngấm ngầm thân mật với Dương Quá, ngay cả sư mẫu cũng đánh lừa huynh đệ y, đem tuyệt nghệ bình sinh truyền riêng cho đứa con rể tương lai, xem ra người ngoài toàn là hạng giả dối, chỉ có tình phụ tử huynh đệ mới là chân tình, bèn gục đầu vào ngực cha mà khóc nấc lên.

Dương Quá sau khi hành hạ huynh đệ họ Võ một chập, thấy ba cha con họ bây giờ đã thương yêu nhau, thì vô cùng đắc ý, nghĩ thầm tuy mình chỉ còn sống được mấy ngày, song trước khi chết cũng đã làm một việc tốt.

Chỉ nghe Võ Tam Thông nói:

– Hài tử ngu ngốc, đại trượng phu lo gì không có vợ? Nữ hài tử họ Quách đã không có chân tình với các ngươi, hà tất còn nhớ đến nó? Đại sự trước mắt ba cha con ta là gì hả?

Võ Tu Văn ngẩng đầu, nói:

– Phải báo đại cừu cho mẹ.

Võ Tam Thông đanh giọng, nói:

– Đúng thế! Cha con ta dẫu phải đi khắp chân trời góc bể, cũng phải tìm bằng được nữ ma đầu Lý Mạc Sầu!

Dương Quá kinh hãi, nghĩ: "Phải mau đưa ba người này ra chỗ khác, Lý sư bá mà nghe thấy câu vừa rồi thì phiền lắm". Chàng chưa kịp làm gì, thì nghe tiếng cười lạnh lùng của Lý Mạc Sầu từ trong hang vọng ra:

– Hà tất phải đi khắp chân trời góc bể? Lý Mạc Sầu ta chờ ở đây đã lâu.

Đoạn từ trong hang bước ra, tay trái ẵm đứa bé, tay phải cầm cây phất trần, gió thổi bay bay tà áo, thần thái tự nhiên.

Cha con họ Võ không thể nào ngờ nữ ma đầu lại xuất hiện vào lúc này tại đây, Võ Tam Thông gầm lên một tiếng, lao tới, Võ Đôn Nhu và Võ Tu Văn đã bị gãy kiếm, mỗi người nhặt thanh kiếm gãy, sấn tới tả hữu giáp công. Dương Quá nói to:

– Bốn vị hãy khoan động thủ, nghe tại hạ nói một lời đã.

Võ Tam Thông mắt đỏ ngầu, nói:

– Dương huynh đệ, để giết con ma đầu này rồi nói sau.

Vừa nói, tả chưởng và hữu chỉ đã thi triển liên tiếp ba sát chiêu. Huynh đệ họ Võ thì tuy sử dụng hai thanh kiếm gãy, nhưng đánh gần như dùng chủy thủ, cũng có uy lực không nhỏ. Dương Quá biết họ có mối huyết cừu, quyết không chịu nghe lời khuyên giải của chàng, chỉ sợ đứa bé bị thương, chàng nói:

– Lý sư bá, hãy đưa đứa bé cho đệ tử ẵm.

Võ Tam Thông sững sờ, lùi hai bước, hỏi:

– Tại sao Dương huynh đệ lại gọi mụ ta là sư bá?

Lý Mạc Sầu cười, nói:

– Sư điệt thân ái, hãy đánh chặn phía sau lão điên, đứa bé cứ để ta ẵm cũng được.

Mụ vừa tiếp ba chiêu của Võ Tam Thông, thấy công lực đại tiến, hơn hẳn năm nào đôi bên động thủ ở phủ Gia Hưng, huynh đệ họ Võ cũng không phải hạng tầm thường, ba người ấy liều chết tấn công thì mụ cũng không dễ gì đối phó, mụ bèn cố ý gọi Dương Quá là "sư điệt thân ái" để cho ba người phân tâm. Võ Tam Thông quả nhiên trúng kế, nói:

– Nhu nhi, Văn nhi, hai ngươi đề phòng gã họ Dương, để mình ta trừng trị nữ ma đầu.

Dương Quá xuôi tay lùi ra, nói:

– Tại hạ không giúp bên nào, nhưng các vị nhất thiết không được đả thương đứa bé.

Võ Tam Thông thấy Dương Quá lùi ra, phần nào yên tâm hơn, dồn lực vào chưởng mà sấn tới. Lý Mạc Sầu vung cây phất trần chống đỡ, nói:

– Hai vị tiểu Võ công tử, vừa nãy ta thấy hai công tử hành sự cũng là kẻ đa tình, không như hạng nam nhân bạc hạnh vô tình vô nghĩa đáng ghét. Nghĩ riêng việc đó hôm nay ta tha chết cho hai công tử, vậy cả hai hãy mau chạy đi!

Võ Tu Văn tức giận nói:

– Tặc tiện nhân, mụ ác bà nương chó má kia, cái gì mà đa tình với chả vô tình?

Rồi xông tới, liên tiếp tung sát chiêu. Lý Mạc Sầu nổi giận nói:

– Xú tiểu tử không biết tốt xấu!

Cây phất trần chuyển động từ trong ra ngoài, xoay một vòng, đụng hai thanh kiếm gãy của nhị Võ, cả hai cảm thấy ngực bị chấn động mạnh, kiếm gãy suýt nữa thì tuột khỏi tay. Võ Tam Thông phóng một chưởng tới, Lý Mạc Sầu đưa cây phất trần về cản, mới giải nguy cho nhị Võ.

Dương Quá chậm rãi tới phía sau Lý Mạc Sầu, chỉ chờ chiêu số của mụ ta hơi ngưng lại, chàng sẽ lập tức cướp lấy đứa bé. Nhưng ba cha con họ Võ đánh rát, buộc Lý Mạc Sầu phải vung cây phất trần bảo hộ toàn thân, không có kẽ hở nào để chàng lợi dụng. Chàng thấy cha con họ Võ xuất thủ không nể nang, úy kỵ gì đối với đứa bé, lỡ nó bị thương, thật chàng sẽ không biết nói sao với vợ chồng Quách Tĩnh? Chàng kêu to:

– Lý sư bá, mau đưa đứa bé cho đệ tử!

Rồi chàng sấn lên, vung chưởng gạt cây phất trần, định đoạt lấy đứa bé. Lúc này Lý Mạc Sầu đứng giữa bốn người, trước sau tả hữu đều là địch thủ, cũng định trao đứa bé cho Dương Quá, song mụ lại tiếc, nên quát to:

– Ngươi mà tiến bước nữa, ta sẽ bóp chết nó tức thì.

Dương Quá cả sợ, đành dừng lại.

Lý Mạc Sầu chỉ hơi phân tâm, tả chưởng của Võ Tam Thông đã vỗ tới, ngón trỏ tay phải thì điểm trúng huyệt đạo bên sườn mụ ta. Lý Mạc Sầu lập tức cảm thấy nửa người tê dại, loạng choạng chực ngã. Mụ tiện thể tung chân đá văng cây kiếm gãy khỏi tay Võ Đôn Nhu, vụt ngọn cây phất trần xuống đầu Võ Tu Văn. Võ Tam Thông túm lưng Võ Tu Văn kéo gấp về phía sau mới giúp hắn tránh thoát đòn truy hồn đoạt mệnh của mụ ta. Lý Mạc Sầu bị thương không nhẹ, vung cây phất trần mở đường chạy vào hang.

Võ Tam Thông cả mừng, nói:

– Tặc tiện nhân đã trúng một chỉ của ta, hôm nay khó lòng chạy thoát.

Huynh đệ họ Võ định xông vào hang, Võ Tam Thông nói:

– Hãy khoan, đề phòng độc kế của tặc tiện nhân, chúng ta hãy canh chừng ngoài này, nghĩ cách thật hay đã..

Lời chưa dứt, bỗng nghe một tiếng gầm lớn, rồi từ trong hang một con báo gấm lớn lao ra.

Con mãnh thú đột nhiên xuất hiện, ba cha con Võ Tam Thông đều cả kinh, trong giây lát ngân quang loáng lên, từ dưới bụng con báo phóng ra mấy mũi ngân châm. Điều này lại càng hoàn toàn bất ngờ; Võ Tam Thông võ công tinh thâm, ứng biến thần tốc, kịp bay người lên, ngân châm bay qua bên dưới, nhưng nhị Võ huynh đệ thì cùng kêu "ối!" Lý Mạc Sầu đã từ phía dưới bụng con báo lật người, cưỡi trên lưng mãnh thú, cây phất trần giắt sau lưng, tay trái ẵm đứa bé, tay phải túm gáy con báo, phát ra một tràng cười. Con báo gấm lao vào hẻm núi.

Sự việc cũng hết sức bất ngờ đối với Dương Quá, chàng thấy con báo chạy đi, vội chạy theo, gọi to:

– Lý sư bá..

Võ Tam Thông thấy hai đứa con gục ngã không bò dậy nổi, bèn dang tay ôm lấy Dương Quá, nói:

– Hôm nay ta liều chết với ngươi.

Dương Quá không phòng bị, bị lão ôm cứng, vội nói:

– Lão bá mau buông ra, để tiểu điệt cướp lại đứa bé!

Võ Tam Thông nói:

– Thôi thì cả bọn cùng chết với nhau một thể!

Dương Quá thi triển tiểu cầm nã thủ để gỡ tay lão ta, nhưng Võ Tam Thông nổi cơn điên, cứ ôm chặt ngang bụng chàng.

Dương Quá thấy Lý Mạc Sầu đã cưỡi con báo phóng đi mất hút, không thể đuổi kịp được nữa, thở dài nói:

– Lão bá ôm tiểu điệt làm gì kia chứ? Mau cứu nhị vị lệnh lang thì hơn!

Võ Tam Thông mừng rỡ:

– Phải, phải rồi! Huynh đệ biết cách cứu chữa phải không?

Nói xong lão buông Dương Quá ra.

Dương Quá cúi xuống nhìn huynh đệ họ Võ, thấy Võ Đôn Nhu bị trúng ngân châm vào vai, Võ Tu Văn bị trúng ở đùi, chất độc lan nhanh, trong giây lát hai người đã thở hổn hển, ngất đi không biết gì. Chàng xé vạt áo Võ Đôn Nhu, bọc ngón tay mình để rút hai mũi ngân châm ra khỏi người nhị Võ. Võ Tam Thông vội hỏi:

– Huynh đệ có giải dược hay không?

Dương Quá thấy nhị Võ trúng độc khó cứu, lặng lẽ lắc đầu.

Võ Tam Thông phụ tử tình thâm, lòng như dao cắt, nhớ lại vợ lão từng hút độc cho lão mà chết, đột nhiên lão chồm tới chỗ Võ Tu Văn, định hút máu từ vết thương ở đùi cho hắn. Dương Quá kinh hãi, kêu to:

– Đừng làm thế!

Chàng tiện tay điểm huyệt Đại Chùy ở lưng lão ta. Võ Tam Thông không đề phòng, bị ngã xuống, không cử động được, giương mắt nhìn hai đứa con, lệ chảy ròng ròng.

Dương Quá chợt nghĩ: "Dăm hôm nữa, chất độc hoa Tình trong người mình sẽ phát tác, sống thêm hay bớt đi dăm ngày thật chẳng có gì khác nhau, huynh đệ họ Võ là kẻ tầm thường, nhưng Võ lão bá là người chí tình, rất hợp với tâm ý của mình, Võ lão bá cả đời bất hạnh, mình hiến cho lão bá năm ngày để cha con Võ lão bá đoàn tụ mà nhớ mãi đến mình". Thế là chàng ghé miệng vào hút máu độc ra khỏi vết thương ở đùi Võ Tu Văn, nhổ đi mấy ngụm; xong lại cứu Võ Đôn Nhu.

Võ Tam Thông nhìn cảnh ấy, lòng cảm kích bội phần, ngặt vì đã bị điểm huyệt, không làm gì được. Dương Quá hút máu độc cho nhị Võ một hồi, miệng có cảm giác từ vị đắng chuyển sang vị mặn, đầu óc càng lúc càng choáng váng, biết mình trúng độc đã sâu, cố hút thêm vài ngụm, nhổ ra, rồi ngã ra ngất lịm.

Không biết ngất đi bao lâu, dần dần thấy có nhiều bóng người lờ mờ diễu qua trước mặt, muốn nhìn cho rõ, càng lờ mờ thêm; cuối cùng chàng cũng mở mắt ra được, chỉ thấy Võ Tam Thông mừng rỡ nhìn chàng, reo lên:

– Hay quá, hay quá!

Đột nhiên lão quì xuống, rập đầu mười mấy cái liền, nói:

– Dương huynh đệ, huynh đệ đã.. cứu sống.. cứu sống hai đứa con ta, cũng cứu sống cái mạng già này.

Lão lồm cồm bò dậy, rồi lại khấu đầu với một người khác, nói:

– Đa tạ sư thúc, đa tạ sư thúc!

Dương Quá nhìn về phía người kia, thấy người ấy mặt đen, mũi cao mắt sâu, diện mạo hơi giống Ni Ma Tinh, tóc ngắn râu quăn, râu tóc bạc phơ, tuổi đã cao. Dương Quá chỉ biết Võ Tam Thông là đệ tử của Nhất Đăng đại sư, không biết lão còn có một vị sư thúc là người nước Thiên Trúc, chàng muốn ngồi dậy, nhưng cảm thấy không có chút sức lực nào; nhìn quanh, thấy mình đang nằm trên giường, chính là căn phòng chàng đã ở trong thành Tương Dương; chàng mới biết là mình chưa chết, còn có thể gặp lại Tiểu Long Nữ, bất giác thốt lên hai tiếng:

– Cô cô, cô cô!

Một người tới bên giường, đặt nhẹ tay lên trán chàng, nói:

– Quá nhi, hãy nghỉ đi, cô cô của ngươi có việc ra bên ngoài thành.

Đó là Quách Tĩnh. Dương Quá thấy Quách Tĩnh đã khỏe, thì rất mừng, nhưng chợt nghĩ: "Quách bá bá bị thương hồi phục, tất đã qua bảy ngày bảy đêm, chẳng lẽ mình bị hôn mê nhiều ngày như thế hay sao? Mà chất độc hoa Tình trong người mình tại sao chưa phát tác?" Chàng ngạc nhiên, đầu óc lại mơ hồ, ngất đi.

Chàng tỉnh lại lần thứ hai, thì là đêm khuya, bên đầu giường có một ngọn nến hồng cháy sáng, Võ Tam Thông ngồi cạnh giường đăm đăm nhìn chàng. Dương Quá mỉm cười, nói:

– Võ lão bá, tiểu điệt không sao đâu, lão bá đừng bận tâm, hai vị Võ huynh đều khỏe cả chứ?

Võ Tam Thông nước mắt lưng tròng, chỉ gật đầu, không nói nên lời.

Dương Quá bình sinh chưa từng được ai cảm kích đến như vậy, cảm thấy áy náy, bèn lái sang chuyện khác, hỏi:

– Chúng ta làm cách nào về được thành Tương Dương?

Võ Tam Thông đưa tay áo quệt nước mắt, nói:

– Chu sư đệ của lão phu được Long cô nương ủy thác, đem con ngựa quí hãn huyết tới cho Dương huynh đệ, thấy bốn người chúng ta đều nằm lăn dưới đất, mới vội cấp cứu mang về.

Dương Quá ngạc nhiên, nói:

– Sao sư phụ của tiểu điệt lại biết tiểu điệt ở đó? Sư phụ của tiểu điệt có việc khẩn cấp gì, đến nỗi phải nhờ Chu lão bá mang ngựa cho tiểu điệt kia chứ?

Võ Tam Thông lắc đầu, nói:

– Lão phu về đến thành Tương Dương thì không gặp được Long cô nương. Chu sư đệ bảo rằng nàng ta còn trẻ, võ công xuất thần nhập hóa, tiếc thay lần này lão phu không có duyên bái kiến. Ôi, anh hùng thiếu niên tài ba như thế, lão phu bảo với Chu sư đệ rằng cánh già như lão phu sống cũng bằng thừa.

Dương Quá nghe Võ Tam Thông ca tụng Tiểu Long Nữ, giọng nói chân thành, thì trong lòng rất mừng, xét về lứa tuổi, Võ Tam Thông đáng bậc cha chú của Tiểu Long Nữ, song lão lại dùng hai chữ "bái kiến", tức là nhìn đệ tử mà kính nể sư phụ. Dương Quá mỉm cười, nói:

– Thương thế của tiểu điệt..

Võ Tam Thông cướp lời:

– Dương huynh đệ, trong võ lâm có người gặp nạn, ra tay cứu giúp cũng là chuyện thường, nhưng xả thân cứu người như huynh đệ, hơn nữa, lại cứu hai đứa con vừa đắc tội lớn với Dương huynh đệ, thì trừ sư phụ của lão phu ra, không ai có thể làm nổi..

Dương Quá không ngừng lắc đầu, bảo lão ta đừng nói thêm. Võ Tam Thông cứ nói tiếp:

– Lão phu nếu gọi huynh đệ là ân công, chắc huynh đệ không chịu, nhưng nếu huynh đệ còn gọi lão phu là lão bá, thì rõ ràng là huynh đệ coi Võ Tam Thông này chẳng ra gì.

Dương Quá tính sảng khoái, lâu nay không câu nệ tiểu tiết, chàng đã quyết ý lấy Tiểu Long Nữ làm vợ, phàm những gì trái với lễ tục, phép xưng hô thông thường, chàng đều ưa thích, thế là liền nói:

– Được, vậy thì tiểu đệ sẽ gọi lão bá là Võ đại ca. Có điều trước mặt hai vị lệnh lang mà xưng hô như vậy không được tiện lắm.

Võ Tam Thông nói:

– Cái gì mà không tiện? Mạng sống của chúng nó là do huynh đệ cứu vớt, chúng có làm trâu ngựa cho huynh đệ cũng đáng.

Dương Quá nói:

– Võ đại ca, đại ca khỏi cần đa tạ tiểu đệ. Tiểu đệ bị trúng độc hoa Tình, vốn không sống được lâu nữa, việc hút chất độc giúp hai vị lệnh lang thật không đáng gì.

Võ Tam Thông lắc đầu, nói:

– Dương huynh đệ, không nên nói thế. Đừng nói là chất độc trong người huynh đệ chưa chắc đã khó trị, dù là vô dược khả cứu, phàm người ta sống thêm giờ nào hay giờ ấy, dẫu một khắc cũng quí. Trên thế gian không có người trường sinh, dẫu võ công thông thiên, cuối cùng rồi cũng chết, cho nên người người đều thích sống ghét chết.

Dương Quá cười, hỏi:

– Chúng ta về thành Tương Dương được mấy hôm rồi?

Võ Tam Thông nói:

– Hôm nay đã là ngày thứ bảy.

Dương Quá ngơ ngác, nói:

– Đáng lý tiểu đệ đã bị chất độc phát tác mà chết, sao vẫn còn sống, lạ thật!

Võ Tam Thông mừng rỡ, nói:

– Sư thúc của lão phu là vị thần tăng nước Thiên Trúc, trị thương liệu độc, phải nói là đệ nhất trong thiên hạ. Hồi trước sư phụ của lão phu uống nhầm độc dược do Quách phu nhân gửi đến, chính vị sư thúc ấy chữa khỏi. Lão phu phải đi mời sư thúc tới mới được.

Đoạn xăng xái ra khỏi phòng.

Dương Quá mừng thầm: "Có lẽ khi mình hôn mê, vị thần tăng nước Thiên Trúc đã cho mình uống thứ linh đan diệu dược gì chàng, ngay cả chất độc của hoa Tình cũng hóa giải được. Ôi, không biết cô cô đi đâu nhỉ? Nếu cô cô biết mình không phải chết, hẳn sẽ sung sướng lắm!" Vừa nghĩ thế thì tim đau nhói, ngực đột nhiên như bị búa đập, đau đớn không thể chịu nổi, phải kêu to một tiếng. Từ sau hôm uống nửa viên "Tuyệt Tình đơn" của Cầu Thiên Xích, chàng chưa bị đau đến mức này lần nào, chắc là dược tính của nửa viên thuốc ấy đã hết, mà chất độc trong cơ thể chưa bị giải trừ, đành túm ngực, nghiến răng chịu đựng, mồ hôi túa ra đầy đầu.

Đang đau đớn chết đi sống lại, bỗng nghe ngoài cửa có tiếng niệm Phật hiệu "Nam mô a di đà Phật", vị thần tăng nước Thiên Trúc chắp tay bước vào. Võ Tam Thông theo sau, thấy thần sắc nhăn nhó của Dương Quá thì cả kinh, hỏi:

– Dương huynh đệ, huynh đệ làm sao vậy?

Rồi lão quay sang phía vị thần tăng, nói:

– Sư thúc, chất độc phát tác, sư thúc mau cho uống thuốc giải độc!

Vị thần tăng không hiểu lời Võ Tam Thông, bước tới bắt mạch cho Dương Quá. Võ Tam Thông nói:

– Quên mất!

Đoạn lão chạy đi gọi sư đệ Chu Tử Liễu tới. Chu Tử Liễu biết tiếng Phạn, sẽ làm thông dịch.

Dương Quá bớt đau, kể lại cho vị thần tăng Thiên Trúc nghe tỉ mỉ nguyên do chàng bị trúng độc hoa Tình. Vị thần tăng hỏi kỹ về hình dạng loài hoa đó, kinh ngạc nói:

– Loài hoa ấy có từ thời thượng cổ, đã tuyệt chủng từ lâu, trong Phật điển có câu: "Ngày ấy hoa Tình hại vô số người, Văn Thù Sư Lợi bồ tát dùng đại trí tuệ lực hóa giải, thế gian từ đó không còn lưu truyền". Nào ngờ ở Trung Thổ vẫn còn. Lão nạp chưa từng nghe loài hoa này, thật không biết làm thế nào hóa giải độc tính của nó.

Sắc mặt của vị thần tăng lộ vẻ thông cảm. Nghe Chu Tử Liễu dịch xong, Võ Tam Thông nói:

– Sư thúc từ bi, sư thúc từ bi!

Vị thần tăng chắp tay, miệng niệm "A di đà Phật!" nhắm mắt, cúi đầu trầm tư. Trong phòng tĩnh lặng, không ai dám lên tiếng. Một hồi lâu, vị thần tăng mở mắt ra, nói:

– Dương cư sĩ đã hút chất độc cho hai sư điệt tôn của lão nạp, cứ như chất độc của Băng phách ngân châm, thì chỉ hút vài ngụm vào miệng, sẽ chết ngay tại chỗ; song Dương cư sĩ đến lúc này vẫn khỏe, mà chất độc hoa Tình đến kỳ phát tác rồi cũng chưa nặng lắm, tức là đã lấy độc trị độc, hai chất cực độc khắc chế lẫn nhau, Dương cư sĩ được hưởng thiện quả chăng?

Chu Tử Liễu gật gật đầu thông dịch, Dương Quá cũng cảm thấy lời nói đó có lý.

Vị thần tăng lại nói:

– Tục ngữ có câu "Thiện hữu thiện báo", Dương cư sĩ xả thân cứu người, không có gì từ bi hơn thế, chất độc này tất sẽ được giải.

Võ Tam Thông nghe Chu Tử Liễu dịch xong, vui mừng reo lên:

– Vậy xin sư thúc mau mau thi cứu.

Vị thần tăng nói:

– Lão nạp phải đi Tuyệt Tình cốc một chuyến.

Dương Quá, Võ Tam Thông, Chu Tử Liễu cùng ngẩn người, nghĩ lộ trình đến Tuyệt Tình cốc không gần, vừa đi vừa về tốn không ít ngày. Vị thần tăng nói:

– Lão nạp phải tận mắt nhìn thấy hoa Tình, thử nghiệm độc tính của nó, mới có thể điều chế giải dược. Trước khi lão nạp trở về, Dương cư sĩ chớ nghĩ ngợi đến các kỷ niệm tình tứ, nếu không sẽ bị đau đớn lần sau dữ dội hơn lần trước. Nếu để tổn thương đến chân nguyên khí, sẽ hết phương cứu chữa.

Dương Quá chưa đáp ứng, Võ Tam Thông đã nói to:

– Sư đệ, chúng ta cùng đi Tuyệt Tình cốc, buộc lão khất bà kia phải trao giải dược.

Chu Tử Liễu lần nọ bị Hoắc Đô hạ độc, Dương Quá đã dùng kế lấy được thuốc giải, vốn có ý báo đáp, bèn nói:

– Đúng thế, hai ta cùng hộ tống sư thúc, hai ta cưỡng chế mụ ta, sư thúc thì điều chế giải dược, cả hai cách đều tốt.

Sư huynh sư đệ hết sức hăng hái, vị thần tăng Thiên trúc thì chăm chú nhìn Dương Quá, cau cau mày có vẻ lo lắng.

Comments

0 comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 24: Ý loạn tình mê

Dương Quá thấy con ngươi mắt màu xanh của vị thần tăng nước Thiên Trúc có ánh lạ, khóe miệng có vẻ thương cảm, nghĩ chất độc trong người mình khó trị, đến mức vị thần tăng trị độc này cũng phải thúc thủ, thì cười nhạt, nói:

– Đại sư có điều gì, xin cứ cho biết, đừng ngại.

Vị thần tăng nói:

– Chất độc hoa Tình khác hẳn các loại độc vật khác. Chất độc gắn kết với tình, cái hại nối liền với tâm. Lão nạp thấy Dương cư sĩ có căn tình rất sâu, gắn kết với chất độc kia, khó giải vô cùng. Dù lấy được nốt nửa viên Tuyệt Tình đơn nọ, cũng vị tất đã diệt được căn. Nhưng nếu cư sĩ vung tuệ kiếm chém đứt sợi tơ tình, thì chất độc kia chẳng cần uống thuốc, cũng tự khỏi. Chúng tôi đi Tuyệt Tình cốc, chẳng qua là mỗi người cố hết sức mình, chứ tám chín phần là tùy ở cư sĩ đó.

Dương Quá nghĩ: "Muốn ta không còn tình ý gì với cô cô, thì hà tất sống thêm làm gì kia chứ? Chi bằng cứ để chất độc phát tác mà chết đi cho xong".

Nhưng ngoài miệng vẫn nói:

– Đa tạ đại sư chỉ giáo.

Chàng định bảo Võ Tam Thông và Chu Tử Liễu đừng phí công đi Tuyệt Tình cốc, nhưng nghĩ hai người ấy nghĩa khí sâu nặng, có nói họ cũng chẳng chịu nghe, nên thôi.

Võ Tam Thông cười, nói:

– Dương huynh đệ, huynh đệ cứ an tâm tĩnh dưỡng, đừng nghĩ ngợi gì. Sớm mai chúng tôi sẽ lên đường, sẽ nhanh chóng trở về; trị xong căn bệnh cho huynh đệ sẽ thích thú uống rượu mừng huynh đệ và Quách cô nương.

Dương Quá sững người, nhưng chuyện này không thể nói vắn tắt vài câu, đành đáp ứng, nhìn ba người đi ra, khép cửa lại, chàng nhắm mắt ngủ liền.

Chàng lại ngủ mấy canh giờ nữa, tỉnh lại nghe tiếng chim ríu rít, biết trời đã rạng. Mấy ngày liền không ăn, bụng đói cồn cào, thấy đầu giường có đặt bốn cái bánh, chàng cầm lấy ăn, mới ăn hai miếng, bỗng nghe có tiếng chân người, tiếng kẹt cửa, rồi cánh cửa phòng được đẩy nhẹ ra.

Lúc này cây nến hồng ở đầu giường cháy còn một tấc, chưa tắt, Dương Quá thấy người bước vào là Quách Phù, mặc bộ quần áo màu hồng nhạt, sắc mặt hơi giận. Dương Quá ngẩn người, nói:

– Quách cô nương, cô nương dậy sớm thế.

Quách Phù hừ một tiếng, không trả lời, ngồi xuống chiếc ghế trước giường, lông mày thanh tú hơi cau, đôi mắt to giận dữ nhìn chàng một hồi lâu, không nói một lời.

Dương Quá bị nàng nhìn, trong lòng bất an, mỉm cười nói:

– Quách bá bá bảo cô nương tới nói gì với tại hạ phải không?

Quách Phù nói:

– Không phải!

Dương Quá bị giội hai gáo nước lạnh như thế, giá lúc khác, chàng đã quay mặt vào tường, thây kệ nàng ta, nhưng lúc này thấy thần sắc của nàng rất lạ, chưa đoán biết nàng sớm tinh mơ đã tới phòng mình về chuyện gì, lại hỏi:

– Quách bá mẫu sau khi sinh bình an, đã khỏe hẳn rồi chứ?

Quách Phù càng tăng vẻ mặt lạnh lùng, nói:

– Mẹ của bổn cô nương có khỏe hay không, khỏi cần huynh quan tâm.

Trên thế gian ngoài Tiểu Long Nữ ra, Dương Quá không hề nhường ai, hôm nay bị Quách Phù lấn lướt như thế, ngạo khí dần sinh, nghĩ bụng: "Phụ thân mi là Quách đại hiệp, mẫu thân là Hoàng bang chủ, thì mi tưởng là mi giỏi lắm ư?" Bèn hừ một tiếng. Quách Phù nói:

– Huynh hừ cái gì?

Dương Quá không trả lời, lại hừ tiếng nữa. Quách Phù lớn tiếng:

– Bổn cô nương hỏi huynh hừ cái gì?

Dương Quá cười thầm: "Rốt cuộc cô nàng không nhịn nổi, mình mới hừ hai cái, cô nàng đã cuống lên", nói:

– Tại hạ khó chịu trong người, hừ vài cái cho dễ chịu hơn.

Quách Phù tức giận:

– Khẩu thị tâm phi, hồ thuyết bát đạo (nói một đằng, nghĩ một nẻo, ăn nói hồ đồ) đã thành nết xấu khó sửa, đúng là hạng tiểu nhân hèn hạ.

Dương Quá bị nàng nhiếc móc thậm tệ, chợt nghĩ: "Hay là những lời mình bịa ra với huynh đệ họ Võ đã bị nàng ta hay biết?" Thấy nàng tuy giận dữ, nhưng dung nhan kiều mỹ, thì không khỏi thương thương. Tính chàng vốn có ba phần phong lưu, không nhịn cười được, nói:

– Quách cô nương, cô nương giận tại hạ về những lời tại hạ nói với Võ gia huynh đệ phải không?

Quách Phù gằn giọng:

– Huynh nói gì với họ, hãy tự nhắc lại cho bổn cô nương nghe coi?

Dương Quá cười, nói:

– Tại hạ chỉ muốn điều tốt đẹp cho họ, tránh cho hai anh em ruột quyết đấu một mất một còn, khiến người cha già đau lòng mà thôi. Là Võ lão bá kể lại với cô nương phải không?

Quách Phù nói:

– Võ lão bá vừa gặp bổn cô nương đã chúc mừng, tâng bốc huynh tận mây xanh. Thanh danh thanh bạch của.. bổn cô nương đâu phải là thứ để huynh nói năng tùy tiện như thế?

Nói đến đây, giọng nàng nghẹn ngào, nước mắt lăn dài trên mặt.

Dương Quá cúi đầu không nói, lòng thầm hối hận, đêm nọ chàng đã cao hứng uốn ba tấc lưỡi, càng nói càng đắc ý với huynh đệ họ Võ, không ngờ làm tổn hại thanh danh của Quách Phù, trót dùng lời lẽ khinh bạc mất rồi, bây giờ không dễ thu thập.

Quách Phù thấy chàng cúi đầu im lặng, thì càng tức, vừa khóc vừa nói:

– Võ lão bá kể rằng đại Võ ca ca, tiểu Võ ca ca đánh không lại huynh, bị huynh ép cho từ nay không dám nhìn mặt bổn cô nương. Điều đó có đúng hay không?

Dương Quá thở dài, nghĩ: "Võ Tam Thông thật là chẳng biết cân nhắc gì cả, ai lại đi kể câu ấy với nàng ta kia chứ?" Biết không thể giấu, chàng đành gật đầu. Nói:

– Tại hạ hồ thuyết bát đạo, quả thật không nên, nhưng tại hạ thực không có ý xấu, mong cô nương lượng thứ.

Quách Phù lau nước mắt, tức giận nói:

– Lời nói tối hôm qua là để làm gì?

Dương Quá ngạc nhiên:

– Tối hôm qua nói gì kia chứ?

Quách Phù nói:

– Võ lão bá báo, đợi khi trị thương xong cho huynh, sẽ uống rượu mừng huynh.. với bổn cô nương.. tại sao huynh đáp ứng mà không biết ngượng?

Dương Quá thầm kêu khổ: "Thôi hỏng mất rồi! Thì ra câu chuyện đêm qua, nàng ta cũng nghe được".

Chàng đành biện hộ:

– Lúc ấy tại hạ mơ mơ màng màng, không nghe rõ lời của Võ lão bá.

Quách Phù biết chàng nói dối, lớn tiếng:

– Huynh bảo mẹ của bổn cô nương bí mật dạy võ cho huynh, đã sớm nhắm huynh làm con rể, có chuyện đó hay không?

Dương Quá bị nàng căn vặn xấu hổ đỏ bừng cả mặt, nghĩ: "Mình nói đùa với Quách cô nương, dẫu bị coi là khinh bạc vô lại cũng chẳng sao, bởi vì mình chẳng phải là chính nhân quân tử gì cả. Nhưng mình bịa chuyện Quách bá mẫu bí mật dạy võ cho mình, việc này không phải chuyện thường, dù thế nào cũng không để Quách bá mẫu hay biết", vội nói:

– Quách cô nương, đều do tại hạ nói năng không thận trọng, xin cô nương chớ cho Quách bá bá và Quách bá mẫu biết chuyện.

Quách Phù cười khẩy:

– Huynh đã sợ gia gia, sao còn dám bịa chuyện bêu xấu mẫu thân của bổn cô nương?

Dương Quá vội nói:

– Tại hạ hoàn toàn không có ý bất kính đối với Quách bá mẫu, hôm ấy tại hạ chỉ muốn Võ gia huynh đệ dứt hẳn tình niệm, cho nên ăn nói thiếu cân nhắc..

Quách Phù là bạn thanh mai trúc mã với huynh đệ họ Võ, có tình ý với cả hai người, biết tin Dương Quá đánh lừa để họ dứt tình với nàng, vĩnh viễn không nhìn mặt nàng, thứ hỏi làm sao nén được giận dữ? Nàng lại lớn tiếng hỏi:

– Việc đó bổn cô nương thư thả sẽ tính sổ sau với huynh. Còn muội muội của bổn cô nương? Huynh đã mang bé đi đâu?

Dương Quá nói:

– Phải đó, mau mời Quách bá bá tới đây, tại hạ đang định thưa với Quách bá bá.

Quách Phù nói:

– Gia gia đã xuất thành đi tìm muội muội. Huynh.. huynh là kẻ tiểu nhân vô sỉ, định mang muội muội của bổn cô nương đi đổi lấy thuốc giải. Hừ tính mạng của huynh đáng giá quá, còn tính mạng muội muội của bổn cô nương thì không đáng gì.

Dương Quá từ đầu vẫn hổ thẹn, nhưng nghe nhắc đến đứa bé, thì chàng không có gì phải hổ thẹn với trời đất, liền cứng cỏi nói:

– Tại hạ một lòng một dạ muốn giành lại lệnh muội, mang về cho gia nương của cô nương, chứ Dương Quá ta hoàn toàn không có ý định mang bé đi đổi lấy thuốc giải.

Quách Phù nói:

– Thế muội muội của bổn cô nương đâu rồi?

Dương Quá nói:

– Bị Lý Mạc Sầu mang đi mất, tại hạ giành lại không được, rất hổ thẹn. Chỉ cần tại hạ nhất thời chưa bị chết, mà khỏe lại, tại hạ sẽ lập tức đi tìm bé.

Quách Phù cười khẩy, nói:

– Lý Mạc Sầu là sư bá của huynh phải không? Hai người cùng trốn trong hang, phải vậy không?

Dương Quá nói:

– Phải, Lý Mạc Sầu tuy là sư bá của tại hạ, nhưng vốn bất hòa từ lâu với sư phụ của tại hạ.

Quách Phù nói:

– Hừ, bất hòa từ lâu, tại sao mụ ta lại nghe lời huynh, mang muội muội của bổn cô nương đi đổi lấy thuốc giải cho huynh?

Dương Quá đứng bật dậy, tức giận nói:

– Quách cô nương chớ nói bậy, Dương Quá ta tuy là kẻ tiểu nhân, song không hề có ý đó.

Quách Phù nói:

– "Không hề có ý đó" ư? Chính miệng sư phụ huynh nói ra điều ấy, chẳng lẽ là giả?

Dương Quá hỏi:

– Sư phụ tại hạ nói gì?

Quách Phù đứng thẳng dậy, chỉ mặt chàng, hầm hầm nói:

– Chính miệng sư phụ huynh nói với Chu bá bá, rằng huynh và Lý Mạc Sầu cùng ở trong hoang cốc, nhờ Chu bá bá mang con ngựa hãn huyết của gia gia bổn cô nương đến đó cho huynh, để huynh mang muội muội của bốn cô nương đi Tuyệt Tình cốc..

Dương Quá kinh nghi bất định, nói:

– Không sai, sư phụ tại hạ đúng là có ý đó, muốn tại hạ hãy mang muội muội của cô nương đi trước, lấy được nửa viên Tuyệt Tình đơn rồi sẽ tính, nhưng đó chỉ là kế sách tạm thời, không có ý hại muội muội của cô nương..

Quách Phù ngắt lời:

– Muội muội của bốn cô nương ra đời chưa đầy một ngày, huynh đã đem giao cho một ác nhân giết người không chớp mắt, còn bảo là không có ý hại muội muội của bổn cô nương. Huynh là một tên ác tặc lang tâm cẩu phế! Hồi nhỏ huynh cô khổ bơ vơ, gia nương ta đối với huynh thế nào hả? Nếu không đưa huynh về nuôi dưỡng ở đảo Đào Hoa, liệu huynh có được như hôm nay? Nào ngờ huynh lấy oán trả ân, đưa kẻ địch tới, thừa cơ gia nương ta không được khỏe, cướp mất muội muội của ta mang đi..

Nàng càng mắng càng hăng, Dương Quá nhất thời làm sao biện bạch? Sau khi trúng độc thân thể suy yếu lại vừa ức vừa lo, "oạch" một cái, chàng ngã xuống giường ngất đi.

Một hồi sau, chàng dần dần hồi tỉnh. Quách Phù lạnh lùng nhìn chàng, nói:

– Không ngờ huynh còn có chút liêm sỉ, tự biết tâm địa như thế thì trời đất khó dung..

Dương Quá thở dài, nói:

– Nếu tại hạ quả có ý như vậy, tại sao tại hạ không mang muội muội của cô nương đi Tuyệt Tình cốc?

Quách Phù nói:

– Vì chất độc phát tác trong người huynh, đi xa không tiện, mới nhờ sư bá của huynh đi giùm. Hừ, nhưng mà người tính chẳng bằng trời tính. Bổn cô nương nghe sư phụ của huynh nói với Chu bá bá, bèn đem con hãn huyết giấu đi, để sư đồ huynh không thực hiện được gian kế..

Dương Quá nói:

– Thôi được, cô nương thích nói sao thì cứ nói, tại hạ cũng không cần tranh biện nữa. Sư phụ của tại hạ đi đâu rồi?

Quách Phù hơi đỏ mặt, nói:

– Thế mới gọi là thầy nào trò ấy, sư phụ của huynh cũng không phải là người tử tế.

Dương Quá cả giận, đứng dậy nói:

– Cô nương nhiếc mắng ta, ta nể mặt gia nương cô nương mà bỏ qua nhưng nếu cô nương dám nói xấu sư phụ ta..

Quách Phù nói:

– Sư phụ của huynh thì sao? Ai bảo nàng ta nói năng không đứng đắn.

Dương Quá nghĩ: "Cô cô thanh khiết không nhuốm một chút bụi trần, không đời nào nói năng không đứng đắn", bèn nói:

– Chẳng qua cô nương có tà tâm, nên mới bẻ cong lời lẽ của sư phụ ta.

Quách Phù vốn không định thuật lại lời của Tiểu Long Nữ, nghe Dương Quá nói vậy thì nổi giận, nói:

– Nàng ta bảo, Quách cô nương, Quá nhi tâm địa thiện lương, chàng một đời cô khổ, mong cô nương hãy đối đãi tốt với chàng; lại bảo, cô nương với chàng vốn là.. một cặp xứng đôi vừa lứa! Cô nương hãy bảo chàng quên ta đi, ta không trách chàng đâu. Nàng ta còn đưa một thanh bảo kiếm cho bổn cô nương, nói là kiếm Thục nữ gì đó, hợp với kiếm Quân tử của huynh chính là.. một cặp đẹp đôi. Như thế chẳng phải là nói năng không đứng đắn hay sao?

Quách Phù vừa ngượng vừa giận, đem nói lại nguyên xi mấy câu tuyệt vọng của Tiểu Long Nữ, chỉ có giọng điệu là không giống.

Dương Quá nghe mỗi câu như một nhát búa bổ vào đầu, choáng váng không hiểu tại sao Tiểu Long Nữ lại nói như vậy, chờ Quách Phù nói xong, chàng từ từ ngẩng đầu lên, ánh mắt có dị quang, quát:

– Cô nương bịa chuyện, sư phụ ta không khi nào nói thế! Kiếm Thục nữ đâu, nếu không đưa ra được, tức là cô nương bịa chuyện lừa người!

Quách Phù cười khẩy, đưa tay ra sau lưng rút thanh trường kiếm, thân kiếm đen tuyền, chính là kiếm Thục nữ.

Dương Quá tuyệt vọng, nói bừa đi:

– Ai thèm cặp đôi với cô nương kia chứ? Thanh kiếm này rõ ràng là của sư phụ ta, cô nương đã lấy trộm, cô nương đã lấy trộm nó!

Quách Phù từ nhỏ quen nết kiêu ngạo, ngay cha mẹ nàng cũng phải chiều nàng ba phần, huynh đệ họ Võ thì thiên ưng bách thuận, nào ai dám nặng lời với nàng thế này? Nàng thuật lại lời Tiểu Long Nữ chỉ vì Dương Quá nói khích, ai dè chàng lại trả lời như vậy, làm như là nàng muốn lấy chàng, còn chàng lại không thèm. Quách Phù cả giận, định vung kiếm chém chàng, song lại nghĩ: "Chàng ta kính trọng sư phụ của chàng như vậy, thì ta kể phắt chuyện kia cho chàng tức mà chết".

Lúc này Quách Phù giận quá mất khôn, không nghĩ gì đến hậu quả tệ hại của câu chuyện nàng sắp kể, nàng tra kiếm vào vỏ, ngồi xuống ghế, cười khẩy, nói:

– Sư phụ của huynh tướng mạo mỹ lệ, võ công cao cường, quả nhiên hiếm có trên đời, song có một việc không ra gì.

Dương Quá hỏi:

– Đó là việc gì?

Quách Phù nói:

– Chỉ tiếc nàng ta thiếu đứng đắn, lén lén lút lút đi lại với đạo sĩ phái Toàn Chân.

Dương Quá nổi giận, nói:

– Sư phụ ta có mối thù với phái Toàn Chân, làm sao có chuyện lén lút đi lại với họ?

Quách Phù lạnh lùng nói:

– Nói lén lút đi lại là còn nhã nhặn đấy. Có những điều bổn cô nương là phái nữ không tiện nói ra đâu.

Dương Quá càng nghe càng tức, cao giọng:

– Sư phụ ta băng thanh ngọc khiết, cô nương còn nói bậy nửa câu, ta sẽ vả vỡ miệng cho coi.

Quách Phù cau mày, thản nhiên nói:

– Đúng, nàng ta làm được, song bổn cô nương không tiện nói ra. Một thiếu nữ băng thanh ngọc khiết, thế mà lại đi ôm ấp một gã đạo sĩ hôi hám.

Dương Quá quát:

– Cô nương bảo sao?

Quách Phù nói:

– Bổn cô nương chính tai nghe thấy, chẳng lẽ còn không phải? Có hai đạo sĩ phái Toàn Chân tới thăm gia gia bổn cô nương, trong thành đang rối loạn, gia nương không được khỏe, không thể tiếp khách, sai bổn cô nương tiếp đãi tân khách..

Dương Quá quát:

– Rồi sao?

Quách Phù thấy Dương Quá tức giận, trán nổi gân xanh, hai mắt đỏ vằn, thì mừng thầm, nói:

– Hai đạo sĩ ấy một người tên Triệu Chí Kính, một người tên Doãn Chí Bình, có hai kẻ đó hay không?

Dương Quá hỏi:

– Rồi sao?

Quách Phù cười nhạt, nói:

– Bổn cô nương sai người bố trí nơi ăn nghỉ cho họ, cũng chẳng để tâm. Nào ngờ nửa đêm có một đệ tử Cái Bang đến báo cho bổn cô nương biết, hai vị đạo sĩ đang đấu kiếm với nhau trong phòng..

Dương Quá hừ một tiếng, biết Triệu Chí Kính và Doãn Chí Bình vốn bất hòa, có đánh nhau cũng không có gì lạ.

Quách Phù kể tiếp:

– Bổn cô nương nổi tính hiếu kỳ, rón rén đến bên song cửa nhìn vào, thấy hai đạo sĩ đã thu kiếm ngừng đấu, song còn đang đấu khẩu, lão họ Triệu bảo gã họ Doãn cùng với sư phụ của huynh đã thế này thế nọ với nhau, gã họ Doãn không phủ nhận, chỉ trách lão họ Triệu không nên nói lớn chuyện đó ra như vậy..

Dương Quá hất tung chăn khỏi người, ngồi bật dậy ở mép giường, quát:

– Thế này thế nọ với nhau là thế nào?

Quách Phù hơi đỏ mặt, vẻ ngượng ngập, nói:

– Làm sao bổn cô nương biết? Chẳng lẽ là việc hay ho? Vị sư phụ quí hóa của huynh làm việc gì thì chỉ có nàng ta mới biết thôi.

Giọng nói của nàng đầy vẻ khinh miệt. Dương Quá vừa tức vừa nóng, tâm trí bấn loạn, vung tay, "bốp" một tiếng, tát Quách Phù một cái thật mạnh, Quách Phù tối tăm mặt mũi, nửa bên má lập tức sưng đỏ, nếu không phải Dương Quá bị bệnh sức lực suy yếu, thì nàng đã gãy mấy chiếc răng rồi.

Quách Phù cả đời đâu có khi nào bị nhục thế này? Trong cơn cuồng nộ, nàng rút phăng kiếm Thục nữ, đâm luôn vào cổ Dương Quá.

Dương Quá tát nàng một cái, nghĩ: "Ta đắc tội với ái nữ của Quách bá bá và Quách bá mẫu, Quách Phù là công chúa trong thành Tương Dương, Quách bá bá và Quách bá mẫu một mực chiều chuộng, ta làm sao có thể ở lại chốn này?" Chàng thò chân xuống đất đi hài, thấy Quách Phù đâm kiếm tới, chàng cười khẩy, tay trái hồi dẫn, tay phải giơ ra nhứ nhứ, đoạt luôn thanh kiếm Thục nữ.

Quách Phù bị thua liền hai chiêu, càng giận thêm, thấy ở đầu giường có một thanh kiếm, liền chộp lấy, rút khỏi bao, chém xuống đầu Dương Quá. Dương Quá thấy hàn quang loáng một cái, giơ thanh kiếm Thục nữ lên chống đỡ, nào ngờ sau bẩy ngày hôn mê, chàng xuất thủ vô lực, thanh kiếm mới giơ lên tới trước ngực thì cánh tay đã mềm rũ; Quách Phù chém vát đi một chút, keng một tiếng, hai kiếm đụng nhau, thanh kiếm Thục nữ rơi xuống đất.

Quách Phù bị nhục bởi một cái tát, nghĩ: "Ngươi hãm hại muội muội của ta, thật là đê hèn, độc ác, hôm nay ta giết ngươi trả thù cho muội muội. Gia gia và mẹ cũng sẽ không trách ta". Nàng thấy Dương Quá ngã phệt xuống đất, không còn sức chống đỡ, chỉ giơ tay phải lên che trước ngực, ánh mắt không một chút van xin, bèn nghiến răng, tăng thêm sức cho cánh tay, chém kiếm xuống.

Hôm ấy Tiểu Long Nữ cưỡi con ngựa quí đuổi theo Dương Quá và Kim Luân pháp vương, song đi nhầm hướng. Con ngựa hồng chạy một mạch hơn chục dặm, nàng quay đầu ngựa tìm kiếm, thì không còn biết Dương Quá đi về hướng nào nữa. Nàng nóng ruột, thấy mỗi khắc trôi qua, tính mạng của Dương Quá càng nguy khốn thêm, cứ phi ngựa lòng vòng ba bốn chục dặm quanh thành Tương Dương tìm kiếm. Con ngựa hãn huyết tuy phi nhanh, nhưng hoang cốc kia quá heo hút, mãi đến nửa đêm, nàng mới nghe loáng thoáng từ xa tiếng khóc của Võ Tam Thông. Nàng tiến đến gần, không lâu nghe thấy tiếng huynh đệ họ Võ đấu kiếm với nhau, rồi tiếng nói của Dương Quá. Nàng cả mừng, sợ Dương Quá gặp kình địch, nàng định ở trong bóng tối kín đáo tương trợ, nên xuống ngựa, buộc ngựa vào một gốc cây, nấp sau một tảng đá quan sát Dương Quá đối địch.

Việc nhìn lén không sao, nhưng khốn nỗi nàng cứ nghe Dương Quá luôn miệng bô bô rằng chàng đã đính ước với Quách Phù từ sớm, gọi Quách Phù là "vị hôn thê" của chàng, gọi vợ chồng Quách Tĩnh là "nhạc phụ nhạc mẫu". Tiểu Long Nữ càng nghe càng kinh tâm động phách, nghe chàng kể Quách Tĩnh, Hoàng Dung đã chọn chàng làm rể, bí mật truyền thụ võ công, nàng còn thấy Dương Quá tức giận với huynh đệ họ Võ, không cho phép họ được nhìn mặt Quách Phù. Mỗi câu nói của Dương Quá như một tiếng sét bên tai nàng, tâm trí hồ đồ, tựa hồ vũ trụ vạn vật trong giây lát đã thay đổi hoàn toàn. Nếu là người khác, thấy lời nói và việc làm của Dương Quá khác hẳn với mấy năm qua, ắt sẽ sinh nghi, chờ sau sự việc này sẽ hỏi lại chàng cho rõ; nhưng Tiểu Long Nữ thì lòng dạ như thuỷ tinh trong suốt, không nhuốm bụi trần, không biết gì về thủ đoạn dối trá của nhân gian. Dương Quá bẻm mép, hồ thuyết bát đạo với kẻ khác, song đối với nàng thì bao năm nay chưa từng nói đùa một câu, nên nàng vẫn tin hoàn toàn vào lời nói của chàng. Mắt thấy huynh đệ họ Võ không địch nổi Dương Quá, nàng tự thương mình, bất giác thở dài não nuột. Lúc ấy Dương Quá nghe thấy, buột miệng gọi "Cô cô", Tiểu Long Nữ không trả lời, che mặt bỏ đi. Dương Quá lại tưởng là do Lý Mạc Sầu phát ra, chàng nghe nhầm, nên không để ý thêm.

Tiểu Long Nữ dắt con ngựa hãn huyết đi loạn một hồi trong hoang cốc, nghĩ đi ngẫm lại, không biết nên làm thế nào. Nàng đã hơn hai mươi tuổi, nhưng cả đời sống trong tòa cổ mộ, không hiểu gì về thế sự, kiến thức chẳng khác một hài đồng hồn nhiên ngây thơ, nàng nghĩ: "Quá nhi đã định thân với Quách cô nương, tất nhiên sẽ không thể lấy ta. Thảo nào vợ chồng Quách đại hiệp nhất quyết không cho Quá nhi kết thân với ta. Quá nhi sở dĩ trước nay không nói cho ta biết, là vì chàng sợ ta đau lòng. Ôi, chàng đối với ta thật là tốt!" Lại nghĩ: "Quá nhi chần chừ, không chịu hạ sát Quách đại hiệp để báo thù cho cha, ban đầu ta không hiểu chút gì, thì ra hoàn toàn là vì Quách cô nương, như vậy xem chừng tình nghĩa của chàng với Quách cô nương cũng rất sâu nặng. Nếu bây giờ ta mang ngựa tới cho chàng, chàng lại nghĩ đến lòng tốt của ta, mai sau lại thay đổi hôn sự với Quách cô nương thì phiền. Thôi thì ta một mình trở về tòa cổ mộ, thế gian này chỉ khiến ta tâm loạn ý phiền mà thôi".

Nghĩ một hồi, ý niệm đã quyết, tuy lòng đau như cắt, nhưng nghĩ việc cứu mạng Dương Quá là hệ trọng, bèn gấp trở vào thành Tương Dương, nhờ Chu Tử Liễu mang con ngựa hãn huyết đến hoang cốc cho Dương Quá. Lúc ấy trong thành Tương Dương thích khách đã bỏ đi xa, Quách Tĩnh, Hoàng Dung chưa khỏe lại, tình thế rối rắm. Chu Tử Liễu văn võ toàn tài, đồng tâm hiệp lực với Lỗ Hữu Cước gánh vác trọng trách giữ thành. Giữa lúc ấy, Tiểu Long Nữ dắt con ngựa quí tới, nhờ Chu Tử Liễu mang đi trao cho Dương Quá, nói Dương Quá phải lập tức đi Tuyệt Tình cốc, mang đứa bé sơ sinh đi đổi lấy linh đan giải độc, khiến Chu Tử Liễu nghe mà chẳng hiểu gì hết. Chu Tử Liễu hỏi vài câu cho rõ, Tiểu Long Nữ tâm thần phiền loạn, không muốn nhiều lời, chỉ bảo hãy đi mau cho, chậm khắc nào, tính mạng Dương Quá thêm nguy hiểm khắc ấy.

Lúc ấy Quách Phù đang ở bên cạnh Chu Tử Liễu, song Tiểu Long Nữ cũng chẳng ngại ngần, nàng nghĩ: "Mang muội muội đi Tuyệt Tình cốc vài hôm cũng không sao, chẳng qua để cứu mạng vị hôn phu của cô nương, cô nương tất nhiên cũng ưng thuận". Tiểu Long Nữ nhắc đến tên Dương Quá, không khỏi bi thương, lời chưa nói hết, lệ đã lăn dài, bèn chạy về phòng, gục xuống gối mà khóc to lên.

Chu Tử Liễu không biết gì đầu đuôi, nghe mấy câu nói không đầu không đũa của Tiểu Long Nữ, không hiểu nàng nói gì, nhưng nghe câu "hãy đi mau cho, chậm khắc nào, tính mạng Dương Quá thêm nguy hiểm khắc ấy", nghĩ phải đến hoang cốc một chuyến đã, tới đó sẽ liệu. Chu Tử Liễu quyết định ra khỏi thành, ngó tới con ngựa hãn huyết, đã không thấy đâu, hỏi một thân binh, người ấy bảo Quách cô nương đã dắt đi, tìm Quách Phù không được, Chu Tử Liễu thở dài, nghĩ các cô nương thật khó hiểu. Lo cho sự an nguy của Dương Quá, Chu Tử Liễu chọn mấy đệ tử Cái Bang, cùng họ phi ngựa tới hoang cốc theo lời mô tả của Tiểu Long Nữ, thấy Dương Quá với huynh đệ họ Võ nằm ngất dưới đất, Võ Tam Thông thì đang vận khí giải huyệt, nhớ câu "chậm khắc nào, tính mạng Dương Quá thêm nguy hiểm khắc ấy" quả không sai, vội cấp cứu chở về thành Tương Dương, vừa may có vị sư thúc từ nước Thiên Trúc sang, liền nhờ sư thúc cứu chữa.

Tiểu Long Nữ nằm khóc một hồi, càng nghĩ càng đau lòng, nước mắt không kìm lại được. Nàng khóc đã ướt đầm cả vạt áo, nàng đưa tay lấy khăn ở thắt lưng để lau nước mắt, thì chạm vào thanh kiếm Thục nữ, nghĩ: "Ta trao thanh kiếm này cho Quách cô nương, cho họ thành đôi, cũng là một việc tốt đẹp". Nàng si ái Dương Quá, bất cứ việc gì có ích cho chàng, nàng đều sẵn lòng làm, thế là ngồi dậy, cũng chẳng lau nước mắt, đi tìm Quách Phù.

Lúc này đã nửa đêm, Quách Phù đã ngủ, Tiểu Long Nữ không chờ người vào báo, mở cửa sổ, nhảy vào phòng, gọi Quách Phù dậy, nói:

– Hai người vốn là một cặp đẹp đôi..

Đúng như Quách Phù sau đó thuật lại với Dương Quá. Rồi Tiểu Long Nữ trao thanh kiếm Thục nữ cho Quách Phù, quay đầu đi luôn. Quách Phù chưa hiểu gì, hỏi:

– Long cô nương bảo sao cơ?

Tiểu Long Nữ không đáp, nhảy ra cửa sổ. Quách Phù ngó đầu ra, gọi:

– Long cô nương, mau quay lại đây!

Song Tiểu Long Nữ cứ cắm đầu mà đi, không buồn ngoảnh lại.

Tiểu Long Nữ cúi đầu bước tới hoa viên, một bụi hoa hồng lớn tỏa hương thơm thơm, nàng nhớ hồi ở chân núi Chung Nam, cùng với Dương Quá luyện "Ngọc nữ tâm kinh" bên bụi hoa, hôm nay sư đồ hai người có muốn ở bên nhau, đã không còn dịp nữa.

Nàng đang ngẩn ngơ, bỗng nghe từ ngôi nhà mé trái vọng tới tiếng nói:

– Sư đệ cứ mở miệng lại nhắc đến Tiểu Long Nữ, thử một ngày không nhắc đến nàng ta có được hay không?

Tiểu Long Nữ kinh ngạc: "Ai mà lại luôn miệng nhắc tên ta vậy?" Bèn dỏng tai nghe, giọng thứ hai nói:

– Đây là phủ của người ta, sư huynh nói nhỏ chứ, lỡ người ta nghe thấy, còn gì là thanh danh phái Toàn Chân chúng ta?

Người thứ nhất nói:

– Sư đệ còn nghĩ đến thanh danh phái Toàn Chân chúng ta ư? Thế cái đêm nọ ở núi Chung Nam, cái khoái lạc mê hồn.. ha ha.

Tiếng nói dừng ở dó, tiếp theo là tiếng cười giễu cợt.

Tiểu Long Nữ kinh hãi, sinh nghi: "Chẳng lẽ cái đêm Quá nhi ân ái với mình, hai gã đạo sĩ kia đã nhìn thấy?" Nghe giọng nói của hai người, nàng đã biết đó là Doãn Chí Bình và Triệu Chí Kính; nàng bèn rón rén tới bên cửa sổ phòng họ mà nghe. Lúc này hai đạo sĩ nói nhỏ, nhưng khoảng cách giữa họ với nàng rất gần, thành thử nàng nghe rõ từng lời.

Doãn Chí Bình có vẻ giận dỗi, nói:

– Triệu sư huynh, sư huynh cứ không ngừng hành hạ đệ, rốt cuộc là để làm gì?

Triệu Chí Kính nói:

– Sư đệ thừa biết rồi.

Doãn Chí Bình nói:

– Sư huynh muốn đệ làm gì, đệ đều đáp ứng, đệ chỉ xin sư huynh đừng nhắc tới chuyện đó nữa, vậy mà sư huynh càng lúc càng làm già. Có phải sư huynh muốn đệ phải chết trước mặt sư huynh hay chăng?

Triệu Chí Kính cười khẩy, nói:

– Ta cũng không biết, ta chỉ không nhịn được, cứ phải nhắc đến mới xong.

Doãn Chí Bình đột nhiên lên cao giọng:

– Sư huynh tưởng đệ không biết chăng. Sư huynh ghen tức, không có được thời khắc thần tiên như đệ được hưởng chứ gì?

Câu này nghe rất lạ, Triệu Chí Kính không trả lời, hình như muốn cười khẩy mà không cười được.

Lát sau, Doãn Chí Bình nói:

– Đúng thế, đêm ấy nàng ta bị Âu Dương Phong điểm huyệt không cựa quậy được bên bụi hoa hồng, cho nên đệ được ân ái với nàng như sở nguyện. Phải rồi, đệ không nói thì sư huynh cũng chẳng thể biết, đúng thế không? Đệ kể cho sư huynh biết, thế là sư huynh cứ không ngừng gây khó dễ với đệ, hành hạ đệ.. Nhưng đệ cũng không hối hận, không hối hận chút nào đâu.

Càng về cuối, giọng nói của y càng ôn tồn nhẹ nhàng.

Tiểu Long Nữ nghe mấy câu ấy thì lòng trĩu nặng, tai như ù đi: "Không lẽ là hắn, chứ không phải Quá nhi tâm ái của ta? Không, không phải hắn, quyết không phải hắn, hắn bịa ra, phải là Quá nhi".

Lại nghe Triệu Chí Kính nói, giọng lạnh lùng:

– Phải rồi, sư đệ không hối hận chút nào. Sư đệ cũng không định kể cho ta biết, nhưng trong bụng sướng quá, không kể ra thì không chịu được. Được, ta sẽ ngày ngày nhắc nhở sư đệ việc ấy, nhưng tại sao sư đệ lại sợ nghe kia chứ?

Đột nhiên nghe mấy tiếng bình bình, đó là Doãn Chí Bình đập đầu vào tường, nói:

– Sư huynh nói đúng, có nói cho cả thiên hạ cùng biết, đệ cũng chẳng sợ.. Không, không, Triệu sư huynh, sư huynh bảo gì đệ cũng đáp ứng, chỉ xin đừng nhắc chuyện ấy nữa.

Tiểu Long Nữ trong một đêm nghe thấy hai chuyện lớn làm tan nát cõi lòng, nàng mơ hồ đứng ngoài song, tuy nghe hai đạo sĩ trong phòng nói chuyện tiếp nhưng nàng không còn hiểu ý họ nữa.

Lại nghe Triệu Chí Kính cười khẩy, nói:

– Chúng ta là người tu đạo, nếu rơi vào ma chướng, thì phải dùng định lực vô thượng mà chống lại. Ta sở dĩ luôn nhắc đến Tiểu Long Nữ là cốt cho sư đệ nghe mãi đâm chán ghét nàng ta, là có ý giúp sư đệ tu luyện.

Doãn Chí Bình nói nhỏ:

– Nàng là tiên nữ hóa thân, đệ làm sao có thể ghét nàng kia chứ?

Đột nhiên cao giọng, nói:

– Thôi, sư huynh đừng giả bộ tử tế nữa, tâm địa độc ác của sư huynh, chẳng lẽ đệ không biết? Sư huynh một là ghen tức với đệ, hai là căm hận Dương Quá, muốn làm toáng chuyện này ra, để làm cho sư đồ hai người ấy di hận suốt dời.

Tiểu Long Nữ nghe hai chữ "Dương Quá", thì giật mình, lẩm bẩm "Dương Quá, Dương Quá", bất giác cảm thấy một sự âu yếm lạ thường, chỉ mong hai đạo sĩ kia cứ nói tiếp về chàng, chỉ cần nghe người khác nhắc đến tên chàng, nàng đã rất sung sướng.

Triệu Chí Kính cũng cao giọng, bực bội nói:

– Nếu ta không làm cho tên tiểu tử ấy bị một phen đau khổ, thì khó mà trút bớt nỗi tức giận, có điều..

Doãn Chí Bình nói:

– Có điều là Dương Quá võ công quá mạnh, hai chúng ta không phải là đối thủ của hắn, phải không?

Triệu Chí Kính nói:

– Cũng không hẳn thế. Võ công bàng môn tả đạo của hắn thì đâu có gì đáng nói? Võ công Huyền môn của phái Toàn Chân ta là võ thuật chính tông trong thiên hạ, sợ gì tên tiểu tử? Doãn sư đệ, sư đệ cứ chờ xem, ta sẽ làm cho hắn phải què cụt, khiến hắn muốn sống không được, muốn chết cũng chẳng xong. Bấy giờ được nhìn cảnh Tiểu Long Nữ của sư đệ đau xót, chắc cũng thú vị lắm.

Tiểu Long Nữ lạnh xương sống, nếu là lúc khác, chắc nàng đã xông vào phòng, cho mỗi đạo sĩ một nhát kiếm hết đời, nhưng lúc này nàng đang tuyệt vọng, chỉ cảm thấy toàn thân bải hoải vô lực, tứ chi khó cử động.

Doãn Chí Bình cười nhạt, nói:

– Võ công Huyền môn chính tông của chúng ta vị tất theo kịp võ công bàng môn tả đạo của người ta.

Triệu Chí Kính tức giận, nói:

– Đồ ngu, ngươi là tên phản đồ của phái Toàn Chân! Ngươi đã ăn nằm với Tiểu Long Nữ, lại còn đi tán thưởng võ công của kẻ khác!

Doãn Chí Bình nhiều lần bị nhục, lúc này không nhịn được nữa, quát:

– Sư huynh chửi ai? Nên nhớ đừng có cạn tàu ráo máng!

Triệu Chí Kính cho rằng mình nắm đối phương trong tay, chỉ cần đem việc này nói ra ở cung Trùng Dương, thì Mã sư bá chưởng giáo tiền nhiệm, Khưu sư bá chưởng giáo hiện nhiệm sẽ xử tử Doãn Chí Bình, cho nên bao nhiêu lần lão vũ nhục Doãn Chí Bình mà y không dám phản kháng; bây giờ nghe y cãi hỗn, thiết nghĩ nếu không chế ngự y, thì kế lớn của lão khó thành công, bèn sấn tới giáng cho một chưởng.

Doãn Chí Bình không ngờ sư huynh động thủ, vội cúi đầu, bốp một cái, bị trúng vào gáy, người loạng choạng suýt ngã. Y nổi giận, rút kiếm đâm sư huynh.

Triệu Chí Kính cười khẩy, nói:

– Giỏi, ngươi dám động thủ với ta.

Lão rút kiếm đánh trả. Doãn Chí Bình gằn giọng:

– Để cho sư huynh hành hạ mãi, đàng nào cũng chết, chi bằng hôm nay để sư huynh giết luôn cho rồi.

Đoạn sấn tới, mũi kiếm rung rung. Y là đệ tử số một của Khưu Xứ Cơ, võ công so với Triệu Chí Kính không thua kém gì. Hai người sở học chiêu số hoàn toàn giống nhau, động thủ khó phân cao thấp; nhưng y uất ức đã lâu, lúc này liều chết với sư huynh, trong khi Triệu Chí Kính có mưu đồ khác, không muốn lấy mạng y, bởi vậy sau vài chục chiêu, Triệu Chí Kính đã bị dồn vào một góc phòng, lâm thế hạ phong.

Hai đạo sĩ đấu kiếm trong phòng, đệ tử Cái Bang hay biết liền đi báo tin cho Quách Phù. Quách Phù đang ngủ, vội khoác áo chạy tới, thấy Tiểu Long Nữ đứng ngoài song, bèn gọi:

– Long cô nương!

Tiểu Long Nữ ngẩn ngơ xuất thần, như không hề nghe thấy. Quách Phù nổi lòng hiếu kỳ, không vào phòng ngay, mà cũng nấp ngoài song, chỉ nghe Triệu Chí Kính vừa chống đỡ, vừa luôn miệng nói những lời châm chọc xấu xa động chạm đến Tiểu Long Nữ.

Quách Phù nghe lời lẽ nhơ nhuốc của hai dạo sĩ ở bên trong, không tiện nghe thêm, định bỏ đi; chỉ thấy Tiểu Long Nữ cứ đứng ngây ra đó, không tức giận gì trước những lời lẽ kia, thì lấy làm lạ, bèn hỏi nhỏ:

– Những điều họ nói là thật ư?

Tiều Long Nữ gật gật đầu, nói:

– Cũng chẳng biết.. có lẽ.. có lẽ..

Quách Phù cảm thấy khinh miệt, hừ một tiếng, bỏ đi chẳng thèm ngoái lại.

Triệu, Doãn hai đạo sĩ đánh nhau bên trong, nghe tiếng người nói ngoài song, bèn ngừng đấu, cùng hỏi to:

– Ai đó?

Tiểu Long Nữ chậm rãi đáp:

– Là ta đây.

Doãn Chí Bình toàn thân run rẩy, hỏi:

– Ta là ai?

Tiểu Long Nữ nói:

– Tiểu Long Nữ!

Ba tiếng ấy vừa nói ra, không riêng Doãn Chí Bình, mà cả Triệu Chí Kính cũng như rơi xuống hố băng. Tại anh hùng đại yến ở ải Đại Thắng, chỉ một chưởng của nàng chắn trước ngực, Triệu Chí Kính đã bị trọng thương, phải tĩnh dưỡng nhiều ngày; động thủ với nàng, quả thật thất bại là cái chắc. Lão không thể ngờ Tiểu Long Nữ cũng có mặt ở thành Tương Dương, những lời vừa rồi, tám chín phần đã bị nàng nghe thấy, nhất thời hồn xiêu phách lạc, chỉ nghĩ: "Làm sao trốn cho thoát?".

Doãn Chí Bình tâm trạng dị thường, không nghĩ đến việc bỏ trốn. Y giơ tay mở cửa sổ, thấy cạnh bụi hoa có một bạch y thiếu nữ lẳng lặng đứng đó, chính là người mà y ngày đêm tưởng nhớ, là Tiểu Long Nữ diễm lệ vô song trên thế gian!

Doãn Chí Bình ngây ngất hỏi:

– Là nàng đó ư?

Tiểu Long Nữ đáp:

– Phải, là ta, những lời các người vừa nói đều là thật cả ư?

Doãn Chí Bình gật đầu:

– Là thật! Nàng cứ việc giết ta đi!

Đoạn xoay ngược chuôi kiếm, chìa ra ngoài cửa sổ. Tiểu Long Nữ mắt có dị quang, lòng buồn khổ vô hạn, bi phẫn cùng cực, chỉ nghĩ dù có giết một ngàn người, một vạn người, nàng cũng không còn là một cô nương trong trắng, vĩnh viễn không còn có thể thâm ái Dương Quá như trước, nhìn thanh kiếm chìa ra, nàng không cầm lấy, chỉ nhìn Triệu, Doãn, hai người, chưa có chủ định gì.

Triệu Chí Kính nhận ra cơ hội, biết nữ nhân này thần trí thất thường, e rằng đã phát điên, bây giờ chưa chạy đi còn chờ lúc nào? Lão kéo tay Doãn Chí Bình, cười, nói:

– Mau chạy đi thôi, nàng ta tha không giết sư đệ đó!

Đoạn chạy ra cửa. Doãn Chí Bình đã không còn hồn vía gì, bị kéo tay, liền chạy theo. Triệu Chí Kính thi triển khinh công, chạy gấp. Doãn Chí Bình ban đầu được sư huynh kéo đi, sau mấy trượng cũng tự thi triển khinh công. Hai người đầu sư học nghệ còn trước cả Quách Tĩnh, chỉ giây lát đã chạy tới bên cửa đông của thành Tương Dương.

Bên cổng thành có hơn mười đệ tử Cái Bang đang cùng quan binh tuần tiễu. Người đứng đầu đám đệ tử Cái Bang nhận ra Triệu Chí Kính và Doãn Chí Bình, biết hai người là cao thủ phái Toàn Chân, xét về địa vị còn là sư huynh của Quách Tĩnh, nghe Triệu Chí Kính nói có việc gấp cần ra khỏi thành, may là lúc này bên ngoài hoàn toàn không có quân địch, họ bèn hạ lệnh mở cổng. Cổng vừa mở đủ cho một người qua, Triệu, Doãn, hai người đã chạy ngay ra. Cổng thành định đóng lại, thì một bóng trắng đã vút ra theo. Người đứng đầu đám đệ tử Cái Bang lên mặt thành nhìn ra, nhưng lúc này trời vẫn chưa sáng, ngoài mấy trượng không nhìn rõ là ai cả, hỏi mấy người ở bên cạnh, họ cũng không thấy phái Toàn Chân, người này nghĩ rằng mình bị hoa mắt sau mấy ngày canh gác vất vả.

Triệu, Doãn, hai người không dừng bước, chạy mấy dặm mới đi chậm lại. Triệu Chí Kính dùng tay áo lau mồ hôi trán, nói:

– May quá, hú vía!

Lão nhìn lại phía sau, hai gối chợt mềm nhũn suýt ngã, thì ra cách lão mươi trượng, bạch y thiếu nữ vừa dừng chân, chăm chăm nhìn lão, chính là Tiểu Long Nữ. Triệu Chí Kính hoảng sợ buột miệng kêu "ối", lão cứ ngỡ đã bỏ nàng ở trong thành, nào ngờ nàng vẫn bám theo sau, vậy mà lão không hề nghe thấy tiếng chân nàng. Thế là lão lại kéo Doãn Chí Bình cắm đầu chạy.

Chạy hơn mười trượng, ngoảnh lại, lão thấy Tiểu Long Nữ vẫn bám theo như cũ, nhưng bây giờ đã ở gần hơn, chỉ cách ba, bốn trượng. Triệu Chí Kính lục thần vô chủ, lại chạy, song lão không dám ngó lại phía sau, vì mỗi lần ngó lại chỉ càng thêm sợ, hai chân dần dần vô lực, lão nói:

– Doãn sư đệ, lúc này nàng ta muốn giết hai ta thật dễ như trở bàn tay, chắc nàng ta có mưu đồ gian ác gì chăng.

Doãn Chí Bình ngạc nhiên, nói:

– Có mưu đồ gian ác gì kia chứ?

Triệu Chí Kính nói:

– Ta đoán nàng muốn bắt sống chúng ta, vạch tội lỗi của sư đệ trước mặt anh hùng thiên hạ, làm cho phái Toàn Chân không thể ngẩng mặt lên được nữa.

Doãn Chí Bình giật mình, lúc này y đã không nghĩ đến sự sống chết của bản thân nữa; nếu Tiểu Long Nữ vung kiếm giết y, cũng không chống đỡ; nhưng y từ nhỏ làm môn hạ của Khưu Xứ Cơ, sư ân sâu nặng, thanh danh của phái Toàn Chân nếu do y mà mất, thì không thể được, nghĩ đến đó, y lạnh cả sống lưng, bèn dồn sức xuống chân, kề vai với Triệu Chí Kính mà chạy thật nhanh.

Hai người cứ cắm đầu chạy giữa chốn đồng hoang, có lúc không nhịn được, ngó về phía sau, thấy Tiểu Long Nữ vẫn cứ ở phía sau vài trượng. Khinh công của phái Cổ Mộ thiên hạ vô song, Tiếu Long Nữ đuổi theo hai người có thể nói là không hề tốn sức; có điều là nàng chưa biết xử trí hai gã đạo sĩ này như thế nào, nên cứ bám theo sau, không để cho họ tách xa.

Triệu, Doãn, hai người thấy Tiểu Long Nữ cứ bám riết như thế, thì càng sợ hãi, chạy từ sáng sớm đến trưa, lại chạy từ trưa sang giờ Mùi, chạy bốn năm canh giờ, nội lực tuy thâm hậu, cũng đã khó chịu đựng thêm, hơi thở hổn hển, chân bước chậm dần. Lúc này mặt trời chang chang trên đầu, không khí nóng bức, hai người mồ hôi mồ kê nhễ nhại. Lại chạy một hồi, cả hai vừa đói vừa khát, thấy phía trước có một dòng mương, thì nghĩ: "Dù có bị bắt, cũng mặc". Cả hai bèn nhào tới dòng mương, vục nước mà uống.

Tiểu Long Nữ thong thả tới phía thượng du của dòng mương, cũng vục nước uống mấy ngụm. Dòng nước trong veo in hình một bạch y thiếu nữ, xinh đẹp như tiên nữ. Tiểu Long Nữ chỉ thấy lòng trống rỗng, đau khổ, song nàng thản nhiên hái một bông hoa trên bờ mương, cài lên mái tóc, soi bóng dưới nước, ngẩn ngơ xuất thần.

Triệu, Doãn, hai người vừa uống nước, vừa liếc trộm Tiểu Long Nữ, thấy nàng tựa hồ hồn lìa khỏi xác, đã quên mọi việc trước mắt, bèn đưa mắt cho nhau, lẻn về phía sau lưng nàng, lảng đi xa dần, thi thoảng ngó lại, thấy nàng vẫn nhìn xuống dòng nước; thế là cả hai chạy thật nhanh, không lâu tới một con đường lớn.

Hai người tưởng đã thoát hiểm, nào dè Doãn Chí Bình vừa ngoảnh lại, đã thấy Tiểu Long Nữ bám theo đằng sau. Doãn Chí Bình tái mặt, nói:

– Thôi rồi, Triệu sư huynh, chết chạy chẳng thoát nổi, nàng ta muốn giết thì cũng đành chịu vậy!

Y dừng bước. Triệu Chí Kính nổi giận, nói:

– Ngươi chết cũng đáng, còn ta tại sao phải chết theo ngươi?

Đoạn lại kéo tay sư đệ, Doãn Chí Bình nản chí, không muốn chạy nữa. Triệu Chí Kính vừa tức vừa sợ, lại tát cho Doãn Chí Bình một cái. Doãn Chí Bình quát:

– Sư huynh lại đánh ta ư?

Tiểu Long Nữ thấy hai gã đạo sĩ lại đánh nhau, thì lấy làm lạ.

Lúc ấy có hai người phóng ngựa đến, đó là hai binh sĩ Mông Cổ truyền đạt quân lệnh. Triệu Chí Kính chợt nảy ý định, nói nhỏ:

– Cướp ngựa! Hai ta giả bộ đánh nhau, đừng để cho Tiểu Long Nữ nghi ngờ.

Đoạn vung chưởng đánh tới, Doãn Chí Bình giơ tay gạt đi, đánh trả một chưởng; Triệu Chí Kính lùi mấy bước, hai người tiến dần ra giữa lộ. Hai kỵ sĩ Mông Cổ bị cản đường, gò ngựa lại. Triệu, Doãn, hai người liền vọt tới, kéo hai binh sĩ xuống đất, nhảy lên lưng ngựa mà phi nhanh về hướng bắc.

Hai con ngựa ấy đều là tuấn mã, chạy rất nhanh. Hai người ngó lại, không thấy Tiểu Long Nữ đuổi theo, mới yên tâm. Đi hơn mười dặm, đến một ngã ba, Triệu Chí Kính nói:

– Tiếu Long Nữ thấy hai ta phi về hướng bắc, bây giờ ta nên đổi sang hướng đông.

Rồi rẽ sang bên phải. Gần tối thì hai người đến một thị trấn nhỏ.

Hai người chạy từ sáng sớm, chưa ăn gì, đã quá đói mệt, bèn tìm một phạn điếm, sai tiểu nhị dọn lên một chậu thịt bò, ba cân bánh. Triệu Chí Kính ngồi vào bàn, hơi trấn tĩnh, nghĩ lại cảnh huống hôm nay, thật ngượng ngùng, cũng không hiểu tại sao Tiểu Long Nữ bám sát phía sau mà không ra tay. Doãn Chí Bình mặt xám ngoét, cúi đầu như kẻ mất hồn. Bữa ăn được dọn lên, hai người vừa cầm đũa, thì có tiếng huyên náo ngoài phạn điếm, rồi tiếng quát:

– Hai con ngựa này là của ai? Sao lại ở đây?

Nghe rõ là khẩu âm người Mông Cổ.

Triệu Chí Kính đứng lên, bước ra cổng, thấy một quân quan Mông Cổ dẫn theo bảy tám binh sĩ, đang chỉ hai con ngựa của hai người mà quát hỏi. Chủ quán sợ hãi, chỉ lắp bắp:

– Quân gia, đại nhân!

Triệu Chí Kính bị Tiểu Long Nữ đuổi cả một ngày, chưa biết trút giận vào ai, bèn ưỡn ngực bước tới, nói:

– Ngựa của mỗ đó! Hỏi làm gì?

Gã quân quan kia hỏi:

– Ngựa này lấy đâu ra?

Triệu Chí Kính nói:

– Ngựa của ta, can hệ gì đến ngươi?

Hiện thời từ thành Tương Dương về phía bắc thuộc quyền cai trị của quân Mông Cổ, dân chúng Đại Tống bị quân Mông Cổ đàn áp, đâu có ai dám vô lễ với quan binh Mông Cổ như thế? Gã quân quan thấy Triệu Chí Kính thân hình cao lớn, lưng đeo kiếm, cũng ngán ngại ba phần, hỏi:

– Ngựa ngươi mua hay là dắt trộm?

Triệu Chí Kính nổi giận:

– Mua với chả dắt trộm cái gì? Là do bọn ta nuôi lớn đó.

Gã quân quan phẩy tay, quát:

– Bắt lấy hắn!

Bảy tám tên lính rút binh khí vây quanh. Triệu Chí Kính tay đè đốc kiếm, hỏi:

– Vì lẽ gì đòi bắt người?

Gã quân quan cười khẩy:

– Đồ dắt trộm ngựa! Đúng là kẻ to gan, dám dắt trộm ngựa của quân mã đại doanh!

Nói rồi hắn vạch đám lông ở chân sau hai con ngựa, lộ ra chữ Mông Cổ được in vào đó bằng sắt nung. Nguyên ngựa chiến của quân Mông Cổ đều có dấu in bằng sắt nung, nói rõ thuộc doanh nào bộ nào để tiện phân biệt. Triệu Chí Kính cướp ngựa từ tay binh sĩ Mông Cổ, không hề biết chuyện đó; bây giờ mới thấy, còn cố cãi:

– Ai bảo đây là ngựa chiến của quân Mông Cổ? Ngựa của đạo quán ta có dấu in bằng sắt nung là phạm pháp ư?

Gã quân quan cả giận, nghĩ từ ngày tiến đánh phương nam đến nay, chưa từng gặp kẻ cuồng đồ nào ngang ngạnh thế này, bèn đưa tay túm ngực Triệu Chí Kính. Triệu Chí Kính tay trái chộp cổ tay gã quân quan, tay phải thì túm sau lưng gã mà giơ gã lên cao, xoay ba vòng trên không rồi lẳng gã ra ngoài. Gã quân quan bay đi, rơi xuống chỗ mấy cái vò cái chậu của phạn điếm, vò chậu bị vỡ nghe loảng xoảng một hồi; gã quân quan bị thương khắp mình vì các mảnh vỡ, máu chảy nhoe nhoét, chưa bò dậy được. Mấy tên lính vội chạy tới cứu hộ, dìu gã ta lên, đâu còn dám tính đến việc bắt giữ kẻ ăn trộm ngựa?

Triệu Chí Kính cười ha hả, trở vào bàn ăn. Sau cuộc rối loạn vừa rồi, các phạn điếm trong thị trấn đều đóng cửa; thực khách đều vội vã bỏ đi hết; họ nghĩ quân Mông Cổ bạo ngược vô cùng, lần này gã quân quan bị người Hán đánh như thế, e rằng quân Mông Cổ sẽ trả thù, giết toàn trấn đi không chừng. Triệu Chí Kính ăn vài miếng, bỗng thấy chủ quán bước tới, quì xuống đất, liên tiếp khấu đầu. Triệu Chí Kính biết chủ quán sợ liên lụy, cười đứng dậy, nói:

– Bọn ta cũng ăn no rồi, ngươi đừng sợ, bọn ta đi đây.

Gã chủ quán mặt như chàm đổ, vẫn cứ vái lạy.

Doãn Chí Bình nói:

– Gã sợ hai ta đi rồi, quân Mông Cổ đến đòi người.

Doãn Chí Bình vốn tinh minh cường cán, chỉ do đối với Tiểu Long Nữ y si tâm cuồng luyến mới không biết hành xử, chứ thường ngày y xử sự kỳ thực hơn hẳn Triệu Chí Kính, cho nên Mã Ngọc, Khưu Xứ Cơ đều có ý sẽ để y tiếp nhiệm chức chưởng giáo, lúc này y đã có chủ ý, bèn bảo chủ quán:

– Mau mang rượu ngon ra đây, việc đạo gia làm, đạo gia sẽ gánh chịu, các người không làm gì phải sợ.

Chủ quán vâng dạ rối rít, đứng dậy sai mang rượu ngon tới.

Gã quân quan bị thương không nhẹ, được bọn lính dìu lên ngựa. Triệu Chí Kính cười, nói:

– Doãn sư đệ, hôm nay đã bị một phen khó chịu, chờ ở đây sẽ đánh chúng một trận tơi bời cho bõ tức.

Doãn Chí Bình chỉ hừ một tiếng, nhìn bọn lính dìu tên quân quan bỏ đi, điếm tiểu nhị bưng các món ăn ngon ra bàn.

Triệu, Doãn, hai người ăn uống một hồi, Doãn Chí Bình đột nhiên đứng dậy, đánh một chưởng cho tiểu nhị đứng hầu bàn ngã quay lơ. Chủ quán cả kinh, ba chân bốn cẳng chạy tới, cười nịnh:

– Tên tiểu tử ấy không biết hầu hạ hai vị, thật đáng chết, xin đạo gia bớt giận..

Lời chưa dứt, Doãn Chí Bình đã tung cước đá khẽ cho gã ngã lăn chiêng. Triệu Chí Kính tưởng y thần trí mơ hồ lẫn lộn, gọi:

– Doãn sư đệ, sư đệ..

Doãn Chí Bình đẩy cái bàn bên cạnh cho chén đĩa rơi xuống đất vỡ tan, lại đánh ngã hai điếm tiểu nhị nữa, điểm huyệt họ, rồi xoa tay, nói:

– Khi quân Mông Cổ kéo tới, nhìn thấy phạn điếm của các người bị thế này, chúng sẽ không giận các người, hiểu chưa? Các người cứ đánh nhau một trận cho sứt đầu mẻ trán càng tốt đấy.

Mọi người đại ngộ, khen là diệu kế, bèn đánh lộn, xé rách quần áo của nhau, làm cho mặt mũi thâm tím. Một canh giờ sau, nghe ngoài đường có tiếng vó ngựa, mấy con ngựa phi tới. Mọi người trong phạn điếm giả bộ ngã lăn ra đất, kêu loạn cả lên:

– Ui chao, đánh chết người ta rồi!

– Trời ơi, đau quá!

– Xin đạo gia tha mạng!

Tiếng vó ngựa quả nhiên dừng ở ngoài phạn điếm, bốn quân quan Mông Cổ bước vào, theo sau là một Tạng tăng cao gầy cùng một gã người Hồ lùn và đen. Gã người Hồ bị cụt hai chân, mỗi tay cầm một cây quải trượng. Quân quan Mông Cổ thấy trong phạn điếm bừa bãi, thì cau mày quát lớn:

– Mau dọn cơm rượu cho các lão gia xơi, còn phải đi nữa!

Chủ quán nghĩ: "Thì ra bọn này là đám khác, nếu đám kia quay trở lại, thì phải làm thế nào?" Còn đang chần chừ, thì mấy gã quân quan vụt roi tới tấp, chủ quán vâng dạ, bò dậy, sai các điếm tiểu nhị dọn bàn ăn.

Vị Tạng tăng kia chính là Kim Luân pháp vương, còn gã người Hồ là Ni Ma Tinh. Hai người hôm nọ bị trúng "Băng phách ngân châm", ôm nhau lăn xuống vực. May trên sườn núi có một cây lớn, Kim Luân pháp vương giơ tay trái túm lại được. Lúc ấy Ni Ma Tinh đã nửa mê nửa tỉnh, vẫn ôm chặt Kim Luân pháp vương. Kim Luân pháp vương nhìn tứ phía, vận kình vào tay trái đẩy một cái, hai người cùng lăn xuống một đám cỏ dày bên sườn núi, rồi từ đó lại lăn xuống dốc hơn mười trượng nữa, tới đáy vực mới dừng. Cả hai đều sây sát mình mẩy, mặt mũi.

Kim Luân pháp vương gỡ vòng tay của Ni Ma Tinh ra, quát:

– Rốt cuộc ngươi có buông ta ra không?

Ni Ma Tinh mơ mơ màng màng, không còn sức phản kháng, buông tay trái, song tay phải vẫn còn túm sau lưng Pháp vương. Pháp vương cười khẩy, nói:

– Hai chân ngươi đã trúng độc nặng, chẳng lo tự cứu, cứ ôm lấy ta làm gì?

Hai câu ấy như sét đánh ngang tai, Ni Ma Tinh cúi đầu nhìn, thấy hai bắp chân mình đã sưng tím, biết nếu không cấp cứu, sẽ khó thoát chết, bèn rút cây thiết tiên ở sau lưng ra, nghiến răng, chém mạnh hai nhát đứt lìa hai chân, máu tuôn ra xối xả, người ngất đi luôn. Pháp vương thấy Ni Ma Tinh dũng quyết như vậy, rất thán phục, lại nghĩ hắn đã cụt hai chân, không còn đáng ngại nữa, bèn đưa tay điểm hai huyệt Khúc Tuyền ở khoeo chân hắn, trước tiên cầm máu, sau đó lấy thuốc bôi lên vết thương, xé áo băng lại.

Các võ sĩ Thiên Trúc phần lớn đã luyện thuật chịu đau như nằm ngủ trên phản cắm đinh nhọn, ngồi trên đao kiếm, Ni Ma Tinh càng thành thạo thuật đó. Vừa được cầm máu, hắn đã tỉnh lại, ngồi dậy, nói:

– Hay lắm, đại sư đã cứu mạng tại hạ, oán cừu đôi bên coi như xong.

Pháp vương mỉm cười cay đắng, nghĩ: "Ngươi tuy bị mất đôi chân, song chất độc trong người đã ra hết, ta thì không được như ngươi". Bèn ngồi vận công, đẩy khí độc từ bàn chân ra ngoài, hơn một canh giờ sau thì nặn ra một bãi nước màu đen, mệt muốn đứt hơi.

Hai người tại hoang cốc dưỡng thương mấy ngày, Pháp vương dùng nội công thượng thừa đẩy chất độc ra khỏi cơ thể, vết thương của Ni Ma Tinh đã đỡ, hắn bẻ hai cành cây làm quải trượng, cùng rời hoang cốc. Không lâu thì gặp bốn quân quan Mông Cổ, cùng đi về đại doanh của Hốt Tất Liệt, đến thị trấn này thì gặp Triệu, Doãn, hai người.

Doãn Chí Bình và Triệu Chí Kính nhìn thấy Pháp vương thì thất sắc, nhìn nhau. Hai đạo sĩ tại anh hùng đại yến ở ải Đại Thắng từng thấy Pháp vương hiển thị võ công, quả thật kinh thế hãi tục, lại nghĩ hai đệ tử của lão ta là Hoắc Đô và Đạt Nhĩ Ba năm nọ tới cung Trùng Dương, chư tử phái Toàn Chân còn khó địch nổi, bây giờ gặp lão ta ở đây, thực là đáng sợ. Hai người đưa mắt cho nhau, bụng nghĩ cách thoát thân.

Tại anh hùng đại yến, hào kiệt Trung Nguyên hàng mấy ngàn người, Triệu Chí Kính và Doãn Chí Bình biết mặt Pháp vương, còn Pháp vương thì không biết hai đạo sĩ. Pháp vương tuy thấy cảnh tượng ẩu đả trong phạn điếm, nhưng thời buổi này nơi nơi bị tàn phá, lão cũng chẳng cho là lạ. Chuyến đột nhập thành Tương Dương lần này, lão đại bại trở về, gặp Hất Tất Liệt sẽ quá mất mặt, lão đang nghĩ cách biện hộ sao đây, nên cũng chẳng bụng dạ nào để ý đến hai đạo sĩ đang ngồi ăn.

Đúng lúc ấy, bên ngoài phạn điếm náo loạn, một tốp quan binh Mông Cổ xông vào, vừa thấy Triệu, Doãn hai người liền hô hoán bắt giữ. Doãn Chí Bình thấy Pháp vương ngồi gần cửa, nếu chạy ra, ngang qua đó dễ bị lão ta xuất thủ, bèn nói nhỏ:

– Thoát lối cửa sau!

Đoạn đẩy đổ cái bàn ăn, chén bát vỡ loảng xoảng, hai người bật dậy, chạy ra cửa hậu.

Doãn Chí Bình sắp tới cửa hậu, ngó lại, thấy Pháp vương cầm ly rượu, vẻ trầm ngâm, hình như không để ý tới cảnh náo loạn trong phạn điếm, thì mừng thầm: "Lão ta không ra tay thì hay quá!" Bỗng một bóng đen lướt tới, gã lùn người Tây Vực vung quải trượng đánh xuống vai Doãn Chí Bình. Triệu, Doãn hai người chưa gặp Ni Ma Tinh, thấy hắn thân pháp mau lẹ, xuất thủ hung hãn, vội rùn người né tránh. Ni Ma Tinh một trượng đánh hụt, biết hai đạo sĩ không phải hạng tầm thường, bèn sử dụng hai cây quải trượng chặn lối thoát của hai người. Hai đạo sĩ cùng rút kiếm đâm Ni Ma Tinh, buộc hắn thoái lui để lấy lối thoát ra.

Ni Ma Tinh võ công tuy cao hơn Triệu, Doãn hai người, nhưng hắn mới bị cụt hai chân, nguyên khí chưa phục hồi, giờ một mình đấu với hai cao thủ, sau vài chiêu đã không địch nổi. Pháp vương thong thả bước tới, thấy mũi kiếm của Triệu Chí Kính đâm vào ngực Ni Ma Tinh, Ni Ma Tinh giơ quải trượng chống đỡ, thì trường kiếm của Doãn Chí Bình đã chọc tới sườn bên phải của Ni Ma Tinh, chiêu số này rất hiểm, Ni Ma Tinh không thể không quẳng cây trượng mà nhảy về đàng sau. Pháp vương bước đến, vừa vặn thân hình Ni Ma Tinh vọt lên, lão bèn dùng tay trái đỡ mông cho Ni Ma Tinh, tay phải đặt vào cánh tay của hắn. Lúc ấy quải trượng của hắn chưa tách khỏi kiếm của Triệu Chí Kính, nội lực của Pháp vương truyền qua cây trượng, Triệu Chí Kính cảm thấy cánh tay phải tê dại, nửa bên ngực nóng bừng, keng một tiếng, trường kiếm rơi xuống đất.

Ni Ma Tinh nội lực không đủ, nhưng biến chiêu cực nhanh, thấy Triệu Chí Kính để rơi kiếm, lập tức thu quải trượng về dính với kiếm của Doãn Chí Bình. Pháp vương lại đặt tay phải vào cánh tay của Ni Ma Tinh. Doãn Chí Bình đã thấy sai lầm của Triệu Chí Kính, liền vận lực phản kích, ai ngờ nội lực của Pháp vương vừa cương vừa nhu, "cạch" một tiếng, kiếm của y đã gãy đôi. Pháp vương nhẹ nhàng đặt Ni Ma Tinh ngồi xuống, hai tay ấn xuống hai đầu vai của Triệu, Doãn hai người, cười nói:

– Các hạ vị vốn không quen biết, hà tất phải động võ? Thân thủ thế này đúng là thuộc hàng đệ nhất kiếm sĩ Trung Nguyên, chúng ta hãy ngồi đàm luận đôi chút được chăng?

Pháp vương xuất thủ không có gì lạ, nhưng hai đạo sĩ không tránh kịp, chỉ cảm thấy như có vật nặng ngàn cân đè xuống vai, đành vận lực chống đỡ, đâu dám đáp lời? E rằng nếu mở miệng, nội tức buông lỏng một chút, xương cốt từ vai xuống thắt lưng sẽ bị gãy nát.

Lúc này quan binh Mông Cổ đã vây xung quanh, dẫn đầu là một gã thiên hộ. Gã biết Kim Luân pháp vương là pháp sư hộ quốc của Mông Cổ, Tứ đại vương Hốt Tất Liệt rất kính nể lão ta, nên gã vội hành lễ, nói:

– Quốc sư gia, hai đạo sĩ này ăn trộm ngựa chiến, ẩu đả quan binh, xin quốc sư gia..

Gã vừa nói vừa nhìn Doãn Chí Bình, đột nhiên hỏi:

– Vị này có phải là Doãn Chí Bình Doãn đạo gia hay chăng?

Doãn Chí Bình gật đầu, chưa nhận ra người kia là ai. Pháp vương hơi giảm lực ấn vai hai người, nghĩ: "Hai đạo sĩ này tuổi trạc tứ tuần, mà nội công đã thâm hậu thế này thực không dễ". Gã thiên hộ Mông Cổ cười, nói:

– Doãn đạo gia không nhận ra tiểu nhân ư? Mười chín năm trước chúng ta từng ở sa mạc Hoa Thích Tử Mô nướng thịt bò mà ăn. Tiểu nhân là Tát Đa đây.

Doãn Chí Bình nhìn kỹ, vui mừng nói:

– À đúng rồi, đúng rồi! Các hạ để râu dài, nên tại hạ không nhận ra!

Tát Đa cười, nói:

– Tiểu nhân bôn ba đông tây nam bắc mấy vạn dặm, râu tóc đều bạc cả, còn Doãn đạo gia tướng mạo vẫn không thay đổi lắm. Chẳng trách Thành Cát Tư Hãn bảo rằng các vị tu đạo đều là thần tiên.

Rồi gã quay sang nói với Pháp vương:

– Quốc sư gia, vị đạo gia này thời trước từng được Thành Cát Tư Hãn mời sang Tây Vực, hóa ra là người một nhà cả.

Pháp vương gật đầu gù, thu tay khỏi vai hai người.

Năm xưa Thành Cát Tư Hãn có mời Khưu Xứ Cơ sang Tây Vực tương kiến để học hỏi về thuật trường sinh. Khưu Xứ Cơ vạn lý tây du, đem theo mười chín đệ tử; Doãn Chí Bình là môn hạ đại đệ tử, dĩ nhiên được đi cùng. Thành Cát Tư Hãn phái hai trăm quân mã cung phụng, hộ vệ sư đồ Khưu Xứ Cơ. Hồi ấy Tát Đa chỉ là một tên tiểu tốt, nên nhớ rõ Doãn Chí Bình. Gã chinh chiến bốn phương hai mươi năm, được thăng đến chức thiên hộ, không ngờ tình cờ gặp lại Doãn Chí Bình ở đây thì cả mừng, vội gọi cơm rượu thết đãi, một mực cung kính với Doãn Chí Bình, chuyện trộm ngựa đánh quan binh coi như không có. Tát Đa hỏi thăm tỉ mỉ về Khưu Xứ Cơ và mười tám đệ tử, nhắc lại chuyện thời trai trẻ một cách đầy hứng khởi.

Pháp vương cũng từng nghe danh Khưu Xứ Cơ, biết đó là đệ nhất cao thủ phái Toàn Chân, thấy Triệu, Doãn hai người võ công không kém, nghĩ nội công kiếm thuật của phái Toàn Chân quả nhiên danh bất hư truyền, vừa rồi may mà lão vừa xuất thủ đã chiếm tiên cơ, nếu không cũng phải sau vài chục chiêu mới mong thủ thắng.

Đột nhiên từ ngoài cửa thoáng hiện một bóng người tiến vào, đó là bạch y thiếu nữ. Ni Ma Tinh, Pháp vương và Triệu, Doãn hai đạo sĩ cùng giật mình, vì người ấy chính là Tiểu Long Nữ. Chỉ riêng Ni Ma Tinh không sợ hãi, nói to:

– Chào tân nương tử của Tuyệt Tình cốc!

Tiểu Long Nữ khẽ gật đầu, chọn một cái bàn nhỏ trong góc ngồi xuống, không để ý gì tới mọi người, nói nhỏ với điếm tiểu nhị, gọi một bữa ăn chay.

Triệu, Doãn hai người sắc mặt lúc xanh, lúc trắng, nhấp nhổm không yên. Pháp vương cũng sợ Dương Quá sẽ tới, bình sinh lão chẳng sợ gì, chỉ sợ Dương Quá cùng Tiểu Long Nữ song kiếm hợp bích, thi triển "Ngọc nữ tố tâm kiếm pháp". Ba người ấy mỗi người một tâm sự, không trò chuyện, chỉ cúi đầu ăn uống. Triệu, Doãn hai người vốn đã ăn no, nhưng nếu bây giờ cứ ngồi im thì dễ bị nghi ngờ, đành tiếp tục ăn uống vậy.

Tát Đa thì cao hứng, hỏi:

– Doãn đạo trưởng đã gặp Tứ vương tử của chúng tôi hay chưa?

Doãn Chí Bình lắc đầu. Tát Đa nói:

– Vương tử Hốt Tất Liệt là vị công tử thứ tư của Tứ vương gia Đà Lôi, anh minh nhân hậu, người người trong quân ngưỡng mộ. Tiểu tướng chính đi bẩm cáo quân tình. Hai vị đạo gia nếu không bận việc, hãy cùng đi với tiểu tướng được chăng?

Doãn Chí Bình tâm trí để đâu đâu, lại lắc đầu. Triệu Chí Kính thì chợt có chủ ý, bèn hỏi Pháp vương:

– Đại sư cũng đi gặp Tứ vương tử phải không?

Pháp vương nói:

– Phải. Tứ vương tử là nhân kiệt đời nay, hai vị không thể không gặp.

Triệu Chí Kính vui mừng nói:

– Hay lắm, chúng tôi cùng đi với đại sư và Tát Đa tướng quân vậy.

Lão đưa tay dưới gầm bàn cấu khẽ vào đùi Doãn Chí Bình một cái, nháy mắt ra hiệu. Tát Đa cả mừng, rối rít nói:

– Hay lắm, hay lắm!

Doãn Chí Bình cơ trí tài cán đều hơn hẳn Triệu Chí Kính, nhưng vừa gặp Tiểu Long Nữ thì lập tức hồn vía mơ hồ, phải một lát sau mới hiểu dụng ý của Triệu Chí Kính, là muốn dựa vào sự che chở của Pháp vương để thoát sự truy sát của Tiểu Long Nữ.

Mọi người dùng bữa xong, ra khỏi phạn điếm, lên ngựa đi. Pháp vương không thấy Dương Quá xuất hiện, thì yên tâm nghĩ: "Phái Toàn Chân là một đại chính phái của võ lâm Trung Nguyên, nếu thu phục phái này trợ giúp Mông Cổ, thì thực là một kỳ công. Ngày mai gặp vương gia, cũng có chuyện để khỏi bẽ mặt". Liền có ý thu nạp Triệu, Doãn hai người.

Lúc này trời sắp tối, mọi người đi một quãng, nghe có tiếng lóc cóc phía sau, ngó lại, thấy Tiểu Long Nữ cưỡi một con lừa theo sau đàng xa. Pháp vương nghĩ: "Một mình nàng quyết không phải là đối thủ của ta, tại sao nàng cả gan cứ bám theo sau? Hay là có gã Dương Quá mai phục đâu đó ám trợ?" Lão lần đầu tiếp xúc với Triệu, Doãn hai người, sợ lỡ có gì bị mất uy phong, bèn làm như không biết.

Mọi người đi đến nửa đêm, đến một cánh rừng. Tát Đa lệnh cho quân sĩ dừng nghỉ, mọi người xuống ngựa, ngồi nghỉ dưới gốc cây. Tiểu Long Nữ cũng xuống lừa, ngồi tựa gốc cây, cách mọi người hơn chục trượng. Nàng hành động càng kỳ bí, Pháp vương càng thận trọng, không dám liều lĩnh xuất thủ. Triệu Chí Kính thấy Ni Ma Tinh từng chào hỏi Tiểu Long Nữ, không biết Tiểu Long Nữ và Pháp vương có hiềm khích gì, không dám nhìn về phía nàng. Nghỉ nửa canh giờ, mọi người lại lên ngựa đi tiếp, rời cánh rừng, nghe tiếng lóc cóc phía sau, là Tiểu Long Nữ vẫn đi theo.

Đến lúc trời sáng hẳn, Tiểu Long Nữ vẫn cách đoàn người hơn chục trượng. Lúc này tới chỗ đồng trống, Pháp vương đưa mắt nhìn ra xa, trong vòng một dặm không một bóng người, bỗng nảy sinh ác niệm: "Ta bình sinh tung hoành vô địch, đến Trung Nguyên lại liên tiếp thất bại bởi Dương Quá và Tiểu Long Nữ song kiếm hợp bích. Hôm nay nàng ta cứ bám theo sau hẳn chẳng có thiện ý, có lẽ ta phải giết quách nàng đi, dù nàng có kẻ trợ giúp, cũng không đến cứu kịp. Nàng chết rồi, trên thế gian không còn kẻ nào đủ sức ngăn ta được nữa". Pháp vương tâm niệm đã quyết, đang định ghìm ngựa đứng lại, bỗng nghe phía trước vang lên tiếng lục lạc, ngoài xa vài dặm bụi tung mù mịt, một đoàn nhân mã phóng tới.

Pháp vương ân hận: "Nếu biết hậu viện của Tiểu Long Nữ bây giờ mới tới, thì ta phải hạ độc thủ sớm hơn một chút". Chợt nghe Tát Đa kêu lên kinh ngạc:

– Kỳ quái!

Pháp vương thấy từ xa có bốn con lạc đà phi tới, con đi đầu hàng bên phải trên lưng cắm một lá cờ lớn bay phần phật trong gió, chính là soái kỳ của Hốt Tất Liệt, song không thấy có người cưỡi trên lưng bốn con lạc đà. Tát Đa nói:

– Vương gia đã tới!

Đoạn tế ngựa lên đón, cách đoàn lạc đà nửa dặm, thì xuống ngựa, cung kính đón chờ ở bên đường.

Pháp vương nghĩ: "Vương gia tới, thì ta chưa tiện giết Tiểu Long Nữ". Lão tự lượng thân phận, nếu để Hốt Tất Liệt thấy lão ra tay hạ sát một thiếu nữ đơn độc, thì khó tránh khỏi bị xem thường, lão bèn thong thả tới chỗ Tát Đa, chỉ thấy có một người ngồi ở khoảng giữa bốn con lạc đà, trên không trung, râu tóc và lông mày bạc trắng, miệng cười tươi, chính là Chu Bá Thông.

Chỉ nghe Chu lão nhân nói từ xa:

– Hay lắm, lão hòa thượng, gã đen lùn, hay lắm, chúng ta lại trùng phùng ở đây, còn thêm một tiểu cô nương kiều diễm nữa kìa.

Pháp vương lấy làm lạ, người này sao lại có thể ngồi giữa không trung thế kia? Đợi khi đôi bên tới gần, mới nhìn rõ, thì ra từ đầu bốn con lạc đà có dây kết thành một cái võng, Chu Bá Thông ngồi trên cái võng đó.

Chu Bá Thông vậy là vẫn chưa đến cung Trùng Dương, cũng ít khi lai vãng với Mã Ngọc, Khưu Xứ Cơ, nên Triệu Chí Kính và Doãn Chí Bình không biết mặt lão nhân. Hai gã tuy từng nghe sư phụ kể có một vị sư thúc tổ một mình du hí nhân gian, nhưng đã lâu lắm không có tin tức gì, chắc vị đó đã qua đời. Bây giờ hai gã gặp Chu Bá Thông, đều không nghĩ đấy là sư thúc tổ của mình. Pháp vương hơi cau mày, nghi người này võ công kỳ diệu, thật không dễ đối phó, bèn hỏi:

– Vương gia đến sau phải không?

Chu Bá Thông chỉ ra sau lưng, cười nói:

– Ba, bốn chục dặm đằng ấy là vương trướng của hắn. Đại hòa thượng, ta khuyên lão lúc này đừng tới đó thì hơn.

Pháp vương hỏi:

– Vì sao?

Chu Bá Thông nói:

– Hắn đang nổi cơn lôi đình, lão tới đó không chừng bị hắn cắt phăng cái đầu trọc của lão đó.

Pháp vương nói:

– Hồ thuyết bát đạo! Vương gia sao lại nổi cơn lôi đình?

Chu Bá Thông chỉ lá cờ trên lưng con lạc đà, cười nói:

– Thì vương kỳ của vương gia bị ta lấy trộm mất, làm sao hắn không nổi cơn lôi đình kia chứ?

Pháp vương sững sờ, hỏi:

– Lão lấy trộm vương kỳ để làm gì?

Chu Bá Thông nói:

– Hòa thượng biết Quách Tĩnh chứ?

Pháp vương gật đầu, nói:

– Thì sao?

Chu Bá Thông cười nói:

– Quách Tĩnh là huynh đệ kết nghĩa của ta. Hai huynh đệ ta hơn mười năm chưa gặp lại, ta nhớ hắn quá, muốn đến thăm hắn. Hắn ở thành Tương Dương, đánh nhau với quân Mông Cổ, ta lấy trộm vương kỳ của vương gia Mông Cổ làm quà cho hắn.

Pháp vương cả kinh, nghĩ bụng việc này không ra thể thống gì, thành Tương Dương đã không hạ được, vương kỳ lại bị cướp mất, thật mất hết thể diện, phải tìm cách đoạt lại vương kỳ mới xong.

Chu Bá Thông quát một tiếng, mười sáu cái chân của bốn con lạc đà cùng cuốn gió chạy về hướng tây, rồi chạy vòng trở lại. Lá cờ bay phần phật trong gió. Chu Bá Thông đứng thẳng người, tay cầm bốn dây cương điều khiển lạc đà phóng đi, trông cứ như một vị lão tướng bát diện uy phong.

Chỉ thấy lão nhân đắc ý phi phàm, phóng bốn con lạc đà tới gần, miệng quát "Họ!" bốn con lạc đà lập tức dừng chân, đủ biết tay lão cầm cương khỏe như thế nào, Chu Bá Thông cười, nói:

– Đại hòa thượng, mấy con lạc đà của ta có khá hay không?

Pháp vương giơ ngón tay cái lên, vẻ tán thưởng:

– Khá lắm, rất đáng phục!

Trong óc Pháp vương vẫn đang nghĩ cách đoạt lại vương kỳ. Chu Bá Thông vung tay trái, nói:

– Đại hòa thượng, tiểu cô nương, Lão Ngoan đồng đi đây!

Doãn Chí Bình và Triệu Chí Kính nghe ba tiếng "Lão Ngoan đồng", cùng buột miệng thốt lên:

– Sư thúc tổ ư?

Rồi cùng xuống ngựa. Doãn Chí Bình nói:

– Thưa có phải đây là Chu lão tiền bối của phái Toàn Chân hay không?

Chu Bá Thông đưa mắt đảo qua đảo lại, nói:

– Hừ, sao hả? Tiểu đạo sĩ hãy mau khấu đầu.

Triệu, Doãn hai người đã định hành lễ, nghe lão nhân nói năng cổ quái, chợt sững lại vì sợ lạy nhầm người. Chu Bá Thông hỏi:

– Hai đứa ngươi là môn hạ của gã mũi trâu nào?

Doãn Chí Bình cung kính đáp:

– Triệu Chí Kính là môn hạ của Ngọc Dương tử Vương đạo trưởng, còn đệ tử Doãn Chí Bình là môn hạ của Trường Xuân tử Khưu đạo trưởng.

Chu Bá Thông nói:

– Hừ, tiểu đạo sĩ phái Toàn Chân càng đời sau lại càng thua kém đời trước, ta thấy các ngươi cũng chẳng ra gì.

Đột nhiên hai chân lão hất hai chiếc hài về phía hai người.

Doãn Chí Bình thấy chiếc hài bay không nhanh, dù có trúng vào mặt cũng không sao, không dám thất lễ, vẫn cúi mình hành lễ; Triệu Chí Kính thì lại giơ tay ra chộp. Nào ngờ hai chiếc hài bay đến cách mặt hai gã chừng ba thước đột nhiên bay vòng trở lại. Triệu Chí Kính chộp hụt, nhìn chiếc hài bên trái bay vòng sang bên phải, chiếc hài bên phải bay vòng sang bên trái, gần chạm nhau giữa không trung, rồi bay trở về chỗ Chu Bá Thông. Chu Bá Thông giơ hai chân đi luôn vào hai chiếc hài bay về.

Việc này tuy chỉ là trò đùa, nhưng nếu không có nội lực cực kỳ thâm hậu thì không tài gì điều khiển hai chiếc hài bay đúng chỗ như thế. Pháp vương và Ni Ma Tinh đã từng thấy Chu Bá Thông hất các mũi giáo trong vương trướng của Hốt Tất Liệt, nên nhìn trò hất đôi hài không lấy làm lạ. Nhưng Triệu Chí Kính giơ tay chộp hụt chiếc hài thì không khỏi kinh ngạc, với võ công của mình, Triệu Chí Kính có thể dùng tay chộp mọi thứ ám khí lợi hại, đã chộp là trúng, đằng này chiếc hài đã bay chầm chậm như thế mà hắn không tóm được, thì không còn hoài nghi nữa, vội cùng với Doãn Chí Bình vái dài, nói:

– Đệ tử Triệu Chí Kính khấu kiến sư thúc tổ.

Chu Bá Thông cười ha ha, nói:

– Nhãn giới của Khưu Xứ Cơ và Vương Xứ Nhất quá thấp kém, đi thu nạp hạng đệ tử vô dụng. Thôi ta miễn cho, ai cần các ngươi vái lạy?

Đoạn lão hô to:

– Xung phong!

Bốn con lạc đà vểnh tai cong đuôi, tung vó chạy đi.

Pháp vương phi thân xuống ngựa, chắn phía trước bốn con lạc đà, hai tay ghìm đầu hai con lạc đà đi trước, miệng quát:

– Hãy khoan!

Bốn con lạc đà đang chạy bị lão ta ấn lùi trở lại hai bước.

Chu Bá Thông cả giận, nói:

– Đại hòa thượng, muốn đánh nhau phải không? Lão Ngoan đồng mười năm nay chưa gặp đối thủ, đang ngứa tay, lại đây nào, hai ta đấu với nhau vài hiệp!

Lão Ngoan đồng bình sinh hiếu võ, nhưng mấy năm gần đây võ công càng luyện càng cao, muốn tìm đối thủ thật khó; biết Pháp vương là đại cao thủ, bèn bước tới động thủ. Pháp vương xua tay, nói:

– Lão nạp bình sinh không động thủ với hạng người vô sỉ. Lão muốn đánh thì cứ việc, lão nạp không đánh trả đâu.

Chu Bá Thông cả giận, nói:

– Lão dám bảo ta là hạng người vô sỉ hả?

Pháp vương nói:

– Lão thừa biết lão nạp không có mặt trong quân doanh, còn đến lấy trộm vương kỳ, như thế chẳng phải là hạng người vô sỉ hay sao? Lão tự biết không địch nổi lão nạp, nên nhè lúc lão nạp đi vắng, mới dám mò tới lấy trộm. Hừ, Chu Bá Thông, lão thật không biết ngượng nữa rồi.

Chu Bá Thông nói:

– Được, ta không địch nổi lão, vậy hai ta đấu một hồi sẽ biết.

Pháp vương lắc đầu, nói:

– Lão nạp đã bảo là không động thủ với hạng người vô sỉ. Quả đấm của lão nạp rất có cốt cách, đánh nhau với hạng người vô sỉ, nó sẽ bị thối ba năm sáu tháng mới hết mùi.

Chu Bá Thông tức giận nói:

– Cứ như lão thì phải làm sao?

Pháp vương nói:

– Lão phải đưa trả vương kỳ cho lão nạp mang về, đêm nay lão hãy đến lấy trộm, lão nạp sẽ giữ ở trong doanh trại. Bất kể lão dùng cách gì, miễn sao lấy được, thì lão nạp khâm phục Lão Ngoan đồng là đại đại anh hùng hảo hán.

Chu Bá Thông không thể chịu nổi khi bị nói khích, bị đánh đố, việc càng khó, lão càng muốn làm cho bằng được, thế là lão lấy vương kỳ xuống, quẳng cho Pháp vương, nói:

– Cầm lấy này, đêm nay ta sẽ đến lấy cho coi.

Pháp vương giơ tay đón lấy cán cờ, mới biết lực ném không phải tầm thường, vội vận sức chống đỡ, song vẫn phải lùi hai bước mới đứng vững được.

Bốn con lạc đà vốn định chạy, bị Pháp vương đè chặn lại, lúc này lão ta đã buông tay ra, cả bốn con lạc đà bỗng vọt một cái xa hơn hai trượng, phóng nhanh đi. Mọi người nhìn theo sau lưng Chu Bá Thông xa dần, lát sau chỉ thấy bốn con lạc đà là bốn cái chấm đen.

Pháp vương trao vương kỳ cho Tát Đa, nói:

– Đi thôi!

Pháp vương nghĩ Lão Ngoan đồng hành sự xuất quỷ nhập thần, khó bề đoán biết, tất phải dùng mưu gì đây mới thủ thắng? Lão ngồi trên lưng ngựa mải nghĩ, chưa ra kế gì, ngó lại phía sau, thấy Triệu, Doãn hai người ghé tai nhau thì thầm, thi thoáng lấm lét nhìn về phía Tiểu Long Nữ, có vẻ sợ hãi. Pháp vương nghĩ: "Cô nương kia hẳn là bám theo hai gã đạo sĩ", bèn lên tiếng thăm dò:

– Doãn đạo huynh, đạo huynh và Long cô nương có quen biết nhau hay chăng?

Doãn Chí Bình lập tức tái mặt, chỉ ậm ừ không nói rõ. Pháp vương đoán việc đó ắt phải có duyên cớ, lại hỏi:

– Hai vị đắc tội với Tiểu Long Nữ, nàng ta tìm hai vị để trút giận, phải không? Nàng ta lợi hại lắm, hai vị mà đối đầu với nàng ta, chỉ e lành ít dữ nhiều đó.

Chuyện giữa Doãn Chí Bình và Tiểu Long Nữ, lão ta không biết gì, song nhìn vẻ hoảng sợ của Triệu, Doãn hai người và hỏi vài câu thăm dò, lão đã đoán ra.

Triệu Chí Kính thừa dịp, nói:

– Nàng cũng đắc tội với đại sư, hôm ở anh hùng đại yến, đại sư từng bại dưới kiếm của nàng ta, mối thù ấy không thể không báo.

Pháp vương nói:

– Hừ, Triệu đạo huynh cũng biết ư?

Triệu Chí Kính nói:

– Mọi chuyện lan truyền thiên hạ, hào kiệt võ lâm ai mà không biết.

Pháp vương nghĩ: "Gã đạo sĩ này cũng lợi hại đây. Mình định dùng gã chế ngự địch thủ, gã lại khích mình ra tay giúp gã thoát nạn", bèn nói:

– Long cô nương định lấy mạng hai vị. Hai vị không địch nổi nàng ta, muốn lão nạp bảo hộ chứ gì?

Doãn Chí Bình tức giận nói:

– Doãn mỗ chết thì chết, không thèm nhờ vả kẻ khác, huống hồ đại sư chắc gì đã thắng nổi nàng ta.

Pháp vương thấy Doãn Chí Bình nói rất hiên ngang, không một chút giả dối, thì nghĩ bụng: "Chẳng lẽ mình đoán sai?" Nhất thời lão chưa biết tâm ý hai đạo sĩ thế nào, bèn cười cười, nói:

– Nàng ta song kiếm hợp bích với tên tiểu tử Dương Quá, tất nhiên có chỗ lợi hại. Nhưng hiện tại nàng có một mình, lão nạp muốn lấy mạng nàng ta thật dễ như trở bàn tay.

Triệu Chí Kính lắc đầu, nói:

– Chỉ sợ vị tất. Trên giang hồ người người đều nói, tại anh hùng đại yến ải Đại Thắng, Kim Luân pháp vương bị Tiểu Long Nữ đánh bại.

Pháp vương cười, nói:

– Lão nạp tu luyện mấy chục năm, đạo huynh dùng cách nói khích chỉ uổng công thôi.

Pháp vương nghe Triệu Chí Kính nói, biết hắn quả thực mong lão động thủ với Tiểu Long Nữ. Trước lúc Chu Bá Thông xuất hiện, lão vốn định giết Tiểu Long Nữ, nhưng bây giờ lão phải đối phó với việc Chu Bá Thông sắp đến lấy trộm vương kỳ, nếu lão giết Tiểu Long Nữ, thì không còn gì để kiềm chế hai đạo sĩ, bèn giả bộ nhàn hạ, chắp tay nói:

– Vậy lão nạp đi trước một chút vậy. Hai vị lo liệu xong xuôi công việc với Long cô nương, hãy đến đại doanh cũng được.

Nói đoạn phóng ngựa đi.

Triệu Chí Kính lo cuống lên, nghĩ chỉ cần Pháp vương bỏ đi, Tiểu Long Nữ sẽ sấn tới, sư huynh đệ hắn sẽ phải chịu hình phạt khổ sở mức nào, nhớ lại nỗi đau đớn cái lần hắn bị bầy ong độc đốt ở núi Chung Nam, thì hắn sợ hết hồn, thấy Pháp vương không chỉ võ công cao cường, mà còn mưu trí hơn hẳn hắn, hắn vội tế ngựa theo mà gọi:

– Đại sư, thư thả đã. Tiểu đạo chưa biết đường, phiền đại sư chỉ dẫn, tiểu đạo không dám quên đại đức.

Pháp vương nghe mấy tiếng "không dám quên đại đức" thì mỉm cười, nghĩ: "Chắc gã họ Triệu này đắc tội với Long cô nương mới sợ hãi như thế, còn gã họ Doãn thì không liên can"; bèn nói:

– Cũng được, không chừng rồi lão nạp cũng có việc nhờ cậy đạo huynh đó.

Triệu Chí Kính vội nói:

– Đại sư có gì sai khiến, tiểu đạo xin sẵn lòng.

Pháp vương và Triệu Chí Kính sánh vai mà đi, tiện thể dò hỏi tình hình phái Toàn Chân, Triệu Chí Kính không giấu chuyện gì. Doãn Chí Bình ngơ ngẩn đi cách phía sau một quãng, cũng chẳng để ý hai người nói những chuyện gì.

Pháp vương nói:

– Thì ra Mã đạo trưởng cao tuổi tịnh thoái, không quan tâm đến giáo vụ, nghe nói Khưu đạo trưởng hiện nhiệm chưởng giáo cũng đã cao tuổi rồi.

Triệu Chí Kính nói:

– Phải, Khưu sư bá cũng đã ngoài bảy mươi.

Pháp vương nói:

– Thế thì khi Khưu đạo trưởng từ nhiệm, sẽ chuyển giao chức vị chưởng giáo cho tôn sư Vương đạo trưởng.

Câu này chạm ngay tới tâm sự của Triệu Chí Kính, hắn nói:

– Gia sư cũng đã nhiều tuổi, Toàn Chân lục tử những năm gần đây tinh nghiên cái học số mệnh, tục vụ của chưởng giáo quá nửa sẽ giao cho Doãn sư đệ của tiểu đạo.

Pháp vương nhìn sắc mặt khó chịu của Triệu Chí Kính, nói:

– Lão nạp thấy vị Doãn đạo huynh võ công tuy cao, nhưng còn thua Triệu đạo huynh, còn về sự khôn ngoan, thì thua xa đạo huynh lắm lắm. Trọng nhiệm chưởng giáo phải do đạo huynh gánh vác mới đúng.

Mấy lời này Triệu Chí Kính để trong lòng đã bảy, tám năm nay, hôm nay được Pháp vương nói ra hộ, thật như cởi tấm lòng, càng lộ rõ vẻ oán hận. Toàn Chân lục tử cho Doãn Chí Bình đứng đầu các đệ tử đời thứ ba, tức là đã minh định y sẽ tiếp nhiệm chức chưởng giáo. Ban đầu Triệu Chí Kính chẳng qua chỉ không phục trong bụng, sinh lòng đố kỵ; nhưng từ khi nắm được tội lỗi của Doãn Chí Bình, thì hắn nung nấu ý đồ tranh đoạt chức vị chưởng giáo. Doãn Chí Bình làm nhục Tiểu Long Nữ, phạm đại giới của giáo phái, nếu các vị sư tôn hay biết, tính mạng y khó giữ. Nhưng Triệu Chí Kính tự biết mình tính nết nôn nóng thô lỗ, không được Toàn Chân lục tử yêu mến, các sư huynh đệ đồng môn cũng phần lớn bất hòa với hắn, dẫu Doãn Chí Bình có thân bại danh liệt, chức chưởng giáo cũng không đến tay hắn, nên hắn chỉ giấu kín trong lòng mà thôi.

Pháp vương nhìn mặt đoán tâm tư, nghĩ: "Mình giúp hắn giành được chức chưởng giáo, hắn sẽ một dạ trung thành với mình. Phái Toàn Chân thế lực hùng mạnh, tín đồ đông đảo, có giáo phái ấy trợ giúp là thuận lợi lớn cho cuộc nam chinh của vương gia, đó là một chiến công lớn, e rằng còn hơn cả việc giết Quách Tĩnh". Pháp vương thầm trù tính, không nói chuyện với Triệu Chí Kính nữa.

Buổi trưa, mọi người đến đại doanh của Hốt Tất Liệt. Pháp vương ngoảnh lại, thấy Tiểu Long Nữ cưỡi con lừa dừng lại ngoài xa một dặm, nghĩ: "Có nàng ta ở bên ngoài, chẳng lo hai gã đạo sĩ không cắn câu".

Khi mọi người bước vào vương trướng, Hốt Tất Liệt đang hết sức buồn phiền về chuyện mất cờ. Nên biết vương kỳ là biểu trưng của ba quân, trong lúc chinh chiến, thiên binh vạn mã đều nhìn vương kỳ mà tiến thoái, đúng là vật trọng yếu số một trong quân. Đột nhiên ma xui quỉ khiến thế nào lại có kẻ lấy mất, thật không khác gì thua một trận lớn. Hất Tất Liệt thấy Pháp vương mang vương kỳ về thì cả mừng, vội ra đón.

Hốt Tất Liệt hùng tài đại lược gần bằng Thành Cát Tư Hãn, vừa nghe Pháp vương dẫn kiến Triệu, Doãn hai người là cao thủ phái Toàn Chân, thì lập tức tỏ ý mến mộ và thu nạp, quên ngay chuyện mất cờ, sai bày tiệc rượu thết đãi tân khách. Doãn Chí Bình tâm thần bất định, lúc nào cung chỉ vẩn vơ nghĩ đến Tiểu Long Nữ. Triệu Chí Kính là kẻ rất trọng danh vị, được vị vương gia Mông Cổ đối đãi niềm nở thì sung sướng vô cùng.

Hốt Tất Liệt không nhắc gì đến việc Pháp vương đi hành thích Quách Tĩnh, chỉ luôn miệng khen ngợi sự tận tụy của Ni Ma Tinh đến mức tự phế bỏ cả hai chân, tại tiệc rượu mời Ni Ma Tinh ngồi ở vị trí thượng khách, liên tiếp rót rượu mời, khiến Ni Ma Tinh hết sức cảm kích, nghĩ bụng chỉ cần Hốt Tất Liệt lại ra lệnh, thì dẫu phải xông vào biển lửa, hắn cũng không từ nan. Những người khác thấy Ni Ma Tinh được đối đãi như vậy, cũng lấy làm xúc động.

Tiệc xong, Pháp vương đưa Triệu, Doãn hai người sang nghỉ ở trướng bên cạnh. Doãn Chí Bình mệt mỏi, nằm xuống ngủ liền. Pháp vương nói:

– Triệu huynh, hai ta ra ngoài tản bộ một lát.

Hai người sánh vai ra khỏi trướng.

Triệu Chí Kính nhìn kỹ, thấy Tiểu Long Nữ ngồi dưới một gốc cây đằng xa, con lừa buộc bên cạnh, bất giác mặt biến sắc. Pháp vương làm như không thấy, lại hỏi han về tình hình bên trong giáo phái Toàn Chân.

Đạo giáo thời Bắc Tống vốn chỉ có một phái Chính Ất, do Trương Thiên Sư ở núi Long Hổ, tỉnh Sơn Tây thống suất. Từ khi người Kim xâm lấn Trung Hoa, tôn thất nhà Tống chạy xuống phía nam, Đạo giáo chia thành ba phái mới, là phái Toàn Chân, phái Đại Đạo, phái Thái Ất, trong đó phái Toàn Chân mạnh nhất, các đạo sĩ phái này hành hiệp trượng nghĩa, cứu khổ tế bần. Bấy giờ phương bắc nằm trong tay dị tộc, bách tính quá ư thống khổ, thấy triều đình không có khả năng phục hồi, lê dân thường coi phái Toàn Chân là cứu tinh. Thời ấy có bài vè: "Trung Nguyên rối ren, Nam Tống yếu hèn, hào kiệt thiên hạ, chẳng biết theo ai.. Trùng Dương tông sư, Trường Xuân chân nhân, vạn vật siêu nhiên, dạy người vô vi, hóa thành hữu vi, tịnh an Đông Hoa, chỉ chờ minh chúa.." Bấy giờ từ sông Dương Tử trở lên phía bắc, thế lực của phái Toàn Chân và Cái Bang còn mạnh hơn cả quan phủ. Triệu Chí Kính thấy Pháp vương đãi hắn nồng hậu, trong lòng cảm kích, nghe lão ta hỏi gì đều trả lời tường tận, nào sự phân bố lực lượng bản giáo, nào tình hình các trọng trấn, nhất nhất đều nói hết cả ra.

Hai người vừa đi vừa nói, dần dần đến chỗ vắng vẻ không người. Pháp vương thở dài, nói:

– Triệu đạo huynh, quí giáo có được qui mô như hiện nay, thật không dễ. Lão nạp vô lễ, nói thẳng câu này: Các vị Mã, Lưu, Khưu, Vương đạo trưởng đều quá ư hồ đồ, sao lại có thể trao đại nhiệm chưởng giáo vào tay Doãn đạo huynh kia chứ?

Triệu Chí Kính mấy ngày nay chỉ tính chuyện sau khi Doãn Chí Bình tiếp nhiệm chức chưởng giáo, Toàn Chân lục tử lần lượt qua đời, hắn sẽ buộc sư đệ phải nhường chức chưởng giáo lại cho hắn. Nhưng hắn không biết từ nay đến lúc thành công phải chờ bao nhiêu năm nữa, giờ nghe Pháp vương đề cập, thì bất giác thở dài, lại nhìn về phía Tiểu Long Nữ một cái.

Pháp vương nói:

– Long cô nương là chuyện nhỏ, lão nạp chỉ vung tay là có thể kết liễu sinh mạng nàng ta, thực không đáng ngại. Chức vị chưởng giáo không thể để lọt vào tay hạng bất tài, đó mới là việc cần kíp.

Triệu Chí Kính nói:

– Nếu đại sư có thể chỉ giáo, tiểu đạo suốt đời xin vâng lệnh.

Pháp vương sáng mắt, dõng dạc nói:

– Quân tử nhất ngôn, sau này đừng có hối hận.

Triệu Chí Kính nói:

– Lẽ đương nhiên.

Pháp vương nói:

– Được, lão nạp sẽ lo liệu để trong vòng nửa năm đạo huynh trở thành chưởng giáo phái Toàn Chân.

Triệu Chí Kính cả mừng, nhưng việc này quá khó, nên hắn còn bán tín bán nghi. Pháp vương nói:

– Đạo huynh chưa tin chứ gì?

Triệu Chí Kính nói:

– Tiểu đạo tin, tin chứ. Đại sư diệu pháp thông thần, tất có cách hay.

Pháp vương nói:

– Quí giáo và lão nạp không can hệ gì đến nhau, lẽ ra ai làm chưởng giáo cũng thế cả. Nhưng không hiểu sao lão nạp vừa gặp đạo huynh đã thấy thân thiết, muốn xuất thủ tương trợ.

Triệu Chí Kính cảm động không để đâu cho hết.

Pháp vương nói:

– Bước thứ nhất, chúng ta phải làm cho đạo huynh có được người ủng hộ thật mạnh trong giáo phái. Ở quí giáo hiện thời ai là người có vai vế tôn kính nhất?

Triệu Chí Kính nói:

– Chính là sư thúc tổ Chu Bá Thông gặp trên đường hôm nay.

Pháp vương nói:

– Đúng thế. Nếu lão ta chịu giúp đạo huynh, thì Doãn đạo trưởng sẽ không thể là đối thủ của đạo huynh.

Triệu Chí Kính vui mừng nói:

– Phải đấy, Mã sư bá, Khưu sư bá, sư phụ của tiểu đạo đều gọi lão ta là sư thúc. Lời nói của Chu Bá Thông tất có sức nặng. Nhưng không hiểu đại sư có diệu kế gì khiến Chu sư thúc tổ giúp cho tiểu đạo?

Pháp vương nói:

– Hôm nay lão nạp đánh cuộc với Chu Bá Thông, muốn lão ta đến lấy trộm vương kỳ. Đạo huynh bảo liệu lão ta có đến hay không?

Triệu Chí Kính nói:

– Dĩ nhiên lão sẽ đến.

Pháp vương nói:

– Lá vương kỳ ấy đêm nay sẽ không treo trên cột cờ, mà sẽ được giấu vào một chỗ an toàn bí mật. Trong đại doanh Mông Cổ có hàng ngàn mái lều, Chu Bá Thông có tài thông thiên triệt địa, cũng không thể nào tìm thấy vương kỳ trong một đêm.

Triệu Chí Kính nói:

– Đúng thế!

Trong bụng hắn nghĩ: "Đánh cuộc kiểu ấy, có thắng cũng chẳng vẻ vang gì". Pháp vương nói:

– Chắc đạo huynh cho rằng đánh cuộc kiểu ấy, có thắng cùng chẳng vẻ vang. Nhưng lão nạp làm thế chỉ là để giúp đạo huynh thôi đó.

Triệu Chí Kính sững sờ nhìn Pháp vương, chưa hiểu dụng ý.

Pháp vương đưa tay vỗ vỗ nhẹ vào vai Triệu Chí Kính, nói:

– Lão nạp sẽ nói cho đạo huynh biết chỗ giấu vương kỳ, đạo huynh lại mách cho Chu Bá Thông biết để lão ta tìm thấy, há chẳng phải là lập kỳ công hay sao?

Triệu Chí Kính cả mừng, nói:

– Đúng, đúng, làm thế nhất định sẽ được Chu sư thúc tổ vừa lòng.

Nhưng nghĩ lại, nói:

– Nhưng như thế chẳng hóa ra để đại sư bị thua cuộc hay sao?

Pháp vương nói:

– Chúng ta kết giao bằng hữu, chỉ toàn tâm toàn ý vì nhau, chuyện thắng bại vinh nhục của bản thân có gì đáng kể?

Triệu Chí Kính quá cảm kích, nói:

– Ân đức của đại sư, không biết lấy gì báo đáp.

Pháp vương mỉm cười, nói:

– Đạo huynh trước tiên giành được sự trợ giúp của Chu Bá Thông trong quí giáo, sau đó lão nạp sẽ giúp đạo huynh trù hoạch mọi việc, khi đó chỉ e đạo huynh có không muốn làm chưởng giáo cũng không xong.

Đoạn giơ tay chỉ sang bên trái, nói:

– Chúng ta đến sườn núi kia xem thử.

Cách đại doanh hơn một dặm có mấy quả núi nhỏ, hai người thoáng chốc đã tới trước núi. Pháp vương nói:

– Chúng ta hãy tìm một cái hang để giấu vương kỳ bên trong.

Hai quả núi đầu không có cái hang nào, hai người sang đến quả núi thứ ba, nơi đây cây cối um tùm, có nhiều hang. Pháp vương nói:

– Núi này hay lắm.

Thấy một cái hang ở giữa hai cây du lớn, cửa hang kín đáo, nhìn qua khó phát hiện, bèn nói:

– Đạo huynh hãy nhớ chỗ này, lão nạp sẽ giấu vương kỳ vào đây. Đạo huynh sẽ dẫn Chu Bá Thông tới mà lấy.

Triệu Chí Kính vâng dạ rối rít, mừng rỡ vô hạn, nhìn vị trí đó thật kỹ, nghĩ không thể nào lẫn được. Hai người trở về đại doanh, không bàn việc đó nữa.

Ăn cơm chiều xong, Triệu Chí Kính trò chuyện với Doãn Chí Bình, nhưng Doãn Chí Bình tâm trí để ở đâu đâu, hỏi chuyện này lại đáp chuyện khác. Trời tối dần, đã vào canh một, Triệu Chí Kính lặng lẽ ra khỏi khu vực doanh trướng, ngồi trên một gò cát, nhìn quân kỵ vệ tuần tiễu qua lại cực kỳ nghiêm mật, nghĩ: "Muốn lọt vào đại doanh một bước thật khó, vậy mà Chu sư thúc tổ ra vào như chơi, lấy được vương kỳ mang đi, bản lĩnh quả là quá ư cao cường".

Bầu trời trên đầu tím thẫm dần, giống như một cái lều khổng lồ trùm xuống đại doanh của quân Mông Cổ, sao lấp lánh, chòm Bắc Đẩu bảy ngôi rất sáng, hắn nghĩ: "Nếu đúng như lời Pháp vương, ba tháng sau ta trở thành chưởng giáo, bấy giờ danh tiếng lẫy lừng, ba ngàn đạo quán trong thiên hạ, tám vạn đệ tử thảy đều nghe hiệu lệnh của ta, ha ha, muốn lấy mạng tên tiểu tử Dương Quá thật dễ như trở bàn tay". Hắn càng nghĩ càng đắc ý, đứng dậy, căng mắt nhìn, thấy lờ mờ bóng Tiểu Long Nữ vẫn ngồi dưới gốc cây nọ, lại nghĩ: "Long cô nương quả nhiên kiều diễm vô song, ta thấy còn ưa, chẳng trách Doãn Chí Bình mất hết hồn vía vì nàng ta. Anh hùng hào kiệt muốn nên đại sự, há có thể mê muội vì nữ sắc?"

Đang dương dương tự đắc, bỗng thấy một bóng đen từ phía tây vút qua rất nhanh, luồn lách trong các doanh trướng, phút chốc đã tới dưới chân cột cờ treo vương kỳ. Người ấy tay áo rộng thùng thình, râu tóc bạc phơ, chính là Chu Bá Thông.

Comments

0 comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 25: Nội ưu ngoại loạn

Chu Bá Thông ngẩng lên, đỉnh cột cờ không thấy vương kỳ thì sững sờ. Lão chỉ nghĩ Pháp vương chắc sẽ mai phục cao thủ bốn phía để ngăn chặn, lão sẽ nhân dịp này đánh một trận tơi bời cho sướng tay; ai dè không thấy vương kỳ trên cột cờ, đưa mắt tứ phía, thấy hàng ngàn doanh trướng trùng trùng điệp điệp, biết tìm nơi nào?

Triệu Chí Kính định lên tiếng gọi, song lại nghĩ: "Bây giờ nói cho lão ta biết ngay thì chưa hay. Hãy cứ để lão ta tìm chán không thấy, hết cách, chán nản hoàn toàn, mình mới nói cho biết nơi giấu vương kỳ, lão ta mới thật sự chịu ơn mình". Bèn nấp sau một doanh trướng, chăm chú theo dõi Chu Bá Thông. Thấy Chu Bá Thông leo thoăn thoắt lên đỉnh cột cờ. Triệu Chí Kính thầm kinh ngạc: "Chu sư thúc tổ tuổi chưa đến một trăm thì cũng đã ngoài chín mươi, dẫu tu luyện thì cũng khó tránh gân cốt suy yếu, vậy mà thân thủ của lão ta vẫn nhanh nhẹn thế kia, hơn cả thiếu niên, thật là dị nhân trong võ lâm".

Chu Bá Thông leo lên tới đỉnh cột cờ, mắt nhìn tứ phía, thấy tinh kỳ bay phấp phới tới vài ngàn lá, song không có vương kỳ. Lão tức giận gọi to:

– Bớ Kim Luân pháp vương, lão đem vương kỳ giấu biến đi đâu rồi?

Tiếng gọi vang dội, truyền đi rất xa giữa không gian rộng lớn, sau đó từ dãy núi nhỏ xa xa vọng về. Pháp vương đã bẩm cáo Hốt Tất Liệt việc này, thông truyền toàn quân, cho nên trong quân nghe rõ, nhưng không một ai đáp lời.

Chu Bá Thông lại gọi:

– Pháp vương, lão không trả lời, thì ta chửi cho đó.

Chờ một lát, vẫn không có ai lên tiếng, Chu Bá Thông bèn chửi:

– Xú Pháp vương, Cẩu Pháp vương, ngươi như vậy là đáng mặt anh hùng hảo hán ư? Như thế có khác gì con rùa đen chui vào hang không dám ló đầu ra!

Đột nhiên mé đông có tiếng gọi:

– Lão Ngoan đồng, vương kỳ ở đây này, có giỏi thì đến mà lấy!

Chu Bá Thông tụt xuống khỏi cột cờ, vội chạy về phía đó, hỏi:

– Ở đâu?

Nhưng chẳng một ai trả lời. Chu Bá Thông nhìn vô số doanh trướng, chả biết tìm ở đâu.

Bỗng nghe xa xa mé tây có người gọi:

– Vương kỳ ở đây, vương kỳ ở đây!

Chu Bá Thông lao vút về phía đó, tiếng người kia vẫn gọi, nhưng nhỏ dần rồi tắt hẳn. Chu Bá Thông chạy một quãng, không còn biết tiếng gọi phát ra từ doanh trướng nào, lão bèn cười hô hô, nói:

– Xú Pháp vương, mi muốn chơi trò ú tim với ta ư? Chờ ta phóng hỏa thiêu trụi đại doanh Mông Cổ, xem mi có chịu chui ra hay không.

Triệu Chí Kính nghĩ: "Nếu lão ta phóng hỏa thật thì hỏng hết", bèn chạy tới, nói nhỏ:

– Chu sư thúc tổ, chớ nên phóng hỏa!

Chu Bá Thông nói:

– À tiểu đạo sĩ, là ngươi! Vì sao không nên phóng hỏa?

Triệu Chí Kính bịa chuyện:

– Bọn họ cố ý dụ sư thúc tổ phóng hỏa, trong một số doanh trướng gài sẵn địa lôi, sư thúc tổ phóng hỏa, địa lôi sẽ nổ làm cho người đốt tan xác.

Chu Bá Thông giật mình, nói:

– Quỉ kế của bọn chúng độc ác thật!

Triệu Chí Kính thấy Chu Bá Thông đã tin, lòng khấp khởi, nói:

– Đồ tôn dò biết được quỉ kế của chúng, chỉ sợ sư thúc tổ không nhìn kỹ, nôn nóng phóng hỏa, nên đứng chờ sẵn ở đây.

Chu Bá Thông nói:

– Ừ, hóa ra ngươi có hảo tâm; ngươi không nói, làm sao Lão Ngoan đồng ta biết chúng gài sẵn địa lôi?

Triệu Chí Kính nói nhỏ:

– Đồ tôn hết sức mạo hiểm, dò được chỗ bọn chúng cất giấu vương kỳ, sư thúc tổ hãy đi theo đồ tôn sẽ thấy.

Chu Bá Thông lắc đầu, nói:

– Không được, không làm thế được! Nếu ta tìm không thấy, thì ta nhận thua là xong.

Đánh cuộc lấy trộm vương kỳ, đối với Lão Ngoan đồng cũng là một trò chơi; nếu để Triệu Chí Kính chỉ dẫn mà thắng cuộc, thì còn gì thú vị; trò chơi đòi hỏi đôi bên thật thà, quang minh lỗi lạc, tối kỵ hành động mờ ám.

Triệu Chí Kính hoàn toàn bất ngờ, nghĩ: "Lão ta có biệt hiệu Lão Ngoan đồng, dĩ nhiên tính nết khác hẳn mọi người, phải đánh lừa lão ta thôi", bèn nói:

– Đã thế, đồ tôn sẽ đi lấy trộm vương kỳ, xem sư thúc tổ tìm thấy trước, hay là đồ tôn.

Đoạn thi triển khinh công, chạy về phía mấy quả núi nhỏ ở phía bên trái, chạy mấy trượng, ngó lại, thấy Chu Bá Thông theo sau, hắn bèn chạy nhanh tới quả núi thứ ba, miệng tự hỏi:

– Bọn họ bảo họ giấu vương kỳ trong một cái hang ở giữa hai cây du lớn, chỗ nào có hai cây du nhỉ?

Hắn cố ý tìm chỗ này chỗ nọ, song không lại gần cái hang Pháp vương đã nói. Bỗng nghe tiếng reo của Chu Bá Thông:

– Ta tìm thấy trước ngươi rồi!

Đoạn chui vào cái hang giữa hai cây du lớn. Triệu Chí Kính mỉm cười, nghĩ: "Lão tìm thấy vương kỳ, công chỉ dẫn của ta không nhỏ; huống hồ ta ngăn lão phóng hỏa, lão còn coi ta có ơn cứu mạng lão. Việc đó còn hay hơn cả trù tính của Pháp vương". Hắn đắc ý đi về phía cửa hang.

Bỗng nghe Chu Bá Thông rú lên:

– Độc xà, độc xà!

Triệu Chí Kính cả kinh, chân phải đã bước vào cửa hang, vội rút ra, hỏi to:

– Sư thúc tổ, trong hang có rắn độc ư?

Chu Bá Thông nói:

– Không phải rắn.. không phải rắn..

Tiếng nói nghe yếu dần.

Điều này ngoài dự liệu của Triệu Chí Kính, hắn vội lấy một cành củi khô châm lửa, chĩa vào trong cửa hang, thấy Chu Bá Thông nằm dưới đất, tay trái cầm một lá cờ cứ vẫy vẫy như thể chống đỡ một con quái vật nào đó. Triệu Chí Kính vội hỏi:

– Sư thúc tổ, sao vậy?

Chu Bá Thông nói:

– Ta bị.. độc vật.. độc vật.. cắn trúng..

Nói đến đó, cánh tay xuội dần, không vung vẩy được nữa.

Triệu Chí Kính thấy Chu Bá Thông vào hang bị thương, nghĩ với võ công của lão, dẫu bị thương vào chỗ yếu hại, cũng không đến nỗi nào, ai dè lại còn vật gì lợi hại như thế? Hắn lại thấy lá cờ Chu Bá Thông cầm kia chỉ là một lá cờ thông thường, không phải là vương kỳ, thì cả sợ: "Thì ra Pháp vương bảo ta lừa Chu Bá Thông vào hang, mai phục độc vật bên trong để lấy mạng Chu Bá Thông". Lúc này hắn chỉ lo chạy trốn, đâu còn nghĩ đến sự sống chết của Chu Bá Thông, cũng chẳng dám xem thương thế của sư thúc tổ thế nào, bị con vật gì cắn, hắn quẳng que củi cháy, quay người chạy đi.

Que củi chưa rơi xuống đất, đã có người nhặt lên, chỉ nghe người ấy nói:

– Bỏ mặc cả bậc tôn trưởng hay sao?

Giọng nói êm dịu như tiếng khánh ngọc, lửa chiếu rõ màu áo trắng và khuôn mặt mỹ lệ, vẻ hoàn toàn thản nhiên của Tiểu Long Nữ. Triệu Chí Kính sợ đến nỗi cuống cả chân, líu cả lưỡi; không thể ngờ nàng lại đứng phía sau hắn gần như thế, rất muốn chạy, song không nhấc bước nổi.

Kỳ thực Tiểu Long Nữ giám thị từ xa, nhất cử nhất động của Triệu Chí Kính đều bị nàng giám sát. Khi hắn dẫn Chu Bá Thông đi vào núi, Tiểu Long Nữ liền theo sau; Chu Bá Thông dĩ nhiên là biết, nhưng không buồn để ý, còn Triệu Chí Kính thì không biết gì.

Tiểu Long Nữ nhặt que đuốc, soi về phía Chu Bá Thông, thấy mặt lão ẩn hiện khí màu xanh. Nàng lấy đôi găng bằng sợi kim loại đeo vào tay, nhấc cánh tay của lão lên xem thử, bất giác giật mình, thấy ba con nhện to bằng miệng cái chén uống rượu đang cắn chặt vào ba ngón tay của Chu Bá Thông.

Loài nhện này hình dạng cổ quái, toàn thân có sọc xanh, đỏ màu tươi rói, ai nhìn cũng kinh tâm động phách. Tiểu Long Nữ biết mọi con vật độc màu sắc càng tươi thì độc tính càng lợi hại. Ba con nhện độc cắn ngón tay Chu Bá Thông, nàng dùng một cái que gẩy con nhện mấy cái, nó vẫn không nhả ra. Nàng bèn vung tay phải, ba mũi Ngọc phong châm phóng trúng ba con nhện độc. Kình lực phóng châm vừa vặn đâm chết ba con nhện, chứ không đụng tới da thịt Chu Bá Thông.

Nguyên loài nhện này gọi là "Thái tuyết thù", sống ở đỉnh núi tuyết vùng Tây Tạng, là một trong ba vật cực độc trong thiên hạ. Kim Luân Pháp vương mang "Thái tuyết thù" đến Trung Nguyên để thi tài cao thấp với danh gia dụng độc. Khi vào thành Tương Dương hành thích Quách Tĩnh, lão không nghĩ đến việc sử độc nên không mang theo "Thái tuyết thù". Sau khi bị trúng Băng phách ngân châm của Lý Mạc Sầu, trở về đại doanh, lão giận lắm, bèn lấy cái hộp đựng "Thái tuyết thù" mang bên mình, chỉ mong tái ngộ Lý Mạc Sầu sẽ cho mụ ta biết thế nào là độc vật của Tây Tạng. Tình cờ lão lại đánh cuộc với Chu Bá Thông, gặp gã đạo sĩ Triệu Kính rắp tâm làm chưởng giáo, lão mới đem giấu một lá cờ cuốn vào trong hang, thả ba con "Thái tuyết thù" bên trong lá cờ. "Thái tuyết thù" ngửi thấy mùi da thịt người, lập tức cắn chặt, hút no máu mới nhả ra, độc tính cực mạnh, không thuốc nào cứu nổi, ngay cả Kim Luân Pháp vương cũng không biết cách cứu chữa.

Ngọc phong châm của Tiểu Long Nữ có bôi chất cực độc của nọc ong trên núi Chung Nam, tuy độc tính không bằng "Thái tuyết thù", song cũng vô cùng lợi hại, khi mũi châm xuyên vào cơ thể con "Thái tuyết thù", cơ thể loài nhện này lập tức sinh ra một chất kháng độc. Nhện độc ăn các con trùng độc khác mà không bị trúng độc là hoàn toàn nhờ ở chất kháng độc đó. Chất kháng độc từ mồm con "Thái tuyết thù" phun vào máu Chu Bá Thông, phun vài lần thì nó chết. May mà Tiểu Long Nữ vội cứu người, lại nhìn con nhện độc đáng sợ, mới phóng ám khí, hóa ra lại giải cứu được chất cực độc trong thiên hạ.

Tiểu Long Nữ thấy ba con nhện độc chết rơi xuống đất, xanh xanh đỏ đỏ trông mà rùng mình; lại thấy Chu Bá Thông nằm thẳng cẳng, chắc cũng đã tắt thở. Nàng đối với Chu Bá Thông có lòng cảm kích, thường nghĩ nếu lão không dẫn Dương Quá đến Tuyệt Tình cốc thì nàng đã thành hôn với Công Tôn Chỉ; bây giờ mỗi khi nhớ lại, lại sởn gai ốc. Ai ngờ cuối cùng Chu Bá Thông bỏ mạng ở đây, thật đáng thương. Bỗng nàng thấy Chu Bá Thông vẫy vẫy tay trái, nói nhỏ:

– Con gì cắn ta mà.. ghê thế không biết?

Lão chống tay định ngồi dậy, nhưng mới nhổm lên đã khuỵu xuống. Tiểu Long Nữ thấy lão chưa chết thì cả mừng, giơ que đuốc soi xung quanh, không thấy có dấu vết nhện độc mới yên tâm, hỏi:

– Lão tiền bối không sao chứ?

Chu Bá Thông cười, nói:

– Hình như chưa chết, chết quá nửa, sống non nửa.. ha ha..

Lão định cười phá lên, nhưng tự dưng chân tay co rúm, không cười nổi nữa.

Chỉ nghe bên ngoài hang có kẻ cười to, váng cả tai, rồi nói:

– Lão Ngoan đồng, đã lấy được vương kỳ hay chưa?

Kẻ đó chính là Kim Luân Pháp vương.

Tiểu Long Nữ tay trái bóp tắt ngay que đuốc, nàng đi bao tay, nên không sợ lửa. Chu Bá Thông nói nhỏ:

– Trò chơi này Lão Ngoan đồng ta thua cuộc rồi, chỉ e tính mạng cũng bị ngươi lấy mất. Xú Pháp vương! Nhện độc của ngươi là loài gì mà lợi hại đến thế?

Pháp vương thầm kinh hãi: "Lão ta đã bị" Thái tuyết thù "của ta cắn rồi, sao lại chưa chết, giọng nói vẫn khỏe thế không biết? Có lẽ lão ta cũng chỉ chịu đựng thêm được một lát nữa thôi, thế là diệt trừ xong một cường địch".

Chu Bá Thông lại nói:

– Tên tiểu đạo sĩ Triệu Chí Kính, ngươi lừa ta vụ này thật là quá tệ. Ngươi hãy mau về bảo Khưu Xứ Cơ xử ngươi đi!

Triệu Chí Kính ở bên ngoài, nấp sau lưng Kim Luân Pháp vương, nghe mà lạnh người, nghĩ: "Việc này làm sao mình có thể về bẩm báo với Khưu sư bá kia chứ?". Kim Luân Pháp vương cười, nói:

– Triệu đạo sĩ khá lắm. Vương gia của lão nạp sẽ khải bẩm với đại hãn, phong cho y là chưởng giáo Chân nhân phái Toàn Chân.

Miệng nói vậy, bụng nghĩ: "Chu Bá Thông mà chết, Triệu Chí Kính không thoát khỏi liên can, từ đây sẽ suốt đời bị ta khống chế. Hắn là kẻ tài trí bình thường, không hiểu rằng một lão già điên điên khùng khùng như Chu Bá Thông tuy vai vế bậc trên, nhưng dễ gì được Khưu Xứ Cơ tin theo lời lão ta, để cho hắn làm chưởng giáo kia chứ?".

Chu Bá Thông cả giận, chất độc trong cơ thể lão tuy đã tiêu trừ được quá nửa, song độc tính của "Thái tuyết thù" không phải là thứ con người chịu nổi, chỉ một lượng nhỏ đủ giết nhiều người, Chu Bá Thông chỉ để thoát một chút chân khí, liền ngất đi.

Tiểu Long Nữ nói:

– Kim Luân Pháp vương, lão đánh không nổi người ta, lại đi dùng nhện độc hại người, có còn giống tôn chủ một phái nữa không? Hãy mau đưa giải dược cứu trị lão gia tử!

Pháp vương ngó vào, thấy chu Bá Thông ngất đi, tưởng lão đã chết, vô cùng đắc ý, nghĩ Tiểu Long Nữ làm sao đối phó nổi với lão ta, nhớ lúc ban ngày Triệu Chí Kính bảo lão ta bị bại dưới tay nàng, bèn quyết ý bắt sống nàng để hiển thị uy phong. Lão ta sấn tới cửa hang, chĩa tay tóm lấy Tiểu Long Nữ, miệng nói:

– Giải dược đây, cô nương hãy nhận lấy!

Tiểu Long Nữ vung tay, sợi dây chuông bay ra, kêu loong coong, điểm tới huyệt Kỳ Môn của đối phương.

Pháp vương nghĩ: "Hôm nay nếu ta không bắt sống được ngươi, chẳng hóa để cho tên Triệu đạo sĩ chê cười ta hay sao?" Lão lắc mình tránh cái chuông, rút ngay song luân ra, gõ vào nhau "keng" một tiếng rát tai. Tiểu Long Nữ xuất thủ chưa trúng, điều khiển quả chuông điểm huyệt Đại Chùy sau lưng lão ta, biến chiêu cực nhanh. Pháp vương nhảy tránh mấy thước, miệng khen:

– Công phu như cô nương hiếm gặp trong đám nữ lưu!

Hai người giao đấu trong cái hang hẹp, phúc chốc đã mười mấy chiêu. Pháp vương nếu cứ công kích mạnh, Tiểu Long Nữ hẳn không chống nổi; nhưng hôm trước lão xông vào hang, đã bị thương vì Băng phách ngân châm của Lý Mạc Sầu, suýt nữa mất mạng; võ công của Tiểu Long Nữ và Lý Mạc Sầu cùng một lộ, chiêu số của nàng còn xảo diệu hơn Lý Mạc Sầu, cái gương hôm trước còn đó, lão đâu dám quên? Huống hồ trong hang có ba con "Thái tuyết thù", nếu để chúng cắn, sẽ lập tức bỏ mạng, nên tuy nôn nóng, lão cũng không dám mạo hiểm cường công. Trong bóng đêm, chỉ nghe tiếng song luân và tiếng chuông vàng như tiếng nhạc.

Triệu Chí Kính đứng ngoài xa, nghe tiếng binh khí của hai người, cứ giật mình thon thót, nghĩ cái chết của sư thúc tổ tuy không phải do hắn cố ý gia hại, nhưng vẫn khó tránh tội, mà cái tội giết bề trên, bất kể môn phái nào trong võ lâm cũng không dung tha; nếu Pháp vương giết được Tiểu Long Nữ thì hay nhất, nhưng nếu Tiểu Long Nữ chiến thắng, hoặc giả nàng thoát thân, tin này truyền đi, thì phải làm sao đây? Hắn cứ lùi dần từng bước, tay đặt trên đốc kiếm, người bất giác run rẩy, nghe tiếng binh khí càng lúc càng dồn dập, thì mồ hôi vã ra như tắm.

Pháp vương tuy võ công cao hơn Tiểu Long Nữ, nhưng luân thì ngắn, mà sợi dây chuông của đối phương lại dài, không vào trong hang khó lòng thủ thắng, đã đấu sáu, bảy chục chiêu, vẫn chưa chế ngự được đối phương. Tiểu Long Nữ thấy Chu Bá Thông nằm bất động, có lẽ đã chết, muốn cứu trợ cũng không thể ngưng đấu. Hai người đấu trong bóng đêm, nàng tinh mắt hơn hẳn Pháp vương, thấy lão ta vung chéo ngân luân chếch sang bên phải, để lộ sườn phải, bèn hồi chuyển sợi dây chuông đánh tới đó, đồng thời vung tay trái, tung mười mấy mũi Ngọc phong châm về phía thượng, trung, hạ bàn lão ta.

Từ khoảng cách gần, Ngọc phong châm bắn ra lại không một tiếng động, đợi lúc Pháp vương phát giác thì các mũi châm chỉ còn cách thân lão chưa đầy một thước, phải nói võ công của lão quá cao siêu, lão lật ngân luân chặn đòn chuông, đồng thời nhún hai chân, tung mình lên cao hơn trượng, mười mấy mũi Ngọc phong châm đều bay qua bên dưới gót chân lão. Lão sức lực mạnh, thân vọt lên cao, hai cánh tay vung rộng, song luân và sợi dây chuông cùng tuột khỏi tay hai người, bay lên không trung, cao đến mươi trượng, thành một vệt sáng, hai vệt tối giữa không trung.

Tiểu Long Nữ không đợi Pháp vương đáp xuống, đã phóng tiếp Ngọc phong châm. Pháp vương đang ở lưng chừng trời, võ công cao mấy cũng không thể né tránh, lúc này khoảng cách tuy xa, nhưng tình thế rất hung hiểm.

Tuy nhiên, lúc tung mình vọt lên, Pháp vương đã tiên liệu đối phương sẽ tấn công tiếp, bèn hai tay nắm hai vạt áo phẩy ra, đúng lúc Ngọc phong châm bay tới, mấy chục mũi châm ghim cả vào hai vạt áo. Lão cười hô hô đáp xuống đất, giơ tay đón bắt song luân đang rơi xuống. Hai lần thoát hiểm đều nhờ võ công tuyệt đỉnh và thông minh cơ biến, đã thế còn đoạt luôn cả sợi dây chuông của Tiểu Long Nữ.

Một chân vừa chạm đất, Pháp vương sấn ngay tới cửa hang, cười gọi:

– Long cô nương, còn chưa đầu hàng hay sao?

Lão ta sợ Tiểu Long Nữ mai phục, chưa dám xông thẳng vào. Tiểu Long Nữ không biết đối phương ngại điều gì, nàng đã mất binh khí, ám khí đã phóng gần hết, chỉ còn mươi mũi Ngọc phong châm thủ sẵn nơi tay, nép mình bên cửa hang, không lên tiếng.

Pháp vương chờ một lát, không thấy động tĩnh, bèn nảy ra một kế, tay phải cầm song luân, tay trái cầm vạt áo đột nhiên quẳng song luân vào trong hang, cách cửa hang vài thước, một trước một sau, chân nhảy vào theo, đạp lên song luân, đề phòng có châm độc cắm dưới đất; tay trái thì phẩy vạt áo che chắn thân mình. Hai cái vạt áo cắm mấy chục mũi Ngọc phong châm đã trở thành một thứ binh khí lợi hại, lão cười, nói:

– Kẻ khác có lang nha bổng, còn ta có thứ lang nha bố (tấm vải) này, hãy thử nếm sự lợi hại của nó, bớ Long cô nương!

Lời chưa dứt, đột nhiên tay trái lão bị kéo căng, Tiểu Long Nữ đã giật vạt áo của lão. Nàng đeo bao tay, đừng nói lang nha bố, ngay cả lang nha bổng nàng cũng dám chộp lấy như thường.

Pháp vương bị bất ngờ, vội vận kình giằng lại. Giây lát đó, mười mũi Ngọc phong châm từ tay Tiểu Long Nữ được phóng ra. Pháp vương thầm kêu nguy rồi, tình cấp trí sinh, tiện tay lão chộp luôn Chu Bá Thông đang nằm dưới đất, đưa lên che chắn cho mình, rồi sử chiêu "Đảo thái thất tinh bộ" chạy gấp ra khỏi hang. Trong đời lão từng trải qua vài phen đại chiến, nhưng lần này sống chết chỉ trong đường tơ kẽ tóc, bất giác khiến lão toát mồ hôi hột, phải đứng cách cửa hang xa xa mà thở.

Mười mấy mũi Ngọc phong châm đều găm cả vào người Chu Bá Thông. Tiểu Long Nữ khẽ thở dài, nghĩ bụng lão nhân đã chết mà thân xác còn bị hành tội, không ngờ bỗng nghe Chu Bá Thông kêu lên:

– Đau, đau, nhưng dễ chịu, lại có con gì cắn ta thế?

Tiểu Long Nữ kinh ngạc và vui mừng, hỏi:

– Chu Bá Thông, lão còn sống ư?

Nàng không hiểu lễ giáo, gọi trống không họ tên Lão Ngoan đồng.

Chu Bá Thông nói:

– Hình như đã chết rồi, nhưng rồi sống lại. Cũng chẳng biết là sống chết thế nào nữa.

Tiểu Long Nữ nói:

– Lão tiền bối không chết thì càng hay. Cái lão Pháp vương hung ác kia, tiểu nữ đánh không nổi.

Nàng lấy cục nam châm ra hút các mũi Ngọc phong châm khỏi người Chu Bá Thông. Chu Bá Thông chửi:

– Tên cẩu tặc Pháp vương kia thật quá đáng, nhân lúc ta chết còn chưa hoàn hồn, hắn lại phóng những mũi châm li ti vào người ta.

Tiểu Long Nữ không dừng tay hút các mũi Ngọc phong châm, mỉm cười, nói:

– Các mũi châm này là của tiểu nữ phóng ra đấy.

Rồi nàng kể sơ qua trận ác đấu vừa xong, lại hỏi:

– Ngọc phong châm của tiểu nữ có bôi nọc ong độc, lão tiền bối có cảm thấy khó chịu lắm không?

Chu Bá Thông nói:

– Rất dễ chịu, cô nương hãy chọc cho ta vài mũi đi.

Tiểu Long Nữ tưởng lão nói đùa, lấy ra một cái lọ ngọc nhỏ, nói:

– Thứ mật ong đựng trong này có thể giải độc Ngọc phong châm, lão tiền bối hãy uống một chút đi.

Chu Bá Thông xua tay lia lịa, nói:

– Không, không, mấy mũi châm của cô nương cắm vào người ta, ta cảm thấy đau đau nhưng rất dễ chịu, dường như đó là khắc tinh của nhện độc vậy.

Tiểu Long Nữ vẫn tưởng Lão Ngoan đồng nói nhảm, nhưng thấy lão kiên quyết không chịu uống, thì nàng cũng không ép, xem chừng Lão Ngoan đồng nội công thâm hậu khôn lường, ngay nhện độc cắn cũng không giết chết lão, trúng bao nhiêu mũi Ngọc phong châm cũng chẳng việc gì. Kỳ thực loài ong mật đốt người tuy có đau, có chất độc, song chất độc ấy có thể chữa khỏi một số bệnh, nhất là bệnh phong thấp; cho nên phàm những người nuôi ong trong thiên hạ, không ai bị bệnh phong thấp. Tiểu Long Nữ và Chu Bá Thông đều không am hiểu y lý, không biết Ngọc phong châm lấy độc trị độc, đã giải phần lớn chất độc của "Thái tuyết thù".

Pháp vương ở bên ngoài nghe tiếng nói của Chu Bá Thông, giọng nói khỏe khoắn như thường, thì càng kinh hãi, nghĩ chẳng lẽ người này là thần tiên hay sao? Phải nhân lúc Chu Bá Thông chưa phục hồi nguyên khí, xông vào kết liễu lão, nếu không sau này chẳng còn dịp nào. Ban nãy vào hang bất thành, song luân lại nằm cả trong đó, thế là lão ta bèn vung sợi dây chuông lấy được của Tiểu Long Nữ, gọi:

– Long cô nương, ta mượn binh khí của cô nương đây.

Đoạn lão vung dây tiến vào hang. Võ công của lão xuất thần nhập hóa, binh khí nào cũng có thể sử dụng thành thạo, sợi dây gắn chuông của Tiểu Long Nữ tuy là vật lạ, nhưng lão ta có thể sử dụng như một cây nhuyễn tiên, lại đánh ra từ xa, không sợ đối phương dùng ám khí tấn công.

Tiểu Long Nữ chợt nổi tính hiếu kỳ, nàng nhặt ngân luân và diên luân của Pháp vương vứt dưới đất lên, gõ vào nhau "keng" một tiếng, nói:

– Được, chúng ta đổi binh khí đánh nhau một phen.

Tay phải đẩy ngang ra, chợt thấy diên luân quá nặng, đành thu về che trước ngực.

Pháp vương nghĩ mình cớ lợi thế, đột nhiên sấn tới, vươn cánh tay đoạt lại song luân.

Tiểu Long Nữ lùi một bước, tay trái ném ngân luân tới, nhưng động tác ném luân chỉ là hư chiêu, nàng thừa thế ném để phóng ra mấy chục mũi Ngọc phong châm. Số châm này đều hút từ thân thể Chu Bá Thông, độc tính chỉ còn non nửa, có trúng cũng không nguy hiểm lắm. Lần này Pháp vương sớm có phòng bị, không đón lấy ngân luân, mà nhảy tránh hẳn sang một bên, các mũi Ngọc phong châm đều rơi xuống đất.

Chu Bá Thông cười hô hô, nói:

– Hay lắm, lão giặc trọc tới, cô nương cứ phóng châm, chờ ta phục hồi nguyên khí, sẽ tóm cổ hắn đánh cho một trận nát đít ra.

Tiểu Long Nữ nói:

– Ngọc phong châm, tiểu nữ phóng hết rồi, chẳng còn mũi nào nữa.

Chu Bá Thông kinh ngạc, gãi gáy, nói:

– Thế thì hơi nguy đó.

Hai người một già một trẻ đều thật thà, nghĩ sao nói vậy.

Pháp vương thì vô cùng mưu trí, song không biết tính nết của Chu Bá Thông và Tiểu Long Nữ, không tin rằng thiên hạ lại có kẻ nói thật chỗ yếu của mình ra, nghĩ: "Ngươi bảo Ngọc phong châm đã phóng hết, đừng hòng đánh lừa ta; ngươi định dụ ta lại gần để phóng châm chứ gì?" Tiểu Long Nữ nói thật, hóa ra lại làm cho Pháp vương sợ không dám xông vào; thêm nữa, hôm trước lão giẫm phải châm của Dương Quá, nhớ lại cái cảnh Ni Ma Tinh phải tự chém đứt hai cẳng chân mà kinh.

Trời rạng dần. Chu Bá Thông ngồi vận công, muốn dùng nội công thượng thừa đẩy nốt chất độc ra khỏi cơ thể. Nhưng độc tính của "Thái tuyết thù" cực mạnh, mỗi lần lão vận khí, ngực lại tức và nôn nao muốn ọe, toàn thân đau đớn khó chịu. Ngừng vận khí thì không sao. Thử ba lần đều thế, bèn bỏ, thở dài nói:

– Lão Ngoan đồng lần này không đùa được nữa rồi!

Pháp vương ở bên ngoài ngó trộm vào, không biết đối phương đang gặp khó khăn, nghĩ: "Không ổn, Lão Ngoan đồng đang vận nội công kìa!" Lão chợt nảy kế mới, lấy ra cái hộp vàng đựng nhện độc "Thái tuyết thù", mở nắp, hơn chục con "Thái tuyết thù" lúc nhúc bên trong, lúc này ánh dương vừa lóe, chiếu rõ các sọc vằn xanh đỏ của lũ nhện độc "Thái tuyết thù". Lão dùng cái kẹp làm bằng sừng tê giác, kẹp một sợi tơ nhện, nhẹ nhàng gắn vào mép cửa hang. Sợi tơ mang theo một con "Thái tuyết thù". Lão gắn như thế mười mấy sợi tơ, bầy nhện độc "Thái tuyết thù" trong chiếc hộp đã được thả ra hết, các sợi tơ chăng ngang dọc cửa hang. Bầy nhện độc "Thái tuyết thù" bị đói đã lâu, chúng lập tức chăng ngang chăng dọc, kết thành mạng nhện, chưa đến nửa canh giờ, cửa hang đã bị chăng kín bởi mười mấy cái mạng nhện. Tiểu Long Nữ và Chu Bá Thông thoạt tiên nhìn cảnh đó còn thấy thú vị, chưa xuất thủ can dự; sau nhìn bầy nhện độc xanh xanh đỏ đỏ chạy qua chạy lại trên các mạng nhện, thì cả hai cùng tâm phiền ý loạn.

Tiểu Long Nữ nói nhỏ:

– Tiếc rằng tiểu nữ đã phóng hết Ngọc phong châm, nếu không mỗi mũi châm có thể giết một con nhện độc đáng ghét kia.

Chu Bá Thông nhặt một que củi định phá các mạng nhện, bỗng thấy một con bướm bay gần cửa hang lập tức bị dính vào mạng nhện. Côn trùng một khi sa vào mạng nhện, thường sẽ giãy giụa hồi lâu, nếu khỏe hơn, sẽ phá mạng nhện mà thoát đi. Đàng này con bướm tuy to xác, nhưng vừa sa vào mạng nhện đã ngất lịm, không cựa quậy được. Tiểu Long Nữ thận trọng nói:

– Đừng động tới, mạng nhện có độc.

Chu Bá Thông giật mình, ném que củi đi. Nguyên Pháp vương lúc thả "Thái tuyết thù" trước cửa hang, không hề có ý định dùng mấy cái mạng nhện mỏng manh kia ngăn chặn hai người, mà chỉ mong hai người ra tay hủy mạng nhện, các sợi tơ nhện dính một hai sợi vào người thì chất độc sẽ giết họ.

Chu Bá Thông nhìn nhện ăn con bướm, lại ngồi xếp bằng tròn, nghĩ: "Huyền công của ta nhất thời không dễ phục hồi, thì cứ ngồi chờ vậy". Tiểu Long Nữ thì nghĩ: "Cục diện này kéo dài đến bao giờ không biết? Cũng chẳng hiểu Lão Ngoan đồng đã đẩy hết chất độc trong người hay chưa?" Nàng hỏi:

– Lão tiền bối vận công khử độc, thêm một ngày nữa có đủ không?

Chu Bá Thông thở dài:

– Đừng nói một ngày, một trăm ngày cũng không đủ.

Tiểu Long Nữ kinh hãi:

– Thế thì phải làm sao?

Chu Bá Thông cười, nói:

– Nếu lão giặc trọc kia chịu mang cơm cho chúng ta, thì ở trong hang vài năm cũng không phải là dở.

Tiểu Long Nữ nói:

– Hắn chẳng chịu mang cơm cho đâu.

Nàng thở dài, nói:

– Nếu có Dương Quá bên cạnh, thì tiểu nữ ở trong hang suốt đời cũng được.

Chu Bá Thông tức giận, nói:

– Ta có chỗ nào không bằng Dương Quá? Hắn giỏi hơn ta ư? Ta bồi tiếp cô nương thì có gì không được?

Hai câu nói lung tung của lão lại không làm cho Tiểu Long Nữ bực bội, nàng chỉ thản nhiên nói:

– Dương Quá biết sử dụng kiếm pháp phái Toàn Chân, tiểu nữ cùng chàng song kiếm hợp kích, sẽ đánh cho lão hòa thượng kia chạy bán sống bán chết.

Chu Bá Thông nói:

– Kiếm pháp phái Toàn Chân thì có gì là hay? Chẳng lẽ ta không biết sử? Dương Quá sử giỏi hơn ta chắc?

Tiểu Long Nữ nói:

– Tiểu nữ cùng Dương Quá song kiếm hợp kích, gọi là "Ngọc nữ tố tâm kiếm pháp", phải là tiểu nữ tâm ái chàng, chàng tâm ái tiểu nữ, thì mới có thể khắc địch chế thắng.

Chu Bá Thông vừa nghe đến chuyện tâm ái nam nữ thì lập tức hoảng sợ, xua tay lia lịa, nói:

– Thôi thôi, ta không tâm ái cô nương, cô nương cũng chớ có tâm ái ta. Ta nói cho cô nương hay, sống trong hang vài năm cũng chẳng có gì ghê gớm. Hồi trước ở đảo Đào Hoa, ta từng một mình sống mười mấy năm trong hang, không có ai làm bạn, đành tự mình đấu với mình; bây giờ có cô nương bên cạnh, có nói có cười, khác hẳn hồi trước.

Lão tự đắc về khả năng của mình, đi tính kế sống lâu ngày trong hang.

Tiểu Long Nữ lấy làm lạ, hỏi:

– Tự mình đấu với mình là thế nào?

Chu Bá Thông vô cùng đắc ý, liền kể qua thuật phân tâm nhị dụng, tay nọ đánh tay kia cho nàng nghe. Tiểu Long Nữ chợt nghĩ: "Nếu mình học được thuật đó, tay trái sử kiếm pháp phái Toàn Chân, tay phải sử Ngọc nữ kiếm pháp, thì cũng thành Ngọc nữ tố tâm kiếm pháp chứ gì? Chỉ sợ luyện môn công phu ấy tốn nhiều thời gian lắm", bèn nói:

– Công phu ấy chắc khó học lắm.

Chu Bá Thông nói:

– Bảo khó thì cực khó, bảo là dễ thì cũng cực dễ. Có kẻ cả đời học không xong, có người chỉ vài hôm đã luyện được. Cô nương biết hai gã nhóc con Quách Tĩnh, Hoàng Dung chứ?

Tiểu Long Nữ gật đầu. Chu Bá Thông nói:

– Cô nương bảo trong hai kẻ đó, đứa nào thông minh hơn?

Tiểu Long Nữ nói:

– Quách phu nhân thiên linh bách lợi, tiểu nữ nghe Dương Quá bảo rằng trên thế gian e rằng không ai thông minh mưu trí cho bằng. Quách đại hiệp thì tư chất quá bình thường.

Chu Bá Thông cười, hỏi:

– Cái gì mà bảo là tư chất quá bình thường? Nói rằng là hắn quá ngu ngốc thì có. Còn ta, cô nương bảo ta khôn hay ngu?

Tiểu Long Nữ cười, nói:

– Tiểu nữ thấy lão tiền bối tuy đã nhiều tuổi, song vẫn còn ngớ ngẩn, nói năng hành sự có phần điên điên khùng khùng.

Chu Bá Thông vỗ tay, nói:

– Đúng, cô nương nói không sai tí nào. Cái thuật tay nọ đấu tay kia là do ta nghĩ ra, sau đó ta dạy cho Quách Tĩnh, hắn chỉ luyện vài ngày đã xong. Nhưng khi hắn dạy cho mụ vợ hắn, mà cô nương bảo là kẻ thông minh hiếm có trên thế gian, thì Hoàng Dung học mãi không được. Ta còn tưởng Quách Tĩnh hắn ngu ngốc, không biết cách dạy, ta đích thân truyền thụ, ai ngờ bài thứ nhất "tay trái vẽ hình vuông, tay phải vẽ vòng tròn", con nhóc ấy cũng không làm nổi. Nghĩa là có người học được ngay, có kẻ học cả đời chẳng xong. Dường như càng khôn ngoan, càng khó luyện thành.

Tiểu Long Nữ nói:

– Không lẽ người khôn học công phu đó lại thua người ngu? Tiểu nữ chẳng tin.

Chu Bá Thông cười hi hi, nói:

– Ta thấy cô nương phẩm mạo tài trí tương tự như con nhóc Hoàng Dung, võ công cũng ngang ngửa với nó. Cô nương đã không tin, hãy thử dùng ngón trỏ tay trái vẽ dưới đất hình vuông, đồng thời dùng ngón trỏ tay phải vẽ vòng tròn xem nào.

Tiểu Long Nữ y lời dùng hai ngón trỏ vẽ dưới đất, nhưng hình vuông lại hơi tròn, còn hình tròn thì lại hơi vuông. Chu Bá Thông cười ha hả, hỏi:

– Thế nào? Làm chưa được chứ gì?

Tiểu Long Nữ mỉm cười, ngưng thần thủ nhất, tâm địa không minh, hai ngón tay giơ ra tự nhiên, tay trái vẽ một hình vuông, tay phải vẽ một vòng tròn, vuông tròn đâu ra đấy.

Chu Bá Thông kinh ngạc, ấp úng nói:

– Cô nương.. cô nương.. từng luyện hồi trước rồi phải không?

Tiểu Long Nữ nói:

– Chưa, vẽ thế này đâu có gì khó kia chứ?

Chu Bá Thông gãi gáy, hỏi:

– Cô nương vẽ bằng cách nào?

Tiểu Long Nữ nói:

– Tiểu nữ cũng không biết, trong óc không nghĩ gì cả, cứ giơ tay vẽ mà thôi.

Đoạn nàng tay trái viết ba chữ "Lão Ngoan đồng", tay phải đồng thời viết ba chữ "Tiểu Long Nữ", chữ nào chữ ấy ngay ngắn như do cùng một bên tay viết ra vậy. Chu Bá Thông cả mừng, nói:

– Cái này nhất định là bản lĩnh mà cô nương học được từ trong bụng mẹ.

Rồi lão dạy cho nàng cách tả công hữu thủ, tả kích hữu cự, đem kỳ công độc nhất vô nhị mà lão lĩnh hội được hồi ở đảo Đào Hoa truyền thụ cho Tiểu Long Nữ. Kỳ thực yếu quyết căn bản của thuật tay nọ đấu tay kia là bốn chữ "phân tâm nhị dụng". Phàm những người đa mưu túc trí, tâm tư phức tạp, việc này nghĩ chưa xong đã nghĩ sang việc khác. Thời Tam quốc, Tào Tử Kiến đi bảy bước làm xong bài thơ, thời Ngũ Đại, Lưu Vân dụng binh, một bước nghĩ ra trăm kế, những người như thế không tài gì học được cái thuật tay nọ đấu tay kia này. Tiểu Long Nữ từ nhỏ đã luyện công phu diệt trừ thất tình lục dục, tám chín tuổi đã luyện tới mức lòng như nước lặng, sau này tuy việc si luyến Dương Quá có làm hao tổn công phu đó, nhưng lúc này tâm linh nàng bị tổn thương, tình ý bị triệt bỏ, huyền công năm xưa được phục hồi tám chín phần. Nội công phái Cổ Mộ mà nàng tu luyện vốn do Lâm Triêu Anh sáng tạo lúc tình trường thất ý, gần giống tâm trạng nàng lúc này, nên Chu Bá Thông vừa truyền thụ, nàng lập tức cảm ứng đại ngộ, luyện được liền. Chu Bá Thông, Quách Tĩnh, Tiểu Long Nữ đều là những người chất phác đôn hậu, lòng vô tạp niệm; còn những người như Hoàng Dung, Dương Quá, Chu Tử Liễu có luyện cả đời cũng không xong.

Chu Bá Thông chưa trừ hết chất độc trong cơ thể, nhưng miệng giảng tay vẽ thì đâu ra đấy. Tiểu Long Nữ gật gù, thầm hình dung tay phải sử Ngọc nữ kiếm pháp, tay kia sử kiếm pháp phái Toàn Chân, vài giờ sau lòng đã quán thông, nói:

– Tiểu nữ hiểu hết rồi.

Hai tay biểu diễn vài chiêu, cảm thấy hoàn toàn như ý; Chu Bá Thông thì há hốc miệng, nói:

– Kỳ quái, kỳ quái!

Pháp vương và Triệu Chí Kính ở bên ngoài cửa hang, nghe tiếng hai người nói chuyện rôm rả bên trong, lắng tai chỉ nghe lõm bõm câu được câu chăng.

Tiểu Long Nữ ngẩng lên, thấy hai kẻ kia thò đầu ngó nghiêng, bèn đứng dậy, nói:

– Chúng ta đi thôi!

Chu Bá Thông ngơ ngác, hỏi:

– Đi đâu?

Tiểu Long Nữ nói:

– Ra ngoài bắt lão giặc trọc phải đưa giải dược cho lão tiền bối.

Chu Bá Thông vuốt vuốt chòm râu dài, nói:

– Cô nương có chắc sẽ đánh bại hắn hay không?

Vừa nói đến đó, bỗng nghe tiếng vo vo, một con ong mật bị sa vào mạng nhện, đang ra sức vùng vẫy. Lúc trước con bướm to tướng sa vào mạng nhện bị chết ngất ngay, còn con ong nhỏ bé này tựa hồ không sợ độc tính của "Thái tuyết thù", mạng nhện cuối cùng bị rách một lỗ. Một con nhện độc đứng rình, chưa dám bò vào, phải chờ một hồi lâu, khi con ong hết chịu nổi, ngất đi, nó mới nhào tới cắn.

Tiểu Long Nữ trong tòa nhà mồ có nuôi một đàn ong, quanh năm bầu bạn với bầy ong, thạo cách điều khiển ong. Nàng nhìn con ong bị nạn, trong lòng không nỡ, đột nhiên nảy ra ý nghĩ: "Nhện độc hình dạng gớm ghiếc, nhưng bầy ong vị tất đã sợ chúng". Nàng lấy trong túi một lọ mật ong, đặt giữa lòng bàn tay, mở nút lọ, vận nội lực, truyền hơi ấm từ lòng bàn tay vào trong lọ; lát sau một mùi mật thơm mát lan tỏa qua mạng nhện ra bên ngoài.

Chu Bá Thông lấy làm lạ, hỏi:

– Cô nương làm gì vậy?

Tiểu Long Nữ nói:

– Đây là một trò chơi, lão tiền bối có muốn xem hay không?

Chu Bá Thông reo lên:

– Thế thì hay lắm, đâu, cho ta xem với?

Tiểu Long Nữ chỉ mỉm cười, tiếp tục truyền hơi ấm vào lọ mật.

Dạo này trong núi hoa dại nở rộ, tứ phía đều có rất nhiều ong mật, chúng ngửi thấy mùi mật thơm, tức thì từ bốn phía bay tới, hết con này con khác bay vào trong hang, bị vướng mạng nhện, chúng vùng vẫy không ngừng, có con bị nhện độc cắn chết, có con đốt nhện độc. "Thái tuyết thù" tuy là loài nhện cực độc trong thiên hạ, nhưng bị nhiều con ong đốt thì dần dần cũng lăn ra chết.

Chu Bá Thông nhìn cảnh đó một cách khoái trá. Kim Luân Pháp vương và Triệu Chí Kính ở bên ngoài thì trợn mắt há mồm, không biết làm thế nào. Ban đầu "Thái tuyết thù" còn chiếm ưu thế, chỉ chết vài ba con, ong mật thì đã chết dăm chục con; nhưng ong mật càng lúc càng ào ào bay tới, ban đầu chỉ mươi con lẻ tẻ, sau thì từng đàn, từng tổ, chẳng mấy chốc màng nhện bị phá tan, mười mấy con nhện độc chết sạch. Triệu Chí Kính từng bị khổ sở vì ong đốt vội lẳng lặng lẩn vào bụi cây phía xa mà tránh né. Kim Luân Pháp vương thì tiếc đứt ruột vì đàn "Thái tuyết thù" của lão ta bị diệt không còn một mống, cứ tưởng là do bầy ong mật biết đồng tâm giết địch, không biết rằng đàn ong mật bay đến là do Tiểu Long Nữ dẫn dụ; lão ta vẫn nghĩ cách làm sao buộc Chu Bá Thông và Tiểu Long Nữ ra khỏi hang để lấy mạng hai người.

Tiểu Long Nữ chấm ngón tay vào lọ mật ong, rồi búng búng mật về phía Pháp vương, miệng huýt sáo; hàng ngàn con ong mật liền xoay mình bay ra khỏi hang, lao về phía Pháp vương.

Pháp vương hốt hoảng, vội vàng bỏ chạy. Thuật khinh công của lão ta cao cường, bầy ong mật tuy bay nhanh, nhưng thân pháp của lão ta còn nhanh hơn, thoáng chốc đã vọt ra xa hơn chục trượng. Chỉ thấy thân hình lão như một sợi khói đen xa dần, bầy ong mật đuổi không kịp, tự tản đi.

Tiểu Long Nữ giậm chân, miệng nói:

– Tiếc thật, tiếc thật!

Chu Bá Thông hói:

– Tiếc cái gì?

Tiểu Long Nữ nói:

– Để hắn chạy đi mất, không lấy được giải dược.

Nguyên nàng búng mật ong sang hai bên người Pháp vương là cốt để bầy ong mật bao vây lão ta, không cho thoát. Nhưng lũ ong này chỉ là một bọn ô hợp, không được thuần dưỡng như đàn ong của nàng ở tòa cổ mộ, không biết cách dàn thành trận thế bao vây và tấn công. Vậy mà Chu Bá Thông đã vô cùng bái phục, coi đây là trò chơi lý thú hơn mọi trò lão từng biết, lão vỗ tay tán thưởng, quên cả việc cơ thể lão chưa giải hết độc.

Tiểu Long Nữ thấy mạng nhện ở cửa hang đã tan, bèn bước ra ngoài, giơ tay vẫy:

– Ra được rồi!

Chu Bá Thông nhảy ra, ngã xuống huỵch một cái kêu:

– Không ổn, không ổn, không còn sức mấy.

Lão run rẩy toàn thân, răng đánh vào nhau canh cách; cái ngã làm cho chất độc Thái tuyết thù còn trong người phát tác, lão như bị rơi xuống hố băng, lạnh thấu xương, mặt mũi xám ngắt lại.

Tiểu Long Nữ kinh hãi, hỏi:

– Lão tiền bối sao thế?

Chu Bá Thông run cầm cập, nói:

– Cô nương.. mau dùng châm.. đâm vào người ta.. mấy cái.

Tiểu Long Nữ nói:

– Châm của tiểu nữ có độc.

Chu Bá Thông nói:

– Càng có độc.. càng tốt.

Tiểu Long Nữ nghĩ vừa rồi bầy ong mật ác chiến với lũ nhện độc, hình như nọc ong chính là khắc tinh của nhện độc, bèn nhặt một mũi Ngọc phong châm ở dưới đất, thử chích vào cánh tay Chu Bá Thông. Chu Bá Thông kêu:

– Dễ chịu quá, chọc nữa đi!

Tiểu Long Nữ chích liền mấy cái, thấy đã hết độc, bèn đổi mũi Ngọc phong châm khác, tổng cộng chích mười mấy mũi châm, thì Chu Bá Thông hết run, thở phào, cười nói:

– Lấy độc trị độc, thật là kỳ diệu!

Bèn thử vận khí, cảm thấy chất độc vẫn còn trong cơ thể, vỗ mạnh đầu gối một cái, nói:

– Long cô nương, chất độc ở châm của cô nương vừa không đủ, vừa không được tươi.

Tiểu Long Nữ cười, nói:

– Vậy thì để tiểu nữ gọi ong đến đốt lão tiền bối.

Chu Bá Thông giục:

– Đa tạ cô nương, mau gọi đi?

Tiểu Long Nữ mở nút lọ mật ong, dụ ong đến đốt Chu Bá Thông. Lão Ngoan đồng cởi áo, để cho bầy ong đốt toàn thân, một mặt ngầm vận thần công, trước hết hấp thụ nọc ong vào đan điền, rồi dùng chân khí đưa đến các đại huyệt toàn thân. Chừng ăn xong một bữa cơm, chất độc đã giải trừ hết, ong đốt thấy đau nhói, bèn kêu to:

– Đủ rồi đủ rồi, đốt nữa thì toi mạng!

Bèn cầm áo lên mặc vào người.

Tiểu Long Nữ mỉm cười, đuổi ong đi, thấy sợi dây chuông vứt một bên, thuận tay nhặt lên, hỏi:

– Tiểu nữ muốn đến núi Chung Nam, lão tiền bối có đi cùng hay không?

Chu Bá Thông lắc đầu, nói:

– Ta còn có việc cần làm, cô nương hãy đi một mình thôi!

Tiểu Long Nữ nói:

– À phải, lão tiền bối còn đến thành Tương Dương giúp Quách đại hiệp.

Nhắc đến ba chữ "Quách đại hiệp", nàng liền nhớ đến Quách Phù và Dương Quá, bèn buồn bã dặn:

– Chu lão tiền bối có gặp Dương Quá thì đừng kể việc đã gặp tiểu nữ.

Nàng thấy Chu Bá Thông miệng lẩm bẩm gì đó, thần sắc rất bí ẩn, lát sau, lão đột nhiên ngẩng đầu, hỏi:

– Cô nương bảo sao?

Tiểu Long Nữ nói:

– Không có gì, hẹn ngày tái ngộ.

Chu Bá Thông tâm trí để đâu đâu, chỉ gật đầu, vẫy tay.

Tiểu Long Nữ quay mình đi, qua một thung lũng, bỗng nghe tiếng gọi, tiếng huýt sáo của Chu Bá Thông, tựa hồ lão đang chỉ huy bầy ong. Nàng hiếu kỳ, lặng lẽ quay trở lại, nấp sau một gốc cây nhìn ra, thấy Chu Bá Thông một tay cầm lọ mật ong, đang hoa chân múa tay hò hét. Nàng sờ vào túi, lọ mật ong của nàng đã không cánh mà bay, chẳng hiểu bị Lão Ngoan đồng lấy trộm lúc nào. Lúc này có mấy con ong ngửi mùi mật thơm bay đến, nhưng không tuân theo sự điều khiển của lão, cứ bay lòng vòng xung quanh lọ mật ong.

Tiểu Long Nữ không nhịn được, cười một tiếng, từ sau gốc cây bước ra, nói:

– Để tiểu nữ dạy cho lão tiền bối!

Chu Bá Thông thấy mình bị bắt quả tang thì xấu hổ đỏ bừng cả mặt, cắm đầu chạy như bay xuống núi.

Tiểu Long Nữ cười ha ha, nghĩ Lão Ngoan đồng thật là một người lý thú. Tiếng cười của nàng vang vọng trong cánh rừng tĩnh mịch thê lương. Cả một đêm đấu trí đấu lực với Kim Luân Pháp vương, có Lão Ngoan đồng náo loạn bên cạnh; giờ đây kẻ địch đã bỏ chạy, bằng hữu cũng đã đi xa, trên thế gian chỉ còn lại bơ vơ một mình nàng, hai giọt nước mắt bất giác lăn dài.

Nàng đi sau Doãn Chí Bình và Triệu Chí Kính suốt cả lộ trình, chỉ cảm thấy hai kẻ đó vô cùng đáng ghét, dẫu có băm vằm chúng thành trăm mảnh, cũng khó giải mối hận trong lòng. Nàng ra tay, cả hai đạo sĩ sẽ mất mạng ngay, nhưng giết chúng rồi thì sao? Lúc này nàng chợt nhớ đến chúng, thì lẩm bẩm một mình: "Phải đi tìm chúng mới được!" Nàng xuống núi, cưỡi con lừa được nàng thả cho gặm cỏ ở chân núi.

Nàng đi trên con đường lớn một quãng, bỗng thấy phía trước bụi tung mù mịt, tinh kỳ rợp trời, tiếng vó ngựa rầm rầm như tiếng sấm, đại đội quân mã đang hành tiến về phía nam, đó là đại quân Mông Cổ lại đi tấn công thành Tương Dương. Tiểu Long Nữ nghĩ: "Giữa thiên binh vạn mã thế kia, tìm sao được hai gã đạo sĩ?" Bỗng thấy có ba người phóng ngựa từ dốc núi ngang qua chỗ nàng, cả ba đều trang phục đạo sĩ. Tiểu Long Nữ tự hỏi: "Tại sao lại có thêm một gã?" Nhìn kỹ, chính là Doãn Chí Bình, Triệu Chí Kính và một đạo sĩ trẻ. Tiểu Long Nữ liền cho lừa chạy theo sau họ.

Doãn Chí Bình và Triệu Chí Kính nghe tiếng chân lừa lóc cóc, thấy Tiểu Long Nữ thì đều biến sắc. Đạo sĩ trẻ tuổi hỏi:

– Triệu sư huynh, nữ nhân kia là ai vậy?

Triệu Chí Kính nói:

– Đó là đại địch của giáo phái chúng ta, sư đệ đừng đánh tiếng.

Đạo sĩ trẻ giật mình, run giọng hỏi:

– Là Xích Luyện Tiên Tử Lý Mạc Sầu chăng?

Triệu Chí Kính nói:

– Không phải, là sư muội của Lý Mạc Sầu.

Đạo sĩ trẻ này tên là Kỳ Chí Thành, một đệ tử của Khưu Xứ Cơ. Y chỉ biết Lý Mạc Sầu từng nhiều lần giao đấu với các sư bá, sư phụ, sư thúc; chư tử phái Toàn Chân từng bị bại dưới tay mụ ta, nữ nhân kia là sư muội của Lý Mạc Sầu, tất không phải người tử tế.

Triệu Chí Kính liên tiếp quất roi vào mông ngựa, Doãn Chí Bình và Kỳ Chí Thành cũng phi nhanh, một lát đã bỏ Tiểu Long Nữ ở đằng xa. Nhưng con lừa của Tiểu Long Nữ cước lực dẻo dai, nó không phi nhanh, nhưng lúc nào cũng chạy nước kiệu. Ba con ngựa kia phóng nhanh bốn, năm dặm, thì thở dốc, chạy chậm dần, nên không bao lâu sau con lừa đã đuổi kịp. Triệu Chí Kính vung roi đánh ngựa, nhưng nó đã mệt, bị đánh đau mấy cũng chỉ chạy nhanh được vài trượng mà thôi.

Kỳ Chí Thành nói:

– Triệu sư huynh, đệ và sư huynh hãy quay lại chặn đánh kẻ địch, để Doãn sư huynh thoát thân.

Triệu Chí Kính sầm mặt, nói:

– Tưởng dễ chặn lắm, sư đệ muốn mất mạng hả?

Kỳ Chí Thành nói:

– Doãn sư huynh phải gánh vác trọng nhiệm chưởng giáo, chúng ta dù sống chết cũng phải bảo vệ cho Doãn sư huynh được bình yên.

Nguyên chuyến này Kỳ Chí Thành phụng mệnh sư phụ Khưu Xứ Cơ đi triệu Doãn Chí Bình về cung Trùng Dương tiếp nhiệm chức vị chưởng giáo.

Triệu Chí Kính không thèm nói nữa, nghĩ: "Ngươi thật không biết trời cao đất dày chừng nào, bản lĩnh như ngươi mà đòi chặn đánh nàng ta?" Kỳ Chí Thành thấy sắc mặt hầm hầm của hắn, cũng không dám nhiều lời, gò cương chờ Doãn Chí Bình đi tới, nói nhỏ:

– Doãn sư huynh, sư huynh thân thể ngàn vàng, xin hãy đi trước một quãng cho.

Doãn Chí Bình lắc đầu, nói:

– Cứ mặc ta!

Kỳ Chí Thành thấy Doãn Chí Bình bình thản như không, thì rất thán phục, nghĩ: "Chẳng trách sư phụ muốn Doãn sư huynh tiếp nhiệm chức vị chưởng giáo; chỉ riêng khí độ thế này, các hạ đệ tử đời thứ ba đã chẳng ai theo kịp". Y không biết Doãn Chí Bình lúc này tâm trạng đặc dị, nếu Tiểu Long Nữ muốn giết, y sẽ giơ cổ cho nàng chém chứ không có ý định kháng cự. Triệu Chí Kính thấy hai người không vội vã, cuối cùng hắn cũng không bỏ chạy một mình; may mà thấy Tiểu Long Nữ không hề có ý động thủ, hắn cứ đi một quãng lại thấp thỏm ngó về phía sau.

Bốn người, ba trước một sau, lẳng lặng đi về phía bắc. Lúc này tiếng hành quân rầm rập của đại quân Mông Cổ cùng tiếng tù và đã chìm dần. Trăm họ né tránh quân địch, hai bên đường lớn mười nhà thì chín nhà bỏ hoang, chẳng có bóng người, ngay cả gà chó cũng không, muốn tìm một ngôi nhà tử tế để nghỉ đêm cũng không có nốt.

Đêm ấy bọn Doãn Chí Bình vào nghỉ đêm trong một ngôi nhà cửa ngõ trống tuếch. Triệu Chí Kính và Kỳ Chí Thành nhìn trộm ra ngoài, thấy Tiểu Long Nữ chăng một sợi dây giữa hai thân cây, nằm vắt vẻo trên dây. Kỳ Chí Thành thấy công phu đó thì kinh hãi, riêng Doãn Chí Bình nằm im một góc, không để ý gì hết. Đêm ấy Triệu Chí Kính trằn trọc lo sợ, không dám chợp mắt, chỉ nghe nếu ngoài kia có động, hắn sẽ bỏ chạy tức thì.

Sớm hôm sau bốn người lại đi tiếp. Triệu Chí Kính cả đêm thấp thỏm không ngủ, bây giờ ngồi trên lưng ngựa ngủ gật. Kỳ Chí Thành và Doãn Chí Bình đi sóng đôi bên nhau ở phía sau bảy, tám trượng, Kỳ Chí Thành không nhịn được, nói:

– Doãn sư huynh, sư huynh và Triệu sư huynh võ công mỗi năm qua các lần khảo hạch, đệ đều chứng kiến, có thể nói mỗi vị có sở trường riêng, khó phân cao thấp. Nhưng nói về sự độ lượng, thì hai vị khác hẳn nhau.

Doãn Chí Bình cười khổ, hỏi:

– Sư phụ và mấy vị sư bá sư thúc lần này bế quan, đệ có biết độ bao nhiêu lâu hay không?

Kỳ Chí Thành nói:

– Sư phụ bảo nhanh thì ba tháng, chậm thì một năm, cho nên phải triệu gấp sư huynh về tiếp nhiệm chưởng giáo.

Doãn Chí Bình ngẩn ngơ xuất thần, lẩm bẩm một mình:

– Sư phụ võ công cao đến mức đó, không biết còn tu luyện môn gì nữa?

Kỳ Chí Thành nói nhỏ:

– Nghe đâu năm vị chân nhân muốn tìm cách phá giải võ công phái Cổ Mộ.

Doãn Chí Bình à một tiếng, bất giác ngoảnh về phía sau nhìn Tiểu Long Nữ.

Nguyên tại anh hùng đại yến ở ải Đại Thắng, Tiểu Long Nữ và Dương Quá xuất thủ đánh đuổi sư đồ Kim Luân Pháp vương, võ công trác tuyệt, Hách Đại Thông, Tôn Bất Nhị và Triệu, Doãn hai người tận mắt chứng kiến. Huống hồ trong thư phòng của Quách Tĩnh, Dương Quá không hề vung tay nhấc chân mà làm cho Triệu Chí Kính lao đao; sau đó Tiểu Long Nữ chỉ một chiêu đã đánh trọng thương Triệu Chí Kính. Thủ pháp của hai người ấy thế nào, Tôn Bất Nhị tuy đứng ngay bên cạnh cũng nhìn chẳng rõ, tựa hồ võ công phái Toàn Chân không chịu nổi một đòn công kích của phái Cổ Mộ, nghĩ mà kinh hồn. Sau lại nghe nói Dương Quá và Tiểu Long Nữ song kiếm hợp bích, đánh cho Kim Luân Pháp vương một trận đại bại, phái Toàn Chân trên dưới đều chấn động. Chư tử phái Toàn Chân nghĩ Hách Đại Thông lỡ tay giết chết Tôn bà bà, Lý Mạc Sầu, Tiểu Long Nữ và Dương Quá sẽ có ngày tới cung Trùng Dương báo thù. Đối phó với một mình Lý Mạc Sầu đã thúc thủ, nếu lại thêm hai nhân vật lợi hại Dương, Long thì chịu sao nổi? Chuyện hiềm khích giữa Lý Mạc Sầu với Tiểu Long Nữ, bọn họ không hề biết.

Trong Toàn Chân thất tử, Đàm Xứ Đoan mất sớm, lúc này Mã Ngọc cũng mới qua đời, chỉ còn lại năm người. Lưu Xứ Huyền làm chưởng giáo nửa năm thì giao cho Khưu Xứ Cơ tiếp nhiệm. Cả năm người tuổi đều đã cao, tinh lực suy yếu, nghĩ trong số đệ tử đời thứ ba, thứ tư hoàn toàn không có nhân vật kiệt xuất, nếu phái Cổ Mộ tìm đến trả thù, nếu năm người còn sống, may ra có thể chống trả một phen; song nếu mười năm nữa bọn Tiểu Long Nữ mới đến, thì phái Toàn Chân hiệu xưng võ học chính tông trong thiên hạ chỉ có một con đường đại bại. Bởi thế năm người quyết định bế quan tịnh tu, cố tìm ra một môn võ công lợi hại để đối địch với phái Cổ Mộ, vì vậy họ cho gọi Doãn Chí Bình về tiếp nhiệm chức chưởng giáo.

Bọn Doãn Chí Bình ngày đi đêm nghỉ, đi về hướng tây bắc. Tiểu Long Nữ vẫn đi sau non một dặm.

Hôm ấy đến địa phận Thiểm Tây, Kỳ Chí Thành hỏi Doãn Chí Bình:

– Doãn sư huynh, chúng ta về cung Trùng Dương. Không lẽ Long cô nương có mỗi một mình cũng dám đuổi theo chúng ta về tận đó?

Doãn Chí Bình ậm ừ, quả thật không đoán biết dụng ý của Tiểu Long Nữ. Suốt dọc đường y cứ suy nghĩ mãi: "Nàng định vạch tội ta trước năm vị chân nhân hay sao? Hay là nàng định vung kiếm đại sát phái Toàn Chân cho bõ tức? Hay là chẳng qua nàng trở về nơi ở cũ là tòa cổ mộ, nên cùng đường với ta? Hay là.. chẳng lẽ.. chẳng lẽ nàng thấy ta một lòng si luyến nàng, nên cuối cùng nàng có tình ý với ta?"

Nghĩ đến đó, y bất giác đỏ bừng cả mặt, tự hổ thẹn về sự vọng tưởng của mình; nhưng hiện thời y đã không màng tới sinh tử vinh nhục của mình nữa, nên nỗi lo sợ cũng nhạt dần.

Lại đi mấy ngày nữa thì đến chân núi Chung Nam. Kỳ Chí Thành rút một mũi tên, bắn chéo lên trời.

Lát sau, có bốn đạo sĩ đội mũ vàng từ trên núi chạy xuống, cúi mình hành lễ với Doãn Chí Bình, nói:

– Thanh Hòa Chân nhân, chân nhân đã về, mọi người chờ đợi đã lâu.

Doãn Chí Bình có đạo hiệu "Thanh Hòa", nhưng ngoài đệ tử thân truyền của y, lâu nay không một ai xưng hô như thế. Bốn đạo sĩ kia đều là đệ tử đời thứ ba, lẽ ra xưng hô với y là sư huynh sư đệ, trong đó có một người nhiều tuổi hơn hẳn y. Nay bốn người này đột nhiên đổi cách xưng hô, Doãn Chí Bình cảm thấy ngượng nghịu, vội xuống ngựa đáp lễ, khiêm tốn nói:

– Bốn vị sư huynh xưng hô như thế, tiểu đệ đâu dám nhận.

Đạo sĩ nhiều tuổi nhất trong bốn người là đệ tử của Mã Ngọc, nói:

– Năm vị sư thúc có pháp chỉ, chỉ chờ Thanh Hòa Chân nhân về tiếp nhiệm chức chưởng giáo. Còn về đại lễ nhậm chức, thì đợi khi nào Khưu sư thúc khai quan sẽ tiến hành.

Doãn Chí Bình hỏi:

– Sư phụ và bốn vị sư bá bế quan bao lâu rồi?

Người kia nói:

– Đã hơn hai mươi ngày.

Đang nói, bỗng nghe trên núi tiếng nhạc vang lên, mười sáu đạo sĩ thổi sáo gõ sênh dàn thành hàng ở hai bên đường nghênh tiếp, lại có mười sáu đạo sĩ khác cầm pháp khí như kiếm gỗ, bát sắt, thấy Doãn Chí Bình tới thì nhất tề cúi mình hành lễ, tiền hô hậu ủng, đi ngược lên núi, bỏ Triệu Chí Kính tụt lại đằng sau. Triệu Chí Kính vừa tức giận vừa ghen tị, nghĩ: "Đợi khi chức chưởng giáo rơi vào tay ta, để xem bọn ngươi sẽ nói sao?"

Gần tối, mọi người đã tới bên ngoài cung Trùng Dương. Hơn năm trăm đạo sĩ trong cung dàn thành hàng từ đại điện ra bên ngoài sơn môn mươi trượng; chỉ nghe tiếng chuông, tiếng trống rùng rùng, mấy trăm đạo sĩ cúi mình đón chào. Nhìn cảnh trang nghiêm long trọng đó, Doãn Chí Bình đang tuyệt vọng bỗng thấy phấn chấn, có mười sáu đại đệ tử hộ vệ hai bên, y trước tiên tới chính điện Tam Thanh khấu đầu ba vị Nguyên thủy thiên tôn, Thái thượng đạo quân và Thái thượng lão quân, sau đó tới hậu điện khấu đầu trước di tượng tổ sư sáng giáo Vương Trùng Dương, rồi tới điện thứ ba, nơi Toàn Chân thất tử vẫn ngồi thương nghị, khấu đầu trước bảy cái ghế trống, cuối cùng trở lại chính điện.

Đệ tử thứ hai của Khưu Xứ Cơ là Lý Chí Thường lấy pháp chỉ của chưởng giáo chân nhân ra tuyên đọc, nói Doãn Chí Bình tiếp nhiệm chưởng giáo. Doãn Chí Bình quì xuống nghe chỉ, vừa cảm kích vừa hổ thẹn, liếc trộm Triệu Chí Kính đứng một bên, thấy hắn vẻ mặt nửa cười nửa không, đầy vẻ châm biếm.

Doãn Chí Bình nghe pháp chỉ xong, đứng dậy, đang định nói vài lời khiêm tốn với chúng đạo sĩ, bỗng thấy từ bên ngoài có một đạo sĩ đi vào, nói to:

– Khải bẩm chưởng giáo chân nhân, có khách tới.

Doãn Chí Bình ngây người, không ngờ Tiểu Long Nữ lại đường đường chính thức bái hội, thực chưa biết phải đối phó thế nào, bây giờ muốn chạy cũng không xong, đành nói:

– Mời vào!

Đạo sĩ kia quay ra, dẫn hai người khách vào. Mọi người vừa thấy họ, đều hết sức kinh dị, Doãn Chí Bình càng kinh ngạc hơn, một trong hai người là quan viên Mông Cổ, người thứ hai là Tiêu Tương Tử, y từng gặp trong vương trướng của Hốt Tất Liệt.

Viên quan Mông Cổ sang sảng nói:

– Đại hãn bệ hạ có thánh chỉ, sắc phong cho chưởng giáo giáo phái Toàn Chân.

Đoạn hắn đứng giữa đại điện, lấy ra một cuộn lụa vàng mở ra, tuyên đọc:

– Sắc phong cho chưởng giáo giáo phái Toàn Chân làm "Đặc thụ thần tiên diễn đạo đại tông sư, Huyền môn chưởng giáo, Văn túy khai huyền hoàng nhân quảng nhiều đại chân nhân, chưởng quản chư lộ đạo giáo sở.."

Đọc đến đây, thấy không có ai quì xuống nghe chỉ, hắn nói to:

– Chưởng giáo phái Toàn Chân tiếp chỉ!

Doãn Chí Bình bước tới cúi mình hành lễ, nói:

– Chưởng giáo tệ giáo Khưu Chân nhân đang tọa quan, hiện do tiểu đạo tiếp nhiệm chưởng giáo, sắc phong của đại hãn Mông Cổ không phải dành cho tiểu đạo, nên tiểu đạo không dám bái lĩnh.

Viên quan Mông Cổ cười, nói:

– Ngọc âm của Đại hãn bệ hạ, Khưu Chân nhân vốn kính nể Thành Cát Tư Hãn, nay tuổi đã cao, không biết còn sống hay không. Sắc phong này vốn không định dành cho Khưu Chân nhân, ai làm chưởng giáo phái Toàn Chân thì cứ bái lĩnh sắc phong.

Doãn Chí Bình nói:

– Tiểu đạo vô đức vô năng, thực không dám bái lĩnh.

Viên quan cười, nói:

– Đừng khách khí nữa, hãy mau lĩnh chỉ.

Doãn Chí Bình nói:

– Vinh dự bất ngờ, tiểu đạo không dám nhận. Mời đại nhân vào hậu điện dùng trà, chờ tiểu đạo thương nghị một chút với các vị sư huynh đã.

Viên quan rất không hài lòng, cuộn thánh chỉ lại, nói:

– Cũng được! Không biết phải thương lượng bao nhiêu lâu?

Bốn đạo sĩ lo việc tiếp đãi tân khách bèn mời viên quan Mông Cổ và Tiêu Tương Tử vào hậu điện dùng trà.

Doãn Chí Bình mời mười sáu đại đệ tử vào một phòng riêng, nói:

– Việc lớn này, tiểu đệ không dám quyết, xin được nghe cao kiến của các vị sư huynh.

Triệu Chí Kính cướp lời, nói:

– Đại hãn Mông Cổ đã có mỹ ý như vậy, ta nên lĩnh chỉ. Đủ thấy bổn giáo ngày càng hưng vượng, ngay cả Đại hãn Mông Cổ cũng không dám coi thường chúng ta.

Nói đoạn cười cười đắc ý.

Lý Chí Thường lắc đầu, nói:

– Không được, không được! Mông Cổ xâm lăng nước ta, sát hại trăm họ, làm sao chúng ta lại đi nhận sắc phong của địch?

Triệu Chí Kính nói:

– Năm xưa Khưu sư bá từng nhận chiếu thư của Thành Cát Tư Hãn, vượt ngàn dặm sang Tây Vực, Doãn chưởng giáo và Lý sư huynh cũng tùy hành, đã có tiền lệ như vậy, sao lại không nhận sắc phong của đại hãn Mông Cổ kia chứ?

Lý Chí Thường nói:

– Thời ấy Mông Cổ đối địch với Đại Kim, chưa xâm lăng nước ta, hơn nữa còn kết minh với Đại Tống; mỗi thời một khác, không thể coi như nhau.

Triệu Chí Kính nói:

– Núi Chung Nam thuộc Mông Cổ quản hạt, đạo quán của chúng ta cũng đều nằm trong cảnh nội Mông Cổ, nếu không nhận sắc phong, bổn giáo sẽ gặp đại họa.

Lý Chí Thường nói:

– Triệu sư huynh nói sai rồi.

Triệu Chí Kính cao giọng:

– Sai thế nào, Lý sư huynh chỉ điểm cho coi.

Lý Chí Thường nói:

– Chỉ điểm thì không dám, nhưng xin hỏi Triệu sư huynh, tổ sư sáng giáo của chúng ta Trùng Dương Chân nhân là người như thế nào? Các vị sư phụ của bọn ta Toàn Chân thất tử là những người như thế nào?

Triệu Chí Kính ngạc nhiên, nói:

– Tổ sư gia và các vị sư phụ hoằng đạo hộ pháp, là các cao nhân trong Tam Thanh giáo.

Lý Chí Thường nói:

– Họ đều là các bậc đại trượng phu đội trời đạp đất, ái quốc ưu dân, người nào cũng từng vào sinh ra tử huyết chiến với quân Kim.

Triệu Chí Kính nói:

– Đúng thế, Trùng Dương Chân nhân và Toàn Chân thất tử danh chấn giang hồ, trong võ lâm ai mà chẳng kính phục?

Lý Chí Thường nói:

– Vậy thì các vị chân nhân bản giáo không một ai sợ cường địch, quyết chí cứu giáo dân khỏi vòng tai họa, dù phái Toàn Chân có gặp đại họa, chúng ta cũng không sợ. Đầu có thể rơi, chí không thể nhụt.

Mấy câu này hùng hồn đại nghĩa, Doãn Chí Bình và mười mấy đại đệ tử đều xúc động.

Triệu Chí Kính lạnh lùng nói:

– Chỉ có Lý sư huynh không sợ chết, còn mọi người đều là phường tham sống sợ chết chắc? Tổ sư gia sáng nghiệp gian nan, bổn giáo có qui mô như hôm nay, là nhờ tổ sư gia và bảy vị sư trưởng tốn bao nhiêu tâm huyết. Bây giờ giao lại, chúng ta xử trí không thích đáng, đem bản giáo oanh liệt hủy hoại đi mất, thì còn mặt mũi nào xuống gặp tổ sư gia dưới suối vàng? Khi năm vị sư trưởng khai quan, chúng ta sẽ ăn nói ra sao?

Mấy lời nghe cũng có lý, khiến vài đạo sĩ lập tức lên tiếng phụ họa. Triệu Chí Kính lại nói:

– Người Kim là kẻ tử thù của bản giáo, Mông Cổ đã diệt nước Kim, chính là đã giúp cho bản giáo. Năm xưa tổ sư gia khởi nghĩa không thành, buồn quá lui về ẩn cư trong tòa cổ mộ; hồn người ở trên trời có linh thiêng, biết người Kim đã mất nước tan quân, chắc cũng rất sung sướng.

Một đệ tử khác của Khưu Xứ Cơ là Vương Chí Thản nói:

– Người Mông Cổ sau khi diệt Kim, nếu hòa hảo với Đại Tống chúng ta, dĩ nhiên chúng ta sẽ lấy lễ thượng quốc mà đối đãi. Đàng này đại quân Mông Cổ tràn xuống phương nam, cấp công thành Tương Dương, giang sơn Đại Tống nguy kịch, chúng ta đều là dân Đại Tống, há có thể nhận sắc phong của nước thù địch?

Đoạn hướng sang Doãn Chí Bình, nói:

– Chưởng giáo sư huynh, nếu sư huynh nhận sắc phong, sẽ là một tên đại Hán gian, một tội nhân thiên cổ của bổn giáo. Vương Chí Thản ta dẫu đầu lìa khỏi cổ, cũng không để cho sư huynh làm như vậy.

Giọng nói đã đanh lại.

Triệu Chí Kính đứng phắt dậy, đập mạnh tay xuống bàn, quát:

– Vương sư đệ, sư đệ muốn động võ phải không? Sư đệ dám vô lễ như vậy với chưởng giáo chân nhân ư?

Vương Chí Thản gằn giọng. Nói:

– Bọn ta chỉ nói đạo lý. Còn chuyện động võ, ta đây không ngán.

Đôi bên mỗi bên quyết giữ ý mình, không nhân nhượng nhau, xem chừng sắp tuốt kiếm vung quyền đánh nhau đến nơi, một đạo sĩ tóc hoa râm xua tay lia lịa, nói:

– Các vị sư đệ, hãy bình tĩnh nói chuyện với nhau, đừng nóng nảy.

Vương Chí Thản hỏi:

– Theo ý sư huynh thì sao?

Đạo sĩ đó nói:

– Theo ý ta, thì.. thì.. người xuất gia lấy từ bi làm đầu, cứu được người dân nào, là tăng thêm đức hiếu sinh ngần ấy.. Bọn ta.. nếu nhận sắc phong của đại hãn Mông Cổ, sẽ tận lực can ngăn quân thần binh tướng Mông Cổ đừng lạm sát; năm xưa Khưu sư thúc chẳng phải đã nhờ thế mà cứu được tính mạng bao nhiêu người đó sao?

Có mấy đạo sĩ phụ họa:

– Đúng, đúng lắm!

Một đạo sĩ lùn lắc đầu lia lịa:

– Tình thế ngày nay không thể so với hồi trước. Tiểu đệ theo sư phụ tây du, chính mắt thấy binh tướng Mông Cổ tàn sát cướp bóc dân chúng. Nếu đi nhận sắc phong, đầu hàng Mông Cổ, tức là hùa theo kẻ bạo ngược, có thể cứu mươi cái mạng sống nào đó, nhưng quên rằng có hàng vạn dân chúng vì thế mà phải chết.

Vị đạo sĩ lùn này tên là Tống Đức Phương, một trong mười chín đệ tử tùy hành cùng Khưu Xứ Cơ tây du.

Triệu Chí Kính cười khẩy, nói:

– Ngươi đã gặp Thành Cát Tư Hãn, ta vừa rồi cũng gặp vương tử Hốt Tất Liệt, người này chiêu hiền đãi sĩ, khoáng đạt đại độ, đâu có gì tàn bạo?

Vương Chí Thản nói:

– À, thì ra ngươi phụng mệnh Hốt Tất Liệt, về đây làm gian tế!

Triệu Chí Kính tức giận, quát:

– Ngươi bảo sao?

Vương Chí Thản nói:

– Kẻ nào nói giúp cho bọn Mông Cổ, kẻ đó là Hán gian.

Triệu Chí Kính đột nhiên bật dậy, giáng một chưởng xuống đỉnh đầu Vương Chí Thản. Có hai đệ tử của Khưu Xứ Cơ, một người là Kỳ Chí Thành cùng vung chưởng gạt đòn của Triệu Chí Kính ra. Triệu Chí Kính càng giận thêm, nói:

– Được, đệ tử môn hạ của Khưu sư bá cậy đông, trượng thế khinh người hả?

Bắt đầu náo loạn thì Doãn Chí Bình vỗ tay một cái, nói:

– Xin các vị sư huynh hãy ngồi xuống, nghe tiểu đệ nói đã.

Chưởng giáo phái Toàn Chân xưa nay uy quyền cực lớn, các đạo sĩ đều ngồi xuống, không dám tranh cãi nữa.

Triệu Chí Kính nói:

– Phải đấy, chúng ta hãy nghe chưởng giáo chân nhân phân phó, chưởng giáo bảo nhận sắc phong thì nhận, bảo không nhận sắc phong thì thôi. Đại hãn sắc phong cho chưởng giáo, chứ có phải cho người khác đâu mà đi cãi nhau?

Hắn tưởng Doãn Chí Bình có tội đã bị hắn nắm chắc thì sẽ không dám làm trái ý hắn. Bọn Lý Chí Thường, Vương Chí Thản biết Doãn Chí Bình vốn người trung nghĩa, việc này cứ để y quyết, khỏi cần tranh náo, thế là ai nấy nhìn Doãn Chí Bình, chờ nghe lời y.

Doãn Chí Bình chậm rãi nói:

– Tiểu đệ vô đức vô năng, nay nhận trọng nhiệm chưởng giáo, không ngờ ngày đầu tiên đã gặp đại sự này.

Nói xong ngẩng lên, ngơ ngẩn xuất thần. Mười sáu đại đệ tử cùng chăm chú nhìn y, trong phòng im phắc không một tiếng động.

Một hồi sau, Doãn Chí Bình mới nói tiếp:

– Bổn giáo do Trùng Dương tổ sư sáng lập, đến Mã Chân nhân, Lưu Chân nhân, Khưu Chân nhân được phát dương lớn mạnh. Tiểu đệ tiếp nhiệm chưởng giáo, làm sao dám trái lời giáo huấn của bốn vị Vương, Mã, Lưu, Khưu Chân nhân? Chư vị sư huynh, hiện nay đại quân Mông Cổ tiến đánh thành Tương Dương, xâm lăng quốc thổ nước ta, sát hại bách tính. Nếu bốn vị chưởng giáo tiền bối có mặt ở đây, liệu các vị ấy có nhận sắc phong hay không?

Mọi người nghe câu hỏi, nghĩ đến cách hành xử của Vương Trùng Dương, Mã Ngọc, Lưu Xứ Huyền, Khưu Xứ Cơ: Vương Trùng Dương từ trần đã lâu, các đệ tử đời thứ ba đều không biết mặt. Mã Ngọc khiêm hòa đôn hậu, xử sự theo lối thanh tịnh vô vi. Lưu Xứ Huyền vô cùng kín đáo, các đệ tử khó đoán biết tâm ý, còn Khưu Xứ Cơ thì tính nóng như lửa, trung nghĩa hơn người. Mọi người nghĩ đến Khưu Xứ Cơ không hẹn cùng nói:

– Khưu chưởng giáo tất nhiên không nhận.

Triệu Chí Kính thì nói lớn:

– Hiện tại chưởng giáo là sư đệ, chứ không phải là Khưu sư bá!

Doãn Chí Bình nói:

– Tiểu đệ tài đức tầm thường, không dám trái lời giáo huấn của sư phụ. Huống hồ tiểu đệ tội lỗi nghiêm trọng, chết chưa hết tội.

Nói đến đây, y cúi đầu im lặng.

Các đạo sĩ không hiểu hàm ý lời nói của y, trừ Triệu Chí Kính, còn ai cũng cho rằng y khiêm tốn nói thế, riêng câu "tội lỗi nghiêm trọng, chết chưa hết tội" có phần quá đáng. Triệu Chí Kính nói:

– Hừ, như vậy tức là sư đệ không chịu nhận sắc phong chứ gì?

Doãn Chí Bình đáp:

– Tiểu đệ bản thân không có gì đáng nói, nhưng danh dự của bổn giáo thì không thể để bị tổn hại dù chỉ một chút.

Giọng nói của y dần dần trở nên khẳng khái hiên ngang:

– Hiện nay hào kiệt tứ phương chính đang kết nghĩa chống ngoại xâm. Phái Toàn Chân hiệu xưng võ học chính tông, nếu đầu hàng Mông Cổ thì chúng ta còn mặt mũi nào nhìn anh hùng thiên hạ?

Các đạo sĩ Lý Chí Thường, Tống Đức Phương, Kỳ Chí Thành, Vương Chí Thản cùng reo to:

– Chưởng giáo sư huynh nói rất chí lý!

Triệu Chí Kính phẩy tay áo, hầm hầm bước ra khỏi phòng, đến cửa còn ngoảnh lại cười khẩy, nói:

– Chưởng giáo, nói thì hay lắm. Hừ, hậu quả thế nào, chắc sư đệ chưa hiểu đâu.

Đoạn hắn rảo bước đi.

Các đạo sĩ cùng tán thưởng Doãn Chí Bình quyết đoán sáng suốt, mấy gã đạo sĩ phụ họa theo Triệu Chí Kính thì cảm thấy ngượng, lặng lẽ bỏ ra.

Doãn Chí Bình lặng lặng trở về đan phòng của mình, biết Triệu Chí Kính bị thất ý sẽ không chịu thua, nhất định sẽ tố cáo tội lỗi của y với mọi người. Khi y tuyên xưng không nhận sắc phong, y đã quyết ý lìa trần; mấy tháng nay y lo sợ, bị hành hạ giày vò khổ sở, nghĩ sau khi sẽ được giải thoát hết thảy, thì trong lòng tự nhiên thanh thản; thế là y cài then cửa, rút kiếm đưa lên cứa cổ tự vẫn.

Đột nhiên từ sau giá sách có một người bước ra chộp lấy thanh kiếm của Doãn Chí Bình, người đó chính là Triệu Chí Kính, hắn nói:

– Sư đệ hủy hoại danh dự của bản giáo, lại định chết đi, bỏ mặc mọi việc hay sao? Long cô nương chờ ở ngoài kia, khi nàng ta tiến vào tố cáo, thì bọn ta biết đối đáp sao đây?

Doãn Chí Bình nói:

– Được, vậy tiểu đệ sẽ ra tự vẫn trước mặt nàng ta để tạ tội vậy

Triệu Chí Kính nói:

– Dẫu sư đệ có tự vẫn, cũng không chấm dứt được chuyện đó. Khi năm vị sư trưởng khai quan, nhất định sẽ truy hỏi. Danh dự của phái Toàn Chân bị mất, sư đệ thành kẻ có tội muôn đời.

Doãn Chí Bình không chịu đựng nổi, đột nhiên ngồi phệt xuống đất, ôm đầu lẩm bẩm:

– Sư huynh bảo phải làm thế nào đây? Muốn chết cũng không xong

Vừa nãy trước nhiều người, y nói năng hùng hồn, bây giờ chỉ có một mình với Triệu Chí Kính, y lại không còn sức tự chủ được nữa. Triệu Chí Kính nói:

– Được, sư đệ chỉ cần nghe ta một việc thì vụ Long cô nương ta bỏ qua cho sư đệ, danh dự của bản giáo và của sư đệ đều nguyên vẹn, không có hậu họa nào hết.

Doãn Chí Bình nói:

– Sư huynh muốn tiểu đệ nhận sắc phong của đại hãn Mông Cổ chứ gì?

Triệu Chí Kính nói:

– Không, không! Ta không đòi sư đệ phải nhận sắc phong của đại hãn Mông Cổ.

Doãn Chí Bình thấy nhẹ người, mừng rỡ nói:

– Vậy là việc gì? Sư huynh nói đi, tiểu đệ sẽ làm theo.

Nửa canh giờ sau, chuông trống trong đại điện cùng vang rền triệu tập đạo chúng toàn cung. Lý Chí Thường phân phó các sư đệ là môn hạ của Khưu Xứ Cơ cùng đệ tử của họ giấu sẵn binh khí trong người, đề phòng việc Doãn Chí Bình không nhận sắc phong làm cho Triệu Chí Kính và phe cánh gây chuyện gì chăng. Đại điện đông nghịt người, thần sắc của các đạo sĩ đều căng thẳng.

Chỉ thấy Doãn Chí Bình từ hậu điện chậm rãi bước ra, mặt nhợt nhạt, đứng giữa điện, nói:

– Các vị sư huynh, tiểu đạo phụng mệnh Khưu chưởng giáo tiếp nhiệm chưởng giáo, không ngờ bị bệnh cấp tính, không thể chữa trị..

Câu nói bất ngờ khiến cho mười mấy đạo sĩ không hẹn kêu "Ôi!" Doãn Chí Bình nói tiếp:

– Trọng nhiệm chưởng giáo, tiểu đạo đã không thể gánh vác, vậy tiểu đạo lệnh cho đại đệ tử của Ngọc Dương tử là Triệu Chí Kính tiếp nhiệm chưởng giáo!

Câu này nói ra, đại điện đang im phăng phắc, tức thời bọn Lý Chí Thường, Tống Đức Phương, Vương Chí Thản lớn tiếng phản đối:

– Khưu chân nhân muốn Doãn sư huynh tiếp nhiệm chưởng giáo, trọng nhiệm ấy há có thể giao cho kẻ khác?

– Sư huynh chưởng giáo đang khỏe mạnh, sao tự dưng lại mắc bệnh bất trị?

– Chuyện này chắc có mưu mô lớn bên trong, sư huynh chưởng giáo chớ có mắc lừa kẻ gian.

Các đệ tử đời thứ tư không dám nói to, chỉ chụm đầu, rỉ tai nhau xôn xao nghị luận, đại điện nhốn nháo cả lên. Lý Chí Thường trừng mắt nhìn Triệu Chí Kính, thấy hắn ta thản nhiên chắp tay sau đít, coi như không nghe thấy lời nói của mọi người.

Doãn Chí Bình hai tay làm hiệu cho mọi người im lặng, nói:

– Việc xảy ra đột ngột, chẳng trách các vị không rõ lý do. Bổn giáo hiện lâm đại họa, tiểu đạo lại từng làm một việc quá sai trái, lúc này dẫu có tự sát để tạ tội cũng không thể cứu vãn được.

Nói đến đây, thần sắc vô cùng thảm hại, dừng một chút, nói tiếp:

– Tiểu đạo suy đi nghĩ lại, chỉ có sư huynh Triệu Chí Kính tài đức cao siêu, mới có thể đưa bổn giáo vượt qua đại nạn. Xin các vị sư huynh sư đệ vứt bỏ thành kiến, xuất lực phò tá Triệu sư huynh làm rạng danh bổn giáo.

Lý Chí Thường khẳng khái nói:

– Người nào không có lỗi? Sư huynh chưởng giáo nếu quả thật có lỗi lầm, thì đợi năm vị sư trưởng khai quan sẽ bẩm cáo, chịu trách phạt là được. Còn việc nhường chức vị chưởng giáo, chúng tôi không thế nào chấp nhận.

Doãn Chí Bình thở dài, nói:

– Lý sư đệ, hai chúng ta giao hảo nhiều năm, tình như cốt nhục. Việc hôm nay, mong sư đệ lượng thứ cho nỗi khổ tâm bất đắc dĩ của ngu huynh, đừng làm khó nữa.

Lý Chí Thường đầy nghi ngờ, nhìn kỹ Doãn Chí Bình, thấy thần sắc y quả có chứa nỗi khổ tâm khó nói, giọng chứa đựng vẻ cầu khẩn thiết tha, thì cúi đầu không nói nữa, chỉ suy nghĩ phương cách. Vương Chí Thản nói:

– Sư huynh chưởng giáo muốn nhường thật sự, hãy đợi năm vị sư trưởng khai quan sẽ bẩm cáo, mới không làm lỡ đại sự.

Doãn Chí Bình rầu rĩ nói:

– Sự việc cấp bách, không thể chờ lâu.

Vương Chí Thản nói:

– Được, nếu đúng như vậy, thì trong số các sư huynh sư đệ cùng lứa, không phải không có những vị tài đức song toàn hơn Triệu sư huynh. Sư huynh Lý Chí Thường đạo lực cao thâm, sư đệ Tống Đức Phương hành sự tài cán, hơn hẳn Triệu sư huynh là người tất cả không phục.

Triệu Chí Kính tính cách nóng nảy, không nhịn được lâu, bèn cười khẩy, nói:

– Còn kẻ nào dám làm dám chịu như sư huynh Vương Chí Thản hay không?

Vương Chí Thản tức giận nói:

– Tiểu đệ bất tài, thua xa các vị sư huynh sư đệ; nhưng so với Triệu sư huynh, thì tự nghĩ mình còn hơn một bậc.

Triệu Chí Kính cười gằn, ngẩng đầu nhìn lên mái nhà, vẻ mặt cực kỳ ngạo mạn. Vương Chí Thản nói to:

– Võ công kiếm thuật của tiểu đệ dĩ nhiên không phải là đối thủ của Triệu sư huynh, nhưng tiểu đệ chí ít cũng không biết làm Hán gian.

Triệu Chí Kính sa sầm mặt, quát:

– Ngươi có giỏi thì nói rõ ra coi, ai làm Hán gian?

Hai người đấu khẩu càng lúc càng dữ.

Doãn Chí Bình nói:

– Các vị đừng tranh cãi nữa, hãy nghe tiểu đạo.

Triệu, Vương hai người ngừng cãi, song vẫn hầm hầm nhìn nhau. Doãn Chí Bình nói:

– Qui củ lâu nay của bổn giáo, chức chưởng giáo bao giờ cũng do chưởng giáo tiền nhiệm chỉ định, hoàn toàn không do đồng đạo bổn giáo tiến cử, có phải vậy không?

Mọi người cùng đáp:

– Phải!

Doãn Chí Bình nói:

– Bây giờ tiểu đạo chỉ định Triệu Chí Kính làm chưởng giáo của bổn giáo, mọi người không được tranh cãi. Triệu sư huynh, hãy lại đây nghe dặn.

Triệu Chí Kính dương dương đắc ý, bước lên cúi mình hành lễ.

Vương Chí Thản và Tống Đức Phương định nói, thì Lý Chí Thường kéo tay áo, nháy mắt với hai người, họ biết Lý Chí Thường hành xử mưu trí, tất có cách khác, nên không tranh cãi thêm. Lý Chí Thường nói nhỏ:

– Doãn sư huynh chắc là bị Triệu Chí Kính khống chế, không dám phản kháng. Chúng ta cần bí mật nắm rõ mưu gian của Triệu Chí Kính đã. Hiện tại Doãn sư huynh đã nói như vậy, nếu tranh cãi thêm, chỉ lộ rõ sự đuối lý của chúng ta mà thôi.

Vương, Tống hai người gật đầu khen phải, cùng mọi người tham gia lễ giao tiếp chức vị chưởng giáo.

Trong một ngày, phái Toàn Chân có hai người trước sau tiếp nhiệm chưởng giáo, chúng đạo sĩ hoặc tỏ sự bất bình, hoặc thầm lấy làm lạ.

Nghi lễ tiếp nhiệm chưởng giáo hoàn tất, Triệu Chí Kính ngồi giữa, sai đệ tử đích truyền của hắn hộ vệ ở hai bên, nói:

– Cho mời thiên sứ của đại hãn bệ hạ Mông Cổ.

Hai chữ "thiên sứ" vừa nói ra. Vương Chí Thản không kìm được định lên tiếng chỉ trích, Lý Chí Thường vội dùng mắt ra hiệu ngăn lại. Một lát sau, bốn đạo sĩ đưa viên quan Mông Cổ cùng Tiêu Tương Tử ra đại điện.

Triệu Chí Kính vội ra cửa điện nghênh đón, tươi cười nói:

– Mời vào, mời vào!

Viên quan Mông Cổ phải chờ lâu đã bực mình, giờ lại không thấy Doãn Chí Bình ra đón, mặt mũi càng khó coi; một đạo sĩ tiếp khách biết ý, nói:

– Chức vị chưởng giáo bổn giáo từ lúc này do vị Triệu Chân nhân đây tiếp nhiệm.

Viên quan ngẩn ra, đổi từ giận sang vui, cười nói:

– Thì ra là vậy, cung hỉ cung hỉ!

Đoạn ôm quyền hành lễ. Tiêu Tương Tử đứng sau y hai bước, vẻ mặt lầm lì, không biểu lộ hỉ nộ.

Triệu Chí Kính khúm núm dẫn viên quan Mông Cổ vào đại điện, nói:

– Mời đại nhân tuyên thị thánh chỉ.

Viên quan mỉm cười, nghĩ: "Phải là người như ngươi làm chưởng giáo mới đúng. Cái gã ban nãy làm cho người ta khó chịu." Y rút thánh chỉ, hai tay mở ra. Triệu Chí Kính quì xuống, nghe viên quan tuyên đọc:

– Sắc phong chưởng giáo phái Toàn Chân làm..

Lý Chí Thường, Vương Chí Thản thấy Triệu Chí Kính công khai nhận sắc phong của đại hãn Mông Cổ, thì đưa mắt cho nhau, xoẹt xoẹt mấy tiếng, hàn quang loang loáng, các thanh kiếm được rút ra từ dưới áo đạo bào. Vương Chí Thản và Tống Đức Phương sấn nhanh tới, hai mũi kiếm đã gí vào hậu tâm Triệu Chí Kính. Lý Chí Thường quát:

– Bổn giáo lấy trung nghĩa làm đầu, quyết không đầu hàng Mông Cổ. Triệu Chí Kính phản bội tổ tông, làm trái ý trời lòng người, không thể tái nhiệm chưởng giáo.

Bốn đại đệ tử khác cũng tuốt kiếm vây quanh viên quan Mông Cổ và Tiêu Tương Tử.

Biến cố diễn ra đột ngột. Triệu Chí Kính tuy sớm biết bọn Lý Chí Thường không phục, nhưng uy quyền của chưởng giáo cực lớn, xưa nay không ai dám chống lại, hắn đã giữ chức đó tức là trở thành thủ lĩnh tối cao trong giáo phái, pháp chỉ do hắn đưa ra, ngay năm vị sư trưởng cũng không thể phản đối, ai ngờ đối phương lại dám động võ với chưởng giáo. Lúc này huyệt đạo yếu hại ở sau lưng hắn đã bị hai mũi kiếm chế ngự; hắn tức giận chứ không sợ, quát:

– Cuồng đồ to gan, dám phạm thượng làm loạn ư?

Vương Chí Thản quát lại:

– Gian tặc! Ngươi dám cử động thì thân thể ngươi sẽ có hai cái lỗ xuyên suốt đó!

Triệu Chí Kính võ công vốn cao hơn Vương, Tống hai người, nhưng vừa rồi bị bất ngờ, bị hai người khống chế lúc đang quì dưới đất, đã hoàn toàn ở thế hạ phong. Hắn đã bố trí mười mấy tên thân tín hộ vệ, có giấu binh khí trong đạo bào, nhưng bọn Lý Chí Thường, Vương Chí Thản đều là đệ tử đích truyền của Khưu Xứ Cơ, người thường rất có uy vọng trong bản giáo, nay họ đột nhiên nhất tề xuất thủ, bọn tâm phúc của Triệu Chí Kính cũng không dám động đậy. Có vài kẻ định rút binh khí ra, đều bị đối phương điểm huyệt. Kẻ đả thương Tôn bà bà là Trương Chí Quang, kẻ từng đấu với Lục Vô Song ở Sài Lang cốc là Thân Chí Phàm, đệ tử của Triệu Chí Kính là Lộc Thanh Đốc cũng nằm trong số đó.

Lý Chí Thường nói với viên quan Mông Cổ:

– Mông Cổ và Đại Tống đã thành nước thù địch, chúng tôi là dân Đại Tống, há có thể nhận sắc phong của Mông Cổ? Mời hai vị trở về, sau này gặp nhau ở biên cương, chúng tôi sẽ tiếp đón hai vị theo cách khác.

Mấy lời này được nói ra rất kiên quyết, nhiều đạo sĩ trong điện reo hò hưởng ứng.

Viên quan Mông Cổ đứng trước mũi kiếm không chút hoảng hốt, cười khẩy nói:

– Các vị hôm nay khinh cử vọng động, không biết tốt xấu, cơ nghiệp lớn của phái Toàn chân sắp bị hủy hoại trong một buổi, đáng tiếc lắm thay!

Lý Chí Thường nói:

– Giang sơn Thần Châu đều đã bị tàn phá, một giáo phái nhỏ của chúng tôi có gì đáng kể? Các hạ không rời khỏi đây cho nhanh, lỡ có người vô lễ, tiểu đạo vị tất có thể ngăn họ được!

Tiêu Tương Tử bỗng lạnh lùng nói xen vào:

– Vô lễ như thế nào, làm thử ta coi!

Hắn vươn hai tay đoạt luôn hai thanh kiếm của Vương Chí Thản và Tống Đức Phương. Triệu Chí Kính lập tức vọt dậy, hai tay sử chiêu "Bạch vân xuất tụ" che hậu tâm, đứng bên cạnh viên quan Mông Cổ. Tiêu Tương Tử tay trái đưa một thanh kiếm cho Triệu Chí Kính, tay phải đâm một kiếm về phía Lý Chí Thường. Lý Chí Thường giơ kiếm đỡ, cảm thấy cánh tay hơi tê, vội vận lực chống trả, cạch cạch, cả hai thanh kiếm cùng gãy.

Tiêu Tương Tử đoạt kiếm, đâm kiếm, mau lẹ vô cùng, chỉ trong chớp mắt, tiếp đó vung tay áo, song chưởng cùng cung, đánh bật trường kiếm của bốn đại đệ tử phái Toàn Chân ở bên cạnh. Hắn sử liền ba chiêu, đánh bại bảy cao thủ phái Toàn Chân, mấy trăm đạo sĩ trong đại điện đều kinh hãi trước võ công cao cường của một kẻ trông y như một cái thây ma.

Triệu Chí Kính vốn coi khinh võ công của mấy người như Vương Chí Thản, Tống Đức Phương, vừa rồi lại bị họ trước mặt bao người chế ngự không ngẩng đầu lên được, làm sao không tức giận. Bây giờ có kiếm trong tay, hắn liền đâm luôn về phía Vương Chí Thản. Chiêu "Đại giang đông khứ" này là chiêu số cực kỳ lợi hại trong kiếm pháp phái Toàn Chân, mũi kiếm ù ù đâm thẳng tới bụng dưới Vương Chí Thản.

Vương Chí Thản tránh vội về phía sau. Triệu Chí Kính hạ thủ không chút lưu tình, quyết lấy mạng Vương Chí Thản, hắn vươn dài cánh tay, mũi kiếm sắp tới bụng Vương Chí Thản, mọi người nhìn Vương Chí Thản khó lòng thoát chết, đều lặng đi; đột nhiên có một người vung tay áo cuốn mũi kiếm sang một bên, cạch một tiếng, kiếm gãy đôi, Vương Chí Thản lùi ra sau, hai thanh kiếm hai bên chĩa vào, ngăn Triệu Chí Kính lại. Người vừa xuất thủ chính là Doãn Chí Bình.

Triệu Chí Kính cả giận, chỉ mặt Doãn Chí Bình quát:

– Ngươi.. ngươi.. dám như vậy?

Doãn Chí Bình nói:

– Triệu sư huynh, sư huynh chính miệng đáp ứng không nhận sắc phong của Mông Cổ, tiểu đạo mới nhường chức chưởng giáo cho sư huynh, tại sao trong giây lát đã nuốt lời?

Triệu Chí Kính nói:

– Hừ, ban nãy ngươi hỏi ta: "Sư huynh muốn tiểu đệ nhận sắc phong của Mông Cổ chứ gì?" Ta bảo: "Không, ta không đòi sư đệ nhận sắc phong của Mông Cổ". Ta nói sao làm vậy. Người nhận sắc phong của Mông Cổ là ta, chứ đâu phải ngươi.

Doãn Chí Bình nói:

– Thì ra vậy, thì ra là vậy, ngươi quá xảo quyệt!

Lúc này Lý Chí Thường nhận một thanh kiếm từ tay đệ tử, nói lớn:

– Hỡi các huynh đệ phái Toàn Chân, chúng ta vẫn coi Doãn chân nhân là chưởng giáo. Mọi người hãy tóm cổ tên Hán gian họ Triệu, để chưởng giáo chân nhân phát lạc.

Đoạn xông tới đấu với Triệu Chí Kính. Vương Chí Thản, Tống Đức Phương và năm đại đệ tử còn lại hợp thành Thiên Cang Bắc Đẩu trận, bao vây Tiêu Tương Tử lại. Tiêu Tương Tử võ công tuy cao cường, nhưng một khi trận pháp chuyển động, uy lực phi thường, hắn vội rút cương bổng trong bọc ra chống đỡ, chỉ thấy trận pháp biến ảo, bảy đạo sĩ phái Toàn Chân di chuyển vị trí cho nhau hoa cả mắt.

Viên quan Mông Cổ đã lùi vào một góc đại điện, thấy tình thế bất lợi, vội rút tù và ra thổi. Hai đạo sĩ xông tới đoạt cái tù và, bẻ quặt cánh tay y, nhưng bị chậm một bước, tiếng tù và đã vọng ra ngoài.

Doãn Chí Bình biết y gọi ngoại viện, mình sắp lâm nguy, bất giác tinh thần phấn chấn, gọi to:

– Kỳ Chí Thành sư đệ, hãy khống chế viên quan Mông Cổ; Vu Đạo Hiển sư huynh, Vương Chí Cẩn sư huynh, mau cùng ba vị sư huynh tới động Ngọc Hư ở núi sau giúp Tôn sư huynh thủ hộ, đề phòng ngoại địch quấy phá năm vị sư trưởng tịnh tu. Trần Chí Ích sư đệ, hãy dẫn sáu người ra phòng thủ núi trước. Phòng Chí Khởi sư đệ, hãy dẫn sáu người ra phòng thủ núi bên trái; Lưu Đạo Ninh sư đệ, hãy dẫn sáu người ra phòng thủ núi bên phải.

Phòng thủ núi trước núi sau, bên phải bên trái, đều là sư đệ đồng môn của Doãn Chí Bình, đệ tử của Khưu Xứ Cơ. Phòng thủ động Ngọc Hư là Vu Đạo Hiển, môn hạ của Lưu Xứ Huyền, cùng Vương Chí Cẩn là môn hạ của Hách Đại Thông. Lưu Xứ Huyền và Hách Đại Thông đều đang tĩnh tu trong động Ngọc Hư; Vu, Vương hai người võ công đều cao, là người chính trực, chưa từng có dị tâm, quyết không làm hại các vị sư trưởng. Doãn Chí Bình trong giây lát đã phát lệnh đâu ra đó, các nơi yếu địa đều có người canh giữ, có thể tiếp ứng cứu viện cho nhau, giả dụ có đại quân tấn công, nhất thời cũng khó tiến sâu. Chúng đệ tử thấy Doãn Chí Bình mục quang như tia chớp, chỉ huy uy nghiêm, không ai dám trái lệnh.

Bỗng nghe ngoài cổng lớn có tiếng huyên náo, tiếng quát tháo ầm ĩ. Các đạo sĩ đang kinh ngạc, thì có mấy chục người nhảy qua tường vào trong. Mé đông do Doãn Khắc Tây, mé tây do Ni Ma Tinh, chính diện do Mã Quang Tá dẫn đầu, toàn là các hảo thủ Mông Hán.

Nguyên Hốt Tất Liệt mãnh công thành Tương Dương, hơn một tháng không hạ được, trong quân bỗng nhiên dịch bệnh lan tràn, đợt tấn công cuối cùng vô hiệu, đành phải lui binh. Cái hôm Tiểu Long Nữ nhìn thấy đại quân gấp rút hành tiến về phía nam, chính là đợt công thành cuối cùng. Đại quân chưa rút, Hốt Tất Liệt đã sai người đi lôi kéo hào kiệt Trung Nguyên, mưu tính chuyện lâu dài, thánh chỉ của đại hãn Mông Cổ sắc phong cho chưởng giáo phái Toàn Chân, cũng là mưu kế của Hốt Tất Liệt; nhưng Hốt Tất Liệt biết giáo phái Toàn Chân toàn các bậc trung nghĩa, vị tất chịu qui phục, bèn phái Kim Luân Pháp vương suất lĩnh các cao thủ võ lâm mai phục xung quanh núi Chung Nam, nếu phái Toàn Chân trái lệnh, sẽ dùng vũ lực áp chế.

Núi Chung Nam vẫn phòng thủ nghiêm mật, nhưng trong một ngày đổi hai vị chưởng giáo, cung Trùng Dương rối loạn, các đạo sĩ giám quản việc phòng thủ đều được gọi vào cung tham gia lễ tiếp nhiệm chưởng giáo, cho nên bọn Ni Ma Tinh, Doãn Khắc Tây vào đến bức tường bao quanh cung Trùng Dương mà mọi người bên trong vẫn không phát hiện. Bây giờ kẻ địch bất ngờ xuất hiện, các nhóm người Doãn Chí Bình phái đi phòng thủ các nơi đa phần chưa kịp rời cung, chỉ thấy trước sau tả hữu đều có địch, số đạo sĩ phái Toàn Chân tuy đông, nhưng một là không mang theo binh khí, hai là bị bao vây, dồn đống một chỗ, những vị trí yếu hại đều rơi vào tay địch, tình thế thảm bại đã rõ ràng.

Viên quan Mông Cổ đọc sắc phong vốn bị Kỳ Chí Thành bắt giữ, lúc này còn cao giọng nói:

– Các vị đạo trưởng phái Toàn Chân, mau hạ vũ khí, nghe hiệu lệnh của chưởng giáo Triệu chân nhân.

Doãn Chí Bình quát:

– Triệu Chí Kính phản bội tổ sư, đầu hàng ngoại địch, đã phạm trọng tội, không còn là chưởng giáo bổn giáo.

Doãn Chí Bình thấy tình thế quá bất lợi, nhưng quyết ý liều chết, chỉ huy các đạo sĩ chống địch. Song các đạo sĩ phần lớn tay không, đấu một lát đã có mười mấy người ngã gục; rồi Doãn Chí Bình, Lý Chí Thường, Vương Chí Thản, Tống Đức Phương, Kỳ Chí Thành lần lượt hoặc bị tước binh khí, hoặc bị thương ngã xuống, hoặc bị điểm huyệt; số đạo sĩ còn lại bị đám võ sĩ do Doãn Khắc Tây chỉ huy dồn vào một góc đại điện, không cách gì chống cự.

Viên quan Mông Cổ chức vị rất cao, bọn Doãn Khắc Tây, Tiêu Tương Tử đều nghe hiệu lệnh của y. Y thấy đã toàn thắng, bèn nói với Triệu Chí Kính:

– Triệu chân nhân, nể mặt chân nhân, vụ giáo chúng phái Toàn Chân mưu phản chống lệnh, ta sẽ bỏ qua, không khải tấu.

Triệu Chí Kính khúm núm luôn miệng đa tạ, hắn chợt nhớ điều gì, vội nói nhỏ với Tiêu Tương Tử:

– Có một việc lớn phiền tiền bối giúp cho, năm vị sư phụ, sư bá, sư thúc của vãn bối đang tịnh tu ở núi sau. Nếu để họ tới đây, thì.. thì..

Tiêu Tương Tử nói:

– Thì cứ để họ đến, ta sẽ tống cổ họ đi ngay.

Triệu Chỉ Kính không dám nói thêm, trong bụng vừa không hài lòng, vừa lo, nghĩ: "Lão đừng coi thường sư phụ, sư bá của ta, họ mà đến đây thật, thì lão khốn khổ đấy. Nhưng nếu họ đánh bại các võ sĩ Mông Cổ, thì ta khó bảo toàn tính mạng".

Viên quan nói:

– Triệu chân nhân, hãy bái lĩnh sắc phong của đại hãn bệ hạ, rồi sẽ xử trí bọn phản đồ!

Triệu Chí Kính vâng dạ, quì xuống nghe chỉ.

Bọn Doãn chí Bình, Lý Chí Thường bị trói chân tay, nghe viên quan đọc sắc phong, thấy Triệu Chí Kính rập đầu tạ ơn, miệng hô vạn tuế, thì căm hận vô cùng. Tống Đức Phương ngồi bên cạnh Lý Chí Thường, nói nhỏ:

– Lý sư ca, hãy cởi dây trói tay cho đệ, đệ sẽ chạy đi bẩm cáo sư trưởng.

Lý Chí Thường kề sát lưng vào lưng Tống Đức Phương, ngầm vận nội lực, dùng mấy ngón tay cởi dây trói cổ tay cho Tống Đức Phương, dặn khẽ:

– Sư đệ hãy thong thả bẩm cáo, làm như không có tai họa gì ghê gớm, đừng để năm vị sư trưởng bị chấn kinh nguy hiểm..

Tống Đức Phương chậm rãi gật đầu.

Việc tuyên đọc sắc phong chấm dứt, Triệu Chí Kính đứng dậy, viên quan Mông Cổ và Tiêu Tương Tử chúc mừng hắn.

Tống Đức Phương thấy mọi người vây quanh Triệu Chí Kính, liền bật dậy, chạy ra sau điện Tam Thanh. Ni Ma Tinh nhìn thấy, quát to:

– Đứng lại!

Tống Đức Phương chạy gấp hơn. Ni Ma Tinh đã cụt hai chân, không chạy được, vung tay trái, một mũi phi tiêu hình con rắn phóng đi, trúng vào đùi trái của Tống Đức Phương. Ni Ma Tinh quát:

– Nằm xuống!

Tống Đức Phương cố nhịn đau, lặc lè chạy tiếp, cung Trùng Dương nhà cửa san sát, Tống Đức Phương chạy vài đoạn quành, mấy võ sĩ Mông Cổ đuổi theo đã không còn thấy bóng y đâu nữa.

Tống Đức Phương chạy tới một chỗ kín đáo, rút mũi tiêu ra, băng vết thương lại, vào một đan phòng lấy một thanh kiếm, chạy ra núi sau. Y chạy qua một dãy cây tùng xanh, vừa nhìn thấy cửa động Ngọc Hư thì chợt kêu khổ: Có mấy chục tên võ sĩ Mông Cổ đang khuân đá lấp cửa động. Một vị Tạng tăng đứng đôn đốc, cạnh lão ta có một tăng một tục chỉ huy, chính là hai kẻ từng đến tấn công cung Trùng Dương hồi trước, chính là Hoắc Đô và Đạt Nhĩ Ba, võ công ngang ngửa với Hách Đại Thông. Vị Tạng tăng cao gầy, vai vế và võ công chắc cao hơn hai người kia, thấy cửa động Ngọc Hư đã bị lấp bảy, tám phần mười, không rõ tính mạng năm vị sư trưởng thế nào, nghĩ thầm: "Sư phụ đối với ta ơn nặng như non, nếu ta không liều mình cứu hộ, cũng uổng kiếp sống trên thế gian".

Y biết rõ xông tới ngăn chặn chẳng qua chỉ mất mạng, không thể nào giải nguy cho sư phụ, nhưng cả giáo phái gặp đại nạn, một mình không thể cầu toàn, bèn từ sau cây lao ra, vận kiếm như gió, đâm tới sau lưng Tạng tăng. Y nghĩ bắt giặc phải bắt tên đầu sỏ trước, nhát kiếm này nếu may mắn đắc thủ, bọn địch tất rối loạn.

Tạng tăng chính là Kim Luân Pháp vương. Pháp vương đã hỏi kỹ Triệu Chí Kính về nội tình trong phái Toàn Chân, nên vừa lên núi liền tới động Ngọc Hư, biết rằng chỉ cần chế ngự Toàn Chân ngũ tử, thì đám đại đệ tử đời thứ ba, thứ tư không cách gì chống cự nổi.

Mũi kiếm của Tống Đức Phương còn cách lưng lão ta chưa đầy một thước, thấy lão ta hình như chưa phát giác, Tống Đức Phương đã mừng thầm, bỗng trước mắt loáng lên ánh kim quang, choang một tiếng, một thứ binh khí hình tròn quái dị từ tay Tạng tăng bay ra sau, đập vào kiếm. Tống Đức Phương hổ khẩu đau nhói, thanh kiếm tuột khỏi tay bay mất, cảm thấy nhộn nhạo, thổ ra một ngụm máu tươi, mơ mơ hồ hồ nghe loáng thoáng rất nhiều tiếng hô hoán, không biết lại xảy ra việc gì, nôn nao lo sợ, ngất lịm đi.

Kim Luân Pháp vương cũng nghe phía đại điện có tiếng thét, nhưng lão nghĩ ở đó có hai cao thủ như Tiêu Tương Tử và Doãn Khắc Tây chủ trì, thì các đại đệ tử đời thứ ba phái Toàn Chân nhất định không chống cự nổi, lão chẳng phải lo, chỉ thúc giục bọn võ sĩ mau khiêng đá lớn lấp cửa động Ngọc Hư, đề phòng Toàn Chân ngũ tử xông ra.

Ở đại điện, từ lúc Tống Đức Phương chạy đi, tình hình lại có biến động. Viên quan Mông Cổ nói với Triệu Chí Kính:

– Triệu chân nhân, bọn phạm thượng làm loạn trong quí giáo, ta xem ra không ít, chức vị chưởng giáo của Triệu chân nhân khó bề vững vàng.

Triệu Chí Kính cũng biết các đạo sĩ phần lớn không phục, chỉ cần bọn Tiêu Tương Tử rời đi, các đạo sĩ sẽ lập tức phản kích; đã trót thì trét, giờ hắn đã cưỡi trên lưng hổ, bèn quát lớn:

– Chiếu theo giáo qui bổn giáo, kẻ phản giáo phạm thượng phải bị tội gì?

Quần đạo lẳng lặng không nói, nghĩ bụng: Chính ngươi mới là kẻ phản giáo phạm thượng ". Triệu Chí Kính nhắc lại câu nói, nhìn Lộc Thanh Đốc, muốn hắn trả lời. Lộc Thanh Đốc nói:

– Thì phải tự xử trước tượng thần Tam Thanh.

Triệu Chí Kính nói:

– Đúng thế! Doãn Chí Bình, ngươi biết tội hay chưa? Đã phục hay chưa?

Doãn Chí Bình nói:

– Không phục!

Triệu Chí Kính nói:

– Được, dẫn nó lại đằng kia!

Lộc Thanh Đốc đẩy Doãn Chí Bình tới đứng trước tượng thần Tam Thanh. Triệu Chí Kính lại hỏi Lý Chí Thường, Vương Chí Thản và các đạo sĩ, ai cũng trả lời" Không phục!"Chỉ có ba người xin tha mạng, Triệu Chí Kính liên hạ lệnh cởi trói cho ba kẻ đó. Hai mươi bốn người bất khuất, người nóng tính như Vương Chí Thản thì cứ luôn miệng mắng nhiếc Triệu Chí Kính.

Triệu Chí Kính nói:

– Các ngươi quật cường như thế, bổn chưởng giáo dù có đức hiếu sinh, cũng hết cách khoan dung. Lộc Thanh Đốc, ngươi hãy thay tổ sư gia hành pháp đi!

Lộc Thanh Đốc vung kiếm giết luôn người đứng thứ nhất hàng bên trái là Vu Đạo Hiển.

Vu Đạo Hiển là người hòa nhã đôn hậu, mọi người trong cung trên dưới đều giao hảo với vị đạo sĩ này. Họ nhìn cảnh Lộc Thanh Đốc đâm chết Vu Đạo Hiển, thì la hét phản đối. Tống Đức Phương và Pháp vương ở núi sau nghe tiếng thét lớn, chính là tiếng la hét của các đạo sĩ. Doãn Khắc Tây phẩy tay một cái, mấy chục võ sĩ Mông Cổ lăm lăm binh khí chắn phía trước các đạo sĩ.

Lộc Thanh Đốc nghe tiếng thét phẫn nộ của mọi người thì run sợ. Triệu Chí Kính giục:

– Mau hạ thủ, sao cứ chần chừ thế?

Lộc Thanh Đốc vâng dạ, lại vung kiếm đâm chết hai người nữa. Người đứng thứ tư hàng bên trái đã là Doãn Chí Bình. Lộc Thanh Đốc vung kiếm, sắp đâm vào ngực y, bỗng nghe một giọng nữ nhân lạnh lùng nói:

– Khoan, không được động thủ!

Lộc Thanh Đốc ngoảnh đầu, thấy một bạch y thiếu nữ đứng giữa cửa, chính là Tiểu Long Nữ. Nàng nói:

– Ngươi lui ra, người này để ta giết hắn!

Comments

0 comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 26: Thần Điêu Trọng Kiếm

Tiểu Long Nữ thấy nội bộ phái Toàn Chân cắn xé nhau, bọn võ sĩ Mông Cổ ào vào tấn công, mọi cảnh đó đối với nàng đều vô nghĩa, nàng không thèm để ý, nhưng khi thấy Lộc Thanh Đốc vung kiếm lên định giết Doãn Chí Bình, kẻ này làm sao có thể để cho người khác xử trí? Thế là nàng lập tức tiến lại ngăn chặn.

Triệu Chí Kính thấy Tiểu Long Nữ đột nhiên xuất hiện trong đại điện thì cả mừng, nghĩ: "Ta suốt dọc đường bị nàng truy đuổi khổ sở, bây giờ ta có rất nhiều cao thủ, nàng tự dẫn xác đến nộp mạng, đúng là trời ban cho ta!" Liền quát to:

– Con tiểu yêu nữ kia không phải là người tốt, bắt nó lại cho ta!

Bọn võ sĩ Mông Cổ không động đậy, hai tên đệ tử đích truyền của Triệu Chí Kính nghe lệnh của sư phụ, bèn tiến ra nắm lấy hai cánh tay Tiểu Long Nữ.

Tay hai kẻ đó chưa chạm đến tay áo của nàng, hàn quang đã loáng lên, hai kẻ đó chỉ cảm thấy cổ tay mình đau nhói, vội nhảy lùi, thì ra hai thanh kiếm ở sau lưng Tiểu Long Nữ đã được nàng rút ra. Trong chớp mắt, hai người đã bị trúng kiếm, gãy xương cổ tay, máu chảy ròng ròng. Mọi người xung quanh chưa nhìn rõ Tiểu Long Nữ xuất chiêu thế nào, thì hai đạo sĩ đã bị thương nhảy tránh, ai nấy không khỏi kinh hãi.

Lộc Thanh Đốc quát:

– Huynh đệ mau nhất tề xông tới! Bọn ta đông thế này, sợ gì con tiểu yêu nữ kia chứ?

Hắn nghĩ Tiểu Long Nữ dù võ công cao siêu, cũng chỉ là một nữ nhân, mọi người cùng ùa vào, tất sẽ thắng, bèn đâm kiếm tới trước. Tiểu Long Nữ mũi kiếm hơi động, hai cổ tay và hai bên đùi của Lộc Thanh Đốc đã trúng kiếm, hắn kêu rú lên, ngã gục xuống. Kiếm đâm nhanh đến thế, ngay các cao thủ như Tiêu Tương Tử và Doãn Khắc Tây cũng nhìn nhau thất sắc. Bọn này ở Tuyệt Tình cốc từng chứng kiến nàng giao đấu với Công Tôn Chỉ, bấy giờ kiếm pháp tuy tinh diệu, song không thể xuất thần nhập hóa bằng lúc này.

Nguyên Tiểu Long Nữ được Chu Bá Thông truyền thụ thuật phân tâm nhị dụng, hai tay có thể làm hai việc không giống nhau, khiến võ công tăng tiến gấp bội. Khi nàng cùng Dương Quá song kiếm hợp bích, sử "Ngọc nữ tố tâm kiếm pháp", thiên hạ đã ít người địch nổi, bây giờ nàng một mình sử dụng hai kiếm, uy lực càng mạnh. Hai người bất kể tâm ý tương thông đến mức nào, cũng không nhanh bằng ý niệm truyền trong đầu một người. Lúc này nàng sử kiếm tuy công lực không bằng hai người liên thủ, nhưng về độ nhanh nhạy, thì hơn hẳn hai người.

Dọc đường nàng đuổi theo Doãn Chí Bình, Triệu Chí Kính hai gã, nỗi tức giận chứa chất trong lòng nhiều ngày, chưa biết trút ra thế nào, bây giờ các đạo sĩ phái Toàn Chân tự gây sự trước, nàng thừa thế đánh trả, vừa ra đòn đã trúng đích, sự bi phẫn được dịp trút ra. Chỉ thấy bạch y phất phơ, hàn quang loang loáng, song kiếm như hai con ngân xà từ giữa đại điện lao ra tứ phía, liên tiếp tiếng keng keng, tiếng "úi chao", chỗ này chỗ kia, trong giây lát các thanh kiếm trong tay bọn đạo sĩ phái Toàn Chân đều rơi xuống đất, cổ tay mỗi người đều trúng kiếm. Lạ là nàng toàn sử một chiêu "Hạo uyển ngọc trọc", chúng đạo sĩ đều thấy kiếm quang của nàng lướt qua trước mắt, cổ tay đã cảm thấy đau nhói, hoàn toàn thúc thủ, không kịp chống đỡ. Nếu nhát kiếm của nàng không phải xỉa vào cổ tay, mà đâm vào chỗ yếu hại nơi ngực bụng, thì xác chết đã ngổn ngang trong điện. Chúng đạo sĩ sau khi bị thương đều kinh hãi nhảy tránh, trước tượng thần Tam Thanh chỉ còn bọn Doãn Chí Bình bị trói đứng đó mà thôi.

Tiểu Long Nữ từ sau khi học được thuật phân tâm nhị dụng, trừ việc luyện qua vài lần ở nơi đồng không mông quạnh, nàng chưa động thủ với ai, hôm nay đem ra thi thố, chính nàng cũng không ngờ thuật đó lại có uy lực mạnh mẽ như vậy, sau khi đánh bạt cả đám đạo sĩ, nàng dừng tay kinh ngạc.

Triệu Chí Kính thấy tình hình bất lợi, vội rút kiếm hộ thân, đồng thời lùi dần ra sau. Tiểu Long Nữ vốn căm hận hắn, nàng lắc mình một cái, song kiếm đã ngăn chặn cả trước mặt lẫn sau lưng hắn. Triệu Chí Kính vung kiếm mở đường, chỉ nghe keng một tiếng, Doãn Khắc Tây nói:

– Các hạ không xong đâu, tránh ra!

Thì ra Doãn Khắc Tây đã dùng kim long tiên đánh bật kiếm của Tiểu Long Nữ. Tiểu Long Nữ đả thương liền mười mấy người, bây giờ mới có một người đỡ được kiếm của nàng.

Tiểu Long Nữ nói:

– Hôm nay ta tới đây tìm đạo sĩ phái Toàn Chân trả thù, không liên can gì đến người ngoài, các hạ hãy mau tránh ra.

Doãn Khắc Tây vừa rồi thấy nàng sử kiếm như tia chớp, cũng lạnh người, nhưng rốt cuộc y là cao thủ hạng nhất, không thể chỉ vì một lời nói của đối phương đã xuôi tay lui ra, nên cười nói:

– Phái Toàn Chân có người tốt kẻ xấu, một số kẻ quả thật đáng chết, nhưng không biết mấy tên tặc đạo đáng chết đã đắc tội gì với cô nương?

Tiểu Long Nữ chỉ hừm một tiếng, không trả lời.

Doãn Khắc Tây nghĩ thoạt đầu mình đã nói năng tử tế, động thủ nếu thua, nàng cũng không đến nỗi hạ độc thủ, khi thấy tình thế bất lợi, y sẽ lùi tránh ngay, người ngoài thấy mình và nàng quen nhau, cũng sẽ không cười mình nhút nhát, thế là y cười hì hì, nói:

– Long cô nương, xa nhau lâu ngày, cô nương quí thể ra sao?

Tiểu Long Nữ lại hừm một tiếng, mục quang không rời Doãn Chí Bình và Triệu Chí Kính, chỉ lo chúng thừa cơ đào tẩu. Doãn Khắc Tây nói:

– Tức giận mấy gã tặc đạo kia, chỉ tổ bẩn tay cô nương thôi. Cô nương chỉ cần chỉ mặt tên nào, tại hạ sẽ thu thập hắn cho cô nương.

Tiểu Long Nữ nói:

– Được, các hạ hãy giết tên này cho bổn cô nương.

Nàng nói và chỉ mặt Triệu Chí Kính.

Doãn Khắc Tây nghĩ: "Người này đã nhận sắc phong của đại hãn Mông Cổ, sao lại giết hắn?" nói:

– Triệu chân nhân là người rất tốt, e rằng cô nương nhầm lẫn mất rồi, để tại hạ bảo hắn tạ tội với cô nương thì được.

Tiểu Long Nữ hơi cau mày, tay trái đã đâm kiếm về phía Doãn Khắc Tây nhanh như chớp. Doãn Khắc Tây vung kim tiên gạt đi, chỉ nghe "Ối!" một tiếng, Triệu Chí Kính đứng phía sau Doãn Khắc Tây đã trúng một kiếm vào vai. Bọn cao thủ như Tiêu Tương Tử cũng không nhìn ra nàng xuất chiêu kiểu gì, chỉ đoán có lẽ nàng đã đâm kiếm bên tay phải, vòng qua người Doãn Khắc Tây ra phía sau y.

Doãn Khắc Tây cả kinh, nghĩ nhát kiếm này tuy không đâm y, nhưng y không thể che chở cho Triệu Chí Kính, thì cũng mất mặt, đối phương xuất chiêu quá nhanh, hoàn toàn không nhìn rõ đường tiến thoái của song kiếm, như vậy chắc chắn y giao đấu sẽ thất bại, bèn thu tiên lại, nói:

– Long cô nương, mong cô nương thủ hạ lưu tình!

Tiểu Long Nữ không buồn lý đến y, không coi y là địch hay ta, di chuyển hai bước sang bên trái.

Doãn Khắc Tây nhìn theo, vẫn muốn che chở cho Triệu Chí Kính, bỗng nghe xoẹt một tiếng, y kinh ngạc ngoảnh lại, thấy áo bào ở vai trái của Triệu Chí Kính đã bị mũi kiếm đâm trúng, máu tươi loang đỏ. Nhát kiếm này của Tiểu Long Nữ đâm thế nào, người ngoài cũng không thể hiểu nổi, kiếm pháp tinh diệu thần tốc đến mức này, tựa hồ lai khứ vô tung, có thể đả thương kẻ địch nấp sau người khác.

Triệu Chí Kính trúng liền hai kiếm, nghĩ bụng Doãn Khắc Tây võ công tầm thường, không đáng làm chỗ dựa, trong cơn nguy cấp hắn vọt tới bên cạnh Tiêu Tương Tử. Tiểu Long Nữ giả bộ không nhìn thấy, nàng xoay người, tay trái đâm một kiếm về phía Doãn Khắc Tây, tay phải đã chĩa mũi kiếm tới trước ngực Ni Ma Tinh. Ni Ma Tinh tay trái nắm quải trượng, tay phải dùng thiết xà gạt kiếm, bỗng nghe Triệu Chí Kính rú lên, rồi keng, kiếm của hắn rơi xuống nền, thì ra cổ tay hắn đã bị trúng kiếm. Chiêu này càng kỳ quái. Rõ ràng Tiểu Long Nữ đứng cách xa hắn, đang bận công kích hai đại cao thủ khác, tại sao lại đả thương được hắn?

Tiêu Tương Tử nói:

– Hừ, Long cô nương kiếm pháp khá lợi hại, tại hạ cũng muốn lĩnh giáo!

Tả chưởng đẩy sang bên cạnh, Triệu Chí Kính chỉ cảm thấy một luồng đại lực đẩy vào vai hắn, hắn phải loạng choạng lui ra xa mấy trượng mới đứng vững lại được. Tiêu Tương Tử chưởng lực chưa thu về, cương bổng đã đồng thời đánh ra.

Mã Quang Tá vốn giao hảo với Dương Quá và Tiểu Long Nữ, lúc này trong bụng lo cho nàng, kêu to:

– Không biết ngượng, đúng là không biết ngượng, ba đại tông sư võ lâm vây đánh một thiếu nữ!

Tiêu Tương Tử nghe vậy, mặt hơi nóng. Bọn này vốn chẳng lý gì tới chuyện đạo đức nhân nghĩa, song đều là hạng ngạo mạn tự phụ, hết sức chú trọng thể diện thân phận. Bình thời đừng nói ba người liên thủ, ngay đơn đả độc đấu bọn họ cũng không động thủ với một thiếu nữ, nhưng lúc này tự biết một mình không đối phó nổi với kiếm chiêu xuất quỉ nhập thần của Tiểu Long Nữ, nên bọn họ làm như không nghe thấy câu nói châm biếm của Mã Quang Tá, nghĩ: "Gã hộ pháp kia, bọn ta cùng đi lo việc mi lại trợ giúp người ngoài, khi trở về phải trị cho mi một trận mới được". Trong lúc nghĩ thế, kiếm quang đã loang loáng trước mặt, Tiểu Long Nữ đã xuất chiêu. Ba người đều không nhìn rõ kiếm thế của nàng, cùng nhảy lùi ra hơn một trượng, múa binh khí che đỡ chỗ yếu hại trên người mình.

Bọn võ sĩ Mông Cổ kéo đám đạo sĩ Doãn Chí Bình, Lý Chí Thường, Vương Chí Thản đứng sát vào tường điện, biết rằng cuộc đấu của bốn người kia sẽ rất ác liệt, chỉ cần có một thứ binh khí bị văng ra, tất có người chết hoặc bị thương.

Ni Ma Tinh, Tiêu Tương Tử và Doãn Khắc Tây đều mong Tiểu Long Nữ xuất thủ tấn công người khác trước, để mình nhận biết chiêu số của nàng, may ra có cơ thủ thắng. Cả ba cùng nghĩ vậy, thế là cùng thi triển tuyệt kỹ bình sinh, che chắn toàn thân thật chặt chẽ, trước hết chưa cần mình thắng, chỉ cầu đối phương không thể thắng. Ba đại cao thủ vừa ra tay đã thủ thế, bình sinh thật hiếm thấy, nhưng vì đối phương quá mạnh, nếu tiến công ngay, chỉ e chuốc lấy nhục nhã.

Trong đại điện, Tiểu Long Nữ đứng giữa, song kiếm chỉ xuống nền, bọn Tiêu Tương Tử ba người chia nhau đứng ba phía, trước mỗi người đều có một luồng hàn quang loang loáng. Kim tiên của Doãn Khắc Tây múa thành một đạo hoàng quang, thiết xà của Ni Ma Tinh là một bóng đen chợt tiến chợt thoái, cương bổng của Tiêu Tương Tử thì múa thành một tấm màn xám che chắn trước mặt.

Tiểu Long Nữ nhìn ba người một cái, nghĩ: "Ta và ba người không oán không thù, ta không rỗi hơi động thủ với các người". Thấy Triệu Chí Kính len lén định lùi vào sau bức tượng thần, tay áo nàng liền phất ra, chân bước tới. Ni Ma Tinh và Tiêu Tương Tử từ hai bên xáp lại chặn nàng. Tiểu Long Nữ đang đuổi theo Triệu Chí Kính, bị hai người chặn lại, bèn hỏi:

– Hai vị có nhường lối hay không thì bảo?

Tiêu Tương Tử nghĩ: "Mình với nàng ta không thù oán, vị tất nàng hạ độc thủ. Chưởng giáo phái Toàn Chân có gì tốt với ta mà ta phải vì hắn chuốc thù với cường địch?" Hắn trù trừ chưa đáp, Ni Ma Tinh đã nói:

– Bọn ta không nhường, xem tiểu yêu nữ nhà ngươi có bản sự gì cứ thi thố ta coi.

Tiêu Tương Tử và Doãn Khắc Tây cùng trừng mắt nhìn Ni Ma Tinh, nghĩ thầm: "Bọn ta không nhường thì thôi, sao lại đi nói ác như vậy? Làm như một mình ngươi cũng chặn được nàng ta không bằng, thật là không biết tự lượng sức mình!" Hai người cùng không biết rằng Ni Ma Tinh bị mất hai chân là vì Dương Quá và Lý Mạc Sầu, mà Dương Quá là tình lang của Tiểu Long Nữ, nên Ni Ma Tinh trút oán hận lên người nàng, khi động thủ với nàng, hắn không giống hai người kia, hắn có ý một mất một còn với nàng.

Tiểu Long Nữ biết rằng muốn giết hai gã Doãn Chí Bình và Triệu Chí Kính, phải đánh đuổi ba cao thủ này đã, bèn lạnh lùng nói:

– Ba vị đã không chịu nhường, thì bổn cô nương đành đắc tội!

Lời vừa dứt, kiếm quang loang loáng, chỉ nghe một tiếng keng thật dài, rồi Tiểu Long Nữ nhảy lùi lại hơn một trượng, trở lại đứng giữa đại diện. Bọn Doãn Khắc Tây, Tiêu Tương Tử đều thất sắc. Nguyên tiếng keng thật dài vừa qua là do hơn bốn chục tiếng binh khí đụng nhau rất ngắn tạo nên. Trong giây lát Tiểu Long Nữ đã sử hơn bốn chục chiêu kiếm, Tiêu Tương Tử và Ni Ma Tinh thủ thân chặt chẽ, một giọt nước cũng không vào lọt, mỗi chiêu đụng vào binh khí phát ra một tiếng ngắn, người ngoài nghe chúng hợp lại thành một tiếng dài. Chiêu số tấn công của nàng mau lẹ như thế khiến cho bọn Tiêu Tương Tử kinh hãi. Vừa rồi bọn họ múa binh khí thủ thân kín đáo từ trước, chứ đợi nàng xuất chiêu mới giơ binh khí chống đỡ thì đã trúng đòn cả rồi.

Tiểu Long Nữ tấn công không thành, cũng thán phục họ phòng thủ nghiêm mật, nhẹ nhàng nhảy lùi về phía sau, mặt hướng về phía Tiêu Tương Tử, nhưng song kiếm lại tấn công về phía Doãn Khắc Tây, keng keng liền mười hai tiếng, nghe như tiếng gảy đàn dồn dập, Doãn Khắc Tây dùng kim tiên cũng đánh bật mười hai chiêu đó.

Hai phen công thủ, bốn người đều tự hiểu thầm; Tiểu Long Nữ không thành công, vì nội lực không mạnh, kình lực của kiếm chiêu chưa chế ngự nổi binh khí của đối phương, giá như chân lực ngang ngửa như ba người, thì họ đã không thể chống cự. Tiểu Long Nữ trở vào giữa đại điện, nghĩ cách phá địch, thấy ba đối thủ múa binh khí càng lúc càng nhanh thêm, làm sao tìm ra chỗ sơ hở? Nàng nghĩ: "Họ múa binh khí như thế, nội lực sẽ bị tiêu hao rất lớn, khó bề kéo dài, mình chỉ việc đợi, chẳng mấy chốc sẽ tìm ra chỗ sơ hở. Cứ để cho Triệu Chí Kính đào tẩu, tìm hắn sau cũng không sao"; thế là nàng rung rung song kiếm, tưởng như tấn công mà không phải, sẵn sàng tung đòn nhưng chưa ra đòn, làm cho ba đối thủ không dám ngừng múa binh khí. Tiếc rằng bọn Tiêu Tương Tử nội lực đều vô cùng thâm hậu, họ múa binh khí như thế, nhất thời khí lực chẳng giảm sút chút nào. Tiểu Long Nữ thấy chưa có sơ hở để lợi dụng, thì cứ đứng đó, thần sắc nhàn nhã, đoan nghiêm. Tính nàng vốn lãnh đạm, đuổi theo Doãn Chí Bình và Triệu Chí Kính hơn một tháng trời mà không hề xuất thủ, bây giờ chờ nửa ngày đâu có ngại gì? Hai mươi năm tự thủ trong tòa cổ mộ tĩnh mịch, nàng đã sớm luyện thành lòng nhẫn nại vô song.

Ni Ma Tinh thấy nàng chống kiếm nhàn nhã, làm như xung quanh không có người, thì hắn không trấn tĩnh được nữa, gầm lên một tiếng, vung thiết xà tấn công nàng rất lẹ. Hắn vừa ra đòn, lộ ngay sơ hở bên trái; Tiểu Long Nữ thọc kiếm chếch tới, Ni Ma Tinh dùng quải trượng ghìm lại, nhưng cảm thấy vai hơi đau, liếc mắt một cái, thấy vai áo bên trái bị thủng một lỗ, máu tươi chảy ra. May mà Tiểu Long Nữ đề phòng hắn dùng thiết xà tấn công, chứ không thì hắn đã bị chém lìa mất một cánh tay rồi.

Ni Ma Tinh công kích không thành, lại còn bị thương, trong lòng tuy giận, song không dám tiến công nữa. Ba người ở ba phía múa tít binh khí, Tiểu Long Nữ đứng ở giữa chẳng buồn để tâm. Doãn Khắc Tây đã sử bộ "Hoàng sa vạn lý tiên pháp" đến lần thứ tư, đột nhiên nảy ra một kế, gọi:

– Ni Ma huynh, Tiêu Tương huynh, bọn ta hãy nhất tề tiến vào nửa bước.

Ni Ma Tinh và Tiêu Tương Tử chưa hiểu dụng ý của Doãn Khắc Tây, nhưng biết y là đại thương gia Tây Vực, kiến thức quảng bác, đầu óc thông minh, thế nên làm theo lời y, nhất tề tiến vào nửa bước. Doãn Khắc Tây vừa bước vừa nói:

– Phòng thủ phải kín đáo, bước chân phải chậm rãi. Bọn ta lại nhất tề tiến vào nửa bước.

Ni, Tiêu hai gã làm theo.

Ba người thận trọng cứ thế hành động, lát sau lại tiến vào nửa bước; lúc này ai ai cũng thấy vòng vây của ba người quanh Tiểu Long Nữ cứ dần dần thu hẹp lại, cuối cùng sẽ dồn nàng vào một chỗ. Ba người tuy không tấn công, nhưng mỗi người múa binh khí như thế tạo nên thành đồng vách sắt khép dần vào, ba người thủ thế hợp thành một thế công hùng mạnh, thật khó chống cự. Bọn võ sĩ Mông Cổ và đám đạo sĩ theo phe Triệu Chí Kính nhìn cảnh ấy mừng thầm, các đạo sĩ còn lại thì lo cho nàng.

Tiểu Long Nữ thấy ba người càng lúc càng vào gần, chiêu số binh khí của họ tuyệt không có chỗ nào sơ hở, không lâu sẽ bị họ dồn ép tan thây, bèn vung song kiếm đâm liên tiếp, tiếng keng keng dồn dập, chiêu nào cũng đụng phải binh khí của đối phương. Nàng tấn công mấy chục kiếm, đều bị đánh bật trở lại, ba người kia vẫn cứ tiến vào nửa bước. Tiểu Long Nữ dần dà hoảng loạn, lúc lùi sang trái, nàng bị vấp chân một cái, người hơi lạng đi, đây là chỗ đại sơ hở trong kiếm pháp; nếu bọn Tiêu Tương Tử thừa cơ tấn công, thì nàng đã gặp nguy hiểm cực lớn.

Nguyên dưới nền đại điện vứt ngổn ngang mấy chục thanh kiếm, toàn là của các đạo sĩ phái Toàn Chân bị người ta tước đoạt mà quẳng xuống đất. Tiểu Long Nữ vừa rồi chân trái đạp phải một cái cán kiếm, suýt nữa thì ngã.

Nàng chợt nghĩ: "Người khác hai tay sử song kiếm, mình đã học thuật phân tâm nhị dụng, hai tay có thể sử dụng bốn thanh kiếm. Dẫu không có uy lực, cũng làm kẻ địch hoảng loạn, mình sẽ thừa cơ thoát khốn". Bèn giao kiếm từ tay trái sang tay phải, rồi cúi xuống nhặt hai thanh kiếm dưới nền lên, mỗi tay hai kiếm cùng vung ra,

Bọn Ni Ma Tinh, Tiêu Tương Tử cả kinh, đều nghĩ: "Chiêu số của cô nương này càng lúc càng lạ, bốn kiếm cùng sử, thật là chưa từng thấy!" Nhưng ba người đã có chủ định là bất biến ứng vạn biến, bất kể nàng sử dụng chiêu thuật kỳ quái gì, họ cũng chỉ thủ không công, từng bước dồn lại.

Tiểu Long Nữ bốn kiếm cùng sử, tuy làm cho người ta kinh ngạc, nhưng uy lực không bằng chỉ sử hai kiếm. Nếu sử mỗi tay một kiếm, tay trái sử kiếm pháp phái Toàn Chân, tay phải sử Ngọc nữ kiếm pháp, sẽ không có một kẽ hở; đằng này bốn kiếm cùng sử, hóa ra không linh hoạt, không đắc thủ ứng tâm.

Bọn Tiêu Tương Tử phát giác kiếm chiêu của nàng đột nhiên chậm lại, mũi kiếm đâm tới cũng không thần diệu khôn lường như lúc trước. Ni Ma Tinh vung thiết xà có ý tấn công. Doãn Khắc Tây vội kêu:

– Đừng làm thế, đó là kế dẫn dụ của đối phương đấy!

Ni Ma Tinh được nhắc nhở, giật mình, nghĩ thầm, may có tay lái buôn khôn ngoan nhắc mình, thì ra cô nương này giảo hoạt, chỉ chờ mình tấn công sẽ lập tức phản kích, chẳng những thế hợp vây bị phá, ngay cả tính mạng mình cũng khó toàn.

Kỳ thực Tiểu Long Nữ hoàn toàn không có ý dụ địch, nhưng nghe Doãn Khắc Tây nói vậy, thì nghĩ: "Hắn bảo ta dụ địch, thì ta dụ thật xem sao". Đột nhiên tay phải vung một thanh kiếm lên trời, thanh kiếm thứ hai đâm ra; tay trái cũng vung một thanh kiếm lên trời. Bọn Tiêu Tương Tử kinh ngạc, không hiểu nàng lại giở trò gì, chỉ thấy hai thanh kiếm từ trên không chưa rơi xuống, nàng lại tung hai thanh kiếm còn lại lên trời, hóa ra trong tay không còn thứ binh khí nào.

Doãn Khắc Tây nói:

– Phải nghiêm thủ, nhất thiết không được tấn công.

Y không biết dụng ý của Tiểu Long Nữ, cho rằng chỉ cần phòng thủ nghiêm mật, từng bước tiến vào là sẽ thắng. Đối phương tuy đang tay không, song chẳng cần mạo hiểm tấn công.

Tiểu Long Nữ cúi xuống, hai tay không ngừng chộp các thanh kiếm ở dưới nền mà tung lên trời, đồng thời chộp những thanh kiếm từ trên rơi xuống mà tung lên. Mấy chục thanh kiếm tung lên rơi xuống, hàn quang loang loáng, y như một kỳ quan. Võ công phái Cổ Mộ vốn không lấy nội lực trầm hùng làm sở trường, mà dựa vào thủ pháp mau lẹ để thủ thắng. Hồi Tiểu Long Nữ truyền thụ võ công cho Dương Quá, từng dạy chàng cách dùng song chưởng chắn giữ tám mươi mốt con chim sẻ. Thủ pháp "Thiên la địa võng thế" thi triển ra, bầy chim sẻ còn có thể chặn được, nữa là mấy chục thanh kiếm, cứ được nàng chộp bắt tung lên như không, tưởng chừng trong tay nàng lúc nào cũng có binh khí và lúc nào cũng không có binh khí. Bọn Tiêu Tương Tử cứ há mồm tròn mắt mà nhìn, nghĩ cô nương này đang làm trò ảo thuật gì đây.

Đột nhiên Tiểu Long Nữ tay trái hất vào cán một thanh kiếm đang rơi xuống, làm cho nó bay ngang đâm nhanh về phía Doãn Khắc Tây, mũi kiếm đụng vào tấm màn kim long tiên mà y đang múa, bật lại cực nhanh về phía Ni Ma Tinh. Ni Ma Tinh đang múa thiết xà rất gấp, kiếm đụng vào nó văng về phía Tiểu Long Nữ. Lúc này từ trên không lại có hai thanh kiếm rơi xuống, Tiểu Long Nữ chộp cả ba thanh kiếm mà tấn công ba người.

Giờ thì mấy chục thanh kiếm không bay lên trời nữa, mà luẩn quẩn quay cuồng quanh ba tấm màn do binh khí của ba người kia tạo thành, có mấy thanh kiếm đụng mạnh vào thiết xà của Ni Ma Tinh, bị gãy rời làm hai đoạn. Tiểu Long Nữ mang bao tay kim loại, vỗ vào lưỡi kiếm mà không bị thương, nàng từ nhỏ đã luyện thủ pháp "Thiên la địa võng thế", công phu tiến thoái trong phòng càng vô song, mắt tinh tay lẹ, càng đấu càng nhanh, trong lòng không gợn tạp niệm, cũng không bận tâm xem trận ác chiến này ai thắng ai bại, ai sống ai chết. Có lúc nàng tiện tay chộp được cán kiếm thì đâm địch vài nhát, có lúc chộp kiếm ném luôn về phía địch. Khi nàng cầm song kiếm trong tay, bọn Tiêu Tương Tử đã khó chống đỡ, bây giờ mấy chục thanh kiếm bay loạn đâm loạn, hỏi làm sao họ địch nổi? Huống hồ khi các thanh kiếm đụng vào binh khí của ba người kia, phương hướng và lực đạo là không thể khống chế, họ chưa đả thương nhau, chỉ là do số mệnh mà thôi.

Tiểu Long Nữ tung kiếm lên trời, vốn chỉ định làm rối mắt đối phương, lúc này tình thế biến hóa, hết sức có lợi cho nàng một cách bất ngờ. Giữa tiếng bay vù vù của binh khí, đã nghe thấy tiếng thở hổn hển của Ni Ma Tinh và Doãn Khắc Tây. Cương bổng của Tiêu Tương Tử vẫn múa nhanh, song đã có vẻ loạng choạng. Đột nhiên tay phải của Doãn Khắc Tây thõng xuống, y kêu:

– Hỏng rồi!

Nguyên có ba thanh kiếm bay tới, ba thanh kiếm này sau khi đụng phải binh khí của Ni Ma Tinh và Tiêu Tương Tử thì bật ra, cùng văng về phía Doãn Khắc Tây, y dùng nhuyễn tiên hất đi, nhưng đúng lúc ấy Tiểu Long Nữ lại thọc kiếm đến, y cảm thấy cổ tay đau nhói, không nắm được nhuyễn tiên nữa.

Nghe xoảng một tiếng, nhuyễn tiên của Doãn Khắc Tây rơi xuống nền. Tiểu Long Nữ liên tiếp vung tay trái, bảy, tám thanh kiếm bay đi tấn công ba người, rồi hai tay chộp hai thanh kiếm, vọt tới trước mặt Doãn Khắc Tây.

Doãn Khắc Tây cổ tay bị thương, binh khí rơi xuống đất, bức tường sắt bao vây lập tức bị phá vỡ, y thấy song kiếm của Tiểu Long Nữ như hai tia chớp vụt tới, thì vội nhảy lùi ra sau. Khinh công của Tiểu Long Nữ đều cao hơn ba người, nàng vọt ra sau đại điện, đuổi theo Triệu Chí Kính.

Bọn Tiêu Tương Tử nhất thời chưa thể dừng tay múa binh khí, phải đợi cho mấy chục thanh kiếm rơi cả xuống đất xong xuôi. Doãn Khắc Tây ngượng ngùng, nói:

– Tiểu đệ bất tài, để nàng ta chạy mất rồi!

Ba người vốn không ai phục ai, chỉ tìm mọi cách chèn ép đối phương, nhưng vừa trải qua một trận ác đấu kinh tâm động phách, cả ba cùng có cảm giác thoát chết, bớt hẳn ý nghĩ thù địch đối với nhau. Ni Ma Tinh và Tiêu Tương Tử cùng nói:

– Cũng không thể trách Doãn huynh..

Lời chưa dứt, bỗng nghe tiếng binh khí va nhau từ núi sau vọng tới.

Trận đấu trong đại điện, bọn Ni Ma Tinh, Tiêu Tương Tử đều đã kinh sợ, nhưng bây giờ nghe trong tiếng binh khí va chạm có tiếng ngũ luân của Kim Luân pháp vương bay u u, rõ ràng Tiểu Long Nữ đang động thủ với Kim Luân pháp vương, thì ba người này đều nghĩ: "Đã có Pháp vương làm chủ tướng, mình ùa lại giáp công, chắc chắn sẽ thắng". Doãn Khắc Tây nhặt nhuyễn tiên lên, gọi:

– Chúng ta cùng đuổi theo!

Đoạn y lao đi trước. Tiêu Tương Tử và Ni Ma Tinh suất lĩnh đám võ sĩ Mông Cổ chạy theo. Bọn chúng lúc này coi một mình Tiểu Long Nữ là đại địch, không thèm để mắt tới đám đạo sĩ phái Toàn Chân.

Bọn Doãn Chí Bình, Lý Chí Thường thấy đám võ sĩ Mông Cổ bỏ đi, liền tự cởi trói cho nhau, nhặt kiếm rồi cũng chạy ra núi sau.

Bọn Tiêu Tương Tử chạy tới trước cửa động Ngọc Hư, phía sau cung Trùng Dương, thấy luân ảnh, kiếm khí tung hoành, Kim Luân pháp vương đang gầm lên như sấm, Tiểu Long Nữ áo trắng hơn tuyết, hai người cách nhau hơn một trượng, đang giao đấu với nhau. Kim, ngân, đồng, thiết, diên ngũ luân cứ bay vòng vòng, phát ra tiếng u u váng tai mọi người. Các chiếc luân của Pháp vương từng có cái bị mất trong giao chiến, đã được bổ sung, kích thước và trọng lượng hệt như cái đã mất, chỉ không có hoa văn và chân ngôn, chứ sử dụng vẫn đắc tâm ứng thủ.

Doãn Chí Bình và Lý Chí Thường thấy cửa động Ngọc Hư đã bị các tảng đá lấp kín, không biết năm vị sư trưởng sống chết thế nào, nóng ruột cùng chạy tới bên cửa động. Đạt Nhĩ Ba cầm kim chử, Hoắc Đô cầm cây quạt sắt, chỉ sau vài chiêu đã đánh lui các đạo sĩ.

Vương Chí Thản gọi to:

– Sư phụ, sư phụ có sao không?

Y lo sợ, giọng nghe như sắp khóc. Lý Chí Thường nghĩ: "Năm vị sư trưởng với huyền công của mình, đâu dễ để cho người ta chôn sống trong động? Chắc hẳn họ luyện đến thời khắc khẩn yếu, không thể phân tâm chống địch. Vương sư đệ kêu như thế, lỡ năm vị bên trong nghe thấy, sẽ bị loạn trí mất", vội nói:

– Vương sư đệ, đừng gọi, đừng làm kinh động các vị sư trưởng.

Vương Chí Thản lập tức tỉnh ngộ, đỡ Tống Đức Phương nằm dưới đất lên, thấy y bị thương không nhẹ, bèn tìm cách cấp cứu.

Bọn Tiêu Tương Tử đứng ngoài xem Pháp vương đấu với Tiểu Long Nữ, tuy lão ta thủ nhiều công ít, đỡ vài ba chiêu mới đánh trả một chiêu, nhưng ngũ luân uy lực cực mạnh, không để cho Tiểu Long Nữ tới gần, rõ ràng hay hơn lối đánh chỉ thủ không công vừa nãy của ba người. Ba người vừa thán phục, vừa đố kỵ, nghĩ: "Lão hòa thượng này được phong làm đệ nhất quốc sư Mông Cổ cũng xứng đáng". Ba người định giáp công hợp kích giúp Pháp vương, nhưng nhìn tình thế này, họ lại không muốn giúp lão ta nữa.

Bọn họ không biết rằng Pháp vương xuất chiêu tuy mạnh, nhưng trong bụng liên tiếp kêu khổ. Tiểu Long Nữ hai tay sử hai môn kiếm pháp khác nhau, phối hợp tinh diệu tuyệt luân, kiếm bên tay trái chém phía trước, kiếm bên tay phải đâm đàng sau, làm cho lão ta tiến không nổi, lùi chẳng xong. Mỗi chiêu kiếm lại tấn công mấy chỗ, lão đỡ chỗ này thì bỏ chỗ kia, thật khó lưỡng toàn. Nếu không phải lão nội công, ngoại công đều đạt cảnh giới đăng phong tạo cực, mắt tinh tay lẹ, cương nhu phối hợp, võ công chỉ cần non kém tí chút, thì đã bị trúng mười mấy kiếm rồi. Kỳ thực Tiểu Long Nữ một mình sử dụng hai môn kiếm pháp, xuất chiêu tuy nhanh, song uy lực không thể bằng khi liên thủ với Dương Quá, chưa nói võ công thực sự không chỉ thua xa Pháp vương mà còn thua cả bọn Tiêu Tương Tử. Có điều là nàng thoạt tiên đã xuất chiêu như chớp giật, ai ai cũng không nhận biết, nên họ bị hốt hoảng ngay từ đầu. Pháp vương từng bị thảm bại bởi "Ngọc nữ tố tâm kiếm pháp", nên vừa thấy nàng sử dụng kiếm pháp đó, đã lo sợ tìm cách thoát thân. Tiểu Long Nữ chiếm thượng phong, quả là khởi đầu thuận lợi.

Đấu đến năm, sáu chục chiêu, Pháp vương đã như kẻ chết đi sống lại, thu kim luân về hộ thân; thêm vài chiêu nữa, lão thu cả ngân luân về, rồi cả năm luân cùng thu về, chỉ thủ không công, hệt như bọn Tiêu Tương Tử ban nãy. Năm chiếc luân kích thước, trọng lượng, màu sắc, hình dạng khác nhau, tạo thành năm đạo quang hoàn, bao quanh thân thể Pháp vương.

Bỗng nghe Tiểu Long Nữ và Pháp vương cùng khẽ quát "Trúng này!" tiếp đến hai tiếng choang choang. Hai người nhảy tới nhảy lui, xuất thủ càng lúc càng nhanh, cao thủ như bọn Tiêu Tương Tử cũng không nhìn rõ hai người biến chiêu thế nào. Pháp vương dường như dùng lực uy mãnh của luân đối công với Tiểu Long Nữ, nàng thì không địch nổi, song lão ta lại bỏ cái sở trường của mình, đi đua sự nhanh nhẹn với nàng, thành thử lão không tránh khỏi bất lợi.

Đột nhiên Ni Ma Tinh cảm thấy mặt hơi rát, tựa hồ bị trúng một loại ám khí nhỏ li ti nào đó. Hắn kinh hãi đưa tay lên sờ má, mặt không sao, nhưng tay có máu dính. Hắn kinh ngạc, lại thấy có giọt máu bắn tới mặt Doãn Khắc Tây, mới biết giữa hai người kịch đấu đã có một người bị thương. Lát sau thì tấm áo trắng của Tiểu Long Nữ cũng lấm tấm các giọt máu tươi trông như những đóa hoa đào vẽ trên lụa trắng. Ni Ma Tinh mừng rỡ reo lên:

– Tiểu yêu nữ bị thương rồi!

Kiếm quang loáng lên hai lần, Pháp vương khẽ rên rỉ, Tiêu Tương Tử lạnh lùng nói:

– Không đâu, là đại hòa thượng bị thương đó!

Ni Ma Tinh nghĩ: "Phải rồi, là Pháp vương bị thương, máu văng sang áo Tiểu Long Nữ, nếu Pháp vương bỏ mạng dưới tay nàng, thì không cách gì chế ngự được nàng nữa", hắn liền gọi:

– Doãn huynh, Tiêu huynh, bọn ta cùng xông vào đi!

Rồi hắn vung thiết xà từ từ tiến đến sau lưng Tiểu Long Nữ. Tiêu Tương Tử và Doãn Khắc Tây cũng thấy không thể tụ thủ bàng quan thêm, bèn từ hai phía tiến vào.

Pháp vương bị trúng ba kiếm, nhưng đều là vết thương nhẹ, đang cơn nguy cấp lại có ba người trợ giúp, thì nhẹ cả người, thấy bọn Tiêu Tương Tử không xuất thủ công kích, mà chỉ dùng binh khí hộ thân, từ ba phía khép dần vào, thì biết rằng một lúc nữa Tiểu Long Nữ sẽ bị hạ sát.

Trước cửa động Ngọc Hư, bên cánh rừng tùng xanh, bốn quái khách võ lâm vây đánh một bạch y thiếu nữ. Đám võ sĩ Mông Cổ và các đạo sĩ phái Toàn Chân kinh hồn khiếp vía, chưa từng thấy một trận ác chiến như thế này!

Bỗng nghe một tiếng rầm kinh thiên động địa, cát bay đá lở, khói bụi bốc lên, mấy chục tảng đá lấp cửa động Ngọc Hư lăn đi, năm vị đạo nhân từ trong động thong thả bước ra, chính là Toàn Chân ngũ tử Khưu Xứ Cơ, Lưu Xứ Huyền..

Bọn Doãn Chí Bình, Lý Chí Thường cả mừng, cùng reo to:

– Sư phụ!

Hoắc Đô và Đạt Nhĩ Ba thì cả kinh, thấy thanh thế phá toang cửa động quả thật kinh hồn. Hai người cầm binh khí lao tới. Toàn Chân ngũ tử cùng dạt sang một phía nhường lối, rồi đột nhiên mười chưởng cùng giơ ra, đặt trên lưng Hoắc Đô và Đạt Nhĩ Ba, đẩy hai gã bắn ra xa hơn một trượng.

Hoắc Đô và Đạt Nhĩ Ba võ công ngang ngửa với Hách Đại Thông, tuy không tinh diệu bằng Khưu Xứ Cơ, Vương Xứ Nhất, song cũng quyết không chỉ vì một chiêu đã bị bắn văng đi như vậy. Nguyên Toàn Chân ngũ tử bế quan tĩnh tu trong động Ngọc Hư, tìm cách chiết giải "Ngọc nữ tâm kinh". Năm người vắt óc suy nghĩ ngày đêm, thấy võ công mà Tiểu Long Nữ và Dương Quá hiển thị mỗi chiêu thức đều là khắc tinh của võ học phái Toàn Chân, muốn thủ thắng về chiêu thuật, thật khó lòng. Sau Khưu Xứ Cơ từ "Thiên Cang Bắc Đẩu trận pháp" ngộ ra một điều, nói:

– Chúng ta biến hóa chiêu thuật thì không kịp, nhưng có thể hợp lực cả năm người, lấy kình lực bù cho sự bất túc của chiêu số.

Thế là năm người suy tính pháp môn hợp lực công địch, mỗi chiêu đánh ra, đều qui tập kình lực của năm người vào một điểm. Họ tự biết trong đám đệ tử đời thứ ba, thứ tư không có lấy một nhân vật nào kiệt xuất vậy thì chỉ còn cách dựa vào số đông, hợp lực mà tự vệ. Sau hơn một tháng, cuối cùng họ sáng tạo ra chiêu "Thất tinh tụ hội". Chiêu này cũng là diễn xuất ra từ "Thiên Cang Bắc Đẩu trận pháp", tuy gọi là "Thất tinh tụ hội", song cũng không nhất định phải do bảy người liên thủ, mà sáu người, năm người, bốn người, ba người cũng có thể hợp lực thi triển.

Khi Kim Luân pháp vương suất lĩnh bọn võ sĩ khuân đá lấp cửa động Ngọc Hư, Toàn Chân ngũ tử đang luyện chiêu "Thất tinh tụ hội" đến thời khắc khẩn yếu, tuyệt nhiên không thể phân tâm; thừa biết có đại địch đến tấn công, cũng không thèm lý tới, đến khi năm người luyện tới ngũ lực qui nhất, hòa quyện thành một, mới phá cửa động mà ra. Chỉ tiếc chiêu này mới luyện được ba, bốn thành hỏa hầu, song Hoắc Đô và Đạt Nhĩ Ba cũng đã không địch nổi, bị Toàn Chân ngũ tử đánh văng đi.

Toàn Chân ngũ tử quay người lại, thấy bọn Pháp vương bốn người đang vây đánh Tiểu Long Nữ, họ nhìn nhau, bất giác cùng tái mặt, nghĩ bụng: "Thôi rồi, không ngờ võ công phái Cổ Mộ tinh diệu nhường ấy, suốt đời cũng không còn hi vọng thắng được". Chiêu thức họ khổ luyện trong động đều xuất phát từ thứ võ công mà Tiểu Long Nữ và Dương Quá hiển thị, đâu ngờ bây giờ họ lại chứng kiến một thứ kiếm pháp thần kỳ, mà họ nhìn còn chưa hiểu, nói gì đến cách hóa giải?

Võ công của bốn đại cao thủ kia đều cao hơn Toàn Chân ngũ tử, Khưu Xứ Cơ nghĩ: "Giả dụ tiên sư còn sống, chắc có thể đánh thắng họ. Chu sư thúc hẳn cũng cao hơn họ một bậc, nhưng nếu cùng lúc bị họ vây công, thì chín phần mười là không địch nổi". Năm lão đạo nhân cúi đầu buồn bã, thầm hổ thẹn rằng đời sau không bằng đời trước, không kế thừa sự nghiệp của tiên sư, đại địch tràn đến, phái Toàn Chân xem ra không còn chỗ đứng chân. Nhìn chiêu chiêu hung hiểm, bước bước nguy cơ, Toàn Chân ngũ tử càng nhìn càng kinh hãi, không kịp hỏi đệ từ nguyên do biến cố.

Lúc này trận đấu giữa Tiểu Long Nữ với bốn người đã biến hóa. Tiểu Long Nữ liên tiếp công kích, bốn người kia chủ yếu chỉ phòng thủ, hầu như không đánh trả, nhưng cứ áp sát vào dần. Tình thế của Tiểu Long Nữ càng lúc càng bất lợi, mấy lần nàng định phá vây tạm lui, nhưng đối phương phòng thủ nghiêm mật dị thường, chiêu nào của nàng cũng bị đánh bật trở lại.

Nàng biết Kim Luân pháp vương chủ trì cuộc vây hãm, không thể dùng lối tung kiếm như ban nãy, huống hồ trong tay nàng cũng chỉ có hai thanh kiếm mà thôi.

Từ lúc nàng đả thương Lộc Thanh Đốc trong đại điện tới lúc này đã đấu gần một canh giờ, cảm thấy sức đuối dần, mà cường địch thì càng lúc càng áp sát. Toàn Chân ngũ tử lại đứng chờ một bên, năm lão đạo nhân này cũng thuộc hàng cao thủ, tứ phía đều là địch, nàng trơ trọi một mình, hôm nay có lẽ sẽ bỏ mạng chốn này.

Bỗng nàng nghĩ thầm: "Mình chết không có gì tiếc, chỉ.. chỉ ước gì trước khi nhắm mắt, được gặp lại Quá nhi? Lúc này chàng ở đâu? Chắc là đang thân thiết với Quách cô nương, không chừng đã thành hôn với nàng ta rồi, chàng đâu còn nhớ đến mình kia chứ? Không, không, Quá nhi không phải kẻ như vậy, chàng dù có thành hôn với Quách cô nương, cũng không khi nào quên mình, ước gì mình được thấy mặt chàng lần cuối.."

Khi nàng rời thành Tương Dương, đã quyết ý vĩnh viễn không gặp lại Dương Quá, nhưng vào lúc sinh tử hệ trọng này, nàng lại chỉ nghĩ đến chàng. Nghĩ đến Dương Quá, phân tâm nhị dụng đột nhiên biến thành một lòng chuyên chú, kiếm chiêu hai tay như nhau, không còn uy lực của "Ngọc nữ tố tâm kiếm pháp" nữa. Pháp vương thấy đấu pháp của nàng biến đổi, ban đầu còn tưởng nàng cố ý giả nhược dụ địch, nhưng sau vài chiêu thấy không phải vậy, lão bèn tiến lên nửa bước, ngân luân hộ thân, tay phải giơ kim luân kích vào thanh kiếm của nàng.

Chỉ nghe keng một tiếng nhẹ, thanh kiếm vuột khỏi tay trái Tiểu Long Nữ bay lên không trung và gãy đôi ở trên cao. Pháp vương vốn chỉ đánh thăm dò, không ngờ thành công ngoài dự liệu, lại vung kim luân đánh tới. Tiểu Long Nữ kinh hãi, vội trấn tĩnh, đâm trả liền ba nhát, nhưng lúc này chỉ còn một thanh kiếm, võ công càng thua xa Pháp vương. Bọn Tiêu Tương Tử ba người thấy lợi thế cùng ùa vào tấn công.

Tiểu Long Nữ cười nhạt, đã không còn thiết gì giao đấu nữa, chợt nhìn thấy bên cạnh cây tùng ngoài xa ba trượng có một bụi hoa hồng, mấy bông hoa đỏ thắm, thì đột nhiên nàng nhớ đến quang cảnh nàng cùng Dương Quá luyện "Ngọc nữ tâm kinh", nàng nghĩ: "Mình đã không được gặp lại Quá nhi, thì trước khi chết một lòng nhớ đến chàng vậy". Thế là nàng thần sắc nhu hòa, nhắm mắt lại mà nhớ.

Bọn Pháp vương vây quanh vốn đã có thể ra đòn đánh chết nàng, tự dưng thấy nàng thần sắc cổ quái, dường như quên cả việc nghênh địch, thì họ kinh ngạc, không biết nàng sắp thi triển tà pháp gì, bốn thứ binh khí sững lại giữa chừng, không đánh tới. Nhưng cũng chỉ là giây lát, thiết xà của Ni Ma Tinh liền đánh tới trước tiên.

Bỗng có tiếng gió lướt bên cạnh, có người đâm kiếm tới Ni Ma Tinh vội thu thiết xà về chống đỡ, chỉ thấy bóng người chao động, là Doãn Chí Bình vọt đến che trước mặt Tiểu Long Nữ, xoay thanh kiếm, chìa cán cho nàng. Tiểu Long Nữ nhìn mà không thấy, nghe cũng không thấy, đã không còn để tâm đến cuộc giao chiến, cảm thấy có cán kiếm đụng vào bàn tay thì nắm lấy mà thôi. Mọi người xung quanh thấy Doãn Chí Bình đột nhiên nhảy vào vòng chiến của năm đại cao thủ, đúng là xông vào tử địa, thì bất giác cùng kêu ồ lên.

Pháp vương biết Doãn Chí Bình, không muốn lấy mạng y, bèn dùng tay trái đẩy vào vai y gạt ra, tay phải lia kim luân vào người Tiểu Long Nữ. Doãn Chí Bình thấy nàng chẳng hiểu sao lại ngưng chiến, nhìn kim luân sắp đánh chết nàng, liền nhảy bổ vào, dùng lưng chắn kim luân, miệng gọi to:

– Long cô nương, hãy cẩn thận!

Kim luân của Pháp vương đánh ra, uy lực khai sơn phá thạch, Doãn Chí Bình chắn sao nổi? Y lập tức ngã sấp xuống phía trước. Tiểu Long Nữ sau khi cầm thanh kiếm y đưa, cứ đứng ngây ngô xuất thần, Doãn Chí Bình ngã chúi về phía trước, đúng vào mũi kiếm, mũi kiếm đâm xuyên qua ngực y. Tiểu Long Nữ lúc này mới chợt tỉnh, biết vừa rồi y cứu mạng nàng, thấy lưng y trúng luân, ngực bị kiếm đâm, toàn là vết thương trí mạng, thì lòng căm hận hóa hết thành niềm thương cảm, nàng dịu dàng nói:

– Sao huynh phải khổ như thế?

Doãn Chí Bình sắp tắt thở, bỗng nghe câu nói "Sao huynh phải khổ như thế?" của nàng, thì sung sướng thều thào:

– Long cô nương, ta.. thật có tội với nàng, tội nặng.. nàng lượng thứ cho ta ư?

Tiểu Long Nữ lại ngây ra, nhớ lại trong Quách phủ ở thành Tương Dương, mình đã nghe cuộc trò chuyện giữa y với Triệu Chí Kính, trong óc chợt nghĩ: "Quá nhi thâm tình với ta như thế, lại từng thề quyết không thay lòng đổi dạ. Nhưng chàng bỗng nhiên đi thành thân với Quách cô nương, bỏ rơi ta không chút thương tiếc, chắc là vì chàng biết ta đã bị ô uế bởi gã đạo sĩ này". Nàng tâm tư đơn thuần, tuy cả tháng đuổi theo hai gã Doãn, Triệu, song chưa từng nghĩ đến việc này, bây giờ đột nhiên nghe Doãn Chí Bình nhắc đến, niềm thương hại y lập tức biến thành nỗi căm hận còn mạnh hơn cả nỗi căm hận vốn có, nàng nghiến răng, tay phải đâm kiếm vào ngực y. Nhưng bình sinh nàng chưa từng giết ai, nên tuy cả giận, mũi kiếm chạm tới ngực y lại không đâm nữa.

Khưu Xứ Cơ đứng ngoài, thấy ái đồ bị chết oan, thì lòng đau như dao cắt, có điều là sự việc diễn ra bất ngờ, không kịp cứu viện. Kiếm thứ nhất của Tiểu Long Nữ còn có thể bảo là tại Kim Luân pháp vương, còn nhát kiếm thứ hai thì rõ là nàng có chủ ý. Khưu Xứ Cơ không biết nguyên do lắt léo bên trong, nửa năm nay vị đạo nhân này ngày đêm phần lớn suy nghĩ cách đối phó với chiêu thuật của Tiểu Long Nữ, một tháng nay thì chỉ nghĩ đến việc đó, không nghĩ chuyện gì khác. Khưu Xứ Cơ coi Tiểu Long Nữ là đại địch của bổn giáo, hoàn toàn không ngờ Doãn Chí Bình lại tự nguyện xả thân cứu nàng ta, giờ thấy nàng ta giơ kiếm đâm y, bèn phẩy năm ngón tay trái tới cổ tay Tiểu Long Nữ, hữu chưởng vỗ thẳng vào mặt nàng. Võ công của Khưu Xứ Cơ đứng đầu Toàn Chân thất tử, trong tình thế khẩn cấp phát chiêu, chưởng lực vô cùng mạnh mẽ.

Tiểu Long Nữ bị búng trúng cổ tay, không nắm chắc được kiếm, để nó tuột rơi. Không đợi nó rơi xuống đất, nàng đã chộp lại, tiện thể đâm luôn tới ngực Khưu Xứ Cơ. Lúc này Doãn Chí Bình kêu to một tiếng, gục xuống, máu từ vết thương tuôn ra xối xả.

Kiếm thứ hai của Tiểu Long Nữ đâm vào bụng dưới của Khưu Xứ Cơ, bây giờ lại là song kiếm hợp bích, uy lực đại tăng. Khưu Xứ Cơ võ công tuy tinh thâm, nhưng sau ba chiêu đã luống cuống chân tay. Vương Xứ Nhất thấy vậy, vội nhảy vào tiếp ứng, thành thử bọn Pháp vương bốn người tách riêng sang một bên.

Bọn Pháp vương thấy Tiểu Long Nữ đấu với Toàn Chân ngũ tử thì lấy làm lạ, nhưng việc này rất có lợi cho họ, nên họ đứng ngoài quan sát đôi bên tàn sát nhau. Họ đưa mắt cho nhau, lùi lại mấy bước, đợi khi Tiểu Long Nữ và Toàn Chân ngũ tử đã phân thắng bại, họ sẽ xuất thủ thu thập tàn cục.

Cao thủ động võ, mỗi chiêu đều hệ trọng đến sinh mạng, không ai dám lơ là chút nào. Toàn Chân ngũ tử tuy chưa hiểu nguyên do cục diện, nhưng đã động thủ, đâu còn thời gian hỏi cho ra lẽ? Toàn Chân ngũ tử tay không đối phó với kiếm chiêu thần diệu vô phương của Tiểu Long Nữ, chẳng có dịp để thi triển chiêu "Thất tinh tụ hội" mà họ tốn cả tháng trời sáng tạo ra. Thoáng chốc Hách Đại Thông và Lưu Xứ Huyền đã bị trúng kiếm, song họ lo cho sự an nguy của sư huynh đệ, chưa chịu lui ra, thì Tôn Bất Nhị bị trúng kiếm vào vai.

Các đệ tử phái Toàn Chân thấy sư phụ nguy ngập, bất giác kêu lên. Lý Chí Thường gọi to:

– Mau đưa binh khí!

Lúc này chưởng phong của Toàn Chân ngũ tử ù ù, chúng đệ tử không thể tới gần, chỉ từ ngoài ném kiếm vào. Tiểu Long Nữ nhanh tay dùng kiếm hất ra, Toàn Chân ngũ tử thủy chung vẫn không nhận được thanh kiếm nào. Bỗng "ối" một tiếng, Vương Xứ Nhất bị trúng một kiếm vào bên mắt trái, kiếm này do Tiểu Long Nữ dùng kiếm tay trái hất ra phía sau, Vương Xứ Nhất không kịp đỡ, thế là bốn người của Toàn Chân ngũ tử đã bị thương, thắng bại đã rõ.

Kim Luân pháp vương cười ha ha, nói:

– Các vị đạo huynh hãy lui ra, con tiểu yêu nữ này để lão nạp xử trí!

Đoạn lão tiến lên hai bước. Bọn Ni Ma Tinh, Tiêu Tương Tử và Doãn Khắc Tây cũng múa binh khí tiến vào hợp kích, thành cục diện chín đại cao thủ vây đánh một mình Tiểu Long Nữ.

Bọn Pháp vương vừa ra tay, Toàn Chân ngũ tử lập tức thoát khỏi mũi kiếm của Tiểu Long Nữ. Năm người cùng thét một tiếng, kề vai bên nhau, hoặc giơ hữu chưởng, hoặc giơ tả chưởng, hợp lực thành một, sử chiêu "Thất tinh tụ hội". Lúc này tuy chỉ là "Ngũ tinh tụ hội" song uy lực rất lợi hại, Tiểu Long Nữ lùi chếch đi, "bùng" một tiếng, cát bụi tung tóe, chiêu này đã làm cho Ni Ma Tinh phải ngã lộn đi một vòng.

Nguyên Ni Ma Tinh cụt hai chân, hạ bàn không vững, không chống đỡ nổi chiêu kia. May mà trong cơn nguy cấp hắn tránh đòn chính diện, tuy ngã lộn vòng, song không bị thương, hắn bật ngay dậy, tức giận quật thiết xà tới đầu Lưu Xứ Huyền. Trước cửa động Ngọc Hư loạn cả lên. Tiểu Long Nữ thấy Ni Ma Tinh động thủ với Toàn Chân ngũ tử, bèn vọt ra khỏi vòng vây. Pháp vương lao tới chặn lại, gọi:

– Ni Ma huynh, đối phó với tiểu yêu nữ cần hơn.

Ni Ma Tinh đã mải đánh, thây kệ tiếng gọi của Pháp vương, tiếp tục giao đấu với Toàn Chân ngũ tử. Tiểu Long Nữ song kiếm đâm gấp Pháp vương mấy nhát, Pháp vương thấy thế kiếm tới quá nhanh, không đỡ nổi, đành lùi vài bước.

Đột nhiên Tiểu Long Nữ kêu to một tiếng, hai má nhợt nhạt, keng keng hai tiếng, song kiếm trong tay nàng cùng rơi xuống đất, nàng ngẩn người nhìn về phía bụi hoa hồng bên cây tùng, gọi:

– Quá nhi, là chàng thật sao?

Vừa lúc ấy, kim luân của Pháp vương đánh tới trước mặt, chiêu "Thất tinh tụ hội" của Toàn Chân ngũ tử thì đánh tới sau lưng. Chiêu này vốn nhắm đánh Ni Ma Tinh, nhưng hắn đã nếm mùi, không dám đỡ, né người tránh sang bên trái, thành thử kình lực của chiêu đó dồn tới sau lưng Tiểu Long Nữ.

Ai ngờ nàng như người bị trúng tà phong, cứ đứng ngây ra không tránh, trước ngực trúng luân, sau lưng trúng chưởng, thân hình mảnh mai của nàng bị hai đòn mạnh giáp kích, mắt nàng trân trân nhìn về phía bụi hoa hồng bên cây tùng, tựa hồ hai đòn kia không thể đả thương nàng không bằng.

Mọi người bị mục quang của nàng cuốn hút, bất giác đều ngoảnh đầu nhìn về phía bụi hoa hồng bên cây tùng xem có gì cổ quái, thì thấy từ đó một bóng người bay ra giữa chỗ Pháp vương và Toàn Chân ngũ tử, dùng tay trái ôm Tiểu Long Nữ, bay vút ra khỏi vòng vây, trở về phía bụi hoa hồng bên cây tùng, ngồi xuống ôm Tiểu Long Nữ vào lòng.

Người ấy chính là Dương Quá.

Tiểu Long Nữ cười sung sướng, ứa nước mắt, nói:

– Quá nhi, là chàng thật ư, không phải thiếp nằm mơ chứ?

Dương Quá cúi đầu, thơm vào má nàng, dịu dàng nói:

– Không phải nằm mơ đâu, Quá nhi đang ôm cô cô đây.

Thấy quần áo nàng lấm tấm vết máu, chàng lo sợ hỏi:

– Cô cô bị thương có nặng lắm không?

Tiểu Long Nữ bị hai đòn trước sau giáp kích, ban đầu nhìn thấy Dương Quá, quên đau, bây giờ mới có cảm giác lục phủ ngũ tạng lộn nhào, nàng ôm cổ Dương Quá, nói:

– Thiếp.. thiếp..

Nàng đau quá không nói được nữa.

Dương Quá hận không thể đau thay cho nàng, nói nhỏ:

– Cô cô, Quá nhi đến chậm một bước mất rồi!

Tiểu Long Nữ nói:

– Không, chàng đến rất đúng lúc! Thiếp cứ tưởng kiếp này không bao giờ còn được gặp chàng nữa.

Đột nhiên nàng lạnh toát cả người, tưởng chừng hồn sắp lìa khỏi xác, hai cánh tay ôm cổ Dương Quá dần dần lỏng ra, nàng nói:

– Quá nhi, hãy ôm chặt thiếp!

Dương Quá tay trái hơi siết lại, bao cảm xúc đan xen nhau, nước mắt ứa ra, rơi xuống má nàng.

Tiểu Long Nữ nói:

– Chàng hãy ôm chặt thiếp bằng.. cả hai tay đi!

Nàng đưa mắt, chợt phát hiện ống tay áo bên phải trống không, thì giật mnh hỏi:

– Tay phải của chàng sao rồi?

Dương Quá cười khổ, nói nhỏ:

– Bây giờ cô cô đừng lo cho Quá nhi, hãy nhắm mắt lại, đừng dùng sức, để Quá nhi vận khí trị thương cho.

Tiểu Long Nữ nói:

– Không, tay phải của chàng sao rồi? Sao lại mất tay? Sao lại mất tay?

Tính mạng nàng đang nguy cấp, nàng chẳng lo cho mình, lại cứ hỏi cho rõ, vì sao chàng mất đi một cánh tay. Chỉ là vì trong lòng nàng, chàng trai này quan trọng hơn nàng hàng trăm ngàn lần.

Từ ngày hai người sống trong tòa cổ mộ, ít lâu sau đã như vậy, có điều là hồi ấy nàng chưa biết đó là vì tình ái, Dương Quá cũng không biết. Hai người chỉ cảm thấy đôi bên quan hoài đến nhau là cái nghĩa phải có giữa sư phụ với đệ tử, trong tòa cổ mộ chỉ có hai người, không quan hoài đến nhau thì quan hoài đến ai? Kỳ thực đôi thiếu niên nam nữ này đã luyến ái nhau từ rất sớm.

Mãi đến hôm nay, hai người mới biết không thể sống thiếu nhau, tính mạng của người kia so với mình còn hệ trọng hơn ngàn vạn lần.

Mỗi đôi thiếu niên nam nữ luyến ái nhau đều nghĩ như thế, song chỉ có người chí tính chí tình thì mới thật sự yêu thương "người ấy" hơn cả bản thân mình.

Đối với Tiểu Long Nữ, một cánh tay của Dương Quá còn hệ trọng hơn cả việc sống chết của nàng, nên nàng phải hỏi cho kỳ được. Nàng giơ tay khẽ nắn ống tay áo của chàng, quả nhiên bên trong không có gì. Đột nhiên nàng không còn cảm thấy sự đau đớn thể xác của mình nữa, bởi lẽ lòng nàng tràn ngập tình ái, nàng nói:

– Quá nhi, chàng mất cánh tay lâu chưa? Bây giờ còn đau hay không?

Dương Quá lắc đầu, nói:

– Hết đau lâu rồi. Chỉ cần Quá nhi gặp lại cô cô, sẽ vĩnh viễn không chia ly nữa. Thiếu một cánh tay cũng chẳng sao, cánh tay trái của Quá nhi vẫn ôm được cô cô đó thôi?

Tiểu Long Nữ mỉm cười, cảm thấy chàng nói rất đúng, nàng tuy chỉ được một cánh tay của chàng ôm lấy, nàng cũng thỏa mãn rồi. Nàng vốn chỉ mong trước khi chết được nhìn mặt chàng, bây giờ như thế này là quá tốt, tốt vô cùng.

Kim Luân pháp vương, Tiêu Tương Tử và Doãn Khắc Tây, Toàn Chân ngũ tử, chúng đệ tử, đám võ sĩ Mông Cổ.. hết thảy đều im lặng, ngẩn ngơ nhìn cặp tình nhân. Lúc này không một ai muốn động thủ với họ, cũng không một ai dám động thủ với họ.

Có câu "như ở chỗ không người", Dương Quá và Tiểu Long Nữ ở trước chín đại cao thủ, vô số võ sĩ Mông Cổ mà coi như không có ai, cứ nhìn nhau đắm đuối. Luyến ái đến cùng cực, mọi thứ vinh hoa phú quí trong thiên hạ đều gác bỏ, thậm chí đại sự sinh tử cũng coi như không. Dương Quá và Tiểu Long Nữ không còn nghĩ đến chuyện sống chết, đừng nói chín đại cao thủ, dù anh hùng khắp thiên hạ dồn về đây cũng thế mà thôi. So với ái tình khắc cốt minh tâm, cái chết phỏng có đáng gì?

Bọn Kim Luân pháp vương dĩ nhiên không sợ hai người, chỉ cảm thấy kinh dị cực độ, thấy Tiểu Long Nữ bị trọng thương, Dương Quá chỉ còn một cánh tay, quyết không thể kháng cự, song hai người triền miên đắm đuối thế kia, hiên ngang như thế, thật không ai dám coi thường.

Cuối cùng Tiểu Long Nữ không nhịn được, lại hỏi:

– Cánh tay của Quá nhi.. cánh tay sao bị mất? Chàng nói mau đi.

Dương Quá cười khổ, nói:

– Cánh tay bị mất, dĩ nhiên là do bị người khác chém lìa.

Tiểu Long Nữ buồn rầu nhìn chàng, không truy vấn ai hạ độc thủ, đã bị họa thì kẻ nào hạ độc thủ chẳng thế, lúc này vết thương ở ngực và sau lưng nàng lại đau nhói lên, nàng tự biết không còn sống được lâu, nói nhỏ:

– Quá nhi, thiếp xin chàng một điều.

Dương Quá nói:

– Cô cô! Chẳng lẽ cô cô quên rồi, ở tòa cổ mộ, Quá nhi đã đáp ứng, cô cô muốn Quá nhi làm bất cứ việc gì, Quá nhi cũng sẽ làm.

Tiểu Long Nữ thở dài, nói:

– Đấy là chuyện lâu lắm ngày trước rồi!

Dương Quá nói:

– Đối với Quá nhi, mãi mãi vẫn vậy.

Tiểu Long Nữ cười buồn, nói nhỏ:

– Thiếp còn sống không lâu nữa, chàng hãy ở bên khi thiếp chết, đừng đến với Quách.. Quách cô nương của chàng nghe.

Dương Quá vừa thương tâm, vừa phẫn hận, nói:

– Cô cô, Quá nhi tất nhiên sẽ ở bên cô cô. Quách cô nương chẳng can hệ gì với Quá nhi đâu, cánh tay của Quá nhi đã bị nàng ta chém lìa đó.

Tiểu Long Nữ kinh ngạc kêu lên:

– Ôi! Là nàng ta ư? Vì sao nàng ta lại tàn ác thế? Chẳng lẽ chỉ vì.. chỉ vì chàng không thích nàng ta?

Dương Quá nói:

– Chúng mình ở bên nhau thế này, cô cô còn ngại gì nữa? Trừ cô cô ra, suốt đời Quá nhi chưa hề tâm ái một cô nương nào khác, cái ả Quách Phù ấy..

Cánh tay của Dương Quá đúng là bị Quách Phù chém đứt.

Hôm ấy ở Quách phủ trong thành Tương Dương, Dương Quá và Quách Phù cãi nhau, dẫn tới động thủ, Quách Phù cả giận, vung kiếm Thục nữ chém xuống đầu chàng. Dương Quá sau khi trúng độc chưa bình phục, tứ chi vô lực, thấy kiếm chém xuống, đành giơ cánh tay phải lên đỡ trước mặt. Quách Phù trong cơn cuồng nộ dùng lực rất mạnh, kiếm Thục nữ lại sắc bén, chém đứt lìa luôn cánh tay của Dương Quá.

Dương Quá cố nhiên kinh hãi và tức giận. Quách Phù cũng sợ đờ người, biết mình vừa gây nên đại họa không thể cứu vãn, nhìn máu chảy ròng ròng từ chỗ đứt lìa cánh tay, nàng cuống lên không biết làm sao, ôm mặt khóc và chạy ra khỏi phòng.

Dương Quá sau khi hoảng hốt, vội trấn tĩnh, dùng tay trái điểm huyệt Kiên Trinh ở vai phải, xé vải chăn băng chỗ cánh tay cầm máu, bôi thuốc lên vết thương, nghĩ: "Chốn này không thể ở thêm, ta phải mau rời thành". Chàng tựa vào tường, đi vài bước, nhưng vì mất nhiều máu, mắt hoa lên, suýt ngất đi.

Lúc ấy bỗng nghe tiếng Quách Tĩnh nói to:

– Mau lên, mau lên, Quá nhi làm sao? Đã cầm máu hay chưa?

Giọng nói đầy vẻ lo lắng, vội vã. Dương Quá chỉ nghĩ: "Ta quyết không gặp Quách bá bá, dù thế nào cũng không gặp nữa". Chàng hít một hơi dài, từ trong phòng lao thẳng ra.

Chàng chạy đến cổng phủ, nhảy lên một con ngựa, phi ra cổng thành. Tướng sĩ giữ cổng đều từng thấy chàng cứu viện Quách Tĩnh trên bờ thành, hết sức kính phục chàng, thấy chàng phi ngựa tới, lập tức mở cổng thành.

Hiện tại quân Mông Cổ đã rút đi cách thành hơn trăm dặm. Dương Quá không đi đường lớn, mà phi ngựa vào chốn hẻo lánh hoang dã. Chàng nghĩ: "Thân ta trúng độc hoa Tình, nhưng đã quá thời hạn mà không chết, có lẽ đúng như vị thần tăng Thiên Trúc nói, sau khi ta hút chất độc của" Băng phách ngân châm "vào người, hai chất độc trị nhau, nhờ vậy sống thêm được ít ngày. Nhưng chất độc vẫn còn, sớm muộn cũng phát tác. Bây giờ ta bị trọng thương, nếu đến núi Chung Nam tìm cô cô, e không đủ sức, chẳng lẽ số mệnh bắt ta phải chết giữa đường?" Nghĩ một đời cô khổ, ngoài thời gian chung sống với Tiểu Long Nữ trong tòa cổ mộ, ít có ngày nào vui, nay người thân duy nhất trên đời đã bỏ chàng mà đi, chàng còn bị kẻ khác chém mất một cánh tay, tính mạng chưa biết thế nào, nghĩ đến đây, bất giác nước mắt ứa ra.

Chàng nằm phục xuống lưng ngựa, nửa tỉnh nửa mê, chỉ mong không bị Quách Tĩnh tìm thấy mình, không gặp đại quân Mông Cổ, còn thì muốn đến đâu cũng được, tình cờ thế nào dần dần lại đến hoang cốc mà đêm nọ chàng đã giao đấu với huynh đệ họ Võ.

Lúc ấy hoàng hôn, nhìn bốn phía cỏ mọc dày, không gian tĩnh mịch, biết không có người, chàng bèn xuống ngựa, nằm trên một đám cỏ mà ngủ. Hiện tại chàng không còn quan tâm đến chuyện sinh tử, nên không cần đề phòng độc trùng mãnh thú gì hết. Cả đêm vết thương nhức nhối, giấc ngủ cứ chập chờn.

Sáng hôm sau mở mắt ngồi dậy, Dương Quá bỗng thấy cách mình không đầy một thước có hai con rết lớn sọc xanh sọc đỏ trông rất đáng sợ đã nằm chết cứng bên vũng máu đen, miệng rết đầy vết máu. Chàng giật mình, nghĩ một chút thì hiểu ra, nguyên máu chảy ra nhiều từ vết thương của chàng, mà trong máu có chất cực độc, hai con rết kia vì hút thứ máu đó mà chết tươi.

Dương Quá cười khổ, lẩm bẩm: "Không ngờ trong máu Dương Quá ta có nhiều chất độc đến nỗi giết chết cả rắn rết". Rồi ngán ngẩm không chịu nổi, chàng ngửa mặt lên trời mà cười một tràng.

Bỗng trên đỉnh núi vọng xuống ba tiếng "oắc, oắc". Dương Quá ngẩng lên thấy thần điêu đậu trên đó hiên ngang một mình, hình dạng xấu xí, nhưng đầy uy phong. Dương Quá cả mừng, như gặp lại cố nhân, bèn gọi:

– Điêu huynh, chúng ta lại gặp nhau rồi!

Thần điêu kêu một tiếng dài, từ trên đỉnh núi chạy xuống. Nó thân hình nặng nề, cánh ngắn không bay được, nhưng chạy thì nhanh hơn tuấn mã, thoáng chốc đã tới bên cạnh Dương Quá. Thấy chàng thiếu một cánh tay, thần điêu cứ nhìn chàng chằm chằm.

Dương Quá cười khổ, nói:

– Điêu huynh, tiểu đệ bị đại nạn, nay đến với điêu huynh đây.

Cũng không biết thần điêu có hiểu tiếng người hay không, nó quay mình bước đi. Dương Quá dắt ngựa theo sau.

Đi vài bước, thần điêu quay đầu lại, đột nhiên nó dùng cánh bên trái vỗ vào bụng ngựa một cái. Con ngựa hí lên đau đớn, nhảy lùi mấy bước. Dương Quá gật đầu, nói:

– Phải đấy, tiểu đệ đã vào hoang cốc của điêu huynh, chắc chẳng đi ra ngoài nữa, còn dắt ngựa theo làm gì?

Chàng nghĩ con chim điêu này như có linh tính chẳng khác gì người, thế là chàng buông dây cương, sải bước theo sau thần điêu. Sau khi bị trọng thương, thể lực suy nhược, chàng đi một quãng lại phải ngồi nghỉ, thần điêu lúc ấy dừng chân đợi chàng.

Vừa đi vừa nghỉ như thế hơn một canh giờ, lại đến cái hang đá có mộ phần của Kiếm Ma Độc Cô Cầu Bại. Nhìn thạch phần, Dương Quá bất giác cảm khái, nghĩ vị kỳ nhân tiền bối này đương thời tung hoành vô địch trong thiên hạ, tự thị võ công thần diệu khôn lường, khinh thế ngạo vật, khó hợp với thường nhân, cuối cùng lại đến chân hoang cốc heo hút này mà từ trần, trong võ lâm đã không lưu truyền thanh danh sự tích, cũng không để lại quyền kinh kiếm phổ, môn hạ đệ tử nào cả, thân thế của vị tiền bối ấy kể cũng đáng kính phục và đầy bi thương. Chỉ tiếc thần điêu tuy khôn, nhưng không thể nói tiếng người, để kể cho chàng nghe đôi điều.

Trong lúc Dương Quá ngơ ngẩn xuất thần trong hang, thì thần điêu đã mang vào hai con thỏ rừng. Dương Quá nướng một con, ăn một bữa no nê. Cứ thế qua nhiều ngày, vết thương lành dần, sức khỏe phục hồi, mỗi lần chàng nhớ đến Tiểu Long Nữ, ngực tuy còn đau, nhưng không khó chịu ghê gớm như hồi trước. Chàng bản tính hiếu động, trong hoang cốc chỉ có thần điêu làm bạn, lâu ngày không khỏi cảm thấy buồn tẻ.

Một hôm thấy phía sau hang đá cỏ cây tươi tốt, không khí trong lành, chàng bèn thả bộ dạo chơi ngắm cảnh, đi hơn một dặm, thì gặp một vách núi dựng đứng, như một tấm bình phong khổng lồ vươn lên trời. Trên vách núi, cách mặt đất hơn hai chục trượng, có một phiến đá vuông rộng ba, bốn trượng chìa ra như một cái sân, trên đó hình như có khắc chữ. Chàng căng mắt nhìn, đọc được hai chữ "Kiếm mộ" rất lớn, thì lấy làm lạ: "Kiếm mà cũng có mộ chôn ư? Chẳng lẽ Độc Cô lão tiền bối bẻ gãy ái kiếm, rồi đem chôn trên đó?" Chàng lại gần vách núi, thấy vách núi bằng phẳng, không có cỏ cây, không một chỗ đặt chân, không biết người ta làm cách nào leo lên trên kia.

Chàng nhìn thật kỹ, nghĩ bụng người ta cũng là người như mình, leo lên được trên kia hẳn phải có diệu pháp, nếu chỉ dựa vào võ công thì thật khó mà tưởng tượng. Nhìn kỹ một hồi, thấy trên vách núi cứ cách vài thước lại có một đám rêu xanh, mấy chục đám rêu thẳng hàng từ dưới lên trên. Chàng tung mình nhảy lên, túm thử đám rêu xanh thấp nhất, lôi ra một vốc bùn đen, quả nhiên đó là một cái lỗ nho nhỏ, chắc là năm xưa Độc Cô Cầu Bại dùng vật sắc nhọn khoét vào vách núi, lâu ngày lỗ khoét tích bùn, mọc lên đám rêu xanh.

Chàng nghĩ đang nhàn rỗi, thử lên "Kiếm mộ" xem thế nào, leo vách núi không được thì tụt xuống, nơi đây có ai nhìn thấy đâu mà ngại, thế là chàng siết chặt dây lưng, hít một hơi dài, vọt lên cao vài thước, chân trái đạp vào lỗ thấp nhất, chân phải nhắm đám rêu xanh thứ hai mà đạp vào, quả nhiên chỗ ấy cũng là một cái lỗ vừa để đặt chân.

Lần thứ nhất chàng leo lên hơn mười trượng thì đã mệt, bèn từ từ trở xuống, nghĩ: "Đã có hơn hai mươi chỗ đặt chân, lần thứ hai leo lên sẽ dễ hơn". Chàng ngồi dưới đất vận công điều tức, thế là leo một mạch lên đến cái sân nọ. Chàng thấy tuy chỉ còn một tay, nhưng khinh công không hề suy giảm, cũng tự an ủi. Chàng thấy trên phiến đá lớn, bên cạnh hai chữ "Kiếm mộ", còn có hai hàng chữ khắc vào đá:

Kiếm Ma Độc Cô Cầu Bại vô địch thiên hạ, chôn kiếm chốn này.

Ô hô! Quần hùng thúc thủ, trường kiếm dẫu sắc, còn có ích chi!

Dương Quá kinh ngạc và nể phục, cảm thấy vị tiền bối ấy tính nết có nhiều điểm giống mình, ngạo đời khinh vật, một mình lang bạt giang hồ, nhưng nói về tài năng vô địch trong thiên hạ, thì chàng chẳng thể sánh. Hiện thời lại chỉ còn một cánh tay, dẫu nhất thời chưa chết, cũng không còn hi vọng gì nữa. Chàng nhìn hai hàng chữ khắc một hồi, rồi thấy có nhiều hòn đá chất đống như một nấm mộ, lưng tựa vào sơn cốc, mặt hướng ra không gian rộng lớn, chưa nói bản thân Kiếm Ma Độc Cô Cầu Bại anh hùng thế nào, chỉ riêng chỗ chôn kiếm cũng đã có hình thế hùng vĩ thiết tưởng người ấy văn võ toàn tài, hoài bão phi thường, tiếc rằng mình sinh ra quá muộn, không có duyên kiến diện vị anh hùng tiền bối.

Dương Quá đứng bên mộ kiếm, ngửa mặt hú một tiếng dài, trong giây lát tứ phía hồi âm bất tuyệt, nghĩ đến tiếng nhạc trầm hùng mà Hoàng Dược Sư từng nói, chàng cảm thấy âm thanh nơi đây còn mang hào khí hơn nhiều. Chàng rất muốn biết ngôi mộ chôn những thứ binh khí sắc bén như thế nào, nhưng không dám mạo phạm tiền bối, bèn ngồi bó gối, ngẩng mặt đón gió, cảm thấy lồng ngực tràn ngập không khí trong lành, lâng lâng như muốn bay lên theo gió.

Bỗng nghe vách núi có tiếng chim điêu gọi "oắc oắc", chàng cúi xuống, thấy thần điêu đang thoăn thoắt leo vách núi giống như chàng. Thân hình nó tuy nặng, nhưng bộ vuốt của nó quả nhiên vô cùng lợi hại, chẳng mấy chốc thần điêu đã leo đến chỗ chàng.

Thần điêu nhìn Dương Quá gật gật đầu, kêu vài tiếng rất lạ. Dương Quá cười, nói:

– Điêu huynh, chỉ tiếc tiểu đệ không nghe hiểu tiếng chim, nếu không đã được nghe điêu huynh kể cho nghe chuyện bình sinh của vị Độc Cô tiền bối.

Thần điêu lại kêu khẽ vài tiếng, dùng hai chân bới các tảng đá trên mộ kiếm sang một bên. Dương Quá chợt nghĩ: "Kiếm Ma Độc Cô Cầu Bại võ công tuyệt thế, không chừng lưu lại kiếm kinh kiếm phổ gì chăng?". Chỉ thấy thần điêu hai chân chuyển đá không ngừng, để lộ ra một dãy ba thanh kiếm, giữa thanh kiếm thứ nhất và thanh kiếm thứ hai có một phiến đá dài. Ba thanh kiếm và phiến đá được đặt trên một tảng đá lớn màu xanh.

Dương Quá nhấc thanh kiếm thứ nhất lên, thấy dưới bề mặt tảng đá có khắc hai hàng chữ nhỏ:

Cương mãnh lợi hại, cứng mấy cũng xuyên,

Thời trẻ dùng để tranh đấu với quần hùng.

Nhìn lại thanh kiếm, thấy dài chừng bốn thước, thanh quang lấp loáng, đích thị là kiếm sắc. Chàng đặt thanh kiếm ấy xuống chỗ cũ, cầm phiến đá lên, thấy dưới bề mặt tảng đá xanh cũng có khắc hai hàng chừ nhỏ:

Tử Vi nhuyễn kiếm, dùng trước ba mươi tuổi,

Lỡ tay đả thương nghĩa sĩ, bèn vứt xuống vực sâu.

Dương Quá nghĩ: "Chỗ này thiếu một thanh kiếm, thì ra đã bị lão tiền bối ném xuống vực, không hiểu đã lỡ tay đả thương nghĩa sĩ như thế nào, chuyện đó chắc là vĩnh viễn không ai biết được". Chàng xuất thần một hồi, nhấc thanh kiếm thứ hai lên, được vài thước thì "keng" một tiếng, thanh kiếm tuột tay rơi xuống đá, lửa bắn tung toé, bất giác chàng giật mình.

Nguyên thanh kiếm đen trũi này trông không có gì lạ, song cực nặng, đốc kiếm dài hơn ba thước, nặng không dưới bảy, tám chục cân, gấp vài lần thứ binh khí nặng nhất trong chiến trận. Dương Quá lúc cầm lên không ngờ nó nặng đến thế, nên đánh rơi nó xuống.

Chàng cúi nhấc nó lên, lần này có phòng bị, dĩ nhiên cũng nhấc được, không mấy khó khăn. Chàng thấy kiếm không có lưỡi sắc, mũi kiếm thì tròn như hình bán cầu, nghĩ bụng: "Thanh kiếm đã nặng, sử dụng bất tiện, lại không có lưỡi sắc và mũi nhọn, kỳ lạ thật!" Nhìn dưới bề mặt tảng đá, thấy có khắc hai hàng chữ nhỏ:

Trọng kiếm thô sơ, không hề gia công.

Trước bốn mươi tuổi, tung hoành thiên hạ.

Dương Quá lẩm bẩm tám chữ "Trọng kiếm thô sơ, không hề gia công", tựa hồ đã hiểu ra, nhưng nghĩ kiếm thuật trên thế gian, bất kể các môn phái biến hóa như thế nào, trước hết cũng phải coi trọng việc sử dụng linh hoạt thuận tiện, còn thanh kiếm này quá nặng, không biết sử dụng ra sao, chàng cứ ngẩn người suy nghĩ.

Một hồi sau, chàng mới đặt thanh kiếm nặng đó xuống, nhấc thanh kiếm thứ ba lên, lần này chàng lại bị lầm. Chàng cứ tưởng thanh kiếm này phải nặng hơn thanh kiếm vừa rồi, nên vận lực ra cánh tay. Nào ngờ nó nhẹ tênh như không, chàng ngưng thần xem kỹ, hóa ra đó là một thanh kiếm gỗ, chôn dưới đá lâu năm, thân và cán kiếm đều đã bị mục, đọc dưới mặt đá có khắc dòng chữ:

Sau bốn mươi tuổi, không mang binh khí,

Thảo mộc trúc thạch đều có thể dùng làm kiếm.

Cứ thế tinh tu, đạt tới cảnh giới vô kiếm thắng hữu kiếm.

Chàng cung kính đặt thanh kiếm gỗ xuống chỗ cũ, thở dài, nói:

– Thần kỹ của tiền bối, khiến người ta khó bề tưởng tượng.

Chàng nghĩ không biết bên dưới tảng đá xanh có bản kiếm phổ hay chăng, bèn lật tảng đá lên, nhưng bên dưới là nền đá cứng, không có vật gì khác, thì không khỏi thất vọng.

Con thần điêu kêu "oắc" một tiếng, cúi đầu, dùng mỏ quặp thanh kiếm nặng, đặt vào tay Dương Quá, lại kêu "oắc" một tiếng, đột nhiên dùng cánh chim bên trái vỗ kình phong xuống đầu chàng. Dương Quá lập tức cảm thấy khó thở, cánh chim tới cách đỉnh đầu chàng chừng một thước thì dừng lại bất động, thần điêu lại kêu "oắc oắc" hai tiếng.

Dương Quá cười, nói:

– Điêu huynh muốn thử võ công của tiểu đệ phải không? Không có việc gì, tiểu đệ chơi đùa với điêu huynh một lát vậy.

Nhưng thanh kiếm nặng bảy, tám chục cân làm sao tiện sử dụng, chàng bèn đặt nó xuống, nhấc thanh kiếm thứ nhất lên. Thần điêu bỗng cụp cánh lại, ngoảnh đi không thèm nhìn chàng, rõ ràng tỏ vẻ khó chịu.

Dương Quá liền hiểu ý, cười, nói:

– Điêu huynh muốn tiểu đệ sử dụng thanh kiếm nặng chứ gì? Nhưng tiểu đệ võ công tầm thường, đấu với điêu huynh chốn này quyết không phải là đối thủ, mong điêu huynh lưu tình cho đôi chút.

Đoạn chàng cầm thanh kiếm nặng lên, vận khí đan điền, dồn lực ra cánh tay, thong thả đâm ra một nhát. Thần điêu không ngoảnh đầu, cánh bên trái quạt ra phía sau, đập vào thanh kiếm. Dương Quá chỉ cảm thấy một luồng đại lực truyền qua thanh kiếm, đè chàng không thở nổi, vội vận khí kháng cự, "bụp" một tiếng, thân kiếm chao đảo, Dương Quá thấy trước mắt tối sầm, lập tức ngất đi.

Cũng không biết bao lâu sau chàng mới tỉnh lại, chỉ cảm thấy miệng đắng ngắt, đồng thời có thứ nước đắng gì đó đang chảy xuống cổ họng. Chàng mở mắt nhìn, thấy thần điêu ngậm một cái bọng tròn màu tím sẫm mà dốc ngược vào miệng chàng. Dương Quá ngửi thấy mùi tanh lợm giọng, song nghĩ thần điêu thông linh, thứ nước nó cho chàng uống hẳn là rất có ích, bèn há miệng nuốt xuống. Cái bọc kia liền vỡ ra, nước đắng ngập miệng.

Thứ nước ấy vừa đắng vừa tanh kinh khủng. Dương Quá chỉ muốn nhổ ra, nhưng không nỡ làm trái mỹ ý của thần điêu, nên cố nuốt xuống bụng. Lát sau chàng hơi vận khí, thấy hít thở nhẹ nhõm, đứng dậy giơ tay đá chân không thấy mỏi mệt, tinh thần thì phấn chấn, hơn hẳn lúc bình thường. Chàng thầm lấy làm lạ, theo lý mà nói, sau khi bị đánh mạnh, tức thở ngất đi, dù không bị trọng thương, cũng ê ẩm toàn thân, không lẽ cái bọc màu tím kia lại đựng linh dược trị thương hay sao?

Chàng cúi xuống nhấc thanh kiếm nặng lên, hình như nó nhẹ đi vài phần. Lúc ấy thần điêu lại kêu một tiếng, vỗ cánh đánh tới. Dương Quá không dám tiếp đòn, nghiêng mình tránh né. Thần điêu sấn tới một bước, hai cánh cùng vỗ, uy thế cực mạnh. Dương Quá biết thần điêu hoàn toàn không có ác ý đối với chàng, nhưng dù nó thông linh đến mấy, cũng vẫn là súc sinh, nó có thần lực, khi vỗ cánh làm sao nó có thể điều khiển kình lực nặng nhẹ? Nếu để cánh chim từ trên cao vỗ xuống, còn gì mạng sống? Thấy hai cánh chim ập tới, chàng vội lùi hai bước, chân trái đã đạp tới mép tảng đá chìa ra.

Thần điêu hóa ra không một chút dung tình, cái đầu trụi lông thò ra thụt vào nhanh như chớp, cái mỏ khoằm và nhọn mổ thẳng tới ngực chàng. Dương Quá muốn lùi chẳng còn chỗ, đành giơ kiếm chống đỡ, thần điêu mổ luôn một cái trúng thanh kiếm. Dương Quá cảm thấy cánh tay chấn động mạnh, thanh kiếm nặng muốn văng khỏi tay, thần điêu lại xòe cánh bên phải quạt ngang tới đùi chàng. Chàng vội tung mình nhảy qua đầu thần điêu, vào giữa sân, sợ thần điêu thuận thế công kích, chàng chém một kiếm về phía sau, bộp một tiếng, thần điêu lại mổ một cái trúng thanh kiếm. Dương Quá sợ toát mồ hôi lạnh, nói:

– Điêu huynh, huynh chớ coi tiểu đệ như Độc Cô đại hiệp!

Hai chân bủn rủn, chàng ngã phệt xuống đá. Thần điêu kêu "oắc oắc" hai tiếng, không tấn công nữa.

Dương Quá vô tình thốt ra câu "huynh chớ coi tiểu đệ như Độc Cô đại hiệp!" Chàng nghĩ: "Thần điêu kết bạn lâu năm với Độc Cô tiền bối, nhìn cung cách tấn công của nó, lờ mờ ẩn hiện gia số võ học, chắc là Độc Cô tiền bối ẩn cư chốn hoang cốc, lúc nhàn rỗi đã cùng thần điêu giao đấu cho vui. Độc Cô tiền bối giờ chỉ còn là nắm xương tàn, võ công tuyệt thế mất đi theo, nhưng qua thần điêu, vẫn có thể nhận biết đôi điều về phong cách của bậc đại sư tiền bối". Nghĩ thế, chàng trở nên vui mừng, đứng dậy, nói:

– Điêu huynh, tiếp chiêu này!

Thanh kiếm nặng đâm nhanh tới ức thần điêu. Con chim xòe cánh trái chặn lại, cánh bên phải thì đánh tới.

Thần điêu sức lực quá mạnh, khi nó xòe cánh, kình lực tưởng như mấy vị cao thủ nhất tề tung chưởng, thanh kiếm trong tay Dương Quá lại quá nặng, các môn kiếm pháp sở học bình sinh như Toàn Chân kiếm pháp, Ngọc nữ kiếm pháp, đều không thi triển ra được, khi thủ chỉ có khôn khéo né tránh, lúc công thì đâm đâm chém chém cứng đơ.

Đấu một hồi, Dương Quá thấm mệt, liền ngồi phệt để nghỉ. Hễ thấy chàng ngồi phệt xuống, thần điêu lại lùi xa hai bước. Đấu chơi như thế hơn một canh giờ, một người một chim rời mảnh sân này, trở lại hang đá.

Sáng hôm sau tỉnh dậy, thần điêu đã mang đến đặt bên chàng ba cái bọc tròn tròn màu tím sẫm tanh hôi. Dương Quá ngắm kỹ, thì ra đó là túi mật của cầm thú.

Nhớ lúc chàng gặp thần điêu lần đầu, thấy thần điêu đánh nhau với rắn độc và mãng xà, ăn thịt rắn độc, chàng đoán đây là mật rắn. Lại nghĩ không biết mật rắn có độc hay không, mà hôm qua nuốt xong, chàng thấy tinh thần sảng khoái, sức lực đại tăng. Chàng cũng chẳng nghĩ rằng trong người mình có chất độc của hoa Tình và của Băng phách ngân châm, chàng nuốt luôn ba cái túi mật rắn kia, tĩnh tọa điều tức. Đột nhiên chàng cảm thấy khí huyết lưu thông dễ chịu hơn hẳn mọi khi, thì cả mừng, reo to:

– Hay lắm!

Khi tĩnh tọa tu luyện nội công, tối kỵ nghĩ ngợi chuyện khác, quá vui quá buồn lại càng nguy hiểm. Vậy mà lúc này chàng reo lên mừng rỡ lại chẳng sao cả.

Dương Quá bật dậy, cầm thanh kiếm nặng, ra bên ngoài hang, lại luyện kiếm với thần điêu. Bây giờ chàng đã bớt sợ vài phần, tuy vẫn tránh nhiều, đỡ ít, song cũng đôi khi có thể đánh trả thần điêu.

Cứ thế luyện kiếm mấy ngày, Dương Quá cầm thanh kiếm đã thấy bớt nặng, đâm chém đỡ gạt dần dần đắc tâm ứng thủ. Đồng thời càng lúc càng cảm thấy kiếm thuật sở học biến hóa quá rắc rối, quá nhiều hoa mỹ, nghĩ đến câu "Trọng kiếm để thô, không lưỡi không mũi nhọn" mà Độc Cô Cầu Bại khắc trên đá xem ra còn hơn các thứ kiếm chiêu xảo diệu nhất trong thiên hạ. Chàng vừa đấu với thần điêu, vừa suy nghĩ đến khứ thế hồi lộ của kiếm chiêu, có cảm giác rằng kiếm chiêu càng đơn giản vô kỳ, thì đối phương càng khó chống đỡ. Tỷ như khi đâm kiếm thẳng, chỉ cần kình lực cương mãnh, uy lực sẽ hơn hẳn kiếm chiêu biến ảo kỳ diệu của Ngọc nữ kiếm pháp. Hiện thời chàng chỉ có một cánh tay trái, nhưng mỗi ngày được uống thứ mật rắn (không biết thần điêu lấy từ đâu về), lực cánh tay cứ mạnh dần lúc nào không hay.

Một lần ra ngoài tản bộ, chàng thấy có ba con độc xà to nằm chết dưới đất, bụng bị phanh ra, chân rắn có nhiều vết cào máu me, chàng biết thứ chàng uống đúng là mật rắn. Mấy con rắn kia xác có ánh kim lóng lánh, chàng chưa từng gặp, không biết là loài rắn gì, nghĩ: "Thần điêu có sức mạnh như thế, chắc là nhờ nó nuốt nhiều túi mật của lũ quái xà".

Hơn một tháng sau, Dương Quá hầu như đã có sức ngang ngửa với thần điêu, cầm thanh kiếm nặng múa tít, bất giác cũng như được an ủi lớn. Võ công tới bước này, giống như lên đỉnh Thái Sơn thấy thiên hạ nhỏ bé, nghĩ đến sở học trước đây, thật không có gì đáng nói. Nhưng lại nghĩ, nếu không có căn cơ trước đây, hôm nay dẫu có kỳ ngộ, cũng chẳng thể nào đạt tới cảnh giới này. Thần điêu dẫu gì cũng là con vật không biết nói, không biết chỉ giáo, huống hồ nó cũng không có môn võ công gì cả, chẳng qua trời phú cho nó thần lực kinh nhân, lại được sống nhiều năm bên Độc Cô Cầu Bại, thường ngày giao đấu, nên nhớ được một số cách tiến thoái mà thôi.

Sáng nay vừa ngủ dậy, trời đầy mây đen, rồi mưa như trút. Dương Quá nhìn thần điêu, nói:

– Điêu huynh, mưa lớn thế này, chúng ta có luyện võ hay không?

Thần điêu ngậm vạt áo chàng đi mấy bước về phía đông bắc, sau đó nó nhả ra, phóng đi như bay. Dương Quá nghĩ: "Không lẽ phía đó có vật gì lạ lắm sao?" Chàng vác kiếm, gội mưa chạy theo sau.

Đi mấy dặm, càng lúc càng nghe tiếng sầm sầm, rõ ràng là tiếng nước đổ. Dương Quá nghĩ: "Mưa lớn thế này, nước lũ dâng nhanh, phải cẩn thận mới được!" Vòng qua một hẻm núi, tiếng nước vang rát cả tai, thấy có một thác nước từ trên cao đổ xuống, trông như một con đại bạch long, chảy theo một dòng suối, chảy xiết dị thường, sôi lên sùng sục, cuốn theo cành cây tảng đá mà tuôn đi ào ào.

Mưa lớn, quần áo ướt sũng, Dương Quá nhìn quanh, thấy nước lũ trong núi quá mạnh, hơi có ý sợ.

Thần điêu dùng mỏ kéo vạt áo chàng tới mép suối tựa hồ bảo chàng nhảy xuống suối. Dương Quá lấy làm lạ, nói:

– Điêu huynh, xuống suối làm gì? Nước chảy xiết thế kia, e đứng không vững đâu.

Thần điêu nhả vạt áo ra, nhảy xuống, đứng trên một tảng đá lớn giữa suối, giơ cánh bên trái hất một tảng đá đang trôi xuôi bắn ngược lên. Tảng đá mấy lần trôi xuống, lại bị cánh chim điêu hất ngược lên, không thể trôi qua chỗ thần điêu. Đến lần thứ bảy, thần điêu dùng cánh hất mạnh hòn đá lên bờ, rồi nó cũng bay lên đậu bên cạnh Dương Quá.

Dương Quá hiểu ý, biết năm xưa mỗi khi trời mưa lớn, Độc Cô Cầu Bại lại ra dòng lũ luyện kiếm, chàng nghĩ mình không đủ công lực, không dám làm như vậy, còn đang lưỡng lự, thì thần điêu giơ cánh đẩy vào mông chàng một cái. Dương Quá bị bất ngờ, bay luôn xuống suối, chàng vội thi triển thủ pháp "Thiên cân trụy", đáp xuống tảng đá lớn giữa suối mà thần điêu đã đứng ban nãy. Hai chân chàng ngập trong nước, dòng nước lũ chảy xiết đẩy mạnh, khiến chàng khó đứng vững. Dương Quá nghĩ: "Độc Cô là người, mình cũng là người, Độc Cô tiền bối đã đứng vững, tại sao mình không thể?" Bèn vận sức chống lại dòng chảy. Chàng định dùng kiếm gạt ngược một hòn đá đang trôi xuống, nhưng không đủ sức.

Chừng tàn một nén nhang thì chàng đã hết sức, bèn đẩy kiếm vào tảng đá mà nhảy lên bờ. Mới nghỉ được một lát, thần điêu đã giơ cánh hất, lần này chàng có phòng bị, nên chủ động tự nhảy xuống giữa suối nghĩ: "Vị điêu huynh này đúng là một ông thầy nghiêm khắc, bắt buộc mình luyện công, không cho lơ là chút nào. Điêu huynh đã có mỹ ý như thế, chẳng lẽ mình không có chí tiến thủ?" Thế là chàng vận khí xuống hạ bàn, đứng vững hồi lâu, hiểu dần ra cách ngưng khí vận lực. Dòng nước lũ tuy lớn dần, đã ngập tới ngang thắt lưng, song chàng có thể đứng vững hơn cả lúc trước. Khi nước ngập đến ngực, đến cằm, Dương Quá nghĩ: "Mình có thể đứng vững, nhưng không thể để nước dìm chết!" Bèn nhảy lên bờ.

Ai ngờ thần điêu đứng sẵn trên bờ, thấy chàng nhảy lên, chân chưa chạm đất, nó đã dùng cánh hất chàng xuống suối. Dương Quá vung kiếm chống đỡ cũng không được, ùm một tiếng, lại rơi tõm xuống nước.

Khi hai chân chàng đặt trên tảng đá, thì nước đã dâng ngập đầu, một ngụm nước xộc vào miệng. Nếu vận khí phun nước ra, thì nội tức thăng lên, hai chân sẽ hẫng, chàng bèn ngưng khí thủ trung, hai chân trụ vững, nín thở, một lát sau nhún hai chân vọt người lên không trung, phun nước trong miệng ra, lại đáp xuống suối, để cho dòng nước ào ào tràn qua trên đầu, thân hình đứng thẳng như cây cột giữa dòng. Dương Quá nghĩ bụng: "Điêu huynh bảo ta đứng dưới dòng lũ, nếu ta không sử kiếm hất đá, chẳng hóa thần điêu sẽ chê cười ta hay sao?" Tính chàng vốn hiếu thắng, dù là trước mặt con vật, chàng cũng không muốn mất thể diện, thế là thấy cành cây hay hòn đá nào trôi xuôi, chàng lại dùng kiếm hất ngược lên. Đá trong nước đã nhẹ đi nhiều, thanh kiếm nặng tuy bị nước đẩy, cũng không nặng như ở trên bờ, chàng sử dụng khá tiện lợi. Chàng cứ thế luyện kiếm dưới nước, đến khi mỏi mệt mới nhảy lên bờ.

Chàng sợ thần điêu lại buộc chàng nhảy xuống dòng lũ, lúc này đã kiệt sức, nếu không nghỉ một lát sẽ không có sức trụ vững; quả nhiên thần điêu không cho chàng nghỉ, vừa thấy chàng nhảy lên, lại xòe cánh hất xuống.

Dương Quá kêu to:

– Điêu huynh, huynh không định lấy mạng tiểu đệ đấy chứ?

Chàng đứng dưới suối một lát, thực không thể chịu thêm, cuối cùng vọt lên bờ, thấy thần điêu vỗ cánh, song chàng không muốn nhận thua, bèn vung kiếm đâm thẳng, sau vài chiêu, thần điêu bị chàng buộc phải lùi một bước. Dương Quá nói:

– Đắc tội này!

Chàng lại đâm mạnh một kiếm, thần điêu không dám đỡ, phải nhảy tránh.

Dương Quá biết nửa ngày luyện kiếm trong dòng nước lũ, kình lực đã tiến xa, vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, tự nhủ kình lực tăng tiến hẳn không phải là nhờ tu luyện mươi bữa nửa tháng, hoặc luyện tập nửa ngày dưới nước, mà hẳn là nhờ công hiệu kỳ diệu cường gân hoạt cốt của mật rắn. Nội lực đại tăng lúc nào không biết, đến khi nguy cấp mới bộc lộ ra.

Chàng ngồi tĩnh tọa một lát trên bờ suối, khí lực phục hồi, không cần thần điêu bức bách, tự nhảy xuống dòng lũ mà luyện kiếm. Lần sau nhảy lên bờ, chàng thấy thần điêu không biết đã đi đâu rồi, nhìn mưa sắp tạnh, nghĩ bụng nước lũ đang mạnh, ngày mai sẽ hết lũ, nên thừa dịp này mà luyện tập, thế là chàng lại nhảy xuống suối.

Lần sau nhảy trở lên, chàng thấy trên bờ đặt sẵn hai cái mật rắn, thầm cảm kích ơn đức của thần điêu, liền nuốt mật, rồi lại nhảy xuống suối luyện tập. Luyện tập đến đêm khuya, dòng nước lũ chảy yếu dần.

Đêm ấy cuối cùng Dương Quá không ngủ, trong dòng nước lũ ngộ ra rất nhiều kiếm lý, như đâm thuận, thúc ngược, phạt ngang, chém chéo, bây giờ mới đại ngộ, chẳng trách sử kiếm hà tất phải dùng kiếm có lưỡi, có mũi nhọn? Một thanh kiếm sắc thông thường, chàng chỉ cần cầm trong tay rung nhẹ, kình lực chưa phát, chắc kiếm đã gãy luôn. Lúc này mưa tạnh, trời trong, trăng sáng, ngân quang chiếu xuống mặt suối giữa rừng. Dương Quá nhìn dòng chảy, tâm thông kiếm lý, tay thạo kiếm thuật, biết kiếm pháp sử dụng thanh kiếm nặng là như thế, không cần luyện thêm, thì Kiếm Ma có phục sinh, truyền thụ kiếm thuật cho chàng cũng chỉ vậy thôi. Tương lai nội lực tăng dần, sử kiếm sẽ ngày càng nhẹ, cuối cùng sử kiếm gỗ cũng sẽ không khác gì sử thanh kiếm nặng này, tất cả là do công lực từ nông đến sâu, chứ về kiếm thuật, thì đây đã là cảnh giới tối cao.

Chàng đi đi lại lại trên bờ suối, ngẩng nhìn trăng sáng, nghĩ thầm, nếu Độc Cô không lưu lại thanh kiếm nặng này, thần điêu không chỉ dẫn, cho chàng uống mật rắn giúp nội lực tăng tiến, thì pho kiếm thuật này chẳng thể tái hiện trên thế gian. Lại nghĩ Độc Cô Cầu Bại không dựa vào ai, tự thực hành mà ngộ ra được kiếm lý thần diệu, quả thật thông minh hơn chàng gấp trăm lần.

Đứng bên dòng suối tưởng tượng phong liệt của tiên hiền, chàng vừa thán phục vừa cảm kích, nghĩ: "Cô cô biết được võ công của mình lúc này, không biết sẽ vui mừng đến mức nào. Ôi, không rõ hiện giờ cô cô ở đâu? Nàng có ngắm trăng, nhớ đến mình hay chăng?" Vừa nhớ đến Tiểu Long Nữ, trong ngực lại đau nhói.

Chàng lại nghĩ: "Mình tuy ngộ ra cái lý của kiếm thuật, nhưng ẩn cư mãi trong hoang sơn thì có ích gì? Nếu chất độc hoa Tình ngày mai phát tác, mình chết đi, kiếm thuật tinh diệu cũng mai một hay sao?" Nghĩ vậy hùng tâm liền trôi dậy, chàng nghĩ: "Mình cũng phải làm như Độc Cô tiền bối, dùng kiếm thuật này đánh cho quần hùng thiên hạ thúc thủ, mới cam lòng chết đi".

Nhìn cánh tay phải bị cụt, nhớ đến nỗi hận Quách Phù chém chàng, bất giác máu nóng dâng lên, chàng nghĩ: "Con a đầu ấy cậy cha ả là đại hiệp đương thời, mẹ ả là bang chủ Cái Bang, không coi ta ra gì, từ nhỏ ta sống nhờ ở nhà ả, đã chịu bao nhiêu lần nhục nhã. Ta nói dối đánh lừa huynh đệ họ Võ, chẳng qua cũng chỉ muốn tốt cho ả, nếu để một trong hai huynh đệ họ Võ chết vì ả, chẳng phải ả có tội hay sao? Hừ, ả thừa lúc ta bệnh nặng, chém mất cánh tay ta, thù này không báo, không còn là trượng phu".

Dương Quá vốn coi trọng ân oán, không dễ bỏ qua mọi chuyện, hồi mới mất cánh tay, chàng phải lánh vào hoang cốc trị thương, vì không còn cách nào khác, hiện tại đã khỏi, võ công lại đại tiến, ý định báo thù rửa hận càng khó kiềm chế.

Tâm ý đã quyết, đang đêm chàng trở về hang, nói với thần điêu:

– Điêu huynh, đại ân đại đức của điêu huynh, cuối cùng khó lòng báo đáp. Chốn giang hồ tiểu đệ còn mấy vụ ân oán, nay tạm từ biệt điêu huynh, sau này sẽ trở lại làm bạn. Thanh kiếm nặng này của Độc Cô tiền bối, tiểu đệ xin mượn một thời gian.

Chàng vái thần điêu một cái thật dài, lại hướng về thạch phần Độc Cô Cầu Bại vái mấy cái, rồi đi ra khỏi hoang cốc. Thần điêu tiễn chàng ra tận cốc khẩu, người và chim ôm nhau vỗ về thân thiết một hồi, rồi mới chia ly.

Thanh kiếm nặng nếu giắt bên hông, sẽ làm đứt dây lưng. Dương Quá bèn lấy ba sợi dây mây song già tết lại, buộc thanh kiếm, đeo sau lưng, rồi thi triển khinh công chạy thẳng tới thành Tương Dương.

Đến bên thành thì trời ngả chiều, nghĩ ban ngày hành sự bất tiện, huống hồ cả đêm qua không ngủ, tinh lực không đủ, Quách bá bá và Quách bá mẫu đều là cao thủ võ học, hiện tại chắc đã khỏe lại, chạm trán với họ ắt xảy ra ác đấu, chàng bèn tìm một chỗ cỏ dày, nằm ngủ mấy canh giờ, rồi điều tức vận công, lại tìm ăn mấy thứ quả dại, đợi đến canh một, mới đi đến chân thành.

Tường thành Tương Dương cao sừng sững, hơn một tháng trước, khi Lý Mạc Sầu và Kim Luân pháp vương từ trên bờ thành nhảy xuống, họ phải dùng thân người khác làm bàn đạp để khỏi bị thương, bây giờ từ dưới chân tường thành muốn leo lên mặt thành, quả không dễ gì. Dương Quá lúc nằm ngủ trên cỏ, đã nghĩ cách leo lên tường thành, nghĩ mình có thể không biết công phu "Thượng thiên thê" của Quách bá bá, song mình có thể bắt chước cách leo vách núi dựng đứng của Độc Cô tiền bối. Bèn tìm một chỗ vắng vẻ gần cửa Đông, thấy lính canh đã đi xa trên mặt thành, chàng nhảy lên, dùng thanh kiếm nặng chọc mạnh một cái vào tường thành, thanh kiếm tuy không nhọn, tường thành xây bằng đá hoa cương dày, nhưng thế kiếm đâm mạnh, tường thành bị vỡ một lỗ to bằng miệng bát. Dương Quá không ngờ nhát kiếm lại có uy lực đến thế, vừa kinh ngạc vừa vui mừng, lần thứ hai nhảy lên, chân trái đạp vào cái lỗ vừa phá, tay lại đâm một nhát kiếm vào tường thành, lần này đâm nhẹ hơn, để khỏi kinh động lính canh.

Cứ thế lên dần từng bước, cách bờ tường thành vài trượng thì chàng thi triển "Bích hổ du tường công" mà leo lên mặt thành, nấp vào một chỗ tối. Phía trong tường thành có bậc đá đi xuống, Dương Quá chờ lính canh đi xa, chàng vút đi như một làn khói, thẳng tới Quách phủ.

Nhờ uống mật rắn, nội lực của Dương Quá đại tăng, đồng thời thân hình linh hoạt, khinh công cũng cao hơn hẳn ngày trước. Nhưng võ công của Quách Tĩnh thật không phải bình thường, chỉ riêng chưởng lực của "Hàng long thập bát chường" cũng e rằng khắp thiên hạ không ai địch nổi, lại thêm Đả cẩu bổng pháp biến hóa kỳ ảo của Hoàng Dung, những gì chàng biết chẳng qua được sáu, bảy phần, nên chàng không dám khinh suất, đến Quách phủ, chàng lặng lẽ, nhẹ nhàng vượt tường mà vào.

Qua hoa viên, nhìn căn phòng trước mình đã ở, chàng tới bên song ngó vào, không thấy ai, chàng khẽ đẩy cửa bước vào bên trong.

Trong bóng tối, chàng thấy chiếc bàn nhỏ, chiếc ghế tựa vẫn ở nguyên chỗ cũ, nhưng chăn gối thì không còn. Chàng ngồi ghé xuống mép giường, nghĩ mình đã mất đi một cánh tay ở đây, không khỏi vừa thương cảm vừa phẫn nộ.

Dương Quá tướng mạo tuấn tú, tính cách phong lưu vui vẻ, tuy đối với Tiểu Long Nữ một mực thâm tình, không tơ tưởng ai khác, nhưng nhiều thiếu nữ gặp chàng đều không khỏi si tình. Trình Anh, Lục Vô Song, Công Tôn Lục Ngạc.. hoặc thầm yêu trộm nhớ, hoặc biểu lộ ngay với chàng. Lúc này chàng ngồi ở mép giường, nghĩ mình đã thành kẻ tàn phế, nếu gặp lại mấy thiếu nữ đa tình kia, chắc họ sẽ nhìn chàng như một gã đáng thương, võ công tuy cao, cũng chỉ là một quái vật kinh thế hãi tục mà thôi. Ý nghĩ dồn dập, nhớ lại bao nhiêu chuyện trong đời, bất giác chàng thốt lên:

– Chỉ có cô cô, chỉ có một mình cô cô, đừng nói ta mất một cánh tay, dẫu ta cụt cả tứ chi, tâm ý của nàng đối với ta cũng không hề thay đổi.

Đúng lúc ấy, bỗng nghe từ phía đông vọng tới tiếng hai người tranh cãi nhau, chính là Quách Tĩnh và Hoàng Dung. Dương Quá nổi tính hiếu kỳ, muốn biết hai người tranh cãi chuyện gì, bèn rón rén đi tới bên song cửa phòng ở của vợ chồng Quách Tĩnh.

Chỉ nghe Hoàng Dung nói to:

– Hai kẻ đó rõ ràng đã mang Tương nhi đi Tuyệt Tình cốc, đổi lấy thuốc giải độc, Tĩnh ca ca còn cứ luôn miệng bảo Dương Quá là người tử tế! Tương nhi ra đời chưa đầy một giờ, đã rơi vào tay bọn chúng, còn sống làm sao nổi kia chứ?

Nói đến đây, giọng nghẹn ngào, rồi có tiếng nấc lên.

Quách Tĩnh nói:

– Quá nhi nhất định không phải hạng người như thế. Hơn nữa, nó đã mấy phen cứu mạng ta và nàng, chúng ta dù phải đem Tương nhi đi đổi mạng cho nó, thì cũng cam tâm tình nguyện.

Hoàng Dung vừa khóc vừa nói:

– Tĩnh ca ca tình nguyện, chứ thiếp thì không đâu..

Lúc ấy đột nhiên trong phòng có tiếng khóc của trẻ sơ sinh, nghe rất vang. Dương Quá lấy làm lạ: "Không lẽ đã đoạt lại được tiểu nữ hài từ tay Lý Mạc Sầu? Nếu thế, sao Hoàng Dung còn bảo nó sống làm sao nổi?" Chàng nín thở, căng mắt nhìn qua khe cửa, thấy quả nhiên Hoàng Dung đang ẵm một đứa trẻ sơ sinh. Đứa bé ấy hướng mặt ra phía cửa sổ, Dương Quá thấy nó mặt vuông tai to, nước da ngăm ngăm, mặt đầy lông tơ. Nữ hài Quách Tương nọ chàng từng ẵm khá lâu, còn nhớ nó mi thanh mục tú, da trắng hồng, trông khác hẳn đứa trẻ sơ sinh mập mạp này. Hoàng Dung đứng quay lưng ra cửa sổ, khẽ rung rung con, nói:

– Tướng công hãy mau đi mang tỷ tỷ của bé về đây với bé nào!

Dương Quá chợt hiểu, thì ra Hoàng Dung đã sinh đôi, nữ hài Quách Tương chào đời trước, rồi đến nam hài. Khi nam hài này ra đời, tỷ tỷ của nó đã được Tiểu Long Nữ ẵm đi.

Quách Tĩnh đi đi lại lại trong phòng, nói:

– Dung nhi, nàng vốn thông suốt đại thể, sao chuyện con cái lại nhìn không ra? Hiện tại quân vụ khẩn cấp, ta làm sao có thể vì một nữ hài mà rời bỏ thành Tương Dương kia chứ?

Hoàng Dung nói:

– Thiếp bảo để thiếp đi tìm, tướng công không cho đi. Chẳng lẽ bỏ mặc hài nhi của chúng ta mất mạng hay sao?

Quách Tĩnh nói:

– Nàng chưa khỏe hẳn, đi làm sao nổi?

Hoàng Dung giận dỗi:

– Người cha chẳng cần đứa con gái, người mẹ khổ biết chừng nào.

Dương Quá đã ở đảo Đào Hoa với họ mấy năm, thấy vợ chồng họ tương kính tương ái, chưa cãi nhau bao giờ, lần này cả hai mặt đỏ tía tai, không nhường lời nhau, rõ ràng đã cãi nhau nhiều lần về chuyện này. Hoàng Dung vừa khóc vừa nói, Quách Tĩnh thì cau có đi đi lại lại.

Lát sau Quách Tĩnh nói:

– Tương nhi dù có tìm mang về, nàng lại nuông chiều như đối với Phù nhi, trở nên hư hỏng, thì thà không có một nữ nhi như thế còn hơn.

Hoàng Dung cao giọng nói:

– Phù nhi có gì là sai trái? Nó tâm ái muội tử, xuất thủ nặng tay một chút, cũng là chuyện thường tình. Nếu là thiếp, Dương Quá mà không đem trả nữ nhi cho thiếp, thì luôn cả tay trái của hắn, thiếp cũng chặt nốt.

Quách Tĩnh quát to:

– Nàng bảo sao?

Quách Tĩnh đập mạnh tay xuống bàn, rầm một tiếng, cái bàn bằng gỗ hồng chắc chắn lập tức bị vỡ một nửa. Đứa bé sơ sinh đang khóc u ơ, đột nhiên sợ quá nín luôn.

Lúc ấy Dương Quá thấy ở cửa sổ phía tây có một bóng người rón rén thoái lui. Chàng nghĩ: "Thì ra ngoài mình, còn có kẻ khác nghe trộm, là ai vậy?" Chàng bèn bám theo sau người ấy, nhận ra chính là Quách Phù, thì nổi giận: "Hay lắm! Ta chính đang muốn tìm nàng đây!" Bỗng phía sau, đèn trong phòng tắt phụt, nghe tiếng Hoàng Dung nói:

– Tướng công đi ra đi, làm đứa bé sợ chết khiếp rồi!

Dương Quá biết Quách Tĩnh sắp đi ra, dễ chạm trán với mình, chàng vội luồn ra sau hòn non bộ, vọt tới bên ngoài phòng của Quách Phù, nhảy lên nấp giữa tán lá một cây viết.

Không lâu, chàng thấy Quách Phù đi vào phòng, một giọng thiếu nữ vang lên:

– Đã quá canh hai, mời cô nương đi nghỉ!

Quách Phù nói:

– Hừ, lúc nào buồn ngủ thì ta ngủ. Ngươi ra đi!

Giọng người kia đáp "Vâng" rồi bước ra, đó là một a hoàn.

Lát sau, nghe có tiếng thở dài não nuột của Quách Phù. Dương Quá nghĩ: "Ngươi buồn nỗi gì? Ngươi đã chém đứt cánh tay của ta, ta cũng phải chém một cánh tay của ngươi, có điều trang nam nhi không đánh nữ nhân. Lúc này ta vào đả thương ngươi dễ như trở bàn tay, nhưng như thế không phải là phong cách đại trượng phu". Nghĩ một chút, đã có cách: "Được, mình sẽ gọi Quách bá bá đến, mình đánh bại Quách bá bá trước, rồi sẽ xử trí Quách Phù. Đấng nam nhi quang minh lỗi lạc, như thế sẽ không ai chê cười mình được!" Nhưng lại nghĩ: "Quách bá bá võ công trác tuyệt, liệu mình có thắng nổi hay không? E rằng khó lòng! Thế thì thù này không báo được ư?" Nghĩ đến cánh tay bị mất, máu nóng lại trào lên, chàng định từ trên cây viết nhảy xuống, bỗng nghe có tiếng chân người bước qua.

Chỉ thấy người kia cước bộ trầm ngưng, thân hình bình ổn, chính là Quách Tĩnh. Quách Tĩnh đến cửa, giơ tay gõ nhẹ, gọi:

– Phù nhi, ngươi đã ngủ chưa?

Quách Phù nói, giọng run run:

– Cha đấy ư?

Dương Quá lấy làm lạ: "Không lẽ Quách bá bá biết mình tới đây, nên vội đến bảo hộ nữ nhi? Được! Mình sẽ động thủ với Quách bá bá trước, đánh không lại, chết dưới tay Quách bá bá là cùng chứ gì!"

Quách Tĩnh ừm một tiếng. Quách Phù mở cửa, nhìn phụ thân một cái, rồi cúi mặt xuống.

Comments

0 comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 27: Đấu Trí Đấu Lực

Quách Tĩnh bước vào phòng, ngồi xuống chiếc ghế tựa trước giường, im lặng hồi lâu. Quách Phù cũng im lặng. Rồi Quách Tĩnh hỏi:

– Thời gian vừa qua ngươi ở đâu?

Quách Phù nói:

– Sau khi hài nhi.. đả thương Dương đại ca, sợ cha trách phạt, cho nên.. cho nên..

Quách Tĩnh nói:

– Cho nên trốn đi chứ gì?

Quách Phù cắn môi, gật đầu. Quách Tĩnh nói:

– Ngươi chờ ta nguôi giận mới về phải không?

Quách Phù lại gật đầu, đột nhiên gục đến vào ngực cha, nói:

– Cha, cha còn giận con hay sao?

Quách Tĩnh xoa đầu con, nói nhỏ:

– Ta không giận. Ta không hề giận, chỉ đau lòng cho ngươi thôi.

Quách Phù thốt lên một tiếng "Cha!" rồi khóc nức nở.

Quách Tĩnh nhìn lên trần nhà, chờ Quách Phù bớt khóc, nói:

– Tổ phụ của Dương Quá là Thiết Tâm công, với tổ phụ Khiếu Thiên công của ngươi là cốt nhục khác họ. Phụ thân của Dương Quá và ta cũng là huynh đệ kết nghĩa, việc đó ngươi biết rồi.

Quách Phù vâng dạ. Quách Tĩnh nói tiếp:

– Dương Quá tuy hành sự tùy hứng, hơi cẩu thả, nhưng có lòng hiệp nghĩa, mấy lần cứu sống cha mẹ ngươi, có lần cứu sống cả ngươi nữa. Nó còn ít tuổi, nhưng một lòng vì nước vì dân, đã lập chiến công không nhỏ, điều đó ngươi cũng biết rồi.

Quách Phù nghe giọng của cha nghiêm nghị dần, càng không dám lên tiếng.

Quách Tĩnh đứng dậy, nói:

– Còn có một việc, ngươi hoàn toàn chưa biết, hôm nay ta sẽ cho ngươi biết. Phụ thân của Quá nhi là Dương Khang, năm xưa hành xử bất cẩn, ta là nghĩa huynh của y, không thể khuyên y sửa lỗi qui thiện, cuối cùng y bị chết thảm tại miếu Thiết Thương phủ Gia Hưng, tuy không phải do mẹ ngươi hạ thủ, nhưng cũng là do mẹ ngươi mà y chết, Quách gia ta có nợ với Dương gia..

Dương Quá nghe câu "bị chết thảm tại miếu Thiết Thương phủ Gia Hưng", lần đầu tiên biết nơi chết của phụ thân, thì nỗi thù hận dưới đáy lòng bỗng trào lên, chỉ nghe Quách Tĩnh nói tiếp:

– Ta vốn định gả ngươi cho Quá nhi, để bù cho nỗi ân hận cả đời ta, ai ngờ.. ai ngờ.. ôi!

Quách Phù ngẩng đầu, nói:

– Cha, hắn cướp muội tử của con, lại nói bao lời hồ ngôn loạn ngữ phỉ báng con. Cha, Dương gia hắn và Quách gia chúng ta tuy có dây mơ rễ má, nhưng không lẽ vì thế hắn cứ khi vũ mà con không được phản kháng hay sao?

Quách Tĩnh gằn giọng:

– Rõ ràng ngươi chém lìa cánh tay của nó, lại bảo nó khi vũ ngươi! Nếu nó khi vũ ngươi thật sự, thì ngươi có mười cánh tay cũng bị nó chém hết rồi. Thanh kiếm nào thế kia?

Quách Phù không dám nói, lấy thanh Thục nữ kiếm dưới gối lên. Quách Tĩnh cầm kiếm, rung rung nhẹ, lưỡi kiếm phát ra tiếng "oăng oăng". Quách Tĩnh thản nhiên nói:

– Phù nhi, người ta sống giữa trời đất, hành sự phải sao cho không hổ thẹn với lương tâm. Thường ngày ta tuy nghiêm khắc với ngươi, nhưng lòng yêu thương của ta dành cho ngươi không khác gì mẹ ngươi.

Câu sau cùng, giọng nói của Quách Tĩnh nghe rất dịu dàng. Quách Phù nói nhỏ:

– Hài nhi biết ạ!

Quách Tĩnh nói:

– Tốt, ngươi hãy giơ cánh tay phải ra. Ngươi đã chém đứt cánh tay của người ta, ta cũng sẽ chém đứt cánh tay của ngươi. Cha ngươi một đời chính trực, quyết không dám thiên vị, bênh vực đứa con sai trái.

Quách Phù biết lần này phụ thân tất trừng phạt nặng, nhưng không ngờ người cha lại định chém đứt cánh tay của nàng, thì tái mặt, gọi to:

– Cha ơi!

Quách Tĩnh nghiêm mặt, nhìn con chằm chằm. Dương Quá không ngờ Quách Tĩnh lại trọng nghĩa đến như vậy, chàng thấy trống ngực đập loạn lên, nghĩ: "Mình có nên nhảy vào can ngăn? Bảo Quách bá bá tha cho Quách cô nương hay chăng?" Đang do dự, thì Quách Tĩnh giơ kiếm chém xuống.

Đột nhiên vù một cái, có người từ ngoài song nhảy vào thân pháp cực kỳ mau lẹ, người chưa tới, cây bổng đã tới trước, chặn đứng thanh kiếm của Quách Tĩnh lại, người ấy chính là Hoàng Dung.

Hoàng Dung không nói một lời, cây bổng đâm liền ba cái, đều là tuyệt chiêu trong Đả cẩu bổng pháp. Một là bổng pháp của Hoàng Dung tinh diệu, hai là Quách Tĩnh bị bất ngờ, thành thử phải lùi hai bước. Hoàng Dung nói:

– Phù nhi, còn không chạy mau đi!

Quách Phù tâm tư không linh mẫn như mẹ, gặp đại sự cứ đứng ngây ra bất động. Hoàng Dung tay trái ẵm đứa bé sơ sinh, tay phải đưa cây bổng về ngoắc vào ngang lưng Quách Phù, hất ra qua cửa sổ, nói:

– Phù nhi, mau trở về đảo Đào Hoa, mời Kha công công đến cầu tình với cha ngươi!

Đoạn dùng cây bổng thi triển tự quyết chữ "Triền" và chữ "Phong" trong Đả cẩu bổng pháp để chặn lối Quách Tĩnh, nói tiếp:

– Phù nhi, chạy mau đi, con tiểu hồng mã ở ngoài cổng phủ ấy!

Nguyên Hoàng Dung biết chồng là người chính trực, có phần cổ hủ, lại rất trọng nghĩa khí, vừa rồi Quách Phù gây ra đại họa, phải trốn đi nhiều ngày mới dám trở về, Quách Tĩnh chưa nguôi giận, nhất định sẽ trừng phạt nặng, bèn dặn người dắt con tiểu hồng mã chờ sẵn ở ngoài cổng phủ, yên cương hành lý có sẵn, thêm vài lạng bạc. Nếu khuyên giải được, Quách Tĩnh chỉ đánh con một trận thì thôi, bằng không thì Quách Phù phải cao chạy xa bay một thời gian dài, mới có thể đoàn tụ.

Hai vợ chồng tranh cãi hồi lâu trong phòng, thấy chồng sắc mặt hầm hầm đi về phía phòng nữ nhi, biết là lành ít dữ nhiều, Hoàng Dung liền bám theo, đã kịp cứu con khỏi bị mất một cánh tay. Võ công của Hoàng Dung không đủ để ngăn chặn Quách Tĩnh, nhưng Quách Tĩnh lâu nay luôn kính nể vợ ba phần, lại thấy vợ đang ẵm đứa con sơ sinh, nên không tiện xuất thủ đoạt lộ, vì thế Quách Phù chạy thoát khỏi hoa viên mà ra cổng phủ.

Dương Quá ngồi trên cây, nhìn rõ tất cả, lúc Quách Phù được Hoàng Dung hất ra ngoài cửa sổ, nếu chàng xuất thủ, thì nàng ta chạy đâu cho thoát? Nhưng nghĩ cả gia đình nàng ta cãi nhau nặng nề đều là vì chàng, lúc này thừa lúc họ nguy cấp mà ra tay thì không đành lòng.

Chỉ thấy Hoàng Dung tấn công liền mấy chiêu, buộc Quách Tĩnh lùi hai bước, đến sát mép giường, không còn chỗ lùi, Hoàng Dung đột nhiên nói:

– Bế nó này!

Đoạn tung đứa bé về phía chồng. Quách Tĩnh sững người, vội đưa tay trái đón con. Hoàng Dung bước tới trước mặt Quách Tĩnh, dịu giọng hỏi:

– Tĩnh ca ca, có chịu tha tội cho Phù nhi hay không?

Quách Tĩnh nói:

– Dung nhi, đâu phải ta không thâm ái Phù nhi? Nhưng nó đã làm một việc như thế, nếu không phạt nặng, làm sao an tâm được? Chúng ta biết nói thế nào với Quá nhi? Ôi, Dương Quá bị mất cánh tay, chẳng có ai chiếu liệu, không biết bây giờ nó sống chết ra sao? Ta.. ta thật ân hận không thể chặt đứt cánh tay của chính mình..

Dương Quá nghe lời nói chân tình của Quách Tĩnh, thì bất giác bồi hồi, nước mắt rưng rưng.

Hoàng Dung nói:

– Đã tìm nhiều ngày tứ phía, đều không thấy tung tích nó đâu, nếu có gì bất trắc, tất đã phát hiện được rồi. Quá nhi võ công chẳng thua gì hai ta, tuy bị trọng thương, cũng không sao đâu.

Quách Tĩnh nói:

– Những mong như thế. Ta phải đi bảo Phù nhi trở lại, việc này chưa thể xong được.

Hoàng Dung cười, nói:

– Phù nhi đã cưỡi con tiểu hồng mã ra khỏi thành, ca ca đuổi theo sao kịp?

Quách Tĩnh nói:

– Bây giờ chưa đến canh ba, không có lệnh bài của ta và Lã đại nhân, đang đêm ai dám mở cổng thành?

Hoàng Dung thở dài, nói:

– Thôi thì tùy ý ca ca!

Rồi chìa tay bế Quách Phá Lỗ. Quách Tĩnh trao con cho vợ, vẻ mặt ái ngại, nói:

– Dung nhi, là ta không phải với nàng. Nhưng Phù nhi sau khi bị phạt, tuy mất một cánh tay, nếu nó biết hối cải, thì cũng chưa phải là dở đâu..

Hoàng Dung gật đầu:

– Ca ca nói chí phải!

Tay vừa chạm đến cái bọc, đột nhiên sử tuyệt kỹ gia truyền "Lan hoa phất huyệt thủ", điểm liền các huyệt "Uyên Dịch", "Kinh Môn" ở hai cánh tay Quách Tĩnh. Võ công như Quách Tĩnh, nếu Hoàng Dung không giả trá, làm sao điểm huyệt được? Khi trao đứa bé cho chồng, Hoàng Dung đã tính trước chiêu này. Quách Tĩnh lập tức tê dại toàn thân, ngã nằm xuống giường, không cựa quậy được.

Hoàng Dung ẵm con, cởi hài và áo ngoài cho chồng, đặt nằm ngay ngắn trên giường, kê gối sau gáy tử tế, lấy từ thắt lưng chồng ra chiếc lệnh bài. Quách Tĩnh cứ giương mắt mà nhìn, không chống cự được.

Hoàng Dung lại đặt con nằm cạnh chồng, đắp chăn cho hai cha con, nói:

– Tĩnh ca ca, hôm nay thiếp đành đắc tội, đợi thiếp tiễn Phù nhi ra khỏi thành, sẽ trở về nấu vài món ăn, mời ca ca uống ba chén rượu, chịu tội với ca ca.

Đoạn cúi xuống thơm vào má chồng một cái.

Quách Tĩnh nghe vợ nói, thấy Hoàng Dung đã là mẹ của ba đứa con, vẫn cứ tinh quái như xưa, đành giương mắt nhìn vợ cười cười bước ra cửa, nghĩ hai huyệt bị điểm, nếu tự mình dùng nội lực xung huyệt, cũng phải nửa canh giờ mới giải khai, Quách Phù đằng nào cũng chạy thoát, thật là tình cảnh dở khóc dở cười.

Hoàng Dung thương con, nghĩ nó một mình trở về đảo Đào Hoa, một thiếu nữ xinh xắn như nó dọc đường rất dễ gặp hung hiểm, thế là trở về phòng mình, lấy vật chí bảo của đảo Đào Hoa là tấm da nhím dùng làm áo bọc thân, kẹp vào nách, ra khỏi phủ, thi triển khinh công, thoáng chốc đã tới cổng thành phía nam.

Quách Phù cưỡi con tiểu hồng mã, lúc này đang lớn tiếng tranh cãi với viên tướng canh cổng. Viên tướng lời lẽ rất khiêm kính, một điều Quách cô nương, hai điều Quách cô nương, song trước sau một mực, nếu không có lệnh bài, đang đêm mở cổng thành là phạm tội chém đầu.

Hoàng Dung nghĩ đứa con gái vô dụng của mình suốt đời được cha mẹ che chở, chưa hề trải qua gian nan nguy hiểm, gặp tình huống khó khăn không biết xuất kỳ chế thắng, chỉ tức giận quát tháo, phỏng có tác dụng gì? Bèn cầm chiếc lệnh bài bước tới, nói:

– Đây là lệnh bài của Lã đại nhân, tướng quân kiểm tra đi.

Bấy giờ chủ trì thành Tương Dương là An phủ sứ Lã Văn Đức. Tuy mọi việc đều dựa vào sự chỉ dẫn của Quách Tĩnh, song Quách Tĩnh là khách khanh áo vải, nên mọi hiệu lệnh đều phải ban bố dưới danh nghĩa Lã Văn Đức. Viên tướng thấy đích thân Quách phu nhân tới, lại xem đúng là lệnh bài, thì tươi cười mở cổng thành, dắt con ngựa của mình lại, nói:

– Quách phu nhân xin cứ cưỡi tạm con ngựa này của tiểu tướng.

Hoàng Dung nói:

– Tốt quá! Cho ta mượn tạm vậy.

Quách Phù thấy mẹ đến, vui mừng vô hạn, hai mẹ con sánh vai nhau phi ngựa ra khỏi thành.

Hoàng Dung không nỡ chia tay ngay với con, cứ tiễn thêm càng lúc càng xa. Từ thành Tương Dương lên phía bắc mấy chục dặm không một bóng người, từ thành Tương Dương về phía nam thì các trọng trấn chưa bị quân Mông Cổ tràn qua, tuy động loạn bất an, nhưng dân chúng vẫn ở nguyên như cũ. Hai mẹ con đi hơn hai chục dặm, trời đã sáng rõ, đến một tiểu thị trấn, thấy nhiều cửa hiệu đã mở cửa bán hàng. Hoàng Dung nói:

– Phù nhi, chúng ta vào ăn một chút điểm tâm, rồi mẹ sẽ về thành.

Quách Phù nuốt lệ đáp ứng, trong lòng hối hận, quả thật không nên tức giận nhất thời mà chém đứt cánh tay Dương Quá, đến nỗi hôm nay cốt nhục phân ly, phải một mình thui thủi trở về đảo Đào Hoa, nơi chỉ có Kha công công mù lòa, chỉ nghĩ thôi đã thấy khó chịu đựng. Nhưng nhớ lại thần sắc vung kiếm của phụ thân tối qua, nàng không thể nào trở lại thành Tương Dương được.

Hai người vào một phạn điếm, gọi vài món ăn. Mẹ con chia tay bây giờ, chẳng ai muốn ăn cả. Hoàng Dung đưa tấm da nhím cho con, dặn mỗi buổi tối lưu tại khách điếm, thì mặc vào người, lại dặn đi dặn lại phải cẩn thận ở dọc đường, đề phòng cái này cái nọ, nhưng nhất thời dặn sao cho hết? Nhìn con miệng vâng dạ, mắt đỏ hoe, trông thật đáng thương, mất hết vẻ hoạt bát đáng yêu thường ngày, Hoàng Dung càng không nỡ, liếc thấy ở phía tây thị trấn có một lương thực điếm bày bán những trái táo vừa to vừa hồng tươi, nghĩ bụng: "Mua vài cân cho Phù nhi mang theo dọc đường, rồi chia tay thôi". Bèn nói:

– Phù nhi, con cố ăn cho, không muốn ăn cũng cố mà ăn. Thời buổi loạn lạc này, dọc đường không biết lúc nào mới lại có phạn điếm. Mẹ tới đằng kia mua cái này.

Đoạn đứng dậy, đi tới chỗ bán táo.

Hoàng Dung chọn mươi trái táo, cho vào bọc, lấy bạc định trả cho người bán, bỗng nghe một giọng nữ vang lên sau lưng:

– Cân cho ta hai mươi cân gạo trắng, một cân muối, để vào trong bao tải cho ta.

Hoàng Dung nghe giọng nói trong trẻo mạnh mẽ, liếc nhìn, thấy một hoàng y đạo cô đứng trước cửa lương thực điếm, tay trái ẵm một đứa bé sơ sinh, tay phải thò vào túi lấy bạc. Chiếc tã bọc đứa bé bằng lụa màu xanh lục, thêu một con ngựa nhỏ màu hồng, đúng là chiếc tã chính tay Hoàng Dung đã khâu.

Hoàng Dung trông thấy chiếc tã thì trống ngực đập dồn, hai tay run rẩy, lạng bạc đang cầm trên tay phải rơi xuống giỏ táo. Đứa bé sơ sinh kia chẳng phải là Quách Tương của mình thì còn là ai vào đấy nữa?

Chỉ thấy đạo cô diện mạo rất xinh đẹp, đầu mày khóe mắt ẩn hiện sát khí, bên hông giắt một cây phất trần, tất nhiên là Xích Luyện Tiên Tử Lý Mạc Sầu lừng danh giang hồ. Hoàng Dung chưa từng gặp mặt nữ ma đầu này, nhưng diện mạo và trang phục thế kia thì trừ mụ ta ra, không còn ai khác.

Hoàng Dung sau khi sinh hạ Quách Tương, trong cơn hoảng loạn, mơ hồ ngắm con vài lần, lúc này không nhịn được, mới nhìn kỹ, thấy đứa bé mi thanh mục tú, thần thái mỹ lệ, tuy là sơ sinh, nhưng hiển nhiên là một mỹ nhân, lại thấy da nó trắng hồng, trông rất khỏe mạnh. Tiểu đệ của nó là Quách Phá Lỗ tuy được bú sữa mẹ, song không được mập mạp khả ái như nó. Hoàng Dung vừa kinh ngạc vừa sung sướng, nước mắt ứa ra.

Lý Mạc Sầu trả tiền, xách bao tải gạo, lập tức rời khỏi thị trấn.

Hoàng Dung thấy tình thế khẩn cấp, không kịp đi gọi Quách Phù, nghĩ: "Tương nhi đã rơi vào tay mụ ta, một kẻ vô cùng hiểm độc, nếu ta cưỡng đoạt, mụ ta ắt sẽ sát hại đứa bé". Nhìn Lý Mạc Sầu rời thị trấn, theo đường lớn đi về phía tây, Hoàng Dung liền bám theo, lại nghĩ: "Mụ ta là sư bá của Dương Quá, tuy nghe đâu họ bất hòa với nhau, nhưng Phù nhi chém mất cánh tay Dương Quá, phái Cổ Mộ và Quách gia ta đã kết thâm cừu. Lỡ Dương Quá và Long cô nương đang chờ ở đàng trước, ta phải một địch ba, không thể thủ thắng, chỉ có ra tay sớm mới là thượng sách". Thấy Lý Mạc Sầu quẹo xuống phía nam, tiến vào một cánh rừng, Hoàng Dung bèn thi triển khinh công, chạy đón đầu, rồi bất ngờ xuất hiện chặn đường.

Lý Mạc Sầu thấy trước mặt đột nhiên xuất hiện một thiếu phụ xinh đẹp, thì đứng lại. Hoàng Dung cười, nói:

– Chắc đây là Xích Luyện Tiên Tử Lý đạo trưởng, hạnh hội hạnh hội!

Lý Mạc Sầu nhìn thiếu phụ xuất hiện với thân pháp không phải tầm thường, lưng giắt một cây gậy trúc màu vàng nhạt, liền giả bộ hoan hỉ, đặt bao tải gạo xuống, thi lễ, nói:

– Tiểu muội ngưỡng mộ đại danh Quách phu nhân đã lâu, hôm nay được thấy phương nhan, thỏa nguyện bình sinh!

Trong võ lâm đương thời, cao thủ nữ lưu có Hoàng Dung và Lý Mạc Sầu lẫy lừng danh tiếng. Thanh tịnh tản nhân Tôn Bất Nhị thành danh tuy đã lâu, nhưng võ công còn thua xa hai người này. Tiểu Long Nữ thì còn ít tuổi, vương tử Hoắc Đô bại trận ở tòa cổ mộ núi Chung Nam, người ta mới biết đến Tiểu Long Nữ. Sau trận đấu ở ải Đại Thắng, Tiểu Long Nữ lừng danh thiên hạ, nhưng là mới nổi danh gần đây. Còn Hoàng, Lý hai người, thì một người là ái nữ của Đông Tà Hoàng Dược Sư, phu nhân Quách đại hiệp, giữ chức bang chủ Cái Bang hơn hai mươi năm. Người kia với ba tuyệt kỹ cây phất trần, ngân châm, Ngũ độc thần chưởng, giang hồ vừa nghe đến đã táng đởm kinh hồn. Bây giờ hai người gặp nhau lần đầu, nhìn kỹ đối phương, đều lấy làm lạ: "Thì ra người ấy lại xinh đẹp đến thế!" Trong bụng cả hai cùng đề phòng, đối phương đã lừng danh thiên hạ, tất có bản lĩnh thật sự.

Hoàng Dung cười, nói:

– Danh tiếng của đạo trưởng, tiểu muội cũng ngưỡng mộ đã lâu, đạo trưởng đâu cần khách sáo quá vậy?

Lý Mạc Sầu nói:

– Quách phu nhân là tiền nhiệm bang chủ Cái Bang, bang hội lớn nhất thiên hạ, đứng đầu võ lâm, tiểu muội quả thật rất tiếc được diện kiến quá muộn.

Hai bên nói mấy lời khách sáo với nhau.

Hoàng Dung cười, nói:

– Đứa bé Lý đạo trưởng đang ẵm trông rất khả ái, không biết là con nhà nào?

Lý Mạc Sầu nói:

– Nói ra thực hổ thẹn, chỉ e Quách phu nhân chê cười.

Hoàng Dung nói:

– Không dám!

Nghĩ bụng: "Đã đi vào chính đề rồi đây, mình phải cướp được đứa bé trước khi động thủ", chỉ nghe Lý Mạc Sầu nói:

– Cũng là nỗi bất hạnh của sư môn phái Cổ Mộ, tiểu muội vô đức, không biết giáo huấn sư muội, đứa bé này là hài nhi tư sinh của Long sư muội.

Hoàng Dung lấy làm lạ: "Long cô nương không hề hoài thai, làm sao lại có hài nhi tư sinh kia chứ? Rõ ràng là hài nhi của ta, mụ này hoang ngôn khi trá là có dụng ý gì?" Hoàng Dung không biết rằng Lý Mạc Sầu quả thật không có ý đánh lừa, cứ tưởng đứa bé đúng là con của Dương Quá và Tiểu Long Nữ.

Lý Mạc Sầu hận sư phụ đối xử thiên lệch, đem bí kíp "Ngọc nữ tâm kinh" truyền cho một mình sư muội. Giờ nghe Hoàng Dung hỏi đến, bèn nhân dịp này làm bại hoại thanh danh của sư muội.

Hoàng Dung nói:

– Long cô nương trông có vẻ trinh thục đoan trang, ai ngờ lại có chuyện như thế, thật không ai đoán nổi. Vậy thì cha của đứa bé là ai?

Lý Mạc Sầu nói:

– Cha của đứa bé ư? Nói ra càng bực, là đồ nhi Dương Quá của Long sư muội.

Hoàng Dung tuy giỏi giả bộ, song lúc này cũng không khỏi đỏ bừng cả mặt, trong lòng cả giận, nghĩ thầm: "Mụ bảo con ta là hài nhi tư sinh của Long cô nương thì cũng được, nhưng bảo cha nó là Dương Quá, chẳng hóa ra làm nhục ta ư?". Nhưng vẻ tức giận chỉ thoáng qua, nói:

– Quá lắm, quá lắm, không còn ra gì. Nhưng mà đứa bé này trông thật khả ái, Lý đạo trưởng, hãy cho tiểu muội ẵm nó một chút.

Đoạn lấy ra một trái táo, nhứ nhứ trước mặt đứa bé, nói nựng với nó:

– Bé ngoan, mặt bé trông có giống trái táo này không?

Lý Mạc Sầu sau khi cướp được đứa bé, liền ẩn cư trong thâm sơn, lấy việc dưỡng nhi làm vui, ngày ngày buộc con báo cho Quách Tương bú sữa. Mụ một đời tác ác đa đoan, song cũng không phải là bẩm tính tàn ác, mà sau khi tình trường thất ý, đâm ra căm phẫn thế tục. Quách Tương kiều mỹ khả ái, cuối cùng khơi gợi mẫu tính bẩm sinh nơi Lý Mạc Sầu, có đêm mụ nghĩ, dẫu Tiểu Long Nữ có đem "Ngọc nữ tâm kinh" đến đổi, mụ cũng chưa chắc giao trả đứa bé. Lúc này nghe Hoàng Dung xin ẵm đứa bé, Lý Mạc Sầu như một người mẹ nghe người khác khen con mình, vui sướng trao con cho họ.

Hoàng Dung hai tay vừa chạm đến chiếc tã bọc Quách Tương, sắc mặt không giấu được vẻ yêu thương, cái tình của từ mẫu, làm sao che giấu nổi? Hoàng Dung ngày đêm nhớ đứa con sơ sinh, chỉ lo nó đói khát mất mạng, lúc này được tự tay ôm nó vào lòng, bảo không sung sướng sao được?

Lý Mạc Sầu thấy thần sắc hơi lạ của Hoàng Dung, nghĩ bụng: "Nếu mụ ta chỉ thích đứa bé, muốn ẵm nó một chút, hà tất phải xúc động đến thế? Việc này hẳn có chuyện dối trá". Bèn giật mạnh hai tay về, chân phải nhún một cái, đã nhảy lùi về phía sau hai trượng. Hai chân chạm đất, mụ định tra vấn, thì Hoàng Dung đã vọt theo như hình với bóng. Lý Mạc Sầu quăng luôn bao tải gạo về phía Hoàng Dung. Hoàng Dung tung mình nhảy lên, bao tải gạo bay qua dưới chân. Lý Mạc Sầu thừa cơ lại nhảy lùi ra sau hơn một trượng, rút cây phất trần cầm tay, cười khẩy, nói:

– Quách phu nhân, phu nhân định giúp Dương Quá cướp lấy đứa bé này chăng?

Hoàng Dung lúc đuổi theo và nhảy lên, đã nghĩ đối phương đã nghi ngờ, thì khó dùng mưu trí, chỉ còn cách dùng vũ lực cưỡng đoạt, bèn cười hì hì, nói:

– Tiểu muội chẳng qua thấy đứa bé khả ái thì muốn bế nó một chút. Lý đạo trưởng nghĩ thế, chẳng hóa ra khinh người quá hay sao?

Lý Mạc Sầu nói:

– Phu phụ Quách đại hiệp uy danh lừng lẫy giang hồ, tiểu muội vốn vô cùng thán phục, hôm nay được thấy thân thủ, quả nhiên danh bất hư truyền. Tiểu muội hiện tại có việc, xin cáo biệt tại đây!

Mụ ta sợ Quách Tĩnh ở gần đâu đây, nói vài lời khách sáo rồi quay mình đi. Hoàng Dung vọt lên phía trước, thân ở trên không đã rút cây bổng cầm tay. Cây Đả cẩu bổng truyền đời của Cái Bang, Hoàng Dung đã trao cho Lỗ Hữu Cước, cây bổng này tuy không chắc dẻo bằng cây Đả cẩu bổng, nhưng kích thước và trọng lượng thì y hệt, được làm màu vàng nhạt để phân biệt với cây Đả cẩu bổng.

Hoàng Dung chân chưa tiếp đất, cây bổng đã sử tự quyết chữ "Triền" móc tới sau lưng Lý Mạc Sầu.

Lý Mạc Sầu nghĩ: "Ta với ngươi không thù không oán, hôm nay gặp mặt lần đầu, ta nói năng phải phép, có gì đắc tội với ngươi, mà ngươi lại tự dưng dùng binh khí đánh ta?" Bèn vung cây phất trần về phía sau gạt cây bổng đi.

Bổng pháp của Hoàng Dung mau lẹ vô cùng, sau sáu, bảy chiêu, Lý Mạc Sầu đã cảm thấy khó bề chống đỡ. Võ công của mụ vốn thấp hơn Hoàng Dung một chút, huống hồ một tay lại đang ẵm đứa bé, di chuyển kém linh hoạt. Hoàng Dung nhanh hơn sóc, vút bên này bên kia, cây bổng biến ảo, thoáng chốc Lý Mạc Sầu đã lâm vào thế hạ phong.

Đấu thêm vài chiêu, Lý Mạc Sầu thấy cây bổng của đối phương thủy chung né tránh đứa bé, thì mụ nghĩ: "Mỗi lần ta giao đấu với ai, cứ dùng đứa bé này đều có lợi thế", bèn cười, nói:

– Quách phu nhân, nếu muốn khảo nghiệm công phu của tiểu muội, thì nước non vẫn đó, ngày tháng còn dài, hà tất phải quá chiêu ngay hôm nay? Chỉ cần một người lỡ tay, đứa bé khả ái này bị thương thì sao?

Hoàng Dung nghĩ thầm: "Mụ ta quả thật không biết đó là con của ta, hay là mụ giả trang? Vậy hãy thử xem sao". Bèn nói:

– Vì đứa bé ấy, tiểu muội đã nhường Lý đạo trưởng hơn mười chiêu, nếu đạo trưởng không chịu đặt đứa bé xuống, thì tiểu muội sẽ thây kệ sự sống chết của nó đấy!

Đoạn chọc cây bổng tới đùi phải của Lý Mạc Sầu. Lý Mạc Sầu giơ cây phất trần chặn lại. Hoàng Dung không đợi cây bổng đụng cây phất trần, đã hất lên ngực trái cực nhanh, mũi cây bổng chọc ngay tới người đứa bé.

Cú chọc này nếu trúng, Quách Tương mất mạng đã đành, ngay cả Lý Mạc Sầu cũng sẽ bị thương. Hoàng Dung điều khiển cây bổng dễ dàng theo ý, đầu cây bổng chọc nhanh, đã chạm tới cái tã bọc đứa bé, trông thì nguy hiểm cùng cực, nhưng Đả cẩu bổng pháp do Hoàng Dung thi triển thì có mức độ nặng nhẹ xa gần không sai một li. Lý Mạc Sầu không biết điều đó, thấy nguy cấp liền né vội sang bên phải, không khỏi để lộ sơ hở, "bộp" một cái, ống chân trái bị cây bổng quét trúng, người lảo đảo hai bước mới đứng vững lại được. Mụ vung cây phất trần che phía trước, quay người lại, tức giận nói:

– Đối với một đứa bé mà Quách phu nhân hèn hạ hạ độc thủ, thật uổng cả hiệp danh.

Hoàng Dung thấy Lý Mạc Sầu tức giận thật sự, thì mừng thầm, nghĩ: "Mụ ra sức bảo vệ con của ta, ta ra đòn đánh con mình khiến mụ hoảng sợ một phen", mỉm cười, nói:

– Đạo trưởng bảo đứa bé này lai lịch bất minh, còn để sống trên thế gian này làm gì?

Đoạn lại vọt tới, giơ cây bổng tấn công, sau vài chiêu lại gây nguy hiểm cho Quách Tương. Quách Tương bị Lý Mạc Sầu kẹp giữ, khó cựa quậy, lại bị xốc mạnh, đột nhiên khóc tướng lên. Hoàng Dung nói thầm: "Con ngoan đừng sợ, để cứu con, mẹ đành phải làm như vậy". Trong bụng tuy thương con, nhưng xuất thủ càng lúc càng lợi hại, nếu Lý Mạc Sầu không tận lực kháng cự, e rằng Quách Tương đã mấy lần mất mạng.

Lý Mạc Sầu tâm thần bất định, nhảy lùi mấy bước, giơ cây phất trần che cho Quách Tương, nói:

– Quách phu nhân, rốt cuộc phu nhân muốn gì?

Hoàng Dung cười, nói:

– Nữ lưu anh kiệt thời nay, trong võ lâm chỉ có hai người là Lý đạo trưởng và tiểu muội. Hôm nay có duyên tương ngộ, tại sao không thử tài cao thấp?

Lý Mạc Sầu thấy Hoàng Dung cứ nhắm tấn công đứa bé, thì cả giận, nghĩ: "Nếu có chồng ngươi đến, ta còn ngại vài phần, chứ một mình ngươi, ta chẳng ngán gì". Bèn nói:

– Quách phu nhân có ý chỉ giáo, thật là ước gì được nấy.

Hoàng Dung nói:

– Lý đạo trưởng phải ẵm đứa bé, tiểu muội có thắng cũng không đúng cách, vậy hãy bỏ đứa bé xuống, hai bên dựa vào công phu đích thực mà giao đấu một phen xem nào.

Lý Mạc Sầu nghĩ nếu ẵm đứa bé quả không thể địch nổi, phóng độc châm cũng khó, suy nghĩ: "Giang hồ đồn rằng vợ chồng Quách Tĩnh nhân nghĩa hơn người, nhưng qua sự tàn bạo của Hoàng Dung đối với một đứa bé, đủ thấy lời đồn sai sự thực". Đưa mắt tứ phía, thấy ở mé đông, giữa mấy cây lớn có một đám cỏ dày, trông rất mềm, mụ bèn đặt Quách Tương xuống cỏ, vừa vỗ nhẹ vừa nựng vài cái, rồi xoay lại, nói:

– Mời phu nhân tiến chiêu.

Hoàng Dung đấu hơn chục chiêu, biết Lý Mạc Sầu võ công cũng ngang ngửa với mình, nếu bây giờ cướp lấy đứa bé, mụ ta bám theo, mình chỉ cần sơ suất dễ làm cho đứa bé bị thương, chỉ có cách phải giết chết mụ ta đã, rồi mới ẵm đứa bé, nữ ma đầu này tác ác đa đoan, có chết trăm lần cũng chưa đền hết tội. "Nghĩ đến đây, sát cơ trỗi dậy.

Lý Mạc Sầu vốn quen hạ độc thủ, suy bụng ta ra bụng người, thấy Hoàng Dung chốc chốc liếc nhìn đứa bé, thì nghĩ:" Mụ ta đánh không nổi, sẽ hạ độc thủ đối với đứa bé để khiến ta bị phân tâm "; thế là mụ bèn đứng chắn đằng trước Quách Tương, không cho đối phương tới gần.

Trong giây lát, Hoàng Dung đã nảy ra bảy, tám kế sách, mỗi kế sách đều có thể lấy mạng Lý Mạc Sầu, song cũng khó tránh gây nguy hiểm cho Quách Tương, nghĩ:" Nhìn thần tình nữ ma đầu này, xem ra mụ ta rất ưu ái Tương nhi của ta, dẫu ta nhất thời chưa cướp lại Tương nhi, cũng không lo cho nó, bởi vậy, không thể mạo hiểm tấn công để tránh đả thương Tương nhi ". Chợt nghĩ một kế, nói:

– Lý đạo trưởng, võ công hai ta ngang nhau, việc phân thắng bại tốn nhiều thời gian, nếu đôi bên mải đấu, có dã thú như hổ lang đến ăn thịt đứa bé, chẳng hóa có người bị phân tâm hay sao? Chi bằng trước tiên hãy kết liễu con tiểu quỉ ấy, rồi hai ta rảnh tay đấu một trận cho sướng.

Nói đoạn cúi nhặt một viên sỏi, dùng ngón giữa búng viên sỏi về phía Quách Tương. Cái búng này là công phu tuyệt kỹ gia truyền" Đạn chỉ thần thông "của Hoàng Dung, Lý Mạc Sầu từng thấy Hoàng Dược Sư thi triển, biết kình lực không phải tầm thường, vội vung cây phất trần hất viên sỏi đi, quát:

– Đứa bé đâu có cản trở gì phu nhân, sao mấy phen cứ định lấy mạng nó kia chứ?

Hoàng Dung cười thầm, thực ra khi búng viên sỏi đi với kình lực tuy mạnh, nhưng ngón tay đã sử hồi lực, dẫu Lý Mạc Sầu không cứu, viên sỏi chạm tới người Quách Tương cũng sẽ bay chếch đi, không làm cho nó bị thương, Hoàng Dung bèn cười, nói:

– Lý đạo trưởng lo cho đứa bé như thế, người ngoài không biết, lại ngỡ.. lại ngỡ nó là.. ha ha.. là con của Lý đạo trưởng..

Lý Mạc Sầu nổi giận, nói:

– Làm sao nó lại có thể là con của ta kia chứ?

Nói rồi đỏ mặt.

Hoàng Dung cười, nói:

– Lý đạo trưởng là đạo cô, dĩ nhiên không thể có con, người ngoài lại ngỡ nó là muội muội của Lý đạo trưởng.

Lý Mạc Sầu hừ một tiếng, không tranh cãi nữa, không biết rằng Hoàng Dung ngay trên lời nói cũng không chịu thiệt tí nào, bảo Quách Tương là em gái của Lý Mạc Sầu, có khác gì bảo Lý Mạc Sầu là con của vợ chồng Hoàng Dung. Ai bảo ban nãy Lý Mạc Sầu bảo Dương Quá là cha của Quách Tương?

Lý Mạc Sầu nói:

– Quách phu nhân, mau tiến chiêu đi!

Hoàng Dung nói:

– Lý đạo trưởng cứ lo cho đứa bé như thế, không thể dồn toàn thần cho cuộc đấu, tiểu muội có thắng cũng mất cả hay. Thế này vậy, để tiểu muội dùng song mây quay xung quanh đứa bé, không cho dã thú lại gần nó, hai ta sẽ rảnh tay giao đấu.

Rồi rút từ sau lưng ra một con tiểu bội đao, bước tới một bụi cây, chặt lấy một sợi mây dài đầy gai. Lý Mạc Sầu giám sát chặt chẽ, chỉ sợ Hoàng Dung đột nhiên xuất thủ đả thương đứa bé, nhìn Hoàng Dung kéo sợi mây chăng ngang thân mấy cây lớn xung quanh đứa bé, như thế dã thú cố nhiên sẽ không thể làm hại đứa bé, Quách Tương thì mới sinh hơn một tháng, chưa biết lật người, cũng không sợ đụng phải gai mây. Lý Mạc Sầu nghĩ:" Giang hồ bảo Quách phu nhân đa trí, quả nhiên danh bất hư truyền ". Nhìn Hoàng Dung quấn hết sợi mây này đến sợi mây khác, chăng ngang thân cây nọ, cây kia, thành nhiều tầng nhiều lớp, miệng cứ cười cười khó hiểu, tựa hồ có ác ý gì đó, Lý Mạc Sầu chợt thấy rờn rợn, nói:

– Thôi đủ rồi!

Hoàng Dung nói:

– Được! Đạo trưởng bảo đủ rồi thì thôi! Lý đạo trưởng, đạo trưởng đã gặp phụ thân của tiểu muội rồi phải không?

Lý Mạc Sầu đáp:

– Gặp rồi.

Hoàng Dung nói:

– Tiểu muội nghe Dương Quá nói rằng đạo trưởng có viết bốn câu châm biếm phụ thân tiểu muội, có hay không? Hình như thế này" Đào Hoa đảo chủ, cậy đệ tử đông, năm người đánh một, giang hồ chê cười "thì phải?

Lý Mạc Sầu giật mình:" Mình thật hồ đồ, phải nhớ ra chuyện này từ sớm mới phải. Hôm nay sở dĩ Hoàng Dung cứ bám theo gây sự, là vì bốn câu kia ", bèn lạnh lùng nói:

– Hôm ấy bọn họ năm người, đối phó với một mình ta, chuyện đó có thật.

Hoàng Dung nói:

– Hôm nay hai ta một địch một, để xem giang hồ sẽ chê cười ai.

Lý Mạc Sầu cả giận, quát:

– Phu nhân đừng vội khoe tài, võ công đảo Đào Hoa ta đã thấy nhiều, chẳng qua chỉ thế này mà thôi.

Hoàng Dung cười khẩy, nói:

– Chưa nói đến võ công đảo Đào Hoa, ngay một thứ không phải là võ công, đạo trưởng cũng chẳng đối phó nổi đâu. Đạo trưởng có giỏi, hãy ẵm đứa bé lên xem nào?

Lý Mạc Sầu cả kinh:" Không lẽ mụ ta đã hạ độc thủ đối với đứa bé? "Mụ vội tung người nhảy qua một lớp rào bằng song mây, ngoặt sang bên trái, thấy có lớp rào bằng song mây chắn đường, thuận thế quẹo sang bên phải, tai nghe tiếng khóc oa oa của Quách Tương vừa cất lên, cảm thấy yên tâm hơn, chắc nó chưa bị sao, lại quẹo vào phía trong một lần nữa, chẳng hiểu sao cuối cùng lại đi ra bên ngoài lớp rào bằng song mây. Mụ ngơ ngác, rõ ràng mình đi vào phía trong, vì lẽ gì lại dẫn ra bên ngoài? Không kịp nghĩ ngợi, mụ nhún chân nhảy vào trong, nhưng các lớp rào bằng song mây chằng chịt ngang dọc, sơ ý một chút, xoẹt một tiếng, đạo bào của mụ bị gai làm rách một mảng. Mụ không dám nhảy đại nữa, đứng nhìn lối đi cho rõ, thì thấy Hoàng Dung đã ở bên trong các lớp rào bằng song mây, đang cúi xuống ẵm đứa bé lên.

Lý Mạc Sầu cả kinh thất sắc, kêu to:

– Đặt ngay đứa bé xuống!

Mụ thấy giữa các lớp rào bằng song mây có lối đi, liền chạy theo đó, men lớp rào bằng song mây mà tiến về phía Hoàng Dung, nhưng phạm vi giữa bảy, tám cây lớn chỉ vài trượng, mà mụ chỉ nhìn chứ không tới được. Mụ cứ chạy lòng vòng, tưởng sang trái hóa ra sang phải, tưởng sang phải hóa ra sang trái, một lát sau thì ở bên ngoài lớp rào bằng song mây. Mụ thấy Hoàng Dung đã đặt đứa bé xuống cỏ, đảo người phía này phía nọ, rồi khôn khéo vượt ra ngoài lớp rào bằng song mây.

Lý Mạc Sầu chợt tỉnh ngộ, đêm nào mụ ta tìm tới ngôi nhà tranh gặp Dương Quá, Trình Anh, Lục Vô Song, đã vấp phải các đống đất bố trí trước nhà, khiến mụ không cách gì tiến thẳng vào được. Hôm nay Hoàng Dung chăng các lớp rào bằng song mây, cũng là thần thuật bát quái cửu cung của đảo Đào Hoa. Mụ ngẫm nghĩ một lát, tâm niệm đã quyết:" Phải đánh lui kẻ địch, rồi sẽ gỡ từng lớp rào bằng song mây từ ngoài vào trong mà ẵm đứa bé. Hiện giờ kẻ địch đang chiếm lợi thế trận đồ, nếu ta cứ xông bừa vào ắt thất bại ". Bèn nhảy vọt đi mấy trượng, xa hẳn lớp rào bằng song mây, ngưng thần chờ địch.

Hoàng Dung lúc đầu thấy Lý Mạc Sầu lao bừa qua các lớp rào bằng song mây thì mừng thầm, bỗng thấy mụ ta nhảy vọt ra xa, thì thán phục nghĩ:" Nữ ma đầu này hành sự thật quyết đoán, nhanh nhạy. Mụ ta không phải tự dưng lừng lẫy tiếng tăm ". Lúc này Quách Tương đã nằm ở một chỗ hết sức an toàn, không có gì đáng lo cho nó nữa, bèn vung cây gậy trúc sử chiêu" Vân cẩu đê đầu "đánh tới sau gáy Lý Mạc Sầu. Lý Mạc Sầu dùng cây phất trần cuốn lấy cây bổng, quét qua trước mặt Hoàng Dung, nghe" phựt "một tiếng. Hai người lấy nhanh đánh nhanh, cùng thi triển chiêu thuật tinh diệu, chẳng mấy chốc đã đấu mấy chục chiêu. Lý Mạc Sầu nội công thâm hậu, cây phất trần biến chiêu tinh vi, nhưng Đả cẩu bổng pháp của đối phương còn huyền diệu hơn, mụ miễn cưỡng chống đỡ đến vài chục chiêu, có thể nói đã là điều hiếm có trong võ lâm, nhìn cây bổng đánh tới, phương hướng bộ vị hết sức lạ lùng, tự biết cứ đấu tiếp kiểu này mình sẽ thua. Cây bổng tựa hồ không phải là thứ binh khí sắc bén giết người, song ba mươi sáu đại huyệt trên cơ thể chỉ cần bị đầu cây bổng chọc trúng một huyệt, cũng đủ mất mạng.

Lý Mạc Sầu cố chống trả thêm vài chiêu, trán đã vã mồ hôi, đánh nhanh hai chiêu, rồi nhún chân nhảy lùi, nói:

– Bổng pháp của Quách phu nhân quả nhiên tinh diệu, tiểu muội cam bái hạ phong. Nhưng tiểu muội có một điều chưa rõ, muốn được thỉnh giáo.

Hoàng Dung nói:

– Không dám!

Lý Mạc Sầu nói:

– Bổng pháp này là tuyệt kỹ của Cửu chỉ thần cái Hồng Thất Công. Võ công của đảo Đào Hoa rất lợi hại, tại sao Quách phu nhân không chịu học bản sự gia truyền của lệnh sư, lại đi học của người ngoài?

Hoàng Dung nghĩ thầm:" Mụ này miệng lưỡi sắc sảo, không địch nổi bổng pháp của ta, muốn ta bỏ sở trường đây ", bèn cười, đáp:

– Lý đạo trưởng đã biết bổng pháp này là do Cửu chỉ thần cái truyền thụ, chắc cũng phải biết tên gọi của nó.

Lý Mạc Sầu hừ một tiếng, cau mày, không nói gì.

Hoàng Dung cười, nói:

– Đã mang tên Đả cẩu bổng pháp, gặp chó phải đánh liền, đâu có thể khác?

Lý Mạc Sầu thấy không thể khích đối phương bỏ gậy sử chưởng, nếu đấu khẩu cũng sẽ thua miệng lưỡi Hoàng Dung, bèn giắt cây phất trần sau lưng, cười khẩy, nói:

– Bọn ăn mày trong thiên hạ đi ăn xin lại nói chữ hóa duyên, quả nhiên cả bang chủ cũng là hạng bẻm mép! Tiểu muội chịu đấy!

Nói rồi rảo bước tới bên mép rừng, ngồi xuống một gốc cây.

Lý Mạc Sầu nhận thua kiểu đó, Hoàng Dung còn muốn gì hơn. Nhưng thấy mụ ta ngồi xuống, không đi, chưa hiểu dụng ý thế nào, có lẽ quả thật mụ ta không nỡ rời Quách Tương, nếu bây giờ mình mang Quách Tương đi, mụ ta sẽ xông tới quyết đấu, tương quan mạnh yếu sẽ thay đổi bất lợi cho mình, xem ra nếu không đập chết mụ ta, mình chẳng thể bế con đi yên ổn, bèn vọt đến trước mặt Lý Mạc Sầu, chân trái đi ba bước, chân phải bốn bước, mấy bước đi trông đơn giản, không có gì lạ, nhưng bên trong ẩn chứa sự biến hóa bát quái, Lý Mạc Sầu bất luận né tránh về phương vị nào, cũng không thể thoát khỏi sự ngăn chặn. Cây gậy trúc nơi tay phải chọc tới khuỷu chân của Lý Mạc Sầu.

Lý Mạc Sầu vung chưởng đánh chặn, miệng quát:

– Từ khi Trần Huyền Phong, Mai Siêu Phong chết đi, Hoàng Dược Sư quả đã không còn truyền nhân.

Câu này cốt châm biếm một là Hoàng Dung chỉ biết sử dụng Đả cẩu bổng pháp do Bắc Cái truyền thụ, hai là chê Hoàng Dược Sư chọn lầm đệ tử. Ngọc tiêu kiếm pháp gia truyền Hoàng Dung cũng đã luyện thành thạo, chẳng qua trong tay không có kiếm, nếu dùng cây gậy thay kiếm, e chưa chắc thắng được cường địch trước mặt, bèn mỉm cười, nói:

– Phụ thân tiểu muội thu nhận mấy đệ tử đúng là không ra hồn, chẳng được đoan trang trinh thục như Lý đạo trưởng và Long cô nương.

Lý Mạc Sầu cả giận, xáp tới, vung tay áo, phóng hai mũi Băng phách ngân châm tới bụng dưới của Hoàng Dung. Mụ tuy giết người không chớp mắt, thủ đoạn tàn bạo cùng cực, song giữ mình trong trắng như ngọc. Mụ cho rằng chỉ có sư muội Tiểu Long Nữ là mất đoan trang, nghe Hoàng Dung đem mình đặt ngang với sư muội, thì quá giận, lập tức sử dụng ám khí tối độc địa.

Hoàng Dung lúc này đứng rất gần, không kịp tránh, vội đưa cây bổng về gạt ngân châm. Nếu Đả cẩu bổng pháp không đạt đến cảnh giới xuất thần nhập hóa, e chỉ gạt được một mũi ngân châm. Hai mũi ngân châm bay qua, chỉ cách một tấc, mũi ngửi thấy mùi thuốc tẩm, quả là quá nguy hiểm. Hoàng Dung nhớ lại mấy năm trước, chân một con chim điêu bị sượt mũi ngân châm, phải chữa trị sáu, bảy tháng sau mới khỏi, còn đang rùng mình, thì hai mũi ngân châm khác lại bay tới trước mặt. Hoàng Dung vội né sang bên cạnh, hai mũi ngân châm lướt qua bên tai, nghĩ:" Chỗ này hơi gần Tương nhi, các mũi độc châm bay loạn thế kia, vạn nhất chạm vào da dẻ non nớt của con bé thì nguy to! "Bèn lao vút về hướng đông, xuyên qua rừng cây. Lý Mạc Sầu đuổi theo, cho rằng ngoài bổng pháp ra, các môn võ công còn lại đối phương đều không bằng mình, thấy Hoàng Dung bỏ chạy, liền quát:

– Chưa phân thắng bại, sao lại bỏ chạy?

Hoàng Dung quay người lại, mỉm cười. Lý Mạc Sầu nói:

– Quách phu nhân, phu nhân đỡ được ngân châm của tiểu muội, bây giờ không sử dụng cây gậy có dám hay không?

Hoàng Dung biết, nếu không cất cây gậy trúc, đối phương có thua cũng chưa chịu phục, bèn giắt cây gậy ra sau lưng, cười nói:

– Nghe đồn Ngũ độc thần chưởng của Lý đạo trưởng đã sát hại vô số người, vậy tiểu muội xin tiếp vài chưởng.

Lý Mạc Sầu sững lại, nghĩ:" Mụ ta thừa biết độc chưởng của ta lợi hại, thế mà vẫn muốn đấu chưởng với ta, cả gan như vậy, e rằng có gian trá ". Song mụ nghĩ chưởng pháp của Hoàng Dung dẫu có thần diệu, cũng không lợi hại chết người bằng thần chưởng của mụ, thế là song chưởng cùng đẩy, nội lực đã dồn ra lòng bàn tay, nói:

– Xin lĩnh giáo diệu kỹ Lạc anh thần kiếm chưởng của đảo Đào Hoa.

Thấy hữu chưởng của Hoàng Dung vỗ nhẹ tới, mụ bèn dùng tả chưởng áp vào lòng bàn tay Hoàng Dung, hữu chưởng thì đánh xương vai đối phương. Song chưởng của mụ vừa nhanh vừa mạnh, đã thế, khi hữu chưởng đánh tới, mụ còn phóng luôn hai mũi ngân châm vào bụng dưới của Hoàng Dung. Chiêu số nham hiểm chưởng kèm ám khí này là do Lý Mạc Sầu tự sáng tạo sau khi rời sư môn. Đối phương đang chăm chú đề phòng độc chưởng của mụ, không ngờ ở cự ly gần sát, mụ phóng ám khí, không ít danh gia võ học đã phải bỏ mạng bởi mũi ngân châm của mụ.

Hoàng Dung thu tả chưởng về hất cổ tay phải của đối phương, hóa giải đòn hữu chưởng, tay phải thò vào trong bọc, tựa hồ cũng lấy ám khí ra đánh trả, nhưng đã chậm một bước, khi Hoàng Dung rút tay ra khỏi bọc, hai mũi ngân châm chỉ còn cách sườn chưa đầy năm tấc, lúc này dù có bản lĩnh thông thiên, cũng chẳng tài nào tránh được nữa. Lý Mạc Sầu cả mừng, nhìn hai mũi ngân châm xuyên qua áo, cắm vào thân mình Hoàng Dung.

Hoàng Dung kêu:

– Úi chao!

Hai tay giữ bụng, gập lưng xuống, lập tức tung tả chưởng đánh tới ngực Lý Mạc Sầu. Chưởng này đến quá nhanh, Lý Mạc Sầu thốt lên:" Hay lắm! "Và ngửa người ra sau để tránh, đồng thời song chưởng đẩy về phía ngực Hoàng Dung.

Lý Mạc Sầu biết Hoàng Dung sau khi bị trúng hai mũi ngân châm, độc tính sẽ lập tức phát tác, chiêu này chỉ cần đẩy đối phương ra xa mụ mà thôi, đối phương sẽ tự gục chết vì độc châm. Lý Mạc Sầu thấy Hoàng Dung nửa thân trên hơi động, hoàn toàn không chống đỡ, thì nghĩ:" Mụ ta bị trúng độc, đã tê dại toàn thân rồi ". Song chưởng vừa chạm đến vạt áo trước ngực của đối phương, thì đột nhiên hai lòng bàn tay cùng đau nhói như bị một vật nhọn đâm vào.

Lý Mạc Sầu cả kinh, vội nhảy lùi, nhìn lòng bàn tay, thấy mỗi bên có một cái lỗ, máu đen tụ xung quanh, chính là mụ bị Băng phách ngân châm của mụ đả thương. Mụ kinh hoàng, không hiểu nguyên do, chỉ thấy Hoàng Dung lôi từ trong bọc ra hai trái táo, mỗi tay cầm một trái, vừa cười hì hì vừa giơ lên cao, mỗi trái táo đều có cắm một mũi ngân châm. Lý Mạc Sầu bây giờ chợt tỉnh ngộ, thì ra Hoàng Dung để mấy trái táo trong bọc, khi mụ phóng ám khí, Hoàng Dung không né tránh kịp, bèn đưa tay vào bọc giơ trái táo hứng ngân châm, rồi dụ cho mụ xuất chưởng đánh đúng vào hai trái táo có châm độc ấy.

Lý Mạc Sầu vốn cũng là một người thông minh tuyệt đỉnh, nhưng hôm nay gặp phải đối thủ xảo trá gấp trăm lần, chỉ có cách nhận thua, vội thò tay vào túi lấy thuốc giải, thì chỉ nghe gió nổi ù ù, song chưởng của Hoàng Dung đã đánh tới trước mặt mụ. Lý Mạc Sầu đưa tay trái lên che đỡ, bỗng thấy năm ngón tay trắng muốt của Hoàng Dung đã xòe ra, điểm vào huyệt Tiểu Hải ở khuỷu tay phải, năm ngón tay thành hình bông hoa lan, tư thái đẹp tuyệt trần, mụ chợt nghĩ:" Phải chăng đấy là Lan hoa phất huyệt thủ lừng danh thiên hạ? "Tay phải chưa kịp lấy thuốc giải, vội rút ra chộp năm ngón tay của đối phương. Hoàng Dung thu tay phải về, tay trái hóa chưởng thành chỉ, lại điểm tới huyệt Khuyết Bồn ở gáy Lý Mạc Sầu.

Lý Mạc Sầu thấy Hoàng Dung chỉ hóa thành chưởng, chưởng hóa thành chỉ, phối hợp sử dụng Lạc anh thần kiếm chưởng và Lan hoa phất huyệt thủ, đúng là khi tung chưởng thì như hoa rụng lả tả, lúc điểm huyệt như bông lan mùa xuân, chiêu số không chỉ lợi hại, mà còn mỹ lệ, thì mụ không khỏi tái mặt, nghĩ:" Hôm nay được thấy thần kỹ của đảo Đào Hoa, quả nhiên vô cùng cao siêu, đừng nói tay mình đã bị trúng độc, dẫu đang khỏe mạnh cũng không thể địch nổi ". Mụ muốn thoát thân thật gấp để lấy thuốc giải, nhưng Hoàng Dung tấn công dồn dập nào chưởng, nào chỉ, không để cho mụ rảnh tay một khoảnh khắc. Độc tính của Băng phách ngân châm lợi hại, nếu không phải ngày ngày Lý Mạc Sầu luôn sử dụng, thể chất quen với độc tính, thì đã ngất đi rồi. Tuy nhiên, chất độc cũng lan dần đi, chỉ cần lan đến tim thì vô phương cứu chữa.

Hoàng Dung thấy Lý Mạc Sầu mặt tái nhợt, chống đỡ càng lúc càng yếu ớt, biết rằng cứ bám riết một lát, đối phương sẽ không chịu nổi, nghĩ nữ ma đầu tác ác đa đoan, hôm nay bị chết bởi độc châm của chính mụ, như thế là mình đã giúp huynh đệ họ Võ trả thù cho mẹ chúng, liền từng bước sấn tới, liên tiếp xuất chiêu, đồng thời đề phòng trước khi chết Lý Mạc Sầu bất ngờ phản kích. Lý Mạc Sầu thoạt tiên cảm thấy hai cánh tay tê dại, lan dần đến khuỷu, vài chiêu sau thì lan đến nách. Lúc này hai tay cứng đờ, không tuân theo ý muốn nữa, đành kêu lên rầu rĩ:

– Hãy khoan, Quách phu nhân, tiểu muội quen giết người như ngoé, sớm đã không mong sống được đến ngày hôm nay. Đấu trí đấu lực, tiểu muội đều không bằng phu nhân, bỏ mạng dưới tay phu nhân thì tiểu muội cũng cam lòng. Nhưng tiểu muội đánh bạo cầu xin phu nhân một việc.

Hoàng Dung hỏi:

– Việc gì?

Hai mắt nhìn mụ ta chằm chằm, Hoàng Dung sợ mụ ta dùng kế hoãn binh để lấy thuốc giải độc, nhưng chỉ thấy hai tay mụ buông thõng. Mụ nói:

– Tiểu muội và sư muội vốn bất hòa. Nhưng đứa bé kia quả thật khả ái, xin phu nhân làm ơn làm phúc săn sóc nó, đừng giết nó.

Hoàng Dung nghe Lý Mạc Sầu nói mấy câu hết sức thành khẩn, bất giác xúc động, nghĩ:" Nữ ma đầu này tích ác như núi, thế mà trước khi chết lại tha thiết tâm ái con của ta như vậy ", bèn nói:

– Cha mẹ của đứa bé ấy hoàn toàn không phải hạng tầm thường, nếu để cho nó sống, ta sẽ phải lo liệu vất vả suốt đời hay sao..

Lý Mạc Sầu không hiểu ngụ ý lời nói ấy, cầu xin:

– Cúi mong cao đài quí thủ..

Hoàng Dung muốn thử mụ một lần nữa, bước lại gần, điểm huyệt mụ, rồi lấy lọ thuốc giải trong túi mụ, hỏi:

– Thuốc giải độc châm của Lý đạo trưởng đây phải không?

Lý Mạc Sầu đáp:

– Vâng!

Hoàng Dung nói:

– Ta không thể tha cho cả hai người, nếu muốn ta cứu Lý đạo trưởng, thì ta phải giết đứa bé kia. Nếu đạo trưởng chịu chết, thì ta sẽ tha cho đứa bé.

Lý Mạc Sầu không thể ngờ cuối cùng mình còn cơ may sống sót, nhưng mụ dĩ nhiên không nỡ mở miệng bảo Hoàng Dung hãy giết đứa bé, mà lấy mạng mình đổi mạng cho đứa bé thì cũng chẳng muốn. Chỉ thấy Hoàng Dung lấy trong lọ ra một viên thuốc giải, hai ngón tay cầm viên thuốc rung rung, chỉ chờ mụ trả lời, mụ run giọng:

– Tiểu muội.. tiểu muội..

Hoàng Dung nghĩ:" Mụ ta do dự lâu như vậy, thực cũng không dễ. Bất kể mụ ta trả lời thế nào, chỉ riêng thiện ý của mụ cũng đáng để ta tha chết cho mụ. Mụ ta mang nhiều nợ máu, rồi sẽ có người tìm mụ báo thù ". Bèn cướp lời, cười nói:

– Lý đạo trưởng, đa tạ đạo trưởng đã quan hoài Tương nhi của tiểu muội như thế.

Lý Mạc Sầu kinh ngạc, hỏi:

– Sao kia?

Hoàng Dung cười, nói:

– Đứa bé ấy họ Quách, tên Tương, là con của Quách Tĩnh gia và tiểu muội, vừa chào đời thì Long cô nương bế đi, không hiểu tại sao Lý đạo trưởng lại có sự hiểu lầm như thế. Tiểu muội xin đa tạ Lý đạo trưởng đã nhiều ngày dưỡng dục đứa bé.

Nói đoạn hành lễ, nhét một viên thuốc vào miệng Lý Mạc Sầu, hỏi:

– Đủ chưa?

Lý Mạc Sầu nói:

– Tiểu muội trúng độc đã sâu, phải nhai liền ba viên.

Hoàng Dung nói:

– Được!

Bèn nhét cho hai viên nữa, nghĩ bụng thuốc này còn có khi cần đến, nên không trả cho Lý Mạc Sầu mà nhét vào túi mình, cười, nói:

– Ba canh giờ nữa, huyệt đạo sẽ tự giải khai.

Rồi chạy trở vào rừng, nghĩ:" Mình bỏ đi lâu thế, không biết Phù nhi đã đi chưa? Nếu để cho tỷ muội hai đứa được gặp nhau một chút, thì rất hay ". Chạy vào bên trong lớp rào bằng song mây, vừa nhìn một cái, bất giác như rơi xuống hố băng, toàn thân lạnh toát.

Các lớp rào bằng song mây vẫn còn y nguyên, nhưng bé Quách Tương thì đã không cánh mà bay. Hoàng Dung trống ngực đập thình thình, đa mưu túc trí vô song mà lúc này cũng rụng rời hoảng hốt. Định thần, tự nhủ:" Đừng hoảng, đừng hoảng! Khi mình và Lý Mạc Sầu ra khỏi cánh rừng giao đấu, cũng không lâu lắm, Tương nhi có bị kẻ nào ẵm đi, cũng chưa đi xa ". Bèn leo lên ngọn cây cao nhất mà nhìn tứ phía. Thành Tương Dương ở vùng bình nguyên, có thể đưa mắt nhìn xa cả chục dặm, không thấy có vật gì khả nghi. Hiện thời quân Mông Cổ đã rút đi xa, không có một ai đi xe, nếu có người nào cưỡi ngựa, thì dù người ấy ở rất xa, cũng nhìn thấy được. Hoàng Dung nghĩ:" Người ấy chưa đi xa, tất ở gần đâu đây ". Bèn tìm kỹ xem có dấu chân ở bên các lớp rào bằng song mây, chỉ thấy các lớp rào bằng song mây không hề bị xê dịch, nhất định không phải dã thú nhảy vào tha mất đứa bé. Nghĩ thầm:" Mình đã bố trí các lớp rào bằng song mây theo phương vị bát quái cửu cung, là thuật Kỳ môn do phụ thân sáng tạo, trên thế gian trừ đệ tử đảo Đào Hoa không ai nắm được, tài trí như Kim Luân pháp vương cũng không thể qua lại dễ dàng giữa các lớp rào bằng song mây, chẳng lẽ là phụ thân đến ư? Thôi chết, nguy rồi! "

Chợt nhớ vài tháng trước ngẫu nhiên chạm trán với Kim Luân pháp vương, trong cơn nguy cấp đã bố trí loạn thạch trận để ngăn cản lão ta, được Dương Quá đến cứu, mình đã nói qua thuật Kỳ môn cho Dương Quá biết. Dương Quá là đứa cực kỳ thông minh, nói một hiểu mười, tuy chưa thể thông thạo thuật Kỳ môn, nhưng mấy lớp rào bằng song mây sơ sài này, hắn có thể hóa giải không khó lắm. Hoàng Dung vừa nghĩ đến Dương Quá, thì lo lắng thêm ba phần:" Phù nhi đã chặt lìa cánh tay hắn, hắn càng thù Quách gia sâu hơn. Tương nhi rơi vào tay hắn, mạng coi như hết. Hắn chẳng cần hạ độc thủ, cứ quẳng đứa bé sơ sinh ở bất cứ chỗ nào giữa chốn hoang dã này, nó cũng mất mạng ". Nghĩ đứa con ra đời chưa được bao lâu mà phải chịu đa tai đa nạn, nước mắt cứ thế rơi lã chã.

Nhưng Hoàng Dung đã từng trải nhiều biến cố, há đau khổ như một thiếu phụ tầm thường. Ngẫm nghĩ một lát, rồi lau nước mắt, truy tìm đường đi của Dương Quá. Nhưng lạ thay, quanh quẩn không thấy một dấu chân, Hoàng Dung lấy làm lạ:" Hắn dù khinh công đạt tới mức tuyệt đỉnh, cũng phải để lại dấu chân trên lớp đất mềm thế này. Không lẽ hắn bay từ trên trời xuống hay sao? "

Hoàng Dung đoán quả không sai, Quách Tương đúng là do Dương Quá ẵm đi, và chàng vượt qua các lớp rào bằng song mây đúng là theo lối phi hành.

Đêm qua Dương Quá nấp trên cây bên ngoài cửa sổ, thấy Hoàng Dung điểm huyệt Quách Tĩnh, đưa tiễn Quách Phù, chàng bèn theo lối cũ ra khỏi thành, bám theo xa xa phía sau, nghĩ:" Quách bá mẫu, con gái bá mẫu nợ ta một cánh tay, Quách bá bá không chém được, thì ta sẽ chém. Bá mẫu ở ngoài sáng, ta ở trong bóng tối, bá mẫu muốn mãi mãi giữ cánh tay phải cho con gái mình, thật chẳng dễ đâu! "

Hoàng Dung đưa tiễn con, buồn lòng nên chẳng để ý có người bám theo phía sau, sau đó Hoàng Dung trong tiểu thị trấn gặp Lý Mạc Sầu, rồi hai người giao đấu thế nào, Dương Quá ở bên ngoài cánh rừng đều thấy rõ. Chờ hai người đuổi nhau ra khỏi cánh rừng, chàng nhảy lên một cây cao, chập ba sợi song mây làm một, buộc một đầu trên cành cây, tay trái cầm một đầu, từ trên cây đu người vào bên trong vòng rào bằng song mây, hai chân cắp vào ngang lưng Quách Tương, kéo người lên, đu ra ngoài vòng. Thấy Hoàng Dung và Lý Mạc Sầu đang mải giao đấu với nhau ở ngoài cánh rừng, chàng ẵm bé Quách Tương chạy thật nhanh, chẳng mấy chốc đã tới thị trấn. Thấy Quách Phù đứng bên đường, tay dắt con tiểu hồng mã, mắt ngó ngược ngó xuôi chờ mẹ quay lại, Dương Quá lẳng lặng tới gần, từ khoảng cách hơn một trượng vọt ngay lên lưng con ngựa.

Quách Phù giật mình, ngoảnh nhìn, thấy người cưỡi trên lưng ngựa chính là Dương Quá, thì kêu" Ối ", vội rút kiếm khỏi bao. Thanh kiếm Thục nữ của Tiểu Long Nữ tuy rất sắc, nhưng Quách Phù không muốn dùng, thanh kiếm nàng đang cầm trong tay chỉ là một thanh kiếm thông thường.

Dương Quá thấy nàng mặt tái nhợt, mục quang đầy vẻ kinh hãi, lúc này nếu chàng muốn chém cánh tay phải của nàng, thật dễ như trở bàn tay, nhưng chàng lại không nỡ hạ độc thủ. Chàng vung ống tay áo bên phải một cái, nó đã cuốn lấy thanh kiếm của Quách Phù mà hất đi. Quách Phù không giữ được, thanh kiếm tuột tay, bay thẳng vào góc tường. Dương Quá tay trái giật cương ngựa, hai chân kẹp lại, con tiểu hồng mã lao đi vùn vụt.

Quách Phù cả sợ, chân tay luống cuống, lát sau mới đến bên góc tường nhặt thanh kiếm lên, thân kiếm văng mạnh vào tường đã bị cong gập như cái thước thợ.

Dùng vật mềm mà thi triển cường kình, vốn là chỗ tinh yếu của võ công phái Cổ Mộ, Lý Mạc Sầu sử dụng cây phất trần, Tiểu Long Nữ sử dụng dải lụa, đều là môn công phu đó. Dương Quá hiện thời nội kình đã mạnh, tay áo phất một cái, thật không khác gì ngọn roi cứng, cây búa lớn ra đòn.

Dương Quá ẵm bé Quách Tương, cưỡi con tiểu hồng mã phóng nhanh về hướng bắc, chẳng mấy chốc qua thành Tương Dương, đã chạy được vài chục dặm, cho nên khi Hoàng Dung leo lên ngọn cây cao nhất mà nhìn tứ phía, không còn thấy chàng đâu nữa.

Ngồi trên mình ngựa phi nhanh, cây cối hai bên đường cứ vùn vụt trôi về phía sau, Dương Quá cúi đầu nhìn Quách Tương trong bọc, thấy nó đang ngủ rất say, khuôn mặt thanh tú xinh xắn, nghĩ:" Đứa con gái nhỏ này của Quách bá bá, Quách bá mẫu, mình không trả lại cho họ, cũng coi như đã trả được mối thù mất cánh tay. Nỗi buồn khổ của họ lúc này e rằng còn đau đớn hơn ta nhiều ". Đi một quãng nữa, chàng lại nghĩ:" Dương Quá ơi là Dương Quá, có phải mi nhiễm tính phong lưu quá nặng rồi sao, thấy thiếu nữ Quách Phù xinh đẹp liền quên luôn mối thù lớn của mi? Nếu kẻ chém mất cánh tay mi là nam nhân, liệu hôm nay mi có tha cho hắn hay chăng? "Nghĩ một hồi, chàng lắc đầu cười khổ. Đối với cái tính nết dễ thay đổi của mình, chàng chẳng những không quản chế được, mà thật ra cũng không hiểu rõ lắm.

Sau khi đi hơn hai trăm dặm, dọc đường bắt đầu có nhà dân, chàng vào xin sữa cừu, sữa bò cho Quách Tương uống, quyết ý trở về tòa cổ mộ tìm Tiểu Long Nữ, vài ngày sau đã đến chân núi Chung Nam.

Nhớ chuyện cũ, chàng phóng ngựa lên núi, tìm đường đến trước tòa cổ mộ. Tấm bia đá lớn đề dòng chữ" Hoạt tử nhân mộ "vẫn sừng sững đứng đó, không khác gì trước kia, cửa mộ đã bị sập xuống khi Lý Mạc Sầu công nhập, muốn vào bên trong, chỉ có cách lội qua dòng suối ngầm, theo địa đạo bí mật mà thôi. Với nội công tu vi hiện thời của chàng, việc vượt địa đạo chẳng tốn sức bao nhiêu, nhưng chàng chưa biết cách làm thế nào đối với Quách Tương. Khi phải lặn dưới nước, đứa bé sẽ chết ngạt. Nhưng nghĩ chắc lúc này Tiểu Long Nữ đang ở trong tòa cổ mộ, vào đó là được gặp nàng, chàng dằn lòng sao đặng? Bèn lấy trong túi ra một cái bánh, nhai nát mớm cho Quách Tương, tìm một cái hang gần đấy, đặt bé nằm ở đó, nhổ một số bụi cây gai lấp cửa hang, nghĩ bất kể có gặp Tiểu Long Nữ trong nhà mồ hay không, chàng cũng sẽ lập tức trở ra, tính cách an trí đứa bé. Lấy bụi cây gai lấp cửa hang xong xuôi, chàng đi vòng ra phía sau tòa cổ mộ, chợt nghe xa xa vọng lại tiếng binh khí va chạm, chính là ở phía cung Trùng Dương. Còn đang nghi ngờ, bỗng thấy tiếng vu vu do ngân luân phát ra, rồi thấy nó bay lên trời, chính là binh khí của Kim Luân pháp vương. Chàng nổi tính hiếu kỳ, chạy về hướng đó, đến trước động Ngọc Hư, phía sau cung Trùng Dương, đúng vào lúc Tiểu Long Nữ bị giáp kích bởi chiêu" Thất tinh tụ hội "của Toàn Chân ngũ tử và chiếc luân của Kim Luân pháp vương, thân bị trọng thương.

Dương Quá nếu đến sớm chỉ một giây lát, đã có thể cứu nguy, song đạo trời khó đoán, thế sự khó nói, mọi việc đâu có được như ý con người? Bi hoan li hợp, vinh nhục họa phúc của con người chỉ cách nhau đường tơ kẽ tóc mà thôi!

Toàn Chân ngũ tử thấy Dương Quá xuất hiện, biết là sự việc thêm nhiều rắc rối. Khưu Xứ Cơ nói lớn:

– Cung Trùng Dương là chốn tịnh tu, hà cớ gì hôm nay các vị kéo đến quấy phá?

Vương Xứ Nhất càng giận dữ hơn, gằn giọng:

– Long cô nương, phái Cổ Mộ của cô nương và phái Toàn Chân của bọn ta tuy có hiềm khích, đôi bên tuyệt giao thì xong, hà tất hẹn ước đám người Hồ Tây Vực, tà ma ngoại đạo đến đây, sát hại bao nhiêu giáo chúng đệ tử?

Tiểu Long Nữ đang bị trọng thương, làm gì còn cảm thấy phân biện phải trái, đấu khẩu với họ? Chúng đệ tử thấy Tiểu Long Nữ đả thương Doãn Chí Bình và Triệu Chí Kính, thì dù họ ngả theo Doãn Chí Bình hay hùa theo Triệu Chí Kính, cũng đều coi nàng là kẻ địch, nên lúc này không có ai đứng ra nói rõ chân tướng. Dương Quá dùng tay trái ôm ngang eo lưng Tiểu Long Nữ, âu yếm nói:

– Cô cô, hai ta cùng về tòa cổ mộ, đừng để tâm tới bọn người kia nữa!

Tiểu Long Nữ hỏi:

– Cánh tay chàng còn đau nữa không?

Dương Quá cười, lắc đầu, đáp:

– Hết đau lâu rồi.

Tiểu Long Nữ nói:

– Chất độc hoa Tình trong người chàng còn phát tác nữa không?

Dương Quá nói:

– Có khi phát tác vài lần, song cũng không mạnh lắm.

Triệu Chí Kính sau khi bị Tiểu Long Nữ đả thương, vẫn nấp ở phía sau, không dám ló mặt ra, nay Toàn Chân ngũ tử phá cửa động xông ra, biết rằng nếu các vị sư trưởng tra cứu nguyên do, chức vị chưởng giáo của hắn sẽ mất tiêu, thân xác còn bị nghiêm hình. Hắn chẳng qua cũng chỉ nóng nảy, hẹp hòi, không phải hạng người đại gian đại ác, cứ tự cho mình có võ công cao nhất trong đám đệ tử đời thứ ba, chức vị chưởng giáo lại rơi vào tay Doãn Chí Bình, thì hắn căm tức, đâm ra ngày một đi vào con đường sai trái, không tự gỡ ra nổi. Lúc này thầm nghĩ phải làm cho tình hình rối loạn cả lên, năm vị sư trưởng khó phân định rõ phải trái, thì mới có cơ may nào đó, nếu lại có thể mượn tay Kim Luân pháp vương và đám võ sĩ Mông Cổ trừ diệt luôn Toàn Chân ngũ tử, thì đúng là nhất lao vĩnh dật. Hắn thấy Dương Quá bị mất một cánh tay, tay trái lại phải ôm Tiểu Long Nữ, tình thế xem chừng thúc thủ chịu chết, kẻ mà hắn bình sinh căm hận nhất, chính là tên tiểu tử phản môn nhục sư Dương Quá kia, gặp cơ hội này, sao hắn chịu bỏ qua? Hắn quay sang nháy mắt với Lộc Thanh Đốc, rồi quát to:

– Nghịch đồ Dương Quá, hai vị tổ sư gia nói với ngươi, ngươi còn chưa chịu quì xuống khấu đầu, cứ tảng lờ như vậy được sao?

Dương Quá ngoảnh lại, mục quang đầy vẻ oán độc, nghĩ:" Cô cô bị trọng thương bởi bọn đạo sĩ thối tha các ngươi, hôm nay tạm thời cho qua, sau này ta sẽ đến thanh toán ". Chàng hầm hầm nhìn quần đạo một lượt, ôm Tiểu Long Nữ bước đi.

Triệu Chí Kính quát:

– Xông vào!

Hắn cùng với Lộc Thanh Đốc song kiếm nhất tề đâm tới sườn bên phải của Dương Quá. Ban nãy Triệu Chí Kính tuy bị thương, nhưng thương thế không nặng, nhát kiếm này đâm tới chỗ cánh tay cụt của Dương Quá, biết chắc đối phương không thể đánh trả, hắn dồn vào đó kình lực tu vi một đời.

Khưu Xứ Cơ tuy bất mãn về sự ngông cuồng, coi thường tôn trưởng của Dương Quá, nhưng nghĩ đến lời gửi gắm của Quách Tĩnh, lại nhớ tình sư đồ với phụ thân Dương Quá là Dương Khang, bèn quát:

– Chí Kính, kiếm hạ lưu tình!

Bên kia, có tiếng Mã Quang Tá nhiếc móc:

– Đồ mũi trâu không biết xấu mặt hay sao mà đi đâm vào chỗ cánh tay cụt của người ta!

Y và Dương Quá rất hợp nhau, thấy chàng gặp nguy hiểm, định xông tới giải cứu, ngặt nỗi cự li quá xa, ra tay không kịp.

Bỗng thấy một cái bóng xám vọt lên, tấm thân hộ pháp của Lộc Thanh Đốc tung lên cao kèm tiếng kêu oai oái, rồi rơi xuống huỵch một cái, trúng người Ni Ma Tinh. Võ công như Ni Ma Tinh, dù bị bất ngờ, cũng quyết không để bị kẻ khác rơi đè xuống mình như thế, song hắn bị cụt hai chân, hai tay thì cầm hai cây quải trượng, không thể dùng tay đẩy ra, cũng không thể nhảy tránh, nên bị đè ngã ngửa. Lưng vừa chạm đất, Ni Ma Tinh lập tức bật dậy, giáng cho Lộc Thanh Đốc một đòn quải trượng vào lưng khiến Lộc Thanh Đốc ngất đi.

Lúc ấy Dương Quá đã dùng chân phải đạp thanh trường kiếm của Triệu Chí Kính mà ghìm xuống đất, Triệu Chí Kính mắm môi cố dùng sức rút kiếm lên, nhưng thanh kiếm bất động. Nguyên khi song kiếm đâm tới, ống tay áo rỗng bên phải của Dương Quá phất mạnh, một luồng kình lực hất tung Lộc Thanh Đốc đi. Triệu Chí Kính đột nhiên cảm thấy kình phong, vội sử chiêu" Thiên cân trụy "để ghìm mình lại thật vững. Làm như vậy, mũi kiếm phải chúc xuống đất, Dương Quá giơ chân đạp ngay lên kiếm.

Chàng từng luyện kiếm giữa dòng nước lũ trên núi, thủy lực cực mạnh còn không đẩy ngã được chàng. Lúc này chân chàng đạp xuống thanh kiếm có khác gì núi chặn giữ, Triệu Chí Kính làm sao rút kiếm lên nổi?

Dương Quá lạnh lùng nói:

– Triệu đạo trưởng, hôm ở ải Đại Thắng, trước mặt Quách đại hiệp, ngươi đã nói rõ không phải là sư phụ của ta, hôm nay cớ sao còn nhắc đến chuyện sư đồ? Thôi được, nể tình có lúc từng gọi ngươi vài tiếng sư phụ, ta tha cho ngươi đi!

Lời vừa dứt, bàn chân không động đậy, nhưng kình lực đè xuống đã triệt tiêu hoàn toàn.

Triệu Chí Kính đang ráng sức kéo kiếm về phía sau, đột nhiên tay nhẹ bẫng, thanh kiếm bật lên, hự một tiếng, chuôi kiếm thúc mạnh vào ngực hắn. Nếu là kẻ địch vận kình tấn công, Triệu Chí Kính dù không chống đỡ nổi, cũng vẫn dùng lực chống đỡ, đằng này hắn đang tự thúc vào ngực mình, không còn chút lực nào chống đỡ, chỉ cảm thấy ngực đau nhói, hộc ngay ra một ngụm máu tươi, mắt tối sầm, ngã ngửa ra sau.

Vương Xứ Nhất và Lưu Xứ Huyền song kiếm được rút khỏi bao, từ hai bên tả hữu đâm về phía Dương Quá, đột nhiên có một bóng người lao chếch tới, keng keng hai tiếng, gạt kiếm của hai vị kia đi, người đó chính là Ni Ma Tinh. Sau khi bị Lộc Thanh Đốc đè ngã, Ni Ma Tinh đã đánh cho Lộc Thanh Đốc ngất xỉu, song hắn vẫn chưa nguôi giận. Hắn cho rằng nguyên do là tại Dương Quá, bèn vung quải trượng xông tới, thiết trượng tay trái gạt phăng kiếm của hai đạo nhân, thiết trượng tay phải thì bổ thẳng xuống đầu Dương Quá và Tiểu Long Nữ.

Dương Quá biết Ni Ma Tinh võ công cao cường, chỉ sử dụng ống tay áo rỗng, e không thể gạt nổi đòn vừa cương vừa nhu của hắn, lúc này Tiểu Long Nữ toàn thân vô lực, đang ngả hẳn vào người chàng, thế là chàng bèn nghiêng người sang trái, ống tay áo rỗng quạt ngang, cuộn lấy quanh eo lưng Tiểu Long Nữ, để nàng dựa hẳn vào nửa ngực bên phải của mình, tay trái rút Huyền thiết trọng kiếm đeo sau lưng, thuận thế vung lên. Keng một tiếng, một vệt đen bay lên trời, đó là cây thiết trượng của Ni Ma Tinh. Cây thiết trượng ấy nặng hơn chục cân, bay lên cao đến hai chục trượng, rồi rơi xuống phía sau động Ngọc Hư.

Dương Quá lần đầu tiên lâm địch sử dụng Huyền thiết trọng kiếm của Kiếm Ma Độc Cô Cầu Bại, thấy uy lực như thế cũng không khỏi kinh ngạc.

Ni Ma Tinh nửa người tê dại, cả cánh tay phải bị chấn động không còn cảm giác gì nữa, nhưng hắn vốn hung hãn vô tỉ, miệng gầm lên, tay trái dộng cây thiết trượng xuống đất một cái, tung người lên cao hơn trượng, rồi bổ xuống. Dương Quá nghĩ bụng đã biết cương lực của Huyền thiết trọng kiếm, bây giờ muốn thử nhu lực xem sao, bèn giơ mũi kiếm lên dính ngay lấy cây thiết trượng. Lúc này chỉ cần nhả nội lực ra, sẽ hất văng Ni Ma Tinh đi vài trượng, đập vào sườn núi vỡ đầu nát óc.

Chàng thấy Tiểu Long Nữ bị trọng thương, lòng đầy oán hận, lần này ra tay quyết chẳng dung tình. Nhưng đang định nhả lực ra, thì thấy thân hình Ni Ma Tinh ở giữa không trung đã cụt cả hai chân, chợt nghĩ mình cũng bị cụt một tay, bỗng có ý đồng bệnh tương liên, không đẩy kiếm lên cao nữa, mà đưa chúi xuống, cây thiết trượng cắm thẳng xuống đất, ngập sâu quá nửa.

Ni Ma Tinh nắm cây thiết trượng, cố rút lên, nhưng tay phải đã bị thanh kiếm nặng áp sát, y như bị điểm huyệt, không cựa quậy được. Dương Quá nói:

– Hôm nay tha mạng cho ngươi, mau cút về Thiên Trúc cho rồi.

Ni Ma Tinh mặt xám như tro, bất động tại chỗ, không thốt nên lời.

Tiêu Tương Tử và Doãn Khắc Tây thấy biến cố bất ngờ, đoán rằng trong hơn một tháng qua Dương Quá đã đại tăng công lực, còn Ni Ma Tinh thì sau khi bị cụt hai chân đã trở nên vô dụng. Doãn Khắc Tây vọt tới, rút cây thiết trượng lên, đặt vào tay Ni Ma Tinh. Ni Ma Tinh nhận lấy, dộng xuống đất định nhảy ra xa, không ngờ cánh tay vẫn chưa hết tê dại, vừa dộng một cái đã ngã lăn ra đất.

Tiêu Tương Tử vốn lấy tai họa của người khác làm niềm vui của hắn, hễ người khác gặp bất hạnh là hắn thích thú, bất kể bạn hay thù, hắn nghĩ:" Gã lùn Thiên Trúc quen tự phụ, không phục ta, giờ coi như xong. Ta phải ra tay bắt sống Dương Quá, để dương danh lập uy với thiên hạ ". Bèn xông ra, quát:

– Tên tiểu tử Dương Quá, mấy lần ngươi làm hỏng đại sự của vương gia, mau đi theo lão phu chịu tội!

Dương Quá nghĩ:" Cô cô bị trọng thương, phải sớm cứu chữa, nhưng cường địch trước mặt quá đông, không hạ sát thủ, khó bề thoát thân ". Chàng hỏi nhỏ Tiểu Long Nữ:

– Có đau lắm không?

Tiểu Long Nữ nói:

– Chàng ôm thiếp.. thiếp.. thiếp thấy rất dễ chịu.

Dương Quá ngẩng lên, nói với Tiêu Tương Tử:

– Xuất chiêu đi!

Thanh Huyền thiết trọng kiếm chĩa về phía thắt lưng Tiêu Tương Tử, cách hắn chừng hai thước. Tiêu Tương Tử thấy thanh kiếm thô và đen, mũi không nhọn, không có lưỡi sắc, trông như một thanh sắt cứng, nghĩ:" Tên tiểu tử này kiếm pháp mẫn tiệp, biến ảo linh động hết sức lợi hại, sao lại đi sử dụng thanh sắt này, kiếm pháp tất bị hạn chế ". Hắn hỏi:

– Ngươi vớ đâu ra cái que cời than này vậy?

Đoạn vung cây cương bổng đánh vào Huyền thiết trọng kiếm. Dương Quá cầm thanh kiếm bất động, nội kình truyền ra thân kiếm, chỉ nghe" cạch "một tiếng, bổng kiếm đập vào nhau, cây cương bổng gãy rời thành bảy, tám đoạn, bay ra tứ phía. Tiêu Tương Tử kêu lên:

– Hỏng rồi!

Hắn vội thoái lui. Thanh Huyền thiết trọng kiếm của Dương Quá chọc theo hai cái, hai cánh tay của Tiêu Tương Tử cùng gãy luôn.

Dương Quá liên tiếp đánh bại Lộc Thanh Đốc, Triệu Chí Kính, Ni Ma Tinh ba người, mọi người trước động Ngọc Hư đều xôn xao. Lần này thân hình chàng bất động, tay không vung, chỉ dùng nội lực làm gãy binh khí của Tiêu Tương Tử, mọi người càng không hiểu tại sao, nhìn nhau kinh hãi, đều nghĩ:" Võ công của người này đúng là tà môn! "

Doãn Khắc Tây là thương nhân Tây Vực, giỏi nhận biết báu vật, thấy thanh kiếm nặng của Dương Quá hất văng quải trượng của Ni Ma Tinh, đã thầm kinh ngạc:" Thanh kiếm này uy mãnh dị thường, thân kiếm đen tuyền, thấp thoáng ánh hồng, chắc là làm bằng huyền thiết chăng? Thứ huyền thiết này là vật chí bảo trong thiên hạ, tìm được một lạng đã khó. Đao, kiếm, thương, giáo thông thường khi đúc chỉ cần pha vào vài tiền, nửa lạng, là đủ thành binh khí sắc bén. Đằng này tìm đâu ra nhiều huyền thiết thế kia cơ chứ? Hơn nữa, nếu thanh kiếm làm toàn bằng huyền thiết, thì phải nặng bốn, năm chục cân, làm sao có thể sử dụng linh hoạt? "

Kỳ thực thanh kiếm này nặng tám tám sáu mươi tư cân, nếu nó không nặng ngần ấy, Dương Quá dù nội lực mạnh mấy, cũng không thể phát ra uy lực như vậy. Thấy cây cương bổng của Tiêu Tương Tử bị gãy rời thành bảy, tám đoạn, Doãn Khắc Tây càng tin rằng thanh kiếm này là thần phẩm. Y vốn không phải là kẻ đại ác, chẳng qua từ nhỏ hành nghề buôn bán châu ngọc, hễ thấy kỳ trân dị bảo, liền ngứa ngáy, phải tìm mọi cách, hoặc mua hoặc lừa, hoặc cướp hoặc trộm, miễn sao có được vật quí. Lúc này nhìn thấy thanh kiếm nặng của Dương Quá thì lòng tham nổi lên, liền nhảy ra, tung Kim long tiên cuốn lấy thanh kiếm ấy.

Dương Quá đã cùng Doãn Khắc Tây vào Tuyệt Tình cốc, thấy y lúc nào cũng cười cười vui vẻ, hòa nhã, không hề có ý thù địch với chàng, thấy Kim long tiên đính đầy vàng ngọc, kim cương, là vật quí, thì cứ để cho Kim long tiên cuốn lấy Huyền thiết trọng kiếm, và nói:

– Doãn huynh, hai ta không hề có mắc mớ gì với nhau, huynh hãy mau gỡ tiên ra, để tiểu đệ đi. Kim long tiên của huynh có nhiều vật quí, bị tổn hại thì hơi tiếc.

Doãn Khắc Tây cười, nói:

– Cái gì?

Rồi vận kình đoạt lấy kiếm. Dương Quá đứng sừng sững, Doãn Khắc Tây ráng sức kéo mà không xê dịch được tí nào.

Lúc này Doãn Khắc Tây đứng gần, nhìn rõ thanh kiếm này quả là đúc bằng huyền thiết, hệt như kim cương, là vật rắn nhất trong thiên hạ, đụng vào bất cứ vật gì khác, thì vật khác bị tổn hại, chứ nó không suy suyển. Kim long tiên siết vào kiếm, mà thân kiếm không hề có vết trầy xước. Y biết đối phương võ công lợi hại, nếu không xuất kỳ chế thắng, thì khó đoạt nổi thanh kiếm, bèn cười hi hi, nói:

– Dương huynh công phu tinh tiến quá chừng, xin chúc mừng, tiểu đệ cam bái hạ phong.

Miệng nói năng khách sáo, cổ tay trái của y lật một cái, hàn quang loáng lên, một lưỡi chuỷ thủ đã đâm nhanh tới ngực Tiểu Long Nữ.

Doãn Khắc Tây không định đả thương Tiểu Long Nữ, chẳng qua y biết Dương Quá tha thiết quan hoài Tiểu Long Nữ, thấy nàng gặp nguy, hẳn chàng sẽ xả thân cứu viện, nên Doãn Khắc Tây dùng lối dương đông kích tây, may ra có thể đoạt thanh bảo kiếm. Dương Quá thấy vậy quả nhiên giật mình. Doãn Khắc Tây quát:

– Buông kiếm!

Lực toàn thân được y vận ra cánh tay để kéo tiên đoạt kiếm.

Nghe tiếng quát, Dương Quá quả nhiên hất thanh kiếm đi. Kiếm dài, chuỷ thủ ngắn, thanh kiếm ngăn cách ba người, chuỷ thủ đâm không thể tới người Tiểu Long Nữ được, song Dương Quá trong cơn nguy cấp sử lực quá mạnh, hất kiếm và tiên đi. Doãn Khắc Tây biết thanh kiếm rất nặng, sớm có đề phòng, nhưng không thể ngờ thanh kiếm thúc đến người mình mạnh như thế, y thấy không tránh kịp, vội vận nội lực, song chưởng đẩy ra, bình một tiếng lớn, người y bật lùi về đằng sau năm, sáu bước mới đứng lại được, mặt tái nhợt, nét cười ở khóe miệng méo xệch đi, chỉ cảm thấy lục phủ ngũ tạng đều đảo lộn, cứ đứng lặng như trời trồng, không dám cựa quậy hoặc vận khí gì hết. Dương Quá tới gần, giơ tay cầm lấy Huyền thiết trọng kiếm, rung nhẹ một cái, dưới ánh nắng, thấy vàng bạc châu ngọc rơi lả tả xuống đất, Kim long tiên quí giá đã bị vỡ nát. Dương Quá gọi to:

– Kim Luân pháp vương, món nợ giữa hai ta, thanh toán hôm nay hay để ngày sau?

Kim Luân pháp vương thấy chàng liên tiếp đánh bại Ni Ma Tinh, Tiêu Tương Tử, Doãn Khắc Tây ba đại cao thủ, đều chỉ một chiêu đã đả thương đối phương, gã thiếu niên này võ công tăng tiến ngoài sức tưởng tượng, nay lão xông vào động thủ, nhất định sẽ không đến nỗi kém cỏi như ba gã kia, chỉ e khó lòng thủ thắng. Nhưng hiện tại các lộ anh hùng tề tựu ở đây, vừa nghe Dương Quá dọa một câu lão đã bỏ đi thì còn gì thể diện? Lão nghĩ:" Hắn mất một cánh tay, tay trái dù lợi hại, song mé bên phải vẫn có chỗ sơ hở, mình cứ nhè mé bên phải mà tấn công. Hắn lo cho thương thế của Tiểu Long Nữ, càng để lâu càng mất tinh thần ". Thế là lấy kim, ngân, thiết, đồng, diên ngũ luân cầm tay, tự nhủ trận này thực sự quyết định sinh tử vinh nhục, không thể sơ suất chút nào, thần sắc thản nhiên, thong thả bước ra, cười, nói:

– Dương huynh đệ, cung hỉ huynh đệ lại có kỳ ngộ, có được thanh thần kiếm uy mãnh tuyệt luân! Món binh khí ly kỳ cổ quái của huynh đệ, chỉ e lão nạp cũng không đối phó nổi.

Lão không dám chắc thắng, ra sức tán thưởng Huyền thiết trọng kiếm, để mọi người thấy rằng gã thiếu niên này chẳng qua may mắn, có được thứ binh khí thần dị mà thôi.

Tiểu Long Nữ nằm trong lòng Dương Quá, mơ màng thấy Kim Luân pháp vương cầm ngũ luân bước tới, nghĩ một mình Dương Quá nhất định không địch nổi lão ta, bèn nói nhỏ:

– Quá nhi, chàng hãy đưa cho thiếp một thanh kiếm, hai ta.. hai ta.. cùng.. sử Ngọc nữ tố tâm kiếm pháp.

Dương Quá cảm động, nói nhỏ:

– Cô cô cứ yên tâm! Quá nhi một mình đối phó với lão ta cũng xong.

Tiểu Long Nữ xê dịch sang bên trái, cố che chắn đòn phía trước cho chàng. Dương Quá vừa cảm kích, vừa vui sướng, nói to:

– Cô cô! Hôm nay hai ta cùng ác chiến quần ma, sống được thế này, không còn gì hơn.

Huyền thiết trọng kiếm chĩa thẳng ra đằng trước. Kim Luân pháp vương không dám chính diện đấu lực với chàng, lão nhảy lùi, lập tức quăng diên luân bay tới ù ù, Dương Quá giơ kiếm chặn, nhưng diên luân bay vòng ra sau lưng Dương Quá rồi trở về với lão ta. Chỉ nghe vù vù, oăng oăng, ào ào, kim quang, ngân quang loang loáng, ngũ luân từ năm phương vị khác nhau bay tới công kích.

Dương Quá sợ chấn động vết thương của Tiểu Long Nữ nên chàng cố đứng bất động. Ngũ luân của Pháp vương cùng xuất kích, chỉ mới là đòn thăm dò, ngũ luân bay vòng một vòng quanh thân hai người, rồi bay trở lại, lão ta thấy Dương Quá hoàn toàn không giơ kiếm truy kích, đã biết ý của đối phương, thì mừng thầm:" Mi không dám di động thân hình, để khỏi động tới vết thương của Tiểu Long Nữ, tình thế của mi nguy rồi. Ta cứ từ xa công kích, không thể thất bại được ".

Dương Quá đã mất một tay, lại lo bảo hộ người bị thương, xét về thân phận, Kim Luân pháp vương lẽ ra không nên giao đấu mới đúng, nhưng lão ta biết dịp tốt hôm nay khó bề gặp lại, nếu để Tiểu Long Nữ chữa khỏi vết thương, hai người họ liên thủ với nhau, cố nhiên lão không tài gì địch nổi. Mà dù Tiểu Long Nữ có chết do bị thương nặng, Dương Quá không còn vướng víu gì, lão cũng chưa chắc địch nổi chàng. Chỉ có cách hôm nay thừa dịp đánh chết Dương Quá, mới hết hậu họa, còn chuyện công bằng, thôi hãy lờ đi.

Tình thế đó, người đứng ngoài cũng nhận ra, thấy Kim Luân pháp vương thiếu quang minh. Mã Quang Tá nói lớn:

– Đại hòa thượng, lão là anh hùng hay là kẻ tiểu nhân hèn hạ?

Kim Luân pháp vương làm như không nghe thấy, ngũ luân liên tiếp được quăng ra, liên tiếp bay lượn, vòng quanh Dương Quá và Tiểu Long Nữ, lúc cao lúc thấp, lúc thẳng lúc nghiêng, âm thanh phát ra cũng lúc nặng lúc nhẹ, người xung quanh còn hoa cả mắt, tâm thần bất định. Đột nhiên Mã Quang Tá kêu ối một tiếng, thì ra đồng luân bay đang bay chếch thì ngoặt lại sướt qua đỉnh đầu Mã Quang Tá, liếm mất một mảng da đầu của y. Mã Quang Tá ôm vết thương mà chửi, máu chảy ròng ròng.

Dương Quá nghĩ Tiểu Long Nữ bị trọng thương, kéo dài thời gian càng ít cơ hội cứu trị, trong lòng nôn nóng. Pháp vương gọi:

– Cẩn thận này!

Đột nhiên ngũ luân qui nhất, nối đuôi nhau bay tới chỗ hai người, thế như năm con trâu xung trận. Dương Quá cũng dồn lực toàn thân ra cánh tay trái, mũi kiếm rung rung, keng keng keng ba tiếng, gạt bay kim, đồng, thiết tam luân, rồi thấy kiếm chém xuống, đất văng tung tóe, ngân luân và diên luân đều đã cắm cả xuống đất.

Pháp vương đang hăng, lao tới, tay trái chộp đồng luân, tay phải chộp kim luân, bổ thẳng xuống đầu Dương Quá. Dương Quá không đỡ, mà đâm Huyền thiết trọng kiếm tới ngực Pháp vương. Kiếm dài, luân ngắn, luân chưa tới đầu Dương Quá, mũi kiếm đã chỉ còn cánh ngực Pháp vương non nửa thước, Pháp vương lập tức lùi về, lão tiến lên nhanh, lùi về cũng lẹ, thoáng một cái lão ta đã lùi chếch sang bên trái, phía sau mấy thước, trong khoảnh khắc tiến lui thần tốc như thế, quả là công phu hiếm có trong võ lâm, mọi người không khỏi ồ lên thán phục. Huyền thiết trọng kiếm đâm ra rồi lập tức thu về, keng một tiếng, đã thúc đồng luân từ phía sau đánh tới bị vỡ làm hai mảnh, hai mảnh ấy chưa kịp rơi xuống đất, lại bị kiếm đánh vỡ thành bốn mảnh. Huyền thiết trọng kiếm tuy không có lưỡi sắc và mũi nhọn, nhưng Dương Quá vận nội lực truyền ra kiếm, vật cứng mấy cũng không chịu nổi. Mọi người vừa ồ lên thán phục khinh công tuyệt đỉnh của Pháp vương, giờ thấy kỳ uy của thần kiếm đều kinh ngạc lặng cả đi.

Trong giây lát, ngũ luân của Pháp vương đã bị hủy mất ba cái, nhưng lão không nhụt chí, vẫn múa kim, thiết song luân mà công cùng lúc. Dương Quá chọc kiếm ra, Pháp vương né ngang, tránh kiếm hoàn luân, lúc này lão ta không liệng song luân đi nữa, tuy không thể tấn công từ xa, nhưng cận chiến sẽ chắc chắn hơn. Chỉ thấy lão xoay quanh Dương, Long hai người, đánh bên trái đỡ bên phải, nhảy lên luồn xuống, song luân ngang dọc linh động, vù vù bất tuyệt. Huyền thiết trọng kiếm của Dương Quá tuy nặng nề, khó xoay trở, nhưng bất kể Pháp vương biến chiêu thế nào, trước sau cũng không tới gần được hai người trong vòng ba bước. Sau khi đấu bốn, năm chục chiêu, song luân chập làm một, cùng tấn công Tiểu Long Nữ. Huyền thiết trọng kiếm của Dương Quá đâm ra, bập một tiếng nhẹ, dính luôn vào mép kim luân, hai dòng nội lực từ hai loại binh khí đụng vào nhau, lập tức cả hai người cùng giữ nguyên bất động. Dương Quá cảm thấy kình lực của Pháp vương đẩy tới cứ triền miên bất tuyệt, càng lúc càng mạnh, thì ngầm kinh hãi:" Nội lực của lão hòa thượng quá ư thâm hậu ". Lại nghĩ:" Đã đấu nội lực, thì không thể thi triển uy thế của Huyền thiết trọng kiếm được nữa, đấu càng lâu, lão ta tất chiếm thượng phong. Chi bằng, dụ lão ta lại gần, bất ngờ phất ống tay áo vào mặt lão ". Bèn từ từ co dần cánh tay trái, hai người vốn cách xa nhau hơn năm thước, dần dần thu ngắn còn bốn thước rưỡi, rồi bốn thước.

Đệ tử Hoắc Đô và Đạt Nhĩ Ba của Pháp vương ở bên cạnh sư phụ, thấy sư phụ dần dần chiếm lợi thế thì cả mừng, bước lên mấy bước. Đạt Nhĩ Ba lo cho sự an nguy của sư phụ, song cũng mong sư phụ đừng đả thương" đại sư huynh "đã đầu thai sang kiếp này.

Hoắc Đô thì muốn ám toán Dương Quá, hắn phe phẩy cây quạt sắt, làm như quạt mát, kỳ thực chờ cơ hội phóng ám khí trong quạt về phía Dương Quá. Khưu Xứ Cơ và Vương Xứ Nhất thấy Hoắc Đô bước tới, mục quang kỳ dị, biết hắn định xuất thủ giúp sư phụ hắn, thì hai người đưa mắt cho nhau, đều nghĩ:" Dương Quá tuy đối địch với bản giáo, nhưng đại trượng phu quang minh lỗi lạc, thắng hay bại trước hết phải bằng bản lĩnh thật sự. Cung Trùng Dương há để cho gian đồ cuồng bạo? "Hai người bèn rút kiếm, tiến ra một bước, trừng mắt nhìn Hoắc Đô. Khưu, Vương hai vị đạo nhân tóc bạc phơ, nhưng do tu luyện huyền công, mặt mũi hồng hào, hai thanh trường kiếm thì loang loáng ánh thép xanh, hiển lộ uy vũ, khiến Hoắc Đô không dám vọng động.

Lúc này Dương Quá từ từ co dần cánh tay trái về, đôi bên chỉ còn cách nhau chưa đầy ba thước, nghĩ:" Phải dụ lão ta lại thêm nửa thước nữa, khi mình phất ống tay áo, dù không thể lấy mạng lão ta, cũng làm cho lão ta choáng váng mặt mày ". Pháp vương thấy vai phải của chàng hơi động, đã đoán ý chàng, tự nhủ:" Mi vận kình phất ống tay áo rỗng, cũng ngang như cây nhuyễn tiên lợi hại. Ta tương kế tựu kế, tiếp nhận một cái phất ống tay áo của mi, lúc ấy lực đạo cánh trái tất giảm, ta sẽ thừa thế toàn lực mãnh công, làm cho mi bị trọng thương ".

Tiểu Long Nữ áp vào người Dương Quá, mơ mơ hồ hồ, Dương Quá vận nội lực, huyết mạch lưu thông mạnh, cơ thể nóng bừng bừng. Tiểu Long Nữ thấy mặt chàng tỏa nhiệt khí, nàng mở to mắt, thấy trán chàng lấm tấm mồ hôi, bèn đưa tay áo thấm mồ hôi cho chàng, thấy chàng thần sắc trịnh trọng, chăm chú nhìn thẳng phía trước, nàng nhìn theo, bất giác giật mình, thì ra hai con ngươi to tướng màu đồng thau của Pháp vương đang trừng trừng trước mặt. Nhìn hung quang lồ lộ trong cặp mắt lão ta, nàng vội nhắm mắt, lúc mở mắt ra lần nữa, thì cặp mắt của Pháp vương đã lại gần hơn một chút. Tiểu Long Nữ đang âu yếm với ý trung nhân, tự dưng có cặp mắt hung hãn từ ngoài nhìn vào, thật là đáng ghét. Nàng lúc này không nghĩ đến việc Pháp vương đang đấu lực với Dương Quá, chỉ biết lão hòa thượng là một đại ác nhân, nàng không muốn lão ta đến quấy nhiễu thời khắc sung sướng của nàng, nàng bèn thò tay vào túi, lấy ra một mũi Ngọc phong châm, thong thả chọc tới mắt trái của Pháp vương.

Đừng nói mũi Ngọc phong châm có chất cực độc, chỉ cần một chiếc kim thêu thông thường chọc vào con ngươi, thì mắt sẽ lập tức bị mù. Lúc này Tiểu Long Nữ chỉ muốn đẩy cặp mắt đáng ghét kia ra chỗ khác, chứ không phải là nàng phóng ám khí, hơn nữa nàng đang trọng thương, cánh tay vô lực, tay đưa mũi Ngọc phong châm chọc ra rất chậm chạp.

Nhưng Pháp vương và Dương Quá chính đang cầm cự đến thời khắc mười phần khẩn cấp, bất cứ bên nào di động chút xíu cũng sẽ lập tức nguy to. Mũi Ngọc phong châm của Tiểu Long Nữ chọc tới, Pháp vương không thể nào chống cự. Nhìn mũi châm chọc tới gần, hai thước rồi một thước rưỡi, một thước rồi còn nửa thước, Pháp vương thét to, hất mạnh song luân về đằng trước, lộn người một vòng về phía sau. Nhưng kình lực của Huyền thiết trọng kiếm cực kỳ uy mãnh vẫn còn dư. Pháp vương vừa đứng lên lại lảo đảo ngã phịch xuống đất. Hoắc Đô và Đạt Nhĩ Ba cùng kêu" Sư phụ! "Và chạy tới đỡ dậy. Dương Quá gạt liền hai nhát kiếm, đánh gãy cả kim luân và thiết luân thành mấy mảnh, sấn tới hai bước, bổ Huyền thiết trọng kiếm xuống đầu Pháp vương. Pháp vương bị loạn nội tức, đang tức thở muốn chết, lại xuội lơ xuống đất, Hoắc Đô giơ chiếc quạt sắt, Đạt Nhĩ Ba giơ cây kim chử lên chống đỡ Huyền thiết trọng kiếm; nhưng lực bổ xuống của Huyền thiết trọng kiếm quá mạnh, Đạt Nhĩ Ba và Hoắc Đô cùng khuỵu gối xuống đất, không chịu nổi, song vẫn cố liều chết đẩy lên.

Kình lực đè xuống của Huyền thiết trọng kiếm càng lúc càng mạnh, Đạt Nhĩ Ba và Hoắc Đô đều cảm thấy cột sống như sắp gãy, xương cốt toàn thân kêu răng rắc. Hoắc Đô nói:

– Sư ca, sư ca cố chịu một mình giây lát, tiểu đệ cứu sư phụ ra trước, rồi sẽ trở lại giúp sư ca.

Cả hai hợp lực chống đỡ Huyền thiết trọng kiếm còn không nổi, thì một mình Đạt Nhĩ Ba chịu sao thấu uy lực của thần kiếm? Nhưng Đạt Nhĩ Ba xả thân bảo hộ sư phụ, nói" Được! "Rồi ráng sức nâng giữ cây kim chử.

Hai kẻ đó nói bằng Tạng ngữ, Dương Quá không hiểu ý, chỉ cảm thấy kình lực của cây kim chử tăng mạnh, chàng đang định vận lực đè xuống, thì Hoắc Đô đã nhảy thoát ra.

Ai ngờ Hoắc Đô hoàn toàn không tìm cách cứu viện sư phụ, chỉ mưu đồ một mình thoát thân, hắn nói:

– Sư ca, tiểu đệ về Tây Tạng luyện thêm võ công, mười năm sau sẽ trở lại tìm tên tiểu tử Dương Quá báo thù cho sư phụ và sư ca!

Nói xong hắn quay mình chạy đi như bay.

Đạt Nhĩ Ba bị tên sư đệ lừa dối, thì cả giận, lại nghĩ Dương Quá là đại sư huynh kiếp trước đầu thai sang kiếp này, sao nỡ vô tình vô nghĩa đối với sư phụ? Bèn nói to:

– Đại sư ca, sư ca hãy tha mạng cho tiểu đệ, chờ tiểu đệ cứu sư phụ về, tìm gã sư đệ lang tâm cẩu phế kia băm vằm hắn thành trăm mảnh, rồi tiểu đệ sẽ tới tùy sư ca xử trí. Bấy giờ sư ca muốn chém muốn giết thế nào, tiểu đệ cũng không dám cau mày.

Dương Quá nghe Đạt Nhĩ Ba nói một tràng, dĩ nhiên chàng không hiểu, nhưng Hoắc Đô thấy nguy đào tẩu còn người này trung nghĩa với sư phụ, thì ai cũng rõ, chàng thấy thần sắc y khảng khái, đúng là một đấng nam nhi, cúi xuống, thấy Tiểu Long Nữ đang đắm đuối nhìn chàng, thì trong giây lát chàng quên hết mọi ý định thù oán trên thế gian, nhấc thanh Huyền thiết trọng kiếm lên, nói:

– Tha cho ngươi!

Đạt Nhĩ Ba đứng dậy, nhưng vừa rồi sử kình quá độ toàn thân thoát lực, cây kim chử y cầm không nổi, hịch một tiếng, rơi xuống đất. Y quì xuống, lạy Dương Quá mấy lạy, tạ ơn chàng tha chết. Lúc này Pháp vương vẫn ngồi dưới đất, chưa cử động được. Đạt Nhĩ Ba cõng sư phụ, đi xuống núi.

Dương Quá một tay một kiếm, đánh bại sáu đại cao thủ của Mông Cổ. Đám võ sĩ còn lại thấy sáu thủ lĩnh hoặc bị thương, hoặc đại bại, nào dám chống cự, đành khiêng bọn Ni Ma Tinh, Tiêu Tương Tử, Doãn Khắc Tây chạy đi.

Mã Quang Tá máu me đầy đầu, bước đến trước mặt Dương Quá, giơ ngón tay cái, nói:

– Tiểu huynh đệ, giỏi lắm!

Dương Quá nói:

– Mã đại ca, mấy kẻ cùng đi với đại ca đều là hạng bất lương, đại ca còn đồng hành với chúng sẽ bị thiệt thòi, chi bằng hãy từ bỏ vương gia Hốt Tất Liệt mà trở về quê nhà.

Mã Quang Tá nói:

– Tiểu huynh đệ nói rất phải.

Y nhìn Tiểu Long Nữ, thấy nàng tuy bị trọng thương, vẫn kiều mỹ vô cùng, bèn hỏi:

– Tiểu huynh đệ và tân nương tử khi nào mới thành thân? Tại hạ ở lại chờ uống hỉ tửu của tiểu huynh đệ được chăng?

Mã Quang Tá hôm ở Tuyệt Tình cốc thấy Tiểu Long Nữ là tân nương tử, lúc này vẫn coi nàng là một tân nương tử.

Dương Quá lắc đầu cười gượng, đưa mắt nhìn mấy trăm đạo sĩ vây xung quanh một lượt. Mã Quang Tá chợt hiểu, nói:

– À! Còn nhiều tên đạo sĩ thối tha, để tại hạ giúp tiểu huynh đệ một tay.

Dương Quá nghĩ:" Nếu là một đấu một, các đạo nhân kia không ai địch nổi ta, nhưng nếu họ cùng ùa tới tình thế sẽ hung hiểm vạn phần, chẳng nên để y chết uổng ", bèn nói to:

– Đại ca mau đi đi, một mình đệ đối phó được rồi.

Mã Quang Tá hiểu ý, vỗ tay nói:

– Đúng, đúng vậy. Đến đại hòa thượng, Tiêu Tương Tử còn không địch nổi tiểu huynh đệ, thì đám đạo sĩ thối tha này làm được gì? Tiểu huynh đệ và tân nương tử, tại hạ đi đây!

Nói đoạn xoay xoay cây đồng côn, cười ha hả, quay đầu bỏ đi. Chỉ nghe tiếng cây côn dộng xuống đá núi cạch cạch xa dần.

Dương Quá chống kiếm xuống đất, một phen đấu lực vừa rồi với Kim Luân pháp vương quả đại hao nội lực, nghĩ:" Bọn Kim Luân pháp vương, Tiêu Tương Tử đều có đặc yếu, ấy là khi xuất thủ đấu với ta, tên nào cũng tranh giành nhau, chỉ mong sắm vai ngư ông đắc lợi, chứ nếu cả sáu tên đồng lòng với nhau, thì ta chẳng tài gì chống nổi. Huống hồ ta đã thua Kim Luân pháp vương trong cuộc đấu nội lực, may cô cô chọc mũi châm ra, mới giúp ta đắc thắng. Các đạo sĩ phái Toàn Chân đồng tâm hiệp lực, nghe hiệu lệnh của Toàn Chân ngũ tử, võ công tuy không bằng bọn Kim Luân pháp vương, nhưng uy lực nhất trí sẽ rất hùng mạnh. Ta với cô cô ở bên nhau, cứ đánh đến khi nào kiệt sức thì cùng chết với nhau cũng được ".

Khưu Xứ Cơ cao giọng, nói:

– Dương Quá, ngươi luyện võ công đến bước này, bọn ta thua xa. Nhưng bọn ta hiện có mấy trăm người, ngươi tự thấy liệu có thoát nổi vòng vây hay không?

Dương Quá đưa mắt nhìn, bốn phía kiếm quang loang loáng, cứ bảy đạo sĩ hợp thành một nhóm, tầng tầng lớp lớp vây xung quanh chàng và Tiểu Long Nữ.

Mỗi nhóm bảy đạo sĩ liên kiếm hợp lực đủ sức đấu ngang ngửa với một đệ nhất cao thủ. Lúc này coi như chàng đang bị mấy chục đệ nhất cao thủ bao vây.

Dương Quá sớm đã không còn để tâm đến chuyện sống chết. Chàng hừ một tiếng, bước lên một bước, giơ kiếm đâm vào một nhóm bảy đạo sĩ. Bảy thanh kiếm đồng thời giơ ra chống đỡ, cạch cạch mấy tiếng, bảy thanh kiếm cùng gãy, bảy đạo sĩ cầm kiếm gãy vội dạt sang một bên.

Uy lực Huyền thiết trọng kiếm của Dương Quá hùng hậu như thế, Toàn Chân ngũ tử từng trải bao trận đấu lớn, cũng chưa từng thấy bao giờ. Vương Xứ Nhất hạ lệnh:

– Toàn Cơ, Dao Quang tấn công phía sau!

Dương Quá nghĩ:" Thây kệ các người hô hoán, ta cứ dựa vào uy lực của thần kiếm mà phá vây ", bèn ôm Tiểu Long Nữ tiến lên hai bước, thấy lại có bảy đạo sĩ ngăn chặn, chàng liền đưa kiếm phạt ngang. Bảy đạo sĩ này không giơ kiếm chống đỡ, mà vùn vụt đổi chỗ cho nhau, thân pháp cực nhanh, chính là trận pháp mà họ luyện tập đã quen, tuy nhiên vẫn có hai đạo sĩ bị kiếm lực đả thương, ngã lăn xuống đất.

Ngay lúc đó, mười bốn thanh trường kiếm đã chĩa tới sau lưng Dương Quá và Tiểu Long Nữ, bảy kiếm chĩa vào Dương Quá, bảy kiếm chĩa vào Tiểu Long Nữ.

Dương Quá nếu gạt Huyền thiết trọng kiếm ra sau lưng, tuy có thể đánh bật được nhiều thanh kiếm, nhưng chỉ cần có một thanh đâm Tiểu Long Nữ, nàng nhất định sẽ tử thương. Dương Quá đang do dự, thì lại thêm bảy thanh kiếm nữa chĩa vào bên phải Tiểu Long Nữ. Đến nước này, dù chàng có liều thí mạng mình, cũng không thể giải cứu được cho Tiểu Long Nữ.

Khưu Xứ Cơ giơ tay quát:

– Dừng lại!

Hai mươi mốt thanh kiếm loang loáng, mũi kiếm cách thân thể Dương, Long hai người chỉ vài tấc, đều dừng lại bất động. Khưu Xứ Cơ nói:

– Long cô nương, Dương Quá, sư tôn tiền bối của chúng ta vốn có uyên nguyên sâu xa. Giáo phái Toàn Chân ta hôm nay ỷ đông thủ thắng, chẳng vẻ vang gì, huống hồ Long cô nương đang bị trọng thương, cổ nhân có câu" Oan gia nên cởi, không nên buộc ", bây giờ xin mời hai vị trở về. Mối hiềm khích từng có, bất kể bên nào phải bên nào trái, từ nay coi như không còn nữa, được chăng?

Dương Quá và phái Toàn Chân vốn không có thâm cừu đại oán gì, năm xưa Tôn bà bà bị Hách Đại Thông lỡ tay giết chết, Hách Đại Thông rất hối hận, sẵn sàng đền mạng, việc ấy đã qua. Lần này chàng đến núi Chung Nam chỉ là để tìm Tiểu Long Nữ, hoàn toàn không có ý đối địch với phái Toàn Chân, nghe Khưu Xứ Cơ nói vậy, nghĩ bụng:" Cứu mạng cho cô cô hệ trọng hơn, thắng bại vinh nhục trong cuộc đấu với đám đạo sĩ này thì có gì đáng kể? "Chàng định lên tiếng trả lời, thì Tiểu Long Nữ thong thả đưa mắt từ trái qua phải, hỏi nhỏ:

– Doãn Chí Bình đâu?

Doãn Chí Bình lưng bị luân đập, ngực bị kiếm đâm, cả hai vết thương đều trí mạng, nhưng chưa chết, được các sư đệ đồng môn cứu chữa, hiện đang thoi thóp, lờ mờ chợt nghe tiếng gọi dịu dàng" Doãn Chí Bình đâu? "Rất khẽ, song lại vang bên tai y như tiếng sấm. Cũng không biết làm thế nào y lại còn sức đứng dậy, bước vào giữa rừng kiếm, nói:

– Long cô nương, tại hạ đây!

Tiểu Long Nữ nhìn y giây lát, thấy đạo bào của y loang lổ máu tươi, mặt tái nhợt, thì bất giác không nghĩ gì hết, run giọng nói:

– Quá nhi, sự thanh bạch của thiếp đã bị người này làm hoen ố, dù thiếp có khỏe lại, cũng không thể chung sống với chàng. Nhưng.. nhưng hắn đã xả thân cứu thiếp, chàng cũng đừng làm khó với hắn. Chẳng qua cái số thiếp không ra gì.

Điều vô cùng khó nói trong lòng, cuối cùng trước mặt bao nhiêu người, nàng vẫn đem nói thật ra.

Doãn Chí Bình nghe câu" hắn đã xả thân cứu thiếp, chàng cũng đừng làm khó với hắn. Chẳng qua cái số thiếp không ra gì", thì lòng đau như dao cắt, nghĩ chỉ một khắc ham muốn mê muội, mình đã gây đại họa, vốn kính ngưỡng Tiểu Long Nữ như tiên nữ, lại làm cho nàng bất hạnh suốt đời, thật là chết trăm lần không hết tội, liền nói to:

– Sư phụ, bốn vị sư bá, sư thúc, đệ tử tội nghiệt thâm trọng, các vị xin chớ gây khó dễ cho Long cô nương và Dương Quá.

Nói đoạn y lao thẳng người vào chỗ tám chín mũi kiếm mà các đạo sĩ đang chĩa ra. Ba, bốn mũi kiếm đâm xuyên người y, làm cho y chết tức thì. Biến cố này đều bất ngờ với tất cả mọi người, ai nấy bất giác ồ lên kinh ngạc.

Các đạo nhân nghe câu nói của Tiểu Long Nữ, lại thấy Doãn Chí Bình nhận tội tự sát, xem ra hẳn là y không giữ thanh qui, đã hèn hạ làm nhục Tiểu Long Nữ.

Toàn Chân ngũ tử đều là các vị đạo sĩ đắc đạo, giới luật nghiêm cẩn, nghĩ sai phạm đã ở phía mình, thì đều vô cùng hổ thẹn, song cũng chưa biết nói tạ lỗi thế nào.

Khưu Xứ Cơ nhìn bốn vị sư huynh sư đệ, rồi quát:

– Giải tán kiếm trận!

Chỉ nghe soàn soạt bất tận, các đạo sĩ đều tra kiếm vào bao, dạt ra nhường đường.

Comments

0 comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 28: Động Phòng Hoa Chúc

Dương Quá dùng ống tay áo rỗng bên phải quấn quanh eo lưng Tiểu Long Nữ, nói nhỏ:

– Cô cô! Chúng mình đi thôi!

Tiểu Long Nữ cười sung sướng, nói nhỏ:

– Bây giờ thiếp có chết ở bên chàng.. trong lòng cũng rất sung sướng.

Chợt nhớ một việc, nói:

– Quách cô nương chém mất cánh tay của chàng, nàng ta sẽ không đối tốt với chàng. Thế thì rồi đây ai săn sóc chàng đây?

Nàng nghĩ đến đó, cảm thấy đau lòng, nói nhỏ:

– Chàng lênh đênh cô khổ một mình, chàng.. không có ai bầu bạn..

Dương Quá thấy nàng sắp từ giã cõi đời, thực đau đớn muôn phần, bỗng nhớ lại: "Năm nọ trên núi Chung Nam, nàng từng hỏi ta có muốn lấy nàng làm vợ hay không, bấy giờ ta kinh ngạc không đáp, khiến sau đó xảy ra bao tai nạn khốn khổ. Hiện tại còn chẳng mấy thời gian, cần phải để nàng thấy rõ tâm ý của ta". Bèn nói lớn:

– Danh phận sư đồ, danh tiết thanh bạch chẳng là cái quái gì hết! Chúng mình hãy vứt quách cả đi! Sống chết gì, cái số của hai ta cũng không sao, cũng không ai bị lênh đênh cô khổ một mình. Từ rày trở đi, nàng không còn là sư phụ của ta, không còn là cô cô của ta, mà là vợ của ta!

Tiểu Long Nữ sung sướng nhìn chàng, nói nhỏ:

– Chàng nói thật lòng đấy chứ? Không phải cố ý làm cho thiếp vui lòng mà chàng nói vậy phải không?

Dương Quá nói:

– Tất nhiên là thật lòng. Ta mất một cánh tay, nàng thương ta hơn, nàng gặp tai nạn gì, ta cũng chỉ thương nàng hơn.

Tiểu Long Nữ nói nhỏ:

– Phải rồi, trên thế gian trừ hai chúng mình ra, chẳng có ai thương chúng ta cả.

Mấy trăm đạo sĩ cung Trùng Dương đều là những người xuất gia thanh tu, đột nhiên nghe những lời yêu thương âu yếm của hai người thì ai cũng khó chịu, người nhiều tuổi thì ngượng ngập, kẻ ít tuổi không tránh khỏi phàm tâm. Ai nấy nhìn nhau, bất giác đỏ mặt. Thanh tịnh tản nhân Tôn Bất Nhị quát:

– Hai ngươi mau mau xuất cung cho rồi, cung Trùng Dương là nơi thanh tịnh, không phải là chỗ nói năng phi lễ!

Dương Quá coi như không nghe thấy, nhìn vào mắt Tiểu Long Nữ, nói:

– Năm xưa Trùng Dương tiên sư và tổ sư bà bà của phái Cổ Mộ ta lẽ ra nên kết thành phu phụ, chẳng biết vì theo thứ lễ giáo cổ quái gì, đến nỗi cả hai ôm hận mà chết. Hôm nay hai chúng mình trước bức họa Trùng Dương tổ sư sẽ bái đường thành thân, kết thành phu phụ, để cho tổ sư bà bà của phái ta bõ tức!

Đối với Vương Trùng Dương, chàng vốn không có thiện cảm, nhưng từ khi bắt đầu luyện tập võ công mà Vương Trùng Dương khắc trong tòa cổ mộ, càng luyện càng thán phục, cuối cùng đã mười phần sùng kính, có cảm giác như mình là truyền nhân của Vương Trùng Dương vậy. Tiểu Long Nữ thở dài, buồn bã nói:

– Quá nhi, chàng đối với thiếp tốt quá!

Năm xưa Vương Trùng Dương và Lâm Triêu Anh nặng tình với nhau, Toàn Chân ngũ tử đều biết, tuy họ kính ngưỡng sư phụ vung tuệ kiếm chặt tơ tình, quả là một trang anh hùng hảo hán, nhưng nghĩ một nữ nhân tuyệt thế, võ học uyên thâm như Lâm Triêu Anh, đang còn trẻ lại tự nhốt mình trong tòa cổ mộ suốt đời, thì ai cũng cảm thán. Lúc này Dương Quá nhắc đến chuyện đó, các đạo sĩ trẻ tuổi không hiểu nguyên do, thì không sao, còn những vị nhiều tuổi ai cũng chấn động trong lòng.

Tôn Bất Nhị nói:

– Tiên sư lấy đại trí tuệ, đại định lực xuất gia sáng giáo, người một phen khổ tâm đơn độc, kẻ hậu sinh như ngươi há biết được điều gì? Ngươi còn ở đây cả gan làm bừa nói bậy, đừng trách mũi kiếm của ta vô tình.

Tại anh hùng yến ở ải Đại Thắng, Dương Quá từng không nhận thanh kiếm mà Tôn Bất Nhị đưa cho mượn, khiến đạo cô quá ngượng. Bà ta tuy cũng tu luyện lâu năm, nhưng không độ lượng như Khưu Xứ Cơ, Vương Xứ Nhất, bậc tôn trưởng trong phái Toàn Chân như bà lại bị một gã thiếu niên thuộc hàng con cháu làm nhục, nên cứ để bụng mãi chuyện đó. Tôn Bất Nhị là nữ lại quần cư với chúng đạo sĩ, nên càng giữ nghiêm giới luật, nghe Dương Quá nói sẽ bái đường thành thân ở pháp địa trang nghiêm, trước tượng Trùng Dương tổ sư, mà trên dưới phái Toàn Chân đều coi như thánh địa, không ai dám mạo phạm, thì Tôn Bất Nhị nổi giận không kìm được, thấy Dương, Long hai người chẳng thèm nghe lời nói của bà, liền rút soạt thanh kiếm ra lần thứ hai. Dương Quá lạnh lùng nhìn Tôn Bất Nhị, nghĩ: "Một mình lão đạo cô thì không địch nổi ta, nhưng khi động thủ, bọn họ sẽ không tụ thủ bàng quan. Song ta không thể không lập tức thành thân với cô cô. Nếu không bái đường ngay tại đây, chờ ra khỏi cung Trùng Dương, vạn nhất cô cô vết thương quá nặng qua đời, chẳng hóa ra để nàng phải ôm hận mà chết hay sao? Bà chửi ta cả gan làm bừa nói bậy, ừ thì Dương Quá ta cả gan làm bừa nói bậy, vả lại cũng không phải hôm nay mới khởi đầu. Ta đã bảo sẽ bái đường thành thân trước bức họa Trùng Dương tổ sư, thì sẽ làm đúng như vậy". Chàng đưa mắt tứ phía, thấy quá nửa số đạo sĩ đã lăm lăm tay kiếm, bèn nói:

– Tôn đạo trưởng, đạo trưởng nhất định buộc chúng tôi phải rời cung phải không?

Tôn Bất Nhị gằn giọng:

– Đi mau! Từ nay phái Toàn Chân và phái Cổ Mộ vĩnh viễn không còn quan hệ gì nữa, tốt nhất là đừng nhìn mặt nhau nữa!

Dương Quá thở dài, lắc đầu, quay mình, đi hai bước trên con đường mòn dẫn về phía tòa cổ mộ, thong thả khoác Huyền thiết trọng kiếm lên vai, đưa tay trái dìu Tiểu Long Nữ, ngầm ngưng khí đan điền, đột nhiên ngẩng đầu, cười một tràng dài, quần đạo nghe tiếng cười váng tai đều kinh ngạc.

Tiếng cười chưa dứt, Dương Quá bỗng buông Tiểu Long Nữ, nhảy vọt về phía sau, tay trái điểm nhanh hai huyệt Hội Tung và Chi Câu ở cổ tay phải của Tôn Bất Nhị. Tiểu Long Nữ không có chỗ tựa, lảo đảo chực ngã, Dương Quá đã kéo Tôn Bất Nhị tới sau lưng Tiểu Long Nữ cho nàng dựa vào. Dương Quá hành động nhanh hơn thỏ, quần đạo còn chưa chớp mắt, Tôn Bất Nhị đã bị chàng khống chế, không cựa quậy được. Khưu Xứ Cơ, Tôn Bất Nhị là những người từng gặp đại địch, vốn cũng đề phòng chàng đột nhiên xuất thủ, bắt người làm con tin, nhưng thấy chàng đã đeo kiếm lên vai, bước đi ra cổng, cánh tay độc nhất thì dìu Tiểu Long Nữ, đoán rằng chàng đã biết khó mà lui, nào ngờ chàng lại cười một tràng khiến ai nấy ngơ ngác, rối trí, rồi buông Tiểu Long Nữ mà bắt giữ Tôn Bất Nhị trong nháy mắt. Quần đạo hô hoán, nhất tề chĩa kiếm ra, nhưng Tôn Bất Nhị đã nằm trong tay đối phương, còn ai dám xông lên tấn công?

Dương Quá nói:

– Tôn đạo trưởng, đành phải đắc tội, xong xuôi sẽ chịu tội sau.

Chàng cầm cổ tay Tôn Bất Nhị kéo đi, cùng Tiểu Long Nữ thong thả bước vào hậu điện của cung Trùng Dương. Quần đạo theo sau, hết sức tức giận, nhưng không có cách gì đối phó.

Dương, Long hai người kèm Tôn Bất Nhị đi qua cửa hông, hành lang, vào đến hậu điện. Chàng ngoảnh lại, nói to:

– Mời các vị hãy ở bên ngoài, không ai được vào bên trong. Hai chúng tôi đã quyết liều chết, nếu động thủ, hai chúng tôi sẽ cùng chết với Tôn đạo trưởng.

Vương Xứ Nhất hỏi nhỏ:

– Khưu sư ca, làm thế nào?

Khưu Xứ Cơ đáp:

– Tạm thời bất động, tùy cơ hành sự. Xem chừng hắn cũng không dám sát hại Tôn sư muội đâu.

Mấy lão đạo nhân cả đời tung hoành giang hồ, uy danh lừng lẫy, không ngờ cuối đời lại bị một gã thiếu niên vô đạo khống chế, nghĩ thật giận, nhưng cũng tức cười.

Dương Quá kéo một cái bồ đoàn, ấn Tôn Bất Nhị ngồi xuống, nói:

– Xin lỗi!

Chàng điểm hai huyệt Đại Chùy và Thần Đường ở sau lưng để bà ta không thể cử động, thấy quần đạo y lời ở cả bên ngoài, không dám xông vào, bèn kéo Tiểu Long Nữ đứng sánh vai nhau trước bức họa Trùng Dương tổ sư.

Vị đạo sĩ trong bức họa tay chĩa kiếm, phong thái hào sảng, trạc ba mươi tuổi, bên cạnh bức họa đề ba chữ "Hoạt tử nhân". Bức họa chỉ đơn sơ vài nét, nhưng người trong bức họa anh khí ngời ngời, phiêu dật tuyệt luân. Dương Quá hồi nhỏ từng học nghệ ở cung Trùng Dương đã quen nhìn bức họa này, sớm biết là chân dung tổ sư gia, bây giờ chợt nhớ, trong tòa cổ mộ cũng có một bức họa Vương Trùng Dương, nhưng là nhìn từ sau lưng, hai bức họa bút pháp giống nhau, chàng nói:

– Bức họa này cũng là thủ bút của tổ sư bà bà.

Tiểu Long Nữ gật đầu, âu yếm mỉm cười với chàng, nói nhỏ:

– Hai ta bái đường thành thân trước bức họa Trùng Dương tổ sư, mà bức họa này chính do tổ sư bà bà vẽ, thật là quá hay.

Dương Quá dùng chân hất hai cái bồ đoàn song song phía trước bức họa, nói to:

– Đệ tử Dương Quá và đệ tử họ Long hôm nay kết thành phu phụ trước Trùng Dương tổ sư, có mấy trăm vị đạo trưởng phái Toàn Chân ở đây chứng kiến.

Nói đoạn quì xuống cái bồ đoàn, thấy Tiểu Long Nữ vẫn đứng không quì, chàng hỏi:

– Hai ta bái đường thành thân, nàng cùng quì xuống đi!

Tiểu Long Nữ trầm ngâm, mắt đỏ hoe, lệ lưng tròng, Dương Quá dịu dàng nói:

– Nàng thấy thế nào? Ở đây không được hay sao?

Tiểu Long Nữ đáp, giọng run run:

– Không, không phải vậy!

Ngừng giây lát, nàng nói tiếp:

– Thiếp đã không còn thanh bạch, lại sắp chết, chàng hà tất.. chàng hà tất đối tốt với thiếp như thế.

Nói đến đó, nước mắt lăn dài trên má. Dương Quá đứng dậy, dùng tay áo lau nước mắt cho nàng, cười nói:

– Nàng không lẽ chưa rõ lòng ta?

Tiểu Long Nữ ngẩng nhìn chàng, nghe chàng dịu dàng nói:

– Ta muốn rằng hai đứa mình được sống với nhau cả trăm năm, để ta có dịp đối xử tốt với nàng, báo đáp ân tình của nàng. Nếu không được thế, ông trời chỉ cho hai đứa mình sống một ngày, hai đứa mình làm vợ chồng một ngày, chỉ cho hai đứa mình sống một giờ, hai đứa mình sẽ làm vợ chồng một giờ.

Tiểu Long Nữ thấy chàng vẻ mặt thành thực, ánh mắt thâm tình vô hạn, thì xúc động không biết phải yêu thương chàng đến mức nào cho đáng, vẻ mặt đang buồn bã dần dần trở nên vui sướng, nước mắt chưa khô, thần sắc đã hoan hỉ vô hạn, nàng thong thả quì xuống cái bồ đoàn.

Dương Quá quì xuống theo. Hai người cùng lạy bức họa, nghĩ: "Hai đứa mình tuy một đời cô khổ, nhưng được như hôm nay đã là duyên phúc cực dày. Nỗi phiền não quá khứ, sự đoản mệnh nay mai, đều không đáng kể nữa". Hai người nhìn nhau mỉm cười, dập đầu xuống cái bồ đoàn.

Dương Quá nói:

– Đệ tử Dương Quá và đệ tử họ Long thật lòng tương ái, thủy chung như nhất, nguyện đời đời kiếp kiếp kết thành phu phụ.

Tiểu Long Nữ cũng khấn nhỏ:

– Xin tổ sư gia phù hộ độ trì, cho hai chúng con được đời đời kiếp kiếp kết thành phu phụ.

Tôn Bất Nhị ngồi trên cái bồ đoàn, tuy không cử động được, nhưng hai người nói năng và sắc diện thế nào đều nghe và nhìn rõ, thấy họ quang minh lỗi lạc, việc làm của họ tuy không khuôn theo lễ giáo, nhưng là chí tính chí tình, thì bất giác nhớ đến tình cảnh lúc trẻ thành hôn bất thành với Mã Ngọc. Sắc mặt vốn đầy giận dữ của bà đã trở nên hiền hòa khi Dương, Long hai người giao bái xong đứng dậy.

Dương Quá nghĩ: "Hiện giờ hai đứa mình đã kết thành phu phụ, dù phải chết ngay, thì cũng mãn nguyện".

Chàng không còn lo đề phòng quần đạo xông vào ngăn cản nữa, chàng nhìn Tiểu Long Nữ, cười, nói:

– Quá nhi là đệ tử phản nghịch của phái Toàn Chân, cả võ lâm ai cũng biết, nàng cũng là một đại phản đồ đấy.

Tiểu Long Nữ nói:

– Đúng vậy! Sư phụ không cho phép thiếp thu nhận nam đệ tử, càng không cho lấy chồng, thiếp chẳng tuân thủ điều nào cả. Hai đứa mình tội nặng lắm đó.

Dương Quá nói to:

– Đã phản thì phản đến cùng. Vương tổ sư và tổ sư bà bà anh hùng hào kiệt gấp trăm lần hai ta, song họ không dám thành thân. Hai vị ấy dưới hoàng tuyền có biết, chưa chắc đã bảo hai ta làm thế này là sai đâu!

Chàng nói câu ấy với vẻ mặt hăng hái, đầy cảm khái. Đúng lúc ấy, trên nóc điện nghe sầm một tiếng, ngói bay tứ tung, xà nhà gãy sập, thanh thế kinh hồn, mái điện thủng toang một lỗ, và một cái chuông lớn rơi úp thẳng xuống chỗ Tôn Bất Nhị.

Dương Quá và Tiểu Long Nữ ngang nhiên bái đường thành thân trong hậu điện, phái Toàn Chân trên dưới ai cũng phẫn nộ. Lưu Xứ Huyền ngẫm nghĩ một hồi, ghé tai nói nhỏ với Khưu Xứ Cơ, Vương Xứ Nhất và Hách Đại Thông. Ba người kia gật đầu, quay ra khe khẽ dặn dò môn hạ đệ tử vài câu, rồi thừa lúc Dương, Long hai người đang quì bên trong, họ ra tiền điện khiêng vào một quả chuông đồng nặng ngàn cân, bốn người hè nhau phi thân lên nóc điện, ngắm chuẩn phương vị, dộng thẳng quả chuông cho rơi xuống chụp Tôn Bất Nhị vào bên trong quả chuông. Bốn vị đạo nhân võ công cao cường, quả chuông tuy nặng, nhưng chụp xuống không sai một li, khi Tôn Bất Nhị đã nằm gọn trong lòng quả chuông, quần đạo sẽ tràn vào, Dương, Long hai người tất sẽ phải khoanh tay chịu trói.

Dương Quá thấy quả chuông rơi xuống, đã biết dụng ý, lập tức dùng Huyền thiết trọng kiếm thúc vào quả chuông một cái, nghe "boong" một tiếng rền rĩ. Quả chuông tuy nặng ngàn cân, song cú thúc của Huyền thiết trọng kiếm cực mạnh, lại từ bên cạnh thúc tới, khiến quả chuông bay chệch về phía trước hai thước, nếu rơi thẳng xuống, sẽ đè bẹp Tôn Bất Nhị.

Bốn đạo nhân đứng trên nóc điện nhìn qua lỗ thủng thấy rõ bên dưới, cùng rú lên kinh hãi, không thể ngờ thanh kiếm của Dương Quá có thần lực đến thế, nhìn Tôn Bất Nhị sắp thịt nát xương tan, bị quả chuông đồng đè lên người mà chết thảm. Lưu Xứ Huyền nhắm mắt lại, không dám nhìn, bỗng nghe Khưu Xứ Cơ reo mừng:

– Đa tạ thủ hạ lưu tình!

Lưu Xứ Huyền mở mắt ra, lấy làm lạ, thấy quả chuông đã úp toàn thân Tôn Bất Nhị ở bên trong, quanh mép chuông không hề có vết tích chân tay máu me hoặc quần áo gì.

Nguyên Dương Quá thấy quả chuông lớn bị kiếm thúc bay chệch, sẽ đè nát Tôn Bất Nhị, thì nghĩ: "Hôm nay là ngày đại hỉ của vợ chồng ta, không thể để có người tử thương. Lão đạo cô này tính nết khó chịu, song chưa đến nỗi tàn ác", bèn phất ống tay áo rỗng, đẩy Tôn Bất Nhị cùng cái bồ đoàn tới ngồi gọn trong lòng quả chuông sắp ụp xuống.

Bốn đạo nhân trên nóc điện vừa kinh hãi vừa vui mừng, đều thấy không nên coi Dương Quá là thù địch nữa, nhưng môn hạ đệ tử của họ đã nghe dặn trước, chờ khi quả chuông rơi xuống, sẽ lập tức tràn vào. Bọn họ ở bên ngoài không nhìn thấy biến hóa bên trong, chỉ nghe tiếng ầm, ngói bay tung toé, ai nấy liền cầm kiếm hò reo xông vào.

Dương Quá đeo Huyền thiết trọng kiếm sau lưng, ôm Tiểu Long Nữ nhảy ra sau điện.

Khưu Xứ Cơ kêu to:

– Chúng đệ tử cẩn thận, không được đả thương hai người ấy!

Giọng vang to, tuy giữa tiếng hò reo của mấy trăm người, nghe vẫn rất rõ. Quần đạo đuổi theo ra sau điện, hò hét:

– Bắt lấy tên tiểu tặc phản giáo!

– Tên tiểu tặc làm hoen ố di ảnh của tổ sư gia, chớ để hắn chạy thoát!

– Mau mau chặn phía đông, hai đứa chạy về phía đó!

– Trường Xuân chân nhân phân phó, không được đả thương hai người ấy!

Lưu Xứ Huyền trước khi nhảy lên nóc điện, đã bố trí hai mươi mốt đạo sĩ mai phục phía sau điện. Dương Quá vừa chạy ra cửa ngách, thấy kiếm quang loang loáng, biết có kẻ ngăn chặn, nghĩ: "Chi bằng thoát ra theo lỗ thủng ở nóc điện, trên mái tuy có bốn cao thủ, song họ sẽ không hạ độc thủ với ta", bèn ôm Tiểu Long Nữ chạy trở vào trong điện. Tiểu Long Nữ hai tay ôm cổ chàng, dịu dàng nói:

– Chúng mình đã thành phu phụ, thế là mãn nguyện rồi. Thoát vây thì tốt, không thoát vây cũng chẳng sao.

Dương Quá nói:

– Đúng thế!

Hai chân chàng tung cú đá uyên ương liên hoàn, hai đạo sĩ văng ra khỏi điện. Trong điện không rộng như bên ngoài, không thể thi triển Bắc đẩu trận pháp, nhưng Dương Quá tay trái phải ôm Tiểu Long Nữ, chỉ có thể tung chân đá, không thể vượt vòng vây, thầm hận: "Giá ta còn đủ hai tay, các người cản sao nổi ta?"

Bịch một tiếng, lại có một đạo sĩ bị chàng đá văng ra, đụng vào hai kẻ khác.

Đang rối loạn, bỗng từ ngoài điện có một bạch phát lão nhân chạy vào, kéo theo một đàn ong mật, chính là Lão Ngoan đồng Chu Bá Thông. Trong hậu điện đang rối loạn, thêm một người là Chu Bá Thông, chúng đệ tử nhất thời cũng không để ý, nhưng đàn ong bay vào lập tức đốt lung tung cả lên. Đàn ong này không phải loài ong thông thường, mà là loài ngọc phong do Tiểu Long Nữ nuôi dưỡng ở tòa cổ mộ. Các đạo sĩ bị ong đốt tức thời đau ngứa khó chịu, có người lăn lộn dưới đất, càng tăng thêm cảnh hỗn loạn.

Chu Bá Thông vốn định tới thành Tương Dương giúp Quách Tĩnh, nhưng sau khi lấy trộm lọ mật ong của Tiểu Long Nữ, lão sợ gặp lại nàng, lão không đến thành Tương Dương nữa, bèn đến núi Chung Nam, muốn tìm Triệu Chí Kính hỏi cho ra lẽ, vì sao hắn cả gan đẩy sư thúc tổ vào chốn thập tử nhất sinh. Dọc đường lão dùng mật ngọc phong đùa giỡn với bầy ong mật, tìm ra vài cách điều khiển lũ ong, thì không sao, nhưng đến núi Chung Nam thì lập tức gặp họa. Loài ong ngọc phong trên núi Chung Nam ngửi thấy mùi thơm của mật ngọc phong, tức thì lũ lượt bu tới. Chúng chỉ quen với thủ pháp và tiếng điều khiển của Tiểu Long Nữ, còn với Lão Ngoan đồng dĩ nhiên chúng đã không tuân theo, còn không buông tha lão. Lão Ngoan đồng thấy tình thế bất ổn, đành ôm đầu chạy vào cung Trùng Dương, tìm chỗ kín đáo để tránh bầy ong, vừa hay trong cung đang náo nhiệt và hỗn loạn. Lão Ngoan đồng thấy Tiểu Long Nữ và Dương Quá ở trong điện thì kinh ngạc và mừng rỡ, vội ném lọ mật ong trả Tiểu Long Nữ, nói:

– Lão chịu! Không biết cách hầu hạ các bà ong mật quỷ quái này, cô nương mau cứu lão với.

Dương Quá phẩy ống tay áo cuốn lấy cái lọ, Tiểu Long Nữ mỉm cười giơ tay nhận lại.

Lúc này đàn ong bay tứ tung, bọn Khưu Xứ Cơ từ trên nóc điện nhảy xuống hành lễ với vị sư thúc.

Hách Đại Thông kêu to:

– Mau đốt đuốc mang lại đây!

Quần đạo có người dùng ống tay áo che mặt, có người vung kiếm đuổi ong, có người vâng lệnh chạy đi đốt đuốc. Lão Ngoan đồng cũng chẳng buồn để ý đến bọn Khưu Xứ Cơ, trán lão bị ong đốt hai chỗ, đã sưng u lên hai cục, chỉ mong tìm được một chỗ kín chui vào tránh ong. Lão thấy có một quả chuông lớn úp dưới đất thì cả mừng, vội vận lực lật nghiêng quả chuông lên, thấy bên trong có người. Lão cũng chẳng kịp nhìn kỹ là ai, rối rít nói:

– Cảm phiền cảm phiền, mau nhường cho ta.

Lão kéo Tôn Bất Nhị ra khỏi quả chuông, tự chui vào vừa buông tay, quả chuông lại sập xuống như cũ, lão đắc ý lắm: "Bọn ong chúng bay có ngàn con vạn con, cũng chẳng thể đốt Lão Ngoan đồng này cái nào nữa đâu".

Dương Quá nói nhỏ:

– Nàng hãy chỉ huy đàn ong giúp hai ta thoát khỏi chốn này!

Tiểu Long Nữ là vợ chàng, nghe lời chàng ngụ ý ra lệnh, thì cảm thấy sung sướng dễ chịu, nghĩ: "Hay quá, cuối cùng chàng không coi mình như sư phụ nữa, đúng là coi mình như một người vợ rồi!", bèn đáp:

– Vâng!

Giọng nói hết sức nhu mì ngoan ngoãn. Nàng cầm lọ mật ong huơ huơ vài lần, miệng huýt gió mấy tiếng, lũ ngọc phong nhận ra chủ nhân, thoáng chốc đã tụ tập thành đàn, Tiểu Long Nữ liên tục huơ huơ lọ và huýt gió, đàn ong chia thành hai đội, một đội bay trước mở đường, một đội chặn hậu, hộ vệ Dương, Long hai người rút ra phía sau điện.

Sự xuất hiện bất ngờ của Chu Bá Thông khiến bọn Khưu Xứ Cơ vừa vui mừng vừa buồn cười, thấy Dương, Long hai người chạy ra phía sau điện, bèn quát các môn hạ khỏi cần đuổi theo. Vương Xứ Nhất giải huyệt cho Tôn Bất Nhị, Khưu Xứ Cơ thì tới lật nghiêng quả chuông. Chu Bá Thông nấp bên trong, không biết tình hình bên ngoài, thấy quả chuông bị lật, bèn dùng tay níu lại, quát:

– Buông xuống!

Khưu Xứ Cơ nội lực không thâm hậu bằng Chu Bá Thông, đã đẩy mép chuông lên cách mặt đất nửa thước, "hịch" một tiếng, quả chuông lại úp xuống. Khưu Xứ Cơ cười, nói:

– Chu sư thúc thích đùa thật, nào, bọn ta cùng nhấc lên xem!

Thế là Khưu Xứ Cơ, Vương Xứ Nhất, Lưu Xứ Huyền và Hách Đại Thông bốn người cùng hè nhau nhấc bổng quả chuông lên cách mặt đất chừng ba thước, song bên dưới không thấy có ai, Chu Bá Thông chẳng hiểu biến đi đằng nào. Bốn người đang ồ lên sững sờ, thì một bóng người tụt xuống, Chu Bá Thông đã cười ha hả đứng bên quả chuông. Nguyên vừa rồi lão dùng hai tay đẩy vào thành quả chuông mà đu người bên trong, nên được nhấc lên theo cùng quả chuông.

Bọn Khưu Xứ Cơ lại hành lễ. Chu Bá Thông xua tay lia lịa, nói:

– Thôi miễn, thôi miễn, các hài nhi ngoan hãy bình thân, ta miễn lễ cho.

Toàn Chân ngũ tử đều đã râu tóc bạc phơ cả, song Chu Bá Thông vẫn gọi họ là "các hài nhi ngoan".

Chu Bá Thông thấy Triệu Chí Kính đang nem nép định lủi đi, bèn quát to, vọt tới tóm cổ hắn, nói:

– Thằng giặc mũi trâu này, mi định lẩn đi đâu?

Tay trái đẩy nghiêng mép quả chuông lên cao hai thước, tay phải lão ấn Triệu Chí Kính vào trong lòng quả chuông, rồi buông tay trái, quả chuông úp hắn lại, miệng lão cứ lẩm bẩm chửi thằng giặc mũi trâu, cũng tức là chửi toàn bộ bọn đồ tử đồ tôn của Vương Trùng Dương. Bọn Khưu Xứ Cơ biết tính vị sư thúc, nên cũng không giận. Vương Xứ Nhất nói:

– Sư thúc, không biết Triệu Chí Kính đắc tội gì với sư thúc? Đệ tử tất phải trừng phạt hắn.

Chu Bá Thông nói:

– Thằng giặc mũi trâu đã dẫn ta đến một cái hang lấy trộm vương kỳ, nhưng trong đó lại giấu lũ nhện xanh xanh đỏ đỏ cực độc, may nhờ tiểu cô nương, ô hay, tiểu cô nương đâu rồi? Đàn ong đâu rồi?

Lão Ngoan đồng nói chuyện nọ xọ chuyện kia, khiến Toàn Chân ngũ tử không hiểu đầu cua tai nheo thế nào, chỉ thấy lão ngó nghiêng tìm Tiểu Long Nữ.

Lúc ấy mười mấy đệ tử chạy tới bẩm cáo, rằng Dương, Long hai người đã rút lên lầu của Tàng kinh các ở núi sau, chúng đệ tử không dám dùng đuốc đuổi ong, sợ thiêu hủy mất đạo tàng. Bọn Khưu Xứ Cơ cả kinh, Tàng kinh các là trọng địa của phái Toàn Chân, đạo tàng mấy đời, các trước tác của Vương Trùng Dương và Toàn Chân thất tử cùng mọi văn quyển cơ mật trong giáo phái đều cất giữ ở Tàng kinh các, nếu có chuyện gì, tổn thất thật không nhỏ. Khưu Xứ Cơ nói:

– Chúng ta tới đó mau. Dương Quá thủ hạ lưu tình, đã không đả thương Tôn sư muội, ta nên đổi thù thành bạn.

Tôn Bất Nhị nói:

– Đúng lắm!

Thế là cả bọn cùng kéo đến Tàng kinh các. Vương Xứ Nhất thấy đệ tử số một của mình là Triệu Chí Kính bị Chu Bá Thông nhốt trong quả chuông, nghĩ: "Chu sư thúc hành sự hồ đồ, Triệu Chí Kính chưa chắc đã sai, để khi trở lại xem xét kỹ mới được".

Sợ Triệu Chí Kính ở bên trong quả chuông bí hơi mà chết, bèn ráng sức đẩy nghiêng mép chuông lên vài tấc, dùng chân hẩy một hòn gạch kê mép chuông cho có kẽ hở thông gió, rồi mới chạy theo sau.

Đến trước Tàng kinh các, chỉ thấy mấy trăm đệ tử đang hò hét, nhưng không một ai dám lên lầu.

Khưu Xứ Cơ gọi to:

– Dương, Long hai vị, lỗi lầm trước đây của chúng tôi, hai vị có thể bỏ qua, đôi bên trở thành bằng hữu được chăng?

Không có tiếng trả lời, trên lầu không động tĩnh gì. Khưu Xứ Cơ lại nói:

– Long cô nương bị thương, xin mời xuống đây chúng ta cùng tìm cách cứu chữa. Môn hạ đệ tử tệ giáo quyết không dám vô lễ với hai vị. Khưu mỗ hành tẩu giang hồ mấy chục năm, chưa bao giờ nói không giữ lời.

Một lát sau vẫn không có tiếng trả lời.

Lưu Xứ Huyền nói:

– Họ đã đi khỏi từ lâu rồi!

Khưu Xứ Cơ hỏi:

– Sao biết?

Lưu Xứ Huyền nói:

– Nhìn bầy ong coi, chúng đã tản đi tứ phía, hút mật các bụi hoa.

Đoạn cầm lấy một bó đuốc từ tay đệ tử, chạy lên lầu.

Bọn Khưu Xứ Cơ lên theo, quả nhiên thấy trên lầu chỉ có các giá sách la liệt, không một bóng người, trên án thư có để lọ mật ong. Chu Bá Thông như thấy của quí, vọt tới cầm lấy đút luôn vào túi. Mọi người kiểm tra trước sau mọi chỗ, thấy sách còn nguyên cả, nhưng có một đống sách để dưới sàn, chiếc hòm to đựng số sách ấy đã không thấy đâu nữa. Bỗng nghe Hách Đại Thông nói to:

– Họ thoát đi theo ngả này!

Mọi người ra phía sau lầu, thấy trên cột gỗ có buộc một sợi dây, đầu dây bên kia móc vào một thân cây trên vách núi đối diện, vắt qua một cái khe sâu là dòng suối. Từ đây không hề có lối đi, không ngờ Dương Quá lại có thể dùng sợi dây mà ôm Tiểu Long Nữ vượt qua khe sâu thoát đi.

Dương Quá và Tiểu Long Nữ bái đường thành thân trong hậu điện cung Trùng Dương, phái Toàn Chân trên dưới đều cảm thấy mất hết cả uy phong, nhưng lúc này thấy hai người đã thoát đi yên lành, thì Toàn Chân ngũ tử nhìn nhau cười khổ, cũng thấy nhẹ người. Tôn Bất Nhị vốn căm giận nhất, song sau khi chứng kiến hai người tình ý chân thành tha thiết, Dương Quá lại cứu sống bà trong đường tơ kẽ tóc, thì bà bất giác cũng mừng cho họ, nên im lặng không nói gì. Toàn Chân ngũ tử và Chu Bá Thông trở lại đại điện, hỏi rõ nguyên do chuyện sắc phong của đại hãn Mông Cổ, chuyện tranh đấu giữa Doãn Chí Bình và Triệu Chí Kính, chuyện Tiểu Long Nữ đột nhiên đến đây. Lý Chí Thường và Tống Đức Phương cứ thực bẩm cáo. Khưu Xứ Cơ ứa nước mắt, nói:

– Chí Bình làm mất sự trinh bạch của người ta, quả là tội lớn, nhưng hắn bảo toàn sự trung nghĩa của giáo phái ta, thà chết không đầu hàng Mông Cổ, đúng là đại công.

Vương Xứ Nhất nói:

– Doãn Chí Bình tội không che lấp công, tiểu tiết có sai phạm, nhưng đại nghĩa rõ ràng, chúng ta vẫn công nhận hắn là chưởng giáo chân nhân.

Lưu Xứ Huyền, Hách Đại Thông cùng khen phải.

Khưu Xứ Cơ lại nói:

– Nếu không nhờ Long cô nương kịp đến ngăn chặn địch nhân, thì giáo phái chúng ta đã bị hủy diệt. Long cô nương thực là đại ân nhân của giáo phái chúng ta, từ nay chẳng những không được vô lễ với phu phụ họ, mà còn phải tìm cách báo đáp. Chúng ta đã lỡ tay đả thương Long cô nương, không biết.. không biết..

Nghĩ Tiểu Long Nữ bị trọng thương khó chữa, tự thấy vô cùng ân hận.

Trong lúc Toàn Chân ngũ tử truy vấn tiền sự, Chu Bá Thông chẳng buồn quan tâm, cứ mân mê trên tay lọ mật ong, mấy lần lão còn định mở nút lọ nhử ong ngọc phong, song lại sợ nhử đến thì dễ, đuổi đi lại không nổi. Lúc ấy một đệ tử vào bẩm cáo, có năm người bị ong đốt đang đau ngứa ghê gớm, thỉnh sư trưởng thiết pháp. Hách Đại Thông nhớ chuyện năm nọ Tôn bà bà xông vào cung tặng lọ mật ong, bèn nói:

– Lọ mật ong này chính là Long cô nương để lại cho chúng ta trị thương. Sư thúc, xin sư thúc đưa lọ mật ong cho năm đồ tôn uống.

Chu Bá Thông giơ hai tay không ra, nói:

– Không biết tự dưng lọ mật ong biến đi đâu mất rồi.

Hách Đại Thông rõ ràng thấy vị sư thúc vừa cầm lọ mật ong mân mê chán trên tay, tại sao lão lại bảo tự dưng lọ mật ong biến đi đâu mất, tất là lão không muốn giao ra. Lão là bề trên, không tiện nói lẽ thiệt hơn với lão. Chu Bá Thông giữ ống tay áo phẩy phẩy, vỗ vỗ toàn thân mấy cái, nói:

– Ta không giấu nó trong người đâu, ngươi chớ có nghi cho ta. Có phải ngươi muốn ta cởi hết áo quần cho các ngươi coi thì bảo?

Nguyên Lão Ngoan đồng rất ham chơi, cái tính ham đùa nghịch bất kể khinh trọng hoãn cấp ấy đến già vẫn không sửa được, lão cho rằng mấy gã đạo sĩ bị ong đốt cùng lắm đau ngứa vài hôm ắt khỏi, chẳng mất mạng mà lo, thứ mật ong quí hiếm này lão không thể cho đi được. Vì thế, Hách Đại Thông vừa mở miệng xin, lão bèn hất lọ mật ong vào trong ống tay áo, cho lăn qua ngực xuống bụng, thót bụng lại cho lọ mật ong lăn xuống ống quần mà rơi nhẹ xuống đất. Lão nội công thâm hậu, bắp cơ toàn thân co giãn như ý, đưa lọ mật ong lăn xuống đất mà không phát ra tiếng động gì.

Vương Xứ Nhất nghĩ bụng: "Sư thúc đã không chịu đưa ra, thì cứ đợi lúc nào vắng người, lấy ra nghịch, sẽ bất ngờ tiến lại xin, sư thúc sẽ không thể thoái thác. Chỉ cần mọi người đi chỗ khác, sư thúc sẽ lấy lọ mật ong đùa nghịch. Bây giờ hãy xử trí tên nghịch đồ Triệu Chí Kính. Nếu Doãn Chí Bình không bất khuất thà chết, thanh danh mấy chục năm của bản giáo đã bị Triệu Chí Kính hủy hoại mất rồi". Nghĩ đến đây, Vương Xứ Nhất nói:

– Hách sư đệ, việc trị thương để sau. Chúng ta phải phán xử tên nghịch đồ Triệu Chí Kính trước đã!

Toàn Chân ngũ tử tương giao mấy chục năm, sư huynh đệ đều biết Vương Xứ Nhất chính trực vô tư, Triệu Chí Kính tuy là đệ tử số một của Vương Xứ Nhất, nhưng phạm đại tội phản giáo, Vương Xứ Nhất quyết không bao che cho hắn. Mọi người đều nghĩ: "Tên nghịch đồ mãi giáo cầu vinh, ám hại đồng môn, quyết không thể tha".

Bỗng nghe từ dưới mép quả chuông vọng ra giọng nói yếu ớt:

– Chu sư thúc tổ, nếu sư thúc tổ cứu mạng đệ tử, đệ tử sẽ trả lọ mật ong cho sư thúc tổ, bằng không, đệ tử sẽ uống hết luôn! Đằng nào đệ tử cũng chết cả.

Chu Bá Thông giật mình, lùi ra một bước, quả nhiên lọ mật ong đã biến mất. Nguyên lão đứng bên quả chuông, Triệu Chí Kính ngồi trong chuông, lọ mật ong nhỏ lăn xuống đúng trước mắt hắn, nghe Hách Đại Thông xin Chu Bá Thông mật ong, hắn bèn thò tay qua khe hở dưới mép chuông mà lấy lọ mật ong. Hắn muốn dùng lọ mật ong đổi lấy mạng sống, tự biết chỉ là vọng tưởng, nhưng trong cơn tuyệt vọng, có chút sinh cơ nào thì cố bám lấy. Chu Bá Thông nghe hắn nói thế, vội gọi:

– Ê này, ngươi chớ có uống mật ong đấy! Các chuyện khác, có thể thương lượng.

Triệu Chí Kính nói:

– Vậy sư thúc tổ phải đáp ứng cứu mạng đệ tử.

Toàn Chân ngũ tử giật mình, chỉ lo lỡ Chu Bá Thông đáp ứng, sẽ không thể xử trí Triệu Chí Kính.

Khưu Xứ Cơ vội nói:

– Sư thúc, kẻ đó tội rất nặng, không thể dung tha.

Chu Bá Thông cúi sát đất, nói vào trong chuông:

– Này này, nhất thiết không được uống mật ong đâu đấy!

Lưu Xứ Huyền nói:

– Sư thúc, thây kệ hắn! Sư thúc cần mật ong thì hoàn toàn không khó. Hôm nay chúng ta đã xóa bỏ thù oán với Long cô nương, đợi chút ít có thể sang bên tòa cổ mộ xin vài lọ. Long cô nương đã biếu sư thúc một lọ, thì cũng sẽ cho sư thúc mươi lọ được thôi.

Chu Bá Thông lắc đầu nói:

– Chưa chắc, chưa chắc!

Lão nghĩ: "Ngươi tưởng lọ mật ong là do Long cô nương biếu ta ư? Là ta từng lấy trộm đấy. Lúc rời Tàng kinh các, Long cô nương vội quá, không kịp mang đi lọ này. Nếu sang xin, chắc gì con bé ấy đã cho, dù có cho, các ngươi đem dùng làm thuốc giải độc, đâu còn phần cho ta kia chứ".

Chỉ nghe có tiếng vo ve rất nhỏ, năm sáu con ong ở ngoài sân bay vào hậu điện, cửa điện không mở, chúng cứ vo ve tìm lối vào. Chu Bá Thông chợt nảy ra một kế, nói:

– Triệu Chí Kính, lọ mật ong mi đang cầm chưa chắc đã là mật ong thật.

Triệu Chí Kính vội nói:

– Là thật, thật mà!

Chu Bá Thông nói:

- Được! Vậy mi thử mở nút lọ cho ta ngửi xem sao đã. Nếu không đúng, khỏi cần nhiều lời.

Triệu Chí Kính vội mở nút lọ, nói:

– Sư thúc tổ ngửi đi, sao lại không thật kia chứ?

Chu Bá Thông hít rất sâu, nói:

– Ồ, ồ, hình như không phải để ta ngửi thêm đã.

Triệu Chí Kính hai tay giữ chặt lọ mật ong, chỉ lo Chu Bá Thông nghiêng quá chuông, giật lại mất, miệng nói:

– Sư thúc tổ thấy mùi thơm ngọt hay chưa?

Mật ngọc phong quả thơm ngon vô tỉ, nút lọ vừa mở, mùi thơm trong điện đã ngào ngạt. Chu Bá Thông khịt khịt mũi, nói đùa:

– Ta bị trúng gió ngạt mũi, chả ngửi thấy gì cả!

Vừa nói vừa quay ra nháy mắt với bọn Khưu Xứ Cơ, Triệu Chí Kính cũng đoán là lão tính kế hoãn binh, bèn nói:

– Sư thúc tổ mà lật quả chuông, đệ tử sẽ uống hết chỗ mật này ngay.

Lúc này bầy ong đã đánh hơi mùi mật, bay tới bên mép quả chuông. Chu Bá Thông phẩy tay áo, nói:

– Vào trong mà đốt nó!

Con ong không chắc nghe lệnh của lão, mà chỉ vì ngửi thấy mùi mật thơm, quả nhiên bay vù qua khe hở vào trong quả chuông. Chỉ nghe Triệu Chí Kính kêu rú lên, "cạch" một tiếng, từ trong quả chuông mùi mật ong tỏa ra nồng đượm, thì ra ong đã đốt Triệu Chí Kính, hắn buông rơi lọ mật vỡ tan. Chu Bá Thông cả giận, quát:

– Tên mũi trâu hậu đậu, có cái lọ mật cỏn con cũng cầm không chắc.

Lão đang định bước tới lật quả chuông, thì bầy ong ngọc phong ngửi thấy mùi mật nồng đượm lũ lượt bay vào trong chuông. Chu Bá Thông từng bị khổ vì lũ ong này, nên lão không dám lại gần. Ong chui vào nhiều, Triệu Chí Kính ở bên trong người dính mật, phải bị ong đốt hàng trăm cái. Mọi người ban đầu còn nghe tiếng rú thảm thiết của hắn, lát sau thì lặng thinh, chắc chắn hắn đã tắt thở.

Chu Bá Thông kéo vạt áo Lưu Xứ Huyền, nói:

– Xứ Huyền, ngươi mau đi xin Long cô nương mươi lọ mật ong về đây cho ta.

Lưu Xứ Huyền cau mày nhăn nhó, vừa nãy mình chỉ mong Chu Bá Thông đừng đáp ứng tha mạng cho Triệu Chí Kính nên nói đại như thế, chứ thực ra Toàn Chân ngũ tử đã sử chiêu "Thất tinh tụ hội" đả thương Tiểu Long Nữ, nói gì chuyện "đã giải oán thù"? Lúc này bị Chu Bá Thông túm áo, đành cười khổ, nói:

– Sư thúc buông tay ra, để đệ tử đi xin vậy!

Bọn Khưu Xứ Cơ biết chuyến đi này rất hung hiểm, nếu Tiểu Long Nữ bình an vô sự thì không sao, nhưng nếu nàng ta trọng thương mà chết, thì không biết sẽ có bao nhiêu đệ tử phái Toàn Chân phải mất mạng dưới tay Dương Quá, bèn nhất tề nói:

– Mọi người chúng ta cùng đi một thể.

Cánh rừng bên ngoài tòa cổ mộ, từ thời Vương Trùng Dương còn sống đã không cho phép đệ tử phái Toàn Chân tiến vào một bước, mọi người đi tới mép rừng thì nhớ di huấn của tiên sư, đều dừng chân.

Khưu Xứ Cơ vận khí đan điền, gọi to:

– Dương thiếu hiệp, thương thế của Long cô nương có sao không? Ở đây có mấy viên "Cửu truyền linh bảo hoàn" trị thương, mời Dương thiếu hiệp ra nhận.

Chu Bá Thông nói nhỏ:

– Phải rồi, phải rồi! Muốn xin mật ong của người ta, cũng phải có gì đem đổi chứ.

Lát sau không có tiếng trả lời, Khưu Xứ Cơ lại nói to một lần nữa, cánh rừng hoàn toàn im ắng, căng mắt nhìn sâu vào bên trong, chỉ thấy bên trên cành lá âm u, dưới đất cỏ gai mọc tràn lan.

Lưu Xứ Huyền và Hách Đại Thông đi men cánh rừng một quãng, không hề có dấu vết ai đi xuyên qua rừng, xem chừng Dương Quá và Tiểu Long Nữ hoàn toàn không trở về tòa cổ mộ, mà đã xuống chân núi Chung Nam. Mọi người vừa vui vừa buồn, trở lại cung Trùng Dương. Vui vì Dương, Long hai người đã đi xa; buồn vì Tiểu Long Nữ nếu không chữa khỏi thương tích, thì phái Toàn Chân sẽ gánh chịu hậu họa khôn lường. Lão Ngoan đồng cũng vừa vui vừa buồn, buồn vì không có được mật ong ngọc phong, vui vì khỏi gặp mặt Tiểu Long Nữ, khỏi xấu hổ về chuyện lão lấy trộm lọ mật ong của nàng.

Toàn Chân ngũ tử tuy sống ở trên núi Chung Nam mấy chục năm, song không thể đoán Dương Quá và Tiểu Long Nữ đi đâu.

Dương, Long hai người được đàn ong ngọc phong hộ vệ, chạy ra sân sau, chạy một quãng thì thấy một tòa lầu tựa lưng vào núi, Dương Quá biết đây là Tàng kinh các, một trong những yếu địa của cung Trùng Dương. Chàng ôm Tiểu Long Nữ lên trên lầu, hai người ngồi nghỉ một chút, nghe tiếng huyên náo bên dưới, đã có vài chục đạo sĩ đuổi tới, nhưng họ sợ ong đốt, không dám xông lên. Dương Quá đặt Tiểu Long Nữ ngồi vững trên một chiếc ghế tựa, quan sát hình thế xung quanh, thấy phía sau Tàng kinh các có một cái khe sâu mấy chục trượng, may là khe nước tuy sâu, nhưng không quá rộng. Chàng vốn mang theo người một sợi dây dài để buộc ngang cây mà ngủ. Lúc này bèn đem buộc một đầu vào cây cột của Tàng kinh các, cầm một đầu dây đu người qua khe sang vách núi đối diện, buộc dây vào một thân cây, rồi dùng khinh công đi trên dây trở sang Tàng kinh các.

Chàng tới bên Tiểu Long Nữ, dịu dàng nói:

– Chúng mình đi đâu bây giờ?

Tiểu Long Nữ nói:

– Chàng muốn đi đâu, thiếp sẽ theo đến đó.

Dương Quá cười, nói:

– Cái đó gọi là thuyền theo lái, gái theo chồng. Thế nàng muốn đi đâu nhất nào?

Tiểu Long Nữ thở dài nhè nhẹ, Dương Quá biết là nàng chỉ mong trở về tòa cổ mộ, nhưng về đó bằng cách nào lúc này phải tính kỹ, trong khi tiếng huyên náo dưới lầu đang thúc bách.

Chàng hiểu tâm tư của Tiểu Long Nữ, Tiểu Long Nữ cũng hiểu tâm tư của chàng, nói:

– Thiếp không nhất định muốn về cổ mộ, chàng cũng đừng lo lắng làm gì. Chỉ cần có chàng bên cạnh, ở đâu thiếp cũng thấy tốt cả.

Dương Quá nghĩ: "Đấy là tâm nguyện thứ nhất của nàng sau khi thành thân, không chừng cũng là tâm nguyện cuối cùng của đời nàng, nếu ta không làm được, thì đâu còn xứng đáng là chồng nàng?"

Chàng nhìn khắp gian lầu, nghe tiếng huyên náo bên dưới, lòng thêm bối rối, bỗng thấy trong góc có một cái hòm bằng gỗ, chàng chợt nghĩ: "Có cách rồi!"

Chàng bước tới, thấy hòm có khóa, bèn dùng tay bẻ khóa, mở nắp hòm, thấy trong đựng đầy sách, chàng bưng hòm đổ hết sách ra đất, cái hòm gỗ này làm bằng ván dày tám phân, rất chắc chắn. Dương Quá thấy trên giá sách cao có phủ mấy tấm vải dầu, đề phòng mưa dột làm hư sách quí, chàng bèn kéo lấy hai mảnh, lót vào bên trong cái hòm, mang cái hòm đi trên dây sang bên kia khe, rồi trở lại bế Tiểu Long Nữ đi sang, cười nói:

– Bây giờ chúng mình đi về nhà nào!

Tiểu Long Nữ thích thú, mỉm cười, nói:

– Chủ ý của chàng hay thật!

Dương Quá nói cho nàng khỏi lo:

– Thanh kiếm này có thể đâm thủng mọi vật cứng, nếu dưới nước có tảng đá ngầm nào chắn cái hòm lại, dùng kiếm đâm một nhát là xong. Quá nhi sẽ lội thật nhanh, để nàng ở trong hòm khỏi bị ngạt thở.

Tiểu Long Nữ mỉm cười, nói:

– Chỉ có một điều không tốt.

Dương Quá ngạc nhiên hỏi:

– Là cái gì?

Tiểu Long Nữ nói:

– Đi theo kiểu này, thiếp phải xa cách chàng một hồi lâu.

Sau khi sang bên kia khe, Dương Quá nhớ đến bé Quách Tương đang ở trong hang, bèn nói:

– Ta có mang theo cả cô nương của Quách bá bá, nàng bảo nên làm thế nào?

Tiểu Long Nữ ngẩn người, run run nói:

– Thật ư? Chàng dẫn theo cả.. cả cô nương của Quách đại hiệp ư?

Dương Quá thấy thần sắc rất lạ của nàng, thì hiểu ý, biết nàng tưởng nhầm chàng dẫn theo Quách Phù, bèn ghé mặt thơm nhẹ vào má nàng một cái, nói khẽ:

– Đấy là đứa bé mới sinh hơn một tháng, chưa biết chém cánh tay của người khác đâu!

Tiểu Long Nữ ngượng đỏ mặt, chúi đầu vào ngực chàng, không dám ngẩng lên.

Lát sau, nàng mới nói:

– Chúng mình bế nó về Cổ Mộ đi, để nó ở chốn hoang sơn dã địa này nửa buổi thì nó chết mất!

Dương Quá nghĩ mình bị vướng trong cung Trùng Dương khá lâu, không biết bé Quách Tương ở trong hang có sao không, thì rất lo, vội vác cái hòm đặt Tiểu Long Nữ ngồi bên trong lên vai, rảo bước tìm đến trước cái hang nọ, không nghe tiếng khóc của đứa bé, càng lo hơn. Chàng gỡ bụi gai, vào trong thấy Quách Tương đang ngủ say, hai má hồng hồng. Cả hai mừng rỡ, chàng bế Quách Tương đặt vào lòng Tiểu Long Nữ, rồi vác hòm lên vai mà đi.

Lúc này các đạo sĩ phái Toàn Chân đều tụ tập trong cung Trùng Dương, nên dọc đường không gặp ai. Ngang qua một vườn trồng bí đỏ của các đạo sĩ, Dương Quá ngắt lấy sáu, bảy trái bỏ vào chiếc hòm, nói:

– Chỗ này đủ cho chúng mình ăn bảy, tám ngày.

Đi một lúc nữa thì đến dòng suối ngầm trong núi. Dương Quá cúi xuống thơm vào má Tiểu Long Nữ, nhẹ nhàng đậy nắp hòm, dùng vải dầu bọc kín bên ngoài chiếc hòm, thả nó xuống dòng suối, hít một hơi dài, lặn xuống nước kéo chiếc hòm đi.

Chàng từng khổ luyện khí công giữa dòng suối, nước lũ trong hoang cốc, nên việc lặn đi trong dòng suối ngầm này không vất vả gì, đáy suối chỗ thấp chỗ cao, chàng cứ lội đi, gặp đất đá ngăn chiếc hòm trôi qua thì chàng dùng kiếm phá thông được ngay. Sợ Tiểu Long Nữ ở trong chiếc hòm ngạt thở, chàng lội thật nhanh, chưa tàn nén nhang thì đã hết suối, tới địa đạo.

Chàng cởi vải dầu, mở nắp hòm, thấy Tiểu Long Nữ thiêm thiếp mệt mỏi sau khi bị trọng thương, bé Quách Tương thì kêu khóc lớn tiếng, có vẻ rất khỏe mạnh. Nguyên bé hơn một tháng qua bú sữa con báo, nên khỏe hơn hẳn trẻ sơ sinh bình thường. Tiểu Long Nữ mỉm cười, nói nhỏ:

– Vợ chồng mình cuối cùng đã về đến nhà!

Rồi quá mệt, nàng nhắm nghiền hai mắt lại. Dương Quá bưng chiếc hòm đưa nàng vào trong tòa cổ mộ.

Chỉ thấy bàn ghế đổ ngả nghiêng, y như hôm rời khỏi đây sau cuộc ác đấu với sư đồ Lý Mạc Sầu. Dương Quá nhìn thạch thất, vài vật dụng đã dùng hồi trước, trong lòng bỗng trào lên một cảm giác nửa vui mừng, nửa thương cảm. Chàng đứng ngây thất thần một hồi, bỗng có một giọt nước nhỏ xuống mu bàn tay mình, chàng ngoảnh lại, thấy Tiểu Long Nữ đang vịn vào ghế đứng bên cạnh chàng, lệ chảy dài trên má. Hôm nay hai người đã kết thành phu phụ, tâm nguyện bao năm đã thành, họ lại trở về chốn cũ, từ đây mọi oán cừu, phiền não, sầu khổ không còn trói buộc họ nữa, vậy mà cả hai lại cảm thấy đau đớn khôn cùng, ấy là vì cùng biết rằng Tiểu Long Nữ đã bị trọng thương bởi kim luân của Pháp vương và đòn hợp lực của Toàn Chân ngũ tử, cơ thể mảnh mai của nàng chịu đựng sao cho nổi?

Hai người trẻ tuổi cùng một đời cô khổ, chưa từng hưởng thụ khoái lạc thật sự, bỗng nhiên có phúc lớn trở thành vợ chồng, nhưng sắp lập tức phải âm dương đôi ngả!

Dương Quá ngây người một lát, sang phòng của Tôn bà bà tháo chiếc giường gỗ, mang sang lắp lại bên chiếc giường hàn ngọc, trải chăn, dìu Tiểu Long Nữ nằm lên đó nghỉ. Thức ăn dự trữ trong tòa cổ mộ đã hư hết từ lâu, chỉ có mấy hũ mật ong là tốt nguyên.

Chàng rót nửa bát mật ong pha với nước sạch, cho Tiểu Long Nữ uống, lại cho bé Quách Tương uống no, rồi chàng cũng uống một bát. Chàng nghĩ: "Mình phải tỏ ra phấn chấn để nàng vui, mình không được để lộ chút nào nỗi đau đớn trong lòng". Thế là chàng lấy hai cây nến to, dùng vải điều bọc bên ngoài, thắp đặt trên bàn, cười, nói:

– Đây là nơi động phòng hoa chúc của đôi ta!

Hai cây nến hồng cháy sáng, thạch thất lập tức bừng bừng hỉ khí. Tiểu Long Nữ ngồi trên giường, thấy người có vết máu, vết bùn đất, mỉm cười, nói:

– Thiếp thế này chẳng giống cô dâu chút nào!

Chợt nhớ điều gì, nói:

– Chàng hãy sang phòng tổ sư bà bà mang cái hộp mạ vàng sang đây cho thiếp!

Dương Quá tuy sống trong tòa cổ mộ mấy năm, song chàng chưa dám tự tiện bước vào phòng của Lâm Triêu Anh, di vật của bà ta, chàng cũng không dám đụng tới. Giờ nghe Tiểu Long Nữ nói thế, bèn cười đáp:

– Lệnh của phu nhân, xin làm ngay!

Ở đầu giường, chàng thấy có mấy cái hộp, chàng cầm cái mạ vàng, vẽ hoa trang nhã nhất lên, nó không nặng lắm, cũng không có khóa, mang sang cho Tiểu Long Nữ. Tiểu Long Nữ nói:

– Nghe Tôn bà bà bảo đây là cái hộp nữ trang của tổ sư bà bà, vì tổ sư bà bà không lấy chồng, nên hoàn toàn không động tới.

Dương Quá nhìn cái hộp trang trí mỹ lệ, nhưng trong cái vui cảm thấy một nỗi thê lương vô hạn. Chàng đặt cái hộp trên chiếc giường hàn ngọc, mở nắp ra, thấy bên trong quả nhiên có mấy thứ trang điểm của cô dâu, như mũ phượng đính ngọc, khăn hồng trùm đầu, bộ quần áo lụa đỏ, món nào cũng thuộc loại thượng đẳng, tuy để lâu mấy chục năm trông vẫn như mới.

Tiểu Long Nữ nói:

– Chàng lấy ra cho thiếp xem với.

Dương Quá lấy từng món trong hộp ra, bên dưới bộ quần áo có một cái hộp đựng lược và son phấn, một hộp đựng trang sức, mở ra, cả hai thấy có đủ trâm cài tóc, ngọc đeo tai đẹp long lanh, giá trị ngần nào không biết, chỉ biết được chế tác tinh xảo, nhã nhặn, đầy tâm huyết.

Tiểu Long Nữ mỉm cười, nói:

– Thiếp trang điểm như một cô dâu được chăng?

Dương Quá nói:

– Hôm nay nàng mệt rồi, hãy nghỉ một đêm, ngày mai hãy trang điểm.

Tiểu Long Nữ lắc đầu, nói:

– Không, hôm nay là ngày lành thành thân của hai ta. Thiếp thích làm cô dâu. Hôm ở Tuyệt Tình cốc Công Tôn Chỉ muốn thành hôn với thiếp, thiếp đâu có trang điểm!

Dương Quá mỉm cười, nói:

– Lần ấy không thể gọi là thành hôn được, bởi chỉ có mình lão ta vọng tưởng mà thôi!

Tiểu Long Nữ hòa mật ong vào son, soi gương, bắt đầu trang điểm. Trong đời nàng, đây là lần thứ nhất thoa phấn bôi son, nước da nàng vốn trắng, không nên thoa phấn, nhưng vì sau khi bị trọng thương, trông nhợt nhạt, nên sau khi xoa chút son lên má, trông kiều diễm vô cùng. Nghỉ một lát, nàng lấy lược chải tóc, thở dài, nói:

– Thiếp muốn vấn tóc, nhưng không biết cách. Chàng có biết vấn tóc hay không?

Dương Quá đáp:

– Không biết! Nàng cứ để tóc tự nhiên, trông đã đẹp lắm rồi!

Tiểu Long Nữ mỉm cười, nói:

– Thật ư?

Nàng đặt cái lược xuống, đeo bông tai, cài trâm, đeo hai cái vòng ngọc ở cổ tay, dưới ánh nến hồng, trông diễm lệ vô song. Nàng ngoảnh lại, tưởng sẽ nghe Dương Quá tán thưởng vài câu. Nhưng nàng thấy Dương Quá nước mắt giàn giụa, buồn không thể tả nổi. Nàng nghiến răng, làm như không thấy, mỉm cười, nói:

– Chàng bảo thiếp có dễ coi hay không?

Dương Quá nghẹn ngào đáp:

– Nàng đẹp vô cùng! Để ta đội mũ phượng cho nàng!

Chàng cầm chiếc mũ, tới sau lưng, đội lên đầu nàng. Tiểu Long Nữ nhìn trong gương, thấy chàng đưa tay áo lau nước mắt, rồi đứng kề bên nàng, sắc diện đã trở nên hoan hỉ. Chàng cười, hỏi:

– Từ nay trở đi ta gọi nàng là nương tử, hay vẫn gọi là cô cô?

Tiểu Long Nữ nghĩ: "Không lẽ còn có" trở đi "nữa thật sao?" Nhưng nàng vẫn cố gượng vui, mỉm cười nói:

– Gọi cô cô nữa thì không hay. Gọi là nương tử phu nhân, nghe già quá.

Dương Quá hỏi:

– Thế tên hồi nhỏ của nàng là gì? Hôm nay đã có thể nói cho ta biết được chưa?

Tiểu Long Nữ nói:

– Sư phụ vẫn gọi thiếp là Long nhi!

Dương Quá nói:

– Được! Từ nay trở đi nàng gọi ta là Quá nhi, còn ta sẽ gọi nàng là Long nhi. Đến khi chúng mình có con, sẽ gọi nhau là gia gia, nương nương, rồi khi con chúng mình lấy vợ..

Tiểu Long Nữ nghe chàng nói huyên thuyên, lúc đầu còn mỉm cười, sau không kìm được, khóc òa lên.

Dương Quá ôm nàng vào lòng, âu yếm nói:

– Long nhi, nàng buồn, ta cũng không vui, đôi ta hà tất lo chuyện mai sau. Hôm nay nàng không sao, ta cũng sẽ không sao. Đôi ta cứ việc sung sướng hôm nay, khỏi cần nghĩ đến ngày mai làm gì.

Tiểu Long Nữ ngẩng đầu lên, gượng cười, gật đầu.

Dương Quá nói:

– Nàng xem bộ quần áo thêu chim phượng đẹp quá này, để ta giúp nàng mặc nó vào!

Chàng đỡ người nàng, mặc chiếc quần hồng thêu chỉ vàng cho nàng. Tiểu Long Nữ lau nước mắt, bôi chút son, mỉm cười ngồi bên cây nến.

Lúc này Quách Tương nằm trên giường, giương to đôi mắt hiếu kỳ mà nhìn chằm chằm, tựa hồ nó cũng thấy Tiểu Long Nữ trang điểm rất xinh đẹp.

Tiểu Long Nữ nói:

– Thiếp trang điểm đẹp rồi, tiếc rằng trong hộp không có mũ áo cho tân lang, chàng đành chịu thiệt thòi.

Dương Quá nói:

– Để ta đi xem có thứ gì nhã nhặn một chút chăng?

Chàng mang một chiếc rương đựng đồ linh tinh đổ ra giường. Tiểu Long Nữ thấy chàng nhặt một bông hoa bằng vàng, bèn cầm gài lên mái tóc chàng.

Tiểu Long Nữ cười, nói:

– Như thế hơi giống tân lang rồi đó.

Thấy có một tập thư được buộc bằng sợi chỉ đỏ đã bạc màu, Dương Quá nói:

– Có một số thư này.

Tiểu Long Nữ hỏi:

– Chàng xem là thư gì?

Dương Quá cởi dây buộc, thấy trên bì thư đề: "Thân gửi nữ sĩ Lâm Triêu Anh", dưới góc trái có một chữ "Triết". Dương Quá biết Vương Trùng Dương trước khi xuất gia tên là Vương Triết, thì cười, nói:

– Đây là thư tình của Trùng Dương tổ sư gửi cho tổ sư bà bà, chúng mình xem được chứ?

Tiểu Long Nụ vốn thờ kính Lâm Triêu Anh như thần thánh, vội nói:

– Ấy, không được xem đâu!

Dương Quá cười, lại buộc chồng thư lại, nói:

– Lão đạo cô Tôn Bất Nhị cổ hủ lắm, thấy đôi ta bái đường thành thân trước di ảnh của Trùng Dương tổ sư, cho là đại nghịch vô đạo. Ta không tin rằng năm xưa Trùng Dương tổ sư không có tình ý với tổ sư bà bà. Nếu đem chồng thư kia cho đám đạo sĩ mũi trâu xem, nhìn vẻ mặt họ lúc ấy mới thú đấy.

Chàng vừa nói vừa nhìn Tiểu Long Nữ, không khỏi đau lòng cho Lâm Triêu Anh, nghĩ thầm: "Tổ sư bà bà sống một mình trong cổ mộ, chắc không chỉ một lần mặc thử bộ đồ cưới kia. Đôi ta may mắn hơn tổ sư bà bà rất nhiều".

Tiểu Long Nữ nói:

– Đúng thế! Đôi ta may mắn hơn tổ sư bà bà, sao chàng không vui lên?

Dương Quá nói:

– Ừ nhỉ!

Đột nhiên chàng cười, hỏi:

– Ta không hề nói ra, sao nàng đoán đúng tâm tư của ta?

Tiểu Long Nữ cười, đáp:

– Thiếp không đoán đúng tâm tư của chàng, thì sao xứng làm vợ chàng?

Dương Quá ngồi ở mép giường, dùng tay trái ôm nhẹ nàng vào lòng. Hai người sung sướng khó nói nên lời, những mong thời khắc này vĩnh viễn ngừng trôi.

Họ ngồi dựa vào nhau, hồi lâu không nói.

Sau đó hai người cùng ngó về phía chồng thư một cái rồi nhìn nhau cười, ánh mắt lộ vẻ tinh nghịch, thừa biết đó là tâm sự riêng tư của tiên sư, vẫn không nén nổi tính hiếu kỳ.

Dương Quá nói:

– Chúng mình chỉ xem một bức thư thôi, được chứ?

Tiểu Long Nữ mỉm cười, nói:

– Thiếp cũng muốn biết một chút, phải rồi, chúng mình chỉ xem một bức thư thôi.

Dương Quá mừng rỡ, cởi sợi chỉ buộc. Tiểu Long Nữ nói:

– Nếu chàng thấy trong thư có câu khiến người ta rất đau lòng, thì đừng đọc cho thiếp nghe.

Dương Quá ngập ngừng nói:

– Ừ, phải đấy!

Chàng nghĩ Vương, Lâm hai người có tình ý với nhau mà không lấy được nhau, chỉ sợ lời lẽ trong thư phần nhiều là sầu khổ, có lẽ không nên đọc thì hơn.

Tiểu Long Nữ nói:

– Chàng đừng ngại, không chừng toàn viết chuyện vui đó!

Dương Quá lấy một bức thư ra, đọc:

– "Anh muội, hôm qua quân ta cùng bọn Thát tử giao phong trên đồi Ác Ba, sa vào ổ mai phục của địch, bị mất bốn trăm người.."

Tiếp theo toàn kể quân tình giao chiến giữa nghĩa binh với quân Kim. Dương Quá đọc liền mấy bức thư, toàn một chuyện như thế, không một câu nói đến tình nhi nữ.

Dương Quá thở dài, nói:

– Vị Trùng Dương tổ sư cố nhiên là đấng nam nhi đại trượng phu, chỉ lấy quân quốc làm trọng, vô tình như thế, chẳng trách làm cho tổ sư bà bà lạnh nhạt.

Tiểu Long Nữ nói:

– Không đâu! Khi nhận các bức thư này, tổ sư bà bà thích lắm đó.

Dương Quá lấy làm lạ, hỏi:

– Sao nàng biết?

Tiểu Long Nữ nói

– Dĩ nhiên thiếp không biết, chỉ là suy bụng mình ra thôi. Chàng xem, bức thư nào cũng kể về quân tình gian nan khẩn cấp, nhưng trong tình cảnh ấy, Trùng Dương tổ sư vẫn không quên viết thư cho tổ sư bà bà, chàng bảo như thế có đúng là lúc nào cũng thương nhớ tổ sư bà bà hay không?

Dương Quá gật đầu, nói:

– Đúng, quả đúng như thế!

Bèn xem một bức thư khác. Thư này kể tình hình càng nguy cấp hơn, nghĩa quân của Vương Trùng Dương vì lực lượng ít ỏi, không địch nổi, liên tiếp bại trận, tựa hồ khó bề duy trì, cuối thư có hỏi thăm thương thế của Lâm Triêu Anh, chỉ vẻn vẹn vài câu, nhưng chứa chan sự quan thiết. Dương Quá nói:

– Ồ, hồi trước tổ sư bà bà cũng bị trọng thương, sau đó tự nhiên khỏi. Thương thế của nàng cứ thong thả điều dưỡng, cùng lắm dăm tháng nửa năm cũng khỏi thôi.

Tiểu Long Nữ cười nhạt, nàng tự biết lần này bị thương rất nặng, trọng thương như thế này mà vẫn chữa khỏi được, thì e trong thiên hạ sẽ toàn những người bất tử; nhưng đã bảo đêm nay không nhắc chuyện buồn, thì dù Dương Quá nói điều không tưởng, cũng cứ coi như thật đi, bèn nói:

– Phải, cứ thong thả điều dưỡng, chẳng phải vội! Các bức thư kia không viết chuyện bí mật riêng tư, chàng cứ đọc cả đi.

Dương Quá đọc tiếp một bức thư khác, trong đó toàn những lời bi phẫn, kể nghĩa quân bại trận hoàn toàn, Vương Trùng Dương liều chết phá trùng vây thoát được, nhưng thuộc hạ tử thương cả. Cuối thư nói quyết sẽ chiêu binh khôi phục lực lượng. Các bức thư sau toàn kể cảnh thất bại, thế lực quân Kim ở Hà Bắc mạnh lên thế nào, Vương Trùng Dương hiển nhiên đã không thể làm gì được nữa, lời lẽ trong thư đầy thất vọng.

Dương Quá nói:

– Mấy bức thư này đọc buồn quá, thôi, chẳng xem nữa ôi, cái gì đây?

Giọng chàng bỗng trở nên mừng rỡ, tay cầm bức thư run run, miệng đọc:

– "Nghe đồn vùng cực bắc giá lạnh, có loại đá gọi là Hàn ngọc, trị được các chứng bệnh trầm kha, vô phương cứu chữa, chính là thứ Anh muội đang cần". Long nhi, nàng bảo có phải đó là cái giường hàn ngọc hay không?

Tiểu Long Nữ thấy vẻ mặt chàng đột nhiên bừng sáng, thì run run hỏi:

– Chàng.. ý chàng muốn nói là cái giường hàn ngọc có thể trị thương cho thiếp phải không?

Dương Quá nói:

– Ta không biết, nhưng Trùng Dương tổ sư viết thế, tất có lý. Nàng xem, tấm đá hàn ngọc chẳng phải là do Trùng Dương tổ sư kiếm về đó sao? Tổ sư bà bà chẳng đã chế thành cái giường hàn ngọc đó sao? Thương thế của tổ sư bà bà cuối cùng chẳng đã khỏi đó sao?

Chàng bèn đọc ngấu nghiến các bức thư còn lại, xem có viết gì về cách trị thương bằng cái giường hàn ngọc hay không, nhưng không thấy có gì thêm. Chàng buộc xấp thư lại, cất vào trong rương, ngẩn ngơ xuất thần: "Cái giường hàn ngọc này không phải tự dưng có công dụng lạ thường, chỉ không biết cách trị thương cho Long nhi thế nào mà thôi. Ôi, ước gì ta biết cách, ước gì ta biết.."

Tiểu Long Nữ cười, nói:

– Chàng nghĩ gì mà ngẩn ngơ như thế?

Dương Quá nói:

– Ta đang nghĩ cách làm thế nào sử dụng cái giường hàn ngọc trị thương cho nàng. Không biết có phải đem nghiền một chút cho nàng uống hay không? Hay là dùng làm thuốc dẫn?

Giá chàng không biết cái giường hàn ngọc có thể trị thương đã đành một nhẽ, đằng này chàng đọc đi đọc lại câu "trị được các chứng bệnh trầm kha, vô phương cứu chữa", mà chưa biết cách sử dụng, nên lòng dạ bồn chồn nôn nóng. Tiểu Long Nữ buồn bã nói:

– Chàng nhớ Tôn bà bà chứ? Tôn bà bà từng hầu hạ tổ sư bà bà, lại sống chung với sư phụ của thiếp nhiều năm, khi bị Hách Đại Thông đánh chết, nếu biết cái giường hàn ngọc có thể trị thương, sao Tôn bà bà không nhắc gì đến lúc lâm chung? Huống hồ sư phụ của thiếp cũng.. cũng bị chết vì bị thương lâu ngày không khỏi.

Dương Quá đang tràn trề hi vọng, nghe nàng nói thế như bị giội gáo nước lạnh vào đầu.

Tiểu Long Nữ đưa tay vuốt nhẹ tóc chàng, âu yếm nói:

– Quá nhi, chàng khỏi cần lo nghĩ nhiều về thương thế của thiếp cho phiền não thêm.

Dương Quá nhất thời không nghĩ gì nữa, lát sau chàng hỏi:

– Sư tổ của ta bị thương như thế nào?

Chàng tuy sống ở cổ mộ mấy năm, nhưng chưa từng nghe Tiểu Long Nữ kể tại sao sư phụ của nàng bị chết.

Tiểu Long Nữ nói:

– Sư phụ thâm cư cổ mộ, hiếm khi ra ngoài, có một năm sư tỷ của thiếp gây họa bên ngoài, chạy về núi Chung Nam, sư phụ ra khỏi nhà mồ tiếp ứng, cuối cùng bị địch nhân ám toán. Sư phụ chịu thiệt, nhưng cứu được sư tỷ của thiếp về coi như xong, không hơn thua với tên ác nhân kia nữa. Ai dè tên ác nhân được đằng chân lân đằng đầu, ít lâu sau lại đến cửa mộ khiêu chiến, sau còn xông vào trong mộ, sư phụ không địch nổi hắn, suýt nữa thì đóng sập cửa mộ cùng chết với hắn, may sao trong cơn nguy cấp kịp phát động cơ quan, lại bất ngờ phóng kim châm. Tên ác nhân không kịp phòng bị, trúng kim châm, tê dại khổ sở. Sư phụ thừa thế điểm huyệt hắn, khiến hắn hết bề cựa quậy. Không ngờ sư tỷ lại lén đi giải huyệt cho hắn. Tên ác nhân bất ngờ vùng dậy, sư phụ mới bị hắn hạ độc thủ.

Dương Quá hỏi:

– Tên ác nhân ấy là ai vậy? Võ công hắn hơn cả sư tổ, chắc phải là một đại cao thủ đương thời.

Tiểu Long Nữ nói:

– Sư phụ không nói cho thiếp biết. Sư phụ muốn thiếp trong lòng không có hỷ nộ ái ố, thiện ác gì hết, bảo rằng nếu nói cho thiếp biết danh tính tên ác nhân, e rằng mai sau thiếp sẽ đi tìm hắn trả thù.

Dương Quá thở dài:

– Ồ, sư tổ quả là người tốt!

Tiểu long Nữ mỉm cười, nói:

– Nếu sư phụ biết hôm nay thiếp lấy được một người chồng tốt như chàng, chắc sẽ rất hài lòng.

Dương Quá mỉm cười, nói:

– Chưa chắc, sư tổ vốn không cho phép nàng có tình ý hoặc đi lấy chồng.

Tiểu Long Nữ thở dài:

– Sư phụ của thiếp hiền từ vô cùng, ban đầu không cho phép, nhưng về sau thấy thiếp quyết ý, nhất định sẽ cho thiếp được như nguyện. Sư phụ nhất định sẽ hài lòng về chàng.

Nàng nghĩ đến ân sư, xuất thần hồi lâu, lại nói:

– Sư phụ sau khi bị thương, liền dọn sang ở phòng khác, xa hẳn cái giường hàn ngọc. Sư phụ bảo rằng việc hành công của phái Cổ Mộ hỗ tương sinh khắc với hàn khí, cho nên dùng cái giường hàn ngọc bổ trợ cho việc luyện công cố nhiên là không gì bằng, nhưng sau khi bị thương lại không chịu nổi hàn khí.

Dương Quá ậm ừ, óc vẫn nghĩ đến sự vận hành kinh mạch của nội công bản môn. Nội công nói trong "Ngọc nữ tâm kinh" hoàn toàn dựa vào khí thuần âm đả thông kinh mạch, bên trong cơ thể cực lạnh, mặt ngoài cơ thể lại tỏa khí nóng, đến nỗi khi luyện tập phải cởi quần áo cho khí nóng tỏa ra hết, không được ứ trệ chút nào, nếu bị khí lạnh của cái giường hàn ngọc dồn ngược vào trong, thì sẽ bị nội thương trí mạng. Chàng nghĩ: "Tại sao Trùng Dương tổ sư nói rằng hàn ngọc trị được các chứng bệnh trầm kha, vô phương cứu chữa? Cái diệu lý tương sinh tương khắc bên trong, mình phải hiểu cho rõ mới được". Chàng thấy Tiểu Long Nữ nhắm mắt có vẻ mệt mỏi, bèn nói:

– Nàng ngủ đi, ta sẽ ngồi hầu bên nàng!

Tiểu Long Nữ vội mở mắt, nói:

– Không, thiếp không mệt đâu. Đêm nay đôi ta đừng ngủ.

Nàng rất sợ mình bị thương nặng, ngủ rồi sẽ không thức dậy được nữa, vĩnh viễn không còn thấy mặt Dương Quá, nên nói:

– Chàng nói chuyện với thiếp đi. Này, chàng có mệt không?

Dương Quá lắc đầu, mỉm cười, nói:

– Nàng không muốn ngủ thì đừng ngủ, nhưng cứ nhắm mắt lại mà dưỡng thần!

Tiểu Long Nữ nói:

– Vâng!

Nàng từ từ nhắm mắt lại, nói nhỏ:

– Sư phụ từng nói có một điều đến lúc chết cũng không hiểu nổi. Quá nhi rất thông minh, thử nghĩ hộ xem.

Dương Quá hỏi:

– Là việc gì?

Tiểu Long Nữ nói:

– Sư phụ đã điểm huyệt tên ác nhân nọ, không hiểu tại sao sư tỷ lại đi giải huyệt cho hắn?

Dương Quá nghĩ một lát, cảm thấy Tiểu Long Nữ ngả hẳn người vào mình, hơi thở rất yếu, đã ngủ thiếp đi.

Dương Quá ngắm khuôn mặt nàng, trong đầu dồn dập bao ý nghĩ, lát sau, một ngọn nến bừng lên rồi tắt vì đã cháy hết. Chàng bỗng nhớ ở đảo Đào Hoa, trong một trai phòng có đôi liễn: "Xuân tàm đáo tử ti phương tận, Lạp cự thành khôi lệ thủy can" ° (°春蠶到死絲方盡, 蠟炬成灰淚始乾–Con tằm đến thác tơ đành dứt, nến sáp thành tro lệ mới thâu – Vô đề, Lý Thương Ẩn).

Đó là hai câu Đường thi, Hoàng Dược Sư thương nhớ người vợ đã khuất nên viết treo ở nơi ngày ngày ngồi đọc sách. Dương Quá hồi nhỏ nhìn thấy không để ý, bây giờ chính chàng lâm vào tình cảnh tương tự, mới ngẫm ra ý vị của hai câu ấy, đang đau lòng thì đột nhiên trước mắt tối sầm, ngọn nến còn lại cũng tắt nốt. Chàng nghĩ: "Hai ngọn nến kia giống như ta và Long nhi, một ngọn cháy hết, ngọn thứ hai cũng tắt theo".

Chàng ngồi xuất thần, bỗng nghe Tiểu Long Nữ thở dài nói, giọng rầu rầu:

– Thiếp không muốn chết, Quá nhi, thiếp không muốn chết đâu, đôi ta phải được sống với nhau nhiều năm.

Dương Quá nói:

– Phải, Long nhi sẽ không chết, dưỡng thương một thời gian, nàng sẽ khỏi thôi. Hiện giờ ngực nàng cảm thấy thế nào?

Tiểu Long Nữ không trả lời, câu vừa nói chỉ là lời trong mơ.

Dương Quá sờ tay lên trán nàng, thấy nóng rực.

Chàng vừa luống cuống vừa đau đớn nghĩ: "Lý Mạc Sầu tác ác đa đoan, lúc này vẫn sống yên lành. Long nhi suốt đời chưa từng làm một việc gì hại người, sao lại phải chết yểu? Trời kia có mắt hay không vậy?"

Chàng vốn không biết sợ trời sợ đất gì hết, thích gì làm nấy, nhưng hiện tại lâm vào cảnh tuyệt vọng, bàng hoàng vô kế khả thi. Chàng nhẹ nhàng đặt Tiểu Long Nữ nằm xuống giường, rồi quì xuống đất, lầm rầm khấn:

– Lạy trời từ bi, phù hộ độ trì cho Long nhi khỏe lại con xin.. con nguyện làm..

Để Tiểu Long Nữ được sống, có việc gì mà chàng không sẵn sàng làm kia chứ.

Chàng đang khấn, thì nghe Tiểu Long Nữ nói:

– Là Âu Dương Phong, Tôn bà bà bảo nhất định là Âu Dương Phong!.. Quá nhi, Quá nhi, chàng đâu rồi?

Nàng đột nhiên hoảng hốt gọi to và ngồi bật dậy.

Dương Quá vội ngồi lên mép giường, cầm tay nàng, nói:

– Quá nhi đây!

Trong giấc mơ, Tiểu Long Nữ cảm thấy thân mình không có chỗ dựa, choàng tỉnh, thấy Dương Quá vẫn ngồi bên cạnh, thì rất mừng.

Dương Quá nói:

– Nàng yên tâm, suốt đời ta sẽ không xa nàng. Sau này nếu ra khỏi cổ mộ, ta cũng sẽ không rời nàng nửa bước.

Tiểu Long Nữ nói:

– Thế giới bên ngoài quả nhiên có nhiều thứ lạ hơn ở đây, nhưng ra ngoài đó thiếp sợ lắm.

Dương Quá nói:

– Hiện tại đôi ta chẳng có gì phải sợ. Vài tháng nữa, nàng khỏe lại rồi, đôi ta sẽ cùng đi xuống phương nam. Nghe đồn vùng Lĩnh Nam quanh năm ấm áp như mùa xuân, hoa nở không tàn, lá xanh không rụng, đôi ta cũng khỏi cần sử dụng quyền kiếm, chỉ việc làm ruộng, nuôi gà nuôi vịt, sinh một đàn con, nàng bảo như vậy có thích hay không?

Tiểu Long Nữ mơ màng nói nhỏ:

– Vĩnh viễn khỏi cần sử dụng quyền kiếm, thế thì hay quá! Không ai đến gây sự với đôi ta, đôi ta cũng không phải đánh nhau với ai, chỉ việc làm ruộng, nuôi gà nuôi vịt, ôi, nếu thiếp có thể sống..

Đột nhiên hai người cùng thả hồn bay xuống phương nam xa xôi đầy ánh nắng, tưởng chừng họ ngửi thấy mùi hoa thơm, nghe thấy tiếng gà con, tiếng vịt con kêu rộn..

Tiểu Long Nữ không thức thêm được nữa, lại mơ mơ màng màng thiếp đi, song nàng không muốn ngủ, nói:

– Thiếp không muốn ngủ, chàng nói chuyện với thiếp đi.

Dương Quá nói:

– Nàng vừa nói mớ, nhắc đến Âu Dương Phong, là chuyện gì thế?

Tiểu Long Nữ nói:

– Thiếp nhắc đến Âu Dương Phong ư? Thiếp bảo sao?

Dương Quá nói:

– Nàng bảo Tôn bà bà nói nhất định là Âu Dương Phong.

Tiểu Long Nữ nghe nhắc, liền nhớ lại, nói:

– Phải rồi, Tôn bà bà nói, kẻ đả thương sư phụ nhất định là Tây Độc Âu Dương Phong. Tôn bà bà nói, trên thế gian chỉ có vài kẻ có thể đả thương sư phụ, mà trong số đó, kẻ tệ hại nhất là Âu Dương Phong. Sư phụ thiếp đến chết cũng không chịu nói ra danh tính tên ác nhân kia. Tôn bà bà hỏi: Có phải là Âu Dương Phong? Sư phụ chỉ lắc đầu, mỉm cười rồi tắt thở. Cái lão Âu Dương Phong ấy là nghĩa phụ của chàng thì phải? Lão ta võ công cao cường, chẳng trách sư phụ không địch nổi lão ta.

Dương Quá thở dài:

– Nay nghĩa phụ ta đã chết, sư tổ và Tôn bà bà đã chết, Trùng Dương tổ sư và tổ sư bà bà cũng đã qua đời, mọi oán thù, ân ái, đều được ông trời xóa sạch. Sư tổ trước sau không chịu nói ra danh tính nghĩa phụ ta..

Đột nhiên chàng kêu to:

– Ồ, thì ra là vậy!

Tiểu Long Nữ hỏi:

– Chàng bảo sao?

Dương Quá nói:

– Nghĩa phụ ta bị sư tổ điểm huyệt, không phải được Lý Mạc Sầu giải huyệt, mà là sư tổ điểm không trúng huyệt!

Tiểu Long Nữ nói:

– Làm gì có chuyện điểm không trúng huyệt? Thủ pháp điểm huyệt của sư phụ cao minh vô cùng.

Dương Quá nói:

– Nghĩa phụ ta có một môn võ công kỳ diệu độc nhất vô nhị trong thiên hạ, ấy là có thể nghịch hành kinh mạch toàn thân. Một khi kinh mạch nghịch hành, mọi huyệt đạo đều thay đổi vị trí, điểm trúng cũng hóa thành điểm chệch.

Tiểu Long Nữ nói:

– Có chuyện kỳ quái thế ư?

Dương Quá nói:

– Ta làm thử cho nàng xem này.

Chàng đứng dậy, chống tay trái xuống đất, lộn ngược người theo kiểu trồng cây chuối, đi một vòng, hít thở vài cái, đột nhiên nhảy bật dậy, dùng đỉnh đầu húc thẳng vào góc nhọn cái bàn đá trước giường.

Tiểu Long Nữ hoảng sợ kêu:

– Ôi chao, cẩn thận!

Chỉ thấy huyệt Bách Hội ở đỉnh đầu chàng đã đụng mạnh vào góc nhọn cái bàn đá. Huyệt Bách Hội nằm trên đỉnh đầu, là giao điểm hai đường, một đường chạy từ mép tóc giữa trán ra mép tóc giữa gáy, đường kia từ chót tai phải qua đầu sang chót tai trái. Huyệt này còn là giao điểm của huyệt Thái Dương với mạch Đốc, y gia ví nó như sao Bắc Cực trên trời, nên có câu "Bách Hội ứng Thiên, Toàn Cơ (ở ngực) ứng Nhân, Dũng Tuyền (ở dưới bàn chân) ứng Địa", tức "đại huyệt Tam Tài", là đại yếu huyệt. Dương Quá húc thẳng huyệt Bách Hội vào góc nhọn bàn đá mà chàng chẳng bị sao cả, thản nhiên đứng lên, cười hì hì, nói:

– Nàng xem, nghịch hành kinh mạch, mọi huyệt đều thay đổi vị trí!

Tiểu Long Nữ lấy làm lạ, nói:

– Thật là cổ quái, thế mà chàng vẫn nghĩ ra được!

Dương Quá vừa húc đầu, tuy không gây tổn thương huyệt đạo, nhưng hao tốn sức lực, đầu óc không tránh khỏi mơ hồ, tưởng chừng vừa nghĩ ra một chuyện rất hệ trọng, nhưng đó là chuyện gì, thì không nói ra được. Tiểu Long Nữ thấy chàng ngơ ngơ ngẩn ngẩn, thì cười, nói:

– Chàng ngốc, thử nhẹ một chút cũng được, ai lại đi húc mạnh như thế, có đau lắm không?

Dương Quá không trả lời, xua tay bảo nàng đừng nói, toàn thần chăm chú suy nghĩ, nhưng trong đầu óc như có một cái gì mơ hồ, chưa nhìn rõ, giá mà có thể chộp lấy, lôi nó ra trước mắt để nhìn cho rõ.

Chàng nghĩ một hồi chưa ra, vò đầu bứt tai, nói:

– Long nhi, ta nghĩ đến một điều cực kỳ hệ trọng, song lại không biết là cái gì. Long nhi có biết hay không?

Một người nghĩ bao nhiêu chuyện, rối như tơ vò, tự mình không lần ra đầu mối, lại đi hỏi người bên cạnh, thật là điều vô lý, nhưng hai người ở bên nhau nhiều năm, tâm ý tương thông, có thể đoán biết tâm tư của người kia đến tám, chín phần. Tiểu Long Nữ nói:

– Điều ấy thập phần hệ trọng phải không?

Dương Quá nói:

– Đúng thế!

Tiểu Long Nữ nói:

– Có liên quan đến thương thế của thiếp chứ gì?

Dương Quá mừng rỡ:

– Đúng thế, đúng thế! Nhưng ta nghĩ ra cái gì mới được kia chứ?

Tiểu Long Nữ mỉm cười, nói:

– Chàng mới rồi nhắc đến nghĩa phụ của chàng là Âu Dương Phong, bảo lão ta có thể nghịch hành kinh mạch, điều đó có liên quan gì đến thương thế của thiếp? Thiếp bị thương cũng không phải bởi tay lão ta..

Dương Quá đột nhiên nhảy cẫng lên, reo to:

– Đúng rồi!

Lại tiếng "Đúng rồi" vang vọng hồi lâu trong tòa cổ mộ. Dương Quá chộp lấy cánh tay Tiểu Long Nữ, nói:

– Long nhi được cứu rồi, Long nhi được cứu rồi! Ta được cứu rồi! Ta được cứu rồi!

Chàng kêu mấy lần, mừng quá phát khóc, không nói được nữa. Tiểu Long Nữ thấy chàng như thế, cũng lây niềm vui của chàng mà ngồi dậy.

Dương Quá nói:

– Long nhi, nàng nghe ta nói, hiện tại nàng bị trọng thương, không thể vận hành "Ngọc nữ tâm kinh" bản môn, cho nên thương thế không đỡ. Nhưng nàng có thể nghịch hành kinh mạch để trị thương, cái giường hàn ngọc chính là vật bổ trợ tuyệt vời.

Tiểu Long Nữ như ngộ ra, lẩm bẩm:

– Nghịch hành kinh mạch.. cái giường hàn ngọc..

Dương Quá mừng rỡ, nói:

– Nàng bảo có đúng là duyên trời hay không? Nàng luyện ngược "Ngọc nữ tâm kinh" là được! Vừa may có cái giường hàn ngọc.

Tiểu Long Nữ mơ mơ hồ hồ, nói:

– Thiếp vẫn chưa thật rõ.

Dương Quá nói:

– "Ngọc nữ tâm kinh" thuận hành là chí âm, còn nghịch hành là thuần dương. Khi ta nhắc đến phép kinh mạch nghịch hành của nghĩa phụ, ta lờ mờ cảm thấy có thể cứu trị thương thế cho nàng, nhưng cứu trị thế nào thì nghĩ mãi chưa ra, sau nhớ trong thư Trùng Dương tổ sư có viết đến cái giường hàn ngọc, mới chợt đại ngộ.

Tiểu Long Nữ nói:

– Chẳng lẽ tổ sư bà bà dùng cái giường hàn ngọc trị thương, cũng là nghịch hành kinh mạch hay sao?

Dương Quá nói:

– Không phải thế, phép nghịch hành kinh mạch này, tổ sư bà bà nhất định không biết, ta đoán rằng tổ sư bà bà đã bị thương bởi nội lực âm nhu, còn nàng thì ngược lại, bị thương bởi lực dương cương.

Tiểu Long Nữ gật đầu, lấy làm vui mừng.

Dương Quá nói:

– Việc không nên trì hoãn, hai ta hãy làm luôn.

Chàng tới kho ôm về một bó củi lớn, đốt lửa trong góc phòng, rồi đem phép nghịch hành kinh mạch bước thứ nhất truyền thụ cho Tiểu Long Nữ, dìu nàng ngồi trên cái giường hàn ngọc. Chàng thì ngồi bên đống lửa, giơ tay trái ấp vào lòng bàn tay phải của Tiểu Long Nữ, nói:

– Ta dẫn khí nóng ở đây xung các huyệt đạo cho nàng, nàng hãy cố dùng lực làm cho nội tức nghịch hành, xung khai lần lượt từ huyệt này đến huyệt khác, khi khí nóng đi tới cái giường hàn ngọc, thì thương thế bớt được một phần.

Tiểu Long Nữ cười, nói:

– Thiếp có cần lộn ngược người trồng cây chuối như chàng hay không?

Dương Quá nói:

– Cái đó chưa cần. Lộn ngược người trồng cây chuối, kinh mạch nghịch hành, huyệt đạo dễ thay đổi vị trí, khi lâm địch sẽ rất hữu dụng. Đôi ta thong thả trị thương, cứ việc ngồi như thường.

Tiểu Long Nữ giơ tay nắm cánh tay trái của chàng, mỉm cười, nói:

– Quách cô nương cũng chưa đến nỗi tệ, không chém cả hai cánh tay chàng.

Hai người vừa trải qua một phen cận kề cái chết, chuyện mất một cánh tay đã không coi là gì, Tiểu Long Nữ thậm chí còn đem ra nói đùa. Dương Quá cũng cười, nói:

– Nếu ta bị mất cả hai cánh tay, vẫn còn hai cẳng chân. Có điều dùng bàn chân giúp nàng hành công, thì không được thanh nhã cho lắm.

Tiểu Long Nữ cười xong, liền lẩm nhẩm ghi nhớ phép nghịch hành kinh mạch, lát sau nàng nói:

– Được rồi!

Dương Quá thấy lửa cháy đượm dần, ngầm vận nội tức, đang định bắt dầu hành công, bỗng kêu lên:

– Thôi chết, chút nữa quên thì nguy to!

Tiểu Long Nữ hỏi:

– Gì vậy?

Dương Quá chỉ bé Quách Tương đang nằm trên giường, nói:

– Chúng ta luyện đến thời khắc quyết định, lỡ tiểu cô nương ấy khóc gọi, thì hỏng hết!

Tiểu Long Nữ nói nhỏ:

– Suýt chết!

Người tu luyện tối kỵ ngoại ma quấy nhiễu tâm trí. Năm nọ, Tiểu Long Nữ cùng Dương Quá luyện chung Ngọc nữ tâm kinh, bị Doãn Chí Bình và Triệu Chí Kính tình cờ đụng phải, Tiểu Long Nữ đã hộc máu, chút nữa thì mất mạng. Dạo ấy thân thể nàng đang khoẻ mạnh còn như vậy, nay đang trọng thương, làm sao chịu nổi sự quấy nhiễu?

Dương Quá pha nửa bát mật ong với nước, cho Quách Tương uống, rồi bế nó tới một gian thạch thất xa, khép hai lần cửa đá, để nó có khóc to cũng không vọng đến chỗ Tiểu Long Nữ, đoạn trở lại bên cái giường hàn ngọc, nói:

– Xung khai hết ba mươi sáu đại huyệt trên người nàng, ta nghĩ nhanh cũng mất mươi ngày, chậm thì phải nửa tháng. Suốt thời gian đó, không để sự vật bên ngoài làm phân tâm, cổ mộ này là nơi cách biệt hoàn toàn với trần thế, không chỗ nào bằng, dù nơi hoang sơn cùng cốc tĩnh lặng nhất, cũng vẫn còn gió mát trăng thanh, hoa thơm chim hót quấy nhiễu tâm trí.

Tiểu Long Nữ mỉm cười, nói:

– Thương thế của thiếp do phái Toàn Chân gây nên, nhưng tổ sư gia phái Toàn Chân lại tạo ra tòa cổ mộ, cái giường hàn ngọc để thiếp được yên ổn nghỉ ngơi, phục hồi sức khỏe, công tội của họ coi như hòa.

Dương Quá nói:

– Còn Kim Luân pháp vương thì sao? Chúng ta không thể tha cho lão.

Tiểu Long Nữ thở dài, nói:

– Chỉ cần thiếp sống được, chàng còn gì chưa thỏa mãn nữa chứ?

Dương Quá cầm tay nàng, nói:

– Long nhi nói rất phải! Lần này nàng khỏi rồi, hai ta vĩnh viễn sẽ không động thủ với ai nữa. Ông trời thương đôi ta lắm rồi!

Tiểu Long Nữ nói nhỏ:

– Đôi ta sẽ đi xuống phương nam, làm ruộng, nuôi gà, nuôi vịt..

Nàng xuất thần một lát, chợt cảm thấy một luồng nhiệt lực truyền sang lòng bàn tay, liền bắt đầu vận công theo phép nghịch hành kinh mạch mà Dương Quá vừa dạy.

Phép trị thương bằng cách nghịch hành kinh mạch với sự trợ giúp của cái giường hàn ngọc này quả nhiên có công hiệu lớn. Năm xưa Nhất Đăng đại sư dùng thần công "Nhất dương chỉ" đả thông huyệt đạo toàn thân cho Hoàng Dung khỏi trọng thương, đạo lý cũng như thế này, khác chăng là sử dụng Nhất dương chỉ trị thương thì hao tốn nội lực cực lớn, kiến hiệu rất nhanh, còn phép nghịch hành kinh mạch này của Dương Quá khó tránh tốn nhiều thời gian. Hơn nữa, dù là một đứa bé hoàn toàn không biết võ công bị trọng thương, người tinh thông Nhất dương chỉ cũng có thể dùng nội lực thâm hậu của mình đả thông huyệt đạo, cải tử hoàn sinh cho đứa bé. Đằng này Tiểu Long Nữ nếu không có căn cơ nội công thâm hậu, sở học với Dương Quá lại khác môn phái, thì dầu Âu Dương Phong có sống lại, Hoàng Dược Sư có đích thân đến giúp, nội tức của người cứu trị và người được cứu trị không hòa hợp với nhau, cũng quyết không thể khai thông vô số kinh mạch nghịch hành.

Dương Quá ngoài việc một ngày ba bữa cho Quách Tương uống mật ong và nấu bí đỏ làm món ăn, rất ít khi chàng rời chỗ Tiểu Long Nữ. Khi nghịch xung đại huyệt, có lần bốn, năm canh giờ bàn tay của hai người không thể rời ra. Lần Quách Tĩnh bị thương, Hoàng Dung tốn bảy ngày đêm giúp chồng trị thương. Tiểu Long Nữ thể chất đã không bằng Quách Tĩnh, lại bị thương nặng hơn, nên càng tốn thời gian hơn. May tòa cổ mộ là nơi hoàn toàn yên ổn, không bị nhiều kẻ địch kéo đến gây sự như hồi Quách Tĩnh trị thương ở Ngưu Gia thôn.

Ở bên ngoài cánh rừng hôm đó, Hoàng Dung sau khi dùng Lan hoa phất huyệt thủ chế ngự Lý Mạc Sầu, trở lại tìm Quách Tương không thấy, thì bồn chồn lo lắng, bèn chạy tới chỗ Lý Mạc Sầu quát hỏi:

– Đạo trưởng dùng ngụy kế gì giấu con ta ở đâu rồi?

Lý Mạc Sầu kinh ngạc, nói:

– Tiểu cô nương chẳng phải vẫn nằm trong hàng rào mây gai hay sao?

Hoàng Dung lo cuống cuồng như phát khóc, lắc đầu nói:

– Không thấy nữa.

Lý Mạc Sầu đã nuôi dưỡng Quách Tương hơn một tháng, rất yêu nó, đột nhiên nghe nó mất tăm thì sững sờ, buột miệng nói:

– Chỉ có Dương Quá hoặc Kim Luân pháp vương mang bé đi thôi.

Hoàng Dung hỏi:

– Tại sao?

Lý Mạc Sầu bèn thuật lại, ở bên ngoài thành Tương Dương mụ cùng Dương Quá và Kim Luân pháp vương tranh đoạt nhau bé Quách Tương như thế nào, kể đến chỗ nguy hiểm, Hoàng Dung bất giác cũng không khỏi rùng mình. Thấy thần sắc Lý Mạc Sầu ngơ ngác, chứng tỏ rằng quả thật mụ ta không biết, Hoàng Dung bèn giải huyệt cho mụ ta, tiện tay điểm huyệt Toàn Cơ ở ngực. Làm như thế, Lý Mạc Sầu hành động không khác bình thường, song trong vòng mười hai canh giờ mụ không thể đả thương người khác.

Lý Mạc Sầu cười gượng, đứng dậy, dùng cây phất trần phủi bùn đất trên người, nói:

– Nếu rơi vào tay Dương Quá thì không ngại, chỉ sợ bị lão giặc trọc Kim Luân pháp vương bắt đi thôi.

Hoàng Dung hỏi:

– Vì sao?

Lý Mạc Sầu đáp:

– Dương Quá tỏ ra rất tốt với đứa bé, xem chừng hắn hoàn toàn không có ý gia hại, vì thế ban đầu tiểu muội mới đoán đứa bé là con của hắn..

Mụ nói đến đó vội ngừng bặt, chỉ sợ làm cho Hoàng Dung tức giận.

Nhưng Hoàng Dung lúc này đang nghĩ việc khác. Hoàng Dung tưởng tượng lúc Dương Quá ác đấu với Lý Mạc Sầu và Kim Luân pháp vương, đã tận lực bảo hộ Quách Tương, thế mà mình và Quách Phù lại trách móc chàng, đến mức Quách Phù chém lìa cả cánh tay chàng. Hoàng Dung cảm thấy vô cùng ân hận, tự trách mình: "Ôi, Quá nhi đã cứu Tĩnh ca ca, cứu mình, cứu Phù nhi, lần này lại cứu Tương nhi.. Nhưng mình cứ có thành kiến với nó, nghĩ phụ thân nó tác ác đa đoan, cha nào con nấy, bao lần mình không tin nó.. đã không đối đãi tử tế với nó được vài ngày lại nghi ngờ nó. Hoàng Dung ơi là Hoàng Dung, mi tự phụ thông minh, hóa ra mi hoàn toàn không bằng Tĩnh ca ca trung hậu đối đãi với người".

Lý Mạc Sầu thấy Hoàng Dung nước mắt lưng tròng, biết Hoàng Dung lo cho sự an nguy của đứa con, bèn khuyên:

– Quách phu nhân, lệnh ái sinh hạ mới một tháng, đã gặp đại nạn, song không mất sợi tóc. Trông bé trắng trẻo khả ái như thế, ngay tiểu muội là ma đầu giết người không chớp mắt mà còn ưa thích nó, đủ biết phúc nó lớn lắm, suốt đời sẽ gặp hung hóa cát. Phu nhân cứ yên tâm, chúng ta hãy cùng đi tìm bé Quách Tương.

Hoàng Dung lấy vạt áo lau nước mắt, nghĩ Lý Mạc Sầu nói không sai, lại nghĩ: "Chân thành đối đãi với người là hay nhất. Từ nay trở đi, thà để người phụ ta, chứ ta sẽ không phụ người". Bèn đưa tay giải luôn huyệt Toàn Cơ cho Lý Mạc Sầu, nói:

– Lý đạo trưởng muốn cùng đi tìm Tương nhi, tiểu muội cảm kích bội phần. Nhưng nếu đạo trưởng có việc khác cần kíp, thì chúng ta hãy từ biệt ở đây, hẹn gặp lại sau.

Lý Mạc Sầu nói:

– Việc cần kíp nào cũng không bằng việc đi tìm bé Quách Tương. Phu nhân hãy chờ một chút!

Đoạn mụ chạy tới một cái hốc cây lớn, cởi dây trói chân con báo, vỗ nhẹ vào mông nó, nói:

– Ta thả cho mi đi đó.

Con báo kêu khẽ một tiếng, lao vào đám cỏ cao.

Hoàng Dung kinh ngạc hỏi:

– Con báo làm gì vậy?

Lý Mạc Sầu cười, đáp:

– Nó là vú em của lệnh ái đấy!

Hoàng Dung mỉm cười, hai người cùng đi tới tiểu thị trấn, thấy Quách Phù đang đứng ở đầu đường ngóng cổ trông đợi. Nhìn thấy Hoàng Dung, nàng mừng rỡ chạy lại, nói:

– Mẹ, muội muội đã bị..

Nói chưa hết câu, nhìn rõ người đi sau mẹ là Lý Mạc Sầu, thì không khỏi cả kinh. Nàng từng giao đấu với Lý Mạc Sầu, vẫn nghe huynh đệ họ Võ nhắc đến mối thù mẹ họ bị giết, nàng từ lâu đã coi Lý Mạc Sầu là kẻ độc ác nhất trên thế gian.

Hoàng Dung nói:

– Lý đạo trưởng sẽ giúp chúng ta đi tìm tiểu muội của ngươi. Ngươi bảo muội muội bị sao?

Quách Phù nói:

– Muội muội đã bị Dương Quá mang đi, hắn còn cướp cả con tiểu hồng mã của con. Mẹ nhìn thanh kiếm này mà xem.

Rồi giơ thanh kiếm cong veo ra, nói:

– Hắn dùng ống tay áo rỗng phẩy một cái, thanh kiếm văng vào tường bị cong đi thế này.

Hoàng Dung và Lý Mạc Sầu cùng nói:

– Dùng ống tay áo?

Quách Phù nói:

– Vâng, đúng là tà môn! Không ngờ hắn lại học được yêu pháp.

Hoàng Dung và Lý Mạc Sầu nhìn nhau, cùng kinh hãi. Cả hai hiểu rằng một người luyện nội lực đến cảnh giới cực cao, quả có thể biến dải lụa thành cây gậy, lấy nhu đánh cương, song phải gặp được minh sư, có thiên tư dị thường, chí ít phải luyện nội công ba, bốn chục năm. Đằng này Dương Quá còn ít tuổi, đạt tới cảnh giới ấy thật hiếm có. Hoàng Dung nghe bảo Quách Tương bị Dương Quá mang đi, thì đỡ lo hẳn. Lý Mạc Sầu thì nghĩ: "Tên tiểu tử công phu luyện đến bước này, nhất định là nhờ nắm được Ngọc nữ tâm kinh của sư phụ ta. Bây giờ ta có Quách phu nhân đi cùng, ta giúp Quách phu nhân giành lại đứa bé, Quách phu nhân giúp ta đoạt Ngọc nữ tâm kinh. Ta là đại đệ tử bổn phái, sư muội tuy được sư phụ yêu mến, nhưng sư muội liên tiếp vi phạm môn qui, tâm kinh sao có thể để lọt vào tay nam tử?" Mụ nghĩ thế và cảm thấy phấn chấn hẳn lên.

Hoàng Dung hỏi rõ hướng đi của Dương Quá, nói:

– Phù nhi, ngươi cũng không cần về đảo Đào Hoa nữa, hãy theo ta đi tìm Dương đại ca.

Quách Phù cả mừng, nói:

– Hay quá!

Nhưng nghĩ nếu gặp Dương Quá, nàng lại hết sức ngượng ngùng. Hoàng Dung nặng mặt, nói:

– Khi gặp lại Dương đại ca, bất kể Dương đại ca có giận ngươi hay không, ngươi cũng phải thành khẩn tạ tội với Dương đại ca, nghe chưa.

Quách Phù trong bụng không phục, nói:

– Để làm gì? Chẳng phải hắn đã cướp muội muội đi đó sao?

Hoàng Dung kể sơ những lời nghe được từ Lý Mạc Sầu, nói:

– Dương đại ca nếu có ý xấu, muội tử của ngươi còn sống được đến hôm nay ư? Hơn nữa, cái phất ống tay áo của Dương đại ca nếu không nhằm vào thanh kiếm, mà vào đầu ngươi, thì ngươi sẽ ra sao rồi?

Quách Phù nghe mẹ nói vậy, không khỏi rùng mình, nghĩ thầm: "Không lẽ hắn thủ hạ lưu tình thật à?" Nàng từ bé được mẹ nuông chiều, nên cố cãi:

– Hắn ôm muội muội phóng về hướng bắc, chẳng phải là đến Tuyệt Tình cốc thì còn đi đâu?

Hoàng Dung lắc đầu, nói:

– Không, Dương đại ca nhất định sẽ đến núi Chung Nam.

Quách Phù bĩu môi, nói:

– Mẹ còn bênh hắn nữa! Nếu quả thật hắn có hảo ý sao hắn không mang muội muội về thành Tương Dương giao cho chúng ta, lại mang đến núi Chung Nam?

Hoàng Dung thở dài:

– Ngươi cùng Dương đại ca lớn lên từ nhỏ mà vẫn không hiểu tính khí của Dương đại ca? Hắn vốn tâm cao khí ngạo, không chịu để kẻ khác sỉ nhục, tự dưng bị ngươi chém mất một cánh tay, lấy mạng ngươi thì hắn không nỡ, nhưng bỏ qua thì không đâu. Cho nên hắn mới mang muội tử của ngươi đi để chúng ta lo cuống lên, ít ngày sau hắn nguôi giận, sẽ tự mang Tương nhi về cho chúng ta. Ngươi hiểu chưa? Tại ngươi mà Dương đại ca bắt trộm muội tử của ngươi mang đi đó!

Hoàng Dung đến phạn điếm ban nãy, mượn giấy bút viết mấy chữ, đưa hai lạng bạc nhờ điếm tiểu nhị mang tới thành Tương Dương cho Quách Tĩnh. Điếm tiểu nhị nói:

– Quách đại hiệp đánh giặc, bảo vệ trăm họ, đúng là phật sống của vạn nhà, tiểu nhân được làm chút gì cho Quách đại hiệp đã là niềm vinh hạnh lớn lao.

Nói thế nào y cũng không chịu nhận bạc, cầm bức thư hăm hở đi ngay. Quách Phù thấy bách tính kính nể phụ thân mình như vậy, trong bụng rất đắc ý.

Ba người liền mua ngựa, khởi hành đi đến núi Chung Nam. Quách Phù không ưa Lý Mạc Sầu, dọc đường hầu như không trò chuyện với mụ ta, bất đắc dĩ phải nói, thì sắc mặt nàng rất lạnh nhạt. Ngày đi đêm nghỉ, dọc đường vô sự. Chiều hôm nay ba người đang cưỡi ngựa đi, đột nhiên có người phóng ngựa chạy ngược lại.

* * *

GHI CHÚ: Theo ghi chép trong sử sách, Doãn Chí Bình thay Khưu Xứ Cơ làm chưởng giáo phái Toàn Chân, sau đó tiếp nhiệm chức chưởng giáo lần lượt là: Lý Chí Thường, Trương Chí Kính, Vương Chí Thản, Kỳ Chí Thành. Còn Triệu Chí Kính chỉ là nhân vật hư cấu trong bộ tiểu thuyết.

Comments

0 comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 29: Kiếp Nạn Trùng Trùng

Quách Phù kêu lên:

– Là con tiểu hồng mã của hài nhi, là con..

Tiếng kêu chưa dứt, con tiểu hồng mã đã phi đến trước mặt. Con ngựa nhận ra chủ nhân, không đợi nàng giơ tay giữ cương, đã dừng phắt lại, nghển cổ hí lên vui mừng.

Quách Phù nhìn người cưỡi con tiểu hồng mã là hắc y thiếu nữ mình từng gặp và từng sánh vai giao đấu với Lý Mạc Sầu, chính là Hoàn Nhan Bình. Chỉ thấy Hoàn Nhan Bình tóc rối tung, mặt tái nhợt, vẻ hoảng hốt. Quách Phù nói:

– Hoàn Nhan tỷ tỷ, tỷ tỷ làm sao vậy?

Hoàn Nhan Bình giơ tay chỉ con đường phía sau, nói.

– Mau.. mau..

Đột nhiên lảo đảo ngã ngựa. Quách Phù đỡ nàng ta dậy, nói với mẹ:

– Mẹ, đây là Hoàn Nhan tỷ tỷ.

Rồi trừng mắt nhìn Lý Mạc Sầu một cái.

Hoàng Dung nghĩ: "Nó cưỡi con tiểu hồng mã phi nhanh, thiên hạ không ai có thể đuổi kịp, vốn không có gì nguy hiểm. Nhưng nó lại chỉ tay về phía bắc, vẻ hốt hoảng, tất là nó lo cho người khác, ta phải mau đến cứu người". Bèn bảo Quách Phù ôm Hoàn Nhan Bình cưỡi chung ngựa, nói:

– Con ngựa ấy phi quá nhanh, ngươi nhất thiết không được vượt lên trước ta đó, nghe chưa?

Quách Phù hỏi:

– Vì sao?

Hoàng Dung nói:

– Đằng trước có nguy hiểm lớn, ngươi không biết ư?

Đoạn vẫy tay với Lý Mạc Sầu, hai người phóng ngựa về phía bắc.

Chạy hơn mười dặm, quả nhiên nghe từ phía sườn núi bên kia vọng lại tiếng binh khí va chạm nhau. Hoàng Dung và Lý Mạc Sầu phóng ngựa vòng qua sườn núi, thấy trên bãi trống phía trước có năm người đang giao chiến ác liệt. Trong đó, hai người là huynh đệ họ Võ, một nam một nữ đều còn trẻ tuổi, Hoàng Dung không biết mặt, bốn người liên thủ chống một trung niên hán tử. Tuy bốn địch một, nhưng họ phần nhiều chỉ chống đỡ, ít tấn công; huynh đệ họ Võ đều đã bị thương, chàng thiếu niên múa kiếm chống đỡ hầu hết chiêu số của hán tử. Gần đó có một người đang nằm dưới đất, miệng không ngớt kêu la, chính là Võ Tam Thông.

Hoàng Dung thấy gã hán tử tay trái cầm một thanh đại đao vàng chóe, tay phải cầm một thanh kiếm đen và nhỏ, chiêu số kỳ ảo, bình sinh chưa gặp, nếu mình không xuất thủ, huynh đệ họ Võ ắt gặp đại nguy, bèn nói với Lý Mạc Sầu:

– Hai gã thiếu niên kia là đồ nhi của tiểu muội.

Lý Mạc Sầu cười khẩy, nghĩ: "Mẫu thân của chúng là do ta giết, ta há không biết chúng là ai?" Mụ thấy trung niên hán tử võ công cao cường lạ lùng, nhân vật này chưa từng gặp trên giang hồ, mụ thầm kinh ngạc, mỉm cười, nói:

– Cho mi nghỉ này!

Cây phất trần được rút ra. Hoàng Dung cũng đã cầm cây gậy trúc trong tay. Hai người từ hai bên tả hữu cùng xông vào. Cây phất trần của Lý Mạc Sầu tấn công thanh hắc kiếm, cây gậy trúc của Hoàng Dung thì công kích thanh kim đao.

Trung niên hán tử chính là cốc chủ Tuyệt Tình cốc Công Tôn Chỉ. Hắn đột nhiên thấy có hai thiếu phụ xinh đẹp cùng xông tới tấn công mình thì lòng rung động. Chỉ nghe Lý Mạc Sầu kêu "Một!" cây phất trần xuất chiêu, mụ kêu "Hai!" Thì ra mụ ngầm thi thố với Hoàng Dung, xem ai đánh rơi binh khí khỏi tay đối phương trước. Nhưng mụ đếm đến "Mười" mà Công Tôn Chỉ vẫn công thủ như thường. Chàng thiếu niên đâm liền ba kiếm phía sau lưng Công Tôn Chỉ, kiếm thế rất hiểm, Công Tôn Chỉ không chống đỡ, mà nhảy vọt hơn một trượng về phía trước, thoát ra khỏi vòng vây, nghĩ bụng nếu đấu tiếp nhất định hắn sẽ bị thua, bèn đưa mắt nhìn Hoàng Dung và Lý Mạc Sầu một cái, nghĩ: "Ở đâu ra hai nữ tướng lợi hại và xinh đẹp thế không biết?" Hắn gõ đao kiếm vào nhau coong một tiếng, bay người tới.

Hoàng Dung và Lý Mạc Sầu không dám khinh địch, giơ binh khí nghiêm thủ môn hộ, ai ngờ Công Tôn Chỉ đang lơ lửng trên không liền xoay mình, sau khi tiếp đất nhún mình mấy lần đã đến sườn đồi. Hoàng Dung và Lý Mạc Sầu nhìn nhau mỉm cười, nghĩ: "Hán tử kia võ công đã cao cường, lại còn giảo hoạt, một mình đấu với hắn, e không địch nổi".

Huynh đệ họ Võ tay giữ vết thương, tiến lại cúi chào sư mẫu, rồi trừng mắt nhìn Lý Mạc Sầu.

Hoàng Dung nói:

– Món nợ cũ tạm thời gác lại, thương thế của phụ thân các ngươi không sao chứ? Hai vị kia là ai vậy? Thôi chết, nguy mất! Lý đạo trưởng, mau theo tiểu muội!

Hoàng Dung không kịp lên ngựa, lao vút ngược đường vừa tới. Lý Mạc Sầu chưa hiểu ý, song cũng chạy theo, gọi:

– Chuyện gì vậy?

Hoàng Dung nói:

– Phù nhi, Phù nhi sẽ đụng hắn mất!

Hai người chạy rất nhanh, nhưng Công Tôn Chỉ cước lực nhanh không kém, chẳng mấy chốc đã xa hơn một dặm.

Chỉ thấy Quách Phù hai tay ôm ngang eo Hoàn Nhan Bình, cưỡi con tiểu hồng mã, đang thong thả đi tới. Hoàng Dung từ xa gọi to:

– Phù nhi, cẩn thận!

Tiếng gọi chưa dứt, Công Tôn Chỉ đã nhanh chân vọt lên lưng ngựa, một tay khống chế Quách Phù, một tay kéo dây cương muốn quay đầu ngựa. Hoàng Dung chụm môi huýt sáo, con tiểu hồng mã nghe tiếng chủ gọi, liền chạy lại. Công Tôn Chỉ kinh ngạc, nghĩ thầm: "Hôm nay hành sự sao xúi quẩy thế này, đến con ngựa cũng làm trái ý ta?" Hắn kéo mạnh dây cương; con tiểu hồng mã hí một tiếng dài, đứng dựng hai vó trước. Công Tôn Chỉ tuy ép được nó quay đầu, hắn muốn phi về hướng nam, nhưng con ngựa lại giậm chân bước lùi. Hoàng Dung cả mừng, lao tới gần. Công Tôn Chỉ thấy con tiểu hồng mã quật cường vô tỉ, Hoàng Dung và Lý Mạc Sầu sắp đuổi kịp, bèn nhét binh khí vào bao, tay phải kẹp Quách Phù, tay trái kẹp Hoàn Nhan Bình, xuống ngựa chạy bộ. Hoàng Dung và Lý Mạc Sầu đều có khinh công hạng nhất, không lâu đuổi kịp, chỉ còn cách mươi bước. Công Tôn Chỉ xoay người lại, cười, nói:

– Ta chỉ ép lại một chút, hai đóa hoa tươi này còn sống nổi chăng?

Hoàng Dung nói:

– Các hạ là ai? Chúng ta không quen biết, tại sao các hạ lại bắt con gái của ta?

Công Tôn Chỉ cười, nói:

– Cô nương này là con của phu nhân ư? Thì ra là Hoàn Nhan phu nhân.

Hoàng Dung chỉ Quách Phù, nói:

– Kia mới là con gái của ta!

Công Tôn Chỉ nhìn Quách Phù một cái, lại nhìn Hoàng Dung một cái, cười hi hí, nói:

– Cả hai mẹ con đều đẹp quá trời!

Hoàng Dung cả giận, có điều con gái đang bị hắn khống chế, đánh chuột sợ vỡ bình quí, trước tiên đành tính kế hoãn binh, đang định nói, bỗng vèo vèo có hai mũi tên từ phía sau lưng bên trái bay thẳng rất gấp tới trước mặt Công Tôn Chỉ. Hoàng Dung nghe tiếng tên bay, tưởng là Quách Tĩnh đã đến, vô cùng mừng rỡ. Các cao thủ võ lâm Trung Nguyên thường không luyện thuật bắn cung; các võ sĩ Mông Cổ tuy giỏi về tiễn pháp, nhưng nội lực lại kém, không phóng được xa. Hai mũi tên bay rít lên như vừa rồi, trừ do Quách Tĩnh bắn ra, Hoàng Dung bình sinh chưa thấy người thứ hai nào có công lực như vậy. Nhưng hai mũi tên bay nửa chừng thì rõ ra là còn thua xa, Hoàng Dung biết không phải do chồng mình phóng đi. Công Tôn Chỉ thấy tên bay đến bèn há miệng cắn lấy mũi tên thứ nhất, rồi dùng thân nó gạt mũi tên thứ hai rơi xuống đất. Hoàng Dung nghĩ: "Hai mũi tên nếu do Tĩnh ca ca bắn, ngươi dùng miệng cắn như thế thì nó đã xuyên vào họng ngươi rồi". Đang nghĩ thế, chỉ thấy tiếng các mũi tên rít liên tiếp, chín mũi tên liền bay tới giữa trán Công Tôn Chỉ, khiến hắn chân tay luống cuống, vội thả hai thiếu nữ xuống, rút kiếm gạt tên.

Hoàng Dung và Lý Mạc Sầu chạy đến, định cứu hai thiếu nữ, thì thấy một cái bóng xám lăn tới ôm Quách Phù lăn sang bên đường, người ấy đang định bật dậy, thì Công Tôn Chỉ tay trái chưa kịp rút kim đao, bèn tung chưởng giáng xuống đỉnh đầu người ấy.

Người ấy nằm ngang dưới đất, giơ chưởng chống đỡ song chưởng đụng nhau, "bùng" một tiếng, bụi đất bay tung tóe. Công Tôn Chỉ thốt lên:

– Khá khen!

Chưởng thứ hai đã đánh tiếp. Hoàng Dung thấy người kia khó bề chống trả, cây Đả cẩu bổng sử liền yếu quyết chữ "Phong", đón lấy chưởng ấy. Công Tôn Chỉ thấy địch nhân hợp vây, biết hôm nay xúi quẩy, bèn cười ha ha, lùi ba bước, quay người bỏ đi. Thân pháp uyển chuyển, phong thái anh võ, khiến bọn Hoàng Dung không dám đuổi theo.

Người đó ôm Quách Phù đứng dậy, buông tay ra. Hoàng Dung thấy người ấy lưng đeo cung tên, thân cao vai rộng, chính là chàng thiếu niên sử kiếm ban nãy, mười một mũi tên liên châu dĩ nhiên do chàng ta phóng đi. Quách Phù bị Công Tôn Chỉ kiềm chế, nhưng không bị thương, nói:

– Gia Luật đại ca, đa tạ đã cứu muội.

Nói rồi đỏ mặt, hết sức ngượng ngùng. Lúc ấy Võ Tu Văn và một thiếu nữ cũng đã chạy đến, còn Võ Đôn Nhu thì đang săn sóc Võ Tam Thông. Về lý mà nói, Võ Tu Văn phải dẫn kiến mọi người mới phải, nhưng y đang hầm hầm tức giận, mắt nhìn Lý Mạc Sầu như tóe lửa, quên hết mọi chuyện bên mình, Hoàng Dung gọi y liền mấy tiếng, y cũng không nghe thấy. Lý Mạc Sầu thì khoanh tay đứng một chỗ cách xa ngắm cảnh, chẳng để ý đến mọi người.

Quách Phù chỉ chàng thiếu niên vừa cứu mình, nói với mẹ:

– Đây là Gia Luật Tề Gia Luật đại ca.

Đoạn chỉ thiếu nữ cao cao, nói:

– Còn đây là Gia Luật Yến Gia Luật tỷ tỷ.

Hoàng Dung khen:

– Công phu của hai vị khá lắm.

Huynh muội Gia Luật cùng nói:

– Quách phu nhân quá khen!

Rồi bước tới hành lễ.

Hoàng Dung nói:

– Ta thấy võ công của hai người là theo phái Toàn Chân, không rõ là môn hạ của vị nào trong Toàn Chân thất tử?

Hoàng Dung thấy võ công của Gia Luật Tề rất cao, trong số bọn trẻ, trừ Dương Quá ra hiếm ai được như y, đoán y không phải là đệ tử đời thứ tư của phái Toàn Chân. Gia Luật Yến nói:

– Công phu của tiểu nữ là do ca ca truyền dạy.

Hoàng Dung gật đầu, nhìn Gia luật Tề. Gia Luật Tề thưa:

– Trưởng bối đã hỏi, lẽ ra phải bẩm cáo sự thật. Nhưng sư phụ vãn bối đã dặn không được nói ra danh tính của người, mong Quách phu nhân lượng thứ.

Hoàng Dung ngạc nhiên, nghĩ thầm: "Toàn Chân thất tử làm gì có thứ qui củ lạ lùng ấy? Gã thiếu niên này võ công nhân tài đều khá, sao lại không dám nói ra?" Chợt nghĩ ra điều gì, đột nhiên cười ha hả đến mức phải cong cả người, rõ ràng nghĩ đến một chuyện gì hết sức hoạt kê và lý thú. Quách Phù lấy làm lạ, nói:

– Mẹ, có gì tức cười?

Nàng nghe mẹ hỏi đến môn phái sư thừa của Gia Luật Tề một cách nghiêm trang, rồi tự dưng cười như thế, e Gia Luật Tề sẽ buồn, nên trong bụng rất ngượng, nói thêm:

– Mẹ, Gia Luật đại ca không tiện nói thì thôi, có gì tức cười kia chứ?

Hoàng Dung vẫn cười không nói. Gia Luật Tề cũng cười cười nói:

– Thì ra Quách phu nhân đoán được.

Quách Phù ngơ ngác, ngoảnh sang nhìn Gia Luật Yến, thì thấy nàng ta cũng ngơ ngác không hiểu hai người kia cười cái gì.

Lúc này Võ Tu Văn quì chân trái xuống đất, băng bó vết thương cho Hoàn Nhan Bình. Lúc nãy nàng bị Công Tôn Chỉ ôm chạy, làm sai khớp chân phải. Hoàng Dung hỏi:

– Tu nhi, thương thế của phụ thân ngươi ra sao?

Võ Tu Văn nói:

– Gia gia bị trúng một kiếm của Công Tôn Chỉ vào chân trái, may không động tới gân cốt.

Hoàng Dung gật đầu, bước qua vuốt bờm con tiểu hồng mã, nói:

– Mã nhi ơi mã nhi, cả nhà họ Quách ta thật khó báo đáp ân tình của mi.

Thấy Võ Tu Văn trước sau không hề trò chuyện với Quách Phù, song lại hết sức ân cần săn sóc Hoàn Nhan Bình, chẳng hiểu là y cố ý làm thế cho Quách Phù thấy, hay là quả thực y đã có tình ý với Hoàn Nhan Bình. Hoàng Dung bảo y:

– Ta hãy cùng lại xem phụ thân ngươi thế nào rồi.

Võ Tam Thông đang ngồi, thấy Hoàng Dung tới, liền chào "Quách phu nhân" và đứng dậy, nhưng vì bị thương ở chân, nên loạng choạng. Võ Đôn Nhu và Gia Luật Yến cùng giơ tay đỡ, hai người chạm tay vào nhau, bất giác nhìn nhau mỉm cười. Hoàng Dung cười thầm: "Hay chưa, lại một cặp nữa? Mấy hôm trước huynh đệ ngươi còn đánh nhau chí chết vì Phù nhi, hôm nay gặp cô nương xinh xắn khác, đã quên biến mọi chuyện cũ rồi". Đột nhiên nhớ đến Quách Tĩnh, không khỏi tự hào, Tĩnh ca ca đối với mình nhất mực chân tình, đúng là phú quí không màng, hiểm nguy chẳng ngại, bọn thanh niên kia làm sao sánh nổi Tĩnh ca ca? Hoàng Dung lại nghĩ đến Dương Quá, thấy ái tình của hắn với Tiểu Long Nữ tuy không tương xứng thân phận, trái ngược luân thường, nhưng kiên trinh, sống chết không lay chuyển, thật khiến cho người ta phải kính phục. Huynh đệ họ Võ sống cùng Quách Phù ở đảo Đào Hoa từ bé đến lúc trưởng thành, một là trên đảo không có thiếu nữ nào khác, hai là lâu ngày tự nhiên sinh tình, nếu bảo hai người không chung tình với Quách Phù, thì chẳng hợp tình lý chút nào. Sau đó họ bỗng biết rằng Quách Phù đối với họ hoàn toàn không có tình ý gì, tất nhiên họ tuyệt vọng, cho rằng sống trên đời chẳng còn lạc thú gì nữa; ai dè ít ngày sau lại gặp Gia Luật Yến và Hoàn Nhan Bình, mà hai thiếu nữ ấy tựa hồ mỗi người có duyên với huynh đệ họ. Lúc này huynh đệ họ Võ gặp lại Quách Phù, thầm so sánh trong lòng, đúng là nhìn người tình cứ ngỡ Tây Thi, cảm thấy ý trung nhân của mình chẳng những không có điểm nào thua Quách Phù, mà còn hơn hẳn. Một người thì nghĩ: "Gia Luật cô nương hào sảng hòa khí, đâu có nũng na nũng nịu, hẹp hòi như Quách Phù?" Một người thì nghĩ: "Hoàn Nhan cô nương hết sức dễ thương, hiền hậu, đâu có ngang ngược khó chịu như Quách Phù?" Huynh đệ họ Võ đã thề suốt đời sẽ không nhìn mặt Quách Phù nữa, nhưng ngẫu nhiên chạm trán, không tránh nhau được, đều nghĩ: "Hôm nay ta không hề có ý tìm gặp nàng ta, không thể coi là làm trái lời thề".

Quách Phù nhớ lại lúc mình bị Công Tôn Chỉ bắt, Gia Luật Tề ra tay cứu nàng, mấy lần cứ liếc trộm chàng ta, thấy chàng cao lớn, anh tuấn, không khỏi lấy làm lạ: "Năm ngoái mình đã gặp chàng, sau đó quên luôn, không ngờ võ công của chàng cao cường đến thế. Mẹ mình cười vui với chàng, không biết vì chuyện gì?"

Hoàng Dung xem vết thương ở chân cho Võ Tam Thông, may không đáng ngại. Thế là mọi người kể lại sự tình vừa qua.

Hôm ấy Võ Tam Thông, Chu Tử Liễu, cùng vị sư thúc Thiên Trúc cao tăng đi Tuyệt Tình cốc tìm giải dược, vừa ra khỏi thành Tương Dương, thì Võ Tam Thông gặp hai đứa con trai. Võ Tam Thông ngạc nhiên, chỉ lo hai đứa lại quyết đấu, vội bảo Chu Tử Liễu đưa sư thúc đi trước, còn mình thì quát hỏi hai đứa con.

Thì ra hai đứa chúng từng thề với Dương Quá không nhìn mặt Quách Phù nữa, nên chúng không muốn ở thêm ngày nào trong thành Tương Dương. Võ Tam Thông yên tâm, tán thưởng:

– Hảo hài nhi, có chí khí!

Lại nói:

– Dương huynh đệ xả thân cứu cha con ta, hiện thời y gặp nạn, làm sao chúng ta có thể không nghĩ cách báo đáp? Ba cha con ta hãy cùng đi Tuyệt Tình cốc.

Nhưng Tuyệt Tình cốc cứ như chốn đào nguyên ở ngoài trần gian, tuy từng nghe Dương Quá cho biết sơ qua phương vị sở tại, song tìm cốc khẩu không dễ chút nào. Chu Tử Liễu và Thiên Trúc cao tăng thì không thấy tăm hơi, đã bị Cầu Thiên Xích sai đệ tử dùng lưới bắt giữ. Ba cha con Võ Tam Thông mấy phen cứu viện không thành, suýt nữa cũng bị bắt, đành rút lui, định trở về thành Tương Dương cầu cứu, đang đi lại gặp Công Tôn Chỉ, hắn nói ba người tự tiện xông vào cấm địa, thế là động thủ. Võ Tam Thông bị trúng một kiếm vào chân, Công Tôn Chỉ cũng không có ý lấy mạng ba người, chỉ đuổi họ đi cho mau, cấm từ rày không được lai vãng. Đúng lúc ấy huynh muội Gia Luật Tề và Hoàn Nhan Bình phóng ngựa đi ngoài đường lớn. Ba người ấy từng cùng huynh đệ họ Võ liên thủ chống địch, họ bèn xuống ngựa thăm hỏi nhau. Công Tôn Chỉ đứng gần lạnh lùng quan sát, hắn đã không được thành hôn với Tiểu Long Nữ, còn bị bà vợ đuổi đi, chính đang lang thang, bỗng thấy Hoàn Nhan Bình trẻ trung xinh xắn, liền nổi tà tâm, đột nhiên xuất thủ cướp nàng. Huynh muội Gia Luật Tề và cha con họ Võ liên thủ đấu với Công Tôn Chỉ. Võ Tam Thông nếu không bị thương, thì sáu người cũng có thể chống chọi với Công Tôn Chỉ, nhưng lão bị thương rồi, chỉ còn một mình Gia Luật Tề võ công cao cường, nên họ đánh không lại hắn. May thấy con tiểu hồng mã một mình trên đường từ núi Chung Nam về thành Tương Dương, Võ Tu Văn liền gọi nó lại, để Hoàn Nhan Bình cưỡi nó chạy thoát đi; thiết tưởng Công Tôn Chỉ không cướp được nàng, sẽ tự bỏ đi; không ngờ Hoàng Dung và Lý Mạc Sầu lại tới cứu.

Hoàng Dung nghe xong, cũng đem việc Dương Quá bị mất cánh tay, đoạt đứa bé sơ sinh mang đi, kể sơ qua một lượt. Võ Tam Thông kinh ngạc, vội giải thích tình hình hôm ấy, nói:

– Dương huynh đệ nhất mực can đảm nhiệt thành, chỉ vì muốn cứu hai tên súc sinh của lão phu, để chúng khỏi tàn sát lẫn nhau, mà rơi vào chốn nguy hiểm, cuối cùng đến cơ sự ấy.

Nghĩ Dương Quá bị mất cánh tay là bởi hai đứa con của lão, Võ Tam Thông càng nghĩ càng giận, liền chỉ mặt Võ Đôn Nhu và Võ Tu Văn mà chửi.

Huynh đệ họ Võ đang cùng huynh muội Gia Luật Tề và Hoàn Nhan Bình trò chuyện vui vẻ, lát sau Quách Phù cũng nhập cuộc, sáu người cùng trang lứa, vừa rồi lại cùng trải qua một phen ác chiến, nhắc đến Công Tôn Chỉ là kẻ cùng hung cực ác phải bỏ chạy, họ đang cao hứng, chợt nghe Võ Tam Thông lớn tiếng chửi:

– Võ Đôn Nhu, Võ Tu Văn, hai tên súc sinh, Dương Quá đối với hai đứa ngươi đại nhân đại nghĩa, thế mà các ngươi lại làm cho Dương huynh đệ liên lụy, bị mất cánh tay, các ngươi thử nghĩ xem, họ Võ phải làm gì để chuộc tội đây?

Võ Tam Thông đỏ mặt tía tai, càng chửi càng hăng; nếu chân không bị thương, hẳn lão đã xông vào đấm đá. Huynh đệ họ Võ không hiểu tại sao cha mình tự dưng lại nổi giận, họ đưa mắt nhìn trộm Gia Luật Yến và Hoàn Nhan Bình, cảm thấy trước mắt mỹ nhân mà bị cha nhiếc là tên súc sinh thì thật mất hết thể diện, lỡ phụ thân lại lôi chuyện hai đứa đánh nhau vì Quách Phù nữa thì chỉ có nước độn thổ. Hai người cứ nhìn nhau, chẳng biết nên làm thế nào. Hoàng Dung thấy tình thế ấy, bèn khuyên:

– Võ huynh cũng đừng quá buồn, Dương Quá bị mất cánh tay hoàn toàn là do tiểu muội nuông chiều nữ nhi, không nghiêm gia giáo. Hôm ấy Quách gia nhà tiểu muội cũng cả giận, định chém một cánh tay của Phù nhi đi đó.

Võ Tam Thông nói to:

– Đúng, phải chém mới được!

Quách Phù lườm Võ Tam Thông, nghĩ: "Cái gì mà phải chém mới được?" Nếu không có mặt mẹ ở đây, chắc nàng đã lên tiếng cãi lại. Hoàng Dung nói:

– Võ huynh, vừa rồi nói rõ, hóa ra chúng ta đã trách nhầm Dương Quá. Bây giờ có hai việc lớn. Thứ nhất, chúng ta phải đi tìm Dương Quá để chuộc lỗi với y.

Võ Tam Thông luôn miệng:

– Phải đấy, phải đấy!

Hoàng Dung nói tiếp:

– Thứ hai, cần đến Tuyệt Tình cốc cứu lệnh sư thúc và Chu đại ca, đồng thời xin giải dược cho Dương Quá. Nhưng không biết Chu đại ca bị bắt như thế nào, có nguy đến tính mạng hay không?

Võ Tam Thông nói:

– Sư thúc và sư đệ của ta bị bắt bằng lưới, gọi là ngư võng trận, bị nhốt trong thạch thất. Song cái mụ Cầu Thiên Xích chưa tính lấy mạng họ ngay đâu.

Hoàng Dung gật đầu, nói:

– Ồ, nếu vậy chúng ta nên đi tìm Dương Quá trước đã, rồi sẽ cùng y đến Tuyệt Tình cốc cứu người. Lấy được giải dược sẽ cho y uống liền, tránh để lâu e nguy đến tính mạng.

Võ Tam Thông nói:

– Đúng đấy, nhưng không biết hiện giờ Dương Quá đang ở đâu?

Hoàng Dung chỉ con tiểu hồng mã, nói:

– Con ngựa mới do Dương Quá mượn đi, chỉ cần để nó chạy trở lại đường cũ, ắt sẽ tìm thấy Dương Quá.

Võ Tam Thông cả mừng, nói:

– Hôm nay không có Quách phu nhân túc trí đa mưu, lão phu cứ chạy loạn lên cũng chẳng biết phải làm thế nào.

Hoàng Dung mỉm cười, không nhắc nửa lời đến việc tìm bé Quách Tương, đã kéo được Võ Tam Thông đi theo, lại nghĩ: "Cha con Võ Tam Thông đã cùng đi, thì ba kẻ trẻ tuổi kia cũng sẽ đi cùng, có thêm vài trợ thủ càng hay". Bèn nói với Gia Luật Tề:

– Gia Luật tiểu ca nếu không có việc gì cần kíp, hãy cùng đi một thể cho vui.

Gia Luật Tề chưa kịp đáp, Gia Luật Yến vô tay reo:

– Hay, hay đấy ca ca, chúng mình cùng đi đi!

Gia Luật Tề nhìn Quách Phù, thấy ánh mắt khích lệ của nàng, bèn cúi mình nói:

– Xin tùy Võ tiền bối và Quách phu nhân phân phó. Huynh muội được hai vị giáo ích thêm, thật không còn gì bằng.

Hoàn Nhan Bình cũng vui vẻ gật đầu.

Hoàng Dung nói:

– Chúng ta tuy không đông, song cũng cần có người phát ra hiệu lệnh. Võ huynh, mọi người xin nghe theo hiệu lệnh của huynh đó.

Võ Tam Thông xua tay lia lịa, nói:

– Có Quách phu nhân thần cơ diệu toán, làm nữ quân sư không thua gì Gia Cát Lượng, còn ai bằng nữa? Tất nhiên phải nhờ phu nhân thôi.

Hoàng Dung cười, nói:

– Bọn trẻ chắc là chịu, chỉ sợ Võ huynh không chịu tuân lệnh của tiểu muội thôi.

Võ Tam Thông nói to:

– Phu nhân nói gì vậy? Dẫu dầu sôi lửa bỏng, lão phu cũng không dám từ nan.

Hoàng Dung nói:

– Trước mặt nhiều tiểu bối ở đây, Võ huynh không được nuốt lời đấy.

Võ Tam Thông đỏ mặt, nói:

– Dù không có ai, lão phu cũng nói sao làm vậy.

Hoàng Dung nói:

– Được! Lần này chúng ta đi tìm Dương Quá, xin giải dược, cứu sư thúc và sư đệ của Võ huynh, mọi người phải đồng lòng nhất trí. Mọi ân oán hãy tạm gác sang một bên. Võ huynh, ba cha con huynh không được gây sự với Lý Mạc Sầu, chờ việc lớn xong rồi, đôi bên quyết đấu một mất một còn cũng chưa muộn.

Võ Tam Thông sững sờ, lão không ngờ vừa rồi Hoàng Dung nói là có dụng ý cả. Lý Mạc Sầu có mối đại hận giết hại vợ lão, vậy lão phải nín nhịn hay sao? Lão đang ngẫm nghĩ, thì Hoàng Dung nói nhỏ:

– Võ huynh, hiện tại huynh đang bị thương, quân tử báo thù mười năm chưa muộn, cần gì nôn nóng nhất thời?

Võ Tam Thông nói:

– Được, phu nhân bảo gì, lão phu sẽ làm nấy.

Hoàng Dung gọi Lý Mạc Sầu tới:

– Lý tỷ tỷ, chúng ta đi thôi!

Hoàng Dung để cho con tiểu hồng mã dẫn đường, mọi người theo sau. Con tiểu hồng mã vốn muốn trở về thành Tương Dương, nay chủ nhân dắt nó quay đầu ngược về hướng nó vừa đi tới, thế là nó đi về phía núi Chung Nam.

Võ Tam Thông và Hoàn Nhan Bình có vết thương, không thể đi nhanh, đoàn người mỗi ngày chỉ đi được hơn trăm dặm. Lý Mạc Sầu gia tăng phòng bị, khi ngủ đêm thường ở chỗ cách xa mọi người, ban ngày đi đường cũng lùi ở sau cùng. Cứ thế ngày đi đêm nghỉ, sáu thiếu niên nam nữ trò chuyện vui vẻ, càng lúc càng hòa hợp. Huynh đệ họ Võ trước đây tranh giành Quách Phù, tình thủ túc ruột thịt không khỏi bị tổn hại; bây giờ mỗi người có ý trung nhân riêng, huynh đệ lại trở nên thập phần tương thân tương ái. Võ Tam Thông thấy vậy rất hài lòng, nhưng lại nghĩ: "Hôm nọ nếu hai đứa không trúng độc châm của Lý Mạc Sầu, cứ đánh nhau, tất có một đứa chết, đứa còn lại ta cũng quyết không nhận là con. Giờ đây hai tên súc sinh cười cười nói nói, trong khi Dương Quá bị mất một cánh tay. Ôi biết nói sao đây? Đúng là phải chặt của mỗi tên súc sinh một cánh tay mà nối bù cánh tay cho Dương Quá mới hợp đạo lý". Nhưng lão không nghĩ rằng nếu làm thế, Dương Quá sẽ bị thừa ra một cánh tay.

Họ đã đến núi Chung Nam. Hoàng Dung và Võ Tam Thông định đưa mọi người vào cung Trùng Dương bái hội Toàn Chân ngũ tử. Lý Mạc Sầu đứng từ xa, nói:

– Bần đạo chờ các vị ở đây.

Hoàng Dung biết Lý Mạc Sầu có thù với phái Toàn Chân nên cũng không ép, bước vào cung Trùng Dương. Toàn Chân ngũ tử nghe báo, vội ra nghênh tiếp, mời vào trong điện, phân chủ khách ngồi xuống. Mới hàn huyên vài câu, bỗng nghe ở hậu điện có tiếng người nói đến Tiểu Long Nữ, Hoàng Dung cả mừng, gọi:

– Lão Ngoan đồng, lão xem ai đến này!

Mấy ngày nay Chu Bá Thông tìm hiểu cách chỉ huy loài ong ngọc phong. Lão thông minh, lại quyết tập cho bằng được, nên đã có tiểu thành. Hôm nay lão đang cao hứng chơi ong thì nghe tiếng gọi, nhận ra giọng của Hoàng Dung. Lão vui mừng nói:

– A ha, thì ra là mụ bà nương cổ quái của Quách đệ tới!

Rồi lão từ hậu điện chạy ra.

Gia Luật Tề bước lên khấu đầu, nói:

– Sư phụ, sư phụ vạn phúc kim an!

Chu Bá Thông cười, nói:

– Miễn lễ bình thân! Ngươi cũng vạn phúc kim an!

Mọi người nghe đều lấy làm lạ, không ngờ Gia Luật Tề lại là đệ tử của Chu Bá Thông. Lão Ngoan đồng điên điên khùng khùng, đồ đệ lại tinh minh cường cán, thiếu niên lão thành, khác hẳn sư phụ.

Bọn Khưu Xứ Cơ thấy sư thúc đã có truyền nhân thì đều cao hứng, tranh nhau chúc mừng Chu Bá Thông. Quách Phù lúc này mới hiểu, hôm nọ mẹ nàng và Gia Luật Tề cười cười là vì mẹ nàng đã đoán biết được sư phụ của Gia Luật Tề.

Nguyên Gia Luật Tề hai chục năm trước còn nhỏ, gặp Chu Bá Thông, chơi đùa hợp nhau, Chu Bá Thông bèn nhận chàng làm đệ tử. Võ công lão truyền thụ tuy không nhiều, nhưng chàng thông minh chịu khó, cuối cùng trở thành một nhân vật kiệt xuất trong đám tiểu bối. Nhưng Chu Bá Thông thấy Gia Luật Tề nghiêm trang đâu ra đó, chẳng ham chơi đùa như một Tiểu Ngoan đồng, nên không cho chàng xưng mình là đệ tử đích truyền của Lão Ngoan đồng. Giờ thì không giấu được nữa.

Đang vui vẻ, bỗng từ dưới chân núi có tiếng tiêu vọng lên: Đệ tử phái Toàn Chân báo tin có đại địch kéo đến tấn công. Hôm nọ phái Toàn Chân cự tuyệt sắc phong của đại hãn Mông Cổ, lại sát thương nhiều người, Toàn Chân ngũ tử biết là chuyện không dừng ở đó, quân Mông Cổ sớm muộn sẽ kéo đến, phái Toàn Chân không thể đương đầu với đại quân Mông Cổ, đã lên phương sách bỏ cung rút về phía tây. Hiện thời phái Toàn Chân có chưởng giáo là Lý Chí Thường, nhưng gặp đại sự, vẫn do Toàn Chân ngũ tử phân phát hiệu lệnh. Khưu Xứ Cơ nói với Hoàng Dung:

– Quách phu nhân, quân Mông Cổ đánh lên núi! Tình thế không cho phép bần đạo được tiếp khách chu đáo.

Chỉ nghe tiếng trống, tiếng tù và, tiếng hò hét dưới chân núi ầm ĩ. Nguyên bọn Hoàng Dung lên núi từ hướng nam, còn quân Mông Cổ đánh lên núi từ hướng bắc, đôi bên cách nhau chưa đầy nửa canh giờ. Chu Bá Thông nói:

– Có địch đến à? Thế thì hay lắm. Chúng ta tràn xuống đánh cho chúng một trận tơi bời khói lửa nào!

Lão nắm cổ tay Gia Luật Tề, nói:

– Ngươi hãy thể hiện vài công phu mà sư phụ đã dạy, để các vị sư huynh đây thưởng thức. Ta thấy ngươi cũng không thua gì Toàn Chân thất tử. Có thêm ngươi, gọi là Toàn Chân bát tử được rồi.

Phàm trẻ con có đồ chơi ưa thích, nhất định đến đâu cũng đem ra khoe, nghe người ta tán thưởng mới sướng. Chu Bá Thông ban đầu dặn Gia Luật Tề không được tiết lộ sư thừa, là vì lão thấy chàng chẳng giống minh sư chút nào về khoản chơi đùa; nhưng bây giờ sư đồ gặp nhau, lão cao hứng quên luôn điều mình đã dặn. Khưu Xứ Cơ nói:

– Sư thúc, mấy chục năm kiến tạo của bản giáo, tâm huyết một đời của tiên sư, không thể để kẻ thù hủy hoại trong một buổi. Hôm nay chúng ta rút cả đi mới là thượng sách.

Cũng không chờ cao kiến gì của Chu Ba Thông, liền truyền lệnh:

– Mọi người theo lộ trình đã định, hãy mang các thứ xuống núi!

Chúng đệ tử nhất tề đáp ứng, người khiêng kẻ vác các thứ đã chuẩn bị sẵn, đi thành từng đội xuống núi. Mấy hôm trước Toàn Chân ngũ tử và Lý Chí Thường sớm đã sắp đặt đâu ra đó, ai đi trước, ai đoạn hậu, hội hợp ở nơi nào, liên lạc ra sao, lại diễn tập thử nhiều lần, nên khi sự biến xảy ra, không hề hoảng loạn.

Hoàng Dung nói:

– Khưu đạo trưởng, quí giáo sắp đặt trật tự, đủ thấy đại tài, biến cố hôm nay không thể biến thành họa lớn. Tạm thời rút lui, mai ngày trở lại, tất càng mạnh mẽ. Lần này chúng tôi đến tìm Dương Quá có việc, giờ xin cáo biệt.

Khưu Xứ Cơ kinh ngạc, nói:

– Tìm Dương Quá ư? Không biết Dương Quá có còn ở núi này hay chăng?

Hoàng Dung mỉm cười, nói:

– Có người cùng đi biết rõ chỗ y ở đâu.

Nói tới đây, tiếng hò hét phía dưới chân núi càng nghe rõ. Hoàng Dung nghĩ: "Phái Toàn Chân sớm có bố trí, có thể thoát thân. Mình lên núi tìm Dương Quá, đón nữ nhi, không nên lẫn lộn trong quân mà lỡ đại sự". Bèn từ biệt Toàn Chân ngũ tử, gọi mấy người đồng hành chạy tới chỗ vắng vẻ ở phía sau cung Trùng Dương, nói với Lý Mạc Sầu:

– Lý tỷ tỷ, phiền tỷ tỷ chỉ dẫn lối vào tòa cổ mộ.

Lý Mạc Sầu hỏi:

– Sao phu nhân biết Dương Quá ở trong tòa cổ mộ?

Hoàng Dung mỉm cười, nói:

– Dương Quá dù không ở trong tòa cổ mộ, thì "Ngọc nữ tâm kinh" cũng ở trong đó.

Lý Mạc Sầu giật mình, nghĩ thầm: "Quách phu nhân quả nhiên lợi hại, biết rõ tâm tư người khác".

Lý Mạc Sầu cùng mọi người từ thành Tương Dương đi đến núi Chung Nam, trừ Hoàng Dung ra, những người còn lại đều coi như không có mụ ta, suốt dọc đường không ai thèm trò chuyện với mụ; huynh đệ họ Võ thì hầm hầm, chực chờ cơ hội dồn mụ vào tử địa. Hoàng Dung nghĩ: "Lý Mạc Sầu dẫu yêu thích Tương nhi, cũng chẳng chịu mạo hiểm đến đây, nếu không có mưu đồ hệ trọng khác". Lại nghĩ thêm, Dương Quá và Tiểu Long Nữ từng dùng kiếm pháp "Ngọc nữ tâm kinh" đánh bại Kim Luân pháp vương, mà Lý Mạc Sầu hiển nhiên không biết môn kiếm pháp đó, nếu không hôm nọ động thủ với mình, mụ ta đã đem ra thi triển. Mụ ta muốn lấy được "Ngọc nữ tâm kinh", lại sợ bảy người vào tòa cổ mộ lấy mất trước. Thế là Hoàng Dung đoán ra tâm ý của Lý Mạc Sầu.

Lý Mạc Sầu nghĩ: "Ngươi đã biết, chi bằng nói thẳng ra", bèn nói:

– Bần đạo giúp phu nhân đoạt lại nữ nhi, phu nhân phải giúp bần đạo đoạt được võ kinh bổn môn. Phu nhân là bang chủ Cái Bang, nữ hiệp lừng danh thiên hạ, đã nói không được nuốt lời.

Hoàng Dung nói:

– Dương Quá là con trai của cố nhân nhà họ Quách. Có sự hiểu lầm nho nhỏ với tiểu muội, đôi bên gặp nhau sẽ xóa bỏ được ngay. Nữ nhi nếu quả nhiên ở chỗ y, y sẽ trao lại cho tiểu muội, không thể có chuyện đoạt hay không đoạt.

Lý Mạc Sầu nói:

– Đã vậy, chúng ta ai lo việc nấy, xin cáo biệt.

Rồi quay người định đi.

Hoàng Dung đưa mắt ra hiệu cho Võ Tu Văn. Võ Tu Văn rút kiếm khỏi bao, quát:

– Lý Mạc Sầu, hôm nay mụ còn đòi sống để rời khỏi núi Chung Nam ư?

Lý Mạc Sầu nghĩ: "Chỉ một mình Hoàng Dung, ta đã không địch nổi, còn thêm cha con họ Võ, huynh muội Gia Luật Tề, thì ta làm gì còn đường sống?" Mụ vốn đa mưu túc trí, nhưng gặp Hoàng Dung thì lại luống cuống, mọi trò giảo hoạt đều không thi thố ra được, đành thản nhiên nói:

– Quách phu nhân tinh thông thuật Kỳ môn, Dương Quá đã ở trên núi này, phu nhân lo gì không tìm được hắn mà phải cần bần đạo dẫn đường?

Hoàng Dung biết mụ ta muốn mặc cả, nói:

– Tiểu muội không biết lối vào tòa cổ mộ. Nhưng thiết tưởng Dương Quá và Tiểu Long Nữ tuy ẩn cư trong đó song cũng có ngày ra ngoài mua gạo kiếm củi, bảy người chúng tôi chia nhau chờ sẵn, tất có lúc gặp được y.

Ý tứ là mụ mà không chịu chỉ dẫn, bọn ta sẽ giết quách mụ đi, dù gặp được Dương Quá có muộn vài ngày cũng chẳng sao.

Lý Mạc Sầu nghĩ đúng vậy, đối phương chẳng ngại đợi chờ. Ở chỗ bằng phẳng rộng rãi này, mình không thể địch lại cả bọn họ, nhưng sau khi dẫn chúng vào tòa cổ mộ, mình sẽ lợi dụng việc thông thuộc địa thế mà ám hại từng đứa một, bèn nói:

– Hôm nay các vị cậy đông ăn hiếp, bần đạo không biết nói sao; nhưng bần đạo cũng đang cần tìm Dương Quá, vậy các vị hãy đi theo bần đạo!

Rồi vén bụi gai, đạp cỏ mà đi xuyên rừng.

Mọi người theo sau, sợ mụ ta đột nhiên đào tẩu.

Chỉ thấy mụ xuyên rừng vượt núi, nhiều chỗ rõ ràng không có đường qua, nhưng mụ ngoặt ngang quẹo trái, vẫn tìm ra lối. Địa thế vùng này hoàn toàn do thiên tạo không phải do con người sắp đặt, Hoàng Dung tuy thông hiểu thuật kỳ môn ngũ hành, cũng không thể theo Dịch lý mà tìm, nghĩ: "Thật không ai khéo bằng tạo hóa". Đi bằng thời gian ăn xong một bữa cơm, đến bên một dòng suối ngầm. Lúc này nghe loáng thoáng tiếng hò hét của quân Mông Cổ, nhưng đây là chốn rừng sâu, nên nghe văng vẳng rất xa.

Lý Mạc Sầu mấy năm nay chỉ nghĩ cách đoạt lấy "Ngọc nữ tâm kinh", lần trước mụ thoát ra khỏi tòa cổ mộ bàng đường dòng suối ngầm, do không biết bơi lặn, chút nữa bị mất mạng; sau đó mụ đã tập bơi lặn trên sông, lần này thì đã có chuẩn bị. Mụ đứng bên dòng suối ngầm, nói:

– Cửa chính vào tòa cổ mộ đã bị bịt kín, muốn khơi mở phải tốn công cả tháng. Cửa hậu vào theo dòng suối ngầm này, vị nào cùng đi với bần đạo thì đi.

Quách Phù và huynh đệ họ Võ từ nhỏ sống trên đảo Đào Hoa, mùa hè ngày ngày bơi lội ngoài biển, nên cùng nói:

– Đi!

Võ Tam Thông cũng biết bơi lặn, tuy không thạo lắm, nhưng dòng suối ngầm này đâu có đáng gì, bèn nói:

– Lão phu cũng đi!

Hoàng Dung nghĩ Lý Mạc Sầu tàn ác, lỡ ở trong tòa cổ mộ mụ đột nhiên ra tay thì bọn Võ Tam Thông rất nguy, không một ai địch nổi; mình không thể không đi cùng; nhưng mới sinh hơn một tháng, lặn xuống dòng suối nước lạnh sẽ tổn thương nguyên khí, đang lưỡng lự, thì Gia Luật Tề nói:

– Quách bá mẫu hãy ở lại đây, để tiểu điệt đi cùng Võ bá phụ.

Hoàng Dung cả mừng, người này tinh minh cường cán, võ công cao cường, có y đi, có thể yên tâm, hỏi:

– Công tử biết bơi lặn chứ?

Gia Luật Tề nói:

– Bơi lội tàm tạm, lặn thì cũng có biết đôi chút.

Hoàng Dung hỏi:

- Công tử luyện tập dưới mặt băng phải chăng?

Gia Luật Tề đáp:

– Vâng.

Hoàng Dung lại hỏi:

– Công tử tập ở đâu?

Gia Luật Tề nói:

– Điệt nhi hồi nhỏ có đi theo gia phụ, sống mấy năm bên dòng sông Hàn Nan.

Nguyên Mông Cổ là xứ lạnh, sông Hàn Nan quá nửa năm đóng băng. Các võ sĩ Mông Cổ có thể chất tốt thường thi nhau lặn dưới băng xem ai được lâu hơn.

Hoàng Dung thấy những người khác muốn đi theo Lý Mạc Sầu thì cũng không hỏi thêm, chỉ dặn khẽ:

– Lòng người khó đo, phải cẩn thận.

Với Quách Phù, Hoàng Dung cũng không dặn dò, vì biết con mình có dặn cũng vô dụng, thôi thì cứ để thực tế dạy cho nó thấm thía.

Gia Luật Yến và Hoàn Nhan Bình không biết bơi lặn, ở lại cùng Hoàng Dung. Lý Mạc Sầu lội xuống suối dẫn đường. Gia Luật Tề bám sát theo; Quách Phù và cha con họ Võ đi sau cùng.

Bọn Gia Luật Tề năm người đi theo Lý Mạc Sầu dưới dòng suối ngầm. Đáy dòng suối chỗ rộng chỗ hẹp, nước chảy chỗ xiết chỗ không, có lúc sâu ngập đầu, có chỗ sâu ngang ngực, lội hồi lâu thì đến lối vào tòa cổ mộ. Lý Mạc Sầu chui vào, năm người cũng chui vào theo, nghĩ: "Nếu không có mụ ta dẫn đường, không ai ngờ lại có tòa cổ mộ ở dưới lòng đất thế này?" Lúc này đã không còn nước xung quanh mình, thì lại tối mò mò, năm người phải cầm tay nhau, chỉ sợ bị lạc, theo sau Lý Mạc Sầu ngoặt qua quẹo lại mà tiến về phía trước.

Đi rất lâu, cảm thấy địa thế lên cao dần, dưới chân đã khô ráo, bỗng nghe có tiếng ken két, Lý Mạc Sầu đã mở một cánh cửa đá, năm người bước vào theo. Lý Mạc Sầu nói:

– Đây đã là giữa tòa cổ mộ, chúng ta nghỉ một chút rồi đi tìm Dương Quá.

Từ lúc vào đến tòa cổ mộ, Võ Tam Thông và Gia Luật Tề bám sát không rời Lý Mạc Sầu nửa bước, đề phòng mụ gian trá; nhưng giơ tay không nhìn rõ năm ngón, chỉ lấy tai thay mắt, chăm chú lắng nghe. Quách Phù và huynh đệ họ Võ lâu nay tự phụ can đảm, nhưng giờ chui xuống địa đạo, hai mắt như mù, tự dưng tim cứ đập thình thình.

Trong bóng tối không một tiếng động. Lý Mạc Sầu bỗng nói:

– Hai tay ta đều có Băng phách ngân châm, ba cha con họ Võ có muốn nếm thừ sự lợi hại hay không?

Bọn Võ Tam Thông giật mình, thừa biết Lý Mạc Sầu không có hảo ý, nhưng cũng không ngờ mụ lập tức trở mặt như vậy. Ba cha con đều đã từng khổ sở vì độc châm của mụ, quả thật không dám coi thường chút nào, vội giơ cao binh khí, dỏng tai nghe, nhận ra hướng ngân châm bay để tránh hoặc gạt, có điều là mấy người chụm vào một chỗ, điều có dùng binh khí gạt được ngân châm, cũng dễ làm bị thương người bên cạnh. Gia Luật Tề nghĩ nếu để mụ loạn phóng ám khí, thì năm người bên mình tất có thương vong, chỉ có mạo hiểm xáp tới công kích, không để mụ ta phóng ngân châm, mới có đường sống.

Quách Phù cũng ngầm nghĩ như vậy, hai người không hẹn mà cùng lao tới chỗ phát ra tiếng nói.

Ai dè Lý Mạc Sầu vừa nói xong mấy câu trên, giữa lúc mọi người đang kinh ngạc, mụ đã lặng lẽ lùi vào bên cánh cửa. Gia Luật Tề và Quách Phù lao tới, thi triển tiểu cầm nã pháp, chộp cổ tay khuỷu tay để Lý Mạc Sầu không thể phóng ám khí. Hai người bốn tay giao nhau, Quách Phù cảm thấy không ổn, vội kêu "Ôi" một tiếng. Gia Luật Tề đã nắm hai cổ tay, cảm thấy da mịn màng, mũi lại ngửi mùi hương thoang thoảng, nghe tiếng kêu của Quách Phù, biết là nhầm.

Chỉ nghe tiếng ken két, cánh cửa đá đang khép lại. Gia Luật Tề và Võ Tam Thông kêu lên "Hỏng rồi!" cùng chạy ra cửa, nhưng nghe có tiếng vù vù, hai mũi ngân châm bay tới, họ đành tránh né, lúc giơ tay giữ cánh cửa, thì nó đã đóng sập lại rồi, đẩy kéo nó cứ như đẩy vào khối đá núi, không hề nhúc nhích.

Gia Luật Tề đưa tay sờ cánh cửa đá, trên dưới hai bên đều không thấy có vòng sắt hoặc chỗ lõm để kéo. Chàng men tường mà đi một vòng, phát hiện thạch thất rộng chừng hai trượng vuông, bốn phía đều là tường đá thô nháp. Chàng rút trường kiếm, dùng chuôi kiếm dộng vài cái vào cánh cửa đá, nghe tiếng trầm đục, biết là cánh cửa đá rất dày và nặng. Cánh cửa đá mở vào bên trong, muốn mở phải kéo vào, nhưng bề mặt cánh cửa phẳng lì, không có chỗ nào móc tay. Quách Phù lo lắng hỏi:

– Làm thế nào? Không khéo chúng ta bị chết ngạt ở đây mất?

Gia Luật Tề nghe giọng nàng như sắp khóc, bèn an ủi:

– Đừng lo, Quách phu nhân ở bên ngoài tiếp ứng, tất có cách cứu.

Chàng lại lần mò tứ phía tìm lối thoát.

Lý Mạc Sầu nhốt năm người trong thạch thất, cả mừng nghĩ: "Bọn bay không ra được. Sư muội và Dương Quá thì tưởng ta không biết bơi lặn, không thể ngờ ta vào đây bằng lối đi bí mật. Nhưng không biết hai đứa ấy có ở trong tòa cổ mộ hay không đây?" Mụ biết chỉ có lẳng lặng, không phát ra tiếng động, mới có hi vọng thành công; chứ động thủ, chỉ e mụ không địch nổi một trong hai người ấy, thế là mụ cởi hài ra, hai tay đều lăm lăm Băng phách ngân châm, rón rén đi từng bước một.

Nhiều ngày liền Tiểu Long Nữ ngồi trên giường hàn ngọc, theo phép nghịch hành kinh mạch mà Dương Quá truyền thụ, đả thông dần ba mươi sáu đại huyệt của cơ thể. Lúc này hai người đang dùng nội lực xung kích huyệt Đàn Trung thuộc mạch Nhâm cho Tiểu Long Nữ. Huyệt này ở ngực, bên dưới huyệt Ngọc Đường một tấc sáu phân, sách y kinh thời cổ gọi là huyệt Khí Hải, nơi tập trung chư khí cơ thể người, cực kỳ hệ trọng. Hai người toàn thần chăm chú, không dám khinh suất. Tiểu Long Nữ cảm thấy nhiệt khí tràn ngập ba huyệt Tử Cung, Hoa Cái, Ngọc Đường bên dưới cổ, đang liên tục dồn xuống dưới; đồng thời hàn khí của cái giường hàn ngọc cũng dần dần ngưng tụ tại hai huyệt Trung Đình, Cưu Vĩ ở phía trên rốn. Nhiệt khí từ trên dồn xuống đến huyệt Đàn Trung cứ bị đẩy lên, không thể tràn qua. Nàng biết rằng chỉ cần nhiệt khí xung được huyệt Đàn Trung, mạch Nhâm lưu thông, thì mười phần thương thế của cơ thể sẽ khỏi được tám phần, có điều chưa đến hỏa hầu, không thể gượng ép. Tính nàng vốn trầm tĩnh, thời gian trong tòa cổ mộ rộng dài, hôm nay chưa thông được, thì đợi ngày mai chẳng sao. Nội tức kéo dài, thong thả, không một chút nôn nóng, chính hợp với pháp yếu vận khí của cao thủ nội gia.

Dương Quá thì rất nôn nóng, chỉ mong Tiểu Long Nữ sớm khỏi, nhưng chàng cũng biết việc vận công nội tức dục tốc ắt bất đạt, huống hồ nghịch hành kinh mạch so với thuận hành khó gấp trăm lần. Thấy mạch đập ở cổ tay nàng lúc mạnh lúc yếu, tuy chưa đều, nhưng không có triệu chứng hung hiểm, thì chàng thong thả vận khí, tăng cường xung lực.

Giữa không khí tĩnh mịch hoàn toàn, bỗng nghe có tiếng kẹt cửa. Tiếng này nghe rất nhẹ, rất khẽ, nếu không phải Dương Quá đang ngưng khí vận tức, tâm thần ở trạng thái chí tĩnh, thì chắc chắn sẽ không nghe thấy. Lát sau lại "két" một tiếng, lần này đã gần thêm ba thước.

Dương Quá biết có chuyện, nhưng sợ Tiểu Long Nữ bị phân tâm, đúng thời khắc khẩn yếu, nếu nội tức sai lạc, nhẹ thì thương thế vĩnh viễn không khỏi, nặng thì bỏ mạng tức thời, cho nên tuy thầm lạnh hãi, nhưng chàng cứ làm như không biết. Không lâu sau, lại nghe "két" một tiếng, lần này đã gần thêm ba thước. Dương Quá biết lúc này đã có kẻ lọt vào tòa cổ mộ, kẻ đó không dám xông xáo, mà đang chậm rãi di chuyển. Lát sau, có hai tiếng kẹt cửa, ngừng một chút, lại hai tiếng nữa, kẻ địch đang rón rén đẩy cánh cửa đá. Nếu Tiểu Long Nữ có thể đả thông huyệt Đàn Trung trước khi kẻ địch đến gần, tất nhiên là không gì tốt bằng, trái lại sẽ muôn phần hung hiểm, vì hiện giờ đang cưỡi trên lưng hổ, muốn dừng việc xung huyệt cũng không được nữa.

Lại nghe "két" một tiếng, lần này đã gần thêm một bước. Dương Quá lo cuống, quả thật không biết phải làm thế nào, bỗng nhiên cảm thấy lòng bàn tay nóng lên, một luồng nhiệt khí dồn trở lại, tức thị Tiểu Long Nữ đã phát giác. Dương Quá vội dồn nội tức đẩy luồng nhiệt khí kia sang người Tiểu Long Nữ, nói khẽ:

– Ma do tâm sinh, không nghe không thấy mới là thật sự tập trung.

Người luyện công đến một cảnh giới nhất định, thường sẽ sinh ảo giác, hoặc nghe thấy tiếng sấm, hoặc đau ngứa ghê gớm đâu đó, chỉ có hoàn toàn không để ý tới mới không bị tẩu hỏa nhập ma. Vừa rồi Dương Quá đã nghe thấy tiếng bước chân rõ ràng, tự biết không phải ảo giác, nhưng Tiểu Long Nữ đang ở vào lúc sinh tử khẩn yếu, phải nói dối nàng rằng đấy chỉ là tâm ma, là kẻ địch tưởng tượng, dù hắn đáng sợ đến mấy cũng thây kệ, thì tâm ma sẽ tự tiêu tan. Tiểu Long Nữ nghe câu ấy, quả nhiên lập tức yên tâm.

Lúc này ở trên mặt đất là ánh nắng chan hòa, còn dưới tòa cổ mộ là bóng đêm tăm tối. Dương Quá tai nghe tiếng bước chân mỗi lúc một rõ, nghĩ trừ vợ chồng mình ra, chỉ có Lý Mạc Sầu và Hồng Lăng Ba biết đi lối địa đạo bí mật qua dòng suối ngầm; vậy thì kẻ kia chính là một trong hai sư đồ mụ ta. Với võ công hiện thời, Dương Quá lẽ ra hoàn toàn không lo sợ; có điều là kẻ địch lại tấn công đúng vào lúc này, không sớm cũng chẳng muộn hơn, chàng không thể có cách gì chống đỡ. Kẻ địch tiến càng chậm rãi, nỗi lo sợ càng xoáy vào đầu chàng; nỗi nguy hiểm cứ từng bước xáp tới, mà mình đành thúc thủ chờ chết.

Trán chàng vã mồ hôi lạnh, chàng nghĩ: "Lúc Quách Phù chém lìa cánh tay ta, tuy đau nhưng còn dễ chịu hơn cái sự hành hạ chậm rãi này".

Lát sau thì Tiểu Long Nữ cũng đã nghe thấy, rành rành không phải là ảo giác, mà đúng là đại nạn lâm đầu chỉ muốn tăng cường nội tức, xung qua huyệt Đàn Trung, nhưng tâm thần hơi loạn, nội tức chợt thuận chợt nghịch, chút nữa thì rối loạn trong ngực.

Lúc này nghe tiếng bước chân đã rón rén đến cửa, rồi đột nhiên vù vù, bốn mũi Băng phách ngân châm bắn tới.

Lúc này Dương Quá và Tiểu Long Nữ chẳng khác gì những người không biết võ công, nhưng vì đã sớm đề phòng, nên vừa thấy độc châm bắn tới liền ngả người ra phía sau, lòng bàn tay vẫn không rời nhau; bốn mũi Băng phách ngân châm đều bay lướt qua mặt.

Lý Mạc Sầu không ngờ hai người đang tự vận công trị thương, sợ họ phản kích, nên vừa phóng độc châm xong vội nhảy lui; chứ nếu mụ không sợ, phóng bốn mũi rồi lại phóng tiếp bốn mũi nữa, thì hai người đã hết bề né tránh. Lý Mạc Sầu lờ mờ thấy hai người sánh vai nhau trên cái giường hàn ngọc. Phóng xong độc châm, mụ thấy họ không trả đòn, chưa hiểu dụng ý của họ thế nào, sau khi lùi ra bên cửa, tay cầm cây phất trần, mụ lạnh lùng nói:

– Hai vị đừng có giả bộ!

Dương Quá hỏi:

– Đạo cô muốn gì?

Lý Mạc Sầu nói:

– Ta muốn gì, chẳng lẽ ngươi còn không biết?

Dương Quá nói:

– Đạo cô muốn "Ngọc nữ tâm kinh" phải không? Được, chúng tôi ẩn cư trong cổ mộ, không tranh giành với bên ngoài, đạo cô cứ việc lấy đi.

Lý Mạc Sầu bán tín bán nghi, nói:

– Đưa đây!

Bộ "Ngọc nữ tâm kinh" được khắc trên trần một gian thạch thất khác, Dương Quá nghĩ: "Nói cho mụ biết chân tướng sự huyền diệu của tâm kinh, để mụ từ từ nghiền ngẫm thì được. Mình chỉ cần vài canh giờ nữa, cô cô đả thông xong huyệt Đàn Trung, bấy giờ giết mụ chẳng khó gì." Nhưng lúc này nội tức của Tiểu Long Nữ lại rối loạn cả lên, Dương Quá phải toàn thần duy trì, không thể nói gì.

Lý Mạc Sầu mở to mắt, chăm chú nhìn hai người, lờ mờ thấy Tiểu Long Nữ giơ một bàn tay ấp vào lòng bàn tay Dương Quá, mụ chợt hiểu: "Ồ, Dương Quá bị trọng thương vì mất cánh tay, sư muội đang dùng nội lực trị liệu cho hắn. Lúc này việc hành công đang ở thời khắc sinh tử khẩn yếu, ta không lấy mạng hai đứa, sau này làm gì còn dịp nào nữa?" Mụ đoán trúng một nửa, đã không còn sợ gì nữa, liền xông vào, vung cây phất trần đánh xuống đỉnh đầu Tiểu Long Nữ.

Tiểu Long Nữ chỉ cảm thấy kình phong áp đỉnh, tóc đã lay động, chỉ còn nhắm mắt chờ chết. Dương Quá há miệng thổi phù một cái, một luồng hơi phả vào mặt Lý Mạc Sầu. Lúc này toàn bộ sức lực chàng truyền giúp Tiểu Long Nữ đả thông xong huyệt đạo, luồng hơi ấy không có chút kình lực nào, chẳng qua thấy Tiểu Long Nữ muôn phần nguy cấp, thì chỉ có cách duy nhất khiến kẻ địch phân tâm là thổi phù một cái mà thôi.

Lý Mạc Sầu biết Dương Quá quỉ kế đa đoan, thấy một luồng nhiệt khí thổi tới mặt, thì sợ hãi nhảy lùi một trượng. Sau khi mụ thảm bại bởi tay Hoàng Dung chỉ vì trí lực thua kém, mụ trở nên thận trọng hơn, lo việc hộ thân hệ trọng hơn việc đả thương kẻ địch. Mụ nhảy lùi rồi thấy không có gì lạ, bèn quát:

– Ngươi giở trò khỉ gì thế?

Dương Quá cười, nói:

– Bữa nọ tại hạ cho đạo cô mượn cái áo, hôm nay đạo cô có mang trả không đấy?

Lý Mạc Sầu nhớ lần ác đấu với lão thợ rèn Phùng Mặc Phong, quần áo mặc trên người mụ bị cây đại thiết chùy nung đỏ đốt cháy nham nhở, may được Dương Quá cởi áo quẳng cho mượn; hôm ấy phải nói là bị một bữa xấu hổ không để đâu cho hết. Lý ra, chỉ riêng vì chuyện cái áo, hôm nay mụ đã không nên đả thương Dương Quá và Tiểu Long Nữ; nhưng mụ lại nghĩ bây giờ chỉ cần mềm lòng một chút, mai sau sẽ chuốc họa vào thân, thế là mụ lại sấn tới, tả chưởng đánh ra.

Trong cơn nguy cấp, Dương Quá đột nhiên tình cấp trí sinh, nhớ mấy hôm trước từng nói đùa với Tiểu Long Nữ, rằng nếu chàng cụt cả hai tay, thì còn có thể dùng hai bàn chân. Giờ nghe chưởng phong Ngũ độc thần chưởng của Lý Mạc Sầu đánh tới, chẳng kịp nghĩ ngợi, chàng lập tức lộn ngược người, hai chân chụm vào giơ lên, hất hài ra, miệng gọi:

– Long nhi, áp lấy bàn chân ta!

Tả chưởng thì giơ chếch lên, "bộp" một tiếng, tương giao với tả chưởng của Lý Mạc Sầu.

Nội lực cực mạnh của chàng vốn đang truyền sang cơ thể Tiểu Long Nữ, lúc này đột nhiên người chàng sinh ra lực hút hút chặt lấy bàn tay của Lý Mạc Sầu.

Cùng lúc ấy, Tiểu Long Nữ cũng đã áp bàn tay vào lòng bàn chân của chàng. Lý Mạc Sầu thấy tư thế cổ quái của Dương Quá thì không khỏi kinh hãi, nhưng nhớ có lần chàng đã dùng tư thế đó đối phó với "Tam vô tam bất thủ" của mụ, xem chừng cũng không có gì đáng ngại, bèn dồn lực muốn đánh chết chàng ngay tại chỗ. Năm xưa khi mụ dùng Ngũ độc thần chưởng sát hại mọi người ở Lục gia trang, chưởng lực đã rất lợi hại, bây giờ sau mươi năm tu vi, càng hiểm ác hơn. Dương Quá chỉ cảm thấy một luồng nhiệt khí từ lòng bàn tay dồn sang, chàng không chống lại, mà dồn thêm lực truyền cả sang người Tiểu Long Nữ.

Như thế hóa thành Lý Mạc Sầu và Dương Quá hợp lực, giúp cho Tiểu Long Nữ thông quan xung huyệt.

Lý Mạc Sầu chiêu số tuy không huyền diệu bằng Dương, Long hai người, nhưng nói về tu vi công lực thì mụ thâm hậu hơn hẳn. Tiểu Long Nữ tự dưng được cường trợ, cảm thấy có một luồng đại lực truyền sang, thông qua huyệt Đàn Trung, nhiệt khí từ ngực tràn xuống đan điền, tinh thần hứng khởi, reo lên:

– Hay quá, đa tạ sư tỷ!

Nàng buông tay khỏi bàn chân Dương Quá, từ trên giường hàn ngọc nhảy xuống đất.

Lý Mạc Sầu kinh ngạc, mụ cứ tưởng Tiểu Long Nữ trị thương cho Dương Quá, nên đẩy chưởng lực sang, tính thừa cơ chấn thương tâm mạch của Dương Quá, vô tình lại giúp cho kẻ địch. Dương Quá cả mừng, lộn người đứng dậy, chân đi đất, cười nói:

– Nếu đạo cô không đến giúp, huyệt Đàn Trung của sư muội khó lòng có thể đả thông.

Lý Mạc Sầu chưa nói gì, Tiểu Long Nữ bỗng kêu lên "Ối" một tiếng, tay đặt chỗ tim, lảo đảo ngã xuống giường hàn ngọc. Dương Quá kinh ngạc, hỏi:

– Sao vậy?

Tiểu Long Nữ run run nói:

– Sư tỷ.. chưởng của mụ ta có độc.

Lúc này đầu óc Dương Quá cũng bắt đầu choáng váng, biết Lý Mạc Sầu dùng Ngũ độc thần chưởng, vừa rồi mụ ta đã truyền chất độc sang cơ thể chàng và Tiểu Long Nữ.

Dương Quá giơ thanh Huyền thiết trọng kiếm lên, quát:

– Mau đưa giải dược!

Rồi chém xuống. Lý Mạc Sầu giơ cây phất trần chống đỡ. "Cạch" một tiếng, cây phất trần đúc bằng thép tinh bị gãy đôi, hổ khẩu của mụ bị tóe máu. Cây phất trần của Lý Mạc Sầu dùng nhu lực là chính, đã đấu với không biết bao nhiêu anh hùng hào kiệt thiên hạ, chưa lần nào bị binh khí đối phương đánh gãy; lần này mụ khiếp đảm, vội chạy ra khỏi thạch thất. Dương Quá cầm kiếm đuổi theo, đâm ra một cái, nghĩ bụng kiếm này Lý Mạc Sầu khó lòng đỡ nổi, không ngờ độc tính phát tác trong cơ thể, mắt hoa lên, cánh tay thõng xuống vô lực, choang một cái, Huyền thiết trọng kiếm rơi xuống nền nhà. Lý Mạc Sầu không dám dừng chân, chạy đi hơn một trượng mới ngoảnh lại, thấy Dương Quá lảo đảo vịn tay vào tường, nghĩ: "Tên tiểu tử này võ công cực kỳ cổ quái, mình phải chờ một lát, đợi hắn gục xuống vì chất độc phát tác, hãy lại gần hắn".

Dương Quá đau cháy cổ họng, đầu căng như muốn vỡ, vận kình ra cánh tay, chờ Lý Mạc Sầu tới gần sẽ giáng một chưởng cho mụ chết tươi, ai ngờ mụ cứ đứng mãi đằng xa. Dương Quá kêu "Ối" một tiếng, ngã xuống đất, tay đã nắm chuôi kiếm. Lý Mạc Sầu thì như con chim bị trúng tên một lần, không dám mạo hiểm tới gần, nghĩ cứ đứng ngoài xa chờ xem động tĩnh. Dương Quá nghĩ để lâu thêm, chất độc trong người chàng và Tiểu Long Nữ ngấm sâu thêm một nấc, chần chừ thêm chỉ có lợi cho đối phương, bèn hít một hơi, nội tức luân chuyển, hết chóng mặt, tay cầm chắc Huyền thiết trọng kiếm, đứng dậy quay lại ôm ngang eo Tiểu Long Nữ, quát:

– Tránh ra!

Rồi sải bước ra ngoài. Lý Mạc Sầu thấy chàng hùng hổ, không dám ngăn cản. Dương Quá chỉ mong bước vào một gian thạch thất, đóng cửa không cho Lý Mạc Sầu vào trong, Tiểu Long Nữ hai mạch Nhâm, Đốc đã thông, chỉ cần nửa canh giờ là hai người có thể trục chất độc ra khỏi cơ thể, việc này dễ hơn trăm lần so với việc đả thông huyệt mạch. Dương Quá hồi nhỏ bị trúng độc châm của Lý Mạc Sầu, đã được Âu Dương Phong dạy cho cách trục chất độc ra khỏi cơ thể, với công lực của hai người hiện nay, việc đó không có gì khó khăn.

Lý Mạc Sầu tất nhiên cũng đoán tâm ý của Dương Quá, đâu chịu để cho hai người trục chất độc ra khỏi cơ thể rồi mới động thủ. Mụ không dám tới gần, song bám sát theo sau, cách Dương Quá luôn ở khoảng năm thước. Khi Dương Quá dừng chân, mụ cũng đứng lại bất động.

Dương Quá cảm thấy tim đập càng lúc càng nhanh, tựa hồ muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Chàng không thể chịu đựng thêm nữa, vội chạy đại vào một gian thạch thất, đặt Tiếu Long Nữ lên một cái bàn đá. Tay cầm mép bàn mà thở dốc, biết Lý Mạc Sầu bám theo sau cũng mặc. Lát sau chàng mới biết mình đã tới gian đặt các cỗ quan tài bằng đá, cái mà Tiểu Long Nữ đang ngồi trên và tay chàng đang giữ bên mép, chính là một cỗ quan tài.

Lý Mạc Sầu từ khi tòng sư học nghệ, sống trong tòa cổ mộ không ít năm, khả năng nhìn trong bóng tối tuy không bằng Dương, Long hai người, song cũng thấy rõ gian này kê một dãy năm cỗ quan tài, trong đó đáy của một cỗ quan tài chính là lối thông ra địa đạo, hôm nay mụ đã vào đây qua lối đó. Mụ nghĩ: "Hai đứa ngươi định đào tẩu ư? Lần này thì chẳng dễ đâu!"

Ba người một ngồi, một đứng thẳng, một đứng nghiêng, dựa người vào cỗ quan tài, chỉ một mình Dương Quá thở hổn hển.

Dương Quá lảo đảo, keng một cái, Huyền thiết trọng kiếm rơi xuống nền, chàng ngã xuống chỗ Tiểu Long Nữ, rồi có một vật từ tay chàng bay đi, rơi bộp một tiếng vào trong một cỗ quan tài chưa đậy nắp, chàng nói:

– Lý Mạc Sầu, quyển "Ngọc nữ tâm kinh" không thể để lọt vào tay mụ được. Ối..

Chàng kêu lên thê thảm, rồi không thấy cựa quậy gì nữa. Năm cỗ quan tài, thì ba cỗ đã chứa thi thể sư đồ Lâm Triêu Anh và Tôn bà bà, còn hai cỗ để trống, trong đó đáy của một cỗ quan tài chính là lối thông ra địa đạo, nắp đậy hở ra hơn hai thước, người có thể chui lọt, cỗ quan tài kia chỉ hở hơn một thước. Lý Mạc Sầu thấy Dương Quá ném "Ngọc nữ tâm kinh" vào cỗ quan tài đó vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, nhưng sợ chàng giảo hoạt, chờ một lát không thấy chàng cựa quậy, mụ mới bước lại, cúi xuống sờ trán chàng, thấy lạnh toát, rõ ràng chàng đã chết, mụ cười phá lên ha hả, nói:

– Tên tiểu tử tai quái, rốt cuộc cũng có ngày hôm nay!

Rồi mụ thò tay vào quan tài để lấy quyển kinh.

Nhưng cú ném vừa rồi của Dương Quá làm cho "Ngọc nữ tâm kinh" rơi đâu không biết, Lý Mạc Sầu đã gãy mất cây phất trần, phải dùng tay mò hai lần vẫn không thấy "tâm kinh" đâu cả, thế là mụ bèn chui luôn qua khe hở hơn một thước vào bên trong cỗ quan tài, cuối cùng mới sờ thấy "tâm kinh", nhưng cầm lấy lại hóa ra là một chiếc hài.

Đúng lúc ấy Dương Quá bật dậy, tay trái đẩy gấp ra, mũi Huyền thiết trọng kiếm hất cái nắp quan tài sập lại, đậy kín cỗ quan tài có Lý Mạc Sầu nằm bên trong!

Lý Mạc Sầu không biết rằng "Ngọc nữ tâm kinh" thực ra được khắc trên trần đá của thạch thất, cứ tưởng đó là một quyển sách. Dương Quá giả vờ kêu lên thảm thiết, gục ngã xuống chỗ Tiểu Long Nữ, lập tức gỡ khỏi chân nàng một chiếc hài, ném vào trong cỗ quan tài, vật mềm rơi vào đó nghe giống như một quyển sách thật. Ném xong thì nằm bất động giả chết. Kỳ thực, dù chàng đã chết thật, trong giây lát người cũng không thể giá lạnh đi được. Một người tắt thở, tối thiểu nửa canh giờ sau toàn thân mới lạnh đi.

Lý Mạc Sầu mừng quá đến nỗi mất cả óc quan sát. Dương Quá vừa rồi hết sức mạo hiểm, Lý Mạc Sầu nếu nghi chàng còn sống, giáng cho một chưởng vào đầu, thì Dương Quá vờ chết sẽ thành chết thật. Nhưng vì thân lâm cảnh ngộ tuyệt vọng, đành mạo hiểm cầu may, nhờ đó đã thành công.

Dương Quá lại vận sức ra cánh tay, hất kiếm một cái, miệng quát:

– Lên này!

Cỗ quan tài trống thứ hai bật lên, sầm một tiếng, đã đè lên trên cỗ quan tài có Lý Mạc Sầu bên trong. Một cỗ quan tài phải nặng năm sáu trăm cân, nắp đậy lại rất khít, Lý Mạc Sầu dẫu võ công cao mấy, cũng chẳng cách gì thoát ra ngoài được.

Dương Quá sau khi trúng độc, tim đập dồn, đầu nhức nhối, có thể ngã xuống bất cứ lúc nào, nhưng vì cường địch đứng trước mặt, nên chàng phải cố đứng vững; sau khi ráng sức hất hai kiếm, thì đã kiệt sức, bèn buông kiếm, loạng choạng tới bên cạnh Tiểu Long Nữ, dùng cách của Âu Dương Phong trục quá nửa chất độc ra khỏi cơ thể của mình trước, rồi áp tay trái vào bàn tay phải của nàng, giúp nàng giải độc.

Bọn Quách Phù, Gia Luật Tề bị nhốt trong gian thạch thất, vật đánh lửa và bùi nhùi mang theo đã bị ướt khi lội suối, không đốt lửa được, cứ sờ soạng trong bóng tối một hồi, làm sao tìm được lối ra? Năm người đành ngồi khoanh tay bó gối.

Võ Tam Thông luôn miệng chửi Lý Mạc Sầu nham hiểm tàn ác. Quách Phù vốn đang chán nản lo sợ, nghe Võ Tam Thõng lải nhải chửi bới, càng thêm bực bội, không nhịn được, bèn nói:

– Võ bá bá, Lý Mạc Sầu nham hiểm tàn ác, bá bá đâu phải hôm nay mới biết, tại sao không đề phòng chút nào? Bây giờ mới chửi sau lưng mụ ta, phỏng có ích gì?

Võ Tam Thông sững lại, không biết trả lời thế nào.

Huynh đệ họ Võ gặp lại Quách Phù, đều có tâm bệnh, khi ở bên cạnh huynh muội Gia Luật Tề, thì nói cười vui vẻ, nhưng không hề trò chuyện với Quách Phù, lúc này Võ Tu Văn nghe nàng chỉ trích phụ thân, không nhịn được, bèn lên tiếng:

– Mọi người chui vào tòa cổ mộ này chỉ là để cứu muội tử của cô nương, đã không may ngộ nạn, thì mọi người cùng chết là xong, cô nương còn lên mặt gì nữa..

Y chưa nói hết câu, Võ Đôn Nhu gọi:

– Đệ đệ!

Võ Tu Văn không nói nữa, y chưa nói thì bực bội, nói rồi lại thấy kỳ kỳ. Bao năm nay đối với Quách Phù, y nhất mực tuân theo, không dám cãi một lời, không ngờ hôm nay lại lên tiếng chê trách nàng.

Quách Phù cũng ngẩn người, định đốp lại, song chưa biết nói lý thế nào, không ngờ lại sắp bị chết ngạt trong tòa cổ mộ này, không được gặp lại cha mẹ, đau đớn quá gục xuống một vật, trong bóng tối không rõ là vật gì, mà khóc nấc lên. Võ Tu Văn nghe nàng khóc, cảm thấy áy náy, nói:

– Thôi được rồi, là tại hạ nói sai, vậy xin lỗi cô nương.

Quách Phù nói:

– Xin lỗi mà làm gì?

Càng khóc to hơn. Tiện tay cầm một mảnh vải sờ thấy đưa lên lau nước mắt nước mũi, chợt phát hiện là mình gục xuống đùi một người và cầm vạt áo người đó lên.

Quách Phù giật mình, vội ngồi thẳng người dậy, nghe tiếng nói thì biết ba cha con Võ Tam Thông không ngồi cạnh nàng, chỉ có Gia luật Tề từ nãy không hề lên tiếng, thế thì người đó chính là chàng ta. Nàng xấu hố quá chừng, miệng ấp úng:

– Ôi thôi..

Gia Luật Tề bỗng nói:

– Cô nương thử nghe xem, có tiếng gì kìa?

Bốn người dỏng tai, nhưng không nghe thấy gì.

Gia Luật Tề nói:

– Lạ thật, là tiếng khóc của trẻ sơ sinh. Quách cô nương, là muội tử của cô nương đấy.

Tiếng khóc bị ngăn cách bởi bức tường đá, nhỏ như sợi tơ, phải là người có nội công tu vi thâm hậu, rất thính tai mới nghe thấy. Gia Luật Tề đứng dậy đi vài bước, tiếng khóc nghe nhỏ hẳn, chàng chợt nghĩ: "Tiếng khóc đã vọng tới, ắt thạch thất có chỗ thông hơi", bèn dỏng tai nghe để xem tiếng khóc vọng tới từ phía nào.

Chàng tiến sang hướng tây vài bước, tiếng khóc nhỏ đi, trở lại phía đông, tiếng khóc rõ hơn một chút, bước chéo về phía đông bắc, tiếng khóc càng rõ hơn.

Thế là chàng bước tới góc đông bắc, chọc chọc nhẹ mũi kiếm vài chỗ trên vách, có chỗ nghe như vách rất mỏng. Chàng tra kiếm vào bao, song chưởng tì vào chỗ đó mà đẩy mạnh ra ngoài, không suy suyển gì.

Chàng hít một hơi, vận lực sử tự quyết chữ "Niêm" (dính chặt), rồi thu gấp lực về, "cạch", một cục đá bị chưởng lực của chàng hút rời ra, rơi xuống nền. Bọn Quách Phù mừng rỡ, reo lên, xúm lại móc ra thêm ba cục đá nữa. Bây giờ đã có thể chui người qua.

Năm người lần lượt chui qua, lần theo tiếng khóc, đến một gian thạch thất nhỏ. Trong bóng tối Quách Phù nghe tiếng khóc rất to, bèn giơ tay ẵm đứa bé lên.

Đứa bé ấy chính là Quách Tương. Dương Quá vì mải giúp Tiểu Long Nữ thông mạch, lại phải đối địch với Lý Mạc Sầu, đã quá thời khắc cho ăn, nên đứa bé khóc dữ. Quách Phù cố nựng, vừa vỗ vỗ vừa đung đưa, nhưng đứa bé đói quá, càng khóc tợn. Quách Phù cuống lên, trao đứa bé cho Võ Tam Thông, nói:

– Võ bá bá, bá bá thử xem xem nó làm sao?

Gia Luật Tề sờ soạng trên bàn, sờ thấy cây nến và đồ đánh lửa, liền đốt nến lên. Mọi người bị chìm trong bóng tối chán chê, giờ trước mắt sáng bừng, bất giác cùng reo to mừng rỡ.

Võ Tam Thông có hai đứa con, nghe tiếng khóc của đứa bé, biết là nó đói, thấy trên bàn có sẵn chén nước pha mật ong, lại có cái thìa bằng gỗ, liền cho đứa bé uống. Nước mật vừa vào miệng, Quách Tương quả nhiên ngừng khóc. Gia Luật Tề cười, nói:

– Không có tiểu Quách cô nương đói quá gào khóc, chỉ e tất cả chúng ta đều chết trong gian thạch thất kia.

Võ Tam Thông hậm hực nói:

– Bây giờ phải đi tìm Lý Mạc Sầu.

Mọi người bẻ gãy lấy bốn cái chân bàn, châm lửa làm đuốc, men thông đạo mà đi. Đến mỗi chỗ quanh, Võ Đôn Nhu đều dùng kiếm đánh dấu, để khi quay ra khỏi bị lạc lối.

Năm người đi hết gian này gian khác, giơ cao cây đuốc tìm tung tích Lý Mạc Sầu, thấy tòa cổ mộ qui mô quá lớn, ngang dọc vô số thạch thất, cứ kinh ngạc mãi không thôi, không ngờ dưới lòng đất lại có một tòa kiến trúc hoằng vĩ thế này.

Khi tiến vào phòng ngủ của Tiểu Long Nữ, họ thấy dưới nền có mấy mũi Băng phách ngân châm. Quách Phù lấy vải quấn vào tay, nhặt lên hai mũi, nói:

– Muội sẽ sử dụng thứ này đánh trả mụ ma đầu.

Dương Quá dùng nội lực giúp Tiểu Long Nữ khu trừ chất độc, thấy từ đầu năm ngón tay trái của nàng có nước đen nhỏ ra, chỉ cần thời gian bằng ăn xong một bữa cơm là sẽ trừ hết chất độc, bỗng nghe có tiếng chân người ngoài thông đạo, tổng cộng năm người cả thảy, thì kinh ngạc, nghĩ mỗi lần vào thời khắc khẩn yếu, đều có kẻ địch đến tấn công, đối với một mình Lý Mạc Sầu đã khó đối phó, huống hồ những năm người? Tiểu Long Nữ mới sơ thông huyệt mạch, nội lực chưa được củng cố, nếu không khu trừ hết chất độc, chất độc sẽ ngấm vào yếu huyệt; chàng đang bàng hoàng, bỗng thấy ánh lửa chập chờn, năm người từ xa tiến đến gần. Dương Quá bèn ôm Tiểu Long Nữ chui vào cỗ quan tài rỗng đè bên trên cỗ quan tài có Lý Mạc Sầu, rồi kéo cái nắp lại, nhưng không đậy kín, đề phòng khó chui ra. Hai người vừa chui vào cỗ quan tài xong xuôi, thì bọn Gia Luật Tề tiến vào, họ thấy ở đây có năm cỗ quan tài bằng đá, đều sững sờ, lờ mờ cảm thấy đây là điềm dữ. Quách Phù không kìm được, thốt lên:

– Ôi chúng ta vừa đúng năm người, chỗ này có năm cỗ quan tài!

Dương Quá và Tiểu Long Nữ nằm trong quan tài, nhận ra giọng nói của Quách Phù, đều lấy làm lạ: "Sao lại là nàng ta?" Tay trái của Dương Quá vẫn không rời bàn tay của Tiểu Long Nữ, để khu trừ chất độc. Chàng thấy trong năm người tới có Quách Phù, tuy lấy làm lạ, song cũng đỡ lo, nghĩ nàng không đến nỗi thừa lúc mình nguy ngập mà tấn công, bèn không lên tiếng, cứ lặng lẽ vận công khu trừ chất độc.

Bọn Gia Luật Tề đã nghe thấy tiếng thở trong cỗ quan tài, tưởng Lý Mạc Sầu nấp trong đó, tất có gian kế, lần này không thể để mụ đánh lừa, ai nấy bèn thủ thế, vây xung quanh. Quách Phù thấy nắp quan tài và thân quan tài có khe hở, nhìn vào có vạt áo, đoán chắc là Lý Mạc Sầu, bèn cười to, nghĩ bụng: "Này thì lấy gậy bà đập lưng bà!" tay trái nàng ráng sức đẩy nắp quan tài rộng ra một chút, tay phải phóng hai mũi Băng phách ngân châm vào bên trong cỗ quan tài.

Hai mũi ngân châm phóng vào, bên trong cỗ quan tài chật chội không còn chỗ né tránh, Dương, Long hai người cùng kêu "Ối!" một mũi trúng đùi bên phải của Dương Quá, mũi kia trúng vai trái Tiểu Long Nữ.

Quách Phù phóng ngân châm rồi, đang đắc chí, bỗng nghe tiếng kêu của một nam một nữ bên trong cỗ quan tài, thì giật mình, cũng kêu "Ối chao!" Gia Luật Tề giơ chân đá văng nắp quan tài xuống đất, Dương Quá và Tiểu Long Nữ lóp ngóp bò dậy, ánh đuốc soi rõ sắc mặt tái nhợt của hai người.

Quách Phù biết lần này mình lại gây ra đại họa còn lớn hơn lần chém đứt cánh tay Dương Quá, ấp úng nói:

– Dương đại ca, Long tỷ tỷ, tiểu muội không biết là hai vị, phóng châm ngộ thương. May mẫu thân của tiểu muội có linh dược chữa trị loại độc châm này, dạo trước con chim điêu của tiểu muội bị thương vì ngân châm của Lý Mạc Sầu, mẫu thân tiểu muội cũng đã chữa khỏi. Tại sao hai vị lại nấp bên trong cỗ quan tài? Ai có thể ngờ lại là hai vị kia chứ?

Quách Phù cho rằng sau khi nàng chém đứt cánh tay Dương Quá, Dương Quá đã làm cong quẹo thanh kiếm của nàng, như thế coi như hòa, hơn nữa cha mẹ nàng đã mắng nàng một trận nên thân, nàng không trách chàng thì thôi. Từ nhỏ nàng luôn luôn gặp mọi điều thuận lợi, người ta kính nể cha mẹ nàng, nhường nhịn nàng mọi chuyện, cho nên nàng chỉ nghĩ đến mình, không bao giờ nghĩ đến người khác, suy cho cùng, Dương, Long hai người không nên nấp bên trong quan tài, để cho nàng bị một phen giật mình. Quách Phù đâu nghĩ rằng khi Tiểu Long Nữ trúng ngân châm, chất độc trong cơ thể nàng đang đi ra thuận theo nội tức, đột nhiên bị chất cực độc bắn vào, chất độc của Ngũ độc thần chưởng liền chạy ngược trở lại, xâm nhập các đại huyệt toàn thân, như vậy, dẫu có thuốc tiên cũng không thể giải cứu. Ngân châm của Lý Mạc Sầu chẳng qua chỉ là ngoại thương, nếu kịp thời chữa trị vốn không đáng ngại, nhưng chất độc nội xâm thật vô cùng nguy hiểm. Tiểu Long Nữ trong giây lát cảm thấy ngực mình như trống rỗng, quả tim không biết biến đi đâu mất; khi nàng quay sang nhìn Dương Quá, thấy ánh mắt của chàng lộ vẻ đau đớn và phẫn nộ, người chàng run lên, tựa hồ mọi nỗi uất ức căm hận trong đời sẽ trút hết ra lúc này. Tiểu Long Nữ không nỡ nhìn chàng khổ sở như vậy, nhẹ nhàng nói:

– Quá nhi, số mệnh đôi ta như thế, cũng chả nên trách người khác, chàng đừng quá đau buồn!

Nàng đưa tay rút mũi Ngân châm ở đùi Dương Quá, rồi mới rút mũi Ngân châm ở vai mình ra. Ngân châm là do sư phụ truyền thụ, độc tính khác hẳn chất độc của Ngũ độc thần chưởng, giải dược nàng luôn mang theo bên mình. Nàng đưa cho Dương Quá một viên, nàng cũng nuốt một viên. Dương Quá cả giận, nhổ luôn viên thuốc xuống đất.

Quách Phù giận dỗi nói:

– Gì mà lên mặt quá thế, làm như tiểu muội cố ý hãm hại hai vị không bằng. Tiểu muội đã xin lỗi rồi, sao còn hùng hùng hổ hổ? Hai mũi Ngân châm nhỏ bé, nào có đáng gì kia chứ?

Võ Tam Thông thấy vẻ mặt đau đớn và tức giận của Dương Quá tăng dần, lại thấy chàng cúi xuống cầm thanh Huyền thiết trọng kiếm lên, biết là có chuyện, bèn bước lên can:

– Xin Dương huynh đệ đừng giận. Năm người bọn ta bị Lý Mạc Sầu nhốt trong một gian thạch thất, may lắm mới thoát ra được, Quách cô nương nhất thời thô lỗ, lỡ tay..

Quách Phù sấn tới, nói:

– Cái gì, tiểu muội thô lỗ ư? Võ bá bá cũng cho đó là Lý Mạc Sầu, nếu không sao không lên tiếng?

Võ Tam Thông nhìn Dương Quá, lại nhìn Quách Phù, không biết phần khuyên can như thế nào. Tiểu Long Nữ lại lấy ra một viên giải dược, dịu dàng nói:

– Quá nhi hãy nuốt viên thuốc này đi, chẳng lẽ ngay lời của thiếp, chàng cũng không chịu nghe hay sao?

Dương Quá nghe lời lẽ dịu dàng của Tiểu Long Nữ, bèn há miệng, nuốt viên thuốc, nghĩ hai người bao ngày nay liên tiếp vào sinh ra tử vì người khác, rốt cuộc đều thành bèo bọt, thì không nhẫn nại được thêm, chàng gục đầu xuống nắp quan tài mà khóc nấc lên.

Bọn Võ Tam Thông nhìn nhau, cứ tưởng chàng là người mười phần cứng cỏi, sao hôm nay chỉ trúng một mũi ngân châm mà lại khóc như vậy? Tiểu Long Nữ đưa tay vuốt tóc chàng, nói:

– Quá nhi, chàng hãy bảo bọn họ đi ra đi, thiếp không thích họ có mặt ở đây.

Nàng không cau mặt nặng lời, một câu "không thích họ có mặt ở đây" đã ẩn chứa sự căm ghét cao độ của nàng rồi.

Dương Quá đứng dậy, mục quang quét một lượt, bắt đầu từ Quách Phù, chàng tuy cực nộ cực hận, nhưng cuối cùng cũng biết Quách Phù phóng ngân châm quả thật là không có lỗi, hơn nữa, dù có đâm nàng ta một kiếm chết tươi, thì cũng không thể cứu được Tiểu Long Nữ. Chàng giơ kiếm lên, mục quang như ngọn đuốc, đột nhiên giáng kiếm xuống, sầm một tiếng lớn, tia lửa tung tóe, cỗ quan tài đá chàng vừa từ đó bước ra đã bị vỡ làm hai phần. Nhát kiếm này không chỉ có lực đạo trầm hùng tuyệt luân, mà còn chứa đựng nỗi đau khổ và phẫn nộ vô hạn.

Bọn Quách Phù thấy thanh kiếm có uy lực như thế đều không khỏi ngây người. Cỗ quan tài kiên cố đúc bằng đá hoa cương, thợ đá muốn bổ đôi phải dùng búa lớn đục phá nửa ngày mới xong. Đằng này Dương Quá lại dùng một thanh kiếm chém mỗi một nhát, thật là ngoài sức tưởng tượng.

Dương Quá thấy năm người kinh hãi nhìn nhau, bèn gằn giọng:

– Các người tới đây làm gì?

Võ Tam Thông nói:

– Dương huynh đệ, chúng tôi theo Quách phu nhân đến tìm huynh đệ.

Dương Quá giận dữ nói:

– Các người định đến đoạt lại đứa con cho bà ta phải không? Chỉ vì đứa bé này mà các người nhẫn tâm sát hại ái thê của ta.

Võ Tam Thông kinh ngạc:

– Sát hại ái thê của huynh đệ ư? Long cô nương ấy ư?

Lão thấy Tiểu Long Nữ mặc trang phục cô dâu, chợt hiểu ra, vội nói:

– Phu nhân của Dương huynh đệ trúng độc châm, Quách phu nhân có giải dược, đang chờ ở bên ngoài.

Dương Quá hừ một tiếng, quát:

– Các người đến quấy phá, chất độc đã ngấm sâu vào đại huyệt toàn thân của ái thê ta rồi. Quách phu nhân thì làm gì được? Không lẽ bà ta có bản lĩnh cải tử hoàn sinh hay sao?

Võ Tam Thông chịu ơn cứu mạng của Dương Quá nên đối với chàng rất tôn kính, nghe chàng mắng cũng không giận, chỉ lẩm bẩm:

– Chất độc đã ngấm sâu vào đại huyệt toàn thân, thì phải làm sao đây?

Quách Phù thì khác, nàng nghe Dương Quá nói năng bất kính về mẫu thân mình, bèn nổi giận:

– Mẫu thân muội có lỗi gì với huynh nào? Hồi nhỏ huynh bơ vơ không cửa không nhà, chẳng phải mẫu thân muội đã đưa huynh về nhà nuôi dạy đó sao, hừ, cuối cùng huynh lại vong ân bội nghĩa, cướp muội tử của muội đi?

Lúc này nàng thừa biết muội tử của mình ở trong tay Dương Quá, chàng hoàn toàn không có ý gì xấu, nhưng đã đấu khẩu thì phải dùng lời lẽ nặng nề với đối phương.

Dương Quá lạnh lùng nói:

– Phải, hôm nay ta muốn vong ân bội nghĩa đấy. Cô nương bảo ta cướp muội tử của cô nương, thì ta sẽ vĩnh viễn không trả lại, xem cô nương làm gì nổi ta.

Quách Phù tay trái ôm chặt Quách Tương, tay phải giơ cao cây đuốc, chắn phía trước mặt. Võ Tam Thông vội nói:

– Dương huynh đệ, phu nhân của huynh đệ đã trúng độc, hãy mau tìm cách giải độc thì hơn..

Dương Quá nói:

– Võ huynh, vô ích rồi.

Đột nhiên chàng hú một tiếng, ống tay áo bên phải phất một cái, năm người cảm thấy một luồng gió mạnh thổi qua mặt rát như phải bỏng, năm cây đuốc cùng tắt phụt, trước mắt tối như mực. Quách Phù kêu to "Ối chao!" Gia Luật Tề sợ Dương Quá đả thương Quách Phù, bèn nhảy tới, chỉ nghe tiếng bé Quách Tương khóc oa oa, nhưng đã ở bên ngoài thạch thất. Mọi người kinh ngạc, tiếng bé Quách Tương khóc đã ở xa mấy trượng, thân pháp nhanh thế thì không khác gì quỷ mị.

Quách Phù kêu lên:

– Muội tử đã bị Dương Quá cướp đi!

Võ Tam Thông gọi:

– Dương huynh đệ, Long cô nương! Dương huynh đệ, Long cô nương!

Nhưng không có tiếng trả lời.

Đuốc đã tắt hết, xung quanh tối mò, không hiểu tình hình thế nào. Gia Luật Tề nói:

– Chúng ta ra ngoài thôi, kẻo Dương Quá sẽ nhốt ở đây.

Võ Tam Thông xẵng giọng:

– Dương huynh đệ đại nhân đại nghĩa, đời nào làm việc đó?

Quách Phù nói:

– Nhân nghĩa cái gì.. Mau thoát ra ngoài thôi, còn ở trong này làm gì?

Lời vừa dứt, bỗng có tiếng lịch kịch trong cỗ quan tài. Quách Phù kêu lên:

– Có ma!

Nàng túm lấy cánh tay của Gia Luật Tề đang đứng bên cạnh. Bọn Võ Tam Thông nghe đúng là có tiếng động phát ra từ trong cỗ quan tài, tựa hồ xác chết trong đó bật dậy; trong bóng tối ai nấy sởn gai ốc.

Gia Luật Tề nói nhỏ với Võ Tam Thông:

– Võ thúc thúc, thúc thúc hãy ở đây, tiểu điệt ra chỗ kia, nếu có cái xác nào chui ra, chúng ta sẽ cùng giáng chưởng cho nó tan xương luôn!

Chàng cầm cổ tay Quách Phù kéo nàng ra sau lưng mình, sợ ma quỷ bật dậy đánh người.

Chỉ nghe vù một tiếng, có vật gì đó từ trong cỗ quan tài bay ra. Võ Tam Thông và Gia Luật Tề thủ thế sẵn, nghe tiếng gió bèn cùng vỗ chưởng ra, tay họ đụng vào một vật cứng là cái gối đầu bằng đá. Hai người xuất chưởng dùng lực toàn thân, cái gối đá đập mạnh xuống cỗ quan tài, bị vỡ thành mấy mảnh. Tiếp đó tiếng gió vù vù, có vật gì lướt qua bên mình; Võ Tam Thông và Gia Luật Tề cùng tung chưởng đánh tiếp, nhưng vật ấy đã bay đi xa, chỉ nghe có mấy tiếng cười hi hi, rồi lập tức chìm trong cảnh tĩnh lặng.

Võ Tam Thông kinh ngạc kêu:

– Lý Mạc Sầu!

Quách Phù nói:

– Không phải, là tử thi đấy! Lý Mạc Sầu tại sao lại nằm trong quan tài?

Gia Luật Tề hừ một tiếng, không nói gì. Chàng không tin trên thế gian có ma quỷ, nhưng bảo đấy là Lý Mạc Sầu thì cũng không hợp lý. Mụ ta cùng với cả bọn cùng tiến vào đây, Dương Quá và Tiểu Long Nữ thì đã ở trong tòa cổ mộ nhiều ngày, làm sao mụ có thể chui vào cỗ quan tài nằm bên dưới cỗ quan tài có Dương Quá và Tiểu Long Nữ được kia chứ?

Võ Tam Thông nói:

– Lý Mạc Sầu chạy đi đâu rồi?

Gia Luật Tề nói:

– Tòa cổ mộ chỗ nào cũng có tà môn, chúng ta mau ra ngoài trước thì hơn.

Quách Phù nói:

– Muội tử của tiểu nữ thì sao đây?

Võ Tam Thông nói:

– Chúng ta hết cách rồi, mẫu thân của cô nương tất có diệu sách, mọi người ra đó nghe Quách phu nhân phân phó thì được.

Mọi người bèn tìm lối đi trở ra, vượt dòng suối ngầm. Vừa từ dưới suối bò lên, thì thấy trước mắt đỏ hồng, rừng cây ở hai bên tả hữu dòng suối đang cháy rừng rực, khí nóng phả vào mặt. Quách Phù gọi to:

– Mẹ, mẹ ơi!

Không có tiếng trả lời. Bỗng một cây lớn đang cháy đùng đùng đổ ụp xuống, Gia Luật Tề vội kéo nàng chạy về phía thượng du mới tránh được. Bây giờ đang mùa đông, cây cỏ khô héo, thành thử cả khu rừng biến thành một biển lửa. Năm người tuy lội suối ướt sũng, nhưng khí nóng tạt tới vẫn rát cả mặt.

Võ Tam Thông nói:

– Chắc là quân Mông Cổ tấn công lên cung Trùng Dương không được gì, bèn đốt rừng cho bõ tức.

Quách Phù lo lắng gọi to:

– Mẹ ơi, mẹ ở đâu rồi?

Bỗng thấy ở phía bên trái dòng suối có một nữ nhân đang nhảy tránh lửa giữa các đám cỏ, Quách Phù cả mừng, gọi "Mẹ, mẹ!" rồi từ dưới suối vọt lên, chạy đón đầu người kia.

Võ Tam Thông nói to:

– Cẩn thận đấy!

Sầm sầm hai tiếng, hai cây lớn đang cháy đùng đùng đổ ụp xuống, chắn tầm mắt của lão.

Quách Phù xông qua khói lửa mà chạy. Khi đứng dưới dòng suối, một là nàng quá lo cho mẹ, hai là mới từ trong bóng tối của tòa cổ mộ đi ra, ánh sáng ngoài này chói chang, mắt còn hoa, chưa nhìn rõ mọi thứ, khi chạy tới gần sau lưng người kia, biết không phải là mẹ nàng, nàng sững lại, người kia quay người, hóa ra là Lý Mạc Sầu.

Nguyên mụ bị Dương Quá nhốt trong cỗ quan tài, vốn không tài nào chui ra; nhưng sau đó Dương Quá trong cơn thịnh nộ vung kiếm chém vỡ đôi cỗ quan tài bên trên, làm vỡ luôn cả cỗ quan tài bên dưới. Lý Mạc Sầu thoát chết, mụ ném cái gối đá ra trước, rồi mới nhảy vọt ra sau.

Mụ bị nhốt trong cỗ quan tài ngót một canh giờ, tức thở muốn chết, quả là tình cảnh cực kỳ khổ sở.

Mụ nghiến răng căm hận hết thảy những ai đang sống trên đời, nghĩ bụng: "Sau khi chết, ta sẽ biến thành quỉ sứ giết hại Dương Quá, giết hại Tiểu Long Nữ, giết hại Võ Tam Thông, giết hại Hoàng Dung.."

Bất kể là ai, mụ cũng giết tuốt. Sau đó tuy mụ may mắn thoát chết, nỗi căm hận trong lòng vẫn không giảm chút nào, đột nhiên gặp Quách Phù, mụ bèn mỉm cười, nhẹ nhàng nói:

– Quách cô nương, là cô nương đấy ư? Lửa cháy khiếp quá, cô nương hãy cẩn thận.

Quách Phù thấy thần sắc mụ ta thân thiết, lấy làm lạ, hỏi:

– Đạo trưởng có thấy mẫu thân tiểu nữ đâu không?

Lý Mạc Sầu tới gần vài bước, chỉ sang mé trái, nói:

– Có phải đằng kia không?

Quách Phù nhìn theo hướng tay mụ chỉ. Lý Mạc Sầu liền xáp tới, điểm luôn huyệt đạo ở lưng Quách Phù, cười, nói:

– Đừng cuống, mẹ ngươi sẽ tới tìm ngươi thôi.

Mụ thấy lửa từ bốn phía đang lan nhanh tới, không chạy đi thì khó lòng toàn mạng, bèn chạy về phía tây. Quách Phù bị tê liệt, khuỵu xuống đất, nghe tiếng hát của Lý Mạc Sầu vọng lại giữa tiếng lửa cháy: "Hỏi thế gian tình ái là chi, mà đôi lứa thề nguyền sống chết?"

Tiếng hát xa dần, bỗng một luồng khói dày theo gió tràn tới, trùm lên Quách Phù. Nàng tứ chi bất động, bị khói phủ, ho lên sặc sụa. Cha con họ Võ và Gia Luật Tề ngâm mình trong dòng suối, đầu và mặt đầy tro, ở giữa dòng suối và nơi Quách Phù đang ngồi, lửa bốc cao ba trượng, bốn người biết nàng bị nguy hiểm, nhưng nếu chạy đến cứu nàng thì chẳng khác gì xông vào biển lửa, mình sẽ mất mạng vô ích.

Quách Phù bị khói trùm, lửa sắp liếm vào người, sắp ngất đi, bỗng nghe phía đông có tiếng gió ù ù thổi đến, nàng ngoảnh đầu, thấy một luồng gió lốc cuốn theo một cái bóng xám, tới đâu thì lửa dạt ra hai bên đến đó, thoáng chốc đã đến chỗ nàng. Cái bóng xám kia chính là Dương Quá. Quách Phù cứ ngỡ có người đến cứu, đang hoan hỉ, khi nhìn rõ đó là Dương Quá, thì thân tuy đang nóng rừng rực, vẫn cảm thấy như bị giội một gáo nước lạnh, nghĩ bụng: "Mình sắp chết, hắn còn đến nhiếc móc làm nhục mình". Gì thì nàng cũng là con gái của Quách Tĩnh, Hoàng Dung, nàng trừng mắt nhìn Dương Quá, không chút sợ hãi.

Dương Quá chạy đến chỗ Quách Phù, đưa thân kiếm xuống bên dưới lưng nàng, nói:

– Cẩn thận này!

Cánh tay trái hất mạnh, Quách Phù bay lên không trung như đằng vân giá vụ, bay qua mươi cây lớn đang cháy đùng đùng, ùm một tiếng, rơi xuống giữa dòng suối. Gia Luật Tề vội bơi lại, đỡ nàng lên, giải huyệt cho nàng. Quách Phù đầu váng mắt hoa, một lát sau mới khóc òa lên.

Nguyên Dương Quá ôm Tiểu Long Nữ và bé Quách Tương ra khỏi tòa cổ mộ, thấy quân Mông Cổ đang đốt rừng. Dương, Long hai người từng sống giữa rừng cây mấy năm, giờ nhìn rừng cây bị đốt cháy thì rất tiếc, nhưng quân Mông Cổ thế lực lớn mạnh, mình không chống nổi. Dương Quá không biết Tiểu Long Nữ sau khi bị chất độc ngấm vào huyệt đạo và lục phủ ngũ tạng còn chịu đựng được bao lâu, vội tìm một thạch động, chỗ đó cây cối thưa thớt để tránh tạm. Một hồi sau, hai người nhìn thấy xa xa Quách Phù bị Lý Mạc Sầu gia hại, lửa lớn lan tới chỗ ngồi. Dương Quá nói:

– Long nhi, cô nương kia hại ta chưa đủ, còn đến hại nàng, hôm nay cuối cùng đang bị báo ứng kia kìa.

Tiểu Long Nữ đưa đôi mắt sáng nhìn chàng, lấy làm lạ:

– Quá nhi, chẳng lẽ chàng không đi cứu Quách cô nương?

Dương Quá nói, giọng bực tức:

– Nó hại chúng ta đến thế này, ta không tự tay giết nó, đã là nể cha mẹ nó lắm rồi.

Tiểu Long Nữ thở dài:

– Chúng ta bất hạnh, là cái số chúng ta bị khổ, để cho người khác được sung sướng chẳng hơn hay sao?

Dương Quá tuy ngoài miệng nói thế, nhưng nhìn ngọn lửa lớn lan dần đến chỗ Quách Phù, thì chàng lại không nỡ, bèn nói:

– Thôi được, cái số chúng ta bị khổ, để cho người khác sung sướng vậy!

Chàng liền cởi cái áo ướt, quấn vào thanh kiếm, vận lực vung kiếm, tạo gió gạt lửa, phi đến cứu Quách Phù. Lúc chàng trở lại bên Tiểu Long Nữ, tóc và vạt áo bị cháy sém, chiếc quần bén lửa, giập tắt lửa thì quần bị thủng lỗ chỗ.

Tiểu Long Nữ ẵm Quách Tương, đưa tay chỉnh lại đầu tóc và quần áo cho Dương Quá, cảm thấy mình lấy được một người chồng anh hùng thế này thì thật là đắc ý. Nàng tựa vào người Dương Quá, giữa cảnh khói lửa ngút trời mà mặt nàng lộ rõ vẻ bình an sung sướng. Dương Quá chăm chú nhìn, thấy ánh lửa làm hồng đôi má nàng, trông xinh đẹp bội phần, bèn đưa tay ôm ngang lưng nàng. Thời khắc này, hai người quên hết mọi bi thương sầu khổ trên thế gian.

Dương, Long hai người đứng chỗ cao, cha con họ Võ, Quách Phù và Gia Luật Tế từ dưới suối nhìn lên qua lửa khói, thấy tà áo của hai người bay bay, phong thái trang nghiêm, trông như thần tiên vậy. Quách Phù vốn coi thường Dương Quá, lúc này đột nhiên cảm thấy tự thẹn là mình kém họ quá xa.

Dương Quá và Tiểu Long Nữ đứng một lát, Tiểu Long Nữ nhìn núi rừng chìm trong biển lửa, thở dài nói:

– Cỏ cây bị thiêu trụi, sau này mọc lại không biết sẽ như thế nào?

Dương Quá không muốn nàng lo thay cho cảnh vật bên ngoài, bèn nói đùa:

– Tân hôn của đôi ta, quân Mông Cổ phóng hỏa chúc mừng, thắp sáng muôn vàn cây nến đấy.

Tiểu Long Nữ mỉm cười. Dương Quá nói:

– Chúng ta đi ra sau núi nghỉ một lát, nàng cảm thấy thế nào?

Tiểu Long Nữ nói:

– Thiếp vẫn khỏe mà.

Hai người sánh vai đi ra sau núi. Võ Tam Thông chợt nhớ ra việc gì, gọi to:

– Dương huynh đệ, sư thúc và Chu sư đệ của lão bị nhốt ở Tuyệt Tình cốc, huynh đệ có đi cứu họ hay không?

Dương Quá sững sờ, không trả lời, tự nói một mình: "Ta còn có thể quản nhiều chuyện được sao?"

Dương Quá nghĩ thế, chân vẫn bước, đi ra sau núi, nơi chỉ có đá lổn nhổn, không có cây cỏ. Tiểu Long Nữ trúng độc tuy sâu, nhưng nhất thời chất độc chưa phát tác, sau khi huyệt đạo được đả thông, võ công phục hồi dần, nàng ẵm bé Quách Tương bước nhanh. Hai người đi nửa canh giờ, cách cung Trùng Dương đã xa, ngoảnh đầu nhìn lại, cả bầu trời phía đó ráng hồng ánh lửa.

Gió bấc thổi càng lúc càng mạnh, trời rét làm đỏ ửng khuôn mặt nhỏ của Quách Tương. Tiểu Long Nữ nói:

– Chúng mình đi tìm chút thức ăn, kẻo đứa bé vừa lạnh vừa đói, sợ không chịu nổi.

Dương Quá nói:

– Ta cũng ngu thật, đi rước thêm đứa bé này theo cho mệt.

Tiểu Long Nữ cúi xuống thơm vào má Quách Tương, nói:

– Tiểu muội muội này khả ái vô cùng, chẳng lẽ chàng không thích nó?

Dương Quá cười, nói:

– Nó là con của người khác, trừ phi chúng ta sinh được một đứa con.

Tiểu Long Nữ đỏ mặt, câu nói của Dương Quá động tới mẫu tính ở đáy lòng nàng, nàng nghĩ: "Giá như mình sinh cho chàng một hài nhi.. ôi, mình làm sao có được phúc khí như thế?"

Dương Quá sợ nàng đau lòng, không dám nhìn vào mắt nàng, ngẩng mặt nhìn sắc trời, thấy phía tây bắc mây đen ùn ùn nặng như chì, nói:

– Trời này e sắp có tuyết dày, phải tìm nhà dân trú nhờ mới được.

Hai người tránh lửa cháy rừng, nên đi đến chỗ hoang sơn vô lộ, mặt đất toàn đá và bụi gai, lên chỗ cao nhìn bốn phía, trong phạm vi mươi dặm không có nhà cửa gì. Dương Quá nói:

– Tuyết sẽ rơi dày, ở trên núi nguy hiểm, chúng ta phải mau xuống núi thôi.

Tiểu Long Nữ nói:

– Võ Tam thúc, Quách cô nương và mấy người kia không biết có chạm trán quân Mông Cổ hay không? Các đạo sĩ phái Toàn Chân không biết có chạy thoát hay không?

Giọng nói lộ vẻ lo lắng. Dương Quá nói:

– Nàng thật quá thừa thiện tâm. Bọn người ấy có lỗi với nàng, nàng còn lo cho họ. Thảo nào năm xưa sư tổ biết nàng quá tốt, sợ nàng về sau phải đau khổ, mới dạy nàng tu tập cách diệt trừ thất tình lục dục, thây kệ sự đời. Nhưng nàng vẫn cứ quan hoài ta, công phu tu luyện mười mấy năm bỏ hết, ai cũng được nàng lo liệu cho cả.

Tiểu Long Nữ mỉm cười, nói:

– Thực ra khi thiếp lo lắng cho chàng, đau khổ vì chàng, lại cảm thấy sung sướng. Thiếp sợ nhất là chàng không cần đến sự quan hoài của thiếp.

Dương Quá nói:

– Đúng thế, đau khổ lớn và sung sướng lớn thì hơn hẳn không đau khổ và không sung sướng. Ta chỉ có thể phát si phát cuồng, chứ không thể sống những ngày thanh bình yên tĩnh.

Tiểu Long Nữ mỉm cười, nói:

– Chàng chẳng từng bảo đôi ta sẽ đi xuống phương nam làm ruộng, nuôi gà nuôi vịt đó ư?

Dương Quá thở dài:

– Giá có thể được như vậy!

Lại đi vài dặm, tuyết bắt đầu rơi trắng trời, thoạt tiên chỉ là các bông tuyết nhỏ và thưa, càng về sau gió bấc mạnh dần, bông tuyết càng lớn và dày hơn. Hai người bất chấp mưa tuyết lớn, cứ thi triển khinh công mà đi rất nhanh.

Tiểu Long Nữ bỗng nói:

– Quá nhi, chàng bảo sư tỷ của thiếp đi đâu?

Dương Quá nói:

– Nàng lại quan tâm đến mụ ấy rồi. Lần này chưa giết mụ, cũng không biết.. cũng không biết..

Chàng định nói "Cũng không biết đôi ta còn sống được bao lâu, có còn dịp giết mụ ta hay không" nhưng sợ Tiểu Long Nữ đau lòng, chàng không nói nữa.

Tiểu Long Nữ nói:

– Sư tỷ kỳ thực cũng rất đáng thương.

Dương Quá nói:

– Mụ ta không cam chịu đau thương một mình, lại cứ bắt mọi người trong thiên hạ cũng phải đau khổ như mụ ta.

Lúc này trời càng âm u hơn. Qua lưng núi, bỗng thấy ở giữa hai cây tùng lớn có một ngôi nhà tranh nho nhỏ, trên mái tuyết phủ đã dày chừng một tấc.

Dương Quá vui mừng nói:

– Hay quá, chúng ta vào đây nghỉ một đêm.

Chàng chạy lại gần, thấy cánh cửa nửa khép nửa mở, tuyết ngoài sân không có dấu chân người, bèn nói to:

– Người qua đường gặp tuyết, xin được vào trú nhờ một đêm.

Chờ một lát, trong nhà hoàn toàn không có tiếng trả lời.

Chàng đẩy cửa bước vào, bên trong không có người, bàn ghế phủ đầy bụi, rõ ràng không có ai sống ở đây, bèn gọi Tiểu Long Nữ vào trong nhà. Nàng khép cửa lại, nhóm một đống lửa. Trên vách gỗ có treo cung tên, góc nhà có để một cái bẫy bắt thỏ, xem chừng ngôi nhà này là nơi tạm trú của cánh thợ săn. Gian trong có giường và bàn, trên giường có mấy tấm da chó sói rách nát. Dương Quá lấy cung tên, ra ngoài săn được một con hoẵng, mang về lột da mổ bụng, dùng tuyết cọ rửa, đem nướng.

Lúc này bên ngoài tuyết rơi càng dày, trong nhà đống lửa cháy đượm, không khí ấm áp như mùa xuân.

Tiểu Long Nữ nhai nát vài miếng thịt chín, mớm cho Quách Tương. Dương Quá vừa lo việc nướng thịt, vừa cười cười nhìn hai người.

Lửa cháy nổ lép bép, mùi thịt nướng thơm phức, ngôi nhà tranh giữa hoang sơn ấm cúng xiết bao.

Comments

0 comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 30: Ly Hợp vô thường

Thời khắc bình yên này kéo dài không lâu, bé Quách Tương vừa ngủ được một lát, thì từ phía đông vọng lại tiếng chân người đạp trên tuyết, nhịp bước rất nhanh. Dương Quá đứng dậy, nhìn qua cửa sổ phía đông, thấy có hai lão nhân sánh vai đi, một mập một gầy, áo quần lam lũ, hệt như người của Cái Bang, giữa lúc trời đổ mưa tuyết lớn, chắc rẽ vào đây nghỉ chân. Dương Quá lúc này không muộn gặp bất cứ ai trên đời, đối với nhân vật võ lâm càng khó chịu, chàng quay lại nói:

– Có người đến, nàng hãy vào gian trong nằm ngủ, giả vờ bị bệnh.

Tiểu Long Nữ ẵm Quách Tương vào gian trong, nằm xuống giường, đắp một tấm da sói rách tã lên người. Dương Quá lấy một cục than, bôi nhem nhuốc lên mặt và cổ, kéo sụp cái mũ xuống trán, lại đem thanh Huyền thiết trọng kiếm giấu vào gian trong, nghe hai lão nhân tới gần, rồi có tiếng gõ cửa. Dương Quá bôi mớ thịt hoẵng lên quần áo, giả làm thợ săn, rồi mới mở cửa.

Lão khất cái mập nói:

– Giữa núi rừng gặp tuyết lớn, khổ quá chừng, mong quan nhân làm phúc cho khiếu hóa tử trú nhờ một đêm.

Dương Quá nói:

– Nhà tranh vách đất của một gã thợ săn tầm thường, lão trượng sao lại gọi là quan nhân? Mời lão trượng cứ vào nghỉ ngơi.

Lão khất cái mập cứ luôn miệng đa tạ. Dương Quá nghĩ mình đã đại hiển thân thủ tại anh hùng đại yến, không muốn để hai người này nhận ra chàng, bèn đưa hai cái đùi hoẵng đã nướng cho họ, nói:

– Tuyết rơi dày thế này chính là dịp cánh thợ săn chúng tôi kiếm ăn. Sáng mai tiểu nhân phải đi đặt bẫy sớm, không thể hầu chuyện hai vị lão trượng được.

Lão khất cái mập nói:

– Xin tiểu quan nhân cứ tự nhiên.

Dương Quá nói theo lối bình dân:

– Này mẹ hĩm, đã bớt ho chút nào chưa?

Tiểu Long Nữ khàn giọng đáp:

– Từ lúc tuyết rơi, càng thấy tức ngực hơn, bố nó ạ.

Rồi nàng vừa ho vừa đưa tay lay nhẹ cho bé Quách Tương tỉnh giấc. Tiếng ho của người mẹ, tiếng khóc của đứa bé sơ sinh, thật không còn gì giống hơn một gia đình thợ săn có ba người.

Dương Quá đi vào gian trong, khép cửa lại, lên giường nằm cạnh Tiểu Long Nữ, nghĩ: "Lão khất cái mập trông mặt quen quen, hình như đã gặp ở đâu rồi thì phải?"

Nhất thời chàng chưa nhớ ra.

Hai lão khất cái chỉ đoán Dương Quá đúng là một gã thợ săn cùng khổ giữa vùng hoang sơn, nên họ không để tâm, vừa ăn thịt nướng vừa trò chuyện. Lão gầy nói:

– Núi Chung Nam bị cháy lớn cả một ngày trời, chắc là xong xuôi rồi.

Lão mập cười nói:

– Đại quân Mông Cổ đông chinh tây phạt, khắp thiên hạ không gặp địch thủ, muốn tiêu diệt đám đạo sĩ phái Toàn Chân, có khác gì giẫm nát một bầy kiến.

Lão gầy nói:

– Mấy bữa trước Kim Luân pháp vương đại bại rút về, trông cũng thảm hại.

Lão mập cười, nói:

– Như thế cũng rất hay. Để cho Tứ vương tử biết rằng muốn lấy được giang sơn cẩm tú của Trung Quốc, cuối cùng phải dựa vào người Trung Quốc, chứ chỉ trông vào người Mông Cổ và đám võ sĩ Tây Vực thì chẳng thể xong.

Lão gầy nói:

– Bành trưởng lão, lần này Cái Bang Nam phái nếu muốn thành lập, hoàng đế Mông Cổ sẽ phải phong cho trưởng lão chức quan gì?

Dương Quá nghe đến đây, chợt nhớ ra, lão khất cái mập này chàng đã gặp tại anh hùng đại yến ở ải Đại Thắng, có điều hôm ấy lão ta mặc trang phục người Mông Cổ, chốc chốc rỉ tai mách nước cho Kim Luân pháp vương, chàng nghĩ: "Thì ra hai tên này đều là hạng mãi quốc tặc, phải trừ sớm đi để tránh hậu họa".

Lão khất cái mập chính là Bành trưởng lão, một trong bốn đại trưởng lão của Cái Bang, hắn đã đầu hàng Mông Cổ từ lâu. Chỉ nghe hắn cười, nói:

– Đại hãn hứa phong cho chức quan "Trấn nam đại tướng quân" nhưng cổ nhân có câu "Ăn chực ba năm, hoàng đế lười làm". Bọn ta là người của Cái Bang, còn thiết quan chức gì nữa?

Giọng nói của hắn lộ đầy vẻ đắc chí. Lão khất cái gầy nói:

– Đệ xin cung hỉ Bành trưởng lão trước.

Bành trưởng lão cười, nói:

– Mấy năm qua công lao của huynh đệ không nhỏ, rồi đây cũng không thể thiếu phần của huynh đệ.

Lão khất cái gầy nói:

– Làm quan thì đệ không muốn. Cái môn Nhiếp hồn đại pháp Bành trưởng lão đã hứa, không biết bao giờ mới truyền thụ cho đệ?

Bành trưởng lão nói:

– Đợi khi Cái Bang Nam phái chính thức thành lập, ta làm bang chủ rồi, hai ta nhàn rỗi, ta sẽ truyền thụ cho huynh đệ.

Lão khất cái gầy nói:

– Bành trưởng lão đã làm bang chủ Cái Bang Nam phái, lại kiêm chức quan "Trấn nam đại tướng quân" sẽ càng bận rộn hơn, lấy đâu ra thời gian nhàn rỗi?

Bành trưởng lão cười, nói:

– Lão đệ, chẳng lẽ lão đệ không tin ca ca ư?

Lão khất cái gầy không nói gì, chỉ xì mũi, rõ ràng không tin. Dương Quá nghĩ: "Thiên hạ vốn chỉ có một Cái Bang, không phân chia Nam Bắc, lão ta muốn thành lập Cái Bang Nam phái, tức là giúp bọn Mông Cổ làm trò ma."

Lão khất cái gầy nói:

– Bành trưởng lão, đại ca đã đáp ứng truyền thụ, sớm muộn gì cũng thế. Đại ca cứ thoái thác, khiến đệ thất vọng lắm.

Bành trưởng lão hỏi:

– Vậy huynh đệ định làm gì ta?

Lão khất cái gầy nói:

– Đệ đâu dám làm gì? Có điều là đệ võ công thấp kém, lá gan lại nhỏ, không có tuyệt kỹ gì mà đòi theo đại ca đi đánh lừa chúng huynh đệ, lỡ Hoàng bang chủ, Lỗ bang chủ truy cứu, đệ mới nghĩ đến đã run sợ, thì còn làm được trò trống gì nữa?

Dương Quá nghĩ: "Lão gầy không có gì đáng ngại. Còn Bành trưởng lão thì ôm chí lớn, tâm địa tàn ác, vừa gian hoạt vừa hồ đồ".

Bành trưởng lão cười ha hả, nói:

– Việc ấy cứ thong thả tính, huynh đệ đừng cả nghĩ.

Lão khất cái gầy im lặng, một lát sau mới nói:

– Cái đùi hoẵng ăn chưa no, để đệ ra ngoài kiếm món gì về ăn.

Rồi gỡ cung tên trên vách, mở cửa đi ra.

Dương Quá ra bên vách, nhìn qua khe, thấy lão gầy vừa ra ngoài, thì Bành trưởng lão liền đứng dậy, rút đoản đao, nấp sau cánh cửa, nghe tiếng bước chân của lão gầy đi xa rồi, mới len lén đi theo. Dương Quá cười nói với Tiểu Long Nữ:

– Hai tên gian đồ sẽ tự giết nhau, ta đỡ tốn công. Lão mập lợi hại hơn hẳn, lão gầy nhất định không thể địch nổi.

Tiểu Long Nữ nói:

– Tốt nhất là cả hai lão không quay trở lại, để ngôi nhà này được bình yên, không bị kẻ khác quấy nhiễu.

Dương Quá nói:

– Đúng vậy.

Đột nhiên chàng hạ giọng nói nhỏ:

– Có tiếng chân.

Chỉ nghe từ mé tây có người đi vòng sườn núi tới sau nhà. Dương Quá mỉm cười, nói:

– Lão gầy trở lại tính đánh lén.

Chàng đẩy song cửa nhẹ nhàng nhảy ra, quả nhiên thấy lão gầy đang dán người vào vách nhìn vào nhà qua khe hở. Lão ta không nhìn thấy lão mập đâu, tựa hồ do dự. Dương Quá bước đến sau lưng lão ta, cười một tiếng.

Lão gầy bị bất ngờ, vội ngoảnh đầu, tưởng Bành trưởng lão đến sau lưng, sắc mặt đầy vẻ hoảng sợ.

Dương Quá cười, nói:

– Đừng sợ, đừng sợ.

Chàng giơ tay điểm ba huyệt ở ngực, bên sườn và dưới đùi lão ta, vác lão ta ra cửa, đưa mắt nhìn tuyết trắng mênh mông, bỗng nổi tính nghịch ngợm trẻ con, gọi:

– Long nhi, mau ra đây giúp ta đắp người tuyết.

Chàng vốc tuyết đắp quanh người lão gầy. Tiểu Long Nữ từ gian trong chạy ra, hai người vừa cười hi hi ha ha vừa làm, chẳng mấy chốc lão gầy đã bị tuyết phủ kín. Trừ cặp mắt còn có thể chuyển động đưa qua đưa lại, lão ta đã biến thành một người tuyết khổng lồ.

Dương Quá cười, nói:

– Lão già gầy đen này trong giây lát đã trở nên mập ú và trắng trẻo.

Tiểu Long Nữ cười, nói:

– Thế còn cái lão mập và trắng, chàng định biến thành thế nào đây

Dương Quá chưa trả lời, đã nghe tiếng bước chân từ xa, bèn nói nhỏ:

– Lão mập quay lại đấy, chúng mình trốn đi thôi.

Hai người trở vào gian trong, khép cửa lại. Tiểu Long Nữ lay bé Quách Tương cho nó khóc, miệng thì giả vờ dỗ:

– Con ngoan của mẹ, đừng khóc nào, nín đi nào!

Nàng cả đời chưa từng dối trá, cái trò đánh lừa quái quỷ này nàng không thể nghĩ ra, nhưng thấy Dương Quá vui vẻ, nàng cũng đùa theo.

Bành trưởng lão trở về, lần theo dấu chân trên tuyết, thấy vết chân của lão gầy cứ loanh quanh, rõ ràng hắn mai phục đâu đây. Theo dấu chân trên tuyết, Bành trưởng lão đi tới sau nhà, rồi lại vòng ra trước cửa. Dương Quá và Tiểu Long Nữ từ gian trong qua kẽ vách nhìn ra, thấy lão ta cúi người nhìn trộm vào trong nhà, tay phải lăm lăm cây đoản đao, toàn thần phòng bị. Lão gầy toàn thân bị tuyết phủ kín, rét thấu xương, nhìn Bành trưởng lão đứng ngay trước mặt mình mà vẫn không phát giác được, chỉ cần giơ tay là đủ đánh trúng chỗ yếu hại trên người lão kia, khốn nỗi lão đã bị điểm huyệt, đâu có thể cử động?

Bành trưởng lão thấy trong nhà không người, lấy làm lạ, đẩy cửa vào, đang định tìm xem lão gầy nấp ở đâu, bỗng từ xa vọng đến tiếng bước chân. Bành trưởng lão bèn nép mình vào sau cánh cửa, chờ lão gầy trở về.

Dương Quá và Tiểu Long Nữ đều kinh ngạc, lão gầy rõ ràng đã biến thành người tuyết, sao lại thế?

Chắc là có người khác chăng? Đang ngẫm nghĩ, đã nghe ra có hai vị khách mới đến. Khi hai người kia tới gần, Bành trưởng lão mới giật mình. Chỉ nghe bên ngoài có người lên tiếng:

– A Di Đà Phật, bần tăng gặp tuyết dày trong núi, xin thí chủ cho tạm trú một đêm.

Bành trưởng lão bước ra, thấy có hai lão tăng, một vị lông mày trắng rủ dài, thần sắc hiền từ, vị kia thấp nhỏ hơn nhiều, để râu, mặc bộ đồ màu đen, tuy giữa tháng Chạp giá rét, y phục của hai vị lão tăng đều mỏng manh.

Bành trưởng lão còn đang sững sờ, thì Dương Quá đã từ gian trong bước ra, nói:

– Mời hai vị đại hòa thượng vào nhà nghỉ ngơi.

Lúc này Bành trưởng lão bỗng nhận ra lão gầy đã biến thành người tuyết, thì vô cùng kinh dị, không hiểu thế nào, nhìn sang Dương Quá, thấy chàng tỉnh khô, tựa hồ không biết gì.

Dương Quá mời hai vị lão tăng vào nhà, nghĩ: "Hai vị hòa thượng này không phải hạng tầm thường, nhất là hắc y lão tăng tướng mạo hung ác, mắt lộ dị quang, chỉ e cùng một hạng người như Bành trưởng lão." Chàng nói:

– Đại hòa thượng, các vị nghỉ lại ở đây, tệ xá nghèo hèn, không có giường đề các vị nằm, không biết hai vị có muốn dùng món thịt rừng hay chăng?

Bạch mi lão tăng chắp tay, nói:

– Tội quá, tội quá, bần tăng có mang theo lương khô, không dám phiền thí chủ.

Dương Quá nói:

– Thế thì càng hay.

Chàng đi vào gian trong, ghé tai Tiểu Long Nữ nói nhỏ:

– Hai lão hòa thượng có lẽ vào hàng đại cao thủ.

Tiểu Long Nữ cau mày, nói nhỏ:

– Trên đời ác nhân quá nhiều, giữa chốn thâm sơn cũng chẳng được yên lành.

Dương Quá nhìn qua kẽ vách, thấy bạch mi lão tăng lấy từ trong cái bọc sau lưng ra bốn cái bánh khô, đưa cho hắc y lão tăng hai cái, còn mình cầm hai cái, bắt đầu nhai chầm chậm. Dương Quá nghĩ: "Bạch mi lão tăng thần sắc hiền hòa, cử chỉ an tường, chắc là một vị cao tăng đắc đạo, nhưng trên đời có quá nhiều kẻ mặt hiền tâm ác, như Bành trưởng lão kia, trông tươi cười thế mà xem ra còn hung ác hơn cả hắc y lão tăng cũng nên".

Đang nghĩ, bỗng nghe tiếng khua loảng xoảng, hắc y lão tăng lôi từ trong bọc ra một bộ xiềng xích bằng sắt màu đen. Bành trưởng lão đang ngồi trên ghế vội bật dậy, tay đặt lên cán đao. Hắc y lão tăng chẳng để ý gì để Bành trưởng lão, xiềng hai chân mình lại, rồi xích luôn cả hai tay mình. Dương Quá và Bành trưởng lão kinh ngạc vạn phần, không hiểu hắc y lão tăng xiềng xích tay chân mình là có dụng ý gì, nhưng như thế thì giảm hẳn sự đề phòng đối với hắc y lão tăng.

Bạch mi lão tăng tỏ ra quan hoài, hỏi nhỏ:

– Lại sắp phát tác?

Hắc y lão tăng đáp:

– Đệ tử suốt dọc đường cứ cảm thấy ngứa ngáy, có lẽ lại sắp phát tác.

Đột nhiên y quì xuống đất, hai tay chắp lại, miệng niệm:

– Cầu Phật tổ từ bi.

Rồi gục đầu, cong lưng, quì bất động hồi lâu, sau đó thân hình run run, hơi thở hổn hển thành tiếng, cuối cùng thở hồng hộc như trâu, khiến vách gỗ rung rung, tuyết ở mái hiên cũng rơi xuống lả tả. Bành trưởng lão cố nhiên kinh dị vô cùng, Dương Quá và Tiểu Long Nữ cũng kinh ngạc nhìn nhau, không biết hắc y lão tăng làm trò gì, nghe tiếng thở thì tựa hồ thể xác y đang vô cùng đau đớn. Dương Quá vốn có ý căm ghét y, lúc này bất giác cảm thấy thương hại, nghĩ: "Không biết lão ta bị căn bệnh quái ác gì mà Bạch mi lão tăng cứ mặc kệ lão ta như vậy?"

Lát sau, hơi thở của hắc y lão tăng càng gấp gáp hơn, như thể sắp bị hụt hơi. Bạch mi lão tăng chậm rãi nói:

– Không nên làm cứ làm, việc nên làm chẳng làm, lửa hối hận thiêu đốt, chính giác bắt đầu từ đây..

Đó là mấy câu kệ, được Bạch mi lão tăng đọc lầm rầm giữa tiếng thở như kéo bễ của hắc y lão tăng, mà mọi người nghe vẫn rõ từng lời. Dương Quá kinh ngạc: "Lão hòa thượng này nội công thâm hậu, thế gian có ai sánh kịp?" Chỉ nghe Bạch mi lão tăng đọc tiếp:

– Kẻ có tội biết hối, hối rồi không tái phạm, thì tâm an lạc..

Bạch mi lão tăng đọc xong câu kệ, hắc y lão tăng ngừng thở như kéo bễ, ngây người ngẫm nghĩ, lẩm bẩm:

– Kẻ có tội biết hối, hối rồi không tái phạm.. Sư phụ, đệ tử hiểu rõ nhiều việc trong quá khứ là tội nghiệt, tự mình đau khổ phiền não vô cùng. Nhưng thủy chung tâm vẫn không an lạc, thì phải làm sao đây?

Bạch mi lão tăng nói:

– Phạm tội biết hối, vốn đã là khó. Người không phải thánh hiền, ai chẳng có lỗi? Có lỗi biết sửa, không gì thiện bằng.

Dương Quá nghe đến đây, bỗng nghĩ: "Quách bá bá đặt cho ta cái tên Quá, ngụ ý phải sửa lỗi, vì có lỗi biết sửa, không gì thiện bằng. Không lẽ vị lão hòa thượng này là thánh tăng, hôm nay đến đây giáo hóa cho mình chăng?"

Hắc y lão tăng nói:

– Đệ tử ác căn khó trừ. Mười năm trước, đệ tử đã qui y theo học sư phụ, vẫn còn đả thương ba người. Hôm nay máu nóng trong người sôi sục, khó tự kiềm chế, chỉ sợ lại phạm đại tội, xin sư phụ từ bi hãy chặt đứt hai tay của con đi.

Bạch mi lão tăng nói:

– Thiện tai thiện tai! Ta có thể chặt đứt hai tay cho con, nhưng ác niệm trong tâm con vẫn còn, vậy con phải tự diệt trừ ác niệm đã; nếu không dù chặt hai tay rồi, cũng chẳng ích gì.

Hắc y lão tăng toàn thân xương cốt kêu răng rắc, đột nhiên khóc òa lên đau đớn, nói:

– Sư phụ hãy tìm cách cứu con, con không thể tự diệt trừ ác niệm.

Bạch mi lão tăng thở dài, nói:

– Trong tâm ngươi đầy sự thù hận, tuy biết hành vi quá khứ sai trái, nhưng vì thiếu lòng nhân ái, cho nên khó tự diệt trừ ác niệm. Để ta kể câu chuyện "Phật thuyết lộc mẫu kinh" (Phật đọc kinh hươu mẹ) cho ngươi nghe.

Hắc y lão tăng nói:

– Đệ tử xin lắng nghe.

Rồi ngồi theo lối kiết già. Dương Quá và Tiểu Long Nữ ở gian trong cũng dỏng tai nghe.

Bạch mi lão tăng kể:

– Ngày ấy có một con hươu mẹ sinh được hai con hươu con. Hươu mẹ không cẩn thận, bị người thợ săn bắt được. Người thợ săn định làm thịt nó. Hươu mẹ khấu đầu van xin: "Tôi mới sinh hai đứa con, chúng quá nhỏ chưa biết gì, chưa thể tự tìm thức ăn nước uống. Tôi xin người cho tôi sống thêm một giờ, để tôi về dạy cho hai đứa con biết cách tự tìm thức ăn, rồi tôi sẽ trở lại đây chịu chết". Người thợ săn không cho, hươu mẹ khẩn khoản van xin, người thợ săn động lòng, thả cho nó đi. Hươu mẹ tìm hai con, âu yếm với chúng, mừng mừng tủi tủi, nói: "Mọi sự yêu thương đoàn tụ đều do nhân duyên, đoàn tụ rồi sẽ biệt li, không có gì trường cửu. Mẹ sắp phải xa hai con mất rồi". Hai hươu con quá nhỏ, chưa hiểu gì. Thế là hươu mẹ dẫn hai hươu con đi, chỉ cho chỗ cỏ non nước sạch, ứa nước mắt, nói: "Mẹ đi không cẩn thận, sa vào bẫy thợ săn, hôm nay bị làm thịt, thân mẹ lẽ chẳng còn. Thương con mẹ xin về, giờ mẹ phải đi thôi. Tội nghiệp hai con phải mồ côi sớm, hai con cố mà sống".

Tiểu Long Nữ nghe đến đây nghĩ mình còn sống chẳng được bao lâu, nước mắt ứa ra. Dương Quá biết câu chuyện Bạch mi lão tăng đang kể chỉ là ngụ ngôn nhà Phật, song cũng hết sức cảm động về tình mẫu tử bi thiết. Lại nghe Bạch mi lão tăng kể tiếp:

– Hươu mẹ nói xong thì vĩnh biệt hai con. Hai con hươu con kêu khóc cứ chạy theo mẹ, tuy chúng quá nhỏ, chạy không nhanh, luôn vấp ngã, nhưng ngã rồi lại dậy, không chịu rời mẹ. Hươu mẹ dừng chân, ngoảnh đầu, nói:

– Hai con chớ chạy theo mẹ nữa, người thợ săn mà trông thấy, thì ba mẹ con ta sẽ phải chết cả đó. Mẹ cam lòng chịu chết, nhưng mẹ thương hai con còn nhỏ. Thế gian vô thường, đều có biệt li. Mẹ bạc mệnh, để hai con phải mồ côi sớm.

Nói xong hươu mẹ chạy nhanh đến chỗ người thợ săn. Hai con hươu con thèm sữa mẹ, không sợ cung tên của thợ săn, cứ chạy theo đến. Người thợ săn thấy hươu mẹ giữ chữ tín, xả thân chịu chết, thành tâm thương con, hơn cả loài người, nhìn ba mẹ con con hươu quyến luyến không rời, thì động lòng trắc ẩn, tha không giết hươu. Ba mẹ con con hươu mừng mừng tủi tủi đa tạ người thợ săn.

Người thợ săn đem chuyện đó tâu lên nhà vua, nhà vua bèn hạ chiếu cấm săn hươu từ đó.

Hắc y lão tăng nghe xong câu chuyện, nước mắt chan hòa, nói:

– Loài hươu thủ tín trọng nghĩa, mẹ hiền con ngoan, đệ tử không bằng cái móng chân của chúng.

Bạch mi lão tăng nói:

– Từ tâm trỗi dậy, sát nghiệp tiêu tan.

Nói rồi nhìn sang phía Bành trưởng lão ở bên cạnh, tựa hồ cũng muốn khuyên hắn như vậy. Hắc y lão tăng đáp:

– Vâng!

Bạch mi lão tăng nói:

– Muốn chuộc lỗi lầm, chỉ có hành thiện. Cứ hối hận khổ sở về tội lỗi trong quá khứ, chẳng bằng từ nay trở đi mau làm nhiều việc thiện.

Đoạn thở dài, tiếp:

– Cũng như ta đây, trong cuộc đời mình cũng từng có không ít lỗi lầm.

Nói xong nhắm mắt trầm tư.

Hắc y lão tăng dường như cũng ngộ ra, nhưng tính nóng nảy trong tâm cuối cùng rất khó kiềm chế, ngẩng đầu lên, thấy Bành trưởng lão vừa cười vừa chằm chằm nhìn mình, ánh mắt rất lạ. Hắc y lão tăng ngẩn ra, hình như đã gặp người này ở đâu đó rồi, cảm thấy ánh mắt hắn khiến mình rất khó chịu, vội ngoảnh mặt đi, nhưng lát sau không cưỡng được, lại ngoảnh nhìn hắn. Bành trưởng lão cười, nói:

– Tuyết rơi đẹp quá phải không?

Hắc y lão tăng nói:

– Phải, tuyết dày và đẹp.

Bành trưởng lão nói:

– Hai ta ra xem cảnh tuyết đi.

Đoạn mở cửa. Hắc y lão tăng nói:

– Được, ta ra xem cảnh tuyết.

Y đứng dậy, theo ra cửa, đứng kề bên Bành trưởng lão. Dương Quá tuy ở cách bức vách, cũng cảm thấy nhãn quang của Bành trưởng lão rất lạ, trong lòng bất an.

Bành trưởng lão nói:

– Sư phụ của hòa thượng nói rất đúng, hoàn toàn không nên giết người, nhưng kình lực toàn thân của hòa thượng đang dồi dào, nếu không động thủ với ai thì khó chịu trong người lắm phải không?

Hắc y lão tăng mơ hồ đáp:

– Đúng thế!

Bành trưởng lão nói:

– Hòa thượng cứ việc phát chưởng đánh vào người tuyết kia, chẳng có tội lỗi gì hết.

Hắc y lão tăng nhìn người tuyết, song chưởng nhăm nhăm chỉ muốn đánh thử. Từ lúc hai lão tăng đến đây đã nửa canh giờ, lão khất cái gầy bị tuyết phủ kín, hai mắt đã nhắm nghiền. Bành trưởng lão nói:

– Hòa thượng hãy giáng cả song chường vào người tuyết! Đánh đi nào! Đánh đi!

Lời lẽ nhẹ nhàng đầy ý dẫn dụ. Hắc y lão tăng vận lực ra hai cánh tay, nói:

– Được, ta đánh này!

Bạch mi lão tăng ngẩng đầu lên, thở dài não nề, lẩm bẩm:

– Sát cơ đã nổi, nghiệp chướng tất sinh.

Chỉ nghe rầm một tiếng, Hắc y lão tăng song chưởng cùng giáng, tuyết trắng bay tứ tung. Lão khất cái gầy bị trúng chưởng vào người, chấn động huyệt đạo, rú lên một tiếng "Ối!" thảm thiết, vang vọng. Tiểu Long Nữ khẽ kêu lên, tay nắm lấy bàn tay Dương Quá.

Hắc y lão tăng cả kinh, thốt lên:

– Ôi, trong tuyết có người!

Bạch mi lão tăng chạy ra, cúi xem. Lão gầy bị trúng thiết chưởng cực mạnh của Hắc y lão tăng, đã chết tươi. Hắc y lão tăng sợ hết hồn, đứng ngay như phỗng.

Bành trưởng lão giả vờ lấy làm lạ, nói:

– Người kia lạ quá, sao lại đi nấp vào trong tuyết cơ chứ? Mà này, trong tay hắn vẫn lăm lăm cây đao.

Bành trưởng lão đã dùng môn Nhiếp hồn đại pháp xúi hắc y lão tăng giết được lão gầy, trong bụng rất đắc ý, song cũng không khỏi lấy làm lạ: "Sức chịu đựng của hắn cũng ghê thật, hắn đứng lâu thế trong tuyết, không thèm cựa quậy, chẳng lẽ tuyết đút nút kín tai, nên hắn không nghe thấy ta xúi người đánh hắn."

Hắc y lão tăng gọi:

– Sư phụ!

Rồi trố mắt nhìn. Bạch mi lão tăng nói:

– Oan nghiệt, oan nghiệt. Người này chết không phải bởi ngươi, nhưng cũng là đã bị ngươi giết.

Hắc y lão tăng gục đầu xuống tuyết, giọng run rẩy:

– Đệ tử không hiểu.

Bạch mi lão tăng nói:

– Ngươi tưởng đó là người tuyết, vốn không có ý giết người. Nhưng chưởng lực của ngươi ác mãnh, khi xuất chưởng, chẳng lẽ không có dụng tâm sát nhân?

Hắc y lão tăng nói:

– Đệ tử quả có dụng tâm sát nhân.

Bạch mi lão tăng nhìn Bành trưởng lão chăm chăm một hồi, mục quang nhu hòa, đầy lòng từ bi, cái nhìn ấy làm cho môn Nhiếp hồn đại pháp của Bành trưởng lão mất hết tác dụng. Hắc y lão tăng đột nhiên kêu to:

– Mi là.. là trưởng lão Cái Bang, ta nhớ ra rồi.

Cái thần sắc hớp hồn của Bành trưởng lão đã biến mất tăm, đôi mày cau cau, nói:

– Còn các hạ là Cầu bang chủ bang Thiết Chưởng, tại sao lại đi tu?

Hắc y lão tăng chính là bang chủ bang Thiết Chưởng Cầu Thiên Nhẫn. Năm nọ trên đỉnh Hoa Sơn đốn ngộ tội lỗi đã làm, qui y làm môn hạ của Nhất Đăng đại sư. Còn vị Bạch mi lão tăng thì chính là Nhất Đăng đại sư, nhân vật lừng danh ngang với Vương Trùng Dương, Hoàng Dược Sư, Âu Dương Phong và Hồng Thất Công. Cầu Thiên Nhẫn sau khi qui y, lấy pháp danh Từ Ân, thành tâm qui Phật, nỗ lực tu vi, có điều quá khứ tội lỗi quá nhiều, ác căn trong tâm khó trừ hết, khi bị ngoại dụ quá mạnh, không tránh khỏi xuất thủ giết người; vì thế y phải làm một bộ xiềng xích, để khi nào chân tay ngứa ngáy muốn động thủ, thì tự xiềng xích lại để khỏi hành ác. Vừa rồi Nhất Đăng đại sư đang ẩn cư ở vùng Hồ Quảng thì nhận được thư cầu cứu của đệ tử Chu Tử Liễu, bèn đem Từ Ân đi Tuyệt Tình cốc. Không ngờ đến đây thì gặp Bành trưởng lão, Từ Ân vô ý lại giết chết người. Từ Ân từ khi xuất gia, đã hơn mười năm tuy có phạm giới luật, nhưng giết người thì đây là lần đầu, nhất thời tâm trí rối bời, hoang mang, chỉ cảm thấy công phu tu vi mười năm hóa thành mây khói. Y hầm hầm nhìn Bành trưởng lão, mắt như tóe lửa.

Nhất Đăng đại sư biết đã đến thời khắc nghiêm trọng, nếu không dùng vũ lực cưỡng chế Từ Ân, ác niệm trong tâm y dồn tích càng nhiều, cuối cùng sẽ tràn ra như vỡ đê, khó bề thu thập; chỉ mong sao thiện niệm tăng tiến, ác niệm tiêu giảm, thì y mới có thể bớt được nghiệt chướng. Nhất Đăng đại sư đứng cạnh Từ Ân, miệng niệm khe khẽ:

– A Di Đà Phật, A Di Đà Phật!

Niệm đến lần thứ mười, thì mục quang của Từ Ân mới rời khỏi thân hình Bành trưởng lão, y đi vào trong nhà, ngồi xuống, lại thở dốc như kéo bễ.

Bành trưởng lão sớm biết Cầu Thiên Nhẫn võ công trác tuyệt, song hắn không nhận ra Nhất Đăng đại sư, thấy vị đại sư lông mày trắng như tuyết, quá hiền từ, thì chẳng để tâm, dùng môn Nhiếp hồn đại pháp để sai khiến Cầu Thiên Nhẫn làm theo ý hắn, nào ngờ Nhất đăng đại sư chiếu mục quang tới, khiến đầu óc hắn như bị sức nặng ngàn cân đè xuống, hắn không thể tiếp tục thi thố pháp thuật, lập tức hoảng sợ, chưa biết làm sao; nếu bỏ chạy, gã Cầu Thiên Nhẫn hiệu xưng "Thiết chưởng thủy thượng phiêu" kia khinh công dị thường, vết chân hằn trên tuyết rành rành, hắn có chạy đằng trời cũng không thoát. Hắn chỉ mong Cầu Thiên Nhẫn nghe lời khuyên hành thiện của Nhất Đăng đại sư, không gây khó dễ cho hắn. Hắn co ro trong một góc nhà, lòng bồn chồn bất an. Từ Ân vẫn thở dốc, tim y đập càng dồn dập hơn.

Dương Quá nghe Nhất Đăng đại sư kể chuyện ba mẹ con con hươu, nghĩ mọi sinh vật đều muốn sống, không muốn chết; lão khất cái gầy tuy tà ác, chết chưa đền hết tội, nhưng bất ngờ bị thảm tử như thế, kể cũng tội nghiệp. Mà chưởng lực của gã hòa thượng này rất ghê gớm, không biết gã là ai mà võ công cao cường như vậy.

Từ Ân thở hổn hển, nói to:

– Sư phụ, đệ tử vốn là ác nhân, ông trời không cho đệ tử hối lỗi. Đệ tử tuy vô ý giết người, song rốt cuộc vẫn không tránh khỏi việc giết người, đệ tử không tu hành gì nữa!

Nhất Đăng đại sư nói:

– Tội quá, tội quá. Để ta kể thêm một đoạn kinh Phật cho con nghe.

Từ Ân nói:

– Còn nghe kinh Phật làm gì kia chứ? Sư phụ đánh lừa đệ tử mười mấy năm rồi, đệ tử không tin thêm nữa đâu.

"Cách cách" hai tiếng, xiềng xích chân tay y đã bị y vặn gãy. Nhất Đăng đại sư dịu dàng nói:

– Từ Ân, việc gì đã qua, cũng đừng phiền não.

Từ Ân đứng dậy, lắc đầu với Nhất Dăng đại sư, đột nhiên xoay mình, song chưởng cùng xuất, đẩy mạnh tới ngực Bành trưởng lão, "rầm" một tiếng lớn, Bành trưởng lão văng vào vách gỗ mà bay ra ngoài. Đòn thiết chưởng này dĩ nhiên khiến hắn gãy xương nát cốt có mười cái mạng cũng mất cả mười.

Dương Quá và Tiểu Long Nữ nghe tiếng giật mình, cầm tay nhau từ gian trong bước ra, thấy Từ Ân hai tay còn giơ cao, mắt lộ hung quang, quát họ:

– Các người nhìn gì? Hôm nay đã trót thì trét, lão phu phải đại khai sát giới mới được!

Nói rồi vận kình ra cánh tay, sắp sửa sử dụng Thiết chưởng công.

Nhất Đăng đại sư bước tới chắn trước mặt Dương, Long hai người, ngồi xếp bằng dưới đất, miệng niệm Phật hiệu, nói:

– Đường mê đi chưa xa, hãy mau quay trở lại. Từ Ân, Từ Ân, không lẽ con muốn chìm vào cảnh ngộ vạn kiếp không được hồi sinh?

Từ Ân sắc mặt cứ lúc xanh lúc đỏ, tâm thần hoàn toàn rối loạn, thiện niệm và ác niệm không ngừng giao chiến. Hôm nay khi đi ngoài trời mưa tuyết, tâm y đã nôn nóng, tay chân ngứa ngáy, bị môn Nhiếp hồn đại pháp sai khiến, y giết liền hai người, không thể kiềm chế được nữa. Bây giờ trước mắt y, Nhất Đăng đại sư có lúc là ân sư cứu trợ y, có lúc lại biến thành đại cừu nhân chống đối y.

Tình thế căng như dây đàn, ác niệm trong tâm càng lúc càng thắng thế, đột nhiên Từ Ân phóng chưởng về phía Nhất Đăng đại sư. Nhất Đăng đại sư đưa tay chếch trước ngực, thân mình hơi nghiêng, gạt đỡ chưởng đó. Từ Ân nổi giận, nói:

– Sư phụ nhất định không đánh trả phải không?

Tay trái y lại phóng một chưởng, Nhất Đăng đại sư giơ tay đỡ, vẫn không đánh trả.

Từ Ân quát:

– Sư phụ giả bộ hiền từ làm gì? Mau trả đòn đi. Nếu không trả đòn, sư phụ có uổng mạng thì chớ trách đệ tử.

Y tuy thần trí hỗn loạn, nhưng nói mấy câu vừa rồi rất tỉnh táo. Công phu Thiết chưởng của y so với Nhất dương chỉ của Nhất Đăng đại sư cũng ngang ngửa, từng lừng danh võ lâm như nhau. Tu vi Phật học của Nhất Đăng đại sư thì thừa sức làm sư phụ y, nhưng nói về võ công, nếu toàn lực thi triển Nhất dương chỉ, có thể thắng công phu Thiết chưởng một, hai chiêu thức; song nếu chỉ đỡ đòn, không đánh trả, thì lâu dần dù không mất mạng cũng bị trọng thương.

Nhất Đăng đại sư đã ôm hoài bão đại dũng là xả thân độ nhân, thà chịu đòn Thiết chưởng, chứ không đánh trả, chỉ mong cuối cùng Từ Ân sẽ hối ngộ. Đây hoàn toàn không phải là sự tỷ thí nội lực võ công mà là cuộc đấu giữa thiện niệm với ác niệm. Dương Quá và Tiểu Long Nữ thấy Thiết chưởng của Từ Ân cứ giáng tới Nhất Đăng đại sư như búa bổ, đến chưởng thứ mười bốn, thì Nhất Đăng đại sư hộc ra một ngụm máu tươi. Từ Ân sững lại, quát:

– Sư phụ chưa chịu đánh trả hay sao?

Nhất Đăng đại sư nhẹ nhàng nói:

– Hà tất ta phải đánh trả ngươi? Ta đánh thắng ngươi để làm gì? Ngươi đánh thắng ta thì được cái gì? Hãy thắng chính mình, khắc chế chính mình!

Từ Ân lẩm bẩm:

– Hãy thắng chính mình, khắc chế chính mình!

Câu nói của Nhất Đăng đại sư như tiếng sấm vang trong lòng Dương Quá. Chàng nghĩ: "Muốn thắng cái tính tùy tiện của chính mình, khắc chế vọng niệm của chính mình quả khó hơn việc đánh thắng cường địch! Câu nói của vị cao tăng này thật là câu danh ngôn chí lý." Thấy song chưởng của Từ Ân sững lại giữa chừng một chút, rồi lại giáng xuống. Nhất Đăng đại sư né người, lại hộc ra một ngụm máu tươi, hoen ố cả chòm râu bạc và chiếc tăng bào.

Dương Quá nhìn thủ pháp tiếp chiêu và sức chịu đựng của Bạch mi lão tăng, biết võ công của người này cao hơn hắc y lão tăng, nhưng cứ nhất mực chịu đòn, thì thân thể có là sắt đá cuối cùng cũng bị hủy hoại. Lúc này đối với Nhất Đăng đại sư chàng đã vô cùng thán phục, biết người này xả thân giáo hóa kẻ khác, song chàng không thể để Nhất Đăng đại sư phải bỏ mạng, nghĩ chỉ dùng một tay, chàng không thể chống chọi Thiết chưởng của hắc y lão tăng, bèn cầm lấy thanh Huyền thiết trọng kiếm, tiến ra, chờ lúc Từ Ân giáng chưởng tới thì giơ kiếm đâm thẳng.

Huyền thiết kiếm tạo một luồng kình phong đụng với chưởng phong của Từ Ân, cả hai người thân hình đều hơi loạng choạng.

Từ Ân hừ một tiếng, không thể ngờ một gã thợ săn trẻ tuổi giữa chốn rừng núi hoang vu lại có võ công cao cường như vậy. Nhất Đăng đại sư nhìn Dương Quá một cái, cũng mười phần kinh ngạc. Từ Ân gằn giọng nói:

– Mi là ai? Làm nghề gì?

Dương Quá nói:

– Tôn sư hảo ngôn khuyên can, tại sao đại sư chấp mê không ngộ? Không chịu nghe lời vàng ngọc thì thôi, cớ sao đại sư lấy oán báo đức, dám hạ độc thủ với tôn sư? Làm người như thế, không bằng cầm thú!

Từ Ân cả giận, quát:

– Mi cũng là Cái Bang, cùng một hạng người lén lén lút lút như gã trưởng lão ban nãy phải không?

Dương Quá cười, nói:

– Hai lão kia là hai kẻ bại hoại trong Cái Bang, đại sư trừ ác tức là hành thiện, hà tất phải hối hận?

Từ Ân sững sờ, lẩm bẩm:

– Trừ ác tức là hành thiện.. Trừ ác tức là hành thiện..

Dương Quá ở gian trong nghe sư đồ y đối đáp, đã lờ mờ hiểu tâm sự của y, biết y vì hối hận mà hóa ra căm hận, nên ác niệm trỗi dậy; chàng lại nói:

– Hai kẻ kia là phản đồ Cái Bang, dẫn voi về giày mả tổ, đem giang sơn Đại Hán ta bán rẻ cho dị tộc. Đại sư giết hai kẻ đó là một công đức lớn. Hai kẻ đó không chết, không biết bao nhiêu thiện nam thiện nữ sẽ bị gia phá nhân vong. Ngã Phật tuy từ bi, nhưng gặp ngoại đạo tà ma, cũng sẽ đại hiển thần thông mà diệt trừ đi.

Kiến thức Phật học của Dương Quá chỉ đến thế, rất nông cạn, song Từ Ân nghe rất lọt tai. Y từ từ buông chưởng, nhưng chợt nhớ năm xưa chính y từng nhận sắc phong của Đại Kim, cũng từng giúp dị tộc xâm đoạt giang sơn Đại Tống, câu nói của Dương Quá chẳng khác gì vạch tội y, y bèn phóng chưởng về phía chàng, quát:

– Tên súc sinh nói năng hồ đồ!

Chưởng này vừa nhanh vừa mạnh, Dương Quá chỉ muốn dùng lời lẽ thiệt hơn để khuyên y, không ngờ y lại ra đòn, trong khoảnh khắc chưởng phong đã tới ngực, chàng không kịp vận kình đối kháng, bèn thuận theo chưởng lực của y mà nhảy về đằng sau, rầm một tiếng, vách ván bị thủng toang một khoảng lớn, thân hình Dương Quá bay ra khỏi nhà.

Nhất Đăng đại sư cả kinh, nghĩ: "Không lẽ chàng thiếu niên đã bỏ mạng? Xem chừng võ công của chàng ta rất cao. Ôi, thế là ta không kịp thời cứu mạng chàng ta!" đại sư cảm thấy ân hận.

Bỗng đống lửa trong nhà bị một luồng gió từ bên ngoài thổi mạnh qua lỗ hổng trên vách tràn vào suýt nữa thổi tắt, Dương Quá theo gió bay vào, đâm kiếm về phía Từ Ân, quát:

– Được, hôm nay ta phải dấu với đại sư một phen!

Từ Ân hữu chưởng phách chếch đi, định dùng chưởng lực hất mũi kiếm đi. Nhưng lộ kiếm pháp này của Dương Quá chính là tuyệt kỹ của Độc Cô Cầu Bại, tuy khoảng cách thời gian rất xa về năm tháng, Dương Quá không được đích thân vị tiền bối truyền thụ, nhưng chàng đã luyện kiếm dưới dòng nước lũ, đã nuốt mật rắn tăng lực, được thần điêu trợ giúp, nên kiếm pháp của chàng từa tựa như của Kiếm Ma Độc Cô Cầu Bại vô địch thiên hạ. Từ Ân phách ra một chưởng, mũi kiếm của Dương Quá chỉ chếch đi vài tấc, vẫn chĩa mũi tới cánh tay trái của y. Từ Ân kinh hãi, tránh gấp sang bên phải mới thoát được đòn này, rồi lập tức trả đòn. Hai người cùng vận thần công, kiếm chưởng ác đấu với nhau.

Nhất Đăng đại sư càng nhìn càng lấy làm lạ, nghĩ chàng thiếu niên chỉ hai mươi tuổi, lại có thể đấu ngang ngửa với đệ nhất cao thủ Cầu Thiết chưởng, đại sư kiến văn quảng bác mà sao không nhận biết gia số võ công của chàng ta, thanh kiếm đen kia nặng nề như thế, quả nhiên kỳ diệu. Ngoảnh lại, thấy Tiểu Long Nữ ẵm một đứa bé sơ sinh đứng đó, dung nhan mỹ lệ, thần sắc nhàn nhã, nhìn cuộc ác đấu không chút hoảng sợ, thì nghĩ thầm: "Thiếu nữ này cũng không phải là nhân vật tầm thường". Đại sư thấy ấn đường và nhân trung của nàng lờ mờ một lớp hắc khí, thì buột miệng thốt lên:

– Nguy đó!

Tiểu Long Nữ mỉm cười, nghĩ bụng: "Người này đã nhận biết tình trạng trúng độc của ta".

Lúc ấy hai người một kiếm song chưởng càng đấu càng dữ dội. Dương Quá chiếm lợi thế về binh khí. Từ Ân thì có hơn một cánh tay. Chỉ nghe rầm một tiếng, một tấm ván ở vách bay đi, rồi "rắc" một tiếng, một cây cột nhà bị gãy; ngôi nhà tranh vốn nhỏ, không thật vững chắc, quả không thể chứa nổi cuộc ác chiến giữa hai đại cao thủ. Lưỡi kiếm và chưởng phong tới đâu, ván vách bay loạn xạ, cuối cùng rầm một tiếng lớn, ngôi nhà tranh đổ sụp xuống.

Tiểu Long Nữ bế Quách Tương phi thân qua cửa sổ, Nhất Đăng đại sư đi sau bảo hộ, phất tay áo gạt phăng các mảnh ván vỡ nát.

Gió bấc ù ù, tuyết dày chưa ngừng rơi, cuộc ác đấu của hai người vẫn tiếp diễn. Từ Ân hơn mười năm nay chưa bao giờ đánh nhau sướng tay như hôm nay, càng đánh càng hăng, vừa gầm gừ vừa tung thiết chưởng, đấu hơn trăm chiêu, cảm thấy kình lực của đối phương không ngừng gia tăng, dần dần chống đỡ không nổi.

Dương Quá đang đâm kiếm thẳng trước ngực, thấy đối phương tránh chéo đi, bèn chém ngang, kình phong cuốn tuyết bay lên tung tóe. Từ Ân bị tuyết che lấp hai mắt, vội đưa tay lên gạt tuyết, liền bị Huyền thiết trọng kiếm đè xuống vai bên phải như gánh nặng ngàn cân, y không chịu nổi, khuỵu ngay xuống đất. Mũi kiếm của Dương Quá chĩa ngay giữa ngực, mũi kiếm tuy không nhọn, nhưng lực đạo quá lớn, ép xương ngực xuống, khiến y chỉ thở ra, chứ không hít vào được.

Lúc này Từ Ân vụt thoáng trong đầu một chữ "Chết". Y từ khi luyện thành tuyệt nghệ thần công, tung hoành giang hồ, chỉ có y sát thương người khác, hiếm ai đả thương nổi y. Chỉ một lần y bị Chu Bá Thông đánh bại, phải chạy một mạch đến Tây Vực, cuối cùng khôn khéo dùng kế buộc Chu Bá Thông phải thoái lui. Chưa lần nào y kề cận cái chết như bây giờ. Trước cái chết nhãn tiền, y vô cùng hối hận, nhưng nghĩ một đời hành ác, cuối cùng bỏ mạng ở đây không còn cách gì cứu chuộc. Ngàn vạn lời của Nhất Đăng đại sư vẫn không dẫn dắt được y, nhưng một kiếm này của Dương Quá đủ khiến y nghĩ: "Ta đã giết hại bao nhiêu người, bây giờ đến lượt mình bị người ta giết. Tất cả đều là thảm tử".

Nhất Đăng đại sư thấy Dương Quá đã chế ngự được Từ Ân, nghĩ: "Thật hiếm có một thiếu niên anh kiệt như thế này". Đại sư bước tới, giơ ngón tay điểm nhẹ vào thân kiếm, Dương Quá cảm thấy cánh tay nóng lên, Huyền thiết trọng kiếm lập tức được gạt sang một bên.

Từ Ân đứng lên, rồi lại quì xuống đất, nói:

– Sư phụ, đệ tử tội đáng chết vạn lần, đệ tử tội đáng chết vạn lần!

Nhất Đăng đại sư mỉm cười, đưa tay vỗ nhẹ vào lưng y, nói:

– Đại giác đại ngộ, chẳng dễ chút nào. Còn chưa đa tạ vị tiểu cư sĩ đã giáo huấn cho ngươi.

Dương Quá vốn nghĩ vị lão hòa thượng này là Nhất Đăng đại sư, khi bị đại sư dùng một chỉ gạt kiếm. Công phu Nhất dương chỉ này kỳ diệu giống như Đạn chỉ thần thông của Hoàng Dược Sư, trên thế gian không có người thứ ba có được chỉ lực thế này, chàng liền quì lạy, nói:

– Đệ tử Dương Quá tham kiến đại sư.

Thấy Từ Ân quì lạy chàng, chàng vội hoàn lễ, nói:

– Tiền bối hành lễ thế này, tiểu nhân không dám nhận. Vừa rồi đã đắc tội, xin lượng thứ.

Chàng chỉ Tiểu Long Nữ, nói:

– Đây là hiền thê của đệ tử, nàng họ Long. Long nhi, mau khấu kiến đại sư.

Tiểu Long Nữ ẵm Quách Tương, bước tới hành lễ.

Từ Ân hỏi:

– Đệ tử vừa nãy phát điên, thương thế của sư phụ có nặng lắm không?

Nhất Đăng đại sư mỉm cười, hỏi lại:

– Ngươi đã thấy đỡ chưa?

Từ Ân cảm thấy có tội, ngượng ngùng không biết nói sao.

Bốn người ngồi trên ngôi nhà đổ sập. Dương Quá thuật sơ qua việc chàng đã gặp Võ Tam Thông, Chu Tử Liễu và Điểm Thương Ngư Ẩn ra sao, mình bị trúng độc ở Tuyệt Tình cốc, rồi Thiên Trúc cao tăng và Chu Tử Liễu đi xin giải dược cho chàng bị bắt nhốt thế nào.

Nhất Đăng đại sư nói:

– Ta cùng Từ Ân đi Tuyệt Tình cốc chính vì hai người đó. Tiểu cư sĩ có biết Từ Ân hòa thượng và nữ cốc chủ Tuyệt Tình cốc có quan hệ thế nào không?

Dương Quá từng nghe Bành trưởng lão gọi "Thiết Chưởng bang Cầu bang chủ", bèn nói:

– Từ Ân đại sư tục gia có phải họ Cầu, là Thiết Chưởng bang Cầu bang chủ?

Thấy Từ Ân thong thả gật đầu, chàng nói tiếp:

– Như vậy nữ cốc chủ Tuyệt Tình cốc là lệnh muội.

Từ Ân nói:

– Đúng thế. Muội tử của bần tăng khỏe mạnh chứ?

Dương Quá khó trả lời. Cầu Thiên Xích bị chồng cắt đứt gân mạch tứ chi, thành kẻ tàn phế, thực không thể nói là "vẫn khỏe" được. Từ Ân thấy chàng lưỡng lự thì nói:

– Muội tử của bần tăng tính nết nóng nảy, nếu có bị báo ứng, cũng không phải chuyện lạ.

Dương Quá nói:

– Lệnh muội chỉ có chân tay bị tàn phế, chứ thân thể vẫn khỏe mạnh.

Từ Ân thở dài, nói:

– Bao năm đã qua, mọi người đều già cả rồi.. Ôi, muội tử vốn chỉ trò chuyện với nhị ca..

Nói đến đây, y ngẩn ngơ xuất thần, hồi tưởng chuyện cũ.

Nhất Đăng đại sư biết y trần duyên chưa dứt, vừa rồi sở dĩ y hối ngộ, chỉ là vì lâm vào thời khắc sinh tử khẩn yếu, ác niệm đột nhiên tiêu tan, chứ thực ra nghiệt căn trong tâm y chưa trừ được, sau này gặp ngoại cảm cực mạnh, sẽ dễ dàng phát tác, mình còn sống ngày nào sẽ cố gắng cảm hóa y ngày ấy, tất cả đều nhờ vào duyên pháp mà thôi.

Dương Quá thấy Nhất Đăng đại sư nhìn Từ Ân bằng ánh mắt thương mến, thì nghĩ: "Nhất Đăng đại sư võ công quyết không thua Từ Ân, nhưng thủy chung không đánh trả, ắt có thâm ý. Mình vừa ra tay, e làm hỏng việc". Bèn nói:

– Đại sư, đệ tử ngu muội không hiểu sự việc, vừa rồi khinh cử vọng động, nếu có gì sai trái, xin đại sư chỉ giáo.

Nhất Đăng đại sư nói:

– Lòng người khó biết, có khi Từ Ân đánh chết lão nạp rồi, hắn cũng chưa chắc đã có thể đại triệt đại ngộ, không chừng còn chìm đắm sâu hơn. Tiểu cư sĩ đã cứu sống lão nạp, lại làm cho hắn đang đi giữa đường mê biết quay trở lại, đâu có gì sai trái? Lão nạp thâm cảm thịnh đức.

Rồi quay sang phía Tiểu long Nữ, hỏi:

– Tiểu nương tử bị chất độc ngấm vào nội tạng như thế nào?

Dương Quá nghe câu hỏi, tựa hồ đang trong hầm tối nhìn thấy tia sáng, vội nói:

– Hiền thê của đệ tử sau khi bị thương đang đả thông huyệt mạch để trị liệu, thì bị trúng ám khí cực độc. Đại sư có thể rủ lòng từ bi cứu mạng cho nàng được chăng?

Đoạn chàng quì ngay xuống đất.

Nhất Đăng đại sư đưa tay đỡ chàng dậy, hỏi:

– Đả thông huyệt mạch như thế nào? Nội tức vận hành ra sao?

Dương Quá nói:

– Nàng nghịch vận kinh mạch, có giường hàn ngọc và đệ tử ở bên cạnh trợ giúp.

Nhất Đăng đại sư nghe chàng giải thích, luôn miệng lấy làm lạ, nói:

– Âu Dương Phong đúng là một vị kỳ nhân trong thiên hạ, khai sáng phép nghịch vận kinh mạch, thực là ngoài sức tưởng tượng, mở ra một con đường mới trong võ học.

Đại sư đưa tay bắt mạch hai cổ tay cho Tiểu Long Nữ, vẻ mặt lo lắng, im lặng hồi lâu.

Dương Quá chăm chú nhìn Nhất Đăng đại sư, chỉ mong đại sư nói rằng có thể cứu chữa. Nhãn quang của Tiểu Long Nữ thì thủy chung chỉ nhìn Dương Quá.

Nàng cũng không ngờ mình còn sống được tới ngày hôm nay; nhìn vẻ mặt trầm trọng của Dương Quá lo lắng cho nàng, nàng thong thả nói:

– Sống chết có số, chẳng thể cưỡng cầu. Quá nhi, lo quá hại sức, chàng đừng quá lo.

Nhất Đăng đại sư từ lúc tới đây, bây giờ mới nghe Tiểu Long Nữ nói, giọng nàng ôn nhu, tâm tình bình hòa, đạt quán tri mệnh, thì bất giác sững sờ. Đại sư không biết rằng Tiểu Long Nữ từ nhỏ đã được sư phụ giáo huấn, lòng dạ trong sáng, ít bị sự vật chi phối, đại sư cứ ngỡ cô nương này còn ít tuổi, trúng độc khó chữa, hẳn sẽ lo cuống lên, ai ngờ lời nàng nói ra lại là khẩu khí của một người dày công tu hành, nghĩ: "Đôi phu phụ thiếu niên này đúng là loan phượng trên thế gian, nam thì võ công cao cường, nữ lại tu ngộ sinh tử, càng không dễ có. Ta bình sinh chỉ gặp vợ chồng Quách Tĩnh, Hoàng Dung mới cảm thấy sánh với đôi này, các đệ tử của ta không một ai sánh kịp. Ôi, chỉ tiếc nàng ta trúng độc đã sâu, mà ta thì sau khi bị thương, không thể sử dụng thần công Nhất dương chỉ." Đại sư ngẫm nghĩ một lát, nói:

– Hai vị tuổi còn nhỏ mà tu vi quả thực bất phàm, lão nạp không ngại nói thẳng..

Dương Quá nghe đến đây thì lòng nặng trĩu, tay lạnh ngắt.

Nhất Đăng đại sư nói tiếp:

– Tiểu phu nhân bị chất độc ngấm vào yếu huyệt, lão nạp giá như không bị thương, có thể sử dụng công phu Nhất đương chỉ làm cho chất độc trong cơ thể tạm thời chưa phát tác, sau đó đi tìm linh dược giải độc. Giờ thì.. cũng may tiểu phu nhân nội công thâm hậu, lão nạp có một món thuốc, uống vào bảy ngày bình an. Chúng ta đến Tuyệt Tình cốc tìm sư đệ của lão nạp..

Dương Quá vỗ đùi đứng dậy, reo lên:

– Ôi đúng rồi, Thiên Trúc thần tăng có bản lĩnh trị độc xuất thần nhập hóa, ắt sẽ có cách giải độc.

Nhất Đăng đại sư nói:

– Nếu sư đệ của lão nạp cũng không thể cứu thì đó là do số mệnh. Trên đời có đứa bé sơ sinh đã phải chết; tiểu phu nhân thì sau khi lấy chồng mới bị bệnh bất trị, không thể coi là yểu.

Nói đến đây đại sư nhớ lại đứa bé sơ sinh của Chu Bá Thông và Lưu quí phi, chỉ vì mình ghen tức mà sinh hận, không chịu trị thương cho nó, cuối cùng nó bị chết. Kẻ đả thương đứa bé ấy chính là Từ Ân.

Dương Quá mở to mắt nhìn Nhất Đăng đại sư, nghĩ: "Long nhi có được chữa khỏi hay không chưa rõ, tại sao đại sư chẳng nói cho một câu an ủi". Dương Quá cười nhạt, nói:

– Đại sư nói chí phải.

Nàng nhìn các bông tuyết rơi lả tả quanh mình, nói:

– Các bông tuyết này rơi xuống, trắng xiết bao, đẹp xiết bao; vài hôm sau có nắng, các bông tuyết đã chẳng còn tung tích đâu nữa. Đến mùa đông sang năm, lại có rất nhiều bông tuyết rơi, chỉ khác đó không phải là các bông tuyết hôm nay mà thôi.

Nhất Đăng đại sư gật đầu, nhìn Từ Ân, hỏi:

– Ngươi có hiểu không?

Từ Ân gật đầu, nghĩ bụng nắng lên tuyết tan, mùa đông tuyết rơi, đạo lý thô thiển ấy có gì khó hiểu?

Dương Quá và Tiểu Long Nữ vốn tâm tâm tương ấn, tâm sự sâu kín nhất của đối phương, mình cũng biết cả; nhưng lúc này nghe nàng đối đáp với Nhất Đăng đại sư, thì chàng cảm thấy mình bị cách xa một lớp. Tựa hồ nàng và Nhất Đăng đại sư hiểu nhau hơn, chàng hóa thành người ngoài, điều này chưa từng xảy ra từ ngày chàng và nàng tương ái; bất giác chàng cảm thấy buồn buồn.

Nhất Đăng đại sư lấy ra một thứ có màu sắc và hình dạng y hệt quả trứng gà, đưa cho Tiểu Long Nữ, nói:

– Quả trứng có trước hay con gà có trước?

Câu hỏi có từ ngàn xưa này vẫn chưa có lời giải.

Dương Quá nghĩ: "Giữa lúc sinh tử khẩn yếu, sao đại sư lại đi hỏi những chuyện vớ vẩn làm gì?"

Tiểu Long Nữ cầm quả trứng, hơi ngẫm nghĩ, đã hiểu ý, nói:

– Trứng tách ra thành gà con, gà con lớn lên đẻ trứng, đã có sinh, tất có diệt.

Nàng bóp nhẹ cái vỏ, một thứ nước thuốc rất sánh chảy ra, hệt như lòng đỏ trứng gà. Nhất Đăng đại sư nói:

– Hãy uống mau.

Tiểu Long Nữ biết thứ thuốc này quí hiếm, liền đưa lên miệng uống vào bụng.

Sáng hôm sau tuyết vẫn còn rơi. Dương Quá nghĩ lộ trình đến Tuyệt Tình cốc không gần, viên thuốc của Nhất Đăng đại sư tuy có thể kéo dài sinh mạng bảy ngày, song vẫn phải toàn lực mà đi, không thể chần chừ, mới đến kịp, bèn hỏi:

– Đại sư, thương thế của đại sư thế nào ạ?

Nhất Đăng đại sư bị thương thực không nhẹ, nhưng muốn cứu sư đệ, Chu Tử Liễu và Tiểu Long Nữ ba người, thì không thể chậm trễ chút nào, bèn phất tay áo nói:

– Không sao cả.

Đoạn đề khí lao vút đi trên tuyết. Ba người theo sau.

Tiểu Long Nữ sau khi uống viên thuốc, cảm thấy đan điền ấm áp, tinh thần phấn chấn, nàng thi triển khinh công chỉ giây lát đã vượt Nhất Đăng đại sư. Từ Ân kinh ngạc, nghĩ một cô nương mảnh mai yếu ớt không ngờ lại có võ công như thế, chợt nổi tính hiếu thắng, dồn sức xuống chân, đuổi theo thật nhanh. Một người là truyền nhân của phái Cổ Mộ khinh công thiên hạ vô song, người kia là một anh hùng thành danh hiệu xưng "Thiết chưởng thủy thượng phiêu", thoáng chốc đã vọt đi xa mấy chục trượng, thành hai điểm đen trên tuyết. Dương Quá sợ Từ Ân ác tính phát tác, gia hại Tiểu Long Nữ, bèn đuổi theo để bảo vệ. Chàng khinh công không bằng hai người kia, nhưng nội công thâm hậu cước lực dẻo dai, thoạt đầu còn cách hai người kia rất xa, đi chưa dầy nửa canh giờ, đã thấp thoáng thấy lưng hai người kia càng lúc càng gần.

Bỗng nghe có tiếng cười của Nhất Đăng đại sư ở phía sau:

– Tiểu cư sĩ nội công thâm hậu quá. Có thể cho biết sư thừa là ai?

Dương Quá hơi chậm lại, sánh vai với Nhất Dăng đại sư, nói:

– Võ công của vãn bối là do hiền thê truyền thụ.

Nhất Dăng đại sư kinh ngạc, nói:

– Nhưng tôn phu nhân lại không bằng tiểu cư sĩ.

Dương Quá nói:

– Mấy tháng nay không biết tại sao vãn bối tự dưng nội lực tăng tiến rất nhanh?

Nhất Đăng đại sư nói:

– Tiểu cư sĩ có uống loại đan dược tăng trưởng nội lực nào không? Như nhân sâm hay linh chi ngàn năm chẳng hạn?

Dương Quá lắc đầu, nói:

– Vãn bối có nuốt vài chục cái mật rắn, sau khi nuốt, lực khí lập tức tăng lên, không biết có phải nhờ thế hay chăng?

Nhất Đăng đại sư nói:

– Mật rắn ư? Mật rắn chỉ có thể trừ phong thấp, hoàn toàn không có tác dụng tăng lực.

Dương Quá nói:

– Đấy là mật của một loài rắn lạ, trên thân mình loài độc xà đó kim quang lấp lánh, đầu rắn có mào, hình thù quái dị.

Nhất Đăng đại sư ngẫm nghĩ giây lát, đột nhiên nói:

– À đấy là Bồ tư khúc xà. Kinh Phật có nói về loài rắn ẩy, vốn cũng có ở Trung Thổ. Nghe đâu loài rắn ấy lướt đi như gió, khó lòng bắt được nó.

Dương Quá nói:

– Có một con chim điêu lớn lấy mật rắn cho vãn bối uống.

Nhất Đăng đại sư tán thưởng:

– Thật là một kỳ duyên hiếm có trên thế gian.

Hai người miệng nói chuyện, chân không dừng bước, càng lúc càng tới gần Tiểu Long Nữ và Từ Ân. Nhất Đăng đại sư và Dương Quá nhìn nhau mỉm cười.

Khinh công của hai người tuy không bằng Tiểu Long Nữ và Từ Ân, nhưng đường càng dài, thì phần thắng cuối cùng thuộc về người có nội công thâm hậu. Nhìn hai người phía trước, thấy Tiểu Long Nữ đã tụt lại sau hơn một trượng, luận về nội lực, tất nhiên nàng không thể bằng Từ Ân. Lúc vòng qua một cái thung lũng, Dương Quá chỉ phía trước, hỏi:

– Ồ, sao lại có những ba người?

Nguyên phía sau Tiểu Long Nữ một quãng ngắn có thêm một người đang tiến rất nhanh. Thoáng nhìn, khinh công của người ấy chẳng thua gì Tiểu Long Nữ và Từ Ân, người ấy vai vác một vật khá lớn, trông từa tựa một cái hòm, đi sau Tiểu Long Nữ vài trượng. Nhất Đăng đại sư cũng lấy làm lạ, chốn hoang sơn không ngờ lại gặp cao nhân, tối qua thì gặp một cặp vợ chồng thiếu niên anh tuấn, hôm nay thì gặp một vị lão nhân.

Tiểu Long Nữ sau khi bị Từ Ân vượt lên trước, không lâu khoảng cách càng xa, bỗng nghe có tiếng bước chân sau lưng, tưởng là Dương Quá đã đến, bèn nói:

– Quá nhi, vị đại hòa thượng kia khinh công quá cao, thiếp không sánh nổi, chàng thử đuổi theo xem sao.

Sau lưng có tiếng cười, nói:

– Ngươi hãy ngồi lên cái hòm của ta mà nghỉ một lát, dưỡng dưỡng lực khí, đừng sợ cái gã hòa thượng ấy.

Tiểu Long Nữ nghe giọng khác lạ, ngoảnh đầu lại, thấy một vị râu tóc bạc phơ, chính là Lão Ngoan đồng Chu Bá Thông.

Lão tươi cười chỉ cái hòm đang vác trên vai, nói:

– Nào lại đây, lại đây, ngồi lên đây!

Chiếc hòm ấy chính là cái hòm đựng sách ở Tàng kinh các của cung Trùng Dương, chắc bên trong đựng toàn kinh thư đạo tàng, được lão vác đi theo. Tiểu Long Nữ mỉm cười, chưa kịp trả lời, Chu Bá Thông đã vọt tới bên cạnh, giơ tay túm eo lưng nàng đặt ngồi lên trên cái hòm. Thân pháp đã nhanh, xuất thủ lại kỳ lạ, Tiểu Long Nữ không kịp kháng cự, đã chễm chệ ngồi trên cái hòm, thì nàng không khỏi thán phục: "Phái Toàn Chân hiệu xưng võ học chính tông thiên hạ, quả có chỗ hơn người, đạo nhân của cung Trùng Dương không địch nổi ta chỉ là vì họ chưa học được tinh túy võ công sư môn mà thôi".

Lúc này Dương Quá và Nhất Đăng đại sư cũng đã nhận ra Chu Bá Thông, chỉ có Từ Ân sợ Tiểu Long Nữ vượt lên trước, nên cứ cắm đầu đi nhanh đằng trước, không biết phía sau có thêm một người. Chu Bá Thông theo sau, nói nhỏ:

– Chạy nửa canh giờ nữa, hắn sẽ càng chậm dần.

Tiểu Long Nữ cười, hỏi:

– Sao tiền bối biết?

Chu Bá Thông nói:

– Ta đã tỷ thí cước lực với hắn, từ Trung Nguyên chạy thẳng đến Tây Vực, rồi lại từ Tây Vực chạy trở về Trung Nguyên, chạy mấy vạn dặm với nhau, sao lại không biết?

Tiểu Long Nữ ngồi trên cái hòm, bình ổn dễ chịu, hơn cả cưỡi ngựa, cười hỏi nhỏ:

– Lão Ngoan đồng, sao lại giúp tiểu nữ?

Lão Ngoan đồng nói:

– Ngươi hiền hậu khiến người ta thích, không tinh khôn quỷ quái như Hoàng Dung. Lão thó trộm mật ong của ngươi, mong ngươi đừng giận lão.

Chạy như thế nửa canh giờ, quả nhiên như Chu Bá Thông dự liệu, cước bộ của Từ Ân chậm dần. Chu Bá Thông nói:

– Giờ thì tự chạy đi!

Lão hất vai lên, Tiểu Long Nữ văng lên phía trước hơn một trượng, nàng đã dưỡng đủ khí lực, liền phóng chạy, chẳng mấy chốc đã vượt qua Từ Ân, ngoảnh lại mỉm cười. Từ Ân kinh ngạc, vội tăng lực chạy. Nhưng hai người khinh công vốn ngang ngửa, một người được nghỉ cả giờ, người kia cắm đầu chạy miết, làm sao theo cho kịp, khoảng cách càng lúc càng xa thêm.

Từ Ân bình sinh có hai đại tuyệt kỹ, tự cho là thiên hạ vô song; thế mà chỉ trong một ngày đêm, thiết chưởng thua Dương Quá, khinh công thua Tiểu Long Nữ, y không khỏi đại thất vọng, chỉ thấy hai chân bỗng mềm đi, không chịu tuân theo sự điều khiển nữa. Từ Ân nghĩ: "Chẳng lẽ đại hạn của ta đã đến, ngay một tiểu cô nương ta cũng không bằng?" Tối qua ác tính phát tác, y đã xuất thủ đả thương sư phụ, trong lòng thấp thỏm bất an; vừa rồi dốc toàn lực đuổi theo Tiểu Long Nữ không kịp, tâm thần càng hoảng hốt, bối rối.

Dương Quá ở phía sau thấy rõ, biết Chu Bá Thông ám trợ Tiểu Long Nữ chiến thắng Từ Ân, cảm thấy lý thú, chạy nhanh tới bên lão, cười, nói:

– Chu lão tiền bối, đa tạ đa tạ!

Chu Bá Thông nói:

– Cầu Thiên Nhẫn lâu rồi ta không gặp, tại sao hắn lại giở trò cạo đầu đi làm hòa thượng thế không biết?

Dương Quá nói:

– Cầu Thiên Nhẫn bái Nhất Đăng đại sư làm sư phụ, lão tiền bối không biết hay sao?

Chàng chỉ tay về phía sau. Chu Bá Thông kinh ngạc, thốt lên:

– Đoàn hoàng gia cũng đến đây ư?

Lão nhìn thấy Nhất Đăng đại sư ở phía xa, bèn nói:

– Xuất hành bất lợi, lánh đi là đại cát!

Đoạn chạy chéo vào một cánh rừng. Dương Quá cũng không hiểu Đoàn hoàng gia là thế nào, chỉ thấy cây cỏ lay động, thoáng chốc Chu Bá Thông đã biến mất tăm. Chàng nghĩ: "Người này hành sự kỳ quái, thật là hiếm gặp trong thiên hạ!"

Nhất Đăng đại sư thấy Chu Bá Thông né tránh, rảo bước tới, thấy Từ Ân thần tình uể oải, mất hết vẻ hăng hái, bèn nói:

– Đối với chuyện thắng bại, ngươi vẫn chưa dứt bỏ được sự cay cú ư?

Từ Ân rầu rĩ không nói. Nhất Đăng đại sư nói:

– Còn ham muốn tất còn mê muội. Võ công cao như ngươi, nếu không hiếu thắng, làm gì đến nỗi không biết sau lưng có thêm một người?

Bốn người đi nhanh, đi được năm ngày, đến sáng ngày thứ sáu, Nhất Đăng đại sư thương thế không nhẹ, dần dần không chịu được nữa. Dương Quá nói:

– Đại sư hãy tạm nghỉ ngơi; bảo dưỡng thân thể là trọng. Từ đây đến Tuyệt Tình cốc không còn bao xa, vợ chồng vãn bối cùng Từ Ân đại sư đến đó trước, sống chết gì cũng phải cứu Thiên Trúc thần tăng và Chu đại thúc ra.

Nhất Đăng đại sư mỉm cười, nói:

– Lão nạp ở lại thì không yên tâm.

Dừng một lát, nói tiếp:

– Chỉ sợ ở đó xảy ra lắm chuyện, lão nạp phải thân chinh đến đó mới được.

Từ Ân nói:

– Để đệ từ cõng sư phụ đi.

Rồi cúi xuống cõng Nhất Đăng đại sư mà rảo bước.

Qua giờ Ngọ, bốn người đến cốc khẩu. Dương Quá nói với Từ Ân:

– Chúng ta có nên báo rõ thân phận, để lệnh muội ra nghênh tiếp đại sư hay chăng?

Từ Ân chưa kịp trả lời, bỗng nghe trong cốc loáng thoáng vọng ra tiếng binh khí giao tranh. Từ Ân chỉ sợ muội tử động thủ với nhóm Võ Tam Thông, bất cứ bên nào bị thương cũng đều không được, bèn nói:

– Chúng ta phải vào ngay để ngăn chặn họ giao đấu.

Rồi thi triển khinh công, nhưng không biết đường, Dương Quá phải đi trước chỉ dẫn.

Chạy đến vùng lân cận, thấy có bảy, tám đệ tử áo xanh tay cầm binh khí, chặn ngoài bìa rừng, tiếng binh khí giao tranh từ trong rừng vọng ra, không nhìn thấy những người giao tranh là ai. Bọn đệ tử áo xanh thấy có ngoại địch kéo tới, liền hò nhau xông lại, tới gần họ nhận ra Dương Quá và Tiểu Long Nữ thì cùng dừng chân. Gã cầm đầu tiến lên hai bước, tay đặt ở chuôi kiếm, hỏi:

– Chúa mẫu muốn biết việc giao cho Dương tướng công đã làm xong hay chưa?

Dương Quá hỏi lại:

– Những người đang giao tranh ở trong rừng là ai?

Gã đệ tử áo xanh không trả lời, chăm chú nhìn chàng, chưa biết chuyến này chàng đến đây với dụng ý gì, thiện hay ác? Dương Quá mỉm cười, nói:

– Tiểu đệ lần này đến đây hoàn toàn không có ác ý. Công Tôn phu nhân có khỏe không?

Gã đệ tử áo xanh đỡ ngại phần nào, nói:

– Ơn trời, chúa mẫu và cô nương đều khỏe.

Lại hỏi:

– Còn hai vị đại hòa thượng là ai? Các vị có cùng một phường với bốn nữ nhân ở trong rừng hay không?

Dương Quá hỏi:

– Bốn nữ nhân ư, là ai vậy?

Gã đệ tử áo xanh nói:

– Bốn nữ nhân chia hai ngả tiến vào cốc, chúa mẫu hạ lệnh ngăn chặn; bọn họ cả gan không nghe, hiện đã bị dụ vào thung lũng hoa Tình, ai ngờ họ vừa thấy nhau thì lập tức ẩu đả.

Dương Quá nghe bốn chữ "Thung lũng hoa Tình" không khỏi giật mình, không đoán được bốn người ấy là ai, nếu là Hoàng Dung, Quách Phù, Hoàn Nhan Bình và Gia Luật Yến, thì sao họ lại đánh nhau? Bèn nói:

– Phiền cho tiểu đệ vào gặp họ, không chừng tiểu đệ quen biết họ, có thể khuyên họ ngừng đấu, đồng thời vào khấu kiến cốc chủ.

Gã đệ tử áo xanh nghĩ bụng, có lẽ bốn nữ nhân kia đã bị bắt rồi, để cho các ngươi cũng thấy sự lợi hại của Tuyệt Tình cốc này, bèn dẫn họ vào trong rừng. Quả nhiên bốn nữ nhân chia làm hai cặp, đang ác chiến với nhau.

Dương Quá và Tiểu Long Nữ vừa nhìn thấy thì thầm kinh hãi. Nguyên bốn nữ nhân đang ở trên một bãi cỏ hình tròn, đường kính hai trượng, xung quanh là các bụi hoa Tình dày đặc, nhiều lớp, tạo thành một vành đai hoa Tình rộng tám chín trượng, khinh công giỏi mấy cũng không thể nhảy qua; muốn nhảy qua một khoảng rộng bằng nửa như thế đã khó.

Tiểu Long Nữ nói:

– Là sư tỷ kìa!

Hai nữ nhân quay mặt về phía nam là Lý Mạc Sầu và đệ tử Hồng Lăng Ba của mụ. Hai người sử dụng trường kiếm, cây phất trần của Lý Mạc Sầu đã bị đánh gãy trong tòa cổ mộ, mụ chưa kịp làm cây khác.

Đối địch với sư đồ Lý Mạc Sầu, một người sử dụng cây đao lá liễu, người kia sử dụng binh khí giống như một cây tiêu, cả hai thân hình mảnh dẻ, bộ pháp lanh lẹ, võ công cũng không kém, song không thể sánh ngang Lý Mạc Sầu. Dương Quá kinh ngạc: "Thì ra họ là biểu tỷ biểu muội thì phải?" Lúc này Hồng Lăng Ba hơi nghiêng mình, thiếu nữ mặc áo vàng nhạt nghiêng mặt lại, thiếu nữ mặc áo tím cũng vậy, chính là Trình Anh và Lục Vô Song. Bãi cỏ tròn mà bốn nữ nhân giao đấu có đường kính hai trượng, chẳng khác gì một cái sàn tỷ võ, địa hình giới hạn, không thể bước nhầm nửa bước, như thế, ai võ công kém sẽ như bị trói chân trói tay. May mà Lý Mạc Sầu binh khí không quen tay, Hồng Lăng Ba đối với Lục Vô Song thì nể tình ngày trước, không nỡ hạ độc thủ, cho nên Trình, Lục nhị nữ tuy ở thế hạ phong, vẫn còn gắng gượng chống đỡ.

Dương Quá hỏi gã đệ tử áo xanh:

– Bốn người kia sao tự dưng lại nhảy vào giữa cái bãi kia mà đánh nhau?

Gã đệ tử áo xanh tỏ vẻ đắc ý, vênh mặt nói:

– Đây là cách bố trí tài tình của Công Tôn cốc chủ. Bọn ta dồn gian tế vào bãi hoa Tình, rồi lại dùng các bụi hoa Tình lấp kín lối ra vào, bọn chúng làm sao còn thoát nổi?

Dương Quá lo lắng hỏi:

– Bọn họ đã bị trúng độc hoa Tình hay chưa?

Gã đệ tử áo xanh nói:

– Nếu chưa trúng, thì cũng chẳng mấy chốc sẽ trúng.

Dương Quá nghĩ: "Võ công của các người thì làm sao có thể dồn Lý Mạc Sầu vào bãi hoa Tình kia chứ? À phải, chắc bọn này đã dùng ngư võng trận pháp độc ác. Nếu Trình, Lục nhị nữ bị trúng độc hoa Tình, thì trên đời đã không còn thuốc giải". Chàng bèn nói to:

– Trình tỷ tỷ, Lục tỷ tỷ, tiểu đệ Dương Quá đây. Hoa lá xung quanh các vị có gai cực độc, phải hết sức cấn thận đó!

Lý Mạc Sầu sớm nhận ra sự dị dạng của hoa Tình. Bọn đệ tử áo xanh đã dùng cây hoa này chắn đường, tất phải có duyên cớ. Vì thế sau khi lọt vào trong bãi hoa Tình, mụ đã khẽ dặn Hồng Lăng Ba cẩn thận, phải cố tránh xa các bụi hoa. Trình Anh và Lục Vô Song cũng thừa lanh lợi, dĩ nhiên cũng nhận biết.

Bốn người đoán trong các bụi hoa Tình có cơ quan hãm hại, bây giờ nghe Dương Quá nhắc nhở, càng e sợ các bụi hoa xung quanh hơn, cố ý lấn vào giữa bãi cỏ mà cận chiến, chiến cuộc đấu ác liệt thêm.

Trình Anh và Lục Vô Song nghe Dương Quá đến thì rất mừng, mong sớm diện kiến, khổ nỗi kẻ địch đánh rát, khó bề thoát thân. Lý Mạc Sầu thì chỉ muốn giết hai thiếu nữ, làm vật lót đường, để đạp lên xác họ mà thoát đi. Dương Quá và Tiểu Long Nữ đến, mụ vốn cả kinh, nhưng có các bụi hoa Tình chắn lối, hai người chưa thể xông vào giúp hai thiếu nữ kia được, mụ bèn xẵng giọng, nói:

– Lăng Ba, ngươi không dốc toàn lực, thì chính ngươi sẽ phải bỏ mạng tại đây đó.

Hồng Lăng Ba đáp "Vâng!" và gia tăng kình lực đâm kiếm về phía Trình Anh. Trình Anh giơ cây tiêu gạt đỡ, trường kiếm của Lý Mạc Sầu cũng đâm tới cổ nàng. Lục Vô Song đưa đao gạt ngang. Lý Mạc Sầu cười gằn một tiếng, trường kiếm hơi rung, tung chân trái đá trúng cổ tay Lục Vô Song, thanh đao lá liễu của nàng bay văng ra một bụi gai. Lý Mạc Sầu đâm Trình Anh liền ba nhát kiếm. Trình Anh chống đỡ không nổi, vội lùi gấp. Nàng chỉ lùi một bước nữa, chân trái sẽ giẫm vào bụi hoa Tình, Lục Vô Song kêu lên:

– Biểu tỷ, đừng lùi nữa.

Lý Mạc Sầu mỉm cười, nói:

– Không lùi nữa thì tiến lên đi.

Nói đoạn mụ lùi chếch một bước. Trình Anh thừa biết đối phương quyết không có thiện ý, nhưng chỗ mình đặt chân quá nguy hiểm, đành bước lên trước một bước. Lý Mạc Sầu cười gằn nói:

– To gan thật!

Trường kiếm rung nhanh, tạo ra mười mấy điểm ngân quang bao trùm toàn bộ nửa thân trên của Trình Anh.

Dương Quá đứng ngoài thấy rõ, biết đấy là chiêu số lợi hại của kiếm pháp phái Cổ Mộ, có tên "Lãnh nguyệt khuy nhân", nếu không biết đường hướng của nó, cứ dốc toàn lực che đỡ nửa thân trên thì bụng dưới thể nào cũng bị trúng kiếm. Chàng thấy Trình Anh giơ cây tiêu chắn trước ngực, vội cúi nhặt một viên sỏi, dùng ngón cái và ngón giữa búng đi, nhắm tới đôi mắt Lý Mạc Sầu. Lúc ấy mũi kiếm của mụ ta đã chúi xuống, cách bụng dưới của Trình Anh chỉ vài tấc. Mụ chợt thấy viên sỏi bay tới, không kịp giết đối phương, phải hồi kiếm gạt viên sỏi.

Công phu mà Dương Quá vừa sử dụng chính là Đạn chỉ thần thông do Hoàng Dược Sư truyền thụ, song chưa đạt mức hỏa hầu, chỉ có thể dương đông kích tây, đỡ đòn của địch mà thôi. Nếu viên sỏi do đích thân Hoàng Dược Sư búng đi, thì nó đã bắn vào thanh kiếm của Lý Mạc Sầu làm kiếm rơi xuống đất hoặc bị hất ra. Dù sao cũng nhờ lão truyền thụ công phu cho Dương Quá mà nữ đệ tử cuối đời của lão mới được cứu mạng. Dương Quá và Trình Anh cùng sợ vã mồ hôi lạnh.

Lý Mạc Sầu thấy Trình Anh thoát chết, sắc mặt trắng hồng hồng tái mét, biết nàng tâm thần còn hoảng, bèn quát:

– Nữa này!

Trường kiếm rung chếch, lại sử chiêu "Lãnh nguyệt khuy nhân". Trình Anh lần này đã biết đòn tấn công thượng bàn là hư, tấn công hạ bàn mới là thực, nên dùng cây tiêu bảo hộ đan điền. Nào ngờ Lý Mạc Sầu biến hóa đủ cách, mũi kiếm quả nhiên chĩa xuống đan điền của Trình Anh, song mụ lại sấn tới sát người, dùng ngón trỏ tay trái điểm trúng huyệt Ngọc Đường ở ngực Trình Anh. Trình Anh còn đang ngẩn người, chân trái của Lý Mạc Sầu đã gạt ngang, trước hết đá ngã Lục Vô Song, rồi mũi chân lại điểm huyệt Dương Quan ở cạnh khoeo chân Trình Anh, động tác biến chiêu của mụ cực kỳ mau lẹ trong giây lát Trình, Lục hai nàng cùng ngã, Dương Quá muốn cứu cũng không kịp.

Lý Mạc Sầu túm lưng Trình Anh quẳng ra xa, rồi lại túm Lục Vô Song quẳng ra theo, quát:

– Lăng Ba, hãy đạp lên xác chúng mà ra..

Lời chưa dứt, Dương Quá đã phi thân vào, đưa tay trái đón lấy Trình Anh, rồi nhảy tiếp về phía trước. Trình Anh ngực và chân tuy bị điểm huyệt, song hai tay không sao, liền ôm đón Lục Vô Song, kêu lên:

– Dương đại ca, chàng..

Nàng vốn có thâm tình với Dương Quá, lúc này thấy chàng xả thân nhảy vào đám hoa Tình cứu mình thì càng không thể kìm lòng.

Dương Quá đón hai thiếu nữ rồi liền nhảy trở ra, nhẹ nhàng đặt hai nàng xuống đất. Trình Anh chân trái tê dại, đứng không vững, Tiểu Long Nữ giải huyệt cho nàng. Ba thiếu nữ cùng nhìn Dương Quá, thấy ống quần chàng bị gai xé rách mấy chỗ, từ đùi xuống bắp chân có máu chảy, không biết chàng bị bao nhiêu cái gai độc cào xước vào người. Trình Anh nước mắt lưng tròng, Lục Vô Song lo lắng ấp úng nói:

– Đại ca.. đâu cần.. cứu muội, ai bảo đại ca làm như thế kia chứ?

Dương Quá cười, nói:

– Chất độc hoa Tình trong người ngu huynh chưa trừ hết, có bị thêm một ít cũng có khác gì đâu.

Nhưng mọi người đều biết, chất độc ngấm vào người nhiều hay ít rất khác nhau, chàng nói thế chỉ là để an ủi ba thiếu nữ mà thôi.

Trình Anh rưng rưng lệ nhìn ống tay áo rỗng của Dương Quá. Lục Vô Song thì dịu dàng nói:

– Chàng ngốc, cánh tay phải của huynh đâu? Sao lại mất?

Tiểu Long Nữ thấy hai thiếu nữ kia hết sức quan hoài đối với Dương Quá, thì nàng lập tức coi họ như bằng hữu thân thiết nhất, mỉm cười nói:

– Sao cô nương lại gọi Quá nhi là "Chàng ngốc"? Chàng không ngốc nghếch đâu.

Lục Vô Song bỗng kêu "À" một tiếng, nói:

– Muội gọi quen miệng, nhất thời chưa thay đổi được.

Rồi đưa mắt sang phía Trình Anh, hỏi:

– Vị tỷ tỷ này là?

Dương Quá nói:

– Đó là..

Trình Anh tiếp lời:

– Nhất định là Tiểu Long Nữ tiền bối.

Lục Vô Song nói:

– Đúng rồi. Muội phải sớm đoán ra nhân vật như tiên nữ kia mới phải.

Trình, Lục hai nàng trước đây thấy Dương Quá chung tình với Tiểu Long Nữ, trong lòng không khỏi có phần đố kỵ, bây giờ gặp rồi thì tự thẹn mình thua kém xa, đều nghĩ: "Mình làm sao sánh nổi nàng ta?"

Lục Vô Song lại hỏi:

– Dương đại ca, cánh tay của đại ca rốt cuộc sao lại bị mất vậy? Vết thương đã lành hẳn chưa?

Dương Quá nói:

– Lành hẳn rồi. Bị người ta chém đấy.

Lục Vô Song nói, giọng tức giận:

– Cái mụ ác tặc đáng chết kia chém phải không? Chắc nữ ma đầu ấy đã dùng gian kế hèn hạ chứ gì?

Đột nhiên một giọng nữ lạnh lùng vang lên ở sau lưng:

– Ngươi nói xấu người ta sau lưng, chẳng phải là hèn hạ đó sao?

Mọi người ngạc nhiên, ngoảnh lại, thấy người nói là một thiếu nữ xinh đẹp, chính là Quách Phù. Nàng đặt tay đốc kiếm, mặt hầm hầm, bên cạnh nàng còn có mấy người khác nữa, cả nam lẫn nữ. Lục Vô Song kinh ngạc, nói:

– Ta không hề nói xấu cô nương, mà ta chửi tên ác tặc đê hèn nào chém đứt cánh tay của Dương đại ca.

Soạt một cái, Quách Phù đã rút kiếm khỏi bao, nói:

– Cánh tay của Dương đại ca là do ta chém đấy. Ta đã xin lỗi rồi, cha mẹ ta cũng đã trách phạt ta rồi; các người còn chửi bới sau lưng ta..

Nói đến đây nước mắt lưng tròng, cảm thấy oan ức vô cùng.

Nguyên cha con Võ Tam Thông, Quách Phù, Gia Luật Tề ở dưới dòng suối ngầm tránh lửa, đợi lửa yếu dần, mới men dòng suối đi xuống hạ du, gặp Hoàng Dung với Hoàn Nhan Bình và Gia Luật Yến, rồi cùng kéo đến Tuyệt Tình cốc. Họ đến nơi sớm hơn nhóm Dương Quá và Nhất Đăng đại sư nửa ngày, tìm kiếm Thiên Trúc cao tăng và Chu Tử Liễu ở phía trước và phía sau cốc không thấy, tốn khá nhiều thời gian. Còn việc sư đồ Lý Mạc Sầu và biểu tỷ muội Trình Anh vào được Tuyệt Tình cốc đều là do Lão Ngoan đồng Chu Bá Thông nổi tính tinh nghịch dẫn dắt.

Bọn Hoàng Dung, Võ Tam Thông hành lễ với Nhất Đăng đại sư và đôi bên dẫn kiến.

Trình Anh chưa từng gặp Hoàng Dung, nhưng đã nghe đại danh của vị sư tỷ này, nhất mực kính phục, nay cung kính bước tới khấu đầu, chào một tiếng:

– Sư tỷ!

Hoàng Dung qua lời kể của Dương Quá, biết phụ thân về già đã thu nhận một nữ đệ tử, giờ thấy người ấy phong thần tú mỹ, bèn hỏi thăm về phụ thân, biết người bình an khỏe mạnh thì rất mừng.

Gã đệ tử áo xanh đứng canh ven rừng thấy đám người vào cốc tụ tập với nhau, thanh thế quá mạnh, không dám ngăn cản, vội chạy đi phi báo với Cầu Thiên Xích.

Quách Phù và Lục Vô Song giận dữ nhìn nhau. Quách Phù nghe mẫu thân bảo phải xưng hô với Trình Anh như với bề trên thì càng khó chịu, một tiếng "sư thúc" nghe thật gượng ép.

Dương Quá và Tiểu Long Nữ cầm tay nhau đứng cách xa. Dương Quá nhìn bé Quách Tương đang được Tiểu Long Nữ ẵm, nói:

– Long nhi, mình trả đứa bé này cho mẹ nó thôi.

Tiểu Long Nữ đưa Quách Tương lên thơm thơm vào má nó, rồi bước tới trao cho Hoàng Dung, nói:

– Quách phu nhân, hài nhi của phu nhân đây.

Hoàng Dung đa tạ đón lấy, từ hôm sinh hài nhi này đến giờ mới được yên ổn ôm nó vào lòng, lòng sung sướng kể sao cho xiết.

Dương Quá nói to:

– Quách cô nương, muội tử của cô nương nguyên vẹn an lành đấy, ta không hề đem nó đi đổi lấy thuốc cứu mạng.

Quách Phù giận dữ:

– Mẫu thân của muội tới đây rồi, dĩ nhiên huynh chẳng dám. Huynh nếu không có ý đó, thì mang muội muội đến đây làm gì?

Cứ như tính cách hồi trước của Dương Quá, hẳn chàng sẽ lập tức đốp lại vài câu, nhưng một tháng nay chàng đã trải bao biến cố sinh tử, chuyện hơn thua lời lẽ chẳng đáng gì, nên chàng chỉ cười, dắt tay Tiểu Long Nữ bước đi. Lục Vô Song nhìn Quách Phù một cái, nói với Trình Anh:

– Kia là con gái của sư tỷ biểu tỷ ư? Mong rằng sau này lớn lên, nó sẽ không ngang ngược điêu ác.

Quách Phù làm sao nghe lọt tai một câu chê trách mình như thế, bèn nói:

– Muội tử của ta ngang ngược điêu ác hay không thì can dự gì đến nhà ngươi? Nhà ngươi nói câu ấy là có dụng ý gì?

Lục Vô Song nói:

– Đây không có nói với đó. Kẻ ngang ngược điêu ác, ai ai trong thiên hạ cũng có quyền giám quản, sao lại bảo là không can dự gì đến ta?

Trong thâm tâm, Lục Vô Song chỉ nể một mình Dương Quá, nàng và Trình Anh thấy Dương Quá bị Quách Phù chém mất một cánh tay, thì rất đau lòng, nhưng nàng không đằm tính như biểu tỷ, nên trước mặt nhiều người vẫn cứ phát tác như thường. Quách Phù cả giận, giơ kiếm quát:

– Đồ thọt..

Hoàng Dung quát:

– Phù nhi, không được vô lễ!

Bỗng nghe đằng xa có tiếng "Ối!" Mọi người quay đầu nhìn, thấy từ trong bãi cỏ, Lý Mạc Sầu giơ cao thân hình Hồng Lăng Ba, tiếng kêu vừa rồi là do Hồng Lăng Ba phát ra. Mọi người mải hàn huyên, nhất thời quên biến sư đồ Lý Mạc Sầu đang được ngăn cách với họ bởi các bụi hoa Tình. Lục Vô Song kêu lên:

– Nguy mất, sư phụ định dùng sư tỷ làm vật lót chân, mau tìm cách cứu..

Mọi người còn đang ngẩn ra thì Lý Mạc Sầu đã quẳng Hồng Lăng Ba tới bụi hoa Tình, rồi phi thân tới đó chân trái đạp xuống ngực Hồng Lăng Ba, lại vọt đi, tay phải cắp Hồng Lăng Ba, lại quẳng ra phía ngoài mấy trượng, lại đạp chân lên người Hồng Lăng Ba để nhảy hẳn ra ngoài các bụi hoa Tình. Lý Mạc Sầu sợ bọn Hoàng Dung ngăn chặn, nên mụ chọn nơi nhảy ra ngược với chỗ mọi người đang đứng. Bước nhảy cuối cùng của mụ, Hồng Lăng Ba đột nhiên bật dậy, ôm chặt lấy chân trái của mụ. Thân hình mụ đang nhảy bị kéo xuống, lưng chừng không có chỗ mượn lực, mụ tung chân phải đạp vào ngực Hồng Lăng Ba nghe hự một tiếng, cú đạp này khiến Hồng Lăng Ba chấn vỡ nội tạng, chết tươi; nhưng hai tay nàng vẫn cứ bám chặt chân trái Lý Mạc Sầu, khiến cả hai cùng ngã xuống, cách chỗ đất an toàn chưa đầy hai thước, nhưng chỗ ngã xuống có hàng ngàn cái gai hoa Tình đâm vào người mụ ta.

Biến cố thê thảm đáng sợ, người người đều kinh tâm động phách, trố mắt nhìn, không nói nên lời.

Lục Vô Song nghĩ đến ân tình của sư tỷ đối với mình, đau đớn khóc rống lên, gọi:

– Sư tỷ, sư tỷ!

Dương Quá nhớ lần chàng trêu chọc Hồng Lăng Ba, cũng không khỏi cảm thương. Lý Mạc Sầu gỡ hai tay của Hồng Lăng Ba, thấy nàng tuy chết, hai mắt không nhắm, lộ đầy vẻ oán trách. Lý Mạc Sầu nghĩ: "Ta đã trúng độc hoa Tình, thuốc giải phải vào tìm trong sơn cốc này". Mụ ra chỗ an toàn, đang đi bỗng nghe Hoàng Dung gọi:

– Lý tỷ tỷ, hãy lại đây, tiểu muội có lời muốn nói.

Lý Mạc Sầu sững lại, hơi chần chừ, đi được vài trượng, thì đứng hẳn lại, hỏi "Gì vậy?" thầm mong Hoàng Dung cho thuốc giải độc hoặc chí ít cũng chỉ dẫn nên tìm thuốc giải ở đâu.

Hoàng Dung nói:

– Tỷ tỷ muốn thoát khỏi các bụi hoa, lẽ ra không nên sát hại lệnh đồ.

Lý Mạc Sầu lạnh lùng nói:

– Phu nhân định giáo huấn ta chăng?

Hoàng Dung nói:

– Không dám. Muội chỉ muốn nói để tỷ tỷ biết rằng, chỉ cần dùng kiếm đào đất, cởi áo ngoài bọc thành hai bao, quẳng vào đám bụi hoa, há không phải làm chỗ đặt chân tuyệt diệu hay sao? Tỷ tỷ vừa thoát ra an toàn, mà lệnh đồ cũng chẳng phải chết thảm.

Lý Mạc Sầu sắc mặt đổi từ tái sang đỏ, rồi lại từ đỏ sang tái, hối hận vô cùng; cách Hoàng Dung vừa nói thật quá dễ, tiếc thay trong lúc bối rối mụ không nghĩ ra, đến nỗi phải giết hại người thân duy nhất của mình đã đành, chính mụ cũng không thoát khỏi tai ương, mụ buột miệng nói:

– Bây giờ mới nói, đã muộn mất rồi.

Hoàng Dung nói:

– Phải, đã muộn mất rồi. Kỳ thực, chất độc hoa Tình tỷ tỷ có trúng hay không trúng cũng vậy cả thôi.

Lý Mạc Sầu trừng mắt, không hiểu ý Hoàng Dung.

Hoàng Dung thở dài, nói:

– Lý tỷ tỷ sớm đã bị trúng độc si tình, làm loạn thế gian, hại người hại mình, lúc này đã muộn mất rồi.

Lý Mạc Sầu lại ngạo mạn nói:

– Đệ tử của ta là do ta cứu mạng, nếu nó không được ta nuôi dưỡng từ bé, thì nó đâu được sống đến ngày hôm nay. Sống được do ta, chết đi do ta, vốn là lẽ công bằng trong trời đất.

Hoàng Dung nói:

– Mỗi người đều do cha mẹ sinh ra, nhưng cha mẹ cũng không vì thế mà được phép giết con, huống chi người ngoài?

Võ Tu Văn cầm kiếm xông tới, quát:

– Lý Mạc Sầu, hôm nay mụ tàn ác quá chừng, khỏi cần phí lời với mụ.

Võ Đôn Nhu, Võ Tam Thông, Gia Luật Tề, Gia Luật Yến, Hoàn Nhan Bình, Quách Phù sáu người cùng vây lấy Lý Mạc Sầu từ hai phía.

Trình Anh và Lục Vô Song cầm tiêu và đao, bước lên hai bước. Lục Vô Song nói:

– Mụ tàn ác giết hại cả gia đình ta, hôm nay chỉ một mình mụ phải đền mạng là quá nhẹ cho mụ. Đừng nói bao nhiêu tội ác trước kia, chỉ riêng việc mụ giết Hồng sư tỷ, cũng đáng chết rồi.

Quách Phù quay nhìn Lục Vô Song một cái, cười khẩy, nói:

– Cô nương có một vị sư phụ tốt quá chừng!

Lục Vô Song quắc mắt nhìn lại, nói:

– Một người có chỗ dựa lớn bằng trời, mà còn làm loạn, thật không biết xấu! Cô nương chớ có bắt chước nữ ma đầu kia.

Lý Mạc Sầu nghe Lục Vô Song nói hai chữ "chỗ dựa", chợt nhớ ra, gọi to:

– Tiểu sư muội, sư muội không nghĩ gì đến tình sư môn hay sao?

Mụ suốt đời ngang dọc giang hồ, không coi bất cứ ai ra gì, lúc này lại cầu cứu Tiểu Long Nữ, chẳng qua vì mụ lâm vào tình thế hung hiểm vạn phần, sau khi giết Hồng Lăng Ba thì nội tâm không khỏi tự trách, bối rối.

Tiểu Long Nữ nhất thời chưa biết trả lời thế nào. Dương Quá nói to:

– Mụ bội sư sát đồ, còn nói gì đến tình sư môn nữa chứ?

Lý Mạc Sầu thở dài, giơ kiếm, nói:

– Được, vậy các người hãy cùng xông lại cả đây, càng đông càng tốt.

Huynh đệ họ Võ song kiếm cùng xuất, Trình Anh và Lục Vô Song từ mé trái tiến lại, Võ Tam Thông, Gia Luật Tề cũng múa binh khí xông tới.

Vừa rồi chứng kiến thủ đoạn tàn bạo của Lý Mạc Sầu đối với Hồng Bầng Ba, ai ai cũng căm phẫn, Nhất Đăng đại sư cũng nghĩ nếu để nữ ma đầu này sống trên thế gian, chỉ thêm nhiều người phải bỏ mạng. Chỉ nghe tiếng binh khí khua vang, Lý Mạc Sầu võ công dù cao đến mấy, cũng sắp bị mọi người phanh thây.

Đột nhiên Lý Mạc Sầu vung tay trái, quát:

– Coi ám khí này!

Mọi người đều biết món Băng phách ngân châm lợi hại của mụ ta, cùng ngưng thần chú mục, chỉ thấy mụ bay người vào đám bụi hoa Tình; ai nấy không khỏi thốt lên kinh hãi.

Nguyên Lý Mạc Sầu nghĩ rằng nếu gai hoa Tình quả có độc, mụ đã bị gai đâm khắp mình mẩy, nay thêm một số vết nữa cũng thế thôi. Lý Mạc Sầu nhảy đại vào các bụi hoa Tình, ngay Hoàng Dung và Dương Quá cũng không ngờ, chỉ thấy mụ ta lao qua các bụi hoa Tình rồi mất hút trong rừng cây.

Võ Tu Văn nói:

– Mọi người hãy đuổi theo!

Y vung kiếm chạy vòng về phía đông đuổi theo, nhưng các lối mòn trong rừng có nhiều khúc ngoặt, chạy được mấy trượng đã thấy ngã ba, chỉ lưỡng lự một chút, chợt thấy trước mặt xuất hiện năm thiếu nữ áo xanh, người đi đầu bưng một làn hoa, bốn người đi sau lưng giắt bội kiếm.

Thiếu nữ đi đầu hỏi:

– Cốc chủ thỉnh vấn các vị hạ cố đến đây, có gì chỉ giáo?

Dương Quá từ xa nhìn tới, gọi:

– Công Tôn cô nương, là chúng tôi đây mà.

Thiếu nữ ấy chính là Công Tôn Lục Ngạc. Nàng vừa nghe thấy tiếng Dương Quá, liền rảo bước tới, vui mừng nói:

– Dương đại ca, đại ca đã đại công cáo thành rồi phải không? Mau tới gặp mẫu thân của muội đi!

Dương Quá nói:

– Công Tôn cô nương, để huynh dẫn kiến vài vị tiền bối.

Rồi chàng dẫn nàng tới bái kiến Nhất Đăng đại sư, sau đó bái kiến Từ Ân và Hoàng Dung.

Công Tôn Lục Ngạc không biết hắc y tăng nhân trước mặt chính là cữu cữu của mình, nên cũng chẳng để ý, nhưng khi nghe Dương Quá gọi Hoàng Dung là Quách phu nhân, thì biết ngay đây là kẻ thù mà mẫu thân nàng ngày đêm căm hận, Dương Quá chẳng những không giết mụ ta, còn dẫn mụ ta đến đây, thì bất giác cả nghi, lùi lại hai bước, không hành lễ, nói:

– Gia mẫu thỉnh các vị tới đại sảnh dùng trà.

Nàng thầm nghĩ có quá nhiều biến cố, mọi việc hãy để mẫu thân chủ trì, thế là nàng dẫn mọi người tới đại sảnh.

Cầu Thiên Xích ngồi trong sảnh, lên tiếng:

– Lão phu nhân chân tay tàn phế, không thể đón khách, xin được lượng thứ.

Từ Ân trong lòng nhớ muội tử hồi còn là thiếu nữ mười tám tuổi, trắng trẻo dễ thương, thành hôn với Công Tôn Chỉ, bây giờ chỉ thấy trước mắt một bà lão xấu xí, mặt mày nhăn nheo, tóc lưa thưa, thì nao nao trong dạ.

Nhất Đăng đại sư thấy mục quang của Từ Ân có ánh lạ thì không khỏi lo lắng cho y. Đại sư bình sinh giáo hóa được không biết bao nhiêu người, chỉ riêng gã đệ tử này vẫn chưa thể đại triệt đại ngộ, hối ác hành thiện, bởi lẽ y võ công cao thâm, lại từng làm bang chủ một bang, quả là một nhân vật phi thường trong võ lâm, chìm đắm quá sâu, sửa lỗi càng khó vô cùng. Y đã ẩn cư chốn thâm sơn hơn mười năm, sống yên ổn; nay trở lại giang hồ, sự vật trước mắt lại khiến y gợi nhớ dĩ vãng. Tục ngữ có câu "Không nhìn thấy cái mình muốn, tâm không rối loạn", vừa thấy cái mình muốn, thì tâm càng loạn, nói gì đến chuyện tự tu tự dưỡng? Nhất Đăng đại sư lần này cho Từ Ân đến Tuyệt Tình cốc, cố nhiên để cứu sư đệ là Chu Tử Liễu song cũng là có thâm ý rèn giũa thêm cho y. Cầu Thiên Xích thấy Dương Quá biệt tăm không trở về, tưởng chàng đã bị chất độc phát tác mà chết, đột nhiên thấy chàng tươi cười xuất hiện trước mặt, thì lấy làm lạ hỏi:

– Ngươi vẫn chưa chết ư?

Dương Quá cười đáp:

– Tại hạ đã uống linh dược, giải hết chất độc của các vị rồi.

Cầu Thiên Xích nghĩ: "Hừ, không lẽ trên thế gian còn có linh dược khác trị được chất độc hoa Tình hay sao?" Đột nhiên mụ nghĩ ra, cười khẩy, nói:

– Đừng nói chuyện hoang đường, nếu quả có linh dược khác giải độc, thì Thiên Trúc lão tăng và gã thư sinh Chu Tử Liễu còn đến đây làm gì?

Dương Quá nói:

– Cầu lão tiền bối, Thiên Trúc thần tăng và Chu tiền bối bị nhốt ở chỗ nào vậy? Nay vãn bối đã thân chinh tới đây, xin lão tiền bối hãy thả họ ra!

Cầu Thiên Xích cười gằn, nói:

– Trói hổ dễ, thả hổ khó đấy!

Mụ nói thật, mụ bị tàn phế tứ chi, chỉ dựa vào Ngư võng trận mới bắt được Thiên Trúc cao tăng và Chu Tử Liễu. Nếu đem họ thả ra, Thiên Trúc cao tăng không biết võ công đã đành, chứ Chu Tử Liễu nhất định sẽ báo thù, chúng đệ tử Tuyệt Tình cốc đâu có ai địch nổi Chu Tử Liễu.

Dương Quá nghĩ chỉ cần để Cầu Thiên Xích gặp được huynh trưởng, mọi việc sẽ tốt đẹp, bèn mỉm cười, nói:

– Cầu lão tiền bối, hãy nhìn kỹ xem tại hạ dẫn ai về gặp lão tiền bối nào? Nhất định lão tiền bối sẽ mừng lắm.

Cầu Thiên Xích và huynh trưởng xa nhau đã mấy chục năm, Từ Ân lại ăn mặc như một hòa thượng, mụ tuy biết huynh trưởng đã xuất gia, nhưng trong lòng chỉ nhớ Cầu Thiên Nhẫn là một thanh niên khỏe mạnh nhanh nhẹn, nhất thời làm sao nhận ra hắc y lão tăng là huynh trưởng của mình? Mụ nghe nữ nhi bẩm cáo, chỉ biết kẻ thù giết đại ca là Hoàng Dung đã đến, nên đưa mắt quét cả bọn một lượt, cuối cùng dừng lại ở Hoàng Dung, nghiến răng nói:

– Ngươi là Hoàng Dung! Đại ca ta đã chết bởi tay ngươi!

Dương Quá kinh ngạc, chàng vốn muốn để huynh muội mụ ta gặp nhau, mụ lại nhận ra kẻ thù trước, vội nói:

– Cầu lão tiền bối, việc ấy tạm thời nói sau, lão tiền bối hãy nhìn kỹ xem còn ai nữa nào?

Cầu Thiên Xích quát:

– Chẳng lẽ cả Quách Tĩnh cũng đến hay sao? Càng hay, càng hay!

Cầu Thiên Xích nhìn Võ Tam Thông, lại nhìn Gia Luật Tề, cảm thấy một người thì quá già, một người quá trẻ, đều không phải là Quách Tĩnh, đưa mắt tìm xem Quách Tĩnh đứng đâu, đột nhiên ánh mắt bắt gặp ánh mắt của Từ Ân, bốn mắt nhìn nhau, tâm ý tương thông. Từ Ân bước nhanh tới, gọi:

– Tam muội!

Cầu Thiên Xích cũng gọi to:

– Nhị ca.

Hai người trong lòng có muôn lời, nhưng nhất thời không biết nói gì, lát sau, Cầu Thiên Xích hỏi:

– Nhị ca, sao nhị ca lại đi làm hòa thượng?

Từ Ân hỏi:

– Tam muội, chân tay tam muội sao lại bị tàn phế?

Cầu Thiên Xích đáp:

– Muội bị trúng gian kế của tên gian tặc Công Tôn Chỉ.

Từ Ân kinh ngạc hỏi:

– Công Tôn Chỉ? Chồng của muội ư? Hắn đi đâu rồi?

Cầu Thiên xích tức giận nói:

– Nhị ca còn bảo hắn là chồng của muội nữa ư? Tên gian tặc lang tâm cẩu phế ấy đã ám toán muội.

Từ Ân khó kìm cơn giận, nói to:

– Tên gian tặc ấy đâu rồi? Để ta băm hắn thành muôn mảnh, cho muội bõ tức.

Cầu Thiên Xích lạnh lùng nói:

– Muội tuy bị ám toán song chưa mất mạng, đại ca thì lại bị kẻ khác hại chết.

Từ Ân buồn rầu nói:

– Phải.

Cầu Thiên Xích bỗng gằn giọng, nói:

– Nhị ca bản lĩnh đầy mình, cớ sao đến hôm nay vẫn chưa báo thù cho đại ca? Tình thủ túc để đâu?

Từ Ân giật mình, lẩm bẩm:

– Báo thù cho đại ca? Báo thù cho đại ca?

Cầu Thiên Xích quát:

– Tặc nhân Hoàng Dung đang ở ngay trước mắt, nhị ca hãy giết nó trước, rồi sẽ đi tìm Quách Tĩnh sau.

Từ Ân nhìn Hoàng Dung, dị quang trong mắt chợt mạnh hẳn lên.

Nhất Đăng đại sư thong thả bước đến, dịu giọng nói:

– Từ Ân, người xuất gia sao lại khởi sát niệm? Huống hồ cái chết của huynh trưởng ngươi là do hắn tự chuốc lấy, không nên oán trách người khác.

Từ Ân cúi đầu ngẫm nghĩ một lát, rồi nói nhỏ:

– Sư phụ nói phải, tam muội, mối thù này không thể báo.

Cầu Thiên Xích trừng mắt nhìn Nhất Đăng đại sư, tức giận nói:

– Lão hòa thượng hồ thuyết bát đạo, nhị ca, họ Cầu ta người người hào kiệt, đại ca bị kẻ khác giết mà nhị ca hoàn toàn bỏ qua, thì có đáng mặt anh hùng hảo hán nữa không?

Từ Ân trong lòng bối rối, lẩm bẩm một mình: "Ta có đáng mặt anh hùng hảo hán nữa không?"

Cầu Thiên Xích nói:

– Đúng thế! Nhị ca năm xưa tung hoành giang hồ, đại danh "Thiết chưởng thủy thượng phiêu" xiết bao uy phong, nào ngờ về già lại biến thành một gã thất phu tham sống sợ chết. Cầu Thiên Nhẫn, muội nói cho nhị ca biết, nhị ca mà không trả thù cho đại ca thì đừng coi ta là muội muội nữa!

Mọi người thấy Cầu Thiên Xích dồn ép như vậy, đều nghĩ: "Mụ già này lợi hại quá chừng!" Hoàng Dung năm xưa từng trúng một chưởng của Cầu Thiên Nhẫn, may được Nhất Đăng đại sư trượng nghĩa cứu giúp mới thoát chết, dĩ nhiên biết Cầu Thiên Nhẫn võ công rất cao cường, lập tức thầm tính mấy cách thoát thân. Quách Phù thì không nhịn được nữa, nói:

– Mẫu thân ta chẳng qua chưa cho mụ biết tay chứ không sợ gì mụ già đâu! Mụ già còn nhiều lời xúc phạm, bổn cô nương sẽ không khách sáo với mụ già nữa đó.

Hoàng Dung định quát con, nhưng nghĩ lại: "Cầu Thiên Nhẫn bị mụ ta nói khích, xem chừng không kìm được, Phù nhi xen vào như thế có thể làm cho y bị phân tâm". Quách Phù thấy mẫu thân không ngăn cản, lại nói:

– Chúng tôi từ xa đến, đều là khách, mụ đã chẳng tiếp đãi thì chớ, lại còn vô lễ như thế, đừng có mà khoe mẽ anh hùng với chả hảo hán!

Cầu Thiên Xích lẩm bẩm:

– Hay, ngươi là con gái của Quách Tĩnh và Hoàng Dung, ngươi là con gái của Quách Tĩnh và..

Hai chữ "Hoàng Dung" chưa nói ra, bỗng "phụt" một tiếng, một hạt táo cứng từ trong miệng phụt ra, bay nhanh tới mặt Quách Phù. Lúc Cầu Thiên Xích nói "Ngươi là con gái của Quách Tĩnh và.." ai cũng nghĩ mụ sẽ nói tiếp hai tiếng "Hoàng Dung", nào ngờ mụ lại tròn môi phóng ám khí; điều này hoàn toàn bất ngờ, mà phóng hạt táo lại là thần kỹ của Cầu Thiên Xích, ngay Công Tôn Chỉ võ công cao minh như thế mà còn bị mụ bắn mù mắt phải, Quách Phù đừng nói chống đỡ, ngay việc tránh né cũng không kịp.

Trong đám đông, chỉ có Dương Quá và Tiểu Long Nữ biết Cầu Thiên Xích có thần kỹ kia. Tiểu Long Nữ không ngờ mụ đả thương người khác, Dương Quá thì thời thời khắc khắc đều lưu tâm, luôn luôn chăm chú nhìn mặt Cầu Thiên Xích, thấy môi mụ ta tròn lại, không phải cái kiểu nói hai tiếng "Hoàng Dung", chàng liền vọt tới, rút thanh kiếm sau lưng Quách Phù, đưa ra gạt. Nghe "cạch" một tiếng, trường kiếm bị hạt táo cứng đánh gãy đôi, một nửa rơi xuống đất.

Mọi người ồ lên kinh hãi, Hoàng Dung và Quách Phù càng sợ tái cả mặt. Hoàng Dung tự trách: "Mình đoán mụ ta tất có thủ đoạn tàn ác, song không thể ngờ mụ ta thân bất động, chân không giơ, tay không vung, đầu không hất, vậy mà lại có thể phóng ám khí ghê gớm đến thế". Hạt đánh gãy đôi thanh kiếm, kình lực mạnh cỡ đó, người người đều nhìn rõ, cùng nghĩ bụng: "Nếu không có Dương Quá đỡ hộ, Quách Phù còn gì tính mạng nữa chứ? Chàng xuất thủ thần tốc quá chừng!"

Cầu Thiên Xích quắc mắt nhìn Dương Quá, không ngờ chàng dám cả gan cứu người, lạnh lùng nói:

– Hôm nay ngươi lại trúng độc hoa Tình một lần nữa, hiện thời chưa phát tác, nhưng ngươi nhất định sẽ không sống quá ba ngày nữa. Trên thế gian còn có nửa viên thuốc giải độc mà thôi, ngươi chưa chịu tin hay sao?

Dương Quá khi xuất thủ cứu Quách Phù, trong khoảnh khắc ấy làm gì còn thời gian để nghĩ đến chuyện ấy, giờ nghe Cầu Thiên Xích nhắc nhở, không khỏi rùng mình, bèn bước tới, cúi mình sát đất, nói:

– Cầu lão tiền bối, vãn bối chưa đắc tội gì với lão tiền bối, nếu được lão tiền bối ban cho giải dược, suốt đời xin ghi tạc đại đức.

Cầu Thiên Xích nói:

– Ta được nhìn thấy ánh mặt trời, có thể nói cũng là nhờ ngươi cứu ra. Nhưng mụ già này có thù tất báo, chịu ơn chưa chắc đã nhớ. Ngươi đã đáp ứng mang thủ cấp Quách Tĩnh, Hoàng Dung về đây, ta sẽ cho giải dược. Ai ngờ ngươi chẳng những không thực hiện ước hẹn, còn cứu giúp kẻ thù của ta, còn nói cái gì nữa?

Công Tôn Lục Ngạc thấy tình thế gấp rút, nói:

– Mẹ ơi, oán cừu của cữu cữu không liên quan gì đến Dương đại ca. Mẹ.. mẹ hãy tỏ ra từ bi một lần đi mẹ.

Cầu Thiên Xích nói:

– Nửa viên thuốc giải độc ấy, ta sẽ ban cho con rể của ta, chẳng thể dễ dàng đem cho người ngoài.

Công Tôn Lục Ngạc nghe vậy đỏ bừng cả mặt.

Quách Phù được Dương Quá cứu mạng, đến lúc này mới tin Dương Quá đầy lòng nghĩa hiệp, quả nhiên không có ý đem muội tử đi đổi lấy giải dược, nghĩ mình toàn làm cho chàng tổn thương, mà chàng thì toàn lấy đức báo oán, bèn nói to:

– Dương đại ca, tiểu muội trước đây toàn nghĩ sai, xin đại ca tha thứ cho.

Nhưng rồi chẳng hiểu vì sao nàng không bỏ được ác cảm với chàng, vừa nói câu kia xong, lại nghĩ: "Ngươi cứu ta, chẳng qua chỉ muốn ta mến phục ngươi, cảm kích ngươi, chứng tỏ ngươi tuy chỉ có một tay vẫn hơn ta đủ hai tay chứ gì?"

Dương Quá mỉm cười, nụ cười có ý cam chịu, chàng nghĩ: "Cô nương nhận lỗi, thật quá dễ, đâu biết ta và Long nhi vì cô nương mà phải gánh chịu bao nhiêu đau khổ." Chàng thấy Cầu Thiên Xích trừng mắt nhìn mình, rõ ràng nếu không đáp ứng lấy con gái mụ ta, mụ ta quyết không chịu cho nửa viên thuốc giải độc, chàng chưa dứt khoát, sẽ gây khó xử cho Công Tôn Lục Ngạc và Tiểu Long Nữ, bèn nói rành rọt:

– Tại hạ đã có thê tử là Long thị, Dương Quá này thà chết há có thể làm kẻ phụ nghĩa được sao?

Đoạn chàng quay mình, cầm tay Tiểu Long Nữ đi ra cửa, nghĩ: "Các người cứ việc ở đây mà tranh biện với nhau, ta càng dễ đi cứu Thiên Trúc cao tăng và Chu đại thúc".

Cầu Thiên Xích cười khẩy, nói:

– Được được lắm? Ngươi tự nguyện mất mạng, lão bà này vô can.

Đoạn mụ quay sang phía Từ Ân, nói:

– Nhị ca, nghe nói Hoàng Dung là bang chủ Cái Bang, bang Thiết chưởng của chúng ta không dám đắc tội với nó phải không?

Từ Ân nói:

– Bang Thiết chưởng ư? Đã giải tán từ lâu, làm gì còn bang Thiết chưởng nào nữa?

Cầu Thiên Xích nói:

– Thảo nào, chẳng trách nhị ca không còn chỗ dựa, cho nên lá gan cũng nhỏ đi..

Mụ không ngớt nói khích, Công Tôn Lục Ngạc không nghe mẫu thân nói nữa, chỉ nhìn Dương Quá đang thong thả đi ra khỏi đại sảnh. Nàng đột nhiên chạy đuổi theo, gọi:

– Dương Quá, huynh vô tình vô nghĩa, phụ lòng mong đợi của muội.

Dương Quá ngạc nhiên dừng bước, nghĩ cô nương này vốn giữ lễ đâu ra đó, sao bỗng dưng lại thất thường thế này, chàng lẽ nghe chàng và Long nhi thành hôn, thì khó chịu hay sao? Chàng cảm thấy hơi ngần ngại, ngoái đầu, nói:

– Công Tôn cô nương..

Công Tôn Lục Ngạc mắng:

– Ngươi là tên gian tặc, bổn cô nương sẽ cho ngươi biết, vào đây thì dễ, ra khỏi đây không dễ đâu..

Miệng nàng nói nặng lời, nhưng sắc diện lại dịu dàng, đồng thời liên tiếp nháy mắt với chàng. Dương Quá thấy vậy, đoán có duyên cớ gì đây, cũng giả bộ quát:

– Thì cứ thử coi làm gì nổi ta? Một cái Tuyệt Tình cốc nhỏ hẹp này cũng khó ngăn được người.

Chàng ngoảnh mặt vào phía đại sảnh, Cầu Thiên Xích nhìn thấy rõ, cho nên sắc mặt không dám tỏ vẻ gì khác thường.

Công Tôn Lục Ngạc mắng:

– Bổn cô nương hận không bẻ ngươi làm hai, xem trong ruột ngươi có cái gì..

Nàng tròn miệng thổi ra một hạt táo bay về phía Dương Quá.

Dương Quá giơ tay đón lấy, cười khẩy, nói:

– Cô nương hãy mau quay vào đi, ta không muốn đả thương cô nương, cái thứ ám khí tầm thường này của cô nương mà đòi gây khó dễ với ta ư?

Công Tôn Lục Ngạc nháy mắt, ngụ ý bảo chàng hãy mau đi ra, rồi bỗng ôm mặt, kêu to:

– Mẹ ơi, hắn.. hắn khinh người?

Đoạn chạy trở vào. Nàng một phen tương tư hóa thành hư không, ý trung nhân đã kết duyên với người khác, nỗi thương tâm này chẳng giả dối chút nào.

Cầu Thiên Xích thấy nàng nước mắt giàn giụa, bèn quát:

– Ngạc nhi, còn ra thể thống gì nữa? Tên tiểu tử ấy chỉ còn sống được vài ngày nữa thôi.

Công Tôn Lục Ngạc gục đầu vào lòng mẹ, khóc nức nở.

Vở diễn ấy mọi người trong sảnh đều bị mắc lừa, chỉ riêng Hoàng Dung cứ cười thầm trong bụng, nghĩ: "Cô nương giả vờ giận dỗi với Dương Quá, cốt bà mẹ không đề phòng, để thừa cơ lấy trộm giải dược. Không ngờ tên tiểu tử Dương Quá ở nơi nào cũng làm cho các cô nương xinh đẹp phải điêu đứng vì hắn". Nghĩ đến đó, Hoàng Dung nhìn Trình Anh và Lục Vô Song một cái.

Dương Quá bắt lấy hạt táo, rảo bước ra ngoài, cảm thấy câu nói rất lạ của Công Tôn Lục Ngạc, nhất thời chưa hiểu dụng ý của nàng. Tiểu Long Nữ nhìn sắc diện và ánh mắt của Công Tôn Lục Ngạc, cũng biết lời mắng nhiếc là giả, bèn nói:

– Quá nhi, nàng ta giả bộ giận chàng, nhân lúc bà mẹ không đề phòng, thừa cơ lấy trộm giải dược hay chăng?

Dương Quá nói:

– Hình như là thế.

Hai người qua một chỗ quanh, thấy xung quanh không có ai, mới đưa hạt táo lên xem kỹ, thấy dường như bên trong có chứa vật gì. Chàng bóp nhẹ, hạt táo vỡ đôi, trong rỗng, có nhét một mẩu giấy mỏng vo tròn. Tiểu Long Nữ cười, nói:

– Lời cô nương ấy là một câu đố, cái gì mà "bẻ ngươi làm hai, xem trong ruột ngươi có cái gì". Thì ra là vậy!

Dương Quá mở tờ giấy, hai người chụm đầu xem, trên đó viết: "Nửa viên thuốc giải độc mẫu thân cất vào một chỗ bí mật, đang tìm cách lấy trộm tặng huynh. Thiên Trúc cao tăng và Chu tiền bối bị nhốt ở Hỏa hoàn thất". Bên dưới vẽ địa đồ, thông lộ ngoằn ngoèo, dừng lại ở chỗ đề ba chữ "Hỏa hoàn thất".

Dương Quá cả mừng, nói:

– Chúng ta đi mau, giờ chính là lúc không có ai cản trở.

Comments

0 comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 31: Nửa Viên Linh Dược

Tuyệt Tình cốc chiếm một diện tích rộng hơn ba vạn mẫu, nằm lọt giữa bốn bề rừng núi, đường đi ngoằn ngoèo, gò đống nhấp nhô; nhưng Dương Quá và Tiểu Long Nữ thi triển khinh công, theo địa đồ mà đi, chẳng mấy chốc đã đến nơi. Trước mặt bảy, tám trượng có mấy cây du lớn sum sê, tán lá đan vào nhau, bên dưới tán lá là một cái nhà hầm lớn xây bằng gạch chịu lửa, theo địa đồ thì đây là Hỏa hoàn thất, nơi nhốt Thiên Trúc cao tăng và Chu Tử Liễu.

Dương Quá nói với Tiểu Long Nữ:

– Long nhi ở đây chờ, ta vào trước xem sao, trong ấy muội than, bụi đất, chắc dơ dáy lắm.

Chàng cúi người chui vào nhà hầm, một luồng hơi nóng phả vào mặt, tiếp đó có tiếng quát hỏi:

– Ai đấy?

Dương Quá nói:

– Cốc chủ có lệnh đến dẫn tù đi.

Người hỏi từ sau bức tường gạch bước ra, hỏi "Cái gì?" Y thấy Dương Quá thì càng kinh ngạc, lắp bắp:

– Công tử.. công tử..

Dương Quá thấy y là một đệ tử áo xanh, bèn nói:

– Cốc chủ lệnh cho ta dẫn lão hòa thượng và thư sinh họ Liễu rời khỏi nơi đây.

Gã đệ tử áo xanh biết cốc chủ chính là người được Dương Quá cứu sống, trước mọi người nói muốn gả con gái cho chàng, Công Tôn Lục Ngạc giao hảo với chàng, người này rồi đây hẳn sẽ làm cốc chủ, mình chớ nên đắc tội, gã nói:

– Nhưng.. xin cho xem lệnh bài của cốc chủ..

Dương Quá không lý đến, chỉ nói:

– Ngươi mau đưa ta vào coi.

Gã đệ tửáo xanh đáp ứng, quay người đi vào.

Qua bức tường chắn, hơi nóng càng rõ, có hai kẻ đang ôm củi ném vào lò đốt, trời bên ngoài giá lạnh, mà hai gã kia đóng khố cởi trần, mồ hôi nhễ nhại. Gã đệ tử áo xanh đẩy một hòn đá lớn, lộ ra một lỗ hổng nhỏ. Dương Quá ngó vào bên trong, thấy một gian thạch thất chỉ rộng hơn một trượng, Chu Tử Liễu đang ngồi quay mặt vào vách, giơ ngón tay trỏ, vạch vạch các nét trên tường, hẳn là đang ghi lại nhưng lời trăn trối, chỉ thấy cánh tay Chu Tử Liễu lên xuống như múa, tựa hồ cực kỳ đắc ý. Vị Thiên Trúc cao tăng thì nằm dưới nền, không biết sống chết thế nào. Dương Quá gọi:

– Chu đại thúc, mạnh khỏe chứ?

Chu Tử Liễu ngoảnh đầu nhìn ra, cười, đáp:

– Có bằng hữu từ phương xa đến, không vui sao được?

Dương Quá thầm thán phục, nghĩ bụng vị này bị nhốt lâu ngày, mà an nhiên như thường, lâm nạn mà bình thản tự đắc, được cứu cũng không hớn hở, tu luyện đến thế, chàng thật không theo kịp, mới hỏi:

– Lão thần tăng đang ngủ ư?

Chàng hỏi câu đó mà trống ngực đập mạnh, lòng hồi hộp, bởi lẽ tính mạng của Tiểu Long Nữ hoàn toàn trông chờ vào vị thần tăng này. Chu Tử Liễu không đáp, một lát sau mới khẽ thở dài, nói:

– Bản lĩnh chống chọi hàn nhiệt của lão sư thúc vốn hơn hẳn ta, thế nhưng..

Dương Quá nghe ngữ ý, tựa hồ lão thần tăng đã gặp điều bất trắc, lòng thầm sợ hãi, không chờ Chu Tử Liễu nói hết câu, quay sang bảo gã đệ tử áo xanh:

– Mau mở cửa đưa họ ra.

Gã đệ tử áo xanh kinh ngạc, hỏi:

– Chìa khóa đâu? Cốc chủ đích thân cầm chìa khóa. Nếu đã sai công tử đến thả người, sao không đưa chìa khóa cho công tử?

Dương Quá nóng ruột, quát:

– Xê ra!

Chàng vung Huyền thiết trọng kiếm chém một cái, bức tường đá thủng một lỗ to; gã đệ tử áo xanh trố mắt kinh ngạc. Dương Quá chọc ba nhát kiếm, thúc ngang hai nhát, tạo được một lỗ hổng to, vừa cho một người chui qua.

Chu Tử Liễu reo lên:

– Dương huynh đệ, cung hỉ huynh đệ võ công đại tiến!

Rồi cúi xuống xốc lão thần tăng đưa qua lỗ hổng. Dương Quá đưa tay đón lấy, chạm vào cánh tay của lão thần tăng, thấy âm ấm, chàng bớt lo hẳn, nhưng lại thấy hai mắt lão thần tăng nhắm nghiền, nghĩ: "Ôi chao, ở trong cái Hỏa hoàn thất này thì xác chết cũng sẽ ấm nóng". Chàng vội đưa tay xem hơi thở đằng mũi, cảm thấy vẫn có hơi thở nhè nhẹ. Chu Tử Liễu từ bên trong chui ra, nói:

– Sư thúc bị hôn mê, nhưng không đáng ngại lắm đâu.

Dương Quá đỏ mặt, ngượng thầm. Chàng tự biết mình quan tâm thật sự không phải đến sự sống chết của lão thần tăng, mà là không biết có cứu được vợ mình hay không, chàng hỏi:

– Lão thần tăng bị ngất vì khí nóng chăng? Mau mang ra chỗ thoáng khí mới được.

Rồi chàng ôm lão thần tăng đi ra ngoài.

Tiểu Long Nữ thấy ba người ra thì mừng rỡ lại đón. Dương Quá nói:

– Lấy ít nước mát vẩy lên mặt đại sư.

Chu Tử Liễu nói:

– Không, sư thúc ta bị trúng độc hoa Tình đấy.

Dương Quá kinh ngạc, hỏi:

– Trúng nặng lắm không?

Chu Tử Liễu nói:

– Ta nghĩ không ngại lắm, là sư thúc tự lấy gai hoa đâm vào mình.

Dương Quá và Tiểu Long Nữ kinh ngạc, cùng hỏi:

– Sao vậy?

Chu Tử Liễu nói:

– Sư thúc ta bảo, loài hoa này đã sớm tuyệt chủng ở nước Thiên Trúc, không biết sao lại truyền đến Trung Nguyên. Nếu truyền tiếp đi, tai họa sẽ không nhỏ, hồi xưa ở Thiên Trúc đã có vô số người và gia súc bị chết vì trúng độc loài hoa này. Lão thần tăng bình sinh tinh nghiên thuật trị độc, nhưng độc tính hoa Tình quả nhiên quá lạ, khi mới đến sơn cốc này, sư thúc ta đã biết khó lấy được nửa viên linh đan, dẫu có lấy được, cũng chỉ cứu sống một người, nên lão thần tăng thề tìm bằng được bài thuốc giải độc để cứu giúp mọi người. Lão thần tăng lấy thân mình thử độc, phải biết đích xác độc tính hoa Tình thế nào mới có thể phối dược.

Dương Quá vừa kinh ngạc vừa thán phục, nói:

– Phật bảo ta không xuống địa ngục, thì ai chịu xuống? Đại sư muốn cứu người đời mà không ngại đại nạn, thật làm cho người ta khâm ngưỡng.

Chu Tử Liễu nói:

– Theo truyền thuyết, Thần Nông nếm thửhàng trăm loài thảo mộc, tìm thần dược cứu người, do luôn luôn bị trúng độc mà mặt mày xanh lè. Sư thúc của ta cũng có hoài bão như vậy.

Dương Quá gật đầu, nói:

– Đúng thế. Không biết khi nào lão thần tăng sẽ tỉnh lại?

Chu TửLiễu nói:

– Sư thúc ta lấy gai hoa Tình tự đâm vào người, bảo rằng nếu đúng như dự liệu, ba ngày ba đêm sẽ tỉnh lại, tính đến lúc này đã hai ngày đêm rồi.

Dương Quá và Tiểu Long Nữ nhìn nhau, cùng nghĩ: "Lão thần tăng hôn mê ba ngày ba đêm, trúng độc rất nặng. May mà độc tính của hoa Tình công phạt tùy người, ai có ái tình nam nữ, nó càng phát tác dữ dội. Vị đại hòa thượng này tứ đại giai không, khả năng chống độc cao hơn người thường rất nhiều".

Tiểu Long Nữ nói:

– Hai vị ở trong nhà hầm, lấy đâu ra hoa Tình vậy?

Chu Tử Liễu nói:

– Hai ta bị nhốt trong Hỏa hoàn thất, có một cô nương trẻ trung thường ghé thăm..

Tiểu Long Nữ nói:

– Là người lưng dài, mặt trắng, bên mép có nốt ruồi nhỏ phải không?

Chu Tử Liễu nói:

– Đúng vậy.

Tiểu Long Nữ nhìn Dương Quá, cười, nói với Chu Tử Liễu:

– Đó là con gái của cốc chủ, Lục Ngạc cô nương. Nàng ta nghe nói hai vị đến xin giải dược cho Dương Quá, nên đối đãi khác hẳn với hai vị. Trừ việc không dám mở cửa thả hai vị ra, còn hai vị muốn xin thứ gì, nàng ta cũng cho.

Chu Tử Liễu nói:

– Đúng thế. Sư thúc ta xin một cành hoa Tình, ta nhờ nàng gửi thư cầu cứu ra bên ngoài, nàng đều đáp ứng. Hỏa hoàn thất này có qui định mỗi ngày đốt lò một canh giờ, nhờ có nàng bảo người giảm lửa mà hai ta mới không bị hun nóng quá. Ta hỏi nàng là ai, nàng không chịu nói, không ngờ lại là con gái cốc chủ.

Tiểu Long Nữ nói:

– Chúng vãn bối sở dĩ tìm đến đây, cũng là nhờ cô nương ấy chỉ điểm.

Dương Quá nói:

– Tôn sư Nhất Đăng đại sư cũng đã đến đây.

Chu Tử Liễu cả mừng, nói:

– Ôi, chúng ta đi ra thôi.

Dương Quá hơi cau mày, nói:

– Cả Từ Ân hòa thượng cũng đến, chỉ e sự việc có điều phiền toái.

Chu Tử Liễu nói:

– Cả Từ Ân sư huynh cũng đã đến rồi, thế thì có gì không tốt kia chứ? Huynh muội họ gặp nhau, Cầu cốc chủ không thể không nể tình thân.

Chu Tử Liễu tuy nhập sư môn trước, nhưng Từ Ân về võ công và thân phận trên giang hồ đều ngang vai với Nhất Đăng đại sư, nên bọn Điểm Thương Ngư Ẩn và Chu Tử Liễu kính nể Từ Ân, tôn y làm sư huynh. Chu Tử Liễu nhờ Công Tôn Lục Ngạc gửi thư cầu cứu, là mong Từ Ân cùng đến, để hai nhà hòa hảo, giờ nghe Dương Quá bảo là có điều phiền toái, thì Chu Tử Liễu chưa hiểu vì sao.

Dương Quá kể sơ qua tình hình Từ Ân tâm trí thất thường, Cầu Thiên Xích luôn dùng lời lẽ nói khích Từ Ân. Chu Tử Liễu nói:

– Quách phu nhân giá lâm sơn cốc, thật không gì bằng. Hoàng Dung quyền mưu cơ trí, thiên hạ vô song; huống hồ lại có sư phụ ta chủ trì đại cục, Dương huynh đệ thì võ công đại tinh tiến, tất không thể thua. Ta chỉ lo cho sức khỏe của sư thúc mà thôi.

Dương Quá cũng cảm thấy sự an nguy của Thiên Trúc cao tăng là chuyện hệ trọng nhất, bèn nói:

– Chi bằng hãy tìm một chỗ yên tĩnh, chờ đại sư hồi tỉnh. Vợ chồng vãn bối và Chu đại thúc cùng bảo hộ là được.

Chu Tử Liễu ngẫm nghĩ, nói:

– Tìm chỗ nào bây giờ?

Nghĩ ở Tuyệt Tình cốc này nơi nào cũng ngụy bí, khó bề tĩnh dưỡng, chợt nảy ra một ý, nói:

– Cứ ở ngay chỗ này.

Dương Quá hiểu ý ngay, nói:

– Chu đại thúc nói chí phải, chỗ này tưởng là hung hiểm, kỳ thực lại là nơi yên ổn nhất trong sơn cốc, chỉ cần khống chế mấy gã đệ tử áo xanh canh giữ, không để bọn họ tiết lộ cơ mật là được.

Chu Tử Liễu chỉ chỉ ngón tay, cười nói:

– Việc ấy dễ thôi.

Đoạn ôm lão thần tăng lên, nói:

– Bọn ta ở Hỏa hoàn thất này vững như bàn thạch, nhờ vợ chồng Dương huynh đệ đi giúp sư phụ ta một tay.

Dương Quá nghĩ Nhất Đăng đại sư bị thương chưa khỏi, Từ Ân thiện ác khó lường, nếu mình chỉ lo ở bên cạnh lão thần tăng thì không tránh khỏi tự tư, tâm khó an, thấy Chu Tử Liễu ôm lão thần tăng đi vào trong Hỏa hoàn thất, liền cùng Tiểu Long Nữ trở lại chỗ cũ.

Hai người đi qua một khu vực có rất nhiều bụi hoa Tình, hồi này mùa đông giá rét, hoa Tình cố nhiên không nở, lá cũng rụng hết, trơ lại toàn là cành gai xấu xí.

Dương Quá đột nhiên nhớ đến Lý Mạc Sầu, nói:

– Hoa Tình có mùa trông rất đẹp, mùa này quá xấu, y như sư tỷ của Long nhi vậy. Hoa xuân sớm tàn, gai nhọn đâm chết người.

Tiểu Long Nữ nói:

– Ước sao lão thần tăng tìm ra phương thuốc chữa được chất độc hoa Tình, không chỉ cứu chàng, mà cứu sống cả sư tỷ.

Dương Quá chỉ thầm mong lão thần tăng trước hết chữa trị chất độc trong nội tạng Tiểu Long Nữ, nếu lão thần tăng sau khi hôn mê không tỉnh lại, thì không biết sẽ thế nào? Chàng nhìn vợ, nhu tình vô hạn, bỗng ngực đau nhói lên một hồi. Chàng biết hôm nay chàng nhảy vào cứu tỷ muội Trình Anh, tái trúng độc hoa Tình nên thế. Chàng sợ Tiểu Long Nữ lo lắng cho chàng, bèn quay đầu nhìn các cành hoa Tình, nghĩ đến niềm sung sướng của tình ý và nỗi đau khổ của sự sinh tử mà ngẩn ngơ hồi lâu.

Lúc này ở đại sảnh của Tuyệt Tình cốc diễn ra một cảnh tượng khác. Cầu Thiên Xích nói khích huynh trưởng, giọng điệu càng lúc càng dữ. Nhất Đăng đại sư không nói một lời, để Từ Ân tự quyết định. Từ Ân lúc nhìn muội tử, lúc nhìn sư phụ, lúc nhìn Hoàng Dung, một người là thủ túc đồng bào, một người là ân sư truyền pháp, một người là kẻ thù sát huynh, trong lòng ân oán cứ khởi phục, thiện ác giao tranh, làm sao dễ dàng quyết định? Bao đại sự trong mấy chục năm từ nhỏ đến lớn, cứ không ngừng trôi qua trong óc, mắt có lúc rưng rưng lệ, miệng có lúc nở nụ cười, cuộc ác chiến diễn ra trong đầu chưa bao giờ dồn dập bằng hôm nay.

Lục Vô Song thấy Dương Quá đi ra ngoài hồi lâu không trở lại, mà tâm ý của Từ Ân như thế nào cũng chẳng can hệ gì đến nàng, bèn khẽ kéo áo Trình Anh một cái, rồi lẳng lặng ra khỏi sảnh. Trình Anh ra theo. Lục Vô Song hỏi:

– Chàng ngốc đi đâu nhỉ?

Trình Anh không trả lời, chỉ nói:

– Chàng bị trúng độc hoa Tình, không biết có nặng lắm không?

Lục Vô Song cũng lo lắng, nói:

– Ôi! Thật không ngờ cuối cùng chàng lại cùng sư phụ của chàng..

Trình Anh nói:

– Long cô nương vừa xinh đẹp, vừa tốt nết, người như thế mới xứng với Dương đại ca.

Lục Vô Song nói:

– Biểu tỷ làm sao biết Long cô nương tốt nết? Đến chuyện cũng chưa nói với nhau vài câu..

Bỗng nghe sau lưng có tiếng nói lạnh lùng:

– Nàng ta chân không thọt, dĩ nhiên là rất tốt.

Lục Vô Song rút phắt diệp liễu đao, quay người lại, thấy người vừa nói chính là Quách Phù. Quách Phù thấy đối phương rút diệp liễu đao, vội rút trường kiếm từ sau lưng Gia Luật Tề, hầm hầm quát:

– Muốn động thủ à?

Lục Vô Song cười hi hi, hỏi:

– Tại sao không dùng kiếm của mình?

Nàng bị thọt chân từ nhỏ, vốn coi đó là đại hận, người khác tránh không nhắc điều đó trước mặt nàng; hôm nay đấu khẩu với Quách Phù, bị Quách Phù mấy lần dùng chữ "thọt" để châm biếm, nàng bèn gợi lại chuyện đối phương mới bị gãy kiếm để trả miếng.

Quách Phù tức giận nói:

– Ta mượn kiếm người khác để lĩnh giáo võ công của ngươi đó.

Đoạn chém nhứ mấy cái, tiếng oăng oăng bất tuyệt. Lục Vô Song nói:

– Không còn ra trên dưới gì hết. Thì ra hài tử Quách gia quen vô lễ với bề trên thế đấy. Được, hôm nay ta sẽ giáo huấn cho ngươi một phen, để ngươi biết phải trái.

Quách Phù nói:

– Hừ, ngươi là bề trên ở chỗ nào?

Lục Vô Song cười, nói:

– Biểu tỷ của ta là sư thúc của ngươi, ngươi không gọi ta là cô cô, thì cũng phải gọi là a di, ngươi thử hỏi biểu tỷ ta xem có đúng thế không!

Đoạn chỉ Trình Anh.

Quách Phù vâng lệnh mẫu thân, đã gọi Trình Anh là "sư thúc", trong bụng hoàn toàn không phục, thầm trách ông ngoại quá tùy tiện thu nhận ấu đồ; lại nghĩ Trình Anh cùng lứa tuổi với mình, vị tất có bản lĩnh gì, lúc này bị Lục Vô Song giễu cợt, bèn nói:

– Ai biết là thật hay giả. Ông ngoại ta lừng danh thiên hạ, có vô số kẻ vô sỉ vẫn mạo nhận là đồ tử đồ tôn của người đó.

Trình Anh tuy tính nết ôn nhu, nhưng nghe câu nói ấy cũng tức giận; có điều lúc này nàng chỉ lo cho sự an nguy của Dương Quá, không muốn tranh hơn thua, bèn nói:

– Biểu muội, chúng mình đi tìm.. đi tìm Dương đại ca thôi.

Lục Vô Song gật đầu, nói với Quách Phù:

– Ngươi nghe rõ rồi chứ? Có đúng sư thúc ngươi gọi ta là biểu muội hay không? Quách đại hiệp và Hoàng bang chủ lừng danh thiên hạ, có vô số kẻ vô sỉ vẫn mạo nhận là con gái của họ đấy!

Nói đoạn cười hi hi, quay mình đi.

Quách Phù ngẩn người, nghĩ: "Có ai mạo nhận là con gái của cha mẹ ta kia chứ?" Nàng chợt hiểu, kêu "Thôi chết! Nó chửi mình là con hoang, không phải do cha mẹ mình sinh ra". Hiểu như vậy thì chịu sao nổi? Bèn đuổi theo, đâm một kiếm vào sau lưng Lục Vô Song.

Lục Vô Song nghe tiếng kiếm xé gió, liền vụt đao ra phía sau gạt kiếm. "Keng" một tiếng, cánh tay hơi tê dại. Quách Phù quát:

– Ngươi bảo ta là đồ con hoang phải không?

Trường kiếm liên tiếp tiến chiêu. Lục Vô Song đỡ trái gạt phải, cười khẩy, nói:

– Quách đại hiệp trung hậu, Hoàng bang chủ là nhi nữ của Đào Hoa đảo chủ, phẩm đức của hai vị ấy vô cùng cao siêu..

Quách Phù nói:

– Đừng nói nữa. Chớ có ca tụng cha mẹ ta để lấy lòng ta làm gì.

Quách Phù cho rằng Lục Vô Song thật lòng tán dương cha mẹ mình, thế kiếm đánh ra hơi chậm lại, nào ngờ Lục Vô Song lại nói:

– Còn ngươi, ngươi chém đứt cánh tay của Dương đại ca, chẳng biết phân biệt trắng đen phải trái, làm hại người tốt, hành động như thế đâu có chút gì giống với vợ chồng Quách đại hiệp? Chỉ làm cho người ta nghi ngờ.

Quách Phù hỏi:

– Nghi ngờ cái gì?

Lục Vô Song nói:

– Thì ngươi cứ nghĩ thử xem.

Gia Luật Tề đứng bên cạnh, biết Quách Phù tính ruột ngựa, không linh cơ bằng Lục Vô Song, đấu khẩu tất sẽ thua, mới vài câu Quách Phù đã không đối đáp nổi, bèn nói:

– Quách cô nương, đừng nhiều lời với nàng ta nữa.

Chàng đoán Quách Phù võ công cao hơn Lục Vô Song, cứ động thủ nhất định thắng. Ai ngờ Quách Phù đang tức giận, không rõ dụng ý của chàng, nói:

– Huynh chớ có đa sự, muội phải hỏi cho ra lẽ đã.

Lục Vô Song nhìn Gia Luật Tề, nói:

– Chó cắn Lã Động Tân, có người rồi đây sẽ khốn khổ.

Gia Luật Tề đỏ mặt, thầm nghĩ Lục Vô Song đã nhận biết chàng có tình ý với Quách Phù, câu nói vừa rồi ngụ ý Quách Phù là một vị cô nương ngang ngạnh, sau này chàng sẽ khổ sở vô cùng.

Quách Phù thấy Gia Luật Tề tự nhiên đỏ mặt, thì cả nghi, hỏi:

– Huynh nghi ngờ muội không phải là con gái của cha mẹ muội ư?

Gia Luật Tề nói:

– Không phải, không phải thế, chúng ta đi thôi, đừng chấp họ nữa!

Lục Vô Song cướp lời:

– Dĩ nhiên là chàng ta nghi ngờ rồi, nếu không sao bảo ngươi đi mau?

Quách Phù đỏ bừng cả mặt, tay lăm lăm thanh kiếm, không nói. Gia Luật Tề đành nói thẳng:

– Lục cô nương nói năng châm chọc, muội muốn tỷ võ thì làm luôn, không nên nhiều lời.

Lục Vô Song lại cướp lời:

– Chàng ta bảo ngươi không biết ăn nói, càng nói càng lộ cái ngốc đó.

Hiện thời Quách Phù cũng đã có tình ý với Gia Luật Tề, người ngoài nói động tới ý trung nhân một câu, cũng khiến nàng phải suy nghĩ, nghe Lục Vô Song nói vậy, nàng chỉ lo Gia Luật Tề sẽ coi thường mình. Nàng từ nhỏ được cha mẹ cưng chiều, hai người bạn nhỏ là huynh đệ họ Võ thì nhất nhất nghe lời nàng, trừ Dương Quá ngẫu nhiên đối chọi ra, chưa một ai đấu khẩu với nàng; hôm nay tự dưng gặp một đối thủ quá lợi hại, nàng liên tiếp bị lép vế, cũng biết nói thêm chỉ tổ thua kém, bèn nói:

– Ta không làm cho người thọt nốt cái chân còn lại, thì ta không phải người họ Quách.

Đoạn múa kiếm như gió mà tấn công Lục Vô Song. Lục Vô Song nói:

– Ngươi không cần đả thương chân ta, đã không phải người họ Quách rồi, ai mà biết ngươi họ Trương hay họ Lý?

Như vậy là nàng lại chửi Quách Phù là đứa "con hoang". Đôi bên đấu nhau kịch liệt. Vợ chồng Quách Tĩnh truyền thụ cho con toàn là võ công thượng thừa. Các môn công phu đó đều phải luyện từ căn cơ, nhất thời không thể tốc thành. Quách Phù về thiên tư ngộ tính thì giống cha chứ không giống mẹ, nên căn cơ tuy vững, võ công lại học chính tông, nhưng hiện thời chưa đến mức hỏa hầu, nhiều ngón sát thủ lợi hại còn chưa sử được; dù vậy, Lục Vô Song cũng không thể địch nổi Quách Phù; hơn nữa chân trái bị thọt, Lục Vô Song tiến thoái kém linh hoạt. Quách Phù giận dữ, chiêu số toàn tấn công hạ bàn, kiếm quang loang loáng, cứ nhắm chân phải đối phương mà đâm.

Trình Anh đứng ngoài nhìn, mày liễu hơi cau, nghĩ: "Biểu muội nhiếc móc người ta tuy cay độc, nhưng Quách cô nương cũng quá ngang ngược, chẳng trách nàng ta chém đứt cả cánh tay Dương đại ca. Cứ đấu nữa, chân phải của biểu muội nguy mất". Chỉ thấy Lục Vô Song liên tiếp thoái lui, Quách Phù chiêu chiêu dồn ép, bỗng soạt một tiếng, ống quần của Lục Vô Song bị rách một miếng, Lục Vô Song kêu "Úi chao!" nhảy lùi, mặt tái nhợt. Quách Phù sấn tới hai bước, đưa chân gạt ngang. Trình Anh thấy nàng ta đã thắng còn tấn công, Lục Vô Song lâm vào hiểm cảnh, bèn nhảy tới, dang hai tay can, nói:

– Quách cô nương thủ hạ lưu tình.

Quách Phù giơ mũi kiếm lên, thấy có dính máu, biết Lục Vô Song đã bị thương vào chân, đắc ý chỉ mặt đối phương, nói:

– Hôm nay ta giáo huấn ngươi, để từ nay ngươi không dám hồ thuyết bát đạo.

Lục Vô Song bị thương rất đau, tức giận nói:

– Một thanh kiếm của ngươi đòi bịt nổi miệng thiên hạ ư?

Nàng biết Quách Phù ỷ danh tiếng cha mẹ, nên cứ vu cho Quách Phù không phải là con gái của Quách Tĩnh, Hoàng Dung. Quách Phù quát:

– Miệng thiên hạ bảo sao?

Rồi sấn thêm bước nữa, chĩa mũi kiếm vào ngực Lục Vô Song.

Trình Anh đứng giữa, thấy thanh kiếm chĩa tới, bèn giơ ba ngón tay đẩy nhẹ vào thân kiếm, gạt sang một bên, khuyên:

– Biểu muội, Quách cô nương, chúng ta đang ở nơi nguy hiểm, đừng tranh giành hơn thua vô vị nữa.

Quách Phù đang chĩa kiếm ra, bị Trình Anh tay không đẩy gạt đi, thì vừa ngán vừa tức, quát:

– Muốn giúp kẻ kia phải không? Được lắm, hai người cứ việc liên thủ mà đối phó với một mình ta, ta cũng không sợ, lấy binh khí ra đi!

Nói đoạn chĩa kiếm vào ngực Trình Anh, lăm lăm định đâm, nhưng chờ đối phương rút cây ngọc tiêu sau lưng ra.

Trình Anh cười nhạt, nói:

– Muội khuyên hai vị đừng tranh giành, tự mình lẽ nào lại đi tranh giành hơn thua? Gia Luật huynh, huynh cũng hãy khuyên nhủ Quách cô nương đi.

Gia Luật Tề nói:

– Đúng thế, Quách cô nương, chúng ta đang ở trong sơn cốc do địch nhân kiểm soát, phải rất cẩn thận mới được.

Quách Phù nói:

– A, huynh không giúp muội, lại đi giúp người ngoài phải không?

Nàng thấy Trình Anh nhã nhặn dễ thương, phong thái điềm tĩnh, đột nhiên nghi: "Không chừng chàng thích nàng ta?" Gia Luật Tề không đoán biết Quách Phù nghĩ gì, nói:

– Lão hòa thượng Từ Ân hơi cổ quái, chúng ta phải vào giúp lệnh đường thì hơn.

Lục Vô Song nghe câu nói của Quách Phù, nhìn sắc mặt, lập tức đoán biết tâm sự của nàng ta, liền nói:

– Biểu tỷ của ta tướng mạo xinh đẹp hơn nhà ngươi, nhân phẩm thì ôn nhu hơn, võ công cũng cao hơn hẳn nhà ngươi, nhà ngươi phải cẩn thận mà giữ đấy!

Mỗi lời ấy đều đánh trúng tâm sự của Quách Phù, nàng giật mình, hỏi:

– Ta phải cẩn thận giữ cái gì?

Lục Vô Song cười khẩy, nói:

– Chỉ có kẻ ngốc mới không thích biểu tỷ ta, đi thích nhà ngươi! Nhà ngươi ngang ngược đanh ác, có gì tốt kia chứ?

Ý hai câu này đã quá rõ, Quách Phù chịu sao nổi? Trường kiếm rung động, lách qua Trình Anh mà đâm tới sườn Lục Vô Song.

Chiêu này gọi là "Ngọc lậu thôi ngân tiễn", là tuyệt kỹ gia truyền do Hoàng Dung dạy cho nàng, mũi kiếm đâm cong đi, thế đi tựa hồ không gấp, nhưng mũi kiếm bao trùm một khoảng rộng, đối phương võ công phải cao cường mới có thể dùng binh khí chống đỡ nổi. Trình Anh cau mày, nghĩ thầm: "Cô nương này sao lại sử dụng chiêu số tàn ác thế? Biểu muội ta dù có lời lẽ đắc tội với ngươi, song cũng đâu phải là tử cừu đại địch mà bất phân khinh trọng, nỡ hạ sát thủ?" May Hoàng Dược Sư cũng dạy cho nàng lộ kiếm pháp này, bèn dồn sức ra ngón tay giữa, búng vào thân kiếm của Quách Phù nghe "tăng" một cái, kiếm bị văng xuống đất.

Cái búng này của Trình Anh tuy là công phu "Đạn chỉ thần thông", song cách sử kình rất xảo diệu, chỉ vì đã biết rõ trước đường kiếm của đối phương, búng ra đúng lúc, mới có thể biến kình lực của Quách Phù thành hư không, đánh rơi binh khí của nàng ta. Tiếp đó nàng bước tới, chân trái đạp lên thanh kiếm, rút cây ngọc tiêu ra, nhắm đúng huyệt đạo ở eo lưng Quách Phù. Búng kiếm, đạp lên kiếm, rút tiêu chỉ vào huyệt, bốn động tác liền một mạch, Quách Phù bị Trình Anh chiếm mất tiên cơ, quá ngượng ngùng, nếu cúi xuống nhặt kiếm, tất mấy huyệt ở eo lưng sẽ bị điểm, nhưng nếu nhảy lùi né tránh, ắt sẽ bị đối phương đoạt mất thanh kiếm. Nàng võ công không kém, nhưng còn ít kinh nghiệm trận mạc, nhất thời đỏ bừng cả mặt, chưa biết làm thế nào.

Gia Luật Tề kêu lên:

– Ơ kìa cô nương, sao lại đạp lên kiếm của tại hạ thế?

Chàng vươn tay chộp lấy cây tiêu. Trình Anh rụt tay về, quay mình kéo Lục Vô Song bước đi. Quách Phù chộp lấy thanh kiếm, gọi:

– Hãy khoan, phải tỷ thí một phen đã.

Lục Vô Song ngoảnh đầu lại, cười, nói:

– Còn tỷ thí cái..

Trình Anh kẹp tay Lục Vô Song nhảy liền ba bước, hai người đã ra xa vài trượng, Lục Vô Song không thể nói hết câu.

Gia Luật Tề nói:

– Quách cô nương, nàng ta may mắn một chiêu đắc thủ, kỳ thực đôi bên thắng bại chưa phân.

Quách Phù giận dỗi nói:

– Đúng thế, kiếm của muội đang cong, chưa đâm ra, nàng ta đã búng đi. Không ngờ nàng ta trông hiền lành mà xảo quyệt thế.

Gia Luật Tề ừ hữ, tính chàng cương trực, không muốn giả dối lấy lòng, nói:

– Trình cô nương võ công lợi hại, lần sau động thủ với nàng ta, không thể coi thường.

Quách Phù nghe chàng khen Trình Anh thì xịu mặt, không nhịn được, hỏi:

– Huynh bảo nàng ta võ công cao siêu chứ gì?

Gia Luật Tề nói:

– Đúng vậy.

Quách Phù tức giận:

– Thế thì huynh mặc xác muội mà đi theo nàng ta đi.

Nói rồi quay mặt đi. Gia Luật Tề vội nói:

– Huynh khuyên cô nương chớ nên coi thường, phải lưu tâm đối phó, là giúp cô nương hay là giúp nàng ta nào?

Quách Phù nghe giọng nói, biết chàng có ý bênh vực mình, bất giác mỉm cười. Gia Luật Tề nói:

– Huynh đã chẳng giúp cô nương đoạt lại kiếm đó sao? Cô nương còn trách huynh ư?

Quách Phù quay lại, nói:

– Trách huynh, trách huynh đấy!

Miệng nói thế, nhưng vẻ mặt tươi cười.

Gia Luật Tề vui mừng, bỗng nghe trong đại sảnh vọng ra tiếng hổ gầm, tiếng loảng xoảng của xiềng xích. Quách Phù kêu lên:

– Úi chao, mau vào đó xem sao.

Nàng vốn nghe tiếng Cầu Thiên Xích luôn miệng nhắc lại chuyện mấy chục năm trước, không biết rằng mỗi câu đều chứa đựng nguy cơ, càng nghe càng chán, nên mới lẳng lặng bỏ ra ngoài này, tự dưng động thủ với tỷ muội Trình Anh một hồi, bây giờ nghe có âm thanh lạ, mới nhớ đến mẫu thân, vội chạy trở vào.

Chỉ thấy Nhất Đăng đại sư ngồi xếp chân bằng tròn ở giữa sảnh, tay lần tràng hạt, miệng niệm Phật hiệu, sắc diện trang nghiêm hiền từ. Từ Ân hòa thượng đang chạy vòng vòng trong sảnh, chốc chốc gầm lên như tiếng hổ gầm, sợi xích sắt nối hai tay đã bị giật đứt, y cứ liên tiếp vung vung tay khiến sợi xích sắt phát ra tiếng loảng xoảng. Cầu Thiên Xích ngồi một chỗ, sắc diện lạnh lùng; tướng mạo mụ vốn đã khó coi, lúc này trông càng hung dữ đáng sợ. Bọn Hoàng Dung, Võ Tam Thông đứng ở một góc trong sảnh, chăm chú theo dõi hành động của Từ Ân.

Từ Ân chạy một hồi, trán đẫm mồ hôi, từ giữa đỉnh đầu có làn bạch khí bốc lên càng lúc càng đậm, y cũng chạy càng lúc càng nhanh. Nhất Đăng đại sư bỗng quát:

– Từ Ân, Từ Ân, đến giờ ngươi vẫn chưa phân biệt được thiện ác hay sao?

Từ Ân ngẩn người, thân hình lảo đảo, ngã nhào xuống nền.

Cầu Thiên Xích gọi:

– Ngạc nhi, mau đỡ cữu cữu dậy!

Công Tôn Lục Ngạc chạy tới dìu Từ Ân, Từ Ân mở mắt ra, thấy khuôn mặt của Công Tôn Lục Ngạc cách chừng một thước, mơ hồ nhìn lông mày dài, cái miệng nhỏ, tóc mai xanh xanh, đúng là diện mạo muội tử năm xưa, bèn gọi:

– Tam muội, huynh đang ở đâu đây?

Công Tôn Lục Ngạc nói:

– Cữu cữu, điệt nhi là Lục Ngạc mà.

Từ Ân lẩm bẩm:

– Cữu cữu ư? Ai là cữu cữu của muội? Tam muội gọi ai thế?

Cầu Thiên Xích gằn giọng:

– Nhị ca, nó là nữ nhi của tam muội mà. Nó muốn nhị ca dẫn nó đi gặp đại cữu cữu đấy.

Từ Ân giật mình, nói:

– Đại ca của ta ư? Ngươi không gặp được đâu, đại ca ta đã ngã từ trên đỉnh Thiết Chưởng phong xuống vực nát thân mất xác rồi.

Nói đoạn bật dậy, chỉ về phía Hoàng Dung, quát:

– Hoàng Dung, đại ca ta là do mi hại chết, mi.. mi.. mi phải đền mạng!

Quách Phù sau khi chạy vào sảnh, đứng bên mẹ, đón bế muội tử, đột nhiên thấy Từ Ân hung dữ quát tháo mẫu thân, thì không nhịn được, tiến ra mấy bước, nói:

– Hòa thượng, lão còn vô lễ, bổn cô nương sẽ không tha cho lão nữa đâu.

Cầu Thiên Xích cười khẩy, nói:

– Con nhóc kia phải nói là to gan..

Từ Ân nói:

– Ngươi là ai?

Quách Phù đáp:

– Quách đại hiệp là phụ thân, Hoàng bang chủ là mẫu thân của bổn cô nương.

Từ Ân nói:

– Đứa bé ngươi đang ẵm là ai?

Quách Phù đáp:

– Là muội muội của bổn cô nương.

Từ Ân gằn giọng, nói:

– Hừ, Quách Tĩnh, Hoàng Dung, còn thêm hai đứa con này.

Hoàng Dung nghe giọng nói khác thường của Từ Ân thì gọi giật giọng:

– Phù nhi, mau lui ra!

Quách Phù thấy Từ Ân điên điên khùng khùng, nói chán chê cũng chưa động thủ, lại tưởng lão hòa thượng e sợ mẫu thân nàng, nàng chẳng sợ gì lão ta, đã chẳng lùi ra còn tiến thêm một bước, cười, nói:

– Lão có bản lĩnh thì mau báo thù, không có bản lĩnh thì đừng mở miệng nữa!

Từ Ân quát:

– Phải lắm, có bản lĩnh thì mau báo thù!

Tiếng quát của y nghe như tiếng sấm giữa không trung, mấy cái chén uống nước trên bàn kêu lanh canh. Quách Phù không thể ngờ một người lại có thể phát ra âm thanh ghê gớm như vậy, giật mình, chân tay luống cuống, thấy Từ Ân tả chưởng vỗ ra, hữu thủ thành trảo, cùng ập tới, hai luồng cường lực như bài sơn đảo hải, muốn tránh né đã chẳng kịp.

Hoàng Dung, Võ Tam Thông, Gia Luật Tề ba người không hẹn cùng nhào tới. Ba người chăm chú theo dõi, đều thấy đòn trảo tay phải của Từ Ân tuy hung mãnh, nhưng không trí mạng bằng tả chưởng; cho nên cả ba người cùng xuất chưởng đón đánh tả chưởng của y; "bình" một tiếng, bốn luồng chưởng lực đụng nhau.

Từ Ân hộc lên một tiếng, đứng bất động. Bọn Hoàng Dung ba người cùng bật lùi mấy bước. Gia Luật Tề công lực yếu nhất, bật lùi xa nhất, tiếp đến Hoàng Dung. Hoàng Dung đứng chưa vững, đã nhìn nữ nhi, thấy Quách Tương đã bị Từ Ân chộp mất, Quách Phù thì đứng ngây như trời trồng, quên cả tránh né. Hoàng Dung cả kinh, nghĩ: "Không biết Phù nhi có bị thương vì chưởng lực hay chăng?" Liền nhảy tới, tay trái kéo Quách Phù lui ra, tay phải giơ cây Đả cẩu bổng che trước mặt, chỉ cần sử tự quyết chữ "Phong" thì chưởng lực của Từ Ân dù mạnh mấy, nhất thời cũng chưa thể đả thương. Quách Phù thực ra chưa bị thương, nhưng tâm trí hỗn loạn, mãi đến lúc dựa vào người mẹ, mới kêu lên được một tiếng "Ôi".

Lúc này huynh đệ họ Võ, Gia Luật Tề, Hoàn Nhan Bình thấy Từ Ân cuối cùng đã động thủ thì đều rút binh khí ra. Đám đệ tử của Cầu Thiên Xích cũng dàn ra, chỉ chờ lệnh của cốc chủ sẽ lập tức vây công. Riêng Nhất Đăng đại sư vẫn ngồi giữa sảnh, coi như không thấy diễn biến vừa xảy ra, miệng niệm kinh Phật, giọng không to, nhưng nghe rõ từng lời.

Từ Ân giơ bé Quách Tương lên, nói lớn:

– Đây là nữ nhi của Quách Tĩnh, Hoàng Dung, ta giết nó trước, rồi sẽ giết Hoàng Dung!

Cầu Thiên Xích cả mừng, nói:

– Hảo nhị ca! Thế mới là "Thiết chưởng thủy thượng phiêu" Cầu đại bang chủ anh danh cái thế!

Tình thế lúc này, đừng nói là bọn Hoàng Dung không một ai võ công cao hơn Từ Ân, dẫu có cao hơn y, cũng sợ đánh chuột vỡ vật quí, khó lòng cứu nổi đứa bé khỏi tay kẻ điên điên khùng khùng kia.

Quách Phù đột nhiên gọi to:

– Dương Quá, Dương đại ca, mau đến cứu muội tử của muội với!

Nàng mấy phen gặp đại nạn, đều được Dương Quá xuất kỳ bất ý cứu thoát, lúc này thấy ai ai cũng vô pháp khả thi, trong lòng nàng tự dưng chỉ mong Dương Quá xuất hiện. Nhưng Dương Quá và Tiểu Long Nữ bây giờ đang dắt tay nhau thong thả đi, thưởng ngoạn cảnh tịch dương ở Tuyệt Tình cốc, đâu nghĩ đến tình cảnh chết người trong đại sảnh.

Từ Ân tay phải giơ Quách Tương lên trên dầu, tay trái hộ thân, cười gằn, nói:

– Dương Quá ư? Dương Quá là ai? Bây giờ dẫu Đông Tà, Tây Độc, Nam Đế, Bắc Cái, Trung Thần Thông cùng đến đây, cũng chỉ có thể lấy mạng ta chứ không cứu nổi đứa bé này.

Nhất Đăng đại sư chậm rãi ngẩng đầu, thấy hai mắt Từ Ân nổi vằn đỏ, đầy sát khí, thì nói:

– Ngươi tìm người ta trả thù, người ta tìm ngươi trả thù, cứ thế biết đến bao giờ?

Từ Ân quát:

– Kẻ nào có gan thì hãy lại đây!

Lúc này trời đã hoàng hôn, mọi người nhìn ra chỉ thấy mông lung, sắc diện của Từ Ân trông càng hung dữ đáng sợ..

Đột nhiên nghe tiếng Hoàng Dung cười hô hố, tiếng cười lúc cao lúc thấp, chẳng khác gì của một kẻ điên. Mọi người bất giác sởn gai ốc. Quách Phù gọi:

– Mẹ ơi!

Võ Tam Thông, Gia Luật Tề cùng gọi:

– Quách phu nhân!

Ai nấy hồi hộp lo sợ, đều nghĩ đứa con sơ sinh của Hoàng Dung rơi vào tay kẻ thù, đã khiến Hoàng Dung thần thái thất thường. Chỉ thấy Hoàng Dung quẳng cây Đả cẩu bổng xuống đất, xõa tóc rũ rượi, tiến lên hai bước, phát ra tiếng cười hố hố, the thé. Quách Phù lại gọi:

– Mẹ ơi!

Đoạn tới kéo tay mẹ. Hoàng Dung hất tay một cái khiến Quách Phù văng ra xa, rồi dang rộng hai tay, vừa cười như điên vừa tiến tới bên Từ Ân. Biến cố này ngay Cầu Thiên Xích cũng bị bất ngờ, cứ trố mắt mà nhìn đầy kinh ngạc. Hoàng Dung dang rộng hai tay, trừng trừng nhìn Từ Ân, la lối:

– Mau đập chết đứa bé cho ta, hãy đánh thật mạnh vào lưng nó, đừng có nhẹ tay

Từ Ân tái mặt, ôm Quách Tương vào lòng, nói:

– Ngươi.. ngươi.. là ai?

Hoàng Dung cười phá lên, nhào tới. Từ Ân tả chưởng chắn phía trước, nhưng không dám ra đòn, mà lại né sang bên hai bước, hỏi tiếp:

– Ngươi là ai?

Hoàng Dung gầm gừ hỏi:

– Mi quên hết rồi sao? Buổi tối hôm ấy trong hoàng cung nước Đại Lý mi đã túm lấy một đứa bé. Phải rồi, cũng như thế này đây, mi đã hành hạ nó sống dở chết dở; cuối cùng đứa bé phải bỏ mạng.. Ta là mẫu thân của đứa bé ấy đây. Mi hãy mau đánh chết đứa bé này, mau đánh chết đứa bé này. Tại sao còn chưa hạ thủ?

Từ Ân nghe đến đây thì toàn thân run rẩy, sự việc mấy mươi năm trước chợt hiện về.

Năm ấy y đả thương hài tử của Lưu quý phi nước Đại Lý, đòi Nam Đế Đoàn Hoàng gia tốn mấy năm chữa trị, song Đoàn Hoàng gia nhẫn tâm không chữa, đứa bé cuối cùng bị chết. Sau đó Lưu quý phi Anh Cô hai phen gặp Từ Ân, lần nào cũng như con hổ điên lao vào cắn xé để cùng chết với y. Từ Ân tuy võ công cao cường song không dám chống cự, chỉ ôm đầu chạy trốn. Hoàng Dung năm nọ ở bãi Thanh Long và trên đỉnh Hoa Sơn hai phen chứng kiến Anh Cô cười như điên, tóc rũ rượi thế nào, biết tâm bệnh lớn nhất trong đời của Từ Ân, nay thấy y giơ bé Quách Tương lên, không thể làm gì ngoài việc mạo hiểm giả điên, bảo y mau đánh chết Quách Tương. Võ Tam Thông, Cầu Thiên Xích và bọn Gia Luật Tề đều tưởng Hoàng Dung điên thật, mới nói năng như thế. Chỉ riêng Nhất Đăng đại sư thầm thán phục Hoàng Dung đại trí đại dũng, nghĩ rằng bậc tu mi nam tử cũng chưa chắc có được đảm thức như thế; dẫu có ai nghĩ ra được cách này, thì câu "mau đánh chết đứa bé này" cũng không dám thốt ra. Nhìn Từ Ân oán khí xung thiên, hung hãn dữ tợn thế kia, y chỉ giáng nhẹ một chưởng, Quách Tương cũng bỏ mạng tức thời.

Từ Ân nhìn Hoàng Dung, lại nhìn Nhất Đăng đại sư rồi nhìn đứa bé mình đang ẵm, đột nhiên vô cùng đau đớn và hối hận, nghẹn ngào nói:

– Chết rồi! Bé chết rồi! Một đứa bé kháu khỉnh đã bị ta đánh chết rồi!

Đoạn thong thả đến trước mặt Hoàng Dung, trao đứa bé cho Hoàng Dung, nói:

– Đứa bé này là vì ta mà chết, ngươi hãy đánh chết ta đi!

Hoàng Dung cả mừng, giơ tay định đón, bỗng nghe Nhất Đăng đại sư quát:

– Oan oan tương báo, bao giờ mới ngừng? Con dao trong tay, bao giờ mới ném đi?

Từ Ân giật mình, buông tay, Quách Tương rơi thẳng xuống đất.

Không đợi Quách Tương chạm đất, Hoàng Dung giơ chân phải hất đứa bé bay ra ngoài, đồng thời cười như điên, nói:

– Mi đã bóp chết đứa bé, hay lắm, hay lắm!

Cái hất chân tưởng là dùng lực, thật ra chỉ chạm nhẹ vào lưng Quách Tương, rồi đưa nhẹ ra phía ngoài. Hoàng Dung biết đây là khoảnh khắc khẩn yếu, nếu mình cúi xuống bế con lên, tâm thần của Từ Ân rất có thể sẽ thay đổi.

Quách Tương bay về phía Gia Luật Tề. Chàng giơ tay đón, thấy đôi mắt đen láy của bé Quách Tương mở thao láo, cái miệng nhỏ há ra sắp khóc, hoàn toàn sống động, không có vẻ tổn thương mảy may, thì chàng sững sờ, lập tức hiểu rằng Hoàng Dung biết Quách Phù thô thiển, mới hất ấu nữ về phía chàng, vội giơ tay ấp nhẹ lên miệng đứa bé để nó khỏi khóc, rồi cũng kêu to:

– Ôi, đứa bé bị lão hòa thượng đánh chết rồi!

Từ Ân mặt xám ngoét, trong giây lát đại triệt đại ngộ, hướng về phía Nhất Đăng đại sư chắp tay cúi mình, nói:

– Đa tạ sư phụ điểm hóa!

Nhất Đăng đại sư đáp lễ, nói:

– Cung hỉ hòa thượng cuối cùng đắc đạo!

Hai người nhìn nhau mỉm cười, rồi Từ Ân đi thẳng ra ngoài. Cầu Thiên Xích gọi to:

– Nhị ca, nhị ca, mau quay trở lại!

Từ Ân ngoảnh đầu, nói:

– Muội bảo ta quay trở lại, ta cũng khuyên muội hãy quay trở lại!

Đoạn phất tay áo, ung dung bước ra khỏi sảnh.

Nhất Đăng đại sư cả mừng, nói:

– Hảo, hảo, hảo!

Rồi lùi vào một góc sảnh, cúi đầu, lim dim mắt, im lặng.

Hoàng Dung vấn lại tóc. Gia Luật Tề bế Quách Tương. Quách Phù thấy mẫu thân và muội tử không việc gì vừa kinh ngạc vừa vui mừng, sà vào lòng mẹ, nói:

– Mẹ, con cứ tưởng mẹ phát điên thật cơ đấy!

Hoàng Dung đến trước mặt Nhất Đăng đại sư hành lễ, nói:

– Điệt nữ không còn cách nào khác, đành gợi chuyện cũ, xin đại sư lượng thứ.

Nhất Đăng đại sư mỉm cười, nói:

– Dung nhi, Dung nhi, đúng là một Gia Cát Lượng trong hàng nữ lưu!

Trong đại sảnh, hình như chỉ một mình Võ Tam Thông biết chuyện cũ thế nào, những người còn lại đều ngơ ngác nhìn nhau.

Cầu Thiên Xích thấy sự việc diễn biến đến bước này, nhìn theo bóng huynh trưởng đã đi khuất, nghĩ kiếp này sẽ không còn dịp gặp lại, bất giác se lòng, nghĩ đến câu "Muội bảo ta quay trở lại, ta cũng khuyên muội hãy quay trở lại" tựa hồ huynh trưởng khuyên mụ ngoảnh lại là bờ, thì trong lòng vừa rầu rĩ, vừa hối hận; nhưng sự hối hận thoáng qua rất nhanh, mụ gằn giọng nói:

– Các vị hãy chờ ở đây, lão bà tử còn bận việc khác.

Hoàng Dung nói:

– Hãy khoan! Hôm nay chúng tôi đến đây là để cầu Tuyệt Tình đơn..

Cầu Thiên Xích gật đầu với đám đệ tử hầu cận. Đám đệ tử nhất tề hô hoán, mỗi cửa ra vào lập tức có bốn đệ tử áo xanh giơ cao tấm lưới gắn dao sắc xuất hiện chắn giữ. Bốn thị nữ khiêng chiếc ghế luôn cả Cầu Thiên Xích đi vào trong nội đường.

Bọn Hoàng Dung, Võ Tam Thông, Gia Luật Tề thấy thanh thế ngư võng trận thì kinh hãi, nghĩ: "Ngư võng trận lợi hại đây, không biết phá bằng cách gì?" Còn đang do dự, thì cửa trước cửa sau của đại sảnh đều đóng sập cả lại, các đệ tử áo xanh đều rút ra. Huynh đệ họ Võ cầm kiếm xông ra theo, hai cánh cửa đóng sập lại, hai thanh kiếm của họ bị kẹp lại, cùng gãy, thì ra cánh cửa đúc bằng sắt. Hoàng Dung nói nhỏ:

– Đừng cuống! Ra khỏi sảnh không khó, nhưng chúng ta phải nghĩ cách phá các tấm lưới gắn dao nhọn và lấy trộm thuốc giải độc.

Công Tôn Lục Ngạc theo mẫu thân đi vào nội đường, hỏi:

– Mẹ, làm thế nào bây giờ?

Cầu Thiên Xích thấy huynh trưởng đã bỏ đi, các hảo thủ đối phương tụ tập, quả là bế tắc, nhưng đại cừu nhân sát huynh đã tới, quyết không thể khuất phục hoặc cho qua, ngẫm nghĩ một lát, rồi nói:

– Ngươi ra ngoài coi Dương Quá và ba thiếu nữ đang làm gì.

Câu này chính hợp tâm ý của Công Tôn Lục Ngạc, nàng gật đầu đáp ứng, liền đi tới Hỏa hoàn thất.

Đi được nửa đường, nghe phía trước có người nói chuyện, chính là giọng của Dương Quá, rồi tiếng Tiểu Long Nữ đáp lại, hình như có bốn chữ "Công Tôn cô nương". Lúc này trời đã tối sẫm, Công Tôn Lục Ngạc liền nấp vào một bụi liễu bên đường, nghĩ: "Không biết nàng ta nói gì về mình?" Nàng rón rén tới gần, thấy Dương Quá và Tiểu Long Nữ đứng kề vai nhau, nghe Dương Quá nói:

– Nàng bảo việc này hoàn toàn nhờ sự lo liệu chu đáo của Công Tôn cô nương là đúng lắm. Chỉ mong lão thần tăng chóng tỉnh lại, mọi người xóa bỏ oán thù, giải hết tà độc thì hay biết mấy! Úi chao!

Hai tiếng "Úi chao!" thốt lên bất ngờ, Lục Ngạc giật mình, không biết Dương Quá gặp chuyện kỳ quái gì.

Nàng quan hoài, thò cổ nhìn ra, trong bóng tối mờ mờ chỉ thấy Dương Quá ngã xuống, Tiểu Long Nữ cúi nắm lấy tay trái chàng mà đỡ dậy. Lưng Dương Quá rung rung, hình như chàng đang cố nhịn đau. Tiểu Long Nữ nói nhỏ:

– Chất độc hoa Tình phát tác phải không?

Dương Quá chỉ ậm ừ, vì đang nghiến răng nhịn đau. Công Tôn Lục Ngạc thương tình, nghĩ: "Chàng đã uống nửa viên đơn dược rồi, uống nốt nửa viên còn lại sẽ giải hết độc. Nửa viên còn lại, nhất định mình phải xin mẹ cho chàng bằng được".

Lát sau, Dương Quá đứng thẳng dậy, thở dài. Tiểu Long Nữ nói:

– Khoảng cách giữa hai lần phát tác càng lúc càng ngắn, cơn đau càng lúc càng dữ hơn. Vị thần tăng còn phải một ngày nữa mới tỉnh, cứ coi như có thể chế được bài thuốc giải độc, cũng vị tất.. cũng vị tất.. Chàng khổ sở thế này..

Nàng định nói "Cũng vị tất cứu kịp", nhưng nàng nói chệch đi. Dương Quá gượng cười, nói:

– Công Tôn lão thái thái tính tình cố chấp quá, thuốc giải đem cất giấu quá kỹ; nếu lão thái thái không tự nguyện đưa cho, thì dù có giết sạch mọi người trong sơn cốc, kề gươm vào cổ, lão bà cũng chả chịu đưa ra.

Tiểu Long Nữ nói:

– Thế mà thiếp có cách đấy.

Dương Quá đoán biết tâm ý của nàng, nói:

– Long nhi, nàng đừng nhắc chuyện ấy nữa. Thâm tình của vợ chồng ta nếu được đến khi đầu bạc răng long, dĩ nhiên nhờ ơn trời đất; nếu có bất trắc, cũng do số mệnh cả thôi. Nhất định không để cho người thứ ba xen vào giữa đôi ta.

Tiểu Long Nữ nghẹn ngào nói:

– Thiếp thấy Công Tôn cô nương.. rất tốt, chàng hãy nghe lời thiếp!

Công Tôn Lục Ngạc chấn động, biết Tiểu Long Nữ khuyên Dương Quá lấy mình, để có được nửa viên thuốc cứu mạng. Chỉ nghe Dương Quá cười, nói:

– Công Tôn cô nương dĩ nhiên rất tốt. Thực ra, các thiếu nữ tốt trong thiên hạ đâu có ít? Trình Anh cô nương, Lục Vô Song cô nương cũng là những người nặng tình trọng nghĩa. Có điều là đôi ta hai lòng như một, làm sao có thể nghĩ khác? Nàng hãy thử đặt mình vào địa vị ta xem, nếu có một nam nhân có thể giải độc trong người nàng, chỉ cần nàng chịu lấy hắn, vậy nàng có chịu hay không nào?

Tiểu Long Nữ nói:

– Thiếp là nữ, phải khác.

Dương Quá cười, nói:

– Người ta trọng nam khinh nữ, Dương Quá ta trọng nữ khinh nam..

Bỗng có tiếng động trong bụi cây sau lưng, Dương Quá hỏi:

– Ai đó?

Công Tôn Lục Ngạc tưởng chàng phát hiện ra mình, đang định lên tiếng trả lời, bỗng nghe một giọng nữ đáp:

– Chàng Ngốc, là muội đây!

Chỉ thấy Lục Vô Song và Trình Anh từ con đường mòn sau bụi cây đi ra. Công Tôn Lục Ngạc thừa cơ lặng lẽ thoái lui, trong óc ngổn ngang bao ý nghĩ: "Đừng nói Long cô nương, ngay cả Trình, Lục nhị vị cô nương, phẩm mạo và võ công đều hơn ta, lại từng quen biết chàng từ trước, ta làm sao sánh nổi?" Từ khi gặp Dương Quá, nàng nhất mực có thâm tình với chàng, tuy biết chàng tình nghĩa sâu nặng với Tiểu Long Nữ, song vẫn nghĩ hai gái có thể chung một chồng, giờ nghe vợ chồng họ trò chuyện với nhau, thì biết mình đã không còn hi vọng gì nữa. Nàng từ nhỏ đã không có mấy ngày vui, hôm nay mọi hi vọng đều tiêu tan, nàng quyết ý không thiết sống nữa, thong thả đi về phía tây.

Công Tôn Lục Ngạc mặc cho bước chân đưa đến đâu thì đưa, trong óc chỉ có một ý nghĩ: "Ta không thiết sống nữa, ta không thiết sống nữa!"

Cũng không biết đi bao nhiêu lâu, từ sườn núi trước mặt văng vẳng vọng tới tiếng người nói. Công Tôn Lục Ngạc dỏng tai nghe, bất giác giật mình, nguyên trong lúc thần hồn điên đảo, nàng tha thẩn thế nào lại đi đến một chỗ hiếm ai trong cốc lai vãng, ngẩng đầu lên, thấy một ngọn núi cao ngất trời, chính là Tuyệt Tình phong, một nơi tuyệt hiểm trong Tuyệt Tình cốc.

Lưng chừng Tuyệt Tình phong có một sườn núi, không biết từ thời nào có người khắc ở đó ba chữ "Đoạn Trường nhai". Từ chỗ này lên trên, mấy chục trượng nhẵn thín không một ngọn cỏ, quanh năm mây mù bao phủ, gió thổi lồng lộng, ngay chim chóc cũng không con nào đậu lại trên đỉnh núi. Dưới sườn núi là vực sâu thăm thẳm, nhìn không thấy đáy. Trước sau "Đoạn Trường nhai" phong cảnh thanh u, chỉ vì địa thế quá hiểm, sơn thạch trơn trượt, rất dễ rơi xuống vực, cho nên cư dân trong cốc không dám bén mảng, những đệ tử áo xanh giỏi võ công cũng ít ai lui tới, không hiểu ai lại lên đó mà chuyện trò vậy?

Công Tôn Lục Ngạc đang chỉ nghĩ đến cái chết, chợt nổi tính hiếu kỳ, bèn nấp sau một tảng đá mà nghe trộm, vừa nghe chợt giật mình, trống ngực đập dồn, thì ra người đang nói là phụ thân nàng. Công Tôn Chỉ tuy có tội với mẫu thân nàng, đối với nàng cũng tàn nhẫn vô tình, nhưng mẫu thân nàng bắn hạt táo làm mù một con mắt của y, lại đuổi y ra khỏi Tuyệt Tình cốc, Lục Ngạc nghĩ đến tình cha con, vẫn luôn luôn thương nhớ, lúc này đột nhiên nghe thấy giọng nói quen thuộc, nàng mới biết phụ thân hoàn toàn không rời khỏi Tuyệt Tình cốc mà trốn ở chốn không ai lai vãng này, nàng cũng mừng thầm cho cha.

Chỉ nghe Công Tôn Chỉ nói:

– Đạo cô bị thương khắp người, ta thì mất một mắt, đều là do tên tiểu tử Dương Quá mà ra, hai ta chẳng những có chung kẻ thù, mà còn đồng bệnh tương liên.

Y nói rồi cười, không thấy đối phương hồi đáp. Công Tôn Lục Ngạc lấy làm lạ, không biết phụ thân trò chuyện với ai thế nhỉ? Chỉ biết chắc chắn người kia là nữ nhân.

Công Tôn Chỉ lại nói:

– Hai ta gặp nhau chốn vắng vẻ không vết chân người này, có thể nói là ý trời, đúng là "hữu duyên thiên lý lai tương hội".

Người kia "hừ" một tiếng, nói:

– Toàn thân bần đạo bị thương vì gai hoa Tình, các hạ chẳng quan tâm gì cả, toàn nói những chuyện trăng gió đâu đâu.

Công Tôn Lục Ngạc nghĩ: "Ồ, thì ra là Lý Mạc Sầu, kẻ sáng nay đã xông vào trong cốc". Nghe Công Tôn Chỉ vội nói:

– Không, không phải thế, sao ta lại chẳng quan tâm kia chứ? Tất nhiên ta sẽ tìm mọi cách cứu chữa. Cái đau trên thân thể đạo cô cũng là cái đau trong lòng ta đó.

Người đang nói chuyện với Công Tôn Chỉ chính là Lý Mạc Sầu. Mụ bị trúng độc hoa Tình, gai đâm khắp người, trúng độc quả không nhẹ, may mà lòng mụ chứa đầy căm hận, oán trời ghét người, không động tình nam nữ cho nên thân thể đỡ bị đau đớn, song mụ biết chất độc hoa Tình lợi hại, vội đi tìm thuốc giải, không thông thuộc lối đi trong cốc, mụ cứ chạy loạn lên, cuối cùng đến trước Đoạn Trường nhai. Công Tôn Chỉ ở đây từ lâu, cố trốn tránh người trong cốc, chờ cơ hội giết chết Cầu Thiên Xích, rồi đoạt lại địa vị cốc chủ. Hai người từng giao đấu với nhau, biết đối phương võ công cao cường, lần này gặp nhau đều nghĩ: "Mình đang có chuyện cần đến đối phương", chỉ sau vài câu đã thấy hợp nhau.

Công Tôn Chỉ sau lần Nhu nhi mà hắn si mê bị chết, hắn chuyên tâm luyện võ, không để ý đến nữ sắc, nhưng từ hôm định thành hôn với Tiểu Long Nữ không thành, tình dục mà y kìm nén đã lâu đột nhiên trào ra như đê vỡ, không thể thu thập, đường đường một đại cao thủ võ học như hắn mà lại xuất thủ cưỡng đoạt Hoàn Nhan Bình, đã chẳng khác gì hạng hạ lưu chốn giang hồ, bây giờ giải cấu tương phùng với Lý Mạc Sầu, hắn thấy mụ dung nhan mỹ lệ, thì liền nghĩ: "Sau khi giết mụ ác phụ Cầu Thiên Xích, ta sẽ lấy vị đạo cô này, dung mạo lẫn võ công, nàng ta đều xứng với ta". Hắn đâu ngờ Lý Mạc Sầu tâm địa độc ác, vốn bị thất tình mà sinh ác nghiệt, giờ nghe Công Tôn Chỉ lời lẽ càng lúc càng lả lơi thì bực tức, nhưng vì cần tìm giải dược, mụ đành miễn cường đối đáp.

Công Tôn Chỉ nói:

– Ta là cốc chủ, phép phối chế thuốc giải độc hoa Tình, thiên hạ trừ ta ra, không có người thứ hai nào biết. Có điều là thời gian phối chế khá lâu, nước xa không cứu được lửa gần, may mà trong cốc còn một viên thuốc giải, đang ở trong tay ác phụ. Hai ta chỉ cần giết mụ ta đi, thì tất cả sẽ đều là của đạo cô.

Câu cuối cùng có hai ngụ ý: Không chỉ lấy thuốc giải cho Lý Mạc Sầu, mà địa vị bà chủ sơn cốc cũng sẽ thuộc về mụ. Thiên hạ chỉ có một mình hắn biết phép phối chế thuốc giải độc hoa Tình, câu này không sai, hoa Tình mọc ở đây đã lâu năm, tổ tiên mấy đời trước của Công Tôn Chỉ đã không ít người bị mất mạng, mới chế ra được bài thuốc giải độc, vì hoa Tình có công ngăn cản người ngoài xâm nhập sơn cốc, nên không phá bỏ nó; còn bài thuốc giải độc thì chỉ bí truyền từ đời cha sang đời con, không lộ cho người ngoài. Ngay Cầu Thiên Xích cũng chỉ biết thuốc giải là do đời trước để lại, bài thuốc đã thất truyền. Nhưng Cầu Thiên Xích chỉ còn giữ nửa viên thuốc, thì Công Tôn Chỉ không biết.

Lý Mạc Sầu trầm ngâm, nói:

– Các hạ biết phép chế thuốc thì cũng vô dụng. Thuốc giải độc đang ở trong tay tôn phu nhân, mà tôn phu nhân lại hận thù các hạ, việc giết tôn phu nhân không khó, nhưng làm sao lấy được viên thuốc giải kia?

Công Tôn Chỉ lưỡng lự chưa đáp, một lát sau mới nói:

– Lý đạo hữu, hai ta vừa gặp đã hợp duyên, ta dẫu chết cũng không tiếc.

Lý Mạc Sầu lạnh lùng nói:

– Điều đó bần đạo không dám nhận.

Công Tôn Chỉ nói:

– Ta có một kế, có thể đoạt lấy viên thuốc giải độc từ tay ác phụ, nhưng mong đạo hữu đáp ứng cho một việc.

Lý Mạc Sầu nói:

– Bần đạo cả đời xông pha giang hồ, một mình đây đó, chưa từng bị ai khống chế. Thuốc giải độc các hạ chịu cho thì nhận, không thì thôi. Lý Mạc Sầu ta há phải cầu xin lòng thương hại của kẻ khác?

Công Tôn Chỉ võ công tuy cao cường, nhưng suốt đời sống trong u cốc, không biết đến các nhân vật tối lợi hại trong giang hồ, dù có nghe qua, cũng chỉ là qua lời kể của Cầu Thiên Xích mà thôi. Mười năm nay danh tiếng lừng lẫy của Lý Mạc Sầu thế nào, võ lâm ai cũng biết mụ diện mạo đẹp như đào mận, tâm địa thì như rắn độc, song Công Tôn Chỉ thì lại không biết, nghe mụ nói mấy câu khí khái, hắn càng mừng rỡ, nói:

– Lý đạo hữu hiểu lầm ý ta rồi. Ta chỉ mong chiều lòng đạo hữu còn chưa được, đời nào lại khống chế đạo hữu? Chỉ có điều là muốn lấy được Tuyệt Tình đơn, con gái của ta khó tránh khỏi phải mất mạng, cho nên ta mới nói vậy thôi.

Công Tôn Lục Ngạc nấp sau tảng đá, nghe câu "con gái của ta khó tránh khỏi phải mất mạng" thì bất giác giật mình.

Lý Mạc Sầu cũng lấy làm lạ, hỏi:

– Giải dược ở trong tay lệnh ái ư?

Công Tôn Chỉ nói:

– Không phải thế, ta nói thật với đạo hữu vậy! Mụ ác phụ tính nết cố chấp, giải dược tất bị mụ ta giấu ở một chỗ bí mật, không thể cưỡng bức mụ ta lấy ra, chỉ có một cách dụ mụ mà thôi.

Lý Mạc Sầu gật đầu nói:

– Đúng vậy.

Công Tôn Chỉ nói:

– Mụ ác phụ ấy đối với hết thảy mọi người đều vô tình vô nghĩa, không từ mọi việc tàn ác; duy đối với đứa con gái độc nhất thì mụ ta thương yêu nhất mực. Hai ta lợi dụng điểm này, ta sẽ đi dụ con gái ta là Lục Ngạc tới, đạo hữu hãy bắt nó, quẳng vào bụi hoa Tình. Như thế mụ ác phụ sẽ không thể không đưa giải dược ra cứu con gái. Hai ta chỉ việc đoạt lấy là xong. Tiếc rằng Tuyệt Tình đơn trên đời chỉ còn có một viên duy nhất, đã dành cho đạo hữu, tất con gái ta phải mất mạng.

Lý Mạc Sầu ngẫm nghĩ, nói:

– Chúng ta cũng đâu cần quẳng lệnh ái vào bụi hoa Tình, chỉ cần làm giả như nó bị trúng độc, vừa lấy được giải dược, vừa bảo toàn tính mạng cho nó.

Công Tôn Chỉ thở dài, nói:

– Mụ ác phụ ấy khôn ngoan lắm, con gái ta làm giả như nó bị trúng độc, không che mắt nổi mụ ta đâu!

Nói đến đây, giọng hắn nghẹn ngào, như thể xúc động lắm. Lý Mạc Sầu nói:

– Để cứu mạng bần đạo, phải sát hại lệnh ái, bần đạo sao nỡ? Xem ra các hạ cũng không nỡ. Thôi, đừng tính việc ấy nữa.

Công Tôn Chỉ vội nói:

– Không, không, ta tuy không nỡ với nó, nhưng càng không nỡ đối với đạo hữu.

Lý Mạc Sầu im lặng, nghĩ trừ cách đó, cũng không có cách nào khác. Công Tôn Chỉ nói:

– Hai ta chờ đến nửa đêm, ta sẽ đi gọi Lục Ngạc tới, nó dẫu mười phần lanh lợi cũng không thể ngờ mưu kế này của phụ thân nó.

Hai người đối đáp với nhau như thế, Công Tôn Lục Ngạc nghe rõ từng câu, càng nghĩ càng kinh hãi. Hôm Công Tôn Chỉ đẩy nàng cùng Dương Quá xuống hồ cá sấu, nàng đã biết phụ thân không có chút gì gọi là tình cha con; nhưng bấy giờ còn có thể bảo là do nóng giận nhất thời; chứ hôm nay đã suy tính kỹ, quyết hại chết thân sinh nữ nhi để lấy lòng một nữ nhân mới gặp, thì tâm địa tàn bạo thật hơn cả sói lang. Công Tôn Lục Ngạc vốn chẳng thiết sống nữa, nhưng nghe hai người tính kế hại nàng, nàng bất giác tìm cách trốn đi; may nơi này cây cối rậm rạp, vách núi hiểm trở, có nhiều chỗ tránh, nàng bèn lẳng lặng lùi dần từng bước một, khi đã cách xa mấy chục trượng, nàng mới quay mình rảo bước.

Công Tôn Lục Ngạc đi nửa canh giờ, cách Tuyệt Tình phong đã xa, biết phụ thân không lâu nữa sẽ đến dụ mình, nàng không dám trở về phòng ngủ, buồn bã ngồi trên một tảng đá, gió rét cắt da, trăng lạnh vô tình, cảm thấy thế gian thật không có gì lưu luyến, nàng lẩm bẩm một mình: "Ta vốn chẳng thiết sống nữa, cha ơi, hà tất cha còn dùng độc kế giết hại con? Cha muốn con chết thì cứ việc làm đi. Lạ thật, sao ta lại phải chạy trốn kia chứ?"

Đột nhiên một ý nghĩ vụt lóe lên như tia chớp: "Cha ta dụng tâm tàn ác, nhưng kế đó quả nhiên rất hay. Ta đã muốn chết, sao không dùng kế ấy lừa lấy linh đơn của mẫu thân, đem đi cứu mạng Dương đại ca? Phu thê chàng được đoàn viên, nhất định sẽ cảm kích Lục Ngạc cô nương khốn khổ này". Nghĩ đến đây nàng vừa mừng vừa đau đớn, song cảm thấy phấn chấn, nhìn quanh xác định mình đang ở đâu, rồi đi về phòng của mẫu thân.

Khi đi ngang qua một bụi hoa Tình, nàng bẻ hai cành, cầm theo, đến cửa phòng mẹ, gọi khẽ:

– Mẹ ơi, mẹ đã ngủ chưa?

Cầu Thiên Xích ở bên trong đáp:

– Ngạc nhi, có chuyện gì vậy?

Công Tôn Lục Ngạc nói:

– Mẹ, mẹ ơi, hài nhi bị trúng độc hoa Tình rồi.

Đoạn dang tay ôm chặt lấy hai cành hoa Tình.

Hàng trăm gai nhọn của cành hoa Tình đâm vào cơ thể nàng. Nàng từ nhỏ đã được căn dặn, nhất thiết không được để gai hoa Tình đâm phải, còn bé dù vô ý có bị một hai cái gai hoa Tình đâm phải, do chưa có tình ái nam nữ, cũng chẳng đáng ngại. Về sau càng lớn, người bên cạnh càng khuyến cáo nghiêm nghị hơn. Cái vật hơn mười năm nay luôn cẩn thận đề phòng, không ngờ hôm nay nàng lại tự để nó đâm vào da thịt mình, cảm thấy càng đau khổ hơn. Nàng nghiến răng, gọi thêm vài tiếng "Mẹ!"

Cầu Thiên Xích nghe giọng gọi là lạ, vội bảo thị nữ mở cửa, dìu Công Tôn Lục Ngạc vào. Công Tôn Lục Ngạc nói:

– Thân ta đang bị gai hoa Tình đâm, các ngươi chớ lại gần.

Hai thị nữ kinh hãi biến sắc, để Công Tôn Lục Ngạc tự đi vào, không dám chạm tới người nàng.

Cầu Thiên Xích thấy con gái sắc mặt tái nhợt, thân hình run rẩy, hai cành hoa Tình ở trước ngực, vội hỏi:

– Hài nhi, làm sao vậy, làm sao vậy?

Công Tôn Lục Ngạc nói:

– Tại gia gia, là tại gia gia đó!

Nàng sợ mục quang lợi hại của mẫu thân, cúi đầu không dám nhìn mẹ. Cầu Thiên Xích giận, nói:

– Ngươi còn gọi hắn là gia gia ư? Lão tặc ấy làm gì?

Công Tôn Lục Ngạc ấp úng:

– Lão tặc ấy.. Lão tặc ấy..

Cầu Thiên Xích nói:

– Ngươi ngẩng mặt lên ta coi.

Công Tôn Lục Ngạc ngẩng lên, thấy cặp mắt long sòng sọc của mẫu thân thì không khỏi run sợ, nói:

– Lão tặc ấy.. cùng với mụ đạo cô xinh đẹp đến cốc sáng nay lén lút trò chuyện với nhau ở Đoạn Trường nhai, hài nhi nấp sau tảng đá, nghe lão tặc ấy bảo..

Mấy câu này đúng sự thực, tiếp đó sẽ là nói dối, nàng sợ mẫu thân nhận biết, nên nói đến đây liền cúi mặt xuống.

Cầu Thiên Xích hỏi:

– Hai đứa chúng nó nói sao?

Công Tôn Lục Ngạc đáp:

– Nói nào là đồng bệnh tương liên, nào là hữu duyên thiên lý lai tương ngộ. Họ bảo.. bảo mẫu thân là ác phụ nọ ác phụ kia, hài nhi nghe tức quá..

Nói đến đây nàng khóc nấc lên.

Cầu Thiên Xích nghiến răng, nói:

– Đừng khóc, không làm gì phải khóc! Rồi thế nào?

Công Tôn Lục Ngạc nói:

– Hài nhi không cẩn thận, gây tiếng động, bị họ phát giác. Mụ đạo cô.. đạo cô liền đẩy hài nhi vào bụi hoa Tình.

Cầu Thiên Xích thấy con ấp úng, liền quát:

– Không đúng! Ngươi nói dối. Rốt cuộc thế nào? Đừng có đánh lừa ta!

Công Tôn Lục Ngạc toát mồ hôi lạnh, nói:

– Hài nhi không đánh lừa đâu, cái này chẳng phải là hoa Tình hay sao?

Cầu Thiên Xích nói:

– Vừa rồi ngươi nói dối. Từ nhỏ ngươi không biết nói dối. Lúc nào ngươi nói dối, ta còn lạ gì.

Công Tôn Lục Ngạc chợt nảy ra một ý, nghiến răng nói:

– Phải, hài nhi nói dối mẹ đó. Chính là gia gia đẩy hài nhi vào bụi hoa Tình. Gia gia giận con theo mẹ, giúp mẹ, chống lại gia gia, nói con chỉ muốn có mẹ, không cần đến cha. Lão ta.. cứ chăm chăm tìm cách lấy lòng mụ đạo cô xinh đẹp.

Cầu Thiên Xích vốn căm hận trượng phu, mấy lời này của Công Tôn Lục Ngạc đánh trúng tâm sự của mụ, mụ lập tức tin ngay, vội kéo bàn tay con, ôn tồn nói:

– Ngạc nhi đừng lo, để ta đối phó với lão tặc một phen cho hả giận.

Đoạn sai thị nữ cẩn thận kéo cành hoa Tình ra khỏi người con, rồi dùng cái nhíp nhổ đi mấy cái gai gãy trong da thịt nàng.

Công Tôn Lục Ngạc nghẹn ngào nói:

– Mẹ, hài nhi phen này chết mất thôi.

Cầu Thiên Xích nói:

– Đừng sợ, đừng sợ. Chúng ta còn có nửa viên Tuyệt Tình đơn, may chưa cho tên tiểu tặc vô tình vô nghĩa Dương Quá. Ngạc nhi uống nửa viên ấy, chất độc tuy không trừ hết, song chỉ cần Ngạc nhi ngoan ngoãn sống với mẹ, đừng để mắt tới bất cứ gã nam tử thối tha nào, thậm chí không thèm nghĩ đến chúng, thì không đáng ngại.

Cầu Thiên Xích bị chồng hành hạ khổ sở, Dương Quá lại không chịu làm con rể mụ, mụ căm hận nam nhân khắp thiên hạ, nếu con gái mụ suốt đời không lấy chồng, thì càng hợp ý mụ.

Công Tôn Lục Ngạc cau mày im lặng, Cầu Thiên Xích lại hỏi:

– Lão tặc và mụ đạo cô đang ở đâu?

Công Tôn Lục Ngạc nói:

– Con cố bò ra khỏi bụi hoa Tình, không dám ngoái nhìn, chắc hai người ấy vẫn còn ở Đoạn Trường nhai.

Cầu Thiên Xích nghĩ bụng: "Lão tặc có cường trợ, tất sẽ đến đoạt lại sơn cốc. Bọn đệ tử trong cốc đa phần là tay chân thân tín của hắn, khi ấy chúng sẽ ngả theo lão tặc; chí ít cũng tụ thủ bàng quan, không ngả theo bên nào, không đánh lại hắn. Ta tứ chi tàn phế, chỉ trông vào tuyệt kỹ phun hạt táo. Ám khí đó nếu bắn ra bất ngờ, uy lực cực lớn, nhưng lão tặc đã có đối phó, quá nửa ta sẽ chẳng làm gì nổi hắn; giả dụ hắn che mộc xông tới tấn công, thì ta bó tay. Phải làm sao đây?"

Công Tôn Lục Ngạc thấy mẫu thân mục quang long lanh, trầm ngâm không nói, lại ngỡ mẫu thân đang đoán xem lời nói của nàng là thật hay giả, sợ mẫu thân cứ truy vấn cuối cùng sẽ lộ chân tướng, bản thân nàng chịu khổ cũng chẳng sao, nhưng sẽ không lấy được thuốc giải độc cho Dương Quá thì thật tội nghiệp cho chàng. Vừa nghĩ đến Dương Quá, thì ngực đau nhói, nàng rên lên đau đớn. Cầu Thiên Xích đưa tay vuốt tóc nàng, nói:

– Chúng ta đi lấy Tuyệt Tình đơn nào.

Mụ vỗ tay, lệnh cho bốn thị nữ khiêng ghế đưa mụ đi.

Công Tôn Lục Ngạc từ sau ngày Dương Quá ra đi, luôn nghĩ không biết mẫu thân giấu nửa viên Tuyệt Tình đơn ở chỗ nào. Nàng từng nghe mẫu thân bảo không thể để Tuyệt Tình đơn trong người, đề phòng kẻ khác giết mụ, cướp mất thuốc. Lại nghĩ mẫu thân tứ chi tàn phế, hành động phải có người hầu hạ, quyết không thể với cao cúi thấp, càng không thể đem giấu vào hang hốc nào, chắc chỉ giấu trong phủ đệ mà thôi. Nhưng cả tháng trời nàng tìm kiếm khắp nơi, nào đan phòng, nào kiếm thất, nào hoa viên, nào phòng ngủ, chỗ nào cũng nhòm ngó, tuyệt nhiên không thấy dấu vết gì. Lúc này nàng thấy mẫu thân sai thị nữ khiêng ra phía đại sảnh, thì lấy làm lạ, nghĩ đại sảnh là nơi ai ai cũng đến, khó cất giấu hơn cả, huống hồ hiện thời cường địch đang tụ tập cả ở đó, lại tới đó mà lấy nửa viên Tuyệt Tình đơn trước mặt bao nhiêu người hay sao?

Cửa sắt trước sau của đại sảnh đều đóng im ỉm, chúng đệ tử cầm lưới gắn dao nhọn canh giữ bên ngoài, thấy Cầu Thiên Xích tới, vội hành lễ. Gã cầm đầu cúi mình bẩm báo:

– Địch nhân tuyệt vô thanh tức, tựa hồ thúc thủ đợi chết.

Cầu Thiên Xích nói:

– Hừ, ếch ngồi đáy giếng, thật không biết trời cao đất dày thế nào. Người tử tế không đến, đã đến chẳng phải người tử tế. Những nhân vật xông vào cốc hôm nay mà lại thúc thủ đợi chết hay sao?

Rồi quát:

– Mở cửa!

Hai đệ tử mở cánh cửa sắt, tám đệ tử khác chăng hai tấm lưới hộ vệ hai bên tả hữu Cầu Thiên Xích, tiến vào đại sảnh. Chỉ thấy Nhất Đăng đại sư, Hoàng Dung, Võ Tam Thông, Gia Luật Tề.. đều ngồi ở một góc. Cầu Thiên Xích chờ thị nữ đặt ghế xuống, mới giơ tay nói:

– Trừ ba mẹ con Hoàng Dung, tất cả những người còn lại, ta có thể bỏ qua cho cái tội tự tiện xông vào sơn cốc, hãy cùng nhau rời khỏi nơi đây cho mau.

Hoàng Dung mỉm cười, nói:

– Cầu cốc chủ, đại nạn sắp giáng xuống đầu cốc chủ, cốc chủ đã chẳng tránh né, lại còn xuất khẩu đại ngôn, thật nực cười!

Cầu Thiên Xích chột dạ, nghĩ: "Sao nó biết đại nạn sắp giáng xuống đầu ta? Chẳng lẽ nó biết lão tặc kia trở về gây chuyện?" Chỉ lạnh lùng nói:

– Là phúc hay họa, đợi khi báo ứng mới biết. Lão phụ nhân tứ chi tàn phế, còn sợ gì đại nạn?

Hoàng Dung dĩ nhiên không biết Công Tôn Chỉ đã trở về Tuyệt Tình cốc, nhưng nhìn mặt mà đoán, thấy Cầu Thiên Xích sắc diện hơi có vẻ âu lo, khác hẳn thần thái đắc ý lúc rời đại sảnh, đoán rằng trong cốc đã có nội biến, bèn lên tiếng thăm dò, nghe Cầu Thiên Xích trả lời tuy mạnh miệng, nhưng dự đoán của mình quá nửa là đúng, nên nói:

– Cầu cốc chủ, lệnh huynh vốn tự sảy chân rơi xuống vực mà chết, hoàn toàn không phải do tiểu muội đả thương. Nhưng nếu cốc chủ cứ khăng khăng cố chấp, tiểu muội xin chịu cho cốc chủ bắn liền ba hạt táo mà không né tránh, có được hay chăng? Với điều kiện là sau đó, dù tiểu muội sống hay chết, cốc chủ cũng phải ban cho linh dược để giải độc cho Dương Quá. Tiểu muội dù có chết, rất nhiều bằng hữu quyết không ghi hận, mà vẫn giúp cốc chủ giải thoát đại họa, đánh lui nội địch. Vậy cốc chủ có chịu làm vậy hay chăng?

Hoàng Dung nói thế, quả dành cho đối phương mọi lợi thế, thấy Cầu Thiên Xích ngoài tuyệt kỹ bắn hạt táo, không còn khả năng đả thương nào khác, lại lớn tiếng nhắc hai chữ "nội địch", càng đánh trúng chỗ yếu của cốc chủ. Cầu Thiên Xích nghĩ: "Có thật vậy không?" nói:

– Ngươi là bang chủ Cái Bang, nói phải giữ lời. Ta sẽ bắn ba hạt táo, có đúng là ngươi sẽ không né tránh, cũng không được dùng binh khí đỡ gạt chứ?

Hoàng Dung chưa kịp trả lời, Quách Phù đã nói:

– Mẫu thân ta chỉ nói là không né tránh, chứ không hề bảo rằng không dùng binh khí đỡ gạt.

Hoàng Dung mỉm cười, nói:

– Cầu cốc chủ muốn trút giận, tiểu muội cũng không dùng binh khí đỡ gạt.

Quách Phù kêu lên:

– Mẹ, như vậy sao được?

Ban nãy trường kiếm của nàng đã bị hạt táo đánh gãy, nàng biết lực đạo của ám khí mạnh vô tỷ, nếu quả thật không tránh né, không dùng binh khí đỡ gạt, thì thể xác chịu đựng sao nổi?

Hoàng Dung thì nghĩ: "Dương Quá đối với cả bốn người nhà họ Quách đều có đại ân, hiện giờ chất độc trong người nan giải, gì thì gì cũng phải đòi Cầu Thiên Xích giao thuốc giải độc cho bằng được. Hạt táo là thứ ám khí lợi hại nhất thiên hạ của mụ ta, để mụ ta bắn liền ba hạt táo quả mười phần nguy hiểm, mất mạng như bỡn. Nhưng không làm thế, chẳng đời nào mụ ta chịu cho giải dược".

Hoàng Dung nói thế là đã tự đặt mình vào địa vị Cầu Thiên Xích, nghĩ hộ cho mụ một cách hết sức chu đáo, vừa để cho mụ có dịp trút hết oán hận bao năm, vừa giúp mụ trong lúc nguy cấp có thể chống địch giải nạn, mà cả hai việc đó đều được thực hiện bằng sở trường duy nhất của mụ, bảo chính mụ nghĩ cũng chẳng nghĩ ra được cách hay như thế.

Cầu Thiên Xích cảm thấy việc này quá lợi cho mụ, không tránh khỏi bất cận nhân tình, bèn nói:

– Ngươi là tử địch của ta, lại cam tâm chịu để ta bắn ba hạt táo, rốt cuộc là ngươi có ngụy kế gì?

Hoàng Dung bước lên, nói nhỏ:

– Chỗ này nhiều tai mắt, chỉ e có không ít kẻ thiếu thiện ý với cốc chủ, tiểu muội cần ghé tai nói với cốc chủ vài lời.

Cầu Thiên Xích đưa mắt quét qua đám đệ tử một lượt, nghĩ bụng: "Bọn này đa phần là tay chân thân tín của lão tặc, đúng là không thể không đề phòng", bèn gật gật đầu.

Hoàng Dung bước lại gần, nói rất nhỏ:

– Kẻ đối địch với cốc chủ sắp ra tay đó. Chúng ta hãy mau mau hoàn tất việc nhỏ này đi. Tiểu muội dù sống hay chết, mọi người cũng sẽ kề vai chống địch. Hơn nữa Dương Quá có ơn đối với tiểu muội, tiểu muội dù mất mạng cũng phải xin bằng được Tuyệt Tình đơn cho y. Sống làm người mà chịu ơn không báo đáp, thì có khác gì loài cầm thú?

Nói rồi thoái lui ba bước, chăm chú nhìn Cầu Thiên Xích.

Cầu Thiên Xích nghe câu "chịu ơn không báo đáp, thì có khác gì loài cầm thú?" cũng chột dạ, nghĩ: "Nếu ta không được Dương Quá cứu giúp, thì lúc này chắc vẫn ngồi thui thủi khổ sở một mình dưới hầm đá". Nhưng ý nghĩ ấy chỉ thoáng qua, ác niệm lại trỗi dậy, mụ lạnh lùng nói:

– Ngươi có khéo mồm khéo miệng, lão phụ nhân cũng không thay đổi chủ ý ban đầu; nào lùi lại đi mà tiếp nhận ba hạt táo của ta!

Hoàng Dung phất tay áo, nói:

– Tiểu muội đành liều chết vậy.

Đoạn nhảy lùi ra đứng giữa sảnh, cách Cầu Thiên Xích chừng ba trượng, nói:

– Mời cốc chủ bắn đi!

Bọn Võ Tam Thông tuy biết Hoàng Dung túc trí đa mưu, nhưng tuyệt kỹ phun hạt táo của Cầu Thiên Xích lợi hại thế nào, ai cũng đã chứng kiến. Lúc này nhìn Hoàng Dung tay không đứng đó, ai cũng lo âu. Quách Phù càng lo sợ, bước tới kéo tay áo Hoàng Dung, nói nhỏ:

– Mẹ, hai mẹ con mình ra một chỗ vắng, con cởi tấm áo lông nhím cho mẹ mặc, thì khỏi sợ mụ già kia.

Hoàng Dung mỉm cười, nói:

– Lấy tấm áo lông nhím mềm chống sao nổi hạt táo cứng? Hài nhi cứ chờ coi thủ pháp của ta.

Chỉ nghe Cầu Thiên Xích nói:

– Các người hãy..

Chữ "tránh ra" chưa nói, thì hạt táo thứ nhất đã bắn thẳng tới bụng dưới của Hoàng Dung. Hạt táo tuy nhỏ, nhưng cứng như viên bi sắt, bay rít lên trong không khí cực kỳ hung hãn, Hoàng Dung kêu "Ối!" và gập người lại.

Quách Phù và bọn Võ Tam Thông cùng cả kinh, định chạy lại giúp, thì hạt táo thứ hai đã xé gió bắn tới nhắm giữa ngực Hoàng Dung. Hoàng Dung lại kêu ối một tiếng, lảo đảo lùi lại vài bước, tựa hồ sắp ngã.

Cầu Thiên Xích thấy Hoàng Dung quả nhiên giữ lời không tránh không gạt, hai hạt táo đã đánh trúng chỗ hiểm trên người Hoàng Dung, với lực đạo dù gặp nham thạch cũng xuyên qua, đừng nói là da thịt. Vậy mà Hoàng Dung bị trúng hai hạt táo, tuy hình như trọng thương, song vẫn không gục ngã, có vẻ cố chịu một hạt táo nữa, thì Cầu Thiên Xích thầm kinh hãi, nghĩ: "Thoạt nhìn thân hình mảnh mai kiều diễm, không ai tin là nàng ta có thể làm bang chủ Cái Bang. Xem ra nàng ta đúng là một nhân vật kiệt xuất!" Nhưng lại nghĩ Hoàng Dung đã trúng hai hạt táo, tính mạng khó toàn, mụ đã trả được mối thâm cừu, nên vui mừng, "phụt" một cái, hạt táo thứ ba lại bắn đi từ miệng, lần này nhắm yết hầu Hoàng Dung. Hạt táo này mà xuyên qua yết hầu, thì kẻ thù giết huynh trưởng sẽ lập tức táng mạng tại chỗ.

Khi Hoàng Dung nói cam chịu ba hạt táo, vẫn chưa nghĩ ra cách nào hay, chỉ biết phải như thế mới lấy được giải dược, dẫu bỏ mạng, cũng phải báo đáp đại ân của Dương Quá. Đến lúc lại gần nói nhỏ với Cầu Thiên Xích, có chút thời gian, Hoàng Dung mới chợt nghĩ ra cách đối phó, nhặt nửa thanh kiếm gãy ban nãy của Quách Phù, giấu vào trong ống tay áo, đợi lúc hạt táo bắn tới, thì gập cánh tay lại cho đoạn kiếm gãy đỡ đòn, miệng kêu ối thật to để át tiếng hạt táo đập vào kiếm. Xảo chiêu đó, quả nhiên Cầu Thiên Xích không phát giác được.

Hoàng Dung cố ý giả trang bị trọng thương, vừa có thể giảm sự giận dữ của đối phương, vừa bảo toàn thân phận cốc chủ cho mụ ta. Nhưng hạt táo thứ ba bắn tới yết hầu, nếu giơ tay áo lên để đoạn kiếm gãy giấu bên trong đỡ đòn, tất sẽ bị Cầu Thiên Xích phát hiện, là Hoàng Dung vi phạm lời cam kết không tránh không đỡ. Lúc này đành phải mạo hiểm, người hơi rùn xuống, hít một hơi đầy bụng, chờ hạt táo bay đến gần miệng liền tròn môi thổi phù ra một luồng khí. Hoàng Dung biết lực bay của hạt táo cực mạnh, mình dùng luồng chân khí đối chọi, địch xa ta gần, lợi thế thuộc về mình, hạt táo nếu không rơi xuống đất, thì cũng giảm hẳn kình lực. Nào ngờ Cầu Thiên Xích độc cư sơn động, tứ chi đã tàn phế, suốt ngày chỉ khổ luyện mỗi môn công phu bắn hạt táo mà thôi. Công lực của Hoàng Dung đã không thâm hậu bằng mụ ta, lại phải lo bang vụ, giúp việc thủ thành Tương Dương, sinh con, săn sóc chồng, làm sao có thể chuyên tâm tu luyện? Vì thế luồng khí thổi ra chỉ làm cho hạt táo bay chậm lại một chút, chứ kình lực vẫn còn mạnh vô cùng.

Hoàng Dung thầm kinh hãi, hạt táo đã bay đến môi, thời khắc chỉ mành treo chuông này chỉ còn cách duy nhất là há miệng cắn gấp lấy hạt táo, hai hàm răng bị chấn đau tê nhức, chân đứng không vững, phải lùi hai bước. Hai lần trước Hoàng Dung lảo đảo lùi lại là giả trang, lần này thì là bị lực xung kích của hạt táo đẩy đi thật, cũng may Hoàng Dung ứng biến thần tốc, lùi bước giảm thế, nếu không chắc hẳn bốn chiếc răng cửa đã gãy tức thời, may sao chỉ bị chảy máu chân răng mà thôi.

Mọi người kêu lên kinh ngạc, xúm lại. Hoàng Dung ngẩng đầu, thổi hạt táo cắm lên xà nhà, cau mày, nói:

– Cầu cốc chủ, tiểu muội đã tiếp nhận ba hạt táo, sắp chết rồi, mong cốc chủ giữ lời cho đơn dược.

Cầu Thiên Xích thấy Hoàng Dung lại có thể dùng răng cắn lấy hạt táo thứ ba, thì không khỏi kinh hãi; hai hạt táo trước rõ ràng cũng đã xuyên vào người, tại sao vẫn không ngã quị? Mụ ngoảnh nhìn Công Tôn Lục Ngạc một cái, nghĩ: "Con gái ta trúng độc hoa Tình, đừng nói Dương Quá không chịu làm con rể ta, dù hắn có chịu, nửa viên Tuyệt Tình đơn há có thể đem cho hắn?" Nhưng chính mụ đã đáp ứng cho đơn dược, mọi người ở đây đều nghe thấy, mụ không thể trở mặt ngay lập tức. Mụ đảo mắt một cái, đã nghĩ ra một cách, nói:

– Quách phu nhân, hai ta tuy là nữ lưu, nhưng hành sự khảng khái, thủ tín còn hơn cả đám mày râu. Phu nhân dám chịu ba hạt táo của ta, khí phách như thế, quả là hiếm có, ta vô cùng thán phục; giải dược sẽ giao cho phu nhân. Nếu ta có gặp chuyện gì, mong được các vị viện thủ.

Quách Phù ngỡ mẫu thân bị trúng hạt táo thật, liền nói:

– Mẫu thân của bổn cô nương mà bị trọng thương, mọi người ở đây sẽ liều chết với mụ.

Rồi quay sang Hoàng Dung, nói:

– Mẹ, hạt táo của lão thái bà trúng vào chỗ nào trên người mẹ?

Hoàng Dung không trả lời câu hỏi của con, nói với Cầu Thiên Xích:

– Tiểu nữ nói xằng, mong cốc chủ đừng chấp. Tiểu muội bình sinh nói một là một, tất nhiên sẽ giúp cốc chủ chống địch, xin cốc chủ ban cho đơn dược.

Bọn Võ Tam Thông nghe Hoàng Dung nói, trung khí sung mãn, thanh âm vang vọng, không có gì là của một người bị thương, thì cảm thấy nhẹ người.

Điều đó Cầu Thiên Xích cũng nhận biết, lấy làm lạ, nghĩ bụng: "Hoàng Dung võ công như thế, ta có trở mặt cũng không dễ, phải dùng cách gian trá vậy". Bèn gật đầu, nói:

– Xin đa tạ phu nhân trước.

Rồi quay sang Công Tôn Lục Ngạc, nói:

– Ngạc nhi, lại đây ta bảo.

Hoàng Dung trong đời đã đối phó với không biết bao nhiêu kẻ gian xảo thất tín; Cầu Thiên Xích nhãn quang cứ láo liên bất định thế kia, làm sao qua khỏi cặp mắt Hoàng Dung. Hoàng Dung biết Cầu Thiên Xích quyết không chịu dễ dàng giao giải dược, nhưng mụ ta gian trá kiểu nào, thì nhất thời chưa đoán ra được.

Chỉ nghe Cầu Thiên Xích nói:

– Hãy nậy viên gạch xanh thứ năm kể từ chỗ ta ngồi đến đó cho ta!

Công Tôn Lục Ngạc kinh ngạc: "Chẳng lẽ mẫu thân giấu Tuyệt Tình đơn ở dưới nền?" Hoàng Dung nghe vậy, thầm thán phục Cầu Thiên Xích khôn ngoan: "Tuyệt Tình đơn quí hiếm, không biết có bao nhiêu kẻ mưu đoạt. Mụ ta giấu ngay trước mắt mọi người, thật không ai đoán ra nổi. Mụ ta hoàn toàn không liệu trước tình thế này, cho nên Tuyệt Tình đơn giấu ở kia hẳn là thuốc thật". Nếu Cầu Thiên Xích sai người tới đan phòng hoặc vào nội thất lấy thuốc, Hoàng Dung cũng khó biết Tuyệt Tình đơn là thật hay giả; còn bây giờ thấy mụ sai con gái nậy viên gạch xanh, thì chắc đấy là thuốc thật.

Công Tôn Lục Ngạc bước đến chỗ viên gạch xanh thứ năm, dùng mũi dao lách xuống kẽ mạch, nậy lên, nhấc viên gạch ra, thấy bên dưới chỉ có đất bụi, không có gì khác. Cầu Thiên Xích nói:

– Chỗ giấu thuốc ở bên dưới viên gạch, hoàn toàn bí mật, không thể cho người ngoài hay biết. Ngạc nhi, hãy ghé tai lại đây.

Hoàng Dung biết Cầu Thiên Xích xảo quyệt, bèn kêu to một tiếng "Úi chao!" oằn người lại, giả bộ thương thế phát tác, để Cầu Thiên Xích không còn đề phòng, mà mình thì ngưng thần lắng nghe mụ ta nói gì với con gái. Ai ngờ Cầu Thiên Xích cũng vẫn cẩn thận, ghé tai Công Tôn Lục Ngạc nói rất khẽ. Hoàng Dung tuy căng tai, cũng chỉ nghe thấy tám tiếng "Tuyệt Tình đơn ở dưới viên gạch xanh", mà tám chữ ấy thì ai cũng biết cả rồi, có nghe thấy cũng vô dụng. Tiếp đó chỉ thấy miệng Cầu Thiên Xích mấp máy, nhìn sang Công Tôn Lục Ngạc, thì thấy nàng hơi cau mày, ậm ừ đáp ứng.

Hoàng Dung biết sắp đến thời khắc hệ trọng, đang bối rối chưa biết phải làm sao, bỗng nghe Nhất Đăng đại sư gọi:

– Dung nhi lại đây, để ta xem thương thế của con thế nào?

Hoàng Dung ngoảnh lại, thấy Nhất Đăng đại sư ngồi trong góc, mặt đầy vẻ quan thiết, nghĩ: "Chắc đại sư bắt mạch, sẽ biết ngay mình không bị thương".

Bèn tới bên, giơ bàn tay ra. Nhất Đăng đại sư dùng ba ngón tay đặt lên mạch cổ tay Hoàng Dung, nói:

– A Di Đà Phật.. A Di Đà Phật.. Lão bà bà bảo.. A Di Đà Phật.. dưới viên gạch có hai cái bình.. A Di Đà Phật.. A Di Đà Phật.. cái bình mé đông đựng thuốc thật.. A Di Đà Phật.. cái bình mé tây đựng thuốc giả.. A Di Đà Phật.. thuốc giả đưa cho ngươi.. A Di Đà Phật..

Nhất Đăng đại sư khi niệm Phật hiệu thì cao giọng, nhưng đến câu "dưới viên gạch có hai cái bình", thì nói rất nhỏ. Hoàng Dung nghe câu "Lão bà bà bảo", thì hiểu ngay, Nhất Đăng đại sư tu luyện mấy chục năm, tai thính mắt tinh, hơn hẳn người thường. Phật gia vốn có câu "Thiên nhãn thông", "Thiên nhĩ thông". Kinh Phật có nói, bậc đại thần thông khi ngồi thiền định "có thể nghe thấy ngữ ngôn của sáu đạo chúng sinh cùng các loại âm thanh một cách dễ dàng". Nói tưởng khó tin, nhưng một người nội công thâm hậu, tâm tư trong sáng, có thể nghe thấy nhưng cái mà thường nhân không nghe thấy, cũng không có gì lạ. Cầu Thiên Xích nói nhỏ bên tai con gái, Nhất Đăng đại sư nhắm mắt tĩnh tọa ở cách xa mấy trượng, nghe rõ từng lời từng chữ. Nhất Đăng đại sư biết thuốc thật thuốc giả liên quan đến tính mạng của Dương Quá, Phật gia có đức hiếu sinh, há có thể thấy chết không cứu, bèn nói cho Hoàng Dung biết.

Hoàng Dung đợi Nhất Đăng đại sư niệm xong mỗi câu Phật hiệu, lại hỏi:

– Thương thế của con sẽ đỡ chăng? Hạt táo cứng có sao không ạ?

Hai câu ấy vừa vặn át hai câu của Nhất Đăng đại sư "cái bình mé đông đựng thuốc thật, cái bình mé tây đựng thuốc giả". Cầu Thiên Xích mấy lần nhìn về phía hai người, thấy Hoàng Dung sắc diện có vẻ lo âu, chỉ hỏi về thương thế, Nhất Đăng đại sư thì luôn miệng A Di Đà Phật, đâu nghĩ rằng gian kế của mụ đã bị đối phương phát hiện.

Công Tôn Lục Ngạc nghe mẫu thân nói xong, gật đầu đáp ứng, tới chỗ viên gạch nọ, cúi xuống moi đất lên, quả thấy có hai cái bình nhỏ nằm kề nhau, nàng xốn xang trong lòng, nghĩ thầm: "Dương lang ôi Dương lang, hôm nay muội xả thân lấy giải dược cho chàng đây. Tấm lòng của muội, chắc gì chàng biết được?" Bèn lấy cái bình ở mé đông lên, nói:

– Mẹ, Tuyệt Tình đơn đây rồi!

Chỉ riêng nàng mới biết cái bình này ở mé đông, còn Cầu Thiên Xích và Hoàng Dung thì đều nghĩ nàng lôi cái bình ở mé tây ra.

Hai cái bình hình dạng hệt như nhau, nửa viên Tuyệt Tình đơn ở bên trong mỗi cái cũng không có gì phân biệt, Cầu Thiên Xích chưa hề nếm thử vị dược, cũng khó biết thật giả. Mụ thấy Công Tôn Lục Ngạc lấy một cái bình ra, thì nghĩ: "Ban đầu ta còn lo con a đầu này lấy trộm giải dược cho tình lang của nó, bây giờ chính nó trúng độc hoa Tình rồi, tất nhiên nó sẽ lo cứu mạng nó trước". Mụ bản tính gian ác hẹp hòi, mau quên ân nghĩa, quyết không tin trên thế gian lại có ai tự nguyện chết đi để cứu người khác, nên mụ nói:

– Chúng ta phải giữ chữ tín, ngươi hãy giao đơn dược cho Quách phu nhân.

Công Tôn Lục Ngạc đáp:

– Vâng!

Rồi hai tay nâng cái bình đi về phía Hoàng Dung.

Hoàng Dung hành lễ với Cầu Thiên Xích đã, nói:

– Đa tạ hậu ý.

Bụng thì nghĩ: "Đã biết thuốc thật chỗ nào, lo gì không lấy trộm được?"

Đang định giơ tay nhận cái bình, đột nhiên trên mái nhà roạt một tiếng, bụi đất mù mịt, lập tức xuất hiện một lỗ hổng lớn, từ trên đó một người nhảy xuống chộp luôn cái bình trên tay Công Tôn Lục Ngạc. Công Tôn Lục Ngạc cả kinh thất sắc, thốt lên:

– Gia gia!

Hoàng Dung thấy Công Tôn Lục Ngạc sắc diện đại biến, cực kỳ hoảng hốt, thì bất giác sững sờ: "Cái bình mà Công Tôn Chỉ cướp đi rõ ràng đựng thuốc giả, cớ sao nàng ta lại hoảng hồn như thế?"

Đúng lúc ấy cửa lớn của đại sảnh nghe rầm một tiếng lớn, khiến các cây nến hồng trong đại sảnh chao đảo muốn tắt, ánh sáng chập chờn lúc tỏ lúc mờ, hai cánh cửa lớn bị gãy then mở toang ra hai bên, một nam ba nữ bước vào. Nam chính là Dương Quá, nữ là Tiểu Long Nữ, Trình Anh và Lục Vô Song.

Công Tôn Lục Ngạc thấy Dương Quá tới thì kêu lên thất thanh:

– Dương đại ca..

Nàng tiến về phía chàng, mới được hai bước, bỗng cảm thấy không ổn, lời muốn nói bỗng nín bặt, bước chân cũng sững lại. Hoàng Dung vẫn chăm chú theo dõi sắc diện của Công Tôn Lục Ngạc, thấy mục quang của nàng ta để lộ thâm tình vô hạn, lo âu vô hạn, thì chợt hiểu, nghĩ thầm: "Hoàng Dung ơi Hoàng Dung, mi làm mẹ mà vẫn chưa hiểu tâm sự con gái nhà người ta hay sao? Mẫu thân của nàng bảo nàng ta đưa thuốc giả cho mi, nhưng nàng ta si luyến Dương Quá, nên đã đưa thuốc thật; cái bình mà Công Tôn Chỉ cướp đi chính là đựng linh đơn, bảo làm sao nàng ta không lo cuống lên kia chứ?"

Comments

Comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 32: Cái Tình Là Cái Chi Chi

Khi Hoàng Dung, Nhất Đăng đại sư và những người khác bị nhốt trong đại sảnh, Dương Quá và Tiểu Long Nữ sánh vai nhau trò chuyện ở gần hoa viên, không lâu thì Trình Anh và Lục Vô Song đến. Tiểu Long Nữ thấy Trình Anh dịu dàng nhã nhặn, rất hợp với mình, liền kéo tay nàng ta mà trò chuyện. Lục Vô Song kể lại cho Dương Quá cuộc tỷ võ vừa rồi với Quách Phù, việc mình châm chọc khiến cho Quách Phù dở cười dở khóc như thế nào, Trình Anh búng rơi kiếm của Quách Phù ra sao. Dương Quá lần này gặp lại Trình, Lục hai nàng, nghĩ hai nàng tình ý thâm trọng đối với chàng, mà chàng không thể đền đáp, trong lòng không khỏi áy náy như kẻ có lỗi; thấy Lục Vô Song đã biết rõ chàng thành thân với Tiểu Long Nữ mà không hề tỏ vẻ oán trách, cứ luôn miệng nói phải trừng phạt Quách Phù cho chàng bõ tức, còn Trình Anh cũng thân thiết với Tiểu Long Nữ, thì chàng rất mừng.

Bốn người ngồi trên một phiến đá, Tiểu Long Nữ trò chuyện với Trình Anh, Dương Quá thì nói chuyện với Lục Vô Song. Nhưng Long, Trình hai nàng tính nết đều trầm tĩnh, ít lời, chỉ nói vài câu đã ngừng. Dương Quá và Lục Vô Song thì cứ "Chàng Ngốc" với "Tức phụ nhi" luôn miệng, Trình Anh bỗng chen vào, nói:

– Dương đại ca, hiện thời đại ca đã có Dương đại tẩu, nên thay đổi cách xưng hô với biểu muội của muội đi thôi.

Dương Quá kêu "Ôi", vội đưa tay bịt miệng. Lục Vô Song cũng đột nhiên hiểu ra, xấu hổ đỏ bừng cả mặt. Trình Anh thầm ân hận, nghĩ: "Hai người họ cười nói tự nhiên, không có ý gì khác, mình đi nhắc nhở họ, hóa ra họ có lỗi không bằng", vội nói chữa:

– Dương đại ca, đại ca bị trúng độc hoa Tình, bây giờ cảm thấy thế nào?

Dương Quá nói:

– Không sao. Quách bá mẫu túc trí đa mưu, nhất định sẽ có cách xin được linh dược cho ngu huynh; ngu huynh chỉ lo cho thương thế của người này thôi.

Đoạn chàng chỉ Tiểu Long Nữ.

Trình Anh và Lục Vô Song thất kinh, cùng hỏi:

– Sao? Dương đại tẩu bị thương thế nào mà muội không hay biết?

Tiểu Long Nữ mỉm cười, nói:

– Cũng không sao. Muội vận nội lực khu trú chất độc, không để nó phát tác, trong vài ngày chưa có gì đáng ngại..

Lục Vô Song nói:

– Là chất độc gì, có phải trúng độc hoa Tình hay không?

Tiểu Long Nữ nói:

– Không, là bị trúng Băng phách ngân châm của sư tỷ muội.

Lục Vô Song nói:

– Lại là nữ ma đầu Lý Mạc Sầu. Chàng.. Dương đại ca, đại ca đã đọc quyển "Ngũ độc bí truyền" rồi. Chất độc Băng phách ngân châm tuy lợi hại, nhưng cũng có thể giải độc kia mà.

Dương Quá thở dài, nói:

– Chất độc ngấm vào tạng phủ, giải dược thông thường không trị nổi.

Đoạn chàng kể lại việc Tiểu Long Nữ trị thương bằng cách nghịch hành kinh mạch, bị Quách Phù tưởng lầm là Lý Mạc Sầu, đã phóng Băng phách ngân châm trúng người nàng như thế nào. Lục Vô Song vỗ mạnh tay xuống phiến đá, tức giận nói:

– Quách Phù ỷ thế cha mẹ, cứ vô pháp vô thiên như thế. Biểu tỷ, hai ta không thể để yên cho Quách Phù được. Cha mẹ nó là đại hiệp đương thời thì sao kia chứ?

Tiểu Long Nữ nói:

– Việc này kể cũng không thể trách Quách cô nương, không giống như lần nàng ta chém mất cánh tay Quá nhi.

Trình Anh nói:

– Dương đại tẩu, sư phụ của muội từng bảo rằng vận nội lực khu trú chất độc, tuy có thể làm cho nó nhất thời chưa phát tác, song chất độc ở lâu trong cơ thể rất có hại, phải sớm tìm cách giải độc mới được.

Tiểu Long Nữ ậm ừ. Dương Quá nghĩ: "Sau khi Thiên Trúc cao tăng tỉnh lại, thật không biết có cách giải độc hay chăng?" Chàng không muốn nói thêm về chuyện này, để khỏi làm cho Tiểu Long Nữ thêm buồn và chàng thêm đau đớn, bèn nói:

– Quách bá mẫu và Nhất Đăng đại sư đối phó với lão hòa thượng điên điên khùng khùng thế nào rồi không biết, chúng ta thử vào xem sao.

Bốn người liền trở về đại sảnh, cách đại sảnh mươi trượng chợt thấy có bóng người lướt trên mái nhà, nhận ra chính là Công Tôn Chỉ, tiếp đó thấy hắn phá thủng mái sảnh rầm rầm mà nhảy xuống, Dương Quá sợ hắn sẽ bố trí ngư võng trận để hãm hại mọi người, chàng bèn dùng Huyền thiết trọng kiếm dộng mạnh cánh cửa sắt mà xông vào trước.

Công Tôn Chỉ lấy được Tuyệt Tình đơn rồi, tuy thấy bọn hảo thủ Hoàng Dung tụ tập, hắn cũng chẳng lo, nghĩ bụng: "Ta đánh không lại chúng, chẳng lẽ chạy không thoát hay sao?" Hắn đang tìm cách cướp đường thoát ra, thì bỗng thấy Dương Quá tông cửa xông vào, thanh thế quá mạnh. Hắn hốt hoảng, nhún hai chân một cái, phi thân qua lỗ hổng trên mái để thoát đi, nghĩ rằng việc cần kíp trước hết là mang viên Tuyệt Tình đơn đi cho Lý Mạc Sầu uống giải độc, còn việc giết Cầu Thiên Xích, đoạt lại Tuyệt Tình cốc thì để vài hôm sau cũng chưa vội.

Hắn vừa vọt lên, thì Hoàng Dung đã nhảy cao, dùng cây Đả cẩu bổng thi triển tự quyết chữ "Triền" mà kéo chân hắn xuống. Cầu Thiên Xích quát:

– Lão tặc!

Vèo một tiếng, một hạt táo cứng bắn thẳng tới bụng dưới Công Tôn Chỉ. Hắn đã sớm đề phòng chiêu này, giơ đao gạt hạt táo, thế phi thân lên vẫn không chậm lại chút nào; tai nghe tiếng gió rít, hạt táo thứ hai bắn chếch tới. Kim đao hắn đã gạt ra ngoài, chưa kịp thu về để gạt tiếp, cây Đả cẩu bổng của Hoàng Dung lại móc tới, thà để cho hạt táo xuyên qua đùi còn hơn nó xuyên vào bụng dưới, hắn bèn nghiêng mình dùng đùi hất hạt táo ra.

Nào ngờ hạt táo này của Cầu Thiên Xích không phải nhắm bắn Công Tôn Chỉ, mà là nhằm vào Hoàng Dung. Biến cố bất ngờ này ngay cả Hoàng Dung cũng không dự liệu được, vội dùng Đả cẩu bổng đỡ gạt, nhưng kình lực của hạt táo quá mạnh, Hoàng Dung cảm thấy toàn thân chấn động, cánh tay tê dại, cây Đả cẩu bổng rơi xuống đất, Hoàng Dung cũng đáp xuống theo. Công Tôn Chỉ lực nhảy lên cũng đã hết đà, hắn đáp xuống gần chỗ Hoàng Dung, lập tức vung kim đao chém ngang.

Dương Quá chĩa thẳng Huyền thiết trọng kiếm thật nhanh, một luồng kình phong thốc tới, đẩy bạt kim đao của Công Tôn Chỉ ra xa ba thước. Công Tôn Chỉ cảm thấy kình lực của Huyền thiết trọng kiếm như bài sơn đảo hải thì cả kinh, không ngờ sau hơn một tháng tên tiểu tử kia tuy đã bị mất một cánh tay, mà võ công lại tinh tiến như vậy.

Công Tôn Lục Ngạc đứng giữa phụ thân và mẫu thân, nàng vốn rất sợ phụ thân, chưa bao giờ dám nói thêm với cha một lời, nhưng từ lúc ở "Đoạn Trường nhai" nghe những lời lẽ Công Tôn Chỉ nói với Lý Mạc Sầu thì nàng vô cùng đau khổ, không còn sợ gì hắn nữa, hỏi Công Tôn Chỉ:

– Gia gia, gia gia đã làm cho mẫu thân tứ chi tàn phế, rồi bỏ xuống hầm đá, thật là tàn ác hiếm thấy. Tối nay ở "Đoạn Trường nhai" gia gia lại còn nói gì với Lý Mạc Sầu vậy?

Công Tôn Chỉ chột dạ, những điều hắn nói với Lý Mạc Sầu ở chỗ kín đáo không ai lui tới, không ngờ lại lọt vào tai kẻ khác. Hắn tuy tàn ác, nhưng bày mưu hãm hại con gái mình như thế thì không tránh khỏi bị cắn rứt lương tâm; đột nhiên nghe con hỏi trước mặt mọi người, bất giác tái mặt, chối:

– Cái.. cái gì? Ta chẳng nói gì cả.

Công Tôn Lục Ngạc lạnh lùng nói:

– Gia gia muốn hãm hại nữ nhi, để lấy lòng một nữ tử hoàn toàn xa lạ với gia đình ta. Nữ nhi là thân sinh của gia gia, gia gia muốn nữ nhi chết, nữ nhi cũng không dám trái lời, nhưng Tuyệt Tình đơn mà gia gia đang cầm trong tay là mẫu thân đã đáp ứng cho người khác, gia gia hãy trả lại cho nữ nhi.

Công Tôn Chỉ cất cái bình dược vào trong túi, cười khẩy, nói:

– Hai mẹ con ngươi lòng hướng người ngoài, một kẻ phản phu, một kẻ nghịch phụ, đều không tốt. Hôm nay ta tạm chưa hỏi tội hai ngươi. Mai này đến lúc báo ứng, mẹ con ngươi sẽ hiểu.

Đoạn gõ đao kiếm vào nhau choang một tiếng, sải bước đi ra.

Dương Quá nghe Công Tôn Lục Ngạc chỉ trích Công Tôn Chỉ, chàng chưa rõ nguyên do, bèn giơ Huyền thiết trọng kiếm chặn đường Công Tôn Chỉ, hỏi Công Tôn Lục Ngạc:

– Công Tôn cô nương, tại hạ có điều muốn biết.

Công Tôn Lục Ngạc nghe câu đó, một cảm giác tự thương mình bỗng trào lên trong lòng, nghĩ thầm: "Muội xả thân lấy linh dược cho chàng, quyết không để chàng hay biết. Nhiều năm về sau, chàng con cái đầy nhà, đã quên biến đứa con gái bạc mệnh đáng thương này rồi. Thôi, chàng còn muốn biết làm gì cho áy náy suốt đời kia chứ?" Bèn nói:

– Dương đại ca có điều gì sai bảo?

Dương Quá nói:

– Cô nương vừa bảo, lệnh tôn định hãm hại cô nương để lấy lòng một nữ tử hoàn toàn xa lạ, nữ tử đó là ai vậy?

Công Tôn Lục Ngạc đáp:

– Nữ tử ấy là Lý Mạc Sầu, còn tại sao thì..

Nàng ngập ngừng, rồi tiếp:

– Gia gia muội đối với muội tuy tệ hại, nhưng vẫn là phụ thân của muội, chuyện đó muội phận nữ nhi, không tiện nói ra..

Cầu Thiên Xích quát:

– Ngươi cứ việc nói! Lão tặc làm được, mà ngươi không dám nói ra ư?

Công Tôn Lục Ngạc lắc đầu, nói:

– Dương đại ca, nửa viên Tuyệt Tình đơn đang ở trong túi áo gia gia muội. Muội.. muội là một đứa con bất hiếu.

Rồi không nhịn thêm được nữa, nàng gọi "Mẹ!" và chạy đến sà vào lòng Cầu Thiên Xích. Câu "muội là một đứa con bất hiếu", Cầu Thiên Xích nghe lại tưởng là chỉ việc nàng không vâng lời phụ thân, kỳ thực Công Tôn Lục Ngạc muốn nói rằng nàng đã không tuân lệnh mẫu thân. Mấy chục người trong sảnh, chỉ một mình Hoàng Dung hiểu chân ý của Công Tôn Lục Ngạc.

Công Tôn Chỉ thấy cường địch vây quanh, trong bụng sớm nghĩ cách đối phó: "May quá, mụ ác phụ đúng thời khắc quyết định lại bắn Quách phu nhân một hạt táo. Ta chỉ cần làm cho hai kẻ ấy đánh nhau, là có thể thừa cơ thoát thân". Bèn cười phá lên, nói:

– Hay, hay lắm, nữ nhi ngoan ngoãn quá, không uổng công gia gia yêu thương con. Con hãy cùng mẫu thân canh chừng phía bên ấy, hôm nay gia đình ta phải làm cho những kẻ đến cốc thì được, chứ rời khỏi cốc thì đừng hòng.

Đoạn hắn vung đao kiếm lao tới tấn công Hoàng Dung đang ngồi trên ghế.

Hoàng Dung cánh tay phải bị tê dại, không nhấc nổi cây Đả cẩu bổng, đành nghiêng mình né tránh. Quách Phù vẫn cẫm thanh kiếm của Gia Luật Tề, liền vung kiếm bảo vệ mẹ. Hắc kiếm của Công Tôn Chỉ đâm nhanh tới cổ họng Quách Phù, Quách Phù đưa kiếm gạt đi. Hoàng Dung kêu lên:

– Cẩn thận!

"Cạch" một cái, trường kiếm của Quách Phù gãy đôi, hắc kiếm của Công Tôn Chỉ không dừng lại, cứ đâm thẳng tới cổ nàng; Hoàng Dung tim tưởng chừng nhảy ra khỏi lồng ngực, vì nghĩ khoảnh khắc này không có cách nào giải cứu. Lục Vô Song ở bên cạnh quát:

– Giơ tay phải mà gạt đi!

Quách Phù thấy mũi kiếm đã gần tới cổ, đâu còn phân biệt tiếng quát vừa rồi là của ai, bất giác đưa cánh tay gạt đi.

Trình Anh quát:

– Biểu muội, sao lại..

Trình Anh biết Lục Vô Song giận Quách Phù chém mất cánh tay Dương Quá, cố ý làm cho Quách Phù rối trí, bảo nàng ta giơ cánh tay đỡ đòn, thể nào Quách Phù cũng sẽ bị thương vào cánh tay. Trình Anh đối với việc Dương Quá bị mất cánh tay cũng mười phần đau đớn, lúc nãy trong bóng đêm nàng đã khóc lén một hồi, nhưng nàng chỉ nghĩ đấy là một điều bất hạnh, tuy rất giận Quách Phù hạ độc thủ, song không hề muốn chém một cánh tay Quách Phù để trả thù, cho nên khi nghe tiếng quát của Lục Vô Song, nàng vội ngăn lại, nhưng đã không kịp; mũi kiếm của Công Tôn Chỉ đâm sượt qua cánh tay của Quách Phù.

Chỉ nghe soạt một tiếng, ống tay áo của Quách Phù bị rách một vệt dài, đồng thời thân hình nàng cũng bị kiếm lực làm cho đứng không vững, phải nhảy sang bên cạnh. Nhưng lạ thay, cánh tay nàng không hề bị đâm chém, máu tươi cũng không chảy một giọt. Trình Anh và Lục Vô Song kinh ngạc, Công Tôn Chỉ và Cầu Thiên Xích cũng giật mình. Quách Phù nhảy vài bước, đứng vững lại, còn cho rằng Lục Vô Song có hảo ý giải cứu, lòng thầm cảm kích, nói:

– Đa tạ tỷ tỷ! Vì sao tỷ tỷ lại biết..

Dương Quá vội tiếp lời:

– Công Tôn Chỉ không biết cô nương võ công cao siêu đâu

Chàng biết Hoàng Dung có một tấm áo giáp lông nhím không hề bị tổn thương bởi đao kiếm. Quách Phù giữ được cánh tay chắc là nhờ tấm áo giáp ấy, Quách Phù hỏi "Vì sao tỷ tỷ lại biết.." tất sẽ tiếp đến câu "muội có tấm áo giáp hộ thân?" Dương Quá nghĩ thanh kiếm sắc bén của Công Tôn Chỉ đã không thể đả thương nổi Quách Phù thì hắn sẽ khiếp sợ, vậy không nên để cho hắn biết nguyên do thật sự, nên chàng mới nói với hắn:

– Vị cô nương này là nữ nhi của Quách đại hiệp và Hoàng bang chủ, là ngoại tôn nữ của Đào Hoa đảo chủ Hoàng Dược Sư, Quách cô nương có tuyệt nghệ gia truyền, khắp người đao kiếm không làm gì được, cái thanh kiếm gỉ của lão thì làm gì nổi kia chứ?

Công Tôn Chỉ tức giận nói:

– Hừ, vừa rồi ta thủ hạ lưu tình, chẳng lẽ không đủ sức đả thương nó.

Đoạn vung hắc kiếm, phát ra tiếng "oăng oăng". Quách Phù nghĩ: "Mình đã không sợ đao kiếm của hắn, cứ xông vào tấn công là được. Đấu với hắn chỉ có thắng không thua, tội gì không đấu?" Bèn nói:

– Tiểu Võ ca ca, hãy cho muội mượn kiếm. Lão già này không tin công phu gia truyền của đảo Đào Hoa, thì để bổn cô nương cho lão ta nếm mùi.

Võ Tu Văn đưa kiếm cho nàng. Quách Phù nhận kiếm, múa tít, nói:

– Lão già kia, tiến lại đi chứ!

Vẻ dương dương đắc ý, không sợ gì cả, tựa hồ một cao thủ đứng trước một kẻ võ công tầm thường vậy.

Công Tôn Chỉ trông nàng múa kiếm thì biết kiếm thuật của nàng chưa tới mức hỏa hầu, liền quát:

– Được, để ta lĩnh giáo!

Hắn chém một đao trước mặt, Quách Phù né tránh, đánh trả một kiếm. Hắc kiếm của Công Tôn Chỉ bật lại dón đường kiếm của nàng. Quách Phù nghĩ: "Không ổn! Thân ta có tấm áo giáp, chứ thanh kiếm thì không, song kiếm đụng nhau, kiếm của ta ắt gãy", bèn thu kiếm về né tránh. Công Tôn Chỉ chập hai tay vào nhau, đao và kiếm đều đã cầm bên tay phải, tả chưởng đánh ra. Quách Phù cả mừng, nghĩ: "Chưởng của lão mà giáng vào tấm áo giáp của ta thì khốn cho lão đó!" Nhưng nàng sợ chưởng lực lợi hại, giáng trúng người sẽ làm chấn thương nội tạng, nên né tránh chưởng thứ nhất đang rất mạnh mẽ của đối phương, chờ chưởng sau yếu hơn sẽ tiếp nhận.

Nào ngờ Công Tôn Chỉ sử chưởng giữa chừng bỗng nhảy lùi về hơn một trượng, nói:

– Con a đầu kia, ngươi ám tiễn thương nhân!

Quách Phù kinh ngạc nói:

– Bổn cô nương đâu đã đả thương lão?

Nàng lấy làm lạ: "Không lẽ tấm áo giáp lại diệu dụng đến thế? Bàn tay lão ta còn chưa chạm đến áo của ta, mà lão đã bị thương rồi".

Nàng làm sao biết Công Tôn Chỉ gian ngoan xảo quyệt, trong bụng chỉ tính cách mau chóng mang Tuyệt Tình đơn đi cho Lý Mạc Sầu uống chứ đâu muốn tranh cường đấu thắng với một tiểu cô nương. Hắn giả trang bị thương lảo đảo vài bước, luồn ngay về phía hậu đường. Vừa rồi hắn đã quan sát rõ tình thế, trước mặt là Dương Quá và Hoàng Dung, hai nhân vật lợi hại, lại thêm trường my lão tăng tuy có vẻ đang thần du nhập định, song quyết không phải hạng tầm thường; thừa lúc Quách Phù đang dương dương đắc ý, hắn chuồn ra lối hậu đường.

Công Tôn Lục Ngạc thấy hắn mang Tuyệt Tình đơn lẻn đi, vội chặn lại, nói:

– Gia gia hãy khoan đi vội!

Ngay lúc ấy, có tiếng vèo vèo, hai hạt táo cứng đã bắn về phía Công Tôn Chỉ. Cầu Thiên Xích sợ Công Tôn Chỉ né tránh, hạt táo sẽ bắn trúng người nữ nhi, nên đã phun lên cao, nhắm đầu hắn mà bắn tới. Công Tôn Chỉ rùn người xuống, hai hạt táo bay vụt phía trên mái tóc Công Tôn Lục Ngạc, cắm vào bức tường đá.

Công Tôn Chỉ quát:

– Tránh ra!

Miệng quát, chân không dừng bước. Công Tôn Lục Ngạc nói:

– Tuyệt Tình đơn..

Lời chưa dứt, Công Tôn Chỉ đã chộp lấy cổ tay nàng, quay người lại, kéo nữ nhi che trước ngực, nói:

– Ác phụ kia, mụ muốn liều thì cho chết cả lũ!

Cầu Thiên Xích hai hạt táo đã bắn ra tới môi, chợt thấy biến cố bất trắc, không thu về được, vội nghiêng đầu, để hai hạt táo bắn sang bên cạnh. Trong thời khắc ấy, mụ chỉ cốt sao hai hạt táo không bắn vào người Công Tôn Lục Ngạc, chứ đâu còn cái đích nào khác, nhưng bỗng nghe hai tiếng kêu "Ối!" hai đệ tử áo xanh bị trúng một vào ngực, một vào trán, chết ngay tại chỗ.

Công Tôn Chỉ biết rằng muốn đoạt lại Tuyệt Tình cốc ngoài việc nhờ sự trợ giúp của Lý Mạc Sầu, còn phải có sự qui tâm của chúng đệ tử, biến cố này chính là dịp tốt để kích nộ chúng đệ tử, hắn bèn nói to:

– Ác phụ, mụ tàn nhẫn sát hại đệ tử của ta, quyết không thể để yên cho mụ!

Lúc này Dương Quá đã chặn lối đi của hắn, nói:

– Mọi chuyện giữa chúng ta phải có phần kết thúc, đừng có vội bỏ đi!

Công Tôn Chỉ giơ ngang người Công Tôn Lục Ngạc lên cao, nói:

– Ngươi dám cản đường ta à?

Hắn lấy chân trái làm trụ, xoay một vòng, rồi lại lấy chân phải làm trụ, xoay một vòng, cứ thế chuyển dịch về phía trước đến bốn thước, đã gần chỗ Dương Quá. Dương Quá thấy hắn lại xoay một vòng nữa, sợ mình đả thương nhầm Công Tôn Lục Ngạc, vội tránh sang một bên.

Công Tôn Lục Ngạc thân ở trong tay phụ thân, không cựa quậy được, bị quay vòng, đột nhiên nhìn thấy Dương Quá nhảy tránh sang một bên, nhãn quang lộ rõ vẻ quan hoài, thì không khỏi cảm thấy mình được an ủi lớn: "Chàng chỉ lo cho ta, chàng chẳng cần nghĩ đến giải dược. Ta chết cũng nhắm mắt được rồi". Nàng tuy chân tay không thể cử động, nhưng cổ vẫn xoay được. Nàng khẽ gọi "Dương lang, Dương lang!" bổ trán vào lưỡi hắc kiếm của Công Tôn Chỉ. Hắc kiếm sắc như nước, Công Tôn Lục Ngạc bị chết tức thì trong tay phụ thân!

Dương Quá kêu lên "Ôi chao!" định nhảy vào cứu nhưng làm sao kịp? Công Tôn Chỉ cũng kinh ngạc, lòng hơi xao động, tai nghe có tiếng quát giận dữ sau lưng, tiếng rít của ba hạt táo bắn tới, hắn bèn quẳng ngay xác nữ nhi ra phía sau, ba hạt táo găm cả vào người Công Tôn Lục Ngạc.

Mọi người thấy hắn tàn nhẫn như thế, Công Tôn Lục Ngạc đã chết còn bị hắn đối xử như thế, ai ai cũng căm phẫn, rút binh khí xông tới.

Công Tôn Chỉ nói to:

– Chúng đệ tử, ác phụ câu kết ngoại địch, định giết hết nam phụ lão ấu ở Tuyệt Tình cốc ta. Ngư võng đao trận, hãy nhất tề vây lấy bọn chúng.

Bọn đệ tử bao năm vốn coi Công Tôn Chỉ như thần linh, từ hôm hắn bị Cầu Thiên Xích bắn mù một mắt phải đào tẩu, họ đành phải tuân lệnh Cầu Thiên Xích; bây giờ nghe tiếng kêu gọi của Công Tôn Chỉ, chẳng ai kịp suy nghĩ gì, kéo các tấm lưới có gắn dao từ bốn góc quây lại.

Mỗi tấm lưới đều rộng hai trượng vuông, có gắn các lưỡi dao sắc nhọn, mọi người võ công tuy cao, song chưa biết phải đối phó thế nào với các tấm lưới, nhìn các tấm lưới từ bốn phía chụp vào giữa, mỗi người khó lòng thoát khỏi bị tấm lưới chụp vào người. Cả Cầu Thiên Xích cũng bị vây luôn. Mụ quát to:

– Chúng đệ tử chớ nghe hồ ngôn loạn ngữ của lão tặc! Các người mau dừng lại, các người mau dừng lại!

Nhưng bọn đệ tử làm như không nghe thấy, chúng chỉ nghe lệnh của Công Tôn Chỉ:

– Khôn võng tiến lên phía trước, Khảm võng lùi sang trái, Chấn võng chuyển sang phải!

Bọn đệ tử răm rắp làm theo, các tấm lưới có gắn dao dần dần chụm lại.

Hoàng Dung lấy trong túi ra một nắm cương châm, vung tay ném về phía tám đệ tử áo xanh ở góc phía tây, nghĩ cự ly rất gần, cương châm lại nhiều, tối thiểu cũng phải đến năm sáu đệ tử áo xanh bị thương, ngư võng trận sẽ bị phá vỡ một khoảng, có thể thoát ra qua ngả đó. Chỉ nghe keng keng bộp bộp nhiều tiếng, các cương châm và hạt táo do Hoàng Dung và Cầu Thiên Xích bắn ra đều bị nam châm gắn trên các tấm lưới hút lấy cả. Hoàng Dung thầm kêu "Hỏng rồi!" và quát:

– Phù nhi, hãy giơ kiếm che đầu, cường công phá lưới!

Quách Phù nghe tiếng gọi của mẫu thân, vung động trường kiếm xông về góc đông bắc. Bốn đệ tử điều khiển tấm lưới chụp lấy nàng, năm sáu lưỡi dao đâm vào tấm áo giáp lông nhím của nàng bị bật ra, tấm lưới tuy không đả thương được nàng, nhưng sắp cuốn nàng vào trong.

Dương Quá đứng phía sau lưng Công Tôn Chỉ, vốn ở bên ngoài ngư võng trận, nhưng sau đó tám tấm lưới chuyển dịch lúc sang phải, khi sang trái theo hiệu lệnh của Công Tôn Chỉ, đã vây chàng vào bên trong. Dương Quá thấy tình thế nguy cấp, liền dùng Huyền thiết trọng kiếm chém mạnh vào tấm lưới sắp chụp tới Quách Phù. Nhiều tiếng keng keng, tấm lưới bị đứt đôi, kéo bốn gã đệ tử cùng ngã xuống đất. Bọn Võ Tam Thông, Gia Luật Tề không chút chậm trễ, xông tới đả thương bốn gã đệ tử áo xanh đó, đề phòng chúng chăng ra tấm lưới mới. Dương Quá hú lên hai tiếng dài, chém hai nhát kiếm nữa, lại chặt đứt hai tấm lưới khác. Các tấm lưới này đan bằng các sợi thép cực bền, nhưng Huyền thiết trọng kiếm có thứ gì mà không chém đứt; ba nhát chém, ba tấm lưới đứt đôi. Chúng đệ tử kêu lên kinh hãi, cùng lùi cả lại.

Công Tôn Chỉ quát:

– Năm tấm lưới cùng xông vào! Một kiếm của hắn khó phá năm tấm lưới!

Dương Quá nghĩ: "Năm tấm lưới cùng xông tới, quả thật khó phá!" Chàng liền lao chếch sang mé trái, chiếm tiên cơ, lại chém một tấm lưới nữa. Tấm lưới rất căng, khi bị kiếm chém đứt, nghe "phựt" một tiếng chối tai.

Lúc ấy bỗng nghe ngoài sảnh có tiếng quát:

– Ngươi chạy đi đâu?

Một cái bóng vàng vụt vào trong sảnh, chống kiếm đứng lại, chính là Xích Luyện Tiên Tử Lý Mạc Sầu.

Lý Mạc Sầu vừa đứng lại, thì từ cửa có một người nữa xông vào, máu me đầy mình, tóc tai rũ rượi, chính là Chu Tử Liễu. Họ Chu hai tay không, tả chỉ hữu chưởng, hùng hổ lao vào chỗ Lý Mạc Sầu. Lý Mạc Sầu tuy tay cầm binh khí, nhưng thấy Chu Tử liễu lao tới như kẻ điên liều chết, thì không dám tiếp chiêu, chạy nhanh vào một góc sảnh. Hai người đều có khinh công cực cao, thoáng chốc đã chạy bảy, tám vòng trong đại sảnh. Dương Quá kinh ngạc nghĩ: "Lý Mạc Sầu võ công vị tất thua kém Chu bá bá, sao mụ lại sợ Chu bá bá như thế? Thiên Trúc cao tăng sao rồi?"

Hai người võ công có sở trường riêng, nhưng về khinh công thì Lý Mạc Sầu cao hơn hẳn, sau mấy vòng chạy, ai cũng thấy Chu Tử Liễu nhất định không thể đuổi kịp Lý Mạc Sầu, huống hồ từ thân mình Chu Tử Liễu máu chảy thành giọt xuống đất, xem chừng bị thương không nhẹ. Cha con Võ Tam Thông từ hai phía vây lại, Chu Tử Liễu gọi:

– Sư ca, ác phụ này đã hại chết sư thúc. Chúng ta bất luận thế nào..

Rồi hổn hển không nói được nữa, đã đứng lại mà thân hình cứ loạng choạng.

Nhất Đăng đại sư nghe tin Thiên Trúc cao tăng đã chết, mặc dù tu vi cực thâm, cũng không kìm được nữa, đứng bật ngay dậy.

Dương Quá choáng váng, quay sang nhìn Tiểu Long Nữ, Tiểu Long Nữ lúc ấy cũng ngoảnh nhìn chàng. Hai người bốn mắt nhìn nhau, lập tức như rơi xuống hố băng, lạnh toát cả người. Tiểu Long Nữ chậm rãi bước lại dựa vào người chàng. Dương Quá hú một tiếng dài, cầm tay nàng kéo đi ra ngoài.

Nguyên Thiên Trúc cao tăng bình thời thường tiếp cận độc dược, lực kháng độc trong cơ thể rất mạnh, vị cao tăng lấy nhiều gai hoa Tình đâm vào người mình, dự tính hôn mê ba ngày đêm sẽ tỉnh lại, nhưng sau hơn hai ngày đêm một chút, đã hồi tỉnh. Vị cao tăng ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi nói:

– Chất độc hoa Tình tuy rất lợi hại, nhưng không đến mức nặng như ta tưởng, tất sẽ có cách giải độc.

Chu Tử Liễu cả mừng, liền bẩm cáo rằng Nhất Đăng đại sư và Dương Quá đã tới Tuyệt Tình cốc, thạch môn của Hỏa hoàn thất cũng đã được Dương Quá phá vỡ. Thiên Trúc cao tăng nói:

– Việc không nên chậm trễ, chúng ta phải lập tức tìm cách chế dược cứu người.

Hai người ra khỏi Hỏa hoàn thất, Thiên Trúc cao tăng đến dưới gốc một bụi hoa Tình tìm dược thảo. Vị cao tăng biết rằng vật này khắc trị vật kia; chỗ rắn độc ra vào tất có thảo dược chữa trị được nọc độc của rắn. Dược thảo cần có để phối chế thuốc giải chất độc hoa Tình, có một vị chính chắc hẳn sẽ mọc ở dưới gốc bụi hoa Tình. Ai ngờ Lý Mạc Sầu nấp ngay sau tảng đá bên bụi hoa Tình, thấy Thiên Trúc cao tăng cúi đầu lại gần, mụ chẳng hỏi nguyên do đã bắn một mũi Băng phách ngân châm. Thiên Trúc cao tăng không biết võ công, mũi châm cắm vào ngực, vị cao tăng lập tức bỏ mạng.

Chu Tử Liễu nghe một tiếng "huỵch", sư thúc đã nằm bất động, thì biết sau tảng đá có kẻ địch mai phục, nhưng chưa biết sư thúc đã chết, chẳng nề gian nguy của bản thân, lao tới cứu người. Lý Mạc Sầu biết tâm ý của Chu Tử Liễu, lại phóng một mũi châm nữa về phía thi thể Thiên Trúc cao tăng. Chu Tử Liễu tay không binh khí, vội xuất một chưởng đánh rơi mũi châm, lưng hướng về phía kẻ địch. Lý Mạc Sầu thừa cơ chém một kiếm vào vai phải của Chu Tử Liễu. Chu Tử Liễu vội rùn vai xuống, cũng đã bị lưỡi kiếm chém sâu vào thịt hơn một tấc, chỉ kịp điểm liên tiếp mấy chỉ vào eo lưng đối phương. Nhưng vai đã bị thương, cố nhiên không cứu nổi Thiên Trúc cao tăng, mà kẻ địch thì tiến chiêu không ngừng, thực vô cùng nguy hiểm.

Hai bên đấu qua lại mấy chiêu, Chu Tử Liễu thấy Thiên Trúc cao tăng nằm sấp dưới đất không hề động đậy bèn gọi:

– Sư thúc, sư thúc!

Thiên Trúc cao tăng hoàn toàn không trả lời. Lý Mạc Sầu cười, nói:

– Ngươi muốn lão ta trả lời cũng dễ thôi. Ta cho ngươi một mũi Băng phách ngân châm, để ngươi xuống suối vàng mà gọi lão ta.

Chu Tử Liễu đau lòng, càng thêm căm hận, gia tăng kình lực khi xuất chỉ, chiêu thức không hề rối loạn. Dưới ánh trăng sao mờ mờ, Lý Mạc Sầu thấy nhãn thần của đối phương như tia chớp, các chiêu tấn công đều dữ dội, tựa hồ liều mạng để cả hai cùng chết; cho nên đấu thêm mấy chiêu, mụ không khỏi hoảng sợ, vung kiếm đâm gấp hai nhát, rồi quay người bỏ đi. Chu Tử Liễu cúi xuống xem mạch cổ tay Thiên Trúc cao tăng, thấy không có mạch nữa, vị sư thúc đã tắt thở hẳn rồi, liền hú lên một tiếng bi thống, đề khí đuổi theo Lý Mạc Sầu. Hai người một trước một sau chạy đến đại sảnh.

Công Tôn Chỉ thấy Lý Mạc Sầu tới thì vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, gọi:

– Lý đạo hữu hãy lại bên này!

Rồi hắn tiến lại đón.

Hoàng Dung nhìn thần sắc Công Tôn Chỉ, đoán ra vài phần, gọi:

– Quá nhi, hãy ngăn cách hai tên ma đầu ấy, đừng để lại gần nhau!

Dương Quá nghe tin vị Thiên Trúc cao tăng đã chết thì không còn thiết gì nữa, Tuyệt Tình đơn có bị Công Tôn Chỉ mang đi hay không, cũng chẳng còn ý nghĩa gì đối với chàng; nghe Hoàng Dung nói vậy, chàng chỉ cười khổ, không xuất thủ.

Gia Luật Tề nâng một góc tấm lưới bị đứt, gọi:

– Đôn Nhu huynh, hãy kéo một góc!

Cùng với Võ Đôn Nhu, Hoàn Nhan Bình và Gia Luật Yến mỗi người một góc kéo nửa tấm lưới ngăn cách Công Tôn Chỉ với Lý Mạc Sầu.

Trong sảnh hỗn loạn, bọn đệ tử áo xanh chạy nháo nhào. Cầu Thiên Xích thừa cơ phun hạt táo, liên tiếp năm, sáu đệ tử áo xanh bị trúng đòn gục chết, các tấm lưới gài dao nhọn cái bị chặt đứt, cái bị đám đệ tử quẳng đi.

Công Tôn Chỉ nói to:

– Lý đạo hữu, hãy ra khỏi chốn này, hẹn gặp lại ở chỗ ban nãy.

Hắn và Lý Mạc Sầu chạy ra khỏi đại sảnh ngang qua chỗ Dương Quá và Tiểu Long Nữ. Dương Quá coi như không nhìn thấy, chẳng lý gì đến. Hoàng Dung gọi:

– Long gia muội tử, hãy ngăn chặn Công Tôn Chỉ, hắn đang giữ Tuyệt Tình đơn đó.

Tiểu Long Nữ giật mình, nghĩ: "Thiên Trúc cao tăng đã chết, chất độc hoa Tình trong người Quá nhi chỉ trông chờ vào nửa viên Tuyệt Tình đơn còn lại mà thôi". Nàng bèn giật tay khỏi tay Dương Quá mà đuổi theo Công Tôn Chỉ. Dương Quá gọi:

– Cứ mặc cho hắn đi!

Tiểu Long Nữ nói:

– Làm sao để cho hắn đi kia chứ?

Dương Quá đành chạy theo sau.

Công Tôn Chỉ chạy về hướng đông bắc, Lý Mạc Sầu thì chạy về hướng tây bắc, mọi người cùng chia ra hai ngả đuổi theo. Tiểu Long Nữ, Dương Quá, Trình Anh và Lục Vô Song bốn người đuổi theo Công Tôn Chỉ. Cha con họ Võ, Chu Tử Liễu và Hoàn Nhan Bình năm người thì đuổi theo Lý Mạc Sầu. Huynh muội Gia Luật Tề và Quách Phù ở lại cùng Nhất Đăng đại sư và Hoàng Dung giám thị Cầu Thiên Xích.

Ở nhóm cha con Võ Tam Thông năm người, Chu Tử Liễu bị thương ở vai, vừa qua kịch chiến, bị mất nhiều máu, chạy được một quãng thì đuối dần. Mọi người dừng lại băng bó vết thương, chậm một chút đã không thấy tung tích Lý Mạc Sầu đâu nữa.

Chu Tử Liễu nói:

– Hôm nay nếu để nữ ma đầu ấy chạy thoát, chúng ta sẽ có lỗi với sư thúc.

Năm người sục sạo các bụi cây một hồi, không thấy Lý Mạc Sầu đâu cả. Võ Tam Thông nộ hóa xung thiên, ráng sức nhổ một cây bật rễ mà quật ngang quật dọc. Chu Tử Liễu nói:

– Công Tôn Chỉ có hẹn mụ ta "gặp lại ở chỗ ban nãy"; chúng ta tuy không biết "chỗ ban nãy" là đâu, nhưng chỉ cần bám theo Công Tôn Chỉ, nữ ma đầu cần có giải dược, sớm muộn gì cũng sẽ tìm gặp hắn.

Võ Tam Thông nói:

– Sư đệ nói chí phải.

Thế là năm người chạy về hướng tây bắc.

Chạy một hồi, quả nhiên nghe loáng thoáng có tiếng quát tháo từ phía trước vọng tới. Võ Tam Thông dìu Chu Tử Liễu đi nhanh thêm, tiếng quát lúc gần lúc xa, có khi lặng bặt hoàn toàn. Năm người lần mò trong bóng đêm. Trời rạng dần, họ đang đi, bỗng nghe phía trước, ở trên cao, có người cười phá lên một tràng dài, âm thanh chói tai. Mọi người dừng chân ngẩng đầu, thấy trên sườn núi đối diện có một người đứng ngửa mặt lên trời mà cười, chính là Công Tôn Chỉ. Bên dưới sườn núi là vực sâu, bên trên là đỉnh núi cao vút chìm trong sương mù, không thấy ngọn.

Chu Tử Liễu thấy Công Tôn Chỉ hình dạng như một kẻ điên, nghĩ: "Nếu hắn sảy chân rơi xuống vực sâu vạn trượng, hắn chết chẳng tiếc, nhưng nửa viên Tuyệt Tình đơn cũng sẽ mất tiêu", liền chạy như bay, qua một khúc quành, thấy Dương Quá, Tiểu Long Nữ, Trình Anh và Lục Vô Song bốn người đứng một chỗ, cùng ngẩng đầu nhìn về phía Công Tôn Chỉ.

Tiếu Long Nữ thấy nhóm Chu Tử Liễu đến, bèn nói nhỏ:

– Chu đại thúc, hãy mau nghĩ cách dụ hắn xuống.

Chu Tử Liễu nhìn địa thế xung quanh, thấy có một đoạn như cái cầu đá, rộng chưa đầy một thước, dẫn sang chỗ sườn núi mà Công Tôn Chỉ đang đứng, cầu đá và sườn núi đều phủ rêu xanh, một người đi qua cầu cũng bất tiện, trừ phi Công Tôn Chỉ tự nguyện xuống dưới này, không thể đi sang chỗ đó động thủ với hắn.

Võ Tam Thông nghĩ Dương Quá đã cứu mạng hai đứa con của lão, việc hôm nay lão không thể từ nan, bèn xắn tay áo, nói:

– Để ta sang bắt hắn xuống đây!

Lão vừa đi hai bước, một bóng người đã vọt tới trước lão, là Trình Anh, nói:

– Tiểu nữ đi cho!

Thân pháp của nàng quá mau lẹ, vụt một cái nàng đã đặt chân lên cái cầu đá. Ai dè nàng nhanh nhưng Dương Quá còn nhanh hơn. Trình Anh chỉ cảm thấy eo lưng bị ống tay áo của Dương Quá cuốn giữ, nàng bị kéo lại, nghe Dương Quá nói:

– Huynh có đáng gì mà mọi người phải khổ như vậy?

Trình Anh đỏ mặt, ngượng không nói nên lời.

Lúc ấy chỉ nghe Tiểu Long Nữ nói:

– Cho muội mượn kiếm!

Nàng đã lướt ngang qua chỗ Võ Đôn Nhu và Hoàn Nhan Bình, hai tay đoạt hai thanh kiếm của họ. Thủ pháp quả thực nhanh như tia chớp, Võ Đôn Nhu và Hoàn Nhan Bình còn đang sững sờ, đã thấy Tiểu Long Nữ chạy qua chiếc cầu đá tới trước mặt Công Tôn Chỉ.

Công Tôn Chỉ đứng chỗ tuyệt địa, thấy Tiểu Long Nữ cả gan tiến sang, bèn xáp tới chặn đầu cầu đá, giơ ngang kiếm hộ thân, cười nham hiểm, nói:

– Cô nương thật chán sống rồi ư?

Tiếu Long Nữ nghĩ: "Bất kể thế nào, ta cũng phải đoạt bằng được Tuyệt Tình đơn rồi mới chết" dịu dàng nói:

– Công Tôn tiên sinh, tiên sinh có ơn cứu mạng tiểu nữ; không ngờ tiểu nữ lại làm cho tiên sinh bị mấy phen khổ sở. Tiểu nữ.. tiểu nữ trong lòng rất áy náy. Tiểu nữ đến đây không phải để liều chết với tiên sinh.

Công Tôn Chỉ hỏi:

– Vậy cô nương muốn gì?

Tiểu Long Nữ nói:

– Tiểu nữ xin tiên sinh ban cho Tuyệt Tình đơn, cứu phu lang của tiểu nữ. Tiên sinh không dùng thứ đó, hãy ban cho tiểu nữ, tiểu nữ vĩnh cảm đại ân đại đức.

Dương Quá ở đầu cầu đá bên kia, gọi:

– Long nhi, trở về đây thôi, nửa viên thuốc ấy không cứu sống được hai ta đâu, có nó cũng vô dụng.

Công Tôn Chỉ thấy Tiểu Long Nữ mảnh mai đứng trên cầu đá, vạt áo gió thổi bay bay, tựa hồ nàng muốn theo gió bay đi, phong thái kia Lý Mạc Sầu làm sao sánh nổi một phần? Con mắt duy nhất của hắn cứ nhìn nàng đắm đuối, miệng hỏi:

– Cô nương gọi tên tiểu tử họ Dương là phu lang ư?

Tiểu Long Nữ nói:

– Phải, tiểu nữ đã thành thân với Dương lang.

Công Tôn Chỉ nói:

– Nếu cô nương đáp ứng ta một việc, ta có thể tặng viên Tuyệt Tình đơn cho cô nương.

Tiểu Long Nữ nhìn con mắt láo liên của hắn, đã biết ý muốn của hắn, bèn lắc đầu, nói:

– Tiểu nữ đã có chồng, làm sao có thể lấy tiên sinh? Công Tôn tiên sinh, tiên sinh có tình với tiểu nữ, nhưng trái tim của tiểu nữ đã thuộc về người khác, đành phụ hảo ý của tiên sinh.

Con mắt của Công Tôn Chỉ long lên, hắn gằn giọng nói:

– Thế thì cô nương hãy mau lui về, nếu còn đối địch với ta, thì đừng trách ta đao kiếm vô tình.

Tiểu Long Nữ nói:

– Công Tôn tiên sinh nhất định muốn động thủ, coi tiểu nữ như kẻ thù, chẳng hóa ra uổng phí sự quen biết giữa chúng ta hay sao?

Giọng nàng hiền hòa, thâm tâm quả vẫn ghi nhớ ơn cứu mạng lần trước của Công Tôn Chỉ.

Công Tôn Chỉ cười khẩy, nói:

– Ta muốn tận mắt thấy tên tiểu tử Dương Quá bị trúng độc quằn quại, đau đớn rên rỉ mà chết; muốn thấy vị hiền thê như cô nương cuối cùng trở thành quả phụ đeo vành khăn tang.

Hắn càng nói càng độc ác, hắn nghiến răng, trừng mắt. Dương Quá luôn miệng gọi:

– Long nhi, Long nhi, quay lại đi, nói với một kẻ như hắn làm gì!

Nếu không phải chiếc cầu đá quá hẹp, không đủ chỗ cho hai người đứng, thì chàng đã sang kéo Tiểu Long Nữ về. Tiểu Long Nữ cười buồn, nói:

– Tiên sinh nghe thấy chứ? Phu lang của tiểu nữ gọi tiểu nữ về đó, chàng đâu có nghĩ gì đến chất độc trong người chàng.

Công Tôn Chỉ và Tiểu Long Nữ cách nhau chưa đầy nửa trượng, tưởng chỉ cần tiến lên một bước sẽ bắt được nàng, có điều là địa thế quá hiểm, nàng chỉ cần vùng vẫy một cái là cả hai sẽ cùng rơi xuống vực sâu, nhưng nếu không bắt nàng làm con tin để bọn địch có điểm e ngại, thì chính hắn bị vây khốn ở "Đoạn Trường nhai" này, làm sao có thể thoát thân? Trong bọn địch chỉ có một mình Dương Quá lợi hại, song nếu hắn cố phá vây, thì Dương Quá vị tất ngăn được hắn, tốt nhất là để cho Tiểu Long Nữ qua cầu sang hẳn bên này, hắn sẽ bắt nàng, sau đó hội hợp với Lý Mạc Sầu. Chủ ý đã định, Công Tôn Chỉ gõ đao kiếm vào nhau một cái, nghe vang động cả sơn cốc, miệng quát:

– Còn chưa lui về này!

Hắc kiếm đâm luôn Tiểu Long Nữ, Tiểu Long Nữ tả kiếm đỡ gạt, hữu kiếm trả đòn. Sau khi nàng học được thuật phân tâm nhị dụng của Chu Bá Thông, võ công tăng tiến gấp đôi. Tuy tạng phủ ngậm độc, nội lực suy giảm, song hai tay cùng sử "Ngọc nữ tố tâm kiếm pháp" một cách thần diệu, kim đao hắc kiếm của Công Tôn Chỉ làm sao địch nổi? Đao kiếm của hắn tuy biến ảo muôn phần, song đao vẫn là đao, kiếm vẫn là kiếm, chẳng qua chỉ thêm một món binh khí mà thôi. Thoáng chốc song kiếm của Tiểu Long Nữ đã múa thành hai vùng bạch ảnh, đâm chém đỡ gạt, hệt như có hai đại cao thủ liên thủ tiến công, Công Tôn Chỉ càng đấu càng hoảng, thầm hối hận: "Biết nàng ta học được môn kiếm thuật lợi hại thế này, ta đã không động thủ với nàng". Nhưng "Ngọc nữ tố tâm kiếm pháp" tuy tinh diệu, uy lực sát nhân lại không mạnh, Tiểu Long Nữ cũng không có ý giết Công Tôn Chỉ, nên hắn nhất thời vẫn còn trụ được.

Hai người đấu trên sườn núi một lát, thì Nhất Đăng đại sư, Hoàng Dung, Quách Phù và huynh muội Gia Luật Tề cũng đều chạy tới. Mọi người ngẩng đầu quan chiến, thấy sườn núi chênh vênh, hai người ác đấu, thì không khỏi kinh hãi.

Quách Phù nói với Gia Luật Tề:

– Chúng ta mau lên đó giúp một tay!

Gia Luật Tề lắc đầu, nói:

– Cầu đá kia không có chỗ cho hai người đặt chân.

Quách Phù đã động thủ với Công Tôn Chỉ, biết hắn võ công cực cao, mẫu thân cũng không địch nổi, Tiểu Long Nữ một mình đánh sao lại hắn? Nàng lo lắng nói:

– Mẹ, mau nghĩ cách giúp Long tỷ tỷ đi!

Kỳ thực Quách Phù không giục, thì mấy người kia đều mong tìm cách giúp Tiểu Long Nữ thoát khỏi hiểm cảnh, nhưng cái cầu đá kia không có chỗ cho hai người đặt chân, họ thấy kim đao hắc kiếm của Công Tôn Chỉ liên tiếp tung sát thủ, còn song kiếm của Tiểu Long Nữ tung hoành trước sau, trông hình như vô lực, tình thế này kéo dài, không chừng Tiểu Long Nữ sẽ táng mạng dưới tay Công Tôn Chỉ. Chỉ có Nhất Đăng đại sư, Dương Quá, Hoàng Dung và Chu Tử Liễu bốn người nhận biết chiêu số của Tiểu Long Nữ đang chiếm thượng phong, nhưng trong lúc ác đấu, chỉ cần trượt chân một cái sẽ lập tức rơi xuống vực sâu, mỗi thời khắc đều vô cùng hung hiểm. Chỉ thấy hai khối bạch ảnh bao trùm một đạo hoàng quang, một đạo hắc khí, thì ai nấy nín thở, toát mồ hôi lạnh.

Hai người đấu được một lúc, Hoàng Dung nhận ra Tiểu Long Nữ sử dụng thuật phân tâm hợp kích. Môn võ công này trên đời trừ Chu Bá Thông và Quách Tĩnh, không người thứ ba nào biết sử, Tiểu Long Nữ hẳn đã được Chu Bá Thông truyền thụ. Song kiếm hợp kích vốn có uy lực kỳ lạ, nhưng nàng sau khi bị trọng thương còn bị trúng độc, nội lực đại tổn, nên khó bề thủ thắng. Hoàng Dung chợt nghĩ ra một cách, bèn nói:

– Quá nhi, ta và ngươi cùng lên tiếng nói với Công Tôn Chỉ, ngươi dùng lời dọa hắn, ta sẽ làm cho hắn cao hứng, khiến hắn bị phân tâm.

Rồi cao giọng, nói:

– Công Tôn tiên sinh, mụ ác phụ Cầu Thiên Xích đã bị ta giết rồi.

Công Tôn Chỉ nghe thấy, hơi chấn động, bán tín bán nghi. Dương Quá nói:

– Công Tôn Chỉ, Lý Mạc Sầu bảo ngươi không chịu đưa giải dược cho mụ ta, mụ ta sẽ đến tìm ngươi trút giận đấy.

Hoàng Dung nói:

– Không, Lý Mạc Sầu bảo chỉ cần tiên sinh chữa khỏi cho nàng ta, thì nàng ta sẽ kết hôn với tiên sinh đó.

Dương Quá nói:

– Bọn ta nhất quyết không để cho ngươi được thỏa nguyện; sau khi bắt giữ ngươi, bọn ta sẽ dùng gai hoa Tình đâm vào khắp cơ thể ngươi.

Hoàng Dung nói:

– Chuyện ấy có thể thu xếp, Công Tôn tiên sinh đừng lo, mọi người hóa thù thành bạn thì hơn, phải vậy không?

Dương Quá nói:

– Nàng Nhu Nhi ngươi hại chết năm nọ đã hóa thành quỉ sứ đến bắt ngươi, kìa nàng Nhu Nhi đang ở ngay sau lưng ngươi đó, ngươi ngoảnh lại mà coi?

Hai người cứ thay nhau nói, lời của Hoàng Dung khiến Công Tôn Chỉ vui mừng, nhưng nghe Dương Quá nói thì hắn lại sợ. Tiểu Long Nữ nghe thấy cả, nhưng một là việc chẳng liên quan gì đến nàng, hai là khi sử dụng môn võ công phân tâm nhị dụng, thì tâm trí hoàn toàn "không minh", thế kiếm chẳng chậm lại chút nào. Công Tôn Chỉ vốn đang bối rối, vất vả chống đỡ, phải nghe hai người kia gọi dồn dập như thế, thì càng rối trí, quát:

– Các người hồ ngôn loạn ngữ quá thể! Hãy câm miệng lại!

Dương Quá gọi:

– Ê, Công Tôn Chỉ, cô nương đầu tóc rũ rượi ở sau lưng ngươi là ai vậy? Vì lẽ gì nàng ta lại thè lưỡi, đầy mặt máu me thế kia? Ô, móng vuốt của nàng ta dài quá, sắp thộp đến gáy ngươi rồi kìa!

Rồi chàng quát to:

– Hay lắm, Nhu Nhi, hãy thộp đến gáy Công Tôn Chỉ cho ta!

Công Tôn Chỉ thừa biết là Dương Quá muốn làm cho hắn rối trí, nhưng tự dưng nghe chàng quát như vậy thì không khỏi giật mình, liếc mắt về phía sau một cái. Đúng lúc ấy mũi kiếm của Tiểu Long Nữ đâm trúng cổ tay trái của hắn, Công Tôn Chỉ buông tay, cây kim đao bay vùng lên, loáng một cái dưới ánh nắng ban mai vừa ló, rồi rơi xuống vực, một hồi lâu mới nghe tõm một tiếng rất nhẹ, tựa hồ đáy vực là đầm nước. Võ Tam Thông, Chu Tử Liễu nhìn nhau kinh hãi, cây đao rơi lâu thế mới có tiếng vọng lên, đủ biết vực sâu bao nhiêu mà kể.

Công Tôn Chỉ mất đao, đừng nói tấn công, chỉ phòng ngự thôi cũng khó. Tiểu Long Nữ hai tay đâm liền bốn nhát kiếm, Công Tôn Chỉ loạng choạng, cổ tay phải trúng đòn, hắc kiếm rơi nốt xuống vực. Hữu kiếm của Tiểu Long Nữ chĩa thẳng giữa ngực, tả kiếm thì chĩa vào bụng hắn, nói:

– Công Tôn tiên sinh, tiên sinh đưa Tuyệt Tình đơn cho tiểu nữ, tiểu nữ sẽ tha mạng cho tiên sinh.

Công Tôn Chỉ nói, giọng run run:

– Cô nương có thiện tâm, nhưng những người khác thì sao?

Tiểu Long Nữ nói:

– Họ sẽ không giết tiên sinh.

Đến bước này, Công Tôn Chỉ chỉ cần giữ mạng sống cho mình, đâu còn nghĩ đến Lý Mạc Sầu. Hắn lấy cái bình nhỏ trong túi chìa ra. Tiểu Long Nữ tả kiếm vẫn chĩa vào bụng hắn, tay phải nhận lấy cái bình, trong lòng cảm thấy vừa ngọt ngào vừa cay đắng, nghĩ: "Mình tuy khó sống, nhưng cuối cùng đã đoạt được Tuyệt Tình đơn để cứu Quá nhi".

Đoạn nàng đề khí, nhún chân chạy qua cầu đá về chỗ Dương Quá.

Võ Tam Thông, Chu Tử Liêu vốn biết Tiểu Long Nữ võ công cao cường, nhưng không thể nào ngờ lại đến mức xuất thần nhập hóa, hai tay cùng lúc sử song kiếm theo hai kiếm pháp khác nhau, phân tiến hợp kích, quả thật bình sinh chưa thấy. Họ từng nghe đồn Chu Bá Thông và Quách Tĩnh hai tay có thể cùng lúc sử dụng hai môn võ công khác nhau, nghe thì bán tín bán nghi, hôm nay tận mắt chứng kiến, ai cũng thán phục, nhìn những chỗ hung hiểm huyền diệu, thì vừa kinh tâm động phách vừa thích thú khoái trá. Bọn trẻ như huynh muội Gia Luật Tề, huynh đệ họ Võ, Trình Anh, Lục Vô Song, Quách Phù thì nhìn hoa cả mắt, nghĩ Tiểu Long Nữ cùng trạc tuổi mình mà võ công cao siêu khôn lường, trong bụng hoàn toàn kính phục. Nhìn nàng tay cầm bình giải dược lướt trên cầu đá như một tiên nữ, mọi người nhất tề hoan hô.

Dương Quá chạy lại đón, ôm lấy nàng. Mọi người ùa tới vây quanh hỏi han. Tiểu Long Nữ mở nút bình, dốc nửa viên Tuyệt Tình đơn ra lòng bàn tay, mỉm cười hỏi:

– Quá nhi, thuốc này không giả chứ?

Dương Quá thong thả xem kỹ viên thuốc, nói:

– Không giả đâu, Long nhi. Nàng cảm thấy trong người thế nào? Sao mặt tái nhợt đi thế? Nàng thử vận khí xem nào!

Tiểu Long Nữ gượng cười, lúc chạy trở sang đây, nàng đã cảm thấy khí huyết đan điền nghịch chuyển, rất buồn nôn, thử vận chân khí nén xuống không được, biết chất độc ngấm đã sâu, may sao lấy được viên Tuyệt Tình đơn, ngoài ra không cần gì hơn nữa.

Dương Quá nắm tay phải của nàng, cảm thấy lòng bàn tay lạnh giá, hỏi:

– Nàng cảm thấy thế nào?

Tiểu Long Nữ đáp:

– Không sao đâu, Quá nhi uống thuốc mau đi!

Dương Quá nhận nửa viên Tuyệt Tình đơn, run run nói:

– Nửa viên thuốc này không cứu nổi mạng sống của hai người, cần gì đến nó? Không lẽ sau khi nàng chết đi, ta sống một mình hay sao?

Nói đến đây, chàng tuyệt vọng đau đớn, vung tay ném nửa viên thuốc duy nhất có thể giải độc cho mình xuống dưới vực sâu muôn trượng.

Biến cố này làm cho tất cả mọi người bị bất ngờ, sững sờ kêu lên.

Tiểu Long Nữ biết Dương Quá quyết ý đồng sinh cộng tử với mình, trong lòng vừa đau đớn vừa cảm kích, sau cuộc ác đấu chất độc phát tác, không chịu đựng thêm được nữa, lảo đảo ngã vào lòng Dương Quá.

Bọn Quách Phù, huynh đệ họ Võ, Hoàn Nhan Bình, Gia Luật Yến không biết nguyên do, xôn xao nghị luận.

Đúng lúc ấy, nghe Võ Tam Thông quát to:

– Lý Mạc Sầu, hôm nay ngươi đừng hòng tẩu thoát.

Lão chạy như bay lên sườn núi mé bên trái, mọi người ngoảnh nhìn, thấy Công Tôn Chỉ theo đường mòn men dốc núi chạy nhanh về phía tây, nơi có một đạo cô đứng đó, chính là Lý Mạc Sầu. Hai kẻ kia sắp gặp nhau, Võ Tam Thông thì còn cách một quãng xa.

Bỗng có tiếng cười hô hô, từ sau núi tiến ra một người vai vác một chiếc hòm gỗ lớn, râu tóc bạc phơ, chính là Lão Ngoan đồng Chu Bá Thông.

Hoàng Dung gọi:

– Lão Ngoan đồng, hãy đuổi đạo cô kia lại đây

Chu Bá Thông nói:

– Hay lắm! Mọi người hãy xem bản lĩnh của Lão Ngoan đồng!

Lão mở nắp cái hòm gỗ, hai tay phẩy phẩy, một bầy ong bay ra, xông thẳng tới chỗ Lý Mạc Sầu. Nguyên đại quân Mông Cổ đốt núi Chung Nam, toàn bộ phái Toàn Chân rút lui, mang theo kinh sách đạo tàng. Chu Bá Thông chọn một chiếc hòm, nuôi lũ ong đã được Tiểu Long Nữ thuần dưỡng vào đó, lão chơi đùa nhiều ngày không biết mệt, đã phần nào nắm được cách điều khiển đàn ong, lúc này nghe Hoàng Dung gọi, đúng là có dịp đại hiển thân thủ.

Công Tôn Chỉ thấy đàn ong thì cả kinh, không dám chạy về phía Lý Mạc Sầu, mà trốn vào một khe núi. Lý Mạc Sầu nghe tiếng đàn ong vo vo bay tới, đành men theo sơn lộ lùi về phía đông. Huynh đệ họ Võ, Trình Anh, Lục Vô Song lăm lăm binh khí chờ sẵn. Gia Luật Tề gọi:

– Sư phụ, bản lĩnh của lão nhân gia hay quá, sư phụ mau thu đàn ong lại thôi!

Chu Bá Thông rối rít hô huýt để thu đàn ong lại, nhưng sau khi lùa được đàn ong bay ra tấn công như ý muốn, lão quá đắc ý, gọi đàn ong trở lại không đúng kiểu, đàn ong làm sao chịu nghe hiệu lệnh? Chúng cứ vo vo đuổi theo Lý Mạc Sầu.

Dương Quá ôm Tiểu Long Nữ, gọi nhỏ:

– Long nhi, Long nhi.

Tiểu Long Nữ từ từ mở mắt, nghe tiếng ong quen thuộc, tưởng đâu đã trở về cố cư ở núi Chung Nam, sung sướng nói:

– Chúng mình về nhà rồi phải không?

Nàng định thần lại, hiểu ra sự việc, liền huýt sáo mấy tiếng, đàn ong lập tức bay vòng tròn quanh Lý Mạc Sầu, không bay loạn đi nữa.

Tiểu Long Nữ nói:

– Sư tỷ, sư tỷ bình sinh cứ hành sự tàn ác, hôm nay đã chịu hối hận hay chưa?

Lý Mạc Sầu mặt tái mét, hỏi:

– Tuyệt Tình đơn đâu?

Tiểu Long Nữ cười nhạt, nói:

– Tuyệt Tình đơn đã rơi xuống vực rồi. Sư tỷ tại sao lại đi sát hại vị Thiên Trúc cao tăng? Vị cao tăng ấy nếu không chết, sẽ có thể cứu sống không chỉ Dương Quá và muội, mà cả sư tỷ nữa đấy.

Lý Mạc Sầu lòng nặng trĩu, biết sư muội nói thật, không ngờ mình dùng một mũi Băng phách ngân châm giết hại Thiên Trúc cao tăng, rốt cuộc cũng là hại chết mình.

Lúc này cha con họ Võ, Trình Anh và Lục Vô Song đã vây xung quanh. Chu Bá Thông đang chỉ tay giậm chân hô gọi đàn ong. Tiểu Long Nữ nói:

– Chu lão gia tử, phải huýt thế này cơ.

Rồi nàng tròn môi huýt sáo. Chu Bá Thông học theo, quả nhiên đàn ong lũ lượt bay nhanh vào trong chiếc hòm. Chu Bá Thông cả mừng, nói:

– Đa tạ Long cô nương chỉ dẫn!

Nhất Đăng đại sư mỉm cười, gọi:

– Bá Thông huynh, bao năm không gặp, huynh vẫn thanh kiện như xưa.

Chu Bá Thông lập tức sững sờ, đỏ bừng cả mặt, vội đậy nắp hòm, nói:

– Huynh cũng khỏe, đệ cũng khỏe, mọi người đều khỏe.

Rồi vác hòm lên vai, bỏ đi ngay.

Lý Mạc Sầu nhìn tình thế xung quanh, chỉ riêng từng người như Hoàng Dung, Dương Quá, Tiểu Long Nữ, mụ đã không thể địch nổi; huống hồ cả bọn hợp vây? Bèn nói:

– Các vị cũng đòi tự xưng là người hiệp nghĩa, thế mà hôm nay lại ỷ đông người để ăn hiếp ta! Tiểu sư muội, ta là đệ tử phái Cổ Mộ, không thể chết bởi tay phái khác, sư muội hãy tới mà giết ta!

Nói rồi xoay ngược trường kiếm, chĩa mũi nhọn vào giữa ngực mình. Tiểu Long Nữ lắc đầu, nói:

– Sự đã thế này, muội giết sư tỷ làm gì?

Võ Tam Thông đột nhiên quát:

– Lý Mạc Sầu, ta muốn hỏi ngươi một câu, thi thể của Lục Triển Nguyên và Hà Nguyên Quân, ngươi đã đem vứt ở đâu?

Lý Mạc Sầu đột nhiên nghe tên Lục Triển Nguyên và Hà Nguyên Quân thì toàn thân run rẩy, cơ mặt giật giật, nói:

– Đã thiêu thành tro, một đám tro rải trên đỉnh Hoa Sơn, một đám tro ném xuống biển Đông, để hai kẻ đó vĩnh viễn không thể tái hợp.

Mọi người nghe câu nói rít qua kẽ răng, đầy sự oán độc, đều bất giác rùng mình.

Lục Vô Song nói:

– Long gia tỷ tỷ hảo tâm, không chịu giết mụ. Cả gia đình ta đã bị mụ giết hết, một mình ta may mắn thoát chết, hôm nay ta phải trả thù. Biểu tỷ, chúng ta tiến lên nào!

Huynh đệ họ Võ cùng nói:

– Mẫu thân ta bị mụ giết hại, người khác tha cho mụ, chứ huynh đệ ta thì không đời nào.

Lý Mạc Sầu thản nhiên nói:

– Một đời ta đã giết không biết bao nhiêu người, nếu ai cũng muốn báo thù, thì ta phải có bao nhiêu mạng mới đền nổi? Dù ta nợ máu với hàng ngàn người, cũng chỉ có một mạng này thôi.

Lục Vô Song và Võ Tu Văn nói:

– Thế thì lợi cho mụ quá chừng!

Hai người một đao một kiếm, cùng bước tới.

Lý Mạc Sầu vẩy cổ tay một cái, cạch một tiếng, trường kiếm trong tay gãy đôi, nhếch mép cười khinh miệt, hai tay chắp sau lưng, không chống cự, đợi đao kiếm chém chết.

Đúng lúc ấy, bỗng thấy mé đông khói lửa bốc lên trời, Hoàng Dung kêu lên:

– Ôi chao, trang viện cháy rồi!

Chu Tử Liễu nói:

– Tạm hoãn việc giết Lý Mạc Sầu, phải đi cứu di thể của sư thúc đã.

Đoạn phi thân tới, dùng thủ pháp Nhất Dương chỉ điểm ba huyệt đạo trên người Lý Mạc Sầu để mụ không thể đào tẩu. Trình Anh nói:

– Cả di thể của Công Tôn cô nương nữa.

Mọi người đều nói:

– Đúng vậy!

Mọi người cùng chạy nhanh. Huynh đệ họ Võ áp giải Lý Mạc Sầu. Dương Quá, Tiểu Long Nữ, Hoàng Dung và Nhất Đăng đại sư bốn người thong thả đi sau cùng.

Cách trang viện nửa dặm, đã thấy khí nóng phả vào mặt, nghe tiếng huyên náo, tiếng xà nhà, mái nhà đổ sụp không ngớt. Võ Tam Thông nói:

– Gã Công Tôn Chỉ gian ác phóng hỏa thế này, Long cô nương lẽ ra nên giết hắn đi mới phải.

Chu Tử Liễu nói:

– Vụ cháy này chắc không phải do bàn tay Công Tôn Chỉ gây ra. Đệ đoán là do lão thái bà Cầu Thiên Xích.

Võ Tam Thông ngạc nhiên hỏi:

– Cầu Thiên Xích ư? Cả một cơ nghiệp bề thế ngần ấy của mình, hà tất lại tự tay phóng hỏa?

Chu Tử Liễu nói:

– Đệ tử trong cốc đều không phục mụ ta, dù có giết được Công Tôn Chỉ, mụ ta cũng không thể an cư ở đây, đệ thấy lão thái bà ấy tâm địa hẹp hòi vô cùng..

Mọi người đã chạy tới bên bụi hoa Tình, nơi Thiên Trúc cao tăng bỏ mạng. Chu Tử Liễu ôm di thể vị cao tăng lên, thấy mặt mũi như người sống, tươi cười. Võ Tam Thông nói:

– Sư thúc chết cực nhanh, không bị đau đớn gì cả.

Chu Tử Liễu trầm ngâm nói:

– Sư thúc lúc ấy đang tìm dược thảo giải độc hoa Tình..

Lúc này Hoàng Dung và Nhất Đăng đại sư cũng đã tới nơi, Hoàng Dung nghe Chu Tử Liễu nói, xem kỹ khắp thân mình Thiên Trúc cao tăng, không phát hiện có gì khác lạ, thò tay vào túi áo của vị cao tăng, cũng không tìm thấy vật gì, hỏi Chu Tử Liễu:

– Lệnh sư thúc có dặn lại điều gì không?

Chu Tử Liễu nói:

– Không. Tại hạ cùng sư thúc từ Hỏa hoàn thất đi tới đây, không ngờ có đại địch mai phục ở chỗ này.

Hoàng Dung nhìn sắc diện của Thiên Trúc cao tăng, đột nhiên nghĩ ra một điều, cúi xuống lật bàn tay của vị cao tăng, thấy ngón cái và ngón trỏ có cầm một ngọn cỏ màu tím sẫm. Hoàng Dung nhẹ nhàng gỡ hai ngón tay vị cao tăng, lấy ngọn cỏ ra, hỏi:

– Đây là thứ cỏ gì?

Chu Tử Liễu lắc đầu, hoàn toàn không biết. Hoàng Dung đưa lên mũi ngửi, thấy mùi tanh hôi đến mức buồn nôn. Nhất Đăng đại sư vội nói:

– Quách phu nhân hãy cẩn thận, cỏ này gọi là "Đoạn Trường thảo" cực độc.

Hoàng Dung sững sờ, thất vọng.

Huynh đệ họ Võ áp giải Lý Mạc Sầu đến. Võ Tu Văn nghe Nhất Đăng đại sư nói "Đoạn Trường thảo" là thứ cỏ cực độc, bèn nói:

– Sư nương, hay là bắt nữ ma đầu vạn ác này ăn ngọn cỏ ấy đi.

Nhất Đăng đại sư nói:

– Thiện tai! Thiện tai! Hài nhi nhỏ tuổi chớ nên khơi dậy ác tâm.

Võ Tu Văn nói:

– Sư tổ gia gia, không lẽ đối với mụ ác ma này, sư tổ cũng còn rủ lòng từ bi hay sao?

Lúc này cây cối xung quanh đã bén lửa, khí nóng càng lúc càng khó chịu. Hoàng Dung nói:

– Mọi người hãy lui lên hòn núi đá phía đông bắc đã.

Mọi người chạy lên dốc, thấy rất nhiều dãy nhà đã chìm trong biển lửa.

Lý Mạc Sầu bị điểm huyệt, tuy có thể đi lại nhưng không thể thi triển võ công, mụ ngầm vận khí để tự giải huyệt, thừa cơ mọi người không đề phòng sẽ đào tẩu, tuy không đả thương được ai, song cũng có thể thoát thân. Nào ngờ vừa động chân khí thì ngực và bụng lập tức đau nhói, phải kêu ối lên một tiếng. Mụ khắp người bị gai hoa Tình đâm phải, ban đầu còn dùng chân khí hộ thân, chất độc nhất thời chưa phát tác; lúc này huyệt đạo bị chế ngự, chân khí tản mác, chất độc càng phát tác mạnh. Mụ bị đau nhói ở ngực và bụng, nhìn Dương Quá và Tiểu Long Nữ sánh vai nhau từ xa đi tới, một người là chàng trai anh tuấn, một người là thiếu nữ kiều diễm, thì tự dưng hoa mắt, mơ hồ nhìn ra đấy là ý trung nhân Lục Triển Nguyên mà mụ tương tư khắc cốt, còn người kia là Hà Nguyên Quân, thê tử của Lục Triển Nguyên. Mụ buột miệng, nói:

– Lục Triển Nguyên, chàng tàn ác thế, lúc này còn vác mặt đến gặp ta ư?

Tình cảm trong lòng vừa bị kích động, chất độc hoa Tình càng tăng sự lợi hại, toàn thân run rẩy, cơ mặt giật giật. Mọi người nhìn diện mạo đáng sợ của mụ, bất giác lùi cả ra mấy bước.

Lý Mạc Sầu một đời cao ngạo, chưa từng tỏ ra hèn yếu trước mọi người, nhưng lúc này tim đau thắt, mụ buột miệng kêu:

– Ta đau quá, mau cứu ta với!

Chu Tử Liễu chỉ di thể của Thiên Trúc cao tăng, nói:

– Sư thúc ta vốn có thể cứu ngươi, nhưng ngươi đã giết chết người.

Lý Mạc Sầu nghiến răng, nói:

– Phải, ta đã giết mất rồi, người xấu người tốt trên thế gian ta đều giết cả. Ta muốn chết, ta muốn chết cho xong! Các người vì sao được sống? Ta muốn các người cùng chết với ta!

Mụ đau quá hết nhịn được, đột nhiên dang hai tay, lao thẳng người vào mũi kiếm đang chĩa tới của Võ Đôn Nhu. Võ Đôn Nhu bao năm rồi chỉ mong một kiếm đâm chết Lý Mạc Sầu để trả thù cho vong mẫu, vậy mà lúc này thấy mụ ta lao thẳng người vào mũi kiếm của mình, tự nhiên lại thu kiếm về.

Lý Mạc Sầu lao trượt, ngã nhào một cái, rồi cứ thế lăn xuống dốc núi, về phía biển lửa. Mọi người đồng thanh kêu lên, nhìn theo, thấy tà áo của Lý Mạc Sầu đã bén lửa, lưỡi lửa đỏ liếm quanh người mụ, chỉ thấy mụ bật thẳng dậy, đứng bất động, thì ai nấy cùng kinh hãi.

Tiểu Long Nữ nghĩ tình sư môn, gọi:

– Sư tỷ, mau nhảy ra đi!

Lý Mạc Sầu vẫn hiên ngang đứng trong biển lửa, không lý gì đến tiếng gọi. Thoáng chốc, lửa đã trùm kín người mụ. Đột nhiên từ trong lửa vọng ra tiếng ca thê lương: Tình là chi hỡi thế gian, câu thề sinh tử đa mang một đời..

Đến chữ "đời" thì tiếng ca tắt lặng.

Tiểu Long Nữ nắm lấy cánh tay Dương Quá, nước mắt lã chã. Mọi người nghĩ Lý Mạc Sầu một đời gây bao nghiệt chướng, hôm nay bỏ mạng quả thật chết chưa hết tội, nhưng mụ ta cũng không phải bẩm sinh tàn ác. Chỉ vì nhầm lẫn tình trường, đâm quàng vào bụi rậm, càng lúc càng gai góc, cuối cùng không thể gỡ ra được nữa, hối cũng chẳng kịp. Trình Anh và Lục Vô Song không bao giờ quên mối thù cả nhà bị giết, nhưng nhìn Lý Mạc Sầu phải chịu kết cục bi thảm thế này, tuy thù lớn đã báo, trong lòng cũng không vui gì. Hoàng Dung ẵm Quách Tương, nghĩ Lý Mạc Sầu không từ bất cứ việc ác nào, song bình sinh cũng có lúc làm việc thiện, ấy là nuôi dưỡng bé Quách Tương hơn một tháng, bèn cầm hai tay bé Quách Tương mà vái mấy cái về phía biển lửa.

Dương Quá lúc từ "Đoạn Trường nhai" tới đây, vốn định đến đại sảnh cứu thi thể Công Tôn Lục Ngạc, nhưng lửa phát cháy chính từ đại sảnh, đi chưa đến nửa đường đã thấy bốn phía đại sảnh lửa cháy ngút trời, nghĩ Công Tôn Lục Ngạc và Lý Mạc Sầu, một hiền một ác đều tuẫn tình mà chết, cùng táng thân trong biển lửa, thì không khỏi ngậm ngùi, thở dài buồn bã.

Lúc ấy bỗng nghe trên đỉnh núi phía đông bắc có tiếng cười man rợ, nghe như tiếng cú kêu. Dương Quá buột miệng nói:

– Là Cầu Thiên Xích? Sao mụ ta lại leo được lên đỉnh núi?

Tiểu Long Nữ nói:

– Chúng ta thử lên hỏi lão thái bà, liệu có còn viên Tuyệt Tình đơn nào chăng?

Dương Quá cười khổ, nói:

– Long nhi, Long nhi, đến lúc này mà nàng vẫn chưa hiểu ư?

Hoàng Dung, Võ Tam Thông, Chu Tử Liễu nghe Tiểu Long Nữ nói thế, đều nghĩ: "Thì cứ hỏi thử mụ ta xem, nếu xin được Tuyệt Tình đơn, nhất định phải buộc Dương Quá uống thuốc, chứ không được hủy giải dược chịu chết như vậy". Mọi người cùng nghĩ thế, cùng nói:

– Lên đó thử coi.

Cha con họ Võ, Gia Luật Tề, Hoàn Nhan Bình chạy luôn lên trước. Dương Quá thở dài, lắc đầu nhè nhẹ, nghĩ thầm: "Trừ phi các vị tìm được tiên đơn linh dược mới đồng thời cứu mạng được hai vợ chồng ta".

Trình Anh vẫn lẳng lặng nhìn chàng, đột nhiên nói:

– Dương đại ca, đại ca không nên từ chối hảo tâm của mọi người. Chúng ta hãy cùng lên đó xem sao!

Nàng đối với Dương Quá một mực hậu tình, Dương Quá trong lòng vô cùng cảm kích, tuy tình có một mối, không thể di ái, song đối với vị hồng nhan tri kỷ này chàng hết sức kính nể. Từ ngày hai người quen biết, Trình Anh chưa hề nhờ chàng việc gì, lúc này nghe nàng nói thế, Dương Quá không thể khước từ, đành gật đầu nói:

– Được, chúng ta cùng lên xem lão thái bà giở trò quỉ gì trên đỉnh núi.

Mọi người theo tiếng cười của Cầu Thiên Xích chạy lên đỉnh núi. Dương Quá thấy thảo mộc tiêu điều, kia chính là nơi hôm nào chàng đã cùng Công Tôn Lục Ngạc và Cầu Thiên Xích từ dưới hầm đá leo lên thoát thân; hôm nay cảnh vật vẫn như cũ, mà Công Tôn Lục Ngạc đã không còn, bản thân chàng cũng chỉ còn được sống vài ngày trên thế gian.

Mọi người còn cách đỉnh núi một quãng xa, đã nhìn rõ Cầu Thiên Xích ngồi trên một cái ghế thái sư, ngửa mặt cuồng tiếu như một kẻ điên. Lục Vô Song nói:

– Có lẽ lão thái bà phát điên rồi.

Hoàng Dung nói:

– Mọi người chớ lại gần, mụ già tâm địa độc ác, phải đề phòng mụ ta có quỉ kế. Chưa chắc mụ ta phát điên đâu.

Mọi người biết công phu phun hạt táo của Cầu Thiên Xích lợi hại thế nào, nên đều dừng chân ở xa. Hoàng Dung hít một hơi, đang định lên tiếng, bỗng thấy từ sau sườn núi đối diện có một người chạy ra, áo lam khăn vuông, chính là Công Tôn Chỉ.

Công Tôn Chỉ cởi trường bào, cầm nơi tay phải, phất tay một cái, trường bào vươn thẳng lên trời như một cây bút. Chỉ nghe hắn cười to, rồi quát:

– Lão phụ ác độc kia, mụ phóng hỏa đốt sạch cơ nghiệp mấy trăm năm của tổ tiên ta, hôm nay làm sao có thể tha thứ cho mụ?

Đoạn chạy về phía Cầu Thiên Xích.

Nghe "véo" một tiếng, Cầu Thiên Xích đã phun một hạt táo về phía Công Tôn Chỉ. Tiếng bay của hạt táo từ trên đỉnh núi phát đi, xạ trình lại xa, nghe đầy uy mãnh. Công Tôn Chỉ phất trường bào, cuộn lấy hạt táo. Kình lực của hạt táo tuy mạnh, nhưng lực phất trường bào đủ làm nó chệch đi, xuyên thủng lớp vải, song không chạm tới người Công Tôn Chỉ. Công Tôn Chỉ ban đầu cũng chưa biết trường bào có thể ngăn được hạt táo hay không, chỉ là hắn vô cùng tức giận, thấy Cầu Thiên Xích ngồi một mình trên đỉnh núi, cô lập vô viện, chính là cơ hội giết mụ, nên hắn mạo hiểm xông lên. Khi thấy hạt táo không đả thương được mình thì hắn chạy nhanh hơn. Cầu Thiên Xích thấy hắn tới gần, hoảng sợ kêu to:

– Mau cứu người!

Quách Phù nói:

– Mẫu thân, Công Tôn Chỉ sắp giết người kìa!

Hoàng Dung trong bụng chưa hiểu: "Mụ già rõ ràng không điên, cớ sao mụ cuồng tiếu để dụ hắn đến?" Chỉ nghe véo véo hai tiếng, Cầu Thiên Xích phun liên tiếp hai hạt táo. Khoảng cách đôi bên rất gần, hạt táo bắn đi cực nhanh, Công Tôn Chỉ dùng trường bào gạt được cả, bỗng hắn rú lên một tiếng to, thân hình biến mất như độn thổ. Cầu Thiên Xích cười phá lên hô hố.

Tiếng cười của mụ vừa phát ra, thì từ dưới đất bỗng có trường bào vung lên chụp lấy chiếc ghế mụ đang ngồi mà kéo xuống, tiếng cười của Cầu Thiên Xích biến thành tiếng rú, hòa với tiếng rú kinh hoàng của Công Tôn Chỉ từ dưới lòng đất vọng lên. Thanh âm ấy kéo dài hồi lâu, rồi tất cả chìm vào cảnh tĩnh mịch hoàn toàn.

Mọi người từ lưng chừng núi nhìn và nghe thấy rõ, cứ đưa mắt nhìn nhau ngơ ngác.

Chỉ có Dương Quá biết nguyên do, bất giác than thầm: "Báo ứng, báo ứng!" Mọi người chạy nhanh lên đỉnh núi, thấy thi thể bốn nữ tì nằm ngổn ngang, bên cạnh một cái lỗ hổng lớn, nhìn xuống dưới tối mò mò không thấy đáy.

Nguyên Cầu Thiên Xích từng bị hãm nhiều năm dưới hốc đá, oán độc tích tụ trong lòng quá sâu. Mụ phóng hỏa đốt Tuyệt Tình trang, rồi sai bốn nữ tì khiêng mụ lên đỉnh núi này. Tháng trước Dương Quá đã cứu Công Tôn Lục Ngạc và mụ từ dưới hầm đá lên. Mụ sai bốn nữ tì bẻ cành lá gác ngang trên lỗ hổng, phủ lên trên một lớp cỏ ngụy trang, rồi mụ giết bốn nữ tì. Mụ cười như điên dại, rồi việc phun hạt táo, kinh sợ kêu cứu toàn là giả bộ, để Công Tôn Chỉ khỏi nghi ngờ.

Công Tôn Chỉ không biết trên đỉnh núi hoang này lại có một cái hốc đá, khi phi thân chạy tới đã đạp vào lỗ hổng; nhưng khi rớt xuống, hắn còn giãy giụa, kịp quăng trường bào lên chụp cái ghế Cầu Thiên Xích đang ngồi để kéo mình lên, ai ngờ vừa kéo một cái thì cả hai người cùng rơi xuống qua lỗ hổng. Hai người khi sống căm hận nhau như kẻ thù, rốt cuộc lại cùng chết một lúc, một chỗ. Rơi từ trên cao hơn trăm trượng xuống đáy hốc đá, hai người sẽ thịt nát xương tan lẫn vào nhau, muốn tách ra cũng chẳng được.

Dương Quá kể xong nguyên do, mọi người ai cũng thở dài. Bọn Trình Anh, huynh muội Gia Luật Tề đào một cái hố mai táng bốn nữ tì. Thấy Tuyệt Tình cốc đang cháy lớn, đã không còn chỗ an cư, mọi người nội trong một ngày đã thấy không ít người bỏ mạng, cảm thấy chỗ nào trong cốc cũng có nguy cơ rình rập, đều muốn sớm rời khỏi chốn này.

Chu Tử Liễu nói:

– Dương huynh đệ trúng độc chưa có giải dược, chúng ta cần mau đi tìm danh y chữa trị cho Dương huynh đệ.

Ai nấy khen phải, riêng Hoàng Dung lại nói:

– Không, hôm nay chưa đi được.

Chu Tử Liễu hỏi:

– Quách phu nhân có cao kiến gì chăng?

Hoàng Dung cau mày, nói:

– Ta bị chấn thương bởi đòn hạt táo của Cầu Thiên Xích, nội tức vẫn chưa thể điều hòa, phiền các vị đêm nay tá túc trong sơn cốc một đêm, sáng mai hãy khởi hành được chăng?

Mọi người nghe Hoàng Dung bảo sức khỏe có chuyện, dĩ nhiên không dị nghị gì, chia nhau tìm hang hốc nào đó để nghỉ đêm.

Tiểu Long Nữ và Dương Quá sánh vai nhau, định đi xuống núi thì Hoàng Dung gọi:

– Long gia muội muội, hãy lại đây, ta có vài lời muốn nói.

Đoạn giao bé Quách Tương cho Quách Phù ẵm, cầm tay Tiểu Long Nữ, mỉm cười với Dương Quá, nói:

– Quá nhi, cứ yên tâm, Long nhi đã thành hôn với ngươi, ta sẽ không khuyên nàng ly dị với ngươi đâu.

Dương Quá cười không đáp, thầm lấy làm lạ: "Quách bá mẫu nói gì với Long nhi kia chứ?" Thấy hai người dắt nhau tới ngồi xuống một gốc đại thụ, chàng tuy lo ngại, nhưng nghĩ: "Long nhi sẽ không giấu gì ta, lo gì nàng không kể lại?"

Hoàng Dung kéo Tiểu Long Nữ ngồi xuống, nói:

– Long gia muội muội, đứa con thô lỗ của ta đắc tội không ít với Quá nhi và muội muội, ta thật muôn phần áy náy.

Tiểu Long Nữ nói:

– Không có gì.

Trong bụng nghĩ: "Quách Phù phóng độc châm định lấy mạng hai chúng tôi, phu nhân chỉ bảo muôn phần áy náy, phỏng có ích gì?"

Hoàng Dung thấy thần sắc lạnh nhạt của Tiểu Long Nữ, thì càng cảm thấy có lỗi. Hôm ấy Hoàng Dung không vào trong tòa cổ mộ, không rõ nguyên do, chỉ biết ngân châm tuy độc, cũng không khó chữa; hồi trước Võ Tam Thông, Dương Quá từng bị trúng độc ngân châm, sau chữa trị đều khỏi; không ngờ Tiểu Long Nữ đang lúc nghịch vận kinh mạch thì bị Quách Phù phóng trúng ngân châm, quả thực là đòn trí mạng, nên nói:

– Có một điều ta không rõ, muốn thỉnh giáo muội muội. Muội muội khổ sở biết bao mới đoạt được Tuyệt Tình đơn, Dương Quá đã không chịu uống, lại đem ném xuống vực sâu vạn trượng, là vì lẽ gì?

Tiểu Long Nữ thở dài nhè nhẹ, nghĩ: "Mình đã chẳng còn sống được mấy ngày, Quá nhi đối với mình tình ý sâu nặng, há chịu sống một mình? Nhưng đến nước này, mình hà tất nói nhiều, gây thêm sóng gió làm gì?" Chỉ nói:

– Tính nết Quá nhi có phần cổ quái.

Hoàng Dung nói:

– Quá nhi là người chí tính chí tình, có lẽ Quá nhi thấy Công Tôn cô nương đã xả thân vì Tuyệt Tình đơn, nên không nỡ uống, cốt lấy đó báo đáp hồng nhan tri kỷ. Muội muội, Quá nhi nghĩ thế cố nhiên khiến người ta kính nể, nhưng người chết rồi đâu có thể phục sinh, Quá nhi cố chấp như vậy hóa ra lại trái với ý muốn xả thân cầu thuốc của Công Tôn cô nương.

Tiểu Long Nữ gật gật đầu.

Hoàng Dung lại nói:

– Quá nhi chỉ nghe lời một mình muội, muội hãy khuyên Quá nhi vài lời.

Tiểu Long Nữ buồn bã nói:

– Dù chàng có chịu nghe lời tiểu muội, trên thế gian làm gì còn có Tuyệt Tình đơn nữa?

Hoàng Dung nói:

– Tuyệt Tình đơn tuy không còn, nhưng chất độc hoa Tình trong người Quá nhi không phải là không có cách chữa trị, khó là Quá nhi không chịu uống thuốc mà thôi.

Tiểu Long Nữ vừa kinh ngạc, vừa vui mừng, đứng bật dậy, nói:

– Có.. vẫn có thuốc giải độc ư?

Hoàng Dung kéo tay nàng, nói:

– Muội hãy ngồi xuống đây.

Rồi lấy trong túi ra một nhúm cỏ màu tím sẫm, nói:

– Đây là Đoạn Trường thảo, vị Thiên Trúc cao tăng lúc chết có cầm trong tay thứ thảo dược này. Chu Tử Liễu đại ca nói rằng vị Thiên Trúc cao tăng đang tìm giải dược thì bị trúng châm mà chết. Muội có hiểu một người chết mà vẫn nở nụ cười rất tươi là vì sao không? Là vì vị cao tăng đã tìm ra giải dược. Sư phụ của ta là Hồng Thất Công từng dạy: Phàm chỗ hang rắn độc qua lại trong vòng bảy bước tất có thảo dược giải cứu nọc độc của rắn. Các chất độc khác cũng vậy cả, đó là cái lý vạn vật sinh khắc nhau trong trời đất. Đoạn Trường thảo này mọc đầy ngay dưới gốc cây hoa Tình, tuy chứa chất cực độc, nhưng ta nghĩ đi nghĩ lại, cho rằng nên lấy độc trị độc, Đoạn Trường thảo chính là khắc tinh của hoa Tình.

Chỉ thấy Tiểu Long Nữ gật đầu lia lịa. Hoàng Dung nói:

– Uống Đoạn Trường thảo dĩ nhiên là rất mạo hiểm, nhưng hiện thời đã vô dược khả cứu, chúng ta đành tử lý cầu sinh, phải thử một phen. Theo ta suy đoán, chín phần mười sẽ khỏi.

Tiểu Long Nữ biết Hoàng Dung đa trí, đã suy đoán thế chắc không sai; hơn nữa cũng chẳng còn cách nào khác. Chứng kiến chất độc hoa Tình phát tác trên cơ thể Lý Mạc Sầu đáng sợ như thế nào, vạn nhất Đoạn Trường thảo không trị nổi chất độc hoa Tình, Dương Quá có bị chết vì Đoạn Trường thảo thì vẫn còn dễ chịu hơn là chết vì chất độc hoa Tình phát tác Nàng cúi đầu ngẫm nghĩ, tâm ý đã quyết, nói:

– Được, tiểu muội sẽ khuyên chàng uống.

Hoàng Dung lấy trong bọc ra một nắm Đoạn Trường thảo, đưa cho Tiểu Long Nữ, nói:

– Ta nhặt ngần này là đủ dùng. Muội hãy cho Quá nhi uống một ít trước đã, vận khí bảo hộ tâm tạng, xem công hiệu thế nào để tăng giảm liều lượng.

Tiểu Long Nữ cất vào trong túi, quì xuống vái Hoàng Dung, nói nhỏ:

– Quá nhi.. Quá nhi một đời cô khổ, hành sự tùy hứng. Xin nhờ Quách phu nhân để tâm săn sóc chàng.

Hoàng Dung vội đưa tay đỡ dậy, nói:

– Muội săn sóc cho Quá nhi sẽ tốt hơn ta hàng trăm lần. Đợi sau khi giải vây thành Tương Dương, chúng ta hãy cùng nhau đến đảo Đào Hoa nghỉ ngơi một thời gian.

Hoàng Dung tuy thông minh, song không biết rằng Tiểu Long Nữ tự biết mình chẳng còn sống được mấy ngày, câu nói vừa rồi là hoàn toàn thật lòng mong Hoàng Dung săn sóc cho Dương Quá. Hoàng Dung ngẩng đầu lên, thấy Dương Quá đứng ở phía xa đang ngóng chờ Tiểu Long Nữ.

Dương Quá ngóng chờ Tiểu Long Nữ, không biết nàng và Hoàng Dung nói với nhau chuyện gì, thấy Hoàng Dung đi rồi, chàng mới thong thả lại gần. Tiểu Long Nữ đứng dậy, nói:

– Hôm nay đã gặp nhiều chuyện bi thảm, ngày tháng của đôi ta cũng chẳng còn nhiều. Quá nhi, việc của người khác, chúng mình tạm không nhắc đến, chàng hãy đưa thiếp đi nào.

Dương Quá nói:

– Chính ta cũng đang nghĩ thế.

Hai người dắt tay nhau đi theo con đường mòn lưng núi.

Đi một quãng, thấy một đôi nam nữ ngồi kề vai nhau trò chuyện trên một phiến đá, là Võ Đôn Nhu và Gia Luật Yến. Dương Quá mỉm cười, rảo bước ngang qua phía sau hai người. Bỗng nghe từ bụi cây phía trước vọng lại tiếng cười vui vẻ, rồi Hoàn Nhan Bình chạy ra, có một người đuổi theo sau, cười nói:

– Xem muội chạy đi đâu nào?

Hoàn Nhan Bình thấy Dương, Long hai người thì đỏ mặt, gọi:

– Dương đại ca, đại tẩu!

Đoạn chạy vào cánh rừng bên trái, có Võ Tu Văn chạy theo.

Dương Quá thấp giọng ngâm:

– Tình là chi hỡi thế gian..

Ngừng một lát, nói:

– Cách đây chưa lâu, huynh đệ họ Võ vì Quách cô nương mà quyết một phen sống chết, vậy mà bây giờ cả hai đều đã hướng sang người khác. Có người cả đời chỉ chung tình với một người. Lại có những kẻ như Công Tôn Chỉ, Cầu Thiên Xích. Ôi, tình là chi hỡi thế gian? Câu này quả là đáng hỏi lắm.

Tiểu Long Nữ cúi đầu trầm tư, không nói gì. Hai người đi xuống chân núi, ngoảnh nhìn lên chỉ thấy tịch dương nhuộm hồng nửa bầu trời, nửa còn lại là màu lam phía trên đỉnh núi phủ tuyết trắng, cảnh đẹp thật khó tả, hai người còn được sống trên thế gian không lâu, nhìn cảnh đẹp ấy càng thêm lưu luyến.

Tiểu Long Nữ ngắm cảnh ngơ ngẩn một hồi, bỗng hỏi:

– Chàng bảo sau khi người ta chết, có thật sẽ xuống cõi âm, có thật sẽ gặp Diêm vương hay không?

Dương Quá nói:

– Mong sao như thế. Cõi âm dù có rừng đao, có khổ hình với vô số vạc dầu, nhưng có cõi âm vẫn hơn. Nếu không, đôi ta làm sao còn có dịp gặp lại nhau?

Tiểu Long Nữ nói:

– Đúng thế, nếu có cõi âm thật vẫn hơn. Nghe bảo trên đường xuống suối vàng có Mạnh bà, cho người ta uống một bát canh để quên hết mọi việc trên trần gian. Bát canh ấy, thiếp sẽ không uống đâu. Quá nhi, thiếp muốn vĩnh viễn ghi nhớ ân tình của chàng.

Nàng vốn giỏi kiềm chế mình, lòng bi thương khôn tả mà giọng nói vẫn thản nhiên. Dương Quá thật không chịu nổi, phải ngoảnh đi lau nước mắt.

Tiểu Long Nữ thở dài, nói:

– Chuyện ở cõi u minh, chẳng biết thật hư thế nào, nếu được bất tử thì vẫn hơn. Quá nhi, chàng nhìn xem, bông hoa này đẹp quá chừng.

Dương Quá nhìn theo ngón tay nàng chỉ, thấy bên đường có bông hoa tươi mới nở màu hồng sẫm to bằng miệng chén, đang lay động trước gió, trông như hoa mẫu đơn mà không phải mẫu đơn, như hoa thược dược mà không phải thược dược, bèn nói:

– Loài hoa này ít gặp, giữa mùa đông mà nở rực rỡ thế này. Ta sẽ đặt cho nó một cái tên, gọi là hoa Long Nữ.

Nói rồi chàng bước tới ngắt bông hoa, cài lên mái tóc Tiểu Long Nữ. Tiểu Long Nữ cười, nói:

– Đa tạ chàng đã tặng thiếp một bông hoa đẹp, đã đặt cho loài hoa một cái tên dễ nghe.

Hai người lại đi một chặp nữa, rồi ngồi xuống một bãi cỏ. Tiểu Long Nữ nói:

– Chàng còn nhớ tình cảnh hôm bái thiếp làm sư phụ hay không?

Dương Quá nói:

– Sao lại không nhớ?

Tiểu Long Nữ nói:

– Chàng đã thề suốt đời nghe lời thiếp, bất kể thiếp nói gì, chàng cũng sẽ không làm trái. Hiện tại thiếp đã trở thành thê tử của chàng, theo ý chàng thì nên là "xuất giá tòng phu" hay nên là "vâng lệnh sư phụ"?

Dương Quá cười, đáp:

– Nàng bảo sao, ta làm vậy, lệnh sư phụ không dám trái, lệnh của thê tử càng không dám trái.

Tiểu Long Nữ nói:

– Ồ, chàng còn nhớ thì tốt.

Hai người ngồi dựa vào nhau trên cỏ, nghe văng vẳng tiếng Võ Tam Thông gọi hai người đến dùng bữa tối. Dương Quá và Tiểu Long Nữ nhìn nhau cười, đều nghĩ: "Hà tất vì một bữa ăn mà bỏ cảnh đẹp thế kia?" Lát sau, trời tối dần, hai người đã mệt suốt một ngày đêm, lại bị thương sẵn, cuối cùng đều nhắm mắt ngủ thiếp đi.

Nửa đêm, Dương Quá mơ mơ màng màng gọi:

– Long nhi, nàng có lạnh không?

Chàng quờ tay định ôm nàng vào lòng, nào ngờ thấy trống không. Dương Quá giật mình mở mắt ra, Tiểu Long Nữ đã đi đâu không rõ. Chàng vội bật dậy, nhìn tứ phía, ánh trăng lạnh lẽo chiếu xuống núi rừng tịch mịch, không thấy bóng Tiểu Long Nữ đâu cả. Chàng liền chạy lên núi, miệng gọi to:

– Long nhi, Long nhi!

Trên đỉnh núi, chàng gọi to:

– Long nhi, Long nhi!

Sơn cốc tứ phía âm vang, vọng lại "Long nhi, Long nhi!" nhưng Tiểu Long Nữ thủy chung không hồi đáp. Dương Quá kinh dị nghĩ: "Nàng đi đâu kia chứ? Vùng núi này không hề có mãnh cầm quái thú; mà dù có, cũng không thể làm gì được nàng. Giả dụ ban đêm có cường địch tấn công, nàng nằm sát bên ta, nhất định ta đã phát giác". Chàng gọi lớn như thế, Nhất Đăng đại sư, Hoàng Dung, Chu Tử Liễu đều tỉnh giấc. Mọi người nghe nói Tiểu Long Nữ không biết đi đâu mất, ai cũng kinh ngạc, chia nhau đi tìm khắp Tuyệt Tình cốc, nào thấy tung tích của nàng?

Dương Quá cứ chạy chỗ này chỗ nọ như một kẻ điên. Cuối cùng mọi người hội tụ về một chỗ, Dương Quá cũng đã trấn tĩnh lại, nghĩ: "Vậy là nàng tự bỏ đi, ta mới không biết chút gì. Nhưng tại sao lại bỏ đi? Việc này tất liên quan đến những gì Quách phu nhân nói với nàng chiều qua. Lần trước nàng bỏ đi, cuối cùng lạc đến Tuyệt Tình cốc này, cũng là sau khi trò chuyện với Quách phu nhân mà ra". Chàng liền cao giọng, hỏi:

– Quách bá mẫu, chiều qua rốt cuộc bá mẫu đã nói gì với Long nhi?

Hoàng Dung cũng nghĩ không ra vì sao Tiểu Long Nữ đột nhiên mất tích, thấy trán Dương Quá nổi gân xanh, thì càng lo ngại, nói:

– Ta muốn nàng khuyên ngươi uống Đoạn Trường thảo, hi vọng may ra có thể giải độc hoa Tình cho ngươi.

Dương Quá buột miệng nói:

– Long nhi đã không sống được, Dương mỗ còn sống một mình trên thế gian làm gì?

Hoàng Dung an ủi:

– Ngươi đừng nôn nóng quá. Long cô nương nhất thời chưa biết đi đâu, nàng võ công cao cường, không thể gặp bất trắc, sao lại bảo "không sống được"?

Dương Quá đang nôn nóng, không kìm được, liền nói to:

– Nữ nhi bảo bối của phu nhân đã dùng Băng phách ngân châm phóng trúng vào người Long nhi, đúng vào lúc nàng đang nghịch vận kinh mạch trị thương, chất cực độc đem hút hết vào đan điền nội tạng, Long nhi lại không phải thần tiên, làm sao còn sống nổi kia chứ?

Hoàng Dung đâu ngờ sự thể lại đến mức ấy? Có nghe nói nữ nhi trong tòa cổ mộ dùng Băng phách ngân châm đả thương Dương Quá và Tiểu Long Nữ, nhưng nghĩ hai người đều là truyền nhân của phái Cổ Mộ, cùng một phái với Lý Mạc Sầu, tất có giải dược bản môn, chẳng qua chỉ bị đau nhất thời, chứ không có hậu họa gì, giờ nghe Dương Quá nói vậy thì kinh hãi tái mặt đi. Hoàng Dung suy nghĩ rất nhanh: "Thì ra Quá nhi không chịu uống Tuyệt Tình đơn là vì thê tử không giữ được tính mạng, nên Quá nhi không muốn sống một mình. Thế thì Tiểu Long Nữ đi đâu mới được chứ?" Ngẩng nhìn lên đỉnh núi, nơi Công Tôn Chỉ và Cầu Thiên Xích rơi xuống thạch động, bất giác rùng mình.

Dương Quá từ nãy vẫn không rời mắt khỏi Hoàng Dung, Hoàng Dung nhìn lên đó rùng mình, tâm ý thế nào làm gì chàng chẳng biết? Chàng lập tức vừa kinh hãi vừa giận dữ, nói:

– Long nhi đã khó giữ được mạng sống, phu nhân còn đi khuyên nàng tự tận, mong cứu mạng Dương mỗ chứ gì? Phu nhân tự cho rằng đó là vì thiện ý đối với Dương mỗ, Dương mỗ ta.. căm hận phu nhân..

Nói đến đây, chàng nghẹn thở ngã ngửa ra, ngất đi.

Nhất Đăng đại sư xoa lưng cho chàng một hồi, Dương Quá dần dần tỉnh lại. Hoàng Dung nói:

– Ta chỉ khuyên nàng cứu mạng ngươi, không đời nào khuyên nàng tự tận, ngươi không tin, cái đó tùy ngươi.

Mọi người nhìn nhau, thực không biết phải làm sao. Hoàng Dung nói:

– Chúng ta thử lên đỉnh núi đó xem.

Thế là mọi người cùng kéo lên đó, ngó xuống thạch động, bên dưới tối om, chẳng nhìn thấy gì.

Trình Anh bỗng nói:

– Chúng ta tước vỏ cây bện thành dây dài, để tiểu nữ xuống dưới đáy xem sao. Dương đại tẩu lỡ có.. trượt chân..

Hoàng Dung gật đầu, nói:

– Chúng ta nhất định phải tìm cho ra.

Thế là mọi người dùng đao kiếm tước vỏ cây, đông người, đến lúc trời sáng đã bện xong một sợi dây dài hơn trăm trượng. Cánh trẻ ai cũng tự nguyện xin xuống, Dương Quá nói:

– Dương mỗ sẽ xuống.

Mọi người nhìn Hoàng Dung, chờ nghe lệnh. Hoàng Dung biết Dương Quá nghi ngờ mình, có lên tiếng can ngăn, Dương Quá cũng chẳng chịu nghe, nhưng nếu để chàng xuống đó, lỡ Tiểu Long Nữ rơi xuống chết dưới đó thật, thì làm sao chàng chịu leo lên? Vì thế nhất thời do dự không nói.

Trình Anh quả quyết nói:

– Dương đại ca, để muội xuống, đại ca có tin muội hay không?

Ngoài Tiểu Long Nữ, người được Dương Quá phục nhất là Trình Anh; tự chàng cũng biết mình đang nôn nóng, mà chân tay thì bủn rủn vô lực, đành gật đầu. Cha con họ Võ cùng Gia Luật Tề dòng giữ sợi dây, thả dần cho Trình Anh xuống đáy thạch động. Sợi dây chỉ còn dư vài trượng, Trình Anh mới tới nơi.

Mọi người vây quanh miệng lỗ hổng, không ai nói gì chỉ chăm chăm ngó xuống, đợi Trình Anh báo tin kéo lên. Mọi người đều sốt ruột, vì đã lâu không thấy tín hiệu của Trình Anh. Hoàng Dung và Chu Tử Liễu nhìn nhau, cùng nghĩ bụng: "Nếu Tiểu Long Nữ quả nhiên chết ở dưới kia, Dương Quá nhất định sẽ nhảy xuống đó, phải kịp thời giữ hắn lại".

Dương Quá thấy Hoàng Dung và Chu Tử Liễu nhìn nhau, nghĩ thầm: "Nếu ta muốn tìm đến cái chết, ắt tự có cách kết thúc, đâu có ở đây để các người lôi lôi kéo kéo như một gã ngốc?".

Bỗng sợi dây Võ Tam Thông đang cầm lay động, Quách Phù và huynh đệ họ Võ cùng kêu:

– Mau kéo lên!

Mọi người hợp lực kéo dây đưa Trình Anh lên. Trình Anh chưa lên tới miệng lỗ hổng, đã nói to:

– Không có, Dương đại tẩu không ở dưới đó.

Mọi người cả mừng, không hẹn cùng thở dài nhẹ nhõm. Trình Anh đã đứng bên miệng hố, nói:

– Dương đại ca, tiểu nữ đã tìm kỹ khắp nơi, dưới ấy ngoài di hài gãy nát của vợ chồng Công Tôn Chỉ, không có vật gì khác.

Chu Tử Liễu trầm ngâm nói:

– Chúng ta đã tìm khắp nơi, thiết nghĩ Long cô nương đã rời khỏi sơn cốc rồi.

Lục Vô Song bỗng nói:

– Còn một chỗ chưa tìm, không chừng Dương đại tẩu đang nghĩ cách tìm viên Tuyệt Tình đơn cũng nên.

Dương Quá giật mình, không chờ nghe hết câu, lập tức chạy ngay lên Đoạn Trường nhai, vừa chạy gấp, vừa gọi to:

– Long nhi, Long nhi!

Đến trước sườn núi, cúi nhìn xuống vực sâu, chỉ thấy sương mù, nào thấy bóng người?

Chàng nghĩ: "Long nhi tâm tư đơn thuần, nếu có tâm sự gì, nhất định sẽ không giấu ta". Chàng nhớ lại câu nàng nói: "Nàng bảo nàng muốn ta vĩnh viễn nhớ lời thề là sẽ nghe nàng phân phó. Ta dĩ nhiên sẽ không làm trái tâm ý của nàng. Nhưng nàng hoàn toàn không có phân phó gì cả, đã tự bỏ đi là sao? Long nhi, Long nhi, nàng rốt cuộc đi đâu vậy? Nàng muốn ta làm theo lời gì của nàng?" Chàng nhìn sang Đoạn Trường nhai đối diện, thấy thấp thoáng như có một bạch y thiếu nữ tóc cài đóa hoa hồng, thân hình uyển chuyển, hai tay song kiếm, chính đang kịch chiến với Công Tôn Chỉ. Chàng gọi to:

– Long nhi!

Khi định thần, nào có thấy Tiểu Long Nữ? Chỉ thấy từng lớp từng lớp sương mù bị gió thổi qua mà thôi, nhưng đúng là có đóa hoa hồng ở sườn núi đối diện.

Chàng lấy làm lạ: "Hôm qua Long nhi đấu với Công Tôn Chỉ ở đó, rõ ràng không hề có đóa hoa hồng. Nơi này toàn là núi đá, thảo mộc chẳng mọc nổi, đào đâu ra hoa? Nếu bảo gió thổi đến, làm sao có sự trùng hợp như vậy được?" Bèn hít một hơi, chạy qua chiếc cầu đá sang sườn núi đối diện. Tới gần, trống ngực đập dồn, chính là đóa hoa màu đỏ sẫm chàng đã cài lên tóc Tiểu Long Nữ chiều qua; lúc này đã hơi héo. Chàng nhớ rất kỹ, tối qua trước lúc ngủ, đóa hoa ấy vẫn còn cài trên mái tóc nàng. Đóa hoa ở đây, Tiểu Long Nữ đêm qua chắc hẳn đã tới chỗ này.

Dương Quá cúi xuống cầm đóa hoa lên, thấy bên dưới có một gói giấy, vội mở gói giấy ra, bên trong là một nắm cỏ màu tím sẫm, chính là loài Đoạn Trường thảo mọc dưới gốc cây hoa Tình. Trống ngực đập dồn, chàng lật cái bao giấy xem kỹ, không có chữ nào, bỗng nghe có tiếng Lục Vô Song gọi ở sườn núi bên kia:

– Dương đại ca, đại ca làm gì ở đó thế?

Dương Quá ngoảnh sang, chợt thấy trên sườn núi bên đó có hai hàng chữ được vạch bằng mũi kiếm lên mặt đá, dòng chữ to viết:

"Mười sáu năm sau, tại đây tái hợp, phu thê thâm tình, xin đừng thất ước".

Dòng chữ nhỏ viết:

"Tiểu Long Nữ thuộc phu quân Dương lang, muôn phần trân trọng, mong ngày đoàn tụ".

Dương Quá ngẩn ngơ nhìn hai dòng chữ, nhất thời tâm thần rối loạn, thực không hiểu dụng ý thế nào, nghĩ: "Nàng hẹn ta mười sáu năm sau tái hợp ở đây, vậy thì nàng đi đâu kia chứ? Nàng bị trúng độc nặng, khó bề chữa trị, chưa chắc sống nổi mươi bữa nửa tháng, làm sao lại hẹn những mười sáu năm? Nàng cũng thừa biết ta đã ném viên Tuyệt Tình đơn xuống vực, sao còn hẹn mười sáu năm tái hợp?" Chàng càng nghĩ tâm trí càng rối loạn, thân hình lắc lư chực ngã.

Mọi người ở sườn núi bên kia thấy chàng như kẻ phát điên, chỉ sợ chàng trượt chân ngã xuống vực sâu. Nếu sang đó khuyên chàng, chỗ sườn núi chỉ đủ chỗ cho một người đặt chân, nếu Dương Quá phát điên thật, chàng võ công lại cao, không ai chế ngự được, tất sẽ bị chàng kéo ngã theo xuống vực. Hoàng Dung hơi chau mày, nói với Trình Anh:

– Sư muội, hình như Dương Quá chỉ nghe lời sư muội thì phải.

Trình Anh gật đầu, nói:

– Phải! Để muội qua đó xem sao.

Rồi nàng lướt nhanh qua chiếc cầu đá, tiến đến chỗ Dương Quá. Dương Quá nghe sau lưng có tiếng bước chân, bèn quát to:

– Không ai được tới đây!

Đoạn chàng quay ngoắt lại, mắt phóng ra tia hung quang. Trình Anh dịu dàng nói:

– Dương đại ca, là muội đây mà. Muội chỉ giúp đại ca tìm Dương đại tẩu, chứ không có ý gì khác.

Dương Quá chằm chằm nhìn Trình Anh một hồi, ánh mắt mới dịu dần.

Trình Anh bước lên một bước, hỏi:

– Bông hoa này là của Dương đại tẩu để lại ư?

Dương Quá nói:

– Phải. Tại sao phải mười sáu năm? Tại sao phải mười sáu năm?

Trình Anh thong thả đến bên cạnh chàng, nhìn theo ánh mắt chàng, đọc xong hai hàng chữ bên sườn núi đối diện, cũng không hiểu gì, nói:

– Quách phu nhân túc trí đa mưu, liệu sự như thần, không ai sánh kịp. Chúng ta sang bên kia hỏi phu nhân, ắt sẽ hiểu ra.

Dương Quá nói:

– Đúng lắm. Cầu đá rất trơn, cô nương hãy cẩn thận.

Rồi chàng phi thân qua sườn núi bên kia, kể lại hai hàng chữ cho Hoàng Dung nghe.

Hoàng Dung lặng lẽ trầm tư một hồi, đột nhiên hai mắt sáng lên, vỗ tay một cái, cười nói:

– Quá nhi, đại hỉ, đại hỉ!

Dương Quá vừa kinh ngạc vừa vui mừng, run run hỏi:

– Quách bá mẫu bảo.. bảo.. có tin mừng ư?

Hoàng Dung nói:

– Tất nhiên rồi. Long gia muội tử đã gặp được Nam Hải thần ni, quả là kỳ duyên độc nhất vô nhị.

Dương Quá vẻ mặt ngơ ngác, hỏi:

– Nam Hải thần ni là ai vậy?

Hoàng Dung nói:

– Nam Hải thần ni là vị đại thánh trong cửa Phật, tu vi về Phật pháp và võ công đều cao thâm khôn lường. Chỉ vì Người ít đặt chân lên Trung Thổ, nên hiếm có nhân sĩ võ lâm biết được đại danh của Người. Gia gia ta từng kiến diện Người một lần, được Người truyền thụ một lộ chưởng pháp, dùng cả đời chưa hết. Ôi đó là chuyện xảy ra mười sáu, ba mươi hai, đúng rồi, ba mươi hai năm trước.

Dương Quá bán tín bán nghi, lẩm bẩm:

– Ba mươi hai năm..

Hoàng Dung nói:

– Đúng, vị thần ni này có lẽ đã ngót trăm tuổi. Gia gia ta bảo cứ mười sáu năm Người lại tới Trung Thổ một lần, kẻ ác gặp Người tức là do kiếp trước không tu. Người tốt gặp Người, tất được ban phúc. Long gia muội tử là nhân vật mỹ diễm như tiên, Người nhất định sẽ yêu thích, thu làm đồ đệ, đưa ra Nam Hải.

Dương Quá lẩm bẩm:

– Cứ mười sáu năm, cứ mười sáu năm.. Nhất Đăng đại sư, có chuyện đó thật ư?

Nhất Đăng đại sư "ừm" một tiếng.

Hoàng Dung cướp lời, nói:

– Vị thần ni này Phật pháp tuy cao thâm, song tính nết có phần cổ quái. Nhất Đăng đại sư đã được gặp thần ni hay chưa?

Nhất Đăng đại sư lắc đầu, nói:

– Lão nạp vô duyên, chưa được gặp Người.

Hoàng Dung thở dài, nói:

– Vị thần ni có một điều không thông tình lý, ai lại đi bắt một đôi vợ chồng trẻ như hoa phải xa nhau những mười sáu năm, như thế chẳng tàn nhẫn quá sao? Long gia muội muội võ công đã cao như thế, còn học thêm mười sáu năm nữa, để hoàn toàn chế ngự trượng phu hay sao?

Nói đoạn cười to.

Dương Quá nói:

– Không phải thế đâu, Quách bá mẫu.

Hoàng Dung hỏi:

– Thế thì là gì?

Dương Quá nói:

– Long nhi chất độc ngấm vào tạng phủ, tính mạng khó toàn, nếu quả được Nam Hải thần ni ban phúc, thì trong mười sáu năm Người sẽ dùng đại thần thông để khu trừ chất độc khỏi cơ thể Long nhi. Điệt nhi cho rằng.. dẫu sao cũng không khỏi hẳn được.

Hoàng Dung lại thở dài, nói:

– Quách Phù thô lỗ đả thương người khác, ta.. ta hổ thẹn vô cùng. Quá nhi, dự đoán của ngươi có vẻ hợp lý hơn đấy. Long gia muội muội chất độc ngấm vào tạng phủ, Nam Hải thần ni dù có tiên đơn diệu dược cũng không thể giải hết độc trong một thời gian ngắn. Chỉ mong nàng sớm lành bệnh, Nam Hải thần ni đại phát từ bi, không cần lâu ngần ấy đã cho vợ chồng ngươi đoàn tụ.

Dương Quá chưa từng nghe bốn chữ "Nam Hải thần ni", hoang mang chưa muốn tin, nhưng nào hoa nào cỏ trong tay, nào chữ khắc trên vách núi, đều hoàn toàn là sự thực hiển nhiên, Tiểu Long Nữ nếu gặp bất trắc, làm gì có chuyện hẹn ước mười sáu năm tái hợp? Chàng ngẫm nghĩ một hồi, lại hỏi:

– Quách bá mẫu, vì sao bá mẫu biết Nam Hải thần ni thu Long nhi làm đệ tử? Tại sao Long nhi không viết rõ thực tình trên vách núi, để cho điệt nhi khỏi khắc khoải đợi chờ?

Hoàng Dung nói:

– Đó là ta đoán từ bốn chữ "mười sáu năm sau" mà ra. Ta chỉ biết cứ mười sáu năm Nam Hải thần ni lại tới Trung Thổ một lần, trừ Người ra, không còn ai có cái lệ kỳ lạ đó. Nhất Đăng đại sư, đại sư nghĩ có người nảo khác hay chăng?

Nhất Đăng đại sư lắc đầu:

– Không có.

Hoàng Dung nói:

– Vị thần ni này đến tên tuổi còn không cho phép ai nhắc đến, làm sao Long muội muội biết để khắc vào đá? Chỉ tiếc là không biết Đoạn Trường thảo có thể giải độc cho ngươi hay không, ôi, nếu mười sáu năm sau.. Long muội muội trở về mà không gặp ngươi, chỉ e nàng cũng không thiết sống nữa thôi.

Dương Quá mắt rưng rưng lệ, tất cả trở nên mờ ảo, nhìn sang sườn núi bên kia tưởng như có bóng bạch y thiếu nữ mười sáu năm sau đang tìm kiếm, rồi thất vọng đau khổ vì không thấy chàng. Một cơn gió lạnh thổi qua, chàng rùng mình, quả quyết nói:

– Quách bá mẫu, vậy điệt nhi sẽ đi tìm Nam Hải thần ni, nhưng không biết Người sống ở nơi nào?

Hoàng Dung nói:

– Ngươi nhất thiết chớ theo đuổi ý nghĩ đó, đảo Đại Trí, nơi Nam Hải thần ni cư trú, há cho người ngoài đặt chân, nam tử tới đó sẽ lập tức mất mạng. Gia gia ta lọt vào mắt xanh của Người mà cũng không dám tới hòn đảo ấy bái yết. Long muội muội đã được vị thần ni thu nhận, nhất định sẽ có ngày tái hợp, mười sáu năm thấm thoắt qua nhanh, hà tất nôn nóng.

Dương Quá quắc mắt nhìn Hoàng Dung, gằn giọng hỏi:

– Quách bá mẫu, tất cả những lời vừa rồi là thật hay giả?

Hoàng Dung nói:

– Ngươi hãy tới đọc lại hai hàng chữ kia, nếu không phải là nét chữ của Long muội muội, thì lời ta nói vị tất là thật.

Dương Quá nói:

– Nét chữ thì đúng rồi. Long nhi viết chữ "Dương" bao giờ cũng thiếu một nét trong chữ "nhật" bên phải, hàng chữ kia không phải là giả.

Hoàng Dung vỗ tay:

– Thế thì tốt. Chẳng giấu gì ngươi, ta chỉ cảm thấy chuyện này quá trùng hợp, nên còn nghi rằng Chu đại ca ngầm bố trí như thế để an ủi ngươi.

Dương Quá cúi đầu ngẫm nghĩ một lát, rồi nói:

– Được, điệt nhi sẽ uống thử món Đoạn Trường thảo, nếu vô hiệu, mười sáu năm sau nhờ Quách bá mẫu đến đây nói cho Long nhi biết số phận của điệt nhi!

Đoạn quay sang phía Chu Tử Liễu, nói:

– Chu đại thúc, thảo dược này uống bằng cách nào?

Chu Tử Liễu chỉ biết Đoạn Trường thảo cực độc, còn dùng nó như thế nào để dĩ độc trị độc thì hoàn toàn không biết, bèn nói với Nhất Đăng đại sư:

– Sư phụ, việc này xin sư phụ chỉ dẫn cho.

Nhất Đăng đại sư dùng ngón trỏ tay phải thong thả điểm bốn huyệt Thiếu Hải, Thông Lý, Thần Môn, Thiếu Xung trên người Dương Quá. Bốn huyệt này đều thuộc "Thủ Thiếu dương tâm kinh" là vùng khí dương mới sinh. Dương Quá cảm thấy có một luồng khí ấm từ bốn huyệt dồn ra phía ngực, tim lập tức dễ chịu hẳn.

Nhất Đăng đại sư nói:

– Chất độc hoa Tình đã tương thông với tâm ý, thì thiết tưởng khi Đoạn Trường thảo giải độc cũng ắt sẽ công tâm. Lão nạp điểm bốn huyệt cho ngươi để bảo vệ tâm mạch. Ngươi hãy dùng thử trước một chút xem sao đã.

Dương Quá lạy tạ. Nhất Đăng đại sư thở dài, nói:

– Nếu sư đệ của lão nạp còn sống, chắc sẽ có thể phối chế lương dược theo lối quân thần tá sứ, chúng ta đỡ phải mò mẫm như thế này.

Dương Quá khi nghe tin Thiên Trúc cao tăng bị Lý Mạc Sầu giết hại, biết Tiểu Long Nữ không còn ai chữa trị, thì đã quyết chết; nhưng lúc này nghĩ đến lời hẹn mười sáu năm, ý tưởng cầu sinh lại trỗi dậy mạnh mẽ, thế là chàng liền lấy ra một nhúm Đoạn Trường thảo, cho vào miệng nhai thật chậm, cảm thấy vô cùng tanh hôi, vị thì đắng hơn cả hoàng liên. Chàng nuốt cả nước lẫn bã vào ruột, trước đây không thiết sống một mình, bây giờ lại sợ chết trước, lo rằng mười sáu năm sau Tiểu Long Nữ về Đoạn Trường nhai tìm chàng chẳng thấy, nàng sẽ thất vọng đau khổ không chịu nổi. Chàng ngồi xếp bằng tròn, ngầm vận nội lực, bảo hộ tâm mạch và đan điền, không lâu thì bụng bắt đầu chuyển động đau nhói lên.

Cái đau này tựa hồ bị hàng ngàn mũi kim nhọn đâm vào bụng, từng khúc từng khúc ruột đứt rời, hai chữ "Đoạn Trường" thật không phải hư ngôn. Dương Quá không rên một tiếng, ráng sức nhịn đau, sau khoảng thời gian bằng uống hết một ấm trà thì cơn đau lan ra toàn thân, tứ chi bách hạch, riêng vùng tim vẫn đều đều dễ chịu, đủ biết thần công Nhất Dương chỉ của Nhất Đăng đại sư tinh thâm trác tuyệt mức nào. Cơn đau kéo dài nửa canh giờ thì lui dần về vùng bụng, đột nhiên Dương Quá ọe ra một ngụm máu đỏ tươi, đỏ hơn hẳn máu tươi của người thường.

Trình Anh, Lục Vô Song thấy thổ huyết đều khẽ kêu lên có vẻ lo ngại, Nhất Đăng đại sư thì rất mừng, nói nhỏ:

– Sư đệ, sư đệ tuy đã chết, vẫn còn ban ân huệ cho người đời.

Dương Quá đứng bật dậy, nói:

– Tính mạng của điệt nhi là nhờ đại sư, Thiên Trúc thần tăng và Quách bá mẫu cứu sống.

Lục Vô Song cả mừng, nói:

– Chất độc trong người đại ca đã hết rồi chứ?

Dương Quá nói:

– Làm sao nhanh thế được? Nhưng đã biết thứ cỏ này công hiệu, mỗi ngày chỉ việc nhai một nắm, độc tính sẽ hết dần.

Lục Vô Song nói:

– Làm sao đại ca biết khi nào trừ hết chất độc? Nhỡ trong người hết chất độc rồi, mà đại ca cứ uống, đứt ruột thì chết đó!

Dương Quá nói:

– Điều ấy thì huynh tự biết, nếu chất độc chưa hết khi động tình sẽ đau đớn.

Quách Phù đứng nghe bên cạnh, đột nhiên nói chen vào:

– Dương đại ca chỉ nhớ đến Dương đại tẩu, chứ chẳng nhớ đến ngươi đâu.

Hôm trước Công Tôn Chỉ dùng hắc kiếm đâm Quách Phù, Lục Vô Song bảo Quách Phù giơ tay mà đỡ, lúc ấy cứ tưởng Lục Vô Song có hảo ý, nhưng sau nghĩ lại, càng nghĩ càng thấy không phải thế, Lục Vô Song đâu biết Quách Phù mặc áo giáp lông nhím mà nhắc; chẳng qua Lục Vô Song muốn trả thù cho Dương Quá. Quách Phù giận lắm, bây giờ có dịp liền châm biếm vài câu. Hoàng Dung vội quát:

– Phù nhi, nói gì vậy?

Lục Vô Song đỏ bừng cả mặt. Quách Phù chưa chịu thôi, còn nói:

– Mười sáu năm sau Dương đại tẩu chắc chắn sẽ trở về, ngươi đừng hòng si tâm vọng tưởng.

Lục Vô Song không nhịn được nữa, xoẹt một tiếng đã rút ra thanh đao lá liễu, gằn giọng nói:

– Nếu không phải tại mi, Dương đại ca và Dương đại tẩu đâu phải biệt li những mười sáu năm? Mi tự nghĩ xem mi đã hại Dương đại ca biết chừng nào?

Quách Phù trợn mắt định cự lại, thì Hoàng Dung quát:

– Phù nhi, ngươi còn vô lễ với người khác sẽ phải lập tức một mình về đảo Đào Hoa, không được phép đến thành Tương Dương nữa.

Quách Phù không dám nói thêm, chỉ hầm hầm nhìn Lục Vô Song.

Dương Quá thở dài, nói với Lục Vô Song:

– Chuyện đó do trời xui đất khiến, Quách cô nương cũng không có ý hại người. Vô Song muội tử, từ nay đừng nhắc đến chuyện đó nữa.

Lục Vô Song nghe Dương Quá gọi mình là Vô Song muội tử, còn gọi Quách Phù là Quách cô nương, rõ ràng phân biệt thân sơ, thì vui lòng tra đao vào bao, hất hàm một cái về phía Quách Phù.

Nhất Đãng đại sư nói:

– Dương thiếu hiệp uống Đoạn Trường thảo mà thân thể không bị tổn hại, xem chừng thứ cỏ này quả nhiên có tác dụng giải độc, nhưng để bảo đảm an toàn, không nên uống liên tục, đợi bảy ngày sau hãy dùng lần thứ hai. Trước khi nhai, thiếu hiệp hãy tự điểm bốn huyệt đạo bảo hộ tâm mạch, lượng thảo dược nhai cũng nên giảm dần.

Dương Quá cúi mình nói:

– Cẩn lĩnh đại sư chỉ giáo.

Hoàng Dung thấy mặt trời đã lên đỉnh đầu, nói:

– Chúng ta rời thành Tương Dương đã lâu, không biết quân tình thế nào, thật rất lo lắng, hôm nay cần trở về. Quá nhi, ngươi cũng nên cùng về thành Tương Dương một thể, Quách bá phụ nhớ ngươi lắm đó.

Dương Quá nói:

– Điệt nhi muốn ở đây chờ thê tử.

Quách Phù lấy làm lạ:

– Dương đại ca định ở đây mười sáu năm ư?

Dương Quá nói:

– Huynh cũng không biết, vả lại huynh cũng chẳng có chỗ nào đáng để đến cả.

Hoàng Dung nói:

– Ngươi cứ ở lại đây mươi bữa nửa tháng cũng tốt. Nếu không có thêm tin tức gì của Long gia muội tử, thì ngươi cứ tới thành Tương Dương.

Dương Quá cứ ngẩn ngơ nhìn sườn núi đối diện, không trả lời.

Mọi người từ biệt Dương Quá. Quách Phù thấy Lục Vô Song hoàn toàn không có ý đi, không nhịn được, nói:

– Lục Vô Song, ngươi ở lại đây bầu bạn với Dương đại ca chăng?

Lục Vô Song đỏ mặt, nói:

– Việc đó liên can gì đến ngươi?

Trình Anh nói:

– Dương đại ca chưa khỏe hẳn, ta cùng biểu muội ở lại săn sóc Dương đại ca vài hôm.

Hoàng Dung biết vị tiểu sư muội này ngoài mềm trong cứng, nếu con gái mình làm rầu lòng nàng ta, không chừng hậu họa vô cùng, bèn quắc mắt với Quách Phù, nói:

– Quá nhi có tiểu sư muội và Lục cô nương săn sóc thật không còn gì bằng. Đợi khi chất độc trong người Quá nhi đã được giải hết, mời ba vị cùng đến thành Tương Dương, chuyết phu và tiểu muội ta xin rộng cửa đón chờ.

Dương Quá, Trình Anh, Lục Vô Song ba người đứng trên sườn núi nhìn Nhất Đăng đại sư, Hoàng Dung và mọi người đi xa dần, cuối cùng khuất hẳn trong rừng cây. Đám cháy lớn trong rừng núi đã tắt.

Dương Quá nói:

– Hai vị muội muội, huynh có một ý định, nói ra xin đừng giận.

Lục Vô Song nói:

– Không ai trách Dương đại ca đâu.

Dương Quá nói:

– Ba người chúng ta từ khi gặp nhau thấy rất hợp, Dương Quá ta hoàn toàn không có huynh đệ tỷ muội, muốn được kết nghĩa kim lan với hai vị, từ nay ta coi nhau như huynh muội, tình như cốt nhục. Ý hai vị thế nào?

Trình Anh chợt nao lòng, biết tình của chàng đối với Tiểu Long Nữ thủy chung như nhất, do phải chờ mười sáu năm đằng đẵng, nên cần định rõ danh phận huynh muội, để tránh ở bên nhau nhiều ngày đôi bên khó xử, thấy Lục Vô Song cúi đầu mắt rưng rưng lệ, vội nói:

– Hai chúng tôi có một vị đại ca như huynh, thật là cầu được ước thấy.

Lục Vô Song đến bên một cây hoa Tình, nhổ ba cọng Đoạn Trường thảo cắm xuống đất, cười nói:

– Người ta khi kết bái thì thắp nhang, ba chúng ta làm theo kiểu mới, dùng cỏ thay nhang.

Nàng tuy đã gắng gượng vui vẻ, nhưng nói đến đây, giọng cũng hơi nghẹn ngào, không đợi Dương Quá trả lời, liền quì ngay xuống. Dương Quá và Trình Anh cũng quì xuống bên cạnh, vái tám vái, hành lễ kết nghĩa.

Dương Quá nói:

– Nhị muội, tam muội, vật đáng ghét nhất trong thiên hạ là cây hoa Tình, nếu để giống cây này lan ra bên ngoài sơn cốc, sẽ độc hại khôn lường. Chúng ta quyết phá hủy hết chúng đi, muội nghĩ sao?

Trình Anh nói:

– Đại ca có thiện nguyện ấy, chắc Bồ Tát sẽ phù hộ cho sớm được đoàn tụ với đại tẩu.

Dương Quá nghe câu đó, tinh thần phấn chấn hẳn lên.

Ba người liền chọn mấy vật dụng bằng sắt ở khu vực trang viện bị cháy, lấy cành cây làm cán, đi chặt phá những cây hoa Tình chưa bị cháy. Số cây hoa Tình trong sơn cốc không ít, lại phải thận trọng không để gai hoa Tình đâm vào mình, cho nên mất đứt sáu ngày mới chặt phá hết. Ba người chỉ sợ còn lại một cây, không trừ tận gốc, lại dễ sinh họa; cho nên tìm kỹ khắp nơi, đến khi không còn một cây hoa Tình mới dừng tay. Từ đấy trở đi, cái họa do hoa Tình gây nên bị Dương, Trình, Lục ba người tuyệt diệt, hậu nhân không bao giờ gặp phải nữa.

Sáng ngày thứ bảy, Lục Vô Song lấy ra một nhúm Đoạn Trường thảo, nói:

– Đại ca, hôm nay đại ca lại phải nhai thứ cỏ độc này đấy.

Dương Quá đã có kinh nghiệm bảy ngày trước đó, biết Đoạn Trường thảo tuy độc, cơ thể mình chịu được, thế là tự điểm bốn huyệt đạo, cho mấy nhánh cỏ vào miệng nhai, nuốt xuống. Lần này chất độc trong cơ thể đã bớt, sự đau đớn không còn lợi hại như lần trước, nửa canh giờ sau thổ ra một ngụm máu tươi, lập tức hết đau.

Dương Quá đứng thẳng dậy, vươn vai, cử động tứ chi một hồi, thấy Trình Anh và Lục Vô Song sắc diện hoan hỉ, thì nghĩ thầm: "Hai vị nghĩa muội đối với ta tốt thế này, bình sinh có được một hồng nhan tri kỷ như thế đã không phải ân hận, huống hồ có cả hai? Chỉ tiếc là ta không thể báo đáp". Một lát, chàng lại nghĩ: "Nhị muội gặp minh sư, sở học đại tiến, chỉ cần có thời gian tu luyện, tuần tự tiệm tiến, có thể trở thành cao thủ hạng nhất. Tam muội thua kém rất xa", bèn nói:

– Tam muội, sư phụ của muội và sư phụ của huynh là sư tỷ muội, hóa ra hai chúng ta còn là sư huynh muội đấy. Võ công tinh diệu nhất của phái Cổ Mộ chúng ta được ghi trong "Ngọc nữ tâm kinh". Tâm nguyện cả đời của Lý Mạc Sầu là được đọc bộ kinh ấy nhưng đến chết cũng không thỏa nguyện. Bây giờ không có việc gì, để huynh truyền thụ cho muội vài môn võ công được chứ?

Lục Vô Song cả mừng, nói:

– Đa tạ Dương đại ca, lần sau gặp Quách Phù, muội không còn sợ nàng ta vô lễ nữa.

Dương Quá mỉm cười, đem khẩu quyết trong "Ngọc nữ tâm kinh" đọc cho nàng nghe, từ nông đến sâu, dặn:

– Muội hãy học thuộc lòng khẩu quyết, khi luyện công có thể nhờ nhị muội trợ giúp. Nơi này không có người lạ, chính là nơi tuyệt diệu để luyện công.

Mấy ngày liền Lục Vô Song chuyên tâm ghi nhớ "Ngọc nữ tâm kinh", sở học của nàng vốn là công phu phái Cổ Mộ, tương thông cùng mạch, dễ dàng lĩnh hội. Dần dần học đến chỗ thâm thúy, Dương Quá dạy nàng cứ cố ghi nhớ, lâu ngày sẽ hiểu. Cứ như thế dạy gần một tháng, Lục Vô Song đã ghi nhớ thuộc lòng toàn bộ tâm kinh từ đầu chí cuối, không bỏ sót chữ nào. Dương Quá cũng cứ cách bảy ngày lại nhai Đoạn Trường thảo để giải độc, với liều lượng ít dần.

Một buổi sáng nọ, Trình Anh và Lục Vô Song nấu bữa ăn xong, chờ hồi lâu không thấy Dương Quá đến, hai người tới cái hang chàng ở, thì thấy trên đất có hàng chữ lớn vạch bằng vật nhọn:

Tạm thời li biệt, hậu hội hữu kỳ. Huynh muội chi tình, sáng như nhật nguyệt.

Lục Vô Song sững sờ, nói:

– Dương đại ca.. thế là chàng đi rồi.

Đoạn nàng chạy lên đỉnh núi, nhìn xuống bốn phía, Trình Anh cũng chạy lên theo. Hai người phóng tầm mắt ra xa, chỉ thấy sương mù lãng đãng, nào thấy đâu bóng hình Dương Quá? Lục Vô Song đau lòng, nghẹn ngào nói:

– Chàng bảo chàng.. chàng đi đâu kia chứ? Mai sau.. mai sau còn có dịp tái ngộ hay chăng?

Trình Anh nói:

– Tam muội, muội hãy nhìn mấy đám mây trắng kia, chúng ta tụ lại rồi tản mác, nhân sinh li hợp, cũng chẳng khác chi, sao muội còn phiền não?

Nàng tuy miệng nói vậy, song nước mắt không cầm được, vẫn lăn dài.

Sau khi ở lại Đoạn Trường nhai hơn một tháng, truyền thụ xong "Ngọc nữ tâm kinh" cho Lục Vô Song, thủy chung không biết thêm chút tin tức gì về Tiểu Long Nữ, Dương Quá biết có đợi thêm cùng vô ích, bèn hái một bó Đoạn Trường thảo cất vào bọc, viết dòng chữ trên mặt đất, rồi lẳng lặng bỏ đi. Chàng hi vọng Tiểu Long Nữ lại trở về núi Chung Nam chăng, bèn trở lại tòa cổ mộ, chỉ thấy mũ áo cưới để trên giường, quần áo vứt dưới nền, càng thêm đau lòng mà thôi.

Chàng xuống núi, lang bạt giang hồ đó đây, thấm thoắt đã mấy tháng, một hôm đến gần thành Tương Dương, thấy những nơi quân Mông Cổ san thành bình địa, đốt sạch, nay đã mọc lên những nếp nhà tranh, khói bếp đó đây, hiển nhiên quân Mông Cổ mấy tháng nay không tiến đánh xuống phía nam. Dương Quá tuy nhớ Quách Tĩnh, nhưng không muốn gặp mặt Quách Phù, nghĩ: "Mình xa Điêu huynh đã lâu, tại sao không đến thăm một chuyến?" Thế là tìm đường đến hoang cốc.

Gần đến nơi ẩn cư năm xưa của Kiếm Ma Độc Cô Cầu Bại, chàng cất tiếng hú thật dài, vừa đi vừa hú. Một lát sau, nghe trên lưng chừng núi phía trước vọng xuống tiếng "oắc oắc". Chàng ngẩng lên, thấy Thần điêu đứng dưới một gốc một cây lớn, bộ vuốt đang đè gí đầu một con báo. Thần điêu nhìn thấy Dương Quá, liền thả con báo ra, sải bước dài về phía chàng; con báo thoát chết, cụp đuôi lẩn ngay vào bụi cỏ. Dương Quá ôm lấy Thần điêu, người và thú đều mười phần hoan hỉ, cùng đi vào thạch thất. Chàng xa đây mới có vài tháng, nhưng đã trải qua mấy phen vào sinh ra tử, bi hoan tụ tán, chỉ tiếc Thần điêu không biết nói, nếu không chàng đã có thể thổ lộ với Thần điêu nhiều điều.

Sau mấy ngày bầu bạn với Thần điêu, hôm nay chàng trở lại chỗ của Kiếm Ma Độc Cô Cầu Bại chôn kiếm. Chàng đọc lại dòng chữ khắc trên đá, bên dưới thanh kiếm gỗ đã mục:

Sau bốn mươi tuổi, bất kể vật gì, cây cỏ gỗ đá, đều có thể dùng làm kiếm. Từ đây tinh tu, dần dần tiến đến cảnh giới không kiếm thắng có kiếm.

Chàng nghĩ: "Mình sử dụng thanh Huyền thiết trọng kiếm nặng nề, đã mấy lần vô địch thiên hạ. Nhưng đọc di ngôn của Độc Cô tiền bối, thì rõ ràng kiếm gỗ có thể thắng Huyền thiết trọng kiếm, cuối cùng không dùng kiếm lại thắng kiếm gỗ. Long nhi đã hẹn mười sáu năm sau gặp lại, vậy thì trong vòng mười năm mình cứ thong thả tinh nghiên phép kiếm gỗ thắng Huyền thiết trọng kiếm, không dùng kiếm lại thắng kiếm gỗ".

Thế là chàng liền bẻ cành cây làm một thanh kiếm gỗ, nghĩ: "Huyền thiết trọng kiếm nặng bảy chục cân, thanh kiếm gỗ nhẹ bẫng này muốn thắng Huyền thiết trọng kiếm chỉ có hai cách: Một là kiếm pháp tinh diệu, lấy nhanh đánh chậm; hai là nội công sung mãn, lấy mạnh đánh yếu".

Từ đó chàng ngày đêm chuyên tu nội công, tinh nghiên kiếm thuật, sau mỗi trận mưa lớn, chàng lại ra dòng suối chống chọi với nước lũ để tăng lực xuất chiêu; thấm thoắt hết hè sang thu, qua thu sang đông, Dương Quá tuy rất chuyên cần tu luyện, song nội lực và kiếm thuật đều tiến triển chậm. Chàng biết mình tu vi vốn đã tới cảnh giới rất cao, muốn tiến bộ thêm quả thật cực khó, cho nên chàng cũng không vì thế mà nôn nóng.

Một hôm trời có tuyết lớn, Thần điêu kêu to vui mừng, nhảy ra ngoài bãi rộng, dang hai cánh vẫy mạnh, hất từng đám tuyết lớn tung tóe. Dương Quá chợt nghĩ: "Mùa đông không có nước lũ, luyện kiếm trong tuyết cũng là một cách tuyệt diệu". Chàng thấy Thần điêu vỗ cánh càng lúc càng mạnh, các bông tuyết rơi xuống tuy rất dày, song không có bông nào rơi xuống thân mình Thần điêu.

Dương Quá nổi hứng, vung thanh kiếm gỗ hất tuyết lên, đồng thời hất ống tay áo rỗng bên phải không cho các bông tuyết rơi xuống người mình. Đùa như thế nửa ngày, lực đạo của thanh kiếm gỗ và ống tay áo rỗng đều tăng tiến rõ rệt.

Tuyết rơi ba hôm liền, Dương Quá ngày nào cũng luyện kiếm ngoài tuyết. Buổi chiều ngày thứ ba, tuyết rơi càng dày, Dương Quá đang mải vung kiếm hất tuyết thì Thần điêu đột nhiên vẫy cánh quét về phía chàng. Dương Quá không đề phòng, suýt bị quét trúng, vội nhảy tránh, cảm thấy trán mát lạnh, có một bông tuyết dính vào. Chàng nghĩ: "Điêu huynh lại muốn luyện kiếm cho mình tăng tiến về kiếm thuật đây", liền vung thanh kiếm gỗ đâm Thần điêu. "Rắc" một tiếng, thanh kiếm gỗ đụng cánh Thần điêu, lập tức gãy rời. Thần điêu không tấn công nữa, cụp cánh lại, kêu "oắc oắc", thần sắc có vẻ trách móc.

Dương Quá nghĩ: "Muốn dùng thanh kiếm gỗ chống chọi thần lực của Điêu huynh, chỉ có cách né tránh thật nhanh, thừa sơ hở trả đòn". Bèn làm một thanh kiếm gỗ khác, tái đấu ngoài tuyết với Thần diêu. Lần này cầm cự được mười mấy chiêu, thanh kiếm gỗ mới bị gãy.

Cứ thế luyện tập không nghỉ, Dương Quá thấy Thần điêu cũng không lơ là, tựa hồ đôn đốc chàng thật nghiêm, thì trong lòng vừa cảm kích, vừa hổ thẹn, nghĩ: "Ta không luyện được thanh kiếm gỗ, sẽ phụ mỹ ý của Điêu huynh. Dịp may hiếm có này, ta chẳng thể bỏ qua". Thế là ngay cả lúc ngủ chàng cũng nghĩ cách tránh chiêu xuất chiêu và tăng cường nội lực như thế nào. Luyện công đã chăm, nỗi nhớ nhung Tiểu Long Nữ cũng không còn da diết như mấy tháng trước. Hiện thời chất độc hoa Tình trong cơ thể đã được giải hết, nội lực tăng tiến, thể chất cường tráng, đã không còn vẻ tiều tụy hôm nào.

Nhìn quang cảnh trời đất, biết mình biệt li với Tiểu Long Nữ đã một năm, Dương Quá nói:

– Điêu huynh, tại hạ muốn đi Tuyệt Tình cốc một chuyến, hôm nay tạm biệt Điêu huynh.

Rồi chàng mang theo thanh kiếm gỗ, rời khỏi hoang cốc. Thần điêu đi theo chàng đến chỗ đường rẽ, Dương Quá vái Thần điêu một cái, đoạn đi theo đường lớn về hướng bắc. Thần điêu ngậm vạt áo chàng kéo về hướng nam. Dương Quá nói:

– Điêu huynh, tại hạ đi phương bắc có việc, chúng ta chia tay ở đây thôi.

Nhưng Thần điêu cứ kéo chàng về hướng nam. Dương Quá lấy làm lạ: "Điêu huynh dạo trước rất thấu hiểu, sao bây giờ lại cố chấp như thế?" Khổ nỗi ngôn ngữ bất đồng, đành theo Thần điêu đi về hướng nam. Thần điêu thấy chàng chịu rồi thì nhả vạt áo ra, không kéo nữa, nhưng thấy chàng quay người đi lên hướng bắc, nó lại ngậm vạt áo chàng không nhả ra nữa. Dương Quá nghĩ: "Điêu huynh kéo ta về hướng nam, tất có thâm ý, ta đi theo thì hơn". Thế là chàng dứt bỏ ý định đi Tuyệt Tình cốc, mà cùng Thần điêu đi về hướng đông nam.

Đi hơn mười dặm, Dương Quá chợt nghĩ: "Điêu huynh thọ cao, thông linh, hay là Điêu huynh dẫn ta đi gặp Long nhi?" Nghĩ vậy, nhiệt huyết trào dâng, khó kìm lại được, bèn rảo cẳng cùng Thần điêu đi như bay. Chưa đầy một tháng, đã tới bờ Đông Hải.

Dương Quá đứng trên ghềnh đá ven biển, đưa mắt nhìn ra ngoài khơi, thấy sóng bạc đầu từ rất xa chạy lại, trong lòng lo âu xen lẫn hi vọng. Không lâu, tai nghe viễn triều rùng rùng như tiếng sấm ì ầm không ngớt. Chàng thuở nhỏ từng ở trên đảo Đào Hoa, biết thủy triều mỗi ngày đêm diễn ra hai lần, vào giờ Tí giờ Ngọ. Lúc này gần trưa, chắc là lúc triều dâng. Tiếng thủy triều càng lúc càng rõ, ầm ầm như thiên binh vạn mã cùng rầm rập xô tới, chỉ thấy một dải bạch tuyến trào gấp vào bờ, thanh thế còn lợi hại hơn cả sấm sét. Dương Quá thấy trời đất thị uy thì bất giác biến sắc.

Phút chốc thủy triều đã tràn đến trước mặt, tựa hồ muốn đâm bổ lên ghềnh đá. Dương Quá vội nhảy lùi về phía sau, đột nhiên cảm thấy có một kình lực cực mạnh đẩy vào lưng chàng, chính là Thần điêu vẫy cánh tấn công. Chàng đang ở trong không trung, không chống đỡ được, ùm một cái, rơi tõm xuống giữa làn sóng bạc đầu, nước mặn xộc ngay vào miệng.

Tình thế lúc này rất nguy, may chàng từng luyện kiếm bao nhiêu lâu giữa dòng nước lũ trên núi, lập tức sử chiêu "Thiên cân trụy" đứng thật vững trên đáy biển bằng đá. Trên mặt biển sóng cao như núi, nhưng dưới đáy biển thì tĩnh lặng hơn. Chàng đã hiểu ra: "Thần điêu dẫn mình ra biển là để mình luyện kiếm trong sóng dữ". Bèn nhún mạnh hai chân, vọt lên mặt nước, một đợt sóng cao như núi ập xuống đầu chàng. Chàng tung mình lên đầu sóng, hít một hơi dài rồi lại chìm xuống đáy biển.

Cứ thế tung mình vọt lên mặt nước để thở, đến khi thủy triều rút thì chàng đã mệt phờ, mặt nhợt nhạt. Giờ Tí, thủy triều lại dâng, chàng cầm thanh kiếm gỗ nhảy xuống múa kiếm trong sóng, cảm thấy lực thủy triều từ tứ phía ập đến, không giống như nước lũ chỉ đẩy từ trên xuống dưới; mỗi khi chống đỡ không nổi, chàng lại chìm xuống đáy biển tạm tránh.

Cứ thế mỗi ngày tập hai lần, chưa đến một tháng, tự cảm thấy công lực đại tiến, nếu đứng trên bờ múa kiếm, nghe từa tựa như tiếng triều dâng. Bây giờ Thần điêu đấu với chàng, đã không dám dùng cánh đụng vào thanh kiếm gỗ nữa.

Một hôm Dương Quá nổi hứng, lúc vung kiếm đâm, sử đến mười thành công lực. Thần điêu kêu "oắc" một tiếng, vội né tránh. Dương Quá thu kiếm không kịp, thanh kiếm gỗ chém trúng vào một thân cây nhỡ nhỡ, kiếm gãy, thân cây cũng gãy đổ. Dương Quá tay cầm cán của thanh kiếm gỗ vừa gãy, nghĩ: "Thanh kiếm gỗ mỏng manh vô lực này mà chém gãy cây là do kình lực của tay ta, khi nào cây gãy mà kiếm không gãy, tức là sẽ bằng thần kỹ của Độc Cô tiền bối năm xưa".

Xuân qua thu tới, năm tháng trôi mau, Dương Quá ngày ngày luyện kiếm với thủy triều, ngày cũng như đêm, trời nóng cũng như trời rét. Tiếng thanh kiếm gỗ phát ra khi đâm càng ngày càng to, ầm ầm ù ù, vang như thế mấy tháng, rồi nghe nhỏ dần, cuối cùng không nghe thấy gì nữaa. Lại luyện thêm vài tháng, tiếng lại nghe to dần, từ nhỏ tới to, lại từ to tới nhỏ, lặp đi lặp lại bảy lần, luyện đến bước ấy, bấm đốt ngón tay, tính ra chàng đã ở bên bờ biển sáu năm. Hiện thời Dương Quá tay cầm thanh kiếm gỗ, đứng bên bờ biển đón sóng mà đâm, kình phong do kiếm tạo nên đã ngang với sóng lớn từ trên cao đổ xuống. Thần điêu tuy có lực đạo kinh hồn, cũng đã không chịu nổi vài ba chiêu thức của thanh kiếm gỗ; bây giờ chàng mới hiểu tâm trạng cuối đời của Độc Cô Cầu Bại: "Từ đây kiếm thuật làm gì có ai trong thiên hạ địch nổi. Hèn chi Độc Cô tiền bối buồn bã chôn kiếm nơi hoang cốc". Lại nghĩ: "Nếu không có Điêu huynh năm xưa chứng kiến phép luyện kiếm của Độc Cô tiền bối, thì làm sao ta có được thần kỹ thế này? Ta gọi Thần điêu là Điêu huynh, kỳ thực Thần điêu là lương sư của ta. Nói về tuổi tác, càng không biết Thần điêu bao nhiêu tuổi, không chừng Thần điêu đáng để ta gọi là Điêu công công, Điêu gia gia cũng nên".

Trong những năm luyện kiếm trên bờ biển, Dương Quá luôn luôn nghe ngóng tin tức qua những người đi biển trở về, xem có ai biết gì về Nam Hải thần ni hay chăng. Nhưng mấy năm, hỏi qua cả ngàn thuyền sư hải khách, không một ai có tin gì, chàng cũng bỏ dần ý định hỏi han, nghĩ thôi cứ chờ mười sáu năm sẽ tái hợp với Tiểu Long Nữ. Một hôm trời mưa gió như trút, Dương Quá cảm thấy bồn chồn, bèn giắt thanh kiếm gỗ sau lưng, khoác áo tơi che mưa, cùng Thần điêu lẳng lặng đi về hướng tây, từ ấy dấu chân chàng đặt khắp chốn Giang Nam Trung Nguyên.

* * *

Ghi chú:

Lời và điệu của "Hỏi thế gian tình ái là chi, mà đôi lứa thề nguyền sống chết" là dựa theo bài hát "Mại Bì đường", tác giả là Nguyên Hiếu Vấn, người nước Kim, sáng tác vào năm Kim Thái Hòa thứ năm, bấy giờ phụ thân của Dương Quá là Dương Khang mới năm tuổi.

Comments

Comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 33: Phong Lăng Dạ Đàm

Thời Tống Lý Tông, năm Khai Khánh nguyên niên, là năm thứ chín sau khi đại hãn Mông Cổ Mông Ca lên ngôi, bấy giờ vào đầu xuân tháng Hai, bến Phong Lăng ở bờ bắc Hoàng Hà đầy tiếng ngựa hí lừa kêu, tiếng người tiếng xe huyên náo. Mấy ngày liền trời chợt lạnh chợt ấm, Hoàng Hà thoạt tiên tan băng, đến hôm nay gió bấc thổi mạnh, tuyết rơi dày, mặt sông lại đóng băng. Thuyền không thể qua lại, mà băng thì chưa đủ dày cho xe ngựa lại qua, rất nhiều khách đi xuống miền nam đều bị ách lại ở bến Phong Lăng, không thể đi tiếp. Bến Phong Lăng tuy có mấy tòa khách điếm, nhưng dòng người từ phía bắc đổ xuống lũ lượt không ngớt, chưa đến nửa ngày, các nơi đã hết chỗ, những khách thương đến sau không còn phòng để thuê làm chỗ nghỉ đêm.

Tòa khách điếm lớn nhất ở đây có tên "An độ lão điếm", nổi tiếng là tòa khách điếm an toàn. Nơi đây phòng ốc rộng rãi, ít khách thương nào không tìm đến trú ở đây, cho nên càng chật ních. Chưởng cự phải khua môi múa mép mới dồn được ba, bốn khách vào một phòng, còn hai chục người không biết bố trí vào đâu, đành phải ngồi ở gian đại đường. Điếm tiểu nhị bày bàn ăn, đốt một đống lửa lớn ở giữa gian. Ngoài cửa gió lạnh thổi ù ù, tuyết bay lả tả lùa vào qua khe cửa, thổi lửa lúc sáng bừng, lúc tối lại. Mọi người đoán chừng sáng mai chưa thể lên đường, chau mày buồn bã.

Gần tối, tuyết rơi càng dày, bỗng nghe có tiếng vó ngựa, ba người cưỡi ngựa dừng lại ngoài điếm môn khẩu. Một vị khách già ngồi bên đống lửa cau mày, nói:

– Lại có người đến thêm.

Quả nhiên nghe giọng một nữ nhân:

– Chưởng cự, hãy chuẩn bị cho ta hai phòng rộng rãi, sạch sẽ.

Chưởng cự cười hề hề:

– Xin phu nhân lượng thứ, tiểu điếm đầy chật rồi, không còn một chỗ nào nữa.

Giọng nữ nhân:

– Được, thôi thì chuẩn bị cho ta một phòng vậy.

Chưởng cự nói:

– Được quí khách quang lâm quả là vinh hạnh cho tiểu điếm, nhưng hôm nay quả thật không còn lấy một phòng.

Nữ nhân vút vút cây roi ngựa, xẵng giọng:

– Nói vớ nói vẩn! Ngươi mở khách điếm mà không có đủ phòng trọ thì mở khách điếm làm gì? Ngươi bảo người ta nhường phòng lại không được hay sao? Ta trả nhiều tiền cho ngươi được chưa?

Đoạn xông thẳng vào đại đường.

Mọi người thấy nữ nhân trạc ba mươi tuổi, mặt hạnh má đào, dung nhan mỹ lệ, mặc chiếc áo da cừu lót lụa màu lam, cổ quàng tấm lông chồn, phục sức rất sang trọng. Theo sau thiếu phụ có một nam một nữ, đều khoảng mười lăm, mười sáu tuổi, nam thì mày rậm mắt to, thần tình thô hào, nữ thì thanh nhã tú mỹ. Thiếu niên và thiếu nữ cùng mặc áo da, thiếu nữ cổ đeo một chuỗi minh châu, mỗi hạt ngọc to bằng đầu ngón tay út, phát quang long lanh. Đám khách thương choáng ngợp bởi khí thế của ba người mới tới, ngẩn ngơ nhìn họ.

Điếm bạn cúi mình cười hề hề, nói:

– Phu nhân coi đó, các vị quan khách đây cũng đều không tìm được phòng trống. Ba vị nếu không hiềm phiền toái, tiểu nhân sẽ bảo các vị đây nhường cho một bàn, thôi thì tạm ngồi sưởi qua đêm nay, ngày mai băng đóng cứng, không chừng có thể qua sông.

Thiếu phụ xinh đẹp thấy tình cảnh này là thực, cau mày không nói. Một thiếu phụ trung niên ngồi bên đống lửa nói:

– Phu nhân hãy ngồi xuống đây mà sưởi cho đỡ lạnh đã, rồi tính sau.

Thiếu phụ xinh đẹp nói:

– Được, xin đa tạ.

Một vị khách nam ngồi cạnh thiếu phụ trung niên vội xê dịch sang một bên, dành ra một khoảng rộng.

Ba người ngồi một lát, điếm tiểu nhị bưng thức ăn tới. Thức ăn nhiều món, thịt thà đủ cả, còn thêm một bình rượu trắng. Thiếu phụ xinh đẹp tửu lượng rất cao, uống hết bát này đến bát khác. Thiếu niên và thiếu nữ cùng uống với thiếu phụ xinh đẹp.

Nghe ba người xưng hô, họ là tỷ đệ, chàng thiếu niên là út.

Mọi người ngồi vây quanh đống lửa, nghe gió thổi ù ù bên ngoài, nhất thời chưa định ngủ.

Một hán tử nói giọng Sơn Tây lên tiếng:

– Thời tiết thật là trái chứng, làm khổ người ta, lúc thì tan băng, lúc thì đóng băng.

Một người lùn nói giọng Hồ Bắc:

– Các hạ đừng có oán trách trời đất nữa, chúng ta được ngồi sưởi ấm thế này, được ăn uống no đủ, còn đòi gì hơn? Các hạ mà sống trong thành Tương Dương bị vây hãm, sẽ thấy nơi khốn cùng trong thiên hạ cũng vẫn còn là nơi an lạc chán.

Thiếu phụ xinh đẹp nghe bốn chữ "trong thành Tương Dương", thì nhìn đệ muội một cái.

Một vị khách nói giọng Quảng Đông hỏi:

– Lão huynh, xin hỏi trong thành Tương Dương bị vây hãm, tình cảnh thế nào?

Người nói giọng Hồ Bắc đáp:

– Sự tàn bạo của bọn Thát tử Mông Cổ, các vị hẳn đã nghe cả rồi. Cái năm hơn mười vạn đại quân Mông Cổ vây đánh thành Tương Dương, thống chế Lã đại nhân thủ thành là một kẻ bất tài, may có vợ chồng Quách đại hiệp ra sức chống địch..

Thiếu phụ nghe nhắc đến "vợ chồng Quách đại hiệp" thì lắng nghe.

Người nói giọng Hồ Bắc tiếp:

– Mấy chục vạn quân dân thành Tương Dương cũng dốc sức thủ thành, không một ai run sợ thoái hậu. Như tiểu nhân chỉ là một tiểu thương, cũng dùng xe chở đá giúp cho việc phòng thủ. Vết sẹo trên mặt tiểu nhân đây là do bị trúng tiễn của quân Mông Cổ đó.

Mọi người cùng nhìn người đó, thấy bên dưới mặt trái quả nhiên có một vết thương vì trúng tiễn to bằng miệng chén trà, thì bất giác có ý kính nể.

Vị khách Quảng Đông nói:

– Đại Tống ta đất rộng người đông, nếu ai cũng như lão huynh, thì bọn Thát từ Mông Cổ có hung bạo gấp mười, cũng không thể chiếm được giang sơn ta.

Người nói giọng Hồ Bắc:

– Đúng thế, các hạ thấy đó, đại quân Mông Cổ tấn công thành Tương Dương hơn chục năm, vẫn không hạ nổi, thành thử cũng không chiếm được các nơi khác. Nghe đồn mấy chục quốc gia bên ngoài Tây Vực đều bị quân Mông Cổ tiêu diệt, thành Tương Dương của nước ta vẫn vững vàng như núi. Tứ vương tử Mông Cổ Hốt Tất Liệt thân chinh đứng dưới chân thành đốc chiến, cũng không làm gì nổi người Tương Dương chúng tôi.

Vị khách Quảng Đông nói:

– Trăm họ đều sẵn sàng liều chết với bọn Thát tử, nếu bọn Thát tử tiến đánh vùng Quảng Đông chúng tôi, dân Quảng Đông cũng sẽ đánh cho chúng một trận tơi bời.

Người Hồ Bắc nói:

– Không liều chết với bọn Thát tử thì cũng mất mạng. Bọn Thát tử Mông Cổ đánh không nổi thành Tương Dương, bèn bắt người Hán ở ngoài thành, giải tới dưới chân thành mà chém đầu. Chúng còn dùng dây trói những đứa trẻ thơ năm, sáu tuổi rồi cho ngựa kéo chạy vòng vòng dưới chân thành, vài vòng thì đứa trẻ đã chết tươi. Chúng tôi ở trên mặt thành nghe tiếng trẻ thơ khóc thét mà như đứt từng khúc ruột. Bọn Thát tử tưởng dùng thủ đoạn tàn bạo làm cho chúng tôi sợ hãi mà đầu hàng, nhưng chúng càng tàn bạo, ta càng giữ thành thật vững. Năm ấy lương thực trong thành Tương Dương hết nhẵn, nước cũng cạn, rồi vỏ cây, nước dơ cũng bị người ta ăn uống hết sạch, vậy mà bọn Thát tử vẫn không hạ nổi thành, đành phải lui binh.

Vị khách Quảng Đông nói:

– Mười mấy năm nay, không có thành Tương Dương kiên cường bất khuất, e rằng một nửa giang sơn Đại Tống ta đã mất rồi.

Mọi người nhao nhao hỏi han về tình hình thủ thành Tương Dương, người nói giọng Hồ Bắc kể đâu ra đó, ca ngợi vợ chồng Quách Tĩnh, Hoàng Dung như thần như thánh, ai nấy tấm tắc không thôi.

Một người khách nói giọng Tứ Xuyên bỗng lên tiếng:

– Thực ra quan tốt giữ thành nơi nào cũng có, chẳng qua triều đình không phân biệt trung gian, để cho gian thần tận hưởng vinh hoa phú quí, còn trung thần thì hàm oan mà chết. Chuyện anh hùng Nhạc Phi thời trước khỏi nói, như đối với Tứ Xuyên chúng tôi triều đình đã giết oan mấy vị đại trung thần.

Người Hồ Bắc nói:

– Là ai vậy, xin cho biết.

Người khách Tứ Xuyên nói:

– Bọn Thát tử Mông Cổ đánh Tứ Xuyên hơn mười năm, nhờ có Dư Giới Dư đại soái trấn thủ, trăm họ ở Tứ Xuyên đều coi Dư đại soái như vị Phật sống. Ai ngờ hoàng thượng tin lời tên gian thần Đinh Đại Toàn bảo Dư đại soái lạm quyền, dối trên nạt dưới, ban cho rượu độc buộc Dư đại soái tự vẫn, phái về một tên gian đảng bất tài làm nguyên soái. Sau đó bọn Thát tử Mông Cổ đánh tới, vùng bắc Tứ Xuyên lập tức thất thủ. Ngoài mặt trận toàn là thuộc hạ cũ của Dư đại soái, ai cũng liều chết đánh địch. Nhưng viên nguyên soái mới chỉ biết nịnh nọt thượng ti, không biết gì việc điều binh khiển tướng, tất nhiên không chống nổi quân địch. Bọn gian thần Đinh Đại Toàn, Trần Đại Phương che chở cho viên cẩu nguyên soái kia, lại đi đổ oan cho tướng quân Vương Duy Trung, một vị tướng quân anh dũng bất khuất là tư thông với giặc, áp giải cả gia đình Vương tướng quân về kinh, chém đầu Vương tướng quân.

Nói đến đây, giọng người đó nghẹn ngào, mọi người cùng thở dài.

Vị khách Quảng Đông căm phẫn nói:

– Đại sự quốc gia lại do bọn gian thần thao túng. Nghe nói trong triều có ba con chó, tên gian thần Đinh Đại Toàn là một trong ba con đó.

Một thiếu niên mặt trắng trẻo từ đầu chỉ ngồi nghe, lúc này bỗng lên tiếng:

– Đúng vậy, đứng đầu bọn gian thần trong triều là ba tên Đinh Đại Toàn, Trần Đại Phương, Hồ Đại Xương. Người Lâm An chúng tôi thêm một dấu chấm trên chữ "Đại", thành chữ "Khuyển" (chó), ba tên ấy hóa thành Đinh Khuyển Toàn, Trần Khuyển Phương, Hồ Khuyển Xương.

Mọi người nghe vậy cùng cười ồ lên.

Vị khách Tứ Xuyên nói:

– Nghe khẩu âm của lão đệ, hình như là người Lâm An ở kinh đô thì phải?

Thiếu niên kia nói:

– Đúng thế.

Vị khách Tứ Xuyên nói:

– Vậy lão đệ có nghe kể về tình cảnh tướng quân Vương Duy Trung bị hành hình ra sao chứ?

Thiếu niên nói:

– Tiểu đệ đã chính mắt chứng kiến. Vương tướng quân trước lúc chết vẫn bình thản như không, uy phong lẫm liệt, chửi Đinh Đại Toàn, Trần Đại Phương là bọn họa quốc ương dân, ngoài ra còn có một chuyện lạ.

Mọi người cùng hỏi:

– Là chuyện gì vậy?

Thiếu niên nói:

– Vương tướng quân bị một tay Trần Đại Phương sát hại. Khi Vương tướng quân bị dẫn ra pháp trường, dọc đường Vương tướng quân lớn tiếng nói rằng sau khi chết sẽ lên kêu oan với Ngọc hoàng đại đế. Ngày thứ ba sau khi Vương tướng quân chết, Trần Đại Phương quả nhiên bị chết thảm tại nhà. Thủ cấp của hắn bị treo cao ở gác chuông cửa Đông thành Lâm An, trên một cây sào. Chỗ ấy loài khỉ cũng không thể leo lên nổi, đừng nói là người, nếu không phải thiên thần thiên tướng do Ngọc hoàng đại đế phái xuống, còn ai có thể làm được việc đó?

Mọi người đều cho là lạ. Thiếu niên nói:

– Chuyện ấy thành Lâm An ai cũng biết, không phải do tại hạ bịa ra. Vị nào đến Lâm An, cứ hỏi thăm khắc biết.

Người khách Tứ Xuyên nói:

– Vị lão đệ này nói không sai. Có điều người giết Trần Đại Phương không phải thiên thần thiên tướng, mà là một vị anh hùng hào kiệt.

Thiếu niên lắc đầu nói:

– Thiết nghĩ Trần Đại Phương là đại quan trong triều, có thân binh gia tướng canh phòng cẩn mật, thường nhân làm sao giết nổi hắn? Hơn nữa, thủ cấp của hắn bị treo cao ở gác chuông, trừ phi có cánh mới làm nổi việc đó.

Người khách Tứ Xuyên nói:

– Kỳ nhân hiệp sĩ bản lĩnh phi phàm, trên thế gian vẫn có đấy. Nếu tiểu đệ không chính mắt chứng kiến, thì cũng khó tin.

Thiếu niên ngạc nhiên hỏi:

– Các hạ chính mắt nhìn thấy thủ cấp của Trần Đại Phương bị treo cao ở gác chuông ư? Làm sao các hạ chính mắt thấy được?

Người khách Tứ Xuyên do dự một lát, rồi nói:

– Tướng quân Vương Duy Trung có một người con trai, lúc Vương tướng quân bị bắt thì người con trai ấy không có nhà. Bọn gian thần trong triều đình muốn nhổ cỏ tận gốc, mới sai quân mã truy nã. Người con của Vương tướng quân cũng là một quân quan, tuy biết võ nghệ, song quả bất địch chúng, thấy sắp bị truy binh bắt được, thì gặp một vị cứu tinh, tay không đánh tan mấy chục quân mã. Người con của Vương tướng quân liền đem việc hai cha con anh dũng vệ quốc mà bị hãm hại như thế nào kể lại, vị đại hiệp kia ngay đêm ấy tới Lâm An, định cứu Vương tướng quân, nhưng đã chậm mất hai ngày, Vương tướng quân đã bị giết hại. Vị đại hiệp nổi giận, ngay đêm ấy đi chặt đầu Trần Đại Phương, treo lên trên gác chuông. Chỗ ấy đúng là loài vượn cũng không leo lên nổi, vậy mà vị đại hiệp kia chỉ nhún chân một cái đã bay lên được.

Vị khách Quảng Đông hỏi:

– Vị hiệp khách ấy là ai? Hình dạng như thế nào?

Người khách Tứ Xuyên nói:

– Tại hạ không biết tính danh vị đại hiệp kia, chỉ thấy người ấy thiếu mất cánh tay phải, tướng mạo.. tướng mạo rất đặc sắc, cưỡi một con ngựa, dắt theo một con ngựa thứ hai, trên lưng con ngựa thứ hai có một con quái điểu ly kỳ cổ quái..

Chưa nói hết thì một đại hán dõng dạc nói to:

– Đúng thế, đấy chính là vị Thần điêu hiệp lừng danh khắp giang hồ.

Người khách Tứ Xuyên hỏi:

– Là Thần điêu hiệp ư?

Đại hán nói:

– Phải, vị đại hiệp ấy hành hiệp trượng nghĩa, đả phá bất bình, song không chịu nói rõ tính danh; bằng hữu giang hồ thấy chàng lúc nào cũng ở bên cạnh một con quái điểu như hình với bóng, bèn tặng cho chàng ngoại hiệu "Thần điêu đại hiệp". Chàng nói rằng hai chữ "đại hiệp" chàng quyết không dám nhận, người ta đành gọi chàng là "Thần điêu hiệp". Kỳ thực những việc chàng làm hoàn toàn xứng danh với hai chữ "đại hiệp". Chàng mà không xứng, thì còn ai xứng kia chứ.

Thiếu phụ xinh đẹp đột nhiên xen vào nói:

– Ngươi là đại hiệp, ta là đại hiệp, hừ, sao mà lắm đại hiệp thế!

Người khách Tứ Xuyên bình thản nói:

– Phu nhân nói nghe lạ, chuyện giang hồ tiểu nhân tuy không hiểu, nhưng đúng là vị Thần điêu đại hiệp cứu mạng Vương tướng quân, đã đi một mạch từ Giang Tây đến Lâm An, suốt bốn ngày đêm không chợp mắt. Thần điêu hiệp không quen biết Vương tướng quân, nhưng thương Vương tướng quân tận trung báo quốc lại bị gian thần hãm hại, nên bất chấp nguy hiểm, đi kêu oan cho Vương tướng quân, phu nhân bảo như vậy đã xứng là một vị đại hiệp hay chưa?

Thiếu phụ hừ một tiếng, định nói, thì thiếu nữ văn nhã ngồi bên cạnh thiếu phụ nói:

– Tỷ tỷ, vị anh hùng hành xử như thế, rất xứng với hai chữ "đại hiệp".

Giọng nàng trong trẻo, nghe rất êm dịu, ai nghe cũng thích.

Thiếu phụ nói:

– Muội thì hiểu gì?

Đoạn quay sang phía vị khách Tứ Xuyên, hỏi:

– Làm sao các hạ biết rõ mọi chuyện đó? Lại nghe chuyện dọc đường chứ gì? Tin đồn trên giang hồ, chín phần mười là không đáng tin.

Vị khách Tứ Xuyên trầm ngâm giây lát, rồi nghiêm trang nói:

– Tiểu nhân họ Vương, tướng quân Vương Duy Trung chính là tiên phụ; tính mạng của tiểu nhân là do Thần điêu đại hiệp cứu thoát, tiểu nhân thân là khâm phạm, triều đình ra lệnh truy nã, muốn chém đầu tiểu nhân. Nhưng một khi nhắc đến danh tính của ân nhân cứu mạng, tiểu nhân đâu dám tham sống sợ chết, giấu diếm không nói.

Mọi người nghe y nói vậy đều sững sờ. Vị khách Quảng Đông giơ ngón tay cái, nói to:

– Tiểu Vương tướng quân, các hạ là một trang hảo hán, nếu có kẻ nào đi tố giác các hạ với quan phủ, mọi người sẽ băm hắn thành trăm mảnh.

Mọi người cùng khen phải. Thiếu phụ xinh đẹp nghe nói thế, cũng không thể phản bác.

Thiếu nữ văn nhã nhìn ngọn lửa bập bùng lúc sáng lúc tối, đăm đăm xuất thần, khe khẽ thốt lên:

– Thần điêu đại hiệp, Thần điêu đại hiệp..

Rồi ngoảnh sang tiểu Vương tướng quân, nói:

– Vương đại thúc, vị Thần điêu đại hiệp võ công đã cao cường thế, sao lại thiếu mất một cánh tay?

Thiếu phụ xinh đẹp thần sắc đại biến, môi mấp máy định nói gì, lại thôi. Tiểu Vương tướng quân lắc đầu nói:

– Tại hạ ngay đến tính danh của Thần điêu đại hiệp còn không hỏi được, làm sao biết thân thế của chàng.

Thiếu phụ xinh đẹp nói:

– Hừ, các hạ dĩ nhiên không thể biết.

Chàng thiếu niên Lâm An nói:

– Thần điêu đại hiệp giết gian thần, tiểu Vương tướng quân chính mắt mục kích, không phải là thiên thần thiên tướng thực hiện. Nhưng còn việc tên gian thần Đinh Đại Toàn sau một đêm sắc mặt trở nên xanh lè, thì chắc chắn là do trời phạt.

Vị khách Quảng Đông nói:

– Làm sao mà sau một đêm sắc mặt lại trở nên xanh lè?

Chàng thiếu niên Lâm An nói:

– Trước đây dân Lâm An gọi Đinh Đại Toàn là Đinh Khuyển Toàn, nhưng hiện thời đã gọi hắn là Đinh Thanh Bì. Hắn vốn mặt mũi trắng trẻo, bỗng nhiên sau một đêm sắc mặt trở nên xanh lè, rồi cứ bị như thế, chẳng thầy thuốc nào chữa khỏi. Nghe nói hoàng thượng cũng từng hỏi tại sao, tên gian thần tâu là hắn một lòng một dạ lo việc nước, mấy đêm mất ngủ, cho nên sắc mặt trở nên như vậy. Nhưng khắp thành Lâm An ai ai cũng bảo tên gian thần họa quốc ương dân ấy bị Ngọc hoàng đại đế sai thiên tướng xuống làm cho mặt hắn hóa xanh như thế.

Vị khách Quảng Đông lắc đầu, nói:

– Chuyện càng nghe càng kỳ lạ.

Hán tử thẳng thắn kia cười ha hả, vỗ đùi nói:

– Việc ấy cũng là do Thần điêu hiệp làm đó, ha ha, thống khoái thống khoái!

Mọi người vội hỏi:

– Sao lại cũng là Thần điêu hiệp?

Đại hán chỉ cười ha ha, nói:

– Thống khoái thống khoái!

Vị khách Quảng Đông muốn biết chi tiết, liền gọi điếm tiểu nhị mang ra hai cân rượu, mời đại hán uống.

Đại hán uống cạn một bát rượu to, cao hứng nói lớn:

– Chuyện này không phải huynh đệ khoe khoang, mà huynh đệ cũng có đôi chút công lao. Một đêm nọ Thần điêu hiệp đột nhiên tới Lâm An, bảo huynh đệ dẫn mấy chục anh em xông vào nha môn huyện Tiền Đường Lâm An trói bọn sai dịch lại, lột quần áo của bọn chúng, mặc vào giả làm quan dịch. Ai nấy vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, chưa biết Thần điêu hiệp phân phó như thế để làm gì, nhưng chắc sẽ có trò vui, tất nhiên tuân lệnh làm ngay. Đến hết canh ba, Thần điêu hiệp tới nha môn huyện Tiền Đường, mình mặc sắc phục quan huyện, ngồi trên công đường, đập tay xuống bàn quát: "Giải tên phạm quan Đinh Đại Toàn ra đây!"

Nói đến đây, đại hán văng cả bọt mép, lại tợp một ngụm rượu to.

Vị khách Quảng Đông nói:

– Lão huynh bấy giờ làm nghề gì ở Lâm An vậy?

Đại hán trừng mắt nhìn người kia một cái, nói to:

– Làm nghề gì à? Uống bát rượu to, ăn miếng thịt lớn, lấy cân chia vàng bạc, làm ăn kiểu ấy, hiểu chưa?

Vị khách Quảng Đông chột dạ, không dám hỏi thêm. Đại hán nói tiếp:

– Khi huynh đệ nghe ba chữ "Đinh Đại Toàn" thì giật mình, nghĩ: "Đinh Đại Toàn ư, tên cẩu quan ấy đang làm Tể tướng đương triều, Thần điêu hiệp làm sao có thể bắt hắn mang tới đây?" Chỉ thấy Thần điêu hiệp lại vỗ bàn một cái nữa, hai hán tử quả nhiên áp giải một người trang phục đại quan vào công đường. Năm ngoái Đinh Đại Toàn có đến Hựu Thánh quán thắp hương, huynh đệ ở ngoài cổng đạo quán có nhìn thấy mặt hắn, lúc này nhìn kỹ, đúng là Đinh Đại Toàn chứ còn ai vào đấy? Hắn run rẩy toàn thân, nửa như sắp quì nhưng chưa chịu quì. Một huynh đệ bèn đạp vào khoeo chân hắn, hắn phải vội quì xuống. Ha ha, thống khoái, thống khoái! Thần điêu hiệp hỏi, Đinh Đại Toàn, ngươi biết tội hay chưa? Đinh Đại Toàn nói, chưa biết. Thần điêu hiệp quát, ngươi mưu lợi riêng, giết oan người trung lương, tàn hại trăm họ, tư thông với kẻ địch làm hại đất nước, bao nhiêu hành động gian ác, hãy mau cung khai. Đinh Đại Toàn nói, nhà ngươi rốt cuộc là ai, dám bắt giữ đại thần, có biết vương pháp là gì hay không? Thần điêu hiệp nói, ngươi còn nghĩ đến vương pháp hả? Tả hữu đâu, đánh cho hắn bốn chục gậy ta coi! Các huynh đệ vốn căm hận tên gian thần, lúc này được đánh hắn thì giáng thật mạnh, khiến Đinh Đại Toàn ngất đi mấy lần, rối rít xin tha. Thần điêu hiệp hỏi câu nào, hắn ngoan ngoãn trả lời câu ấy, không dám cứng đầu nữa. Thần điêu hiệp sai đưa giấy bút, bảo hắn tự khai. Hắn hơi do dự, Thần điêu hiệp quát đánh vào mông, vả vào miệng hắn.

Thiếu nữ văn nhã mỉm cười, nói nhỏ:

– Thú vị, thú vị!

Đại hán lại tợp một ngụm rượu, nói:

– Đúng, hết sức thú vị. Cái tên Đinh Đại Toàn ấy không chịu nổi đòn, đành tự tay viết lời khai, nhưng hắn viết rất chậm, Thần điêu hiệp luôn miệng thúc giục, hắn cố chần chừ, không chịu viết nhanh. Trời sắp sáng, ngoài cổng nha môn có tiếng huyên náo, rất nhiều quân mã kéo đến, chắc đã bị lộ. Thần điêu hiệp nổi giận, quát: "Chém đầu hắn cho ta!" rồi nháy mắt với huynh đệ. Huynh đệ biết Thần điêu hiệp không muốn giết người, bèn vung đao lên chém xuống, nhưng lúc đụng vào gáy Đinh Đại Toàn thì huynh đệ đã xoay đằng sống đao và chỉ dứ nhẹ. Song nhát đao ấy cũng đủ làm cho Đinh Đại Toàn sợ vỡ mật, chỉ thấy mặt hắn đột nhiên trở nên xanh lè, hắn ngất đi. Thần điêu hiệp cười to, nói: Như thế đủ để hắn kinh sợ rồi, chúng ta không cần giết hắn, cứ để triều đình lấy hắn làm gương. Thần điêu hiệp bảo chúng tôi thay y phục nha dịch, lẻn ra cổng sau, ai về nhà nấy. Thần điêu hiệp tự đi đoạn hậu, cũng không phải đánh nhau gì cả, ai nấy bình an rút đi. Nghe nói Thần điêu hiệp hôm sau đích thân vào hoàng cung, đem tờ khai của Đinh Đại Toàn giao cho lão hoàng đế. Nhưng không hiểu Đinh Đại Toàn khéo ăn khéo nói thế nào mà lão hoàng đế tin lời hắn, vẫn cứ cho hắn làm Tể tướng.

Tiểu Vương tướng quân thở dài, nói:

– Chúa thượng nếu không hôn mê vô đạo, gian thần đã không thể làm ác. Giết được Tần Cối, lại đẻ ra Hàn Thác Vị, khử Hàn Thác Vị, lại nảy nòi ra Sử Di Viễn; trừ bỏ Sử Di Viễn, lại đến Đinh Đại Toàn. Ôi, gian thần cứ hết tên này đến tên khác, giang sơn Đại Tống ta khó lòng giữ được.

Đại hán nói:

– Trừ phi mời Thần điêu hiệp làm Tể tướng, may ra mới đánh lui được bọn Thát tử, thiên hạ thái bình.

Thiếu phụ xinh đẹp nói:

– Hừ, y làm Tể tướng sao nổi?

Đại hán tức giận nói:

– Thần điêu hiệp làm không nổi, phu nhân làm nổi chắc?

Thiếu phụ xinh đẹp cũng nổi giận, quát:

– Ngươi là ai mà cả gan vô lễ với ta?

Thấy đại hán tay cầm chiếc que cời than, bèn tiện tay nhặt một khúc củi đánh xuống chiếc que cời một cái. Đại hán chấn động cánh tay, thấy nửa người tê dại, chiếc que cời tuột tay rơi xuống đất, lửa bắn tung tóe, làm cháy sém cả mấy chục sợi râu của y. Mọi người kêu lên thất thanh. Đại hán tuy nóng tính, nhưng vừa lĩnh giáo võ công của thiếu phụ, không dám phát tác, chỉ quặp râu vào, đến rượu cũng không thiết uống nữa.

Thiếu nữ văn nhã kia nói:

– Tỷ tỷ, người ta kể chuyện Thần điêu hiệp hay như thế, tại sao tỷ tỷ lại không thích nghe kia chứ?

Rồi nàng ngoảnh sang mỉm cười với gã đại hán, nói:

– Đại thúc, xin đừng trách.

Đại hán vốn đang căm tức, nhưng thấy thiếu nữ cười dịu dàng thì hết giận, ngoác miệng cười, định nói một câu khách sáo, nhưng chưa biết chọn từ nào cho hay.

Thiếu nữ nói:

– Đại thúc, đại thúc làm sao quen được Thần điêu hiệp vậy?

Đại hán ngoảnh nhìn thiếu phụ, lưỡng lự chưa nói. Thiếu nữ giục:

– Đại thúc cứ nói đi, chỉ cần không đắc tội với tỷ tỷ của tiểu nữ là được. Thần điêu hiệp chừng bao nhiêu tuổi? Thần điêu của Thần điêu hiệp trông có đẹp hay không?

Không đợi đại hán trả lời, nàng quay sang nói với thiếu phụ:

– Tỷ tỷ, không biết Thần điêu của Thần điêu hiệp so với đôi chim điêu nhà ta thì như thế nào?

Thiếu phụ nói:

– Làm sao có thể so với đôi chim điêu nhà ta, không có con ưng con điêu nào trong thiên hạ sánh bằng đôi chim điêu nhà ta.

Thiếu nữ nói:

– Cái đó chưa hẳn. Gia gia thường nói, người học võ cần biết ngoài trời có trời, trên người có người, quyết không được tự mãn. Người đã như vậy, cầm điểu giỏi hơn đôi chim điêu nhà ta chắc cũng có đấy.

Thiếu phụ nói:

– Muội còn nhỏ tuổi, chưa hiểu được gì. Khi chúng ta lên đường, cha mẹ đã bảo muội phải nghe lời ta, muội quên rồi sao?

Thiếu nữ cười, nói:

– Cái đó còn xem lời tỷ tỷ nói có đúng hay không đã. Đệ đệ, đệ thấy ta nói đúng, hay là tỷ tỷ nói đúng?

Chàng thiếu niên ngồi bên nàng cao lớn vạm vỡ nhưng mặt đầy vẻ trẻ con, do dự một lát, rồi nói:

– Đệ không biết. Gia gia dặn hai chúng ta phải vâng lời đại tỷ, dặn tỷ đừng đấu khẩu với đại tỷ.

Thiếu phụ hết sức đắc ý, nói:

– Thấy chưa?

Thiếu nữ thấy đệ đệ bênh đại tỷ, cũng không giận, chỉ cười, nói:

– Đệ đệ chẳng hiểu gì cả.

Rồi nàng quay sang nói với đại hán:

– Đại thúc hãy tiếp tục kể chuyện Thần điêu hiệp đi.

Đại hán nói:

– Được, cô nương đã muốn nghe, thì ta kể cho, họ Tống ta bản lĩnh tuy thấp kém, song cũng là một trang hán tử, bình sinh nói một là một, không bịa một câu. Cô nương không tin thì không nên nghe.

Thiếu nữ cầm bầu rượu rót cho đại hán một bát, cười nói:

– Sao tiểu nữ lại không tin? Đại thúc kể mau đi!

Lại gọi:

– Điếm tiểu nhị, hãy mang ra đây mười cân rượu, hai mươi cân thịt bò. Tỷ tỷ của tiểu nữ kính mời các vị bá bá, thúc thúc uống rượu cho ấm người.

Điếm tiểu nhị dạ ran. Mọi người tươi cười, cùng lên tiếng đa tạ. Lát sau, ba gã điếm tiếu nhị đã bưng rượu thịt ra.

Thiếu phụ xinh đẹp nặng mặt nói:

– Ta có mời khách, cũng không mời kẻ hồ thuyết bát đạo. Này điếm tiểu nhị, số rượu thịt này không được tính tiền với ta đâu đấy.

Điếm tiểu nhị sững lại, nhìn thiếu nữ, bối rối không biết làm sao. Thiếu nữ liền gỡ một chiếc kim thoa trên đầu, đưa cho điếm tiểu nhị, nói:

– Đây là cái thoa bằng vàng thật, đáng giá mười mấy lạng bạc. Phiền ngươi mang đi đổi cho ta. Rồi mang thêm mười cân rượu, hai chục cân thịt dê nữa.

Thiếu phụ tức giận, nói:

– Muội muội, muội định trêu tức ta phải không? Chỉ riêng hạt minh châu gắn trên chiếc kim thoa đã có giá hơn trăm lạng bạc, muội cứ đòi Chu bá bá phải cho bằng được, thế mà bây giờ muội lại tùy tiện đem đi đãi người ta uống rượu. Để xem khi trở về thành Tương Dương, mẫu thân hỏi đến, muội sẽ trả lời thế nào dây?

Thiếu nữ thè lưỡi, cười đáp:

– Muội sẽ bảo muội đánh rơi dọc đường, tìm mãi chằng thấy.

Thiếu phụ nói:

– Ta sẽ không để cho muội nói dối trót lọt đâu.

Thiếu nữ cầm đũa gắp một miếng thịt bò cho vào miệng, nói:

– Đằng nào cũng ăn rồi, đâu có thể trả lại? Nào các vị xin chớ làm khách.

Mọi người thấy tỷ muội hai người đấu khẩu với nhau, đều cảm thấy thú vị, ai cũng thầm mến thiếu nữ ngây thơ hào phóng, người không biết uống rượu cũng tợp vài ngụm, ngầm ủng hộ nàng. Thiếu phụ xinh đẹp tức quá, nhắm mắt, giơ tay bịt tai lại.

Thiếu nữ cười, nói:

– Tống đại thúc, tỷ tỷ của điệt nhi ngủ rồi, đại thúc kể đi đừng ngại, tỷ tỷ không thức dậy đâu.

Thiếu phụ mở mắt ra, tức giận nói:

– Ta ngủ hồi nào?

Thiếu nữ nói:

– Thế thì càng hay, có nói to cũng không ngại làm cho tỷ tỷ bị thức giấc.

Thiếu phụ gằn giọng nói:

– Tương nhi, ta nói cho muội biết, muội còn sinh sự với ta, ngày mai ta sẽ không cho muội đi cùng nữa đâu.

Thiếu nữ nói:

– Muội chả sợ, muội đi với tam đệ cũng được rồi.

Thiếu phụ nói:

– Tam đệ sẽ đi với ta.

Thiếu nữ hỏi:

– Tam đệ, đệ sẽ đi cùng với ai nào?

Chàng thiếu niên khó xử, theo đại tỷ thì nhị tỷ buồn; mà theo nhị tỷ thì đại tỷ sẽ giận, lẩm bẩm:

– Mẫu thân bảo ba chị em cùng đi với nhau, không được thất tán.

Thiếu phụ quắc mắt nhìn muội tử, giận dỗi nói:

– Sớm biết muội khó bảo thế này, thì hồi bé muội bị kẻ xấu bắt mang đi, ta chẳng lo cứu muội về cho xong.

Thiếu nữ nghe vậy thì mềm lòng, cầm cánh tay thiếu phụ, nũng nịu:

– Hảo tỷ tỷ, đừng giận mà, là muội sai rồi.

Thiếu phụ ngoảnh mặt làm ngơ, thiếu nữ nói:

– Tỷ tỷ mà không cười, muội sẽ cù cho đấy.

Rồi giơ tay phải thọc vào nách thiếu phụ. Thiếu phụ không quay đầu, dùng tay trái gạt ra sau, thiếu nữ đưa tay trái tóm cổ tay của thiếu phụ, tay phải tiếp tục chĩa tới. Thiếu phụ hơi trầm cùi chỏ bên phải, kẹp cánh tay của muội tử lại. Thiếu nữ xoay bàn tay một cái để tránh bị kẹp, tư thái trông cực đẹp.

Trong giây lát, hai người đã chiết giải bảy tám chiêu, cả hai cùng khéo léo sử dụng "Tiểu cầm nã thủ pháp".

Thiếu nữ cố nhiên không cù được tỷ tỷ, mà thiếu phụ cũng không tóm được cổ tay muội tử.

Đột nhiên ở góc nhà có người thấp giọng khen:

– Hảo công phu!

Tỷ muội hai người cùng dừng tay, nhìn về góc nhà, thấy một người ngồi bó gối, đầu thụt vào giữa hai gối, đang ngủ say. Tỷ muội hai người ngồi bên đống lửa, vẫn thấy người kia ngồi bất động như vậy từ lâu, người bên cạnh cũng không thấy được mặt mũi y, y cũng không thể nhìn thấy tỷ muội hai người vừa đùa nhau thế nào, tiếng khen kia chắc không phải do y phát ra. Chàng thiếu niên nói:

– Đại tỷ nhị tỷ, gia gia dặn chúng ta không nên tùy tiện hiển lộ công phu.

Thiếu nữ mỉm cười, nói:

– Này ông cụ non, đệ nói không sai đâu.

Rồi quay sang đại hán, nói:

– Tống đại thúc, xin lỗi, tỷ muội chúng tôi mải đấu khẩu, quên nghe đại thúc kể chuyện, đại thúc mau kể tiếp đi.

Đại hán họ Tống nói:

– Ta không kể chuyện cổ tích, mà là chỉ kể những gì chính ta chứng kiến.

Thiếu nữ nói:

– Phải, đại thúc cứ thế mà kể.

Đại hán uống một ngụm rượu, cười, nói:

– Uống nhiều rượu, ăn nhiều thịt của cô nương thế này, không kể cũng không xong. Nếu không phải hôm qua ta đánh bạc thua sạch cả ba hộc lúa, thì ta đã có tiền trả thay cô nương mới phải. Cô nương cứ một điều đại thúc, hai điều đại thúc, không lẽ ta không kể. Về chuyện làm sao ta quen biết Thần điêu hiệp, thì ta cũng gần giống trường hợp tiểu Vương tướng quân kia, cũng là được Thần điêu hiệp cứu mạng. Có điều không phải Thần điêu hiệp sử dụng võ công, mà là bỏ tiền ra chuộc ta.

Thiếu nữ cười, nói:

– Ồ, lạ thật, Thần điêu hiệp bỏ tiền ra chuộc đại thúc ư? Đại thúc đáng giá mấy cân bạc thế?

Đại hán cười hô hô, nói:

– Xương thịt Tống mỗ ta so với thịt heo thịt bò đắt hơn rất nhiều, Thần điêu hiệp bỏ ra những hai ngàn lượng bạc cơ đấy. Năm năm trước, tại phủ Tế Nam, Sơn Đông, ta bênh vực kẻ yếu, có giết một tên côn đồ; giết người đền mạng, ta bị án chém đầu, khỏi phải nói nhiều. Nào ngờ mấy hôm sau, viên tri huyện hỏi cung một gã thổ hào tàn ác, lại lôi ta ra công đường tra tấn, dồn cho ta đủ các tội mà gã thổ hào kia gây ra như cướp của giết người, cưỡng hiếp dân nữ, bắt cóc tống tiền, rồi thả ngay gã thổ hào ra. Sau đó trong ngục người ta kể với ta rằng gã thổ hào đã đem một ngàn lượng bạc dâng cho viên tri huyện, nên viên tri huyện mới trút tội danh của gã sang người ta. Thôi thì phạm một tội bị chém đầu, phạm mười tội cũng bị chém đầu, chẳng qua hai người phạm tội, sao một mình ta phải gánh. Ta nghe oan ức quá, liền gầm thét trong ngục, chửi viên tri huyện ăn của đút, nhưng như thế có ích gì?

Mấy ngày sau, viên tri huyện lại cho điệu ta ra công đường thẩm vấn, thấy gã thổ hào kia cũng quì bên cạnh ta. Ta cất tiếng chửi to: "Tên cẩu tri huyện kia, ngươi tham ăn của đút, xét xử oan uổng, mai sau sẽ không được chết yên lành đâu Viên tri huyện cười hi hi, nói:" Tống Ngũ, đừng có nóng, bổn quan đã tra xét rõ ràng, ngươi bị oan. Gã côn đồ không phải do ngươi giết, mà là tên này! "Hắn chỉ gã thổ hào, lệnh cho nha dịch dùng cực hình tra tấn, buộc gã thổ hào nhận đã giết tên côn đồ cùng với các tội khác. Ta thì được thả ra liền. Ta chẳng còn hiểu đầu đuôi gì nữa. Tên côn đồ thì rành rành do ta giết, sao bây giờ lại gán tội cho kẻ khác?

Thiếu nữ nghe đến đây cười khanh khách, nói:

– Viên tri huyện xem ra quá ư hồ đồ.

Tống Ngũ nói:

– Hắn chẳng hồ đồ chút nào. Ta về đến nhà, mụ vợ ta mới bảo, sau khi ta bị ghép vào tội chết, vợ ta ngày ngày ra đường than khóc, một hôm Thần điêu hiệp đi ngang qua, hỏi nguyên do. Thần điêu hiệp dò hỏi chỗ này chỗ nọ, biết rõ nguồn cơn, bảo rằng chàng đang bận việc, chưa rỗi rãi để xử viên tri huyện tham ăn của đút, mới đưa cho vợ ta hai ngàn lượng bạc, bảo đi chuộc ta về. Ba tháng sau, trong huyện đồn ầm lên rằng viên tri huyện đang tức quá, tức đến hộc cả máu, vì dêm vừa qua mới bị kẻ trộm lấy mất bốn ngàn lượng bạc. Ta biết nhất định là Thần điêu hiệp lấy, ta không dám ở lại huyện nhà, phải dọn đến phủ Lâm An, Giang Nam. Hơn một năm sau, có người kể với ta rằng ngoài bờ biển có một vị tướng công cụt một tay, dẫn theo một con quái điểu, cứ đứng ngây nhìn hải triều mấy ngày liền. Ta vội tới coi, quả nhiên là Thần điêu hiệp, ta mới khấu đầu tạ ơn Người.

Thiếu phụ bỗng nói:

– Tạ ơn cái nỗi gì, y bỏ ra hai ngàn lượng bạc, lấy lại bốn ngàn lượng, còn được lời những hai ngàn lượng bạc. Gã họ Dương ấy đâu có thiệt chút nào?

Thiếu nữ nói:

– Họ Dương ư? Thần điêu hiệp họ Dương ư?

Thiếu phụ nói:

– Ta không biết, ta đâu có bảo y họ Dương?

Thiếu nữ nói:

– Muội rõ ràng nghe tỷ tỷ nói thế mà.

Thiếu phụ nói:

– Tức là muội nghe nhầm.

Thiếu nữ nói:

– Thôi được. Muội không tranh cãi với tỳ tỷ nữa; vị Thần điêu hiệp cứ coi như được lời hai ngàn lượng bạc, cũng chỉ là để cứu khốn tế bần, chàng đã là một vị đại hiệp khảng khái hào phóng, không lẽ lại đi tham của?

Mọi người cùng lên tiếng:

– Cô nương nói chí phái!

Thiếu nữ hỏi:

– Tống đại thúc, Thần điêu hiệp ngóng ra biển để làm gì? Chàng đợi người ư?

Tống Ngũ lắc đầu, nói:

– Chuyện ấy thì ta không biết, cũng không dám hỏi.

Thiếu nữ cầm hai thanh củi ném vào đống lửa, nhìn ánh lửa đỏ hồng, nói nho nhỏ:

– Thần điêu hiệp tuy sốt sắng cứu khốn phò nguy cho người khác, nhưng không chừng chính chàng cũng có tâm sự nan giải chăng? Tại sao chàng cứ đứng ngây người nhìn hải triều?

Một thiếu phụ trung niên ngồi ở góc phía tây bỗng lên tiếng:

– Tiểu phụ nhân có một biểu muội, có duyên gặp được Thần điêu hiệp, từng thấy chàng cứ đứng ngây nhìn hải triều, thần sắc kỳ dị, mới đánh bạo hỏi chàng. Thần điêu hiệp nói:" Ta có người vợ kết tóc xe tơ ở bờ bên kia, không thể gặp nàng ".

Mọi người không hẹn cùng ồ cả lên.

Thiếu nữ văn nhã nói:

– Thì ra Thần điêu hiệp có vợ, không biết vì sao lại ở bờ bên kia? Chàng bản lĩnh cao cường như thế, sao không vượt biển đi tìm thê tử kia chứ?

Thiếu phụ trung niên nói:

– Biểu muội cũng có hỏi Thần điêu hiệp câu đó. Chàng trả lời:" Biển cả mênh mông, biết tìm nàng ở phương nào? "

Thiếu nữ thở dài nhè nhẹ, nói:

– Tiểu nữ thiết nghĩ một nhân vật như chàng hẳn là người chí tính chí tình, quả nhiên không lầm.

Rồi hỏi:

– Biểu muội của đại tẩu xinh lắm phải không? Nàng ta trong lòng thích Thần điêu hiệp chứ gì?

Thiếu phụ xinh đẹp xẵng giọng nói:

– Nhị muội, đừng có nghĩ ngợi viển vông!

Thiếu phụ trung niên nói:

– Biểu muội của tiểu phụ nhân vốn cũng có thể gọi là một mỹ nhân. Thần điêu hiệp đã cứu sống mẫu thân nàng ta, giết chết phụ thân nàng ta. Nàng ta có thích Thần điêu hiệp hay không, thì người ngoài khó biết. Hiện thời nàng ta đã có chồng là một nông phu trung hậu thật thà. Thần điêu hiệp có cho nàng ta một số tiền lớn, vợ chồng sống dư dả.

Thiếu nữ nói:

– Thần điêu hiệp cứu sống mẫu thân nàng ta, giết chết phụ thân nàng ta, chuyện nghe quá lạ.

Thiếu phụ xinh đẹp nói:

– Con người ấy tính nết cổ quái, hứng lên thì cứu mạng người này, giết chết người kia. Đúng, y từ nhỏ đã như vậy.

Thiếu nữ nói:

– Thần điêu hiệp từ nhỏ đã như vậy ư? Làm sao tỷ tỷ biết?

Thiếu phụ xinh đẹp chỉ nói:

– Thì cứ biết thế.

Thiếu nữ liên tục truy vấn nguyên nhân, thiếu phụ xinh đẹp vẫn không chịu nói. Thiếu nữ nói:

– Được tỷ tỷ không chịu nói thì thôi, muội cũng không muốn nghe nữa, tỷ tỷ có nói, muội chưa chắc đã tin đâu. Rồi quay sang thiếu phụ trung niên, nói:

– Đại tẩu, đại tẩu hãy kể chuyện biểu muội của đại tẩu cho muội nghe có được chăng?

Thiếu phụ trung niên nói:

– Được chứ, biểu muội của ta và ta là ty muội cô biểu (chị em con dì). Hai chúng ta chênh nhau bảy, tám tuổi, mẫu thân nàng ta là cô mẫu (dì) của ta..

Thiếu nữ cười, nói:

– Phụ thân nàng ta là cô trượng của đại tẩu chứ gì.

Thiếu phụ trung niên cười, nói:

– Ta nói năng vòng vo như thế, chẳng trách cô nương sốt ruột là phải. Cô trượng của ta là người Hà Nam, bị bọn Thát tử Mông Cổ bắt đi làm nô lệ. Cô mẫu của ta mới đem biểu muội của ta đi hành khất dọc đường, từ Hà Nam đến Sơn Đông, lại từ Sơn Đông đến Sơn Tây, để tìm xem cô trượng ở đâu.

Tiểu Vương tướng quân nói:

– Lặn lội vạn dặm tìm chồng, thật là hiếm có.

Thiếu phụ trung niên nói:

– Chỉ vì cô mẫu và biểu muội của ta xinh xắn, nên bôn ba dọc đường chẳng dễ chút nào. Hai người ấy phải lấy bùn đất bôi lên mặt mũi, để kẻ xấu khỏi thấy sắc nảy ý..

Thiếu nữ hỏi:

– Thấy sắc nảy ý là gì?

Quá nửa số người ngồi quanh đống lửa phì cười, thiếu phụ xinh đẹp nói:

– Nhị muội, muội không hiểu thì đừng có nói, để người ta cười cho kìa.

Thiếu nữ ngơ ngác, nói:

– Muội không hiểu thì mới hỏi, đã hiểu thì còn hỏi làm gì?

Thiếu phụ trung niên mỉm cười, nói:

– Những lời không đẹp, cô nương không hiểu càng tốt. Vậy là cô mẫu và biểu muội của ta tìm kiếm suốt bốn năm, ông trời không phụ người có lòng, cuối cùng tại Hoài Bắc đã tìm thấy cô trượng đang làm nô lệ trong nhà một tên thiên hộ Mông Cổ. Tên thiên hộ ấy rất hung ác, khi cô mẫu gặp cô trượng, thì cô trượng mới bị tên thiên hộ đánh què chân. Cô mẫu đau đớn cầu xin tên thiên hộ thả cho chồng về nhà, tên thiên hộ không chịu, nói hắn từng bỏ ra một trăm lượng bạc mua nô lệ về, bây giờ phải đem năm trăm lượng bạc đến chuộc, nếu không hắn thà đánh chết cô trượng chứ quyết không thả. Cô mẫu ta năm lượng bạc còn chẳng có, đào đâu ra năm trăm lượng bạc? Suy đi tính lại, đành muối mặt đem bán.. bán mình và con gái..

Thiếu nữ lại không hiểu, nhưng câu hỏi lúc nãy đã bị mọi người cười, lần này nàng không dám hỏi nữa, chỉ nghe thiếu phụ kể tiếp:

– Cứ thế mấy năm, hai mẹ con cô mẫu dành dụm cũng được kha khá, nhưng kiếm năm trăm lượng bạc đâu phải dễ? May khách làng chơi biết hai mẹ con nàng ta khổ tâm chịu nhục, cốt để chuộc chồng cứu cha, nên mỗi người cho thêm một chút. Cuối cùng gần Tết năm ngoái thì kiếm đủ năm trăm lượng bạc. Hai mẹ con cô mẫu đến phủ của tên thiên hộ, giao cho hắn năm trăm lượng bạc, tưởng rằng từ nay gia đình được đoàn tụ đón năm mới.

Thiếu nữ nghe đến đây, cũng mừng cho hai mẹ con người nọ, chỉ nghe thiếu phụ kể tiếp:

– Tên thiên hộ Mông Cổ nhận năm trăm lượng bạc, rồi gọi cô trượng ra cho vợ chồng cha con họ gặp nhau.

Gia đình cô trượng ba người khấu đầu từ biệt tên thiên hộ, nào ngờ hắn thấy biểu muội của ta xinh xắn liền nổi tà tâm, bèn nói:" Được, các người đến chuộc nô tài về thì không gì tốt bằng, nhưng phải nộp năm trăm lượng bạc đã ". Cô mẫu cả kinh, năm trăm lượng bạc đã đưa cho tên thiên hộ rồi, sao còn phải nộp gì năm trăm lượng nữa? Tên thiên hộ liền trở mặt, quát:" Ta đường đường là một vị thiên hộ Mông Cổ, lại đi lừa tiền bạc của một tên nô tài hay sao? "Cô mẫu ta vừa sợ vừa đau đớn, khóc tướng lên giữa sảnh đường. Tên thiên hộ nói:" Thôi được, hôm nay sắp giao thừa đón năm mới, ta cho hai vợ chồng ngươi về nhà đoàn tụ, nhưng sợ sau Tết tên nô tài không quay lại, ta tạm giữ đứa con gái này làm con tin ". Cô mẫu ta biết tên thiên hộ có ý xấu, đời nào đáp ứng? Tên thiên hộ liền sai thủ hạ đuổi cô mẫu, cô trượng của ta ra khỏi phủ.

Cô mẫu ta thương con, cứ đứng trước cổng phủ thiên hộ mà than khóc kêu trời. Dân chúng biết rõ cô mẫu ta bị hàm oan, nhưng vùng Hoài Bắc đã không còn thuộc Đại Tống, quan binh Mông Cổ giết người Hán như giết con sâu cái kiến, ai dám đứng ra chủ trì công đạo? Cô trượng ta lại nói:" Ngài thiên hộ đã ưng con gái chúng ta, đó là phúc phận mà người khác kiếp trước phải khéo tu lắm mới có được, bà còn khóc nỗi gì? "Thì ra y làm nô tài đã lâu, đã nhiễm nặng cái hơi hướng nô tài. Đoạn y tra vấn tại sao có năm trăm lượng bạc. Cô mẫu ta ban đầu không chịu nói, sau bị ép quá đành phải nói thật. Cô trượng cả giận, nói cô mẫu ta bại hoại danh tiết, đi vào con đường trụy lạc để kiếm tiền, liền viết giấy ly dị với cô mẫu ta.

Mọi người cùng thở dài, nói người đàn bà kia quả gặp lắm nỗi bất hạnh.

Thiếu phụ trung niên nói:

– Cô mẫu ta trăm cay ngàn đắng bảy, tám năm trời, bây giờ đến bước này thì chẳng thiết sống nữa, bèn vào cánh rừng, cởi dây thắt lưng treo cổ tự vẫn.

Ông trời có mắt, Thần điêu hiệp đi ngang qua, cứu cô mẫu ta xuống, hỏi rõ nguồn cơn, mới nghe qua đã đùng đùng nổi giận, tối hôm ấy xông vào phủ thiên hộ đúng lúc tên thiên hộ đang muốn cưỡng bức biểu muội của ta, trong khi cô trượng ở bên cạnh khuyên biểu muội của ta hãy mau ưng thuận, còn danh giá nỗi gì mà không ưng. Thần điêu hiệp giáng cho cô trượng ta một quyền chết tươi, xách cổ tên thiên hộ ném xuống sông Hoài, cứu biểu muội của ta thoát ra. Thần điêu hiệp bảo cô mẫu ta bán mình cứu chồng, còn đáng kính hơn ngồi một chỗ thủ tiết; còn bảo bình sinh chàng chúa căm hận những kẻ phụ tình bạc nghĩa, cô trượng của ta đây phạm cả hai tội đó, nên chàng hạ thủ thẳng tay.

Thiếu nữ nghe chuyện say sưa, tiện tay cầm chén rượu uống một ngụm, khe khẽ nói:

– Các vị nhiều người đã được gặp Thần điêu hiệp, tiểu nữ chưa có cái phúc ấy. Ước gì được gặp chàng một lần, nghe chàng nói vài câu, thì tiểu nữ.. không còn mong gì hơn.

Thiếu phụ xinh đẹp nói to:

– Người ấy võ công dĩ nhiên rất cao, nhưng so với gia gia chúng ta thì còn thua xa. Muội nhỏ tuổi chưa biết thế sự, nghe người ta kể thêm mắm thêm muối, cứ tưởng Thần điêu hiệp ghê gớm lắm, thực ra người ấy muội đã từng gặp, y còn ẵm muội là đằng khác.

Thiếu nữ đỏ bừng hai má, nói:

– Tỷ tỷ nói năng lung tung gì vậy, ai tin được lời tỷ tỷ?

Thiếu phụ xinh đẹp nói:

– Muội không tin thì tùy muội, cái gã Thần điêu hiệp ấy họ Dương tên Quá, hồi nhỏ từng ở đảo Đào Hoa với chúng ta. Cánh tay y bị mất là do.. là do.. ồ, muội chào đời được vài ngày, thì y đã ẵm muội.

Thiếu phụ xinh đẹp chính là Quách Phù, thiếu nữ là Quách Tương, chàng thiếu niên là cậu em sinh đôi với Quách Tương, tên Quách Phá Lỗ. Thấm thoắt đã hơn mười năm, Quách Phù từ lâu đã thành hôn với Gia Luật Tề, Quách Tương và Quách Phá Lỗ cũng đã lớn. Tỷ đệ ba người phụng mệnh cha mẹ đi Tấn Dương mời Trường Xuân tử Khưu Xứ Cơ phái Toàn Chân đến thành Tương Dương chủ trì đại hội anh hùng. Hôm nay trên đường từ Tấn Dương xuôi về nam, ba người bị băng tuyết giữ chân ở bến Phong Lăng, nghe mọi người trò chuyện cả đêm.

Quách Tương hết sức vui mừng, tự nói nhỏ một mình:

– Mình chào đời được vài ngày, thì chàng đã ẵm mình.

Quay sang Quách Phù, nói:

– Tỷ tỷ, Thần điêu hiệp hồi nhỏ từng ở đảo Đào Hoa với chúng ta thật ư? Sao muội không nghe cha mẹ nói gì?

Quách Phù nói:

– Muội còn nhỏ đã hiểu gì mà cha mẹ phải nói cho biết.

Nguyên việc Dương Quá bị mất cánh tay, Tiểu Long Nữ bị trúng độc toàn là do Quách Phù hành sự lỗ mãng mà ra, mỗi khi nhắc đến hai việc ấy, Quách Tĩnh lại cả giận. Quách Phù tuy đã lấy chồng, song Quách Tĩnh vẫn quát mắng, chẳng nể gì mặt chàng rể, bởi vậy trong gia đình họ Quách lớn nhỏ không ai nói đến, Quách Tương và Quách Phá Lỗ dĩ nhiên không biết chuyện Dương Quá.

Quách Tương nói:

– Như thế là Thần điêu hiệp rất có giao tình với gia đình ta, sao chàng không hề lai vãng? Ồ, đại hội anh hùng rằm tháng Ba này ở thành Tương Dương, Thần điêu hiệp nhất định sẽ đến.

Quách Phù nói:

– Người ấy hành sự kỳ quái, tính nết cao ngạo, quá nửa sẽ không đến đâu.

Quách Tương nói:

– Tỷ tỷ, chúng ta phải tìm cách gửi thiếp mời chàng đến mới được.

Rồi quay sang phía Tống Ngũ, nói:

– Tống Ngũ thúc, ngũ thúc có thể tìm cách mang thư tới cho Thần điêu hiệp được chăng?

Tống Ngũ lắc đầu, nói:

– Thần điêu hiệp vân du thiên hạ, hành tung vô định. Chàng cần đến ai sẽ tự có sự phân phó. Chúng tôi muốn đi tìm chàng, có mà cả đời cũng vị tất tìm được.

Quách Tương cảm thấy thất vọng, nàng nghe mọi người kể chuyện Dương Quá cứu cha con tướng quân Vương Duy Trung, cắt đầu Trần Đại Phương, hỏi cung Đinh Đại Toàn, chuộc Tống Ngũ, giết phụ thân người mà cứu mẫu thân người, bao nhiêu là nghĩa cử hào hiệp, bất giác cứ ngẩn ngẩn ngơ ngơ, nghe tỷ tỷ bảo hồi nhỏ từng được chàng bế ẵm, càng tha thiết mong được gặp chàng; nghe bảo quá nửa Thần điêu hiệp sẽ không đến dự đại hội anh hùng, thì thở dài, nói:

– Các nhân vật ở đại hội anh hùng chưa hẳn đều là anh hùng, trong khi đại anh hùng đại hào kiệt thật sự thì lại chẳng chịu đến cho.

Bỗng soạt một tiếng, người ngồi trong góc nhà đứng phắt dậy, chính là kẻ vốn cứ ngồi thu lu, rụt đầu vào giữa hai gối mà ngáy. Y cất giọng to như tiếng lệnh vỡ, nói:

– Cô nương muốn gặp Thần điêu hiệp cùng không khó, đêm nay ta dẫn cô nương đi gặp là được ngay thôi.

Mọi người mới nghe giọng nói của y đã thất kinh, lúc nhìn kỹ y thì càng thêm kinh dị. Chi thấy y thân cao chưa đầy bốn thước, gầy gò, nhưng đầu to tướng, cánh tay dài ngoằng, bàn tay bàn chân to bè, dài hơn hẳn người thường, tứ chi và cái đầu kia ở một thường nhân đã hoàn toàn không cân xứng, y vừa lùn vừa gầy trông càng kinh dị.

Quách Tương cả mừng, nói:

– Hay lắm, nhưng tiểu nữ không quen biết Thần điêu hiệp, tự dưng cầu kiến, không tránh khỏi đường đột, chẳng biết chàng có cho gặp hay không.

Gâ lùn đầu to nói:

– Nếu cô nương không gặp hắn đêm nay, chỉ e sau này sẽ không còn dịp gặp hắn nữa.

Quách Tương lấy làm lạ, hỏi:

– Vì sao?

Quách Phù đứng dậy, nói với gã lùn đầu to:

– Thỉnh vấn quý tính đại danh của tôn giá.

Gã lùn đầu to cười khẩy, nói:

– Làm gì còn người thứ hai nào trong thiên hạ xấu xí như ta? Cô nương đã không biết, thì cứ về nhà hỏi gia gia má má của cô nương sẽ biết.

Lúc ấy từ xa văng vẳng vọng lại âm thanh rất thấp:

– Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ, mười người đã đến chín, Đại Đầu Quỉ, Đại Đầu Quỉ! Bây giờ chưa đến, còn đợi khi nào?

Tiếng gọi lúc đứt lúc nối, có khí vô lực, đầy vẻ ma quái nhưng mọi người nghe rõ ràng từng chữ một.

Gã lùn đầu to sững lại, quát to một tiếng, rầm một cái, đống lửa vụt tối lại, gã lùn đầu to đã biến mất. Mọi người kinh ngạc, thấy cửa mở toang, thì ra gã lùn đầu to đã tông cửa nhảy ra.

Quách Phá Lỗ nói:

– Đại tỷ, gã lùn rất lợi hại!

Quách Phù luôn theo cha mẹ, từng gặp không ít nhân vật võ lâm, song gã lùn đầu to này thì chưa từng nghe cha mẹ nói đến, nên nhất thời chưa biết nói gì.

Quách Tương nói:

– Trong số ân sư Giang Nam thất quái truyền thụ võ nghệ cho gia gia, có một vị lùn là Mã Vương Thần Hàn gia gia. Tam đệ, đệ gọi trống không như thế, gia gia biết sẽ không ưng đâu. Đệ phải gọi người ấy là tiền bối mới được.

Quách Tĩnh đối với ân đức của Giang Nam thất quái suốt đời không quên, bất kể họ là người mù hay người lùn, đều nhất mực kính trọng, đồng thời cũng giáo huấn các con như vậy.

Quách Phá Lỗ chưa kịp trả lời, ào một cái, gã lùn đầu to đã xuất hiện trở lại, kéo theo gió tuyết qua cửa tràn vào, thổi tàn lửa bay tung toé. Quách Phù sợ gã lùn đầu to xuất thủ đả thương đệ muội, bèn nhào tới chắn trước mặt Quách Tương và Quách Phá Lỗ.

Gã lùn đầu to nghé đầu qua bên hông Quách Phù, nói với Quách Tương:

– Tiểu cô nương, muốn gặp Thần điêu hiệp thì hãy đi theo lão phu.

Quách Tương nói:

– Vâng, đại tỷ, tam đệ, chúng mình cùng đi luôn thể.

Quách Phù nói:

– Thần điêu hiệp có gì lạ mà phải gặp? Muội chớ có đi? Chúng ta đâu quen biết gì vị tôn giá này.

Quách Tương nói:

– Muội đi một lúc rồi về, hai người cứ chờ muội ở đây.

Tống Ngũ đột nhiên đứng lên, nói:

– Cô nương, nhất định chớ có đi. Người này là một nhân vật trong.. Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ, cô nương đi sẽ dữ nhiều lành ít đó.

Gã lùn đầu to cười nham hiểm, nói:

– Ngươi biết Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ không mà bảo bọn ta không phải là người tốt?

Tả chưởng đột nhiên đánh tới vai Tống Ngũ. Rầm một cái, Tống Ngũ bay vào tường, lập tức ngất lịm.

Quách Phù cả giận, nói lớn:

– Tôn giá thôi đi cho, muội muội của ta niên ấu vô tri, há có thể theo tôn giá đang đêm đi lung tung?

Rồi quay sang Quách Tương, gằn giọng:

– Muội đừng hồ náo, không đi đâu cả!

Lúc này, tiếng gọi văng vẳng rất khẽ lại vọng đến:

– Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ, mười người đã đến chín, Đại Đầu Quỉ, Đại Đầu Quỉ! Âm hồn chẳng đến, để người chờ lâu!

Tiếng gọi nghe có lúc như cách mấy dặm, có lúc như gần vài thước, chợt trước chợt sau, chợt bên phía này, chợt ở phía kia, ai nghe cũng sởn gáy.

Quách Tương chủ ý đã quyết:" Đêm nay dù gặp yêu ma quỉ quái, mình cũng phải gặp Thần điêu hiệp một phen ", bèn nói:

– Tiền bối, hãy dẫn vãn bối đi nào!

Đoạn nhún chân phi người theo gã lùn đầu to ra qua cửa chính. Quách Phù gọi giật giọng:

– Muội làm trò gì vậy?

Đưa tay chộp muội tử không trúng, cũng vội phi thân đuổi theo. Nào ngờ sắp bay qua cửa thì không thấy khoảng trống đâu nữa, Quách Phù vội trầm người xuống, hai chân tiếp đất, chỉ cách cửa một thước, nhìn kỹ, suýt kêu lên thất thanh, hóa ra gã lùn đầu to đứng chắn khuôn cửa, mũi y cơ hồ gần chạm vào ngực nàng, bảo sao nàng không sợ? Quách Phù vội nhảy lùi, một luồng gió lạnh thổi tuyết vào người nàng, gã lùn đầu to đã biến đi. Quách Phù gọi to:

– Nhị muội, quay lại đi!

Nàng nhảy ra ngoài, chỉ nghe từ xa tiếng cười hô hố, không thấy bóng Quách Tương đâu nữa.

Gã lùn đầu to dọa Quách Phù phải lùi vào rồi, liền quay mình nhảy ra tuyết, nói:

– Tiểu cô nương có gan, khá lắm!

Y cầm cổ tay Quách Tương, nhảy choi choi về phía trước. Khinh công của y khác với thông thường, cứ nhảy từng bước dài như con ếch, thân tuy lùn nhưng mỗi bước nhảy rất dài.

Cổ tay trái của Quách Tương bị y nắm cứ như bị kẹp bởi một cái kìm sắt, đau thấu xương, trống ngực đập dồn, không biết gã lùn đầu to lôi nàng đi đâu.

Nàng từ nhỏ đã được Quách Tĩnh và Hoàng Dung truyền dạy, võ công đã có căn cơ, nhưng thoạt đầu còn nhảy theo kịp gã lùn, về sau cứ để y lôi nàng cùng nhảy đi.

Nhảy như thế chừng một dặm, sau núi đột nhiên có người nói:

– Đại Đầu Quỉ, sao đến muộn thế. Ha ha, còn dẫn theo một nữ oa nhi kháu khỉnh ra phết!

Gã lùn nói:

– Nó là con gái của Quách Tĩnh, Hoàng Dung, muốn đi gặp Thần điêu hiệp, nên huynh dẫn nó theo.

Người kia kinh ngạc, nói:

– Con gái của Quách Tĩnh, Hoàng Dung ư?

Một giọng nói rì rầm khác từ sau núi vọng ra:

– Sắp hết canh ba, mau mau lên đường!

Chỉ thấy tiếng vó ngựa rậm rịch, từ sau núi chạy ra mấy chục con ngựa. Lúc này tuyết lớn vẫn rơi không ngừng, tuyết trắng dưới đất hắt lên, Quách Tương thấy mấy chục con ngựa mà chỉ có chín người cưỡi, quá nửa số yên ngựa để trống. Gã lùn kéo hai con ngựa lại, trao dây cương một con cho nàng, y cưỡi một con, quát:

– Đi nào!

Thế là cả mấy chục con ngựa cùng phi về hướng tây bắc.

Quách Tương nhìn chín người kia, có hai là nữ, một lão thái lụ khụ, người thứ hai mặc bộ đồ màu đỏ tươi, toàn thân trông như một khối lửa, nổi bật trên tuyết trắng. Bảy người còn lại đều không nhìn rõ mặt mũi. Quách Tương nghĩ:" Lúc đầu nghe tiếng gọi Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ, mười người đã đến chín, bây giờ trước mặt quả nhiên có mười người, chắc đây là Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ. Tống Ngũ thúc chỉ nói một câu, rằng mình đi sẽ lành ít dữ nhiều, liền bị một chưởng hôn mê, xem ra đám người này hung hãn thật. Nhưng gã lùn bảo dẫn ta đi gặp Thần điêu hiệp, tất không đánh lừa ta. Mà họ đã quen biết Thần điêu hiệp, tất họ không phải là kẻ xấu ".

Không lâu đã đi hơn mười dặm. Người đi đầu hô to một tiếng" Họ! "Mấy chục con ngựa cùng dừng chân. Người đi đầu phi ngựa lên một cái gò, rồi quay trở lại. Quách Tương nhìn thấy diện mạo người đó, lại kinh ngạc, vừa tức cười, vì y quá lùn, thân ngồi trên ngựa chỉ cao không đầy hai thước, mà râu thì dài đến ba thước, xõa dài xuống bụng ngựa, mặt đầy nếp nhăn, hai đầu lông mày liền nhau, tướng mạo vô cùng sầu khổ.

Chỉ nghe người ấy nói:

– Từ đây đến Mã Bình còn chưa đến ba chục dặm đường. Giang hồ đều nói Thần điêu hiệp võ công cao cường, bọn ta hãy bàn qua trước đã, không thể để mất nhuệ khí của Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ.

Lão thái bà nói:

– Xin đại ca cứ hạ lệnh.

Gã râu dài nói:

– Chúng ta sẽ luân xa đại chiến với hắn, hay là tất cả cùng xông lên?

Quách Tương cả kinh:" Nghe khẩu khí, hóa ra đám người này đối địch với Thần điêu hiệp ".

Lão thái bà nói:

– Thần điêu hiệp bản lĩnh rốt cuộc thế nào? Thất đệ, hãy kể rõ xem nào.

Một đại hán thân hình như khối thép, nói:

– Đệ tuy gặp hắn, nhưng chưa hề động thủ, đệ thấy.. đệ thấy.. hắn hình như có tà môn.

Thiếu phụ quần hồng nói:

– Thất ca, rốt cuộc vì sao ca ca lại kết cừu với Thần điêu hiệp? Hãy nói rõ ra đi, để đến lúc động thủ mọi người cùng biết vì sao. Ca ca cứ ấp a ấp úng, nói nửa câu lại giấu ba câu.

Đại hán nổi giận, nói:

– Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ đồng sinh đồng tử, hắn đã tìm đến, chúng ta còn lùi được chăng?

Một người cao gầy, giọng âm hiểm, nói:

– Ai bảo lùi bước? Nhưng mà cửu muội không hỏi, thì ta cũng sẽ hỏi. Chúng ta không hề đắc tội với Thần điêu hiệp, tại sao hắn lại đòi đuổi Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ ra khỏi Sơn Tây?

Đại hán nổi giận, nói:

– Mọi người nhìn đây, hắn cắt mất hai tai đệ, thù này không trả, có còn là hảo huynh đệ, hảo tỷ muội nữa chăng?

Nói rồi gỡ chiếc mũ ra khỏi đầu, dưới ánh tuyết, thấy đầu gã thiếu mất hai cái tai. Chín người còn lại của Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ cùng cả giận, đều nói nhất định phải tử chiến một phen với Thần điêu hiệp.

Hồng y thiếu phụ nói:

– Thất ca, vì sao hắn hắn cắt mất hai tai ca ca? Ca ca phạm việc gì? Chắc lại chọc ghẹo con gái nhà lành chứ gì?

Một gã mặt luôn cười cười, nói bằng giọng bực tức:

– Thất ca dù có chọc ghẹo con gái nhà lành thì kẻ khác cũng không được làm như thế với thất ca.

Tướng mạo gã này kỳ quái, tuy giận dữ, nhưng mặt vẫn cứ cười cười. Quách Tương chăm chú nhìn, thì ra khóe miệng gã hếch lên, hai mắt him híp, quá nửa là do đau đớn khóc lóc, nhưng người ngoài nhìn vào lại cứ ngỡ gã cười.

Đại hán nói:

– Không phải, không phải! Một hôm mụ vợ cả và bốn nàng thiếp của huynh cãi lộn nhau, rồi đánh nhau. Vừa hay Thần điêu hiệp gì đấy đi ngang qua, hắn là kẻ chuyên lo chuyện bao đồng, hắn lên tiếng khuyên can, nàng thiếp thứ ba của huynh không đánh nhau, cứ nhìn hắn cười cười..

Hồng y thiếu phụ nói:

– À muội hiểu rồi, thất ca ghen, không cho nàng ta cười chứ gì?

Đại hán nói:

– Ghen gì mà ghen? Huynh không cho phép người ngoài xen vào chuyện nhà huynh. Huynh bèn đấm một quyền khiến nàng thiếp thứ ba của huynh bị gãy ba cái răng cửa, và bảo tên cụt tay kia mau xéo đi cho rồi.

Quách Tương nghe đến đây, buột miệng nói:

– Người ta có hảo ý khuyên can, sao các hạ lại nói năng vô lễ thế? Vậy là các hạ sai rồi.

Mọi người cùng ngoảnh nhìn nàng, không ngờ một tiểu cô nương lại cả gan như vậy.

Đại hán quả nhiên nổi sùng, quát:

– Một đứa oắt con như mi cũng đòi quản việc của lão tứ hả? Ngũ ca, đứa oắt con ấy là người của ngũ ca phải không?

Gã lùn đầu to nói:

– Nó muốn gặp Thần điêu hiệp thì huynh mang nó đi gặp, chuyện khác, huynh không quản.

Đại hán nói:

– Được vậy đệ sẽ giáo huấn nó một chút.

Roi ngựa vung lên, vút một cái, đánh tới đỉnh đầu Quách Tương.

Quách Tương vung roi ngựa chống đỡ, hai cái roi quấn vào nhau. Đại hán giằng tay lại, Quách Tương cảm thấy một luồng đại lực kéo đi, nàng không cầm roi được, liền buông tay, lòng bàn tay đã rát bỏng.

Đại hán đoạt được chiếc roi ngựa, lại định ra đòn, thì trường tu lão ông gọi:

– Thất đệ, không còn sớm sủa gì, sao chưa đi, còn ở đấy chấp nhặt với một tiểu hài tử.

Chiếc roi ngựa của gã đại hán giơ lên giữ chừng, không quật xuống nữa.

Trường tu lão ông cười khẩy, nói:

– Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ không sợ trời không sợ đất, tên tuổi của Quách Tĩnh, Hoàng Dung lừng lẫy đến mấy cũng chẳng dọa được bọn ta. Con oắt con kia, mi còn nhiều lời ta sẽ giết mi lập tức đó.

Đoạn lão ta quay sang, nói:

– Thất đệ, đại trượng phu ngã thì bò dậy, bộ râu dài của huynh cũng từng bị người ta cắt đứt. Hai tai của đệ rốt cuộc sao lại bị cắt thế?

Đại hán nói:

– Đệ bảo Thần điêu hiệp hãy mau xéo đi, hắn đã cười cười quay người bỏ đi rồi, tất cả đều tại cái nàng thiếp thứ ba của đệ không ra gì. Nó lại khóc tướng lên, bảo nó bị đệ bá chiếm cưỡng hôn, chứ nó không muốn lấy đệ, hiện tại nó luôn bị mụ vợ cả của đệ ăn hiếp; nó còn nói sau khi lấy nó, đệ còn cưới nàng thiếp thứ tư, thật vô lương tâm. Gã Thần điêu hiệp kia bèn quay lại, mặt biến sắc, hỏi đệ:" Điều nữ nhân vừa nói là thật hay giả? "Đệ bèn đáp:" Thật thì sao? Giả thì sao? Lão tử đây có ngoại hiệu Sát Thần Quỉ, quen giết người không chớp mắt, ngươi có biết hay không? "Hắn sầm mặt, nói:" Lão đã thích nàng ta, đã lấy nàng ta, sao lại còn cưới thêm người khác? Mà đã không thích nàng ta, thì hồi trước còn lấy nàng ta làm gì? "Đệ cười ha hả, nói:" Lão tử đây ban đầu thích nó, nhưng chơi xong thì chán. Nam tử hán năm thê bảy thiếp, có gì lạ đâu? Lão tử còn định lấy bốn nàng thiếp nữa kia ". Hắn nói:" Hạng vô tình vô nghĩa như lão thêm vài đứa trên thế gian, chỉ làm cho nữ nhân thiên hạ kinh sợ mà thôi ". Đột nhiên hắn xáp tới, rút cây chủy thủ của đệ, xẻo luôn cả hai tai đệ, rồi gí mũi dao vào giữa ngực đệ, nói:" Ta phải moi tim gan ngươi ra, để xem rốt cuộc nó màu gì nào! "

Quách Tương nghe vậy thích quá, định reo lên, nhưng thấy Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ người nào người nấy lầm lầm lì lì, tướng mạo hung ác, thì cắn môi lại, không dám lên tiếng. Đại hán kể tiếp:

– Lúc ấy mụ vợ và cả bốn nàng thiếp của đệ cùng quì xuống van xin hắn, nàng thiếp thứ ba và thứ tư cũng khóc rất to, mẹ nó chứ, chúng nó bảo thà để hắn giết chết chúng nó, chứ hắn đừng giết đệ; nếu đệ chết, chúng nó cũng sẽ tự vẫn tuẫn phu, mẹ kiếp! Nhục quá đi mất, thật không còn ra thể thống gì! Đệ bèn quát to:" Mau hạ thủ đi, hãy giết ta đi! Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ sẽ thành ma bám theo ngươi không buông tha! "Hắn cau mày, nói với năm thê thiếp của đệ:" Hạng người vô tình vô nghĩa như vậy, sao các người còn cầu xin cho y? "Năm thê thiếp của đệ cứ một mực khấu đầu. Hắn hỏi người thiếp thứ ba của đệ:" Nàng bảo bị y bá chiếm, trong bụng không muốn lấy y, vậy ta để cho nàng giết y cho bõ tức đó ". Nàng ta nói:" Thoạt đầu không muốn, nhưng về sau lại muốn. Xin đừng giết chồng tôi ". Đệ tức giận nói:" Ngươi có giỏi cứ giết ta đi, giết ta, còn những chín người nữa kia ". Hắn nói:" Được, hôm nay tạm chưa giết mi. Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ là cái gì? Đêm cuối tháng này, tại Mã Bình, ta sẽ đợi, ngươi đi bảo cả bọn đến cho đủ. Nếu không dám đến thì Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ sẽ phải rời khỏi Sơn Tây, vĩnh viễn không được trở lại. "

Mọi người nghe gâ đại hán nói xong, đều im lặng, lát sau, lão thái bà nói:

– Hắn sử dụng binh khí gì? Võ công là gia số của phái nào?

Đại hán nói:

– Hắn chỉ còn một cánh tay trái, không sử dụng binh khí gì. Võ công.. thì đệ không nhận biết được.

Lão thái bà nói:

– Đại ca, người ấy vừa xuất thủ đã chế ngự được thất đệ, thiết tưởng thủ cước rất linh hoạt, võ công có chút tà môn. Chúng ta ỷ đông thủ thắng, đại ca đi đầu, muội và ngũ đệ từ hai bên hỗ trợ, lấy ba đánh một, lập tức hạ độc thủ, không để cho hắn thi triển công phu.

Trường tu lão ông cúi đầu ngẫm nghĩ, rồi ngẩng lên, nói:

– Thần điêu hiệp danh tiếng lừng lẫy, mười năm nay đã bao nhiêu cao thủ bại trận dưới tay hắn, xem chừng tất có võ nghệ kinh nhân. Trận chiến hôm nay không phải thường đâu. Ta và nhị muội chính diện nghênh kích, tam đệ tứ đệ xáp tới công kích hạ bàn; ngũ đệ lục đệ tấn công từ phía sau; thất đệ bát đệ dùng binh khí dài du đấu từ bên ngoài, làm cho hắn rối trí; cửu muội phóng ám khí, thập đệ phóng khí độc. Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ từ khi kết nghĩa chưa hề cả mười người nhất tề động thủ, đêm nay là lần đầu tiên, nếu không đánh gục được hắn, thì bọn ma giả chúng ta sẽ thành ma thật cả đấy!

Gã lùn đầu to nói:

– Đại ca, chúng ta mười người đánh một người, có thắng cũng chẳng vẻ vang gì, tin đồn lan rộng, chỉ tổ làm trò cười cho giang hồ mà thôi.

Lão thái bà nói:

– Chúng ta giết Thần điêu hiệp, trừ con nhỏ kia ra, làm gì còn ai biết?

Lời chưa dứt, tay mụ đã vung. Gã lùn đầu to vội phất tay áo trái che phía trước người Quách Tương, một mũi châm rất nhỏ đã cắm vào tay áo. Gã nói:

– Nhị tỷ, nó do đệ dẫn tới, không nên giết nó.

Rồi gã quay sang nói với Quách Tương:

– Tiểu cô nương, nếu cô nương muốn đi gặp Thần điêu hiệp, chuyện đêm nay không được cho bất cứ ai biết, nếu không thì cô nương hãy lùi về đi.

Quách Tương vừa sợ vừa tức, nghĩ:" Lão thái bà xuất thủ quá thâm độc, không có vị thúc thúc lùn cứu giúp thì ta đã mất mạng bởi mũi châm vô hình vô thanh của mụ rồi ", bèn nói:

– Tiểu nữ không nói thì được.

Rồi hỏi:

– Các vị có mười người, chẳng lẽ Thần điêu hiệp không có trợ thủ hay sao?

Gã lùn đầu to cười hô hô, nói:

– Thần điêu hiệp xông pha giang hồ mười năm nay, chưa từng nghe nói hắn có trợ thủ nào hết. Hắn chỉ có một con quái điểu không biết nói bầu bạn mà thôi.

Nói đoạn giong cương, quát to:

– Đi nào!

Mọi người cùng phi đi, gã lùn đầu to bảo Quách Tương:

– Đến lúc động thủ, cô nương chớ rời khỏi chỗ ta.

Quách Tương gật đầu, nàng biết bọn Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ có nhiều kẻ lòng lang dạ sói, riêng gã lùn có ý chiếu cố, đề phòng đồng bọn có kẻ bất ngờ hạ độc thủ hại nàng.

Quách Tương phóng ngựa theo, thấy Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ tên nào cũng có tuyệt kỹ, Thần điêu hiệp võ công cao mấy, làm sao có thể lấy một địch mười? Nàng nghĩ:" Nếu cha mẹ mình ở đây, chắc chắn hai người sẽ không tụ thủ bàng quan ".

Đang đi, từ cánh rừng tối om trước mặt bỗng vọng ra tiếng hổ gầm, lũ ngựa giật mình, có con đứng sững lại, có con quay đầu định chạy. Gã cao gầy vụt roi ngựa liên tiếp, xông trước vào rừng. Lão thái bà thì chửi mắng ngựa:

– Đồ súc sinh vô dụng, một con mèo rừng cũng làm các ngươi run sợ hay sao?

Bầy ngựa bị roi quất, đều chạy vào rừng. Mọi người phóng đi mấy chục trượng, bỗng nghe trước mặt có tiếng quát to:

– Kẻ nào to gan làm càn, đang đêm dám xông vào Vạn Thú sơn trang?

Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ ghìm ngựa lại, chỉ thấy có một người đứng chắn đường, có hai con mãnh hổ quì ở hai bên gầm gừ. Bầy ngựa thấy mãnh hổ, lại kinh sợ.

Trường tu lão ông ngồi trên lưng ngựa, ôm quyền, nói:

– Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ đi qua quí địa, không vào cửa hỏi thăm, xin lượng thứ cho sự vô lễ.

Người đối diện nói:

– Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ à? Các hạ là Trường tu Quỉ Phàn gia phải không?

Trường tu lão ông nói:

– Chính ta. Bọn ta có việc cần đi Mã Bình gấp, khi trở về sẽ ghé vào tạ tội.

Lão biết các nhân vật trong Vạn Thú sơn trang chẳng tử tế gì, lúc này bọn lão cần toàn lực đối phó với Thần điêu hiệp, không muốn rắc rối về chuyện khác, nên mới nói khiêm nhường như thế.

Người đối diện nói:

– Các vị đợi một lát.

Rồi cao giọng nói:

– Đại ca, là Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ đi Mã Bình gấp, bảo khi trở về sẽ ghé vào tạ tội.

Lũ quỉ nghe vậy đều khó chịu, nghĩ:" Bọn ta bảo khi trở về sẽ ghé vào tạ tội, chỉ là một câu khách sáo, không lẽ Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ lại chịu cúi đầu trước bọn ngươi hay sao? "Mười con quỉ Tây Sơn, người nào cũng võ nghệ đầy mình, trước khi kết nghĩa với nhau, đều đã xông pha đủ nơi, đến khi tụ lại, thanh thế càng lớn, mấy năm qua hoành hành khắp một dải Tấn Thiểm, người trong võ lâm đều ba phần ngán ngẩm họ. Nếu không phải đêm nay có hẹn trước với Thần điêu hiệp, thì chỉ một câu của người đối diện kia đã khiến họ động thủ rồi.

Chỉ nghe từ trong rừng sâu có tiếng the thé vọng ra:

– Khỏi cần tạ tội, để cho họ vòng qua rừng mà đi.

Lũ Quỉ nghe câu đó thì cả giận, gã cao gầy như cây sào cười khẩy, nói:

– Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ xưa nay không quen đi đường vòng!

Đoạn kéo cương phóng thẳng tới người chắn đường.

Người kia giơ tay trái, hai con hổ lập tức chồm tới, con ngựa gã cao gầy cưỡi hoảng sợ dựng hai vó trước lên. Gã cao gầy tinh thông kỵ thuật, rạp người trên yên, roạt một cái, hai tay đã cầm hai cây đoản thương đâm hai con hổ. Con hổ bên trái nhảy tránh, con hổ bên phải thì đã dùng một chân trước tát vào bụng con ngựa thủng một miếng, nó gầm lên vì cũng đã bị thương.

Gã cao gầy nhảy xuống đất, quát:

– Lấy binh khí ra đi!

Cây đoản thương bên trái ở trên cao, cây đoản thương bên phải ở dưới thấp, giữ thế Song long phục uyên chưa đâm tới phía trước.

Người đối điện lạnh lùng nói:

– Vô Thường Quỉ, các hạ đã đả thương con mèo canh đêm của nhà ta, muốn đi đường vòng bây giờ cũng khó đấy. Hãy bỏ hai cây đoản thương lại!

VôThường Quỉ nghe người kia nói đúng ngoại hiệu của mình, bèn hỏi:

– Tôn giá là ai? Vạn Thú sơn trang vốn ở Tây Lương, sao lại dời đến Tấn Nam này? Các hạ muốn ta bỏ hai cây đoản thương lại, cũng không dễ đâu.

Người kia nói:

– Vạn Thú sơn trang muốn dọn đến đâu, đâu phải bẩm cáo Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ? Ở Tây Lương chán, thì dời đến Tấn Nam cho vui. Đại ca ta đã để cho các vị đi vòng qua rừng là đã khách sáo lắm rồi. Tam ca ta đang bị bệnh, không thích người ngoài quấy nhiễu, các hạ hiểu chưa?

Nói rồi đột nhiên giơ tay trái chộp lấy thân cây đoản thương bên phải, gần chỗ mũi thương của Vô Thường Quỉ. Vô Thường Quỉ không ngờ đối phương xuất thủ thần tốc, vội đâm cây đoản thương bên trái, đồng thời giữ chắc cây đoản thương bên phải. Người kia tay phải cũng nhứ nhứ, chộp luôn được cây đoản thương bên trái của Vô Thường Quỉ. Hai người lực đạo đều mạnh, không ai giành giữ được binh khí, rắc rắc cả hai cây đoản thương đều bị gãy.

Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ rúng động, Lão ông có ngoại hiệu Trường Tu Quỉ nói:

– Tôn giá là Bát Thủ Tiên Hầu Sử gia thì phải? Thanh Giáp Sư Vương không được khỏe ư? Hiện giờ bọn ta có việc gấp, ngày mai giờ này, hẹn gặp tại đây.

Chủ nhân của Vạn Thú sơn trang gồm huynh đệ năm người, đại ca là Bạch Ngạch Sơn Quân Sử Bá Uy, nhị ca là Quản Kiến Tử Sử Trọng Mãnh, tam ca là Thanh Giáp Sư Vương Sử Thúc Cương, tứ ca là Đại Lực Thần Sử Quí Cường, út nhất là Bát Thủ Tiên Hầu Sử Mạnh Tiệp. Tổ tiên của năm huynh đệ tương truyền nhiều đời sống bằng nghề dạy thú, năm huynh đệ đều có tài bẩm sinh, chẳng những có bản sự thuần dưỡng thú xuất thần nhập hóa, mà còn ngộ ra pháp môn võ công từ các động tác của dã thú. Huynh đệ họ Sử từ nhỏ đã bầu bạn với mãnh thú, rồi coi mãnh thú như thầy, mỗi người luyện tập đầy mình bản lĩnh. Sử Thúc Cương năm hơn hai mươi tuổi vào rừng bắt thú, gặp được kỳ nhân, học được nội công vô cùng tinh thâm, sau khi về nhà truyền thụ cho huynh đệ. Số mãnh thú do năm huynh đệ thuần dưỡng càng ngày càng nhiều, võ công của họ cũng ngày càng cao. Danh tiếng Vạn Thú sơn trang nổi dần trên giang hồ, người trong võ lâm đặt cho năm huynh đệ ngoại hiệu" Hổ Báo Sư Tượng Hầu ". Trong năm người thì Thanh Giáp Sư Vương Sử Thúc Cương phiêu dật tuyệt luân. Vừa nãy Trường Tu Quỉ nghe bảo Sử Thúc Cương bị bệnh thì cảm thấy nhẹ người, nghĩ thầm huynh đệ họ Sử tuy lợi hại, song Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ cũng không sợ, huống hồ đã bớt được Thanh Giáp Sư Vương, cho nên lão mới hẹn đêm mai quyết đấu.

Bát Thủ Tiên Hầu Sử Mạnh Tiệp nói:

– Được, giờ Tí đêm mai, huynh đệ tại hạ sẽ chờ các vị ở bìa rừng.

Nói rồi vung hai tay, hai đoạn thương gãy phóng đi cắm vào thân cây gần chỗ Trường Tu Quỉ. Trường Tu Quỉ sững người:" Sao hắn vẫn không chịu để chúng ta băng qua rừng? Huynh đệ họ Sử đang có trò gì trong cánh rừng này? "Bèn ôm quyền, nói:

– Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ cáo từ!

Hai chân kẹp lại, quất ngựa xông lên trước. Sử Mạnh Tiệp nói to:

– Hãy khoan! Đại ca ta đã bảo các vị đi vòng cánh rừng, chẳng lẽ các vị điếc cả hay sao?

Trường Tu Quỉ đang định trả lời, bỗng nghe ở góc đông bắc và góc tây bắc trong rừng cùng có tiếng cười hô hô, rồi khói bốc lên dày đặc, tiếng một người nói:

– Huynh đệ các người giở trò quỉ gì trong rừng, đừng hòng che mắt nổi Nhất Khuất Quỉ.

Một người khác nói:

– Cái này gọi là giở trò ma, lại gặp phải tổ sư ma.

Thì ra Táng Môn Quỉ thứ tám và Tiếu Kiểm Quỉ thứ mười đã lợi dụng Trường Tu Quỉ và Sử Mạnh Tiệp mải nói với nhau, đã lẻn đi phóng hỏa.

Lửa vừa bốc lên, đã nghe Táng Môn Quỉ và Tiếu Kiểm Quỉ kêu thất thanh, cắm cổ chạy lại, thở hổn hển, sắc diện kinh hoảng. Trường Tu Quỉ hỏi:

– Cái gì vậy?

Táng Môn Quỉ kêu lên:

– Hổ, hổ! Một trăm con, hai trăm con..

Sứ Mạnh Tiệp thấy rừng bốc cháy, thì cả giận, gọi to:

– Đại ca, nhị ca, việc chính cần hơn, hãy để cho lũ Quỉ đi đi! Lúc nào tìm bọn họ chẳng được?

Đột nhiên mắt mọi người hoa lên, một con dã thú trông như con chó nhỏ từ trong rừng dày lao vọt ra, con thú này thân không lớn, bốn chân rất dài, toàn thân trắng như tuyết, đuôi màu đen sẫm, không giống mèo, cũng không giống chó. Sử Mạnh Tiệp kêu to:

– Cửu vĩ linh hồ chạy mất rồi!

Y phi thân đuổi theo. Tiếng kêu của y đầy vẻ kinh hãi.

Chợt nghe từ phía sau cánh rừng một tiếng kêu to, từa tựa như tiếng hổ gầm, tiếng sư tử rống, hoặc tiếng người hú, Quách Tương nghe âm thanh ấy mà lạnh cả sống lưng. Tiếp theo âm thanh ấy, bách thú bốn phía cùng kêu lên, nào sư tử, nào hổ báo, nào chó sói, nào voi, tinh tinh, khỉ vượn.. hàng ngàn dã thú vừa kêu vừa xông ra. Chỉ nghe một người nói:

– Đại ca đến góc đông bắc, nhị ca góc tây bắc, tứ đệ góc tây nam..

Âm thanh chính là tiếng hú vừa rồi.

Quách Tương thấy mấy cái bóng đen vút qua, đã ra khỏi cánh rừng dày. Nàng biết rõ nguy hiểm, nhưng nổi tính hiếu kỳ, vội giục ngựa ra khỏi cánh rừng. Gã lùn đầu to gọi:

– Quách cô nương, không được chạy lung tung!

Cũng vội phóng ngựa theo nàng.

Quách Tương vừa ra khỏi rừng, thì trước mắt hiện ra cảnh tượng kỳ lạ, thấy năm người, mỗi người chỉ huy một bầy dã thú, chạy gấp ra năm phương trên bình nguyên phủ tuyết trắng xóa. Bầy mãnh thú rõ ràng đã được huấn luyện kỹ, chúng không hề cắn xé nhau mà kết thành đội, chạy phía này phía nọ đâu ra đấy. Quách Tương vừa sợ vừa thích thú, thấy năm đội mãnh thú dần dần tiếp cận, thành một vòng vây lớn.

Bỗng nhiên một cái bóng trắng vút đi, con vật nhỏ ban nãy từ giữa bầy mãnh thú chạy vụt qua trước mặt Quách Tương. Thân pháp của nó nhanh như một tia chớp. Quách Tương giật mình, cúi xuống định bắt nó, nhưng con thú đã vọt đi xa mấy trượng. Nó dừng lại ngoảnh đầu nhìn Quách Tương, cặp mặt tròn đỏ như hai đốm lửa, long lanh đưa qua đưa lại trong đêm tối.

Chi nghe huynh đệ họ Sử gọi:

– Cửu vĩ linh hồ, cửu vĩ linh hồ, sang mé kia, sang mé kia!

Rồi một bầy dã thú ào qua như núi lở.

Quách Tương giục ngựa nhảy tránh sang một bên, nhưng con ngựa thấy quá nhiều dã thú, sợ quá toàn thân run rẩy, hai chân trước khuỵu xuống đất. Quách Tương cả kinh:" Bầy dã thú tràn qua chỗ ta sẽ giẫm nát ta mất! "Nàng vội rời yên ngựa, chạy chéo đi, mũi ngửi thấy từng đợt gió tanh tưởi, bầy dã thú tràn qua bên cạnh nàng như một dòng sông, chẳng mấy chốc đã đi ra xa.

Lúc này Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ cũng đều đã ra khỏi cánh rừng, Trường Tu Quỉ nói:

– Huynh đệ họ Sử võ công cao mấy, chúng ta cũng không sợ, có điều nhiều dã thú thế này không dễ đánh tan. Đêm nay tạm bỏ qua, để dành sức đối phó với Thần điêu hiệp, mọi người cùng đi nào?

Lão thái bà nói:

– Phải, đêm nay giết Thần điêu hiệp trước, đêm mai sẽ đến đây nướng thịt sư tử, hổ báo sau!

Nói rồi cả bọn định phóng ngựa vòng cánh rừng mà đi.

Bỗng nghe tiếng sư tử, hổ báo gầm cả lên, bầy dã thú đã chia đường chạy ngược trở lại. Lần này bầy dã thú chạy chậm hơn ban nãy, tiếng kêu cũng đỡ hung hăng. Trường Tu Quỉ tái mặt, nói:

– Hỏng rồi, mọi người chạy mau!

Nhưng tứ diện bát phương đều có tiếng dã thú, mọi người đã lọt vào vòng vây. Trường Tu Quỉ hô khẽ một tiếng, cả bọn cùng xuống ngựa, chiếm giữ năm phương vị, lăm lăm binh khí trong tay, chờ địch tới, không nói một lời.

Đại Đầu Quỉ nói khẽ:

– Quách cô nương, mau trở về đi, ở đây nguy hiểm lãm.

Quách Tương nói:

– Còn Thần điêu hiệp? Tiền bối đã đáp ứng dẫn vãn bối đi gặp chàng kia mà.

Đại Đầu Quỉ cau mày, nói:

– Bầy dã thú nhiều thế kia, cô nương không nhìn thấy hay sao?

Quách Tương nói:

– Tiền bối hãy nói lý lẽ với chủ nhân bầy dã thú, rằng các vị có hẹn với Thần điêu hiệp, không còn thời gian lưu lại chốn này.

Đại Đầu Quỉ cau mày, nói:

– Hừ, Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ không quen nói lý lẽ với người khác.

Đang nói thì huynh đệ họ Sử đã chỉ huy bầy dã thú quay lại. Năm người mình mặc áo da ngắn, dừng chân cách chỗ Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ dăm trượng.

Vẫn là ngũ đệ Sử Mạnh Tiệp lên tiếng trước:

– Vạn Thú sơn trang và Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ vốn không hề có hiềm khích, tại sao các hạ vị lại phóng hỏa đốt rừng, đuổi Cửu vĩ linh hồ?

Quách Tương nghe giọng nói đầy căm phẫn của người kia, thì nghĩ:" Con thú nhỏ kia tuy khả ái, nhưng có gì đặc biệt mà phải giận dữ đến thế? Hiển nhiên nó chỉ có một cái đuôi, sao lại gọi nó là Cửu vĩ linh hồ? "

Hồng y thiếu phụ nói:

– Việc hôm nay là do huynh đệ họ Sử mà ra. Vạn Thú sơn trang vốn khai sơn lập nghiệp ở một dải Cam Lương, đột nhiên lại kéo đến vùng Sơn Tây của bọn ta, nửa đêm còn ngang nhiên chặn đường. Ngang ngược như thế, còn đòi trách cứ người khác ư?

Bạch Ngạch Sơn Quân Sử Bá Uy quát:

– Việc đã thế này, khỏi cần nhiều lời. Không kẻ nào trong Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ có thể sống sót.

Nói xong tay không lao về phía Trường Tu Quỉ, song chưởng ở tư thế hổ trảo, người chưa tới, gió đã đến trước, uy phong y như mãnh hổ.

Trường Tu Quỉ di chân một cái, lướt tránh sang bên trái hơn một trượng, vù một cái, cây cương trượng vụt ngang qua người Sử Bá Uy. Sử Bá Uy hổ trảo giơ ra, chộp lấy đầu cây trượng. Tay y chưa nắm chắc, cảm thấy cánh tay nóng lên, vội buông ra, tả chưởng vận công hất cây trượng đi, nếu y không kiến cơ hành sự mau lẹ, thì đã bị cây trượng điểm trúng ngực. Sử Bá Uy chột dạ, nghĩ:" Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ mấy năm nay tiếng tăm lừng lẫy, quả nhiên không phải hạng xoàng ". Y không dám coi thường, bèn rút binh khí ra, là một cặp hổ đầu câu. Cặp hổ đầu câu này cái bên tay phải nặng tám chục cân, cái bên tay trái nặng bảy chục cân, thật là thứ binh khí cực nặng. Cặp hổ đầu câu tạo thành hai luồng hoàng quang, ác đấu với cây cương trượng của Trường Tu Quỉ.

Quản Kiến Tử Sử Trọng Mãnh tay cầm cây Lạn ngân điểm cương quản đấu với hai người là Thôi Mệnh Quỉ và Táng Môn Quỉ. Đại Lực Thần Sử Quí Cường, đấu với lão thái bà Điếu Tử Quỉ. Sợi dây dài của Điếu Tử Quỉ quá lợi hại, khiến cho Sử Quí Cường tuy có thần lực mà chẳng làm gì nổi mụ ta, chỉ luôn miệng gầm thét. Đối thủ của Bát Thủ Tiên Hầu Sử Mạnh Tiệp là Đại Đầu Quỉ với cây đồng chùy bát giác. Nhìn thấy đôi phán quan bút của Sử Mạnh Tiệp chiêu số tinh kỳ, Đại Đầu Quỉ chống đỡ không lại, Hồng y thiếu phụ Tiêu Quỉ vung đao tới trợ lực.

Trên bãi tuyết, mười người chia thành bốn nhóm ác đấu tuyết bắn tung tóe, nhất thời bất phân thắng bại.

Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ còn bốn người chưa xuất thủ, phía đối phương thì chỉ còn một mình Thanh Giáp Sư Vương Sử Thúc Cương tay không đứng ngoài, thấy y dựa vào thân một con sư tử đực, hình như đang bị bệnh, có khí vô lực. Hiện thời Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ đông người hơn, rõ ràng chiếm thượng phong, nhưng huynh đệ họ Sử chỉ cần hô một tiếng bầy dã thú sẽ xông vào, Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ sẽ lập tức lâm vào thế hạ phong.

Quách Tương thấy bầy dã thú vây quanh, rất sợ, nhưng vẫn muốn đi gặp Thần điêu hiệp, bèn gọi:

– Đại Đầu thúc thúc, đừng đánh nhau nữa, các vị đông người hơn, có thắng cũng chẳng vẻ vang gì. Là các vị đắc tội với người ta, hãy xin lỗi họ đi thì hơn!

Chẳng ai buồn để ý đến nàng.

Mười người đấu hồi lâu. Trường Tu Quỉ và Sử Bá Uy đôi bên ngang ngửa. Sợi dây dài của lão thái bà Điếu Tử Quỉ biến hóa chiêu số đa đoan, thành các vòng lớn vòng nhỏ, Sử Quí Cường sơ ý một chút, suýt nữa bị sợi dây của Điếu Tử Quỉ quấn vào cổ, may mà y hung mãnh, Điếu Tử Quỉ cũng có phần ngán ngại. Đại Đầu Quỉ và Tiêu Quỉ một cương một nhu hỗ trợ nhau, nhưng Sử Mạnh Tiệp xuất chiêu cực nhanh, cổ nhân có câu:" Một nhanh đánh ba chậm ", ba người lăn xả vào nhau mà đánh, Sử Mạnh Tiệp vẫn không hề bị núng thế. Chỉ nghe Đại Đầu Quỉ hầm hè, còn Tiêu Quỉ chỉ nhếch mép cười nham hiểm, luôn miệng cười nói để làm rối trí đối phương.

Sử Mạnh Tiệp coi như không nghe thấy, chăm chú tiếp chiêu.

Cạnh đó, Thôi Mệnh Quỉ và Táng Môn Quỉ xem chừng đã không địch nổi cây ngân quản của Sử Trọng Mãnh. Cây ngân quản như một cây côn, nhưng rỗng ruột, chiêu số vô cùng cổ quái, ba người đấu một hồi, Táng Môn Quỉ đâm cây thương ra, Sử Trọng Mãnh cũng nhắm mũi cây thương mà đâm cây ngân quản ra, khiến cây thương chui vào trong lòng cây ngân quản. Táng Môn Quỉ cả kinh, nhưng chưa chịu buông tay. Thảo Trái Quỉ nhảy vào trợ lực Táng Môn Quỉ, vung cỗ thiết bài đánh vào cây ngân quản của Sử Trọng Mãnh. Sử Trọng Mãnh phải lùi lại. Táng Môn Quỉ mới thu hồi cây thương về. Binh khí của Thảo Trái Quỉ là một khối thiết bài, giống như một quyển sổ, gồm năm tờ, là năm lá thép sắc cạnh không thua gì đao kiếm, quả là một kỳ môn lợi khí.

Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ vốn mỗi người đều có danh tính, nhưng từ khi ngoại hiệu" Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ "vang danh trên giang hồ, thì mười người bỏ cả tên thật, lấy một ngoại hiệu có chữ" Quỉ ". Mười người hành sự vốn đều có bản sắc riêng, họ nói với nhau:

– Hảo hán trên giang hồ gọi chúng ta là Quỉ thì chúng ta cứ nhận vậy đi, để xem con người lợi hại, hay con Quỉ hùng mạnh hơn?

Thảo Trái Quỉ là kẻ không chịu bỏ qua bất cứ người nào có oán thù nho nhỏ với hắn, nên trong võ lâm người ta đặt cho hắn ngoại hiệu" Thảo Trái Quỉ "(Quỉ đòi nợ). Hắn nghe vậy, liền thuê đúc bộ thiết bài thành hình quyển sổ nợ, trên mỗi lá thép lấy mũi dao khắc tính danh cừu nhân, sau khi trả thù rửa hận rồi, hắn mới xóa tên người ấy đi.

Lạn ngân điểm cương quản là một thứ binh khí dị hình, cỗ thiết bài lại càng dị dạng hơn, năm lá thép gõ vào nhau lanh canh. Thôi Mệnh Quỉ, Táng Môn Quỉ và Thảo Trái Quỉ ba gã hợp lực đấu với Sử Trọng Mãnh, tình thế mới dần dần có lợi cho tam quỉ.

Quách Tương đứng bên ngoài, thấy Nhất Khuất Quỉ và huynh đệ họ Sử cứ đánh nhau mãi không thôi, nghĩ đã quá giờ hẹn với Thần điêu hiệp, chỉ sợ chàng không đợi nữa bỏ đi, nàng càng nghĩ càng nóng ruột, song không thể can ngăn cuộc ác đấu của đám người này.

Hàng ngàn con thú nằm mọp dưới đất, vây quanh thành một vòng kín. Nhất Khuất Quỉ nhìn đâu trong bóng đêm cũng thấy những con mắt long lanh sáng quắc, đều nghĩ dẫu có đánh chết cả năm huynh đệ họ Sử, muốn thoát ra khỏi vòng vây dã thú cũng chẳng dễ gì. Lão thái bà Điếu Tử Quỉ muốn dùng sợi dây dài trói Đại Lực Thần Sử Quí Cường để bắt giữ y, buộc huynh đệ họ Sử giải tán bầy dã thú, mở đường cho đi.

Nhưng Sử Quí Cường võ công vốn cao hơn Điếu Tử Quỉ, chỉ vì vũ khí của mụ đặc biệt, mụ mới chiếm được phần nào lợi thế, đôi bên ngang ngửa, muốn bắt trói y đâu có dễ? Tiếu Kiểm Quỉ gọi:

– Nhị tỷ, có đệ giúp đây.

Hắn cầm binh khí lao vào tấn công Sử Quí Cường.

Sứ Quí Cường đang sốt ruột, thấy Tiếu Kiểm Quỉ nhảy vào, càng hợp tâm ý, liền nói:

– Càng hay!

Cây đồng chùy bổ mạnh xuống đầu Tiếu Kiểm Quỉ. Tiếu Kiểm Quỉ lạng người sang bên để tránh, quét song tiên qua, phựt một tiếng, song tiên lập tức bị đứt. Tiếu Kiểm Quỉ cả kinh, vội lăn một vòng ra ngoài. Huỵch một cái, cây đồng chùy nện xuống đất.

Tiếu Kiểm Quỉ thò tay vào túi, lấy ra một gói phấn độc chưa đứng dậy đã vung tay ném về phía Sứ Quí Cường. Sử Quí Cường thấy trước mắt xuất hiện một màn sương mỏng màu hồng, đang bối rối thì bước chân lảo đảo, ngã khuỵu ngay xuống.

Sợi dây dài của Điếu Tử Quỉ đã văng tới, quấn hai chân y lại.

Sử Bá Uy, Sử Trọng Mãnh, Sử Mạnh Tiệp ba người thấy Sử Quí Cường thất thủ, thì vừa kinh hãi vừa tức giận; khổ nỗi họ đang bị lũ quỉ đeo bám, không thể phân thân đi giải cứu. Quách Tương lên tiếng:

– Các vị làm gì vậy, dùng quỉ kế đả thương người khác có đáng mặt hảo hán hay không?

Nàng không giúp bên nào trong cuộc giao đấu, nhưng thấy chiêu vừa rồi của Tiếu Kiểm Quỉ quá ám muội, không nhịn được, đã lên tiếng chỉ trích. Lúc ấy bỗng nghe một tiếng gầm nhỏ, Thanh Giáp Sư Vương Sử Thúc Cương thong thả đứng dậy, trầm giọng quát:

– Thả tứ đệ của ta ra!

Sử Quí Cường hôn mê chưa tỉnh, Điếu Tử Quỉ dùng dây trói cả hai tay y lại, sợ y khỏe quá, đột nhiên tỉnh lại sẽ giật tung dây trói, nên mụ còn điểm huyệt y, nói với Sử Thúc Cương:

– Ngươi đuổi lũ súc sinh dọn đường đi, bọn ta sẽ thả người!

Mụ ta nhìn Sử Thúc Cương hai mắt lõm sâu, mặt tái nhợt, bước đi loạng choạng, rõ ràng bị bệnh khá nặng, mụ ta chẳng coi y ra gì.

Quách Tương thấy Sử Thúc Cương chậm rãi bước về phía lũ Quỉ, chủ yếu y quá trọng tình huynh đệ, bệnh đang nặng vẫn nghênh địch, thực là một trang hảo hán, vội nói:

– Ôi, các hạ đang bệnh, không nên động thủ.

Sử Thúc Cương gật gật đầu, nói với nàng:

– Đa tạ!

Chân vẫn bước về phía Sử Quí Cường.

Tiếu Kiểm Quỉ nháy mắt với Điếu Tử Quỉ, từ hai bên tả hữu cùng xông vào bắt trói Sử Thúc Cương.

Hai người xáp tới bên Sử Thúc Cương, bốn tay giơ ra chộp, bỗng nghe Sử Thúc Cương gầm khẽ một tiếng, tay trái vỗ vai Điếu Tử Quỉ, tay phải ấn vào lưng Tiếu Kiểm Quỉ, hai kẻ đó cảm thấy có một luồng lực mạnh đột nhiên đẩy họ suýt ngã; họ vội nhảy tránh ra; may sao Sử Thúc Cương không đuổi theo. Hai người kinh hãi nhìn nhau, đều sợ toát mồ hôi, không ngờ một bệnh nhân lại có sức mạnh lợi hại như vậy.

Sử Thúc Cương cúi xuống giải huyệt cho Sử Quí Cường, giật nhẹ sợi dây trói, sợi dây đứt luôn mấy đoạn. Nhưng Sử Quí Cường bị trúng phấn độc, vẫn chưa tỉnh lại. Sử Thúc Cương cau mày quát:

– Mau đưa giải dược!

Tiếu Kiểm Quỉ nói:

– Ngươi thu hồi lũ súc sinh, ta khắc đưa giải dược cho ngươi.

Sử Thúc Cương hừ một tiếng, lảo đảo bước về phía Tiếu Kiểm Quỉ. Tiếu Kiểm Quỉ không dám đối địch, vội tránh đi. Sử Thúc Cương đang có bệnh, không thể chạy nhảy, song vẫn cứ tiến về phía Tiếu Kiểm Quỉ. Bốn tên Quỉ đang đứng không bèn ùa tới, Tiếu Kiểm Quỉ cũng quay lại đấu. Sử Thúc Cương xuất chưởng rất chậm, nhưng chưởng lực vô cùng hùng hậu, năm con quỉ quây tròn xung quanh, kẻ đâm mũi thương, đứa chém một đao, song không tên nào dám xáp lại gần. Tiếu Kiểm Quỉ cũng không dám ném phấn độc vì sợ huynh đệ của mình dính độc.

Quách Tương nghĩ:" Người kia bị trúng quỉ kế, thật đáng thương! "Nàng bèn bốc tuyết xoa xoa trán Sử Quí Cường, lại vốc một nắm tuyết nhét vào miệng y. Phấn độc vốn không giữ lâu, thể phách của Sử Quí Cường lại mạnh mẽ, đầu mặt bị lạnh một lát liền hồi tỉnh, thấy Quách Tương dùng tuyết xoa trán cho mình, liền nói:

– Đa tạ tiểu cô nương!

Rồi bật người đứng dậy, dùng mu bàn tay dụi dụi mắt, thấy ngũ quỉ vây đánh Sử Thúc Cương, bèn gọi to:

– Tam ca hãy lui ra!

Đoạn đưa tay túm gáy Tiếu Kiểm Quỉ.

Sử Bá Uy đang múa song câu giao đấu với cây cương trượng của Trường Tu Quỉ, thấy Sứ Quí Cường đã hồi tỉnh thì cả mừng, liền hú to một tiếng. Bầy dã thú đang nằm phục vây quanh nghe tiếng hú, đều bật cả dậy, sẵn sàng chồm tới. Sử Bá Uy lại gầm một tiếng, bầy dã thú nhất tề gầm theo.

Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ tuy từng trải không ít trận đánh lớn, nhưng trước tình cảnh này cũng không khỏi rùng mình sởn gáy. Bầy mãnh thú chưa dứt tiếng gầm, đã ào ào xông tới tấn công mười tên quỉ.

Quách Tương kêu" Ối "một tiếng, sợ xanh mặt. Sử Thúc Cương đưa tay gạt một con hổ đang lao tới chỗ Quách Tương, gỡ chiếc mũ da trên đầu mình chụp lên đầu nàng. Bầy thú đã được huấn luyện kỹ, thấy nàng đội mũ da thì không con nào tấn công nàng nữa, chuyển sang công kích mười tên quỉ. Bầy mãnh thú nào hổ báo, sư tử, chó sói, gấu, vượn xông vào cắn xé mười tên quỉ. Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ ra sức chống trả, đã giết chết bảy, tám con ác thú, nhưng một là bị huynh đệ họ Sử đứng bên khống chế, hai là số lượng mãnh thú quá nhiều, thoáng chốc mười tên quỉ đa phần đã bị thương, quần áo rách bươm, máu tươi loang lổ, sắp sửa bỏ mạng tại chỗ, không một tên nào có thể thoát khỏi nanh vuốt dã thú.

Quách Tương thấy ba con sư tử vây công một mình Đại Đầu Quỉ, cây đồng chùy của lão đã rơi dưới đất, tay phải của lão bị một con sư tử cắn chặt không nhả, lão chỉ còn dùng một bàn tay trái phách chưởng gắng gượng chống đỡ hai con sư tử kia. Quách Tương nghĩ Đại Đầu Quỉ đã dẫn nàng tới đây, thấy lão bị như thế, không nỡ lòng, bèn gỡ ngay cái mũ da ném sang đầu lão. Đầu lão thì to tướng, cái mũ thì nhỏ, trông thật tức cười, hơn nữa lại cứ như sắp rơi xuống đất.

Huynh đệ họ Sử khi tập luyện cho bầy thú đều đội một loại mũ da đặc chế; lũ súc sinh vô tri, đâu có phân biệt bạn thù, vừa thấy Đại Đầu Quỉ đội cái mũ da thì lập tức lùi ra. Có bốn con báo gấm vây lấy Quách Tương.

Lúc này Sử Thúc Cương đang cố đoạt cây cương trượng từ tay Trường Tu Quỉ, để lão ta khỏi sát thương quá nhiều con vật, nghe tiếng Quách Tương kêu cứu, ngoảnh lại, không khỏi giật mình, nhưng vì ở quá xa, không kịp đến giải cứu. Nghĩ kể cũng lạ, bốn con báo gấm không hề vồ cắn Quách Tương, mà cứ đi quanh nàng hít hít ngửi ngửi hết sức thân thiện. Quách Tương thoạt tiên sợ đờ người ra, sau thấy bốn con báo gấm hoàn toàn không có ác ý, thì nàng sững sờ, nhớ mẫu thân và tỷ tỷ từng kể rằng hồi nhỏ nàng đã bú sữa con báo gấm mà lớn lên, xem chừng bốn con báo gấm này ngửi thấy trên người nàng có mùi đồng loại. Nàng vừa kinh ngạc vừa vui mừng, cúi xuống quàng tay ôm cổ hai con báo gấm, hai con kia đưa lưỡi liếm mu bàn tay và má nàng. Quách Tương cảm thấy nhộn nhột, cười khanh khách. Huynh đệ họ Sử từ khi dạy thú đến nay chưa thấy cảnh lạ này lần nào, cũng vừa kinh ngạc vừa vui mừng.

Đại Đầu Quỉ nhờ cái mũ da mà tạm thoát họa, nhưng thấy huynh đệ tỷ muội chín người khó thoát nguy khốn, thì y đâu chịu sống sót một mình? Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ hoàn toàn không phải chính nhân quân tử, bình thời làm nhiều việc bàng môn tả đạo nhưng nghĩa khí đối với nhau rất sâu nặng, y bèn cầm chiếc mũ da ném cho Hồng y thiếu phụ Tiêu Quỉ, nói:

– Cửu muội, muội hãy mau thoát đi!

Hồng y thiếu phụ đón chiếc mũ da, lại ném luôn cho Trường Tu Quỉ, nói:

– Đại ca, đại ca thoát trước đi, sau này tìm cách báo thù cho đệ muội.

Trường Tu Quỉ ném chiếc mũ da cho Tiếu Kiểm Quỉ, nói:

– Thập đệ, quân tử báo thù mười năm chưa muộn, đại ca của đệ không sống được tới lúc ấy đâu.

Mười người không một ai chịu nhận vật cứu mạng. Tiếu Kiểm Quỉ đang bị năm con sói dữ bám riết, không ngơi tay để ném chiếc mũ da đi nữa. Chó sói lại là loài vật cực tham cực dữ, miệng đã cắn vào thịt tươi, tuy thấy Tiếu Kiểm Quỉ trên đầu có chiếc mũ da, chúng cũng không chịu nhả miếng mồi ngon. Tiếu Kiểm Quỉ kêu váng lên đau đớn, mặt trông vẫn như đang cười.

Bỗng nghe trên cao có tiếng hú lảnh lót, rồi một giọng nói sang sảng:

– Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ không giữ lời hẹn, để ta chờ cả nửa đêm, thì ra đang hồ náo với bầy dã thú ở đây!

Quách Tương nghe vậy cả mừng, nghĩ:" Thần điêu hiệp đến rồi! "Nàng ngẩng đầu, thấy có người ngồi vắt vẻo trên cây đại thụ, có một con chim điêu lớn cực xấu đậu bên cạnh. Người ấy mặc chiếc trường bào màu xám, ống tay áo bên phải giắt vào thắt lưng, quả nhiên bị mất một cánh tay; nhìn kỹ lại diện mạo, thì nàng không khỏi rùng mình, chỉ thấy một bộ mặt vàng vọt, khô khan, cứng nhắc, không phải mặt của người sống, mà y như mặt của tử thi. Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ tuy tên nào tướng mạo cũng hung ác, nhưng không ai xấu xí như người kia.

Khi chưa gặp Thần điêu hiệp, tiểu cô nương cứ ngỡ chàng là một trang anh tuấn, phong lưu nho nhã, bây giờ gặp thì đại thất vọng, nghĩ bụng:" Trên thế gian sao lại có người tướng mạo xấu xí đến thế!"Không nhịn được, nàng lại nhìn chàng một lần nữa, thấy đôi mắt chàng sáng quắc, anh khí bức nhân. Nhãn quang như tia chớp ấy quét qua, dừng lại ở mặt nàng, hình như hơi lấy làm lạ. Quách Tương thấy ngực và hai má nóng bừng, nàng cúi đầu xuống, lờ mờ cảm thấy Thần điêu hiệp cũng không đến nỗi xấu xí lắm.

Comments

Comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 34: Bài Nan Giải Hạn

Người kia chính là Dương Quá. Mười sáu năm nay chàng khổ công chờ ngày tái hợp với Tiểu Long Nữ, cứ du hành bốn phương, hành hiệp trượng nghĩa, vì có Thần điêu làm bạn nên được người ta đặt cho cái tên "Thần điêu hiệp". Chàng tự nghĩ hồi thiếu thời nghiệt duyên phong lưu quá nhiều, khiến cho Công Tôn Lục Ngạc vì chàng mà mất mạng, Trình Anh và Lục Vô Song suốt đời đau khổ, cho nên chàng thường đeo cái mặt nạ mà Hoàng Dược Sư chế tạo, ít khi để lộ chân diện mục cho người ta biết.

Đêm nay chàng hẹn giao đấu với Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ ở Mã Bình, đối phương quá giờ hẹn không tới, chàng bèn tìm đến đây.

Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ bị bầy mãnh thú vây công, tính mạng cả bọn đều như trứng để đầu đẳng, đột nhiên nghe tiếng nói của Dương Quá, lại thêm một cường địch, thì nghĩ: "Thôi thế là hết, không còn một chút hi vọng mong manh gì nữa!" Lại nghe Dương Quá nói lớn:

– Mấy vị đây là các hiền huynh Vạn Thú sơn trang phải không? Các vị hãy dừng tay, nghe tại hạ nói đã.

Sử Bá Uy nói:

– Bọn ta chính là họ Sử đây. Các hạ là ai? À xin lỗi, các hạ chắc là Thần điêu hiệp chứ gì?

Dương Quá nói:

– Không dám, chính là tại hạ. Hãy mau quát bảo lũ dã thú kia, kẻo chậm chút nữa thì e rằng đám Quỉ giả sẽ hóa thành ma thật.

Sử Bá Uy nói:

– Đợi khi nào cả đám Quỉ giả hóa thành ma thật, ta mới có thời gian nói chuyện với các hạ.

Dương Quá cau mày, nói:

– Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ có hẹn trước với tại hạ, các hạ để bầy ác thú cắn chết họ rồi, thì tại hạ còn ai để nói?

Sử Bá Uy nghe lời lẽ của chàng càng lúc càng vô lễ thì chỉ cười khẩy, suỵt thú công kích mạnh hơn nữa. Dương Quá xẵng giọng, nói:

– Các hạ đã biết Thần điêu hiệp, sao lại không thèm lý gì đến lời nói của tại hạ?

Sử Bá Uy nói:

– Thần điêu hiệp thì sao? Các hạ có bản lĩnh thì cứ việc tự ngăn bầy dã thú!

Dương Quá nói:

– Được, Điêu huynh, chúng ta cùng xuống nào!

Ống tay áo bên phải phất một cái, một người một điêu từ trên cây nhảy xuống.

Bầy dã thú chưa đợi người và điêu chạm đất đã gầm gừ hùa nhau xông tới. Thần điêu dang hai cánh, vỗ bên trái hất bên phải, quạt một luồng kình phong mãnh liệt, lũ chó sói thân hình nhỏ bị gió thổi bạt, đứng không vững, nhảy dạt cả ra. Một con sư tử và một con hổ chồm tới, Thần điêu quét ngang cánh bên phải một cái, hai con thú lăn đi mấy vòng, cánh bên trái đập xuống, trúng ngay đầu một con báo gấm, con báo khuỵu xuống đất, không thấy cựa quậy gì nữa.

Bầy dã thú thấy Thần điêu uy mãnh như thế, không con nào dám tới gần, chỉ mon men đằng xa mà gầm gầm gừ gừ.

Sử Bá Uy cả giận, nhảy vọt tới chỗ Dương Quá, tay thành hình hổ trảo, chộp tới ngực chàng. Vai phải của Dương Quá khẽ động, ống tay áo quất từ trên xuống, trúng hai cổ tay Sử Bá Uy, Sử Bá Uy cảm thấy cổ tay đau nhói như bị đao chém, không kìm được, kêu ối lên một tiếng.

Sử Thúc Cương chậm rãi bước tới, giơ chưởng đẩy ngang ra. Dương Quá khen:

– Hảo công phu!

Chàng giơ tả chưởng ra chống đỡ, mỉm cười, sử ba thành chưởng lực. Chàng hơn mười năm nay luyện công trong sóng biển, nếu vận đủ kình lực, đừng nói thân thể con người, cây lớn tường dày cũng bị phá thủng tức thì. Sử Thúc Cương từng được dị nhân truyền công, nội lực cũng phi phàm, thân hình hơi lắc lư, nhưng chưa phải lùi bước. Dương Quá nói:

– Cẩn thận này!

Chàng tăng thêm hai thành kình lực. Sử Thúc Cương trước mắt tối sầm, biết tính mạng khó toàn, bỗng nghe Dương Quá kêu lên:

– Ồ, các hạ đang có bệnh!

Luồng kình lực bài sơn đảo hải đang dồn đến lập tức biến mất tiêu. Sử Thúc Cương thoát chết, đứng ngây ra không nói nên lời.

Sử Bá Uy, Sử Trọng Mãnh, Sử Quí Cường và Sử Mạnh Tiệp bốn người thấy Sử Thúc Cương đứng ngây ra bất động, đoán là y bị trọng thương thì giận dữ lao tới chỗ Dương Quá. Chỉ thấy chàng hơi rùn người xuống, vừa lúc có một con mãnh hổ vọt qua, chàng đã giơ tay tóm được gáy con mãnh hổ, dùng nó làm một món binh khí sống, gạt ngân quản của Sử Trọng Mãnh và cây đồng chùy của Sử Quí Cường, rồi dùng bốn chân con hổ mà chộp tới ngực Sử Mạnh Tiệp và Sử Bá Uy. Dương Quá hơn mười năm trước từng sử thanh Huyền thiết trọng kiếm nặng bảy tám chục cân, con mãnh hổ này tuy rất to, cũng chỉ nặng vài chục cân là cùng; chàng giơ nó lên cứ như cầm một vật tầm thường nhẹ bẫng. Con hổ bị túm gáy, vừa sợ vừa tức, đâu còn nhận biết chủ nhân, cứ nhe răng múa vuốt mà chộp và cắn huynh đệ họ Sử. Sử Mạnh Tiệp và Sử Bá Uy bình thời tuy vẫn đùa giỡn với hổ, nhưng lúc này cứ luống cuống cả tay chân.

Quách Tương đứng ngoài vỗ tay cười, nói:

– Thần điêu hiệp, hảo công phu, huynh đệ Sử gia đã phục chưa?

Dương Quá nhìn nàng một cái, nghĩ: "Tiểu cô nương kia đi theo ai vậy? Đã chơi với lũ báo gấm, sao còn chế giễu huynh đệ họ Sử?" Sử Thúc Cương hít thở hai cái thấy bình thường, biết chưa bị thương, Thần điêu hiệp thủ hạ lưu tình, tha chết cho y, nghĩ: "Dùng công phu chân thực, cả năm huynh đệ mình cùng hợp lực, cũng không địch nổi Thần điêu hiệp", thấy nhị ca và tứ đệ rút binh khí lao tới tấn công, vội nói:

– Nhị ca, tứ đệ, hãy dừng tay, chúng ta không thể không biết tốt xấu.

Quản Kiến Tử Sử Trọng Mãnh nghe vậy lập tức thu hồi cái ngân quản. Đại Lực Thần Sử Quí Cường là kẻ thô lỗ, nghĩ: "Thế nào là không thể không biết tốt xấu? Hãy tiếp một chùy của ta đi đã". Hai tay y nắm cán chùy bổ thẳng xuống đầu Dương Quá, chiêu này gọi là "Cự tượng khai sơn", bắt chước tư thế con voi lớn dùng vòi quật. Cây đồng chùy của y đúc giống hình cái vòi voi, trước nhỏ sau lớn, hơi cong cong, trong dương cương có lực âm nhu, một đòn bổ xuống, cực kỳ uy mãnh.

Dương Quá cũng không tránh, chàng ném con hổ đi, đưa tay trái chộp lấy đầu cây chùy, cười nói:

– Chúng ta đấu lực một chút, xem ai mạnh hơn.

Sử Quí Cường dùng lực đè cây chùy xuống, nhưng cây chùy ở phía trên đầu Dương Quá, không tiến xuống nổi một li. Sử Thúc Cương gọi:

– Tứ đệ, không được vô lễ!

Sử Quí Cường giữ chắc cây chùy, chờ thu hồi nó về, nhưng đầu cây chùy bị Dương Quá nắm cứng như đúc thành một khối, Sử Quí Cường ba lần vận sức giằng lại đều không được. Dương Quá phát hiện lực giằng lại của đối phương cực mạnh, nghĩ: "Ta không hiển lộ thần công, gã thất phu này sẽ không chịu phục". Chàng đột nhiên hất cây chùy lên trên. Lực hất dồn vào phần giữa cây chùy, vận kình đã khéo lại mạnh, đáng lý cây chùy sẽ vuột khỏi tay Sử Quí Cường. Nào ngờ y cứ giữ cây chùy thật chặt, khiến cây chùy to thô như cái vòi voi bị uốn thành hình cái thước thợ.

Dương Quá quát:

– Hảo!

Chàng chuyển kình đẩy xuống, "cạch" một tiếng, cây đồng chùy gãy đôi. Sử Quí Cường bị chấn động, hai hổ khẩu rách dài cả tấc, tóe máu tươi, nhưng y vẫn cố giữ cây chùy không buông.

Dương Quá cười ha ha, thuận tay cắm phập nửa cây chùy gãy xuống tuyết mất tiêu. Tuyết dày chưa đầy một thước, đoạn chùy gãy dài ngót ba thước, chàng cắm một cái lút mất tiêu, đủ biết thần công ghê gớm chừng nào. Chàng đưa mắt nhìn quanh, thấy bọn Sử Thúc Cương và Sử Mạnh Tiệp đang quát bảo bầy dã thú ngừng lại, nhưng thú tính của lũ hổ báo đã phát tác, đã thấy máu người, thật không dễ lập tức có thể ngăn chúng lại.

Dương Quá nhìn Quách Tương, làm động tác tay, bảo nàng dùng hai ngón tay đút nút hai lỗ tai. Quách Tương chưa hiểu dụng ý, nhưng vẫn làm theo. Dương Quá há miệng hú dài, tiếng hú như tiếng rồng gầm vang thẳng lên mây xanh. Quách Tương tuy đã đút nút hai lỗ tai, nhưng vẫn bị chấn động, tim đập dồn, thân hình đung đưa như người say rượu, chân đứng không vững. May từ nhỏ nàng đã tu luyện nội công Huyền môn chính tông của phụ thân, võ công tuy chưa cao, song nội công đã có căn cơ hơn hảo thủ võ lâm thông thường, nghe tiếng hú của Dương Quá vẫn chưa bị ngã.

Tiếng hú vang vọng bất tuyệt, ai nghe cũng biến sắc, bầy thú lần lượt ngã xuống, tiếp đến Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ và huynh đệ họ Sử cũng trước sau ngã xuống, chỉ còn hơn chục con voi lớn, Sử Thúc Cương và Quách Tương hai người là gắng gượng đứng được. Thần điêu nghển cổ nhìn quanh, vẻ ngạo nghễ.

Dương Quá nghĩ có một bệnh nhân, tuy nội lực thâm hậu, nhưng nếu chàng hú tiếp, có thể khiến y ngã mà bị nội thương, bèn phất tay áo, ngừng hú. Lát sau, mọi người và bầy thú mới thong thả bò dậy. Lũ thú nhỏ như chó sói vẫn ngất chưa tỉnh, trên tuyết cứt đái do bầy thú vãi ra lung tung. Bầy thú không đợi lệnh của huynh đệ họ Sử, lũ lượt cụp đuôi bỏ chạy vào rừng, không dám ngoái đầu lại.

Huynh đệ họ Sử và Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ bình sinh chưa từng thấy uy thế như vậy, cứ đứng ngây ra, không biết nói chi. Dương Quá nói:

– Mong huynh đệ Sử gia tha lỗi, chỉ vì tại hạ có hẹn với Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ nên phải ngăn đôi bên động thủ. Chờ hoàn tất việc kia xong, đôi bên cứ việc phân cao thấp, tại hạ sẽ tụ thủ quan đấu, không giúp bên nào.

Rồi chàng quay sang Sát Thần Quỉ hỏi:

– Thế nào? Các vị muốn xa luân chiến với ta, hay là tất cả cùng ùa vào một thể?

Sát Thần Quỉ bị chấn động vì tiếng hú của chàng, tuy đã đứng lên, nhưng hồn vía chưa định, nhất thời chưa thể trả lời. Trường Tu Quỉ vái dài, cung kính nói:

– Thần điêu đại hiệp, võ công của đại hiệp cao hơn hẳn chúng tôi, Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ làm sao còn dám động thủ với đại hiệp? Tính mạng chúng tôi là nhờ đại hiệp cứu sống, từ nay đại hiệp có gì sai khiến, chúng tôi sẵn sàng, đại hiệp bảo nhảy vào lửa, chúng tôi cũng không dám trái lệnh. Đại hiệp bảo huynh đệ chúng tôi rời khỏi Sơn Tây, chúng tôi xin lập tức đi ngay, không dám chần chừ một khắc.

Dương Quá nhìn bề ngoài của lão ta đã ngờ ngợ, bây giờ nghe giọng, bèn hỏi:

– Tôn giá có phải họ Phàn, đại hiệu Nhất Ông hay chăng?

Trường Tu Quỉ chính là Phàn Nhất Ông, đứng đầu đám đệ tử của Công Tôn Chỉ ở Tuyệt Tình cốc, từ ngày được Dương Quá cứu mạng, lão đi ẩn cư, mấy năm nay tái nhập giang hồ, nhờ võ công trác tuyệt, trở thành đại ca trong bọn Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ.

Hồi lão gặp Dương Quá, chàng chưa bị mất cánh tay, hiện thời chàng lại mang mặt nạ nên lão không thể nhận ra chàng. Nghe hỏi, lão cúi mình đáp:

– Tiểu nhân chính là Phàn Nhất Ông, xin nghe phân phó của Thần điêu đại hiệp.

Dương Quá mỉm cười, giơ tay nói:

– Không dám! Các vị đã chịu nghe lời tại hạ thì không phải rời khỏi Sơn Tây nữa. Sát Thần Quỉ lão huynh, lão huynh hãy thả cho bốn người thiếp về nhà họ thì được.

Sát Thần Quỉ nói:

– Vâng!

Ngừng một chút, y nói thêm:

– Bốn con tiện nhân ấy mà không chịu đi, tiểu nhân sẽ lấy gậy đánh đuổi chúng đi.

Dương Quá sững lại, nhớ cảnh năm thê thiếp của Sát Thần Quỉ quì xin tha mạng cho y, họ đối với y chân tình như thế, nếu họ tình nguyện đi theo y, chàng lại bắt y phải bỏ bốn người thiếp, không chừng sẽ làm cho họ đau khổ, bèn cười, nói:

– Cũng không cần thế. Nếu bọn họ muốn đi, lão huynh không nên giữ họ; còn nếu họ tình nguyện đi theo, thì còn cách gì khác? Lão huynh nói còn muốn lấy bốn người thiếp nữa, có thật không vậy?

Sát Thần Quỉ nói:

– Tiểu nhân còn mặt mũi nào, năm mụ ở nhà đánh chửi nhau loạn xạ, đã khiến đại hiệp phí tâm rồi, suýt nữa còn hại chết huynh đệ tỷ muội, tiểu nhân sao còn dám làm bậy? Dẫu có dám, đại ca của tiểu nhân cũng quyết không cho làm.

Mọi người nghe vậy, cùng cười ồ.

Dương Quá nói:

– Được rồi. Chuyện của tại hạ đã kết thúc, đôi bên cứ việc động thủ.

Đoạn chàng cùng Thần điêu bước sang một bên, chờ xem Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ và huynh đệ họ Sử tái đấu. Phàn Nhất Ông chắp tay nói với Sử Bá Uy:

– Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ xông qua quí sơn trang, ai nấy đều đã bị thương, hôm nay tạm cáo biệt, không biết các vị có định an nghiệp ở Sơn Tây, hay là trở về Lương Châu? Chúng tôi sẽ ghé thăm các vị.

Sử Bá Uy nghe giọng đối phương, ngụ ý là sẽ tìm đến báo thù, bèn hiên ngang nói:

– Huynh đệ ta cung kính chờ đại giá ở Lương Châu. Nếu tam đệ của ta cuối cùng.. cuối cùng vì chuyện này mà không cứu chữa được, há có thể bỏ qua mối thâm cừu đại hận? Chỉ cần các người đại giá Lương Châu, bốn huynh đệ ta sẽ tự tìm đến chỗ các vị.

Phàn Nhất Ông giật mình, nói:

– Sử tam ca vốn có bệnh từ trước, chuyện hôm nay can hệ đến chúng tôi thế nào, xin cho biết?

Sử Bá Uy tức giận đỏ cả mặt, quát:

– Tam đệ ta..

Sử Thúc Cương thở dài, nói:

– Đại ca, việc ấy đừng nhắc đến nữa. Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ cũng không cố ý để sổng, số mạng tiểu đệ như vậy, không nên kết oán một cách vô vị làm gì.

Sử Bá Uy nén giận, nói:

– Thì thôi vậy.

Rồi ôm quyền, nói với Phàn Nhất Ông:

– Non xanh không đổi, nước biếc chảy hoài, bọn ta còn có ngày gặp lại.

Đoạn quay sang phía Dương Quá:

– Thần điêu đại hiệp, huynh đệ chúng tôi có luyện võ công ba mươi năm nữa cũng không phải là đối thủ của đại hiệp; xin nhận thua, đúng là khẩu phục tâm phục. Từ đây chúng tôi cũng chẳng dám gặp lại đại hiệp; đại hiệp tới đâu, chúng tôi sẽ tránh trước đi là xong.

Dương Quá cười, nói:

– Sử đại ca quá lời.

Sử Bá Uy nói:

– Đi thôi!

Y bước lại bên Sử Thúc Cương, đưa tay dìu tam đệ, quay mình đi. Phàn Nhất Ông nghe lời nói của y có chỗ khó hiểu, vội nói:

– Xin Sử đại ca dừng bước, Sử tam ca nói chúng tôi cũng không cố ý để sổng, trừ việc huynh đệ chúng tôi xông qua quí sơn trang, còn có điều gì mạo phạm nữa ư? Nếu quả thật chúng tôi có sai trái, Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ mất đầu còn không sợ, sợ gì việc khấu đầu tạ tội?

Sử Bá Uy ban nãy thấy đối phương bị bầy thú vây công cứ ném mũ da cho nhau, cả bọn đúng là không sợ chết, phải trái phân minh, thì buồn rầu nói:

– Các vị đã làm cho con Cửu vĩ linh hồ của bọn ta sợ hãi chạy mất, khiến nội thương của tam đệ ta hết cách cứu chữa, các vị dù có khấu đầu ngàn lần vạn lần cũng chẳng ích gì.

Phàn Nhất Ông kinh ngạc, nghĩ lúc đầu huynh đệ họ Sử chỉ huy hàng ngàn con thú đuổi theo một con cáo nhỏ, không ngờ con tiểu hồ li ấy lại hệ trọng như vậy.

Sát Thần Quỉ nói:

– Con tiểu hồ li ấy có gì đáng giá kia chứ? Ồ, nếu nó đã liên can đến quí thể của Sử tam ca, thì mọi người hợp lực đuổi bắt nó lại, một con tiểu hồ li đâu có đáng gì?

Sử Quí Cường nói to:

– Sao lại không đáng gì? Chỉ cần các hạ bắt lại được con Cửu vĩ linh hồ, thì Sử mỗ sẵn sàng khấu đầu trước các hạ một trăm, không, một ngàn lần cũng cam lòng.

Giọng nói về cuối hơi nghẹn ngào.

Phàn Nhất Ông nghĩ: "Huynh đệ họ Sử giỏi thuần dưỡng dã thú, thời nay không ai sánh kịp. Họ đã bảo khó như vậy, thì người khác còn hi vọng gì?" Nghĩ đến đây, lão bất giác nhìn Dương Quá.

Quách Tương không nhịn được, nói xen vào:

– Các vị nói qua nói lại, sao không nhờ Thần điêu hiệp?

Quản Kiến Tử Sử Trọng Mãnh chợt nghĩ: "Thần điêu hiệp võ công cao siêu khôn lường, không chừng chàng ta có cách", bèn nói:

– Tiểu cô nương thì biết cái gì? Trừ phi Đại La Kim tiên hạ phàm, ngoài ra không ai có thể bắt nổi Cửu vĩ linh hồ.

Dương Quá mỉm cười, thừa hiểu y nói khích, nhưng chàng im lặng. Quách Tương nói:

– Cửu vĩ linh hồ rốt cuộc có cái gì kỳ lạ, mong Sử nhị thúc nói cho biết.

Sử Trọng Mãnh thở dài, nói:

– Cuối năm ngoái, tam đệ của ta ở Lương Châu có giúp kẻ yếu chống kẻ mạnh, động thủ với đối phương, bị đối phương dùng quỉ kế, tam đệ ta thiếu cẩn thận, bị trọng thương..

Quách Tương lấy làm lạ:

– Vị Sử tam thúc võ công rất cao, kẻ nào lợi hại đến thế?

Sử Thúc Cương nói:

– Cô nương quá khen, tại hạ có một chút bản lĩnh, thật có khác gì ánh sáng đom đóm. Cô nương nói thế, chỉ tổ Thần điêu đại hiệp chê cười tại hạ đó.

Quách Tương nhìn Dương Quá, nói:

– Thần điêu đại hiệp tất nhiên khác người, tiểu nữ muốn biết đó là kẻ nào?

Sử Trọng Mãnh nói:

– Đả thương tam đệ của ta là một vương tử Mông Cổ, tên gọi Hoắc Đô, nghe đâu là đệ tử của Đệ nhất Hộ quốc đại sư Kim Luân pháp vương.

Dương Quá nghĩ bụng: "Thì ra hắn, hèn chi võ công lợi hại".

Quách Tương nói với Dương Quá:

– Thần điêu hiệp, xin đại hiệp hãy đánh cho tên vương tử Mông Cổ một trận, trả thù cho Sử tam thúc!

Sử Trọng Mãnh nói:

– Việc đó không dám phiền đến đại giá của Thần điêu hiệp, chỉ cần tam đệ của ta khỏi bệnh, sẽ đi tìm hắn, đấu một trận chính đại quang minh, vị tất đã thua. Có điều là nội công của huynh đệ chúng tôi thuộc một phái riêng, sau khi bị nội thương chữa lâu không đỡ phải uống máu con Cửu vĩ linh hồ mới có thể lành.

Quách Tương và Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ cùng ồ lên:

– Thì ra vậy.

Sử Trọng Mãnh nói:

– Cửu vĩ linh hồ là con vật cực hiếm, cực linh dị trong bách thú. Năm huynh đệ chúng tôi tìm kiếm hơn một năm, mới phát hiện tung tích Cửu vĩ linh hồ ở Tấn Nam. Con vật này ẩn thân ở một nơi cũng rất kỳ dị, trong một cái đầm lầy bùn cách đây hơn ba mươi dặm về phía tây bắc..

Sát Thần Quỉ hỏi:

– Một cái đầm lầy bùn ư? Là đầm Hắc Long phải không?

Sử Trọng Mãnh nói:

– Đúng thế. Các vị ở Tấn Nam lâu, tất nhiên biết đầm Hắc Long rộng vài dặm, chỉ toàn bùn lầy hôi hám, người và thú chẳng thể dung thân. Chúng tôi tốn bao nhiêu công sức mới dụ được Cửu vĩ linh hồ đến cánh rừng này.

Sát Thần Quỉ đại ngộ, nói:

– Ồ, chẳng trách các vị không cho phép chúng tôi xông thẳng qua rừng.

Sử Trọng Mãnh nói:

– Chính vậy. Huynh đệ chúng tôi đến Tấn Nam đây là khách, dù vô lễ mấy cũng không thể bá chiếm đất Tấn Nam, việc này thực là vạn bất đắc dĩ. Cửu vĩ linh hồ chạy nhanh tuyệt luân, ban nãy các vị đều đã chứng kiến tận mắt. Chúng tôi chỉ huy bầy thú đã vây chặt Cửu vĩ linh hồ trong rừng, sắp bắt được nó, không ngờ các vị lại phóng hỏa hai nơi, bầy thú hoảng sợ, Cửu vĩ linh hồ chạy thoát ra mất. Nói thật hổ thẹn, chúng tôi đã dốc toàn lực đuổi theo, nhưng không bắt được nó. Cửu vĩ linh hồ đã chạy thoát về sào huyệt, muốn dụ nó lần nữa thật khó muôn phần. Tam đệ của ta nội thương ngày một trầm trọng, không thể chần chừ, huynh đệ chúng tôi vì quá lo lắng nên hành sự lỗ mãng, nói năng vô lễ, những mong các vị lượng thứ cho.

Nói rồi ôm quyền lắc lắc, mắt chỉ nhìn Dương Quá.

Phàn Nhất Ông nói:

– Việc này đúng là tội mạo phạm của Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ chúng tôi. Nhưng không biết các vị đã dùng cách gì dụ được Cửu vĩ linh hồ tới đây?

Sử Trọng Mãnh nói:

– Loài cáo tính đa nghi, rất khó lừa nó. Cửu vĩ linh hồ giảo hoạt vô tỉ. Chúng tôi phải nướng một ngàn con gà trống, cách vài trượng lại để một con, thổi mùi thơm gà nướng về phía đầm Hắc Long, hôm nay cho nó ăn một con, ngày mai ăn một con, ăn hơn hai tháng liền, nó giảm hẳn sự đề phòng, mới từ từ dụ nó đến cánh rừng này. Bây giờ nó kinh sợ rồi, có dụ mười năm nó cũng chẳng để bị lừa lần nữa.

Phàn Nhất Ông gật đầu:

– Đúng thế. Nhưng nếu chúng ta xông thẳng vào đầm Hắc Long mà bắt, thì sao?

Sử Trọng Mãnh nói:

– Đầm Hắc Long trong vòng mấy dặm toàn là bùn lầy sâu hàng chục trượng, khinh công cao siêu cũng chẳng thể đặt chân; bất kể dùng thuyền bè đều không thể đi vào. Trong khi con Cửu vĩ linh hồ nhân hình nhỏ nhắn, bàn chân lại dày, chạy nhanh như gió, có thể lướt trên mặt đầm.

Quách Tương đột nhiên nghĩ đến đôi chim điêu nhà nàng nuôi, tỷ đệ ba người thường cưỡi điêu bay chơi, Thần điêu này to gấp đôi chim điêu của nhà nàng, có khi hai người cưỡi nó cũng thừa sức, bèn nói:

– Thần điêu hiệp, chỉ cần đại hiệp chịu giúp thì sẽ có cách.

Dương Quá mỉm cười, nói:

– Huynh đệ Sử gia là đại hành gia bắt hổ báo phải hàng phục, mà họ còn bó tay, người khác chỉ mong muốn thôi, đâu có ích gì?

Sử Trọng Mãnh nghe khẩu khí, đoán chàng chịu ra tay cứu giúp, điều này rất hệ trọng đối với sự sống còn của huynh đệ y, thế là chẳng ngại có mặt người ngoài, y liền quì xuống tuyết mà lạy Dương Quá, nói:

– Thần điêu đại hiệp, mạng của xá đệ rất nguy kịch, cúi xin đại hiệp rủ lòng thương.

Sử Bá Uy, Sử Quí Cường, Sử Mạnh Tiệp ba người cũng đều quì xuống.

Dương Quá vội đỡ họ dậy, nói:

– Không dám, không dám.

Mục quang như tia chớp ngó sang phía Quách Tương, nói:

– Cô nương bảo có cách, chúng ta thử nghe cao kiến của tiểu muội xem nào.

Quách Tương nói:

– Đại hiệp cưỡi lên Thần điêu mà bay vào đầm có được chăng?

Dương Quá cười ha hả, nói:

– Vị điêu huynh của ta khác loài chim tầm thường là thân hình quá nặng, không bay được. Đôi cánh sắt của Điêu huynh có thể đập chết hổ báo, song lại chẳng thể bay.

Dương Quá quay sang phía huynh đệ họ Sử, nói:

– Tuy nhiên tiểu đệ cố thử xem sao, nếu không được, xin chư vị đừng trách.

Huynh đệ họ Sử cả mừng, nghĩ vị đại hiệp này lừng danh thiên hạ, một lời đáng giá ngàn vàng, nếu chàng cũng không làm được, thì tức là số mệnh như thế. Sử Bá Uy lại lạy mấy cái, nói:

– Vậy xin mời đại hiệp và chư vị đại ca Tây Sơn vào tệ xá nghỉ một chút, cùng bàn cách.

Phàn Nhất Ông nói:

– Tai họa này do huynh đệ chúng tôi gây ra, chúng tôi xin tuân theo sự sai khiến.

Sử Bá Uy nói:

– Không dám. Mọi người chưa đánh nhau vỡ đầu chưa nhận ra nhau, các vị nếu không ngại, chúng ta hãy kết thành bằng hữu.

Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ và huynh đệ họ Sử đã động thủ quá chiêu, đều biết bản lĩnh đối phương, đôi bên vốn không có thù oán gì, chẳng qua nhất thời ngôn ngữ bất hòa, thế là mỗi bên nói vài câu khách sáo, kết bạn với nhau.

Dương Quá nói:

– Bây giờ tiểu đệ đi đến đầm Hắc Long một chuyến, bất kể thành hay bại, cũng sẽ trở lại quí sơn trang.

Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ và huynh đệ họ Sử thấy chàng không rủ ai đi theo, nghe đồn chàng chỉ một mình hành sự, nên tuy họ sẵn sàng xuất lực, cũng không dám tự đề xướng việc trợ giúp.

Dương Quá ôm quyền từ biệt mọi người, quay mình đi về hướng bắc.

Quách Tương nghĩ: "Mình đến đây là để gặp Thần điêu hiệp, hiện đã gặp rồi. Chàng tuy dung mạo xấu xí, nhưng võ công kinh nhân, phù nguy tế khốn, lo cho người khác, quả nhiên xứng danh hai chữ" đại hiệp ", chuyến đi của mình không uổng". Nhưng không biết chàng sẽ dùng cách gì để bắt Cửu vĩ linh hồ, lòng hiếu kỳ trỗi dậy, tự dưng nàng bước theo sau Dương Quá.

Đại Đầu Quỉ định gọi nàng lại, nhưng nghĩ bụng: "Cô nương ấy quyết ý đi gặp Thần điêu hiệp, tất có điều muốn nói với chàng ta". Huynh đệ họ Sử không biết lai lịch Quách Tương, càng không tiện nói gì với nàng.

Quách Tương đi theo sau Dương Quá, cách vài trượng, nhất mực muốn xem chàng làm thế nào bắt Cửu vĩ linh hồ; nàng thấy Dương Quá càng đi càng nhanh, Thần điêu sánh vai chàng sải bước, không khác gì ngựa phi. Thoáng chốc Quách Tương đã tụt lại phía sau đến mươi trượng, nhìn ống tay áo phe phẩy của chàng, tựa hồ chàng thong thả đi trên tuyết, song khoảng cách với chàng cứ xa dần. Quách Tương thi triển khinh công gia truyền, ra sức đuổi theo, nhưng sau thời gian uống cạn một tuần trà, Dương Quá và Thần điêu chỉ còn là hai chấm đen trên tuyết.

Quách Tương cuống lên, gọi:

– Ấy, chờ muội với!

Tiếng gọi khiến nội tức bị rối loạn, chân ríu lại, nàng ngã bạch xuống tuyết một cái. Vừa ngượng vừa cuống, bất giác nàng khóc òa lên.

Bỗng nghe một giọng ôn hòa bên tai:

– Sao lại khóc? Kẻ nào khi vũ cô nương?

Quách Tương ngẩng đầu lên, thì ra là Dương Quá, không biết chàng làm thế nào có thể quay lại nhanh đến thế. Nàng kinh ngạc và mừng rỡ, cảm thấy áy náy, cúi đầu rút chiếc khăn tay ra lau nước mắt, không ngờ vừa rồi chạy vội, chiếc khăn đã bị rớt mất.

Dương Quá lấy từ trong ống áo ra chiếc khăn, cầm bằng ngón cái và ngón trỏ, cười nói:

– Cô nương tìm cái này phải không?

Quách Tương nhìn đúng là chiếc khăn tay có thêu một bông hoa nhỏ ở góc, bèn nói:

– Phải, là đại hiệp khi vũ muội đó.

Dương Quá lấy làm lạ:

– Sao lại là ta khi vũ cô nương?

Quách Tương nói:

– Đại hiệp đã lấy chiếc khăn của muội, chẳng phải là khi vũ hay sao?

Dương Quá cười, nói:

– Cô nương tự đánh rơi xuống đất, ta có hảo ý nhặt giùm, sao nói là ta lấy chiếc khăn của cô nương?

Quách Tương cười, nói:

– Muội đi đằng sau đại hiệp, muội đánh rơi chiếc khăn thì làm sao đại hiệp lại nhặt được kia chứ? Rõ ràng là đại hiệp đã lấy từ trước.

Kỳ thực Quách Tương đi theo phía sau, Dương Quá đã biết ngay từ đầu, chàng cố ý đi nhanh, thử xem khinh công của nàng ra sao, thấy cô nương tuy còn nhỏ tuổi, nhưng võ công được danh gia truyền thụ; khi phát hiện nàng ngã, sợ nàng bị thương, vội phi trở lại, thấy phía sau nàng mấy trượng có chiếc khăn rơi, chàng bèn nhặt lên, nhưng vì chàng hành động quá nhanh, nên nàng không nhận biết được.

Dương Quá mỉm cười, nói:

– Cô nương họ gì, tên gì? Tôn sư là ai? Vì sao đi theo ta?

Quách Tương nói:

– Quý tính đại danh của đại hiệp? Đại hiệp cho muội biết trước, rồi muội sẽ nói.

Dương Quá mười mấy năm nay ngay diện mạo thật còn không để người ta biết, dĩ nhiên không nói lộ tính danh với một cô nương xa lạ, nên nói:

– Cô nương hơi kỳ quái đấy, đã không chịu nói thì thôi. Hãy cầm lấy chiếc khăn này.

Nói rồi hất nhẹ chiếc khăn khiến nó trải ra, bay tới trước mặt Quách Tương. Quách Tương lấy làm lạ, giơ tay đón, nói:

– Thần điêu hiệp, công phu gì hay vậy? Đại hiệp dạy cho muội được chăng?

Dương Quá thấy nàng thật thà ngây thơ, không sợ gì bộ mặt nạ đáng sợ của chàng, nghĩ: "Mình thử dọa cô nàng xem sao", đột nhiên gằn giọng:

– Cô nương to gan thật! Vì sao không sợ ta? Ta muốn hại cô nương đấy.

Nói rồi tiến lại, vung tay để ra đòn. Quách Tương kinh ngạc, nhưng lập tức cười khanh khách, nói:

– Muội không sợ đâu. Đại hiệp nếu định hại muội thật, không khi nào lại nói trước. Thần điêu hiệp nghĩa bạc vân thiên, ai lại đi hại một tiểu nữ tử?

Người ẩn sĩ thanh cao nghe thấy câu tán dương này cũng còn thích, Dương Quá tuy không ham nghe người ta ca tụng, nhưng nghe Quách Tương nói bằng một giọng chân thành, quả lộ vẻ thán phục, thì mỉm cười, nói:

– Cô nương không quen biết ta, sao đoán là ta sẽ không hại cô nương?

Quách Tương nói:

– Muội tuy không quen biết đại hiệp, nhưng tối qua ở bến Phong Lăng được nghe nhiều người kể sự tích của đại hiệp, nên muội nghĩ: "Một nhân vật anh hùng như thế, nhất định phải đi gặp mới được". Cho nên muội mới theo Đại Đầu Quỉ đến gặp đại hiệp.

Dương Quá lắc đầu, nói:

– Ta đâu có gì là anh hùng? Cô nương gặp rồi, nhất định cảm thấy không được như nghe đồn.

Quách Tương vội nói:

– Không, không! Đại hiệp không được coi là anh hùng thì còn ai xứng chữ "anh hùng" nữa?

Nói xong, Quách Tương liền cảm thấy câu này không ổn, chẳng hóa ra nàng coi phụ thân không bằng Thần điêu hiệp, bèn nói thêm:

– Đương nhiên, trừ đại hiệp ra, thì cũng còn vài vị đại anh hùng, đại hào kiệt, song đại hiệp là một người trong số đó.

Dương Quá nghĩ: "Một cô bé mười mấy tuổi lại có thể biết vài vị đại anh hùng thế ư?" Chàng mỉm cười, hỏi:

– Cô nương bảo vài vị đại anh hùng, đại hào kiệt ấy là những ai?

Quách Tương nghe giọng chàng có ý coi thường nàng, bèn nói:

– Muội nói ra mà đúng, đại hiệp phải đem muội đi theo bắt Cửu vĩ linh hồ, được không nào?

Dương Quá nói:

– Được, cô nương nói ta coi.

Quách Tương nói:

– Có một vị anh hùng trấn thủ thành Tương Dương, quên mình chống lại Mông Cổ, bảo cảnh an dân. Như thế có được coi là vị đại anh hùng hay chăng?

Dương Quá giơ ngón tay cái, nói:

– Được! Quách Tĩnh Quách đại hiệp đúng là một vị đại anh hùng.

Quách Tương nói:

– Còn một vị nữ anh hùng, phò tá phu quân, kháng địch thủ thành, mưu trí vô song, liệu sự như thần. Có được coi là vị đại anh hùng hay chăng?

Dương Quá nói:

– Cô nương định nhắc đến Quách phu nhân Hoàng bang chủ phải không? Ồ, cũng có thể coi là một vị đại anh hùng.

Quách Tương nói:

– Còn một vị lão anh hùng, ngũ hành kỳ thuật, quỉ thần khôn lường, Đạn chỉ thần công, môn nào cũng thạo. Như thế có được coi là vị đại anh hùng hay chăng?

Dương Quá nói:

– Đó là Đào Hoa đảo chủ Hoàng Dược Sư, tiền bối võ lâm, ta hằng kính ngưỡng.

Quách Tương nói ba người, thấy chàng đều thừa nhận, thì rất đắc ý, nói:

– Còn có một vị suất lĩnh Cái Bang, trừ gian sát địch, dốc lòng vì nước vì dân, có được coi là vị đại anh hùng hay chăng?

Dương Quá nói:

– Cô nương định nói về Lỗ Hữu Cước Lỗ bang chủ phải không? Người này võ công không cao lắm, cũng chưa có công lao gì đặc biệt, nhưng với mười chữ "trừ gian sát địch, dốc lòng vì nước vì dân", có thể coi là một nhân vật đáng nể.

Quách Tương nghĩ: "Đại hiệp tài giỏi, nhãn giới cực cao, mình nói thêm, e rằng chàng sẽ bảo không đúng. Huống hồ, ngoài cha mẹ, ông ngoại, Lỗ lão bá ra, mình không nghĩ ra được ai nữa". Dương Quá thấy vẻ mặt trù trừ của nàng, nghĩ: "Quách bá bá, Quách phu nhân, Hoàng đảo chủ, Lỗ bang chủ bốn người là hào kiệt nổi danh thiên hạ, tiểu cô nương kể ra được cũng không có gì lạ", bèn nói:

– Cô nương chỉ cần nói đúng một vị nữa, ta sẽ dẫn cô nương đến đầm Hắc Long bắt Cửu vĩ linh hồ.

Quách Tương định kể đến tỷ phu là Gia Luật Tề, cảm thấy võ công của Gia Luật Tề tuy cao, nhưng chưa xứng ba chữ "đại anh hùng", còn hai vị sư huynh Võ Đôn Nhu và Võ Tu Văn thì càng không xứng, đang khó nghĩ, chợt nghĩ ra, nói:

– Được, còn một vị cứu khốn phò nguy, trừ cường phù nhược, ai nấy tán dương, Thần điêu đại hiệp! Vị ấy mà không được coi là vị đại anh hùng, thì đại hiệp khó tính quá trời.

Dương Quá cười, nói:

– Cô nương nói rất hay.

Quách Tương hỏi:

– Đại hiệp sẽ dẫn muội đến đầm Hắc Long chứ?

Dương Quá cười, nói:

– Cô nương đã gọi ta là đại anh hùng, đại anh hùng há có thể thất tín với tiểu cô nương? Nào chúng ta đi!

Quách Tương cao hứng đưa tay phải nắm lấy tay trái của chàng. Nàng từ nhỏ đã bầu bạn với hào kiệt trong thành Tương Dương, mọi người đều coi nàng như một tiểu điệt nữ, nàng ứng xử tự nhiên, hoàn toàn không hiềm nam nữ, lúc này quá mừng, cũng không coi Dương Quá như người xa lạ.

Dương Quá tay trái bị nàng nắm chặt, cảm thấy bàn tay nhỏ nhắn rất êm dịu của nàng thì lại hơi ngượng, nếu gỡ ra, tức là mình vô lễ, chàng liếc nhìn nàng một cái, thấy nàng hồ hởi, chứ không có ý gì khác, bèn mỉm cười, đưa tay chỉ về hướng bắc nói:

– Đầm Hắc Long đằng kia, sắp đến nơi rồi.

Mượn động tác chỉ đó, chàng rút tay ra khỏi bàn tay nàng. Dương Quá hồi thiếu niên cười nói không chút ngại ngần với các thiếu nữ, nhưng từ khi Tiểu Long Nữ bỏ đi, chàng như thu mình lại, mười mấy năm hành tẩu giang hồ, mỗi lần gặp thiếu nữ, chàng đều giữ lễ nghiêm nghị còn hơn cả tiên sinh đạo học. Tuy thấy Quách Tương thuần khiết vô tà, nhưng mười mấy năm cẩn thận đã quen, ngay bàn tay nàng, chàng cũng không dám cầm lâu.

Quách Tương thì hồn nhiên sánh vai chàng mà đi, đi mấy bước, thấy Thần điêu hình dạng tuy xấu, nhưng thân thể hùng vĩ, nàng bèn giơ tay vỗ vỗ nhẹ vào lưng nó. Nàng từ nhỏ vẫn đùa nghịch với đôi chim điêu trắng ở nhà mình, cũng hay vỗ vỗ như vậy. Nào ngờ Thần điêu hơi xù cánh, hất nhẹ tay nàng ra. Quách Tương giật mình, kêu ôi một tiếng.

Dương Quá cười, nói:

– Điêu huynh đừng giận! Hà tất phải giáo huấn một tiểu cô nương nhà khác?

Quách Tương lè lưỡi, lánh sang bên tay phải của chàng, không dám đi cạnh Thần điêu nữa. Nàng đâu biết rằng đôi chim điêu của nhà nàng vẫn là gia súc, còn Thần điêu đối với Dương Quá nửa là thầy, nửa là bạn, nói về tuổi tác, thân phận, lại càng khác xa.

Hai người một điêu đi đến đầm Hắc Long, nơi này rất dễ nhận biết, trong phạm vi bảy tám dặm vuông không có cây cỏ gì hết. Đầm Hắc Long vốn là một cái hồ lớn, nước tù đọng, sau nhiều năm cạn dần, biến thành một đầm lầy khổng lồ. Bằng thời gian ăn xong một bữa cơm, Dương Quá và Quách Tương đã đến bên bờ đầm lầy, nhìn ra xa, trước mắt chỉ thấy tử khí nặng nề, ở giữa đầm lầy nổi lên nhiều đống củi rác, con Cửu vĩ linh hồ chắc ẩn náu ở chỗ đó.

Dương Quá bẻ một cành cây ném xuống đầm. Thoạt đầu cành cây nằm ngang trên mặt tuyết, sau đó chìm dần, tuy thế chìm rất chậm, nhưng không hề dừng, cuối cùng cành cây biến mất tiêu. Quách Tương không khỏi kinh hãi: "Cành cây rất nhẹ mà còn như thế, con người làm sao có thể đặt chân trên đầm lầy?" Nàng nhìn Dương Quá, chưa biết chàng sẽ có diệu kế gì.

Dương Quá bẻ hai cành cây, mỗi cành dài chừng sáu thước, tước hết các cành nhỏ, buộc bên dưới bàn chân, nói:

– Ta thử xem có được hay không đã.

Chàng chúi người về phía trước, giống như người trượt đi trên tuyết, chỉ thấy chàng chúi người sang bên này bên kia mà lướt đi, không dừng lại chút nào, chàng lượn một vòng trên mặt đầm lầy, rồi trở về chỗ xuất phát.

Quách Tương vỗ tay cười, nói:

– Hảo bản sự, hảo công phu!

Dương Quá thấy ánh mắt nàng đầy vẻ thích thú, biết nàng chỉ mong theo mình vào đầm bắt Cửu vĩ linh hồ, nhưng tự lượng nàng không đủ bản lĩnh khinh công, nên cười, nói:

– Ta đáp ứng đưa cô nương vào đầm lầy bắt Cửu vĩ linh hồ, cô nương có dám không nào?

Quách Tương khe khẽ thở dài, nói:

– Muội không có được bản lĩnh như đại hiệp, dù có dám cũng chịu.

Dương Quá cười không nói, bẻ hai cành cây, mỗi cành dài chừng năm thước, đưa cho nàng, nói:

– Hãy buộc vào dưới bàn chân!

Quách Tương mừng rỡ, buộc chặt cành cây vào dưới bàn chân. Dương Quá nói:

– Hãy hơi chúi người về đằng trước, đừng dồn chút sức nào xuống chân cả.

Tay trái chàng cầm tay phải của Quách Tương, nói:

– Đừng sợ!

Rồi chàng vừa nhấc vừa kéo, Quách Tương không tự chủ được, lướt đi theo chàng trên đầm lầy, thoạt tiên còn hoảng, sau khi trượt đi vài trượng, chỉ cảm thấy người nhẹ lâng lâng như cưỡi gió mà đi, chân không hề dùng sức, miệng nói:

– Thích quá, thích quá!

Hai người lướt đi một hồi, Dương Quá bỗng kêu lên:

– Lạ thật!

Quách Tương hỏi:

– Cái gì kia?

Nàng hơi ngưng thần, dưới chân hơi nặng, chân trái ấn xuống một chút, bùn đã ngập mu bàn chân, nàng vội kêu "Ôi chao!". Dương Quá nhấc nàng lên, nói:

– Nhớ luôn luôn di động, nhất thiết không được dừng lại.

Quách Tương nói:

– Phải rồi, đại hiệp vừa nhìn thấy gì vậy? Cửu vĩ linh hồ à?

Dương Quá nói:

– Không phải! Trong đầm lầy hình như có người ở.

Quách Tương lấy làm lạ:

– Con người làm sao sống ở đây được?

Dương Quá nói:

– Ta cũng không hiểu. Nhưng các đống củi có bố trí rất lạ, hoàn toàn không phải vật tự nhiên.

Lúc này hai người đã tới gần các đống củi cỏ, Quách Tương nhìn kỹ, nói:

– Đúng vậy, Ất mộc ở phía đông, Bính hỏa ở phía nam, Mậu thổ ở giữa, phía bắc lại không phải là Quý thủy, mà là tượng Canh kim.

Nàng từ nhỏ nghe mẫu thân đàm luận về sự biến hóa âm dương ngũ hành, cũng học được đôi điều. Tính cách nàng khác hẳn Quách Phù, tuy hào sảng, nhưng không lỗ mãng, lại thông minh hơn tỷ tỷ rất nhiều.

Hoàng Dung thường nói:

– Ông ngoại của con mà gặp con, chắc chắn sẽ thích lắm.

Hoàng Dược Sư rất giỏi các môn tạp học y bốc tinh tướng, cầm kỳ thư họa cùng binh pháp. Quách Tương còn rất nhỏ tuổi, đã có nhiều điểm giống ông ngoại, hay quan tâm nhiều chuyện, võ công tiến cảnh chậm chạp, đồng thời suy nghĩ kỳ quái, hành sự tùy hứng, thường gây bất ngờ, khiến cho Quách Tĩnh, Hoàng Dung hết sức nhức đầu. Ở nhà đặt cho nàng ngoại hiệu "Tiểu Đông Tà". Tỷ như việc nàng đem kim thoa đổi lấy bữa tiệc rượu đãi mọi người, rồi theo Đại Đầu Quỉ không quen biết đi gặp Thần điêu hiệp, tiếp đó lại theo Thần điêu hiệp không quen biết đi bắt Cửu vĩ linh hồ, can đảm và tùy hứng đến thế thì ngay Hoàng Dung, Quách Phù hồi trẻ cũng thua xa. Dương Quá nghe nàng nói rõ phương vị bố trí các đống cỏ thì rất ngạc nhiên, hỏi:

– Sao cô nương biết? Ai dạy cô nương vậy?

Quách Tương cười đáp:

– Muội xem sách đấy, cũng không biết có đúng hay không. Nhưng muội cho rằng cách bố trí ở đây cũng bình thường, chẳng có gì lạ, không phải có vị cao nhân ghê gớm nào đâu.

Dương Quá gật đầu, nói:

– Nhưng người ấy có thể sống trên đầm lầy mà không bị chìm, thì lạ lắm đấy.

Thế là chàng cất tiếng gọi to:

– Vị bằng hữu trong đầm Hắc Long, có khách tới đây!

Đợi một lát, trong đầm tĩnh mịch vô thanh.. Dương Quá gọi lần nữa, vẫn không ai trả lời. Dương Quá nói:

– Xem ra tuy có người chất cỏ bày trận, nhưng không sống ở đây, chúng ta tới đó xem sao.

Rồi chàng lướt đi hai chục trượng, tới sát khu vực các đống củi cỏ.

Quách Tương bỗng cảm thấy dưới chân vững chắc, tựa hồ đạp trên đất cứng. Dương Quá cũng phát hiện như vậy, cười, nói:

– Thì ra giữa đầm lầy có một tiểu đảo.

Lời vừa dứt, trước mắt đột nhiên từ trong đống cỏ có hai con cáo nhỏ màu trắng chạy ra, chính là một đôi Cửu vĩ linh hồ, một con chạy về phía đông bắc, một con chạy về phía tây nam, chớp mắt đã vọt ra xa.

Dương Quá nói:

– Cô nương đứng yên ở đây, đừng động.

Rồi chàng đuổi theo con linh hồ chạy về hướng đông bắc. Lúc này chàng không phải dìu Quách Tương, nên thi triển khinh công lướt trên mặt đầm đúng là như chim bay. Song con linh hồ chạy cũng nhanh cực kỳ, không khác gì một luồng khói mỏng vút trở lại, qua ngay trước mặt Quách Tương. Bỗng có tiếng gió nhẹ, Dương Quá đã lướt tới, ống tay áo vung ra định cuốn lấy con linh hồ; con linh hồ liền nhảy vọt lên, lộn một vòng trên không trung, khiến ống tay áo của Dương Quá cuốn hụt. Quách Tương thốt lên:

– Tiếc quá!

Chỉ thấy một người một cáo cứ vun vút lướt đi như tia chớp trên mặt tuyết trắng, làm cho Quách Tương đứng nhìn thích thú, không ngớt kêu lên trợ uy cho Dương Quá:

– Thần điêu hiệp, nhanh chút nữa! Cửu vĩ linh hồ, mi rốt cuộc chạy chẳng thoát đâu, chi bằng đầu hàng sớm đi thì hơn!

Con linh hồ thứ hai cứ chui đống cỏ này lại nhảy sang đống cỏ kia, chốc chốc lại chạy gần chỗ Dương Quá.

Dương Quá biết nó cố ý làm rối trí chàng, nên cứ coi như không thấy nó, chỉ đuổi theo con linh hồ thứ nhất, chờ con đó kiệt sức vì chạy. Ai dè linh hồ nhỏ con, nhưng rất dẻo dai, tự biết hôm nay gặp đại nạn, nên cứ ráng sức chạy, không có dấu hiệu gì chứng tỏ sắp kiệt sức.

Dương Quá cảm thấy hưng phấn, càng chạy càng nhanh, thấy con linh hồ thứ hai muốn cứu đồng bọn, lại chạy xéo qua, chàng cười mắng nó:

– Tiểu súc sinh, chẳng lẽ ta không trị nổi ngươi.

Chàng cúi xuống vốc một nắm tuyết, ném vù một cái trúng ngay đầu con linh hồ thứ hai, thấy nó lập tức ngã lăn quay. Dương Quá không muốn giết chết nó, chàng xuất thủ rất nhẹ, con linh hồ lăn vài vòng, rồi đứng dậy, chui vào một đống cỏ, không dám ló mặt ra nữa.

Dương Quá có thể dùng cách tương tự để bắt con linh hồ thứ nhất đang chạy thục mạng, nhưng chàng có ý đua cước lực với nó. Chàng nói:

– Tiểu hồ li, nếu ta dùng tuyết ném mi, mi có chết cũng không tâm phục. Đại trượng phu quang minh chính đại, nếu ta không đuổi kịp mi, ta sẽ tha chết cho mi.

Chàng hít một hơi dài, nhào người về đằng trước, mượn thế lướt nhanh, cuối cùng đã vọt tới trước con linh hồ, quay người đưa tay chộp. Con linh hồ cả kinh, chạy sang bên phải. Dương Quá đã chờ sẵn, phất tay áo cuốn lấy con linh hồ vào trong ống tay áo rỗng, tay trái túm gáy nó nhấc lên, trong lúc đắc ý cười phá lên ha hả.

Nhưng chàng đang cười bỗng ngừng bặt, vì thấy con linh hồ duỗi thẳng cẳng, không cựa quậy gì hết, có lẽ nó chết rồi. Dương Quá nghĩ: "Hỏng, mình vung tay áo quá mạnh, con linh hồ không ngờ quá yếu như vậy; không biết máu của con linh hồ đã chết có thể chữa trị nội thương cho Sử tam ca được chăng?"

Chàng cầm con linh hồ lướt đến chỗ Quách Tương nói:

– Con này chết rồi, sợ không sử dụng được, chúng ta phải bắt lấy con linh hồ còn sống kia mới được.

Chàng nói và buông rơi con linh hồ xuống tuyết.

Chàng lo nó giả chết, nên sau khi buông nó ra, ống tay áo sẵn sàng, hễ nó động đậy chàng sẽ cuốn nó lại ngay, nhưng con linh hồ không hề cựa quậy, rõ ràng nó đã chết.

Quách Tương nói:

– Con tiểu hồ li trông khả ái thật, không ngờ nó chạy đến nỗi kiệt sức mà chết.

Nàng cầm một thanh củi, nói:

– Để muội đuổi con linh hồ thứ hai chạy ra, đại hiệp cứ chờ ở đây.

Nói đoạn nàng tiến tới mấy bước, thọc que củi vào đống cỏ khô kia.

Nàng thọc vào rồi, định rút ra thọc chỗ khác bên cạnh, thì lạ thay, không thể rút ra được, tựa hồ có con dã thú nào đó nấp bên trong tóm lấy que củi mà giữ chặt. Quách Tương kêu "Ơ" một tiếng, dùng sức giật mạnh, thì que củi lại tuột khỏi tay mà chui vào trong đống cỏ.

Thế rồi từ trong đống cỏ chui ra một lão thái bà tóc bạc phơ, áo quần lam lũ. Lão phụ hầm hầm nhìn Quách Tương, giơ que củi lên như sắp đánh. Quách Tương cả sợ, vội nhảy lùi về bên cạnh Dương Quá.

Lúc ấy con linh hồ chết nằm dưới đất bỗng bật dậy, chui vào vòng tay của lão phụ, đôi mắt nhỏ long lanh nhìn Dương Quá, thì ra là nó giả chết.

Dương Quá nhìn cảnh ấy vừa tức vừa buồn cười, nghĩ: "Hôm nay mình lại thua một con tiểu súc sinh, xem chừng cặp linh hồ kia là do lão phụ nuôi. Người này không biết là ai, giang hồ chưa nghe nói gì về nhân vật này. Muốn bắt con linh hồ, e không dễ với lão phụ", bèn xuôi tay nói:

– Vãn bối mạo muội tới đây, xin tiền bối tha tội.

Lão phụ nhìn cành cây buộc dưới hai người, sắc diện hơi có vẻ kinh dị, nhưng lập tức trở lại bình thường, nói:

– Lão phụ nhân ẩn cư chốn hoang vu không tiếp khách, các người hãy đi đi!

Giọng nói nghe nhỏ nhưng gay gắt, mày hơi cau, lộ rõ vẻ khó chịu.

Dương Quá thấy lão phụ dung nhan đáng sợ, nhưng mi mục thanh tú, thời trẻ hẳn là một mỹ nhân, không biết người này là ai, lại thi lễ, nói:

– Tại hạ có một vị bằng hữu bị nội thương, cần có huyết của Cửu vĩ linh hồ mới chữa được, kính xin lão tiền bối khai ân ban cho, cứu mạng một người, tại hạ và người ấy cùng đội ơn tiền bối.

Lão phụ ngừa mặt cười hô hô, ha ha, hi hi hồi lâu không dứt, trong tiếng cười lại chứa đựng sự thê thảm và độc ác. Lão phụ cười một hồi, rồi nói:

– Bị nội thương à, phải cứu mạng hắn à? Hay đấy, thế tại sao hài nhi của ta bị nội thương, kẻ khác lại nhất quyết không chịu cứu mạng nó?

Dương Quá ngạc nhiên hỏi:

– Không biết lệnh lang bị nội thương thế nào, bây giờ thì cứu có còn kịp chăng?

Lão phụ lại cười ha hả, nói:

– Có còn kịp chăng? Có còn kịp chăng? Nó chết đã mấy chục năm rồi, xương cốt đã thành đất bụi, ngươi còn hỏi có còn kịp chăng?

Dương Quá biết lão phụ đang nhớ lại chuyện xưa, tâm tính dị thường, không tiện nói gì, chỉ nói:

– Tại hạ mạo muội đến cầu xin con linh hồ, lẽ ra không nên. Tục ngữ có câu "Vô công bất thụ lộc", lão tiền bối nếu có gì sai bảo mà vừa sức tại hạ, tại hạ xin làm ngay.

Lão phụ đảo mắt qua lại rất nhanh, nói:

– Lão phụ nhân cô cư ở đầm lầy vô thân vô hữu, chỉ có Cửu vĩ linh hồ làm bạn. Ngươi muốn bắt nó đi, cũng được, nhưng hãy để tiểu cô nương ở lại đây với lão phụ mười năm.

Dương Quá cau mày, chưa đáp, thì Quách Tương cười, nói:

– Chỗ này chỉ toàn bùn lầy cỏ khô, chẳng có gì vui chơi. Vãn bối không thích ở đây. Lão tiền bối nếu không ngại một vùng đất rộng chơi đùa thỏa thích, thì hãy đến ở với gia đình vãn bối, ở mười năm cũng được, ở hai mươi năm cũng được, gia gia má má của vãn bối nhất định sẽ coi lão tiền bối như thượng khách, như thế chẳng tốt hơn sao?

Lão phụ sầm mặt lạnh, nói:

– Cha mẹ ngươi là cái thá gì mà mời được ta?

Quách Tương tính nết khoáng đạt đại lượng, người khác dù nói năng thất lễ, nàng cũng chỉ cười, rất ít khi tức giận. Câu nói vừa rồi của lão phụ rõ ràng đắc tội với Quách Tĩnh, Hoàng Dung, nếu là Quách Phù nghe thấy, chắc đã nổi phong ba, đằng này Quách Tương chỉ mỉm cười, nhìn Dương Quá và lè lưỡi.

Dương Quá thấy tiểu cô nương này hiền hòa dễ thân, không hề gây khó dễ gì cho chàng, thì gật đầu nhẹ với nàng, đoạn quay sang lão phụ, nói:

– Được tiền bối để mắt đến tiểu muội muội như thế, vốn là không còn gì bằng, nhưng tiểu muội muội chưa được phụ mẫu cho phép, tự mình lại chưa thể đưa ra chủ ý..

Lão phụ gằn giọng, hỏi:

– Phụ mẫu nó là ai? Ngươi là thế nào đối với nó hả?

Dương Quá hơi lưỡng lự, hai câu nói ấy quả là khó trả lời, thì Quách Tương đã nói:

– Gia gia má má của vãn bối là người thôn quê, có nói tên ra, tiền bối cũng chẳng biết là ai. Còn đây.. đây là đại ca ca của vãn bối!

Nói rồi nàng nhìn Dương Quá.

Lúc này Dương Quá cũng đang nhìn nàng. Hai ánh mắt gặp nhau. Dương Quá mang mặt nạ, trông trơ trơ cứng nhắc, không thể hiện vẻ hỉ nộ, nhưng ánh mắt thì lộ rõ ý thân ái trìu mến. Quách Tương xúc động, bất giác nghĩ: "Giá mình quả thật có một vị đại ca ca như Thần điêu hiệp, đại ca ca sẽ chiếu cố, giúp đỡ mình, đâu có như tỷ tỷ chỉ luôn miệng mắng mỏ, không được thế này, không được thế nọ". Nghĩ thế, sắc diện lộ rõ vẻ ôn nhu kính phục. Dương Quá nói:

– Vâng! Tiểu muội tử của tại hạ nhỏ tuổi chưa hiểu, tại hạ dẫn đi theo cho biết đây biết đó..

Quách Tương chỉ sợ Dương Quá lên tiếng phủ nhận, nghe chàng nói vậy thì cả mừng, lại thấy chàng nói tiếp:

– Muội tử thấy Cửu vĩ linh hồ thần dị như thế, biết tất là do một vị cao nhân tiền bối nuôi dưỡng, cho nên mới đi theo vãn bối cùng đến bái kiến. Được lọt vào mắt tiền bối, thực là hân hạnh.

Lão phụ cười khẩy, nói:

– Đừng có nịnh bợ vô ích. Các ngươi đánh đuổi rượt bắt con linh hồ của ta như thế mà gọi là tôn trọng tiền bối đấy hả? Hãy mau cút xéo đi cho ta, đừng bao giờ vác mặt đến đây nữa!

Nói xong vung song chưởng lên, một chưởng đẩy về phía Dương Quá, một chưởng đẩy về phía Quách Tương. Ba người cách nhau hơn một trượng, lão phụ lăng không xuất chưởng, vốn không thể đánh tới Dương, Quách hai người, nhưng Quách Tương cảm thấy có một luồn hàn phong ập đến. Dương Quá tay áo phẩy nhẹ, hóa giải ngay chưởng phong đánh đẩy về phía Quách Tương, còn chưởng phong đánh về phía chàng thì chàng chẳng buồn để ý.

Lão phụ vốn không định đả thương hai người, chỉ tính đuổi họ ra khỏi đầm Hắc Long, nên chỉ vận năm thành công lực vào chưởng, thấy hai người bình yên vô sự, thì bất giác vừa ngạc nhiên vừa tức giận, ngưng khí đan điền, tăng gấp đôi kình lực mà đẩy song chưởng ra, bất chấp sự sống chết của đối phương.

Quách Tương vừa cảm thấy chưởng phong ào đến, tức ngực khó thở, nhưng Dương Quá liền phất tay áo, hàn khí tiêu luôn, biết hai người lớn đang tỷ thí nội công, nhìn lão phụ hung hăng, trong khi Dương Quá trầm tĩnh nhàn nhã, rõ ràng chàng chiếm thượng phong.

Lão phụ vọt tới như tên bắn, chỉ nghe "bình" một cái, song chưởng đã giáng vào ngực Dương Quá. Lão phụ giáng đòn xong lập tức lùi ra, không để cho đối phương đánh trả, thoắt một cái đã ở xa hai trượng.

Quách Tương cả kinh, kéo tay Dương Quá, hỏi:

– Đại ca ca.. có bị thương không?

Lão phụ gằn giọng nói:

– Ngươi đã trúng chưởng lực "Hàn âm tiễn" của ta, không sống nổi đến giờ này ngày mai; đấy là do ngươi tự chuốc lấy, đừng có trách người khác.

Mười lăm năm về trước, võ công của Dương Quá đã cao hơn hẳn lão phụ này, hiện thời chàng nội ngoại kiêm tu, đã đạt cảnh giới tấu nhập thần tòa, chưởng lực "Hàn âm tiễn" của lão phụ dù tàn ác mấy cũng đả thương chàng sao được? Chẳng qua chàng với lão phụ không thù không oán, lại đang cầu xin con vật yêu thích của lão phụ, nên đành tiếp nhận ba chưởng mà không hoàn thủ.

Lão phụ hơn hai chục năm nay khổ luyện chưởng lực "Hàn âm tiễn", một chưởng đã có thể đánh vỡ cả chồng mười bảy viên gạch xanh, kình lực quả thật ghê gớm. Lão phụ thấy Dương Quá đã trúng song chưởng, chắc hẳn nội tạng đã vỡ nát, lại vẫn nhơn nhơn nói cười vô sự thì nghĩ: "Tên tiểu tử sắp chết còn ngang ngạnh", nói:

– Hãy nhân lúc còn sống, mau mau đưa con nhóc kia về đi, kẻo chết mất xác trong đầm lầy của ta đấy.

Dương Quá ngẩng đầu, nói:

– Lão tiền bối ẩn cư chốn này, không biết võ học thế gian đa đoan, tu vi của mỗi người đều có sở trường.

Rồi chàng cười to một tràng đầy sảng khoái, rõ ràng trung khí sung mãn, nội lực thâm hậu.

Lão phụ nghe, biết đối phương không hề thụ thương, thì bất giác tái mặt, thân hình loạng choạng, mới biết rằng vừa rồi đối phương nhường cho ba chưởng, mình hoàn toàn không phải là đối thủ của chàng; bèn không đợi chàng cười dứt tiếng, giơ con linh hồ trong bọc lên, huýt gió một tiếng, con linh hồ thứ hai cũng từ trong đống cỏ chui ra, nhảy vào túi của lão phụ.

Lão phụ gằn giọng, nói:

– Tôn giá võ học kinh nhân, khiến người ta thán phục; nhưng muốn ỷ mạnh cướp đoạt con linh hồ của lão bà tử, thì chớ có hòng. Ngươi chỉ bước lên một bước, ta sẽ bóp chết con linh hồ, để ngươi đến tay không, ra về cũng tay không cho coi.

Dương Quá thấy bà lão nói quả quyết, biết tính lão bà ngang ngạnh, thà chết không khuất phục, thành thử chàng rất do dự, nếu chàng xuất thủ điểm huyệt lão bà rồi cướp con linh hồ mang đi, có thể cứu sống Sử Thúc Cương đấy, nhưng lại đả thương một bà lão vô tội hay sao?

Đúng lúc ấy, phía sau bỗng vọng lại tiếng niệm Phật hiệu "A Di Đà Phật" tiếp đến tiếng người nói:

– Lão tăng Nhất Đăng cầu kiến, những mong Anh Cô chấp nhận.

Quách Tương nhìn tứ phía không người, thầm lấy làm lạ, nghe tiếng nói hoàn toàn không vang to, rõ ràng phát ra rất gần, nhưng bốn phía quanh đây không hề có một chỗ ẩn thân, thì người nói ở đâu? Nàng từng nghe mẫu thân nói Nhất Đăng đại sư là một vị cao nhân tiền bối, từng cứu mạng mẫu thân, lại là sư phụ của Võ Tam Thông, phụ thân của huynh đệ họ Võ, chỉ có điều là nàng chưa từng gặp mặt, lúc này đột nhiên nghe hai tiếng "Nhất Đăng" thì cả mừng.

Dương Quá nghe tiếng nói của Nhất Đăng đại sư, cũng vô cùng hoan hỉ. Chàng biết Nhất Đăng đại sư vừa sử dụng phép "Thiên lý truyền âm". Công phu này tuy gọi là "Thiên lý truyền âm", dĩ nhiên không phải là nghìn dặm nghe thấy được, song nếu hoàn toàn không có chướng ngại vật lớn, như núi non ngăn cách, thì người công phu cao thâm có thể truyền âm đi xa vài dặm, hơn nữa, nội công càng thâm hậu, thì âm thanh nghe càng nhu hòa. Dương Quá nghe hai câu nói kia, đã rất khâm phục, tự nghĩ vị cao tăng kia nội công quá thâm hậu, chàng không thể sánh kịp, lại nghĩ: "Lão phụ thì ra tên là Anh Cô. Không hiểu Nhất Đăng đại sư muốn gặp lão bà bà có việc gì? Có Nhất Đăng đại sư xuất hiện điều hòa, rất có thể sẽ có được Cửu vĩ linh hồ".

Lão phụ trên đầm Hắc Long đúng là Anh Cô. Năm xưa, khi Nhất Đăng đại sư còn làm vua nước Đại Lý thì Anh Cô là quí phi trong cung, Lão Ngoan đồng Chu Bá Thông đã tư thông với Anh Cô, sinh hạ một đứa con trai; sau đó Cầu Thiên Nhẫn dùng Thiết chưởng công đả thương đứa bé, Đoàn Hoàng gia do ghen tức không cứu, đứa bé vì vậy bị chết, Đoàn Hoàng gia liền hối hận xuất gia, lấy pháp hiệu Nhất Đăng.

Anh Cô trên đỉnh Hoa Sơn giết Cầu Thiên Nhẫn không được, đuổi theo Chu Bá Thông cũng không xong, từ đó lang bạt giang hồ, cuối cùng định cư ở đầm Hắc Long này. Nhất Đăng đại sư tới đây đã bảy ngày bảy đêm, ngày nào cũng dùng phép "Thiên lý truyền âm" cầu kiến, nhưng Anh Cô nhớ mối hận mấy chục năm trước Nhất Đăng không cứu con bà, nên không muốn gặp đại sư.

Dương Quá thấy Anh Cô lùi vài bước, ngồi xuống một đống cỏ khô, mục quang lộ rõ thần sắc tàn ác.

Một lát sau, lại nghe Nhất Đăng nói:

– Lão tăng Nhất Đăng từ ngàn dặm lặn lội tới đây, những mong Anh Cô cho được gặp một lần.

Anh Cô cầm hai con linh hồ, chẳng lý gì đến. Dương Quá nghĩ: "Nhất Đăng đại sư võ công cao hơn bà lão rất nhiều, muốn đến gặp, bà lão cản sao được, hà tất phải cầu xin khổ sở như vậy?" Chỉ nghe Nhất Đăng đại sư lại nói một lần nữa, rồi hoàn toàn im lặng.

Quách Tương nói:

– Đại ca ca, Nhất Đăng đại sư là một nhân vật cao siêu, chúng ta đi gặp đại sư xem sao đi?

Dương Quá nói:

– Đúng, ta cũng đang định như thế.

Chàng thấy Anh Cô từ từ đứng dậy, mắt lộ hung quang, thần sắc rất khó coi, chàng bèn nắm tay Quách Tương, nói:

– Đi thôi!

Hai người cùng lướt đi trên mặt tuyết. Quách Tương được Dương Quá kéo đi mấy chục trượng, hỏi:

– Đại ca ca, Nhất Đăng đại sư ở chỗ nào thế? Muội nghe đại sư nói như ngay bên cạnh mình vậy.

Dương Quá hai lần thấy nàng gọi mình là "Đại ca ca", bằng một giọng rất âu yếm, thân thiết, thì chột dạ nghĩ thầm: "Quyết không để người khác sa vào tình chướng. Tiểu cô nương này nhỏ tuổi vô tri, ngây thơ hồn nhiên, phải kịp thời chia tay với nàng ta để khỏi sinh thị phi". Nhưng giữa đầm lầy thế này không thể dừng chân giây lát, càng không thể buông tay nàng ra. Quách Tương nói:

– Muội hỏi gì, đại ca ca không nghe thấy ư?

Dương Quá nói:

– Nhất Đăng đại sư ở phía đông bắc, cách chúng ta vài dặm, đại sư nói tưởng ở gần, thật ra ở xa, đấy là dùng phép "Thiên lý truyền âm".

Quách Tương nói:

– Đại ca ca cũng biết phép đó chứ? Dạy cho muội với được chăng? Sau này hai chúng ta cách nhau ngàn dặm, muội dùng phép ấy nói chuyện với đại ca ca, chẳng thích lắm sao?

Dương Quá cười, nói:

– Gọi là "Thiên lý truyền âm", kỳ thực chỉ nghe được trong vài dặm đã là công phu cao siêu lắm rồi. Muốn luyện được công lực như Nhất Đăng đại sư, người thông minh như cô nương cũng phải luyện đến lúc bạc phơ mái đầu đấy.

Quách Tương nghe chàng khen mình thông minh thì cao hứng nói:

– Muội thì thông minh nỗi gì? Chỉ mong bằng được một phần mười mẫu thân muội, cũng đã tâm mãn ý túc rồi.

Dương Quá chợt thấy nét mặt Quách Tương có vài phần hao hao Hoàng Dung, nghĩ: "Bình sinh nhân vật sở kiến, bất luận nam nữ, nói về thông minh cơ biến, không một ai theo kịp Quách bá mẫu, không lẽ cô nương này lại là con gái của Quách bá mẫu? Thế gian làm gì có sự trùng hợp thế được. Nếu quả thực nàng ta là con gái Quách bá mẫu, Quách bá bá nhất định không để cho nàng đi loạn ra bên ngoài thế này", bèn hỏi:

– Lệnh đường là ai?

Quách Tương ban nãy trót nói phụ mẫu là đại anh hùng, lúc này không tiện bảo mình là con gái của Quách Tĩnh, Hoàng Dung, chỉ cười, nói:

– Mẫu thân của muội là mẫu thân của muội, có nói tên ra đại ca ca cũng chẳng biết. Đại ca ca, bản sự của đại ca ca so với Nhất Đăng đại sư, ai cao hơn?

Dương Quá hiện thời đã gần tuổi trung niên, lại từng trải bao đau khổ vì phải chia tay với Tiểu Long Nữ, tuy hào khí không giảm, nhưng tính nết huênh hoang thời trai trẻ đã loại trừ quá nửa, nói:

– Nhất Đăng đại sư vọng trọng võ lâm, mấy chục năm trước đây tề danh cùng Đào Hoa đảo chủ, là một trong năm đại cao nhân, tức Nam Đế, ta làm sao sánh được với Người?

Quách Tương nói:

– Nếu đại ca ca ra đời sớm vài chục năm, thì đương thời sẽ có sáu đại cao thủ. Đó là Đông Tà, Tây Độc, Nam Đế, Bắc Cái, Trung Thần Thông, Thần điêu hiệp. À còn có Quách đại hiệp và Quách phu nhân. Vị chi là tám đại cao thủ.

Dương Quá không nhịn được, hỏi:

– Cô nương đã gặp Quách đại hiệp và Quách phu nhân hay chưa?

Quách Tương nói:

– Muội tất nhiên đã gặp rồi. Hai người đó thích muội lắm. Đại ca ca cũng quen biết họ à? Chờ khi xong việc cho Vạn Thú sơn trang, muội sẽ cùng đại ca ca đi thăm họ được chứ?

Nỗi oán hận của Dương Quá đối với Quách Phù về chuyện chặt tay chàng, sau ngần ấy năm đã nguôi hẳn, nhưng Tiểu Long Nữ bị trúng chất độc, đến nỗi phải xa chàng mười sáu năm, việc đó không thể không làm cho chàng hết sức căm hận Quách Phù, bèn hờ hững nói:

– Sang năm có thể ta sẽ đi bái kiến phu phụ Quách đại hiệp, nhưng phải chờ sau khi ta gặp được thê tử của ta đã, bấy giờ vợ chồng ta sẽ cùng đi với nhau.

Vừa nhắc đến Tiểu Long Nữ, lòng chàng trở nên đại phấn chấn.

Quách Tương cũng cảm thấy lòng bàn tay chàng đột nhiên ấm lên, nàng hỏi:

– Phu nhân của đại ca ca nhất định phải đẹp lắm, võ công cũng cao phải không?

Dương Quá thở dài, nói:

– Trên thế gian không ai xinh đẹp như nàng, ồ, nói về võ công, thì hiện thời chắc cao hơn ta gấp bội.

Quách Tương cảm thấy vô cùng kính nể, nói:

– Đại ca ca, đại ca ca nhất định phải dẫn muội đi gặp phu nhân đấy, có được không đại ca ca?

Dương Quá cười, nói:

– Có gì mà không được? Nội nhân nhất định cũng sẽ thích cô nương, bấy giờ cô nương hãy gọi ta là đại ca ca.

Quách Tương sững lại, hỏi:

– Vì sao bây giờ không được gọi thế?

Nàng dừng lại một chút, bàn chân phải liền chìm xuống bùn. Dương Quá kéo nàng lướt đi hơn chục trượng, nhìn xa xa thấy có một người đứng trên tuyết, râu trắng rủ dài xuống ngực, thân khoác tăng bào màu xám, chính là Nhất Đăng đại sư, bèn cao giọng lên tiếng:

– Đệ tử Dương Quá khấu kiến đại sư.

Rồi hít một hơi, kéo Quách Tương lướt nhanh tới.

Chỗ Nhất Đăng đại sư đang đứng là bờ đầm, bên ngoài đám bùn lầy, nghe bốn chữ "đệ tử Dương Quá", Nhất Đăng đại sư vui mừng, thấy chàng vái sát đất, vội đỡ lên, cười nói:

– Dương hiền điệt thần công có tiến cảnh thế này, thật đáng mừng.

Dương Quá đứng dậy, thấy phía sau lưng Nhất Đăng đại sư có một người nằm trên tuyết, sắc diện vàng vọt, hai mắt nhắm nghiền, trông như một tử thi, bất giác ngẩn ra, nhìn kỹ chính là Từ Ân, kinh ngạc hỏi:

– Từ Ân đại sư sao vậy?

Nhất Đăng đại sư thở dài, nói:

– Y bị thương bởi chưởng lực kẻ khác, lão nạp đã tận lực cứu chữa nhưng không cứu nổi. Dương Quá cúi xuống xem mạch cho Từ Ân, thấy mạch đập chậm và yếu, cách quãng lâu mới lại đập khẽ một cái, nếu Từ Ân không có nội công thâm hậu, thì đã chết từ lâu, chàng hỏi:

– Từ Ân đại sư võ công cao thế, không biết sao lại bị kẻ địch hạ độc thủ?

Nhất Đăng đại sư nói:

– Ta cùng Từ Ân ẩn cư tại Nam Hồ, gần đây nghe tin đại quân Mông Cổ đánh thành Tương Dương lâu năm không được, đem quân đi đường vòng tấn công nước Đại Lý, sau đó sẽ đánh vu hồi thành Tương Dương. Từ Ân thấy lão nạp thương nhớ cố quốc mới đi dò la tin tức, dọc đường gặp kẻ địch, đôi bên giao đấu một ngày một đêm, cuối cùng Từ Ân bị hắn đả thương.

Dương Quá liền nói:

– Ồ, thì ra lão tặc Kim Luân pháp vương lại tới Trung Nguyên!

Quách Tương lấy làm lạ, hói:

– Làm sao đại ca ca biết hắn là Kim Luân pháp vương, trong khi Nhất Đăng đại sư chưa nói?

Dương Quá nói:

– Nhất Đăng đại sư bảo Từ Ân đại sư đấu một ngày một đêm, tức là không phải bị kẻ khác dùng gian kế ám toán. Mà thời nay dùng chưởng lực đả thương được Từ Ân đại sư, chỉ có vài ba người thôi, trong số vài ba người ấy, chỉ duy nhất Kim Luân pháp vương là kẻ gian ác.

Quách Tương nói:

– Đại ca ca hãy tìm tên gian đồ ấy mà thanh toán đi, được chăng? Như thế sẽ tra thù được cho lão hòa thượng đây.

Từ Ân nằm ngang dưới tuyết, hai mắt nhắm nghiền, hơi thở thoi thóp, lúc này đột nhiên mở mắt, nhìn Quách Tương lắc lắc đầu. Quách Tương hỏi:

– Tại sao? Đại sư không cần trả thù ư? Ồ, đại sư muốn nói là Kim Luân pháp vương rất lợi hại, sợ đại ca ca của điệt nhi không địch nổi hắn chứ gì?

Nhất Đăng đại sư nói:

– Tiểu cô nương hiểu nhầm rồi. Đệ tử của lão nạp bình sinh tạo nghiệt quá nhiều, mười mấy năm nay gắng sức chuộc tội, ác nghiệp đã tiêu đi quá nửa; nhưng có một việc y canh cánh mãi, lúc lâm chung không thể nhắm mắt. Việc đó hoàn toàn không phải y mong có người trả thù cho y, đánh chết kẻ thù; mà y chỉ mong được tha thứ, mới có thể an tâm tắt thở.

Quách Tương nói:

– Từ Ân đại sư muốn cầu xin lão thái bà trong đầm lầy phải không ạ? Lão bà bà tâm địa hẹp hòi lắm, ai mà đắc tội với bà ta, bà ta quyết không tha thứ cho đâu.

Nhất Đăng đại sư thở dài, nói:

– Đúng thế! Lão nạp đã cầu khẩn ở đây bảy ngày bảy đêm, lão bà bà cũng chưa chịu cho gặp mặt.

Dương Quá chột dạ, bỗng nhớ đến chuyện lão bà bà kể rằng có đứa bé bị thương không được cứu chữa, nói:

– Có phải là do chuyện đứa bé bị thương không được cứu chữa hay không?

Nhất Đăng đại sư hơi giật mình, gật đầu, nói:

– Thì ra Dương hiền điệt cũng đã biết rồi.

Dương Quá nói:

– Đệ tử không rõ nguyên do chuyện đó. Chỉ mới nghe lão tiền bối trong đầm nhắc đến bằng đôi ba câu.

Rồi chàng thuật lại vắn tắt việc truy đuổi Cửu vĩ linh hồ và việc gặp lão bà bà trong kia.

Nhất Đăng đại sư nhỏ nhẹ nói:

– Tên bà ấy là Anh Cô, trước kia từng là thê tử của lão nạp, Anh Cô tính khí mười phần cương cường. Ôi, kéo dài thế này, chỉ e Từ Ân không chịu nổi nữa.

Quách Tương trong lòng lập tức nảy ra nhiều nghi vấn, nhưng nhất thời cũng không dám hỏi.

Dương Quá khảng khái nói:

– Làm người ai chẳng có lầm lỗi, đã biết hối lỗi, thì nên bỏ qua chuyện cũ. Anh Cô lão bà không được độ lượng cho lắm.

Chàng thấy Từ Ân sắp chết, bất giác nổi lòng hiệp nghĩa, nói:

– Đại sư, đệ tử sẽ có cách buộc Anh Cô lão bà phải tới đây nói cho ra lẽ.

Nhất Đăng đại sư trầm ngâm một lát, nghĩ: "Mình và Từ Ân đến đây cầu xin Anh Cô tha thứ, tất nhiên không được dùng vũ lực. Khẩn khoản nhiều ngày nay, Anh Cô trước sau vẫn không chịu diện kiến. Dương Quá nếu có cách gì cứ thử, nếu không được cũng chẳng sao", bèn nói:

– Nếu hiền điệt có thể khuyên Anh Cô ra gặp thì không còn gì bằng, nhưng nhất thiết đừng làm mất hòa khí, kẻo chỉ tăng thêm tội nghiệt của chúng ta mà thôi.

Dương Quá gật đầu đáp ứng, lấy ra một cái khăn tay, xé thành bốn mảnh, hai mảnh nhét vào lỗ tai Từ Ân, hai mảnh đưa cho Quách Tương, Quách Tương hiểu ý, đút nút tai lại. Dương Quá nói với Nhất Đăng:

– Đệ tử múa rìu qua mắt thợ, xin đại sư đừng chê cười.

Nhất Đăng chắp tay, nói:

– Hiền điệt diệu ngộ thần công, hiếm có trên đời, lão nạp chính cần lĩnh giáo.

Dương Quá nói vài lời khiêm nhường, rồi ngưng khí đan điền, tay trái chống nạnh, ngửa cổ mà hú.

Tiếng hú thoạt tiên nghe thanh và rõ, càng lúc càng vang động, như tiếng sấm ì ầm xa xa, rồi đột nhiên đoành đoành như tiếng sấm sét giữa trời, Quách Tương tuy hai tai đã đút nút, vẫn bị tiếng hú làm chấn động tâm trí, tái cả mặt. Nàng cả sợ, chỉ mong Dương Quá sớm ngừng hú, song tiếng sấm sét vẫn nổi lên từng chập không dứt, lại kèm theo tiếng cuồng phong ào ào. Quách Tương kêu lên:

– Đừng hú nữa, muội chịu hết nổi rồi!

Nhưng tiếng kêu của nàng bị át hẳn bởi tiếng hú của Dương Quá, chính nàng cũng chẳng nghe thấy chút gì, chỉ cảm thấy hồn phi phách tán, tựa hồ xương cốt toàn thân đều bị tiếng hú chấn động.

Lúc ấy Nhất Đăng bèn giơ tay nắm lấy bàn tay nàng. Quách Tương định thần, cảm thấy có một luồng khí ấm từ bàn tay Nhất Đăng truyền sang, biết đại sư dùng nội lực giúp nàng trấn tĩnh, thế là nàng nhắm mắt cúi đầu, ngầm tự vận công, tiếng bên tai tuy vẫn ầm ầm như thiên binh vạn mã chạy qua, nhưng đã không khiến người ta kinh hoàng như cũ.

Dương Quá hú rất dài, bằng thời gian ăn xong một bữa cơm, mà âm thanh vẫn chưa có vẻ yếu đi, thậm chí còn mạnh hơn. Nhất Đăng nghe cũng thầm thán phục, tuy thấy tiếng hú quá ư bá đạo, không phải là chính khí thuần dương, nhưng nghĩ thời mình khỏe mạnh nhất cũng không có được nội lực sung mãn thế này, bây giờ tuổi già lực suy, càng thua kém xa; nghĩ bụng Dương Quá nội lực cương mãnh, thật không một cao thủ đương thời nào sánh kịp, không biết chàng đã luyện bằng cách nào. Việc Dương Quá cùng Thần điêu luyện công trong sóng biển, Nhất Đăng hoàn toàn không biết.

Sau thời gian bằng cháy hết nửa nén nhang nữa, có một bóng đen từ đầm Hắc Long lướt tới. Dương Quá phất tay áo, ngừng hú. Quách Tương thở ra một hơi dài, cảm thấy nôn nao chóng mặt. Chỉ nghe bóng đen kia nói bằng giọng the thé:

– Đoàn Hoàng gia, vương gia giở thói bá đạo, bức ta diện kiến, rốt cuộc là để làm gì?

Nhất Đăng nói:

– Đấy là vị Dương hiền điệt hú to mời người.

Trong lúc nói, bóng đen đã tới trước mặt, chính là Anh Cô. Lão bà bà nghe Nhất Đăng nói vậy thì kinh nghi bất định, nghĩ: "Thế gian trừ Đoàn Hoàng gia, vẫn có người nội lực cao thâm đến mức đó kia ư? Người này tuy mặt mũi khó coi, nhưng râu tóc vẫn đen, cùng lắm chỉ ngoài ba mươi tuổi, làm sao có được công lực nhường ấy? Ban đầu hắn nhận ba chưởng của ta mà không hề hấn, đã đáng kinh ngạc, tiếng hú vừa rồi thật là ghê gớm". Tiếng hú của Dương Quá khiến lão bà bà tâm thần bất định, biết nếu không ra gặp, tất sẽ bị đối phương làm cho thần trí hỗn loạn, bị nội thương trầm trọng, bị đối phương khống chế, không thể không ra, thần sắc mười phần miễn cưỡng.

Anh Cô định thần, lạnh lùng nói với Dương Quá:

– Cửu vĩ linh hồ ta sẽ cho ngươi, lão bà tử coi như phục ngươi, hãy mau xéo đi cho ta.

Nói đoạn cầm gáy con linh hồ định ném về phía Dương Quá. Dương Quá nói:

– Khoan đã, Cửu vĩ linh hồ là chuyện nhỏ, Nhất Đăng đại sư có việc cầu kiến, xin lão bà hãy nghe đại sư nói.

Anh Cô lạnh lùng nhìn Nhất Đăng, nói:

– Nào thử nghe Đoàn Hoàng gia hạ chỉ!

Nhất Đăng nói:

– Chuyện xưa đã qua như một giấc mộng, còn xưng hô lối cũ làm chi? Anh Cô, lão bà có nhận ra hắn hay không?

Rồi đưa tay chỉ Từ Ân nằm dưới tuyết. Hiện thời Từ Ân đã dùng trang phục của hòa thượng, khác hẳn lần gặp hơn ba mươi năm trước trên đỉnh Hoa Sơn, diện mạo cũng khác hẳn. Anh Cô nhìn Từ Ân, nói:

– Ta không thể nhận ra hắn là ai.

Nhất Đăng đại sư nói:

– Người nặng tay đả thương hài nhi của lão bà là ai?

Anh Cô toàn thân run rẩy, sắc mặt từ trắng chuyển sang đỏ, rồi lại từ đỏ chuyển sang trắng, nói:

– Tên ác tặc Cầu Thiên Nhẫn ấy, dẫu xương thịt thành tro, ta cũng nhận ra hắn.

Nhất Đăng đại sư thở dài, nói:

– Chuyện mấy chục năm trước, lão bà vẫn không quên nỗi oán độc. Người này chính là Cầu Thiên Nhẫn Lão bà ngay đến diện mạo của hắn còn không nhận ra, vậy mà cứ nhớ mối hận ngày xưa.

Anh Cô kêu to một tiếng, sấn tới, mười ngón tay như chùm móc câu định chụp xuống ngực Từ Ân, nhìn qua diện mạo y, thấy quả nhiên hao hao Cầu Thiên Nhẫn, nhưng nhìn kỹ thì hình như không phải, thấy người kia hai má hõm sâu, nằm bất động dưới đất, tựa hồ quá nửa đã chết, liền quát:

– Mi có đúng là Cầu Thiên Nhẫn hay không? Mi đến gặp lão bà nương làm gì?

Nhất Đăng đại sư nói:

– Hắn chính là Cầu Thiên Nhẫn. Hắn tự biết tội nghiệt quá nặng, đã qui y cửa Phật, làm đệ tử của ta, pháp danh là Từ Ân.

Anh Cô hừ một tiếng, nói:

– Cứ gây tội nghiệt, rồi xuất gia thì sẽ hóa giải, chẳng trách thiên hạ sao mà lắm đạo sĩ với hòa thượng đến thế!

Nhất Đăng nói:

– Tội nghiệt rốt cuộc vẫn là tội nghiệt, há có thể xuất gia là hóa giải xong? Từ Ân thân bị trọng thương, mạng hết trong sớm tối, nghĩ năm xưa đả thương hài nhi của lão bà, lòng không yên, chết khó nhắm mắt, nên cố sống, lặn lội ngàn dặm đến đây, cầu xin lão bà tha tội.

Anh Cô trừng trừng nhìn Từ Ân hồi lâu không chớp mắt, vẻ mặt đầy oán hận, tưởng chừng nỗi thống khổ bất hạnh cả đời đều hiển lộ lúc này.

Quách Tương thấy thần sắc Anh Cô đáng sợ như vậy, lại thấy lão bà bà giơ hai tay sắp đánh xuống, nàng tuy sợ, song không nhịn được, vẫn nói:

– Khoan đã! Từ Ân hòa thượng đã bị thương như vậy, lão bà bà còn đánh nữa, thì đạo lí ở đâu?

Anh Cô cười khẩy, nói:

– Hắn giết hài nhi của ta, ta đau khổ mấy chục năm, hôm nay mới được chính tay mình lấy mạng hắn, coi như đã quá muộn. Ngươi còn hỏi đạo lí cái gì?

Quách Tương nói:

– Từ Ân hòa thượng đã hối ngộ, chuyện cũ hà tất khơi lại làm chi?

Anh Cô ngửa mặt cười to, nói:

– Nhãi con, ngươi nói nghe mới dễ làm sao! Giả dụ hắn giết hài nhi của ngươi, thì ngươi sẽ thế nào đây?

Quách Tương ấp úng:

– Vãn bối.. vãn bối.. vãn bối làm gì có hài nhi?

Anh Cô nói:

– Hừ, giả dụ hắn giết chồng hay tình nhân của ngươi, thì ngươi sẽ thế nào đây?

Quách Tương đỏ mặt, nói:

– Lão bà bà hồ thuyết bát đạo, vãn bối làm gì có chồng hay tình nhân?

Anh Cô càng tức giận thêm, không muốn dây dưa với tiểu cô nương, chăm chú nhìn Từ Ân, song chưởng lại định đánh xuống, bỗng thấy Từ Ân thở dài một cái, khóe miệng cười cười, nói nhỏ:

– Đa tạ Anh Cô thành toàn!

Anh Cô sững lại, không đánh xuống, quát:

– Thành toàn cái gì?

Lão bà bà chợt hiểu ra tâm ý của Từ Ân, nguyên Từ Ân tự biết mình sắp chết, chỉ mong Anh Cô giáng cho một chưởng chết luôn, trả lại một chưởng năm xưa của y, kết liễu sự oan nghiệt. Anh Cô cười lạnh vài tiếng, nói:

– Đâu có tiện lợi cho ngươi như thế! Ta sẽ không giết ngươi, song cũng không tha cho ngươi!

Ba câu ấy được nói bằng một giọng thâm hiểm, khiến người nghe bất giác sởn gai ốc.

Dương Quá biết Nhất Đăng đại sư quyết không cưỡng ép Anh Cô, còn Quách Tương là một tiểu hài nhi, có nói gì cũng không được Anh Cô coi trọng, nếu chàng không can thiệp, việc này khó bề chấm dứt, bèn nói:

– Anh Cô tiền bối, chuyện ân oán giữa các vị, vãn bối cũng không rõ. Nhưng tiền bối nói năng hành sự có phần cạn tàu ráo máng, vãn bối bất tài, song cũng phải xen vào vậy.

Anh Cô ngảnh lại, lão bà đã đánh chàng ba chưởng, lại nghe tiếng hú của chàng, biết chàng võ công cao siêu, mình không thể đối địch, bây giờ chàng lại đứng ra ép buộc, nghĩ đi nghĩ lại, cảm thấy bi thương, liền ngồi phệt xuống đất mà khóc òa lên.

Không riêng Dương Quá và Quách Tương, ngay cả Nhất Đăng đại sư cũng bị bất ngờ, chỉ nghe Anh Cô vừa khóc vừa nói:

– Các người muốn gặp ta, cầu xin không được, liền xuất thủ bắt ép ta. Trong khi có người không chịu gặp ta, thì các người chẳng thèm đếm xỉa.

Quách Tương vội nói:

– Lão tiền bối, là ai không chịu gặp? Chúng tôi sẽ giúp lão tiền bối buộc hắn phải đến gặp.

Anh Cô nói:

– Các người chỉ giỏi khi vũ hạng nữ lưu như ta, chứ gặp nhân vật thật sự lợi hại, liệu có dám động đến hắn hay không?

Quách Tương nói:

– Tiểu nhân dĩ nhiên vô dụng, nhưng có Nhất Đăng đại sư và đại ca ca của tiểu nhân đây, lão tiền bối còn sợ ai kia chứ?

Anh Cô ngẫm nghĩ, rồi đứng dậy, nói:

– Các người chỉ cần đi tìm y tới đây gặp ta, nói chuyện tử tế với ta một phen, thì muốn Cửu vĩ linh hồ cũng có, muốn ta tha tội cho Cầu Thiên Nhẫn cũng xong.

Quách Tương hỏi:

– Người tiền bối muốn gặp là ai mà khó như vậy?

Anh Cô chỉ Nhất Đăng nói nhỏ:

– Ngươi cứ hỏi người kia thì biết.

Quách Tương thấy mặt Anh Cô hơi đỏ lên, thì lấy làm lạ, nghĩ: "Bà lão ngần ấy tuổi, sao còn xấu hổ?" Nhất Đăng đại sư thấy Dương Quá và Quách Tương cùng nhìn mình, thong thả nói:

– Người lão bà muốn gặp là Lão Ngoan đồng Chu Bá Thông Chu sư huynh.

Dương Quá mừng rỡ, nói:

– Lão Ngoan đồng à? Lão Ngoan đồng và đệ tử rất hợp nhau, đệ tử đi tìm Lão Ngoan đồng thì được thôi.

Anh Cô nói:

– Tên ta là Anh Cô, ngươi cần nói cho y rõ trước khi đến gặp ta, kẻo vừa nhìn thấy ta, y đã bỏ đi, không thể đuổi theo y được. Chỉ cần y chịu đến, các người bảo gì ta cũng làm theo.

Dương Quá thấy Nhất Đăng đại sư chậm rãi lắc đầu đoán là giữa Chu Bá Thông và Anh Cô tất có chuyện rắc rối nghiêm trọng, nên Chu Bá Thông mới nhất quyết không chịu gặp, nhưng chàng nghĩ Chu Bá Thông tính khí rất trẻ con, không chừng có thể dùng cách gì đó đánh lừa lão đến, bèn nói:

– Thế Lão Ngoan đồng ở đâu? Vãn bối sẽ tìm mọi cách mời lão đến bằng được.

Anh Cô nói:

– Từ đây đi về phía bắc hơn trăm dặm, có một sơn cốc, gọi là Bách Hoa cốc, y ẩn cư ở đó, lấy việc nuôi ong làm niềm vui.

Dương Quá nghe mấy chữ lấy việc nuôi ong làm niềm vui, thì lập tức nhớ đến Tiểu Long Nữ, Chu Bá Thông năm nào từng học Tiểu Long Nữ cách điều khiến bầy ong, bất giác mắt rưng rưng, nói:

– Được! Vãn bối đi ngay, các vị hãy chờ ở đây.

Rồi chàng hỏi Anh Cô về vị trí của Bách Hoa cốc, quay mình đi luôn. Quách Tương liền đi theo.

Dương Quá cúi đầu nói nhỏ: "Nhất Đăng đại sư võ học tinh thâm, tính lại hiền từ, cô nương hãy ở lại đây, chỉ cần được đại sư chỉ điểm cho một chút, cũng đủ dùng cả đời không hết đâu".

Quách Tương nói:

– Không, muội muốn theo đại ca ca đi gặp Lão Ngoan đồng cơ.

Dương Quá cau mày, nói:

– Đây là cơ hội hiếm có, sao cô nương lại bỏ lỡ như vậy?

Quách Tương nói:

– Tìm được Lão Ngoan đồng rồi, đại ca ca phải đi, muội cũng phải về nhà, vậy hãy cho muội đi cùng đại ca ca một chút nữa!

Ngụ ý là thời gian ở bên chàng chẳng còn bao nhiêu, được thêm khắc nào hay khắc đó.

Dương Quá thấy Quách Tương lưu luyến với chàng như vậy, nghĩ: "Giá mình có một tiểu muội muội như nàng bầu bạn lãng du giang hồ, thì cũng bớt phần tịch mịch", bèn mỉm cười, nói:

– Cô nương đã không ngủ cả đêm, chẳng lẽ không mệt hay sao?

Quách Tương nói:

– Mệt thì có hơi mệt, song muội vẫn muốn đi theo đại ca ca.

Dương Quá nói:

– Thôi được!

Đoạn cầm bàn tay nàng, thi triển khinh công mà chạy như bay.

Quách Tương được chàng kéo đi, thân hình tức thời nhẹ bẫng quá nửa, chân bước không hề tốn sức, cười nói:

– Nếu đại ca ca không kéo, muội cũng có thể chạy nhanh được như thế này mới tốt.

Dương Quá nói:

– Khinh công của cô nương đã có căn cơ, chịu khó luyện tiếp thì sẽ có ngày được như vậy.

Đột nhiên chàng ngẩng đầu, huýt sáo một tiếng.

Quách Tương giật mình, đưa tay trái bịt lỗ tai. Dương Quá không hú, chỉ thấy Thần điêu từ cây đại thụ bên phải bước ra. Dương Quá nói:

– Điêu huynh, chúng ta hãy cùng đi lên mạn bắc, có việc cần làm.

Thần điêu nghển cổ, kêu "oắc oắc" vài tiếng, cũng chẳng rõ nó có hiểu hay không, song nó đi sánh vai với Dương Quá và Quách Tương.

Đi được hơn một dặm, Thần điêu càng đi càng nhanh, Quách Tương tuy có Dương Quá dắt đi, song cũng dần dần đuổi không kịp. Thần điêu rùn mình thấp xuống, Dương Quá cười, nói:

– Điêu huynh tình nguyện cõng cô nương đấy, cô nương hãy cảm ơn đi!

Quách Tương không dám vô lễ với Thần điêu, trước hết thi lễ với nó, rồi mới cưỡi lên lưng chim.

Thần điêu sải bước, Quách Tương cảm thấy gió thổi ù ù bên tai, cây cối hai bên lùi nhanh về phía sau, tuy không nhanh như cưỡi chim điêu ở nhà bay chơi, nhưng cũng không khác gì phi ngựa. Dương Quá đi như lướt bên cạnh Thần điêu, vừa đi vừa chỉ trỏ sông núi, nghị luận phong cảnh, nói đùa vài câu. Quách Tương thích thú, cảm thấy bình sinh chưa bao giờ vui sướng bằng hôm nay, chỉ mong Thần điêu đi chậm lại một chút, chậm đến Bách Hoa cốc càng tốt.

Đến buổi chiều thì một chim điêu hai người đã đi hơn trăm dặm, Dương Quá theo lối Anh Cô chỉ, qua hai thung lũng, đột nhiên thấy trước mặt sáng lên, có một sơn cốc xanh tươi, đầy hoa nhiều màu, đỏ tím trắng vàng đủ cả, khắp nơi không có tuyết dày, mà chỉ là đất mềm, cứ như lạc vào một thế giới khác.

Quách Tương vỗ tay reo mừng:

– Lão Ngoan đồng thật biết cách tận hưởng, chọn một nơi kỳ diệu. Đại ca ca, sao phong cảnh ở đây đẹp thế?

Dương Quá nói:

– Nơi này sơn cốc hướng nam, núi cao ngăn gió bấc, chắc dưới lòng đất lại có khoáng sản như than, lưu huỳnh, địa khí rất ấm, cho nên mùa xuân đến sớm, trăm hoa đua nở.

Quách Tương nói:

– Điêu bá bá, xin đa tạ!

Nàng tụt khỏi lưng Thần điêu, đi bên cạnh Dương Quá. Hai người tiến vào sơn cốc, qua vài chỗ quành, thấy trước mặt hai bên là vách núi, có ba cây tùng cổ thụ cao chọc trời, như thể hai môn hộ thiên nhiên.

Nghe tiếng vo vo bất tuyệt, những con ong ngọc phong bay qua bay lại giữa cây lá.

Dương Quá biết Chu Bá Thông ở bên trong, bèn gọi to:

– Lão Ngoan đồng, tiểu huynh đệ Dương Quá dắt theo một tiểu bằng hữu, đến chơi đùa với đằng ấy đây.

Chàng và Chu Bá Thông kỳ thực chênh nhau xa về tuổi tác, gọi lão là tổ sư gia cũng chưa đủ, nhưng chàng biết Lão Ngoan đồng tuy rất già song vẫn ham chơi, càng không phân biệt tôn ti lão càng thích thú.

Quả nhiên tiếng gọi vừa dứt, từ phía sau mấy cây tùng đã có một người vút ra, Dương Quá thoạt nhìn giật mình, hơn mười năm trước, lần đầu chàng gặp Chu Bá Thông, lông mày và râu của lão đã bạc như cước; ai dè bây giờ diện mạo hầu như không thay đổi, nhưng tóc, râu, lông mày lại trở thành hoa râm, trông trẻ hẳn lại so với ngày trước. Chỉ nghe lão cười hô hô, nói:

– Dương huynh đệ, sao mãi hôm nay mới đến tìm ta? A ha, huynh đệ đeo mặt nạ để dọa ai thế?

Nói rồi giơ tay giật cái mặt nạ ra.

Một trảo này của Lão Ngoan đồng chộp từ mé trái, Dương Quá vai phải hơi co lại, đầu hơi chếch sang trái, khiến Chu Bá Thông chộp hụt. Năm ngón tay của lão sượt qua cổ Dương Quá, hơi sững lại, tự nhiên lão ngẩng mặt cười to, nói:

– Dương huynh đệ, hảo công phu, hảo công phu! Chỉ e đã hơn thời Lão Ngoan đồng còn trai trẻ.

Nguyên hai người một trảo một né, đã hiển lộ võ công cực cao. Một trảo của Chu Bá Thông, kình lực của các ngón tay đã bao trùm phạm vi một trượng, Dương Quá đừng nói nghiêng đầu né tránh, dù có tung mình nhảy vội, cũng không thể thoát đòn trảo ấy trừ phi đưa tay gạt đi mới có thể hóa giải. Nhưng Dương Quá vai phải hơi co lại, dùng Thiết tụ công đánh vào ngực Chu Bá Thông. Lão Ngoan đồng ngưng thần chống đỡ, kình lực bên trái lập tức yếu đi, Dương Quá chỉ hơi né đầu đã tránh được cường kình của đòn trảo kia.

Quách Tương không hiểu gì đạo lí bên trong, chỉ nghe Chu Bá Thông khen Dương Quá, trong bụng đắc ý, nói:

– Chu lão gia tử, công phu hiện thời của tiền bối cao hơn, hay thời trai trẻ cao hơn?

Lão Ngoan đồng nói:

– Thời trẻ tóc ta bạc, hiện thời tóc ta đen, dĩ nhiên hiện thời hơn ngày trước.

Quách Tương nói:

– Hiện thời tiền bối không thắng nổi đại ca ca tiểu nữ, trước kia lại càng không bằng.

Chu Bá Thông không hề giận, cười hi hi, nói:

– Tiểu cô nương hồ thuyết bát đạo!

Đột nhiên lão giơ hai tay chộp sau lưng nàng, nhấc bổng lên, xoay ba vòng, tung lên cao, rồi đỡ lấy và đặt nhẹ xuống đất.

Thần điêu cùng đến đây với Quách Tương, thấy Chu Bá Thông hí lộng nàng như vậy, thì tức giận, dang cánh quạt về phía Chu Bá Thông một cái. Chu Bá Thông nghĩ: "Để xem tên súc sinh nhà ngươi có được bao nhiêu bản lĩnh?" Song chưởng vận kình đánh trả. Bình một tiếng, song phương đụng nhau, Chu Bá Thông đứng bất động, cánh chim điêu sượt qua bên người lão. Thần điêu định truy kích, thì Dương Quá quát:

– Điêu huynh không được vô lễ! Đây là một vị cao nhân tiền bối!

Thần điêu cụp cánh đứng ngẩng đầu, thần sắc cao ngạo. Chu Bá Thông thầm phục, cười nói:

– Hảo súc sinh! Lực khí quả không nhỏ, hèn gì cứ vênh mặt lên.

Dương Quá nói:

– Vị điêu huynh này không biết đã mấy trăm tuổi, chắc già hơn Chu huynh nhiều đấy. Ồ, Lão Ngoan đồng, làm thế nào mà huynh cải lão hoàn đồng, tóc bạc như cước lại đen trở lại thế?

Chu Bá Thông cười, nói:

– Râu tóc đâu do người làm chủ, trước kia nó thích biến đen thành trắng thì ta để cho nó biến, bây giờ nó lại biến từ trắng thành đen, ta cũng chả có cách nào ngăn được.

Quách Tương nói:

– Rồi đây tiền bối sẽ biến thành trẻ con, ai gặp tiền bối cũng xoa đầu, gọi chú nhóc, chú nhóc, bấy giờ mới vui đấy.

Chu Bá Thông nghe vậy, đâm ra lo thật, cứ đứng ngẩn người, không nói gì. Kỳ thực trên thế gian làm gì có chuyện cải lão hoàn đồng, chẳng qua tính nết lão quá hồn nhiên, cả đời không lo nghĩ, nội công lại thâm hậu, ở trong núi nhất định nhiều chất đại bổ như hà thủ ô, phục linh, mật ong, nên râu tóc đổi màu. Ngay người không luyện nội công, vẫn có khi răng không rụng còn mọc lại, xương cốt càng già càng dẻo dai. Chu Bá Thông tuy không phải là đạo sĩ, nhưng hiểu rõ tinh yếu phép dưỡng sinh xung hư của Đạo gia, cho nên ngót trăm tuổi mà tinh thần vẫn trẻ trung, quá nửa có thể nói là nhờ thiên tính bẩm sinh.

Dương Quá thấy lão nghe Quách Tương nói mà lo chuyện trời ơi đất hỡi, thì không khỏi tức cười, nói:

– Chu huynh, chỉ cần huynh đi gặp một người, đệ bảo đảm huynh sẽ không bao giờ bị biến thành trẻ con.

Chu Bá Thông hỏi:

– Đi gặp ai?

Dương Quá nói:

– Đệ mà nói tên người ấy ra, huynh không được rũ áo bỏ đi đấy.

Chu Bá Thông chỉ trực tính, chứ chẳng ngốc nghếch chút nào, nếu không đã không luyện được võ công cao cường đến thế. Lão nghe câu trên của Dương Quá, đã lờ mờ đoán ra, bèn nói:

– Trên thế gian có hai người ta không gặp, một người là Đoàn Hoàng gia, người kia là quí phi Anh Cô của y. Trừ hai người ấy, ai ta gặp cũng được.

Dương Quá nghĩ: "Xem ra chỉ có cách khích tướng", nói:

– Thì ra Chu huynh từng thua họ, võ công thấp hơn, nên không dám gặp họ.

Chu Bá Thông lắc đầu, nói:

– Không, không phải vậy. Lão Ngoan đồng hành sự thấp hèn hạ lưu, có lỗi với hai người đó nên không còn mặt mũi nào đi gặp họ.

Dương Quá ngẩn ra, không thể nào ngờ Chu Bá Thông không chịu gặp Anh Cô là vì thế, chàng nghĩ rất nhanh, nói:

– Chẳng lẽ hai người ấy sắp bị đại họa, chết đến nơi mà Chu huynh không chịu cứu giúp họ hay sao?

Chu Bá Thông sững lại, đối với Nhất Đăng và Anh Cô, lão mắc tội với họ từ lâu, nếu họ gặp nạn, lão sẵn sàng xả thân cứu giúp, không một khắc trù trừ, nhưng lão thấy Quách Tương cười vui, không có vẻ lo lắng gì hết nên lão cười, nói:

– Huynh đệ đánh lừa ta, Đoàn Hoàng gia võ công xuất thần nhập hóa, làm sao gặp đại họa? Nếu có đối thủ quá lợi hại, y không địch nổi, thì ta cũng chịu.

Dương Quá nói:

– Nói thật với huynh, Anh Cô nhớ huynh quá, nhất định cứ đòi gặp huynh cho bằng được.

Chu Bá Thông đột nhiên tái mặt, xua tay rối rít, gằn giọng nói:

– Dương huynh đệ, huynh đệ chỉ nhắc thêm một câu nữa thì hãy rời khỏi Bách Hoa cốc lập tức, đừng trách Lão Ngoan đồng ta trở mặt.

Dương Quá phẩy tay áo, nói:

– Chu lão huynh, huynh tưởng có thể đuổi đệ khỏi Bách Hoa cốc dễ dàng vậy sao?

Chu Bá Thông cười, nói:

– Hì hì, chẳng lẽ huynh đệ định động thủ với ta chăng?

Dương Quá nói:

– Đệ chính đang muốn lĩnh giáo! Nếu đệ thua, sẽ lập tức rời Bách Hoa cốc, vĩnh viễn không đến đây nữa. Nếu huynh thua, thì phải theo đệ đi gặp Anh Cô.

Chu Bá Thông nói:

– Không đúng, không đúng! Thứ nhất, ta làm sao lại thua một gã nhóc con như huynh đệ? Thứ hai, dù ta có thua, ta cũng sẽ không đi gặp Lưu quí phi.

Dương Quá tức giận nói:

– Huynh thắng, cố nhiên không đi gặp, nhưng nếu thua mà không chịu đi, thì chúng ta còn đánh cuộc làm quái gì?

Chu Bá Thông nói:

– Không gặp là không gặp, có gì để nói với nhau đâu kia chứ. Mau mau động thủ nào.

Dương Quá nghĩ nhẹ nhàng đánh lừa không được, thì phải cưỡng bức, tỷ võ thật sự cũng không chắc thắng, nhưng cứ đấu rồi tùy cơ định liệu.

Chu Bá Thông vốn say mê võ công, tuy ẩn cư ở Bách Hoa cốc, nhưng ngày ngày vẫn không ngừng luyện công; mặc dù công lực của lão như thế, khắp thiên hạ làm gì có đối thủ. Bây giờ thấy Dương Quá tình nguyện tỷ võ thì chân tay lão ngứa ngáy, cứ nhảy nhảy định đấu, chỉ lo nói thêm, đối phương lại không muốn động thủ nữa, sẽ mất cả dịp may. Lão liền giơ tả chưởng, quát:

– Tiếp quyền đi!

Tay phải lão đánh ra một quyền, theo bảy mươi hai lộ "Không Minh quyền pháp".

Dương Quá tay trái đánh trả một chưởng, cảm thấy quyền lực của đối phương như có như không, chưởng lực của mình nếu đánh thật thì không đúng, nếu đánh nhứ cũng rất nguy hiểm, bất giác chột dạ, bèn sử dụng thứ chưởng pháp chàng khổ luyện mười mấy năm nay trong sóng biển. Chàng ào ào phách liền ba chưởng, chưởng lực tản ra, khiến hoa lá xung quanh rụng lả tả, vàng đỏ tím trắng, rớt xuống như mưa hoa, trông thật đẹp mắt; phách tiếp ba chưởng, tiếng rắc rắc vang liên tiếp, là các cành cây bị gãy.

Dương Quá thoạt tiên lo Chu Bá Thông tuổi cao lực suy, không chịu nổi chưởng lực cương mãnh của chàng, nên xuất chưởng vừa phát ra đã thu về, nhưng sau sáu chiêu, thì biết nội lực của đối phương vững vàng, quyền pháp xảo diệu hơn hẳn chàng, chỉ cần sơ suất một chút, sẽ lập tức bị bại, chàng mới vận sức xuất chiêu, không e ngại nữa.

Chu Bá Thông cao hứng nói:

– Hảo công phu, hảo chưởng pháp! Đánh thế này mới sướng!

Vòng quyền chưởng của hai người càng lúc càng rộng, Quách Tương cứ lùi ra xa từng bước, từng bước.

Đấu một hồi lâu, Lão Ngoan đồng đã sử hết bảy mươi hai lộ Không Minh quyền, lão tuy chiếm lợi thế về chiêu số, nhưng luận về kình lực thì lão không thể bằng uy thế hùng dũng như sóng thủy triều vô cùng vô tận mà Dương Quá đã luyện được.

Quách Tương đứng ngoài xem, thấy Dương Quá và Chu Bá Thông say sưa giao đấu giữa tơi bời hoa lá, nàng thừa biết hai người không ai có ý đả thương đối phương, nhưng cao thủ tỷ võ, hưng phấn đến mức này, chỉ cần lỡ tay một chút, sẽ lập tức nguy đến tính mạng, nên không khỏi lo cho Dương Quá, hai lòng bàn tay đều toát mồ hôi lạnh.

Chu Bá Thông thấy môn Không Minh quyền mình luyện mấy chục năm vẫn chẳng làm gì nổi Dương Quá thì nghĩ: "Tên tiểu tử giỏi thật". Đột nhiên lão biến chiêu, tả quyền hữu chưởng, song thủ sử đồng thời hai công phu khác nhau, chính là thuật phân tâm nhị dụng do lão sáng tạo. Như thế chàng khác gì Lão Ngoan đồng một thân biến thành hai, từ hai bên giáp kích.

Dương Quá dùng một tay đối phó với hai tay, vốn đã núng thế, lúc này càng cảm thấy lúng túng. Năm xưa Tiểu Long Nữ được Chu Bá Thông dạy cho thuật phân tâm nhị dụng, hai tay cùng sử Ngọc nữ tố tâm kiếm pháp, nhờ vậy đánh bại Kim Luân pháp vương, sau đó Dương, Long hai người gặp nhau, Dương Quá đã mất một cánh tay, Tiểu Long Nữ sợ chàng đau khổ, chỉ nhắc qua, không nói kỹ về thuật phân tâm nhị dụng. Bây giờ Chu Bá Thông sử dụng mỗi tay một chiêu số, Dương Quá thầm kinh hãi, đành tăng kình lực ra tay trái, ống tay áo phải cũng tiếp đỡ một phần thế công của đối phương.

Quách Tương tuy không thể lĩnh hội những chỗ tinh vi ảo diệu trong chiêu số của hai người, nhưng từ chỗ đôi bên ngang ngửa, Dương Quá chuyển dần sang thế thua, thì nàng nhận ra. Nàng càng nhìn càng sợ, chợt nhớ phụ thân khi dạy võ công cho nàng, hai tay từng sử dụng đồng thời hai môn võ công để chiết chiêu với nàng và với Quách Phá Lỗ, xem ra Chu Bá Thông lúc này chính đang sử dụng môn công phu của phụ thân nàng. Nàng không biết rằng môn ấy phụ thân nàng có được là nhờ Chu Bá Thông truyền thụ, cứ tưởng Chu Bá Thông học lén của phụ thân, bèn kêu lên:

– Lão Ngoan đồng dừng tay, không công bằng, không công bằng! Đừng đấu với lão ta nữa!

Chu Bá Thông ngẩn người, nhảy ra hai bước, quát:

– Cái gì không công bằng?

Quách Tương nói:

– Quái chiêu của tiền bối là do học lén của phụ thân tiểu nữ, đem ra đấu với đại ca ca tiểu nữ, không biết xấu hổ hay sao?

Chu Bá Thông nghe nàng cứ một điều gọi Dương Quá là đại ca ca, hai điều đại ca ca, nghĩ nàng quả thật là muội tử của Dương Quá, nhất thời chưa nghĩ ra phụ thân nàng là ai, nên cười, nói:

– Tiểu cô nương lại nói bậy, công phu này do ta tự nghĩ ra trong sơn động, sao lại bảo ta học lén của gia gia cô nương?

Quách Tương nói:

– Được cứ coi như tiền bối không học lén, nhưng tiền bối có hai tay, đại ca ca tiểu nữ chỉ có một cánh tay, đánh nhau lâu sao được? Nếu đại ca ca tiểu nữ cũng có hai cánh tay như tiền bối, thì tiền bối đã thua từ lâu rồi!

Chu Bá Thông ngẩn ra, nói:

– Nói thế cũng có lý, nhưng dẫu hắn có hai cánh tay, hắn cũng không thể cùng lúc sử dụng hai loại chiêu số khác nhau!

Nói rồi cười ha hả rất đắc chí.

Quách Tương nói:

– Tiền bối thừa biết cánh tay bị mất của đại ca ca tiểu nữ không thể mọc lại, nên mới huênh hoang như vậy. Nếu tiền bối đúng là anh hùng hảo hán, thì khi tỷ võ quá chiêu, không được chiếm lợi thế, đôi bên giao đấu phải công bằng, mới định rõ ai mạnh ai yếu.

Chu Bá Thông nói:

– Được, cả hai tay ta cùng sử một môn quyền chiêu thì xong.

Quách Tương bĩu môi, nói:

– Nói thế mà không biết ngượng, còn gì là công bằng kia chứ!

Chu Bá Thông nói:

– Chẳng lẽ ta phải học hắn, cũng đi nhờ nữ nhân chém đứt một cánh tay hay sao?

Quách Tương sững lại, nhìn Dương Quá một cái, nghĩ: "Thì ra chàng bị mất một cánh tay là do bị nữ nhân chém, không hiểu nữ nhân nào mà độc ác như vậy?"

Liền nói:

– Thế cũng vô dụng. Tiền bối chỉ cần giắt một cánh tay vào thắt lưng, đôi bên một tay đấu một tay, vậy mới công bằng.

Chu Bá Thông cảm thấy tỷ võ như vậy cũng rất thú vị, lại nghĩ một cánh tay sử dụng một môn võ công đã luyện thành thạo, vị tất thua kém hai cánh tay, liền giắt một cánh tay vào thắt lưng, nói với Dương Quá:

– Thế này mà huynh đệ thua thì đừng oán thán gì đấy!

Trong lúc Quách Tương và Chu Bá Thông nói với nhau, Dương Quá chỉ nghe, không xen vào. Từ sau khi chàng bị mất một cánh tay, tuy không thích nghe người khác nhắc đến hai chữ "cánh tay", song vẫn tự phụ rằng tuy chỉ có một cánh tay, cũng quyết không thua bất cứ ai chân tay đầy đủ trong thiên hạ, giờ thấy Lão Ngoan đồng giắt một cánh tay vào thắt lưng, tỏ ý coi thường chàng, thì tức giận nói:

– Lão Ngoan đồng, huynh làm thế hóa ra khinh thường Dương Quá hay sao? Nếu một cánh tay đệ đánh không lại hai cánh tay của huynh, thì đệ sẽ tự.. tự..

Chàng vốn định nói "sẽ tự vẫn tại Bách Hoa cốc này", nhưng chợt nhớ Tiểu Long Nữ ước hẹn gặp chàng một ngày không xa, há có thể tùy tiện nói năng? Thế nên chàng dừng lại, không nói tiếp nữa.

Quách Tương rất hối hận, ban đầu nàng lấy tâm tình thiếu nữ lo lắng cho Dương Quá, bây giờ nghĩ chàng là một vị đại hiệp lừng lẫy tiếng tăm, ai lại đi giao đấu với một người tự giắt một cánh tay vào thắt lưng, nên vội nói:

– Đại ca ca, đều tại muội mà ra..

Nàng chạy tới bên cạnh Chu Bá Thông, kéo cánh tay giắt vào thắt lưng của lão ra, nói:

– Đại ca ca của tiểu nữ chỉ dùng một cánh tay, cũng thừa sức đấu với cả hai cánh tay của tiền bối, không tin tiền bối cứ thử xem.

Dương Quá không đợi Chu Bá Thông nói gì, thân hình hơi nghiêng đi, phách ra một chưởng, Chu Bá Thông tay trái đánh trả một quyền, tự thấy không nên chiếm lợi thế, cánh tay phải buông thõng, không xuất chiêu.

Chu Bá Thông tuy dùng một cánh tay ứng chiến, nhưng chiêu số thần diệu vô phương, Dương Quá đối phó không dễ chút nào. Thoáng chốc đã qua hơn hai mươi chiêu, Dương Quá nghĩ thầm, mình tuy có một cánh tay, nhưng đang còn trai trẻ, đã đấu hơn trăm chiêu với một lão nhân ngót trăm tuổi mà vẫn không thắng, thì công phu tu luyện mười mấy năm qua phỏng có đáng gì? Chàng cảm thấy khí dương cương trong kình lực mà Chu Bá Thông phát ra cứ mạnh dần, khác hẳn với khí âm nhu của Không Minh quyền, thì bỗng nhớ đến bộ "Cửu âm chân kinh" khắc trên vách đá trong tòa cổ mộ, lúc này chiêu số mà Chu Bá Thông đang sử chính là lộ Đại phục ma quyền pháp trong Cửu âm chân kinh. Chàng quát to:

– Đại phục ma quyền pháp có gì đáng kể! Lão huynh hãy dùng cả hai tay mà chống đỡ Ám nhiên tiêu hồn chưởng của đệ này!

Chu Bá Thông nghe chàng gọi đúng tên quyền pháp của mình, đã sững lại, lại nghe chàng nói cái gì Ám nhiên tiêu hồn chưởng, thì càng lấy làm lạ. Chu Bá Thông từ bé đã hiếu võ, có kiến văn cực kỳ quảng bác về các môn pháp võ công trong thiên hạ, nhưng cái tên Ám nhiên tiêu hồn chưởng thì lão chưa nghe lần nào. Chỉ thấy Dương Quá tay đưa ra sau lưng, đưa mắt nhìn ra xa, chân không ở thế vững chãi, hở ngực hở bụng, tư thế toàn thân đại kỵ đối với võ học. Chu Bá Thông tiến lên một bước, tay trái nhứ một chưởng thăm dò. Dương Quá làm như không để ý. Chu Bá Thông liền nói:

– Cẩn thận này!

Rồi tung quyền đánh tới bụng dưới của chàng.

Lão sợ đả thương đối phương, nên chỉ sử dụng ba thành kình lực, nào ngờ nắm đấm vừa chạm vào người Dương Quá, thì đột nhiên cơ bụng rung động, đồng thời ngực đối phương lõm vào, tiếp đó bật ra. Chu Bá Thông cả kinh, vội nhảy sang bên trái, nghĩ cao thủ nội gia lõm ngực bụng để tránh đòn là chuyện bình thường, nhưng dùng cơ ngực bụng đả thương đối phương thì lão chưa từng thấy, cũng chưa từng nghe kể. Lòng hiếu kỳ trỗi dậy, lão quát:

– Huynh đệ có môn võ công gì vậy?

Dương Quá nói:

– Đấy là chiêu thứ mười ba trong Ám nhiên tiêu hồn chưởng, có tên là Tâm kinh nhục khiêu!

Chu Bá Thông lẩm bẩm:

– Chưa từng thấy qua, chưa từng nghe qua!

Dương Quá nói:

– Đó là mười bảy chiêu chưởng pháp do đệ tự nghĩ ra, lão huynh làm sao biết được.

Dương Quá sau khi chia tay với Tiểu Long Nữ ở Tuyệt Tình cốc, không lâu sau được Thần điêu dẫn ra bờ biển luyện công trong hải triều, mấy năm sau trừ nội công tuần tự nhi tiến, không còn gì để luyện thêm, trong lòng lúc nào cũng chỉ nhớ đến Tiểu Long Nữ, dần dần hình tiêu cốt lập, không còn gì hứng thú. Một hôm đứng lặng trên bờ biển rất lâu, tự dưng hoa chân múa tay, lúc này nội công đã tới mức hỏa hầu, mỗi khi xuất thủ đều có uy lực cực lớn, chỉ đánh nhẹ một chưởng đã làm nát bét một con vích lớn đang bò trên cát. Từ đó chàng ngẫm nghĩ, sáng tạo nên một bộ chưởng pháp hoàn chỉnh, gồm mười bảy chiêu, khi xuất thủ khác hẳn với võ công thông thường, sự lợi hại hoàn toàn dựa vào nội lực.

Chàng bình sinh được không ít danh gia võ học chỉ điểm, học được khẩu quyết nội công chính tông Huyền môn của phái Toàn Chân, học được Ngọc nữ tâm kinh cùng Tiểu Long Nữ, trong tòa cổ mộ được thấy Cửu âm chân kinh, Âu Dương Phong truyền cho Cáp mô công và nghịch chuyển kinh mạch; Hồng Thất Công và Hoàng Dung truyền thụ Đả cẩu bổng pháp, Hoàng Dược Sư truyền thụ Đàn chỉ thần công và Ngọc tiêu kiếm pháp, ngoài Nhất dương chỉ ra, các môn võ công của Đông Tà, Tây Độc, Bắc Cái, Trung Thần Thông chàng đều học qua, hiện tại dung hội quán thông, đã nghiễm nhiên thành gia. Chỉ vì có một cánh tay, không thủ thắng bằng cách biến hóa chiêu số, mà cố ý tương phản với đạo lý võ học. Chàng đặt tên cho bộ chưởng pháp ấy là Ám nhiên tiêu hồn chưởng, là lấy ý của câu "Ám nhiên tiêu hồn giả, duy biệt nhi dĩ hĩ" ° (°黯然銷魂者, 唯別而已矣–Khuôn mặt u uất vô hồn, chỉ biệt ly mới khiến con người như thế. Giang Yêm, tự Văn Thông, văn học gia đời Tề Lương. Thơ ông hiếm bài hay, nhưng thể phú có thành tựu tương đối cao với gần 30 bài, Biệt phú là một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông) trong bài "Biệt phú" của Giang Yêm.

Từ khi luyện xong chưởng pháp đến giờ, mới gặp Chu Bá Thông là một đối thủ thật sự.

Chu Bá Thông nghe nói là môn võ công do chàng sáng tạo, thì càng cao hứng, nói:

– Càng cần phải biết, nhất định phải biết!

Lão vung quyền, vẫn chỉ dùng tay trái. Dương Quá ngẩng mặt lên trời, làm như không thấy, vù một chưởng vỗ ngang qua đầu mình, từ trên chéo xuống, chưởng lực hóa thành hình cánh cung, tán lạc tứ phía.

Chu Bá Thông biết chưởng lực kiểu này không thể né tránh, bèn giơ chưởng nghênh tiếp, "bộp" một cái song chưởng tương giao, thân hình lão chao đảo, chỉ vì lão khinh địch, không biết rằng võ công của mình tuy không yếu hơn đối phương, song chưởng lực của lão không thể hùng hậu bằng của Dương Quá.

Chu Bá Thông thở ra một luồng trọc khí, nói:

– Hay, chiêu này tên là gì?

Dương Quá nói:

– Là chiêu Khởi nhân ưu thiên! Cẩn thận này, tiếp theo sẽ là chiêu Vô trung sinh hữu!

Chu Bá Thông cười hi hi, nghĩ cái tên gọi "Vô trung sinh hữu" vừa cổ quái vừa lý thú, tên tiểu tử vẫn nghĩ ra được, bèn lại sấn tới. Dương Quá buông tay, hoàn toàn không có ý phòng thủ, đợi khi chiêu quyền của Chu Bá Thông còn cách da thịt mình chừng một tấc đột nhiên chân tay cùng động, tả chưởng, ống tay áo bên phải, hai chân, đầu cổ, ngay cả lưng ngực bụng cũng đều phát ra chiêu thức tấn công đối phương.

Chu Bá Thông tuy sớm đề phòng chàng có tuyệt chiêu, song không thể ngờ chàng lại dùng toàn thân công kích, trong chớp mắt đã có mười mấy chiêu đánh ra, gọi là một chiêu Vô trung sinh hữu, nhưng biến hóa thành mười mấy chiêu thức, ngay võ học tinh thâm như Chu Bá Thông mà cũng luống cuống chân tay. Lão vốn buông thõng cánh tay bên phải không dùng, lúc này đành phải giơ lên toàn lực chống đỡ, mới cản được lộ chưởng pháp này, nói về việc hoàn chiêu, là điều không thể làm được. Chống đỡ rồi, lão nhảy lùi hơn một trượng, đề phòng Dương Quá xuất chiêu quái quỉ gì tiếp đó.

Quách Tương kêu lên:

– Chu lão gia tử, tiền bối sử dụng cả hai tay chưa đủ! Tốt nhất là mọc thêm một cánh tay nữa.

Chu Bá Thông cũng không giận, cười nói:

– Con nhãi ranh, mi bảo ta luống cuống chân tay chứ gì?

Dương Quá thấy Lão Ngoan đồng hóa giải hết các chiêu thức tấn công bất ngờ của chàng một cách kỳ diệu, thì không khỏi thán phục, nói:

– Chiêu tiếp theo là Đà nê đới thủy!

Chu Bá Thông và Quách Tương cùng cười, kêu lên:

– Tên nghe kỳ quá!

Dương Quá nói:

– Tiếp theo còn kỳ hơn! Tiếp chiêu!

Đoạn ống tay áo phiêu động, y như nước chảy, bàn tay trái làm như đang vét lớp bùn nặng ngàn cân. Chu Bá Thông năm xưa từng nghe sư huynh Vương Trùng Dương nói rằng Hoàng Dược Sư sáng tạo một lộ Ngũ hành chưởng pháp, trong chưởng lực ám hợp ngũ hành, lúc này thấy Dương Quá tay áo bên phải là tượng Quý thủy ở phương bắc, tả quyền là tượng Mậu thổ ở trung tâm, vừa khinh linh, vừa trầm mãnh, thì lão không dám xem nhẹ, tay trái sử một chiêu trong Không Minh quyền tay phải sử một chiêu trong Đại phục ma quyền, dùng khinh linh đối phó với khinh linh, dùng trầm mãnh đối phó với trầm mãnh. Quyền chưởng đôi bên đụng nhau, hai người cùng hô lên, cùng lùi lại mấy bước.

Bốn chiêu vừa rồi, một già một trẻ đều thầm thán phục đối phương. Dương Quá nghĩ: "Từ khi luyện thành Ám nhiên tiêu hồn chưởng, đến nay mới gặp cường địch nhất là Lão Ngoan đồng, muốn thắng lão quả không dễ. Muốn phân thắng bại thật sự, tất phải tỷ thí nội lực, khi đó không chết cũng sẽ trọng thương, giống như Hồng Thất Công với nghĩa phụ mình cùng bỏ mạng vậy, thì có khổ hay không?" Chàng bèn dẹp ngay khí cuồng ngạo, vái dài sát đất, nói:

– Chu lão tiền bối, thán phục thán phục, vãn bối xin nhận thua.

Rồi chàng quay sang phía Quách Tương, nói:

– Tiểu muội tử, vậy là không mời được Chu lão tiền bối đi gặp, chúng ta về thôi.

Chu Bá Thông vội nói:

– Khoan đã, khoan đã nào! Huynh đệ bảo cái món Ám nhiên tiêu hồn chưởng này có những mười bảy chiêu, còn mười ba chiêu huynh đệ chưa thi triển, sao đã bỏ đi?

Dương Quá nói:

– Chúng ta không thù không oán, hà tất phải thí mạng? Chu huynh đối với đệ rất tử tế, đối với thê tử của đệ cũng rất tử tế, đệ luôn luôn cảm kích. Tiền bối võ công cao siêu, vãn bối xin nhận thua mà.

Chu Bá Thông xua tay lia lịa, nói:

– Không đúng, không đúng! Huynh đệ chưa thua, ta cũng chưa thắng. Huynh đệ muốn rời khỏi Bách Hoa cốc, trừ phi thi triển hết mười bảy chiêu chưởng pháp đã.

Lão nghe Dương Quá gọi tên bốn lộ chưởng pháp, nào "Tâm kinh nhục khiêu", "Khởi nhân ưu thiên", nào "Đà nê đới thủy", "Vô trung sinh hữu", tên gọi lý thú, chưởng pháp càng lạ, đến người thường còn muốn xem rốt cuộc là thế nào, huống hồ Chu Bá Thông một là hiếu võ, hai là hiếu kỳ, phải biết cho kỳ hết mới được.

Dương Quá nói:

– Buồn cười thật. Đệ đã không mời được lão huynh đi chẳng lẽ bị buộc phải ở lại hay sao?

Chu Bá Thông khẩn khoản:

– Hảo huynh đệ, mười ba chiêu chưởng pháp còn lại của huynh đệ, ta làm sao đoán ra được? Mong huynh đệ đại phát thiện tâm, làm một việc tốt là nói cho ta biết. Rồi huynh đệ muốn học công phu gì, ta cũng sẽ dạy cho.

Dương Quá chợt nảy một ý, nói:

– Lão huynh muốn học bộ chưởng pháp của đệ cũng hoàn toàn không khó. Mà đệ cũng không cần lão huynh dạy võ công; chỉ cần sau khi lão huynh học xong, phải theo đệ đi gặp Anh Cô một phen.

Chu Bá Thông mặt mày nhăn nhó, nói:

– Huynh đệ có cắt đầu ta, ta cũng quyết không đi gặp Anh Cô.

Dương Quá nói:

– Đã vậy thì vãn bối xin cáo từ.

Chu Bá Thông nhảy tới chắn đường, đánh ra một quyền, cười lấy lòng, nói:

– Hảo huynh đệ, thi triển thêm một chiêu nữa di!

Dương Quá đưa chưởng gạt đi, chàng sử dụng võ công phái Toàn Chân. Chu Bá Thông thay đổi quyền pháp, Dương Quá thủy chung chỉ chống đỡ bằng chưởng pháp phái Toàn Chân và võ công nói trong Cửu âm chân kinh.

Dương Quá muốn đánh bại Chu Bá Thông, vốn không phải chuyện dễ, nhưng nếu chỉ tự bảo vệ mình thì Lão Ngoan đồng cũng không làm gì nổi chàng.

Bất kể Chu Bá Thông cố ý để lộ sơ hở, cố ý tỏ ra non kém, chàng thủy chung cũng không mắc lừa. Không thi triển thêm các chiêu thức khác của Ám nhiên tiêu hồn chưởng, ngoài bốn chiêu "Tâm kinh nhục khiêu", "Khởi nhân ưu thiên", "Đà nê đới thủy", "Vô trung sinh hữu", khiến cho Chu Bá Thông càng háo hức muốn biết. Hai người giao đấu ngót một canh giờ, Chu Bá Thông đã cao tuổi, khí huyết đã suy, nội lực dần dần không còn bằng lúc đầu, biết không thể dụ Dương Quá thi triển Ám nhiên tiêu hồn chưởng, bèn nhảy lùi lại nói:

– Thôi, thôi! Ta khấu đầu trước huynh đệ tám cái, bái huynh đệ làm sư phụ, huynh đệ chịu dạy cho ta đi. Dương sư phụ, đệ tử Chu Bá Thông xin khấu đầu!

Nói đoạn quì xuống đất.

Dương Quá buồn cười thầm, nghĩ bụng thế gian sao lại có người si mê võ công đến thế, vội bước tới đỡ dậy, nói:

– Tiểu đệ đâu dám! Để tiểu đệ nói cho lão huynh đệ biết mười ba chiêu còn lại của Ám nhiên tiêu hồn chưởng vậy.

Chu Bá Thông cả mừng, rối rít nói:

– Hảo huynh đệ! Hảo huynh đệ!

Quách Tương nói:

– Đại ca ca, Chu tiền bối không chịu đi theo chúng ta, thì đại ca ca đừng có dạy!

Dương Quá biết Lão Ngoan đồng là một tay si võ như kiểu người ta si tình, sau khi nghe tên gọi mười ba chiêu kia, lão sẽ càng không thể kháng cự, tất đòi chàng diễn võ, nên chàng mỉm cười, nói:

– Chỉ nghe tên gọi thì có gì đâu.

Chu Bá Thông vội nói:

– Phải rồi, chỉ nghe tên gọi thì có gì đâu, tiểu cô nương chớ có hẹp lượng.

Dương Quá ngồi xuống một tảng đá, nói:

– Chu huynh, mười ba chiêu còn lại của Ám nhiên tiêu hồn chưởng là: "Bồi hồi không cốc", "Lực bất tòng tâm", "Hành thi tẩu nhục", "Đảo hành nghịch thi"..

Nói đến đây, Quách Tương đã cười ngặt cười nghẽo, Chu Bá Thông thì nghiêm trang lẩm bẩm ghi nhớ, nghe Dương Quá kể tiếp:

– "Phế tẩm vong thực", "Cô hình chích ảnh", "Ẩm hận thôn thanh", "Lục thần bất an", "Cùng đồ mạt lộ", "Diện vô nhân sắc", "Tường nhập phi phi", "Ngai nhược mộc kê".

Quách Tương chợt cảm thấy buồn rầu, không cười được nữa.

Chàng nói tên mười ba chiêu ra rồi, Lão Ngoan đồng càng như si như cuồng, sau một hồi lâu, lão mới nói:

– Cái chiêu "Diện vô nhân sắc" làm thế nào để khắc địch chế thắng?

Dương Quá nói:

– Tuy là một chiêu, nhưng biến hóa đa đoan, hỉ nộ ai lạc, mọi sắc thái quái dị đều lộ trên mặt, kẻ địch nhìn thấy, lập tức hoảng loạn tâm thần, phải vui buồn theo ta, cuối cùng phải tuân lệnh ta. Đấy là phép vô thanh vô ảnh thắng địch, còn cao hơn một bậc so với phép dùng tiếng hú trấn nhiếp kẻ địch.

Chu Bá Thông mặt mày rạng rỡ, hỏi:

– Còn chiêu "Đảo hành nghịch thi"?

Dương Quá đột nhiên làm động tác trồng cây chuối, vỗ tay một cái, nói:

– Đây là một trong ba mươi bảy biến hóa của chiêu "Đảo hành nghịch thi".

Chu Bá Thông gật đầu, nói:

– Nguyên lai nó bắt nguồn từ võ công của Tây Độc Âu Dương Phong.

Dương Quá trở lại tư thế bình thường, nói:

– Đúng vậy, có điều là môn chưởng pháp của đệ, trong nghịch có chính, chính phản tương xung, tự tương mâu thuẫn, không thể tự hoàn tất.

Chu Bá Thông nghĩ một hồi, chưa hiểu nghĩa là gì, gãi đầu, hỏi:

– Nghĩa là thế nào?

Dương Quá nói:

– Nghĩa lý cụ thể, không thể nói cho người khác biết.

Chu Bá Thông ồ một tiếng, không hỏi thêm, vì biết rằng có hỏi, Dương Quá cũng chẳng chịu nói rõ.

Quách Tương thấy Lão Ngoan đồng gãi đầu gãi gáy, vẻ mặt bối rối, thì bỗng thương thương lão, đến bên cạnh lão, hỏi nhỏ:

– Chu lão gia tử, rốt cuộc nhất định tiền bối không chịu đi gặp Anh Cô ư? Chúng ta sẽ cùng nghĩ cách cầu đại ca ca truyền thụ bộ chưởng pháp ấy cho tiền bối, được chứ?

Chu Bá Thông thở dài, nói:

– Đấy là chuyện hồ đồ thời trẻ của ta, nói ra thật xấu hổ.

Quách Tương nói:

– Sợ gì kia chứ? Tiền bối cứ nói ra, sẽ thấy dễ chịu hơn là cất giữ trong lòng. Vãn bối nói cho tiền bối hay, khi vãn bối làm gì sai, gia gia má má hỏi đến, vãn bối không hề giấu, họ mắng chửi cho một trận là xong. Còn nói dối quanh co, chối cãi dù được, nhưng sau đó trong lòng lại rất khổ sở. Như lần này vãn bối tự đi chơi, gia gia má má nhất định sẽ giận lắm, nhưng đằng nào cũng đi rồi, vãn bối sẽ không giấu họ.

Chu Bá Thông thấy nàng nhất mực hồn nhiên vô tà bèn nhìn nàng, nói:

– Được, để ta kể câu chuyện hồ đồ thời trẻ của ta cho cô nương nghe, nhưng không được cười ta đấy.

Quách Tương nói:

– Ai lại đi cười tiền bối?

Nàng kéo tay Lão Ngoan đồng, thân thiết dựa vào bên người lão, nói:

– Tiền bối cứ coi như đang kể chuyện cổ tích, hoặc chuyện của người. Khác vậy. Lát nữa, vãn bối cũng sẽ kể một chuyện xấu vãn bối đã làm cho tiền bối nghe.

Chu Bá Thông nhìn khuôn mặt nhỏ anh tú của nàng, cười nói:

– Cô nương mà cũng làm việc xấu ư?

Quách Tương nói:

– Dĩ nhiên, tiền bối cho rằng vãn bối không làm gì sai ư?

Chu Bá Thông nói:

– Được vậy cô nương hãy kể trước một việc ta nghe coi.

Quách Tương nói:

– Đâu chỉ một việc, mười việc tám việc kể cũng được. Đây có một quân sĩ gác thành ban đêm ngủ quên, phụ thân vãn bối sai trói lại, bảo sẽ chém đầu làm gương cho kẻ khác. Vãn bối thấy y đáng thương, nửa đêm mới lén thả y ra, bảo y mau mau trốn đi. Phụ thân cả giận, sai gọi vãn bối tới, định đánh cho một trận. Một chuyện khác, có một nữ hài tử nhà nghèo nọ rất mê cái vòng đeo tay bằng ngọc của mẫu thân vãn bối, vãn bối liền lấy trộm của mẫu thân đem cho người kia. Mẫu thân vãn bối bị mất cái vòng, cứ đi tìm nháo lên, vãn bối buồn cười quá, nhưng không nói ra. Về sau nói ra, mẫu thân cho qua, nhưng tỷ tỷ của vãn bối lại đến nhà kia đòi lại cái vòng.

Chu Bá Thông thở dài, nói:

– Mấy chuyện cô nương kể, so với chuyện hồ đồ của ta, thì chẳng đáng gì.

Rồi lão kể lại chuyện năm xưa theo sư huynh Vương Trùng Dương sang nước Đại Lý, bái kiến Đoàn Hoàng gia, sau đó Lưu quí phi học võ nghệ của lão, rồi hai người cùng làm chuyện hồ đồ với nhau; Lưu quí phi si mê lão, tiếp đó lão tránh mặt; Đoàn Hoàng gia thì nổi giận, bỏ cả ngai vàng, xuất gia đi tu, nhất nhất kể hết cho Quách Tương và Dương Quá nghe.

Quách Tương ngẩn người nghe, thấy Lão Ngoan đồng rất ngượng ngùng, bèn hỏi:

– Đoàn Hoàng gia trừ Lưu quí phi, còn có bao nhiêu phi tần?

Chu Bá Thông nói:

– Đoàn Hoàng gia tuy không có ba ngàn phi tần như thiên tử Đại Tống, nhưng trong tam cung lục viện cũng có đến vài chục nàng hậu phi.

Quách Tương nói:

– Úi chao! Đoàn Hoàng gia có những mấy chục hậu phi, tiền bối thì một vị phu nhân cũng không có, lẽ ra Đoàn Hoàng gia phải nghĩ tình bằng hữu, đem Lưu quí phi tặng tiền bối mới đúng.

Dương Quá gật gật đầu, nghĩ: "Tiểu cô nương này không câu nệ lễ giáo thế tục, nói rất hợp ý ta". Chu Bá Thông nói:

– Hồi ấy Đoàn Hoàng gia cũng có nói như vậy, nhưng Lưu quí phi là người y vô cùng tâm ái, vì chuyện ấy mà y chẳng thiết làm hoàng đế, bỏ đi tu, đủ thấy ta có lỗi với y đến mức nào.

Dương Quá đột nhiên nói xen vào:

– Nhất Đăng đại sư xuất gia đi tu là do đối xử không phải với Chu lão huynh, chứ không phải tại lão huynh có lỗi với đại sư, chẳng lẽ lão huynh không biết hay sao?

Chu Bá Thông lấy làm lạ, hỏi:

– Y có gì mà bảo là đối xử không phải với ta?

Dương Quá nói:

– Kẻ khác đả thương nhi tử của lão huynh, Nhất Đăng đại sư thấy chết mà không cứu.

Chu Bá Thông mấy chục năm nay thủy chung không biết Anh Cô từng có con với lão, nghe Dương Quá nói vậy thì lấy làm lạ, vội hỏi:

– Nhi tử nào của ta?

Dương Quá nói:

– Tiểu đệ cũng không rõ lắm, chỉ nghe Nhất Đăng đại sư và Anh Cô nói thế.

Rồi thuật lại lời Nhất Đăng đại sư nói ở bên đầm Hắc Long.

Chu Bá Thông đột nhiên nghe nói lão có một đứa con thì như sét đánh ngang tai, sững sờ không nói nên lời, trong lòng nửa bi thương, nửa hoan hỉ, nghĩ Anh Cô mấy chục năm trời một mình chịu khổ, thì lão càng cảm thấy có tội và thương Anh Cô.

Dương Quá thấy Lão Ngoan đồng như thế, nghĩ thầm: "Vị tiền bối này cũng là người chung tình như ta, ta còn tiếc gì mười bảy chiêu Ám nhiên tiêu hồn chưởng?" Bèn nói:

– Chu lão tiền bối, đệ sẽ diễn toàn bộ pho chưởng pháp cho lão huynh xem, chỗ nào chưa được, mong lão huynh chỉ điểm cho.

Rồi miệng nói tay múa, diễn liền mười bảy chiêu từ đầu đến cuối, riêng chiêu "Diện vô nhân sắc", do chàng đang mang mặt nạ, nên chưa hiển thị, chàng chỉ nói cách biến hóa, Chu Bá Thông thông thuộc "Cửu âm chân kinh", có thể lĩnh hội được ngay. Hai chiêu "Hành thi tẩu nhục" và "Cùng đường mạt lộ" thì lão không ngộ nổi yếu chỉ của chúng.

Dương Quá giảng lại vài lần, Chu Bá Thông vẫn không hiểu. Dương Quá thở dài, nói:

– Chu lão tiền bối, mười lăm năm trước, nội tử và tiểu đệ chia tay, tiểu đệ tuơng tư sầu khổ, mới sáng tạo pho chưởng pháp này. Lão tiền bối vô lo vô nghĩ, tiêu dao khoái lạc, dĩ nhiên không sao lĩnh hội và thấm thía nỗi ưu tư ẩn chứa trong đó.

Chu Bá Thông nói:

– Ồ, phu nhân của huynh đệ sao lại chia tay với huynh đệ? Nàng ta vừa xinh đẹp, vừa tốt bụng, huynh đệ chung tình tương tư, làm sao có thể trách huynh đệ?

Dương Quá không muốn nhắc lại việc Tiểu Long Nữ bị Quách Phù phóng nhầm độc châm, chỉ kể sơ qua việc Tiểu Long Nữ trúng độc, được Nam Hải thần ni mang đi cứu chữa, mười sáu năm mới được tái hợp; chàng đêm ngày một dạ khổ tư, chỉ mong nàng bình an trở về, cuối cùng chàng nói:

– Vãn bối chỉ mong được gặp lại nàng, dù bắt vãn bối phải chịu ngàn vạn nhát dao đâm chém cũng cam lòng.

Quách Tương vốn không ngờ việc tương tư lại khổ sở đến như vậy, bất giác hai hàng lệ ứa ra, nàng nắm tay Dương Quá, dịu dàng nói:

– Cầu trời phù hộ cho đại ca ca cuối cùng được gặp lại đại tẩu!

Dương Quá từ ngày xa Tiểu Long Nữ đến giờ, hôm nay mới được nghe một lời an ủi chân tâm thành ý, trong lòng rất cảm kích, lời này hẳn cả đời chẳng quên, bèn thở dài, đứng dậy, vái Chu Bá Thông một cái, nói:

– Chu huynh, cáo từ!

Đoạn cùng Quách Tương sánh vai đi ra.

Quách Tương đi mấy bước, ngoảnh lại nói:

– Chu lão tiền bối, đại ca ca của tiểu nữ thương nhớ phu nhân của mình như thế nào, Anh Cô của tiền bối cũng thương nhớ tiền bối y như vậy. Tiền bối nỡ lòng nhất quyết không chịu đi gặp Anh Cô hay sao?

Chu Bá Thông giật mình, tái mặt. Dương Quá nói nhỏ:

– Tiểu muội tử, đừng nói nữa. Mỗi người một chí hướng, nhiều lời cũng vô ích.

Hai người một chim điêu, thong thả đi ngược trở lại con đường đã tới.

Quách Tương nói:

– Đại ca ca, nếu muội hỏi chuyện phu nhân, đại ca ca sẽ không đau lòng chứ?

Dương Quá nói:

– Không, vả lại chỉ vài tháng nữa, ta đã có thể gặp lại nàng.

Nói câu này, trong lòng náo nức vô cùng: "Chỉ vài tháng nữa thôi, mình quả thật sẽ được gặp Long nhi ư?". Quách Tương nói:

– Đại ca ca làm sao quen biết phu nhân?

Dương Quá liền đem chuyện hồi nhỏ mình cô khổ lênh đênh thế nào, tại cung Trùng Dương học nghệ, bị sư phụ cùng đồng môn khi vũ ra sao, làm cách nào chạy vào tòa cổ mộ, được Tiểu long Nữ thu dung, lâu ngày sinh tình, rồi trải qua bao nhiêu gian nan đau khổ mới kết thành phu phụ ra sao, kể lại cho Quách Tương nghe, tránh nhắc đến mấy cái tên Quách Tĩnh, Hoàng Dung, Lý Mạc Sầu.

Quách Tương im lặng nghe, rất xúc động trước thâm tình của Dương Quá, cuối cùng nàng nói:

– Cầu trời phù hộ cho đại ca ca cuối cùng được gặp lại đại tẩu, không bao giờ phân li nữa.

Dương Quá nói:

– Đa tạ tiểu muội tử, ta vĩnh viễn ghi nhớ mối hảo tâm của muội. Sau này gặp thê tử, ta cũng sẽ nói cho nàng biết.

Nói đến đây, giọng chàng nghẹn ngào.

Quách Tương nói:

– Mỗi năm đến ngày sinh nhật của muội, mẫu thân và muội đều thắp nhang khấn trời, mẫu thân bảo muội khấn thầm ba điều tâm nguyện, muội lắm khi nghĩ chán chẳng ra. Ngày sinh nhật năm nay, muội đã nghĩ ra rồi, sẽ mong đại ca ca sớm được đoàn tụ với phu nhân.

Dương Quá nói:

– Thế còn hai điều tâm nguyện ka?

Quách Tương mỉm cười, nói:

– Muội không thể nói cho đại ca ca biết được.

Đúng lúc ấy, bỗng có tiếng gọi to:

– Dương huynh đệ, đợi ta với!

Chính là giọng của Chu Bá Thông. Dương Quá cả mừng, quay lại, thấy Chu Bá Thông chạy như bay, gọi:

– Dương huynh đệ, ta nghĩ lại rồi, huynh đệ hãy mau đưa ta đi gặp Anh Cô.

Quách Tương vui mừng nói:

– Có thế chứ, lão tiền bối không biết người ta chờ mong tiền bối khổ sở thế nào đâu.

Chu Bá Thông nói:

– Sau khi hai ngươi đi rồi, ta nghĩ lại lời của Dương huynh đệ, càng nghĩ càng đau lòng. Nếu không đi gặp Anh Cô, chắc từ nay sẽ không thể ngủ yên. Ta phải đích thân hỏi Anh Cô cho rõ mọi chuyện mới được.

Dương Quá và Quách Tương thấy Lão Ngoan đồng thật lòng chịu đi, thì cả mừng.

Cứ như tính cách của Chu Bá Thông, thì phải đi gặp Anh Cô ngay lập tức, nhưng trời đã tối, Quách Tương cũng đã mệt mỏi, thế nên ba người một điêu ngồi tựa gốc cây mà ngủ. Sớm hôm sau họ đi, chưa quá giờ Tị, đã đến bên đầm Hắc Long. Anh Cô và Nhất Đăng đại sư thấy Dương Quá quả nhiên mời được Chu Bá Thông đến thì cả mừng. Anh Cô trống ngực đập dồn, xúc động không nói nên lời.

Chu Bá Thông tới trước mặt Anh Cô, nói to:

– Anh Cô, hài nhi của hai ta lúc sinh ra, trên đỉnh đầu có một cái xoáy hay là hai cái?

Anh Cô ngẩn người, không ngờ hai người xa nhau từ thời trẻ, khi về già mới gặp nhau, đầu tiên lão lại hỏi một câu không liên quan gì, bèn đáp:

– Có hai cái xoáy.

Chu Bá Thông vỗ tay sung sướng, nói:

– Hay lắm, vậy là nó giống ta, đúng là một đứa bé thông minh.

Rồi lão thở dài, lắc đầu, nói:

– Tiếc rằng không còn nữa!

Anh Cô nửa buồn nửa vui, không nhịn được nữa, khóc òa lên. Chu Bá Thông vỗ nhẹ lưng Anh Cô, an ủi:

– Đừng khóc, nín đi nào!

Quay sang Nhất Đăng, nói:

– Đoàn Hoàng gia, ta cướp mất thê tử của đại sư, đại sư không chịu cứu sống con ta, vậy là hòa, từ nay không nhắc chuyện cũ.

Nhất Đăng chỉ Từ Ân nằm dưới đất, nói:

– Đây là hung thủ đã giết con của Chu huynh, Chu huynh hãy giáng cho hắn một chưởng, đánh chết hắn đi!

Chu Bá Thông nói:

– Anh Cô, hãy tới mà hạ thủ!

Anh Cô nhìn Từ Ân, nói nhỏ:

– Không có hắn, kiếp này thiếp đã chẳng bao giờ còn được gặp lại tướng công; huống hồ người chết chẳng thể sống lại, vì niềm vui hôm nay, mọi nỗi oán khổ trước đây hãy quên hết cho rồi!

Chu Bá Thông nói:

– Nói rất đúng, vậy chúng ta tha cho hắn!

Từ Ân thương thế cực nặng, chỉ còn một hơi thở cuối cùng, lúc này nghe Chu Bá Thông và Anh Cô đều nói tha cho y tội giết con họ thì rất cảm kích, không còn lưu luyến gì nữa, nói thều thào:

– Đa tạ hai vị.

Rồi nhìn về phía Nhất Đăng, nói:

– Đa tạ sư phụ thành toàn.

Lại nhìn sang phía Dương Quá, nói:

– Đa tạ thí chủ tân khổ.

Rồi nhắm hai mắt, tắt thở.

Nhất Đăng đại sư miệng niệm Phật hiệu, chắp tay cúi mình, nói:

– Từ Ân, Từ Ân, hai ta danh tuy sư đồ, nhưng thực ra là bằng hữu, hơn hai chục năm bên nhau không rời. Cùng nhau tu luyện, hôm nay ngươi vãng sinh cực lạc, lão nạp vừa hỉ vừa bi.

Đoạn cùng Dương Quá, Quách Tương bắt tay đào hố mai táng cho Từ Ân.

Chu Bá Thông và Anh Cô bốn mắt nhìn nhau, thực chưa biết nói từ chuyện gì.

Dương Quá nhìn mộ phần của Từ Ân, nhớ lại tình cảnh trong ngôi nhà tranh giữa núi tuyết, đêm tân hôn của chàng với Tiểu Long Nữ, Từ Ân đã phát điên lên thế nào, một vị đại sư võ học lừng lẫy giang hồ với ngoại hiệu Thiết chưởng công, cuối cùng đã trở về lòng đất, chàng không khỏi cảm khái.

Anh Cô lấy trong bọc ra hai con linh hồ, nói:

– Dương công tử, đại đức sâu nặng, lão phụ nhân thẹn không có gì báo đáp, xin tặng công tử hai con vật này.

Dương Quá nhận một con, nói:

– Chỉ cần một con, xin nhận thịnh tình.

Nhất Đăng nói:

– Dương hiền điệt, hãy nhận cả hai con linh hồ, nhưng đừng giết chúng, chỉ cần chích chân của chúng lấy huyết, mỗi ngày uống một chén nhỏ, lệnh hữu dù bị nội thương nặng mấy, cũng sẽ chóng lành.

Dương Quá và Anh Cô cùng mừng rỡ, nói:

– Nếu không phải giết linh hồ thì hay quá!

Dương Quá nhận hai con linh hồ, bái biệt với Nhất Đăng, Chu Bá Thông và Anh Cô. Anh Cô nói:

– Công tử lấy xong huyết Cửu vĩ linh hồ, cứ việc thả chúng ra, chúng sẽ tự biết đường về.

Chu Bá Thông đột nhiên nói xen vào:

– Đoàn Hoàng gia, Anh Cô, chúng ta hãy cùng đến Bách Hoa cốc của ta, ta sẽ chỉ huy bầy ong cho mà xem; ta lại mới học được một bộ chưởng pháp mới, hi hi, tài tình vô cùng. Dương huynh đệ, sau khi chữa trị cho bằng hữu, huynh đệ cùng tiểu muội tử cũng đến đó chơi cho vui một thể.

Dương Quá cười, nói:

– Lúc ấy nếu không bận việc gì, vãn bối xin đến lĩnh giáo ba vị tiền bối.

Nói rồi cúi mình thi lễ cáo biệt.

Hai con linh hồ đưa mắt long lanh nhìn Anh Cô, kêu líu ríu đáng thương, Anh Cô nói:

– Dương công tử sẽ tha mạng cho các ngươi, làm gì ồn lên thế!

Quách Tương đưa tay xoa đầu hai con linh hồ, mỉm cười an ủi chúng.

Comments

Comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 35: Ba Mũi Kim Châm

Dương Quá mời được Chu Bá Thông đến đoàn tụ với Anh Cô, làm cho Từ Ân yên tâm mà chết, lại có được cặp linh hồ, một phen vất vả, làm xong ba việc tốt, tất nhiên mười phần cao hứng, cùng Quách Tương và Thần điêu trở lại Vạn Thú sơn trang.

Huynh đệ họ Sử thấy Dương Quá mang về cả một cặp linh hồ, mừng không để đâu cho hết, liền chích huyết ở chân chúng, Sử Thúc Cương uống huyết rồi tự vận công trị thương.

Tối nay Vạn Thú sơn trang mở đại tiệc, mời Dương Quá ngồi ở vị trí cao nhất, bàn tiệc toàn các món thịt thú quí hiếm, như môi vượn, đùi sói, bàn tay gấu, bào thai hươu, toàn là các món lạ miệng người ngoài chưa từng thưởng thức, Thần điêu cũng được hưởng dụng.

Huynh đệ họ Sử và Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ cũng không nhắc thêm về ân đức lớn lao của Dương Quá, trong thâm tâm người nào cũng hiểu rõ mạng sống của mình là do chàng ban cho, từ rày bất kể chàng sai khiến điều gì, họ dù phải chết cũng không dám khước từ. Tại bàn tiệc mọi người cao đàm khoát luận, toàn những chuyện lạ thường trong giang hồ.

Quách Tương từ lúc gặp Dương Quá lúc nào nàng cũng vui vẻ, nhưng tối nay lại lẳng lặng, chỉ nghe mọi người trò chuyện. Dương Quá liếc nàng, thấy sắc diện nàng ủ dột, cho rằng mấy ngày liền tiểu cô nương bôn ba lao lực, không tránh khỏi mỏi mệt, nên cũng không để tâm, đâu biết rằng Quách Tương buồn rầu vì sắp phải xa chàng.

Uống được vài chén rượu, đột nhiên cánh rừng bên ngoài có tiếng vượn kêu to, rồi mấy chục con vượn khác cùng kêu ầm ĩ. Huynh đệ họ Sử hơi biến sắc, Sử Mạnh Tiệp nói:

– Dương đại ca và Tây Sơn chư huynh cứ an tọa, tiểu đệ ra ngoài một chút xem sao.

Nói rồi ra khỏi sảnh.

Mọi người đều biết có ngoại địch xông vào rừng; nhưng ở đây tụ tập nhiều hảo thủ thế này, kẻ địch mạnh mấy cũng chẳng đáng sợ.

Sát Thần Quỉ nói:

– Nếu là vương tử Hoắc Đô tới thì hay nhất, mọi người có dịp đấu với hắn, trả thù cho Sử tam ca..

Lời chưa dứt, đã nghe tiếng Sử Mạnh Tiệp quát ở bên ngoài:

– Vị nào đêm tối xông vào tệ trang, hãy mau dừng bước!

Một giọng nữ nhân nói:

– Trong nhà có một lão lùn to đầu hay chăng? Ta muốn hỏi xem lão đưa muội tử của ta đi đâu?

Quách Tương nghe tiếng tỷ tỷ tìm đến thì vừa ngạc nhiên, vừa vui mừng, liếc sang, thấy ánh mắt Dương Quá lóe lên rất lạ, nàng đã định kêu lên hai tiếng "tỷ tỷ" lại thôi.

Chỉ nghe Sử Mạnh Tiệp giận dữ nói:

– Nữ nhân gì mà nói năng vô lễ, ta hỏi không trả lời, cứ làm loạn lên?

Lại nghe tiếng Quách Phù quát:

– Tránh ra!

Tiếp đến tiếng binh khí va nhau, rõ ràng là Quách Phù xông vào, Sử Mạnh Tiệp chặn lại, đôi bên đã động thủ. Dương Quá từ ngày chia tay với Quách Phù tại Tuyệt Tình cốc, đã mười mấy năm chưa gặp, giờ đây nghe tiếng nàng ta, trong lòng chàng trỗi dậy nhiều cảm xúc khác nhau, thấy tiếng binh khí va chạm xa dần, tức thị Sử Mạnh Tiệp đã kéo Quách Phù ra xa. Đại Đầu Quỉ nói:

– Thiếu phụ ấy tìm lão phu đó, để lão phu ra gặp.

Rồi chạy ra khỏi sảnh. Sử Quí Cường và Phàn Nhất Ông cũng chạy theo.

Quách Tương đứng dậy, nói:

– Đại ca ca, tỷ tỷ của muội đến tìm muội, muội đi đây.

Dương Quá kinh ngạc, nói:

– Người ấy.. người ấy.. là tỷ tỷ của cô nương ư?

Quách Tương nói:

– Vâng, muội muốn gặp Thần điêu đại hiệp, vị đại thúc thúc kia dẫn muội đi gặp đại ca ca. Muội.. rất thích..

Nàng chưa nói hết đã chạy đi.

Dương Quá thấy một giọt nước mắt của Quách Tương rơi xuống ly rượu, nghĩ: "Thì ra cô bé sơ sinh ngày nào, giờ đã lớn ngần ấy rồi. Tiểu cô nương đang đêm đi tìm ta, tất có việc hệ trọng, sao chưa nói gì đã bỏ đi? Xem chừng nàng ta có nhiều tâm sự, ta không thể bỏ mặc". Bèn phi thân ra ngoài, chạy đuổi theo.

Thấy lưng Quách Tương khuất vào rừng, chàng nhún vài lần, đã tới sau lưng nàng, nói:

– Tiểu muội tử, có chuyện gì khó, cứ nói cho ta hay, đừng ngại.

Quách Tương mỉm cười, nói:

– Không có gì, muội không có chuyện gì đâu.

Ánh trăng nhàn nhạt chiếu vào khuôn mặt tú mỹ trắng trẻo nhỏ nhắn của nàng, Dương Quá nhìn rõ còn ướt lệ, bèn dịu dàng nói:

– Thì ra tiểu muội tử là cô nương của Quách đại hiệp và Quách phu nhân, bị tỷ tỷ của tiểu muội bắt nạt phải không?

Chàng nghĩ Quách Tĩnh, Hoàng Dung lừng danh thiên hạ, uy chấn thời nay, nữ nhi của họ quyết không gặp việc gì khó, quá nửa chắc là Quách Phù ngang ngược bá đạo, bắt nạt tiểu muội muội.

Quách Tương cười, nói:

– Tỷ tỷ của muội có bắt nạt muội, muội cũng không sợ; có mắng muội, muội sẽ cãi lại, còn đánh muội thì tỷ tỷ chẳng dám.

Dương Quá nói:

– Thế cô nương lại gặp ta là vì chuyện gì, hãy nói ta nghe!

Quách Tương nói:

– Muội ở bến Phong Lăng nghe kể các sự tích hiệp nghĩa của đại ca ca, muội thán phục, chỉ muốn gặp đại ca ca, chứ không có ý gì khác. Trong bữa tiệc tối nay, muội nghĩ đến câu "Mọi bữa tiệc trong thiên hạ đều đến lúc tàn", thì rất buồn; nào ngờ bữa tiệc chưa tàn, muội.. muội đã phải đi rồi.

Nói tới đây, giọng nàng hơi nghẹn lại.

Dương Quá xúc động, nhớ lại ngày nàng mới chào đời, chàng đã ẵm nàng, sau đó mấy phen tranh giành nàng từ tay Kim Luân pháp vương và Lý Mạc Sầu, từng bắt con báo mẹ cho nàng bú sữa; đem nàng về tòa cổ mộ nuôi dưỡng ít ngày, không ngờ bây giờ gặp lại nàng đã trở thành một thiếu nữ xinh xắn thế này. Chàng nhớ lại chuyện cũ, không khỏi bồi hồi ngơ ngẩn.

Quách Tương nói:

– Đại ca ca, muội phải đi đây! Muội nhờ đại ca ca một việc.

Dương Quá nói:

– Cô nương nói đi.

Quách Tương hỏi:

– Khi nào phu nhân và đại ca ca sẽ gặp nhau?

Dương Quá đáp:

– Mùa đông năm nay.

Quách Tương nói:

– Sau khi đại ca ca gặp phu nhân, hãy sai người mang tin đến thành Tương Dương cho muội, để muội cũng được mừng cho đại ca ca.

Dương Quá rất cảm kích, nghĩ tiểu cô nương này và Quách Phù tuy cùng một mẹ sinh ra, nhưng tính nết khác hẳn nhau, chàng hỏi:

– Gia gia má má của cô nương có khỏe không?

Quách Tương nói:

– Gia gia má má của muội vẫn khỏe.

Nàng chợt nghĩ ra điều gì đó, nói:

– Đại ca ca, sau khi gặp phu nhân, hai người đến làm khách nhà muội ở thành Tương Dương được chăng? Gia gia má má của muội và phu phụ đại ca ca đều là hào kiệt, tất sẽ rất hợp nhau, tiếc rằng gặp nhau quá muộn.

Dương Quá nói:

– Đến lúc ấy hãy hay! Tiểu muội tử, chuyện tiểu muội và ta gặp nhau, tốt nhất đừng nói với tỷ tỷ của tiểu muội.. Và cũng đừng nói với gia gia má má của tiểu muội.

Quách Tương lấy làm lạ, hỏi:

– Tại sao vậy?

Chợt nhớ ở bến Phong Lăng, khi mọi người nhắc đến Thần điêu hiệp, tỷ tỷ tỏ vẻ không ưa chàng, xem chừng giữa hai người có hiềm khích gì chăng, bèn nói:

– Muội không nói thì được.

Dương Quá cứ đăm đăm nhìn Quách Tương, trong óc hiện lên hình ảnh khuôn mặt bé nhỏ của hài nhi mà chàng ẵm mười lăm năm trước. Quách Tương bị chàng nhìn như thế thì hơi xấu hổ, cúi đầu xuống.

Dương Quá cảm thấy muốn được bảo hộ và chiếu cố nàng, giống như với hài nhi sơ sinh mười lăm năm về trước vậy. Chàng nói:

– Tiểu muội tử, phụ mẫu của tiểu muội tử là bậc đại hiệp thời nay, người người đều kính nể, tiểu muội tử có việc gì thì cũng không cần nhờ ta đâu. Nhưng thế sự đa biến, họa phúc khôn lường. Nếu tiểu muội tử có điều gì không muốn nói với phụ mẫu, cần có trợ thủ, thì cứ cho người mang tin đến, ta sẽ làm đúng như ý tiểu muội tử.

Quách Tương cười nói:

– Đại ca ca đối với muội tốt quá. Tỷ tỷ thường tự xưng với mọi người rằng mình là nữ nhi của Quách đại hiệp và Quách phu nhân; lắm lúc muội nghe mà thấy xấu hổ thay. Phụ mẫu danh vọng tuy lớn, nhưng cũng không nên suốt ngày cứ xưng xưng như vậy. Bây giờ khi muội nói Thần điêu đại hiệp là đại ca ca của muội, thì tỷ tỷ không học theo được rồi.

Dương Quá mỉm cười, nói:

– Lệnh tỷ chẳng coi trọng ta đâu.

Chàng đếm đầu ngón tay, nói:

– Năm nay tiểu muội tử mười sáu tuổi, ồ, đến tháng Chín, tháng Mười.. ngày hai mươi hai, hai mươi ba, hai mươi bốn tháng Mười.. Sinh nhật của tiểu muội tử là ngày hai mươi bốn tháng Mười phải không?

Quách Tương quá lạ, kêu to:

– Ôi đúng thế, sao đại ca ca biết?

Dương Quá mỉm cười không đáp, lại nói:

– Tiểu muội tử sinh tại thành Tương Dương, nên đơn danh có một chữ Tương chứ gì?

Quách Tương nói:

– Sao đại ca ca cái gì cũng biết, thế mà cứ làm như không quen muội? Muội mới chào đời được một ngày, thì đại ca ca đã ẵm muội phải không?

Dương Quá ngẩn ngơ, không đáp, ngẩng đầu nói:

– Mười sáu năm, ngày hai mươi bốn tháng Mười, trong thành Tương Dương đại chiến với Kim Luân pháp vương, Long nhi ẵm hài nhi này..

Quách Tương không hiểu chàng đang nói gì, nghe trong rừng văng vẳng tiếng binh khí va nhau, nàng hơi lo, sợ Sử Mạnh Tiệp đả thương tỷ tỷ, nói:

– Đại ca ca, muội phải đi thật rồi.

Dương Quá lẩm bẩm:

– Ngày hai mươi bốn tháng Mười, ngày hai mươi bốn tháng Mười, nhanh quá, sắp mười sáu năm tròn.

Đột nhiên giật mình, nói:

– À, tiểu muội tử đi về.. à, ngày hai mươi bốn tháng Mười năm nay, tiểu muội tử sẽ thắp nhang cầu khấn ba điều.

Chàng nhớ nàng từng bảo khi thắp nhang, nàng sẽ cầu trời phù hộ cho chàng và Tiểu Long Nữ mau được đoàn tụ.

Quách Tương nói:

– Đại ca ca, tương lai nếu muội cầu xin đại ca ca ba điều, thì đại ca ca có đáp ứng hay không?

Dương Quá quả quyết nói:

– Nếu vừa sức ta, nhất định ta sẽ đáp ứng.

Chàng lấy trong bọc ra một chiếc hộp nhỏ, mở nắp, nhặt ba cái kim châm mà Tiểu Long Nữ vẫn dùng làm ám khí, đưa cho Quách Tương, nói:

– Ta thấy cái kim này, coi như thấy mặt tiểu muội tử. Tiểu muội tử nếu không thể đi gặp ta, cứ việc nhờ người mang kim châm truyền lệnh, ta sẽ làm cho tiểu muội.

Quách Tương nói:

– Đa tạ đại ca ca.

Nàng nhận ba cái kim, nói:

– Muội xin nói ước muốn thứ nhất.

Rồi nàng đưa một cái kim châm cho Dương Quá, nói:

– Muội muốn đại ca ca gỡ cái mặt nạ ra, để muội được ngắm diện mạo thật của đại ca ca.

Dương Quá cười, nói:

– Việc ấy quá dễ dàng, ta chỉ vì không muốn gặp nhiều người quen cũ, nên mới mang mặt nạ. Tiểu muội tử tùy tiện sử dụng cái kim châm như vậy, chẳng tiếc hay sao?

Chàng nghĩ: "Ta đã cam kết, sẽ không hối hận, cô nương cứ giữ lại cái kim châm, bao giờ cần ta làm việc gì khó bằng trời, ta cũng sẽ làm cho cô nương. Ai lại bảo ta làm một việc không đáng như vậy?" Quách Tương nói:

– Ngay diện mạo thật của đại ca ca cũng không được nhìn thấy, thì làm sao có thể bảo là quen biết đại ca ca? Cho nên việc này không nhỏ đâu.

Dương Quá nói:

– Được!

Chàng đưa tay gỡ cái mặt nạ ra. Quách Tương lập tức nhìn thấy một khuôn mặt tuấn tú, nhưng xanh xao, tái nhợt, trông rất tiều tụy. Dương Quá thấy nàng cứ ngẩn ngơ nhìn chàng, thần sắc rất lạ, thì mỉm cười, hỏi:

– Sao nào?

Quách Tương hơi đỏ mặt, nói nhỏ:

– Dạ không sao.

Trong bụng thầm nghĩ: "Không ngờ Thần điêu hiệp lại tuấn tú đến thế".

Nàng định thần rồi, lại đưa cái kim châm thứ hai cho Dương Quá, nói:

– Muội sẽ nói ước muốn thứ hai.

Dương Quá cười, nói:

– Tiểu muội tử để vài năm sau hãy nói cũng chưa muộn. Kẻo lại nói ước muốn quá trẻ con.

Chàng không giơ tay nhận cái kim châm. Quách Tương cứ đưa cái kim châm vào tay chàng, nói:

– Đại ca ca, ước muốn thứ hai của muội là vào ngày sinh nhật hai mươi bốn tháng Mười năm nay, đại ca ca hãy đến thành Tương Dương thăm muội!

Điều này tuy có tốn sức hơn ước muốn thứ nhất một chút, song vẫn đầy tính trẻ con. Dương Quá cười, nói:

– Ta đáp ứng. Việc đó chẳng khó, có điều là ta sẽ chỉ gặp một mình cô nương, chứ không gặp gia gia má má của cô nương đâu.

Quách Tương cười, nói:

– Việc đó tùy đại ca ca.

Nàng cầm cái kim thứ ba trong bàn tay nhỏ nhắn, trông nó lóng lánh dưới ánh trăng, nói:

– Ước muốn thứ ba của muội..

Dương Quá mỉm cười, lắc đầu nghĩ: "Dương Quá ta đâu dễ hứa hẹn với người? Tiểu cô nương không cân nhắc nặng nhẹ, đem lời hứa của ta ra làm trò đùa ư?" Chỉ thấy nàng đột nhiên đỏ mặt, cười nói:

– Ước muốn thứ ba của muội, hiện thời muội chưa nghĩ ra, mai sau sẽ nói với đại ca ca.

Đoạn nàng quay người chạy vào rừng, gọi:

– Tỷ tỷ, tỷ tỷ!

Quách Tương chạy về phía có tiếng binh khí va chạm, thấy Quách Phù đang giao đấu rất hăng với Sử Mạnh Tiệp, Đại Đầu Quỉ hai người; còn Phàn Nhất Ông và Sử Quí Cường thì đứng ngoài quan chiến. Quách Tương gọi:

– Tỷ tỷ, muội đến đây, mấy vị này đều là hảo bằng hữu.

Võ công của Quách Phù nhờ sự chỉ dạy của phụ mẫu, ngày ngày lại cùng luyện tập với Gia Luật Tề là một cao thủ đương đại, so với mười mấy năm trước đã có tiến cảnh rất lớn, chỉ tại nàng nôn nóng tự mãn, không chịu khổ công đi sâu tìm tòi, nên tuy phụ mẫu và trượng phu là danh gia võ học, nàng trước sau vẫn chỉ là cao thủ hạng hai hạng ba, lúc này bị Sử Mạnh Tiệp và Đại Đầu Quỉ giáp kích, dần dần chống đỡ không nổi, đang luống cuống, bỗng nghe tiếng gọi của muội tử, bèn kêu to:

– Muội muội mau tới đây!

Sử Mạnh Tiệp nghe Quách Tương gọi Dương Quá là "đại ca", sao lúc này Quách Phù lại gọi Quách Tương là "muội muội", không khỏi giật mình, nghĩ: "Không lẽ thiếu phụ này là phu nhân hay muội muội của Thần điêu hiệp", vội thu chiêu về, nhảy lùi lại.

Quách Phù biết rõ đối phương nhường nhịn, song nàng đang tức giận, trường kiếm cứ đâm tới, Sử Mạnh Tiệp bị trúng kiếm vào ngực. Đại Đầu Quỉ giật mình, kêu lên:

– Ơ hay, sao lại..

Quách Phù vòng kiếm, hàn quang loáng lên, lại đâm một kiếm trúng vai Đại Đầu Quỉ, nàng đắc ý, quát:

– Cho các người thấy sự lợi hại của cô nãi nãi!

Quách Tương gọi giật lại:

– Tỷ tỷ, muội đã bảo mấy vị này đều là bằng hữu.

Quách Phù tức giận quát:

– Mau về cùng ta! Ai biết muội quen với loại bằng hữu chó má này?

Sử Mạnh Tiệp ngực bị trúng kiếm khá nặng, người lảo đảo mấy cái rồi ngã xuống. Quách Tương vọt tới, khom người đỡ Sử Mạnh Tiệp lên, hỏi:

– Sử ngũ thúc, Sử ngũ thúc, thương thế ra sao?

Sử Mạnh Tiệp máu trào ra miệng vết thương, loang đỏ cả ngực áo. Quách Tương vội xé vạt áo băng lại cho y.

Quách Phù cầm kiếm đứng một bên, luôn miệng thúc giục:

– Đi thôi, đi thôi! Về nhà ta sẽ mách gia gia má má đánh cho muội một trận nên thân mới xong!

Quách Tương tức giận nói:

– Tỷ tỷ làm loạn, xuất thủ đả thương người khác, muội cũng sẽ mách gia gia má má!

Sử Mạnh Tiệp thấy khuôn mặt nhỏ của nàng đỏ bừng, nước mắt lưng tròng, thì gượng cười, nói:

– Cô nương đừng lo, ta bị thương không đến nỗi chết đâu!

Sử Quí Cường nhất thời chưa biết nên xông tới liều mạng với Quách Phù, hay là tới cứu thương cho ngũ đệ.

Quách Phù đột nhiên kêu "ối" một tiếng kinh hoảng, thấy hai con mãnh hổ đang lừ lừ tiến lại, nàng quay người định chạy, thì bên trái có hai con sư tử đực bên phải có bốn con báo gầm gừ chờ sẵn.

Nguyên lúc ấy Sử Trọng Mãnh đã chỉ huy bầy thú vây Quách Phù vào giữa. Quách Phù mặt cắt không còn hạt máu, muốn khuỵu xuống. Bỗng nghe có tiếng nói:

– Ngũ đệ, thương thế của đệ ra sao?

Sử Mạnh Tiệp đáp:

– Chưa đến nỗi nào!

Người kia nói:

– Thần điêu hiệp truyền lệnh, cho hai cô nương kia rút đi!

Sử Trọng Mãnh hô vài tiếng, lũ thú quay mình, lẩn vào trong lớp cỏ cao.

Quách Tương nói:

– Sử ngũ thúc, điệt nhi thay tỷ tỷ xin lỗi ngũ thúc.

Sử Mạnh Tiệp nén đau, cười gượng, nói:

– Nể mặt Thần điêu hiệp, lệnh tỷ có giết ta, ta cũng cam chịu.

Quách Tương vội nói:

– Thương thế của ngũ thúc.. có đúng là không nặng chứ?

Quách Phù kéo tay muội tử, xẵng giọng:

– Muội còn chưa chịu về hả?

Rồi dùng lực kéo chạy ra khỏi rừng.

Huynh đệ họ Sử và Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ ẩn một bên, thấy tỷ muội hai người đã đi khỏi, mới chạy tới xem vết thương của Sử Mạnh Tiệp và Đại Đầu Quỉ. Mỗi người một lời, đều chê cười Quách Phù, chỉ không biết nàng ta rốt cuộc có quan hệ thế nào với Dương Quá, nên không dám nói năng vô lễ. Sử Quí Cường bực tức nói:

– Tiểu cô nương ngoan thế, trong khi tỷ tỷ thì ngang ngược vô lối. Ngũ đệ rõ ràng đã nhường nhịn, thị còn hạ độc thủ, nhát kiếm ấy đâm sâu thêm hai tấc thử hỏi ngũ đệ sống nổi được chăng?

Đại Đầu Quỉ nói:

– Chúng ta phải đi hỏi Thần điêu hiệp, xem nữ tử ấy rốt cuộc là kẻ nào. Ở bến Phong Lăng, thị luôn miệng chê Thần điêu hiệp, tại hạ nghĩ Thần điêu hiệp cũng không bênh thị đâu.

Từ sau gốc đại thụ, có một người thong thả bước ra, nói:

– May sao thương thế của Sử ngũ ca không quá nặng. Nữ tử đó hành sự quen lỗ mãng, cánh tay phải của đệ chính là bị nàng ta chặt đó.

Người nói chính là Dương Quá.

Mọi người nghe đều kinh ngạc, ngây ra không nói nên lời, ai cũng đầy nghi vấn, song không ai dám hỏi.

Khi Quách Phù kèm Quách Tương về đến bến Phong Lăng, thì mặt sông Hoàng Hà đã tan băng, tỷ đệ ba người qua sông, về thẳng thành Tương Dương. Suốt dọc đường Quách Phù cứ luôn miệng trách mắng Quách Tương, bảo nàng lẽ ra không nên đi theo kẻ lạ mặt gây phiền phức rắc rối. Quách Tương giả câm giả điếc, không thèm lý đến, ngay cả chuyện gặp được Dương Quá, nàng cũng không hề nói ra.

Về đến thành Tương Dương, Quách Phù gặp cha mẹ, dâng thư của Trường Xuân chân nhân Khưu Xứ Cơ, nói Khưu chân nhân tuổi cao có bệnh, nằm liệt giường, nhưng giáo chủ Lý Chí Thường sẽ dẫn hảo thủ phái Toàn Chân đến dự đại hội. Bẩm xong việc chính, câu đầu tiên nàng nói:

– Cha, mẹ, muội muội dọc đường không chịu vâng lời, gây bao nhiêu rắc rối.

Quách Tĩnh kinh ngạc, vội hỏi đầu đuôi. Quách Phù liền kể lại việc ở bến Phong Lăng, Quách Tương đi theo một hào khách giang hồ lạ mặt, hai ngày đêm không trở về, vừa kể vừa thêm mắm thêm muối.

Quách Tĩnh những ngày này đang bận lo quân vụ, ưu tâm quốc sự, nghe đại nữ nhi nói vậy thì bực mình hỏi:

– Tương nhi, có đúng như tỷ tỷ nói hay không?

Quách Tương cười hì hì nói:

– Tỷ tỷ lo sợ vớ vẩn, hài nhi cùng một vị bằng hữu đi xem nhiệt náo, đâu có gì sai trái.

Quách Tĩnh cau mày hỏi:

– Bằng hữu nào vậy, tên là gì?

Quách Tương lè lưỡi nói:

– Ôi, hài nhi quên hỏi tên, chỉ biết người ấy có ngoại hiệu Đại Đầu Quỉ.

Quách Phù nói:

– Hình như là một nhân vật trong Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ.

Quách Tĩnh cũng có nghe danh "Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ", nghe đâu họ không làm điều ác, song cũng chẳng phải là chính nhân quân tử, tiểu nữ nhi cuối cùng lại dính vào đám người ấy, thì thật đáng buồn. Nhưng vốn trầm tĩnh, Quách Tĩnh chỉ hừ một tiếng, không hỏi thêm. Hoàng Dung thì trách cứ Quách Tương một hồi.

Tối hôm ấy phu phụ Quách Tĩnh mở tiệc trong nhà tẩy trần cho Quách Phù, Quách Phá Lỗ, không nhắc đến Quách Tương. Gia Luật Tề lên tiếng can nhạc phụ nhạc mẫu. Quách Tĩnh nói:

– Nữ hài nhi mà quản không nghiêm, mai sau sẽ hại cho chính nó. Tương nhi từ bé đã cổ cổ quái quái, khiến mọi người không biết đằng nào mà lần. Ngươi là tỷ phu, cũng nên thay ta quản giáo nó mới được.

Gia Luật Tề vâng dạ, không dám nói thêm.

Phu phụ Quách Tĩnh trước kia quá nuông chiều Quách Phù, dẫn đến nhiều hậu quả xấu, nên đối với Quách Tương và Quách Phá Lỗ dùng cách ngược lại, từ nhỏ đã quản thúc chặt chẽ. Quách Phá Lỗ trầm tĩnh trang trọng, phong thái giống cha, coi như yên tâm. Quách Tương thì ngoài miệng vâng dạ, nhưng trong bụng một trăm hai chục cái không ưng. Tối nay a hoàn nói rằng lão gia thái thái sai bày tiệc, cố ý không cho mời nhị tiểu thư. Quách Tương giận dỗi, đã thế nhịn luôn hai ngày, đến sáng hôm thứ ba, Hoàng Dung đau lòng quá, giấu Quách Tĩnh, tự xuống nhà bếp làm vài món ngon, mang lên dỗ dành tiểu nữ nhi.

Tài nấu nướng của Hoàng Dung thiên hạ vô song, đã lâu không dùng, hôm nay hiển lộ thân thủ, Quách Tương tất nhiên mặt mày tươi như hoa. Nhưng như thế là bao nhiêu tâm huyết của hai vợ chồng trong việc quản giáo tiểu nhi nữ đều trôi ra sông ra biển hết cả.

Bấy giờ đại quân Mông Cổ đã chiếm được nước Đại Lý, kéo quân lên phía bắc, một lộ binh mã khác tiến từ bắc xuống nam, hai đạo quân dự định hội sư ở Tương Phàn, phen này quyết diệt Đại Tống. Cuộc tiến quân này được trù liệu mấy năm, cánh quân từ nam lên bắc do hoàng đệ Hốt Tất Liệt thống lĩnh, cánh quân từ bắc xuống nam do hoàng đế Mông Ca thân chinh ngự giá, tinh binh mãnh tướng đều ra trận, thanh thế cực lớn, thật là chưa từng có. Hiện thời mùa thu khô ráo, cỏ cao ngựa béo, lợi cho quân thiết kỵ Mông Cổ.

Đại quân Mông Cổ chưa tới gần, trong thành Tương Dương đã biết. Nhưng triều đình Đại Tống ở Lâm An do tên gian thần Đinh Đại Toàn nắm giữ, chúa hôn thần gian, không hề chuẩn bị đối phó gì hết. Văn thư cáo cấp của thành Tương Dương tuy bay về tới tấp, nhưng quân thần trong triều đình nói với nhau:

– Bọn Thát tử Mông Cổ đánh thành Tương Dương mười mấy năm không hạ được, lần này ắt cũng cụp cánh rút về, thành Tương Dương là khắc tinh của bọn Thát tử. Chuyện đó thành lệ, còn cách gì khác? Ta cứ việc ăn no ngủ kỹ, hà tất chuốc lấy lo phiền?

Khi đại quân Mông Cổ tiến đánh Đại Lý, Quách Tĩnh biết phen này cục diện sẽ khẩn cấp, liền gửi thiếp mời anh hùng thiên hạ tề tựu ở thành Tương Dương để bàn đại kế chống địch xâm lăng. Đại quân Mông Cổ hành binh thần tốc, không lâu sau đã chiếm được Đại Lý, lúc này vua nước Đại Lý là Đoàn Hưng Trí, là tằng tôn của Nhất Đăng đại sư, hiệu xưng "Định Thiên hiền vương", tuổi còn quá nhỏ, lên ngôi chưa đầy hai năm đã mất nước, được bọn Võ Tam Thông, Chu Tử Liễu, Điểm Thương Ngư Ẩn cứu ra.

Khi các lộ anh hùng tề tựu ở thành Tương Dương, đại quân Mông Cổ đã đến gần. Anh hùng đại yến sẽ bắt đầu vào ngày rằm tháng Mười, dự kiến họp liền mười ngày; hôm nay đã là ngày mười ba, cách hôm khai mạc hai ngày; các lộ hảo hán đông tây nam bắc như trăm sông đổ ra biển, lũ lượt dồn về thành Tương Dương. Vợ chồng Quách Tĩnh, Hoàng Dung toàn thần bố trí quân vụ, giao việc đón tiếp tân khách cho Lỗ Hữu Cước và Gia Luật Tề xử lý; có vợ chồng Võ Đôn Nhu, Gia Luật Yến, và vợ chồng Võ Tu Văn, Hoàn Nhan Bình trợ giúp.

Ngày hôm nay tới đây có Chu Tử Liễu, có Điểm Thương Ngư Ẩn, có Võ Tam Thông, có giáo chủ phái Toàn Chân Lý Chí Thường suất lĩnh mười sáu sư huynh đệ, có các vị trưởng lão Cái Bang cùng một số chư bang thủ bảy túi, tám túi; có vợ chồng Lục Quán Anh, Trình Dao Ca.. Nhất thời trong thành Tương Dương cao thủ, quần hiền tụ hội rất đông. Nhiều tiền bối anh hiệp bình thời ít khi lộ diện chốn giang hồ, lần này biết anh hùng đại yến ở thành Tương Dương liên quan đến vận khí thiên hạ, thật chẳng tầm thường, lại ngưỡng mộ vợ chồng Quách Tĩnh nhân nghĩa, phàm nhận được thiếp mời, đều tới phó hội. So với anh hùng đại yến ở ải Đại Thắng, lần này rầm rộ hơn.

Tối ngày mười ba tháng Mười, vợ chồng Quách Tĩnh bày tiệc nhỏ tại Quách phủ, mời Chu Tử Liễu, Võ Tam Thông.. mươi vị tri giao. Rượu qua tam tuần, mà bang chủ Cái Bang Lỗ Hữu Cước vẫn chưa đến, mọi người biết Lỗ Hữu Cước bận bịu bang vụ, không thể phân thân, nên cũng không để tâm. Mọi người vui vẻ uống rượu, bàn luận chuyện lạ trong võ lâm mười mấy năm qua. Vợ chồng Gia Luật Tề, Quách Phù cùng với một nhóm tiểu bằng hữu như huynh đệ họ Võ thì ngồi riêng một bàn, cũng đang đánh đố nhau để uống rượu cho vui, cũng đang huyên náo.

Đúng lúc ấy, đột nhiên có một đệ tử tám túi của Cái Bang hớt hải tới, ghé tai nói nhỏ vài câu với Hoàng Dung. Hoàng Dung tái mặt, đứng ngay dậy, run giọng nói:

– Có chuyện đó ư?

Mọi người cả kinh, cùng ngoảnh nhìn Hoàng Dung.

Hoàng Dung nói:

– Ở đây hoàn toàn không có người ngoài, ngươi cứ kể lại mọi chuyện thế nào?

Mọi người thấy Hoàng Dung nói mà mặt rưng rưng lệ, đoán đã xảy ra chuyện bất hạnh, nghe gã đệ tử tám túi kia nói:

– Chiều nay, Lỗ bang chủ dẫn hai đệ tử bảy túi đi tuần ở phía nam thành, ai ngờ qua giờ Thân vẫn chưa thấy trở về. Chúng đệ tử không yên tâm, chia nhau đi thám thính, cuối cùng trong miếu Dương Thái Phó thấy di thể của lỗ bang chủ.

Khi y nói đến hai chữ "di thể", ai nấy cùng kêu "Ôi". Giọng người kể cũng nghẹn lại. Nên biết Lỗ Hữu Cước võ công tuy không cao lắm, nhưng giàu nhân ái, tín nghĩa, được bang chúng tin yêu. Đệ tử tám túi kể tiếp:

– Hai đệ tử bảy túi cũng nằm bên cạnh bang chủ, một người đã chết, người kia trọng thương, nhưng còn thở thoi thóp. Y nói ba người chạm trán với vương tử Mông Cổ Hoắc Đô ở bên ngoài miếu, Lỗ bang chủ bị hắn ám toán trước, hai đệ tử liều mình đấu với hắn, đều bị đả thương bởi chưởng của hắn.

Quách Tnh giận tái mặt, chỉ nói:

– Hoắc Đô, hừ, Hoắc Đô!

Nghĩ thầm, nếu sớm biết thế này, thì năm xưa ở cung Trùng Dương mình đã chẳng nên thủ hạ lưu tình.

Hoàng Dung nói:

– Hoắc Đô hắn có nhắn lại gì không?

Gã đệ tử kia đáp:

– Đệ tử không dám nói.

Hoàng Dung nói:

– Có gì mà không dám nhắc lại. Hắn bảo rằng Quách Tĩnh, Hoàng Dung hãy mau mau đầu hàng Mông Cổ, nếu không, số phận sẽ y như Lỗ Hữu Cước, phải vậy không?

Gã đệ tử đáp:

– Bang chủ minh kiến. Tên ác tặc Hoắc Đô chính là đã nhắn lại như thế.

Tập tục trong Cái Bang, tuy Hoàng Dung đã từ nhiệm bang chủ từ sớm, song bang chúng bất kể trước mặt hay sau lưng đều gọi Hoàng Dung là bang chủ.

Hoàng Dung cau mày, nói:

– Cây Đả cẩu bổng của Lỗ bang chủ chắc đã bị Hoắc Đô cướp đi mất chứ gì?

Gã đường đáp:

– Đúng vậy.

Mọi người liền rời bàn tiệc, đi xem di thể của Lỗ Hữu Cước, thấy trên lưng có cắm một cái nan quạt bằng thép, xương sườn trước ngực bị gãy, rõ ràng Hoắc Đô đã dùng ám khí đánh lén đắc thủ trước, rồi mới dùng chưởng lực đánh chết Lỗ Hữu Cước. Mọi người thấy vậy đều bi phẫn.

Hiện thời trong thành Tương Dương đệ tử Cái Bang đông hàng ngàn người, cái tin Lỗ Hữu Cước bị kẻ gian hãm hại lan đi, nơi nào trong thành cũng có tiếng khóc thương.

Quách Tương bình thời giao hảo rất thân thiết với Lỗ Hữu Cước, thường rủ Lỗ Hữu Cước ra chỗ vắng ngoài thành, một già một trẻ uống rượu với nhau, Quách Tương nài nỉ Lỗ Hữu Cước kể các chuyện lạ chốn giang hồ, có khi hết cả nửa ngày, hai người cùng thích thú. Miếu Dương Thái Phó cách thành Tương Dương không xa, cũng là nơi Quách Tương và Lỗ Hữu Cước thường tới chơi. Hôm nay nàng nghe tin người bạn già bị giết hại ở miếu Dương Thái Phó thì đau lòng, lấy một hồ lô rượu, một giỏ thức ăn, giống như mọi khi, đi tới miếu.

Lúc này đã gần nửa đêm, Quách Tương đặt chén đũa, rót rượu đầy chén, nói:

– Lỗ lão bá, nửa tháng trước, điệt nhi còn cùng lão bá ngồi uống rượu chuyện trò ở đây, ai ngờ anh hùng gặp thảm họa, vong hồn lão bá có linh thiêng, xin hãy về đây hưởng chén rượu nhạt này.

Nól đoạn nàng dốc chén rượu xuống đất, còn chén của mình thì nàng uống cạn; nghĩ người bạn vong niên thế là mất hẳn, không khỏi bi thương, nước mắt chảy dài trên má, lại nói:

– Lỗ lão bá, điệt nhi cạn thêm chén này với lão bá

Nàng rót rượu và lại uống cạn.

Tửu lượng của Quách Tương thực ra không đáng kể, có điều tính nết khoáng đạt, thích kết giao với hào sĩ giang hồ, nên bắt chước họ khề khà đại ngôn, bây giờ sau hai chén rượu, mặt đã đỏ bừng, chếnh choáng. Trong bóng tối bỗng thấy ngoài cổng miếu hình như có người vụt hiện, Quách Tương nghĩ rằng linh hồn Lỗ Hữu Cước về thật, bèn gọi:

– Là Lỗ lão bá đấy phải không? Lão bá có linh thiêng, hãy vào đây một lát.

Nàng tuy sợ, trống ngực đập dồn, nhưng cũng muốn nhìn thấy linh hồn Lỗ Hữu Cước. Chỉ nghe một giọng nữ tử nói:

– Bán dạ tam canh, muội làm trò quỉ gì ở đây thế? Mẹ bảo muội phải về nhà ngay.

Một người từ ngoài cổng miếu chạy vào, chính là Quách Phù.

Quách Tương tỏ vẻ thất vọng, nói:

– Muội đang mời linh hồn Lỗ lão bá về gặp, tỷ tỷ xông vào, linh hồn làm sao còn dám đến? Tỷ tỷ cứ về trước đi, muội nhất định sẽ về sau.

Quách Phù nói:

– – Muội lại hồ thuyết bát đạo rồi, cái đầu bé nhỏ của muội chứa toàn những ý nghĩ rồ dại. Linh hồn Lỗ Hữu Cước tại sao phải đến đây gặp muội?

Quách Tương nói:

– Bình nhật Lỗ lão bá rất thân với muội, huống hồ muội còn đáp ứng sẽ nói cho Lỗ lão bá nghe một bầu tâm sự của muội trước ngày sinh nhật của muội, lẽ nào Lỗ lão bá không đến?

Nói đến đây, bất giác cảm thấy đau lòng.

Quách Phù nói:

– Mẹ không thấy bóng muội, liền đoán ngay là muội tới đây. Con khỉ nhỏ là muội thoát sao nổi bàn tay của mẫu thân? Mẫu thân mắng muội là kẻ ngày càng to gan, không chừng Hoắc Đô còn lẩn quất đâu đây, muội đêm hôm khuya khoắt một mình đến chốn này, chẳng nguy hiểm quá sao?

Quách Tương thở dài, nói:

– Muội nhớ Lỗ lão bá, nên cũng quên cả nguy hiểm. Tỷ tỷ hãy ngồi xuống chờ một chút, không chừng linh hồn Lỗ lão bá sẽ đến gặp muội thật đó. Có điều là tỷ tỷ đừng lên tiếng, để hồn khỏi sợ.

Quách Phù bình thời không coi trọng Lỗ Hữu Cước, cho rằng sở dĩ Lỗ Hữu Cước làm bang chủ Cái Bang hoàn toàn là nhờ mẫu thân nàng nâng đỡ, linh hồn Lỗ Hữu Cước có đến thật thì cũng không đáng sợ.

Nàng lại biết tính khí của muội muội, nó đã muốn ở đây chờ, trừ phi đích thân cha mẹ đến gọi, chứ nàng thì không cách gì khuyên nó về được. Bèn ngồi xuống, thở dài, nói:

– Nhị muội, muội càng lớn, càng không hiểu gì cả. Năm nay muội mười sáu tuổi rồi, hai năm nữa là về nhà chồng, chẳng lẽ về nhà chồng vẫn cứ điên điên khùng khùng thế này hay sao?

Quách Tương nói:

– Có gì khác kia chứ. Tỷ tỷ thành thân với tỷ phu, vẫn cứ tự do tự tại như thời khuê nữ đó thôi?

Quách Phù nói:

– Ồ, làm sao muội có thể lấy người ngoài so sánh với tỷ phu của muội được? Chàng là hào kiệt thời nay, thuộc vào hàng đệ nhất cao nhân, nên không hề câu thúc ta. Chàng văn tài võ lược, những người cùng trang lứa, đâu có ai sánh nổi chàng? Trượng phu tương lai của muội hãy được bằng nửa chàng, thì cha mẹ đủ tâm mãn ý túc rồi.

Quách Tương nghe tỷ tỷ nói ngạo mạn, thì bĩu môi, nói:

– Tỷ phu dĩ nhiên tài giỏi, nhưng muội không tin trên thế gian không có ai sánh kịp.

Quách Phù nói:

– Muội không tin, để rồi xem!

Giọng nói vẫn ngạo mạn. Quách Tương nói:

– Muội biết có một người hơn tỷ phu gấp mười lần.

Quách Phù tức giận, nói:

– Là ai? Muội thử nói ta coi.

Quách Tương nói:

– Tại sao muội phải nói kia chứ. Muội tự biết trong lòng là được rồi.

Quách Phù cười khẩy, nói:

– Là Chu tam đệ phải không? Hay là Vương Kiếm Dân?

Quách Phù kể tên vài gã thiếu niên anh hiệp.

Quách Tương liên tiếp lắc đầu, nói:

– Bọn họ đến tỷ phu còn chưa bằng, làm sao có thể hơn tỷ phu gấp mười lần.

Quách Phù nói:

– Trừ phi muội bảo đó là mấy vị tiền bối anh hùng như ông ngoại, cha mẹ, Chu đại thúc.

Quách Tương nói:

– Không, người muội nói tuổi còn ít hơn tỷ phu, diện mạo cũng anh tuấn hơn tỷ phu, võ công thì cao hơn nhiều lần, một trời một vực, tỷ phu không thể sánh nổi.

Nghe nàng nói, Quách Phù cứ xì xì liên tiếp. Quách Tương mặc kệ, nói tiếp:

– Tỷ tỷ tin hay không là tùy. Người đó phẩm hạnh cực tốt, người khác gặp nạn, bất kể quen biết hay không, chàng cũng tận lực cứu giúp.

Nói rồi nàng hơi ngửa mặt lên, nhìn đăm đăm ra xa.

Quách Phù tức giận, nói:

– Muội toàn là nghĩ những thứ vớ vẩn trong đầu thôi. Lỗ Hữu Cước chết, Cái Bang khuyết chức bang chủ. Mẫu thân vừa bảo nhân dịp anh hùng đại yến, quần hào tụ hội, mọi người tỷ võ quyết thắng, cử một vị võ công cao nhất đảm nhiệm chức bang chủ, tránh cho hai phái áo sạch áo dơ tranh chấp nhau. Anh chàng mà muội nói lợi hại như thế, thì bảo y đến đấu võ với tỷ phu của muội, xem ai đoạt được chức bang chủ nào.

Quách Tương phì cười, nói:

– Chàng chẳng thiết làm bang chủ Cái Bang đâu.

Quách Phù tức giận, nói:

– Tại sao muội dám coi thường chức bang chủ? Trước kia Hồng lão công công từng làm, mẫu thân cũng từng làm, không lẽ muội dám coi thường cả Hồng lão công công lẫn mẫu thân ư?

Quách Tương nói:

– Muội nói coi thường hồi nào? Tỷ tỷ biết muội chơi thân nhất với Lỗ lão bá mà.

Quách Phù nói:

– Thôi được! Muội hãy gọi vị đại anh hùng của muội đến đấu võ một trận với tỷ phu của muội. Hiện thời hảo hán đương thế đều tề tựu ở thành Tương Dương, ai là anh hùng, ai là gấu chó, chỉ cần đấu một trận là lộ rõ tức thì.

Quách Tương nói:

– Đại tỷ, đại tỷ nói hớ lắm, muội không bao giờ muốn tỷ phu là gấu chó cả. Nếu tỷ phu là gấu chó, hóa ra đại tỷ cũng là đồ súc sinh mất hay sao? Tỷ và muội cùng một mẹ sinh ra, muội cũng chẳng vẻ vang gì.

Quách Phù nghe giận không được mà cười cũng chẳng xong, đứng dậy nói:

– Ta không rỗi hơi đấu khẩu với muội. Nếu muội không chịu về, đừng có lôi thêm ta ở lại đây để ta bị mắng lây.

Quách Tương miệng lưỡi sắc sảo, rất thích đấu khẩu với tỷ tỷ, nói:

– Úi chao, đại tỷ là cô nãi nãi đã xuất giá, được cha mẹ cưng chiều nhất đời. Đại tỷ lại sắp thành phu nhân bang chủ, ai dám mắng đại tỷ kia chứ.

Quách Phù nghe muội tử bảo mình sắp thành phu nhân bang chủ, thì rất thích, nói:

– Có nhiều anh hùng hảo hán nhòm ngó chức vụ bang chủ, tỷ phu của muội chưa chắc đã giành được, đừng có nói trước mà người ta cười cho đấy.

Quách Tương xuất thần hồi lâu, nhìn vầng trăng sắp tròn treo ở bên trời, thở dài, nói:

– Xem chừng linh hồn của Lỗ lão bá không đến rồi. Đại tỷ, đừng vội nhắc đến tân bang chủ làm gì, hãy để mọi người tưởng nhớ Lỗ lão bá có hơn không?

Quách Phù nói:

– Muội lại nói như một đứa trẻ, Cái Bang là bang lớn nhất trên giang hồ, làm sao có thể để quần long vô thủ kia chứ.

Quách Tương hỏi:

– Mẹ bảo hôm nào chọn bang chủ?

Quách Phù nói:

– Ngày mười lăm khai mạc anh hùng đại hội, điều quan trọng nhất là thương nghị làm thế nào liên hợp hào kiệt bốn bể chung sức chống Mông Cổ. Việc đó mất tối thiểu dăm sáu ngày, có khi tám chín ngày; vậy việc chọn bang chủ sẽ vào khoảng ngày hai mươi ba, hai mươi bốn.

Quách Tương "à" một tiếng.

Quách Phù hỏi:

– Cái gì?

Quách Tương nói:

– Không có gì, hai mươi bốn chính là sinh nhật của muội. Các vị chọn lựa bang chủ, mẫu thân bận bịu, sẽ không còn bụng dạ nào làm sinh nhật cho muội.

Quách Phù cười ha hả, nói:

– Làm sinh nhật cho một đứa nhóc con như muội thì hệ trọng lắm sao? Làm sao có thể so sánh với đại sự lựa chọn bang chủ kia chứ? Nói ra chỉ sợ người ta cười rụng răng. Thế gian có lẽ chỉ một mình muội để tâm đến những chuyện vặt vãnh như vậy.

Quách Tương đỏ mặt, nói:

– Phụ thân có thể không nhớ, mẫu thân nhất định phải nhớ; tỷ tỷ bảo là chuyện vặt vãnh, thế muội tròn mười sáu tuổi, tỷ tỷ có biết hay không?

Quách Phù càng buồn cười, châm biếm nói:

– Đến hôm ấy, mấy ngàn vị anh hùng hảo hán trong thành Tương Dương sẽ tới chúc thọ nhị tiểu thư nhà ta, người nào cũng tặng lễ vật thật hậu hĩ. Bởi lẽ Quách nhị tiểu thư tròn mười sáu tuổi, không còn là trẻ con nữa, đã thành đại cô nương! Ha ha, hô hô!

Nghiêng đầu một bên, Quách Tương nói:

– Người ngoài tất nhiên không để ý, nhưng tối thiểu cũng có một vị đại anh hùng nhớ sinh nhật của muội; chàng đã đáp ứng sẽ đến gặp muội vào hôm đó.

Nàng nói câu này với vẻ kiêu hãnh.

Quách Phù nói:

– Vị đại anh hùng nào thế? À, là cái vị thiếu niên anh hùng hơn tỷ phu của muội gấp mười lần. Ta nói cho muội biết, thứ nhất, chẳng có nhân vật nào như thế, tất cả chỉ là do cái đầu vớ vẩn của muội bịa ra. Thứ hai, coi như có thật đi, thì người đó chẳng thiếu gì đại sự để làm, chẳng rỗi hơi đến chúc mừng sinh nhật của một cô bé nhóc con. Trừ phi người đó đi dự anh hùng đại yến, thì mới đến thành Tương Dương.

Quách Tương bị tỷ tỷ châm biếm cơ hồ phát khóc lên được, giậm chân nói:

– Chàng đã đáp ứng sẽ đến mà. Chàng cũng không đi dự anh hùng đại yến, không đến tranh chức bang chủ đâu.

Quách Phù nói:

– Y không phải là anh hùng, phụ thân tất nhiên không gửi thiếp mời y. Y có muốn đi dự anh hùng đại yến, cũng hoàn toàn chưa đủ tư cách.

Quách Tương lấy khăn tay ra chấm nước mắt, nói:

– Đã thế, anh hùng đại yến của các vị, muội cũng thèm vào dự; các vị chọn bang chủ hay làm gì có vui mấy, muội cũng chẳng thèm xem.

Quách Phù cười khẩy, nói:

– Thôi chết, Quách nhị tiểu thư mà không đến, anh hùng đại yến còn ra thể thống gì nữa? Làm tân bang chủ Cái Bang còn vinh hạnh gì nữa? Không thể thiếu muội được đâu!

Quách Tương đưa hai tay bịt tai, chạy ra cổng miếu.

Bỗng một bóng đen vụt hiện, chắn ngay giữa cổng miếu. Quách Tương giật mình, vội nhảy lùi mới không ngã vào lòng người đó. Dưới ánh trăng, thấy người kia thân hình cực cao, mặt mũi đen sì, nửa thân trên rất ngắn, ngưng thần nhìn, thì ra người kia cụt cả hai chân, hai nách tựa vào hai cây quải trượng dài sáu thước, hai ống quần dài thượt, đung đưa bên dưới đôi cà kheo, thành một người khổng lồ. Quách Phù kinh ngạc, nói:

– Các hạ là Ni Ma Tinh phải không?

Người kia chính là Ni Ma Tinh, lần này hoàng đế Mông Cổ thân chinh ngự giá, các dũng sĩ Tây Vực đều đi theo, ai cũng muốn hiển lộ thân thủ trong chiến dịch này để được hưởng công danh phú quí. Ni Ma Tinh tuy bị cụt hai chân, võ công không mất, trải qua mười mấy năm khổ luyện, cặp thiết trượng còn lợi hại hơn cả khi chân hắn còn nguyên lành. Đại quân Mông Cổ còn cách thành Tương Dương mấy trăm dặm, nhưng bọn võ sĩ như Ni Ma Tinh đã đến trước xung quanh thành thăm dò. Đêm nay Ni Ma Tinh định ghé vào miếu Dương Thái Phó trú một đêm, ở ngoài cổng nghe tỷ muội Quách Phù đối đáp thì mừng như vớ được của báu, nghĩ bụng Quách Tĩnh tuy không phải là chủ soái trấn thủ thành Tương Dương, nhưng số phận thành này liên quan mật thiết tới Quách Tĩnh, nếu bắt được hai ái nữ của Quách Tĩnh, thì dù không thể buộc Quách Tĩnh đầu hàng, cũng làm Quách Tĩnh rối loạn tâm trí, quả là một đại kỳ công. Hắn thấy Quách Phù nhận ra mình, bèn nói:

– Quách đại cô nương nhãn lực khá lắm, lâu năm không gặp, cô nương trông càng xinh tươi. Hai người muốn yên lành, hãy ngoan ngoãn đi theo ta?

Quách Phù vừa sợ vừa tức, biết tên này võ công cao cường, hai tỷ muội cùng chống chọi cũng không địch nổi hắn, không nhịn được tức giận nhìn Quách Tương một cái, nghĩ: "Tại muội gây nên mối họa này, không biết phải làm sao đây?" Quách Tương thì hỏi Ni Ma Tinh:

– Hai chân của các hạ sao trông kỳ vậy? Khi chưa bị cụt cũng dài ngoằng thế ư?

Ni Ma Tinh hừ một tiếng, không đếm xỉa đến nàng, nói với Quách Phù:

– Hai tỷ muội cô nương hãy đi trước ta, đừng có dại dột tính chuyện bỏ chạy!

Giọng nói rõ ràng là muốn bắt tỷ muội Quách Phù làm tù binh. Quách Tương cười, nói:

– Các hạ nói năng kỳ quái, bán dạ tam canh đòi bắt tỷ muội bổn cô nương đi đâu kia chứ?

Ni Ma Tinh tức giận nói:

Nhóc con chớ nhiều lời, mau đi theo ta.

Hắn sợ trong thành có người ra tiếp ứng, dễ bị xôi hỏng bỏng không.

Quách Phù nói nhỏ:

– Nhị muội, gã lùn này là võ sĩ Mông Cổ, công phu cao cường lắm, ta đánh bên trái, muội hây tấn công bên phải.

Đoạn rút soạt trường kiếm khỏi bao, đâm tới eo lưng Ni Ma Tinh.

Quách Tương ra khỏi thành không mang theo binh khí, đồng thời nghĩ rằng người này cụt hai chân, hoàn toàn dựa vào đôi quải trượng, tỷ tỷ dùng kiếm đâm hắn, hắn địch sao nổi? Bèn gọi:

– Tỷ tỷ, người này đáng thương, không nên đả thương người ta?

Lời chưa dứt, Ni Ma Tinh tả trượng chống xuống đất, hữu trượng quét ngang, "cạch" một tiếng, trúng kiếm của Quách Phù, trong bóng đêm tia lửa tung tóe, thanh kiếm chút nữa tuột khỏi tay. Quách Phù cảm thấy cánh tay tê dại, ngực hơi nhoi nhói, bèn tay trái giữ kiếm quyết thi triển "Việt nữ kiếm pháp" đấu với Ni Ma Tinh. "Việt nữ kiếm pháp" là công phu Hàn Tiểu Oanh trong Giang Nam thất quái truyền thụ cho Quách Tĩnh, sau Hàn Tiểu Oanh không may bị thảm tử, Quách Tĩnh tưởng niệm ân sư, liền đem truyền thụ cho hai nữ nhi.

Kiếm pháp này nguồn gốc sâu xa, biến hóa tinh vi, vốn là một đại tông trong kiếm học, nếu do Quách Tĩnh thi triển, tất nhiên uy lực sấm sét, nhưng Quách Phù công lực có hạn, kiếm pháp tuy tinh, song không thể đối phó với đôi thiết trượng của Ni Ma Tinh.

Quách Tương thấy Ni Ma Tinh lần lượt sử dụng đôi thiết trượng, tả trượng ra đòn thì hữu trượng chống xuống đất, tiến thoái mẫn tiệp, chẳng kém gì người có hai chân nguyên lành, đã vậy thiết trượng lại dài, hắn từ trên cao vung thiết trượng đánh xuống, càng thêm uy lực, tỷ tỷ dĩ nhiên không địch nổi, lúc này mới kinh hãi. Quách Phù cảm thấy áp lực cây thiết trượng của kẻ địch càng lúc càng nặng, cứ đè ép trường kiếm của nàng, mũi kiếm đâm tới cứ bị chếch đi. Quách Tương lo cho tỷ tỷ, song chưởng liền đánh tới Ni Ma Tinh. Chỉ nghe Ni Ma Tinh quát:

– Coi đây!

Tả trượng đẩy xuống đất một cái, thân hình lơ lửng trong không trung, song trượng cùng xuất kích, nhanh như cắt, hữu trượng điểm trúng vai trái của Quách Tương, tả trượng điểm trúng ngực Quách Phù.

Quách Tương lảo đảo lùi mấy bước. Quách Phù bị đòn không nhẹ, kêu hự một tiếng, ngã xuống đất.

Ni Ma Tinh vọt lên thụp xuống một cách ma quái, đã nhanh lại hiểm, thiết trượng hơi nhún, đã vọt tới trước mặt Quách Phù, cười khẩy, nói:

– Ta đã bảo hãy ngoan ngoãn đi theo ta..

Quách Phù vọt dậy, nói:

– Nhị muội mau chạy ra lối cửa hậu!

Ni Ma Tinh giật mình, thiết trượng rõ ràng đã điểm trúng huyệt Thần Tàng của Quách Phù, làm sao nàng ta lại vẫn cử động như thường? Hắn không thể biết Quách Phù có mặc Nhuyễn vị giáp, hắn ngỡ đó là tuyệt kỹ bế huyệt gia truyền nhà họ Quách.

Kỳ thực huyệt đạo của Quách Phù không hề bế, nàng bị trúng thiết trượng cũng rất đau đớn, không thể sử kiếm linh hoạt được nữa. Quách Tương thi triển "Lạc Anh chưởng pháp" bảo vệ sau lưng cho tỷ tỷ, gọi:

– Tỷ tỷ, tỷ tỷ đi trước đi!

Cây thiết trượng bên tay trái Ni Ma Tinh đánh thẳng tới mặt Quách Tương, chỉ còn cách chót mũi nàng chưa đầy ba tấc, kình phong làm rát cả mặt. Hắn quát:

– Không đứa nào được chạy đâu hết!

Quách Tương tức giận:

– Bổn cô nương cứ tưởng ngươi đáng thương, hóa ra ngươi quá ngang ngược đáng ghét!

Ni Ma Tinh cười hô hố, nói:

– Nhãi con không ăn đòn, thì còn chưa biết cha mi lợi hại.

Cây thiết trượng chống xuống đất cộc cộc, miệng cười nhăn nhở, hắn tiến lại. Quách Tương bình sinh chưa sợ thế này bao giờ, nhìn bộ mặt đen đúa nham nhở, cặp mắt tròn mở to lộ vẻ nham hiểm, hàm răng trắng nhởn như sắp cắn người của Ni Ma Tinh, nàng bất giác rú lên thất thanh.

Bỗng phía sau lưng nàng có tiếng nói nhỏ nhẹ:

– Đừng sợ! Hãy dùng ám khí mà đánh hắn!

Trong cơn nguy cấp Quách Tương cũng chẳng kịp phân biệt người nói là ai, đưa tay sờ thắt lưng, nói:

– Muội không có ám khí.

Nàng thấy Ni Ma Tinh lại tới gần thêm một bước, không biết phải làm thế nào, song chưởng đành sử chiêu Tán hoa thế che đỡ trước mặt. Bàn tay nàng vừa đưa ra đằng trước, từ phía sau bỗng có một luồng gió thổi nhẹ, chỉ cảm thấy cánh tay lâng lâng, đôi vòng đeo tay bằng vàng liền tuột khỏi cổ tay bay tới đụng vào cây thiết trượng của Ni Ma Tinh nghe tinh tinh hai tiếng.

Tiếng đụng nghe khẽ khàng, vậy mà hai cây thiết trượng nặng nề của Ni Ma Tinh lại bị hất mạnh ra phía sau, tuột tay hắn văng vào bức tường miếu hai tiếng thình thình, khiến bụi bậm trên nóc miếu rơi xuống lả tả. Ni Ma Tinh tuột mất cả hai cây thiết trượng, thân hình liền ngã xuống, nhưng hắn lộn một vòng, dùng lưng chạm đất, mượn thế bật dậy, miệng gầm gừ, mười ngón tay đen sì cùng với cả người lao bổ về phía Quách Tương.

Quách Tương cả kinh, không kịp nghĩ, thuận tay rút một chiếc trâm bằng ngọc xanh, vung tay ném về phía Ni Ma Tinh, chỉ thấy từ phía sau lại có luồng gió nhẹ đẩy cái trâm đi. Ni Ma Tinh tay trái ở trước, tay phải ở sau, đột nhiên thấy cái trâm bay đến rất kỳ dị, bèn giơ cả hai tay gạt đi, miệng thốt lên khe khẽ:

– Cổ quái thay!

Hắn ngã xuống, không cựa quậy gì nữa.

Quách Tương sợ Ni Ma Tinh có quỉ kế gì, nhảy tới bên Quách Phù, run run nói:

– Tỷ tỷ, đi mau!

Hai tỷ muội đứng bên cạnh tượng thần trong miếu Dương Thái Phó, thấy Ni Ma Tinh không cựa quậy gì nữa, Quách Phù nói:

– Chẳng lẽ hắn đột nhiên trúng gió mà chết?

Rồi quát:

– Ni Ma Tinh, ngươi giở trò quỉ gì vậy?

Nàng nghĩ hắn đã mất đôi thiết trượng, khó bề cử động, không còn đáng sợ nữa, bèn chĩa kiếm tiến lên vài bước, chỉ thấy Ni Ma Tinh mắt mở trừng trừng, lộ vẻ kinh hoàng, miệng há hốc, hóa ra đã chết.

Quách Phù vừa ngạc nhiên vừa vui mừng, thắp sáng cây nến trên bàn thờ, định bước lại nhìn cho kỹ, bỗng nghe ngoài cửa miếu có người gọi:

– Phù muội, nhị muội, hai người có ở trong miếu hay không?

Chính là Gia Luật Tề. Quách Phù mừng rỡ, gọi:

– Tề ca, lại đây mau lên, kỳ quái.. kỳ quái lắm!

Quách Phù đi tìm muội tử, lâu không trở về, Gia Luật Tề nghĩ Lỗ Hữu Cước đã bị ám toán, lúc này bên ngoài thành Tương Dương lởn vởn kẻ địch, nên chàng không yên tâm, bèn đi đón tỷ muội về thành. Chàng dẫn theo hai đệ tử Cái Bang sáu túi, chạy vào trong miếu, thấy Ni Ma Tinh nằm chết dưới đất, thì giật mình. Chàng biết gã lùn ở Thiên Trúc này võ công cực cao, ngay chàng cũng không địch nổi, cuối cùng Quách Phù lại giết được hắn, thật là ngoài sức tưởng tượng. Chàng cầm cây nến từ tay Quách Phù, lại bên nhìn kỹ, lại càng kinh ngạc.

Chỉ thấy hai lòng bàn tay của Ni Ma Tinh đều bị xuyên thủng, chiếc trâm ngọc cắm trúng huyệt Thần Đình bên trên trán Ni Ma Tinh. Chiếc trâm ngọc phóng mạnh hơn chút nữa, sẽ bị gãy. Đằng này nó có thể xuyên qua hai lòng bàn tay của một danh gia võ học, lại đánh chết được hắn, bản lĩnh phóng châm thật quá ư cao cường. Gia Luật Tề quay sang nói với Quách Phù:

– Ngoại công đã tới đây đấy. Mau đưa ta dẫn kiến người.

Quách Phù ngạc nhiên hỏi lại:

– Ngoại công đã tới khi nào?

Gia Luật Tề nói:

– Không phải ngoại công tới ư?

Chàng mừng rỡ, nói:

– Thì ra là ân sư đến.

Chàng nhìn quanh, không thấy bóng dáng Chu Bá Thông đâu cả. Chàng biết tính sư phụ hay đùa, chắc sư phụ đang nấp đâu đây để dọa chàng, bèn chạy ra khỏi miếu, nhảy lên mái nhà quan sát, song bốn phía không một bóng người. Quách Phù kêu lên:

– Chàng cứ nói lung tung nào ngoại công, nào sư phụ cái gì vậy?

Gia Luật Tề trở vào đại điện, hỏi kỹ tỷ muội hai người về việc đã gặp Ni Ma Tinh thế nào, hắn chết ra sao. Quách Phù nói, chỉ thấy muội tử dùng chiếc trâm ngọc đánh chết hắn, thật chẳng có lý chút nào hết.

Gia Luật Tề nói:

– Phía sau nhị muội tất có cao nhân ám trợ. Ta nghĩ thời nay ngoài nhạc phụ, chỉ ngoại công, ân sư của ta, Nhất Đăng đại sư và Kim Luân pháp vương năm người là có được công phu đó. Kim Luân pháp vương là quốc sư Mông Cổ, ắt không đối địch với Ni Ma Tinh; Nhất Đăng đại sư không dễ gì khai sát giới; cho nên ta đoán hoặc ngoại công, hoặc ân sư của ta đến thôi. Nhị muội, muội đoán người ám trợ cho muội là ai?

Quách Tương sau khi phóng chiếc trâm, Ni Ma Tinh ngã xuống, nàng lập tức ngoảnh lại, nhưng phía sau không thấy bóng một ai, nàng thầm nhẩm lại câu "Đừng sợ. Hãy dùng ám khí mà đánh hắn". Câu này nghe giọng rất quen thuộc, chẳng lẽ là Dương Quá? Nhưng vừa nghĩ đến Dương Quá, nàng tự nhủ: "Quyết không phải là chàng! Chỉ vì mình mong mỏi chàng, nên nghe giọng người khác cũng ngỡ là chàng". Khi Gia Luật Tề hỏi, nàng mải nghĩ nên không nghe thấy.

Quách Phù thấy muội tử đỏ mặt, ánh mắt long lanh, thần tình khác lạ, nghĩ muội tử vừa rồi bị hoảng hồn, bèn kéo tay, hỏi:

– Nhị muội, muội làm sao vậy?

Quách Tương giật mình, càng đỏ mặt thêm, nói:

– Không sao cả.

Quách Phù nói:

– Tỷ phu hỏi vừa rồi ai đã xuất thủ cứu muội, muội có nghe thấy không vậy?

Quách Tương đáp:

– À, ai giúp muội đánh chết tên ác nhân ấy ư? Dĩ nhiên là người ấy! Ngoài người ấy ra, còn ai có bản lĩnh như vậy được?

Quách Phù nói:

– Người ấy nào? Người ấy là ai? Là vị đại anh hùng mà muội đã nói ấy à?

Quách Tương trống ngực đập dồn, vội nói:

– Không, không! Là muội nói linh hồn của Lỗ lão bá.

Quách Phù hừ một tiếng, buông tay muội tử. Quách Tương nói:

– Vừa rồi không thấy bóng người, nhất định là linh hồn của Lỗ lão bá đã ám trợ muội. Tỷ tỷ biết đấy Lỗ lão bá vốn rất quí mến muội mà lại.

Quách Phù bán tín bán nghi, nghĩ bụng không có linh hồn, không lẽ hồn ma của Lỗ Hữu Cước không tan, nhưng nếu không phải linh hồn, thì ai giơ tay giết người được kia chứ. Nàng đứng ngay một bên, không hề thấy bóng người.

Gia Luật Tề nhặt hai cây thiết trượng của Ni Ma Tinh lên, cảm thán:

– Công lực như thế, thật đáng khâm phục.

Quách Phù và Quách Tương cùng nhìn kỹ, thấy hai chiếc vòng đeo tay hình hoa phù dung dính vào thiết trượng như đúc liền một khối. Hai cái vòng thủ công tinh xảo, nhỏ bé, mà nội lực của người tác động vào đủ làm hai cây trượng thô nặng tuột tay bay đi, chẳng trách Gia Luật Tề phải trầm trồ thán phục.

Quách Phù nói:

– Chúng ta đem về cho mẫu thân xem, mẫu thân sẽ đoán biết người ấy là ai.

Hai đệ tử Cái Bang liền một người vác xác, một người vác cặp thiết trượng, theo Gia Luật Tề và tỷ muội Quách Phù trở về thành Tương Dương. Quách Tĩnh và Hoàng Dung nghe Quách Phù thuật lại, nghĩ đến mối nguy hiểm vừa thoát, không khỏi kinh hãi.

Quách Tương cứ tưởng phen này sẽ bị phụ phẫu phạt nặng, nhưng Quách Tĩnh mừng rằng nữ nhi tình nghĩa sâu nặng, nên lại còn an ủi nàng vài câu. Hoàng Dung thấy chồng không giận, liền ôm tiểu nữ nhi vào lòng mà vỗ về, khi xem kỹ cặp thiết trượng và cái xác của Ni Ma Tinh, thì ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi nói với Quách Tĩnh:

– Tĩnh ca ca, tướng công đoán là ai?

Quách Tĩnh lắc đầu, nói:

– Cái này hoàn toàn dựa vào nội lực cương mãnh, theo chỗ ta biết, chỉ có hai người.

Hoàng Dung hơi nghiêng đầu, nói:

– Nhưng ân sư Thất Công đã sớm lìa trần, lại không phải chính tướng công ra tay.

Hoàng Dung hỏi kỹ chuyện động thủ ở miếu Dương Thái Phó, thủy chung vẫn chưa đoán ra được.

Chờ khi Quách Phù, Quách Tương về phòng nghỉ ngơi rồi, Hoàng Dung nói:

– Tĩnh ca ca, nhị tiểu thư của chúng ta có tâm sự gì đó giấu chúng ta, tướng công có biết không?

Quách Tĩnh lấy làm lạ, hỏi:

– Giấu cái gì?

Hoàng Dung nói:

– Từ khi lên phương bắc đưa thiếp mời trở về, nó thường thường ngẩn ngơ xuất thần một mình, đêm nay giọng nói của nó lại càng cổ quái.

Quách Tĩnh nói:

– Nó bị kinh sợ một phen, tất nhiên tâm thần hốt hoảng.

Hoàng Dung nói:

– Không phải thế. Nó lúc thì bẽn lẽn ngượng nghịu, lúc thì tủm tỉm cười một mình, trong lòng hẳn có niềm vui không thể thổ lộ.

Quách Tĩnh nói:

– Con bé bỗng dưng được cao nhân ám trợ, cho nên mừng mừng tủi tủi, cũng không có gì lạ.

Hoàng Dung mỉm cười, nói:

– Tâm sự của thiếu nữ, hồi Tĩnh ca ca còn trẻ đã không hiểu, bây giờ sắp già, càng không thể biết đâu.

Hai vợ chồng liền nói sang chuyện khác, bàn một hồi về phương lược bày trận chống địch, cách nghênh tiếp tân khách trong anh hùng đại yến hôm sau, cách bố trí bàn tiệc, rồi mới đi nghỉ.

Hoàng Dung nằm xuống giường, nghĩ đến thần tình của Quách Tương, không thể ngủ được, nghĩ: "Con bé ngay hôm chào đời đã gặp kiếp nạn, mình chỉ lo trong đời nó sẽ khó tránh nhiều thử thách, may sao mười sáu năm qua đều bình yên, không lẽ hôm nay lại sắp có biến cố giáng xuống đầu nó". Lại nghĩ cường địch áp sát thành, đại nạn đe dọa, trăm họ trong thành đứng trước đại họa, nếu có thể biết trước điều gì để đề phòng thì tốt; mà tiểu nữ nhi thì tính nết cổ quái, từ nhỏ có chuyện gì đã không chịu nói, bất kể phụ mẫu dỗ dành trách mắng thế nào, nó cũng chỉ xị mặt, chẳng hé nửa lời, khiến cha mẹ vừa bực bội, vừa tức cười.

Hoàng Dung càng nghĩ càng không yên tâm, bèn khẽ khàng ngồi dậy, đi ra mặt thành, bảo quân sĩ mở cổng thành cho mình ra ngoài, rồi nhắm miếu Dương Thái Phó ở phía nam mà đi.

Lúc này là canh tư, vầng trăng sáng bị mây đen che khuất. Hoàng Dung tay cầm cây đoản côn, thi triển khinh công, chạy đến Hiện Sơn, còn cách miếu Dương Thái Phó vài chục trượng, bỗng nghe cạnh Trụy lệ bi có tiếng người. Hoàng Dung rùn người xuống thấp, lẻn tới gần, cách tấm bia vài trượng, nấp sau một thân cây lớn. Chỉ nghe một người nói:

– Tôn tam ca, ân công dặn chúng mình chờ ở cạnh Trụy lệ bi, tại sao tấm bia này lại mang cái tên chẳng lành chút nào như thế?

Gã họ Tôn nói:

– Ân công bình sinh tựa hồ có một chuyện bất hạnh gì đó, cho nên hễ gặp những cái tên như Đoạn Trường, Ưu Sầu, Trụy Lệ, đều để tâm cả.

Người thứ nhất nói:

– Bản lĩnh như ân công, trong thiên hạ làm gì có chuyện nào khó, vậy mà đệ nhìn ánh mắt của ân công, nghe giọng nói của ân công, hình như có điều gì rất rầu lòng thì phải. Ba chữ Trụy lệ bi, chỉ e do ân công tự đặt ra.

Gã họ Tôn nói:

– Không phải đâu. Ta từng nghe tiên sinh trong tuồng cổ kể rằng thời Tam Quốc, thành Tương Dương thuộc nước Ngụy, tướng trấn thủ Dương Hộ công lao rất lớn, được phong chức Thái Phó, bảo cảnh an dân, ân trạch rất hậu. Thường ngày Dương Hộ thích du ngoạn núi Hiện Sơn này, sau khi qua đời, trăm họ nhớ ơn ông, mới dựng tòa miếu Dương Thái Phó kia, lập bia ghi đức. Trăm họ nhìn thấy tấm bia này, nghĩ đến công ơn bình sinh của ông, lại cất giây lát than khóc, cho nên mới gọi là Trụy lệ bi. Trần lục đệ, một người như Dương Thái Phó, đúng là một đại trượng phu.

Người họ Trần nói:

– Ân công hành hiệp trượng nghĩa, giữa chốn tứ hải ngũ hồ, không biết bao nhiêu người được ân công cứu giúp. Nếu ân công làm quan trấn thủ thành Tương Dương, không chừng còn hơn cả Dương Thái Phó.

Gã họ Tôn nói:

– Quách đại hiệp thành Tương Dương đã bảo cảnh an dân, lại hành hiệp trượng nghĩa, kiêm cái tốt của cả Dương Thái Phó lẫn ân công của chúng ta.

Hoàng Dung nghe họ tán dương chồng mình, không khỏi thầm đắc ý, lại nghĩ: "Không biết ân công của họ là ai? Chẳng lẽ lại chính là người đã ám trợ Quách Tương?" Nghe gã họ Tôn nói:

– Hai chúng ta trước đây chống lại ân công, sau lại được ân công cứu mạng, tấm lòng bao dung của ân công có thua gì Dương Thái Phó. Vị tiên sinh kể chuyện Tam Quốc còn nói, hồi Dương Hộ giữ thành Tương Dương, con trai của đại tướng Đông Ngô là Lục Kháng có chống lại Dương Hộ. Dương Hộ phái binh đến đánh trận trong địa phận của Đông Ngô, nếu cắt lúa của dân chúng làm quân lương, nhất định đều trả tiền cho dân. Lục Kháng bị bệnh, Dương Hộ sai mang thuốc tặng, Lục Kháng uống ngay không chút nghi ngờ. Thuộc hạ khuyên y phải cẩn thận đề phòng, y nói: "Há có ai bằng Dương thúc tử?" Uống thuốc xong quả nhiên đỡ bệnh. Dương thúc tử chính là Dương Hộ. Vì Dương Hộ nhân phẩm cao thượng, nên kẻ địch cũng phải kính nể. Khi Dương Hộ chết, ngay tướng sĩ Đông Ngô ở vùng biên giới cũng thương khóc mấy ngày. Con người đức độ như thế mới đáng mặt anh hùng đó.

Gã họ Trần sờ tấm bia, luôn miệng cảm thán một hồi, rồi nói:

– Ân công bảo chúng ta gặp nhau ở đây, chắc cũng là để ngưỡng mộ Dương Thái Phó chăng?

Gã họ Tôn nói:

– Ta từng nghe ân công bảo Dương Hộ sinh thời có một câu nói rất hợp tâm khảm của ân công.

Gã họ Trần vội hỏi:

– Là câu gì nhỉ, tam ca đừng nói vội, để đệ cố nhớ xem nào. Ngay ân công cũng thán phục, thì câu ấy phải rất hay.

Gã họ Tôn nói:

– Năm Lục Kháng chết, vua Ngô vô đạo, Dương Hộ có dâng sớ rằng thừa dịp này vừa có thể cứu trăm họ Đông Ngô, vừa thống nhất thiên hạ, nhưng bọn gian thần trong triều cản ngăn, nên Dương Hộ có than một câu: "Mười việc trong thiên hạ, thường bảy, tám việc không như ý muốn". Câu mà ân công thích chính là câu đó.

Gã họ Trần không ngờ lại là câu ấy, có vẻ thất vọng, lẩm bẩm gì đó, đột nhiên kêu to:

– Tôn tam ca, Dương Hộ, Dương Hộ, hai tiếng ấy nghe rất gần với tên của ân công..

Gã họ Trần suýt:

– Đừng nói, có người đến.

Hoàng Dung hơi giật mình, quả nhiên nghe có tiếng chân người chạy ở lưng núi, nghĩ: "Tiếng đồng âm với Dương Hộ là Dương Quá, không, không thể là Dương Quá, võ công của Quá nhi dẫu có tiến cảnh, cũng chẳng thể đến mức xuất thần nhập hóa như vậy".

Lát sau, nghe có tiếng vỗ tay khe khẽ ba cái, gã họ Tôn cũng vỗ đáp lại ba cái. Có người chạy đến trước Trụy lệ bi nói:

– Hai vị Tôn, Trần lão đệ, ân công bảo hai vị không phải chờ ân công nữa. Ở đây có hai tấm danh thiếp của ân công, nhờ hai vị lập tức mang đi. Tôn tam đệ mang một tấm đến phủ Tín Dương, Hà Nam cho Triệu lão tước gia, Trần lục đệ mang một tấm đến phủ Thường Đức, Hồ Nam cho Ô Nha sơn Lung Á Đầu Đà, mời hai vị ấy nội nhật mười ngày phải tụ hội ở đây.

Tôn, Trần hai người cung kính đáp ứng, nhận danh thiếp, cất vào túi.

Hoàng Dung nghe vậy vô cùng kinh ngạc, Triệu lão tước gia ở phủ Tín Dương là hậu duệ tôn thất triều Tống, Thái Tổ tam thập tam thế trường quyền và Thập bát lộ tề mi bổng là tuyệt kỹ gia truyền, vốn không giao du với các võ sĩ giang hồ. Ô Nha sơn Lung Á Đầu Đà thì là một cao thủ lừng danh, võ công cao cường, chỉ vì vừa câm vừa điếc, nên cũng không đi lại với người ngoài. Đại hội anh hùng ở thành Tương Dương lần này, Quách Tĩnh và Hoàng Dung biết rõ hai vị đó ẩn cư chốn thâm sơn, sẽ không đi đâu cả, song vẫn gửi anh hùng thiếp mời họ. Quả nhiên hai người ấy khôn khéo chối từ rồi, không lẽ "ân công" lại có uy tín cao tới mức chỉ cần một tờ thiếp mời là có thể khiến hai vị cao nhân ẩn cư thâm sơn nội nhật mười ngày phải đến đây?

Hoàng Dung chợt cảm thấy rất lo ngại: "Đại hội anh hùng ngày mai đã khai mạc, người này chiêu tập cao thủ giang hồ đến thành Tương Dương, là mưu mô gì? Liệu có phải trợ giúp Mông Cổ, bất lợi cho ta chăng?" Nhưng nghĩ Triệu lão tước gia và Lung Á Đầu Đà tuy lánh đời, song không phải hạng gian tà, vị "ân công" đã ám trợ Quách Tương giết Ni Ma Tinh, chính là người đứng về phe ta.

Đang trầm ngâm, nghe ba người kia nói nhỏ với nhau, vì ở xa nên chỉ nghe lõm bõm vài câu:

–.. Ân công chưa từng sai phái bọn ta việc gì, lần này tất là.. cuộc nhiệt náo lớn lắm đây.. thể diện.. lễ vật của bọn ta phải..

Rồi gã họ Tôn nói to:

– Được, chúng ta đi thôi, cứ yên tâm, quyết không làm lỡ việc ân công giao phó.

Đoạn ba người đi nhanh xuống núi.

Về lai lịch của "ân công", Hoàng Dung không dò ra manh mối gì, song cũng không muốn bứt dây động rừng, nên không bắt ba người kia để truy hỏi. Đợi ba người ấy đi xa, Hoàng Dung vào trong miếu, quan sát kỹ một lượt, không thấy có gì lạ, nghĩ rằng vì quân địch đến gần, nên người ở đây đã chạy vào thành cả, không còn ai. Bèn rời miếu về thành, lúc này trời đã rạng sáng.

Gần đến ngã ba bên ngoài cửa Tây, bỗng có hai người phóng ngựa tới, Hoàng Dung vội lánh sang bên nhường đường, thấy ngồi trên mình ngựa là hai hán tử cường tráng. Đến ngã ba, một người quay ngựa chạy về hướng tây bắc, người thứ hai phi về phía tây nam, người này nói với người kia:

– Đệ nhớ dặn Trương Đại Khoa Tử dẫn các đoàn hát xướng ở Hán Khẩu đến cả đấy, nhớ dẫn theo cả thợ khéo chăng đèn kết hoa.

Người kia cười, đáp:

– Huynh khỏi cần dặn đi dặn lại mãi, giả dụ Xuyên Thái đại sư phó đến chậm một ngày, ân công có tha cho huynh, mọi người cũng chẳng tha đâu.

Người nọ nghe cười, nói:

– Chứ sao, chậm một ngày, đầu ta khó còn trên cổ đấy.

Họ ôm quyền từ biệt, đi về hai hướng khác nhau.

Hoàng Dung thong thả về thành, trong bụng càng phân vân: "Nghe đồn Trương Đại Khoa Tử làm bá chủ ở Hán Khẩu, kết giao với quan phủ, các hào khách sơn trại quanh vùng đều lấy lòng y, làm sao" ân công "chỉ nói một câu đã có thể gọi y tới? Bọn họ hư trương thanh thế rốt cuộc để làm gì?" Đột nhiên nghĩ ra, thốt lên:

– Đúng rồi, đúng rồi! Ắt là như vậy!

Hoàng Dung về phủ, nói với Quách Tĩnh:

– Tĩnh ca ca, chúng ta đã quên mời người rồi.

Quách Tĩnh ngạc nhiên:

– Chúng ta đã điểm đi điểm lại, không bỏ sót ai cả.

Hoàng Dung nói:

– Thiếp cũng tưởng thế, chúng ta sợ đắc tội với các vị hảo hán, nên tuy biết mười mấy vị danh vọng không lớn, cũng không chịu đi, song ta vẫn gửi thiếp mời. Nhưng hôm nay thiếp mới biết có một đại nhân vật không hài lòng, cũng định mở anh hùng đại yến trong thành Tương Dương để đua tranh với chúng ta.

Quách Tĩnh vui vẻ nói:

– Vị anh hùng ấy có cùng chí hướng với chúng ta, thế thì còn gì bằng. Chúng ta cứ việc bầu vị đó làm minh chủ suất lĩnh quần hùng, chung sức chống Mông Cổ, vợ chồng mình nghe theo hiệu lệnh của vị đó là xong.

Hoàng Dung hơi cau mày, nói:

– Nhưng xem ra hành động của người ấy lại không phải đến để chung sức chống ngoại xâm. Hắn gửi danh thiếp đi mời nhưng người như Triệu lão tước gia ở Tín Dương, Ô Nha sơn Lung Á Đầu Đà, Trương Đại Khoa Tử ở Hán Khẩu cùng tới.

Quách Tĩnh vừa kinh ngạc vừa vui mừng, vỗ bàn đứng dậy, nói:

– Người ấy nếu có thể mời được các vị cao nhân Triệu lão tước gia, Lung Á Đầu Đà đến đây thì thanh thế thành Tương Dương đại tráng. Hoàng Dung, với các nhân vật đó, chúng ta phải kết giao mới được.

Hoàng Dung trầm ngâm không nói, đệ tử tri tân (tiếp khách) vào báo có các trại chủ Giang Nam Thái Hồ đến. Quách Tĩnh, Hoàng Dung liền ra đón. Ngày hôm nay các lộ hào kiệt lũ lượt kéo đến, Hoàng Dung bận tiếp khách túi bụi, không còn lúc nào để nghĩ đến nhưng gì nhìn và nghe thấy đêm qua.

Hôm sau chính là ngày khai mạc anh hùng đại yến, An phủ sứ Lã Văn Đức thống suất ba quân, cùng đại tướng giữ thành Vương Kiên bày bốn trăm bàn tiệc thết đãi các lộ anh hùng. Trong bữa tiệc, mọi người nói đến sự bạo tàn của quân Mông Cổ sát hại bách tính, chiếm đoạt giang sơn Đại Tống, ai cũng căm phẫn, quyết ý chống địch. Ngay tối hôm ấy mọi người cử Quách Tĩnh làm minh chủ hội minh, uống máu ăn thề quyết tử chiến với địch. Quách Tương hôm xảy ra biến cố ở miếu Dương Thái Phó, có nói với tỷ tỷ sẽ không tham dự anh hùng đại yến, quả nhiên tối nay giận dỗi ngồi uống rượu một mình trong phòng, nói với a hoàn hầu hạ nàng:

– Đại tỷ đi dự anh hùng đại yến, ta ở đây khoan khoái uống rượu, vui có kém gì đâu.

Quách Tĩnh, Hoàng Dung mải lo đại kế chống địch, lúc này đâu còn bụng dạ nào nghĩ đến tâm trạng của tiểu nữ nhi? Quách Tĩnh không biết đã đành, Hoàng Dung cũng hỏi qua đến, nhưng biết tính con bé cổ quái cũng chỉ cười cho qua.

Chúng anh hùng mười người thì tám, chín tửu lượng rất cao, lúc chếnh choáng rồi, hứng thú nổi lên, có người hiển thị công phu ngay tại bàn tiệc, mọi người cùng cười vui vẻ. Hoàng Dung cuối cùng nhớ đến tiểu nữ nhi, bảo Quách Phù:

– Ngươi hãy đi gọi muội tử đến xem nhiệt náo, cảnh tượng đông đảo thế này, cả đời vị tất được thấy một lần.

Quách Phù nói:

– Hài nhi không đi đâu. Nhị tiểu thư đang giận dỗi, muốn trút giận sang hài nhi, hài nhi mà đi gọi, nó càng không chịu đâu.

Quách Phá Lỗ nói:

– Để con đi rủ nhị tỷ cho.

Liền rời bàn, đi vào nội thất.

Lát sau, Quách Phá Lỗ một mình trở ra, chưa kịp mở miệng, Quách Phù đã nói:

– Tỷ bảo nó không chịu đi đâu, đệ thấy có đúng thế không?

Hoàng Dung thấy sắc mặt Quách Phá Lỗ đầy vẻ kinh dị, bèn hỏi:

– Nhị tỷ bảo sao?

Quách Phá Lỗ đáp:

– Nhị tỷ bảo rằng đang bày anh hùng tiểu yến trong phòng, không đến dự anh hùng đại yến..

Hoàng Dung mỉm cười, nói:

– Nhị tỷ của ngươi nghĩ ra trò quái dị, thì cứ mặc nó.

Quách Phá Lỗ nói:

– Nhị tỷ có khách thật, những năm nam hai nữ, đang ngồi uống rượu trong phòng của nhị tỷ.

Hoàng Dung cau mày, nghĩ bụng nữ hài nhi này càng ngày càng vô pháp vô thiên, tại sao lại đi mời đại nam nhân vào khuê phòng cô nương gia mà uống rượu kia chứ? Thật đúng với biệt hiệu "Tiểu Đông Tà"; nhưng bữa nay khách khứa đông đủ, không thể trách phạt nữ nhi, làm cho chúng anh hùng mất hào hứng, bèn nói với Quách Phù:

– Huynh đệ của ngươi còn non nớt, không biết ứng phó với khách lạ, ngươi hãy vào đó mời các bằng hữu của muội tử cùng ra đại sảnh uống rượu vui chung với mọi người.

Quách Phù nổi lòng hiếu kỳ, muốn biết khách khứa trong phòng muội tử là ai, vốn biết muội tử không hiềm nam nữ thụ thụ bất thân, hạng người nào ngoài phố chợ nó cũng có thể kết giao; nhưng hôm nay chắc chắn không phải hạng khách tầm thường, nghe mẫu thân phân phó, liền đứng dậy đi về phía buồng của Quách Tương.

Cách cửa buồng vài trượng, nghe tiếng Quách Tương nói:

– Tiểu bổng đầu, gọi nhà bếp mang hai vò rượu lớn đến đây.

"Tiểu bổng đầu" là a hoàn, đối với a hoàn, Quách Tương cũng đặt cho những cái tên khác thường. A hoàn vâng dạ, lại nghe Quách Tương nói:

– Bảo nhà bếp nướng thêm hai cái đùi cừu, thái thêm hai chục cân thịt bò chín mang lên đây.

"Tiểu bổng đầu" vâng lệnh đi ra. Nghe một giọng nói ồm ồm trong buồng:

– Quách nhị tiểu thư thật là hào sảng, tiếc rằng Nhân Úy Tử ta trước đây không biết, nếu không đã kết bạn với tiểu thư từ sớm.

Quách Tương cười, đáp:

– Bây giờ kết bạn cũng chưa muộn.

Quách Phù cau mày, nhìn qua khe cửa sổ vào phòng, thấy trong khuê phòng của muội tử kê một chiếc bàn thấp, bên trên ngổn ngang bát đũa. Tám người ngồi quanh bàn vui vẻ uống rượu với nhau. Một người ngồi ngoảnh mặt ra, đầu to trán rộng, trước ngực lộ ra một đám lông đen dài. Bên trái người ấy là một văn sĩ, râu dài ba chòm, y phục ngay ngắn, tay phe phẩy cái quạt gấp, trông rất nho nhã, trên mặt cái quạt vẽ hình con quỉ Vô Thường thè lưỡi rất dài. Bên trái văn sĩ là một nữ nhân trạc bốn mươi tuổi, ngũ quan rất thanh tú, nhưng mặt đầy vết sẹo đao kiếm, tối thiểu phải mười vết. Ngồi nghiêng là một đầu đà cao gầy, cái mũ màu vàng lóng lánh phát quang, miệng đang gặm một cái đùi gà rất ngon lành. Ba người còn lại lưng quay ra cửa sổ, không nhìn thấy diện mạo, chỉ biết hai người là bạch phát lão ông, một người là hắc y ni cô. Quách Tương ngồi giữa đám người kia, mặt hơi đỏ, rõ ràng đã chếnh choáng say, cười nói thập phần đắc ý. Quách Phù nghĩ: "Bọn họ đang cao hứng thế này, có mời ra đại sảnh, họ cũng chẳng chịu".

Chỉ thấy bạch phát lão ông đứng lên, nói:

– Cơm rượu hôm nay kể đã vừa bụng, đợi đến hôm sinh nhật của cô nương, bọn ta lại tới say sưa một buổi. Tiểu lão nhi có chút quà mọn, mong cô nương đừng chê cười.

Lão lấy trong bọc ra một cái hộp, đặt lên bàn.

Bạch phát lão ông kia nói:

– Bách Thảo Tiên, lão huynh tặng món gì, cho ta xem một chút.

Nói đoạn mở nắp hộp, reo lên:

– A, tuyết sâm ngàn năm, lão huynh tìm đâu ra thế?

Nói rồi nhấc củ sâm ra khỏi hộp.

Quách Phù nhìn qua khe cửa, thấy củ sâm trắng, dài một thước, hình dạng như một đứa bé, có đủ đầu, mình, chân tay, màu trắng nhưng có ánh huyết hồng, quả là củ sâm quí hiếm trên thế gian. Mọi người trầm trồ, Bách Thảo Tiên hết sức đắc ý nói:

– Củ sâm ngàn năm này chữa được bệnh nan y, giải mọi thứ độc, gọi là có công hiệu cải tử hoàn sinh. Cô nương vô tai vô nạn, sống đến trăm tuổi, vốn không cần đến nó. Nhưng đến ngày mừng thọ trăm tuổi, cô nương đem uống, sẽ sống thêm một thế kỷ nữa thì càng hay.

Mọi người vỗ tay cười, khen Bách Thảo Tiên nói khéo.

Gã đầu to trán rộng Nhân Úy Tử lấy trong bọc ra một cái hộp sắt, cười, nói:

– Có một thứ đồ chơi, có thể mua vui cho cô nương.

Gã mở hộp, lấy ra hai gã hòa thượng đúc bằng sắt dài chừng bảy tấc, có chốt và dây cót bên trong, mở chốt và lên dây cót một cái, hai hòa thượng liền đấm đá nhau; ai nấy thấy vậy cùng cười phá lên. Chỉ thấy quyền cước của hai hòa thượng tí hon kia rất có pháp độ, rõ ràng là một pho Thiếu Lâm La Hán quyền, đấu hơn mười chiêu, dây cót hết đà, hai hòa thượng mới dừng lại ở tư thế đúng như phong cách cao thủ võ lâm.

Mọi người nhìn đến đây thì không cười nữa, sắc mặt có vẻ lo lắng. Nữ nhân có nhiều vết sẹo trên mặt nói:

– Nhân Úy Tử, huynh chớ có tranh hơn thua mà gây phiền phức cho Quách nhị cô nương! Đôi thiết La Hán này của Thiếu Lâm tự Tung Sơn, huynh làm sao lấy trộm được vậy?

Nhân Úy Tử cười, nói:

– Hì hì, Nhân Úy Tử ta dẫu gan to bằng trời, cũng không dám lấy trộm thứ gì của Thiếu Lâm tự. Món quà này là thủ tọa La Hán đường Thiếu Lâm tự Vô Sắc thiền sư sai ta mang đến. Thiền sư bảo rằng hôm sinh nhật, Người sẽ thân chinh đến thành Tương Dương chúc mừng Quách cô nương. Còn đây là chút quà mọn của Nhân Úy Tử ta.

Nói rồi mở nắp bên cạnh của chiếc hộp, lộ ra một cái vòng đeo tay bằng ngọc đen. Cái vòng đeo tay bằng ngọc đen thoạt trông không có gì lạ, Nhân Úy Tử rút từ thắt lưng ra một cái quỉ đầu đao lưỡi mỏng sống dày, nhắm cái vòng đeo tay chém mạnh xuống một cái. "Tâng" một tiếng, lưỡi đao bật nảy lên, cái vòng ngọc không suy suyển chút nào. Mọi người cùng trầm trồ. Tiếp đó, văn sĩ, ni cô, đầu đà, nữ nhân mỗi người đều đưa quà tặng Quách Tương, toàn là những vật quí hiếm thấy. Quách Tương cười nhận và cảm tạ.

Quách Phù càng nhìn càng lấy làm lạ, bèn chạy trở ra đại sảnh, kể lại tỉ mỉ với mẫu thân.

Hoàng Dung nghe còn kinh ngạc hơn cả Quách Phù, liền vẫy vẫy tay cho Chu Tử Liễu, ba người cùng lui vào nội đường. Hoàng Dung bảo Quách Phù kể lại chuyện vừa nói một lần nữa, Chu Tử Liễu cũng kinh ngạc vạn phần, nói:

– Nhân Úy Tử, Bách Thảo Tiên cuối cùng cũng đến thành Tương Dương ư? Hắc y ni cô chắc là Tuyệt hộ thủ Thánh Nhân sư thái giết người không chớp mắt; cái quạt của gã văn sĩ vẽ quỉ Vô Thường, ồ, không lẽ là Chuyển luân vương Trương Nhất Manh?

Nghe Chu Tử Liễu nói, Hoàng Dung gật gật đầu.

Chu Tử Liễu thì cứ lắc đầu, nói:

– Chuyện thật khó tin, lạ thật, Quách nhị cô nương còn rất ít tuổi, trừ lần gần đây, chưa khi nào rời khỏi thành Tương Dương vài chục dặm, làm sao có thể kết giao với các quái nhân vùng xa xôi kia chứ. Hơn nữa, Tung Sơn Thiếu Lâm tự Vô Sắc thiền sư nghe đồn mấy năm nay chuyên tâm ngồi tu vi một chỗ, các cao nhân võ lâm lặn lội lên núi xin yết kiến, thiền sư còn chẳng tiếp, đâu dễ gì lại đến thành Tương Dương chúc mừng một tiểu nữ hài? Ôi dào, nhất định tiểu cô nương sai mấy kẻ hiếu sự bày trò hư trương thanh thế để trêu tức tỷ tỷ đó thôi.

Hoàng Dung trầm ngâm, nói:

– Nhưng mấy nhân vật như Trương Nhất Manh, Thánh Nhân sư thái, bình thời chúng tôi hầu như không nhắc đến, Tương nhi không thể biết, muốn bịa ra cũng không được.

Chu Tử Liễu nói:

– Thế thì là chuyện có thật rồi. Chúng ta hãy tới đó xem, dùng lễ đón tiếp. Họ đã là bằng hữu của nhị cô nương, thì họ đến thành Tương Dương hoàn toàn không có ác ý gì.

Hoàng Dung nói:

– Muội cũng nghĩ thế. Nhưng mấy vị như Trương Nhất Manh, Thánh Nhân sư thái, hành sự lúc chính lúc tà, hỉ nộ khôn lường. Chúng ta tuy không sợ họ, nhưng dính với họ rất dễ nhức đầu, hiện thời đại địch áp cảnh, thật không thể phân tâm đối phó với mấy quái nhân ấy..

Đột nhiên ngoài song có tiếng cười hô hô, nói:

– Quách phu nhân, bọn quái nhân đến thành Tương Dương là để chúc mừng sinh nhật, không có ác ý, hà tất phải nhức đầu?

Nói câu "không có ác ý, hà tất phải nhức đầu?" thì giọng nói đã cách xa mấy trượng, Hoàng Dung, Chu Tử Liễu, Quách Phù cùng chạy ra cửa sổ, chỉ thấy có bóng đen vượt tường, thân pháp cực kỳ lanh lẹ, thoáng cái đã mất hút. Quách Phù định đuổi theo, nhưng Hoàng Dung níu lại, nói:

– Đừng khinh cử vọng động, đuổi chẳng kịp đâu.

Ngẩng đầu lên, thấy trên cây ngân hạnh ngoài sân có gài một cái quạt giấy màu trắng.

Cái quạt giấy cách mặt đất hơn bốn trượng, Quách Phù tự biết mình không thể nhảy lên nổi, bèn gọi:

– Mẹ!

Hoàng Dung gật đầu, khẽ nhún người tung mình lên, tay trái chạm nhẹ vào thân cây, mượn thế bay lên, tay phải lại chạm vào một cành ngang, thân hình đã vọt lên cao bốn trượng, gỡ cái quạt giấy, nhẹ nhàng đáp xuống đất.

Ba người cùng vào nhà, xem dưới đèn, thấy trên mặt cái quạt giấy vẽ con quỉ Vô Thường lè lưỡi, cười cười dễ thân, hai tay ôm quyền thi lễ, cạnh đó có hàng chữ lớn: "Cung chúc Quách nhị cô nương tuổi hoa kéo dài trăm năm", mặt bên kia viết "Hắc y ni Thánh Nhân, Bách Thảo Tiên, Nhân Úy Tử, Cửu Tử Sinh, Cẩu nhục đầu đà, Trương Nhất Manh, Hàn Vô Cấu bái thượng Quách đại hiệp, Quách phu nhân; nhân dịp sinh nhật lệnh ái, mạo muội không dám vào thăm, xin được lượng thứ!" Hai hàng chữ viết bằng mực đen, nét bút phóng khoáng, mạnh mẽ.

Chu Tử Liễu là danh gia thư pháp, khen:

– Chữ đẹp, chữ đẹp!

Hoàng Dung trầm ngâm, nói:

– Chúng ta vào xem Tương nhi thế nào.

Chu Tử Liễu đã nhiều tuổi, không ngại việc vào khuê phòng của tiểu nữ hài, thế là cùng đi vào buồng của Quách Tương. Chỉ thấy tiểu bổng đầu và một a hoàn khác đang thu dọn bàn ăn. Quách Tương nói:

– Chu bá bá, má má, tỷ tỷ, mời các vị xem mấy món quà sinh nhật người ta tặng này.

Hoàng Dung và Chu Tử Liễu xem củ sâm ngàn năm, đôi thiết La Hán, cái vòng đeo tay bằng huyền ngọc cùng các món quà quí hiếm mà bọn Thánh Nhân sư thái, Trương Nhất Manh đem tặng, đều thầm lấy làm lạ. Quách Tương lên dây cót, cho đôi thiết La Hán đánh nhau rất thích thú. Hoàng Dung đợi đôi thiết La Hán đấu xong mười mấy chiêu "La Hán quyền", mới dịu dàng bảo Quách Tương:

– Tương nhi, rốt cuộc có chuyện gì, hãy kể cho mẹ nghe nào.

Quách Tương cười, nói:

– Mấy vị bằng hữu biết sắp đến ngày sinh nhật của hài nhi, nên mang vài món đồ chơi cho hài nhi thôi mà.

Hoàng Dung hỏi:

– Mấy vị ấy, làm sao con quen họ?

Quách Tương nói:

– Hôm nay là ngày đầu tiên hài nhi gặp họ. Hài nhi đang ngồi uống rượu một mình trong buồng, thì Hàn Vô Cấu tỷ tỷ ở ngoài song nói: "Tiểu muội tử, bọn ta vào uống rượu chơi với muội có được không?" Hài nhi nói: "Còn gì hay bằng, mời vào, mời vào?" Họ liền nhảy vào, bảo đến ngày hai mươi bốn này, sẽ cùng đến chúc mừng hài nhi. Không biết tại sao họ lại biết ngày sinh nhật của hài nhi? Mẹ, mấy người ấy đều quen biết mẹ và gia gia phải không? Nếu không, sao tự dưng họ lại tặng con nhiều món quà quý như thế?

Hoàng Dung nói:

– Cha mẹ đều không quen biết họ. Chắc có vị bằng hữu cổ quái nào đấy của con lo hộ cho con phải không?

Quách Tương cười, nói:

– Hài nhi không có bằng hữu cổ quái nào đâu, trừ phi là tỷ phu.

Quách Phù tức giận, nói:

– Nói bậy! Tỷ phu của ngươi sao lại cổ quái?

Quách Tương lè lưỡi, cười, nói:

– Tỷ phu lấy tỷ tỷ, không cổ quái cũng sẽ hóa thành cổ quái.

Quách Phù giơ tay định đánh, Quách Tương cười khanh khách, chạy trốn.

Hoàng Dung nói:

– Tỷ muội hai đứa ngươi đừng làm ồn nào! Tương nhi, ta hỏi con, Chuyển Luân Vương, Bách Thảo Tiên có đến dự anh hùng đại yến hay không?

Quách Tương đáp:

– Không hề. Nhưng lão nhân Cửu Tử Sinh và Bách Thảo Tiên đều bảo rất khâm phục gia gia.

Hoàng Dung hỏi thêm vài câu, thấy Quách Tương không còn giấu điều gì, nói:

– Thôi được, con hãy đi ngủ đi!

Rồi cùng Chu Tử Liễu, Quách Phù ra khỏi phòng.

Quách Tương theo ra cửa, nói:

– Mẹ ơi, củ sâm ngàn năm chắc tốt lắm đấy, mẹ hãy ăn một nửa, gia gia ăn một nửa.

Hoàng Dung nói:

– Đấy là quà sinh nhật của Bách Thảo Tiên tặng cho con kia mà.

Quách Tương nói:

– Nhưng hài nhi chưa có công cán gì, trong khi mẹ quá vất vả.

Hoàng Dung nghĩ không nên phụ tấm lòng của đứa con hiếu đễ, liền nhận củ sâm, nhớ lại mối hung hiểm hôm Quách Tương chào đời, không khỏi bồi hồi.

Đêm ấy anh hùng đại yến vui vẻ kết thúc. Quách Tĩnh trở về phòng, trò chuyện với thê tử về sự đồng tâm hiệp lực chống địch ở đại hội, lời lẽ đầy hưng phấn. Hoàng Dung kể lại chuyện Thánh Nhân sư thái, Bách Thảo Tiên bảy người đối ẩm với Quách Tương ra sao. Quách Tĩnh kinh ngạc, nói:

– Lại có chuyện như vậy ư?

Nhìn củ sâm ngàn năm, quả nhiên là thứ lần đầu tiên gặp trong đời. Hoàng Dung cười, nói:

– Danh vọng của bảo bối tiểu cô nương nhà ta có khi còn cao hơn cả cha mẹ nó đấy.

Quách Tĩnh im lặng, cúi đầu ngẫm nghĩ về lối hành sự của bọn Thánh Nhân sư thái, Bách Thảo Tiên, Trương Nhất Manh, Hàn Vô Cấu..

Hoàng Dung nói:

– Tĩnh ca ca, việc chọn bang chủ Cái Bang, chi bằng làm sớm trước vài hôm, để đến ngày sinh nhật của Quách Tương, bọn Bách Thảo Tiên kéo tới thật, trong thành Tương Dương rồng rắn hỗn tạp, e rằng có biến.

Quách Tnh nói:

– Ta lại nghĩ khác. Chúng ta cứ để đến ngày hai mươi tư tháng Mười hãy chọn bang chủ cho thêm phần náo nhiệt. Nếu Vô Sắc thiền sư, Lung Á Đầu Đà giá lâm, chúng ta dùng đại nghĩa mời họ chung sức kháng địch, chẳng hay lắm sao?

Hoàng Dung cau mày, nói:

– Thiếp chỉ sợ bọn họ mượn cớ chúc mừng sinh nhật đến gây rối loạn. Tướng công cho rằng họ có giao tình với Tương nhi mà đến mừng sinh nhật thật sao? Xưa nay cây cao ngại gió lớn, người sợ lừng danh, chỉ e võ sĩ thiên hạ có đến một nửa không muốn tướng công làm minh chủ võ lâm đấy.

Quách Tĩnh đứng dậy, cười ha hả, nói:

– Dung nhi, chúng ta hành sự chỉ cần không thẹn với trời, không thẹn với lòng. Để chống Mông Cổ, trợ thủ càng nhiều càng tốt. Chức minh chủ võ lâm, ai làm cũng vậy. Hơn nữa, tà không thể thắng chính, bọn người ấy nếu quả có ý xấu, chúng ta sẽ đấu với họ một phen, môn Đả cẩu bổng pháp của nàng và Hàng long thập bát chưởng của ta mười mấy năm nay chưa dùng đến, vị tất đã không xử lý được!

Hoàng Dung thấy chồng hào khí không kém gì thời trai trẻ thì cười, nói:

– Được, vậy xin tuân lệnh chủ soái. Tướng công hãy dùng củ sâm ngàn năm này đi, thiếp nghĩ nó đáng giá công lực dăm ba năm đó.

Quách Tĩnh nói:

– Không, nàng sinh liền ba hài tử, nội lực không tránh khỏi bị tổn thương, cần được bổ dưỡng mới đúng.

Phu thê ân ái giữa hai người sau mấy chục năm vẫn như ngày nào, đôi bên cứ nhường nhau hồi lâu, cuối cùng Quách Tĩnh nói:

– Sắp tới long tranh hổ đấu, nhất định có hảo bằng hữu bị thương, củ sâm ngàn năm là vật cứu mạng, chúng ta để dành cho họ vậy.

Comments

Comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 36: Quà Mừng Sinh Nhật

Hôm sau anh hùng đại yến tiếp tục. Quách Tương lại bày anh hùng tiểu yến ở phòng mình. Hoàng Dung dặn trước nhà bếp chuẩn bị chu đáo các món ăn cho tiểu nữ nhi đãi khách. Quách Phù mấy ngày nay toàn nghĩ đến việc trượng phu liệu có thể giành chức bang chủ Cái Bang, nên cũng không còn bụng dạ nào để ý đến đám quái khách của muội tử.

Cứ thế mấy hôm, tại anh hùng đại yến mọi người đã bàn bạc ổn thỏa với nhau về cách thức liên lạc các lộ hào kiệt, cách gây rối hậu quân Mông Cổ, cách hiệp trợ giữ thành. Quần hào sẵn sàng, chỉ chờ quân địch tới là đánh. Quách Tĩnh thấy quần hào đồng tâm, tuy mừng, nhưng từng ở lâu trong quân ngũ Mông Cổ, biết binh thế đại quân Mông Cổ hùng cường, vài ngàn hảo hán giang hồ quyết không thể địch nổi, nên trong lòng không khỏi lo lắng.

Hôm nay hai mươi bốn tháng Mười, anh hùng đại yến đã chấm dứt, buổi chiều sẽ tiến hành bầu chọn bang chủ Cái Bang. Quần hào dùng xong bữa trưa, lũ lượt kéo nhau ra bãi rộng phía tây thành Tương Dương, thấy ở đó đã dựng lên một đài cao, phía nam kê hàng ngàn chiếc ghế.

Lúc này cạnh đài tụ tập hơn hai ngàn bang chúng Cái Bang, toàn là những nhân vật từng trải, võ nghệ siêu quần, phẩm cấp thấp nhất cũng là đệ tử bốn túi. Hơn hai ngàn bang chúng chia ra bốn lộ, do bốn vị trưởng lão thống suất. Cái Bang vốn có bốn vị trưởng lão Lỗ, Giản, Lương, Bành. Lỗ Hữu Cước sau khi thăng nhiệm bang chủ, vừa qua bị giết hại. Bành trưởng lão phản bang, đã bị Từ Ân giết chết. Giản trưởng lão chết bệnh, hiện chỉ còn Lương trưởng lão đang đứng đầu bốn vị trưởng lão, trong đó có ba vị trưởng lão mới từ đệ tử tám túi thăng nhiệm. Bang chúng căn cứ các lộ châu huyện, ngồi bốn phía đông nam tây bắc xung quanh đài cao. Qui củ tổ truyền của Cái Bang, bất luận đại hội lớn nhỏ, mọi người đều ngồi dưới đất, không để mất bản sắc Cái Bang.

Bang chúng lo việc tiếp khách mời quần hào vào các dãy ghế xem lễ. Vợ chồng Gia Luật Tề, Quách Phù; vợ chồng Võ Đôn Nhu, Gia Luật Yến; vợ chồng Võ Tu Văn, Hoàn Nhan Bình vì là hàng tiểu bối, lại có thân phận nửa chủ nửa khách, nên ngồi ở dãy ghế cuối cùng; họ đã khổ luyện hơn mười năm, đều tự cảm thấy võ công có tiến cảnh đáng kể, thầm tính cách hiển lộ thân thủ trước mặt mấy ngàn vị anh hùng.

Quách Phá Lỗ ngồi cạnh đại tỷ, nhìn quần hùng thanh thế phi phàm, trong lòng rất vui, nói:

– Nhị tỷ lạ thật, cảnh nhiệt náo thế này mà lại không đến xem.

Quách Phù bĩu môi, nói:

– Tiểu Đông Tà lắm trò quái quỉ, không ai đoán biết trước đâu.

Chỉ thấy trong đám đệ tử Cái Bang ở mé đông có một đệ tử tám túi đứng lên, đưa vỏ một con ốc biển cực lớn lên môi, thổi một hồi. Hoàng Dung bước lên đài cao, thi lễ với quần hùng bên dưới, sang sảng nói:

– Đại hội hôm nay của tệ bang, được các lộ anh hùng tiền bối và hào kiệt thiếu niên tới dự, mọi người trong tệ bang đều cảm thấy vô cùng vinh hạnh, tiểu muội xin cảm tạ trước.

Đoạn cúi mình thi lễ. Quần hùng dưới đài nhất tề đứng dậy đáp lễ.

Hoàng Dung lại nói:

– Lỗ cố bang chủ của tệ bang nhân hậu trượng nghĩa, một đời vì nước vì dân, tân cần lao khổ, không may hôm rồi bị gian nhân Hoắc Đô hãm hại tại miếu Dương Thái Phó núi Hiện Sơn. Mối thù này chưa báo là vết kỳ sỉ đại nhục của tệ bang..

Nói đến đây, bang chúng Cái Bang nghĩ đến Lỗ Hữu Cước một đời công bằng chính trực, nhân hậu khiêm nhường, có người nghẹn ngào, có người khóc nấc lên, có người nghiến răng căm hờn, nguyền rủa tên gian tặc Hoắc Đô.

Hoàng Dung nói tiếp:

– Nhưng đại quân Mông Cổ xâm phạm thành Tương Dương, đang hùng hổ kéo tới, chúng tôi không thể vì chuyện riêng tư của tệ bang mà để lỡ đại sự quốc gia, nên việc báo thù của bổn bang tạm gác lại, chờ đánh lui cường địch sẽ xử lý sau.

Quần hào bên dưới lớn tiếng khen phải, đều nói chuyện công trước, chuyện tư sau, mới đúng là cách hành xử của anh hùng hào kiệt.

Hoàng Dung nói tiếp:

– Có điều là đệ tử tệ bang mười mấy vạn người rải khắp thiên hạ, cần tiến cử một vị bang chủ mới. Hôm nay chúng ta cần tiến cử một vị anh hùng đức tài kiêm bị, văn võ song toàn làm bang chủ Cái Bang. Về việc tiến cử như thế nào, tiểu muội hoàn toàn không có thành kiến, xin mời Lương trưởng lão thượng đài.

Lương trưởng lão nhảy lên đài cao, mọi người thấy lão tóc bạc như cước, song lưng thẳng, thần thái tinh anh, cú nhảy thượng đài uyển chuyển lộ rõ công phu, thì ai nấy hò reo. Nơi đây tụ tập bốn năm ngàn người, ai nấy trung khí sung mãn, tiếng hò reo nghe vang như tiếng sấm.

Lương trưởng lão ôm quyền đáp tạ, đợi bang chúng thôi hò reo, mới nói lớn:

– Hoàng tiền bang chủ thần cơ diệu toán, nói đâu trúng đó, lần nào cũng đúng. Nhưng Hoàng tiền bang chủ khách khí, cứ muốn để bốn vị trưởng lão chúng tôi cùng tám đệ tử tám túi thương lượng quyết định. Mười hai gã thợ giày thối chúng tôi thương lượng chán chê, đã nghĩ ra một cách.

Nhất thời bên dưới im phăng phắc, nghe lời tuyên bố. Lương trưởng lão nói:

– Chúng tôi thiết nghĩ, đệ tử Cái Bang rải khắp thiên hạ, tuy đều bản lĩnh kém cỏi, không thể làm nên chuyện lớn, song nhân số lại không ít. Muốn thống lĩnh mấy chục vạn nhân mã, như Hoàng tiền bang chủ vừa nói, phải có đức tài kiêm bị, văn võ song toàn. Cái Bang chúng ta tuy không thể nói nhân tài điêu linh, nhưng muốn có nhân vật hiếm gặp trăm năm như Hồng lão bang chủ, Hoàng tiền bang chủ, thì thật không dễ chút nào; thậm chí có nhân phẩm mọi người mến phục như Lỗ cố bang chủ, cũng tìm không ra. Chúng tôi nghĩ đi nghĩ lại, chỉ có cách mời Hoàng tiền bang chủ miễn cưỡng trở lại thống suất mấy chục vạn đệ tử.

Lương trưởng lão nói đến đây, bên dưới tiếng lại nổi lên như sấm, mạnh hơn lúc trước. Ai nấy đều nghĩ: "Đừng nói trong Cái Bang không có nhân tài như Hoàng Dung, chỉ e khắp thiên hạ cũng không tìm ra được người thứ hai".

Lương trưởng lão đợi mọi người im lặng, nói tiếp:

– Hoàng tiền bang chủ dẫu không đáp ứng, chúng tôi sẽ khổ cầu kỳ được, ngặt nỗi trước mắt còn có một việc cực khó. Đại quân Mông Cổ lần này từ hai phía nam bắc hợp vây thành Tương Dương, tình thế thật nguy ngập. Hoàng tiền bang chủ cần toàn thần phò tá Quách đại hiệp mưu tính đại kế chống địch, là việc hệ trọng số một. Nếu chúng ta cứ liên tục đem việc nhỏ của bầy khiếu hóa nhi làm phiền Hoàng tiền bang chủ, thì trăm họ trong thiên hạ sẽ nguyền rủa bọn khiếu hóa thối tha chúng ta. Vì thế, suy đi tính lại, chỉ còn cách chúng ta phải tuyển chọn một vị bang chủ mới xong.

Những lời này, chỉ thấy người bên dưới gật gật đầu đều nghĩ: "Cái Bang hành sự luôn luôn lo việc công trước việc tư sau, chẳng trách mấy trăm năm nay thủy chung vẫn là đệ nhất đại bang trên giang hồ".

Lương trưởng lão nói tiếp:

– Trong bổn bang đã không có nhân tài kiệt xuất, Hoàng tiền bang chủ lại không thể phân tâm, thì rõ ràng chỉ còn một con đường là mời một vị anh hùng ở ngoài bang làm bang chủ thống suất mấy chục vạn đệ tử bổn bang. Thiết nghĩ đại hội Quân Sơn của bổn bang năm xưa tuyển chọn bang chủ, cuối cùng cử ra Hoàng tiền bang chủ, bấy giờ Hoàng tiền bang chủ cũng không phải là đệ tử Cái Bang. Chẳng giấu gì các vị, bấy giờ huynh đệ không phục chút nào, còn động thủ quá chiêu với Hoàng tiền bang chủ, kết quả ra sao? Ha ha, khỏi cần nói nhiều, tóm lại là phục sát đất, tâm phục khẩu phục. Sau khi Hoàng tiền bang chủ trở thành bang chủ, tệ bang trở nên hưng vượng, phất lên như diều gặp gió. Tại đại hội Quân Sơn, Hoàng tiền bang chủ chỉ là một tiểu cô nương mới mười mấy tuổi, song cây gậy trúc của nàng làm cho bốn vị trưởng lão phải khâm phục là một vị anh hùng thật sự.

Mọi người nghe vậy cùng nhìn Hoàng Dung. Trong số đệ tử Cái Bang, những người lớn tuổi đều từng tham dự kỳ đại hội đó, nhớ lại tình cảnh đương thời, hào khí lại dâng lên.

Lương trưởng lão nói tiếp:

– Hôm nay ngồi đây, toàn là các vị hảo hán nổi danh trên giang hồ, vị nào muốn làm bang chủ tệ bang, chúng tôi đều hoan hỉ. Có điều anh hùng hảo hán quá đông, thật khó tuyển chọn. Mười hai gã thợ giày thối chúng tôi bèn nghĩ ra một cách, mời các vị anh hùng thượng đài hiển lộ thân thủ, ai mạnh ai yếu mọi người đều cùng mục kích.

Lương trưởng lão nói đến đây, tiếng reo hò nổi lên tứ phía.

Lương trưởng lão nói tiếp:

– Bất quá huynh đệ có một câu nói rõ từ trước, cuộc tỷ võ hôm nay, mỗi người chỉ đánh chạm thì dừng, nếu có ai bị tổn thương tính mạng, thì bổn bang chịu tội quá nặng. Giữa các vị với nhau nếu có hiềm khích gì, quyết không được định liệu tại đây, nếu không tệ bang trên dưới sẽ khó xử, nhất định đành phải đắc tội.

Lương trưởng lão nói mấy câu này, mục quang quét từ phải sang trái một lượt, thần sắc nghiêm trang. Nên biết tỷ võ quyết thắng, ai nấy giở tuyệt kỹ, thường là hạ thủ không dung tình, dễ có người tử thương; còn hôm nay đang lúc tụ nghĩa kháng địch, không thể tàn sát lẫn nhau. Vì vậy Lương trưởng lão trịnh trọng cáo giới, ngụ ý nếu có kẻ thừa cơ báo thù, mọi người sẽ cùng công kích kẻ đó.

Quần hùng sớm biết đại hội hôm nay của Cái Bang sẽ rất náo nhiệt, nghe Lương trưởng lão nói như vậy, ai nấy thầm tính toán. Nhân vật bề trên vốn có danh vị, hoặc đang làm chưởng môn phái, hoặc đang làm bang chủ trại chủ, tất nhiên không ra tranh giành chức bang chủ Cái Bang. Cao thủ ẩn cư không thuộc bang phái nào cũng khá đông, song đều nghĩ không dễ gì nổi danh chốn võ lâm, võ công của mình tuy không thua người khác, song muốn áp đảo mấy ngàn vị anh hùng ở đây thì không có gì nắm chắc, lỡ bị người ta đánh cho rớt đài, thì chẳng còn gì là thể diện, cho nên phải suy tính thật kỹ. Những tráng niên, thanh niên dưới bốn mươi tuổi, tuy háo hức muốn nhảy lên đấu thử, nhưng đều biết cuộc tỷ võ này đương nhiên là xa luân chiến, thượng đài càng sớm bao nhiêu, càng thiệt bấy nhiêu. Cho nên Lương trưởng lão nói xong, hồi lâu vẫn không có ai thượng đài.

Lương trưởng lão nói lớn:

– Trừ mấy vị tiền bối cao tuổi, các vị cao nhân xuất thế, anh hùng thiên hạ đều tề tựu ở đây, chỉ cần chiếu cố đến tệ bang, xin mời thượng đài chỉ giáo. Đệ tử bổn bang nếu tự tin tài nghệ xuất chúng, cũng mời thượng đài, dù là đệ tử bốn túi, nhưng lâu nay chưa hiển lộ, nên người ngoài chưa hay biết người ấy là một vị anh hùng.

Bỗng nghe bên dưới có tiếng nói to như sấm:

– Có ta đây!

Hịch một cái, một người nhảy lên đài.

Quần hào nhìn, thảy đều kinh ngạc, thấy người kia cao to phốp pháp, nặng phải đến ba trăm cân, nhẩy lên đài khiến cho cái đài dựng chắc chắn là thế mà cũng hơi lung lay. Người kia bước tới đài khẩu, không ôm quyền hành lễ, đứng hai tay chống nạnh, nói:

– Ta là Thiên cân đỉnh Chương Đại Hải, chức bang chủ Cái Bang ta không thể đảm đương. Nhưng vị nào muốn động thủ với ta, thì cứ lên đây.

Mọi người nghe vậy đều thích thú, nghe câu nói, biết ngay là một người ngớ ngẩn.

Lương trưởng lão cười, nói:

– Chương Đại Hải, chúng ta hôm nay không bày sạp đấu vật, nếu Chương Đại Hải không muốn làm bang chủ tệ bang, thì xin mời xuống cho.

Chương Đại Hải gãi gáy, nói:

– Rõ ràng đây là sạp đấu vật, ai bảo không phải nào? Lão không cho ta ra tay, sao còn mời thượng đài?

Lương trưởng lão định nói, thì Chương Đại Hải đã nói tiếp:

– Được, lão muốn động thủ với ta cũng được luôn!

Vù một cái, đã giáng một quyền tới mặt Lương trưởng lão. Lương trưởng lão nhảy lùi để tránh, cười, nói:

– Lão phu già quá rồi, làm sao chịu nổi một quyền của Chương đại ca?

Chương Đại Hải cười, nói:

– Ta bảo lão chẳng nghe, mới..

Lời chưa dứt, có một bóng người nhảy lên, là một khiếu hóa tử quần áo lam lũ.

Khiếu hóa tử này tuổi trạc ba mươi, lưng đeo sáu túi là đồ tôn đích truyền của Lương trưởng lão, tính tình nóng nảy, bình thời kính nể sư tổ như thần thánh, thấy Chương Đại Hải vô lễ với sư tổ, không nhịn được liền nhảy lên đài, lạnh lùng nói:

– Sư tổ của huynh đệ không động thủ với kẻ hậu bối, Chương đại ca, để huynh đệ tiếp đại ca ba quyền!

Chương Đại Hải nói:

– Không còn gì hay hơn!

Cũng chẳng buồn hỏi tính danh, giơ ngay quả đấm to như cái tô lớn, nói:

– Tiếp chiêu đi!

Đoạn giáng thẳng tới ngực gã khiếu hóa tử. Gã khiếu hóa tử xoay người tiến một bước, "bịch" một cái, quả đấm kia trúng vào một cái túi đeo sau lưng.

Chương Đại Hải cảm thấy đấm vào một vật gì trơn tuột lấy làm lạ, hỏi:

– Trong túi ngươi có con gì thế?

Gã khiếu hóa tử lạnh lùng hỏi lại:

– Khiếu hóa tử hay bắt con gì?

Chương Đại Hải cả kinh, kêu lạc cả giọng:

– Rắn.. rắn..

Gã khiếu hóa tử nói:

– Không sai, đúng là rắn!

Chương Đại Hải nghĩ đến quả đấm vừa rồi, bất giác ghê ghê, quyền thứ hai đánh tới mặt đối phương, nào ngờ gã khiếu hóa tử tung mình nhảy lên, xoay nửa vòng trên không, lại chìa lưng về phía Chương Đại Hải.

Chương Đại Hải sợ đấm vào túi bị rắn cắn, hoặc đấm trúng vào răng độc của con rắn thì nguy, bèn thu quyền về, đưa tay chộp ngực áo gã khiếu hóa tử, chân phải đá tới hạ bàn đối phương. Gã khiếu hóa tử thấy Chương Đại Hải hoảng sợ thì cười thầm, lăn người một vòng trên sàn, làm cho cái túi chạm vào bắp chân của Chương Đại Hải. Con rắn lớn trong túi kỳ thực đã được thuần dưỡng, răng độc đã bị bẻ đi, nhưng Chương Đại Hải không biết, nên miệng la oai oái, hai chân đạp loạn lên. Gã khiếu hóa tử vươn tay phải chộp ngực áo Chương Đại Hải, thuận thế vận kình, quát:

– Ngũ Tử Tư giơ cao "Thiên cân đỉnh" này!

Nói rồi giơ Chương Đại Hải lên trên không.

Chương Đại Hải trong lúc hoảng loạn bị đối phương túm ngực, điểm huyệt Tử Cung, lập tức toàn thân tê dại, không thể cựa quậy, tức giận vô cùng, nhưng bất lực. Quần hào bên dưới nghĩ đến ngoại hiệu "Thiên cân đỉnh", nhìn tình trạng hiện thời của Chương Đại Hải, đều không nhịn được, cùng cười ồ lên. Lương trưởng lão cố nhịn cười, quát gã khiếu hóa tử:

– Mau đặt xuống, không được vô lễ!

Gã khiếu hóa tử đáp:

– Vâng!

Rồi đặt Chương Đại Hải đứng xuống, đoạn nhảy khỏi đài cao, chui vào đám đông.

Chương Đại Hải tái mặt, chỉ xuống dưới đài, chửi mắng:

– Tặc hóa tử, có giỏi quay lại đánh bằng đao thương thật với Chương đại gia, chơi trò lén lén lút lút như thế đâu phải là hảo hán! Đồ khiếu hóa thối tha, đồ khiếu hóa ôn dịch.

Y cứ lảm nhảm chửi khiếu hóa, mấy ngàn đệ tử Cái Bang bên dưới chỉ cảm thấy lý thú, không thèm chấp nhặt với y.

Bỗng một bóng người tung mình nhẹ nhàng nhảy lên đài cao, chân trái đặt trên mép đài, thân hình lảo đảo tựa hồ chực ngã. Chương Đại Hải tốt bụng, vội nói:

– Cẩn thận!

Rồi giơ tay đỡ. Chương Đại Hải đâu ngờ người kia có ý hiển lộ võ công thượng thừa trước mặt quần hào, bàn tay vừa đỡ cánh tay của người kia, thì người kia lập tức thi triển chiêu "Đảo điệt kim cương" trong Đại cầm nã thủ, chộp lấy và đẩy mạnh, Chương Đại Hải bị bay ra khỏi đài cao, rơi xuống đất đánh huỵch một cái. Mọi người nhìn kẻ kia, thấy một gã y phục bảnh bao, mày dài mắt sáng, là Võ Tu Văn, đệ tử của Quách Tĩnh. Quách Tĩnh ngồi ở hàng ghế đầu bên trái đài cao, thấy chiêu Đại cầm nã thủ của đệ tử tuy xảo diệu siêu thoát, nhưng hành động trái ngược đạo trung hậu, thì không vui, vẻ mặt sa sầm. Quả nhiên bên dưới có nhiều người không phục, từ hai phía có ba người lên tiếng:

– Công phu khá lắm, huynh đệ phải lĩnh giáo vài chiêu!

– Sao lại làm như thế?

– Người ta có thiện chí đỡ ngươi, ngươi lại giở trò ám toán!

Ba người vừa nói vừa cùng nhảy lên đài cao.

Võ Tu Văn học cả hai nhà Quách Tĩnh, Hoàng Dung, lại là con nhà võ, được phụ thân và sư thúc truyền thụ thần kỹ Nhất dương chỉ, hiện thời đã là đệ nhất nhân tài trong số anh hùng hậu bối, thấy cả ba người cùng thượng đài, thì mừng thầm, nghĩ: "Mình đánh bại cùng lúc ba người này, mới hiển lộ rõ công phu". Sợ ba người lần lượt giao đấu, chàng ta chẳng nói chẳng rằng, lập tức phát chiêu tấn công cả ba người kia, mỗi người một chiêu. Cả ba người chưa đứng vững, đối phương đã đánh tới, vội giơ tay chống đỡ. Võ Tu Văn không để cho ba người kịp trở tay, song chưởng múa như bay, vây cả ba người vào một chỗ, mình ở bên ngoài chiếm thế tấn công. Ba người kia cứ đụng vào nhau, khó bề thi triển quyền cước. Quần hào bên dưới nhìn nhau thất sắc, đều nghĩ: "Quách đại hiệp danh chấn đương thế, quả nhiên danh bất hư truyền, đệ tử cũng quá ư lợi hại".

Ba người kia không quen nhau, không biết quyền lộ võ công của người bên cạnh, bị Võ Tu Văn bao vây, đã không thể chiếu ứng cho nhau, lại còn cản trở nhau. Cả ba mấy lần phá vây, song không thoát ra khỏi vòng vây chưởng pháp của Võ Tu Văn.

Hoàn Nhan Bình ở dưới đài thấy chồng chiếm thượng phong, trong lòng hoan hỉ. Quách Phù nói:

– Ba kẻ bị thịt kia dĩ nhiên không phải là đối thủ của tiểu Võ ca ca. Kỳ thực tiểu Võ ca ca chưa nên trổ tài lúc này, chỉ hao phí sức lực mà thôi. Đợi khi có cao thủ thật sự thượng đài, có phải sẽ dễ chiến thắng hơn không?

Hoàn Nhan Bình mỉm cười không nói.

Gia Luật Yến bình thời rất thích đấu khẩu với Quách Phù, đôi bên không ai nhường ai, lúc này sớm đoán ra tâm ý của tẩu tử (chị dâu), nói:

– Tiểu thúc thúc lên thu thập trước một số, đến khi không làm nổi nữa, Đôn Nhu sẽ lên thu thập một số nữa. Đến khi không làm nổi, ca ca của muội mới thượng đài, một mình đánh bại quần hùng, để đại tẩu yên yên ổn ổn làm phu nhân bang chủ, chẳng đẹp quá sao?

Quách Phù hơi đỏ mặt, nói:

– Ở đây có biết bao nhiêu anh hùng hào kiệt, ai chẳng muốn làm bang chủ? Sao lại nói chuyện "yên yên ổn ổn"?

Gia Luật Yến nói:

– Kỳ thực cũng khỏi cần ca ca của muội thượng đài.

Quách Phù lấy làm lạ, hỏi:

– Tại sao?

Gia Luật Yến nói:

– Ban nãy Lương trưởng lão chẳng đã nói đó sao, tại đại hội Cái Bang ở Quân Sơn năm xưa, sư mẫu chỉ mới mười mấy tuổi, với một cây gậy trúc đã khiến quần hùng bái phục, trở thành bang chủ. Tục ngữ có câu "Mẹ nào con ấy". Đại tẩu hãy thượng đài đi, sẽ còn hơn cả ca ca của muội đó.

Quách Phù bực tức, nói:

– Giỏi, muội dám cười ta hả?

Đoạn đưa tay cù nách Gia Luật Yến. Gia Luật Yến nấp vào sau lưng Gia Luật Tề, cười nói:

– Bang chủ cứu mạng, bang chủ cứu mạng, bang chủ phu nhân định lấy mạng muội kìa.

Hiện thời Quách Phù, huynh đệ họ Võ đều đã ngoài ba mươi tuổi, song họ đùa nghịch với nhau đã quen; Gia Luật Yến và Hoàn Nhan Bình đều đã sinh con, nhưng hễ gặp nhau lại cười khúc khích hệt như hồi thiếu nữ.

Hoàng Dung sớm đã bố trí đệ tử Cái Bang ở bốn phía sân bãi, dặn hễ thấy có dị trạng, phải lập tức bẩm báo; mình thì ngồi bên Quách Tĩnh, chốc chốc đưa mắt tứ phía, quan sát xem có người lạ trà trộn vào đây hay không. Hoàng Dung vẫn lo bọn Thánh Nhân sư thái, Hàn Vô Cấu, Trương Nhất Manh đến gây sự, nhưng đã cuối giờ Mùi, đầu giờ Thân, bốn phía vẫn không có động tĩnh gì, nghĩ bụng: "Bọn người ấy đến thành Tương Dương làm gì kia chứ? Nếu bảo bọn họ có mưu đồ gì, sao chẳng thấy một chút manh mối? Nếu bảo họ đến chỉ để chúc mừng sinh nhật Tương nhi, thì thế gian không có lý gì như vậy". Nhìn lên đài cao, thấy Võ Tu Văn đã đánh cho hai người bay khỏi đài, còn người thứ ba đang cố chống đỡ, xem chừng trong vòng dăm chiêu cũng sẽ lạc bại, nghĩ: "Hôm nay quần hùng thiên hạ đấu giao hữu để giành chức bang chủ Cái Bang, không biết cuối cùng ai sẽ là người chiếm được ngôi đầu?"

Lúc này trong lòng mấy ngàn anh hùng bên dưới đài cao ai cũng nghĩ như thế. Riêng tại hoa viên Quách phủ, có một người thủy chung chẳng hề nghĩ đến đại sự kể trên. Quách Tương chỉ nghĩ: "Hôm nay sinh nhật tròn mười sáu tuổi của mình, hôm ấy mình đưa một cây kim châm cho chàng, muốn chàng hôm nay đến gặp mình, chàng đã đáp ứng, sao giờ này vẫn chưa tới?"

Nàng ngồi trong đình Thược Dược, tì tay vào lan can, nhìn vầng dương đang chếch dần sang phía tây, nghĩ: "Hôm nay đã quá nửa ngày, giả dụ chàng đến ngay bây giờ, thì nhiều nhất cũng chỉ còn nửa ngày được ở bên chàng". Nhìn bóng hoa thược dược dưới đất, nàng dùng hai ngón tay cầm mũi kim châm, nói nhỏ:

– Mình còn được cầu xin chàng một điều nữa.. nhưng không chừng chàng đã quên hẳn mình rồi, có mỗi việc hôm nay hẹn đến gặp mình, chàng còn không nhớ, thì còn nói điều ước thứ ba làm gì kia chứ?

Nàng lại nghĩ: "Không, không phải vậy. Chàng là bậc đại hiệp thời nay, trọng nhất lời hứa, làm sao lại không giữ lời? Cố đợi chút nữa, đúng, chỉ đợi chút nữa, nhất định chàng sẽ đến gặp mình". Nghĩ sắp được gặp chàng, bất giác hai má nóng bừng, mũi kim châm cầm trong hai ngón tay run run.

Nàng thở dài, có một ý nghĩ dai dẳng không xóa đi được: "Chàng tuy coi trọng lời hứa, nhưng rốt cuộc mình chỉ là một tiểu cô nương. Nếu chàng hứa với gia gia, thì nhất định sẽ giữ lời; đằng này là mình, Tiểu Đông Tà Quách Tương, đâu có đáng gì dưới con mắt chàng? Chẳng qua chỉ là một tiểu hài nữ mơ mộng viển vông. Giả dụ lúc này chàng có nhớ lời đã nói với mình, chàng cũng chỉ cười cười, lắc đầu nói 'Vớ vẩn, vớ vẩn!'mà thôi".

Tại đình Thược Dược, Quách Tương cứ quanh quẩn suy nghĩ lan man. Trong khi ở ngoài thành, trên sân bãi, Hoàng Dung cũng nghĩ đi nghĩ lại: "Ở miếu Dương Thái Phó, Quách Phù, Quách Tương gặp nạn, được cao nhân ngầm giải cứu. Tĩnh ca ca bảo thời nay chỉ hai người có nội lực cương mãnh như vậy, nhưng Hồng Thất Công ân sư đã tạ thế từ lâu, Tĩnh ca ca càng không phải. Chẳng lẽ mấy vị bàng môn tả đạo đến mừng sinh nhật Quách Tương đã ám trợ giết Ni Ma Tinh? Không phải họ, vậy thì ai? Lão ngoan đồng Chu Bá Thông tuy thích đùa, song hành sự không cẩn mật như thế. Nhất Đăng đại sư đoan trang phương chính, không nhàn rỗi như vậy. Tây Độc Âu Dương Phong, Từ Ân hòa thượng Cầu Thiên Nhẫn đều đã chết, không lẽ lại là gia gia?"

Hoàng Dung đã mười mấy năm nay không gặp phụ thân. Hoàng Dược Sư nhàn du giang hồ như loài dã hạc, không ai biết hành tung của Người. Nói về chuyện cổ quái khôn lường, thì có mấy phần giống Người. Hoàng Dược Sư lừng danh giang hồ mấy chục năm, có ngoại hiệu "Hoàng Lão Tà", một số tà ma ngoại đạo quá nửa chơi với lão, lão mà đứng ra triệu tập, bọn họ không thể không nể mặt lão. Nghĩ đến đây Hoàng Dung bất giác vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ. Xét về lý, Hoàng Dược Sư không đời nào đến gây náo loạn cho nữ nhi và ngoại tôn nữ như thế, nhưng lão cả đời vẫn hành sự khác hẳn với lý lẽ thông thường, cứ như thần long biến ảo, Hoàng Dung tuy là thân sinh nữ nhi, cũng thường thường không đoán biết. Lão mà sai người đến chúc mừng sinh nhật ngoại tôn nữ, không chừng tự có thâm ý.

Hoàng Dung nghĩ đến đây, bèn vẫy vẫy tay gọi Quách Phù tới, thấp giọng hỏi:

– Muội tử của ngươi tại bến Phong Lăng đi chơi một ngày hai đêm, khi trở về có nhắc gì đến ngoại công hay không?

Quách Phù hơi sững, hỏi:

– Ngoại công ư? Không nhắc gì cả! Muội tử ngay diện mạo của ngoại công còn chưa biết mà.

Hoàng Dung nói:

– Ngươi nhớ kỹ lại đi, Quách Tương ở bến Phong Lăng cùng đi với Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ, cuối cùng là để gặp ai?

Quách Phù nói:

– Không gặp ai, muội tử không kể gặp ai cả.

Quách Phù biết rõ hôm ấy Quách Tương muốn đi gặp Dương Quá, nhưng trước mặt cha mẹ, nàng sợ nhất nhắc đến hai chữ "Dương Quá". Mẫu thân thì còn khả dĩ, chứ phụ thân nghe thấy sẽ lập tức sa sầm sắc mặt, không thèm nói nửa lời với nàng vài ba ngày liền. Cho nên Quách Tương đã không nói thì nàng chẳng dại gì nhắc đến, huống hồ chuyện qua đã lâu, hà tất nhắc đến người ấy để tự chuốc lấy phiền phức?

Hoàng Dung thấy sắc diện hơi lạ của Quách Phù, đoán nàng còn giấu điều gì, liền nói:

– Chuyện trước mắt không phải chuyện đùa, ngươi nghe hoặc nhìn thấy gì, hãy nói hết cho ta biết.

Quách Phù thấy sắc diện nghiêm trang của mẫu thân, không dám giấu nữa, đành nói:

– Chỉ nghe mấy kẻ nhàn rỗi kể chuyện Thần điêu đại hiệp Dương.. Dương.. Dương Quá gì đó, thế là muội tử bảo phải đi gặp bằng được.

Hoàng Dung chột dạ, hỏi:

– Thế nó có gặp được hay không?

Quách Phù đáp:

– Chắc là không. Nếu gặp rồi, muội tử lại chịu kín miệng không nói gì vậy sao?

Hoàng Dung tự nhủ: "Là Quá nhi, là Quá nhi, chẳng lẽ đúng là hắn?" Bèn hỏi:

– Ở miếu Dương Thái Phó, người xuất thủ giết Ni Ma Tinh, theo ngươi, có phải là Dương Quá hay không?

Quách Phù nói:

– Làm sao Dương.. Dương đại ca có công phu lợi hại đến mức ấy?

Hoàng Dung nói:

– Ngươi và Quách Tương ở miếu Dương Thái Phó nói những gì, hãy kể tỉ mỉ từ đầu cho ta nghe coi, không được bỏ sót câu nào hết.

Quách Phù nói:

– Cũng không nói gì nhiều, muội tử thích đấu khẩu với hài nhi thôi mà.

Rồi nàng kể lại Quách Tương bảo sẽ không đến dự anh hùng đại yến, không xem Cái Bang tuyển chọn bang chủ, rằng hôm sinh nhật sẽ có một vị anh hùng anh tuấn đến gặp, cuối cùng Quách Phù cười, nói:

– Các bằng hữu của muội tử quả nhiên đến không ít, song chỉ toàn là hòa thượng, ni cô, lão đầu nhi và lão thái bà, làm gì có vị anh hùng anh tuấn nào đâu?

Nghe đến đây, Hoàng Dung càng không còn hoài nghi gì nữa, người mà Quách Tương muốn nói đến chính là Dương Quá, nghĩ rằng Quách Tương và Dương Quá đã hẹn gặp nhau ở miếu Dương Thái Phó, Quách Phù chạy đến khiến Dương Quá phải lánh đi, sau đó sai các cao thủ giang hồ mang quà tới mừng sinh nhật Quách Tương để chọc tức Quách Phù. "Nhưng vì sao hắn phải tốn công đến thế cho Quách Tương?" Nghĩ đến tiểu nữ nhi dạo này tâm thần bất định, ánh mắt mông lung, hoảng hoảng hốt hốt, thi thoảng tự dưng đỏ mặt, Hoàng Dung bất giác rùng mình: "Không lẽ Quách Tương rời bến Phong Lăng một ngày hai đêm không về, đã cùng ở với Dương Quá?" Lại nghĩ: "Dương Quá hận ta giết hại phụ thân hắn, hận Quách Phù chặt mất cánh tay hắn, hận Quách Phù dùng độc châm đả thương Tiểu Long Nữ. Thôi chết, Tiểu Long Nữ hẹn tái hợp với Dương Quá sau mười sáu năm, chính là vào năm nay đây. Dương Quá đến đây để trả thù!"

Nghĩ tới chuyện Dương Quá đến đây để trả thù, Hoàng Dung chợt lạnh cả sống lưng. Biết Dương Quá từ nhỏ hành sự vốn thập phần lợi hại, lại nặng tình với Tiểu Long Nữ. Nếu sau khi mười phần đau khổ chờ đợi mười sáu năm mà không gặp được, Dương Quá sẽ tìm đến họa căn, tức là cả nhà Quách gia. Oán hận tích tụ mười sáu năm trời, với tính khí như Dương Quá, hắn sẽ không chém cho Quách Phù một kiếm chết ngay mà sẽ tìm kế trả thù thật độc địa. "Chẳng lẽ hắn lại quyến rũ Quách Tương, khiến con bé si mê hắn, rồi sẽ hành hạ nó sống dở chết dở ư? Đúng thế, đúng thế, với tính cách Dương Quá, hắn sẽ hành động đúng như thế". Nghĩ đến đây, mọi hồ nghi đã sáng tỏ: Dương Quá sở dĩ giết Ni Ma Tinh cứu Quách Tương, sở dĩ mời các cao thủ mang quà mừng sinh nhật, chỉ cốt để chinh phục trái tim Quách Tương.

Hoàng Dung lại nghĩ: "Nhưng mà có điểm không phải! Hôm nay là sinh nhật Quách Tương. Mười sáu năm trước, sau khi Quách Tương chào đời, phải vài tháng sau Dương Quá mới phải chia tay Tiểu Long Nữ ở Tuyệt Tình Cốc. Xét về lý, hắn muốn trả thù cũng phải đợi tròn mười sáu năm, qua thời hạn tái hợp với Tiểu Long Nữ đã chứ. Lời hẹn mười sáu năm tuy quá mờ mịt, nhưng rõ ràng là chữ viết của Tiểu Long Nữ, ai có thể nghi ngờ hai vợ chồng hắn sẽ không tái hợp? Chẳng lẽ phụ thân ta.. chẳng lẽ Nam Hải thần ni.." Hoàng Dung nhíu mày, càng nghĩ càng cảm thấy bất an: "Dù thế nào, Quách Tương mà gặp lại hắn cũng vô cùng nguy hiểm. Tương nhi ngây thơ hồn nhiên, làm sao hiểu nổi lòng dạ nham hiểm của kẻ khác?"

Chỉ nghe một tiếng "Úi chao!" tiếp đến tiếng huỵch, Hoàng Dung ngẩng lên, thấy Võ Tu Văn lại dùng chưởng lực đẩy vị hòa thượng béo mập rớt đài. Hoàng Dung tới bên Quách Tĩnh, nói nhỏ:

– Tướng công ở đây lo liệu, thiếp đi xem Tương nhi thế nào.

Quách Tĩnh nói:

– Tương nhi không đến đây à?

Hoàng Dung nói:

– Để thiếp đi gọi nó, con a đầu này thật là cổ quái.

Quách Tĩnh mỉm cười, nhớ thời kỳ mới quen Hoàng Dung, nàng mặc nam trang, cải dạng y hệt một tiểu khiếu hóa, như thế không cổ quái hay sao?

Hoàng Dung thấy chồng cười hiền hậu, cũng mỉm cười, rồi vội vã trở về phủ, dọc đường tuy sốt ruột, nhưng nghĩ đến nụ cười của chồng, nghĩ đến đôi vai dày và chắc của chồng, tựa hồ trời có sụp xuống vẫn nâng lên được, thì vợi hẳn nỗi lo trong lòng.

Hoàng Dung đi thẳng tới khuê phòng của Quách Tương, không thấy con trong đó, hỏi "Tiểu Bổng Đầu", nó đáp nhị tiểu thư đang ở trong hậu hoa viên, dặn không được quấy nhiễu tiểu thư. Hoàng Dung chợt nghĩ: "Tương nhi ngay cuộc đại tỷ võ cũng không đi xem, nhất định là đã hẹn hò với Dương Quá". Bèn trở về phòng mình, giấu ám khí kim châm vào người, giắt một thanh đoản kiếm bên lưng, lại cầm một cây đoản bổng, rồi đi ra hậu hoa viên. Hoàng Dung biết Dương Quá hiện thời võ công đã hơn hẳn ngày trước, là một cường địch đáng sợ, nên hoàn toàn không dám coi thường. Hoàng Dung không dám đi theo con đường nhỏ trải đá dăm, mà vòng theo đường mòn phía sau hòn giả sơn, đến gần đình Thược Dược thì nghe tiếng thở dài não nuột của Quách Tương.

Hoàng Dung cúi mình, nấp sau hòn giả sơn, nghe nữ nhi nói:

– Sao giờ này chưa đến, làm cho người ta sốt ruột quá chừng.

Hoàng Dung yên tâm: "Thì ra hắn chưa đến, ta có thể ngăn cản trước". Lại nghe Quách Tương nói:

– Sinh nhật mỗi năm, mẫu thân đều bảo mình nói ba điều ước. Bây giờ bên cạnh không có ai, mình nói với ông trời vậy.

Hoàng Dung đang định bước ra trò chuyện với nữ nhi, nghe câu ấy, liền đứng nguyên tại chỗ, nghĩ: "Ta tuy là mẹ nó, bình thời cũng không dễ đoán biết tâm tư của nó. Lúc này thử nghe nó nói ba điều ước là gì".

Chỉ nghe Quách Tương nói:

– Lão thiên gia, điều ước thứ nhất của con, mong sao gia gia má má suất lĩnh nhân mã, sẽ cùng các vị anh hùng hảo hán đánh tan quân Mông Cổ xâm phạm, giữ vững thái bình cho trăm họ thành Tương Dương.

Hoàng Dung thở dài nhẹ nhõm, nghĩ: "Tiểu a đầu tuy cổ quái, song không phải là đứa không hiểu đại thể". Nghe Quách Tương nói tiếp:

– Điều ước thứ hai của con, mong sao gia gia má má thân thể an thái, bách niên trường thọ, mong sao gia gia má má vạn sự như ý.

Hoàng Dung khi sinh hạ Quách Tương, hai vợ chồng đều gặp đại hiểm sinh tử, về sau nghĩ lại, không khỏi kinh hồn, cho nên tất nhiên đối với nàng không cưng chiều như đối với đại nữ nhi; giờ nghe điều ước của con, bất giác rơm rớm nước mắt, cảm thấy thêm yêu tiểu nữ nhi.

Điều ước thứ ba, Quách Tương nhất thời chưa nói ngay, lát sau mới nói:

– Điều ước thứ ba của con, mong sao Thần điêu đại hiệp Dương Quá..

Hoàng Dung sớm đoán điều ước thứ ba của Quách Tương nhất định liên quan đến Dương Quá, nhưng khi nghe chính miệng nàng nói ra hai tiếng "Dương Quá", vẫn giật mình. Nghe Quách Tương nói tiếp:

* * *cùng phu nhân của chàng là Tiểu Long Nữ sớm được đoàn tụ, bình an hỉ lạc.

Câu này thì Hoàng Dung hoàn toàn không ngờ tới, cứ ngỡ Dương Quá muốn lừa tiểu nữ nhi, ắt dùng hoa ngôn xảo ngữ, dối trá là chính, ai ngờ nữ nhi đã biết chuyện Tiểu Long Nữ, cũng biết rõ Dương Quá một lòng một dạ chờ ngày gặp lại Tiểu Long Nữ, nên mới chúc cho Dương Quá như vậy. Nhưng Hoàng Dung lại nghĩ: "Ôi, nguy rồi! Dương Quá dụng tâm thế mới sâu xa, hắn càng kể với Quách Tương không quên tình cũ, Quách Tương sẽ càng thấy hắn là người tình nghĩa sâu nặng đáng kính, lại càng mê hắn. Đúng, đúng thế. Năm xưa Tĩnh ca ca sau khi gặp ta, thường nhắc đến Hoa Tranh công chúa cùng ân nghĩa ngày trước, khiến ta càng thương chàng hơn".

Hoàng Dung suy tính mọi mặt quá ư chu đáo, bao năm nay đối với Dương Quá vẫn có vài phần đề phòng, lại quá quan tâm đến con, cho nên càng nghĩ càng lo.

Bỗng nghe một tiếng hịch nhỏ, từ trên bờ tường có người nhảy xuống, đầu to thân lùn, diện mạo cổ quái.

Quách Tương nhìn thấy người kia, thì đứng bật dậy, mừng rỡ nói:

– Đại Đầu Quỉ, Đại Đầu Quỉ thúc thúc, chàng.. chàng cũng đến cùng chứ?

Đại Đầu Quỉ bước vào đình Thược Dược, cúi mình thi lễ, thần thái cung kính dị thường, Quách Tương cười hỏi:

– Đại Đầu Quỉ thúc thúc, sao thúc thúc lại khách sáo với điệt nhi như vậy?

Đại Đầu Quỉ nói:

– Tiểu thư đừng gọi lão phu là Đại Đầu Quỉ thúc thúc, cứ gọi ba tiếng "Đại Đầu Quỉ" là được rồi. Thần điêu đại hiệp sai lão phu đến thưa với Quách nhị tiểu thư..

Quách Tương vừa nghe vậy liền thất vọng, mắt đỏ hoe, nói:

– Đại ca ca bảo có việc không thể đến gặp điệt nhi chứ gì? Nhưng chàng đã đáp ứng..

Đại Đầu Quỉ lắc lắc đầu, nói:

– Không phải, không phải vậy..

Quách Tương vội hỏi:

– Cái gì không phải? Rõ ràng đại ca ca đã đáp ứng.

Giọng nói như sắp khóc. Đại Đầu Quỉ nói:

– Lão phu không bảo Thần điêu đại hiệp không đáp ứng, mà bảo không phải không đến gặp tiểu thư!

Quách Tương cười giận dỗi:

– Thúc thúc nói chẳng rõ gì cả, chỉ nói không phải, chẳng biết không phải cái gì.

Đại Đầu Quỉ mỉm cười, nói:

– Thần điêu đại hiệp bảo rằng chàng muốn đích thân chuẩn bị cho tiểu thư ba món quà mừng sinh nhật, bởi vậy hôm nay sẽ đến muộn một chút.

Quách Tương sung sướng như mở cờ trong bụng, nói:

– Nhiều người đã tặng điệt nhi các món quà quí, điệt nhi thứ gì cũng có, xin thúc thúc hãy thưa với đại ca ca đừng tốn công chuẩn bị quà làm gì cả.

Đại Đầu Quỉ lắc đầu, nói:

– Ba món quà ấy, món quà thứ nhất đã lo xong, món quà thứ hai Thần điêu đại hiệp chính đang dẫn các huynh đệ đi lấy, lúc này chắc cũng đã lấy được rồi.

Quách Tương thở dài, nói:

– Điệt nhi mong đại ca ca đến sớm thì hơn là vì mang quà mà đến muộn.

Đại Đầu Quỉ nói:

– Món quà thứ ba, Thần điêu đại hiệp bảo sẽ thân chinh trao tận tay tiểu thư tại đại hội Cái Bang ngoài kia, vậy mời tiểu thư đi ra đó, xem chừng cũng sắp đến lúc rồi đấy.

Quách Tương thở dài, nói:

– Điệt nhi vốn nói dỗi với tỷ tỷ sẽ không đến dự đại hội Cái Bang, đại ca ca đã bảo thế thì đành đi vậy. Được, thúc thúc hãy đi cùng với điệt nhi.

Đại Đầu Quỉ gật đầu, miệng huýt vài tiếng sáo, một con vật to tướng màu đen từ bên ngoài tường nhảy vào, chính là Thần điêu.

Quách Tương vừa thấy Thần điêu, liền chạy lại định vuốt cổ nó như thể đối với một hảo hữu cửu biệt trùng phùng. Nhưng Thần điêu lùi hai bước, nghển cổ, nghiêng đầu nhìn. Quách Tương cười, nói:

– Điêu đại ca không nhận ra muội ư? Muội đây mà.

Đoạn lại bước tới ôm cổ Thần điêu. Lần này Thần điêu không né tránh, chỉ nghếch đầu, nghiêm nghị như một người cha gặp đứa con gái tinh nghịch đáng yêu. Quách Tương nói:

– Điêu đại ca, chúng ta cùng đi nào, muội sẽ mời Điêu đại ca ăn nhiều món ngon, Điêu đại ca có biết uống rượu hay không?

Đại Đầu Quỉ cười, nói:

– Tiểu thư mời Thần điêu uống rượu, thì đó là thứ Thần điêu khoái nhất đó.

Hai người một điêu cùng chạy ra cửa Tây, lúc ra tới sân bãi, quần hùng thấy Thần điêu thân hình hùng vĩ, diện mạo cổ quái, đều trầm trồ. Quách Tương dẫn Đại Đầu Quỉ và Thần điêu đến bên đài cao, chọn một chỗ trống ngồi xuống. Đệ tử Cái Bang lo việc tiếp khách thấy Đại Đầu Quỉ là người lạ, bèn gọi lại, hỏi tính danh. Đại Đầu Quỉ lạnh lùng nói:

– Ta không có tên, không biết gì hết, Quách nhị cô nương dẫn ta đến đây, thì ta đến.

Lát sau Hoàng Dung cũng tới, nghĩ: "Dương Quá công nhiên muốn đến đại hiện trường, mọi việc đã bố trí trước đâu ra đó, chắc sẽ đại náo một phen".

Lúc này huynh đệ Võ Đôn Nhu, Võ Tu Văn đã bị đánh rớt đài, điệt nhi của Chu Tử Liễu, ba đệ tử của Điểm Thương Ngư Ẩn, bốn đệ tử tám túi của Cái Bang, sáu đệ tử bảy túi, đều lần lượt thất thủ. Trên đài cao Gia Luật Tề đánh bại liên tiếp ba hảo thủ, chính đang thi triển bảy mươi hai lộ Không Minh quyền do Chu Bá Thông truyền thụ, đấu với một trang đại hán trạc ngoại tứ tuần.

Đại hán tên là Lam Thiên Hòa, là người dân tộc Miêu ở Quí Châu, hồi nhỏ theo người đến núi Thanh Thành ở Tứ Xuyên hái thuốc, sảy chân ngã xuống vực, gặp được kỳ nhân, được truyền thụ võ công ngoại môn cực kỳ cương mãnh. Chưởng lực của Lam Thiên Hòa như có tiếng gió tuyết, uy phong nghe ù ù ghê gớm. Quyền pháp của Gia Luật Tề thì lại vô thanh, cước di vô hình, phiêu phiêu hốt hốt khiến đối phương không biết đằng nào mà lần; hai người một cương một nhu, giao đấu ngang ngửa trên đài cao. Công phu mà họ hiển lộ làm cho mấy trăm hảo hán bên dưới vốn định thượng đài, tự thẹn không bằng, nghĩ: "May mà mình chưa nhảy lên đấu, nếu không đã bộc lộ sự kém cỏi của mình. Nội lực ngoại công của người ta thế kia, mình có luyện thêm mười năm nữa cũng vị tất đã địch nổi hai người này".

Chưởng lực của Lam Thiên Hòa tuy mạnh, nhưng cuồng phong bạo vũ không thể kéo dài mãi, chỉ nghe họ Lam phát chưởng cứ ù ù, kỳ thực tiềm lực ẩn chứa bên trong đã không bằng lúc ban đầu. Quyền chiêu của Gia Luật Tề thì không nhanh hơn, cũng không chậm hơn lúc trước, vẫn chăm chú kiến chiêu chiết chiêu.

Chàng biết cuộc đấu hôm nay không phải chỉ đánh bại vài đối thủ là xong, người thượng đài càng về sau sẽ càng mạnh hơn, cần phải giữ sức cho trận sau.

Lam Thiên Hòa đánh lâu không thắng, cảm thấy nôn nóng, tự nghĩ hơn hai chục năm qua ở vùng tây nam, y chưa từng gặp đối thủ nào chịu nổi quá ba chục chiêu của y, không ngờ trước đông đảo anh hùng hôm nay, y lại không hạ nổi một gã hậu bối, bèn vận nội kình, không ngừng gia tăng chưởng lực. Hai người lại đấu hơn hai mươi chiêu, Lam Thiên Hòa chợt thấy quyền pháp của đối phương có chỗ sơ hở, liền quát to:

– Xem đây!

Một chiêu "Cửu quỉ trích tinh" đánh tới ngực Gia Luật Tề. Gia Luật Tề hữu chưởng đẩy ra, song chưởng đụng nhau, lập tức giữ nguyên bất động, biến thành cục diện đôi bên tỷ thí nội lực.

Lát sau, Lam Thiên Hòa bỗng biến sắc, loạng choạng lùi hai bước, ôm quyền nói:

– Thán phục, thán phục!

Y bước tới đài khẩu, nói to:

– Gia Luật đại gia thủ hạ lưu tình, không muốn hại tính mạng huynh đệ, quả nhiên là bậc anh hùng nhân nghĩa, huynh đệ chân thành cảm phục.

Nói xong hít một hơi dài, lắc lắc đầu, nhảy xuống khỏi đài.

Gia Luật Tề ôm quyền, nói:

– Đấy là Lam huynh nhường nhịn.

Nguyên Lam Thiên Hòa đánh ra một chưởng, đụng hữu chưởng của Gia Luật Tề, vội vận nội lực, bỗng cảm thấy bàn tay đột nhiên hụt hẫng như thể thọc tay xuống nước, như có như không, bàn tay như có cái gì hút lấy. Cảm giác quái dị ấy nhanh chóng lan từ bàn tay lên cánh tay, từ cánh tay chạy vào ngực, xuống đan điền, bụng dưới tức thời như nồi nước sôi dâng lên để ộc ra ngoài. Lam Thiên Hòa kinh hãi, hồn vía lên mây, vội vận kình rút tay về, nhưng bàn tay như bị dính chặt vào lòng bàn tay đối phương. Năm xưa khi được sư phụ truyền thụ võ nghệ, từng dặn rằng một lộ Phong Tuyết chưởng pháp này đủ để hành tẩu giang hồ, nhưng nếu gặp cao thủ nội gia, phải hết sức thận trọng. Nếu để nội lực của đối phương xâm nhập đan điền, dẫu không mất mạng tại chỗ, toàn bộ võ công có thể bị phế bỏ. Y nghĩ ấy vừa lóe lên trong óc, Lam Thiên Hòa liền nhắm mắt chờ chết, bỗng lực hút bàn tay không còn nữa, khí nóng sôi sục trong đan điền cũng dịu dần, y từ từ vận kình, cảm thấy công phu toàn thân không hề bị tổn thương, tự biết đối phương thủ hạ lưu tình, nên rất hổ thẹn, mới nói mấy lời như trên với quần hào. Trận đấu vừa rồi, chưởng lực uy mãnh của Lam Thiên Hòa lợi hại thế nào, mọi người bên dưới đều mục kích, vậy mà Gia Luật Tề vẫn đánh bại Lam Thiên Hòa một cách vô hình, phàm là người có chút kiến thức, đều không dám thượng đài khiêu chiến.

Gia Luật Tề là con rể của Quách Tĩnh, Hoàng Dung, có quan hệ sâu xa với Cái Bang, bốn đại trưởng lão và các đệ tử tám túi đều muốn Gia Luật Tề làm bang chủ. Chàng lại là đệ tử của bậc cao niên nhất phái Toàn Chân Chu Bá Thông, đệ tử phái Toàn Chân coi như đều là vãn bối của chàng. Phàm những đệ tử phái Toàn Chân có giao tình với vợ chồng Quách Tĩnh, đều không muốn tranh giành với chàng. Chỉ có vài kẻ thô lỗ không tự lượng sức mới thượng đài lĩnh giáo, nhưng chỉ sau vài chiêu, đã lạc bại.

Quách Phù thấy chồng mình võ nghệ áp đảo đương trường thì hoan hỉ khó nói nên lời, đưa mắt nhìn sang, thấy một con chim điêu khổng lồ và gã lùn to đầu từng gặp ở bến Phong Lăng đang ngồi cạnh muội tử không khỏi sững sờ. Lúc Quách Tương cùng Đại Đầu Quỉ và Thần điêu tới đây, Lam Thiên Hòa và Gia Luật Tề đang mải giao đấu, Quách Phù chăm chú nhìn chồng, nên không để ý. Bây giờ cường địch đã phải thoái lui, nàng mới nghĩ, sao muội tử bảo không đến vẫn cứ đến? Nàng nghĩ: "Hỏng rồi! Dương Quá tự xưng" Thần điêu đại hiệp ", con chim hung ác dữ tợn kia chắc là Thần điêu gì đó. Thần điêu đã tới, Dương Quá hẳn đang ở gần đâu đây; nếu hắn đến tranh chức bang chủ, nếu hắn đến tranh chức bang chủ.." Phút chốc đang mừng hóa lo, cái cảnh năm xưa Dương Quá phẩy tay áo làm cong thanh kiếm của nàng như hiển hiện trước mắt, "Tề ca võ công tuy cao, liệu có địch nổi quái nhân cụt tay ấy hay không? Ôi, kẻ đó từ nhỏ đã là khắc tinh trong số mệnh ta, hôm nay lại xuất hiện đúng vào lúc hệ trọng nhất, không sớm cũng không muộn hơn!" Nàng đưa mắt nhìn tứ phía, hoàn toàn không thấy tung tích Dương Quá.

Lúc này trời sắp tối, Gia Luật Tề liên tiếp đánh bại bảy người, đợi hồi lâu, không còn ai thượng đài tỷ thí.

Lương trưởng lão bước tới đài khẩu, lớn tiếng nói:

– Gia Luật đại gia văn võ song toàn, bổn bang trên dưới vốn kính phục, nếu trở thành bang chủ, hẳn mọi người đều cảm phục, ủng hộ..

Lương trưởng lão nói đến đây, bang chúng Cái Bang bên dưới cùng đứng dậy hoan hô.

Lương trưởng lão lại nói:

– Không biết có vị anh hùng hảo hán nào còn muốn thượng đài hiển lộ thân thủ nữa chăng?

Lương trưởng lão hỏi ba lần, bên dưới hoàn toàn im lặng.

Quách Phù cả mừng, nghĩ thầm: "Dương Quá lúc này chưa đến thì đã bỏ lỡ thời cơ! Chờ khi Tề ca tiếp nhiệm bang chủ, hắn mới đến làm loạn, thì đã muộn". Đúng lúc ấy, bỗng nghe tiếng vó ngựa phi nhanh, rồi hai kỵ mã phóng tới, khách cưỡi ngựa hẳn là có việc khẩn cấp.

Quách Phù giật mình: "Cuối cùng cũng đến rồi!"

Chỉ thấy hai người phi ngựa như bay vào sân bãi, họ mặc quần áo màu tro, là hai thám tử Quách Tĩnh phái đi dò xét quân tình. Quách Tĩnh tuy ngồi xem tỷ võ trên đài cao, nhưng lúc nào cũng nghĩ đến quân tình, thấy hai thám tử phi ngựa như thế, nghĩ bụng: "Cuối cùng cũng đến rồi!" Hai cha con cùng nghĩ: "Cuối cùng cũng đến rồi!" nhưng Quách Phù thì chỉ Dương Quá, còn Quách Tĩnh thì chỉ đại quân Mông Cổ.

Hai thám tử tới cách đài cao vài trượng thì xuống ngựa, chạy tới trước mặt Quách Tĩnh thi lễ. Quách Tĩnh và Hoàng Dung không đợi hai người mở miệng, quan sát sắc diện của họ, quân tình tốt xấu thế nào sẽ bộc lộ rõ ràng, thấy cả hai đều háo hức mừng rỡ, như thể gặp phải sự bất ngờ nào đó.

Một thám tử nói:

– Bẩm cáo Quách đại hiệp: Một thiên nhân đội tiên phong cánh tả của đại quân Mông Cổ đã đến Tân Dã.

Quách Tĩnh giật mình, nghĩ: "Chúng tiến quá nhanh!"

Thám tử thứ hai nói:

– Bẩm cáo Quách đại hiệp: Một thiên nhân đội tiên phong cánh hữu của đại quân Mông Cổ đã tới Đặng Châu.

Quách Tĩnh hừ một tiếng, nghĩ: "Cánh quân phía bắc của địch lại chia hai đường, hành quân thần tốc, tràn đầy nhuệ khí". Tân Dã và Đặng Châu đều cách thành Tương Dương bất quá hơn trăm dặm, từ hai nơi đó xuống phía nam, đến Phàn thành đối diện với thành Tương Dương là một dải đồng bằng, không có núi sông ngăn trở, quân thiết kỵ Mông Cổ muốn tấn công chỉ một ngày là tới.

Thám tử thứ hai lại hớn hở nói:

– Nhưng có một chuyện lạ, thiên nhân đội Mông Cổ ở bên ngoài thành Đặng Châu tất cả đều bị giết, quân quan sĩ tốt, không còn một tên sống sót.

Quách Tĩnh lấy làm lạ, hỏi:

– Có chuyện vậy sao?

Thám tử thứ nhất nói:

– Tiểu nhân cũng nhìn thấy y như thế. Một thiên nhân đội tiên phong của quân Mông Cổ đến Tân Dã cũng biến thành ma, thây phơi đầy đồng. Nhưng kỳ dị nhất là tất cả thủ cấp của binh sĩ Mông Cổ đều bị cắt mất tai bên trái.

Thám từ thứ hai nói:

– Quân Mông Cổ tới Đặng Châu cũng vậy, tất cả đều bị cắt mất tai bên trái.

Quách Tĩnh và Hoàng Dung nhìn nhau, vừa kinh ngạc vừa vui mừng, nghĩ: "Hai cánh quân tiên phong của Mông Cổ đều bị tiêu diệt, làm tiêu tan nhuệ khí của chúng. Tuy quân địch đông tới chục vạn người, mất hai ngàn tên chẳng thấm thía gì, nhưng tin này lan ra, ba quân Mông Cổ mất vía, đại lợi cho ta. Không biết ai dùng binh tài tình, diệt sạch hai thiên nhân đội Mông Cổ như thế?" Quách Tĩnh bèn hỏi:

– Quân giữ thành ở Tân Dã và Đặng Châu thế nào?

Hai thám tử cùng nói:

– Hai thành đều cố thủ bên trong, quân Mông Cổ chết như rạ bên ngoài thành Đặng Châu, chỉ e quân trong thành vẫn chưa hay biết.

Hoàng Dung nói:

– Hai ngươi mau đi bẩm cáo với Lã đại soái, đại soái cao hứng, không chừng sẽ trọng thưởng cho các ngươi.

Hai thám tử khấu đầu, hoan hỉ chạy đi.

Đội quân tiên phong của Mông Cổ chưa kịp giao chiến với quân giữ thành Tương Dương, hai cánh đã bị tiêu diệt; Hoàng Dung lên đài cao tuyên bố tin đó, lập tức toàn trường hoan hô như sấm động. Hoàng Dung nói:

– Cái Bang lập bang chủ mới, cố nhiên là hỉ sự, nhưng làm sao sánh với đại sự tiêu diệt quân địch? Lương trưởng lão, mau sai người bày tiệc, chúng ta phải ăn mừng một phen ra trò mới được.

Khoản tiệc rượu đã được chuẩn bị sẵn, Cái Bang tối nay vốn phải thết đại tiệc quần hùng, mừng bang chủ mới lập, giờ thêm tin chiến thắng, như gấm thêu hoa, người người cùng cao hứng. Võ Đôn Nhu đấu võ bị thua, tuy đang ủ dột, nhưng sân bãi tràn ngập không khí tưng bừng hồ hởi, làm cho một số ít người không vui cũng hết cả buồn. Đại tiệc của Cái Bang không bày bàn ghế, mà đặt ngay dưới đất, quần hùng túm tụm thành từng đám ăn uống vui vẻ. Tuy bày tiệc dưới đất, nhưng rượu thịt thì ê hề.

Quần hùng đều nghĩ chiến thắng là nhờ kỳ kế của Quách Tĩnh, Hoàng Dung sắp đặt, nên dồn dập tới chúc rượu hai người. Quách Tĩnh luôn miệng nói đó hoàn toàn không phải công lao của mình, nhưng Quách Tĩnh xưa nay vốn khiêm nhường, quần hùng nào chịu tin? Hoàng Dung nói:

– Tĩnh ca ca, chuyện đó lạ thật, lúc này chưa hiểu tại sao. Chúng ta đừng vội nói gì, hãy chờ thêm tin tức chính xác đã.

Nguyên Hoàng Dung nghe thám tử báo tin, đoán bên trong có chuyện khó hiểu, liền phái ngay tám đệ tử Cái Bang tinh minh cường cán, chia thành hai tốp, phi ngựa đi Tân Dã và Đặng Châu dò xét thêm.

Quách Tương ngồi cùng Đại Đầu Quỉ và Thần điêu. Người khác thấy Thần điêu uy mãnh như thế, không ai dám tới gần. Quách Tương chỉ hỏi:

– Tại sao đại ca không đến?

Đại Đầu Quỉ nói:

– Thần điêu đại hiệp đã nói đến, thì nhất định sẽ đến.

Lời chưa dứt, bỗng nói tiếp:

– Tiểu thư có nghe thấy gì không?

Quách Tương dỏng tai, nghe từ xa văng vẳng tiếng sư tử hổ báo, voi vượn gầm rống từng chập, thì vui mừng nói:

– Huynh đệ Sử gia đến đó!

Lát sau, tiếng gầm rống của bầy thú càng gần hơn. Quần hào biến sắc, ai nấy rút binh khí, đứng dậy, sân bãi lập tức rối loạn:

– Ở đâu ra lắm mãnh thú như vậy?

– Sư tử hổ báo, lại có cả voi nữa!

– Mọi người hạ độc thủ cẩn thận!

– Đề phòng chó sói, đối phó hổ báo!

Quách Tĩnh bảo Võ Tu Văn:

– Hãy đi truyền lệnh của ta, điều hai ngàn cung nỏ đến đây!

Võ Tu Văn đáp:

– Vâng!

Vừa định quay mình chạy đi, bỗng nghe từ xa có tiếng nói lớn:

– Huynh đệ Sử gia ở Vạn Thú sơn trang phụng mệnh Thần điêu đại hiệp, mang quà đến mừng sinh nhật Quách nhị cô nương.

Thanh âm không phải do một người phát ra, mà do cả năm huynh đệ họ Sử cùng lên tiếng. Nội công của năm người tuy không thuộc hàng đệ nhất cao thủ, song tiếng hú của họ gồm đủ năm âm Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ, nghe lanh lảnh rát cả tai.

Hoàng Dung phẩy tay về phía Võ Tu Văn, bảo y cứ đi truyền lệnh, nghĩ bụng huynh đệ họ Sử tuy nói vậy, nhưng lòng người khó đoán, thà điều cung nỏ đến sẵn sàng vẫn hơn là bị người ta khống chế. Võ Tu Văn nhảy lên ngựa, phóng đi.

Không lâu sau, đội cung nỏ thứ nhất đã đến, bố trí ở một bên sân bãi. Quách Tĩnh từng học thuật cưỡi ngựa bắn cung ở Mông Cổ, dùng thuật ấy huấn luyện sĩ tốt thành tinh binh của thành Tương Dương, chống chọi hữu hiệu quân Mông Cổ mấy chục năm nay. Đội cung nỏ của thành Tương Dương bắn cung không thua kém gì các võ sĩ Mông Cổ.

Đội cung nỏ vừa bố trí xong thế trận, thì thấy một đại hán mình khoác tấm da hổ, suất lĩnh một trăm con mãnh hổ chạy tới bên ngoài sân bãi. Người ấy chính là Bạch Ngạc Sơn Quân Sử Bá Uy. Một trăm con mãnh hổ xếp hàng chỉnh tề, nằm phục dưới đất. Tiếp đó Quản Kiến Tử Sử Trọng Mãnh suất lĩnh một trăm con báo gấm, Kim Giáp Sư Vương Sử Quý Cường dẫn một trăm con voi, Bát Thủ Tiên Hầu Sử Mạnh Tiệp dẫn một trăm con vượn lớn, tất cả dàn thành đội ngũ xung quanh sân bãi. Bầy mãnh thú trông dữ tợn, không ngớt gầm gừ, nhưng hàng ngũ chỉnh tề, không chút rối loạn. Quần hùng tuy kiến văn quảng bác, nhưng đột nhiên gặp nhiều mãnh thú đến thế này, cũng không khỏi lạnh gáy.

Năm huynh đệ họ Sử mỗi người tay cầm một cái túi bằng da thú, đến trước mặt Quách Tương, cúi mình nói:

– Cung chúc cô nương trường mệnh bách tuế, bình an như ý!

Quách Tương vội đứng dậy đáp lễ, nói:

– Đa tạ năm vị Sử gia thúc thúc. Sử tam thúc, tam thúc đã khỏe hẳn chưa? Sử ngũ thúc, vết thương ở ngực ngũ thúc sao rồi?

Sử Thúc Cương, Sử Mạnh Tiệp cùng nói:

– Đa tạ cô nương quan hoài, đã khoẻ hẳn rồi.

Sử Bá Uy chỉ năm cái túi da thú, nói:

– Đây là món quà thứ nhất của Thần điêu đại hiệp mừng sinh nhật của cô nương.

Quách Tương cười, nói:

– Thật là chẳng nhận chẳng được, xem trong túi có cái gì nào? Ồ, điệt nhi đoán trong cái túi của thúc thúc có một con hổ nhỏ, cái túi khác có con báo con, phải không ạ? Thế thì tha hồ chơi với chúng.

Sử Bá Uy lắc đầu, nói:

– Không phải đâu, món quà này là Thần điêu đại hiệp suất lĩnh hơn bảy trăm vị hảo thủ giang hồ đi lấy, tốn công sức không ít đâu.

Nói đoạn mở miệng túi ra. Quách Tương vừa ngó vào đã cả kinh, kêu lên:

– Toàn là tai người?

Sử Bá Uy nói:

– Đúng vậy! Năm cái túi này đựng tổng cộng hai ngàn cái tai tướng sĩ quân Mông Cổ.

Quách Tương chưa hiểu ý, hỏi:

– Nhiều tai người như thế, điệt nhi.. biết dùng làm gì?

Quách Tĩnh, Hoàng Dung nghe rõ ràng, cùng rời chỗ, đến trước mặt Sử Bá Uy, ngó vào túi, nghĩ đến lời nói của hai thám tử ban nãy, bất giác vừa kinh ngạc vừa vui mừng. Hoàng Dung nói:

– Sử đại ca, thì ra quân sĩ Mông Cổ ở bên ngoài thành Tân Dã và Đặng Châu là do.. Thần điêu đại hiệp chỉ huy mọi người tiêu diệt ư?

Năm huynh đệ họ Sử vái lạy Quách Tĩnh, Hoàng Dung. Vợ chồng Quách Tĩnh vội vái đáp lễ. Sử Bá Uy mới nói:

– Thần điêu đại hiệp bảo rằng Quách cô nương hiện ở thành Tương Dương, hôm nay mừng sinh nhật mười sáu tuổi của nàng, quân Mông Cổ man rợ dám vô lễ xâm phạm, làm cho Quách cô nương kinh hãi, vậy phải giết chúng mới được. Chỉ hận là đại quân Mông Cổ quá lớn, không thể tận diệt, đành suất lĩnh hào kiệt tiêu diệt hai cánh quân tiên phong của chúng trước.

Quách Tĩnh hỏi:

– Thần điêu đại hiệp hiện đang ở đâu? Tại hạ muốn được bái kiến, để thay mặt trăm họ thành Tương Dương cảm tạ.

Mười mấy năm nay Quách Tĩnh chuyên tâm luyện binh thủ thành, rất ít để ý đến chuyện giang hồ du hiệp; còn Dương Quá thì ẩn tính mai danh, giao du phần lớn với những nhân vật không rõ chính tà, cho nên Quách Tĩnh không biết Thần điêu đại hiệp chính là Dương Quá.

Sử Bá Uy nói:

– Thần điêu đại hiệp bận nhiều ngày chuẩn bị quà mừng sinh nhật cho lệnh ái, nên chưa kịp đến bái kiến Quách đại hiệp và Quách phu nhân, xin tạ tội sau.

Bỗng nghe xa xa có tiếng hú, rồi một tiếng nói cất lên:

– Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ phụng mệnh Thần điêu đại hiệp mang quà đến chúc mừng sinh nhật Quách nhị cô nương.

Thanh âm rất nhỏ, tưởng chừng đứt quãng, nhưng người người đều nghe rõ. Quách Tĩnh thấy món quà thứ nhất quá lớn, vội lên tiếng đáp:

– Quách Tĩnh cẩn hậu đài giá.

Giọng nói của Quách Tĩnh hồn hậu nhu hòa, truyền đi rất xa, đoạn cùng Hoàng Dung đi ra đón khách.

Hoàng Dung đứng sánh vai bên chồng, hỏi:

– Tĩnh ca ca có đoán ra Thần điêu đại hiệp là ai chưa?

Quách Tĩnh nói:

– Ta đoán không ra.

Hoàng Dung nói:

– Là Dương Quá đấy!

Quách Tĩnh ngẩn người, rồi sung sướng thốt lên:

– Giỏi quá, giỏi quá! Quá nhi lập được kỳ công như thế, quả là phúc lớn cho Đại Tống.

Hoàng Dung nói:

– Tĩnh ca ca thử đoán xem món quà thứ hai là gì nào?

Quách Tĩnh mỉm cười, nói:

– Dương Quá tài trí trác tuyệt, chỉ có nàng hơn được nó, cũng chỉ có nàng mới đoán trúng tâm tư của nó.

Hoàng Dung lắc đầu, nói:

– Lần này thiếp đoán không ra.

Nghĩ thầm: "Dương Quá vì thành Tương Dương lập đại công, nhưng cứ luôn luôn nói là vì Quách Tương. Nỗi oán hận của hắn đối với vợ chồng ta và Quách Phù chẳng giảm đi chút nào".

Không lâu sau, Trường Tu Quỉ Phàn Nhất Ông cùng tám Quỉ đến nơi, thi lễ với vợ chồng Quách Tĩnh, rồi tới trước mặt Quách Tương, nói:

– Cung chúc cô nương khang ninh an lạc, phúc trạch vô tận! Thần điêu hiệp sai chúng tôi mang món quà thứ hai mừng sinh nhật cô nương.

Quách Tương nói:

– Đa ta, đa tạ.

Chỉ thấy Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ người nào cũng bưng một cái hộp gỗ, nàng sợ bên trong lại đựng tai, mũi người, vội nói:

– Nếu là vật khó coi, xin đừng mở ra.

Đại Đầu Quỉ cười, nói:

– Lần này thì rất dễ coi.

Phàn Nhất Ông mở nắp hộp, lấy ra một cái hỏa pháo lưu tinh rất lớn, châm lửa vào ngòi. Cái hỏa pháo bay vút lên trời, ở lưng chừng trời nổ "đoàng" một tiếng, ánh sáng tung tóe, mưa hoa đầy trời, tạo thành chữ "Cung". Quách Tương vỗ tay cười, reo lên:

– Hay quá, hay quá!

Điếu Tử Quỉ phóng tiếp một cái hỏa pháo, nổ bung trên trời thành chữ "Chúc". Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ phóng hỏa pháo, tạo thành mười chữ lớn "Cung chúc Quách nhị cô nương đa phúc đa thọ". Mười chữ mỗi chữ một màu, lơ lửng cao tít giữa không trung, hồi lâu mới tắt. Quần hùng hoan hô dậy đất. Loại hỏa pháo này do một nghệ nhân lừng danh ở trấn Hán Khẩu là Hoàng Nhất Pháo chế tạo, vô cùng hoa mỹ, có một không hai trên thế gian.

Quách Tĩnh mỉm cười, nghĩ: "Tiểu nữ hài nhi thích món này, khiến Quá nhi phải tốn công tìm nghệ nhân chế tạo".

Mười chữ lớn trên không trung vừa tắt, bầu trời mạn bắc đột nhiên có một vệt lưu tinh bay vọt lên cao, cách nơi này vài dặm, tiếp đó ở xa mãi phía bắc lại có một vệt lưu tinh bay vọt lên.

Hoàng Dung nghĩ: "Truyền tin kiểu lưu tinh là học theo lối đốt lửa cảnh báo, trong giây lát, tin tức lan truyền hàng trăm dặm. Không biết Dương Quá bố trí như thế để làm gì? Món quà thứ hai của hắn quyết không chỉ là cảnh bắn pháo hoa vừa rồi". Bèn phân phó đệ tử Cái Bang bày tiệc thết đãi huynh đệ họ Sử và Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ.

Rượu vừa rót, bỗng nghe từ rất xa ở mạn bắc vọng về tiếng ì ầm như sấm rền không ngớt, vì quá xa nên nghe ầm ì.

Huynh đệ họ Sử và Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ nghe thấy âm thanh ấy thì cùng nhảy cẫng lên, reo to:

– Thành công rồi, thành công rồi!

Quần hùng ngơ ngác chưa hiểu. Đại Đầu Quỉ chỉ tay về phía bắc, nói to:

– Tuyệt diệu! Tuyệt diệu!

Lúc này trời đã tối hẳn, chân trời phương bắc đỏ hồng lên.

Hoàng Dung vừa kinh ngạc vừa vui mừng, nói:

– Nam Dương cháy lớn kìa!

Quách Tĩnh vỗ đùi reo to:

– Không sai, đúng là Nam Dương!

Hoàng Dung hỏi Phàn Nhất Ông:

– Xin được nghe cụ thể.

Phàn Nhất Ông nói:

– Đó là món quà thứ hai của Thần điêu hiệp mừng sinh nhật Quách nhị cô nương, đốt cháy kho lương của hai mươi vạn đại quân Mông Cổ.

Hoàng Dung đã đoán được ba phần, nghe họ Phàn nói vậy, bất giác nhìn Quách Tĩnh cả mừng.

Nguyên đại quân Mông Cổ tiến xuống phía nam đánh thành Tương Dương, đặt kho lương ở Nam Dương, mấy năm trước đã xây dựng tại Nam Dương kho lương thảo rộng lớn, chở từ tứ xứ tới đây hàng muôn vạn hộc lúa mạch và các kho chứa cỏ khô. Tục ngữ có câu: "Đại quân chưa lên đường, lương thảo đã đi trước". Lúa mạch là để nuôi sĩ tốt, cỏ khô để nuôi ngựa, là thứ sống còn của đại quân. Mông Cổ vốn lấy kỵ binh làm lực lượng chính, cỏ khô càng không thể thiếu một ngày. Quách Tĩnh từng mấy lần đem binh tập kích Nam Dương, nhưng quan binh Mông Cổ phòng thủ nghiêm mật, cả mấy lần đều thất bại; không ngờ Dương Quá lại phóng hỏa thành công. Quách Tĩnh nhìn ánh hồng ở phương bắc bốc lên mỗi lúc một cao, thì lo ngại, hỏi Phàn Nhất Ông:

– Chư vị xuất thủ liệu có rút ra an toàn được không? Có cần chúng ta đi tiếp ứng hay không?

Phàn Nhất Ông nghĩ: "Quách đại hiệp không hỏi chiến quả, mà lo cho sự an nguy của tướng sĩ trước, quả nhiên nhân nghĩa hơn người", nói:

– Đa tạ Quách đại hiệp quan hoài, Thần điêu hiệp đã an bài từ sớm. Việc phóng hỏa đốt Nam Dương do hơn ba trăm cao thủ đảm nhiệm, như Thánh Nhân sư thái, Nhân Úy Tử, Trương Nhất Manh, Bách Thảo Tiên.. Thiết nghĩ bọn võ sĩ Mông Cổ tầm thường chẳng đả thương nổi họ.

Quách Tĩnh chợt đại ngộ, nói với Hoàng Dung:

– Nàng nghe đó, Quá nhi triệu tập quần hào thì ra là để lập kỳ công này. Nếu không có rất nhiều cao thủ cùng ra tay, đâu dễ gì tiêu diệt hai ngàn quân Mông Cổ.

Phàn Nhất Ông lại nói:

– Chúng tôi thám thính, biết quân Mông Cổ định dùng hỏa pháo oanh tạc thành Tương Dương, các kho ngầm ở Nam Dương chứa đến mấy chục vạn cân hỏa dược. Cho nên khi chúng tôi ở đây bắn pháo hoa mừng sinh nhật, lưu tinh truyền tin, những cao thủ mai phục trong thành Nam Dương sẽ đồng thời ra tay, đốt kho hỏa dược trước, rồi mới đốt kho lương thảo. Sĩ tốt, ngựa chiến của đại quân Mông Cổ phen này cứ gọi là chết đói.

Quách Tĩnh và Hoàng Dung nhìn nhau, thầm kinh hãi. Hai vợ chồng từng theo Thành Cát Tư Hãn tây chinh hai năm, từng chứng kiến quân Mông Cổ dùng hỏa pháo đánh thành, uy thế đúng là như đá lăn núi lở.

Vì hỏa dược và thiết pháo không dễ chế tạo, nên mấy phen đánh thành Tương đương, quân Mông Cổ chưa sử dụng hỏa pháo. Lần này hoàng đế Mông Cổ thân chinh ngự giá, tất có vũ khí lợi hại nhất để công thành. Nếu không có Dương Quá đốt kho hỏa dược của địch, quân dân thành Tương Dương khó tránh gặp đại họa. Hai vợ chồng lại nghĩ: "Tiêu diệt hai thiên nhân đội dĩ nhiên làm giảm hẳn nhuệ khí quân địch, nhưng đốt kho hỏa dược và lương thảo mà địch tích trữ mấy năm ở thành Nam Dương, chỉ cần việc tiếp tế bị gián đoạn, quân địch không thể không lui binh. Chiến công này càng lớn lao". Hai vợ chồng cùng luôn miệng đa tạ huynh đệ họ Sử và Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ.

Sử Bá Uy và Phàn Nhất Ông đều nói:

– Tiểu nhân chỉ phụng mệnh Thần điêu hiệp hành sự, chạy đây chạy đó đôi chút, đâu có đáng để hai vị khen ngợi?

Lúc này tiếng hỏa dược cháy nổ vẫn ì ầm truyền lại, chỉ vì khoảng cách quá xa, nên nghe mơ hồ. Đột nhiên có mấy tiếng nổ lớn hơn, mặt đất hơi rung chuyển, Phàn Nhất ông vui mừng nói:

– Kho hỏa dược lớn nhất cũng cháy rồi.

Quách Tĩnh gọi huynh đệ họ Võ, nói:

– Hai ngươi dẫn hai ngàn tay cung nỏ đi đánh Nam Dương. Nếu thấy quân địch hàng ngũ chỉnh tề thì rút về; nếu thấy chúng hoảng loạn, thì thừa cơ bắn cung sát thương.

Võ Đôn Nhu và Võ Tu Văn vâng lệnh đi ngay.

Hai sự kiện vui mừng liên tiếp, quần hùng hoan hô rầm trời, uống rượu ăn mừng ầm ĩ, người người đều ca tụng công đức lớn lao của Thần điêu hiệp.

Quách Phù thấy chồng mình vô địch quần hùng, giành được chức vị bang chủ Cái Bang, hiển lộ tài nghệ rõ ràng trước hào kiệt thời nay, ai ngờ lại có mấy sự kiện trên. Dương Quá người chưa đến, đã lấn át hết uy phong của chồng nàng. Tuy việc tiêu diệt hai thiên nhân đội quân Mông Cổ, đốt kho hỏa dược và lương thảo thành Nam Dương là tin vui, nhưng nàng không khỏi buồn, lại nghe huynh đệ họ Sử và Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ bảo đấy là hai món quà của Dương Quá mừng sinh nhật của muội tử, rồi mười chữ chúc thọ bằng pháo hoa trên trời, càng làm cho nàng lu mờ đi trước mắt quần hùng. Nàng nghĩ: "Dương Quá hận ta chém mất cánh tay của hắn, cho nên mới cố ý làm mất thể diện của ta!" Nghĩ đến đây, nàng càng tức giận.

Lương trưởng lão và Gia Luật Tề, Quách Phù ngồi cùng mâm, thấy người người cao hứng hồ hởi, Quách Phù lại mặt nặng mày nhẹ, Lương trưởng lão nghĩ một chút, đã hiểu ra lý do, bèn cười, nói:

– Lão phu thật quá hồ đồ, vui quá đến nỗi quên cả đại sự trước mắt.

Rồi nhảy lên đài cao, nói bằng giọng sang sảng:

– Thưa các vị anh hùng, quân Mông Cổ bị hai thất bại liên tiếp, chúng ta tất nhiên hết sức vui mừng. Nhưng còn một việc đáng mừng không kém, vừa nãy Gia Luật đại gia đã hiển thị võ công thượng thừa, người người khâm phục. Vậy Cái Bang chúng ta cử Gia Luật đại gia làm bang chủ bổn bang. Các vị anh hùng thiên hạ có ai không phục chăng? Đệ tử bổn bang, ai có dị ngôn hay chăng?

Lương trưởng lão hỏi liền ba lần, bên dưới không ai lên tiếng. Lương trưởng lão nói:

– Vậy xin mời Gia Luật đại gia thượng đài.

Gia Luật Tề nhảy lên đài cao, ôm quyền hướng xuống bên dưới thi lễ, đang định nói vài lời khiêm tốn "vô đức bất tài", bỗng bên dưới có người nói:

– Hãy khoan, tiểu nhân có một câu, đánh bạo thỉnh giáo Gia Luật đại gia.

Gia Luật Tề sững lại, thấy người nói từ trong đám đệ tử Cái Bang đứng dậy, bèn ôm quyền, hỏi:

– Không dám, xin cứ nói!

Người kia nói lớn:

– Lệnh tôn của Gia Luật đại gia làm Tể tướng Mông Cổ, lệnh huynh cũng từng làm quan to, tuy đều đã qua đời, nhưng Cái Bang chúng tôi đối địch với Mông Cổ, trọng nhiệm bang chủ bổn bang, Gia Luật đại gia há có thể gánh vác?

Gia Luật Tề nói:

– Tiên phụ Sở Tài bị hoàng hậu Mông Cổ hạ độc mà chết, tiên huynh Gia Luật Tấn bị đương kim hoàng đế Mông Cổ giết hại, tại hạ với bạo chúa Mông Cổ quả có mối thù bất cộng đái thiên.

Người kia nói:

– Tuy nói vậy, song cái chết của lệnh tôn còn nhiều ám muội, chuyện hạ độc chỉ là đồn đại, chưa nghe tin xác thực. Lệnh huynh phạm pháp, đáng tội chết, mối thù ấy không báo cũng chẳng sao. Còn mối thù lớn của bổn bang chưa trả..

Quách Phù nghe gã kia xuất ngôn châm chọc chồng nàng, không nhịn được thêm, liền quát:

– Ngươi là ai mà dám hồ ngôn loạn ngữ. Có gan thì thượng đài mà nói.

Gã kia ngửa mặt cười to, nói:

– Hay, hay, hay! Bang chủ chưa lên ngôi, bang chủ phu nhân đã hiển lộ uy phong.

Cũng chẳng biết gã di chuyển cước bộ thế nào, mà thoắt một cái đã đứng tại đài khẩu. Quần hùng thấy gã hiển lộ khinh công như vậy, đều kinh ngạc: "Kẻ có khinh công cao siêu này là ai vậy?" Mấy ngàn con mắt đều dồn vào người ấy.

Chỉ thấy gã mặc bộ hắc y rách rưới, tay cầm một cây thiết trượng to bằng bắp tay, đầu tóc rối bù, nước da bủng beo, mặt đầy các vết sẹo lồi lõm, lưng đeo năm cái túi, thì ra là một đệ tử năm túi. Cái Bang vốn hiếm có ai tướng mạo tuấn nhã, nhưng người này xấu xí quá chừng. Bang chúng Cái Bang biết gã tên là Hà Sư Ngã, tính vốn ít nói, bảo gì làm nấy, mười mấy năm nay chăm chỉ hiền lành, cho nên được thăng dần lên đệ tử năm túi, còn võ nghệ thì thấp kém, tài trí thấp hèn, không một ai kính trọng gã; đều cho rằng gã lên tới địa vị đệ tử năm túi là đã cực hạn, ai ngờ một kẻ tầm thường như gã đột nhiên lại lên tiếng chất vấn Gia Luật Tề trước mặt quần hùng, còn thể hiện võ công cao đến bất ngờ, nên đều nghĩ: "Cái gã Hà Sư Ngã này học lỏm được một thân công phu bao giờ thế không biết?"

Hà Sư Ngã tuy là kẻ bình thường, nhưng tướng mạo quá xấu xí khiến người ta gặp một lần khó quên, cho nên Gia Luật Tề cũng biết gã, bèn ôm quyền, nói:

– Không biết Hà huynh có cao kiến gì, muốn nghe chỉ giáo.

Hà Sư Ngã cười khẩy, nói:

– Hai chữ "chỉ giáo" thật chẳng dám nhận. Tiểu nhân có hai việc chưa rõ, nên mạo muội lên đây để hỏi.

Gia Luật Tề nói:

– Là hai việc gì?

Hà Sư Ngã nói:

– Việc thứ nhất, việc bàn giao từ bang chủ cũ sang bang chủ mới của bổn bang xưa nay vẫn lấy Đả cẩu bổng làm tín vật, Gia Luật đại gia hôm nay muốn làm bang chủ, có biết vật chí bảo của bổn bang là cây Đả cẩu bổng hiện giờ ở đâu hay không? Tiểu nhân rất mong được biết.

Lời này nói ra, bang chúng Cái Bang đều nghĩ: "Câu hỏi này hóc búa thật!" Gia Luật Tề nói:

– Lỗ bang chủ mất mạng bởi tay kẻ gian, cây Đả cẩu bổng cũng bị kẻ gian lấy đi mất. Đó là kỳ sỉ đại nhục của bổn bang, phàm ai là đệ tử bổn bang, đều có trách nhiệm đoạt lại chiếc gậy đó.

Hà Sư Ngã nói:

– Việc thứ hai tiểu nhân chưa rõ, muốn hỏi: Mối thù lớn của Lỗ bang chủ rốt cuộc có trả hay không trả?

Gia Luật Tề nói:

– Lỗ bang chủ bị Hoắc Đô sát hại, ai cũng biết vậy, hào kiệt đương thế ai cũng bi phẫn. Có điều nhiều ngày tìm kiếm, vẫn chưa biết tên gian tặc Hoắc Đô ở đâu; đấy là một yếu vụ của bổn bang, chúng ta dẫu phải đi khắp chân trời góc biển, cũng phải tìm cho ra tên gian tặc Hoắc Đô, trả thù cho Lỗ bang chủ.

Hà Sư Ngã lạnh lùng nói:

– Thứ nhất, Đả cẩu bổng còn chưa đoạt lại được. Thứ hai, hung thủ sát hại tiền bang chủ còn chưa tìm ra. Hai việc lớn chưa làm, lại đòi làm bang chủ, như vậy có nóng vội quá chăng?

Mấy câu này lẽ chính từ nghiêm, Gia Luật Tề không biết đối đáp thế nào.

Lương trưởng lão nói:

– Lời của Hà lão đệ nói cũng có lý. Nhưng mấy chục vạn đệ tử bổn bang trải khắp thiên hạ, không thể không có người cầm chịch; còn việc tìm vật chí bảo và truy tìm hung thủ, càng không thể bảo làm là làm. Phải có người chủ trì mới có thể hoàn tất hai việc lớn này. Chúng ta lập ngay vị tân bang chủ, chính là vì thế.

Hà Sư Ngã lắc đầu, nói:

– Lương trưởng lão nói quá sai, có thể gọi là đảo ngược nhân quả, gốc ngọn.

Lương trưởng lão là người đứng đầu bốn vị trưởng lão Cái Bang, sau khi bang chủ chết càng phải được tôn trọng; gã đệ tử năm túi lại dám cả gan nói năng vô lễ trước mặt mọi người. Lương trưởng lão tức giận nói:

– Lời của lão phu sai thế nào?

Hà Sư Ngã nói:

– Theo ý đệ tử, người nào có thể đoạt lại cây Đả cẩu bổng, người nào giết được tên gian tặc Hoắc Đô, trả thù cho Lỗ bang chủ, chúng ta sẽ cử người ấy làm bang chủ. Còn như hôm nay, ai võ công cao nhất, thì người ấy được làm bang chủ; giả dụ Hoắc Đô bỗng nhiên đến đây, võ công lại cao hơn Gia Luật đại gia, chẳng lẽ chúng ta phải cử hắn làm bang chủ hay sao?

Câu nói này khiến quần hùng cứ đưa mắt nhìn nhau, cảm thấy hết sức có lý.

Quách Phù từ bên dưới nói lên:

– Hồ thuyết bát đạo. Võ công của Hoắc Đô làm sao thắng được Gia Luật đại gia?

Hà Sư Ngã cười khẩy, nói:

– Gia Luật đại gia võ công tuy mạnh, nhưng cũng chưa phải là vô địch thiên hạ. Tiểu nhân chỉ là đệ tử năm túi của Cái Bang, chưa chắc đã thua Gia Luật đại gia.

Quách Phù đang tức gã nói năng vô lễ, nghe gã tự nguyện động thủ thì không còn gì bằng, bèn gọi:

– Tề ca, hãy giáo huấn cho tên cuồng đồ kia một trận.

Hà Sư Ngã lạnh lùng nói:

– Sự vụ của bổn bang xưa nay là do bang chủ xử lý, bốn đại trưởng lão có quyền xử lý, bang chủ phu nhân thì không có quyền. Đừng nói Gia Luật đại gia còn chưa làm bang chủ, dù có làm rồi đi nữa, Gia Luật phu nhân cũng không được phép mắng mỏ chỉ trích đệ tử trước mặt mọi người, phải vậy không?

Quách Phù đỏ bừng cả mặt, chỉ nói:

– Ngươi.. nhà ngươi..

Hà Sư Ngã không thèm lý đến nàng, quay sang nói:

– Lương trưởng lão, nếu đệ tử thắng Gia Luật đại gia, thì chức bang chủ thuộc về đệ tử, phải vậy không? Hay là chờ có ai đoạt bổng giết thù, bấy giờ sẽ cử người ấy làm bang chủ?

Lương trưởng lão thấy gã càng lúc càng ngông cuồng, thì nộ khí dâng lên ngực, nói:

– Bất luận người nào thắng được quần hùng đều có thể làm bang chủ, sau đó nếu không đoạt bổng giết thù, sẽ phải hổ thẹn về chức vị đang nắm giữ. Gia Luật đại gia nếu làm bang chủ, hai việc lớn ấy không thể không làm. Nhưng nếu không thắng Hà huynh đệ, làm sao có thể đảm đương chức bang chủ?

Hà Sư Ngã nói to:

– Lương trưởng lão nói chí lý, tiểu nhân xin lĩnh giáo Gia Luật đại gia trước, rồi sẽ đi đoạt bổng giết thù.

Ngụ ý là gã nắm chắc chín phần mười sẽ đánh bại Gia Luật Tề.

Gia Luật Tề vốn hành sự ổn trọng, nhưng nghe câu nói của Hà Sư Ngã cũng không khỏi tức giận, nói:

– Tiểu đệ tài sơ học thiển, vốn không dám đảm đương trọng nhiệm bang chủ. Hà huynh chịu chỉ giáo thì quá hay.

Hà Sư Ngã nói:

– Nói hay, nói hay lắm!

Đoạn gã cắm cây thiết trượng xuống sàn đài, vù một cái, tung chưởng đánh Gia Luật Tề. Lực đạo của chưởng này tựa hồ không thật mạnh, nhưng tầm bao quát phải tới cả một trượng vuông. Lương trưởng lão chưa kịp lùi ra, bị chưởng lực quạt nóng rát cả mặt, vội nhảy sang một bên.

Gia Luật Tề không dám coi thường, tay trái giơ lên, tay phải sử chiêu "Thám tàng nhược hư", sử dụng chiêu số của bảy mươi hai lộ "Không Minh quyền".

Hai người quyền lai cước vãng, bắt đầu tỷ thí trên đài cao. Lúc này sắp đến giờ Tuất, ánh trăng không sáng lắm, mười mấy cây đuốc lớn được đốt ở bốn phía đài cao, quần hùng bên dưới nhìn rõ mồn một cuộc đấu của hai người. Hoàng Dung xem hơn mười chiêu, thấy Gia Luật Tề chưa chiếm được thượng phong, quan sát kỹ võ công của Hà Sư Ngã, không nhận biết gia số thế nào; quyền cước, chiêu thức của gã hết sức tạp loạn, song công lực rất thâm hậu, tối thiểu cũng có bốn chục năm cần tu khổ luyện, nghĩ thầm: "Mười một mười hai năm nay, trong danh sách Cái Bang có thấy tên Hà Sư Ngã từng bước thượng thăng nhờ chuyên cần, chưa nghe ai nhắc tới võ công của hắn, nhưng nhìn thân thủ của hắn, quyết không phải hắn mới tiến mạnh gần đây mà nhờ sự kỳ ngộ nào đó. Bao lâu nay hắn giấu mình trong bang, không lẽ là để dành cho ngày hôm nay?"

Đấu đến năm chục chiêu, Gia Luật Tề dần dần kinh hãi, bất luận mình biến chiêu thế nào, đối phương cũng đều ung dung hóa giải, thật là cường địch bình sinh hiếm thấy; song hắn lại không thừa thế tấn công, tựa hồ hắn chỉ định tiêu hao nội lực của chàng, rồi mới dồn sức công kích vậy.

Gia Luật Tề tối nay đã đấu với nhiều người, nhưng trừ Lam Thiên Hòa ra, các đối thủ khác đều không đáng kể, nên chàng chưa bị hao tổn nhiều lực khí, thấy Hà Sư Ngã thân pháp phiêu hốt bất định, song quyền của chàng đột nhiên biến thành song chưởng, sấn lên công kích. Thuật song thủ hỗ bác của Chu Bá Thông không phải ai cũng học được; Gia Luật Tề tuy là cao đồ nhập thất của Chu Bá Thông, cũng không học được môn công phu kỳ lạ ấy; nhưng võ công chính tông Huyền môn của phái Toàn Chân thì Gia Luật Tề nắm vững đến chín phần mười, lúc này chàng đem ra thi triển, thấy ngọn lửa của mười mấy cây đuốc quanh đài đều dạt cả ra phía ngoài; chỉ riêng điều đó đủ biết chưởng lực mạnh mẽ biết chừng nào. Dưới ánh đuốc, hai người trên đài quyền chưởng múa lượn, hình ảnh qua lại lúc chờn vờn, lúc quyết liệt.

Hoàng Dung hỏi Quách Tĩnh:

– Tĩnh ca ca có biết gia số của người này thế nào không?

Quách Tĩnh nói:

– Cho đến lúc này, y vẫn chưa để lộ võ công bản môn, chứng tỏ y cố giấu giếm lai lịch; đấu thêm bảy, tám chục chiêu, Tề nhi dần dần thắng thế, bấy giờ nếu y không nhận thua, sẽ phải bộc lộ chân tướng.

Lúc này hai người càng đấu càng nhanh, thoáng chốc đã thay nhau công thủ năm chục chiêu, rồi bảy, tám chục chiêu, quả nhiên như Quách Tĩnh dự đoán, chưởng phong của Gia Luật Tề đã chụp lên toàn thân đối phương. Quách Tĩnh và Hoàng Dung chăm chú quan sát Hà Sư Ngã, biết y trong tình cảnh này nếu không sử dụng bản lĩnh nội gia, mà cứ chống đỡ bằng võ công bàng môn tạp phái, ắt sẽ đại bại. Gia Luật Tề cũng đã nhận ra điểm này, chưởng lực dần dần gia tăng, nhưng không mạo hiểm tấn công, chỉ duy trì thế chủ động.

Thấy Hà Sư Ngã đã không thể không biến chiêu, đột nhiên y cùng phất mạnh hai ống tay áo, một luồng kình phong thổi mạnh, mười mấy cây đuốc quanh đài bạt đi, chập chờn rồi tắt phụt. Quần hùng thấy tối sầm, chỉ nghe Gia Luật Tề và Hà Sư Ngã cùng thét to, hịch một cái, có người từ trên đài ngã xuống đất. Hà Sư Ngã cười phá lên ha ha trên đài. Mọi người kinh ngạc, không ai lên tiếng, chỉ nghe tiếng cười đắc chí của Hà Sư Ngã.

Lương trưởng lão nói:

– Đốt đuốc lên!

Hơn chục đệ tử Cái Bang chạy lên đốt đuốc sáng, mọi người thấy Gia Luật Tề đứng dưới đài, má bên trái máu chảy ròng ròng từ vết thương to bằng miệng chén. Hà Sư Ngã chìa bàn tay trái, cười khẩy, nói:

– Hảo thiết giáp, hảo thiết giáp!

Bàn tay gã đỏ lòm máu tươi.

Quách Tĩnh và Hoàng Dung nhìn nhau, biết Quách Phù đã đưa áo giáp lông nhím cho chồng mặc, nên khi Hà Sư Ngã đánh trúng một chưởng, bàn tay lập tức bị thương vì lông nhím đâm vào. Nhưng Gia Luật Tề bị thương vào má trái và ngã xuống khỏi đài như thế nào, thì trong đêm tối không thể nhìn được.

Nguyên Hà Sư Ngã đúng lúc ác đấu, đột nhiên sử dụng công phu "Đại phong tụ" làm tắt ngấm mười mấy cây đuốc quanh đài. Gia Luật Tề sững lại, vội vỗ ra một chưởng bảo vệ phía trước, bỗng cảm thấy ngón tay lạnh ngắt vì chạm vào một thứ thiết khí gì đó, lập tức biết đối phương đánh lâu không thắng đã giở gian kế, trong bóng tối rút binh khí ra đánh trộm. Chàng tuy tay không, cũng không sợ đối phương có binh khí, liền thi triển "Đại cầm nã thủ" để đoạt binh khí của đối phương, vạch mưu gian của đối phương trước mặt quần hùng. Chàng sử chiêu "Xảo thủ bát đả", đến cách Hà Sư Ngã hai thước thì lật cổ tay một cái, đã chộp được cán binh khí đối phương. Tả chưởng liền đánh thẳng tới mặt Hà Sư Ngã, như thế gã không thể không buông binh khí.

Trong bóng tối, Hà Sư Ngã quả nhiên nghiêng đầu né tránh, buông ngón tay. Gia Luật Tề đoạt lấy binh khí. Đúng lúc ấy, má trái của chàng đau nhói lên, rồi hự một cái, ngực chàng lại trúng chưởng, chàng đứng không vững, bị văng khỏi đài. Chàng không ngờ binh khí của đối phương rất kỳ quặc, có gài cơ quan bên trong, đứt thành hai đoạn, đoạn trên bị chàng đoạt lấy, đoạn dưới lại bật lên đánh trúng má chàng, ngập vào nửa tấc, chạm xương, song không yếu hại; vì sát thủ của Hà Sư Ngã là dồn vào một chưởng. May mà Quách Phù cứ bắt chàng phải mặc thêm cái áo giáp lông nhím bên trong trường bào, cho nên chàng không bị tổn thương vì chưởng, trong khi Hà Sư Ngã lại bị chảy máu cả bàn tay.

Quách Phù thấy chồng bị rớt đài, vừa sợ vừa tức, chạy lại trợ giúp. Lương trưởng lão thừa biết Hà Sư Ngã đã hành sự gian trá trong bóng tối, nhưng không có chứng cứ, đồng thời cả hai người đều bị thương chảy máu, cũng không thể trách riêng bên nào vi phạm lời dặn "chạm đến thì đừng"; xem ra hai người chỉ bị thương nhẹ, nhưng Gia Luật Tề bị rớt khỏi đài, tức là đã thua trận này.

Quách Phù không phục, nói:

– Người kia sử dụng gian kế, Tề ca, hãy thượng đài tái quyết thắng bại với hắn!

Gia Luật Tề lắc đầu, nói:

– Hắn đã dùng trí thủ thắng, coi như đã thắng. Huống hồ xét về võ công, ta cũng chưa chắc thắng hắn.

Hoàng Dung vẫy vẫy tay, bảo Gia Luật Tề lại gần, xem đoạn binh khí mà chàng đoạt được, thấy là một thanh sắt dài năm tấc, nhất thời cũng chưa nghĩ ra trong võ lâm có ai sử dụng binh khí này.

Hà Sư Ngã vênh cái mặt xấu xí bủng beo, nói:

– Tại hạ tuy đánh thắng Gia Luật đại gia, nhưng chưa dám nhận chức Bang chủ. Cần phải tìm lại cây Đả cẩu bổng, giết được Hoắc Đô đã, bấy giờ xin nghe các vị quyết định.

Mọi người nghe câu nói đó rất công bằng, thấy gã tuy thắng một cách ám muội, nhưng võ công thập phần cao cường, nghe gã nói xong, một số đệ tử Cái Bang vỗ tay hoan hô.

Hà Sư Ngã đứng ở đài khẩu, ôm quyền thi lễ với mọi người, nói:

– Các vị anh hùng có ai muốn chỉ giáo, xin mời thượng đài.

Chữ "đài" vừa dứt, bỗng nghe Sử Bá Uy hét to một tiếng, năm trăm con mãnh thú ở bốn phía sân bãi liền đứng dậy cùng gầm lên. Chỉ riêng tiếng gầm của sư tử và mãnh hổ đã đầy uy lực, huống hồ cả năm trăm con mãnh thú cùng gầm rống một lúc. Thanh âm y như núi lở, chỉ thấy bụi cát bốc lên trên sân bãi, chén bát trước mặt quần hùng va vào nhau lanh canh không dứt.

Trong tiếng gầm của mãnh thú, huynh đệ họ Sử và Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ cùng lao tới bên đài cao, rút binh khí ra vây quanh đài.

Rồi ở lối vào bãi, có đuốc sáng bừng, tám người giơ cao đuốc, nói to:

– Thần điêu hiệp có món quà thứ ba mừng sinh nhật Quách nhị cô nương.

Họ nói xong trong chớp mắt đã vọt tới trước mặt Quách Tương, cả tám người cùng hiển lộ khinh công thượng thừa. Bốn người đi giữa mỗi người một tay khiêng một cái bao tải lớn, xem chừng món quà thứ ba ở trong chiếc bao tải kia.

Tám người cúi mình thi lễ với Quách Tương, tự báo tính danh, quần hùng nghe thấy đều kinh ngạc, nguyên lai vị thứ nhất là một lão hòa thượng, phương trượng chùa Phật Quang ở Ngũ Đài sơn, tên Đàm Hoa đại sư là người lừng danh ngang với phương trượng Thiếu Lâm tự Thiên Minh thiền sư, các vị còn lại như Triệu lão tước gia, Lung Á đầu đà, chưởng môn phái Côn Luân Thanh Linh Tử, đều là bậc tiền bối lừng lẫy tiếng tăm trong giang hồ.

Quách Tương chưa biết danh tiếng các vị đó, đứng dậy đáp lễ, cười tươi như hoa, nói:

– Thật phiền các vị bá bá thúc thúc vất vả. Không biết trong này có món đồ chơi gì đây?

Bốn người khiêng túi cùng giật tay ra sau một cái, chiếc bao tải rách toạc thành bốn mảnh, lộ ra một vị hòa thượng trọc đầu.

Comments

Comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 37: Ân Oán Ba Đời

Vị hòa thượng kia tì vai xuống đất, lập tức bật dậy, thân thủ rất mau lẹ. Chỉ thấy y mặt mũi hầm hầm, xí la xí lô mấy câu gì đó không ai hiểu nổi.

Quách Tĩnh và Hoàng Dung nhận ra y chính là Đạt Nhĩ Ba, nhị đệ tử của Kim Luân pháp vương, chẳng biết tại sao lại bị đám Đàm Hoa đại sư, Triệu lão tước gia bắt sống.

Quách Tương cứ ngỡ trong chiếc bao tải có thứ đồ chơi gì lạ lùng, nhưng lại thấy một Tạng tăng hình thù thô lậu, thì hơi thất vọng, nói:

– Đại ca ca gửi cho tiểu nữ một lão hòa thượng, tiểu nữ chả thích. Đại ca ca hiện ở đâu, sao vẫn chưa đến?

Trong số tám người mang món quà thứ ba mừng sinh nhật, Thanh Linh Tử là người sống lâu ở sát vùng Tây Tạng, biết nói tiếng Tạng, ghé tai Đạt Nhĩ Ba nói nhỏ vài câu gì đó, thấy Đạt Nhĩ Ba biến sắc, cả kinh, chằm chằm nhìn Hà Sư Ngã trên đài cao. Thanh Linh Tử lại dùng tiếng Tạng nói to vài câu, rồi trao cây kim chử đeo sau lưng cho Đạt Nhĩ Ba. Đấy vốn là binh khí của Đạt Nhĩ Ba, y bị tám đại cao thủ vây công và bắt sống, đoạt mất binh khí.

Đạt Nhĩ Ba nhận cây kim chử, quát to một tiếng, tung mình nhảy lên đài cao.

Thanh Linh Tử cười, nói với Quách Tương:

– Quách nhị cô nương, gã hòa thượng ấy biết diễn trò, Thần điêu đại hiệp sai gã diễn trò cho cô nương xem.

Quách Tương vui mừng, vỗ tay, nói:

– Thì ra vậy. Tiểu nữ cứ lấy làm lạ, sao đại ca ca tốn công tìm lão hòa thượng để làm gì.

Đạt Nhĩ Ba lớn tiếng nói gì đó với Hà Sư Ngã, Hà Sư Ngã nói:

– Gã hòa thượng kia, ngươi nói gì, ta không hiểu gì hết.

Đạt Nhĩ Ba sấn tới, bổ cây kim chử xuống đầu Hà Sư Ngã. Hà Sư Ngã né người tránh. Đạt Nhĩ Ba vung cây kim chử cứ xông tới. Hà Sư Ngã tay không, trước sự công kích mãnh liệt của cây kim chử to nặng, chỉ liên tiếp thoái lui.

Bang chúng Cái Bang thấy Tạng tăng hung mãnh như vậy, đều tức giận coi gã như kẻ địch, xôn xao cả lên.

Lương trưởng lão quát:

– Đại hòa thượng không được lỗ mãng, vị này tương lai sẽ là bang chủ của bổn bang.

Đạt Nhĩ Ba thây kệ, cứ múa cây kim chử thành một đạo hoàng quang, càng lúc càng phát ra tiếng ù ù.

Sáu, bảy đệ tử Cái Bang không nhịn được, định nhảy lên đài cao trợ giúp Hà Sư Ngã, nhưng tám đại cao thủ, huynh đệ họ Sử và Tây Sơn Nhất Khuất Quỷ, tổng cộng hai mươi ba người vây quanh đài cao, không cho ai lên đó. Bang chúng Cái Bang tuy đông đảo, song nhất thời chưa làm gì được, đang huyên náo thì Thanh Linh Tử nhảy lên đài, nhổ cây thiết bổng mà Hà Sư Ngã cắm một chỗ. Hà Sư Ngã cả kinh, xông tới cướp lại, nhưng bị cây kim chử của Đạt Nhĩ Ba tấn công dồn dập, không tách ra nổi.

Quách Tĩnh và Hoàng Dung không rõ lý do, không đoán biết Dương Quá phái tám người mới đến gây náo loạn là có dụng ý gì. Nhưng nghĩ món quà thứ nhất và món quà thứ hai hết sức có lợi cho thành Tương Dương, thì món quà thứ ba chắc cũng không tệ, nên hai vợ chồng cứ lẳng lặng quan sát động tĩnh.

Gia Luật Tề tuy bị Hà Sư Ngã dùng gian kế đánh rớt đài, nhưng chàng đã quyết chí kế tục đại nghiệp của nhạc mẫu, xuất lực cho Cái Bang, thấy Hà Sư Ngã bị Đạt Nhĩ Ba dồn cho chân tay luống cuống, bèn quát to:

– Hà huynh đừng hoảng, có đệ giúp huynh đây!

Chàng lao tới mép đài. Bỗng có người ở bên trái nói:

– Không ai được thượng đài cả!

Đoạn giơ tay ra chắn đường. Gia Luật Tề lấy tay gạt đi, người kia ngoặt cổ tay chộp bắt, chiêu số tinh diệu, nội lực thâm hậu. Gia Luật Tề chột dạ, nhìn người kia, đó chính là Sử Thúc Cương. Gia Luật Tề biến chiêu mấy lần liền, vẫn không đẩy lùi được đối phương, chàng thầm kinh dị: "Người này chỉ là một thuộc hạ vô danh của Thần điêu hiệp mà đã lợi hại như thế. Thần điêu hiệp có thể tập hợp ngần ấy đại cao thủ, không hiểu bản thân Thần điêu hiệp là nhân vật cỡ nào?"

Thanh Linh Tử giơ cao cây thiết bổng, nói to:

– Thưa các vị anh hùng, xin hãy nhìn xem là vật gì đây?

Đột nhiên chém cạnh bàn tay vào ngang cây thiết bổng, cây thiết bổng lập tức vỡ toác, thì ra nó rỗng ruột, Thanh Linh Tử lôi từ trong ruột nó ra một cây gậy trúc xanh bóng.

Bang chúng Cái Bang vừa nhìn thấy nó thì đang lặng như tờ bỗng cùng reo to:

– Đả cẩu bổng của bang chủ!

Những đệ tử đang động thủ với huynh đệ họ Sử và Tây Sơn Nhất Khuất Quỷ đều nhảy lui, ai cũng lấy làm lạ: "Đả cẩu bổng tại sao lại giấu bên trong cây thiết bổng? Tại sao nó lại lọt vào tay Hà Sư Ngã? Tại sao Hà Sư Ngã giấu giếm việc đó?"

Mọi người chờ nghe Thanh Linh Tử giải thích nhiều nghi vấn, nhưng Thanh Linh Tử không nói gì, nhảy khỏi đài, hai tay cầm ngang cây Đả cẩu bổng, cung kính trao cho Quách Tương. Quách Tương nhìn vật nhớ người, nhớ lại diện mạo và giọng nói của Lỗ Hữu Cước, bất giác se lòng, nhận cây gậy trúc, đưa cho mẫu thân.

Lúc này cây kim chử của Đạt Nhĩ Ba tấn công dồn dập hơn, Hà Sư Ngã chỉ dựa vào thân pháp tiểu xảo để né tránh, tình thế rất nguy hiểm. Bang chúng Cái Bang sau khi nhìn thấy cây Đả cẩu bổng, biết nhóm Thanh Linh Tử bắt sống Đạt Nhĩ Ba mang tới đây là để đối phó với Hà Sư Ngã, bên trong tất có duyên cớ hệ trọng, nên không còn ai muốn thượng đài cứu giúp nữa.

Chỉ chừng mươi chiêu nữa Hà Sư Ngã sẽ bỏ mạng dưới cây kim chử, Hoàng Dung chợt nghĩ: "Hà Sư Ngã dùng ám khí đả thương Tề nhi, trong tay áo gã rõ ràng có giấu binh khí, sao lúc nguy cấp này gã không lấy ra chống đỡ?" Thấy cây kim chử của Đạt Nhi Ba quét sát đất một cái, Hà Sư Ngã vội nhảy tránh. Đạt Nhĩ Ba lật cây kim chử một cái, đánh bật từ dưới lên. Hà Sư Ngã hai chân ở trên không trung, không cách gì né tránh chiêu này, bỗng nghe keng một tiếng, binh khí đụng nhau, Hà Sư Ngã mượn thế nhảy ra, trong tay gã đã cầm một món binh khí ngắn.

Đạt Nhĩ Ba hầm hầm giận dữ, miệng chửi lảm nhảm, cây kim chử múa tít. Nhưng Hà Sư Ngã đã có binh khí trong tay, tình thế lập tức thay đổi, gã chọc, đâm, gạt, chém, binh khí tuy ngắn, song chiêu số cực kỳ vi diệu, đấu ngang ngửa với Đạt Nhĩ Ba.

Chu Tử Liễu nhìn một lát, chợt tỉnh ngộ, nói:

– Quách phu nhân, tại hạ biết hắn là ai rồi. Nhưng còn một điều chưa rõ.

Hoàng Dung mỉm cười, nói:

– Cái đó chỉ việc trộn keo, bột thạch cao với mật ong, bôi đắp lên mặt là xong.

Gia Luật Tề và Quách Phù, Quách Tương lúc này đứng bên cạnh Hoàng Dung, nghe hai người đối đáp, cứ gãi gáy. Quách Phù hỏi:

– Chu bá bá, bá bá nói hắn là ai vậy?

Chu Tử Liễu hỏi:

– Điệt nhi muốn nói cái gã Hà Sư Ngã đã đả thương chồng điệt nhi ấy à?

Quách Phù nói:

– Hắn không phải là Hà Sư Ngã, thì là ai vậy?

Chu Tử Liễu nói:

– Điệt nhi thử nhìn kỹ xem, hắn sử dụng thứ binh khí gì?

Quách Phù chăm chú nhìn, nói:

– Thứ này dài chưa đầy một thước, không phải là nga mi thích, phán quan bút, cũng không phải là điểm huyệt quyết.

Hoàng Dung nói:

– Ngươi thử suy nghĩ xem tại sao hắn không hề dùng binh khí, thà chịu nguy hiểm lớn, tránh đông tránh tây mãi, đến lúc bị gã hòa thượng dồn chí chết, mới đành rút binh khí ra? Tại sao khi dùng binh khí đả thương Tề nhi, hắn phải làm tắt hết các cây đuốc?

Quách Phù nói:

– Kẻ đó gian trá xảo quyệt, chứ có đạo lý gì đâu?

Quách Tương nói:

– Chắc là hắn sợ có người ở đây nhận ra thân pháp của hắn khi sử dụng binh khí, cho nên hắn không muốn để lộ chân tướng.

Chu Tử Liễu khen:

– Đúng, Quách nhị tiểu thư thông minh lắm!

Quách Phu nghe Chu Tử Liễu khen ngợi muội tử, thì không phục, nói:

– Cái gì mà bảo hắn không muốn để lộ chân tướng? Chẳng phải hắn đứng sờ sờ trên đài đó sao? Ai cũng nhìn rõ mồn một.

Quách Tương nghĩ đến câu vừa rồi của mẹ, nói:

– Ồ, các vết sẹo lồi lõm trên mặt hắn chẳng qua là trộn keo, bột thạch cao với mật ong, bôi đắp lên mặt. Cái bộ mặt đáng sợ của hắn, muội nhìn một lần, không muốn nhìn lần nào nữa.

Hoàng Dung nói:

– Hắn càng giả trang đáng sợ, càng khó để lộ sơ hở; bởi vì người ta thấy bộ mặt khó coi, không dám nhìn kỹ, cho nên khó lòng phát giác. Ôi, nhưng mà giả trang được lâu như thế, thật cũng chẳng dễ chút nào.

Chu Tử Liễu nói:

– Diện mạo có thể giả trang, chứ võ công và thân pháp thì không giả trang được. Công phu luyện mấy chục năm, giả bộ sao nổi?

Quách Phù nói:

– Các vị bảo Hà Sư Ngã là kẻ giả trang, vậy hắn là ai? Muội tử, muội thông minh lắm, thử đoán xem nào.

Quách Tương lắc đầu, nói:

– Muội không thông minh, cho nên chẳng biết gì chuyện này.

Chu Tử Liễu nói:

– Đại tiểu thư từng nhìn thấy hắn, khi ấy nhị tiểu thư còn chưa ra đời. Mười bảy năm trước, tại đại hội anh hùng ở ải Đại Thắng, có một kẻ từng đấu với ta mấy trăm hiệp, kẻ đó là ai?

Quách Phù nói:

– Là Hoắc Đô. Không, không phải hắn. Hắn sử dụng cây quạt gấp, không giống thứ binh khí kia, đúng rồi, cây quạt trong tay hắn hiện thời chỉ có cái khung, không có lá.

Chu Tử Liễu nói:

– Trận ác đấu giữa ta với hắn là một đại hiểm sự trong đời ta, thân pháp và chiêu số của hắn, làm sao ta lại không hận ra? Người kia mà không phải là Hoắc Đô, thì Chu Tử Liễu ta mù mắt mất rồi.

Khi Quách Phù nhìn kỹ Hà Sư Ngã một lần nữa, thấy hắn cước bộ lẹ làng, xuất thủ nham hiểm, quả nhiên giống gã Hoắc Đô tại đại hội anh hùng năm xưa, nhưng trong bụng còn nhiều hồ nghi, bèn hỏi:

– Nếu hắn đúng là Hoắc Đô, lão hòa thượng Tây Tạng kia là sư huynh của hắn, sao lại không nhận ra hắn, cứ liều chết đánh hắn như vậy?

Hoàng Dung nói:

– Chính vì Đạt Nhĩ Ba biết hắn là sư đệ mới đánh hắn như vậy. Năm xưa trong cuộc đại chiến ở cung Trùng Dương, núi Chung Nam, Dương Quá dùng thanh Huyền thiết trọng kiếm đè ép hai gã Đạt Nhĩ Ba và Hoắc Đô. Hoắc Đô thấy nguy đến tính mạng, liền giở gian kế, phản sư đào thoát. Việc đó mọi người trên dưới phái Toàn Chân đều thấy, ngươi không nghe ai kể hay sao?

Quách Phù nói:

– Thì ra vì thế Đạt Nhĩ Ba mới căm hận hắn.

Quách Tương nghe mẫu thân nói "Dương Quá dùng thanh Huyền thiết trọng kiếm đè ép hai gã Đạt Nhĩ Ba và Hoắc Đô", liền hình dung phong thái anh hùng của Dương Quá năm ấy, đứng ngẩn người ra.

Quách Phù lại hỏi:

– Tại sao hắn lại biến thành khất cái? Đả cẩu bổng của chúng ta tại sao lại rơi vào tay hắn?

Hoàng Dung nói:

– Như thế vẫn chưa nghĩ ra được ư? Hoắc Đô phản bội sư môn, tất nhiên sợ sư phụ và sư huynh tìm hắn, bèn cải trang, chui vào Cái Bang, nem nép một bề, không lộ bản lĩnh, mười mấy năm thăng dần đến địa vị đệ tử năm túi; người của Cái Bang cố nhiên không ai nghi ngờ. Kim Luân pháp vương càng không tìm ra hắn. Nhưng hạng người gian ác như hắn không khi nào chịu mai một suốt đời, cơ hội vừa đến là sẽ chộp lấy ngay. Hôm Lỗ bang chủ ra ngoài tuần tra, Hoắc Đô mai phục một bên, bất ngờ hạ độc thủ, khi ấy hắn để lộ bản lai diện mục, đồng thời nhắn lại rằng người giết Lỗ Hữu Cước chính là Hoắc Đô. Sau khi lấy cây Đả cẩu bổng, hắn giấu vào trong cây thiết bổng kia. Đợi khi bản bang tuyển chọn bang chủ, hắn bèn đề xướng đại sự "tìm lại Đả cẩu bổng". Đó là bang qui truyền đời của Cái Bang, ai dám bác bỏ? Ôi, tên gian tặc Hoắc Đô, mưu kế đánh vào lòng người của hắn phải nói là vô cùng lợi hại.

Chu Tử Liễu cười, nói:

– Nhưng có Quách phu nhân, hắn dẫu ngụy trang được nhất thời, cuối cùng cũng không che mắt được phu nhân.

Hoàng Dung mỉm cười không đáp, nghĩ thầm: "Hoắc Đô chui vào Cái Bang, thủy chung không lộ diện, có thể che mắt được ta, nhưng đòi làm bang chủ, thì xem thường Hoàng Dung này quá".

Chu Tử Liễu nói:

– Dương Quá thật tài tình, có thể nắm chắc được động thái của Hoắc Đô, lại lột trần bộ mật thật của hắn ta, món quà tặng Quách nhị tiểu thư thật không nhỏ.

Quách Phù nói:

– Hừ, chẳng qua may mắn phát hiện được thôi, có gì mà tài tình.

Quách Tương nghĩ: "Hôm ấy đại ca ca ở bên ngoài miếu Dương Thái Phó, thấy mình cúng Lỗ bá bá, biết mình với Lỗ bá bá là hảo bằng hữu, nên tìm muôn ngàn cách trả thù cho mình, ôi, món quà này thật lớn lao, tâm ý của chàng.." Nàng bỗng nhớ ra một việc, nói:

– Hoắc Đô tuy cải trang chui vào Cái Bang, làm một khiếu hóa tử xấu xí, nhưng có lần lại hiện nguyên hình ra ngoài gây sự. Sử tam thúc trong huynh đệ Sử gia từng bị hắn đả thương, chắc Sử tam thúc quyết ý tìm hắn báo thù, nên đã lần ra tung tích hắn.

Hoàng Dung gật đầu, nói:

– Đúng vậy, trên giang hồ thi thoảng vẫn có hình tích của Hoắc Đô, nên người ta sẽ không ngờ Hà Sư Ngã trong Cái Bang và Hoắc Đô là một người. Hà Sư Ngã, Hà Sư Ngã, con hãy xem cái tên giả của hắn, có nghĩa "ta làm thầy", lấy chính mình làm sư phụ. Một cá nhân quá đề cao mình, tất có ngày thảm bại.

Quách Phù nói:

– Mẹ, tại sao Hà Sư Ngã lại bảo sẽ đi giết Hoắc Đô? Như thế chẳng hóa ngu lắm sao?

Hoàng Dung nói:

– Câu ấy chỉ để che mắt làm cho người ta càng không nghi ngờ hắn mà thôi.

Quách Phù nói:

– Dương.. Dương đại ca đã sớm biết Hà Sư Ngã chính là Hoắc Đô, lẽ ra phải nói sớm, không để cho Hà Sư Ngã đả thương Tề ca.

Hoàng Dung mỉm cười, nói:

– Dương Quá không phải là thần thánh, làm sao đoán biết Tề nhi sẽ bị Hà Sư Ngã ám toán?

Quách Tương nói:

– Đại tỷ là thần thánh, nên đem áo giáp cho tỷ phu mặc đó.

Quách Phù lườm muội tử một cái, trong bụng cũng không khỏi đắc ý.

Trong lúc ấy, ở trên đài cao cuộc đấu giữa Đạt Nhĩ Ba và Hoắc Đô càng thêm ác liệt. Hai người cùng học một sư phụ, biết rõ gia số võ công của nhau, Đạt Nhĩ Ba khỏe hơn, Hoắc Đô thì nhanh hơn, đôi bên đấu mấy trăm chiêu, bất phân thắng bại. Đột nhiên Đạt Nhĩ Ba thét lớn, cây kim chử rời tay bay nhanh về phía Hoắc Đô; cây kim chử nặng hơn năm chục cân, thế bay vô cùng lợi hại. Hoắc Đô cả kinh, bình sinh chưa từng thấy sư huynh sử dụng chiêu số này, nghĩ: "Y đánh lâu không thắng, đã phát rồ rồi chăng?" Vội né người tránh. Đạt Nhĩ Ba sấn tới, dùng tay đẩy cây kim chử một cái, cây kim chử liền chuyển hướng bay, lại đuổi theo Hoắc Đô. Hoắc Đô kinh hãi, mới biết mười mấy năm nay sư huynh theo hầu sư phụ, sư phụ lại truyền thêm cho môn võ công lợi hại, môn này chính là biến hóa từ môn phóng ngũ luân mà ra. Hắn thấy lực đạo của cây kim chử quá mạnh, không thể nào dùng cái gọng quạt sắt chống đỡ, đành cứ đảo người né tránh, cây kim chử bay sượt qua đầu hắn, chỉ cách không đầy hai tấc.

Cây kim chử của Đạt Nhĩ Ba bay càng lúc càng nhanh, các cây đuốc xung quanh đài bị thổi bạt ngọn lửa, ánh sáng chập chờn. Hoắc Đô cuống cuồng tránh né trong chử ảnh, quần hùng bên dưới quan đấu, nhìn tình thế nguy hiểm cũng lạnh gáy. Đạt Nhĩ Ba đẩy cây kim chử đến lần thứ mười tám thì quát to một tiếng, song chưởng cùng đẩy, cây kim chử như một mũi tên bay ngang cực nhanh, Hoắc Đô không thể né tránh kịp nữa, hự một cái, cây kim chử giáng trúng ngực hắn. Người hắn mềm oặt, sụm xuống, nằm vật trên sàn đài, không cựa quậy gì cả.

Đạt Nhĩ Ba cầm cây kim chử khóc to ba tiếng, ngồi xếp bằng phía trước sư đệ, niệm bài chú "Vãng sinh", niệm xong liền nhảy xuống khỏi đài, tới trước mặt Thanh Linh Tử, trao trả cây kim chử. Thanh Linh Tử không nhận binh khí của y, nói:

– Chúc mừng các hạ thanh lý xong sư môn. Thần điêu hiệp tha cho các hạ, bảo các hạ hãy trở về Tây Tạng, từ nay không được đến Trung Nguyên nữa.

Đạt Nhĩ Ba nói:

– Đa tạ Thần điêu đại hiệp, tiểu tăng xin vâng mệnh.

Nói xong chắp tay trước ngực, thi lễ, rồi thong thả lui ra. Quách Phù thấy Hoắc Đô nằm chết trên sàn đài, mặt mày ủng thũng đáng sợ, vẫn không tin đó là bộ mặt giả trang, bèn rút kiếm, nhảy lên đài, nói:

– Phải xem bản lai diện mục của kẻ gian này rốt cuộc thế nào.

Đoạn dùng mũi kiếm hẩy hẩy vào mũi Hoắc Đô.

Đột nhiên Hoắc Đô thét lớn, bật dậy thật cao, song chưởng từ trên không đánh thẳng xuống. Nguyên hắn bị cây kim chử thúc vào ngực, bị trọng thương chí mạng, xong chưa chết ngay. Hắn cố ý giả vờ không cựa quậy, chờ Đạt Nhĩ Ba lại gần sẽ giáng cho một đòn cuối cùng để cả hai cùng chết. Ai ngờ Đạt Nhĩ Ba niệm chú cho hắn được vãng sinh cực lạc, rồi lại rời khỏi đài cao mà đi. Quách Phù nhảy lên dùng mũi kiếm đụng vào mũi hắn. Hoắc Đô còn chút sức lực nào đều dồn vào đòn này. Quách Phù thấy tử thi sống lại, thì cả kinh, quên cả vung kiếm chống đỡ. Chiếc áo giáp lông nhím nàng đã cho chồng mặc. Thấy nàng sắp bỏ mạng dưới song chưởng của Hoắc Đô; Quách Tĩnh, Hoàng Dung, Gia Luật Tề cùng bật dậy, định nhảy lên đài để cứu nàng, nhưng đã không còn kịp.

Chỉ nghe hai tiếng chíu chíu, có hai ám khí từ hai phía trên không trung bắn tới, cùng trúng vào ngực Hoắc Đô. Hai thứ ám khí này hình thể cực nhỏ, tựa hồ chỉ như hai viên sỏi, song lực đạo mạnh mẽ dị thường. Hoắc Đô ngã bật ngửa ra sau, hộc ra một ngụm máu tươi, bây giờ thì chết thẳng cẳng.

Mọi người kinh ngạc, ngẩng đầu nhìn nơi hai ám khí bắn tới, chỉ thấy mây nhẹ sao mờ, trăng lưỡi liềm chênh chếch, ngoài ra không có vật gì khác; ám khí hình như từ hai đầu cột cờ ở phía trước đài cao bắn tới.

Hoàng Dung nghe tiếng rít trong không trung của ám khí, biết rằng thời nay trừ phép "Đạn chỉ thần thông" của phụ thân ra, không còn ai có nội lực nhường ấy, song hai cái cột cờ đều cao mấy trượng, cách nhau mười mấy trượng, làm sao từ hai nơi cùng phóng ra ám khí? Vừa kinh ngạc vừa vui mừng, Hoàng Dung thốt lên:

– Là gia gia giá lâm chăng?

Chỉ nghe từ cái cột cờ bên trái phát ra tiếng cười của lão nhân, tiếp đến tiếng nói:

– Tiểu hữu Dương Quá, hai ta cùng xuống thôi chứ?

Từ cái cột cờ bên phải có tiếng đáp "Vâng", rồi từ mỗi đỉnh cột cờ có một người nhảy xuống.

Dưới ánh trăng sao, tà áo hai người phất phơ, cùng nhảy xuống đài, một người râu trắng áo xanh, một người cụt tay, trường bào màu lam, chính là Hoàng Dược Sư và Dương Quá. Hai người đều rơi chênh chếch, cách đài cao vài trượng thì đã gặp nhau, Hoàng Dược Sư đưa tay phải nắm lấy tay trái của Dương Quá, từ trên không trung cùng đáp xuống. Mọi người nếu không nghe thấy tiếng nói của hai người trước, thì sẽ tưởng là tướng nhà trời hạ phàm.

Quách Tĩnh, Hoàng Dung vội nhảy lên đài hành lễ với Hoàng Dược Sư. Dương Quá quì xuống vái chào vợ chồng Quách Tĩnh, nói:

– Điệt nhi Dương Quá khấu đầu trước Quách bá bá, Quách bá mẫu.

Quách Tĩnh vội đưa tay đỡ chàng dậy, cười, nói:

– Quá nhi, ba món quà lớn của Quá nhi thật là.. thật là..

Quách Tĩnh trong lòng cảm kích, không biết nói gì sau hai chữ "thật là".

Quách Phù sợ phụ thân bắt nàng lạy tạ Dương Quá về ơn cứu mạng, liền chạy tới trước mặt Hoàng Dược Sư, nói:

– Ngoại công, may nhờ có công phu "Đạn chỉ thần thông" của ngoại công, cháu mới thoát khỏi song chưởng của kẻ gian.

Dương Quá nhảy xuống khỏi đài, đến trước mặt Quách Tương, nói:

– Tiểu muội tử, ta đến hơi muộn.

Quách Tương trống ngực đập dồn, hai má đỏ bừng, nói nhỏ:

– Đại ca ca tốn bao nhiêu công lo ba món quà lớn cho muội, thật là.. thật là.. vất vả cho đại ca ca.

Dương Quá cười, nói:

– Để mừng sinh nhật cho tiểu muội tử, mọi người gây náo nhiệt một phen cho vui vậy mà.

Nói rồi phất tay một cái.

Đại Đầu Quỉ gọi to:

– Tất cả ra đi!

Ở lối vào sân bãi, có tiếng nhắc lại thật lớn:

– Tất cả ra đi!

Xa xa lại có tiếng lặp lại "Tất cả ra đi!" như mệnh lệnh truyền lan.

Lát sau, từ cửa sân bãi có nhiều tốp người tiến vào có người xách đèn lồng, có người quảy gánh đồ, có người khiêng đạo cụ, họ tản ra bốn góc sân bãi, đóng cọc, kê sàn, treo đèn, gõ trống, người người lũ lượt nhưng trật tự đâu ra đấy, tất cả lẳng lặng, không ai nói một lời, chỉ chăm chú vào công việc của mình.

Quần hùng thấy Dương Quá đã mang tới ba món quà lớn, đối với chàng đều phục sát đất, thấy chàng triệu tập đông người như vậy, hẳn có việc lớn, không ngờ lát sau một sân khấu ở góc tây nam đã dựng xong, chiêng trống nổi lên, người ta bắt đầu diễn kịch múa rối, diễn tích "Bát tiên giá thọ". Tiếp đó, ở góc tây bắc có đoàn kịch diễn vở "Mãn sàng hốt", kể tích bảy con trai tám con rể chúc thọ sinh nhật Quách Tử Nghi. Thoáng chốc chỗ này bắn pháo hoa, chỗ kia diễn tuồng, cả sân bãi tràn ngập không khí vui vẻ. Các đoàn kịch Hồ Quảng, Tứ Xuyên, Hà Nam trình diễn tuyệt nghệ của mình.

Quần hùng tùy sở thích mà tìm xem thứ mình ưa thích, tiếng reo hò tán thưởng chốc chốc lại nổi lên.

Lúc này huynh đệ họ Sử đã dẫn bầy mãnh thú đi khỏi, Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ và nhóm cao thủ Thanh Linh Tử cũng đã lẳng lặng rút đi.

Quách Tương thấy Dương Quá lo liệu cho nàng quá chu đáo thì sung sướng ứa nước mắt, nhất thời không biết nói gì. Quách Phù nhớ lại lúc ở miếu Dương Thái Phó, muội tử nói có một vị đại hiệp thiếu niên đến chúc mừng sinh nhật, bây giờ sự việc diễn ra đúng như vậy, thì không khỏi tức tối, cứ kéo tay Hoàng Dược Sư hỏi hết chuyện nọ chuyện kia, không thèm để ý đến cảnh náo nhiệt xung quanh.

Quách Tĩnh thấy Dương Quá lo liệu quá ư trịnh trọng cho tiểu nữ nhi, nghĩ chàng vẫn hành sự khó hiểu, nhưng chỉ trong một ngày hôm nay đã làm giúp ba việc lớn lao cho thành Tương Dương, bây giờ có vui đùa thì cứ để tùy thích, nên chỉ mỉm cười, khe khẽ lắc đầu.

Hoàng Dung hỏi phụ thân:

– Gia gia, gia gia hẹn trước với Quá nhi nấp ở trên đỉnh cột cờ hay sao?

Hoàng Dược Sư cười, nói:

– Đâu có! Một hôm ta đang thưởng nguyệt tại hồ Động Đình, bỗng nghe nửa đêm có người đến thăm Ân Ba điếu tẩu (ông già câu cá), nói có gã Thần điêu hiệp gì đó mời y đến thành Tương Dương phó hội. Ân Ba điếu tẩu võ công không kém, tính nết cổ quái, ta thấy hơi lo lắng, sợ y làm điều gì bất lợi cho con gái ngoan, con rể tốt của ta, nên bí mật bám theo đến đây. Ai dè Thần điêu hiệp lại là tiểu hữu Dương Quá, nếu biết sớm như thế, ta đâu phải tốn công?

Hoàng Dung biết phụ thân tuy vân du khắp nơi trên giang hồ, song vẫn luôn lo cho mình, thì cười, nói:

– Gia gia, lần này gia gia đừng đi đâu nữa, chúng ta đoàn tụ thôi.

Hoàng Dược Sư không đáp, vẫy vẫy tay với Quách Tương, cười nói:

– Hài tử lại đây, để ngoại công ngắm coi nào.

Quách Tương chưa từng gặp ngoại công, vội bước tới thi lễ. Hoàng Dược Sư kéo tay nàng, ngắm kỹ khuôn mặt nhỏ bé của nàng, buồn rầu nói:

– Giống thật, giống thật!

Hoàng Dung biết phụ thân nhớ đến người vợ đã khuất, vừa bảo Quách Tương giống bà ngoại hồi thiếu nữ, sợ phụ thân buồn, nên không tiếp lời. Quách Phù cười, nói:

– Đâu có giống tí nào, ngoại công là Lão Đông Tà, nó là Tiểu Đông Tà..

Quách Tĩnh xẵng giọng:

– Phù nhi, không được vô lễ với ngoại công!

Hoàng Dược Sư cả mừng, nói:

– Tương nhi, ngoại hiệu của Tương nhi là Tiểu Đông Tà ư?

Quách Tương hơi đỏ mặt, nói:

– Ban đầu tỷ tỷ gọi như vậy, sau đó ai cũng gọi theo.

Lúc này bốn đại trưởng lão Cái Bang vây quanh Dương Quá, luôn miệng cảm tạ, đều nói chàng đã lập đại công cho thành Tương Dương, lại đoạt về cây Đả cẩu bổng, vạch trần mưu gian của Hoắc Đô, trả thù cho Lỗ bang chủ; nếu chàng chịu làm bang chủ bổn bang, thật không còn gì bằng.

Lương trưởng lão nói:

– Dương đại hiệp, Lỗ bang chủ của bổn bang không may đã mất..

Dương Quá đoán biết ngay tâm tư của Lương trưởng lão, không đợi lão nói tiếp, đã cướp lời:

– Gia Luật đại gia văn võ song toàn, anh minh nhân nghĩa, là hảo bằng hữu của tại hạ năm xưa, để Gia Luật đại gia làm bang chủ quí bang, nhất định sẽ kế thừa được đại nghiệp của ba vị Hồng, Hoàng, Lỗ bang chủ.

Hoàng Dược Sư hỏi vài câu về võ công của Quách Tương, quay đầu lại định vẫy Dương Quá tới nói chuyện, thấy chàng đã đi ra cổng sân bãi, bèn gọi:

– Dương Quá tiểu hữu, ta cũng đi đây!

Tay áo phe phẩy, thoáng chốc đã đuổi kịp Dương Quá, một già một trẻ nắm tay nhau chìm vào bóng đêm.

Hoàng Dung có một câu rất cần nói với phụ thân, nhưng bên cạnh đông người, chưa tiện nói, ai ngờ phụ thân nói đi là đi liền, bèn kinh ngạc đuổi theo.

Nhưng Hoàng Dược Sư và Dương Quá đi rất nhanh, khi Hoàng Dung đuổi theo, thì đã xa hơn mười trượng.

Hoàng Dung gọi:

– Gia gia, Quá nhi, ở lại chơi vài hôm hẵng đi!

Chỉ nghe tiếng Hoàng Dược Sư văng vẳng từ xa:

– Bọn ta là giống người hoang dã, chỉ sợ bị câu thúc, cứ để bọn ta được tự do tự tại.

Câu cuối cùng nghe đã xa mấy chục trượng. Hoàng Dung thầm kêu khổ, thấy đuổi theo chẳng kịp, đành quay lại. Sân bãi vẫn chiêng trống rầm rĩ vui nhộn.

Bốn vị trưởng lão Cái Bang chụm đầu thương nghị, một là nếu không bị Hoắc Đô gây rối, thì đã lập Gia Luật Tề làm bang chủ, hai là Dương Quá có đại ân với Cái Bang, chàng cũng tiến cử Gia Luật Tề, việc này có thể nói là thuận lý thành chương. Bốn người liền bẩm rõ với Hoàng Dung, rồi lên đài tuyên bố lập Gia Luật Tề làm bang chủ.

Bang chúng theo lệ vốn có, tới nhổ nước bọt vào người Gia Luật Tề. Quần hùng ngoài bang lũ lượt tiến lại chúc mừng.

Quách Tương thấy Dương Quá đến lần này chỉ mỉm cười nói với nàng vài lời đã lập tức chia tay, thì trong lòng buồn bã khó nói, nhìn tỷ tỷ hoan hoan hỉ hỉ đứng bên cạnh tỷ phu đáp lại lời chúc mừng của quần hùng, thì cảm thấy trong lòng hết sức đau khổ, bèn quay mình đi về nhà. Mới đi vài bước, Hoàng Dung đã đuổi theo, cầm tay nàng, dịu dàng nói:

– Tương nhi, sao vậy? Hôm nay không vui ư?

Quách Tương nói:

– Có, hài nhi vui lắm mà.

Nói rồi cúi đầu, nước mắt lưng tròng. Hoàng Dung làm gì chẳng hiểu tâm sự của nữ nhi, chỉ nói đùa vài câu cho nó khỏi buồn.

Hai mẹ con thong thả về phủ. Hoàng Dung theo con về tận buồng, hỏi:

– Tương nhi, con đã mệt hay chưa?

Quách Tương nói:

– Chưa ạ, mẹ, mẹ cả đêm không ngủ, nên đi nghỉ thôi.

Hoàng Dung ngồi xuống bên giường với con, đưa tay vuốt vuốt tóc, nói:

– Tương nhi, chuyện về đại ca Dương Quá, mẹ chưa hề nói với con. Chuyện này khá dài, nếu con chưa mệt, mẹ sẽ kể cho nghe.

Quách Tương lập tức phấn chấn, giục:

– Mẹ, mẹ kể đi.

Hoàng Dung nói:

– Chuyện này phải bắt đầu từ tổ phụ của Dương Quá.

Rồi thuật lại năm xưa Quách Khiếu Thiên và Dương Thiết Tâm kết nghĩa với nhau ở Ngưu Gia thôn phủ Lâm An; Quách, Dương hai nhà hứa hôn từ khi mới mang thai ra sao, sau Dương Khang nhận giặc làm cha, mãi quốc cầu vinh, cuối cùng chết mất xác thế nào; Dương Quá từ nhỏ sống ở đảo Đào Hoa, bị Quách Phù chặt mất cánh tay, rồi cảnh chia li với Tiểu Long Nữ ở Tuyệt Tình cốc ra sao, nhất nhất kể lại hết.

Quách Tương nghe mà kinh tâm động phách, cứ nắm chặt tay mẹ, lòng bàn tay ướt mồ hôi. Nàng đâu ngờ "đại ca ca" mà nàng thầm yêu trộm nhớ, lại có uyên nguyên sâu xa ngần ấy với gia đình nàng; càng không thể ngờ chàng bị cụt tay chính là do tỷ tỷ, mà thê tử Tiểu Long Nữ của chàng sở dĩ bỏ đi cũng chính là do bị trúng độc châm tỷ tỷ phóng nhầm. Nàng vốn nghĩ Dương Quá chỉ là một vị hiệp sĩ giải cấu tương phùng với nàng, vì chàng anh tuấn hào hiệp mới khiến cho nàng tương tư; không ngờ bên trong lại là chuyện ân oán kéo dài đã ba đời. Khi Hoàng Dung kể xong, Quách Tương trong lòng bấn loạn, như si như say.

Hoàng Dung thở dài, nói:

– Ban đầu ta còn tưởng lầm, nghĩ Dương Quá làm quen với con là nuôi ý xấu. Ôi, nói về việc chân thành biết người, thì ta thua hẳn cha con. Dương Quá đại ca của con hôm nay làm ba việc lớn, đừng nói là Dương Quá hoàn toàn không có tà ý, dẫu có chăng nữa, chúng ta cũng phải chịu ơn sâu nặng của Dương Quá.

Quách Tương lấy làm lạ, hỏi:

– Mẹ, Dương đại ca sao lại có tà ý? Tà ý thế nào?

Hoàng Dung nói:

– Ban đầu ta còn tưởng lầm, nghĩ Dương Quá căm hận Quách gia chúng ta, nên lấy thân xác con để trả thù.

Quách Tương lắc đầu, nói:

– Làm gì có chuyện đó? Nếu Dương đại ca muốn giết hài nhi cho hả giận, thì việc đó dễ như trở bàn tay; ở gần bến Phong Lăng, Dương đại ca chỉ cần búng ngón tay một cái là hài nhi chết liền, đâu phải tốn công nhọc sức?

Hoàng Dung nói:

– Con là tiểu hài tử, chưa hiểu đâu. Nếu Dương Quá muốn làm khổ con, muốn làm cho gia đình ta đau khổ thì sẽ có cách độc ác gấp mười lần việc giết con. Ôi, việc đó không nói nữa. Bây giờ ta cũng đã biết Dương Quá sẽ không làm thế. Nhưng ta vẫn còn lo một việc, trong lòng thấp thỏm không yên.

Quách Tương hỏi:

– Mẹ, mẹ lo chuyện gì vậy? Hài nhi thấy Dương đại ca không còn để bụng chuyện cũ nữa đâu. Dương đại ca cũng sắp được đoàn tụ với Dương đại tẩu, bấy giờ trong lòng sung sướng, sẽ quên hết chuyện cũ.

Hoàng Dung thở dài, nói:

– Ta thấp thỏm không yên chính là lo Dương Quá không gặp được Tiểu Long Nữ nữa.

Quách Tương giật mình, nói:

– Sao lại thế? Dương đại ca chính miệng bảo con rằng Dương đại tẩu bị trọng thương, được Nam Hải thần ni chữa trị, hẹn sẽ tái hợp sau mười sáu năm. Hai vợ chồng Dương đại ca tình thâm ái trọng, chờ nhau lâu chừng ấy, sao lại không tái hợp?

Hoàng Dung cau mày, ậm ừ. Quách Tương lại nói:

– Dương đại ca kể, Dương đại tẩu dùng kiếm khắc trên sườn Đoạn Trường nhai dòng chữ "Mười sáu năm sau tái hợp ở đây, phu thê thâm tình, xin đừng lỡ hẹn". Nào là "vô cùng trân trọng, mong ngày đoàn tụ" chẳng lẽ dòng chữ ấy là giả hay sao?

Hoàng Dung nói:

– Dòng chữ ấy hoàn toàn là thật, không giả chút nào, nhưng ta chỉ lo Tiểu Long Nữ tương ái Dương Quá quá sâu, nên Dương Quá cuối cùng lại không gặp được nàng ta.

Quách Tương không rõ ngụ ý của mẫu thân, ngơ ngác nhìn mẹ, Hoàng Dung nói:

– Mười sáu năm trước, hai vợ chồng Dương đại ca của con đều bị trọng thương, Dương đại ca của con còn có thể chữa trị, Tiểu Long Nữ thì độc nhập cao hoang. Dương đại ca của con thấy ái thê không khỏi thì cũng không thiết sống nữa, dù có tiên đan diệu dược, Dương Quá cũng không chịu uống.

Hoàng Dung nói đến đây, giọng càng thêm nhu hòa:

– Ôi, có những việc con còn nhỏ, chưa thể hiểu được.

Quách Tương ngơ ngác xuất thần, lát sau ngẩng đầu nói:

– Mẹ, nếu hài nhi là Dương đại tẩu, hài nhi sẽ giả bộ khỏe lại, để cho chàng uống thuốc chữa bệnh.

Hoàng Dung ngẩn ra, không ngờ nữ nhi tuy còn ít tuổi, đã có ý nghĩ quên mình vì người khác như thế, nói:

– Đúng, ta chỉ lo hồi ấy Tiểu Long Nữ cũng vì nghĩ thế, mới bỏ Dương Quá mà đi. Nàng ta khắc chữ dặn lại, rằng "phu thê thâm tình, xin đừng lỡ hẹn". Hồi ấy nhìn dòng chữ, ta đoán Tiểu Long Nữ tự dưng bỏ đi, là vì muốn Dương đại ca của con yên tâm chờ nàng ta mười sáu năm. Ôi, Tiểu Long Nữ tưởng rằng sau mười sáu năm trời đằng đẵng, tình cũ của Dương Quá có sâu đậm đến đâu cũng sẽ phai nhạt; dẫu có buồn một chút, cũng sẽ thương thân mà không tìm cách tự tận nữa.

Quách Tương nói:

– Thế còn Nam Hải thần ni?

Hoàng Dung nói:

– Chuyện Nam Hải thần ni là do ta bịa ra. Trên thế gian không hề có nhân vật đó.

Quách Tương cả kinh, run giọng, nói:

– Không.. không hề có Nam Hải thần ni ư?

Hoàng Dung thở dài, nói:

– Hôm ấy bên Đoạn Trường nhai ở Tuyệt Tình cốc ta thấy Dương Quá quá đau khổ, ta không nỡ, đành bịa ra chuyện Nam Hải thần ni để an ủi, giúp Dương Quá yên tâm chờ đợi mười sáu năm ấy. Ta bảo Nam Hải thần ni ở trên đảo Đại Trí, thực ra không hề có hòn đảo ấy. Ta bảo Nam Hải thần ni dạy chưởng pháp cho ngoại công của con, khiến Dương Quá càng tin thêm. Dương đại ca của con thông minh tuyệt đỉnh, nếu ta không bịa như thật, làm sao y chịu tin? Nếu y không tin, chẳng hóa ra một phen khổ tâm lo liệu của Tiểu Long Nữ uổng phí hay sao?

Quách Tương nói:

– Mẹ nghĩ Dương đại tẩu đã chết rồi ư? Lời hẹn mười sáu năm chỉ để đánh lừa Dương đại ca thôi ư?

Hoàng Dung vội nói:

– Không, không! Không chừng Tiểu Long Nữ vẫn còn sống; đến kỳ hẹn, nếu nàng đến gặp Dương Quá, thì tạ trời tạ đất. Tiểu Long Nữ là truyền nhân duy nhất của phái Cổ Mộ, tổ sư sáng phái phái Cổ Mộ là Lâm Triêu Anh học vấn uyên bác, nội công ngoại công đều đạt cảnh giới xuất thần nhập hóa, nếu có truyền lại công phu thần kỳ giúp cho Tiểu Long Nữ không bị chết, thì cũng là chuyện hợp lý.

Quách Tương bớt lo, nói:

– Đúng thế! Hài nhi cũng nghĩ thế, Dương đại tẩu là người quá tốt, Dương đại ca tương ái như vậy, nàng sẽ không chết đâu. Nếu đến kỳ hẹn mà Dương đại ca không gặp được Dương đại tẩu, liệu chàng có phát điên hay không?

Hoàng Dung nói:

– Hôm nay ngoại công của con đến, ta muốn nhờ ngoại công của con hoàn tất trọn vẹn câu chuyện hoang đường về Nam Hải thần ni giúp ta. Nhưng chưa kịp nói.

Quách Tương cũng lo lắng, nói:

– Hiện thời Dương đại ca chính đang đi cùng ngoại công của hài nhi, nhất định chàng sẽ hỏi về Nam Hải thần ni. Ngoại công không rõ tiền nhân hậu quả, chuyện sẽ vỡ lở, thì làm thế nào?

Hoàng Dung nói:

– Nếu Tiểu Long Nữ có thể đoàn tụ với Dương Quá, thì đó là điều đại cát, mọi việc đều tốt đẹp. Còn đến kỳ hẹn mà Dương Quá không thấy Tiểu Long Nữ, thì y sẽ phát cuồng, không biết sẽ đại náo ra sao đây? Dương Quá căm hận ta nói dối đánh lừa y, khiến y đợi chờ khổ sở suốt mười sáu năm trời.

Quách Tương nói:

– Mẹ đừng lo. Mẹ chỉ muốn tốt cho Dương đại ca. Mẹ có hảo tâm, đã cứu sống chàng.

Hoàng Dung nói:

– Không kể Quách Dương hai nhà ba đời tương giao, chỉ riêng Dương Quá đã mấy phen cứu sống cha con, mẹ con, chị con và con, hôm nay lại lập đại công với thành Tương Dương, tuy nói chúng ta có chút ân huệ với y, nhưng cũng chẳng thấm thía, không bằng một phần vạn công ơn của y đối với Quách gia ta. Quá nhi một đời cô khổ, ba mươi mấy tuổi đầu vẫn chẳng được hưởng vài ngày vui.

Quách Tương rầu rĩ cúi đầu, nghĩ: "Đại ca ca nếu không gặp lại Dương đại tẩu, chỉ sợ chàng sẽ phát điên thật mất". Hoàng Dung lại nói:

– Dương đại ca của con là một người chí tính chí tình, chỉ vì từ nhỏ gặp nhiều bất hạnh, nên tính nết không tránh khỏi cô độc, hành sự thường thường ngoài dự liệu.

Quách Tương gượng cười, nói:

– Dương đại ca cũng như ngoại công và hài nhi, đều là tà phái.

Hoàng Dung nghiêm nghị nói:

– Đúng, Dương Quá là người tốt, nhưng có điểm tà khí. Nếu Tiểu Long Nữ không may đã qua đời, thì dù thế nào con cũng chớ có gặp lại y.

Quách Tương không ngờ mẫu thân cuối cùng lại dặn như thế, vội hỏi:

– Vì sao? Vì sao không nên gặp lại Dương đại ca?

Hoàng Dung nắm tay nàng, nói:

– Nếu Dương Quá cuối cùng đoàn tụ được với Tiểu Long Nữ, con muốn theo họ đi du ngoạn chân trời góc biển thì cứ đi, thích đến chơi ở nhà vợ chồng Dương đại ca thì cứ việc, ta không e ngại gì cả. Nhưng nếu y không gặp lại được Tiểu Long Nữ, thì Tương nhi, con chưa biết Dương đại ca của con là người thế nào đâu, y mà nổi điên lên thì việc gì cũng dám làm đó.

Quách Tương run run nói:

– Mẹ, nếu Dương đại ca không gặp được Dương đại tẩu, sẽ hết sức đau khổ, chúng ta phải cố mà khuyên chàng mới được.

Hoàng Dung chậm rãi lắc đầu, nói:

– Y không nghe lời khuyên đâu.

Quách Tương hỏi:

– Mẹ, nếu không gặp, liệu Dương đại ca đau khổ quá, có định tự tận nữa hay chăng?

Hoàng Dung ngẫm nghĩ một lát, nói:

– Tâm tư của nhiều người, ta đều đoán trúng, riêng Dương đại ca của con thì từ khi y còn nhỏ, ta đã không đoán được, nên ta không cho phép con gặp lại y. Trừ phi y cùng đến với Tiểu Long Nữ, thì lại là chuyện khác.

Quách Tương ngẩn ngơ xuất thần, không nói gì.

Hoàng Dung nói tiếp:

– Tương nhi, ta chỉ mong tốt đẹp cho con, nếu con không vâng lời ta, sau này có hối cũng không kịp đó.

Thấy nữ nhi hơi cau mày, nước mắt lưng tròng, bèn dịu dàng nói:

– Tương nhi, để ta kể thêm chuyện này cho con nghe, chuyện về phụ thân Dương Khang của Dương đại ca con.

Liền thuật chuyện Dương Thiết Tâm nhận Mục Niệm Từ làm nghĩa nữ, bày cuộc tỷ võ kén chồng nên gặp Dương Khang, rồi Dương Khang tác ác đa đoan, Mục Niệm Từ vẫn thủy chung nặng tình với Dương Khang, sau khi sinh hạ Dương Quá, đã chết trong đau khổ thế nào. Cuối cùng nói:

– Mục Niệm Từ tỷ tỷ phẩm mạo song toàn, đúng là một hảo nữ nhân hiếm có, chỉ vì dành chân tình không đúng chỗ mà lâm vào tình cảnh như thế.

Quách Tương nói:

– Mẹ, Mục Niệm Từ a di không có cách nào khác. Mục Niệm Từ a di đã thích Dương thúc thúc, thì dù Dương thúc thúc có muôn lần sai, Mục Niệm Từ a di cũng cứ thích đến cùng.

Hoàng Dung chăm chú nhìn mặt nữ nhi, nghĩ: "Nó còn nhỏ, sao đã hiểu nhiều đến thế?" Thấy con mệt mỏi, hai mắt díp lại, bèn giúp con cởi áo ngoài, tụt hài vớ, kéo chăn đắp, nói:

– Nhắm mắt vào nào, mẹ chờ con ngủ rồi sẽ đi ra.

Quách Tương vâng lời, nhắm mắt, lát sau nghe hơi thở đều đều, đã đi vào giấc ngủ.

Hoàng Dung nhìn khuôn mặt nhỏ xinh xắn của nữ nhi, nghĩ: "Trong ba đứa con, mẹ lo cho con nhiều nhất. Trong ba chị em con, mẹ yêu đứa nào nhất, thật là khó nói". Đoạn đi về phòng ngủ mình.

Đêm khuya thì huynh đệ họ Võ phi ngựa về bẩm báo, nói rằng kho lương thảo của đại quân Mông Cổ ở Nam Dương quả nhiên đã bị đốt sạch; kho hỏa dược cháy nổ, giết chết không ít binh sĩ Mông Cổ, lửa cháy vẫn chưa tắt hẳn, tiền quân Mông Cổ thoái binh trăm dặm, hiện đang án binh bất động. Thành Tương Dương được tin này vô cùng vui mừng, bốn chữ "Thần điêu đại hiệp" không ngớt vang lên ở cửa miệng mọi người. Có người thêm mắm thêm muối, kể rằng Dương Quá ba đầu sáu tay, đã đánh tan hai cánh quân địch ở Tân Dã và Đặng Châu như thế nào, đốt kho lương thảo Nam Dương ra sao một cách vô cùng sinh động, tựa hồ chính mình chứng kiến không bằng.

Đêm ấy vợ chồng Quách Tĩnh được An phủ sứ Lã Văn Đức mời đến thương nghị quân tình, quá nửa đêm mới về. Sáng sớm hôm sau, Gia Luật Tề, Quách Phù, Quách Phá Lỗ như thường lệ tới hậu đường vấn an phụ mẫu, đợi hồi lâu không thấy Quách Tương đến. Hoàng Dung lo ngại, sai a hoàn tới phòng nhị tiểu thư xem sao. Lát sau a hoàn trở lại cùng với "Tiểu bổng đầu" của Quách Tương, bẩm rằng "Nhị tiểu thư đêm qua không ngủ ở trong buồng".

Hoàng Dung kinh ngạc, vội hỏi:

– Tại sao đêm qua ngươi không tới bẩm báo?

"Tiểu bổng đầu" nói:

– Đêm qua phu nhân về quá khuya, tì nữ không dám đến bẩm báo, ngỡ nhị tiểu thư chẳng mấy chốc sẽ về buồng, ai dè đợi đến giờ vẫn chưa về.

Hoàng Dung ngẫm nghĩ, rồi đến buồng của nữ nhi quan sát, thấy quần áo và binh khí, tiền bạc Quách Tương đều không mang theo, đang lấy làm lạ, bỗng nhìn thấy dưới gối có chìa ra một mẩu giấy trắng. Hoàng Dung đoán có chuyện bất ổn, thầm kêu khổ cầm lên, mở ra xem, trong đó viết:

Gia gia má má tôn giám: Nữ nhi đi khuyên Dương đại ca dù gì cũng không nên tự vẫn, khuyên được rồi, nữ nhi sẽ về ngay. Nữ Tương khấu thượng.

Hoàng Dung ngây người, không nói nên lời, nghĩ: "Con bé thật quá ngây thơ! Dương Quá là người thế nào kia chứ, ngoài Tiểu Long Nữ ra, hắn đâu chịu nghe lời khuyên của ai? Nếu đã chịu nghe lời khuyên, hắn đã không phải là Dương Quá". Cũng định đi tìm Quách Tương, nhưng hai đạo quân nam bắc của Mông Cổ đang nhắm tấn công thành Tương Dương bất cứ lúc nào, hiện thời làm sao có thể dấn thân vào giang hồ lo chuyện riêng của nữ nhi? Sau khi bàn với Quách Tĩnh, liền viết thư khẩn thiết thông báo các nơi, sai tám đệ tử Cái Bang đắc lực mang đi bốn phía tìm kiếm Quách Tương, lệnh cho nàng phải về nhà ngay.

Hôm ấy sau khi nghe mẫu thân thuật chuyện cũ, Quách Tương tuy ngủ thiếp đi, nhưng liên tiếp thấy ác mộng, lúc thấy Dương Quá vung kiếm tự sát, lúc thấy chàng bị cụt nốt cánh tay còn lại, lúc lại thấy chàng nhảy từ trên sườn núi cao muôn trượng xuống vực, máu thịt be bét. Tỉnh giấc, mồ hôi lạnh vã ra đầy mình, nàng ngồi dậy, nghĩ: "Dương đại ca đưa cho mình ba cái kim châm, đáp ứng ba điều ước. Hiện thời còn một cái kim châm, ta muốn khuyên Dương đại ca dù gì cũng không nên tự vẫn. Chàng là người hào hiệp, đã nói tất giữ lời. Ta phải đi tìm chàng thôi". Thế là nàng viết vài chữ để lại, rồi đi ra khỏi thành.

Nhưng Dương Quá và Hoàng Dược Sư dắt nhau đi đâu, thật không có manh mối gì. Quách Tương đi đã hơn ba chục dặm, bụng đói ngấu, muốn tìm một phạn điếm ăn lót dạ, nhưng trăm họ bên ngoài thành Tương Dương sợ quân địch đến, đã bỏ chạy hết cả, đừng nói phạn điếm, một ngôi nhà thông thường cùng chẳng còn ai ở lại. Quách Tương chưa từng một mình xa nhà, không ngờ ra đường lại khó khăn thế này, bèn ngồi xuống một tảng đá bên đường mà nghỉ, hai tay chống cằm.

Ngồi một lát, nàng nghĩ: "Không có phạn điếm, thì tìm vài thứ quả dại ăn cho đỡ đói". Đưa mắt nhìn bốn phía, trong vòng vài dặm chẳng thấy có lấy một cây ăn trái. Đang chưa biết làm gì, bỗng nghe có tiếng vó ngựa, một con ngựa chạy từ phía đông sang phía tây, ngồi trên lưng ngựa là một lão tăng nhân cực cao cực gầy, thân mặc hoàng bào. Con ngựa phi nhanh, thoáng chốc đã vọt qua. Qua được mấy trượng, lão tăng bỗng quay đầu ngựa, trở lại trước mặt Quách Tương, hỏi:

– Tiểu cô nương là ai? Tại sao lại tha thẩn một mình ở đây?

Quách Tương thấy lão tăng mục quang như tia chớp thì giật mình, chợt nhớ đến Nhất Đăng đại sư mà nàng đã gặp tại đầm Hắc Long, nàng nghĩ: "Nhất Đăng đại sư hiền từ vô cùng, lão tăng này hẳn cũng là người tốt". Bèn đáp:

– Tiểu nữ họ Quách, cần đi tìm một người.

Lão tăng hỏi:

– Cô nương tìm ai?

Quách Tương hơi nghiêng đầu mỉm cười, nói:

– Lão hòa thượng lo chuyện bao đồng, tiểu nữ không nói đâu.

Lão tăng nói:

– Người mà cô nương cần tìm hình dạng thế nào, không chừng lão phu đã gặp, có thể chỉ đường cho.

Quách Tương nghĩ đúng vậy, bèn nói:

– Tiểu nữ cần tìm một người rất dễ nhận dạng, ấy là một thanh niên cụt tay phải. Người đó hoặc đi cùng với một con chim điêu, hoặc đi một mình.

Lão tăng chính là Kim Luân pháp vương, nghe nàng nói đến người cần tìm chính là Dương Quá thì vừa kinh ngạc vừa vui mừng, nói:

– Ồ, cô nương muốn tìm một người họ Dương tên Quá chứ gì?

Quách Tương cả mừng, nói:

– Vâng, lão hòa thượng quen biết chàng ư?

Pháp vương cười, nói:

– Sao bần tăng lại không biết? Dương Quá là tiểu bằng hữu của bần tăng. Bần tăng quen biết Dương Quá từ khi cô nương chưa ra đời kia.

Quách Tương hơi đỏ mặt, cười, hỏi:

– Đại hòa thượng, pháp danh của lão là gì?

Pháp vương nói:

– Bần tăng là Chô mô lung ma.

Chô mô lung ma là tên một đỉnh núi cao ở Tây Tạng, đỉnh núi này cao nhất thiên hạ, Pháp vương tiện miệng nói ra, ngụ ý lão có võ công cao siêu, không ai bằng.

Quách Tương cười, nói:

– Cái gì Chân mi mi xoa, pháp danh sao dài thế?

Pháp vương nói:

– Là Chô mô lung ma.

Quách Tương nói:

– Vâng, là Chô mô lung ma đại sư, đại sư có biết đại ca ca của tiểu nữ ở đâu hay không?

Pháp vương hỏi:

– Đại ca ca của cô nương ư?

Quách Tương nói:

– Là Dương Quá ấy.

Pháp vương nói:

– À, cô nương gọi Dương Quá là đại ca ca, cô nương bảo cô nương họ Quách thì phải?

Quách Tương lại hơi đỏ mặt, nói:

– Chúng tôi là chỗ thế giao, Dương đại ca hồi nhỏ sống ở gia đình tiểu nữ.

Pháp vương chợt nảy ra một ý, nói:

– Bần tăng có một người quen bên ngoại rất thân thiết. Người ấy võ nghệ cao cường, lừng danh thiên hạ, cũng họ Quách, đơn danh một chữ Tĩnh, không hiểu cô nương có biết người ấy hay không?

Quách Tương chột dạ, nghĩ: "Mình trốn nhà đi, lão ta đã là bằng hữu của gia gia, không khéo lại định bắt mình về nhà, vậy nói không là hơn". Bèn nói:

– Đại sư nói Quách đại hiệp ấy à? Vị ấy là trưởng bối trong gia tộc tiểu nữ. Đại sư đến thăm Quách đại hiệp đấy à?

Pháp vương khôn ngoan lão luyện, thần sắc của Quách Tương chỉ hơi khác, lão đã nhận biết ngay.

Liền thở dài, nói:

– Bần tăng với Quách đại hiệp hơn hai chục năm nay chưa gặp lại, mấy hôm trước ở phương bắc nghe tin dữ, bảo Quách đại hiệp đã từ trần, bần tăng lòng đau như cắt, vội gấp rút đi cho kịp đến trước linh tiền bái biệt Quách đại hiệp. Ôi, đại anh hùng không may chết sớm, đúng là trời không có mắt!

Nói đến đây, hai hàng lệ chảy ròng ròng. Lão nội công thâm hậu, có thể điều khiển cơ nhục toàn thân theo ý muốn, nhỏ vài giọt nước mắt, đâu có gì khó.

Quách Tương thấy lão khóc lóc bi thiết, tuy thừa biết phụ thân không sao cả, nhưng cũng se lòng, nói:

– Đại sư khỏi cần bi thương, Quách đại hiệp chưa chết đâu.

Pháp vương lắc đầu, nói:

– Cô nương đừng nói dối, tiểu hài nhi làm sao biết chuyện người lớn kia chứ?

Quách Tương nói:

– Tiểu nữ vừa mới từ trong thành Tương Dương ra đây sao lại không biết? Vừa tối hôm qua tiểu nữ còn gặp Quách đại hiệp.

Pháp vương không còn nghi ngờ gì nữa, ngửa mặt cười to nói:

– Phải rồi, cô nương là tiểu thư của Quách đại hiệp.

Đột nhiên lão lại lắc đầu, nói:

– Không, không đúng. Tiểu thư của Quách đại hiệp là Quách Phù, bần tăng cũng quen. Quách Phù năm nay phải đến ba mươi lăm tuổi, đâu có bé như cô nương?

Quách Tương không nhịn được câu nói khích ấy, nói:

– Đấy là đại tỷ tỷ của tiểu nữ, tên là Quách Phù, còn tiểu nữ là Quách Tương.

Pháp vương cả mừng, nghĩ: "Hôm nay đúng là đại may mắn, món quà tự dâng đến tận tay". Lão nói:

– Như vậy Quách đại hiệp quả thật chưa chết.

Quách Tương thấy lão tỏ vẻ vui mừng, lại tưởng lão ta mừng rỡ vì phụ thân nàng còn sống, nghĩ con người này thật tử tế, nên nói:

– Dĩ nhiên là chưa chết! Gia gia của tiểu nữ mà chết, thì tiểu nữ đã khóc sưng mắt lên rồi.

Pháp vương vui vẻ nói:

– Hay, hay lắm, bần tăng tin cô nương. Quách nhị cô nương, vậy thì bần tăng không đến thành Tương Dương nữa. Phiền cô nương thưa lại với lệnh tôn Quách đại hiệp và lệnh đường Hoàng bang chủ, rằng có người quen cũ là Chô mô lung ma gửi lời kính thăm.

Lão đoán chắc Quách Tương nhất định sẽ hỏi lão về Dương Quá, bèn dùng lối thoái để tiến, chắp hai tay chào, rồi định nhảy lên ngựa.

Quách Tương nói:

– Ồ lão hòa thượng, sao hòa thượng lại là người không biết điều như thế?

Pháp vương hỏi:

– Sao bần tăng lại là người không biết điều?

Quách Tương nói:

– Tiểu nữ nói cho hòa thượng biết tin của phụ thân, hòa thượng lại chẳng cho tiểu nữ biết tin tức gì của Dương đại ca, đã bỏ đi đâu vậy?

Pháp vương nói:

– Ồ, hôm qua tại một sơn cốc phía bắc Nam Dương, bần tăng có trò chuyện nửa ngày với tiểu hữu Dương Quá; chàng ta chín phần mười là đang luyện kiếm ở đó cô nương cứ đến đấy mà tìm.

Quách Tương hơi cau mày, nói:

– Ở đấy có nhiều sơn cốc, biết tìm đâu được, xin hòa thượng nói rõ hơn một chút.

Pháp vương ngẫm nghĩ một lát, nói:

– Thôi được, bần tăng vốn cũng đi lên mạn bắc, để bần tăng dẫn cô nương đi vậy.

Quách Tương cả mừng, nói:

– Đa tạ hòa thượng.

Pháp vương dắt ngựa lại, nói:

– Tiểu cô nương hãy cưỡi ngựa, bần tăng đi bộ cho!

Quách Tương nói:

– Như thế sao tiện?

Pháp vương cười, nói:

– Con ngựa bốn chân này vị tất đã chạy nhanh bằng cặp giò của bần tăng.

Quách Tương đã định nhảy lên yên, bỗng nói:

– Ôi, đại hòa thượng, tiểu nữ đói bụng quá, đại hòa thượng có gì ăn tạm không?

Pháp vương lấy ra bao lương khô, Quách Tương ăn vài miếng rồi lên ngựa.

Pháp vương đi bên cạnh ngựa. Quách Tương chợt nhớ câu Pháp vương vừa nói "Con ngựa bốn chân này vị tất đã chạy nhanh bằng cặp giò của bần tăng", bèn nói:

– Đại hòa thượng, tiểu nữ chờ hòa thượng ở đằng trước.

Lời chưa dứt, nàng đã phi ngựa đi.

Con ngựa này chạy rất khỏe. Quách Tương chỉ cảm thấy gió ù ù bên tai, cây cối vùn vụt lùi về phía sau, thoáng chốc đã vượt hơn một dặm. Nàng ngoảnh lại phía sau, cười gọi:

– Đại hòa thượng, có theo kịp hay không?

Nàng kinh ngạc không thấy Pháp vương ở sau lưng. Đột nhiên lại nghe tiếng lão ta từ bụi cây trước mặt vọng tới:

– Quách cô nương, con ngựa của bần tăng chạy chậm, cô nương hãy quất cho nó vài roi!

Quách Tương lấy làm lạ: "Tại sao lão hòa thượng lại ở phía trước?" Nàng phi ngựa lên, thấy Pháp vương rảo bước đằng trước mươi trượng, nàng vút roi, con ngựa phóng nhanh hơn, nhưng thủy chung lão ta vẫn ở đằng trước. Lúc này hai người đã đi trên con đường lớn phía bắc thành Tương Dương, trước mặt là bình dã, vó ngựa tung bụi màu hoàng thổ, còn khi nhìn Kim Luân pháp vương, thì trông lão cứ như cưỡi gió mà lướt đi. Quách Tương thán phục, nghĩ: "Lão hòa thượng không có võ công cao siêu như thế, đã chẳng kết giao với gia gia". Liền gọi:

– Đại hòa thượng, hòa thượng là bề trên, hãy cưỡi ngựa đi, để tiểu nữ chạy theo cho.

Pháp vương ngoảnh lại, cười, nói:

– Chúng ta hà tất lãng phí thời gian đi đường? Sớm tìm được đại ca ca của cô nương có hơn không?

Lúc này con ngựa đã không thể phi nhanh bằng lúc trước, nên càng cách xa Pháp vương hơn.

Bỗng có tiếng vó ngựa từ mạn bắc, rồi có hai người phóng ngựa ngược chiều. Pháp vương nói:

– Chúng ta hãy cướp hai con ngựa kia, như thế sẽ đi nhanh hơn.

Thoáng chốc hai con ngựa kia đã chạy tới, Pháp vương dang hai tay, nói:

– Xuống ngựa mà đi!

Hai con ngựa sợ hãi, cùng cất tiếng hí dài, nhảy dựng hai vó trước. Hai người cưỡi ngựa rất thạo, vẫn bám chắc trên lưng ngựa, một người quát:

– Làm gì vậy, muốn chết hả?

Nói đoạn vụt roi ngựa xuống. Quách Tương kêu lên:

– Trường Tu Quỉ, Đại Đầu Quỉ, đừng động thủ, là người mình đó!

Hai người cưỡi ngựa chính là Trường Tu Quỉ và Đại Đầu Quỉ trong Tây Sơn Nhất Khuất Quỉ.

Lúc này Kim Luân pháp vương tay trái đã chộp được cái roi ngựa của Đại Đầu Quỉ, không ngờ Đại Đầu Quỉ tuy lùn nhưng có thần lực, cái roi ngựa làm bằng da bò rất dai, lực giật roi của Pháp vương phải mạnh vài trăm cân, cái roi ngựa vẫn không đứt, cũng không bị tuột khỏi tay Đại Đầu Quỉ. Pháp vương nói:

– Hảo tiểu tử!

Rồi tăng lực giật mạnh, huỵch một cái, kéo luôn Đại Đầu Quỉ ngã ngựa.

Đại Đầu Quỉ cả giận, buông roi, định nhảy xuống liều chết với Pháp vương. Trường Tu Quỉ nói:

– Tam đệ hãy khoan! Quách nhị tiểu thư, tại sao tiểu thư lại đi cùng Kim Luân pháp vương?

Năm xưa, khi Kim Luân pháp vương cùng Dương Quá đến Tuyệt Tình cốc, Trường Tu Quỉ Phàn Nhất Ông đã gặp nên nhớ mặt lão ta.

Quách Tương cười, nói:

– Đại thúc nhận lầm người rồi, đây là Chô mô lung ma đại sư, là hảo bằng hữu của gia gia tiểu nữ. Kim Luân pháp vương là kẻ đối đầu với gia gia, không phải người này đâu.

Trường Tu Quỉ hỏi:

– Tiểu thư gặp lão hòa thượng này ở đâu?

Quách Tương nói:

– Tiểu nữ vừa mới gặp, vị hòa thượng này bảo gia gia tiểu nữ chết rồi, thế có tức cười không chứ? Chô mô lung ma đại sư muốn dẫn tiểu nữ đi gặp đại ca ca.

Đại Đầu Quỉ nói:

– Nhị tiểu thư mau lại đây, lão hòa thượng này không phải là người tử tế đâu.

Quách Tương bán tín bán nghi, nói:

– Lão ta đánh lừa tiểu nữ ư?

Đại Đầu Quỉ nói:

– Thần điêu đại hiệp đi xuống phía nam, sao lão ta lại dẫn tiểu thư lên phía bắc?

Kim Luân pháp vương cười cười, nói:

– Hai tên lùn này hồ thuyết bất đạo.

Rồi lão ta vọt ngay tới bên cạnh nhị Quỉ, song chưởng cùng vỗ xuống đỉnh đầu họ.

Hơn mười năm nay, Kim Luân pháp vương ở Mông Cổ khổ luyện "Long tượng bát nhã công", là môn thần công hộ pháp tối cao trong Mật tông. "Long tượng bát nhã công" gồm có mười ba tầng. Tầng thứ nhất dễ hơn cả, dù là người ngu dốt, chỉ cần một, hai năm cũng luyện thành. Tầng thứ hai khó gấp đôi tầng thứ nhất, tốn ba, bốn năm luyện tập. Tầng thứ ba khó gấp đôi tầng thứ hai, tốn bảy, tám năm. Cứ thế càng về sau càng khó hơn, thường thường tốn ba chục năm khổ luyện. Mười ba tầng "Long tượng bát nhã công" chưa có ai luyện được đến tầng thứ mười. Môn công phu này tuần tự tiệm tiến, về lý vốn ai cũng có thể luyện xong. Nếu có người thọ vài trăm tuổi, thể nào cuối cùng cũng luyện thành. Có điều là tuổi thọ của người ta hữu hạn, các vị cao tăng trong Mật tông đến lúc sắp chết luyện được đến tầng thứ bảy, thứ tám thường nôn nóng, sa vào tình cảnh dục tốc bất đạt rất nguy hiểm. Thời Bắc Tống, ở Tây Tạng từng có một vị cao tăng luyện được đến tầng thứ chín, tiếp tục dũng mãnh tinh tiến, nhưng luyện đến tầng thứ mười thì tâm ma đột khởi, không chế ngự được, cuối cùng nhảy múa như điên bảy ngày bảy đêm, tự đứt kinh mạch mà chết.

Kim Luân pháp vương đúng là một bậc kỳ tài hiếm thấy nhiều đời. Lão khổ luyện, tiến cảnh cực nhanh, cuối cùng vượt qua được tầng thứ chín cam go, hiện đã đạt đến tầng thứ mười, thật là cổ kim chưa từng có, tuy không thể bảo sau không ai bằng, nhưng đúng là trước chưa có ai. Nghe nói mỗi đòn "Long tượng bát nhã công" đánh ra bằng đại lực của mười con voi mười con rồng. Pháp vương tự biết còn đủ thời gian luyện đến tầng thứ mười một, song hiện thời lão đã vô địch thiên hạ. Năm xưa lão bại dưới kiếm của Dương Quá và Tiểu Long Nữ, là bình sinh kỳ sỉ đại nhục; nay công lực của lão đã tăng tiến gấp bội, nhân dịp hoàng đế Mông Cổ ngự giá thân chinh, lão cũng đi theo, muốn dùng song chưởng đánh bại vợ chồng Dương, Long để rửa mối nhục năm nào.

Lúc này Pháp vương song chưởng cùng đánh ra. Đại Đầu Quỉ giơ tay đỡ, rắc một cái, cánh tay gãy liền, trán bị trúng chưởng, không kịp kêu một tiếng, lập tức bỏ mạng. Trường Tu Quỷ công lực thâm hậu hơn nhiều, thấy đòn của đối phương quá lợi hại, liền sử chiêu "Thác thiên thế", đưa hai tay lên đỡ, cảm thấy một sức nặng ngàn cân đè xuống, hai mắt tối sầm, ngã sấp xuống.

Quách Tương cả kinh, kêu to:

– Hai người này là bằng hữu của tiểu nữ, sao lão lại đả thương họ như vậy?

Trường Tu Quỷ nhổ ra một ngụm máu tươi, chồm dậy, ôm chặt lấy hai chân Pháp vương, miệng kêu:

– Cô nương mau chạy đi!

Pháp vương tay trái chộp lưng Trường Tu Quỷ, định nhấc lên ném đi, nhưng Trường Tu Quỷ quyết bảo vệ Quách Tương, hai tay cứ như hai cái vòng sắt ghì chặt hai chân Pháp vương. Pháp vương tuy khỏe nhưng vẫn không bứt ra được. Quách Tương vừa kinh sợ vừa tức giận, lúc này đã biết Pháp vương là kẻ xấu, nhưng nàng không muốn Trường Tu Quỷ phải chết còn mình thì bỏ chạy, bèn nói:

– Ác hòa thượng, sao lão tàn bạo thế? Mau buông Trường Tu Quỷ ra, tiểu nữ đi theo lão là được chứ gì?

Trường Tu Quỷ kêu lên:

– Cô nương mau chạy đi, mặc lão phu..

Hai chữ "lão phu" vừa nói khỏi miệng liền tắt thở.

Pháp vương nhấc cái xác Trường Tu Quỷ ném sang một bên, cười nham nhở nói:

– Cô nương muốn bỏ chạy, sao không nhảy lên ngựa?

Quách Tương bình sinh chưa từng căm hận bất cứ ai, hôm Lỗ Hữu Cước bị giết, nàng không nhìn thấy Hoắc Đô hạ độc thủ; tuy đau khổ, song cũng không căm hận kẻ thù; vừa rồi thấy Pháp vương tàn bạo như thế, nàng rất căm hận, trừng mắt nhìn lão ta, không hề run sợ chút nào. Pháp vương nói:

– Tiểu cô nương, sao cô nương không sợ ta?

Quách Tương nói:

– Bổn cô nương cần gì phải sợ lão? Lão muốn giết bổn cô nương thì cứ việc ra tay!

Pháp vương giơ ngón tay cái, khen:

– Hảo, tướng môn hổ nữ, không thẹn làm cha.

Quách Tương căm tức nhìn Pháp vương, muốn chôn cất hai vị bằng hữu, song trong tay không có cuốc xẻng, nghĩ một lát, rồi đặt xác hai người vắt ngang lưng ngựa của họ, buộc vào bàn đạp, rồi vỗ vào mông ngựa, nói:

– Mã nhi, mã nhi, hãy đưa chủ nhân của ngươi về nhà đi.

Hai con ngựa phóng đi.

Đêm hôm ấy Dương Quá và Hoàng Dược Sư sánh vai nhau rời khỏi thành Tương Dương, thi triển khinh công lướt nhanh xuống phía nam, vượt mấy chục dặm, cuối giờ Mão đầu giờ Thìn đã tới Nghi Thành. Hai người ghé vào một tửu lâu dùng bữa. Hoàng Dược Sư kể rằng tỷ muội Trình Anh, Lục Vô Song mười mấy năm nay ẩn cư ở vùng quê Gia Hưng, làm bạn với Ngốc cô. Hoàng Dược Sư từng có ý định mang theo hai nàng hành tẩu giang hồ cho họ khuây khỏa, nhưng hai nàng không muốn. Dương Quá lẳng lặng thở dài, cảm thấy như chàng có lỗi.

Hai người uống vài chén, Dương Quá nói:

– Hoàng đảo chủ, hơn mười năm qua vãn bối đi khắp nơi tìm thăm lão tiền hối, để hỏi một chuyện, đến hôm nay mới được gặp.

Hoàng Dược Sư cười, nói:

– Ta thích ngao du đây đó, hành tung bất định, muốn tìm ta quả không dễ. Nhưng không biết lão đệ định hỏi chuyện gì?

Dương Quá đang định trả lời, bỗng nghe có tiếng chân người ở cầu thang, rồi ba người đi lên.

Hoàng Dược Sư và Dương Quá nghe tiếng chân, biết ba người kia võ công cao cường, lập tức chú ý. Dương Quá nhận ngay ra người thứ nhất là Tiêu Tương Tử, người thứ hai mặt mũi đen sì, chàng không quen, người thứ ba là Doãn Khắc Tây. Lúc này Tiêu Tương Tử và Doãn Khắc Tây cũng đã nhìn thấy Dương Quá.

Hai kẻ đó kinh ngạc dừng bước, đưa mắt cho nhau, định lùi xuống lầu.

Dương Quá cười, nói:

– Cố nhân xa lâu, hôm nay hữu hạnh tương phùng, sao lại vội vã bỏ đi thế?

Doãn Khắc Tây ôm quyền, cười nịnh, nói:

– Dương đại hiệp vẫn khỏe chứ?

Tiêu Tương Tử vẫn căm hận cái nhục phải chặt tay ở núi Chung Nam, mười mấy năm nay tuy công lực đại tiến, song hắn tự biết không phải là địch thủ, nên không dám nhìn chàng, đi ra phía cầu thang.

Gã mặt đen cũng là một võ sĩ có tên tuổi dưới trướng Hốt Tất Liệt, lần này cùng Tiêu, Doãn hai người đến Nghi Thành do thám tin tức, thấy Tiêu Tương Tử có vẻ tức giận, liền nói to:

– Tiêu Tương huynh, hãy dừng bước, nếu đã có kẻ làm cho huynh mất hứng, thì cứ để tiểu đệ đuổi hắn đi.

Nói đoạn đưa bàn tay hộ pháp chộp vai Dương Quá, định ném chàng xuống lầu dưới.

Dương Quá thấy lòng bàn tay gã lờ mờ khí màu tím, biết người này luyện một môn trong độc sa chưởng, chợt nghĩ: "Tại sao mình không mượn ba tên này để thăm dò Hoàng lão tiền bối về Nam Hải thần ni?". Thấy bàn tay gã kia sắp chạm vai mình, chàng phẩy tay một cái nghe "bốp", gã kia đã bị một cái tát.

Hoàng Dược Sư kinh ngạc: "Đòn vừa rồi sao lại nhanh đến thế?" Chỉ qua một chưởng, lão nhìn ra Dương Quá đã sáng tạo môn võ công mới, nghiễm nhiên thành một đại gia. Lại nghe "bốp bốp", hai má Tiêu Tương Tử cũng đều trúng chưởng. Dương Quá nghĩ Doãn Khắc Tây cử chỉ lễ độ, nên tha cho y.

Hoàng Dược Sư cười, nói:

– Dương lão đệ, lão đệ đã sáng tạo một môn chưởng pháp hết sức cao minh, lão phu muốn được mục kích cả pho cho đã con mắt.

Dương Quá nói:

– Vãn bối chính đang muốn thỉnh giáo lão tiền bối.

Liền thi triển pho "Ám nhiên tiêu hồn chưởng", tay áo phiêu động, tả chưởng đột nhiên sử chiêu "Đà nê đới thủy", chiêu "Thần bất thủ xả", bao vây ba gã Tiêu Tương Tử, Doãn Khắc Tây và hán tử mặt đen trong chưởng phong.

Ba người kia như rơi vào sóng lớn, phải chuyển động theo chưởng phong của Dương Quá, đừng nói chống đỡ, ngay đứng cho chắc cũng không nổi, thân hình hoàn toàn bị khống chế.

Hoàng Dược Sư nâng ly rượu uống cạn, nói:

– Cổ nhân vừa đọc Hán thư vừa nhâm nhi, lão phu hôm nay lấy chưởng pháp của tiểu huynh đệ làm món nhắm, thú vị chẳng kém cổ nhân.

Dương Quá nói:

– Xin lão tiền bối chỉ điểm cho một chiêu.

Chàng dùng chưởng lực hất Tiêu Tương Tử đến trước mặt Hoàng Dược Sư. Hoàng Dược Sư không dám coi thường, tả chưởng đẩy ra, hất Tiêu Tương Tử trở lại, thấy gã hán tử mặt đen xông tới gần, bèn cầm ly rượu lên nhấp một ngụm, rồi hồi chưởng hất gã ra. Dương Quá chăm chú nhìn chưởng pháp của lão, tuy võ công thâm hậu, song cũng không thấy có gì thần diệu lạ lùng, nghĩ: "Nếu mình không dốc toàn lực, e rằng Hoàng lão tiền bối không chịu sử dụng chưởng pháp học được của Nam Hải thần ni". Bèn tụ khí ở đan điền, vận ra chưởng lực mà đẩy Tiêu Tương Tử, Doãn Khắc Tây và gã hắc diện hán tử ba người về phía Hoàng Dược Sư càng lúc càng nhanh.

Hoàng Dược Sư trả lại mấy chưởng, cảm thấy thế văng đến của ba người giống như thủy triều, lớp sóng thứ nhất vừa tràn qua, lớp sóng thứ hai cao hơn đã lại ập tới. Lão nghĩ: "Chưởng lực của gã thiếu niên này càng lúc càng mạnh, đúng là bậc kỳ tài trong võ lâm!"

Lúc ấy hắc diện hán tử bỗng phi thân, hai chân trước đầu sau, song cước lao tới trước mặt Hoàng Dược Sư. Hoàng Dược Sư đẩy chếch đi, ly rượu bên tay phải bị sóng sánh ra ngoài vài giọt; tiếp đó thấy Tiêu Tương Tử và Doãn Khắc Tây cùng bay tới, một thẳng một chếch, lão bèn kêu lên:

– Hay lắm!

Rồi đặt ly rượu xuống, tay phải trả lại một chưởng.

Dương Quá và Hoàng Dược Sư cách nhau mấy trượng, người này một chưởng, người kia một chưởng, ba gã kia biến thành ba trái bóng da, bị chưởng lực của hai người đẩy bay qua bay lại. "Ám nhiên tiêu hồn chưởng" đã thi triển được một nửa, "Lạc anh thần chưởng" của Hoàng Dược Sư đã bắt đầu núng thế, lão thấy Doãn Khắc Tây bay tới như một mũi tên, tự nghĩ chưởng lực của mình không đủ đối kháng, bèn giơ ngón tay búng một cái, một luồng kình lực bắn ra, hóa giải luôn chưởng lực đẩy tới của Dương Quá. Lão búng liên tiếp ba cái, nghe bịch bịch ba tiếng, Tiêu Tương Tử, Doãn Khắc Tây và hán tử ngã sóng soài cả xuống sàn, ngất đi. Thần công "Đạn chỉ thần thông" đấu ngang ngửa với "Ám nhiên tiêu hồn chưởng" của Dương Quá, không bên nào thua kém.

Hai người cười ha ha, trở lại bàn, rót rượu uống tiếp. Hoàng Dược Sư nói:

– Lộ chưởng pháp này của lão đệ, xét về hùng kình mà nói, chỉ có "Hàng long thập bát chưởng" của Quách Tĩnh con rể ta có thể sánh được. "Lạc anh thần kiếm chưởng" của ta thua kém một bậc.

Dương Quá cảm tạ, khiêm tốn nói:

– Vãn bối năm xưa được lão tiền bối truyền thụ cho "Đạn chỉ thần thông" và "Ngọc tiêu kiếm pháp" hai đại kỳ công, suốt đời được lợi. Vãn bối tự sáng tạo lộ chưởng pháp này chủ yếu dựa trên công phu tiền bối đã chỉ dẫn. Nghe nói lão tiền bối từng được Nam Hải thần ni chỉ điểm, học được một lộ chưởng pháp, không biết có thể làm cho vãn bối được sáng mắt ra chăng?

Hoàng Dược Sư lấy làm lạ, nói:

– Nam Hải thần ni ư? Là ai vậy? Ta chưa từng nghe tên người đó.

Dương Quá tái mặt, đứng dậy, giọng run run, nói:

– Không lẽ.. chẳng lẽ trên thế gian hoàn toàn không có Nam Hải thần ni?

Hoàng Dược Sư thấy thần sắc của chàng lạ hẳn, cũng kinh ngạc, nói:

– Hay đấy là dị nhân mới xuất hiện trên giang hồ? Lão phu sở học nông cạn, chưa từng được nghe danh.

Dương Quá đứng bất động. Tim như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực, nghĩ thầm: "Quách bá mẫu nói rõ ràng, rằng Long nhi được Nam Hải thần ni cứu đi, hóa ra toàn là chuyện bịa đặt, nhằm đánh lừa ta, nhằm đánh lừa ta!"

Chàng ngửa mặt, hú một tiếng dài, chấn động mái lầu, hai hàng nước mắt rơi lã chã.

Hoàng Dược Sư nói:

– Tiểu huynh đệ có chuyện gì khó, cứ nói ra, không chừng lão phu có thể giúp một tay.

Dương Quá vái một cái sát đất, nghẹn ngào nói:

– Vãn bối tâm trí rối loạn, cử chỉ nói năng thất lễ, xin được lượng thứ.

Chàng phất tay áo, quay người đi xuống lầu, chỉ nghe liên tiếp nhiều tiếng răng rắc, các bậc cầu thang gỗ đều bị chàng giẫm gãy.

Hoàng Dược Sư ngơ ngác không hiểu, lẩm bẩm một mình: "Nam Hải thần ni, Nam Hải thần ni là ai kia chứ?"

Dương Quá cứ chạy như điên, mấy ngày không ăn không ngủ, tự nghĩ chỉ có mệt lả chẳng còn biết gì, thì mới không nghĩ đến Tiểu Long Nữ; rốt cuộc rồi đây có gặp được Tiểu Long Nữ hay không, chàng cũng chẳng dám nghĩ nữa. Mấy hôm sau chạy đến một bến sông lớn, chàng đã kiệt sức, không chịu thêm được nữa; thấy có một chiếc thuyền bên bờ bắt đầu giong buồm, chàng nhảy đại xuống, chìa cho nhà thuyền một đĩnh bạc, cũng không buồn hỏi thuyền đi đâu, chàng chui luôn vào khoang mà ngủ.

Dòng sông này chảy về phía đông, chiếc thuyền Dương Quá đang đi xuôi dòng, đến mỗi thị trấn buôn bán lại đậu mấy ngày để trao đổi hàng hóa, thì ra đây là một chiếc thuyền buôn chạy dọc Trường Giang.

Dương Quá đang không biết làm gì, thuyền đi nhanh hay chậm cũng thế, chàng chỉ ở dưới thuyền uống rượu, hờ hững nhìn cảnh đôi bờ, cũng chẳng biết đã qua bao nhiêu ngày. Chủ thuyền và khách thương thấy chàng trả nhiều bạc, nghĩ chàng là một cuồng nhân lưu lạc giang hồ, nên cũng chẳng để ý đến chàng.

Một hôm thuyền đậu lại, nghe một khách thương trên thuyền nói muốn đi Gia Hưng, Lâm An mua tơ.

Dương Quá nghe hai chữ "Gia Hưng" chợt nghĩ: "Cha ta năm xưa nghe nói bị Hoàng Dung giết hại ở miếu Vương Thiết Thương phủ Gia Hưng, làm mồi cho quạ rỉa, chẳng lẽ xương cốt cũng không còn? Ta không chôn cất nắm xương tàn của vong phụ, tức là kẻ bất hiếu." Nghĩ vậy, chàng bỏ thuyền lên bộ.

Dạo này đang giữa mùa đông, Giang Nam tuy không lạnh giá như phương bắc, song cũng có gió tuyết. Dương Quá mình mặc áo mỏng, đầu đội mũ rộng vành, đạp tuyết đi xuống phía nam, ba ngày sau thì đến Gia Hưng.

Vào thành thì đã hoàng hôn, chàng tìm một tửu lâu ghé vào ăn uống, hỏi rõ đường đến miếu Vương Thiết Thương, rồi lại đội tuyết mà đi. Đến miếu Vương Thiết Thương thì đã sang canh hai, tuyết rơi dày, gió bấc thổi ù ù.

Trong ánh tuyết mông lung, thấy ngôi miếu đã nhiều năm không tu bổ, trông cũ nát, cổng miếu đẩy nhẹ đã đổ sang bên. Chàng bước vào bên trong, thấy tượng thần xiêu vẹo, chỗ nào cũng đầy màng nhện và bụi bặm, hoàn toàn không có người ở. Chàng đứng giữa điện, hình dung hơn ba chục năm trước cha mình bị người ta hạ độc thủ ở đây, khiến cha con không biết mặt nhau, kẻ đau khổ đến nơi đau lòng, càng thêm sầu khổ.

Chàng nhìn trước ngó sau trong miếu một hồi, nghĩ cha mình chết đã quá lâu, chẳng còn dấu tích gì, bèn ra phía sau miếu, thấy giữa hai cây đại thụ có một ngôi mộ, trên mộ cắm một cái bia đá, ngôi mộ và tấm bia đều phủ tuyết trắng. Dương Quá phẩy tay áo, tuyết bay lả tả, thấy trên bia có khắc chữ, đọc xong thì cả giận, thì ra trên bia là hàng chữ: "Mộ đệ tử xấu xa Dương Khang". Bên cạnh có hàng chữ nhỏ hơn: "Người viết bia: Sư phụ Khưu Xứ Cơ bất tài".

Dương Quá cả giận, nghĩ bụng: "Lão đạo sĩ Khưu Xứ Cơ thật thiếu tình, phụ thân ta đã chết, hà tất còn lập bia nói đến tội lỗi? Phụ thân ta sao lại xấu xa? Hừ, lão đạo sĩ mũi trâu nhà ngươi thì tốt đẹp lắm chắc? Ta không đến chỗ phái Toàn Chân đại sát một phen, làm sao hả giận đây?"

Chàng giơ tay định hất tấm bia đi.

Đúng lúc ấy bỗng nghe từ phía tây bắc có tiếng chân đạp tuyết đi rất gấp. Âm thanh này rất kỳ quái, tựa hồ có vài hảo thủ võ lâm cùng đi bên nhau, hoặc giống như hai con dã thú bám sát nhau, tiếng bước chân bên trái nặng, bên phải nhẹ, khác hẳn thông thường. Dương Quá nổi tính hiếu kỳ, không giáng chưởng vào tấm bia nữa, lắng tai nghe. Tiếng bước chân chính là đang đi tới miếu Vương Thiết Thương. Chàng bèn trở vào chính điện, nấp vào sau một bức tượng thần, để xem có con quái vật gì.

Trong giây lát, tiếng bước chân đã đến trước miếu, dừng lại bất động, tựa hồ sợ trong miếu có kẻ mai phục, lát sau mới tiến vào điện. Dương Quá ngó ra, suýt nữa phì cười, nguyên có bốn người đi vào, cả bốn đều bị cụt chân trái, mỗi người cầm một cây quải trượng, cổ có một sợi xích sắt nối bốn người với nhau, nên khi bước đi cả bốn cây quải trượng cùng dộng xuống đất, bốn chân bên phải cùng bước.

Chỉ thấy người đi đầu hói trán, tay trái cụt đến khuỷu. Người thứ hai trán có ba cái bướu to, tay trái cũng cụt đến khuỷu, cả hai đều là kẻ tàn phế. Người thứ ba thấp nhỏ nhanh nhẹn. Người thứ tư là một hòa thượng cao lớn. Bốn người đều đã già. Dương Quá lấy làm lạ: "Bốn người này là ai? Tại sao phải dính vào nhau, vĩnh viễn không tách ra được như vậy?" Chỉ thấy lão hói lấy hỏa đao hỏa thạch ra đánh lửa, tìm một mẩu nến đốt lên. Dương Quá thấy rõ trừ lão hói ra, ba người còn lại đều mù lòa, chàng chợt hiểu: "Thì ra ba người kia phải nhờ lão hói dẫn đường".

Lão hói giơ cao cây nến, soi ngó lục soát trong miếu. Bốn người cách nhau người nọ với người kia chưa đầy ba thước, Dương Quá đã nấp kỹ; đừng nói bốn người hành động bất tiện, lại chỉ có một người sáng mắt, dù cả bốn đều thính tai tinh mắt, hành động nhanh nhẹn, cũng chẳng thể phát hiện được chàng nấp sau bức tượng. Bốn người lục soát xong, trở lại chính điện. Lão hói nói:

– Kha lão đầu không hề tiết lộ hành tung của chúng ta. Nếu hắn nhờ trợ thủ, nhất định họ phải nấp trước ở đây.

Lão thứ ba nói:

– Đúng, hắn đáp ứng không tiết lộ nửa lời, người này tự phụ là hiệp sĩ, rất coi trọng hai chữ "tín nghĩa".

Bốn người kề vai ngồi xuống. Người thứ hai bướu trán, nói:

– Sư ca, Kha lão đầu liệu có đến thật hay không?

Người thứ nhất đáp:

– Điều đó rất khó nói. Xét về lý, thì sẽ không đến, ai ngu gì tự dẫn xác đến chỗ chết?

Người thứ ba nói:

– Nhưng Kha lão đầu là thủ lĩnh Giang Nam thất quái. Năm xưa họ đã đánh cuộc với "Thập ác bất xá" Khưu lão đạo, đã lặn lội vạn dặm sang Mông Cổ dạy võ nghệ cho Quách Tĩnh, chuyện này lan truyền trong giang hồ, ai cũng bảo Giang Nam thất quái một lời nặng ngàn vàng, nói sao làm vậy. Chúng ta cũng vì nghĩ thế, nên mới để cho Kha lão đầu đi.

Dương Quá ở sau bức tượng nghe rõ, nghĩ bụng: "Thì ra bọn họ ở đây chờ Kha lão công công". Lại nghe người thứ hai nói:

– Đệ cho rằng hắn nhất định sẽ không đến, Bành sư ca có muốn đánh cuộc với đệ, xem ai..

Lời chưa dứt, đã có tiếng bước chân đạp tuyết từ phía đông đi tới, cũng bước nặng bước nhẹ, có người chống quải trượng mà đến. Dương Quá hồi nhỏ từng sống trên đảo Đào Hoa với Kha Trấn Ác nên nhận ra lão ngay. Lão hói cười hô hô, nói:

– Hầu lão đệ, Kha lão đầu đến rồi đấy, còn định đánh cuộc nữa hay thôi?

Người bướu trán nói:

– Kha lão đầu quả không sợ chết, quái thật!

Chỉ nghe thình thịch mấy tiếng thiết trượng dộng xuống đất, "Phi thiên biển bức" Kha Trấn Ác bước vào chính điện, hiên ngang ngẩng đầu nói:

– Kha Trấn Ác y hẹn tới đây, có mười hai viên "Cửu hoa ngọc lộ hoàn" tặng các vị, mỗi người ba viên.

Rồi giơ tay phải, ném nhẹ cái lọ gốm nho nhỏ về phía lão hói. Lão hói mừng rỡ nói:

– Đa tạ!

Và đưa tay đón cái lọ. Kha Trấn Ác nói:

– Việc riêng của lão phu đã xong, xin đến chịu chết.

Chòm râu bạc rung rung, Kha Trấn Ác đứng đó với phong thái rất ung dung.

Lão bướu trán nói:

– Sư ca, "Cửu hoa ngọc lộ hoàn" hắn mang cho có thể chữa khỏi bệnh nội thương đau nhức của chúng ta, chúng ta với hắn cũng không có thâm cừu đại oán gì, nên tha cho hắn thì hơn.

Lão lùn cười khẩy, nói:

– Ồ, Hầu lão đầu, tục ngữ có câu "Dưỡng hổ di họa" (Nuôi hổ để họa về sau). Lão đệ nhân nghĩa theo lối đàn bà, chỉ sợ chúng ta chết không có chỗ chôn mất thôi. Hiện thời hắn chưa tiết lộ, nhưng ai dám bảo đảm sau này hắn kín miệng?

Đột nhiên lão lớn tiếng quát:

– Nhất tề động thủ!

Bốn người đứng bật dậy, vây quanh Kha Trấn Ác. Lão hói nói:

– Kha lão đầu, hơn ba chục năm trước, chúng ta cùng ở đây nhìn thấy Dương Khang thảm tử, không ngờ hôm nay lão cũng sa vào cảnh đó, đúng là báo ứng không sai.

Kha Trấn Ác dộng mạnh thiết trượng xuống đất, tức giận nói:

– Dương Khang nhận giặc làm cha, mãi quốc cầu vinh, là hạng tiểu nhân hèn hạ vô sỉ, Kha Trấn Ác ta đường đường là nam nhi không thẹn với trời đất, sao lão lại đi so sánh tên gian tặc ấy với "Phi thiên biển bức" Kha mỗ? Chẳng lẽ lão không biết Kha mỗ có thể bị giết, quyết không chịu nhục hay sao?

Lão lùn hừ một tiếng, nói:

– Chết đến nơi còn làm ra vẻ anh hùng hảo hán?

Ba người kia đồng thời xuất chưởng, đánh tới đỉnh đầu Kha Trấn Ác. Kha Trấn Ác tự biết không địch nổi bốn người, cứ đứng im không chống đỡ. Chỉ nghe một luồng kình phong ào qua, rồi "bình" một tiếng, đất bụi tung toé, bốn người cảm thấy chưởng mình đánh không phải trúng vào da thịt. Lão hói sáng mắt thấy rõ nhất, nhưng không hiểu Kha Trấn Ác đã biến đâu mất, thế vào chỗ Kha lão đầu vừa đứng là bức tượng Vương Nhan Chương trong miếu Vương Thiết Thương. Đầu của bức tượng này bị trúng chưởng của bốn người, lập tức vỡ nát, chỉ còn trơ cái khung gỗ bên trong.

Lão hói cả kinh, ngoảnh nhìn, thấy một nam tử trạc tam tuần, vẻ mặt giận dữ, đang túm gáy Kha Trấn Ác nhấc bổng lên, quát:

– Tại sao lão nhục mạ tiên phụ của ta?

Kha Trấn Ác hỏi:

– Ngươi là ai?

Dương Quá đáp:

– Ta là Dương Quá, Dương Khang là phụ thân ta. Hồi nhỏ, lão đối với ta tử tế, tại sao vừa rồi lại phỉ báng tiên phụ của ta?

Kha Trấn Ác lạnh lùng nói:

– Các nhân vật từ cổ chí kim, có người để tiếng thơm muôn đời, có kẻ lưu tiếng xấu vạn năm, há có thể bịt miệng người đời?

Dương Quá thấy lão bất khuất thì càng giận, quẳng mạnh lão xuống đất, hỏi:

– Vì sao lão bảo phụ thân ta hèn hạ vô sỉ?

Lão hói thấy Dương Quá có thần công như thế, trong chớp mắt có thể nhấc bổng người lên, đẩy bức tượng thế chỗ, mà lão không hề phát hiện được, tự biết không phải là đối thủ, bèn kéo nhẹ dây xích, lẳng lặng đi ra cửa miếu. Dương Quá lắc mình một cái đã chắn ngay cửa, nói:

– Hôm nay chưa nói rõ ràng, không một ai được bỏ đi.

Bốn người cùng quát lên, mỗi người một chưởng, hợp lực đẩy ra. Dương Quá nói:

– Càng hay!

Tả chưởng cũng đẩy ra, chưởng phong ào ào tràn tới. Bốn người đứng không vững, ngã ngửa ra sau, đè vào một bức tượng thần làm nó vỡ thành nhiều mảnh.

Lão thứ hai võ công yếu nhất, cái bướu ở trán đập vào ngực bức tượng, khiến lão lập tức ngất đi.

Dương Quá nói:

– Bốn người là ai? Tại sao lại dùng dây xích cổ nhau lại thế này? Tại sao lại ước hẹn với Kha Trấn Ác ở đây?

Lão hói bị tức ngực bởi chưởng lực của Dương Quá, lục phủ ngũ tạng tựa hồ đảo lộn, phải ngồi xuống vận khí vài lần, mới thong thả kể ra.

Nguyên lão hói là Sa Thông Thiên, người thứ hai có bướu ở trán là sư đệ Tam đầu giao Hầu Thông Hải, người thứ ba lùn và gầy là Thiên thủ nhân đồ Bành Liên Hổ, người cuối cùng, hòa thượng cao lớn là Đại thủ ấn Linh Trí thượng nhân. Hơn ba chục năm trước, Lão Ngoan đồng Chu Bá Thông đã bắt bốn người này, nhốt trong cung Trùng Dương núi Chung Nam, giao cho Khưu Xứ Cơ, Vương Xứ Nhất canh giữ, khi nào chịu hối cải, sẽ thả ra. Bốn người ác tính khó trừ, tìm thiên phương bách kế bỏ trốn, nhưng lần nào cũng bị bắt trở lại. Lần chạy trốn thứ ba, ba người là Hầu Thông Hải, Bành Liên Hổ và Linh Trí thượng nhân đã giết một số đệ tử phái Toàn Chân, các đạo sĩ phái Toàn Chân đã trừng phạt bằng cách đánh gãy chân cả bốn, chọc mù mắt ba người, riêng Sa Thông Thiên không giết người nên được giữ lại đôi mắt.

Mười sáu năm về trước, khi bọn Mông Cổ đốt phá cung Trùng Dương, bọn Sa Thông Thiên thừa dịp hỗn loạn đã bỏ chạy. Vì ba người bị mù, không thể thiếu Sa Thông Thiên dẫn đường, nên ba người kia sợ bị bỏ rơi, cứ giữ nguyên sợi dây xích mà phái Toàn Chân dùng để xích cổ họ liền với nhau một đám.

Dương Quá năm xưa học nghệ ở cung Trùng Dương không lâu, không được sư phụ và các sư huynh ưa thích, chưa hề bước tới gần chỗ nhốt bọn Sa Thông Thiên, nên chàng không biết mặt, càng không rõ lai lịch của họ.

Bọn Sa Thông Thiên sau khi trốn khỏi cung Trùng Dương, biết căn cứ địa của phái Toàn Chân tuy bị phá hủy, song vẫn là một giáo phái lớn mạnh trên giang hồ, bốn người họ thì đã tàn phế, không thể đối kháng, bèn lần xuống Giang Nam, ẩn cư ở chốn hương thôn hẻo lánh, sống yên ổn suốt mười sáu năm qua. Một hôm bốn người đang sưởi nắng ngoài thềm, thấy Kha Trấn Ác đi ngang qua thôn. Sa Thông Thiên sợ Kha Trấn Ác đến đây là để tìm kiếm bốn người, bèn chặn lại. Kha Trấn Ác võ công thua xa bốn người, vừa động thủ liền bị bắt, tra hỏi mới biết lão đang có việc cần kíp, hoàn toàn không liên quan đến oán cừu với bốn người, nhưng sợ lão tiết lộ tung tích của bốn người, nên cả bọn tính đánh chết lão.

Lúc ấy Kha Trấn Ác bèn nói rằng lão cần đến phủ Gia Hưng, xong việc lão sẽ tự trở lại nộp mình chịu chết. Bốn người nếu có thể để cho lão được sống thêm vài ngày, lão hứa sẽ lấy thuốc trị thương "Cửu hoa ngọc lộ hoàn" của đảo Đào Hoa tặng họ. Bốn người sau khi bị chặt chân, mỗi khi trở trời lại đau nhức khổ sở, nghe Kha Trấn Ác bảo có thể tặng linh dược, bèn bắt lão thề độc là không được tiết lộ tung tích của họ, cũng không được rủ người đến đánh giúp, rồi mới hẹn ngày gặp lại ở miếu Vương Thiết Thương.

Sa Thông Thiên thuật xong, nói:

– Dương đại hiệp, ngày xưa bốn chúng tôi từng là thượng khách trong phủ của lệnh tôn. Cho đến lúc lệnh tôn qua đời, chúng tôi không hề có điều gì không phải với người. Cúi mong đại hiệp nể tình năm xưa, tha cho chúng tôi đi.

Mấy chục năm trước bọn Sa Thông Thiên đều có tiếng tăm trên giang hồ, dù đao kiếm kề cổ, búa rìu trên đầu cũng chẳng run sợ; nhưng sau nhiều năm bị cầm tù, bị chặt chân, chọc mù mắt, bọn họ đã tiêu tan hào khí, cuối cùng phải van xin Dương Quá.

Dương Quá hừ một tiếng, quay sang hỏi Kha Trấn Ác:

– Vừa rồi lão đi gặp tỷ muội Trình Anh và Lục Vô Song, hay có việc gì khác?

Kha Trấn Ác ngửa mặt cười một tràng, nói:

– Dương Quá ơi là Dương Quá, ngươi chẳng hiểu gì hết!

Dương Quá nổi giận:

– Sao ta lại không hiểu gì hết?

Kha Trấn Ác cười, nói:

– Đã đến nước này, "Phi thiên biên bức" Kha mỗ đã không còn quan tâm đến cái mạng già này nữa; chứ hồi trai trẻ, Kha mỗ có bao giờ sợ ai? Ngươi võ công cao mấy, cũng chỉ có thể dọa nạt được bọn tham sinh úy tử, chứ không đời nào có thể bức cung nổi Giang Nam thất quái!

Dương Quá thấy lão chính khí đường hoàng, không khỏi kính nể, nói:

– Kha lão công công, là Dương Quá này không phải, xin lão công công bỏ qua cho. Chỉ tại lão công công dùng lời lẽ nhục mạ tiên phụ, nên điệt nhi mới đắc tội. Kha lão công công lừng danh bốn biển, Dương Quá từ nhỏ đã kính phục, từ nay không dám vô lễ nữa.

Kha Trấn Ác nói:

– Có thế chứ. Ta nghe nói ngươi là một người có phẩm cách, lại lập đại công cho thành Tương Dương, thế mới đúng là nhân vật số một. Còn nếu ngươi giống như phụ thân ngươi, thì nói câu gì với ngươi cũng chỉ làm ta bị ô nhục mà thôi.

Dương Quá lại bừng bừng nổi giận, xẵng giọng:

– Phụ thân ta rốt cuộc làm việc gì sai trái, lão nói ta nghe thử.

Nên biết những người giao du với Dương Quá, có không ít người biết rõ việc làm của Dương Khang, nhưng không một ai muốn nói thẳng ra, sợ xúc phạm chàng; Dương Quá có hỏi, họ cũng bảo là không biết.

Kha Trấn Ác thì xưa nay căm ghét cái ác, trực tính dị thường, chẳng ngại gì Dương Quá, liền đem kể hết mọi chuyện giữa Dương Khang với Quách Tĩnh, chuyện Dương Khang cùng Âu Dương Phong giết hại năm người trong Giang Nam thất quái, rồi ở miếu Vương Thiết Thương giáng chưởng đánh Hoàng Dung, tự chuốc lấy cái chết; cuối cùng lão nói:

– Sự việc tối hôm ấy thế nào bốn người kia đều chứng kiến. Sa Thông Thiên, Bành Liên Hổ, hai vị hãy nói đi, lời Kha mỗ vừa kể có chút gì dối trá hay không?

Sáu người ở trong miếu đánh vỡ tượng thần, lớn tiếng nói năng, làm cho mấy trăm con quạ trú trên tháp cao hoảng sợ bay nháo nhác, kêu quàng quạc.

Sa Thông Thiên thở dài, nói:

– Tối hôm ấy cũng có nhiều quạ như thế này.. Sa mỗ bị Dương công tử chộp tay một cái, nếu không nhờ Bành huynh đệ nhanh mắt hành sự, chặt cánh tay của Sa mỗ đi, thì Sa mỗ đã bị trúng độc, đâu còn sống đến hôm nay?

Bành Liên Hổ nói:

– Lời Kha lão đầu kể đúng cả, nhưng lệnh tôn của Dương đại hiệp thời ấy chiêu hiền đãi sĩ, nhân phẩm mười phần.. mười phần anh tuấn tiêu sái.

Dương Quá đau đớn ôm đầu, không ngờ phụ thân lại là kẻ gian ác như thế, mình dù lẫy lừng đến mấy, cũng chẳng rửa sạch được cái xấu của tiên phụ. Cả sáu người đều im lặng, chỉ nghe tiếng quạ kêu quàng quạc không dứt.

Lát sau, Kha Trấn Ác nói:

– Dương công tử, công tử đã lập đại công với thành Tương Dương, phụ thân công tử có làm trăm cái sai, cũng đều được công tử chuộc cả rồi, phụ thân công tử ở chốn cửu tuyền chắc cũng rất mừng cho công tử.

Dương Quá nghĩ lại mọi sự việc từ hồi quen biết vợ chồng Quách Tĩnh, nghĩ thầm sở dĩ Hoàng Dung trước sau cứ nghi ngại đề phòng chàng, bao nhiêu chuyện hiểu lầm, bao nhiêu điều phiền não, đều là do phụ thân chàng mà ra. Nhưng không có phụ thân: Thì làm sao có mình? Bất giác chàng thở dài, hỏi Kha Trấn Ác:

– Kha lão công công, hai vị Trình, Lục đều mạnh khỏe chứ?

Kha Trấn Ác nói:

– Họ nghe nói công tử đốt kho lương thảo Nam Dương, tiêu diệt hai cánh quân tiên phong của Mông Cổ, thì mừng rỡ, cứ hỏi đủ chuyện về công tử, lại hỏi tin tức của Tiểu Long Nữ, hai người ấy muốn biết nhiều lắm, chỉ tiếc lão phu không nắm được nhiều điều.

Dương Quá buồn bã nói:

– Hai vị nghĩa muội ấy, Dương Quá mười sáu năm nay chưa gặp lại.

Đột nhiên chàng quay sang phía Sa Thông Thiên, nói:

– Kha lão công công đáp ứng trao tính mạng cho bốn người, lão công công nói sao làm vậy, không hề thất tín. Bốn người bây giờ cứ việc ra tay đi. Nếu bốn người ỷ đông, hợp lực giết lão công công, thì ta sẽ giết bốn người để trả thù cho lão công công.

Bọn Sa Thông Thiên ngẩn người. Bành Liên Hổ nói:

– Dương đại hiệp, bọn chúng tôi vô tri, đã mạo phạm hổ uy của Kha lão hiệp, kính mong hai vị đại nhân bỏ qua cho lỗi lầm của bọn tiểu nhân.

Dương Quá nói:

– Vậy bốn người hãy nhớ, đấy là bốn người không dám động thủ với Kha lão công công đó.

Bành Liên Hổ nói:

– Vâng, vâng! Kha lão hiệp đại tín đại nghĩa, chúng tôi lâu nay vẫn thập phần kính phục.

Dương Quá nói:

– Vậy thì các vị mau xéo đi cho! Lần sau đừng để cho Dương Quá này thấy mặt.

Bọn Sa Thông Thiên vội cúi mình thi lễ, rời khỏi miếu.

Vậy là Dương Quá vừa cứu mạng Kha Trấn Ác, lại vừa giữ thể diện cho lão, Kha Trấn Ác dĩ nhiên vô cùng cảm kích. Hai người gạt đất, phủi bụi, ngồi xuống.

Kha Trấn Ác nói:

– Lão phu đến phủ Gia Hưng là để tìm Quách nhị cô nương.

Dương Quá hơi ngạc nhiên, hỏi:

– Tiểu cô nương ấy sao rồi?

Kha Trấn Ác thở dài, mỉm cười, nói:

– Hai cô con gái rượu của Quách Tĩnh mỗi đứa một nết, thật khiến cho người ta phải nhức đầu. Chẳng hiểu sao cô bé Quách Tương tự dưng bỏ thành Tương Dương đi đâu không rõ, khiến phụ thân nó lo cuống quít, sai mấy người đi tìm các nơi mà chưa có tin gì. Có người về cả đảo Đào Hoa. Cái con bé hiếu động ấy đời nào chịu ở đảo Đào Hoa với lão mù này kia chứ? Lão phu nhớ nó quá, nên cũng đi tìm.

Dương Quá nói:

– Đã có tin gì chưa?

Kha Trấn Ác nói:

– Hôm qua ở bên ngoài thành Lâm An, lão phu nghe lén hai sứ thần Mông Cổ nói chuyện với nhau, rằng tiểu nữ nhi của Quách đại hiệp thành Tương Dương đã bị quân Mông Cổ bắt được..

Dương Quá kêu lên:

– Úi chao! Không biết là thật hay giả?

Kha Trấn Ác nói:

– Hai đạo quân nam bắc của Mông Cổ giáp công thành Tương Dương, đại thần của triều đình Lâm An vẫn còn vọng tưởng nghị hòa, hai viên sứ thần Mông Cổ kia được phái tới để đánh lừa vua quan Đại Tống ta, chức quan của hai tên đó không nhỏ. Chúng chẳng ngần ngại dùng tiếng Mông Cổ trò chuyện với nhau, tưởng người bên cạnh không hiểu gì. Không ngờ lão phu từng ở Mông Cổ mười mấy năm, mắt tuy lòa, song tai vẫn thính, nghe đâu ra đấy.

Dương Quá cau mày nói:

– Như thế là chuyện thật rồi.

Kha Trấn Ác nói:

– Phải, lão phu định cho hai tên đó nếm mùi vị vài trái tật lê độc, nhưng phải vội về thành Tương Dương cấp báo, không muốn rắc rối thêm, ai dè sau đó lại gặp bốn lão quỉ chặn đường. Lão phu chết lúc nào cũng xong, nhưng tin tức của Quách nhị cô nương thì phải báo về cho kịp, nên mới cầu xin họ hoãn cho vài ngày, lão phu liền tới phủ Gia Hưng báo cho hai cô nương Trình Anh và Lục Vô Song. Hai người ấy lập tức mang tin đến thành Tương Dương, lão phu thì y hẹn đến đây chịu chết. Không ngờ lão phu thủ tín, còn bốn tên quỉ cuối cùng lại không dám hạ thủ, ha ha, ha ha!

Dương Quá ngẫm nghĩ một lát, rồi hỏi:

– Kha lão công công có nghe hai sứ thần Mông Cổ nói Quách nhị cô nương bị bắt như thế nào hay chăng? Có nguy đến tính mạng hay chăng?

Kha Trấn Ác nói:

– Việc ấy hai sứ thần hoàn toàn không nói, xem ra chúng cũng không thật biết rõ.

Dương Quá nói:

– Việc này khẩn cấp, vãn bối phải đi cứu ngay, Kha lão công công cứ thong thả mà đi sau cũng được.

Kha Trấn Ác từng nghe đệ tử Cái Bang đến đảo Đào Hoa tìm Quách Tương kể chuyện về những gì Dương Quá đã làm cho thành Tương Dương, lão rất khâm phục tài năng của chàng, nên nói:

– Có công tử đi lo, lão phu yên tâm rồi.

Dương Quá nói:

– Kha lão công công, vãn bối nhờ lão công công một việc, hãy dựng trên mộ tiên phụ một tấm bia, đề "Tiên phụ Dương phủ quân Khang chi mộ, con trai bất hiếu Dương Quá cẩn lập".

Kha Trấn Ác sững sờ, nhưng liền hiểu ý, nói:

– Đúng, đúng, công tử vốn bất hiếu với lệnh tôn. Sự bất hiếu của công tử còn hơn sự hiếu đễ của người khác. Lão phu sẽ làm việc công tử vừa nói.

Dương Quá trở về thành Gia Hưng, mua ba con ngựa, phi nhanh lên phía bắc, dọc đường liên tiếp thay ngựa, không dám chậm trễ một khắc, vài hôm sau đã tới gần quân doanh Mông Cổ.

Hoàng đế Mông Cổ nam chinh Tương Dương, bị đại bại một cách không thể hiểu nổi ở Tân Dã và Đặng Châu, rồi kho lương thảo và hỏa dược tích lũy mấy năm trời ở Nam Dương chỉ trong một đêm bị đốt sạch, tử thương thêm không ít quân sĩ, mất hết nhuệ khí, lại chưa rõ quân Tống hư thực thế nào, đành dựng doanh trại ở phía bắc Nam Dương, án binh bất động. Quân hai bên chưa đánh nhau. Tứ phía treo đầy tinh kỳ, đao thương lóa mắt, Dương Quá đưa mắt nhìn, chỉ thấy bạt ngàn doanh trướng.

Chàng chờ đêm tối, lén vào đại doanh do thám, chỉ thấy quân địch canh phòng nghiêm mật, hiệu lệnh chặt chẽ, xung quanh ngự doanh có nhiều tầng đao kiếm canh giữ, như thành đồng vách sắt. Dương Quá biết trong đại doanh có vô số dũng sĩ, mãnh hổ nan địch quần hồ, nên không dám để lộ hình tích. Lặn lội già nửa đêm, chỉ rà soát được đại doanh phía đông.

Đêm sau chàng rà soát đại doanh phía tây. Bốn đêm liền chàng rà soát đại doanh bốn phía, không lần ra chút manh mối gì về Quách Tương, chàng bắt trong đại doanh một tên tham mưu biết nói tiếng Hán, tra hỏi hắn, hắn nói chưa hề nghe chuyện bắt được nữ nhi của Quách đại hiệp thành Tương Dương.

Dương Quá yên tâm, lại dò la thêm vài hôm, biết đích xác Quách Tương không có ở trong quân Mông Cổ, nghĩ thầm: "Có lẽ Quách bá bá đã cứu nàng về, hoặc hai gã sứ thần Mông Cổ nghe tin đồn thất thiệt". Tính ra sắp đến kỳ Tiểu Long Nữ ước hẹn mười sáu năm, chàng bèn phi ngựa lên phương bắc, đến Tuyệt Tình cốc.

Comments

Comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 38: Sinh Tử Mịt Mù

Hôm ấy Quách Tương thấy Kim Luân pháp vương hạ độc thủ đánh chết Trường Tu Quỉ, Đại Đầu Quỉ hai người, thì nàng đau lòng tự biết khó thoát ma chưởng của lão, bèn hiên ngang nói:

– Lão không mau đánh chết bổn cô nương, còn chờ gì nữa?

Kim Luân pháp vương cười, nói:

– Muốn đánh chết tên nhãi con như mi, nào có khó gì? Hôm nay ta giết hai người là đủ rồi. Vài hôm nữa ta sẽ chọn ngày đem mi ra khai đao, bây giờ thì hãy ngoan ngoãn đi theo ta.

Quách Tương biết rằng chống chọi lão ta lúc này chỉ tự chuốc nhục, đành đi theo, rồi tìm cách thoát thân sau, bèn lè lưỡi, lên ngựa đi.

Kim Luân pháp vương mừng rỡ, nghĩ: "Hoàng thượng và Tứ vương gia tìm thiên phương bách kế lấy mạng Quách Tĩnh, vẫn chưa như nguyện. Hôm nay ta bắt được ái nữ của Quách Tĩnh, dùng nó để kiềm chế, lo gì hắn không cúi đầu vâng mệnh. Thế này còn hơn một kiếm đâm chết hắn. Giả dụ Quách Tĩnh quật cường không chịu khuất phục, chúng ta đem con bé này đến dưới chân thành mà hành hạ, hắn sẽ đau đớn đứt từng khúc ruột, mất hết tinh thần, bấy giờ đại quân công thành, làm gì chẳng hạ được?"

Đi đến lúc trời tối, ghé đại vào một nhà ven đường nghỉ đêm. Người sống trong nhà mang đồ đạc tản cư đi hết, nhà chỉ trơ trọi bốn bức tường. Kim Luân pháp vương lấy lương khô ra chia cho Quách Tương cùng ăn, rồi bảo nàng sang chái nhà mà ngủ, còn lão ngồi dụng công ở gian giữa.

Quách Tương trằn trọc, làm sao ngủ nổi? Đến nửa đêm, nàng rón rén ngó sang gian giữa, thấy Pháp vương ngồi dựa vào vách, hơi thở đều đều, chắc là đang ngủ say. Nàng cả mừng, rón rén vượt song ra ngoài, lấy vải bọc bốn vó ngựa, rồi dắt ngựa đi rất nhẹ, từng bước một, đến khi cách nhà chừng nửa dặm, ngoảnh lại không thấy Pháp vương đuổi theo, mới lên ngựa phóng đi. Nàng nghĩ rằng khi Pháp vương tỉnh giấc, phát giác nàng bỏ chạy, sẽ đoán nàng chạy về thành Tương Dương, tất lão sẽ đuổi theo về phía nam, nên nàng bèn phóng ngựa về hướng tây bắc, phóng một mạch chừng nửa canh giờ, con ngựa đuối sức, mới đi chậm lại, dọc đường chốc chốc nàng ngó lại phía sau, thủy chung không thấy Pháp vương đuổi theo. Đến khi trời sáng hẳn, tính ra đã chạy được năm, sáu chục dặm, trong bụng mới đỡ lo.

Lúc này nàng tới một con đường nhỏ ven núi, đường lên càng lúc càng cao, qua một thung lũng, bỗng thấy có một người nằm chắn ngang đường, ngáy như kéo bễ, nhìn kỹ, nàng giật mình suýt ngã ngựa, vì người nằm kia đầu trọc, mặc hoàng bào, chính là Kim Luân pháp vương. Cũng không biết bằng cách nào lão ta lại ở phía trước mặt. Quách Tương vội quay đầu ngựa, phi xuống dốc, ngó lại, thấy lão ta vẫn nằm đó, không hề đuổi theo.

Lần này nàng không đi trên đường nữa, mà phóng ngựa thẳng về hướng đông nam, chạy một hồi rất lâu, thấy có một người treo móc hai chân lên cây đại thụ phía trước mặt, đầu chúi xuống đất, cười hi hi với nàng, chính là Kim Luân pháp vương. Quách Tương cả giận, quát:

– Lão muốn cản đường, thì cản cho ngay ngắn tử tế, sao lại đi giở trò đùa bỡn với bổn cô nương như thế?

Nàng phóng ngựa tới gần, quất một roi vào mặt lão ta.

Chỉ thấy Pháp vương không né tránh, roi ngựa vút tới mặt lão ta mà không nghe có âm thanh gì, đúng lúc ấy con ngựa phóng đi. Quách Tương tay phải định rút cây roi về, phát giác có một luồng lực truyền thụ sang tay mình, thân mình tự rời khỏi yên ngựa, bay lên cao. Thì ra Kim Luân pháp vương thấy roi ngựa vút tới, đã há miệng cắn lấy ngọn roi, thân hình đảo ngược lên cành cây, kéo Quách Tương lên theo.

Quách Tương lơ lửng trên không, không hề hoảng loạn, thấy Pháp vương cúi lưng co người định kéo nàng xuống, nàng liền buông cây roi, lợi dụng thế rơi thẳng xuống.

Pháp vương lại hoảng hốt, sợ nàng ngã xuống bị thương, vội ngửa người giơ tay đỡ, miệng kêu:

– Cẩn thận!

Quách Tương kêu "ối chao!" rơi xuống cách hai tay Pháp vương nửa thước, đột nhiên song chưởng cùng đánh ra, bình bình hai tiếng, trúng ngực lão ta. Nàng biến chiêu quá nhanh, Pháp vương tuy võ công cao cường, lại cơ trí, cũng không tránh kịp, chỉ thấy lão ta loạng quạng chân tay ngã xuống đất, nằm bất động.

Quách Tương không ngờ vừa ra đòn đã thành công, cả mừng, nhấc một hòn đá to dưới đất lên, định đập xuống cái đầu trọc lốc của Pháp vương. Nhưng trong đời nàng chưa giết ai bao giờ, tuy nàng rất căm hận người này đã giết hai vị bằng hữu của nàng, nhưng lúc cần ra tay, nàng lại không nỡ, cứ đứng ngây ra, cuối cùng nàng quăng hòn đá đi, giơ tay điểm các huyệt Thiên Đỉnh ở vai, Thân Trụ ở lưng, Thần Phong ở ngực, Thanh Lãnh Uyên ở cánh tay, Phong Thị ở chân, điểm liền một mạch mười ba đại huyệt trên người Pháp vương, vẫn chưa yên tâm, lại bê bốn hòn đá nặng vài chục cân đè lên người lão ta, nói:

– Ác nhân ơi là ác nhân, bổn cô nương hôm nay không giết lão, từ rày lão phải biết tốt xấu, không được hãm hại người ta nữa!

Đoạn nàng nhảy lên ngựa.

Kim Luân pháp vương mở to mắt nhìn nàng, cười nói:

– Tiểu cô nương có lòng tốt, lão hòa thượng rất mến cô nương.

Chỉ thấy bốn hòn đá đột nhiên bị hất ra khỏi người lão ta, lão ta bật ngay dậy, cũng chẳng hiểu làm cách nào lão ta đã giải hết mười ba huyệt đạo bị điểm. Quách Tương kinh ngạc, ngẩn ra không nói nên lời.

Nguyên Kim Luân pháp vương trúng song chưởng của nàng, nhưng hai chưởng ấy làm sao có thể đánh lão ta ngã khỏi cây? Dù có ngã cũng chẳng đến nỗi hết cựa quậy. Pháp vương giả vờ bị thương, thử xem Quách Tương động thủ thế nào, khi thấy nàng bưng tảng đá không đập xuống, lão thầm nghĩ: "Cô nương này thông minh lanh lợi, tâm địa lại tốt, có cái hay mà không có cái dở của hai đệ tử của ta". Bất giác lão muốn thu nàng làm đệ tử.

Pháp vương bình sinh từng thu nhận ba đệ tử. Đại đệ tử văn võ song toàn, tư chất cực hay, Pháp vương vốn định truyền cho y bát, chẳng may y chết non. Nhị đệ tử Đạt Nhĩ Ba thật thà trung hậu, có thần lực, không thể lĩnh hội nội công cao thâm huyền diệu. Tam đệ tử Hoắc Đô vương tử bản tính khinh bạc, vô tình vô nghĩa, lúc nguy nan phản sư bỏ chạy. Pháp vương tự nghĩ tuổi lão đã cao, một thân tuyệt kỹ chưa biết truyền thụ cho ai, chẳng lẽ trăm năm sau không còn ai biết đến thứ võ công tuyệt thế của lão? Mỗi lần nghĩ thế, lão lại buồn buồn. Giờ thấy Quách Tương tư chất thông minh, bình sinh hiếm gặp, tuy nói là con gái kẻ địch, nhưng nàng còn nhỏ tuổi, dễ dàng cải biến, thiết tưởng chỉ cần truyền cho tuyệt kỹ, lâu dần nàng sẽ quên chuyện cũ. Huống hồ lão ta với cha mẹ nàng chỉ do hai nước tương tranh mà đối địch với nhau, chứ chẳng có thâm cừu đại oán riêng tư gì hết. Người trong võ lâm rất kính trọng việc thu đồ truyền pháp, nhà tu hành không có con cái, bản sự đầy mình toàn dựa vào đệ tử mà truyền tông tiếp đại, việc truyền y bát càng vô cùng hệ trọng. Pháp vương vừa nghĩ đến việc này, lập tức gác ngay chuyện đánh thành Tương Dương, gây áp lực với Quách Tĩnh sang một bên.

Quách Tương thấy cặp mắt Pháp vương láo liên, trầm ngâm không nói, bèn xuống ngựa, nói:

– Lão hòa thượng bản lĩnh thật cao cường, chỉ tiếc không chịu làm việc tốt.

Pháp vương cười, nói:

– Cô nương đã bái phục bản lĩnh của ta, chỉ cần bái ta làm sư phụ, ta sẽ truyền thụ mọi công phu cho cô nương.

Quách Tương xì một cái, nói:

– Bổn cô nương học công phu của lão hòa thượng có ích gì? Bổn cô nương lại không định làm ni cô.

Pháp vương cười, nói:

– Chẳng lẽ cứ học võ công của ta thì phải làm ni cô hay sao? Cô nương điểm huyệt ta, ta tự giải huyệt, cô nương đè đá lên người ta, ta hất đá ra khỏi người, cô nương phi ngựa, ta đi bộ lại đến trước nằm ngủ, các môn công phu ấy chẳng hay lắm sao?

Quách Tương nghĩ các môn công phu ấy quả rất hay, nhưng lão hòa thượng này là kẻ ác, làm sao có thể bái lão làm sư phụ, hơn nữa nàng cần tìm gấp Dương Quá, không nhiều thời gian dính dáng với lão ta, nên lắc đầu nói:

– Lão bản lĩnh cao mấy, bổn cô nương cũng không thể bái kẻ ác làm sư phụ.

Pháp vương nói:

– Sao cô nương biết ta là kẻ ác?

Quách Tương nói:

– Lão vừa xuất thủ đã đánh chết Trường Tu Quỉ, Đại Đầu Quỉ hai người, họ không hề có oán cừu gì với lão, sao lão nỡ hạ độc thủ?

Pháp vương cười, nói:

– Ta chỉ giúp cô nương tìm ngựa khỏe, hai người ấy động thủ trước, cô nương không thấy hay sao? Nếu ta bản lĩnh kém cỏi, thì đã bị họ đập chết rồi. Làm hòa thượng phải từ bi, nếu không phải vạn bất đắc dĩ, thì không đời nào giết người.

Quách Tương hừ một tiếng, không tin lời lão, nói:

– Rốt cuộc thì lão muốn gì? Nếu lão là người tử tế, tại sao không để cho bổn cô nương đi?

Pháp vương nói:

– Ta không cho cô nương đi hồi nào? Cô nương cưỡi ngựa muốn đi đâu thì đi, ta chỉ nằm ngủ trên đường, có giơ tay ra chắn đường hay không nào?

Quách Tương nói:

– Đã thế, lão hãy để cho bổn cô nương đi tìm Dương đại ca, đừng bám theo nữa.

Pháp vương lắc đầu, nói:

– Như thế không được. Cô nương phải bái ta làm sư phụ, học ta hai mươi năm võ nghệ đã, rồi muốn đi tìm ai thì cứ việc.

Quách Tương thất vọng, nói:

– Lão đúng là không biết lý lẽ, bổn cô nương không thèm bái sư, lão cứ cưỡng ép là sao?

Pháp vương nói:

– Cô nương không biết lý lẽ thì có, một minh sư như ta, khắp thiên hạ tìm đâu cho thấy kia chứ. Người khác lạy ta ba trăm cái, cầu xin chín, mười năm, ta cũng chưa thèm nhận làm đệ tử. Hôm nay cô nương gặp cơ hội ngàn năm có một, lại không thụ hưởng, thế có dại không?

Quách Tương bĩu môi, nói:

– Lão mà đòi làm minh sư cái thá gì? Chẳng qua lão thắng được một cô bé hơn mười tuổi như bổn cô nương, có gì là lạ. Lão có thắng nổi phụ mẫu của bổn cô nương hay không? Có thắng nổi ngoại công của bổn cô nương là Hoàng đảo chủ hay không? Đừng nói ba người ấy, ngay đại ca ca Dương Quá của bổn cô nương, lão cũng không thắng nổi.

Pháp vương bực tức nói:

– Ai bảo.. ai bảo ta không thắng nổi tên tiểu tử Dương Quá?

Quách Tương nói:

– Anh hùng hảo hán thiên hạ đều nói thế. Mấy hôm trước, tại anh hùng đại yến trong thành Tương Dương, mọi người đều bảo dù có ba Kim Luân pháp vương nhất tề động thủ, mỗi Kim Luân pháp vương ba đầu sáu tay, cũng đánh không lại Thần điêu đại hiệp Dương Quá có một cánh tay.

Câu này Quách Tương tiện miệng bịa ra để khích Pháp vương, còn đại hội anh hùng chỉ thương nghị cách giữ thành Tương Dương, chống quân Mông Cổ, giả dụ có ai nhắc đến võ công mạnh yếu của Kim Luân pháp vương và Dương Quá, thì Quách Tương không tham dự, cũng chẳng thể biết. Ai ngờ người nói vô tâm, kẻ nghe hữu ý, câu này xoáy đúng vào chỗ đau của Kim Luân pháp vương. Mới mấy năm trước lão từng ba phen bại trận dưới tay Dương Quá, lão tưởng anh hùng thiên hạ nói thế thật, liền nổi giận quát:

– Tên tiểu tử Dương Quá nếu có mặt ở đây, ta sẽ cho hắn nếm mùi "Long tượng bát nhã công", ôm đầu thảm bại, sẽ biết thời nay rốt cuộc là Dương Quá tài giỏi hay Kim Luân pháp vương ta cao minh.

Quách Tương chợt nảy một kế, nói:

– Lão thừa biết đại ca ca của bổn cô nương không có ở đây mới dám huênh hoang như thế. Lão có gan đi tìm chàng đấu thử một trận hay không? Cái môn "Xà trư bất nhã công" của lão..

Pháp vương vội nhắc:

– Là "Long tượng bát nhã công"!

Quách Tương nói:

– Lão phải thắng đại ca ca mới là rồng là voi, còn nếu chịu không nổi một đòn, thì đến con rắn con heo lão cũng chẳng bằng! Nếu lão thắng chàng, bổn cô nương tất nhiên sẽ bái lão làm sư phụ. Có điều là lão không dám đi tìm chàng nên mới khoác lác như vậy. Bổn cô nương cho rằng lão vừa nhìn thấy bóng Dương Quá, đã hoảng hồn chạy vắt chân lên cổ.

Pháp vương làm gì không biết kế khích tướng của Quách Tương, nhưng bình sinh lão hết sức tự phụ, vậy mà từng bại dưới tay Dương Quá, những năm qua lão đã luyện "Long tượng bát nhã công" đến tầng thứ mười, cốt đi tìm Dương Quá rửa vết nhục đại bại hồi trước, nên nói lớn:

– Ta bảo ta biết Dương Quá ở chỗ nào là nói dối cô nương, chỉ tiếc là tên tiểu tử ấy chui rúc nơi nào, ta không biết, nếu biết ta sẽ tìm đến đánh cho hắn một trận phải rập đầu xin tha.

Quách Tương cười ha ha, vỗ tay, nói:

– Lão hòa thượng huênh hoang, tự khoe vô địch thiên hạ, thấy Dương Quá ở phía đông, vội vàng lủi ngay sang phía tây.

Pháp vương hừ một tiếng, hầm hầm nhìn nàng.

Quách Tương nói:

– Bổn cô nương tuy không biết hiện thời Dương Quá ở đâu, nhưng lại biết hơn một tháng nữa, đại ca ca nhất định sẽ đến một chỗ.

Pháp vương hỏi:

– Hắn đến chỗ nào?

Quách Tương nói:

– Nói cho lão biết làm gì? Lão đã không dám đi gặp chàng, có nói ra lão càng thêm kinh sợ.

Pháp vương nghiến răng ken két, giục:

– Nói đi, cứ nói ta coi!

Quách Tương nói:

– Chàng sẽ đến trước Đoạn Trường nhai ở Tuyệt Tình cốc để gặp thê tử Tiểu Long Nữ. Một mình Dương Quá đã khiến lão hoảng sợ, thêm Tiểu Long Nữ nữa, thì lão có đến Đoạn Trường nhai sẽ chỉ để chịu chết mà thôi. Giả dụ vợ chồng họ đoàn tụ vui quá, không muốn giết người, thì lão đại bại cũng sẽ đau đớn đứt ruột mà chết.

Mười mấy năm nay, Pháp vương khổ luyện "Long tượng bát nhã công" là muốn đấu với Dương Quá và Tiểu Long Nữ khi hai người ấy liên thủ sử dụng "Ngọc nữ tố tâm kiếm pháp". Nếu lão chưa nắm chắc một mình đánh thắng cả hai người, thì lần này lão đã chưa dám trở lại Trung Nguyên. Bây giờ nghe Quách Tương nói thế, càng chạm đúng vào dự định của mình.

Pháp vương nói:

– Vậy thì hai ta cùng đi đến Tuyệt Tình cốc! Nếu ta đánh bại Dương Quá và Tiểu Long Nữ, thì sao nào?

Quách Tương nói:

– Giả dụ lão có võ công cao cường như thế thật, bổn cô nương còn mong gì nữa mà không vội bái lão làm sư phụ. Chỉ tiếc rằng Tuyệt Tình cốc là nơi u tịch, không dễ gì tìm ra nó ở đâu.

Pháp vương nói:

– Ta đã từng đến đó, cô nương khỏi lo. Hiện thời còn sớm, cô nương hãy theo ta tới quân doanh Mông Cổ, chờ ta liệu lý vài việc, rồi sẽ cùng đi Tuyệt Tình cốc.

Quách Tương thấy Pháp vương chịu đi Tuyệt Tình cốc tìm Dương Quá tỷ võ, thì yên tâm hẳn, nghĩ thầm: "Ta chỉ lo lão không chịu đi, giờ lão chịu rồi, thì còn sợ gì nữa? Lão ác tăng hoành hành ở đây thôi, chứ khi gặp đại ca ca thì sẽ biết tay chàng". Nàng bèn đi theo Pháp vương tới quân doanh Mông Cổ.

Pháp vương nhất quyết muốn Quách Tương tiếp nhận y bát của lão, nghĩ bụng chỉ có làm cho nàng tâm phục, mai sau nàng mới có thể trở thành cao đồ, vì thế dọc đường lão đối với nàng rất tử tế, hiền hòa. Trong võ lâm minh sư cố nhiên khó cầu, song đệ tử thông minh mỹ chất cũng hiếm có y hệt, đệ tử tìm chọn sư phụ, mà sư phụ cũng tìm chọn đệ tử. Pháp vương và Quách Tương dọc đường cười cười nói nói, lão thấy nàng thông minh hơn người, ngộ tính cao lạ thường, thì không khỏi thầm hoan hỉ. Có lúc Quách Tương buồn bã trách cứ Pháp vương hạ độc thủ gây thảm tử cho Trường Tu Quỉ và Đại Đầu Quỉ, lão cũng không tức giận, còn cho rằng nàng không có cái tính khinh bạc như vương tử Hoắc Đô.

Pháp vương đưa Quách Tương đến quân doanh Mông Cổ, là đại doanh phía nam do hoàng đệ Hốt Tất Liệt thống lĩnh, trong khi Dương Quá lại đi tìm kiếm Quách Tương mấy ngày ở đại doanh phía bắc do đại hãn Mông Kha thống lĩnh, nên không thấy nàng.

Dương Quá lên đường đi Tuyệt Tình cốc không lâu thì Pháp vương và Quách Tương cũng khởi hành, ba người chỉ cách nhau hơn trăm dặm mà thôi.

Quách Tĩnh và Hoàng Dung sau khi ấu nữ bỏ đi, ngày đêm thương nhớ. Những đệ tử Cái Bang phái đi tứ xứ thăm dò lần lượt trở về bẩm báo, đều nói không biết tin tức gì. Hơn mười ngày sau, đột nhiên Trình Anh và Lục Vô Song đến thành Tương Dương, mang tin của Kha Trấn Ác, nói Quách Tương đã bị bắt vào quân doanh Mông Cổ. Quách Tĩnh, Hoàng Dung cả kinh. Ngay đêm hôm đó, Hoàng Dung và Trình Anh lẻn vào quân doanh Mông Cổ dò xét mọi chỗ, cũng như Dương Quá, không tìm ra manh mối gì. Đêm thứ ba, hai người phải đấu với các võ sĩ Mông Cổ một trận, hơn bốn chục võ sĩ vây chặt Hoàng Dung và Trình Anh, may mà võ công hai người cao cường, Hoàng Dung lại thi triển ngụy kế, mới vượt khỏi vòng vây chạy thoát về thành Tương Dương.

Hoàng Dung cho rằng nữ nhi hoàn toàn không có ở trong quân doanh Mông Cổ, nhưng vẫn không nhận được tin tức gì khác, là điềm không hay. Thấy đại quân Mông Cổ không có dấu hiệu gì chứng tỏ sắp đánh xuống phía nam, sau khi bàn với Quách Tĩnh, Hoàng Dung quyết định tự rời thành đi tìm. Hoàng Dung mang theo đôi chim điêu trắng, nếu có việc khẩn cấp, có thể cho chim chuyển tin tức về. Trình Anh và Lục Vô Song nằng nặc xin đi theo. Ba người vòng qua đại quân Mông Cổ, đi về hướng tây bắc. Hoàng Dung nghĩ: "Tương nhi đi chuyến này là để khuyên Dương Quá đừng tự sát. Lần trước nó đã gặp Dương Quá ở gần Đồng Quan, bến Phong Lăng, lần này chắc nó trở lại chốn cũ, mình phải tới bến Phong Lăng dò la tung tích".

Ba người rời thành Tương Dương vào giữa mùa đông, vừa đi vừa hỏi dò tin tức dọc đường, đến bến Phong Lăng thì đã là hạ tuần tháng Hai, băng tuyết đang tan. Ba người hỏi dò tất cả những người lái đò, chủ quán, phu xe, khách bộ hành ở bến Phong Lăng, đều không một ai nhìn thấy tiểu cô nương nào như thế cả.

Trình Anh an ủi:

– Sư tỷ đừng lo. Tương nhi mới chào đời một ngày, đã bị hai đại ma đầu là Kim Luân pháp vương và Lý Mạc Sầu bắt đi. Tục ngữ có câu đại nạn không chết, tất có phúc lớn về sau. Hồi trước hung hiểm như thế còn chẳng việc gì, nữa là bây giờ?

Hoàng Dung thở dài, không nói gì. Ba người rời bến Phong Lăng, đi loanh quanh ra bên ngoài. Hôm nay trời nắng ấm, gió nồm thổi lồng lộng, hoa nở đầu cành, ý xuân phơi phới. Trình Anh chỉ một cây hoa đào, nói với Hoàng Dung:

– Sư tỷ, bắc quốc xuân đến chậm, ở đây hoa đào nở rộ, mấy cây đào trên đảo Đào Hoa chắc đã kết trái rồi!

Nàng vừa nói vừa bẻ một cành đào chơi, rồi khẽ ngâm:

Hỏi hoa, không nói một câu

Vì đâu hoa nở vì đâu hoa tàn

Ba phần xuân sắc hồng nhan

Nửa tan sóng biếc nửa tàn trần ai

Hoàng Dung thấy Trình Anh mày đen da trắng, vẫn xinh đẹp hệt như mười mấy năm trước, vậy mà khuê phòng lạnh giá, bất giác cũng đau lòng thay cho nàng. Bỗng nghe tiếng vo vo, một con ong mật bay tới, cứ lượn quanh cành đào Trình Anh đang cầm, rồi đậu trên đài hoa mà hút mật. Hoàng Dung thấy con ong này thân màu xám nhạt, to gấp đôi loài ong mật thông thường, chợt nhớ ra, nói:

– Hình như đây là giống ong ngọc phong mà Tiểu Long Nữ vẫn nuôi, tại sao nó lại xuất hiện ở đây?

Lục Vô Song nói:

– Đúng, chúng ta hãy đi theo con ong này, xem nó bay về chỗ nào?

Con ong hút nhụy một hồi, rời cành hoa, lượn vài vòng, rồi bay về hướng tây bắc. Ba người vội thi triển khinh công bám theo. Con ong gặp cây hoa thì dừng lại hút nhụy, hút xong lại bay tiếp, cứ bay rồi đậu, đậu rồi bay như thế, lát sau thêm hai con nữa nhập bọn. Ba người đuổi theo tới chiều thì đến một sơn cốc, chỉ thấy muôn hồng nghìn tía, cảnh sắc cẩm tú, dốc núi treo liền bảy, tám đõ ong bằng gỗ. Ba con ong kia bay vào trong đõ.

Bên kia dốc núi có ba gian nhà tranh, trước cửa có hai con cáo nhỏ, đưa cặp mắt long lanh nhìn ba người khách lạ. Bỗng két một tiếng, cánh cửa gỗ mở rộng, một người bước ra, chính là Lão Ngoan đồng Chu Bá Thông. Hoàng Dung cả mừng gọi:

– Lão Ngoan đồng, xem ai đến này!

Chu Bá Thông thấy Hoàng Dung thì cười ha hả, bước ra đón, nhưng được vài bước đột nhiên đỏ bừng cả mặt, quay người đi vào nhà, kẹt một tiếng, đã đóng cửa lại. Hoàng Dung lấy làm lạ, không hiểu Lão Ngoan đồng có dụng ý gì, gõ gõ cửa, gọi:

– Lão Ngoan đồng, Lão Ngoan đồng, sao thấy khách phương xa đến, lại trốn đi như vậy?

Chu Bá Thông ở bên trong nói:

– Không mở, không mở! Chết cũng không mở đâu!

Hoàng Dung cười, nói:

– Lão không mở, chúng tôi sẽ thiêu cái ổ chó của lão thành tro đấy.

Chợt nghe cánh cửa gian bên trái mở ra, một người nói:

– Hoang sơn quang lâm quí khách, lão hòa thượng cung nghênh.

Hoàng Dung ngó qua, thấy Nhất Đăng đại sư tươi cười đứng giữa cửa, chắp tay hành lễ. Hoàng Dung bước lên bái kiến, cười, nói:

– Thì ra đại sư là láng giềng của Lão Ngoan đồng, thật chẳng thể ngờ. Lão Ngoan đồng không hiểu vì cớ gì lại đóng cửa không tiếp khách?

Nhất Đăng đại sư cười ha ha, nói:

– Mặc kệ y! Mời ba vị vào nhà, lão tăng thết trà!

Ba người bước vào, Nhất Đăng đại sư bưng trà xanh ra, Hoàng Dung hỏi thăm cuộc sống nơi này. Nhất Đăng đại sư nói:

– Quách phu nhân thử đoán xem, gian bên phải có ai đang ở?

Hoàng Dung nghĩ vừa rồi Chu Bá Thông bỗng dưng đỏ mặt, chui vào nhà đóng cửa lại, đã biết vì sao, cười nói:

– Sóng xuân cỏ biếc ai cười, phòng sâu sáng rét giặt đôi áo hồng. Hay quá, hay quá!

Mấy câu này chính là đoạn cuối bài từ "Tứ trương ky" năm xưa Lưu quí phi Anh Cô đã sáng tác.

Nhất Đăng đại sư hiện thời tâm thanh tịnh, ngày ngày ngồi thiền, mọi dư hận si tình năm xưa đã mỉm cười cho qua từ lâu, liền vỗ tay cười:

– Quách phu nhân thần cơ diệu toán, chuyện gì cũng đoán trúng.

Lão bước ra cửa gọi:

– Anh Cô, Anh Cô, sang đây gặp tiểu hữu năm xưa chút nào.

Lát sau, Anh Cô bưng một cái khay gỗ đựng trái cây, bánh mật ong, hạt tùng rang sang mời khách. Bọn Hoàng Dung bái kiến, năm người cười nói thật vui.

Mối cừu hận, ân oán mấy chục năm khó cởi giữa Nhất Đăng đại sư, Chu Bá Thông, Anh Cô, nhưng nay ba người đã già, tu vi lại tiến xa, cùng ẩn cư ở Vạn Hoa cốc, nuôi ong trồng rau, tỉa hoa tưới cây, không còn để bụng tình thế khó xử năm nào. Nhưng Chu Bá Thông bất ngờ gặp Hoàng Dung, cảm thấy ngượng ngùng, bèn đóng cửa tránh mặt. Tuy lão ở phòng bên, song vẫn dỏng tai nghe năm người trò chuyện, nghe Hoàng Dung kể cảnh náo nhiệt tại anh hùng đại yến trong thành Tương Dương, kể đến chỗ vạch trần bộ mặt thật của Hà Sư Ngã, thì Chu Bá Thông không nhịn thêm được nữa, bèn sang gian buồng của Nhất Đăng đại sư mà hỏi:

– Sau đó tên Hoắc Đô thế nào? Không lẽ hắn chạy thoát hay sao?

Đêm ấy bọn Hoàng Dung nghỉ đêm ở gian buồng của Anh Cô. Sáng hôm sau, Hoàng Dung dậy, ra ngoài sân, thấy Chu Bá Thông đang hoa chân múa tay, có một con ong đậu trên lòng bàn tay, vẻ vô cùng đắc ý.

Hoàng Dung cười, nói:

– Lão Ngoan đồng, có gì vui thế?

Chu Bá Thông cười, nói:

– Tiểu Hoàng Dung, bản lĩnh của ta ngày càng cao siêu, tiểu muội có thán phục hay chưa?

Hoàng Dung biết Lão Ngoan đồng bình sinh có hai sở thích, một là chơi đùa, hai là võ học, mười mấy năm nay ẩn cư hoang cốc, chắc là lại sáng tạo ra môn võ công cao minh nào đó, đại loại như thuật "phân tâm nhị dụng, song thủ hỗ bác", rất muốn biết, bèn nói:

– Võ công của Lão Ngoan đồng, tiểu muội phục sát đất từ hồi còn nhỏ, sao còn phải hỏi? Mấy năm rồi lại nghĩ ra công phu kỳ diệu gì phải không?

Chu Bá Thông lắc đầu, nói:

– Không, không phải thế. Môn võ công hay nhất gần đây là "Ám nhiên tiêu hồn chưởng", do tên tiểu tử Dương Quá sáng tạo, Lão Ngoan đồng tự thẹn không bằng. Thôi đừng nhắc đến võ học nữa!

Hoàng Dung lấy làm lạ: "Hài tử Dương Quá thật tài tình, trẻ như Quách Tương, già như Lão Ngoan đồng, ai cũng mê hắn, không biết" Ám nhiên tiêu hồn chưởng "là môn gì?" Bèn hỏi:

– Thế bản lĩnh ngày càng cao cường của lão là gì vậy?

Chu Bá Thông giơ cao bàn tay có con ong kia lên, dương dương tự đắc nói:

– Đấy là bản lĩnh nuôi ong của ta.

Hoàng Dung bĩu môi, nói:

– Đàn ong ngọc phong này là của Tiểu Long Nữ tặng cho, có gì mà khoe?

Chu Bá Thông nói:

– Tiểu muội chưa hiểu tường tận. Ong ngọc phong mà Tiểu Long Nữ tặng ta cố nhiên là loại ong cực quí, nhưng Lão Ngoan đồng đã tạo ra được loài ong thiên hạ vô song, nhân gian hiếm có, đúng là khéo hơn cả tạo hóa, phép lạ ấy Tiểu Iong Nữ bì sao kịp ta?

Hoàng Dung cười ha ha, nói:

– Lão Ngoan đồng càng già càng không biết ngượng, cái món mặt dày và huênh hoang một tấc đến trời thì đúng là thiên hạ vô song, nhân gian hiếm có, khéo hơn cả tạo hóa.

Chu Bá Thông cũng không giận, cười hi hi, nói:

– Tiểu Hoàng Dung, ta hỏi tiểu muội, người là cái linh của vạn vật, thân mình có xăm hoa xăm chữ, hoặc xăm hình đầu rồng vuốt hổ, hoặc xăm chữ "Thiên hạ thái bình". Nhưng trừ con người ra, trên thân thể cầm thú côn trùng có khắc chữ hay không?

Hoàng Dung nói:

– Hổ có vằn vàng, báo có gấm hoa, bướm và rắn trên thân có nhiều hoa văn gấp bội.

Chu Bá Thông nói:

– Nhưng tiểu muội đã thấy trên thân côn trùng có chữ bao giờ chưa?

Hoàng Dung nói:

– Nếu là trời sinh, thì tiểu muội chưa thấy bao giờ.

Chu Bá Thông nói:

– Được, vậy hôm nay ta cho tiểu muội được một phen đại khai nhãn giới.

Đoạn giơ bàn tay trái có con ong đến trước mắt Hoàng Dung. Chỉ thấy trên đôi cánh của con ong lớn này quả nhiên có chữ, Hoàng Dung nhìn kỹ, thấy trên cánh phải có ba chữ "đáy tình cốc", trên cánh trái có ba chữ "ta ở dưới", mỗi chữ nhỏ như hạt gạo, nhưng nét bút rõ ràng, chắc là dùng kim mà xăm. Hoàng Dung kinh ngạc, miệng lẩm bẩm:

– "Ta ở dưới đáy tình cốc", "ta ở dưới đáy tình cốc"..

Nghĩ: "Sáu chữ này quyết không phải là trời sinh, mà có người cố ý xăm thành, tính nết của Lão Ngoan đồng, thì cái việc tỉ mẩn này không phải do lão làm".

Bèn cười, nói:

– Thế thì có gì đáng gọi là thiên hạ vô song, nhân gian hiếm có? Lão hành hạ Anh Cô, bắt Anh Cô dùng kim xăm sáu chữ ấy trên cánh ong, tưởng che mắt được tiểu muội chắc?

Chu Bá Thông vừa nghe đã đỏ mặt, nói:

– Tiểu muội cứ việc sang hỏi Anh Cô xem có phải Anh Cô dùng kim xăm hay không?

Hoàng Dung cười, nói:

– Anh Cô dĩ nhiên sẽ chối phắt cho hợp ý lão. Lão bảo mặt trời mọc ở phía tây, Anh Cô cũng sẽ bảo "Đúng thế, mặt trời mọc ở phía tây, chưa khi nào mọc ở phía đông".

Chu Bá Thông càng đỏ mặt hơn, vừa là ngượng ngập, vừa là uất ức vì bị oan, lão thả con ong bay đi, rồi kéo tay Hoàng Dung, nói:

– Nào lại đây, ta cho tiểu muội chính mắt nhìn thấy.

Lão kéo Hoàng Dung tới bên một đõ ong ở bên dốc núi, cái đõ ong này treo riêng một chỗ, không cùng với các đõ ong khác. Chu Bá Thông giơ tay bắt hai con ong, nói:

– Nhìn đi!

Hoàng Dung nhìn kỹ, thấy trên hai cánh mỗi con ong đều có sáu chữ "ta ở dưới đáy tình cốc" hệt như con ban nãy. Nghĩ thầm: "Tạo hóa tuy kỳ lạ, cũng nhất định không có lý gì tạo ra loài ong này. Bên trong hẳn có duyên cớ", bèn nói:

– Lão Ngoan đồng, bắt vài con nữa xem nào.

Chu Bá Thông lại bắt bốn con ong nữa, thì hai con trong đó trên cánh không có chữ. Lão thấy Hoàng Dung cúi đầu trầm ngâm, tựa hồ đã chịu thua, không dám bảo là do Anh Cô xăm chữ, nên cười nói:

– Tiểu muội còn gì để nói nữa không? Hôm nay đã phục Lão Ngoan đồng hay chưa?

Hoàng Dung không đáp, cứ lẩm bẩm: "Ta ở dưới đáy tình cốc" mấy lần, chợt hiểu: "Là ai ở dưới đáy Tuyệt Tình cốc? Không lẽ là Tương nhi?" Trống ngực đập dồn, liền quay sang nói:

– Lão Ngoan đồng, đõ ong này không phải do lão nuôi, mà ong từ nơi khác bay đến.

Chu Bá Thông đỏ mặt, nói:

– Ôi, kỳ thật, làm sao tiểu muội biết?

Hoàng Dung nói:

– Làm sao tiểu muội biết ư? Thế lũ ong bay đến đây được mấy hôm rồi?

Chu Bá Thông nói:

– Lũ ong này bay đến được mấy năm rồi, ban đầu ta không để ý trên cánh có chữ, mãi mấy tháng trước đây ta mới phát giác.

Hoàng Dung hỏi:

– Có thật là mới vài năm thôi hay không?

Chu Bá Thông nói:

– Đúng thế, chẳng lẽ chuyện đó còn phải giấu tiểu muội?

Hoàng Dung trầm ngâm hồi lâu, trở về ngôi nhà tranh, bàn bạc cùng Nhất Đăng đại sư, Trình Anh và Lục Vô Song, ai cũng cảm thấy bên dưới Tuyệt Tình cốc tất có sự lạ. Hoàng Dung nghĩ đến con, sốt ruột muốn cùng tỷ muội Trình, Lục đi thăm dò một chuyến.

Nhất Đăng đại sư nói:

– Ở đây hiện không có việc gì, lão tăng sẽ đi cùng. Lần trước lệnh ái tới đây, tiểu cô nương ấy hào hiệp khảng khái, lão tăng rất mến.

Hoàng Dung bái tạ, nhưng trong lòng rất lo: "Nhất Đăng đại sư chắc nghĩ Quách Tương gặp tai nạn, nếu không đã chẳng tội gì bỏ nơi u cốc tĩnh tu này mà đi cùng ta?" Chu Bá Thông thấy có nhiệt náo, đời nào chịu ở lại, nhất định đòi cho Anh Cô đi cùng. Hoàng Dung thấy có thêm ba vị đại cao thủ tương trợ, đỡ hẳn lo ngại, cho rằng đoàn mình sáu người thế này, bất kể đấu trí đấu lực, e rằng thời nay không có ai địch nổi, Quách Tương có rơi vào tay kẻ gian, cũng nhất định sẽ được cứu ra. Thế là sáu người cùng cặp chim điêu cùng đi về hướng Tây.

Dương Quá đến Tuyệt Tình cốc vào cuối tháng Hai đầu tháng Ba, còn sớm năm ngày so với ước hẹn của Tiểu Long Nữ mười sáu năm về trước. Hiện thời Tuyệt Tình cốc không một bóng người, tòa ngang dãy dọc mà vợ chồng Công Tôn Chỉ và các đệ tử áo xanh dựng nên đã đổ nát hoang tàn hết cả. Dương Quá sau khi rời Tuyệt Tình cốc mười sáu năm trước, cứ dăm năm chàng lại đến đây ở vài hôm, hi vọng rằng không chừng Nam Hải thần ni động lòng từ bi, đột nhiên cho phép Tiểu Long Nữ trở về sớm hơn hạn định. Tuy mỗi lần như thế chàng đều sầu khổ ra đi nhưng coi như cũng rút ngắn được kỳ hạn dăm năm.

Lần này trở lại vùng đất cũ, nhìn cỏ dại mọc đầy, núi rừng tịch mịch, vẫn không một dấu chân người, chàng bèn chạy đến trước Đoạn Trường nhai, vượt qua chiếc cầu đá, đưa tay miết dòng chữ mà Tiểu Long Nữ dùng mũi kiếm khắc vào đá, các nét chữ bị rêu xanh phủ lấp lập tức hiện ra hai hàng to nhỏ.

Dương Quá khe khẽ lẩm bẩm:

– Tiểu Long Nữ dặn "Phu quân Dương lang, vô cùng trân trọng, mong ngày đoàn tụ."

Bất giác trống ngực chàng đập dồn.

Chàng cứ đứng ngây người nhìn hai dòng chữ. Đến tối thì mắc dây thừng lên hai cây mà ngủ. Hôm sau chàng đi tha thẩn trong cốc, thấy những bụi cây hoa Tình mà năm xưa chàng cùng Trình Anh, Lục Vô Song chặt phá đã không mọc nữa, thấy một bông hoa hồng rực rỡ mà chàng đặt tên là hoa Long Nữ mới nở, chàng bèn ngắt lấy, đem tới cắm bên dòng chữ ở Đoạn Trường nhai. Chờ đợi khổ sở năm ngày, đã đến ngày mồng bảy tháng Ba. Chàng đã hai ngày đêm liền không ngủ, hôm nay càng không rời Đoạn Trường nhai nửa bước. Từ sáng đến trưa, từ trưa đến chiều, mỗi khi gió thổi cây rung, hoa rơi lá rụng, chàng lại giật mình, đứng bật dậy ngó quanh tứ phía, nào thấy bóng dáng Tiểu Long Nữ?

Từ khi hỏi Hoàng Dược Sư về Nam Hải thần ni ở đảo Đại Trí, biết đó là chuyện Hoàng Dung bịa đặt, nhưng hai dòng chữ kia là do Tiểu Long Nữ khắc thì không phải giả, những mong nàng nói lời thì giữ lấy lời, cuối cùng tới gặp. Nhìn vầng dương từ từ lặn xuống núi, lòng Dương Quá cũng lặng dần. Khi vầng dương bị núi che một nửa, chàng kêu to, chạy lên đỉnh núi. Đứng trên đó, thấy vầng dương tròn trặn như cũ, lòng chàng nhẹ đi, chỉ cần vầng dương còn kia, ngày mồng bảy tháng Ba vẫn chưa hết.

Nhưng mặc dù chàng đã đứng trên đỉnh cao nhất, mặt trời rốt cuộc cũng lặn xuống dưới đất. Chàng đứng lặng, nhìn bốn phía mịt mờ, cảm thấy khí lạnh thấm vào người.

Cứ đứng bất động hơn một canh giờ, rồi mảnh trăng bán nguyệt thong thả lên đến đỉnh trời. Không chỉ một ngày đã hết, mà một đêm cũng sắp trôi qua. Tiểu Long Nữ thủy chung không tới.

Dương Quá đứng ngây như tượng đá trên đỉnh núi một đêm, mãi đến lúc vầng dương mọc lên ở phía đông. Bốn phía tiếng chim ríu rít, hoa thơm thoang thoảng, ý xuân đang nồng, lòng chàng lại như băng giá, có tiếng nói văng vẳng bên tai:

– Đồ ngốc! Nàng chết từ đời nào rồi, nàng chết từ mười sáu năm trước rồi. Nàng tự biết trúng độc không khỏi, mi lại quyết không chịu sống một mình, nên đã tự tận, song lại lừa mi chờ đợi mười sáu năm. Đồ ngốc! Nàng đối với mi tình ý sâu nặng như thế, sao đến tận hôm nay mi vẫn chưa hiểu tâm ý của nàng?

Chàng như một cái xác không hồn, chạy xuống núi, một ngày một đêm không ăn không uống, cảm thấy môi khô họng rát, bèn tới bên dòng suối vục nước mà uống. Vừa cúi xuống, thấy bóng mình trong nước, hai bên tóc mai đã bạc trắng. Chàng năm nay ba mươi sáu tuổi, sức lực dồi dào, tóc không thể bạc, nhất là nội công thâm hậu, tuy một đời gian nan nguy hiểm, song chưa hề có sợi tóc bạc nào cả, đột nhiên bây giờ thấy hai bên tóc mai bạc trắng, mặt xám ngoét lấm bụi, cơ hồ không nhận ra diện mạo của mình nữa, chàng đưa tay giật ba sợi tóc ở mép trán mà xe, thấy hai sợi đã bạc.

Thời khắc ấy, chàng bỗng nhớ mấy câu trong bài từ của Tô Đông Pha viết để cho người vợ quá cố.

Mười năm sinh tử miên man

Lòng xuân khôn dứt muôn ngàn ái ân

Quan san vạn dặm cô phần

Thê lương tình ấy phân trần nơi đâu

Tương phùng chẳng nhận được nhau

Tóc xanh mặt ngọc đượm màu phong sương

Dương Quá một đời chuyên tâm luyện võ, đọc sách không nhiều, mấy năm trước tại một tửu điếm nhỏ ở Giang Nam, chàng đọc thấy bài từ này viết trên vách, thấy tình thâm ý chân, nhẩm vài lần đã thuộc, bây giờ tự dưng nhớ lại, đã quên tác giả là ai, nghĩ bụng: "Người ấy mười năm sống chết hai đường. Ta và Tiểu Long Nữ xa nhau đã mười sáu năm. Người ấy có một nấm mộ, biết hài cốt của ái thê ở đâu, còn ta thì ái thê chôn cất ở chỗ nào cũng không biết". Rồi chàng nhớ tiếp nửa sau bài từ, trong đó nhà thơ một đêm nằm mộng thấy ái thê:

Đêm mơ về lại cố hương

Thấy em hiên vắng soi gương chải đầu

Nhìn nhau không nói một câu

Áo xanh ướt đẫm lệ sầu chứa chan

Biết khi trăng chiếu thông ngàn

Đoạn trường chốn ấy gặp nàng được chăng?

(Đây là bài từ Giang thành tử của Tô Đông Pha. Khi ông đang ở Sơn Đông, trùng vào ngày giỗ thứ mười của ái thê, đêm nằm mơ thấy nàng, nên từ Sơn Đông hoài vọng về Ba Thục, cảm khái viết nên bài từ này)

Bất giác lòng chàng đau đớn: "Còn ta, còn ta ba ngày ba đêm không thể chợp mắt, đến một giấc mộng cũng chẳng có!" Đột nhiên chàng nhảy bật lên, chạy đến trước Đoạn Trường nhai, nhìn trân trân hai dòng chữ Tiểu Long Nữ khắc trên đá, thét lớn:

– "Mười sáu năm sau tái hợp ở đây, phu thê thâm tình, xin đừng lỡ hẹn." Tiểu Long Nữ ơi là Tiểu Long Nữ. Đây là những chữ chính nàng viết ra, tại sao nàng lại không giữ lời hẹn?

Tiếng thét của chàng phát ra từ đáy lòng, nghe vang rền cả sơn cốc, rừng núi bốn phía hưởng ứng, đông nam tây bắc, núi non xung quanh cùng dội lại:

– Tại sao nàng lại không giữ lời hẹn?

– Tại sao nàng lại không giữ lời hẹn?

–.. Không giữ lời hẹn.. Không giữ lời hẹn..

Tính chàng vốn quật cường mạnh mẽ, giờ thì không còn thiết gì nữa, nghĩ: "Long nhi đã qua đời từ mười sáu năm về trước, ta còn sống thêm mười sáu năm thật vô vị".

Chàng nhìn xuống vực sâu trước Đoạn Trường nhai, chỉ thấy dưới đó đầy sương mù. Mỗi lần tới đây, chàng chưa bao giờ thấy đáy cốc vì nó luôn có mây mù che phủ. Bây giờ cũng vậy. Chàng ngửa mặt hú một tiếng dài, khiến mấy trăm đóa hoa Long Nữ đã héo trên Đoạn Trường nhai bay lả tả, nói nhỏ:

– Năm xưa nàng đột nhiên mất tích, không biết đi đâu, ta tìm nàng khắp núi non, không thấy nàng, ta đoán nàng đã nhảy xuống cái vực sâu vạn trượng này, mười sáu năm nay chăng lẽ nàng không sợ tịch mịch hay sao?

Lệ làm mờ mắt, trước mắt tựa hồ thấp thoáng bóng áo trắng của Tiểu Long Nữ, rồi dường như chàng nghe văng vẳng có tiếng gọi của nàng từ dưới đáy vực:

– Dương lang, Dương lang chàng ơi, đừng đau lòng, đừng đau lòng!

Dương Quá nhún hai chân một cái, thân hình bay lên, chàng nhảy xuống vực sâu.

Quách Tương theo Kim Luân pháp vương đến Tuyệt Tình cốc. Pháp vương có khi hiểm độc hơn cả rắn rết, nhưng lão đã có ý nhận Quách Tương làm truyền nhân y bát, cho nên dọc đường lão săn sóc nàng rất chu đáo, coi nàng y như ái nữ thân sinh của mình. Quách Tương hận lão đánh chết Trường Tu Quỉ và Đại Đầu Quỉ, nên thần sắc trước sau vẫn lạnh lùng. Pháp vương cả đời được người ta tôn sùng, ở Tây Tạng lão được tôn sùng như đế vương, ngay cả Tứ vương tử Mông Cổ Hốt Tất Liệt đối với lão cũng một mực kính nể. Vậy mà suốt dọc đường cô bé Quách Tương cứ hết chê lão võ công không bằng Dương Quá, lại trách lão hồ loạn sát nhân, làm cho đệ nhất quốc sư Đại Mông Cổ phải dở khóc dở cười.

Lúc hai người đến Tuyệt Tình cốc, bỗng nghe có tiếng thét lớn:

– Tại sao nàng lại không giữ lời hẹn?

Tiếng thét đầy bi thương, tuyệt vọng, khổ đau.

Quách Tương nghe tựa hồ mỗi quả núi đều hùa theo "Tại sao nàng lại không giữ lời hẹn?"

Nàng kinh ngạc nói:

– Là đại ca ca đấy, ta đi mau lên!

Nàng chạy gấp vào cốc. Kim Luân pháp vương thấy đại địch ở phía trước, phấn chấn hẳn lên, rút kim, ngân, đồng, thiết, diên ngũ luân từ trong túi đeo sau lưng ra cầm tay. Lão đã luyện "Long tượng bát nhã công" đến tầng thứ mười, nhưng nghĩ mười sáu năm qua Dương Quá và Tiểu Long Nữ quyết chẳng ngồi không, cũng vẫn luyện võ, nên lão không dám khinh suất.

Quách Tương chạy về phía phát ra tiếng thét, chẳng mấy chốc đã tới trước Đoạn Trường nhai, thấy Dương Quá đứng trên sườn núi, mấy chục bông hoa lớn màu hồng bay lả tả xung quanh. Nàng thấy vách núi nhô ra rất hung hiểm, mình công phu thấp kém, không dám phi thân sang, chỉ gọi:

– Dương đại ca, muội tới đây!

Nhưng Dương Quá thẫn thờ đau khổ, không nghe thấy.

Quách Tương từ xa thấy cứ chỉ của chàng khác lạ, bèn nói:

– Muội còn có một cái kim châm của đại ca ca đây, hãy nghe muội nói, dù thế nào cũng đừng tự tận..

Vừa nói, nàng vừa chạy qua cái cầu đá sang chỗ chàng. Nàng chạy được nửa chừng, thấy Dương Quá tung người nhảy xuống vực sâu vạn trượng bên dưới.

Quách Tương sợ đến hồn xiêu phách lạc, cũng không biết là để cứu Dương Quá, hay là do thâm tình muốn theo chàng lìa trần, nàng nhún hai chân, nhảy luôn theo chàng xuống vực. Kim Luân pháp vương đi sau bảy, tám trượng, thấy nàng nhảy thì bay người tới cứu. Lão vội thi triển khinh công, hệt như mũi tên rời khỏi cung, nhanh dị thường, nhưng đã chậm một bước, Quách Tương đã rơi xuống dưới. Pháp vương không kịp nghĩ ngợi, sử chiêu "Đảo quải kim câu", cúi chộp cánh tay nàng. Chiêu này rất mạo hiểm, chỉ cần sơ sảy một chút, lão cũng sẽ bị kéo ngã xuống vực. Tay lão vừa chạm vào tay áo nàng, thì nghe soạt một tiếng, tay áo của Quách Tương đã bị xé rách, thấy thân hình nàng chui qua mây mù mấy chục trượng bên dưới, nàng rơi qua đó, mây mù liền khép lại, không còn thấy bóng dáng đâu nữa.

Pháp vương thở dài buồn bã, tay cầm mảnh áo rách, thẫn thờ nhìn xuống vực.

Một hồi lâu, bỗng nghe có tiếng gọi từ sườn núi đối diện:

– Gã hòa thượng kia, ở đấy làm gì vậy?

Pháp vương nhìn sang, thấy bên đó có sáu người, đi đầu chính là Chu Bá Thông. Cạnh Chu Bá Thông có ba nữ tử, Pháp vương nhận ra Hoàng Dung, Trình Anh và Lục Vô Song, tiếp đến một lão tăng râu tóc bạc như cước, rồi đến một hắc y lão bà, Pháp vương chưa biết đó là Nhất Đăng đại sư và Anh Cô. Pháp vương đã mấy lần mục kích công phu của Chu Bá Thông, biết lão đầu nhi này võ công xuất quỉ nhập thần, trong bụng có ba phần ngán ngại, còn Hoàng Dung thì kiêm sở trường của hai nhà Đông Tà, Bắc Cái cơ biến lạ lùng, là một nhân vật cực kỳ lợi hại.

Pháp vương đã luyện thành thần công, vốn có thể giao đấu với hai đệ nhất cao thủ võ học, nhưng lúc này lão ta còn đang thương tiếc Quách Tương chết thảm, nên buồn rầu nói:

– Quách Tương cô nương ngã xuống thâm cốc rồi. Than ôi!

Nói xong thở dài.

Mọi người nghe thấy đều cả kinh. Hoàng Dung càng chấn động, run giọng hỏi:

– Thật vậy ư?

Pháp vương nói:

– Ta nói dối phu nhân làm gì? Chẳng phải mảnh áo của Quách cô nương đây sao?

Đoạn lão ta giơ mảnh áo lên. Hoàng Dung nhìn, đúng là mảnh rách từ áo của nữ nhi, thì toàn thân run rẩy như sa xuống hố băng, không nói nên lời.

Chu Bá Thông tức giận nói:

– Hòa thượng thối tha, sao ngươi lại đi giết hại một tiểu cô nương? Người gì mà tàn ác thế?

Pháp vương lắc đầu, nói:

– Không phải ta giết hại đâu.

Chu Bá Thông nói:

– Đang yên đang lành tại sao tiểu cô nương lại đi nhảy xuống vực? Ngươi không đẩy, thì cũng là ngươi bức tiểu cô nương phải nhảy xuống.

Pháp vương thở dài, nói:

– Đều không phải. Ta có ý thu nhận Quách cô nương làm đồ đệ, truyền cho y bát, sao lại đi giết hại làm gì?

Chu Bá Thông nhổ sang một bãi nước miếng, gằn giọng:

– Thối lắm, khó ngửi lắm! Ngoại công của Tương nhi là Hoàng lão tà, phụ thân là Quách Tĩnh, mẫu thân là Hoàng Dung, mỗi một người ấy không mạnh hơn hòa thượng thối tha nhà ngươi chắc? Ngươi lại đòi Tương nhi bái ngươi làm sư phụ, nhận y bát thối tha của ngươi. Lão Ngoan đồng ta chỉ cần dạy cho Tương nhi vài môn võ mèo quào, cũng đủ đánh bại mấy cái vòng tròn sắt gỉ đồng hoen kia của ngươi!

Chu Bá Thông và Pháp vương cách nhau rất xa, bãi nước miếng kia như một viên đạn bắn thẳng tới mặt, Pháp vương nghiêng đầu né tránh, thầm thán phục. Chu Bá Thông thấy mình vặn cho Pháp vương á khẩu vô ngôn, thì dương dương tự đắc, lại quát:

– Chắc là Quách Tương không chịu bái ngươi làm sư phụ, phải vậy không? Còn ngươi cứ một mực muốn nhận Quách Tương làm đồ đệ, phải vậy không?

Pháp vương gật gật đầu. Chu Bá Thông lại nói:

– Như thế tức là ngươi đã đẩy Quách Tương xuống vực.

Pháp vương trong lòng phiền muộn, thở dài, nói:

– Ta không đẩy. Quách cô nương tại sao tự tận, thì ta quả thật không hiểu.

Hoàng Dung tâm thần hơi trấn tĩnh, nghiến răng, giơ cây trúc bổng, xông tới chỗ Kim Luân pháp vương. Hoàng Dung sử tự quyết chữ "Phong", bổng ảnh loang loáng, lập tức phong bế khoảng vài thước trước mặt Pháp vương. Trên chiếc cầu đá rộng chưa đầy một thước, Hoàng Dung đau đớn về cái chết của nữ nhi, chiêu nào cũng đều là sát thủ.

Pháp vương võ công tuy cao hơn Hoàng Dung, cũng không dám đối địch trực diện, thấy bổng pháp tinh kỳ, nếu tiếp chiêu của Hoàng Dung, Chu Bá Thông xông vào trợ chiến, chỗ này địa thế quá hiểm, sẽ rất khó đối phó, bèn nhún chân trái một cái, nhảy lùi ba thước, hú một tiếng dài, đột nhiên nhảy vọt qua đầu Hoàng Dung. Hoàng Dung chọc cây bổng lên, Pháp vương dùng ngân luân gạt đi. Hoàng Dung hít một hơi, quay mình lại. Chỉ thấy Chu Bá Thông đã đấu với Pháp vương. Pháp vương coi trọng thân phận một đại tông sư, thấy đối phương dùng tay không, lão ta bèn giắt ngũ luân vào thắt lưng, dùng tay không đánh trả. Hoàng Dung chạy qua cầu đá trở lại, cây bổng điểm tới sau lưng Pháp vương.

Pháp vương sau khi luyện "Long tượng bát nhã công" đến tầng thứ mười, hôm nay mới gặp cao thủ, đang rất muốn thử, thấy Chu Bá Thông vung quyền đánh tới, liền dùng quyền đối quyền, quyền của đôi bên chưa đụng nhau, đã phát ra tiếng nổ lép bép. Chu Bá Thông kinh ngạc, đoán quyền lực của đối phương bất thường, không dám đụng thẳng, cùi chỏ hơi trầm xuống, sử dụng Không minh quyền. Một quyền này của Pháp vương đánh ra, lực đạo gần ngàn cân, tuy không thể nói có đại lực của rồng của voi, song thân phàm xác trần quyết không thể chịu nổi. Nhưng khi chạm với quyền lực của Chu Bá Thông, chỉ cảm thấy nhẹ bẫng, không có chỗ nào để sử lực, lòng thầm kinh dị, tả chưởng liền vỗ ra.

Chu Bá Thông đã cảm thấy kình lực của đối phương khác hẳn thông thường, thật là chưa từng gặp. Lão tính hiếu võ, hễ biết ai có tuyệt kỹ là bám lấy để giao đấu cho bằng được, một đời trải qua không biết bao nhiêu trận lớn nhỏ, đấu với vô số hảo thủ giang hồ, nhưng luồng kình lực như Pháp vương phát ra thế này thì chưa từng nghe, chưa từng thấy, nhất thời chưa biết là môn gì, liền sử dụng bảy mươi hai lộ Không minh quyền, lấy hư ứng thực, vận không đương cường. Như thế, tuy làm cho lực đạo khủng khiếp của Pháp vương không có đất dụng võ, song bản thân cũng không thể đả thương đối thủ.

Pháp vương sử mấy chiêu, lại chỉ như gãi ngứa đối phương. Lão ta vùi đầu khổ luyện mười mấy năm, xuất thủ lại vô hiệu, tất hết sức nôn nóng, chợt nghe tiếng gió rít sau lưng, cây gậy trúc của Hoàng Dung chọc tới huyệt Linh Đài Xích, bèn gạt tay ra phía sau một cái, rắc một tiếng, cây trúc bổng lập tức gãy đôi, dư lực còn làm cho cát đá bay mù mịt.

Hoàng Dung kinh hãi nhảy ra, nghĩ thầm lão ác tăng năm xưa lợi hại, hiện thời còn lợi hại gấp mấy hồi xưa, chưởng lực của lão ta ghê gớm như thế là môn công phu gì vậy?

Trình Anh và Lục Vô Song thấy Hoàng Dung bất lợi, một dùng ngọc địch, một dùng trường kiếm, từ hai phía tả hữu tấn công Pháp vương. Hoàng Dung kêu lên:

– Hai vị hãy cẩn thận!

Lời chưa dứt, rắc rắc hai tiếng, ngọc địch và trường kiếm đã gãy cả. Vì Quách Tương đã thảm tử, Pháp vương hôm nay không muốn đả thương mạng người, chỉ quát:

– Xéo cả ra!

Chứ lão ta không đuổi theo Trình, Lục hai nàng.

Bỗng thấy một bóng đen nhào tới, Anh Cô đã đánh bên mình. Pháp vương hất chưởng đánh vào eo lưng Anh Cô. Võ công của Anh Cô vốn thấp hơn Hoàng Dung, nhưng Anh Cô luyện môn "Nê thu công", né tránh cực kỳ tài tình; lúc cảm thấy có luồng cự kình ập đến, lão bà uốn người hai ba cái đã luồn lách tránh được. Pháp vương không biết rằng võ công của Anh Cô kỳ thực chưa tới cảnh giới đệ nhất cao thủ, lão đánh liền hai quyền đều bị lão bà dùng thân pháp cổ quái tránh được, thì không khỏi kinh ngạc. Lão cứ tưởng thần công của mình đủ để tung hoành thiên hạ, ai dè có hai lão nhân còn chưa làm gì nổi họ, thì không khỏi thất vọng, không ham đánh nữa, nhảy tránh sang một bên.

Anh Cô cố gắng hết sức mới tránh thoát hai chiêu của Pháp vương, thấy lão ta nhảy lui thì không mong gì hơn, đâu còn dám xông tới. Chu Bá Thông quát:

– Đừng hòng bỏ chạy!

Lão vọt đuổi theo.

Pháp vương đang định đánh lại một chưởng, bỗng nghe ào ào một luồng khí nhu hòa ập tới trước mặt, chính là Nhất Đăng đại sư sử dụng công phu "Nhất dương chỉ". Pháp vương từ đầu vốn không để ý đến bạch mi lão tăng, không ngờ công phu "Nhất dương chỉ" của đại sư lại thâm hậu đến thế.

Công phu "Nhất dương chỉ" của Nhất Đăng đại sư thật đã đạt tới cảnh giới đăng phong tạo cực, lô hỏa thuần thanh. Luồng canh khí do chỉ phát ra tưởng như ấm áp bình hòa, song ào ạt thâm hậu, không thể chống đỡ. Pháp vương kinh sợ nghiêng mình né tránh, rồi mới đánh trả một chưởng. Nhất Đăng đại sư thấy chưởng lực của Pháp vương quá cương mãnh, không dám tương tiếp, nhẹ nhàng thoái lui vài bước. Một vị cao tăng Nam Triệu, một vị dị sĩ Tây Vực, đôi bên trao đổi một chiêu, không ai dám coi thường đối phương. Chu Bá Thông giữ thể diện, không xông vào giáp kích, đứng một bên quan chiến.

Khoảng cách giữa Nhất Đăng đại sư và Pháp vương bất quá chỉ vài thước, nhưng bên này phát chưởng, bên kia phát chỉ, càng lúc càng xa, dần dần cách nhau hơn một trượng, mỗi bên dùng công lực bình sinh mà đánh từ xa. Hoàng Dung đứng ngoài xem, thấy trên đỉnh đầu Nhất Đăng đại sư có một luồng bạch khí bốc lên, càng lúc càng dày, như hơi nước sôi, rõ ràng đại sư đang vận chuyển nội kình, chỉ sợ đại sư tuổi cao lực suy, không địch nổi Pháp vương, trong lòng lại thương nữ nhi thảm tử, rất muốn xông tới liều chết một phen với kẻ thù, nhưng thấy hai bên đang chưởng lai chỉ vãng, chân lực đấu nhau dữ dội, quả thật không thể xen vào, đang chưa biết tính sao, bỗng nghe có tiếng chim điêu trên cao, bèn huýt sáo ra hiệu, tay chỉ Pháp vương.

Một đôi chim điêu màu trắng vừa kêu vừa lao bổ từ trên không trung xuống đầu Pháp vương.

Nếu là Thần điêu của Dương Quá, chắc Pháp vương ngán ngại, còn đôi chim điêu này tuy to xác, song cũng chỉ là loài chim, làm gì nổi lão ta? Nhưng lúc này Pháp vương đang dốc toàn lực đấu với Nhất Đăng đại sư, không thể lơi lỏng chút nào, đôi chim điêu đột nhiên lao xuống, Pháp vương đành đẩy tả chưởng lên hai cái, hai luồng chưởng lực phân kích đôi chim điêu.

Đôi chim điêu không chịu nổi, bay vọt lên cao. Nhưng như thế đã giúp Nhất Đăng đại sư lập tức chiếm thượng phong. Pháp vương phải vội vận lực vào tả chưởng mới tái lập được cục diện ngang ngửa.

Đôi chim điêu nghe Hoàng Dung huýt sáo thúc giục, song chưởng lực của kẻ địch quá mạnh, bèn hư trương thanh thế, đột nhiên kêu to, lao nhanh xuống, nhưng còn cách đầu Pháp vương hơn một trượng, không đợi lão ta phát chưởng, đôi chim điêu đã bay lên.

Song điêu cứ thay phiên nhau lao xuống như thế, tuy không đả thương, nhưng cũng làm rối loạn tâm trí Pháp vương. Cao thủ đối địch, phải tập trung ý chí, đầu óc tỉnh táo, nội lực mới có thể phát huy tối đa, chưởng lực của Pháp vương tuy hơn hẳn Nhất Đăng đại sư, nhưng tu tâm dưỡng tính thì thua xa Nhất Đăng, vừa rồi Quách Tương thảm tử, tâm thần Pháp vương đã bất định, giờ thêm đôi chim điêu quấy nhiễu, lão ta càng thêm rối trí. Tâm ý hơi loạn, chưởng lực của lão ta lập tức cảm ứng. Nhất Đăng mỉm cười, tiến lên nửa bước. Hoàng Dung thấy Nhất Đăng tiến bước, liền nói to:

– Quách Tĩnh, Dương Quá, hai người cùng tiến vào, hợp lực bắt lấy hắn!

Kỳ thực Quách Tĩnh là trượng phu, Hoàng Dung quyết không gọi tên trống không như vậy, song tiếng gọi vừa rồi cốt làm cho Pháp vương giật mình, chứ nếu gọi "Tĩnh ca ca", Pháp vương sẽ không biết "Tĩnh ca ca" là ai cả, hiệu lực giật mình sẽ giảm hẳn. Quả nhiên Pháp vương vừa nghe hai cái tên "Quách Tĩnh, Dương Quá" đã giật mình kinh hãi: "Hai hảo thủ nữa đến, ta nguy mất thôi!"

Lúc này Nhất Đăng lại tiến thêm nửa bước. Đôi chim điêu trên trời cũng đã nhận ra cơ hội, con chim cái kêu to, lao thẳng xuống mặt Pháp vương, dùng vuốt nhọn định móc mắt lão ta. Pháp vương chửi:

– Nghiệt súc!

Tả chưởng đánh lên.

Không ngờ động tác của con chim điêu mái chỉ là hư chiêu, cách mặt Pháp vương hơn một trượng nó đã bay vọt lên, trong khi con chim điêu trống lẳng lặng từ bên cạnh lao xuống đánh lén, chờ khi Pháp vương phát giác, thì móng vuốt của nó đã chạm đầu lão ta.

Pháp vương vừa kinh ngạc vừa tức giận, phẩy tay một cái, trúng bụng chim. Con điêu chộp cái mũ vàng trên đầu Pháp vương mà bay lên. Nhưng cái phẩy tay của Pháp vương rất mạnh, con điêu trống đã bị trọng thương, nó bay lên một đoạn thì hết chịu nổi, đột nhiên lộn nhào, rơi thẳng xuống vực sâu vạn trượng.

Hoàng Dung, Trình Anh, Lục Vô Song, Anh Cô không nhịn được cùng kêu lên. Chu Bá Thông cả giận, quát:

– Hòa thượng thối tha, Lão Ngoan đồng không câu nệ quy củ giang hồ gì nữa, hai người đánh một cũng được.

Đoạn vung quyền đánh tới sau lưng Pháp vương.

Con chim điêu mái thấy con trống rơi xuống vực, thì kêu lên thảm thiết lao qua đám mây mù xuống theo, hồi lâu không thấy nó bay lên.

Kim Luân pháp vương trước sau đều bị tấn công, bắt đầu sợ hãi. Lão ta võ công tuy cao, nhưng làm sao địch nổi hai đại cao thủ giáp công? Lão ta không dám ham đấu, vội tung kim luân và ngân luân, phía trước ngăn chặn Nhất dương chỉ, phía sau chống đỡ Không minh quyền, trong tình thế bị hai luồng nội lực giáp công, Pháp vương chạy chếch sang bên trái, lắc người một cái đã vọt sang lũng núi. Chu Bá Thông quát to, đuổi theo sau.

Pháp vương may mắn thoát thân, đề khí chạy gấp, nghĩ nếu để Chu Bá Thông đuổi kịp, phải đấu vài trăm chiêu cũng khó phân thắng bại, khi đó bạch mi lão tăng sẽ thừa cơ hạ độc thủ, lão ta sẽ phải bỏ cái mạng già ở Tuyệt Tình cốc này. Thấy phía trước có một cánh rừng dày, Pháp vương vội chạy về phía đó, bỗng nghe "chíu" một tiếng, một viên sỏi từ trong cánh rừng bắn ra.

Cánh rừng cách lão ta hơn trăm bước, viên sỏi kia không biết do kình lực thần kỳ nào phóng đi, mà hình thể tuy nhỏ, tiếng rít phá không khí lại mạnh dị thường, bay thẳng đến trước mặt như thế. Pháp vương giơ ngân luân gạt đi, "cạch" một tiếng, viên sỏi vỡ nát, mảnh vụn bay tứ tung, có hai mảnh văng vào mặt rát bỏng. Pháp vương kinh hãi: "Viên sỏi từ rất xa bắn tới mà làm chấn động ngân luân của ta, công lực của người bắn thật không thua gì Lão Ngoan đồng và bạch mi lão tăng, sao thiên hạ có nhiều đại cao thủ đến thế?"

Pháp vương đang bối rối, thì thấy từ trong cánh rừng thong thả bước ra một lão nhân mặc áo bào xanh, tay áo rộng thùng thình, phong thái tiêu sái xuất trần. Chu Bá Thông cả mừng, gọi:

– Hoàng lão tà, gã hòa thượng thối tha ấy hại chết ngoại tôn nữ nhi của huynh, hãy mau hợp lực bắt lấy hắn!

Người trong rừng đi ra chính là Hoàng Dược Sư.

Sau khi chia tay với Dương Quá, Hoàng Dược Sư đi lên phía bắc, một hôm đang ngồi uống rượu trong một tửu điếm nhỏ ở hương thôn, lão nhìn thấy có đôi chim điêu trắng bay trên trời, biết không phải nữ nhi, thì cũng là hai ngoại tôn nữ nhi đang ở gần đâu đây, bèn lẳng lặng bám theo, đến Tuyệt Tình cốc. Lão chưa muốn để Hoàng Dung nhìn thấy, chỉ đứng quan sát từ xa, mãi đến khi thấy Nhất Đăng và Chu Bá Thông động thủ không thắng nổi Pháp vương, nghĩ lão Tạng tăng này quả là hảo thủ bình sinh khó gặp, thì lão liền xuất thủ. Pháp vương gõ hai chiếc luân vào nhau keng một tiếng, nói:

– Các hạ có phải là Đông Tà Hoàng Dược Sư?

Hoàng Dược Sư gật gật đầu, nói:

– Không sai. Đại sư có gì chỉ giáo?

Pháp vương nói:

– Khi tại hạ ở Tây Tạng, nghe đồn Trung Nguyên chỉ có năm người tài giỏi là Đông Tà, Tây Độc, Nam Đế, Bắc Cái, Trung Thần Thông, hôm nay được kiến diện, quả nhiên danh bất hư truyền. Còn bốn vị kia đâu?

Hoàng Dược Sư nói:

– Tây Độc, Bắc Cái, Trung Thần Thông tạ thế từ lâu, vị cao tăng kia là Nam Đế, còn vị Chu huynh đây là sư đệ của Trung Thần Thông.

Chu Bá Thông nói:

– Sư huynh của ta mà còn sống thì nhà ngươi không tiếp nổi mười chiêu.

Lúc này ba người đứng thành hình chữ Đinh, vây Pháp vương vào giữa. Pháp vương nhìn Nhất Đăng, nhìn Chu Bá Thông, lại nhìn Hoàng Dược Sư, thở dài, ném ngũ luân xuống đất, nói:

– Nếu đơn đả độc đấu, lão phu chẳng sợ ai hết.

Chu Bá Thông nói:

– Đúng. Nhưng hôm nay không phải là buổi luận kiếm trên đỉnh Hoa Sơn để tranh danh hiệu võ công đệ nhất thiên hạ, ai thèm đi đơn đả độc đấu với nhà ngươi làm gì? Hòa thượng thối tha tác ác đa đoan, hôm nay coi như hết thời.

Pháp vương thở dài, nói:

– Năm đại cao nhân Trung Nguyên, hôm nay được gặp hai vị, lão phu có chết dưới tay các vị, cũng không uổng. Chỉ tiếc "Long tượng bát nhã công" đến lão phu thì chấm hết, trên đời không có truyền nhân.

Nói đoạn giơ hữu chưởng đánh xuống Thiên linh cái của mình.

Chu Bá Thông nghe năm chữ "Long tượng bát nhã công" liền đưa tay gạt hữu chưởng của Pháp vương, nói:

– Khoan đã!

Pháp vương ngạc nhiên, hỏi:

– Lão phu có thể bị giết, không chịu nhục, các hạ còn muốn gì nữa?

Chu Bá Thông nói:

– "Long tượng bát nhã công" của lão quả rất lợi hại, nếu không có truyền nhân, đừng nói lão tiếc, mà Chu mỗ cũng tiếc. Tại sao lão không truyền thụ cho Chu mỗ, rồi hãy tính chuyện tự sát cũng chưa muộn?

Lời nói của Chu Bá Thông hoàn toàn thành thật.

Pháp vương chưa kịp đáp, chợt có tiếng vỗ cánh, con chim điêu mái cõng con chim điêu trống từ dưới vực bay lên, cả hai con đều ướt sũng, xem ra đáy thâm cốc là đầm nước. Con chim điêu trống lông vũ tả tơi, chỉ còn thở thoi thóp, móng vuốt chân bên phải vẫn nắm chắc cái mũ của Pháp vương. Con chim điêu mái đặt con trống xuống đất, rồi lại bay xuống vực lần nữa, lúc bay lên cõng theo một người, chính là Quách Tương.

Hoàng Dung vừa kinh ngạc vừa vui mừng, gọi to:

– Tương nhi! Tương nhi!

Rồi chạy lại đỡ con chim điêu.

Pháp vương thấy Quách Tương không hề hấn gì, cũng ngẩn ra. Chu Bá Thông chộp cánh tay Pháp vương, mắt phải nháy với Nhất Đăng, mắt trái nháy với Hoàng Dược Sư. Đông Tà, Nam Đế cùng xuất thủ, Pháp vương bị trúng chỉ ở cả hai bên sườn. Nếu là người khác, dù có điểm trúng bộ vị yếu hại, cũng chưa thể phong bế huyệt đạo của Pháp vương, nhưng hai ngón tay của Đông Tà, Nam Đế thì thời nay không có người thứ ba sánh kịp, một người sử dụng "Đạn chỉ thần thông" tinh vi ảo diệu, một người sử dụng "Nhất dương chỉ", Pháp vương làm sao chịu nổi? Lão ta lảo đảo; Chu Bá Thông bồi thêm một quyền vào huyệt Chí Dương ở sau lưng Pháp vương, cười nói:

– Nằm xuống!

Hai gối Pháp vương mềm nhũn, lão ta từ từ khuỵu xuống. Nhất Đăng, Hoàng Dược Sư, Chu Bá Thông nhìn nhau, đều kinh ngạc: "Lão Tạng tăng này quả lợi hại, bị trúng đòn nặng của cả ba người mà vẫn không ngã vật ra".

Ba người chạy lại bên Quách Tương thăm hỏi, chỉ nghe nàng gọi:

– Mẹ, chàng ở dưới ấy, ở dưới ấy, mau, mau xuống.. cứu chàng..

Chỉ nói được thế rồi mệt quá ngất xỉu. Nhất Đăng xem mạch cổ tay nàng, nói:

– Không sao, chỉ bị hoảng sợ đó thôi.

Đại sư xoa xoa sau lưng mấy cái. Lát sau Quách Tương hồi tỉnh, nói:

– Đại ca ca đã lên chưa?

Hoàng Dung hỏi:

– Dương Quá cũng ở dưới ấy ư?

Quách Tương gật đầu, nói khẽ:

– Đương nhiên.

Nàng tự nhủ thầm: "Nếu chàng không ở dưới ấy, con nhảy xuống đó làm gì?" Hoàng Dung thấy nữ nhi toàn thân ướt sũng, bèn hỏi:

– Bên dưới là đầm nước à?

Quách Tương gật đầu, nhắm mắt, không còn sức nói chuyện nữa, tay chỉ xuống vực.

Hoàng Dung nói:

– Dương Quá đã ở bên dưới, chỉ có cách sai điêu nhi xuống cõng lên.

Đoạn huýt sáo gọi chim. Gọi liền mấy tiếng, không thấy đôi chim điêu bay tới. Hoàng Dung lấy làm lạ, mấy chục năm qua đôi chim điêu hễ nghe tiếng sáo là tới, chưa hề trái lệnh, tại sao hôm nay chúng lại làm như không nghe thấy hiệu lệnh của chủ? Hoàng Dung lại huýt một tiếng sáo dài, thì thấy con chim điêu mái vỗ cánh bay lên trời cao, lượn vài vòng, kêu vài tiếng oắc oắc bi thương, rồi lao thẳng xuống núi. Hoàng Dung nghĩ: "Hỏng rồi" vội gọi to:

– Điêu nhi!

Chỉ thấy con chim điêu mái lao xuống tảng đá, vỡ đầu gãy cánh mà chết tức thì. Mọi người ngạc nhiên chạy lại xem, thì ra con chim điêu trống đã chết từ lâu. Mọi người thấy con chim điêu mái thâm tình trọng nghĩa như thế, ai cũng cảm khái. Hoàng Dung có đôi chim điêu bầu bạn từ nhỏ, càng đau đớn đến chảy nước mắt.

Đột nhiên Lục Vô Song tựa hồ nghe văng vẳng bên tai tiếng hát trong trẻo của sư phụ Lý Mạc Sầu: Tình là chi hỡi thế gian, câu thề sinh tử đa mang một đời.. Trời nam đất bắc đôi nơi..

Nàng từ nhỏ theo Lý Mạc Sầu học nghệ, những lúc vắng vẻ thường nghe sư phụ hát khúc ca ấy, bấy giờ nàng chưa trải thế tình, chưa hiểu thâm ý của khúc ca, lúc này nhìn thấy sau khi con chim điêu trống chết, con chim điêu mái tuẫn tình, nghĩ thầm: "Con chim điêu mái giả dụ không chết, rồi đây một mình nó bơ vơ trên mây hoặc giữa núi tuyết, thử hỏi chịu sao cho thấu?" Nghĩ thế mà nước mắt rưng rưng.

Trình Anh nói:

– Sư phụ, sư tỷ, Dương đại ca đã ở dưới vực, chúng ta phải nghĩ cách cứu chàng lên mới được.

Hoàng Dung lau nước mắt, hỏi Quách Tương:

– Quang cảnh dưới đó thế nào?

Quách Tương đã phần nào trấn tĩnh tinh thần, nói:

– Hài nhi nhảy xuống, rơi ngay xuống đáy nước, hoảng hốt uống mấy ngụm nước. Sau không biết sao tự dưng nổi lên mặt nước, Dương đại ca kéo tóc hài nhi, nâng lên..

Hoàng Dung hơi yên tâm, hỏi:

– Xung quanh đầm nước có nham thạch, có hang đá làm chỗ dung thân phải không?

Quách Tương nói:

– Xung quanh đầm nước toàn là đại thụ.

Hoàng Dung hỏi:

– Tại sao con lại nhảy xuống đó?

Quách Tương nói:

– Dương đại ca kéo hài nhi lên, câu đầu tiên cũng hỏi như thế. Hài nhi bèn lấy cái kim châm đưa cho chàng, nói: "Tiểu muội nhảy xuống bảo Dương đại ca bảo trọng thân thể, không nên tự vẫn". Chàng cứ chăm chú nhìn hài nhi, không nói gì. Lát sau thấy con chim điêu trống rơi xuống, con chim điêu mái bay xuống cõng lên, rồi nó lại bay xuống để đưa hài nhi lên. Hài nhi bảo Dương đại ca lên trước, chàng không nói một lời, nhấc hài nhi đặt lên lưng con chim điêu. Mẹ ơi, hãy sai con chim điêu xuống lần nữa đón Dương đại ca lên đi.

Hoàng Dung tạm thời chưa nói cho Quách Tương biết cặp chim điêu đã chết, cởi áo ngoài khoác lên mình Quách Tương, quay lại nói:

– Xem ra Dương Quá nhất thời chưa bị nguy hiểm, chúng ta mau tết một sợi dây dài, thả xuống kéo Quá nhi lên.

Mọi người khen phải, tản ra bóc vỏ cây. Thoáng chốc đã bóc được không ít vỏ cây.

Trình Anh, Lục Vô Song và Anh Cô tết thành một sợi dây dài. Nhất Đăng, Hoàng Dược Sư, Chu Bá Thông, Hoàng Dung bốn người tiếp tục dùng dao bóc vỏ cây. Bốn người tuy là đại cao thủ võ lâm thời nay, nhưng làm những việc thô thiển thế này vẫn thua người thợ thạo nghề, mãi đến lúc trời tối, mới tết được một sợi dây dài hơn trăm trượng, xem ra còn lâu mới đủ dài. Trình Anh buộc một hòn đá vào đầu sợi dây, đầu kia vắt qua cành một cây đại thụ, rồi tết dài dây mà thả dần hòn đá qua lớp sương mù xuống vực.

Bảy người ai nấy nội lực sung mãn, làm việc cả buổi tối không nghỉ. Đến sáng hôm sau, Quách Tương cũng giúp sức. Hoàng Dung mới hỏi mấy câu sơ qua về chuyện nàng bị Pháp vương bắt đi như thế nào.

Sợi dây đã dài lắm, mà Dương Quá ở bên dưới vẫn không phát tín hiệu gì. Hoàng Dược Sư rút cây ngọc tiêu vận khí thổi mạnh, tiếng tiêu vọng xuống vực. Xét về lý Dương Quá nghe thấy tiếng tiêu, tất phải hú thật dài đáp lời, nhưng Hoàng Dược Sư thổi một hồi lâu, dưới vực vẫn tĩnh mịch vô thanh.

Hoàng Dung trầm ngâm, lấy kiếm chặt một cành cây dùng mũi kiếm khắc lên gỗ dòng chữ: "Bình an không, hãy trả lời", rồi ném khúc gỗ xuống. Rất lâu sau vẫn không có tiếng hồi đáp. Mọi người nhìn nhau không khỏi lo âu.

Trình Anh nói:

– Sơn cốc tuy sâu, nhưng sợi dây cũng dài đến đáy, để tiểu muội xuống xem sao.

Chu Bá Thông nói:

– Để lão phu xuống trước!

Cũng không đợi người bên cạnh trả lời, lão chạy tới mép vực, nắm lấy sợi dây tuột luôn xuống, trong giây lát đã mất hút trong sương mù, không tới nửa canh giờ thấy lão leo lên nhanh nhẹn như một con vượn, đầu tóc dính đầy rêu xanh, lão cứ lắc đầu lia lịa, nói:

– Không thấy Dương Quá Dương Vừa đâu cả!

Mọi người nhìn Quách Tương nghi ngờ. Quách Tương ức phát khóc lên được, nói:

– Dương đại ca rõ ràng ở dưới đó, sao lại không thấy? Chàng ngồi trên một cây đại thụ trên bờ đầm ấy.

Trình Anh lẳng lặng nắm lấy sợi dây tuột luôn xuống vực, Lục Vô Song theo sau. Tiếp đó Anh Cô, Chu Bá Thông, Hoàng Dược Sư, Nhất Đăng đều nắm lấy sợi dây tuột xuống.

Hoàng Dung nói:

– Tương nhi, con còn mệt, không thể xuống, đừng để ta lo thêm. Dương đại ca của con nếu ở dưới đó, chúng ta nhiều người thế này nhất định sẽ cứu được lên, hiểu chưa?

Quách Tương nóng ruột, nuốt nước mắt vâng lời. Hoàng Dung nhìn Kim Luân pháp vương đang ngồi một chỗ, nghĩ lão ta bị điểm huyệt, sắp qua mười hai canh giờ, người này võ công cao siêu, không thể để lão ta dùng chân khí xung khai huyệt đạo, bèn bước tới điểm các huyệt Linh Đài ở lưng, Cự Quyết ở ngực, Thanh Lãnh Uyên ở hai cánh tay lão ta, rồi mới nắm lấy sợi dây tuột xuống vực.

Tay nắm hơi lỏng, thân hình rơi xuống càng lúc càng nhanh, giữa chừng lại nắm chặt để rơi chậm lại, rồi lại nới lỏng, cứ thế mấy lần thì xuống tới đáy cốc. Thấy đáy cốc quả nhiên là đầm nước trong xanh, những người xuống trước đang đứng trên bờ đầm quan sát, chưa hề thấy tung tích Dương Quá. Lại thấy trên mấy cây lớn ở bên trái đầm treo ba chục cái đõ ong lớn, cái thấp cái cao, bay quanh các đõ ong toàn là ong ngọc phong. Hoàng Dung chợt hiểu, nói:

– Chu đại ca, hãy bắt thử một con ong, xem cánh nó có xăm chữ hay không?

Chu Bá Thông bắt một con ong, xem kỹ, nói:

– Không có chữ.

Hoàng Dung quan sát hình thế xung quanh sơn cốc, thấy bốn phía đều là vách đá cao trăm trượng, không có lối đi, các cây đại thụ bên đầm nước đều kỳ hình quái trạng, không biết cây gì, ngẩng đầu, sương mù che kín, khó thấy mặt trời, đang ngẫm nghĩ, bỗng nghe Chu Bá Thông reo:

– Con này có chữ, con này có chữ!

Hoàng Dung bước lại thấy trên đôi cánh con ong ấy quả nhiên có sáu chữ "ta ở dưới đáy tình cốc", đoán rằng mấu chốt là ở trong đầm nước. Trong bảy người ở đây, chỉ một mình Hoàng Dung giỏi bơi lặn. Bèn ngậm vào miệng một viên "Cửu hoa ngọc lộ hoàn", đề phòng trong nước có rắn rết gì chăng, rồi nhảy xuống đầm.

Đầm nước khá sâu, Hoàng Dung lặn nhanh, càng xuống càng lạnh, sau đó lạnh thấu xương, mở mắt ra, thấy xung quanh một màu xanh lam, tựa hồ toàn băng là băng. Hoàng Dung kinh ngạc, nhưng chưa chịu, ngoi lên mặt nước hít vài hơi, lại lặn xuống. Nhưng đến chỗ cực sâu có lực đẩy lên, càng xuống sâu lực đẩy lên càng mạnh. Hoàng Dung cố gắng hết mức cũng không thể xuống tới đáy đầm, đồng thời lại quá lạnh, xung quanh không có chỗ tựa, đành ngoi lên.

Mọi người thấy Hoàng Dung môi tím ngắt, tóc bám đầy một lớp tuyết mỏng, thì kinh hãi. Trình Anh và Lục Vô Song vội bẻ cành khô, đốt một đống lửa cho Hoàng Dung sưởi.

Quách Tương thấy mẫu thân cùng mọi người tuột cả xuống đầm, thì nghĩ: "Dương đại ca không chịu lên, ngoại công và mẹ cũng sẽ khiêng chàng lên. Rốt cuộc tại sao chàng lại muốn tự tận? Chẳng lẽ Dương đại tẩu chết rồi ư? Vĩnh viễn không gặp lại chàng nữa ư?"

Đang ngây người xuất thần, bỗng nghe Kim Luân pháp vương kêu to "Ối!". Quách Tương ngoảnh nhìn, thấy Pháp vương mặt mũi nhăn nhó, rõ ràng đang phải chịu đựng đau đớn. Nàng hừ một tiếng, nói:

– Lão tự làm tự chịu, ai bảo động một tí lại ra tay giết người?

Pháp vương kêu to hơn:

– Ối đau quá!

Ánh mắt lộ rõ vẻ cầu khẩn.

Quách Tương không nhịn được, hỏi:

– Sao, đau lắm à?

Pháp vương nói:

– Mẹ cô nương điểm huyệt Linh Đài ở lưng, huyệt Cự Quyết ở ngực, toàn thân lão phu như bị hàng ngàn con kiến đốt, đau nhức không sao chịu nổi. Tại sao Hoàng phu nhân không điểm thêm hai huyệt Đàn Trung và Ngọc Chẩm kia chứ?

Quách Tương sững người, nàng từng được mẫu thân dạy phép điểm huyệt, biết Đàn Trung và Ngọc Chẩm là hai đại yếu huyệt trên thân người, chỉ cần hơi bị tổn thương, có thể lập tức mất mạng, bèn nói:

– Mẫu thân bổn cô nương tạm tha chưa lấy mạng lão, lão không cảm kích, còn kêu ca nỗi gì?

Pháp vương ngang nhiên nói:

– Nếu điểm hai huyệt Đàn Trung và Ngọc Chẩm, lưng và ngực lão phu sẽ tê dại, đỡ đau nhức rất nhiều. Lão phu tu vi thâm hậu, không lẽ lại đi coi thường mạng sống của mình?

Quách Tương không tin, nói:

– Lão đừng nói dóc. Mẫu thân bổn cô nương bảo rằng đụng vào hai huyệt Đàn Trung và Ngọc Chẩm là mất mạng, lão bị đau nhức thì cố mà chịu, mọi người sắp trở lên rồi đó.

Pháp vương nói:

– Quách cô nương, suốt dọc đường lão phu đối xử với cô nương thế nào?

Quách Tương nói:

– Cũng không đến nỗi. Nhưng lão đã giết Trường Tu Quỉ, Đại Đầu Quỉ, lại làm chết đôi chim điêu của gia đình bổn cô nương, lão có đối xử tử tế mấy với bổn cô nương cũng không chuộc lại được.

Pháp vương nói:

– Thôi được, giết người đền mạng, cô nương giết lão phu để trả thù cho bằng hữu của cô nương cũng được. Nhưng còn suốt dọc đường lão phu đối xử tử tế với cô nương, cô nương sẽ báo đáp sao đây?

Quách Tương hỏi:

– Lão muốn báo đáp như thế nào?

Pháp vương nói:

– Cô nương hãy điểm hai huyệt Đàn Trung và Ngọc Chẩm cho lão phu đỡ khổ sở một chút, coi như đã trả ơn lão phu.

Quách Tương lắc đầu, nói:

– Lão muốn bổn cô nương giết lão, nhưng bổn cô nương không làm thế đâu.

Pháp vương vội nói:

– Đại trượng phu một lời như dao chém đá, cô nương điểm hai huyệt ấy, lão phu nhất định không chết đâu. Lão phu còn chờ mẫu thân cô nương trở lên để cầu xin tha mạng, ai lại chết đi là sao?

Quách Tương thấy lão ta nói năng thành thật, nghĩ: "Mình hãy điểm huyệt thật nhẹ thôi xem sao". Bèn đưa tay điểm nhẹ huyệt Đàn Trung ở ngực lão ta.

Pháp vương thở phào, nói:

– Quả nhiên dễ chịu lắm, cô nương hãy ấn mạnh chút nữa.

Quách Tương ấn mạnh thêm, chỉ thấy Pháp vương tươi cười, không có dấu hiệu gì chứng tỏ tổn thương, sắc mặt chuyển từ màu hồng sang màu trắng, rồi lại chuyển từ màu trắng sang màu hồng.

Pháp vương nói:

– Mạnh chút nữa!

Quách Tương theo phép điểm huyệt phụ mẫu đã dạy, ấn một cái vào huyệt Đàn Trung của Pháp vương.

Pháp vương nói:

– Dễ chịu quá! Ngực lão phu hết đau rồi, cô nương thấy đó, lão phu không chết được, đúng chưa?

Quách Tương lấy làm lạ, nói:

– Bổn cô nương sẽ điểm huyệt Ngọc Chẩm này!

Nàng ban đầu ấn nhẹ thử, rồi mới ấn mạnh một cái.

Pháp vương nói:

– Đa tạ, đa tạ.

Lão nhắm mắt vận khí, đột nhiên đứng bật dậy, nói:

– Đi nào!

Quách Tương kinh hãi, kêu lên:

– Lão.. lão..

Pháp vương chộp ngay lấy cổ tay nàng, nói:

– Đi mau! Kim Luân pháp vương ta võ công độc bộ thiên hạ, chẳng lẽ cái công phu thô thiển "Thôi kinh chuyển mạch, dịch cung hoán huyệt" lại không biết hay sao?

Nói đoạn kéo Quách Tương chạy đi.

Quách Tương kêu to:

– Quân lừa đảo, quân lừa đảo.

Nàng thầm hối hận: "Mình thật kém hiểu biết, ngay cái công phu thô thiển ấy cũng không biết".

Nàng đâu biết rằng kỳ công "Thôi kinh chuyển mạch, dịch cung hoán huyệt" chẳng thô thiển chút nào. Thực ra đó là nội công cực kỳ thâm ảo khó luyện của Mật tông Tây Tạng, tuy không bằng phép nghịch chuyển kinh mạch toàn thân của Âu Dương Phong, nhưng cũng là một môn thần công hiếm có. Khi Quách Tương điểm hai huyệt Đàn Trung và Ngọc Chẩm, Pháp vương ngầm đổi kinh chuyển mạch, dịch cung hoán huyệt, đem hai huyệt khác chuyển đến chỗ này. Quách Tương lúc ấn huyệt còn sợ làm cho lão ta mất mạng, kỳ thực nàng đang giải huyệt cho lão ta.

Pháp vương kéo Quách Tương chạy được vài trượng, đột nhiên nảy sinh độc kế, thấy sợi dây dài vắt qua cành cây, chỉ cần dứt đứt nó, thì cả bọn Chu Bá Thông, Hoàng Dược Sư, Nhất Đăng, Hoàng Dung sẽ bỏ mạng dưới đáy cốc, lão bèn chạy tới chộp sợi dây mà vận lực dứt đứt.

Quách Tương cả kinh, thúc mạnh cùi chỏ vào mạng sườn Pháp vương. Cũng tại Pháp vương coi thường, không đề phòng gì, nên lão bị cùi chỏ thúc trúng vào huyệt Uyên Dịch, nửa thân trên lập tức tê dại, trong giây lát toàn thân vô lực. Quách Tương giật mạnh một cái, cổ tay thoát khỏi bị nắm, song chưởng đặt vào lưng lão, nói:

– Bổn cô nương đẩy lão ác tăng ngã xuống vực cho chết này!

Pháp vương cả kinh, ngầm vận nội lực xung huyệt, cười ha ha, nói:

– Công phu non kém như cô nương, đẩy ngã ta sao nổi kia chứ?

Quách Tương không biết thời cơ trôi qua nhanh chóng, lúc này Pháp vương huyệt đạo chưa được giải, nàng chỉ cần đẩy mạnh một cái, lão ta sẽ ngã xuống vực hoặc phải nhanh tay lập tức điểm các huyệt đạo trên người lão ta, thì lão ta cũng chẳng tài gì kịp hoán chuyển huyệt đạo.

Nhưng nàng từng thấy ban nãy mình điểm hai huyệt Đàn Trung và Ngọc Chẩm mà lão ta chẳng việc gì, lại còn giúp lão giải huyệt, có điểm huyệt nữa cũng vô dụng, bèn tung mình nhảy đi, chạy tới bên vách núi, nói:

– Bổn cô nương sẽ chết theo mẫu thân!

Rồi nàng định bụng có gì sẽ nhảy xuống vực. Pháp vương cả kinh, hít một hơi dài, xung phá huyệt Uyên Dịch vừa bị Quách Tương điểm, không kịp dứt đứt sợi dây, vội đuổi theo nàng. Quách Tương chạy len lỏi giữa các mô đá và thân cây. Nếu ở chỗ đất bằng, Pháp vương chỉ cần nhảy vài bước cũng đủ đuổi kịp nàng, nhưng trước Đoạn Trường nhai toàn những cổ mộc quái thạch, nàng cứ len chỗ này lách chỗ kia thoăn thoắt, Pháp vương chạy loanh quanh một hồi, cuối cùng sử chiêu "Nhạn lạc bình sa" từ trên cao chụp xuống, mới chộp được cánh tay nàng.

Quách Tương kêu to:

– Mẹ ơi!

Pháp vương vội lấy tay bịt miệng nàng. Đúng lúc ấy từ xa vẳng lại tiếng gọi của Lục Vô Song:

– Tiểu Quách Tương đâu rồi?

Pháp vương giật mình, nghĩ thầm: "Tiếc quá, thế là mất cơ hội rồi!" Lão đưa tay điểm á huyệt của Quách Tương rồi kéo nàng chạy đi. Thực ra lúc ấy cơ hội vẫn còn, mới chỉ có một mình Lục Vô Song leo lên, nếu Pháp vương chạy đến dứt đứt sợi dây, Lục Vô Song làm sao cản nổi? Chỉ vì lão ta đã nếm đòn của Chu Bá Thông, Nhất Đăng và Hoàng Dược Sư, may giữ được tính mạng, nên bỗng nhiên nghe có tiếng người liền tưởng cả đám người kia đã leo lên, đâu dám sinh sự.

Bọn Hoàng Dung ở dưới đáy cốc tìm kiếm một hồi, không thấy tung tích gì, bốn phía cũng không có vệt máu, xem ra Dương Quá không bị sao cả, mọi người bàn nhau, đành leo lên trước rồi định liệu sau. Người đầu tiên bám dây leo lên là Lục Vô Song, tiếp đến Trình Anh, Anh Cô.

Khi Hoàng Dung lên đến nơi, nghe bọn Trình Anh, Lục Vô Song và Anh Cô gọi to: "Tiểu Quách Tương đâu rồi?" thấy nữ nhi và Pháp vương biến mất, thì lo cuống cuồng, vội leo lên cây cao quan sát. Đợi Nhất Đăng, Hoàng Dược Sư, Chu Bá Thông lên đủ, bảy người tìm khắp Tuyệt Tình cốc một lượt cũng chẳng thấy tung tích hai người.

Ra đến cốc khẩu, thấy có một chiếc hài của Quách Tương rơi dưới đất, Trình Anh nói:

– Sư tỷ đừng lo, Pháp vương đem Tương nhi đi xuống phía nam đây. Tương nhi để lại chiếc hài, để chúng ta cùng biết. Hài tử này thông minh cơ trí, thật chẳng thua mẹ nó.

Hoàng Dung nhớ lại câu nói của nữ nhi, rằng Pháp vương chỉ bức nó bái lão ta làm sư phụ, muốn truyền y bát cho nó, nghĩ nhất thời không có gì nguy hiểm, mới bớt lo.

Comments

Comments

Trước Tiếp
 
Từ khóa: Sửa

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back