34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 18: Ỷ thiên trường kiếm phi hàn mang

Hôm sau đoàn người đi tiếp về hướng tây, đi hơn một trăm dặm thì đã chính ngọ, mặt trời chói chang ngay trên đỉnh đầu, tuy đang là mùa đông mà cũng thấy nóng bức. Đang đi, bỗng nghe vọng lại đâu đây tiếng binh khí giao đấu, mọi người không chờ Tĩnh Huyền ra lệnh đã cùng chạy vội về phía đó.

Phía trước có mấy bóng người đang giao đấu với nhau; tới gần hơn, thấy ba bạch y đạo nhân cầm binh khí vây đánh một hán tử trung niên. Ba đạo nhân kia trên tay áo trái đều thêu ngọn lửa đỏ, rõ ràng là người của Ma giáo. Hán tử tay múa trường kiếm, kiếm quang loang loáng, đấu với ba đạo nhân đến hồi kịch liệt, tuy là một chọi ba nhưng không núng thế chút nào.

Vết thương ở hai chân Trương Vô Kỵ đã lành hẳn, song chàng còn giả vờ chưa đi lại được, vẫn ngồi trên xe trượt, cốt sao người của phái Nga Mi không đề phòng, dễ bề cùng Thù Nhi chạy trốn. Lúc này chàng bị một nam đệ tử phái Nga Mi đứng chắn trước mặt nên cứ phải nghiêng người nghển cổ mới thấy cảnh bốn người kia giao tranh. Chỉ thấy trường kiếm của hán tử trung niên càng lúc càng nhanh, đột nhiên hán tử xoay người, quát một tiếng, đâm một kiếm xuyên qua ngực một đạo nhân Ma giáo.

Các đệ tử phái Nga Mi lớn tiếng hoan hô, Trương Vô Kỵ thì kinh ngạc kêu lên một tiếng nhỏ, bởi chiêu "Thuận thủy thôi chu" [70] kia chính là một tuyệt chiêu của phái Võ Đang, còn hán tử trung niên sử chiêu kiếm pháp ấy chính là lục hiệp Ân Lê Đình.

Chúng đệ tử phái Nga Mi đứng xa xa xem giao đấu, không tiến lên trợ giúp. Hai đạo nhân Ma giáo thấy đối phương đã giết một đồng bọn của mình, nay lại có thêm nhiều trợ thủ mới tới, thì đột nhiên hú lên một tiếng, chia ra hai hướng nam bắc bỏ chạy.

Ân Lê Đình rượt theo gã đạo nhân chạy về phía nam. Ân lục hiệp chạy nhanh hơn hẳn kẻ địch, chỉ bảy tám bước đã tới sau lưng gã đạo nhân đó. Gã quay lại, múa song đao như điên, tựa hồ muốn liều chết với chàng.

Phái Nga Mi nghĩ Ân Lê Đình một mình chẳng thể đuổi hai kẻ địch; gã đạo nhân chạy về phía bắc khinh công lại rất cao cường, càng lúc càng nhanh, cứ tình thế này thì Ân Lê Đình dù có giết được gã đạo nhân chạy về phía nam đang quyết đấu với mình, thì cũng không cách gì đuổi kịp gã đạo nhân chạy về phía bắc. Đệ tử phái Nga Mi thù ghét Ma giáo, ai nấy nhìn Tĩnh Huyền, mong nhận lệnh chặn kẻ địch lại. Các nữ đệ tử đa số giao hảo với Kỷ Hiểu Phù, cho rằng nếu tên ma đầu của Ma giáo không gây tội ác thì vị lục hiệp của phái Võ Đang kia đã thành chú rể của bản phái rồi, nên ai cũng mong giúp Ân lục hiệp một tay.

Tĩnh Huyền trong lòng lưỡng lự, nghĩ Võ Đang lục hiệp được tôn sùng trong giới võ lâm, Ân Lê Đình không lên tiếng kêu gọi mà người ngoài lại nhúng tay vào, e phạm tội bất kính. Thành thử sau giây lát trù trừ, Tĩnh Huyền không ra lệnh chặn lại, thà để cho đạo nhân chạy thoát về phía bắc, còn hơn đắc tội với Ân Lê Đình.

Lúc ấy có một luồng thanh quang nhoáng lên, thanh trường kiếm từ tay Ân Lê Đình bay vút về phía bắc, nhanh như gió, xẹt như chớp phi thẳng tới lưng gã đạo nhân kia. Gã phát giác được, đang tính né tránh thì thanh kiếm đã xuyên thẳng qua người nhưng gã còn chạy tiếp về phía trước đến hơn hai trượng nữa mới ngã sấp xuống đất mà chết. Còn thanh kiếm thì sau khi xuyên qua người gã, còn bay thêm ba trượng mới rơi cắm thẳng xuống cát, tuy chỉ là một thanh kiếm vô tri, nhưng thần uy lẫm liệt.

Mọi người nhìn cảnh tượng kinh tâm động phách ấy thì không khỏi hoa mắt hết hồn, khó thốt nên lời. Khi quay lại phía Ân Lê Đình, chỉ thấy đạo nhân Ma giáo đang đấu với Ân lục hiệp thân hình loạng choạng, lảo đảo như kẻ say rượu, vứt song đao đi, hai tay múa may loạn xạ. Ân Lê Đình không thèm lý đến hắn nữa, bước về phía đệ tử phái Nga Mi. Ân lục hiệp đi được vài bước thì gã đạo nhân kia ngã lăn ra, không động đậy gì nữa. Ân lục hiệp đã dùng thủ pháp gì giết gã, không một ai nhìn thấy.

Các đệ tử phái Nga Mi bấy giờ mới lớn tiếng reo hò, ngay Diệt Tuyệt sư thái cũng gật gù, tiếp đó thở dài. Tiếng thở dài này có lẽ ngụ ý: Phái Võ Đang có đệ tử tài giỏi như thế, phái Nga Mi lại không có truyền nhân sánh kịp. Hay có ngụ ý: Kỷ Hiểu Phù bạc mệnh, không lấy được người như thế này, lại bị hại bởi tên dâm đồ Ma giáo. Trong tâm trí Diệt Tuyệt sư thái, Kỷ Hiểu Phù dĩ nhiên bị Dương Tiêu làm hại, chứ không phải chính tay bà ta giết nàng.

Ba tiếng "Lục sư thúc" đã ra tới cửa miệng Trương Vô Kỵ, nhưng chàng cố kìm lại. Trong mấy vị sư bá sư thúc, Ân Lê Đình là người thân nhất với phụ thân chàng và cũng thương yêu chàng hơn cả. Vô Kỵ nhìn vị sư thúc sau chín năm xa cách, thấy sư thúc đầy vẻ phong trần, tóc mai đã điểm sợi bạc, lại nghĩ cái chết của Kỷ Hiểu Phù là một đòn nặng giáng vào tâm linh sư thúc. Trương Vô Kỵ gặp lại người thân, chỉ muốn chạy lên nhận họ, nhưng nghĩ đến ở đây tai mắt quá nhiều, không tiện để người ngoài hay biết để khỏi gây ra hậu họa. Chu Chỉ Nhược tuy đã biết chân tướng của chàng, nhưng sẽ không tiết lộ với người khác.

Ân Lê Đình cúi mình hành lễ với Diệt Tuyệt sư thái, nói:

– Đại sư huynh của tệ phái suất lãnh các sư đệ cùng đệ tử đời thứ ba, tổng cộng ba mươi hai người, đã tới Nhất Tuyến hiệp. Vãn bối phụng mệnh đại sư huynh đi trước đón quý phái.

Diệt Tuyệt sư thái nói:

– Hay lắm, vậy là phái Võ Đang tới trước rồi, nhưng đã giao chiến trận nào với yêu nhân chưa?

Ân Lê Đình nói:

– Đã giao chiến ba trận với hai kỳ Mộc, Hỏa của Ma giáo, giết được mấy tên yêu nhân, thất sư đệ Mạc Thanh Cốc có bị thương nhẹ.

Diệt Tuyệt sư thái gật gù, bà ta biết tuy Ân Lê Đình chỉ miêu tả sơ sài như thế nhưng thực chất ba trận ác đấu chắc phải tàn khốc dị thường, với tài nghệ của Võ Đang ngũ hiệp mà vẫn không hạ sát nổi chưởng kỳ sứ của Ma giáo, thất hiệp Mạc Thanh Cốc thậm chí còn bị thương. Diệt Tuyệt sư thái lại hỏi:

– Quý phái đã nắm rõ thực lực trên đỉnh Quang Minh hay chưa?

Ân Lê Đình đáp:

– Nghe nói Thiên Ưng giáo là chi phái của Ma giáo đã đem đại lực lượng tăng viện cho đỉnh Quang Minh, có người còn bảo Tử Sam Long Vương và Thanh Dực Bức Vương cũng đã tới.

Diệt Tuyệt sư thái ngạc nhiên:

– Tử Sam Long Vương cũng đã tới ư?

Hai người vừa nói chuyện, vừa đi song song bên nhau, chúng đệ tử lẽo đẽo theo sau cách một quãng xa, không dám lại gần nghe hai người nói những gì.

Lát sau Ân Lê Đình giơ tay từ biệt để đi liên lạc với phái Hoa Sơn. Tĩnh Huyền nói:

– Ân lục hiệp chạy đây chạy đó chắc đã đói rồi, mời dùng chút điểm tâm rồi hãy đi.

Ân Lê Đình cũng không làm khách, đáp:

– Nếu vậy, xin làm phiền quý vị vậy..

Các đệ tử phái Nga Mi thi nhau mang lương khô ra, người vun đất làm bếp, người nhóm lửa nấu mì. Bọn họ vốn ăn uống đơn giản, nhưng nay tiếp đãi Ân Lê Đình thì hết sức ân cần, cũng là vì nghĩ đến Kỷ Hiểu Phù.

Ân Lê Đình hiểu tâm ý của họ, khóe mắt rưng rưng, giọng nghẹn ngào:

– Đa tạ các vị sư tỷ sư muội.

Thù Nhi vốn chỉ lặng lẽ quan sát, lúc này đột nhiên lên tiếng:

– Ân lục hiệp, tiểu nữ muốn hỏi thăm một người, có được chăng?

Ân Lê Đình tay đang bưng bát mì nóng, quay đầu lại, hỏi:

– Vị tiểu sư muội quý tính đại danh là gì, không biết định hỏi thăm về ai? Nếu ta biết, tất sẽ trả lời rõ.

Thần thái chàng rất khiêm nhường. Thù Nhi nói:

– Tiểu nữ không phải người của phái Nga Mi, mà là tù nhân của họ.

Ân Lê Đình thoạt tiên ngỡ Thù Nhi là tiểu đệ tử phái Nga Mi, giờ nghe vậy không khỏi ngạc nhiên, nhưng thấy cô nương này rất thẳng thắn, bèn hỏi:

– Cô nương là người của Ma giáo ư?

Thù Nhi đáp:

– Không phải, tiểu nữ là người đối đầu với Ma giáo.

Ân Lê Đình không tiện hỏi kỹ lai lịch cô nương này, vì tôn trọng chủ nhân nên đưa mắt nhìn Tĩnh Huyền, hỏi ý. Tĩnh Huyền nói:

– Ngươi muốn hỏi Ân lục hiệp chuyện gì?

Thù Nhi đáp:

– Tiểu nữ muốn hỏi, lệnh sư huynh Trương Thúy Sơn Trương ngũ hiệp lần này có đến Nhất Tuyến hiệp hay không?

Lời vừa nghe, cả Ân Lê Đình lẫn Trương Vô Kỵ đều giật mình. Ân Lê Đình nói:

– Cô nương hỏi thăm ngũ sư ca của ta là có việc gì?

Thù Nhi hai má đỏ bừng, thấp giọng đáp:

– Tiểu nữ muốn biết công tử Trương Vô Kỵ có đến đó hay không?

Trương Vô Kỵ càng kinh ngạc, nghĩ thầm: "Thì ra nàng đã sớm biết chân tướng của ta, bây giờ mới nói trắng ra".

Ân Lê Đình hỏi:

– Cô nương nói thực đấy chứ?

Thù Nhi đáp:

– Tiểu nữ thực tâm muốn hỏi thăm Ân lục hiệp, đâu dám gian dối gì.

Ân Lê Đình nói:

– Ngũ sư ca ta qua đời đã hơn mười năm, cây mọc bên mộ đã lớn, chẳng lẽ cô nương không biết hay sao?

Thù Nhi đứng bật dậy, kinh hãi kêu "Ôi" một tiếng, nói:

– Hóa ra Trương ngũ hiệp đã qua đời từ sớm, vậy là.. công tử.. chàng ta.. đã mồ côi từ sớm.

Ân Lê Đình hỏi:

– Cô nương quen biết điệt nhi Vô Kỵ của ta ư?

Thù Nhi đáp:

– Năm năm trước, tiểu nữ từng đến nhà Điệp Cốc Y Tiên Hồ Thanh Ngưu, có gặp Trương công tử một lần, không hiểu hiện giờ Trương công tử ở đâu.

Ân Lê Đình nói:

– Ta phụng mệnh gia sư, có đến Hồ Điệp cốc thăm hỏi, nhưng khi đó vợ chồng Hồ Thanh Ngưu đã bị người ta giết hại, Vô Kỵ cũng chẳng rõ đi đâu. Sau đó ta có tìm nhiều nơi, nhưng không được tin gì, ôi, nào ngờ.. nào ngờ..

Nói tới đây, sắc diện Ân Lê Đình buồn thảm vô cùng.

Thù Nhi vội hỏi:

– Sao, lục hiệp nhận được tin dữ hay sao?

Ân Lê Đình chăm chú nhìn Thù Nhi, hỏi:

– Tại sao cô nương lại quan thiết như vậy? Điệt nhi Vô Kỵ của ta có ân oán gì với cô nương?

Thù Nhi mắt nhìn về cõi xa xăm, buồn bã nói:

– Tiểu nữ chỉ muốn Trương công tử theo mình tới đảo Linh Xà..

Ân Lê Đình ngắt lời:

– Đảo Linh Xà ư? Kim Hoa bà bà và Ngân Diệp tiên sinh là thế nào với cô nương?

Thù Nhi không trả lời, chỉ lẩm bẩm một mình:

– Chàng chẳng những không chịu.. lại còn đánh ta, mắng ta, cắn tay ta máu chảy dầm dề..

Nàng vừa lẩm bẩm, vừa lấy tay trái khẽ xoa xoa mu bàn tay phải.

– Có điều.. sao ta vẫn không quên được chàng. Ta không muốn hại chàng. Ta chỉ muốn chàng theo về đảo Linh Xà, bà bà sẽ dạy chàng võ công, sẽ tìm cách chữa trị cho chàng khỏi chất âm độc của Huyền Minh thần chưởng. Ai ngờ chàng hung dữ quá, tưởng lầm lòng tốt của ta, ngỡ ta có ý hại chàng.

Bao nghi vấn trong lòng Trương Vô Kỵ bây giờ đã rõ: "Thì ra Thù Nhi chính là cô bé A Ly đã nắm tay ta ở Hồ Điệp cốc, kẻ tình lang mà nàng ấy khắc khoải không quên cũng chính là ta". Chàng nhìn nghiêng sang, thấy mặt Thù Nhi sưng sưng, đâu còn chút xinh xắn nào của lần gặp đầu tiên? Chỉ có đôi mắt trong veo như nước hồ thu sâu thăm thẳm là vẫn như hồi xưa.

Diệt Tuyệt sư thái lạnh lùng nói:

– Sư phụ của nó là Kim Hoa bà bà nghe đâu cũng có dây dưa với Ma giáo. Mụ ta không phải chính nhân, nhưng hiện giờ chúng ta chưa muốn thêm kẻ thù, chỉ tạm giữ nó thôi.

Ân Lê Đình nói:

– Ồ, thì ra vậy! Cô nương đối với điệt nhi Vô Kỵ của ta quả là chí tình, chỉ tiếc Vô Kỵ bạc phúc, mấy bữa trước ta có gặp Võ trang chủ Võ Liệt của Chu Võ liên hoàn trang, mới biết Trương Vô Kỵ hơn năm năm trước đã sảy chân rơi xuống vực sâu mất xác. Than ôi, ta và phụ thân nó tình thân hơn thủ túc, nào ngờ ông Trời chẳng phù hộ người hiền, đến giọt máu cuối cùng..

Ân Lê Đình nói chưa hết câu, nghe huỵch một tiếng, thấy Thù Nhi ngã lăn ra bất tỉnh.

Chu Chỉ Nhược vội bước tới đỡ Thù Nhi dậy, xoa bóp ngực một hồi Thù Nhi mới hồi tỉnh. Trương Vô Kỵ thật là khó xử vô cùng. Nhìn cảnh Ân Lê Đình và Thù Nhi đau lòng như thế, mà chàng lại dửng dưng đứng đó. Chàng quay đầu lại, thấy ánh mắt Chu Chỉ Nhược đầy nghi vấn, tựa hồ muốn hỏi: "Vì sao nàng ta không nhận ra huynh nhỉ?" Trương Vô Kỵ tự biết mấy năm qua tướng mạo của mình thay đổi rất nhiều, nếu chàng không tự nhắc đến kỷ niệm trên sông Hán Thủy, Chu Chỉ Nhược cũng không thể nhận ra.

Thù Nhi nghiến răng, hỏi:

– Ân lục hiệp, kẻ nào hại chết Trương Vô Kỵ vậy?

Ân Lê Đình nói:

– Không ai hại chết nó cả. Theo lời Võ Liệt, thì chính mắt ông ta thấy Trương Vô Kỵ trượt chân rơi xuống vực, cả huynh đệ kết nghĩa của Võ Liệt là Kinh Thiên Nhất Bút Chu Trường Linh cũng rơi xuống chết theo.

Thù Nhi thở dài, buồn bã ngồi xuống.

Ân Lê Đình nói:

– Quý tính đại danh của cô nương là gì?

Thù Nhi lắc đầu không đáp, ngẩn ngơ rơi lệ, rồi đột nhiên nằm phục xuống cát, khóc òa lên. Ân Lê Đình dỗ dành:

– Cô nương cũng đừng quá đau lòng. Vô Kỵ nếu không rơi xuống vực sâu thì chất âm độc cũng phát tác, e rằng không thể sống đến lúc này. Ôi, Vô Kỵ rơi xuống vực tan xương nát thịt có khi lại còn hơn phải chịu cái cảnh bị hành hạ đau đớn triền miên vì chất âm độc.

Diệt Tuyệt sư thái bỗng nói:

– Tên nghiệt chủng Trương Vô Kỵ chết sớm cũng là may, nếu không sẽ chỉ là cái mầm họa làm hại nhân gian mà thôi.

Thù Nhi cả giận, lớn tiếng nói:

– Lão tặc ni kia, đừng có hồ thuyết bát đạo!

Đám đệ tử phái Nga Mi nghe Thù Nhi dám cất lời nhục mạ sư tôn, tức thì có bốn năm người tuốt kiếm chĩa vào nàng. Thù Nhi không hề sợ hãi, chửi tiếp:

– Lão tặc ni, phụ thân của Trương Vô Kỵ là sư huynh của Ân lục hiệp, hiệp danh lừng lẫy thiên hạ, có gì là không hay?

Diệt Tuyệt sư thái cười khẩy, không đáp. Tĩnh Huyền nói:

– Ngươi nói hết chưa? Phụ thân của Trương Vô Kỵ quả là đệ tử danh môn chính phái, nhưng còn mẹ hắn thì sao? Đứa con do yêu nữ Ma giáo sinh ra, chẳng phải mầm họa nghiệt chủng thì là gì?

Thù Nhi hỏi:

– Mẫu thân của Trương Vô Kỵ là ai? Sao lại gọi là yêu nữ Ma giáo?

Các đệ tử phái Nga Mi cười ồ lên, chỉ một mình Chu Chỉ Nhược cúi đầu im lặng. Ân Lê Đình tỏ ra ngượng ngập. Trương Vô Kỵ thì đỏ mặt tía tai, nước mắt lưng tròng, nếu không định quyết ý che giấu lai lịch thì đã lên tiếng biện bạch cho mẹ vài câu.

Tĩnh Huyền là người trung hậu, nói với Thù Nhi:

– Vợ Trương ngũ hiệp là con gái của giáo chủ Thiên Ưng giáo Ân Thiên Chính, tên Ân Tố Tố.. Thù Nhi kêu "ồ" một tiếng, tái mặt đi. Tĩnh Huyền nói:

– Trương ngũ hiệp vì lấy ả yêu nữ đó mà thân bại danh liệt, phải tự vẫn trên núi Võ Đang. Chuyện ấy cả thiên hạ đều biết, chẳng lẽ cô nương không biết gì?

Thù Nhi nói:

– Tiểu nữ ở đảo Linh Xà, mọi việc của võ lâm Trung nguyên, tiểu nữ không hay biết.

Tĩnh Huyền nói:

– Ra vậy. Cô nương đã đắc tội với sư phụ ta, mau tạ tội đi.

Thù Nhi lại hỏi:

– Ân Tố Tố thì sao? Bà ấy hiện giờ ở đâu?

Tĩnh Huyền nói:

– Đã tự vẫn cùng một lượt với Trương ngũ hiệp rồi.

Thù Nhi lại rùng mình, nói:

– Bà.. bà ấy cũng chết rồi ư?

Tĩnh Huyền lấy làm lạ, hỏi:

– Cô nương biết Ân Tố Tố hay sao?

Lúc đó, bỗng thấy phía đông bắc có một ngọn lửa màu xanh bay vọt lên trời, Ân Lê Đình nói:

– Ồ, điệt nhi Thanh Thư của ta bị địch vây đánh rồi!

Ân Lê Đình cúi người hành lễ với Diệt Tuyệt sư thái, ôm quyền chào mọi người, rồi chạy về hướng ngọn lửa xanh.

Tĩnh Huyền phất tay một cái, các đệ tử phái Nga Mi liền chạy theo.

Khi tới gần, thấy ba người đang vây đánh một người. Ba người đội mũ vải, mặc áo ngắn kiểu nô bộc, tay cầm đơn đao. Mọi người mới xem vài chiêu đã kinh hãi, ba người kia tuy ăn mặc như gia nô, nhưng ra tay độc địa không kém gì đệ nhất hảo thủ, tài nghệ cao hơn hẳn ba đạo nhân đã bị Ân Lê Đình giết. Ba người này chạy như đèn cù quanh một thanh niên thư sinh mà tấn công. Thanh niên kia đã hoàn toàn núng thế, nhưng thanh trường kiếm vẫn bảo vệ môn hộ kín đáo lạ thường.

Gần chỗ bốn người đang giao đấu có sáu hoàng y hán tử, trên áo đều thêu ngọn lửa hồng, tức thị họ là người của Ma giáo. Sáu người ấy thấy Ân Lê Đình và phái Nga Mi kéo đến thì một người lùn và mập trong số đó liền gọi to:

– Huynh đệ Ân gia, các người nguy rồi, hãy cúp đuôi chạy cho mau, để bọn ta chặn hậu cho.

Một trong ba người đang giao đấu tức giận nói:

– Hậu Thổ kỳ chậm như rùa, họ Nhan kia, hãy chạy trước đi!

Tĩnh Huyền lạnh lùng nói:

– Chết đến nơi rồi, còn cãi nhau.

Chu Chỉ Nhược nói:

– Sư tỷ, mấy người kia là ai vậy?

Tĩnh Huyền đáp:

– Ba kẻ ăn mặc theo lối gia nô là nô bộc của Ân Thiên Chính, tên gọi Ân Vô Lộc, Ân Vô Phúc, Ân Vô Thọ.

Chu Chỉ Nhược kinh hãi nói:

– Ba tên gia nô mà.. tài nghệ cao siêu vậy sao?

Tĩnh Huyền nói:

– Họ vốn là tướng cướp thành danh trong hắc đạo, không phải bọn tầm thường đâu. Đám mặc áo vàng thì là yêu nhân trong Hậu Thổ kỳ của Ma giáo. Gã mập lùn chắc là Nhan Viên, chưởng kỳ sứ của Hậu Thổ kỳ. Sư phụ bảo năm chưởng kỳ sứ của Ngũ kỳ trong Ma giáo tranh giành địa vị giáo chủ với Thiên Ưng giáo, vốn bất hòa.

Lúc đó thanh niên thư sinh gặp chiêu nguy hiểm, nghe "soạt" một tiếng, tay áo bên trái bị đơn đao của Ân Vô Thọ chém mất một mảnh.

Ân Lê Đình hú lên một tiếng, trường kiếm chém về phía Ân Vô Lộc. Ân Vô Lộc giơ đao chống đỡ, đao kiếm đụng nhau. Giờ đây nội lực của Ân Lê Đình đã hết sức lợi hại, nghe choang một tiếng, đơn đao của Ân Vô Lộc liền cong lại, biến thành một cái móc. Ân Vô Lộc cả kinh, vội nhảy ra ngoài ba bước.

Đột nhiên Thù Nhi vọt tới, ngón trỏ tay phải chọc trúng sau ót Ân Vô Lộc, rồi lại nhảy ngay về chỗ cũ.

Ân Vô Lộc võ công không phải tầm thường, có điều là vừa bị nội lực của Ân Lê Đình hất văng ra, khí huyết đang nhộn nhạo trong ngực, chân đứng chưa vững, bị trúng một đòn của Thù Nhi thì đau đớn gập cả người, rên rỉ, toàn thân run bần bật.

Ân Vô Phúc, Ân Vô Thọ cả kinh, không còn ham tấn công thanh niên thư sinh, chạy đến dìu Ân Vô Lộc, thấy y quằn quại, biết là y đã bị trọng thương. Hai người đưa mắt nhìn Thù Nhi, đột nhiên cùng kêu lên:

– Thì ra là Tam tiểu thư.

Thù Nhi nói:

– Hừ, còn nhận ra ta ư?

Mọi người cứ tưởng hai người kia sẽ xông lên thí mạng với Thù Nhi, không ngờ chỉ xốc Ân Vô Lộc lên, không nói một lời, chạy về phía bắc. Biến cố này xảy ra đột ngột, ai nấy há mồm tròn mắt, không hiểu chuyện gì.

Gã mập lùn giơ tay trái phất một cái, trong tay đã cầm một lá cờ lớn màu vàng, năm người kia cũng lấy cờ ra phất, tuy chỉ có sáu người, nhưng các lá cờ kêu phần phật, khí thế thật uy võ, chầm chậm lùi về phía bắc.

Người của phái Nga Mi thấy kỳ trận cổ quái, đều đứng ngẩn người. Hai nam đệ tử thét lên, phóng mình đuổi theo. Ân Lê Đình đảo người một cái, đi sau mà tới trước, chắn hai đệ tử kia, đẩy nhẹ họ lại, hai người đó không chịu nổi, phải lùi ba bước, mặt mũi đỏ bừng.

Tĩnh Huyền quát:

– Hai sư đệ mau lui về, Ân lục hiệp có hảo ý, bọn Hậu Thổ kỳ kia không đuổi theo được đâu.

Ân Lê Đình nói:

– Hôm trước ta cùng Mạc thất đệ đuổi theo Liệt Hỏa kỳ trận nên đã bị thua to, Mạc sư đệ đầu tóc, lông mày bị cháy sém một nửa đó.

Nói xong chàng vén tay áo bên trái lên cho mọi người nhìn thấy các vết bỏng. Hai nam đệ tử phái Nga Mi bất giác thầm kinh sợ.

Diệt Tuyệt sư thái trừng mắt lạnh lùng nhìn Thù Nhi một hồi, xẵng giọng hỏi:

– Là "Thiên thù vạn độc thủ" đấy chăng?

Thù Nhi nói:

– Còn chưa luyện thành.

Diệt Tuyệt sư thái nói:

– Nếu đã luyện thành thì sẽ ghê gớm tới mức nào? Vì sao ngươi đả thương gã đó?

Thù Nhi nói:

– Tiếc thay ta chưa giết được hắn.

Diệt Tuyệt sư thái hỏi:

– Vì sao?

Thù Nhi đáp:

– Chuyện riêng của tiểu nữ, không liên quan gì tới lão ni.

Diệt Tuyệt sư thái hơi ngả người sang bên, đã giật lấy thanh kiếm từ tay Tĩnh Huyền, tiếp đó Thù Nhi vội nhảy vọt về phía sau, mặt trắng bệch. Thì ra Diệt Tuyệt sư thái trong nháy mắt đã chém một kiếm vào ngón trỏ tay phải của Thù Nhi, thủ pháp cực nhanh, không ai nhìn thấy. Nào ngờ Thù Nhi vì cổ tay gãy chưa lành, bàn tay không có lực, lại lo Thiên thù vạn độc thủ luyện chưa thành nên đã dùng cái bao thép bao ngón tay lại trước khi xuất thủ. Diệt Tuyệt sư thái vừa rồi chỉ sử dụng kiếm thường, nên chưa chém đứt ngón tay của Thù Nhi.

Diệt Tuyệt sư thái ném trả thanh kiếm cho Tĩnh Huyền, hừ một tiếng:

– Lần này ta tha cho, lần sau còn sử dụng công phu tà ác đó thì đừng trách ta.

Bà ta đánh tiểu bối một chiêu không trúng, liền tự coi trọng thân phận, không ra tay lần thứ hai.

*

* *

Ân Lê Đình thấy Thù Nhi luyện môn võ công âm độc ấy, vốn phạm điều đại kỵ của con nhà võ; nhưng nàng ta dùng để tấn công Ân Vô Lộc, là giúp phe mình; hơn nữa, nàng ta một lòng chí tình với Trương Vô Kỵ, nên cảm động, không nỡ để Diệt Tuyệt sư thái đả thương nàng, bèn lên tiếng:

– Sư thái, tiểu cô nương này học nhầm võ công, chúng ta sẽ thong thả tìm cho nó một danh sư khác, hoặc giả.. hoặc giả..

Ân Lê Đình vốn định nói hoặc giả Diệt Tuyệt sư thái thu nhận Thù Nhi làm môn hạ phái Nga Mi thì thật là hay, nhưng sực nhớ nàng ta vừa gọi Diệt Tuyệt sư thái là "lão tặc ni", vội ngừng lại không nói nữa, kéo gã thư sinh kia lại, nói:

– Thanh Thư, mau bái kiến sư thái cùng các vị sư bá sư thúc.

Thư sinh kia tiến lên ba bước, quỳ xuống hành lễ với Diệt Tuyệt sư thái, khi y quay sang hành lễ với Tĩnh Huyền thì mọi người vội nói không dám, ai cũng hoàn lễ. Trương Tam Phong tuổi đã hơn trăm, tính vai vế còn cao hơn Diệt Tuyệt sư thái vài bậc. Ân Lê Đình chỉ vì đính hôn với Kỷ Hiểu Phù, mới coi như kém Diệt Tuyệt sư thái một bậc, chứ nếu tính Trương Tam Phong và tổ sư phái Nga Mi Quách Tương là ngang vai nhau thì Diệt Tuyệt sư thái phải gọi Ân Lê Đình là sư thúc. Vì hai phái Võ Đang và Nga Mi khác nhau về môn hộ, không tính chuyện vai vế, ai nấy tùy theo độ tuổi mà xưng hô. Khi chàng thư sinh kia gọi các đệ tử phái Nga Mi là sư bá sư thúc, thì bọn Tĩnh Huyền làm sao dám nhận lễ.

Mọi người thấy thư sinh một mình đấu với ba huynh đệ họ Ân, pháp độ nghiêm cẩn, chiêu số tinh kỳ, quả là phong thái của đệ tử danh môn. Khi bị ba cao thủ vây đánh, tuy đã ở vào thế hạ phong nhưng vẫn bình tĩnh chống trả, không chút hoảng loạn, quả không dễ gì. Lúc này y tới gần, mọi người đều không khỏi khen thầm: "Quả là một thiếu niên anh tuấn!"

Chàng thư sinh mi thanh mục tú, vẻ tuấn mỹ còn chứa đựng vài phần khí độ hiên ngang khiến người ta thoạt nhìn đã phải vì nể.

Ân Lê Đình nói:

– Đây là Thanh Thư, độc sinh ái tử của Tống đại sư ca ta.

Tĩnh Huyền nói:

– Mấy năm rồi từng nghe hiệp danh của Ngọc Diện Mạnh Thường, trên giang hồ đều khen Tống thiếu hiệp khẳng khái trượng nghĩa, giúp người giải khốn; hôm nay được gặp, thật là vinh hạnh.

Các đệ tử phái Nga Mi thì thầm bàn tán, ai cũng lộ vẻ tán thưởng "quả nhiên danh bất hư truyền".

Thù Nhi đứng bên cạnh Trương Vô Kỵ, nói nhỏ:

– A Ngưu ca, chàng ta đẹp trai hơn hẳn ca ca.

Trương Vô Kỵ nói:

– Dĩ nhiên, khỏi cần nói.

Thù Nhi hỏi:

– Ca ca không ghen à?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Nực cười chưa, việc gì ta phải ghen?

Thù Nhi nói:

– Chàng ta cứ nhìn Chu cô nương chằm chằm, ca ca không ghen sao?

Trương Vô Kỵ nhìn về phía Tống Thanh Thư, quả nhiên thấy y đang mải ngắm Chu Chỉ Nhược, nhưng chàng cũng chẳng để tâm. Từ lúc biết Thù Nhi chính là cô bé A Ly năm xưa gặp tại Hồ Điệp cốc thì trong lòng xao xuyến bồi hồi, bấy giờ Thù Nhi cưỡng ép chàng đi theo về đảo Linh Xà, chàng vùng vẫy không thoát được nên đã cắn một cái thật mạnh vào mu bàn tay nàng, ai ngờ nàng lại cứ thương nhớ chàng mãi chẳng quên, khiến chàng không khỏi cảm kích.

Ân Lê Đình nói:

– Thanh Thư, ta đi thôi.

Tống Thanh Thư nói:

– Phái Không Động hẹn trưa nay cùng hội họp ở đây, giờ này vẫn chưa thấy đến, e rằng có chuyện bất trắc.

Ân Lê Đình lộ vẻ lo lắng:

– Kể cũng đáng ngại thật.

Tống Thanh Thư nói:

– Ân lục thúc, chi bằng mình cùng đi với các vị tiền bối phái Nga Mi về phía tây thì hơn.

Ân Lê Đình gật đầu:

– Phải lắm.

Diệt Tuyệt sư thái và bọn Tĩnh Huyền đều nghĩ thầm: "Những năm gần đây Trương Tam Phong chân nhân không để tâm tới các tục vụ nữa, thực chất chưởng môn phái Võ Đang giờ đây là Tống Viễn Kiều. Xem ra chưởng môn đời thứ ba của phái Võ Đang sẽ do vị Tống thiếu hiệp này tiếp nhiệm. Ân Lê Đình tuy là sư thúc, song phải nghe lời sư điệt". Bọn họ không biết rằng Ân Lê Đình tính nết ôn hòa, ít khi tự đưa ra chủ trương; người khác nói sao, Ân lục hiệp cũng chẳng phản đối.

Đoàn người đi về hướng tây, chừng mười bốn mười lăm dặm thì tới trước một đồi cát lớn. Tĩnh Huyền thấy Tống Thanh Thư chạy lên đồi cát, bèn phất tay trái một cái, hai đệ tử phái Nga Mi cũng chạy lên ngay, không chịu kém phái Võ Đang. Ba người lên đến đỉnh ngọn đồi thì cùng kêu to kinh hãi, trên sa mạc phía tây đồi cát nằm ngổn ngang chừng ba mươi xác chết.

Cả đoàn nghe tiếng kêu của ba người cùng chạy lên, thấy trong đám tử thi kia có người già người trẻ, kẻ bị vỡ đầu, người thì thủng ngực, tựa hồ bị đánh bằng những cây gậy thật lớn.

Ân Lê Đình vốn hiểu biết rộng, nói:

– Bang Phiên Dương ở Giang Tây bị giết sạch là bởi tay Cự Mộc kỳ của Ma giáo đó.

Diệt Tuyệt sư thái cau mày hỏi:

– Bang Phiên Dương tới đây làm gì? Quý phái gọi họ đến ư?

Giọng bà ta có ý không vui. Trong võ lâm, các danh môn chính phái đối với bang hội vốn có thành kiến kỳ thị, Diệt Tuyệt sư thái không muốn hòa lẫn với họ thành một đám.

Ân Lê Đình vội nói:

– Không ai mời bang Phiên Dương cả. Chẳng qua Lưu bang chủ của bang Phiên Dương là đệ tử ký danh của phái Không Động, có lẽ họ nghe sáu phái vây đánh đỉnh Quang Minh nên tự kéo đến giúp sư môn đó thôi.

Diệt Tuyệt sư thái hừ một tiếng, không nói nữa.

Mọi người đem thi thể bang chúng bang Phiên Dương vùi xuống dưới cát. Mọi người vừa định tiếp tục lên đường thì đột nhiên nấm mồ tận cùng phía tây vỡ ra, trong đám bụi cát có một người vùng dậy, chộp ngay một nam đệ tử, chạy vụt đi.

Biến cố đột ngột khiến ai nấy sững sờ. Bảy, tám đệ tử phái Nga Mi kêu thất thanh. Diệt Tuyệt sư thái, Ân Lê Đình, Tống Thanh Thư, Tĩnh Huyền bốn người cùng rượt theo. Một hồi sau, mọi người cùng vỡ lẽ, từ trong nấm mộ vọt ra chẳng phải ai khác, chính là Thanh Dực Bức Vương của Ma giáo. Y mặc giả trang phục bang chúng bang Phiên Dương, nằm lẫn trong đám tử thi, nín thở giả chết. Đệ tử phái Nga Mi không để ý, đem y chôn luôn xuống cát. Y tài cao gan to, cứ để yên cho người khác đem chôn, nằm trong cát mềm nhịn thở một lát cũng chẳng sao, đợi khi mọi người không đề phòng mới đạp cát chui ra.

Lúc đầu nhóm Diệt Tuyệt sư thái bốn người chạy ngang hàng, được hơn nửa vòng đã phân cao thấp thành hai người chạy trước, hai người chạy sau. Ân Lê Đình và Diệt Tuyệt sư thái chạy trước, Tống Thanh Thư và Tĩnh Huyền chạy sau. Thanh Dực Bức Vương khinh công quá cao, quả là thế thượng vô song, tuy trong tay ôm thêm một người mà bọn Ân Lê Đình vẫn không sao đuổi kịp.

Chạy gần hết vòng thứ hai, Tống Thanh Thư bèn dừng lại, nói to:

– Sư thúc Triệu Linh Châu, sư thúc Bối Cẩm Nghi, hãy chặn đường ở vị trí cung Ly; sư thúc Đinh Mẫn Quân, sư thúc Lý Minh Hà, hãy chặn đường ở vị trí cung Chấn!

Tống Thanh Thư cứ thế liên tiếp ra lệnh cho hơn ba chục đệ tử phái Nga Mi chia ra chiếm giữ các phương vị bát quái. Các đệ tử phái Nga Mi đang như rắn mất đầu, giờ nghe Tống Thanh Thư ra lệnh rất uy nghiêm, ai nấy tức thời tuân theo. Bây giờ Thanh Dực Bức Vương Vi Nhất Tiếu không còn cách gì chạy vòng tròn được nữa, y cười phá lên, tung người đang ôm trong tay lên trời, rồi bỏ chạy ra xa.

Diệt Tuyệt sư thái giơ tay đỡ gã đệ tử từ trên không rơi xuống. Chỉ nghe tiếng Vi Nhất Tiếu từ xa vọng lại qua cát bụi:

– Phái Nga Mi có nhân tài như thế, Diệt Tuyệt lão ni quả không vừa!

Câu này rõ ràng khen ngợi Tống Thanh Thư. Diệt Tuyệt sư thái sầm mặt, cúi nhìn gã đệ tử, thấy chỗ yết hầu máu thịt bầy nhầy, lộ rõ hai hàng vết răng, gã đã chết rồi.

Mọi người vây quanh Diệt Tuyệt sư thái, ai nấy lặng thinh. Lát sau, Ân Lê Đình nói:

– Nghe đâu Vi Nhất Tiếu sau mỗi lần thi triển võ công lại phải uống no máu nóng của một người sống, lời đồn ấy quả không sai. Tội nghiệp cho vị sư đệ này.. ô.

Diệt Tuyệt sư thái vừa xấu hổ vừa căm giận. Từ khi bà ta tiếp nhiệm chức chưởng môn, phái Nga Mi chưa từng bẽ bàng thế này bao giờ, hai đệ tử liên tiếp bị địch nhân hút máu chết tươi, thế mà mặt mũi kẻ địch ra sao cũng chưa nhìn rõ.

Bà ta thừ người ra một hồi, hỏi Tống Thanh Thư:

– Sao ngươi biết tên các đệ tử của ta?

Tống Thanh Thư đáp:

– Lúc nãy Tĩnh Huyền sư thúc có đưa đệ tử chào hỏi cả rồi.

Diệt Tuyệt sư thái nói:

– Ồ, nghe một lần nhớ liền! Phái Nga Mi ta sao có được nhân tài như thế?

Tối hôm đó, khi mọi người dừng chân nghỉ đêm, Tống Thanh Thư cung kính đến trước mặt Diệt Tuyệt sư thái hành lễ, nói:

– Tiền bối, vãn bối có một chuyện đáng ra không nên hỏi, muốn thỉnh cầu.

Diệt Tuyệt sư thái lạnh lùng nói:

– Chuyện đã không nên hỏi thì đừng mở miệng ra nữa.

Tống Thanh Thư lại cung kính hành lễ, nói:

– Thưa vâng.

Rồi quay về ngồi bên cạnh Ân Lê Đình.

Mọi người thấy Tống Thanh Thư khẩn cầu Diệt Tuyệt sư thái nhưng bị cự tuyệt, không ai dám hỏi thêm, nhưng đều tò mò muốn biết y định hỏi chuyện gì. Đinh Mẫn Quân nhịn không được, bèn tới gần, hỏi:

– Tống huynh đệ, cậu định hỏi sư phụ ta điều gì vậy?

Tống Thanh Thư đáp:

– Gia phụ khi truyền thụ kiếm pháp cho vãn bối, có nói rằng hiện nay trên đời kiếm thuật thông thần thì sư tổ của bổn phái đứng thứ nhất; kế đến Diệt Tuyệt tiền bối chưởng môn phái Nga Mi. Gia phụ nói kiếm pháp của hai phái Võ Đang và Nga Mi mỗi bên có chỗ mạnh chỗ yếu, như chiêu "Thủ huy ngũ huyền" [71] của bản môn so với chiêu "Khinh la tiểu phiến" [72] của quý phái là đại đồng tiểu dị. Nhưng kình lực dồn ra mũi kiếm quá mạnh, khi xuất chiêu không được linh hoạt uyển chuyển bằng chiêu "Khinh la tiểu phiến".

Tống Thanh Thư vừa nói vừa rút kiếm ra múa cả hai chiêu, lúc sử chiêu Khinh la tiểu phiến thì không được thuần thục cho lắm.

Đinh Mẫn Quân cười nói:

– Chiêu này chưa đúng đâu.

Tiếp lấy trường kiếm từ tay Tống Thanh Thư, làm mẫu cho y xem, nói:

– Cổ tay ta còn đau, không dùng lực, nhưng kiểu cách phải như thế.

Tống Thanh Thư rất lấy làm thán phục, nói:

– Gia phụ vẫn thường nói, ông tự hận mình phúc mỏng, không được xem kiếm thuật của tôn sư. Hôm nay vãn bối được xem Đinh sư thúc sử chiêu Khinh la tiểu phiến, đúng là sáng mắt ra. Vãn bối ban nãy định xin sư thái chỉ dạy cho vài chiêu, để làm sáng tỏ một vài điều vãn bối chưa tỏ tường về kiếm pháp, song vãn bối không phải là đệ tử của quý phái nên chưa dám hé miệng.

Diệt Tuyệt sư thái ngồi ở đằng xa, những lời Tống Thanh Thư nói, bà ta đều nghe thấy cả, lại nghe bảo Tống Viễn Kiều tôn bà ta đứng thứ hai trong thiên hạ về kiếm pháp thì trong lòng vô cùng đắc ý. Trương Tam Phong là Thái Sơn Bắc Đẩu trong võ học thời nay, ai ai cũng kính phục, bà ta chưa bao giờ dám mơ tưởng theo kịp vị đại tông sư cổ kim hiếm có này. Nay đại đệ tử phái Võ Đang lại công nhận kiếm thuật của bà ta là tinh diệu nhất, chỉ đứng sau Trương Tam Phong, thì thật là vinh hạnh. Diệt Tuyệt sư thái thấy Đinh Mẫn Quân múa chiêu kia, tinh thần và kình lực chỉ đạt ba bốn phần hỏa hầu, kiếm pháp lừng danh thiên hạ của phái Nga Mi há chỉ như thế thôi ư? Bà liền tới gần, chẳng nói chẳng rằng, cầm lấy thanh kiếm từ tay Đinh Mẫn Quân, tay đưa lên ngang mũi, rung nhẹ một cái, mũi kiếm réo lên vù vù, chém liền chín nhát từ phải qua trái, lại từ trái qua phải, nhanh vô cùng, song vẫn nhìn rõ từng nhát chém một.

Chúng đệ tử thấy sư phụ thi triển kiếm pháp tinh diệu như thế, ai nấy hồi hộp, mồ hôi rịn ra ướt cả gan bàn tay.

Ân Lê Đình thốt lên:

– Hảo kiếm pháp, hảo kiếm pháp! Hay quá!

Tống Thanh Thư ngưng thần nín thở. Y vốn chỉ muốn nói vài lời lấy lòng Diệt Tuyệt sư thái, tán thưởng kiếm pháp phái Nga Mi, ai ngờ khi bà ta biểu diễn thực là cao diệu ngoài sức tưởng tượng, trong lòng không khỏi thán phục, thành tâm thành ý xin bà ta chỉ dạy. Tống Thanh Thư hỏi tới đâu, Diệt Tuyệt sư thái dạy tới đó, xem ra còn tận tình hơn cả khi dạy cho đệ tử bản môn. Tống Thanh Thư có vốn võ học cao siêu, lại thông minh, câu nào cũng hỏi toàn chỗ hiểm hóc. Các đệ tử phái Nga Mi vây quanh hai người, xem sư phụ thi triển từng chiêu thức, tất cả đều tinh diệu kỳ ảo; có kẻ theo sư phụ đã hơn mười năm, chưa từng thấy bà hiển lộ thần kỹ thế này bao giờ.

Trương Vô Kỵ và Thù Nhi đứng bên ngoài vòng người, đều cảm thấy không tiện xem lén tuyệt kỹ kiếm thuật của phái Nga Mi. Thù Nhi bỗng nói với Trương Vô Kỵ:

– A Ngưu ca, nếu muội học được khinh công như Thanh Dực Bức Vương, có chết cũng cam lòng.

Trương Vô Kỵ nói:

– Công phu tà môn ấy, học làm gì? Ân lục.. Ân lục hiệp nói đó, Vi Nhất Tiếu mỗi lần thi triển võ công đều phải hút máu người, như thế có khác gì ma quỷ?

Thù Nhi nói:

– Y giỏi võ công, nên mới giết được đệ tử phái Nga Mi. Giả dụ khinh công của y kém một chút tất bị lão ni cô tóm được, khi đó y cũng bị người ta giết, chỉ là không bị hút máu thôi. Đằng nào thì người cũng chết, có bị hút máu hay không, có khác gì kia chứ? Danh môn chính phái với tà ma ngoại đạo cũng như nhau cả thôi.

Trương Vô Kỵ nhất thời chưa biết nói sao. Bỗng thấy từ trong đám đông có một thanh trường kiếm sáng lấp lánh bay thẳng lên trời. Thì ra Tống Thanh Thư đang đối chiêu với Diệt Tuyệt sư thái, đến chiêu thứ năm bà ta dùng chiêu "Hắc chiểu linh hồ" hất văng trường kiếm của Tống Thanh Thư lên không trung. Chiêu này là do tổ sư phái Nga Mi là Quách Tương nghĩ ra, để kỷ niệm năm xưa cùng Dương Quá tới đầm lầy bắt chồn.

Mọi người cùng ngẩng lên nhìn theo thanh kiếm, đột nhiên thấy ở góc đông bắc xa hàng chục dặm có một ngọn lửa màu vàng bốc lên trời. Ân Lê Đình kêu lên:

– Phái Không Động gặp địch rồi, mau đi tiếp ứng!

Lần này sáu đại môn phái đến Tây Vực vây đánh Ma giáo, để hành động kín đáo, theo phương lược chia nhau tấn công, ước định với nhau dùng hỏa tiễn sáu màu làm tín hiệu, hỏa tiễn màu vàng là tín hiệu của phái Không Động.

Mọi người chạy về phía có hỏa tiễn bắn lên, thấy tiếng kêu thét chém giết, càng đến gần nghe càng thảm thiết, chốc chốc lại có tiếng rú của người trước khi chết. Lúc đến gần thì ai nấy cả kinh. Trước mắt là một đại đấu trường chém giết, mỗi bên phải có tới vài trăm người tham chiến; dưới ánh trăng sáng, đao quang kiếm ảnh, ai nấy đang liều chết đâm chém nhau.

Trương Vô Kỵ trong đời chưa từng chứng kiến một trường đại chiến thế này bao giờ, chỉ thấy đao kiếm lấp loáng, máu đổ thịt rơi, tình cảnh thảm khốc không nỡ nhìn. Chàng không mong Ma giáo đắc thắng, cũng không muốn phe của Ân lục thúc đắc thắng, một bên là phe của cha, một bên là phe của mẹ, song hai phe lại ở thế không đội trời chung, mỗi người bị giết đều khiến chàng đau lòng.

Ân Lê Đình vừa quan sát tình thế vừa nói:

– Phe địch bao gồm Nhuệ Kim, Hồng Thủy, Liệt Hỏa ba kỳ. Ồ, phe ta có phái Không Động, phái Hoa Sơn.. phái Côn Luân cũng đã tới. Ba phái phe ta đấu với ba kỳ bên địch. Thanh Thư, chúng ta cũng tham chiến đi thôi!

Ân Lê Đình giơ trường kiếm đánh dứ một nhát, kiếm phát ra tiếng ong ong.

Tống Thanh Thư nói:

– Khoan đã, lục thúc xem kìa, đằng kia còn một đám đông bọn địch đang chờ thời cơ hành sự.

Trương Vô Kỵ nhìn theo ngón tay Tống Thanh Thư chỉ về phía đông, quả nhiên thấy ở ngoài xa mấy chục trượng có ba đội nhân mã lẫn trong bóng đêm, hàng ngũ chỉnh tề, mỗi đội phải hơn trăm người. Cục diện hiện thời ba phái đấu với ba kỳ là ngang ngửa, nếu ba đội kia tham chiến, chắc chắn ba phái Không Động, Hoa Sơn, Côn Luân sẽ đại bại; nhưng không hiểu vì sao ba đội nhân mã ấy vẫn án binh bất động.

Diệt Tuyệt sư thái và Ân Lê Đình thầm kinh hãi. Ân Lê Đình hỏi Tống Thanh Thư:

– Bọn kia vì cớ gì chưa động thủ?

Tống Thanh Thư lắc đầu:

– Tiểu điệt cũng không hiểu.

Thù Nhi đột nhiên cười khẩy, nói:

– Có gì mà nghĩ không ra? Chuyện rõ như ban ngày.

Tống Thanh Thư đỏ mặt, lặng thinh. Diệt Tuyệt sư thái định hỏi, nhưng đành nhịn vậy. Ân Lê Đình nói:

– Xin cô nương chỉ điểm cho.

Thù Nhi nói:

– Ba đội kia là lực lượng của Thiên Ưng giáo. Thiên Ưng giáo tuy là một bàng chi của Minh giáo, nhưng lâu nay vẫn bất hòa với Ngũ Hành kỳ. Các vị nếu giết sạch được Ngũ Hành kỳ, xem ra Thiên Ưng giáo còn mừng thầm là đằng khác. Ân Thiên Chính có khi lên ngôi giáo chủ Minh giáo cũng nên.

Diệt Tuyệt sư thái bây giờ mới vỡ lẽ. Ân Lê Đình nói:

– Đa tạ cô nương chỉ điểm.

Diệt Tuyệt sư thái trừng mắt nhìn Thù Nhi, nghĩ thầm: "Kim Hoa bà bà võ công như thế, hèn chi một tên đồ đệ nhóc con cũng vô cùng lợi hại".

Lúc này các đệ tử phái Nga Mi đã lục tục kéo đến, đứng sau lưng Diệt Tuyệt sư thái. Tĩnh Huyền nói:

– Tống thiếu hiệp, nói về tài bố trí trận đánh, chúng tôi không ai bằng thiếu hiệp. Mọi người xin nghe lệnh thiếu hiệp xông lên giết địch, mong thiếu hiệp đừng khách sáo.

Tống Thanh Thư nói:

– Lục thúc, việc này.. việc này.. điệt nhi làm sao dám nhận?

Diệt Tuyệt sư thái nói:

– Lúc này còn nói chuyện lễ nghĩa gì nữa? Cứ ra lệnh đi!

Tống Thanh Thư thấy tình thế chiến trường cấp bách, phái Côn Luân đấu với Nhuệ Kim kỳ, đang thắng thế; phái Hoa Sơn đấu với Hồng Thủy kỳ, đôi bên ngang ngửa; phái Không Động càng đánh càng núng thế, bị Liệt Hỏa kỳ vây chặt vào trong mà chém giết, bèn ra lệnh:

– Chúng ta chia ra ba lộ xông vào, cùng tấn công Nhuệ Kim kỳ. Sư thái dẫn một cánh từ phía đông đánh vào; lục thúc dẫn một cánh đánh từ phía tây, còn Tĩnh Huyền sư thúc cùng vãn bối thì đánh vào từ phía nam.

Tĩnh Huyền lấy làm lạ, nói:

– Phái Côn Luân đang thắng thế, phái Không Động mới đang vô cùng nguy ngập.

Tống Thanh Thư nói:

– Phái Côn Luân đã chiếm thượng phong, ta đánh thốc vào như thế chẻ tre, trong giây lát có thể tiêu diệt Nhuệ Kim kỳ, hai kỳ còn lại thấy vậy sẽ khiếp vía. Nếu ta tiếp viện cho phái Không Động, hai bên sẽ thành thế giằng co, chỉ có Thiên Ưng giáo là ngư ông đắc lợi mà thôi.

Tĩnh Huyền hết sức thán phục, nói:

– Tống thiếu hiệp nói chí phải.

Liền chia các đệ tử thành ba cánh.

Thù Nhi kéo chiếc xe trượt chở Trương Vô Kỵ, nói:

– Ta đi thôi, ở đây chẳng có gì hay.

Nói rồi kéo xe đi. Tống Thanh Thư vội đuổi theo, giơ kiếm ngăn lại:

– Cô nương không đi được.

Thù Nhi lạ lùng hỏi:

– Ngươi giữ ta làm gì?

Tống Thanh Thư nói:

– Cô nương lai lịch lạ lùng, không thể để cô nương đi như thế được.

Thù Nhi cười khẩy:

– Lai lịch của ta lạ lùng thì đã sao? Không lạ lùng thì sao?

Diệt Tuyệt sư thái đang nóng lòng, bực bội chưa được đại khai sát giới giết sạch bọn Ma giáo, nghe Thù Nhi đấu khẩu với Tống Thanh Thư, liền lắc mình một cái phóng tới, giơ tay điểm vào ba huyệt ở lưng, hông và đùi Thù Nhi. Thù Nhi võ công thua bà ta quá xa, không chống đỡ gì được, đầu gối bủn rủn, ngã ngồi xuống.

Diệt Tuyệt sư thái múa trường kiếm, quát to:

– Hôm nay đại khai sát giới, trừ diệt yêu tà!

Nói rồi cùng Ân Lê Đình, Tĩnh Huyền, mỗi người dẫn một cánh xông thẳng vào đánh Nhuệ Kim kỳ.

Hà Thái Xung, Ban Thục Nhàn của phái Côn Luân chỉ huy đệ tử đấu với Nhuệ Kim kỳ, đã chiếm ưu thế, được thêm hai phái Nga Mi, Võ Đang tăng viện nên thanh thế càng mạnh mẽ hơn. Diệt Tuyệt sư thái kiếm pháp tuyệt luân, không một giáo chúng nào của Minh giáo đỡ nổi ba chiêu của bà ta, chỉ thấy thân hình cao lớn của lão ni qua lại như con thoi giữa đám đông, đâm bên đông, chém bên tây, trong giây lát đã có bảy giáo chúng bỏ mạng dưới trường kiếm của bà ta.

Chưởng kỳ sứ của Nhuệ Kim kỳ là Trang Tranh thấy tình thế bất lợi, cầm lang nha bổng tới ngăn chặn Diệt Tuyệt sư thái. Đôi bên qua lại hơn chục chiêu, Diệt Tuyệt sư thái thi triển kiếm pháp phái Nga Mi, càng đánh cành nhanh, tận lực công kích. Nhưng Trang Tranh võ công rất cao cường, nhất thời đôi bên ngang ngửa. Lúc này Ân Lê Đình, Tĩnh Huyền, Tống Thanh Thư, Hà Thái Xung, Ban Thục Nhàn đang ra tay tàn sát; Nhuệ Kim kỳ tuy có không ít cao thủ, nhưng làm sao địch nổi ba phái Võ Đang, Côn Luân, Nga Mi liên thủ, trong giây lát đã chết một số.

Trang Tranh đánh liên tiếp ba đòn lang nha bổng buộc Diệt Tuyệt sư thái phải thối lui ba bước, tiếp đòn thứ tư từ trên giáng xuống cực mạnh. Diệt Tuyệt sư thái nghiêng thanh trường kiếm, điểm vào thân lang nha bổng, dùng chiêu "Thuận thủy thôi chu" đẩy cây bổng ra. Nào ngờ Trang Tranh là nhân vật lợi hại của Minh giáo, thuộc hàng đệ nhất cao thủ võ lâm, trời phú cho có cánh tay khỏe lạ thường, cả nội công lẫn ngoại công đều vào mức thượng thừa. Khi cảm thấy nội lực của đối phương ở thanh kiếm đẩy vào lang nha bổng, y liền quát một tiếng, vận sức mạnh ra cánh tay, nghe "cách cách", thanh kiếm của Diệt Tuyệt sư thái bị gãy thành ba đoạn.

Diệt Tuyệt sư thái binh khí đã gãy, cánh tay tê chồn, nhưng không né tránh hay thối lui, mà đưa tay ra sau rút phắt thanh kiếm Ỷ Thiên đeo trên lưng, một luồng sáng vụt lóe như sao băng, sử chiêu "Thiết tỏa hoành giang" [73] chém ngang một nhát. Trang Tranh cảm thấy tay mình nhẹ bẫng, cái đầu lởm chởm răng cưa của cây lang nha bổng đã bị kiếm Ỷ Thiên chẻ đôi; tiếp đó một nửa bên sọ của y cũng bị thanh kiếm sắc hơn nước kia bổ vỡ luôn.

Giáo chúng Nhuệ Kim kỳ thấy chưởng kỳ sứ bỏ mạng thì cùng thét lớn, căm hận lao vào đấu thí mạng, mấy đệ tử phái Côn Luân và phái Nga Mi liên tiếp bị chém chết.

Một người trong Hồng Thủy kỳ gọi to:

– Trang kỳ sứ đã tuẫn giáo quy thiên, Nhuệ Kim, Liệt Hỏa hai kỳ hãy rút đi, để Hồng Thủy kỳ chặn hậu!

Cờ hiệu của Liệt Hỏa kỳ trong trận thế lập tức biến đổi, theo lệnh lùi về hướng tây; riêng giáo chúng Nhuệ Kim kỳ càng đánh càng hăng, không ai chịu lùi bước.

Người của Hồng Thủy kỳ lại lớn tiếng nói:

– Đường kỳ sứ của Hồng Thủy kỳ có lệnh, tình thế bất lợi, giáo chúng Nhuệ Kim kỳ hãy mau rút lui, ngày sau sẽ báo thù cho Trang kỳ sứ.

Mấy người của Nhuệ Kim kỳ cùng lên tiếng:

– Hồng Thủy kỳ hãy mau lui trước, ngày sau báo thù rửa hận cho chúng tôi. Huynh đệ Nhuệ Kim kỳ chúng tôi quyết đồng sinh cộng tử với Trang kỳ sứ.

Hồng Thủy kỳ đột nhiên giơ cờ đen lên, một người nói to như sấm:

– Chư vị huynh đệ Nhuệ Kim kỳ! Hồng Thủy kỳ nhất định sẽ báo thù cho các vị.

Nhuệ Kim kỳ lúc này còn độ hơn bảy chục người, cùng lên tiếng:

– Đa tạ Đường kỳ sứ!

Chỉ thấy các lá cờ của Hồng Thủy kỳ phất lên, rút về phía tây. Hai phái Hoa Sơn, Không Động thấy trận thế địch nhân chỉnh tề, hơn hai chục người đi chặn hậu tay cầm các ống vàng sáng loáng, không biết có gì kỳ quái, nên không dám đuổi theo, liền quay sang giáp công Nhuệ Kim kỳ.

Lúc này tình thế đã định. Năm phái Côn Luân, Không Động, Nga Mi, Võ Đang, Hoa Sơn cùng vây đánh Nhuệ Kim kỳ của Minh giáo; trừ phái Võ Đang chỉ có hai người, bốn phái kia đều đã dốc hết lực lượng. Chưởng kỳ sứ của Nhuệ Kim kỳ đã tử trận, tàn quân mất chủ tướng như rắn mất đầu, dĩ nhiên không thể địch nổi. Song người của Nhuệ Kim kỳ ai nấy trọng nghĩa khí, quyết ý tuẫn giáo theo Trang Tranh.

Ân Lê Đình giết được vài giáo chúng, cảm thấy tuy thắng nhưng chẳng vẻ vang chút nào, bèn nói to:

– Yêu nhân Ma giáo hãy nghe đây: Trước mắt các ngươi chỉ có một đường, mau quăng vũ khí đầu hàng, sẽ được tha chết!

Gã phó chưởng kỳ sứ cười ha hả, nói:

– Ngươi xem thường giáo chúng Minh giáo quá vậy? Trang đại ca chết rồi, bọn ta cũng chẳng thiết sống nữa.

Ân Lê Đình nói:

– Các vị bằng hữu phái Côn Luân, phái Nga Mi, phái Hoa Sơn, phái Không Động, tất cả hãy lùi lại mười bước để bọn yêu nhân dễ bề đầu hàng.

Mọi người ai nấy lùi lại.

Diệt Tuyệt sư thái căm hận Ma giáo, vẫn tiếp tục múa kiếm cuồng sát. Bảo kiếm Ỷ Thiên đánh tới đâu, đao kiếm đều gãy, tay rơi đầu rụng đến đấy. Phái Nga Mi thấy sư phụ không lùi lại, những người đã lùi về lại xông lên chém giết, thành cục diện một mình phái Nga Mi đánh nhau với Nhuệ Kim kỳ.

Nhuệ Kim kỳ lúc này còn hơn sáu chục giáo chúng, số hảo thủ giỏi võ chừng hơn hai chục, do phó chưởng kỳ sứ Ngô Kình Thảo suất lĩnh, chống chọi hơn ba mươi người phái Nga Mi, là hai đánh một, đáng lý phải chiếm thượng phong. Nhưng bảo kiếm Ỷ Thiên trong tay Diệt Tuyệt sư thái quá ư sắc bén, kiếm chiêu của bà ta lại cực kỳ lợi hại, bà ta tới đâu là chỗ đó nguy ngập, trong chốc lát có thêm bảy tám người chết dưới kiếm bà ta.

Trương Vô Kỵ không nỡ nhìn cảnh đó, bèn nói với Thù Nhi:

– Chúng ta đi thôi!

Chàng đưa tay giải huyệt cho Thù Nhi, nào ngờ xoa bóp mấy lần ở sau lưng và ngang hông cho nàng mà Thù Nhi vẫn thấy tê dại, các huyệt chưa mở được, mới biết Diệt Tuyệt sư thái nội lực thâm hậu, chỉ ra tay nhẹ nhàng nhưng kình lực nhập sâu vào huyệt đạo, tuy cách giải huyệt của chàng là đúng nhưng chưa kiến hiệu ngay.

Chàng thở dài, ngoảnh nhìn lại, thấy mấy chục người của Nhuệ Kim kỳ đã bị gãy hết vũ khí, một mặt các phái Côn Luân, Hoa Sơn, Không Động vây kín xung quanh; mặt khác, giáo chúng không ai chịu bỏ chạy, vẫn tay không chống trả các đệ tử phái Nga Mi.

Diệt Tuyệt sư thái tuy căm hận Ma giáo, nhưng ở địa vị chưởng môn phái, không muốn dùng binh khí giết người tay không, nên ngón tay trái liên tiếp phóng ra, chân như hành vân lưu thủy chạy vòng quanh, trong giây lát đã điểm huyệt hơn năm chục người của Nhuệ Kim kỳ, khiến bọn họ đứng bất động như trời trồng. Mọi người vây quanh thấy Diệt Tuyệt sư thái hiển lộ thân thủ cao cường như thế thì hò reo ầm ỹ.

Lúc này trời đã sáng, bỗng thấy ba đội giáo chúng Thiên Ưng giáo chia ba hướng đông, nam, bắc từ từ chuyển dịch tới gần, còn cách hơn mười trượng thì dừng, rõ ràng định đứng ngoài quan sát, chưa tiến vào khiêu chiến.

Thù Nhi nói:

– A Ngưu ca, mình phải chạy nhanh, kẻo rơi vào tay bọn Thiên Ưng giáo là khốn khổ đấy.

Trương Vô Kỵ đối với Thiên Ưng giáo vẫn có mối cảm tình thân thiết khó nói thành lời, bởi đấy là giáo phái của mẫu thân chàng. Mỗi lần nhớ đến mẫu thân, chàng vẫn tự nhủ: "Mẫu thân thì mình không bao giờ được gặp nữa, nhưng còn ông ngoại và cậu, khi nào mình được gặp đây?" Bây giờ người của Thiên Ưng giáo đang ở ngay kia, chàng muốn biết ông ngoại và cậu có trong đó hay không, nên chưa muốn bỏ đi vội.

Tống Thanh Thư bước lên, nói với Diệt Tuyệt sư thái:

– Tiền bối, chúng ta phải mau xử quyết bọn Nhuệ Kim kỳ, để còn xoay sang đối phó với Thiên Ưng giáo, khỏi lo hậu họa.

Diệt Tuyệt sư thái gật đầu.

Mặt trời bắt đầu ló dạng ở phía đông, ánh ban mai chiếu vào thân hình cao to của Diệt Tuyệt sư thái thành một cái bóng dài, trông vừa oai vệ vừa ghê rợn. Bà ta muốn làm nhụt nhuệ khí của Ma giáo, không muốn dùng kiếm giết ngay họ, bèn lạnh lùng nói:

– Bọn Ma giáo các ngươi nghe đây, kẻ nào muốn sống, chỉ cần mở miệng xin tha, ta sẽ cho đi.

Đáp lại chỉ nghe tiếng hì hì, ha ha, ồ hồ, à hà không dứt, người của Minh giáo nhất tề cười vang.

Diệt Tuyệt sư thái cả giận, hỏi:

– Có gì đáng cười?

Phó chưởng kỳ sứ Nhuệ Kim kỳ Ngô Kình Thảo lớn tiếng trả lời:

– Bọn ta thề cùng sống chết với Trang đại ca, có muốn thì hãy mau mau giết bọn ta đi.

Diệt Tuyệt sư thái hừ một tiếng, nói:

– Được, đến nước này còn làm bộ anh hùng hảo hán! Ngươi tưởng sẽ được chết một cách sảng khoái ư, đâu có dễ thế?

Bà ta rung nhẹ trường kiếm một cái đã chặt đứt cánh tay phải của Ngô Kình Thảo.

Ngô Kình Thảo cười ha hả, thần sắc vẫn như không, nói:

– Minh giáo thế thiên hành đạo, tế thế cứu dân, sinh tử thủy chung như nhất. Lão tặc ni chớ hòng mong bọn ta quỳ gối đầu hàng.

Diệt Tuyệt sư thái càng tức giận, soẹt soẹt soẹt "ba nhát, lại chém đứt cánh tay của ba giáo chúng nữa, hỏi người thứ tư:

– Ngươi có xin tha hay không thì bảo?

Người kia chửi:

– Mụ vãi già nói thối như cứt!

Tĩnh Huyền vọt lên vung kiếm chém phăng cánh tay phải của người kia, nói:

– Hãy để đệ tử chém hết đám yêu nghiệt này!

Tĩnh Huyền bắt chước sư phụ, hỏi luôn mấy người, giáo chúng Minh giáo không một ai chịu khuất phục, Tĩnh Huyền chém đến mỏi nhừ cả tay, quay lại nói:

– Sư phụ, bọn yêu nhân này ngoan cố quá..

Ý muốn xin sư phụ cho qua. Diệt Tuyệt sư thái bất chấp, nói:

– Chém tất cả tay phải trước, nếu vẫn cứ ngoan cố, hãy chém nốt tay trái.

Tĩnh Huyền không còn cách nào khác, lại chém thêm mấy người nữa.

Trương Vô Kỵ hết nhịn nổi, từ trong cái cáng trượt nhảy ra, chắn ngay trước mặt Tĩnh Huyền, nói:

– Dừng tay!

Tĩnh Huyền kinh ngạc, lùi lại một bước. Trương Vô Kỵ lớn tiếng, nói:

– Các ngươi tàn nhẫn hung ác như thế, không biết hổ thẹn ư?

Mọi người bất ngờ thấy một thanh niên lam lũ rách rưới đứng ra, thảy đều ngạc nhiên, khi nghe chàng lời nghiêm lẽ chính chất vấn Tĩnh Huyền, thì các cao thủ danh môn chính phái bất giác đều cảm thấy thán phục.

Tĩnh Huyền cười một tiếng dài, nói:

– Tà ma ngoại đạo, ai ai cũng cứ việc tru diệt, có gì gọi là tàn nhẫn với hung ác?

Trương Vô Kỵ nói:

– Những người này tất cả đều coi nhẹ mạng sống, trọng nghĩa khí, khẳng khái chịu chết, quả là các anh hùng hảo hán hiên ngang, đâu có gì là tà ma ngoại đạo?

Tĩnh Huyền nói:

– Bọn chúng là giáo đồ Ma giáo, còn không phải tà ma ngoại đạo hay sao? Tên Thanh Dực Bức Vương hút máu giết người, hại chết sư đệ sư muội của ta, chính mắt ngươi cũng nhìn thấy, còn chưa phải là yêu tà hay sao?

Trương Vô Kỵ nói:

– Thanh Dực Bức Vương chỉ giết một người, các vị giết mười lần nhiều hơn. Hắn dùng răng giết người, sư tôn dùng kiếm Ỷ Thiên giết người, cùng là giết người cả, đâu có phân biệt gì thiện ác?

Tĩnh Huyền cả giận, quát lên:

– Hảo tiểu tử, ngươi dám ví sư phụ ta với bọn yêu tà hả?

Nghe vù một chưởng, Tĩnh Huyền đánh thẳng vào mặt Trương Vô Kỵ, Trương Vô Kỵ vội né tránh. Tĩnh Huyền là đại đệ tử của phái Nga Mi, võ công được sư môn chân truyền, chưởng đánh vào mặt chỉ là hư chiêu, đợi Trương Vô Kỵ nghiêng người né tránh, lập tức tung chân trái đá lên, trúng ngay ngực chàng.

Chỉ nghe" hịch ", rồi" rắc "hai tiếng, chân trái Tĩnh Huyền đã gãy, thân hình bay về phía sau đến mấy trượng, rồi ngã lăn xuống. Thì ra ngực Trương Vô Kỵ trúng chiêu của địch, Cửu dương thần công trong cơ thể chàng tự động phát sinh lực kháng cự.

Chiêu số của chàng thua xa Tĩnh Huyền, nhưng uy lực của Cửu dương thần công quá ư lợi hại, địch phát chiêu càng mạnh, sức phản kích càng nặng, Tĩnh Huyền tựa hồ đá vào chính ngực mình. Cũng may Tĩnh Huyền chưa có ý định giết chàng, cú đá chỉ có năm thành kình lực nên Tĩnh Huyền chưa đến nỗi bị nội thương trầm trọng.

Trương Vô Kỵ khiêm nhường nói:

– Xin lượng thứ!

Chàng chạy tới đỡ, nhưng Tĩnh Huyền giận dữ quát:

– Xéo đi! Xéo đi!

Trương Vô Kỵ đành lùi lại, nói:

– Vâng!

Hai nữ đệ tử phái Nga Mi vội chạy tới dìu đại sư tỷ dậy.

Mọi người đứng ngoài đều biết Tĩnh Huyền là hảo thủ số một số hai dưới trướng Diệt Tuyệt sư thái, không hiểu sao lại kém cỏi như thế, chỉ một chiêu đã bị anh chàng rách rưới kia đánh văng đi mấy trượng? Nếu nói Tĩnh Huyền chỉ có hư danh cũng không phải, ban nãy đấu với Nhuệ Kim kỳ, kiếm pháp của Tĩnh Huyền lợi hại ra sao, ai ai cũng thấy. Không lẽ nhìn người không thể chỉ nhìn vẻ bên ngoài, anh chàng lam lũ kia thân mang võ công tuyệt thế chăng?

Diệt Tuyệt sư thái thầm kinh hãi:" Gã thiếu niên kia rốt cuộc theo bên nào? Ta bắt giữ hắn bấy lâu nay, không hề để ý đến hắn, thì ra là chân nhân bất lộ tướng, chẳng phải kẻ tầm thường. Ta muốn hất Tĩnh Huyền văng xa như thế cũng chẳng nổi. Trên đời này, ngoài Trương Tam Phong lão đạo có nội công tu luyện cả trăm năm, may ra mới làm được như thế thôi ". Diệt Tuyệt sư thái thuộc loại gừng quế càng già càng cay; tuy không dám coi thường Trương Vô Kỵ, nhưng cũng chẳng e ngại chút nào. Bà ta đưa mắt nhìn chàng từ đầu xuống chân để đánh giá.

Lúc này Trương Vô Kỵ đang ra tay cầm máu, băng bó vết thương cho giáo chúng của Nhuệ Kim kỳ. Thủ pháp của chàng vô cùng thành thạo, giơ tay điểm mỗi người vài nơi huyệt đạo, máu đang chảy từ cánh tay bị chém đứt lập tức giảm hẳn. Trong đám người vây quanh có không ít hảo thủ điểm huyệt trị thương, song ai cũng phải tự thẹn mình không bằng chàng; thậm chí có huyệt Trương Vô Kỵ điểm mà họ còn chưa biết. Phó chưởng kỳ sứ Ngô Kình Thảo nói:

– Đa tạ thiếu hiệp trượng nghĩa, thỉnh vấn quý tính đại danh?

Trương Vô Kỵ nói:

– Tại hạ họ Tăng, tên A Ngưu.

Diệt Tuyệt sư thái lạnh lùng nói:

– Hảo tiểu tử, hãy lại đây tiếp ta ba kiếm.

Trương Vô Kỵ nói:

– Xin sư thái đợi một lát, cứu người hệ trọng hơn.

Cho đến khi băng bó xong vết thương cho người cuối cùng bị chặt tay, chàng mới quay lại, ôm quyền nói:

– Diệt Tuyệt sư thái, tại hạ không phải đối thủ của sư thái, cũng không muốn động thủ với lão nhân gia; chỉ mong đôi bên bãi đấu, bỏ qua hết oán cừu quá khứ.

Bốn chữ" hai bên bãi đấu ", giọng nói của chàng vô cùng chân thành;" hai bên "mà chàng nhắc đó chính là phụ mẫu đã qua đời của chàng, một bên là Võ Đang danh môn chính phái của cha, một bên là Thiên Ưng giáo tà ma ngoại đạo của mẹ.

Diệt Tuyệt sư thái nói:

– Ha ha, chỉ một lời của tiểu tử thối tha như ngươi mà đòi chúng ta bãi đấu ư? Ngươi là bậc chí tôn trong võ lâm chăng?

Trương Vô Kỵ động lòng, nói:

– Xin hỏi, là bậc chí tôn trong võ lâm thì sao?

Diệt Tuyệt sư thái nói:

– Nếu ngươi có bảo đao Đồ Long trong tay thì cũng phải đấu với kiếm Ỷ Thiên của ta, xem ai cao thấp đã. Đến khi trở thành bậc chí tôn trong võ lâm rồi, hãy ra lệnh cũng chưa muộn.

Các đệ tử phái Nga Mi nghe sư phụ chế nhạo Trương Vô Kỵ thì tất thảy đều cười rộ. Các phái khác cũng có kẻ phụ họa theo.

Dựa vào thân phận và độ tuổi của Trương Vô Kỵ mà nói hai bên" bãi đấu "thì quả không hợp chút nào. Nghe nhiều người cười giễu mình, Trương Vô Kỵ đỏ mặt, nhưng không nhịn được, nói:

– Sư thái sao lại giết quá nhiều người như vậy? Mỗi người đều có phụ mẫu thê tử, sư thái giết họ rồi, hài tử của họ sẽ bơ vơ cô khổ, bị người ta khinh rẻ. Lão nhân gia là người xuất gia, xin hãy mở lòng từ bi!

Chàng vốn không phải người khéo nói, nhưng nghĩ đến thân thế mình nên lời nói ra cũng thật chân tình. Mấy câu đó vô cùng khẩn thiết, mọi người nghe thấy không khỏi động tâm.

Diệt Tuyệt sư thái mặt vẫn trơ trơ, giọng vẫn lạnh như băng:

– Hảo tiểu tử, ta phải để cho ngươi giáo huấn hay sao? Ngươi tự phụ nội lực thâm hậu, đứng đó mà ba hoa lớn lối. Được, ngươi mà tiếp được ta ba chưởng, ta sẽ tha cho bọn này đi!

Trương Vô Kỵ nói:

– Đến đệ tử của sư thái, tại hạ còn không tiếp nổi một chưởng, nữa là sư thái? Tại hạ không dám tỷ võ với lão nhân gia, chỉ xin sư thái mở lòng từ bi, thể hiện đức hiếu sinh của thượng thiên mà thôi.

Ngô Kình Thảo nói to:

– Tăng công tử, khỏi cần nhiều lời với lão tặc ni đó làm chi. Chúng tôi thà chết tất cả dưới tay bà ta, còn hơn trông chờ lòng từ bi giả dối của mụ ấy.

Diệt Tuyệt sư thái liếc Trương Vô Kỵ, hỏi:

– Sư phụ ngươi là ai?

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm:" Phụ thân, nghĩa phụ ta tuy có dạy ta võ công, nhưng đâu phải là sư phụ của ta ", bèn đáp:

– Tại hạ không có sư phụ.

Lời đó nói ra, ai nấy cùng cho là lạ. Bọn họ vốn nghĩ chàng thiếu niên này chỉ một chiêu đã hất văng Tĩnh Huyền, ắt phải là đồ đệ của cao nhân nào đó, nên ai ai cũng có vài phần e sợ, nào ngờ chàng lại bảo mình không có sư phụ. Người trong võ lâm, tôn sư là đạo chính, không nói lộ tính danh sư phụ cũng là chuyện thường, song không khi nào có mà lại bảo không, bởi vậy nếu chàng bảo không có sư phụ, tức là quả thật không có.

Diệt Tuyệt sư thái không nhiều lời với chàng nữa, nói:

– Tiếp chiêu đi!

Tay phải bà ta liền đánh ngay ra.

Trong tình thế đó, Trương Vô Kỵ không thể không tiếp. Chàng không dám khinh suất, đưa cả hai tay đẩy ra để chống đỡ một chưởng của bà ta. Nào ngờ Diệt Tuyệt sư thái liền hạ tay xuống, y như một con lươn vừa trơn vừa nhanh, luồn qua bên dưới hai tay Vô Kỵ, nghe" pạch "một tiếng, đánh trúng ngay giữa ngực chàng.

Trương Vô Kỵ kinh hãi, Cửu dương thần công bảo hộ cơ thể tự động phát sinh lực chống trả đối phương; nhưng khi hai luồng kình lực sắp tiếp xúc với nhau, thì chưởng lực của Diệt Tuyệt sư thái đột nhiên biến mất không còn tăm hơi. Trương Vô Kỵ còn đang ngơ ngẩn, ngẩng nhìn bà ta, thì ngực chàng bỗng như bị một cái búa sắt nện vào. Chàng đứng không vững, bị hất nhào ra phía sau, ọe một tiếng, hộc ra một ngụm máu tươi, người sụm xuống như một tảng bùn mềm.

Chưởng lực của Diệt Tuyệt sư thái bất chợt dồn ra, bất chợt thu vào nhập nhằng bất định như thế, dẫn dụ nội lực của địch nhân, sau đó mới phát lực, thực là công phu tu luyện tinh diệu của võ học nội gia. Một vài người võ công cao siêu đứng ngoài nhận biết được cái xảo diệu của chưởng vừa rồi, không khỏi tấm tắc khen ngợi.

Thù Nhi hốt hoảng chạy tới, giơ tay đỡ Trương Vô Kỵ, không ngờ đầu gối bủn rủn, cũng ngã luôn xuống. Thì ra tuy nàng đã được Trương Vô Kỵ giải huyệt, nhưng huyết mạch chưa lưu thông, thấy chàng bị thương, hốt hoảng chạy đến giúp, nhưng được vài bước đã ngã, miệng ấp úng:

– A Ngưu ca, ca ca..

Trương Vô Kỵ cảm thấy trong ngực máu nóng nhộn nhạo, xua xua tay:

– Không chết đâu.

Chàng từ từ bò dậy. Chỉ nghe Diệt Tuyệt sư thái nói với ba nữ đệ tử:

– Chặt hết cánh tay phải của bọn yêu nhân cho ta.

Ba đệ tử kia đáp:

– Tuân lệnh.

Rồi cầm kiếm tiến về phía giáo chúng Nhuệ Kim kỳ. Trương Vô Kỵ vội nói:

– Sư.. sư thái nói vãn bối chịu được ba chưởng sẽ tha cho họ đi. Vãn.. vãn bối chịu một chưởng rồi, còn.. còn hai chưởng..

Diệt Tuyệt sư thái đánh Trương Vô Kỵ một chưởng, thấy nội công của chàng chính đại hồn hậu, hoàn toàn không thuộc loại yêu tà, thậm chí còn rất giống sở học của mình; thấy chàng đứng ra bênh vực giáo chúng Ma giáo, song quả thực không phải là người của bọn họ, bèn nói:

– Kẻ ít tuổi chớ đa quản nhàn sự, chính tà phải phân biệt cho rõ ràng. Chưởng vừa rồi ta chỉ dùng ba thành lực đạo, ngươi hiểu chứ?

Trương Vô Kỵ biết bà ta thân phận chưởng môn phái, ắt không nói sai, đã bảo chỉ dùng ba thành lực đạo thì đúng là mới dùng ba thành. Thế nhưng bất kể hai chưởng nữa khó chịu đựng tới mức nào, dù là mất mạng, chàng cũng không thể giương mắt nhìn giáo chúng Nhuệ Kim kỳ bị tàn sát, bèn nói:

– Vãn bối không lượng sức mình, xin chịu.. thêm hai chưởng nữa của sư thái.

Ngô Kình Thảo nói to:

– Tăng công tử, chúng tôi cảm tạ đại đức của công tử. Công tử anh hùng hiệp nghĩa, người người cảm phục. Hai chưởng còn lại xin chớ có chịu làm gì.

Diệt Tuyệt sư thái thấy Thù Nhi ở bên cạnh Trương Vô Kỵ, e nàng làm vướng víu chân tay, bèn phất ống tay áo bên trái một cái, cuốn nàng lên quẳng về phía sau. Chu Chỉ Nhược chạy lên đón lấy, nhẹ nhàng đặt Thù Nhi xuống đất. Thù Nhi vội nói:

– Chu tỷ tỷ, hãy mau khuyên chàng đừng chịu thêm hai chưởng nữa, tỷ tỷ nói, chắc chàng sẽ nghe lời đấy.

Chu Chỉ Nhược lạ lùng, hỏi:

– Tại sao chàng sẽ nghe lời tôi?

Thù Nhi nói:

– Chàng rất thích tỷ tỷ, chẳng lẽ tỷ tỷ không biết hay sao?

Chu Chỉ Nhược đỏ mặt, ấp úng:

– Đâu phải thế.

Diệt Tuyệt sư thái lớn tiếng nói:

– Ngươi đã muốn tỏ ra anh hùng hảo hán, ấy là tự ngươi tìm lấy cái chết, đừng có trách ta.

Tay phải bà ta vung lên, kình phong ào ạt, đánh thẳng vào ngực Trương Vô Kỵ.

Lần này Trương Vô Kỵ không dám giơ tay ra đỡ; thân hình nghiêng đi để tránh chưởng lực của đối phương. Diệt Tuyệt sư thái bỗng dưng xoay tay lại, bàn tay vòng trở về từ góc chết," bộp "một tiếng, trúng ngay hậu tâm chàng. Thân hình chàng giống như thằng bù nhìn bằng rơm, bay là là lên không trung, rồi rớt phịch xuống đất, nằm sấp trên mặt cát, không động đậy, hình như chết rồi.

Chiêu này của Diệt Tuyệt sư thái, thủ pháp tinh diệu vô tỉ, lẽ ra người đứng xem hò reo mới phải, nhưng tấm lòng hiệp nghĩa của Trương Vô Kỵ đã khiến họ thầm kính phục, thấy chàng gặp sự bất hạnh, mọi người chỉ hoảng sợ thở dài, không một ai lên tiếng hoan hô.

Thù Nhi nói:

– Chu tỷ tỷ, xin tỷ tỷ mau tới xem chàng bị thương có nặng hay không đi!

Trống ngực Chu Chỉ Nhược đập thình thình, nghe lời cầu xin của Thù Nhi, nàng đã định chạy tới xem, nhưng trước hàng trăm cặp mắt đổ dồn vào, một thiếu nữ mười tám mười chín tuổi như nàng làm sao dám tới xem thương thế cho một chàng trai? Huống hồ người đả thương chàng ta lại chính là sư phụ của nàng, làm như thế, tuy chưa phải công khai phản bội sư môn, song cũng là hành động đại bất kính đối với sư phụ, thành thử nàng vừa dợm bước, liền dừng ngay lại.

Lúc này trời đã sáng rõ, ánh nắng chan hòa khắp nơi. Một lát sau, thấy lưng Trương Vô Kỵ động đậy, chàng từ từ ngồi dậy, nhưng cánh tay chống lên được một thước thì đột nhiên không nhịn nổi, mồm phun ra một ngụm máu to, lại nằm gục xuống. Chàng nửa mê nửa tỉnh, nằm bất động, song vẫn nhớ là mình còn phải chịu một chưởng nữa mới cứu sống được giáo chúng Nhuệ Kim kỳ.

Chàng hít một hơi dài, cuối cùng cũng ngồi dậy được; nhưng thân hình run lẩy bẩy, có thể gục xuống bất cứ lúc nào. Mọi người nín thở đứng trông. Tuy xung quanh có đến vài trăm người, nhưng tất cả im phăng phắc, tưởng chừng một cái kim rơi xuống đất cũng nghe thấy được.

Trong khoảnh khắc yên tĩnh ấy, Trương Vô Kỵ chợt nhớ mấy câu trong Cửu dương chân kinh:

Dẫu rằng người có hung hăng,

Chẳng qua gió nhẹ thoảng ngang núi này.

Dẫu rằng người có bài bây,

Chẳng qua trăng sáng dãi đầy trường giang.

Hồi ở thung lũng hoang sơn đọc mấy câu ấy, chàng chưa hiểu ý nghĩa của chúng; lúc này chàng chợt nghĩ ra, dù cho Diệt Tuyệt sư thái hung hăng tàn ác đến mấy, chàng vẫn cứ coi như không. Chiếu theo yếu nghĩa của Cửu dương chân kinh, dù kẻ địch có hùng mạnh đến mấy, hung ác đến mấy, cũng hãy coi đó như gió mát thoảng qua núi, trăng sáng chiếu trên sông, dù có chạm vào thân thể ta thì cũng không thể gây tổn thương chút nào.

Nhưng phải làm thế nào để thân thể ta không bị tổn thương? Đoạn kinh tiếp theo viết:

Dẫu người hung ác tới đâu,

Cốt sao chân khí ta sâu, đủ rồi.

Chàng nghĩ tới đây, trong lòng liền vỡ lẽ, bèn ngồi xếp bằng dựa theo cách nói trong kinh văn mà điều hòa hơi thở. Chỉ cảm thấy từ đan điền có luồng khí ấm trào dâng, trong giây lát chân khí lưu động toàn thân, tới từng thớ thịt, từng đốt xương. Đại uy lực của Cửu dương thần công lúc này mới hiển lộ. Ngoại thương của chàng tuy nặng, máu hộc ra cả bát, nhưng chân khí nội lực không bị tiêu hao chút nào.

Diệt Tuyệt sư thái nhìn chàng vận khí trị thương, trong bụng không khỏi kinh ngạc, thấy chàng thanh niên này quả có khả năng phi thường. Chưởng thứ nhất bà ta đánh chàng là một chiêu trong" Phiêu tuyết xuyên vân chưởng "[74] . Chưởng thứ hai lợi hại hơn, là thức thứ ba của" Tiệt thủ cửu thức "[75], đều là tinh hoa của chưởng pháp phái Nga Mi. Chưởng thứ nhất bà ta dùng ba thành kình lực, chưởng thứ hai, bà ta tăng lực đạo lên tới bảy thành, nghĩ rằng nếu chưa đánh chàng chết tươi tại trận thì tối thiểu cũng làm gãy xương đứt gân, hoàn toàn tàn phế, bại liệt. Nào ngờ chàng chỉ nằm phủ phục một lát, lại ngồi dậy được, quả là ngoài mọi dự liệu của bà ta.

Theo quy củ tỷ thí trong võ lâm, Diệt Tuyệt sư thái không cần phải chờ chàng vận khí trị thương; nhưng bà ta tự trọng thân phận, không muốn lợi dụng cơ hội đối phương đang lâm nguy, ra tay đánh một kẻ thuộc hàng hậu bối.

Đinh Mẫn Quân lớn tiếng:

– Này gã họ Tăng kia, nếu ngươi không dám tiếp thêm chưởng thứ ba của sư phụ ta thì hãy mau xéo đi cho rảnh mắt. Ngươi cứ ngồi ỳ đó dưỡng thương, không lẽ bọn ta cũng phải đứng chờ ngươi hay sao?

Chu Chỉ Nhược nhỏ nhẹ khuyên:

– Đinh sư tỷ, cho y nghỉ thêm một lát, cũng chẳng đáng gì.

Đinh Mẫn Quân giận dữ nói:

– Ngươi.. ngươi lại đi bênh người ngoài, có phải thấy gã tiểu tử này..

Y thị vốn định nói" có phải thấy gã tiểu tử này anh tuấn, nên đã phải lòng hắn chăng? "Nhưng chợt nghĩ ở đây có không ít cao nhân danh tiếng của các môn phái, những lời thô lậu như thế chẳng thể nói ra, nên đành bỏ lửng giữa chừng. Song ý tứ của y thị thế nào, người xung quanh làm gì chẳng hiểu? Nửa câu sau có nói hay không cũng vậy thôi.

Chu Chỉ Nhược vừa thẹn vừa lo, mặt tái đi, nhưng không cãi lại, chỉ thủng thẳng nói:

– Tiểu muội chẳng qua nghĩ đến uy danh của bản môn và sư tôn, không muốn người ngoài nói ra nói vào.

Đinh Mẫn Quân ngạc nhiên hỏi:

– Nói ra nói vào cái gì?

Chu Chỉ Nhược nói:

– Võ công bản môn dương danh thiên hạ, sư phụ là cao nhân tiền bối số một số hai thời nay, đâu thèm chấp một tiểu tử hậu sinh. Chẳng qua thấy y cả gan cuồng vọng, nên mới ra tay giáo huấn y một phen, chứ đâu có ý định giết y? Danh tiếng hiệp nghĩa của bản môn đã có cả trăm năm nay, sư tôn nhân hậu độ lượng, ai chẳng kính phục? Con đom đóm trẻ tuổi kia làm sao tranh sáng được với hai vầng nhật nguyệt? Dù y có luyện thêm trăm năm nữa, cũng chẳng phải là đối thủ của sư tôn chúng ta, y có dưỡng thương thêm một lúc, cũng chả bõ bèn gì.

Câu nói đó khiến ai nghe cũng thầm gật đầu. Diệt Tuyệt sư thái lại càng hoan hỉ khi thấy nữ đệ tử nhỏ tuổi này hiểu biết, làm rạng rỡ bản môn trước mắt cao thủ các môn phái.

Chân khí trong cơ thể Trương Vô Kỵ vừa lưu chuyển, tinh thần liền trở lại minh mẫn, nghe rõ từng lời của Chu Chỉ Nhược, hiểu rằng nàng muốn giúp mình, nên nói chặn trước, để Diệt Tuyệt sư thái không tiện hạ độc thủ. Chàng không khỏi cảm kích, đứng dậy, nói:

– Sư thái, vãn bối xả mệnh bồi quân tử, xin tiếp một chưởng nữa.

Diệt Tuyệt sư thái thấy chàng chỉ ngồi xếp bằng một lát mà tinh thần đã phấn chấn trở lại, nghĩ thầm:" Gã tiểu tử này nội lực thâm hậu như thế, quả là tà môn ", nói:

– Sao ngươi không ra tay đánh ta? Ai bảo ngươi chỉ chịu đòn mà không trả đòn?

Trương Vô Kỵ nói:

– Chút công phu thô lậu của vãn bối, đến cái mép áo của sư thái còn không động tới được, nói chi trả đòn?

Diệt Tuyệt sư thái nói:

– Ngươi đã tự biết thân biết phận như thế, sao không sớm tránh ra. Ngươi còn trẻ mà có chí khí như vậy, kể cũng hiếm gặp. Diệt Tuyệt sư thái ta lâu nay chưa từng tha cho ai, hôm nay ta phá lệ tha cho ngươi đó.

Trương Vô Kỵ cúi mình nói:

– Đa tạ tiền bối, các vị đại ca của Nhuệ Kim kỳ kia cũng được tha luôn chứ?

Cặp đuôi lông mày dài của Diệt Tuyệt sư thái càng xuôi xuống, bà ta lạnh lùng hỏi:

– Pháp danh của ta là gì, ngươi biết chứ?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Tôn danh của tiền bối là trước" Diệt "sau" Tuyệt ".

Diệt Tuyệt sư thái nói:

– Ngươi biết thế là tốt. Yêu ma tà đồ, ta quyết giết hết sạch, không chứa một mống, chẳng lẽ hai chữ" Diệt Tuyệt "chỉ để gọi suông thôi ư?

Trương Vô Kỵ nói:

– Đã vậy, mời tiền bối đánh chưởng thứ ba.

Diệt Tuyệt sư thái nhìn nghiêng, một thiếu niên cứng cổ, ngoan cường như thế này, cả đời bà ta chưa từng gặp; bà ta vốn lạnh lùng, nhưng lúc này đột nhiên thấy nên quý chuộng tài năng, nghĩ thầm:" Chưởng thứ ba ta đánh ra, thể nào y cũng mất mạng. Y không phải hạng người yêu tà, còn ít tuổi mà đã chết thì thật uổng! "Bà ta định bụng chưởng thứ ba này sẽ đánh vào yếu huyệt ở đan điền, vận nội lực xoáy vào huyệt khiến cho chàng lập tức bế khí bất tỉnh, đợi sau khi giết hết đám Ma giáo Nhuệ Kim kỳ sẽ cứu chàng tỉnh lại.

Diệt Tuyệt sư thái phất tay áo trái, chưởng thứ ba toan đánh ra, bỗng có người nói lớn:

– Diệt Tuyệt sư thái, chưởng hạ lưu nhân!

Tám tiếng đó ai nấy nghe chói buốt cả tai, tựa hồ kim chọc vào tai vậy.

Chỉ thấy từ góc tây bắc có một bạch y nam tử tay cầm quạt, đi xuyên qua đoàn người, đi nhanh mà không cuốn bụi, đi trên cát mà như lướt trên mặt nước. Vạt áo bên trái người ấy thêu một con chim ưng nho nhỏ màu đen, đang dang rộng đôi cánh. Mọi người vừa nhìn, biết ngay đó là nhân vật cao thủ trong Thiên Ưng giáo. Bởi vì y phục của Minh giáo và Thiên Ưng giáo giống nhau, chỉ khác là trên áo của Minh giáo thêu ngọn lửa đỏ, còn áo của Thiên Ưng giáo thêu con chim ưng đen.

Người kia tới cách Diệt Tuyệt sư thái chừng ba trượng, chắp tay, nói:

– Xin phép sư thái, chưởng thứ ba ấy hãy để tại hạ chịu thay, có được chăng?

Diệt Tuyệt sư thái hỏi:

– Ngươi là ai?

Người kia đáp:

– Tại hạ họ Ân, thảo tự Dã Vương.

Ba tiếng Ân Dã Vương lập tức khiến tất cả mọi người xôn xao. Tên tuổi của Ân Dã Vương đã lừng lẫy trên giang hồ hai chục năm nay, trong võ lâm nhiều người bảo võ công của Ân Dã Vương cao siêu hầu như không thua kém gì phụ thân Bạch Mi Ưng Vương Ân Thiên Chính. Ân Dã Vương là đường chủ Thiên Vi đường của Thiên Ưng giáo, chỉ dưới quyền giáo chủ mà thôi.

Diệt Tuyệt sư thái thấy người kia trạc tứ tuần, cặp mắt như hai tia chớp rọi ra tứ phía, khí thế ghê gớm, biết là chẳng thể coi thường, huống hồ bà ta cũng từng nghe tên tuổi, nên lạnh lùng nói:

– Tên tiểu tử kia là thế nào với ngươi, mà ngươi muốn thay hắn tiếp chưởng của ta?

Trương Vô Kỵ thầm kêu lên:" Người ấy là cậu ruột ta, cậu ruột của ta đây rồi, không lẽ cậu đã nhận ra ta? "

Ân Dã Vương cười ha hả, nói:

– Tại hạ vốn chẳng biết y là ai cả, chẳng qua thấy y tuổi còn nhỏ, song lại rất cứng đầu, không giống bọn giả nhân giả nghĩa hám danh chuộng tiếng trong võ lâm, thấy thích y nên muốn đứng ra lĩnh giáo công lực của sư thái, như thế được chưa?

Câu cuối cùng nói ra chẳng còn vẻ khách khí nữa, tựa hồ không coi Diệt Tuyệt sư thái là cái thá gì.

Diệt Tuyệt sư thái lại không hề tức giận, nói với Trương Vô Kỵ:

– Tiểu tử, nếu ngươi còn muốn sống thêm vài năm, lúc này chạy đi vẫn còn kịp.

Trương Vô Kỵ nói:

– Vãn bối không dám tham sống mà quên nghĩa khí.

Diệt Tuyệt sư thái gật đầu, quay sang nói với Ân Dã Vương:

– Tiểu tử kia còn nợ ta một chưởng, để ta và hắn thanh toán xong xuôi, ta sẽ không để các hạ phải thất vọng đâu.

Ân Dã Vương cười hắc hắc, nói:

– Diệt Tuyệt sư thái, có giỏi cứ thử giết gã thiếu niên kia ta coi. Y mà chết, ta cũng sẽ cho bọn ngươi chết không có đất mà chôn.

Nói xong, Ân Dã Vương lùi về, lướt qua đám người, miệng quát:

– Hiện thân!

Đột nhiên từ dưới cát vô số đầu người đội cát nhô lên, mỗi người một cái khiên che phía trước, ai nấy giương cung tên chĩa thẳng vào bọn người chính phái. Thì ra giáo chúng Thiên Ưng giáo đã đào địa đạo, vây kín người các môn phái lại từ lúc nào rồi.

Mọi người chăm chú xem cảnh Diệt Tuyệt sư thái và Trương Vô Kỵ đối chưởng, đâu ai để ý chuyện bên ngoài. Dẫu khôn ngoan như Tống Thanh Thư cũng chỉ biết đề phòng giáo chúng Thiên Ưng giáo bất ngờ xông vào tấn công, chứ đâu thể ngờ họ lại lợi dụng cát mềm, đào địa đạo, chiếm lĩnh hết các địa hình thuận lợi. Chuyện xảy ra như thế khiến ai nấy tái mặt, lại thấy các đầu mũi tên lấp lánh màu xanh dưới ánh nắng, hẳn là có tẩm thuốc độc. Chỉ cần Ân Dã Vương hạ lệnh, trừ một vài vị võ công cao siêu nhất của các phái, hết thảy mọi người còn lại e rằng không một ai sống sót.

Trong năm phái ở đây, nói về tư cách và tuổi tác thì Diệt Tuyệt sư thái cao hơn hết, nên tất cả mọi người đều nhìn bà ta chờ ra quyết định.

Diệt Tuyệt sư thái là người cực kỳ cố chấp, tuy thấy tình thế biến chuyển nguy hiểm nhưng vẫn không động tâm chút nào, nói với Trương Vô Kỵ:

– Tiểu tử, ngươi chỉ còn cách oán trách số mệnh ngươi chẳng ra gì mà thôi!

Đột nhiên xương cốt toàn thân bà ta phát ra những tiếng lép bép lách tách nho nhỏ như tiếng ngô rang nở. Tiếng đó chưa dứt, hữu chưởng đã nhắm ngực Trương Vô Kỵ mà đánh tới.

Chưởng này là tuyệt học của phái Nga Mi, gọi là" Phật quang phổ chiếu "[76] . Dù là chưởng pháp hay kiếm pháp, bao giờ các chiêu cũng liên tiếp nối với nhau thành bài bản, nhiều thì vài trăm chiêu, ít cũng dăm ba thức, thậm chí dù chỉ dăm ba thức nhưng mỗi thức cũng ẩn tàng sự biến hóa, một thức ẩn giấu hai ba, thậm chí tới mười chiêu. Riêng chưởng pháp" Phật quang phổ chiếu "chỉ có một chiêu và chiêu này cũng không hề có biến hóa. Một chiêu đánh ra, trúng ngực kẻ địch hay trúng lưng cũng được, trúng vai cũng được, trúng mặt cũng được, chiêu thức hết sức bình thường, nhất thành bất biến, nhưng uy lực hoàn toàn dựa vào Cửu dương công của phái Nga Mi.

Chưởng này đã đánh ra, đối phương không thể chống đỡ, cũng không thể né tránh. Trong phái Nga Mi hiện nay, ngoài Diệt Tuyệt sư thái, không người thứ hai biết sử dụng. Bà ta vốn chỉ định đánh vào đan điền của Trương Vô Kỵ, làm cho chàng bất tỉnh thôi. Nhưng sau lời đe dọa của Ân Dã Vương, nếu bà ta nương tay cũng chẳng ai nghĩ là bà ta khoan dung, lại cho rằng bà ta tham sống sợ chết, quỳ gối đầu hàng địch nhân. Thành thử chiêu này bà ta phải sử dụng toàn lực, không nương nhẹ gì nữa.

Trương Vô Kỵ thấy trước khi chưởng của bà ta đánh tới, xương cốt đối phương kêu lép bép, biết rằng chưởng này sẽ vô cùng ghê gớm, sự sống chết mất còn của chàng là ở giây phút này đây, làm sao dám khinh suất? Trong sát-na ấy, chàng chỉ còn nhớ hai câu trong" Cửu dương chân kinh ":

Dẫu người hung ác tới đâu

Chỉ cần chân khí ta sâu, đủ rồi.

Chàng hoàn toàn không nghĩ tới việc chống đỡ, chỉ vận chân khí tập trung ở vùng ngực bụng.

Chỉ nghe" bình "một tiếng lớn, Diệt Tuyệt sư thái đã đánh trúng ngay giữa ngực chàng.

Mọi người xung quanh cùng kêu lên hốt hoảng, đoán rằng toàn thân Trương Vô Kỵ xương cốt đã gãy nát, không chừng thân hình chàng còn bị đòn bài sơn đảo hải này đánh đứt đôi rồi cũng nên. Nào ngờ sau khi trúng chưởng rồi mà Trương Vô Kỵ vẫn đứng thản nhiên như không, vẻ mặt thư thái; còn Diệt Tuyệt sư thái mặt xám như tro, bàn tay run rẩy.

Thì ra chiêu" Phật quang phổ chiếu "vừa rồi của Diệt Tuyệt sư thái hoàn toàn dựa vào Cửu dương công của phái Nga Mi, trong khi Trương Vô Kỵ tu luyện lại chính là Cửu dương thần công. Cửu dương công của phái Nga Mi là do năm xưa Quách Tương nghe Giác Viễn tụng Cửu dương chân kinh mà nhớ được vài phần rồi chế thành, uy lực làm sao sánh nổi nguyên bản Cửu dương thần công. Tuy uy lực nội công hai môn có lớn nhỏ, song bản chất là cùng một gốc, Cửu dương công của phái Nga Mi đụng phải Cửu dương thần công thì khác nào sông chảy vào biển, như nước pha vào sữa, tức khắc không còn tăm hơi gì nữa.

Chưởng thứ nhất Diệt Tuyệt sư thái đánh Trương Vô Kỵ là" Phiêu tuyết xuyên vân chưởng ", chưởng thứ hai là" Tiệt thủ cửu thức ", đều không thuộc về Cửu dương thần công, nên khi đánh trúng Trương Vô Kỵ đã làm cho chàng thụ thương thổ huyết.

Đạo lý bên trong đó, bấy giờ không ai hiểu nổi. Trương Vô Kỵ dĩ nhiên hoang mang chẳng biết gì. Diệt Tuyệt sư thái tuy kiến thức sâu rộng nhưng cũng chỉ nghĩ rằng gã tiểu tử này nội công thâm hậu, mình không đả thương nổi hắn thôi. Còn mấy trăm người vây quanh, vòng trong vòng ngoài, trừ bản thân Diệt Tuyệt sư thái ra, ai ai cũng nghĩ bà ta nhẹ tay; phần vì thương Trương Vô Kỵ có ý chí ngoan cường, phần vì bà ta nghĩ tới đại cục, không muốn để cho Thiên Ưng giáo bắn tên tẩm độc hạ sát người của cả năm phái, phần khác cũng có thể do bà ta nhát gan, đành khuất phục trước lời đe dọa của Ân Dã Vương.

Trương Vô Kỵ vái một cái, nói:

– Đa tạ tiền bối chưởng hạ lưu tình!

Diệt Tuyệt sư thái hừ một tiếng, vẻ ngượng ngùng, lúc đầu đã nói rõ là chỉ đánh ba chưởng, nên không thể đánh thêm; nhưng nếu đến đây lại thôi thì hóa ra bà ta phải đầu hàng Thiên Ưng giáo, thật là mối sỉ nhục quá lớn.

Trong lúc bà ta còn đang phân vân, Ân Dã Vương đã cười ha hả, nói:

– Ngươi thức thời là kẻ tuấn kiệt, Diệt Tuyệt sư thái không hổ là cao nhân thời nay.

Rồi hạ lệnh:

– Triệt bỏ cung tên!

Các giáo đồ Thiên Ưng giáo lập tức lùi ra xa, một hàng cầm khiên, một hàng cầm cung tên, đứng thật chỉnh tề, xem ra Ân Dã Vương huấn luyện binh pháp cho giáo chúng nên tiến thoái công thủ đều rất có bài bản.

Diệt Tuyệt sư thái mặt mày xám ngoét, lại không biết trần tình ra sao với mọi người, chẳng lẽ lại bảo chưởng của mình vừa đánh không hề lưu tình? Ai ai cũng thấy bà ta mới đánh nhẹ hai chưởng mà Trương Vô Kỵ đã trọng thương, hộc máu mồm máu mũi; thế mà Ân Dã Vương vừa dọa vài câu, chưởng thứ ba bà đánh ra làm như ghê gớm lắm, song lại chẳng dồn vào đó mảy may sức lực. Dẫu bà ta có ra sức giãi bày, mọi người cũng sẽ chẳng ai tin, huống hồ trước nay bà ta vốn quen cao ngạo, không lẽ lại hạ mình xin mọi người hãy tin mình? Bà ta hậm hực nhìn Trương Vô Kỵ, rồi lớn tiếng nói với Ân Dã Vương:

– Ân Dã Vương, ngươi muốn thử chưởng lực của ta thì hãy lại đây.

Ân Dã Vương chắp tay, nói:

– Hôm nay được sư thái dành cho chút tình, đâu dám đắc tội thêm, hẹn ngày sau có dịp gặp lại.

Diệt Tuyệt sư thái phất tay trái một cái, không nói gì nữa, dẫn các đệ tử đi về hướng tây. Người các phái Côn Luân, Hoa Sơn, Không Động, cùng Ân Lê Đình và Tống Thanh Thư cũng đi theo.

*

* *

Thù Nhi hai chân còn chưa đi nổi, vội gọi:

– A Ngưu ca, mau đưa muội chạy theo họ.

Trương Vô Kỵ muốn cùng Ân Dã Vương nói vài lời, bèn nói:

– Đợi một chút!

Chàng đi tới gần Ân Dã Vương, nói:

– Đại đức ra tay trợ giúp của tiền bối, vãn bối không bao giờ dám quên.

Ân Dã Vương cầm tay chàng, nhìn chàng đánh giá một hồi, rồi hỏi:

– Ngươi họ Tăng ư?

Trương Vô Kỵ chỉ muốn sà vào lòng ông, gọi" Cậu ơi, cậu ơi! "Nhưng phải kìm lòng lại, hai mắt bỗng rưng rưng. Người đời có câu" Thấy cậu như thấy mẹ ", chàng từ nhỏ đã mồ côi cả cha lẫn mẹ, Ân Dã Vương là thân nhân mười mấy năm nay mới gặp lần đầu, bảo làm sao chàng không xúc động?

Ân Dã Vương thấy ánh mắt chàng trai đối với ông đầy vẻ thân thiết, lại nghĩ là chàng cảm ân cứu mạng nên cũng không để tâm, đưa mắt sang phía Thù Nhi ngồi dưới cát, cười nhạt một tiếng, nói:

– A Ly, ngươi đó ư?

Thù Nhi ngẩng đầu lên, đôi mắt đầy vẻ oán hận, rồi lại cúi xuống, lát sau mới nói:

– Cha!

Tiếng" Cha "vừa thốt ra, Trương Vô Kỵ vô cùng kinh ngạc, bao nhiêu ý nghĩ hiện ra trong đầu, trong giây lát chàng đã hiểu ra rất nhiều chuyện:" Thì ra Thù Nhi là con gái của cậu mình, vậy nàng là biểu muội của mình. Nàng giết bà vợ lẽ của cha, dẫn tới cái chết của mẹ nàng, lại từng nói cha nàng mà gặp nàng sẽ giết ngay.. Ôi, nàng dùng Thiên thù vạn độc thủ đả thương Ân Vô Lộc, chắc là vì mấy gia nhân đó đã về hùa với chủ nhân đối xử không tốt với hai mẹ con nàng. Ân Vô Phúc, Ân Vô Thọ tuy rất thống hận, nhưng không dám động thủ với nàng, chỉ nói 'Thì ra là Tam tiểu thư', rồi dìu Ân Vô Lộc chạy đi ".

Chàng quay lại nhìn Thù Nhi, chợt nhớ:" Thảo nào mình thấy nàng rất giống mẹ mình, thì ra nàng với ta có tình huyết nhục, mẹ mình chính là cô ruột của nàng ".

Ân Dã Vương cười khẩy, nói:

– Mi còn biết gọi ta là cha sao? Ta chỉ biết mi đi theo Kim Hoa bà bà, không thèm biết đến Thiên Ưng giáo nữa. Thật chẳng ra gì, mi giống hệt mẹ mi, lại đi luyện 'Thiên thù vạn độc thủ'. Hừ, mi thử soi gương xem mi đã thành cái giống gì. Nhà họ Ân ta lẽ đâu lại có đứa con gái nửa người nửa quỷ như mi?

Thù Nhi vốn sợ run toàn thân, đột nhiên quay đầu lại, nhìn chằm chằm vào mặt cha, xẵng giọng:

– Cha! Cha không nhắc đến chuyện cũ thì con cũng chẳng nói làm gì. Nhưng cha đã nói, vậy giờ con hỏi cha, mẹ con đã lấy cha rồi, vì cớ gì cha lại còn lấy thêm tiểu thiếp?

Ân Dã Vương ấp úng:

– Chuyện đó.. chuyện đó.. con nhãi ranh, nam tử hán đại trượng phu, ai chẳng năm thê bảy thiếp? Mi ngỗ nghịch bất hiếu, hôm nay có cãi cũng bằng thừa. Thiên Ưng giáo ta không coi Kim Hoa bà bà, Ngân Diệp tiên sinh là cái thá gì hết!

Ông khoát tay một cái, nói với Ân Vô Phúc và Ân Vô Thọ:

– Xách cổ con nhãi này về.

Trương Vô Kỵ giơ hai tay ngăn lại:

– Khoan đã! Ân.. Ân tiền bối, tiền bối định bắt Ân cô nương làm gì?

Ân Dã Vương nói:

– Con a đầu này là đứa con bất hiếu của ta, nó đã giết mẹ kế, hại mẹ đẻ, so với loài cầm thú cũng không bằng, còn để cho sống làm gì?

Trương Vô Kỵ nói:

– Bấy giờ Ân cô nương còn nhỏ, thấy mẹ mình bị người ta khinh rẻ, nhất thời không nhịn được nên mới gây ra chuyện sai trái, cúi mong tiền bối nghĩ tình cha con, trách phạt nhẹ tay cho.

Ân Dã Vương ngửa mặt lên cười ha hả:

– Hảo tiểu tử, ngươi rốt cuộc là ai mà chuyện gì trong thiên hạ cũng xen vào thế? Ngay cả chuyện riêng nhà họ Ân ta, ngươi cũng muốn can dự ư? Hay ngươi là" võ lâm chí tôn "?

Trương Vô Kỵ xúc động, đã định nói:" Tôi chính là cháu ruột của cậu, đâu phải người ngoài ", nhưng nén lại được.

Ân Dã Vương cười, nói tiếp:

– Tiểu tử, từ rày ngươi phải biết giữ thân, nếu cứ lo chuyện bao đồng trong giang hồ, dẫu có đến mười cái mạng cũng không đủ đâu.

Nói rồi phất tay trái một cái. Ân Vô Phúc, Ân Vô Thọ liền bước tới nắm lấy Thù Nhi kéo về phía sau Ân Dã Vương.

Trương Vô Kỵ biết rằng một khi Thù Nhi rơi vào tay cha nàng thì tính mạng khó bề toàn vẹn, bèn xông tới toan cướp lại. Ân Dã Vương cau mày, tay trái thộp lấy ngực áo hất nhẹ ra ngoài; Trương Vô Kỵ thân hình bay như đằng vân giá vụ, rồi nặng nề rơi phịch xuống bãi cát vàng. Chàng có Cửu dương thần công hộ thể, tuy không bị thương nhưng khi rơi xuống, tai mắt mồm mũi toàn cát là cát, hết sức khó chịu. Chàng chưa chịu thôi, lại nhổm dậy xông tới.

Ân Dã Vương cười khẩy, nói:

– Tiểu tử, lần thứ nhất ta nhẹ tay, lần thứ hai sẽ không nể nang gì đâu.

Trương Vô Kỵ khẩn cầu:

– Ân.. cô nương là con ruột của tiền bối kia mà, hồi nàng còn thơ, tiền bối đã từng bế, từng thơm, xin tiền bối hãy tha cho nàng!

Ân Dã Vương chợt động tâm, quay nhìn Thù Nhi, thấy mặt mũi con sưng vều, càng thêm chán ghét, bèn quát:

– Tránh ra!

Trương Vô Kỵ cứ xông vào để cướp lấy Thù Nhi. Thù Nhi nói:

– A Ngưu ca, đừng lo cho muội nữa. Muội sẽ mãi mãi ghi nhớ lòng tốt của ca ca. Ca ca mau chạy đi, ca ca không chống cự nổi cha muội đâu!

Ngay lúc đó, từ dưới cát có một người áo xanh trồi lên, hai tay vươn dài, thộp gáy Ân Vô Phúc, Ân Vô Thọ hai người, dập lại một cái, trán hai người ấy đập mạnh vào nhau, cả hai lập tức ngất đi. Người kia ôm lấy Thù Nhi mà phóng đi. Ân Dã Vương giận dữ quát to:

– Vi Bức Vương, ngươi cũng lo chuyện bao đồng ư?

Thanh Dực Bức Vương Vi Nhất Tiếu cười một tràng, ôm Thù Nhi chạy về phía trước, tên y là" Nhất Tiếu ", tiếng cười của y liên miên bất tuyệt, có thể nói là bách tiếu, thiên tiếu. Ân Dã Vương và Trương Vô Kỵ cùng cất bước đuổi theo.

Lần này Vi Nhất Tiếu không chạy vòng quanh nữa, mà lao thẳng về hướng tây nam. Thân pháp y cực nhanh, thật ngoài sức tưởng tượng. Ân Dã Vương nội lực thâm hậu, khinh công cao siêu, Trương Vô Kỵ chân khí lưu chuyển trong cơ thể, càng chạy càng nhanh, song Vi Nhất Tiếu vẫn nhanh hơn. Thoạt đầu hai người chỉ cách y vài trượng, dần dần thành ra hơn mười trượng, hai chục trượng, ba chục trượng.. sau cùng không còn thấy hình bóng y đâu nữa.

Ân Dã Vương giận dữ cười khẩy, thấy Trương Vô Kỵ trước sau vẫn chạy ngang vai với mình, không chịu thua nửa bước, thì trong bụng thầm kinh ngạc, lúc này biết rằng không còn cách gì đuổi kịp Vi Nhất Tiếu, song lại muốn thử xem cước lực của gã thiếu niên này thế nào. Ông ta gia tăng kình lực xuống chân, thân hình như mũi tên rời khỏi cung, bắn vọt về phía trước, nhưng thấy Trương Vô Kỵ vẫn cứ sánh vai mình mà chạy, chẳng tụt lại chút nào. Ân Dã Vương nghe chàng nói:

– Ân tiền bối, Vi Nhất Tiếu tuy chạy nhanh thật, nhưng chắc gì đã bền hơi, mình cứ đuổi theo đến cùng xem sao.

Ân Dã Vương giật mình, đứng ngay lại, tự nhủ:" Ta thi triển khinh công như vậy là đã hết sức bình sinh, đừng nói mở miệng trò chuyện, ngay thở hụt một hơi cũng chẳng xong; vậy mà tiểu tử này vẫn nói năng như thường, chân không chậm lại chút nào, là thứ công phu gì chứ? "Ông ta vừa dừng bước, Trương Vô Kỵ đã vọt xa mấy trượng, vội quay đầu chạy trở lại bên cạnh Ân Dã Vương, chờ ông ta chỉ dẫn.

Ân Dã Vương nói:

– Tăng huynh đệ, sư phụ của huynh đệ là ai?

Trương Vô Kỵ vội nói:

– Ấy chết, xin lão nhân gia đừng gọi vãn bối là huynh đệ, vãn bối vào hàng con cháu, xin cứ gọi vãn bối là" A Ngưu "thôi. Vãn bối không có sư phụ.

Ân Dã Vương chợt nghĩ:" Tên tiểu tử này võ công vô cùng quái dị, để nó sống sẽ lưu hậu họa lớn, chi bằng xuất kỳ bất ý, giáng cho nó một chưởng chết tươi là hơn ".

Bỗng có tiếng tù và ốc biển lảnh lót từ rất xa vẳng tới, chính là tín hiệu báo động của Thiên Ưng giáo. Ân Dã Vương cau mày, nghĩ thầm:" Chắc là Hồng Thủy, Liệt Hỏa hai kỳ giận ta không cứu Nhuệ Kim kỳ, nên đến tấn công chăng? Nếu không thể một chưởng đánh chết tên tiểu tử này, ta đâu có thời gian đấu dằng dai với hắn? Chi bằng ta mượn dao giết người, đẩy y đến cho Vi Nhất Tiếu sát hại luôn ". Bbèn nói:

– Thiên Ưng giáo gặp địch rồi, ta phải quay về ứng phó. Ngươi hãy một mình đuổi theo Vi Nhất Tiếu. Kẻ đó nham hiểm hung ác, ngươi nên ra tay trước.

Trương Vô Kỵ nói:

– Vãn bối bản lĩnh thấp kém, làm sao đánh nổi ông ta? Kẻ nào tấn công Thiên Ưng giáo vậy?

Ân Dã Vương nghiêng đầu lắng nghe tiếng tù và, nói:

– Quả nhiên là Hồng Thủy, Liệt Hỏa, Hậu Thổ ba kỳ của Minh giáo đều tới rồi.

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Cùng là Minh giáo cả, sao các vị lại tàn sát lẫn nhau?

Ân Dã Vương sầm mặt lại, nói:

– Trẻ con thì hiểu gì, lại tính chuyện bao đồng!

Nói xong, ông ta quay người chạy đi.

*

* *

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm:" Thù Nhi rơi vào tay tên đại ác ma Vi Nhất Tiếu, nếu bị hắn cắn cổ hút máu, làm sao sống nổi? "Nghĩ thế, chàng nóng lòng sốt ruột vội hít mạnh một hơi, co chân chạy. Cũng may Vi Nhất Tiếu tuy khinh công rất giỏi, nhưng ôm thêm một người, không thể không để lại dấu chân rõ ràng trên cát. Trương Vô Kỵ định bụng:" Hắn dừng nghỉ, ta không dừng nghỉ; hắn nằm ngủ, ta không ngủ; chạy ba ngày ba đêm ắt phải đuổi kịp hắn ".

Dưới ánh nắng gay gắt trên sa mạc, chạy ba ngày đêm đâu phải chuyện dễ. Chàng chạy đến gần tối đã thấy miệng khô lưỡi đắng, mồ hôi đầm đìa khắp người. Nhưng cũng lạ thay, chân chàng không hề mỏi, chân khí Cửu dương thần công súc tích từng chút từng chút một trong cơ thể mấy năm qua bắt đầu phát huy tác dụng, càng sử dụng lực, tinh thần càng phấn chấn.

Đến một dòng suối, chàng uống no một bụng nước rồi lại chạy tiếp, cứ theo dấu chân của Vi Nhất Tiếu mà đuổi.

Chàng chạy đến nửa đêm, thấy trăng lên tới đỉnh đầu, chàng chợt cảm thấy sợ hãi, chỉ lo bỗng nhiên bắt gặp thi thể của Thù Nhi đã bị hút hết máu vứt đâu đây. Ngay lúc đó, chàng nghe hình như đằng sau có tiếng chân người, chàng quay lại nhìn, không thấy ai. Chàng không dám chần chừ thêm, lại chạy tiếp, nhưng liền nghe có tiếng chân ai lẽo đẽo theo sau.

Trương Vô Kỵ lạ lắm, quay lại nhìn lần nữa, vẫn không thấy ai. Nhìn kỹ hơn, trên sa mạc rõ ràng in hằn ba vết chân người, một vết của Vi Nhất Tiếu, một vết của chàng, còn vết thứ ba là của ai? Chàng quay lại nhìn lần nữa, đằng trước chỉ có một đường vết chân của Vi Nhất Tiếu, vậy là quả thực có kẻ đuổi theo chàng, tại sao không nhìn thấy đâu, chẳng lẽ người ấy có phép tàng hình hay sao?

Lòng đầy nghi hoặc, chàng chạy tiếp, lại nghe có tiếng chân người sau lưng.

Trương Vô Kỵ kêu lên:

– Ai đó?

Đằng sau có tiếng đáp:

– Ai đó?

Trương Vô Kỵ cả kinh, quát to:

– Ngươi là người hay là ma?

Tiếng phía sau cũng quát to:

– Ngươi là người hay là ma?

Trương Vô Kỵ quay phắt lại, lần này thấy sau lưng mình có bóng người thấp thoáng, mới biết là có người thân pháp cực nhanh kịp ẩn nấp sau lưng chàng, bèn hỏi to:

– Ngươi theo ta làm chi?

Người kia đáp:

– Ta theo ngươi để làm gì nào?

Trương Vô Kỵ cười, nói:

– Làm sao ta biết được? Ta không biết nên mới hỏi các hạ.

Người kia nói:

– Làm sao ta biết được? Ta không biết nên mới hỏi ngươi.

Trương Vô Kỵ nghĩ rằng người kia không có ác ý, y theo sau chàng đã lâu, nếu muốn ra tay sát hại thì chàng đã chẳng còn mạng nữa rồi, bèn hỏi:

– Các hạ tên gì?

Người kia đáp:

– Thuyết Bất Đắc[77] .

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Vì sao nói không được?

Người kia đáp:

– Thuyết Bất Đắc là Thuyết Bất Đắc, cần gì phải có lý do. Còn ngươi tên gì?

Trương Vô Kỵ nói:

– Tại hạ là Tăng A Ngưu.

Người kia hỏi:

– Vì sao đêm hôm khuya khoắt ngươi lại cứ chạy loạn lên như kẻ khùng vậy?

Trương Vô Kỵ biết đây là một dị nhân thân mang tuyệt kỹ, bèn nói:

– Một bằng hữu của tại hạ bị Thanh Dực Bức Vương bắt đi, tại hạ phải cứu về.

Người kia nói:

– Ngươi cứu chẳng nổi đâu.

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Vì sao?

Người kia đáp:

– Thanh Dực Bức Vương võ công cao hơn ngươi, ngươi đánh không lại y đâu.

Trương Vô Kỵ nói:

– Đánh không lại cũng cứ đánh.

Người kia nói:

– Giỏi lắm, ngươi quả có chí khí! Bằng hữu của ngươi là một cô nương chứ gì?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Đúng thế. Tại sao các hạ biết?

Người kia nói:

– Nếu không phải là một cô nương, thì một thiếu niên đâu có liều mạng đuổi theo như thế. Đẹp lắm hả?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Không, rất xấu xí!

Người kia hỏi:

– Thế còn ngươi, có xấu không?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Các hạ đến trước mặt tại hạ thì biết liền.

Người kia nói:

– Ta không cần nhìn. Thế cô nương ấy có biết võ công không?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Có, nàng là con gái của Ân Dã Vương tiền bối trong Thiên Ưng giáo, từng theo Kim Hoa bà bà ở đảo Linh Xà học võ.

Người kia nói:

– Ngươi đừng đuổi theo nữa, Vi Nhất Tiếu bắt được nàng ta rồi, chẳng chịu thả ra đâu.

Trương Vô Kỵ lại hỏi vì sao.

Người kia hừ một tiếng, đáp:

– Ngươi ngốc lắm, không chịu suy nghĩ gì cả. Ân Dã Vương là người thế nào với Ân Thiên Chính?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Họ là hai cha con.

Người kia nói:

– Bạch Mi Ưng Vương và Thanh Dực Bức Vương, võ công ai cao hơn?

Trương Vô Kỵ nói:

– Tại hạ không biết. Xin tiền bối cho hay, ai cao hơn?

Người kia nói:

– Mỗi người có sở trường riêng. Thế lực của hai người thì ai mạnh hơn?

Trương Vô Kỵ nói:

– Bạch Mi Ưng Vương Ân Thiên Chính là giáo chủ Thiên Ưng giáo, chắc thế lực mạnh hơn.

Người kia nói:

– Đúng vậy. Do đó, một khi Thanh Dực Bức Vương bắt được cháu gái của Ân Thiên Chính, là một món hàng đắt giá, đâu chịu trả lại, thể nào y chẳng dùng để uy hiếp Ân Thiên Chính.

Trương Vô Kỵ lắc đầu:

– E rằng không phải thế. Ân Dã Vương tiền bối chỉ chăm chăm muốn giết con gái mình thôi.

Người kia lấy làm lạ, hỏi:

– Vì sao vậy?

Trương Vô Kỵ liền đem chuyện Thù Nhi giết ái thiếp của Ân Dã Vương, dẫn đến chỗ mẹ nàng phải chết, kể lại sơ qua. Người kia nghe xong, tấm tắc khen:

– Giỏi thật, giỏi thật, quả là mỹ chất lương tài[78] !

Trương Vô Kỵ ngạc nhiên, hỏi:

– Cái gì mà mỹ chất lương tài?

Người kia nói:

– Tuổi còn nhỏ như thế mà đã dám giết ái thiếp của cha, hại chết cả mẹ ruột, lại được Kim Hoa bà bà ở đảo Linh Xà dạy võ, ngay ta còn thích, Vi Nhất Tiếu nhất định sẽ nhận nàng ta làm đồ đệ.

Trương Vô Kỵ lo lắng hỏi:

– Sao các hạ lại biết?

Người kia nói:

– Vi Nhất Tiếu là hảo bằng hữu của ta, tâm tính y thế nào, ta đâu có lạ.

Trương Vô Kỵ thừ người ra, đột nhiên kêu to:

– Nguy rồi!

Đoạn chàng chạy như bay. Người kia vẫn bám sát chàng.

Trương Vô Kỵ vừa chạy, vừa hỏi:

– Tại sao các hạ cứ bám theo tại hạ thế?

Người kia đáp:

– Ta nổi tính hiếu kỳ, muốn xem trò vui. Còn ngươi đuổi theo Vi Nhất Tiếu để làm gì?

Trương Vô Kỵ nói:

– Thù Nhi vốn đã nhiễm một ít tà khí rồi, tại hạ nhất quyết không để cho nàng bái Vi Nhất Tiếu làm thầy, học cái môn ma quỷ hút máu người, đâu có gì tốt lành?

Người kia hỏi:

– Ngươi thích Thù Nhi lắm hả? Tại sao ngươi quan hoài đến nàng ta thế?

Trương Vô Kỵ thúc đẩy, đáp:

– Tại hạ cũng chẳng biết mình có thích hay không thích nàng ta, có điều là nàng ta.. nàng ta có nhiều nét giống mẫu thân của tại hạ.

Người kia nói:

– Ồ, thế ra mẹ ngươi xấu xí, chắc ngươi cũng khó coi lắm hả?

Trương Vô Kỵ vội nói:

– Mẫu thân của tại hạ rất đẹp, các hạ đừng nói nhăng nói cuội.

Người kia nói:

– Tiếc thật, tiếc thật!

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Tiếc cái gì thế?

Người kia nói:

– Ngươi là một thiếu niên can đảm, có chí khí, thật đáng quý, chỉ tiếc không lâu nữa sẽ bị hút hết máu tươi, thành cái xác khô!

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm:" Người này nói không sai, dù ta có đuổi kịp Vi Nhất Tiếu cũng chẳng cứu được Thù Nhi, chỉ khờ dại đem chính mình tới nộp mạng cho hắn mà thôi ". Chàng bèn nói:

– Tiền bối giúp vãn bối một tay có được chăng?

Người kia đáp:

– Không được! Thứ nhất, Vi Nhất Tiếu là hảo bằng hữu của ta; thứ hai, ta đánh cũng chẳng thắng y.

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Vi Nhất Tiếu đã là hảo bằng hữu của tiền bối, sao tiền bối không khuyên can ông ta?

Người kia thở dài:

– Khuyên đâu có được. Chính Vi Nhất Tiếu cũng đâu có muốn hút máu người, chẳng qua là việc bất đắc dĩ, thực là vô cùng khổ tâm.

Trương Vô Kỵ lấy làm lạ, hỏi:

– Việc bất đắc dĩ, nghĩa là thế nào?

Người kia nói:

– Vi Nhất Tiếu luyện nội công bị tẩu hỏa nhập ma, từ đó mỗi lần kích dẫn nội lực lại phải uống máu người, nếu không toàn thân sẽ bị lạnh run, chết cóng liền.

Trương Vô Kỵ trầm ngâm nói:

– Có lẽ ba mạch âm của y bị tổn thương chăng?

Người kia ngạc nhiên, hỏi:

– Ủa, ngươi cũng biết thế ư?

Trương Vô Kỵ nói:

– Là vãn bối đoán vậy thôi, nhưng không biết có đúng hay không.

Người kia nói:

– Ta đã ba lần vào núi Trường Bạch tìm bắt một con cóc lửa về chữa trị cho y, nhưng cả ba lần đều trở về tay không. Lần thứ nhất trông thấy con cóc lửa, cách hai trượng mà không bắt được. Hai lần sau thì chẳng thấy tăm hơi con cóc lửa nào cả. Chờ vụ này qua rồi, ta sẽ lại đi tìm một chuyến nữa.

Trương Vô Kỵ nói:

– Để vãn bối cùng đi với tiền bối. Được chăng?

Người kia nói:

– Ồ, ngươi đủ nội lực, nhưng khinh công quá kém, nói trắng ra là không có chút hỏa hầu nào, chuyện đó để sau hãy tính. À, mà ta hỏi ngươi, tại sao ngươi muốn giúp ta đi kiếm con cóc lửa?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Nếu bắt được cóc lửa, chẳng những trị khỏi bệnh cho Vi Nhất Tiếu mà còn cứu được bao nhiêu người khỏi bị hút máu. À này tiền bối, y chạy lâu thế rồi, kích dẫn nội lực, liệu y có hút luôn cả máu của Thù Nhi hay không?

Người kia ngẩn ra, nói:

– Cái đó không chừng! Dù y có ý định nhận Thù Nhi làm đồ đệ, nhưng lúc lạnh run lên, máu trong người đóng thành băng, lúc ấy chỉ e ngay cả con ruột y cũng..

Trương Vô Kỵ càng nghĩ càng lo, cố sức mà chạy. Người kia bỗng nói:

– Này, đằng sau ngươi có cái gì thế?

Trương Vô Kỵ ngoảnh lại nhìn, đột nhiên trước mắt tối om, toàn thân bị một cái gì rất lớn chụp vào, tiếp đó thân hình treo lơ lửng, hình như chàng bị người kia bỏ vào một cái túi rất lớn. Chàng vội dùng tay xé cái túi, nào ngờ cái túi bền chắc dị thường, sờ mãi không thấy đường chỉ khâu, chắc chắn may bằng một loại vải dày, không thể dùng tay xé rách.

Người kia ném cái túi xuống đất, cười ha hả, nói:

– Ngươi làm sao chui ra khỏi cái túi của ta, mới thực là giỏi.

Trương Vô Kỵ vận nội lực, hai tay đẩy mạnh ra, nhưng cái túi mềm nhũn, không dùng sức vào đâu được. Chàng giơ chân phải đạp mạnh, cái túi chỉ lồi ra phía ngoài một chút, dù chàng có chọc xé, kể cả húc đầu, lăn lộn cách chi, cái túi vẫn cứ trơ trơ. Người kia cười hỏi:

– Ngươi chịu chưa?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Chịu rồi.

Người kia vỗ một cái, qua lần vải trúng ngay vào mông Trương Vô Kỵ, cười nói:

– Tiểu tử, hãy ngoan ngoãn nằm trong cái túi Càn Khôn Nhất Khí của ta, đừng vùng vẫy. Ta sẽ đưa ngươi tới một nơi dễ chịu. Ngươi mà mở miệng nói một câu, để người ngoài hay biết, ta không cứu nổi ngươi đâu.

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Tiền bối đưa vãn bối đi đâu?

Người kia đáp:

– Ngươi đã chui vào trong cái túi Càn Khôn Nhất Khí của ta, ta muốn lấy mạng ngươi, ngươi đâu có chạy được? Chỉ cần ngươi đừng động đậy, đừng lên tiếng, thì sẽ có lợi cho ngươi.

Trương Vô Kỵ nghĩ lời nói đó quả không sai, nên không vùng vẫy nữa.

Người kia nói:

– Ngươi được nằm trong cái túi của ta là có phúc lắm đó.

Rồi người ấy vác cái túi lên vai mà chạy.

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Việc của Thù Nhi sẽ ra sao?

Người kia nói:

– Ta làm sao biết được? Ngươi còn lải nhải nữa, ta sẽ tống cổ ngươi ra khỏi cái túi này.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm:" Ông mà tống cổ tôi ra khỏi cái túi này thì còn gì hay bằng? "Song chàng không dám nói ra, chỉ cảm thấy cước bộ của người kia cực nhanh.

Người ấy chạy một mạch mấy canh giờ liền, Trương Vô Kỵ ở bên trong cái túi thấy nóng dần lên, biết rằng trời đã sáng, ánh nắng chiếu vào. Lát sau cảm thấy người kia chạy lên cao, hình như đang lên núi. Lại đi hơn hai canh giờ nữa, Trương Vô Kỵ thấy hơi lạnh, nghĩ thầm:" Hình như đã lên tới đỉnh núi cao có tuyết nên mới lạnh thế này". Đột nhiên thân hình chàng bay lên, chàng cả kinh, nhịn không nổi phải kêu lên.

Tiếng kêu chưa dứt, cảm thấy thân hình chựng lại, người kia đã chạm đất. Trương Vô Kỵ lúc này mới biết là người kia vừa vác cái túi nhảy đi. Có lẽ đây là đỉnh núi rất cao, vách đá cheo leo. Người kia vác chàng nhảy vọt như thế, đá núi có tuyết phủ rất trơn, chỉ sảy chân một cái là cả hai người sẽ tan xương nát thịt. Vừa nghĩ như thế thì người kia lại nhảy vọt đi, cứ thế nhảy liên tục, lúc cao lúc thấp, lúc gần lúc xa. Trương Vô Kỵ ở trong cái túi, không có chút ánh sáng nào, song cũng đoán biết địa thế nơi đây hiểm trở dị thường.

Comments

0 comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 19: Đại họa từ trong ruột mà ra

Trương Vô Kỵ bị người kia vác nhảy lên rất cao một lần nữa, bỗng nghe từ đằng xa có người gọi:

– Thuyết Bất Đắc, sao mãi giờ này mới về?

Người vác Trương Vô Kỵ trả lời:

– Dọc đường ta gặp một chuyện nhỏ. Vi Nhất Tiếu đã đến chưa?

Người ở phía xa nói:

– Chưa thấy đâu! Quái lạ, ngay cả y cũng đến muộn. Thuyết Bất Đắc, ngươi có gặp y không?

Người kia vừa hỏi, vừa đến gần.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Sao lại có người lấy tên là Thuyết Bất Đắc kia chứ? Thì ra ông ta có hẹn gặp Vi Nhất Tiếu, không biết Thù Nhi có sao không? Ông ta là hảo bằng hữu của Vi Nhất Tiếu, chẳng hiểu sẽ làm gì mình đây?"

Chỉ nghe Thuyết Bất Đắc nói:

– Thiết Quan đạo huynh, chúng ta đi tìm Vi huynh đi, ta e y gặp rắc rối mất rồi.

Thiết Quan đạo nhân nói:

– Vi Nhất Tiếu thông minh cơ trí, võ công trác tuyệt, gặp rắc rối sao được?

Thuyết Bất Đắc nói:

– Ta cảm thấy hình như có chuyện chẳng lành.

Bỗng từ dưới sơn cốc có tiếng người gọi vọng lên:

– Tên hòa thượng thối tha Thuyết Bất Đắc, lão mọi già Thiết Quan, mau xuống giúp ta, nguy lắm, nguy lắm rồi.

Thuyết Bất Đắc và Thiết Quan đạo nhân cùng kêu lên kinh ngạc:

– Chu Điên đó! Chuyện gì mà hắn bảo là nguy lắm rồi?

Thuyết Bất Đắc lại nói:

– Hình như hắn bị thương, sao nghe giọng yếu ớt thế?

Ông ta không đợi Thiết Quan đạo nhân trả lời, liền vác Trương Vô Kỵ nhảy trở xuống. Thiết Quan đạo nhân chạy theo sau, bỗng kêu:

– Ồ, Chu Điên cõng ai thế kia? À, Vi Nhất Tiếu!

Thuyết Bất Đắc nói:

– Chu Điên đừng hốt hoảng, bọn ta xuống giúp ngươi đây!

Chu Điên nói:

– Ta mà hốt hoảng ư? Con dơi hút máu sắp toi mạng thì có!

Thuyết Bất Đắc lo lắng hỏi:

– Vi huynh làm sao, bị thương à?

Nói xong vội chạy nhanh hơn.

Trương Vô Kỵ nằm trong cái túi, y như đang đằng vân giá vụ, không nhịn được, bèn hỏi nhỏ:

– Tiền bối, hãy tạm đặt vãn bối xuống, việc cứu người hệ trọng hơn.

Thuyết Bất Đắc đột nhiên giơ cái túi ra quay luôn ba vòng trong không trung, Trương Vô Kỵ cả kinh, nếu cái túi tuột khỏi tay ông ta thì hậu quả khôn lường.

Chỉ nghe Thuyết Bất Đắc trầm giọng nói:

– Tiểu tử, ta cho ngươi hay, ta là Bố Đại[79] hòa thượng Thuyết Bất Đắc, người theo sau ta là Thiết Quan đạo nhân Trương Trung, kẻ đang nói dưới kia là Chu Điên. Ba người chúng ta, cùng với Lãnh Diện tiên sinh Lãnh Khiêm, Bành hòa thượng Bành Oánh Ngọc, là "Ngũ tản nhân" của Minh giáo. Ngươi biết Minh giáo chứ?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Có biết. Thì ra đại sư cũng là người của Minh giáo.

Thuyết Bất Đắc nói:

– Ta và Lãnh Khiêm không ưa giết người, Thiết Quan đạo nhân, Bành hòa thượng và Chu Điên thì quen giết người không chớp mắt. Nếu họ biết ngươi đang nằm trong cái túi Càn Khôn Nhất Khí của ta, họ giết ngươi bất cứ lúc nào, lúc ấy thì ngươi sẽ nát như tương.

Trương Vô Kỵ nói:

– Vãn bối đâu có đắc tội với quý giáo, sao lại..

Thuyết Bất Đắc nói:

– Bọn Chu Điên giết người đâu cần hỏi có đắc tội hay không đắc tội, từ rày trở đi, nếu ngươi còn muốn sống thì nằm trong cái túi của ta chớ có nói câu gì, hiểu chưa?

Trương Vô Kỵ gật đầu. Thuyết Bất Đắc hỏi:

– Sao ngươi không trả lời?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Thì đại sư dặn vãn bối không được nói câu gì mà.

Thuyết Bất Đắc mỉm cười, nói:

– Ngươi nhớ như thế là tốt.. Ồ, Vi huynh làm sao thế?

Câu cuối cùng là ông ta nói với Chu Điên. Chỉ nghe Chu Điên líu lưỡi, đáp:

– Hắn.. hắn nguy lắm, nguy lắm rồi!

Thuyết Bất Đắc nói:

– Ồ, ngực Vi huynh vẫn còn hơi âm ấm, Chu Điên, có phải ngươi cứu Vi huynh mang về đây chăng?

Chu Điên đáp:

– Còn quái gì nữa, không lẽ lại là hắn cứu ta đưa về đây hay sao?

Thiết Quan đạo nhân nói:

– Chu Điên, ngươi cũng bị thương ư?

Chu Điên nói:

– Ta thấy con dơi hút máu nằm ngay đơ bên đường, người đông cứng sắp tắt thở. Ta đúng là tướng cướp lại mở lòng từ bi, ta vận khí cứu hắn, không ngờ chất âm độc trong người con dơi hút máu này quá lợi hại nên mới ra nông nỗi này.

Thuyết Bất Đắc nói:

– Chu Điên, lần này quả là ngươi làm được một việc tốt rồi đó!

Chu Điên nói:

– Tốt xấu gì chưa biết, con dơi hút máu này vừa hiểm độc vừa cổ quái, từ trước đến giờ ta nhìn hắn thấy hết sức chướng mắt, song lần này hắn lại làm một việc rất hợp ý ta, Chu Điên ta mới ra tay cứu hắn. Nào ngờ cứu chưa được con dơi hút máu này thì chính mình bị hàn độc ngấm vào người, chắc sẽ theo hắn xuống địa ngục luôn thể.

Thiết Quan đạo nhân lo lắng hỏi:

– Ngươi bị thương nặng đến mức ấy sao?

Chu Điên đáp:

– Báo ứng, báo ứng! Con dơi hút máu và Chu Điên ta bình sinh chả làm việc gì tử tế, nào ngờ vừa làm một việc tử tế thì tai họa giáng xuống luôn.

Thuyết Bất Đắc hỏi:

– Thế Vi huynh làm được điều gì tốt vậy?

Chu Điên nói:

– Hắn kích dẫn nội lực, âm hàn phát tác, vốn chỉ cần uống máu người là chế ngự được. Ngay bên cạnh hắn có một con bé, thế mà hắn thà chịu chết chứ không hút máu con bé ấy. Chu Điên ta thấy vậy, mới bảo, than ôi hỏng rồi, con dơi hút máu đã làm chuyện ngược đời! Chu Điên ta cũng phá lệ, làm trò trái khoáy, cứu hắn một lần vậy.

Trương Vô Kỵ nghe nói Vi Nhất Tiếu chưa hút máu Thù Nhi thì mừng vô cùng. Thuyết Bất Đắc đưa tay vỗ cái túi vải, hỏi:

– Thế con bé ấy là ai vậy?

Chu Điên đáp:

– Ta cũng hỏi Vi Nhất Tiếu câu đó, hắn bảo đó là cháu nội của lão già Bạch Mi Ưng Vương. Hắn bảo hiện tại Minh giáo gặp nạn, mọi người phải đồng tâm hiệp lực, thành thử không thể hút máu con bé đó.

Thuyết Bất Đắc và Thiết Quan đạo nhân vỗ tay, nói:

– Đúng thế. Bạch Mi Ưng Vương và Thanh Dực Bức Vương bắt tay với nhau thì thanh thế của Minh giáo sẽ rất lớn mạnh.

Thuyết Bất Đắc tiếp lấy thân hình Vi Nhất Tiếu, hoảng hốt nói:

– Y toàn thân lạnh giá, làm sao bây giờ?

Chu Điên nói:

– Thấy chưa, ta đã bảo các ngươi đừng vội mừng, cái mạng của con dơi già hút máu đã mười phần chết chín rồi, một con dơi hấp hối bắt tay với Bạch Mi Ưng Vương thì Minh giáo có mà mạnh!

Thiết Quan đạo nhân nói:

– Các huynh đệ chờ ở đây, để ta xuống núi tóm cổ một người lên cho Vi Nhất Tiếu uống máu là xong.

Nói rồi ông ta định lao đi.

Chu Điên kêu lên:

– Hãy khoan! Lão mọi Thiết Quan, vùng này hoang vu, chờ ngươi tìm được một người thì Vi Nhất Tiếu đã biến thành Vi Bất Tiếu rồi. Một xác chết mà còn biết cười, thì gớm ghiếc lắm! Này Thuyết Bất Đắc, đem tên tiểu tử nằm trong cái bao của ngươi cho Vi huynh uống máu là gọn.

Trương Vô Kỵ kinh hãi: "Thì ra ta nằm trong cái túi này, bọn họ đã biết cả rồi".

Thuyết Bất Đắc nói:

– Không được! Người này có công với bổn giáo, nếu Vi huynh hút máu của y, Ngũ Hành kỳ sẽ đòi mạng Vi huynh đó.

Rồi Thuyết Bất Đắc đem việc Trương Vô Kỵ lấy thân chịu ba chưởng của Diệt Tuyệt sư thái để cứu mấy chục mạng người của Nhuệ Kim kỳ, kể lại sơ qua, đoạn nói:

– Chuyện như thế, Ngũ Hành kỳ làm sao không hết lòng kính phục gã tiểu tử này?

Thiết Quan đạo nhân nói:

– Ngươi bắt y nhốt vào túi, có món hàng quý thế, chắc là định thu phục Ngũ Hành kỳ chứ gì?

Thuyết Bất Đắc nói:

– Không nói được, không nói được! Tóm lại là bổn giáo chia năm xẻ bảy, bây giờ đại nạn trước mắt, Thiên Ưng giáo từ xa đến cứu giúp, thế mà Ngũ Hành kỳ lại lôi món nợ xưa ra đòi trả, đánh nhau một trận tơi bời. Bọn ta phải liên thủ với nhau mới mong thoát khỏi cái họa bị diệt. Kẻ ở trong túi vải này hiển nhiên có lợi cho việc các lộ bổn giáo liên thủ với nhau.

Nói đoạn, Thuyết Bất Đắc áp bàn tay phải vào huyệt Linh Đài trên lưng Vi Nhất Tiếu, truyền khí lực sang cho Vi Nhất Tiếu chống lại hàn độc. Chu Điên thở dài:

– Thuyết Bất Đắc, ngươi hết lòng vì bằng hữu, điều đó khỏi nói; nhưng cũng phải cẩn thận với cái mạng sống của ngươi đó.

Thiết Quan đạo nhân nói:

– Để ta trợ giúp một tay.

Y đưa bàn tay áp lên trên bàn tay Thuyết Bất Đắc, hai luồng nội lực đồng thời tuôn vào cơ thể Vi Nhất Tiếu.

Sau thời gian chừng một bữa ăn, Vi Nhất Tiếu rên lên một tiếng khe khẽ, tỉnh lại, răng vẫn đánh vào nhau cầm cập, hiển nhiên còn lạnh lắm, run run nói:

– Chu Điên, Thiết Quan đạo huynh, đa tạ hai vị cứu ta!

Y không nói lời cảm ơn Thuyết Bất Đắc, vì hai người là chỗ thâm giao, nói cảm ơn cũng bằng thừa. Thiết Quan đạo nhân công lực thâm hậu, nhưng đang chống trả với âm độc trong cơ thể Vi Nhất Tiếu, nhất thời không mở miệng được. Thuyết Bất Đắc cũng trong tình trạng tương tự.

Bỗng từ ngọn núi phía đông vọng lại tình tang mấy tiếng đàn, kèm theo một tiếng hú thanh thoát. Chu Điên liền nói:

– Lãnh Diện tiên sinh và Bành hòa thượng đến rồi.

Y lớn tiếng gọi:

– Lãnh Diện tiên sinh, Bành hòa thượng, có người bị thương, hai vị mau tới đây!

Tiếng đàn gảy tính tang một tiếng, ngụ ý đã nghe rõ.

Bành hòa thượng hỏi:

Ai.. bị.. thương.. thế?

Âm thanh từ rất xa vọng tới, âm vang trong sơn cốc. Lại hỏi tiếp:

– Rốt cuộc là ai bị thương thế? Thuyết Bất Đắc không sao chứ? Thiết Quan đạo huynh thế nào? Chu Điên, sao giọng ngươi yếu thế?

Sau mỗi câu hỏi, Bành hòa thượng lại nhảy tới gần thêm vài trượng, khi hỏi xong thì đã tới gần, kinh hãi kêu lên:

– Ôi, thì ra Vi Nhất Tiếu bị thương!

Chu Điên nói:

– Làm gì mà hốt hoảng thế, thật là người ta chưa lo mà mình đã quýnh! Lãnh Diện huynh, hãy lại đây nghĩ cách xem nào.

Câu sau cùng là nói với Lãnh Diện tiên sinh Lãnh Khiêm. Lãnh Khiêm hừ một tiếng, không trả lời. Lão biết Bành hòa thượng nhất định sẽ hỏi kỹ đầu đuôi, lão chỉ việc chú ý lắng nghe là đủ. Quả nhiên Bành hòa thượng hỏi rối rít, Chu Điên thì trả lời chẳng ra đầu ra đũa gì hết, chờ lúc ông ta nói xong thì Thuyết Bất Đắc và Thiết Quan đạo nhân đã truyền khí xong. Bành hòa thượng và Lãnh Khiêm liền truyền khí lực cho Vi Nhất Tiếu và Chu Điên giải trừ hàn độc.

Khi nguyên khí của Vi, Chu hai người đã được phục hồi phần nào, Bành hòa thượng nói:

– Ta từ phương đông bắc tới, nghe tin chưởng môn phái Thiếu Lâm là Không Văn đích thân cùng hai sư đệ Không Trí, Không Tính cùng hơn một trăm đệ tử đang tiến tới đỉnh Quang Minh tham gia vây đánh bản giáo.

Lãnh Khiêm nói:

– Chính đông, Võ Đang ngũ hiệp!

Lão nói năng hết sức ngắn gọn, dù có đem lão ra chặt đầu, lão cũng không nói một tiếng thừa. Sáu chữ kia nói dài ra sẽ là "Phía chính đông có Võ Đang ngũ hiệp tấn công". Còn Võ Đang ngũ hiệp gồm những ai, tất cả đều biết là gồm Tống Viễn Kiều, Du Liên Châu, Trương Tòng Khê, Ân Lê Đình và Mạc Thanh Cốc, khỏi cần dài dòng phí lời.

Bành hòa thượng nói:

– Sáu phái chia nhau đến đánh chúng ta, vòng vây ngày một thắt chặt, Ngũ Hành kỳ đã tiếp chiến mấy trận, tình thế rất bất lợi, bọn ta phải mau tới đỉnh Quang Minh trước thôi.

Chu Điên giận dữ nói:

– Nói thối như cứt ấy! Thằng khốn Dương Tiêu không đến đây cầu cứu, Ngũ tản nhân chẳng làm đếch gì phải thượng đỉnh Quang Minh.

Bành hòa thượng nói:

– Chu Điên, nếu sáu phái công phá đỉnh Quang Minh, dập tắt thánh hỏa, vậy bọn ta có đáng mặt làm người nữa không? Dương Tiêu đắc tội với Ngũ tản nhân, đương nhiên là hắn sai rồi; nhưng bọn mình lên chi viện cho đỉnh Quang Minh là vì Minh giáo, chứ đâu phải vì Dương Tiêu.

Thuyết Bất Đắc cũng nói:

– Bành hòa thượng nói chí phải, Dương Tiêu tuy vô lễ, nhưng hộ giáo là việc lớn, thù riêng là việc nhỏ.

Chu Điên chửi:

– Thối quá, thối quá! Hai con lừa trọc nói thối không ngửi được! Thiết Quan đạo nhân, năm xưa Dương Tiêu đánh gãy vai trái ngươi, ngươi còn nhớ chứ?

Thiết Quan đạo nhân trầm ngâm một lát, nói:

– Hộ giáo chống địch là đại sự. Còn món nợ Dương Tiêu, đợi sau khi đuổi được ngoại địch, ta sẽ tính. Khi đó Ngũ tản nhân năm người chúng ta liên thủ với nhau, tên tiểu tử ấy chịu nổi chăng?

Chu Điên hừm một tiếng, nói:

– Lãnh Khiêm, còn ngươi nghĩ sao?

Lãnh Khiêm đáp:

– Cùng đi!

Chu Điên nói:

– Ngươi cũng khuất phục Dương Tiêu ư? Năm xưa bọn ta từng thề là mọi việc của Minh giáo, Ngũ tản nhân chúng ta quyết không dính vào kia mà, chẳng lẽ tất cả những lời đó đều bỏ hết sao?

Lãnh Khiêm đáp:

– Bỏ hết!

Chu Điên cả giận, đứng phắt dậy, nói:

– Các ngươi đều thối hết, chứ ta thì quyết giữ lời.

Thiết Quan đạo nhân nói:

– Việc gấp lắm rồi, không thể trì hoãn, bọn ta tới đỉnh Quang Minh thôi!

Bành hòa thượng khuyên Chu Điên:

– Chu huynh, năm xưa vì tranh chức giáo chủ, mà mọi người trở mặt với nhau, Dương Tiêu dĩ nhiên bụng dạ hẹp hòi, nhưng nghĩ cho kỹ, thì Ngũ tản nhân bọn ta cũng có điều không phải.

Chu Điên tức giận nói:

– Nói láo, Ngũ tản nhân bọn ta không một ai muốn làm giáo chủ, có gì là sai trái?

Thuyết Bất Đắc nói:

– Chuyện đúng sai năm xưa của bổn giáo thế nào, nói qua nói lại hàng năm cũng chưa minh bạch được. Chu Điên, ta hỏi huynh, huynh có phải là đệ tử của Minh Tôn Hỏa Thánh hay không?

Chu Điên nói:

– Điều đó còn phải hỏi nữa ư?

Thuyết Bất Đắc nói:

Hiện tại bổn giáo đại nạn ập tới, chúng ta nếu khoanh tay đứng nhìn, mai sau chết đi, còn mặt mũi nào gặp Minh Tôn và Dương giáo chủ? Nếu huynh sợ sáu phái thì cứ việc. Chứ bọn ta sẽ ở trên đỉnh Quang Minh tử chiến tuẫn giáo, sau đó huynh đến thu tàn cốt vậy!

Chu Điên chồm dậy, giơ chưởng đánh thẳng vào mặt Thuyết Bất Đắc, miệng chửi:

– Thối lắm!

Chỉ nghe "bốp" một tiếng, Thuyết Bất Đắc trúng một chưởng rất nặng, y từ từ há miệng, nhổ ra mấy chiếc răng bị đánh gãy, không nói một lời, một bên má của y từ màu trắng chuyển sang màu hồng, từ hồng sang tím, sưng vù lên.

Bọn Bành hòa thượng đều kinh hãi, Chu Điên thì đứng ngây ra. Nên biết võ công của Thuyết Bất Đắc ngang ngửa với Chu Điên, khi Chu Điên đánh y một chưởng, y chỉ cần chống đỡ hoặc né tránh, tất không thể trúng đòn; đằng này y cứ chịu trận, nên mới bị thương không nhẹ. Chu Điên cảm thấy áy náy lắm, kêu lên:

– Thuyết Bất Đắc, ngươi hãy đánh lại ta đi, không đánh lại ta, thì không phải là người!

Thuyết Bất Đắc cười nhạt, nói:

– Ta có sức, giữ lại để đánh địch, đánh người mình làm gì?

Chu Điên cả giận, giơ tay lên vả thật mạnh vào mặt mình, nghe "bốp" một tiếng, cũng nhổ ra mấy cái răng.

Bành hòa thượng kinh hãi nói:

– Chu Điên, huynh làm trò quỷ gì thế?

Chu Điên hậm hực nói:

– Ta lỡ tay đánh Thuyết Bất Đắc, bảo y đánh lại, y không chịu, vậy ta phải tự đánh mình chứ sao.

Thuyết Bất Đắc nói:

Chu Điên, hai ta tình như huynh đệ, bốn chúng ta bây giờ lên đỉnh Quang Minh tử chiến một phen, hai ta đành phải sinh ly tử biệt, huynh đánh ta một chưởng thì có đáng gì?

Chu Điên xúc động, khóc òa lên, nói:

– Ta cũng lên đỉnh Quang Minh, món nợ cũ với Dương Tiêu, tạm gác lại đã.

Bành hòa thượng cả mừng, nói:

– Có thế mới là hảo huynh đệ chứ!

Trương Vô Kỵ nằm trong túi vải, nghe rõ những gì năm người kia nói với nhau, nghĩ thầm: "Mấy người này võ công rất cao, cái đó khỏi phải bàn. Điều hiếm thấy là cả năm người cùng trọng nghĩa khí. Trong Minh giáo cao nhân không phải ít, chẳng lẽ ai cũng là tà ma ngoại đạo cả ư?" Đang nghĩ thế, bỗng thấy thân thể di động, chắc là Thuyết Bất Đắc lại vác chàng chạy lên đỉnh Quang Minh. Chàng đã biết tin Thù Nhi không sao rồi, trong bụng không còn lo lắng, lúc này chàng chỉ quan hoài đến việc sáu môn phái vây đánh đỉnh Quang Minh, không hiểu cục diện sẽ ra sao. Lại nghĩ khi lên đỉnh Quang Minh, chàng có thể sẽ gặp lại cô bạn nhỏ Dương Bất Hối năm xưa, giờ đã khôn lớn, không biết có nhận ra chàng hay chăng?

*

* *

Đoàn người đi một ngày một đêm, cứ sau vài canh giờ, Thuyết Bất Đắc lại mở miệng túi ra một chút để Trương Vô Kỵ thay đổi không khí, rồi lại buộc chặt miệng túi lại. Đến chiều hôm sau, Trương Vô Kỵ bỗng cảm thấy cái túi bị kéo lê trên mặt đất, thoạt tiên chàng chưa hiểu tại sao, sau đó đầu bị va mạnh vào tảng đá cứng khá đau, mới biết là mọi người đang đi trong một cái hang đá. Trong hang khí lạnh ghê gớm, lại bí hơi, đi tới nửa canh giờ mới ra khỏi hang, lại leo lên núi. Song leo chưa lâu, lại chui vào một đường hầm khác. Trước sau cả thảy qua năm cái hang hoặc đường hầm, mới nghe Chu Điên gọi:

– Bớ Dương Tiêu, con dơi hút máu cùng Ngũ tản nhân đến tìm ngươi đây!

Lát sau, nghe phía trước có tiếng đáp:

– Thật không ngờ Bức Vương cùng Ngũ tản nhân đại giá quang lâm, Dương Tiêu không thể ra xa nghênh đón, mong được thứ tội.

Chu Điên nói:

– Ngươi giả dối làm gì? Chắc trong bụng ngươi đang chửi thầm, rằng Ngũ tản nhân nói thối hơn cứt, đã bảo vĩnh viễn không lên đỉnh Quang Minh, vĩnh viễn không lý tới chuyện của Minh giáo, hôm nay sao còn tự dẫn xác lên đây làm chi.

Dương Tiêu nói:

– Sáu đại phái vây đánh tứ bề, tiểu đệ một bàn tay vỗ chẳng thành tiếng, đang lo lắng vô cùng. Nay được Bức Vương và Ngũ tản nhân nghĩ đến thể diện Minh Tôn, trượng nghĩa tương trợ, thực là phúc cho bản giáo.

Chu Điên nói:

– Ngươi biết thế thì tốt.

Dương Tiêu mời Ngũ tản nhân vào nội đường, tiểu đồng bưng trà nước cơm rượu lên.

Đột nhiên một tiểu đồng bỗng kêu "Ái" một tiếng thảm thiết. Trương Vô Kỵ ở trong cái túi cũng nổi da gà, không hiểu duyên cớ gì. Lát sau nghe Vi Nhất Tiếu nói:

– Dương tả sứ, Vi Nhất Tiếu ta giết một tiểu đồng của huynh, sau này hẳn sẽ có dịp báo đáp.

Giọng nói của y mạnh mẽ phấn chấn, không còn yếu ớt phều phào như lúc trước. Trương Vô Kỵ giật mình: "Y đã uống máu tươi của tiểu đồng, hàn độc trong người đã bị chế ngự". Nghe Dương Tiêu thản nhiên đáp:

– Chỗ huynh đệ với nhau, nói chi đến chuyện báo đáp. Bức Vương lên đỉnh Quang Minh là nể mặt tiểu đệ lắm rồi.

Bảy người này đều là đệ nhất cao thủ trong Minh giáo, tuy đại địch trước mắt, nhưng bảy người một khi tề tựu ở đây, ai nấy đều phấn chấn tinh thần. Cơm rượu xong, họ liền thương nghị kế sách chống địch. Thuyết Bất Đắc đặt cái túi vải dưới chân, Trương Vô Kỵ vừa đói vừa khát, song nhớ lời dặn của Thuyết Bất Đắc, chàng không dám động đậy hoặc lên tiếng.

Bảy người bàn bạc một hồi, Bành hòa thượng nói:

– Quang Minh hữu sứ và Tử Sam Long Vương không biết đi đâu, Kim Mao Sư Vương sống chết ra sao cũng khó đoán, ba người đó mình không nhắc tới nữa. Việc bất hạnh nhất trước mắt là Ngũ Hành kỳ và Thiên Ưng giáo thù oán nhau ngày càng sâu, mấy hôm rồi đánh nhau một trận to, đôi bên đều tử thương nặng nề. Giá như họ cũng lên đỉnh Quang Minh liên thủ chống địch, đừng nói sáu phái, mà dù có mười hai phái, mười tám phái vây đánh, Minh giáo cũng thừa sức chống trả.

Thuyết Bất Đắc đá nhẹ vào cái túi vải, nói:

– Tiểu tử trong cái túi này có mối liên quan sâu xa với Thiên Ưng giáo, vừa rồi lại có ơn với Ngũ Hành kỳ, rồi đây có thể để gã hòa giải mối hiềm khích giữa đôi bên.

Vi Nhất Tiếu lạnh lùng nói:

– Ngôi vị giáo chủ ngày nào chưa định xong, sự phân tranh trong bổn giáo ngày đó vẫn còn tiếp diễn. Dẫu hắn có bản lĩnh bằng trời, mối hiềm khích giữa đôi bên cũng chẳng thể lấp kín. Dương tả sứ, tại hạ hỏi tả sứ một câu, sau khi đẩy lui địch nhân, tả sứ ủng hộ ai lên làm giáo chủ?

Dương Tiêu thản nhiên đáp:

– Thánh hỏa lệnh về tay ai, tiểu đệ sẽ ủng hộ người ấy làm giáo chủ. Đó là quy củ từ xưa của bổn giáo, Bức Vương hỏi đệ làm chi?

Vi Nhất Tiếu nói:

– Thánh hỏa lệnh thất lạc đã ngót trăm năm nay, chẳng lẽ ngày nào chưa tìm thấy thánh hỏa lệnh thì ngày ấy chưa có giáo chủ hay sao? Sáu đại phái vây đánh đỉnh Quang Minh, coi thường bổn giáo, chẳng qua là vì chúng biết bổn giáo không có người thống lĩnh, nội bộ chia năm xẻ bảy.

Thuyết Bất Đắc nói:

– Vi huynh nói chí phải. Bố Đại hòa thượng ta không theo Ân phái, cũng không theo Vi phái, ai làm giáo chủ cũng được, tóm lại phải có một vị giáo chủ. Giả dụ không có giáo chủ thì cũng phải có phó giáo chủ; hiệu lệnh không thống nhất, làm sao có thể chống chọi địch nhân?

Thiết Quan đạo nhân nói:

– Lời của Thuyết Bất Đắc chính hợp ý ta.

Dương Tiêu mặt biến sắc, nói:

– Các vị lên đỉnh Quang Minh để giúp tiểu đệ chống địch, hay là lên gây chuyện với tiểu đệ?

Chu Điên cười ha hả, nói:

– Dương Tiêu, ngươi không muốn chọn giáo chủ, dụng tâm đó tưởng Chu Điên ta không biết hay sao? Minh giáo không có giáo chủ, thì chức Quang Minh tả sứ của ngươi là cao nhất chứ gì. Ha ha, ngôi vị của ngươi tuy cao nhất thật, nhưng mọi người không nghe theo hiệu lệnh của ngươi, vậy còn hay hớm nỗi gì? Ngươi có điều động nổi Ngũ Hành kỳ hay chăng? Tứ đại hộ giáo pháp vương có chịu để ngươi chỉ huy không? Còn Ngũ tản nhân năm người bọn ta thì cũng hạc nội mây ngàn, chẳng coi Quang Minh tả sứ giả là cái thá gì hết!

Dương Tiêu đứng phắt dậy, lạnh lùng nói:

– Hôm nay kẻ địch tới xâm phạm, Dương Tiêu ta không rỗi hơi tranh cãi với các vị. Các vị nếu thờ ơ trước sự tồn vong của Minh giáo, vậy xin mời rời khỏi đỉnh Quang Minh cho! Dương Tiêu này nếu còn sống, ngày sau nhất định sẽ tới gặp từng vị một.

Bành hòa thượng can:

– Dương tả sứ, đừng nổi giận! Sáu đại phái vây đánh Minh giáo, phàm là đệ tử bản giáo, ai ai cũng có bổn phận hộ giáo, chứ không phải là việc của một mình Dương tả sứ.

Dương Tiêu cười khẩy:

– Chỉ e bản giáo có những kẻ chỉ mong Dương Tiêu bị phanh thây, để bớt cái gai trong mắt.

Chu Điên hỏi:

– Ngươi muốn nói ai vậy?

Dương Tiêu đáp:

– Bụng ai người ấy biết, hà tất phải nhiều lời?

Chu Điên nổi khùng:

– Ngươi nói ta chăng?

Dương Tiêu mắt nhìn chỗ khác, không thèm để ý tới. Bành hòa thượng thấy ánh mắt của Chu Điên có vẻ khác lạ, tựa hồ sắp động thủ với Dương Tiêu, vội can:

– Cổ nhân có câu: "Huynh đệ lục đục, người ngoài khinh khi". Chúng ta hãy ngồi bàn kế sách chống địch thì hay hơn.

Dương Tiêu nói:

– Oánh Ngọc đại sư quả biết đại thể, lời nói chí phải.

Chu Điên lớn tiếng:

– Hừ, lão trọc họ Bành thì biết đại thể, còn Chu Điên ta chỉ biết tiểu thể phải không?

Y nổi tính gàn, chẳng còn biết phải trái gì nữa, chỉ quát to:

– Hôm nay nói về chức giáo chủ, Chu Điên ta chủ trương để Vi Nhất Tiếu đứng ra giữ chức giáo chủ Minh giáo. Bức Vương võ công cao cường, đa mưu túc trí, trong bản giáo không ai sánh kịp hắn.

Thực ra bình thời Chu Điên không thân thiết gì với Vi Nhất Tiếu, hai bên ác cảm nhiều hơn hảo cảm, nhưng y muốn chọc tức Dương Tiêu nên mới suy cử Vi Nhất Tiếu.

Dương Tiêu cười hô hố, nói:

– Đệ thấy nên mời Chu Điên làm giáo chủ là hay nhất. Minh giáo hiện đã chia năm xẻ bảy, nếu lại có Chu đại giáo chủ vừa điên vừa đảo, đảo rồi lại điên, vậy mới thật vui mắt đó!

Chu Điên cả giận, quát to:

– Con mẹ mi, thối không ngửi nổi!

Chửi rồi đánh một chưởng vào đầu Dương Tiêu.

Hôm trước Chu Điên đánh Thuyết Bất Đắc gãy mấy cái răng là do Thuyết Bất Đắc không tránh né, không đỡ gạt; còn Dương Tiêu đâu có chịu như thế! Hơn mười năm trước, vì việc lập giáo chủ mà Dương Tiêu đã tranh chấp kịch liệt với Ngũ tản nhân, bấy giờ Ngũ tản nhân đã thề vĩnh viễn không lên đỉnh Quang Minh, hôm nay họ bỏ lời thề tới đây, Dương Tiêu đã sinh nghi, giờ thấy Chu Điên bất ngờ ra tay, liền cho rằng Ngũ tản nhân ước hẹn cùng Vi Nhất Tiếu lên mưu hại mình, nên tức giận vung hữu chưởng ra chặn bàn tay Chu Điên lại.

Vi Nhất Tiếu biết tài nghệ của Dương Tiêu, còn Chu Điên bị thương mới khỏi, nguyên khí chưa phục hồi, không thể nào chống chọi nổi chưởng lực của Dương Tiêu, bèn với tay qua đầu tiếp chưởng của y. Bàn tay hai người đụng nhau không một tiếng động.

Thì ra Dương Tiêu tuy có hiềm khích với Chu Điên, nhưng nghĩ tình đồng giáo, không chủ định một chưởng đánh chết Chu Điên, nên chưa sử dụng toàn lực. Còn Vi Nhất Tiếu võ công thâm hậu, một chiêu "Hàn băng miên chưởng" đánh ra, Dương Tiêu thấy cánh tay phải chấn động, một luồng khí âm hàn thấm vào da thịt, vội vận nội lực chống đỡ. Hai người công lực ngang ngửa, hai bàn tay lập tức dính chặt vào nhau.

Chu Điên kêu lên:

– Bớ Dương Tiêu, hãy nếm thêm một chưởng của ta!

Chưởng thứ nhất chưa đánh tới, chưởng thứ hai lại nhắm ngực Dương Tiêu mà đánh tới.

Thuyết Bất Đắc kêu lên:

– Chu Điên, đừng làm thế!

Bành Oánh Ngọc cũng nói:

– Dương tả sứ, Vi Bức Vương, hai vị mau dừng tay, chớ để mất hòa khí!

Rồi đưa tay định đẩy chưởng của Chu Điên ra thì Dương Tiêu nghiêng người một cái, tả chưởng đã dính chặt lấy hữu chưởng của Chu Điên.

Thuyết Bất Đắc quát lên:

– Chu Điên, ngươi lấy hai đánh một, sao gọi là hảo hán?

Rồi giơ tay nắm lấy vai Chu Điên toan kéo ra, nhưng tay chưa đụng tới đã thấy Chu Điên thân hình run rẩy, hình như đã bị nội thương. Thuyết Bất Đắc kinh hãi, biết Quang Minh tả sứ công lực thông thần, là đệ nhất cao thủ của bản giáo, chỉ một chưởng đã đả thương Chu Điên. Thấy tay trái Dương Tiêu dính chặt lấy tay phải Chu Điên, không chịu rời ra, Thuyết Bất Đắc bèn kêu lên:

– Chu Điên, huynh đệ một nhà, xin đừng thí mạng!

Vừa đẩy vào vai Chu Điên vừa nói:

– Dương tả sứ, hãy nương tay cho!

Ông ta chỉ sợ Dương Tiêu không chịu thu hồi chưởng lực, thuận thế đánh tiếp.

Không ngờ vừa đẩy ra, chỉ thấy thân hình Chu Điên lảo đảo một chút, nhưng vẫn không tách ra được, đồng thời một luồng khí lạnh thấu xương chạy thẳng từ lòng bàn tay tới ngực, Thuyết Bất Đắc kinh hãi nghĩ thầm: "Đây là môn công phu độc đáo Hàn băng miên chưởng của Vi Nhất Tiếu, làm sao Dương Tiêu cũng luyện được rồi ư?"

Bèn vận nội lực chống lại hàn khí, nhưng hàn khí càng lúc càng ghê gớm, trong giây lát răng đã đánh vào nhau, người run cầm cập.

Thiết Quan đạo nhân và Bành hòa thượng cùng xáp tới, một giúp Chu Điên, một đỡ Thuyết Bất Đắc. Sức bốn người hợp lại, hàn khí không đủ gây nguy hiểm nữa, nhưng cảm thấy lực đạo từ lòng bàn tay Dương Tiêu truyền sang từng đợt, lúc mạnh lúc yếu, lúc nhanh lúc chậm, biến hóa vô cùng. Bốn người không dám thu tay về, chỉ sợ trong khoảnh khắc thu lực buông tay, Dương Tiêu đột nhiên phát lực thì cả bốn người không chết cũng trọng thương. Bành hòa thượng kêu lên:

– Dương tả sứ, đại địch trước mắt chúng ta, sao lại.. sao lại.. sao lại..

Răng cứ đánh vào nhau liên tục, nói không thành lời, tựa hồ máu huyết toàn thân đều đóng thành băng. Thì ra vừa mở miệng nói thì chân khí thất thoát, không còn sức chống đỡ hàn khí từ bàn tay truyền đến.

Thời gian chừng uống xong một chén trà, Lãnh Diện tiên sinh Lãnh Khiêm đứng bên ngoài quan sát, thấy Vi Nhất Tiếu và bốn người trong Ngũ tản nhân thần sắc căng thẳng, còn Dương Tiêu vẫn thản nhiên như thường, trong bụng nghi hoặc: "Dương Tiêu võ công tuy cao, nhưng so với Vi Nhất Tiếu cũng chỉ ngang ngửa, đằng này lại thêm bọn Thuyết Bất Đắc bốn người, Dương Tiêu không thể địch nổi, vậy mà hắn lấy một địch năm, lại còn thắng thế, thật là kỳ quặc!" Lão cúi đầu suy nghĩ, nhất thời chưa hiểu tại sao.

Bỗng nghe Chu Điên gọi:

– Con quỷ mặt lạnh, đánh.. đánh.. vào.. lưng nó.. đánh..

Lãnh Khiêm chưa hiểu nguyên nhân bên trong nên chưa chịu ra tay. Trong Ngũ tản nhân năm người, chỉ còn một mình lão đứng ngoài; việc giải nguy thoát khốn, hoàn toàn trông cậy ở lão. Nếu lão cũng đấu với Dương Tiêu, thêm một người cố nhiên sức lực sẽ gia tăng rất nhiều, nhưng chắc gì đã thắng thế. Lão thấy Chu Điên và Bành Oánh Ngọc mặt mày tái mét, dường như không còn chịu nổi, nếu để âm độc ngấm vào nội tạng, sẽ nguy hiểm vô cùng, bèn thò tay vào bọc lấy ra năm cây lạn ngân bút, nói:

– Năm cây bút, đánh vào Khúc Trì, Cự Cốt, Dương Khoát, Ngũ Lý, Trung Đô.

Năm huyệt này đều nằm ở tứ chi, không phải là tử huyệt, lão lại nói rõ để Dương Tiêu hiểu rằng lão hoàn toàn không định đối địch với y, mà chỉ cốt y rút tay về, bãi đấu.

Dương Tiêu mỉm cười, chẳng buồn lưu tâm. Lãnh Khiêm nói:

– Ta đành thất lễ vậy.

Nói rồi vung hai tay bắn năm cây lạn ngân bút vào người Dương Tiêu. Dương Tiêu chờ các cây bút tới gần, đột nhiên xoay ngang cánh tay trái, kéo bọn Chu Điên ra phía trước mặt, chỉ nghe Chu Điên và Bành Oánh Ngọc kêu hự hự, năm cây bút đã trúng hai người đó, Chu Điên trúng hai cây, Bành Oánh Ngọc trúng ba cây. Cũng may Lãnh Khiêm không có ý đả thương, phóng bút rất nhẹ, tuy có gây chảy máu nhưng không trúng huyệt đạo, nên không nguy hiểm.

Bành Oánh Ngọc nói nhỏ:

– Đây là môn "Càn khôn đại na di"!

Lãnh Khiêm nghe năm chữ "Càn khôn đại na di" thì hiểu ngay. Càn khôn đại na di là môn võ công lợi hại nhất, truyền từ đời này qua đời khác trong Minh giáo, đạo lý cơ bản tuy không có gì bí hiểm, trước hết kích động tiềm lực của bản thân, sau đó mới dẫn dịch kình lực của đối phương. Nhưng sự biến hóa bên trong rất thần kỳ, khó bề tưởng tượng. Từ khi giáo chủ tiền nhiệm Dương Đính Thiên qua đời, trong Minh giáo không một ai biết sử dụng công phu đó, thành thử sáu người nhất thời chưa nghĩ ra. Như vậy kỳ thực Dương Tiêu chưa hề tốn sức, chỉ dẫn dịch chưởng lực của Vi Nhất Tiếu tấn công bốn "tản nhân", rồi lại dẫn dịch chưởng lực của bốn "tản nhân" tấn công Vi Nhất Tiếu, chính y chỉ ngồi chơi không ở giữa, làm cái cầu dẫn dịch nội lực đôi bên tấn công nhau, gọi là "cách sơn quan hổ đấu" mà thôi.

Lãnh Khiêm nói:

– Hay quá, không ác ý, xin bãi đấu.

Lão nói năng thật vắn tắt. Hai chữ "hay quá" là để chúc mừng Dương Tiêu đã luyện được môn thần công thất truyền đã lâu của Minh giáo là Càn khôn đại na di, "không ác ý" là bảo sáu người chúng tôi lên núi lần này hoàn toàn không có ác ý, chỉ muốn thành tâm chung sức chống địch mà thôi; "xin bãi đấu" là xin đôi bên ngừng giao đấu, đừng hiểu lầm nhau.

Dương Tiêu biết Lãnh Khiêm cả đời không bao giờ nói thừa một chữ, không bao giờ nói thừa một câu, lão đã bảo "không ác ý" thì quả thực là không có ác ý; hơn nữa vừa rồi lão phóng năm cây bút rõ ràng chỉ để giải vây, chứ không đả thương ai, bèn cười ha hả, nói:

– Vi huynh, Tứ tản nhân, đệ đếm một, hai, ba, thì tất cả cùng thu tay về để khỏi đả thương người khác, rõ chưa?

Thấy Vi Nhất Tiếu và bốn người kia cùng gật đầu, Dương Tiêu bèn thong thả đếm:

– Một, hai, ba!

Chữ "ba" vừa ra khỏi miệng, Dương Tiêu liền thu thần công Càn khôn đại na di, đột nhiên sau lưng lạnh ngắt, một luồng chỉ lực sắc nhọn chọc thẳng vào huyệt Thần Đạo của y. Dương Tiêu cả kinh, nghĩ thầm: "Vi Nhất Tiếu quá thâm độc, hắn lại giở trò đánh lén ta!" Đang toan xoay chưởng lại phản kích thì thấy Vi Nhất Tiếu thân hình lảo đảo, rõ ràng cũng bị ám toán rồi.

Dương Tiêu trong đời từng trải bao nhiêu trận đánh lớn, tuy lần này bị bất ngờ, song y không hoảng loạn, liền nhào người về phía trước để thoát khỏi sự khống chế của kẻ đứng sau lưng, ngoảnh đầu lại, chỉ thấy Thuyết Bất Đắc, Chu Điên, Bành Oánh Ngọc, Thiết Quan đạo nhân bốn người đã ngã xuống đất, còn Lãnh Khiêm thì đang đánh một chưởng vào một kẻ mặc áo màu xám. Kẻ kia xoay tay lại đỡ, Lãnh Khiêm hự lên một tiếng, có vẻ rất đau đớn.

Dương Tiêu hít một hơi, tung mình nhảy tới định giúp Lãnh Khiêm, đột nhiên một luồng hàn khí lạnh buốt từ huyệt Thần Đạo chạy ngược lên các huyệt Thân Trụ, Đào Đạo, Đại Chùy, Phong Phủ, lan khắp mạch Đốc toàn thân. Dương Tiêu thầm biết là nguy, kẻ địch võ công cao siêu, lòng dạ lại hiểm độc, hắn chớp đúng cơ hội y và Vi Nhất Tiếu, Tứ tản nhân cùng thu công tản lực mà ra tay đột kích, thành thử y phải vội vận lực kháng cự.

Luồng hàn khí này khác hẳn với chưởng lực Hàn băng miên chưởng do Vi Nhất Tiếu phát ra, cảm thấy chỉ mỏng manh như sợi tơ, nhưng nó đi tới đâu là nơi đó tức thời tê dại. Giả sử đôi bên công khai đối địch, Dương Tiêu có nội lực hộ thể, quyết không để cho chỉ lực xuyên nhập cơ thể; đằng này y vừa rồi bị địch ám toán, chỉ còn nước cố nhịn đau giúp Lãnh Khiêm đánh bại kẻ địch, rồi sẽ tính sau.

Dương Tiêu bước tới, vung tay phải lên toan đánh ra, đột nhiên toàn thân lạnh giá, cánh tay không còn chút sức lực nào. Lúc này Lãnh Khiêm đã cùng kẻ địch kia qua lại hơn hai chục chiêu, xem ra không địch nổi. Dương Tiêu cả lo, thấy Lãnh Khiêm đá chân phải tới, bị kẻ kia sấn lại, chọc một chỉ vào cánh tay Lãnh Khiêm. Lão ta loạng choạng, ngã ngửa ra phía sau. Dương Tiêu vừa sợ vừa tức, thu hết tàn lực mà tống thẳng cùi chỏ bên phải vào ngực kẻ mặc áo xám kia.

Tên áo xám chọc chỉ tay trái, trúng vào huyệt Tiểu Hải phía dưới cùi chỏ Dương Tiêu, toàn thân Dương Tiêu lập tức tê dại, không thể xê dịch nửa bước. Tên áo xám lạnh lùng nói:

– Quang Minh tả sứ danh bất hư truyền, trúng liền hai đòn "Ảo âm chỉ" của ta mà vẫn đứng được.

Dương Tiêu nói:

– Công phu búng chỉ của ngươi là thủ pháp của phái Thiếu Lâm, thế nhưng nội kình của thứ "Ảo âm chỉ" ấy, hừm, phái Thiếu Lâm làm gì có loại võ công âm độc như thế. Ngươi là ai vậy?

Tên áo xám cười ha hả, nói:

– Bần tăng là Viên Chân, pháp danh tọa sư Không Kiến. Lần này sáu đại môn phái vây đánh Ma giáo, các vị chết dưới tay đệ tử phái Thiếu Lâm cũng không đến nỗi uổng đâu.

Dương Tiêu nói:

– Sáu đại môn phái đối địch với Minh giáo chúng ta, đao thương công khai, một trận tử chiến, thế mới là phong thái của nam tử hán đại trượng phu. Không Kiến thần tăng nhân hiệp nổi tiếng khắp thiên hạ, ngờ đâu lại có một đồ đệ hèn hạ vô liêm sỉ..

Nói tới đây, Dương Tiêu không chịu đựng thêm được, hai đầu gối nhũn ra, phải ngồi bệt xuống.

Viên Chân cười sằng sặc, nói:

– Ra đòn bất ngờ, đánh nhau cứ việc dối lừa. Chuyện từ ngàn xưa đã thế. Viên Chân ta một mình đánh gục bảy đại cao thủ của Minh giáo, chẳng lẽ các vị thua mà còn không phục hay sao?

Dương Tiêu lắc đầu, thở dài:

– Ngươi làm sao có thể lẻn lên đỉnh Quang Minh? Đường hầm bí mật ấy, làm sao ngươi biết? Ngươi không nói cho biết, Dương Tiêu ta chết chẳng thể nhắm mắt.

Y nghĩ Viên Chân vừa rồi đánh lén thành công, dĩ nhiên là vì hắn có võ công tuyệt đỉnh, nhưng nguyên nhân chủ yếu chính là do hắn biết được đường hầm bí mật dẫn lên đỉnh Quang Minh, vượt qua hơn mười trạm canh gác của Minh giáo, không ai hay biết, đột nhiên bất ngờ ra tay, mới đánh gục bảy đại cao thủ của Minh giáo cùng một lượt.

Tổng đàn của Minh giáo đóng trên đỉnh Quang Minh đã mấy trăm năm, dựa vào thiên nhiên hiểm trở, vô cùng kiên cố, ngờ đâu họa từ bên trong mà ra, phòng bị chẳng kịp, một lần thảm bại. Chợt nhớ đến câu nói của Khổng Tử trong Luận ngữ: "Bang phân băng ly chiết, nhi bất năng thủ dã; nhi mưu động can qua ư bang nội. Ngô khủng quý tôn chi ưu, bất tại chuyên du, nhi tại tiêu tường chi nội dã" [80] .

Viên Chân cười nói:

– Đỉnh Quang Minh của Ma giáo các vị bảy chỏm núi, mười ba vách đá, cứ tự cho là hiểm trở, nhưng dưới mắt tăng lữ Thiếu Lâm ta thì chẳng khác gì đường lớn khang trang, có gì đáng nói? Các vị đều đã trúng "Huyễn Âm Chỉ" của ta rồi, nội nhật ba ngày sẽ về Tây Thiên cả. Bây giờ bần tăng sẽ lên ngọn Tọa Vong, chôn vài chục cân hỏa dược, để khi ta diệt ma hỏa, bọn Thiên Ưng giáo, Ngũ Hành kỳ gì gì đó lật đật kéo tới tăng viện, thế là cho nổ đoành một tiếng lớn, hỏa dược chôn sẵn nổ tung, khiến cho toàn thể bọn Ma giáo tan xác hết lượt. Người đời sẽ có câu rằng "Thiếu Lâm tăng độc chỉ diệt Minh giáo, Quang Minh đỉnh thất ma quy Tây thiên" [81] .

Bọn Dương Tiêu nghe vậy cả kinh, biết hắn nói sao làm vậy, chính mình mất mạng cũng không sao, chỉ sợ Minh giáo đã truyền qua ba mươi ba đời, nay bị tận diệt bởi một tay gã hòa thượng Thiếu Lâm này thôi.

Chỉ nghe Viên Chân càng nói càng đắc ý:

– Minh giáo các vị có vô số cao thủ, các vị nếu không tự tàn sát lẫn nhau, không chia năm xẻ bảy, làm sao bị họa hủy diệt? Cứ lấy việc hôm nay đủ biết, bảy người các vị nếu không phải đang tỷ thí chưởng lực với nhau, bần tăng dẫu có lẻn lên được đỉnh Quang Minh chăng nữa, cũng làm sao có thể một đòn đã thành công? Cái đó gọi là trời làm tội còn đường sống, tự mình hành tội thì chỉ có chết! Ha ha, có ai ngờ Minh giáo uy danh lừng lẫy năm nào, Dương Đính Thiên vừa chết đi đã đến nông nỗi này!

Dương Tiêu, Bành Oánh Ngọc, Chu Điên cả bọn lâm vào đại họa thân vong, giáo diệt, nghe những câu Viên Chân vừa nói, nghĩ lại chuyện hai chục năm qua, ai nấy vô cùng ân hận, nghĩ thầm: "Gã hòa thượng này nói chẳng sai chút nào".

Chu Điên nói to:

– Dương Tiêu, Chu Điên ta thật đáng chết! Trước nay đối với huynh không phải chút nào. Huynh tuy không thật tốt, nhưng nếu huynh làm giáo chủ, thì vẫn hơn là không có giáo chủ, để đến nỗi tất cả bị diệt thế này.

Dương Tiêu cười chua chát, nói:

– Đệ đâu có tài đức gì để làm giáo chủ. Mọi người đều sai, cả bọn chúng ta làm hỏng việc, xuống dưới suối vàng còn mặt mũi nào gặp các giáo chủ Minh tôn đời trước đây?

Viên Chân cười, nói:

– Các vị bây giờ mới hối hận thì đã muộn rồi. Năm xưa Dương Đính Thiên đứng đầu Ma giáo, những tưởng khí thế không chỉ một đời, tiếc rằng hắn chết quá sớm, không được chính mắt chứng kiến thảm bại như thế này.

Chu Điên cả giận, chửi:

– Nói thối lắm! Dương giáo chủ mà còn sống, mọi người đều tuân lệnh răm rắp, thằng giặc trọc nhà ngươi liệu có đánh lén được chăng?

Viên Chân cười khẩy, nói:

– Dương Đính Thiên sống hay chết cũng thế cả, ta đều có cách làm cho hắn thân bại danh liệ

Đột nhiên nghe bộp một tiếng, tiếp đến tiếng "ối!" Viên Chân đã bị Vi Nhất Tiếu đánh một chưởng vào lưng, đồng thời ngay lúc ấy Vi Nhất Tiếu cũng bị Viên Chân chọc lại một chỉ, trúng ngay huyệt Đản Trung ở ngực. Hai người đều loạng choạng lùi lại mấy bước.

Thì ra Vi Nhất Tiếu sau khi bị Viên Chân điểm trúng huyệt, tuy thụ thương rất nặng, song nội lực của y cao hơn người khác một bậc, chưa đến nỗi mất hết khả năng phản kích. Y giả vờ ngất đi, chờ lúc Viên Chân dương dương đắc ý, không hề phòng bị, mới vùng dậy tập kích. Chưởng vừa rồi y sử dụng kình lực toàn thân, cốt cứu vãn cái họa tận diệt cho Minh giáo, toan cùng chết với kẻ địch một lần. Viên Chân tuy lợi hại, song Thanh Dực Bức Vương là một trong Tứ đại hộ giáo pháp vương, ngang hàng với Ân Thiên Chính và Tạ Tốn, toàn lực xuất chưởng há phải tầm thường? Viên Chân trúng phải "Hàn băng miên chưởng", cảm thấy ngực nóng nhộn nhạo buồn nôn, mấy lần cố vận nội lực chống đỡ nhưng chỉ thấy trời đất quay cuồng, lảo đảo chực ngã. Hắn đành ngồi xếp bằng, vận khí chống lại hàn khí của "Hàn băng miên chưởng".

Vi Nhất Tiếu trúng liền hai đòn "Ảo Âm Chỉ", chân đứng không vững, ngã ngửa ra sau, nằm bất động.

Trong giây lát, sảnh đường im phăng phắc, cả tám đại cao thủ cùng bị trọng thương, không ai có thể di động dù chỉ nửa bước. Cả tám người cùng vận nội lực, chỉ mong mình sớm khôi phục để có thể hành động trước đối phương một bước, bên nào sớm hơn là có thể giết chết bên kia. Mọi người lòng như lửa đốt, biết rằng sự tồn vong của Minh giáo, sự sống chết của cả tám người chỉ là chuyện đường tơ kẽ tóc. Nếu Viên Chân có thể hành động sớm một bước, dù bị thương nặng, hắn cũng có thể cầm kiếm đâm chết bảy người kia; nếu bất cứ ai trong bảy người của Minh giáo có thể hành động trước, giết chết Viên Chân thì sẽ cứu được Minh giáo.

Bảy người của Minh giáo là số đông, chiếm lợi thế hơn hẳn; nhưng Ngũ tản nhân công lực thấp hơn, sau khi trúng Ảo Âm Chỉ đã mất hết sức lực, còn Dương Tiêu và Vi Nhất Tiếu nội lực thâm hậu hơn thì lại bị trúng hai lần Ảo Âm Chỉ. Kình lực của "Hàn băng miên chưởng" và Ảo Âm Chỉ vốn không phân biệt cao thấp, nhưng Vi Nhất Tiếu lúc ra đòn đã bị thương nặng, còn Viên Chân lúc đánh đối phương sức còn nguyên vẹn, thành thử xem ra Viên Chân có nhiều cơ hội cử động được trước.

Dương Tiêu trong bụng rất lo lắng, nhưng việc vận khí dẫn công thật hoàn toàn không được gượng ép, bụng dạ càng lo lắng, nôn nóng thì càng khó khăn, cả bọn ngồi đây đều là cao thủ nội gia, đạo lý ấy lẽ nào không biết? Bọn Lãnh Khiêm hô hấp vài lần, biết rằng không có cách gì hồi phục trước Viên Chân, chỉ mong có một thuộc hạ nào đó của Dương Tiêu, là người của Minh giáo, bước vào đây, dù không biết chút võ nghệ nào, miễn là cầm cây gậy đập nhẹ một cái cũng giết được Viên Chân.

Thế nhưng đợi hồi lâu, bên ngoài sảnh vẫn chẳng thấy động tĩnh gì. Lúc này đang là nửa đêm, giáo chúng trên đỉnh Quang Minh hoặc chia nhau canh gác, hoặc nằm ngủ, một khi Dương Tiêu chưa gọi đến, ai dám bước vào sảnh đường nghị sự? Còn các tiểu đồng hầu hạ Dương Tiêu, thì một đứa bị Vi Nhất Tiếu hút máu chết rồi, mấy đứa còn lại hồn phi phách tán, đều đã chạy trốn cho xa, đừng nói Dương Tiêu chưa gọi, dẫu có gọi đến cũng chẳng đứa nào dám bước vào sảnh đường, sợ xuất hiện trước ma vương hút máu.

Trương Vô Kỵ nằm trong cái túi vải, tuy không nhìn thấy, nhưng mọi lời nói và diễn biến bên ngoài đều biết rõ ràng. Lúc này tuy vô cùng yên tĩnh, song bên trong chứa đựng đầy rẫy sát cơ. Lát sau bỗng nghe Thuyết Bất Đắc nói:

– Ồ, tiểu bằng hữu trong cái túi, ngươi phải ra tay cứu bọn ta một phen mới được.

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Cứu bằng cách nào?

Viên Chân cảm thấy chân khí trong đan điền dần dần lưu thông, bỗng nghe trong túi vải phát ra tiếng người thì giật mình cả kinh, chân khí lập tức chạy ngược, toàn thân run lẩy bẩy. Từ lúc hắn lẻn vào sảnh đường, hắn chỉ chăm chăm đối phó với các cao thủ như Vi Nhất Tiếu, Dương Tiêu, đâu buồn để ý đến cái túi vải vứt dưới đất chẳng có gì lạ kia? Đột nhiên cái túi phát ra tiếng người, hắn không khỏi kinh hãi, nghĩ thầm: "Mạng ta nguy rồi!" Thuyết Bất Đắc nói:

– Miệng cái túi được buộc lại bằng kiểu nút "Thiên triền bách kết", ngoài ta ra, không ai cởi được. Nhưng ngươi có thể đứng lên được chứ?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Được.

Chàng ở trong túi liền đứng dậy. Thuyết Bất Đắc nói:

– Tiểu huynh đệ, ngươi đã xả thân cứu sống mấy chục huynh đệ Nhuệ Kim kỳ, nghĩa liệt cao phong, ai nấy kính phục. Bây giờ tính mạng bảy người chúng ta đây cũng hoàn toàn trông chờ ở ngươi cứu mới xong. Ngươi hãy bước tới, đánh một quyền hay một chưởng, giết chết tên ác tăng kia đi là được.

Trương Vô Kỵ phân vân chưa trả lời. Thuyết Bất Đắc nói:

– Tên ác tăng này nhân lúc mọi người sơ hở, bất ngờ đánh lén, hành động đê hèn thế nào, chính tai ngươi đã nghe rõ cả. Nếu ngươi không giết hắn đi, mấy vạn người của Minh giáo từ trên xuống dưới đều sẽ bị tận diệt. Ngươi ra tay giết hắn, đó sẽ là hành vi hào hiệp, đại nhân đại nghĩa đó.

Trương Vô Kỵ vẫn do dự chưa đáp.

Viên Chân nói:

– Lúc này ta không cử động được, ngươi tới đánh chết ta, không sợ hảo hán trong thiên hạ chê cười hay sao?

Chu Điên giận dữ nói:

– Thằng trọc thối tha, phái Thiếu Lâm nhà ngươi tự xưng là danh môn chính phái thế mà lén lút lên đây đánh trộm, đâu có sợ hảo hán trong thiên hạ chê cười?

Trương Vô Kỵ đi về phía Viên Chân một bước, dừng lại, nói:

– Thuyết Bất Đắc đại sư, chuyện phải trái giữa quý giáo với sáu đại môn phái thế nào, tiểu khả thực không hiểu rõ. Tiểu khả rất muốn giúp bảy vị, song cũng không muốn đả thương vị đại hòa thượng phái Thiếu Lâm này.

Bành Oánh Ngọc nói:

– Tiểu huynh đệ có chỗ chưa biết, bây giờ nếu không giết hắn, chút nữa hắn phục hồi công lực rồi, thể nào hắn cũng sẽ giết luôn cả tiểu huynh đệ đó.

Viên Chân cười nói:

– Ta với vị tiểu thí chủ ấy không thù không oán, không lẽ tự dưng ta lại hãm hại y? Huống hồ vị tiểu thí chủ ấy không phải người của Ma giáo, không chừng còn bị Bố Đại hòa thượng nuôi ý đồ xấu, bắt mang lên đây. Ma giáo các ngươi chẳng từ việc xấu xa nào cả, làm sao có ý tốt với y được?

Hai bên hô hấp, nói năng hết sức khó khăn, nhưng vẫn tranh nhau nói lấy lòng Trương Vô Kỵ.

Trương Vô Kỵ thật khó nghĩ, tuy nghe thấy lão hòa thượng Viên Chân đánh lén người, hành vi không quang minh chút nào, nhưng bảo chàng bước lên đánh chết lão thì chàng không muốn. Hơn nữa, một chưởng đánh ra rồi, vĩnh viễn chàng sẽ phải đứng về phe Minh giáo, đối địch với sáu đại môn phái. Thái sư phụ, Võ Đang lục hiệp, Chu Chỉ Nhược, đều sẽ trở thành kẻ địch của mình. Chàng lại nghĩ thầm: "Minh giáo vốn bị người trong võ lâm coi là tà ma dị đoan, như Vi Nhất Tiếu hút máu người, nghĩa phụ lạm sát người vô tội, quả thực có biết bao điều sai trái. Thái sư phụ năm xưa từng một mực căn dặn ta nhất thiết không được kết giao với người trong Ma giáo, để khỏi chuốc họa suốt đời. Phụ thân ta chỉ vì lấy mẫu thân ta là người của Ma giáo mà phải tự vẫn trên núi Võ Đang, gương đó rành rành chưa lâu. Huống chi Viên Chân là đệ tử của Không Kiến thần tăng, người đã cam chịu mười ba quyền Thất Thương quyền để cảm hóa nghĩa phụ ta, đến nỗi phải bỏ mạng, bậc đại nhân đại nghĩa từ bi như thế thực hiếm có trong võ lâm, ta làm sao có thể giết đệ tử của thần tăng kia chứ?"

Nghe thấy Thuyết Bất Đắc thúc giục, Trương Vô Kỵ nói:

– Thuyết Bất Đắc đại sư, xin đại sư chỉ cho cách nào không phải giết vị hòa thượng kia, mà ông ta cũng không thể giết hại các vị, tiểu khả sẽ làm theo cách đó.

Thuyết Bất Đắc nghĩ thầm: "Cục diện trước mắt chỉ có một mất một còn, làm gì có cách bảo toàn cả đôi bên? Nếu Viên Chân sống, thì bên mình chết hết". Còn đang ngẫm nghĩ, thì Bành Oánh Ngọc nói:

– Tiểu huynh đệ bụng dạ nhân từ, thật đáng kính phục. Vậy ngươi hãy giơ ngón tay điểm nhẹ vào huyệt Ngọc Đường ở ngực Viên Chân, làm như thế hắn sẽ không bị tổn thương, song trong vài canh giờ hắn cũng chưa thể vận nội lực. Bọn ta sẽ phái người đưa hắn rời khỏi đỉnh Quang Minh, không làm rụng một sợi tóc của hắn. Ngươi có biết vị trí huyệt Ngọc Đường hay chăng?

Trương Vô Kỵ giỏi y lý, biết rằng điểm nhẹ vào huyệt Ngọc Đường quả thực sẽ tạm thời ngăn chặn chân khí từ đan điền chạy lên, mà không làm tổn thương cơ thể, bèn đáp:

– Dạ, biết.

Viên Chân nói:

– Tiểu thí chủ chớ nghe lời bọn chúng. Ngươi điểm huyệt ta rồi cũng không sao, nhưng một khi chúng đã phục hồi nội lực rồi, chúng sẽ lập tức giết ta, ngươi làm sao ngăn nổi?

Chu Điên liền chửi:

– Ngươi nói thối như cứt, bọn ta đã bảo không giết ngươi là sẽ không giết. Ngũ tản nhân của Minh giáo đã bao giờ nuốt lời chưa?

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm, Dương Tiêu và Ngũ tản nhân đều không phải hạng người tráo trở, chỉ ngại một mình Vi Nhất Tiếu, bèn hỏi:

– Vi tiền bối, tiền bối nghĩ sao?

Vi Nhất Tiếu đáp, giọng run run:

– Tạm thời tha cho hắn cũng được, lần sau gặp lại, sẽ liều.. một mất.. một còn.. với hắn.

Bốn chữ sau cùng y nói thều thào, thở chẳng ra hơi.

Trương Vô Kỵ nói:

– Vậy thì được, Quang Minh tả sứ, Thanh Dực Bức Vương, Ngũ tản nhân, bảy vị đều là anh hùng hào kiệt thời nay, há có thể nuốt lời? Viên Chân đại sư, vãn bối đành đắc tội.

Nói rồi đến trước mặt Viên Chân.

Chàng ở trong cái túi, mỗi bước chỉ đi được chừng một thước, mươi bước sau mới tới gần Viên Chân. Cái cảnh người trong túi vải lật đật di động chậm chạp, trông thật hoạt kê, nhưng lúc này mạng sống của mọi người đều ở trong đường tơ kẽ tóc, chả ai cười nổi.

Trương Vô Kỵ lắng nghe hơi thở của Viên Chân, khi còn cách lão ta hai thước, chàng dừng lại, nói:

– Viên Chân đại sư, vãn bối vì muốn đôi bên chu toàn, xin đừng trách.

Đoạn thong thả đưa tay ra.

Viên Chân cười gượng, nói:

– Bây giờ toàn thân ta không cử động được, đành để ngươi muốn làm gì thì làm.

Từ khi "Điệp Cốc Y Tiên" Hồ Thanh Ngưu chết đi, Trương Vô Kỵ là người có khả năng nhận biết huyệt đạo có một không hai. Tuy chàng bị ngăn cách với Viên Chân bởi cái túi vải, nhưng đưa ngón tay ra là điểm trúng huyệt Ngọc Đường không sai một ly. Huyệt Ngọc Đường nằm ở ngực, bên dưới huyệt Tử Cung một tấc sáu phân, bên trên huyệt Đản Trung một tấc sáu phân, thuộc mạch Nhâm. Huyệt này không phải là huyệt lớn có thể gây nguy hiểm đến tính mạng, song nó nằm trên đường chân khí phải đi qua, nên một khi bị chặn lại, chân khí toàn thân sẽ tắc nghẽn.

Bỗng nghe Thuyết Bất Đắc, Dương Tiêu, Lãnh Khiêm cùng kêu lên:

– Úi chao! Mau thu tay về!

Trương Vô Kỵ chỉ cảm thấy ngón trỏ tay phải bị giật một cái, một luồng hàn khí chạy từ đầu ngón tay vào người, lập tức toàn thân lạnh giá. Chàng nghe thấy Chu Điên, Thiết Quan đạo nhân cả bọn cùng lớn tiếng chửi:

– Lão trọc khốn kiếp, dám giở trò gian trá!

Trương Vô Kỵ run lẩy bẩy, chợt hiểu Viên Chân tuy không di chuyển bằng chân được, song hắn có thể gượng giơ ngón tay lên ngay trước huyệt Ngọc Đường. Trương Vô Kỵ ở trong cái túi không nhìn thấy chiêu đó, khi ngón tay chàng điểm vào, hai đầu ngón tay đụng nhau, chỉ lực Ảo Âm Chỉ của Viên Chân xuyên qua lớp vải truyền sang cơ thể chàng.

Lần này Viên Chân dồn toàn bộ nội lực còn lại ra đầu ngón tay, hai chỉ đụng nhau rồi, toàn thân hắn tê dại, mặt tái nhợt như xác chết.

Sảnh đường vốn chỉ có tám người bị thương không cử động, bây giờ lại thêm Trương Vô Kỵ.

Chu Điên nóng nảy hơn cả, tuy nói năng đứt quãng vì hụt hơi, song vẫn cố chửi rủa lão tặc trọc Thiếu Lâm gian trá vô liêm sỉ. Còn bọn Dương Tiêu nghĩ thầm cũng chả nên trách Viên Chân, khi bị đối phương điểm huyệt, hắn có thể giơ tay tự vệ lắm chứ.

Lúc đó Viên Chân tuy kiệt sức, song mừng thầm, rằng gã tiểu tử kia ít tuổi, công lực chẳng đáng bao nhiêu, trúng phải Ảo Âm Chỉ rồi chỉ nửa ngày là chết, còn chân khí của mình thì một canh giờ sau sẽ từ từ tụ lại, rút cục mình vẫn làm chủ tình thế.

Sảnh đường lại lặng ngắt như tờ; quá nửa canh giờ sau, bốn cây nến cháy hết, trong sảnh tối om.

Bọn Dương Tiêu nghe hơi thở của Viên Chân lúc trước đứt quãng, nay đều dần, từ nặng nề hổn hển chuyển thành chậm và dài thì biết rằng chân khí trong cơ thể hắn đang ngưng tụ. Còn bọn họ thì mỗi lần vận công, hàn khí Huyễn Âm Chỉ lại xâm nhập đan điền, người cứ rét run bần bật. Càng lúc bọn họ càng thất vọng, đau đớn, chỉ mong Viên Chân sớm phục hồi công lực, giáng cho mỗi người một chưởng để bọn họ chết quách cho rồi, còn hơn phải chịu cảnh giày vò như thế này.

Bọn Chu Điên, Lãnh Khiêm thản nhiên nhắm mắt chờ chết, còn Bành Oánh Ngọc và Thuyết Bất Đắc thì chết không cam lòng. Trong Ngũ tản nhân, Thuyết Bất Đắc và Bành Oánh Ngọc đều là hòa thượng xuất gia, nhưng có hùng tâm hơn cả, hết sức quan tâm đến nỗi đau khổ của người đời, quyết chí làm nên sự nghiệp lẫy lừng. Bây giờ chuyện đến nỗi này, rốt cuộc bị chết dưới tay Viên Chân, chí nguyện bình sinh tan thành mây khói.

Thuyết Bất Đắc buồn bã nói:

– Bành hòa thượng, chúng ta lập chí những mong đánh đuổi bọn Thát tử Mông Cổ, ai ngờ cuối cùng hoàn toàn trắng tay. Ôi, nghĩ đến kiếp nạn của muôn ngàn bách tính chưa dứt, thật quá đau lòng!

Trương Vô Kỵ đang giữ luồng khí nóng trong đan điền chống đỡ hàn khí "Ảo Âm Chỉ", nghe câu nói của Thuyết Bất Đắc thì không khỏi ngạc nhiên: "Ông ta mong đánh đuổi bọn Thát tử Mông Cổ ư? Không lẽ Ma giáo vốn mang tiếng xấu xa mà lại lo lắng cho bàn dân thiên hạ như thế sao?"

Lại nghe Bành Oánh Ngọc nói:

– Thuyết Bất Đắc, ta đã nói trước rồi, chỉ trông vào sức của Minh giáo thì không đánh đuổi nổi bọn Thát tử Mông Cổ đâu. Phải liên lạc với anh hùng hào kiệt khắp thiên hạ, cùng đứng lên mới có thể thành công. Sư huynh Bổng Hồ của ngươi, sư đệ Chu Tử Vượng của ta, năm xưa nổi lên tạo phản, khí thế oanh liệt vô cùng, nhưng rồi đại bại, chẳng phải cũng vì không có ngoại viện đó sao?

Chu Điên lớn tiếng nói:

– Chết đến đít rồi, hai lão trọc còn tranh cãi nhau, kẻ thì bảo phải lấy Minh giáo làm chủ, kẻ lại kêu phải liên lạc với các danh môn chính phái. Chu Điên ta thấy cả hai đều nói thối như cứt! Minh giáo chúng ta chia năm xẻ bảy, như rắn mất đầu, làm chủ cái con khỉ gì? Còn Bành hòa thượng muốn liên lạc với danh môn chính phái, lại càng thối hơn cứt; cả sáu môn phái đang vây đánh chúng ta đó, liên với chả lạc!

Thiết Quan đạo nhân xen vào:

– Giá Dương giáo chủ còn sống, bọn mình nện cho sáu môn phái một trận nên thân, lo gì họ không tuân theo hiệu lệnh của chúng ta?

Chu Điên cười ha hả, nói:

– Thằng cha mũi bò nói thối như rắm bò vậy! Dương giáo chủ mà còn sống, tất nhiên mọi việc suôn sẻ cả, ai chả biết thế? Ối chao.. ối chao..

Y ta há miệng ra cười nên hụt hơi thở, hàn khí Huyễn Âm Chỉ thấm vào tim phổi, chịu hết nổi phải kêu lên.

Lãnh Khiêm nói:

– Im cả đi!

Câu nói của lão khiến cả bọn cùng im lặng.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Xem chừng Minh giáo là một giáo phái có nhiều uẩn khúc, hoàn toàn không phải chỉ làm điều xấu". Chàng bèn hỏi:

– Thuyết Bất Đắc đại sư, tôn chỉ của quý giáo thực ra là gì? Đại sư có thể cho biết chăng?

Thuyết Bất Đắc nói:

– Ồ, ngươi chưa chết ư? Tiểu huynh đệ, ngươi mất mạng không đâu vì Minh giáo, bọn ta thật lấy làm tiếc. Ngươi chỉ còn sống được vài canh giờ nữa thôi, bí mật của bổn giáo có nói cho ngươi biết cũng chẳng sao. Lãnh Diện tiên sinh, nói được chăng?

Lãnh Khiêm đáp:

– Nói!

Đáng lẽ lão cần trả lời rằng "Ngươi cứ nói cho hắn nghe cũng được", song lão chỉ dùng một chữ "Nói" cụt lủn vậy thôi.

Thuyết Bất Đắc nói:

– Tiểu huynh đệ, Minh giáo nguyên từ nước Ba Tư truyền sang Trung thổ vào đời nhà Đường, đương thời gọi là Tiên giáo. Vua nhà Đường cho xây dựng chùa Đại Vân Quang Minh ở các nơi, làm tự viện của Minh giáo. Giáo nghĩa của chúng ta là hành thiện trừ ác, chúng sinh bình đẳng, có vàng bạc tiền tài đều đem cứu tế kẻ nghèo khổ, không sát sinh, không uống rượu, tôn thờ Minh Tôn. Minh Tôn tức là thần lửa, thần thiện. Khổ nỗi đời nào bọn tham quan ô lại cũng áp bức Minh giáo, huynh đệ giáo chúng không nhịn nổi, thường nổi dậy chống đối. Từ đời Phương Lạp Phương giáo chủ thời Bắc Tống đến giờ, không biết đã bao nhiêu phen nổi dậy.

Trương Vô Kỵ từng nghe tên tuổi Phương Lạp, biết đấy là một trong "Tứ Đại Khấu" [82], lừng danh như Tống Giang, Vương Khánh, Điền Hổ, thời Tuyên Hòa Bắc Tống, nên chàng hỏi:

– Thì ra Phương Lạp là giáo chủ của quý giáo?

Thuyết Bất Đắc nói:

– Chính thế. Đến đời Nam Tống, thời Kiến Viêm, có giáo chủ Vương Tông Thạch khởi sự ở Tín Châu; thời Thiệu Hưng có giáo chủ Dư Ngũ Bà khởi sự ở Cù Châu; thời Thiệu Định có giáo chủ Trương Tam Thương khởi sự ở Giang Tây và Quảng Đông. Chỉ vì bổn giáo xưa nay luôn chống quan lại triều đình nên triều đình gọi chúng ta là Ma giáo, ra sức cấm đoán. Chúng ta muốn sống được đành phải hành sự kín đáo, bí mật, để tránh tai mắt quan quân. Các đại môn phái tích kết oán thù với chúng ta, thành thế đôi bên như nước với lửa. Đương nhiên, trong số giáo chúng của bổn giáo cũng có kẻ không tự kiềm chế đã làm những việc sai trái, ỷ mình có võ công mà hoặc giết người vô tội, hoặc gian dâm cướp bóc, hủy hoại thanh danh của bổn giáo..

Dương Tiêu đột nhiên lạnh lùng ngắt lời:

– Thuyết Bất Đắc, ngươi nói ta đấy hả?

Thuyết Bất Đắc đáp:

– Tên ta là Thuyết Bất Đắc, phàm chuyện gì không nói được, ta sẽ không nói. Ai làm việc gì, người đó tự biết. Có câu "Kẻ nào ăn vụng thì bụng nó to".

Dương Tiêu "hừ" một tiếng, không nói thêm nữa.

Trương Vô Kỵ bỗng giật mình: "Ồ, sao ta không thấy lạnh nữa?" Lúc mới trúng "Ảo Âm Chỉ" của Viên Chân, chàng bị lạnh không chịu nổi, nhưng đến lúc này hàn khí đã tiêu tan. Nguyên hồi lên mười, chàng trúng phải âm độc của Huyền Minh thần chưởng, đến năm mười bảy tuổi mới khu trừ được hết. Trong bảy năm đó, cơ thể ngày đêm kháng cự hàn độc, vận khí chống lạnh với hít thở dường như là một, không cần suy nghĩ, cứ như phản ứng tự nhiên. Huống hồ chàng tu luyện Cửu dương thần công tuy chưa xong cửa ải cuối cùng, nhưng khí dương trong người rất vượng, chẳng mấy chốc đã loại trừ hết âm độc.

Lại nghe Thuyết Bất Đắc nói:

– Từ khi Đại Tống ta rơi vào tay bọn Thát tử Mông Cổ, Minh giáo càng trở thành kẻ tử thù của triều đình, vì Minh giáo vốn coi việc đánh đuổi ngoại xâm là trách nhiệm của mình. Tiếc rằng những năm qua Minh giáo như rắn mất đầu, các cao thủ vì tranh giành chức giáo chủ mà tàn sát lẫn nhau, để rồi người thì rửa tay quy ẩn, kẻ lập chi phái riêng, tự lên làm giáo chủ. Giáo quy đã suy sụp, oán thù với danh môn chính phái mỗi ngày thêm sâu, giờ đến nông nỗi này. Viên Chân hòa thượng, ta nói không sai đấy chứ?

Viên Chân hừ một tiếng, đáp:

– Không sai, không sai! Các ngươi chết đến nơi còn nói sai làm quái gì!

Hắn vừa nói vừa thong thả đứng dậy, tiến lên một bước.

Dương Tiêu và Ngũ tản nhân cùng kêu lên kinh hãi. Bọn họ ai cũng biết hắn sẽ đủ sức cử động trước mình, song không ngờ công lực của hắn lại thâm hậu đến thế, sau khi trúng phải "Hàn băng miên chưởng" của Vi Nhất Tiếu lại có thể đề khí vận công mau chóng như vậy. Chỉ thấy hắn thân hình vững chãi, chân trái lại tiến thêm một bước, người không nghiêng ngả chút nào.

Dương Tiêu cười khẩy, nói:

– Cao túc của Không Kiến thần tăng quả nhiên ghê gớm thật! Nhưng ngươi vẫn chưa trả lời câu hỏi ban đầu của ta; hay là bên trong có nhiều uẩn khúc, không tiện nói ra chăng?

Viên Chân cười ha hả, lại tiến thêm một bước, nói:

– Ngươi không biết rõ uẩn khúc bên trong, chắc là chết chẳng thể nhắm mắt thật đó. Ngươi hỏi ta làm sao biết được con đường bí mật lên đỉnh Quang Minh, làm sao vượt qua biết bao vách đá hiểm trở, lên tới đây mà quỷ thần cũng không hay biết. Được, để ta nói thực cho các vị hay, chính hai vợ chồng giáo chủ Dương Đính Thiên của quý giáo đã dẫn ta lên đó.

Dương Tiêu giật mình, nghĩ thầm: "Với thân phận của hắn, hắn chắc chắn không nói láo, nhưng chuyện đó sao lại như thế?"

Chu Điên cất tiếng chửi liền:

– Cả họ nhà ngươi nói thối hơn cứt chó! Con đường bí mật ấy là bí mật lớn của đỉnh Quang Minh, là thánh cảnh trang nghiêm của bổn giáo, Dương tả sứ làm Quang Minh sứ giả, Vi đại ca làm Hộ giáo pháp vương còn chưa được đi qua lần nào, xưa nay chỉ một mình giáo chủ biết lối đi ấy. Làm sao Dương giáo chủ lại dẫn ngươi là người ngoài đi lối đó?

Viên Chân thở dài, xuất thần hồi lâu, rồi rầu rầu kể:

– Ngươi đòi biết ngọn ngành cho bằng được, vậy ta sẽ nói cho ngươi biết một chuyện bí mật cách đây hai mươi lăm năm luôn. Dẫu sao các vị cũng chẳng còn sống để mà xuống núi tiết lộ chuyện này được nữa. Ôi Chu Điên, ngươi nói không sai, lối đi bí mật ấy đúng là thánh cảnh trang nghiêm của Minh giáo, xưa nay chỉ một mình giáo chủ mới được phép bước vào, nếu không tức là vi phạm nghiêm quy quyết không thể tha thứ. Nhưng phu nhân Dương Đính Thiên đã vào trong đó, Dương Đính Thiên đã vi phạm giáo quy, lén dẫn Dương phu nhân vào lối đi đó..

Chu Điên xen lời:

– Cứt chó! Nói thối bỏ mẹ!

Bành Oánh Ngọc quát:

– Chu Điên, đừng phá quấy nữa!

Viên Chân nói tiếp:

– Rồi sau đó Dương phu nhân lại lén dẫn ta vào lối đi bí mật..

Chu Điên lại chửi:

– Con mẹ nó, nói láo nói lếu!

Viên Chân nói tiếp:

– Ta không phải người trong Minh giáo, đi vào đó đâu có bị coi là vi phạm giáo quy. Ôi, dẫu ta có là giáo đồ Minh giáo, có phạm trọng tội chăng nữa, ta cũng đâu có ngán gì?

Hắn kể chuyện năm xưa mà giọng nói não nề.

Thiết Quan đạo nhân hỏi:

– Dương phu nhân đưa ngươi vào đó làm gì?

Viên Chân đáp:

– Chuyện đó lâu quá rồi! Lão nạp nay đã thành một ông già hơn bảy mươi tuổi.. chuyện cũ thời trai trẻ.. thôi được, để lão nạp kể hết cho các vị nghe. Các vị có biết lão nạp là ai không? Dương phu nhân là sư muội của ta, trước khi xuất gia, ta là Thành Côn, ngoại hiệu "Hỗn Nguyên Tích Lịch Thủ" đó!

Câu này vừa thốt ra, bọn Dương Tiêu đều vô cùng ngạc nhiên, Trương Vô Kỵ ở trong túi vải thì cả kinh, kêu lên thành tiếng.

Ngày nào trên Băng Hỏa đảo, câu chuyện nghĩa phụ kể tối hôm ấy bỗng hiện ra rõ ràng trong óc Trương Vô Kỵ: Sư phụ của nghĩa phụ là Thành Côn sát hại toàn gia, phụ mẫu thê nhi của Tạ Tốn, nên Tạ Tốn mới giết bừa các nhân sĩ võ lâm để buộc Thành Côn xuất đầu lộ diện, rồi Tạ Tốn đánh chết Không Kiến thần tăng nhưng Thành Côn không giữ lời.. như thế nào. Trương Vô Kỵ chợt nghĩ thầm: "Thì ra bấy giờ ác tặc Thành Côn đã bái Không Kiến thần tăng làm sư phụ, Không Kiến thần tăng vì muốn hóa giải cái trường oan nghiệt ấy nên chịu cho Tạ Tốn đánh mười ba quyền Thất Thương quyền. Nào ngờ ngay cả sư phụ của mình mà Thành Côn cũng lừa dối, khiến cho Không Kiến thần tăng phải ôm hận xuống tuyền đài".

Chàng lại nghĩ tiếp: "Nghĩa phụ sở dĩ phát điên, lạm sát người vô tội, các bang phái sở dĩ lên núi Võ Đang bức tử cha mẹ ta, suy cho cùng tất cả mọi sự đều là do tên thủ phạm Thành Côn này mà ra". Trong giây lát lòng chàng phẫn nộ cùng cực, toàn thân bừng bừng như bị lửa thiêu đốt. Cái túi Càn Khôn Nhất Khí của Thuyết Bất Đắc kín mít, không thông hơi, chàng ở trong túi mấy canh giờ liền, đã ngộp thở vô cùng, may nhờ nội công thâm hậu, hít thở theo cách hô hấp của loài rùa, sử dụng rất ít khí trời mới chịu đựng tới bây giờ. Nay tâm thần đột nhiên xáo trộn, Cửu dương chân khí súc tích trong đan điền mất sự chế ngự, chạy loạn trong cơ thể, chàng như rơi vào một cái lò than đang cháy, nóng tới mức phải rên rỉ thành tiếng.

Chu Điên quát to:

– Tiểu huynh đệ, mọi người sắp chết đến nơi, ai cũng đau đớn khổ sở vô cùng, nhưng đã là hảo hán thì đừng có rên rỉ kêu than.

Trương Vô Kỵ đáp:

– Vâng!

Chàng dùng phép vận công nói trong Cửu dương chân kinh để trấn tĩnh tinh thần, điều hòa hơi thở. Bình thời chàng chỉ theo cách mà làm thì lập tức tâm như nước lặng, thần du vật ngoại; còn bây giờ chàng càng vận công, xương cốt, tứ chi càng bứt rứt khó chịu, tưởng chừng mỗi đại huyệt đều bị hàng trăm cây kim nóng đỏ đâm vào.

Thì ra chàng tu luyện Cửu dương chân kinh mấy năm qua, tuy học môn công phu huyền diệu thượng thừa trong võ học, nhưng chưa từng có minh sư chỉ điểm, chỉ tự mày mò theo kinh sách, Cửu dương chân khí súc tích trong cơ thể càng ngày càng nhiều, song chàng chưa biết cách vận dụng đạo dẫn để khai thông cửa ải cuối cùng. Kể ra chưa biết cách dẫn phát cũng không sao; nhưng Ảo Âm Chỉ của Viên Chân lại là công phu âm độc nhất trong võ lâm, một khi đi vào cơ thể chàng thì chẳng khác gì thùng thuốc súng nay có thêm dây dẫn lửa. Chàng lại đang bị nhốt trong cái túi "Càn Khôn Nhất Khí", chân khí bị kích phát không có phát tiết, liền chạy ngược vào bên trong cơ thể. Trong thời khắc ngắn ngủi này, Trương Vô Kỵ đang ở vào cửa ải gian nan nhất, nguy hiểm nhất của một đời tu đạo luyện khí, thành bại sống chết chỉ trong đường tơ kẽ tóc, như chỉ mành treo chuông. Bọn Chu Điên đâu biết chàng đang lâm vào thời khắc trễ không được, sớm không được, đúng lúc thủy hỏa ký tế, long hổ giao hội cực kỳ hệ trọng, lại cứ ngỡ chàng rên rỉ đau đớn do trúng phải "Ảo Âm Chỉ".

Trương Vô Kỵ cố chống chọi cái khí nóng chí dương đang thiêu đốt, song mỗi câu nói của Viên Chân vẫn lọt vào tai rõ rành rành:

– Ta và sư muội hai bên gia đình giao kết đã nhiều đời, hai ta từ bé vốn đã ước định hôn nhân. Ai ngờ Dương Đính Thiên cũng thầm yêu trộm nhớ sư muội của ta, đến khi y lên làm giáo chủ Minh giáo, uy chấn thiên hạ, phụ mẫu của sư muội ta là hạng người tham danh tham lợi, sư muội ta cũng tâm chí không vững vàng nên đã bằng lòng lấy Dương Đính Thiên. Nhưng sau khi kết hôn, nàng lại không thấy hạnh phúc nên vẫn gặp ta, cả hai cần có một chỗ thật kín đáo để hẹn hò tình tự. Dương Đính Thiên mọi việc đều chiều theo ý nàng, thế là nàng nói muốn đi xem con đường bí mật, Dương Đính Thiên tuy chẳng muốn chút nào, song không chịu nổi đòi hỏi nằn nì của thê tử, cuối cùng dẫn nàng vào đó. Từ đấy lối đi bí mật lên đỉnh Quang Minh này, thánh địa trang nghiêm nhất của Minh giáo mấy trăm năm đã trở thành nơi ta cùng giáo chủ phu nhân của các vị gặp gỡ riêng tư, ha ha.. Ta đi đi về về lối đó mấy chục lần, hôm nay trở lại đỉnh Quang Minh đâu có tốn hơi sức gì?

Bọn Chu Điên, Dương Tiêu nghe câu chuyện đó thì ớ miệng ra, không thốt nổi một lời. Chu Điên chỉ chửi được chữ "thối", không nói tiếp nổi hai chữ "như cứt". Ai nấy tức giận sục sôi, ngực như muốn vỡ tung, bởi đối với Minh giáo, còn gì nhục nhã cho bằng chuyện này. Hôm nay Minh giáo có bị tận diệt cũng là do chuyện đó mà ra. Mọi người nghe xong, mắt như tóe lửa, đều biết lời Viên Chân nói không phải dối trá.

Viên Chân nói tiếp:

– Các vị tức giận gì kia chứ? Nhân duyên tốt lành của ta bị Dương Đính Thiên ngang nhiên phá vỡ, ái thê rõ ràng sắp là của ta, chỉ vì Dương Đính Thiên lên làm giáo chủ Ma giáo các vị mà ta bị chiếm mất, cho nên mối thù của ta với Ma giáo là bất cộng đới thiên. Ngày Dương Đính Thiên thành hôn với sư muội ta, ta cũng tới mừng, nhưng lúc uống rượu, ta đã thề rằng: "Thành Côn này dù chỉ còn một hơi thở, cũng nhất quyết giết bằng được Dương Đính Thiên, diệt bằng được Ma giáo". Ta mang nặng lời thề đó đã hơn bốn mươi năm, hôm nay mới thấy đại công cáo thành. Ha ha, Thành Côn ta đã vẹn lời thề, chết mới nhắm mắt được.

Dương Tiêu lạnh lùng nói:

– Đa tạ ngươi đã giải cho ta mối hồ nghi lớn trong lòng. Dương giáo chủ đột ngột từ trần, không hiểu vì lẽ gì, thì ra chính bởi tay ngươi.

Viên Chân buồn rầu nói:

– Hồi xưa võ công Dương Đính Thiên cao hơn ta nhiều, chẳng nói gì năm xưa, ngay hiện tại chỉ e công lực của ta cũng chưa bằng y thời đó.

Chu Điên xen vào:

– Thành ra ngươi mới lén hại Dương giáo chủ, không phải bỏ thuốc độc, chắc là cũng đánh trộm như hôm nay chứ gì?

Viên Chân thở dài, lắc đầu nói:

– Không phải thế. Sư muội ta sợ ta lén hạ độc thủ, luôn nhắc nhở ta, rằng nếu ta giết hại Dương Đính Thiên, nàng sẽ không tha cho ta. Nàng bảo nàng và ta lén lút hò hẹn như thế là đã không phải với chồng lắm rồi, nếu ta có tâm địa độc ác, trời cũng chẳng dung. Dương Đính Thiên, ôi, Dương Đính Thiên, y.. y tự chết đó thôi.

Cả bọn Dương Tiêu, Bành Oánh Ngọc cùng ồ cả lên.

Viên Chân nói tiếp:

– Giá như Dương Đính Thiên chết bởi chưởng hay chỉ của ta, thì ắt là ta đã tha cho Minh giáo các vị

Giọng nói của hắn nhỏ dần, khi hồi tưởng chuyện mấy chục năm trước, hắn chậm rãi kể tiếp:

– Đêm hôm đó, ta lại cùng sư muội gặp nhau trong đường hầm bí mật, đột nhiên nghe phía bên trái có tiếng thở hổn hển từng chặp vọng sang. Việc này chưa bao giờ xảy ra, đường hầm này cực kỳ kín đáo, người ngoài không thể có cách nào vào được, còn người trong Minh giáo thì ai dám bước vào đây? Hai ta nghe tiếng thở đó thì cả kinh, lần bước theo xem là ai, thấy Dương Đính Thiên đang ngồi trong một căn phòng nhỏ, tay cầm một miếng da dê, mặt đỏ bừng như máu. Y thấy hai đứa ta, bèn nói: "Hai đứa ngươi giỏi lắm, giỏi lắm, đối với ta thế đấy!" Nói xong, mặt y hóa thành xanh lè, rồi lại chuyển sang màu đỏ như máu; tiếp đó lại hóa thành xanh lè, rồi lại đỏ như máu; trong giây lát đổi màu ba lần. Dương tả sứ, ngươi có biết công phu đó là gì không?

Dương Tiêu nói:

– Đó là thần công Càn khôn đại na di của bổn giáo.

Chu Điên hỏi:

– Dương Tiêu, có phải ngươi cũng đã luyện thành rồi phải không?

Dương Tiêu đáp:

– Hai chữ "luyện thành" làm sao dám nói? Năm xưa giáo chủ mến ta, có truyền cho một chút công phu nhập môn thô thiển của thần công ấy. Ta luyện hơn mười năm cũng mới đến bậc thứ hai thôi. Luyện thêm nữa thì chân khí như muốn nổ tung óc mà ra, không cách gì chế ngự được. Mặt Dương giáo chủ trong chốc lát có thể biến màu ba lần, tức là đã luyện tới bậc thứ tư. Dương giáo chủ bảo rằng trong các giáo chủ bản giáo từ xưa tới nay, chỉ có Chung giáo chủ đời thứ tám võ công cao hơn cả, nghe đâu luyện tới bậc thứ năm môn thần công Càn khôn đại na di, song ngay hôm luyện thành đã bị tẩu hỏa nhập ma mà chết. Từ đó về sau, chưa có ai luyện đến bậc thứ tư cả.

Chu Điên hỏi:

– Khó đến thế sao?

Thiết Quan đạo nhân nói:

– Nếu không khó thế, sao có thể gọi là thần công hộ giáo của Minh giáo ư?

Các cao thủ võ học trong Minh giáo đều nghe danh "Càn khôn đại na di" từ lâu, lòng vốn ngưỡng mộ, cho nên vừa nhắc tới, tuy đang trong cảnh nguy cấp nhưng ai cũng muốn bàn góp vài câu.

Bành Oánh Ngọc nói:

– Dương tả sứ, Dương giáo chủ luyện thần công đó tới bậc thứ tư, sao lại làm đổi màu sắc mặt được?

Bành hòa thượng hỏi chuyện ngoài lề cũng là có thâm ý, biết Viên Chân chỉ cần đi vài bước nữa là từng người một sẽ bỏ mạng dưới tay hắn, nên dụ cho hắn bàn luận chuyện ngày xưa hòng kéo dài thời gian, chỉ cần trong bảy cao thủ của Minh giáo có một người phục hồi công lực, chống trả với hắn một phen thì dẫu không địch nổi nhưng cục diện có thể thay đổi, còn hơn bó tay chịu chết như bây giờ.

Dương Tiêu lẽ nào không hiểu thâm ý của Bành hòa thượng? Y bèn nói:

– Nguyên lý chính yếu của thần công "Càn khôn đại na di" là hai khí càn khôn, một cương một nhu, một âm một dương, đổi qua đổi lại. Trên mặt hiện sắc xanh hay sắc đỏ, là do huyết dịch trong cơ thể lên xuống, chân khí biến đổi mà ra. Nghe đâu khi luyện đến bậc thứ sáu, toàn thân có thể lúc xanh lúc đỏ, đến bậc thứ bảy thì hai khí âm dương thay đổi chỉ ở bên trong, không hề bộc lộ ra ngoài.

Bành Oánh Ngọc sợ Viên Chân sốt ruột, bèn hỏi hắn:

– Viên Chân đại sư, Dương giáo chủ của chúng tôi vì lẽ gì mà quy thiên?

Viên Chân cười khẩy, nói:

– Các vị sau khi trúng "Ảo Âm Chỉ" của ta, ta nghe các vị vận khí hô hấp thì biết trong vòng hai canh giờ chưa thể cử động nổi đâu. Các vị định kéo dài thời gian, tự vận khí giải cứu, ta nói thẳng cho các vị hay là chẳng kịp đâu. Các vị đều là cao thủ võ học, bị thương nặng thế, vận khí từ nãy đến giờ lẽ ra phải biến chuyển tốt, song chỉ thấy thân thể càng lúc càng cứng đờ phải không?

Bọn Dương Tiêu, Bành Oánh Ngọc vốn biết vậy, nhưng còn một hơi thở thì vẫn chưa chịu bó tay.

Chỉ nghe Viên Chân nói tiếp:

– Bấy giờ ta thấy mặt Dương Đính Thiên biến sắc lạ lùng, trong bụng thật sự kinh hoảng. Sư muội ta biết y võ công cao siêu, chỉ ra tay là giết được hai ta ngay, bèn nói: "Đính Thiên, mọi sự đều do thiếp tệ hại, chàng hãy tha cho Thành sư ca xuống núi, rồi trừng phạt thiếp thế nào thiếp cũng xin chịu hết". Dương Đính Thiên nghe nàng nói thế, lắc đầu, chậm rãi nói: "Ta lấy nàng, nhưng không lấy được trái tim nàng". Chỉ thấy hai mắt y mở trừng trừng, đột nhiên từ khóe mắt chảy xuống hai dòng máu tươi, thân hình ngay đơ, không động đậy gì nữa. Sư muội ta cả kinh, kêu lên: "Đính Thiên, Đính Thiên, chàng làm sao thế?"

Viên Chân kể tới đây, giọng nói tuy nhỏ, nhưng ai nấy nghe rõ trong đêm khuya vắng, nghĩ đến tình trạng hai mắt chảy máu của Dương Đính Thiên, đều bất giác rùng mình.

Viên Chân kể tiếp:

– Nàng gọi mấy lần, Dương Đính Thiên vẫn không cử động. Sư muội ta lấy hết can đảm, tới bên kéo tay y thì đã cứng ngắc; thử đằng mũi, thấy y tắt thở rồi. Ta biết nàng vô cùng đau khổ, bèn an ủi: "Chắc là y đang luyện môn võ công cực khó, đột nhiên bị tẩu hỏa, chân khí chạy ngược lên, nên hết cách cứu". Sư muội ta nói: "Đúng thế, chàng đang luyện môn võ công thượng thừa của Minh giáo là" Càn khôn đại na di ", đúng vào thời khắc quyết định lại bất ngờ phát hiện hai ta hò hẹn tư tình nơi đây, tuy không phải muội chính tay giết chàng, song chàng đã vì muội mà phải chết".

– Ta đang định khuyên giải vài lời, nàng đột nhiên chỉ về phía sau lưng ta, quát: "Ai đó?" Ta vội quay đầu lại, không thấy bóng ai cả, nhìn trở lại đã thấy một con dao găm cắm sâu ngực trái nàng, nàng đã tự sát rồi.

Ôi, Dương Đính Thiên bảo rằng "Ta lấy nàng, nhưng không lấy được trái tim nàng". Còn ta chiếm được trái tim sư muội, nhưng vẫn không lấy được nàng. Nàng là người mà suốt đời ta yêu nhất, kính nhất; ví thử Dương Đính Thiên không nhảy vào phá đám, nhân duyên đẹp đẽ của ta đâu bị kết cục bi thảm như thế? Ví thử Dương Đính Thiên không làm giáo chủ Ma giáo, sư muội ta đời nào chịu lấy một kẻ lớn hơn nàng hai mươi mấy tuổi như y? Dương Đính Thiên chết rồi, ta đâu làm gì được y nữa, song Ma giáo vẫn còn hoành hành trong thiên hạ. Lúc đó ta mới chỉ vào thi thể Dương Đính Thiên và sư muội ta mà thề: "Thành Côn ta thề sẽ làm hết sức mình diệt trừ Ma giáo, ngày đại công cáo thành, ta sẽ đến trước hai người tự vẫn". Ha ha, Dương Tiêu, Vi Nhất Tiếu, các vị chết tới nơi rồi, cái mạng của Thành Côn ta cũng chả còn bao lâu nữa, có điều tâm nguyện của ta đã hoàn thành, ta vui vẻ mà tự vẫn, sung sướng hơn các vị bội phần. Những năm qua, không giờ khắc nào ta không trù tính cách hủy diệt Ma giáo. Ôi, Thành Côn ta một đời bất hạnh, ái thê bị người ta cướp mất, có một đệ tử yêu độc nhất thì nó cũng căm hận ta tận xương tủy..

Trương Vô Kỵ thấy hắn nhắc đến Tạ Tốn thì vội chăm chú nghe. Thế nhưng lúc này Cửu dương chân khí trong cơ thể càng lúc càng tràn ngập, tưởng chừng tứ chi xương cốt chỗ nào cũng căng lên, phình ra, từng thớ thịt muốn vỡ tung, mỗi sợi tóc tựa hồ nở to ra vài lần.

Chỉ nghe Viên Chân kể tiếp:

– Sau đó ta rời đỉnh Quang Minh, trở về Trung nguyên, ghé thăm gã đệ tử yêu đã nhiều năm chưa gặp là Tạ Tốn. Ai ngờ vừa trò chuyện, thì ta mới biết y hiện là một trong Tứ đại hộ giáo pháp vương của Ma giáo. Ta tuy lui tới trên đỉnh Quang Minh một thời gian dài, song chỉ toàn tâm chú ý tới sư muội ta, mọi chuyện trong Ma giáo vốn chẳng để tâm, ngay sư muội ta cũng chẳng bao giờ nhắc đến chuyện của Ma giáo. Thành thử việc đệ tử của ta giữ địa vị cao trong Ma giáo, tự y nói ra thì ta mới biết. Y còn ra sức khuyên ta gia nhập Ma giáo, nào là cần đồng tâm hiệp lực đánh đuổi bọn Thát tử Hồ Lỗ. Ta giận quá, nhưng chợt nghĩ thầm: "Ma giáo người nhiều thế mạnh, bám rễ sâu xa, cao thủ đông đảo, ta đơn độc một mình, diệt sao nổi bọn chúng? Chẳng nói một mình ta, dẫu có liên thủ hào kiệt võ lâm thiên hạ, cũng chắc gì hủy diệt nổi. Chỉ có một cách duy nhất là từ bên trong xúi giục để bọn chúng tàn sát lẫn nhau, tự chúng diệt chúng".

Bọn Dương Tiêu nghe thế liền kinh sợ, bao năm nay cả bọn như người bị bịt mắt, đâu ngờ đại địch ở ngay bên cạnh luôn chuyên tâm tìm cách hủy diệt Minh giáo. Thế mà mọi người lại đi tranh đoạt chức giáo chủ, đánh phá nhau rối loạn cả lên. Lời lẽ của Viên Chân vừa nói khác nào cây gậy giáng vào đầu khiến họ choàng tỉnh.

Lại nghe Viên Chân nói tiếp:

– Bấy giờ ta thản nhiên như không, chỉ nói đây là việc lớn cần phải suy nghĩ kỹ. Vài hôm sau, ta đột nhiên giả bộ say rượu, cố ý cưỡng bức thê tử của Tạ Tốn, rồi giết luôn phụ mẫu thê tử của y. Ta biết rằng làm như thế sẽ khiến Tạ Tốn hận ta thấu xương, nhất định sẽ tìm ta báo thù, tìm không được sẽ nhắm mắt làm bừa. Ha ha, biết trò không ai bằng thầy, gã Tạ Tốn chuyện gì cũng giỏi, văn tài võ công đều hơn người, có điều gã là kẻ dễ bị kích động, không chịu suy nghĩ sâu xa về tiền nhân hậu quả..

Trương Vô Kỵ nghe đến đây, trong lòng cả giận, nghĩ thầm: "Thì ra bao nhiêu bất hạnh mà nghĩa phụ gặp phải đều do lão tặc Thành Côn này ngấm ngầm sắp đặt cả. Tên giặc già không phải say rượu nổi thú tính, mà là âm mưu sắp đặt như thế".

Lại nghe Viên Chân dương dương đắc ý nói:

– Tạ Tốn lạm sát giang hồ hảo hán, nơi nào cũng để lại tên ta, tưởng làm thế sẽ buộc ta xuất đầu lộ diện, ha ha, ta đời nào ló mặt ra kia chứ? Đã không muốn người khác biết, chỉ có cách đừng làm, Tạ Tốn gây bao nhiêu thù oán, tất cả rồi sẽ trút lên đầu Ma giáo. Gã giết người đôi khi cũng gặp nguy hiểm, ta liền kín đáo giải nguy cho gã, gã là con dao ta dùng để giết người, lẽ nào ta để cho gã bị người ta làm hại? Ngoại địch của Ma giáo các vị ngày càng nhiều, các vị cao thủ trong giáo lại ra sức tranh giành ngôi giáo chủ, không ngừng cắn xé nhau, tất cả đều rơi vào mưu kế của ta. Tạ Tốn không giết Tống Viễn Kiều tuy cũng đáng tiếc, nhưng gã đã đánh chết Không Kiến thần tăng, đả thương Không Động ngũ lão, lấy mạng không ít hảo thủ trên Vương Bàn sơn đảo, ngay cả đàn chủ của Thiên Ưng giáo là bằng hữu lâu năm của Ân Thiên Chính, gã cũng không tha.. Đồ đệ thế mới là đồ đệ giỏi, không uổng công ta năm xưa tận tâm truyền dạy võ công cho gã!

Dương Tiêu lạnh lùng nói:

– Như vậy là ngay cả sư phụ Không Kiến thần tăng của ngươi cũng bị ngươi dùng độc kế hại chết?

Viên Chân cười đáp:

– Ta bái Không Kiến thần tăng làm sư phụ, đâu phải thật lòng! Lão ấy được ta rập đầu lạy vài cái, rồi chịu mất mạng vì ta, cũng không thiệt gì cho cam, ha ha, ha ha!

*

* *

Trong lúc Viên Chân cười ha hả, Trương Vô Kỵ giận muốn phát điên, tai ù đi, đột nhiên ngất xỉu nhưng lại tỉnh ngay. Trong đời chàng từng bị khinh rẻ, làm nhục, chàng đều thản nhiên; song nghĩ đến nghĩa phụ là một hảo hán hiên ngang như thế, rốt cục lại bị Thành Côn dùng độc kế làm cho gia phá nhân vong, thân bại danh liệt, mù cả hai mắt, sống bơ vơ một mình nơi hoang đảo chờ chết, mối thâm cừu đại hận đó lẽ nào không báo?

Nộ khí trong ngực dâng lên, Cửu dương chân khí tràn ngập toàn thân càng bùng phát mãnh liệt, nhưng không có chỗ thoát ra ngoài, cái túi Càn khôn nhất khí cứ phồng to dần lên, nhưng cả bọn Dương Tiêu đang mải nghe Viên Chân kể chuyện, nên chẳng có ai để ý đến sự thay đổi hình dạng của cái túi. Mọi người lại nghe Viên Chân nói:

– Dương Tiêu, Chu Điên, Thiết Quan đạo nhân, Bành Oánh Ngọc, Vi Nhất Tiếu, các vị còn gì muốn hỏi ta nữa hay không?

Dương Tiêu thở dài, đáp:

– Sự đã như thế, còn gì để nói kia chứ? Viên Chân đại sư, đại sư có thể tha mạng cho con gái ta được chăng? Mẹ nó là Kỷ Hiểu Phù phái Nga Mi, xuất thân danh môn chính phái, chưa gia nhập Minh giáo.

Viên Chân nói:

– Nuôi hổ để họa, nhổ cỏ phải nhổ tận gốc!

Nói xong hắn bước tới một bước, giơ chưởng ra thong thả giáng xuống đầu Dương Tiêu.

Trương Vô Kỵ ở trong cái túi, biết sự thể đang cực kỳ khẩn cấp, liền bất chấp tình trạng toàn thân nóng như thiêu, nghe tiếng đoán vị trí, tung mình lao tới trước Viên Chân, giơ tay trái qua lớp vải mà gạt hữu chưởng của hắn đi.

Viên Chân lúc này mới gắng gượng hành động, nguyên khí chưa phục hồi, bị Trương Vô Kỵ gạt ra thì thân hình lảo đảo, lùi lại một bước, quát:

– Tiểu tử, mi.. mi..

Hắn định thần, tiến lên, nhắm cái túi vải đánh một chưởng. Chưởng này không chạm vào người Trương Vô Kỵ, còn bị cái túi hất dội ra, khiến hắn phải lùi hai bước, cả kinh chưa hiểu tại sao.

Trương Vô Kỵ lúc này miệng khô lưỡi đắng, đầu váng mắt hoa, Cửu dương chân khí trong cơ thể đã căng phồng như sắp nổ tung, nếu cái túi Càn khôn nhất khí vỡ ra trước, chàng sẽ thoát hiểm, nếu không chế ngự nổi luồng chân khí mãnh liệt trong cơ thể, da thịt chàng sẽ vỡ ra, và cháy xém như bị quay trong lò.

Viên Chân thấy cái túi quái lạ, liền tiến lên hai bước, lại tung chưởng đánh tới, lần này hắn cũng bị dội ra, phải lùi một bước; song cái túi cũng bị chưởng của hắn đánh lăn đi mấy vòng như một trái cầu da thật lớn. Trương Vô Kỵ ở trong cái túi, lăn qua lăn lại, tức ngực khó thở, cố phình bụng để tống khí ra ngoài. Nhưng bản thân cái túi đang căng đầy khí, muốn thở một hơi khí ra cũng càng lúc càng khó. Viên Chân liên tiếp đấm ba quyền, đá hai cái tất thảy đều bị khí trong túi đẩy bật lại, Trương Vô Kỵ ở bên trong không hay biết. Cũng may cho Viên Chân là hắn chỉ đánh vào cái túi, chứ nếu trúng người Trương Vô Kỵ, lúc này chân khí trong cơ thể chàng đang ngập tràn, chắc chắn chân tay Viên Chân sẽ bị thương.

Bọn Dương Tiêu, Vi Nhất Tiếu bảy người thấy chuyện lạ kỳ, đều ngẩn cả ra. Cái túi là của Thuyết Bất Đắc, chính ông ta cũng không hiểu tại sao nó lại căng phồng lên như trái cầu, cũng chẳng biết Trương Vô Kỵ ở trong đó còn sống hay đã chết.

Chỉ thấy Viên Chân rút từ thắt lưng ra một con dao nhọn đâm thật mạnh vào cái túi, nhưng cái túi chỉ lõm vào chứ không thủng. Cái túi này chất liệu thật diệu kỳ, không phải tơ cũng chẳng phải bằng da, là một dị vật của trời đất; con dao của Viên Chân lại không phải là bảo đao, đâm liền mấy nhát vẫn không chọc thủng được. Viên Chân thấy đấm đá đâm chọc đều vô hiệu, thì nghĩ thầm: "Việc gì ta phải dây dưa với tên tiểu tử này?" bèn tung chân đá một cái thật mạnh cho cái túi lăn ra cửa sảnh.

Lúc này cái túi đã căng phồng thành một trái cầu lớn, đụng phải cửa sảnh, nó liền bật trở lại lao thẳng vào người Viên Chân. Viên Chân thấy nó lăn quá nhanh, vội dùng cả hai tay tống mạnh đi.

Chỉ nghe "đùng" một tiếng thật lớn như tiếng sấm giữa trời quang, các mảnh vải bay tứ tung như bươm bướm, cái túi Càn khôn nhất khí đã bị Cửu dương chân khí trong người Trương Vô Kỵ phá vỡ tan.

Viên Chân, Dương Tiêu, Thuyết Bất Đắc cả bọn đều cảm thấy một khí nóng rực phả vào người, một thanh niên áo quần rách bươm xuất hiện trước mặt, mặt mày ngơ ngác.

Nguyên lúc này Cửu dương thần công mà Trương Vô Kỵ tu luyện vừa đại công cáo thành, thủy hỏa ký tế, long hổ giao hội. Nên biết, chàng ở bên trong cái túi vải căng phồng kia chẳng khác nào có hàng chục cao thủ cùng ra sức xoa bóp mọi đại huyệt trên cơ thể chàng, chân khí bên trong thì cuồn cuộn, mấy chục huyền quan trên kinh mạch đều được khai thông, tưởng như có một dòng nước ấm chảy tới mọi ngõ ngách cơ thể, khoan khoái vô cùng. Cơ duyên này xưa nay chưa ai được gặp, mà cái túi kia vỡ tan rồi, sau này cũng chẳng ai có dịp may một cái tương tự nữa.

Viên Chân thấy chàng trai trong túi thần sắc bất định, ngơ ngác hoang mang; còn mình bị trọng thương chưa khỏi, nếu không chớp lấy cơ hội, để đối phương ra tay trước thì quá ư nguy hiểm; hắn bèn sấn tới, ngón trỏ tay phải chỉ ra, vận nội kình "Ảo Âm Chỉ" điểm thẳng vào huyệt Đản Trung trên ngực Trương Vô Kỵ.

Trương Vô Kỵ đưa tay gạt ra, lúc này thần công của chàng đã thành tựu, nhưng chiêu số võ thuật lại quá tầm thường, võ công do Tạ Tốn và phụ thân truyền dạy thì chưa dung hội quán thông, làm sao chọi nổi một cao thủ tuyệt đỉnh như Viên Chân? Chỉ một chiêu thôi đã khiến huyệt Dương Trì ở cổ tay chàng bị điểm trúng, cơ thể lập tức run lên bần bật, phải lùi một bước, song chân khí sung mãn trong cơ thể chàng cũng đã tràn sang ngón tay của Viên Chân. Hai luồng lực đạo một âm một dương đối chọi nhau, có điều nội lực của Trương Vô Kỵ do Cửu dương thần công sinh ra nên thâm hậu hơn nhiều. Ngón tay Viên Chân vừa thấy nóng rực, kình lực toàn thân như biến đâu mất cả, hắn lại vừa bị thương chưa kịp phục hồi, công lực kém hẳn lúc bình thời, biết tình thế trước mắt bất lợi, thoát thân giữ mạng là cần nhất nên lập tức quay mình bỏ chạy.

Trương Vô Kỵ giận dữ chửi:

– Tên đại ác tặc Thành Côn, mau nạp mạng!

Chàng đuổi theo ra cửa, chỉ thấy bóng Viên Chân thoáng một cái đã chạy vào một cửa hông. Chàng cả giận, nhanh chân rượt theo. Đang chạy, bỗng "bình" một tiếng, trán chàng đập mạnh vào khung cửa. Thì ra chàng chưa biết rằng mình đã luyện thành Cửu dương thần công, mỗi lần vung tay, co chân đều mạnh gấp mười lần bình thường, vừa rảo bước đã vọt đi ngoài tầm kiểm soát, nên mới va vào cửa.

Chàng đưa tay xoa trán, chỉ thấy hơi đau, chợt nghĩ thầm: "Sao mình lại có tà môn này, vừa nhấc chân đã lao nhanh đến thế?" Chàng vội tiến vào cửa hông, thấy có một tiểu sảnh. Chàng quyết ý báo thù cho nghĩa phụ, liền xuyên qua sảnh đường rượt theo.

*

* *

Phía sau sảnh là một tòa nhà lớn, ở đây trồng hoa, hương thơm thoang thoảng; thấy căn phòng phía tây có ánh đèn hắt ra, chàng bèn nhảy tới, đẩy cửa vào, thấy một cái bóng xám vụt một cái, Viên Chân đã vén rèm chạy vào phòng trong.

Trương Vô Kỵ cũng vén rèm chạy vào, nhưng không thấy Viên Chân đâu nữa. Chàng nhìn kỹ, bất giác thầm lạ lùng, thì ra đây là khuê phòng của một tiểu thư phú gia. Cạnh cửa sổ đặt bàn trang điểm, cây nến đỏ chiếu sáng các thứ gấm vóc lụa là trong phòng, trông sang trọng chả kém gì ở nhà Chu Cửu Chân. Góc phòng kê một chiếc giường trướng rủ màn che, bên chân giường có một đôi hài con gái thêu màu đỏ, hẳn có người nằm ngủ trên giường. Khuê phòng chỉ có một lối vào, các cửa sổ đều đóng chặt, rõ ràng thấy Viên Chân lẻn vào đây, nhưng chỉ chớp mắt hắn đã mất tăm, chẳng lẽ hắn có tài tàng hình hay sao? Hoặc giả hắn không nề hà là kẻ tu hành mà cứ ngang nhiên chui vào giường phụ nữ?

Trong lúc chàng đang phân vân chưa biết có nên vạch màn ra tìm kẻ địch hay không, bỗng có tiếng chân người đi tới. Trương Vô Kỵ vội nép mình vào sau chiếc áo lông treo trên tường phía tây, thì có hai người đi vào buồng. Chàng từ sau áo ngó ra, thấy cả hai đều là thiếu nữ, mặc áo dài thêu màu vàng nhạt, trang phục sang trọng; người thứ hai nhỏ tuổi hơn, mặc áo vải xanh là tiểu a hoàn, nói:

– Tiểu thư, khuya lắm rồi, mời tiểu thư nghỉ thôi ạ.

Tiểu thư kia xoay tay tát mạnh vào mặt a hoàn. Đứa tớ gái loạng choạng lùi lại một bước, tiểu thư cũng hơi loạng choạng, quay mặt lại, Trương Vô Kỵ nhìn rõ ràng dưới ánh nến, thấy nàng có cặp mắt to đen láy, khuôn mặt bầu bầu, chính là Dương Bất Hối, người mà chàng đã không quản vạn dặm đường xa, đưa cô bé từ Trung nguyên đến Tây Vực.

Sau bấy năm xa cách, thân hình Dương Bất Hối đã cao lớn hơn nhiều, nhưng thần thái vẫn y như trước, nhất là khóe miệng cong cong lên hồi nhỏ, nay càng lộ rõ hơn. Chỉ nghe Bất Hối mắng đầy tớ:

– Mi bảo ta đi ngủ, hừ, sáu phái lớn vây đánh đỉnh Quang Minh, phụ thân ta đang bàn kế sách với mọi người, cả đêm nay chưa chắc xong, lão nhân gia chưa nghỉ, làm sao ta ngủ được? Tốt hơn cả là phụ thân ta bị người ta giết hại, ta cũng bị mi giết chết luôn, cả thiên hạ này sẽ là của mi hết.

Tiểu a hoàn đâu dám biện bạch, đỡ tiểu thư ngồi xuống. Dương Bất Hối nói:

– Mau đem kiếm tới đây cho ta!

Tiểu a hoàn tới bên vách lấy thanh trường kiếm treo ở đó. Hai chân a hoàn bị nối với nhau bằng một sợi xích sắt; hai cổ tay cũng có một sợi xích khác thòng lại; chân trái khập khiễng, sống lưng gù, cong như cánh cung, đến lúc a hoàn lấy thanh kiếm và quay đầu lại, Trương Vô Kỵ còn kinh ngạc hơn, thấy nó mắt phải nhỏ, mắt trái to, mũi và khóe miệng méo xệch, hình dạng thật đáng sợ. Chàng nghĩ thầm: "Cô bé này còn xấu xí hơn cả Thù Nhi. Thù Nhi là do trúng độc nên mặt mày sưng u, còn có thể trị được, chứ cô bé này là tàn tật bẩm sinh".

Dương Bất Hối cầm thanh kiếm, nói:

– Kẻ địch có thể tới bất cứ lúc nào, ta cần đi ra ngoài tuần tra.

Tiểu a hoàn nói:

– Để con đi theo tiểu thư, lỡ gặp địch, cũng có thêm một người trợ giúp.

Giọng cô ta ú ớ, khàn khàn, ồ ồ khó nghe, tưởng như giọng của một gã nam nhân trung niên thô lỗ. Dương Bất Hối nói:

– Ai cần mi giả vờ tử tế?

Tay trái nàng xoay một cái đã nắm chặt mạch môn tiểu a hoàn, nó không cử động gì được, run run kêu:

– Tiểu thư.. tiểu.. thư..

Dương Bất Hối cười khẩy, nói:

– Địch nhân lũ lượt kéo đến tấn công, cha con ta sống chết chỉ còn sớm tối, mi chắc là do bọn địch phái đến phục sẵn trên đỉnh Quang Minh chứ gì? Cha con ta không đời nào để cho mi hành hạ đâu! Hôm nay ta giết mi trước.

Nói xong Dương Bất Hối xoay thanh kiếm đâm luôn vào cổ tiểu a hoàn.

Trương Vô Kỵ từ lúc biết tiểu a hoàn này thân thể tàn tật, thì thầm thương hại nó, đột nhiên thấy Dương Bất Hối giơ kiếm đâm nó, trong lúc nguy cấp chẳng kịp suy nghĩ, chàng lập tức phi thân ra, búng vào lưỡi kiếm một cái. Dương Bất Hối cầm kiếm không vững, nghe "keng" một tiếng, thanh kiếm đã rơi xuống đất. Tay nàng vừa tuột kiếm, hai ngón trỏ và giữa chọc luôn vào mắt Trương Vô Kỵ. Chiêu này vốn chỉ là chiêu "Song long sang châu" tầm thường, không có gì kỳ lạ, nhưng nàng được cha chỉ dạy mấy năm nay nên sử dụng cũng rất có uy lực. Trương Vô Kỵ nhảy lùi về phía sau, buột miệng kêu lên:

– Bất Hối muội muội, là ta đây!

Dương Bất Hối nghe chàng gọi bốn tiếng "Bất Hối muội muội" thì sững người, hỏi:

– Có phải là Vô Kỵ ca ca đấy không?

Nàng chỉ nhận ra thanh âm ngữ điệu của bốn tiếng "Bất Hối muội muội" chứ chưa nhận ra diện mạo của Trương Vô Kỵ.

Trương Vô Kỵ hơi ân hận, nhưng không thể chối được nữa, đành nói:

– Ta đây, Bất Hối muội muội, mấy năm qua muội có khỏe không?

Dương Bất Hối định thần nhìn kỹ, thấy chàng áo quần rách rưới, mặt mày bẩn thỉu, trong bụng nghi ngại, nói:

– Có.. có đúng là Vô Kỵ ca ca không? Sao mà.. sao lại tới được chốn này?

Trương Vô Kỵ nói:

– Đó là Thuyết Bất Đắc mang ta lên đỉnh Quang Minh, Viên Chân lão hòa thượng chạy vào buồng này, rồi đột nhiên không thấy đâu nữa, buồng này còn lối ra nào khác không?

Dương Bất Hối ngạc nhiên hỏi:

– Viên Chân hòa thượng nào chứ? Ai vào căn buồng này vậy?

Trương Vô Kỵ đang nóng lòng đuổi theo Viên Chân, nếu kể đầu đuôi câu chuyện thì quá dài, chỉ nói:

– Cha muội bị thương ở đại sảnh, muội hãy mau ra đó xem sao.

Dương Bất Hối cả kinh, vội nói:

– Muội phải ra xem gia gia mới được.

Nói rồi tiện tay nhắm ngay đỉnh đầu tiểu a hoàn đánh một chưởng, ra tay cực nặng. Trương Vô Kỵ kêu lên:

– Đừng làm thế!

Chàng giơ tay đẩy vai Dương Bất Hối một cái, chưởng của nàng ta rơi vào khoảng không.

Dương Bất Hối hai lần toan giết tiểu a hoàn, đều bị Vô Kỵ ngăn cản, bèn xẵng giọng quát:

– Vô Kỵ ca ca, ca ca cùng phe với con a hoàn này hả?

Trương Vô Kỵ ngơ ngác nói:

– Nó là đầy tớ của muội, ta mới gặp nó lần đầu, cái gì mà cùng phe?

Dương Bất Hối nói:

– Ca ca đã không biết nội tình thì đừng lo chuyện bao đồng! Con a hoàn này đối đầu với gia đình muội, phụ thân muội xích chân tay nó lại là đề phòng nó hại muội đó. Hiện giờ địch nhân ùa tới tập kích, con a hoàn này sẽ thừa cơ báo thù.

Trương Vô Kỵ thấy cô bé kia đáng thương, tuy hình dáng xấu xí, nhưng không có vẻ gì hung ác, bèn nói:

– Này cô nương, cô nương có ý định thừa cơ báo thù không đấy?

Tiểu a hoàn lắc đầu:

– Không đời nào dám thế.

Trương Vô Kỵ nói:

– Bất Hối muội muội, muội nghe đó, nó không làm thế đâu, muội hãy tha cho nó đi.

Dương Bất Hối nói:

– Được, ca ca đã nói vậy, úi chà..

Thân hình nàng nghiêng qua, lảo đảo đứng không vững. Trương Vô Kỵ vội giơ tay đỡ, đột nhiên hai huyệt Huyền Khu, Trung Khu ở sau lưng đau nhói lên, người ngã chúi xuống đất. Thì ra Dương Bất Hối sợ chàng ngăn cản, bèn dụ chàng lại gần, dùng cái nhẫn điểm huyệt ở ngón tay giữa điểm liền hai đại huyệt. Sau khi đánh ngã Trương Vô Kỵ, nàng xoay tay phải lại, nhắm ngay huyệt Thái Dương bên phải của tiểu a hoàn mà đánh tới.

Nhưng tay chưa đụng tới đích, thì Dương Bất Hối bỗng thấy đan điền nóng bỏng, toàn thân tê dại, đành tự buông cổ tay tiểu a hoàn ra, hai đầu gối mềm đi, ngồi phịch xuống ghế. Thì ra nàng dùng sức đánh mạnh vào huyệt đạo của Trương Vô Kỵ, thần công của chàng mới thành tựu, Cửu dương chân khí tuy chưa có tác dụng hộ thể, nhưng đã tự dội lại, xung ngược khắp các kinh lạc trong cơ thể Dương Bất Hối.

Tiểu a hoàn nhặt thanh kiếm dưới đất lên, nói:

– Tiểu thư, tiểu thư cứ nghi con muốn hại tiểu thư. Bây giờ nếu con muốn giết tiểu thư, thật quá dễ dàng; nhưng con không có ý đó đâu.

Nói xong tra kiếm vào bao, treo lại chỗ cũ.

Trương Vô Kỵ đứng dậy, nói:

– Muội xem, ta nói có sai đâu.

Sau khi bị đánh vào huyệt, trong giây lát chân khí liền xung giải, chàng có thể lập tức hành động.

Dương Bất Hối trân trân nhìn chàng, vô cùng kinh hãi. Lúc này chân tay đã hết tê dại, nhớ đến sự an nguy của phụ thân, bèn đứng dậy nói:

– Cha muội bị thương thế nào? Vô Kỵ ca ca, ca ca ở đây chờ muội, gặp lại sau vậy. Mấy năm nay ca ca thế nào? Muội luôn nhớ ca ca..

Vừa nói nàng vừa chạy ra ngoài.

Trương Vô Kỵ hỏi tiểu a hoàn:

– Cô nương, gã hòa thượng ấy chạy vào buồng này rồi đột nhiên biến mất, cô nương có biết, liệu căn buồng này có đường hầm nào chăng?

Tiểu a hoàn hỏi lại:

– Công tử nhất thiết phải đuổi lão ta bằng được ư? Trương Vô Kỵ nói:

– Lão hòa thượng ấy thương thiên hại lý, gây ra vô vàn tội nghiệt, ta.. ta.. dù phải đến tận chân trời góc biển, cũng quyết đuổi theo hắn tới cùng.

Tiểu a hoàn ngẩng lên nhìn vào mặt chàng. Trương Vô Kỵ nói:

– Cô nương, nếu cô nương biết, xin hãy chỉ đường cho!

Tiểu a hoàn cắn môi, nghĩ giây lát, thấp giọng nói:

– Tính mệnh con do công tử cứu, được rồi, để con đưa công tử đi.

Cô bé thổi tắt nến, nắm tay Trương Vô Kỵ kéo đi.

Comments

0 comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 20: Giam mình cùng người trong tử lộ

Trương Vô Kỵ đi theo cô bé vài bước đã tới bên giường. Tiểu a hoàn vén trướng lên, chui vào trong, tay vẫn nắm tay Trương Vô Kỵ. Trương Vô Kỵ giật mình, nghĩ thầm, con a hoàn này tuy còn nhỏ, lại xấu xí, nhưng dẫu gì cũng là nữ giới, làm sao có thể ngủ chung một giường với cô ta? Huống hồ lúc này đuổi theo kẻ địch là việc gấp, bèn rụt tay về. Tiểu a hoàn nói nhỏ:

– Cửa đường hầm ở trong giường!

Chàng nghe mấy chữ đó, tinh thần phấn chấn hẳn lên, chẳng còn hiềm nam nữ gì nữa, chỉ thấy tiểu a hoàn lật tấm chăn lên, nằm ngang trên giường, kéo chàng nằm xuống bên cạnh. Không biết cô bé động tới cái then chốt nào, ván giường bỗng lật nghiêng, cả hai người rơi xuống bên dưới.

Họ rơi đến vài trượng, nhưng may là bên dưới trải cỏ mềm rất dày, nên không bị đau chút nào, chỉ nghe phía trên một tiếng "cạch" nhỏ, chiếc giường đã trở lại như cũ. Trương Vô Kỵ thầm khen: "Cơ quan này bố trí khéo thật! Ai ngờ cửa đường hầm bí mật lại ở ngay trên giường của một tiểu thư khuê các".

Chàng nắm tay tiểu a hoàn, chạy vội về phía trước.

Chạy vài trượng, nghe tiếng xích sắt của tiểu a hoàn kéo lê dưới đất, Trương Vô Kỵ chợt nghĩ thầm: "Cô bé này chân tập tễnh, lại vướng dây xích, mà sao chạy nhanh thế nhỉ?" bèn dừng bước. Tiểu a hoàn đoán được ý chàng, cười nói:

– Con giả vờ què để đánh lừa lão gia và tiểu thư đấy thôi.

Trương Vô Kỵ nghĩ bụng: "Thảo nào mẹ ta dặn rằng nữ nhi trong thiên hạ đều thích lừa người; hôm nay ngay cả Dương Bất Hối cũng đã ám toán ta". Lúc này chàng đang mải đuổi theo kẻ địch, thành thử ý nghĩ đó chỉ thoáng qua, chàng chạy quanh co trong đường hầm chừng vài chục trượng, thì hết lối, không thấy Viên Chân đâu cả.

Tiểu a hoàn nói:

– Đường hầm này con cũng chỉ biết tới chỗ đây, chắc là còn có lối thông đi nơi khác, nhưng con không tìm ra cơ quan mở cửa.

Trương Vô Kỵ đưa tay sờ tứ phía, thấy vách đá lồi lõm, không hề có kẽ nứt, đưa tay đẩy thử những chỗ lồi lõm, chẳng thấy xê dịch chút nào. Tiểu a hoàn than:

– Con đã thử hàng mấy chục lần nhưng không tìm ra máy móc ở chỗ nào, thật kỳ lạ. Con cũng đã mang đuốc vào soi rất kỹ, mà không phát hiện chỗ nào có dấu vết khả nghi. Vậy lão hòa thượng ấy trốn đi đâu?

Trương Vô Kỵ hít một hơi, vận lực ra hai cánh tay, đẩy thử vào vách đá bên trái, không thấy nhúc nhích gì; lại qua bên phải đẩy thử. Lần này vách đá hơi lung lay. Chàng cả mừng, hít một hơi thật dài, lấy sức đẩy mạnh, vách đá từ từ lùi dần, thì ra đó là một cái cửa đá rất dày, cực lớn, cực nặng. Đường hầm bí mật trên đỉnh Quang Minh cấu trúc tinh xảo, chỗ thì dùng cơ quan bí ẩn, còn cái cửa đá này không có máy móc gì, song phải là người có sức khỏe trời phú hoặc võ công thượng thừa mới xê dịch nổi. Chẳng hạn tiểu a hoàn này tuy vào được tới đây, nhưng võ công không đủ, cũng đành bỏ cuộc nửa chừng.

Trương Vô Kỵ luyện Cửu dương thần công đã thành, có sức đẩy rất mạnh, nên đẩy cửa đá mở ra. Khi cánh cửa đá mở ra ba thước, chàng còn đánh một chưởng, đề phòng Viên Chân nấp ở phía sau cánh cửa đánh lén chăng, sau đó mới luồn vào.

Qua cửa đá rồi, trước mặt lại là một đường hầm dài, hai người theo đó mà đi, chỉ cảm thấy đường đi hơi xiên xiên xuống, càng đi càng xuống thấp, sau khoảng dăm chục trượng bỗng chia thành hai ngả. Trương Vô Kỵ đi thử vào một ngả, thì nó lại tỏa ra bảy nhánh, chưa biết rẽ theo nhánh nào, bỗng nghe bên trái, đằng trước có tiếng ho khẽ, tuy người ho cố nén lại nhưng giữa đêm khuya nghe vẫn rõ mồn một.

Trương Vô Kỵ nói nhỏ:

– Đi lối này!

Chàng tiến theo nhánh cuối cùng bên trái. Nhánh này chỗ cao chỗ thấp, dưới chân gập ghềnh khó đi; chàng cứ xông thẳng tới, nghe tiếng xích sắt loảng xoảng sau lưng không dứt, bèn quay đầu nói:

– Kẻ địch ở phía trước, tình thế nguy hiểm, cô nương cứ đi chầm chậm cũng được.

Tiểu a hoàn nói:

– Có nạn cùng chịu, chả sợ!

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Ngươi cũng định lừa ta chăng?" Con đường theo hình xoáy trôn ốc đi dần xuống phía dưới, càng lúc càng hẹp dần, về sau chỉ đủ chỗ cho một người, tưởng như xuống một cái giếng sâu.

Đột nhiên chàng cảm thấy có một luồng gió ép xuống đầu, bèn nắm lấy thắt lưng tiểu a hoàn mà nhảy đại xuống bên dưới, chân trái vừa chạm đất liền nhào người về phía trước, chẳng cần biết trước mặt là hang sâu hay vách đá, vì đâu còn thời gian suy nghĩ. Rất may phía trước là một chỗ trống đủ cho hai người dung thân. Chỉ nghe "Sầm!" một tiếng cực mạnh, đất cát đá vụn rơi đầy mặt mũi.

Trương Vô Kỵ định thần, nghe tiểu a hoàn nói:

– Nguy hiểm quá, lão giặc trọc nấp bên cạnh, đẩy tảng đá lớn đè xuống chúng ta.

Trương Vô Kỵ đi ngược trở lại, tay phải giơ cao trên đầu, đi mấy bước thì bàn tay chạm phải mặt đá xù xì. Có tiếng Viên Chân truyền từ phía bên kia tảng đá vẳng sang:

– Tặc tiểu tử, hôm nay ta chôn mi ở đây, mi có một đứa con gái làm bạn là may cho mi lắm rồi. Mi khỏe lắm, để xem mi có đẩy nổi tảng đá này chăng? Một tảng đá còn ít, vậy ta cho thêm tảng nữa.

Chỉ nghe có tiếng sắt bẩy vào đá, rồi một tiếng "Sầm!" lớn, tảng đá thứ hai rơi xuống đè lên tảng thứ nhất.

Đường hầm này đủ rộng cho một người quay mình, Trương Vô Kỵ đưa tay sờ, tảng đá lớn tuy không bịt kín đường hầm, nhưng cùng lắm chỉ có thể đút lọt một cánh tay, chứ cả người không thể chui qua. Chàng hít một hơi, dùng hai tay lay thử, chỉ có đất cát rơi lả tả chứ tảng đá lớn chẳng hề nhúc nhích. Xem chừng hai tảng đá nặng đến mấy ngàn cân chồng lên nhau, dù có khỏe hơn vâm cũng không đẩy ra được. Tuy chàng đã luyện Cửu dương thần công, nhưng sức người có hạn, hai tảng đá to như hai cái gò thế kia làm sao xê dịch nổi?

Lại nghe Viên Chân ở phía bên kia tảng đá thở hổn hển, chắc là sau khi bị thương nặng, hắn còn gắng bẩy hai tảng đá nên đã kiệt sức, vừa thở vừa hỏi:

– Tiểu tử, tên mi.. mi.. là..

Sau chữ "là", hắn hụt hơi, không nói nổi nữa.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Lúc này dẫu hắn có đổi ý, đột nhiên mở lòng từ bi, cứu hai người mình ra thì cũng không còn hơi sức nữa. Mình chẳng cần phí lời với hắn, phải tìm xem có lối thoát nào khác hay không". Thế là chàng quay mình, theo đường hầm đi tiếp về phía trước.

Tiểu a hoàn nói:

– Con có mang theo đồ đánh lửa, chỉ tiếc không có đèn nến gì thôi.

Trương Vô Kỵ nói:

– Đừng đánh lửa vội.

Chàng đi tiếp, được mấy chục bước sau thì đến cuối đường hầm.

Hai người lần mò tứ phía, Trương Vô Kỵ sờ thấy một cái thùng gỗ, mừng rỡ nói:

– Có rồi!

Chàng giơ tay đập vỡ cái thùng gỗ, thấy bay ra nhiều bột, không hiểu là vôi bột hay bột mì. Chàng nhặt một mảnh gỗ, nói:

– Đánh lửa đi!

Tiểu a hoàn lấy hỏa đao, đá lửa, bùi nhùi, đánh lửa châm vào thanh gỗ, đột nhiên lửa cháy bùng lên chói mắt, thanh gỗ bén lửa cháy rất mạnh, hai người giật mình, ngửi thấy mùi diêm sinh khét lẹt, tiểu a hoàn nói:

– Thuốc súng đó!

Nàng giơ thanh gỗ lên coi kỹ thứ bột trong thùng, quả nhiên là thuốc súng đen sì. Nàng cười khúc khích, nói:

– Nếu vừa rồi tia lửa bắn ra bén vào thuốc súng, chỉ e cả lão hòa thượng tàn ác ở bên kia cũng tan xác rồi.

Nàng thấy Trương Vô Kỵ ngây người nhìn mình, mặt đầy vẻ kinh ngạc, bèn mỉm cười, hỏi:

– Công tử sao thế?

Trương Vô Kỵ thở dài, nói:

– Thì ra cô nương.. cô nương xinh đẹp thế này.. Tiểu a hoàn che miệng cười, nói:

– Con sợ quá, quên cả giả trang khuôn mặt.

Nói rồi nàng đứng thẳng người lên. Thì ra cô nàng không gù lưng, cũng chẳng khập khiễng, đôi mắt sâu thẳm có thần, mày dài mũi thẳng, má có lúm đồng tiền, trông xinh xắn lạ thường, có điều nàng tuổi còn nhỏ, thân thể chưa trưởng thành, dung nhan xinh xắn nhưng còn mang nét trẻ con. Trương Vô Kỵ hỏi:

– Vì sao cô nương phải giả trang quái đản như thế?

Tiểu a hoàn cười đáp:

– Tiểu thư ghét con lắm, thấy con xấu xí như thế thì trong lòng mới vui. Nếu con không giả trang quái đản xấu xí, tiểu thư đã giết con lâu rồi.

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Vì sao tiểu thư muốn giết cô nương?

Tiểu a hoàn đáp:

– Tiểu thư cứ nghi con định ám hại tiểu thư và lão gia.

Trương Vô Kỵ lắc đầu:

– Thật đa nghi! Vừa rồi cô nương cầm trường kiếm trong tay, tiểu thư thì không động đậy gì được, song cô nương có hại tiểu thư đâu. Từ nay trở đi, chắc tiểu thư không còn nghi ngờ cô nương nữa.

Tiểu a hoàn nói:

– Con đưa công tử xuống dưới này, tiểu thư sẽ càng nghi ngờ con hơn. Nhưng không biết chúng ta có ra khỏi nơi đây hay không, tiểu thư nghi hay không nghi, con cũng chả cần.

Tiểu a hoàn vừa nói vừa giơ cao thanh gỗ cháy, xem xét chung quanh. Chỗ hai người đang đứng hình như là một thạch thất, chất đầy binh khí cung tên, phần lớn đã gỉ sét, chắc là kho binh khí khi xưa Minh giáo bố trí dưới địa đạo để chống ngoại địch. Xem kỹ bốn bức tường không thấy kẽ nứt nào cả, có lẽ đây là cuối đường hầm. Viên Chân cố ý ho là cốt dụ hai người đi vào tử lộ.

Tiểu a hoàn nói:

– Công tử gia, tên con là Tiểu Chiêu. Con nghe tiểu thư gọi công tử là Vô Kỵ ca ca, vậy đại danh của công tử là Vô Kỵ phải không?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Phải, ta họ Trương.

Đột nhiên chàng nghĩ ra, cúi xuống nhặt một cây mâu dài, nhấc nhấc thử, thấy rất nặng, phải tới bốn chục cân, nói:

– Số thuốc nổ kia xem ra có thể phá vỡ tảng đá, cứu chúng ta thoát hiểm.

Tiểu Chiêu vỗ tay reo lên:

– Ý hay quá, hay quá!

Lúc nàng vỗ tay, sợi dây xích ở cổ tay chạm nhau leng keng. Trương Vô Kỵ nói:

Sợi xích ấy vướng vít chân tay, giật đứt nó đi cho rồi!

Tiểu Chiêu sợ hãi nói:

– Không, không được đâu! Lão gia nổi giận thì nguy.

Trương Vô Kỵ nói:

– Cô nương cứ bảo là do ta bẻ gãy, ta không sợ ông ấy nổi giận đâu.

Nói xong chàng cầm hai đầu dây xích giựt mạnh ra. Sợi dây chỉ nhỏ bằng cây đũa, sức giựt của chàng tối thiểu cũng phải ba, bốn trăm cân, nhưng nghe "coong" một tiếng, dây xích chấn động, chỉ căng ra chứ không đứt.

Trương Vô Kỵ hừ một tiếng, hít một hơi dài, vận lực giựt mạnh hơn, song sợi dây chẳng hề hấn gì.

Tiểu Chiêu bèn nói:

– Dây xích này lạ lắm, bảo đao lợi kiếm cũng chưa chắc chặt đứt được nó. Chìa khóa do tiểu thư giữ.

Trương Vô Kỵ gật đầu:

– Khi nào ra khỏi đây, ta sẽ bảo tiểu thư mở khóa cho cô nương.

Tiểu Chiêu nói:

– Chỉ sợ tiểu thư không chịu.

Trương Vô Kỵ nói:

– Ta với tiểu thư rất thân tình, tiểu thư sẽ bằng lòng thôi.

Nói rồi chàng cầm cây mâu, đến bên tảng đá, đứng im nghe ngóng một lát, không còn nghe tiếng thở của Viên Chân, chắc là hắn đã đi xa rồi.

Tiểu Chiêu giơ cao cây đuốc, đứng bên cạnh soi cho Vô Kỵ. Chàng nói:

– Nổ một lần chắc chưa vỡ, có lẽ phải làm vài lần.

Chàng vận sức vào hai cánh tay, đục một cái lỗ giữa mép tảng đá và vách đường hầm, Tiểu Chiêu đem thuốc súng tới, chàng nhồi thuốc vào trong cái lỗ đó, dùng cán mâu lèn cho chặt, lại làm một sợi dây dẫn kéo vào bên dưới thạch thất.

Trương Vô Kỵ cầm lấy cây đuốc từ tay Tiểu Chiêu, Tiểu Chiêu đưa hai tay bịt tai lại, Trương Vô Kỵ đứng ra phía trước che cho nàng, cúi người châm vào sợi dây dẫn, lửa liền theo sợi dây chạy đi.

Chỉ nghe một tiếng nổ lớn, một luồng khí nóng rát phả vào người, đẩy chàng lùi hai bước, Tiểu Chiêu cũng ngã chúi xuống. Vô Kỵ đã phòng bị trước, giơ tay đỡ ngang eo lưng Tiểu Chiêu. Trong thạch thất khói bụi mù mịt, cây đuốc bị thổi tắt ngóm. Trương Vô Kỵ hỏi:

– Tiểu Chiêu, cô nương không sao chứ?

Tiểu Chiêu húng hắng ho vài tiếng, đáp:

– Con.. không sao.

Trương Vô Kỵ nghe giọng nàng có vẻ nghẹn ngào, hơi lấy làm lạ, đến khi đốt đuốc lại, thấy nàng rưng rưng nước mắt, liền hỏi:

– Sao vậy? Cô nương mệt lắm à?

Tiểu Chiêu nói:

– Trương công tử, công tử.. không biết con là ai, sao lại đối xử tốt với con đến thế?

Trương Vô Kỵ lấy làm lạ:

– Thế là sao?

Tiểu Chiêu nói:

– Tại sao công tử phải che cho con? Con chỉ là một đứa nô tì hèn hạ, còn công tử.. tấm thân ngàn vàng, sao lại đứng chắn cho con?

Trương Vô Kỵ mỉm cười, nói:

– Ta chả có gì là quý giá đâu, cô nương bé nhỏ, ta tự nhiên phải che chở cho cô nương.

Lúc khói bụi lắng xuống, chàng tới bên tảng đá, thấy nó vẫn sừng sững chỗ cũ, chỉ vạt mất một góc nhỏ, liền thất vọng nói:

– Chỉ sợ phải cho nổ bảy tám lần, chúng ta mới chui qua được, mà thuốc súng cùng lắm chỉ đủ dùng cho hai lần nữa thôi.

Chàng lại cầm cây mâu lên, đục lỗ trên tảng đá, đục mạnh mấy cái, một lần tình cờ chệch vào vách đá, bỗng một cục đá to như cái đấu rơi ra, lộ rõ một lỗ hổng. Chàng nửa ngạc nhiên nửa vui mừng, thò tay vào, lay chung quanh lỗ mấy cái, thấy nhúc nhích, liền giật mạnh, thêm một cục đá nữa long ra. Chàng moi liên tiếp bốn cục đá vuông chừng một thước, thì lỗ hổng đã lớn, đủ chui qua. Thì ra đường hầm còn lối đi khác, vừa rồi chàng nổ phá tảng đá lớn đã làm vách tường chấn động, khiến mấy cục đá rời ra. Lối đi này được xây bít bằng các cục đá to bằng cái đấu.

Trương Vô Kỵ cầm đuốc chui qua trước, rồi gọi Tiểu Chiêu sang theo. Đường hầm này cũng theo hình trôn ốc đi xuống, lần này chàng khôn ngoan hơn, tay trái cầm cây mâu chĩa ra đằng trước, đề phòng Viên Chân ám toán. Đi chừng bốn, năm chục trượng, đến một cái cửa đá. Chàng đưa mâu và đuốc cho Tiểu Chiêu, vận sức đẩy cánh cửa, mở sang một thạch thất nữa.

Gian thạch thất này rất rộng, phía trên có thạch nhũ rủ xuống, rõ ràng là một thạch động tự nhiên. Chàng giơ cây đuốc soi vài vòng, thấy dưới đất có hai bộ xương khô; y phục trên xác chết chưa nát vụn, còn nhận biết đó là một nam một nữ.

Tiểu Chiêu sợ hãi nép bên người Trương Vô Kỵ. Chàng giơ cao đuốc xem xét thạch thất một lần nữa, nói:

– Chỗ này xem chừng là tận cùng rồi, không biết có tìm được lối ra hay không?

Chàng giơ cây mâu gõ vào các bức vách, chỗ nào cũng nghe bình bịch nặng nề, không chỗ nào có vẻ là rỗng cả.

Chàng lại gần hai bộ xương, thấy tay phải người đàn bà cầm một con dao găm sáng loáng, cắm bên ngực trái. Chàng sững ra, nhớ ngay câu chuyện Thành Côn kể. Thành Côn và Dương phu nhân tư tình với nhau trong lối đi bí mật, bị Dương Đính Thiên phát hiện, Dương Đính Thiên phẫn uất nên bị tẩu hỏa mà chết, Dương phu nhân bèn dùng dao nhọn tự vẫn chết theo chồng. "Không lẽ hai bộ xương này là phu phụ giáo chủ Dương Đính Thiên?" Chàng tới bên bộ xương người đàn ông, thấy cạnh xương bàn tay có một miếng da dê.

Trương Vô Kỵ nhặt miếng da lên xem, thấy một mặt có lông, một mặt nhẵn nhụi, không có gì lạ.

Tiểu Chiêu cầm lấy miếng da, vui mừng reo lên:

– Chúc mừng công tử, đây là tâm pháp thượng thừa của võ công Minh giáo.

Nói đoạn nàng đưa ngón trỏ bàn tay trái khía vào lưỡi dao trên ngực Dương phu nhân một cái, lấy máu bôi lên mặt nhẵn của tấm da, thế là lần lượt hiện lên các chữ, dòng đầu tiên viết mười một chữ: "Thánh hỏa tâm pháp Minh giáo: Càn khôn đại na di".

Trương Vô Kỵ tình cờ tìm được tâm pháp võ công của Minh giáo, song chẳng lấy làm vui, nghĩ thầm: "Trong đường hầm này không thức ăn, không nước uống, nếu không ra khỏi nơi đây, cùng lắm bảy tám ngày thì cả ta lẫn Tiểu Chiêu cũng chết đói chết khát mà thôi; dẫu có học được võ công thượng thừa đến mấy, cũng là vô dụng". Nhìn hai bộ xương, chàng lại nghĩ: "Viên Chân tại sao không lấy luôn bộ tâm pháp Càn khôn đại na di này đi? Chắc là sau khi làm chuyện nhơ nhuốc kia rồi, hắn không còn dám quay lại nhìn thi thể hai vợ chồng Dương Đính Thiên nữa. Dĩ nhiên, hắn không thể biết mảnh da dê này có chép tâm pháp võ công, chứ không cho dù phu phụ giáo chủ Dương Đính Thiên còn sống thì hắn cũng quyết đánh cắp cho bằng được". Chàng hỏi Tiểu Chiêu:

– Tại sao cô nương biết được bí mật của miếng da này?

Tiểu Chiêu cúi đầu, nói:

– Khi lão gia nói chuyện với tiểu thư, con có nghe trộm được. Hai người là giáo đồ Minh giáo, không dám vi phạm giáo quy, xuống đường hầm bí mật này tìm kiếm.

Trương Vô Kỵ nhìn hai bộ xương, cảm khái nói:

– Mình chôn họ đi vậy.

Hai người xếp hai bộ xương phu phụ Dương Đính Thiên vào cạnh nhau, vun đất đá xung quanh để đắp lên trên.

Tiểu Chiêu chợt nhặt một vật cạnh hài cốt Dương Đính Thiên lên, nói:

– Trương công tử, có một phong thư này.

Trương Vô Kỵ cầm lấy, thấy trên bao thư viết bốn chữ "Phu nhân thân khải" [83] . Vì đã lâu năm, phong thư mục nát, bốn chữ kia cũng không còn đủ nét, song vẫn có thể nhận ra nét chữ rắn rỏi, mạnh mẽ. Bức thư được dán kỹ, dấu xi còn nguyên. Trương Vô Kỵ nói:

– Dương phu nhân chưa bóc thư xem đã tự sát luôn.

Chàng cung kính đặt bức thư vào chỗ hài cốt kia, đang định lấy đất đá vùi đi thì Tiểu Chiêu nói:

– Công tử hãy mở ra xem thử, không chừng Dương giáo chủ có dặn lại chuyện gì chăng?

Trương Vô Kỵ nói:

– Làm thế e bất kính.

Tiểu Chiêu nói:

– Nếu Dương giáo chủ có tâm nguyện gì chưa thành, công tử nói lại cho lão gia và tiểu thư để họ thực hiện theo lời Dương giáo chủ, như thế cũng tốt chứ sao.

Trương Vô Kỵ nghĩ cũng phải, bèn nhẹ nhàng bóc phong bì, rút ra một tờ lụa trắng cực mỏng, trong đó viết:

Phu nhân yêu dấu, từ ngày phu nhân về nhà họ Dương, ngày đêm u uất. Ta thô lỗ bạc đức, không đủ làm cho phu nhân vui lòng, thật có lỗi lắm vậy. Nay phải vĩnh biệt, mong phu nhân lượng thứ cho.

Y giáo chủ đời thứ ba mươi hai có di mệnh, khi nào ta luyện thành thần công Càn khôn đại na di, thì dẫn huynh đệ sang Tổng giáo bên Ba Tư bố trí nghênh đón Thánh hỏa lệnh về. Bổn giáo tuy phát nguyên từ Ba Tư, nhưng đã bắt rễ sâu ở Trung Hoa, thêm cành tỏa lá đã mấy trăm năm rồi. Nay Thát tử chiếm Trung thổ chúng ta, bổn giáo thề chống lại đến cùng, quyết không tuân lệnh vô lý của Tổng giáo Ba Tư mà cúi đầu nhận bọn Mông Nguyên làm chủ. Thánh hỏa lệnh nếu về lại tay chúng ta, Minh giáo Trung Hoa lập tức có thể đứng ngang hàng với Tổng giáo Ba Tư

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Thì ra Tổng giáo của Minh giáo ở bên nước Ba Tư, Y giáo chủ và Dương giáo chủ không chịu tuân lệnh Tổng giáo đầu hàng triều đình nhà Nguyên, thực là các bậc hảo hán có chí khí". Chàng thầm thán phục Minh giáo thêm vài phần, lại đọc tiếp bức thư:

Hôm nay ta vừa luyện thành thần công bậc thứ tư, thì biết được chuyện Thành Côn, huyết khí trào lên không ngăn được, chân lực tiêu tán, biết đã tới lúc trở về, biết làm gì hơn?

Trương Vô Kỵ đọc tới đây, thở dài khe khẽ, nói:

– Thì ra khi viết lá thư này, Dương giáo chủ đã biết việc Dương phu nhân hẹn hò tình tự với Thành Côn trong đường hầm bí mật.

Chàng thấy Tiểu Chiêu ngập ngừng như muốn hỏi điều gì, song không dám mở miệng, bèn đem chuyện phu phụ giáo chủ Dương Đính Thiên và Thành Côn thuật sơ qua. Tiểu Chiêu nói:

– Con thấy việc đó toàn do Dương phu nhân sai trái mà ra. Nếu bà ta trong lòng cứ tơ tưởng Thành Côn, lẽ ra không nên lấy Dương giáo chủ; khi đã kết hôn với Dương giáo chủ thì không được lén gặp gỡ Thành Côn.

Trương Vô Kỵ gật đầu, nghĩ thầm: "Tiểu cô nương này còn bé nhưng đã hiểu biết", chàng đọc tiếp bên dưới:

Nay mệnh ta chỉ còn sớm tối, phụ lòng ủy thác của Y giáo chủ, thực là có tội với bổn giáo. Vậy phu nhân hãy cầm lá thư chính tay ta viết này, chiêu tụ Tả, Hữu Quang Minh sứ giả, Tứ đại hộ giáo pháp vương, Ngũ Hành kỳ sứ, Ngũ tản nhân, truyền di lệnh của ta như sau: "Bất kể ai thu hồi được Thánh hỏa lệnh về, thì được làm giáo chủ đời thứ ba mươi tư của bổn giáo. Kẻ nào không phục, giết đi không tha. Lệnh cho Tạ Tốn tạm giữ chức Phó giáo chủ, xử lý các việc trọng đại của bổn giáo".

Trương Vô Kỵ xúc động, nghĩ thầm: "Thì ra Dương giáo chủ đã chỉ định nghĩa phụ ta tạm làm Phó giáo chủ, nghĩa phụ ta võ công toàn tài, Dương giáo chủ qua đời rồi, nghĩa phụ ta là nhân vật số một trong Minh giáo. Tiếc rằng Dương phu nhân không đọc lá thư này, nếu không thì Minh giáo đã chẳng đến nỗi tàn sát lẫn nhau, giáo chúng trở nên tán loạn như thế". Chàng thấy Dương Đính Thiên quý trọng Tạ Tốn như thế thì rất mừng, không khỏi thương cảm; chàng xuất thần hồi lâu, rồi đọc tiếp:

Tâm pháp "Càn khôn đại na di" tạm thời do Tạ Tốn tiếp chưởng, sau sẽ chuyển giao cho tân giáo chủ. Làm rạng rỡ Minh giáo ta, đánh đuổi Hồ Lỗ, hành thiện trừ ác, phù chính trừ gian, mang thánh hỏa Minh tôn phổ huệ mọi người trong thiên hạ, là việc mà tân giáo chủ phải gắng làm.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Cứ theo di mệnh của Dương giáo chủ thì tôn chỉ của Minh giáo rất quang minh chính đại. Các môn phái lớn cứ một mực giữ thiên kiến của môn hộ, không ngừng gây khó dễ cho Minh giáo, thực chẳng nên chút nào". Chàng lại đọc tiếp di thư:

Ta dồn chút sức tàn đóng chặt cánh cửa đá, ở lại cùng Thành Côn trong đường hầm này, còn phu nhân hãy cứ theo bản đồ đường hầm bí mật mà thoát ra. Thời nay không có người thứ hai nào có thần công "Càn khôn đại na di", tức là không ai có thể đẩy nổi cánh cửa đá ở vị trí Vô Vọng. Chờ khi nào hào kiệt hậu thế luyện được thì xương cốt của ta và Thành Côn cũng mục nát rồi. Đính Thiên cẩn bạch.

Dưới cùng là một hàng chữ nhỏ: "Ta mang cái tên Đính Thiên là đội trời đạp đất, thế nhưng lại không làm nên sự nghiệp gì với đời, không có công lao gì với bổn giáo, làm cho phu nhân đau lòng, ôm hận mà chết đi, thật đáng chê cười" .

Mặt sau bức thư là một bản đồ đường hầm bí mật, ghi rõ các lối đi ngõ ngách.

Trương Vô Kỵ cả mừng, nói:

– Dương giáo chủ vốn muốn tự giam mình cùng Thành Côn trong đường hầm bí mật để hai người cùng chết, ai ngờ ông ta không trụ được, chết sớm quá, để cho tên Thành Côn sống ung dung đến tận hôm nay. Rất may có tấm bản đồ này, chúng ta có thể tìm đường lối thoát ra.

Theo bản đồ, chàng đã tìm ra chỗ mình đang đứng, xem kỹ lại thì cảm thấy như bị dội một thùng nước lạnh xuống đầu, thì ra lối thoát duy nhất chính là chỗ đã bị Thành Côn dùng hai tảng đá lớn lấp đi, thành thử có tấm bản đồ này cũng vô dụng.

Tiểu Chiêu nói:

– Công tử đừng vội nản lòng, không chừng còn có lối đi khác cũng nên.

Nàng cầm tấm bản đồ, cúi đầu xem kỹ, nhưng trên đó vẽ rõ ràng, ngoài lối đi kia, không còn đường nào khác.

Trương Vô Kỵ thấy nàng lộ vẻ thất vọng, bèn cười gượng, nói:

– Di thư của Dương giáo chủ có viết, nếu ai luyện thành thần công Càn khôn đại na di là có thể đẩy cánh cửa đá mà ra. Thời nay hình như chỉ có một mình Dương Tiêu tiên sinh luyện môn thần công đó, nhưng công lực còn non, dù Dương tiên sinh có ở đây cũng chưa chắc đẩy nổi. Hơn nữa, cũng chả biết cửa Vô Vọng nằm ở chỗ nào, trên bản đồ cũng không ghi rõ, vậy biết đường nào mà lần?

Tiểu Chiêu nói:

– Vị trí "Vô Vọng" ư? Đó là một phương vị trong sáu mươi tư quẻ của Phục Hy. Càn đến Ngọ thì hết, Khôn đến Tý thì hết, dương ở phương nam, âm ở phương bắc. Vị trí "Vô Vọng" nằm giữa hai vị trí "Minh Di" và "Tùy".

Nói đoạn nàng liền phân chia phương vị trong thạch thất, bước tới góc tây bắc, nói:

– Ở chỗ này đây.

Trương Vô Kỵ phấn chấn hẳn lên, nói:

– Thật vậy ư?

Chàng chạy tới kho binh khí, lấy một cây rìu lớn, mang tới cạo sạch đất cát bám trên vách đá, quả nhiên lộ ra dấu vết một cánh cửa, chàng nghĩ thầm: "Ta tuy không biết phép Càn khôn đại na di, nhưng Cửu dương thần công ta đã luyện thành, uy lực chắc gì đã thua kém". Chàng bèn tụ khí vào đan điền, vận lực ra hai cánh tay, hai chân xoải thành cung tiễn bộ, từ từ đẩy ra. Đẩy hồi lâu, cánh cửa đá không nhúc nhích. Bất kể hai tay chàng thay đổi bộ vị thế nào, vận chân khí ra sao, tới khi hai cánh tay mỏi nhừ, xương cốt toàn thân kêu lục cục mà cánh cửa đá vẫn trơ trơ, liền làm một với vách đá, không xê dịch chút nào.

Tiểu Chiêu khuyên:

– Công tử, đừng thử nữa, để con mang thuốc súng lại xem sao.

Trương Vô Kỵ vui mừng:

– Đúng rồi, ta quên biến là mình có thuốc súng.

Hai người đem nửa thùng thuốc súng nhồi vào cánh cửa đá, đốt dây dẫn hỏa. Sau tiếng nổ, cánh cửa bị lõm vào đến bảy, tám thước, song vẫn chưa thấy đường hầm đâu, xem chừng tảng đá này bề dày còn hơn cả bề rộng.

Trương Vô Kỵ cảm thấy mình có lỗi, chàng cầm tay Tiểu Chiêu, dịu dàng nói:

– Tiểu Chiêu, toàn do ta cả, làm cho cô nương cũng bị nhốt không ra được.

Tiểu Chiêu ngước đôi mắt trong veo chăm chăm nhìn chàng, nói:

– Trương công tử, công tử phải trách con mới đúng; nếu con không dẫn công tử xuống đây, thì đâu đến nỗi.. đến nỗi..

Nàng dùng tay áo lau nước mắt, một lát sau, nàng bỗng cười khanh khách, nói:

– Đã không thoát ra được, thì lo buồn cũng chẳng ích gì. Thôi để con hát cho công tử nghe một bài được chứ?

Trương Vô Kỵ thực chẳng còn lòng dạ nào nghe hát, nhưng không nỡ làm Tiểu Chiêu cụt hứng, mỉm cười đáp:

– Được đấy!

Tiểu Chiêu ngồi xuống bên chàng, cất tiếng hát:

Sự đời lúc xuống lúc lên,

Nhân sinh đâu chỉ là hên là mừng.

Thế gian khi phế khi hưng,

Trong hung tàng cát, cát hung đổi dời.

Trương Vô Kỵ nghe đến câu "Trong hung tàng cát, cát hung đổi dời", nghĩ đến một đời chìm nổi của mình, ngẫm quả đúng như thế. Lại thấy giọng Tiểu Chiêu trong trẻo, uyển chuyển lên bổng xuống trầm, thì bao nhiêu buồn phiền tiêu tan cả. Tiểu Chiêu lại ca tiếp:

Khi đầy cũng có khi vơi,

Có ai giàu mãi mấy đời xênh xang,

Trăng tròn rồi lại trăng tàn

Trời cao đất thấp đã hoàn mỹ chăng?

Trương Vô Kỵ nói:

– Tiểu Chiêu, cô nương ca hay lắm, ai đặt ra bài hát này thế?

Tiểu Chiêu cười đáp:

– Công tử giễu con rồi, con ca đâu có gì là hay? Con nghe người ta hát, nhớ lõm bõm vài câu, nên cũng không biết là do ai đặt.

Trương Vô Kỵ thích câu:

"Trời cao đất thấp đã hoàn mỹ chăng?"

Bèn ngâm lại câu đó. Tiểu Chiêu hỏi:

– Công tử thích nghe hát thật, hay chỉ giả vờ?

Trương Vô Kỵ cười nói:

– Thích nghe là thích nghe, sao lại có chuyện giả vờ ở đây? Dĩ nhiên là thích thật đấy.

Tiểu Chiêu nói:

– Được, thế thì để con hát một bài nữa.

Nàng gõ nhẹ năm ngón tay trái trên đá làm nhịp, hát:

Chớ nên cau mặt nhíu mày,

Cũng đừng vỗ ngực ta hay ta giàu.

Đẹp giàu phỏng được bao lâu?

Ngày nào xanh tóc, giờ đầu bạc phơ.

Giàu sang, khôn khéo có thừa

Khác chi nghèo khó, đần ngu vậy mà.

Có người thì cũng có ta,

Xưa nay, đây đó vốn là như nhau.

Cõi trần kẻ trước người sau

Cuối cùng cũng đến cái cầu xuôi tay.

Hôm nay hãy biết bữa nay,

Trăm năm thấm thoắt đã hay một đời.

Mấy ai thọ được bảy mươi,

Thời gian như nước chảy xuôi qua cầu.

Bài ca triết lý sâu xa, rõ ràng người đặt ra nó đã nếm trải đủ mùi, hiểu biết nhân tình thế thái, nhưng từ miệng một thiếu nữ hát ra lại xem chừng không hợp, đúng là cô bé nghe người ta hát rồi thuộc lòng. Trương Vô Kỵ tuổi còn trẻ, nhưng mười năm qua đã nếm trải đủ điều gian khổ, đêm nay bị kẹt giữa lòng núi, trước mắt thấy không còn đường sống, miệng nhẩm lại câu "Cõi trần kẻ trước người sau, Cuối cùng cũng đến cái cầu xuôi tay", bất giác não lòng. "Cái cầu xuôi tay" ấy là ngày từ giã cõi đời. Chàng đã nhiều phen lâm vào giây phút sống còn, nhưng khi đó chỉ có một đường, hoặc sống hoặc chết, không liên lụy đến ai khác. Lần này không chỉ kéo thêm cô bé Tiểu Chiêu vào tử lộ, mà nào chuyện tồn vong của Minh giáo, sự an nguy của Dương Tiêu, Dương Bất Hối cùng bao người khác, nào mối thâm cừu giữa nghĩa phụ Tạ Tốn với Thành Côn, đều có liên quan đến chàng, quả thực không đành lòng mà chết.

Chàng đứng dậy, lại tới đẩy cái cửa đá, chỉ cảm thấy chân khí trong cơ thể lưu chuyển, tựa hồ trong người súc tích một nguồn khí lực vô cùng vô tận mà chưa được sử dụng, chẳng khác nào dòng nước lũ cuồn cuộn chảy trên sông, bị hai bờ đê chặn lại không cho tràn ra.

Chàng thử đẩy ba lần vẫn không xong, đành thúc thủ. Bỗng Tiểu Chiêu lại cứa ngón tay lấy máu quệt lên mảnh da dê, nói:

– Trương công tử, công tử hãy thử luyện tâm pháp "Càn khôn đại na di" xem sao. Không chừng công tử thông minh hơn người, luyện một lần là được.

Trương Vô Kỵ cười đáp:

– Các vị giáo chủ tiền nhiệm của Minh giáo luyện suốt đời còn chưa ai thành công; họ làm giáo chủ thì dĩ nhiên thông minh hơn ta nhiều; ta chỉ luyện một sớm một chiều, làm sao thành nổi?

Tiểu Chiêu cất giọng hát nho nhỏ:

Hôm nay hãy biết bữa nay,

Trăm năm thấm thoắt đã hay một đời.

– Công tử cứ luyện đi, một sớm một chiều cũng tốt chứ sao.

Trương Vô Kỵ mỉm cười, đón lấy mảnh da dê, miệng nhẩm đọc, thấy trên đó viết toàn là cách vận hành chân khí, cách di cung sử kình. Thử làm theo, không tốn chút sức lực nào đã làm được ngay. Mảnh da viết: "Tâm pháp bậc thứ nhất này, người có ngộ tính cao thì bảy năm sẽ luyện thành, người kém hơn sẽ tốn mười bốn năm". Chàng lấy làm lạ: "Cái này đâu có gì khó mà phải tốn bảy năm?"

Chàng đọc tiếp tâm pháp bậc thứ hai, theo đó mà luyện, chỉ một lát chân khí đã quán thông, cảm thấy tựa hồ từ mười ngón tay có khí lạnh bắn ra. Trong đó lại có ghi chú: "Tâm pháp bậc thứ hai, người có ngộ tính cao thì bảy năm sẽ luyện thành, người kém hơn sẽ tốn mười bốn năm. Nếu tới năm thứ hai mươi mốt mà không tiến triển thì chớ luyện bậc thứ ba, đề phòng tẩu hỏa nhập ma, hết bề cứu vãn".

Chàng vừa mừng vừa lo, luyện tiếp bậc thứ ba. Lúc này hàng chữ đã mờ, Trương Vô Kỵ định dùng dao cứa ngón tay lấy máu thì Tiểu Chiêu đã làm trước, đang bôi máu lên mảnh da. Trương Vô Kỵ vừa đọc vừa luyện theo, bậc thứ ba rồi bậc thứ tư, luyện được một cách dễ dàng.

Tiểu Chiêu thấy mặt chàng một bên đỏ như máu, một bên lại xanh lè thì hơi lo sợ, nhưng thấy chàng vẫn thần định khí túc, đôi mắt sáng long lanh, nên cũng yên tâm. Khi chàng luyện tâm pháp bậc thứ năm, mặt chàng chợt xanh chợt đỏ, lúc xanh thì thân hình run rẩy như trong băng giá; lúc đỏ thì mồ hôi vã ra như tắm.

Tiểu Chiêu rút khăn tay, đưa lên toan lau mồ hôi trán cho chàng, khăn vừa chạm vào trán thì tay nàng bị giật mạnh một cái, thân hình ngả sang một bên, suýt nữa ngã ngửa. Trương Vô Kỵ đứng dậy, giơ tay áo lau mồ hôi, nhất thời chưa hiểu tại sao, chỉ biết rằng mình đã luyện thành tâm pháp bậc thứ năm.

Thì ra tâm pháp "Càn khôn đại na di" này vốn là một pháp môn vận kình sử lực cực kỳ xảo diệu, đạo lý căn bản là làm sao phát huy tối đa tiềm lực có sẵn trong cơ thể mỗi người. Trong cơ thể mỗi người đều có nguồn tiềm lực rất to lớn, có điều bình thời không vận dụng được. Còn khi gặp tình huống khẩn cấp, như cháy nhà chẳng hạn, một người bình thường sức trói gà không chặt nhưng lại có thể vác cả ngàn cân. Trương Vô Kỵ sau khi luyện xong Cửu dương thần công thì lực đạo súc tích trong người không ai bì kịp, chỉ là chưa có cao nhân chỉ dẫn nên chưa biết cách sử dụng thôi. Bây giờ khi chàng học tâm pháp Càn khôn đại na di, tiềm lực trong cơ thể cứ trào dâng như hồng thủy, không gì chế ngự được.

Môn tâm pháp này sở dĩ khó luyện cho thành, sơ sảy một chút là bị tẩu hỏa nhập ma, hoàn toàn do phép vận kình vừa phức tạp vừa xảo diệu vô cùng trong khi người luyện công thì lại chưa có nội lực hùng hậu tương xứng. Giống như bảo một đứa bé bảy, tám tuổi múa một cây chùy nặng trăm cân, chùy pháp càng tinh vi càng dễ khiến đứa bé tự đánh vào mình vỡ đầu chảy máu. Nhưng nếu người sử dụng chùy là một đại lực sĩ thì dĩ nhiên không sao cả. Những người trước đây luyện môn tâm pháp này chỉ vì nội lực có hạn, cứ miễn cưỡng tu luyện, thành thử rơi vào tình trạng lực bất tòng tâm.

Các vị giáo chủ Minh giáo thời trước, ai chả hiểu đạo lý hệ trọng ấy, nhưng thân làm đến giáo chủ, chí kiên nghị có thừa, đâu chịu thua kém ai, cũng không vì thấy khó mà bỏ cuộc. Đại phàm cao thủ võ học đều thuộc lòng câu "Tinh thành sở chí, kim thạch vi khai", nên ai cũng hăm hở dốc lòng tu tập, đâu biết rằng sức người có hạn, nhưng cứ đinh ninh "nhân định thắng thiên", để đến nỗi nuốt hận mà chết.

Trương Vô Kỵ sở dĩ chỉ tốn nửa ngày đã luyện thành, trong khi người thông minh tài trí, võ nghệ cao cường hơn hẳn chàng mà tu luyện mấy chục năm vẫn không xong, cái khác nhau chỉ là một bên nội lực có thừa, một bên nội lực chưa đủ thôi.

Trương Vô Kỵ sau khi luyện bậc thứ năm, cảm thấy tinh thần khí lực toàn thân có thể điều khiển theo ý muốn, muốn phát là phát, muốn thu là thu, nhất nhất tùy ý, từng đường gân thớ thịt trong cơ thể có thể điều khiển dễ dàng. Lúc này chàng quên cả việc đẩy cánh cửa đá, chuyên tâm luyện tiếp tâm pháp bậc thứ sáu; chỉ hơn một canh giờ sau đã luyện sang bậc thứ bảy.

Tâm pháp bậc thứ bảy so với bậc thứ sáu huyền diệu và sâu xa gấp bội, nhất thời khó bề hiểu hết. Cũng may chàng tinh thông y đạo, mạch lý, gặp chỗ chưa rõ là lại đem y lý ra ấn chứng, nên quán thông được ngay. Khi luyện được quá nửa rồi, bỗng thấy khí huyết trào lên, tim đập mạnh. Chàng định thần, làm lại từ đầu, vẫn bị như thế. Từ khi chàng luyện tâm pháp bậc thứ nhất đến chỗ này, chưa bao giờ gặp tình trạng như vậy.

Chàng bỏ qua một câu, luyện tiếp xuống dưới, lại thấy thuận lợi, nhưng được vài câu, lại gặp trở ngại. Từ đó về sau, trở ngại càng lúc càng nhiều, tính ra có tổng cộng mười chín câu chưa luyện được.

Trương Vô Kỵ trầm ngâm một hồi, đặt mảnh da dê lên trên đá, cung kính quỳ xuống vái mấy lần, khấn:

– Đệ tử Trương Vô Kỵ tình cờ tìm được tâm pháp thần công của Minh giáo, chỉ vì mong thoát khỏi khốn cảnh tìm đường sống, hoàn toàn không có ý định ăn cắp bí kíp của quý giáo. Sau khi thoát khỏi hiểm cảnh, đệ tử sẽ đem thần công này tận lực giúp quý giáo, không dám phụ lòng vun đắp và đại ân cứu mạng của của các vị giáo chủ tiên liệt.

Tiểu Chiêu cũng quỳ xuống lạy mấy lạy, lầm rầm khấn:

– Kính mong liệt đại giáo tông phù hộ độ trì cho Trương công tử trùng chỉnh Minh giáo, làm rạng rỡ uy danh của liệt tổ.

Trương Vô Kỵ đứng dậy, nói:

– Đệ tử không phải là giáo đồ Minh giáo, theo lời giáo huấn của thái sư phụ đệ tử, sau này đệ tử cũng không thể gia nhập Minh giáo được. Nhưng sau khi đệ tử đọc di thư của Dương giáo chủ thì biết tôn chỉ của Minh giáo thật là quang minh chính đại, thể nào đệ tử cũng đem hết khả năng của mình giải thích những điều hiểu lầm cho các đại môn phái, để đôi bên ngừng tranh chấp.

Tiểu Chiêu nói:

– Trương công tử, công tử bảo còn mười chín câu chưa luyện được, sao không nghỉ một lát cho tinh thần sung túc, biết đâu lại chả luyện thành?

Trương Vô Kỵ nói:

– Hôm nay ta đã luyện tâm pháp Càn khôn đại na di xong bậc thứ bảy rồi, tuy phải bỏ qua mười chín câu, không khỏi có chút khiếm khuyết, nhưng cũng như câu hát ban nãy của cô nương: "Trăng tròn rồi lại trăng tàn, Trời cao đất thấp đã hoàn mỹ chăng?", ta nào dám tham lam, chưa biết đủ? Ta có phúc trạch công đức gì mà dám nhận tâm pháp thần công của Minh giáo? Để lại mười chín câu chưa luyện thành, đó mới là đạo lý đấy.

Tiểu Chiêu nói:

– Công tử nói chí phải.

Nàng cầm mảnh da dê, hỏi Trương Vô Kỵ chỉ cho biết những câu nào chàng chưa luyện thành, lẩm nhẩm mấy lần học thuộc lòng. Trương Vô Kỵ cười hỏi:

– Cô nương ghi nhớ để làm gì vậy?

Tiểu Chiêu đỏ mặt, nói:

– Không làm gì cả. Con thấy đến công tử mà còn chưa luyện được, thì xem thử coi nó khó tới mức nào.

Ai ngờ Trương Vô Kỵ là người không quá chú trọng cái gì, thấy nên dừng thì dừng, rất hợp với câu "tri túc bất nhục" [84] . Nguyên vị cao nhân năm xưa sáng chế ra tâm pháp Càn khôn đại na di tuy nội lực mạnh thật, song cũng chưa bằng Cửu dương thần công, chỉ luyện đến bậc thứ sáu là dừng. Tâm pháp vị đó viết trong bậc thứ bảy, chính vị đó cũng chưa luyện tới, chỉ là nhờ trí tuệ thông minh mà tưởng tượng, biến hóa ra thôi. Mười chín câu Trương Vô Kỵ luyện không thông, toàn là do vị cao nhân đó tưởng tượng thêm vào, tưởng là đúng nhưng thực chất là đi vào sai lầm. Nếu Trương Vô Kỵ một mực cầu toàn, cứ đòi luyện cho tận thiện tận mỹ mới dừng, ắt sẽ bị tẩu hỏa nhập ma ở cửa ải cuối cùng này, không điên khùng, ngây độn, thì cũng bại liệt toàn thân, thậm chí còn đứt kinh mạch mà bỏ mạng cũng không chừng.

Hai người gom đất đá đắp lên hài cốt của vợ chồng Dương Đính Thiên đâu đấy, rồi đi tới bên cánh cửa đá.

Lần này Trương Vô Kỵ chỉ đặt một bàn tay phải vào bên cửa, theo đúng tâm pháp Càn khôn đại na di vừa luyện xong, chỉ hơi vận sức, phiến đá đã kèn kẹt chuyển động, hơi nghiêng người dùng chút sức nữa, cửa đá đã từ từ mở ra.

Tiểu Chiêu cả mừng, nhảy cẫng lên, vỗ tay kêu hay, sợi xích sắt ở tay kêu leng keng một hồi. Trương Vô Kỵ nói:

– Để ta giựt đứt dây xích cho cô nương một lần nữa xem sao.

Tiểu Chiêu cười đáp:

– Lần này chắc phải đứt!

Trương Vô Kỵ cầm sợi dây xích, vận sức kéo ra hai bên; sợi dây chỉ doãng dài thêm chứ không đứt rời. Tiểu Chiêu kêu lên:

– Ối chao, không hay rồi! Công tử càng kéo dài ra chừng nào, con càng bị bất tiện thêm chừng ấy.

Trương Vô Kỵ lắc đầu:

– Cái dây xích này quái dị thật! Chỉ e kéo doãng cả chục trượng cũng không đứt.

Nguyên vị giáo chủ Minh giáo đời trước có nhặt được một cục vân thạch quái dị từ trên trời rơi xuống, trong có chứa chất liệu kim khí không giống các loại sắt thép dưới trái đất. Các tay thợ khéo của Nhuệ Kim kỳ liền đúc thử binh khí nhưng không được, bèn rèn thành sợi dây xích này. Trương Vô Kỵ thấy Tiểu Chiêu cúi đầu rầu rĩ, bèn an ủi nàng:

– Cô nương yên tâm, cứ tin rằng thể nào rồi ta cũng sẽ mở được cái xích này cho cô nương. Chúng mình bị kẹt trong lòng núi thế này còn thoát ra được, sá gì hai sợi dây xích ấy.

Chàng muốn tìm Viên Chân báo thù, quay trở lại cố đẩy hai tảng đá vạn cân kia, nhưng nó chỉ hơi lung lay chứ không mở ra được. Chàng lắc đầu, cùng Tiểu Chiêu trở lại lối cửa đá.

Lúc đi qua rồi, chàng đẩy cánh cửa lại như cũ, thấy tảng đá này thực ra không phải là cánh cửa, mà là một phiến nham thạch tự nhiên, bên dưới chèn một trái cầu sắt rất lớn làm bản lề. Lâu năm, trái cầu bị gỉ, khối nham thạch khó bề chuyển dịch. Chàng nghĩ năm xưa khi xây dựng địa đạo này, Minh giáo phải sử dụng vô số nhân lực trong nhiều năm, tốn biết bao công phu, tâm huyết.

Chàng cầm bản đồ đường hầm bí mật, theo đó mà đi, tuy khá ngoắt ngoéo nhưng không phí công đã thoát ra ngoài.

Vừa ra khỏi đường hầm, ánh sáng chói lòa chiếu vào mặt, hai người nhất thời chưa mở mắt ra được. Một hồi lâu mới từ từ hé mắt ra, thấy băng tuyết khắp nơi, ánh nắng chiếu xuống tuyết hắt lên, nên mới chói mắt như thế.

Tiểu Chiêu thổi tắt cây đuốc trên tay, đào một cái lỗ trên tuyết, chôn cây đuốc gỗ xuống đó, nói:

– Đuốc ơi, đa tạ mi đã chiếu sáng cho Trương công tử và ta ra khỏi đường hầm. Thiếu mi thì bọn ta chả làm gì được cả.

Trương Vô Kỵ cười ha hả, trong lòng rất sảng khoái, chợt nghĩ thầm: "Thế gian quá nhiều kẻ vong ân bội nghĩa, còn tiểu cô nương này đối với một cây củi còn như thế, ắt là người trung hậu trọng nghĩa".

Chàng quay nhìn Tiểu Chiêu mỉm cười, ánh sáng dưới tuyết hắt lên mặt nàng, làm lộ rõ nước da trắng trẻo, mịn màng như ngọc, bèn buột miệng khen:

– Tiểu Chiêu, cô nương xinh quá!

Tiểu Chiêu vui mừng, nói:

– Trương công tử không nói dối đấy chứ?

Trương Vô Kỵ nói:

– Cô nương đừng giả trang què chân, lưng gù thành quái dị nữa, cứ thế này xinh biết mấy!

Tiểu Chiêu nói:

– Công tử bảo con không giả trang, con sẽ không giả trang nữa. Tiểu thư dù muốn giết con, con cũng không giả trang.

Trương Vô Kỵ nói:

– Đừng nói bậy! Cô nương tử tế như vậy, sao tiểu thư lại giết cô nương?

Chàng lại ngắm Tiểu Chiêu lần nữa, thấy nàng da dẻ trắng hồng, sống mũi hơi cao hơn so với thiếu nữ thông thường, tròng mắt ẩn hiện màu xanh của biển cả, bèn nói:

– Cô nương là dân bản địa Tây Vực thì phải? So với thiếu nữ ở Trung nguyên, xem ra có phần xinh đẹp hơn.

Tiểu Chiêu hơi nhướn mày, nói:

– Con chỉ mong mình được như thiếu nữ Trung nguyên thôi.

Trương Vô Kỵ tới bên sườn dốc quan sát địa thế tứ phía, thì ra đang ở lưng chừng một ngọn núi. Khi chàng nằm trong cái túi vải do Thuyết Bất Đắc vác lên đỉnh Quang Minh, chàng đâu biết địa thế dọc đường, lúc này cũng chả hiểu mình đang ở chỗ nào. Đưa mắt nhìn ra thật xa, chàng thấy ở triền núi phía tây bắc có mấy hình người nằm bất động, tựa hồ đã chết. Chàng nói:

– Mình tới đó coi thử.

Trương Vô Kỵ cầm tay Tiểu Chiêu chạy về phía triền núi đó. Lúc này Cửu dương chân khí trong cơ thể chàng lưu chuyển như ý, tâm pháp Càn khôn đại na di đã luyện tới bậc thứ bảy, mỗi cử động của tay chân chàng người ngoài nhìn vào đều cho là sức người không thể làm nổi, tuy tay dắt Tiểu Chiêu mà đi nhanh như chim én.

Đến gần, thấy bốn xác chết trên tuyết, máu me vung vãi trên tuyết trắng, xác người nào cũng có vết đao kiếm. Trong số đó, có ba người mặc sắc phục giáo đồ Minh giáo, còn một người là tăng nhân, hình như là đệ tử phái Thiếu Lâm. Trương Vô Kỵ lo lắng nói:

– Nguy rồi! Mình bị kẹt trong đường hầm quá lâu, sáu đại môn phái đánh lên đỉnh Quang Minh rồi!

Chàng sờ tâm khẩu bốn cái xác, đều lạnh ngắt, chứng tỏ chết đã nhiều giờ. Chàng vội nắm tay Tiểu Chiêu, theo dấu chân trên tuyết mà chạy lên. Chạy độ mươi trượng, lại thấy có bảy xác chết nằm trên tuyết, hình dạng đáng sợ.

Trương Vô Kỵ rất bồn chồn, nói:

– Không biết nhóm Dương Tiêu tiên sinh, Bất Hối muội muội thế nào rồi?

Chàng chạy nhanh hơn, tựa hồ kéo Tiểu Chiêu cùng bay đi vậy. Qua một khúc quành, thấy có năm giáo đồ Minh giáo bị treo lên cây, đầu lộn ngược xuống đất, mặt mũi người nào cũng nhầy nhụa máu me, tựa hồ bị vật sắc nhọn cào nát. Tiểu Chiêu nói:

– Họ bị dính "Hổ trảo thủ" của phái Hoa Sơn.

Trương Vô Kỵ lấy làm lạ, hỏi:

– Tiểu Chiêu, cô nương còn ít tuổi mà sao biết rộng thế? Ai dạy cho cô nương?

Tuy miệng hỏi thế, nhưng trong bụng chàng đang canh cánh lo cho sự an nguy của mọi người trên đỉnh Quang Minh, không đợi Tiểu Chiêu trả lời đã lại nắm tay nàng chạy như bay lên núi. Dọc đường thấy người chết nằm la liệt, phần lớn là giáo đồ Minh giáo, nhưng đệ tử của sáu đại môn phái cũng không phải ít. Có lẽ trong thời gian một ngày đêm chàng kẹt trong đường hầm, sáu đại môn phái đã phát động mãnh công. Các nhân vật trọng yếu như Dương Tiêu, Vi Nhất Tiếu đều bị trọng thương nên Minh giáo không ai chỉ huy, lâm vào tình thế bất lợi, nhưng chúng giáo đồ vẫn dốc sức chiến đấu, không chịu khuất phục, thành thử đôi bên đều bị tổn thất nặng nề.

Trương Vô Kỵ lên gần tới đỉnh núi, nghe tiếng binh khí va chạm dữ dội, lòng có phần nào yên tâm, nghĩ thầm: "Đánh nhau vẫn chưa xong, sáu đại môn phái chưa đánh được tới đại sảnh", vội vàng chạy về phía có đánh nhau.

Đột nhiên nghe tiếng gió vù vù, có hai mũi cương tiêu ném tới sau lưng, kèm theo tiếng người quát:

– Ai đó? Đứng lại!

Trương Vô Kỵ vẫn chạy, đưa tay phẩy ngược lại đằng sau một cái, hai mũi tên kia lập tức bay ngược lại, chỉ nghe một tiếng "Ối!" thảm thiết, rồi tiếng người ngã vật xuống đất. Trương Vô Kỵ kinh ngạc, quay đầu nhìn lại, thấy một tăng nhân mặc áo bào xám, hai mũi tên cắm ở vai phải của y. Chàng ngẩn người, không ngờ vừa rồi chỉ phẩy tay một cái, chỉ định đánh giạt hướng bay của mũi tên cho khỏi trúng người chàng, ai ngờ lực phất tay lại có uy lực ghê gớm đến thế. Chàng vội chạy tới, xuýt xoa nói:

– Tại hạ lỡ tay khiến đại sư bị thương, áy náy quá!

Rồi giơ tay nhổ hai mũi cương tiêu ra. Vai nhà sư Thiếu Lâm máu vọt ra, nhưng Vô Kỵ không ngờ y hung tợn, tung chân đá một cú, trúng vào bụng dưới chàng. Trương Vô Kỵ đứng gần y, không ngờ y đột ngột tấn công, còn đang ngẩn người thì đã thấy y bay văng ra xa, lưng đụng phải một thân cây, chân phải gãy lủng liểng, mồm hộc máu. Trương Vô Kỵ lúc này chân khí lưu chuyển trong cơ thể, hễ bị ngoại lực đánh vào là lập tức sinh ra lực phản kích, tương tự lần chấn gãy đùi Tĩnh Huyền, nhưng lực đạo bây giờ còn mạnh hơn lúc đó nhiều.

Chàng thấy nhà sư bị trọng thương, lòng không an, vội chạy tới đỡ dậy, luôn miệng xin lỗi. Nhà sư kia hậm hực nhìn chàng, vừa tức vừa sợ, tuy muốn xuất chiêu tấn công, nhưng không còn hơi sức nữa.

Bỗng nghe từ phía bên kia tường vọng ra ba tiếng ằng ặc, Trương Vô Kỵ không thể lo thêm cho nhà sư nữa, vội kéo Tiểu Chiêu chạy qua cổng lớn, xuyên qua hai sảnh đường, đến một cái sân lớn phía trước.

Trên sân, người đứng đông nghịt, nhưng ở mé tây ít người hơn, mười người thì tám chín máu me lênh láng, kẻ ngồi người nằm, là phe Minh giáo. Mé đông người như kiến, chia thành sáu nhóm, xem ra sáu đại môn phái đã tề tựu đông đủ, thành thế bao vây phe Minh giáo.

Trương Vô Kỵ liếc qua thấy Dương Tiêu, Vi Nhất Tiếu, Thuyết Bất Đắc, Bành hòa thượng cả bọn đều ngồi trong đám giáo đồ Minh giáo, xem ra cử động vẫn còn khó khăn lắm. Dương Bất Hối ngồi bên cạnh phụ thân.

Ở giữa sân có hai người đang giao đấu, ai nấy chăm chú xem, nên Trương Vô Kỵ và Tiểu Chiêu đi vào, chẳng người nào lưu tâm cả.

Trương Vô Kỵ thong thả lại gần, định thần nhìn kỹ, thấy hai người đang giao đấu đều tay không, chưởng phong kêu ù ù, uy lực bao trùm mấy trượng, hiển nhiên cả hai đều là cao thủ tuyệt đỉnh. Hai đối thủ xuất chiêu cực nhanh, đột nhiên bốn chưởng đụng nhau, lập tức cả hai cùng bất động, trong nháy mắt cảnh chuyển động kỳ ảo bỗng biến thành phút lặng ngắt như tờ. Mọi người đứng xem cùng thốt:

– Hay thật!

Trương Vô Kỵ nhìn rõ hai người thì trong lòng chấn động. Hán tử trung niên thân hình thấp nhỏ, khuôn mặt cương nghị, chính là Trương Tòng Khê của phái Võ Đang, còn đối thủ là một lão niên cao to, hói đầu, lông mày dài, trắng như tuyết, rủ xuống khóe mắt, mũi khoằm như mỏ chim ưng. Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Không ngờ Minh giáo lại có cao thủ cỡ này, chẳng biết là ai vậy?"

Bỗng từ đám người phái Hoa Sơn cất tiếng gọi:

– Này lão Bạch Mi kia, mau chịu thua đi, làm sao lão địch nổi Trương tứ hiệp phái Võ Đang kia chứ?

Trương Vô Kỵ nghe mấy chữ "Lão Bạch Mi" thì giật mình: "Ồ, thì ra người này.. người này.. chính là ông ngoại Bạch Mi Ưng Vương của ta!" Chàng chợt nảy sinh niềm trìu mến thiết tha, muốn chạy lên nhận người thân.

Chỉ thấy trên đỉnh đầu Ân Thiên Chính và Trương Tòng Khê đều có hơi nóng bốc lên, hai người trong giây lát đã sử dụng tất cả chân lực nội gia bình sinh khổ luyện. Một người là giáo chủ Thiên Ưng giáo, một trong tứ đại hộ giáo pháp vương của Minh giáo. Một người là đệ tử đắc ý của Trương Tam Phong, một trong Võ Đang thất hiệp uy chấn thiên hạ; xem ra trận đấu sắp phân thắng bại.

Người của Minh giáo cũng như của sáu đại môn phái ai cũng nín thở theo dõi, lo lắng cho người của phe mình, đều biết rằng cuộc đấu này không chỉ là uy danh của Minh giáo và phái Võ Đang mà còn là một cuộc thi chân lực giữa hai đại cao thủ, kẻ bại có thể mất mạng như chơi. Chỉ thấy lúc này hai người như hai bức tượng đá, ngay đến râu tóc và quần áo cũng không lay động chút nào.

Ân Thiên Chính thần uy lẫm liệt, cặp mắt sáng như hai tia chớp. Trương Tòng Khê sử dụng yếu chỉ "dĩ dật đãi lao, dĩ tĩnh chế động" [85] trong tâm pháp của phái Võ Đang, thủ vệ cực kỳ nghiêm mật. Trương Tòng Khê biết Ân Thiên Chính lớn hơn chàng đến hai chục tuổi, nội lực tu luyện cao thâm hơn hai chục năm; song mình thì đang thời tráng kiện, sức lực dồi dào còn đối phương tuổi đã cao, thể chất suy vi, mình càng giữ được lâu chừng nào, càng có cơ thắng thế chừng đó. Đâu ngờ Ân Thiên Chính quả là một kỳ nhân hiếm có trong võ lâm, tuổi cao nhưng tinh lực chẳng kém thời trai trẻ, nội lực cứ như sóng biển dâng trào hết lớp này đến lớp khác, song chưởng dồn dập tấn công Trương Tòng Khê.

Trương Vô Kỵ thoạt nhìn thấy Trương Tòng Khê và Ân Thiên Chính thì trong lòng mừng rỡ, nhưng lập tức vui hóa ra lo, một bên là ông ngoại mình, có tình huyết nhục, một bên là sư huynh của phụ thân, coi chàng chẳng khác nào con ruột. Năm xưa chàng bị trúng Huyền Minh thần chưởng, chư hiệp phái Võ Đang không ai tiếc nội công đã tận tâm kiệt lực trị thương cho chàng. Nếu một trong hai người bị thương hoặc chết, hẳn chàng sẽ ôm hận suốt đời.

Trương Vô Kỵ hơi trầm ngâm, đang nghĩ cách chiết giải, bỗng nghe Ân Thiên Chính và Trương Tòng Khê cùng quát to, bốn chưởng phát lực, mỗi người bật lui sáu bảy bước.

Trương Tòng Khê nói:

– Ân lão tiền bối thần công trác tuyệt, bội phục, bội phục!

Ân Thiên Chính nói, tiếng vang như chuông:

– Công phu tu luyện nội gia của Trương huynh đệ siêu phàm nhập thánh, lão phu tự thẹn không bằng. Các hạ là sư huynh đồng môn của con rể lão phu, không lẽ hôm nay phải nhất quyết phân thắng bại hay sao?

Trương Vô Kỵ nghe ông ngoại nhắc đến cha mình, nước mắt lập tức rưng rưng, trong bụng chỉ muốn kêu lên: "Thôi đừng đánh nữa, đừng đánh nữa!"

Trương Tòng Khê nói:

– Vừa rồi vãn bối đã phải lùi nhiều hơn một bước, đã thua nửa chiêu rồi.

Nói đoạn cúi mình vái chào, ung dung lui ra.

Đột nhiên từ trong phái Võ Đang có một hán tử chạy ra, chỉ Ân Thiên Chính giận dữ nói:

– Lão họ Ân kia, lão không nhắc đến Trương ngũ ca của vãn bối thì thôi, hôm nay nhắc đến chỉ khiến người ta căm hận. Du tam ca và Trương ngũ ca hai người của chúng tôi đều bị hại bởi Thiên Ưng giáo của lão, thù này không báo thì Mạc Thanh Cốc làm sao còn dám mang ngoại hiệu Võ Đang thất hiệp?

Nghe "roạt" một cái, trường kiếm đã rút khỏi vỏ, ánh nắng chiếu vào lấp lánh, giơ lên theo tư thế "Vạn nhạc triều tông". Đây là tư thế khởi đầu của đệ tử phái Võ Đang trước khi động thủ với bậc trưởng bối. Mạc Thanh Cốc tuy lửa giận bừng bừng, nhưng vốn đã là một cao thủ có danh phận trong võ lâm, trước bao con mắt đổ dồn vào mình, nhất cử nhất động đâu dám thất lễ.

Ân Thiên Chính thở dài, mặt thoáng lộ vẻ u buồn, chậm rãi nói:

– Lão phu từ khi tiểu nữ qua đời, không muốn đụng đến đao kiếm nữa. Nhưng nếu tay không động thủ với chư hiệp Võ Đang thì không khỏi đại bất kính.

Bèn chỉ vào một giáo đồ Minh giáo tay cầm thiết côn, nói:

– Cho ta mượn cây gậy!

Gã giáo đồ nâng cây thiết côn ngang mày, khom lưng cung kính dâng lên. Ân Thiên Chính tiếp lấy thiết côn, dùng hai tay bẻ một cái, cây gậy sắt gãy ngay làm đôi.

Những người xung quanh đều "ồ" lên kinh ngạc, không ngờ ông già sau trận cửu chiến vừa rồi mà vẫn còn thần lực ghê gớm như vậy.

Mạc Thanh Cốc biết Ân Thiên Chính sẽ không xuất chiêu trước, bèn vung trường kiếm sử chiêu "Bách điểu triều phụng"; chỉ thấy mũi kiếm rung động không ngừng, trong chớp mắt như có mấy chục mũi kiếm tấn công trung bàn đối phương. Chiêu này tuy lợi hại, song vẫn là chiêu thức trọng lễ nghĩa.

Ân Thiên Chính tay trái cầm đoạn côn gãy, nói:

– Mạc thất hiệp khỏi cần khách khí!

Tay phải Ân Thiên Chính cầm đoạn côn gãy thứ hai liền chọc xiên tới.

Đôi bên qua lại vài chiêu, mọi người đều rung động. Kiếm pháp của Mạc Thanh Cốc khinh linh, loang loáng ánh cầu vồng, vừa phiêu dật vừa ngưng trọng mỗi khi đánh ra thu về, đúng là phong cách của bậc danh gia. Còn hai đoạn thiết côn của Ân Thiên Chính vốn nặng nề chậm chạp, chiêu số cũng sơ sài tầm thường, đánh phía này một cái, đập phía kia một cái, chẳng ra bài bản gì hết, nhưng các nhân sĩ am hiểu thì biết ngay là lão già dùng lối "đại trí nhược ngu, đại xảo nhược chuyết" [86], thực ra là cảnh giới cực cao của võ học. Cước bộ của Ân Thiên Chính cũng di động rất thong thả, trong khi Mạc Thanh Cốc lúc vọt lên cao, khi rùn xuống thấp, lúc nhào sang đông, khi vút sang tây, trong thời gian uống hết một chén trà đã liên tiếp tung ra hơn sáu mươi chiêu sát thủ vô cùng lợi hại.

Hai người đấu thêm mấy chục hiệp nữa, kiếm chiêu của Mạc Thanh Cốc càng lúc càng nhanh. Hai phái Côn Luân, Nga Mi đều lấy kiếm pháp làm chính, các đệ tử thấy thanh kiếm trong tay Mạc Thanh Cốc biến hóa tài tình như thế, trong bụng ai nấy thán phục: "Kiếm pháp phái Võ Đang quả nhiên danh bất hư truyền, hôm nay mới được một phen sáng mắt". Song bất luận chàng đâm chém cách nào, cũng không tấn công lọt hai đoạn thiết côn nghiêm thủ của Ân Thiên Chính. Mạc Thanh Cốc nghĩ thầm: "Lão già này liên tiếp đánh bại ba cao thủ của phái Hoa Sơn, phái Thiếu Lâm, lại đấu nội lực với tứ ca, nay đấu với ta là người thứ năm, chắc chắn đã hao tổn nhiều chân lực, quả thật có lợi thế cho ta; nếu ta không thắng được thì còn gì thể diện của sư môn?"

Chàng bèn hú một tiếng thanh thoát, kiếm pháp đột nhiên thay đổi, thanh trường kiếm như biến thành một sợi dây lưng, vừa nhẹ vừa mềm, lúc cong lúc thẳng, phiêu hốt bất định, chính là bảy mươi hai chiêu "Nhiễu chỉ nhu kiếm" của phái Võ Đang.

Những người đứng xem đến chiêu thứ mười hai mười ba đều không nhịn nổi cùng thốt lên khen hay. Lúc này Ân Thiên Chính đã không còn dùng cách vụng về chống xảo diệu mà phải di động lẹ làng, thi triển khinh công lấy nhanh đánh nhanh. Đột nhiên trường kiếm của Mạc Thanh Cốc vụt đâm thẳng vào giữa ngực Ân Thiên Chính, đang đâm như thế, mũi kiếm bỗng rung động, cong đi, đâm chéo lên vai bên phải đối phương. Đường Nhiễu chỉ nhu kiếm này toàn dựa vào nội lực thâm hậu để uốn cong lưỡi kiếm, làm cho kiếm chiêu biến đổi khôn lường, địch nhân khó bề né tránh. Ân Thiên Chính chưa từng thấy thứ kiếm pháp này, vội hạ vai xuống tránh né, không ngờ thanh kiếm bật trở lại, đâm thẳng vào cánh tay bên trái. Ân Thiên Chính vươn tay phải ra, không hiểu bằng cách nào mà cánh tay dài thêm nửa thước, phất vào cổ tay Mạc Thanh Cốc, đoạt luôn thanh trường kiếm, đồng thời tay trái đã ấn vào huyệt Kiên Trinh.

"Ưng trảo cầm nã thủ" của Bạch Mi Ưng Vương là tuyệt kỹ của võ lâm hơn trăm năm nay, thời nay không ai sánh kịp. Đầu vai của Mạc Thanh Cốc đã nằm trong lòng bàn tay Ân Thiên Chính, năm ngón tay của ông già chỉ cần vận kình bóp một cái là vai của đối phương sẽ nát như tương, tàn phế suốt đời. Chư hiệp phái Võ Đang cả kinh, muốn xông ra cứu đã không còn kịp nữa.

Ân Thiên Chính thở dài, nói:

– Một lần đã quá, thêm nữa làm chi?

Ông buông vai Mạc Thanh Cốc ra, tay phải thu về, rút kiếm khỏi cánh tay trái, máu từ miệng vết đâm chảy ra ròng ròng. Ông ngưng thần nhìn thanh kiếm, nói:

– Lão phu tung hoành nửa đời trong thiên hạ, chưa từng thua ai nửa chiêu thức. Trương Tam Phong hay thật, Trương chân nhân tài thật!

Ông ca ngợi Trương Tam Phong đã sáng chế ra bảy mươi hai chiêu Nhiễu chỉ nhu kiếm thần diệu khôn lường, làm cho chính ông cũng không sao tránh nổi.

Mạc Thanh Cốc đứng ngây ra tại chỗ, tuy thắng trước một chiêu nhưng lại không bị đối phương cuối hạ sát thủ đả thương mình, nên ngơ ngẩn một lát, rồi nói:

– Đa tạ tiền bối thủ hạ lưu tình.

Ân Thiên Chính không nói một lời, lẳng lặng trả kiếm cho Mạc Thanh Cốc. Mạc Thanh Cốc tinh thông kiếm pháp như thế, rốt cuộc lại bị đối phương đoạt mất binh khí, quá ư hổ thẹn, không dám nhận lại thanh kiếm, vội lui ra.

Trương Vô Kỵ xé nhẹ vạt áo, đang định bước ra băng bó vết thương cho ông ngoại, bỗng thấy từ chỗ phái Võ Đang lại có một hán tử bước ra, râu đen dài tới ngực, chính là Tống Viễn Kiều đứng đầu Võ Đang thất hiệp. Tống Viễn Kiều nói:

– Tại hạ xin băng tay cho lão tiền bối.

Tống Viễn Kiều lấy thuốc trong bọc ra đắp lên vết thương cho Ân Thiên Chính, rồi lấy khăn buộc lại. Giáo chúng Thiên Ưng giáo và Minh giáo thấy vẻ mặt đường hoàng tử tế của Tống Viễn Kiều, lại nghĩ đây là người đứng đầu Võ Đang thất hiệp, quyết không khi nào công khai hạ độc người bên phe mình. Ân Thiên Chính nói, vẻ mặt không chút nghi ngờ:

– Đa tạ!

Trương Vô Kỵ cả mừng, nghĩ thầm: "Tống sư bá băng bó vết thương cho ông ngoại ta, chắc là vì cảm kích ông không giết Mạc thất thúc, đôi bên có thể hòa hảo với nhau". Nào ngờ sau khi băng bó vết thương xong, Tống Viễn Kiều lùi lại một bước, buông tay áo, nói:

– Tống mỗ xin lãnh giáo cao chiêu của lão tiền bối.

Câu này thật là quá bất ngờ đối với Trương Vô Kỵ, khiến chàng phải thốt lên:

– Tống đại hiệp, dùng xa luân chiến đánh một vị lão nhân là không công bằng!

Câu đó nói ra khiến ai nấy cùng quay lại nhìn chàng thanh niên áo quần lam lũ. Trừ phái Nga Mi, một số rất ít người như Tống Thanh Thư, Ân Lê Đình, Dương Tiêu, Thuyết Bất Đắc, còn không ai biết chút gì về chàng, nên đều ngạc nhiên.

Tống Viễn Kiều nói:

– Vị tiểu bằng hữu nói vậy không sai. Oán thù riêng giữa Thiên Ưng giáo với phái Võ Đang, hôm nay tạm gác sang một bên. Hiện giờ là giây phút hệ trọng một mất một còn giữa sáu đại môn phái với Minh giáo, phái Võ Đang đứng ra thách đấu với Minh giáo cũng vì thế.

Ân Thiên Chính đưa mắt lướt qua một vòng, thấy Dương Tiêu, Vi Nhất Tiếu, Bành hòa thượng cả bọn đều bị tê liệt bất động, các cao thủ của Thiên Ưng giáo và Ngũ Hành kỳ thì đều chết hoặc bị thương, chính con trai ông là Ân Dã Vương cũng đang hôn mê nằm kia, chưa biết sống chết thế nào, trong Thiên Ưng giáo lẫn Minh giáo, ngoại trừ ông ra, không còn ai đủ tài đương đầu với quyền chiêu kiếm pháp của Tống Viễn Kiều. Nhưng ông đã liên tiếp giao đấu với năm cao thủ, chân khí đâu còn như ban đầu, huống hồ cánh tay trái lại bị thương không nhẹ.

Ân Thiên Chính còn đang suy nghĩ, bỗng nghe một lão già thấp bé trong phái Không Động lớn tiếng nói:

– Ma giáo thua hẳn rồi, không chịu đầu hàng còn chờ gì nữa? Không Trí đại sư, chúng ta vào phá hủy bài vị của ba mươi ba đời giáo chủ Ma giáo thôi!

Phương trượng Thiếu Lâm tự Không Văn đại sư ở lại trấn thủ bản tự tại Tung Sơn, lần này vây đánh đỉnh Quang Minh, đệ tử phái Thiếu Lâm do Không Trí đại sư cầm đầu. Các môn phái kính nể địa vị và danh vọng của phái Thiếu Lâm trong võ lâm, nên cử Không Trí đại sư làm người phát lệnh trong chiến dịch vây đánh đỉnh Quang Minh này.

Không Trí chưa kịp trả lời, đã nghe một người của phái Hoa Sơn nói:

– Cái gì mà đầu hàng với chả chờ đợi? Toàn bộ giáo đồ Ma giáo, hôm nay quyết không để một tên nào sống sót! Nhổ cỏ phải nhổ sạch cả rễ, nếu không sau này chúng lại nổi lên làm hại giang hồ. Lũ ma quỷ yêu quái kia, khôn hồn mau mau tự sát đi, để các ông đây khỏi bẩn tay.

Ân Thiên Chính ngầm vận khí, thấy vết thương ở cánh tay sâu tới xương, cứ đau từng chập một. Ông vốn biết Tống Viễn Kiều theo học Trương Tam Phong lâu nhất, thâm đắc chân truyền của vị đại tông sư võ học; còn mình thì ngay khi tinh thần khí lực còn đầy đủ, đấu với y còn chưa biết ai thắng ai bại, nữa là lúc này? Nhưng các cao thủ của Minh giáo thì hoặc chết hoặc bị thương, chỉ còn một mình ông chủ trì đại cục, thôi đành liều cái mạng già này, mình chết không có gì ân hận, chỉ tiếc anh danh một đời hôm nay chấm dứt mà thôi.

Tống Viễn Kiều nói:

– Ân lão tiền bối, phái Võ Đang và Thiên Ưng giáo thù sâu như biển, nhưng chúng tôi không muốn thừa lúc người ta lâm nguy nên chuyện ấy hãy để mai sau thanh toán. Sáu đại môn phái hôm nay tới đây là để đánh Minh giáo. Thiên Ưng giáo đã tách khỏi Minh giáo, tự lập môn hộ, trên giang hồ ai ai cũng biết cả. Ân lão tiền bối hà tất phải dây dưa vào vụ này, xin hãy đưa giáo chúng Thiên Ưng giáo hạ sơn thì hơn!

Phái Võ Đang vì vụ Du Đại Nham mà kết oán thù rất sâu với Thiên Ưng giáo, chuyện đó các phái đều biết; bây giờ nghe Tống Viễn Kiều mở đường cho Thiên Ưng giáo có lối thoát thì ai nấy đều ngạc nhiên, nhưng liền hiểu rằng Tống Viễn Kiều quang minh lỗi lạc, không muốn chiếm lợi thế trong lúc này.

Ân Thiên Chính cười ha hả, nói:

– Hảo ý của Tống đại hiệp, lão phu tâm lãnh. Lão phu là một trong bốn đại hộ giáo pháp vương của Minh giáo, tuy đã lập riêng môn hộ, nhưng Minh giáo gặp nạn, há có thể đứng ngoài? Hôm nay chỉ còn cái chết mà thôi, xin Tống đại hiệp tiến chiêu đi!

Nói xong tiến tới một bước, hai tay thủ thế trước ngực, hai hàng lông mày trắng hơi rung động, trông thật uy võ.

Tống Viễn Kiều nói:

– Đã vậy, xin đắc tội!

Rồi tay trái giơ ra, hữu chưởng áp vào lòng bàn tay trái, dùng chiêu "Thỉnh thủ thức" [87] đánh ra, là chiêu số của vãn bối đấu với tiền bối trong quyền pháp của phái Võ Đang.

Ân Thiên Chính thấy Tống Viễn Kiều cúi mình khom lưng, có ý vái chào, liền nói:

– Khỏi cần khách khí!

Hai tay ông vòng lại, thủ tại tâm khẩu. Cứ theo quyền pháp, Tống Viễn Kiều tất phải tiến lên, vươn tay đánh ra, nào ngờ y có vươn tay đánh ra thật, nhưng không hề tiến lên trước, thành thử quyền đó đánh ra còn cách Ân Thiên Chính đến hơn một trượng.

Ân Thiên Chính kinh ngạc: "Không lẽ quyền thuật phái Võ Đang lợi hại đến thế sao? Y đã luyện được thần công Cách sơn đả ngưu[88] rồi ư?" Ông không dám chậm trễ, vội vận sức vào hữu chưởng để gạt quyền lực của đối phương ra.

Không ngờ chưởng gạt ra, chỉ thấy trống không, không đụng phải kình lực nào cả, bất giác lấy làm lạ, chỉ nghe Tống Viễn Kiều nói:

– Đã ngưỡng mộ võ công cao siêu của lão tiền bối từ lâu, gia sư vẫn thường ca ngợi. Lúc này tiền bối đã đấu với mấy người liền, vãn bối thì còn nguyên sức lực, ra chiến đấu với nhau thì không công bằng chút nào. Vậy chỉ xin tỷ thí chiêu số, không tỷ thí sức lực.

Y vừa nói vừa đá ra. Cú đá này cũng chỉ là hư chiêu, cách đối phương hơn một trượng, nhưng cước pháp tinh diệu, phương vị lạ lùng, nếu là công kích gần bên, quả thực khó chống đỡ vô cùng. Ân Thiên Chính tán thưởng:

– Hảo cước pháp!

Ông lấy công làm thủ, vung chưởng tấn công. Tống Viễn Kiều nghiêng người né tránh, đánh trả một chưởng.

Trong giây lát hai người đấm qua đá lại, giao đấu cực kỳ hăng hái, nhưng luôn luôn cách nhau hơn một trượng. Tuy đòn không chạm tới thân thể, toàn là đánh hờ, nhưng hai người đều có danh phận, chiêu nào thất lợi, chiêu nào trội hơn, đều tự mình biết cả. Hai người cùng chăm chú, không dám sơ sảy chút nào, hệt như giao đấu đụng chạm thật sự.

Đứng xem bên ngoài có không ít cao thủ võ học thấy Tống Viễn Kiều dùng phương pháp nhu khắc cương, quyền cước tung ra cực nhanh, còn Ân Thiên Chính mở lớn đóng lớn, chiêu số lấy cương làm chính, song cũng không chậm hơn chút nào. Hai người kiến chiêu chiết chiêu, khi thủ khi công, tưởng như đang luyện quyền chỉ đánh hờ với nhau nhưng thực ra hiện thời đấu nhau rất ác liệt thật sự.

Trương Vô Kỵ lúc đầu thấy Ân Thiên Chính đấu với Trương Tòng Khê và Mạc Thanh Cốc, vì lo cho sự an nguy của cả đôi bên thân thuộc nên không chú ý quan sát chiêu số; còn bây giờ chàng xem Tống Viễn Kiều và Ân Thiên Chính đứng cách xa đấu với nhau, biết rằng chỉ phân thắng bại, chứ không có chuyện nguy hiểm sống chết nên chàng chăm chú quan sát chiêu số của hai người. Xem một hồi, thấy hai người xuất chiêu mỗi lúc một nhanh, chàng càng xem càng không hiểu tại sao: "Ông ngoại và Tống sư bá đều là đệ nhất cao thủ võ lâm, nhưng trong chiêu số vì sao vẫn còn rất nhiều sơ hở như vậy? Quyền này của ông ngoại mà đánh xéo về bên trái nửa thước, có phải là trúng ngay giữa ngực Tống sư bá rồi không? Còn trảo kia của Tống sư bá nếu chậm lại nửa khắc, hẳn đã chộp được cánh tay trái của ông ngoại rồi. Chả lẽ hai người cố ý nhường nhau? Nhưng xem ra hoàn toàn không phải nhường nhịn gì hết".

Thực ra, Tống Viễn Kiều và Ân Thiên Chính tuy đấu cách xa, song về chiêu số không hề nhường nhau một ly. Trương Vô Kỵ sau khi học được tâm pháp Càn khôn đại na di, công phu võ học so với hai người cao hơn một bậc, nên dễ dàng nhận ra các sơ hở trong chiêu số của họ thì cũng không có gì là lạ. Trương Vô Kỵ không biết rằng chàng đã luyện thành Cửu dương thần công, nên mới nhận ra chiêu số để chiến thắng địch nhân; còn Tống Viễn Kiều và Ân Thiên Chính vì tài nghệ chưa tới mức đó nên không thể nhận ra chỗ tinh diệu như chàng. Những kẻ bình thường lại càng không thể với tới. Giống như con chim bay trên cao nhìn thấy dưới đất con sư tử đánh nhau với con hổ, nó sẽ nghĩ: "Sao không bay từ trên cao mà chụp xuống, có phải thắng ngay rồi không?" Con chim đâu biết rằng sư tử và hổ tuy hung dữ và lợi hại đứng đầu loài thú, song không thể bay lên cao mà nhào xuống được. Trương Vô Kỵ hiện giờ cũng như con chim kia vậy.

Bỗng thấy Tống Viễn Kiều thay đổi chiêu số, song chưởng bay lượn như bông tuyết lững lờ mềm mại, không một chút khí lực, đó chính là Miên chưởng của phái Võ Đang. Ân Thiên Chính quát một tiếng, đánh ra một quyền, hai người một bên cực nhu, một bên cực cương, cùng thi triển tuyệt kỹ.

Gần về cuối, Tống Viễn Kiều tả chưởng đánh ra, hữu chưởng đánh sau mà tới trước, tiếp đó tả chưởng lại từ sau đánh đến trước. Ân Thiên Chính thấy cả nửa người bên trên của mình bị chưởng thế của Tống Viễn Kiều bao trùm, liền hú lên một tiếng lớn, song quyền đánh ra chiêu "Đinh Giáp khai sơn". Song chưởng song quyền của hai bên đều giơ ra trên không trung, cùng đứng như trời trồng. Hai người chiết đến chiêu này, trừ việc tỷ thí nội lực, không còn cách nào khác. Đôi bên cách nhau hơn một trượng, bốn cánh tay chỉ đấu hờ mà thôi, nhìn bên ngoài trông có vẻ kỳ quái, nhưng nếu đứng gần nhau thì đây chính là lúc hung hiểm hơn cả.

Tống Viễn Kiều mỉm cười, thu chưởng nhảy về phía sau, nói:

– Quyền pháp của lão tiền bối thật là tinh diệu, bội phục, bội phục!

Ân Thiên Chính cũng thu quyền, nói:

– Quyền pháp của phái Võ Đang quả nhiên quán tuyệt cổ kim.

Hai người đã nói không tỷ thí nội lực, đấu tới đây không thể tiếp tục được nữa thì coi như hòa.

Phái Võ Đang còn hai đại cao thủ là Du Liên Châu và Ân Lê Đình chưa ra đấu. Thấy Ân Thiên Chính mặt đỏ bừng, khí nóng bốc từ đỉnh đầu lên ngùn ngụt, biết trận đấu vừa rồi tuy không hao tổn nội lực, nhưng đối thủ quá mạnh nên cũng phải hao kiệt tâm trí, nhìn ông ta đã như cây cung giương quá đà, Du Ân nhị hiệp dù ai ra đấu cũng có thể nhanh chóng đánh gục đối phương, được cái tiếng "đánh bại Bạch Mi Ưng Vương". Du Liên Châu và Ân Lê Đình nhìn nhau, cùng lắc đầu, nghĩ thầm: "Thừa lúc người ta lâm nguy mà tấn công, có thắng cũng chẳng hay gì".

Võ Đang nhị hiệp không "thừa nhân chi nguy", nhưng người khác thì đâu phải ai cũng có phong cách quân tử như thế. Từ chỗ phái Không Động, một lão già thấp bé nhảy vọt ra, chính là kẻ ban nãy kêu gọi đốt bài vị các giáo chủ Minh giáo. Lão ta nhẹ nhàng đáp xuống trước mặt Ân Thiên Chính, nói:

– Đường mỗ muốn đấu chơi với Ân lão nhi!

Giọng điệu lão ta nghe cực kỳ khinh bạc.

Ân Thiên Chính liếc một cái, hừ một tiếng, nghĩ thầm: "Bình thời Ân mỗ đâu coi Không Động ngũ lão ra gì! Hôm nay hổ xuống đồng bằng bị chó khinh, một đời anh danh của ta, giả sử có chết dưới tay Võ Đang thất hiệp thì còn được, chứ quyết không để cho tên khốn kiếp Đường Văn Lượng này được cái danh đó". Tuy xương cốt toàn thân đã mỏi nhừ, chỉ muốn nằm lăn ra đất ngủ một giấc thật dài, nhưng hào khí một đời chợt trào lên, hàng lông mày trắng dựng ngược, Ân Thiên Chính quát:

– Tiểu tử, tiến chiêu đi!

Đường Văn Lượng biết nội lực của Ân Thiên Chính mười phần đã hao tổn tám chín, chỉ cần đấu giây lát, khỏi cần động thủ, đối phương cũng tự gục ngã; lão ta bèn xoa tay, chui tọt ngay ra sau lưng Ân Thiên Chính, đấm một quyền vào hậu tâm ông. Ân Thiên Chính nghiêng người đánh ngược lại, Đường Văn Lượng đã nhanh nhẹn lùi ra, cặp giò của lão ta cứ nhảy nhót lẹ làng như một con khỉ. Đấu qua vài hiệp, Ân Thiên Chính chợt thấy mắt tối sầm, cổ họng hơi ngòn ngọt, rồi ộc ra một ngụm máu, đứng không vững, ngã chúi xuống.

Đường Văn Lượng cả mừng, quát to:

– Ân Thiên Chính, hôm nay cho ngươi toi mạng dưới quyền của Đường Văn Lượng ta!

Trương Vô Kỵ thấy Đường Văn Lượng nhảy lên, từ trên cao đánh xuống, đang định phi thân ra cứu ông ngoại thì thấy Ân Thiên Chính tay phải đánh chéo lên, tư thế quá đẹp, chính là một chiêu sát thủ đối phó với kẻ địch tấn công từ trên xuống. Hai người gần nhau thế kia, Đường Văn Lượng chắc hẳn hết đường tự cứu. Quả nhiên chỉ nghe "rắc rắc" hai tiếng, hai cánh tay của Đường Văn Lượng đã bị Ân Thiên Chính thi triển Ưng trảo cầm nã thủ bẻ gãy, lại "rắc rắc" hai tiếng nữa, hai cẳng chân của Đường Văn Lượng cũng bị đánh gãy luôn. "Huỵch" một cái, lão ta ngã văng cách đó mấy thước, tứ chi gãy cả, không thấy cựa quậy gì hết. Mọi người đứng xem thấy Ân Thiên Chính đã trọng thương mà còn có thần uy như thế, ai cũng kinh hãi.

Người thứ ba trong Không Động ngũ lão là Đường Văn Lượng bị thảm bại như thế, phái Không Động người nào người nấy mặt mày xám ngoét nhìn Đường Văn Lượng nằm cạnh Ân Thiên Chính, nhưng sợ khoảng cách quá gần nên không dám tới đỡ lão ta về.

Lát sau, một gã cao to, lưng gù nặng nề bước ra, chân phải hất một cục đá nhỏ về phía Ân Thiên Chính, mồm nói:

– Bạch Mi lão nhi, Tông mỗ lên thanh toán món nợ cũ đây.

Đây là người thứ hai trong Không Động ngũ lão, tên là Tông Duy Hiệp. "Món nợ cũ" mà lão ta nói hẳn là lão từng có lần thất thế trong tay Ân Thiên Chính.

Cục đá kia văng đi, nghe "bộp!" một tiếng, trúng ngay góc trán Ân Thiên Chính, lập tức máu chảy ròng ròng. Biến cố này khiến ai nấy cả kinh, Tông Duy Hiệp hất cục đá kia chỉ là tiện chân, đâu mong văng trúng Ân Thiên Chính, nào ngờ lúc này Ân Thiên Chính đã nửa tỉnh nửa mê, không còn né tránh được. Cứ tình thế này, Tông Duy Hiệp chỉ cần bước tới gí nhẹ một ngón tay là cũng giết được ngay đối phương.

Tông Duy Hiệp vung tay, hung hăng bước tới, thì từ chỗ phái Võ Đang một người bước ra, mình bận trường bào vải thô, vẻ mặt chất phác, chính là nhị hiệp Du Liên Châu. Du nhị hiệp hơi lắc mình một cái đã chắn ngay trước mặt Tông Duy Hiệp, nói:

– Tông huynh, Ân giáo chủ đã bị trọng thương, có thắng cũng chẳng mã thượng chút nào, khỏi phiền Tông huynh nhọc sức. Ân giáo chủ và tệ phái có quan hệ sâu xa, người này xin cứ để cho tiểu đệ lo liệu.

Tông Duy Hiệp nói:

– Cái gì mà trọng thương? Lão ta giả vờ chết tài lắm, nếu không phải vừa rồi lão ta giở trò ma mãnh vờ chết, thì Đường tam đệ đâu có mắc bẫy của lão ta? Du nhị hiệp, quý phái có dây mơ rễ má với lão ta, thì huynh đệ ta cũng có chuyện qua chuyện lại, để ta đánh y ba quyền cho bõ tức đã.

Du Liên Châu không muốn Ân Thiên Chính một đời anh hùng lại bỏ mạng như thế, lại nghĩ đến Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố, nên nói:

– Thất Thương quyền của Tông huynh lừng danh thiên hạ, Ân giáo chủ đang như thế này, làm sao chịu nổi ba quyền của Tông huynh?

Tông Duy Hiệp nói:

– Được! Lão ta bẻ gãy tứ chi của Đường tam đệ, ta cũng đánh gãy tứ chi của lão ta là xong. Như thế gọi là báo ứng nhãn tiền!

Lão ta thấy Du Liên Châu do dự, liền nói lớn:

– Du nhị hiệp, sáu đại môn phái chúng ta trước khi đi Tây Vực đã thề với nhau, sao hôm nay nhị hiệp lại xoay qua bênh vực thủ lĩnh của Ma giáo là vì lẽ gì?

Du Liên Châu thở dài, nói:

– Thôi thì tùy Tông huynh, nhưng khi trở về Trung nguyên, thể nào đệ cũng sẽ lãnh giáo Thất Thương quyền của Tông huynh đó.

Tông Duy Hiệp thầm lo: "Gã họ Du này vì sao cứ bênh lão họ Ân thế nhỉ?" Lão vốn rất ngán sợ phái Võ Đang, nhưng trước mắt thiên hạ không dám lộ vẻ yếu thế, liền cười nhạt, nói:

– Việc thiên hạ không qua khỏi chữ "Lý". Phái Võ Đang các vị chớ cậy mạnh ỷ thế hoành hành.

Câu này hiển nhiên động chạm đến Trương Tam Phong.

Tống Viễn Kiều liền lên tiếng:

– Nhị đệ, cứ mặc y!

Du Liên Châu nói to:

– Thật là anh hùng, thật là hảo hán!

Nói rồi lui ra. Câu này vừa để khen Ân Thiên Chính, vừa là mỉa mai Tông Duy Hiệp.

Tông Duy Hiệp không muốn gây rắc rối với phái Võ Đang, nên giả bộ không nghe thấy, thấy Du Liên Châu vừa lui ra, liền bước thẳng tới chỗ Ân Thiên Chính.

Không Trí đại sư phái Thiếu Lâm cao giọng ra lệnh:

– Các vị phái Hoa Sơn và phái Không Động, xin hãy tru diệt toàn bộ dư nghiệt Ma giáo trên sân này. Phái Võ Đang lục soát từ tây sang đông, phái Nga Mi lục soát từ đông sang tây, không để lọt lưới một tên Ma giáo nào cả. Phái Côn Luân chuẩn bị củi lửa thiêu hủy sào huyệt Ma giáo.

Không Trí đại sư hạ lệnh cho năm phái xong, chắp tay nói:

– Đệ tử phái Thiếu Lâm hãy lấy pháp khí ra, tụng kinh vãng sinh, siêu độ cho các anh hùng sáu phái và giáo chúng Ma giáo tuẫn nạn để hóa trừ oan nghiệt.

Mọi người chỉ chờ Ân Thiên Chính bị chết dưới quyền của Tông Duy Hiệp là công cuộc vây diệt Ma giáo của sáu đại môn phái đại công cáo thành.

Lúc này các giáo chúng Minh giáo và Thiên Ưng giáo biết hôm nay là ngày tận số, các giáo đồ ai nấy gượng dậy, trừ những người bị trọng thương không thể cử động, còn lại người nào ai cũng ngồi xếp bằng, mười ngón tay xòe ra, đặt trước ngực, làm giả thế lửa cháy ngùn ngụt, cùng với Dương Tiêu tụng bài kinh của Minh giáo:

Thiêu đốt thân tàn ta,

Hỏa thánh cháy bừng bừng,

Sống chẳng có gì vui,

Thì chết có gì khổ?

Nguyện hành thiện trừ ác,

Làm sao cho quang minh,

Bao hỉ lạc bi sầu,

Đều hóa thành cát bụi.

Thương thay cho con người,

Sao lo buồn lắm vậy!

Thương thay cho con người,

Sao lo buồn lắm vậy!

Minh giáo từ Dương Tiêu, Vi Nhất Tiếu, Thuyết Bất Đắc trở xuống; Thiên Ưng giáo từ Lý Thiên Viên trở xuống, ngay cả đầu bếp, phu dịch, ai nấy thần thái trang nghiêm, không một ai vì chuyện thân tử giáo diệt mà run sợ.

Không Trí đại sư chắp tay, nói:

– Thiện tai! Thiện tai!

Du Liên Châu nghĩ thầm: "Mấy câu kinh kia giáo chúng Ma giáo tụng niệm trước khi chết; bọn họ không nghĩ đến cái chết của chính mình, lại đi thương người đời đa ưu đa hoạn, thực là lòng dạ cao cả, đại nhân đại dũng. Người sáng lập Minh giáo năm xưa quả là nhân vật siêu quần. Chỉ tiếc rằng truyền đến hậu thế lại biến thành những kẻ làm đủ chuyện sai trái".

*

* *

Trương Vô Kỵ trước các cao thủ của sáu đại môn phái vốn dĩ e sợ nên cứ lưỡng lự không dám bước ra; giờ nghe Không Trí đại sư hạ lệnh giết sạch mọi người trong Ma giáo, còn Tông Duy Hiệp thì hung hăng đến chỗ ông ngoại chàng, thế là chàng chẳng còn suy tính gì nữa, liền rảo bước tiến ra chắn trước mặt Tông Duy Hiệp, nói:

– Hãy khoan động thủ! Lão ra tay đánh một người đang bị thương nặng, không sợ anh hùng thiên hạ chê cười hay sao?

Lời này sang sảng, nghe vang động khắp sân. Người các môn phái nhận lệnh của Không Trí đại sư, đang định việc ai nấy làm, đột nhiên nghe mấy câu đó liền cùng dừng lại, quay đầu nhìn người vừa nói.

Tông Duy Hiệp thấy người vừa nói là một thiếu niên lam lũ thì chẳng coi vào đâu, giơ tay đẩy ra, định gạt thiếu niên sang một bên để dễ bề đánh chết Ân Thiên Chính.

Trương Vô Kỵ thấy lão ta đẩy tới, chàng tiện tay vỗ một chưởng, nghe "bình!" một tiếng, Tông Duy Hiệp bị bật lại ba bước. Lão ta lảo đảo, cố đứng cho vững, không ngờ chưởng lực của đối phương mạnh mẽ đến vậy. Cũng may công phu hạ bàn của lão ta rất vững chắc, tuy nửa người trên ngã ngửa, liền vội nhún chân phải, nhảy vọt ra sau, mượn thế tung mình xa hơn một trượng. Khi lão ta chạm xuống đất, chưởng lực kia vẫn chưa tiêu giải, khiến lão ta lật đật lùi bảy, tám bước nữa mới trụ lại được. Thành thử bây giờ Tông Duy Hiệp và Trương Vô Kỵ cách nhau tới hơn ba trượng. Trong bụng lão già vừa sợ vừa tức, người ngoài cũng chả hiểu vì sao, đều nghĩ thầm: "Lão Tông Duy Hiệp giở trò gì đây, sao vừa nhảy vừa lùi, lùi rồi lại nhảy là cái quái gì?" Ngay Trương Vô Kỵ cũng không ngờ mình chỉ vỗ nhẹ một chưởng mà có uy lực nhường ấy.

Tông Duy Hiệp ngớ người, lát sau mới vỡ lẽ, trừng mắt nhìn Du Liên Châu, nói lớn:

– Đại trượng phu quang minh lỗi lạc, sao lại đánh lén người ta như vậy?

Lão nghĩ rằng Du Liên Châu ngấm ngầm trợ giúp, xem chừng toàn bộ Võ Đang chư hiệp cùng ra tay, chứ sức một người làm sao có kình đạo mãnh liệt đến như vậy?

Du Liên Châu không ngờ bị Tông Duy Hiệp nói như thế, cũng trừng mắt nhìn lão ta, nghĩ thầm: "Ngươi bày đặt trò quỷ, tính chuyện gì đây?"

Tông Duy Hiệp lại hung hăng bước tới, chỉ mặt Trương Vô Kỵ, quát: -

Tiểu tử, ngươi là ai?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Vãn bối tên Tăng A Ngưu.

Chàng vừa nói, vừa đặt tay lên huyệt Linh Đài trên lưng Ân Thiên Chính, đem nội lực truyền sang. Cửu dương chân khí của chàng cực kỳ dồi dào, Ân Thiên Chính rùng mình vài cái, đã mở mắt ra, nhìn chàng thiếu niên mà lấy làm lạ. Trương Vô Kỵ mỉm cười với ông, tăng thêm nội lực cho ông.

Trong giây lát, Ân Thiên Chính thấy những chỗ bị bế tắc trên ngực và ở đan điền đều thông suốt, bèn nói nhỏ:

– Đa tạ tiểu hữu!

Rồi ông đứng dậy, ngạo nghễ nói:

– Họ Tông kia, Thất thương quyền của phái Không Động nhà ngươi đâu có gì ghê gớm, để ta tiếp ngươi ba quyền!

Tông Duy Hiệp không thể ngờ lão già kia giờ lại thần hoàn khí túc, đã đứng dậy nổi, lại cho rằng mình đã không còn lợi thế lúc trước, e sợ Ưng trảo cầm nã công lợi hại của Ân Thiên Chính, bèn nói:

– Thất Thương quyền của tệ phái đã không ghê gớm, vậy lão thử tiếp ba chiêu Thất Thương quyền coi!

Tông Duy Hiệp tính rằng Ân Thiên Chính mà không sử dụng cầm nã thủ, chỉ tỷ thí quyền chưởng, nội lực thì mình dĩ dật đãi lao[89] có thể dùng nội kình của Thất Thương quyền mà thủ thắng.

Trương Vô Kỵ nghe lão ta nhắc đến ba chữ "Thất Thương quyền" liền nhớ năm xưa trên Băng Hỏa đảo, một đêm nọ nghĩa phụ lay mình dậy, kể chuyện đã dùng Thất Thương quyền đánh chết Không Kiến thần tăng, sau đó nghĩa phụ bắt chàng học thuộc khẩu quyết Thất Thương quyền, chàng nhất thời chưa học thuộc nên bị nghĩa phụ cho mấy cái bạt tai. Lúc này khẩu quyết đó lưu động trong óc, chàng lập tức hiểu ra đạo lý bên trong.

Nên biết tất cả các loại nội công trong thiên hạ đều không vượt ra ngoài Cửu dương thần công, còn Càn khôn đại na di là phép vận kình sử lực, là tập đại thành của mọi môn võ công. Một thứ đã thông, mọi thứ đều thông, mọi môn võ công bây giờ không còn môn nào là bí ẩn đối với chàng nữa.

Chỉ nghe Ân Thiên Chính nói:

– Cứ gì ba quyền, để ta tiếp ngươi ba mươi quyền cho coi!

Đoạn quay sang lớn tiếng nói với Không Trí:

– Không Trí đại sư, Ân mỗ chưa chết, vẫn chưa nhận thua, đại sư đã nói lại nuốt lời, định lấy thịt đè người hay sao?

Không Trí phẩy tay trái, nói:

– Được! Tất cả hãy chờ một lát, có đáng gì đâu!

Nguyên sau khi Ân Thiên Chính lên tới đỉnh Quang Minh, thấy bọn Dương Tiêu đều bị trọng thương, thế lực phe mình đơn bạc, nên đã dùng lời chặn trước Không Trí không được hỗn chiến, Không Trí đã bằng lòng theo quy củ võ lâm, đánh từng trận một. Kết quả là các hảo thủ thuộc các đường các đàn của Thiên Ưng giáo, Ngũ Hành kỳ của Minh giáo, cả đến các thuộc hạ của Dương Tiêu trên đỉnh Quang Minh, trong đó có người của bốn cửa Thiên, Địa, Phong, Lôi đều hoặc chết hoặc bị thương, chỉ còn một mình Ân Thiên Chính; song Ân Thiên Chính vẫn chưa chịu thua, nên phe bên kia chưa thể xông lên chém giết.

Trương Vô Kỵ biết ông ngoại chàng đã đỡ hơn trước một chút, nhưng nhất thiết chưa nên vận kình sử lực, sở dĩ ông ngoại muốn tiếp quyền chiêu của Tông Duy Hiệp chỉ vì phải hết lòng hộ giáo đến chết mới thôi; chàng bèn nói nhỏ với ông:

– Ân lão tiền bối, để vãn bối đấu trước với y, nếu không xong, lão tiền bối hãy ra tay.

Ân Thiên Chính đã biết chàng có nội lực thâm hậu nhường nào, chính mình khi chưa bị thương cũng chẳng sánh kịp, nghĩ mình vì Minh giáo mà chết là chuyện đương nhiên, còn chàng trai này không biết quan hệ thế nào, bản lĩnh dù cao cường đến mấy, cũng chẳng thể đánh bại từng người từng người một của đối phương, rốt cuộc cũng sẽ kiệt lực trọng thương để người ta giết như mình thôi. Một thiếu niên anh tài, tội gì phải bỏ mạng trên đỉnh Quang Minh? Bèn hỏi:

– Tiểu hữu là môn hạ của vị nào thế? Hình như không phải giáo đồ của bổn giáo?

Trương Vô Kỵ cung kính cúi mình nói:

– Vãn bối không thuộc Minh giáo, cũng không thuộc Thiên Ưng giáo, nhưng đối với lão tiền bối có lòng kính ngưỡng đã lâu, hôm nay xin được cùng lão tiền bối sánh vai chống địch.

Ân Thiên Chính lấy làm lạ, đang muốn hỏi thêm thì Tông Duy Hiệp đã hùng hổ bước tới, quát:

– Họ Ân kia, quyền thứ nhất của ta đây!

Trương Vô Kỵ nói:

– Ân lão tiền bối bảo ngươi không xứng tỷ thí với lão nhân gia, ngươi phải thắng ta đã, rồi động thủ với lão nhân gia cũng chưa muộn.

Tông Duy Hiệp cả giận, quát:

– Thằng nhãi, mi là cái thá gì? Để ta cho mi biết Thất Thương quyền của phái Không Động lợi hại thế nào.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Hôm nay phải nói rõ âm mưu gian trá của tên ác tặc Viên Chân mới có thể tìm cách làm cho đôi bên bãi chiến, nhược bằng chỉ động thủ quá chiêu thì một mình ta đấu sao lại với bao nhiêu anh hùng sáu phái? Huống hồ các sư bá sư thúc phái Võ Đang đều có mặt ở đây, làm sao ta có thể đối địch với họ?" Chàng nghĩ vậy, bèn lớn tiếng trả lời:

– Thất Thương quyền của phái Không Động lợi hại thế nào, tại hạ đã nghe từ lâu. Không Kiến đại sư, thần tăng của phái Thiếu Lâm, chẳng phải đã mất mạng vì Thất Thương quyền của quý phái đó sao?

Lời này của chàng nói ra khiến cả phái Thiếu Lâm rung động. Ngày ấy Không Kiến thần tăng bỏ mạng ở đất Lạc Dương, trên người xương cốt đều gãy nát, bên ngoài không có thương tích gì, hình như trúng phải độc thủ Thất Thương quyền của phái Không Động. Khi ấy Không Văn, Không Trí, Không Tính tam tăng mật nghị mấy ngày liền, cho rằng phái Không Động hiện tại không hề có cao thủ nào đủ sức đánh chết Không Kiến sư huynh là người đã luyện thành thần công "Kim cương bất hoại thể". Tuy thương thế của Không Kiến thần tăng có làm cho người ta nghi ngờ, nhưng thiết nghĩ phái Không Động chẳng thể làm nổi việc đó. Về sau Không Trí lại suất lĩnh các đệ tử kín đáo điều tra, biết rằng khi Không Kiến thần tăng viên tịch ở Lạc Dương thì Không Động ngũ lão đều ở vùng tây nam cả. Đã không phải do Không Động ngũ lão thực hiện, vậy phái Không Động chẳng còn cao thủ nào đủ sức động tới một sợi tóc của Không Kiến, cho nên không nghi ngờ phái Không Động nữa. Huống hồ bấy giờ trên bức tường của khách điếm ở Lạc Dương có viết dòng chữ to "Thành Côn giết Không Kiến thần tăng dưới chân tường này". Phái Thiếu Lâm sau đó biết Tạ Tốn mạo danh Thành Côn gây ra vô số huyết án, nên hết hẳn nghi ngờ với phái Không Động. Lúc này các vị cao tăng nghe Trương Vô Kỵ nói như vậy, hết thảy đều giật mình.

Tông Duy Hiệp giận dữ nói:

– Không Kiến đại sư bị tên ác tặc Tạ Tốn sát hại, giang hồ ai chẳng biết, đâu liên can tới phái Không Động?

Trương Vô Kỵ nói:

– Tạ tiền bối đánh chết Không Kiến thần tăng, ngươi có chính mắt nhìn thấy hay không? Ngươi đứng bên cạnh quan sát hay yểm trợ?

Tông Duy Hiệp nghĩ bụng: "Tiểu tử này ăn mày không ra ăn mày, mục đồng không ra mục đồng, sao lại đến phá rối mình chứ? Chắc hắn là do phái Võ Đang sai khiến, xúi bẩy để hai phái Thiếu Lâm và Không Động bất hòa với nhau. Mình phải cẩn thận ứng phó, không rơi vào bẫy của chúng". Nghĩ vậy, nên tuy không coi Trương Vô Kỵ ra gì, song vẫn nghiêm mặt đáp:

– Không Kiến thần tăng táng mạng ở Lạc Dương, khi đó Không Động ngũ lão đang là khách tại phủ của Liễu đại hiệp, phái Điểm Thương ở Vân Nam.

Làm sao bọn ta lại có thể chính mắt chứng kiến việc đó được?

Trương Vô Kỵ cao giọng, nói:

– Vậy ư? Khi đó ngươi đang ở Vân Nam, làm sao thấy Tạ tiền bối giết chết Không Kiến đại sư? Vị thần tăng ấy bỏ mạng vì Thất Thương quyền của phái Không Động, cả thiên hạ đều biết. Tạ tiền bối không phải là người của phái Không Động, sao ngươi lại giá họa cho ông ta?

Tông Duy Hiệp nói:

– Hừ, tại nơi Không Kiến thần tăng viên tịch có viết dòng chữ bằng máu: "Thành Côn giết Không Kiến thần tăng dưới chân tường này". Tạ Tốn mạo nhân tên sư phụ hắn để gây ra huyết án ở khắp nơi, điều đó quá rõ ràng, còn gì phải nói?

Trương Vô Kỵ giật mình nghĩ thầm: "Nghĩa phụ ta đâu có kể là đã viết trên tường dòng chữ đó. Sau mười ba quyền đánh chết Không Kiến thần tăng rồi, trong lòng hối hận buồn bã vô cùng, đâu còn bụng dạ nào viết mấy chữ giá họa ấy nữa?" Chàng bèn ngửa mặt cười ha hả, nói:

– Hàng chữ đó, ai viết chẳng được? Có ai chính mắt nhìn thấy Tạ tiền bối viết dòng chữ ấy hay không? Ta bảo dòng chữ ấy là do phái Không Động viết đó. Viết chữ thì dễ, luyện thành Thất Thương quyền mới khó.

Chàng quay sang nói với Không Trí:

– Không Trí đại sư, lệnh sư huynh Không Kiến thần tăng đúng là bị hại vì Thất Thương quyền của phái Không Động, có phải thế chăng? Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn không phải là người của phái Không Động, có phải thế chăng?

Không Trí chưa kịp trả lời, đột nhiên một nhà sư cao lớn mặc áo cà sa đỏ lướt ra, tay cầm một cây thiền trượng màu vàng sáng lấp lánh, dộng xuống đất một cái, quát to:

– Tiểu tử, ngươi là người của môn phái nào, cớ gì dám nói chuyện tay đôi với sư phụ ta?

Tăng nhân đó vai gồ lên, lời nói như người bị hen suyễn, chính là Viên Âm phái Thiếu Lâm. Năm xưa khi phái Thiếu Lâm kéo nhau lên núi Võ Đang vấn tội, chính Viên Âm là kẻ nằng nặc bảo Trương Thúy Sơn giết đệ tử phái Thiếu Lâm. Bấy giờ Trương Vô Kỵ lòng đầy bi phẫn, ghi nhớ diện mạo tất cả những ai có mặt; lúc này chàng vừa thấy Viên Âm thì máu nóng trào lên, mặt đỏ bừng, thân mình run run, vội tự nhủ: "Trương Vô Kỵ ơi Trương Vô Kỵ, đại sự hôm nay là làm sao điều giải oán cừu giữa sáu đại môn phái với Minh giáo, chớ vì chút tư hiềm làm cho tình thế khó thu xếp hơn! Chuyện sai trái của phái Thiếu Lâm, để ngày sau thanh toán cũng chưa muộn". Tuy chàng nghĩ được rõ ràng tỉnh táo như thế, nhưng từ lúc Viên Âm chường mặt ra, tình trạng thảm tử của phụ mẫu chàng bỗng cứ hiện ra mồn một trước mắt, khiến nước mắt cứ rưng rưng, cơ hồ không kiềm chế nổi.

Viên Âm lại dộng thiền trượng xuống đất, quát:

– Tiểu tử kia, nếu mi là yêu nghiệt Ma giáo thì mau giơ cổ chịu chém, nếu không phải hãy xuống núi ngay đi, đừng để những người xuất gia lòng dạ từ bi chúng ta phải ra tay.

Trương Vô Kỵ nói:

– Quý phái có một vị Viên Chân đại sư phải không? Mời ông ấy ra đây, tại hạ có vài điều muốn hỏi.

Viên Âm nói:

– Viên Chân sư huynh ư? Làm sao ông ấy có thể đến nói chuyện với mi được? Mi hãy mau xéo đi, bọn ta không rỗi hơi nói chuyện tào lao với một thằng mọi con như mi. Mi thực ra là môn hạ của ai?

Y thấy Trương Vô Kỵ chỉ một chưởng đã làm cho Tông Duy Hiệp, một trong Không Động ngũ lão phải thoái lui hàng chục bước, nghĩ rằng sư phụ của chàng không phải nhân vật tầm thường, nên mới hỏi lại lần nữa, chứ không đã sắp tới lúc diệt sạch Ma giáo, việc gì phí công đôi co với gã thiếu niên lai lịch mù mờ này?

Trương Vô Kỵ nói:

– Tại hạ không phải người trong Minh giáo, cũng không phải môn hạ của môn phái nào ở Trung nguyên. Lần này sáu đại môn phái vây đánh Minh giáo, chính do kẻ gian xúi bẩy, bên trong có sự hiểu lầm quá lớn. Tại hạ tuy còn ít tuổi, nhưng lại biết rõ đầu dây mối nhợ nên mạo muội đứng ra xin đôi bên bãi đấu, tra rõ chân tướng, xét rõ ai phải ai trái, phán xét công minh.

Lời chàng vừa dứt, từ sáu đại môn phái nổi lên tiếng cười vang động, ha ha, hô hô, hi hi, hà hà.. đủ mọi giọng điệu. Có hàng chục kẻ còn lớn tiếng giễu cợt:

– Thằng nhóc kia mất trí điên khùng rồi, hồ thuyết bá đạo!

– Hắn tưởng hắn là ai? Là Trương chân nhân phái Võ Đang chăng? Hay là Không Văn thần tăng phái Thiếu Lâm? Ha ha, ha ha!

– Chắc nó nằm mơ vớ được thanh đao Đồ Long, trở thành võ lâm chí tôn rồi! Hô hô, hô hô!

– Nó ngỡ bọn ta là trẻ nít lên ba đó, thật tức cười, hi hi, hi hi!

– Sáu đại môn phái tử thương bao nhiêu người, nợ máu của Ma giáo sâu như biển, hắn tưởng chỉ nói vài câu là tất cả bọn ta lui quân chăng?

–..

Chỉ có Chu Chỉ Nhược ở phái Nga Mi lặng lẽ nhíu mày, không nói gì. Bữa nọ nàng và Trương Vô Kỵ hai bên nhận ra nhau, nàng biết chàng là người từng gặp trên sông Hán Thủy mà nàng vẫn thương nhớ, sau lại thấy chàng vì nghĩa đứng ra cứu giáo chúng của Nhuệ Kim kỳ, chịu để sư phụ nàng đánh ba chưởng, nàng càng khâm phục; bây giờ nghe mấy câu không biết lượng sức mình của chàng, lại nghe mọi người hùa nhau chế nhạo thì nàng không khỏi đau lòng.

Trương Vô Kỵ đứng giữa sân, hiên ngang nhìn xung quanh, lớn tiếng nói:

– Chỉ cần Viên Chân đại sư của phái Thiếu Lâm ra đây đối chất vài câu với tại hạ, mưu gian của hắn sẽ lộ ra rõ ràng trước mắt người đời.

Câu này nói ra giữa tiếng ồn ào cười nói của mấy trăm con người, vẫn rành rọt từng lời, ai cũng nghe thấy. Các cao thủ của sáu đại môn phái đều thầm giật mình, bớt coi thường chàng, họ nghĩ bụng: "Tiểu tử còn trẻ tuổi, sao nội công lại thâm hậu thế được?"

Viên Âm chờ tiếng cười nhạo của mọi người lắng xuống, mới hổn hển nói:

– Thằng mọi xảo trá thối tha kia, mi biết rõ Viên Chân sư huynh không thể cùng mi đối chất, lại còn đòi ra nói chuyện? Sao mi không gọi Trương Thúy Sơn phái Võ Đang ra đối chất?

Câu cuối cùng của hắn vừa ra khỏi miệng, Không Trí lập tức quát:

– Viên Âm, nói năng cẩn thận!

Nhưng các phái Hoa Sơn, Côn Luân, Không Động đã có nhiều người cười rộ lên. Chỉ có người của phái Võ Đang là ai nấy sầm mặt lại, không nói một lời. Thì ra con mắt bên phải của Viên Âm bị Ân Tố Tố dùng ám khí bắn mù bên bờ hồ năm xưa, hắn vẫn cứ cho là do Trương Thúy Sơn hạ độc thủ nên nuôi mãi mối căm hận trong lòng.

Trương Vô Kỵ nghe hắn vũ nhục cha mình thì cả giận, quát to:

– Tên húy của Trương ngũ hiệp, ngươi dám đem ra nói năng hỗn láo ư? Ngươi.. ngươi.. Viên Âm cười khẩy nói:

– Trương Thúy Sơn tự sa đọa, bị yêu nữ của Ma giáo mê hoặc, bị quả báo vì tội hiếu sắc..

Trương Vô Kỵ trong bụng tự răn mình: "Hôm nay chỉ cốt đôi bên bãi đấu, mình nhất quyết không được đả thương ai". Nhưng nghe câu vừa rồi, làm sao còn nhịn nổi? Chàng vọt ngay tới, tay trái thộp cổ Viên Âm nhấc lên, tay phải cướp luôn cây thiền trượng khỏi tay hắn, vung lên toan đánh xuống đầu hắn. Viên Âm bị chàng tóm cổ, chẳng khác gì con gà nhỏ bị diều hâu chộp, hoàn toàn không có sức chống trả.

Từ chỗ phái Thiếu Lâm tức thời có hai người cùng xông ra, hai cây thiền trượng chia nhau đánh vào hai bên tả hữu của Trương Vô Kỵ, chính là pháp môn cao minh trong võ học dùng để cứu người, gọi là cách "vây Ngụy cứu Triệu", buộc kẻ bị tấn công không thể không quay về tự cứu mình, nhờ đó giải nguy cho đồng bọn. Hai người xông ra cứu đồng bọn là Viên Tâm, Viên Nghiệp. Trương Vô Kỵ tay trái vẫn túm cổ Viên Âm, tay phải cầm thiền trượng, nhún chân nhảy vọt lên cao, hai chân chia ra đá luôn vào hai cây thiền trượng của nhị tăng, chỉ nghe hai tiếng "cạch, cạch", nhị tăng đều ngã ngửa. May mà Viên Tâm, Viên Nghiệp võ công đều giỏi, lâm nguy không cuống, hai tay vận lực đẩy ra, nhờ vậy hai cây thiền trượng đúc bằng thép pha vàng nặng mấy chục cân mới không bật ngược đập vào người mình.

Mọi người hoảng hốt kêu lên, chỉ thấy Trương Vô Kỵ hơi lượn người xách thân hình cao to của Viên Âm, nhẹ nhàng đáp xuống đất. Trong sáu môn phái, có một số vị buột miệng thốt lên:

– "Thê vân túng" của phái Võ Đang!

Trương Vô Kỵ từ bé theo cha, thái sư phụ cùng các vị sư bá sư thúc học võ, tuy chàng chỉ mới học ba mươi hai thế nhập môn của "Võ Đang trường quyền", nhưng những gì được nghe được thấy không phải là ít, giờ lại đã luyện thành thần công Càn khôn đại na di, bất kể võ công của môn phái nào, chàng cũng đều sử dụng được. Riêng công phu của phái Võ Đang chàng thấm vào lòng hơn cả, nên vừa rồi không kịp nghĩ ngợi, liền vận dụng ngay môn khinh công "Thê vân túng" lừng danh. Du Liên Châu, Trương Tòng Khê nếu muốn nhảy lên, lượn vài vòng trên không trung, rồi nhẹ nhàng đáp xuống, kể cũng chẳng khó, tư thế có khi còn uyển chuyển khéo léo hơn đằng khác. Nhưng bảo một tay xách gã hòa thượng to béo thế kia, một tay cầm cây thiền trượng nặng nề, mà thân hình vẫn nhẹ nhàng như cánh én thì họ không tài nào làm nổi.

Chư tăng Thiếu Lâm lúc này ở cách chàng bảy tám trượng, thấy Viên Âm bị Trương Vô Kỵ nắm ngay yếu huyệt, không cựa quậy gì được, chàng chỉ cần giơ thiền trượng lên là có thể đập đầu Viên Âm nát như tương, họ muốn xông lên cứu cũng không kịp. Chỉ còn một cách độc nhất là bắn ám khí. Nhưng Trương Vô Kỵ chỉ cần giơ Viên Âm ra đỡ, mượn dao giết người, chỉ nguy cho Viên Âm mà thôi. Tuy có các cao thủ tuyệt đỉnh như Không Trí, Không Tính ở bên, nhưng sự việc diễn biến quá nhanh, không thể ngờ chàng thiếu niên kia lại có thân thủ như thế nên họ trở tay không kịp. Chỉ thấy chàng nghiến răng, mặt đầy vẻ căm hận, giơ cây thiền trượng lên; người của phái Thiếu Lâm có kẻ nhắm mắt lại không nỡ nhìn, có kẻ toan xông ra phục thù cho Viên Âm.

Nào ngờ cây thiền trượng trong tay Trương Vô Kỵ không đánh xuống, tựa hồ trong lòng chàng có điều gì chưa quyết định được; vẻ mặt chàng từ từ dịu lại, thong thả buông Viên Âm ra.

Thì ra trong giây lát chàng đã nén nộ khí trong lòng, nghĩ thầm: "Nếu ta đánh chết một ai trong sáu đại môn phái, ta liền trở thành kẻ thù của họ, thì sẽ không còn cách gì đứng làm trung gian hòa giải được nữa. Vụ thảm sát trong võ lâm cũng không thể nào hóa giải được, hóa ra rơi vào gian kế của ác tặc Thành Côn hay sao? Dù họ có chửi rủa ta, đả thương ta, ta cũng phải nhẫn nhịn đến cùng, mới đi đúng con đường trả thù cho phụ mẫu và nghĩa phụ". Nghĩ được thế rồi, chàng bèn buông Viên Âm ra, chậm rãi nói:

– Viên Âm đại sư, mắt của đại sư không phải do Trương ngũ hiệp bắn mù đâu, đại sư chẳng nên ôm mối hận đó. Huống hồ Trương ngũ hiệp đã tự vẫn chết rồi, thù oán gì cũng nên hóa giải đi. Đại sư là người xuất gia, tứ đại giai không, hà tất cứ khắc khoải chuyện cũ?

Viên Âm chết đi sống lại, thẫn thờ nhìn Trương Vô Kỵ, không nói nên lời, thấy chàng đưa cây thiền trượng trả lại, tự nhiên giơ tay nhận lấy, cúi đầu lui về, lờ mờ cảm thấy dường như bao nhiêu oán hận mình tích chứa lâu nay là không nên.

Các vị cao tăng Thiếu Lâm, Võ Đang chư hiệp nghe Trương Vô Kỵ nói mấy câu ấy đều bất giác gật đầu..

Comments

0 comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 21: Giải kiếp nạn, đương đầu sáu phái

Tông Duy Hiệp thấy Trương Vô Kỵ bắt rồi lại thả Viên Âm dễ như bỡn thì cảm thấy rất kinh hãi, nhưng vì đã lỡ bước vào đấu trường, làm sao có thể tỏ ra hèn kém thoái lui? Nghĩ vậy lão ta liền lớn giọng:

– Họ Tăng kia, ngươi hung hăng ở đây, rốt cuộc là do ai sai khiến?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Tại hạ chỉ mong sáu môn phái ngưng chiến, giảng hòa với Minh giáo, không hề có ai sai khiến cả.

Tông Duy Hiệp nói:

– Hừ, ngươi đừng mong bọn ta giảng hòa với Ma giáo! Lão giặc họ Ân kia còn thiếu ta ba chiêu Thất Thương quyền, để ta đánh xong rồi hãy tính.

Dứt lời lão ta liền xắn tay áo lên. Trương Vô Kỵ nói:

– Tông tiền bối luôn miệng nói đến Thất Thương quyền, nhưng theo thiển ý của vãn bối, Thất Thương quyền của Tông tiền bối vẫn còn luyện dở. Ngũ hành trong cơ thể người, tâm[90] thuộc hỏa, phế[91] thuộc kim, thận thuộc thủy, tì[92] thuộc thổ, can[93] thuộc mộc, lại thêm hai khí âm và dương, một khi luyện Thất Thương quyền là bảy nơi ấy dễ bị thương tổn. Công phu tu tập Thất Thương quyền tăng lên một cấp, chính nội tạng của người luyện bị tổn thương nặng hơn một bậc, ấy là lẽ đả thương mình trước, đả thương địch sau. May mà Tông tiền bối luyện quyền pháp này chưa lâu lắm nên vẫn còn chữa được.

Tông Duy Hiệp nghe chàng nói mấy câu đó, thấy đích xác như yếu quyết ghi trong Thất Thương quyền phổ. Trong sách đã căn dặn kỹ càng, nếu nội công chưa luyện tới cảnh giới khí chạy được tới mọi huyệt đạo, tùy ý thu phát, thì nhất quyết không được luyện môn quyền thuật này. Song Thất Thương quyền là tuyệt kỹ trấn môn của phái Không Động, Tông Duy Hiệp vừa thấy nội công có chút thành tựu liền bắt tay vào luyện thử. Chỉ mới bước đầu đã thấy uy lực vô cùng, đến lúc sa lầy không thể rút ra được nữa, những lời dặn dò trong quyền phổ lão ta đều vứt bỏ hết. Huống hồ cả năm lão hộ pháp trong phái Không Động đều đã tập luyện, mình đứng hàng thứ hai lẽ nào lại chịu lép vế? Lúc này nghe Trương Vô Kỵ nói thế, lão ta ngấm ngầm kinh hãi, hỏi lại:

– Làm sao ngươi biết rõ thế?

Trương Vô Kỵ không trả lời câu hỏi của lão ta, chỉ đủng đỉnh nói tiếp:

– Tông tiền bối thử ấn vào huyệt Vân Môn ở vai xem có hơi nhâm nhẩm đau không? Huyệt này thuộc Phế, nghĩa là mạch Phế đã bị thương rồi. Huyệt Thanh Linh trên cánh tay tiền bối có phải đôi lúc ngứa chịu không nổi không? Huyệt này thuộc Tâm, ấy là biểu hiện Tâm mạch bị tổn thương. Huyệt Ngũ Lý trên đùi mỗi khi trời âm u lại thấy tê buốt, huyệt này thuộc Can, tức là Can mạch đã bị thương. Tiền bối nếu cứ luyện tiếp nữa, các thương tổn ngày một trầm trọng, đến khi luyện được tám chín năm, thể nào toàn thân cũng bại liệt.

Tông Duy Hiệp chăm chú nghe chàng nói, mồ hôi túa ra đầy mặt. Thì ra Trương Vô Kỵ được Tạ Tốn chỉ dạy nên nắm rõ và thấu hiểu quyền lý của Thất Thương quyền, thêm nữa chàng nghiên cứu y thuật sâu sắc, biết rõ các triệu chứng mỗi khi kinh mạch bị tổn thương, nên nói ra đều đúng cả. Mấy năm qua, Tông Duy Hiệp quả là có những triệu chứng trên, có điều bệnh không quá nặng, thâm tâm tuy lo nhưng lại muốn giấu không chịu chạy chữa, lúc này nghe Trương Vô Kỵ nói thế thì mặt liền biến sắc, hồi lâu sau mới ấp úng:

– Ngươi.. sao ngươi biết?

Trương Vô Kỵ mỉm cười, đáp:

– Vãn bối có biết chút đỉnh về y thuật, nếu như tiền bối tin tưởng, đợi mọi việc kết thúc, vãn bối sẽ tìm cách giúp tiền bối chữa khỏi các bệnh đó. Có điều Thất Thương quyền chỉ có hại mà không chút ích lợi, không nên luyện tiếp nữa.

Tông Duy Hiệp cãi gượng:

– Thất Thương quyền là tuyệt kỹ của phái Không Động ta, sao lại chỉ hại mà không ích lợi gì? Năm xưa chưởng môn sư tổ phái Không Động Mộc Linh Tử lừng danh thiên hạ với môn Thất Thương quyền, thọ đến chín mươi mốt tuổi, sao lại nói là chỉ tổn hại cho cơ thể? Ngươi chỉ nói càn thôi.

Trương Vô Kỵ nói:

– Chắc là Mộc Linh Tử tiền bối nội công thâm hậu mới luyện được, chẳng những không có hại, trái lại còn làm cho tạng phủ thêm vững mạnh. Theo thiển ý của vãn bối, Tông tiền bối chưa đạt được cảnh giới như thế, nếu cứ cố luyện, e rằng rốt cục cũng vô dụng.

Tông Duy Hiệp là nhân vật nổi danh của phái Không Động, tuy biết những lời của Trương Vô Kỵ nói ra không phải không có lý, nhưng trước mặt các cao thủ của sáu đại môn phái mà lão ta bị gã thiếu niên miệng còn hôi sữa này chỉ trích tuyệt kỹ trấn môn của bổn phái là vô dụng thì tránh sao khỏi mất mặt, làm sao không nổi giận? Lão ta gằn giọng quát:

– Cỡ như ngươi mà dám lớn tiếng bảo tuyệt kỹ của phái Không Động ta là vô dụng hay sao? Nếu bảo vô dụng thì ra đây thử mới biết rõ hư thực.

Trương Vô Kỵ cười nhạt, nói:

– Thất Thương quyền là một tuyệt kỹ thần diệu, kình lực phát ra trong cương chứa nhu, trong nhu ẩn tàng cương, bảy loại kình lực mỗi loại một khác, thu phát tùy tâm, biến hóa trăm chiều, địch thủ có muốn đề phòng chống đỡ cũng khó..

Tông Duy Hiệp nghe đối phương tán dương Thất Thương quyền thần diệu, nói ra câu nào là mát ruột câu ấy, mặt mũi lão ta tươi tỉnh, liên tục gật gù. Lại nghe Trương Vô Kỵ nói tiếp:

– Vãn bối chỉ nói là nội công tu vi chưa đạt đúng mức mà cứ luyện ắt có hại chứ không lợi.

Chu Chỉ Nhược đứng nấp phía sau các sư tỷ, nghiêng người nhìn Trương Vô Kỵ, thấy chàng dáng vẻ mặt mũi vẫn còn nét ngây thơ, lại cố ra vẻ sành sỏi hiểu biết hơn người, đàm luận thao thao, lên mặt dạy đời cho lão nhị Tông Duy Hiệp của Không Động ngũ lão, nàng không khỏi thấy hơi buồn cười, nhưng cũng thầm lo cho chàng. Các đệ tử trẻ tuổi phái Không Động tính tình nóng nảy, thấy Trương Vô Kỵ càng lúc ăn nói càng có vẻ vô lễ, nhịn không nổi toan lên tiếng mắng át đi, nhưng thấy Tông Duy Hiệp đứng ngây người ra nghe thiếu niên kia biện luận, nên những lời mắng chửi vừa đến cửa miệng vội kìm lại ngay.

Tông Duy Hiệp nói:

– Cứ theo lời ngươi, nội công của ta chắc là không ra gì hử?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Vãn bối thực không dám lạm bàn về nội công tu vi của tiền bối. Song tiền bối đã luyện Thất Thương quyền đến mức bị tổn thương chính bản thân, vậy đừng luyện tiếp là hơn..

Chàng còn chưa dứt lời, bỗng sau lưng nghe có tiếng quát lớn:

– Nhị ca nhiều lời với tên tiểu tử này làm gì? Y đã không coi Thất Thương quyền của ta vào đâu, để tiểu đệ cho y nếm một quyền rồi nói tiếp cũng chưa muộn.

Người nọ vừa dứt lời là quyền đã đánh ra, xuất thủ vừa tàn độc vừa nhanh lẹ, chỉ nghe "vù" một tiếng, quyền đã đánh thẳng tới huyệt Linh Đài sau lưng Trương Vô Kỵ.

Trương Vô Kỵ thừa biết có người đánh lén nhưng không thèm để mắt tới, vẫn nói tiếp:

– Tông tiền bối..

Chợt có tiếng xích kêu leng keng, một bóng người xông ra, giọng thanh thanh kêu lên:

– Sao ngươi dám đánh trộm?

Người này vừa nói vừa vung xích sắt lên quật vào đầu kẻ đánh lén, hóa ra là Tiểu Chiêu. Người kia vung tay trái lên gạt dây xích ra, nghe "binh" một tiếng, đã thẳng cánh đánh một quyền vào lưng Trương Vô Kỵ. Quyền này trúng ngay huyệt Linh Đài. Trương Vô Kỵ làm như không hay biết, mỉm cười nói với Tiểu Chiêu:

– Tiểu Chiêu chớ lo, cái thứ Thất Thương quyền này chẳng có tác dụng bao lăm đâu.

Tiểu Chiêu thở phào, khuôn mặt trắng muốt ửng hồng, nói khẽ:

– Tiện nữ quên mất công tử đã luyện thành..

Nói đến đó Tiểu Chiêu vội vàng nín bặt, kéo xích sắt trở về chỗ. Trương Vô Kỵ quay đầu lại thấy người vừa đánh mình là một lão nhân đầu to, thân hình gầy gò. Người này đứng hàng thứ tư trong Không Động ngũ lão, tên Thường Kính Chi. Lão thấy quyền của mình đánh vào yếu huyệt của đối phương vậy mà Trương Vô Kỵ vẫn tỉnh như không, lão hết sức lạ lùng, lắp bắp:

– Ngươi.. ngươi đã luyện được thần công "Kim cương bất hoại thể" rồi sao, ngươi có phải là đệ tử của phái Thiếu Lâm không?

Trương Vô Kỵ nói:

– Tại hạ không phải đệ tử của Thiếu Lâm..

Thường Kính Chi biết rằng phàm thần công hộ thân toàn nhờ ngưng tụ chân khí, một khi mở miệng nói, chân khí lập tức tản mác nên chẳng đợi chàng dứt lời lão lại vung quyền đấm tới, nghe "binh" một tiếng, lần này đánh trúng ngay ngực Trương Vô Kỵ.

Trương Vô Kỵ cười đáp:

– Tại hạ đã nói Thất Thương quyền nếu không có căn cơ nội lực vững vàng thì không thể dùng được.

Nếu không tin, tiền bối cứ đánh thêm một quyền nữa xem nào.

Thường Kính Chi chẳng nói chẳng rằng đánh luôn hai quyền nữa, quyền ra nhanh như chớp. Trước sau lão đánh cả thảy bốn quyền, đối phương rành rành trúng cả bốn đòn nhưng vẫn thản nhiên tiếp nhận mà xem ra không hề có chút nào đau đớn. Bốn chiêu xuất thủ với kình lực nát đá tan vàng nhưng đụng phải chàng mà chẳng khác nào phủi bụi.

Thường Kính Chi có danh hiệu là Nhất Quyền Đoạn Nhạc[94], tuy có phần phóng đại, nhưng kình lực hùng hậu của lão thì thiên hạ võ lâm đều biết. Mọi người thấy lão liên tiếp tung bốn quyền đều phí sức chẳng đánh ngã nổi đối phương, đều không khỏi kinh hãi. Phái Côn Luân và phái Không Động xưa nay vẫn không ưa nhau, lần này tuy cùng phối hợp vây hãm tấn công Minh giáo, song hai bên vẫn ghét ngầm, phía bên Côn Luân thấy sự việc diễn ra như thế, liền có kẻ lạnh lùng cất lời mỉa mai:

– Nhất Quyền Đoạn Nhạc ghê gớm thật!

Lại có người đế thêm vào:

– Thế bốn quyền thì đoạn cái gì?

May mà Thường Kính Chi da mặt đen đúa, tuy bị mỉa mai đến đỏ mặt tía tai, nhưng cũng không quá đập vào mắt mọi người.

Tông Duy Hiệp chắp tay ôm quyền nói:

– Thần công của Tăng thiếu hiệp thật cao siêu, thật đáng phục, đáng nể! Thiếu hiệp có thể để lão phu lãnh giáo ba quyền chăng?

Lão biết rõ công lực Thất Thương quyền của mình so với Thường Kính Chi cao thâm hơn nhiều, lão tứ không xong, cũng đâu hẳn mình không đánh đổ nổi đối phương.

Trương Vô Kỵ nói:

Tuyệt kỹ Thất Thương quyền của phái Không Động nếu như đã luyện đến mức thượng thừa thì không gì có thể chịu nổi. Không Kiến thần tăng của phái Thiếu Lâm đã luyện được thần công Kim cương bất hoại thể, vậy mà còn mất mạng vì Thất Thương quyền, tại hạ võ công không thể sánh với Không Kiến thần tăng, làm sao chống cự nổi? Thế nhưng lúc này đành gắng gượng nhận vài quyền của tiền bối, chắc cũng không đáng ngại.

Lời ngụ ý trong câu nói rất rõ ràng, Thất Thương quyền vốn chẳng phải tầm thường, nhưng tài nghệ của ngươi còn kém lắm.

Tông Duy Hiệp chẳng hơi đâu nghĩ xa nghĩ gần, ngấm ngầm vận chân khí mấy lượt, cất chân bước lên một bước, các khớp xương vì vận lực kêu lên răng rắc, nghe "vù" một tiếng, đánh ngay một quyền vào ngực Trương Vô Kỵ. Nắm đấm của lão ta vừa chạm vào ngực chàng, bỗng thấy dường như trên thân người chàng có một nguồn lực rất mạnh hút tay lão ta lại, nhất thời không rút về được. Lão ta giật mình kinh hãi, tiếp đó liền thấy một luồng hơi nóng êm ái theo tay truyền vào đan điền, ngay lập tức thấy trong người khoan khoái khôn xiết. Tông Duy Hiệp thoáng ngẩn người, vội rút tay lại, phát đòn đánh tiếp. Lần này đánh trúng bụng dưới đối thủ, thấy lực chấn động ngược lại cực mạnh, buộc lão ta phải thoái lui một bước mới đứng vững được. Lão ta liền vận khí mấy lượt, xông lên đánh ra một chiêu nữa.

Thường Kính Chi đứng ngay cạnh Trương Vô Kỵ, thấy Tông Duy Hiệp mặt lúc đỏ lúc trắng, tựa hồ đã bị nội thương, chờ khi quyền thứ ba đánh ra thì lão cũng đấm luôn một cái. Tông Duy Hiệp đánh vào trước ngực, Thường Kính Chi đánh tới sau lưng, song quyền trước sau giáp công, cả hai luồng kình lực đều mạnh ghê gớm. Nào ngờ quyền của hai người đánh tới chẳng khác nào đánh vào không khí, cả hai luồng lực đạo lập tức bị hóa giải không thấy tăm hơi đâu cả.

Thường Kính Chi biết rõ với thân phận và địa vị của mình, lần đầu đánh lén đã không ổn chút nào, nhưng vẫn còn gượng nói là vì đối phương đã dùng lời lẽ vô lễ nhục mạ tuyệt kỹ của phái Không Động nên trong cơn giận dữ không thể kiềm chế được, nhưng lần đánh lén thứ hai này rõ ràng là hành động của kẻ vô liêm sỉ. Lão vốn nghĩ nếu hai người cùng kết hợp uy lực của Thất Thương quyền thì chỉ một chiêu đánh chết tại chỗ thiếu niên này, sau đó dù người ngoài có nói ra nói vào, thì mình cũng đã có chút công lao là trừ khử cho sáu đại môn phái một kẻ vướng chân bận tay. Nào hay nắm đấm đánh vào người địch thủ nhưng lực đạo bị hóa giải hoàn toàn, lão giơ tay gãi đầu mấy lần, dáng điệu lộ vẻ lúng túng ngơ ngác, không rõ vì sao lại có chuyện lạ như thế.

Trương Vô Kỵ mỉm cười hỏi Tông Duy Hiệp:

– Tiền bối thấy thế nào?

Tông Duy Hiệp hơi sững người, khom lưng chắp tay, cung kính đáp:

– Đa tạ Tăng thiếu hiệp dùng nội lực trị thương cho tại hạ. Thần công kinh người của thiếu hiệp khỏi phải bàn thêm, một phen lấy ơn báo oán của bậc đại nhân đại nghĩa, càng khiến tại hạ cảm kích vô cùng.

Lời lão vừa nói ra, quần hùng hết thảy đều kinh ngạc. Bởi lẽ không ai ngờ được trong khi Tông Duy Hiệp đánh liên tiếp ba quyền vừa rồi là Trương Vô Kỵ đã vận Cửu dương chân khí truyền vào nội tạng cho lão ta, tuy sự việc diễn ra chỉ trong chớp mắt, nhưng vì Cửu dương chân khí hùng hậu vô cùng nên Tông Duy Hiệp cũng hưởng được ít nhiều. Lão ta cũng biết rằng nếu Thường Kính Chi không ra tay đánh lén, quyền thứ ba này mình còn được lợi nhiều hơn nữa.

Trương Vô Kỵ nói:

– Bốn chữ đại nhân đại nghĩa làm sao vãn bối dám nhận? Lúc này kỳ kinh bát mạch của Tông tiền bối bị chấn động mạnh, tốt hơn hết nên vận khí điều tức, những độc hại do luyện tập Thất Thương quyền gây ra, có thể dần dần trục hết trong vòng vài ba năm.

Tông Duy Hiệp tự biết mình có bệnh nan y, lập tức ôm quyền chắp tay nói:

– Đa tạ, đa tạ!

Dứt lời lão ta lui qua một bên, ngồi xuống vận công, tuy biết làm thế hơi bất nhã, chướng mắt, nhưng vì sự an nguy của mình nên đành chịu. Trương Vô Kỵ cúi xuống nối những chỗ xương gãy cho Đường Văn Lượng, rồi quay sang bảo Thường Kính Chi:

– Đem Hồi Dương Ngũ Long cao ra đây.

Thường Kính Chi lấy thuốc cao trong người ra đưa cho Trương Vô Kỵ, chàng lại nói:

– Hãy qua xin phái Võ Đang một viên Tam Hoàng Bảo Lạp Hoàn, rồi qua phái Hoa Sơn xin Ngọc Chân tán đem về đây.

Thường Kính Chi nhất nhất theo lời đem thuốc về đưa cho Trương Vô Kỵ. Chàng nói tiếp:

– Trong Hồi Dương Ngũ Long cao của Không Động có vị Thảo Ô rất hay, còn Tam Hoàng Bảo Lạp Hoàn cũng có chỗ dùng, thêm Ngọc Chân tán vào là Đường lão tiền bối chỉ cần tĩnh dưỡng hai tháng thì chân tay sẽ lành lặn như cũ.

Nói đoạn chàng nối xương, bôi cao, chỉ giây lát đã làm xong. Các môn phái trong võ lâm đều có những phương thuốc bí truyền trị thương, mỗi nhà đều có công hiệu riêng, những bài thuốc đó Hồ Thanh Ngưu đều viết rất rõ ràng. Trương Vô Kỵ đoán rằng sáu đại môn phái vây đánh đỉnh Quang Minh thì thể nào cũng mang theo thuốc trị thương. Thế nhưng quần hùng đứng xem ai cũng ngạc nhiên, thủ pháp nối xương của chàng tinh diệu không danh y nào sánh kịp thì đã rõ ràng, mà phái nào có loại thuốc gì, sao chàng lại biết tường tận kể ra vanh vách như thế? Thường Kính Chi ôm Đường Văn Lượng lên, dáng điệu ủ rũ. Đường Văn Lượng bỗng kêu lên:

– Họ Tăng kia, ngươi nối xương tiếp cốt cho ta, Đường mỗ rất biết ơn, ngày sau thế nào cũng báo đáp! Thế nhưng phái Không Động và Ma giáo thù sâu như biển, không thể chỉ vì chút ơn nghĩa nhỏ nhoi của ngươi mà hôm nay đành xóa bỏ. Ngươi muốn giảng hòa, bọn ta không nghe đâu. Nếu ngươi bảo ta vong ân phụ nghĩa, hãy cứ bẻ gãy lại tay chân ta đi.

Mọi người nghe vậy, thảy đều nghĩ: "Cùng là nhân vật của phái Không Động, song xem ra Đường Văn Lượng trượng nghĩa, khẳng khái hơn Thường Kính Chi nhiều".

Trương Vô Kỵ nói:

– Cứ như tiền bối nói, phải làm sao mới chịu nghe vãn bối khuyên giải?

Đường Văn Lượng nói:

– Ngươi hãy hiển lộ một môn võ công, nếu phái Không Động không làm gì nổi, lúc ấy có gì hãy tính.

Trương Vô Kỵ nói:

– Phái Không Động cao thủ đông như kiến, vãn bối sao có thể sánh kịp? Chẳng qua vãn bối không tự lượng sức, muốn giảng hòa đôi bên, đành gắng hết sức làm thử vậy.

Chàng đưa mắt nhìn quanh, thấy phía đông khu đất có một cây tùng cao đến hơn ba trượng, cành lá xum xuê rậm rạp, liền chậm rãi tiến lại gần, vừa đi vừa nói lớn:

– Vãn bối có học qua môn Thất Thương quyền, nếu như luyện không đúng, xin các vị tiền bối phái Không Động chớ chê cười.

Quần hùng nghe chàng nói vậy đều rất kinh ngạc: "Tiểu tử này biết cả Thất Thương quyền của phái Không Động ư? Gã học ở đâu?"

Chỉ nghe Trương Vô Kỵ cất tiếng ngâm nga:

"Ngũ hành chi khí điều âm dương,

Tổn tâm thương phế tồi can trường,

Tạng ly tinh thất ý hoảng hốt,

Tam tiêu tề nghịch hề hồn phách phi dương".

Những người phái khác nghe thấy mấy câu này đều không hiểu gì cả, nhưng Không Động ngũ lão vừa nghe Trương Vô Kỵ ngâm mấy câu khẩu quyết như hát mà chẳng ra hát, tựa thơ chẳng phải thơ ấy thì ai nấy đều kinh hoảng. Thì ra đây chính là yếu quyết của Thất Thương quyền, chỉ có đệ tử chân truyền của Không Động mới được biết, không bao giờ truyền ra ngoài, tại sao chàng thiếu niên này lại biết? Nhất thời cả năm người đều không nghĩ ra rằng chính Tạ Tốn đã cướp được Thất Thương quyền phổ rồi truyền lại cho chàng.

Trương Vô Kỵ cao giọng ngâm xong, đi tới trước thân cây đấm một quyền nghe "binh!" một tiếng, chỉ thấy tán cây rung động, nửa thân trên cây đại tùng bay ngang ra; "ầm!" một tiếng, đổ xuống cách đó độ hai trượng, mặt đất chỉ còn trơ lại phần gốc cây cao khoảng bốn thước, chỗ gãy bằng chằn chặn.

Thường Kính Chi lẩm bẩm:

– Đây.. đây đâu phải là Thất Thương quyền!

Tinh hoa của Thất Thương quyền nằm ở chỗ trong cương có nhu, trong nhu ẩn cương, quyền pháp đánh gãy cây này tuy uy lực kinh người nhưng rõ ràng dùng lực thuần cương. Lão tiến lại gần xem xét, bất giác ngạc nhiên đến nỗi há hốc mồm quên cả ngậm lại, chỉ thấy chỗ cây gãy các thớ gỗ đều bị nát vụn, chính là công phu Thất Thương quyền đã luyện đến cảnh giới tối thượng.

Thì ra Trương Vô Kỵ định bụng muốn làm tất cả mọi người phải kinh khiếp, nếu chỉ dùng Thất Thương quyền để đánh nát lõi cây không thôi thì phải mười ngày nửa tháng sau, cành lá khô héo đi mới thấy được công lực của nó, nên kình lực của Thất Thương quyền vừa dứt, chàng lại dùng kình lực dương cương đánh gãy luôn thân cây. Đó là chàng phỏng theo thủ pháp của nghĩa phụ Tạ Tốn năm xưa trên Băng Hỏa đảo đánh gãy cây rồi sau mới dùng đao Đồ Long chặt đứt cây.

Mọi người sau một thoáng bàng hoàng liền vỗ tay khen ngợi, tiếng hoan hô vang dội khắp trường, hồi lâu sau mới tạm lắng.

Thường Kính Chi nói:

– Tuyệt! Đây là Thất Thương quyền pháp đã đạt đến mức tuyệt cao, Thường mỗ xin bái phục! Bất quá lão phu muốn thỉnh giáo, Tăng thiếu hiệp đã học lộ quyền pháp này ở đâu?

Trương Vô Kỵ mỉm cười không đáp. Đường Văn Lượng xẵng giọng hỏi:

– Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn hiện đang ở đâu? Còn mong Tăng thiếu hiệp chỉ giáo.

Tâm tư người này khá nhạy bén nên đoán ngay ra rằng Tạ Tốn và thiếu niên này ắt có liên quan với nhau. Trương Vô Kỵ giật mình: "Chao ôi, hỏng rồi, ta biểu diễn Thất Thương quyền thần công làm lộ ra việc của nghĩa phụ mất rồi! Nếu nói thẳng mối liên hệ giữa ta và nghĩa phụ ra lúc này, thì ta tự đứng vào thế đối địch với sáu đại môn phái, việc giải hòa khó lòng xong được". Nghĩ đoạn, chàng bèn nói:

– Tiền bối cho rằng việc mất Thất Thương quyền phổ đều do Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn gây ra phải không? Sai rồi, sai rồi! Đêm hôm đó ở Thanh Dương Quan trên núi Không Động, trong trận kịch đấu chiếm đoạt quyền phổ, phái Không Động có người bị đả thương vì Hỗn Nguyên Công, toàn thân nổi nhiều chấm đỏ, kẻ hạ thủ chính là Hỗn Nguyên Tích Lịch Thủ Thành Côn, sư phụ của Tạ Tốn.

Năm xưa khi Tạ Tốn đến núi Không Động cướp quyền phổ, Thành Côn muốn cho Minh giáo thêm kẻ thù nên đã ngấm ngầm giúp đỡ Tạ Tốn, dùng Hỗn Nguyên Công đả thương Đường Văn Lượng và Thường Kính Chi. Khi đó Tạ Tốn không hề hay biết, về sau do đại sư Không Kiến nói ra, lúc đó mới rõ. Lúc này Trương Vô Kỵ nghĩ đến Thành Côn một đời gian trá chuyên giá họa cho người nên dùng kế "gậy ông đập lưng ông", vả lại những điều chàng nói ra cũng không có điều nào sai sự thực.

Mối nghi ngờ hơn hai chục năm qua của Đường Văn Lượng và Thường Kính Chi đến nay nghe Trương Vô Kỵ nói thế mới được giải tỏa, hai người nhìn nhau, nhất thời chẳng nói nên lời.

Tông Duy Hiệp nói:

– Như vậy, xin hỏi Tăng thiếu hiệp, Thành Côn hiện đang ở đâu?

Trương Vô Kỵ nói:

– Hỗn Nguyên Tích Lịch Thủ Thành Côn chủ tâm khiêu khích cho các đại môn phái và Minh giáo đánh giết lẫn nhau, về sau xin làm môn hạ Thiếu Lâm, pháp danh là Viên Chân. Tối hôm trước lão ta đã lẻn vào hậu đường của Minh giáo, chính miệng nói ra mọi chuyện với các đầu lĩnh của Minh giáo. Dương Tiêu tiên sinh, Vi Bức Vương, Ngũ tản nhân đều nghe cả. Việc này hoàn toàn là sự thực, nếu nói sai lời nào thì tại hạ không bằng con heo con chó, chết rồi vạn kiếp chẳng đầu thai.

Mấy câu này chàng nói rất khẳng khái, ai nấy đều rúng động, chỉ có tăng chúng Thiếu Lâm tự lập tức xì xào.

*

* *

Từ trong đám đông có một người lớn tiếng niệm Phật, chậm rãi bước ra, người này khoác tăng bào màu xám, tướng mạo uy nghiêm, tay trái cầm tràng hạt, chính là Không Tính đại sư một trong ba đại thần tăng của phái Thiếu Lâm.

Không Tính đại sư bước ra giữa sân nói:

– Tăng thí chủ, sao ngươi lại ăn nói hồ đồ, khăng khăng vu cáo cho môn hạ của Thiếu Lâm tự? Trước mặt anh hùng thiên hạ, thanh danh của phái Thiếu Lâm há có thể để ngươi bôi nhọ?

Trương Vô Kỵ nghiêng người nói:

– Đại sư chớ nổi nóng, thỉnh Viên Chân ra đây đối chất với vãn bối, là có thể rõ ngay chân tướng.

Không Tính đại sư sắc diện sa sầm, nói:

– Tăng thí chủ vẫn nhắc tới tệ sư điệt Viên Chân, người sao còn nhỏ tuổi mà tâm địa hiểm ác đến vậy?

Trương Vô Kỵ nói:

– Tại hạ chỉ muốn mời hòa thượng Viên Chân ra đây, nói rõ trắng đen trước mặt anh hùng thiên hạ, nào có gì là lòng dạ hiểm ác?

Không Tính đại sư nói:

– Viên Chân sư điệt là đệ tử nhập thất của tệ sư huynh Không Kiến, Phật học uyên thâm, ngoài việc lần này theo mọi người ra ngoài tiễu trừ Minh giáo, nhiều năm qua chưa hề rời Thiếu Lâm tự một bước, làm sao có thể là Hỗn Nguyên Tích Lịch Thủ Thành Côn được? Huống chi Viên Chân sư điệt vì sáu đại môn phái khổ chiến với yêu ma nên đã kiệt sức viên tịch, y chết đi thanh danh đâu để cho ngươi..

Trương Vô Kỵ nghe nói Viên Chân đã chết liền thấy tai ù đi, mặt trắng bệch, những điều Không Tính nói sau đó chàng nghe mà như không hiểu, miệng lẩm bẩm:

– Hắn.. hắn chết thật rồi ư? Không.. không thể được!

Không Tính chỉ vào thi thể một tăng nhân ở phía Tây nói lớn:

– Tự ngươi đến xem thì sẽ biết.

Trương Vô Kỵ tiến lại gần cái xác đó, thấy khuôn mặt má hõm sâu, hai mắt trợn ngược, chính là Hỗn Nguyên Tích Lịch Thủ Thành Côn. Chàng cúi xuống thăm hơi thở, thấy thịt da lạnh ngắt, xem ra đã chết từ lâu. Trương Vô Kỵ vừa mừng vừa buồn, không ngờ kẻ đại thù hại một đời nghĩa phụ, tội ác tày trời lại có kết cục như thế. Máu nóng trong ngực dâng lên, chàng ngửa cổ lên cười ha hả, kêu lên:

– Gian tặc ơi là gian tặc, ngươi một đời làm biết bao nhiêu điều ác, đâu ngờ cũng có ngày này!

Mấy tiếng cười của chàng nội lực hùng hậu chấn động sơn cốc, tiếng vọng truyền mãi không dứt, ai nấy đều giật mình. Trương Vô Kỵ quay đầu lại, hỏi:

– Ai đã đánh chết gã Viên Chân này?

Không Tính liếc xéo một cái, mặt như phủ một làn sương lạnh lẽo, không trả lời. Ân Thiên Chính vốn đã đứng qua một bên, lúc này lên tiếng:

– Gã và tiểu nhi Dã Vương tỉ thí chưởng lực, kết cục một người chết, một bị thương.

Trương Vô Kỵ nghiêng người đáp:

– Thì ra là thế!

Chàng nghĩ thầm: "Chắc là Thành Côn trúng phải Hàn băng miên chưởng của Vi Bức Vương, bị thương không nhẹ rồi, cộng với chưởng lực của Ân Dã Vương cũng thật phi thường, vì thế đánh hắn chết ngay tại trận. Cậu thay ta báo mối thù này, cũng là phải lắm".

Chàng đi đến cạnh Ân Dã Vương, đưa tay thăm mạch, biết là tính mạng không có gì nguy hiểm, nên cũng an tâm, nói:

– Đa tạ tiền bối!

Không Tính đứng ngay đó thấy vậy, càng lúc càng tức, gầm lên:

– Tiểu tử, lại đây nạp mạng đi!

Mấy câu nói vang động chẳng khác nào sấm sét. Trương Vô Kỵ ngạc nhiên quay đầu, hỏi:

– Cái gì?

Không Tính lên giọng:

– Ngươi đã biết rõ Viên Chân sư điệt chết rồi, mới đem mọi tội lỗi đổ cả lên đầu y, ác độc đến thế, ta làm sao tha cho ngươi được? Lão hòa thượng ta hôm nay muốn đại khai sát giới. Ngươi tự xử hay để lão nạp phải động thủ?

Trương Vô Kỵ trong lòng phân vân: "Viên Chân đã chết rồi, kẻ gieo tai họa đã bị quả báo, thực là một việc đáng mừng. Có điều từ nay không còn ai đối chất, thực khó vạch rõ chân tướng cho mọi người biết, phải làm thế nào mới được đây?"

Chàng còn đang trầm ngâm thì Không Tính đã sấn tới mấy bước, tay phải vươn ra chộp vào đầu chàng, trảo thức rất lạ kỳ, từ cổ tay đến ngón tay đều thẳng băng như ngọn bút, kình lực vô cùng mãnh liệt.

Ân Thiên Chính kêu lên:

– Long Trảo Thủ đó, đừng khinh suất!

Trương Vô Kỵ khẽ nghiêng người, nhẹ nhàng tránh thoát. Không Tính một trảo không trúng, trảo thứ hai tiếp liền, chiêu này xem ra lại càng nhanh nhẹn, cương mãnh hơn lần đầu. Trương Vô Kỵ lại né qua bên trái tránh được. Không Tính vù vù liên tiếp tung trảo thứ ba, thứ tư, thứ năm, chỉ trong chớp mắt mà nhà sư mặc tăng bào màu tro đã biến thành một con rồng xám, uốn lượn múa may, long trảo vươn ra tấn công Trương Vô Kỵ khiến chàng không còn đường né tránh. Bỗng nghe "soạt" một tiếng, Trương Vô Kỵ bay vụt qua một bên, tay áo phải đã bị Không Tính chộp trúng, cánh tay trần hiện rõ năm đường cào, máu tươi rỉ ra. Tăng chúng Thiếu Lâm hoan hô vang dậy, nhưng đâu đó có tiếng thiếu nữ kinh hoảng kêu lên.

Trương Vô Kỵ liếc về phía phát ra tiếng kêu, thấy Tiểu Chiêu thần sắc sợ hãi, kêu lên:

– Công tử, công tử.. thận trọng!

Trương Vô Kỵ cảm động: "Tiểu cô nương này thật tốt bụng với ta".

Không Tính một chiêu thắng thế, lao vút tới tung trảo chộp tiếp, uy thế phi phàm. Lộ trảo pháp này vừa nhanh vừa độc hiểm, Trương Vô Kỵ chưa từng thấy bao giờ, nhất thời không biết cách nào để hóa giải, chỉ có nước thoái lui liên tiếp. Hai người mặt đối mặt, một người xông tới, một người nhảy lui, Không Tính đánh liền chín chiêu đều trượt cả. Hai người trước sau vẫn cách nhau đến hơn hai thước, tuy Không Tính liên tục tấn công, Trương Vô Kỵ không có cách gì trả đòn, nhưng cứ so về khinh công của hai người thì đã phân cao thấp rõ ràng. Không Tính lao tới còn Trương Vô Kỵ nhảy lui, khó dễ của hai bên ai nấy đều nhận thấy, vậy mà Không Tính vẫn không đánh trúng đối thủ, bộ pháp như thế đã thua hẳn rồi. Trương Vô Kỵ chỉ cần xoay người lại chạy vài bước, lập tức sẽ ra khỏi tầm nguy hiểm.

Thực ra Trương Vô Kỵ không cần phải xoay người, chỉ nhảy lùi cũng thoát khỏi thế công của nhà sư, nhưng trước sau chàng vẫn không đỡ, cũng không chạy, lúc nào cũng giữ khoảng cách hai ba thước, đó chính vì chàng muốn quan sát những biến ảo trong Long Trảo Thủ của Không Tính. Chàng coi đến chiêu thứ ba mươi bảy, thấy tay trái của nhà sư vươn thẳng tới, dùng trở lại chiêu thứ tám là "Nã Vân thức". Chiêu thứ ba mươi tám hai tay từ trên cao cùng chụp xuống, phương vị tuy thay đổi, tư thế lại giống hệt chiêu thứ mười hai là "Sang Châu thức". Dĩ nhiên tên các chiêu thức này Trương Vô Kỵ hoàn toàn chẳng hay biết, nhưng chàng đều nhìn và nhớ rõ như in từng tư thế, từng cách ra chiêu.

Thì ra "Long Trảo Thủ" chỉ có ba mươi sáu thức, tinh hoa của nó là nhanh mạnh độc hiểm. Không Tính khi còn trung niên đã mấy lần gặp đại địch, nhưng chỉ cần dùng tới Long Trảo Thủ lập tức chiếm được thế thượng phong, trong vòng mười hai chiêu đã thủ thắng, còn từ chiêu thứ mười ba trở đi chỉ để một mình luyện tập, chưa bao giờ phải dùng tới. Lần này đại sư đã đánh hết cả ba mươi sáu chiêu mà vẫn không làm gì được đối phương, đây là chuyện bình sinh chưa từng gặp. Đến chiêu ba mươi bảy phải quay lại dùng chiêu cũ, Không Tính nghĩ thầm: "Tên tiểu tử này chỉ cậy vào khinh công cao siêu, bộ pháp nhanh nhẹn, từ đầu đến cuối chỉ né đông tránh tây, nếu quả thực hai bên chiết chiêu, chắc gì chống đỡ nổi mình được mười hai chiêu Long Trảo Thủ".

Trương Vô Kỵ lúc này đã nắm rõ hết ba mươi sáu thức Long Trảo Thủ pháp, tuy không tìm ra sơ hở nào nhưng dù đối phương dùng bất cứ loại quyền thuật nào, tâm pháp Càn khôn đại na di cũng đều có thể nhận thấy sai sót để hóa giải. Song chàng còn đắn đo: "Nếu lúc này ta lấy mạng Không Tính đại sư cũng không có gì là khó, nhưng phái Thiếu Lâm uy danh lừng lẫy, vị Không Tính đại sư này lại là một trong ba đại cao thủ của Thiếu Lâm tự, nếu ta đánh bại ông trước mặt anh hùng thiên hạ, phái Thiếu Lâm còn mặt mũi nào chứ? Còn như làm sao để ông ta biết khó mà chịu thua, thì người này võ công cao hơn hẳn người của phái Không Động, ta đâu có cách gì làm được". Chàng còn đang bối rối, bỗng nghe Không Tính quát:

– Tiểu tử, ngươi chỉ chạy trốn chứ đâu phải tỉ võ?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Muốn tỉ võ..

Không Tính nhân cơ hội chàng đang nói, chân khí không tụ lại được, tung liền hai chiêu. Trương Vô Kỵ nhún mình nhảy ra, miệng vẫn nói tiếp:

–.. cũng được, nếu như vãn bối thắng được thì đại sư tính sao?

Mấy câu này âm thanh phát ra vẫn liền mạch không bị ngắt quãng chút nào, nếu nhắm mắt mà nghe, tưởng như chàng đang ngồi nói chuyện một cách bình thường, nào ngờ vừa nói câu này, chàng vừa né tránh năm chiêu tấn công vũ bão của Không Tính.

Không Tính đáp:

– Khinh công của ngươi giỏi thực, nhưng nếu muốn thắng được ta bằng đường quyền ngọn cước thì đừng hòng!

Trương Vô Kỵ đáp:

– Tỉ võ ra chiêu, có ai biết trước thắng bại? Vãn bối so với đại sư tuổi tác kém xa, võ nghệ tuy kém cỏi, nhưng nói về khí lực lại được lợi hơn.

Không Tính hung hăng:

– Nếu như về quyền cước mà ta thua ngươi, ngươi muốn giết thì giết, muốn xẻo thịt cứ việc!

Trương Vô Kỵ đáp:

– Vãn bối không dám! Nếu vãn bối thua, đương nhiên phải theo lời đại sư sai bảo, không dám nửa câu nói khác. Thế nhưng nếu may mắn vãn bối thắng được đại sư nửa chiêu một thức, chỉ xin phái Thiếu Lâm rời khỏi đỉnh Quang Minh ngay.

Không Tính đáp:

– Việc của phái Thiếu Lâm, do sư huynh ta định đoạt, ta chỉ lo việc của ta được thôi. Ta không tin rằng Long Trảo Thủ này lại không thắng nổi ngươi.

Trương Vô Kỵ bỗng nghĩ ra một cách, nói:

– Ba mươi sáu chiêu Long Trảo Thủ của phái Thiếu Lâm không có một chút sơ hở nào, là tuyệt kỹ tối thượng về phép cầm nã trong thiên hạ, chỉ có điều đại sư luyện vẫn còn vài chỗ chưa đúng hẳn.

Không Tính giận dữ đáp:

– Được lắm, nếu ngươi phá giải được Long Trảo Thủ, ta sẽ lập tức quay về Thiếu Lâm tự, thề suốt đời không rời khỏi chùa nửa bước.

Trương Vô Kỵ đáp:

– Đại sư hà tất phải như thế!

Trong lúc hai người đối đáp, mọi người đứng quanh reo hò vang như sấm, mỗi lúc tiếng hò reo càng thêm vang dậy. Thì ra hai người miệng tuy đối đáp nhưng vẫn không ngừng đấu, dù càng đấu càng nhanh nhưng ngữ điệu so với bình thường chẳng chút thay đổi, không hề ngập ngừng, đứt quãng hay gấp rút chút nào. Khi Không Tính nói câu "Khinh công của ngươi giỏi thực" là đã phát liền hai chiêu, khi nói tới "Nhưng nếu muốn thắng được ta bằng đường quyền ngọn cước" thì năm ngón tay trái đã chụp xuống, đến những lời chót "thì đừng hòng" giọng nói uy mãnh, hai tay cùng đánh liền ba chiêu.

Hai người vừa nói vừa đánh, tiếng reo hò vang dậy vẫn không át được câu nói của họ. Khi Trương Vô Kỵ nói tới câu sau cùng "Đại sư hà tất phải như thế", tự nhiên thân hình chàng bay vút lên, ở trên không lượn liên tiếp bốn vòng, càng lượn càng cao, rồi thân người khẽ lật lại đổi hướng, đáp xuống cách ngoài mấy trượng nhẹ như chiếc lá khô rơi rụng. Quần hùng thấy vậy hết thảy đều ngạc nhiên, không ai tin nổi trên đời này lại có thứ khinh công tuyệt vời đến thế. Thanh Dực Bức Vương Vi Nhất Tiếu vẫn tự cho khinh công của mình thiên hạ không ai sánh kịp, lúc này cũng không khỏi tắc lưỡi thán phục. Trương Vô Kỵ đáp xuống đất rồi, Không Tính xông tới trước mặt nhưng không thừa cơ truy kích, lớn tiếng nói:

– Bây giờ đã tỉ thí được chưa?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Được rồi, thỉnh đại sư xuất chiêu.

Không Tính nói:

– Ngươi có còn nhảy lùi về sau nữa thôi?

Trương Vô Kỵ mỉm cười đáp:

– Nếu vãn bối lùi nửa bước thì xem như thua.

Những người trong Minh giáo như Dương Tiêu, Lãnh Khiêm, Chu Điên, Thuyết Bất Đắc, trong Thiên Ưng giáo như Ân Thiên Chính, Ân Dã Vương, Lý Thiên Viên tuy thân thể cử động khó khăn, nhưng tai mắt vẫn bình thường, nghe thấy chàng nói thế đều ngấm ngầm kinh hãi. Những người này đều là cao thủ, lịch lãm giang hồ, thân trải trăm trận, thấy Long Trảo Thủ của Không Tính đại sư quả thật ghê gớm, muốn tiếp lão thần tăng một chiêu cũng không phải chuyện dễ. Võ công của Trương Vô Kỵ tuy cao siêu, nhưng muốn thắng được cũng phải đấu ngoài trăm hiệp, công thủ né tránh, làm sao có cách nào không lùi nửa bước? Ai nấy đều thấy câu nói đó quá ư khoa trương.

Đã nghe Không Tính nói:

– Không cần phải thế! Thắng cũng phải cho công bằng, thua cũng phải cho tâm phục.

Nói tới đây, đại sư bỗng quát:

– Tiếp chiêu!

Tay trái chộp hờ ra, tay phải đánh thẳng vào huyệt Khuyết Bồn nơi vai trái Trương Vô Kỵ, đây chính là Nã Vân thức.

Trương Vô Kỵ thấy tay trái Không Tính khẽ động, biết ngay nhà sư định đánh thức này, lập tức tay trái cũng chộp hờ ra, tay phải chộp luôn vào huyệt Khuyết Bồn trên vai trái đối phương. Hai người đánh cùng một chiêu thức, giống nhau như cùng học một thầy, nhưng đòn của Trương Vô Kỵ ra sau mà tới trước, tuy chỉ trong chớp mắt thôi nhưng đã chiếm được thượng phong. Trảo của Không Tính còn cách chàng độ hai tấc thì năm ngón tay của Trương Vô Kỵ đã chộp trúng huyệt Khuyết Bồn trên vai đại sư. Không Tính chỉ thấy huyệt đạo tê chồn, kình lực biến mất hoàn toàn. Thế nhưng Trương Vô Kỵ không vận kình vào ngón tay, lập tức rút tay về.

Không Tính ngạc nhiên, hai tay lại cùng tung đòn, dùng chiêu Sang Châu trảo chộp vào hai huyệt Thái Dương hai bên mang tai Trương Vô Kỵ. Trương Vô Kỵ lại đánh sau mà tới trước, hai tay cùng tung đòn, chộp trúng hai huyệt Thái Dương của Không Tính. Huyệt Thái Dương là nơi trọng yếu, đối với cao thủ nội gia, khi tỉ thí võ công chỉ cần đánh trúng là chết ngay, không cách gì cứu được. Song Trương Vô Kỵ chỉ dùng đầu ngón tay khẽ phất nhẹ, rồi cuốn vòng trở ra, biến thành thức thứ mười bảy trong Long Trảo Thủ là Lao Nguyệt trảo, đánh nhứ vào huyệt Phong Phủ ở sau đầu.

Không Tính bị phất trúng huyệt Thái Dương đã đứng ngây người, đến lúc thấy Trương Vô Kỵ sử dụng Lao Nguyệt thức, lại càng kinh hãi hơn, lập tức nhảy lui ra sau, quát:

– Ngươi.. ngươi tại sao lại học lén Long Trảo Thủ của phái Thiếu Lâm?

Trương Vô Kỵ mỉm cười đáp:

– Võ công trong thiên hạ môn nào phái nào cuối cùng đều quy về một mối, chẳng lẽ còn cố chấp cho rằng cái này của mình, cái kia của người ư? Công phu Long Trảo Thủ chắc gì chỉ một mình phái Thiếu Lâm mới có được?

Miệng tuy nói thế, song trong lòng chàng vẫn thấy khâm phục: "Long Trảo Thủ quả thật lợi hại, hẳn là phái Thiếu Lâm phải mất hàng mấy trăm năm mới có thể sáng chế và hun đúc thành tuyệt kỹ, có thể nói đây là thứ võ công vô địch, nếu ta không dùng chính Long Trảo Thủ này đối địch với Không Tính đại sư mà dùng quyền pháp khác để thủ thắng, e rằng khó gấp nhiều lần. Huống chi những quyền pháp, chưởng pháp ta đã học còn chưa sánh được với nhân vật hạng hai, hạng ba của phái Thiếu Lâm, làm sao so được với một trong ba đại thần tăng là Không Tính đại sư này?"

Không Tính nãy giờ cũng đăm chiêu, nhất thời không thể hiểu rõ sự việc kỳ lạ vừa xảy ra. Nói đến công phu tu luyện Long Trảo Thủ, dù là sư huynh Không Văn, Không Trí hay thậm chí cả trụ trì Thiếu Lâm Không Kiến đại sư cũng đều không bằng được mình, vậy mà gã thiếu niên này tiếp mình hai chiêu, đều ra sau mà tới trước, lối xuất chiêu thủ pháp kình lực ổn định, phương hướng bộ vị chuẩn xác, ra đòn chớp nhoáng, chẳng khác nào đã khổ luyện mấy chục năm.

Không Tính đại sư cứ đứng ngẩn người không nói, hàng ngàn cặp mắt xung quanh đều nhìn chăm chăm vào đại sư. Vừa rồi hai người động thủ tung đòn, chỉ trong chớp nhoáng lại rời nhau ra, ngoài những cao thủ thượng thừa thì không ai nhìn ra được kẻ thắng người bại, nhưng trước mắt thấy Trương Vô Kỵ dường như vô sự, Không Tính lại cau mày trầm ngâm, hiển nhiên hơn kém đã rõ.

Không Tính đột nhiên gầm lên, lao người nhảy tới, tung đòn như gió táp mưa sa, tám thức Bổ Phong, Tróc Ảnh, Phủ Cầm, Cổ Sắt, Phê Kháng, Đảo Hư, Bão Tàn, Thủ Khuyết liên hoàn ào ào đánh tới. Trương Vô Kỵ vẫn thản nhiên như không, cứ trả đòn theo đúng từng trảo một. Liên tiếp tám trảo Bổ Phong Tróc Ảnh, Phủ Cầm Cổ Sắt, Phê Kháng Đảo Hư, Bão Tàn Thủ Khuyết, đòn nào cũng ra sau mà tới trước.

Tám thức Long Trảo Thủ này của Không Tính đại sư liên hoàn bất tận, chẳng khác nào một chiêu biến hóa ra tám đòn khác nhau, nhanh nhẹn vô cùng, nào ngờ đại sư càng nhanh bao nhiêu thì Trương Vô Kỵ lại nhanh hơn bấy nhiêu, chiêu nào cũng chiếm thượng phong. Mỗi khi Không Tính phát một đòn, lại bị ép lùi một bước, lùi đến bước thứ bảy rồi, thức Bão Tàn và Thủ Khuyết trầm ổn như núi bấy giờ mới tung ra. Hai thức này là hai trảo ba mươi lăm và ba mươi sáu của Long Trảo Thủ, trong thoáng chốc tưởng như lộ ra hàng trăm chỗ sơ hở, người tung đòn tay chân luống cuống như đang ra sức chống đỡ, kỳ thực hai chiêu này tưởng thủ mà lại là công, vô cùng khéo léo mà làm như vụng, trong mỗi chỗ sơ hở đều ẩn tàng vô số cạm bẫy chết người.

Long Trảo Thủ vốn là môn võ công chủ về cương mãnh, nhưng đến hai thức sau cùng này, trong cương mãnh có ẩn âm nhu, đã đạt đến cảnh giới lô hỏa thuần thanh.

Trương Vô Kỵ hú lên một tiếng thanh thoát, dấn lên một bước, hai thức Bão Tàn, Thủ Khuyết đánh nhứ ra, bỗng nhiên biến đòn thành Nã Vân thức, đánh thẳng vào chính giữa. Không Tính thấy thế cả mừng, nghĩ thầm: "Rốt cuộc ngươi cũng lọt vào bẫy của ta rồi". Không Tính đại sư thấy tay phải của Trương Vô Kỵ đã không thể rút về được nữa, song chưởng của đại sư liền cuốn vòng lại đánh vào, nghe "bộp!" một tiếng, đánh trúng ngay khuỷu tay Trương Vô Kỵ. Không Tính là một cao tăng đắc đạo, thấy Trương Vô Kỵ tinh thông tuyệt kỹ của phái Thiếu Lâm, e rằng chàng có mối liên hệ nào đó với môn phái, huống chi mấy chiêu trước rõ ràng đã đánh vào trọng huyệt của mình nhưng chàng cố ý nhường nhịn rút tay về, nên chiêu này đại sư cũng không hạ sát thủ, chỉ cần đánh gãy tay Trương Vô Kỵ mà thôi. Ngờ đâu song chưởng vừa chạm vào cánh tay đối phương, bỗng thấy một luồng kình lực nhu hòa trầm ổn đẩy ra, giữ chặt song chưởng không cho đánh tới. Ngay lúc đó, năm ngón tay của Trương Vô Kỵ đã đặt hờ vào huyệt Đản Trung trên ngực Không Tính rồi.

Chỉ trong chớp mắt, bao nhiêu ý nghĩ trong lòng Không Tính đều tan biến, mấy chục năm khổ luyện võ công, xưng hùng xưng bá giang hồ đều như một giấc mộng ảo. Đại sư gật đầu, chậm rãi nói:

– Tăng thí chủ cao siêu hơn lão nạp nhiều lắm.

Dứt lời, đại sư tay trái nắm lấy năm ngón tay phải, vừa vận sức toan bẻ gãy, bỗng thấy cổ tay trái tê đi, kình lực hoàn toàn không phát ra được, chính là Trương Vô Kỵ đã kịp thời phất vào huyệt trên cổ tay đại sư. Chỉ nghe chàng cất giọng sang sảng:

– Vãn bối dùng Long Trảo Thủ của phái Thiếu Lâm để thủ thắng, nào có làm tổn thương tới uy danh của Thiếu Lâm? Nếu vãn bối không dùng tuyệt kỹ của Thiếu Lâm tự để động thủ với đại sư, e rằng thiên hạ khó có môn võ công nào có thể chiếm thượng phong trước đại sư nửa thức.

Không Tính nhất thời kích động nên định tự mình bẻ gãy năm ngón tay, suốt đời không đả động tới võ công nữa, nghe chàng nói vậy, thấy đối phương lời nói cũng như hành sự đều hết lòng ca ngợi Thiếu Lâm, nếu không uy danh của phái Thiếu Lâm hàng ngàn năm qua, có thể nói là tự tay mình làm hỏng mất cả, mình chẳng hóa ra là kẻ có tội lớn đối với môn phái hay sao?

Nghĩ tới đây, Không Tính không khỏi thấy biết ơn Trương Vô Kỵ, nước mắt ứa ra, chắp tay nói:

– Tăng thiếu hiệp nhân nghĩa hơn người, lão nạp tâm phục khẩu phục rồi!

Trương Vô Kỵ vái dài đáp lễ, nói:

– Vãn bối phạm thượng, những mong đại sư thứ tội!

Không Tính mỉm cười nói:

– Long Trảo Thủ này vào tay Tăng thí chủ, uy lực vô cùng, trước đây lão nạp không khi nào có thể ngờ tới! Sau này có khi nào rảnh rỗi, mong Tăng thí chủ ghé qua bổn tự, lão nạp xin thỉnh giáo võ học.

Trong võ lâm giang hồ mỗi khi ai nói tới "thỉnh giáo" đều là có hàm ý khiêu chiến, thế nhưng Không Tính đại sư thực lòng khẩn khoản, rõ ràng khâm phục võ nghệ của đối phương, tự thẹn không bằng được, có ý thực lòng xin học hỏi thực sự.

Trương Vô Kỵ vội vàng đáp:

– Không dám, không dám! Võ công phái Thiếu Lâm cao thâm vô cùng, vãn bối tuổi trẻ ít học, chỉ mong mai này có cơ duyên được đại sư chỉ điểm thêm cho.

Câu này chàng nói thực từ gan ruột nên giọng thật là khẩn khoản thiết tha.

Không Tính tuy có địa vị cực cao trong Thiếu Lâm tự, song vì tính tình mộc mạc, không giỏi việc cai quản nên không giữ chức vụ quan trọng nào, nhưng về nhân phẩm và võ công, tăng chúng ai ai cũng kính phục. Phái Thiếu Lâm từ Không Trí đại sư trở xuống nghe chàng nói thế đều thấy hả dạ, hết thảy cùng thầm cảm kích Trương Vô Kỵ giữ cho môn phái không bị mất mặt và đều biết sau việc ngày hôm nay thì phái Thiếu Lâm không thể ra khiêu chiến với Trương Vô Kỵ được nữa.

Không Trí đại sư là thủ lãnh lần vây đánh Minh giáo này, thấy tình thế diễn biến như vậy, trong lòng cảm thấy hổ thẹn, Ma giáo sắp bị tiêu diệt tới nơi lại bị gã thiếu niên vô danh này ra tay ngăn trở, nếu bây giờ rút về, anh hùng hào kiệt trong thiên hạ chẳng phải sẽ cười đến trẹo quai hàm ư? Thành ra trong phút chốc không biết tính sao, bèn nháy mắt ra hiệu cho chưởng môn phái Hoa Sơn là Thần Cơ Tử Tiên Vu Thông.

Tiên Vu Thông đa mưu túc trí, là quân sư của cả sáu môn phái trong cuộc vây đánh đỉnh Quang Minh lần này, thấy Không Trí đại sư đưa mắt cầu cứu, lập tức xòe quạt vừa phe phẩy vừa chậm rãi bước ra.

Trương Vô Kỵ thấy người mới bước ra là một nho sĩ trung niên trạc tứ tuần, mi thanh mục tú, phong thái đĩnh đạc, tự nhiên có chút cảm tình, chắp tay nói:

– Không biết vị tiền bối đây có điều chi chỉ giáo?

Tiên Vu Thông chưa kịp trả lời, Ân Thiên Chính đã xen vào:

– Đây là chưởng môn phái Hoa Sơn Tiên Vu Thông, võ công bình thường nhưng rất nhiều quỷ kế.

Trương Vô Kỵ vừa nghe thấy tên Tiên Vu Thông liền nghĩ: "Cái tên này quen quá, không biết mình nghe thấy khi nào rồi?" đã thấy Tiên Vu Thông đi tới trước mặt chàng độ một trượng thì dừng lại, chắp tay nói:

– Xin chào Tăng thiếu hiệp!

Trương Vô Kỵ đáp lễ:

– Xin chào Tiên Vu chưởng môn!

Tiên Vu Thông nói:

– Tăng thiếu hiệp thần công cái thế, liên tiếp đánh bại Không Động ngũ lão, ngay cả thần tăng của phái Thiếu Lâm cũng cam chịu thua tài, tại hạ rất khâm phục. Chẳng hay thiếu hiệp là cao đồ của vị tiền bối cao nhân nào, có thể dạy dỗ được một thiếu niên anh hùng, hiếm thấy đến vậy?

Trương Vô Kỵ còn mải nhớ xem mình đã nghe tên người này khi nào, nên không trả lời câu hỏi của hắn.

Tiên Vu Thông ngửa cổ cười ha hả, cao giọng nói:

– Không biết vì sao Tăng thiếu hiệp lại có điều muốn giấu giếm về lai lịch sư thừa? Người xưa có câu: "Kiến hiền tư tề, kiến bất hiền.."

Trương Vô Kỵ nghe thấy "Kiến hiền tư tề" sực nghĩ tới Kiến Tử Bất Cứu, liền nhớ ngay năm năm trước ở Hồ Điệp cốc, Hồ Thanh Ngưu từng nói với chàng: Tiên Vu Thông của phái Hoa Sơn hại chết em gái của Hồ tiên sinh. Khi đó tuy Trương Vô Kỵ còn nhỏ tuổi nhưng đã định bụng: "Gã Tiên Vu Thông này thật đáng ghét, nếu sau này không bị quả báo thì đúng là trời không có mắt". Chàng im lặng hồi tưởng lại câu chuyện của Hồ Thanh Ngưu:

"Một gã trai trẻ bị trúng trùng độc Kim Tàm ở xứ Miêu Cương, lẽ ra thể nào cũng chết, ta thức trắng ba ngày ba đêm, hao hết tâm tổn hết sức cứu sống gã, sau đó lại kết nghĩa huynh đệ với gã, tình nghĩa hơn ruột thịt, nào ngờ sau đó gã lại hại chết chính em gái ruột của ta.. Ôi, em gái đáng thương của ta ơi.. hai anh em ta từ bé mồ côi cha mẹ, đùm bọc, nương tựa nhau mà sống!" Hồ Thanh Ngưu nói đến đây mặt nhăn nhúm, mắt nhòa lệ khiến Trương Vô Kỵ vô cùng đau xót. Hồ Thanh Ngưu còn kể về sau từng nhiều lần đi kiếm Tiên Vu Thông báo thù, nhưng vì phái Hoa Sơn người đông thế mạnh, Tiên Vu Thông lại gian ngoan giảo hoạt, lắm mưu nhiều kế khiến Hồ Thanh Ngưu suýt bỏ mạng dưới tay gã.

Chàng nghĩ tới đây, lông mày dựng ngược, mắt như tóe lửa, nhìn thẳng vào mặt Tiên Vu Thông, lại nhớ hắn có một tên đệ tử là Tiết Công Viễn bị Kim Hoa bà bà đả thương nhờ mình cứu thoát chết, vậy mà về sau toan bắt mình làm thịt ăn. Cả hai thầy trò hắn đều lấy oán báo ân, cùng một phường bọn gian ác, đê tiện vô sỉ. Tiết Công Viễn nay chết rồi, còn tên Tiên Vu Thông này không thể không trừng trị một phen cho bõ ghét, chàng liền mỉm cười nói:

– Ta có bị trúng độc ở Miêu Cương đâu, cũng không hại chết em gái của nghĩa huynh, có gì mà phải giấu giếm?

Tiên Vu Thông nghe Trương Vô Kỵ nói thế thì toàn thân rúng động, mồ hôi lạnh túa đầy lưng. Năm xưa sau khi hắn được Hồ Thanh Ngưu cứu chữa thoát chết, cùng em gái Hồ Thanh Ngưu là Hồ Thanh Dương yêu thương nhau. Hồ Thanh Dương trao thân cho hắn rồi mang thai, nào ngờ Tiên Vu Thông vì tham địa vị chưởng môn phái Hoa Sơn nên đang tâm bỏ rơi Hồ Thanh Dương để lấy con gái độc nhất của chưởng môn. Hồ Thanh Dương xấu hổ tự sát, gây ra thảm cảnh một xác hai mạng người. Trước nay Tiên Vu Thông vẫn cố gắng che đậy không để lọt chuyện này ra ngoài, nào hay chuyện đã hơn mười năm, giờ bỗng bị gã thiếu niên lạ mặt nói toạc ra trước mặt quần hùng, bảo hắn làm sao không táng đởm kinh hồn sao được? Tiên Vu Thông trong óc thoáng qua ý tưởng độc ác: "Gã này chẳng rõ vì sao lại biết chuyện thầm kín của ta, phải nghĩ cách trừ khử gã ngay, không thể để cho gã sống thêm một giờ một khắc nào nữa, nếu không gã rêu rao chuyện của mình ra thì hỏng hết".

Chỉ giây lát hắn đã kịp trấn tĩnh, nói:

– Nếu Tăng thiếu hiệp không chịu nói ra sư thừa, tại hạ xin lĩnh giáo cao chiêu. Chúng ta chỉ điểm tới thì dừng, không hạ sát thủ, có được chăng?

Dứt lời, hắn đưa tay phải lên trước ngực thủ thế, tay trái chém xuống vai Trương Vô Kỵ, lớn tiếng nói:

– Mời Tăng thiếu hiệp!

Hắn cố tình xuất thủ trước cốt để Trương Vô Kỵ không còn cơ hội nói tiếp. Trương Vô Kỵ hiểu rõ âm mưu của hắn, tiện tay đưa lên gạt nhẹ đòn chém của Tiên Vu Thông, cất giọng mỉa mai:

– Phái Hoa Sơn võ công thật cao siêu, lĩnh giáo hay không cũng vậy thôi! Thế nhưng cái tài lấy oán báo ơn, vong ân phụ nghĩa thì khó ai có thể bì kịp..

Tiên Vu Thông không để chàng nói tiếp, lập tức xông tới tấn công, đòn của hắn dùng là một tuyệt kỹ của phái Hoa Sơn gồm bảy mươi hai chiêu, có tên là Ưng Xà Sinh Tử Bác. Hắn gấp quạt lại cầm nơi tay phải, để lộ cái cán bằng thép đúc hình đầu rắn, dùng nó điểm, đánh, đâm, chọc, tay trái sử Ưng trảo công để nắm, bắt, vặn, móc, hai tay chiêu số hoàn toàn khác nhau. Ưng Xà Sinh Tử Bác là tuyệt kỹ của phái Hoa Sơn lưu truyền đã hơn trăm năm, khi thi triển trong cùng một chiêu một thức cần phải đạt được cái hùng mạnh của chim ưng, cái linh động uyển chuyển của loài rắn độc, cái thần của tuyệt kỹ toát ra ở chỗ vừa nhanh mạnh vừa độc hiểm.

Thế nhưng lực mà chia ra ắt sẽ yếu, tuyệt kỹ này nếu đem ra đánh người bình thường thì có thể khiến người ta lúng túng, tránh bên đông thì trúng đòn bên tây, nhưng Trương Vô Kỵ chỉ tiếp qua vài chiêu là biết ngay đối phương chiêu số tuy tinh nhưng kình lực lại không đủ, so với Không Tính thần tăng quả còn kém xa, nên vừa thuận tay chiết chiêu chàng vừa nói:

– Tiên Vu chưởng môn, tại hạ có điều băn khoăn muốn thỉnh giáo, năm xưa khi ông trúng trùng độc Kim Tàm, tính mạng như treo đầu sợi tóc, người ta phải thức trắng ba ngày ba đêm, dốc hết tâm sức cứu ông, sau lại kết nghĩa huynh đệ với ông, coi như ruột thịt. Vậy tại sao ông đang tâm hại chết em gái người ta?

Tiên Vu Thông không biết trả lời thế nào, quát lên:

– Hồ..

Hắn định nói Trương Vô Kỵ ăn nói hồ đồ để lấp liếm sự thực. Tiên Vu Thông vốn khéo ăn khéo nói, mồm mép dẻo quẹo nổi tiếng thiên hạ, nghe Trương Vô Kỵ nói toạc chuyện bí mật của mình ra, liền toan đặt điều, dùng tài biện bác để hãm hại chàng, vừa che đậy được chuyện bất nhân, vừa chờ dịp Trương Vô Kỵ tức giận bị chia trí để hắn thừa cơ hạ độc thủ. Tài nghệ giỏi như Không Tính đại sư còn chẳng thắng nổi Trương Vô Kỵ, nên hắn không mong mình có thể dùng võ công áp đảo được chàng.

Nào ngờ vừa mới nói được chữ "Hồ..", bỗng hắn thấy một luồng chưởng lực nặng nề ập tới đè vào ngực. Tiên Vu Thông thấy nghẹn họng, mấy lời sau chẳng nói ra thành tiếng, trong giây lát thấy như khí trong ngực đã bị đối phương đẩy hết ra ngoài, nên vội ngầm vận lực ra sức chống đỡ, tai vẫn nghe rõ từng lời Trương Vô Kỵ nói:

– Đúng vậy, đúng vậy! Ngươi vẫn còn nhớ được họ Hồ, thế nhưng sao không nói cho hết việc tiểu thư nhà họ Hồ bị ngươi hãm hại chết thảm ra sao, chừng ấy năm qua ngươi không thấy hối hận ư?

Tiên Vu Thông bị ép hơi ngộp chịu không nổi, hơi thở hào hển, vội đánh liền mấy chiêu. Trương Vô Kỵ liền nhả chưởng lực ra, Tiên Vu Thông thấy nhẹ cả người, vội hít một hơi dài, quát:

– Ngươi..

Thế nhưng chỉ mới thốt được tiếng "Ngươi.." là chưởng lực của đối phương lại ép tới trước ngực, khiến câu nói đứt quãng. Trương Vô Kỵ lại nói:

– Đại trượng phu dám làm dám chịu, đúng là đúng, sai là sai, làm gì mà cứ ấp a ấp úng, che che giấu giấu vậy? Điệp Cốc Y Tiên Hồ Thanh Ngưu năm xưa cứu mạng ngươi, có phải không? Em gái ông ta bị ngươi làm hại đến chết, có phải không?

Chàng không biết em gái Hồ Thanh Ngưu bị hại như thế nào nên không thể nói cho rõ ràng, song Tiên Vu Thông lại tưởng bấy nhiêu chuyện xấu xa hắn làm đều bị Trương Vô Kỵ biết cả, nhưng khổ một nỗi không sao mở miệng nói được, thành ra mặt cứ tái ngắt.

Quần hào ai nấy đều biết Tiên Vu Thông miệng lưỡi trơn như mỡ, có tài hùng biện, lúc này mặt lộ vẻ lúng túng, hơn nữa bị đối phương trách mắng nặng nề như vậy mà không đối đáp được một lời nào, mọi người bất giác không thể không tin lời Trương Vô Kỵ. Trương Vô Kỵ dùng thần công tuyệt đỉnh ép không cho Tiên Vu Thông hít thở, hắn thì như người câm uống phải thuốc đắng, có nỗi khổ lại không thể nói ra. Người ngoài chỉ thấy Trương Vô Kỵ hai tay múa may, chiết giải thế công của Tiên Vu Thông, thỉnh thoảng phản kích một chưởng, cho nên dù có là cao thủ hàng đầu của các phái cũng chẳng thể nhìn ra cái ngoắt ngoéo ở bên trong. Các cao thủ phái Hoa Sơn cùng những đệ tử khác thấy chưởng môn bị một gã thiếu niên mắng chửi, bôi tro trát trấu trước mặt quần hùng mà chẳng có lấy một câu đối đáp, ai nấy cảm thấy hết sức bẽ bàng. Tuy vậy một số người biết Tiên Vu Thông lắm quỷ kế thì cho rằng hắn đang tạm nhẫn nhục để chờ cơ hội báo thù.

Lại nghe Trương Vô Kỵ lớn tiếng quát mắng:

– Người trong giang hồ võ lâm chúng ta, đạo làm người quan trọng nhất là ơn phải đền, oán phải trả. Điệp Cốc Y Tiên Hồ Thanh Ngưu là người của Minh giáo, ngươi chịu ơn lớn của Minh giáo, thế mà hôm nay lại đem người tới vây đánh Minh giáo. Người ta cứu mạng cho ngươi, ngươi lại hãm hại thân nhân người ta, người như ngươi quả thật chẳng bằng loài cầm thú, còn mặt mũi nào làm chưởng môn một phái!

Chàng mắng chửi Tiên Vu Thông một trận thật hả lòng hả dạ, nghĩ thầm Hồ tiên sinh giá như hôm nay có mặt ở đây, được chính tai nghe chàng mắng cừu nhân rửa hận hộ mình, chắc ông cũng bớt đi được phần nào nỗi phẫn uất bấy lâu. Lúc này chàng thấy chửi thế đã đủ, hôm nay không thể lấy mạng y được, sau này kiếm hắn thanh toán ân oán cũng chưa muộn, lập tức thu chưởng lại nói:

– Ngươi đã tự biết hổ thẹn, hôm nay ta tạm gởi cái đầu trên cổ ngươi đó!

Tiên Vu Thông bỗng thấy ngực nhẹ đi, hít thở như ý, quát lớn:

– Tiểu tặc, ngươi chỉ ăn nói hồ đồ!

Y vung cán quạt vẩy vào mặt Trương Vô Kỵ một cái, rồi nhảy né qua một bên. Trương Vô Kỵ đột nhiên ngửi thấy mùi thơm, lập tức đầu óc choáng váng, thân hình lảo đảo, chân đứng không vững, thấy trời đất quay cuồng, mắt nổ đom đóm..

Tiên Vu Thông quát tiếp:

– Tiểu tặc, cho ngươi nếm mùi lợi hại của tuyệt kỹ Ưng Xà Sinh Tử Bác phái Hoa Sơn.

Dứt lời, hắn xông tới tả thủ tung trảo chộp vào huyệt Uyên Dịch dưới nách phải Trương Vô Kỵ. Hắn cho rằng một chiêu này tung ra, Trương Vô Kỵ đã không thể nào phản kích nổi, nào ngờ nơi hắn chộp trúng lại trơn tuột chẳng khác nào da cá, không thể dụng lực được.

Trong khi đó môn hạ phái Hoa Sơn reo hò vang dội:

– Ưng Xà Sinh Tử Bác vang danh thiên hạ!

– Tiên Vu chưởng môn phái Hoa Sơn tuyệt kỹ kinh người!

– Cho tên tiểu tặc nhà ngươi biết thế nào là võ công chân thực!

Trương Vô Kỵ mỉm cười, thổi một hơi ngay mũi Tiên Vu Thông. Tiên Vu Thông chợt ngửi thấy một mùi thơm, đầu óc quay cuồng, sợ hãi không biết để đâu cho hết, há mồm toan kêu cứu. Tay trái Trương Vô Kỵ phất ngay vào hai khoeo chân hắn. Tiên Vu Thông đứng không vững, khuỵu luôn xuống, quỳ ngay trước mặt Trương Vô Kỵ, tư thế giống như đang lạy lục xin tha.

Biến cố xảy ra nằm ngoài tưởng tượng của hết thảy mọi người, vừa mới thấy Trương Vô Kỵ thọ thương, lảo đảo muốn ngã, nào ngờ chỉ trong nháy mắt tình thế đảo ngược biến thành cảnh Tiên Vu Thông quỳ xuống van xin, lẽ nào chàng có tà thuật?

Trương Vô Kỵ cúi xuống cầm cái quạt trong tay Tiên Vu Thông lên, cao giọng nói:

– Phái Hoa Sơn tự xưng là danh môn chính phái, ai ngờ lại có tuyệt kỹ phóng trùng hạ độc, các vị coi đây!

Nói rồi chàng phẩy tay mở chiếc quạt ra, chỉ thấy một mặt vẽ ngọn núi Hoa Sơn cao vút từng mây tầng tầng lớp lớp, lật qua thấy mặt quạt bên kia có viết sáu câu thơ trong bài Thái Hoa Tán của Quách Phác:

"Hoa nhạc linh tuấn,

Tước thành tứ phương, Viên hữu thần nữ,

Thị ấp ngọc tương,

Kỳ thùy du chi?

Long giá vân thường". [ 95]

Trương Vô Kỵ xếp quạt lại nói:

– Có ai ngờ đâu bên trong chiếc quạt đẹp đẽ, nho nhã này lại ẩn giấu sự hiểm độc đê tiện.

Nói rồi chàng tiến tới trước một bụi hoa, chỉ cán quạt vào một bông hoa tươi, vẩy mấy cái, trong giây lát mọi người cùng thấy cánh hoa rơi rụng lả tả, lá cây cũng khô héo dần úa vàng dần đi.

Mọi người ai nấy kinh hãi, nghĩ thầm: "Tiên Vu Thông giấu trong cán quạt này chất độc gì ghê gớm thế?"

Tiên Vu Thông nằm phủ phục dưới đất, kêu la thảm thiết, âm thanh rùng rợn khiến mọi người đều bất giác sờn lòng:

– A.. a..

Tiếng kêu la kéo dài, tựa như có ai dùng dao bén đâm từng nhát vào người hắn. Đúng ra một người có võ học cao cường như hắn, dù có bị dao đâm thực chăng nữa cũng phải cố chịu đau, không nên kêu la mất thể diện trước mặt mọi người, thành thử mỗi tiếng kêu của hắn, lại như lột một lớp da mặt của mọi người trong phái Hoa Sơn. Tiên Vu Thông vừa lăn lộn kêu la vừa rên rỉ:

– Mau.. mau giết ta đi.. mau đánh chết ta đi.. Trương Vô Kỵ hỏi:

– Ta có cách chữa được cho ngươi, nhưng không biết rằng trong cái quạt này ngươi giấu loại độc vật gì? Không biết chất độc thì không có cách gì giải cứu đâu.

Tiên Vu Thông nói:

– Đó.. đó là Kim Tàm.. Kim Tàm trùng độc.. mau.. mau đánh chết ta.. a.. a..

Mọi người nghe đến Kim Tàm trùng độc, người còn trẻ không biết ghê gớm thì chẳng nói gì, nhưng những người có tuổi của các môn phái thảy đều biến sắc, nhân sĩ chính trực liền lớn tiếng trách cứ ngay. Thì ra Kim Tàm trùng độc là độc vật đứng đầu thiên hạ, không có màu sắc mùi vị hình dáng, người bị trúng độc tưởng như có muôn ngàn con tằm cùng cắn xé khắp người, đau đớn khôn tả. Người trong võ lâm khi nghe nói đến ai cũng nghiến răng hậm hực, loại tằm độc này khi hạ độc sẽ không để lại dấu vết gì, cho dù thân luyện được thần công vô địch vẫn có thể bị một người đàn bà, một đứa trẻ con không biết võ công hạ độc. Cũng may loại này rất khó tìm, trước đây người ta chỉ nghe nói, nay mới chính mắt trông thấy tình trạng trúng độc của Tiên Vu Thông.

Trương Vô Kỵ lại hỏi:

– Ngươi giấu Kim Tàm trùng độc trong cán quạt, sao lại bị trúng độc?

Tiên Vu Thông rên la:

– Mau.. giết ta đi.. ta không biết, ta không biết.. Nói rồi hắn cào cấu lung tung trên người, lăn lộn kêu la dưới đất.

Trương Vô Kỵ nói:

– Ngươi phóng trùng độc trong quạt định hại ta, lại bị ta dùng nội lực tống ngược ra, ngươi còn muốn nói gì thêm không?

Tiên Vu Thông kêu rú lên:

– Chính ta tự hại ta.. tự ta gây tội..

Y đưa hai tay bóp vào cổ họng toan tự sát, nhưng người trúng phải Kim Tàm trùng độc rồi có muốn sống cũng không được, muốn chết chẳng xong, thần trí vẫn hoàn toàn tỉnh táo để cảm nhận nỗi đau đớn trên người mỗi lúc một ghê gớm hơn, so với người bị trúng độc rồi chết ngay còn đáng sợ hơn nhiều.

Năm xưa Tiên Vu Thông ở Miêu Cương có tư tình với một cô gái bản địa, sau lại ruồng bỏ người ta nên cô gái đó liền phóng Kim Tàm trùng độc lên người hắn. Song vì muốn hắn hồi tâm chuyển ý nên liều lượng thuốc rất nhẹ để dễ bề giải cứu. Tiên Vu Thông trúng độc rồi liền trốn ngay, nhưng hắn cũng rất quỷ quyệt, khi trốn đi còn ăn trộm của cô gái Miêu Cương đó hai cặp Kim Tàm, nhưng chạy chưa được bao lâu thì bị phát độc tê liệt ngã quỵ. Cũng may khi đó Hồ Thanh Ngưu đang hái thuốc ở Miêu Cương nên cứu sống hắn. Tiên Vu Thông về sau theo đúng phương cách nuôi tằm, chế thành phấn độc, giấu trong cán quạt, cán quạt chế cơ quan, chỉ cần nhấn nút rồi dùng nội lực tống ra, giết người chẳng để lại chút dấu vết. Nào ngờ hắn vừa động thủ với Trương Vô Kỵ là lập tức bị chế ngự, nội lực không phát ra được, đến khi chàng rút tay lại, hắn mới có cơ hội lập tức dùng chiêu Ưng Dương Xà Thoán, vờ điểm quạt vào mặt Trương Vô Kỵ để phóng trùng độc.

Cũng may Trương Vô Kỵ nội lực thâm hậu không ai sánh kịp, khi gặp nguy biến liền nín thở, ngưng khí, phun ngược độc phấn ra, nếu như nội lực kém một chút thì người nằm lăn lộn rên la dưới đất kia không phải là Tiên Vu Thông mà chính là chàng. Vô Kỵ đã đọc kỹ sách Độc kinh của Vương Nạn Cô, biết rõ sự lợi hại của Kim Tàm trùng độc ra sao, vội vận chân khí chạy khắp người, cảm thấy không thấy gì khác lạ, thì mới an tâm, giờ thấy Tiên Vu Thông đau đớn như thế, chàng nổi lòng trắc ẩn, nghĩ thầm: "Cứu thì mình có thể cứu hắn đó, nhưng phải bắt hắn chính miệng khai ra những điều tàn ác đã làm năm xưa mới được".

Chàng liền lớn tiếng nói:

– Phương cách cứu chữa Kim Tàm trùng độc này, ta cũng có biết, nhưng khi ta hỏi điều gì ngươi phải trả lời cho thành thực, chỉ cần dối trá nửa câu, ta sẽ lập tức buông tay làm ngơ để cho ngươi bị đọa đày bảy ngày bảy đêm cho đến khi thịt thối tới tận xương, không lấy gì làm dễ chịu đâu.

Tiên Vu Thông tuy đau đớn nhưng thần trí vẫn rất tỉnh táo, nghĩ thầm: "Năm xưa cô gái Miêu Cương khi hạ độc ta cũng có nói là ta sẽ phải chịu khốn khổ bảy ngày bảy đêm, chờ khi thịt thối đến xương mới chết được, sao tên tiểu tử lại biết?" Tuy nhiên hắn không tin Trương Vô Kỵ giỏi thuốc như Điệp Cốc Y Tiên Hồ Thanh Ngưu để có thể giải độc được, nên nói:

– Ngươi.. ngươi không cứu nổi ta đâu..

Trương Vô Kỵ mỉm cười, quay ngược cán quạt, điểm vào ngang hông hắn, nói:

– Đục một cái lỗ ở đây, đổ thuốc vào rồi khâu lại, có thể khu trừ chất độc.

Tiên Vu Thông vội đáp:

– Đúng đó, đúng đó! Không sai chút nào..

Trương Vô Kỵ nói:

– Vậy ngươi nói ra đi, trong đời ngươi đã làm chuyện gì không phải?

Tiên Vu Thông nói:

– Không.. không có..

Trương Vô Kỵ chắp tay:

– Vậy thì thôi, ngươi hãy cứ ở đây chịu đau đớn bảy ngày đêm đi.

Tiên Vu Thông vội nói:

– Để.. để ta nói..

Thế nhưng trước mặt mọi người mà nói ra những việc tồi tệ của mình là chuyện quả thực hết sức khó khăn. Hắn ấp úng hồi lâu mãi vẫn không nói ra. Đột nhiên từ phái Hoa Sơn có hai tiếng hú vang rền, hai người cùng nhảy ra, một người cao, một người lùn, tuổi ngoại ngũ tuần, tay cầm trường đao sáng loáng đến ngay trước mặt Trương Vô Kỵ. Lão nhân lùn cất giọng the thé:

– Họ Tăng kia, phái Hoa Sơn ta có thể giết chứ không thể làm nhục, ngươi đối phó với Tiên Vu chưởng môn của ta như thế, đâu phải là hành động của kẻ anh hùng hảo hán!

Trương Vô Kỵ ôm quyền hỏi lại:

– Thỉnh giáo đại danh hai vị?

Lão nhân lùn giận dữ:

– Ngươi đâu đáng mặt để hỏi danh hiệu của huynh đệ ta.

Dứt lời lão lùn cúi xuống, tay trái định ôm Tiên Vu Thông. Trương Vô Kỵ vội đánh ra một chưởng, đẩy lão ta lùi lại một bước, lạnh lùng nói:

– Toàn thân ông ta dính đầy trùng độc, chỉ cần đụng vào thì cũng bị trúng độc như ông ta, tiền bối chớ khinh suất.

Lão nhân lùn sững sờ, sợ đến toàn thân run rẩy, lại nghe Tiên Vu Thông kêu lên:

– Cứu.. mau cứu ta.. Bạch Viên sư ca là do chính ta dùng Kim Tàm trùng độc sát hại đó, ngoài ra không còn ai nữa, ta cũng không làm gì không nên không phải nữa!

Nghe hắn nói ra câu này, cả hai lão nhân cao lùn và người của phái Hoa Sơn đều kinh hãi. Lão nhân lùn hỏi lại:

– Bạch Viên bị ngươi giết hại ư? Thế sao ngươi lại bảo nó chết vì bị người của Minh giáo hãm hại?

Tiên Vu Thông rền rĩ:

– Bạch.. Bạch sư ca.. cầu xin sư ca tha cho ta..

Hắn vừa kêu la thảm thiết vừa rập đầu lạy van:

– Bạch sư ca.. người chết đi thật thảm khốc! Vì sư ca cứ khăng khăng hăm dọa.. sẽ khai ra chuyện Hồ tiểu thư.. sư phụ sẽ không tha cho đệ đâu, nên buộc lòng đệ phải giết sư ca để bịt miệng. Bạch sư ca.. tha cho đệ.. tha cho đệ..

Hai tay hắn cào cấu cổ họng rồi tiếp:

– Đệ giết hại Bạch sư ca để giá họa cho Minh giáo, nhưng.. nhưng.. đệ đã đốt bao nhiêu là vàng mã, làm bao nhiêu là tuần chay, sao sư ca vẫn tới đòi mạng đệ chứ? Gia đình sư ca trẻ già lớn bé, đệ cũng chu cấp đầy đủ.. nào có thiếu thốn gì đâu.

Lúc này đang giữa ban ngày, quảng trường người đứng chen chúc, nhưng tiếng kêu than của Tiên Vu Thông nghe đầy u uất khiến ai nấy lạnh gáy, tưởng như hồn ma của Bạch Viên đang tới đòi mạng. Người của phái Hoa Sơn có quen biết Bạch Viên lại càng thấy ghê rợn.

Trương Vô Kỵ nghe nói như thế quả thực cũng bị bất ngờ, chàng những tưởng chỉ ép Tiên Vu Thông cung khai thừa nhận chuyện lấy oán báo ơn, giết hại em gái Hồ Thanh Ngưu, ngờ đâu y lại khai ra cả chuyện giết hại chính sư huynh của mình. Hồ Thanh Dương tuy vì Tiên Vu Thông mà chết nhưng do cô ta tự vẫn, Tiên Vu Thông vốn là kẻ quen thói trăng hoa, lòng không hề thấy hổ thẹn chút nào, còn Bạch Viên là do chính hắn hại chết. Năm xưa Bạch Viên bị trúng Kim Tàm trùng độc lăn lộn kêu la, nay chính hắn cũng bị như thế nên trong đầu chỉ nhớ tới hai chữ Bạch Viên, vừa khiếp sợ, vừa đau đớn nên tưởng như hồn ma Bạch Viên đến đòi mạng.

Trương Vô Kỵ thật ra chẳng biết Bạch Viên là ai nhưng nghe giọng lưỡi của Tiên Vu Thông thì liệu chừng hắn đem chuyện ám hại Bạch Viên đổ lên đầu Minh giáo, phái Hoa Sơn sở dĩ tham gia cuộc vây đánh đỉnh Quang Minh lần này cũng vì chuyện này mà ra, nghĩ tới đây chàng cao giọng nói:

– Các vị trong phái Hoa Sơn nghe chưa, Bạch Viên sư phụ nào có phải do Minh giáo làm hại, các vị trách sai người rồi.

Lão nhân cao đột nhiên vung đao lên, nhắm ngay đầu Tiên Vu Thông chém xuống. Trương Vô Kỵ vội đưa quạt ra điểm vào đao của ông ta một cái, ngọn cương đao liền dạt ra ngoài, phập một tiếng cắm ngay xuống đất sâu đến hơn thước. Lão nhân cao giận dữ hỏi:

– Y là phản đồ của Hoa Sơn, bọn ta thanh lý môn hộ, ngươi xen vào làm gì?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Vãn bối đã bằng lòng chữa trị Kim Tàm trùng độc cho ông ta, nói rồi lẽ nào nuốt lời? Chuyện tranh chấp trong môn hộ phái Hoa Sơn, xin đợi khi về tới Hoa Sơn, từ từ xét xử cũng chưa muộn.

Lão nhân lùn nói:

– Sư đệ, gã tiểu tử này nói đúng đó.

Dứt lời lão ta giơ chân đá ngay vào huyệt Đại Truy trên lưng Tiên Vu Thông khiến hắn văng đi, nghe "huỵch!" một tiếng, rơi xuống trước mặt nhóm người của phái Hoa Sơn. Tiên Vu Thông bị đá vào huyệt đạo rồi, tuy đau đớn toàn thân không giảm nhưng không thể kêu la thành tiếng được nữa, chỉ có thể quằn quại dưới đất mà thôi. Các đệ tử và môn hạ thân tín của hắn ai cũng sợ trúng phải trùng độc, chẳng kẻ nào dám chạy ra đỡ y dậy.

Lão nhân lùn quay sang nói với Trương Vô Kỵ:

– Huynh đệ lão phu là sư thúc của gã Tiên Vu Thông kia, ngươi giúp phái Hoa Sơn làm sáng tỏ một việc lớn, khiến cho cái chết oan uổng của Bạch Viên sư điệt được phanh phui, xin đa tạ.

Dứt lời ôm quyền vái một vái thật dài. Lão nhân cao cũng cúi xuống vái một cái. Trương Vô Kỵ vội đáp lễ, nói:

– Không dám, không dám!

Lão nhân lùn lại vung đao lên chém nhứ một cái, gằn giọng nói:

– Thế nhưng thanh danh của phái Hoa Sơn cũng bị tên tiểu tử này bôi nhọ trước mặt mọi người, thật không còn thể thống gì nữa, sư huynh đệ bọn ta phải thí mạng với ngươi mới hả giận!

Lão nhân cao cũng phụ họa:

– Sư huynh đệ bọn ta phải thí mạng với ngươi mới hả giận!

Lão nhân này tuy cao to hơn nhưng chuyện gì cũng phải bắt chước sư huynh, lão nhân lùn nói gì, ông ta lặp lại y như vậy. Trương Vô Kỵ nói:

– Phái Hoa Sơn người trong cứ trong, kẻ đục vẫn đục, chẳng may quý môn phái có một kẻ xấu xa, uy danh đâu có vì thế mà giảm đi chút nào. Trong võ lâm, môn phái nào mà chẳng có những kẻ chẳng ra gì, hai vị chớ nên bận tâm chuyện đó.

Lão nhân cao nói:

– Nếu như ngươi nói thế thì không sao cả, phải không?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Không sao cả.

Lão nhân cao nói:

– Sư ca, tiểu tử này nói không sao cả, vậy mình nên bỏ qua thôi.

Ông ta vốn cũng hơi sợ Trương Vô Kỵ nên không muốn động thủ với chàng.

Lão nhân lùn vẫn cất giọng gay gắt:

– Trước trừ diệt kẻ thù, sau thanh lý môn hộ. Phái Hoa Sơn hôm nay không thắng được tên tiểu tử này thì làm sao còn chỗ đứng trong chốn võ lâm?

Lão nhân cao nói:

– Đúng đó, ê, tiểu tử kia, bọn ta muốn hai người đánh một mình ngươi đó! Nếu như ngươi thấy thế là không công bằng, thì nên biết điều nhận thua trước đi.

Lão nhân lùn nhíu mày, quát:

– Sư đệ, ngươi..

Trương Vô Kỵ vội tiếp lời:

– Hai vị đấu với một mình vãn bối cũng không sao. Nhưng nếu hai vị thua thì không được làm khó giáo chúng Minh giáo nữa.

Lão nhân cao mừng quá, cướp lời:

– Nếu sư huynh đệ ta đánh một mình ngươi, chắc chắn ngươi không thể nào thắng nổi. Bọn ta có một pho Lưỡng Nghi đao pháp, biến hóa vô cùng vô tận, song đao phối hợp, dù cả vạn người cũng khó lòng chống chọi. Ta chỉ sợ ngươi đòi lấy một đấu một, vậy mà ngươi lại chịu một thân một mình đánh với huynh đệ ta, thế thì thua là cái chắc. Ngươi đã nói rồi không được hối hận đó nghe.

Trương Vô Kỵ nói:

– Vãn bối nhất quyết không hối hận đâu, xin lão tiền bối nhẹ tay cho.

Lão nhân cao nói:

– Ta dùng đao không thể nào nhẹ tay được, lộ Lưỡng Nghi đao pháp này thi triển rồi, càng lúc càng ghê gớm, không nhường nhịn chút nào. Ta xem tiểu tử ngươi nhân phẩm cũng không đến nỗi kém cỏi, chém chết ngươi cũng thật đáng thương..

Lão nhân lùn giận dữ quát:

– Sư đệ, ngươi bớt nói đi một câu có được không?

Lão nhân cao đáp:

– Bớt một câu cũng được. Chẳng qua tiểu đệ cho y biết trước để y cẩn trọng. Pho Lưỡng Nghi đao pháp của huynh đệ ta là phản Lưỡng Nghi, không có thức nào giống như quy tắc thông thường..

Lão nhân lùn gầm lên:

– Im ngay!

Rồi quay sang Trương Vô Kỵ nói:

– Hãy tiếp chiêu!

Lập tức vung đao chém tới. Trương Vô Kỵ cầm cây quạt của Tiên Vu Thông đè xuống sống đao. Lúc ấy lão nhân cao bỗng kêu lên:

– Này, này, không được, không được, cứ như thế này bọn ta không đánh nữa!

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Sao thế?

Lão nhân cao nói:

– Trong cái quạt này có chất độc, không cẩn thận một chút là phóng độc ra, đâu phải chuyện đùa.

Trương Vô Kỵ nói:

– Đúng vậy, cái vật kịch độc này, để lại trên đời chỉ hại người thôi.

Chàng lấy ngón trỏ và ngón giữa kẹp cái quạt ném xuống một cái, nghe phập một tiếng, chiếc quạt cắm ngập xuống đất chỉ để lại một cái lỗ nhỏ. Mọi người thấy chàng thi triển thần công, đều bất giác xuýt xoa khen ngợi.

Lão nhân cao cắp đao vào nách, vỗ tay nói:

– Ngươi lấy binh khí ra đi.

Trương Vô Kỵ vốn không muốn phô trương trước mặt mọi người, song hôm nay cục diện không phải tầm thường, nếu không hiển lộ thần công, chứng tỏ tài nghệ hơn hẳn những người đang có mặt tại đây thì khó lòng làm cho sáu đại môn phái phải chùn bước, quay về Trung nguyên. Chàng liền nói:

– Tiền bối thử xem vãn bối dùng binh khí nào thì hay nhất?

Lão nhân cao giơ tay vỗ lên vai chàng mấy cái, cười nói:

– Tiểu tử này cũng thú vị thật, ngươi thích dùng vũ khí gì sao lại đi hỏi ta?

Trương Vô Kỵ biết ông ta vỗ vai mình chẳng qua là người già yêu mến người trẻ mà thôi, không có ác ý gì. Song những người ở ngoài thấy vậy đều giật mình kinh hãi, hai bên sắp động thủ, một người lại giơ tay vỗ vai đối phương, người kia lại chẳng hề né tránh, nếu lão nhân cao lại vận lực, hay thừa cơ vỗ vào huyệt đạo, chẳng phải không đấu đã thắng rồi sao? Có ai ngờ được Trương Vô Kỵ có thần công bảo vệ thân người, lão nhân cao dù có bất ngờ ám toán cũng khó lòng hại được chàng.

Lão nhân cao cười nói:

– Thế ta bảo ngươi dùng binh khí gì ngươi cũng nghe lời sao?

Trương Vô Kỵ mỉm cười đáp:

– Có thể lắm.

Lão nhân cao cười:

– Tiểu tử này võ công đã cao, mười tám môn binh khí chắc cũng tinh thông. Vậy ngươi tay không đấu với huynh đệ lão phu, thế có được không?

Trương Vô Kỵ cười:

– Tay không cũng được.

Lão nhân cao lại nhìn quanh, định tìm một thứ vũ khí thật không vừa tay cho chàng sử dụng, bất ngờ thấy ở bên góc sân có mấy hòn đá lớn, liền nói:

– Để ta cho ngươi được lợi thế, dùng một thứ vũ khí thật nặng nề.

Nói xong chỉ tay vào mấy hòn đá, cười lên ha hả. Mấy tảng đá này phải nặng tới vài ba trăm cân, người nội lực thấp kém đến lay một tảng cũng không dịch chuyển, huống chi người ta dùng làm ghế ngồi đã lâu, bốn phía nhẵn lì chẳng có chỗ nào có thể cầm nắm cho chắc, làm sao dùng làm binh khí cho được? Lão nhân cao vốn muốn làm khó để đùa Trương Vô Kỵ mà thôi, nếu như đối phương thấy khó bỏ cuộc không làm nổi, cuộc đấu coi như không thành. Nào ngờ Trương Vô Kỵ mỉm cười đáp:

– Món binh khí nào cũng có thể dùng được, lão tiền bối muốn thử công phu của vãn bối ư?

Nói rồi chàng bước lại gần mấy tảng đá, tay trái giơ ra móc một tảng lên nói:

– Mời hai vị!

Lời chưa dứt, cả người lẫn đá cùng bay vọt tới trước mặt hai lão nhân.

Mọi người trông thấy cảnh đó ai nấy đều há hốc mồm, ngạc nhiên đến nỗi quên cả reo hò. Lão nhân cao giơ tay vặt một nắm râu, kêu lên:

– Thế này.. thế này thì lạ thật!

Lão nhân lùn biết hôm nay chạm trán phải một địch thủ chưa từng gặp trên đời, lập tức ngưng tụ chân khí, chăm chú nhìn đối thủ, nói:

– Xin vô phép!

Một luồng sáng lóe lên, thân hình đã theo đao đâm luôn vào phía sườn phải Trương Vô Kỵ.

Lão nhân cao vội hỏi:

– Sư huynh, đánh thật hay sao?

Lão nhân lùn đáp:

– Chẳng lẽ lại không?

Cương đao xoay nửa vòng bỗng nhiên đổi hướng, chém xéo vào đầu vai Trương Vô Kỵ. Trương Vô Kỵ né qua một bên, lại thấy một luồng ánh sáng lấp loáng, chính là lão nhân cao vung đao chém tới. Trương Vô Kỵ kêu lên:

– Hay lắm!

Chàng xoay tảng đá đưa ra đỡ, nghe choang một tiếng, nhát đao đó đã chém trúng tảng đá, hoa lửa tung tóe, đá vụn bay rào rào. Trương Vô Kỵ giơ tảng đá thuận thế đẩy tới. Lão nhân cao kêu lên:

– Ối chà, đây là "Thuận thủy thôi chu", ngươi dùng tảng đá mà cũng có chiêu số ấy à?

Lão nhân lùn quát:

– Sư đệ, Hỗn Độn Nhất Phá!

Lão ta vung đao từ sau lưng vạch tới một hình vòng cung chém vào Trương Vô Kỵ. Lão nhân cao tiếp lời:

– Thái Ất Sinh Manh, Lưỡng Nghi Hợp Đức..

Lão nhân lùn nói:

– Nhật Nguyệt Hối Minh!

Hai người miệng đọc tay vung, chiêu thức đánh ra liên miên bất tận, Trương Vô Kỵ thi triển Cửu dương thần công, nhẹ nhàng xoay chuyển tảng đá qua lại chống đỡ. Hai lão nhân cao lùn sử dụng Phản Lưỡng Nghi đao pháp, thế đao nào cũng độc hiểm, chiêu số trầm ổn mà mạnh mẽ, song tảng đá trong tay Trương Vô Kỵ quá lớn, chỉ cần xoay qua xoay lại một chút là chặn ngay được chiêu số của hai người. Lão nhân cao kêu lên:

– Binh khí ngươi dùng chiếm nhiều lợi thế quá, đánh thế này chẳng công bằng chút nào.

Trương Vô Kỵ cười đáp:

– Thế thì vãn bối không dùng binh khí cục mịch này nữa xem sao.

Bỗng chàng tung tảng đá lên cao, hai lão nhân bất giác ngước mắt nhìn theo, nào ngờ chỉ vừa sơ ý đã bị đối phương nắm ngay lấy huyệt đạo sau gáy, không cử động được nữa. Trương Vô Kỵ búng người ra sau, tảng đá từ trên cao rơi xuống đầu hai lão nhân.

Mọi người thảy đều kinh hoảng la lên, Trương Vô Kỵ lại lao vút tới, tay trái tung một chưởng đẩy văng tảng đá ra ngoài một trượng, nghe "huỵch!" một tiếng, rơi xuống lõm vào đất đến hơn thước. Chàng giơ tay vỗ nhẹ vai hai lão nhân mấy cái, cười nói:

– Xin lượng thứ, vãn bối chỉ đùa với hai vị thôi!

Cái vỗ của chàng giải luôn huyệt đạo bị điểm cho hai ông già. Lão nhân lùn mặt mày xám ngắt, thở dài:

– Thôi hỏng rồi, hỏng rồi!

Lão nhân cao lắc đầu:

– Lần này không tính.

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Sao lại không tính?

Lão nhân cao nói:

– Chẳng qua ngươi cậy khỏe, mang nổi tảng đá lớn chứ có phải dùng chiêu số để thắng huynh đệ lão phu đâu nào.

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Thế thì đấu lại lần nữa hay sao?

Lão nhân cao nói:

– Đấu nữa cũng được, nhưng phải tìm cách khác để ngươi khỏi chiếm lợi thế, bọn ta thua mới tâm phục khẩu phục, ngươi nghĩ có phải không?

Trương Vô Kỵ gật đầu:

– Phải lắm.

Tiểu Chiêu từ đầu đến giờ chăm chú quan sát trận đấu, lúc này đưa tay lên mũi, cất giọng trêu ghẹo lão nhân cao:

– Xấu hổ quá, xấu hổ quá! Ỷ có râu dài nên lợi thế, vậy mà vẫn bị đánh tả tơi!

Tay Tiểu Chiêu chuyển động, dây xích nơi cổ tay kêu leng keng lại càng gây chú ý. Lão nhân cao cười ha hả:

– Người ta có câu: "Có học mới nên khôn". Này tiểu nha đầu, muối bọn ta ăn còn nhiều hơn gạo ngươi đã ăn, cầu mà ta qua còn dài hơn đường ngươi từng đi, ngươi nói năng bậy bạ gì thế?

Ông ta quay lại nói với Trương Vô Kỵ:

– Nếu như ngươi không phục thì cũng chẳng cần đấu nữa. Có điều trận đấu vừa rồi ngươi không thua mà bọn ta cũng không thắng, hai bên coi như hòa. Để ba mươi năm sau, hai bên lại đấu một trận nữa cũng chưa muộn..

Lão nhân lùn nghe lão nhân cao nói càng lúc càng thấy chướng, hai sư huynh đệ dù gì cũng là trưởng bối trong phái Hoa Sơn, đâu có thể như vậy được, liền quát:

– Họ Tăng kia, bọn ta nhận thua, ngươi muốn xử trí thế nào bọn ta cũng nghe theo cả.

Trương Vô Kỵ nói:

– Xin hai vị cứ tự nhiên, tại hạ chỉ muốn hóa giải những chuyện hiểu lầm trước đây giữa Hoa Sơn và Minh giáo thôi, thực không có ý gì khác.

Lão nhân cao lớn tiếng nói:

– Cái đó không được, chưa bàn xong cách đấu mới, ngươi đã toan tháo lui là sao? Thế chẳng phải lâm trận rụt cổ, mới nghe hơi đã chạy ư?

Lão nhân lùn nhíu mày chẳng nói gì, biết vị sư đệ này ăn nói rồ rồ dại dại, nhưng có điều mặt trơ trán bóng nên vẫn thường khiến đối phương phải bí lối nhức đầu, chuyển bại thành thắng. Hôm nay ông ta trước mặt quần hùng lại giở trò đó ra, tuy không được quang minh lỗi lạc cho lắm, nhưng nếu may mà thắng được Trương Vô Kỵ, ít ra cũng lấy công chuộc tội.

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Thế theo ý tiền bối thì phải làm sao?

Lão nhân cao đáp:

– Phái Hoa Sơn ta có Phản Lưỡng Nghi đao pháp là tuyệt nghệ thần công, ngươi đã nếm qua rồi. Ta nghĩ ngươi chưa biết rằng phái Côn Luân có một pho Chính Lưỡng Nghi kiếm pháp biến hóa ảo diệu, so ra cũng ngang ngửa với đao pháp phái Hoa Sơn, mỗi thứ đều có điểm hay riêng. Thế nhưng đao kiếm hợp bích, lưỡng nghi hóa tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, âm dương đắp đổi lẫn nhau, nước lửa hỗ trợ, ôi..

Nói tới đây ông ta liên tục lắc đầu, thủng thẳng thở dài:

– Uy lực thực ghê gớm, uy lực ghê gớm lắm, ngươi không dám đấu đâu!

Trương Vô Kỵ quay lại nói với phái Côn Luân:

– Chẳng hay vị cao nhân nào trong phái Côn Luân có thể ra chỉ giáo?

Lão nhân cao cướp lời:

– Phái Côn Luân trừ vợ chồng Thiết Cầm tiên sinh ra, người khác không ai đủ tài nghệ để phối hợp với huynh đệ lão phu, song chẳng rõ Hà tiên sinh có đủ can đảm động thủ hay không?

Mọi người ai nấy đều cười thầm: "Ai nói lão nhân này ngớ ngẩn, lão đang dùng kế khích tướng khiến hai đại cao thủ phái Côn Luân phải ra giúp đỡ đây mà!"

Hà Thái Xung và Ban Thục Nhàn đưa mắt nhìn nhau, không biết hai lão nhân này tuyệt kỹ tới đâu, song họ là sư thúc của chưởng môn Tiên Vu Thông, vai vế rất cao, chắc là bình thường ít khi xuất hiện trên giang hồ, còn mình ẩn cư nơi Tây Vực thành ra không biết đến. Cả hai cùng nghĩ: "Hai lão già này đánh không lại thiếu niên họ Tăng kia nên khích mình cùng xông vào, nếu có bại, hai lão cũng đỡ mất mặt". Lại nghe lão nhân cao nói tiếp:

– Phu phụ họ Hà phái Côn Luân không dám động thủ với y, cũng khó trách được. Chính Lưỡng Nghi kiếm pháp của họ tuy không phải kém, nhưng có điều không được linh hoạt lắm, nếu so với Phản Lưỡng Nghi đao pháp phái Hoa Sơn thì về phần thanh thoát có kém hơn chút đỉnh.

Ban Thục Nhàn giận dữ nhảy ngay ra giữa sân, chỉ mặt lão nhân cao nói:

– Thỉnh giáo tôn tánh đại danh của các hạ?

Lão nhân cao đáp:

– Lão phu họ Hà, xin chào Hà phu nhân.

Câu nói này xem ra chiếm được lợi thế, khiến nhiều người trong sân cười ồ lên. Ban Thục Nhàn có biệt danh là "Thái thượng chưởng môn" của phái Côn Luân, ngay cả chưởng môn Hà Thái Xung cũng phải nể mụ mấy phần, mấy chục năm nay ở núi Côn Luân mụ quen thói hống hách, chu vi mấy trăm dặm quanh đó coi mụ chẳng khác nào nữ hoàng, lẽ nào mụ lại để cho người ta chế nhạo? Chỉ nghe "soạt" một tiếng, Ban Thục Nhàn đã rút kiếm đâm luôn vào vai trái lão nhân cao. Thủ pháp rút kiếm đâm vô cùng nhanh nhẹn, khoảnh khắc trước đó còn tay không, vậy mà mày liễu vừa khẽ nhướn lên là chớp mắt sau đó trường kiếm đã ở trong tay, mũi kiếm đã cách vai lão nhân cao không đầy nửa thước.

Lão nhân cao hoảng hốt thu đao về gạt, nghe "keng" một tiếng, đao kiếm chạm nhau. Ban Thục Nhàn sử chiêu "Kim châm độ kiếp", còn lão nhân cao sử chiêu "Vạn kiếp bất phục", một chính một phản, đều là tối cao của Lưỡng nghi thuật số. Lão nhân cao đấu với Trương Vô Kỵ quyền cước vụng về, tưởng chừng võ nghệ cũng chỉ hạng trung, bây giờ mới thấy công phu đao pháp của lão quả thật không phải tầm thường. Hai người đao kiếm tiếp chiêu, mỗi người đều lùi lại một bước, không khỏi ngạc nhiên nhưng trong bụng ngầm kính phục đối phương đánh ra một chiêu tinh diệu. Hai người hai phái, võ công khác hẳn, trong đời chưa từng gặp bao giờ, nhưng chỉ qua một chiêu đã thấy được võ công của mình với bên kia rất hợp nhau, nếu phối hợp sẽ không có một chút sơ hở nào, nên vui sướng chẳng khác nào kẻ suốt đời sống cô đơn nay bỗng gặp bạn tri kỷ. Ban Thục Nhàn lập tức suy tính ngay: Phản Lưỡng Nghi đao pháp của phái Hoa Sơn quả nhiên ghê gớm, nếu cùng bọn họ liên thủ công địch là có thể phát huy cực độ chiêu số của hai loại binh khí ". Rồi lại nghĩ:" Hai gã này của phái Hoa Sơn không phải là địch thủ của tiểu tử kia, phái Côn Luân mình nếu có đánh với y cũng không thể thắng được. Nếu bọn mình ra đấu sẽ là tứ đại cao thủ hai phái Côn Luân, Hoa Sơn hợp chiến một tiểu bối vô danh, không khỏi quá mất thân phận, nhưng có gì thì đây cũng là chủ ý của phái Hoa Sơn ". Mụ ta bèn quay lại gọi Hà Thái Xung:

– Này, huynh ra đây!

Hà Thái Xung tuy không dám cãi lệnh vợ, nhưng trước mắt bao nhiêu người, không thể để mất cung cách của một chưởng môn," hừ "một tiếng, từ từ đứng lên. Bốn tên tiểu đồng đi trước, một đứa bưng trường kiếm, một đứa bưng thiết cầm, còn hai đứa kia cầm phất trần. Năm người đi ra giữa sân, đứa bưng kiếm nâng quá đỉnh đầu, khom lưng dâng lên. Hà Thái Xung tiếp lấy thanh kiếm, bốn tên tiểu đồng cúi mình lui về. Ban Thục Nhàn nói:

– Phản Lưỡng Nghi đao pháp của phái Hoa Sơn chiêu số cũng không tệ lắm.

Lão nhân cao nhếch mép nói:

– Cám ơn đã tán thưởng.

Ban Thục Nhàn lườm ông ta một cái, rồi nói:

– Bốn người chúng ta thử vài chiêu với tiểu tử này, để thử cho biết võ công hai phái Côn Luân, Hoa Sơn.

Mụ nói xong quay đầu nhìn lại, bỗng dưng"... "

Lên một tiếng, trừng trừng nhìn Trương Vô Kỵ, nói:

– Ngươi.. ngươi..

Mụ ta cùng Trương Vô Kỵ chia tay chỉ mới năm năm, tuy trong thời gian đó chàng từ một đứa bé đã thành một thanh niên, thân thể cao lớn hơn nhiều, nhưng vẫn còn nhận ra. Trương Vô Kỵ nói:

– Những chuyện cũ của chúng ta, bà có cần phải nói ra không? Tôi là Tăng A Ngưu.

Ban Thục Nhàn lập tức hiểu ngay dụng ý của chàng không muốn nói thực tên tuổi mình, nếu như mình nói toạc chân tướng đối phương, bao nhiêu chuyện lấy oán báo đức sẽ bị chàng nói ra cho mọi người biết. Mụ bèn giơ thanh kiếm lên, nói:

– Tăng thiếu hiệp võ công đại tiến, thật đáng mừng, xin được xuất thủ chỉ giáo.

Lời nói rõ ràng ám chỉ mình sẽ tỉ thí võ nghệ, chứ không đề cập chuyện cũ. Trương Vô Kỵ mỉm cười nói:

– Đã từ lâu tại hạ ngưỡng mộ kiếm pháp thông thần của hiền phu phụ, cũng mong hạ thủ lưu tình.

Hà Thái Xung hỏi:

– Tăng thiếu hiệp dùng binh khí gì thế?

Trương Vô Kỵ vừa nhìn thấy Hà Thái Xung lại nhớ đến đôi Kim Ngân huyết xà. Khi chàng bị rơi vào tuyệt cốc, đôi rắn này không có độc vật gì để ăn nên dần dần chết đói. Chàng lại nghĩ đến việc lão lên núi Võ Đang bức tử cha mẹ mình, ép mình và Dương Bất Hối uống rượu độc, đánh mình đến sưng mắt sưng mũi, rồi ném mình vào đá, nếu không gặp được Dương Tiêu đứng ngay bên cạnh cứu cho, lúc này xác mình cũng đã mục nát, nói gì chuyện khác? Mình có lòng cứu mạng cho ái thiếp của lão, vậy mà lão lấy oán báo ân, còn tính chuyện giết mình. Chàng nghĩ đến đó, khí giận bốc lên, nghĩ thầm:" Hà Thái Xung ơi, Hà Thái Xung! Năm xưa ngươi đánh ta chết lên chết xuống, hôm nay tuy ta không thể giết ngươi, nhưng ít ra cũng phải đánh ngươi một trận để cho hả cơn tức ". Hà Thái Xung phu phụ và hai lão nhân của phái Hoa Sơn liền đứng ra bốn góc, hai thanh đao, hai thanh kiếm dưới ánh mặt trời lấp lánh hàn quang. Đột nhiên hai cánh tay Trương Vô Kỵ rung nhẹ một cái, thân hình bay vụt lên, trên không trung nhẹ nhàng chuyển hướng lượn qua một cây mai ở phía tây, bẻ ngay một cành rồi lại nhẹ nhàng quay về chỗ cũ. Chàng cầm cành cây, thong thả đi vào giữa bốn người, giơ lên cao nói:

– Tại hạ dùng cành mai này làm binh khí, lĩnh giáo cao chiêu của hai phái Côn Luân, Hoa Sơn.

Cành mai đó lấm tấm mấy đóa hoa, quá nửa còn là nụ chưa nở. Mọi người nghe chàng nói thế liền kinh ngạc:" Cành mai này đụng phải là gãy ngay, làm sao có thể giao đấu với bảo kiếm bảo đao của đối phương? "

Ban Thục Nhàn cười nhạt:

– Tốt lắm, ngươi dám khinh thường công phu hai phái Côn Luân, Hoa Sơn hử?

Trương Vô Kỵ nói:

– Tại hạ từng nghe tiên phụ nói rằng, đương niên Hà Túc Đạo tiền bối của phái Côn Luân, cầm kiếm kỳ tam tuyệt, người đời gọi là Côn Luân Tam Thánh. Chỉ tiếc rằng tại hạ sinh sau đẻ muộn, không có duyên được gặp gỡ thỉnh giáo Hà Túc Đạo tiền bối, đáng tiếc thay.

Câu nói đó mọi người nghe đều hiểu rằng chàng tán dương tiền bối của phái Côn Luân, nhưng người đương thời của môn phái này chàng không coi vào đâu cả. Bỗng nghe từ phái Côn Luân tiếng một người oang oang như chuông rè:

– Tiểu tặc, ngươi tài cán được bao nhiêu mà dám vô lễ với sư phụ, sư thúc ta?

Tiếng quát chưa dứt, một đạo nhân mặt đầy râu ria từ trong phái Côn Luân nhảy vọt ra, giơ kiếm đâm thẳng vào lưng Trương Vô Kỵ. Đạo nhân đó thân pháp cực nhanh, nhát kiếm đó dường như cảnh cáo từ trước, nhưng kiếm chiêu quá nhậm lẹ, nên cũng chẳng khác gì đánh trộm. Trương Vô Kỵ không quay mình lại, đợi khi mũi kiếm chạm vào y phục, cước trái mới đá ngược về sau, đè luôn lưỡi kiếm thuận thế đạp xuống đất. Đạo nhân đó cố sức kéo về nhưng không thấy lay chuyển gì cả. Trương Vô Kỵ từ từ quay lại, nhìn lại đạo nhân kia thì ra là Tây Hoa Tử, người chàng đã gặp khi còn đang ở trên thuyền lúc mới về tới Trung nguyên. Người này tính tình nóng nảy, đã có lần vô lễ với mẹ chàng là Ân Tố Tố. Trương Vô Kỵ trong lòng chua xót, hỏi lại:

– Phải ông là Tây Hoa Tử đạo trưởng không?

Tây Hoa Tử mặt đỏ gay, không trả lời, vẫn cố sức thu kiếm về. Chân trái Trương Vô Kỵ đột nhiên lỏng ra, gót chân điểm vào thanh kiếm một cái. Tây Hoa Tử đâu ngờ chàng nhấc chân ra, đang cố sức kéo liền bị mất đà ngã ngửa về sau. Cứ như võ công tập luyện của lão, việc xảy ra tuy bất ngờ, nhưng cũng có thể gượng đứng ngay được, nào ngờ vừa sử Thiên cân trụy thì từ thanh kiếm truyền vào một luồng lực đạo hùng hậu đẩy lão ta một cái khiến lão ta lập tức ngồi phịch ngay xuống, không có một chút kháng lực nào, tiếp theo" keng keng keng "mấy tiếng, trường kiếm trong tay gãy từng tấc một, lão ta chỉ còn cầm cán kiếm mà thôi.

Tây Hoa Tử sợ xanh mặt. Lão Tây Hoa Tử vốn là đệ tử chân truyền của Ban Thục Nhàn, thành thử gọi Ban Thục Nhàn là sư phụ, gọi Hà Thái Xung là chưởng môn sư thúc, nhìn thấy sư phụ mặt hầm hầm, biết rằng kỳ này mình làm sư môn mất hết thể diện, thể nào cũng bị phạt nặng, trong lòng kinh hoảng, nhảy nhổm lên quát lớn:

– Tiểu tặc..

Trương Vô Kỵ vốn đã định cho Tây Hoa Tử về, nhưng nghe lão ta chửi" tiểu tặc "làm nhục cả đến song thân mình, thế là cành hoa trong tay chàng phất tới, vận kình điểm ngay ba huyệt đạo trên ngực lão ta; xong chàng quay sang nói với hai lão nhân và phu phụ Hà Thái Xung:

– Hãy xuất chiêu đi!

Ban Thục Nhàn hạ giọng quát Tây Hoa Tử:

– Cút đi, làm người ta mất mặt thế chưa đủ sao?

Tây Hoa Tử đáp:

– Vâng!

Thế nhưng lão ta vẫn đứng yên không di chuyển. Ban Thục Nhàn giận dữ nói:

– Ta bảo ngươi tránh ra, có nghe không hả?

Tây Hoa Tử đáp:

– Vâng, vâng, thưa sư phụ, vâng.

Miệng rất cung kính, nhưng thân hình lão ta vẫn bất động. Ban Thục Nhàn giận dữ tột cùng, không hiểu tại sao tên đệ tử bỗng dưng không chịu nghe lời mình? Thì ra thủ pháp phất huyệt của Trương Vô Kỵ nhanh quá, nhãn quang Ban Thục Nhàn tuy sắc bén nhưng đâu có ngờ chàng có thể mượn một vật mềm mại để truyền kình lực, nhẹ nhàng phất một cành hoa mai cũng chẳng khác gì dùng phán quan bút điểm huyệt đạo. Mụ liền giơ tay đẩy mạnh vào đầu vai Tây Hoa Tử, hét lên:

– Còn đứng đây làm bẩn mắt ta ư?

Tây Hoa Tử đáp:

– Vâng, thưa sư phụ, vâng.

Thân người lão ta văng sang bên cạnh mấy thước, tay chân tư thế không khác mảy may, chẳng khác gì một tượng đá bị người ta đẩy đi. Ban Thục Nhàn và Hà Thái Xung bấy giờ mới biết lão ta đã bị Trương Vô Kỵ điểm huyệt từ bao giờ, trong lòng không khỏi kinh hãi. Hà Thái Xung xoa xoa mấy cái vào hông Tây Hoa Tử định giải huyệt cho Tây Hoa Tử, nào ngờ kình lực vào quá sâu, Tây Hoa Tử vẫn không động đậy gì được. Trương Vô Kỵ chỉ Dương Bất Hối đang tựa vào Dương Tiêu, nói:

– Cô bé kia năm năm trước bị các hạ điểm huyệt rồi ép uống độc tửu, tại hạ không cách nào giải huyệt được, hôm nay lệnh đồ cũng thế thôi. Phép điểm huyệt của quý phái và tệ phái không giống nhau, chuyện đó cũng không lấy gì làm lạ.

Mọi người nghe chàng nói thế, ai nấy liền nhìn về phía Dương Bất Hối, thấy nàng chỉ là một thiếu nữ tuổi còn nhỏ, năm năm trước ắt chỉ là một bé gái, phu phụ Hà Thái Xung lại ở địa vị chưởng môn một phái, vậy mà đi hiếp đáp một đứa trẻ con, thực mất hết thân phận.

Ban Thục Nhàn thấy mọi người nhìn mình bằng cặp mắt khác lạ, bụng nghĩ nói thêm chuyện cũ chẳng hay ho gì, bèn vung kiếm đâm vào mi tâm Trương Vô Kỵ. Ngay lúc đó, trường kiếm của Hà Thái Xung đâm tới sau lưng, hai lão nhân phái Hoa Sơn cũng xông ra tấn công.

Trương Vô Kỵ thân hình chuyển động, theo đường hở giữa các thanh đao kiếm mà lách ra, cành mai gạt vào trường kiếm của Hà Thái Xung. Hà Thái Xung vội đâm xéo vào cạnh sườn đối phương. Trương Vô Kỵ giơ ngón tay trái búng vào thanh đao của lão nhân lùn, cành mai lại quét vào thanh kiếm của Hà Thái Xung. Kiếm của Hà Thái Xung hơi chuyển qua, lưỡi kiếm nhắm ngay cành mai chém tới, bụng nghĩ dù ngươi võ công cao cường thì một cành cây không thể nào chống đỡ một nhát kiếm chém phải. Nào ngờ cành mai của Trương Vô Kỵ xoay lại gạt ngang vào lưỡi kiếm của Hà Thái Xung, một luồng kình lực nhu hòa đẩy tới làm cho trường kiếm của Hà Thái Xung bị dạt ra ngoài, nghe" keng "một tiếng, gạt luôn thanh đao của lão nhân cao vừa chém tới. Lão nhân cao kêu lên:

– À há, Hà Thái Xung, ngươi lại giúp cho địch à?

Hà Thái Xung mặt hơi đỏ lên, không dám nhận là kiếm mình bị kình lực của địch đẩy ra, chỉ nói:

– Chớ nói tầm bậy!

Y hậm hực đâm một kiếm thẳng vào Trương Vô Kỵ. Trong khi Hà Thái Xung ra chiêu công địch, Ban Thục Nhàn chờ khi Trương Vô Kỵ lùi lại sẽ tấn công ở đằng sau, còn hai lão nhân phái Hoa Sơn thi triển Phản Lưỡng Nghi đao pháp. Lưỡng Nghi kiếm pháp và Lưỡng Nghi đao pháp tuy hai bên chính phản khác nhau, nhưng cũng đều biến hóa ở bát quái mà ra, rồi lại quay về bát quái; có thể nói hai đường khác nhau nhưng cùng quy về một hướng. Qua lại vài chiêu, bốn người càng lúc càng nhuần nhuyễn, lưỡng đao song kiếm phối hợp với nhau thật chặt chẽ. Trương Vô Kỵ đã tính rằng bốn người liên thủ ắt sẽ rất khó khăn, quả nhiên chính phản hai pho võ công hợp lại thành một nên âm dương hỗ trợ lẫn nhau, không một chút sơ hở. Chàng mấy lần lâm nguy, nhưng vì chỉ cầm một cành mai nên không thể vận kình đánh gãy đao kiếm đối phương như trong tay cầm một món binh khí. Vừa lúc đó cương đao trong tay lão nhân lùn vòng tới, Trương Vô Kỵ nghiêng người né qua, kiếm của Ban Thục Nhàn đâm vèo tới cùng với tiếng quát:

– Trúng!

Kiếm đâm luôn vào đùi, rạch xoạc một đường trên quần Trương Vô Kỵ. Trương Vô Kỵ giơ tay điểm vào thì kiếm của Hà Thái Xung đã đâm tới, song đao hai lão nhân lại chia ra tấn công thượng, hạ bàn. Trương Vô Kỵ nhất thời không chống cự nổi, lại nghĩ ngay một mẹo, liền lách ra đằng sau Tây Hoa Tử. Ban Thục Nhàn liền đuổi theo đâm một nhát kiếm, chiêu số độc địa, kình lực mãnh liệt, nhất quyết đưa Trương Vô Kỵ vào tử địa, chẳng còn là tỉ võ thử tài chi nữa. Trương Vô Kỵ ở sau lưng Tây Hoa Tử thu mình lại, kiếm của Ban Thục Nhàn thấy đâm thẳng vào học trò mình thì mụ vội vàng lách qua, Tây Hoa Tử kêu lên:" Ối chà! "Đến khi Hà Thái Xung từ bên trái công tới, Trương Vô Kỵ cũng tránh qua một bên Tây Hoa Tử.

Chàng nhất thời chưa tìm ra chỗ sơ hở của hai pho võ công chính phản Lưỡng Nghi, không sao nghĩ ra được cách phá giải, chỉ còn biết né đông tránh tây chung quanh Tây Hoa Tử, tạm dùng lão ta làm cái lá chắn đao kiếm, trong bụng nghĩ thầm:" Trương Vô Kỵ ơi là Trương Vô Kỵ! Ngươi coi anh hùng thiên hạ chẳng vào đâu. "Kiêu giả tất bại'[96] bốn chữ đó, từ nay về sau phải nhớ kỹ trong lòng".

Vẫn biết rằng trên đời này không võ công nào lợi hại bằng Càn khôn đại na di, cũng chẳng nội kình nào hồn hậu bằng Cửu dương thần công, nhưng cũng phải nhớ "ngoài trời này còn có trời, trên người còn có người".

Chỉ thấy chung quanh tiếng cười rộ lên, Tây Hoa Tử đứng sững như tượng đá giữa sân, Trương Vô Kỵ ở bên cạnh chui qua lách lại, mỗi khi đao kiếm của bốn người kia đâm chém chỉ cách mình chừng một tấc, Tây Hoa Tử lại kêu lên "Ối!", "Ái!", "Chao ôi!", nhưng không sao cử động được, khiến cho cảnh tượng vừa kinh hoàng, vừa hoạt kê.

Ban Thục Nhàn nộ khí xông lên, mấy lần tưởng đã giết được Trương Vô Kỵ, nhưng vì có Tây Hoa Tử chắn giữa đường làm vướng chân vướng tay, hận không thể một kiếm chém lão ta đứt đôi, chỉ vì tình sư đồ mà không nỡ ra tay. Lão nhân cao của phái Hoa Sơn kêu lên:

– Hà phu nhân, mụ không nỡ, vậy để ta ra tay vậy.

Ban Thục Nhàn hậm hực đáp:

– Ta có ngăn cản gì ngươi đâu?

Lão nhân cao vung đao chém ngang, nhắm ngay ngang lưng Tây Hoa Tử. Trương Vô Kỵ thấy không ổn, nếu như đao đó chém thực, không những mình mất mộc nhân che binh khí, mà Tây Hoa Tử chết đi cũng lại thêm phiền, lập tức tay áo bên trái phất ra một luồng kình phong, đẩy dạt đao của lão nhân cao ra ngoài.

Lão nhân lùn không nói tiếng nào, đơn đao nhắm ngay cổ Trương Vô Kỵ chém xéo tới. Trương Vô Kỵ né qua bên phải nhưng đao của lão nhân lùn không đổi hướng, vẫn tiếp tục chém thẳng vào vai Tây Hoa Tử, làm như thu về không kịp, không thể nào không trúng lão ta, miệng nói:

– Tây Hoa đạo huynh, coi chừng!

Ông ta biết nếu giết chết Tây Hoa Tử sẽ gây oán chuốc cừu với phái Côn Luân, bèn làm như không còn cách nào khác, không phải tự mình, về sau có gì còn đổ qua đổ lại. Trương Vô Kỵ quay lại đánh một chưởng, đánh thẳng vào ngực lão nhân lùn. Lão nhân lùn vừa thấy khó thở, tả chưởng giơ ra, đơn đao trong tay vẫn chém vào Tây Hoa Tử. Hai chưởng đụng nhau, lão nhân lùn lùi về sau một bước, lảo đảo chực ngã.

Tây Hoa Tử thấy Trương Vô Kỵ hai lần ra tay bảo vệ cho mình, lòng ngầm cảm kích, nghĩ thầm: "Hôm nay nếu ta không chết, quyết không bỏ qua cho hai lão tặc của phái Hoa Sơn".

Hà Thái Xung và Ban Thục Nhàn thấy Trương Vô Kỵ che chở cho Tây Hoa Tử, cả hai cùng thầm nghĩ: "Tiểu tử này lại phải lo thêm một người nữa, càng thêm bó chân bó tay". Hai người đã không cảm cái ơn học trò cứu mình, kiếm chiêu càng thêm độc địa hung bạo. Hai lão nhân cũng múa đao nhanh hơn, biết rằng giết được Trương Vô Kỵ không phải dễ, nhưng nếu tấn công Tây Hoa Tử để chàng phải cứu thì có thể theo những sơ hở trong thân pháp, biến khách thành chủ, thành thử hai thanh đao mỗi lúc tấn công Tây Hoa Tử một nhiều.

Các cao thủ của Thiếu Lâm, Võ Đang, Nga Mi thấy tình cảnh đó đều ngán ngẩm lắc đầu, trong lòng có phần hổ thẹn, nghĩ rằng bốn người dù có giết được Trương Vô Kỵ thì mình cũng không khỏi có chiều bất an.

Trương Vô Kỵ càng đấu càng thấy bất lợi, nghĩ thầm: "Ta đánh không lại bọn họ, có chết cũng đành, nhưng việc gì phải kéo theo cả lão đạo nhân này?" Chàng liền đánh một chưởng đẩy lui lão nhân cao, cành mai bên tay phải hơi rung động, giải khai huyệt đạo cho Tây Hoa Tử.

Ngay lúc đó, lão nhân lùn lại chém một đao vào hạ bàn Tây Hoa Tử, Trương Vô Kỵ phi cước đá ngay vào cổ tay lão ta, khiến lão ta vội rụt tay về; không ngờ Tây Hoa Tử huyệt đạo đã giải rồi, đột nhiên nghe "bình" một tiếng, đấm một cái đích đáng ngay sống mũi lão nhân lùn, lập tức máu tuôn ra ồng ộc. Võ công lão nhân lùn so với Tây Hoa Tử cao hơn nhiều, nhưng đâu ngờ người đang đứng trơ trơ bỗng dưng có thể hoạt động, sự việc quá bất ngờ nên né không kịp. Mọi người thấy thế liền cười hô hố.

Ban Thục Nhàn cố nhịn cười, nói:

– Tây Hoa, mau lui xuống.

Tây Hoa Tử nói:

– Vâng, nhưng tên giặc cao kia còn thiếu đệ tử một quyền.

Tây Hoa Tử giơ tay toan đánh lão nhân cao thì vừa lúc đó lão nhân lùn đã đấm ra một quả, chém nhứ một đao, nghe "bịch" một cái, cùi chỏ trái đã huých vào ngực lão họ Tây. Ba chiêu liên hoàn này là một tuyệt kỹ của phái Hoa Sơn, Tây Hoa Tử thân hình loạng choạng, thấy mặn trong cổ họng, ọe ra một ngụm máu tươi.

Hà Thái Xung giơ tay đỡ vào hông Tây Hoa Tử, chưởng lực đẩy ra, tống thân thể mập mạp ấy ra ngoài mấy trượng, quay lại nói với lão nhân lùn:

– Chiêu "Hoa nhạc tam thần phong" đẹp đó!

Trường kiếm trong tay lại đâm tới Trương Vô Kỵ. Hà Thái Xung một tay đẩy học trò, miệng ra lời mỉa mai, kiếm vẫn công địch, phân biệt đối phó ba người, nhưng vẫn tiêu sái như thường.

Hai lão nhân không trả lời, chăm chú tấn công Trương Vô Kỵ. Tuy lúc này trong bốn người mỗi người đều có đố kỵ riêng, nhưng Tây Hoa Tử đi khỏi rồi không còn chướng ngại nữa, đao kiếm phối hợp chẳng khác nào thiên y vô phùng[97], người này công thì người kia giúp, kẻ nọ thoái thì kẻ kia tiến lên, bốn người hợp thành một đại cao thủ tám chân tám tay, chiêu số qua lại biến hóa, liên miên khôn cùng.

Thuật Lưỡng Nghi chính phản đao kiếm của hai phái Côn Luân, Hoa Sơn là từ Hà Đồ, Lạc Thư của cổ nhân mà thành, suy diễn theo phương vị bát quái của Phục Hi, Văn Vương, nếu như thâm cứu đến nơi đến chốn, tinh vi ảo diệu chỉ có hơn chứ không kém Càn khôn đại na di của Tây Vực. Tuy nhiên dịch lý sâu xa, hai vợ chồng Hà Thái Xung và hai lão nhân Hoa Sơn chỉ mới hiểu được độ hai ba thành, nếu không thì hợp lực đã giết được đối phương rồi. Hai bên sở dĩ giằng dai đến bây giờ chính vì Trương Vô Kỵ thân mang nội lực hồn hậu tuyệt thế, nếu không, chắc khó lòng thoát được khốn cảnh.

Trận kịch đấu này ai nấy coi mà tim đập bình bình, tinh thần rúng động. Chỉ thấy trường kiếm của vợ chồng họ Hà kêu vù vù, kiếm khí tung hoành; hai lão nhân lùn và cao múa đao ra gió, đao quang lấp lánh, bốn người mỗi lúc một ép sát thêm.

Trương Vô Kỵ biết rằng nếu muốn ra khỏi vòng vây cũng không có gì khó khăn, chỉ cần thi triển khinh công là bốn người kia không thể nào đuổi kịp. Thế nhưng mình chạy đã đành, còn chuyện giảng hòa giữa các phe phái với Minh giáo thì không còn đề cập được nữa. Trước mắt chỉ còn cách thủ hộ nghiêm mật, chờ cho đối phương mỏi mệt sẽ tìm cách tấn công. Thế nhưng cả bốn người nội công đều tinh thâm, song đao song kiếm đan thành một màn ánh quang, bốn phương tám hướng bao vây chặt chẽ, không biết bao giờ mới tỏ ra mỏi mệt. Trương Vô Kỵ không còn cách nào khác hơn, đành cố gắng chống đỡ.

Bọn Hà Thái Xung tuy chiếm thượng phong nhưng cả bốn người đều không thấy gì thú vị.

Bằng vào thân phận của họ đừng nói gì cả chuyện bốn người liên thủ, dẫu là một đánh một mà để một thanh niên hậu bối cầm cự được hơn ba trăm hiệp vẫn chưa thắng được, cũng đã bẽ bàng lắm rồi. Cũng may Trương Vô Kỵ trước đã từng đánh bại Không Trí thần tăng, không ai dám coi thường chàng, nếu không bọn họ chắc chẳng còn mặt mũi nào nữa. Bốn người thấy Trương Vô Kỵ phản kích càng lúc càng thưa, nhưng vẫn không sao đả thương chàng được. Cả bốn người đều dày dặn kinh nghiệm lâm địch, từng trải hàng trăm trận đấu, càng lâu càng không dám khinh suất, không người nào tỏ ra bồn chồn nóng nảy, luôn luôn dè dặt, không ai dám tham công mạo hiểm tấn kích.

Các trưởng lão, danh túc trong đám người đứng xem, nhân tiện chỉ chỉ trỏ trỏ, giáo huấn đệ tử bản phái.

Comments

0 comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 22: Ba việc tốt, quần hùng đồng lòng

Diệt Tuyệt sư thái, chưởng môn của phái Nga Mi, nói với các đệ tử:

– Gã thanh niên này võ công rất quái dị, nhưng hai phái Hoa Sơn, Côn Luân đã kiềm chế được y, khiến y bị bó chân bó tay. Võ công Trung nguyên bác đại tinh thâm, bàng môn tả đạo của Tây Vực đời nào sánh kịp. Lưỡng nghi hóa tứ tượng, tứ tượng hóa bát quái, chính biến tám tám sáu mươi tư chiêu, kỳ biến tám tám sáu mươi tư chiêu, chính kỳ tương hợp, sáu mươi bốn lần sáu mươi bốn thành ra bốn nghìn chín mươi sáu cách biến hóa. Võ công thiên hạ biến hóa tuy có phức tạp, nhưng cũng không đâu bằng được.

Từ khi Trương Vô Kỵ ra quyết đấu tới giờ, Chu Chỉ Nhược trong lòng khắc khoải. Trong đám môn hạ phái Nga Mi, nàng vốn được Diệt Tuyệt sư thái cưng chiều nên đã tâm truyền nguyên lý Kinh Dịch, bây giờ liền lớn tiếng nói:

– Sư phụ, chính phản Lưỡng Nghi này, chiêu số tuy nhiều thật, nhưng cũng không ra khỏi đạo lý thái cực hóa thành âm dương lưỡng nghi. Đệ tử xem bốn vị tiền bối này chiêu số quả thật tinh diệu, nhưng lợi hại nhất dường như là phương vị của bộ pháp.

Tiếng nàng trong trẻo, mỗi tiếng đều dùng khí từ đan điền chậm rãi nói ra, Trương Vô Kỵ tuy đang ra sức chiến đấu nhưng nghe vẫn rõ ràng, liếc mắt thấy người nói chính là Chu Chỉ Nhược, không khỏi xao xuyến: "Tại sao nàng lại nói lớn thế, chẳng lẽ cố ý chỉ điểm cho mình chăng?" Diệt Tuyệt sư thái nói:

– Mắt con nhìn quả không sai, đã thấy được chỗ tinh yếu trong võ công các vị tiền bối.

Chu Chỉ Nhược tự nói một mình:

– Dương chia ra Thái Dương, Thiếu Âm; âm chia ra Thiếu Dương, Thái Âm, đó là tứ tượng. Thái Dương gồm Càn Đoài, Thiếu Âm gồm Ly Chấn; Thiếu Dương gồm Tốn Khảm, Thái Dương gồm Cấn Khôn. Càn ở phương Nam, Khôn ở phương Bắc, Ly ở phương Đông, Khảm ở phương Tây, Chấn là Đông Bắc, Đoài là Đông Nam, Tốn là Tây Nam, Cấn là Tây Bắc. Từ Chấn đến Càn là thuận, tự Tốn đến Khôn là nghịch.

Nàng bỗng lớn tiếng hỏi:

– Sư phụ, đúng như sư phụ đã dạy: Thiên địa định vị, sơn trạch thông khí, lôi phong tương bạc, thủy hỏa bất tương xạ, bát quái tương thác[98] . Sổ vãng giả thuận, tri lai giả nghịch[99] . Chính Lưỡng Nghi kiếm pháp của phái Côn Luân đi từ Chấn đến Càn là thuận, còn Phản Lưỡng Nghi đao pháp của phái Hoa Sơn, đi từ Tốn đến Khôn là nghịch, sư phụ, có phải thế không?

Diệt Tuyệt sư thái thấy học trò nói ra được như thế thật hả dạ, gật đầu nói:

– Học trò như con thật không uổng công ta dạy dỗ.

Bà ta trước nay rất ít khi khen ai trước mặt người ngoài, nay nói như thế là đã quá lắm rồi.

Diệt Tuyệt sư thái vì quá vui mừng nên không để ý tại sao học trò mình lại lớn tiếng, hai người đối diện nói chuyện việc gì phải dùng trung khí để truyền âm thanh ra xa? Thế nhưng chung quanh người lưu tâm đến chuyện hơi khác thường đó không phải ít. Chu Chỉ Nhược thấy nhiều cặp mắt đổ dồn vào mình, giả vờ làm như ngây thơ vô tình, vỗ tay reo lên:

– Sư phụ, đúng rồi, đúng rồi! Tứ Tượng Chưởng của phái Nga Mi ta trong tròn có vuông, âm dương tương thành. Bên ngoài tròn là dương, bên trong vuông là âm, tròn mà động là trời, vuông mà tĩnh là đất, thiên địa âm dương, vuông tròn động tĩnh, so với chính phản Lưỡng Nghi xem ra còn hơn một mức.

Diệt Tuyệt sư thái trước nay vẫn tự cao tự đại cho rằng Tứ Tượng Chưởng của phái Nga Mi là tuyệt học trong thiên hạ, giờ nghe Chu Chỉ Nhược nói thế, chính là gãi đúng chỗ ngứa, mỉm cười nói:

– Đạo lý thì thế đấy, nhưng cũng còn phải xem công phu tu tập thế nào.

Về phương vị bát quái, Trương Vô Kỵ lúc còn nhỏ từng nghe phụ thân giảng qua, nhưng sở học của chàng thật nông cạn, chỉ từ khi trong đường hầm đọc di thư của Dương Đính Thiên, được Tiểu Chiêu chỉ điểm, mới biết được vị trí của hướng Vô Vọng. Tới lúc này chàng nghe Chu Chỉ Nhược nói về lẽ thuận nghịch trong tứ tượng, trong lòng chấn động, để ý đến bộ pháp chiêu số của vợ chồng họ Hà và hai lão nhân, quả nhiên thấy chúng biến hóa từ tứ tượng bát quái mà ra, thảo nào tâm pháp Càn khôn đại na di của chàng không sao thi triển được.

Thì ra võ học cao thâm nhất của Tây Vực gặp phải sở học tinh diệu nhất của Trung thổ, cứ hình thức mà nói thì nghĩa lý của Trung thổ sâu xa hơn. Trương Vô Kỵ sở dĩ đến bây giờ chưa bị thua chỉ vì chàng đã luyện võ công Tây Vực đến mức tối cao, còn phu phụ họ Hà và hai lão nhân lùn cao sở học Trung thổ còn nông cạn.

Chỉ trong nháy mắt, trong đầu chàng nổi lên bảy tám ý niệm, tìm ra bảy tám phương pháp, cách nào cũng chỉ vừa xuất chiêu là đánh bại bốn người này ngay. Thế nhưng chàng lại nghĩ thầm: "Nếu như ngay bây giờ mình thi triển, chỉ e Diệt Tuyệt sư thái lại trách tội Chu Chỉ Nhược mất thôi, lão ni cô này lòng dạ độc ác, việc gì chẳng dám làm? Mình không nên làm liên lụy đến Chu cô nương".

Thành thử chiêu thức vẫn không đổi thay chút nào, chàng chỉ chăm chú quan sát chiêu số của bốn địch thủ để học thêm tổng cương về võ học của họ, thấy chỗ nào cũng có đường đi nước bước, không như lúc đầu chỉ thấy rối như tơ vò, không biết đâu mà lần.

Chu Chỉ Nhược thấy chàng không thay đổi chút nào, trong bụng hơi băn khoăn, nghĩ thầm: "Chàng đang hết sức chống đỡ kẻ địch, không thể nào trong chốc lát mà hiểu được chỗ tinh vi đó". Lại thấy vợ chồng họ Hà mỗi lúc một ép tới gần hơn, Trương Vô Kỵ xem chừng càng lúc càng khó chống đỡ nên lớn tiếng nói:

– Sư phụ, đệ tử xem ra bước sắp tới của Thiết Cầm tiên sinh sẽ là cung Quy Muội, không biết có phải thế chăng?

Diệt Tuyệt sư thái chưa kịp trả lời, Ban Thục Nhàn đã dựng ngược mày tằm, quát lớn:

– Này tiểu cô nương của phái Nga Mi, tiểu tử này là gì của cô mà cô lại nối giáo cho giặc chứ? Đừng có ở ngoài xen vào, phái Côn Luân ta không vừa đâu nhé!

Chu Chỉ Nhược bị mụ ta nói trúng tim đen, mặt đỏ bừng. Diệt Tuyệt sư thái cũng lớn tiếng mắng:

– Chỉ Nhược, không được lắm lời, phái Côn Luân người ta không phải vừa, con không nghe sao?

Hai câu đó giọng điệu rõ ràng là bênh học trò. Trương Vô Kỵ trong lòng thật cảm kích, nghĩ thầm nếu không phân thắng bại ngay bây giờ, Chu Chỉ Nhược lại nghĩ cách giúp mình nữa thì thể nào Diệt Tuyệt sư thái cũng nhận ra, nàng sẽ bị rơi vào nguy hiểm. Chàng cất tiếng cười ha hả, nói:

– Ta là bại tướng dưới tay phái Nga Mi, từng bị Diệt Tuyệt sư thái bắt giữ, phái Nga Mi hiển nhiên cao thâm hơn phái Côn Luân nhiều!

Vừa nói chàng vừa bước qua bên tả hai bước, tay phải cầm cành mai phất ra, một luồng kình lực đánh ngay vào sau lưng lão nhân lùn. Chiêu này cả phương vị lẫn thời khắc đều hết sức nhịp nhàng khít khao, lão nhân lùn không điều khiển được thân mình, cương đao nhắm ngay vai Ban Thục Nhàn chém xuống. Thì ra Trương Vô Kỵ đã sử dụng tâm pháp Càn khôn đại na di, cũng theo đúng phương vị bát quái, đẩy luôn thế đao của lão nhân lùn ra chỗ khác. Ban Thục Nhàn vội thu kiếm về đỡ, nghe "vù!" một tiếng, đã thấy đao của lão nhân cao cũng chém tới.

Hà Thái Xung vội bước lên bảo vệ phu nhân, giơ kiếm gạt luôn đao của lão nhân cao ra ngoài. Trương Vô Kỵ liền rút tay về đánh tới, dẫn đao của lão nhân lùn đâm vào bụng dưới Hà Thái Xung. Ban Thục Nhàn giận lắm, soẹt soẹt soẹt ba kiếm, áp đảo lão nhân lùn đến cuống cả chân tay. Lão nhân lùn kêu lên:

– Đừng mắc kế của tiểu tử này.

Hà Thái Xung lập tức hiểu ra, quay kiếm lại đâm vào Trương Vô Kỵ. Trương Vô Kỵ xoay chuyển càn khôn, thế kiếm đi đến giữa đường liền đổi hướng, nghe "phập!" một tiếng, chém luôn vào tay trái lão nhân cao. Lão nhân cao đau quá kêu lên, giơ đao nhắm ngay đầu Hà Thái Xung bổ xuống, lão nhân lùn vội vung đao gạt ra, quát lên:

– Sư đệ đừng có lộn xộn, đó là tên tiểu tử này tác quái, ối chà..

Thì ra ngay lúc đó, Trương Vô Kỵ đã chuyển hướng kiếm của Ban Thục Nhàn đâm vào sau vai lão nhân lùn. Chỉ trong khoảnh khắc, Hoa Sơn nhị lão đều trúng kiếm thọ thương, người đứng xem chung quanh náo loạn cả lên. Chỉ thấy Trương Vô Kỵ phất nhẹ cành mai, tay đi xéo theo, dẫn đao của lão nhân cao chém vào mạng sườn Ban Thục Nhàn, còn kiếm Hà Thái Xung đâm vào lưng lão nhân lùn. Đấu thêm vài hiệp nữa, chẳng hiểu sao kiếm của phu phụ Hà Thái Xung gạt lẫn nhau, song đao của hai lão nhân cũng người nọ chém người kia.

Tới lúc này mọi người đã thấy rõ là Trương Vô Kỵ dẫn dắt khiến cho binh khí của bốn người kia mất hết phương hướng, thế nhưng chàng sử dụng võ công nào thì không ai biết được. Chỉ có Dương Tiêu đã từng học chút công phu sơ bộ tâm pháp Càn khôn đại na di nên nhìn ra được chút manh mối, nhưng cũng không tin nổi là chàng thanh niên này lại học được thần công.

Trên đấu trường phu phụ đánh lẫn nhau, đồng môn chém loạn xạ, càng lúc càng ác liệt. Ban Thục Nhàn không ngớt hô hoán:

– Chuyển qua Vô Vọng, tiến qua vị trí Mông, cướp lấy chỗ Minh Di..

Thế nhưng tâm pháp Càn khôn đại na di bốn phương tám hướng chỗ nào cũng bao trùm cả, dù bọn họ có chuyển biến thay đổi phương vị cách nào, dù cố gắng cách mấy thì mỗi khi sử dụng đao kiếm đều không sao tự điều khiển được, mà vẫn chém vào người phe mình. Lão nhân cao kêu lên:

– Sư ca ra tay nhẹ một chút được không?

Lão nhân lùn đáp:

– Ta chém tên tiểu tặc chứ có chém ngươi đâu.

Lão nhân cao lại lớn tiếng:

– Sư ca coi chừng, đao này đệ chém e rằng sẽ đổi hướng..

Quả nhiên không ngoài dự liệu, nói chưa dứt câu, thanh đao trên tay ông ta đã chém xiên xiên vào ngang lưng lão nhân lùn. Hà Thái Xung nói:

– Nương tử, tên tiểu tặc này..

Ban Thục Nhàn vứt kiếm xuống đất, nghe "keng" một tiếng. Lão nhân lùn thấy vậy hiểu ngay, nếu như dùng quyền cước bắt nắm, tên tiểu tử này chắc không thể nào sử dụng tà pháp, bèn ném đơn đao xuống, giơ tay đấm vào ngực Trương Vô Kỵ. Nào ngờ nghe "vù" một tiếng, trường kiếm của Hà Thái Xung đã đâm luôn vào mặt lão. Lão nhân lùn trong tay không có binh khí vội vàng hụp xuống né tránh. Ban Thục Nhàn kêu lên:

– Vứt hết binh khí!

Hà Thái Xung vung tay một cái, ném trường kiếm ra tận xa. Lão nhân cao cũng bắt chước vứt đao đi, dùng cầm nã thủ chộp vào sau ót Trương Vô Kỵ. Năm ngón tay bóp chặt, trong tay đã bắt được một vật cứng ngắc, nhìn lại hóa ra cương đao của chính mình. Thì ra Trương Vô Kỵ đã bắt lấy đao mà nhét lại vào tay lão. Lão nhân cao kêu lên:

– Ta không dùng binh khí!

Rồi cố sức vứt xuống đất. Trương Vô Kỵ nghiêng người bắt lấy, lại nhét vào tay ông ta. Qua mấy lần như thế, lão nhân cao không sao vứt bỏ binh khí được, sợ hết hồn, càng nghĩ càng thấy lạ lùng, bật cười khà khà nói:

– Con bà nó, tiểu tử thối tha này đúng là tà môn.

Khi đó lão nhân lùn và phu phụ Hà Thái Xung cùng thi triển quyền cước, chia ra tấn công Trương Vô Kỵ. Quyền chưởng của hai phái Hoa Sơn, Côn Luân đâu kém gì binh khí, mỗi cú đấm, mỗi cú đá đều có uy lực rất lớn. Thế nhưng Trương Vô Kỵ lại cực kỳ linh hoạt, luồn lách chỉ trong đường tơ kẽ tóc, thỉnh thoảng phản kích lại một chiêu nửa thức, lại làm cho ba người đối phương phải tránh né thật khó khăn.

Đến khi đó, bốn người biết rằng chẳng hi vọng gì thắng được Trương Vô Kỵ, ai cũng chỉ mong rút lui cho êm thấm mà thôi. Lão nhân cao đột nhiên hét lên:

– Xú tiểu tử, coi ám khí đây!

Ông ta khạc một cái, một bãi đờm nhắm ngay Trương Vô Kỵ phun tới. Trương Vô Kỵ nghiêng mình tránh qua, lão nhân cao nhân cơ hội đó ném cương đao về phía sau, cười nói:

– Để xem ngươi.. ối chà..

Thì ra Trương Vô Kỵ tay trái kéo luôn Ban Thục Nhàn tới, nghe "bẹt" một tiếng, cục đờm của lão nhân cao trúng ngay giữa mặt mụ. Ban Thục Nhàn giận quá, mười ngón tay chồm tới trảo Trương Vô Kỵ. Lão nhân lùn cũng một tay chộp tới, chặn đường không cho Trương Vô Kỵ tháo lui. Lão nhân cao và Hà Thái Xung thấy có cơ hội tốt liền cùng xông lên, chắc ăn lần này bao vây được rồi, thể nào cũng bắt được đối phương, nên cả bọn tay nắm, bóp, bẻ, vặn, tuy xem ra có chiều bất nhã, nhưng như vậy Vô Kỵ không cách nào chạy thoát được.

Hai tay Trương Vô Kỵ đồng thời thi triển tâm pháp Càn khôn đại na di, hú lên một tiếng, thân hình bay vọt lên cao, trên không trung lượn một vòng, nhẹ nhàng đáp xuống bên ngoài cả trượng. Chỉ thấy Hà Thái Xung ôm lưng vợ, Ban Thục Nhàn túm vai chồng, còn hai lão nhân ôm chặt lấy nhau, cả bốn người đang lăn lộn dưới đất. Phu phụ họ Hà thấy không ổn, vội buông tay nhỏm dậy. Lão nhân cao kêu lên:

– Bắt được rồi, xem lần này ngươi chạy đi đâu? Ối ối, không phải..

Lão nhân lùn giận dữ quát:

– Bỏ ra mau!

Lão nhân cao đáp:

– Sư ca không bỏ tay ra, làm sao đệ bỏ ra được?

Lão nhân lùn nói:

– Nói bớt đi một câu có được không?

Lão nhân cao đáp:

– Bớt đi một câu, dĩ nhiên là được, có điều..

Lão nhân lùn buông tay ra, hậm hực nói:

– Đứng lên!

Lão nhân cao đối với sư ca vốn e ngại, vội vàng rụt tay lại, cả hai cùng nhỏm dậy. Lão nhân cao nói:

– Này, xú tiểu tử, cái này không phải là tỷ võ, chỉ là tà pháp, đâu có gì là anh hùng?

Lão nhân lùn biết rằng nếu đấu nữa chỉ càng thêm bẽ mặt, đành ôm quyền hướng về Trương Vô Kỵ nói:

– Các hạ thần công cái thế, lão phu từ khi cha sinh mẹ đẻ đến giờ chưa từng gặp, phái Hoa Sơn xin chịu thua.

Trương Vô Kỵ hoàn lễ đáp:

– Xin lượng thứ, vãn bối may mắn, nếu không được bốn vị tiền bối thủ hạ dung tình, hẳn đã chết vì chính phản Lưỡng Nghi đao kiếm rồi.

Câu nói đó chẳng phải nói khiêm tốn lấy lòng, nếu Chu Chỉ Nhược không chỉ điểm, chàng hẳn khó lòng sống sót. Dẫu rằng sau cùng đã thắng, đối với võ công của bốn người này quả không dám coi thường chút nào, nhưng cũng biết cả bốn đều xuất toàn lực, thành thử "thủ hạ dung tình" cốt để cho dễ nghe mà thôi.

Lão nhân cao đắc ý, mặt mày hớn hở nói:

– Thế sao? Ngươi cũng biết thắng chẳng qua là do may mắn thôi ư?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Xin hỏi tôn tính đại danh của hai vị? Ngày sau nếu gặp lại cho tiện đường xưng hô.

Lão nhân cao đáp:

– Sư ca của ta là Uy Chấn..

Lão nhân lùn quát lớn:

– Câm ngay!

Rồi quay sang Trương Vô Kỵ nói:

– Tướng của đội quân bại trận, thẹn không có đất mà dung, tiện danh đâu đáng nhắc tới?

Nói xong lão ta quay trở lại đám người của phái Hoa Sơn. Lão nhân cao phủi tay, cười đáp:

– Thắng bại là chuyện thường của binh gia, lão đây chẳng coi vào đâu cả.

Nói đoạn, ông ta nhặt hai thanh đao dưới đất, lững thững đi về.

Trương Vô Kỵ đi đến bên cạnh Tiên Vu Thông, cúi xuống điểm hai nơi huyệt đạo của hắn, nói:

– Đại sự ở đây xong rồi, ta sẽ chữa độc cho các hạ, bây giờ tạm cho độc khí khỏi đi vào tâm khẩu đã.

Ngay lúc đó, bỗng thấy gió lạnh thổi vào sau lưng, hơi thấy đau, Trương Vô Kỵ giật mình kinh hãi, không kịp tránh né, đầu ngón chân nhún một cái, thân hình chênh chếch phóng vút lên. Chỉ nghe hai tiếng "vút" nho nhỏ, tiếp theo là một tiếng rú vang lên thảm thiết, chàng quay đầu nhìn lại, thấy hai thanh kiếm của Hà Thái Xung và Ban Thục Nhàn đã cắm vào ngực Tiên Vu Thông.

Thì ra phu phụ Hà Thái Xung tung hoành nửa đời người, nay trước đám đông thua về tay một thanh niên hậu bối, dù cách nào cũng không thể nuốt mối căm hờn. Khi hai người nhặt trường kiếm lên, thấy Trương Vô Kỵ đang cúi xuống điểm huyệt Tiên Vu Thông, liền đưa mắt nhìn nhau, tâm ý tương thông, cùng gật đầu, đột nhiên ra chiêu "Vô thanh vô sắc", cùng phóng kiếm vào lưng Trương Vô Kỵ.

Chiêu Vô thanh vô sắc này là một tuyệt chiêu trong kiếm học của phái Côn Luân, sử dụng phải có hai người, công lực tương đương, nội kình tương đồng. Khi kiếm chiêu tung ra, kình lực hai bên vừa hay trái ngược nhau, nên những lực kích, tiếng xé gió của hai thanh kiếm, đều tự triệt tiêu lẫn nhau. Lộ kiếm chiêu này vốn dùng khi chiến đấu trong đêm tối không cho đối phương nghe được tiếng gió mà phân biệt vị trí, trước khi hạ thủ hoàn toàn không có hình tích gì, đến khi kiếm đụng vào người mới biết, còn vào ban ngày nếu dùng để đánh lén từ sau lưng sẽ khiến đối phương không sao phòng bị được.

Nào ngờ Trương Vô Kỵ tuy tâm ý bất động Cửu dương thần công tự nhiên hộ thân, biến chiêu cực nhanh, tuy vậy áo sau lưng vẫn bị rách một đường dài, thực là nguy hiểm. Phu phụ họ Hà không thu kiếm về kịp, khiến song kiếm đâm chết tươi chưởng môn phái Hoa Sơn.

Trương Vô Kỵ đáp xuống đất rồi, nghe tiếng xôn xao, la lối. Vợ chồng họ Hà đâm lao phải theo lao, song kiếm cùng tấn công Trương Vô Kỵ, nghĩ thầm: "Cái trò đê tiện đâm sau lưng thì mọi người ai cũng đã nhìn thấy rồi, từ nay về sau còn gì thể diện nữa? Không đâm chết được y thì mình còn mặt mũi nào sống tiếp nữa?"

Thành thử chiêu nào cũng đều là đánh thí mạng. Trương Vô Kỵ tránh được mấy nhát, thấy đường kiếm nào cũng muốn hai bên cùng chết, quả thực khó có thể yên ổn ngừng tay. Chàng nghĩ ra một mẹo, bèn ngồi thụp xuống, tay trái nhặt ngay một cục đất, một mặt né tránh kiếm chiêu, một mặt dùng mồ hôi tay vo thành hai viên thuốc nho nhỏ. Khi Hà Thái Xung từ phía bên tả, Ban Thục Nhàn từ phía phải tấn công tới, chàng liền nhảy vọt tới chỗ thi thể Tiên Vu Thông, giả vờ mò trong bọc của y mấy cái, khi quay đầu lại thì song chưởng chia ra đánh vào hai người. Kỳ này chàng sử dụng đến sáu, bảy thành công lực, phu phụ họ Hà thấy tức ngực, khó thở dường như muốn ngộp, vội vàng há mồm để thở. Trương Vô Kỵ vung tay một cái, hai viên đất chui tọt vào mồm hai người, thuận theo luồng kình lực mãnh liệt tuột luôn xuống cổ họng.

Phu phụ Hà Thái Xung thấy vật vừa chui vào họng mình là lấy từ trong người Tiên Vu Thông, nghĩ thầm người này thích dùng độc dược độc trùng, thì trong người đâu có thứ gì tốt lành, trong bụng liền kinh hoảng, liên tiếp ho khạc, nhưng không làm sao nhả được viên đất ra. Hai người mặt tái mét, nghĩ lại thảm trạng Kim Tàm trùng độc mà Tiên Vu Thông vừa phải chịu, Ban Thục Nhàn gần như muốn ngất đi.

Trương Vô Kỵ lạnh lùng nói:

– Vị Tiên Vu chưởng môn này nuôi Kim Tàm, giấu trong bao sáp, hai vị mỗi người uống một viên. Nếu như thổ được ra ngay, nhân lúc bao sáp chưa tan, may ra còn cứu được.

Nghe nói như thế phu phụ họ Hà cố trấn tĩnh, vội vận nội lực cố hết sức rặn để nôn viên thuốc. Hai người nội công cao siêu, ọe hai ba lần cố nhả cho được độc hoàn ra, nhưng lúc này đã tan vào dịch vị, đâu có còn gì?

Lão nhân cao của phái Hoa Sơn chạy đến coi, chỉ chỉ trỏ trỏ cười nói:

– Ối chao, đây là cứt con Kim Tàm, Kim Tàm vừa mới vào trong bụng đã ỉa ngay rồi.

Ban Thục Nhàn vừa sợ vừa tức, chưa có chỗ phát tiết, lập tức giơ tay đánh ngay một chưởng. Lão nhân cao hụp xuống tránh khỏi, nhảy trở ra, lớn tiếng nói:

– Con mụ ngang ngược phái Côn Luân kia, ngươi giết chết chưởng môn bản phái, phái Hoa Sơn không thể bỏ qua cho ngươi đâu.

Vợ chồng Hà Thái Xung nghe ông ta nói thế, trong bụng càng lo thêm, nghĩ thầm Tiên Vu Thông tuy gian ác nhưng dẫu sao cũng là chưởng môn phái Hoa Sơn, mình lỡ tay giết chết hắn, tạo nên một vụ án lớn trong võ lâm. Thế nhưng Kim Tàm trùng độc đã vào bụng rồi, chẳng còn sống được bao lâu, chuyện gì thôi cũng đành chịu vậy. Xem ra chỉ có tên tiểu tử Trương Vô Kỵ này là giải được thuốc độc, nhưng trước đây mình đã tệ bạc với y, y lẽ nào chịu ra tay cứu mạng?

Trương Vô Kỵ cười nhạt nói:

– Hai vị không phải hoảng sợ, Kim Tàm tuy đã vào bụng rồi, nhưng độc tính phải sáu canh giờ sau mới bắt đầu phát tác, chuyện lớn ở đây xong rồi, vãn bối sẽ tìm cách cứu chữa cho. Chỉ mong Hà phu nhân không ép tại hạ uống rượu độc nữa là được rồi.

Vợ chồng Hà Thái Xung mừng quá, tuy bị chàng mắng xéo một câu, nhưng cũng không dám để bụng, nhưng lời cám ơn cũng không dám nói ra, chỉ bẽn lẽn đi về chỗ. Trương Vô Kỵ nói:

– Hai vị đến phái Không Động xin bốn viên Ngọc động hắc thạch đơn uống đi, để cho độc tính tạm thời không chạy vào tim.

Hà Thái Xung cúi mặt nói:

– Xin đa tạ đã chỉ giáo.

Lập tức sai đại đệ tử đến phái Không Động xin thuốc uống ngay. Trương Vô Kỵ cười thầm, thứ "Ngọc động hắc thạch đơn" này tuy là thuốc giải dược thật, nhưng uống vào thì hai canh giờ sau liền bụng đau như bị cắt ruột, thành thử chẳng bao lâu vợ chồng họ Hà thấy quặn bụng, chỉ nghĩ là Kim Tàm trùng độc phát tác. Chẳng qua Trương Vô Kỵ chỉ răn đe sơ sơ cho họ hoảng sợ một phen, nếu như để báo thù lúc trước, lẽ nào chỉ nhẹ nhàng như thế? Thế nhưng từ nay trở về sau, chỉ cần không cho họ giải dược, nếu như có cùng các phái phân tranh, phái Côn Luân thể nào cũng phải đứng về phe mình. Nhớ năm xưa chàng dùng "Tang bối hoàn" gọi là "Tì cưu hoàn" để cho Ngũ cô uống, nhưng vì nói ra chân tướng quá sớm, suýt nữa thì mất mạng dưới tay Hà Thái Xung, lần này nhất định không đi lại vết xe đổ nữa.

*

* *

Ở bên kia, Diệt Tuyệt sư thái nói với Tống Viễn Kiều:

– Tống đại hiệp, trong sáu đại môn phái chỉ còn lại quý môn phái và Nga Mi chúng tôi, lão ni là phận nữ lưu, đều do Tống đại hiệp chủ trì đại cục.

Tống Viễn Kiều nói:

– Tại hạ đã cùng Ân giáo chủ tỉ thí quyền cước nhưng không thắng nổi. Sư thái kiếm pháp thông thần, hẳn sẽ chế phục được gã tiểu bối này.

Diệt Tuyệt sư thái cười nhạt một tiếng, rút phắt Ỷ Thiên kiếm đeo trên lưng, từ từ đi ra. Du Liên Châu Du nhị hiệp của phái Võ Đang từ nãy vẫn chăm chú xem xét động tĩnh của Vô Kỵ, rất lo lắng, lúc này nghĩ thầm: "Diệt Tuyệt sư thái kiếm pháp tuy tinh, chưa chắc đã hơn được bốn người của Hoa Sơn, Côn Luân liên thủ, nếu như bà ta không xong, phái Võ Đang cũng chế phục không được, thì cả sáu phái đều thua hết, ta phải xem hư thực thế nào". Du nhị hiệp liền rảo bước tiến vào trong sân, nói:

– Sư thái, để cho năm sư huynh đệ chúng tôi vào thử xem công lực tiểu huynh đệ này đến đâu, sư thái sau cùng chỉ ra tay một lần là thắng ngay.

Mấy câu đó ý thật rõ ràng, phái Võ Đang trước nay vẫn nổi tiếng về nội lực bền bỉ, từ Tống Viễn Kiều đến Mạc Thanh Cốc, năm người nếu luân phiên tỉ đấu với Trương Vô Kỵ, dẫu cho không thắng được, nhưng dù là cao thủ bậc nhất trên đời mà liên tiếp đấu với Võ Đang ngũ hiệp thì cũng phải mỏi mệt kiệt sức, thành thế cung cứng dương quá đà, đấu với Diệt Tuyệt sư thái kiếm thuật vô song thì phái Nga Mi thể nào cũng phải thắng.

Diệt Tuyệt sư thái hiểu ngay dụng ý của Du Liên Châu, nghĩ thầm: "Phái Nga Mi lẽ nào lại phải chịu ơn phái Võ Đang? Nếu thế thì dù có thắng chăng nữa cũng chẳng vinh hạnh gì. Chưởng môn phái Nga Mi lại phải lợi dụng chuyện đó để đối phó với một tiểu bối hậu sinh hay sao?" Bà ta xưa nay vốn tâm cao khí ngạo, mục hạ vô nhân, tuy thấy Trương Vô Kỵ võ công kinh người, nhưng cho rằng người các phái ra đấu toàn là đồ bị thịt, trong khi tiểu tử này hôm trước mình vừa ra tay là bắt được ngay. Về sau khi mình ra tay tàn sát giáo đồ Ma giáo của Nhuệ Kim kỳ, tiểu tử này chen vào can thiệp, nội lực tuy lạ lùng, nhưng cũng đâu có gì là ghê gớm?

Nghĩ thế bèn phất tay áo một cái, nói:

– Xin mời Du nhị hiệp trở về. Ỷ Thiên kiếm của lão ni đã rút ra, không thể vô cớ cho trở vào bao.

Du Liên Châu nghe bà ta nói thế, chỉ còn nước ôm quyền chào, nói:

– Vâng.

Rồi quay trở về phái Võ Đang. Diệt Tuyệt sư thái giơ kiếm ngang ngực, mũi kiếm chênh chếch hướng lên trời, đi tới trước mặt Trương Vô Kỵ. Thuộc hạ của Minh giáo chết dưới thanh kiếm Ỷ Thiên không biết bao nhiêu, lúc này thấy bà ta ra đấu trường, người nào người nấy đều căm phẫn, lớn tiếng xôn xao. Diệt Tuyệt sư thái cười khẩy nói:

– Nhốn nháo cái gì? Để ta lo liệu xong tiểu tử này, sẽ thanh toán các ngươi từng đứa một, bộ sợ chết chưa được sớm hay sao?

Ân Thiên Chính biết thanh kiếm Ỷ Thiên của Diệt Tuyệt sư thái rất khó đối phó, nhiều hảo thủ của bản giáo chịu chưa nổi một hiệp thì binh khí đã bị chặt đứt, người bị chém chết ngay, nên hỏi:

– Tăng thiếu hiệp dùng binh khí gì?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Vãn bối không có binh khí. Tiền bối thử xem đối phó với bảo kiếm đó cách nào mới xong?

Thanh kiếm Ỷ Thiên sắc bén dị thường, chính mắt chàng đã thấy, nghĩ đến không lạnh mà run, trong bụng không biết phải tính toán thế nào. Ân Thiên Chính lấy ra một thanh trường kiếm từ cái bọc bên mình, nói:

– Thanh Bạch Hồng kiếm này ta tặng cho thiếu hiệp. Thanh kiếm này tuy không nổi danh như thanh kiếm Ỷ Thiên của lão tặc ni, nhưng cũng là một món binh khí hiếm có trên giang hồ.

Nói xong ông giơ tay búng vào lưỡi kiếm một cái, lưỡi kiếm bèn cong lại, rồi bật ngược trở ra, kêu lên u u, âm thanh trong vắt. Trương Vô Kỵ cung kính nhận lấy, nói:

– Đa tạ tiền bối.

Ân Thiên Chính nói:

– Thanh kiếm này theo ta đã lâu, hơn mười năm nay không còn dùng tới. Ỷ vào binh khí sắc bén để thủ thắng, ha ha, có gì là anh hùng hảo hán chứ? Hôm nay mong được thấy nó uống máu cổ họng của lão tặc ni, lão phu có chết cũng không còn ân hận gì nữa.

Trương Vô Kỵ không trả lời, nghĩ thầm: "Ta quyết không thể giết sư thái này được".

Chàng cầm thanh Bạch Hồng kiếm, quay đầu lại, tiến lên mấy bước, mũi kiếm chỉ xuống đất, hai tay ôm cán kiếm, nói với Diệt Tuyệt sư thái:

– Kiếm pháp của vãn bối thật tầm thường, không thể nào là địch thủ của sư thái được, quả thực không dám cùng tiền bối tỉ đấu. Tiền bối đã từng tha cho không giết thuộc hạ của Minh giáo trong Nhuệ Kim kỳ, lẽ nào không nương tay thêm một lần nữa ư?

Hai hàng lông mày dài của Diệt Tuyệt sư thái sụp hẳn xuống, lạnh lùng đáp:

– Chúng tặc của Nhuệ Kim kỳ là do ngươi cứu, chứ dưới tay Diệt Tuyệt sư thái ta vốn quyết chẳng tha ai. Ngươi thắng được trường kiếm trong tay ta, lúc đó muốn gì cũng chưa muộn.

Những thuộc hạ của Minh giáo trong Nhuệ Kim, Cự Mộc, Hồng Thủy, Liệt Hỏa, Hậu Thổ Ngũ Hành kỳ liền xôn xao mắng chửi, kêu lên:

– Lão tặc ni, ngươi có giỏi thì tay không đánh với Tăng thiếu hiệp xem nào.

– Kiếm pháp của nhà ngươi có gì ghê gớm đâu, chỉ ỷ vào thanh kiếm sắc thôi.

– Tăng thiếu hiệp kiếm pháp giỏi hơn ngươi nhiều, ngươi có giỏi thì thay một thanh kiếm thường, nếu đỡ được ba chiêu thì phái Nga Mi mới gọi là cao minh.

– Cái gì mà ba chiêu? Sợ một chiêu nửa thức cũng chưa xong nữa là.

Diệt Tuyệt sư thái thần sắc trơ trơ, không để ý gì đến những lời khích bác đó, lớn tiếng nói:

– Tiến chiêu đi.

Trương Vô Kỵ chưa từng luyện qua kiếm pháp, lúc này phải ra chiêu tấn công, chân tay lúng túng, nghĩ đến Lưỡng Nghi kiếm pháp của bọn Hà Thái Xung mới rồi quả là tinh diệu, nên xeo xéo đâm ra một kiếm. Diệt Tuyệt sư thái hơi lạ lùng, nói:

– Tiêu bích đoạn vân của phái Hoa Sơn.

Thanh kiếm Ỷ Thiên hơi lắc một cái, không thèm đỡ nhát kiếm của đối phương, chiêu đầu tiên đã tấn công liền, mũi kiếm đâm ngay vào huyệt Đan Điền của Trương Vô Kỵ, ra tay vừa độc địa, vừa nhanh nhẹn không ai ngờ nổi.

Trương Vô Kỵ kinh hoảng, lách qua tránh né, chỉ thấy kiếm của Diệt Tuyệt sư thái lóe lên một cái, mũi kiếm đã ngóc lên phóng vào yết hầu chàng. Trương Vô Kỵ hoảng hốt vội lăn xuống đất, vừa nhỏm dậy đã cảm thấy khí lạnh ùa tới sau cổ mình, biết là không ổn, đầu ngón chân phải vội đạp một cái, thân hình bay vọt lên không.

Cảnh tượng đó quả thực là thoát chết trong đường tơ kẽ tóc, mọi người chung quanh ai nấy hò reo, chỉ thấy Diệt Tuyệt sư thái không đợi chàng rơi xuống đã nhẹ nhàng phi thân lên, giữa lưng chừng trời giơ kiếm múa tới, kiếm quang bao phủ một vòng mấy thước chung quanh.

Trương Vô Kỵ còn đang ở trên không trung, không cách nào tránh né được, trong vòng vây của Diệt Tuyệt sư thái, nếu như thân hình rơi xuống một thước thì hai chân ắt sẽ đứt ngay, còn nếu xuống đến ba thước thì sẽ bị chặt đứt ngang hông.

Tình cảnh đó nguy hiểm vạn phần, chàng không còn kịp suy nghĩ gì nữa, vội chĩa mũi kiếm Bạch Hồng điểm luôn vào đầu kiếm Ỷ Thiên, thanh kiếm lập tức cong lại, nghe "coong" một tiếng, thân kiếm bật ra, chàng đã mượn sức vọt lên cao.

Diệt Tuyệt sư thái lập tức xông tới tấn công, soẹt soẹt soẹt đâm luôn ba nhát, đến chiêu thứ ba thì thân hình Trương Vô Kỵ đã rơi xuống thấp, chỉ còn nước vung kiếm ra gạt, nghe "keng" một tiếng, thanh Bạch Hồng kiếm trong tay đã gãy làm hai. Tay phải chàng thuận thế nhắm ngay đỉnh đầu Diệt Tuyệt sư thái đánh xuống, lão ni cô liền vung kiếm lên toan chặt đứt cổ tay Trương Vô Kỵ.

Trương Vô Kỵ nhắm thật chính xác, búng luôn một cái vào sống kiếm, thân hình lại bay vọt ra ngoài. Diệt Tuyệt sư thái cánh tay tê dại, hổ khẩu nóng ran, trường kiếm bị Trương Vô Kỵ búng phải tưởng như muốn tuột ra, trong lòng chấn động. Trương Vô Kỵ rơi xuống cách xa hơn hai trượng, tay cầm thanh kiếm gãy, ngơ ngẩn như kẻ mất hồn.

Mấy chiêu đó thật nhanh như chim cắt bắt mồi, chỉ trong nháy mắt mà Diệt Tuyệt sư thái đã công liên tiếp tám chiêu, chiêu nào cũng trí mạng độc địa. Trương Vô Kỵ nhất nhất phá giải trong đường tơ kẽ tóc, tám lần trong cái chết tìm đường sống. Người tấn công đã tinh xảo không đâu sánh bằng, người né tránh lại càng lạ lùng kỳ quái. Không ai dám tin con người có thể làm nổi điều đó. Người tấn công tựa hồ thiên tướng ra oai, kẻ né tránh thật như quỷ mị biến hình, khác gì sấm vang chớp giật, tuy qua đã lâu rồi nhưng người người vẫn còn kinh hãi, ai ai cũng nín thở, tim như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực.

Qua một lúc lâu, tiếng hoan hô vang cả trời đất bấy giờ mới nổi lên. Qua tám chiêu tấn công, tám chiêu tránh né, Trương Vô Kỵ hoàn toàn chỉ chống đỡ, trường kiếm trong tay lại bị chém gãy, rõ ràng ở vào thế hạ phong, nhưng kiếm Ỷ Thiên trong tay Diệt Tuyệt sư thái bị chàng búng một cái khiến cho nửa người bà ta lập tức tê bại, Trương Vô Kỵ vì ít kinh nghiệm đối địch, nếu không ngay lúc đó thừa thế phản kích thì chàng đã thắng rồi. Diệt Tuyệt sư thái trong bụng thấy thật may và không khỏi ngầm kinh hãi, nói:

– Ngươi thay binh khí khác, ra đây tái đấu.

Trương Vô Kỵ nhìn thanh kiếm gãy trong tay, nghĩ thầm: "Ông ngoại tặng cho ta thanh bảo kiếm này, ta vừa ra tay đã bị hủy, đối với lão nhân gia thực không phải tí nào. Đâu còn bảo đao lợi kiếm nào có thể chống đỡ được với kiếm Ỷ Thiên?"

Chàng còn đang trầm ngâm, bỗng thấy Chu Điên kêu lên:

– Ta có một thanh bảo đao, thiếu hiệp dùng nó đấu với kiếm của lão tặc ni một phen. Lại đây mà nhận.

Trương Vô Kỵ nói:

– Kiếm Ỷ Thiên quá ư sắc bén, chỉ sợ làm hỏng mất bảo đao của tiền bối.

Chu Điên nói:

– Hỏng thì hỏng cũng chẳng sao! Ngươi đấu không lại lão tặc ni, bọn ta ai ai cũng về chầu trời cả, còn giữ sao được bảo đao?

Trương Vô Kỵ nghĩ lại thấy quả không sai, bèn đi đến tiếp lấy thanh đao. Dương Tiêu hạ giọng nói:

– Trương công tử, công tử nên tấn công bà ta, đừng chống đỡ nữa.

Trương Vô Kỵ thấy ông ta gọi mình là "Trương công tử", hơi ngạc nhiên, nhưng hiểu ngay, Dương Bất Hối đã nhận ra mình, thể nào chẳng nói cho cha hay, liền nói:

– Đa tạ tiền bối đã chỉ giáo.

Vi Nhất Tiếu cũng nói nhỏ:

– Hãy thi triển khinh công, đừng ngừng lại nửa bước.

Trương Vô Kỵ thật mừng, nói:

– Đa tạ tiền bối chỉ điểm.

Quang Minh sứ giả Dương Tiêu và Vi Bức Vương Vi Nhất Tiếu võ công cao thâm, đấu với Diệt Tuyệt sư thái chưa chắc đã thua, chỉ vì bị Viên Chân ám toán trọng thương nên một thân võ công không còn thi thố gì được. Thế nhưng đôi mắt vẫn còn tinh, những điều hai người chỉ cho Vô Kỵ chính là yếu quyết đối phó với chiêu thức bảo kiếm của Diệt Tuyệt sư thái.

Trương Vô Kỵ cầm đao trên tay, thấy thanh đao này nặng chừng hơn bốn mươi cân, ánh xanh lấp lánh, sống dày lưỡi mỏng, trên lưỡi đao có khắc hoa văn cổ kính, quả là một thanh đao lâu đời quý hiếm. Chàng nghĩ đến việc làm hỏng thanh kiếm Bạch Hồng tuy đáng tiếc thật, nhưng dẫu sao cũng là binh khí ông ngoại đã tặng cho mình, còn bảo đao này là vật sở hữu của Chu Điên, không thể làm hư trong tay mình nữa, nên quay lại nói:

– Sư thái, vãn bối xuất chiêu đây.

Chàng triển khai khinh công, như một làn khói bay vụt ra sau lưng Diệt Tuyệt sư thái; không đợi bà ta quay lại, chàng né bên phải, lách qua trái, chạy xuôi một vòng, chạy ngược một vòng, soẹt soẹt chém ra hai nhát.

Diệt Tuyệt sư thái vung kiếm chặn lại, đang toan biến thế ra chiêu, Trương Vô Kỵ đã biến mất đi đâu không biết. Ngay từ trước khi luyện tâm pháp Càn khôn đại na di, khinh công của chàng đã cao hơn Diệt Tuyệt sư thái rồi, lúc này càng chạy càng nhanh, chẳng khác gì gió bay cát chạy, chớp giật sấm ran, ngay cả Vi Nhất Tiếu khinh công vốn dĩ hơn hẳn quần hùng giờ nhìn thấy thế cũng phải ngầm kinh hãi. Chỉ thấy Trương Vô Kỵ bốn phương tám hướng chuyển động, thỉnh thoảng sấn vào chém một đao, chiêu số chưa xong đã lùi ra ngoài. Kỳ này công thủ đổi khác, Diệt Tuyệt sư thái không còn cơ hội phản kích một kiếm, chỉ vì Trương Vô Kỵ ngại rằng kiếm Ỷ Thiên quá sắc bén nên không dám tới thật gần. Chàng chạy qua mấy chục vòng rồi, Cửu dương chân khí trong người càng lúc càng sung vượng thêm, chân không bén đất, chẳng khác gì lăng không phi hành. Quần đệ tử phái Nga Mi thấy tình hình không ổn, nếu đấu dây dưa, thể nào sư phụ cũng thua. Tĩnh Huyền kêu lên:

– Hôm nay chúng ta vây diệt Ma giáo, không phải là tỉ võ tranh thắng. Các vị sư muội sư đệ cùng tiến lên chặn tiểu tử này lại, không để cho y dùng tà môn, mà phải đem bản lãnh chân thực đấu với sư phụ.

Nói xong cầm kiếm nhảy tới. Nam nữ đệ tử phái Nga Mi liền cùng xông lên, tay cầm binh khí, chặn hết bốn phương tám hướng, Chu Chỉ Nhược đứng ở góc phía tây nam. Đinh Mẫn Quân cười nhạt nói:

– Chu sư muội, chặn hay không là ở ngươi, mà nhường hay không cũng là ở ngươi đó.

Chu Chỉ Nhược vừa giận vừa thẹn, nói:

– Sao sư tỷ lại chỉ nói mình tôi là sao?

Ngay lúc đó, Trương Vô Kỵ đã vọt tới trước mặt, Đinh Mẫn Quân liền vung kiếm đâm ra. Trương Vô Kỵ tay trái vươn ra, khoắng một cái đoạt luôn thanh trường kiếm, tiện tay ném luôn vào Diệt Tuyệt sư thái. Diệt Tuyệt sư thái vung kiếm lên chém đứt thanh kiếm bay tới. Thế nhưng sức của Trương Vô Kỵ ném thanh kiếm đó rất mạnh, kiếm đã bị chém gãy rồi mà kình lực vẫn làm cho cổ tay lão ni cô tê rần. Trương Vô Kỵ vẫn không dừng bước, tay trái vung ra liên tiếp đoạt kiếm, liên tiếp ném vào. Phái Nga Mi kỳ này đi đánh Tây Vực toàn là cao thủ, nhưng mỗi khi chàng vung tay đoạt kiếm là không ai né được mảy may, khiến chàng cứ thò tay là được, mấy chục thanh trường kiếm bay lượn trên không, bạch quang lấp loáng, không ngừng phóng vào Diệt Tuyệt sư thái.

Diệt Tuyệt sư thái mặt lạnh như phủ một làn sương, thấy kiếm bay tới là chém gãy, đến lúc tay phải tê dại, vội chuyển kiếm sang tay trái. Công phu sử dụng kiếm bằng tay trái của bà ta không kém tay phải bao nhiêu, nên chỉ thấy kiếm bay tung tóe trên trời, có mảnh bay văng ra ngoài, kình lực vẫn còn mạnh mẽ, khiến người đứng chung quanh phải lật đật tháo lui. Chỉ trong giây lát, quần đệ tử phái Nga Mi ai nấy tay không, chỉ còn một mình Chu Chỉ Nhược trường kiếm vẫn còn trong tay chưa bị cướp mất.

Trương Vô Kỵ muốn báo ơn nàng mới rồi chỉ điểm, ngờ đâu như thế bỗng dưng nàng trở nên khác hẳn mọi người. Nàng biết rằng chẳng ổn, tiến lên định công kích vài chiêu, nhưng Trương Vô Kỵ thân pháp rất nhanh nhẹn, huống chi lại cố ý tránh nàng ra, không đến gần nàng trong vòng năm thước. Chu Chỉ Nhược hai má đỏ bừng, nhất thời chân tay luống cuống. Đinh Mẫn Quân cười khẩy nói:

– Chu sư muội, quả nhiên y đối với ngươi không như người khác.

Lúc này Trương Vô Kỵ tuy bị đám đệ tử phái Nga Mi ngăn trở, nhưng chàng chạy qua chạy lại như ở chỗ không người, thanh đao nhằm những nơi yếu hại của Diệt Tuyệt sư thái mà tấn công. Diệt Tuyệt sư thái ở vào thế chỉ còn chống đỡ, không còn cách nào phản kích được, trong bụng gấp gáp, lời ăn tiếng nói của Đinh Mẫn Quân từng tiếng lọt vào tai:

– Ngươi thấy sư phụ đang bị tiểu tử này công kích, sao không tiến lên tương trợ? Ngươi trong tay có kiếm, sao đứng như trời trồng, chắc trong bụng ngươi mong cho tiểu tử này đánh bại sư phụ chăng?

Diệt Tuyệt sư thái chợt hiểu ra: "Sao tiểu tử này lại không đoạt binh khí của Chỉ Nhược, không lẽ hai đứa ngầm cấu kết với nhau? Ta thử xem thì biết ngay". Bà ta liền lớn tiếng quát:

– Chỉ Nhược, ngươi dám khi sư diệt tổ sao?

Bà ta giơ kiếm lên nhắm ngay ngực Chu Chỉ Nhược đâm tới. Chu Chỉ Nhược rất kinh hãi, không dám giơ kiếm lên đỡ, chỉ kêu:

– Sư phụ, con.. con..

Tiếng "con" mới ra khỏi miệng, kiếm của Diệt Tuyệt sư thái đã đâm tới ngực rồi. Trương Vô Kỵ đâu biết nhát kiếm đó chỉ muốn để dò xét xem hai người có tình ý gì với nhau không, mũi kiếm tới ngực sẽ rút ngay về. Chàng chính mắt thấy bà ta ra tay ác độc giết chết Kỷ Hiểu Phù, biết rằng bà ta tru sát đồ đệ không chút dung tình, thế là chàng không kịp suy nghĩ, nhảy vọt tới, ôm ngay Chu Chỉ Nhược nhảy ra ngoài xa cả trượng.

Diệt Tuyệt sư thái liền chuyển khách thành chủ, trường kiếm rung động, đâm ngay vào sau lưng Trương Vô Kỵ. Trương Vô Kỵ nội lực tuy mạnh, nhưng chưa từng luyện qua khinh công nên không được như Vi Nhất Tiếu tay ôm một người mà chân không chậm lại, nghe thấy hơi gió từ sau lưng, chỉ còn nước quay đao lại gạt, nghe "cách" một tiếng, bảo đao trong tay đã cụt mất một nửa. Thanh kiếm trong tay Diệt Tuyệt sư thái liền tiện đà đâm tới, Trương Vô Kỵ vận kình, sử đến chín thành công lực ném ngược nửa thanh đao lại. Diệt Tuyệt sư thái liền cảm thấy ngộp thở, không dám giơ kiếm lên chặt, vội vàng phục xuống né tránh. Nửa thanh đao bay xẹt qua đỉnh đầu, kình phong khiến bà ta rát cả mặt. Trương Vô Kỵ không bỏ lỡ dịp may, chưa kịp bỏ Chu Chỉ Nhược xuống, lập tức lướt tới, tay phải vươn ra, múa chưởng đánh tới. Diệt Tuyệt sư thái chân phải khuỵu xuống, giơ kiếm lên toan chém cổ tay đối phương, Trương Vô Kỵ lập tức biến chưởng thành cầm nã, uốn tay giựt về, nhẹ nhàng đoạt luôn kiếm Ỷ Thiên.

Công phu biến chuyển chỉ trong một sát-na từ cương thành nhu, chính là thần công tâm pháp Càn khôn đại na di cấp thứ bảy, Diệt Tuyệt sư thái võ công tuy cao nhưng trong lúc đang đối phó với chưởng lực cương mãnh ép vào người, làm sao có thể hóa giải được thế chuyển sang cầm nã nhu hòa của Trương Vô Kỵ? Trương Vô Kỵ tuy đắc thắng, nhưng đối với một đại địch như Diệt Tuyệt sư thái vẫn phải hết sức cẩn thận, không dám khinh thị chút nào, liền cầm kiếm Ỷ Thiên chỉ thẳng vào yết hầu bà ta, sợ bà ta có kỳ chiêu thi triển, sau đó mới từ từ lùi trở lại hai bước.

Chu Chỉ Nhược giãy giụa kêu lên:

– Buông ta ra!

Trương Vô Kỵ kinh hoảng kêu lên:

– Ối, vâng!

Mặt chàng đỏ bừng, vội đặt nàng xuống đất, mũi ngửi thấy một mùi thơm nhè nhẹ, chỉ thấy làn tóc mềm mại của nàng quệt qua má, không khỏi liếc nàng một cái, thấy nàng dường như muốn ngất đi, vừa thẹn thùng vừa bối rối, tuy thần sắc sợ hãi nhưng ánh mắt đầu mày không khỏi có phần hoan hỉ.

Diệt Tuyệt sư thái từ từ đứng dậy, không nói nửa lời, nhìn Chu Chỉ Nhược, lại nhìn Trương Vô Kỵ, mặt mỗi lúc một tái đi. Trương Vô Kỵ quay ngược thanh kiếm nói với Chu Chỉ Nhược:

– Chu cô nương, bảo kiếm của quý môn phái, xin cô nương chuyển lại cho tôn sư.

Chu Chỉ Nhược đưa mắt nhìn sư phụ, thấy bà ta thần sắc trơ trơ, chẳng biết là nên nhận hay không nên nhận, trong một giây mà trong lòng chuyển qua bao nhiêu ý nghĩ: "Cục diện hôm nay tuy thật đáng xấu hổ, Trương công tử đãi ta như thế, sư phụ thể nào cũng cho là ta có tình ý với chàng, từ nay ta sẽ thành phản đồ của phái Nga Mi, thành một kẻ phản bội vô sỉ trong võ lâm. Trời đất mênh mông, ta biết đi đâu dung thân bây giờ? Trương công tử đối với ta như thế, nhưng ta quyết không thể vì chàng mà phản bội sư môn". Bỗng nghe Diệt Tuyệt sư thái hậm hực rít lên:

– Chỉ Nhược, đâm một kiếm giết nó đi!

Năm xưa Chu Chỉ Nhược theo Trương Tam Phong lên núi Võ Đang, Trương Tam Phong thấy núi Võ Đang không có nữ giới, thật là bất tiện, nên đưa thư giới thiệu nàng sang đầu nhập làm môn hạ Diệt Tuyệt sư thái. Nàng thiên tư rất thông tuệ, lại gặp đại biến cha mẹ đều qua đời từ nhỏ nên cố gắng học nghệ, tiến bộ thần tốc, được sư phụ hết sức thương yêu. Trong bảy năm qua, mỗi lời nói, mỗi cử động của sư phụ đối với nàng quả như thiên kinh địa nghĩa, trong đầu chưa bao giờ dám nghĩ đến chuyện trái lời, bây giờ nghe sư phụ quát lên, nàng cũng không kịp suy nghĩ, thuận tay cầm luôn thanh kiếm Ỷ Thiên đâm ra, nhắm ngay ngực Trương Vô Kỵ phóng tới.

Trương Vô Kỵ đâu ngờ Chu Chỉ Nhược lại hạ thủ với mình nên không tránh né, chỉ nháy mắt kiếm đã chạm vào ngực. Chàng giật mình kinh hãi, định tránh qua thì không còn kịp nữa. Chu Chỉ Nhược cổ tay run rẩy, nghĩ thầm: "Chẳng lẽ mình đâm chết chàng thực sao?" Trong cơn hoảng loạn, tay hơi chếch qua, trường kiếm lệch sang một bên, nghe soẹt một tiếng nhỏ, kiếm Ỷ Thiên đã đâm vào ngực bên phải Trương Vô Kỵ.

Chu Chỉ Nhược kinh hoảng kêu lên, vội rút kiếm ra, thấy mũi kiếm đỏ loang, máu từ trên ngực Trương Vô Kỵ vọt ra như suối, bốn bên tiếng xôn xao vang lên. Trương Vô Kỵ giơ tay chặn vết thương, thân hình lảo đảo, thần sắc thật cổ quái, tựa hồ muốn hỏi: "Cô nương quả thực muốn giết ta ư?" Chu Chỉ Nhược lắp bắp:

– Ta.. ta..

Nàng định bước tới xem vết thương cho chàng, nhưng ngần ngừ không dám, sau cùng ôm mặt chạy về. Nàng chỉ một kiếm đã thành công, thật ngoài dự liệu của mọi người. Tiểu Chiêu mặt tái nhợt, chen lên đỡ Trương Vô Kỵ, luôn miệng gọi:

– Công tử.. công tử..

Trương Vô Kỵ nhìn Tiểu Chiêu hỏi:

– Cô.. cô.. cô nương sao lại muốn giết ta?

Nhát kiếm đó cũng may lệch qua, không trúng tim, nhưng cũng làm lá phổi bên phải bị thương nặng. Chàng nói mấy tiếng, khom lưng ho sù sụ. Chàng bị thương nặng rồi, nhìn không phân biệt được Tiểu Chiêu và Chu Chỉ Nhược, máu tươi vẫn tiếp tục tuôn ra, ướt đẫm cả một nửa áo trên của Tiểu Chiêu. Người chung quanh không kể là sáu đại môn phái, Minh giáo hay Thiên Ưng giáo, nhất thời đều lặng ngắt không một tiếng động. Trương Vô Kỵ mới rồi liên tiếp đánh bại cao thủ các phái, võ công cao cường, lòng dạ quảng đại, không kể là bạn hay thù, ai nấy đều ngầm kính phục; bây giờ thấy chàng vô cớ bị Chu Chỉ Nhược đâm một kiếm thì không khỏi phẫn nộ, thấy kiếm Ỷ Thiên đâm thẳng vào ngực, thương thế rất nghiêm trọng, đều tự hỏi không biết nhát kiếm có trí mạng không. Tiểu Chiêu đỡ chàng từ từ ngồi xuống, lớn tiếng hỏi:

– Vị nào có thuốc kim sang tốt không?

Không Tính thần tăng của phái Thiếu Lâm vội vàng bước ra, lấy trong bọc ra một bao thuốc bột, nói:

– Ngọc Linh Tán của tệ phái là thánh dược trị thương.

Ông đưa tay xé luôn áo trước ngực Trương Vô Kỵ, thấy vết thương sâu đến mấy tấc, vội đắp Ngọc Linh Tán vào, nhưng máu vẫn túa ra, trôi hết cả thuốc. Không Tính không biết làm sao, vội hỏi:

– Làm thế nào đây? Làm thế nào đây?

Phu phụ Hà Thái Xung rất bồn chồn, hai người nghĩ mình đã uống phải Kim Tàm trùng độc, nếu để Trương Vô Kỵ trọng thương chết đi, hai phu phụ không còn ai cho thuốc giải, cũng không thể nào sống được. Hà Thái Xung liền chen đến trước mặt Trương Vô Kỵ, hỏi gấp:

– Kim Tàm trùng độc làm sao giải cứu? Nói mau, nói mau.

Tiểu Chiêu khóc nói:

– Cút ra! Ông hỏi cái gì? Trương công tử nếu không sống được, mọi người đều chết hết.

Nếu như bình thời, thân phận cao quý như Hà Thái Xung, đâu có để cho một tiểu tì áo xanh la lối mình như thế. Thế nhưng lúc này tình hình gấp gáp, lão ta vẫn liên tiếp hỏi gặng:

– Kim Tàm trùng độc làm sao giải cứu?

Không Tính cáu quá quát lên:

– Thiết Cầm tiên sinh, nếu ông không đứng tránh ra, lão nạp sẽ chẳng nể nang gì đâu.

Ngay lúc đó, Trương Vô Kỵ mở mắt ra, hơi suy nghĩ, giơ ngón trỏ tay trái điểm luôn bảy nơi huyệt đạo chung quanh vết thương, máu liền chảy chậm lại. Không Tính mừng quá, lập tức đắp luôn Ngọc Linh Tán lên. Tiểu Chiêu xé vạt áo, giúp chàng buộc chặt vết thương, thấy Trương Vô Kỵ mặt trắng bệch, không còn chút huyết sắc nào, trong lòng nàng vừa bồn chồn, vừa lo sợ.

Trương Vô Kỵ lúc này thần trí đã hơi tỉnh táo, ngầm vận nội tức lưu chuyển, thấy chân khí đi đến ngực bên phải thì bị chặn lại, nghĩ thầm: "Ta còn một hơi thở, quyết không để cho sáu đại môn phái giết một người nào của Minh giáo". Chàng liền đem chân khí vận chuyển qua bên ngực và bụng trái vài lần, từ từ đứng lên, nói:

– Phái Nga Mi, phái Võ Đang nếu còn vị nào không phục tại hạ dàn xếp, xin mời bước ra tỉ thí.

Chàng nói câu đó, mọi người ai nấy đều kinh hãi, thấy Chu Chỉ Nhược đâm một kiếm lợi hại như thế, vậy mà vẫn dám mở miệng khiêu chiến. Diệt Tuyệt sư thái lạnh lùng nói:

– Phái Nga Mi hôm nay đã thua rồi, nếu ngươi không chết, ngày sau thể nào cũng có dịp thanh toán. Chúng ta nay chỉ còn trông vào phái Võ Đang. Công việc này thành hay bại, đều do phái Võ Đang lo liệu cả.

Sáu đại môn phái vây đánh đỉnh Quang Minh, năm phái Không Động, Thiếu Lâm, Hoa Sơn, Côn Luân, Nga Mi đều đã thua Trương Vô Kỵ, chỉ còn một phái Võ Đang chưa từng giao thủ với chàng. Lúc này chàng đã bị kiếm thương, mười phần chết, một phần sống, đừng nói gì một cao thủ hạng nhất, mà ngay chỉ cần vài người thường đến gây rối thì chàng cũng chịu không nổi, thậm chí không cần phải ai ra tay, đợi một lát sau chàng có thể cũng lăn ra chết. Võ Đang ngũ hiệp bất cứ người nào tiến lên, không phải phí sức cũng có thể giết được chàng, sau đó cứ theo kế sách đã vạch ra mà trừ diệt Minh giáo.

Mọi người đều nghĩ thầm, phái Võ Đang từ trước đến nay vốn rất trọng hai chữ "hiệp nghĩa", nếu muốn họ ra tay đối phó với một thanh niên đang bị thương nặng, ắt thanh danh sẽ bị tổn hại rất lớn, e rằng Võ Đang ngũ hiệp không ai đứng ra đâu. Thế nhưng nếu như phái Võ Đang không chịu ra tay, không lẽ việc "Sáu đại môn phái vây công đỉnh Quang Minh" vang rền võ lâm kia lại cụp đuôi ra về? Như thế thì từ nay trở đi, sáu đại môn phái còn mặt mũi nào trong giang hồ nữa? Sự chọn lựa quả thực khó khăn biết bao. Câu nói đó của Diệt Tuyệt sư thái, ý nói hôm nay vinh nhục của sáu đại môn phái hoàn toàn do phái Võ Đang quyết định, xem phái Võ Đang có ai dám vì bảo toàn đại cục mà hi sinh thanh danh cá nhân hay không?

Tống Viễn Kiều, Du Liên Châu, Trương Tòng Khê, Ân Lê Đình, Mạc Thanh Cốc năm người nhìn nhau, mặt mày đăm chiêu, không ai dám có chủ ý. Tống Thanh Thư đột nhiên nói:

– Thưa cha, thưa bốn vị sư thúc, để hài nhi ra lo liệu y cho.

Võ Đang ngũ hiệp hiểu ngay ý của Tống Thanh Thư, y là hậu bối của phái Võ Đang, nếu có ra tay cũng không làm tổn thương anh danh của ngũ hiệp. Du Liên Châu nói:

– Không được. Chúng ta để con ra tay, có khác gì chính chúng ta ra tay.

Trương Tòng Khê nói:

– Nhị ca, theo ý của đệ, ta nên coi trọng đại cuộc, còn tên tuổi năm huynh đệ chúng mình cũng chỉ là hư ảo.

Mạc Thanh Cốc nói:

– Tên tuổi chỉ là vật ngoại thân, có điều đối phó với một thanh niên trọng thương như thế, lương tâm khó tránh khỏi bất an.

Nhất thời bàn cãi không quyết định được, mọi người đưa mắt nhìn Tống Viễn Kiều, chờ ý kiến của ông ta. Tống Viễn Kiều thấy Ân Lê Đình trước sau không nói một lời, nhưng trên mặt đầy vẻ phẫn nộ, biết rằng người vợ chưa cưới là Kỷ Hiểu Phù bị thất thân vì Dương Tiêu của Minh giáo, đến nỗi nàng ta phải chết, là một nỗi hận, nỗi nhục lớn trong đời, nếu không diệt tận Minh giáo, quét sạch gian ác dâm đồ thì làm sao tiêu tan được nỗi niềm đó, nên chậm rãi nói:

– Ma giáo tác ác biết bao nhiêu, trừ ác phải trừ cho hết, chính là đại tiết của đạo hiệp nghĩa. Thanh danh dĩ nhiên quan trọng rồi, nhưng trước mắt không thể vẹn được cả hai, thành thử chỉ giữ được cái lớn. Thanh Thư, con hãy cẩn thận.

Tống Thanh Thư khom lưng đáp "Vâng!" rồi đi đến trước mặt Trương Vô Kỵ, lớn tiếng nói:

– Tăng thiếu hiệp, nếu thiếu hiệp không phải là người trong Minh giáo, vậy cứ tự tiện đi khỏi, xuống núi tìm cách dưỡng thương. Sáu đại môn phái chỉ tru diệt tà đồ Ma giáo, không liên can đến người khác.

Trương Vô Kỵ tay trái giữ vết thương trên ngực, nói:

– Đại trượng phu đứng ra lo chuyện khó cho người, đến chết mới thôi. Đa tạ.. đa tạ hảo ý của Tống huynh, có điều tại hạ.. tại hạ quyết cùng với Minh giáo sống cùng sống, chết cùng chết.

Người trong Minh giáo và Thiên Ưng giáo xôn xao lớn tiếng kêu lên:

– Tăng thiếu hiệp, thiếu hiệp đối với chúng tôi như thế là hết lòng hết dạ rồi, huynh đệ chúng tôi cảm kích vô cùng. Đến nước này, không cần phải tái đấu nữa.

Ân Thiên Chính loạng choạng bước đến gần, nói:

– Họ Tống kia, để lão phu tiếp cao chiêu của ngươi.

Nào ngờ hơi thở đứt quãng, đầu gối nhũn xuống, ngã phịch trên mặt đất. Tống Thanh Thư nhìn Trương Vô Kỵ nói:

– Tăng huynh, nếu đã như thế, tiểu đệ chỉ vì đại cục, đành phải đắc tội.

Tiểu Chiêu chặn ngay trước mặt Trương Vô Kỵ, kêu lên:

– Vậy ngươi giết ta trước đi rồi hãy tính.

Trương Vô Kỵ nói nhỏ:

– Tiểu Chiêu, sao cô nương đối tốt với ta quá thế?

Tiểu Chiêu nghẹn ngào đáp:

– Chỉ vì.. chỉ vì công tử đối với tệ nữ cũng thật tốt.

Trương Vô Kỵ chăm chăm nhìn nàng giây lát, nghĩ thầm: "Nếu như mình có chết ngay bây giờ, cũng có một người tri kỷ đối với mình hết lòng hết dạ".

Tống Thanh Thư quay sang quát Tiểu Chiêu:

– Ngươi mau cút ra chỗ khác!

Trương Vô Kỵ nói:

– Sao ngươi đối với vị tiểu cô nương này hung hăng thế, thật là vô lễ.

Tống Thanh Thư giơ tay xô vào vai Tiểu Chiêu một cái, đẩy nàng ra mấy bước, nói:

– Yêu nữ, tà nam, có ra quái gì đâu! Mau đứng dậy, đỡ chiêu của ta.

Trương Vô Kỵ nói:

– Lệnh tôn Tống đại hiệp là người khiêm khiêm quân tử, thiên hạ không ai không phục. Các hạ lại thô bạo như thế, cùng ngươi động thủ, chắc chẳng cần.. chắc chẳng cần đứng lên đâu.

Kỳ thực chàng không vận nổi kình lực, biết mình không sao đứng lên được. Trương Vô Kỵ sau khi bị thương đã mất hết hơi sức, ai ai cũng đều biết cả. Du Liên Châu lớn tiếng nói:

– Thanh Thư, điểm huyệt để y không cử động được là đủ, không cần phải giết hắn làm gì!

Tống Thanh Thư đáp:

– Vâng.

Tay trái khoát lên lấy đà, tay phải tung ra nhắm ngay đầu vai Trương Vô Kỵ điểm tới. Trương Vô Kỵ ngồi yên, đợi ngón tay y điểm tới huyệt Kiên Trinh thì mới dẫn nội lực đi lên, đẩy chỉ lực của y bật ra ngoài. Một chỉ đó của Tống Thanh Thư tưởng như đâm vào nước, không thấy một chút lực khí nào, vì bất ngờ không dự liệu, nên thân hình bổ nhào tới trước, suýt nữa ngã đè lên Trương Vô Kỵ; y vội vàng gượng lại, nhưng cũng không khỏi luống cuống.

Y định thần, đá chân phải lên, nhằm ngay ngực Trương Vô Kỵ đạp tới, ngọn cước đó sử dụng đến sáu, bảy thành công lực. Tuy Du Liên Châu bảo hắn không nên giết Trương Vô Kỵ, nhưng không hiểu vì sao, trong lòng hắn đối với chàng thanh niên này đầy thù hận, chẳng phải vì chàng đã mắng hắn là thô bạo, mà chính vì Chu Chỉ Nhược đã nhìn người này bằng đôi mắt đầy trìu mến, thiết tha, tuy sau đó nàng vâng lệnh sư phụ đâm Vô Kỵ một kiếm, nhưng sắc mặt thật đau khổ, rõ ràng trong lòng nàng hết sức xót xa.

Tống Thanh Thư từ khi gặp Chu Chỉ Nhược, mắt như dán vào người nàng, tuy đã hết sức tự kiềm chế, không dám nhìn lâu để người khác khỏi coi hắn là người khinh bạc, nhưng nhất cử nhất động của nàng, dù khi nhíu mày, khi cười nụ, đều không qua khỏi mắt hắn. Trong lòng Tống Thanh Thư chua chát nghĩ thầm: "Sau khi nàng đâm y một kiếm rồi, dù y chết hay y sống, kể từ nay trong lòng nàng sẽ không thể nào quên y được nữa". Hắn biết rằng nếu như hắn đánh chết Trương Vô Kỵ, Chu Chỉ Nhược sẽ rất oán hận, thế nhưng lửa ghen bốc lên, hắn không thể nào bỏ qua cơ hội hiếm có này để giết kẻ thù. Tống Thanh Thư văn võ song toàn, lại là nhân vật xuất quần bạt tụy trong đám đệ tử đời thứ ba của phái Võ Đang, vốn xưa nay chính trực trọng nghĩa, thế nhưng khi vướng vào cái cửa "tình" rồi thì, bụng dạ không còn an bình được nữa.

Mọi người thấy Tống Thanh Thư đá cú ấy, nếu Trương Vô Kỵ không nhảy ra ngoài tránh thì cũng phải giơ tay lên đỡ, thế nhưng chàng gượng ngồi cũng đã cảm thấy khó khăn, xem ra cú đá này thể nào cũng khiến chàng táng mạng. Vừa thấy năm ngón chân chạm vào ngực, năm ngón tay của Trương Vô Kỵ liền phẩy nhẹ, chân Tống Thanh Thư lập tức chuyển hướng, đâm xéo xuống bên cạnh người, chỉ cách Vô Kỵ chừng ba tấc, cú đá đó hóa ra đá vào chỗ không.

Tống Thanh Thư không cách nào thu chân về được, liền tiện đà bước tới một bước, gót chân trái nhắm ngay lưng Trương Vô Kỵ đạp trở lại, chiêu đó vừa nhanh vừa hiểm, là một chiêu số rất cao minh khó ai liệu nổi. Thế nhưng mấy ngón tay của Trương Vô Kỵ lại phất nhẹ, lập tức đẩy ngay gót chân đối phương ra ngoài.

Ba chiêu qua, những người chung quanh ai nấy đều lạ lùng. Tống Viễn Kiều kêu lên:

– Thanh Thư, bản thân y không còn một chút hơi sức nào cả, đây là phép bốn lượng gạt nghìn cân đấy thôi!

Ông nhãn quang sắc bén, nhìn thấy Trương Vô Kỵ hoàn toàn mất hết kình lực, công phu sử dụng có vẻ quái dị, nhưng căn bản cũng không ngoài phương pháp mượn lực đả lực trong võ học.

Tống Thanh Thư được cha lên tiếng chỉ bảo, chiêu số liền biến đổi, hai tay nhẹ nhàng phiêu phiêu, khi có khi không đánh ra, chính là "Miên chưởng" một trong những tuyệt học của phái Võ Đang. Mượn lực đả lực chính là căn bản võ công của phái Võ Đang nên Miên chưởng mà hắn sử dụng lúc có lúc không chính là để đối phương không có cách nào mượn sức. Thế nhưng Trương Vô Kỵ đã luyện đến tâm pháp Càn khôn đại na di thần công cấp thứ bảy, Miên chưởng tuy nhẹ nhàng nhưng vẫn hữu hình hữu kình, tay trái chàng chặn vết thương trên ngực, năm ngón tay phải tưởng như gảy đàn, lúc gảy lúc xoay, khi búng khi gạt, nửa thân trên hoàn toàn bất động, trong giây lát đã hoàn toàn hóa giải ba mươi sáu chiêu Miên chưởng của Tống Thanh Thư.

Tống Thanh Thư hết sức kinh hãi, ngẫu nhiên quay đầu, chạm phải ánh mắt Chu Chỉ Nhược, thấy nàng mặt đầy vẻ lo âu, hắn cảm thấy vừa cay cú vừa tức bực, biết nàng không phải quan thiết cho mình; hắn lập tức hít một hơi dài, tay trái giơ ra tát mạnh vào má Trương Vô Kỵ, tay phải giơ chỉ điểm vào huyệt Khuyết Bồn trên đầu vai trái. Chiêu đó có tên là "Hoa khai tịnh đế", tên dễ nghe như vậy nhưng chiêu số rất lợi hại, hai tay đánh xong rồi, lập tức tay phải biến thành tát, tay trái biến thành chỉ, điểm vào huyệt Khuyết Bồn của vai bên phải. Cả hai chiêu Hoa khai tịnh đế nối liền một mạch, liên tiếp bốn thức đánh ra, tưởng như gió táp mưa sa, thế đạo rất mãnh liệt, thủ pháp nhanh nhẹn cấp kỳ, quả thật ghê gớm không sao tả nổi. Mọi người trông thấy tình hình như thế ai nấy hoảng hốt kêu lên, không hẹn mà cùng tiến lên một bước.

Chỉ nghe "bốp bốp" hai tiếng thật giòn, chưởng trái của Tống Thanh Thư đánh luôn vào má trái của mình, ngón tay trỏ bên phải điểm luôn vào huyệt Khuyết Bồn trên đầu vai trái, tiếp theo chưởng phải đánh ngay vào má bên phải, tay trái lại điểm vào huyệt Khuyết Bồn bên phải.

Bốn thức của chiêu Hoa khai tịnh đế, Tống Thanh Thư đánh ra đều trúng cả, nhưng bị Trương Vô Kỵ dùng tâm pháp Càn khôn đại na di công phu đẩy ngược lại. Nếu hắn đánh ra chậm đi một tí, thì khi huyệt Khuyết Bồn trên vai phải của mình bị điểm rồi, hai chiêu sau không có lực đánh ra, nhưng vì bốn thức liên hoàn rất nhanh nhẹn, huyệt bên vai trái tuy đã bị điểm nhưng cánh tay vẫn chưa kịp tê, đến khi sử xong nửa sau của chiêu Hoa khai tịnh đế thì bấy giờ chân tay mới nhũn ra, "huỵch" một tiếng ngã ngửa, vùng vẫy một hồi mới đứng lên được.

Tống Viễn Kiều lập tức lao vụt ra, tay trái nắn mấy cái, giải khai huyệt đạo cho con. Chỉ thấy hai bên má Tống Thanh Thư sưng vù, mỗi bên hằn vết năm ngón tay tím bầm, biết hắn bị thương tuy nhẹ nhưng Tống Thanh Thư tâm cao khí ngạo, hôm nay bị nhục trước mặt mọi người, so với giết hắn đi còn dễ chịu hơn, thành thử Tống Viễn Kiều không nói một lời, dắt tay con trở về bản phái.

*

* *

Bấy giờ bốn bề tiếng hoan hô nổi lên, kẻ đứng lên, người ngồi xuống, bàn tán khen ngợi xôn xao, nghe ù cả tai. Đột nhiên Trương Vô Kỵ há hốc mồm, ọc ra một ngụm máu tươi, tay chặn ngực ho sù sụ. Mọi người chăm chăm nhìn chàng, hết sức lo lắng, nghĩ thầm: "Y sau khi bị thương nặng rồi còn phải cố gắng chống đỡ thế tấn công như bão táp của Tống Thanh Thư, tuy đắc thắng, nhưng nội lực tiêu hao rất nhiều". Có người nhìn chàng, rồi lại nhìn phái Võ Đang, không biết bên đó đã chịu thua chưa, hay vẫn cử người khác ra đấu tiếp.

Tống Viễn Kiều nói:

– Việc ngày hôm nay, phái Võ Đang cũng đã tận lực rồi, chắc rằng Ma giáo khí số chưa dứt, nên Trời mới sai một thanh niên kỳ quái xuống đây. Nếu còn tiếp tục đấu dây dưa mãi, danh môn chính phái và Ma giáo có khác gì nhau?

Du Liên Châu nói:

– Đại ca nói đúng lắm. Bọn ta hôm nay lập tức quay về núi, xin sư phụ chỉ điểm thêm. Ngày sau phái Võ Đang có dịp quay lại, đợi tiểu tử này thương thế khỏi rồi, quyết phân thắng bại một phen nữa.

Mấy câu đó ông nói thật quang minh lỗi lạc, hào khí ngùn ngụt, hôm nay tuy thua, nhưng không tin là phái Võ Đang tài nghệ lại chịu kém người. Trương Tòng Khê và Mạc Thanh Cốc cũng nói:

– Quả đúng như thế.

Bỗng nghe soạt một tiếng, Ân Lê Đình đã rút trường kiếm khỏi vỏ, đôi mắt rưng rưng, hung hăng tiến tới, mũi kiếm chỉ vào Trương Vô Kỵ, nói:

– Họ Tăng kia, ta và ngươi vô oán vô cừu, nếu bây giờ ra tay giết ngươi, Ân Lê Đình này không đáng xưng là "hiệp nghĩa". Thế nhưng Dương Tiêu và ta thù sâu như bể, ta không giết y không xong, ngươi đứng tránh ra.

Trương Vô Kỵ lắc đầu:

– Vãn bối còn một hơi thở, quyết không để ai giết một người nào của Minh giáo.

Ân Lê Đình nói:

– Nếu thế ta phải giết ngươi trước.

Trương Vô Kỵ lại hộc ra một ngụm máu, thần trí hôn mê, tâm tình khích động, thều thào nói:

– Ân lục thúc, lục thúc giết con đi..

Ân Lê Đình nghe ba tiếng "Ân lục thúc" giọng điệu rất quen thuộc, trong đầu chợt lóe lên: "Vô Kỵ khi còn bé vẫn thường gọi ta như thế, thanh niên này.." Ông chăm chăm nhìn chàng, càng nhìn càng thấy giống, tuy xa cách đã chín năm, Trương Vô Kỵ từ một đứa bé nay thành một thanh niên tráng kiện, tướng mạo đã thay đổi rất nhiều, nhưng trong lòng Ân Lê Đình đã nghĩ rằng "không lẽ đây là Vô Kỵ", nên khi nhìn kỹ từng điểm từng điểm trên khuôn mặt xưa kia của Vô Kỵ hiện ra, giật mình run run kêu lên:

– Ngươi.. ngươi là Vô Kỵ đấy ư?

Trương Vô Kỵ toàn thân không còn một chút khí lực, biết mình sắp chết đến nơi, không còn gì nữa phải giấu giếm, kêu lên:

– Ân lục thúc, con.. con lúc nào cũng.. nhớ.. nhớ tới thúc thúc..

Ân Lê Đình nước mắt ròng ròng, nghe "keng" một tiếng, ném luôn thanh kiếm, cúi xuống bế ngay chàng lên, kêu lớn:

– Ngươi là Vô Kỵ, ngươi là Vô Kỵ, ngươi là hài tử Trương Vô Kỵ của ngũ ca!

Tống Viễn Kiều, Du Liên Châu, Trương Tòng Khê, Mạc Thanh Cốc bốn người lập tức vây quanh, vừa mừng vừa sợ. Trong giây lát ai nấy đều hết sức hoan hỉ, bao nhiêu thù hận tranh chấp của sáu đại môn phái và Minh giáo đều biến mất. Tiếng kêu của Ân Lê Đình, trừ vợ chồng Hà Thái Xung, Chu Chỉ Nhược, Dương Tiêu vài người, những người khác ai nấy đều kinh ngạc, có ai dám ngờ kẻ xả thân cứu Minh giáo kia lại chính là con trai của Trương Thúy Sơn phái Võ Đang.

Ân Lê Đình thấy Trương Vô Kỵ đã ngất đi, vội vàng lấy ra một viên Thiên Vương Hộ Tâm Đơn nhét vào miệng chàng, rồi đưa cho Du Liên Châu bế, nhặt trường kiếm lên, xông đến trước mặt Dương Tiêu, chỉ vào mặt mắng:

– Họ Dương kia, ngươi là một dâm đồ không bằng loài cầm thú, ta.. ta..

Ông nghẹn lời, không chửi thêm được nữa, trường kiếm vung ra định đâm vào ngực Dương Tiêu. Dương Tiêu không thể cử động được, chỉ mỉm cười nhắm mắt chờ chết. Đột nhiên bên cạnh một thiếu nữ chạy vụt ra, chắn ngay trước mặt Dương Tiêu, kêu lên:

– Đừng giết cha tôi!

Ân Lê Đình ngừng kiếm lại không đâm tới, nhìn kỹ, đột nhiên "..."

Lên một tiếng, toàn thân run rẩy, thấy thiếu nữ nọ thân hình mảnh mai, mắt to mày dài, chính là Kỷ Hiểu Phù.

Từ khi Ân Lê Đình dự tính kết duyên với Kỷ Hiểu Phù, mỗi khi luyện võ có chút thì giờ thong thả là trong đầu lại êm đềm tơ tưởng đến hình ảnh yêu kiều của vị hôn thê. Về sau, khi nghe tin nàng bị Dương Tiêu bắt cóc, thất thân cùng y, lại vì thế mà táng mạng thì trong lòng phẫn uất không nói cùng ai được; bây giờ đột nhiên gặp lại nàng, thân hình loạng choạng, kêu lên thất thanh:

– Hiểu Phù muội tử, muội.. muội..

Thiếu nữ đó chính là Dương Bất Hối, nói:

– Tệ nữ họ Dương, Kỷ Hiểu Phù là mẫu thân tệ nữ, bà ấy chết lâu rồi.

Ân Lê Đình sững sờ, bấy giờ mới hiểu, lẩm bẩm:

– Ừ, đúng rồi, ta thật hồ đồ! Hãy tránh ra, hôm nay ta phải báo thù rửa hận cho mẫu thân cô nương.

Dương Bất Hối chỉ Diệt Tuyệt sư thái nói:

– Hay lắm! Ân thúc thúc, hãy lại giết lão tặc ni kia đi!

Ân Lê Đình lắp bắp:

– Sao.. sao lại thế?

Dương Bất Hối đáp:

– Mẫu thân tệ nữ chính bị lão tặc ni đánh một chưởng chết đó.

Ân Lê Đình nói:

– Chớ nói bậy, cô nương còn nhỏ, biết gì đâu?

Dương Bất Hối lạnh lùng đáp:

– Hôm xưa ở Hồ Điệp cốc, lão tặc ni sai mẫu thân đi giết phụ thân tệ nữ, mẫu thân không chịu, lão tặc ni liền hạ độc thủ. Chính mắt tệ nữ trông thấy, Vô Kỵ ca ca cũng trông thấy. Nếu thúc thúc không tin, sao không tự mình lại hỏi lão tặc ni thử xem.

Khi Kỷ Hiểu Phù chết, Dương Bất Hối còn nhỏ không hiểu chuyện gì, nhưng về sau lớn lên, nghĩ lại tự nhiên hiểu được chuyện năm xưa. Ân Lê Đình quay đầu lại nhìn Diệt Tuyệt sư thái, nét mặt ngờ vực, ấp úng hỏi:

– Sư thái.. cô nương này nói.. Hiểu Phù muội tử bị..

Diệt Tuyệt sư thái giọng khàn khàn đáp:

– Đúng vậy, thứ nghiệt đồ vô liêm sỉ đó, để sống trên đời này làm gì? Nó với Dương Tiêu hai người tình ý với nhau, phản bội sư môn, không nghe lệnh sư phụ đi giết tên dâm đồ ác tặc. Ân lục hiệp, vì muốn giữ thể diện cho lục hiệp, ta trước sau cố nhịn không nói ra. Hừ, thứ đàn bà vô sỉ đó, sao lục hiệp vẫn canh cánh không quên là sao?

Ân Lê Đình mặt tái đi, lớn tiếng kêu:

– Ta không tin, ta không tin!

Diệt Tuyệt sư thái nói:

– Ông hỏi con bé kia xem, tên nó là gì?

Mắt Ân Lê Đình chuyển qua nhìn Dương Bất Hối, nước mắt chan hòa, mông lung chỉ thấy Kỷ Hiểu Phù, tai nghe rõ ràng tiếng nàng nói:

– Tệ nữ tên Dương Bất Hối. Mẫu thân bảo rằng, không bao giờ hối hận về chuyện này cả.

"Keng" một tiếng, Ân Lê Đình ném trường kiếm xuống đất, quay người lại, hai tay ôm mặt chạy xuống núi. Tống Viễn Kiều và Du Liên Châu cùng gọi:

– Lục đệ, lục đệ!

Thế nhưng Ân Lê Đình không trả lời, cũng chẳng quay đầu, đề khí chạy thật nhanh, bỗng nhiên sẩy chân vấp một cái, lại đứng dậy, chỉ giây lát không còn thấy bóng dáng đâu nữa.

Chuyện của Ân Lê Đình và Kỷ Hiểu Phù, mọi người ai cũng nghe qua, biết đến, thấy việc đã hơn mười năm mà vẫn còn thương tâm như vậy, không khỏi đau lòng giùm, võ công như Ân lục hiệp của phái Võ Đang, lẽ nào khi chạy có thể vấp được? Chẳng qua chỉ vì ý loạn tình mê, mất hồn mất vía mà ra cớ sự.

*

* *

Bấy giờ Tống Viễn Kiều, Du Liên Châu, Trương Tòng Khê, Mạc Thanh Cốc bốn người ngồi bốn phía, mỗi người giơ một chưởng ra, đè lên bụng, ngực, lưng, eo bốn nơi đại huyệt của Trương Vô Kỵ mà vận nội công giúp chàng trị thương. Bốn người vừa nhả nội lực, thấy trong thân thể chàng có một sức hút rất mạnh, cuồn cuộn hút vào. Bốn người kinh hãi, nghĩ thầm nếu cứ tiếp tục bị hút như thế, chỉ trong một hai giờ khi không ai còn chút nội lực nào nữa. Thế nhưng chưa biết chàng sống chết ra sao, biết làm thế nào cho phải? Còn đang phân vân, Trương Vô Kỵ từ từ mở mắt ra, kêu "..."

Lên một tiếng. Cả bọn Tống Viễn Kiều thấy giật một cái, lòng bàn tay có một luồng hơi ấm, chính là Cửu dương thần công của chàng đang truyền ngược lại cho bốn người.

Tống Viễn Kiều kêu lên:

– Không được, hiền điệt tĩnh dưỡng cho mình cần hơn.

Bốn người vội rụt tay về đứng lên, thấy như có một dòng suối chạy quanh cơ thể, khoan khoái vô cùng, hiển nhiên chẳng những chàng đã trả lại nội lực vừa mượn, mà chân khí Cửu dương còn tuôn vào, tăng cường nội lực cho họ nữa. Cả bọn ngơ ngác đưa mắt nhìn nhau ngấm ngầm kinh ngạc, thấy chàng bị thương tưởng chết, không ngờ nội lực vẫn còn hùng hậu mạnh mẽ đến thế.

Đến lúc này, Trương Vô Kỵ ngoại thương tuy nặng, nội tức đã lưu chuyển như thường, từ từ đứng lên, nói:

– Tống đại bá, Du nhị bá, Trương tứ bá, Mạc thất thúc, xin tha cho điệt nhi tội vô lễ. Chẳng hay thái sư phụ lão nhân gia phúc thể có an khang chăng?

Du Liên Châu đáp:

– Sư phụ lão nhân gia vẫn mạnh khỏe. Vô Kỵ, hiền điệt.. hiền điệt.. lớn quá rồi..

Nói đến đây, tuy có trăm nghìn điều muốn nói, nhưng nghẹn ngào không nên lời, chỉ nở một nụ cười, mắt rưng rưng lệ. Bạch Mi Ưng Vương Ân Thiên Chính thấy đại ân nhân cứu mạng cho mình lại chính là đứa cháu ngoại thì cao hứng quá cười lên ha hả, nhưng vẫn không cách nào đứng lên được. Diệt Tuyệt sư thái mặt tím ngắt, phất tay một cái, lập tức dẫn đệ tử phái Nga Mi xuống núi.

Chu Chỉ Nhược cúi đầu đi mấy bước, sau cùng không nhịn nổi phải liếc Trương Vô Kỵ một cái. Trương Vô Kỵ lúc ấy cũng nhìn theo tiễn nàng, ánh mắt hai người gặp nhau, đôi má trắng bệch của Chu Chỉ Nhược liền đỏ bừng lên, nhãn quang dường như muốn nói: "Muội đâm huynh một kiếm bị thương nặng như thế, thật đáng tội biết bao nhiêu, huynh gắng bảo trọng".

Trương Vô Kỵ dường như cũng hiểu ý nàng, nhè nhẹ gật đầu. Chu Chỉ Nhược lập tức mặt mày sáng rỡ, vội quay lại rảo bước ra đi.

Phái Võ Đang và Trương Vô Kỵ nhận ra nhau rồi, kế đến phái Nga Mi bỏ đi, việc vây công Minh giáo của sáu đại môn phái không nói mà tan. Phái Không Động, phái Hoa Sơn kẻ khiêng xác chết, kẻ dìu người bị thương cũng lục tục xuống núi.

Hà Thái Xung tiến lên mấy bước, ấp úng nói:

– Tiểu huynh đệ, chúc mừng tiểu huynh đệ và người thân tái ngộ..

Trương Vô Kỵ không đợi lão ta nói hết câu, móc trong túi ra hai viên thuốc tầm thường trừ lam sơn chướng khí, đưa cho lão ta, dặn:

– Xin hai vị mỗi người uống một viên, Kim Tàm trùng độc sẽ tiêu giải.

Hà Thái Xung nhận hai viên thuốc, chỉ thấy màu đen sì chẳng đẹp chút nào, không tin rằng có thể tiêu trừ được trùng độc Kim Tàm vô cùng lợi hại. Trương Vô Kỵ nói:

– Tại hạ đã nói đây là thuốc giải độc thì phải giải được.

Tiếng nói của chàng tuy còn yếu ớt, nhưng trận chiến trên đỉnh Quang Minh đã trấn nhiếp cả sáu môn phái, trong khí độ đó tự nhiên giọng nói có một vẻ uy nghiêm khiến Hà Thái Xung không thể không tin. Lão ta nghĩ thầm: "Nếu y nói láo, thuốc này không tiêu giải được trùng độc thì có Võ Đang tứ hiệp ở đây, cũng không thể nào ép y cho mình thuốc thật được. Huống chi thêm lão trọc Không Tính của phái Thiếu Lâm lại có vẻ như bênh gã này, hôm nay đành chịu thế vậy". Nghĩ thế lão ta bèn cười gượng, nói:

– Đa tạ.

Rồi y chia cho Ban Thục Nhàn mỗi người uống một viên, chỉ huy môn nhân đệ tử thu thập người chết, cáo từ hạ sơn.

Du Liên Châu nói:

– Vô Kỵ, điệt nhi bị thương nặng không thể xuống núi, tốt hơn hết là ở đây điều dưỡng, bọn ta không thể ở lại với hiền điệt được. Bao giờ khỏi thì về núi Võ Đang một chuyến, để thái sư phụ gặp lại hiền điệt cho Người được vui.

Trương Vô Kỵ nuốt nước mắt gật đầu. Mỗi người có biết bao nhiêu chuyện cần hỏi, bao nhiêu điều cần nói, nhưng thấy chàng thần tình ủ rũ, biết rằng nói thêm một câu chỉ làm thương thế nặng thêm một phần, nên đành nhịn không ai mở lời. Bỗng nghe từ phái Thiếu Lâm có người lớn tiếng kêu lên:

– Thi thể Viên Chân sư huynh đâu mất rồi?

Lại có người tiếp theo:

– Lạ nhỉ, sao không thấy pháp thể Viên Chân sư bá đâu?

Mạc Thanh Cốc cảm thấy lạ lùng, bước qua xem thử, thấy bảy tám xác hòa thượng chết trong khi giao chiến thu thập tại đó, quả nhiên không thấy Viên Chân đâu. Viên Âm chỉ vào thuộc hạ của Minh giáo, lớn tiếng quát:

– Mau đem pháp thể Viên Chân sư huynh giao ra ngay, nếu không hòa thượng này nổi điên lên, cho một mồi lửa thì chúng bay thành tro hết.

Chu Điên cười:

– Ha ha, ha ha! Thật là tức cười quá đỗi. Đến thằng trọc sống là ngươi bọn ta cũng chẳng cần, thì lấy gã hòa thượng chết để làm gì? Chẳng lẽ làm như con lợn con dê, mổ xác lấy xương gặm hay sao?

Người của phái Thiếu Lâm nghĩ cũng phải, hơn một chục hòa thượng liền tản ra tìm kiếm nhưng không ai thấy thi thể Viên Chân đâu. Mọi người tuy lạ lùng, nhưng có lẽ phái Hoa Sơn, Không Động khi thu thập đệ tử bản môn đã lấy nhầm xác Viên Chân, nên cũng không tìm thêm nữa.

Sau đó hai phái Võ Đang, Thiếu Lâm lần lượt xuống núi. Trương Vô Kỵ tiến lên mấy bước, khom lưng chào tiễn đưa. Tống Viễn Kiều nói:

– Vô Kỵ hài nhi, cuộc chiến hôm nay, tên tuổi hiền điệt đã lẫy lừng thiên hạ, đối với Minh giáo ân trọng như sơn. Hiền điệt từ nay nên khuyên răn dẫn dắt, làm sao cho Minh giáo cải tà quy chính, bớt làm điều xằng bậy.

Trương Vô Kỵ đáp:

– Hài tử xin ghi nhớ lời giáo huấn của sư bá, sẽ hết sức để làm chuyện ấy.

Trương Tòng Khê nói:

– Con phải hết sức cẩn thận, việc gì cũng nên đề phòng tiểu nhân gian ác.

Trương Vô Kỵ đáp:

– Xin vâng.

Chàng và Võ Đang tứ hiệp xa cách lâu ngày, nay mới gặp lại chia tay ngay, năm người ai nấy lưu luyến không muốn rời.

Dương Tiêu và Ân Thiên Chính đợi cho mọi người của sáu môn phái đi rồi, đưa mắt nhìn nhau, cùng nói:

– Toàn thể thuộc hạ của Minh giáo và Thiên Ưng giáo, rập đầu tạ ơn Trương đại hiệp hộ giáo cứu mạng.

Chỉ trong khoảnh khắc, toàn thể mọi người cùng quỳ xuống đầy mặt đất. Trương Vô Kỵ thấy thế chân tay luống cuống, huống chi trong đó lại có cả ông ngoại và cậu mình, vội vàng quỳ xuống hoàn lễ. Chàng hành động gấp gáp, vết thương trên ngực lại bung, miệng phun ra mấy ngụm máu, lập tức ngất đi.

Tiểu Chiêu vội tiến lên đỡ dậy. Hai đầu mục không bị thương trong số thuộc hạ liền mang lên một cái võng để chàng nằm lên. Dương Tiêu nói:

– Mau đưa Trương đại hiệp vào phòng ta tĩnh dưỡng.

Hai tên đầu mục khom lưng vâng lệnh đưa Trương Vô Kỵ vào phòng của Dương Tiêu. Tiểu Chiêu lẽo đẽo theo sau, khi qua trước mặt Dương Bất Hối, Dương Bất Hối lạnh lùng nói:

– Tiểu Chiêu, ngươi giả vờ thật khéo. Ta đã biết ngươi có điều gì khác lạ, chỉ không ngờ một người xấu như ma hóa ra lại là một tiểu mỹ nhân thiên kiều bách mị.

Tiểu Chiêu cúi đầu không trả lời. Trong mấy ngày liền, thuộc hạ của Minh giáo lo chuyện ma chay chữa trị, bận rộn đủ mọi chuyện. Qua một trận đại chiến tưởng chừng cả bọn phải bỏ mình, ai nấy đều thấy chuyện tranh giành chém giết nhau trước đây để cho người ngoài lợi dụng quả là không phải. Ai ai cũng lo cho thương thế của Trương Vô Kỵ, không người nào dám nhắc lại thù xưa, chỉ yên ổn nằm dưỡng thương trên đỉnh Quang Minh.

Cửu dương thần công của Trương Vô Kỵ đã thành, tuy vết thương có nặng thật, nhưng khi Chu Chỉ Nhược đâm vào lệch qua mấy tấc, chỉ trúng lá phổi chứ không trúng tim, thành ra chỉ tĩnh dưỡng bảy tám ngày thì miệng vết kiếm đã dần dần khép lại. Mấy người Dương Tiêu, Ân Thiên Chính, Vi Nhất Tiếu, Thuyết Bất Đắc cũng phải nằm trên võng vải, ngày nào cũng cho người khiêng vào thăm nom, thấy chàng càng ngày càng bình phục thêm, ai nấy đều mừng rỡ.

Đến ngày thứ tám, Trương Vô Kỵ đã ngồi dậy được. Buổi chiều hôm đó, Dương Tiêu và Vi Nhất Tiếu lại đến hỏi thăm, Trương Vô Kỵ hỏi:

– Hai vị từ khi trúng phải Ảo Âm Chỉ đến giờ, mấy hôm nay thấy sao?

Dương, Vi hai người ngày nào cũng bị hàn độc thấu xương giày vò khổ sở, thương thế xem ra mỗi lúc một nặng, nhưng sợ chàng lo lắng nên cùng đáp:

– Xem ra đỡ nhiều.

Trương Vô Kỵ thấy hai người họ mặt xám ngoét, nói năng thều thào yếu ớt, bèn nói:

– Nội lực của vãn bối đã hồi phục được sáu, bảy phần, để vãn bối thử trị cho hai vị xem sao.

Dương Tiêu vội nói:

– Chớ, chớ nên! Trương đại hiệp làm gì gấp gáp thế? Đợi khi nào quý thể hoàn toàn khỏi hẳn, lúc đó hãy chữa cho chúng tôi cũng không muộn. Bây giờ sử lực quá sớm, vết thương khó bình phục, chúng tôi sao an lòng?

Vi Nhất Tiếu nói:

– Chữa sớm hay muộn đâu phải chỉ vài ngày. Trương đại hiệp tĩnh dưỡng mới quan trọng.

Trương Vô Kỵ nói:

– Ngoại gia tử của vãn bối Ưng Vương, nghĩa phụ vãn bối Kim Mao Sư Vương đều ngang vai với hai vị, hai vị là bề trên của vãn bối, nếu còn gọi vãn bối là "đại hiệp", vãn bối nào dám nhận.

Dương Tiêu mỉm cười nói:

– Sau này chúng tại hạ đều là thuộc hạ của đại hiệp, ở trước mặt đại hiệp đến ngồi cũng không dám, đâu dám nói chuyện vai trên, vai dưới.

Trương Vô Kỵ ngạc nhiên, hỏi lại:

– Dương bá bá nói thế là sao?

Vi Nhất Tiếu đáp:

– Trương đại hiệp, trọng nhiệm giáo chủ Minh giáo, nếu không do đại hiệp đảm trách, thì còn ai vào đây nữa?

Trương Vô Kỵ hoảng hốt xua tay, nói ngay:

– Ấy chết, chuyện đó không thể được, nhất quyết không thể được.

Ngay lúc đó, từ hướng đông có tiếng tù và lanh lảnh chói tai xa xa truyền đến, chính là tín hiệu dưới chân đỉnh Quang Minh có việc phải báo động. Dương Tiêu và Vi Nhất Tiếu ngạc nhiên, nghĩ thầm: "Không lẽ sáu đại môn phái thua nhưng chưa phục, quay lại đánh nữa hay sao?" Thế nhưng mặt hai người vẫn trấn tĩnh như thường, Dương Tiêu hỏi:

– Hôm qua nhân sâm ăn có vừa miệng không? Tiểu Chiêu, ngươi trở lại dược thất lấy thêm, sắc cho Trương đại hiệp dùng.

Lại nghe phía tây và phía nam tiếng tù và cùng nổi lên, Trương Vô Kỵ hỏi:

– Có ngoại địch đến tấn công ư?

Vi Nhất Tiếu nói:

– Bản giáo và Thiên Ưng giáo không thiếu hảo thủ, Trương đại hiệp không phải quan tâm, vài tên giặc cỏ có đáng gì đâu?

Thế nhưng chỉ trong giây lát, tiếng còi nổi lên càng gần, địch nhân tiến vào thật nhanh, hiển nhiên chẳng phải chỉ là giặc cỏ. Dương Tiêu nói:

– Để đệ ra thu xếp, Vi huynh ở trong này bồi tiếp Trương đại hiệp. Ha ha, Minh giáo không lẽ tệ hại đến nỗi ai ai cũng có thể khinh khi hay sao?

Dương Tiêu tuy bị thương nặng không cử động nổi, nhưng trong giọng vẫn đầy hào khí. Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Thiếu Lâm, Nga Mi là danh môn chính phái, nhất quyết không thể bất kể tín nghĩa, quay lại báo thù. Kẻ đến đây ắt là bọn gian ác, tàn nhẫn, trên đỉnh Quang Minh hiện nay cao thủ đều bị trọng thương, trong bảy tám ngày qua đâu đã ai khỏi, không thể nào chống lại ngoại địch, nếu như miễn cưỡng xuất chiến, chỉ uổng mạng mà thôi".

Đột nhiên bên ngoài có bước chân rầm rập, một người chạy vào, mặt đầy máu, trên ngực còn cắm một con dao găm, kêu lên:

– Địch nhân từ ba mặt.. đánh lên trên núi.. huynh đệ không.. không chống nổi.. Vi Nhất Tiếu hỏi lại:

– Địch nhân nào thế?

Người kia chỉ tay ra ngoài, đang định nói gì, bỗng ngã sấp mặt xuống chết. Lại nghe tiếng tù và kêu gọi cứu viện, chỗ này ngừng thì chỗ kia nổi lên, rõ ràng tình hình cực kỳ cấp bách. Lại có thêm hai người chạy đến, Dương Tiêu nhận ra người đi trước là chưởng kỳ phó sứ Hồng Thủy kỳ, trên mình đầy máu, mặt mày gớm ghiếc như ma quỷ nhưng vẫn có vẻ trấn tĩnh, hơi cúi mình, bẩm:

– Trương đại hiệp, Dương tả sứ, Vi pháp vương, bên dưới chân núi đến tấn công là nhân vật trong Cự Kình Bang, phái Hải Sa, Thần Quyền môn các lộ.

Dương Tiêu cau mày, hừ một tiếng nói:

– Mấy tên nhãi nhép đó mà cũng dám coi thường Minh giáo sao?

Chưởng kỳ phó sứ đáp:

– Địch nhân vốn không có gì lợi hại, có điều huynh đệ hầu hết đều mang thương tích..

Y nói đến đây, Lãnh Khiêm, Thiết Quan đạo nhân Trương Trung, Bành Oánh Ngọc, Thuyết Bất Đắc, Chu Điên năm người được lục tục khiêng đến. Chu Điên hổn hển quát lớn:

– Bọn Cái Bang giỏi thật, dám cấu kết với Tam Môn bang, Vu Sơn bang đến đây cháy nhà hôi của, Chu Điên này còn một hơi thở, cùng chúng nó suốt đời không..

Y nói đến đây thì hai cha con Ân Thiên Chính, Ân Dã Vương cũng chống gậy tiến vào phòng. Ân Thiên Chính nói:

– Vô Kỵ hài nhi, con cứ ngủ đi đừng lo gì cả. Con bà nó. Hai cái môn phái tẻo teo là Ngũ Phụng Đao và Đoạn Hồn Thương mà cũng dám coi chúng ta không ra gì ư?

Trong những người ở đây, trong Minh giáo thì Dương Tiêu có địa vị cao nhất, còn Ân Thiên Chính là giáo chủ của Thiên Ưng giáo, Bành Oánh Ngọc là người mưu trí hơn cả, ba người bình sinh gặp không biết bao nhiêu phong ba bão táp, lần nào cũng tùy cơ ứng biến chuyển nguy thành an, thế nhưng lúc này lâm vào tuyệt cảnh, mọi người ai nấy trọng thương, kẻ địch lại đến đánh, không nói gì những bang hội môn phái khác, riêng Cái Bang vốn là đệ nhất đại bang trên giang hồ, trong bang rất nhiều nhân tài, thanh thế thật không phải nhỏ, xem ra chỉ còn nước bó tay chịu chết. Lúc này ai nấy đều coi Trương Vô Kỵ như giáo chủ, không hẹn mà cùng nhìn chàng mong đưa ra kế lạ giải quyết cảnh ngộ khó khăn.

Trương Vô Kỵ trong giờ phút ấy, trong đầu xoay chuyển bao nhiêu ý niệm. Chàng biết rằng tuy võ công so với Dương Tiêu, ông ngoại, Vi Nhất Tiếu mình có giỏi hơn, nhưng kiến thức mưu kế, những cao thủ kia đương nhiên hơn chàng rất nhiều, nếu họ không có kế hay, thì mình làm sao có thể có được biện pháp lạ cho được. Còn đang suy nghĩ, đột nhiên nghĩ ra một chuyện, vội buột miệng nói ngay:

– Chúng ta tạm thời chui xuống đường hầm trốn tránh, địch nhân chưa chắc đã phát giác, nếu có tìm ra, nhất thời chưa chắc đã đánh vào được.

Chàng nghĩ ra kế đó, tự cảm thấy đây là cách tốt nhất trong lúc này, giọng đầy hào hứng, nào ngờ mọi người ai nấy ngơ ngẩn nhìn nhau, không ai lên tiếng phụ họa, dường như đều cho rằng phương pháp đó không thể thi hành được. Trương Vô Kỵ nói:

– Đại trượng phu phải ứng biến tòng quyền, chúng ta chỉ tạm thời trốn tránh, đợi khi thương thế khỏi rồi sẽ cùng địch nhân một phen sống mái, việc đó cũng không có gì gọi là mất uy danh.

Dương Tiêu nói:

– Kế của Trương đại hiệp hay lắm.

Ông quay lại nói với Tiểu Chiêu:

– Tiểu Chiêu, ngươi đỡ Trương đại hiệp vào đường hầm đi.

Trương Vô Kỵ nói:

– Tất cả cùng vào.

Dương Tiêu đáp:

– Mời Trương đại hiệp vào trước, chúng tôi sẽ đi sau.

Trương Vô Kỵ nghe giọng điệu của Dương Tiêu, biết họ sẽ không đi cùng, chẳng qua nói thế để mình đi đấy thôi, liền lớn tiếng nói:

– Các vị tiền bối, vãn bối tuy không phải người trong quý giáo, nhưng đã cùng quý giáo vượt qua một phen hoạn nạn, có thể nói là sinh tử chi giao. Không lẽ vãn bối lại là kẻ tham sống sợ chết, bỏ các vị lại, một mình đi lánh nạn hay sao?

Dương Tiêu đáp:

– Trương đại hiệp có điều chưa hiểu rõ, Minh giáo trước nay truyền lại quy củ, đường hầm trên đỉnh Quang Minh này, ngoại trừ giáo chủ ra, các thuộc hạ của bản giáo không một ai được phép bước vào, ai vào sẽ mang tội chết. Đại hiệp và Tiểu Chiêu không thuộc Minh giáo nên không phải theo quy củ này.

Bấy giờ nghe văng vẳng tiếng kêu la chém giết từ bốn phương tám hướng truyền đến. Cũng may là đường đi trên đỉnh Quang Minh rất khó khăn, địa thế hiểm trở, chỗ nào cũng có cửa đá, khóa sắt, tuy Minh giáo không chống cự kịch liệt, kẻ đến tấn công cũng không dễ dàng vượt qua. Lại thêm danh tiếng Minh giáo rất lớn, địch nhân vẫn còn e dè, không dám khinh suất tiến vào. Thế nhưng tiếng kêu la hò hét xem chừng mỗi lúc một gần thêm. Đột nhiên nghe thấy từ xa vọng về mấy tiếng kêu rống của người sắp chết, hiển nhiên thuộc hạ của Minh giáo đã kiệt lực chống địch, đến lúc này đang bị chém giết.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Nếu không trốn tránh, chỉ e trong một canh giờ nữa thôi thì cả Minh giáo trên dưới không còn ai sống sót". Nghĩ thế bèn nói:

– Cái quy củ không được đi vào đường hầm này, không lẽ không thay đổi được hay sao?

Dương Tiêu mặt mày sầu thảm, buồn bã lắc đầu. Bành Oánh Ngọc đột nhiên nói:

– Các vị nghe tôi một lời: Trương đại hiệp võ công cái thế, nghĩa khí ngất trời, có đại ân mất còn sống chết với bản giáo. Chúng ta ủng hộ Trương đại hiệp lên làm giáo chủ đời thứ ba mươi tư của bản giáo. Nếu như giáo chủ ra lệnh, cho phép mọi người tiến vào, lúc đó tất cả chúng ta tuân lệnh giáo chủ, như thế không ai vi phạm giáo quy nữa.

Dương Tiêu, Ân Thiên Chính, Vi Nhất Tiếu ai ai cũng đã có ý tôn Trương Vô Kỵ lên làm giáo chủ, nay nghe Bành hòa thượng nói thế, đều gật đầu khen hay. Trương Vô Kỵ vội vàng xua tay, nói:

– Vãn bối tuổi còn nhỏ, kiến thức nông cạn, không tài không đức, đâu có dám đảm đang trách nhiệm lớn lao như thế? Lại thêm thái sư phụ vãn bối là Trương chân nhân năm xưa đã từng căn dặn, bảo vãn bối không được gia nhập Minh giáo, vãn bối đã đồng ý rồi. Lời của Bành đại sư thật vạn lần không dám.

Ân Thiên Chính nói:

– Ta là ngoại công công của con, bảo con gia nhập Minh giáo. Dẫu rằng ta sao có thể thân bằng thái sư phụ được, chung quy thì cũng kẻ tám lạng, người nửa cân, lời của Trương chân nhân và của ta coi như ngang nhau, đều không còn gì phải bàn nữa, cứ xem như chưa ai từng nói gì. Gia nhập hay không gia nhập Minh giáo, hoàn toàn con tự quyết định.

Ân Dã Vương cũng nói:

– Lại thêm một người cậu nữa không lẽ chẳng thêm một phần sức nặng nào ư? Người đời nói rằng, thấy cậu khác gì thấy mẹ. Mẫu thân ngươi nay không còn nữa, ta có khác gì mẫu thân ngươi đâu.

Trương Vô Kỵ nghe hai người nói thế, trong lòng khó nghĩ, nói:

– Năm xưa Dương giáo chủ có một di thư, vãn bối lấy trong đường hầm ra, vốn định khi mọi người bị thương khỏi rồi sẽ đưa cho xem. Dương giáo chủ di mệnh cho nghĩa phụ Kim Mao Sư Vương tạm nhiếp quyền giáo chủ.

Nói xong chàng lấy trong túi ra tờ thư của Dương Đính Thiên, giao lại cho Dương Tiêu. Bành Oánh Ngọc nói:

– Trương đại hiệp, đại trượng phu gặp lúc đại biến, không nề tiểu tiết. Tạ Sư Vương là nghĩa phụ của đại hiệp, cũng có khác gì cha ruột, xưa nay con kế nghiệp phụ thân, Tạ Sư Vương không có ở đây, vậy xin đại hiệp cứ theo di ngôn của Dương giáo chủ tạm nhiếp chức giáo chủ.

Mọi người cùng nói:

– Nói thế đúng lắm.

Trương Vô Kỵ nghe tiếng chém giết càng gần, càng thêm nóng lòng, nhất thời không biết tính sao, nghĩ thầm: "Hiện tại chuyện cứu người là quan trọng, chuyện khác tính sau". Chàng bèn lớn tiếng nói:

– Các vị nếu như đã có lòng thương như thế, vãn bối nếu không vâng lời ắt sẽ thành đại tội nhân của Minh giáo. Vãn bối Trương Vô Kỵ, tạm giữ chức vị giáo chủ Minh giáo, qua khỏi khó khăn hôm nay rồi, lúc ấy xin các vị sẽ tuyển người hiền năng khác.

Mọi người cùng lớn tiếng hoan hô, tuy đại địch đã đến gần, họa như lửa cháy lông mày, nhưng ai nấy đều vui sướng hiện ra nét mặt. Ai nấy nghĩ rằng từ khi tiền giáo chủ Dương Đính Thiên bất ngờ mất đi, không ai thống suất, một đại giáo phái trên giang hồ lại tàn sát lẫn nhau, chia năm xẻ bảy. Kẻ gác đi mọi chuyện đứng ngoài cũng có, kẻ tự mình lập thành môn hộ cũng có, kẻ làm điều xằng bậy cũng có, khiến cho Minh giáo dần dần suy bại, mọi nguy cơ từ đó phát sinh. Hôm nay trùng lập giáo chủ, có hi vọng trung hưng Minh giáo, bảo sao mọi người không phấn chấn? Những ai có thể hành động lập tức quỳ xuống vái lạy. Ân Thiên Chính, Ân Dã Vương tuy là người thân thuộc trưởng bối nhưng cũng không ngoại lệ.

Trương Vô Kỵ vội vàng quỳ xuống hoàn lễ, nói:

– Xin các vị đứng lên. Nhờ Dương tả sứ truyền hiệu lệnh xuống: Bản giáo từ trên xuống dưới, tất cả lui vào đường hầm.

Dương Tiêu đáp:

– Dạ! Cẩn tuân lệnh dụ giáo chủ. Khải bẩm giáo chủ, chúng ta cho Liệt Hỏa kỳ phóng hỏa ngăn chặn địch, đốt hết phòng xá trên đỉnh Quang Minh. Địch nhân sẽ tưởng chúng ta bỏ chạy cả rồi, không biết có nên không?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Kế này hay lắm, xin Dương tả sứ truyền lệnh cho.

Bụng chàng nghĩ thầm: "Phép này Chu Trường Linh đã từng sử dụng, kế sách vốn dĩ hay, nhưng có điều ông ta chỉ dùng để lường gạt ta thôi". Dương Tiêu lập tức truyền hiệu lệnh xuống, triệt hồi thuộc hạ đang chống giữ, yêu cầu Hồng Thủy, Liệt Hỏa hai kỳ đoạn hậu, mọi người còn lại, rút lui vào đường hầm. Minh giáo là chủ, Thiên Ưng giáo là khách, nên truyền cho thuộc hạ của Thiên Ưng giáo rút xuống trước, kế đến là Thiên Địa Phong Lôi tứ môn, các chức sự nhân viên trên đỉnh Quang Minh, Nhuệ Kim, Cự Mộc, Hậu Thổ ba kỳ, Ngũ tản nhân và Vi Nhất Tiếu trước sau đi xuống. Sau khi Dương Tiêu và Trương Vô Kỵ rút xuống rồi, Hồng Thủy kỳ mới đi xuống, hai mặt đông tây lửa bốc ngất trời.

Lửa càng lúc càng cao, người trong Liệt Hỏa kỳ tay cầm ống phun, liên tiếp phun dầu[100], dầu gặp lửa bén ngay, bốc lên rất lợi hại; các môn các phái đến tấn công tuy đông nhưng đều sợ lửa nên không dám tiến đến gần, chỉ xa xa vây bốn mặt, không cho người của Minh giáo chạy lọt mà thôi. Người của Liệt Hỏa kỳ rút vào hầm rồi đóng cửa lại. Chẳng mấy chốc phòng xá đều sụp đổ, bịt chặt luôn cả miệng hầm. Lửa cháy liên tiếp hai ngày hai đêm vẫn chưa tắt hẳn. Đỉnh Quang Minh là tổng đàn của Minh giáo, đã xây đắp hơn một trăm năm qua, mấy trăm căn sảnh đường, nhà cửa rất tráng lệ, nay thành tro bụi cả. Địch nhân đợi lửa tắt rồi, đi đến vùng lửa cháy xem xét, thấy một số lớn giáo đồ Minh giáo chết cháy đã thành than, không còn nhận ra ai với ai, chỉ nghĩ rằng thuộc hạ của Minh giáo thà chết không hàng, thiêu thân tự tận, bọn Dương Tiêu, Vi Nhất Tiếu chắc cũng trong số đó.

Thuộc hạ của Thiên Ưng giáo và Minh giáo theo bản đồ đường hầm mà chia nhau vào từng phòng để ở. Dĩ nhiên họ đã ở sâu trong lòng đất, bên trên tuy lửa cháy bừng bừng nhưng trong bí đạo không nghe tiếng gì cả, cũng không thấy nóng chút nào. Mọi người mang theo đủ lương thực nước uống, dù ở dưới hầm một hai tháng cũng không sợ đói khát. Minh giáo và Thiên Ưng giáo, kỳ nào về kỳ nấy, đàn nào về đàn nấy, không nói một lời. Mọi người biết rằng đường hầm này vốn là thánh địa không được bén mảng tới, nhờ ân điển giáo chủ mới được vào để tránh nạn, thành ra không ai dám tự ý đi lại.

Dương Tiêu và các nhân vật thủ lĩnh đều xúm quanh thi thể Dương Đính Thiên, nghe Trương Vô Kỵ thuật lại làm sao nhặt được di thư của Dương giáo chủ, luyện thành tâm pháp Càn khôn đại na di thần công như thế nào. Chàng nói xong, đem tấm da dê ghi tâm pháp giao lại cho Dương Tiêu. Dương Tiêu không nhận, khom lưng đáp:

– Dương tiền giáo chủ trong thư đã viết rõ ràng: Tâm pháp Càn khôn đại na di tạm do Tạ Tốn tiếp chưởng, về sau sẽ giao lại cho tân giáo chủ. Vậy thì tâm pháp này phải do chính giáo chủ nắm giữ.

Sau đó mọi người chuyền tay nhau đọc di thư của Dương Đính Thiên, ai nấy đều thở dài:

– Có ai ngờ một người thần dũng trí mưu như Dương giáo chủ, chỉ vì tình nghĩa phu thê mà đến nỗi tẩu hỏa nhập ma quy thiên. Nếu như chúng ta sớm được đọc lá thư này thì đâu đến nỗi hôm nay thua một trận không còn manh giáp.

Mọi người nghĩ đến phần lớn giáo chúng bị chết thảm, chính mình phải bỏ chạy nhục nhã, ai nấy nghiến răng chửi bới Thành Côn. Dương Tiêu nói:

– Gã Thành Côn kia tuy là sư huynh của Dương giáo chủ phu nhân, là sư phụ của Kim Mao Sư Vương, nhưng trước kia chúng ta chưa ai gặp hắn lần nào, thấy người này quả thực tâm địa độc hiểm. Thì ra mấy chục năm trước hắn đã chăm chăm tìm cách phá hủy bản giáo rồi.

Chu Điên nói:

– Dương tả sứ, Vi Bức Vương, hai người đều rơi vào kế của y mà không hay biết, có thể nói là bất tài đó.

Y vốn định nói cả Ân Thiên Chính luôn, nhưng vì nể mặt giáo chủ nên không nhắc đến bốn chữ "lão già Bạch Mi" thôi. Dương Tiêu mặt đỏ lên, nói:

– Thế nhưng "lưới trời lồng lộng, thưa mà không lọt", tên ác tặc Thành Côn kia sau cùng cũng bị táng mạng dưới chưởng của Dã Vương huynh.

Chưởng kỳ sứ Liệt Hỏa kỳ là Tân Nhiên hậm hực nói:

– Tên ác tặc Thành Côn kia làm biết bao điều ác nghiệt, chỉ chết như thế thì quả thật là sướng cho hắn.

Mọi người bàn tán một hồi, rồi chia ra tĩnh tọa dụng công để dưỡng lành thương thế. Ở trong bí đạo bảy tám ngày, vết thương của Trương Vô Kỵ đã khỏi đến chín phần, thành một cái sẹo dài hơn tấc, chàng liền ra tay điều trị cho các huynh đệ bị ngoại thương. Tuy nơi đây dược liệu thiếu thốn, nhưng với tài xoa nắn, châm cứu của chàng, vẫn chẳng kém gì một đại danh y. Trước kia mọi người chỉ biết vị giáo chủ trẻ tuổi này võ công cao thâm không ai lường được, có biết đâu y thuật của chàng cũng tinh thông đến thế, chẳng kém gì Điệp Cốc Y Tiên Hồ Thanh Ngưu năm xưa. Lại thêm vài ngày nữa, vết thương của Trương Vô Kỵ hoàn toàn khỏi hẳn, lập tức vận Cửu dương thần công giúp cho Dương Tiêu, Vi Nhất Tiếu, Ngũ tản nhân khu trục hàn độc Ảo Âm Chỉ trong người. Chỉ trong ba ngày, nội thương của các đại cao thủ đều hết, người nào người nấy ý khí phấn chấn, muốn ra khỏi đường hầm, tiến lên tấn công kẻ địch. Trương Vô Kỵ nói:

– Các vị thương thế mới khỏi, nội lực chưa đầy đủ, mình đã nhẫn nại lâu nay, vậy xin cố đợi thêm ít hôm nữa.

Mấy ngày đó mọi người càng ra công rèn luyện, kẻ võ công thấp thì mài đao dũa kiếm, kẻ võ công cao luyện khí vận kình, từ khi sáu đại phái vây công đỉnh Quang Minh đến giờ, Minh giáo chỉ toàn là bị tấn công, thật nhục nhã, bao nhiêu oán khí đều tích tụ vào đây.

Buổi chiều hôm đó, Dương Tiêu đem giáo nghĩa tông chỉ của Minh giáo, các quy củ tương truyền từ đời trước đến nay, thế lực chi, đàn các nơi thế nào, tính cách tài năng các nhân vật thủ lĩnh ra sao, bẩm báo với Trương Vô Kỵ hết cả.

Bỗng nghe tiếng dây xích "leng keng", Tiểu Chiêu bưng trà vào, đưa lên hai chén trà nóng.

Trương Vô Kỵ nói:

– Dương tả sứ, cô nương này gần đây không làm điều gì sai trái, xin ông mở khóa thả cô ta ra đi.

Dương Tiêu đáp:

– Giáo chủ đã có lệnh, đâu dám không theo.

Lập tức gọi Dương Bất Hối vào, nói:

– Bất Hối, giáo chủ bảo con hãy mở khóa cho Tiểu Chiêu đi.

Dương Bất Hối đáp:

– Chìa khóa con để trong ngăn kéo trong phòng, không đem xuống đây.

Trương Vô Kỵ nói:

– Cái đó cũng không sao, chìa khóa có lẽ đốt không cháy đâu.

Dương Tiêu đợi con gái và Tiểu Chiêu ra khỏi rồi, nói:

– Giáo chủ, con tiểu a đầu Tiểu Chiêu tuy tuổi nhỏ, nhưng sự thực rất quái lạ, với nó không thể không lưu tâm đề phòng.

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Lai lịch tiểu cô nương đó ra sao?

Dương Tiêu trả lời:

– Nửa năm trước đây, thuộc hạ và Bất Hối xuống núi du ngoạn, gặp nó một thân một mình trong sa mạc, đang ngồi ôm hai xác chết khóc lóc. Chúng thuộc hạ liền đến gần tra hỏi, nó nói người chết chính là song thân nó. Cha nó ở Trung nguyên đắc tội với quan quân, cả nhà ba người bị sung quân đưa đi Tây Vực, mấy hôm trước vì không chịu nổi cảnh lăng nhục của quân Mông Cổ nên bỏ trốn. Song thân nó bị thương nên kiệt lực, hai người cùng chết cả. Thuộc hạ thấy đứa bé này còn nhỏ mà đã cô khổ lênh đênh, tuy mặt mày rất xấu xí, nhưng nói năng không đến nỗi ngu đần, nên giúp nó chôn cất song thân, đem nó về hầu hạ Bất Hối.

Trương Vô Kỵ gật đầu nghĩ thầm: "Thì ra song thân Tiểu Chiêu cùng chết cả rồi, thân thế thật đáng thương, chẳng khác gì ta cả".

Dương Tiêu nói tiếp:

– Chúng thuộc hạ đưa Tiểu Chiêu về đỉnh Quang Minh rồi, một hôm thuộc hạ dạy võ nghệ cho Bất Hối, Tiểu Chiêu đứng bên cạnh nghe, nào ngờ khi thuộc hạ giải thích phương vị của sáu mươi tư quẻ, Bất Hối còn chưa hiểu nhưng mắt của Tiểu Chiêu đã nhìn đúng ngay vị trí rồi.

Trương Vô Kỵ nói:

– Có lẽ cô nương ấy thiên tư thông tuệ, ngộ tính so với Bất Hối muội tử nhanh hơn chăng?

Dương Tiêu nói:

– Lúc đầu thuộc hạ cũng nghĩ như thế cho nên rất cao hứng, nhưng chỉ suy nghĩ lại, bỗng nghi ngờ, cố ý nói sai mấy câu khẩu quyết thật khó mà thuộc hạ chưa dạy Bất Hối bao giờ. Lúc đó mặt trời đã ngả về phương tây, Địa Hỏa Minh Di, Thủy Hỏa Vị Tế, thuộc hạ cố tình nói sai phương vị, con bé đó liền cau mày, dĩ nhiên đã nhìn ra chỗ sai của thuộc hạ. Từ đó thuộc hạ lưu tâm, biết là tiểu cô nương này đã được cao nhân truyền thụ, thân mang võ công thượng thừa, lên đỉnh Quang Minh này không phải là chuyện bình thường, mà có một mục đích nào đó.

Trương Vô Kỵ nói:

– Hoặc giả thân phụ cô nương ấy tinh thông dịch lý, đây là sở học gia truyền, nên biết được như thế.

Dương Tiêu đáp:

– Xin giáo chủ minh giám: Cái học về dịch lý của văn sĩ so với dịch lý trong võ học có chút khác nhau. Nếu như sở học của Tiểu Chiêu là do song thân truyền cho, thì song thân nó phải là nhất lưu cao thủ trong võ lâm, thế thì lẽ nào lại bị quan quân Mông Cổ lăng nhục mà chết? Khi đó thuộc hạ giả như không biết, vài hôm sau mới hỏi qua tên tuổi, thân thế cha mẹ nó. Nó chối sạch nhưng cũng không để lộ một chút dấu vết nào. Khi đó thuộc hạ cũng chưa hành động, chỉ dặn Bất Hối để ý thôi.

Một buổi kia thuộc hạ kể chuyện vui, Bất Hối cười khanh khách, Tiểu Chiêu đứng bên nghe, nhịn không nổi cũng cười theo. Khi đó nó đứng đằng sau thuộc hạ và Bất Hối, nghĩ rằng cha con tôi không nhìn thấy nó, nào ngờ trong tay Bất Hối đang cầm chơi một con dao găm, con dao đó sáng loáng như gương, phản chiếu rõ ràng nụ cười của nó. Nó đâu có phải là một con bé xấu như ma lem mà so với Bất Hối còn đẹp hơn nhiều. Đến khi thuộc hạ quay đầu nhìn lại, nó lập tức biến thành một đứa bé quái tướng mồm méo mắt lệch.

Trương Vô Kỵ mỉm cười nói:

– Suốt ngày giả cách thành quái dị như thế, quả thực không phải dễ dàng.

Bụng lại nghĩ: "Dương tả sứ là một nhân vật lợi hại thế này, Tiểu Chiêu chỉ là một cô bé con mà lại muốn bẻ trộm hoa trước mặt ông ta thì làm sao giấu nổi".

Dương Tiêu nói tiếp:

– Thế nhưng khi đó thuộc hạ vẫn để yên không nói, tối hôm đó, canh khuya khi mọi người đã ngủ yên, thuộc hạ len lén đến phòng con gái để xem Tiểu Chiêu làm gì. Ngay lúc đó Tiểu Chiêu từ phòng Bất Hối đi ra, đi qua bên các phòng phía đông, không biết đi tìm cái gì, mỗi gian, mỗi chỗ kín đáo đều lục lọi cả. Thuộc hạ không còn nhịn nổi nữa, bước ra hỏi nó tìm cái gì, do ai phái đến đỉnh Quang Minh dò xét. Nó vẫn trấn tĩnh, không một chút hoảng hốt, nói không ai phái đến cả, chỉ vì hiếu kỳ thích đi nơi này nơi khác chơi cho vui thôi. Thuộc hạ dọa nạt khuyên bảo dụ dỗ cách nào, nó chung quy vẫn không lộ nửa câu. Thuộc hạ nhốt nó bảy ngày bảy đêm không cho ăn, đói đến nỗi chỉ còn thoi thóp, nó cũng không chịu nói. Thành thử thuộc hạ mới đem chiếc xích lưu truyền trong bản giáo đã lâu nay khóa nó lại, để khi nào đi lại vang tiếng leng keng, không thể lén gia hại Bất Hối. Thuộc hạ sở dĩ chưa giết nó ngay, cốt để tra xét lai lịch của nó. Giáo chủ, con tiểu a đầu này do địch nhân sai đến đây, không còn nghi ngờ gì nữa, cứ xét việc nó tinh thông phương vị bát quái ra, e rằng nếu không phải phái Côn Luân, cũng là phái Nga Mi gửi đến. Thế nhưng một đứa bé con thì làm được gì? Vị tình nó chăm lo hầu hạ giáo chủ, giáo chủ từ bi tha cho nó, cũng là may cho nó lắm rồi.

Trương Vô Kỵ đứng dậy, cười nói:

– Chúng ta ở trong địa đạo này tù túng đã lâu ngày, bây giờ đi ra ngoài cho thư thái một chút nên chăng?

Dương Tiêu mừng rỡ, hỏi lại:

– Mình định đi ra ư?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Những người bị thương chưa khỏi, dù thế nào chăng nữa cũng không được động thủ, muốn lập công không phải chỉ ngày hôm nay. Còn bao nhiêu đều ra cả, có được không?

Dương Tiêu liền đi ra truyền lệnh, trong đường hầm tiếng hoan hô ầm ỹ. Mọi người khi vào đường hầm là theo cửa ngõ trong phòng Dương Bất Hối, bây giờ đi ra là theo cửa hông, đi thông qua phía hậu sơn. Trương Vô Kỵ đẩy tảng đá chắn lối, tự mình ra trước, đợi mọi người ra hết rồi mới đẩy tảng đá trở lại. Chưởng kỳ sứ Hậu Thổ kỳ Nhan Viên là người có thần lực mạnh nhất trong Minh giáo, liền đẩy thử tảng đá trông như hòn núi nhỏ kia xem sao, thấy chẳng khác nào chuồn chuồn lay cột nhà, không nhúc nhích chút nào, kinh hãi lè lưỡi không rụt lại được, càng nghĩ càng phục vị giáo chủ trẻ tuổi.

Mọi người ra khỏi đường hầm, sợ rằng địch nhân phát giác, đến tiếng đằng hắng cũng không ai dám mở miệng. Trương Vô Kỵ đứng trên một tảng đá lớn, dưới ánh trăng, thấy thuộc hạ của Thiên Ưng giáo dàn thành vị trí khách ở hướng tây, Thiên Vi, Tử Vi, Thiên Thị tam đường, Thần Xà, Thanh Long, Bạch Hổ, Chu Tước, Huyền Võ ngũ đàn, đâu đâu cũng có hàng ngũ, sắp đặt nhịp nhàng trật tự. Ở phía đông là ngũ kỳ của Minh giáo: Nhuệ Kim, Cự Mộc, Hồng Thủy, Liệt Hỏa, Hậu Thổ các kỳ do chánh, phó chưởng kỳ sứ tất lãnh, huynh đệ trong kỳ chia theo phương vị ngũ hành mà đứng. Ở giữa là thuộc hạ của Dương Tiêu gồm Thiên, Địa, Phong, Lôi tứ môn do các môn chủ thống lãnh thuộc hạ trên đỉnh Quang Minh. Thiên Tự Môn là các nam giáo chúng của Trung nguyên, Địa Tự Môn là các nữ giáo chúng, Phong Tự Môn là người tu hành Thích gia, Đạo gia; còn Lôi Tự Môn là người thuộc phiên bang Tây Vực. Tuy liên tiếp chiến đấu nhiều ngày qua, Ngũ Hành Tứ Môn có số người thương vong rất lớn, nhưng lúc này ai ai cũng đều phấn chấn. Thanh Dực Bức Vương Vi Nhất Tiếu và Ngũ tản nhân đứng sau lưng hộ vệ giáo chủ. Ai nấy đều yên lặng chờ Trương Vô Kỵ ra lệnh.

Trương Vô Kỵ chậm rãi nói:

– Địch nhân đến tấn công trọng địa của bản giáo, chúng ta tuy muốn chấm dứt một cách an lành nhưng cũng không xong. Thế nhưng bản nhân vốn không muốn tàn sát, cũng mong các vị thể niệm ý nguyện đó cho. Thiên Ưng giáo do Ân giáo chủ tất lãnh, từ phía tây tấn công tới, Ngũ Hành kỳ do Cự Mộc kỳ chưởng kỳ sứ Văn Thương Tùng thống lãnh từ phía đông đánh qua. Dương tả sứ tất lãnh Thiên, Địa Tự Môn từ phía bắc đánh xuống. Ngũ tản nhân tất lãnh Phong, Lôi Tự Môn từ phía nam đánh lên; còn Vi Bức Vương cùng bản nhân ở giữa điều động.

Mọi người cùng cúi mình nhận lệnh. Trương Vô Kỵ phất tay một cái, hạ giọng nói:

– Tiến lên.

Bốn đội thuộc hạ liền chia ra bốn mặt đông tây nam bắc bao vây đỉnh Quang Minh. Trương Vô Kỵ quay sang nói với Vi Nhất Tiếu:

– Bức Vương, chúng ta từ đường hầm chui lên, đánh cho chúng trở tay không kịp.

Vi Nhất Tiếu mừng quá, nói:

– Hay lắm!

Hai người quay trở lại đường hầm, theo khuê phòng của Dương Bất Hối đi ra. Lúc đó bên trên đã đầy gạch ngói, gỗ cháy sụp xuống, mất rất nhiều công lao mới chui ra được, mùi khói khét lẹt. Khi đó thuộc hạ của Minh giáo còn ở xa nhưng địch nhân trú đóng trên đỉnh Quang Minh đã phát giác rồi, kêu la om sòm, báo động lẫn nhau. Trương Vô Kỵ và Vi Nhất Tiếu hai người nhìn nhau, nghĩ thầm: "Bọn này hoảng hoảng hốt hốt, chưa cần đánh đã biết thắng bại ra sao rồi".

Qua một lúc lâu, Thuyết Bất Đắc và Chu Điên cùng tiến vào, từ phía nam đến, xông vào trong đám người chém giết chẳng khác gì cắt dưa, thái rau. Kế đến Ân Thiên Chính, Dương Tiêu, Ngũ Hành kỳ cũng đến, hung hăng hò hét chẳng khác gì hổ giữa đàn dê.

Bọn đến chiếm đóng đỉnh Quang Minh là Cái Bang, Vu Sơn bang, phái Hải Sa bao gồm hơn một chục tiểu bang hội, thấy đỉnh Quang Minh đã cháy thành một khu đất trống, thuộc hạ của Minh giáo không thoát một ai, những tưởng mình đã toàn thắng. Cái Bang, Cự Kình bang và những phái khác hơn một nửa mấy ngày qua đã từ từ xuống núi, trên núi chỉ còn Thần Quyền môn, Tam Giang bang, Vu Sơn bang, Ngũ Phụng Đao bốn môn phái bang hội. Thuộc hạ của Minh giáo đột nhiên tấn công vào chém giết, bốn môn phái đó tuy cũng có một số hảo thủ, nhưng làm sao có thể chống nổi Dương Tiêu, Ân Thiên Chính, thành thử thời gian chưa đến một bữa ăn đã tử thương quá nửa.

Trương Vô Kỵ liền ra mặt, lớn tiếng nói:

– Các cao thủ Minh giáo đã tụ hội trên đỉnh Quang Minh, các môn phái, bang hội hãy vứt binh khí đầu hàng, đừng tiếp tục đánh nữa vô ích. Ta sẽ tha mạng cho các ngươi, đưa xuống núi.

Các hảo thủ trong Thần Quyền môn, Tam Giang bang, Vu Sơn bang, Ngũ Phụng Đao đã chết gần hết, những người còn lại thấy địch tụ tập quá đông, không ai còn ý chí nào mà chiến đấu, đều lần lượt ném binh khí đầu hàng. Chỉ có hơn hai chục hán tử ngoan cố kháng cự, trong giây lát đã bị giết sạch.

Trong mấy chục ngày qua, bọn Vu Sơn bang đã cắt tranh, lá dựng tạm trên núi mấy chục cái lều để trú thân, thuộc hạ của Cự Mộc kỳ liền cắt gỗ, xẻ cây, dựng thêm nhà cửa, còn đàn bà con gái trong Địa Tự Môn thì đun nước, đắp lò nấu ăn.

Trên đỉnh Quang Minh đốt lên một ngọn lửa lớn để cảm tạ Minh tôn, Hỏa thánh đã gia hộ phù trì.

Bạch Mi Ưng Vương Ân Thiên Chính đứng lên, dõng dạc nói:

– Giáo chúng trong Thiên Ưng giáo nghe đây: Bản giáo và Minh giáo đồng khí liên chi, vốn là một phái cả. Hơn hai mươi năm trước, bản nhân cùng với một số huynh đệ trong Minh giáo bất hòa, vì thế bản nhân đi xuống tận miền đông nam tự lập môn hộ. Hiện nay Minh giáo do Trương đại hiệp đứng ra đảm trách chức vị giáo chủ, ai ai cũng bỏ qua hết hiềm thù cũ, cùng nhau chung sức. "Thiên Ưng giáo" mấy chữ đó trên đời này kể từ hôm nay không còn nữa, tất cả chúng ta đều là thuộc hạ của Minh giáo, người người đều ở dưới quyền Trương giáo chủ phân phái hiệu lệnh. Nếu có ai không bằng lòng, thì mau ra khỏi đây, hạ sơn đi.

Thuộc hạ của Ân Thiên Chính trong Thiên Ưng giáo hoan hô ầm ĩ, cùng nói:

– Thiên Ưng giáo vốn từ Minh giáo mà ra, chuyện này chẳng qua chỉ là phản bản quy tông mà thôi. Huynh đệ chúng ta ai ai cũng gia nhập Minh giáo, còn gì tốt đẹp hơn. Ân giáo chủ với Trương giáo chủ là người nhà chí thân, nghe hiệu lệnh vị giáo chủ nào cũng vậy.

Ân Thiên Chính lớn tiếng nói:

– Kể từ hôm nay chỉ còn Trương giáo chủ mà thôi, nếu ai còn gọi ta một tiếng Ân giáo chủ tức là phạm thượng phản nghịch đó.

Trương Vô Kỵ chắp tay nói:

– Thiên Ưng giáo và Minh giáo chia rồi lại hợp, quả thực không còn điều gì vui mừng hơn. Chỉ vì tại hạ tình thế cấp bách, đành tạm nhiếp chức vụ giáo chủ. Hiện nay đại địch đã trừ xong rồi, chính là lúc chúng ta suy cử một vị giáo chủ khác. Trong bản giáo có biết bao anh hùng hào kiệt, tại hạ tuổi trẻ, tài nông, đâu dám đứng đầu quý vị.

Chu Điên lớn tiếng nói:

– Giáo chủ! Xin giáo chủ nghĩ hộ cho chúng thuộc hạ. Chúng thuộc hạ vì chức vụ giáo chủ mà trở thành chia năm xẻ bảy, bây giờ huynh đệ ai ai cũng cảm phục giáo chủ; nếu giáo chủ lại từ chối nữa, thì cứ đưa ra một người khác làm giáo chủ mà xem. Hứ hừ, dù ai chăng nữa, Chu Điên này là người đầu tiên không phục. Còn nếu bảo Chu Điên này làm ư, người khác cũng chẳng phục!

Bành Oánh Ngọc nói:

– Nếu giáo chủ không chịu đảm trách việc lớn, Minh giáo trở lại tàn sát lẫn nhau, đi lại vết xe cũ, không lẽ lúc đó lại mời đại hiệp ra cứu nữa hay sao?

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Mấy người này quả thực bụng mà nói, trong tình huống như thế ta không thể nào không để tâm đến. Thế nhưng chức giáo chủ này, ta thực tình không muốn làm, cũng chẳng nghĩ đến chuyện làm". Chàng bèn lớn tiếng nói:

– Nếu quả thực các vị có bụng thương yêu, tại hạ không dám chối từ, chỉ đành tạm giữ trọng nhiệm chức vụ giáo chủ, nhưng có ba điều mong các vị bằng lòng cho, nếu không, tại hạ dù chết cũng không dám nhận.

Mọi người nhao nhao nói:

– Giáo chủ đã ra lệnh, đừng nói ba điều, thậm chí đến ba mươi điều cũng đều tôn phụng, không dám trái. Không hiểu ba điều đó là điều gì, xin giáo chủ cho hay.

Trương Vô Kỵ nói:

– Bản giáo vốn bị người ngoài coi là tà ma ngoại đạo, tuy người ta quả thật không hiểu rõ chân tướng chúng ta, nhưng vì nhân số của bản giáo rất đông, không khỏi xấu tốt lẫn lộn, có kẻ không ra gì làm điều càn rỡ, tàn hại người lương thiện. Thành ra điều thứ nhất là hôm nay trở đi, từ bản nhân trở xuống, ai ai cũng phải nghiêm thủ giáo quy, làm điều thiện, trừ kẻ ác, hành hiệp trượng nghĩa. Người trong bản giáo phải thân ái giúp đỡ, tình như thủ túc, nhất quyết không được chống nhau.

Chàng quay sang liếc nhìn Chu Điên, nói:

– Miệng chửi thì không sao, động thủ thì nhất quyết không được. Bản nhân mời Lãnh Khiêm Lãnh tiên sinh đảm nhiệm giới đường chấp pháp, nếu ai vi phạm giáo quy, giết hại huynh đệ trong nhà, nhất luật dùng trọng hình xử tội, dù cho là bậc trưởng như ông ngoại, cậu của bản nhân, cũng không ngoại lệ.

Mọi người khom lưng đồng thanh đáp:

– Chính là như thế!

Lãnh Khiêm tiến lên một bước, nói:

– Phụng lệnh!

Ông ta không thích nói nhiều, nhưng hai tiếng vừa nói đó có nghĩa là ông sẽ làm hết sức mình, tuân hành mệnh lệnh giáo chủ. Trương Vô Kỵ nói tiếp:

– Việc thứ hai xem ra còn khó hơn nhiều. Bản giáo và các đại môn phái ở Trung nguyên kết oán đã sâu, hai bên môn nhân đệ tử, gia nhân bằng hữu, bên nào cũng có người chết. Từ nay chúng ta chuyện cũ bỏ qua, không nhớ oán thù xưa nữa, không được đi tìm các môn phái khác trả thù.

Mọi người nghe xong, trong bụng ai nấy đều cảm thấy không hài lòng, một hồi lâu không ai nói tiếng nào. Chu Điên nói:

– Nếu như người các môn phái khác đến gây chuyện với mình thì sao?

Trương Vô Kỵ nói:

– Lúc đó tùy cơ ứng biến, nếu đối phương nhất định làm khó mình, mình đâu thể bó tay chịu chết.

Thiết Quan đạo nhân nói:

– Thôi được, tính mạng chúng ta do giáo chủ cứu, giáo chủ bảo sao thì chúng ta nghe vậy.

Bành Oánh Ngọc lớn tiếng nói:

– Các vị huynh đệ, những môn phái Trung nguyên giết huynh đệ chúng ta không phải là ít, huynh đệ chúng ta giết họ cũng nhiều, thành ra hai bên thù oán dây dưa, qua qua lại lại, người chết mỗi lúc một nhiều. Giáo chủ bảo chúng ta không được tầm cừu, chính là điều tốt lành cho mình đó.

Mọi người thấy điều đó quả không sai, nên cùng chấp nhận. Trương Vô Kỵ trong lòng vui lắm, ôm quyền nói:

– Các vị khoan hồng đại lượng chính là phúc của võ lâm, thật may mắn cho tất cả mọi người.

Bèn ra lệnh cho các kỳ sứ Ngũ Hành kỳ thả hết bọn người của Thần Quyền môn, Vu Sơn bang bị bắt giữ, nói với họ rằng Minh giáo sẽ không còn là kẻ địch của các môn phái Trung nguyên nữa, rồi thả cả bọn xuống núi. Trương Vô Kỵ nói tiếp:

– Chuyện thứ ba là cứ theo di mệnh của Dương tiền giáo chủ mà làm. Dương tiền giáo chủ trong thư có viết phàm người nào đem được thánh hỏa lệnh về sẽ được tiếp nhiệm chức vụ giáo chủ đời thứ ba mươi tư, khi ông chết đi thì do Kim Mao Sư Vương tạm thời đảm trách. Chúng ta phải lập tức đi ra hải ngoại nghênh đón Tạ pháp vương trở về, để Sư Vương nhiếp hành giáo chủ, sau đó sẽ tìm cách đi tìm thánh hỏa lệnh. Lúc đó tiểu tử sẽ thoái vị nhượng hiền, các vị không thể dị nghị được nữa.

Mọi người nghe xong, ai nấy bần thần, nghĩ thầm: "Bọn mình như rắn mất đầu mấy chục năm qua, nay may mắn được một người trí dũng song toàn, nhân nghĩa hào hiệp làm giáo chủ. Sau này nếu như bản giáo có một kẻ tầm thường vô năng vô ý cướp được thánh hỏa lệnh, không lẽ cũng đưa y lên làm giáo chủ?"

Dương Tiêu nói:

– Di ngôn của Dương tiền giáo chủ viết hơn hai chục năm trước, lúc đó thế cục so với hôm nay khác hẳn nhau. Kim Mao Sư Vương lẽ dĩ nhiên phải đi đón rồi, thánh hỏa lệnh cũng phải đi tìm rồi, thế nhưng để người khác làm giáo chủ thì thật khó mà làm cho mọi người tâm phục.

Trương Vô Kỵ cương quyết cho rằng lệnh của Dương tiền giáo chủ không thể nào vi phạm, mọi người không biết tính sao, chỉ đành y theo, nghĩ thầm: "Kim Mao Sư Vương có khi chết rồi không chừng, còn thánh hỏa lệnh thất lạc đã gần trăm năm nay, biết đâu mà kiếm? Cứ theo lời ông ta đã, sau này nếu có gì thay đổi, lúc đó sẽ xét lại". Ba điều này, Trương Vô Kỵ mấy chục ngày qua đã suy đi tính lại, lúc này nghe thấy mọi người đồng ý tuân theo, rất lấy làm hoan hỉ, liền ra lệnh giết dê mổ bò, cùng mọi người trích máu ăn thề, không vi phạm ba điều ước ngôn.

Trương Vô Kỵ nói:

– Việc lớn trước mắt của bản giáo là đi ra hải ngoại nghênh đón Kim Mao Sư Vương Tạ pháp vương trở về, chính bản nhân không đi thì chẳng xong, vậy có ai nguyện ý đi với bản nhân không?

Mọi người ai nấy đều đứng lên, nói:

– Nguyện đi theo giáo chủ cùng ra hải ngoại.

Trương Vô Kỵ mới đảm nhiệm trọng trách, biết mình tài năng, hiểu biết đều không có, xử phân đại sự khó lòng chu đáo nên hạ giọng thương nghị với Dương Tiêu một hồi rồi mới lớn tiếng nói:

– Đi ra hải ngoại không cần đông người, huống chi bản giáo còn rất nhiều việc phải làm gấp. Thành thử, mời Dương tả sứ tất lãnh Thiên Địa Phong Lôi tứ môn ở lại trấn giữ đỉnh Quang Minh, xây dựng lại tổng đàn. Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ ngũ kỳ chia nhau đi các nơi chiêu tập những huynh đệ trong bản giáo bị tứ tán, truyền dụ ba điều huynh đệ chúng ta đã ước định. Xin ông ngoại và cậu tất lãnh Thiên Ưng kỳ, nghe ngóng xem có kẻ nào định làm khó bản giáo nữa không, luôn thể đi tìm Quang Minh hữu sứ và Tử Sam Long Vương đang ở đâu. Còn Vi Bức Vương đến các chưởng môn sáu đại môn phái Trung nguyên để nói rõ ý định tốt đẹp muốn ngừng chiến của Minh giáo, nếu như không thể hóa địch thành bạn thì cũng chấm dứt can qua. Việc này thật không phải dễ, nhưng với đại tài của Vi Bức Vương, mong rằng sẽ thành công. Còn việc đi ra hải ngoại nghênh đón Tạ pháp vương sẽ do bản nhân và Ngũ tản nhân cùng đi.

Lúc này chàng là giáo chủ, tuy ngôn ngữ khiêm tốn lễ độ, nhưng câu nào câu nấy đều là mệnh lệnh không thể vi phạm, ai ai cũng tuân theo không dám phản kháng câu nào. Dương Bất Hối nói:

– Cha ơi, con muốn đi ra hải ngoại xem cảnh băng sơn thế nào.

Dương Tiêu mỉm cười nói:

– Con xin với giáo chủ, cha không thể quyết định được.

Dương Bất Hối bĩu môi, không nói lời nào. Trương Vô Kỵ mỉm cười, nghĩ chuyện mấy năm trước đưa cô nàng qua Tây Vực, trên đường đi cứ đòi ca ca kể chuyện xưa, mình đã từng nói về cảnh vật kỳ lạ trên Băng Hỏa đảo, đến cả gấu trắng, hải cẩu, quái ngư các loại động vật lạ lùng cho cô nàng nghe, thành thử giờ phút này cô nàng muốn đến tận nơi xem đây mà. Chàng bèn nói:

Bất Hối muội tử, hải hành rất nhiều nguy hiểm, muội không sợ nhưng Dương tả sứ không yên tâm đâu! Thôi, thế thì cả Dương tả sứ lẫn muội cùng đi với huynh ra hải ngoại vậy.

Dương Bất Hối vỗ tay reo lên:

– Có gì đâu mà sợ? Cha ơi, mình cùng đi với Vô Kỵ ca ca.. không, đi với giáo chủ nhé.

Dương Tiêu không trả lời, nhìn Trương Vô Kỵ đợi lệnh. Trương Vô Kỵ nói:

– Nếu đã như thế, phiền Lãnh tiên sinh ở lại trấn giữ đỉnh Quang Minh, Thiên Địa Phong Lôi tứ môn tạm thời do Lãnh tiên sinh thống suất.

Lãnh Khiêm đáp:

– Dạ.

Chu Điên vỗ tay dậm chân, kêu lên:

– Hay lắm, hay lắm!

Thuyết Bất Đắc nói:

– Chu huynh, hay cái gì thế?

Chu Điên nói:

– Giáo chủ coi trọng Lãnh Khiêm như thế, cũng nở mày nở mặt cho Ngũ tản nhân chúng ta. Hơn nữa, biển cả mênh mông, không biết phải đi bao nhiêu ngày giờ trên thuyền. Có thêm cha con Dương tả sứ, nói chuyện nọ chuyện kia, có phải thích không? Ta muốn tìm người cãi qua cãi lại, chỉ có Dương tả sứ là đối thủ thôi. Nếu như đi cùng với Lãnh Khiêm, chả khác gì đi với khúc gỗ.

Mọi người cười ồ cả lên. Lãnh Khiêm không giận, cũng chẳng cười, làm như không nghe thấy. Hôm đó mọi người ăn uống xong chia ra nghỉ ngơi. Trương Vô Kỵ bảo Dương Bất Hối mở khóa cho Tiểu Chiêu nhưng chìa khóa bị lạc mất trong đám gạch ngói, than gỗ cháy đen tìm không thấy. Tiểu Chiêu thản nhiên nói:

– Nô tì đeo sợi dây xích này kêu leng keng, đi lại nghe càng hay, có nó cũng tốt.

Trương Vô Kỵ an ủi nàng ấy:

– Tiểu Chiêu! Tiểu cô nương cứ an tâm ở lại trên đỉnh Quang Minh, ta đi đón nghĩa phụ về rồi sẽ mượn thanh đao Đồ Long chặt đứt dây xích này cho.

Tiểu Chiêu buồn bã lắc đầu, không trả lời. Sáng sớm hôm sau, Trương Vô Kỵ tất lãnh mọi người, chia tay cùng Lãnh Khiêm. Lãnh Khiêm nói:

– Giáo chủ, bảo trọng!

Trương Vô Kỵ đáp:

– Lãnh tiên sinh tọa trấn tổng đàn, quả thật khó nhọc cho tiên sinh quá.

Lãnh Khiêm lại quay sang nói với Chu Điên:

– Cẩn thận, quái ngư ăn ngươi.

Chu Điên nắm chặt tay lão, trong lòng thật cảm kích. Ngũ tản nhân tình như thủ túc, Lãnh Khiêm hôm nay phá lệ nói thêm sáu chữ, trong lòng thật sự hết sức lo lắng quái ngư trên biển cả sẽ ăn thịt huynh đệ. Lãnh Khiêm và các thủ lĩnh Thiên, Địa, Phong, Lôi bốn môn tiễn chân mọi người rời khỏi đỉnh Quang Minh rồi mới chịu chia tay.

Comments

0 comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 23: Đóa thủy tiên khiến khách mê say

Đoàn người đi được độ hơn một trăm dặm, giữa sa mạc mới dừng lại nghỉ ngơi. Trương Vô Kỵ ngủ đến nửa đêm bỗng nghe từ phía tây loáng thoáng vọng lại tiếng kim loại chạm nhau leng keng, trong lòng thảng thốt, lập tức lén trở dậy đi về phía có âm thanh lạ. Được hơn một dặm, chàng thấy một bóng người mảnh khảnh di động dưới ánh trăng, vội bước tới, kêu lên:

– Tiểu Chiêu, sao tiểu cô nương lại tới đây?

Bóng người đó chính là Tiểu Chiêu. Nàng bất ngờ gặp lại Trương Vô Kỵ ở đây liền òa lên khóc, sà vào lòng chàng mà nức nở không nói gì. Trương Vô Kỵ vỗ nhẹ lên vai Tiểu Chiêu, vỗ về:

– Thôi đừng khóc nữa, đừng khóc nữa!

Tiểu Chiêu dường như bao nhiêu nỗi niềm bây giờ mới có dịp phát tiết, lại càng khóc lớn hơn, thổn thức:

– Công tử đi đâu, nô tì.. sẽ đi theo đó!

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Cô bé này cha mẹ mất cả rồi, lại bị cha con Dương tả sứ nghi ngờ, quả thật đáng thương. Có lẽ vì mình luôn ôn hòa thương mến, nên cô nương ấy mới quyến luyến không muốn rời". Chàng bèn nói:

– Được rồi, đừng khóc nữa, vậy ta mang cô nương cùng đi hải ngoại.

Tiểu Chiêu mừng quá liền ngẩng đầu lên nhìn Vô Kỵ. Dưới ánh trăng mờ ảo, khuôn mặt xinh đẹp nhỏ nhắn của nàng như phủ một lớp lụa mỏng, những giọt lệ lấp lánh chưa khô, đôi mắt xanh màu nước biển dường như ánh lên một nỗi niềm. Trương Vô Kỵ mỉm cười nói:

– Tiểu Chiêu, mai này lớn lên thể nào cô nương cũng rất xinh đẹp.

Tiểu Chiêu hỏi lại:

– Sao công tử biết?

Trương Vô Kỵ chưa kịp trả lời, bỗng nghe phía đông bắc có tiếng vó ngựa lộp cộp, một đại đội nhân mã từ tây sang đông, chạy vụt qua, ít ra cũng phải hơn trăm con. Qua một lúc lâu lại thấy Vi Nhất Tiếu và Dương Tiêu lần lượt chạy đến, nói:

– Giáo chủ, trong đêm hôm khuya khoắt có đại đội người ngựa chạy như thế, không chừng là kẻ địch của bản giáo.

Trương Vô Kỵ bảo Tiểu Chiêu đến gặp bọn Bành Oánh Ngọc, còn mình cùng Dương, Vi hai người chạy về phía có tiếng vó ngựa để tra xét. Khi đến gần, quả nhiên trên sa mạc còn một dãy vết chân ngựa. Vi Nhất Tiếu cúi xuống xem, bốc một nắm cát lên, nói:

– Có vết máu.

Trương Vô Kỵ cũng bốc một nắm cát đưa lên mũi, quả nhiên ngửi thấy mùi máu tanh. Ba người theo vết chân ngựa đến ba bốn dặm, Dương Tiêu bỗng thấy phía bên trái trong bãi cát có một mảnh đao gãy, vội cầm lên xem, thấy cán đao có khắc ba chữ "Phùng Viễn Thanh". Dương Tiêu hơi ngẫm nghĩ, nói:

– Đây là người của phái Không Động. Thưa giáo chủ, có lẽ phái Không Động chuẩn bị ngựa xe tại chỗ này để về Trung nguyên.

Vi Nhất Tiếu nói:

– Từ đỉnh Quang Minh xuống đã hơn nửa tháng, nếu như họ còn lẩn quẩn ở đây chẳng biết làm trò quỷ quái gì?

Ba người biết là phái Không Động rồi, chẳng thèm để ý nữa, quay về chỗ cũ nằm ngủ.

Đi được năm ngày, từ thảo nguyên trước mặt có một đoàn người đi đến, phần lớn mặc áo đen kiểu ni cô, nhưng cũng có bảy tám nam nhân. Hai bên đến gần, một ni cô the thé kêu lên:

– Đây là ác tặc của Ma giáo!

Cả bọn lập tức rút binh khí, tản ra nghinh địch. Trương Vô Kỵ thấy họ là người của phái Nga Mi, không hiểu sao đã đi rồi còn quay trở lại, mà những người này chàng chưa gặp bao giờ, nên hỏi lớn:

– Các vị sư thái có phải là môn hạ phái Nga Mi chăng?

Một ni cô người nhỏ bé vượt đám đông tiến ra, gằn giọng hỏi:

– Ác tặc Ma giáo kia, hỏi cái gì? Mau ra đây chịu chết!

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Ngoại hiệu của sư thái là gì? Cớ sao lại nổi giận như thế?

Ni cô đó quát lớn:

– Ác tặc, thứ như ngươi mà dám hỏi ngoại hiệu ta ư? Ngươi là ai?

Vi Nhất Tiếu phóng vụt ra, xông thẳng vào đám đông, điểm huyệt hai nam đệ tử, nắm cổ cả hai người, chạy thẳng ra ngoài xa, ném xuống đất, rồi lại chạy về chỗ cũ. Hành động đó chẳng khác gì chim cắt bắt mồi, nhanh không thể tả. Vi Nhất Tiếu cười khẩy mấy tiếng, nói:

– Vị này là Trương giáo chủ của Minh giáo, người võ công đệ nhất thiên hạ, một nam tử can đảm vô song, thống suất Tả Hữu Quang Minh sứ giả, Tứ Đại Hộ Giáo pháp vương, Ngũ tản nhân, Ngũ Hành kỳ, Thiên Địa Phong Lôi tứ môn, đã từng đuổi phái Nga Mi xuống núi, đoạt bảo kiếm Ỷ Thiên trong tay Diệt Tuyệt sư thái, với một nhân vật như thế có đủ để hỏi pháp danh của sư thái hay chăng?

Vi Nhất Tiếu nói một thôi một hồi, quần đệ tử phái Nga Mi ai nấy đều kinh hãi, lại vừa mới thấy Vi Nhất Tiếu trổ chút công phu thượng thừa như thế, còn ai dám hoài nghi lời nói của y. Ni cô trung niên kia lấy lại bình tĩnh, rồi nói:

– Các hạ là ai?

Vi Nhất Tiếu đáp:

– Tại hạ họ Vi, ngoại hiệu Thanh Dực Bức Vương.

Trong phái Nga Mi có mấy tiếng kêu lên hoảng hốt, bốn người vội chạy đến xem hai gã đồng môn vừa bị Vi Nhất Tiếu điểm huyệt vứt ngoài xa.

Vi Nhất Tiếu nói:

– Phụng hiệu lệnh của Trương giáo chủ, Minh giáo và sáu đại môn phái chấm dứt binh đao, bỏ hết thù cũ, kể từ nay giao hảo với nhau. Quý đồng môn cũng may lắm đó nên Vi Bức Vương ta lần này tha không hút máu.

Từ khi Vi Nhất Tiếu được Trương Vô Kỵ dùng Cửu dương thần công trị thương, chẳng những trừ hết âm độc Ảo Âm Chỉ, mà cả những độc khí từ trước tích tụ cũng hết quá nửa, nên không cần phải hút máu kháng hàn mỗi khi hành công vận kình. Bốn người đó dìu hai đồng môn bị điểm huyệt kia về, đang định tìm cách giải huyệt chữa trị, bỗng nghe hai tiếng veo veo, tiếp theo xé gió, hai viên sỏi nhỏ đã bắn tới, trúng ngay huyệt đạo hai người kia, lập tức giải khai các nơi bị điểm. Đó là Dương Tiêu dùng "Đàn chỉ thần thông" ngược lại với công phu "Trịch thạch điểm huyệt". Ni cô trung niên kia thấy đối phương người cũng không ít, chỉ mới hai người lộ chút tài năng mà võ công đã cao siêu ghê gớm, nếu như động thủ, ắt sẽ chuốc lấy thảm bại. Thành thử dù tám chữ "chấm dứt binh đao, bỏ hết thù cũ" không biết thật hay giả, ni cô cũng nói:

– Bần ni pháp danh Tĩnh Không. Các vị có thấy sư phụ chúng tôi đâu không?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Tôn sư từ đỉnh Quang Minh xuống núi đã hơn nửa tháng, chắc lúc này vào ải Ngọc Môn rồi đó. Các vị từ phía đông lại, chẳng lẽ trên đường không gặp nhau hay sao?

Một người đàn bà chừng khoảng ba mươi ở đằng sau Tĩnh Không liền nói:

– Sư tỷ đừng nghe y nói láo! Chúng ta chia ba ngả tiếp ứng, có hỏa tiễn làm tín hiệu liên lạc, lẽ nào trên đường lại không gặp nhau?

Chu Điên thấy người kia ăn nói vô lễ, muốn dạy cho mấy câu bèn nói:

– Nói láo ư, giỏi thật..

Trương Vô Kỵ liền hạ giọng:

– Chu tiên sinh đừng chấp nhất họ làm chi. Bọn họ không tìm thấy sư phụ, dĩ nhiên nóng ruột.

Tĩnh Không mặt đầy vẻ hoài nghi, nói:

– Gia sư và huynh đệ đồng môn có phải đã rơi vào tay Minh giáo rồi chăng? Đại trượng phu quang minh lỗi lạc, việc gì phải giấu giếm?

Chu Điên cười nói:

– Thôi nói thực cho các người nghe, phái Nga Mi không lượng sức mình, đến vây đánh đỉnh Quang Minh, từ Diệt Tuyệt sư thái trở xuống đều bị bắt cả rồi, hiện nay nhốt dưới thủy lao, để cho họ ăn năn sám hối mười năm tám năm, đến lúc đó có thả hay không còn tùy.

Bành Oánh Ngọc vội nói:

– Các vị đừng nghe vị Chu huynh này nói giỡn. Diệt Tuyệt sư thái thần công cái thế, môn hạ đệ tử ai ai võ công cũng cao cường, làm sao lại rơi vào tay Minh giáo cho được? Lúc này hai bên quý phái và bản giáo đã ngừng chiến giảng hòa với nhau, các vị trở về núi Nga Mi đi, tự nhiên sẽ gặp.

Tĩnh Không nửa tin nửa ngờ, chần chừ không thể quyết định được. Vi Nhất Tiếu nói:

– Vị Chu huynh này thích nói đùa, không lẽ đường đường địa vị giáo chủ tôn quý của bản giáo cũng lại đánh lừa tiểu bối hay sao?

Người thiếu phụ trung niên kia lại nói:

– Trước nay Ma giáo quỷ kế đa đoan, gian trá giảo hoạt, lời nói làm sao tin được?

Chưởng kỳ sứ Hồng Thủy kỳ là Đường Dương liền phất tay một cái, lập tức Ngũ Hành kỳ giãn ra xa xa, sau đó lại bao vây trở lại. Cự Mộc ở phía đông, Liệt Hỏa phía nam, Nhuệ Kim phía tây, Hồng Thủy phía bắc, còn Hậu Thổ ở bên ngoài di động tiếp ứng, vây chặt tất cả người của phái Nga Mi.

Ân Thiên Chính lớn tiếng nói:

– Lão phu là Bạch Mi Ưng Vương, chỉ cần một mình ta ra tay là đã lập tức bắt được tất cả bọn tiểu bối các ngươi rồi. Minh giáo hôm nay thủ hạ lưu tình, những người ít tuổi các ngươi sau này ăn nói cho có ý tứ.

Mấy câu đó oang oang vang dội, chấn động đến nỗi bọn người của phái Nga Mi ù cả tai, tâm thần hoảng hốt, không tự chế nổi. Chỉ thấy lão nhân mày râu trắng xóa, thần uy lẫm lẫm, ai nấy đều kinh hãi.

Trương Vô Kỵ chắp tay nói:

– Khi nào gặp lại tôn sư, xin cho Trương Vô Kỵ của Minh giáo gửi lời vấn an lão nhân gia.

Nói xong chàng quay về hướng đông, đi thẳng. Đường Dương đợi Vi Nhất Tiếu, Ân Thiên Chính đi rồi, lúc ấy mới vẫy tay triệu hồi Ngũ Hành kỳ. Quần đệ tử phái Nga Mi thấy thế, trong bụng hãi thầm, đứng nhìn Trương Vô Kỵ và tùy tùng đi xa xa, miệng há hốc, không nói nên lời. Bành Oánh Ngọc nói:

– Giáo chủ, tôi xem chuyện này bên trong có điều bất thường. Diệt Tuyệt sư thái cùng đệ tử trở về theo hướng đông, không lẽ lại lạc không gặp môn nhân? Các môn các phái đi đường thể nào chẳng có tín hiệu, lẽ nào biến mất không để lại tăm hơi gì?

Mọi người vừa đi vừa bàn thảo, cảm thấy phái Nga Mi bao nhiêu người bỗng dưng mất tích trên sa mạc, chuyện thật khó hiểu, Trương Vô Kỵ trong bụng lo lắng cho an nguy của Chu Chỉ Nhược, nhưng không tiện nói với người ngoài. Hôm đó đi đến tối, chưởng kỳ sứ Hậu Thổ kỳ là Nhan Viên bỗng nói:

– Ở đây có điều khác lạ!

Y chạy đến một hàng cây thấp ở phía trước quan sát, giật một chiếc thuổng từ tay một giáo chúng bản kỳ rồi hì hục đào dưới đất. Một lát sau, quả nhiên lộ ra một xác người. Cái xác đó đã thối rữa, mặt mũi không còn nhận rõ, nhưng cứ theo quần áo trên người thì rõ ràng là đệ tử phái Côn Luân. Các giáo chúng Hậu Thổ kỳ liền nhất tề đào bới, trong chốc lát đã thành một cái hố lớn, trong hố để chất đống mười sáu tử thi, tất cả đều là người của phái Côn Luân. Nếu như người của môn phái họ chôn cất, ắt không thể nào đơn sơ như thế, hiển nhiên là do kẻ địch đã làm. Xem xét những xác này, ai ai cũng có vết thương trên người. Trương Vô Kỵ ra lệnh cho Hậu Thổ kỳ chia ra từng người chôn cất riêng rẽ cho tử tế.

Cả bọn người nọ nhìn người kia, bụng ai cũng hỏi thầm: "Ai giết chúng chứ?" Ngơ ngẩn một hồi, Bành Oánh Ngọc nói:

– Nếu không truy cứu cho đến đầu đến đũa, món nợ này thể nào cũng đổ lên đầu Minh giáo chúng ta.

Thuyết Bất Đắc lớn tiếng nói:

– Các huynh đệ nghe đây, nếu như đánh nhau ban ngày ban mặt, mình có giáo chủ đứng đầu, tuy không dám nói là vô địch thiên hạ, nhưng cũng không thể thua ai. Thế nhưng tên bắn trộm rất khó đề phòng, từ rày trở đi, ăn uống gì, nghỉ ngơi ở đâu, chỗ nào cũng phải đề phòng địch nhân ám toán, hạ độc. Tất cả đồng thanh đáp ứng. Đi một quãng nữa, thấy mặt trời đỏ như máu, trời từ từ tối dần, mọi người đang tính chuyện tìm chỗ nghỉ ngơi thì bỗng thấy trên trời phía đông bắc có bốn con kên kên ở trên không bay lượn vòng vòng. Đột nhiên một con lao xuống, rồi lại bay vọt lên, lông rơi tơi tả, kêu kéc kéc mấy tiếng, hiển nhiên bị vật gì đánh trúng. Từ khi chưởng kỳ sứ Nhuệ Kim kỳ Trang Tranh bị chết vì kiếm Ỷ Thiên, Trương Vô Kỵ đưa phó kỳ sứ Ngô Kình Thảo lên làm chánh kỳ sứ, lúc này thấy chim kên kên có vẻ lạ lùng, liền nói:

– Để ta đi xem.

Y dẫn theo hai người tùy tùng vội chạy về phía đó. Một lúc sau, một giáo chúng chạy trở lại, bẩm với Trương Vô Kỵ:

– Bẩm cáo giáo chủ, Ân lục hiệp của phái Võ Đang bị rơi xuống dưới vực cát.

Trương Vô Kỵ giật mình kinh hãi, nói:

– Ân lục hiệp ư? Có bị thương không?

Người kia đáp:

– Dường như bị thương nặng, Ngô kỳ sứ thấy là Ân lục hiệp nên sai thuộc hạ cấp tốc báo cho giáo chủ. Ngô kỳ sứ hiện đang xuống dưới sa cốc cứu giúp..

Trương Vô Kỵ lòng nóng như lửa đốt, không đợi y nói hết đã vội vàng chạy đi. Dương Tiêu, Ân Thiên Chính cả bọn lục tục chạy theo. Đi đến gần, thấy đó là một cái vực cát thật lớn, sâu đến hơn chục trượng, Ngô Kình Thảo tay trái ôm Ân Lê Đình, đi một bước lại sụp một cái, đang cố gắng hết sức để trèo lên. Trương Vô Kỵ liền theo vách cát trượt xuống, đưa tay nắm cánh tay phải của Ngô Kình Thảo, tay kia đưa vào thăm hơi thở Ân Lê Đình, thấy vẫn còn thoi thóp, cũng hơi yên lòng, vội đón lấy sư thúc. Chàng nhảy mấy cái đã ra khỏi sa cốc, để Ân sư thúc nằm trên mặt đất, chăm chú xem kỹ, không khỏi vừa kinh hãi, vừa tức giận, không biết tính sao. Chỉ thấy Ân Lê Đình hơi thở yếu ớt, đầu gối, khuỷu tay, cổ chân, cổ tay, ngón chân, ngón tay tất cả các khớp xương đều bị bẻ gãy không cử động được, đối phương hạ độc đến thế thực khiến người ta phải ghê rợn. Tuy nhiên thần trí Ân Lê Đình vẫn chưa đến nỗi hôn mê, thấy Trương Vô Kỵ, mặt lộ vẻ vui mừng liền nhả ra hai viên đá. Thì ra sau khi bị thương, ông bị người ta vứt xuống vực cát, nhờ có nội lực tinh thuần nên không đến nỗi chết ngay, kên kên sà xuống toan ăn thịt bị ông nghiêng đầu ngoạm mấy viên đá, phun ra chặn chúng lại, cứ khổ sở chống đỡ như thế suốt mấy hôm nay. Dương Tiêu thấy bốn con kên kên kia vẫn vòng vòng chưa chịu bỏ đi, chắc chúng đợi khi nào bỏ xác Ân Lê Đình rồi sẽ đáp xuống ăn thịt, liền nhặt bốn viên sỏi dưới đất, "vút vút" bắn liền mấy phát, cả bốn con kên kên đều rơi xuống, con nào đầu cũng bị viên sỏi bắn trúng vỡ nát. Trương Vô Kỵ trước hết cho Ân Lê Đình uống thuốc an thần giảm đau, sau đó mới coi kỹ lại một lần nữa, thấy chân tay đến hơn hai mươi chỗ gãy, mỗi nơi gãy đều bị địch dùng trọng thủ, lấy ngón tay bóp nát nhừ, không cách nào nối lại được. Ân Lê Đình nói nhỏ:

– Chẳng khác gì tam ca, bị phái Thiếu Lâm dùng.. Kim Cương chỉ lực.. đánh đó..

Trương Vô Kỵ nhớ tới năm xưa nghe phụ thân kể chuyện Du tam sư bá Du Đại Nham bị phái Thiếu Lâm dùng Kim Cương chỉ lực bóp nát các khớp xương, phải nằm liệt giường hơn hai mươi năm nay. Lúc đó phụ thân chưa gặp mẫu thân chàng, không ngờ việc đã bao nhiêu năm, giờ lại thêm một vị sư thúc bị thương vì Kim Cương chỉ lực của phái Thiếu Lâm. Chàng suy nghĩ một lát rồi nói:

– Lục thúc không phải lo lắng, chuyện này cứ giao cho điệt nhi, kẻ gian nhất định sẽ lộ mặt. Kẻ nào trong phái Thiếu Lâm, lục thúc có nhận ra không?

Ân Lê Đình lắc đầu, mấy hôm nay ông kiệt lực ráng sống, hơi sức không còn chút nào, lúc này trong lòng vừa hết lo thì chịu không nổi lập tức ngất đi. Trương Vô Kỵ nghĩ đến thân thế mình, phụ mẫu tự vẫn mà chết, cũng chỉ vì không nên không phải với Du sư bá, bây giờ Lục sư thúc lại gặp nạn, nếu không ép được phái Thiếu Lâm giao ra kẻ gây nên tội lỗi thì quả có tội lớn với hai vị Du, Ân, thực bất hiếu đối với song thân quá cố. Chàng thấy Ân Lê Đình tuy bất tỉnh nhưng tính mệnh không có gì đáng ngại, chỉ có điều tay chân gãy khó lòng nối lại được, xem ra sẽ chẳng khác gì Du Đại Nham. Chàng từng trải giang hồ chưa nhiều, thấy việc không quyết định được, phải tìm nơi thanh tĩnh suy nghĩ cho chín, bèn chắp tay sau lưng đi ra đằng xa, trèo lên trên một cái gò nhỏ ngồi xuống, trong đầu hai luồng suy nghĩ không ngừng xung đột: "Nên hay không nên lên chùa Thiếu Lâm tìm kẻ gây họa kia để báo thù cho phụ mẫu, Tam sư bá, Lục sư thúc? Nếu phái Thiếu Lâm thừa nhận giao hung thủ ra thì mọi việc đều tốt đẹp, nếu không Minh giáo sẽ phải liên kết với phái Võ Đang, cùng đối phó với phái Thiếu Lâm? Mình đã cùng tất cả huynh đệ cắt máu ăn thề, nhất quyết không đi sinh sự, tầm thù các môn phái bang hội khác, nhưng nay việc lại đến ngay với mình, chính mình lại vứt bỏ lời thề thì làm sao khiến mọi người tuân phục được? Một khi ân oán đã có, từ nay oán oán tương báo, e rằng không biết bao nhiêu đời máu chảy, bao nhiêu anh hùng hảo hán bỏ mạng vì chuyện này?"

Lúc này trời đã tối hẳn, người của Minh giáo liền đốt lửa lên, làm lò nấu ăn. Trương Vô Kỵ vẫn ngồi trên ngọn đồi, nhìn trăng lên dần, vẫn phân vân mãi đến nửa đêm mới quyết định: "Phải lên núi Thiếu Lâm gặp chưởng môn Không Văn thần tăng, nói rõ đầu đuôi, cầu ông ta đưa ra một giải pháp". Nghĩ thế xong lại tưởng: "Nếu như mình nói xong rồi không đến đâu, phải động thủ thì làm sao đây?" Chàng thở dài một tiếng, đứng lên, nghĩ thầm: "Ta tuổi còn trẻ, mới giữ trọng trách đã gặp ngay một chuyện thật khó nghĩ, chỉ một lòng muốn bãi chiến, không tranh giành, thế nhưng những món nợ máu này lại ép ta phải tính tới. Ta đảm đương trọng nhiệm giáo chủ Minh giáo, từ chối cũng không xong, bỏ đi cũng không được, từ nay còn bao nhiêu lo buồn, khốn khổ thực không kể sao cho xiết. Giá như không làm giáo chủ có phải sướng biết bao?"

Chàng trở về bên đống lửa, mọi người tuy bụng đói nhưng chưa ai dám cầm đũa ăn trước, vội vàng cung kính đứng lên. Trương Vô Kỵ thấy vậy áy náy, vội nói:

– Các vị từ rày về sau cứ dùng bữa tự nhiên, không phải đợi ta làm gì.

Chàng đến thăm Ân Lê Đình, thấy Dương Bất Hối đang dùng nước nóng lau những vết thương và cho ông ăn cháo. Ân Lê Đình thần trí mơ hồ, đột nhiên mắt mở to, trừng trừng nhìn Dương Bất Hối, kêu lên:

– Hiểu Phù muội tử, huynh nhớ muội lắm, muội có biết không?

Dương Bất Hối mặt đỏ bừng, thần sắc bẽn lẽn, tay phải cầm muỗng, nói nhỏ:

– Lục hiệp uống thêm vài thìa nữa.

Ân Lê Đình nói:

– Muội hứa đừng bao giờ xa huynh nữa nhé.

Dương Bất Hối nói:

– Được rồi, được rồi. Lục hiệp ăn thêm vài thìa rồi sẽ nói sau.

Ân Lê Đình dường như trong lòng hết sức vui sướng, vội há miệng ăn ngay. Hôm sau Trương Vô Kỵ truyền lệnh xuống, mọi người tạm thời chưa phân tán, tất cả cùng đi lên chùa Thiếu Lâm trên núi Tung Sơn hỏi cho ra lẽ việc Ân Lê Đình bị thương rồi sẽ tính sau. Cả bọn Vi Nhất Tiếu, Chu Điên thấy Ân Lê Đình bị thương nặng như thế, trong bụng ai cũng bất bình, nghe giáo chủ bảo lên Thiếu Lâm vấn tội thì đều mừng rỡ. Dương Tiêu vì việc Kỷ Hiểu Phù, đối với Ân Lê Đình hết sức thương cảm, tuy không nói ra nhưng trong bụng đã có chủ ý, quyết tâm hết sức báo thù cho ông, lại bảo con gái cố gắng chăm lo săn sóc cho Ân lục hiệp, bù lại phần nào lỗi lầm khi xưa. Từ đó trên đường không gặp chuyện gì khác lạ. Ân Lê Đình lúc mê lúc tỉnh, Trương Vô Kỵ hỏi ông bị thương thế nào, Ân Lê Đình ngơ ngẩn không kể rõ được, chỉ nói:

– Năm hòa thượng phái Thiếu Lâm vây đánh một mình ta. Đúng là võ công phái Thiếu Lâm, không thể nào lầm được.

*

* *

Chẳng bao lâu cả đoàn tiến vào cửa ải Ngọc Môn, liền bán hết lạc đà chuyển sang cưỡi ngựa, lại sợ người ngoài dòm ngó nên mua quần áo cải trang làm khách thương. Có người thì đánh xe lừa, giả vờ như chở theo hàng hóa, thuốc men. Hôm đó sáng sớm mọi người đã khởi hành, theo đường lớn Cam Lương mà đi, ánh mặt trời chói lọi, trời bắt đầu nóng. Đi được chừng hai canh giờ, thấy trước mặt một hàng dương liễu khoảng hai chục cây, ai nấy đều mừng rỡ, vội vàng thúc ngựa đi tới dưới bóng cây nghỉ ngơi. Đến gần hơn, đã thấy dưới tàn cây có chín người ngồi đó, tám người đàn ông mặc quần áo kiểu thợ săn, bên hông đeo đao, lưng đeo cung tên, còn thêm năm sáu con chim ưng dùng để đi săn, lông đen móng sắc, hình dáng trông rất hiên ngang. Một người nữa là vị công tử mặc áo dài màu lam, phe phẩy quạt lông không giấu vẻ ung dung sang trọng. Trương Vô Kỵ nhảy xuống ngựa, liếc nhìn vị công tử kia một cái, thấy chàng ta tướng mạo rất đẹp đẽ, đôi mắt trắng đen rõ ràng, lấp loáng có thần, cái quạt trong tay cán làm bằng bạch ngọc, bàn tay cầm quạt cũng trắng không khác gì cán quạt. Bỗng mọi người không hẹn mà cùng nhìn xuống ngang hông công tử đó, thấy thắt lưng có khóa bằng vàng, đeo một thanh trường kiếm, trên cán kiếm có khắc hai chữ Ỷ Thiên theo kiểu triện. Nhìn kiếm đó, hình dáng dài ngắn, chính là thanh kiếm Ỷ Thiên mà Diệt Tuyệt sư thái đã dùng để sát hại giáo chúng Minh giáo và Chu Chỉ Nhược đã dùng nó đâm Trương Vô Kỵ một nhát suýt chết. Người trong Minh giáo ai nấy ngạc nhiên, Chu Điên nhịn không nổi toan lên tiếng hỏi. Ngay lúc đó, thấy trên đường cái từ phía đông có tiếng vó ngựa rầm rập, một đoàn người cưỡi ngựa chạy ào tới.

Đoàn người đó là một đội quân Nguyên, khoảng chừng năm sáu chục tên, lại có thêm khoảng trên trăm phụ nữ bị quân Mông Cổ dùng thừng trói lôi theo. Những người đàn bà đó phần lớn chân yếu tay mềm, làm sao chạy kịp với ngựa, có người ngã lăn, liền bị kéo lê trên đất. Họ đều là người Hán, hiển nhiên là dân chúng bị đoàn quân Nguyên này bắt cóc, hơn nữa y phục rách bươm, có người lộ cả thân trên, khóc khóc mếu mếu vô cùng thảm thiết. Quân Nguyên có kẻ tay cầm bình rượu, uống đã nửa tỉnh nửa say, kẻ khác vung roi đánh túi bụi vào đám phụ nữ. Bọn người Mông Cổ này lớn lên trên lưng ngựa, thuật đánh roi rất xảo diệu, roi vung ra lúc rút về đều cuốn theo một mảng quần áo của những nữ nhân. Những kẻ khác liền lớn tiếng reo hò, cười nói xí xố.

Người Mông Cổ xâm lược Trung Hoa đã gần một trăm năm, trước nay vẫn coi người Hán chẳng bằng súc vật, nhưng ngay giữa ban ngày ban mặt làm trò dâm ô thế này lại là điều ít thấy. Người trong Minh giáo ai nấy mắt như đổ lửa, chỉ chờ Trương Vô Kỵ ra lệnh một tiếng, là lập tức xông ra giết bọn quân binh cứu người. Vị công tử kia bỗng nói:

– Ngô Lục Phá, ngươi ra bảo bọn chúng thả những người đàn bà ra, quấy rối như thế còn ra cái giống gì nữa.

Thanh âm trong trẻo, vừa yểu điệu vừa nũng nịu, nghe như giọng thiếu nữ. Một đại hán đáp "Vâng" rồi cởi dây buộc một con ngựa vàng dưới gốc cây, nhảy lên lưng ra roi chạy lên, lớn tiếng quát:

– Này, ban ngày mà làm loạn như thế, các ngươi không có quan trưởng ước thúc hay sao? Mau thả họ ra ngay lập tức.

Một tên quan quân trong đám Nguyên binh giục ngựa chạy ra, mắt lờ đờ say, tay vẫn còn cắp một thiếu nữ, cười ha hả nói:

– Thằng chó chết kia không muốn sống hả, sao dám xen vào chuyện của các ông?

Đại hán nọ cười nhạt, nói:

– Thiên hạ loạn lạc khắp nơi cũng vì chúng mày không biết thương xót trăm họ mà ra cả, để ta dạy các ngươi một trận cho biết phép tắc.

Tên quân nọ đánh giá đám người dưới bóng cây, trong lòng hơi lấy làm lạ, nghĩ thầm dân chúng mỗi khi thấy quan binh, chạy cho nhanh còn không kịp, bọn này không biết uống mật báo, ăn gan hổ hay sao mà lại dám can thiệp vào việc của quan quân? Gã liếc qua thấy trên khăn đầu của công tử nọ có đính hai hạt châu to bằng quả long nhãn, lấp lánh phát quang, liền nổi lòng tham, cười lớn:

– Này chú thỏ con kia, đi theo ông, ông cho mày hưởng phúc.

Nói xong, hai đùi thúc một cái, giục ngựa xông đến gần vị công tử. Công tử vốn dĩ mặt mày hòa hoãn, thấy bọn Nguyên binh bạo hành không nổi giận, bấy giờ nghe tên quân này vô lễ như thế, đôi lông mày hơi nhướng lên, nói:

– Không để tên nào sống sót.

Tiếng "sót" vừa ra khỏi miệng đã nghe "vụt" một tiếng, một mũi tên xuyên thủng ngực tên quân kia, chính là do một người thợ săn đứng bên cạnh vị công tử bắn ra. Thủ pháp bắn cung của người đó thật nhanh nhẹn, kình lực lại mạnh, dường như là một cao thủ bậc nhất võ lâm, thợ săn tầm thường làm sao có tài như thế? Chỉ nghe liên tiếp tiếng tên xé gió, cả tám người cùng bắn, quả thực có tài bách bộ xuyên dương, không mũi tên nào hụt, mỗi mũi bắn chết một tên Nguyên binh. Bọn quân Nguyên thấy tình thế đột biến, giật mình kinh hoảng, nhưng vốn cung tên thuần thục nên lớn tiếng kêu la lập tức bắn trả. Bảy người thợ săn cũng nhảy lên lưng ngựa xông ra, cứ một mũi tên là một đứa, chỉ trong khoảnh khắc đã bắn chết trên ba chục tên. Những đứa còn lại thấy tình hình không ổn, luôn mồm kêu la, vội bỏ đám nữ nhân mà giục ngựa chạy ngay. Thế nhưng ngựa của tám người thợ săn đều là tuấn mã, đuổi theo nhanh như gió, cứ tám mũi tên buông ra là có tám tên ngã xuống, đuổi chưa đầy một dặm thì tất cả quân Mông Cổ không còn kẻ nào sống sót. Vị công tử kia cũng nhảy lên ngựa, giục ngựa chạy đi, không quay đầu nhìn lại một lần. Y ra lệnh cho bộ thuộc trong nháy mắt giết hơn năm chục tên quân Mông Cổ, tưởng như chuyện ăn cơm uống nước thường ngày, không coi vào đâu cả. Chu Điên kêu lên:

– Này, này, hượm đã, cho ta hỏi một câu!

Công tử kia không thèm để ý, cùng tám người thợ săn hộ vệ theo sau, chạy ra xa xa. Trương Vô Kỵ, Vi Nhất Tiếu nếu như thi triển khinh công đuổi theo, cũng có thể kịp ngựa đang chạy, hỏi chàng công tử này cho minh bạch, thế nhưng thấy tám người thợ săn kia thần tiễn sát địch như thế, vẻ đầy hiệp nghĩa, trong bụng ai cũng ngầm kính phục, không tiện mạo phạm đến họ. Mọi người bàn tán xôn xao nhưng không ai đoán ra được lai lịch của chín người này. Dương Tiêu nói:

– Vị công tử kia rõ ràng là gái giả trai, còn tám cao thủ ăn mặc như thợ săn kia đối với nàng ta rất cung kính. Tiễn pháp của tám người đó thật là thần diệu, không giống nhân vật của môn phái nào ở Trung nguyên.

Lúc đó Dương Bất Hối và những giáo chúng trong Hậu Thổ kỳ đã chạy ra an ủi những người đàn bà bị bắt cóc, hỏi thăm tình hình, mới biết đều là người ở các thôn trấn chung quanh, bèn lục các xác quân Nguyên lấy kim ngân tài bảo chia cho họ, bảo họ theo đường nhỏ tự kiếm lối về nhà.

Mấy ngày liền quần hào vẫn tiếp tục bàn luận về chín người bắn tên giết quân Nguyên kia, trong bụng ai ai cũng có chiều ái mộ, ân hận không có dịp làm quen. Chu Điên nói với Dương Tiêu:

– Dương huynh, lệnh ái vốn dĩ là một mỹ nữ, thế nhưng so với tiểu thư mặc giả trai kia, cứ bề ngoài mà nói, xem ra còn kém một chút.

Dương Tiêu nói:

– Đúng vậy, đúng vậy! Bọn họ nếu như gia nhập bản giáo, cứ tám người thợ săn kia phải xếp hạng trên cả Ngũ tản nhân.

Chu Điên giận dữ:

– Nói thối bỏ mẹ, bọn ta cưỡi ngựa có kém gì ai đâu? Ngươi thử bảo bọn họ thi tài với Chu Điên xem nào.

Dương Tiêu trầm ngâm rồi nói:

– Cứ so với Chu huynh thì quả có kém thực, nhưng nếu chỉ tính võ công thôi, xem ra họ có vẻ hơn Lãnh Khiêm huynh một chút.

Trong năm người Ngũ tản nhân của Minh giáo thì Lãnh Khiêm võ công đứng đầu, chuyện đó ai ai cũng biết. Dương Tiêu và Chu Điên trước nay vẫn không hợp tính, tuy không còn công khai kình chống nhau, nhưng Chu Điên hễ có cơ hội là cãi với Dương Tiêu vài câu, bây giờ nghe ông ta nói võ công tám người thợ săn kia cao hơn Lãnh Khiêm, rõ ràng là trên tất cả Ngũ tản nhân thì trong bụng tức lắm, đang tính châm chọc mấy câu trả miếng. Bành Oánh Ngọc cười nói:

– Chu huynh lại bị Dương tả sứ cho vào tròng rồi, y định chọc cho Chu huynh tức đấy mà!

Chu Điên cười sằng sặc nói:

– Vậy ta không thèm tức, xem Dương Tiêu làm gì được ta nào?

Thế nhưng chẳng mấy chốc, Chu Điên lại chỉ trích Dương Tiêu cưỡi ngựa không được tinh thông, quần hào chỉ mặc kệ không ai trả lời.

Ân Lê Đình được Trương Vô Kỵ ngày ngày chữa trị, thần trí đã tỉnh táo nhiều, kể lại hôm đó từ đỉnh Quang Minh chạy xuống, tâm thần kích động nên lạc lối, càng chạy càng xa, lang thang trong sa mạc mênh mông tám chín ngày. Đến khi kiếm được đường cũ quay về thì không còn liên lạc được với huynh đệ đồng môn phái Võ Đang nữa. Hôm đó ông bất ngờ gặp phải năm nhà sư Thiếu Lâm, những hòa thượng đó không nói một lời đã lập tức động thủ. Năm nhà sư đó võ công rất cao, tuy Ân Lê Đình đánh bại hai người, nhưng cuối cùng vẫn bị họ đánh trọng thương. Ông thấy võ công họ đều thuộc phái Thiếu Lâm, nhưng chưa từng lên đỉnh Quang Minh nên không gặp mặt bao giờ, xem ra có thể là người đi sau tiếp viện, nhưng vì cớ gì lại hạ độc thủ với mình thì không nghĩ ra. Ông cũng đã nói tên tuổi, như thế không thể nói là họ lầm người được. Trên đường đi, Dương Bất Hối săn sóc Ân Lê Đình rất chu đáo, nàng biết cha mẹ mình đã không phải với ông thật nhiều, lại thấy ông bị nạn thê thảm như thế, không khỏi chạnh lòng thương hại.

*

* *

Đến sẩm tối hôm đó, quần hào qua khỏi Vĩnh Đăng, cố giục ngựa chạy nhanh hơn mong đến được Giang Thành Tử nghỉ ngơi. Đang đi bỗng nghe tiếng vó ngựa lộp cộp, trên đường cái có hai kỵ sĩ song song chạy đến, cách chừng mươi trượng liền nhảy xuống ngựa, đứng tránh qua một bên đường, cử chỉ thật cung kính. Hai người đó mặc theo lối đi săn, chính là hai trong số tám anh hùng bắn tên giết quân Nguyên hôm trước. Quần hào vui mừng, vội vàng nhảy xuống ngựa đến chào hỏi. Hai người đó đi đến trước mặt Trương Vô Kỵ, khom lưng hành lễ. Một người cao giọng nói:

– Tệ thượng ngưỡng mộ hành vi nhân hiệp cao nghĩa của Trương giáo chủ Minh giáo, cùng cung cách anh hùng của quý liệt vị, nên sai tiểu nhân mời các vị dừng ngựa ở tệ trang để tỏ lòng hâm mộ.

Trương Vô Kỵ hoàn lễ, hỏi:

– Không dám, không dám. Không hiểu quý thượng xưng hô thế nào?

Người kia đáp:

– Tệ thượng họ Triệu, khuê danh không dám gọi tới.

Mọi người thấy y nhận ngay vị công tử kia là nữ nhân giả trang là quả thực có thành ý, trong bụng mừng thầm. Trương Vô Kỵ nói:

– Từ khi được chứng kiến thần kỹ bắn tên của quý vị, chúng tôi ai ai cũng khen ngợi hết lời, quý vị không hiềm hạ mình kết giao thì thật vinh dự xiết bao, chỉ e như thế không tiện.

Người kia đáp:

– Các vị là anh hùng đời nay, tệ thượng đã ngưỡng mộ từ lâu, hôm nay có dịp đi qua đất nhà, nếu chẳng được dâng lên ba chén rượu nhạt thì e không đúng lễ nghi.

Trương Vô Kỵ đang muốn được quen biết thêm với những nhân vật anh hùng này, lại muốn hỏi xem thanh kiếm Ỷ Thiên vì đâu qua tay đổi chủ như thế, nên nói:

– Đã như vậy, từ chối đúng là không cung kính, vậy xin được đến thăm quý trang.

Hai người kia mừng lắm, lên ngựa đi trước dẫn đường. Đi chừng chưa tới một dặm, trước mặt lại có hai người cưỡi ngựa chạy đến, ở xa xa xuống ngựa đứng đợi, cũng là người trong Thần tiễn bát hùng. Đi thêm một dặm nữa, bốn người còn lại trong bát hùng lại phi ngựa đến đón tiếp. Quần hào Minh giáo thấy bên kia lễ số chu đáo như thế, ai nấy đều cảm động. Mọi người đi theo một con đường lát đá xanh dẫn đến một đại trang viện, có sông nhỏ uốn khúc vây quanh, bờ sông trồng đầy dương liễu xanh rờn, suốt một dải Cam Lương bây giờ bỗng thấy phong cảnh chẳng khác gì ở Giang Nam, quần hào ai cũng thấy tinh thần sảng khoái hẳn lên. Trước mặt trang môn mở lớn, cầu treo đã hạ xuống từ bao giờ, vị cô nương họ Triệu kia vẫn mặc nam trang, đứng ngay tại cửa nghênh tiếp.

Triệu tiểu thư tiến lên hành lễ, dõng dạc nói:

– Quý vị hào hiệp của Minh giáo hôm nay giá lâm Lục Liễu sơn trang, quả thực rạng rỡ cho nhà tranh vách đất của chúng tôi. Xin mời Trương giáo chủ, mời Dương tả sứ, mời Ân lão tiền bối, mời Vi Bức Vương..

Nàng biết hết từng người trong quần hào Minh giáo, không cần phải giới thiệu, thuận miệng nói ra danh hiệu, kẻ cao người thấp không sai một ai. Cả bọn lấy làm kinh ngạc, Chu Điên nhịn không nổi liền hỏi:

– Đại tiểu thư, sao tiểu thư biết hết tên tuổi chúng tại hạ? Chẳng lẽ tiểu thư có bản lãnh tiên tri hay sao?

Triệu tiểu thư mỉm cười, nói:

– Quần hiệp Minh giáo danh vang khắp chốn, ai chẳng hay biết? Trận đánh trên đỉnh Quang Minh mới rồi, Trương giáo chủ dùng tuyệt thế thần công uy nhiếp sáu đại môn phái, việc đó đã vang động cả võ lâm. Các vị đến Trung nguyên, trên đường biết bao bằng hữu võ lâm mong được tiếp đãi, có phải chỉ mình tiểu nữ đâu?

Mọi người nghe thấy quả không sai, trong bụng mừng thầm, nhưng miệng ai cũng khiêm tốn, hỏi ngay tên tuổi sư thừa của Thần tiễn bát hùng. Một người thân thể cao to đáp:

– Tại hạ là Triệu Nhất Thương, đây là Tiền Nhị Bại, đây là Tôn Tam Hủy, đây là Lý Tứ Thôi.

Y chỉ tiếp qua mấy người kia, nói:

– Đây là Chu Ngũ Thâu, Ngô Lục Phá, Trịnh Thất Diệt, còn kia là Vương Bát Suy.

Quần hào Minh giáo nghe xong, ai cũng ngẩn người, nghĩ thầm tám người này họ sắp xếp theo "Bách gia tính" [101] là Triệu Tiền Tôn Lý, Chu Ngô Trịnh Vương, đã là hết sức lạ lùng rồi, nhưng tên lại toàn những chữ không gì tốt lành như Suy Bại Phá Diệt chẳng hạn, thật ngoài dự liệu. Thế nhưng người trên giang hồ vì lánh nạn, tránh thù, tùy nghi lấy tên giả là chuyện rất thường, thành ra không dám hỏi thêm.

Triệu tiểu thư tự mình dẫn đường, nhường cho mọi người tiến vào đại sảnh trước. Quần hào thấy đại sảnh trên cao có treo một tấm biển, viết bốn chữ đại tự "Lục Liễu sơn trang". Ngay chính giữa treo một bức tranh "Bát tuấn đồ" do Triệu Mạnh Phủ vẽ, tám con ngựa mỗi con một kiểu không con nào giống con nào, con nào cũng toát lên vẻ thần mã. Bên phía trái treo một bức đại tự, văn viết:

Bạch hồng tòa thượng phi,

Thanh xà hạp trung hống.

Sát sát sương tại phong,

Đoàn đoàn nguyệt lâm nữu.

Kiếm quyết thiên ngoại vân,

Kiếm xung nhật trung đẩu.

Kiếm phá yêu nhân phục,

Kiếm phất nịnh thần thủ.

Tiềm tương tịch lị mị,

Hốt đãn kinh thiếp phụ.

Lưu trảm hoằng hạ giao,

Mạc thí nhai trung cẩu.

(Mống trắng bay vụt lên,

Rắn xanh kêu lồng lộn.

Sương đọng trên đỉnh núi,

Mây quấn quanh vầng trăng.

Kiếm quyết tỏa tận mây,

Kiếm khí xung tinh đẩu.

Kiếm phá phục yêu ma,

Kiếm phất đầu gian nịnh.

Nằm yên ma quỷ kinh,

Vung lên lòng thiếp sợ.

Xuống vực chém giao long,

Đâu thèm giết chó dữ).

Dưới bài thơ đề một hàng chữ nhỏ: "Dạ thí Ỷ Thiên bảo kiếm, tuân thần vật dã, tạp lục Thuyết Kiếm thi dĩ tán chi. Biện Lương Triệu Mẫn" [102] .

Trương Vô Kỵ thư pháp tuy không giỏi, nhưng đã theo Chu Cửu Chân học phép viết chữ, người khác viết xấu đẹp chàng cũng tạm nhận ra, thấy bức thiếp đó nét bút tung hoành, nhưng vẫn có nét ủy mị, rõ ràng là chữ con gái, biết là vị Triệu tiểu thư này viết. Chàng ngoài y thư ra thì chẳng đọc sách bao nhiêu, nhưng ý thơ không mấy khúc mắc, đọc là hiểu ngay, nghĩ thầm: "Thì ra nàng vốn là người Biện Lương, tên chỉ có một chữ Mẫn", liền nói:

– Triệu cô nương văn võ toàn tài, thật là bội phục. Thì ra cô nương vốn là thế gia ở cựu kinh đô.

Triệu tiểu thư Triệu Mẫn mỉm cười, nói:

– Lệnh tôn đại nhân của Trương giáo chủ có ngoại hiệu Ngân Câu Thiết Hoạch, hẳn là danh gia thư pháp. Trương giáo chủ gia học uyên nguyên, tiểu nữ mong được giáo chủ ban cho một bức thiếp.

Trương Vô Kỵ nghe câu đó lập tức mặt đỏ bừng. Phụ thân chàng mất khi chàng mới lên mười, chưa từng được theo cha tập viết chữ, về sau học thuốc học võ, chữ nghĩa quả thật ít ỏi, liền nói:

– Cô nương bảo tại hạ viết chữ, có khác gì giết Trương Vô Kỵ này. Tại hạ bất hạnh từ khi còn nhỏ thì gia phụ quy tiên chưa được kế thừa sở học của gia phụ, thật hổ thẹn.

Còn đang nói chuyện, trang đinh đã đem trà lên, thấy trong những chén sứ xanh ngắt, nổi mấy lá trà Long Tỉnh xanh rờn, mùi thơm ngào ngạt. Quần hào ai nấy đều lạ lùng, nơi này cách đất Giang Nam cả mấy ngàn dặm, làm sao có được trà Long Tỉnh còn tươi như thế? Cô nương này cái gì cũng đều lạ lùng.

Triệu Mẫn cầm chén lên uống trước một ngụm, dường như muốn cho mọi người biết trà không có độc, rồi đợi mọi người uống xong, mới nói:

– Các vị đường xa chiếu cố đến, tệ trang thật là giản mạn, xin thứ tội cho. Các vị đi đường chắc đã mệt, xin qua bên này ăn chút cơm dùng chút rượu.

Nói xong, nàng đứng dậy, đưa quần hào qua một hành lang đến một vườn hoa lớn. Trong vườn có giả sơn xù xì, suối hồ nước trong vắt, hoa tuy không nhiều nhưng thật thanh nhã. Trương Vô Kỵ chưa lãnh hội được vẻ đẹp của thú chơi vườn cảnh nhưng Dương Tiêu đã ngầm gật gù, biết rằng chủ nhân của vườn hoa này là kẻ lòng mang chí lớn, không phải người thô tục tầm thường. Trong thủy các bày hai mâm tiệc, Triệu Mẫn liền mời mọi người vào bàn, còn bọn Thần tiễn bát hùng Triệu Nhất Thương, Tiền Nhị Bại ở sảnh đường bên cạnh bồi tiếp các giáo chúng Minh giáo khác. Ân Lê Đình không sao dậy được, nên Dương Bất Hối phải ở trong phòng đút cơm cho ăn.

Triệu Mẫn rót đầy một chén rượu lớn, uống một hơi cạn sạch, nói:

– Đây là Nữ Trinh Thiệu Hưng trần tửu, đã được một trăm mười tám năm, các vị thử nếm xem tửu vị thế nào?

Dương Tiêu, Vi Nhất Tiếu, Ân Thiên Chính tuy đã tin rằng Triệu tiểu thư là người hiệp nghĩa, nhưng vẫn mười phần cẩn thận, xem kỹ hồ rượu, chén rượu không có gì khác lạ, Triệu tiểu thư lại uống một chén trước rồi thì mới hết nghi kỵ và ăn uống tự nhiên. Giáo quy Minh giáo trước nay vẫn là ăn chay thờ ma, cấm uống rượu, kỵ ăn mặn; nhưng từ khi tổng đàn dọn vào trong dãy Côn Luân mới bỏ đi các lề luật cấm kỵ này. Tây Vực khó kiếm rau dưa, chỉ toàn là thịt, hơn nữa khí hậu lạnh buốt, nếu như không ăn mỡ bò mỡ cừu, chỉ thuần nội lực sẽ không đề kháng nổi. Trong hồ bao quanh nơi thủy các có trồng bảy tám cây hoa trông giống như thủy tiên nhưng lớn hơn, hoa màu trắng hương thơm thoang thoảng. Quần hào được ngửi hoa thơm, uống rượu ngon, gió hiu hiu mát rượi thật không còn gì thoải mái bằng.

Triệu tiểu thư ăn nói rất tự nhiên, bàn luận về các nhân vật võ lâm Trung nguyên thật sành sỏi, nhiều điều đến cha con Ân Thiên Chính cũng không biết. Đối với võ công các phái Thiếu Lâm, Nga Mi, Côn Luân, nàng không khen ngợi lắm, nhưng khi nhắc tới Trương Tam Phong và Võ Đang thất hiệp lại hết lời tán tụng, cũng ca ngợi võ công môn phái các thủ lĩnh Minh giáo, thoạt nghe tưởng như không có gì đặc sắc nhưng mỗi câu khen ngợi đều đúng chỗ trọng yếu. Quần hào vừa hoan hỉ, vừa bội phục, thế nhưng khi hỏi đến võ công môn phái của chính nàng, Triệu Mẫn chỉ mỉm cười không đáp, lảng qua chuyện khác.

Rượu được mấy tuần, rót đến đâu nàng cạn ly đến đó, thật hào sảng. Mỗi món ăn đưa lên, nàng cũng đưa đũa gắp một miếng ăn trước, đôi má hồng lên, dường như đã hơi say, trông càng thêm diễm lệ. Người đẹp xưa nay nếu không dịu dàng yểu điệu thì cũng kiều diễm tươi tắn, nhưng tiểu thư họ Triệu này không những thập phần xinh đẹp, lại thêm ba phần anh khí, ba phần hào hùng, mà vẫn ung dung cao quý, toát ra một vẻ đoan trang nghiêm cẩn khiến người ta phải ngầm kính trọng, không dám coi thường.

Trương Vô Kỵ nói:

– Triệu cô nương, được cô nương hậu đãi như thế này, tệ giáo ai nấy đều cảm kích. Tại hạ có một câu muốn hỏi, có điều ngại nên chưa dám mở miệng mà thôi.

Triệu Mẫn đáp:

– Trương giáo chủ sao phải dè dặt thế? Chúng ta hành tẩu giang hồ, bốn bể đều là huynh đệ, các vị nếu không hiềm thì cho tiểu muội được kết bằng hữu. Có chuyện gì sai bảo hỏi han, ắt sẽ hết sức trình bày.

Trương Vô Kỵ nói:

– Nếu đã như thế, tại hạ mong được thỉnh vấn, thanh bảo kiếm Ỷ Thiên của cô nương vì sao có được?

Triệu Mẫn mỉm cười, cởi thanh kiếm Ỷ Thiên ở hông ra, đặt lên bàn, nói:

– Tiểu muội từ khi gặp các vị đến giờ, ai nấy chăm chăm mắt không rời thanh kiếm này, không hiểu vì duyên cớ gì, mong cho biết được chăng?

Trương Vô Kỵ nói:

– Quả không dám giấu, thanh kiếm này nguyên là sở hữu của Diệt Tuyệt sư thái chưởng môn phái Nga Mi, huynh đệ trong tệ giáo táng thân dưới thanh kiếm này không phải ít. Chính Trương mỗ cũng đã từng bị kiếm này đâm vào ngực, suýt nữa bỏ mạng, cho nên ai nấy đều để ý.

Triệu Mẫn nói:

– Trương giáo chủ thần công vô địch, từng nghe dùng tâm pháp Càn khôn đại na di đoạt thanh kiếm này từ tay Diệt Tuyệt sư thái, sao lại có thể bị thương vì nó chứ? Lại nghe nói kẻ dùng kiếm đâm Trương giáo chủ chỉ là một nữ đệ tử trẻ tuổi của phái Nga Mi, võ công cũng chỉ bình bình, tiểu muội quả không sao hiểu nổi.

Nàng nói câu đó không chớp mắt, chăm chăm nhìn Trương Vô Kỵ, trên môi dường như điểm một nụ cười. Trương Vô Kỵ mặt đỏ rần, nghĩ thầm: "Sao cô nương ấy biết rõ thế nhỉ?" liền đáp:

– Đối phương đâm đột ngột quá, tại hạ không kịp để ý cho nên sẩy tay.

Triệu Mẫn mỉm cười:

– Chắc Chu Chỉ Nhược Chu tỷ tỷ xinh đẹp lắm, phải thế không?

Trương Vô Kỵ mặt đỏ như gấc, ngượng nghịu nói:

– Cô nương lại nói đùa rồi.

Chàng cầm chén lên định uống một ngụm để chữa thẹn, nào hay tay trái hơi run, làm sánh mấy giọt rượu ra ngoài, bắn cả lên tà áo. Triệu Mẫn cười nụ, nói:

– Tiểu muội tửu lực không bao nhiêu, ăn nói đã không biết nặng nhẹ nữa rồi, sợ uống thêm đâm ra thất thố mất! Để xin phép vào trong thay quần áo, sẽ trở ra ngay, xin các vị cứ tự nhiên, đừng khách sáo gì cả.

Nói xong đứng dậy, làm như kiểu cách nam nhi, cung kính vái một vái rồi đi ra khỏi thủy các, lần theo những luống hoa cành liễu vào bên trong. Thanh Ỷ Thiên kiếm kia vẫn để trên bàn, không đem theo. Các gia đinh phục thị tiếp tục đem các món ăn lên. Quần hào không dám ăn tiếp nữa, đợi một lúc lâu vẫn không thấy Triệu Mẫn quay trở lại. Chu Điên nói:

– Nàng ta để bảo kiếm lại đây, quả là tin bọn mình quá.

Nói xong cầm thanh kiếm lên để trong tay, đột nhiên "Ối" một tiếng, nói:

– Sao nhẹ thế này?

Y cầm cán kiếm rút ra, kiếm vừa khỏi vỏ, quần hào đều đứng bật cả lên, ai nấy rất kinh ngạc. Kiếm này đâu phải Ỷ Thiên bảo kiếm, chém vàng chặt sắt sắc bén phi thường? Chẳng qua chỉ là một thanh kiếm gỗ màu vàng. Mọi người lập tức ngửi thấy một mùi hương thơm nhè nhẹ, chính là bằng gỗ đàn hương.

Chu Điên nhất thời không hiểu tại sao, đút kiếm trở lại vỏ, lắp bắp:

– Dương.. Dương tả sứ, cái này.. cái này là trò gì đây?

Ông ta tuy ngày ngày cãi cọ với Dương Tiêu, nhưng trong bụng thực sự phục Dương Tiêu kiến thức siêu việt, bây giờ gặp chuyện nghi nan, tự nhiên mở miệng hỏi ngay như thế. Dương Tiêu mặt mày trịnh trọng, hạ giọng nói:

– Giáo chủ, Triệu tiểu thư này mười phần đến chín không có ý tốt. Bây giờ bọn mình ở trong cảnh nguy khốn, nên đi ngay là hơn.

Chu Điên nói:

– Việc gì phải sợ? Nếu y thị có giở trò gì, với bấy nhiêu người chúng ta, chẳng lẽ không đánh cho một trận tan tành hay sao?

Dương Tiêu nói:

Từ khi vào trong Lục Liễu sơn trang này, cái gì cũng thấy thần bí, chính chẳng ra chính, tà chẳng ra tà, không biết đường đâu mà lần. Bọn ta việc gì phải ở nơi đây, để mọi việc cho người ta khắc chế?

Trương Vô Kỵ gật đầu:

– Dương tả sứ nói phải lắm! Chúng ta ăn uống xong rồi cáo từ là vừa.

Nói xong lập tức đứng lên. Thiết Quan đạo nhân hỏi:

– Thế thanh Ỷ Thiên kiếm thực nay ở đâu, giáo chủ không muốn dò hỏi hay sao?

Bành Oánh Ngọc nói:

– Theo thuộc hạ, Triệu tiểu thư này dàn nghi binh, đã toan tính chuyện gì rồi. Mình nếu không đi kiếm cô ta, cô ta cùng sẽ đi kiếm mình.

Trương Vô Kỵ nói:

– Đúng thế, chúng mình bây giờ đang có việc phải làm, không nên thêm việc làm chi. Mai sau mình cứ chờ họ đến, bao giờ rõ ràng mọi việc hãy hay.

Mọi người ra khỏi thủy các, trở về đại sảnh, bảo gia đinh thông báo tiểu thư, gửi lời cảm ơn bữa thịnh yến rồi lập tức cáo từ. Triệu Mẫn lật đật đi ra, nàng đã thay một bộ áo thêu màu vàng nhạt, hình dung trông thật thanh thoát phiêu dật, mặt mày sáng rỡ, nói:

– Vừa mới gặp nhau sao đã vội đi? Hay là chê tiểu nữ tiếp đãi đơn sơ quá chăng?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Đa tạ cô nương tiếp đãi hậu hĩ như thế, đâu thể gọi là đơn sơ được. Chúng tôi đang việc cần kíp, không dám nán lại lâu. Ngày sau có dịp tái ngộ, sẽ xin thọ giáo thêm.

Khóe miệng Triệu Mẫn tưởng như cười mà không phải cười, đưa mọi người ra khỏi sơn trang. Thần tiễn bát hùng cung kính đứng hai bên đường, khom lưng tiễn khách. Quần hào ôm quyền từ biệt, không nói một lời chỉ giục ngựa chạy ngay, chẳng mấy chốc thấy đã cách xa Lục Liễu sơn trang, bốn bề chung quanh là đồng trống, nhưng không thấy ai khác. Chu Điên lớn tiếng nói:

– Cái cô Triệu tiểu thư này chưa chắc đã sắp đặt chuyện gì không tốt đâu, chẳng qua tính đàn bà trẻ con hay giỡn hớt, nên đem một thanh kiếm gỗ để đùa giáo chủ, có gì phải lo? Dương tả sứ, kỳ này ngươi đi quá xa rồi.

Dương Tiêu trầm ngâm nói:

– Là trò gì, thực tình đệ không biết rõ, chỉ thấy có điều không ổn thôi.

Chu Điên cười nói:

– Dương tả sứ đại danh vang dậy của chúng ta sau trận chiến trên đỉnh Quang Minh đã biến thành kinh cung chi.. ối chà..

Y nói tới đây bỗng lảo đảo ngã khỏi ngựa. Thuyết Bất Đắc ở gần ông ta nhất, vội vàng nhảy ra đỡ lên, hỏi:

– Chu huynh, sao thế?

Chu Điên cười nói:

– Chẳng.. chẳng sao cả! Có lẽ uống quá chén, đầu hơi váng vất.. thôi.

Y nói tới "váng vất", quần hào ai nấy đều thất sắc. Thì ra từ khi rời Lục Liễu sơn trang, trên đường chạy, ai ai cũng thấy hơi váng vất, nhưng cũng chỉ nghĩ rằng vì uống mấy chén rượu nên không ai để ý, thế nhưng Chu Điên võ công cao cường, tửu lượng lại mạnh, uống có vài chén thì đâu đến nỗi phải ngã ngựa. Bên trong hẳn có gì bất thường.

Trương Vô Kỵ ngửng đầu lên, duyệt lại một lượt Độc Kinh của Vương Nạn Cô trong đầu, xem có loại độc dược nào không vị, không sắc, không mùi, làm cho người ta choáng váng hay không. Khắp cuốn Độc Kinh xem ra không thấy chỗ nào phù hợp, mà chính mình cùng với quần hào uống chung ăn chung, sao không thấy gì khác lạ? Đột nhiên, trong óc như một ánh chớp lóe lên, giật mình nghĩ tới một chuyện, khiến chàng kinh hoảng kêu to:

– Tất cả các vị uống rượu ở trong thủy các xuống ngựa hết, ngồi xếp bằng trên đất, nhất định không được vận khí điều tức, cứ để tự nhiên.

Chàng lại hạ lệnh:

– Các đệ tử Ngũ Hành kỳ và Thiên Ưng kỳ chia ra bố phòng bốn mặt, nghiêm mật bảo vệ các thủ lĩnh, bất luận ai đến gần đều giết hết không tha.

Mọi người nghe giáo chủ hạ nghiêm lệnh như thế liền đáp ứng vang dậy, lập tức rút binh khí chia ra tứ phương. Trương Vô Kỵ lại nói:

– Phải đợi đến khi ta về, không được rời xa nhau.

Quần hào không hiểu lý do tại sao, chỉ thấy hơi váng vất, không thấy gì khác, sao giáo chủ lại có vẻ kinh hoảng như thế? Trương Vô Kỵ lại dặn thêm:

– Dù cho có nhức đầu khó chịu đến đâu, cũng tuyệt đối không được điều vận nội tức, nếu không chất độc phát tác sẽ không chữa được đâu.

Quần hào ai nấy hoảng sợ tự hỏi: "Mình trúng độc như thế nào?"

Trương Vô Kỵ thân hình hơi lắc một cái đã vọt ra ngoài hơn chục trượng. Chàng sợ cưỡi ngựa chậm quá, lập tức thi triển khinh công chạy về phía Lục Liễu sơn trang. Chàng gấp gáp dị thường, biết rằng kỳ này bọn Dương Tiêu, Ân Thiên Chính đều trúng phải kịch độc, nếu phát tác thì tính mạng chỉ còn được một giờ ba khắc, không phải như trúng Ảo Âm Chỉ xong còn có thể kéo dài ngày này sang ngày khác, nếu không lấy được giải dược, tất cả mọi người đều chết cả. Đoạn đường hơn hai mươi dặm kia chốc lát đã tới ngay, đến trước sơn trang, chàng lao một cái, thân hình như mũi tên bắn tới. Những trang đinh canh nơi cửa chỉ thấy hoa mắt, dường như có một bóng người vụt qua nhưng không nhìn rõ là người nào đã vào trang môn. Trương Vô Kỵ liền vọt vào ngay vườn sau, chạy đến thủy các, thấy một thiếu nữ mặc áo màu xanh nhạt, tay trái cầm chén, tay phải cầm sách, đang ngồi uống trà đọc sách, chính là Triệu Mẫn. Lúc này nàng đã đổi sang y phục nữ nhân. Nàng nghe thấy tiếng chân Trương Vô Kỵ, quay đầu nhìn lại, mỉm cười.

Trương Vô Kỵ nói:

– Triệu cô nương, tại hạ xin cô nương vài cây hoa.

Không đợi nàng trả lời, chân trái chàng liền điểm một cái nhảy từ bờ hồ sang thủy các, thân hình tà tà bay qua, chẳng khác gì chuồn chuồn điểm nước, hai tay đã nhổ sạch mấy cây hoa trông như thủy tiên trồng trong hồ. Chàng đang toan đạp lên thủy các, bỗng nghe soẹt soẹt, mấy ngọn ám khí nhỏ li ti đã bắn vào mặt. Tay áo phải Trương Vô Kỵ liền phất một cái, cuộn hết ám khí vào trong, tay áo bên trái hất ra, đánh vào Triệu Mẫn.

Triệu Mẫn nghiêng người né tránh, chỉ thấy gió nổi vù vù, bao nhiêu bình trà, chén trà, đĩa trái cây trên bàn bị tụ phong thổi bay qua hồ rơi vào trong đám cây cỏ, vỡ tan tành. Trương Vô Kỵ thân hình đứng vững rồi, nhìn lại mấy cây hoa trong tay, thấy mỗi cây đều có một chùm rễ dài màu tím, trên mỗi cái rễ dính đầy những củ lớn bằng hạt ngọc trai, xanh biếc như phỉ thúy thì mừng lắm, biết là đã có được thuốc giải, lập tức bỏ vào túi nói:

– Đa tạ giải dược, cáo từ!

Triệu Mẫn nói:

– Đến thời dễ nhưng đi thì khó.

Nàng ném quyển sách đi, thuận tay rút từ trong quyển sách hai lưỡi kiếm mỏng như giấy, sáng loáng như gương, đâm tới. Trương Vô Kỵ lo cho thương thế của bọn Ân Thiên Chính nên không dám đánh lâu, y tụ bên phải phất ra, hơn chục mũi kim châm dính trong tay áo cùng bắn tới. Triệu Mẫn nghiêng người nhảy khỏi thủy các, chân trái điểm vào bậc thềm một cái nhảy trở lại, trong khi nhảy ra nhảy vào như thế, mấy mũi kim châm đều rơi hết xuống ao. Trương Vô Kỵ khen ngợi:

– Hảo thân pháp!

Chàng lại thấy nàng tay trái ra trước, tay phải ra sau, đâm hai thanh đoản kiếm tới, nghĩ thầm: "Con a đầu này lòng dạ độc ác đến thế, nếu ta không luyện được Cửu dương thần công, đọc được sách Độc kinh của Vương Nạn Cô, hôm nay Minh giáo đều bị chết vì tay nó một cách oan uổng rồi".

Chàng hai tay vươn ra, khi chập lại toan cướp hai thanh đoản kiếm. Triệu Mẫn liền xoay cổ tay hòng dùng kiếm chặt ngón tay Trương Vô Kỵ. Trương Vô Kỵ không cướp được binh khí của đối phương, cũng hơi lấy làm lạ, nhưng thần công của chàng biến ảo khôn lường, mấy ngón tay liền phất một cái trúng ngay mấy huyệt đạo trên cổ tay. Kiếm trong tay Triệu Mẫn cầm không vững, thừa thế ném tới. Trương Vô Kỵ nghiêng đầu, nghe "băng băng" hai tiếng, hai thanh kiếm cắm luôn vào cột thủy các, kình lực vẫn còn rung rung không ngớt. Trương Vô Kỵ trong bụng hơi sợ, nếu nói về võ công thì Triệu Mẫn kém xa Dương Tiêu, Ân Thiên Chính, Vi Nhất Tiếu, nhưng luận về cơ cảnh linh mẫn, biến chiêu vừa nhanh vừa độc, song kiếm không còn giữ được vẫn còn toan đả thương người, nếu như né tránh chậm một chút thì có phải chàng chết dưới kiếm của a đầu này rồi không? Triệu Mẫn mất hai thanh kiếm rồi, liền lật tay lại cầm luôn thanh kiếm gỗ Ỷ Thiên nhưng không rút ra, múa lên đâm vào hông Trương Vô Kỵ. Trương Vô Kỵ liền giơ ngón tay trỏ và ngón tay giữa bên trái điểm vào huyệt Kiên Trinh trên vai nàng, đợi Triệu Mẫn vừa né qua liền thò tay phải dùng Càn khôn đại na di đoạt luôn kiếm gỗ. Triệu Mẫn vừa đứng vững, liền cười hì hì nói:

– Trương công tử, đó là gì thế? Có phải Càn khôn đại na di đấy không? Ta xem cũng bình thường chẳng có gì lạ.

Trương Vô Kỵ liền xòe tay trái ra, trong lòng bàn tay có một đóa hoa kết bằng ngọc trai đang rung động, chính là đóa hoa Triệu Mẫn cắm trên mái tóc. Triệu Mẫn sắc mặt hơi đổi khác, Trương Vô Kỵ lấy đóa hoa trên tóc nàng mà nàng không hay biết gì cả, nếu như thay vì thò tay lấy hoa mà lại đánh vào huyệt Thái Dương một cái, mạng nàng đâu còn nữa. Thế nhưng Triệu Mẫn trấn tĩnh ngay, cười nhạt một tiếng, nói:

– Nếu công tử thích đóa hoa ngọc đó thì ta tặng cho công tử, cần gì phải ra tay cướp đoạt.

Trương Vô Kỵ nghe nàng nói dường như cho rằng chàng có ý không tốt, tay trái liền vung lên một cái ném trả đóa hoa, nói:

– Tại hạ xin hoàn lại tiểu thư!

Nói rồi quay mình ra khỏi thủy các. Triệu Mẫn giơ tay đón lấy đóa hoa, kêu lên:

– Khoan đã!

Trương Vô Kỵ quay đầu lại thấy nàng cười nói:

– Sao công tử lại lấy mất hai viên ngọc trai lớn nhất trên đóa hoa này rồi?

Trương Vô Kỵ nói:

– Cô nương thực nói giỡn, ta không hơi đâu ở đây đùa với cô.

Triệu Mẫn giơ cao đóa hoa, nghiêm mặt nói:

– Xem này, chẳng phải mất hai viên ngọc trai đấy ư?

Trương Vô Kỵ nhìn đến quả nhiên có hai sợi chỉ vàng thiếu mất hạt châu, biết là Triệu Mẫn cố tình giựt đứt để dụ cho mình đến gần hầu thi hành ngụy kế, nên chỉ "hừ" một tiếng không thèm để ý đến nữa. Triệu Mẫn tay vịn vào thành bàn, thống thiết kêu lên:

– Trương Vô Kỵ, ngươi có giỏi thì đến cách ta ba bước xem nào.

Trương Vô Kỵ không mắc vào kế khích tướng của nàng, nói:

– Cô nương bảo ta nhát gan sợ chết cũng chẳng sao.

Nói xong chàng nhảy xuống hai bậc thềm. Triệu Mẫn thấy mình khích tướng không thành, mặt liền biến sắc, buồn bã nói:

– Thôi rồi, thôi rồi. Hôm nay ta đã đến nước này, còn mặt mũi nào gặp lại sư phụ?

Nàng với tay rút ngay một thanh đoản kiếm cắm trên cột, kêu lên:

– Trương giáo chủ, đa tạ ngươi đã thành toàn cho ta.

Trương Vô Kỵ quay đầy nhìn lại, chỉ thấy một ánh sáng trắng lóe lên, Triệu Mẫn đã đâm thẳng mũi kiếm vào ngực. Trương Vô Kỵ cười nhạt:

– Ta đâu có để cho..

Chưa nói tới chữ "ngươi lừa" thì thấy mũi kiếm quả thật đã đâm vào ngực Triệu Mẫn, nàng ta thảm thiết kêu lên một tiếng, gục ngay xuống bàn. Trương Vô Kỵ kinh hoảng không để đâu cho hết, không ngờ cô nương này lại ngang ngạnh đến vậy, vài chiêu chưa thắng đã vung kiếm tự sát, nghĩ thầm nếu như nhát kiếm không trúng tim thì may ra còn cứu được. Chàng liền quay trở lại chạy tới coi thương thế của nàng thế nào. Chàng vừa tới cách bàn chừng ba bước, đang toan thò tay nắm lấy vai Triệu Mẫn, bỗng nhiên cảm thấy dưới chân hụt xuống, đạp vào chỗ trống không, thân hình rơi tụt ngay xuống. Chàng biết là nguy cấp, hai tay áo vận khí đánh xuống, thân hình đang trên không lập tức ngừng lại, liền giơ tay đánh một chưởng vào cạnh bàn. Chưởng đó nếu đánh trúng, chàng có thể mượn sức vọt lên, không để rơi vào căn hầm dưới chân. Nào ngờ Triệu Mẫn chỉ giả vờ tự sát nên đã liệu trước chuyện này, hữu chưởng vận kình đánh ra, không cho tay chàng đụng vào bàn. Mọi sự xảy ra chỉ trong nháy mắt, song chưởng đụng nhau, Trương Vô Kỵ đã rơi tụt xuống lưng chừng, vội vàng lật tay một cái, chộp luôn mấy ngón tay phải của Triệu Mẫn. Bàn tay nàng trơn tuột, dường như muốn thoát ra, nhưng Vô Kỵ chỉ cần một chút lực có thể mượn được là có thể bay vụt lên, chàng liền vươn tay nắm cánh tay cô nương ấy. Thế nhưng đang sức rơi rất mạnh, chàng vừa nắm được Triệu Mẫn thì cả hai người cùng rơi xuống hầm. Chỉ thấy tối đen như mực, thân hình tiếp tục rơi xuống, nghe một tiếng "cách" ở trên đầu, cửa hầm bên trên đã đóng chặt. Hai người rơi đến bốn năm trượng mới tới đáy. Trương Vô Kỵ vừa chạm đất đã lập tức nhảy lên thi triển công phu "Bích Hổ Du Tường" bò lên tận trên, giơ tay đẩy nắp đậy. Nắp hầm vừa chắc vừa lạnh, là một thiết bản thật lớn, đẩy vào chỉ thấy nó trơ trơ. Chàng tuy có Càn khôn đại na di thần công nhưng thân hình lơ lửng trên không, đâu có được như đứng trên mặt đất mà lực đạo chuyển qua chuyển lại; đẩy tới đẩy lui một hồi, tấm sắt không hề lay chuyển, thân hình chàng lại tụt trở xuống. Triệu Mẫn cười khanh khách:

– Bên trên có tám thanh sắt to chặn lại, công tử ở bên dưới, dù có mạnh đến đâu cũng không sao mở được.

Trương Vô Kỵ giận nàng giảo hoạt gian trá, không thèm để ý đến, lần mò chung quanh căn hầm để tìm cách thoát thân nhưng cả bốn bề đều lạnh ngắt, trơn tuột, cứng rắn dị thường. Triệu Mẫn cười nói:

– Trương công tử, công phu Bích Hổ Du Tường của công tử thật tài tình. Cái hầm này làm bằng thép đúc, trơn như thế, ngay cả đường nối cũng không, thế mà công tử vẫn trèo lên được, hi hi, ha ha.

Trương Vô Kỵ giận dữ nói:

– Chính cô nương cũng bị nhốt chung với ta ở dưới đây, có gì đáng cười đâu?

Đột nhiên nghĩ ra: "Con a đầu này gian xảo lắm, cái hố này hẳn phải có đường thoát, không thể để nó trốn ra một mình". Chàng bèn tiến lên nắm chặt tay Triệu Mẫn. Nàng kinh hoảng kêu lên:

– Ngươi làm gì thế?

Trương Vô Kỵ nói:

– Cô nương đừng nghĩ chuyện thoát ra một mình. Nếu muốn sống thì mau mau mở tấm nắp đậy ra.

Triệu Mẫn cười đáp:

– Công tử làm gì phải lo thế? Ta đâu có chết đói ở dưới này mà sợ. Để họ tìm không thấy ta, ắt sẽ mở cho ta ra. Có lo là thủ hạ của ta lại tưởng ta đi ra ngoài, chuyện đó mới phiền.

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Thế căn hầm này không có cơ quan để mở lối ra ngoài hay sao?

Triệu Mẫn cười đáp:

– Trông mặt công tử có vẻ thông minh mà sao hỏi một câu ngớ ngẩn thế? Cái hố này có phải chế tạo để chơi cho vui đâu. Làm ra để bắt kẻ địch mà lại cố ý thiết lập cơ quan đóng mở thì địch nhân trốn mất còn gì?

Trương Vô Kỵ nghĩ nàng ta nói không sai, bèn nói:

– Có người rơi xuống hố, không lẽ bên ngoài không hay biết gì? Cô nương mau bảo người mở nắp hầm ra.

Triệu Mẫn nói:

– Thủ hạ của ta đều sai ra ngoài cả rồi, công tử có thấy ai khác ở trong thủy các đâu? Ngày mai giờ này họ mới trở về. Công tử không phải nóng ruột, cứ nghỉ một lát, chúng ta cũng mới ăn xong, chưa đến nỗi đói.

Trương Vô Kỵ nổi khùng, nghĩ thầm: "Ta có đợi thêm cũng chẳng hề gì, nhưng làm sao cứu được ngoại công công với những người khác?" Năm ngón tay bóp chặt, sử đến hai thành kình lực, quát lên:

– Cô nương không thả ta ra ngay, ta sẽ giết cô nương trước.

Triệu Mẫn cười nói:

– Nếu công tử giết ta thì công tử sẽ vĩnh viễn không thể ra khỏi cương lao này được. Mà này, nam nữ thụ thụ bất thân, sao công tử cứ nắm tay ta mãi thế?

Trương Vô Kỵ bị Triệu Mẫn trách cứ, vội vàng bỏ tay nàng ra, lùi lại hai bước, ngồi dựa vào tường. Cái hầm này vuông vức bất quá vài thước, dù có xa nhất hai người cũng chỉ cách nhau một bước, càng bồn chồn, càng bực bội, lại ngửi thấy hơi thở của cô gái, cộng thêm hương thơm của những cây hoa trong túi, lòng chàng càng có cảm giác lâng lâng, liền đứng lên giận dữ nói:

– Minh giáo ta vốn không quen biết, không thù oán gì với cô nương, sao cô nương lại mưu tính ác độc đưa tất cả bọn ta vào chỗ chết?

Triệu Mẫn nói:

– Công tử còn nhiều chuyện chưa biết, nếu đã hỏi đến, để ta nói cho nghe từ đầu. Công tử có biết ta là ai không?

Trương Vô Kỵ nghĩ lại quả không sai, tuy cũng muốn biết dụng ý và lai lịch của cô gái này, nhưng nếu chờ được cô ta kể lại đầy đủ từ đầu thì Ân Thiên Chính và mọi người chắc đã bị chất độc phát tác chết cả rồi, huống chi làm sao biết cô ta nói thật hay giả, nếu như bịa chuyện nói lăng nhăng thì chẳng phải mất biết bao nhiêu thì giờ ư. Trước mắt thấy không còn biện pháp gì khác, chỉ còn cách ép cho cô nàng phải mở cửa hầm cho mình ra, liền nói:

– Ta không biết cô nương là ai, cũng không có hơi đâu nghe cô nương kể chuyện. Cô nương có gọi người mở cho ta ra không?

Triệu Mẫn nói:

– Có ai đâu mà gọi? Hơn nữa, ở dưới này có kêu gào thì bên trên cũng chẳng nghe thấy. Nếu công tử không tin, vậy cứ kêu mấy tiếng thử xem.

Trương Vô Kỵ giận dữ giơ tay nắm đầu vai Triệu Mẫn khiến nàng ta hoảng sợ kêu lên một tiếng, giơ tay ra gạt nhưng đã bị điểm trúng huyệt đạo nơi hông, không cử động được. Trương Vô Kỵ tay trái giơ ra nắm ngay yết hầu nàng, nói:

– Ta chỉ bóp nhẹ một cái, cô nương sẽ táng mạng ngay.

Lúc đó hai người đứng sát bên nhau, thấy nàng thở hổn hển, hơi thơm như lan, Trương Vô Kỵ vội ngửng đầu về sau cho mặt mình xa mặt cô nàng một chút. Triệu Mẫn đột nhiên khóc rấm rứt:

– Ngươi hà hiếp ta, ngươi hà hiếp ta.

Việc đó quả ngoài dự liệu nên chàng ngạc nhiên, vội vàng bỏ tay ra, nói:

– Ta đâu có ý định hà hiếp cô nương, chỉ muốn cô nương thả ta ra thôi.

Triệu Mẫn khóc:

– Có phải ta không muốn đâu! Được rồi, để ta gọi.

Nàng cao giọng gọi lớn:

– Này, này, có ai không? Mở nắp hầm ra, ta bị rơi xuống cương lao đây này.

Nàng liên tiếp kêu réo, bên ngoài vẫn chẳng thấy động tĩnh gì. Triệu Mẫn cười nói:

– Thấy chưa, phỏng ích gì đâu?

Trương Vô Kỵ rất giận dữ nói:

– Không biết xấu, vừa khóc xong lại cười.

Triệu Mẫn nói:

– Chính công tử mới không biết xấu. Đại trượng phu sao lại ăn hiếp nữ nhi chân yếu tay mềm?

Trương Vô Kỵ nói:

– Cô nương chân yếu tay mềm ư? Cô nương quỷ kế đa đoan, còn ghê gớm gấp mười gã phàm phu.

Triệu Mẫn cười:

– Cám ơn Trương giáo chủ đã khen ngợi, tiểu nữ không dám nhận.

Trương Vô Kỵ thấy tình thế khẩn cấp, nếu không ra tay độc ác thì toàn thể người trong Minh giáo sẽ chết sạch; chàng liền nghiến răng, thò tay ra, "xoẹt" một tiếng đã xé ngay một mảnh vải quần của cô nương ấy. Triệu Mẫn tưởng chàng đột nhiên có tà ý, lúc này rất hoảng sợ kêu lên:

– Ngươi.. ngươi làm gì thế?

Trương Vô Kỵ nói:

– Nếu cô nương bằng lòng thả ta ra thì gật đầu đi.

Triệu Mẫn nói:

– Để làm gì?

Trương Vô Kỵ không thèm để ý, nhổ nước miếng cho ướt mảnh vải, nói:

– Xin lỗi nhé, ta cũng đành vậy chứ biết sao hơn.

Chàng lấy mảnh vải bịt chặt mồm mũi cô gái lại, Triệu Mẫn không thở được nữa, chỉ giây lát đã thấy tức ngực chịu không nổi. Thế nhưng nàng thật ương ngạnh, nhất định không gật đầu, sau cùng giãy mấy cái rồi ngất đi.

Trương Vô Kỵ giơ tay thăm mạch thấy mạch nhảy rất yếu ớt, nên bỏ miếng vải ướt bịt miệng mũi cô nàng ra. Một lát sau, Triệu Mẫn từ từ tỉnh lại, rên lên mấy tiếng. Trương Vô Kỵ nói:

– Như thế đâu có thích thú gì phải không? Có thả ta ra không thì bảo?

Triệu Mẫn hậm hực nói:

– Dù có phải ngất đi một trăm lần, ta cũng không thả, để xem ngươi dám giết ta không?

Nàng đưa tay chùi miệng mũi, hứ mấy tiếng nói:

– Nước miếng ngươi, hừ, thối muốn chết được.

Trương Vô Kỵ thấy Triệu Mẫn cứng đầu như thế thì không biết phải làm sao, thêm một lúc nữa càng thêm nóng ruột, bèn nói:

– Ta vì cứu mạng cho mọi người, đành phải làm ẩu một phen, đừng trách ta vô lễ.

Chàng nắm lấy bàn chân trái nàng, lột luôn giày vớ ra. Triệu Mẫn vừa ngạc nhiên vừa sợ hãi, kêu lên:

– Tiểu tử xấu xa, ngươi làm gì thế?

Trương Vô Kỵ không trả lời, lại lột luôn giày vớ chân phải, giơ ngón tay trỏ điểm vào huyệt Dũng Tuyền dưới gan bàn chân, vận Cửu dương thần công lên, một luồng khí ấm liền theo ngón tay truyền vào.

Huyệt Dũng Tuyền ở chỗ lõm dưới lòng bàn chân là khởi đầu của Túc Thiếu Âm Thận Kinh, là nơi nhạy cảm hơn cả. Trương Vô Kỵ tinh thông y lý nên biết rõ như thế. Trẻ con chơi đùa thường lấy tay cù vào gan bàn chân sẽ làm cho đối phương tê cả người, lúc này chàng dùng khí nóng của Cửu dương thần công mơn man huyệt Dũng Tuyền, so với lấy lông chim hay tóc cọ xát vào còn khó chịu gấp bội. Chỉ mới cù mấy cái, Triệu Mẫn nhịn không nổi phải cười lên khanh khách, toan rút chân về để tránh nhưng khổ nỗi huyệt đạo đã bị điểm làm sao cử động được? Nỗi khổ đó còn khó chịu hơn dùng dao cắt, roi đánh, chẳng khác gì muôn ngàn con rận cùng thi nhau cắn ngũ tạng lục phủ, cốt tủy huyết quản một lượt, khiến nàng chỉ cười được mấy tiếng rồi chịu không nổi khóc òa lên. Trương Vô Kỵ mặc kệ, vẫn tiếp tục tra tấn. Trái tim Triệu Mẫn dường như muốn nhảy khỏi lồng ngực, các chân lông chân tóc toàn thân ngứa không chịu nổi như muốn rụng hết, nàng mở miệng mắng chửi:

– Tên thối tha.. tên giặc con.. sẽ có ngày ta đem ngươi ra.. lăng trì tùng xẻo.. thôi.. thôi.. tha.. tha cho ta.. Trương.. Trương giáo chủ.. Trương công tử.. Trương giáo.. giáo chủ.. hu hu.. hu hu.. Trương Vô Kỵ hỏi:

– Cô nương chịu thả ta ra chưa?

Triệu Mẫn khóc nói:

– Để ta.. thả.. mau ngừng.. ngừng tay.. Trương Vô Kỵ bấy giờ mới ngưng, nói:

– Tạ lỗi.

Chàng nắn mấy cái vào lưng, Triệu Mẫn giải khai huyệt đạo cho nàng. Triệu Mẫn thở phào một hơi, mắng:

– Tặc tiểu tử, đi vớ xỏ giày vào cho ta.

Trương Vô Kỵ cầm chiếc vớ lụa, một tay cầm chân nàng. Khi trước chàng chỉ chăm chăm lo thoát thân, không có ý gì khác, lúc này cầm bàn chân nhỏ nhắn mềm mại của cô gái, trong lòng không khỏi lâng lâng.

Triệu Mẫn thẹn thùng rụt chân về, mặt nóng bừng, cũng may trong hầm tối đen nên Trương Vô Kỵ không nhìn thấy. Nàng chẳng nói chẳng rằng tự mình đi vớ xỏ giày, chỉ chỉ trong một giây bỗng thấy lòng nổi lên một cảm giác lạ kỳ, tưởng như lại mong được chàng cầm chân mình lần nữa.

Bỗng nghe Trương Vô Kỵ hậm hực quát:

– Mau lên, mau lên, thả ta ra!

Triệu Mẫn không nói một lời, giơ tay mò lên tường kiếm chỗ có khắc một cái vòng tròn, xoay ngược cán kiếm, tại cái vòng đó gõ khi chậm khi nhanh, lúc dài lúc ngắn đâu bảy tám tiếng. Gõ vừa xong, nghe "xạch" một tiếng, một luồng ánh sáng từ trên đầu chiếu xuống, cái nắp hầm đã mở ra. Cái vòng đó có bộ phận liên lạc với bên ngoài, nàng đã ước định tín hiệu nên khi nghe thấy, người canh cửa liền mở nắp hầm ra.

Trương Vô Kỵ đâu ngờ bảo mở là mở nhanh đến thế, không khỏi ngạc nhiên nói:

– Thôi ta đi ra.

Triệu Mẫn cúi đầu đứng qua một bên, không nói lời nào. Vô Kỵ nghĩ nàng là một thiếu nữ, nếu mình còn chì chiết thêm nữa sẽ không khỏi thất thố, vái một vái nói:

– Triệu cô nương, vừa rồi chuyện chẳng đặng đừng mới làm như thế, bây giờ xin tạ tội!

Triệu Mẫn hất đầu quay sang nhìn vào tường, đôi vai rung rung vẻ như đang khóc. Khi cô nàng gian trá độc ác, Trương Vô Kỵ cùng nàng đấu trí đấu lực không có một chút tạp niệm nào, bây giờ thấy lòng hổ thẹn, thấy tấm lưng thon của nàng, nước da nơi cổ trắng như ngọc, làn tóc xõa ra, không khỏi nhủ lòng thương cảm, nói:

– Triệu cô nương, tại hạ cáo từ. Trương mỗ thật là không phải.

Chàng thấy bóng lưng Triệu Mẫn rung rung nhưng nàng không quay lại.

Trương Vô Kỵ không dám nấn ná thêm, lập tức thi triển công phu Bích Hổ Du Tường trèo lên, đến khoảng còn chừng hơn một trượng, chân phải điểm vào tường một cái, bay vọt lên cao, tay áo phất một cái bảo vệ trên đỉnh đầu sợ có kẻ nào ở trên đánh lén. Chân chàng chưa rơi chạm đất, nhìn chung quanh, thấy thủy các không một bóng người. Chàng không muốn gây thêm chuyện, vượt qua tường theo đường nhỏ chạy về nơi quần hào Minh giáo đang đợi. Trước mắt thấy trời đã ngả bóng, hóa ra chàng bị hãm dưới hầm hơn nửa giờ, không biết tính mệnh Ân Thiên Chính và mọi người giờ này ra sao. Chàng trong bụng lo lắng lại càng gia tăng cước lực, chẳng bao lâu đã về gần tới nơi quần hào dừng chân, không khỏi giật mình kinh hãi.

Trước mặt là đại đội kỵ binh Mông Cổ chạy qua chạy lại, vây chặt người của Minh giáo, quân Nguyên ai nấy giương cung, nhắm vào người trong vòng bắn tới. Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Những nhân vật thủ lĩnh của bản giáo ai ai cũng trúng độc cả, không ai ra lệnh chỉ huy, làm sao chống trả được với đại đội quân địch vây đánh?" Chàng gia tăng cước lực, chạy vọt lên. Chạy đến gần hơn, thấy trong đám người một giọng con gái trong trẻo cất lên:

– Nhuệ Kim kỳ tấn công mặt đông bắc, Hồng Thủy kỳ bao vây phương tây nam.

Chính là giọng Tiểu Chiêu. Nàng vừa ra lệnh xong, một đội giáo chúng mang cờ trắng liền xung sát mặt đông bắc, còn đội giáo chúng mang cờ đen bao vòng qua mặt tây nam. Quân Nguyên chia ra chống đỡ, đột nhiên đội cờ vàng Hậu Thổ kỳ, cờ xanh Cự Mộc kỳ song song từ trong đánh ra, chẳng khác gì một con rồng xanh, một con rồng vàng chộp tới. Quân Nguyên bị đánh tập hậu, trận thế liền đại loạn, phải lùi về sau. Trương Vô Kỵ nhảy mấy cái đã tới trước mặt các giáo chúng. Mọi người thấy giáo chủ quay về liền reo hò ầm ỹ, tinh thần phấn chấn hẳn lên. Trương Vô Kỵ thấy Ân Thiên Chính, Dương Tiêu, Chu Điên và các chánh phó kỳ sứ của Ngũ Hành kỳ vẫn ngồi dưới đất, còn Tiểu Chiêu tay cầm cờ lệnh, đứng trên gò đất chỉ huy giáo chúng ngự địch. Những người trong Ngũ Hành kỳ, Thiên Ưng kỳ đều võ nghệ cao cường, chỉ vì thủ lĩnh trúng độc nên loạn cả lên, đến khi Tiểu Chiêu dùng thuật số bát quái bố trí chống đỡ, quân Nguyên không thể tấn công được nữa.

Tiểu Chiêu mừng rỡ kêu lên:

– Trương công tử, mời công tử lên chỉ huy.

Trương Vô Kỵ nói:

– Ta đang bận, cô nương cứ chỉ huy tốt hơn, để ta xung sát một trận, giết vài tên quân quan. Chỉ thấy "vèo vèo" mấy tiếng, mấy mũi tên nhắm chàng bắn tới. Trương Vô Kỵ giật ngay một thanh trường mâu của một giáo chúng, gạt hết mấy mũi tên đó ra, vung tay một cái ném chiếc thương đó bay vụt ra ngoài, xuyên qua ngực một tên bách phu trưởng, đóng chặt hắn xuống đất. Quân Nguyên liền kêu la ầm ỹ, lui ra ngoài mấy chục bước. Đột nhiên nghe tiếng tù và u u vang lên, độ mươi tên kỵ binh từ xa chạy tới. Trương Vô Kỵ thấy đi trước chính là bọn Thần tiễn bát hùng, thủ hạ của Triệu Mẫn, không khỏi nhíu mày nghĩ thầm: "Tám người này tiễn pháp quá ghê gớm, nếu để bọn chúng bắn tên thì e rằng các huynh đệ sẽ bị thương không ít, ta nên ra tay trước thì hơn". Người thủ lĩnh của Thần tiễn bát hùng là Triệu Nhất Thương tay cầm một cây đoản trượng khắc đầu rồng màu vàng, kêu lớn:

– Chủ nhân có lệnh, lập tức thu binh!

Người thiên phu trưởng chỉ huy đội quân Nguyên liền nói xí xố mấy câu Mông Cổ, bọn quân quan liền quay đầu ngựa chạy đi. Tiền Nhị Bại tay cầm một cái khay, xuống ngựa tiến đến trước mặt Trương Vô Kỵ, khom lưng nói:

– Chủ nhân chúng tôi xin giáo chủ nhận món quà lưu niệm.

Trương Vô Kỵ nhìn đến thấy khay lót một tấm nhiễu màu vàng, trên để một chiếc hộp bằng vàng, chạm trổ rất tinh xảo. Trương Vô Kỵ không ngần ngại giơ tay cầm lấy. Tiền Nhị Bại cung thân hành lễ, lùi lại ba bước, quay mình lên ngựa đi thẳng. Trương Vô Kỵ tiện tay giao luôn cái hộp cho Tiểu Chiêu, chàng lo lắng cho bệnh tình của mọi người, không thì giờ đâu mở xem trong hộp có gì, lập tức lấy trong bọc ra mấy cây hoa. Chàng sai người đem nước lạnh tới nghiền nát những rễ màu đỏ và củ màu xanh, hòa vào trong nước, chia cho Ân Thiên Chính, Dương Tiêu và các chánh phó kỳ sứ Ngũ Hành kỳ uống. Chuyến đi này, tất cả những ai yến ẩm nơi thủy các, trừ Trương Vô Kỵ có Cửu dương thần công hộ thể nên các loại độc không thể xâm phạm, các thủ lĩnh Minh giáo ai ai cũng bị trúng độc. Chỉ có Dương Bất Hối vì phải đút cơm cho Ân Lê Đình ở bên ngoài, Tiểu Chiêu và các giáo chúng ăn cơm ngoài đại sảnh, đã nghe theo lệnh giáo chủ, phàm vật gì trước khi ăn đều dùng ngân châm thử trước nên không ai bị trúng độc. Thuốc giải độc thật công hiệu, chưa đến nửa canh giờ sau, độc tính trong cơ thể quần hào đều tiêu giải, không còn thấy đầu váng mắt hoa nhưng toàn thân dường như hơi sức mất hết, lập tức hỏi xem đã bị trúng độc như thế nào. Trương Vô Kỵ thở dài:

– Bọn ta mọi việc đều đã đề phòng, những món ăn uống rượu thịt không hề có chất độc, bản nhân đã xem xét kỹ. Nào ngờ cách hạ độc của Triệu cô nương thật không sao ngờ nổi. Cây hoa trông như thủy tiên kia gọi là Túy Tiên Linh Phù, tuy rất khó kiếm nhưng vốn không có độc tính. Còn thanh kiếm Ỷ Thiên giả kia làm bằng một loại gỗ dưới đáy biển tên là Kỳ Lăng Hương Mộc, vốn cũng không độc. Thế nhưng hai mùi kia trộn lẫn với nhau thì biến thành kịch độc.

Chu Điên vỗ đùi, kêu lên:

– Cũng tại ta cả, ai bảo ta ngứa tay rút thanh kiếm Ỷ Thiên kia ra làm cái mẹ gì cơ chứ!

Trương Vô Kỵ nói:

– Cô ta nếu đã có âm mưu làm hại chúng ta, dẫu Chu huynh không động thủ, cô ta cũng sai người đến rút ra để hạ độc, không thể nào phòng bị nổi.

Chu Điên nói:

– Đi, mình đến cho một mồi lửa đốt rụi cái Lục Liễu sơn trang đó cho rồi.

Y vừa nói tới câu đó đã thấy đằng xa khói đen bốc lên, bên trong ánh lửa thấp thoáng chính là Lục Liễu sơn trang đang cháy.

Quần hào ai nấy nhìn nhau không nói được lời nào, trong bụng nghĩ thầm: "Triệu cô nương này chuyện gì cũng tính trước được cả, biết rằng mình giải độc xong thể nào cũng tới đốt trang viện, thành ra phóng hỏa trước cho chắc ăn. Cô nương ấy tuổi còn nhỏ, lại phận nữ nhi nhưng thật sự là một kình địch".

Chu Điên lại vỗ đùi kêu lên:

– Cô nàng đốt trang viện thì ăn thua gì? Mình cứ tới đuổi đánh cho một trận tan tành mới thôi.

Dương Tiêu nói:

– Đến như trang viện cô ta cũng đã đốt rồi đủ biết chuyện gì cũng tính toán trước, xem ra giờ có đuổi cũng không kịp đâu.

Chu Điên nói:

– Dương huynh, võ công ngươi không nói làm gì, ngay cả mưu kế xem ra cũng còn hơn Chu Điên này một bực.

Dương Tiêu cười:

– Không dám, không dám. Chu huynh thần cơ diệu toán, tiểu đệ làm sao bì kịp?

Trương Vô Kỵ cười nói:

– Hai vị bất tất quá khiêm nhường. Chúng ta không bị tổn thất lớn, chỉ có mười ba mười bốn huynh đệ bị trúng tên, cũng là may lắm rồi, thôi lên đường đi ngay.

Trên đường đi, quần hào hỏi Vô Kỵ làm sao tìm ra nguyên nhân mọi người bị trúng độc, Trương Vô Kỵ nói:

– Ta nhớ trong Độc kinh có một đoạn chép: "Kỳ Lăng Hương Mộc nếu như gặp phải hương thơm của một loại giống như thủy tiên, có thể làm cho người ta say sưa mê mẩn mấy ngày, nhưng chỉ cần dùng củ tròn của cây thủy tiên pha với nước là giải được. Nếu không giải kịp, độc tính sẽ ăn vào tim phổi. Túy Tiên Linh Phù so với loại phù dung thường còn lợi hại hơn nhiều". Vì thế ta mới dặn các vị chớ nên vận tức dụng công, nếu không hương hoa sẽ đi vào các kinh mạch có thể nguy hiểm đến tính mạng.

Vi Nhất Tiếu nói:

– Không ngờ con a hoàn Tiểu Chiêu lại lập được kỳ công, nhân khi nguy cấp nếu không có nó đứng ra, bọn mình bị chết chắc nhiều lắm.

Dương Tiêu vốn cho rằng Tiểu Chiêu là người của kẻ địch sai đến nhưng sau chuyện hôm nay, nàng đã thành một công thần của Minh giáo, khiến ông ta không thể ngờ nổi, nhất thời không hiểu nguyên do ra sao.

Mọi người trên đường đi đàm luận lai lịch Triệu Mẫn nhưng chẳng ai có được đầu mối nào. Trương Vô Kỵ không kể chuyện chàng bị rơi xuống hố cùng với Triệu Mẫn, việc mình cù gan bàn chân nàng để thoát thân, tuy trong lòng không có điều gì phải hổ thẹn, nhưng trước mặt mọi người thì chuyện này cũng khó ăn khó nói.

Tối hôm đó mọi người vào quán trọ nghỉ ngơi, còn đại đội nhân mã chia ra tìm đền đài miếu mạo ngủ tạm.

Tiểu Chiêu lấy một thau nước bưng vào phòng, Trương Vô Kỵ nói:

– Tiểu Chiêu, hôm nay tiểu cô nương lập được kỳ công, từ rày không phải làm những việc phục dịch như trước nữa.

Tiểu Chiêu cười nói:

– Nô tì rất thích được hầu hạ công tử, có gì đâu gọi phục dịch hay không phục dịch?

Đợi chàng rửa mặt xong, Tiểu Chiêu lấy chiếc hộp vàng ra nói:

– Không biết bên trong hộp có độc trùng độc dược, độc tiễn ám khí gì không?

Trương Vô Kỵ nói:

– Đúng vậy, cứ cẩn thận là hơn.

Chàng để chiếc hộp trên bàn, cầm tay Tiểu Chiêu kéo ra xa, lấy trong túi một đồng tiền vung tay ném tới, nghe "keng" một tiếng trúng ngay mép cái hộp, nắp hộp liền mở tung, không có gì khác lạ. Chàng đến gần xem thấy trong hộp là một đóa hoa cài tóc kết bằng trân châu, vẫn còn đang rung rinh, chính là đóa hoa Triệu Mẫn cài trên đầu. Hai viên ngọc trai Triệu Mẫn ngắt đi nay đã đính lại trên sợi chỉ bằng vàng. Chàng không khỏi ngẩn người, không hiểu Triệu Mẫn có dụng ý gì.

Tiểu Chiêu cười nói:

– Công tử, vị Triệu cô nương này đối với công tử tốt quá, trịnh trọng sai người đến biếu công tử một đóa hoa kết bằng ngọc trai.

Trương Vô Kỵ nói:

– Ta là đàn ông, có được món trang sức của nữ nhân này làm gì? Tiểu Chiêu, cô nương cầm lấy mà dùng.

Tiểu Chiêu xua tay, cười nói:

– Thế sao được? Người ta có tình ý với công tử, sao nô tì dám lấy?

Trương Vô Kỵ cầm lấy đóa hoa, cười nói:

– Trúng.

Chàng vung tay ném ra, vừa hay cắm luôn lên tóc Tiểu Chiêu, chiếc kim dưới đóa hoa không hề chạm vào da thịt. Tiểu Chiêu toan dứt xuống, Trương Vô Kỵ xua tay nói:

– Chẳng lẽ ta tặng cô nương một món quà nhỏ cũng không được hay sao?

Tiểu Chiêu hai má hồng lên, nói nhỏ:

– Vậy thì đa tạ công tử. Chỉ sợ tiểu thư nhìn thấy lại bực mình.

Trương Vô Kỵ nói:

– Hôm nay cô nương đã làm được một việc lớn, cha con Dương tả sứ lẽ nào còn nghi ngờ?

Tiểu Chiêu lòng đầy vui sướng, nói:

– Nô tì thấy công tử đi lâu quá không về, trong bụng thật nôn nóng. Thế rồi bọn Thát tử đến tấn công, không biết vì sao tiểu nữ lại dám lớn mật đứng lên hô hoán, bây giờ nghĩ lại thật là sợ hãi. Công tử, nhờ công tử nói lại với quý vị trong Ngũ Hành kỳ, Thiên Ưng kỳ là Tiểu Chiêu to gan làm càn, xin các vị đó đừng trách.

Trương Vô Kỵ mỉm cười:

– Bọn họ cám ơn còn chưa đủ, sao lại trách cứ?

*

* *

Chẳng bao lâu đã đến cảnh giới tỉnh Hà Nam. Lúc ấy thiên hạ đại loạn, quần hùng bốn phương nổi lên, quan quân Mông Cổ tra xét càng thêm nghiêm nhặt. Đại đội Minh giáo đi thành đoàn không tiện, đành chia ra nhiều nhóm, hẹn đến chân núi Tung Sơn sẽ gặp nhau, rồi sẽ cùng lên ngọn Thiếu Thất, lúc ấy Chưởng kỳ sứ Cự Mộc kỳ là Văn Thương Tùng sẽ đem danh thiếp mọi người đưa lên chùa Thiếu Lâm.

Trương Vô Kỵ biết rằng kỳ này mình lên Thiếu Lâm vấn tội, tuy không muốn lại dấy động can qua, nhưng kết quả ra sao thực khó lòng biết trước. Nếu tăng chúng chùa Thiếu Lâm ngang ngược không nói phải quấy mà ra tay động võ, Minh giáo không thể không tiếp chiến, thành thử chàng truyền lệnh xuống: Các thủ lĩnh tiến vào chùa trước, còn các giáo chúng trong Ngũ Hành kỳ và Thiên Ưng kỳ sẽ chia ra bao vây bốn mặt, chờ ở bên ngoài, nếu nghe ba tiếng hú là lập tức tấn công tiếp ứng. Các giáo chúng nhận lệnh chia nhau đi.

Chẳng bao lâu, một tri khách tăng đã già đi theo Văn Thương Tùng xuống núi nói:

– Phương trượng và các trưởng lão bản tự hiện nay đều bế quan tịnh tu, xin thứ lỗi không tiếp khách được.

Quần hào nghe nói thế ai nấy đều biến sắc. Chu Điên giận dữ nói:

– Vị này là giáo chủ Minh giáo đích thân đến chùa Thiếu Lâm bái sơn, lão hòa thượng cũng không cho gặp, thế chẳng phải coi thường lắm ư?

Vị tri khách tăng kia cúi đầu ủ rũ, mặt đầy vẻ sầu khổ, chỉ nói:

– Không tiếp.

Chu Điên nổi giận, giơ tay nắm ngay ngực áo nhà sư, Thuyết Bất Đắc vội ngăn lại:

– Chu huynh không được lỗ mãng.

Bành Oánh Ngọc nói:

– Phương trượng nếu đã tọa quan, chúng tôi xin gặp hai vị Không Trí, Không Tính thần tăng cũng được.

Nhà sư kia chắp hai tay, nói cụt ngủn:

– Không tiếp.

Bành Oánh Ngọc hỏi tiếp:

– Thế còn thủ tọa Đạt Ma Đường thì sao? Thủ tọa La Hán Đường thì sao?

Vị tri khách tăng cũng đáp:

– Không tiếp.

Ân Thiên Chính quát một tiếng như sấm rền:

– Nhất định không tiếp hay sao?

Song chưởng lập tức đẩy ra một chưởng thế như nghiêng sông dốc bể, nghe bùng một tiếng đánh gãy đôi một cây đại tùng ở bên đường, nửa thân trên cả cành cả lá cùng đổ rầm xuống. Nhà sư lúc này lộ vẻ hoảng sợ, nói:

– Các vị đường xa đến đây, đúng ra phải lấy lễ tiếp đãi, có điều tất cả các trưởng lão đều tọa quan cả rồi, xin để dịp sau vậy.

Nói xong chắp tay khom mình, quay lưng đi thẳng. Vi Nhất Tiếu thân hình hơi rung động đã chặn ngay trước mặt nhà sư nói:

– Đại sư xưng hô thế nào?

Vị tri khách tăng đáp:

– Pháp danh của tiểu tăng, không nói tới là hơn.

Vi Nhất Tiếu vỗ nhẹ hai cái vào đầu vai nhà sư, cười nói:

– Tốt lắm, tốt lắm! Ông chỉ nói hai chữ "bất kiến", chắc hẳn là Bất Kiến đại sư, là sư huynh của Không Kiến thần tăng. Thế nhưng chẳng hay nếu Diêm Vương mời đi, không biết Bất Kiến thần tăng có chịu gặp hay không?

Nhà sư kia bị Vi Nhất Tiếu vỗ hai cái, một luồng khí lạnh chạy thẳng từ vai vào tim, toàn thân lập tức run lẩy bẩy, răng đánh vào nhau lập cập. Y cố nhịn, xoay người lách qua bên hông Vi Nhất Tiếu chạy đi, vừa đi vừa run, thất thểu lên núi. Vi Nhất Tiếu nói:

– Gã này có học võ trước khi vào Thiếu Lâm, võ công của y không thuộc phái Thiếu Lâm.

Trương Vô Kỵ nghĩ ngay đến Viên Chân, biết rằng chuyện đi học nơi khác rồi sau học võ Thiếu Lâm là chuyện bình thường, nên nói:

– Vi Bức Vương đánh y hai đòn Hàn băng miên chưởng, sư tổ, sư phụ y lẽ nào bỏ qua? Thôi, chúng ta cùng lên đó xem các đại hòa thượng có tiếp hay không tiếp.

Mọi người biết rằng khó có thể tránh khỏi một trường ác đấu, phái Thiếu Lâm trước nay vẫn là Thái Sơn Bắc Đẩu của võ lâm, hơn một ngàn năm qua giang hồ vẫn gọi là "môn phái chỉ thắng không thua", hôm nay đại chiến một trận, xem thử Minh giáo và Thiếu Lâm ai mạnh ai yếu.

Mọi người ai nấy hăng hái cùng kéo nhau lên núi, nghĩ đến phái Thiếu Lâm cao thủ nhiều vô kể, trận đại chiến trước mắt nhất định ác liệt không để đâu cho hết. Chưa hết thời gian uống một chén trà đã đến thạch đình trước cửa chùa. Trương Vô Kỵ nghĩ đến năm xưa theo thái sư phụ lên núi, gặp tam đại thần tăng chính ở tại nơi đây, hôm nay trở lại, tuy trước sau chỉ mới vài năm, nhưng ngày xưa chàng là một đứa bé bệnh hoạn gầy gò, cô khổ lênh đênh, hôm nay là giáo chủ Minh giáo tôn quý, nghĩ lại chuyện xưa tưởng như đã từ kiếp trước.

Căn thạch đình đó hai chiếc cột đá bị gãy, chiếc bàn đá cũng đổ lăn lóc. Thuyết Bất Đắc cười nói:

– Các nhà sư chùa Thiếu Lâm thích đánh nhau thật, mấy cái cột này mới gãy đây thôi, xem ra mấy hôm trước có một trận chiến khủng khiếp nên mới không kịp tu sửa.

Chu Điên nói:

– Để khi chúng ta đắc thắng rồi, Chu Điên ta sẽ phá hết cái đình này.

Quần hào ở thạch đình chờ đợi, liệu rằng trong chùa sẽ có một đám cao thủ ào ra nên đã định tiên lễ hậu binh trách hỏi tại sao hạ độc thủ đối với Ân Lê Đình, nếu chúng tăng vẫn ngang ngược không nghe thì lúc ấy mới động võ. Nào ngờ chờ cả nửa ngày mà trong chùa hoàn toàn không thấy chút động tĩnh gì. Thêm một lúc nữa, thấy một đoàn người từ sau chùa chạy xuống hậu sơn, nhìn từ xa phải đến bốn năm chục người. Bành Oánh Ngọc nói:

– Hừ, chắc họ điều binh khiển tướng, mai phục bốn bên chăng?

Trương Vô Kỵ nói:

– Thôi, vào chùa.

Lập tức Dương Tiêu, Vi Nhất Tiếu ở phía bên trái; Ân Thiên Chính, Ân Dã Vương bên phải; Thuyết Bất Đắc, Bành Oánh Ngọc, Thiết Quan đạo nhân và Chu Điên Tứ tản nhân tại đằng sau, cùng hộ vệ Trương Vô Kỵ tiến vào chùa. Đến Đại Hùng bảo điện, thấy chiếc bàn thờ trước tượng Phật ngã chỏng chơ một bên, lư hương còn lăn lóc dưới đất, mặt đất đầy tàn nhang nhưng không thấy một ai. Thuyết Bất Đắc cười nhạt nói:

– Phái Thiếu Lâm thấy bọn mình đến đây, tâm hoảng thần loạn, chân tay quýnh quáng, đến bình hương cũng đánh rơi, nực cười quá đi thôi.

Trương Vô Kỵ lớn tiếng nói:

– Minh giáo Trương Vô Kỵ, cùng với mọi người trong tệ giáo Dương Tiêu, Ân Thiên Chính, Vi Nhất Tiếu tới đây bái sơn, cầu kiến phương trượng đại sư.

Tiếng của chàng tuy không lớn lắm nhưng nội lực hồn hậu, tất cả chuông trống treo bên ngoài đại điện cùng u u vang lên. Dương Tiêu, Vi Nhất Tiếu cùng đưa mắt nhìn nhau, nghĩ thầm: "Giáo chủ nội lực thật thâm hậu, ai nghe thấy cũng phải sợ, đương niên Dương giáo chủ khi còn tại thế xem ra cũng còn kém xa. Trận chiến hôm nay, bản giáo thể nào cũng thắng". Lời cầu kiến của Trương Vô Kỵ, cả tiền viện lẫn hậu viện chùa Thiếu Lâm chỗ nào cũng nghe thấy. Thế nhưng đợi thêm một hồi, trong chùa vẫn không thấy ai bước ra. Chu Điên quát lớn:

– Này, tất cả bọn sư sãi lớn bé chùa Thiếu Lâm đâu, rụt đầu rụt cổ trốn hết thì còn ra giống gì nữa? Bộ còn hú hí với vợ hay sao?

Tiếng của Chu Điên so với Trương Vô Kỵ lớn hơn nhiều, nhưng chuông trống trong điện không thấy vang lại. Quần hào lại đợi thêm một lát, vẫn không thấy ai ra. Bành Oánh Ngọc nói:

– Bần tăng trong lòng bỗng thấy khác lạ, thấy chùa này âm khí u uất, thật là điều bất thường.

Chu Điên cười nói:

– Hòa thượng quay về chùa là đúng chỗ rồi, có gì gọi khác lạ nữa chứ?

Thiết Quan đạo nhân bỗng nói:

– Ồ, nơi đây có một thiền trượng gãy đầu.

Thuyết Bất Đắc nói:

– Ồ, chỗ này có một vũng máu lớn.

Chu Điên cười nói:

– Chắc là sau trận chiến đỉnh Quang Minh, uy danh giáo chủ truyền ra xa nên phái Thiếu Lâm mới treo cao "miễn chiến bài". Xem chừng họ chạy bán sống bán chết, đến binh khí cũng quẳng bỏ luôn.

Thiết Quan đạo nhân lắc đầu:

– Không phải thế đâu.

Chu Điên hỏi:

– Có gì mà không phải?

Thiết Quan đạo nhân nói:

– Thế còn vũng máu này thì sao?

Chu Điên nói:

– Chắc là họ sợ quá nên cắt phải tay..

Nói tới đây Chu Điên liền khựng lại, tự biết mình có lời lẽ hầm hồ nên nói không hết câu. Ngay lúc đó, một trận gió thổi qua khiến quần áo mọi người tung bay.

Chu Điên vui vẻ nói:

– Gió mát quá.

Bỗng nghe có tiếng lách cách, một cây tùng lớn ngã xuống cách vài mươi trượng ở phía tây. Quần hào ai nấy kinh ngạc, cùng nhảy lên chạy ngay đến chỗ cây đổ, thấy cây tùng đó ở bên góc đông nam của một tòa đại viện, trong viện cũng không có ai, không hiểu vì sao cây tùng lớn thế mà lại bị gió thổi gãy được làm sập cả một mảng tường. Mọi người tới gần quan sát, thấy các thớ gỗ nát vụn, hiển nhiên bị người nào dùng trọng thủ đánh nát, chỗ gãy cũng đã khô chứ không phải mới đây. Quần hào coi kỹ một hồi, bàn tán xôn xao:

– Ồ, không phải.

– A, nơi đây có động thủ.

– Ghê gớm thật, chết nhiều người quá.

Trong tòa đại viện chỗ nào cũng có dấu vết một cuộc kịch chiến, trên nền đá xanh, những cành cây khô, tường đá vây quanh để lại biết bao nhiêu vết binh khí chém xuống, quyền cước đấm đá. Nơi nào cũng đầy vết máu, đủ biết ở đây đã có trận giao chiến kịch liệt dị thường. Trên nền đất vẫn còn nhiều vết chân lõm xuống, là của cao thủ tỉ đấu nội lực lưu lại. Trương Vô Kỵ kêu lên:

– Mau bắt gã tri khách tăng kia hỏi cho ra lẽ.

Vi Nhất Tiếu, Thuyết Bất Đắc, mọi người liền chia ra tìm kiếm, nhưng không biết nhà sư kia trốn ở đâu. Ngũ Hành kỳ cũng chia các nơi tra xét, qua hơn nửa canh giờ, các chưởng kỳ sứ quay về bẩm báo, nói là trong chùa không có ai nhưng chỗ nào cũng có dấu vết kịch đấu. Nhiều điện đường còn vết máu, binh khí gãy nhưng không thấy xác người. Trương Vô Kỵ hỏi:

– Dương tả sứ, ông nghĩ sao?

Dương Tiêu đáp:

– Trận chiến ghê gớm này chỉ mới hai ba ngày trước, không lẽ toàn thể phái Thiếu Lâm bị tiêu diệt, hoặc bị giết, hoặc bị bắt không còn một ai hay sao?

Thuyết Bất Đắc nói:

– Hồi nãy chẳng phải có mấy chục người chạy về phía hậu sơn đấy ư?

Dương Tiêu đáp:

– Rất có thể đó là bọn đối đầu với phái Thiếu Lâm ở lại trấn giữ nơi đây, thấy đại đội nhân mã của mình nên bỏ chạy trước.

Bành Oánh Ngọc nói:

– Cứ theo sự thế mà suy đoán thì hẳn là như vậy. Gã tri khách tăng kia cũng chỉ là mạo xưng thôi, tiếc là không kịp giữ hắn lại. Thế nhưng đối đầu với phái Thiếu Lâm có môn phái bang hội nào ghê gớm đến thế? Chẳng lẽ là Cái Bang?

Chu Điên nói:

– Cái Bang thế lực tuy có lớn thật, cao thủ tuy nhiều thật, nhưng đâu có thể chỉ đánh một trận mà giết sạch bọn đầu trọc chùa Thiếu Lâm được chứ! Chỉ có Minh giáo chúng ta mới làm nổi điều đó, nhưng rõ ràng bọn mình đâu có làm.

Thiết Quan đạo nhân nói:

– Chu Điên, ngươi nói bớt một câu tầm phào đi có được không? Bản giáo có làm chuyện đó hay không, chẳng lẽ chính bọn ta không biết?

Chưởng kỳ sứ Hậu Thổ kỳ Nhan Viên quay về báo:

– Khải bẩm giáo chủ, mười tám pho tượng Phật La Hán trong La Hán Đường không biết ai đã di chuyển, không hiểu có chuyện gì không?

Quần hào biết Nhan Viên giỏi nghề nề mộc xây cất, nếu y đã nghi ngờ, ắt phải có chuyện, liền nói:

– Chúng ta đến xem thử.

Đến La Hán Đường thấy trên tường đầy vết máu, giới đao thiền trượng la liệt khắp mặt đất. Chu Điên nói:

– Nhan huynh, mười tám vị La Hán này có gì khác lạ cơ chứ?

Nhan Viên đáp:

– Vị La Hán nào cũng bị người ta xô đẩy, lúc đầu huynh đệ nghi đằng sau có thể có lối đi, nhưng xem xét tường vách không thấy có cửa hay đường bí mật gì cả.

Dương Tiêu trầm ngâm một hồi, nói:

– Mình thử đẩy tượng La Hán ra lần nữa xem sao?

Nhan Viên nhảy lên bệ thờ, đẩy tượng Trường Mi La Hán sang một bên, lộ tường ra, quả nhiên không có gì khác lạ. Dương Tiêu cũng nhảy lên bệ, xem kỹ pho tượng La Hán, đột nhiên "Ồ" một tiếng, rồi nói:

– Sau lưng La Hán có viết chữ.

Liền xoay ngược pho tượng lại. Quần hào ngạc nhiên thấy có khắc một chữ "Diệt" lớn bằng cái đấu. Pho tượng vốn dĩ được sơn son thếp vàng, lúc này lớp sơn bên ngoài bị người ta dùng dao nhọn khắc một chữ "Diệt" lớn, sâu vào cả tấc, lộ phần đất sét ra. Vết khắc xem ra còn mới, rõ ràng khắc chưa bao lâu. Chu Điên nói:

– Chữ "Diệt" này là cái quái gì? A, đúng rồi, chắc là phái Nga Mi đến quấy phá chùa Thiếu Lâm, Diệt Tuyệt sư thái để chữ lại thị uy đấy mà.

Ai nấy thấy chuyện đó ngoài sức tưởng tượng, đều lắc đầu. Trong khi đang nói chuyện, những người khác đã xoay cả mười tám pho tượng lại, trừ pho Hàng Long La Hán ở tận cùng bên phải và Phục Hổ La Hán ở tận cùng bên trái còn thì cả mười sáu pho tượng La Hán ở giữa đều có khắc mỗi pho một chữ ở sau lưng, từ phải sang trái thành như sau:

Tiên tru Thiếu Lâm, tái diệt Võ Đang, duy ngã Minh giáo, võ lâm xưng vương. [1 03]

Ân Thiên Chính, Thiết Quan đạo nhân, Thuyết Bất Đắc, mọi người cùng kêu lên:

– Đây là kế Di họa Giang Đông.

Quần hào thấy mười sáu chữ đó giương nanh khoe vuốt, hình dáng thật ghê rợn, nghĩ đến quần tăng chùa Thiếu Lâm bị thảm họa, bao nhiêu tội lỗi đổ lên đầu Minh giáo thì không khỏi lo âu. Chu Điên kêu lên:

– Mình mau mau cạo sạch mấy chữ này đi, để khỏi bị tiếng oan.

Dương Tiêu nói:

– Địch nhân dụng tâm ác độc, chỉ cạo mấy chữ đi đâu đã đủ.

Lần này Chu Điên thấy Dương Tiêu nói có lý nên không cãi lại chỉ hỏi:

– Vậy phải làm thế nào?

Thuyết Bất Đắc nói:

– Cứ để sau làm chứng cớ. Mình đi kiếm kẻ lập tâm di họa, bắt đối chất với mười sáu chữ này.

Dương Tiêu gật đầu khen phải. Bành Oánh Ngọc nói:

– Tiểu tăng vẫn còn một chuyện chưa rõ, muốn được Dương tả sứ chỉ giáo. Kẻ khắc mười sáu chữ này đã lập tâm giá họa cho bản giáo, để chúng ta phải chịu cái đại tội tiêu diệt Thiếu Lâm, khiến cho anh hùng võ lâm cùng nổi lên tấn công, thế nhưng sao lại xoay lưng các pho tượng này quay vào tường? Sao không để mười sáu chữ đó hướng ra ngoài cho mọi người cùng thấy? Nếu Nhan kỳ sứ không xét kỹ, thì có ai biết được sau lưng tượng La Hán liệu có khắc chữ?

Dương Tiêu thần sắc ngưng trọng nói:

– Cứ đệ suy xét, các pho tượng La Hán này có ai đó xoay ngược lại, hẳn là bí mật giúp cho bản giáo, mình chịu một ân tình lớn của người đó.

Quần hào cùng hỏi:

– Người đó là ai? Sao Dương tả sứ lại biết?

Dương Tiêu thở dài:

– Nguyên do ẩn giấu trong chuyện này, Dương mỗ cũng chưa nghĩ ra..

Dương Tiêu nói chưa xong đã nghe Trương Vô Kỵ bỗng "A" lên một tiếng hoảng hốt:

– Tiên tru Thiếu Lâm, tái diệt Võ Đang, chỉ.. chỉ e phái Võ Đang cũng đang gặp nạn.

Vi Nhất Tiếu nói:

– Chúng ta phải mau đến cứu viện, để xem bọn chó má nào gây ra chuyện này!

Ân Thiên Chính cũng nói:

– Việc không thể chậm trễ, phải lập tức đi ngay. Bọn gian tặc này đã đi trước một hai ngày rồi.

Comments

0 comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 24: Thái cực sơ truyền nhu khắc cương

Trương Vô Kỵ nghĩ không biết huynh đệ Tống sư bá từ Tây Vực đã về đến núi Võ Đang hay chưa, suốt dọc đường chàng không hề nghe tin gì của họ; nếu họ gặp biến cố, ở trên núi chỉ có thái sư phụ cùng một số đệ tử đời thứ ba, tam sư bá Du Đại Nham tàn phế nằm đó, cường địch kéo tới thì làm sao chống đỡ nổi? Nghĩ đến đó, chàng bất giác thấy trong lòng như bị lửa đốt, bèn lớn tiếng nói:

– Các vị tiền bối, huynh trưởng, phái Võ Đang là nơi tiên phụ xuất thân, thái sư phụ đối với tại hạ ơn nặng như núi. Hiện nay đang gặp đại nạn, cứu binh như cứu hỏa, sớm chừng nào hay chừng đó. Mời Vi Bức Vương cùng bổn nhân đi cứu viện trước, các vị kế tiếp chia ra tới sau, mọi việc phiền Dương tả sứ và ngoại công sắp xếp cho.

Nói đoạn chàng chắp tay từ biệt, vọt luôn ra khỏi cổng chùa.

Vi Nhất Tiếu thi triển khinh công, sóng vai chàng mà đi. Tiếng đáp ứng của quần hào chưa dứt thì hai người đã ra khỏi cổng Thiếu Lâm tự; khinh công của họ đẹp như thế, nhanh như thế, trên đời thật không có người thứ ba sánh kịp.

Hai người không dám hao phí một khắc, chân không ngừng bước, chạy một mạch mấy chục dặm. Ban đầu Vi Nhất Tiếu không thua chút nào, nhưng càng lâu nội lực dần dần giảm sút. Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Lộ trình tới núi Võ Đang còn rất xa, không thể cứ chạy mãi không nghỉ thế này, huống hồ còn phải giữ sức đối phó với cường địch", bèn nói với Vi Nhất Tiếu:

– Đến thị trấn đằng trước, mình tìm mua hai con ngựa cưỡi để dưỡng sức.

Vi Nhất Tiếu cũng định như thế từ lâu, chỉ là chưa tiện nói ra, đáp:

– Giáo chủ, mua bán ngựa tốn nhiều thời gian lắm.

Chẳng mấy chốc, hai người thấy từ phía trước có năm sáu người cưỡi ngựa chạy tới, Vi Nhất Tiếu liền tung mình nhảy lên, thộp ngực hai kỵ sĩ, nhẹ nhàng đặt xuống đất, gọi:

– Giáo chủ, lên nào.

Trương Vô Kỵ ngần ngừ, nghĩ bụng chặn đường cướp ngựa thế này có khác gì bọn cường đạo? Vi Nhất Tiếu nói:

– Làm chuyện lớn đừng câu nệ tiểu tiết, họ còn nhiều ngựa mà.

Vừa nói Vi Nhất Tiếu lại quẳng thêm hai kỵ sĩ khác xuống đất.

Mấy người ấy cũng có chút võ nghệ, họ chửi bới ầm ỹ, rút binh khí ra toan động thủ. Vi Nhất Tiếu hai tay cầm cương bốn con ngựa, giơ chân đá bay hết vũ khí của bốn người kia. Một người quát:

– Hảo hán gì mà cậy mạnh cướp đường, có giỏi thì để lại tên tuổi đi!

Trương Vô Kỵ nghĩ nếu còn dùng dằng ắt sẽ càng đắc tội thêm với người ta, bèn nhảy lên lưng ngựa, cùng Vi Nhất Tiếu mỗi người giong thêm một con, quất ngựa phóng thẳng. Bốn người kia hò hét chửi bới, song không dám đuổi theo.

Trương Vô Kỵ nói:

– Chúng ta tuy lâm vào hoàn cảnh chưa có cách nào khác, nhưng không chừng người ta cũng đang có việc gấp, chúng ta hành động như thế, bản thân trong bụng thật không an.

Vi Nhất Tiếu cười, nói:

– Giáo chủ, việc nhỏ này đâu có đáng gì? Hồi trước Minh giáo hành sự cứ gọi là tha hồ hoành hành, khỏi cần e dè gì hết.

Nói rồi cười ha hả. Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Minh giáo bị người ta coi là tà ma dị giáo cũng có lý do. Nhưng thế nào là chính, thế nào là tà, cũng khó mà xác luận". Chàng nghĩ mình gánh vác trọng nhiệm giáo chủ, nhưng kiến thức nông cạn, rất nhiều việc chưa quyết đoán được, đơn cử chuyện nhỏ là đoạt ngựa, còn do dự hồi lâu; dù võ công cao cường, nhưng việc thiên hạ há chỉ dựa vào vũ lực là xong ư? Nghĩ đến đó, chàng chỉ mong sớm đón được Tạ Tốn về để chàng có thể trút bỏ gánh nặng trên vai, quả thực cũng không muốn gánh vác trọng trách nữa.

Đúng lúc ấy, bỗng thấy bóng người thấp thoáng, rồi có hai kẻ nhảy ra chặn đường, tay cầm gậy sắt. Vi Nhất Tiếu quát to:

– Tránh ra!

Chiếc roi ngựa xoay vòng tròn, y giục ngựa xông tới. Một tên giơ gậy gạt roi ngựa, tên thứ hai huýt sáo, tay trái vung gậy đánh ngựa. Con ngựa Vi Nhất Tiếu đang cưỡi hoảng sợ, dựng hai vó trước lên. Ngay lúc ấy, từ trong lùm cây có thêm bốn hắc y hán tử nhảy ra, nhìn thân pháp có vẻ đều là các hảo thủ. Vi Nhất Tiếu nói to:

– Giáo chủ cứ đi trước, để lũ chuột nhắt này cho thuộc hạ xử lý.

Trương Vô Kỵ thấy mấy tên kia có ý ngăn chặn cứu binh của phái Võ Đang, dụng tâm ác độc chỉ nhìn thoáng qua là biết; lúc này phái Võ Đang đang nguy nan, chàng biết Vi Nhất Tiếu võ công cũng như khinh công đều xuất chúng, đủ sức thanh toán bọn này, nếu không thắng thì cũng tự thoát đi được; thế là chàng bèn kẹp hai đùi, giục ngựa xông tới. Hai hắc y hán tử giơ gậy sắt chặn trước đầu ngựa. Trương Vô Kỵ cúi xuống, đoạt luôn hai cây gậy sắt, thuận tay quăng đi. Chỉ nghe hai tiếng "Ối! Ối!" hai hán tử đã bị gậy sắt quật gãy xương đùi, ngã quỵ xuống đất. Chàng thấy bốn tên kia võ công không kém, lo rằng khi mình đi rồi, một mình Vi Nhất Tiếu khó bề xoay xở với cường địch, nên ra tay thanh toán trước hai tên.

Núi Tung Sơn và núi Võ Đang tuy ở hai tỉnh Dự, Ngạc khác nhau, song một ở Dự Tây, một ở Ngạc Bắc, cách nhau không xa. Sau khi qua Mã Sơn Khẩu, đường về phía nam toàn là đồng bằng, ngựa phóng nhanh, chỉ giữa trưa đã tới Nội Hương. Trương Vô Kỵ đói cồn cào, bèn ghé một cái chợ mua bánh bao ăn đỡ, bỗng nghe con ngựa chàng dắt theo hí lên một tiếng thảm thiết, chàng ngoảnh nhìn lại thì thấy một con dao nhọn cắm ngập trong bụng con ngựa, một bóng người thoáng qua ở góc đường rồi biến mất.

Trương Vô Kỵ phi thân đuổi theo, chộp được gã kia, lại là một hắc y hán tử, vạt áo còn ướt máu ngựa. Chàng quát hỏi:

– Ngươi là thủ hạ của ai? Thuộc môn phái, bang hội nào? Đại đội nhân mã của các ngươi đã tới núi Võ Đang hay chưa?

Chàng hỏi liền mấy câu, kẻ kia chỉ nhắm mắt không trả lời. Trương Vô Kỵ không dám dùng dằng, bụng nghĩ thầm cứ đến núi Võ Đang sẽ biết mọi chuyện, bèn giơ tay điểm huyệt Đại Chùy, khiến hắn phải đau đớn khổ sở ba ngày ba đêm cho biết.

Chàng giục ngựa chạy một mạch đến Tam Quan Điện, qua sông Hán Thủy đi xuống phía nam. Thuyền ra giữa dòng, nhìn dòng nước cuồn cuộn chảy, chàng lại nhớ năm xưa thái sư phụ đưa mình đến Thiếu Lâm tự cầu chữa bệnh không xong đành phải quay về, trên dòng sông này gặp Thường Ngộ Xuân, lại cứu được Chu Chỉ Nhược. Trong óc chàng hiện lên hình bóng kiều diễm của nàng ta, đôi mắt long lanh nhìn chàng đắm đuối khi ở trên đỉnh Quang Minh, thì bất giác ngẩn ngơ.

Qua Hán Thủy, chàng tiếp tục phóng ngựa xuôi nam. Lúc này trời đã nhá nhem, mọi vật chỉ còn mờ mờ, chạy thêm một canh giờ nữa trong đêm tối không ánh trăng sao, con ngựa kiệt sức khuỵu xuống. Chàng vỗ vỗ lưng nó, nói:

– Ngựa ơi, ngựa ơi, ngươi nghỉ lại một chút, rồi muốn đi đâu thì đi!

Đoạn chàng thi triển khinh công phóng đi.

Chạy bộ đến canh tư, chợt nghe văng vẳng tiếng vó ngựa phía trước, rõ ràng có một đám người khá đông đang đi. Chàng gia tăng cước bộ, lướt ngang qua đám người đó. Thân pháp chàng đã nhanh và nhẹ, lại nhờ đêm tối, nên không ai phát giác được chàng. Nhìn hướng đi của đám này chính là đang lên núi Võ Đang, hơn hai chục người ngậm tăm mà đi, chẳng thể đoán biết lai lịch thế nào, song đều mang binh khí, chắc chắn là đối địch với phái Võ Đang. Trương Vô Kỵ cảm thấy an tâm hơn: "Như vậy là mình đuổi kịp bọn chúng, phái Võ Đang vẫn chưa bị tấn công".

Chạy thêm nửa canh giờ, trước mặt lại có một đám người đi lên núi Võ Đang. Cứ thế trước sau chàng vượt qua năm tốp người, tốp nhiều hơn ba chục, tốp ít cũng phải mươi kẻ. Sau khi vượt qua tốp thứ năm, chàng bỗng lo lắng: "Không biết đã có bao nhiêu tốp lên đến nơi? Đã có đám nào động thủ với người của bổn phái hay chưa?"

Chàng tuy không phải đệ tử phái Võ Đang, nhưng vì gốc tích của phụ thân, nên vẫn coi phái Võ Đang là môn phái của mình. Nghĩ thế rồi, chàng càng chạy nhanh hơn.

Chẳng mấy chốc chàng đã lên gần đến nơi, cũng may không gặp thêm bọn địch nào. Chợt thấy phía trước có một người đang phóng nhanh, đầu trọc, tay áo rộng, là một tăng nhân khinh công cực giỏi. Trương Vô Kỵ bám theo sau cách một quãng, để xem động tĩnh.

Tăng nhân kia lên tới đỉnh núi, thì nghe có tiếng quát hỏi:

– Bằng hữu ở lộ nào đang đêm lên núi Võ Đang?

Tiếng quát chưa dứt, từ sau khe đá vụt ra bốn người, hai đạo sĩ, hai tục gia, đều là đệ tử đời thứ ba và thứ tư của phái Võ Đang.

Tăng nhân kia chắp tay nói:

– Thiếu Lâm tăng nhân Không Tướng, có chuyện khẩn cấp xin cầu kiến Võ Đang Trương chân nhân.

Trương Vô Kỵ hơi ngạc nhiên: "Thì ra vị này là đại sư tiền bối thuộc hàng chữ" Không "của phái Thiếu Lâm, là sư huynh đệ ngang vai với ba vị đại thần tăng Không Văn, Không Trí, Không Tính. Vị này không ngại vất vả chạy lên núi Võ Đang, hẳn là đến báo tin".

Một đạo sĩ phái Võ Đang nói:

– Đại sư đường xa tân khổ, xin quá bộ vào tệ quán dùng trà.

Nói xong đi trước dẫn đường. Không Tướng cởi giới đao đeo bên hông, giao cho đạo sĩ thứ hai, tỏ ý không dám mang theo binh khí.

Trương Vô Kỵ thấy đạo sĩ dẫn Không Tướng vào điện Tam Thanh trong cung Tử Tiêu, chàng bèn nấp bên ngoài cửa sổ. Lại nghe Không Tướng nói to:

– Xin đạo trưởng lập tức bẩm báo với Trương chân nhân là sự việc khẩn cấp, không thể chậm trễ một khắc!

Đạo sĩ nói:

– Đại sư đến không đúng lúc, tệ sư tổ tọa quan từ năm ngoái, đến nay đã hơn một năm, đệ tử bản phái cũng lâu rồi chưa được nhìn thấy dung nhan của lão nhân gia.

Không Tướng nói:

– Nếu vậy, phiền thông báo cho Tống đại hiệp.

Đạo sĩ đáp:

– Đại sư bá cùng chư vị sư thúc liên minh với quý phái, viễn chinh Minh giáo chưa về.

Trương Vô Kỵ nghe câu "viễn chinh Minh giáo chưa về" thì lo sợ, quả nhiên huynh đệ Tống Viễn Kiều đã gặp biến cố dọc đường.

Chỉ nghe Không Tướng thở dài, nói:

– Nếu thế thì phái Võ Đang cũng như phái Thiếu Lâm, hôm nay khó tránh khỏi kiếp nạn mất thôi.

Đạo sĩ chưa hiểu ý khách, nói:

– Sự vụ trong tệ phái, hiện do Cốc Hư Tử sư huynh chủ trì, bần đạo sẽ đi thông báo ngay, mời Cốc sư huynh ra tham kiến đại sư.

Không Tướng hỏi:

– Cốc Hư đạo trưởng là đệ tử của vị nào vậy?

Đạo sĩ đáp:

– Là đệ tử của Du tam sư thúc.

Không Tướng nhướn đôi mày dài, nói:

– Du tam hiệp tay chân bị thương, nhưng đầu óc vẫn minh mẫn, lão tăng có vài câu thôi, để nói với Du tam hiệp cũng được.

Đạo sĩ đáp:

– Vâng, xin theo lời chỉ giáo của đại sư.

Rồi quay mình đi vào bên trong.

Không Tướng ở trong sảnh, đi đi lại lại, rõ ràng hết sức sốt ruột, chốc chốc lại dỏng tai nghe ngóng, có lẽ đang lo sợ kẻ địch tấn công lên núi. Lát sau đạo sĩ bước nhanh ra, cúi mình nói:

– Du tam sư thúc có lệnh mời, nói là xin đại sư lượng thứ tội không thể ra nghênh tiếp.

Lúc này cử chỉ thần thái của đạo sĩ so với lúc đầu cung kính hơn hẳn, chắc là Du Đại Nham nghe báo có cao tăng thuộc hàng chữ "Không" của phái Thiếu Lâm tới đây nên dặn đạo sĩ lễ mạo phải thập phần chu đáo. Không Tướng gật đầu, theo đạo sĩ đi vào ngọa phòng của Du Đại Nham.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Tam sư bá tứ chi tàn phế, tai mắt ắt linh mẫn hơn nhiều lần. Nếu ta đến bên cửa sổ nghe trộm, e rằng sẽ bị phát giác". Chàng tới cách ngọa phòng của Du Đại Nham vài trượng bèn dừng lại.

Sau khoảng thời gian bằng uống một chén trà, đạo sĩ kia lật đật ra khỏi phòng Du Đại Nham, gọi khẽ:

– Thanh Phong, Minh Nguyệt, qua bên này!

Có hai đạo đồng tới trước mặt đạo sĩ, nói:

– Sư thúc!

Đạo sĩ nói:

– Chuẩn bị cáng, tam sư thúc cần ra ngoài.

Hai đạo đồng vâng lệnh đi ngay.

Trương Vô Kỵ từng ở trên núi Võ Đang mấy năm, gã đạo sĩ kia là đệ tử Du Liên Châu mới thu nhận nên chàng không biết, song chàng biết rõ hai đạo đồng Thanh Phong, Minh Nguyệt, biết rằng mỗi khi Du Đại Nham sư bá cần ra ngoài đều phải nằm võng do hai đạo đồng ấy khiêng đi. Thấy hai đạo đồng đi tới phòng để võng, Trương Vô Kỵ bèn lặng lẽ theo sau, khi họ vào trong phòng, liền gọi:

– Thanh Phong, Minh Nguyệt, nhận ra ta chứ?

Hai đạo đồng giật mình hoảng sợ, chăm chú nhìn Trương Vô Kỵ, thấy quen quen, nhưng nhất thời chưa nhận ra. Trương Vô Kỵ cười, nói:

– Ta là Vô Kỵ tiểu sư thúc đây, các ngươi quên rồi ư?

Hai đạo đồng liền nhớ ra, cả mừng reo lên:

– Ôi, tiểu sư thúc đã về! Tiểu sư thúc khỏi bệnh rồi ư?

Vô Kỵ và hai người này cùng trạc tuổi, trước kia thường chơi đùa với nhau.

Trương Vô Kỵ nói:

– Thanh Phong, để ta giả làm ngươi đến khiêng tam sư bá, xem ông ấy có nhận ra ta không?

Thanh Phong do dự:

– Việc đó.. không được đâu.

Trương Vô Kỵ nói:

– Tam sư bá thấy ta khỏi bệnh trở về, tất sẽ rất mừng, lẽ nào lại trách mắng ngươi?

Hai đạo đồng biết là từ tổ sư Trương Tam Phong trở xuống đến Võ Đang lục hiệp đều rất sủng ái đối với vị tiểu sư thúc này; nay chàng khỏi bệnh trở về, đúng là đại hỉ sự, chàng muốn nghịch ngợm một chút để làm vui lòng Du Đại Nham đang bệnh, cũng không có gì là mạo phạm. Minh Nguyệt cười nói:

– Tiểu sư thúc bảo sao thì cứ làm vậy!

Thanh Phong cười hì hì, cởi đạo bào, giày, xà cạp để Trương Vô Kỵ thay đồ. Minh Nguyệt thì giúp Trương Vô Kỵ tết một cái búi tóc. Trong giây lát chàng đã hóa thành một đạo đồng. Minh Nguyệt nói:

– Nếu tiểu sư thúc mạo nhận Thanh Phong mà tướng mạo không giống thì cứ nói là một đệ tử mới được thu nhận vào đạo quán. Thanh Phong bị ngã trẹo chân nên đi khiêng thay.

Trương Vô Kỵ cười nói:

– Hay lắm..

Đạo sĩ ở bên ngoài quát mắng:

– Hai thằng nhãi còn cười đùa gì trong đó mà lâu thế, có mau ra không thì bảo!

Trương Vô Kỵ và Minh Nguyệt lè lưỡi, nhấc võng lên đi tới phòng Du Đại Nham.

Hai người đỡ Du Đại Nham ngồi vào võng, Du Đại Nham vẻ mặt rất trịnh trọng, cũng chẳng để ý xem đạo đồng này là ai, nói:

– Đến ngôi nhà nhỏ hậu sơn, gặp tổ sư gia gia!

Minh Nguyệt đáp:

– Vâng!

Rồi nâng cáng bước đi, Trương Vô Kỵ khiêng đằng sau. Du Đại Nham chỉ nhìn sau lưng Minh Nguyệt chứ không thấy Trương Vô Kỵ. Không Tướng đi theo ngang bên cáng, cùng ra hậu sơn. Gã đạo sĩ kia không được Du Đại Nham gọi tới nên không dám đi cùng.

Nơi Trương Tam Phong bế quan tịnh tu là một ngôi nhà nhỏ nằm sâu trong rừng trúc ở hậu sơn, cây lá um tùm, xanh mát, ngoài tiếng chim hót, không có âm thanh gì khác. Minh Nguyệt và Trương Vô Kỵ khiêng Du Đại Nham tới trước cửa ngôi nhà nhỏ, đặt võng xuống. Du Đại Nham sắp lên tiếng cầu kiến thì chợt nghe từ bên trong vọng ra giọng nói già cả của Trương Tam Phong:

– Vị cao tăng nào của phái Thiếu Lâm quang lâm hàn cư, lão đạo không kịp nghênh đón, mong thứ lỗi cho.

Nghe "kẹt" một tiếng, cánh cửa trúc mở rộng, Trương Tam Phong thong thả bước ra. Không Tướng lộ vẻ ngạc nhiên, Trương Tam Phong làm sao nhận biết được khách tới thăm là người của phái Thiếu Lâm, hay là gã đạo sĩ đã cho người bẩm báo trước rồi chăng? Du Đại Nham thì biết rằng võ công của sư phụ ngày càng tinh thâm; chỉ nghe tiếng bước chân của Không Tướng là đã nhận biết được môn phái và mức độ tu luyện nông sâu.

Nội công của Trương Vô Kỵ vượt xa Không Tướng, từ thực hóa hư, từ chân thuần trở về chất phác, toàn bộ cử chỉ, ánh mắt, bước chân, giọng nói, đều không để lộ chút sơ hở nên Trương Tam Phong không thể nhận biết. Chàng thấy thái sư phụ tuy hồng hào nhưng râu tóc bạc phơ, so với hồi chia tay năm xưa quả đã già thêm vài phần; lòng chàng vừa hoan hỉ, vừa bi thương, nước mắt tự nhiên rưng rưng, phải vội ngoảnh mặt đi.

Không Tướng chắp tay, nói:

– Tiểu tăng Thiếu Lâm là Không Tướng, tham kiến tiền bối Võ Đang Trương chân nhân!

Trương Tam Phong chắp tay đáp lễ, nói:

– Không dám, đại sư khỏi cần đa lễ, xin mời vào đàm đạo.

Cả năm người bước vào nhà, thấy trên bàn có một bình trà, một chén uống trà, dưới đất một cái bồ đoàn, trên tường treo thanh kiếm gỗ, ngoài ra không có gì khác. Trên bàn và dưới nền nhà đầy bụi bặm.

Không Tướng nói:

– Trương chân nhân, phái Thiếu Lâm gặp phải kiếp nạn ngàn năm qua chưa từng gặp, bổn phái từ phương trượng Không Văn sư huynh trở xuống, người thì tuẫn nạn trong cuộc chiến bảo vệ chùa, người thì bị địch bắt hết cả, chỉ còn một mình tiểu tăng liều mạng chạy thoát. Đại đội binh mã Ma giáo đang tiến lên núi Võ Đang, tồn vong vinh nhục của võ lâm Trung nguyên hôm nay chỉ còn trông cậy vào một mình Trương chân nhân mà thôi.

Nói xong Không Tướng khóc ầm lên.

Trương Vô Kỵ bị chấn động mạnh. Chàng biết rõ phái Thiếu Lâm bị tai họa, nhưng cũng không dám ngờ lại đến nỗi toàn phái bị tiêu diệt sạch như vậy.

Ngay cả Trương Tam Phong tu luyện cả trăm năm mà khi nghe tin này cũng cả kinh, hồi lâu không nói nên lời, định thần rồi, mới hỏi:

– Ma giáo ngang ngược như thế thật quá đáng, nhưng phái Thiếu Lâm có rất nhiều cao thủ, sao lại đến nỗi sa hết vào độc thủ của Ma giáo?

Không Tướng nói:

– Không Trí, Không Tính hai vị sư huynh dẫn môn hạ đệ tử cùng năm đại môn phái Trung nguyên ước hẹn tây chinh, vây đánh đỉnh Quang Minh. Tăng chúng ở lại chùa ngày ngày mong chờ tin vui. Hôm đó dưới chân núi báo lên, đoàn quân viễn chinh đại thắng trở về. Phương trượng Không Văn sư huynh nghe tin cả mừng, dẫn đệ tử trong chùa ra nghênh đón; quả nhiên thấy Không Trí, Không Tính hai vị sư huynh đưa môn hạ đệ tử về chùa, lại còn dẫn theo mấy trăm tù binh nữa. Mọi người vào đại viện, phương trượng hỏi han tình hình chiến thắng, Không Trí sư huynh cứ ấp a ấp úng, Không Tính sư huynh đột nhiên kêu lên: "Sư huynh hãy cẩn thận, chúng sư đệ đã rơi vào tay người ta rồi, bọn tù binh kia là địch đóng giả đấy.." Phương trượng còn đang sửng sốt thì bọn tù binh giả nhất tề rút binh khí tấn công. Đệ tử bổn phái một là trở tay không kịp; hai là các hảo thủ tây chinh bị địch chế ngự rồi, những người ở lại chùa vừa ít vừa yếu, mọi cửa ngõ của đại viện đều bị địch ngăn chặn, sau một hồi chiến đấu ác liệt, chúng tôi bị đánh tơi tả, Không Tính sư huynh tuẫn nạn tại chỗ.. "

Nói tới đây, Không Tướng khóc nấc không thành tiếng.

Trương Tam Phong xót xa nói:

– Bọn Ma giáo tàn độc, lại thực hiện ác kế như thế, ai đề phòng cho nổi?

Không Tướng cởi cái bọc màu vàng đeo sau lưng, mở bọc, bên trong là lớp vải dầu, mở lớp vải dầu thì lộ ra một cái thủ cấp, mắt tròn trợn ngược, mặt đầy vẻ phẫn nộ, chính là một trong ba đại thần tăng của phái Thiếu Lâm – Không Tính đại sư. Trương Tam Phong và Trương Vô Kỵ đều biết mặt Không Tính, thoạt nhìn cũng cùng kêu" Ối "lên một tiếng.

Không Tướng khóc, nói:

– Tiểu tăng liều chết cướp được pháp thể của Không Tính sư huynh. Trương chân nhân, mối đại cừu này ta phải làm sao đây?

Nói xong cung kính đặt thủ cấp của Không Tính trên bàn mà quỳ lạy. Trương Tam Phong buồn rầu cúi mình, chắp tay hành lễ.

Trương Vô Kỵ nhớ lại buổi tỷ võ trên đỉnh Quang Minh, Không Tính thần tăng khẳng khái lỗi lạc, hào khí hơn người, không hổ là đường đường tông sư một đời của phái Thiếu Lâm, đâu ngờ bị kẻ gian hãm hại, đầu một nơi thân một nẻo thế này nên chàng cảm thấy quá đau lòng.

Trương Tam Phong thấy Không Tướng quỳ hồi lâu chưa đứng dậy, cứ khóc lóc thảm thiết, bèn giơ tay đỡ lên, nói:

– Không Tướng sư huynh, Thiếu Lâm Võ Đang vốn là một nhà, thù này không thể không báo..

Mới nói đến chữ" báo ", bỗng" hự "một tiếng, hai tay của Không Tướng đã cùng đánh thẳng vào bụng dưới của Trương Tam Phong.

Biến cố đó diễn ra đột ngột. Võ công của Trương Tam Phong tuy đã tới cảnh giới tối cao muốn sao được vậy, nhưng đâu có ngờ một cao tăng Thiếu Lâm mang mối huyết cừu, từ xa đến báo tin, tự dưng lại đột ngột tập kích mình? Thoạt tiên Trương lão còn ngỡ Không Tướng bi thương quá độ đâm ra tâm trí mơ hồ, hỗn loạn, nhìn người thành kẻ thù; nhưng ngay lập tức Trương lão hiểu rằng không phải vậy, chưởng lực đánh vào bụng mình chính là thần công ngoại môn" Kim cương bát nhã chưởng "của phái Thiếu Lâm, khi ra đòn gã Không Tướng kia đã dốc toàn lực, khóe miệng lộ một nụ cười hiểm độc đắc ý.

Trương Vô Kỵ, Du Đại Nham, Minh Nguyệt ba người hoàn toàn bị bất ngờ về biến cố đó, cứ ngây người ra. Du Đại Nham khổ nỗi thân thể tàn phế, không thể giúp gì cho sư phụ. Còn Trương Vô Kỵ trẻ người non dạ, trong giây lát ấy vẫn chưa thể hiểu rằng Không Tướng toan dùng một chiêu giết chết ngay thái sư phụ. Hai người vừa kêu lên hốt hoảng thì Trương Tam Phong chưởng trái đã vỗ" bộp "một cái xuống thiên linh cái của Không Tướng. Chưởng này mềm như bông nhưng lại cứng hơn sắt, Không Tướng tức thì vỡ sọ, sụm xuống như một đống bùn, chết tươi không kịp kêu một tiếng.

Du Đại Nham vội gọi:

– Sư phụ, lão nhân gia..

Chỉ thấy Trương Tam Phong ngồi xuống, nhắm mắt, trong giây lát từ đỉnh đầu bốc lên làn hơi trắng mỏng, rồi đột nhiên há mồm thổ ra một ngụm máu tươi.

Trương Vô Kỵ kinh hãi, biết thái sư phụ bị thương không phải nhẹ; nếu là thổ ra máu bầm, thì với nội công vô cùng thâm hậu, Trương lão chỉ sau vài ngày sẽ bình phục; đằng này thổ ra máu tươi, lại phun ồng ộc thế kia, tức là tạng phủ đã bị trọng thương. Lúc này chàng phân vân:" Mình có nên nói rõ thân phận để cứu thái sư phụ hay chưa? Làm gì bây giờ? "

Ngay lúc ấy nghe có tiếng chân người đến ngoài cửa, có vẻ vội vã, hoảng hốt lắm, song chưa dám bước vào nhà, cũng chưa dám lên tiếng. Du Đại Nham hỏi:

– Linh Hư đó hả? Chuyện gì vậy?

Tri khách đạo sĩ Linh Hư đáp:

– Bẩm báo tam sư thúc, đại đội Ma giáo đã đến bên ngoài cung, đòi gặp tổ sư gia gia, nói ra những lời thô bỉ, bảo sẽ san phẳng núi Võ Đang.. Du Đại Nham quát:

– Câm miệng!

Du Đại Nham sợ Trương Tam Phong bị phân tâm thì sẽ nguy hiểm hơn.

Trương Tam Phong từ từ mở mắt, nói:

–" Kim cương bát nhã chưởng "của phái Thiếu Lâm quả thật lợi hại, có lẽ phải tĩnh dưỡng ba tháng mới bình phục được.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm:" Thì ra thái sư phụ bị thương nặng hơn mình tưởng ".

Lại nghe Trương Tam Phong nói:

– Minh giáo kéo đại đội binh mã lên núi. Ôi, không biết Viễn Kiều, Liên Châu bọn nó có bình yên hay không? Đại Nham, con nghĩ cần phải làm sao?

Du Đại Nham im lặng không đáp, thầm biết trên núi ngoài sư phụ và mình ra, chỉ có đệ tử đời thứ ba, thứ tư, võ công chẳng có gì đáng kể, đưa ra chống địch chẳng khác gì đẩy vào chỗ chết. Việc hôm nay chỉ còn cách tự mình liều mạng cho địch muốn làm gì thì làm, để sư phụ lánh đi dưỡng thương, ngày sau tìm cách báo thù. Du Đại Nham nghĩ vậy, bèn cao giọng nói:

– Linh Hư, ngươi ra bảo chúng chờ ở điện Tam Thanh, ta sẽ ra gặp.

Linh Hư vâng lời đi ngay.

Thầy trò Trương Tam Phong và Du Đại Nham sống bên nhau đã lâu, tâm ý tương thông, nghe Du Đại Nham nói vậy thì Trương lão hiểu ngay, nói:

– Đại Nham, sinh tử thắng bại, không đáng để bụng; nhưng tuyệt học của phái Võ Đang thì không thể vì chuyện này mà đứt đoạn. Ta tọa quan mười tám tháng, đắc ngộ tinh yếu võ học, bây giờ ta sẽ truyền cho con một pho Thái cực quyền và một pho Thái cực kiếm.

Du Đại Nham ngẩn người, nghĩ thầm bản thân mình tàn phế đã lâu, làm sao có thể học quyền pháp kiếm thuật gì nữa? Huống hồ lúc này cường địch đã tới nơi, đâu còn thời gian để sư phụ truyền thụ võ công, nên chỉ kêu lên:

– Sư phụ!

Trương Tam Phong cười nhạt, nói:

– Từ khi ta khai sáng phái Võ Đang, hành hiệp giang hồ, làm nhiều điều nhân nghĩa, cứ đại số mà nói, quyết không thể bị đứt đoạn ở đây. Hai pho Thái cực quyền và Thái cực kiếm này khác hẳn so với cái đạo võ học từ xưa đến nay, chuyên lấy tĩnh chế động, hậu phát chế nhân. Sư phụ con đã trên trăm tuổi, nếu không gặp cường địch thì cũng chẳng còn sống được bao năm nữa. Đáng mừng là đến cuối cuộc đời còn sáng chế được pho võ công này. Hiện giờ Viễn Kiều, Liên Châu, Tòng Khê, Lê Đình, Thanh Cốc đều không ở bên ta; trong số đệ tử đời thứ ba, thứ tư, trừ Thanh Thư ra thật không có nhân tài kiệt xuất, mà Thanh Thư hiện cũng đi vắng. Đại Nham, con phải gánh trọng nhiệm truyền lại tuyệt nghệ bình sinh của ta, vinh nhục một ngày của phái Võ Đang đâu có gì đáng nói? Chỉ cần pho Thái cực quyền này truyền lại được cho đời sau thì thanh danh của phái Võ Đang sẽ lưu đến muôn đời.

Trương lão nói đến đây thì thần thái hứng khởi, hào khí dâng lên, thành thử không coi cường địch đang đe dọa ngoài kia ra gì cả.

Du Đại Nham vâng dạ, đã hiểu ý sư phụ muốn mình nhẫn nhục gánh vác trọng nhiệm là làm sao tiếp truyền tuyệt nghệ của bản phái.

Trương Tam Phong từ từ đứng dậy, hai tay buông xuống, mu bàn tay hướng ra ngoài, các ngón tay để tự nhiên, hai chân dang ra ngang nhau. Tiếp đó hai cánh tay từ từ nâng lên ngang ngực, tay trái vòng thành hình bán nguyệt, lòng bàn tay hướng vào mặt thành âm chưởng, bàn tay phải lật ra ngoài thành dương chưởng, nói:

– Đây là thức khởi đầu của Thái cực quyền.

Kế đó Trương lão diễn từng chiêu từng thức một, miệng gọi tên các chiêu thức: Lãm tước vĩ, Đơn tiên, Đề thủ thượng thế, Bạch hạc lượng xí, Lâu tất câu bộ, Thủ huy tì bà, Tiến bộ ban lan chùy, Như phong tự bế, Thập tự thủ, Bão hổ quy sơn..

Trương Vô Kỵ chăm chú nhìn không chớp mắt, lúc đầu biết rằng thái sư phụ cố ý diễn từng tư thế thật chậm để Du Đại Nham nhìn rõ, nhưng đến chiêu thứ bảy" Thủ huy tì bà ", thì chỉ thấy Trương lão tay trái dương chưởng, tay phải âm chưởng, mắt chăm chú nhìn cánh tay bên trái, hai bàn tay từ từ hợp lại, trông ngưng trọng như núi mà lại nhẹ như lông tơ. Trương Vô Kỵ đột nhiên tỉnh ngộ:" Đây là một môn võ công thượng thừa, lấy chậm đánh nhanh, lấy tĩnh chế động; không ngờ trên thế gian lại có thứ võ công cao minh như vậy ".

Võ công của chàng vốn cao siêu, một khi đã hiểu thì càng xem càng nhập thần. Chỉ thấy Trương Tam Phong hai tay di chuyển thành hình vòng tròn, mỗi chiêu đều hàm ý âm dương biến hóa của Thái cực thức, tinh vi ảo diệu, quả thực mở ra một khung trời mới cho võ học.

Bằng thời gian ăn xong một bữa cơm, Trương Tam Phong diễn tới các chiêu Thượng bộ cao thám mã, Thượng bộ lãm tước vĩ, Đơn tiên mà hợp Thái cực. Trương lão đứng tại chỗ, thần định khí nhàn, tuy mới bị trọng thương mà sau khi diễn xong quyền pháp, tinh thần xem ra lại sung vượng hơn. Hai tay ôm vòng hình tròn Thái cực, Trương Tam Phong nói:

– Quyết khiếu của pho quyền thuật này gồm mười sáu chữ" Hư linh đỉnh kình, hàm hung bạt bối, túng yêu thùy đồn, trầm kiên trụy trửu "[104], thuần lấy ý mà đi quyền, tối kỵ dùng sức. Hình thần hợp nhất, đó là yếu chỉ của lộ quyền pháp này.

Đoạn Trương lão giải thích tỉ mỉ một lượt.

Du Đại Nham không nói một lời, chỉ chăm chú nghe, biết rằng tình thế cấp bách, không có thời gian để hỏi, tuy có quá nhiều chỗ chưa rõ, nhưng chỉ chăm chăm ghi nhớ, lỡ sư phụ gặp chuyện chẳng lành, thì các chiêu thức khẩu quyết này chỉ mình ông truyền lại, mai sau có ai thông minh tài trí ắt sẽ tìm ra được sự huyền diệu ẩn trong đó. Còn Trương Vô Kỵ thì lĩnh hội được nhiều hơn, mỗi câu khẩu quyết, mỗi chiêu thức đều khiến chàng nghe như thấy mở ra một con đường mới, lòng vui sướng khôn tả.

Trương Tam Phong thấy vẻ mặt Du Đại Nham có vẻ hoang mang, thì hỏi:

– Con hiểu được mấy phần?

Du Đại Nham đáp:

– Đệ tử ngu độn, chỉ hiểu được vài ba phần, nhưng chiêu thức và khẩu quyết thì nhớ hết.

Trương Tam Phong nói:

– Kể cũng khó cho con. Nếu Du Liên Châu ở đây, nó sẽ hiểu được năm phần. Ôi, ngũ sư đệ của con ngộ tính cao hơn cả, không may nó chết sớm, nếu ta có ba năm công phu chỉ điểm cho nó, thì có thể truyền hết tuyệt kỹ cho nó rồi.

Trương Vô Kỵ nghe Trương lão nhắc đến cha mình, không khỏi cảm thấy chua xót trong lòng.

Trương Tam Phong nói tiếp:

– Quyền kình của môn này tưởng lỏng lẻo mà không lỏng lẻo, sắp bung ra mà chưa bung, kình dứt mà ý chưa dứt..

Trương lão định giải thích tiếp, bỗng nghe từ phía điện Tam Thanh xa xa vọng lại một giọng già nua:

– Nếu Trương Tam Phong lão đạo cứ rụt cổ không ra thì bọn ta hãy đem bọn đệ tử đồ tôn của lão giết sạch trước đã.

Một giọng khác ồm ồm:

– Phải lắm! Cứ cho một mồi lửa đốt tiêu cái đạo quán này rồi tính sau.

Tiếp đó là một giọng the thé:

– Để lão ta chết thui thì tiện cho lão ta quá. Mình phải tóm cổ lão ta, dẫn đi bêu qua các môn phái, để mọi người xem cái lão già sống dai được gọi là Thái Sơn Bắc Đẩu của võ học mặt mũi ra thế nào.

Ngôi nhà nhỏ ở hậu sơn cách tiền điện phải hơn hai dặm, vậy mà mấy câu nói kia vọng đến nghe rõ ràng, chứng tỏ bọn người kia cố ý khoe khoang công lực, và công lực của chúng quả không tầm thường chút nào.

Du Đại Nham nghe mấy câu vũ nhục tôn sư thì cả giận, mắt như muốn tóe lửa. Trương Tam Phong nói:

– Đại Nham, những lời ta vừa dặn, con đã quên rồi sao? Không biết nhịn nhục, làm sao có thể đảm nhận trọng trách chứ?

Du Đại Nham nói:

– Vâng, con xin theo lời giáo huấn của sư phụ.

Trương Tam Phong nói:

– Con toàn thân tàn phế, địch nhân sẽ không đề phòng con, nhất thiết con chớ nóng vội; nếu như tuyệt nghệ mà ta khổ công sáng chế không truyền lại được cho đời sau thì con sẽ là kẻ có tội với phái Võ Đang ta đó.

Du Đại Nham nghe mà toát mồ hôi lạnh, hiểu dụng ý của sư phụ, dù kẻ địch lăng nhục hai thầy trò thế nào chăng nữa, ông cũng phải cố nhịn nhục để sống mà truyền lại tuyệt nghệ.

Trương Tam Phong lấy bên mình ra đôi La Hán bằng thép đúc, đưa cho Du Đại Nham, nói:

– Gã Không Tướng ban nãy bảo phái Thiếu Lâm đã bị tuyệt diệt, không biết là thật hay giả. Hắn là một cao thủ của phái Thiếu Lâm, đến như hắn mà còn đầu hàng kẻ địch, đến đây ám hại ta thì phái Thiếu Lâm gặp đại nạn cũng phải thôi. Đôi La Hán này là do Quách Tương Quách nữ hiệp tặng ta gần một trăm năm trước. Sau này con hãy gửi trả cho truyền nhân của phái Thiếu Lâm. Mong sao từ đôi La Hán này còn lưu truyền được một môn tuyệt nghệ của phái Thiếu Lâm!

Nói xong Trương lão phất tay áo, đi ra cửa.

Du Đại Nham nói:

– Khiêng ta đi theo sư phụ.

Minh Nguyệt và Trương Vô Kỵ liền nhấc võng lên khiêng Du Đại Nham theo sau Trương Tam Phong.

*

* *

Bốn người tới điện Tam Thanh, thấy trong điện kẻ đứng người ngồi đông nghịt, phải tới ba bốn trăm người.

Trương Tam Phong đứng giữa, làm hiệu chào khách, nhưng không nói một lời. Du Đại Nham cao giọng:

– Đây là tôn sư Trương chân nhân của chúng tôi. Các vị lên núi Võ Đang, không biết có gì chỉ giáo?

Đại danh Trương Tam Phong uy chấn võ lâm, lập tức mấy trăm cặp mắt đổ dồn vào Trương lão, chỉ thấy Trương lão mặc chiếc đạo bào màu tro cũ kỹ, dơ bẩn, râu và lông mày bạc trắng, thân hình vô cùng cao lớn, ngoài ra không có gì khác thường.

Trương Vô Kỵ nhìn bọn kia, thấy bọn chúng một nửa trang phục theo lối giáo chúng Minh giáo, hơn mười thủ lĩnh thì trang phục mỗi người một kiểu, có lẽ vì chúng nghĩ thân phận cao sang nên không muốn mạo xưng người khác. Tăng tục mấy trăm người cao thấp lố nhố đông nghịt trong điện, nhất thời chàng chưa thể nhìn rõ mặt từng người.

Ngay lúc đó, từ ngoài cửa có tiếng người hô:

– Giáo chủ tới!

Mọi người trong điện nghe vậy liền lập tức im phăng phắc, hơn chục thủ lĩnh đi ra ngoài nghênh tiếp, những kẻ còn lại cũng ùa ra theo. Trong giây lát đại điện không còn một ai.

Lại nghe có tiếng bước chân của hơn chục người từ xa lại gần, tới trước điện thì dừng lại. Trương Vô Kỵ từ cửa điện ngó ra, ngạc nhiên thấy tám người khiêng một chiếc kiệu lớn bọc gấm vàng, bảy, tám người khác đi trước đi sau kiệu ủng vệ. Tám gã khiêng kiệu kia chính là" Thần tiễn bát hùng "ở Lục Liễu trang.

Trương Vô Kỵ bèn nảy ra một ý, hai tay liền bốc đất dưới chân xoa lung tung lên mặt. Minh Nguyệt tưởng rằng chàng thấy đại địch kéo đến thì quá sợ hãi nên mới làm như thế, nhất thời y cũng hoảng hồn, bắt chước lấy đất trát lên mặt. Hai gã đạo đồng lập tức hóa thành hai ông vua bếp mặt mày lem luốc, không ai nhận ra nữa.

Rèm che kiệu vén ra, từ trên kiệu bước xuống một thiếu niên công tử, mặc áo bào trắng, trên áo thêu một ngọn lửa đỏ, tay cầm quạt lông phe phẩy, chính là Triệu Mẫn cải nam trang.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm:" Thì ra mọi trò đều do Triệu cô nương bày đặt, thảo nào phái Thiếu Lâm bị một phen điên đảo ".

Triệu Mẫn bước vào đại điện, có độ hơn chục người đi theo. Một hán tử cao lớn bước lên, khom lưng nói:

– Khải bẩm giáo chủ, người kia là lão đạo Trương Tam Phong của phái Võ Đang, còn kẻ tàn phế kia hẳn là Du Đại Nham, đệ tử thứ ba của lão ta.

Triệu Mẫn gật đầu, bước thêm vài bước, cụp quạt lại, vái Trương Tam Phong một cái thật dài, nói:

– Vãn sinh Trương Vô Kỵ chấp chưởng Minh giáo, hôm nay có dịp diện kiến bậc Bắc Đẩu của võ lâm, thật vinh hạnh biết chừng nào!

Trương Vô Kỵ cả giận, trong bụng chửi thầm:" Con tặc a đầu này mạo xưng giáo chủ Minh giáo thì cũng được đi, đằng này lại mạo nhận cả tính danh của ta để lừa dối thái sư phụ ta nữa ".

Trương Tam Phong nghe ba chữ" Trương Vô Kỵ "thì lấy làm lạ:" Sao giáo chủ Minh giáo lại là một thiếu nữ tuấn mỹ thế này, lại có tên họ giống hệt hài nhi Vô Kỵ của ta là thế nào? "Trương lão liền chắp tay đáp lễ, nói:

– Không biết giáo chủ đại giá quang lâm, không kịp ra xa nghênh đón, xin lượng thứ cho!

Triệu Mẫn nói:

– Không dám, không dám!

Tri khách đạo sĩ Linh Hư dẫn các đạo đồng nhà bếp bưng trà lên. Triệu Mẫn một mình ngồi ghế, các thuộc hạ của nàng ta đứng thõng tay xa xa phía sau, không dám lại gần quá năm thước, hình như là sợ mạo phạm, bất kính đối với nàng.

Trương Tam Phong tu luyện cả trăm năm, đã tới mức thờ ơ với hết thảy mọi sự từ lâu, nhưng tình sư đồ thâm trọng nên vẫn cứ lo lắng cho sự an nguy sinh tử của bọn Tống Viễn Kiều, bèn hỏi:

– Mấy đứa học trò của lão đạo không tự lượng sức mình, có đến quý giáo học hỏi cao chiêu, đến nay chưa về, không biết bọn chúng ra sao, xin được Trương giáo chủ minh thị.

Triệu Mẫn cười hì hì, nói:

– Tống đại hiệp, Du nhị hiệp, Trương tứ hiệp, Mạc thất hiệp bốn vị, hiện đang ở trong tay bổn giáo. Mỗi vị bị thương một chút, tính mạng không có gì đáng ngại.

Trương Tam Phong nói:

– Bị thương một chút ư? Có lẽ nên nói là trúng chút chất độc thì đúng hơn.

Triệu Mẫn cười nói:

– Trương chân nhân quả tự phụ về tuyệt học của phái Võ Đang. Trương chân nhân đã bảo là họ bị trúng độc thì cứ coi như vậy đi.

Trương Tam Phong thừa biết mấy đệ tử của mình là đệ nhất cao thủ đời nay, nếu vì ít không địch nổi nhiều, hẳn cũng có một, hai người thoát thân về báo; chứ nếu cả bọn bị bắt, thì chắc chắn là trúng phải độc dược vô ảnh vô tung, khó bề đề phòng. Triệu Mẫn thấy Trương lão đoán đúng, cứ thản nhiên thừa nhận.

Trương Tam Phong lại hỏi:

– Còn tiểu đồ họ Ân thì sao?

Triệu Mẫn thở dài:

– Ân lục hiệp bị phái Thiếu Lâm mai phục, cũng bị y hệt vị Du tam hiệp kia, tứ chi đã bị gãy nát vì" Đại lực kim cương chỉ ", chết thì chưa, nhưng không còn cử động được.

Trương Tam Phong nhìn mặt mà xét, thấy lời nàng ta nói là thực thì trong lòng đau đớn," ào "một tiếng, lại thổ ra một ngụm máu tươi.

Những kẻ đứng sau Triệu Mẫn lộ vẻ mừng rỡ, biết là Không Tướng đã đánh lén thành công, vị tổ sư gia của phái Võ Đang đã bị trọng thương. Bọn chúng vốn chỉ sợ một mình Trương Tam Phong, lúc này không còn gì phải e ngại nữa.

Triệu Mẫn nói:

– Vãn sinh có một lời khuyên tốt, chẳng biết Trương chân nhân có muốn nghe hay không?

Trương Tam Phong đáp:

– Xin cứ nói.

Triệu Mẫn nói:

– Khắp gầm trời này, chỗ nào cũng là đất của hoàng đế; mọi người trên bờ cõi này đều là phận thần dân. Hoàng đế Mông Cổ uy trùm bốn bể, nếu như Trương chân nhân phục tòng, hoàng thượng sẽ lập tức tấn phong cho ngài, phái Võ Đang đều được vinh sủng, cả bọn Tống đại hiệp đều sẽ an toàn, không có gì phải lo nữa.

Trương Tam Phong ngẩng nhìn xà nhà, lạnh lùng nói:

– Minh giáo tuy làm nhiều điều bất nghĩa, ngang ngược càn rỡ, nhưng xưa nay vẫn chống người Mông Cổ. Không biết Minh giáo quy thuận triều đình từ khi nào vậy? Lão đạo thật là quê mùa kém hiểu biết quá.

Triệu Mẫn nói:

– Bỏ tối theo sáng, xưa nay người thức thời mới là tuấn kiệt. Phái Thiếu Lâm từ Không Văn, Không Trí thần tăng trở xuống, ai nấy đã cùng quy thuận, tận trung với triều đình. Bổn giáo chẳng qua thấy ra xu thế chính, nên đi theo các bậc hiền hào mà thôi.

Trương Tam Phong quắc mắt nhìn Triệu Mẫn, nói:

– Người Nguyên tàn bạo sát hại trăm họ, nên anh hùng thiên hạ mới vùng lên, chính là để đánh đuổi bọn Hồ Lỗ, lấy lại giang sơn. Chúng ta phàm đã là con cháu Viêm Hoàng, ai cũng có chí đánh đuổi bọn Thát tử, đó mới là xu thế chính phải theo. Lão đạo tuy là người xuất gia không lý chuyện đời, song cũng biết đâu là đại nghĩa. Không Văn, Không Trí là các vị thần tăng thời nay, há chịu khuất phục trước thế lực? Sao cô nương lại tới đây nói năng lung tung như vậy?

Từ phía sau Triệu Mẫn đột nhiên xông ra một đại hán, lớn tiếng quát:

– Lão đạo ngu xuẩn kia, nói năng không biết nặng nhẹ gì cả! Phái Võ Đang sắp bị tận diệt trong giây lát thôi. Lão không sợ chết đã đành, chứ hơn một trăm đệ tử trên núi này, đứa nào cũng không sợ chết chăng?

Gã này nói năng mạnh mẽ, thân hình cao to, bắp tay gân guốc, hình tướng hết sức oai vệ.

Trương Tam Phong cất tiếng ngâm:

– Nhân sinh tự cổ thùy vô tử, Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh! [105]

Đây là hai câu thơ của Văn Thiên Tường. Khi Văn Thiên Tường khẳng khái tựu nghĩa thì Trương Tam Phong tuổi còn nhỏ, rất kính ngưỡng vị thừa tướng anh hùng ấy. Về sau Trương lão hay than thở là đương thời võ công chưa thành, nếu không hẳn đã liều chết cứu Văn thừa tướng thoát nạn. Nay đến thời khắc sinh tử, Trương lão tự nhiên ngâm lên hai câu thơ trên. Ngâm xong, Trương Tam Phong nói tiếp:

– Kể ra Văn thừa tướng cũng còn chỗ cố chấp; chỉ cần giữ trọn một tấm lòng son, còn sử sách sau này muốn chép sao thì chép!

Trương Tam Phong liếc Du Đại Nham một cái, nghĩ thầm:" Ta mong pho Thái cực quyền được lưu truyền hậu thế, có khác gì Văn thừa tướng muốn lưu tiếng thơm cho mai sau? Thực ra, nếu đã hành sự không hổ thẹn với trời đất rồi, hà tất phải lo pho Thái cực quyền có được truyền lại hay không, phái Võ Đang có tồn tại hay không! "Bàn tay ngà ngọc của Triệu Mẫn phẩy nhẹ một cái, gã đại hán kia cúi mình lùi lại. Nàng mỉm cười, nói:

– Trương chân nhân đã cố chấp như thế, tạm thời ta sẽ không nhắc chuyện đó nữa. Vậy thì mời các vị đi theo ta!

Nàng đứng dậy, bốn người ở phía sau liền tiến lên vây quanh Trương Tam Phong. Bốn người đó gồm gã đại hán cao to vừa rồi, một gã mặc quần áo vá chằng vá đụp, một hòa thượng gầy gò, một người Hồ ở Tây Vực mắt xanh râu xồm.

Trương Vô Kỵ thấy mấy người đó thân pháp hoặc ngưng trọng, hoặc phiêu dật, ai nấy phi phàm, trong bụng hơi hoảng:" Dưới tay Triệu cô nương sao lắm cao thủ đến thế? "Xem chừng nếu Trương Tam Phong không chịu đi theo nàng ta thì bốn gã kia sẽ ra tay, Trương Vô Kỵ nghĩ thầm:" Phe địch quá nhiều cao thủ, toàn một lũ gian trá vô sỉ, bất chấp tín nghĩa, khác hẳn sáu môn phái vây đánh đỉnh Quang Minh. Ta thật khó lòng bảo đảm bình an cho thái sư phụ và Du sư bá. Nếu có đánh bại được vài tên, bọn chúng quyết không chịu thua, sẽ ùa lên một lượt. Nhưng việc đến nước này, chỉ còn cách liều chết vậy, tốt nhất là ta phải ra tay thật nhanh bắt giữ Triệu Mẫn để uy hiếp đối phương ".

Chàng đang định bước ra ngăn cản bọn kia, bỗng nghe ngoài cửa sổ một tràng cười ghê rợn, một bóng áo xanh bay vụt vào trong điện, thân pháp như ma quỷ, nhanh như tia chớp đã lướt tới sau lưng hán tử cao to mà tung chưởng; gã hán tử không xoay người, đánh ngược tay ra sau, muốn dùng ngạnh công liều mạng. Người áo xanh kia không thích thế, dùng tay trái vỗ vào vai người Hồ ở Tây Vực. Người Hồ nghiêng qua né tránh, tung chân đá lên bụng dưới của người áo xanh. Người áo xanh lúc ấy đã tấn công hòa thượng gầy gò, vội lùi lại, vung tả chưởng đánh sang gã mặc bộ quần áo vá chằng vá đụp. Trong giây lát người áo xanh tung ra bốn chưởng, công kích liên tiếp bốn cao thủ, tuy không đòn nào trúng đích, nhưng thủ pháp thần tốc ngoài sức tưởng tượng. Bốn cao thủ kia biết gặp kình địch, đều nhảy lùi vài bước, ngưng thần tiếp chiến.

Người áo xanh không buồn để ý tới bọn địch, cúi mình vái chào Trương Tam Phong:

– Vãn bối Vi Nhất Tiếu, bộ thuộc của Trương giáo chủ Minh giáo, tham kiến Trương chân nhân.

Người đó đích thực là Vi Nhất Tiếu. Ông ta đã bứt khỏi những kẻ ngăn chặn dọc đường, gấp rút tới đây.

Trương Tam Phong nghe y xưng là" bộ thuộc của Trương giáo chủ Minh giáo "cứ ngỡ y cùng bọn với Triệu Mẫn, vừa giơ tay đánh bốn kẻ kia, chắc có mưu đồ gì, bèn lạnh lùng đáp:

– Vi tiên sinh khỏi cần đa lễ. Từ lâu đã nghe danh Thanh Dực Bức Vương khinh công tuyệt đỉnh, hiếm có trên đời, hôm nay được thấy, quả là danh bất hư truyền.

Vi Nhất Tiếu cả mừng, vì ít lai vãng Trung nguyên nên chưa nổi danh, nào ngờ Trương Tam Phong cũng biết đến tài khinh công của mình, thế là bèn cúi mình nói:

– Trương chân nhân là Bắc Đẩu của võ lâm, vãn bối được chân nhân khen một câu, thật là vinh hạnh suốt đời.

Rồi y quay sang phía Triệu Mẫn, nói:

– Triệu cô nương, sao cô nương lại mạo danh Minh giáo, làm bại hoại thanh danh bổn giáo, rốt cuộc là có dụng ý gì? Nam tử hán đại trượng phu sao lại độc ác nham hiểm thế?

Triệu Mẫn cười khanh khách nói:

– Ta đâu phải nam tử hán đại trượng phu! Ta độc ác nham hiểm thì ngươi làm gì được nào?

Vi Nhất Tiếu mới nói một câu đã bị bắt bẻ, thành thử không biết đối đáp ra sao, ngẩn ra, nói:

– Các vị tấn công Thiếu Lâm, giờ lại tới đây gây sự với phái Võ Đang, rốt cuộc lai lịch thế nào? Nếu các vị có thù oán với hai phái đó, Minh giáo trước nay cũng không ưa chuyện bao đồng, đằng này các vị lại mạo danh Minh giáo, giả trang giáo chúng bổn giáo, thì Vi Nhất Tiếu này không thể bỏ qua!

Trương Tam Phong vốn biết Minh giáo đối địch với triều đình hàng trăm năm, không tin Minh giáo đầu hàng Mông Cổ, giờ nghe Vi Nhất Tiếu nói thế thì vỡ lẽ, nghĩ thầm:" Thì ra cô nương kia mạo xưng. Ma giáo tuy mang tiếng xấu, nhưng chuyện lớn thế này, họ đâu có hồ đồ ".

Triệu Mẫn quay sang gã hán tử cao to, nói:

– Nghe hắn huênh hoang cũng khá! Ngươi ra thử xem hắn có tài thật hay chỉ khoác lác.

Hán tử cúi mình đáp:

– Vâng!

Hắn sửa lại dây lưng, đi ra giữa điện, nói:

– Vi Bức Vương, tại hạ muốn lĩnh giáo công phu Hàn băng miên chưởng của các hạ!

Vi Nhất Tiếu giật mình, nghĩ thầm:" Làm sao hắn biết ta có môn Hàn băng miên chưởng? Hắn biết mà vẫn ra khiêu chiến, quả thật ta chẳng thể khinh địch ", bèn vỗ hai tay một cái, nói:

– Thỉnh giáo quý tính đại danh của các hạ?

Gã kia đáp:

– Bọn ta đã mạo xưng Minh giáo tới đây, không lẽ còn dùng tên thật? Vi Bức Vương hỏi như thế thật ngu ngốc!

Mười mấy kẻ đứng sau Triệu Mẫn cười ồ cả lên. Vi Nhất Tiếu lạnh lùng nói:

– Đúng, ta hỏi ngu thật! Các hạ cam tâm làm ưng khuyển cho triều đình, làm nô tài cho dị tộc, không xưng danh còn đỡ, chứ nói tên ra chỉ làm bôi nhọ tổ tiên.

Gã kia đỏ mặt, lửa giận bốc lên," vù "một tiếng đánh một chưởng thẳng vào giữa ngực Vi Nhất Tiếu, đòn ra nham hiểm. Vi Nhất Tiếu xoay chân né tránh, thân hình đã luồn ra sau lưng gã kia, giơ ngón tay điểm vào lưng gã. Vi Nhất Tiếu chưa sử dụng Hàn băng miên chưởng vội, còn muốn thăm dò đối phương nông sâu hư thực thế nào. Hán tử thúc cánh tay trái về phía sau, trong thủ có công. Qua vài chiêu, chưởng thế của hắn nhanh dần, chưởng lực mạnh dần. Vi Nhất Tiếu tuy đã được Trương Vô Kỵ chữa trị nội thương, mỗi khi vận công lâu không cần phải uống máu nóng để chế ngự âm độc trong cơ thể như trước kia nữa, song mới lành chưa lâu, nay gặp cường địch, lại ra tay trước mặt một vị đại tông sư như Trương Tam Phong nên hoàn toàn không dám khinh suất, bèn sử dụng tới Hàn băng miên chưởng. Chưởng thế của đôi bên chậm dần, từng bước đến chỗ tỷ thí nội lực với nhau.

Bỗng" vù "một tiếng, từ cửa chính có một vật to tướng đen sì được ném mạnh về phía gã hán tử. Vật kia còn to hơn cái bao gạo, thiên hạ làm gì có thứ ám khí nào to như thế, quái lạ thật! Gã hán tử vung tay trái đánh mạnh vào vật kia khiến nó văng ra xa hơn một trượng, chỉ thấy nó mềm mềm, chẳng biết là cái gì. Chỉ nghe một tiếng rú" Ối! "Thảm thiết, thì ra trong túi có người. Người ấy bị trúng một chưởng quá mạnh của gã hán tử, làm sao tránh khỏi gãy xương đứt gân?

Gã hán tử còn đang ngơ ngác, nhất thời chân tay chưa động. Vi Nhất Tiếu lẳng lặng lẻn ra sau, đánh ngay một đòn Hàn băng miên chưởng vào huyệt Đại Truy của đối phương. Gã vừa giận vừa sợ, vội quay lại, dồn sức giáng một chưởng xuống đầu Vi Nhất Tiếu.

Vi Nhất Tiếu cười ha hả, không tránh né, cũng chẳng đỡ gạt. Chưởng của gã kia đánh tới giữa chừng thì cánh tay đột nhiên mềm nhũn không còn sức, bàn tay tuy vỗ xuống đúng thiên linh cái của đối phương nhưng không có chút hơi sức nào, chẳng khác gì động tác đặt tay lên đầu. Vi Nhất Tiếu biết rằng một khi đối phương trúng đòn Hàn băng miên chưởng, kình lực sẽ lập tức mất hết; nhưng đang đấu với cao thủ, ai dám để cho cường địch đánh vào đỉnh đầu mình, liều lĩnh như thế thật chưa từng thấy, mọi người đứng ngoài không khỏi cả kinh. Giả dụ gã hán tử có thuật chế ngự Hàn băng miên chưởng, sức lực nhất thời chưa mất, chưởng kia đánh xuống đỉnh đầu, làm sao Vi Nhất Tiếu tránh khỏi vỡ sọ nát óc? Vi Nhất Tiếu một đời hành sự li kỳ cổ quái, càng những việc không ai dám làm, không chịu làm, hoặc chưa từng làm, ông ta càng khoái làm. Ông ta thừa cơ đối phương đang phân tâm mà ra tay đánh lén, xem ra không được quang minh chính đại cho lắm; nhưng lại dám để cho địch đánh thẳng vào đầu, như thế còn hơn cả quang minh chính đại nữa, phải nói là cả gan đùa giỡn với cái chết.

Người mặc bộ quần áo vá xé chiếc bao, lôi ra một người, thấy người ấy mặt đầy máu, đã bị gã hán tử đánh một chưởng chết tươi. Người chết mặc áo đen, chính là đồng bọn của họ, không biết vì sao bị tống vào bao, ném vào đây? Gã cả giận, quát:

– Đứa nào thập thò..

Lời chưa dứt, một cái bao màu trắng đã chụp xuống đầu gã; gã nhảy lùi lại, tránh cú chụp, thì thấy một hòa thượng béo tốt đứng sừng sững ngay trước mặt gã mà cười hì hì, chính là Bố đại hòa thượng Thuyết Bất Đắc.

Cái túi Càn Khôn Nhất Khí của Thuyết Bất Đắc bị Trương Vô Kỵ làm vỡ tung trên đỉnh Quang Minh, không còn vũ khí cầm tay, hòa thượng đành dùng tạm mấy cái túi vải thông thường, dĩ nhiên không thể lợi hại bằng cái túi" Càn khôn "đao kiếm chém không thủng hồi trước. Khinh công của Thuyết Bất Đắc tuy không sánh được với Vi Nhất Tiếu, song cũng rất cao siêu, dọc đường lại không bị ngăn trở nên cũng vừa kịp tới đây.

Thuyết Bất Đắc cúi mình hành lễ với Trương Tam Phong, nói:

– Vãn bối Bố đại hòa thượng Thuyết Bất Đắc, bộ thuộc của Trương giáo chủ Minh giáo, tham kiến Trương chân nhân, chưởng giáo tổ sư phái Võ Đang!

Trương Tam Phong hoàn lễ, nói:

– Đại sư đường xá xa xôi, vất vả quá.

Thuyết Bất Đắc nói:

– Các bộ thuộc của giáo chủ tệ giáo là Quang Minh sứ giả, Bạch Mi Ưng Vương, Tứ tản nhân, Ngũ kỳ sứ, các lộ nhân mã đều đã lên núi Võ Đang. Xin Trương chân nhân cứ đứng nghỉ, xem Minh giáo chúng tại hạ so tài cao thấp với bọn vô liêm sỉ mạo danh tác ác kia.

Câu này của Thuyết Bất Đắc chỉ là hư trương thanh thế, đại đội nhân mã của Minh giáo làm sao đến nhanh thế được. Nhưng Triệu Mẫn nghe vậy liền nhíu mày, nghĩ thầm:" Bọn họ đến nhanh như thế, là do kẻ nào tiết lộ cơ mật? "Nàng nhịn không nổi, buột miệng hỏi:

– Trương giáo chủ của các vị đâu? Bảo y ra gặp ta?

Nàng nhìn Vi Nhất Tiếu, ánh mắt lộ vẻ nghi ngờ, như muốn hỏi giáo chủ hiện đang ở đâu.

Vi Nhất Tiếu cười ha hả, nói:

– Thế bây giờ cô nương không mạo xưng nữa ư?

Nghĩ thầm:" Giáo chủ chắc đã tới rồi, không biết lúc này đang đứng đâu đây thôi ".

Trương Vô Kỵ nãy giờ đứng nấp sau lưng Minh Nguyệt, biết Vi Nhất Tiếu và Thuyết Bất Đắc chưa nhận ra mình, nhìn trước hai thuộc hạ đắc lực ở bên cạnh thì cả mừng.

Triệu Mẫn cười khẩy, nói:

– Một con dơi độc, một nhà sư thối thì làm nên trò gì?

Lời nàng ta chưa dứt thì bỗng trên mái điện phía đông vang lên một chuỗi cười dài, rồi có tiếng gọi:

– Thuyết Bất Đắc đại sư, Dương tả sứ đã tới hay chưa?

Giọng nói của người kia sang sảng, hào hùng, chính là Bạch Mi Ưng Vương Ân Thiên Chính. Thuyết Bất Đắc chưa trả lời thì từ mái điện phía tây đã vang lên tiếng cười của Dương Tiêu, rồi tiếng nói:

– Ưng Vương! Huynh quả là lão đương niên ích tráng, đã tới trước đệ một bước.

Ân Thiên Chính cười, nói:

– Dương tả sứ đừng khách sáo, hai ta tới đây cùng lúc, chẳng ai sớm hơn ai. Chắc là Dương tả sứ nể mặt Trương giáo chủ, nên nhường huynh vài phần đấy thôi.

Dương Tiêu nói:

– Gặp việc nhân nghĩa, không ai nhường ai! Đệ đã gắng hết sức, vẫn không nhanh bằng Ưng Vương!

Hai người thi nhau về cước lực xem ai hơn ai, Ân Thiên Chính nội lực cao thâm, Dương Tiêu có phần nhanh nhẹn hơn một chút, đôi bên khởi hành cùng lúc, đến đích cũng vậy. Cả hai cùng cười hà hà, từ trên mái điện cùng nhảy xuống.

Trương Tam Phong nghe danh Ân Thiên Chính từ lâu, huống hồ Ân Thiên Chính còn là nhạc phụ của Trương Thúy Sơn; còn Dương Tiêu là nhân vật lừng lẫy tiếng tăm trên giang hồ, Trương lão liền tiến lên ba bước, chắp tay nói:

– Trương Tam Phong cung nghênh Ân huynh, Dương huynh đại giá.

Trương lão trong bụng có điều không hiểu:" Ân Thiên Chính hiển nhiên là giáo chủ Thiên Ưng giáo, sao ông ta lại nói "nể mặt Trương giáo chủ" là thế nào? "

Ân, Dương hai người cúi mình đáp lễ. Ân Thiên Chính nói:

– Đã từ lâu nghe uy danh của Trương chân nhân, vô duyên bái kiến; nay được thấy tôn nhan, đúng là tam sinh hữu hạnh.

Trương Tam Phong nói:

– Hai vị đều là tông sư một đời, lại cùng đại giá quang lâm, quả thật hiếm có.

Triệu Mẫn càng lúc càng tức giận, thấy các cao thủ của Minh giáo đến mỗi lúc một đông, tuy Trương Vô Kỵ chưa xuất hiện, nhưng e rằng lời của Thuyết Bất Đắc không phải dọa suông, Trương Vô Kỵ đúng là đang đứng trong bóng tối sắp đặt một trận thế lợi hại hơn. Mưu kế của nàng bố trí đâu ra đấy, xem chừng hôm nay khó thành công; nhưng việc lén đánh trọng thương Trương Tam Phong đâu phải dễ dàng, là cơ hội ngàn năm có một, hôm nay nếu không thừa cơ đánh tan phái Võ Đang, để lão ta chữa khỏi nội thương thì mình đến phải bó tay. Nàng liếc mắt qua lại, cười nhạt, nói:

– Giang hồ vẫn bảo Võ Đang là danh môn chính phái, nhưng tai nghe sao bằng mắt thấy? Thì ra phái Võ Đang ngấm ngầm câu kết với Ma giáo, do Ma giáo đỡ đầu, chứ võ công bổn môn thì chẳng ra gì.

Thuyết Bất Đắc nói:

– Triệu cô nương, nói như cô nương đúng là giọng điệu và kiến thức của đàn bà con nít. Hồi Trương chân nhân uy chấn võ lâm, chỉ e ông nội cô nương cũng chưa ra đời, chứ hạng con nít như cô nương thì biết quái gì?

Mười mấy người đứng sau Triệu Mẫn hùng hổ tiến ra, hầm hầm nhìn lão. Thuyết Bất Đắc mặt nhơn nhơn cười nói:

– Các vị bảo ta không được nói câu vừa rồi hả? Thì tên ta là Thuyết Bất Đắc mà. Cái gì nói được thì ta nói, các vị tính làm gì ta đây?

Hòa thượng gầy gò là thuộc hạ của Triệu Mẫn tức giận nói:

– Chủ nhân, để thuộc hạ xử thằng cha già mồm này!

Thuyết Bất Đắc nói:

– Hay lắm, hay lắm! Ngươi là sư đi hoang, ta cũng là sư lang thang, hai đứa mình thử một keo xem nào. Mời tông sư Võ Đang Trương chân nhân chỉ điểm cho những chỗ sai sót, hơn là tự chúng ta khổ luyện cả chục năm đó.

Nói xong hai tay vẩy ra, từ trong bọc lão rút ra cái túi nữa. Người ta thấy lão lôi hết cái túi này đến cái túi khác, không biết trong bọc rốt cuộc giấu được bao nhiêu cái túi.

Triệu Mẫn hơi lắc đầu, nói:

– Hôm nay bọn ta lên đây học hỏi tuyệt nghệ của phái Võ Đang, bất kể vị nào thuộc phái Võ Đang hạ trường, bọn ta đều vui lòng phụng bồi. Phái Võ Đang có chân tài thực học không, hay chỉ là cái tiếng hão, một trận hôm nay cả thiên hạ sẽ biết hết. Còn món nợ giữa Minh giáo với bọn ta, để ngày sau tính sổ với nhau cũng chưa muộn. Gã tiểu quỷ Trương Vô Kỵ gian trá xảo quyệt, bổn cô nương chưa rút gân, lột da y, thì chưa tiêu được mối hận trong lòng, song cũng chưa vội gì một hôm nay.

Trương Tam Phong nghe câu" gã tiểu quỷ Trương Vô Kỵ "thì lấy làm lạ:" Giáo chủ Minh giáo không lẽ tên là Trương Vô Kỵ thật ư? Sao lại là gã "tiểu quỷ" nhỉ? "

Thuyết Bất Đắc cười hi hi, nói:

– Trương giáo chủ của bổn giáo tuổi trẻ tài cao, Triệu cô nương e rằng còn thua giáo chủ của bọn ta vài tuổi, chi bằng lấy quách Trương giáo chủ cho xong, hòa thượng ta thấy cũng xứng đôi ra phết..

Lời chưa dứt, bọn đứng sau Triệu Mẫn cùng gầm lên:

– Đừng nói bậy!

– Câm miệng!

– Gã sư đi hoang nói thối lắm!

Triệu Mẫn hai má đỏ bừng, dung mạo càng thêm kiều diễm, thần sắc chỉ có ba phần tức giận, nhưng đến bảy phần e ấp, từ một đại thủ lĩnh quần hào oai vệ phút chốc biến thành một thiếu nữ thẹn thùng. Nhưng nàng trấn tĩnh được ngay, mặt trở lại lạnh như tiền, nói với Trương Tam Phong:

– Trương chân nhân, nếu lão tiền bối không chịu ra tay, chỉ cần nói một câu cũng được, hãy nói rằng phái Võ Đang lâu nay toàn là khi thế đạo danh, bọn ta sẽ vỗ tay đi liền; bọn tiểu tử Tống Viễn Kiều, Du Liên Châu sẽ được thả về đây, đâu có mất gì?

Vừa lúc đó, Thiết Quan đạo nhân Trương Trung, Ân Dã Vương cùng tới, một lát sau Chu Điên và Bành Oánh Ngọc cũng đến nơi, Minh giáo thế là có thêm bốn cao thủ. Triệu Mẫn xác định hình thế, đôi bên quyết chiến thì chưa chắc thắng nổi, sợ nhất là Trương Vô Kỵ còn ở trong bóng tối, sẽ giở trò gì chưa biết. Nàng đưa mắt nhìn mọi người trong Minh giáo khắp lượt, nghĩ thầm:" Trương Tam Phong sở dĩ thành mối họa trong gan ruột đối với triều đình, chẳng qua vì lão có uy danh quá lớn, được mọi người trong võ lâm coi như Thái Sơn Bắc Đẩu. Lão mà đối địch với triều đình thì võ lâm Trung nguyên cũng không ai chịu hàng phục triều đình cả. Song lão già nua như ngọn đèn trước gió, liệu còn sống thêm được bao lâu? Hôm nay chưa cần lấy mạng lão, chỉ cần làm nhục lão một phen, cho thanh danh phái Võ Đang tiêu ma, cũng coi là thành công lớn lắm rồi ", bèn lạnh lùng nói:

– Bọn ta đến thăm núi Võ Đang, chỉ muốn lĩnh giáo võ công Trương chân nhân xem thật hay giả, còn nếu muốn diệt trừ Minh giáo, chẳng lẽ không biết tìm đường đến đỉnh Quang Minh? Việc gì phải tỷ thí với Minh giáo trên núi Võ Đang? Không lẽ trên thế gian chỉ một mình Trương chân nhân có tài bình phẩm cao thấp, thắng bại hay sao? Thôi thế này vậy. Trong nhà bổn cô nương có ba tên gia nhân, một tên luyện được vài bữa môn kiếm pháp giết heo mổ chó; một tên biết sơ qua chút nội công; một đứa học được vài đường quyền mèo cào. A Đại, A Nhị, A Tam đâu, mau đứng ra đây! Trương chân nhân chỉ cần đánh bại ba tên gia nhân vô tích sự này, là bọn ta thán phục võ công của phái Võ Đang là thực, chứ không phải giả. Bằng không thì giang hồ sẽ phán xét, bổn cô nương cũng chả cần nhiều lời.

Nói xong nàng vỗ tay một cái.

Từ sau lưng nàng có ba người thong thả bước ra.

Chỉ thấy A Đại là một lão già gầy khô như que củi, hai tay ôm một thanh trường kiếm, chính là bảo kiếm Ỷ Thiên. Lão này vừa gầy vừa cao, mặt đầy nếp nhăn, dúm dó khổ sở, tựa hồ mới bị chửi bới đánh đập một hồi, nếu không cũng là vợ con mới chết; ai nhìn mặt lão cũng mủi lòng, muốn rơi nước mắt thương cảm. A Nhị cũng gầy khô như thế, song thấp hơn, đầu nhẵn thín, hói đến mức không còn sợi tóc nào, hai bên huyệt Thái Dương lõm sâu đến nửa tấc. A Tam lại có thân hình chắc nịch, đầy vẻ oai vệ, trên mặt, trên tay, trên cổ, phàm chỗ nào lộ da thịt cũng thấy bắp thịt cuồn cuộn, săn chắc, tựa hồ tinh lực toàn thân quá dồi dào, sắp bật tung ra ngoài. Trên má trái hắn có một nốt ruồi đen, từ nốt ruồi mọc ra một sợi lông dài. Trương Tam Phong, Ân Thiên Chính, Dương Tiêu.. nhìn thấy ba gã kia, đều thầm kinh hãi. Chu Điên nói:

– Triệu cô nương, ba vị kia đều là cao thủ tuyệt đỉnh trong võ lâm, Chu mỗ ta đấu với vị nào cũng không nổi, sao họ lại muối mặt đóng vai đầy tớ, tới bỡn cợt với Trương chân nhân như vậy?

Triệu Mẫn hỏi:

– Có thực họ là cao thủ tuyệt đỉnh trong võ lâm không mà sao bổn cô nương lại không biết? Thế tên họ là gì nào?

Chu Điên bí quá, nhưng liền cười hà hà, nói dóc:

– Một vị là" Nhất kiếm chấn thiên hạ, Xu mi thần quân "; một vị là" Đan khí bá bát phương, Thốc đầu thiên vương "; còn vị này thiên hạ ai chẳng biết, ai lại không hay, chính là, hì hì hà hà, là.." Thần quyền cái thế, Đại lực tôn giả ".

Triệu Mẫn nghe Chu Điên nói phịa quấy quá, không khỏi tức cười, nói:

– Ba tên này ở nhà bổn cô nương chuyên nấu cơm pha trà, lau bàn quét nhà, làm quái gì có" Thần quân, Thiên vương, Tôn giả "nào ở đây? Trương chân nhân, lão tiền bối hãy đấu quyền cước với A Tam trước.

A Tam tiến lên một bước, ôm quyền, nói:

– Mời Trương chân nhân!

Chân trái hắn dậm một cái, ba hòn gạch vuông màu xanh dưới nền nhà lập tức nát vụn. Hòn gạch dưới bàn chân hắn bị vỡ nát cũng không lạ, nhưng lạ là hai hòn gạch ở hai bên cạnh cũng vỡ nát theo.

Dương Tiêu và Vi Nhất Tiếu nhìn nhau, cùng nghĩ thầm:" Tay này ghê thật! "

Hai gã A Đại, A Nhị thong thả lùi ra sau, đầu cúi gằm, không nhìn một ai. Ba tên này từ lúc vào trong điện đến giờ chỉ đứng sau lưng Triệu Mẫn, lúc nào cũng cúi gằm mặt, thần sắc u ám, chẳng ai thèm để ý tới; nào ngờ bọn chúng vừa mới bước ra đã sừng sững như đỉnh núi cao, có ngay khí thế của một đại tông sư, nhưng khi lui về lại co ro rụt rè y như dáng điệu của bọn đầy tớ.

Tri khách đạo sĩ của phái Võ Đang là Linh Hư từ đầu vẫn lo lắng cho thương thế của thái sư phụ, lúc này không nhịn nổi nữa quát lên:

– Thái sư phụ ta bị thương vừa mới thổ huyết, các người không thấy hay sao? Các người sao lại.. sao lại..

Nói tới đây, giọng y nghẹn ngào như sắp khóc. Ân Thiên Chính nghĩ thầm:" Thì ra Trương chân nhân bị thương vừa mới thổ huyết, không biết kẻ đả thương là ai? Dẫu Trương lão không bị thương thì tuổi tác cũng đã quá cao, làm sao có thể tỷ thí quyền cước với tên kia cơ chứ? Võ công tên này có lẽ thuần một lộ cương mãnh, để ta thử xem sao ". Ông bèn cao giọng nói:

– Trương chân nhân vai vế thế nào lại thèm động thủ với hạng kẻ ăn người ở cơ chứ? Nói nghe sao mà tức cười quá! Chưa cần Trương chân nhân phải ra tay, hạng đầy tớ như ngươi, hà hà, không chịu nổi một quyền một cước của Ân lão mỗ này đâu.

Ân Thiên Chính biết rõ A Đại, A Nhị, A Tam hoàn toàn không phải hạng tầm thường, nhưng vẫn cố ý khinh miệt cốt để buộc chúng đấu với mình.

Triệu Mẫn nói:

– A Tam, việc mới làm gần đây nhất là gì, hãy nói cho họ nghe đi, xem có xứng để tỷ thí với cao nhân phái Võ Đang hay không?

Mọi lời lẽ của nàng đều nhất mực nhằm lôi phái Võ Đang vào cuộc.

A Tam nói:

– Tiểu nhân gần đây cũng không làm được việc gì đáng kể. Ở vùng Tây Bắc, tiểu nhân có động thủ với một hòa thượng Thiếu Lâm tự tên là Không Tính, chỉ lực đấu chỉ lực, đã phá được Long trảo thủ của hòa thượng đó, tiện tay cắt luôn thủ cấp của lão ta.

Nghe xong câu ấy, mọi người trong đại sảnh đều rúng động. Trên đỉnh Quang Minh, Không Tính thần tăng từng dùng Long trảo thủ đấu với Trương Vô Kỵ, có lúc đã chiếm thượng phong, các cao thủ của Minh giáo người nào cũng chứng kiến, không ngờ vị cao tăng ấy táng mạng dưới tay tên A Tam này. Đã giết được vị thần tăng phái Thiếu Lâm, thì hắn đủ tư cách tỷ thí cao thấp với Trương Tam Phong.

Ân Thiên Chính lớn tiếng nói:

– Được lắm! Ngay đến Không Tính thần tăng của phái Thiếu Lâm còn bị ngươi đánh chết, vậy để Ân lão mỗ đấu với ngươi một trận mới khoái!

Nói rồi ông bước lên hai bước, xoãi chân xuống tấn, lông mày trắng dựng ngược, thần uy lẫm lẫm.

A Tam nói:

– Bạch Mi Ưng Vương, lão là tà ma ngoại đạo, A Tam ta cũng là ngoại đạo tà ma, hai ta cùng một lò, phe mình lẽ nào đánh phe ta? Nếu lão muốn đấu, vậy cứ hẹn ngày đi, ta sẽ tiếp lão. Hôm nay chủ nhân chỉ ra lệnh ta thử xem võ công phái Võ Đang hư thực thế nào thôi.

Hắn quay sang nói với Trương Tam Phong:

– Trương chân nhân, nếu các hạ không muốn hạ trường, chỉ cần nói một câu là xong, bọn ta cũng không bức ép gì. Phái Võ Đang chỉ cần nhận thua là được, bọn ta đâu cứ nhất thiết phải lấy mạng các hạ?

Trương Tam Phong mỉm cười, nghĩ bụng tuy mình bị trọng thương, nhưng nếu thi triển pháp môn võ học thượng thừa" dĩ hư ngự thực "trong pho Thái cực quyền mới sáng chế thì chưa chắc đã thua hắn. Nhưng cái khó là sau khi đánh bại A Tam, tên A Nhị thể nào cũng đòi đấu nội lực, việc đó không thể mượn sự khôn khéo mà được; cửa ải đó khó bề vượt qua. Nhưng tình thế lúc này như lửa cháy lông mày, hiện tại cứ phải đánh bại tên A Tam trước đã, rồi sẽ tính sau. Nghĩ thế, Trương lão bèn bước ra giữa điện, nói với Ân Thiên Chính:

– Mỹ ý của Ân huynh, bần đạo tâm lĩnh. Bần đạo gần đây có sáng tạo một pho quyền thuật, gọi là" Thái cực quyền ", tự nghĩ không giống như nhiều môn võ công khác. Vị thí chủ kia muốn ấn chứng công phu phái Võ Đang, Ân huynh có đánh bại y, y cũng không cam chịu. Vậy để bần đạo đem vài chiêu số trong pho Thái cực quyền ra đấu xem sao, âu cũng là dịp tốt để bần đạo trình các vị xem pho quyền tâm huyết nhiều năm.

Ân Thiên Chính cảm thấy vừa vui mừng vừa lo ngại khi nghe Trương chân nhân nói đến pho Thái cực quyền bằng một giọng đầy tự tin. Trương Tam Phong là người đã nói sao, hẳn có chủ định, đã nắm chắc cả rồi, có lẽ nào làm mất uy danh một đời? Nhưng Trương chân nhân vừa bị thương thổ huyết, chỉ sợ quyền kỹ tuy tinh, song nội lực khó chịu nổi. Tuy nhiên ông cũng không tiện nhiều lời, đành ôm quyền nói:

– Vãn bối cung kính chiêm ngưỡng thần kỹ của Trương chân nhân.

A Tam thấy Trương chân nhân điềm nhiên hạ trường, trong bụng cũng có phần khiếp sợ, nhưng lại nghĩ thầm:" Hôm nay chỉ riêng một việc ta cùng lão đạo này tỷ thí lưỡng bại câu thương, cũng đủ làm chấn động võ lâm rồi ". Hắn bèn nín thở ngưng thần, hai mắt chăm chăm nhìn vào mặt Trương Tam Phong, lẳng lặng vận nội tức, xương cốt toàn thân phát ra tiếng lách cách không ngừng. Mọi người nghe thế đều nhìn nhau kinh hãi, biết đây là võ công tối thượng thừa của Phật môn chính tông, từ ngoài vào trong không nhuốm chút tà khí nào cả, chính là Kim cương phục ma thần thông.

Trương Tam Phong thấy thần tình đối phương như thế, cũng thầm kinh hãi:" Người này lai lịch không tầm thường! Không biết pho Thái cực quyền của ta có đối phó nổi chăng? "Rồi Trương lão từ từ giơ hai tay lên, ngụ ý nhường A Tam xuất chiêu.

Đột nhiên một đạo đồng đầu bù tóc rối, mặt mày lem luốc từ sau lưng Du Đại Nham bước ra, nói:

– Thái sư phụ, vị thí chủ kia nếu muốn biết quyền kỹ của phái Võ Đang ta thì hà tất thái sư phụ phải mất công đại giá? Để đệ tử diễn vài chiêu cho y xem cũng đủ rồi.

Đạo đồng đầu bù tóc rối kia chính là Trương Vô Kỵ. Cánh Ân Thiên Chính, Dương Tiêu mới chia tay với chàng chưa lâu, tuy lúc này hình dáng, y phục của chàng hoàn toàn thay đổi nhưng vừa nghe giọng nói là nhận ra liền. Quần hào Minh giáo thấy giáo chủ đã ở đây từ sớm thì cả mừng.

Còn Trương Tam Phong và Du Đại Nham làm sao nghĩ ra được? Trương Tam Phong nhất thời chưa nhận ra chàng, nhìn áo quần lại đoán là Thanh Phong, liền nói:

– Vị thí chủ kia chuyên về Kim cương phục ma thần thông ngoại môn của phái Thiếu Lâm, hẳn là một cao thủ của chi phái Thiếu Lâm Tây Vực. Trẻ như con, chỉ một chiêu thôi cũng đủ bị đứt gân gãy xương, đâu phải chuyện đùa?

Trương Vô Kỵ tay trái kéo vạt áo Trương Tam Phong, tay phải cầm bàn tay trái của Trương lão lắc nhẹ, nói:

– Pho Thái cực quyền mà thái sư phụ dạy cho con, con chưa hề sử dụng, nên không biết mình đã luyện thành hay chưa. May sao gặp vị thí chủ đây là cao thủ ngoại gia, xin để con ra đấu, xem có thể lấy nhu khắc cương, lấy hư chế thực được không, chẳng hay lắm sao?

Vừa nói, chàng vừa dùng Cửu dương thần công truyền một luồng khí cực kỳ hồn hậu và nhu hòa qua bàn tay sang cơ thể Trương Tam Phong.

Trong khoảnh khắc ấy, Trương Tam Phong cảm nhận được một luồng lực đạo vô cùng mạnh mẽ qua lòng bàn tay đi vào người mình, tuy còn kém xa nội lực của Trương lão về mặt thuần nhất, nhưng dồn dập dồi dào, liên miên bất tuyệt, tưởng như vô cùng vô tận. Trương lão kinh ngạc, nhìn kỹ sắc mặt Trương Vô Kỵ, thấy ánh mắt chàng không lộ quang hoa mà ẩn chứa sự trong sáng ôn nhuận, chứng tỏ nội công đã đạt tới cảnh giới tuyệt đỉnh; bình sinh trong đời Trương lão chỉ gặp vài người, như Giác Viễn đại sư, Quách Tĩnh đại hiệp là đạt tới mức đó mà thôi. Còn thời nay, trừ bản thân Trương lão ra, chưa có người thứ hai đạt tới cảnh giới đó. Trong giây lát, lòng Trương lão nổi lên bao mối hồ nghi, nhưng nội lực của chàng thiếu niên này truyền cho Trương lão rõ ràng là để giúp trị thương, không hề có tà ý. Trương lão bèn mỉm cười nói:

– Ta già nua lẩm cẩm, đâu có môn gì hay dạy cho con đâu? Con muốn lĩnh giáo công phu ngoại môn tuyệt đỉnh của vị thí chủ này cũng được, nhưng phải thận trọng đó.

Trương lão đoán rằng đạo đồng này là cao thủ của một môn phái tới tiếp viện, cho nên mới dùng lời lẽ khiêm nhường khách sáo.

Trương Vô Kỵ nói:

– Thái sư phụ đối với hài nhi ơn nặng như non, dẫu hài nhi có tan xương nát thịt cũng không trả nổi đại ân của thái sư phụ và các vị sư bá sư thúc. Võ công của phái Võ Đang ta tuy không dám nói là vô địch thiên hạ, song quyết không thua thủ hạ của Thiếu Lâm Tây Vực, xin thái sư phụ cứ yên tâm.

Mấy câu này chàng nói hết sức thành thực, ba tiếng" thái sư phụ "nghe vô cùng tự nhiên, không chút ngập ngừng giả bộ, khiến Trương Tam Phong cũng ngạc nhiên:" Hay y đúng là đệ tử bổn môn, đã bí mật gắng công tập luyện, hệt như bản sư Giác Viễn đại sư năm xưa? "Trương Tam Phong chậm rãi buông tay Trương Vô Kỵ, lùi về chỗ cũ, ngồi xuống ghế, liếc sang phía Du Đại Nham, thấy người học trò cũng ngơ ngác chưa hiểu thế nào.

A Tam thấy Trương Tam Phong cho một gã tiểu đạo đồng xuất chiến, tức là tỏ ra khinh miệt hắn đến cực điểm nên hắn định bụng sẽ giáng cho gã tiểu đạo đồng một đòn chết tươi, để khích Trương lão tức giận động thủ với hắn, như thế hắn càng chắc thắng hơn. Nghĩ vậy, hắn cũng không nhiều lời, chỉ giục:

– Tên oắt con, ra chiêu đi!

Trương Vô Kỵ nói:

– Pho quyền thuật này là do thái sư phụ vãn bối Trương chân nhân trải qua nhiều năm tâm huyết để tạo ra, gọi là Thái cực quyền. Vãn bối mới học, chưa kịp tập luyện, vị tất đã nắm được tinh yếu của quyền pháp, trong vòng ba mươi chiêu, e rằng chưa đánh ngã nổi tiền bối. Nếu chuyện đó xảy ra thì cũng là do vãn bối học nghệ chưa tinh, chứ không phải vì pho quyền thuật này không hay, chuyện đó tiền bối cần hiểu cho rõ.

A Tam không giận nổi phải cười phá lên, ngoảnh lại nói với A Đại, A Nhị:

– Đại ca, nhị ca, thiên hạ sao lại có tên tiểu tử ngông cuồng đến thế không biết!

A Nhị cũng cười theo. Riêng A Đại nhận thấy gã tiểu đạo đồng này không phải hạng dễ đối phó, nên nói:

– Tam đệ, đừng khinh địch!

A Tam tiến lên một bước," vù "một tiếng, tay phải đánh thẳng tới ngực Trương Vô Kỵ, chiêu này nhanh như chớp, hữu quyền mới đến nửa chừng nhưng tả quyền còn nhanh hơn, phát sau mà đến trước, giáng thẳng vào mặt Trương Vô Kỵ, chiêu thuật kỳ dị hiếm thấy.

Trương Vô Kỵ từ lúc nghe Trương Tam Phong diễn giảng về Thái cực quyền, trong hơn một canh giờ qua, chàng chỉ suy ngẫm về quyền lý của pho quyền thuật này; giờ đây thấy tả quyền của A Tam đánh ra, chàng lập tức sử chiêu Lãm tước vĩ trong pho Thái cực quyền, chân phải thực, chân trái hư, vận dụng yếu quyết chữ Tễ mà nương theo đối phương, bàn tay phải đã nắm được cổ tay trái của hắn, dùng sức đẩy ngang. Thân hình A Tam tức thì bổ nhào về đằng trước, loạng choạng hai bước mới đứng lại được. Mọi người thấy thế cùng ngạc nhiên ồ lên.

Chiêu Lãm tước vĩ này đây là lần đầu tiên được đem ra đối phó với kẻ địch kể từ khi pho Thái cực quyền được sáng chế. Trương Vô Kỵ có Cửu dương thần công, lại thiện dụng thuật Càn khôn đại na di, đột nhiên sử dụng yếu quyết chữ Niêm trong pho Thái cực quyền, tuy chàng được học chưa đầy hai canh giờ, song cũng bằng người ta khổ luyện cả đời.

A Tam bị chàng" vuốt "một cái, kình lực ngàn cân của đòn quyền kia như rơi tõm vào biển cả, không còn chút tăm hơi, chính mình lại bị quyền kình của mình đẩy đi hai bước. Hắn kinh hãi, cả giận, cứ đánh ra liên tiếp, tựa hồ hắn có hàng chục cánh tay, hàng chục quả đấm cùng tung đòn một lượt.

Mọi người thấy thế công của hắn như cuồng phong bạo vũ, đều kinh hãi nghĩ thầm:" Thảo nào võ công cao cường như Không Tính đại sư cũng phải bỏ mạng dưới tay hắn ". Trừ đồng bọn đi theo Triệu Mẫn, còn lại ai cũng lo lắng cho Trương Vô Kỵ.

Trương Vô Kỵ có ý hiển dương uy danh phái Võ Đang nên chàng không sử dụng võ công của mình, mọi chiêu thức đều sử dụng pho Thái cực quyền do Trương Tam Phong sáng tạo, như Đơn tiên, Đề thủ thượng thế, Bạch hạc lượng sí, Lâu tất câu bộ. Đến lúc chàng sử dụng chiêu Thủ huy tì bà, tay phải vòng ra, tay trái thu vào, trong giây lát ngộ ra chỗ tinh vi huyền diệu của pho Thái cực quyền, thành thử chàng sử chiêu này vô cùng tự nhiên nhàn nhã cứ như thể nước chảy mây trôi.

A Tam chỉ cảm thấy toàn bộ lộ thượng bàn đã bị song chưởng của đối phương bao phủ như nhốt trong lồng, không thể nào né tránh, cũng không thể chống đỡ, đành vận kình ra lưng chịu để chàng đánh một chưởng; cùng lúc đó hắn tung hữu quyền, cốt sao mỗi người chịu một chiêu, thành cục diện lưỡng bại câu thương. Nào ngờ Trương Vô Kỵ hai tay tạo vòng tròn như ôm Thái cực vào lòng, một luồng lực đạo vô cùng mạnh mẽ tạo thành cơn gió lốc cuốn đối phương xoay tròn tại chỗ bảy tám vòng như con quay, khiến hắn phải vất vả xuống tấn sử chiêu Thiên cân trụy mới đứng lại được, song mặt thì đỏ gay, cực kỳ bẽ bàng.

Quần hào Minh giáo lớn tiếng reo hò. Dương Tiêu nói:

– Công phu Thái cực quyền của phái Võ Đang thật thần diệu, quả làm cho người ta sáng mắt.

Chu Điên cười, nói:

– A Tam lão huynh, ta khuyên lão huynh nên đổi tên đi, gọi là A Quay thôi!

Ân Dã Vương bồi thêm:

– Quay thêm vài vòng nữa cũng chả có gì bẽ mặt, cổ nhân chẳng từng nói" Ba mươi sáu chước, chước quay là hơn "đó sao?

Thuyết Bất Đắc cũng nói:

– Ngày trước hảo hán Lương Sơn Bạc có gã Hắc Toàn Phong," toàn phong "nghĩa là cứ xoay như gió lốc!

A Tam tức giận, mặt từ màu đỏ chuyển sang tím, rồi hắn rống lên một tiếng, nhảy chồm tới, tay trái lúc quyền lúc chưởng, biến ảo khôn lường; còn tay phải chỉ sử dụng công phu chỉ lực, chộp cào đâm chọc, vồ móc cấu gảy, năm ngón tay dùng như phán quan bút, như điểm huyệt quyết, như đao như kiếm, như thương như kích, tấn công cực kỳ hung hãn.

Trương Vô Kỵ vì pho Thái cực quyền chưa thạo nên tức thời chân tay luống cuống, ứng phó không nổi, bỗng" soạt "một tiếng, tay áo bị xẻ một đường; chàng đành thi triển khinh công, cốt chạy nhanh để né tránh công phu chỉ lực ghê gớm chưa từng thấy kia. A Tam gầm lên đuổi theo, nhưng không sánh kịp khinh công phiêu dật của đối phương, mười ngón tay vồ lần nào cũng hụt.

Trương Vô Kỵ vừa né tránh, vừa nghĩ bụng:" Nếu ta chỉ chạy không đấu, chẳng hóa ra thua ư? Pho Thái cực quyền này ta chưa thạo lắm, chi bằng sử dụng công phu Càn khôn đại na di đấu với hắn vậy ", bèn quay lại, hai tay ra chiêu Dã mã phân tông trong pho Thái cực quyền, nhưng tay trái lại sử dụng thủ pháp Càn khôn đại na di. Một ngón tay bên phải của A Tam đâm vào vai đối phương, chẳng hiểu bị lôi kéo thế nào, lại đâm luôn vào bắp tay trái của chính mình khiến hắn bị đau đến nổ đom đóm mắt, cánh tay trái cơ hồ không nhấc lên nổi.

Dương Tiêu biết đó không phải công phu Thái cực quyền, bèn nói lấp đi:

– Thái cực quyền quả là tuyệt diệu!

A Tam vừa đau vừa tức, quát:

– Thứ đó là tà thuật yêu pháp chứ Thái cực quyền nỗi gì?

Rồi hắn chọc liền ba chỉ. Trương Vô Kỵ tung mình né tránh, lại thấy A Tam vươn tay ra, hai ngón chọc tới, chàng bèn sử dụng tâm pháp Càn khôn đại na di vừa kéo vừa dẫn, nghe" cộp "một tiếng, hai ngón tay của A Tam chọc luôn vào cây cột gỗ lớn trong đại điện, lút sâu vào gỗ. Mọi người vừa cả kinh, vừa tức cười.

Trong khi ai nấy đang cười ồ, Du Đại Nham bỗng quát lên:

– Dừng tay! Ngươi vừa sử dụng Kim cương chỉ lực của phái Thiếu Lâm phải không?

Trương Vô Kỵ tung mình nhảy tránh ra, nghe mấy tiếng Kim cương chỉ lực của phái Thiếu Lâm thì lập tức nhớ lại Tam sư bá Du Đại Nham chính là bị đả thương bởi Kim cương chỉ lực của phái Thiếu Lâm, hơn hai chục năm nay mọi người trong phái Võ Đang vẫn vì chuyện đó mà giữ lòng thù oán phái Thiếu Lâm, xem ra hung thủ hiện đang ở ngay trước mặt.

Chỉ nghe A Tam lạnh lùng nói:

– Kim cương chỉ lực thì đã sao? Ai bảo ngươi cứng đầu không chịu nói nơi cất giấu thanh đao Đồ Long? Được nếm mùi tàn phế hai chục năm có thích không?

Du Đại Nham xẵng giọng:

– Đa tạ ngươi hôm nay nói rõ chân tướng, thì ra ta bị tàn phế là do chi phái Thiếu Lâm Tây Vực hạ độc thủ. Chỉ tiếc cho.. cho ngũ sư đệ ta.

Nói đến đó, giọng ông nghẹn ngào. Năm xưa Trương Thúy Sơn tự vẫn mà chết cũng chỉ vì Du Đại Nham bị Ân Tố Tố dùng ngân châm đả thương, nên không còn mặt mũi nào nhìn sư huynh. Thực ra Du Đại Nham sau khi trúng phải ngân châm đã được Ân Tố Tố thuê tiêu cục Long Môn đưa về núi Võ Đang, chạy chữa chừng một tháng sẽ khỏi; còn tứ chi của ông bị gãy nát chính là do độc thủ Kim cương chỉ lực của phái Thiếu Lâm. Nếu bấy giờ tìm ra hung thủ, phu thê Trương Thúy Sơn đâu đến nỗi phải chết thảm như thế? Du Đại Nham đã thương sư đệ chẳng tội tình gì phải chết oan, lại hận cho mình thành kẻ tàn phế, mắt nhìn kẻ kia như muốn tóe lửa.

Trương Vô Kỵ nghe hai người đối đáp, lập tức hiểu rõ tiền nhân hậu quả. Hồi nhỏ chàng từng nghe cha kể chuyện chùa Thiếu Lâm có tên hỏa công đầu đà học lén võ nghệ, đánh chết thủ tọa Đạt Ma đường Khổ Trí thiền sư, rồi các cao thủ trong phái Thiếu Lâm tranh chấp lớn đến nỗi Khổ Tuệ thiền sư phải bỏ sang Tây Vực lập ra phái Thiếu Lâm Tây Vực, xem chừng người này là truyền nhân của Khổ Tuệ thiền sư.

Quả nhiên nghe Trương Tam Phong nói:

– Thí chủ tâm địa tàn ác quá, ta không ngờ trong số các truyền nhân của Khổ Tuệ thiền sư lại có một kẻ như thí chủ.

A Tam cười gằn:

– Khổ Tuệ là cái quái gì chứ?

Trương Tam Phong thấy hắn hỏi thế thì chợt hiểu. Năm xưa, khi Du Đại Nham bị Kim cương chỉ lực đả thương, phái Võ Đang đã cho người sang chất vấn phái Thiếu Lâm, chưởng môn phái Thiếu Lâm kiên quyết không thừa nhận, nên cũng đã nghi ngờ cho phái Thiếu Lâm Tây Vực. Nhưng nhiều năm nghe ngóng, biết rằng chi phái ấy ít người, các đệ tử chỉ chuyên tâm nghiên cứu Phật học, không giỏi võ công, lúc này Trương lão nghe A Tam hỏi" Khổ Tuệ là cái quái gì? "Thì biết ngay hắn nếu là truyền nhân của phái Thiếu Lâm Tây Vực thì không đời nào lại nhục mạ tổ sư khai sáng, bèn nói:

– Thảo nào! Thảo nào! Thì ra thí chủ là truyền nhân của tên hỏa công đầu đà, chẳng những học được võ công của hắn, mà còn nhiễm luôn cái tính hiểm độc ấy nữa! Thế còn cái gã Không Tướng gì đó là sư huynh đệ của thí chủ phải không?

A Tam đáp:

– Phải, y là sư đệ của ta, nhưng pháp danh của y không phải là Không Tướng, mà là Cương Tướng. Trương chân nhân, Bát nhã kim cương chưởng của Kim cương môn so với chưởng pháp của phái Võ Đang thì thế nào?

Du Đại Nham xẵng giọng đáp:

– Còn thua xa! Đầu hắn bị một chưởng của sư phụ ta đánh đã vỡ sọ nát óc chết tươi rồi. Dám đánh trống qua cửa nhà sấm, đáng kiếp!

A Tam rống lên, chồm tới. Trương Vô Kỵ dùng chiêu Như phong tự bế của pho Thái cực quyền chặn hắn lại, nói:

– A Tam, hãy đưa Hắc ngọc đoạn tục cao ra đây.

Vừa nói chàng vừa chìa bàn tay phải.

A Tam cả kinh, nghĩ thầm:" Thần dược chữa gãy xương của bản môn cực kỳ bí mật, ngay đệ tử bình thường của bản môn còn chưa biết, tên đạo đồng này nghe ở đâu mà biết thế nhỉ? "

Hắn đâu biết trong Y kinh của Điệp Cốc Y Tiên Hồ Thanh Ngưu có chép rằng ở Tây Vực có một lộ võ công ngoại gia, nghi là bàng chi của phái Thiếu Lâm, thủ pháp cực kỳ kinh dị, bẻ gãy tứ chi người ta mà không thuốc nào trị được, chỉ có bí dược bổn môn Hắc ngọc đoạn tục cao cứu nổi mà thôi; còn loại thuốc ấy phối chế như thế nào thì không truyền ra ngoài. Trương Vô Kỵ nhớ đến chi tiết ấy, thuận miệng nói ra, vốn chỉ thử xem có đúng hay không, thấy A Tam mặt biến sắc, liền biết là mình đoán đúng, lại quát:

– Đưa đây!

Chàng nghĩ đến cái chết của cha mẹ, sự tàn phế của hai vị Du, Ân sư bá sư thúc, hận không thể lập tức giết chết hắn, nên cũng không muốn nhiều lời với hắn.

Còn A Tam vừa rồi giao đấu với Trương Vô Kỵ, tuy có lúc bị núng thế, nhưng khi sử dụng Đại lực kim cương chỉ thì đối phương chỉ có nước né tránh chứ không có cách gì trả đòn. Chỉ cần chú ý đừng để bị lôi kéo bởi thủ pháp quái dị của gã đạo đồng, đấu tiếp thì thể nào mình cũng thắng, thế là hắn tiến lên một bước, quát:

– Thằng lỏi con, mi quỳ xuống lạy ta ba cái, ta sẽ tha cho mi, nếu không mi sẽ bị như gã Du Đại Nham kia.

Trương Vô Kỵ quyết ý lấy bằng được Hắc ngọc đoạn tục cao, nhưng đối phó thế nào với Kim cương chỉ lực thì nhất thời chàng chưa nghĩ ra. Thủ pháp Càn khôn đại na di có thể đả thương A Tam, song không thể ép hắn đưa thuốc ra. Chàng đang ngẫm nghĩ thì Trương Tam Phong nói:

– Hài tử, hãy lại đây!

Trương Vô Kỵ đáp:

– Vâng, thái sư phụ!

Trương Tam Phong nói:

– Dùng ý chứ không dùng lực, thái cực xoay vòng, không hề đứt đoạn. Khi đắc cơ đắc thế sẽ khiến đối thủ tự đứt gốc. Từng chiêu từng thức phải liền mạch với nhau như trường giang đại hà, chảy hoài không dứt.

Trương lão thấy Trương Vô Kỵ đối địch ra chiêu đã phần nào hiểu được tinh hoa của pho quyền, nhưng vì võ công của chàng vốn quá cao cường, quyền chiêu quá rạch ròi nên chưa thể hội được cái ý" xoay vòng không dứt "của Thái cực quyền.

Trương Vô Kỵ võ công đã cao, thấy được điểm mấu chốt, nghe Trương Tam Phong nói mấy câu ấy là tức thời lĩnh ngộ được ngay, nghĩ đến cái ý" xoay vòng không dứt ", biến hóa âm dương của Thái cực đồ.

A Tam cười khẩy, nói:

– Lâm trận học võ, chẳng muộn quá sao?

Trương Vô Kỵ lông mày dựng lên, nói:

– Có muộn hay không, ngươi cứ thử khắc biết.

Nói rồi chàng quay lại, tay phải đưa vòng ra phía trước, nhắm vào mặt A Tam, chính là chiêu Cao thám mã trong Thái cực quyền. A Tam năm ngón tay phải liền chụm lại thành hình lưỡi đao chém xuống. Trương Vô Kỵ biến chiêu Song phong quán nhĩ, hai tay ra đòn thành hình vòng tròn; lối biến chiêu này đúng là đã lĩnh hội được tinh nghĩa" xoay vòng không dứt "mà thái sư phụ vừa chỉ giáo. Rồi cứ thế vòng tròn bên trái vòng tròn bên phải, hết vòng tròn này đến vòng tròn khác, vòng tròn to vòng tròn nhỏ, vòng tròn ngang vòng tròn đứng, vòng tròn xéo, các vòng tròn Thái cực cứ liên tiếp công kích khiến A Tam lật đật lắc lư, chân đứng không vững, trông hắn như một kẻ say rượu.

Đột nhiên năm ngón tay của A Tam xỉa mạnh tới, Trương Vô Kỵ sử chiêu Vân thủ, tay trái trên cao, tay phải dưới thấp, làm thành vòng tròn chặn cánh tay hắn lại, cương kình Cửu dương thần công vận ra, chỉ nghe" rắc rắc "hai tiếng, xương bả vai, xương cánh tay và xương cẳng tay của A Tam cùng gãy rời. Cương kình Cửu dương thần công quả thật lợi hại, riêng cái xương bả vai của A Tam đã gãy vụn thành dăm mảnh, trông không còn hình thù cái vai nữa. Chỉ về phần kình lực mà nói thì pho Thái cực quyền lấy nhu kình làm chính còn lâu mới sánh kịp.

Trương Vô Kỵ hận A Tam tàn ác, chiêu Vân thủ chàng sử dụng liên miên không dứt như áng mây trắng bay ngang trời, vòng tròn này chưa xong, vòng tròn khác đã kế tiếp, lại nghe" rắc rắc ", tay trái của A Tam gãy nốt; rồi mấy tiếng" rắc rắc "liền nhau, cả hai đùi của hắn cũng gãy vụn. Trương Vô Kỵ bình sinh động thủ với người chưa bao giờ hạ độc thủ như thế; nhưng kẻ này đã hại chết cha mẹ chàng, hãm hại tam sư bá và lục sư thúc, nếu không phải còn cần lấy Hắc ngọc đoạn tục cao, thì chàng đã đánh chết tươi hắn rồi.

A Tam hự lên một tiếng, gục xuống. Trong đám thủ hạ của Triệu Mẫn có một kẻ chạy ra xốc hắn mang về chỗ cũ.

Mọi người chung quanh thấy thần công của Trương Vô Kỵ như thế, thảy đều kinh hãi, cả đến các cao thủ Minh giáo cũng quên cả việc hò reo.

Gã hói A Nhị liền vọt tới, hữu chưởng nhắm ngực Trương Vô Kỵ đánh nhanh, chưởng của gã chưa chạm tới mà Trương Vô Kỵ đã cảm thấy tức ngực, liền sử chiêu Tà phi thế dẫn chưởng lực lệch sang một bên. Gã hói này chẳng nói chẳng rằng, hạ bàn vững chãi như được đóng đinh xuống đất, cứ chăm chú tung hết chưởng này đến chưởng khác, nội lực hùng hậu vô cùng.

Trương Vô Kỵ thấy chưởng lộ của hắn cùng một kiểu với A Tam, nhìn lứa tuổi chắc là sư huynh của A Tam, tuy võ công không nhanh nhẹn bằng nhưng trầm ổn hơn hẳn; chàng bèn sử dụng các chiêu thức niêm, dẫn, tễ, án trong Thái cực quyền, định đẩy hắn nghiêng đi, nào ngờ nội lực của hắn quá mạnh, chàng lại bị hắn kéo tới một bước.

Hùng tâm của Trương Vô Kỵ trỗi dậy, nghĩ thầm:" Để ta tỷ thí với ngươi một phen, xem nội công của Thiếu Lâm Tây Vực lợi hại hay Cửu dương thần công của ta ghê gớm hơn ". Chàng thấy tên kia tung chưởng ra, bèn múa chưởng đón đường, tức là lấy cứng chọi cứng, không cần chút khéo léo gì bên trong. Hai chưởng đụng nhau, nghe" bùm "một tiếng lớn, cả hai cùng lảo đảo.

Trương Tam Phong kêu" ây dà "một tiếng, nghĩ thầm:" Không hay rồi! Đánh thô lỗ kiểu này, ai mạnh thì thắng, trái ngược hẳn với quyền lý của Thái cực quyền. Gã hói này nội lực thâm hậu hiếm thấy trong võ lâm, sợ rằng đấu thêm một chưởng nữa, tiểu hài nhi sẽ bị trọng thương ". Vừa lúc đó thì chưởng thứ hai của đôi bên lại đụng nhau," bùm "một tiếng, A Nhị lảo đảo lùi một bước, trong khi Trương Vô Kỵ thản nhiên đứng tại chỗ, vẻ nhởn nhơ.

Cửu dương thần công và nội công của phái Thiếu Lâm nếu luyện tới cảnh giới tối cao thì có thể nói chẳng bên nào kém bên nào. Nhưng" Kim cương môn "của Tây Vực do gã hỏa công đầu đà sáng tạo ra vốn là thứ võ nghệ gã học lén ở chùa Thiếu Lâm. Quyền cước binh khí cố nhiên có thể học lén, còn nội công là cách vận hành khí tức trong cơ thể, dẫu có tận mắt trông thấy người ta đả tọa tịnh tu tám năm, mười năm thì cũng chẳng thể biết được phương pháp điều quân, vận hành khí tức như thế nào. Thành thử ngoại công có thể học lén, còn nội công không sao học lỏm được. Ngoại công Kim cương môn rất mạnh, không thua gì Thiếu Lâm chính tông; còn nội công lại thua xa.

A Nhị là một dị nhân trong Kim cương môn, bẩm sinh có thần lực, từ ngoại công đi vào nội công bằng một con đường riêng, luyện thành một nhân vật có nội công thâm hậu hơn cả hỏa công đầu đà tổ sư, có thể nói là trời phú. Dưới tay gã, ít có ai tiếp nổi ba chiêu, vậy mà lúc này cùng đối phương đấu chưởng thẳng thừng với nhau gã lại bị chưởng lực của Trương Vô Kỵ đẩy lùi một bước; gã vừa sợ vừa tức, hít một hơi dài, song chưởng cùng đánh thẳng vào Trương Vô Kỵ.

Trương Vô Kỵ kêu lên:

– Ân lục thúc, sư thúc hãy xem điệt nhi rửa hận cho sư thúc đây.

Thì ra lúc này Ân Lê Đình đã được Dương Bất Hối, Tiểu Chiêu hộ tống, ngồi trong võng do hai giáo chúng Minh giáo khiêng tới đây.

Trương Vô Kỵ nói xong, hữu quyền tung ra, nghe" hịch "một tiếng, A Nhị phải lùi ba bước, hai mắt trợn trừng, khí huyết nhộn nhạo trong ngực. Trương Vô Kỵ nói to:

– Ân lục thúc, trong đám vây đánh sư thúc, có gã hói này hay không?

Ân Lê Đình đáp:

– Chính hắn, hắn là tên đầu sỏ đó!

Chỉ nghe gã hói A Nhị toàn thân xương cốt kêu lách cách, là gã đang vận kình. Du Đại Nham biết tên này nội lực cương mãnh, vận nội kình như thế, chưởng lực sẽ vô cùng lợi hại, khó bề chống đỡ, bèn lên tiếng:

– Qua sông chưa xong, đánh vào giữa dòng.

Ý là mách nước cho Trương Vô Kỵ đừng đợi A Nhị hoàn tất việc vận kình, hãy tấn công luôn khiến gã trở tay không kịp.

Trương Vô Kỵ đáp:

– Vâng.

Chàng tiến lên một bước, song chưa ra đòn. A Nhị hai tay đánh ra, một luồng lực đạo bài sơn đảo hải tràn tới. Trương Vô Kỵ hít một hơi, chân khí trong cơ thể lưu chuyển, hữu chưởng đẩy ra, một đỡ một đón, đem toàn bộ chưởng lực của đối phương hất trả lại. Hai luồng chưởng lực gộp làm một, A Nhị rú lên một tiếng, thân người gã y hệt một viên đá bắn ra từ cung nỏ, thân hình đụng vỡ toang bức tường mà bay ra khỏi sảnh.

Ai nấy còn đang kinh hãi thất sắc thì thấy có một người chui qua lỗ hổng trên tường kia mà vào, xách theo A Nhị ném xuống đất. Người ấy béo tròn và thấp như cái cối đá, hình dạng tức cười, nhưng thân pháp hết sức linh hoạt, chính là chưởng kỳ sứ Hậu Thổ kỳ của Minh giáo, tên là Nhan Viên. Gã hói A Nhị hai xương cánh tay, xương lồng ngực, xương sườn, xương đòn gánh đều bị gãy hết vì chưởng lực cương mãnh hùng hậu của chính gã. Nhan Viên quẳng A Nhị rồi, cúi mình chào Trương Vô Kỵ, lại qua lỗ hổng trên tường mà chui ra, trông y như một con chuột chũi béo mập.

Triệu Mẫn thấy tiểu đạo đồng liên tiếp đánh bại hai đệ nhất cao thủ của nàng, sớm đã sinh nghi, giờ thấy Nhan Viên hành lễ, nàng bèn nhìn kỹ, thì nhận ra, tự trách:" Đáng chết, đáng chết! Mình đến trước làm chủ, cứ tưởng gã tiểu quỷ này ở bên ngoài bố trí, đâu ngờ gã giả làm đạo đồng, ở đây phá bĩnh làm hỏng đại sự của mình ". Triệu Mẫn lạnh lùng nói:

– Trương giáo chủ, sao giáo chủ chẳng giữ thể diện, lại đi đóng giả đầy tớ như thế? Cứ luôn mồm thái sư phụ này, thái sư phụ nọ, không biết ngượng hay sao?

Trương Vô Kỵ thấy Triệu Mẫn nhận ra mình, liền cao giọng đáp:

– Tiên phụ Trương Thúy Sơn chính là đệ tử thứ năm của thái sư phụ, ta không gọi là thái sư phụ thì gọi thế nào?

Rồi chàng quay sang, quỳ xuống khấu đầu trước Trương Tam Phong, nói:

– Hài nhi Trương Vô Kỵ khấu kiến thái sư phụ và tam sư bá. Sự việc cấp bách, hài nhi chưa kịp bẩm rõ, xin được tha cho tội giấu giếm.

Trương Tam Phong và Du Đại Nham vừa kinh ngạc vừa vui mừng, không thể ngờ chàng thiếu niên vừa đánh bại hai đại cao thủ Thiếu Lâm Tây Vực lại chính là đứa cháu ốm o bệnh tật, chết đi sống lại năm nào. Trương Tam Phong cười ha hả, đưa tay đỡ chàng dậy, nói:

– Hảo hài tử, con chưa chết, Thúy Sơn đã có người nối dòng!

Trương Vô Kỵ võ công trác tuyệt, điều đó chỉ là phụ; điều Trương Tam Phong mừng hơn cả chính là vì Trương lão cứ tưởng chàng chết rồi, không ngờ vẫn còn sống, thành thử y như trời ban cho, sung sướng như mở cờ trong bụng, quay sang nói với Ân Thiên Chính:

– Ân huynh, cung hỉ Ân huynh có được đứa cháu ngoại tốt thế này!

Ân Thiên Chính cười đáp:

– Trương chân nhân, cung hỉ Trương chân nhân dạy được một đồ tôn giỏi nhường này.

Triệu Mẫn đốp lại liền:

– Cái gì mà cháu ngoại tốt với chả đồ tôn giỏi! Hai lão già sống dai, nuôi được một gã tiểu quỷ gian trá giảo hoạt thì có. A Đại, ngươi ra thử kiếm pháp của y xem nào.

Gã có vẻ mặt sầu khổ tên A Đại lớn tiếng vâng dạ, nghe" soạt "một tiếng, rút ra thanh kiếm Ỷ Thiên, mọi người thấy thanh quang loang loáng, tựa hồ có làn khí lạnh tỏa lan, quả là thanh kiếm báu.

Trương Vô Kỵ nói:

– Kiếm Ỷ Thiên là vật sở hữu của phái Nga Mi, sao lại rơi vào tay cô nương?

Triệu Mẫn đáp:

– Tiểu quỷ ngươi biết gì mà nói? Diệt Tuyệt lão ni ăn cắp thanh kiếm này của nhà ta, bây giờ vật về chủ cũ, kiếm Ỷ Thiên có dính dáng gì tới phái Nga Mi nào?

Trương Vô Kỵ không biết lai lịch của kiếm Ỷ Thiên ra sao, nên vừa bị nàng ta hỏi vặn lại là không trả lời được, bèn nói lảng:

– Triệu cô nương, mong cô nương cho ta Hắc ngọc đoạn tục cao, để ta trị thương cho tam sư bá và lục sư thúc, mọi chuyện đã qua, chúng ta xí xóa.

Triệu Mẫn nói:

– Hừ, xí xóa mọi chuyện à? Nói dễ nghe thế? Ngươi có biết Không Văn, Không Trí của phái Thiếu Lâm cùng bọn Tống Viễn Kiều, Du Liên Châu của phái Võ Đang hiện giờ ở đâu không?

Trương Vô Kỵ lắc đầu nói:

– Ta không biết, mong cô nương cho biết.

Triệu Mẫn cười khẩy, nói:

– Việc gì bổn cô nương phải nói cho ngươi biết? Chưa băm vằm ngươi thành trăm mảnh thì chưa phạt xong cái tội ngươi khinh mạn làm nhục ta trong thiết lao ở Lục Liễu trang!

Nói tới mấy chữ" khinh mạn làm nhục ", Triệu Mẫn chợt nhớ lại tình cảnh trong hầm tối hôm đó, bất giác mặt đỏ bừng, vừa tức vừa thẹn.

Trương Vô Kỵ nghe bốn chữ" khinh mạn làm nhục "cũng hơi đỏ mặt, nhớ đến việc hôm đó để cứu quần hào Minh giáo đang bị trúng độc, bất đắc dĩ chàng phải giở hạ sách lấy tay cù gan bàn chân nàng, thực ra không hề có ý" khinh mạn làm nhục "; nhưng nam nữ thụ thụ bất thân, tuy được tòng quyền, song chuyện ấy hoàn toàn chưa cho ai biết, nếu người ta biết được chàng đùa giỡn với thiếu nữ thì nguy to. Hiện tại chưa thể biện bạch, chàng đành nói lảng:

– Triệu cô nương, Hắc ngọc đoạn tục cao cô nương có chịu cho ta không thì bảo?

Triệu Mẫn liếc một cái, cười hi hi, nói:

– Ngươi muốn lấy Hắc ngọc đoạn tục cao, cũng không khó gì. Chỉ cần ngươi bằng lòng nhận làm ba việc cho ta, ta sẽ dâng cả hai tay cho ngươi.

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Là ba việc gì?

Triệu Mẫn nói:

– Ba việc đó hiện giờ ta chưa nghĩ ra. Sau này ta nghĩ ra được việc gì, ngươi phải làm việc đó.

Trương Vô Kỵ nói:

– Như thế sao được? Không lẽ cô nương bảo ta tự sát, bảo ta làm heo làm chó, ta cũng phải theo hay sao?

Triệu Mẫn cười, đáp:

– Bổn cô nương không bảo ngươi tự sát, càng không bảo ngươi làm heo làm chó, hì hì, vì dẫu có nhận làm cũng chẳng làm heo chó được.

Trương Vô Kỵ nói:

– Cô nương cứ nói trước đi, nếu không trái đạo hiệp nghĩa mà ta có thể làm được, ta sẽ làm theo ý cô nương.

Triệu Mẫn đang định nói, chợt thấy trên mái tóc Tiểu Chiêu có đính một đóa hoa kết bằng ngọc, chính là đóa hoa nàng đã tặng Trương Vô Kỵ, thì không khỏi buồn bã; lại thấy Tiểu Chiêu mắt sáng miệng tươi, mặt mày rạng rỡ, tuổi còn nhỏ nhưng cứ mơn mởn như một đóa phù dung, vô cùng khả ái dễ thương, thì trong bụng căm hận, nghiến răng bảo A Đại:

– Ra chém đứt hai cánh tay gã tiểu tử họ Trương cho ta!

A Đại vâng lệnh, cầm thanh kiếm Ỷ Thiên tiến lên một bước, nói:

– Trương giáo chủ, ta được lệnh của chủ nhân chém đứt hai cánh tay của giáo chủ đó.

Chu Điên trong bụng ấm ức đã lâu, lúc này không nhịn thêm được nữa, ngoạc mồm chửi:

– Mẹ kiếp, nói thối quá! Lão hãy chém chính tay lão đi thì có!

A Đại nhăn nhó nói, giọng khổ sở:

– Nói thế cũng có lý!

Chu Điên nghe vậy khoái trá, giục to:

– Thế thì mau chặt đi!

A Đại nói:

– Chẳng làm gì phải vội.

Trương Vô Kỵ cảm thấy lo lo, thanh kiếm Ỷ Thiên sắc bén dị thường, binh khí nào đụng vào nó đều bị gãy; cách duy nhất là phép Càn khôn đại na di dùng tay không đoạt lấy thanh kiếm mà thôi. Nhưng một khi đưa tay vào gần thanh bảo kiếm sắc bén ấy, chỉ cần đối phương có kiếm chiêu hơi lạ, biến hóa khó lường một chút là toàn bộ cánh tay từ ngón đến vai sẽ bị tiện đứt, dù đụng phải chỗ nào trên lưỡi kiếm. Chàng chưa biết đối phó cách nào, bỗng nghe Trương Tam Phong nói:

– Vô Kỵ, pho Thái cực quyền ta sáng tạo ra, con đã học rồi, còn pho Thái cực kiếm, ta truyền cho con luôn bây giờ để con đấu với vị thí chủ kia.

Trương Vô Kỵ mừng nói:

– Đa tạ thái sư phụ.

Rồi quay sang nói với A Đại:

– Này vị tiền bối, vãn bối kiếm thuật non kém, cần nhờ thái sư phụ chỉ điểm một phen, sau đó sẽ đấu với tiền bối.

A Đại vốn thầm ngán sợ Trương Vô Kỵ, tuy có bảo kiếm trong tay, chiếm được ưu thế, nhưng thắng bại khó lường, nghe chàng bảo cần học chiêu thức mới, thì mừng hết chỗ nói, nghĩ thầm kiếm chiêu mới dù tinh diệu đến mấy, vừa học xong làm sao tránh khỏi cảnh ngượng nghịu chưa quen. Đạo kiếm thuật cốt yếu là nhẹ nhàng linh hoạt, tối thiểu cũng phải luyện một vài chục năm thì khi lâm địch mới có thể đắc tâm ứng thủ, thuần thục tự nhiên. A Đại bèn gật đầu, nói:

– Trương giáo chủ đi học chiêu, ta ở đây chờ. Học hai canh giờ liệu xong hay chưa?

Trương Tam Phong nói:

– Không cần đi đâu xa, ta dạy ngay tại đây, Vô Kỵ học ngay tại đây thôi, học xong hành luôn, chưa đến nửa canh giờ là xong pho Thái cực kiếm.

Trương lão nói thế, ngoại trừ Trương Vô Kỵ, còn ai nấy đều kinh hãi, tưởng tai mình nghe nhầm, nghĩ thầm:" Cứ coi như Thái cực kiếm pháp của phái Võ Đang thần kỳ huyền diệu đi, nhưng lại dạy chiêu thức công khai ngay ở đây, đối phương nhìn thấy rõ ràng, thì còn gì bí mật nữa? "A Đại nói:

– Thế cũng được. Vậy ta ra ngoài điện đứng chờ.

Lão già tựu trung không muốn giành lợi thế, tuy là phận tôi tớ, nhưng hành vi cứ như một vị tông sư trong võ lâm. Trương Tam Phong nói:

– Cũng không cần như thế. Pho Thái cực kiếm này ta mới sáng tạo ra, cũng chưa biết có dùng được hay không. Các hạ là danh gia kiếm thuật, chính ta đang mong được các hạ coi thử, chỉ cho thấy những chỗ sơ hở, khiếm khuyết.

Lúc này Dương Tiêu chợt nhớ ra, nói to:

– Có phải các hạ chính là" Bát tí thần kiếm "Phương trưởng lão đó chăng? Các hạ đường đường đứng đầu các trưởng lão Cái Bang, sao lại cam chịu làm tôi tớ cho kẻ khác thế này?

Quần hào Minh giáo nghe vậy liền cả kinh. Chu Điên hỏi:

– Lão chẳng phải đã chết rồi ư? Sao lại sống dậy, sao lại có.. chuyện thế này?

A Đại rầu rĩ thở dài, cúi đầu, nói:

– Lão hủ trăm lần chết cũng chưa đủ, chuyện đã qua còn nhắc lại làm chi? Lão hủ không còn là trưởng lão Cái Bang từ lâu rồi.

Những ai nhiều tuổi một chút đều biết Bát Tí Thần Kiếm Phương Đông Bạch là người đứng đầu trong bốn vị đại trưởng lão Cái Bang, kiếm thuật tinh xảo, danh vang thiên hạ, nổi tiếng xuất kiếm cực nhanh, chẳng khác gì người có tám cánh tay nên được mang ngoại hiệu" Bát tí thần kiếm ". Hơn mười năm trước nghe đồn lão bị bệnh nặng qua đời, bấy giờ ai cũng thương tiếc, nào ngờ lão vẫn sống sờ sờ.

Trương Tam Phong nói:

– Pho Thái cực kiếm của lão đạo nếu được" Bát tí thần kiếm "chỉ điểm cho vài chiêu thì quả thật vinh hạnh. Vô Kỵ, con có mang thanh kiếm nào theo không?

Tiểu Chiêu bèn bước lên mấy bước, đưa cho Trương lão thanh kiếm Ỷ Thiên giả bằng gỗ mà Trương Vô Kỵ lấy được ở chỗ Triệu Mẫn. Trương Tam Phong cầm thanh kiếm, cười nói:

– Là kiếm gỗ ư? Bần đạo có vẽ bùa bắt quyết, tróc quỷ trừ tà đâu?

Rồi Trương lão đứng dậy, tay trái cầm kiếm, tay phải trình kiếm quyết, hai tay ôm thành vòng tròn, từ từ nâng lên, đó là thức khởi đầu; kế đến các chiêu Tam hoàn sáo nguyệt, Đại khôi tinh, Yến tử sao thủy, Tả lan tảo, Hữu lan tảo.. từng chiêu từng chiêu diễn ra. Đến thức thứ năm mươi ba" Chỉ nam châm ", hai tay Trương lão cùng vẽ hình vòng tròn, trở thành thức thứ năm mươi tư Trì kiếm quy nguyên.

Trương Vô Kỵ không nhớ chiêu thức, chỉ quan sát kỹ để nhận biết cái ý" Thần tại kiếm tiên, miên miên bất tuyệt "trong kiếm chiêu mà thôi.

Trương Tam Phong diễn xong pho kiếm pháp, không thấy một ai reo hò, bởi người nào cũng thất vọng nghĩ bụng:" Thứ kiếm pháp gì chậm như con rùa, mềm như cọng bún thế kia, làm sao dùng để ra chiêu đối địch kia chứ? "Song họ lại nghĩ thầm:" Chắc là Trương chân nhân cố ý múa thật chậm để Trương Vô Kỵ có thể nhìn rõ ".

Trương Tam Phong hỏi:

– Hài nhi, con có nhìn rõ không?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Con nhìn rõ rồi.

Trương Tam Phong hỏi:

– Con có nhớ được chăng?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Con đã quên non nửa rồi.

Trương Tam Phong nói:

Tốt, kể cũng khó cho con. Con hãy tự suy ngẫm thêm đi.

Trương Vô Kỵ cúi đầu ngẫm nghĩ, lát sau Trương Tam Phong hỏi:

– Bây giờ thế nào?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Đã quên già nửa.

Chu Điên thất thanh kêu lên:

– Nguy rồi, càng lúc càng quên nhiều hơn! Trương chân nhân, món kiếm pháp này huyền diệu quá, nhìn có một lần làm sao nhớ nổi? Xin Trương chân nhân diễn lại một lần nữa cho giáo chủ chúng tôi xem lại.

Trương Tam Phong mỉm cười, nói:

– Được, để ta diễn lại một lần nữa.

Trương Tam Phong cầm kiếm xuất chiêu, diễn lần thứ hai; mọi người mới xem vài chiêu đã kinh ngạc, vì lần này không có chiêu nào giống như lần thứ nhất.

Chu Điên lại kêu lên:

– Ôi chao, ôi chao, thế này thì càng khiến cho người ta rối trí!

Trương Tam Phong vạch kiếm thành vòng tròn, hỏi:

– Hài nhi, thế nào rồi?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Còn ba chiêu chưa quên được.

Trương Tam Phong gật đầu, trở về chỗ ngồi.

Trương Vô Kỵ đi thong thả một vòng trong điện, trầm tư hồi lâu, đi thêm nửa vòng nữa thì ngẩng đầu lên, mặt rạng rỡ, nói:

– Con đã quên sạch rồi, quên toàn bộ rồi!

Trương Tam Phong nói:

– Không dở, không dở! Quên nhanh như vậy, con có thể mời Bát Tí Thần Kiếm chỉ giáo được rồi!

Đoạn trao thanh kiếm gỗ cho Trương Vô Kỵ. Trương Vô Kỵ cúi mình tiếp nhận, quay sang nói với Phương Đông Bạch:

– Xin mời Phương tiền bối!

Chu Điên vò đầu bứt tai, vô cùng lo lắng.

Phương Đông Bạch vươn mình đâm kiếm ra, nói:

– Xin mạo muội.

Một kiếm đâm ra chỉ thấy thanh quang loang loáng, phát ra tiếng vù vù, nội lực mạnh mẽ chẳng khác gì gã hói A Nhị. Mọi người rùng mình kinh hãi, nghĩ bụng đừng nói bảo kiếm Ỷ Thiên sắc như nước, dù lão ta chỉ cầm trong tay một thanh đồng nát sắt gỉ nhưng với nội lực thế kia cũng khó bề chống đỡ lắm rồi. Hai chữ" Thần kiếm "quả nhiên danh bất hư truyền.

Trương Vô Kỵ tay trái đặt chéo kiếm quyết, thanh kiếm gỗ đưa ngang qua vạch thành nửa vòng tròn, đè lên sống kiếm Ỷ Thiên, truyền kình lực ra, thanh bảo kiếm lập tức bị dìm xuống. Phương Đông Bạch thốt lên:

– Hảo kiếm pháp!

Lão ta xoay cổ tay hất kiếm, mũi kiếm liền ngóc lên đâm tới sườn bên trái đối phương. Trương Vô Kỵ hồi kiếm vòng về, nghe" cộc "một tiếng, hai kiếm đụng nhau, cả hai cùng phi thân nhảy lùi ra.

Bảo kiếm Ỷ Thiên trong tay Phương Đông Bạch bị chấn động, cứ rung bần bật mãi không dứt, phát ra tiếng u u hồi lâu.

Hai thứ binh khí, một bảo kiếm, một kiếm gỗ, chạm vào nhau mà chẳng bên nào hơn bên nào. Chiêu đó của Trương Vô Kỵ đã lấy cái cùn nhụt của mình đụng vào chỗ không sắc bén của địch, quả thực đã nắm được điểm tinh túy của Thái cực kiếm. Nên nhớ Trương Tam Phong truyền cho chàng là truyền" kiếm ý "chứ không phải dạy" kiếm chiêu ", muốn chàng quên hết sạch mọi kiếm chiêu đã nhìn thấy, như thế đến khi lâm địch sẽ tùy ý sử kiếm, thiên biến vạn hóa, vô cùng vô tận. Nếu còn một hai chiêu kiếm pháp chưa quên được, chắc chắn trong lòng còn vướng mắc, kiếm pháp sẽ không thể tinh thuần. Ý tứ đó các cao thủ như Dương Tiêu, Ân Thiên Chính lờ mờ hiểu được, chứ Chu Điên còn thấp hơn một bậc nên mới lo sốt vó như vậy.

Lúc này tiếng" vù vù "trong điện càng lúc càng to, kiếm chiêu của Phương Đông Bạch cực kỳ lợi hại, lại thêm nội lực hùng hậu cộng với bảo kiếm sắc bén, chiêu thuật vô cùng tinh diệu, thanh quang lấp loáng, kiếm khí bao trùm, mọi người trong điện có cảm giác một khối tuyết đang chuyển động phía trước mình, tỏa ra một luồng khí lạnh thấu xương. Thanh kiếm gỗ của Trương Vô Kỵ vạch một vòng tròn trong luồng hàn quang kia, mỗi chiêu đều thành hình vòng cung đâm ra, lại theo hình vòng cung thu vào, trong lòng chàng không mảy may vương vấn, chỉ lấy ý sử kiếm, thanh kiếm gỗ phát mỗi chiêu lại như phóng ra một sợi tơ mỏng mảnh quấn lấy kiếm Ỷ Thiên; các sợi tơ ấy mỗi lúc một dày, tưởng chừng đã tích thành một khối bông bao chặt lấy thanh bảo kiếm. Khi hai bên đấu tới hơn hai trăm chiêu thì kiếm chiêu của Phương Đông Bạch dần dần trì trệ, thanh bảo kiếm cứ nặng dần lên, năm cân, sáu cân, bảy cân.. mười cân, hai mươi cân, có lúc vận lực đâm ra đuối sức, lại bị thanh kiếm gỗ lôi theo vài vòng.

Phương Đông Bạch càng đấu càng hoảng, đến hơn ba trăm chiêu mà hai lưỡi kiếm vẫn chưa đụng vào nhau, là chuyện bình sinh lão ta chưa từng gặp bao giờ. Đối phương tựa hồ tung ra một cái lưới lớn, từng bước thắt dần vào giữa. Phương Đông Bạch thay đổi liên tiếp sáu bảy pho kiếm thuật khác nhau, biến hóa ngang dọc, kỳ ảo vô cùng, người xung quanh nhìn đã phải hoa mắt. Trương Vô Kỵ trước sau vẫn cứ vạch kiếm thành vòng tròn, mọi người trừ Trương Tam Phong ra không ai biết các chiêu của chàng rốt cuộc là công hay thủ. Pho Thái cực kiếm pháp này chỉ là các vòng tròn đủ loại to nhỏ, cái xuôi cái ngược, cái thẳng cái chéo, nếu bảo là chiêu số thì có thể nói chỉ gồm một chiêu thôi, nhưng chiêu đó biến hóa khôn cùng.

Bỗng nghe Phương Đông Bạch hú lên một tiếng dài, râu tóc dựng ngược, lấy hết sức bình sinh dồn toàn lực đâm nhanh kiếm tới trung cung. Trương Vô Kỵ thấy thế đâm ác liệt, thu kiếm về đỡ gạt. Phương Đông Bạch hơi xoay cổ tay, kiếm Ỷ Thiên chệch sang bên một chút, nghe" cách "một tiếng nhỏ, thanh kiếm gỗ bị tiện đứt một đoạn chừng sáu tấc. Bảo kiếm Ỷ Thiên không còn gì ngăn chặn, xọc thẳng vào ngực Trương Vô Kỵ.

Trương Vô Kỵ kinh hãi, tay trái bật ra, dùng hai ngón trỏ và giữa kẹp lấy thân thanh bảo kiếm, còn tay phải dùng nửa thanh kiếm gỗ chém xuống cánh tay phải của Phương Đông Bạch. Đoạn kiếm gãy tuy chỉ làm bằng gỗ, nhưng có Cửu dương thần công vận vào nên chẳng khác gì đao thép. Phương Đông Bạch cố giật thanh kiếm Ỷ Thiên về, nhưng nó đã bị hai ngón tay của đối phương kẹp chặt như cái kìm thép, không nhúc nhích gì được. Trong tình thế đó, chỉ còn cách buông kiếm, nhảy lùi lại, chứ không còn cách nào khác.

Chỉ nghe Trương Vô Kỵ quát:

– Rút tay mau!

Phương Đông Bạch nghiến răng, không chịu buông, trong sát-na ấy, nghe" bịch "một tiếng, cánh tay lão ta đã bị thanh kiếm gỗ chém đứt chẳng khác gì một thanh kiếm sắc bén vậy. Phương Đông Bạch không chịu buông ra là có ý hi sinh cánh tay để bảo vệ binh khí; tay trái đã giơ ra chộp thanh bảo kiếm, không đợi cánh tay bị chém đứt rơi xuống; cánh tay phải đứt rời rồi mà năm ngón vẫn nắm chặt chuôi kiếm Ỷ Thiên. Trương Vô Kỵ thấy lão ta quả cảm như thế nên cảm thấy ái ngại, có phần ân hận, không muốn đoạt lấy thanh bảo kiếm nữa.

Phương Đông Bạch tới trước mặt Triệu Mẫn, cúi mình nói:

– Chủ nhân, tiểu nhân bất tài, cam chịu trách phạt.

Triệu Mẫn không thèm nhìn lão, nói:

– Hôm nay ta nể mặt Trương giáo chủ Minh giáo, bỏ qua cho phái Võ Đang.

Nàng phẩy tay một cái, nói:

– Thôi ta đi!

Các thuộc hạ của nàng dìu Phương Đông Bạch, khiêng A Nhị, A Tam ra khỏi điện.

Trương Vô Kỵ nói:

– Hãy khoan! Không để lại Hắc ngọc đoạn tục cao thì đừng mong rời khỏi núi Võ Đang.

Chàng vọt tới, giơ tay chộp lấy vai Triệu Mẫn.

Bàn tay Trương Vô Kỵ còn cách vai Triệu Mẫn chừng một thước, bỗng cảm thấy có hai luồng chưởng phong lặng lẽ từ hai bên đánh tới, trước đó không thấy bất cứ dấu hiệu gì. Trương Vô Kỵ giật mình, hai tay đẩy ra, tay phải đỡ chưởng đánh tới từ bên phải, tay trái đỡ chưởng đánh tới từ bên trái. Bốn chưởng đụng nhau, chỉ cảm thấy kình lực đánh tới mạnh mẽ dị thường, chưởng lực hàm chứa một luồng hàn khí cực kỳ âm độc. Luồng hàn khí này chàng đã quá quen thuộc, chính là chưởng lực Huyền Minh thần chưởng từng khiến chàng có một tuổi thơ chết đi sống lại.

Trương Vô Kỵ kinh ngạc, Cửu dương thần công trong người lập tức nảy sinh; cùng lúc đó hai bên mạng sườn bị hai kẻ địch đánh trúng mỗi bên một chưởng. Chàng hự lên một tiếng, ngã ngửa ra phía sau, thấy hai kẻ đánh lén mình là hai lão già cao gầy. Hai lão già ấy đánh ra hai chưởng bị Trương Vô Kỵ đỡ được, còn hai đòn sau thì đều trúng người chàng.

Dương Tiêu và Vi Nhất Tiếu cùng tức giận quát lên, xông tới. Hai lão già kia lại tung chưởng đánh ra," bình bình"hai tiếng, Dương Tiêu và Vi Nhất Tiếu loạng choạng lùi lại mấy bước; cảm thấy khí huyết trong ngực nhộn nhạo, khí lạnh thấu xương. Hai lão già kia cũng lảo đảo. Lão già bên phải cười khẩy, nói:

– Minh giáo lừng danh đến thế, hóa ra cũng chỉ có vậy!

Rồi quay mình, hộ tống Triệu Mẫn đi luôn.

Comments

0 comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 25: Đốt lửa lên thề với đất trời

Mọi người lo lắng cho thương thế của Trương Vô Kỵ nên không đuổi theo, vội vàng xúm lại quanh chàng. Chàng mỉm cười, tay phải xua xua nhẹ, ý nói không sao cả. Cửu dương thần công trong cơ thể phát động, đẩy khí âm hàn của Huyền Minh thần chưởng ra ngoài; đỉnh đầu chàng giống như một cái nồi hấp, từng làn hơi trắng cứ không ngớt bốc lên. Chàng cởi áo ngoài, hai mạng sườn in đậm vết hai bàn tay đen sậm. Cửu dương thần công vận hành một hồi, hai vết tay đó từ màu đen chuyển sang màu tím, từ màu tím chuyển sang màu tro, cuối cùng biến mất hoàn toàn. Trước sau chưa đến nửa canh giờ; ngày xưa mấy năm chưa khu trừ được khí âm độc của Huyền Minh thần chưởng; ngày nay trong giây lát đã trừ sạch. Chàng đứng dậy, nói:

– Lần này tuy hung hiểm thật, nhưng cuối cùng chúng ta đã nhận biết mặt mũi kẻ thù.

Khi "Huyền Minh nhị lão" đối chưởng với Dương Tiêu và Vi Nhất Tiếu, thì trước đó đã bị Cửu dương thần công của Trương Vô Kỵ xung kích, khí âm độc trong chưởng lực chưa đến hai thành so với khi bình thường, vậy mà Dương, Vi hai người phải ngồi vận khí rất lâu mới đẩy hết khí độc. Trương Vô Kỵ quan tâm đến thương thế của thái sư phụ, nhưng Trương Tam Phong nói:

– Nội công của hỏa công đầu đà không đáng ngại, ngoại công tuy cương mãnh, song còn thua xa Huyền Minh thần chưởng; thương thế của ta không đáng ngại.

Lúc đó chưởng kỳ sứ Nhuệ Kim kỳ là Ngô Kình Thảo bước vào bẩm báo đã đuổi hết bọn địch xâm phạm xuống chân núi. Du Đại Nham sai tri khách đạo sĩ bày tiệc chay thết đãi quần hào Minh giáo. Trong bữa tiệc, Trương Vô Kỵ kể lại duyên do từ ngày cáo biệt tới giờ cho Trương Tam Phong và Du Đại Nham nghe. Ai nấy kinh ngạc thở dài. Trương Tam Phong nói:

– Năm xưa cũng tại điện Tam Thanh này, ta từng đối chưởng với một ông già, song hồi ấy lão ta mặc giả làm quan quân Mông Cổ, không biết là ai trong hai lão già vừa rồi. Nói ra thật hổ thẹn, đến tận hôm nay chúng ta vẫn chưa biết lai lịch kẻ thù như thế nào.

Dương Tiêu nói:

– Không biết thiếu nữ họ Triệu kia lai lịch ra sao, mà ngay cả hai cao thủ như Huyền Minh nhị lão cũng cam tâm để cho cô ả sai khiến.

Mọi người sôi nổi suy đoán, nhưng chưa biết đúng sai thế nào.

Trương Vô Kỵ nói:

– Trước mắt có hai việc lớn. Một là đi lấy Hắc ngọc đoạn tục cao để trị thương cho Du tam sư bá và Ân lục sư thúc. Hai là nghe ngóng tin tức xem nhóm Tống đại sư bá đang ở đâu. Cả hai chuyện lớn đó đều dính dáng tới cô nương họ Triệu.

Du Đại Nham cười gượng nói:

– Ta tàn phế đã hai mươi năm, dù có tiên đan thần dược chắc cũng chả chữa khỏi; hãy lo việc cứu đại ca, lục đệ cần hơn.

Trương Vô Kỵ nói:

– Việc không nên chậm trễ. Ba vị Dương tả sứ, Vi Bức Vương và Thuyết Bất Đắc cùng bổn nhân xuống núi truy tìm tung tích bọn địch. Các vị chưởng kỳ phó sứ Ngũ Hành kỳ hãy chia nhau đến các phái Nga Mi, Côn Luân, Không Động, Thiếu Lâm, nam Phúc Kiến, năm nơi ấy liên lạc, nghe ngóng tin tức. Ông ngoại và cậu đi Giang Nam chỉnh đốn giáo chúng Thiên Ưng kỳ. Thiết Quan đạo trưởng, Chu tiên sinh, Bành đại sư cùng các chưởng kỳ sứ Ngũ Hành kỳ tạm ở lại núi Võ Đang, nghe lệnh thái sư phụ ta Trương chân nhân, sẵn sàng ứng phó.

Chàng thuận miệng phát lệnh ngay tại bàn tiệc. Ân Thiên Chính, Dương Tiêu, Vi Nhất Tiếu mọi người nghe nhắc đến mình đều đứng dậy, cúi mình nhận lệnh.

Trương Tam Phong thoạt đầu còn lo chàng quá trẻ, làm sao đủ khả năng thống lĩnh quần hào, lúc này thấy chàng ban phát hiệu lệnh, các đại hào kiệt võ lâm như Ân Thiên Chính, Dương Tiêu, Vi Nhất Tiếu đều nhất nhất tuân theo, thì cả mừng, nghĩ thầm: "Y học được Thái cực quyền và Thái cực kiếm của ta, chẳng qua là nhờ nội công có căn bản, ngộ tính cao, tuy cũng hiếm có, nhưng chưa thật quý. Còn như y có thể cai quản các đại ma đầu của Minh giáo, Thiên Ưng giáo, đưa họ trở lại con đường chính nghĩa, thế mới thực chuyện đại sự. Ôi, Thúy Sơn có người nối dõi, Thúy Sơn có người nối dõi rồi!" Nghĩ đến đó, Trương lão vuốt râu mỉm cười.

*

* *

Trương Vô Kỵ, Dương Tiêu, Vi Nhất Tiếu và Thuyết Bất Đắc bốn người ăn no rồi, liền từ biệt Trương Tam Phong, xuống núi thám thính hành tung của Triệu Mẫn. Nhóm Ân Thiên Chính tiễn một quãng xa. Dương Bất Hối lưu luyến không muốn rời xa phụ thân, lại tiễn thêm một dặm nữa. Dương Tiêu nói:

– Bất Hối, con về đi, hãy cố săn sóc cho Ân lục thúc.

Dương Bất Hối đáp:

– Vâng.

Nàng nhìn Trương Vô Kỵ, đột nhiên má đỏ bừng, nói nhỏ:

– Vô Kỵ ca ca, muội muốn nói với huynh vài lời.

Dương Tiêu, Vi Nhất Tiếu và Thuyết Bất Đắc ba người cười thầm: "Hai cô cậu có tình thanh mai trúc mã, thân nhau từ nhỏ, thể nào chẳng có chuyện muốn thổ lộ với nhau", họ bèn rảo bước đi cách xa hẳn ra.

Dương Bất Hối nói:

– Vô Kỵ ca ca, lại đây nào.

Bất Hối dắt tay chàng ngồi xuống một tảng đá lớn bên sườn núi.

Trương Vô Kỵ trong lòng nghi hoặc, tự hỏi: "Ta và Bất Hối muội quen nhau từ nhỏ, giao tình thân mật. Thế mà lần này gặp lại sau bao lâu xa cách, nàng tỏ ra hết sức lạnh nhạt với ta, bây giờ lại bảo muốn nói chuyện là sao?" Chỉ thấy Dương Bất Hối chưa mở miệng đã đỏ mặt, cúi đầu lặng thinh hồi lâu, rồi mới nói:

– Vô Kỵ ca ca, khi mẫu thân muội qua đời, có ủy thác cho ca ca trông nom muội phải không?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Đúng thế.

Dương Bất Hối nói:

– Ca ca không quản vạn dặm xa xôi đưa muội từ bên bờ Hoài Hà đến tận Tây Vực giao cho phụ thân muội, dọc đường bao lần vào sinh ra tử, trăm cay ngàn đắng. Đại ân không thể đền đáp bằng lời, ân tình ấy muội ghi khắc trong đáy lòng, trước nay chưa nói với ca ca một lời.

Trương Vô Kỵ nói:

– Chuyện đó có gì đáng nói kia chứ? Nếu huynh không đưa muội đi Tây Vực, chắc huynh không có cơ duyên gặp gỡ kỳ ngộ, chỉ e đã chết vì chất độc phát tác từ lâu rồi.

Dương Bất Hối nói:

– Không, không đâu! Ca ca nhân hậu, hiệp nghĩa thì mọi việc gặp hung sẽ đều hóa cát. Vô Kỵ ca ca, mẹ muội mất sớm, cha muội tuy thân, nhưng có một vài chuyện muội không dám thưa với cha. Ca ca là giáo chủ của bản giáo thật, nhưng trong lòng muội, muội vẫn coi ca ca như anh ruột của mình. Bữa nọ trên đỉnh Quang Minh, thấy ca ca lành lặn trở về, muội mừng quá không nói nên lời, có điều là chưa tiện nói với ca ca, ca ca không giận muội chứ?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Không trách, dĩ nhiên là không giận.

Dương Bất Hối nói:

– Muội đối xử với Tiểu Chiêu quá hung ác, tàn nhẫn, chắc ca ca thấy chướng mắt lắm. Chỉ vì mẹ muội bị chết thảm, nên đối với kẻ ác, muội rất căm giận. Về sau thấy Tiểu Chiêu đối tốt với ca ca, muội không ghét nó nữa.

Trương Vô Kỵ mỉm cười, nói:

– Tiểu a hoàn Tiểu Chiêu quả có điều kỳ dị, nhưng huynh thấy cô nàng không phải kẻ xấu.

Lúc này trời đã ngả chiều, gió thu thổi vào mặt se se lạnh. Dương Bất Hối mắt long lanh, giọng dịu dàng, hỏi:

– Vô Kỵ ca ca, ca ca bảo cha mẹ muội đối xử không phải với Ân.. Ân.. lục thúc, có đúng không?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Chuyện dĩ vãng, mình cũng không nên nhắc đến nữa.

Dương Bất Hối nói:

– Không, đối với người ngoài thì đó là chuyện dĩ vãng, nhưng muội cũng đã mười bảy tuổi rồi. Thế nhưng Ân lục thúc thủy chung vẫn không quên mẹ của muội. Hiện tại Ân lục thúc bị trọng thương, mê nhiều hơn tỉnh, vẫn thường cầm tay muội không ngớt gọi "Hiểu Phù! Hiểu Phù! Nàng đừng bỏ ta, chân tay ta gãy cả, ta thành phế nhân rồi, ta van nàng đừng rời bỏ ta, đừng làm ngơ với ta!'"

Dương Bất Hối nói tới đây thì nước mắt rưng rưng, vô cùng xúc động.

Trương Vô Kỵ nói:

– Lời đó chẳng qua Ân lục thúc nói ra trong lúc thần trí nửa mê nửa tỉnh thôi.

Dương Bất Hối nói:

– Chẳng phải đâu! Ca ca không rõ, chứ muội biết rõ lắm. Khi tỉnh lại, Ân lục thúc nhìn muội, ánh mắt và vẻ mặt vẫn thế, có ý cầu khẩn muội đừng bỏ rơi, chỉ là không dám nói thành lời mà thôi.

Trương Vô Kỵ thở dài, biết vị sư thúc này võ công tuy cao song tính tình quá yếu đuối. Hồi nhỏ chàng thường thấy chỉ vì một chuyện nhỏ, Ân lục thúc cũng khóc một hồi, cái chết của Kỷ Hiểu Phù đối với ông quả là một cú đòn quá mạnh; bây giờ tứ chi lại bị gãy, chẳng trách ông kinh hoảng bất an. Chàng bèn nói:

– Huynh sẽ bằng mọi cách đoạt lấy Hắc ngọc đoạn tục cao để chữa trị cho tam sư bá và lục sư thúc.

Dương Bất Hối nói:

– Mỗi lần Ân lục thúc nhìn muội như thế, muội lại thấy cha mẹ muội đã có lỗi với Ân lục thúc, lại càng thấy ông ấy đáng thương hơn. Vô Kỵ ca ca, muội đã chính miệng nói bằng lòng với Ân.. Ân lục thúc, chân tay ông ấy khỏi cũng thế, cả đời tàn phế cũng thế, muội sẽ ở bên cạnh Ân lục thúc suốt đời, mãi mãi không xa rời.

Nói tới đây, nước mắt nàng chảy ròng ròng, song thần thái lại nửa phần thẹn thùng, nửa phần vui thích.

Trương Vô Kỵ kinh ngạc, không ngờ cuối cùng nàng lại phó thác cả cuộc đời cho Ân Lê Đình, chàng nhất thời chưa biết nói sao, chỉ ấp úng:

– Muội.. muội..

Dương Bất Hối nói:

– Muội đã nói chắc như đinh đóng cột với Ân lục thúc rằng sẽ theo ông. Dù cả đời Ân lục thúc không cử động được, muội cũng sẽ suốt đời hầu hạ ở bên giường, lo liệu việc ăn uống, trò chuyện giải sầu cho ông.

Trương Vô Kỵ nói:

– Thế nhưng muội..

Dương Bất Hối cướp lời:

– Chẳng phải vì xúc động nhất thời mà muội hứa thế với Ân lục thúc. Trên đường đi muội đã suy nghĩ rất nhiều, rất kỹ rồi. Chẳng riêng Ân lục thúc không xa rời muội được, mà muội cũng không thể xa rời ông ấy. Nếu Ân lục thúc bị thương nặng quá, không chữa nổi, thì muội cũng chẳng thiết sống nữa. Mỗi khi ở bên nhau, Ân lục thúc thẫn thờ nhìn muội khiến muội cảm thấy sung sướng vô cùng. Vô Kỵ ca ca, hồi bé chuyện gì muội cũng kể với ca ca; muội muốn ăn bánh nướng, muội liền nói với ca ca; trên đường đi thấy người ta bán kẹo, muội thèm kẹo cũng nói với ca ca. Hồi đó chúng mình làm gì có tiền mua, nửa đêm ca ca lấy trộm kẹo về cho muội, ca ca còn nhớ chứ?

Trương Vô Kỵ nhớ lại hồi dẫn cô bé đi tìm cha, hai đứa trẻ bơ vơ sống chết có nhau, bất giác bồi hồi, thấp giọng nói:

– Huynh vẫn nhớ.

Dương Bất Hối nói:

– Ca ca đưa kẹo cho muội, muội không nỡ ăn, cứ cầm trong tay đi đường, nắng chiếu làm kẹo chảy mất, muội tiếc rẻ cứ khóc mãi. Ca ca bảo sẽ kiếm cho muội cái kẹo khác, nhưng từ đó đâu còn gặp loại kẹo kia nữa. Về sau tuy ca ca có mua cho muội loại kẹo vừa to vừa ngon hơn, song muội không thích, lại khóc dai, ca ca dỗ không được, bực quá mắng muội là hư, không chịu nghe lời, có đúng không?

Trương Vô Kỵ mỉm cười:

– Chuyện mắng muội thì huynh không nhớ.

Dương Bất Hối nói:

– Tính muội rất cố chấp. Ân lục thúc là chiếc kẹo đầu tiên muội thích, muội sẽ không còn thích chiếc kẹo thứ hai nào khác. Vô Kỵ ca ca, có khi muội nghĩ hết sức trẻ con, rằng ca ca tốt với muội như thế, mấy phen cứu sống muội, muội.. muội phải suốt đời nâng khăn sửa túi cho ca ca mới phải. Nhưng muội coi ca ca như anh ruột, trong lòng muội yêu kính ca ca, còn đối với Ân lục thúc thì muội thương và mến không để đâu cho hết. Ân lục thúc gấp mấy lần tuổi muội, lại là trưởng bối của muội, người đời chắc sẽ cười chê muội, cha muội lại là kẻ thù của ông ấy, muội.. muội biết là không ổn.. nhưng dù thế nào chăng nữa, muội cũng nói hết với ca ca rồi đấy.

Nói tới đó, Dương Bất Hối không dám nhìn mặt Trương Vô Kỵ nữa, đứng dậy chạy lên núi.

Trương Vô Kỵ nhìn theo, khi dáng Bất Hối khuất sau sườn núi, trong lòng tình cảm lẫn lộn, đứng ngẩn ngơ hồi lâu, mới đuổi theo ba người đi trước. Thuyết Bất Đắc, Vi Nhất Tiếu thấy mắt chàng hình như có ngấn lệ thì liếc Dương Tiêu, mỉm cười, ngụ ý: "Chúc mừng huynh nhé, huynh sắp thành nhạc phụ đại nhân của Trương giáo chủ rồi đó".

Bốn người xuống đến chân núi Võ Đang. Dương Tiêu nói:

– Triệu cô nương tiền hô hậu ủng, chắc chắn sẽ không đi một mình, muốn tìm tung tích nàng ta hoàn toàn không khó. Chúng ta chia ra bốn hướng đông tây nam bắc mà tìm, hẹn trưa mai gặp nhau tại Cốc Thành. Tôn ý của giáo chủ ra sao?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Hay lắm, cứ làm như thế! Bổn nhân sẽ đi về hướng tây.

Cốc Thành nằm ở phía đông núi Võ Đang, chàng đi về hướng tây tra xét, có nghĩa là phải đi xa hơn ba người kia. Chàng dặn họ:

– Huyền Minh nhị lão võ công cực kỳ lợi hại, ba vị nếu gặp họ, tránh được thì nên tránh, chớ một mình động thủ với họ.

Ba người vâng lệnh, lập tức hành lễ từ biệt, chia ra ba hướng đông, nam, bắc mà đi.

*

* *

Về hướng tây là đường núi, Vô Kỵ thi triển khinh công chạy thật nhanh, chỉ hơn một canh giờ đã tới trấn Thập Yển. Chàng ghé vào quán ăn một tô mì, hỏi tiểu nhị có thấy một chiếc kiệu bọc gấm vàng đi qua hay không, điếm tiểu nhị nói:

– Có đấy, còn thêm ba người bị bệnh nặng, nằm trên võng khiêng theo, họ mới đi về hướng trấn Hoàng Long, cách đây chưa đến một canh giờ.

Trương Vô Kỵ cả mừng, nghĩ bụng bọn họ không thể đi nhanh, đợi trời tối đuổi theo sẽ không lộ tung tích mà vẫn chưa muộn. Chàng bèn tìm một nơi kín đáo nằm ngủ một giấc, đến canh một mới đi về hướng trấn Hoàng Long.

Tới trấn Hoàng Long, vẫn chưa sang canh hai, chàng ẩn mình bên một góc tường, thấy đường phố hoàn toàn yên tĩnh, không một bóng người, nhưng trong một gian phòng ở một khách điếm lớn có ánh đèn sáng trưng. Chàng tung mình nhảy lên mái nhà, nhảy vài cái đã tới mái nhà bên cạnh khách điếm, nhìn quanh thấy ở bãi trống bên bờ sông có một cái lều vải lớn, đằng trước đằng sau lều có nhiều bóng người qua lại, canh gác nghiêm mật, chàng nghĩ thầm: "Triệu cô nương ở trong cái lều kia chăng? Nàng ta hình dạng lời lẽ không khác gì người Hán, nhưng hành sự ngang tàng, có vài phần phong thái người Mông Cổ". Bấy giờ người Mông Cổ cai trị Trung Hoa đã lâu, không ít người Hán khá giả học cách làm sang theo kiểu Mông Cổ, cũng ở trong lều vải, như thế không có gì lạ.

Trương Vô Kỵ đang tính cách làm sao tới gần cái lều kia, bỗng nghe có mấy tiếng rên rỉ vọng ra từ cửa sổ khách điếm. Chàng nghĩ ra một cách, bèn rón rén men tới bên cửa sổ, ngó vào.

Trong phòng có ba người nằm trên ba chiếc giường, trong đó hai người nhìn không rõ mặt. Người thứ ba nằm gần cửa sổ, tay chân đều quấn băng trắng, chính là A Tam; hắn đang rên rỉ, rõ ràng vết thương rất đau đớn. Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Chân tay hắn bị ta đánh gãy, thể nào hắn cũng được chữa trị bằng linh dược bản môn Hắc ngọc đoạn tục cao. Giờ ta không cướp lấy, còn đợi khi nào nữa?" Chàng bèn đẩy tung cửa sổ, nhảy vào phòng, có một người đứng trong phòng kinh hãi kêu lên, đấm tới. Trương Vô Kỵ tay trái chộp quyền, tay phải điểm huyệt y, quay lại nhìn hai người nằm kia, chính là A Nhị và Bát Tí Thần Kiếm Phương Đông Bạch. Kẻ vừa bị chàng điểm huyệt mặc áo vải xanh, tay cầm hai cây kim, có lẽ định châm cứu cho ba người kia đỡ đau. Trên bàn có một cái bình màu đen, cạnh bình có mấy nắm ngải cứu.

Trương Vô Kỵ cầm cái bình lên, mở nút ra ngửi, thấy một mùi cay nồng xộc lên mũi. A Tam kêu lên:

– Người đâu, có kẻ đến cướp thuốc..

Trương Vô Kỵ nhanh như gió điểm á huyệt luôn cả ba người, gỡ băng quấn tay chân của A Tam ra xem, quả nhiên thấy tay chân hắn bôi một lớp cao mỏng màu đen. Chàng sợ Triệu Mẫn ngụy kế đa đoan, cố ý bỏ thuốc giả vào trong cái bình kia để đánh lừa chàng, nên chàng vét hết lớp cao trên người A Tam lẫn gã hói A Nhị, bọc vào băng cuốn, dù thuốc trong bình có giả, song thuốc bôi ở vết thương hẳn là phải thật. Kẻ canh gác bên ngoài nghe tiếng kêu, đạp cửa xông vào; Trương Vô Kỵ không thèm nhìn đến, giơ chân đá mỗi người một cái văng hết ra ngoài; trong giây lát tiếng kêu la náo loạn cả lên.

Trương Vô Kỵ liên tiếp đá sáu tên mới vét được già nửa số thuốc cao trên người hai gã A Tam và A Nhị, nghĩ thầm nếu mình dây dưa thêm, để Huyền Minh nhị lão kịp tới thì hỏng hết, bèn nhét bình thuốc và cuộn băng vào bọc, nhấc gã thầy thuốc lên ném qua cửa sổ.

Không ngoài dự liệu của chàng, nghe "bốp" một tiếng, gã thầy thuốc đã bị trúng một chưởng ngã lăn quay, bên ngoài cửa sổ có cao thủ mai phục. Trương Vô Kỵ lợi dụng sát-na đó, phi thân ra, trong bóng đêm thấy bạc quang loang loáng, hai thứ binh khí đâm tới. Chàng bèn tay trái kéo, tay phải dẫn, thi triển tâm pháp Càn khôn đại na di, khiến kiếm của kẻ bên trái đâm trúng gã bên phải, còn mũi giáo của gã bên phải đâm vào kẻ bên trái; bọn kia đang kêu la ầm ỹ thì chàng đã chạy xa rồi.

Trên đường về chàng rất vui; tuy chưa tìm ra Triệu Mẫn, nhưng đã lấy được Hắc ngọc đoạn tục cao, vậy còn hay hơn. Chàng liền về núi Võ Đang, sai Hồng Thủy kỳ phái người tới Cốc Thành báo cho nhóm Dương Tiêu quay trở lại. Trương Tam Phong và những người khác nghe tin lấy được Hắc ngọc đoạn tục cao đều cả mừng.

Trương Vô Kỵ xem kỹ thứ thuốc cao đắp trên người A Tam lấy về, so sánh với thuốc đựng trong chiếc bình, quả đúng là cùng một loại. Chiếc bình này là một khối ngọc lớn tạc nên, đen trong, sờ vào thấy ấm ấm, trông rất cổ kính. Chỉ riêng chiếc bình đã là một báu vật quý hiếm rồi. Chàng không còn nghi ngờ gì nữa, lập tức sai khiêng Ân Lê Đình và Du Đại Nham vào một phòng riêng, kê hai chiếc giường song song.

Dương Bất Hối đi theo vào, nàng không dám nhìn thẳng vào mặt Trương Vô Kỵ, chỉ thấy vẻ mặt nàng rạng rỡ, tâm tình có vẻ vô cùng cảm kích; chứng tỏ việc Trương Vô Kỵ ngày trước dẫn nàng đi Tây Vực tìm cha, uống thay nàng ly rượu độc ở nhà Hà Thái Xung, bấy nhiêu ân tình cũng chưa bằng việc Vô Kỵ chữa khỏi thương tích cho Ân Lê Đình.

Trương Vô Kỵ nói:

– Tam sư bá, các vết thương cũ của sư bá nay đã liền lại, bây giờ muốn chữa bệnh thì điệt nhi phải đánh gãy các xương chân tay rồi nối lại đúng cách, xin sư bá cố chịu đựng cái đau nhất thời này.

Du Đại Nham thực không tin là mình tàn phế đã hai mươi năm giờ lại có thể chữa lành; nhưng cùng lắm dẫu không khỏi thì cũng đến như thế này là cùng; hai chục năm qua ông đã không coi điều gì là đáng sợ nữa, chỉ nghĩ: "Vô Kỵ tận tâm kiệt lực, muốn bù đắp lỗi lầm của cha mẹ, nếu không làm thế thì suốt đời nó không yên tâm. Cái đau nhất thời của ta đâu có đáng kể?" Ông bèn mỉm cười, nói:

– Điệt nhi cứ mạnh tay mà làm.

Trương Vô Kỵ bảo Dương Bất Hối ra ngoài, chàng cởi quần áo Du Đại Nham, dùng tay sờ nắn các chỗ xương gãy thật cẩn thận, sau đó điểm huyệt cho ông mê đi, vận kình ra mười ngón tay, nghe "rắc rắc" liên tiếp nhiều tiếng, chàng bẻ gãy lại nhiều chỗ gãy cũ nay đã liền. Du Đại Nham tuy bị điểm huyệt cho mê đi, song đau quá đến nỗi phải tỉnh lại. Bằng thủ pháp nhanh như gió, Trương Vô Kỵ bẻ gãy xương lớn xương nhỏ, sau đó nối lại chuẩn xác mọi vị trí, bôi Hắc ngọc đoạn tục cao lên trên rồi băng bó lại, cặp nẹp gỗ bên ngoài, cuối cùng là châm cứu cho bớt đau.

Chữa cho Ân Lê Đình dễ dàng hơn nhiều, các chỗ xương gãy khi còn ở Tây Vực chàng đã nắn lại đâu vào đấy, bây giờ chỉ cần bôi Hắc ngọc đoạn tục cao là đủ. Xong xuôi, chàng lệnh cho chánh phó kỳ sứ Ngũ Hành kỳ luân phiên canh gác, đề phòng địch nhân quấy nhiễu.

Chiều hôm đó, Trương Vô Kỵ ăn xong, đang nằm chợp mắt trong vân phòng, bù cho đêm qua vất vả, đang mơ màng thì nghe có tiếng bước nhẹ ngoài cửa, liền tỉnh ngay dậy. Tiểu Chiêu đứng ở ngoài cửa, hỏi nhỏ:

– Có chuyện gì vậy? Giáo chủ đang nghỉ.

Chưởng kỳ sứ Hậu Thổ kỳ là Nhan Viên đáp khẽ:

– Ân lục hiệp đau quá, ngất đi mấy lần, không biết giáo chủ..

Trương Vô Kỵ không đợi y nói hết câu, liền bật dậy, chạy ngay tới phòng bệnh, thấy Ân Lê Đình hai mắt trợn ngược, đã ngất đi. Dương Bất Hối lo cuống quýt, không biết phải làm thế nào, mặt đẫm lệ. Du Đại Nham nằm bên cạnh thì nghiến răng ken két, rõ ràng đang cố nhịn đau, do tính kiên cường nên ông không rên rỉ thôi.

Trương Vô Kỵ thấy tình hình đó, vội nắn bóp các huyệt Thừa Khấp, Thái Dương, Đản Trung của Ân Lê Đình để cứu ông tỉnh lại, rồi quay sang hỏi Du Đại Nham:

– Tam sư bá, các chỗ gãy xương đau lắm sao?

Du Đại Nham đáp:

– Chỗ gãy xương đau thì đã đành, đằng này lục phủ ngũ tạng cứ như bị hàng ngàn vạn con giòi đang rỉa rói, không thể chịu nổi.

Trương Vô Kỵ cả kinh, nghe Du Đại Nham nói, hiển nhiên bị trúng độc nặng, bèn hỏi Ân Lê Đình:

– Còn lục sư thúc chủ yếu thế nào?

Ân Lê Đình nửa tỉnh nửa mê, đáp:

– Ôi, đủ các màu, đỏ có, tím có, xanh có, lục có, vàng có, trắng có, lam có, màu thật đẹp tươi; bao nhiêu bong bóng bay lòng vòng qua lại, thật là đẹp mắt, xem kìa, xem kìa..

Trương Vô Kỵ kêu to "Ối chà!" tưởng ngất ngay tại chỗ. Chàng nghĩ ngay đến trong cuốn Độc kinh của Vương Nạn Cô có chép: "Thất trùng thất hoa cao gồm bảy loại trùng độc, bảy loại hoa độc, nghiền lẫn với nhau, đem nấu mà thành. Người bị trúng độc ban đầu thấy nội tạng bị ngứa ngáy như có bảy loại trùng rỉa rói, sau đó trước mắt thấy hiện ra bảy màu huyền ảo như bảy loại hoa bay lượn chập chờn. Bảy loại trùng, bảy loại hoa dùng để nấu Thất trùng thất hoa cao thì mỗi vùng mỗi người phối chế một kiểu, song linh nghiệm thần hiệu nhất tổng cộng có bốn mươi chín cách, biến hóa thành sáu mươi ba bài thuốc. Chỉ có người chế thuốc biết cách giải thôi".

Trương Vô Kỵ vã mồ hôi trán, biết rằng vậy là mình lại mắc lừa Triệu Mẫn, nàng đã bỏ "Thất trùng thất hoa cao" vào trong chiếc bình ngọc, lại bôi thứ cao cực độc đó lên người hai gã A Tam, A Nhị, sẵn sàng thí bỏ hai cao thủ đó, cốt sao dụ chàng vào tròng; tâm địa độc ác đến thế, thật ngoài sức tưởng tượng.

Chàng hết sức ân hận, lập tức hành động thật nhanh, tháo mọi nẹp gỗ, dùng rượu rửa sạch chất cao độc đắp trên hai người. Dương Bất Hối thấy Vô Kỵ vẻ mặt nghiêm trọng, biết rằng có chuyện chẳng lành, cũng không hiềm kỵ gì nữa, giúp chàng rửa sạch chân tay cho Ân Lê Đình. Nhưng màu cao đen thấm vào trong da thịt, rửa không sạch, chẳng khác gì thợ sơn bị sơn dính vào tay, không dễ gì rửa một lần sạch luôn.

Trương Vô Kỵ không dám dùng thuốc một cách khinh suất, chỉ dám cho hai người uống loại trấn thống an thần. Chàng bước ra phòng ngoài, vừa lo sợ, vừa xấu hổ, mệt mỏi cả về tâm lẫn xác, hai đầu gối tự nhiên bủn rủn, khuỵu xuống đất mà khóc òa lên.

Dương Bất Hối kinh hãi, gọi:

– Vô Kỵ ca ca, Vô Kỵ ca ca!

Trương Vô Kỵ nức nở:

– Chính tay ta giết hại tam sư bá và lục sư thúc mất rồi!

Chàng chỉ nghĩ: "Thất trùng thất hoa cao có hàng trăm cách phối chế khác nhau, ai biết Triệu Mẫn dùng bảy loại hoa độc, trùng độc nào? Muốn hóa giải chất cực độc này, chỉ có cách dĩ độc công độc, nếu dùng sai một loại độc thôi cũng có thể làm cho tam sư bá và lục sư thúc mất mạng ngay". Lúc này đột nhiên chàng hiểu ra tâm trạng của cha mình khi tự vẫn, sai lầm quá lớn đã gây ra, ngoài việc lấy cái chết để tạ tội, chẳng còn con đường nào khác. Chàng uể oải đứng dậy. Dương Bất Hối hỏi:

– Quả thật không có loại thuốc nào cứu được ư? Ngay cả miễn cưỡng làm thử cũng không được hay sao?

Trương Vô Kỵ lắc đầu. Dương Bất Hối thở dài:

– Thôi xong!

Thần sắc nàng thản nhiên, không còn vẻ kinh hoảng nữa.

Trương Vô Kỵ chợt nhớ câu nàng nói hôm qua: "Nếu Ân lục thúc không sống được thì muội cũng chả thiết sống nữa". Chàng nghĩ bụng: "Lần này ta hại chết không phải hai người, mà là ba người". Đang nghĩ thế, thì thấy Ngô Kình Thảo đến trước cửa phòng bẩm:

– Giáo chủ, Triệu cô nương đang ở ngoài đạo quan xin được gặp.

Trương Vô Kỵ vừa nghe thế thì không nén được bi phẫn, nói:

– Chính ta đang muốn tìm nàng ta đây!

Chàng rút phắt thanh trường kiếm Dương Bất Hối đeo bên hông, cầm lăm lăm trong tay, rảo bước đi ra.

Tiểu Chiêu gỡ đóa hoa ngọc cài đầu, đưa Trương Vô Kỵ, nói:

– Công tử hãy trả lại cho Triệu cô nương.

Trương Vô Kỵ nhìn nàng, nghĩ thầm: "Nàng thật hiểu tâm tư của ta. Ta và Triệu Mẫn thù sâu như biển, chúng ta chẳng nên giữ của cô ta bất cứ vật kỷ niệm gì". Một tay cầm kiếm, một tay cầm đóa hoa, chàng đi ra cửa đạo quan.

Chỉ thấy Triệu Mẫn một mình đứng đó, vẻ mặt tươi cười. Ánh tịch dương đỏ như máu chiếu xiên xiên vào đôi má nàng, trông xinh đẹp bội phần. Huyền Minh nhị lão đứng phía sau, cách nàng mười mấy trượng, tay dắt ba con ngựa, mắt nhìn đâu đâu.

Trương Vô Kỵ thoắt một cái đã tới ngay trước mặt Triệu Mẫn, tay trái chộp luôn hai cổ tay nàng, tay phải chĩa mũi kiếm vào ngực, quát:

– Mau đưa thuốc giải ra đây!

Triệu Mẫn mỉm cười, nói:

– Công tử đã bức bách bổn cô nương một lần, bây giờ lại bức bách lần nữa ư? Bổn cô nương lên đây là để thăm hỏi công tử, vậy mà công tử mặt mày hầm hầm, đạo hiếu khách lẽ nào như thế?

Trương Vô Kỵ nói:

– Ta đang cần thuốc giải! Nếu cô nương không đưa ra, ta.. ta không thiết sống nữa, cô nương cũng đừng hòng sống được.

Triệu Mẫn hơi đỏ mặt, hừ một tiếng nhỏ, nói:

– Công tử nói hay gớm! Công tử chết kệ công tử, liên can gì đến bổn cô nương, mà bắt bổn cô nương phải chết theo?

Trương Vô Kỵ nghiêm mặt, nói:

– Ai hơi đâu nói đùa với cô nương? Cô nương không đưa thuốc giải, thì hôm nay là ngày cuối cùng trước khi ta và cô nương cùng bỏ mạng.

Triệu Mẫn bị chàng nắm chặt hai cổ tay, cảm thấy người chàng run bần bật, cực kỳ kích động, lại thấy trong lòng bàn tay chàng có vật gì cồm cộm, bèn hỏi:

– Công tử cầm cái gì trong tay vậy?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Là đóa hoa của cô nương, ta trả lại đó!

Chàng nhấc tay trái lên một cái, đóa hoa bằng ngọc đã cài lên tóc Triệu Mẫn; tay chàng lại hạ xuống chộp ngay cổ tay nàng, buông rồi chộp lại, thủ pháp nhanh như chớp. Triệu Mẫn nói:

– Cái đó bổn cô nương tặng công tử, sao công tử trả lại ta?

Trương Vô Kỵ hậm hực nói:

– Cô nương làm ta khổ sở như vậy, ta không muốn nhận quà gì của cô nương hết!

Triệu Mẫn nói:

– Có thật công tử không muốn nhận thứ gì hay không? Thế thì tại sao công tử vừa mở miệng đã đòi bổn cô nương cho thuốc giải?

Trương Vô Kỵ mỗi lần đấu khẩu với Triệu Mẫn đều bị lép vế, bây giờ cũng cứng lưỡi, nghĩ Du Đại Nham và Ân Lê Đình sẽ không còn sống được bao lâu thì lòng đau như cắt, nước mắt rưng rưng chỉ chực trào ra. Chàng đã định mở miệng khẩn cầu, nhưng nghĩ đến bao hành vi tàn ác của Triệu Mẫn, nên không muốn tỏ ra yếu đuối trước mặt nàng ta.

Lúc này nhóm Dương Tiêu biết tin đã kéo nhau ra cửa đạo quan thấy Triệu Mẫn đã bị Trương Vô Kỵ bắt giữ, Huyền Minh nhị lão đứng đằng xa, tựa hồ không quan tâm, lại cũng chẳng có vẻ gì sợ hãi, thì mọi người cùng đứng một bên bình tĩnh quan sát diễn biến.

Triệu Mẫn mỉm cười, nói:

– Công tử làm giáo chủ Minh giáo, võ công chấn động thiên hạ, vậy mà vừa gặp việc khó một chút đã khóc hu hu như trẻ con, công tử mới vừa khóc xong, đúng không nào? Thật không biết xấu hổ! Bổn cô nương nói đây, công tử bị trúng hai chưởng của Huyền Minh nhị lão, bổn cô nương tới hỏi thăm thương thế ra sao. Không ngờ công tử vừa mới thấy mặt người ta đã nói những gì sống chết đâu đâu, rốt cuộc công tử có chịu buông tay người ta ra không đấy?

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm, dù Triệu Mẫn có muốn thừa cơ bỏ chạy cũng không thể, chỉ cần nàng ta dợm bước, chàng sẽ tóm lấy ngay, thế là chàng buông cổ tay nàng ta ra.

Triệu Mẫn đưa tay nắn nắn đóa hoa ngọc trên đầu, mỉm cười nói:

– Sao trông công tử chẳng có vẻ gì là bị thương thế nhỉ?

Trương Vô Kỵ lạnh lùng nói:

– Chỉ có môn Huyền Minh thần chưởng thì dễ gì đả thương nổi người ta.

Triệu Mẫn nói:

– Thế còn Đại lực kim cương chỉ? Thất trùng thất hoa cao thì sao?

Hai câu đó như hai cái búa giáng mạnh vào ngực Trương Vô Kỵ, chàng hậm hực nói:

– Đúng là "Thất trùng thất hoa cao" thật.

Triệu Mẫn nghiêm nghị nói:

– Trương giáo chủ, công tử muốn lấy Hắc ngọc đoạn tục cao, bổn cô nương có thể cho. Công tử muốn có thuốc giải Thất trùng thất hoa cao, bổn cô nương cũng có thể cho. Chỉ cần công tử bằng lòng làm cho bổn cô nương ba việc, bổn cô nương sẽ tình nguyện dâng tặng. Còn nếu công tử dùng vũ lực cưỡng bức, giết bổn cô nương thì dễ thôi, chứ muốn có thuốc giải thì quá khó đấy. Công tử mà dùng cực hình tra khảo, bổn cô nương sẽ cho thuốc giả, thuốc độc.

Trương Vô Kỵ cả mừng, sắp khóc thì vẻ mặt lại trở nên tươi tỉnh, vội giục:

– Ba việc gì? Nói mau, nói mau!

Triệu Mẫn mỉm cười:

– Vừa khóc vừa cười, thật không biết ngượng! Bổn cô nương đã nói với công tử rồi, hiện tại bổn cô nương chưa nghĩ ra, bao giờ nghĩ ra, sẽ nói cho công tử biết. Chỉ cần công tử hứa cho một câu, quyết không nuốt lời là được. Bổn cô nương sẽ không bắt công tử hái trăng trên trời, không đòi công tử làm việc ác trái đạo hiệp nghĩa, cũng không bảo công tử tự sát, càng không đòi công tử phải làm heo làm chó.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Chỉ cần không trái đạo hiệp nghĩa, thì dù việc khó mấy, ta cũng làm cho bằng được", liền khẳng khái nói:

– Triệu cô nương, nếu cô nương tặng cho linh dược, chữa khỏi cho tam sư bá và lục sư thúc của ta, dẫu cô nương sai ta làm việc gì, Trương Vô Kỵ này cũng không dám từ nan, thậm chí phải nhảy vào dầu sôi lửa bỏng.

Triệu Mẫn ngửa bàn tay ra nói:

– Hay lắm, vậy hai ta đập tay ăn thề. Bổn cô nương sẽ tặng thuốc giải để công tử chữa trị cho tam sư bá và lục sư thúc của công tử; sau này bổn cô nương đòi công tử làm cho ba việc, chỉ cần không trái đạo hiệp nghĩa, là công tử phải gắng sức làm, không được từ nan.

Trương Vô Kỵ nói:

– Nhất quyết làm theo lời vàng ngọc của cô nương.

Hai người nhè nhẹ đập tay vào nhau ba lần.

Triệu Mẫn gỡ đóa hoa trên đầu, nói:

– Thế bây giờ công tử có chịu nhận quà bổn cô nương tặng hay không?

Trương Vô Kỵ sợ nàng không đưa thuốc giải, không dám trái ý, vội cầm lấy đóa hoa. Triệu Mẫn nói:

– Nhưng bổn cô nương không muốn công tử đem tặng cho a hoàn đâu đấy.

Trương Vô Kỵ nói:

– Được rồi.

Triệu Mẫn cười, lùi lại ba bước, nói:

– Thuốc giải sẽ được đem tới ngay, tạm biệt Trương giáo chủ!

Nàng phất tay áo, quay mình đi liền. Huyền Minh nhị lão dắt ngựa tới, đỡ nàng lên yên đi trước. Ba con ngựa gõ vó cồm cộp, thong thả xuống núi.

Họ vừa khuất sau một sườn núi, thì từ sau một cây lớn phía bên trái nhô ra một hán tử, chính là Tiền Nhị Bại trong "Thần tiễn bát hùng". Y giương cây cung sắt, lắp mũi tên dài, nói to:

– Chủ nhân chúng tôi kính trình Trương giáo chủ một phong thư, xin hãy tiếp nhận.

Nói xong thì bắn mũi tên tới. Trương Vô Kỵ giơ tay trái chộp được mũi tên, thấy nó không bịt sắt, thân cuốn một bức thư; chàng gỡ thư ra xem, ngoài bì đề: "Thân khải Trương giáo chủ", bên trong viết mấy dòng chữ tiểu khải như sau: "Hộp vàng hai tầng, linh cao cất bên trong từ lâu. Đóa hoa ngọc rỗng ruột, đựng bài thuốc ở đó. Hai thứ ấy đã tặng chàng lâu rồi, sao còn phải vất vả kiếm tìm? Hay là thấy vật mọn mà rẻ rúng, đem tặng lại con hầu? Chẳng hóa ra phụ tấm chân tình của tiện thiếp lắm ru?"

Trương Vô Kỵ đọc đi đọc lại ba lần, vừa ngạc nhiên vừa vui mừng, lại thấy ngượng ngùng, vội coi kỹ đóa hoa ngọc, vặn thử thì quả nhiên viên ngọc có thể chuyển động; chàng bèn tháo ra, thấy cuống hoa được đúc rỗng, bên trong chứa một vật màu trắng. Trương Vô Kỵ lấy trong bọc ra một cây kim châm cứu, khều vật đó ra, là một tờ giấy mỏng viết tên bảy loại trùng độc, hoa độc và cách giải cứu.

Thực ra, chàng chỉ cần biết tên bảy loại trùng độc, hoa độc; còn cách giải cứu, chàng khỏi cần người khác chỉ vẽ. Chàng đọc thử cách giải, thấy hoàn toàn đúng, biết Triệu Mẫn không phá mình nữa thì cả mừng, chạy ngay vào nội viện phối chế thuốc cứu chữa. Quả nhiên chỉ hơn một canh giờ sau, tình trạng trúng độc của Du Đại Nham và Ân Lê Đình đỡ hẳn, trong người bớt ngứa ngáy khó chịu, mắt không còn bị hoa.

Chàng lại lấy cái hộp vàng đựng đóa hoa ngọc Triệu Mẫn đã tặng, mở ra xem kỹ, đúng là có hai tầng, tầng dưới đựng đầy một thứ thuốc cao màu đen có mùi thơm mát.

Lần này chàng không dám bộp chộp, bắt một con chó, bẻ gãy cẳng sau, bôi thử cao lên chỗ gãy, chờ đến sáng hôm sau, thấy con chó ấy vẫn tỉnh táo nhanh nhẹn, không có vẻ gì trúng độc cả, chỗ vết thương khá hơn hẳn.

Ba ngày trôi qua, chất độc trong người Du Đại Nham và Ân Lê Đình đã được tận trừ. Trương Vô Kỵ bèn đem Hắc ngọc đoạn tục cao thật bôi lên tứ chi hai người.

Lần này không có biến cố gì. Hắc ngọc đoạn tục cao quả nhiên công hiệu như thần. Hơn hai tháng sau, hai tay của Ân Lê Đình đã có thể hoạt động, xem ra sau này không những tứ chi có thể cử động bình thường, mà võ công cũng không bị mất nhiều lắm. Riêng Du Đại Nham tàn phế quá lâu, muốn phục hồi như xưa thật là khó; nhưng cứ đà này, chỉ sau nửa năm có thể dùng nạng, đi thong thả, tuy chưa khỏi tàn phế, song không còn nằm liệt một chỗ nữa.

*

* *

Trương Vô Kỵ ở trên núi Võ Đang lâu như thế, người của Ngũ Hành kỳ cử đi các phái trước sau đều về núi, đem theo những tin tức khiến ai nấy vô cùng kinh ngạc. Quần hào các phái Nga Mi, Hoa Sơn, Không Động, Côn Luân viễn chinh đỉnh Quang Minh đều không một ai trở về bản phái. Trên giang hồ người ta đồn nhau rằng Minh giáo người nhiều thế mạnh đã tiêu diệt toàn bộ cao thủ sáu đại môn phái đến Tây Vực, nay đang chia nhau đi đánh các phái. Việc tăng chúng Thiếu Lâm tự đột nhiên mất tích đã gây nên một trận phong ba chưa từng thấy trong võ lâm. Cũng may các chưởng kỳ phó sứ của Ngũ Hành kỳ đi chuyến này đều mang theo tín phù của Trương Tam Phong phái Võ Đang, lại không tiết lộ thân phận của mình, nếu không có lẽ đã bị các phái đánh cho tơi tả. Các chưởng kỳ phó sứ nói rằng trên giang hồ hiện nay các môn phái, bang hội, cả các tiêu hãng, sơn trại, thuyền bang, bến bãi.. đâu đâu cũng canh phòng nghiêm mật, sợ Minh giáo vây đánh bất ngờ.

Mấy hôm sau cha con Ân Thiên Chính và Ân Dã Vương cũng trở lại núi Võ Đang, cho hay Thiên Ưng kỳ đã được chỉnh đốn xong xuôi, hoàn toàn quy thuộc Minh giáo. Lại kể ở vùng đông nam quần hùng nổi dậy chống Nguyên hết đám này đám khác, thiên hạ thành ra đại loạn. Bấy giờ quân Nguyên còn rất mạnh, nơi nào nổi dậy cũng tự mình chiến đấu, không liên lạc hưởng ứng với nhau, thành thử chẳng mấy chốc đã bị tiêu diệt.

Tối hôm đó Trương Tam Phong bày tiệc chay ở hậu điện thết đãi cha con Ân Thiên Chính. Trong bữa tiệc, Ân Thiên Chính nói về nguyên nhân thất bại của các cuộc khởi nghĩa, cuộc nào cũng có đệ tử của Minh giáo và Thiên Ưng giáo tham gia, bị quân Nguyên hoặc bắt hoặc giết, số người tuẫn nạn rất đông. Quần hào nghe vậy không khỏi ngậm ngùi thở dài.

Dương Tiêu nói:

– Trăm họ trong thiên hạ khổ sở điêu đứng, ai ai cũng mong thời thế thay đổi, đấy chính là thời cơ đánh đuổi bọn Thát tử, lấy lại giang sơn ta. Năm xưa Dương giáo chủ còn sống, ngày đêm nghĩ việc phục hưng; có điều bổn giáo lâu nay hành sự lệch lạc, hơn trăm năm qua toàn đi gây thù chuốc oán với võ lâm Trung nguyên, thành thử khó lòng liên thủ chống địch. Nay Trời thương nên đưa Trương giáo chủ lên coi sóc giáo vụ, oán thù với các phái đã cởi bỏ dần, chúng ta hãy đồng tâm hiệp lực chống bọn Hồ Lỗ.

Chu Điên nói:

– Dương tả sứ, lời tả sứ nghe có vẻ không sai, nhưng có nói cũng bằng thừa thôi.

Dương Tiêu không giận, nói:

– Vậy mong được Chu huynh chỉ giáo.

Chu Điên nói:

– Giang hồ đều đồn rằng Minh giáo chúng ta đã giết sạch cao thủ sáu đại môn phái, họ vừa nghe hai chữ "Minh giáo" thì đã hận thấu xương, làm sao đòi "đồng tâm hiệp lực chống bọn Hồ Lỗ"? Nói nghe hay lắm, nhưng có làm nổi không?

Dương Tiêu nói:

– Chúng ta tuy bị mang tiếng xấu, nhưng rồi sẽ có ngày sáng tỏ chân tướng, huống hồ có Trương chân nhân minh chứng đây.

Chu Điên cười nói:

– Giả dụ quả thật bọn ta có giết Tống Viễn Kiều, Diệt Tuyệt lão ni, Hà Thái Xung, thì ngay Trương chân nhân cũng không biết, lấy gì mà minh chứng?

Thiết Quan đạo nhân quát lên:

– Chu Điên, trước mặt Trương chân nhân và Trương giáo chủ, không được ăn nói bậy bạ!

Chu Điên lè lưỡi, không dám nói thêm. Bành Oánh Ngọc nói:

– Lời của Chu huynh cũng không phải hoàn toàn vô lý, theo ý bần tăng, chúng ta nên triệu tập đại hội các lộ thủ lĩnh Minh giáo, nói rõ chủ trương của Trương giáo chủ thân thiện với các phái võ lâm. Đồng thời, người đông, biết rộng hơn, rốt cuộc tại đại hội có thể biết được Tống đại hiệp, Diệt Tuyệt sư thái hiện đang ở đâu.

Chu Điên nói:

– Muốn biết tung tích Tống đại hiệp thật quá dễ, chẳng cần tốn sức chút nào.

Mọi người nhao nhao hỏi:

– Thế ư? Sao không nói sớm?

Chu Điên dương dương đắc ý, tợp một ngụm rượu, nói:

– Chỉ cần Trương giáo chủ đi hỏi Triệu cô nương một tiếng, ít ra mười phần cũng rõ đến chín. Lão phu cho rằng mấy người ấy nếu không bị Triệu Mẫn giết thì cũng bị cô ta bắt giữ rồi.

Hơn hai tháng qua Dương Tiêu, Vi Nhất Tiếu, Bành Oánh Ngọc, Thuyết Bất Đắc đã chia nhau xuống núi nghe ngóng tung tích và lai lịch của Triệu Mẫn, nhưng từ sau hôm nàng đến cửa đạo quan đập tay thề thốt với Trương Vô Kỵ thì không biết cô nương ấy biến đi đâu mất tăm. Ngay đám thuộc hạ đông đảo của nàng cũng chẳng để lại dấu vết gì. Quần hào đoán già đoán non, đều cho rằng bọn đó liên quan với triều đình, song không lần ra manh mối nào cả. Bây giờ nghe Chu Điên nói vậy, bèn cự lại:

– Chu huynh nói cũng bằng thừa thì có, nếu như tìm gặp được Triệu cô nương, chẳng lẽ bọn ta lại không biết dò hỏi hay sao?

Chu Điên cười, nói:

– Các vị dĩ nhiên không tìm gặp được. Chứ giáo chủ thì khỏi cần đi tìm, tự cô nàng sẽ tìm đến. Giáo chủ còn nợ cô ta ba việc chưa làm; một tiểu thư lợi hại như thế há bỏ qua hay sao? Hì hì, cô nương ấy hoa nhường nguyệt thẹn, vậy mà mỗi khi nghĩ đến cô nàng, Chu Điên ta lại sởn tóc gáy, sợ muốn chết.

Mọi người nghe lão nói đều cười ồ lên, song nghĩ lại thì quả đúng như thế.

Trương Vô Kỵ thở dài, nói:

– Bản nhân cũng chỉ mong nàng ta mau đưa ra ba việc, để cố sức làm cho hết nợ, khỏi phải ngày đêm khắc khoải lo lắng, không biết nàng ta sẽ còn giở trò gì quái đản nữa đây. Bành đại sư vừa kiến nghị triệu tập các lộ thủ lĩnh bản giáo, việc đó nên lắm, ý các vị thế nào?

Quần hào đều nói:

– Nên lắm. Cứ ngồi không trên núi Võ Đang thì chả làm được việc gì.

Dương Tiêu nói:

– Giáo chủ, ta nên tụ họp ở đâu là hay nhất?

Trương Vô Kỵ ngẫm nghĩ một lát, nói:

– Bản nhân hiện thời đảm nhận chức giáo chủ, vẫn thường nhớ đến ân tình của hai nhân vật trong bản giáo. Một là Điệp Cốc Y Tiên Hồ Thanh Ngưu tiên sinh, lão nhân gia đã chết bởi tay Kim Hoa bà bà. Vị thứ hai là Thường Ngộ Xuân đại ca, hiện giờ không biết đang ở đâu. Bản nhân cho rằng đại hội kỳ này nên cử hành ở Hồ Điệp cốc, tỉnh Hoài Bắc.

Chu Điên vỗ tay, nói:

– Hay lắm, hay lắm! Cái thằng cha "Kiến Tử Bất Cứu" hồi xưa lão phu chuyên đấu khẩu với hắn, xem ra người không phải loại tệ, có điều là tính khí thất thường, song cũng tài tình giống như Dương tả sứ vậy. Hắn thấy chết không cứu, thành ra lúc hắn chết cũng chẳng ai cứu cho, đúng là báo ứng. Chu Điên ta cũng muốn đến trước mộ hắn rập đầu vài cái.

Quần hào không ai có ý kiến gì khác, định rõ là ngày rằm Trung thu, tức là hơn ba tháng sau, các lộ thủ lĩnh của Minh giáo sẽ tề tựu tại ngôi nhà cũ của Hồ Thanh Ngưu ở Hồ Điệp cốc tỉnh Hoài Bắc.

Sáng sớm hôm sau, các tín sứ của Ngũ Hành kỳ và Thiên Ưng kỳ chia nhau xuất phát từ núi Võ Đang, truyền đi hiệu lệnh của giáo chủ: Các lộ giáo chúng, từ hương chủ trở lên, hãy giao giáo vụ cho người phụ tá đảm trách, đến Hồ Điệp cốc tỉnh Hoài Bắc trước ngày rằm Trung thu tham kiến tân giáo chủ.

*

* *

Từ nay đến ngày rằm Trung thu còn lâu, Trương Vô Kỵ thấy Du Đại Nham và Ân Lê Đình chưa khỏi hẳn, sợ thương thế tái phát thì uổng phí bao công phu, nên chàng tạm ở lại núi Võ Đang săn sóc hai vị Du, Ân; khi rảnh rỗi chàng thỉnh giáo Trương Tam Phong về Thái cực quyền và Thái cực kiếm. Mấy người Vi Nhất Tiếu, Bành Oánh Ngọc, Thuyết Bất Đắc, đi các nơi thám thính tung tích của Triệu Mẫn và thuộc hạ của nàng ta.

Dương Tiêu theo lệnh giáo chủ ở lại núi Võ Đang, vì chuyện của Kỷ Hiểu Phù mà ngượng ngùng với Ân Lê Đình nên thường ngày chỉ đóng cửa đọc sách, không mấy khi ra khỏi phòng. Cứ thế hơn hai tháng, một buổi chiều, Trương Vô Kỵ sang gặp Dương Tiêu bàn về đại hội sắp tới ở Hồ Điệp cốc, mấy việc lớn cần đề xuất với các giáo chúng. Chàng trẻ tuổi, kiến thức nông cạn, đột nhiên giữ trọng nhiệm, nên thường vẫn lo ngay ngáy, chỉ sợ thất thố làm hỏng đại sự. Dương Tiêu rất thông hiểu giáo vụ, nên chàng muốn giữ ông ta ở bên mình, để khi cần thì hỏi.

Hai người trò chuyện một lát, Trương Vô Kỵ thuận tay cầm một cuốn sách trên bàn của Dương Tiêu lên xem, thấy trên bìa đề bảy chữ Minh giáo lưu truyền Trung thổ ký, bên dưới chú một hàng chữ nhỏ hơn "Đệ tử Quang Minh tả sứ Dương Tiêu cung soạn".

Trương Vô Kỵ nói:

– Dương tả sứ văn võ toàn tài, thật là bậc lương đống của bản giáo.

Dương Tiêu nói:

– Đa tạ giáo chủ khen ngợi.

Trương Vô Kỵ mở sách ra, thấy viết bằng chữ nhỏ theo lối chữ khải, mọi sự việc được dẫn chứng sách vở đâu ra đó. Sách viết rõ ràng, Minh giáo nguyên từ nước Ba Tư, vốn tên là Ma ni giáo, truyền sang Trung thổ vào năm Diên Tải thứ nhất, đời Đường Võ Hậu. Thời đó người Ba Tư tên là Phất Đa Diên mang bộ Tam tông kinh của Minh giáo vào triều, là lần đầu tiên người Trung Quốc biết đến bộ kinh này.

Ngày hai mươi chín tháng sáu năm Đại Lịch thứ ba nhà Đường, Đại Vân Quang Minh tự được xây cất tại Lạc Dương, Tràng An. Sau đó, tại các trọng trấn như Thái Nguyên, Kinh Châu, Dương Châu, Hồng Châu, Việt Châu đều có Đại Vân Quang Minh tự. Đến năm Hội Xương thứ ba, triều đình hạ lệnh giết các giáo đồ thì thế lực của Minh giáo đại suy.

Từ đó trở đi, Minh giáo trở thành một giáo phái bí mật, bị nghiêm cấm, triều đại nào cũng bị quan phủ truy lùng, giết hại. Để sinh tồn, Minh giáo không thể không hành sự ngụy bí, để rồi chữ "ni" trong "Ma ni giáo" bị lược mất, chỉ còn là "Ma giáo", và chữ "Ma" lẽ ra phải viết có bộ "thủ" lại bị viết thành có bộ "quỷ".

Trương Vô Kỵ đọc tới đây, bất giác thở dài, nói:

– Dương tả sứ, tôn chỉ của bản giáo vốn là hành thiện trừ ác, không khác đạo Phật là mấy, tại sao từ đời Đường tới giờ, đời nào cũng bị thảm sát là sao?

Dương Tiêu nói:

– Người theo đạo Phật tuy nói phổ độ chúng sinh nhưng tăng chúng xuất gia đều giữ thanh tu, không màng thế sự. Đạo gia cũng vậy. Bản giáo thì quy tụ hương dân, bất kỳ ai gặp nguy nan khốn khổ, mọi giáo chúng đều ra tay giúp đỡ. Quan phủ áp bức dân lành, đời nào chẳng có, vùng nào chẳng có? Hễ có ai bị quan phủ áp bức, bị oan khuất, bản giáo tất phải đứng ra chống lại quan phủ.

Trương Vô Kỵ gật đầu, nói:

– Chỉ khi nào triều đình, quan lại không còn áp bức dân lành, thổ hào ác bá không hoành hành ngang ngược thì bấy giờ bản giáo mới có thể thực sự hưng vượng.

Dương Tiêu vỗ bàn đứng dậy, nói:

– Lời giáo chủ quả nói đúng điểm cốt lõi của tôn chỉ bản giáo.

Trương Vô Kỵ nói:

– Dương tả sứ, liệu sẽ có ngày được như thế hay không?

Dương Tiêu ngẫm nghĩ một hồi, nói:

– Ước sao sẽ có ngày như thế. Đời Tống, Phương Lạp Phương giáo chủ của bản giáo khởi nghĩa cũng chỉ vì muốn quan lại không áp bức dân lành mà thôi.

Dương Tiêu giở sách, chỉ đoạn viết về giáo chủ Minh giáo Phương Lạp nổi dậy khởi nghĩa ở Chiết Đông làm chấn động thiên hạ. Trương Vô Kỵ đọc xong, gấp sách lại, nói:

– Đại trượng phu cố nhiên phải như thế. Tuy Phương giáo chủ tuẫn nạn mà chết, song cũng dấy lên một sự nghiệp oanh liệt.

Hai người tâm ý tương thông, cảm thấy nhiệt huyết dâng lên bừng bừng.

Dương Tiêu lại nói:

– Bản giáo đời nào cũng bị nghiêm cấm, nhưng thủy chung vẫn đứng vững chứ không sụp đổ. Năm Thiệu Hưng thứ tư đời Nam Tống, có một viên quan tên là Vương Cư Chính gửi lên hoàng đế một bản tấu, nói về việc của bổn giáo, giáo chủ hãy xem qua.

Nói rồi Dương Tiêu giở cuốn sách, đoạn chép lại bản tấu của Vương Cư Chính. Trương Vô Kỵ thấy trong đó viết như sau:

"Thần thấy hai huyện ở Chiết Đông có tục ăn rau thờ Ma vương. Trước đời Phương Lạp, pháp cấm còn lỏng lẻo, mà tục thờ cúng ma quỷ chưa đến nỗi mạnh. Phương Lạp chết rồi, pháp cấm càng nghiêm, song việc thờ ma càng không thể cấm nổi.. Thần nghe về việc thờ ma, mỗi thôn xóm có một hai tên kiệt hiệt, gọi là ma đầu, có chép họ tên những ai trong thôn xóm thề thốt gia nhập đảng ma. Kẻ thờ ma không ăn thịt. Một nhà có chuyện gì, đồng đảng của y đều hết lòng cứu giúp. Họ không ăn thịt nên giảm được chi tiêu, giảm chi tiêu nên dễ đầy đủ. Cùng một đảng nên thân thiết với nhau, thân nhau nên có chuyện gì thì dễ giúp nhau.." Trương Vô Kỵ đọc tới đây, nói:

– Vương Cư Chính tuy căm ghét bản giáo, song vẫn biết giáo chúng bản giáo sống tằn tiện, chất phác, tương thân tương ái.

Rồi chàng đọc tiếp đoạn sau của bản tấu:

".. Bởi vậy thần cố theo đạo của tiên vương làm cho dân tương thân, tương hữu, tương trợ. Cốt sống đạm bạc, dạy tiết kiệm, khuyên lối sống giản dị. Nay làm người dẫn dắt dân chúng, lại không còn có thể lấy đó là cách cai trị, bởi vì bọn ma đầu trộm theo cách của triều đình mà khuyến dụ dân chúng, khiến người người ca tụng đạo ma, trợ giúp tà thuyết. Dân ngu vô tri, nghe lời ma, thờ đạo ma, dễ đủ ăn, dễ giúp nhau, thành thử những gì ma đầu nói ra đều tin, đua nhau theo đạo ma. Cho nên càng nghiêm cấm, lại càng không kiến hiệu".

Trương Vô Kỵ đọc tới đây, quay sang nói với Dương Tiêu:

– Dương tả sứ, cái câu "càng nghiêm cấm, lại càng không kiến hiệu" chính là chứng tỏ bản giáo được lòng dân. Dương tả sứ có thể cho bản nhân mượn đọc cuốn sách này để biết thêm sự nghiệp cùng di huấn của các vị tiên hiền của bản giáo, được chăng?

Dương Tiêu nói:

– Xin giáo chủ cứ cầm lấy.

Trương Vô Kỵ nói:

– Thương thế của Du tam bá và Ân lục thúc đã gần khỏi, ngày mai chúng ta lên đường đi Hồ Điệp cốc. Bổn nhân còn một việc muốn bàn với Dương tả sứ, có liên quan đến Bất Hối muội muội.

Dương Tiêu ngỡ chàng lên tiếng cầu hôn, trong lòng mừng thầm, nói:

– Tính mạng của Bất Hối là do giáo chủ ban cho, cha con thuộc hạ đâu dễ báo đáp ân tình ấy. Giáo chủ có điều gì xin cứ sai bảo.

Trương Vô Kỵ bèn kể lại chuyện Dương Bất Hối thổ lộ với chàng hai tháng trước. Dương Tiêu nghe xong, kinh ngạc quá đỗi, thừ người ra hồi lâu mới nói:

– Tiểu nữ được Ân lục hiệp để mắt tới, là vinh hạnh cho nhà họ Dương. Có điều hai bên tuổi quá chênh lệch, vai vế kẻ thấp người cao, việc này.. việc này..

Dương Tiêu ấp úng hai tiếng "việc này", rồi không nói tiếp được nữa.

Trương Vô Kỵ nói:

– Ân lục thúc cũng chưa đến bốn mươi, đang tuổi cường tráng. Bất Hối muội muội có gọi hai tiếng "thúc thúc", mà thực ra đâu có thân thích gì, sư môn cũng tiện thôi. Hai người tình đầu ý hợp, nếu thành được nhân duyên, thì mối cừu hiềm đời trước sẽ được hóa giải hoàn toàn, chính là một việc rất hay.

Dương Tiêu vốn là người vô cùng khoáng đạt, vì chuyện Kỷ Hiểu Phù mà mỗi lần gặp Ân Lê Đình đều không khỏi sượng sùng, nghĩ thầm nếu Bất Hối đã thương yêu ông ta, kết duyên với nhau thì cũng xóa bỏ được cái khó xử của mình, mà từ nay giữa Minh giáo và phái Võ Đang cũng không còn lấn cấn gì nữa, bèn vái dài, nói:

– Giáo chủ tác thành việc này, đủ biết quan hoài thế nào. Thuộc hạ xin đa tạ trước.

Tối hôm ấy Trương Vô Kỵ truyền tin đó ra, quần hào lần lượt chúc mừng Ân Lê Đình. Dương Bất Hối thẹn thùng, trốn ở trong buồng không chịu ló mặt ra.

Trương Tam Phong và Du Đại Nham nghe chuyện đó, thoạt tiên cũng lấy làm lạ, nhưng rất mừng cho Ân Lê Đình. Về chuyện cưới hỏi, Ân Lê Đình nói:

– Đợi đại sư ca và các huynh đệ về núi đoàn tụ rồi, lúc đó làm lễ thành thân cũng chưa muộn.

Hôm sau Trương Vô Kỵ cùng Dương Tiêu, Ân Thiên Chính, Ân Dã Vương, Chu Điên, Thiết Quan đạo nhân, Tiểu Chiêu.. từ biệt thầy trò Trương Tam Phong lên đường đi Hoài Bắc.

Dương Bất Hối ở lại núi Võ Đang săn sóc Ân Lê Đình. Thời đó chuyện nam nữ giao tiếp tuy nghiêm ngặt, nhưng hai người đều ở trong võ lâm nên cũng không mấy để ý đến tiểu tiết.

*

* *

Đoàn người Minh giáo ngày đi đêm nghỉ, đi về phía đông bắc. Dọc đường chỉ thấy ruộng đất bỏ hoang, dân chúng đói khổ. Các tỉnh vùng duyên hải vốn trù phú màu mỡ, thế mà đâu đâu cũng gặp người ăn xin, dân chúng khốn khó cùng cực. Quần hào thương trăm họ bị tai họa, biết rằng bọn Mông Cổ tàn bạo bá chiếm Trung thổ sẽ không còn tồn tại được lâu, hiện nay chính là cơ hội tốt để anh hùng hào kiệt thiên hạ vùng lên khởi nghĩa.

Hôm ấy đến Giới Bài Tập, cách Hồ Điệp cốc không xa, đoàn người đang đi bỗng nghe tiếng la hét chém giết ở phía trước, có hai phe đang giao tranh. Quần hào thúc ngựa chạy lên, qua một cánh rừng, thấy khoảng hơn một ngàn quân Mông Cổ chia ra hai cánh tấn công vào một sơn trại.

Trên nóc sơn trại phấp phới một lá cờ lớn vẽ hình ngọn lửa đỏ, chính là cờ hiệu của Minh giáo. Quân số trong sơn trại không nhiều, xem chừng khó đứng vững, song vẫn kiên cường chống trả. Quân Mông Cổ bắn tên như mưa, gọi to:

– Bọn phản tặc Ma giáo, hãy mau đầu hàng!

Chu Điên nói:

– Giáo chủ, mình tiến lên chứ?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Phải! Hãy giết bọn quan chỉ huy trước!

Dương Tiêu, Ân Thiên Chính, Ân Dã Vương, Chu Điên, Thiết Quan đạo nhân vâng lệnh xông thẳng vào trận địa quân Mông Cổ, trường kiếm tung hoành, hai tên bách phu trưởng bị chém ngã trước, kế đến một tên thiên phu trưởng chỉ huy đội quân này cũng bị Ân Dã Vương một đao giết luôn. Quân Nguyên như rắn mất đầu, tức thì đại loạn.

Người trong sơn trại thấy có viện binh liền lớn tiếng reo hò. Cổng trại mở rộng, một hắc y đại hán cầm trường mâu xông ra trước, quân Mông Cổ dạt cả ra, không tên nào dám ngăn cản. Chỉ thấy cây mâu loáng lên một cái, một tên lính Mông Cổ bị đâm ngã ngựa, quân Mông Cổ hô hoán, bỏ chạy loạn xạ.

Bọn Dương Tiêu thấy gã đại hán uy phong lẫm liệt, trông như tướng nhà trời, tấm tắc khen ngợi:

– Quả là một vị tướng anh hùng!

Lúc này Trương Vô Kỵ đã nhìn rõ diện mạo viên tướng, chính là Thường Ngộ Xuân đại ca chàng hằng mong nhớ. Hiềm một nỗi đang giao tranh, không tiện tiến lại gặp nhau. Người của Minh giáo trước sau giáp công, quân Nguyên tử thương năm, sáu trăm tên, bọn còn lại không ham đánh tiếp mà chia nhau bỏ đi.

Thường Ngộ Xuân cầm ngang cây mâu, hỏi:

– Huynh đệ ở lộ nào đến cứu viện đó? Thường mỗ vô cùng cảm kích!

Trương Vô Kỵ gọi to:

– Thường đại ca, còn nhớ tiểu đệ hay chăng?

Chàng chạy tới, nắm chặt tay Thường Ngộ Xuân.

Thường Ngộ Xuân cúi lạy, nói:

– Giáo chủ, Thường Ngộ Xuân này tuy là đại ca ngày trước, nhưng giờ là thuộc hạ của giáo chủ, thật mừng không để đâu cho hết.

Thì ra Thường Ngộ Xuân thuộc Cự Mộc kỳ do Ngũ Hành kỳ cai quản. Việc Trương Vô Kỵ tiếp nhiệm chức giáo chủ thế nào, y đã được chưởng kỳ sứ Văn Thương Tùng cho biết. Từ đó y cùng huynh đệ dưới quyền ngày đêm mong ngóng Trương giáo chủ tới, không ngờ bị quân Nguyên tấn công. Thường Ngộ Xuân thấy quân địch quá đông, bèn giả bộ khiếp sợ để dụ quân địch vào sơn trại mà tiêu diệt chúng. Song Trương Vô Kỵ tình cờ đã đến tiếp ứng, nên y liền thừa thế xông ra. Chức vị của Thường Ngộ Xuân trong Minh giáo không cao, y vội quay sang chào Dương Tiêu, Ân Thiên Chính, Vi Nhất Tiếu.. Quần hào thấy y là huynh đệ kết nghĩa của giáo chủ thì không ai dám tỏ vẻ bề trên, đều chắp tay hành lễ, thăm hỏi trân trọng.

Thường Ngộ Xuân mời quần hào vào sơn trại, giết dê cừu làm tiệc rượu, kể lại mọi sự tình. Mấy năm nay Hoài Nam Hoài Bắc liên tiếp bị thiên tai, trăm họ khổ sở điêu đứng. Thường Ngộ Xuân không còn cách sinh nhai, bèn tụ tập một số huynh đệ làm lục lâm thảo khấu, sống cũng đầy đủ. Trong trại lương thực tiền bạc cướp được kha khá, liền đem đi cứu tế dân nghèo. Quân Mông Cổ mấy lần tiến đánh đều không làm gì được.

Mọi người nghỉ lại ở sơn trại một đêm, hôm sau cùng Thường Ngộ Xuân kéo đi Hoài Bắc, liệu rằng quân Nguyên mới đại bại, trong vòng vài tháng tới quyết chưa thể quay lại tấn công.

*

* *

Mấy hôm sau, đoàn người tới bên ngoài Hồ Điệp cốc. Những giáo chúng tới trước hay tin giáo chủ giá lâm, liền xếp hàng ra khỏi sơn cốc nghênh tiếp. Lúc này Cự Mộc kỳ đã xây dựng trong sơn cốc nhiều ngôi nhà tranh để các lộ giáo chúng có chỗ nghỉ ngơi. Vi Nhất Tiếu, Bành Oánh Ngọc, Thuyết Bất Đắc đã tới đây từ trước, bẩm rằng chưa nghe được tin tức về Triệu Mẫn.

Sau khi tiếp kiến các lộ giáo chúng, Trương Vô Kỵ đem hương hoa đến viếng mộ Kỷ Hiểu Phù và vợ chồng Điệp Cốc Y Tiên Hồ Thanh Ngưu. Nhớ lại tình trạng thê thảm năm xưa khi rời Hồ Điệp cốc, còn nay trở lại vinh hiển xiết bao, chàng cảm thấy y như ở một kiếp khác.

Ba hôm sau đúng ngày rằm tháng Tám. Trong Hồ Điệp cốc dựng một cái đàn cao, trước đàn đốt một đống lửa lớn, cháy rừng rực. Trương Vô Kỵ bước lên đàn, tuyên thị từ nay xóa bỏ hết mọi hiềm khích vốn có với các môn phái ở Trung nguyên, quyết ý chống Nguyên kháng Hồ, lại ban bố giáo quy, nhắc lại tôn chỉ hành thiện trừ ác, trừ bạo an dân. Giáo chúng cùng đứng dậy, đốt nhang cầm tay, thề tuân hành lệnh chỉ của giáo chủ, quyết không vi phạm.

Hôm đó trước đàn, ngọn lửa bốc cao, khói hương mờ mịt, Minh giáo cường thịnh hơn hẳn các đời trước. Các giáo chúng đứng tuổi nhìn khí thế này, nghĩ đến tình trạng ngót hai chục năm qua chia năm xẻ bảy, mấy phen sụp đổ tới nơi, giờ cảm thấy sung sướng quá, khóc òa lên.

Buổi chiều, thuộc hạ bẩm báo:

– Đệ tử Hồng Thủy kỳ Chu Nguyên Chương, Từ Đạt cầu kiến.

Trương Vô Kỵ cả mừng, đích thân ra cửa đón chào. Chu Nguyên Chương, Từ Đạt cùng bọn Ngô Lương, Ngô Trinh, Đặng Dũ, Thang Hòa, Hoa Vân cung kính đứng ngoài, thấy Trương Vô Kỵ bước ra, đều nhất tề khom lưng hành lễ, nói:

– Tham kiến giáo chủ.

Trương Vô Kỵ vẫn thường nhớ ơn Từ Đạt cứu mạng, nay gặp lại, mừng không để đâu cho hết; chàng vội đáp lễ, rồi tay trái dắt Chu Nguyên Chương, tay phải dắt Từ Đạt cùng đi vào nhà, mời mọi người ngồi xuống. Mọi người xin phép rồi mới dám ngồi.

Hiện thời Chu Nguyên Chương đã hoàn tục, không còn ăn mặc theo lối hòa thượng, nói:

– Chúng tại hạ phụng chỉ của giáo chủ, đến Hồ Điệp cốc này, vốn định đi sớm để nghe sai bảo, nhưng dọc đường gặp một sự việc quái dị, chúng tại hạ phải bám theo để tra cứu, thành thử tới đây muộn, xin giáo chủ tha tội.

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Các vị gặp sự việc gì?

Chu Nguyên Chương nói:

– Thượng tuần tháng Sáu, chúng tại hạ nhận được lệnh chỉ của giáo chủ, ai nấy mừng rỡ, bàn tính phải đi tìm một lễ vật gì đó để mừng giáo chủ. Đất Hoài Bắc đang đói khổ, chẳng có gì đáng giá, cũng may hội kỳ còn xa, huynh đệ chúng tôi bèn sang Sơn Đông một chuyến. Sợ quan phủ nhận biết, chúng tại hạ giả làm phu đánh xe, tại hạ làm trưởng nhóm. Đến phủ Quy Đức, tỉnh Hà Nam, có một số khách thuê xe đi Hà Trạch, Sơn Đông. Chúng tại hạ đang chở khách đi thì đột nhiên có một bọn chặn đường, bộ dạng hung dữ, dùng binh khí đuổi khách trên các xe xuống, bảo chúng tại hạ phải chở khách của chúng. Lúc đó Hoa Vân đã toan chống cự, song Từ Đạt đưa mắt ra hiệu, ngụ ý cứ dò xét nguyên do đã, có gì động thủ sau cũng chưa muộn. Bọn kia dẫn chín cỗ xe của chúng tại hạ tới một hẻm núi, tại đó đã có hơn chục cỗ xe khác đang chờ sẵn, ngồi dưới đất toàn là các hòa thượng.

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Toàn là hòa thượng ư?

Chu Nguyên Chương đáp:

– Vâng. Các hòa thượng ấy cúi đầu ủ rũ, song có mấy người hình dáng không phải loại tầm thường, người thì huyệt Thái Dương gồ hẳn lên, người lại cao lớn vạm vỡ. Từ huynh đệ nói nhỏ với tại hạ rằng mấy vị hòa thượng này võ nghệ rất cao cường. Bọn người dữ tợn kia bảo các hòa thượng lên xe, rồi bảo chúng tại hạ cho xe chạy về hướng bắc. Tại hạ nghĩ rằng bên trong tất có sự lạ, bèn kín đáo dặn các huynh đệ đề phòng, nhất thiết không để lộ hình tích. Dọc đường chúng tại hạ cố nghe xem bọn người dữ dằn nói những gì, song trước mặt chúng tại hạ, bọn hắn chẳng nói gì hết. Về sau Ngô Lương lấy hết can đảm, ban đêm mò đến gần chỗ chúng nằm, nghe lén suốt bốn năm đêm mới biết chút manh mối, thì ra số hòa thượng kia đều là người của Thiếu Lâm tự tại Tung Sơn, tỉnh Hà Nam.

Trương Vô Kỵ vốn đã đoán được vài phần, song vẫn kêu "..."

Một tiếng.

Chu Nguyên Chương kể tiếp:

– Ngô Lương nghe một tên trong bọn hung dữ kia nói: "Chủ nhân quả thật thần cơ diệu toán, khiến ai nấy thán phục. Các cao thủ sáu môn phái Thiếu Lâm, phái Võ Đang.. đều rơi vào tay ta cả, xưa nay có ai làm được như thế bao giờ?" Một tên khác nói: "Cái đó cũng chưa lấy làm lạ. Một mũi tên trúng hai đích, làm cho bọn ma đầu Ma giáo bị lôi vào tròng". Bảy huynh đệ chúng tại hạ giả bộ đi đại tiện, ở trong nhà xí bàn nhỏ với nhau, thấy việc này có liên quan đến bản giáo, may sao mình lại nghe được thì phải tra xét cho ra ngọn nguồn để còn bẩm lên giáo chủ.

Trương Vô Kỵ nói:

– Các vị tính thế đúng lắm.

Chu Nguyên Chương nói tiếp:

  • Chúng tại hạ tiếp tục hành trình lên phía bắc, càng giả bộ ngu ngốc khờ khạo. Thang Hòa và Đặng Dũ giả vờ tranh giành năm tiền, đánh lẫn nhau mà tay chân quờ quạng, ra điều không biết chút võ công. Bọn kia vỗ tay cười khoái trá, không còn để ý tới chúng tại hạ nữa. Chúng tại hạ lại cung kính hầu hạ bọn hắn, một điều lão gia, hai điều lão gia, nịnh bợ đủ điều. Ngô Trinh có tính đến việc đi kiếm thuốc mê, giữa đường cho bọn chúng uống ngã lăn ra để giải cứu cho các hòa thượng Thiếu Lâm tự. Song chúng tại hạ nghĩ lại, sự việc này đầu đuôi ra sao mình hoàn toàn không biết, còn bọn người hung dữ kia xem ra tinh minh lão luyện, võ công cao cường, lỡ như đánh rắn không xong, động hang động ổ, lại làm hỏng cả đại sự, cho nên thủy chung không dám ra tay. Đến phủ Hà Giang, lại gặp sáu cỗ xe nữa, cũng có người áp giải, nhưng trong xe toàn là tục gia nhân. Lúc ăn cơm, tại hạ nghe một hòa thượng Thiếu Lâm nói với một người mới gặp: "Tống đại hiệp cũng ở đây ư?"

Trương Vô Kỵ đứng bật dậy, hỏi dồn:

– Nhà sư gọi người kia là Tống đại hiệp ư? Người ấy hình dáng thế nào?

Chu Nguyên Chương nói:

– Người ấy dáng cao gầy, trạc năm sáu chục tuổi, râu ba chòm, tướng mạo thanh nhã.

Trương Vô Kỵ thấy đúng là hình dạng Tống Viễn Kiều, vừa mừng vừa lo, lại hỏi thêm hình dạng mấy người còn lại, quả nhiên có Du Liên Châu, Trương Tòng Khê, Mạc Thanh Cốc trong số đó, nên hỏi tiếp:

– Mấy người ấy có bị thương không? Chân tay có bị xiềng xích hay không?

Chu Nguyên Chương đáp:

– Không bị xiềng xích, cũng không thấy bị thương tích gì, vẫn ăn uống nói năng không khác gì người bình thường, chỉ có tinh thần uể oải, đi đứng loạng choạng. Vị Tống đại hiệp kia nghe hòa thượng Thiếu Lâm hỏi thế nhưng chỉ cười gượng, không trả lời. Vị hòa thượng kia toan hỏi thêm, nhưng tên áp giải đã kéo ông ta ra chỗ khác. Sau đó hai tốp đi cách nhau hơn mười dặm, không cùng ăn cùng ngủ, thành thử chúng tại hạ không còn gặp lại nhóm Tống đại hiệp nữa. Ngày mồng ba tháng Bảy, chúng tại hạ chở các hòa thượng Thiếu Lâm tới Đại Đô[106] . Trương Vô Kỵ kêu lên:

– Ồ, tới Đại Đô! Quả nhiên là triều đình hạ độc thủ. Sau đó thế nào?

Chu Nguyên Chương nói:

– Bọn hắn dẫn chúng tại hạ chở các hòa thượng Thiếu Lâm đến một ngôi chùa lớn ở phía tây, bảo chúng tại hạ ngủ lại trong đó.

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Ngôi chùa ấy tên gì?

Chu Nguyên Chương đáp:

– Lúc đi vào cổng, tại hạ có ngẩng lên nhìn tấm biển, trên đề ba chữ "Vạn An tự", chỉ vì ngẩng nhìn mà bị một tên hung dữ quất cho một roi. Đêm đó chúng tại hạ lén bàn nhau rằng bọn hung ác kia thể nào cũng giết người diệt khẩu, không tha cho mình đâu, nên trời tối là chúng tại hạ trốn đi liền.

Trương Vô Kỵ nói:

– Tình thế quả thật hung hiểm, cũng may bọn chúng không đuổi theo.

Thang Hòa mỉm cười nói:

– Chu đại ca cũng đã tính đến nước đó, nên ra tay sắp đặt trước. Chúng tại hạ tới mấy hãng xe lừa lân cận, bắt bảy gã phu xe, đổi lấy quần áo của bọn họ, sau đó giết luôn cả bảy người trong chùa, băm vằm mặt mũi để bọn người hung ác kia không thể nhận ra ai. Rồi chúng tại hạ giết nốt các phu xe đi cùng, rắc tiền bạc vung vãi khắp nơi, làm như hai bọn tranh nhau tiền mà giết lẫn nhau. Có thế thì khi bọn hung ác trở lại chùa, chúng mới không nghi.

Trương Vô Kỵ kinh hãi, thấy Từ Đạt tỏ vẻ bất nhẫn, Đặng Dũ hơi xấu hổ, Thang Hòa tỏ vẻ nhơn nhơn, chỉ riêng Chu Nguyên Chương thản nhiên như không có chuyện gì. Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Đám này ra tay tàn bạo quá thể!" bèn nói:

– Kế đó của Chu đại ca tuy hay, nhưng từ rày trở đi, chúng ta nhất thiết không được lạm sát người vô tội.

Đây là huấn dụ của giáo chủ, bọn Chu Nguyên Chương cùng đứng dậy, cúi mình, nói:

– Cẩn tuân lệnh chỉ của giáo chủ.

Sau đó bọn Chu Nguyên Chương, Đặng Dũ, Thang Hòa.. hành quân giao chiến, quả nhiên tuân lệnh Trương Vô Kỵ, không dám giết người bừa bãi, nhờ đó lấy được lòng dân, làm nên sự nghiệp lớn.

Trương Vô Kỵ nói:

– Các vị đã thám thính được tin tức về các cao thủ của phái Thiếu Lâm và Võ Đang, công này thật không nhỏ. Đợi sắp đặt xong đại sự khởi nghĩa chống Nguyên, chúng ta sẽ tới Đại Đô giải cứu cao thủ hai phái đó.

Nói xong việc chung, chàng lại cùng bọn Từ Đạt nói chuyện riêng, nhắc lại chuyện năm xưa ăn trộm bò của Trương viên ngoại, cả bọn cùng cười ha hả.

Tối hôm ấy, Trương Vô Kỵ tập hợp tất cả giáo chúng, đốt lửa thắp nhang, tuyên cáo các nơi cùng nổi dậy, chung sức chống triều Nguyên, các lộ giáo chúng phối hợp hưởng ứng với nhau làm cho quân Nguyên phải lúng túng đối phó hết nơi này nơi khác thì đại sự ắt thành.

Rồi định ra phương sách, giáo chủ Trương Vô Kỵ cùng Quang Minh tả sứ Dương Tiêu, Thanh Dực Bức Vương Vi Nhất Tiếu chấp chưởng tổng đàn, làm tổng soái của toàn giáo.

Bạch Mi Ưng Vương Ân Thiên Chính thống lĩnh giáo chúng Thiên Ưng kỳ nổi dậy ở Giang Nam.

Chu Nguyên Chương, Từ Đạt, Ngô Lương, Ngô Trinh, Đặng Dũ, Thang Hòa, Hoa Vân cùng với lực lượng của Thường Ngộ Xuân và Tôn Đức Nhai khởi binh tại Hào Châu, Hoài Bắc.

Bố đại hòa thượng Thuyết Bất Đắc thống lĩnh Hàn Sơn Đồng, Lưu Phúc Thông, Đỗ Tôn Đạo, La Văn Tố, Thịnh Văn Uất, Vương Hiển Trung, Hàn Hiệu Nhi khởi binh tại Dĩnh Châu, Hà Nam.

Bành Oánh Ngọc chỉ huy Từ Thọ Huy, Trâu Phổ Vượng, Minh Ngũ khởi sự tại các châu Cán, Nhiêu, Viên, Tín vùng Giang Tây.

Thiết Quan đạo nhân chỉ huy Bố Tam Vương, Mạnh Hải Mã khởi binh tại một dải Tương, Sở, Kinh Tương.

Chu Điên chỉ huy Chi Ma Lý, Triệu Quân Dụng khởi sự ở một dải Từ, Túc, Phong, Bái.

Lãnh Khiêm cùng giáo chúng Tây Vực sẽ ngăn chặn và chia cắt các đội quân tiếp viện của Mông Cổ từ Tây Vực đến Trung nguyên.

Ngũ Hành kỳ thuộc quyền điều động của tổng đàn, nơi nào nguy cấp thì tới đó cứu viện.

Phương sách bố trí đó, mười phần đến chín là do Dương Tiêu và Bành Oánh Ngọc đưa ra, sau khi Trương Vô Kỵ công bố, giáo chúng hoan hô vang trời.

Trương Vô Kỵ lại nói:

– Nếu chỉ dựa vào lực lượng của một mình bản giáo, rất khó lòng làm lung lay cơ nghiệp đã có gần trăm năm của triều Nguyên. Cho nên bản giáo cần phải liên lạc với anh hùng hào kiệt trong thiên hạ, chung sức lo toan mới đại thành công. Hiện thời một nửa số nhân vật thủ lĩnh của võ lâm Trung nguyên đang bị triều đình bắt giữ, tổng đàn phải tìm cách giải cứu họ. Ngày mai các huynh đệ tản về các nơi, gặp cơ hội thì cứ việc giết bọn Thát tử, còn tổng đàn sẽ đi Đại Đô cứu người. Tối nay tất cả cứ vui say một chuyến, sau này chưa biết bao giờ tái ngộ. Các huynh đệ cần lấy nghĩa khí làm trọng, đại sự trên hết, chớ nên tranh quyền đoạt lợi, tàn sát lẫn nhau, kẻ nào hành sự bất nghĩa, tổng đàn quyết không dung tha.

Mọi người đồng thanh đáp ứng:

– Lệnh chỉ của giáo chủ, quyết không vi phạm!

Tiếng reo hò vang động sơn cốc. Mọi người trích máu ăn thề, thắp nhang làm chứng, thà chết không phụ đại nghĩa.

Đêm nay trăng sáng vằng vặc, các lộ giáo chúng ngồi cả dưới đất. Các nhân viên chấp sự của tổng đàn mang bánh nhân chay ra phân phát cho mọi người. Mọi người thấy bánh tròn như mặt trăng nên gọi là bánh Trung thu. Hậu thế truyền tụng, rằng người Trung Hoa ăn bánh Trung thu để hẹn nhau giết bọn Thát tử chính là từ đại hội này của Minh giáo mà ra.

Trương Vô Kỵ lại tuyên bố:

– Bản giáo truyền đời cấm ăn thịt uống rượu. Thế nhưng hiện nay khắp nơi mất mùa đói kém, gặp gì ăn nấy. Huống hồ hiện nay đại sự số một của chúng ta là trừ diệt Thát tử, nếu không ăn thịt uống rượu thì tinh thần kém hăng hái, không đủ sức chiến đấu. Từ nay trở đi bãi bỏ giáo quy cấm ăn thịt uống rượu. Chúng ta lập thân xử thế lấy đại tiết làm trọng, cấm kỵ ăn uống chỉ là tiểu tiết.

Cũng từ đó, bánh Trung thu của giáo chúng Minh giáo có làm nhân thịt.

Sáng hôm sau, các lộ giáo chúng cáo biệt Trương Vô Kỵ. Ai nấy tuy là hào kiệt khảng khái, nhưng nghĩ rồi đây cuộc chiến ác liệt, không biết ai còn ai mất, khi đại sự quần hào dự đại hội ở Hồ Điệp cốc hôm nay liệu có còn sống được non nửa, đều không khỏi lưu luyến. Lúc này trước Hồ Điệp cốc có một đống lửa được đốt bốc lên cao, bỗng ai đó cất tiếng ca:

Thiêu đốt thân tàn ta,

Hỏa thánh cháy bừng bừng,

Sống chẳng có gì vui,

Thì chết có gì khổ?

Tức thì giáo chúng cùng phụ họa:

Thiêu đốt thân tàn ta,

Hỏa thánh cháy bừng bừng,

Sống chẳng có gì vui,

Thì chết có gì khổ?

Nguyện hành thiện trừ ác,

Làm sao cho quang minh,

Bao hỉ lạc bi sầu,

Đều hóa thành cát bụi.

Thương thay cho con người,

Sao lo buồn lắm vậy!

Thương thay cho con người,

Sao lo buồn lắm vậy!

Điệp khúc Thương thay cho con người, Sao lo buồn lắm vậy! cứ vang vọng trong Hồ Điệp cốc. Quần hào ai nấy mặc y phục màu trắng, tới trước mặt Trương Vô Kỵ cúi mình hành lễ, rồi ngẩng đầu hiên ngang bước đi, không quay đầu nhìn lại. Trương Vô Kỵ nghĩ thầm bao nhiêu dũng sĩ thế này, trong vòng một hai chục năm tới, máu của họ sẽ thấm khắp cả Trung nguyên thì nước mắt cứ rưng rưng.

Tiếng ca xa dần, tráng sĩ ly tán, Hồ Điệp cốc ồn ào náo nhiệt mấy hôm nay trở lại vắng lặng, chỉ còn Dương Tiêu, Vi Nhất Tiếu, Chu Nguyên Chương và vài người khác.

Trương Vô Kỵ hỏi kỹ địa điểm chùa Vạn An, hình dạng của bọn người hung dữ kia, rồi nói:

– Chu đại ca, ở vùng Hào Tứ này đang đại loạn, không nên bỏ lỡ cơ hội khởi sự. Mấy vị không cần theo bản nhân lên Đại Đô, chúng ta từ biệt ở đây.

Chu Nguyên Chương, Từ Đạt, Thường Ngộ Xuân cùng nói:

– Những mong giáo chủ mã đáo thành công, bọn thuộc hạ chờ đón tin mừng.

Rồi cả bọn bái biệt Trương Vô Kỵ, rời Hồ Điệp cốc đi lo chuyện khởi nghĩa.

Trương Vô Kỵ nói:

– Chúng ta cũng đi thôi. Tiểu Chiêu, cô nương vướng xiềng xích, đi lại bất tiện, hãy ở lại đây chờ ta nhé.

Tiểu Chiêu buồn bã vâng lời, nhưng khi tiễn chân, ra khỏi sơn cốc ba dặm rồi lại tiễn thêm ba dặm nữa, vẫn chưa chịu chia tay.

Trương Vô Kỵ nói:

– Tiểu Chiêu, cô nương tiễn xa quá, coi chừng lúc về bị lạc đường đó.

Tiểu Chiêu nói:

– Trương công tử, công tử lên Đại Đô, liệu có gặp Triệu cô nương hay không?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Rất có thể sẽ gặp.

Tiểu Chiêu nói:

– Nếu công tử gặp Triệu cô nương, công tử có thể nhờ Triệu cô nương giúp tiểu nữ một việc được chăng?

Trương Vô Kỵ lấy làm lạ, hỏi:

– Cô nương muốn nhờ việc gì?

Tiểu Chiêu nhún vai, nói:

– Công tử hãy mượn kiếm Ỷ Thiên chém đứt cái dây xích này, chứ không suốt đời tiểu nữ sẽ không được tự do.

Trương Vô Kỵ thấy vẻ ủ rũ đáng thương của Tiểu Chiêu cảm thấy, trong lòng không nỡ, bèn nói:

– Chỉ e Triệu cô nương không cho ta mượn bảo kiếm, huống hồ là mượn đem về đây.

Tiểu Chiêu nói:

– Vậy thì.. vậy thì công tử đưa tiểu nữ đến trước mặt Triệu cô nương, nhờ nàng ta dùng bảo kiếm chặt một nhát, có phải hơn không?

Trương Vô Kỵ cười:

– Nói đi nói lại, chẳng qua cô nương muốn theo ta lên Đại Đô. Dương tả sứ, tả sứ thấy chúng ta có thể cho cô nương này đi theo được không?

Dương Tiêu biết Trương Vô Kỵ hỏi thế là đã có ý cho Tiểu Chiêu đi cùng, bèn đáp:

– Cũng được. Việc trà nước, y phục của giáo chủ đã có cô nương ấy lo, chỉ có điều dây xích kêu leng keng, sợ bị người ta để ý. Vậy cô nương hãy giả vờ bị bệnh, chỉ ngồi trong xe, ít đi ra ngoài.

Tiểu Chiêu cả mừng, vội nói:

– Đa tạ công tử. Đa tạ Dương tả sứ!

Rồi quay sang nhìn Vi Nhất Tiếu, nói thêm:

– Đa tạ Vi pháp vương!

Vi Nhất Tiếu cười, nói:

– Sao cô nương lại cảm ơn ta? Cô nương hãy coi chừng, bệnh của ta mà tái phát là ta hút máu cô nương đó!

Nói xong ông ta nhe hai hàm răng trắng nhởn, giả vờ làm dữ. Tiểu Chiêu biết ông ta chỉ đùa bỡn, song cũng hơi hoảng, lùi lại ba bước, nói:

– Pháp vương.. đừng dọa tiểu nữ.

Comments

Comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 26: Mặt hoa da phấn nỡ hủy sao?

Chiều hôm đó, ba con ngựa, một cỗ xe cùng chạy lên phía bắc; ít ngày sau đã tới kinh thành Đại Đô của triều Nguyên. Thời đó vó ngựa người Mông Cổ chinh phục ra ngoài mấy vạn dặm, thành một đế quốc rộng lớn không đâu bằng. Đại Đô tức là Bắc Kinh sau này, là nơi hoàng đế ở, sứ thần của các tiểu quốc, các bộ tộc đến đây triều cống đông vô kể. Bọn Trương Vô Kỵ vừa vào qua cổng thành, đã thấy trên đường phố người qua lại tấp nập, có khá nhiều người tóc vàng mắt xanh.

Bốn người đi tới phía tây, tìm một khách điếm nghỉ ngơi. Dương Tiêu chi tiêu rộng rãi, đóng vai một thương gia giàu có, gọi ba phòng hạng nhất. Điếm tiểu nhị thấy vậy xun xoe, phục vụ ân cần.

Dương Tiêu hỏi thăm xem trong thành Đại Đô có những danh lam thắng cảnh nào, trò chuyện một hồi, làm như vô tình hỏi đến đền chùa. Ngôi chùa đầu tiên điếm tiểu nhị kể ra là chùa Vạn An:

– Chùa Vạn An có một cánh rừng lớn, trong chùa có ba bức tượng Phật bằng đồng, dù có đi khắp thiên hạ cũng không tìm ra pho tượng nào lớn hơn, ai cũng nên đến xem cho biết. Tiếc rằng quan khách không gặp may, chừng nửa năm nay trong chùa có các Phật gia Tây phiên đến ở, thường dân không dám vào nữa.

Dương Tiêu hỏi:

– Có phiên tăng ở ư? Ngay cả vào xem cũng không được ư?

Điếm tiểu nhị lè lưỡi, nhìn quanh bốn phía, nói nhỏ:

– Không phải tiểu nhân bép xép, nhưng quan khách mới tới kinh đô lần đầu, nói năng nên cẩn thận. Các Phật gia Tây phiên kia gặp người, muốn đánh là đánh, muốn giết là giết, gặp gái đẹp là bắt mang vào chùa. Đấy là do thánh chỉ của hoàng thượng cho phép như vậy. Đâu có ai dám vuốt râu hùm mà lại gần các Phật gia Tây phiên ấy làm chi?

Các phiên tăng Tây Vực ỷ thế người Mông Cổ, hoành hành ngang ngược, áp bức khinh rẻ người Hán, chuyện đó Dương Tiêu biết từ lâu, không ngờ ngay giữa kinh thành mà bọn chúng chẳng e dè gì hết, nên cũng không nói thêm với điếm tiểu nhị.

Ăn tối xong, mọi người chợp mắt dưỡng thần một lát, đợi đến canh hai, Trương Vô Kỵ, Dương Tiêu, Vi Nhất Tiếu, ba người mới nhảy qua cửa sổ, đi về phía tây tìm kiếm.

Chùa Vạn An có bốn tầng lầu cao, sau chùa có một tòa bảo tháp mười ba tầng bậc, nên có thể nhìn thấy từ xa.

Trương Vô Kỵ, Dương Tiêu, Vi Nhất Tiếu thi triển khinh công, trong giây lát đã tới trước cổng chùa. Ba người dùng tay ra hiệu cho nhau, lẻn qua phía bên trái chùa, toan leo lên tòa bảo tháp, để từ trên cao dễ quan sát toàn cảnh bên trong chùa. Không ngờ khi đến cách bảo tháp chừng hai chục trượng, thì thấy trên tháp thấp thoáng bóng người qua lại, mỗi tầng tháp đều có người đi tuần, dưới chân tháp có tới hai ba chục người canh giữ.

Ba người thấy vậy thì vừa mừng vừa lo; bảo tháp được canh phòng nghiêm mật như thế, hẳn là các cao thủ của hai phái Thiếu Lâm, Võ Đang đang bị nhốt ở đây, đỡ tốn công đi do thám. Nhưng đối phương canh giữ nghiêm mật như thế, muốn cứu người quả không dễ dàng. Huống hồ các vị như Không Văn, Không Trí, Tống Viễn Kiều, Du Liên Châu, Trương Tòng Khê, ai ai cũng võ công cao cường mà còn bị bắt giữ, thì chẳng cần nói cũng biết đối phương phải có rất nhiều cao thủ và thủ đoạn phải hết sức lợi hại. Trước khi tới chùa Vạn An, ba người đã xác định không được hành sự cẩu thả, bèn lặng lẽ rút lui.

Đột nhiên ở tầng thứ sáu của tòa bảo tháp có ánh lửa lấp loáng, tám chín người cầm đuốc thong thả đi xuống tầng thứ năm, rồi từ tầng thứ năm đi xuống tầng thứ tư, đến tầng trệt thì theo cửa chính của tòa bảo tháp mà ra phía sau chùa. Dương Tiêu vẫy vẫy tay, từ bên hông men lại gần. Phía sau chùa Vạn An toàn là các cây cổ thụ cao chọc trời. Ba người nấp sau gốc cây, cứ mỗi khi nghe tiếng gió thổi xao động lại chạy lên vài trượng. Ba người khinh công tuy cao siêu, nhưng cũng sợ bị người ta phát giác, nên phải lợi dụng tiếng gió lay, lá rụng mới dám di chuyển.

Cứ thế đi lên phía trước hơn hai chục trượng, thì đã thấy rõ hơn chục hoàng y hán tử tay lăm lăm binh khí, áp giải một ông già mặc trường bào, tay áo thụng. Ông già tình cờ ngoảnh lại, Trương Vô Kỵ nhìn rõ mặt, chính là chưởng môn phái Côn Luân Thiết Cầm tiên sinh Hà Thái Xung. Chàng không khỏi kinh hãi: "Ngay cả Hà Thái Xung cũng bị giam tại đây".

Bọn người kia đi vào chùa Vạn An bằng cổng hậu. Ba người chờ một lúc, thấy bốn bề quả thực không có ai, mới theo cổng hậu lẻn vào. Ngôi chùa này rất nhiều phòng ốc, quy mô rộng lớn, giống như chùa Thiếu Lâm. Thấy bên trong cửa sổ một tòa đại điện đèn sáng trưng, có lẽ Hà Thái Xung bị giải vào đó. Ba người lẻn tới bên ngoài đại điện. Trương Vô Kỵ nằm dán mình sát đất, nhìn qua kẽ cửa. Dương Tiêu và Vi Nhất Tiếu canh chừng hai bên, đề phòng bị đánh trộm. Ba người tuy võ công cao cường, to gan lớn mật, nhưng lúc này lọt vào đầm rồng hang hổ, cũng không khỏi phập phồng lo ngại.

Khe cửa rất hẹp, Trương Vô Kỵ chỉ nhìn thấy nửa thân dưới của Hà Thái Xung, chứ không thể biết trong điện còn có những ai. Nghe tiếng Hà Thái Xung xẵng giọng nói:

– Ta trúng phải gian kế, đã sa vào tay bọn ngươi, muốn giết thì cứ việc giết. Còn muốn cưỡng bức ta làm ưng khuyển cho triều đình, thì nhất định không xong, dẫu có nói ba năm, năm năm cũng chỉ phí lời mà thôi.

Trương Vô Kỵ thầm gật đầu, nghĩ: "Hà tiên sinh tuy không phải là bậc chính nhân quân tử, nhưng trong lúc nguy nan vẫn vững lòng, không đánh mất khí phách của một vị chưởng môn".

Giọng một hán tử lạnh lùng nói:

– Ngươi khăng khăng cố chấp, chủ nhân cũng không ép, thế quy củ ở đây, ngươi đã biết rồi chứ?

Hà Thái Xung nói:

– Dù cả mười ngón tay của ta bị chặt đứt, ta cũng không đầu hàng.

Người kia nói:

– Được, để ta nhắc lại một lượt. Nếu ngươi thắng được ba người chúng ta ở đây, bọn ta sẽ lắc đầu thả ngươi ra. Còn nếu ngươi thua, sẽ bị chặt mất một ngón tay, bị nhốt một tháng, rồi hỏi tiếp ngươi có chịu hàng hay không.

Hà Thái Xung đáp:

– Ta đã bị chặt mất hai ngón tay, có mất thêm một ngón nữa cũng chẳng sao. Đưa kiếm cho ta.

Người kia cười khẩy:

– Đợi đến lúc cả mười ngón tay của ngươi bị chặt đứt, lúc ấy mới đầu hàng, thì bọn ta cũng chả cần đến kẻ bỏ đi như ngươi nữa. Đưa kiếm cho y. Ma Ha Ba Tư, hãy đấu với y đi!

Một kẻ giọng ồm ồm đáp:

– Vâng.

Trương Vô Kỵ ngầm vận thần công vào đầu ngón tay, moi khe cửa rộng ra thêm một chút, thấy Hà Thái Xung cầm một thanh kiếm gỗ, mũi kiếm bọc vải, mềm và không sắc, không thể đả thương người khác. Còn trước mặt Hà Thái Xung là một phiên tăng cao to, tay cầm một thanh giới đao sáng loáng. Binh khí đôi bên kẻ sắc người cùn như vậy, khỏi cần tỷ thí cũng đã biết ngay ai mạnh ai yếu. Song Hà Thái Xung không sợ hãi chút nào, vung thanh kiếm gỗ, nói:

– Xin mời!

Rồi đâm tới một kiếm, khí thế rất lợi hại. Kiếm pháp của phái Côn Luân quả có chỗ độc đáo. Gã phiên tăng Ma Ha Ba Tư kia thân hình cao to, nhưng hành động rất nhanh nhẹn, vung giới đao nhằm vào toàn những nơi yếu hại của Hà Thái Xung mà đánh. Trương Vô Kỵ xem vài chiêu đã thầm kinh hãi: "Sao Hà tiên sinh cước bộ lại chông chênh, hơi thở hổn hển, dường như mất hết cả nội lực thế kia?"

Hà Thái Xung kiếm pháp tuy tinh diệu, nhưng nội lực đã mất, bây giờ hầu như không hơn gì người bình thường, thì làm sao có thể thi thố các chiêu thức lợi hại? May mà gã phiên tăng võ công kém ông ta đến hai bậc, nên mấy lần tấn công mãnh liệt đều bị Hà Thái Xung dùng kiếm thuật tinh diệu chiếm lấy tiên cơ. Đôi bên đấu hơn năm mươi chiêu, Hà Thái Xung quát:

– Trúng này!

Thanh kiếm gỗ từ đông đâm sang tây rồi ngoặt xéo lên, "bộp" một tiếng, đã đâm trúng vào nách gã phiên tăng. Nếu đó là một thanh kiếm sắt thông thường, hoặc Hà Thái Xung không bị mất nội lực, thì mũi kiếm đã ngập sâu vào da thịt rồi.

Chỉ nghe giọng nói lạnh lùng lúc nãy vang lên:

– Ma Ha Ba Tư lui ra, Ôn Ngọa Nhi lên thay!

Trương Vô Kỵ nhìn kẻ vừa nói, thấy mặt hắn ta như phủ một lớp khói đen, chòm râu bạc lưa thưa, chính là một trong Huyền Minh nhị lão. Lão ta khoanh tay đứng, mắt lim dim, tựa hồ chẳng bận tâm lắm về chuyện xảy ra trước mắt.

Chàng đưa mắt nhìn tiếp, thấy trên một cái đôn thấp phủ gấm có một đôi bàn chân đi hài lụa màu vàng, mũi hài có đính một hạt minh châu. Trương Vô Kỵ chợt rung động trong lòng, nhận ra hai bàn chân xinh xắn, mắt cá chân tròn tròn kia rất quen thuộc, chính là hai bàn chân của Triệu Mẫn mà chàng đã nắm được hôm ở Lục Liễu trang. Hôm gặp Triệu Mẫn trên núi Võ Đang, đôi bên là kẻ thù, nhưng lúc này nhìn thấy hai bàn chân nhỏ nhắn của nàng, không hiểu sao chàng tự dưng đỏ bừng cả mặt, tim đập thình thịch.

Chỉ thấy Triệu Mẫn khẽ đung đưa bàn chân bên phải, hình như nàng đang để hết tâm trí theo dõi trận đấu giữa Hà Thái Xung với Ôn Ngọa Nhi. Chừng uống xong một tách trà nóng, Hà Thái Xung lại quát một tiếng "Trúng này!" Triệu Mẫn giậm chân trên cái đôn, Ôn Ngọa Nhi cũng thua rồi. Lão già mặt đen thuộc Huyền Minh nhị lão nói:

– Ôn Ngọa Nhi lui, Hắc Lâm Bát Phu ra thay!

Trương Vô Kỵ nghe tiếng thở hổn hển của Hà Thái Xung, nghĩ chắc ông ta liên tiếp đấu với hai người nên tốn quá nhiều sức. Trong giây lát, một trận đấu ác liệt lại nổ ra, Hắc Lâm Bát Phu sử một cây thiền trượng bằng sắt vừa to vừa nặng, khi múa thì gió thổi ù ù trong điện, làm cho đèn nến trong điện phập phù lúc tỏ lúc mờ, bóng người cứ như mây bay thấp thoáng qua lại chỗ chân Triệu Mẫn. Chợt trong điện tối sầm, mấy ngọn nến hồng bị gió phát ra từ cây thiết trượng thổi tắt ngúm, nghe "rắc" một cái, thanh kiếm gỗ gãy làm đôi. Hà Thái Xung thở dài, vứt kiếm xuống đất, trận này thế là thua.

Huyền Minh lão nhân hỏi:

– Thiết Cầm tiên sinh, đã chịu đầu hàng hay chưa?

Hà Thái Xung ngang nhiên đáp:

– Ta không chịu hàng, cũng không phục. Nếu ta còn nội lực, thì gã phiên tăng kia đâu có địch nổi ta?

Huyền Minh lão nhân lạnh lùng nói:

– Chặt ngón vô danh bên trái của y, dẫn trở lại tháp.

Trương Vô Kỵ quay đầu lại, Dương Tiêu xua xua tay, ngụ ý: "Bây giờ mà xông vào cứu người, có thể làm hỏng đại sự". Chỉ nghe bên trong điện có tiếng chặt ngón tay, rịt thuốc, cầm máu, buộc vết thương, còn Hà Thái Xung thì rất cứng cỏi, không hé răng rên một tiếng. Bọn áo vàng lại cầm đuốc giải Hà Thái Xung lại chỗ giam ở tòa tháp. Bọn Trương Vô Kỵ nép mình trong góc tường, dưới ánh đuốc thấy Hà Thái Xung mặt tái nhợt, nghiến răng bậm môi, hầm hầm tức giận.

*

* *

Bọn kia đi xa rồi, bỗng nghe một giọng thanh thoát yểu điệu ở trong điện:

– Lộc Trượng tiên sinh, kiếm pháp phái Côn Luân quả là cao siêu, y đâm trúng Ma Ha Ba Tư một chiêu, thoạt tiên y chém bên trái, rồi ngoặt chuyển sang bên phải..

Trương Vô Kỵ ghé mắt nhòm vào, thấy người nói chính là Triệu Mẫn. Nàng vừa nói vừa đi ra giữa điện, tay cầm một thanh kiếm gỗ, bắt chước kiếm pháp của Hà Thái Xung. Phiên tăng Ma Ha Ba Tư tay múa song đao, luyện chiêu với nàng.

Huyền Minh lão nhân mặt đen mà Triệu Mẫn gọi là Lộc Trượng tiên sinh, tức Lộc Trượng Khách, tán thưởng:

– Chủ nhân quá ư thông minh, chiêu đó sử không sai chút nào.

Triệu Mẫn luyện đi luyện lại chiêu đó, lần nào mũi kiếm của nàng cũng đâm trúng nách Ma Ha Ba Tư. Tuy là kiếm gỗ, nhưng bị đâm mấy lần, lần nào cũng trúng vào một chỗ, chắc là khá đau, nhưng Ma Ha Ba Tư không dám kêu đau hoặc tránh né, vẫn tập trung chú ý ra chiêu cho nàng luyện kiếm.

Nàng luyện thành thạo vài chiêu rồi, lại gọi Ôn Ngọa Nhi ra, tập lại chiêu mà Hà Thái Xung đã sử để đánh bại tên này. Trương Vô Kỵ bây giờ đã rõ, thì ra Triệu Mẫn bắt nhốt cao thủ các phái ở đây, cho họ uống một loại thuốc làm mất hết nội lực, buộc họ đầu hàng triều đình. Bọn họ tất nhiên không đầu hàng; Triệu Mẫn bèn sai thuộc hạ ra đấu với họ, nàng ngồi một bên quan sát, học lỏm chiêu số tinh diệu của các môn phái. Dụng ý nham hiểm, mưu mô tàn ác, khiến người ta phải kinh hãi.

Sau đó Triệu Mẫn lại cùng Hắc Lâm Bát Phu tập luyện, đến chiêu cuối cùng, nàng hơi chần chừ, hỏi:

– Lộc Trượng tiên sinh, có phải thế này không?

Lộc Trượng Khách ngẫm nghĩ, rồi quay sang hỏi:

– Hạc huynh đệ, đệ có nhìn rõ không?

Từ bên góc trái có tiếng đáp lời:

– Khổ đại sư thể nào cũng nhớ rõ.

Triệu Mẫn cười, nói:

– Khổ đại sư, phiền ra chỉ điểm cho ta một chút.

Chỉ thấy từ bên phải bước ra một đầu đà tóc xõa xuống vai, thân thể cao lớn, trên mặt có bảy, tám vết sẹo dài ngang dọc, khiến người ta khó lòng nhận ra bộ mặt thật của hắn. Tóc hắn màu hung, dĩ nhiên không phải người Trung thổ. Hắn không nói một lời, nhận lấy thanh kiếm gỗ từ tay Triệu Mẫn, đâm luôn mấy nhát về phía Hắc Lâm Bát Phu, chính là sử dụng kiếm pháp của phái Côn Luân.

Khổ đầu đà được gọi là "Khổ đại sư" kia mô phỏng kiếm chiêu của Hà Thái Xung, cũng không dùng chút nội lực nào, còn gã Hắc Lâm Bát Phu thì giở toàn lực ra đấu, lúc sau cùng gã vung thiết trượng tạt ngang, các ngọn nến lại bị gió thổi tắt ngúm. Ban nãy ở chiêu này Hà Thái Xung không tránh được, buộc phải giơ kiếm gỗ cản thiết trượng, bị gãy kiếm mà thua. Đằng này thanh kiếm gỗ trong tay Khổ đầu đà đổi phương vị, lách qua, y như một con nhạn sà xuống chạm mặt nước, né theo thiết trượng mà bay vút lên.

Ngón tay Hắc Lâm Bát Phu cầm thiết trượng bị kiếm róc trúng, huyệt đạo ở hổ khẩu tê dại, hắn buông rơi cây thiết trượng xuống nền điện, làm cho mấy mảnh gạch xanh văng tung tóe.

Hắc Lâm Bát Phu đỏ mặt, biết rằng kiếm gỗ mà thay bằng kiếm thật, thì tám ngón tay của hắn đã đứt lìa, bèn cúi mình nói:

– Bái phục, bái phục!

Hắn cúi nhặt thiết trượng lên. Khổ đầu đà hai tay đưa kiếm gỗ trả lại Triệu Mẫn. Triệu Mẫn cười, nói:

– Khổ đại sư, chiêu sau cùng tinh diệu tuyệt luân, cũng là kiếm pháp phái Côn Luân phải không?

Khổ đầu đà lắc đầu. Triệu Mẫn nói:

– Thảo nào Hà Thái Xung không biết. Khổ đại sư dạy cho ta đi!

Khổ đầu đà dùng tay không đấu với kiếm của Triệu Mẫn. Luyện tới lần thứ ba, Khổ đầu đà động tác nhanh như chớp, Triệu Mẫn theo không kịp, kiếm chiêu của nàng tuy chậm lại, song theo đúng cách thức. Khổ đầu đà xoay người qua, hai tay tống về phía trước, giữ tư thế bất động. Trương Vô Kỵ khen thầm: "Hay thật, quả là cao minh!"

Triệu Mẫn nhất thời vẫn chưa hiểu, nghiêng đầu nhìn tư thế của Khổ đầu đà nghĩ một lát rồi mới rõ, nói:

– Khổ đại sư, nếu trong tay đại sư có thiền trượng, thì đã đánh trúng vai ta phải không? Chiêu đó hóa giải cách nào?

Khổ đầu đà đưa tay làm tư thế cầm trượng, chân trái đá lên, đầu ngẩng cao, ra điều đã đoạt được thiền trượng của đối phương, đồng thời đá đối phương bay đi. Chiêu này tưởng vụng mà khéo, là công phu ngoại môn cực kỳ cương mãnh. Triệu Mẫn cười, nói:

– Hảo sư phụ, mau dạy cho ta đi nào!

Thần tình của nàng rất kiều mị. Trương Vô Kỵ tim đập mạnh, nghĩ thầm: "Nàng nội lực chưa đủ, làm sao học nổi chiêu này? Nhưng dáng dấp nũng nịu thế kia, ai mà từ chối nàng cho được?" Khổ đầu đà giơ tay làm hiệu hai lần, chính là ngụ ý bảo nàng chưa đủ nội lực, không thể học chiêu này, rồi quay mình đi, bỏ mặc nàng.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Khổ đầu đà võ công cao cường, xem chừng chẳng kém Huyền Minh nhị lão, không biết nội lực đến đâu, nhưng chiêu số thần diệu, quả là một kình địch. Lão chỉ ra hiệu, không nói năng, chẳng lẽ là câm? Tai lão thì chưa điếc. Triệu Mẫn đối với lão tỏ ra kính trọng, chắc lão là một nhân vật rất lớn".

Triệu Mẫn thấy Khổ đầu đà không chịu dạy cho nàng nữa, thì mỉm cười, không hề tức giận, nói:

– Gọi Đường Văn Lượng của phái Không Động lên đây.

Lát sau Đường Văn Lượng bị áp giải tới điện. Lộc Trượng Khách lại sai ba người ra đấu. Đường Văn Lượng không chịu đấu nếu đối phương dùng binh khí, trong khi mình tay không. Đôi bên đấu chưởng, Đường Văn Lượng thắng được hai tên, đến trận thứ ba, Đường Văn Lượng không địch nổi nội lực cao hơn của đối phương, cũng bị chặt mất một ngón tay.

Lần này Triệu Mẫn luyện chiêu kiếm do Lộc Trượng Khách đứng bên chỉ điểm. Bây giờ Trương Vô Kỵ đã hiểu ngọn nguồn, Triệu Mẫn rõ ràng vì nội lực chưa đủ, biết phải luyện lâu mới thành, nên muốn học hết sở trường của các môn phái, để trở thành một đại cao thủ. Cách đó kể cũng có thể được, khi chiêu số luyện đến mức thật tinh diệu, thì có thể bù cho nội lực chưa đủ.

*

* *

Triệu Mẫn luyện xong chưởng pháp, nói:

– Đưa Diệt Tuyệt lão ni lên đây.

Một tên áo vàng bẩm:

– Diệt Tuyệt lão ni tuyệt thực đã năm ngày nay, hôm nay mụ ta lại cứng đầu lạ thường, không chịu tuân lệnh.

Triệu Mẫn cười, nói:

– Đã thế mặc cho mụ ta chết đói! À, gọi tiểu cô nương Chu Chỉ Nhược phái Nga Mi lên đây.

Bọn thuộc hạ vâng lệnh, quay mình ra khỏi điện.

Trương Vô Kỵ vẫn cảm kích tấm lòng Chu Chỉ Nhược năm xưa ân cần săn sóc cho chàng trên sông Hán Thủy. Trên đỉnh Quang Minh, Chu Chỉ Nhược lại chỉ điểm cho chàng phương vị Dịch số, nhờ thế chàng phá được sự liên thủ đao kiếm giữa hai phái Hoa Sơn và Côn Luân. Sau đó nàng đâm chàng một kiếm, song chẳng qua đó là do nghiêm lệnh của sư phụ, nên chàng không để bụng oán trách. Lúc này nghe Triệu Mẫn cho gọi Chu Chỉ Nhược lên, chàng không khỏi chấn động trong lòng.

Lát sau bọn áo vàng áp giải Chu Chỉ Nhược tới điện. Trương Vô Kỵ thấy nàng vẫn xinh đẹp như xưa, song có vẻ tiều tụy so với khi ở trên đỉnh Quang Minh; tuy bị kẻ địch bắt giữ, song vẻ mặt vẫn bình thản, tựa hồ không coi chuyện sống chết là gì cả. Lộc Trượng Khách theo lệ, hỏi nàng có chịu đầu hàng hay không, Chu Chỉ Nhược lắc đầu, không nói.

Lộc Trượng Khách đang định sai người ra đấu kiếm với nàng, thì Triệu Mẫn nói:

– Chu cô nương, cô nương còn trẻ thế mà đã là cao đệ của phái Nga Mi, thực đáng khen ngợi. Nghe nói cô nương là đệ tử đắc ý của Diệt Tuyệt sư thái, nắm vững tuyệt học kiếm chiêu của lão nhân gia, có phải vậy chăng?

Chu Chỉ Nhược đáp:

– Gia sư võ công bác đại tinh thâm, nói về tuyệt học kiếm chiêu của lão nhân gia, tiểu nữ ít tuổi, học vấn nông cạn, còn xa mới với tới được.

Triệu Mẫn cười, nói:

– Quy củ ở đây, ai thắng được ba người bọn ta, sẽ được thả đi yên lành, không ai gây khó dễ gì hết. Tôn sư sao lại quá cao ngạo, không chịu tỷ thí võ công với bọn ta là sao?

Chu Chỉ Nhược nói:

– Gia sư thà chết chứ không chịu nhục. Đường đường là chưởng môn phái Nga Mi, đời nào thèm sợ hãi cầu sống với bọn thuộc hạ các người? Cô nương nói không sai, gia sư quả thật coi khinh bọn tiểu nhân âm độc hèn hạ, nên không đời nào động thủ quá chiêu với chúng.

Triệu Mẫn không giận, cười nói:

– Còn Chu cô nương thì sao?

Chu Chỉ Nhược đáp:

– Tiểu nữ còn ít tuổi, làm sao có thể tự mình quyết định? Sư phụ bảo sao thì cứ theo thế mà làm thôi.

Triệu Mẫn nói:

– Tôn sư bảo cô nương cũng không thèm động thủ với bọn ta phải không? Vì cớ gì vậy?

Chu Chỉ Nhược đáp:

– Kiếm pháp của phái Nga Mi tuy không dám nói là tuyệt học gì cả, nhưng cũng là võ công của một đại danh môn chính phái ở Trung nguyên, không thể để cho bọn phiên bang Hồ Lỗ vô liêm sỉ học lỏm.

Nàng nói câu này với thần thái rất nhu mì, nhưng lời lẽ sắc bén, không nể nang gì hết.

Triệu Mẫn sững người, không ngờ dụng tâm của mình lại bị Diệt Tuyệt sư thái đoán biết, nghe Chu Chỉ Nhược nói nào là "bọn tiểu nhân âm độc", nào là "bọn Hồ Lỗ vô liêm sỉ", thì không thể nhịn được, soẹt một tiếng, kiếm Ỷ Thiên đã cầm trong tay, nói:

– Sư phụ ngươi chửi bọn ta là hạng vô liêm sỉ. Được, vậy ta hỏi ngươi, thanh kiếm Ỷ Thiên này rõ ràng là báu vật gia truyền của nhà bổn cô nương, tại sao phái Nga Mi lại lấy trộm?

Chu Chỉ Nhược thản nhiên đáp:

Kiếm Ỷ Thiên và đao Đồ Long xưa nay là hai đại lợi khí của võ lâm Trung nguyên, chưa hề nghe nói liên quan gì tới nữ nhân phiên bang cả.

Triệu Mẫn đỏ mặt, tức giận nói:

– Hừ, xem ra miệng lưỡi ngươi đáo để lắm. Ngươi quyết ý không động thủ phải không?

Chu Chỉ Nhược lắc đầu. Triệu Mẫn nói:

– Kẻ khác tỷ thí mà thua, hoặc không chịu tỷ thí, thì ta chặt một ngón tay. Còn cô ả này tự cho mình là hoa nhường nguyệt thẹn, đã kiêu ngạo như thế, thì ta cũng không thèm chặt ngón tay ngươi.

Nói rồi chỉ tay về phía Khổ đầu đà, nói:

– Để ta làm cho giống vị đại sư phụ kia, rạch vài ba chục nhát kiếm trên mặt ngươi, xem có còn kiêu ngạo nữa không?

Triệu Mẫn phất tay một cái, hai tên áo vàng xông tới, mỗi tên giữ chặt một cánh tay của Chu Chỉ Nhược.

Triệu Mẫn mỉm cười, nói:

– Muốn rạch nát mặt ngươi, cho nó biến thành tổ ong, đâu cần đến kiếm pháp tinh diệu của phái Nga Mi. Ngươi tưởng vài miếng võ mèo quào của ta không đủ làm cho người xấu như ma được sao?

Chu Chỉ Nhược nước mắt lưng tròng, thân hình run rẩy, thấy mũi kiếm Ỷ Thiên chỉ còn cách mặt mình vài tấc, con ác ma kia chỉ cần nhấn tay một cái, thì trong nháy mắt mặt nàng sẽ chẳng khác gì lão đầu đà đáng sợ kia. Triệu Mẫn cười nói:

– Ngươi sợ chưa hả?

Chu Chỉ Nhược không còn dám ương ngạnh, gật gật đầu. Triệu Mẫn nói:

– Tốt! Vậy là ngươi chịu hàng rồi chứ?

Chu Chỉ Nhược nói:

– Ta không đầu hàng! Ngươi cứ việc giết ta đi!

Triệu Mẫn cười:

Ta trước nay chưa hề giết người. Ta chỉ rạch mặt ngươi thôi.

Hàn quang loáng lên, trường kiếm trong tay Triệu Mẫn rạch vào mặt Chu Chỉ Nhược, đột nhiên "keng" một tiếng, từ bên ngoài điện có một vật ném vào, đẩy kiếm Ỷ Thiện chệch sang một bên. Cùng lúc đó, cửa sổ vỡ tung, một người phi thân nhảy vào. Hai kẻ mặc áo vàng đang nắm cánh tay Chu Chỉ Nhược tự dưng bay văng đi. Người kia dùng tay trái đỡ ngang lưng Chu Chỉ Nhược, tay phải đối chưởng với Lộc Trượng Khách nghe bốp một tiếng, đôi bên đều lùi lại hai bước.

Mọi người nhìn kỹ, hóa ra chính là giáo chủ Minh giáo Trương Vô Kỵ.

Chàng xuất hiện y như tướng nhà trời giáng trần, bọn kia cả kinh, ngay cả hai cao thủ như Huyền Minh nhị lão cũng không phát giác được. Lộc Trượng Khách nghe tiếng song cửa bị vỡ, vội nhảy tới che cho Triệu Mẫn, đối chưởng với Trương Vô Kỵ, chân không đứng vững phải lùi hai bước, toan đề khí tiến lên, bỗng thấy toàn thân nóng ran như rơi vào trong lò lửa.

Chu Chỉ Nhược thấy đại họa lâm đầu, không ngờ lại có người ra tay cứu giúp. Nàng được Trương Vô Kỵ ôm lấy, áp vào bộ ngực rộng săn chắc, lại ngửi thấy mùi đàn ông đậm đà, vừa ngạc nhiên vừa vui mừng, trong sát-na ấy cảm thấy nhẹ nhàng bửng lửng, tưởng như muốn lịm đi. Trương Vô Kỵ dùng Cửu dương thần công đối địch với Huyền Minh thần chưởng của Lộc Trượng Khách, chân khí toàn thân trào lên bừng bừng. Chu Chỉ Nhược trước nay chưa từng đụng chạm da thịt nam giới, huống chi đây lại là trang nam nhi mà nàng ngày đêm ao ước trong mộng. Trong lòng chỉ cảm thấy sung sướng vô bờ, dù kẻ địch tứ phía có xông tới chém xuống ngàn vạn nhát đao, nàng cũng chẳng sợ.

Dương Tiêu và Vi Nhất Tiếu thấy giáo chủ xông vào cứu người, lập tức cũng nhảy vào, đứng hai bên chàng. Đám thủ hạ của Triệu Mẫn thấy biến cố bất ngờ, thoạt tiên cũng hơi hoảng, nhưng rồi thấy bên địch chỉ có ba người, các võ sĩ canh gác trong ngoài điện nghe tiếng hô ứng, biết không còn ai khác nữa, bèn chia nhau trấn giữ mọi cửa nẻo, lẳng lặng chờ lệnh Triệu Mẫn.

Triệu Mẫn không tỏ ra sợ hãi, cũng không tức giận, chỉ ngẩn ngơ nhìn Trương Vô Kỵ hồi lâu, rồi đưa mắt nhìn hai mảnh vàng lấp lánh ở góc điện. Nguyên lúc nàng dùng kiếm Ỷ Thiên rạch mặt Chu Chỉ Nhược, vật mà Trương Vô Kỵ ném vào, đẩy chệch mũi kiếm đi, chính là cái hộp bằng vàng mà nàng đã tặng cho chàng. Kiếm Ỷ Thiên quá sắc bén, vừa đụng cái hộp bằng vàng, đã chặt nó đứt đôi.

Triệu Mẫn nhìn hai mảnh hộp một lát, nói:

– Công tử ghét cái hộp ấy đến mức cứ phải làm hỏng nó đi mới được hay sao?

Trương Vô Kỵ thấy ánh mắt nàng đầy vẻ u oán, hoàn toàn không có ý trách cứ tức tối, chỉ là đượm buồn, thì chàng cảm thấy ân hận, dịu dàng nói:

– Ta không mang ám khí, lúc vội vàng thò tay vào túi, chỉ có cái hộp đó thôi, thực không có ý coi nhẹ, mong cô nương đừng trách.

Ánh mắt Triệu Mẫn sáng lên, nàng hỏi:

– Công tử vẫn luôn mang theo bên người cái hộp kia ư?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Đúng thế.

Chàng thấy đôi mắt rất đẹp của Triệu Mẫn chăm chăm nhìn mình, còn mình tay trái vẫn ôm Chu Chỉ Nhược, thì hơi đỏ mặt, vội buông tay ra.

Triệu Mẫn thở dài, nói:

– Ta không biết Chu cô nương là.. là hảo bằng hữu của công tử, nếu biết đã không đối xử với cô ta như vậy. Thì ra hai người..

Nói tới đây nàng quay mặt đi. Trương Vô Kỵ nói:

– Chu cô nương và ta.. cũng chưa có gì.. chỉ là.. chỉ là..

Sau hai tiếng "chỉ là", chàng không biết nói gì thêm. Triệu Mẫn lại đưa mắt nhìn hai mảnh cái hộp bằng vàng ở dưới đất, không nói gì, nhưng ánh mắt và thần sắc thì nói lên ngàn lời.

Chu Chỉ Nhược trong bụng lo ngại: "Con nữ ma đầu này hiển nhiên quá si mê chàng, chẳng lẽ.."

Trương Vô Kỵ bụng dạ đâu có tinh tế sâu xa như hai thiếu nữ, thần sắc của Triệu Mẫn chàng cũng lờ mờ hiểu được đôi phần, song không thể hiểu hết thâm ý bên trong. Chàng chỉ nghĩ rằng Triệu Mẫn tặng chàng cái hộp ấy để chữa cho Du Đại Nham và Ân Lê Đình khỏi tàn phế, nay chàng làm hỏng nó đi, xem ra không phải với người ta, thế là chàng bèn đi tới góc điện, cúi nhặt hai mảnh hộp lên, nói:

– Ta sẽ nhờ thợ giỏi ghép nó lại.

Triệu Mẫn mừng rỡ, nói:

– Thật vậy ư?

Trương Vô Kỵ gật đầu, nghĩ thầm, ta và nàng cùng thống lĩnh vô số anh hùng hào kiệt, sao lại quá coi trọng một cái hộp chẳng hệ trọng gì là sao? Cái hộp bằng vàng này tuy rất xinh xắn, nhưng chẳng phải là kỳ trân bảo vật, thuốc cao cất kín bên trong đã dùng hết, cái hộp chẳng còn dùng vào việc gì nữa, có hỏng cũng không đáng tiếc; có ghép lại được thì cũng là việc nhỏ; trước mắt còn bao nhiêu việc lớn phải làm, vậy mà nàng cứ hỏi đi hỏi lại chuyện cái hộp, đúng là bụng dạ đàn bà con gái chuyên để tâm các vật nhỏ mọn; chàng bèn bỏ luôn hai mảnh hộp vào trong bọc.

Triệu Mẫn nói:

– Thế thì công tử đi đi!

Trương Vô Kỵ nghĩ chưa cứu nhóm Tống sư bá, làm sao có thể bỏ đi; nhưng bên địch cao thủ đông như kiến, bên mình chỉ có ba người, nói chuyện cứu người, thật chẳng phải dễ. Bèn hỏi:

– Triệu cô nương, cô nương bắt giữ các vị sư bá sư thúc của ta là muốn gì?

Triệu Mẫn cười, đáp:

– Bổn cô nương vốn có thiện chí, muốn khuyên họ góp sức với triều đình, cùng hưởng vinh hoa phú quý. Nào ngờ họ cố chấp không nghe, bổn cô nương ép họ không được, đành để khuyên giải từ từ vậy.

Trương Vô Kỵ hừ một tiếng, đến bên cạnh Chu Chỉ Nhược. Ở giữa đám cao thủ bên địch vây quanh, mà chàng cúi xuống nhặt hai mảnh hộp vỡ, rồi điềm nhiên trở lại chỗ cũ, tưởng như ở chỗ không người. Chàng lạnh lùng nhìn quét cả đám một lượt, nói:

– Đã thế, bọn ta cáo từ!

Nói rồi cầm tay Chu Chỉ Nhược, xoay mình định bước ra.

Triệu Mẫn khó chịu, nói:

– Công tử muốn đi, bổn cô nương không giữ. Nhưng công tử muốn đem Chu cô nương đi theo, cũng chẳng buồn nói với bổn cô nương một tiếng, thì công tử coi bổn cô nương là hạng người nào đây?

Trương Vô Kỵ nói:

– Điều này tại hạ quả thật khiếm lễ. Triệu cô nương, xin hãy thả Chu cô nương để cô ấy đi theo tại hạ.

Triệu Mẫn không trả lời, đưa mắt cho Huyền Minh nhị lão.

Hạc Bút Ông tiến lên một bước, nói:

– Trương giáo chủ đến là đến, nói đi là đi, muốn cứu ai thì cứu, thế thì cánh già chúng tôi còn chút thể diện gì nữa? Trương giáo chủ không lưu lại một tuyệt kỹ, thì huynh đệ lão phu không thể tâm phục.

Trương Vô Kỵ nhận ra giọng nói của Hạc Bút Ông, thì lửa giận bừng bừng, quát:

– Năm xưa ta còn nhỏ, bị ngươi bắt đi, tính mệnh tưởng chẳng còn. Hôm nay ngươi còn dám vác mặt lên gây chuyện với ta nữa sao? Tiếp chiêu!

"Vù" một tiếng, chàng đã giáng cho Hạc Bút Ông một chưởng.

Lộc Trượng Khách vừa nãy bị chàng cho nếm mùi đau khổ, biết rằng một mình Hạc Bút Ông không địch nổi chàng, bèn tiến tới đánh ra một chưởng. Trương Vô Kỵ tay phải còn bận đánh Hạc Bút Ông, bèn luồn tay trái dưới tay phải mà đánh trả Lộc Trượng Khách một chưởng. Đây là chân lực đấu với chân lực, không có chuyện khôn khéo né tránh gì hết. Ba người bốn chưởng đụng nhau, cả ba cùng loạng choạng.

Hôm nào trên núi Võ Đang, Huyền Minh nhị lão từng dùng song chưởng đối chưởng với Trương Vô Kỵ, còn hai tay kia thì đánh ngay vào người chàng; lần này họ cũng giở ngón cũ, lại đánh thêm hai chưởng ra. Trương Vô Kỵ đã dính đòn một lần, lẽ nào đi theo vết xe cũ? Cùi chỏ hơi trầm xuống, chàng thi triển tâm pháp "Càn khôn đại na di", nghe bốp một tiếng lớn, tả chưởng của Hạc Bút Ông đã đụng vào hữu chưởng của Lộc Trượng Khách.

Hai lão này võ công cùng học một thầy, chưởng pháp tương đồng, công lực ngang nhau, lập tức cùng cảm thấy hai cánh tay bị chấn động đến tê dại; còn việc tại sao mà hai huynh đệ lại giáng đòn vào nhau, thì tuy võ công cao siêu, họ vẫn không tài nào hiểu nguyên do bí ẩn. Hai lão còn đang kinh hãi và tức tối, thì song chưởng của Trương Vô Kỵ lại đánh tới. Huyền Minh nhị lão mỗi người đánh ra hai chưởng, một thủ một công, chưởng pháp đã khác hẳn ban nãy, nhưng bị Trương Vô Kỵ một dẫn một kéo, tả chưởng của Lộc Trượng Khách lại đánh trúng hữu chưởng của Hạc Bút Ông. Thủ pháp "Càn khôn đại na di" thật khéo léo, được tính toán chuẩn xác tới mức không ai ngờ nổi.

Huyền Minh nhị lão kinh hãi thất sắc, thấy Trương Vô Kỵ tung chưởng ra lần thứ ba, không hẹn nhưng lần này hai lão cùng đưa đơn chưởng ra chống đỡ. Chân lực ba người đụng nhau, Huyền Minh nhị lão chỉ cảm thấy chưởng lực của đối phương có một luồng khí thuần dương cuồn cuộn tràn tới, khó mà đỡ nổi. Trương Vô Kỵ phóng chưởng như gió, nhớ đến năm xưa còn nhỏ bị Hạc Bút Ông đánh cho một "Huyền Minh thần chưởng", khiến chàng khổ sở cùng cực trong mấy năm liền, cho nên chưởng lực giáng vào Lộc Trượng Khách còn nhẹ tay, còn đối với Hạc Bút Ông thì chẳng nể nang chút nào.

Hơn hai mươi chưởng đánh ra, bộ mặt xanh của Hạc Bút Ông biến thành đỏ rực, lão ta lại thấy đối phương đánh tới, bèn nhứ tay trái để hóa giải, còn tay phải thì đánh chéo ra thật mạnh. Chỉ nghe hai tiếng "bốp bốp", hữu chưởng của Hạc Bút Ông đã giáng trúng vai Lộc Trượng Khách, còn chưởng của Trương Vô Kỵ thì lão ta không hóa giải được, đã đánh trúng vào ngực lão. Trương Vô Kỵ chưa tính lấy mạng lão, chưởng này mới dùng ba thành chân lực. Hạc Bút Ông lảo đảo, ọe một cái, hộc ra một ngụm máu tươi, mặt từ màu đỏ chuyển sang màu tím. Nếu Trương Vô Kỵ thừa thế giáng thêm một chưởng, thì lão ta sẽ chết ngay tại chỗ. Lộc Trượng Khách thì vai bị trúng đòn, đau tái cả mặt, cắn môi đến bật máu.

Huyền Minh nhị lão là hai thuộc hạ võ công cao cường nhất của Triệu Mẫn, ai ngờ chưa tới ba mươi chiêu cả hai lão đều bị thương. Đám thuộc hạ còn lại của Triệu Mẫn dĩ nhiên cả kinh thất sắc; ngay cả Dương Tiêu và Vi Nhất Tiếu cũng quá đỗi kinh ngạc. Hai người từng chính mắt thấy Huyền Minh nhị lão ra tay trên núi Võ Đang, khiến Trương Vô Kỵ trúng chưởng bị thương, ai ngờ chỉ sau vài tháng, võ công của chàng lại tiến triển nhanh đến thế. Nhưng rồi hai người cũng nghĩ ngay, trong mấy tháng ở trên núi Võ Đang, Trương Vô Kỵ một mặt trị thương cho Du Đại Nham và Ân Lê Đình, một mặt thỉnh giáo Trương Tam Phong những điều tinh vi huyền diệu trong võ học, thành thử "Cửu dương thần công", "Càn khôn đại na di" cuối cùng dung hợp thành một với Thái cực quyền và Thái cực kiếm của phái Võ Đang. Hai người càng nghĩ càng khâm phục Trương Tam Phong quả là bậc võ học kỳ tài, đúng với bốn chữ "uyên thâm khôn lường".

Huyền Minh nhị lão đấu chưởng thất bại, cùng hú lên một tiếng, rút binh khí ra. Chỉ thấy Lộc Trượng Khách cầm một cây đoản trượng đen nhánh, đầu gậy phân nhánh như cái sừng hươu, không biết được đúc bằng chất liệu gì; còn Hạc Bút Ông tay cầm song bút, đầu bút nhọn như mỏ chim hạc, sáng loáng như gương. Hai người này đi theo Triệu Mẫn đã lâu, vậy mà nàng chưa thấy họ sử dụng binh khí lần nào cả. Ba món binh khí đó đánh ra, chỉ thấy một luồng hắc khí, hai luồng bạch quang quấn quanh Trương Vô Kỵ. Trương Vô Kỵ không mang binh khí, tay không quả có bất lợi, song chàng chẳng hề sợ hãi, muốn thử xem võ công của mình liệu có thể tay không đấu với hai đại cao thủ dùng binh khí vây đánh được chăng.

Huyền Minh nhị lão tự cho mình nội lực thâm hậu, "Huyền Minh thần chưởng" là tuyệt học trong thiên hạ, nên vừa lâm trận liền cùng chàng đối chưởng, nào ngờ không loại nội công nào sánh kịp "Cửu dương thần công", sau vài chục chưởng hai lão đã thua. Binh khí của hai lão thì dựa vào chiêu số kỳ bí để thủ thắng, ngoại hiệu của hai lão chính là do tên gọi binh khí mà họ sử dụng tạo nên, đoản trượng sừng hươu và song bút mỏ hạc, chiêu nào chiêu nấy lợi hại hiếm thấy trên đời. Trương Vô Kỵ tập trung tinh thần, len lách giữa khoảng trống sơ hở của ba món binh khí, công thủ dễ dàng, nhưng nhất thời chưa tìm ra lối đánh của đối phương, nên cũng không dễ gì thủ thắng. Cũng may là Hạc Bút Ông đã bị thương, nên ra chiêu có phần chậm chạp.

Triệu Mẫn vỗ tay ba cái, binh khí loang loáng trong đại điện, ba tên tấn công Dương Tiêu, bốn tên vây đánh Vi Nhất Tiếu, còn hai tên khác cầm binh khí khống chế Chu Chỉ Nhược. Dương Tiêu lập tức cướp được một thanh kiếm, múa nhanh như chớp, thoáng chốc đã đâm trúng một tên. Vi Nhất Tiếu sử khinh công tuyệt đỉnh, "Hàn băng miên chưởng" đánh gục hai tên. Nhưng bên địch quá đông, đánh ngã một tên thì có hai tên tức thời thay thế.

Trương Vô Kỵ bị Huyền Minh nhị lão vây đánh, không thể phân thân cứu viện. Chàng và Dương Tiêu, Vi Nhất Tiếu muốn thoát thân cũng không khó, nhưng muốn cứu Chu Chỉ Nhược thì quả thật không làm nổi. Tình thế đang gấp gáp, bỗng nghe Triệu Mẫn nói:

– Tất cả dừng tay!

Nàng nói không to, nhưng tất cả mọi người đều tuân theo, tức thời lùi ra.

Dương Tiêu ném thanh kiếm xuống đất. Vi Nhất Tiếu vừa đoạt được một thanh đơn đao, liền thuận tay ném trả nguyên chủ, cười lên ha hả. Trương Vô Kỵ thấy một tên cầm dao nhọn gí sau lưng Chu Chỉ Nhược, thì không khỏi lộ vẻ lo sợ.

Chu Chỉ Nhược buồn rầu nói:

– Trương công tử, xin ba vị cứ tự nhiên. Tâm ý của ba vị, tiểu nữ vô cùng cảm kích.

Triệu Mẫn cười, nói:

– Trương công tử, cô nàng hoa nhường nguyệt thẹn này, đến bổn cô nương còn thấy thích. Cô nàng có phải là ý trung nhân của công tử hay không?

Trương Vô Kỵ đỏ mặt, nói:

– Chu cô nương và ta biết nhau từ nhỏ. Hồi bé ta trúng phải Huyền Minh thần chưởng của vị này.. Chàng chỉ Hạc Bút Ông, nói tiếp:

– Khí âm độc xâm nhập cơ thể, toàn thân khó bề cử động, may nhờ Chu cô nương săn sóc, cho ăn cho uống, ân đức ấy ta không dám quên.

Triệu Mẫn nói:

– Như thế là hai người có cái tình thanh mai trúc mã. Công tử định lấy nàng làm giáo chủ phu nhân chứ gì?

Trương Vô Kỵ lại đỏ mặt, đáp:

– Hung Nô chưa diệt, nói gì đến chuyện gia thất!

Triệu Mẫn sầm mặt, nói:

– Công tử nhất định cứ phải chống bổn cô nương tới cùng, không diệt bổn cô nương thì không xong ư?

Trương Vô Kỵ lắc đầu, nói:

– Đến nay ta vẫn chưa hề biết lai lịch của cô nương, tuy có vài lần tranh chấp nhưng lần nào cũng là do cô nương tìm đến gây sự với Trương Vô Kỵ, đâu phải là ta tìm cô nương sinh sự. Chỉ cần cô nương thả các vị sư bá sư thúc của ta cùng nhân sĩ các môn phái võ lâm, thì ta vô cùng cảm kích, không dám có ý đối địch với cô nương. Huống hồ cô nương còn có thể sai ta làm ba việc, ta sẽ tận tâm tận lực mà làm, quyết không quấy quá cho xong.

Triệu Mẫn nghe chàng nói rất thành thực, thì lộ vẻ mặt vui mừng, như bông hoa tươi hé nở, mỉm cười:

– Thì ra công tử vẫn chưa quên.

Nàng quay sang liếc Chu Chỉ Nhược một cái, nói với Trương Vô Kỵ:

– Cô nương này đã không phải là ý trung nhân của công tử, cũng chẳng phải sư huynh sư muội, vị hôn thê gì cả, thì bổn cô nương dẫu có hủy dung mạo cô ta, cũng đâu có dính dáng gì tới công tử..

Nàng đưa mắt một cái, Lộc Trượng Khách và Hạc Bút Ông lập tức cầm binh khí đứng chắn ngay trước mặt Chu Chỉ Nhược, một hán tử khác kề con dao sắc vào bên má nàng, Trương Vô Kỵ dù muốn xông tới cứu người, cái cửa ải Huyền Minh nhị lão dễ gì qua nổi. Triệu Mẫn lạnh lùng nói:

– Trương công tử, công tử có chịu nói thực hay không thì bảo?

Vi Nhất Tiếu đột nhiên ngửa bàn tay ra, nhổ mấy bãi nước miếng vào lòng bàn tay, xoa xoa mấy cái vào gót giày, cười ha hả, mọi người chưa hiểu lão giở trò quỷ gì, bỗng thấy cái bóng xanh loáng một cái, Triệu Mẫn chợt cảm thấy hai bên má của mình như bị ai đó chạm vào, nhìn lại Vi Nhất Tiếu, thì thấy lão đã trở về chỗ cũ, hai tay cầm hai thanh đoản đao, chẳng hiểu vừa đoạt được của ai. Triệu Mẫn chợt động tâm, biết là có chuyện không hay, vội lấy khăn lên lau má, quả nhiên khăn có vệt bùn đất, đúng là nước bọt mà Vi Nhất Tiếu nhổ ra, xoa gót giày rồi quệt lên má nàng, nghĩ mà lợm giọng quá chừng.

Vi Nhất Tiếu cười nói:

– Triệu cô nương, cô nương muốn hủy dung mạo của Chu cô nương, việc đó tùy ý cô nương. Nhưng cô nương lòng dạ hiểm độc như thế Vi mỗ chẳng thể bỏ qua cho cô nương. Hôm nay nếu cô nương rạch một đường trên mặt Chu cô nương, Vi mỗ sẽ trả lại gấp đôi, rạch mặt cô nương hai nhát. Cô nương rạch hai đường, Vi mỗ ta rạch lại bốn nhát; cô nương chặt một ngón tay, Vi mỗ chặt của cô nương hai ngón.

Lão nói tới đây, cầm hai thanh đoản đao gõ vào nhau keng một tiếng, nói tiếp:

– Vi mỗ ta nói sao làm vậy, bình sinh chưa một lần nói ngoa. Cô nương có thể đề phòng Vi mỗ sáu tháng một năm, làm sao có thể đề phòng tám năm, mười năm. Muốn sai người giết ta ư, chắc gì đuổi kịp ta. Cáo từ!

Chữ "từ" vừa dứt, bóng lão đã biến đi, chỉ nghe hai tiếng phập phập, hai thanh đoản đao đã cắm vào cây cột, tiếp đến hai tiếng "Ối chao!" hai gã phiên tăng chẳng hiểu sao đã bị Vi Nhất Tiếu đoạt mất trường kiếm và điểm trúng huyệt đạo trên người.

Mấy câu vừa rồi Vi Nhất Tiếu nói ra rất thản nhiên, song ai cũng biết lão không hề dọa suông. Họ thấy đôi má có nước da trắng hồng của Triệu Mẫn bị Vi Nhất Tiếu bôi mấy vết bẩn. Giả dụ trong tay Vi Nhất Tiếu là một con dao, thì dung mạo của nàng đã bị hủy hoại rồi. Thân pháp của lão ta nhanh như chớp, quỷ mị đến thế, dẫu là đại cao thủ như Trương Vô Kỵ cũng chẳng đề phòng nổi. Nếu chạy đường dài, Trương Vô Kỵ còn có thể dựa vào nội lực thủ thắng, chứ còn ở trong một gian nhà mà tiến thoái nhanh như thế, chắc thiên hạ chỉ có một mình lão ta mà thôi.

Trương Vô Kỵ cúi chào, nói:

– Triệu cô nương, hôm nay đắc tội rồi, xin cáo từ.

Nói xong dắt tay Dương Tiêu, quay mình ra khỏi đại điện, biết rằng Triệu Mẫn bị Vi Nhất Tiếu dọa cho như thế, sẽ không dám hành hạ Chu Chỉ Nhược.

Triệu Mẫn nhìn theo hai người, vừa xấu hổ vừa tức giận, nhưng không dám hạ lệnh ngăn chặn.

Trương Vô Kỵ cùng Dương Tiêu về tới khách điếm, Vi Nhất Tiếu đã ngồi chờ sẵn. Trương Vô Kỵ cười nói:

– Vi Bức Vương tối nay làm cho bọn chúng kiêng dè, biết rằng Minh giáo không phải tầm thường.

Vi Nhất Tiếu cười, nói:

– Dọa một tiểu cô nương thì có gì là khó. Cô nàng sắm vai hung thần ác sát, nhưng nghe lão phu bảo sẽ hủy hoại dung mạo, bảo đảm ba ngày ba đêm cô nàng lo mất ngủ cho mà xem.

Dương Tiêu cũng cười, nói:

– Cô nàng không ngủ thì hỏng, chúng ta càng khó cứu người.

Trương Vô Kỵ nói:

– Dương tả sứ, nói đến chuyện cứu người, tả sứ có diệu kế gì chăng?

Dương Tiêu lưỡng lự, đáp:

– Bên mình chỉ có ba người, hình tích lại bại lộ, việc này đến phải bó tay.

Trương Vô Kỵ ngượng ngùng nói:

– Bản nhân thấy Chu cô nương bị nguy, không trấn tĩnh được, nhảy vào, làm lỡ cả đại sự.

Dương Tiêu nói:

– Đã đến nước đó, ai cũng không nhịn nổi. Giáo chủ một mình đánh bại Huyền Minh nhị lão, làm mất hết uy phong của địch, cũng là hay lắm. Huống chi bọn địch biết chúng ta đã tới đây, sẽ không dám vô lễ làm càn với nhóm Tống đại hiệp.

Trương Vô Kỵ nghĩ đến bọn Tống đại bá, Du nhị bá đang nằm trong tay địch, Triệu Mẫn đối với bọn Hà Thái Xung, Đường Văn Lượng làm nhục như thế, thì trong lòng vô cùng lo lắng. Ba người bàn bạc hồi lâu, chưa tìm ra cách gì, đành chia tay đi ngủ.

*

* *

Sáng sớm hôm sau, Trương Vô Kỵ còn đang ngủ, nghe ngoài song có tiếng động nhẹ, lập tức tỉnh giấc, vừa mở mắt thì thấy cánh cửa từ từ mở ra, có kẻ thò đầu vào chăm chú nhìn chàng. Chàng kinh ngạc, vén màn coi, thấy bộ mặt kia chằng chịt vết sẹo, chính là gã Khổ đầu đà. Chàng càng kinh ngạc hơn, từ trên giường nhảy xuống, chỉ thấy Khổ đầu đà cứ ngẩn ngơ nhìn chàng, xem chừng không có ý làm hại. Chàng gọi to:

– Dương tả sứ! Vi Bức Vương!

Dương Tiêu và Vi Nhất Tiếu ở hai phòng bên lên tiếng trả lời. Chàng cảm thấy yên tâm, bộ mặt của Khổ đầu đà đã biến mất bên ngoài cửa sổ. Chàng vội nhảy ra, thấy Khổ đầu đà đang vội vã đi ra cổng khách điếm. Lúc này Dương, Vi hai người cũng đã ra, thấy bên ngoài không có kẻ địch nào khác, bèn cùng đuổi theo Khổ đầu đà. Khổ đầu đà đợi ở góc đường, thấy ba người đi tới, bèn rảo bước về hướng bắc. Ba người ra hiệu cho nhau, bám theo đằng sau.

Lúc này trời mới sáng, trên đường ít người qua lại, chẳng mấy chốc họ ra khỏi cửa bắc. Khổ đầu đà đi tiếp, rẽ sang một con đường nhỏ, lại đi bảy, tám dặm nữa, đến một cái gò lổn nhổn đá, mới dừng chân, ngoảnh lại, vẫy tay làm hiệu bảo Dương Tiêu và Vi Nhất Tiếu tách ra một bên, rồi ôm quyền hành lễ với Trương Vô Kỵ.

Trương Vô Kỵ đáp lễ, nghĩ thầm: "Gã đầu đà này dẫn bọn ta tới đây, không biết có dụng ý gì? Quanh đây không có ai, nếu muốn động thủ, y một địch ba, hoàn toàn bất lợi cho y. Xem cung cách của y, dường như không có ý đối địch".

Chàng đang suy tính, Khổ đầu đà đã gầm gừ, song trảo vồ tới. Y tay trái dùng hổ trảo, tay phải dùng long trảo, mười ngón tay thành mười cái móc câu, thế công cực kỳ hung dữ.

Trương Vô Kỵ vung tay trái hóa giải chiêu đó, nói:

– Thượng nhân muốn gì? Xin hãy thể hiện tôn ý trước, sau đó động thủ cũng chưa muộn.

Khổ đầu đà tựa hồ không nghe thấy lời chàng, tay trái của y từ hổ trảo biến thành ưng trảo, tay phải từ long trảo biến thành hổ trảo, một tay đánh vào vai trái, tay kia đánh vào sườn phải, ra đòn hiểm độc. Trương Vô Kỵ nói:

– Không lẽ cứ phải đánh nhau mới được hay sao?

Khổ đầu đà lại biến đổi chiêu thức, ưng trảo biến thành sư chưởng[107], hổ trảo biến thành hạc chủy[108], bên vỗ bên mổ, trong ba chiêu, hai tay đã biến sáu thức tư thế.

Trương Vô Kỵ không dám xem thường, bèn thi triển "Thái cực quyền pháp", thân hình cứ như nước chảy mây trôi, tỷ thí với Khổ đầu đà trên gò đá ngổn ngang. Chỉ thấy Khổ đầu đà chiêu số rất phức tạp, khi thì y sử dụng võ công hoàn toàn quang minh chính đại, đột nhiên lại sử dụng võ công tà phái quái dị, rõ ràng là chính tà kiêm tu, uyên bác vô cùng. Trương Vô Kỵ thi triển "Thái cực quyền" đối phó, đến bảy, tám chục chiêu, thì Khổ đầu đà đánh thẳng một quyền vào trung cung; Trương Vô Kỵ dùng chiêu "Như phong tự bế" vây chặt lấy quyền lực của y, tiếp đến chiêu "Đơn tiên", tay trái đánh vào lưng y, song chưởng này không dùng nội lực, chỉ đụng tới liền thu về.

Khổ đầu đà biết chàng nương tay, bèn nhảy về phía sau, nghiêng đầu nhìn chàng một lát, đột nhiên giơ tay ra hiệu cho Dương Tiêu, muốn mượn thanh kiếm đang đeo. Dương Tiêu cởi dây, ném cả bao kiếm cho y. Trương Vô Kỵ hơi ngạc nhiên, tự hỏi: "Tại sao Dương tả sứ lại cho kẻ địch mượn binh khí?"

Khổ đầu đà rút kiếm khỏi bao, ra hiệu cho Trương Vô Kỵ hãy mượn kiếm của Vi Nhất Tiếu. Trương Vô Kỵ lắc đầu, chỉ nhận cái bao kiếm trên tay y, sử chiêu "Thỉnh thủ", dùng bao kiếm làm kiếm, tay trái trình kiếm quyết, bao kiếm đặt ngang trước mặt. Khổ đầu đà đâm chéo tới một nhát. Trương Vô Kỵ đã thấy y dạy kiếm cho Triệu Mẫn, biết y kiếm thuật cực kỳ cao minh, bèn sử dụng môn võ công mà chàng nghiền ngẫm mấy tháng qua trên đỉnh núi Võ Đang, là môn Thái cực kiếm, tập trung tinh thần tiếp chiến. Chỉ thấy kiếm chiêu của đối thủ chợt nhanh chợt chậm, chỗ nào cũng chứa đựng ngón đòn lợi hại, Trương Vô Kỵ vừa ra chiêu hóa giải là y lập tức thu hồi, biến sang chiêu khác, tựa hồ không sử chiêu nào đến cùng cả.

Trương Vô Kỵ khen thầm: "Nếu sáu tháng trước ta gặp người này, thì về kiếm pháp, ta không phải là đối thủ của y. So với Bát tí thần kiếm Phương Đông Bạch, gã Khổ đầu đà còn cao hơn một bậc".

Chàng nổi lòng quý trọng tài nghệ, không muốn thắng y bằng chiêu số. Thấy trường kiếm của Khổ đầu đà múa tít, sử thế "Loạn phi phong", lưỡi kiếm dưới ánh nắng cứ như hàng vạn con kim xà đang lồng lộn; chàng bèn nhắm kỹ, xoay ngược cái bao kiếm, nghe xoẹt một tiếng, lưỡi kiếm của đối phương đã chui tọt vào trong bao kiếm, hai tay chàng xoay một vòng, nhẹ nhàng nắm hai cổ tay của Khổ đầu đà, mỉm cười nhảy lùi về sau. Vừa rồi tay chàng chỉ cần hơi dùng sức, thì đã đoạt được trường kiếm. Chiêu đoạt kiếm này cực hiểm, song cũng khéo léo vô cùng.

Chàng nhảy ra sau, chân chưa chấm đất, Khổ đầu đà đã vứt kiếm, đánh ngay một chưởng. Trương Vô Kỵ nghe tiếng gió, biết chưởng này chân lực sung mãn, mạnh mẽ vô cùng, chàng có ý muốn biết đối thủ có nội lực tới mức nào, bèn xoay hữu chưởng lại tiếp chưởng đánh tới của y, chân trái chàng lúc ấy mới chạm đất. Trong giây lát, chân lực của Khổ đầu đà tuôn ra ào ào. Trương Vô Kỵ vận công phu "Càn khôn đại na di" cấp thứ bảy, đem chân lực của y tích dần lại, rồi đột nhiên quát to một tiếng, hất ngược trở lại, không khác gì hồ nước quá đầy bất ngờ vỡ đập chắn, nước cuồn cuộn băng băng tràn đi, đem bao nhiêu chưởng lực Khổ đầu đà đánh tới trả lại tất cả.

Chiêu này đem lực của hơn mười chưởng đối phương tụ lại thành một chưởng mà trả lại, trên đời nào ai có được lực mạnh đến thế? Nếu Khổ đầu đà bị trúng chưởng này, thì xương cổ tay, xương cánh tay, xương vai, xương sườn sẽ tức thời gãy hết, đến máu cũng không ọc ra được, sẽ biến thành một khối máu thịt bầy nhầy, chết thảm tận cùng.

Khi đó song chưởng dính nhau, Khổ đầu đà không cách gì né tránh, Trương Vô Kỵ bèn dùng tay trái thộp ngực y hất đi, thân hình cao lớn của Khổ đầu đà bay lên trời, nghe "bình" một tiếng lớn, đá bay tung tóe, chưởng lực ghê gớm ấy đã đánh tung các cục đá.

Dương Tiêu, Vi Nhất Tiếu thấy tình thế đó cùng kêu lên kinh hãi. Họ tưởng rằng Khổ đầu đà và giáo chủ tỷ thí nội lực với nhau, ít ra cũng phải bằng thời gian uống xong một chén trà nóng mới phân cao thấp, không ngờ chỉ trong giây lát đã tới thời khắc sinh tử. Hai người trong bụng tuy có điều muốn nói, song chưa kịp nói ra, đến khi thấy Khổ đầu đà rớt xuống bình an, lòng bàn tay họ đều toát mồ hôi lạnh.

Khổ đầu đà hai chân vừa chạm đất, thì đặt hai tay lên ngực thành hình ngọn lửa đang bốc cháy, cúi mình chào Trương Vô Kỵ, nói:

– Tiểu nhân Quang Minh hữu sứ Phạm Dao, tham kiến giáo chủ. Kính tạ ân đức không giết. Tiểu nhân vô lễ mạo phạm, xin được tha tội.

Phạm Dao mười mấy năm qua đóng vai câm, không mở miệng, bây giờ nói lại nghe rất ngọng nghịu.

Trương Vô Kỵ nửa kinh ngạc, nửa vui mừng. Gã câm Khổ đầu đà này không chỉ biết nói, mà còn là Quang Minh hữu sứ của bản giáo, chuyện này thật không sao ngờ nổi. Chàng vội giơ tay đỡ y dậy, nói:

– Thì ra là Phạm hữu sứ của bản giáo, thật mừng quá, người một nhà khỏi cần đa lễ.

Dương Tiêu và Vi Nhất Tiếu khi đi theo đến cái gò này đã đoán ra ba phần, chỉ hiềm diện mạo của Phạm Dao thay đổi quá nhiều, chưa tiện hỏi han. Đến khi Phạm Dao thi triển võ công, họ đoán biết bảy, tám phần; lúc này nghe y xưng danh, hai người bèn ùa tới, nắm chặt tay y. Dương Tiêu chăm chú nhìn mặt Phạm Dao một hồi, chảy nước mắt, nói:

– Phạm hiền đệ, huynh đâu ngờ hiền đệ đến nông nỗi này.

Phạm Dao ôm ngang người Dương Tiêu, nói:

– Đại ca, đa tạ đức Minh Tôn phù hộ, ban cho chúng ta một vị giáo chủ tài ba, huynh đệ mình mới có dịp trùng phùng hôm nay.

Dương Tiêu hỏi:

– Hiền đệ sao lại biến ra thế này?

Phạm Dao đáp:

– Tiểu đệ không tự hủy diện mạo, thì làm sao có thể lừa nổi tên gian tặc Hỗn Nguyên Tích Lịch Thủ Thành Côn?

Ba người nghe vậy, mới biết Phạm Dao cố ý hủy hoại diện mạo để trà trộn vào phe địch nhân. Dương Tiêu càng thêm thương cảm, nói:

– Hiền đệ, làm thế thật khổ cho hiền đệ.

Dương Tiêu và Phạm Dao hồi xưa được giới giang hồ gọi là "Tiêu Dao nhị tiên", là hai chàng trai vô cùng anh tuấn. Vậy mà Phạm Dao lại tự hủy hoại diện mạo tới mức ấy, hẳn phải đau lòng quyết chí tới mức nào, người thường khó có ai làm nổi. Vi Nhất Tiếu vốn không mấy hòa thuận với Phạm Dao, bây giờ trong lòng hết sức cảm động, chắp tay lạy, nói:

– Phạm hữu sứ, Vi Nhất Tiếu này đến hôm nay đã thật sự kính phục Phạm hữu sứ.

Phạm Dao quỳ xuống đáp lễ, nói:

– Vi Bức Vương khinh công độc bộ thiên hạ, thần diệu còn hơn cả hồi trước, Khổ đầu đà tối qua quả thật được sáng mắt ra.

Dương Tiêu nhìn bốn phía, nói:

– Nơi này cách kinh thành không xa, tai mắt kẻ địch rất nhiều, chúng ta tới vùng núi phía trước trò chuyện.

Bốn người chạy hơn mười dặm, tới sau một quả đồi, từ đây nhìn quanh vài dặm, không sợ có người ẩn ở đâu đó nghe trộm hoặc nhìn thấy. Bốn người ngồi xuống, kể lại đầu đuôi sự tình.

*

* *

Năm xưa, lúc Dương Đính Thiên đột nhiên mất tích, các cao thủ trong Minh giáo tranh chấp ngôi giáo chủ, không ai chịu ai, thành thế chia năm xẻ bảy. Phạm Dao thì cho rằng giáo chủ hoàn toàn chưa chết, nên một mình lê bước giang hồ, đi tìm tung tích Dương Đính Thiên. Mấy năm liền không tìm được chút dấu vết gì, lại nghĩ hay là giáo chủ bị bọn Cái Bang hãm hại; bèn bắt cóc một vài nhân vật trọng yếu của Cái Bang để khảo tra, cũng không tìm ra manh mối nào, mà giết chết không ít bang chúng Cái Bang vô tội. Sau đó nghe tin người trong Minh giáo phân tranh ngày càng ác liệt, có người chính đang tìm Phạm Dao, muốn y đứng ra hiệu triệu. Phạm Dao tuyệt nhiên không muốn tranh ngôi giáo chủ, cũng không muốn bị lôi kéo vào vòng tranh chấp, bèn lánh đi một nơi thật xa, lại ngại chạm trán với huynh đệ Minh giáo, nên để râu thật dài, làm một thư sinh già ngao du đây đó, tiêu dao tự tại.

Một hôm ở Đại Đô, giữa chốn đông người, Phạm Dao gặp một người, nhận ra chính là Thành Côn, sư huynh của phu nhân giáo chủ, thì không khỏi kinh hãi. Thời gian ấy trong võ lâm loan truyền tin tức chấn động, không ít hảo thủ bị giết chết, trên tường đều để lại dòng chữ Hỗn Nguyên Tích Lịch Thủ Thành Côn. Phạm Dao muốn tìm ra thực hư, lại vừa muốn qua Thành Côn dò xét tung tích của của Dương giáo chủ, bèn bám theo hắn. Thấy Thành Côn đến một tửu lâu, trong đó có hai lão già đợi sẵn, chính là Huyền Minh nhị lão.

Phạm Dao biết Thành Côn võ công cao cường, nên ngồi ở bàn xa xa, giả vờ uống rượu, chỉ nghe loáng thoáng câu được câu chăng, nhưng sáu tiếng "Phải hủy diệt Quang Minh đỉnh" thì nghe rất rõ. Thấy bản giáo sắp lâm nạn, Phạm Dao không thể khoanh tay bỏ mặc. Y ngầm bám theo, thấy ba tên kia đi vào trong phủ Nhữ Dương Vương. Sau đó dò biết Huyền Minh nhị lão là hai cao thủ đứng đầu các võ sĩ của vương phủ.

Nhữ Dương Vương Sát Hãn Đặc Mục Nhĩ giữ chức quan Thái úy, chấp chưởng đại quyền binh mã thiên hạ, trí dũng song toàn, là bậc kỳ tài trong triều đình. Nghĩa quân vùng Giang Hoài khởi sự mấy phen, phen nào cũng đều bị Sát Hãn Đặc Mục Nhĩ điều binh tiễu trừ cả.

Bọn Trương Vô Kỵ nghe danh Sát Hãn Đặc Mục Nhĩ từ lâu, nay mới biết Huyền Minh nhị lão là thủ hạ của phủ Nhữ Dương Vương, tuy không kinh ngạc lắm, song đều ngẩn cả ra.

Dương Tiêu hỏi:

– Thế Triệu cô nương nọ là thế nào?

Phạm Dao hỏi lại:

– Đại ca thử đoán xem.

Dương Tiêu nói:

– Chẳng lẽ Triệu cô nương là con gái Nhữ Dương Vương?

Phạm Dao vỗ tay:

– Không sai, đoán một lần đúng ngay. Nhữ Dương Vương sinh được một trai một gái, con trai tên là Khố Khố Đặc Mục Nhĩ, con gái chính là cô nương đó. Tên Mông Cổ của nàng ta là Mẫn Mẫn Đặc Mục Nhĩ. Khố Khố Đặc Mục Nhĩ là thế tử của Nhữ Dương Vương, sau này sẽ hưởng tước vương. Mẫn Mẫn Đặc Mục Nhĩ thì được phong là Thiệu Mẫn quận chúa. Cả hai người con của Nhữ Dương Vương đều thích võ, đã học nhiều môn võ công. Cả hai lại thích trang phục như người Hán, nói tiếng Hán, lấy tên Hán, anh con trai lấy tên Vương Bảo Bảo, cô con gái lấy tên là Triệu Mẫn. Hai chữ Triệu Mẫn chính là bắt nguồn từ tước hiệu "Thiệu Mẫn quận chúa" mà ra.

Vi Nhất Tiếu cười, nói:

– Huynh muội nhà ấy kể cũng kỳ quái, lại lấy hai họ khác nhau của người Hán chúng ta, là họ Vương, họ Triệu, thật nực cười.

Phạm Dao nói:

– Thật ra họ đều mang họ "Đặc Mục Nhĩ", nhưng phong tục của phiên bang lại đưa tên lên trước họ. Nhữ Dương Vương Sát Hãn Đặc Mục Nhĩ cũng có một cái họ người Hán, là họ Lý.

Nói tới đó, cả bốn người cùng cười ồ lên.

Dương Tiêu nói:

– Triệu cô nương hình dáng, dung mạo có thể nói là một mỹ nữ người Hán. Thế nhưng xem cô nàng hành sự, thì sẽ thấy ngay cái tính dã man của nữ nhân phiên bang.

Trương Vô Kỵ đến giờ mới biết lai lịch của Triệu Mẫn; tuy vẫn đoán nàng là quý nhân trong triều đình, song không ngờ nàng lại là quận chúa, con gái vị đại nguyên soái Nhữ Dương Vương thống lĩnh binh mã thiên hạ. Mấy lần chàng đụng cô nàng, lần nào cũng có phần bị lép vế, tuy võ công cô ta không bằng chàng, nhưng tâm cơ mưu lược biến hóa vô cùng, chàng quả thực không phải là đối thủ của nàng.

Phạm Dao kể tiếp:

– Thuộc hạ vẫn ngầm dò xét, biết Nhữ Dương Vương quyết ý diệt trừ các môn phái bang hội trên giang hồ. Nhữ Dương Vương nghe theo mưu kế của Thành Côn, bước thứ nhất là muốn diệt trừ bản giáo. Thuộc hạ suy nghĩ kỹ, nội bộ bản giáo đang không ngừng phân tranh, ngoại địch lại mạnh như thế, đại họa diệt vong sờ sờ trước mắt, muốn cứu vãn, chỉ có cách trà trộn vào vương phủ, dò xét mưu hoạch của Nhữ Dương Vương, rồi tùy cơ giải cứu chứ không còn cách nào hay hơn. Còn điều thuộc hạ lấy làm lạ, Thành Côn vốn là sư huynh của Dương giáo chủ phu nhân, lại là sư phụ của Tạ pháp vương, vì sao hắn lại đối đầu với bản giáo tàn độc như vậy? Nguyên do bên trong, nghĩ mãi không ra, chỉ đoán là hắn mưu đồ phú quý, muốn diệt bản giáo để lập công với triều đình. Số huynh đệ trong bản giáo biết Thành Côn không nhiều, thuộc hạ thì đã gặp hắn rồi, chỉ sợ hắn nhận ra thuộc hạ; muốn không bại lộ, phải tìm cách giết hắn.

Vi Nhất Tiếu nói:

– Lẽ ra phải thế.

Phạm Dao nói:

– Nhưng hắn vô cùng xảo quyệt, võ công lại cao cường, thuộc hạ ám toán hắn ba lần đều không thành. Lần thứ ba tuy đâm được hắn một kiếm, song cũng bị hắn giáng cho một chưởng, may mà chạy thoát, tuy không bị lộ hình tích, nhưng bị trọng thương, phải dưỡng thương hơn một năm mới khỏi. Bấy giờ phủ Nhữ Dương Vương mưu toan gấp rút diệt trừ các môn phái; thuộc hạ nghĩ mình có cải trang, thì cũng chỉ giấu được một thời gian ngắn. Hồi trước thuộc hạ cùng Dương huynh nổi danh, số người biết mặt "Tiêu Dao nhị tiên" không phải là ít, nếu để lâu thể nào cũng lộ chân tướng, đành nghiến răng hủy hoại dung mạo của mình, giả làm một đầu đà để tóc, dùng thuốc nhuộm tóc, rồi đi sang nước Hoa Thích Tử Mô bên Tây Vực.

Vi Nhất Tiếu ngạc nhiên, hỏi:

– Sang nước Hoa Thích Tử Mô ư? Đường xa vạn dặm, mà có liên can gì tới việc này?

Phạm Dao mỉm cười, đang định trả lời, thì Dương Tiêu vỗ tay, nói:

– Kế đó quá hay. Vi huynh, Phạm hiền đệ sang nước Hoa Thích Tử Mô tìm cơ hội bộc lộ tài năng, các vương công Mông Cổ nhất định sẽ thu nạp. Nhữ Dương Vương đang chiêu mộ võ sĩ bốn phương, vương công nước Hoa Thích Tử Mô muốn lấy lòng Nhữ Dương Vương, ắt sẽ đưa Phạm hiền đệ sang phủ Nhữ Dương Vương; thế là Phạm hiền đệ trở thành võ sĩ sắc mục do nước Hoa Thích Tử Mô hiến, diện mạo lại đã thay đổi hẳn, lại là người câm, Thành Côn có tài thánh cũng chẳng nhận ra.

Vi Nhất Tiếu thở dài, nói:

– Dương giáo chủ xếp "Tiêu Dao nhị tiên" đứng trên Tứ đại pháp vương, quả có con mắt tinh đời. Mưu kế như thế, Bạch Mi Ưng Vương, Bức Vương không thể nghĩ ra được.

Phạm Dao nói:

– Vi huynh quá khen. Đúng như Dương tả sứ dự đoán, thuộc hạ ở nước Hoa Thích Tử Mô săn bắn sư tử, hổ báo, có chút uy danh, vương công nước ấy liền đem thuộc hạ cống cho phủ Nhữ Dương Vương; nhưng khi đó Thành Côn đã không còn ở trong vương phủ nữa, đi đâu không rõ.

Dương Tiêu liền thuật sơ qua cho Phạm Dao nghe, Thành Côn kết thù oán với Minh giáo như thế nào, lén lên đỉnh Quang Minh đánh trộm ra sao, mưu gian bị Trương Vô Kỵ nói toạc ra, rồi đấu nội lực với Ân Dã Vương, hắn đã chết như thế nào.

Phạm Dao nghe xong, ngẩn ngơ một hồi, mới hay bên trong có nhiều điều uẩn khúc; y đứng dậy, cung kính nói với Trương Vô Kỵ:

– Giáo chủ, có một việc thuộc hạ cần thú tội với giáo chủ.

Trương Vô Kỵ nói:

– Phạm hữu sứ hà tất quá khiêm tốn.

Phạm Dao nói:

– Khi thuộc hạ đến phủ Nhữ Dương Vương, để làm cho vương gia tin tưởng, giữa đường phố Đại Đô này đã tự tay đánh chết ba hương chủ của bản giáo, cốt tỏ ra là thuộc hạ với Minh giáo từng có thù oán sâu xa.

Trương Vô Kỵ im lặng, nghĩ thầm: "Tàn sát huynh đệ bản giáo là một trong năm điều đại kỵ của bản giáo. Dương tả sứ, Tứ đại pháp vương, Ngũ Hành kỳ tranh đoạt ngôi giáo chủ, dù đánh nhau dữ dội, song không một ai dám giết hại huynh đệ bản giáo. Tội này của Phạm hữu sứ quả không nhẹ. Nhưng chủ tâm của y là muốn hộ giáo, không phải do tư thù, về lý cũng không thể trách phạt y", bèn nói:

– Phạm hữu sứ khổ tâm hộ giáo, bản nhân không trách cứ.

Phạm Dao cúi mình nói:

– Đa tạ giáo chủ tha tội.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Phạm hữu sứ hành sự tàn nhẫn cũng ít ai dám làm. Y có thể rạch lên mặt mình bảy, tám nhát dao, thế thì việc giết vài gã hương chủ vô tội của bản giáo y có coi ra gì. Minh giáo bị người ta coi là tà giáo, ma giáo, cũng có nguyên do của nó, không biết rồi đây y có bỏ được cái tà khí đó đi chăng?"

Phạm Dao thấy Trương Vô Kỵ tuy miệng nói "không trách cứ", nhưng mặt lại có vẻ bất bình, liền rút phắt thanh kiếm Dương Tiêu đeo bên hông, tay trái vung kiếm chặt luôn hai ngón tay phải. Trương Vô Kỵ cả kinh, giữ lại thanh kiếm, nói:

– Phạm hữu sứ, hữu sứ làm.. làm sao vậy?

Phạm Dao nói:

– Tàn sát huynh đệ bản giáo là một trọng tội. Đại sự chưa thành, Phạm Dao này chưa thể tự tận, tạm chặt hai ngón tay trước, sau này sẽ chặt nốt cái đầu.

Trương Vô Kỵ nói:

– Bản nhân đã bỏ qua lỗi lầm cũ của Phạm hữu sứ, đâu cần phải khổ như thế? Thân đang gánh vác đại sự, cần được tòng quyền. Phạm hữu sứ, chuyện này về sau không nên nhắc đến nữa.

Chàng vội lấy thuốc rịt vết thương và tự xé vạt áo mình băng lại cho Phạm Dao; biết người này tính khí quật cường, đừng nói lời lẽ không được xúc phạm đến y, mà ngay cả vẻ mặt cũng đừng tỏ ra khó chịu. Y nói sao làm vậy, chỉ e mai sau y sẽ cắt đầu tạ tội thật. Chàng nghĩ Phạm Dao đã vì bản giáo mà chịu đựng thiệt thòi lớn, trong lòng rất cảm động, liền quỳ xuống, nói:

– Phạm hữu sứ có công lớn với bản giáo, xin hãy nhận một lạy này. Nếu Phạm hữu sứ còn tự hủy hoại thân thể, tức là bảo bản nhân vô đức vô năng, không xứng gánh vác trọng nhiệm giáo chủ. Phạm hữu sứ còn tự đâm mình một kiếm, bản nhân sẽ tự đâm mình hai kiếm. Bản nhân ít tuổi, kiến thức nông cạn, chỉ biết như thế thôi.

Phạm Dao, Dương Tiêu, Vi Nhất Tiếu thấy giáo chủ quỳ xuống, cũng vội vàng quỳ lạy.

Dương Tiêu gạt lệ, nói:

– Phạm hiền đệ không nên làm thế. Bản giáo hưng suy trông đợi vào một mình giáo chủ. Chỉ lệnh của giáo chủ, hiền đệ không được vi phạm.

Phạm Dao lạy tạ, nói:

– Thuộc hạ hôm nay tỷ kiếm thí chưởng, đã vô cùng bái phục giáo chủ. Khổ đầu đà tính nết ngang ngạnh, mong giáo chủ tha tội cho.

Trương Vô Kỵ hai tay đỡ Phạm Dao đứng dậy. Sau chuyện này, hai người trong lòng càng hiểu nhau hơn, không còn sự ngăn cách nữa.

Phạm Dao kể tiếp những điều tai nghe mắt thấy trong phủ Nhữ Dương Vương.

Nhữ Dương Vương Sát Hãn Đặc Mục Nhĩ quả là người có tài dùng binh, tuy nắm binh quyền, song ở trong triều lại bị bọn gian thần kèn cựa, đương kim hoàng đế thì hôn quân vô đạo, khiến cho thiên hạ đại loạn, lòng dân căm phẫn; triều đình hoàn toàn trông cậy vào Nhữ Dương Vương đông chinh tây thảo, đánh dẹp nghĩa quân. Nhưng dẹp được nơi này thì nơi khác nổi lên, không có ngày nào yên; Nhữ Dương Vương bận bịu với việc điều binh khiển tướng, nên phải tạm gác sang một bên việc trừ diệt các môn phái bang hội trong giang hồ.

Mấy năm sau, hai người con của Sát Hãn Đặc Mục Nhĩ khôn lớn. Thế tử Khố Khố Đặc Mục Nhĩ theo cha cầm quân; con gái Mẫn Mẫn Đặc Mục Nhĩ thì thống suất các võ sĩ Mông-Hán, các phiên tăng Tây Vực, tiến hành đại công kích các môn phái bang hội. Thành Côn đứng đằng sau ngầm giúp nàng phương lược; nhân lúc sáu đại môn phái vây đánh đỉnh Quang Minh, Triệu Mẫn liền đem theo hàng loạt cao thủ, toan thừa cơ ngư ông đắc lợi, trừ diệt luôn cả Minh giáo lẫn sáu đại môn phái. Vụ hạ độc ở Lục Liễu trang chính là từ đó mà ra. Khi đó Phạm Dao phụng mệnh bảo vệ, không tham gia chuyến đi Tây Vực, nên mãi về sau mới biết. Phạm Dao nói rằng y tuy ở trong phủ Nhữ Dương Vương, nhưng là người từ Tây Vực đến, nên Triệu Mẫn không cho y tham gia chiến dịch Tây Vực, không chừng đó cũng là chủ ý của Thành Côn.

Triệu Mẫn dùng độc dược mà các phiên tăng hiến cho nàng, gọi là "Thập hương nhuyễn cân tán", bỏ vào đồ ăn thức uống của các cao thủ sáu đại môn phái khi họ rời đỉnh Quang Minh trở về. "Thập hương nhuyễn cân tán" là thứ thuốc độc không màu, không mùi, cho lẫn vào đồ ăn thức uống thì không ai có thể nhận biết. Độc dược này một khi phát tác, lập tức gân cốt toàn thân yếu ớt, vài ngày sau tuy có thể cử động như thường, song nội lực thì hoàn toàn không thể phát huy; bởi vậy các cao thủ sáu đại môn phái viễn chinh đỉnh Quang Minh, trong vòng một tháng đều bị sa lưới.

Riêng với nhóm người thứ ba của phái Thiếu Lâm do Không Tính chỉ huy, kẻ hạ độc khi hành động đã bị phát giác, đôi bên xảy ra giao tranh. Không Tính bị A Tam đánh chết, những người còn lại không địch nổi Huyền Minh nhị lão, Thần tiễn bát hùng và ba gã A Đại, A Nhị, A Tam; chết mất hơn chục người, số còn lại đều bị bắt.

Tiếp đó chúng tiến đánh các căn cứ địa của từng môn phái, nơi đầu tiên chúng chọn là chùa Thiếu Lâm. Thiếu Lâm tự phòng vệ nghiêm mật, muốn lẻn vào chùa hạ độc chẳng dễ chút nào, khó hơn hẳn việc hạ độc ở trong khách điếm, trong thị trấn hoặc trên đường đi. Đã không hạ độc được, thì chỉ còn cách lấy thịt đè người, ỷ vào số đông mà tấn công vào.

Phạm Dao nói tiếp:

– Quận chúa Triệu Mẫn muốn hạ thủ chùa Thiếu Lâm, sợ chưa đủ người, nên mới điều từ Đại Đô tới một đội tiếp viện, chính do thuộc hạ dẫn đầu, rất hay là đi vây bắt các nhà sư Thiếu Lâm tự. Phái Thiếu Lâm bao lâu nay vẫn vô lễ với bản giáo, cho bọn họ nếm mùi đau khổ thật không gì sướng bằng. Nếu cần đem giết sạch đám hòa thượng thối tha của phái Thiếu Lâm, Khổ đầu đà này cũng chẳng cần nhíu mày. Giáo chủ, chắc giáo chủ cũng muốn thế phải không? Ha ha!

Dương Tiêu xen vào:

– Hiền đệ, các pho tượng La Hán được xoay lại là do hiền đệ làm phải không?

Phạm Dao cười, đáp:

– Đệ thấy quận chúa sai đục mười sáu chữ sau lưng các pho tượng La Hán, toan giá họa cho bản giáo, nên sau đó đệ lẻn quay trở lại, xoay tượng đi. Đại ca, các vị tinh thật, việc như thế mà cũng nhận biết được. Khi biết, đại ca có nghĩ là do đệ làm hay không?

Dương Tiêu nói:

– Bọn ta nghĩ rằng trong hàng ngũ kẻ thù, hình như có một cao thủ ngầm bảo vệ bản giáo, nhưng đâu có ngờ cao thủ ấy lại chính là Phạm hiền đệ của ta!

Bốn người cùng cười ầm lên. Dương Tiêu liền nói rõ sơ qua cho Phạm Dao biết, rằng Minh giáo từ nay quyết ý bỏ hết hiềm khích cũ với sáu đại môn phái, để cùng chung sức chống Mông Cổ, do đó cần phải cứu các cao thủ ra.

Phạm Dao nói:

– Địch đông ta ít, chỉ trông vào bốn người mình thì khó xong việc này. Chi bằng tìm kiếm thuốc giải "Thập hương nhuyễn cân tán" cho bọn hòa thượng thối tha, ni cô khắm khú, chờ bọn khốn kiếp ấy phục hồi nội lực, cùng xông ra mà đánh cho bọn Thát tử trở tay không kịp; cuối cùng tất cả chạy khỏi Đại Đô.

Minh giáo bao năm nay vốn thù nghịch với các danh môn chính phái Thiếu Lâm, Nga Mi, Võ Đang.. cho nên khi nói về các cao thủ của sáu môn phái, Phạm Dao dùng lời lẽ chẳng nể nang chút nào. Dương Tiêu cứ liên tục nháy mắt với y, song Phạm Dao chẳng buồn để ý. Trương Vô Kỵ cũng không coi trọng tiểu tiết, vỗ tay, nói:

– Phạm tả sứ nói không sai, nhưng tìm đâu ra thuốc giải "Thập hương nhuyễn cân tán" bây giờ?

Phạm Dao nói:

– Thuộc hạ giả câm, nên quận chúa đối với thuộc hạ tuy có phần kính nể, song không hề bàn chuyện gì hệ trọng cả. Chỉ một mình nàng nói, đối phương ú ớ chẳng hé miệng nửa lời thì còn gì thú vị nữa? Huống hồ thuộc hạ lại từ một nước nhỏ bên Tây Vực sang đây, cô nàng không coi thuộc hạ là kẻ tâm phúc, thành thử thuốc giải "Thập hương nhuyễn cân tán" thế nào, thuộc hạ không hề biết. Thuộc hạ chỉ biết chuyện đó rất hệ trọng, nên ngầm lưu tâm. Nếu thuộc hạ không lầm thì thuốc độc, thuốc giải "Thập hương nhuyễn cân tán" do Huyền Minh nhị lão chia nhau nắm giữ, một lão cầm thuốc độc, một lão cầm thuốc giải và cứ luôn luôn đổi qua đổi lại.

Dương Tiêu thở dài:

– Cô nàng quận chúa nương nương quả là lắm mưu mẹo, giới mày râu khó mà sánh kịp. Chẳng lẽ ngay cả Huyền Minh nhị lão, Triệu cô nương cũng chưa tin hay sao?

Phạm Dao đáp:

– Một là cô ta không yên tâm; hai là làm như thế càng thận trọng, chắc chắn. Chẳng hạn như lúc này, mình định lấy trộm thuốc giải, mình không thể biết nó đang do Lộc Trượng Khách hay do Hạc Bút Ông nắm giữ. Đã thế nghe đâu thuốc độc, thuốc giải có mùi vị, màu sắc y hệt nhau, ngoài người giữ thuốc ra, không ai hay biết. Người ngoài lấy trộm thuốc giải, không chừng lại vớ phải thuốc độc. "Thập hương nhuyễn cân tán" lại ghê gớm ở chỗ, sau khi trúng độc rồi, gân cốt bủn rủn, song vẫn sống; nhưng chỉ cần uống thêm một chút xíu thuốc độc nữa thôi, lập tức máu chạy ngược lên, tắt thở luôn, hết bề cứu chữa.

Vi Nhất Tiếu lè lưỡi:

– Như thế thì nhất thiết không được lấy trộm nhầm phải thuốc độc.

Phạm Dao nói:

– Tuy vậy, nhưng cũng không phải là hết cách. Mình cứ lấy trộm thuốc của cả hai lão, rồi tìm một tên đệ tử phái Hoa Sơn hoặc phái Không Động gì đó cho nó uống thử, nếu nó chết thì là thuốc độc, vậy là xong.

Trương Vô Kỵ biết tà tính của Phạm Dao rất nặng, y chẳng coi tính mạng người khác ra gì, chỉ mỉm cười, nói:

– Như thế không ổn. Lỡ mình tốn bao nhiêu công sức lại chỉ lấy trộm được toàn là thuốc độc thì sao?

Dương Tiêu vỗ đùi, nói:

– Giáo chủ nói có lý. Đêm qua mình quấy rối như thế, làm cho quận chúa sợ rồi, không chừng cô nàng giữ luôn thuốc giải trong người. Theo ý tại hạ, chúng ta cần dò xét biết ai giữ thuốc giải cái đã, rồi hãy tính cách hành sự.

Sau một hồi ngẫm nghĩ, hỏi:

– Hiền đệ, Huyền Minh nhị lão bình sinh thích thứ gì hơn cả?

Phạm Dao cười đáp:

– Lộc hiếu sắc, Hạc mê rượu, còn gì khác thì không rõ.

Dương Tiêu bèn hỏi Trương Vô Kỵ:

– Giáo chủ, có loại thuốc gì làm cho gân cốt bủn rủn gần giống như "Thập hương nhuyễn cân tán" hay không?

Trương Vô Kỵ nghĩ một lát, cười đáp:

– Nếu muốn làm cho toàn thân uể oải mất sức, mơ màng buồn ngủ, cũng chẳng khó gì; có điều là dùng cho các cao thủ thì sau nửa canh giờ đã hết tác dụng. Muốn duy trì lâu dài như "Thập hương nhuyễn cân tán" thì chịu, không có cách nào cả.

Dương Tiêu cười, nói:

– Được nửa giờ cũng đủ rồi. Tại hạ có một kế này, không biết có dùng được chăng, nhờ giáo chủ định liệu. Gọi là kế, thực không bõ cười. Phạm hiền đệ cố tìm cách rủ Hạc Bút Ông đi uống rượu, lén bỏ thứ thuốc do giáo chủ phối chế vào trong rượu. Sau đó hiền đệ giả bộ làm dữ, nói là trúng phải "Thập hương nhuyễn cân tán" của Hạc Bút Ông, khi đó thuốc giải ở trong tay ai, mình biết liền, sẽ thừa cơ đoạt lấy để cứu người.

Trương Vô Kỵ nói:

– Kế ấy có đắc dụng hay không, còn tùy tính nết của Hạc Bút Ông. Phạm hữu sứ thấy thế nào?

Phạm Dao thử diễn trong óc sự việc từ đầu đến cuối một lần, thấy kế đó tuy đơn giản, song cũng không hề có gì sơ hở, bèn nói:

– Thuộc hạ nghĩ có thể làm theo kế của Dương đại ca. Hạc Bút Ông tính nết tàn bạo, nhưng không mưu mẹo nham hiểm bằng Lộc Trượng Khách. Nếu thuốc giải ở trong người Hạc Bút Ông, thì thuộc hạ tuy võ công thua kém hắn, song cũng đối phó được.

Dương Tiêu nói:

– Nhỡ thuốc giải do Lộc Trượng Khách nắm giữ thì sao?

Phạm Dao cau mày, nói:

– Nếu thế thì khó thật.

Y đứng dậy, đi đi lại lại hồi lâu, rồi vỗ tay một cái, nói:

– Có cách rồi. Lộc Trượng Khách khôn ngoan hơn người, muốn đánh lừa hắn, phần lớn hắn nhìn ra được, khó xong. Chỉ còn cách đánh vào chỗ yếu của hắn, dùng cái đó để uy hiếp hắn; hắn sẽ phải suy tính thiệt hơn, hắn có chịu khuất phục hay không, cũng khó đoán. Dĩ nhiên, chuyện lớn thế này rất có thể không thành, mạo hiểm không nhỏ, nhưng ngoài cách đánh vào chỗ yếu, không còn cách nào khác.

Dương Tiêu hỏi:

– Lộc Trượng Khách thân già nhưng tâm chưa già, Phạm hiền đệ có nắm được cái thóp nào của lão ta chăng?

Phạm Dao nói:

– Mùa xuân vừa rồi, Nhữ Dương Vương nạp thiếp, có mời mấy người chúng tại hạ đến hoa sảnh dự tiệc. Nhữ Dương Vương muốn khoe người thiếp mới xinh đẹp, nên sai tân nương nương ra chuốc rượu. Tại hạ thấy Lộc Trượng Khách cứ nhìn nàng ta hau háu, nuốt nước bọt mấy lần, tựa như thèm muốn vô cùng.

Vi Nhất Tiếu hỏi:

– Rồi thế nào?

Phạm Dao đáp:

– Chẳng thế nào cả. Nàng ta là ái thiếp của vương gia, Lộc Trượng Khách to gan đến mấy cũng chẳng dám giở trò gì.

Vi Nhất Tiếu nói:

– Chỉ nhìn hau háu thì đâu đã tội vạ gì.

Phạm Dao nói:

– Chưa tội vạ thì mình làm cho thành tội vạ. Việc này phải phiền Vi huynh thi triển khinh công, cướp ái thiếp của Nhữ Dương Vương, đem đặt vào giường của Lộc Trượng Khách. Con dê cụ ấy mười phần đến bảy, tám không nhịn được, thể nào cũng sẽ giở trò bậy bạ. Còn giả dụ hắn quả có thể gò cương bên miệng vực, thì tại hạ sẽ xông vào buồng hắn, làm cho hắn có đến trăm cái mồm cũng không cãi nổi, có rửa cũng chẳng sạch tội, chỉ còn cách hai tay dâng thuốc giải cho ta.

Dương Tiêu và Vi Nhất Tiếu cùng vỗ tay cười, nói:

– Cái kế bắt quả tang ấy quả là cao minh. Lộc Trượng Khách dù gian ngoan như quỷ, cũng đành cứng họng bẽ mặt.

Trương Vô Kỵ vừa bực vừa buồn cười, nghĩ thầm các thuộc hạ của mình hành sự gian trá hiểm độc chẳng khác gì thủ hạ của Triệu Mẫn; chỉ là một bên thiện, một bên ác, đôi bên cách biệt nhau rất xa; dùng cách hiểm độc đối phó với kẻ hiểm độc, gọi là lấy độc trị độc. Nghĩ thế, chàng cảm thấy yên tâm, mỉm cười, nói:

– Chỉ có điều làm lụy đến nàng ái thiếp của Nhữ Dương Vương thôi.

Phạm Dao cười, nói:

– Thuộc hạ sẽ xông vào buồng hắn sớm một chút, không để cho hắn xơ múi gì cả, thế là xong.

Bốn người bàn tính tỉ mỉ, sau khi lấy được thuốc giải, Phạm Dao sẽ mang tới bảo tháp chia cho cao thủ các môn phái uống ngay. Trương Vô Kỵ và Vi Nhất Tiếu ở bên ngoài tiếp ứng, một khi thấy Phạm Dao nổi lửa trong chùa Vạn An, sẽ lập tức phóng hỏa đốt nhà dân quanh chùa; quần hiệp sẽ thừa cơ hỗn loạn mà chạy ra ngoài. Dương Tiêu thì mua xe ngựa, chờ sẵn ở ngoài cửa tây, những người chạy ra sẽ lên xe chạy đi, hẹn hội ngộ tại Xương Bình. Trương Vô Kỵ nghĩ việc đốt nhà dân chúng không khỏi giáng họa cho người vô tội, thì Dương Tiêu nói:

– Giáo chủ, sự đời thường khó vẹn cả đôi đường. Chúng ta cứu được quần hiệp sáu đại môn phái, sau này nếu đánh đuổi bọn Thát tử, tức là tạo phúc cho muôn vạn dân lành, hôm nay có gây thiệt hại cho vài trăm gia đình, cũng không đáng gì.

Bốn người phương sách đã định, chia nhau đi vào thành lo liệu. Dương Tiêu đi mua xe ngựa. Trương Vô Kỵ phối chế một liều thuốc mê; để bớt mùi thuốc, chàng phải thêm ba loại hương liệu, khi hòa vào rượu, uống vẫn thấy thơm ngon. Vi Nhất Tiếu thì ra chợ mua một cái bao vải lớn, chờ trời tối sẽ lẻn vào phủ Nhữ Dương Vương để cướp nàng ái thiếp của vương gia.

*

* *

Phạm Dao và Huyền Minh nhị lão có nhiệm vụ canh giữ các cao thủ sáu đại môn phái, nên ở luôn trong chùa Vạn An. Triệu Mẫn thì ở vương phủ, buổi tối mới đi xe tới chùa học võ. Phạm Dao mang thuốc mê về chùa Vạn An, nghĩ hơn hai mươi năm qua Minh giáo chia năm xẻ bảy, bây giờ mới có cơ trung hưng, không uổng công mình chịu đựng muôn vàn khổ sở, trong lòng như được an ủi rất nhiều. Trương giáo chủ võ công cao cường, lại là người vô cùng nhân nghĩa, khiến ai cũng phải khâm phục; chỉ tiếc là giáo chủ thiếu cái tính quyết liệt tàn nhẫn, hơi có vẻ ủy mị của nữ giới, quả là mỹ trung bất túc.

Phạm Dao trú ở sương phòng phía tây, Huyền Minh nhị lão thì trú ở Bảo Tương tinh xá nơi hậu viện. Bình thời y rất ngán hai lão già này, lại sợ bại lộ chân tướng, nên ít qua lại với nhau, thành thử đôi bên ở xa nhau; lúc này nghĩ đến việc làm cách nào mời Hạc Bút Ông uống rượu mà không để lộ hình tích, thật không phải dễ.

Y nhìn về phía hậu viện, thấy mặt trời đã ngả về tây, nửa dưới của tòa bảo tháp mười ba tầng đã khuất nắng, mái ngói lưu li trên đỉnh tháp cũng nhạt dần. Nhất thời chưa biết tính sao, y chắp hai tay sau lưng lững thững đi về phía hậu viện, bỗng ngửi thấy mùi thịt rất thơm từ một sương phòng đối diện với Bảo Tương tinh xá tỏa ra, chính là nơi ở của hai người trong "Thần tiễn bát hùng" là Tôn Tam Hủy và Lý Tứ Thôi. Phạm Dao chợt nghĩ ra một kế. Y tới sương phòng hai gã, vừa đẩy cửa mùi thịt đã xộc ngay vào mũi. Chỉ thấy Lý Tứ Thôi đang ngồi xổm dưới nền quạt gió vào bếp lò cho đượm lửa; trên bếp đặt một cái nồi sành lớn đang sôi, mùi thịt thơm nức từ đó bay ra. Tôn Tam Hủy thì đang xếp mâm bát, rõ ràng hai gã sắp sửa đánh chén.

Hai gã thấy Khổ đầu đà đẩy cửa bước vào thì giật mình, nhìn sắc mặt không khỏi chột dạ. Hai gã mới rồi đánh chết một con chó vàng ở bên ngoài, chặt lấy bốn đùi mang về phòng làm món nhậu. Chùa Vạn An là nơi sư sãi thanh tu, nấu thịt chó trong chùa quả là sai trái, người ngoài nhìn thấy cũng không đến nỗi nào, đằng này Khổ đầu đà là đệ tử cửa Phật, lão mà nổi nóng, nện cho một trận, hai gã chẳng thể nào địch lại. Khổ đầu đà võ công rất cao cường, huống hồ lỗi lại thuộc về hai gã, có bị đòn cũng đáng.

Hai gã đang lo lắng, thấy Khổ đầu đà tới bên bếp lò, mở vung, nhòm vào trong nồi, hít một hơi dài, như muốn nói: "Thơm quá, ngon quá!" rồi đột nhiên thò luôn tay vào nồi, bất kể đang sôi sùng sục, nhón ra một miếng thịt chó, bỏ vào mồm nhai ngồm ngoàm, loáng một cái đã hết miếng thịt to, đoạn liếm môi, tựa hồ ngon lành hết sức. Tôn Tam Hủy và Lý Tứ Thôi cả mừng, vội nói:

– Mời Khổ đại sư ngồi xuống đây, bọn này đâu có biết lão nhân gia cũng khoái món thịt cầy.

Khổ đầu đà chưa ngồi xuống, đã lại thò tay nhón một miếng thịt chó nữa, ngồi chồm hổm ngay bên bếp lò mà nhai. Tôn Tam Hủy muốn lấy lòng y, rót ngay một bát rượu đem tới. Khổ đầu đà nhận bát rượu, uống một ngụm, đột nhiên nhổ toẹt xuống đất, tay trái giơ lên ngang mũi xua xua, ngụ ý rượu chua quá, uống không nổi, đứng lên rảo bước ra khỏi phòng.

Tôn, Lý hai gã thấy y hầm hầm bỏ đi, lại lo lo, nhưng chỉ một lát đã thấy Khổ đầu đà bưng một bầu rượu lớn trở lại, thì mừng rơn, nói:

– Đúng, đúng lắm. Rượu của bọn này không phải loại ngon, Khổ đại sư có mỹ tửu đem tới thì còn gì bằng.

Hai gã vội bày bàn, mời Khổ đầu đà ngồi ở đầu bàn, bày món thịt chó đầy mâm. Khổ đầu đà võ công cao siêu, thuộc hàng đệ nhất trong đám thủ hạ của Triệu Mẫn, bình thời "Thần tiễn bát hùng" đâu dám với cao, hôm nay lại mời được y ăn thịt chó, không chừng lão nhân gia vui lòng truyền cho một vài tuyệt chiêu, tha hồ mà dùng cả đời.

Khổ đầu đà mở nút bầu rượu, rót ra ba bát. Rượu này màu vàng ánh, sánh như mật ong, vừa rót ra đã tỏa mùi thơm nức. Tôn, Lý hai gã cùng thốt lên:

– Rượu ngon quá, ngon quá!

Phạm Dao nghĩ thầm: "Không biết Huyền Minh nhị lão có nhà hay không, nếu hai lão đi vắng thì mình thật uổng công". Y đặt bát rượu vào cái nồi nước sôi nhỏ để hâm nóng, mùi rượu bốc lên càng ngào ngạt. Hai gã Tôn Lý định bưng rượu uống, Khổ đầu đà giơ tay ngăn lại, chỉ vào nồi, ngụ ý hâm nóng rồi hãy uống. Ba người thay phiên nhau hâm rượu, mùi rượu bốc lên thơm lừng. Hạc Bút Ông không ở nhà thì thôi, đã ở nhà thể nào cũng sẽ ngửi thấy mùi rượu.

Quả nhiên từ bên phía Bảo Tương tinh xá có tiếng kẹt cửa, rồi giọng của Hạc Bút Ông:

– Rượu thơm thế, thơm thế, hà hà!

Hắn chẳng khách khí gì, đi qua sân sang bên này, đẩy cửa bước vào, thấy Khổ đầu đà cùng với hai gã Tôn, Lý ngồi bên bếp lửa nhắm rượu, đang lúc thích chí. Hạc Bút Ông ngạc nhiên cười, rồi nói:

– Khổ đại sư, hóa ra đại sư cũng khoái món này, đâu ngờ chúng mình là đồng đạo với nhau.

Tôn Tam Hủy và Lý Tứ Thôi vội đứng dậy mời:

– Hạc công công, mời công công uống vài bát, đây là mỹ tửu của Khổ đại sư, hiếm khi có được.

Hạc Bút Ông ngồi đối diện với Khổ đầu đà, hai người là khách mà lấn cả chủ, ăn uống tự nhiên, còn Tôn Tam Hủy và Lý Tứ Thôi biến thành kẻ hầu bưng rượu gắp thịt.

Bốn người cao hứng ngồi ăn uống một hồi, đều đã ngà ngà say. Phạm Dao nghĩ thầm: "Mình hạ độc là vừa". Liền tự rót cho mình một bát đầy, tiện tay đặt cái bầu rượu nằm ngang xuống. Cái nút đậy bầu rượu, y đã khoét rỗng, đổ bột thuốc Trương Vô Kỵ phối chế vào đó, bên ngoài bọc hai lần vải. Bầu rượu nếu đặt đứng, bột thuốc không xuống được, thứ rượu bốn người uống sẽ đúng là mỹ tửu; nhưng một khi đặt nằm ngang, rượu sẽ ngấm qua lớp vải, làm tan thuốc, rượu trong bầu biến thành rượu độc. Đáy cái bầu rượu vốn tròn, đặt đứng đặt nằm chẳng ai để ý, huống hồ bốn người đã uống một lúc lâu, đã bắt đầu chếnh choáng say.

Phạm Dao thấy bát rượu trước mặt Hạc Bút Ông đã cạn, bèn mở nút, đưa bầu rượu cho hắn. Hạc Bút Ông tự rót đầy bát của mình, rồi tiện tay rót luôn đầy bát cho Tôn, Lý hai gã. Vì bát của Khổ đầu đà vẫn đầy, nên hắn không rót. Bốn người cùng bưng bát rượu lên uống ừng ực.

Trừ Phạm Dao, ba kẻ kia đều uống phải rượu độc. Hai gã Tôn, Lý nội lực kém, rượu độc vừa vào bụng, đã cảm thấy chân tay rã rời, toàn thân bải hoải không còn chút hơi sức nào. Tôn Tam Hủy nói nhỏ:

– Tứ Thôi, bụng huynh lục bục làm sao ấy.

Lý Tứ Thôi cũng nói:

– Đệ.. đệ hình như bị trúng độc.

Lúc này Hạc Bút Ông cũng đã cảm thấy khác, vội vận khí, nhưng nội lực không đưa lên được, mặt liền biến sắc.

Phạm Dao đứng bật dậy, mặt hầm hầm, thộp ngực Hạc Bút Ông, miệng ú ớ gầm gừ, chỉ có điều là không nói được. Tôn Tam Hủy sợ hãi nói:

– Khổ đại sư, chuyện gì vậy?

Phạm Dao chấm ngón tay vào rượu, viết trên bàn năm chữ "Thập hương nhuyễn cân tán".

Tôn, Lý hai gã đều biết "Thập hương nhuyễn cân tán" do Huyền Minh nhị lão nắm giữ, hiện tại rõ ràng là Khổ đầu đà và hai gã đều trúng loại độc đó. Hai gã liền đưa mắt cho nhau, cúi mình nói với Hạc Bút Ông:

– Hạc công công, huynh đệ chúng tôi không dám mạo phạm với công công, xin công công nương tay cho.

Hai gã nghĩ rằng Hạc Bút Ông chắc chỉ muốn đối phó với Khổ đầu đà; còn hai gã chẳng may bị vạ lây, chứ để đối phó với hai gã, Hạc Bút Ông đâu cần dùng đến độc dược.

Hạc Bút Ông kinh ngạc vạn phần, "Thập hương nhuyễn cân tán" tháng này do hắn giữ, rõ ràng cất bên trong cây bút mỏ hạc dùng bên tay trái; hai cây bút – binh khí này là vật bất li thân, không kẻ nào có thể lấy trộm được của hắn. Nhưng hắn vừa thử vận khí, thấy không có sức lực gì cả, hiển nhiên là đã trúng độc "Thập hương nhuyễn cân tán" thật rồi. Thực ra thuốc mê do Trương Vô Kỵ phối chế tuy có mạnh, nhưng thua xa "Thập hương nhuyễn cân tán"; cảm giác sau khi uống vào cũng khác hẳn. Nhưng Hạc Bút Ông chỉ nghe là trúng "Thập hương nhuyễn cân tán" thì gân cốt bủn rủn, người mất sức lực, chứ hắn đâu đã thử qua, thành thử tuy hai loại khác nhau xa, nhưng hắn chẳng thể phân biệt. Chỉ thấy Khổ đầu đà vừa hoảng hốt vừa tức giận; còn Tôn, Lý hai gã ở hai bên cứ luôn miệng van xin, nên hắn không nghi ngờ gì, nói:

– Khổ đại sư đừng nóng, chúng ta là hảo huynh đệ, tại hạ sao lại hãm hại huynh kia chứ? Tại hạ cũng bị trúng độc đây này, không biết kẻ nào giở trò ma mãnh, quái lạ thật!

Phạm Dao lại chấm ngón tay vào rượu, viết trên bàn mấy chữ "Lấy thuốc giải mau". Hạc Bút Ông gật đầu, nói:

– Đúng, mình uống thuốc giải đã, sau đó sẽ tìm tên gian tặc giở trò ma để tính sổ với nó sau. Thuốc giải do Lộc sư ca giữ, Khổ đại sư hãy cùng đi với tại hạ.

Phạm Dao mừng thầm, không ngờ kế của Dương Tiêu lại đắc dụng đến thế, có thể dễ dàng biết được thuốc giải ở trong tay ai. Y giơ tay trái nắm lấy cổ tay phải của Hạc Bút Ông, giả bộ chệnh choạng đi qua sân sang Bảo Tương tinh xá. Hạc Bút Ông thấy Khổ đầu đà dường như đi không nổi, thì mừng thầm, nghĩ bụng: "Khổ đầu đà võ công cực cao, nhưng chưa có dịp nào huynh đệ mình so tài cao thấp với y; nay sau khi trúng độc y lại như thế này, chứng tỏ nội lực thua xa huynh đệ mình".

Hai người tới trước cửa Bảo Tương tinh xá, gian phòng phía nam là của Hạc Bút Ông, gian phía bắc là của Lộc Trượng Khách. Chỉ thấy cửa phòng phía bắc cửa đóng kín, Hạc Bút Ông gọi to:

– Sư ca có nhà không?

Có tiếng Lộc Trượng Khách từ bên trong trả lời. Hạc Bút Ông giơ tay đẩy cửa, nhưng có cài then bên trong. Hạc Bút Ông kêu lên:

– Sư ca, mở cửa mau, có việc gấp.

Lộc Trượng Khách nói:

– Gấp với chả gáp cái gì? Ta đang luyện công, đệ đừng có tới quấy rầy ta.

Hạc Bút Ông và Lộc Trượng Khách cùng học võ một thầy, không phân hơn kém, nhưng Lộc Trượng Khách là sư huynh, lại mưu trí hơn hẳn, nên Hạc Bút Ông vẫn tôn kính, nay nghe giọng sư huynh có vẻ khó chịu, thì không dám gọi nữa.

Phạm Dao nghĩ việc này không thể dây dưa, nếu đến lúc thuốc mê hết tác dụng thì mình lộ tẩy, nên chẳng nói chẳng rằng dùng vai đẩy một cái, then cửa gãy luôn, cánh cửa mở toang ra, chỉ nghe có tiếng phụ nữ rú lên.

Lộc Trượng Khách đang đứng bên giường, nghe tiếng cửa mở, ngoảnh ra, vẻ mặt hết sức ngượng ngùng. Phạm Dao thấy nằm trên giường có một nữ nhân, toàn thân được quấn trong một tấm chăn mỏng, chỉ hở cái đầu, ngoài tấm chăn có buộc dây, trông như cuộn mành mành. Nữ nhân tóc xõa tung, nước da trắng ngần, dung nhan cực kỳ diễm lệ, nhìn ra chính là ái thiếp họ Hàn của Nhữ Dương Vương. Phạm Dao nghĩ thầm: "Vi Bức Vương giỏi thật, một mình lọt vào vương phủ, đã cướp được nàng Hàn cơ rồi".

Thực ra, phủ Nhữ Dương Vương tuy được canh phòng rất cẩn mật, nhưng đám vệ sĩ chủ yếu bảo vệ ba người là vương gia, thế tử và quận chúa, còn cơ thiếp của Nhữ Dương Vương quá đông, chả ai nghĩ sẽ có kẻ đến cướp mang đi. Huống hồ Vi Nhất Tiếu đến nhanh như chớp, linh hoạt khôn lường, vừa vào phủ đã vác ngay Hàn cơ đi, thật là xuất quỷ nhập thần. Còn về chuyện làm sao đặt Hàn cơ vào giường của Lộc Trượng Khách, thì phải đợi chán chê, thừa lúc Lộc Trượng Khách ra đi cầu, mới lẻn vác Hàn cơ đặt vào giường, rồi lặng lẽ bỏ đi.

Lộc Trượng Khách trở vào nhà, thấy có một nữ nhân nằm trên giường, vội chạy ra, nhảy lên mái nhà nhìn tứ phía. Lúc này Vi Nhất Tiếu đã cao chạy xa bay; ngoài tiếng ăn uống lè nhè phát ra từ phòng của hai gã Tôn, Lý, không có gì khác lạ. Lộc Trượng Khách cảm thấy việc này quái lạ, bèn lẳng lặng trở về phòng, nhìn kỹ nữ nhân kia, thì không khỏi trố mắt, há hốc mồm. Hôm vương gia nạp thiếp có mở tiệc đãi một số cao thủ hữu danh, nàng Hàn cơ này khi chuốc rượu cứ tủm tỉm cười, Lộc Trượng Khách tuy đã nhiều tuổi, cũng không khỏi mê mẩn. Lão tham dâm hiếu sắc, bình sinh đã làm hại không biết bao nhiêu con gái nhà lành, nay thấy nàng Hàn cơ xinh đẹp, không khỏi thở dài tiếc rẻ, sao không sớm gặp mỹ nhân. Nếu trước khi nàng vào vương phủ mà lão trông thấy, thì nàng có chạy đằng trời cũng không thoát khỏi tay lão. Sau bữa đó lão từng nghĩ đến nàng mấy lần, nhưng vì đã tìm được người mới, nên cũng quên đi. Không ngờ bây giờ tự dưng nàng Hàn cơ lại như từ trên trời rơi xuống giường lão thế này.

Lộc Trượng Khách nửa ngạc nhiên nửa vui mừng, đoán chắc là đại đệ tử Ô Vượng A Phổ biết được tâm ý sư phụ, nên đã rước trộm nàng Hàn cơ về đây. Lão thấy nàng nằm thò đầu ra ngoài tấm chăn mỏng, nước da mặt và cổ trắng muốt, lấp ló bờ vai trần, dường như trên người không mặc quần áo, lão hồi hộp hỏi nhỏ, vì sao nàng lại tới đây. Hỏi mấy câu, Hàn cơ không hề trả lời, Lộc Trượng Khách đoán nàng đã bị điểm huyệt, toan giơ tay giải huyệt cho nàng, thì đột nhiên Hạc Bút Ông tới ngoài cửa, rồi Khổ đầu đà phá cửa vào.

Sự việc diễn ra bất ngờ, Lộc Trượng Khách tuy vô cùng xảo quyệt, nhưng muốn che giấu cũng không được nữa rồi. Lão chợt nghĩ, hay là vương gia phát giác ái thiếp bị cướp, sai Khổ đầu đà đến bắt lão; đã vậy, chỉ còn cách bỏ chạy là hơn cả. Tay phải chộp ngay cây trượng, tay trái cắp Hàn cơ, Lộc Trượng Khách định phá cửa sổ chạy đi.

Hạc Bút Ông kinh ngạc nói:

– Sư ca, mau đưa thuốc giải cho tiểu đệ.

Lộc Trượng Khách hỏi:

– Cái gì?

Hạc Bút Ông nói:

– Tiểu đệ và Khổ đại sư chẳng hiểu sao bị trúng độc "Thập hương nhuyễn cân tán".

Lộc Trượng Khách hỏi lại:

– Đệ bảo sao kia?

Hạc Bút Ông nhắc lại lần nữa. Lộc Trượng Khách lấy làm lạ, hỏi:

– "Thập hương nhuyễn cân tán" chẳng phải do đệ giữ kia mà?

Hạc Bút Ông nói:

– Tiểu đệ cũng chả hiểu ra sao, bốn người đang ngồi nhắm rượu, bỗng dưng cả bọn bị trúng độc. Lộc sư ca mau đưa thuốc giải cho bọn đệ uống.

Lộc Trượng Khách nghe vậy thì trấn tĩnh lại, đặt nàng Hàn cơ xuống giường, quay mặt vào tường, Hạc Bút Ông vốn biết vị sư ca này trăng hoa thành tính, trong phòng lão có đàn bà con gái cũng chẳng lấy làm lạ, huống hồ Hạc Bút Ông đã trúng độc, đang hoảng hồn, hơi đâu để ý xem nữ nhân kia là ai. Dẫu lúc bình thường Hạc Bút Ông cũng chẳng nhận ra nữ nhân kia là ai, bởi trong bữa tiệc rượu nọ, nàng Hàn cơ chỉ ra chuốc rượu một lần rồi lui vào, Hạc Bút Ông chỉ chăm chăm uống rượu, đâu có để ý nhìn mặt mũi nàng đẹp hay xấu thế nào.

Lộc Trượng Khách nói:

– Mời Khổ đại sư sang phòng Hạc đệ nghỉ ngơi, tại hạ sẽ mang thuốc giải sang ngay.

Lão vừa nói vừa giơ tay đẩy nhẹ hai người ra khỏi phòng. Cái đẩy ấy khiến Hạc Bút Ông lảo đảo suýt ngã. Phạm Dao cũng loạng choạng theo, giả bộ mất hết nội lực. Tuy nhiên do nội lực thâm hậu, nên khi y bị ngoại lực tác động tới liền tự nhiên sinh ra sức kháng cự. Lộc Trượng Khách vừa đẩy nhẹ, thì biết Hạc Bút Ông đã mất hết nội lực, còn Phạm Dao thì giả vờ. Lão sợ mình đánh nhầm, lại dùng lực đẩy thêm một cái nữa. Lần này cả hai đều lảo đảo, nhưng một người thì chân nam đá chân chiêu, còn người kia thì vững hơn.

Lộc Trượng Khách vờ như không, cười nói:

– Khổ đại sư, thật là đắc tội.

Nói rồi lão giơ tay ra gọi là đỡ, nhưng thực chất là nắm ngay hai huyệt Hội Tông và Ngoại Quan ở cổ tay Phạm Dao. Phạm Dao thấy y ra tay như thế, biết mình đã bại lộ, bèn vung tay trái đánh mạnh vào huyệt Hồn Môn ở sau lưng Hạc Bút Ông, để lão ta toàn thân rã rời, nhất thời chưa cử động được. Tạm loại trừ một trong hai đại cao thủ, còn một đấu một với Lộc Trượng Khách thì không có gì sợ. Phạm Dao cười khẩy, nói:

– Ngươi không muốn sống nữa hay sao mà dám đi cướp cả ái thiếp của vương gia?

Phạm Dao vừa mở miệng nói, thì Huyền Minh nhị lão kinh ngạc ngớ người ra. Hai lão biết Khổ đầu đà mười lăm mười sáu năm nay, chưa từng nghe y nói nửa lời, vẫn cứ tưởng rằng bẩm sinh y là người câm. Lộc Trượng Khách tuy đã biết Phạm Dao như vậy là không có ý định tốt lành gì, y đã đóng vai câm ngần ấy năm, thì tình cảnh của lão bây giờ rõ ràng rất nguy hiểm, bèn nói:

– Thì ra Khổ đại sư không phải câm thật, mười mấy năm nay khổ công che giấu như thế là để làm gì?

Phạm Dao đáp:

– Vương gia biết tiên sinh tâm địa đáng ngờ, sai ta đóng giả vai người câm để tiện giám sát tiên sinh.

Câu này thực ra có nhiều sơ hở, nhưng lúc này nàng Hàn cơ đang nằm trên giường, Lộc Trượng Khách vốn có tà ý, không thể không tin, huống hồ lão biết Nhữ Dương Vương rất giỏi ràng buộc chồng chéo đối với thuộc cấp, nên vừa nghe câu đó của Phạm Dao thì Lộc Trượng Khách chột dạ, nói:

– Vương gia sai đại sư đến bắt ta ư? Võ nghệ của đại sư tuy cao, nhưng chắc đã làm gì nổi ta?

Nói xong vung trượng lên toan động thủ.

Phạm Dao cười, nói:

– Lộc tiên sinh, Khổ đầu đà võ công tuy chưa bằng tiên sinh, nhưng đôi bên chẳng thua kém bao nhiêu. Tiên sinh muốn đánh bại ta, e rằng trong một vài trăm chiêu chưa chắc làm nổi. Tiên sinh thắng vài chiêu không khó, nhưng vừa muốn cắp nàng Hàn cơ đi, vừa muốn cứu sư đệ, thì Lộc Trượng Khách đừng có hòng.

Lộc Trượng Khách đưa mắt nhìn sư đệ, biết lời nói của Khổ đầu đà quả không ngoa. Lão và sư đệ từ nhỏ đồng môn học nghệ, cùng lớn lên cho đến già, mấy chục năm chưa từng rời nhau một ngày. Hai lão đều không vợ không con, có thể nói coi nhau hơn cả ruột thịt, bảo lão bỏ sư đệ trốn đi một mình thì không nỡ lòng nào.

Phạm Dao thấy lão có vẻ do dự, liền quát gọi Tôn Tam Hủy và Lý Tứ Thôi vào phòng, đóng chặt cửa lại, nói:

– Lộc tiên sinh, việc này chưa bại lộ, hãy cứ tin vào Khổ đầu đà này nhất định sẽ che giấu cho tiên sinh đến cùng.

Lộc Trượng Khách lấy làm lạ, hỏi:

– Làm thế nào che giấu được?

Phạm Dao không thèm quay đầu, đưa tay ngược ra đằng sau điểm huyệt Tôn, Lý hai gã, thủ pháp nhanh nhẹn, chuẩn xác, khiến cả hai không nói và cử động được. Lộc Trượng Khách cũng phải thầm thán phục. Phạm Dao nói:

– Chính tiên sinh không mang chuyện này đi kể, thì sư đệ cũng chẳng làm khó với tiên sinh. Khổ đầu đà vốn là người câm, thì từ nay cũng tiếp tục làm người câm. Còn hai gã này, Khổ đầu đà sẽ giúp tiên sinh bằng cách điểm vào tử huyệt để diệt khẩu, đâu có ngại gì.

Tôn, Lý hai gã cả kinh thất sắc, nghĩ bụng chuyện này vốn chẳng dính dáng gì tới mình, ngờ đâu chỉ vì vài miếng thịt chó mà đại họa giáng xuống đầu, muốn ngỏ lời cầu xin nhưng đã bị điểm huyệt không nói ra được.

Phạm Dao chỉ về phía nàng Hàn cơ, nói:

– Còn về nàng ái thiếp này, ta có hai cách. Một là phủi tay, đem nàng ta cùng hai gã Tôn, Lý đến chỗ nào vắng vẻ, cho mỗi đứa một dao rồi về báo với vương gia rằng nàng cùng Lý Tứ Thôi tằng tịu với nhau, rủ nhau bỏ trốn, bị Khổ đầu đà tóm được, nổi giận chém chết gian phu dâm phụ, giết lây cả gã Tôn Tam Hủy. Cách thứ hai là tiên sinh mang nàng giấu kín ở một nơi nào đó, còn chuyện sau đó có bại lộ hay không thì tùy ở tiên sinh cả.

Lộc Trượng Khách bất giác ngoảnh lại nhìn nàng Hàn cơ, thấy ánh mắt nàng đầy vẻ khẩn cầu, rõ ràng muốn lão làm theo cách thứ hai. Lộc Trượng Khách thấy khuôn mặt xinh xắn trời cho kia mà đem giết đi thì đáng tiếc vô cùng, chợt xúc động nói:

– Đa tạ đại sư đã sắp đặt cho ta chu đáo như thế. Vậy đại sư muốn ta làm việc gì đây?

Lão thừa biết Khổ đầu đà ắt có chuyện phải nhờ lão, nếu không đã chẳng tử tế như thế.

Phạm Dao nói:

– Việc ta nhờ quá dễ. Chưởng môn phái Nga Mi Diệt Tuyệt sư thái và ta có giao tình sâu xa, cô nương họ Chu là con riêng của ta với Diệt Tuyệt lão ni. Ta xin tiên sinh cho thuốc giải và thả hai người đó ra. Trước mặt quận chúa, ta sẽ nhận tất cả; nếu để liên lụy đến tiên sinh, thì gia đình Khổ đầu đà và Diệt Tuyệt lão ni sẽ bị trai trộm cắp, gái đĩ điếm, chết mất xác, mãi mãi không được trở lại kiếp người.

Phạm Dao nghĩ Lộc Trượng Khách là kẻ lẳng lơ, nếu dùng ngay chuyện trai gái tằng tịu thì lão ta sẽ dễ tin hơn. Y nghe Dương Tiêu kể ra rất nhiều huynh đệ Minh giáo bỏ mạng dưới kiếm của Diệt Tuyệt sư thái, nên bịa luôn ra câu chuyện hòa thượng ni cô kia. Một đời y tà tính thành thói, nói năng hành sự quyết không thể giống như một chính nhân quân tử thông thường, về chuyện thề thốt cái kiểu "trai trộm cắp, gái đĩ điếm, chết mất xác", thì y chẳng buồn để tâm.

Lộc Trượng Khách nghe xong ngẩn ra, rồi mỉm cười, nghĩ thì ra Khổ đầu đà gây chuyện bức bách lão cốt để cứu mụ tình nhân già cùng đứa con gái của lão, âu cũng là chuyện thường tình, việc này tuy khá nguy hiểm, nhưng đổi lại được một giai nhân tuyệt sắc thì cũng đáng. Lão thấy Khổ đầu đà có việc cầu đến mình, thì bớt hẳn được mối lo, cười hỏi:

– Việc cướp ái thiếp của vương gia mang tới đây cũng là do Khổ đại sư làm phải không?

Phạm Dao đáp:

– Nhờ người một việc lớn như thế, đâu có thể tay không đến cầu? Cũng phải có gì đền đáp.

Lộc Trượng Khách cả mừng, chỉ là sợ bên ngoài có người nên chưa dám cười thành tiếng. Đột nhiên lão nghĩ lại, hỏi thêm:

– Còn sư đệ của ta tại sao lại trúng phải "Thập hương nhuyễn cân tán"? Thứ độc dược ấy đại sư kiếm đâu ra?

Phạm Dao đáp:

– Việc đó khó gì? Lệnh sư đệ hiện đang giữ thứ độc dược ấy, y là người mê rượu, uống say rồi thì không lẽ Khổ đầu đà này không lấy trộm được của y hay sao?

Lộc Trượng Khách không còn nghi ngại nữa, nói:

– Hay lắm! Khổ đại sư, hai ta kết giao bằng hữu với nhau, ta quyết không bán rẻ Khổ đại sư, mong Khổ đại sư cũng đừng đẩy ta vào chỗ khó thế này.

Phạm Dao chỉ Hàn cơ, nói:

– Lần sau nếu còn một giai nhân tuyệt sắc khác như thế kia, Lộc tiên sinh hãy cứ sắp đặt đưa ta vào tròng, ta vui lòng chui vào ngay.

Hai người nhìn nhau cười, nhưng trong thâm tâm mỗi người một chủ ý. Lộc Trượng Khách ngầm tính toán, sau khi xong xuôi sẽ xuất kỳ bất ý đánh chết Khổ đầu đà. Còn Phạm Dao thừa biết Lộc Trượng Khách tuy nhất thời bị mình ép buộc, nhưng Huyền Minh nhị lão đâu phải là hạng người sau khi bị một vố như hôm nay lại chịu bỏ qua; chỉ cần đưa Hàn cơ đến chỗ an toàn, giải huyệt cho Hạc Bút Ông rồi, lão ta sẽ sờ đến mình ngay nhưng khi đó thì các cao thủ sáu đại môn phái đã được cứu ra, mình đã phủi đít biến đi rồi.

Phạm Dao thấy Lộc Trượng Khách cứ chần chừ chưa chịu đưa thuốc giải ra, nghĩ bụng nếu thúc giục, lão sẽ càng làm khó thêm, bèn ngồi xuống, cười nói:

– Lộc huynh sao không giải huyệt cho nàng Hàn cơ, rồi ta cùng uống vài chén cho vui? Dưới đèn ngắm mỹ nhân, cái diễm phúc ấy phải tu mấy kiếp mới có đấy!

Lộc Trượng Khách biết rằng trong chùa Vạn An người qua kẻ lại, Hàn cơ ở đây thêm khắc nào nguy hiểm thêm khắc đó, bèn lấy cây gậy sừng hươu, mở một nhánh, đổ từ đó ra chén một chút bột, nói:

– Khổ đại sư, đại sư quả là thần cơ diệu toán, huynh đệ cam chịu lép vế; thuốc giải đây, nhận lấy đi.

Phạm Dao lắc đầu:

– Cho một chút bột như thế thì làm được gì?

Lộc Trượng Khách nói:

– Đừng nói cứu hai người, dùng cho sáu, bảy người cũng đủ.

Phạm Dao nói:

– Tiên sinh hà tất quá keo kiệt, cho xin thêm một chút nữa đi có sao? Thú thực, tiên sinh túc trí đa mưu lắm, Khổ đầu đà ta chỉ sợ bị tiên sinh lừa cho thôi.

Lộc Trượng Khách thấy Phạm Dao đòi cho thêm thuốc giải, thì sinh nghi, hỏi:

– Khổ đại sư định cứu không chỉ Diệt Tuyệt sư thái và lệnh ái phải không?

Phạm Dao đang định nghĩ cách trả lời cho khéo, bỗng nghe ngoài sân có tiếng chân rầm rập, phải bảy, tám người chạy tới, một người nói:

– Dấu chân tới đây, chẳng lẽ Hàn cơ lại đang ở trong chùa Vạn An hay sao?

Lộc Trượng Khách mặt biến sắc, chộp cái chén đựng thuốc giải cất vào bọc, nghĩ rằng Khổ đầu đà cho người phục sẵn ở bên ngoài, lấy được thuốc giải rồi sẽ phản mình ngay.

Phạm Dao xua xua tay, ngụ ý đừng kinh hoảng, lấy một tấm chăn mỏng phủ lên người Hàn cơ kín từ chân lên đầu, buông màn xuống. Lại nghe bên ngoài một người hỏi:

– Lộc tiên sinh có nhà hay không?

Phạm Dao chỉ vào miệng mình, ngụ ý mình câm, bảo Lộc Trượng Khách lên tiếng trả lời. Lộc Trượng Khách quát to:

– Cái gì thế?

Người ngoài kia nói:

– Vương phủ có một người thiếp bị kẻ gian cướp đi, theo dấu chân của kẻ gian thì tới đây.

Lộc Trượng Khách tức giận nhìn Phạm Dao, ngụ ý nói, nếu không phải ngươi cố ý giá họa, thì với tài nghệ của mình, ngươi làm sao lại để dấu vết như thế? Phạm Dao nhếch mép cười, giơ tay ra hiệu bảo lão ta đuổi bọn kia đi, trong bụng nghĩ thầm: "Vi Bức Vương vu vạ tài thật, để dấu chân từ vương phủ đến tận đây".

Lộc Trượng Khách lạnh lùng nói to:

– Các người không biết chia nhau đi mà tìm, còn đứng đó léo nhéo gì nữa?

Với địa vị võ công như lão, ai ai cũng phải kiêng nể; bọn bên ngoài không dám nói gì thêm, chỉ vâng dạ chia nhau đi lùng xung quanh. Lộc Trượng Khách biết lúc này xung quanh chùa Vạn An đều có nhiều người truy tìm; tuy họ không dám vào phòng lão lục soát, nhưng ôm được Hàn cơ đi chỗ khác giấu thật khó vô cùng; lão bất giác cau mày khó chịu nhìn Khổ đầu đà.

Phạm Dao chợt nghĩ ra một cách, hạ giọng, nói:

– Lộc huynh, chùa Vạn An có một nơi kín đáo, có thể giấu tạm mỹ nhân của huynh, chờ một hai ngày việc lùng sục đỡ gắt gao, lúc đó mang đi nơi khác cũng chưa muộn.

Lộc Trượng Khách giận dữ nói:

– Trừ phi giấu ngay trong phòng của đại sư.

Phạm Dao cười nói:

– Mỹ nhân thế kia giấu vào buồng của ta, chỉ e ta không kìm được thôi. Lộc huynh có ghen không đã?

Lộc Trượng Khách hỏi:

– Thế đại sư bảo nên giấu ở đâu?

Phạm Dao giơ tay chỉ ngọn tháp ở bên ngoài cửa sổ, mỉm cười.

Lộc Trượng Khách thông minh cơ trí, thoáng cái hiểu ngay, giơ một ngón tay cái lên khen:

– Ý rất hay!

Tòa bảo tháp hiện đang nhốt các cao thủ sáu đại môn phái, tổng quản canh chừng chính là Ô Vượng A Phổ, đại đệ tử của Lộc Trượng Khách. Người ta có thể nghi mọi chỗ, nhưng không ai ngờ ái thiếp của vương gia lại được giấu ở chính nơi đang canh giữ tối nghiêm mật này. Phạm Dao nói nhỏ:

– Hiện giờ ngoài sân không có ai, chẳng nên chần chừ, ta làm ngay thôi.

Đoạn cuốn nàng Hàn cơ trong tấm chăn, nhấc lên giao cho Lộc Trượng Khách.

Lộc Trượng Khách nghĩ bụng, ngươi đừng hòng lừa ta, ta mà ôm Hàn cơ bước ra, ngươi sẽ kêu toáng lên, lúc ấy tang chứng rành rành, hết bề chối cãi. Nghĩ thế, lão bất giác mặt biến sắc, không giơ tay ra nhận. Phạm Dao đoán được bụng dạ lão, bèn nói:

– Đã giúp thì giúp cho trót, tiễn Phật tiễn tận Tây Thiên. Khổ đầu đà ta hôm nay làm thêm việc đưa dâu nữa vậy. Ai bảo mình có việc phải cầu người làm chi?

Nói xong ôm cái bọc chăn, đẩy cửa bước ra, nói nhỏ:

– Tiên sinh đi trước dẹp đường, kẻ nào ngăn cản truy hỏi, cứ giết quách nó đi.

Lộc Trượng Khách nghiêng mình lách ra trước, chứ không dám giơ lưng ngay trước mặt Phạm Dao, sợ Phạm Dao đánh lén phía sau. Phạm Dao đưa tay khép cửa lại, vác nàng Hàn cơ đi lên bảo tháp.

Lúc này đã cuối giờ Tuất[109], ngoài các võ sĩ canh gác bảo tháp, không có ai khác. Bọn họ trông thấy Lộc Trượng Khách và Phạm Dao, đều nhất tề cúi mình hành lễ, kính cẩn nép sang một bên. Hai người chưa đến chân tháp, Ô Vượng A Phổ được thủ hạ báo tin, đã chạy ra đón, nói:

– Sư phụ, hôm nay lão nhân gia nổi hứng lên tháp ngồi chơi ư?

Lộc Trượng Khách gật đầu, cùng Phạm Dao đang định đi lên tháp, đột nhiên từ cái cửa tròn ở phía đông bảo tháp có một người bước tới, chính là Triệu Mẫn.

Lộc Trượng Khách có tật giật mình, cả kinh, cứ tưởng Triệu Mẫn đích thân dẫn thủ hạ đến bắt lão, chưa biết sao đành cứ cùng Phạm Dao và Ô Vượng A Phổ tiến lên vái chào.

Đêm qua Trương Vô Kỵ đến quấy rối, Triệu Mẫn không biết Minh giáo chỉ có ba người, chỉ sợ họ đem lực lượng lớn đến tấn công, nên nàng thân chinh tới đây xem xét, thấy Phạm Dao cũng đang có mặt, thì mỉm cười, nói:

– Khổ đại sư, ta đang tìm đại sư đây.

Phạm Dao gật đầu, thản nhiên như không. Triệu Mẫn nói:

– Ta cần đại sư cùng ta đến một nơi.

Phạm Dao thầm kêu khổ: "Mãi mới dụ được Lộc Trượng Khách lên tháp, mình ra tay lấy được thuốc giải, thế là đại thành công, ai ngờ con nhãi này lại đến đây tìm mình". Phạm Dao toan tìm cớ thoái thác, nhưng chưa nghĩ ra cách gì, huống hồ y giả câm, muốn thoái thác cũng không thể nói, bèn nghĩ thầm: "Cứ để cho Lộc Trượng Khách nghĩ cách vậy". Bèn chỉ cái bọc chăn đang ôm, ra hiệu với Lộc Trượng Khách. Lộc Trượng Khách hoảng hồn, chửi thầm Khổ đầu đà hại mình.

Triệu Mẫn hỏi:

– Lộc tiên sinh, Khổ đại sư ôm cái bọc gì vậy?

Lộc Trượng Khách đáp:

– À, ờ, là chăn gối của Khổ đầu đà.

Triệu Mẫn ngạc nhiên:

– Chăn gối ư? Khổ đại sư mang chăn gối đi làm gì? Nàng tủm tỉm cười, nói tiếp:

– Khổ đại sư thấy ta tối dạ quá, không chịu nhận ta làm đệ tử, tức mình ôm chăn gối bỏ đi phải không?

Phạm Dao lắc đầu, tay phải chỉ trỏ lung tung, nghĩ thầm: "Cứ mặc cho Lộc Trượng Khách tìm cách nói láo, mình giả câm cũng có cái hay của kẻ câm". Triệu Mẫn không hiểu điệu bộ của Phạm Dao nghĩa là gì, cứ nhìn Lộc Trượng Khách chờ lão ta giải thích.

Lộc Trượng Khách nghĩ ra một cớ, nói:

– Chuyện là thế này, tối qua bọn Ma giáo đến phá rối, thuộc hạ sợ chúng có mưu đồ lớn, không chừng.. không chừng chúng đến tháp cứu người. Cho nên huynh đệ thuộc hạ cùng với Khổ đại sư quyết định ở ngay trên tháp, đích thân canh giữ, để khỏi hỏng đại sự của quận chúa. Vì thế Khổ đại sư mang chăn gối lên đây.

Triệu Mẫn cả mừng, vui vẻ nói:

– Ta vẫn có ý nhờ Lộc tiên sinh và Hạc tiên sinh đích thân canh giữ, nhưng lại sợ phiền hai vị quá nên không tiện nói ra. Không ngờ cả ba vị lại chia sẻ mối lo với ta, thật không gì quý bằng. Có Lộc, Hạc hai vị tiên sinh ở đây trấn giữ, mấy tên ma đầu sẽ chẳng dám tới, ta không cần lên tháp xem xét nữa. Khổ đại sư hãy theo ta đi đằng này.

Nói xong nàng giơ tay kéo tay Phạm Dao. Phạm Dao không còn cách nào khác, nghĩ thầm lúc này có bịa ra âm mưu của Lộc Trượng Khách thì cũng vô ích, thứ nữa Hàn cơ đang do chính mình ôm theo, đổ cho Lộc Trượng Khách thì vị tất Triệu Mẫn đã tin, đành giao cái bọc chăn cho Lộc Trượng Khách. Lộc Trượng Khách đỡ lấy, nói:

– Khổ đại sư, huynh đệ chờ đại sư ở trên tháp đó.

Ô Vượng A Phổ nói:

– Sư phụ, để đệ tử mang cái bọc chăn cho.

Lộc Trượng Khách cười, nói:

– Không sao, đây là đồ của Khổ đại sư, ta đang muốn lấy lòng đại sư, phải tự mang giùm mới được.

Phạm Dao nhếch mép cười, giơ tay vỗ vào cái bọc, trúng ngay mông nàng Hàn cơ. Cũng may nàng ta đã bị điểm huyệt, không kêu lên được, song Lộc Trượng Khách cũng sợ tái cả mặt, không dám dây dưa nữa, vội cúi mình chào Triệu Mẫn, ôm cái bọc đi lên tháp. Lão đã tính sẵn, một khi vào trong tháp, sẽ lập tức lấy một bọc chăn gối thật thay thế, để dẫu Phạm Dao có tố giác với Triệu Mẫn, thì lão cũng sẽ chối phắt đi.

Comments

Comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 27: Tháp cao trăm thước mong có cánh

Phạm Dao bị Triệu Mẫn nắm tay kéo đi thẳng ra khỏi chùa Vạn An, trong bụng vừa bồn chồn vừa lấy làm lạ, không hiểu nàng ta định kéo mình đi đâu. Triệu Mẫn đội một cái nón lá che mái tóc đẹp, nói:

– Khổ đại sư, mình đi gặp gã tiểu tử Trương Vô Kỵ!

Phạm Dao ngạc nhiên, liếc nàng ta, thấy nàng mắt long lanh, má ửng hồng, bảy phần e thẹn, ba phần hoan hỉ, rõ ràng không phải là nàng khám phá ra chân tướng của y. Phạm Dao hoàn toàn yên tâm, nhớ lại tình cảnh tối qua trong chùa Vạn An hai kẻ oan gia sinh tử gặp nhau. Nghĩ đến hai chữ "oan gia", đột nhiên Phạm Dao nảy ra câu hỏi: "Oan gia ư? Hay là quận chúa đã ngầm có tình ý gì với Trương giáo chủ?" Lại nghĩ thầm: "Tại sao nàng không bảo Huyền Minh nhị lão là kẻ thân tín hơn, mà lại gọi mình đi theo? Phải rồi, tại vì mình câm, sẽ không tiết lộ bí mật của nàng". Bèn gật gù, mỉm cười đầy bí hiểm.

Triệu Mẫn bực mình hỏi:

– Khổ đại sư cười gì vậy?

Phạm Dao hiểu rằng không thể đùa với nàng, bèn hoa chân múa tay làm hiệu, ngụ ý Khổ đầu đà này sẽ tận lực bảo vệ quận chúa chu toàn, dù phải xông vào đầm rồng hang hổ cũng nhất quyết đi theo quận chúa.

Triệu Mẫn không nói thêm, đi trước dẫn đường, chẳng mấy chốc đã tới cổng khách điếm, nơi Trương Vô Kỵ đang ở. Phạm Dao thầm kinh ngạc: "Quận chúa quả thật thần thông quảng đại, tìm ngay ra chỗ giáo chủ trú ngụ". Hai người bước vào khách điếm.

Triệu Mẫn hỏi chưởng quỹ:

– Bọn ta cần tìm vị quan khách họ Tăng.

Nguyên khi đến đây trọ, Trương Vô Kỵ dùng họ tên giả là "Tăng A Ngưu". Điếm tiểu nhị bèn đi vào gọi.

Trương Vô Kỵ đang ngồi dưỡng thần, chỉ chờ thấy lửa bốc lên ở chùa Vạn An, sẽ chạy đi tiếp ứng, đột nhiên nghe báo có người tới thăm, lấy làm lạ, ra phòng khách, thấy Phạm Dao và Triệu Mẫn thì kêu thầm: "Hỏng rồi, chắc là Triệu cô nương đã khám phá chân tướng của Phạm hữu sứ, nên tới đây gây sự với ta". Chàng đành chào hỏi, nói:

– Không biết Triệu cô nương quang lâm, nên thất lễ nghênh tiếp.

Triệu Mẫn nói:

– Chỗ này nói chuyện không tiện, mình đi tìm một quán rượu nhỏ, uống với nhau vài chén được chăng?

Trương Vô Kỵ đành nói:

– Được lắm.

Triệu Mẫn đi trước dẫn đường, tới một quán rượu nhỏ, cách khách điếm năm dãy nhà. Trong quán bày vài cái bàn gỗ, trên mỗi bàn đặt một ống đũa. Lúc này đã khuya, trong quán không có người khách nào. Triệu Mẫn và Trương Vô Kỵ ngồi đối diện với nhau, Phạm Dao dùng tay làm hiệu rằng mình ra gian ngoài uống rượu. Triệu Mẫn gật đầu, gọi điếm tiểu nhị mang lên hai cân rượu trắng, một cái bếp than, thái ba cân thịt cừu sống.

Trương Vô Kỵ lòng đầy ngờ vực, nghĩ thầm nàng là một quận chúa cao sang, sao lại rủ chàng tới một cái quán rượu tồi tàn dơ dáy nhắm rượu với thịt cừu nướng, không biết là có quỷ kế gì.

Triệu Mẫn rót hai chén rượu, cầm chén của Trương Vô Kỵ lên, nhấp một ngụm, cười nói:

– Rượu này không pha thuốc độc, công tử cứ yên tâm mà uống.

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Cô nương rủ ta tới đây, không biết có gì chỉ giáo?

Triệu Mẫn nói:

– Uống xong ba chén, hãy vào chuyện chính. Ta cạn chén trước, mời công tử.

Rồi nàng cầm chén rượu lên uống cạn.

Trương Vô Kỵ cầm chén lên, trong ánh lửa thấy miệng chén còn lưu lại mờ mờ vết son môi, mũi ngửi thấy một mùi thơm nhè nhẹ, không rõ mùi thơm đó từ vết son miệng chén hay từ thân thể nàng tỏa ra, bất giác cảm thấy lâng lâng, bèn uống cạn. Triệu Mẫn nói:

– Hãy uống hai chén nữa. Ta biết công tử vẫn chưa an tâm về ta, nên mỗi chén ta sẽ uống trước một ngụm.

Trương Vô Kỵ biết nàng ngụy kế đa đoan, quả thực việc gì cũng phải đề phòng, nay nàng đã nhắp trước một ngụm như thế, chàng khỏi cần mạo hiểm, bèn liên tiếp uống cạn ba chén rượu mà nàng uống dở, ngẩng lên nhìn nàng, thấy nàng cười tủm tỉm, đôi má ửng hồng vì rượu, trông kiều diễm vô cùng. Chàng không dám nhìn lâu, vội ngoảnh mặt ra phía khác.

Triệu Mẫn nói nhỏ:

– Công tử có biết ta là ai không?

Trương Vô Kỵ lắc đầu. Triệu Mẫn nói:

– Hôm nay ta cho công tử biết, cha ta là Nhữ Dương Vương, chấp chưởng đại quyền binh mã đương triều. Ta là con gái Mông Cổ, tên là Mẫn Mẫn Đặc Mục Nhĩ. Ta được hoàng đế phong cho tước Thiệu Mẫn quận chúa. Hai chữ "Triệu Mẫn" là ta tự đặt cho mình đó.

Nếu Phạm Dao chưa kể sớm, Trương Vô Kỵ lúc này hẳn đã cả kinh; nhưng chàng thấy nàng không hề giấu giếm, nói thẳng thân phận cho mình nghe, cũng thấy bất ngờ, song chàng không khéo giả vờ, nên không làm vẻ quá kinh ngạc.

Triệu Mẫn lấy làm lạ, hỏi:

– Công tử biết rồi ư?

Trương Vô Kỵ nói:

– Không, làm sao ta biết được? Có điều là ta thấy một thiếu nữ trẻ như cô nương mà sai khiến bao nhiêu cao thủ võ lâm, thì địa vị tất không phải tầm thường.

Triệu Mẫn xoay nghịch cái chén, hồi lâu không nói gì, rồi rót đầy hai chén rượu, chậm rãi nói:

– Trương công tử, ta hỏi công tử câu này, mong công tử trả lời thật lòng. Nếu ta đem Chu cô nương giết đi, công tử sẽ đối với ta thế nào?

Trương Vô Kỵ giật mình, hỏi lại:

– Chu cô nương không hề đắc tội với cô nương, tại sao lại giết nàng ta?

Triệu Mẫn đáp:

– Ai ta không thích thì ta giết, cứ gì phải đắc tội hay không? Có người đắc tội với ta nhiều lần, song ta vẫn không giết, như công tử đã mấy phen đắc tội với ta chẳng hạn.

Nói tới đây, mắt nàng long lanh tinh quái.

Trương Vô Kỵ thở dài, nói:

– Triệu cô nương, ta đắc tội với cô nương thực ra là việc bất đắc dĩ. Cô nương đã tặng ta thuốc trị thương cho tam sư bá, lục sư thúc của ta, ta rất cảm kích.

Triệu Mẫn cười:

– Công tử ngốc lắm. Du Đại Nham và Ân Lê Đình bị thương đều do thuộc hạ của ta gây ra, công tử đã không trách thì thôi, lại còn cảm kích là sao?

Trương Vô Kỵ mỉm cười:

– Tam sư bá của ta bị thương đã hơn hai chục năm, khi đó cô nương chưa ra đời.

Triệu Mẫn nói:

– Thì do thuộc hạ của cha ta, có khác gì đâu? Công tử đừng lảng sang việc khác. Ta hỏi công tử, nếu ta giết Chu cô nương, công tử sẽ đối với ta thế nào? Có định giết ta để trả thù hay không?

Trương Vô Kỵ ngẫm nghĩ một hồi, đáp:

– Ta cũng không biết nữa.

Triệu Mẫn hỏi:

– Sao lại không biết? Công tử không chịu nói chứ gì?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Cha mẹ ta bị người ta bức tử. Bức tử cha mẹ ta là một số kẻ ở phái Thiếu Lâm, phái Không Động, phái Hoa Sơn. Sau này khi ta lớn lên, ta thấy mọi việc trở nên rõ ràng hẳn ra, nhưng càng nghĩ càng không hiểu, rốt cuộc thì ai là kẻ hại chết cha mẹ ta? Không thể nói là Không Trí đại sư, Thiết Cầm tiên sinh; cũng không thể bảo đó là ông ngoại hay cậu ruột của ta, cũng chẳng thể nói là các thủ hạ của cô nương, như A Nhị, A Tam hay Huyền Minh nhị lão. Trời xui đất khiến thế nào mà lại như vậy, có rất nhiều điều ta chưa hiểu ra nổi. Dù có tìm ra hung thủ đích thực rồi ta giết hết bọn họ đi chăng nữa, cũng đâu có ích gì? Cha mẹ ta đã không thể sống lại. Triệu cô nương, mấy ngày nay ta cứ nghĩ, giá mọi người đừng giết lẫn nhau, sống chan hòa thân ái với nhau, có phải là hay biết mấy? Ta không nghĩ đến chuyện giết người báo thù, cũng mong người khác đừng sát hại ai cả.

Chàng nói một mạch những điều đã nghĩ từ lâu trong lòng, song chưa hề nói với Dương Tiêu, chưa hề nói với Trương Tam Phong, cũng chưa nói với Ân Lê Đình, bỗng dưng nơi quán rượu nhỏ bé này chàng lại nói với Triệu Mẫn; nói xong rồi chính chàng cũng lấy làm lạ.

Triệu Mẫn thấy chàng nói rất thành thực, nghĩ một lát, nói:

– Đó là do công tử quá nhân hậu, chứ ta thì không thế được. Kẻ nào giết cha ta, anh ta, ta sẽ giết sạch không chỉ cả gia đình hắn, mà cả thân thích bằng hữu của hắn, ta cũng sẽ giết tuốt.

Trương Vô Kỵ nói:

– Nếu thế ta sẽ phải ngăn chặn cô nương.

Triệu Mẫn hỏi:

– Vì sao? Công tử trợ giúp kẻ thù của ta ư?

Trương Vô Kỵ nói:

– Cô nương giết một người, tự chuốc lấy cho mình một nghiệp chướng. Người bị cô nương giết chết, sau đó ra sao thì không biết, coi như đã xong, nhưng còn cha mẹ con cái, vợ chồng anh em người ấy phải đau lòng biết bao. Về sau mỗi khi nghĩ lại, cô nương sẽ bị lương tâm cắn rứt. Nghĩa phụ ta đã giết không ít người, ta biết tuy ông không nói ra miệng, nhưng trong lòng vô cùng hối hận.

Triệu Mẫn không nói, lặng lẽ suy nghĩ về những lời chàng nói.

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Cô nương đã giết người bao giờ chưa?

Triệu Mẫn cười đáp:

– Hiện tại thì chưa, sau này khi ta lớn rồi, ta muốn giết thật nhiều người. Tổ tiên ta là Thành Cát Tư Hãn đại đế, là Đà Lôi, Bạt Đô, Húc Liệt Ngột, Hốt Tất Liệt, toàn các vị anh hùng. Ta chỉ hận mình là nữ; nếu là nam, thể nào cũng phải tạo dựng một đại nghiệp thật là oanh liệt.

Nàng rót rượu vào chén, tự mình uống cạn, nói:

– Công tử vẫn chưa trả lời câu hỏi của ta.

Trương Vô Kỵ nói:

– Nếu cô nương giết Chu cô nương, hoặc giết bất cứ một thuộc hạ thân cận nào của ta, ta sẽ không còn coi cô nương là bằng hữu, vĩnh viễn không nhìn mặt cô nương, mà nếu có thấy mặt, cũng sẽ không trò chuyện.

Triệu Mẫn cười, hỏi:

– Thế hiện tại công tử coi ta là bằng hữu ư?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Nếu ta căm hận cô nương, ta đâu có ngồi uống rượu với cô nương thế này? Ôi, ta cảm thấy phải căm hận một người thì thật là khó. Ta bình sinh chỉ căm hận mỗi một người, đó là Hỗn Nguyên Tích Lịch Thủ Thành Côn. Nhưng nay hắn đã chết rồi, ta lại cảm thấy y đáng thương, tựa hồ mong y chưa phải chết.

Triệu Mẫn nói:

– Nếu ngày mai ta chết đi, công tử sẽ nghĩ sao? Chắc thể nào công tử cũng nghĩ, tạ ơn trời đất, cô ả điêu ngoa hung ác đối địch với mình ngỏm rồi, từ nay mình bớt được bao nhiêu là rắc rối.

Trương Vô Kỵ nói to:

– Không, không đâu. Ta không khi nào mong cô nương chết cả. Vi Bức Vương dọa rạch mặt cô nương, từ lúc ấy cứ nghĩ đến là ta lại thấy lo cho cô nương.

Triệu Mẫn mỉm cười, má đỏ lên, cúi mặt xuống.

Trương Vô Kỵ nói:

– Triệu cô nương, cô nương đừng gây khó dễ với bọn ta nữa. Hãy thả hết các cao thủ sáu môn phái ra; tất cả mọi người vui vẻ làm bạn với nhau, có phải hay hơn không? Triệu Mẫn vui mừng nói:

– Hay lắm, chính ta cũng mong như thế. Công tử là giáo chủ Minh giáo, một lời nói nặng như chín cái đỉnh, công tử hãy đến khuyên tất cả nên quy hàng triều đình. Cha ta sẽ tâu lên hoàng thượng, tất cả sẽ được phong thưởng.

Trương Vô Kỵ thong thả lắc đầu, nói:

– Người Hán chúng ta ai ai cũng có tâm nguyện, muốn người Mông Cổ các ngươi rút ra khỏi đất của người Hán.

Triệu Mẫn đứng ngay dậy, nói:

– Cái gì? Sao công tử nói nhất lời phạm thượng tác loạn như thế, định công khai phản loạn hay sao?

Trương Vô Kỵ nói:

– Ta vốn là kẻ phản loạn, không lẽ đến bây giờ cô nương mới biết?

Triệu Mẫn nhìn chàng hồi lâu, vẻ mặt tức giận và ngạc nhiên dần dần dịu đi, trở lại vừa dịu dàng, vừa thất vọng, cuối cùng lại ngồi xuống, nói:

– Ta sớm biết thế rồi, nhưng bây giờ nghe chính miệng công tử nói ra, ta mới tin hẳn, thật không còn cách gì cứu vãn.

Câu này nàng nói ra nghe thật hết sức đau khổ. Trương Vô Kỵ mềm lòng hẳn đi, tưởng chừng không chịu nổi cái cảnh thấy nàng đau khổ, chàng như muốn nói "Thôi được, ta nghe lời cô nương vậy". Nhưng ý nghĩ đó vừa lóe lên là tắt ngay, chàng cố bình thản, tìm lời để an ủi nàng.

Hai người lặng lẽ ngồi đối diện nhau một hồi. Trương Vô Kỵ nói:

– Triệu cô nương, đêm khuya rồi, để ta đưa cô về.

Triệu Mẫn nói:

– Ngồi thêm với ta một lát, công tử cũng không muốn hay sao?

Trương Vô Kỵ vội nói:

– Không phải thế, nếu cô nương thích ngồi đây uống rượu chuyện trò, ta sẽ ngồi với cô nương.

Triệu Mẫn mỉm cười, chậm rãi nói:

– Có lúc ta nghĩ, giá như ta không phải là người Mông Cổ, cũng không phải quận chúa gì hết, chỉ là một cô gái người Hán dân dã như Chu cô nương, có lẽ công tử sẽ tử tế với ta hơn. Trương công tử, giữa ta và Chu cô nương, công tử bảo ai xinh hơn?

Trương Vô Kỵ không ngờ nàng hỏi câu đó, nghĩ bụng con gái phiên bang tính cách thẳng thắn, không biết khéo miệng, dưới ánh đèn lại thấy nàng kiều diễm bội phần, thì buột miệng:

– Dĩ nhiên là cô nương xinh hơn.

Triệu Mẫn giơ bàn tay phải đặt lên mu bàn tay chàng, ánh mắt đầy vui mừng, nói:

– Trương công tử có muốn gặp ta luôn không? Nếu thỉnh thoảng ta mời công tử tới đây uống rượu, công tử có tới hay chăng?

Mu bàn tay Trương Vô Kỵ được lòng bàn tay mềm ấm của nàng ấp lên làm tim chàng đập mạnh. Chàng cố định thần, nói:

– Ta không thể ở đây lâu, vài hôm nữa sẽ phải đi xuống phía nam.

Triệu Mẫn hỏi:

– Công tử xuống phía nam làm gì?

Trương Vô Kỵ thở dài, nói:

– Ta không nói thì cô nương cũng đoán biết; nói ra thì e cô nương tức giận..

Triệu Mẫn nhìn ra vầng trăng ngoài cửa sổ, nói:

– Công tử nhận làm cho ta ba việc, vẫn chưa quên chứ?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Tất nhiên chưa quên. Xin cô nương cứ sai bảo, ta sẽ tận lực thực hiện.

Triệu Mẫn quay đầu lại nhìn thẳng vào mặt chàng, nói:

– Hiện tại ta mới nghĩ ra việc thứ nhất. Ta muốn công tử cùng ta đi lấy thanh đao Đồ Long.

Trương Vô Kỵ vốn đã đoán trước, ba việc nàng ta muốn chàng làm ắt phải rất khó, song không ngờ việc thứ nhất lại tày trời như thế.

Triệu Mẫn thấy chàng đầy vẻ ngại ngần thì nói:

– Sao vậy, công tử không chịu làm ư? Việc này hoàn toàn không trái với đạo hiệp nhiều, cũng không phải là công tử không làm nổi.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Thanh đao Đồ Long đang ở trong tay nghĩa phụ ta, giang hồ ai ai cũng biết cả, điều đó chẳng cần giấu nàng", bèn nói:

– Thanh đao Đồ Long là của nghĩa phụ ta, Kim Mao Sư Vương Tạ đại hiệp. Ta làm sao có thể phản bội nghĩa phụ, lấy đao cho cô nương?

Triệu Mẫn nói:

– Ta không đòi công tử đi ăn trộm ăn cướp hoặc đánh lừa ai; ta cũng không cần lấy thanh đao đó. Ta chỉ muốn công tử đi mượn nghĩa phụ công tử thanh đao đó, cho ta nghịch chơi một giờ, rồi trả lại liền. Hai người là nghĩa phụ nghĩa tử, chẳng lẽ mượn một giờ cũng không được hay sao? Chỉ mượn xem chơi, không lấy đi mất, cũng không dùng nó để cướp của giết người, đâu có gì trái với đạo hiệp nghĩa?

Trương Vô Kỵ nói:

– Thanh đao Đồ Long tuy lừng danh võ lâm, thực ra có đẹp đẽ gì cho cam, chỉ rất nặng và rất sắc mà thôi.

Triệu Mẫn nói:

– Tại sao người ta có câu "Võ lâm chí tôn, bảo đao Đồ Long, hiệu lệnh thiên hạ, mạc cảm bất tòng, Ỷ Thiên bất xuất, thùy dữ tranh phong?" Kiếm Ỷ Thiên đang ở trong tay ta, ta phải xem thanh đao Đồ Long như thế nào mới được. Nếu công tử không yên tâm, thì khi ta xem đao, công tử cứ đứng kèm bên cạnh. Với bản lĩnh của công tử, ta đâu có thể cưỡng chiếm không trả?

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Sau khi cứu được cao thủ sáu đại môn phái, ta vốn định sẽ lập tức đi đón nghĩa phụ, mời lão nhân gia về đảm nhiệm chức giáo chủ. Triệu cô nương đã nói rõ là chỉ mượn đao xem một giờ, tuy chưa biết nàng ta có ngụy kế gì hay không, nhưng mình sẽ hết sức đề phòng, không để cho nàng ta chiếm đoạt thanh đao. Nghĩa phụ từng bảo bên trong thanh đao ấy có giấu một đại bí mật võ công tuyệt học. Nghĩa phụ lấy được thanh đao ấy lúc chưa bị mù, thông minh tài trí như ông mà bao nhiêu lâu vẫn chưa nghĩ ra được, Triệu Mẫn cô nương mượn xem vẻn vẹn một canh giờ thì làm được gì? Huống hồ ta và nghĩa phụ xa nhau đã mười năm, không chừng ở một mình trên hoang đảo, ông đã tìm ra bí mật của thanh bảo đao rồi cũng nên".

Triệu Mẫn thấy chàng trầm ngâm không đáp, cười nói:

– Công tử không chịu, cái đó tùy công tử thôi. Nhưng ta sẽ đòi công tử làm một việc khác còn khó hơn thế nhiều.

Trương Vô Kỵ biết cô gái này cực kỳ lợi hại, nếu đưa ra một việc khác, e rằng mình không tài gì làm nổi, vội nói:

– Được, ta bằng lòng đi mượn thanh đao cho cô nương. Nhưng giao hẹn rõ với nhau, cô nương chỉ được mượn xem một canh giờ, nếu có ý chiếm đoạt, ta quyết không để yên đâu đấy.

Triệu Mẫn cười nói:

– Đúng thế. Ta không biết sử đao, nó lại nặng như công tử nói, thì ta chiếm lấy làm gì? Dù công tử có cung kính dâng cả hai tay cho ta, ta cũng chả thèm. Vậy bao giờ thì công tử khởi hành?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Vài hôm nữa.

Triệu Mẫn nói:

– Thế thì tốt lắm. Để ta đi thu xếp; chừng nào công tử lên đường thì đến hẹn trước với ta.

Trương Vô Kỵ ngạc nhiên, hỏi:

– Cô nương cùng đi ư?

Triệu Mẫn đáp:

– Dĩ nhiên. Nghe nói nghĩa phụ công tử ở trên một hoang đảo ngoài biển, nếu ông ta không chịu trở về, chẳng lẽ công tử cất công đi xa vạn dặm mượn đao, mang về đây cho ta xem một lúc, rồi lại vượt vạn dặm mang đao đi trả? Trên đời có ai làm như thế?

Trương Vô Kỵ nghĩ đến cảnh phong ba hiểm ác nơi biển bắc, đại hải mênh mông, tìm cho thấy Băng Hỏa đảo là cực kỳ khó khăn; nếu lại đi đi về về mấy lần chẳng đâu vào đâu, thật không có gì chắc chắn. Triệu Mẫn nói đúng, nghĩa phụ ở hoang đảo đã hai mươi năm, chưa chắc đã muốn sống những năm cuối đời ở Trung thổ, ông không chịu trở về thì sao? Bèn nói:

– Giữa biển cả sóng gió vô tình, cô nương hà tất phải mạo hiểm như thế?

Triệu Mẫn nói:

– Công tử mạo hiểm được, tại sao ta lại không được?

Trương Vô Kỵ lưỡng lự, hỏi:

– Phụ thân cô nương liệu có để cho cô nương đi hay không?

Triệu Mẫn nói:

– Cha ta bảo ta thống lĩnh quần hào giang hồ, mấy năm qua ta chạy đông chạy tây, cha ta đâu có nói gì.

Trương Vô Kỵ nghe câu "Cha ta bảo ta thống lĩnh quần hào giang hồ" của nàng, thì chột dạ: "Mình đi Băng Hỏa đảo đón nghĩa phụ, không biết năm nào tháng nào mới trở về được. Nếu đây là kế điệu hổ ly sơn của nàng ta, thừa dịp mình đi vắng, đem đại binh đối phó với bản giáo, thì mình không thể không đề phòng. Nếu nàng đi cùng với mình, bọn tay chân của nàng sẽ sợ cho nàng mà không dám giở trò, mình sẽ đỡ lo chuyện ở nhà". Nghĩ vậy, bèn gật đầu:

– Được, khi nào khởi hành, ta sẽ đến hẹn với cô nương.

Lời chưa dứt, đột nhiên bên ngoài có ánh lửa sáng hồng, tiếng huyên náo từ phía xa vọng tới. Triệu Mẫn bước lại bên cửa sổ nhìn, hoảng hốt kêu lên:

– Ối chao! Tòa bảo tháp ở chùa Vạn An bị cháy! Khổ đại sư, Khổ đại sư, lại đây mau!

Nàng gọi luôn mấy tiếng, không thấy Khổ đầu đà, vội chạy ra ngoài, cũng không thấy y đâu cả, hỏi chưởng quỹ, chưởng quỹ nói rằng y đã đi ngay lúc mới đến đây. Triệu Mẫn lấy làm lạ, nhớ lại nụ cười bí hiểm của y lúc trước, bất giác hai má đỏ bừng, cúi đầu liếc trộm Trương Vô Kỵ một cái.

Trương Vô Kỵ thấy lửa bốc mỗi lúc một cao, sợ rằng nhóm đại sư bá công lực chưa phục hồi, sẽ bị chết cháy trên tháp, nói:

– Triệu cô nương, ta phải đi đây!

Lời chưa dứt đã chạy vụt đi. Triệu Mẫn gọi theo:

– Hượm đã, ta sẽ cùng đi với công tử.

Nàng ra đến cửa thì Trương Vô Kỵ đã biến đi rồi.

*

* *

Lộc Trượng Khách thấy Khổ đầu đà bị quận chúa gọi đi, thì yên tâm hẳn, ôm Hàn cơ đi tới phòng của đệ tử Ô Vượng A Phổ. Tòa bảo tháp chùa Vạn An cả thảy mười ba tầng, cao mười ba trượng. Ba tầng trên cùng thờ Phật, đặt tượng Phật, kinh Phật, xá lợi, không ai được ở. Ô Vượng A Phổ là tổng quản trông coi tòa tháp, ở tầng thứ mười, cho tiện việc quan sát bốn phía, khống chế toàn cục.

Lộc Trượng Khách vào phòng, nói với Ô Vượng A Phổ:

– Ngươi đứng canh bên ngoài, đừng cho ai vào.

Ô Vượng A Phổ vừa bước ra, lão lập tức đóng chặt cửa lại, mở bọc chăn ra. Chỉ thấy nàng Hàn cơ sợ hãi tái cả mặt, ánh mắt lộ đầy vẻ khẩn cầu. Lộc Trượng Khách nói nhỏ:

– Nàng đã ở đây, đừng sợ gì cả, ta sẽ đối xử tử tế với nàng.

Lão chưa thể giải huyệt cho nàng ta, sợ nàng ta kêu lên thì hỏng việc. Lão đặt nàng nằm trên giường của Ô Vượng A Phổ, lấy chăn đắp lên, lấy thêm cái chăn khác cuộn lại, chèn ở một bên. Chỗ này không phải là nơi sàm sỡ, lão không dám ở lâu, vội ra khỏi phòng, dặn Ô Vượng A Phổ không được vào, cũng không cho bất cứ ai vào phòng. Lão biết tên đại đệ tử này kính sợ mình, quyết chẳng dám trái lời.

Lão nhẩm tính: "Việc này muốn Khổ đầu đà giữ kín cho mình, không thể không lấy lòng y, đành phải đi thả mụ tình nhân và đứa con gái của y ra trước. Vừa may tối qua giáo chủ Ma giáo đến quấy phá, mọi sự khởi đầu từ Chu cô nương mà ra. Lão chỉ việc đổ cho giáo chủ Ma giáo cứu Diệt Tuyệt lão ni và Chu cô nương đi, thế là ổn thỏa, quận chúa chắc sẽ không nghi ngờ. Tên tiểu ma đầu võ công cao cường như thế, quận chúa cũng không thể trách cứ bọn mình phòng bị kém cỏi".

Đám nữ đệ tử phái Nga Mi bị nhốt ở tầng thứ bảy, riêng Diệt Tuyệt sư thái là chưởng môn, được giam một mình trong một phòng nhỏ. Lộc Trượng Khách lệnh cho tên canh giữ mở cửa cho lão vào, thấy Diệt Tuyệt sư thái đang ngồi xếp bằng dưới sàn, nhắm mắt tĩnh tu. Bà ta tuyệt thực mấy ngày nay, dung nhan tuy có phần tiều tụy, nhưng vẫn đầy vẻ ngạo nghễ.

Lộc Trượng Khách nói:

– Diệt Tuyệt sư thái, khỏe chứ?

Diệt Tuyệt sư thái từ từ mở mắt ra, nói:

– Ở nơi đây là đã không khỏe, có gì mà phải hỏi?

Lộc Trượng Khách nói:

– Bà ương ngạnh như thế, chủ nhân bảo là giữ bà lại cũng vô ích, nên sai ta tiễn bà quy thiên đây.

Diệt Tuyệt sư thái đã quyết chí chọn cái chết, bèn đáp:

– Hay lắm, có điều là khỏi phiền các hạ nhọc công động thủ, hãy cho ta mượn một thanh đoản kiếm, ta sẽ tự lo lấy. Xin các hạ cho gọi đứa học trò Chu Chỉ Nhược của ta tới đây, ta có vài lời trối trăn với nó.

Lộc Trượng Khách quay mình đi ra, sai người dẫn Chu Chỉ Nhược tới, nghĩ thầm: "Tình mẫu tử có khác, sao không gọi đại đệ tử, mà lại chỉ gọi một mình cô bé".

Chẳng mấy chốc Chu Chỉ Nhược đã tới phòng sư phụ. Diệt Tuyệt sư thái nói:

– Lộc tiên sinh, xin tiên sinh ra chờ bên ngoài, ta chỉ nói vài lời là xong.

Chu Chỉ Nhược đợi Lộc Trượng Khách ra ngoài, nàng khép cửa lại, sà vào lòng sư phụ mà khóc thành tiếng. Diệt Tuyệt sư thái bình sinh tính tình cứng rắn, nhưng vào lúc tử biệt này, cũng không khỏi thương cảm, nhẹ nhàng đưa tay vuốt tóc nàng.

Chu Chỉ Nhược biết không có thời gian nói chuyện lâu với sư phụ, bèn đem chuyện tối qua Trương Vô Kỵ tới cứu nàng ra sao kể lại sơ qua. Diệt Tuyệt sư thái nghe xong, thì cau mày, ngẫm nghĩ một lát, nói:

– Tại sao hắn chỉ cứu mình con, không cứu những người khác? Hôm ở trên đỉnh Quang Minh, con đâm hắn một kiếm, sao hắn lại đến cứu con là nghĩa làm sao?

Chu Chỉ Nhược hai má đỏ bừng, nhỏ nhẹ đáp:

– Con cũng không biết nữa.

Diệt Tuyệt sư thái giận dữ nói:

– Hừ, tên tiểu tử ấy vô cùng nham hiểm độc ác. Hắn là đại ma đầu của Ma giáo, làm sao có được hảo tâm. Hắn giăng bẫy để cho con chui vào đấy.

Chu Chỉ Nhược lấy làm lạ, nói:

– Chàng.. chàng ta giăng bẫy ư?

Diệt Tuyệt sư thái nói:

– Chúng ta đối địch với Ma giáo, kiếm Ỷ Thiên của ta đã lấy mạng không biết bao nhiêu gian đồ tà ác của Ma giáo. Tất nhiên Ma giáo sẽ căm hận phái Nga Mi thấu xương, có lý nào lại đến cứu mình? Tên Ma đầu họ Trương kia chắc là hắn thích con, muốn con sa vào vòng tay hắn, nên hắn sai người giả bộ bắt bọn mình, sau đó cố lấy lòng, cứu con ra, để từ nay con một lòng một dạ nhớ ơn hắn.

Chu Chỉ Nhược nhỏ nhẹ nói:

– Sư phụ, con thấy.. chàng ta không phải là giả bộ đâu.

Diệt Tuyệt sư thái cả giận, quát lên:

– Ngươi lại định đi theo vết cái con Kỷ Hiểu Phù hư hỏng hay sao, mà lại phải lòng tên dâm đồ của Ma giáo? Nếu ta chưa bị mất công lực, thì một chưởng đánh chết ngươi cho rồi.

Chu Chỉ Nhược sợ đến run rẩy toàn thân, nói:

– Đệ tử không dám thế.

Diệt Tuyệt sư thái xẵng giọng:

– Ngươi quả thực không dám, hay chỉ nói khéo để đánh lừa sư phụ?

Chu Chỉ Nhược gạt lệ, nói:

– Con quyết không dám trái lời giáo huấn của ân sư.

Diệt Tuyệt sư thái nói:

– Vậy ngươi hãy quỳ xuống thề nặng ta coi.

Chu Chỉ Nhược y lời quỳ xuống, chưa biết phải thề như thế nào.

Diệt Tuyệt sư thái nói:

– Ngươi hãy thề như vầy: "Con là Chu Chỉ Nhược, xin thề có trời đất chứng giám, nếu sau này con đem lòng ái mộ tên dâm đồ Trương Vô Kỵ, giáo chủ của Ma giáo, kết thành vợ chồng với hắn, thì cha mẹ con chết nằm dưới mồ xương cốt không yên; sư phụ con là Diệt Tuyệt sư thái sẽ thành ma quỷ ngày đêm quấy nhiễu con suốt đời; nếu con sinh con đẻ cái với hắn, thì con trai đời đời làm nô bộc, con gái kiếp kiếp làm kỹ nữ".

Chu Chỉ Nhược cả kinh, nàng bản tính hiền lành dịu dàng, chưa từng nghĩ đến những lời thề độc địa như thế, chẳng những rủa xả cả đến cha mẹ và ân sư đã qua đời, mà còn nguyền rủa những đứa con chưa ra đời; nhưng trước cặp mắt sáng quắc đầy giận dữ của sư phụ, thì bất giác hoa mắt, đầu óc mụ đi, lẩm bẩm nhắc lại lời sư phụ.

Diệt Tuyệt sư thái thấy nàng đã chịu thề độc như vậy, thì mặt dịu lại, ôn tồn nói:

– Được rồi, thôi con đứng lên đi.

Chu Chỉ Nhược nước mắt lã chã, uể oải đứng dậy.

Diệt Tuyệt sư thái sa sầm mặt, nói:

– Chỉ Nhược, ta không phải cố ý ép buộc con, mà chỉ vì muốn tốt lành cho con đấy thôi. Con chỉ là một cô bé, từ rày sư phụ không thể lo cho con được nữa; nếu như con lại sa vào bước chân lầm lỡ của Kỷ sư tỷ, thì sư phụ ở dưới suối vàng cũng không thể an tâm. Huống hồ sư phụ muốn con gánh vác trọng nhiệm của bổn phái, không thể có sơ suất gì được.

Nói tới đây, Diệt Tuyệt sư thái tháo chiếc nhẫn sắt đeo ở ngón trỏ tay trái ra, đứng dậy, nói:

– Nữ đệ tử phái Nga Mi Chu Chỉ Nhược quỳ xuống nghe dụ.

Chu Chỉ Nhược ngạc nhiên, vội quỳ xuống.

Diệt Tuyệt sư thái giơ chiếc nhẫn cao quá đầu, nói:

– Chưởng môn đời thứ ba của phái Nga Mi là nữ ni Diệt Tuyệt kính cẩn truyền lại chức chưởng môn bổn phái cho nữ đệ tử đời thứ tư là Chu Chỉ Nhược.

Chu Chỉ Nhược bị sư phụ ép phải thề độc, đầu óc còn rối loạn, đột nhiên lại nghe rằng mình phải tiếp nhiệm chức chưởng môn bản phái, thì càng thêm hoang mang, kinh ngạc đến ngớ người ra.

Diệt Tuyệt sư thái nói rành rọt từng tiếng một:

– Chu Chỉ Nhược, hãy tiếp nhận thiết chỉ hoàn chưởng môn của bổn phái.

Chu Chỉ Nhược lúng túng giơ tay trái ra, Diệt Tuyệt sư thái liền đeo chiếc nhẫn sắt vào ngón trỏ của nàng.

Chu Chỉ Nhược nói, giọng run rẩy:

– Sư phụ, đệ tử tuổi còn nhỏ, nhập môn chưa lâu, làm sao có thể đảm đương trọng nhiệm? Lão nhân gia rồi sẽ thoát khỏi cảnh này; dẫu không thế, thì đệ tử cũng chẳng thể..

Nói tới đó, nàng ôm hai đầu gối sư phụ, khóc òa lên.

Lộc Trượng Khách ở bên ngoài đợi đã sốt ruột, nghe tiếng khóc bèn đẩy cửa ngó vào, nói:

– Này, hai người nói xong chưa? Ngày mai còn khối thời gian mà trò chuyện.

Diệt Tuyệt sư thái quát:

– Lộc tiên sinh đừng có léo nhéo.

Rồi quay lại nói với Chu Chỉ Nhược:

– Lệnh của sư tôn, con dám trái lời hay sao?

Liền đem giới luật của người chưởng môn bản phái nói ra một lượt, bảo nàng phải nhớ cho kỹ. Chu Chỉ Nhược thấy trong lời lẽ của sư phụ cứ y như lời trăn trối cuối cùng, thì lại càng sợ hãi, nói:

– Đệ tử không làm nổi, đệ tử không thể..

Diệt Tuyệt sư thái gằn giọng:

– Ngươi không nghe lời ta, vậy là kẻ khi sư diệt tổ.

Diệt Tuyệt sư thái thấy Chu Chỉ Nhược có vẻ khổ sở đến tội nghiệp, nghĩ mình cứng rắn mạnh mẽ mà còn thấy gánh nặng quá lớn, nữa là đem trút sang vai cô bé hiền lành yếu đuối này, chỉ sợ nàng không làm nổi thật. Thế nhưng trong đám đệ tử phái Nga Mi, chỉ có Chu Chỉ Nhược ngộ tính cao hơn cả, muốn tu luyện võ công cao nhất, làm rạng rỡ môn phái, thì trừ nàng ra, không có đệ tử thứ hai nào thích hợp. Nghĩ rồi đây đường dài đằng đẵng, đứa học trò nhỏ bé này sẽ gặp biết bao gian lao nguy hiểm, thì Diệt Tuyệt sư thái không khỏi se lòng, bèn giơ tay đỡ nàng lên, ôm vào lòng, dịu giọng nói:

– Chỉ Nhược, ta sở dĩ trao chức chưởng môn cho con mà không truyền cho các sư tỷ của con, chẳng phải vì ta thiên vị; chẳng qua vì phái Nga Mi lấy nữ lưu làm chủ, người chưởng môn tất phải có võ công trác tuyệt, mới có chỗ đứng trong quần hùng võ lâm.

Chu Chỉ Nhược nói:

– Võ công của con đâu đã theo kịp các vị sư tỷ?

Diệt Tuyệt sư thái mỉm cười, nói:

– Bọn nó thành tựu có hạn, đạt tới mức như hiện giờ, không còn tiến thêm được bao nhiêu nữa; đó là do thiên tư mà có, chẳng thể cưỡng cầu theo ý mỗi người. Con hiện tại tuy chưa bằng các sư tỷ, nhưng sau này thì rất có triển vọng. Đúng là con rất có triển vọng.

Chu Chỉ Nhược thần sắc hoang mang, nhìn sư phụ, không hiểu ý câu nói vừa rồi.

Diệt Tuyệt sư thái ghé miệng vào tai nàng thì thầm:

– Con đã là chưởng môn bổn phái, ta sẽ cho con biết một đại bí mật của bổn phái. Tổ sư khai sáng phái Nga Mi là Quách nữ hiệp, thứ nữ của đại hiệp Quách Tĩnh. Bấy giờ Quách đại hiệp danh chấn thiên hạ, bình sinh có hai môn tuyệt nghệ, một là binh pháp hành quân đánh trận, hai là võ công. Phu nhân Quách đại hiệp là Hoàng Dung nữ hiệp thì cực kỳ thông minh cơ trí, bà thấy thế của quân Nguyên quá lớn, thành Tương Dương cuối cùng sẽ thất thủ, hai vợ chồng bà quyết tử báo quốc, không giữ được thành thì giữ tấm lòng son tận trung, nhưng nếu để tuyệt nghệ của Quách đại hiệp bị thất truyền, thì đáng tiếc biết bao! Huống chi bà nghĩ rằng quân Nguyên dù có nhất thời chiếm được Trung nguyên, người Hán cũng sẽ không cam chịu làm nô lệ cho bọn Thát tử. Trong cuộc huyết chiến ở Trung nguyên sau này, hai môn binh pháp và võ công kia sẽ rất đắc dụng. Thế là Hoàng nữ hiệp mời các thợ đúc lành nghề lấy thanh huyền kiếm mà Dương Quá Dương đại hiệp tặng cho Quách tổ sư bản phái nấu chảy ra, thêm tinh kim của phương Tây mà đúc thành một thanh đao Đồ Long và một thanh kiếm Ỷ Thiên.

Chu Chỉ Nhược nghe tiếng "đao Đồ Long, kiếm Ỷ Thiên" đã lâu, bây giờ mới biết hai báu vật này là do mẫu thân Hoàng nữ hiệp của tổ sư bản phái Quách nữ hiệp đúc nên.

Diệt Tuyệt sư thái nói tiếp:

– Trước khi đúc đao rèn kiếm, Quách đại hiệp và Hoàng nữ hiệp dành ra một tháng, chép những điều tinh yếu về binh pháp và võ công, chia ra giấu trong đao và kiếm. "Đao Đồ Long" giấu binh pháp, hai chữ "Đồ Long" ngụ ý sau này có người học được binh thư giấu trong đao, sẽ đánh đuổi Thát tử, giết hoàng đế Mông Cổ. "Kiếm Ỷ Thiên" thì giấu bí kíp võ công, trong đó quý nhất là bộ "Cửu âm chân kinh" và bộ "Hàng long thập bát chưởng chưởng pháp tinh nghĩa", hi vọng hậu nhân tập được môn võ công đó, thay trời hành đạo, trừ hại cho dân.

Chu Chỉ Nhược mở to đôi mắt, càng nghe càng thấy lạ. Diệt Tuyệt sư thái nói tiếp:

– Vợ chồng Quách đại hiệp đúc xong đao kiếm, thì trao bảo đao cho con trai là Quách công Phá Lỗ, còn bảo kiếm thì trao cho Quách tổ sư bản phái. Đương nhiên, Quách tổ sư đã được cha mẹ truyền thụ võ công, Quách công Phá Lỗ thì được truyền thụ binh pháp. Nhưng khi thành Tương Dương thất thủ, thì hai vợ chồng Quách đại hiệp và cả Quách công Phá Lỗ cũng đều tuẫn nạn. Quách tổ sư tính nết không phù hợp với võ công của phụ thân, cho nên võ học của bản phái không cùng một lộ với võ công của Quách đại hiệp hồi trước.

Diệt Tuyệt sư thái kể tiếp:

– Một trăm năm nay, võ lâm trải qua bao sóng gió, đôi đao kiếm kia đổi chủ mấy lần. Hậu nhân chỉ biết thanh đao Đồ Long là võ lâm chí tôn, chỉ có kiếm Ỷ Thiên mới địch lại được, nhưng vì sao lại là chí tôn, thì không một ai biết cả. Quách công Phá Lỗ tuẫn nạn từ lúc còn là thanh niên, không có truyền nhân, thành thử bí mật trong hai thứ đao kiếm kia chỉ một mình Quách tổ sư bản phái biết mà thôi. Lão nhân gia lúc sinh thời từng tận lực tìm kiếm thanh đao Đồ Long, nhưng không thành công. Đến lúc lìa trần, mới đem bí mật ấy truyền lại cho ân sư của ta là Phong Lăng sư thái. Phong Lăng sư thái nhận di mệnh của tổ sư, tìm kiếm thanh đao Đồ Long cũng không có kết quả. Lão nhân gia khi viên tịch, lại đem kiếm Ỷ Thiên và di mệnh của tổ sư truyền lại cho ta. Ta tiếp nhiệm chức chưởng môn bản phái chưa lâu, thì sư bá ngươi là Cô Hồng Tử thách đấu với một cao thủ trẻ tuổi của Ma giáo, đôi bên hẹn nhau tỷ thí tay đôi, không có người ngoài tương trợ. Sư bá ngươi biết đối thủ tuổi còn rất trẻ, nhưng võ công vô cùng lợi hại, bèn mượn thanh kiếm Ỷ Thiên của ta.

Chu Chỉ Nhược nghe mấy tiếng "cao thủ trẻ tuổi của Ma giáo" thì chột dạ, tự dưng đỏ mặt lên, nhưng chợt nghĩ thầm: "Không phải chàng đâu, e rằng khi ấy chàng còn chưa ra đời là đằng khác".

Chỉ nghe Diệt Tuyệt sư thái kể tiếp:

– Bấy giờ ta muốn đi theo để giúp, nhưng sư bá ngươi là người tín nghĩa, bảo rằng đã ước hẹn rõ với tên ma đầu kia là không cho người thứ ba tham gia, do vậy ông kiên quyết không cho ta đi. Trận tỷ thí đó, sư bá ngươi võ công không thua gì đối thủ, nhưng gã ma đầu liên tiếp triển khai ngụy kế, cuối cùng bị trúng một chưởng vào ngực, kiếm Ỷ Thiên còn chưa kịp rút khỏi vỏ, thì đã bị tên ma đầu kia đoạt mất.

Chu Chỉ Nhược kêu "Ôi" một tiếng, nhớ lại cảnh Trương Vô Kỵ đoạt kiếm từ tay Diệt Tuyệt sư thái trên đỉnh Quang Minh, chỉ nghe sư phụ kể tiếp:

– Tên ma đầu kia cười khẩy một tràng, nói: "Kiếm Ỷ Thiên nghe danh ghê gớm lắm, nhưng dưới mắt ta nó chẳng khác gì đồng nát sắt gỉ!" Nói rồi hắn ném thanh kiếm xuống đất mà đi thẳng. Sư bá ngươi nhặt kiếm lên, định trở về núi trả kiếm cho ta. Nào ngờ tính ông cao ngạo, càng nghĩ càng tức không chịu nổi, đi được ba ngày thì giữa đường ngã bệnh, không dậy được nữa. Kiếm Ỷ Thiên bị quan phủ lấy mất, đem hiến triều đình. Con có biết tên ác đồ Ma giáo làm tức chết sư bá ngươi Cô Hồng Tử là ai không?

Chu Chỉ Nhược đáp:

– Không, con không biết. Là ai vậy?

Diệt Tuyệt sư thái nói:

– Chính là tên đại ma đầu Dương Tiêu, kẻ sau này đã hủy hoại cuộc đời Kỷ Hiểu Phù sư tỷ con.

Bỗng nghe Lộc Trượng Khách đẩy cửa, nói:

– Xong chưa? Ta không thể đợi thêm nữa đâu.

Diệt Tuyệt sư thái nói:

– Không việc gì phải vội, chỉ lát nữa sẽ xong.

Rồi thản nhiên nói với Chu Chỉ Nhược:

– Thời gian không còn nhiều, ta không nói với con được bao nhiêu nữa. Kiếm Ỷ Thiên ấy sau đó hoàng đế Thát tử ban cho Nhữ Dương Vương; ta đã đến phủ Nhữ Dương Vương đoạt lại được. Lần này không may trúng phải gian kế, thanh kiếm đó đã rơi vào tay bọn Ma giáo.

Chu Chỉ Nhược nói:

– Không phải đâu, kẻ đoạt kiếm là cô nương họ Triệu.

Diệt Tuyệt sư thái trừng mắt, nói:

– Con bé họ Triệu ấy rõ ràng là đồng bọn của Ma giáo, chẳng lẽ đến lúc này mà con vẫn chưa tin lời sư phụ hay sao?

Chu Chỉ Nhược quả thực khó tin, nhưng không dám cãi lại sư phụ.

Diệt Tuyệt sư thái nói:

– Sư phụ muốn con tiếp nhiệm chức chưởng môn là có thâm ý. Phen này ta sa vào tay gian đồ, thanh danh một đời trôi theo dòng nước, thực chẳng còn muốn sống mà ra khỏi cái tháp này. Tên dâm đồ họ Trương kia có tà ý, chắc sẽ không lấy mạng con, thành thử con hãy giả vờ ưng thuận với hắn, thừa cơ đoạt lại kiếm Ỷ Thiên. Còn thanh đao Đồ Long thì đang nằm trong tay nghĩa phụ hắn là tên ác tặc Tạ Tốn. Tên tiểu tử Trương Vô Kỵ dù thế nào cũng không chịu tiết lộ chỗ ở của Tạ Tốn, nhưng trên đời này có một người có thể bảo hắn đi lấy thanh đao.

Chu Chỉ Nhược biết sư phụ muốn nói đến mình, thì vừa ngạc nhiên vừa e thẹn, nửa mừng nửa lo.

Diệt Tuyệt sư thái nói:

– Người ấy chính là con. Ta muốn con dùng sắc đẹp dụ hắn lấy được bảo đao bảo kiếm, thủ đoạn đó tuy không phải là cách hành xử của người hiệp nghĩa nhưng muốn thành đại sự, đừng nề tiểu tiết. Con thử nghĩ xem, kiếm Ỷ Thiên ở trong tay cô ả Triệu Mẫn, đao Đồ Long ở trong tay ác tặc Tạ Tốn, bọn chúng cùng một phường xấu xa với nhau, một khi đao kiếm tương phùng, lấy được binh pháp và võ công của Quách đại hiệp, dùng tàn hại bách tính, bao nhiêu người vô tội trong thiên hạ sẽ mất mạng, vợ chồng chia lìa, cha con li tán, thì đại nghiệp đánh đuổi bọn Thát tử đã khó sẽ càng khó thêm. Chỉ Nhược, ta biết việc này khó vô cùng, quả không nỡ bắt con phải gánh vác, nhưng chúng ta một đời học võ cốt để làm gì? Chỉ Nhược, ta vì trăm họ trong thiên hạ mà cầu xin con.

Diệt Tuyệt sư thái nói đến đây liền quỳ gối mà lạy Chu Chỉ Nhược.

Chu Chỉ Nhược kinh hãi, vội quỳ xuống, kêu lên:

– Sư phụ, sư phụ..

Diệt Tuyệt sư thái nói:

– Khẽ chứ, đừng để bọn ác tặc ngoài kia nghe thấy, con có bằng lòng hay không? Con mà không nhận lời, thì ta sẽ không đứng dậy.

Chu Chỉ Nhược lòng rối như tơ vò, trong khoảng thời gian ngắn ngủi vừa rồi, sư phụ bắt nàng phải làm ba việc cực khó, trước là thề độc, không được ái mộ Trương Vô Kỵ, kế đến tiếp nhiệm chức chưởng môn bản phái, sau cùng lại buộc nàng dùng sắc đẹp dẫn dụ Trương Vô Kỵ, hầu lấy được kiếm Ỷ Thiên và thanh đao Đồ Long. Ba việc ấy bảo nàng thực hiện trong vòng mười năm, với tính nết hiền lành như nàng, nàng cũng không làm nổi, huống hồ chỉ trong giây lát? Thần trí bấn loạn, nàng lập tức mụ người đi không còn biết gì nữa.

Đột nhiên nàng cảm thấy môi trên đau nhói, mở mắt ra thấy sư phụ vẫn đang quỳ trước mặt, thì nàng khóc, nói:

– Sư phụ, xin lão nhân gia đứng dậy cho.

Diệt Tuyệt sư thái nói:

– Thế con đã nhận làm việc mà sư phụ cầu xin con chưa đã?

Chu Chỉ Nhược nước mắt ròng ròng, gật đầu, tựa hồ lại sắp ngất đi.

Diệt Tuyệt sư thái nắm lấy cổ tay nàng, hạ giọng nói:

– Sau khi con lấy được kiếm Ỷ Thiên và đao Đồ Long, hãy tìm một chỗ kín đáo, một tay cầm đao, một tay cầm kiếm, vận lực lên, lấy đao kiếm chém vào nhau; bảo đao bảo kiếm sẽ cùng gãy rời; sẽ lấy được bí kíp giấu bên trong thân đao kiếm. Đó là cách duy nhất để lấy được bí kíp, sau đó đao kiếm đều đã bị hủy. Con nhớ kỹ chưa?

Diệt Tuyệt sư thái nói rất khẽ, nhưng giọng rất nghiêm lạnh. Chu Chỉ Nhược gật đầu.

Diệt Tuyệt sư thái nói tiếp:

– Đó là bí mật lớn nhất của bản phái, từ thời vợ chồng Quách đại hiệp truyền lại cho Quách tổ sư bản phái, tới nay chỉ một mình người chưởng môn được biết. Ai cũng biết đao Đồ Long và kiếm Ỷ Thiên đều là thứ vũ khí sắc bén tuyệt luân, dù người nào có được cả hai thứ đó, cũng chẳng dám mạo hiểm đem bảo đao bảo kiếm chém vào nhau, chả lẽ tự dưng hủy hoại cả hai thứ đi hay sao? Sau khi con lấy được binh pháp rồi, hãy chọn một người có tấm lòng nhân hậu, son sắt với quốc gia, đem binh thư truyền cho người đó, bảo họ phải thề đánh đuổi Hồ Lỗ. Còn bí kíp võ công thì con tự luyện lấy. "Hàng long thập bát chưởng" [110] là môn cương mãnh thuần dương, con luyện không thích hợp; chỉ nên luyện công phu "Cửu âm chân kinh". Theo như ân sư ta thuật lại di ngôn của Quách tổ sư, thì pho "Cửu âm chân kinh" bác đại tinh thâm, vốn không thể tốc thành, nhưng Hoàng nữ hiệp nghĩ đến việc trừ diệt bọn Thát tử tàn ác là việc khẩn cấp, sớm ngày nào thiên hạ đỡ khổ ngày ấy, cho nên trong bí kíp giấu nơi kiếm Ỷ Thiên có viết mấy chương về cách luyện tốc thành. Song khi thành đại sự, phải luyện lại từ đầu cho có căn cơ; công phu tốc thành kia chỉ đắc dụng nhất thời, là do trí tuệ tuyệt đỉnh của Hoàng nữ hiệp tạo ra để quyền nghi mà thôi, không phải là võ học chân chính vô địch thiên hạ. Điều đó con phải nhớ cho kỹ.

Chu Chỉ Nhược mơ hồ gật đầu. Diệt Tuyệt sư thái nói:

– Cuộc đời ta bình sinh có hai tâm nguyện lớn, một là làm sao đuổi bọn Thát tử, lấy lại giang sơn cho người Hán; hai là làm sao cho võ công phái Nga Mi đứng đầu thiên hạ, vượt cả Thiếu Lâm, Võ Đang, trở thành môn phái số một ở Trung nguyên. Hai việc đó khó vô cùng, nhưng con đường trước mắt đã sáng rõ, chỉ cần con làm theo đúng lời dặn dò của ta, thì rồi cuối cùng sẽ thành tựu cả, bấy giờ dù ở dưới cửu tuyền ta cũng cảm kích chịu ơn con.

Nói đến đây, thì hình như Lộc Trượng Khách ở bên ngoài lại gõ cửa. Diệt Tuyệt sư thái nói:

– Vào được rồi.

Cửa mở ra, người bước vào không phải Lộc Trượng Khách mà là Khổ đầu đà. Diệt Tuyệt sư thái cũng không lấy làm lạ, nghĩ bụng bọn này vốn cùng một giuộc, đứa nào cũng thế cả thôi, bèn nói:

– Các hạ hãy đem đứa bé này ra đi.

Diệt Tuyệt sư thái không muốn tự vẫn trước mặt Chu Chỉ Nhược để nàng đỡ đau lòng.

Khổ đầu đà bước tới gần, nói nhỏ:

– Đây là thuốc giải, hãy uống mau, chờ khi nào thấy bên ngoài có tiếng la hét, mọi người cùng xông ra chém giết.

Diệt Tuyệt sư thái kinh ngạc, hỏi:

– Các hạ là ai? Tại sao cho ta thuốc giải?

Khổ đầu đà đáp:

– Tại hạ là Phạm Dao, Quang Minh hữu sứ của Minh giáo, lấy trộm được thuốc giải, đem tới đây cứu sư thái.

Diệt Tuyệt sư thái giận dữ nói:

– Gian tặc Ma giáo! Giờ này ngươi còn đùa cợt với ta ư?

Phạm Dao cười, đáp:

– Hay nhỉ, cứ coi như tại hạ đùa cợt với sư thái, vậy thì đây là liều thuốc độc nữa đó, sư thái có dám uống không? Thuốc này mà uống vào, một giờ sau cứ gọi là ruột đứt thành từng đoạn, chết thảm hết mức.

Diệt Tuyệt sư thái không thèm nói nửa lời, cầm lấy chút thuốc bột trên tay y, há miệng nuốt luôn vào bụng.

Chu Chỉ Nhược kêu lên:

– Sư phụ, sư phụ..

Phạm Dao chìa bàn tay kia ra, quát:

– Đừng có to tiếng, cô nương cũng uống thuốc độc ngay đi.

Chu Chỉ Nhược cả sợ, nhưng đã bị Phạm Dao bóp má, đổ thuốc bột vào miệng, rồi còn rót một ngụm từ bình nước trắng cho trôi xuống họng.

Diệt Tuyệt sư thái cả kinh, nghĩ bụng nếu Chu Chỉ Nhược chết đi, thì mọi mưu tính của mình thành công toi, bèn cố vung chưởng đánh Phạm Dao. Nhưng công lực của bà ta đã mất, chưởng này chiêu số tinh diệu, nhưng chẳng có chút sức nặng gì; Phạm Dao chỉ giơ tay hất nhẹ, bà ta đã văng vào tường.

Phạm Dao cười, nói:

– Tăng chúng Thiếu Lâm, Võ Đang chư hiệp cũng đều uống thuốc độc của ta cả rồi. Minh giáo ta hay dở tốt xấu thế nào, lát nữa các người sẽ biết thôi.

Nói đoạn y cười hà hà, quay người đi ra, khép cửa phòng lại.

*

* *

Nguyên Phạm Dao hộ tống Triệu Mẫn đi gặp Trương Vô Kỵ, mà trong bụng chỉ nghĩ tới việc làm cách nào đoạt lấy thuốc giải. Triệu Mẫn bảo y ngồi ở gian ngoài quán rượu chờ nàng, song y lập tức chạy thẳng về chùa Vạn An, đi lên tòa tháp, đến tầng thứ mười, chỗ có phòng ở của Ô Vượng A Phổ.

Ô Vượng A Phổ đang đứng ngoài cửa, thấy y liền cung kính chào:

– Khổ đại sư!

Phạm Dao gật đầu, trong bụng cười thầm: "Lão dê già họ Lộc này gớm thật, ở trong phòng hú hí với ái thiếp của vương gia, bắt đệ tử đứng ngoài canh chừng. Nhân lúc lão ta còn đang say sưa hưởng lạc trong ấy, ta phải xông vào cướp thuốc giải mới được". Bèn lách người ngang qua Ô Vượng A Phổ, bất ngờ xoay tay điểm luôn vào huyệt đạo ở bụng dưới của hắn. Ô Vượng A Phổ dĩ nhiên không hề đề phòng, mà dù có đề phòng, thì cũng không tránh được. Yếu huyệt bị điểm trúng, hắn đứng trơ ra không thể cử động, kinh ngạc không hiểu mình làm gì đắc tội với lão già câm, chẳng lẽ tiếng chào vừa rồi chưa đủ cung kính hay sao?

Phạm Dao đẩy cửa, nhanh như chớp phi thân tới bên giường, hai chân chưa chạm đất đã giáng luôn một chưởng vào kẻ nằm bên trên. Y biết Lộc Trượng Khách võ công cao siêu, nếu chưởng này không làm cho hắn trọng thương, hai bên sẽ phải quần nhau một trận ác liệt chưa biết ai sống ai chết, ai thắng ai bại; thành thử y dồn mười thành kình lực vào chưởng này. Chỉ nghe bịch một tiếng, cái chăn bị đánh thủng, bông bay tứ tung; lật chăn lên coi, chỉ thấy nàng Hàn cơ miệng mũi ứa máu, ngọc nát hương tàn, chứ chẳng thấy Lộc Trượng Khách đâu cả.

Phạm Dao chợt nảy ra một kế, vội vàng ra cửa mang Ô Vượng A Phổ vào, nhét hắn dưới gầm giường, vừa xong thì có tiếng gắt của Lộc Trượng Khách ở bên ngoài:

– A Phổ, A Phổ! Ngươi dám bỏ đi đâu rồi?

Nguyên Lộc Trượng Khách đứng bên ngoài phòng giam Diệt Tuyệt sư thái đợi một hồi, nghĩ thầm hai mẹ con mụ kể lể dông dài biết bao giờ mới xong, nhưng không dám đắc tội với Khổ đầu đà, nên đành để yên; bụng lại nhớ nàng Hàn cơ đến mức hết chịu nổi, bèn trở lên phòng Ô Vượng A Phổ. Không thấy gã đệ tử vốn luôn luôn vâng lời kia đâu, tức giận đẩy cửa bước vào, may quá chưa thấy gì khác lạ; nàng Hàn cơ vẫn nằm trên giường, mặt quay vào trong, trên mình đắp kín tấm chăn bông.

Lộc Trượng Khách cài then cửa, quay mình lại, cười nói:

– Người đẹp ơi, để ta giải huyệt cho nàng, nhưng nàng chưa được lên tiếng đâu đấy.

Lão vừa nói vừa luồn tay vào trong chăn, sờ soạng lưng nàng Hàn cơ. Bỗng nhiên cổ tay lão bị bóp chặt, năm ngón tay ai như gọng kìm bấm mạnh vào mạch môn của lão. Kình lực toàn thân lão lập tức mất hết, lão không còn chút hơi sức nào, chỉ thấy tấm chăn lật lên, một người bật dậy, chính là Khổ đầu đà.

Phạm Dao tay phải nắm mạch môn của Lộc Trượng Khách, tay trái nhanh như gió, điểm liên tiếp mười chín đại huyệt trên người Lộc Trượng Khách. Lộc Trượng Khách mềm ra, sụm xuống đất, không cử động gì được, mắt thì như nảy lửa.

Phạm Dao chỉ mặt Lộc Trượng Khách, nói:

– Lão phu đi không thay họ, ngồi chẳng đổi tên, chính là Quang Minh hữu sứ của Ma giáo, họ Phạm tên Dao đây. Hôm nay ngươi bị lão phu ám toán, uổng công ngươi tự coi mình cơ trí tuyệt luân, kỳ thực ngu xuẩn vô dụng. Bây giờ mà lão phu giết ngươi thì không đáng mặt anh hùng hảo hán; vậy tạm tha mạng cho ngươi, ngươi có giỏi thì rồi đây đi tìm Phạm Dao ta mà báo thù.

Y chưa hết hứng, còn lột sạch quần áo trên người Lộc Trượng Khách, đặt lão nằm chung với thi thể Hàn cơ, lấy tấm chăn bọc hai người, một sống một chết, lại với nhau.

Sau đó Phạm Dao mới lấy cây trượng sừng hươu, mở cái nhánh sừng, đổ thuốc giải ra, đi từng buồng giam chia cho Không Văn đại sư, Tống Viễn Kiều, Du Liên Châu mọi người uống. Đợi cho mọi người uống xong cũng tốn khá nhiều thời gian, cũng phải mất công giải thích mỗi người đôi lời. Cuối cùng y tới phòng giam Diệt Tuyệt sư thái, y thấy bà ta không chịu tin đây là thuốc giải, đành dọa là thuốc độc. Y hận bà ta giết hại nhiều huynh đệ của Minh giáo, nên hù dọa được mấy câu cũng thấy khoái chí lắm.

Phân phát xong xuôi thuốc giải, Phạm Dao đang tự cảm thấy đắc ý, bỗng nghe dưới chân tháp đầy tiếng huyên náo, trong đó tiếng của Hạc Bút Ông vang to hơn cả:

– Tên Khổ đầu đà là gian tế, mau bắt hắn xuống đây!

Phạm Dao thầm kêu khổ: "Chết thật, hỏng to rồi! Không biết ai cứu hắn ra thế nhỉ?" Y thò đầu nhìn xuống dưới chân tháp, thấy Hạc Bút Ông cầm đầu một đám võ sĩ vây kín xung quanh tháp. Tôn Tam Hủy và Lý Tứ Thôi nhìn thấy Phạm Dao thò đầu ra, liền bắn lên hai mũi tên, chửi to:

– Ác tặc đầu đà, ngươi hại bọn ta quá đỗi!

Hạc Bút Ông và hai gã đó bị điểm huyệt, vốn chưa thể cử động, lại nằm trong buồng của Lộc Trượng Khách, đâu có ai dám tự tiện bước vào. Nào ngờ đám võ sĩ do phủ Nhữ Dương Vương sai đến chùa Vạn An tra xét, không thấy tung tích nàng ái thiếp của vương gia, có người nghĩ đến tính hiếu sắc tham hoa của Lộc Trượng Khách, nhưng đám võ sĩ lâu nay vẫn luôn e sợ lão ta, tuy nghi ngờ lão ta dính líu đến việc Hàn cơ mất tích, song ai dám vuốt râu hùm? Một hồi lâu sau, kẻ đứng đầu đội võ sĩ là Cáp tổng quản nghĩ ra một cách, sai một tên lính hầu tới gõ cửa phòng Lộc Trượng Khách. Lộc Trượng Khách thân phận cực cao, dẫu có nổi giận cũng chẳng thèm trừng phạt một tên lính hầu. Tên lính gõ cửa mấy lần, vẫn không có tiếng bên trong trả lời.

Cáp tổng quản nghiến răng, lệnh cho tên lính đẩy mạnh cửa vào xem sao thì thấy bọn Hạc Bút Ông và Tôn, Lý hai gã nằm lăn lóc dưới đất. Lúc ấy Hạc Bút Ông vận khí xung huyệt cũng đã giải được ba, bốn phần, Cáp tổng quản giúp lão giải huyệt, thế là lão lập tức hoạt động được như thường.

Hạc Bút Ông cả giận, hỏi xem Lộc Trượng Khách và Khổ đầu đà đi đâu, khi biết hai người đi lên tháp, liền dẫn bọn võ sĩ bao vây, lớn tiếng hò hét, gọi Khổ đầu đà xuống một phen tử chiến.

Phạm Dao nghĩ thầm: "Muốn tử chiến thì tử chiến, Phạm Dao ta sợ quái gì ngươi? Có điều là bọn hòa thượng ni cô thối tha kia uống thuốc giải chưa lâu thời công lực chưa phục hồi. Hạc Bút Ông ngươi đã nghe câu chuyện giữa ta và Lộc Trượng Khách, bây giờ ta có giết lão Lộc dê già, cũng không thể diệt khẩu nữa rồi, phải làm sao đây?"

Phạm Dao còn bàng hoàng, nhất thời chưa nghĩ được cách gì, thì nghe Hạc Bút Ông gọi to:

– Tên đầu đà chết tiệt kia, ngươi không xuống thì ta lên!

Phạm Dao liền vào phòng vác cái bọc chăn cuộn Lộc Trượng Khách và Hàn cơ ra bao lơn, chìa phần mặt ra, nói:

– Con hạc già kia, mi mà tiến lên tháp một bước, ta sẽ ném con hươu dâm đãng này xuống đó.

Đám võ sĩ giơ cao đuốc, chiếu bốn phía sáng như ban ngày, tuy ngọn tháp quá cao, ánh sáng chiếu không tới, nhưng người bên dưới vẫn có thể nhìn thấy mặt Lộc Trượng Khách và Hàn cơ.

Hạc Bút Ông cả kinh, gọi to:

– Sư ca, sư ca không sao chứ?

Lão ta gọi liền mấy lần, không nghe Lộc Trượng Khách đáp lại, tưởng rằng sư huynh đã bị Khổ đầu đà giết rồi, thì đau đớn nói:

– Tặc đầu đà, ngươi hại chết sư ca ta, ta thề một mất một còn với ngươi.

Phạm Dao giải huyệt câm cho Lộc Trượng Khách. Lộc Trượng Khách liền cất tiếng chửi:

– Tặc đầu đà, ngươi là gian tế, đáng bị đem ra tùng xẻo!

Phạm Dao lại điểm huyệt không cho lão ta nói. Hạc Bút Ông thấy sư huynh chưa chết, cũng hơi yên tâm, chỉ sợ Khổ đầu đà ném xuống thật, không dám bước tới cửa tháp.

Đôi bên cò cưa như thế hồi lâu, Hạc Bút Ông chưa dám xông lên cứu sư huynh. Phạm Dao thì chỉ mong kéo dài thời gian thêm chút nào hay chút ấy. Y đứng ở lan can, cười ha hả, nói:

– Con hạc già kia, sư huynh ngươi quả là gan to bằng trời, dám đi bắt trộm ái cơ của vương gia mang về đây. Ta bắt kẻ gian, bắt quả tang tại giường. Ngươi còn định bao che cho sư huynh ngươi hay sao? Tổng quản đại nhân, hãy mau mau tóm cổ con hạc già đó. Sư huynh sư đệ lão ta phản loạn, tội chẳng thể tha. Tổng quản đại nhân bắt giữ hắn, thể nào cũng sẽ được vương gia trọng thưởng.

Cáp tổng quản liếc nhìn Hạc Bút Ông, cũng muốn ra tay, song lại không dám. Hắn thấy Khổ đầu đà tự dưng biết nói, kể quái lạ thật nhưng rõ ràng nhìn thấy Lộc Trượng Khách và Hàn cơ nằm chung trong một cái chăn; vốn trước đây hắn đã nghi ngờ, nên tin lời Phạm Dao đến tám chín phần. Hắn nói:

– Khổ đại sư, mời đại sư xuống đây, mọi người cùng đi gặp vương gia phân biện phải trái. Cả ba vị đều là cao nhân tiền bối, tiểu nhân không dám mạo phạm vị nào cả.

Phạm Dao vốn cả gan lớn mật, nghĩ thầm nếu tất cả cùng đi gặp vương gia, đợi đến lúc phân biện trắng đen, thì chư hiệp trên tháp đã giải độc xong rồi, bèn nói:

– Hay lắm, hay lắm! Ta đang muốn đi gặp vương gia lĩnh thưởng. Tổng quản đại nhân hãy canh chừng con hạc già ấy, đừng để hắn đào tẩu!

Đúng lúc ấy có tiếng vó ngựa dồn dập, rồi một người phi ngựa tới chân tháp, đám võ sĩ nhất tề cúi mình hành lễ:

– Tiểu vương gia!

Phạm Dao từ trên tháp nhìn xuống, thấy người kia đội chiếc mũ vàng lấp lánh, mình bận cẩm bào, cưỡi một con bạch mã cao to, chính là thế tử của Nhữ Dương Vương, tên là Khố Khố Đặc Mục Nhĩ, mang tên Hán là Vương Bảo Bảo.

Vương Bảo Bảo gằn giọng hỏi:

– Hàn cơ đâu? Phụ vương nổi cơn lôi đình, sai ta đích thân đi tra xét.

Cáp tổng quản bước lên bẩm cáo, rằng Lộc Trượng Khách bắt cóc Hàn cơ, hiện đã bị Khổ đầu đà bắt được. Hạc Bút Ông vội nói:

– Tiểu vương gia, đừng nghe hắn nói bậy. Tên đầu đà ấy là gian tế, hắn hãm hại sư ca của thuộc hạ.

Vương Bảo Bảo nhìn lên, gọi:

– Hãy xuống cả dưới này nói chuyện!

Phạm Dao ở trong vương phủ đã lâu, biết Vương Bảo Bảo khôn ngoan sáng suốt không kém gì cha, ngụy kế của mình chỉ lừa được người khác, chứ không thể che mắt gã; một khi xuống dưới đó, chỉ sau vài câu là Vương Bảo Bảo biết rõ chân tướng, sẽ hạ lệnh bọn võ sĩ vây đánh; đối phó với một mình Hạc Bút Ông đã mệt, một mình thoát thân cũng không khó, nhưng không thể nào cứu được chư hiệp trên tháp. Bèn nói to:

– Tiểu vương gia, thuộc hạ bắt được Lộc Trượng Khách rồi, sư đệ của hắn căm hận thấu xương, thuộc hạ xuống dưới đó sẽ bị lão ta giết ngay.

Vương Bảo Bảo nói:

– Đại sư cứ xuống đây, Hạc tiên sinh không thể giết đại sư được.

Phạm Dao lắc đầu, nói to:

– Thuộc hạ ở trên tháp an toàn hơn. Tiểu vương gia, Khổ đầu đà này cả đời không nói, hôm nay việc chẳng đặng đừng, đành phải mở miệng, hoàn toàn là vì lòng trung thành đối với vương gia mà thôi. Nếu tiểu vương gia không tin, thuộc hạ sẽ nhảy xuống, vỡ đầu chết trước mặt cho tiểu vương gia xem.

Vương Bảo Bảo nghe Phạm Dao nói, mười phần đến bảy tám là vớ vẩn, rõ ràng có ý trì hoãn, bèn thấp giọng hỏi Cáp tổng quản:

– Y có mưu đồ gì mà cố ý lần khân, không lẽ chờ kẻ nào tới chăng?

Cáp tổng quản đáp:

– Tiểu nhân không biết..

Hạc Bút Ông vội cướp lời:

– Tiểu vương gia, tên tặc đầu đà kia đã cướp thuốc giải của sư huynh thuộc hạ để cứu bọn phản nghịch đang bị nhốt trên tháp.

Vương Bảo Bảo lập tức hiểu ra, gọi to:

– Khổ đại sư, ta biết công lao của đại sư rồi, đại sư hãy mau xuống đây, ta sẽ trọng thưởng.

Phạm Dao nói:

– Thuộc hạ bị Lộc Trượng Khách đá hai cái, gãy cả hai cẳng, hiện thời không cử động được. Tiểu vương gia đợi cho một chút, thuộc hạ vận khí trị thương, rồi sẽ xuống liền.

Vương Bảo Bảo quát:

– Cáp tổng quản, mau phái người lên tháp cõng Khổ đại sư xuống đây!

Phạm Dao nói to:

– Không được đâu, đừng lên. Kẻ nào đến gần ta, ta sẽ bẻ què cặp giò của hắn.

Vương Bảo Bảo bây giờ không còn hoài nghi gì nữa, thấy Lộc Trượng Khách và Hàn cơ hai người nằm chung trong một cái chăn, dẫu hai kẻ đó chưa làm trò gì cả, thì phụ vương cũng không cần tới nàng hầu đó nữa, bèn nói nhỏ:

– Cáp tổng quản, nổi lửa đốt cái tháp đi. Cho người nạp sẵn cung tên, bất kể kẻ nào từ trên tháp nhảy xuống, cũng bắn chết hết cho ta.

Cáp tổng quản tuân lệnh truyền ra, các võ sĩ cung tên sẵn sàng vây quanh tòa tháp cao; một số võ sĩ đi lấy cỏ khô để nổi lửa đốt tháp.

Hạc Bút Ông cả kinh, kêu lên:

– Tiểu vương gia, sư ca của thuộc hạ còn đang ở trên đó.

Vương Bảo Bảo lạnh lùng nói:

– Tên đầu đà kia không thể ở lỳ trên tháp; khi tháp vừa cháy là hắn sẽ xuống ngay thôi.

Hạc Bút Ông nói:

– Lỡ hắn quẳng sư ca của thuộc hạ xuống thì sao? Tiểu vương gia, không nên đốt tháp.

Vương Bảo Bảo "hừ" một tiếng, không thèm để ý đến lão ta.

Trong giây lát, các võ sĩ đã mang cỏ, củi tới chân tháp và nổi lửa.

Hạc Bút Ông là người có địa vị lớn trong võ lâm, được Nhữ Dương Vương trân trọng mời vào vương phủ, luôn luôn được nể trọng; không ngờ hôm nay vì trúng gian kế của Khổ đầu đà, nên ngay cả tiểu vương gia cũng không coi lão ra gì; lão thấy tính mạng sư huynh nguy ngập đến nơi thì cũng bất chấp tiểu vương gia, đại vương gia, giơ đôi phán quan bút nhảy vọt tới, hất hai gã võ sĩ đang châm lửa văng ra ngoài xa.

Vương Bảo Bảo cả giận, quát:

– Hạc tiên sinh, tiên sinh định làm loạn hả?

Hạc Bút Ông nói:

– Tiểu vương gia không sai người phóng hỏa, thì lão phu sẽ không làm loạn.

Vương Bảo Bảo quát:

– Đốt lửa!

Gã phất tay trái một cái, năm tên hồng y phiên tăng đứng sau gã xông tới, cướp mất bó đuốc trong tay bọn võ sĩ mà ném vào đống củi, cỏ chất dưới chân tháp, lửa lập tức cháy bùng bùng.

Hạc Bút Ông cuống lên, cướp một cây giáo dài của một tên võ sĩ, gạt các thanh củi đang cháy ra khỏi tháp.

Vương Bảo Bảo quát:

– Bắt lấy hắn!

Năm tên hồng y phiên tăng cầm giới đao liền vây Hạc Bút Ông lại.

Hạc Bút Ông cả giận, vứt cây giáo đi, giơ tay cướp binh khí của một tên phiên tăng ở bên trái. Tên phiên tăng này không phải hạng tầm thường, xoay giới đao chém xuống vai Hạc Bút Ông. Hạc Bút Ông vừa tránh được, thì đã nghe tiếng gió phía sau lưng, lại có hai thanh giới đao cùng chém tới.

Thủ hạ của Vương Bảo Bảo có cả thảy mười tám phiên tăng võ công cao cường, gọi là "Thập bát kim cương", chia ra Ngũ đao, Ngũ kiếm, Tứ trượng, Tứ bạt. Năm phiên tăng này là "Ngũ đao kim cương", nếu là một chọi một đấu với Hạc Bút Ông thì chúng thua xa, nhưng khi cả năm liên thủ với nhau, giúp nhau kẻ công người thủ, thì rất lợi hại. Hạc Bút Ông võ công tuy cao siêu, nhưng hôm trước bị Trương Vô Kỵ đánh cho hộc máu, nội lực đại hao tổn, hiện giờ lại nhìn lửa bốc cháy, đe dọa tính mạng của sư huynh, trong bụng phập phồng lo sợ, không dễ gì thắng ngay được.

Đám võ sĩ của Vương Bảo Bảo tiếp thêm củi, lửa cháy mỗi lúc một mạnh. Tòa bảo tháp này xây bằng gạch có nhiều phần là gỗ, mấy tầng dưới cùng đã bén lửa, tiếng cháy nổ lốp bốp, ù ù.

Phạm Dao đặt Lộc Trượng Khách xuống đất, chạy vào phòng giam Võ Đang chư hiệp, nói to:

– Thát tử đang đốt tháp, các vị nội lực đã phục hồi chưa?

Chỉ thấy Tống Viễn Kiều, Du Liên Châu cả bọn đang ngồi xếp bằng vận công tập trung tinh thần cao độ, không ai lên tiếng trả lời; hiển nhiên đã đến thời khắc quan trọng nhất của việc phục hồi công lực.

Một số tên võ sĩ canh giữ chư hiệp xông vào ngăn trở, đều bị Phạm Dao thộp cổ từng tên, ném xuống chân tháp chết tươi. Những tên còn lại cố xông qua khói lửa mà chạy xuống dưới đất.

Không lâu sau, lửa đã bén lên tầng thứ tư. Những người bị giam ở đây thuộc phái Hoa Sơn, công lực chưa kịp phục hồi, hốt hoảng chạy nháo nhào lên tầng thứ năm. Lửa vẫn không ngừng bốc lên, khiến những người thuộc phái Không Động ở tầng thứ năm cũng phải chạy lên cao hơn. Có người chậm chân, bị cháy sém cả râu tóc, quần áo.

Phạm Dao đang lúng túng, chưa biết làm thế nào, bỗng nghe có tiếng gọi:

– Phạm hữu sứ, đón lấy này!

Chính là tiếng nói của Vi Nhất Tiếu. Phạm Dao cả mừng, nhìn theo hướng tiếng nói, thấy Vi Nhất Tiếu đứng trên nóc hậu điện chùa Vạn An, vung tay ném sang một sợi dây dài. Phạm Dao giơ tay đón lấy. Vi Nhất Tiếu nói:

– Phạm huynh hãy buộc vào lan can, làm một cái cầu dây.

Phạm Dao còn đang loay hoay buộc, thì một gã trong "Thần tiễn bát hùng" là Triệu Nhất Thương bắn lên một mũi tên làm đứt luôn sợi dây chão. Phạm Dao và Vi Nhất Tiếu cùng cất tiếng chửi, biết rằng muốn bắc một cái cầu dây, thì trước hết phải trừ khử "Thần tiễn bát hùng" mới xong. Vi Nhất Tiếu chửi:

– Bắn cái con mẹ ngươi. Đứa nào không vứt cung tên đi, lát nữa ông giết trước.

Nói rồi rút trường kiếm ra, nhảy từ trên nóc điện xuống đất. Chân vừa chạm đất, Vi Nhất Tiếu đã bị năm tên thanh y phiên tăng vây chặt, chính là "Ngũ kiếm kim cương" trong mười tám phiên tăng kia. Năm tên đó vung kiếm loang loáng, chiêu số quái dị, đấu với một mình Vi Nhất Tiếu.

Hạc Bút Ông vẫn múa cặp bút mỏ hạc đấu với Ngũ đao, nói lớn:

– Tiểu vương gia, nếu không hạ lệnh cứu hỏa, lão phu sẽ không còn nể nang gì nữa đâu.

Vương Bảo Bảo không thèm để ý đến lão. Bốn tên phiên tăng cầm trượng liền chia nhau đứng bốn bên Vương Bảo Bảo, đề phòng có kẻ đánh lén. Hạc Bút Ông nóng ruột, song bút đột nhiên sử chiêu "Hoành tảo thiên quân" [111], đẩy dạt ba tên phiên tăng trước mặt phải lui ra hai thước, lão vọt tới bên chân tháp. Năm tên phiên tăng lập tức đuổi theo. Hạc Bút Ông nhún mình một cái, đã nhảy lên mái hiên tầng thứ nhất. Năm tên phiên tăng thấy lửa cháy đùng đùng, thì dừng lại, không nhảy lên.

Hạc Bút Ông cứ thế nhảy lên từng tầng một. Khi lão ta vọt lên đến mái hiên tầng thứ tư, Phạm Dao đứng ở tầng thứ bảy thò đầu ra trông thấy, bèn giơ cao Lộc Trượng Khách, nói lớn:

– Lão hạc già kia, mau dừng lại! Ngươi còn lên thêm một bước, ta sẽ cho con hươu già này máu thịt nát bấy tức thì.

Hạc Bút Ông quả nhiên không dám tiến thêm, nói:

– Khổ đại sư, huynh đệ ta trước đây không có thù oán gì với đại sư, sao đại sư nỡ gây khó dễ với huynh đệ chúng tôi thế? Đại sư muốn cứu người tình cũ là Diệt Tuyệt sư thái với đứa con gái của đại sư với bà ta là Chu Chỉ Nhược, thì đại sư cứ việc cứu họ, lão phu quyết không ngăn cản.

Diệt Tuyệt sư thái sau khi uống thuốc giải do Khổ đầu đà đưa cho, tưởng đó là thuốc độc, mình thể nào cũng chết; lại thấy Chu Chỉ Nhược cũng bị ép đổ thuốc vào miệng, bao nhiêu kỳ vọng cả đời bà tan thành mây khói, thì trong lòng đau đớn vô cùng. Đang lúc thương tâm, bỗng nghe dưới chân tháp có tiếng huyên náo, rồi cuộc đấu khẩu giữa Khổ đầu đà với Hạc Bút Ông, tiếp đến Vương Bảo Bảo hạ lệnh đốt tháp.. hết thảy bà nghe rõ mồn một. Bà lấy làm lạ: "Chẳng lẽ lão quỷ đầu đà ấy định cứu mình thật hay sao?" bèn thử vận khí, lập tức thấy từ đan điền có một luồng hơi ấm đi lên, khác hẳn tình trạng từ ngày bị trúng độc tới giờ.

Diệt Tuyệt sư thái không chấp nhận cái lệnh Triệu Mẫn gọi sang đại điện tỷ võ, tuyệt thực đã sáu, bảy ngày; dạ dày trống không, nên sau khi uống thuốc giải, thuốc đi ngay vào máu, dược lực được phát huy nhanh hơn tất cả mọi người. Hơn nữa, nội lực của bà thâm hậu hơn cả Tống Viễn Kiều, Du Liên Châu, Hà Thái Xung, so với Không Văn thần tăng phái Thiếu Lâm có lẽ chỉ kém một chút, thành thử độc tính của "Thập hương nhuyễn cân tán" được thuốc giải làm tiêu tan rất nhanh. Diệt Tuyệt sư thái chỉ vận khí một hồi, nội lực tái sinh liền, chưa đến nửa canh giờ, nội công đã phục hồi được năm, sáu thành.

Diệt Tuyệt sư thái đang định vận công gấp rút hơn, bỗng nghe từng lời tiếng nói rành rọt của Hạc Bút Ông ở bên ngoài: "Đại sư muốn cứu người tình cũ là Diệt Tuyệt sư thái cùng đứa con gái của đại sư với bà ta là Chu Chỉ Nhược, thì đại sư cứ việc cứu họ, lão phu quyết không ngăn cản". Mấy tiếng "người tình cũ".. cứ như mũi tên nhọn xoáy vào tai bà, làm sao không khiến bà nổi giận, bèn bước ra lan can, tức giận quát to:

– Ngươi nói bậy nói bạ những gì vậy?

Hạc Bút Ông năn nỉ:

– Lão sư thái, xin bà làm ơn khuyên người.. người bạn cũ của bà thả sư huynh ta ra, ta bảo đảm ba người nhà bà bình an ra khỏi đây. Huyền Minh nhị lão nói một là một, nói hai là hai, quyết không phải hạng nói rồi nuốt lời.

Diệt Tuyệt sư thái cả giận, quát hỏi:

– Cái gì mà "ba người nhà bà"?

Phạm Dao tuy đang trong cảnh nguy nan, vẫn cười phá lên hết sức đắc chí, nói:

– Lão sư thái, con hạc già ấy hắn bảo ta với bà là người tình cũ, còn Chu cô nương là con riêng của hai đứa mình.

Diệt Tuyệt sư thái giận hết chỗ nói, trong ánh lửa khi mờ khi tỏ, vẻ mặt trông thật đáng sợ, bà giật giọng gọi:

– Lão hạc già kia lên đây, ta đấu với lão một trăm chưởng rồi hãy tính.

*

* *

Nếu là lúc khác, thách Hạc Bút Ông lên đấu thì lão lên liền, đâu ngán gì vị chưởng môn phái Nga Mi, nhưng lúc này sư huynh lão đang nằm trong tay kẻ khác, lão không dám ngang tàng, chỉ kêu lên:

– Khổ đầu đà, chuyện đó là do chính đại sư nói ra, chứ đâu phải ta bịa đặt.

Diệt Tuyệt sư thái trừng mắt nhìn Phạm Dao, quát hỏi:

– Là ngươi nói thế ư?

Phạm Dao lại cười ha hả, định châm chọc bà ta thêm vài câu, bỗng nghe dưới chân tháp có nhiều tiếng ồn ào, nhìn xuống thì thấy trong ánh lửa có một bóng người bay lượn như cánh bướm giữa vườn hoa, tiếng binh khí từ tay các phiên tăng, võ sĩ rơi xuống đất loảng xoảng không ngớt, chính là giáo chủ Trương Vô Kỵ đã tới.

*

* *

Trương Vô Kỵ vừa ra tay, năm thanh kiếm của năm phiên tăng đang vây đánh Vi Nhất Tiếu đều văng đi cả. Vi Nhất Tiếu cả mừng, lướt tới bên cạnh chàng, nói nhỏ:

– Để thuộc hạ đi đốt phủ Nhữ Dương Vương.

Trương Vô Kỵ gật đầu, hiểu ngay dụng ý. Phe mình ở đây chỉ vẻn vẹn vài người, nếu không cứu kịp quần hào sáu đại môn phái, viện binh của đối phương sẽ kéo đến mỗi lúc một đông. Vi Nhất Tiếu đi đốt phủ Nhữ Dương Vương, bọn võ sĩ sẽ thấy việc bảo vệ vương gia cần kíp hơn. Đó là diệu kế điệu hổ ly sơn, rút củi khỏi bếp. Chỉ thấy một cái bóng xanh vút đi, Vi Nhất Tiếu đã bay qua tường.

Trương Vô Kỵ nhìn tình thế bốn phía, hỏi to:

– Phạm hữu sứ, thế nào rồi?

Phạm Dao đáp:

– Nguy lắm, đường rút xuống bị lửa chặn, không ai có thể thoát được!

Lúc này trong số mười tám phiên tăng thủ hạ của Vương Bảo Bảo, có tới mười bốn tên vây đánh Trương Vô Kỵ. Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Bắt giặc, phải bắt tên đầu sỏ", có bắt được gã vương công Thát tử đội mũ dát vàng kia, thì mới buộc bọn chúng dập lửa cứu người; bèn nghiêng mình một cái, như con cá phóng mình lên mặt nước, chàng vọt ra khỏi vòng vây của bọn phiên tăng, tới ngay trước mặt Vương Bảo Bảo.

Nào ngờ từ phía trái có một thanh kiếm đâm tới, hàn quang lạnh người, mũi kiếm chọc thẳng vào ngực chàng. Trương Vô Kỵ vội lùi một bước, chỉ nghe một giọng thiếu nữ nói:

– Trương công tử, đây là gia huynh, xin chớ đụng tới.

Thanh trường kiếm trong tay nàng ta rung rung, lưỡi kiếm sáng loáng như nước, chính là kiếm Ỷ Thiên; còn thiếu nữ cầm kiếm thì xinh tươi như hoa, chính là Triệu Mẫn. Nàng chạy theo Trương Vô Kỵ tới đây, chỉ chậm hơn chàng một chút.

Trương Vô Kỵ nói:

– Cô nương mau hạ lệnh dập lửa cứu người, nếu không ta sẽ phải thất lễ với hai người đó.

Triệu Mẫn quát:

– Thập bát kim cương, người này võ công cao siêu, mau lập "Kim cương trận" ngăn chặn hắn.

Mười tám gã phiên tăng mới rồi đã nếm đòn của Trương Vô Kỵ, khỏi cần quận chúa chỉ điểm cũng biết chàng lợi hại thế nào; chỉ nghe choang một tiếng lớn, tám cái não bạt bằng đồng trong tay "Tứ bạt kim cương" nhất tề dập mặt vào nhau một cái; mười tám gã phiên tăng chạy qua chạy lại, che chở cho Vương Bảo Bảo và Triệu Mẫn, đẩy lùi Trương Vô Kỵ ra.

Trương Vô Kỵ thấy mười tám gã phiên tăng cứ chạy quanh như đèn cù, bộ pháp kỳ dị, tạo thành một bức tường sống, xem ra bên trong còn nhiều biến hóa. Chàng toan nhảy vào phá "Kim cương trận" một phen xem sao, bỗng nghe một tiếng ầm thật lớn, một cây cột lớn trên tháp đổ xuống.

Chàng ngoảnh nhìn, thấy lửa đã bén tới tầng thứ bảy; trong ánh lửa đỏ như máu, có hai bóng người đang giao đấu ác liệt với nhau, chính là Diệt Tuyệt sư thái và Hạc Bút Ông, còn trên lan can tầng thứ mười thì lố nhố rất nhiều người của các phái Thiếu Lâm, Võ Đang.. Những người ấy võ công chưa hoàn toàn phục hồi, huống hồ tháp cao hơn chục trượng, dẫu có khinh công tuyệt đỉnh, nội lực dồi dào mà nhảy từ trên kia xuống thì cũng chết tươi.

Một ý nghĩ vụt lóe lên trong óc Trương Vô Kỵ: "Kim cương trận không phải thứ có thể phá vỡ trong chốc lát; hơn nữa đánh bại được bọn phiên tăng, sẽ có bọn khác xông tới; muốn bắt gã anh trai của Triệu Mẫn thật chẳng dễ gì. Diệt Tuyệt sư thái giao đấu với Hạc Bút Ông hồi lâu, không bị núng thế, chứng tỏ công lực đã phục hồi, như thế thì nhóm đại sư bá cũng đã được phục hồi, có điều là tòa tháp quá cao, họ không thể nhảy xuống mà thôi".

Chàng nghĩ vậy, rồi đột nhiên chạy chỗ này chỗ nọ, hai tay hoặc đánh hoặc tóm, hoặc đập hoặc đoạt, đánh ngã toàn bộ "Thần tiễn bát hùng", ngoài ra trong đám võ sĩ kẻ nào cầm cung tên đều bị chàng hoặc bẻ gãy cung, hoặc điểm huyệt, đến khi quanh tháp không còn một tay bắn cung nào nữa, chàng mới gọi to:

– Các vị tiền bối trên tháp, hãy lần lượt nhảy xuống đây, tại hạ ở dưới này sẽ đỡ cho.

Những người ở trên tháp nghe thế đều kinh ngạc, nghĩ thầm trên này cao đến hơn mười trượng, lực rơi sẽ rất lớn, chàng dù có sức ngàn cân cũng chẳng thể đón đỡ được. Trong đám người phái Không Động, phái Côn Luân có kẻ nhao nhao lên nói:

– Chớ có dại nhảy xuống mà mắc lừa tên tiểu tử đó. Hắn muốn bọn ta nhảy xuống cho tan xương đấy mà.

Trương Vô Kỵ thấy lửa đã liếm gần tới chỗ các cao thủ, nếu họ không nhảy xuống, ắt tất cả sẽ bị chết thiêu, bèn lớn tiếng nói:

– Du nhị bá, nhị bá đối với điệt nhi ơn nặng như núi, không lẽ điệt nhi lại có bụng hại nhị bá? Nhị bá nhảy xuống trước đi!

Du Liên Châu vốn luôn tin ở Trương Vô Kỵ, biết chàng võ công dù rất cao cường, cũng chẳng đỡ nổi mình; song ở trên tháp để bị chết cháy hay nhảy xuống có chết cũng chả khác gì nhau, bèn đáp:

– Được, để ta nhảy!

Rồi ông tung mình từ trên tháp cao nhảy xuống.

Trương Vô Kỵ nhắm kỹ, đợi lúc thân hình Du Liên Châu còn cách mặt đất dăm sáu thước, bèn nhẹ nhàng đẩy ra một chưởng, vào ngang lưng ông. Trong chưởng này chàng vận dụng môn võ công tuyệt đỉnh "Càn khôn đại na di", khôn khéo biến lực rơi từ trên đi xuống thành lực đẩy ngang từ trái qua phải.

Thân hình Du Liên Châu bay ngang qua, xa đến vài trượng, lúc này công lực của ông đã phục hồi được bảy, tám thành; ông vừa xoay mình một cái đã đứng vững trên mặt đất, thuận tay đánh ra một chưởng, khiến một võ sĩ Mông Cổ bị hộc máu. Ông gọi to:

– Đại sư ca, tứ sư đệ, nhảy xuống đi!

Mọi người trên tháp thấy Du Liên Châu rơi xuống bình an thì hoan hô rầm trời.

Tống Viễn Kiều thương con, muốn y thoát hiểm trước, giục:

– Thanh Thư, con nhảy xuống đi!

Tống Thanh Thư từ lúc ra khỏi buồng giam, luôn ở bên cạnh Chu Chỉ Nhược, bèn nói:

– Chu cô nương, cô nương nhảy đi.

Chu Chỉ Nhược công lực chưa phục hồi, không giúp gì cho sư phụ được, song cũng không muốn thoát đi trước một mình, nghe Tống Thanh Thư giục như vậy thì lắc đầu, nói:

– Tiểu nữ chờ sư phụ!

Lúc ấy bọn Hà Thái Xung, Ban Thục Nhàn đã trước sau nhảy xuống, đều được Trương Vô Kỵ thi triển thần công "Càn khôn đại na di" đẩy chưởng ra, biến lực rơi thẳng thành lực đẩy ngang, nên ai nấy đều thoát hiểm. Những người ấy tuy chưa phục hồi hoàn toàn công lực, song chỉ cần dăm sáu thành, thì bọn phiên tăng, võ sĩ cũng khó lòng địch nổi. Họ cướp ngay lấy binh khí của địch, hộ vệ xung quanh Trương Vô Kỵ. Thủ hạ của Vương Bảo Bảo và Triệu Mẫn xông tới ngăn chặn, đều bị Du Liên Châu, Hà Thái Xung, Ban Thục Nhàn.. đẩy lùi. Mỗi người trên tháp nhảy xuống, Trương Vô Kỵ lại có thêm một người tiếp tay. Những người này từ khi bị Triệu Mẫn giam giữ trên tháp đến giờ, ai cũng hứng chịu bao nhiêu nhục nhã, nhiều người đã bị chặt ngón tay, lúc này được sổ lồng, ai cũng đánh thí mạng, trong giây lát đã có hơn hai chục võ sĩ Mông Cổ chết ngổn ngang mặt đất.

Vương Bảo Bảo thấy tình thế xấu, hạ lệnh:

– Mau điều đội thân binh cung nỏ của ta tới đây!

Cáp tổng quản đang định đi truyền lệnh của tiểu vương gia, bỗng thấy phía đông nam lửa bốc ngút trời, vội hốt hoảng kêu lên:

– Tiểu vương gia, vương phủ bị cháy kìa! Chúng ta quay về bảo vệ vương gia thì hơn.

Vương Bảo Bảo lo lắng đến sự an nguy của cha, không còn bụng dạ nào nghĩ đến việc bắt giết bọn phản tặc, bèn nói:

– Muội tử, huynh về phủ trước, muội ở lại phải cẩn thận đấy!

Chẳng đợi Triệu Mẫn trả lời, gã quay đầu ngựa phóng đi liền.

Vương Bảo Bảo đi rồi, "Thập bát kim cương" cũng rút theo, bọn võ sĩ cũng bỏ về quá nửa. Bọn còn lại thấy vương phủ bị cháy, đâu biết rằng chỉ do một mình Vi Nhất Tiếu gây ra, cứ tưởng bọn phản tặc kéo đại đội binh mã đến tấn công vương phủ, tên nào tên nấy kinh hoàng.

Lúc này Tống Thanh Thư, Tống Viễn Kiều, Trương Tòng Khê, Mạc Thanh Cốc đều đã nhảy xuống khỏi tháp, đôi bên yếu mạnh giờ đã đổi chiều; đến khi Không Văn phương trượng, Không Trí đại sư cùng các cao tăng Đạt Ma đường và La Hán đường của Thiếu Lâm tự xuống cả rồi, thì đám võ sĩ của Triệu Mẫn không tài gì địch nổi.

Triệu Mẫn nghĩ bây giờ mình không rút đi, có khi lại bị phe bên kia bắt làm tù binh, bèn hạ lệnh:

– Các ngươi mau rút ra khỏi chùa Vạn An!

Rồi nàng quay sang nói với Trương Vô Kỵ:

– Hoàng hôn ngày mai, ta lại mời Trương công tử đi uống rượu, nhớ đến nhé!

Trương Vô Kỵ ngẩn ra, chưa kịp trả lời thì Triệu Mẫn đã mỉm cười, lui vào hậu điện chùa Vạn An.

Chỉ nghe Phạm Dao trên đỉnh tháp gọi to:

– Chu cô nương, mau nhảy xuống, lửa cháy đến nơi rồi, chẳng lẽ cô nương muốn làm mỹ nhân thui hay sao?

Chu Chỉ Nhược nói:

– Tiểu nữ phải theo sư phụ!

Diệt Tuyệt sư thái và Hạc Bút Ông đánh nhau một trận kịch liệt, mỗi khi khói lửa bén tới, thì họ lại nhảy lên tầng trên, cuối cùng đến tầng thứ mười. Công lực của bà chưa phục hồi hoàn toàn, nhưng bây giờ bà đã chẳng còn nghĩ gì đến chuyện sống chết, chưởng pháp chỉ công mà không thủ. Hạc Bút Ông thì một là vẫn lo ngay ngáy cho sư huynh, hai là bị thương chưa khỏi hẳn, ba là mới uống phải thuốc mê, huyệt đạo bị phong bế khá lâu nên chân tay chưa được linh hoạt, thành thử đôi bên không phân cao thấp. Diệt Tuyệt sư thái nghe tiếng đệ tử trả lời, bèn nói:

– Chỉ Nhược, mau nhảy xuống đi, đừng lo cho ta! Lão tặc này làm nhục ta quá thể, làm sao có thể tha chết cho lão?

Hạc Bút Ông thầm kêu khổ: "Mụ ni cô này toàn đánh kiểu thí mạng, ta cần cứu sư huynh, không lẽ bị chết thiêu cùng với mụ ta ở đây hay sao?" Lão bèn nói to:

– Diệt Tuyệt sư thái, câu nói ban nãy là do Khổ đầu đà nói ra, đâu dính dáng gì đến ta?

Diệt Tuyệt sư thái liền thu chưởng về, quay sang hỏi Phạm Dao:

– Tên đầu đà khốn kiếp kia, câu nói điên khùng đó có đúng là do ngươi nói ra hay không?

Phạm Dao cười rung cả mặt, hỏi lại:

– Câu nói điên khùng nào?

Câu hỏi này rõ ràng cốt để Diệt Tuyệt sư thái phải tự miệng mình nhắc lại câu: "Lão bảo ta và ngươi là người tình cũ, Chu Chỉ Nhược là con riêng của ta với ngươi". Thế nhưng hai câu ấy, làm sao bà thốt ra nổi? Nghe câu hỏi của Phạm Dao, bà đã biết là Hạc Bút Ông nói thật, thì giận điên người lên được.

Hạc Bút Ông thấy Diệt Tuyệt sư thái quay lưng về phía lão vừa lúc có một đám khói đen tràn tới, chính là cơ hội tốt để đánh lén, bèn giáng luôn một chưởng vào lưng bà. Chu Chỉ Nhược và Phạm Dao nhìn rất rõ, vội cùng kêu lên:

– Sư phụ, hãy coi chừng!

– Lão ni cô, cẩn thận kìa!

Diệt Tuyệt sư thái đánh một chưởng ra phía sau, nhưng đã không đỡ nổi âm dương song chưởng của Hạc Bút Ông. Tả chưởng của bà đụng vào tả chưởng của lão ta; còn Huyền Minh thần chưởng bên tay phải của lão thì giáng trúng vào lưng bà. Huyền Minh thần chưởng vô cùng lợi hại, năm xưa trên núi Võ Đang lão từng đối chưởng ngang ngửa với cả Trương Tam Phong. Diệt Tuyệt sư thái thân hình lảo đảo, ngã quỵ xuống. Chu Chỉ Nhược cả kinh, chạy lại đỡ sư phụ lên.

Phạm Dao cả giận, quát:

– Quân tiểu nhân đê tiện độc ác, còn để ngươi lại làm gì?

Nói xong bèn xách bọc chăn gói Lộc Trượng Khách và Hàn cơ quẳng ngay ra khỏi tháp. Hạc Bút Ông tình đồng môn sâu nặng, trong sát-na nguy cấp không kịp nghĩ ngợi gì cả, liền nhảy theo để chộp lấy Lộc Trượng Khách. Nhưng cái bọc đã văng quá xa, Hạc Bút Ông chỉ nắm được một góc, chính lão cũng rơi xuống theo.

Trương Vô Kỵ đứng bên dưới, do khói lửa không nhìn rõ mấy người cãi cọ nhau trên tháp, chỉ thấy một vật lớn cùng với một người từ trên cao rơi xuống. Vật kia không biết là gì, hình như bọc một người bên trong; còn người rơi cùng thì đã nhìn rõ là Hạc Bút Ông. Chàng biết lão ta chính là kẻ đã gây cho chàng bao nhiêu đau khổ hồi còn nhỏ, thậm chí lão ta còn dính dáng cả đến cái chết của cha mẹ chàng. Nhưng cuối cùng chàng không nỡ xuôi tay mặc cho lão rơi xuống nát thây, chàng bèn nhảy tới, hai tay chia ra, một đẩy vào bọc chăn, một đẩy Hạc Bút Ông, khiến cả hai văng ngang ra xa hơn ba trượng.

Hạc Bút Ông xoay người một cái đã đứng vững, trong bụng kêu thầm: "Hú vía!" Lão ta hoàn toàn không ngờ Trương Vô Kỵ lại lấy đức báo oán, cứu mạng lão. Lão quay sang phía sư huynh, thì cả kinh. Thì ra cái bọc chăn trúng chưởng của Trương Vô Kỵ, cái chăn bung ra, để lộ hai cơ thể trần như nhộng, rơi ngay vào đống lửa. Lộc Trượng Khách chưa được giải huyệt, không cử động được, tóc bị bén lửa cháy xèo xèo. Hạc Bút Ông kêu to:

– Sư ca!

Rồi xông vào đám lửa ôm Lộc Trượng Khách lên. Lão ta nhảy ra ngoài, chân chưa đứng vững, đã nghe tiếng Du Liên Châu quát:

– Hãy nếm một chưởng của ta!

Tả chưởng đánh ngay vào vai Hạc Bút Ông. Lão ta không dám chống trả, hạ vai xuống tránh; nhưng Du Liên Châu đã quen với ngón đòn này, dù lão ta đã trầm vai xuống né tránh, đòn của ông cũng xuống theo; chỉ nghe "bộp" một tiếng, Hạc Bút Ông đau vã mồ hôi lạnh, nhưng lúc này việc cứu sư huynh là trọng, lão ta vội ôm Lộc Trượng Khách mà phi thân vọt qua tường.

Lúc ấy một cây cột lớn đang cháy trên tháp rơi xuống, đè lên xác Hàn cơ, trong giây lát lửa bao phủ toàn thân nàng ta. Mọi người ở dưới chân tháp cùng gọi to:

– Nhảy xuống mau! Nhảy xuống mau!

Phạm Dao chạy qua chạy lại tránh lửa tạt. Sau khi cái xà ngang của tòa bảo tháp bị cháy và sụp xuống, gạch ngói rơi tung tóe, đỉnh tháp hơi lung lay, có thể đổ ụp không biết lúc nào.

Diệt Tuyệt sư thái xẵng giọng:

– Chỉ Nhược, nhảy xuống đi!

Chu Chỉ Nhược nói:

– Sư phụ nhảy trước, con sẽ xuống theo!

Diệt Tuyệt sư thái đột nhiên xông tới, giáng một chưởng vào vai trái của Phạm Dao, nói:

– Ác tặc Ma giáo, không thể nào tha cho ngươi được!

Phạm Dao cười một tràng dài, tung mình nhảy khỏi tháp. Trương Vô Kỵ đánh ra một chưởng, nhẹ nhàng đẩy y rơi ngang sang một bên, khen ngợi:

– Phạm hữu sứ, việc lớn đã xong, công của hữu sứ không nhỏ!

Phạm Dao đứng vững chân, nói:

– Nếu không có thần công cái thế của giáo chủ, hết thảy mọi người đã thành heo quay trên tháp cả rồi. Phạm Dao hành sự kém cỏi, có công cán gì?

Diệt Tuyệt sư thái giơ tay ôm Chu Chỉ Nhược nhảy xuống, lúc cách mặt đất hơn một trượng, bà vận sức vào hai tay tung nàng ngược lên cao mấy thước. Làm thế khiến cho Chu Chỉ Nhược như chỉ bị rơi từ trên cao một trượng, không nguy hiểm chút nào, trong khi Diệt Tuyệt sư thái rơi xuống càng nhanh hơn.

Trương Vô Kỵ bước tới, vận thần công "Càn khôn đại na di" đẩy vào sau lưng bà. Nào ngờ Diệt Tuyệt sư thái quyết ý không sống nữa, cũng không chịu ơn Minh giáo, thấy Trương Vô Kỵ đẩy chưởng tới bèn thu hết tàn lực đánh ngược lại một chưởng. Hai chưởng đụng nhau, nghe bốp một tiếng lớn, chưởng lực của Trương Vô Kỵ bị chưởng của bà đẩy chệch đi, "hịch" một cái, Diệt Tuyệt sư thái đã rơi thẳng xuống đất, xương sống gãy thành mấy đoạn. Trương Vô Kỵ thì bị chưởng của bà cộng với lực rơi khiến cho khí huyết trong ngực nhộn nhạo, phải lùi mấy bước, trong lòng không thể hiểu vì lẽ gì Diệt Tuyệt sư thái lại tự sát.

Chu Chỉ Nhược nhào tới ôm sư phụ khóc, gọi:

– Sư phụ, sư phụ!

Các đệ tử khác của phái Nga Mi cũng xúm quanh Diệt Tuyệt sư thái, ồn ã cả lên. Diệt Tuyệt sư thái nói:

– Chỉ Nhược, từ nay con là chưởng môn bản phái; việc ta muốn con làm, con sẽ không sai lời chứ?

Chu Chỉ Nhược khóc, đáp:

– Vâng, sư phụ, đệ tử nhớ rồi.

Diệt Tuyệt sư thái mỉm cười, nói:

– Như thế, ta chết cũng nhắm mắt được..

Lúc ấy Trương Vô Kỵ bước tới, giơ tay toan thăm mạch cho bà ta, Diệt Tuyệt sư thái đột nhiên xoay tay, bóp chặt cổ tay chàng, miệng rít lên:

– Tên dâm đồ Ma giáo, ngươi mà làm ô uế tấm thân trong trắng của ái đồ ta, ta làm ma cũng không tha cho ngươi..

Chữ "ngươi" sau cùng chưa ra khỏi miệng, bà đã tắt thở. Nhưng năm móng tay bà bấm vào cổ tay Trương Vô Kỵ đến bật máu ra.

Phạm Dao nói to:

– Mọi người hãy theo ta, ra cửa Tây thành tề tựu. Nếu còn chần chừ, e đại đội binh mã của gian vương kéo đến bây giờ.

Trương Vô Kỵ ôm xác Diệt Tuyệt sư thái lên, nói nhỏ:

– Ta đi thôi!

Chu Chỉ Nhược nhè nhẹ gỡ năm ngón tay sư phụ ra khỏi cổ tay chàng, đỡ lấy thi thể sư phụ, không nhìn chàng, đi thẳng ra cổng chùa.

Lúc này cao thủ các phái Côn Luân, Hoa Sơn, Không Động đều đã chạy đi như ong vỡ tổ; chỉ còn hai vị thần tăng phái Thiếu Lâm Không Văn, Không Trí vẫn giữ phong thái tiền bối, bước tới chắp tay cảm tạ Trương Vô Kỵ, nói vài lời thăm hỏi với Tống Viễn Kiều, Du Liên Châu, rồi mới rời khỏi chùa.

Trương Vô Kỵ thi triển thần công "Càn khôn đại na di" giúp cho cao thủ sáu đại môn phái xuống khỏi tháp an toàn, đã hao tổn hầu hết nội lực; sau cùng lại phải đối chưởng với Diệt Tuyệt sư thái, khiến nguyên khí tổn thương nghiêm trọng, lúc này cơ hồ không bước nổi nữa. Mạc Thanh Cốc phải cõng chàng. Trương Vô Kỵ ngầm vận "Cửu dương thần công", nội lực mới dần dần phục hồi.

*

* *

Trời hửng sáng thì quần hùng tới cửa Tây, đánh đuổi bọn quan binh giữ cổng thành, chạy ra khỏi thành mấy dặm. Dương Tiêu đã đem các cỗ xe ngựa tới đón, mừng mọi người thoát cơn hoạn nạn.

Không Văn đại sư nói:

– Hôm nay nếu không được Trương giáo chủ và các vị Minh giáo cứu giúp, thì vận mệnh của sáu đại môn phái Trung nguyên không biết sẽ thế nào. Đại ân không thể cảm tạ bằng lời là đủ, kế sách từ nay tất cả mọi người cần làm thế nào, xin Trương giáo chủ chủ trì hộ cho.

Trương Vô Kỵ nói:

– Tại hạ kiến thức nông cạn, đâu dám có chủ ý gì; những mong phương trượng Thiếu Lâm tự ra lệnh cho.

Không Văn đại sư nhất quyết không nhận. Trương Tòng Khê nói:

– Chỗ này cách kinh thành không xa. Chúng ta vừa quậy phá kinh đô Thát tử một phen long trời lở đất, gian vương há chịu bỏ qua? Khi chúng dập xong lửa ở vương phủ, thể nào cũng đem binh mã truy đuổi. Chúng ta hãy rời xa nơi đây, để sau bàn tính cũng được.

Hà Thái Xung nói:

– Gian vương mà đem binh mã đuổi theo thì còn gì hay bằng, mình sẽ đánh cho chúng một trận tơi bời hoa lá, cho hả cơn giận bấy nay.

Trương Tòng Khê nói:

– Công lực của mọi người chưa hoàn toàn phục hồi, việc đánh giết Thát tử không phải chỉ làm vội một ngày hôm nay, chúng ta tạm lánh đi thì hơn.

Không Văn đại sư nói:

– Trương tứ hiệp nói chí phải, nếu bây giờ đánh giết bọn Thát tử, phe ta cũng sẽ thương vong không ít, nên tạm lánh đi thì hơn.

Lời của vị chưởng môn phái Thiếu Lâm nói ra bao giờ cũng có sức nặng, bởi thế không ai bàn ra tán vào nữa. Không Văn đại sư lại hỏi:

– Trương tứ hiệp, theo cao kiến của ông, chúng ta nên tạm lánh về hướng nào?

Trương Tòng Khê đáp:

– Bọn Thát tử sẽ đoán chúng ta chỉ đi về hướng nam hoặc hướng đông nam. Vậy chúng ta hãy đi về hướng tây bắc.

Mọi người đều ngẩn ra, Dương Tiêu vỗ tay, nói:

– Trương tứ hiệp thực là cao kiến. Vùng tây bắc đất rộng người thưa, dễ tìm được một vùng hoang sơn để trú ẩn một thời gian; bọn Thát tử sẽ không thể ngờ được.

Mọi người càng nghĩ càng thấy kế của Trương Tòng Khê rất hay, bèn quay ngựa chạy về hướng tây bắc.

Đi được hơn năm chục dặm, quần hùng dừng nghỉ trong một thung lũng. Dương Tiêu đã mua sẵn rượu thịt, lương khô, chẳng thiếu món gì. Mọi người nhắc lại chuyện thoát khỏi cơn nguy khốn vừa qua, ai cũng bảo toàn là nhờ vào sự cứu giúp của Trương Vô Kỵ và Phạm Dao.

Đến đây, Chu Chỉ Nhược và đệ tử phái Nga Mi mới đem xác Diệt Tuyệt sư thái đi hỏa táng. Không Văn, Không Trí, Tống Viễn Kiều, Trương Vô Kỵ đều tới viếng chia buồn. Diệt Tuyệt sư thái là một vị đại hiệp tuy tính nết khác thường, nhưng bình sinh hành hiệp trượng nghĩa, đầy chính khí, trong võ lâm ai ai cũng kính nể. Các đệ tử phái Nga Mi khóc lóc thảm thiết, nhiều người cũng mủi lòng.

Không Văn đại sư lớn tiếng nói:

– Người chết rồi chẳng thể phục sinh, chư hiệp phái Nga Mi nếu kế thừa chí hướng của sư thái, thì sư thái như vẫn còn sống vậy. Lần này chúng ta bị kẻ gian hạ độc, ai cũng thiệt thòi. Không Tính sư đệ của bản phái cũng bị bọn Thát tử sát hại, mối thù này không thể không báo; nhưng báo thù bằng cách nào thì phải bàn nhau cho kỹ.

Không Trí đại sư tiếp lời:

– Sáu đại môn phái Trung nguyên vốn thù địch với Minh giáo, nay Trương giáo chủ lấy đức báo oán, ra tay cứu chúng ta, bao nhiêu hiềm thù cũ từ nay xóa sạch. Từ nay trở đi mọi người hãy đồng tâm hiệp lực, đánh đuổi bọn Hồ Lỗ.

Tất cả khen phải. Nhưng khi bàn tới cách báo thù, thì bàn mãi các môn phái vẫn không nhất trí được với nhau. Cuối cùng Không Văn đại sư nói:

– Việc này không thể quyết định nhất thời. Chúng ta hãy nghỉ ngơi ít ngày, chia nhau ra về; sau này sẽ lại cùng nhau bàn tính để tìm ra phương sách hay nhất.

Mọi người đều gật đầu khen phải.

Trương Vô Kỵ nói:

– Hiện nay đại sự đã xong, tại hạ có chút việc riêng, phải quay lại Đại Đô một chuyến; xin từ biệt các vị. Từ nay sẽ cùng với các vị nắm tay kề vai, sống mái một phen với bọn Thát tử.

Quần hào nhất tề hô to:

– Mọi người hãy cùng nắm tay kề vai, sống mái một phen với bọn Thát tử!

Tiếng hô vang trời, rung chuyển cả thung lũng. Mọi người tiễn chàng ra cửa thung. Trương Vô Kỵ hành lễ cáo biệt. Dương Tiêu nói:

– Giáo chủ là hi vọng của anh hùng thiên hạ, xin hãy gắng bảo trọng.

Trương Vô Kỵ nói:

– Bản nhân hiểu rồi.

Đoạn chàng giục ngựa chạy về hướng nam.

Comments

Comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 28: Tử Sam long vương ân đoạn nghĩa tuyệt

Gần tới Đại Đô, Trương Vô Kỵ nghĩ thầm trong trận chiến đêm qua ở chùa Vạn An, rất nhiều võ sĩ thuộc hạ của Nhữ Dương Vương đã biết mặt chàng, chạm trán với chúng sẽ rất bất tiện; thế là chàng ghé vào một gia đình nông phu mua một bộ quần áo cũ thay vào, đầu đội thêm cái nón lá, lấy tro than xoa mặt và tay cho đen đúa, rồi mới đi vào thành.

Chàng trở lại khách điếm ở phía tây kinh đô, nhìn bốn bề không thấy có gì lạ, mới lẻn nhanh vào phòng mình. Tiểu Chiêu đang ngồi bên song cửa đan áo, thấy chàng bước vào thì giật mình, một lát mới nhận ra, vẻ mặt mừng rỡ, tươi tắn như bông hoa xuân chớm nở, nói:

– Công tử gia, tiểu nữ cứ ngỡ là một anh nhà quê nào vào nhầm phòng, ai ngờ lại là công tử.

Trương Vô Kỵ cười hỏi:

– Cô nương đang làm gì đấy? Ở một mình có buồn không?

Tiểu Chiêu đỏ mặt, giấu chiếc áo len đan dở ra sau lưng, e thẹn nói:

– Tiểu nữ tập đan áo, chưa cho xem được.

Nàng giấu cái áo xuống dưới gối, rót trà cho Trương Vô Kỵ, thấy mặt chàng lem luốc, cười hỏi:

– Công tử không rửa mặt hay sao?

Trương Vô Kỵ mỉm cười:

– Ta cố ý bôi lem, đâu cần rửa.

Chàng bưng chén trà lên, nghĩ thầm: "Triệu cô nương muốn ta đưa nàng đi mượn thanh đao Đồ Long. Đại trượng phu một lời nặng như núi, không thể thất tín với người khác. Huống hồ mình cũng đang định đi mời nghĩa phụ trở về Trung thổ. Nghĩa phụ vốn e ngại có quá nhiều kẻ thù, mắt bị lòa không thể đối phó nổi. Nhưng bây giờ quần hào võ lâm đồng tâm kháng Hồ, mọi thù oán riêng tư đều được cởi bỏ hết. Chỉ cần có ta ở bên cạnh lão nhân gia thì không ai dám động tới sợi tóc của nghĩa phụ ta. Biển cả sóng to gió lớn nhiều hung hiểm, cô bé Tiểu Chiêu không thể đi cùng. Được, có cách rồi, ta sẽ nhờ Triệu Mẫn đem Tiểu Chiêu vào gửi trong vương phủ, còn an toàn bằng mấy ở nơi khác".

Tiểu Chiêu thấy chàng tự nhiên tủm tỉm cười, bèn hỏi:

– Công tử nghĩ gì vậy?

Trương Vô Kỵ nói:

– Ta cần đến một chốn thật xa, xa vô cùng, không tiện đem cô nương đi theo. Ta vừa nghĩ ra một nơi có thể gửi cô nương ở tạm đó.

Tiểu Chiêu mặt liền biến sắc, nói:

– Công tử gia, tiểu nữ nhất định đi theo công tử, tiểu nữ muốn được ngày ngày hầu hạ công tử.

Trương Vô Kỵ khuyên:

– Ta chỉ mong tốt lành cho cô nương thôi. Ta phải đi một chuyến rất xa, rất nguy hiểm, không biết bao giờ mới trở về.

Tiểu Chiêu nói:

– Bữa ở trong đường hầm trên đỉnh Quang Minh, tiểu nữ đã quyết ý công tử đi đâu, tiểu nữ theo đó, trừ phi công tử giết tiểu nữ đi thì đành chịu. Công tử chán ghét tiểu nữ, không muốn tiểu nữ ở bên cạnh ư?

Trương Vô Kỵ nói:

– Không, không phải thế! Cô nương biết ta thích cô nương mà, ta chỉ không muốn cô nương phải mạo hiểm vô ích thôi. Khi nào trở về, ta sẽ tìm cô nương ngay.

Tiểu Chiêu lắc đầu:

– Chỉ cần được ở bên cạnh công tử, thì nguy hiểm đến mấy tiểu nữ cũng không sợ. Công tử hãy cho tiểu nữ theo cùng!

Trương Vô Kỵ cầm tay Tiểu Chiêu, nói:

– Tiểu Chiêu, ta cũng không giấu cô nương nữa, ta đã nhận lời đưa Triệu cô nương đi ra hải ngoại một chuyến. Biển cả mênh mông, ngày ngày sóng to gió lớn, phần ta không đi không được, chứ cô nương mạo hiểm như thế chẳng có ích gì.

Tiểu Chiêu đỏ mặt, nói:

– Nếu công tử đi chung với Triệu cô nương, thì tiểu nữ lại càng phải ở bên cạnh công tử.

Nói xong câu đó, nàng đã nước mắt lưng tròng. Trương Vô Kỵ nói:

– Tại sao cô nương lại càng phải ở bên ta?

Tiểu Chiêu đáp:

– Cô nương họ Triệu ấy tâm địa độc ác, ai biết nàng ta sẽ đối xử thế nào với công tử? Tiểu nữ phải đi cùng để còn có người hầu hạ công tử.

Trương Vô Kỵ chột dạ: "Không lẽ cô bé này cũng có tình ý với mình hay sao?" Chàng thấy lời của nàng rất chân thành thì cảm kích, mỉm cười:

– Thôi được, cô nương đi theo cũng không sao, giữa biển gặp gió to sóng lớn đừng có mà kêu khổ đấy.

Tiểu Chiêu cả mừng, vâng dạ rối rít, nói:

– Nếu tiểu nữ làm cho công tử bực mình, thì công tử cứ việc ném tiểu nữ xuống biển làm mồi cho cá!

Trương Vô Kỵ cười:

– Làm sao ta bỏ cô nương cho đành?

Hai người tuy ở bên nhau lâu ngày, có khi trên đường chỗ ăn ở không tiện, hai người ở chung một phòng, nhưng Tiểu Chiêu tự coi mình là phận tôi tớ, còn Trương Vô Kỵ thì không hề bông đùa cợt nhả một câu nào, vừa rồi chàng buột miệng nói "Làm sao ta bỏ cô nương cho đành?" liền biết là đã lỡ lời, bất giác đỏ mặt, quay đầu nhìn ra cửa sổ. Tiểu Chiêu thì nhè nhẹ thở dài, đến ngồi bên chàng.

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Sao cô nương lại thở dài?

Tiểu Chiêu nói:

– Số người mà công tử không đành bỏ thì nhiều đấy. Chu cô nương phái Nga Mi này, quận chúa nương nương của phủ Nhữ Dương Vương này, mai sau không biết còn bao nhiêu cô nương nữa. Khi đó liệu công tử có còn nhớ đến con hầu này chăng?

Trương Vô Kỵ nhìn thẳng vào mặt nàng, nói:

– Tiểu Chiêu, lâu nay cô nương luôn luôn chu đáo với ta, sao ta chẳng biết? Chẳng lẽ ta lại là kẻ vong ân bội nghĩa, không biết người tốt kẻ xấu hay sao?

Chàng nói hai câu này với vẻ mặt trân trọng, hết sức thành thực.

Tiểu Chiêu vừa thẹn, vừa thích, cúi đầu, nói:

– Tiểu nữ không dám mong gì nhiều, chỉ mong công tử cho phép tiểu nữ được mãi mãi làm một tiểu a hoàn hầu hạ công tử, thế là mãn nguyện rồi. Đêm qua công tử không ngủ, chắc mệt lắm rồi, công tử hãy đi nằm nghỉ một lát đi.

Nói rồi nàng trải giường, hầu chàng đi nằm, còn mình thì ra ngồi bên cửa sổ, tiếp tục đan áo.

Trương Vô Kỵ nghe tiếng xích sắt ở hai tay nàng kêu lanh canh, cảm thấy trong lòng bình an nhẹ nhõm, chẳng mấy chốc đã ngủ thiếp đi.

Chàng ngủ một mạch đến gần tối mới dậy, ăn một tô mì, rồi nói:

– Tiểu Chiêu, ta đưa cô nương đi gặp Triệu cô nương, mượn kiếm Ỷ Thiên chặt dây xích cho cô nương.

Hai người đi ra đường, thấy binh lính Mông Cổ phóng ngựa qua lại, canh phòng rất nghiêm; chắc là vì chuyện đêm qua phủ Nhữ Dương Vương bị đốt, chùa Vạn An đại loạn. Mỗi khi nghe tiếng vó ngựa, hai người lại nép mình vào góc khuất để quân Nguyên khỏi trông thấy, chẳng bao lâu đã tới cái quán rượu nhỏ nọ.

Trương Vô Kỵ dẫn Tiểu Chiêu vào trong quán, đã thấy Triệu Mẫn ngồi ở bàn hai người từng ngồi tối hôm qua, tủm tỉm cười, đứng dậy, nói:

– Trương công tử quả là người thủ tín.

Trương Vô Kỵ thấy nàng thần sắc như thường, không có vẻ gì khó chịu về chuyện đêm qua, thì nghĩ thầm: "Cô gái này quả thật bản lĩnh cao cường; về lý mà xét, ta sai người giết ái thiếp của cha nàng, lại giải thoát hết cao thủ của sáu đại môn phái mà nàng tốn bao công sức mới bắt được, đáng lẽ nàng phải giận ta lắm, đằng này vẫn bình thản như thường, không biết nàng sẽ làm gì đây?"

Thấy trên bàn đã bày sẵn hai cái bát, hai đôi đũa, chàng bèn cúi mình một cái, ngồi xuống, Tiểu Chiêu thì đứng hầu ở xa xa.

Trương Vô Kỵ ôm quyền nói:

– Triệu cô nương, việc đêm qua tại hạ quả là đắc tội, mong cô nương lượng thứ.

Triệu Mẫn cười nói:

– Cái nàng Hàn cơ õng à õng ẹo của cha ta, ta vừa gặp đã khó chịu. Đa tạ công tử đã sai người giết đi; mẹ ta khen công tử quá tài giỏi đấy.

Trương Vô Kỵ ngạc nhiên, không ngờ kết quả lại bất ngờ ngoài dự liệu. Triệu Mẫn nói tiếp:

– Bọn người ấy công tử cứu họ ra cũng tốt, bằng không họ chả chịu quy hàng, ta có giữ họ lại cũng chẳng ích gì. Công tử cứu họ ra, hẳn là họ biết ơn công tử hết mực. Từ nay uy danh của công tử trong võ lâm Trung nguyên không có ai sánh kịp công tử. Vậy ta kính mừng Trương công tử một chén!

Nói rồi nàng mỉm cười, nâng chén rượu lên.

Vừa lúc đó từ bên ngoài có một người bước vào, chính là Phạm Dao. Phạm Dao hành lễ với Trương Vô Kỵ, sau đó cung kính vái Triệu Mẫn, nói:

– Quận chúa, Khổ đầu đà xin cáo từ.

Triệu Mẫn không thèm đáp lễ, lạnh lùng nói:

– Khổ đại sư, ông đánh lừa ta giỏi lắm. Quận chúa của ông bị một phen nhớ đời.

Phạm Dao đứng thẳng người dậy, ngang nhiên nói:

– Khổ đầu đà họ Phạm tên Dao, là Quang Minh hữu sứ của Minh giáo. Triều đình với Minh giáo là thù địch, bản nhân trà trộn vào phủ Nhữ Dương Vương, tất có mục đích riêng; may được quận chúa dùng lễ đối đãi, nay đến để cáo biệt.

Triệu Mẫn lạnh lùng nói:

– Đại sư muốn đi thì đi, hà tất phải đa lễ?

Phạm Dao nói:

– Đại trượng phu hành sự quang minh lỗi lạc, từ nay trở đi, tại hạ đối địch với quận chúa; nếu không cáo từ minh bạch, chẳng hóa ra phụ tấm lòng tử tế bấy nay của quận chúa.

Triệu Mẫn nhìn Trương Vô Kỵ, hỏi:

– Công tử có bản lĩnh gì mà thuộc hạ nào cũng tận tâm trung thành đến thế?

Trương Vô Kỵ nói:

– Chúng tôi đều vì nước vì dân, vì nhân hiệp, vì nghĩa khí. Phạm hữu sứ và ta vốn không quen biết nhau, nhưng vừa gặp đã thân thiết, hết lòng lo liệu cho nhau, không uổng cái nghĩa huynh đệ.

Phạm Dao cười ha hả, nói:

– Mấy lời của giáo chủ quả nói đúng tâm can của thuộc hạ. Xin giáo chủ hãy bảo trọng, vị quận chúa nương nương này tuy ít tuổi nhưng tàn ác xảo quyệt vô cùng. Giáo chủ quá tốt bụng, chớ có mắc lừa nàng ta.

Trương Vô Kỵ nói:

– Phải, bản nhân không dám khinh suất.

Triệu Mẫn cười:

– Đa tạ Khổ đại sư quá khen.

Phạm Dao quay người ra khỏi quán rượu, lúc ngang qua chỗ Tiểu Chiêu, y đột nhiên giật mình, lộ vẻ kinh ngạc lạ thường, cứ như trông thấy ma quỷ hiện hình không bằng, kêu lên lạc cả giọng:

– Ngươi.. ngươi.. Tiểu Chiêu lấy làm lạ, hỏi:

– Gì vậy?

Phạm Dao ngẩn người nhìn một hồi, rồi lắc đầu:

– Không phải.. không phải người ấy.. ta nhìn lầm.

Y thở dài, vẻ rầu rĩ, đẩy cửa bước ra, miệng lẩm bẩm:

– Giống quá, giống quá đi mất.

Triệu Mẫn và Trương Vô Kỵ nhìn nhau, không hiểu y bảo Tiểu Chiêu giống ai.

Bỗng nghe từ xa vọng tới mấy tiếng tiêu, ba tiếng dài, hai tiếng ngắn, âm thanh chói tai. Trương Vô Kỵ ngạc nhiên, nghĩ đây chính là tín hiệu triệu tập đồng môn của phái Nga Mi. Hồi trước ở Tây Vực chàng sống trong đoàn người phái Nga Mi mấy ngày, đã vài lần nghe họ dùng tín hiệu này để liên lạc với nhau. Chàng nghĩ thầm: "Tại sao phái Nga Mi quay lại Đại Đô? Không lẽ họ gặp địch nhân?" Triệu Mẫn nói:

– Đấy là phái Nga Mi, dường như họ gặp chuyện khẩn cấp, chúng ta đi xem thử nhé?

Trương Vô Kỵ ngạc nhiên hỏi:

– Cô nương cũng biết ư?

Triệu Mẫn cười đáp:

– Ta ở Tây Vực từng dẫn người đuổi theo họ bốn ngày bốn đêm, cuối cùng bắt được Diệt Tuyệt sư thái, sao lại không biết?

Trương Vô Kỵ nói:

– Được, vậy mình đi xem sao. Triệu cô nương, ta nhờ cô nương giúp trước một việc, hãy cho ta mượn kiếm Ỷ Thiên một chút.

Triệu Mẫn cười nói:

– Công tử còn chưa mượn thanh đao Đồ Long cho ta, đã đòi mượn kiếm Ỷ Thiên của ta, coi như công tử là người khôn hơn.

Nàng cởi thanh bảo kiếm đeo bên hông đưa cho Trương Vô Kỵ.

Trương Vô Kỵ rút kiếm khỏi bao, gọi:

– Tiểu Chiêu, lại đây.

Tiểu Chiêu tới trước mặt chàng, Trương Vô Kỵ vung kiếm, nghe loảng xoảng mấy tiếng nhỏ, dây xích trói buộc chân tay Tiểu Chiêu đứt rời, rơi xuống đất. Tiểu Chiêu quỳ xuống, nói:

– Đa tạ công tử, đa tạ quận chúa.

Triệu Mẫn cười, nói:

– Cô bé này xinh quá. Giáo chủ hẳn là thích lắm.

Tiểu Chiêu đỏ mặt, mắt sáng lên niềm vui cao độ.

Trương Vô Kỵ tra kiếm vào vỏ, trả lại Triệu Mẫn, nghe tiếng tiêu của phái Nga Mi vọng thẳng về hướng đông bắc, bèn nói:

– Ta đi thôi.

Triệu Mẫn lấy ra một đĩnh bạc nhỏ ném xuống bàn, quay mình ra khỏi tửu điếm. Trương Vô Kỵ sợ Tiểu Chiêu không theo kịp, bèn tay phải nắm tay cô bé, tay trái đỡ ngang lưng, bám sát ngay phía sau Triệu Mẫn. Chạy độ hơn chục trượng, thấy thân hình Tiểu Chiêu nhẹ lâng lâng, cước bộ di động hết sức nhanh nhẹn, chàng hơi lấy làm lạ, tay không đỡ lưng nàng nữa, song Tiểu Chiêu vẫn đi ngang với chàng, không hề bị tụt lại sau. Tuy chàng chưa thi triển khinh công thượng thừa, nhưng đã chạy cực nhanh, mà Tiểu Chiêu vẫn theo kịp như thường.

Chẳng mấy chốc Triệu Mẫn đã vượt qua mấy con đường nhỏ vắng vẻ, đến bên ngoài một ngôi nhà có tường bao quanh. Trương Vô Kỵ nghe loáng thoáng bên trong có tiếng tranh cãi, biết là người của phái

Nga Mi đang ở đây, bèn nắm tay Tiểu Chiêu nhảy qua tường, trong đêm tối đáp xuống không một tiếng động. Triệu Mẫn cũng nhảy vào theo, ba người nằm phục trong đám cỏ cao.

*

* *

Ở phía bắc khu vườn hoang có một tòa lương đình đổ nát, bên trong tụ tập đến hơn hai chục người. Chỉ nghe giọng nói của một nữ nhân:

– Ngươi là đệ tử ít tuổi nhất của bản môn, từ phong thái đến võ công đều không có điểm nào xứng đáng chức chưởng môn cả..

Trương Vô Kỵ nhận ra đó là giọng nói của Đinh Mẫn Quân, bèn bò lại gần hơn, cách đám đông vài trượng mới dừng lại. Dưới ánh sao mờ, căng mắt nhìn, thấy trong đó có cả nam lẫn nữ, đều là đệ tử phái Nga Mi, ngoài Đinh Mẫn Quân ra, các đại đệ tử khác của Diệt Tuyệt sư thái hình như cũng đều hiện diện. Đứng hàng đầu bên trái có một thiếu nữ dong dỏng cao, quần xanh dài chấm đất, chính là Chu Chỉ Nhược. Chỉ nghe giọng Đinh Mẫn Quân gay gắt giục:

– Ngươi nói đi, nói đi!

Chu Chỉ Nhược thong thả nói:

– Đinh sư tỷ nói rất phải, tiểu muội là đệ tử ít tuổi nhất của bản môn, bất luận phong thái, võ công, tài năng, phẩm hạnh đều không có điểm nào xứng đáng làm chưởng môn bản phái. Sư phụ ra lệnh buộc tiểu muội gánh vác đại nhiệm, tiểu muội đã một mực chối từ, nhưng tiên sư nặng lời quở trách, buộc tiểu muội phải thề độc không được làm trái lời sư phụ dặn dò.

Đại đệ tử phái Nga Mi là Tĩnh Huyền nói:

– Sư phụ anh minh, đã hạ lệnh cho Chu sư muội tiếp nhiệm chức chưởng môn, tất là có thâm ý. Bọn ta ai ai cũng chịu đại ân tài bồi của sư phụ, phải tôn cử di chí của lão nhân gia, đồng lòng phò tá Chu sư muội, làm rạng rỡ võ đức của bản môn.

Đinh Mẫn Quân cười khẩy, nói:

– Tĩnh Huyền sư tỷ bảo sư phụ "tất là có thâm ý", năm chữ "tất là có thâm ý" quả nói rất đúng. Bọn ta khi ở trên tháp cao chùa Vạn An chẳng phải đều đã nghe Khổ đầu đà và Hạc Bút Ông lớn tiếng nói với nhau những gì đó sao? Cha mẹ của Chu sư muội là ai, tại sao sư phụ lại đối xử đặc biệt với Chu sư muội, chẳng đã rõ rành rành đó sao?

Khổ đầu đà nói với Lộc Trượng Khách, rằng Diệt Tuyệt sư thái là người tình cũ của y, Chu Chỉ Nhược là con riêng của hai người, chẳng qua là do cái tính tà ma ngoại đạo nổi lên, y thuận miệng nói giỡn chơi. Hạc Bút Ông lại đi công khai nói ra như chuyện nghiêm túc, người ngoài nghe thấy, tuy không tin hoàn toàn, song cũng không khỏi nghi ngờ. Chuyện tư tình nam nữ, người đời thường tin là có nhiều hơn là không có; mà Diệt Tuyệt sư thái lại đặc biệt thương yêu Chu Chỉ Nhược, các đệ tử không hiểu vì sao, thành thử mấy chữ "là con riêng" nghe có lý hơn cả. Mọi người nghe Đinh Mẫn Quân nói mấy câu vừa rồi đều lặng thinh.

Chu Chỉ Nhược nói, giọng run run:

– Đinh sư tỷ, nếu sư tỷ không phục việc tiểu muội tiếp nhiệm chức chưởng môn, thì cứ nói thẳng ra. Chứ sư tỷ hồ ngôn loạn ngữ, bôi nhọ thanh danh cả đời của sư phụ, thì cái đó tội gì? Tiên phụ của tiểu muội họ Chu, là một người làm nghề lái đò trên sông Hán Thủy, không biết chút võ công nào cả. Tiên mẫu họ Tiết, tổ tiên cũng là thế gia, quê ở Tương Dương, khi thành Tương Dương bị thất thủ, thì chạy xuống phía nam, lưu lạc không nơi nương tựa, đã kết duyên với tiên phụ. Tiểu muội may mắn được Trương chân nhân phái Võ Đang tiến dẫn, trở thành môn hạ phái Nga Mi, trước đó chưa hề gặp qua sư phụ. Sư tỷ chịu ơn lớn của sư phụ, nay lão nhân gia vừa quy tiên, đã mở miệng ăn nói những lời như thế, còn.. thì..

Nói tới đây, giọng nàng nghẹn ngào, nước mắt ròng ròng, không nói được nữa.

Đinh Mẫn Quân cười khẩy:

– Ngươi muốn tiếp nhiệm chức chưởng môn, còn chưa được đồng môn công nhận, thân phận còn mù mờ, đã đòi tác uy tác phúc, bảo ta làm bại hoại thanh danh sư phụ, tội này tội nọ. Ngươi định trị tội ta phải không? Vậy ta hỏi ngươi, ngươi đã nhận lời sư phụ nhận chức chưởng môn, lý ra phải lập tức trở về núi Nga Mi. Sư phụ tạ thế, bản phái có biết bao nhiêu việc cần vị chưởng môn xử lý. Thế mà ngươi lại một mình trở lại Đại Đô là vì sao?

Chu Chỉ Nhược nói:

– Sư phụ giao cho tiểu muội một việc cực kỳ hệ trọng, tiểu muội không thể không quay lại Đại Đô.

Đinh Mẫn Quân hỏi:

– Đó là việc gì? Ở đây toàn là đồng môn bản phái, không có người ngoài, sao ngươi không nói rõ ra?

Chu Chỉ Nhược nói:

– Đó là bí mật lớn nhất của bản phái, chỉ người chưởng môn được biết, không thể nói cho bất cứ ai khác.

Đinh Mẫn Quân lại cười mỉa:

– Gớm chưa, cái gì ngươi cũng vin vào hai chữ "chưởng môn", không lừa nổi ta đâu. Ta hỏi ngươi: Bản phái với Ma giáo thù sâu như bể, biết bao đồng môn bản phái đã bỏ mạng bởi tay Ma giáo; giáo chúng Ma giáo chết dưới kiếm của sư phụ cũng không phải ít. Sư phụ sở dĩ qua đời, chỉ vì không muốn để cho giáo chủ Ma giáo đỡ cho. Vậy mà hài cốt của sư phụ chưa lạnh, ngươi đã lẻn đi tìm tên tiểu dâm tặc họ Trương, hiện là đại ma đầu giáo chủ, là thế nào?

Mấy câu sau cùng Trương Vô Kỵ nghe mà không khỏi chột dạ. Lúc đó chàng thấy có một ngón tay mềm mại quẹt quẹt nhẹ vào má trái chàng, chính là Triệu Mẫn ở bên cạnh trêu chọc. Trương Vô Kỵ đỏ mặt, nghĩ thầm: "Chẳng lẽ Chu cô nương đi tìm ta thật ư?"

Chỉ nghe Chu Chỉ Nhược ấp úng nói:

– Sư tỷ.. lại nói năng lung tung..

Đinh Mẫn Quân lớn tiếng nói:

– Ngươi còn chối nữa ư? Ngươi bảo mọi người cứ về núi Nga Mi trước, bọn ta hỏi ngươi trở lại Đại Đô có việc gì, ngươi ấp úng không chịu nói ra. Các đồng môn biết có chuyện không hay, mới lén theo sau xem thế nào. Ngươi đến hỏi cha ngươi là Khổ đầu đà về chỗ ở của tên tiểu dâm tặc, ngươi tưởng bọn ta không biết chắc? Ngươi đến khách điếm tìm tên tiểu dâm tặc, tưởng bọn ta không biết chắc?

Mụ ta cứ nhắc đi nhắc lại bốn chữ "tên tiểu dâm tặc", Trương Vô Kỵ cố nhịn đến mấy cũng bực mình lắm, đột nhiên cảm thấy có ai phà hơi vào sau gáy, biết ngay là Triệu Mẫn lại cười trêu chàng.

Đinh Mẫn Quân nói tiếp:

– Ngươi muốn tìm ai trò chuyện, muốn tằng tịu với ai, người ngoài chả rỗi hơi để ý làm gì. Đằng này tên tiểu dâm tặc Trương Vô Kỵ là kẻ đối đầu sinh tử với bản phái, vậy mà đêm qua khi tất cả mọi người chạy ra khỏi Đại Đô, suốt dọc đường ngươi cứ đắm đuối nhìn hắn; hắn tới đâu, ngươi liếc theo đó; việc đó chẳng phải ta đặt điều cho ngươi, mà các đồng môn đều chính mắt nhìn thấy cả. Cái lần ở trên đỉnh Quang Minh, tiên sư bảo ngươi đâm hắn một kiếm, hắn chẳng né tránh thì thôi, lại còn cười tít mắt lên với ngươi. Còn ngươi thì cũng liếc mắt đưa tình với hắn, chỉ chọc khẽ một cái như gãi ngứa. Kiếm Ỷ Thiên sắc bén là thế, nếu đâm thật, sao hắn lại không chết? Nếu bên trong không có tư tình, ai mà tin nổi kia chứ?

Chu Chỉ Nhược khóc òa lên, nói:

– Ai liếc mắt đưa tình bao giờ? Sư tỷ chớ có dùng những lời khó nghe ấy để vu cho người khác.

Đinh Mẫn Quân cười mỉa mai:

– Ta nói những lời khó nghe, thế sao những việc ngươi làm không sợ người ta bảo là khó coi? Ngươi tưởng lời của ngươi dễ nghe lắm chắc? Hừ, tại khách điếm ngươi đã hỏi gã chưởng quỹ thế nào? "Làm ơn cho hỏi, ở đây có vị khách họ Trương hay không? À, trạc hai mươi tuổi, dong dỏng cao, cũng có thể vị khách ấy dùng họ khác cũng nên".

Đinh Mẫn Quân bắt chước giọng nói của Chu Chỉ Nhược nói ngập ngà ngập ngừng, lại cố ý làm điệu bộ õng ẹo cho người nghe thêm ghét.

Trương Vô Kỵ tức giận, nghĩ thầm Đinh Mẫn Quân là kẻ điêu ngoa tai ác nhất trong phái Nga Mi, Chu Chỉ Nhược hiền lành mềm yếu, không phải là đối thủ của mụ ta; nhưng nếu mình xuất hiện bênh vực cho nàng, thì một là chuyện riêng của phái Nga Mi, người ngoài không tiện xen vào; hai là như thế càng đẩy Chu Chỉ Nhược vào thế bất lợi; thành thử nhìn thấy nàng bị dồn vào chân tường mà đành bó tay.

Đại đa số đệ tử phái Nga Mi vốn tôn trọng di mệnh của sư phụ để Chu Chỉ Nhược làm chưởng môn; nhưng nay nghe Đinh Mẫn Quân nói năng sắc bén, hợp tình hợp lý, thì đều nghĩ thầm: "Sư phụ và Ma giáo có thù oán sâu xa, Chu sư muội lại có quan hệ bất thường với giáo chủ Ma giáo như vậy, lỡ nàng ta đem bản phái bán đứt cho Ma giáo thì làm sao đây?"

Lại nghe Đinh Mẫn Quân nói:

– Chu sư muội, ngươi do Trương chân nhân phái Võ Đang dẫn nhập làm môn hạ của sư phụ, mà tên tiểu dâm tặc kia chính là con của Trương ngũ hiệp phái Võ Đang. Chuyện này bên trong chứa đựng âm mưu quái dị gì, ai mà biết được.

Đoạn mụ ta cao giọng, nói:

– Các vị sư huynh sư tỷ, sư đệ sư muội, sư phụ tuy có di ngôn bảo Chu sư muội tiếp nhiệm chức chưởng môn, nhưng lão nhân gia không thể ngờ người vừa viên tịch, cốt tro chưa lạnh, thì người chưởng môn bổn phái đã lập tức lẻn đi tìm gặp giáo chủ Ma giáo để tư tình. Việc này can hệ trọng đại đến sự hưng suy tồn vong của bổn phái; nếu tiên sư biết chuyện hôm nay, lão nhân gia ắt sẽ chọn người chưởng môn khác. Di chí của sư phụ là làm sao cho bổn phái được rạng rỡ, chứ quyết không muốn bổn phái bị diệt trừ bởi tay Ma giáo. Theo ý tiểu muội, chúng ta hãy kế thừa di chí của tiên sư, mong Chu sư muội hãy trao lại thiết chỉ hoàn của chưởng môn, chúng ta sẽ chọn một vị sư tỷ tài đức vẹn toàn, danh tiếng võ công đều trội hơn đồng môn, đứng ra giữ chức chưởng môn.

Đinh Mẫn Quân dứt lời, có sáu, bảy người lên tiếng phụ họa.

Chu Chỉ Nhược nói:

– Tiểu muội đã nhận lệnh của tiên sư tiếp nhiệm chưởng môn bản phái, chiếc thiết chỉ hoàn này quyết không giao cho ai cả. Tiểu muội quả thực không ham chức chưởng môn, nhưng đã từng lập trọng thệ với sư phụ, quyết không thể.. quyết không phụ sự ủy thác của lão nhân gia.

Câu này nàng nói ra nghe rất yếu ớt, một vài đồng môn trước đó đứng giữa, chưa theo phe nào, nghe nàng nói vậy đều thầm lắc đầu.

Đinh Mẫn Quân gay gắt nói:

– Thiết chỉ hoàn của chưởng môn, ngươi không muốn trao lại cũng phải trao! Hai môn quy nghiêm giới của bổn phái là khi sư diệt tổ và dâm tà vô sỉ ngươi đều đã phạm, thì có còn đủ tư cách chưởng lý môn hộ phái Nga Mi nữa chăng?

Triệu Mẫn ghé môi sát tai Trương Vô Kỵ, nói nhỏ:

– Chu cô nương của công tử nguy mất! Công tử hãy gọi ta là "hảo tỷ tỷ" [112], ta sẽ đứng ra giải vây cho nàng ta.

Trương Vô Kỵ sực nghĩ, cô gái này túc trí đa mưu, tất có diệu kế giúp Chu Chỉ Nhược thoát khốn, nhưng nàng còn nhỏ hơn mình mấy tuổi, phải hạ mình gọi nàng bằng "bà chị" thì chẳng nhục lắm sao? Chàng đang do dự, thì Triệu Mẫn lại nói:

– Công tử không gọi là tùy công tử, ta đi đây.

Trương Vô Kỵ không còn cách nào hơn, đành ghé tai nàng nói:

– Hảo tỷ tỷ.

Triệu Mẫn cười không thành tiếng, toan nhổm dậy tiến ra, thì mọi người trong đình đã phát giác. Đinh Mẫn Quân quát lên:

– Ai đó? Tại sao lén lút nghe trộm?

Đột nhiên bên ngoài tường vọng vào mấy tiếng ho, một giọng thiếu nữ trong trẻo nói:

– Đêm hôm khuya khoắt, phái Nga Mi các ngươi lén lút làm gì trong đó?

Một làn gió lướt qua theo bóng người, trong lương đình đã có thêm hai người.

Hai người vừa bay vào ngoảnh mặt về phía ánh trăng, Trương Vô Kỵ nhìn rất rõ, chính là Kim Hoa bà bà, còn thiếu nữ thân hình yểu điệu, mặt mũi xấu xí chính là nàng Thù Nhi Ân Ly, biểu muội của Trương Vô Kỵ, con gái của Ân Dã Vương.

Hôm Vi Nhất Tiếu bắt được Thù Nhi, chưa kịp mang lên đỉnh Quang Minh, thì hàn độc phát tác, y cố nhịn không hút máu nàng, rốt cuộc không chịu nổi, ngã lăn ra bất tỉnh, sau được Chu Điên cứu tỉnh, nhìn đến Thù Nhi thì đã không thấy đâu nữa. Trương Vô Kỵ từ ngày chia tay với nàng vẫn thường nhớ đến, không ngờ lúc này nàng bất ngờ xuất hiện ở đây, chàng cả mừng, suýt nữa thì lên tiếng gọi.

Đinh Mẫn Quân lạnh lùng nói:

– Kim Hoa bà bà, bà tới đây làm gì?

Kim Hoa bà bà hỏi:

– Sư phụ ngươi đâu?

Đinh Mẫn Quân đáp:

– Tiên sư đã viên tịch tối hôm qua, bà ở ngoài kia đã nghe trộm từ lâu, biết cả rồi sao còn hỏi?

Kim Hoa bà bà kêu lên, lạc cả giọng:

– Ồ, Diệt Tuyệt sư thái viên tịch mất rồi! Làm sao mà chết? Sao không đợi gặp lại ta? Chà, tiếc thay, tiếc thay!

Chưa nói dứt câu bà ta đã cúi gập người ho sù sụ. Thù Nhi đấm lưng nhè nhẹ cho bà ta, nhìn Đinh Mẫn Quân cười nhạt, nói:

– Ai thèm nghe trộm chuyện của các người? Ta cùng bà bà đi ngang qua đây, nghe tiếng léo nhéo chướng tai, nhận ra giọng nói của mi, nên mới ghé vào xem thế nào. Bà bà hỏi gì mi, mi có nghe rõ không đấy? Sư phụ mi chết thế nào?

Đinh Mẫn Quân tức giận:

– Cái đó thì liên can gì đến ngươi? Tại sao ta lại phải nói với ngươi?

Kim Hoa bà bà thở một hơi dài, thong thả nói:

– Ta bình sinh động thủ với người khác, chỉ thua sư phụ ngươi một lần, song hoàn toàn không phải vì chiêu số võ công, mà chỉ vì không chống đỡ nổi kiếm Ỷ Thiên quá sắc bén đó thôi. Mấy năm qua ta thề tìm một thanh bảo đao, để so tài cao thấp với sư phụ ngươi một lần nữa. Lão bà này đi khắp chân trời góc bể, cũng không đến nỗi uổng công, được một cố nhân bằng lòng cho ta mượn bảo đao. Ta nghe đồn phái Nga Mi bị triều đình bắt giam ở chùa Vạn An, ta định bụng đến cứu sư phụ ngươi ra để so tài thực sự một lần nữa, nào ngờ hôm nay tới thì chùa Vạn An chỉ còn là một đống gạch vụn. Ôi, định mệnh đã an bài, Kim Hoa bà bà đời này không rửa được cái nhục thua trận. Diệt Tuyệt sư thái ơi là Diệt Tuyệt sư thái, sao mụ không chết trễ lại một hai ngày cho ta nhờ?

Đinh Mẫn Quân nói:

– Nếu sư phụ vãn bối còn sống, thì bà lão bất quá lại thua thêm một trận nữa, sẽ còn buồn lòng hơn mà thôi..

Đột nhiên nghe "bốp bốp" bốn tiếng rất giòn, Đinh Mẫn Quân choáng váng hoa mắt, lảo đảo chực ngã, hai má đã bị Kim Hoa bà bà tát cho bốn cái liền. Cứ tưởng bà lão ho hen ốm yếu, ai ngờ ra tay lại thần tốc đến thế, thủ pháp lại quái dị đến thế; bốn cái tát đó làm cho Đinh Mẫn Quân không có cách gì né tránh hay chống đỡ. Kim Hoa bà bà đứng cách xa Đinh Mẫn Quân phải gần hai trượng, trong nháy mắt vụt tới trước mặt, tát liền bốn cái, rồi trở về chỗ cũ, hành động y như ma quỷ vậy.

Đinh Mẫn Quân vừa tức vừa sợ, rút kiếm ra, xông tới chỉ mặt Kim Hoa bà bà, nói:

– Con mụ ăn mày kia, quả không thiết sống nữa sao?

Kim Hoa bà bà tựa hồ không nghe không thấy tiếng chửi cũng như mũi kiếm của Đinh Mẫn Quân, chỉ chậm rãi nói:

– Sư phụ ngươi sao lại chết?

Giọng bà lão buồn thiu, tựa hồ trong lòng hết sức chán chường. Mũi kiếm của Đinh Mẫn Quân cách ngực bà lão chưa đầy ba thước, cuối cùng vẫn không dám đâm tới, Đinh Mẫn Quân chỉ chửi:

– Con mụ ăn mày, việc gì ta phải nói với mụ?

Kim Hoa bà bà thở dài, lẩm bẩm một mình:

– Diệt Tuyệt sư thái, bà một đời anh hùng, đáng mặt một nhân vật xuất chúng trong võ lâm, vậy mà khi thác đi, trong đám đệ tử không có đứa nào đứng ra tiếp nhiệm chưởng môn hay sao?

Tĩnh Huyền sư thái tiến lên một bước, chắp tay hành lễ, nói:

– Bần ni Tĩnh Huyền tham kiến bà bà. Tiên sư lúc lâm chung có di mệnh cho Chu Chỉ Nhược Chu sư muội tiếp nhiệm chưởng môn; có điều là một số đồng môn trong bản phái chưa phục. Tiên sư đã viên tịch, khiến cho bà bà không được thỏa lòng, định mệnh như thế, còn biết nói sao? Chưởng môn bản phái chưa định, thành thử chưa thể hẹn gì với bà bà được. Nhưng phái Nga Mi là một môn phái lớn trong võ lâm, quyết không thể đánh mất uy danh của tiên sư. Bà bà có gì sai bảo, xin cứ nói ra, sau này người chưởng môn bản phái sẽ theo quy củ võ lâm xử lý với bà bà. Nếu bà bà cậy mình là bậc tiền bối, trình cường khi nhân, phái Nga Mi tuy hôm nay gặp đại nạn mất sư phụ, nhưng cũng sẽ đối phó đến cùng với bà bà, dẫu máu thấm đầy khu vườn hoang này, thì cũng quyết tử chiến.

Mấy lời đó được nói ra một cách từ tốn, không ngang ngạnh cũng không luồn cúi, cả Trương Vô Kỵ lẫn Triệu Mẫn cũng thầm khen là đanh thép.

Kim Hoa bà bà sáng mắt lên, nói:

– Thì ra khi viên tịch, tôn sư cũng đã có di mệnh, định người kế nhiệm chức chưởng môn, thế thì hay lắm. Là vị nào vậy? Xin cho gặp mặt.

Lời lẽ của Kim Hoa bà bà so với lúc nói với Đinh Mẫn Quân đã khách sáo hơn nhiều.

Chu Chỉ Nhược bước ra thi lễ, nói:

– Bà bà vạn phúc! Chưởng môn đời thứ tư của phái Nga Mi Chu Chỉ Nhược kính chào bà bà.

Đinh Mẫn Quân lớn tiếng nói:

– Sao không biết xấu, dám tự phong mình làm chưởng môn đời thứ tư của bản phái.

Thù Nhi cười khẩy:

– Vị Chu tỷ tỷ này là người tử tế, hồi ta ở Tây Vực đã được Chu tỷ tỷ thăm nom. Chu tỷ tỷ mà còn không đáng làm chưởng môn, thì mi đòi làm hay sao? Mi mà còn hỗn xược với bà bà của ta, ta sẽ thưởng cho mi vài cái tát nữa đó.

Đinh Mẫn Quân cả giận, dùng trường kiếm đâm luôn vào ngực Thù Nhi. Thù Nhi nghiêng người qua, giơ tay tát vào mặt Đinh Mẫn Quân. Thân pháp của nàng hệt như Kim Hoa bà bà, nhưng xuất thủ thì không nhanh bằng. Đinh Mẫn Quân lập tức hụp đầu xuống tránh, nên kiếm của mụ ta cũng không thể đâm trúng Thù Nhi.

Kim Hoa bà bà cười, nói:

– Con bé này, ta dạy bao nhiêu lần, cái chiêu dễ thế mà học không xong. Nhìn cho kỹ vào này!

Bà lão vung tay phải, thuận thế tát vào má trái Đinh Mẫn Quân một cái, xoay tay tát má bên phải, lại thuận tay tát má trái, lại xoay tay tát má bên phải, bốn cái tát rất rõ ràng, ai cũng nhìn thấy. Đinh Mẫn Quân cảm thấy hình như toàn thân bị giữ chặt, tứ chi không cử động được, mặt bị bốn cái tát, không có cách gì chống đỡ; may mà Kim Hoa bà bà không hề dùng lực nên mụ ta mới không bị trọng thương.

Thù Nhi cười nói:

– Bà bà, thủ pháp của bà bà con học được rồi, chỉ không có nội lực như bà bà mà thôi. Để con thử lại này.

Đinh Mẫn Quân bị nội lực của Kim Hoa bà bà giữ chặt, thấy Thù Nhi lại giơ tay sắp vả vào mặt mình, thì tức quá suýt ngất đi.

Đột nhiên Chu Chỉ Nhược sấn tới, giơ tay trái đỡ chưởng của Thù Nhi, nói:

– Xin tỷ tỷ dừng tay!

Nàng quay sang nói với Kim Hoa bà bà:

– Bà bà, Tĩnh Huyền sư tỷ chúng tôi vừa rồi đã nói rõ, đồng môn bản phái tuy võ công chưa tinh thâm bằng bà bà, song cũng không để cho bà bà muốn lăng nhục thế nào cũng được.

Kim Hoa bà bà cười, nói:

– Ả họ Đinh mõm nhọn kia mở miệng ra là không phục ngươi làm chưởng môn, sao vừa rồi ngươi còn đỡ đòn cho nó?

Chu Chỉ Nhược nói:

– Chuyện nội bộ của môn phái chúng tôi không liên can đến người ngoài. Tiểu nữ được di mệnh của tiên sư, tuy bản lĩnh thấp kém, song cũng không để cho người ngoài làm nhục người trong bản phái.

Kim Hoa bà bà cười, nói:

– Hảo, hảo, hảo!

Bà lão nói xong ba tiếng ấy thì ho sù sụ. Thù Nhi lấy một viên thuốc đưa ra, Kim Hoa bà bà cầm lấy nuốt luôn, thở hổn hển một hồi, rồi đột nhiên hai chưởng cùng tung ra, một đặt ngay trước ngực Chu Chỉ Nhược, một đè sau lưng nàng, ép thân hình nàng giữa hai bàn tay bà, những chỗ ấy toàn là đại huyệt trí mạng.

Chiêu đó tung ra thật cực kỳ quái dị. Chu Chỉ Nhược tuy võ học chưa nhiều, nhưng cũng đã được Diệt Tuyệt sư thái chân truyền vài ba phần, không hiểu vì sao lại bị đối phương khống chế các đại yếu huyệt ở ngực và lưng, thì sợ tái cả mặt, không thốt nên lời. Kim Hoa bà bà thản nhiên nói:

– Chu cô nương, ngươi là chưởng môn mà võ công tầm thường quá. Không lẽ tôn sư lại đem trọng nhiệm người chưởng môn phái Nga Mi bắt một cô bé liễu yếu đào tơ như ngươi phải gánh vác? Ta xem ra quá nửa là do ngươi tự khoe khoang như thế.

Chu Chỉ Nhược định thần nghĩ bụng: "Bà ta chỉ cần ấn mạnh một cái, tâm mạch của ta sẽ bị đánh vỡ, chết ngay tại chỗ. Nhưng ta phải làm sao để không mất uy phong của sư phụ bây giờ?" Nghĩ đến sư phụ, dũng khí lập tức tăng gấp trăm lần, bèn giơ tay trái ra nói:

– Đây là thiết chỉ hoàn của chưởng môn phái Nga Mi, do tiên sư tự tay đeo cho tiểu nữ, không lẽ lại là giả?

Kim Hoa bà bà cười, nói:

– Sư tỷ của ngươi lúc nãy nói đúng, phái Nga Mi là một môn phái lớn trong võ lâm, nhưng chỉ với một chút bản lĩnh như nhà ngươi thì làm sao có thể làm chưởng môn một môn phái lớn trong võ lâm kia chứ? Ta thấy ngươi nên nghe theo lời dạy bảo của ta thì hơn.

Chu Chỉ Nhược nói:

– Kim Hoa bà bà, sư phụ đã viên tịch, nhưng phái Nga Mi hoàn toàn không phải vì thế mà bị trừ diệt. Tiểu nữ đã rơi vào tay bà bà, muốn giết cứ việc giết, chứ đừng hòng ép tiểu nữ làm những việc sai trái. Bổn phái bị hãm vào gian kế của triều đình, bị nhốt trên tháp cao, song không một ai chịu đầu hàng. Chu Chỉ Nhược này tuy tuổi ít, sức yếu, nhưng đã nhận trọng nhiệm, tự biết khó đảm đương, nên đã không nghĩ đến chuyện sống chết nữa rồi.

Trương Vô Kỵ thấy các yếu huyệt ở ngực và lưng nàng đã bị Kim Hoa bà bà khống chế, sống chết chỉ trong gang tấc, song vẫn hiên ngang như thế, chàng chỉ sợ Kim Hoa bà bà nổi giận lên sẽ giết nàng. Trong lúc nguy cấp, chàng toan nhảy ra cứu. Triệu Mẫn đoán biết ý nghĩ của chàng, cầm cánh tay chàng lay lay mấy cái, ngụ ý đừng lo vội.

Chỉ nghe Kim Hoa bà bà cười ha hả, nói:

– Diệt Tuyệt sư thái kể cũng tinh mắt thật, cô tiểu chưởng môn này võ công tuy yếu, nhưng tính cách lại mạnh mẽ. Ồ phải, phải rồi, võ công non yếu còn có thể luyện cho giỏi chứ núi sông dễ đổi, bản tính khó thay.

Thực ra lúc này Chu Chỉ Nhược đã sợ hết hồn, chỉ là nghĩ đến sư phụ lúc lâm chung lại ủy thác trọng nhiệm cho nàng, nên phải cố tỏ ra quật cường vậy thôi.

Các đồng môn phái Nga Mi vốn coi thường Chu Chỉ Nhược, nhưng thấy nàng không kể hiềm khích riêng, dám đứng ra che chở cho Đinh Mẫn Quân, khi bị cường địch uy hiếp vẫn không hề làm mất thanh danh bản phái, thì trong lòng đều đã kính phục. Thanh trường kiếm trong tay Tĩnh Huyền rung một cái, mấy tiếng sáo miệng huýt lên, các đệ tử phái Nga Mi bèn giãn ra, ai nấy rút binh khí vây chặt tòa lương đình lại.

Kim Hoa bà bà cười hỏi:

– Làm gì vậy?

Tĩnh Huyền nói:

– Bà bà bắt giữ chưởng môn phái Nga Mi là có ý gì?

Kim Hoa bà bà ho mấy tiếng, nói:

– Các ngươi tưởng cậy đông mà thắng được ư? Hà hà, dưới mắt Kim Hoa bà bà này, dù đông gấp mười thế này cũng có khác gì đâu?

Đột nhiên Kim Hoa bà bà bỏ Chu Chỉ Nhược ra, thân hình vọt ngay tới trước mặt Tĩnh Huyền, dùng hai ngón tay trỏ và giữa chọc vào hai mắt Tĩnh Huyền. Tĩnh Huyền vội thu kiếm về chém cánh tay Kim Hoa bà bà; chỉ nghe "hự" một tiếng, một sư muội đồng môn đứng bên cạnh đã ngã gục. Kim Hoa bà bà giả vờ tấn công Tĩnh Huyền, chân trái lại đá trúng huyệt đạo ở hông một nữ đệ tử phái Nga Mi.

Chỉ thấy thân hình Kim Hoa bà bà di chuyển vùn vụt trong lương đình, tay áo phất phới, tiếng ho húng hắng; trường kiếm của mấy chục đệ tử phái Nga Mi cùng chĩa tới mà không một ai đâm trúng vạt áo bà lão, trong khi bảy, tám người đã ngã xuống vì bị bà lão đánh trúng huyệt đạo. Thủ pháp đả huyệt của bà lão vô cùng quái dị, người trúng đòn đều kêu rống lên. Trong giây lát, giữa khu vườn hoang tiếng kêu la liên tiếp vang lên, nghe kinh hồn.

Kim Hoa bà bà vỗ tay một cái, trở vào lương đình, nói:

– Chu cô nương, võ công của phái Nga Mi các ngươi so với Kim Hoa bà bà thế nào?

Chu Chỉ Nhược nói:

– Võ công bản phái đương nhiên là cao hơn bà bà. Năm xưa bà bà đã bị bại dưới kiếm của tiên sư, không lẽ bà bà quên rồi sao?

Kim Hoa bà bà tức giận nói:

– Diệt Tuyệt lão ni ỷ vào thanh kiếm sắc bén, đâu có tính là được?

Chu Chỉ Nhược nói:

– Bà bà thử nói thực một câu xem, nếu tiên sư và bà bà đấu tay không với nhau, thì ai thắng ai bại?

Kim Hoa bà bà ngẫm nghĩ một lát, nói:

– Không biết nữa. Ta vốn muốn biết tôn sư và ta, ai mạnh ai yếu, nên mới tới Đại Đô này. Ôi, Diệt Tuyệt sư thái viên tịch, võ lâm đã mất đi một cao nhân. Tre già đã lụi, măng mới lại chưa mọc, phái Nga Mi từ nay suy tàn.

Bảy đệ tử phái Nga Mi nằm ngoài vườn không ngớt kêu la oai oái, dường như làm chứng cho lời của Kim Hoa bà bà. Mấy đại đệ tử như Tĩnh Huyền cố xoa bóp cho bọn họ, nhưng chẳng có tác dụng gì cả, xem chừng chỉ một mình Kim Hoa bà bà mới giải được.

Trương Vô Kỵ năm xưa từng chữa trị cho nhiều người bị Kim Hoa bà bà đả thương; biết bà lão này ra tay rất hiểm ác, ít gặp ai như thế trên giang hồ. Chàng định nhảy ra cứu, song lại nghĩ thầm: "Nếu mình giúp Chu cô nương, thì lại đắc tội với Thù Nhi. Biểu muội đối với mình cực tốt, lại là chỗ cốt nhục chí thân, mình làm sao có thể bên nặng bên nhẹ?"

Chỉ nghe Kim Hoa bà bà nói:

– Chu cô nương, ngươi đã phục chưa?

Chu Chỉ Nhược ngang nhiên nói:

– Võ công bản phái sâu như biển cả, đâu có thể thành tựu ngay. Chúng vãn bối còn nhỏ tuổi, dĩ nhiên không sánh kịp bà bà, nhưng sau này sẽ tiến triển đến vô cùng.

Kim Hoa bà bà cười nói:

– Hay lắm, hay lắm! Vậy Kim Hoa bà bà này cáo từ; đợi khi nào võ công của cô nương tiến triển đến vô cùng, sẽ trở lại giải huyệt cho bọn kia cũng được. Nói đoạn dắt tay Thù Nhi, quay mình đi ra.

Chu Chỉ Nhược nghĩ đến nỗi đau đớn của các đồng môn, một lát còn không chịu nổi, để Kim Hoa bà bà đi mất rồi, họ sẽ đau chết mất, vội nói:

– Bà bà, khoan đã! Xin hãy giải huyệt cho mấy vị sư huynh sư tỷ kia đã.

Kim Hoa bà bà nói:

– Muốn ta giải cứu cũng không khó. Từ rày trở đi, Kim Hoa bà bà và cô bé đệ tử này tới đâu, người của phái Nga Mi phải tránh ra, tìm đường khác mà đi, nghe chưa?

Chu Chỉ Nhược nghĩ thầm: "Mình vừa làm chưởng môn, đã gặp ngay đại địch. Nếu chịu khuất phục như thế, phái Nga Mi làm sao có thể đứng vững trong võ lâm? Không lẽ thế là mình để cho phái Nga Mi bị hủy diệt hay sao?"

Kim Hoa bà bà thấy nàng lưỡng lự, chưa trả lời, thì cười, nói:

– Ngươi không muốn làm mất uy danh phái Nga Mi thì cũng được. Hãy đưa kiếm Ỷ Thiên cho ta mượn, ta sẽ giải cứu cho các đồng môn của ngươi.

Chu Chỉ Nhược nói:

– Sư đồ chúng tôi trúng phải gian kế của triều đình, bị giam vào tháp cao, kiếm Ỷ Thiên làm sao còn ở trong tay chúng tôi được?

Kim Hoa bà bà vốn đã tính đến chuyện đó, việc mượn kiếm chẳng qua chỉ là lời cầu may, nghe Chu Chỉ Nhược trả lời như thế chỉ hơi tỏ vẻ thất vọng, đột nhiên bà lão nói:

– Ngươi muốn bảo toàn uy danh phái Nga Mi thì sẽ không giữ được tính mạng mình..

Nói rồi lấy trong bọc ra một viên thuốc, nói:

– Đây là thuốc độc "Đoạn trường liệt tâm" [113], ngươi chịu uống, thì ta sẽ giải cứu cho bọn kia.

Chu Chỉ Nhược nghĩ đến lời trăn trối của sư phụ mà đứt từng khúc ruột, nghĩ thầm: "Sư phụ bảo ta phải lừa dối Trương công tử, việc ấy ta làm chẳng được, có sống cũng phải chịu giày vò khổ sở; chi bằng chết quách cho rồi, khỏi cần lo lắng đủ chuyện". Bèn đưa tay nhận luôn viên thuốc độc.

Tĩnh Huyền gọi giật giọng:

– Chu sư muội, không được uống!

Trương Vô Kỵ thấy tình thế nguy cấp, định nhảy ra ngăn cản, thì Triệu Mẫn ghé tai chàng thì thầm:

– Ngốc ơi là ngốc! Thuốc giả đấy, không phải thuốc độc đâu.

Trương Vô Kỵ còn đang ngạc nhiên, thì Chu Chỉ Nhược đã bỏ viên thuốc vào miệng nuốt luôn.

Bọn Tĩnh Huyền nhao nhao lên toan xông cả tới động thủ với Kim Hoa bà bà. Kim Hoa bà bà nói:

– Cừ lắm, can đảm lắm! Thuốc độc vừa rồi chưa phát tác ngay đâu. Chu cô nương, ngươi đi theo ta, ngoan ngoãn vâng lời, không chừng ta sẽ vui lòng cho ngươi thuốc giải.

Nói xong bước tới chỗ những đệ tử phái Nga Mi đang kêu rên, vỗ vỗ mấy cái giải huyệt cho họ. Bọn họ lập tức khỏi đau, hết kêu rên, chỉ có điều nhất thời chưa cử động được vì tứ chi tê dại. Họ thấy Chu Chỉ Nhược xả thân vì họ, uống thuốc độc để cứu họ, thì đều vô cùng cảm kích, có người nói:

– Đa tạ chưởng môn!

Kim Hoa bà bà cầm tay Chu Chỉ Nhược, dịu dàng nói:

– Con ngoan, hãy đi theo ta, bà bà sẽ không ngược đãi con đâu.

Chu Chỉ Nhược chưa trả lời, đã cảm thấy một luồng lực đạo cực mạnh nhấc nàng bay lên.

Tĩnh Huyền gọi:

– Chu sư muội..

Rồi xông tới toan kéo lại, bỗng thấy có một luồng chỉ phong bắn xéo tới, đó là Thù Nhi từ bên cạnh dùng ngón tay tấn công. Tĩnh Huyền vung tả chưởng lên chặn lại, không ngờ chiêu đó của Thù Nhi chỉ là hư chiêu, nghe bốp một tiếng, Đinh Mẫn Quân đã bị trúng một cái tát, cái ngón "Chỉ đông đả tây" ấy chính là võ học của Kim Hoa bà bà. Chỉ nghe Thù Nhi cười khanh khách, đã vọt qua tường mà đi.

Trương Vô Kỵ nói:

– Đuổi theo mau!

Chàng một tay nắm Triệu Mẫn, một tay dắt Tiểu Chiêu, ba người cùng vượt tường ra ngoài.

Bọn Tĩnh Huyền thấy trong đám cỏ có tới ba người ẩn nấp thì hết sức kinh ngạc. Khinh công của Kim Hoa bà bà và Trương Vô Kỵ cao siêu biết mấy, khi các đệ tử phái Nga Mi nhảy lên bờ tường, thì sáu người kia đã lẫn vào bóng đêm, không biết đi về hướng nào.

Nhóm Trương Vô Kỵ đuổi được hơn mười trượng, thì Kim Hoa bà bà quát lên, chân vẫn không chậm lại:

– Đệ tử phái Nga Mi vẫn còn có kẻ dám đuổi theo Kim Hoa bà bà kia à, gớm nhỉ!

Triệu Mẫn nói:

– Hãy để lại chưởng môn bản phái!

Nàng vọt nhanh tới mấy trượng, kiếm Ỷ Thiên đâm vào sau lưng Kim Hoa bà bà. Chiêu "Kim đỉnh Phật quang" [114] này chính là một chiêu kiếm pháp đích truyền của phái Nga Mi, Triệu Mẫn học được từ các nữ đệ tử phái Nga Mi ở chùa Vạn An, có điều là không phải do Diệt Tuyệt sư thái truyền thụ, nên không mấy tinh diệu.

Kim Hoa bà bà nghe tiếng binh khí xé gió ở sau lưng, bèn buông Chu Chỉ Nhược, xoay ngay người lại. Triệu Mẫn lách cổ tay một cái, lại là chiêu "Thiên phong cánh tú". Kim Hoa bà bà nhận biết binh khí trong tay đối phương chính là bảo kiếm Ỷ Thiên, thì nửa mừng nửa lo, vươn tay ra toan cướp lấy. Sau mấy chiêu, Kim Hoa bà bà đã tới gần trước mặt Triệu Mẫn, mấy ngón tay đang định chộp lấy cổ tay cầm kiếm của nàng, không ngờ Triệu Mẫn vòng gấp kiếm lại, sử chiêu "Thần đà tuấn túc" của kiếm pháp phái Côn Luân.

Kim Hoa bà bà thấy nàng là một thiếu nữ ít tuổi, cầm kiếm Ỷ Thiên, thi triển kiếm pháp đích truyền của phái Nga Mi, nên cứ ngỡ nàng là đệ tử phái Nga Mi. Để đối phó với Diệt Tuyệt sư thái, mấy năm qua Kim Hoa bà bà đã tìm hiểu thật kỹ kiếm pháp phái Nga Mi, thấy Triệu Mẫn sử mấy chiêu, nghĩ nàng công lực chưa ra gì, nên đã tính toán trước, một khi tiến đến gần nàng, thể nào cũng sẽ đoạt được kiếm Ỷ Thiên. Nào ngờ cô bé này bỗng dưng đổi sang kiếm pháp phái Côn Luân. Giả dụ nếu có chủ định từ trước, thì kiếm pháp phái Côn Luân đâu có là gì đối với Kim Hoa bà bà; song vì chiêu này quá bất ngờ, nên tuy võ công cao cường, Kim Hoa bà bà cũng sợ toát mồ hôi, vội lăn xuống đất mới tránh thoát, nhưng ống tay áo bên trái vẫn bị mũi kiếm sớt đi mất một mảnh to.

Kim Hoa bà bà nửa ngạc nhiên, nửa tức giận, lại xông tới. Triệu Mẫn biết võ công của mình thua kém bà lão quá xa, không dám đối chiêu với bà lão, chỉ múa kiếm, đâm bên phải chém bên trái, lách đông lượn tây; sử dụng lúc thì kiếm pháp phái Không Động, lúc thì kiếm pháp phái Hoa Sơn; vừa sử chiêu "Đại mạc phi sa" của phái Côn Luân, lại ra ngay chiêu "Kim châm độ kiếp" [115] trong Đạt Ma kiếm pháp của phái Thiếu Lâm. Chiêu nào cũng đều là tinh hoa trong kiếm pháp của từng môn phái, chiêu nào cũng đầy uy lực, cộng với sự sắc bén của kiếm Ỷ Thiên, khiến Kim Hoa bà bà hết sức kinh ngạc, nhất thời chưa có cách nào tới gần.

Thù Nhi sốt ruột quá, vội cởi thanh kiếm đeo bên hông, ném cho Kim Hoa bà bà. Triệu Mẫn tấn công gấp gấp bảy, tám chiêu liên tiếp, đến chiêu thứ chín, Kim Hoa bà bà bất đắc dĩ phải vung kiếm gạt ra, nghe "cách" một tiếng, trường kiếm đã gãy đôi.

Kim Hoa bà bà tái mặt, nhảy vọt ra ngoài, quát hỏi:

– Con nhãi kia, mi là ai?

Triệu Mẫn cười, nói:

– Sao mụ không rút thanh đao Đồ Long ra?

Kim Hoa bà bà giận dữ nói:

– Nếu ta có thanh đao Đồ Long trong tay, mi làm sao tiếp nổi tám chiêu, mười chiêu của ta? Mi có dám theo ta đi thử một chuyến hay không?

Triệu Mẫn cười nói:

– Nếu mụ có được thanh đao Đồ Long thì hay lắm. Ta sẽ ở Đại Đô chờ mụ đi lấy đao tới tái đấu.

Kim Hoa bà bà nói:

– Mi quay đầu lại, để ta nhìn rõ mặt mi coi.

Triệu Mẫn bèn nghiêng người, lè lưỡi, nhắm mắt trái, mở mắt phải, nhăn mặt méo miệng để trêu tức bà lão. Kim Hoa bà bà cả giận, nhổ toẹt một bãi nước miếng xuống đất, vứt thanh kiếm gãy, dắt Thù Nhi và Chu Chỉ Nhược bỏ đi.

Trương Vô Kỵ nói:

– Mình mau đuổi theo.

Triệu Mẫn nói:

– Việc đó không cần vội. Công tử cứ để ta. Ta dám chắc với công tử rằng Chu cô nương sẽ không sao cả.

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Tại sao cô nương lại nhắc tới thanh đao Đồ Long?

Triệu Mẫn nói:

– Ta nghe bà lão nói lúc ở khu vườn hoang, rằng đã đi khắp chân trời góc biển, cuối cùng mượn được của cố nhân một thanh bảo đao, cốt đấu với kiếm Ỷ Thiên của Diệt Tuyệt sư thái. "Ỷ Thiên bất xuất, thùy dữ tranh phong?" Muốn tranh lợi hại với kiếm Ỷ Thiên, chỉ có thanh đao Đồ Long mà thôi. Chẳng lẽ cuối cùng Kim Hoa bà bà đã mượn được của Tạ lão tiền bối, nghĩa phụ của công tử, thanh đao Đồ Long? Ta vừa rồi múa kiếm đánh bà ta, cốt ép bà ta phải rút bảo đao ra đấu. Nhưng bà ta không mang đao bên người, lại bảo ta đi theo bà lão xem thử. Tựa hồ bà lão đã biết bảo đao ở đâu, song chưa lấy được.

Trương Vô Kỵ ngẫm nghĩ, nói:

– Kể cũng lạ thật!

Triệu Mẫn nói:

  • Ta nghĩ Kim Hoa bà bà sẽ đi ra biển, giương buồm đi tìm thanh đao Đồ Long. Chúng ta phải làm sao đến trước, đừng để cho một người hai mắt đã mù, tâm địa nhân hậu như Tạ lão tiền bối lại bị bà lão độc ác đó lừa dối.

Trương Vô Kỵ, nghe nàng nói đến câu sau cùng thì nhiệt huyết trào dâng, vội nói:

– Đúng lắm, đúng lắm!

Lúc trước chàng nhận lời Triệu Mẫn đi mượn thanh đao Đồ Long, chẳng qua là vì lời hứa của đại trượng phu đáng giá ngàn vàng, không thể nuốt lời. Còn bây giờ nghĩ Kim Hoa bà bà đi gây khó dễ cho nghĩa phụ, thì chỉ hận không có cánh để bay ra cứu giúp.

Triệu Mẫn dẫn hai người đến trước vương phủ, dặn dò tên vệ sĩ canh cửa một hồi. Hắn luôn mồm vâng dạ, quay mình đi vào phủ, không lâu thì dắt ra chín con tuấn mã, vác theo một bọc to vàng bạc đưa cho nàng. Triệu Mẫn, Trương Vô Kỵ và Tiểu Chiêu ba người cưỡi ba con ngựa, còn sáu con kia dẫn theo để thay đổi, phóng gấp về hướng đông.

Sáng hôm sau, chín con ngựa đã mệt lử, Triệu Mẫn liền giơ kim bài của phủ Nhữ Dương Vương điều động binh mã cho quan lại địa phương, đổi lấy chín con ngựa khác. Khuya hôm đó, ba người đã phóng tới bờ biển.

Triệu Mẫn cưỡi ngựa chạy thẳng vào huyện thành, ra lệnh cho tri huyện chuẩn bị cấp tốc một chiếc thuyền đi biển kiên cố nhất, trên thuyền có sẵn đà công, thủy thủ, lương thực, nước ngọt, binh khí, quần áo rét. Ngoài ra, mọi thuyền bè ven biển hiện có phải đuổi hết về phía nam, suốt dọc năm mươi dặm bờ biển không cho đậu bất cứ chiếc thuyền đi biển nào cả. Kim bài của Nhữ Dương Vương đưa đến, một viên tri huyện tép riu lẽ nào dám trái lệnh? Triệu Mẫn, Trương Vô Kỵ và Tiểu Chiêu ở trong huyện nha uống rượu chờ tin. Chưa đầy một ngày, tri huyện đến bẩm mọi thứ đã chuẩn bị xong xuôi.

Ba người ra bờ biển xem chiếc thuyền, Triệu Mẫn dẫm chân kêu lên:

– Hỏng rồi!

Thì ra chiếc thuyền đang đậu là một hải thuyền rất lớn, cao hai tầng, mũi thuyền và hai bên mạn thuyền có gắn đại bác, đó là một pháo hạm của hải quân Mông Cổ. Năm xưa đại quân Mông Cổ tiến đánh Nhật Bản, tập trung rất nhiều tàu thuyền, không ngờ gặp một cơn bão, tàu thuyền bị đắm hết, cuộc đông chinh tan thành bọt nước. Nhưng quy mô đóng tàu thuyền đã thành hình từ đấy. Triệu Mẫn tính toán trăm sự đều hay, chỉ có một sai sót, không ngờ viên tri huyện nhận lệnh xong muốn tâng công, đã đi gặp thủy sư mượn ngay một chiếc pháo hạm. Lúc này trên thuyền đã có đủ lương thực, nước ngọt. Mọi tàu thuyền khác theo lệnh kim bài Nhữ Dương Vương truyền xuống, đã xuôi về phía nam vài chục dặm cả rồi. Triệu Mẫn đành cười gượng, lệnh cho các thủy thủ dùng lưới đánh cá treo lấp các khẩu đại bác, trên thuyền đặt vài chục sọt cá tươi, làm như chiến thuyền cũ không dùng nữa, đã sửa lại thành thuyền đánh cá.

Triệu Mẫn, Trương Vô Kỵ và Tiểu Chiêu mặc giả thủy thủ, dùng dầu lạc bôi vàng cả mặt, dán thêm chút ria mép, trông không ai nhận biết được nữa. Ba người lên thuyền, chờ Kim Hoa bà bà tới.

Nàng quận chúa Triệu Mẫn liệu sự như thần, quả nhiên gần tối thì có một cỗ xe lớn chạy tới bến, Kim Hoa bà bà dắt Thù Nhi và Chu Chỉ Nhược tới thuê thuyền. Thủy thủ đã được Triệu Mẫn dặn trước, nên từ chối, nói rằng đây là pháo hạm cũ nay sửa thành thuyền đánh cá, chỉ chuyên nghề chài lưới, chứ không chở khách. Mãi khi Kim Hoa bà bà đưa ra hai đĩnh vàng trả công, chủ thuyền mới miễn cưỡng nhận lời. Kim Hoa bà bà cùng Thù Nhi và Chu Chỉ Nhược lên thuyền, truyền lệnh giong buồm ra khơi.

Trên đại dương mênh mông vô bờ, chiếc thuyền trơ trọi chạy về hướng đông nam.

Thuyền đi hai ngày, Trương Vô Kỵ và Triệu Mẫn ở khoang dưới nhìn ra cửa sổ, thấy mặt trời mọc ban ngày và mặt trăng nhô lên ban đêm đều ở mạn thuyền bên trái, rõ ràng là thuyền chạy về phương nam. Bấy giờ là đầu mùa đông, gió bấc thổi mạnh, buồm no gió, thuyền trôi băng băng.

Trương Vô Kỵ và Triệu Mẫn bàn tính với nhau, chàng nói:

– Nghĩa phụ ta ở Băng Hỏa đảo trên cực bắc, mình muốn tìm ông thì phải đi về hướng bắc mới đúng, sao lại đi ngược xuống phương nam?

Triệu Mẫn nói:

– Kim Hoa bà bà chắc có chuyện quái lạ, huống hồ hiện giờ đâu phải là mùa gió nồm, có muốn lên phương bắc cũng chẳng đi được.

Chiều ngày thứ ba, đà công xuống khoang dưới bẩm với Triệu Mẫn, rằng Kim Hoa bà bà rất thông thuộc hải trình vùng này, chỗ nào có bãi cát, chỗ nào có đảo san hô, bà lão còn biết rõ hơn cả đà công.

Trương Vô Kỵ chợt nghĩ ra, nói:

– Hay là bà ta trở về đảo Linh Xà?

Triệu Mẫn hỏi:

– Đảo Linh Xà là thế nào?

Trương Vô Kỵ nói:

– Chồng của Kim Hoa bà bà là Ngân Diệp tiên sinh, quê ở đảo Linh Xà, ông ta chết rồi. Cái tên Kim Hoa Ngân Diệp đảo Linh Xà, chẳng lẽ cô nương chưa nghe bao giờ?

Triệu Mẫn cười, nói:

– Công tử hơn ta có vài tuổi, mà nhiều chuyện trên giang hồ sao rành thế?

Trương Vô Kỵ cười, đáp:

– Tà ma ngoại đạo Minh giáo thì phải rành rẽ nhiều chuyện nhàn rỗi trên chốn giang hồ hơn quận chúa nương nương chứ.

Hai người vốn đối địch với nhau, mỗi bên thống lĩnh rất nhiều hào kiệt, đã đánh nhau mấy trận ác liệt, nhưng sau mấy ngày ở dưới khoang thuyền với nhau, chuyện trò tự nhiên khỏi cần giữ ý; lại có chung đối thủ là Kim Hoa bà bà, nên khoảng cách giữa đôi bên mỗi ngày một ngắn lại.

Đà công bẩm báo xong, sợ Kim Hoa bà bà phát giác, vội trở lên buồng lái ngay.

Triệu Mẫn cười, nói:

– Đại giáo chủ, Kim Hoa Ngân Diệp đảo Linh Xà uy chấn giang hồ như thế nào, phiền đại giáo chủ kể lại cho con a hoàn thô lậu dốt nát này nghe có được chăng?

Trương Vô Kỵ cười, đáp:

– Nói ra thật xấu hổ, Ngân Diệp tiên sinh là người thế nào, ta cũng không biết chút gì. Riêng Kim Hoa bà bà thì ta đã từng gặp bà ta một lần.

Rồi chàng kể hồi ở Hồ Điệp cốc học nghề thuốc của "Điệp Cốc Y Tiên" Hồ Thanh Ngưu ra sao, người của các môn phái bị Kim Hoa bà bà hạ độc thủ sống dở chết dở đến Hồ Điệp cốc nhờ chạy chữa như thế nào, chàng nhờ Hồ Thanh Ngưu chỉ điểm mới chữa khỏi cho họ; sau đó Kim Hoa bà bà đấu với Diệt Tuyệt sư thái bị thua ra sao; hai vợ chồng Hồ Thanh Ngưu, Vương Nạn Cô bị Kim Hoa bà bà treo cổ thế nào, kể ra một lượt. Chàng nghĩ đến Hồ Thanh Ngưu tuy tính khí quái dị, nhưng đối với chàng rất tốt, nhớ lại cảnh xác vợ chồng họ bị treo lủng lẳng trên cây, thì bất giác rưng rưng nước mắt. Chàng lại kể sơ qua việc Thù Nhi muốn bắt chàng mang ra đảo Linh Xà làm bạn, chàng cắn vào tay Thù Nhi một cái thật đau như thế nào. Chàng cũng không hiểu tại sao mình chỉ thuật sơ qua chuyện đó, có lẽ vì nó có vẻ bất nhã chăng.

Triệu Mẫn lặng lẽ, chăm chú nghe từ đầu đến cuối, rồi trịnh trọng nói:

– Lúc đầu ta chỉ nghĩ bà lão này chẳng qua chỉ là một cao thủ võ công, không ngờ bên trong lại có nhiều chuyện ân oán. Nghe công tử kể, ta thấy bà lão này là kẻ rất khó đối phó, chúng ta phải hết sức cẩn thận mới được.

Trương Vô Kỵ cười, nói:

– Quận chúa nương nương văn võ kiêm toàn, dưới tay lại có nhiều kỳ tài dị sĩ, đối phó với một mình bà lão, có gì phải ngại?

Triệu Mẫn cười, nói:

– Tiếc rằng giữa đại dương mênh mông, không thể nào gọi các võ sĩ, phiên tăng của ta tới được.

Trương Vô Kỵ nói:

– Thế mấy tay đầu bếp, các thủy thủ kéo buồm kia chưa phải là cao thủ hạng nhất, mới chỉ là hạng nhì trên giang hồ thôi ư?

Triệu Mẫn kinh ngạc, cười ha hả, nói:

– Bội phục, bội phục! Đại giáo chủ quả thật tinh đời, không thể giấu nổi công tử.

Nguyên khi nàng trở lại vương phủ lấy tiền và ngựa, nàng đã kín đáo dặn vệ sĩ, điều động một số thuộc hạ đi gấp ra vùng biển chờ lệnh. Bọn họ đến nơi chỉ chậm hơn Trương Vô Kỵ nửa ngày. Bọn này không tham chiến ở chùa Vạn An, chưa gặp Trương Vô Kỵ lần nào, đóng giả đầu bếp và thủy thủ trên thuyền. Nhưng người có võ, thần sắc cử chỉ dù cố che giấu, vẫn cứ lộ ra, người tinh mắt như Trương Vô Kỵ nhìn vào là biết ngay.

Triệu Mẫn nghe chàng nói thế, nghĩ thầm nếu chàng đã nhìn ra, thì người lão luyện dày dạn như Kim Hoa bà bà hẳn cũng thừa biết. May bên mình người nhiều thế mạnh, Trương Vô Kỵ võ công cao cường, bà lão dù biết hay không biết cũng thế thôi, giả dụ phải động thủ, cả bà ta với Thù Nhi cũng chỉ có hai người, chẳng có gì đáng ngại. Còn nếu bà ta chưa nhận ra, thì mình cứ tiếp tục giả trang không sao.

Mấy ngày qua, điều Trương Vô Kỵ lo nhất là Chu Chỉ Nhược sau khi uống viên thuốc của Kim Hoa bà bà, chất độc đã phát tác hay chưa. Triệu Mẫn biết bụng dạ chàng, thấy chàng mặt ủ mày chau, bèn sai người lên khoang trên vờ bưng trà tiếp nước, xem xét động tĩnh, mỗi lần trở xuống đều bẩm là Chu cô nương lời lẽ, cử chỉ như thường, không có vẻ gì bị trúng độc cả. Sau mấy lần như thế, Trương Vô Kỵ cũng an tâm phần nào.

Chàng ngồi trong một góc khoang, nhớ lại tình cảnh trên cánh đồng tuyết ở Tây Vực, Thù Nhi bầu bạn với chàng thế nào; khi bị Hà Thái Xung, Võ Liệt, Đinh Mẫn Quân vây đánh, nàng đòi được gặp chàng lần cuối, chính chàng trước mặt bọn Hà Thái Xung đã nói lớn: "Cô nương, ta thành tâm mong muốn lấy cô nương làm vợ, chỉ mong cô nương đừng bảo ta không xứng". Rồi chàng lại từng nói riêng với nàng: "Từ nay trở đi ta sẽ hết lòng ái hộ cô nương, săn sóc cô nương, bất kể kẻ nào đến gây khó dễ với cô nương, khinh khi cô nương, dẫu hắn tài ba đến mấy, ta cũng quyết xả thân bảo vệ cho cô nương chu toàn. Ta mong cô nương bình yên sung sướng, quên mọi khổ đau từ trước". Nhớ lại câu nói đó, chàng bất giác đỏ mặt.

Triệu Mẫn nói:

– Hừ, công tử lại nhớ đến Chu cô nương rồi phải không?

Trương Vô Kỵ nói:

– Không có.

Triệu Mẫn nói:

– Làm gì phải chối, công tử nhớ hay không nhớ, ta đâu có kiểm soát được. Nam tử hán đại trượng phu, không nên nói dối.

Trương Vô Kỵ nói:

– Ta cần gì phải nói dối. Nói cho cô nương hay, người ta nhớ đến, không phải là Chu cô nương.

Triệu Mẫn nói:

– Nếu công tử nghĩ đến Khổ đầu đà hay Vi Nhất Tiếu, thì vẻ mặt công tử đâu có như thế. Những kẻ mặt mũi quái đản ấy, khi công tử nghĩ đến, vẻ mặt không bao giờ lại dịu dàng, bẽn lẽn như vừa rồi.

Trương Vô Kỵ cười, nói:

Cô nương thật là lợi hại, người khác nghĩ đến ai, xấu hay đẹp, cô nương cũng biết cả. Nói thật nhé, người mà ta nhớ đến lại chẳng xinh đẹp chút nào.

Triệu Mẫn thấy chàng nói rất thành thực, thì mỉm cười, không để ý nữa. Nàng tuy thông minh, cũng không thể tưởng tượng ra người chàng nhớ đến lại là cô gái Thù Nhi xấu xí đang ở khoang thuyền bên trên.

Trương Vô Kỵ nghĩ Thù Nhi luyện môn công phu âm độc "Thiên thù vạn độc thủ" đến nỗi mặt mũi sưng cả lên, từng cục lồi lõm; tối hôm trước trong khu vườn hoang, trông còn xấu hơn cả ngày trước thì chàng bất giác thở dài, nghĩ môn công phu tà độc ấy, càng luyện e rằng càng hỏng cả tâm linh lẫn thể xác. Chàng nhớ lúc Ân Lê Đình nói Trương Vô Kỵ rơi xuống vực chết rồi, Thù Nhi đã gục xuống đất khóc lóc thảm thiết, thì chàng vô cùng xúc động. Chàng từ khi lên đỉnh Quang Minh, ngày cũng như đêm, nếu không bận luyện công thì cũng bôn ba lo liệu cho Minh giáo, đâu có mấy lúc nghĩ đến chuyện riêng của mình. Tuy chàng cũng có lúc nhớ đến Thù Nhi, cũng từng hỏi Vi Nhất Tiếu, từng nhờ Dương Tiêu phái người đi tìm kiếm quanh đỉnh Quang Minh song đều không thấy tung tích nàng đâu cả. Bây giờ chàng mới tự trách mình: "Thù Nhi đối với ta tốt như thế, sao ta lại lạnh nhạt bạc bẽo với nàng? Tại sao bao lâu nay ta chẳng hề nhớ tới nàng?" Từ khi làm giáo chủ Minh giáo, mọi việc riêng tư chàng đều gác sang một bên.

Triệu Mẫn đột nhiên hỏi:

– Công tử lại hối hận việc gì chăng?

Trương Vô Kỵ chưa trả lời, từ khoang trên bỗng vọng xuống nhiều tiếng nói lao xao, rồi một thủy thủ chạy xuống bẩm báo:

– Phía trước thấy đất liền, Kim Hoa bà bà bảo chúng thuộc hạ giong thuyền tới.

Triệu Mẫn và Trương Vô Kỵ nhìn ra cửa sổ, thấy cách vài dặm có một hòn đảo lớn, cây cối xanh tốt, trên đảo có mấy ngọn núi cao chọc trời. Con thuyền no gió, lướt nhanh về phía trước. Chẳng mấy chốc thuyền đã tới đảo. Phía đông hòn đảo, núi đá chạy thẳng ra biển, không có bãi cạn, chiếc thuyền tuy ngập sâu dưới nước, song vẫn đậu được ngay cạnh bờ.

*

* *

Chiếc thuyền vừa đậu, bỗng nghe từ trên núi vọng xuống một tiếng rống lớn, trung khí sung mãn, cực kỳ uy mãnh. Trương Vô Kỵ vừa kinh ngạc vừa vui mừng. Tiếng rống kia quá quen thuộc, chính do nghĩa phụ chàng, Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn phát ra.

Hơn mười năm cách biệt, hùng phong của nghĩa phụ vẫn như xưa, làm sao chàng không vui mừng kia chứ? Chàng không kịp suy nghĩ vì sao Tạ Tốn đang ở Băng Hỏa đảo nơi cực bắc lại về đây, cũng bất chấp Kim Hoa bà bà có thể nhận ra chân tướng của mình, liền vội vã leo cầu thang lên buồng lái, nhìn về phía triền núi phát ra tiếng rống.

Chỉ thấy bốn hán tử tay cầm binh khí đang vây đánh một người có thân hình cao lớn. Người tay không nghênh địch chính là Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn. Trương Vô Kỵ thoáng nhìn, thấy nghĩa phụ tuy hai mắt đã mù, lại một mình chọi bốn, tay không đấu với bốn món binh khí, song không lép vế tí nào. Chàng chưa từng nhìn thấy nghĩa phụ động thủ với ai, bây giờ chỉ coi vài chiêu, đã mừng trong bụng: "Năm xưa Kim Mao Sư Vương uy chấn thiên hạ, quả nhiên danh bất hư truyền. Nghĩa phụ ta võ công cao hơn Thanh Dực Bức Vương, phải ngang với ông ngoại ta". Bốn người kia võ công cũng khá cao cường, từ dưới thuyền nhìn lên triền núi không rõ mặt mũi, chỉ thấy họ áo quần lam lũ, lưng đeo túi vải, hẳn là người của Cái Bang. Bên cạnh còn có ba người đứng tiếp ứng.

Chỉ nghe một người lên tiếng nói:

– Giao thanh đao Đồ Long ra.. tha chết cho ngươi.. bảo đao thế mạng..

Gió núi thổi mạnh khiến tiếng nói nghe lúc được lúc mất; khoảng cách khá xa nên nghe không rõ, song cũng biết mấy kẻ kia muốn cướp đoạt thanh đao Đồ Long.

Tạ Tốn cười ha hả, nói:

– Thanh đao Đồ Long ở sau lưng ta đây, bọn Cái Bang thối tha kia có giỏi cứ đến mà lấy.

Miệng nói, tay ông ra chiêu chẳng chậm lại chút nào.

Kim Hoa bà bà nhún mình một cái đã vọt lên bờ, ho mấy tiếng, nói:

– Quần hiệp Cái Bang giáng lâm đảo Linh Xà, sao không đến hỏi chuyện lão bà tử, lại quấy rầy quý khách của đảo Linh Xà, là muốn gì đây?

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Quả nhiên đây là đảo Linh Xà, nghe giọng điệu của Kim Hoa bà bà, tựa hồ nghĩa phụ ta được lão bà mời đến. Năm xưa nghĩa phụ ta nhất quyết không chịu rời Băng Hỏa đảo về Trung nguyên, sao Kim Hoa bà bà mời về, ông lại chịu? Tại sao Kim Hoa bà bà biết được chỗ ở của nghĩa phụ ta?" Chỉ giây lát trong óc chàng nảy ra nhiều nghi hoặc.

Bốn người đang đấu nghe chủ nhân hòn đảo đã tới, chỉ mong sớm thanh toán Tạ Tốn cho xong chuyện, nên tấn công thật gấp rút. Họ đâu ngờ làm thế là phạm vào điều đại kỵ trong võ học. Tạ Tốn hai mắt bị mù, hoàn toàn căn cứ vào tiếng gió do binh khí của địch phát ra mà xác định phương vị đối phó. Bốn kẻ kia ra tay càng nhanh, tiếng gió càng mạnh. Tạ Tốn cười một tràng, giáng một quyền trúng ngực một tên, tên đó rú lên một tiếng thảm thiết, từ triền núi lăn xuống, vỡ đầu, óc văng tung tóe.

Một trong ba kẻ đứng ngoài tiếp ứng quát to:

– Lui ra!

Y nhẹ nhàng đấm ra một quyền, quyền lực như có như không, khiến Tạ Tốn không thể nhận ra đường đến của đòn. Quả nhiên quyền đến cách thân hình Tạ Tốn chỉ còn vài tấc ông mới biết, vội ra chiêu ứng phó, chân tay luống cuống, lúng túng rõ rệt. Ba kẻ đấu lúc trước đều lùi ra, thêm một lão già đứng ngoài nhập cuộc, cũng dùng cách đánh như kẻ vừa rồi, xuất chưởng rất nhẹ; chỉ qua vài chiêu, Tạ Tốn chống đỡ loạng quạng, suýt trúng đòn hiểm.

Kim Hoa bà bà quát:

– Quý trưởng lão, Trịnh trưởng lão, Kim Mao Sư Vương mắt bị lòa, hai vị giở thủ đoạn đê hèn như thế, uổng cho hai tiếng anh hùng trên chốn giang hồ.

Bà lão vừa nói vừa chống gậy chạy lên triền núi. Trông thân hình bà lão run rẩy như thế, cứ tưởng gió thổi bay xuống vực đến nơi, vậy mà bà di động cực nhanh; chỉ thấy mỗi lần chống gậy xuống đất một cái, thân hình bà lại vọt lên như bay, sau vài lần nhún nhảy đã tới lưng chừng núi. Thù Nhi vội bám theo, nhưng cách một quãng xa.

Trương Vô Kỵ lo cho an nguy của nghĩa phụ, vội chạy lên núi. Triệu Mẫn chạy theo bên cạnh, nói nhỏ:

– Có lão bà tử đó rồi, Kim Mao Sư Vương sẽ không bị nguy hiểm; công tử đừng ra tay, giấu lai lịch mình thì hơn.

Trương Vô Kỵ gật đầu, chạy đằng sau Thù Nhi. Lúc này nếu chỉ thấy thân hình Thù Nhi ở sau lưng mà không nhìn mặt, thì ai cũng phải nói là một giai nhân tuyệt sắc, chẳng kém Triệu Mẫn, Chu Chỉ Nhược, Tiểu Chiêu chút nào. Chàng nghĩ thế, rồi tự trách mình: "Trương Vô Kỵ ơi là Trương Vô Kỵ, nghĩa phụ mi đang gặp nguy nan, mi lại chăm chăm ngắm con gái nhà người, bình phẩm thân hình xấu đẹp của họ là sao?"

Thoáng chốc bốn người đã tới chỗ triền núi bằng phẳng. Chỉ thấy Tạ Tốn hai tay ra chiêu cực ngắn, chỉ thủ mà không công, chờ khi quyền cước của kẻ địch tới thật gần, mới dùng tiểu cầm nã thủ chiết giải. Lối đánh này tuy nhất thời có thể tự phòng vệ, nhưng muốn thắng địch thì quá khó. Trương Vô Kỵ đứng dưới gốc một cây tùng cổ thụ, thấy nghĩa phụ mặt đầy nếp nhăn, tóc bạc quá nửa, so với khi chia tay thì già hẳn đi, chắc là hơn chục năm qua trơ trọi trên hoang đảo, sống lay lắt qua ngày, thì trong lòng chàng trào lên nỗi chua xót, ngực chợt nóng ran, chàng muốn chạy ra thay ông đánh bại kẻ địch, cha con nhận nhau. Triệu Mẫn biết tâm ý chàng, khẽ cào cào lòng bàn tay chàng, lắc lắc đầu.

Bỗng nghe Kim Hoa bà bà nói:

– Quý trưởng lão, "Âm sơn chưởng đại cửu thức" của các hạ lừng danh giang hồ, hà tất phải lén lút ma mãnh giả làm chiêu thức "Miên chưởng"? Còn Trịnh trưởng lão nữa, sao lại đem "Hồi phong phất liễu quyền" [116] giấu trong "Bát quái quyền" là thế nào? Kim Mao Sư Vương Tạ đại hiệp đâu có nhìn thấy.. khụ khụ..

Tạ Tốn không nhìn thấy chiêu thức của đối phương; Quý, Trịnh hai lão lại vô cùng xảo quyệt, khi xuất chiêu lại cố ý biến thức khiến ông không biết đằng nào mà lần. Nghe Kim Hoa bà bà mách nước như thế, Tạ Tốn đã có chủ định, nhân lúc quyền pháp của Trịnh trưởng lão sắp biến đổi, liền đánh ra một quyền, trúng ngay quyền của Trịnh trưởng lão đang đánh tới, Trịnh trưởng lão phải lùi hai bước mới đứng lại được. Quý trưởng lão ở bên cạnh vung chưởng tiếp cứu, khiến Tạ Tốn không thể truy kích.

Trương Vô Kỵ nhìn kỹ hai vị trưởng lão Cái Bang, thấy Quý trưởng lão mập lùn, mặt đỏ, trông như một gã đồ tể; còn Trịnh trưởng lão thì gầy khô, mặt xanh như tàu lá, trông đúng một gã ăn mày. Hai trưởng lão lưng đều đeo tám cái túi vải. Đứng cách xa là một thanh niên trạc ba mươi tuổi, cũng trang phục theo lối Cái Bang, nhưng áo quần sạch sẽ tươm tất, lưng cũng đeo tám cái túi vải. Tuổi y còn trẻ như thế mà đã giữ chức trưởng lão tám túi của Cái Bang, thực là hiếm có. Đột nhiên nghe gã nói:

– Kim Hoa bà bà, bà đã nói trước là không giúp Tạ Tốn, vừa rồi lại lên tiếng mách nước là thế nào?

Kim Hoa bà bà lạnh lùng nói:

– Các hạ cũng là trưởng lão trong Cái Bang ư? Lão bà tử này mắt kém, chưa từng biết đến.

Người kia nói:

– Tại hạ mới gia nhập Cái Bang chưa lâu, bà bà dĩ nhiên không biết. Tại hạ họ Trần, thảo tự Hữu Lượng.

Kim Hoa bà bà lẩm bẩm một mình:

– Trần Hữu Lượng? Trần Hữu Lượng? Chưa nghe bao giờ.

Chợt có tiếng quát to, cánh tay trái của Trịnh trưởng lão lại bị trúng một quyền của Tạ Tốn, ba gã đệ tử Cái Bang đứng ngoài lại cầm binh khí xông vào vây đánh Tạ Tốn. Võ công ba tên này thấp hơn hai lão Quý, Trịnh, thực ra chỉ làm vướng víu chân tay. Nhưng Tạ Tốn từ khi bị mù chưa giao đấu với ai, không có kinh nghiệm lâm trận, hôm nay lần đầu gặp cường địch, kẻ địch ngoài quyền cước lại có kẻ sử dụng binh khí, âm thanh hỗn tạp, khó bề phân biệt phương vị, trong phút chốc đã trúng một quyền vào vai.

Trương Vô Kỵ thấy tình thế nguy cấp, toan ra tay, thì Triệu Mẫn nói nhỏ:

– Chẳng lẽ Kim Hoa bà bà không cứu?

Trương Vô Kỵ hơi chần chừ, thấy Kim Hoa bà bà đứng chống gậy, nhếch mép cười, không có vẻ gì ra tay cứu viện. Ngay lúc đó, đùi bên trái của Tạ Tốn lại trúng một cú đá rất mạnh của Trịnh trưởng lão. Tạ Tốn loạng choạng suýt ngã.

Trương Vô Kỵ đã cầm sẵn trong tay bảy viên sỏi, lúc này chàng không nhịn thêm được nữa, tay phải vung lên, bảy viên sỏi chia ra bắn tới năm người. Các viên sỏi chưa tới đích, bỗng thấy một làn hắc quang loáng lên, soạt một tiếng, ba món binh khí lập tức gãy đôi, bốn trong năm tên đã bị chém ngang lưng đứt thành tám khúc, bắn văng tứ phía; chỉ riêng Trịnh trưởng lão bị chém đứt cánh tay phải, nằm lăn ra đất, trên lưng bị hai viên sỏi bắn trúng. Bốn tên bị chém chết kia cũng mỗi tên trúng một viên sỏi, nhưng là đao chém trước, sỏi bắn tới sau, nên việc Trương Vô Kỵ xuất thủ là thừa.

Biến cố diễn ra quá nhanh, ai nấy cả kinh, chỉ thấy trong tay Tạ Tốn là một cây đại đao đen sì, chính là thanh đao Đồ Long được người đời xưng là "võ lâm chí tôn". Tạ Tốn cầm đao đứng sừng sững giữa triền núi, uy phong lẫm liệt, y như tướng nhà trời.

Trương Vô Kỵ từ nhỏ đã nhìn thấy thanh bảo đao này, nhưng cũng không ngờ nó lại sắc bén, uy mãnh đến thế.

Kim Hoa bà bà lẩm bẩm:

– Võ lâm chí tôn, bảo đao Đồ Long! Võ lâm chí tôn, bảo đao Đồ Long!

Trịnh trưởng lão bị đứt một cánh tay, cứ rống lên như heo bị chọc tiết. Trần Hữu Lượng mặt trắng bệch, lớn tiếng nói:

– Tạ đại hiệp võ công cái thế, bội phục, bội phục. Vị Trịnh trưởng lão này xin cho xuống núi, tại hạ nguyện thế mạng cho ông ấy, xin Tạ đại hiệp cứ việc ra tay!

Lời này nói ra, ai nấy cảm động, không ngờ người này nghĩa khí sâu nặng đến thế. Trương Vô Kỵ bất giác thầm kính phục.

Tạ Tốn nói:

– Trần Hữu Lượng, ồ, ngươi là một trang hảo hán, cứ khiêng lão họ Trịnh xuống núi, ta không làm gì ngươi đâu!

Trần Hữu Lượng nói:

– Tại hạ cảm tạ đại ân tha chết, nhưng Cái Bang đã có năm người bỏ mạng bởi tay Tạ đại hiệp, trong vòng mười năm nếu tại hạ học võ thành công, tại hạ sẽ đến báo ân trả oán hôm nay.

Tạ Tốn nghĩ thầm, mình chỉ cần tiến lên một bước, vung đao ra thì Trần Hữu Lượng khó bề thoát chết, giữa lúc cực kỳ nguy hiểm như thế mà y vẫn dám nói đến chuyện sau này tìm đến báo thù, thì quả là người can đảm, bèn nói:

– Lão phu nếu sống thêm mười năm, sẵn lòng lĩnh giáo.

Trần Hữu Lượng ôm quyền hành lễ với Kim Hoa bà bà, nói:

– Cái Bang xâm nhập quý đảo, xin tạ tội!

Y cúi xuống ôm Trịnh trưởng lão lên, hiên ngang đi xuống núi.

Kim Hoa bà bà trừng mắt nhìn Trương Vô Kỵ, lạnh lùng nói:

– Gã kia, khá khen cho thủ pháp đả huyệt của ngươi. Tại sao ngươi lại bắn ra những bảy viên sỏi? Có phải một viên định bắn Trần Hữu Lượng, một viên nhắm vào ta phải không?

Trương Vô Kỵ thấy bà lão nhận ra ý định bắn bảy viên sỏi của mình, song không nhận ra mình là ai, thì chỉ mỉm cười, không trả lời. Kim Hoa bà bà xẵng giọng nói:

– Gã kia, quý tính đại danh của ngươi là gì? Sao lại giả làm thủy thủ đi theo lão bà bà làm gì? Trước mặt Kim Hoa bà bà mà ngươi dám giở trò quỷ, bộ không thiết sống nữa hả?

Trương Vô Kỵ không quen nói dối, cứ ngẩn ra chưa biết trả lời thế nào.

Triệu Mẫn giả giọng ồm ồm của nam giới, nói:

– Chúng vãn bối thuộc bang Cự Kình kiếm ăn trên biển, lâu nay làm nghề buôn bán không dùng vốn. Lão bà bà chịu trả giá cao, nên đành chở khách một chuyến. Vị huynh đệ này thấy bọn Cái Bang cậy đông hà hiếp người khác, nên ra tay giúp người thế cô, không ngờ Tạ đại hiệp võ công cao cường đến thế, chúng vãn bối hóa thành kẻ đa sự.

Nàng giả giọng nam giới, nhưng nghe vẫn cứ the thé, may là hóa trang kỹ lưỡng, mặt mũi vàng vọt, già hẳn đi, nên Kim Hoa bà bà không nhận ra.

Tạ Tốn tay trái xua xua, nói:

– Đa tạ! Ồ, Kim Mao Sư Vương hóa ra hổ xuống đồng bằng, hôm nay phải nhờ đến sự trợ giúp của cả bang Cự Kình. Ta xa cách giới giang hồ hơn hai mươi năm, trong võ lâm xuất hiện bao nhiêu người tài giỏi, ta còn quay về làm gì nữa kia chứ?

Câu cuối cùng, giọng Tạ Tốn vô cùng chán chường, nghe cảm khái thương tâm hết sức. Vừa rồi Trương Vô Kỵ bắn bảy viên sỏi, kình lực mạnh hiếm có, Tạ Tốn nghe rất rõ, kinh hãi không ngờ trong võ lâm nay lại có cao thủ ghê gớm thế, lại tự nghĩ hôm nay mình toàn phải nhờ thanh đao Đồ Long mới thoát nổi cuộc vây đánh của lũ chuột nhắt; nhớ lại hơn hai mươi năm về trước, ở Vương Bàn sơn đảo, ông một mình làm cho cả quần hùng khiếp sợ, mà tưởng như ở kiếp nào.

Kim Hoa bà bà nói:

– Tạ tam ca, muội biết tam ca không muốn người ngoài trợ giúp, nên không ra tay. Tam ca không trách chứ?

Trương Vô Kỵ nghe bà lão gọi nghĩa phụ là tam ca, thì hơi ngạc nhiên, không biết rằng Tạ Tốn đứng hàng thứ ba, chỉ nhìn tuổi tác, thì rõ ràng Kim Hoa bà bà già hơn. Chỉ nghe Tạ Tốn nói:

– Có gì mà trách với chả móc? Lần này bà về Trung nguyên, có nghe ngóng được tin tức gì về hài nhi Vô Kỵ của ta chăng?

Trương Vô Kỵ xúc động, cảm thấy có một bàn tay mềm mại bóp chặt tay chàng, biết rằng Triệu Mẫn không muốn chàng nhận cha con vào lúc này. Vừa nãy chàng đã không nghe lời nàng, cứ bắn sỏi cứu viện; tuy là mạo muội, song vì quá lo cho sự an nguy của nghĩa phụ; còn bây giờ có nhịn một chút cũng chả ngại.

Kim Hoa bà bà đáp:

– Không có gì.

Tạ Tốn thở dài, lát sau mới nói:

– Hàn phu nhân, hai ta vốn là huynh muội thân tình, mong bà đừng lừa dối kẻ mù lòa này. Hài nhi Vô Kỵ của ta có đúng là còn sống trên đời hay chăng?

Kim Hoa bà bà do dự chưa trả lời, Thù Nhi bỗng nói:

– Tạ đại hiệp..

Kim Hoa bà bà giơ tay trái nắm chặt cổ tay nàng, trừng mắt một cái, khiến Thù Nhi không dám nói nữa. Tạ Tốn hỏi:

– Ân cô nương, nói đi, nói đi! Có phải bà bà của cô nương đánh lừa ta hay không?

Thù Nhi nước mắt ròng ròng. Kim Hoa bà bà giơ tay phải để trên đỉnh đầu nàng, Thù Nhi chỉ cần nói ra một lời trái ý bà, bà ta sẽ lấy mạng nàng tức thì. Thù Nhi nói:

– Tạ đại hiệp, bà bà không lừa Tạ đại hiệp đâu. Lần này trở về Trung nguyên, không nghe được tin tức gì của Trương Vô Kỵ.

Kim Hoa bà bà nghe nàng nói vậy, mới bỏ tay ra khỏi đầu nàng, nhưng tay trái vẫn nắm chặt cổ tay nàng.

Tạ Tốn nói:

– Vậy hai người nghe được tin tức gì? Minh giáo ra sao? Những người cũ của chúng ta bây giờ thế nào?

Kim Hoa bà bà nói:

– Không biết nữa. Chuyện trên giang hồ, muội không hỏi tới. Muội chỉ đi tìm tên đầu đà đã hại chết phu quân muội để thanh toán, rồi tìm Diệt Tuyệt sư thái để báo thù một kiếm năm trước; còn mọi chuyện khác, muội chẳng quan tâm.

Tạ Tốn giận dữ nói:

– Giỏi nhỉ, Hàn phu nhân, ngày ở Băng Hỏa đảo, bà nói với ta những gì? Bà bảo vợ chồng Trương ngũ đệ vì không chịu thổ lộ nơi ta đang ẩn cư, mà cả hai bị người ta ép phải tự vẫn trên núi Võ Đang; hài nhi Vô Kỵ của ta thành kẻ mồ côi không ai trông nom, lưu lạc giang hồ, đến đâu cũng bị người ta làm nhục, thê thảm hết mức, có phải thế không?

Kim Hoa bà bà nói:

– Đúng thế!

Tạ Tốn nói:

– Bà bảo Vô Kỵ bị trúng "Huyền Minh thần chưởng", ngày ngày bị chất âm độc hành hạ khổ sở, chính bà đã gặp nó ở Hồ Điệp cốc, định đem nó đi đảo Linh Xà, nhưng nó nhất quyết không chịu, có phải thế không?

Kim Hoa bà bà đáp:

– Đúng thế, nếu muội lừa dối huynh, thì trời tru đất diệt, Kim Hoa bà bà sẽ không bằng bọn hạ lưu trên giang hồ, phu quân muội ở dưới mồ cũng chẳng được yên.

Tạ Tốn gật đầu, nói:

– Ân cô nương, còn cô nương thì sao?

Thù Nhi nói:

– Điệt nhi bảo rằng hôm ấy điệt nhi đã cố khuyên Vô Kỵ đi ra đảo Linh Xà, y chẳng những không chịu, còn cắn điệt nhi một cái, mu bàn tay điệt nhi vẫn còn vết răng đây, lời đó quyết không sai. Điệt nhi.. điệt nhi vẫn nhớ y vô cùng.

Bàn tay Triệu Mẫn đang nắm tay Trương Vô Kỵ bỗng bóp mạnh một cái, mắt thì lườm chàng, ánh mắt vừa có vẻ giễu cợt, vừa có vẻ giận dỗi, tựa hồ muốn nói: "Công tử giấu ta giỏi thật! Thì ra cô nương kia quen công tử từ hồi nào, giữa hai người còn nhiều chuyện với nhau". Trương Vô Kỵ đỏ mặt, nghĩ đến mối tình kỳ dị của Thù Nhi đối với chàng, trong lòng vừa êm đềm vừa chua xót.

Bỗng nhiên Triệu Mẫn cầm tay Trương Vô Kỵ đưa lên miệng cắn mu bàn tay một cái khá mạnh. Mu bàn tay chàng ứa máu tươi. "Cửu dương thần công" trong cơ thể chàng tự động tạo ra sức chế ngự, lập tức khiến khóe miệng nàng bật máu. Hai người cùng cố nhịn đau, không kêu.

Trương Vô Kỵ nhìn Triệu Mẫn, không hiểu tại sao đột nhiên nàng lại cắn mình, chỉ thấy ánh mắt nàng tươi cười, đôi má ửng hồng, đẹp như hoa xuân; tuy miệng có gắn bộ râu giả, song vẫn không giấu được vẻ xinh tươi duyên dáng, thì lòng chàng đầy nghi hoặc.

Tạ Tốn nói:

– Được lắm! Hàn phu nhân, ta chỉ vì lo lắng cho hài nhi Vô Kỵ cô khổ, nên mới từ Băng Hỏa đảo vạn dặm xa xôi trở về Trung nguyên. Bà đã nhận lời đi nghe ngóng tin tức Vô Kỵ, sao không giữ lời?

Trương Vô Kỵ hai hàng nước mắt lã chã tuôn rơi, bây giờ mới biết, nghĩa phụ tuy đâu đâu cũng có kẻ thù, song vẫn không nề nguy hiểm trở về Trung nguyên, tất cả chỉ là vì chàng.

Kim Hoa bà bà nói:

– Bấy giờ hai ta đã nói rõ, muội sẽ đi tìm Trương Vô Kỵ cho tam ca, tam ca thì cho muội mượn thanh đao Đồ Long. Tạ tam ca, nếu tam ca cho muội mượn thanh bảo đao, lời của lão bà tử này nặng như núi, nhất định sẽ đi dò hỏi tin tức xác thực về gã thiếu niên ấy cho tam ca.

Tạ Tốn lắc đầu:

– Bà hãy tìm Vô Kỵ đưa về đây, ta sẽ cho bà mượn đao.

Kim Hoa bà bà lạnh lùng nói:

– Tam ca không tin muội ư?

Tạ Tốn đáp:

– Chuyện đời khó nói lắm. Thân thiết như phụ tử, huynh đệ, cũng có khi không tin nổi nhau nữa là.

Trương Vô Kỵ biết ông đang nhớ đến vụ Thành Côn, trong lòng lại chua xót.

Kim Hoa bà bà nói:

– Vậy là tam ca nhất quyết không chịu cho mượn đao trước?

Tạ Tốn nói:

Ta đã tha cho gã Trần Hữu Lượng của Cái Bang xuống núi, từ nay đảo Linh Xà sẽ không một ngày nào được yên, biết bao nhiêu kẻ thù trong võ lâm sẽ tới đây tìm ta gây sự. Kim Mao Sư Vương đâu còn như thuở xưa, ngoài thanh đao Đồ Long này, ta đâu còn gì để nương tựa, hì hì..

Ông bỗng dưng cười nhạt, rồi nói:

– Hàn phu nhân, ban nãy năm kẻ vây đánh ta, ngay đến vị hảo hán của bang Cự Kình còn phải cầm sẵn đến bảy viên sỏi, hẳn là bà rắp tâm hại ta chứ gì? Bà chỉ mong ta mất mạng dưới tay bọn Cái Bang, thế là bà tiến lên thu lợi. Tạ Tốn mắt mù, chứ lòng chưa mù. Hàn phu nhân, ta hỏi thêm bà câu này, Tạ Tốn đến đảo Linh Xà của bà, việc đó vô cùng bí mật, tại sao người của Cái Bang lại hay biết?

Kim Hoa bà bà nói:

– Chính muội cũng đang muốn tra xét xem tại sao lại thế.

Tạ Tốn giơ tay búng vào thanh đao Đồ Long một cái, cất vào trường bào, nói:

– Bà không chịu đi tìm Vô Kỵ cho ta, cái đó tùy bà. Tạ Tốn này sẽ trở lại giang hồ, lại gây nên một phen nghiêng trời lệch đất cho coi.

Nói đoạn ông ngẩng mặt lên trời hú một tiếng dài, từ triền núi phía tây chạy xuống. Chỉ thấy bước chân ông chạy nhanh, thẳng tới một ngọn núi phía bắc đảo.

Trên đỉnh núi ấy có một cái lều cỏ trơ trọi, chắc là nơi ở của ông.

*

* *

Kim Hoa bà bà chờ Tạ Tốn đi rồi, quay lại trừng mắt nhìn Trương Vô Kỵ và Triệu Mẫn, quát:

– Cút đi!

Triệu Mẫn kéo tay Trương Vô Kỵ, lập tức xuống núi, trở lên thuyền. Trương Vô Kỵ nói:

– Ta muốn đi gặp nghĩa phụ.

Triệu Mẫn nói:

– Khi nghĩa phụ công tử bỏ đi, mắt Kim Hoa bà bà lộ hung quang, công tử không thấy ư?

Trương Vô Kỵ nói:

– Ta chẳng sợ gì bà lão ấy.

Triệu Mẫn nói:

– Ta nghĩ hòn đảo này còn chứa chất nhiều điều ngụy bí. Bọn Cái Bang tại sao tụ tập ở đây? Kim Hoa bà bà làm cách nào biết được chỗ ẩn cư của nghĩa phụ công tử? Làm sao bà ta tìm đến Băng Hỏa đảo? Bên trong quả có nhiều điều chưa rõ. Công tử đánh chết Kim Hoa bà bà, việc đó không khó, nhưng sẽ không thể hiểu rõ ra nhiều việc.

Trương Vô Kỵ nói:

– Ta cũng chưa định giết Kim Hoa bà bà; chỉ vì nghĩa phụ nhớ ta quá, ta phải đến gặp ông mới được.

Triệu Mẫn lắc đầu, nói:

– Hai người xa cách hơn mười năm, đợi thêm một, hai ngày đã sao? Trương công tử, ta nói để công tử biết, chúng ta phải đề phòng Kim Hoa bà bà là điều dĩ nhiên, song cũng phải đề phòng cả cái gã Trần Hữu Lượng nữa đó.

Trương Vô Kỵ nói:

– Trần Hữu Lượng ư? Đó là một trang hảo hán rất trọng nghĩa khí.

Triệu Mẫn nói:

– Công tử tưởng thế thật ư? Công tử không nói dối ta đấy chứ?

Trương Vô Kỵ lấy làm lạ, nói:

– Nói dối cô nương? Trần Hữu Lượng chịu chết thay cho Trịnh trưởng lão, thật là một người hiếm có.

Đôi mắt đẹp của Triệu Mẫn chăm chú nhìn chàng, nàng thở dài, nói:

– Trương công tử ơi là Trương công tử, công tử là giáo chủ Minh giáo, phải thống suất bao nhiêu anh hùng hào kiệt ghê gớm, mưu tính bao nhiêu việc lớn, mà lại dễ bị kẻ khác đánh lừa như thế, thì làm sao được?

Trương Vô Kỵ ngạc nhiên hỏi:

– Bị kẻ khác đánh lừa ư?

Triệu Mẫn nói:

– Gã Trần Hữu Lượng ấy hiển nhiên đánh lừa Tạ đại hiệp, công tử chứng kiến rõ ràng, tại sao lại nhìn không ra?

Trương Vô Kỵ bật dậy, hỏi:

– Gã đánh lừa nghĩa phụ ta ư?

Triệu Mẫn nói:

– Khi Tạ đại hiệp vung đao một cái, bốn cao thủ chết tươi, một tên bị thương, gã Trần Hữu Lượng cao mấy cũng khó thoát một nhát chém của thanh đao Đồ Long. Ở tình cảnh đó, nếu không xông tới đánh thí mạng, thì chỉ còn cách quỳ xin tha mạng.. Nhưng công tử thử nghĩ xem, nếu Tạ đại hiệp không muốn cho người ta biết hành tung của mình, thì dù Trần Hữu Lượng có rập đầu ba trăm cái van xin, cũng chẳng thể làm cho Tạ đại hiệp mềm lòng. Trừ việc giả vờ nhân hiệp trọng nghĩa, làm gì còn cách nào khác?

Nàng vừa nói, vừa thoa lên vết thương trên mu bàn tay Trương Vô Kỵ một chút thuốc cao, rồi dùng khăn tay của nàng buộc lại.

Trương Vô Kỵ nghe nàng giải thích cảnh ngộ của Trần Hữu Lượng, quả không sai chút nào, nhưng nghĩ lúc ấy Trần Hữu Lượng nói năng khảng khái, không có chút gì giả dối, thì chàng cảm thấy bán tín bán nghi.

Triệu Mẫn nói tiếp:

– Thôi được, ta hỏi thêm công tử: Khi Trần Hữu Lượng nói mấy câu ấy với Tạ đại hiệp, thì hai tay và hai chân gã làm gì?

Trương Vô Kỵ lúc nghe Trần Hữu Lượng nói, thì chàng hoặc nhìn mặt gã, hoặc nhìn mặt nghĩa phụ, đâu có để ý tay chân gã ra sao; song chàng vẫn quan sát toàn thân gã, người ngoài không nhắc đến, thì chàng cũng chẳng lưu tâm. Bây giờ nghe Triệu Mẫn hỏi thế, chàng liền nhớ lại tình cảnh lúc đó, nói:

– Ồ, Trần Hữu Lượng hơi giơ tay phải, tay trái đặt ngang, là chiêu "Sư tử bác thố" [117], còn hai chân gã ư? À phải rồi, chính là "Hàng ma thích đẩu thức". Hai chiêu ấy đều là quyền pháp của phái Thiếu Lâm, cũng đâu có gì là tệ hại. Chẳng lẽ gã giả vờ cầu tình với nghĩa phụ ta, kỳ thực có ý đánh lén hay sao? Chuyện đó không đúng, hai chiêu kia đâu có tác dụng gì.

Triệu Mẫn cười nhạt, nói:

– Trương công tử, về chuyện lòng dạ hiểm ác của người đời, công tử còn biết quá ít. Cái gã Trần Hữu Lượng kia dẫu võ công cao mấy, đánh lén Tạ đại hiệp đâu dễ thành công? Hắn là kẻ thông minh cơ trí, là nhân tài hạng nhất, dĩ nhiên thừa hiểu điều đó. Giả dụ cái trò giả vờ nhân nghĩa thâm trọng kia bị Tạ đại hiệp phát hiện, không chịu tha mạng cho gã, thì từ vị trí gã đang đứng, chiêu "Hàng ma thích đẩu thức" sẽ đá vào ai? Chiêu "Sư tử bác thố" sẽ chộp người nào?

Trương Vô Kỵ chỉ nghĩ tốt cho người khác, không hề nghĩ rằng Trần Hữu Lượng có gian kế, nay nghe Triệu Mẫn nhắc nhở, trong óc chợt lóe lên, lưng toát mồ hôi, run giọng nói:

– Thì gã.. gã sẽ đá Trịnh trưởng lão đang nằm dưới đất, và sẽ thộp Ân cô nương.

Triệu Mẫn mỉm cười, nói:

– Đúng thế! Trần Hữu Lượng sẽ đá Trịnh trưởng lão văng về phía Tạ đại hiệp, rồi sẽ chộp Ân cô nương, cô nàng có tình thanh mai trúc mã với công tử, được công tử cắn tay ước hẹn, gã sẽ đẩy Ân cô nương về phía Tạ đại hiệp, làm như thế sẽ hoãn lại một chút, để gã có cơ hội thoát thân. Tuy Tạ đại hiệp thần công cái thế, lại có bảo đao trong tay, kế đó của gã chưa chắc thành công; song trừ cách đó ra, không còn cách nào khác. Nếu là ta, lúc ấy ta cũng sẽ làm như gã. Đến lúc này ta cũng chưa nghĩ ra được cách nào khác. Trần Hữu Lượng chỉ trong khoảnh khắc đã cơ biến như thế, quả là một nhân vật ghê gớm.

Nàng nói rồi cứ tấm tắc khen. Trương Vô Kỵ càng nghĩ càng lo ngại trên đời này lòng người hiểm độc, chàng từ bé đã trải qua không ít, nhưng lợi hại như Trần Hữu Lượng quả là ít thấy; một lát sau, chàng nói:

– Triệu cô nương, cô nương vừa nhìn đã nhận ra mưu mô của gã, chỉ e cô nương còn lợi hại hơn cả Trần Hữu Lượng.

Triệu Mẫn sa sầm mặt, nói:

– Công tử mỉa mai ta đấy chăng? Nói để công tử hay, nếu công tử sợ ta lòng dạ hiểm ác, thì hãy tránh cho xa là hơn.

Trương Vô Kỵ cười, nói:

– Chả cần phải thế. Cô nương đã sử dụng ngụy kế với ta nhiều lần, mọi việc ta cứ đề phòng là được.

Triệu Mẫn mỉm cười, nói:

– Công tử đề phòng có nổi không kia chứ? Ban nãy ta bôi thuốc độc lên vết thương ở bàn tay, sao công tử không đề phòng?

Trương Vô Kỵ kinh hãi, quả nhiên chỗ vết thương hơi ngứa, có vẻ khác lạ, vội cởi khăn buộc ra, đưa tay lên mũi ngửi ngửi, không khỏi kêu lên:

– Ối chao!

Chàng biết là Triệu Mẫn đã bôi "Khử hủ tiêu cơ cao" lên tay chàng. Đó là loại thuốc tiêu độc, trừ thịt thối, dùng trong ngoại khoa, tuy không phải là thuốc độc, nhưng bôi lên vết thương, sẽ làm cho vết cắn bị loét rộng thêm. Loại cao này vốn có mùi hăng hăng, Triệu Mẫn lại trộn lẫn với chút son môi, sau đó dùng khăn tay băng lại, mùi thơm át mùi thuốc, khiến Trương Vô Kỵ không nhận ra được. Trương Vô Kỵ vội chạy ra đuôi thuyền lấy nước rửa thật sạch. Triệu Mẫn theo sau, vừa cười khúc khích vừa giúp chàng rửa vết thương. Trương Vô Kỵ đẩy vai nàng ra, hậm hực nói:

– Đừng lại gần ta! Nghịch kiểu gì ác thế? Làm như người ta không biết đau hay sao?

Triệu Mẫn cười khanh khách, nói:

– Thật đúng là lấy oán trả ơn, ta sợ công tử bị đau nhức, nên mới bôi thuốc cao đó.

Trương Vô Kỵ không thèm để ý đến nàng, hầm hầm đi vào khoang thuyền, nhắm mắt lại. Triệu Mẫn cũng theo vào, gọi khẽ:

– Trương công tử!

Trương Vô Kỵ giả vờ ngủ. Triệu Mẫn gọi thêm hai lần, chàng vẫn làm thinh. Triệu Mẫn thở dài:

– Biết thế ta bôi thuốc độc thật cho công tử chết luôn, còn hơn là để công tử không thèm ngó ngàng gì đến ta thế này.

Trương Vô Kỵ mở mắt ra, nói:

– Thế nào là lấy oán báo ơn, cô nương nói ta nghe thử?

Triệu Mẫn cười, nói:

– Nếu ta giải thích đúng, công tử phải phục thì sao đã?

Trương Vô Kỵ nói:

– Cô nương quen cưỡng từ đoạt lý, ta dĩ nhiên cãi không lại với cô nương.

Triệu Mẫn cười, nói:

– Công tử còn chưa nghe ta giải thích mà đã không tin, nên nhớ ta hoàn toàn chỉ có thiện ý với công tử mà thôi.

Trương Vô Kỵ nói:

– Hừ, thiên hạ lại có thứ thiện ý kiểu đó ư? Tự dưng cắn chảy máu tay người ta, đã không đền lại còn bôi thuốc độc lên, ta thà không nhận thứ thiện ý ấy của cô nương còn hơn.

Triệu Mẫn nói:

– Được, ta hỏi công tử: Ta cắn công tử đau hơn hay công tử cắn Ân cô nương đau hơn?

Trương Vô Kỵ đỏ mặt, nói:

– Chuyện đó.. lâu quá rồi, nhắc lại làm gì?

Triệu Mẫn nói:

– Ta cứ thích nhắc đấy. Ta hỏi công tử, công tử đừng có đánh trống lảng.

Trương Vô Kỵ nói:

– Thì cứ coi như ta cắn Ân cô nương đau hơn đi. Hồi ấy cô ta nắm chặt tay ta, võ công ta không bằng, chẳng có cách gì thoát ra, trẻ con lúc cuống lên đành cắn một cái. Còn bây giờ cô nương đâu phải là trẻ con, ta cũng đâu có nắm tay cô nương bắt đi ra đảo Linh Xà?

Triệu Mẫn cười, nói:

– Kể cũng lạ. Hồi trước nàng ta nắm tay công tử, muốn công tử đi theo ra đảo Linh Xà, công tử nhất định không chịu đi. Vậy mà vừa rồi người ta không mời công tử, công tử lại vui vẻ đi theo là sao? Hay là người lớn rồi, lòng cũng lớn, mọi thứ đều thay đổi?

Trương Vô Kỵ lại đỏ mặt, cười nói:

– Chuyến này là cô nương rủ ta đi đấy chứ!

Triệu Mẫn nghe vậy cũng đỏ mặt, trong lòng cảm thấy ngọt ngào, tựa hồ Trương Vô Kỵ vừa nói rằng "Cô ta bắt ta đi, ta thà chết không đi; còn nàng rủ thì ta theo ngay".

Hai người im lặng hồi lâu, ánh mắt vừa chạm nhau, đã vội vàng ngoảnh đi.

Triệu Mẫn cúi đầu, nói nhỏ:

– Thôi được, để ta nói công tử nghe, năm xưa công tử cắn Ân cô nương một cái, bấy nhiêu năm cô ấy vẫn nhớ thương công tử. Ta nghe khẩu khí của cô ấy, chỉ e suốt đời cô ấy cũng không quên được công tử. Bởi vậy ta cũng cắn công tử một cái, để công tử suốt đời không thể quên được ta.

Trương Vô Kỵ nghe thế thì hiểu ngay thâm ý của Triệu Mẫn, trong lòng cảm kích không nói nên lời.

Triệu Mẫn nói tiếp:

– Ta nhìn vết sẹo ở mu bàn tay cô ấy, thấy công tử cắn rất sâu. Ta nghĩ vết cắn càng sâu, thì càng nhớ lâu. Ta cũng định cắn công tử một cái thật sâu, nhưng rồi không nỡ; mà cắn nhẹ, thì lại sợ công tử sẽ mau quên ta. Ngẫm đi nghĩ lại, chỉ còn cách cắn một cái vừa phải, rồi bôi thuốc "Khử hủ tiêu cơ cao" cho vết thương loét sâu hơn.

Trương Vô Kỵ thoạt nghe thấy tức cười, nhưng nghĩ lại, nàng làm thế cũng chỉ vì cảm tình sâu xa đối với chàng, nên thở dài, nói:

– Ta không trách cô nương đâu. Cứ coi như ta lấy oán báo ơn, không biết thiện ý của người khác. Cô nương đối với ta như thế, dẫu gì ta cũng không thể quên cô nương.

Triệu Mẫn đang dịu dàng e thẹn, nghe chàng nói vậy, ánh mắt liền lộ vẻ tinh quái, cười cười, hỏi:

– Công tử bảo "cô nương đối với ta như thế", là bảo ta đối xử tử tế hay không tử tế với công tử? Trương công tử, ta đối xử xấu với công tử thì đã nhiều, còn đối xử tốt với công tử, thì chưa được lần nào cả.

Trương Vô Kỵ nói:

– Từ nay trở đi, cô nương đối xử tốt với ta là được.

Chàng cầm tay trái nàng đưa lên môi, cười nói:

– Để ta cắn cho cô nương một cái, khiến cô nương suốt đời không quên ta.

Triệu Mẫn bỗng thẹn thùng, rút tay lại, chạy ra khỏi khoang thuyền. Vừa mở cửa khoang thì đụng ngay Tiểu Chiêu đứng đó, giật mình nghĩ thầm: "Hỏng rồi, những gì ta nói với chàng, con tiểu a hoàn này đã nghe thấy cả, xấu hổ muốn chết được!" Bất giác nàng đỏ mặt, chạy lên khoang trên.

*

* *

Tiểu Chiêu tới trước mặt Trương Vô Kỵ, nói:

– Công tử gia, tiểu nữ vừa thấy Kim Hoa bà bà cùng cô nương xấu xí đi ra, mỗi người vác một cái bọc to, không biết họ muốn giở trò gì.

Trương Vô Kỵ ậm ừ, từ nãy chàng và Triệu Mẫn cười đùa với nhau toàn chuyện riêng tư, giờ thấy Tiểu Chiêu, chàng không khỏi có chút ngượng ngập, ngẩn ra một lát, mới nói:

– Có phải họ đi tới căn lều cỏ trên đỉnh núi phía bắc hay không?

Tiểu Chiêu nói:

– Không phải, hai người đi về hướng bắc thật, nhưng không leo lên núi, hình như đang tranh cãi điều gì. Kim Hoa bà bà có vẻ rất tức giận.

Trương Vô Kỵ đi ra đuôi thuyền, thấy Triệu Mẫn đứng ở mũi thuyền thẫn thờ nhìn ra biển. Chàng nghe tiếng sóng vỗ vào mạn thuyền, cũng thấy trong lòng như có từng đợt sóng trào lên không dứt. Hồi lâu, nhìn vầng dương lặn xuống dưới các con sóng phía tây, cây cối, núi non trên đảo dần dần sẫm lại, chàng mới đi vào trong khoang.

Ăn tối xong, Trương Vô Kỵ nói với Triệu Mẫn và Tiểu Chiêu:

– Ta đi thăm nghĩa phụ, hai người ở lại giữ thuyền, khỏi đông người, khiến Kim Hoa bà bà phát giác.

Triệu Mẫn nói:

– Thì công tử cứ đợi một lúc nữa, trời tối hẳn hãy đi.

Trương Vô Kỵ nói:

– Phải.

Chàng mong nhớ nghĩa phụ, nóng lòng sốt ruột, sự chờ đợi thực cứ dài đằng đẵng. Đến khi trời đã tối đen, chàng đứng dậy, mỉm cười với Triệu Mẫn và Tiểu Chiêu, đi ra cửa khoang.

Triệu Mẫn cởi thanh kiếm Ỷ Thiên đeo bên hông ra, nói:

– Trương công tử hãy mang thanh kiếm này phòng thân.

Trương Vô Kỵ ngẩn người, nói:

– Cô nương cứ giữ nó thì hơn.

Triệu Mẫn nói:

– Không, công tử đi thế này, ta cảm thấy không yên tâm.

Trương Vô Kỵ cười, hỏi:

– Có gì mà không an tâm?

Triệu Mẫn nói:

– Ta cũng không nói ra được. Kim Hoa bà bà kỳ bí khó lường, Trần Hữu Lượng quỷ kế đa đoan, không biết nghĩa phụ của công tử có tin công tử là "hài nhi Vô Kỵ" của ông hay chăng.. Ôi, hòn đảo này tên là "Linh Xà", không chừng còn có các loài vật độc địa, huống hồ..

Nàng nói tới đó thì ngừng lại. Trương Vô Kỵ hỏi:

– Huống hồ cái gì?

Triệu Mẫn đưa tay mình lên, làm điệu bộ cắn một cái, cười hì hì, đỏ mặt. Trương Vô Kỵ biết nàng muốn nói tới biểu muội Ân Ly, bèn khoát tay, bước ra. Triệu Mẫn gọi:

– Đón lấy này!

Nàng thảy thanh kiếm Ỷ Thiên về phía chàng. Trương Vô Kỵ đón lấy thanh kiếm, trong lòng bồi hồi: "Nàng tin ta, ngay cả kiếm Ỷ Thiên cũng đưa cho mượn".

Chàng giắt kiếm sau lưng, đề khí chạy tới ngọn núi phía bắc. Nhớ tới lời Triệu Mẫn, chàng sợ trong cỏ có rắn rết, trùng độc, chỉ đặt chân xuống những chỗ trống trải, những tảng đá nhẵn nhụi. Chừng uống hết một chén trà nóng, chàng đã đến chân núi, ngẩng lên, thấy căn lều cỏ tối om, không đèn nến gì, nghĩ thầm: "Nghĩa phụ đã ngủ rồi ư?" nhưng lại nghĩ ngay: "Lão nhân gia hai mắt đã mù, cần gì đèn đóm?" Đúng lúc đó, từ lưng chừng núi phía trái loáng thoáng vọng xuống tiếng nói chuyện rì rầm. Chàng nép mình, lần tới chỗ phát ra tiếng nói, nhưng không nghe thấy gì nữa.

Vừa lúc ấy có một luồng gió bấc thổi tới, khiến cỏ cây xào xạc. Trương Vô Kỵ lợi dụng tiếng gió, vọt lên thật nhanh, nghe thấy phía trước mặt chừng dăm trượng có tiếng nói rất nhỏ của Kim Hoa bà bà:

– Sao chưa ra tay? Chần chừ gì nữa?

Ân Ly nói:

– Bà bà làm thế này.. dường như không nên không phải với bằng hữu cũ. Tạ đại hiệp có giao tình với bà bà mấy chục năm, mới tin bà bà mà rời Băng Hỏa đảo về Trung nguyên.

Kim Hoa bà bà cười khẩy, nói:

– Lão tin ta ư? Ngươi nói thật tức cười. Lão tin ta, sao không chịu cho ta mượn thanh đao? Lão trở về Trung nguyên chỉ cốt tìm nghĩa tử của lão, chẳng liên can gì tới ta.

Trong bóng đêm, chỉ thấy lờ mờ cái bóng còng còng của Kim Hoa bà bà, bỗng nhiên nghe "keng" một tiếng nhỏ, phía trước mặt Kim Hoa bà bà, là tiếng sắt nhọn cắm xuống đá núi, lát sau lại một tiếng như thế. Trương Vô Kỵ lấy làm lạ, nhưng sợ bị phát giác, nên chàng không dám lại gần thêm để nhìn cho rõ.

Chỉ nghe Ân Ly nói:

– Bà bà muốn đoạt thanh bảo đao, nên công khai giao chiến để khỏi mất tư cách anh hùng. Việc đang làm này nếu bị truyền ra giang hồ, chẳng sợ hảo hán thiên hạ chê cười hay sao? Diệt Tuyệt sư thái chết rồi, bà bà còn cần đến thanh đao Đồ Long làm gì nữa?

Kim Hoa bà bà cả giận, đứng thẳng dậy, xẵng giọng:

– Con nhãi kia, năm xưa ai cứu mạng mi thoát khỏi tay cha mi? Bây giờ mi lớn rồi, không vâng lời bà bà sai bảo nữa phải không? Lão Tạ Tốn kia không bà con thân thích gì với mi, sao mi cứ bênh lão chầm chập như thế? Mi thử nói duyên cớ bà bà nghe coi.

Giọng chì chiết đay nghiến, nhưng âm thanh rất nhỏ, tựa hồ sợ bị Tạ Tốn ở trên đỉnh núi nghe thấy. Thực ra khoảng cách từ đây lên đỉnh núi rất xa, nếu không dùng nội lực truyền tiếng nói đi, thì có lớn tiếng kêu gào, trên kia cũng chưa chắc đã nghe thấy.

Ân Ly lấy từ trong bao ra vật gì đó, ném xuống đất, nghe keng keng một chập, rồi lùi lại ba bước.

Kim Hoa bà bà gắt lên:

– Gì thế? Mi đủ lông đủ cánh rồi, muốn bay đi phải không?

Trương Vô Kỵ tuy qua bóng đêm, vẫn nhìn thấy mục quang bà ta quắc lên như tia chớp đầy vẻ hăm dọa. Ân Ly nói:

– Bà bà, con không dám quên đại ân bà bà đã cứu mạng và truyền thụ võ công cho con. Nhưng Tạ đại hiệp là.. là nghĩa phụ của y.

Kim Hoa bà bà cười khan vài tiếng, nói:

– Sao trên đời lại có kẻ ngu si như mi không biết! Gã tiểu tử họ Trương ấy đã rơi xuống vực sâu vạn trượng ở Tây Vực, chính tai mi đã nghe Võ Liệt, Võ Thanh Anh kể lại. Mi vẫn chưa tin hẳn, còn bắt cha con chúng mang về đây khảo vấn, chúng nói rõ ra hết cả rồi, không lẽ còn là giả hay sao? Giờ đây xương cốt của gã tiểu tử họ Trương cũng đã hóa thành tro bụi, vậy mà mi vẫn không quên được y hay sao?

Ân Ly nói:

– Bà bà, lòng con sao không thể nào quên y được. Chắc đúng như bà bà nói, là oan nghiệt kiếp trước đó chăng?

Kim Hoa bà bà thở dài, nói:

– Đừng nói năm xưa gã tiểu tử ấy không chịu theo mi ra đảo Linh Xà, dẫu có cùng mi nên vợ nên chồng, thì gã cũng đã chết rồi, còn chờ đợi gã làm gì nữa? Cũng may gã chết sớm, nếu còn sống đến hôm nay, thấy mi mặt mũi thế này, liệu gã có yêu thương mi hay không? Mi phải giương mắt nhìn gã yêu thương đứa con gái khác, trong lòng mi sẽ nghĩ sao?

Mấy câu này, giọng nói của Kim Hoa bà bà đã hoàn toàn trở lại ôn tồn.

Ân Ly lặng thinh, rõ ràng chưa biết trả lời thế nào. Kim Hoa bà bà nói tiếp:

– Chả nói đâu xa, ngay Chu cô nương phái Nga Mi mà chúng ta bắt mang về đây, xinh đẹp như thế, tên tiểu tử họ Trương nhìn thấy lẽ nào không động lòng? Khi đó, mi sẽ giết Chu cô nương hay giết tiểu tử họ Trương? Hừ, nếu mi không luyện môn "Thiên thù vạn độc thủ", thì mi cũng là một giai nhân tuyệt sắc nhưng hiện tại thì mọi thứ đâu vào đấy cả rồi.

Ân Ly nói:

– Người ấy chết rồi, diện mạo con cũng đã hủy, còn gì đáng nói? Nhưng Tạ đại hiệp là nghĩa phụ của y. Bà bà, mình nhất quyết không nên động chạm tới ông ấy. Bà bà, con chỉ cầu xin bà bà một việc đó thôi, còn việc gì con cũng vâng lời bà bà.

Nói đoạn liền quỳ xuống.

Trương Vô Kỵ lấy làm lạ: "Việc ta lên làm giáo chủ Minh giáo, đã gây chấn động cả võ lâm, sao hai người này lại không biết gì cả? À phải rồi, chắc họ đi lên Băng Hỏa đảo đón nghĩa phụ ta, đi về mất một thời gian dài; vừa rồi họ tới Đại Đô rồi trở về đảo ngay, không lai vãng với bất cứ đâu, nên không nghe nhắc đến tên ta".

Kim Hoa bà bà ngẫm nghĩ một hồi, nói:

– Thôi được, mi đứng lên đi!

Ân Ly mừng rỡ:

– Đa tạ bà bà!

Kim Hoa bà bà nói:

– Ta nhận lời mi không giết Tạ Tốn, nhưng thanh đao Đồ Long thì không lấy không được.. Ân

– Ân Ly nói:

– Nhưng mà..

Kim Hoa bà bà cắt ngang lời nàng, quát:

– Không lôi thôi gì nữa, đừng có làm cho ta bực mình.

Nói xong vung tay, nghe "keng" một tiếng nhỏ. Bà ta cứ vung tay liên tiếp, đi xa dần, tiếng keng keng vang không ngớt. Ân Ly ngồi trên một tảng đá, ôm mặt khóc tấm tức.

Trương Vô Kỵ thấy nàng đối với mình sâu nặng như thế, trong lòng vô cùng cảm kích.

Một lát sau, Kim Hoa bà bà từ xa hơn mười trượng quát:

– Mang lại đây!

Ân Ly không còn cách nào khác, đành xách hai cái túi đi về phía Kim Hoa bà bà.

Trương Vô Kỵ tiến lên mấy bước, cúi xuống nhìn, kinh hãi thấy dưới đất cứ cách hai, ba thước lại cắm một cái chông sắt dài bảy, tám tấc, mũi nhọn hoắt chĩa lên sáng loáng. Chàng càng nghĩ càng ghê người, Kim Hoa bà bà hẳn là sẽ đến khiêu chiến với Kim Mao Sư Vương, sợ không địch nổi, nếu bắn ám khí thì lo Tạ Tốn nghe tiếng gió mà tránh được; đằng này cắm chông dưới đất, vô thanh vô tức, chỉ cần dụ ông đi vào bãi chông, người mù cả hai mắt làm sao có thể đề phòng? Chàng không nén được lửa giận, định nhổ các cây chông để phá vỡ âm mưu của bà ta, nhưng lại nghĩ thầm: "Mụ ác bà này gọi nghĩa phụ ta là Tạ tam ca, giao tình giữa hai người ngày xưa hẳn vô cùng thân thiết. Chờ khi mụ ta đoạn tình với nghĩa phụ ta trước, ta sẽ phá quỷ kế của mụ ta. Hôm nay trời cho Trương Vô Kỵ ta ở đây, quyết không để nghĩa phụ bị thương tổn".

Nghĩ vậy, chàng bèn ngồi bó gối sau một tảng đá, chờ xem biến chuyển. Bỗng trong tiếng gió núi có gì như tiếng lá rơi, một kẻ khinh công cao cường đang lẳng lặng tiến tới. Trương Vô Kỵ ngoảnh nhìn, thấy kẻ đó chính là trưởng lão Cái Bang Trần Hữu Lượng, tay cầm loan đao, song dùng vải bọc đao lại cho khỏi sáng. Chàng nghĩ bụng Triệu Mẫn định liệu quả không sai, người này quả không phải là người tốt.

Chỉ nghe Kim Hoa bà bà thở dài, gọi:

– Tạ tam ca, có tên cẩu tặc không sợ chết đến tìm ông kìa!

Trương Vô Kỵ giật mình, không ngờ Kim Hoa bà bà lợi hại đến thế, không lẽ mụ ta đã phát hiện ra tung tích của mình chăng? Về lý mà xét, không thể có chuyện đó. Chỉ thấy Trần Hữu Lượng nằm phục xuống đám cỏ cao, không dám động đậy. Trương Vô Kỵ men lên phía trước thêm vài trượng nữa. Chàng muốn càng gần nghĩa phụ càng tốt, đề phòng Kim Hoa bà bà đột nhiên giở quỷ kế, chàng không kịp cứu viện.

Lát sau, một bóng người cao lớn từ trong căn lều cỏ trên đỉnh núi bước ra, chính là Tạ Tốn. Ông thong thả đi xuống, cách Kim Hoa bà bà vài trượng thì dừng lại, không nói một lời.

Kim Hoa bà bà nói:

– Tạ tam ca, ông đối với cố nhân thì đề phòng từng tí một, trong khi đối với người ngoài lại quá cả tin. Cái gã Trần Hữu Lượng mà Tạ tam ca tha cho đi, bây giờ lại đến tìm ông đấy.

Tạ Tốn cười khẩy, nói:

– Giáo đâm công khai dễ tránh, mũi tên bắn lén khó phòng, Tạ Tốn này cả đời luôn luôn bị người ta lợi dụng. Gã Trần Hữu Lượng ấy lại đến tìm ta ư, để làm gì kia chứ?

Kim Hoa bà bà nói:

– Hạng tiểu nhân gian xảo đó, thiếu gì mưu mẹo? Sáng nay, khi Tạ tam ca tha mạng cho hắn, tam ca có biết chân tay hắn chuẩn bị sẵn chiêu thức gì không? Hai tay hắn thành thế "Sư tử bác thố", còn chân thì dợm sức ra chiêu "Hàng ma thích đẩu thức", ha ha, ha ha!

Bà ta nói thì giọng thanh tao dễ nghe, nhưng tiếng cười thì như cú rúc trong đêm, nghe đáng sợ.

Tạ Tốn ngẩn người, biết lời của Kim Hoa bà bà là thật; chỉ vì mù nên ông không thể nhìn thấy hành vi của Trần Hữu Lượng. Ông thản nhiên nói:

– Tạ Tốn này bị người ta lừa dối đâu phải lần đầu. Hạng tiểu nhân như hắn trên giang hồ thiếu gì, giết bớt thêm một đứa hay để lại thêm một đứa thì có khác gì đâu? Hàn phu nhân, nếu bà còn là hảo bằng hữu của ta, sao lúc sáng thấy lại chẳng nói ngay, bây giờ mới nói cho ta biết, có phải muốn chọc tức ta hay không?

Nói xong, Tạ Tốn đột nhiên tung mình nhanh như chớp, nhảy đến ngay trước mặt Trần Hữu Lượng.

Trần Hữu Lượng cả kinh, vung đao chém. Tạ Tốn tay trái đoạt luôn thanh loan đao của hắn, tay phải tát "bốp bốp bốp" ba cái liền, rồi thộp cổ hắn giơ lên, nói:

– Lúc này ta giết ngươi, có khác gì giết gà; nhưng Tạ Tốn đã nói trước, cho phép ngươi mười năm sau trở lại tìm ta. Nếu ngươi còn để ta gặp lần nữa trên hòn đảo này, ta sẽ lấy cái mạng chó của ngươi.

Rồi Tạ Tốn quẳng hắn ra xa.

Nơi Trần Hữu Lượng sắp rơi xuống chính là bãi chông mà Kim Hoa bà bà dày công bố trí cả đêm. Sợ gian kế của mình bại lộ, Kim Hoa bà bà liền phi thân tới, dùng cây gậy đẩy vào lưng Trần Hữu Lượng ra xa mấy trượng, miệng quát:

– Ngươi mà còn đặt chân lên đảo Linh Xà này một bước, ta sẽ giết một trăm tên ăn mày của Cái Bang. Kim Hoa bà bà ta nói sao làm vậy, hôm nay ban cho ngươi một bông kim hoa trước.

Mụ vung tay trái, một điểm vàng loáng qua, "bộp" một tiếng, một bông kim hoa đã trúng ngay huyệt Giáp Xa trên má trái Trần Hữu Lượng, khiến hắn nhất thời không thể nói gì để khỏi tiết lộ bí mật của mụ. Trần Hữu Lượng đưa tay ôm má, vội bỏ chạy xuống núi.

Lúc này Tạ Tốn cách bãi chông chỉ vài trượng, thành ra Trương Vô Kỵ lại ở sau lưng ông. Nội công của Trương Vô Kỵ cao hơn hẳn Trần Hữu Lượng, chàng nín thở, nên Tạ Tốn và Kim Hoa bà bà đều không phát hiện chàng đang nằm phục ngay bên cạnh.

Kim Hoa bà bà quay người lại, khen:

– Tạ tam ca, ông dùng tai thay mắt không kém chút nào, từ nay trùng chấn hùng phong, tam ca lại có thể tung hoành trên giang hồ hai chục năm nữa đấy.

Tạ Tốn nói:

– Ta đâu có nghe được "Sư tử bác thố" và "Hàng ma thích đẩu thức", chỉ cần biết tin về hài nhi Vô Kỵ, là ta chết có thể nhắm mắt được rồi. Tạ Tốn này nợ máu ngập đầu, chắc sẽ phải chết thảm, nói gì chuyện tung hoành giang hồ?

Kim Hoa bà bà cười, nói:

– Hộ giáo pháp vương của Minh giáo, giết vài mạng người đáng kể gì đâu? Tạ tam ca, cho muội mượn thanh đao Đồ Long đi nào.

Tạ Tốn lắc đầu không trả lời.

Kim Hoa bà bà lại nói:

– Nơi đây hình tích đã lộ, ông không thể ở lại nữa. Để muội đi tìm một nơi kín đáo, đưa tam ca đến trú vài tháng, chờ muội mang thanh đao Đồ Long đi đánh thắng đại địch là phái Nga Mi rồi, sẽ tận lực tìm kiếm Trương công tử. Với bản lĩnh của muội, việc đem Trương công tử đến gặp tam ca không có gì khó.

Tạ Tốn lại lắc đầu. Kim Hoa bà bà nói:

– Tạ tam ca, ông còn nhớ tám chữ "Tứ đại pháp vương, Tử Bạch Kim Thanh" chứ? Ông còn nhớ năm xưa chúng ta cùng ở dưới trướng Dương giáo chủ chứ, Ưng Vương Ân nhị ca, Bức Vương Vi tứ ca, thêm tam ca và muội, bọn ta tung hoành thiên hạ, nào ai dám cản? Nay hổ có già, nhưng hùng tâm còn đó, sao tam ca nỡ để cho người ta khinh thường đứa em gái Tử Sam này, không chịu giúp là sao?

Trương Vô Kỵ cả kinh: "Nghe lời bà ta, không lẽ bà ta chính là Tử Sam Long Vương, người đứng đầu Tứ đại pháp vương của bản giáo? Trên đời lại có chuyện lạ thế ư? Tại sao ngay cả Vi Bức Vương, bà ta cũng gọi là Tứ ca?"

Chỉ nghe Tạ Tốn bùi ngùi nói:

– Chuyện cũ, nhắc lại làm chi nữa? Già hết, ai cũng già hết rồi.

Kim Hoa bà bà nói:

– Tạ tam ca, muội già nhưng mắt chưa hoa, vẫn nhận thấy hai mươi năm qua võ công của tam ca đại tiến. Tam ca chẳng cần phải khiêm tốn. Mình còn sống đâu được nhiều nhặn gì trên cõi đời này? Theo ý muội, nhân khi Tứ đại pháp vương của Minh giáo chưa ai chết, lại liên thủ làm nên một sự nghiệp oanh liệt trên giang hồ.

Tạ Tốn thở dài:

– Ân nhị ca và Vi tứ đệ bây giờ chắc gì còn sống. Nhất là Vi tứ đệ, chất hàn độc trong cơ thể khó trừ, chỉ e đã lìa trần rồi.

Kim Hoa bà bà cười, nói:

– Tam ca nhầm rồi. Muội nói thực ông nghe, Bạch Mi Ưng Vương và Thanh Dực Bức Vương hiện đang ở trên đỉnh Quang Minh đó.

Tạ Tốn ngạc nhiên hỏi:

– Họ lại trở về đỉnh Quang Minh ư? Để làm gì vậy?

Kim Hoa bà bà nói:

– Chuyện đó chính mắt Ân Ly nhìn thấy. Con bé Ân Ly là cháu ngoại của Ân nhị ca, nó đắc tội với cha nó, cha nó định giết nó. Lần thứ nhất nó được muội cứu thoát; lần thứ hai thì Vi tứ ca cứu nó. Vi tứ ca mang nó lên đỉnh Quang Minh, giữa đường thì bị muội lẻn bắt đi. Ân Ly, ngươi hãy kể lại chuyện sáu đại môn phái vây đánh đỉnh Quang Minh cho Tạ công công nghe đi nào.

Ân Ly bèn kể lại sơ qua chuyện nàng thấy ở Tây Vực, nhưng vì chưa lên tới đỉnh Quang Minh đã bị Kim Hoa bà bà bắt đi, nên nàng không thể biết những gì xảy ra trên đỉnh Quang Minh.

Tạ Tốn càng nghe càng nóng ruột, hỏi dồn:

– Sau đó thế nào? Sau đó thế nào?

Cuối cùng ông tức giận, nói:

– Hàn phu nhân, tuy bà vì chuyện hôn nhân mà bất hòa với các huynh đệ, nhưng khi bản giáo bị nạn, sao bà có thể tụ thủ bàng quan? Dương giáo chủ là nghĩa phụ của bà, năm xưa đãi bà thế nào, bà quên hết cả rồi ư? Bà không thấy là Ân nhị ca, Vi tứ đệ, Ngũ tản nhân và Ngũ Hành kỳ đều lên đỉnh Quang Minh cứu viện đó ư?

Kim Hoa bà bà lạnh lùng nói:

– Muội không mượn được thanh đao Đồ Long, rốt cuộc chỉ là bại tướng dưới tay Diệt Tuyệt lão ni phái Nga Mi, dù có lên đỉnh Quang Minh, cũng đâu còn mặt mũi nào động thủ với mụ ta, chẳng lẽ tới đó xin tha?

Hai người im lặng, lát sau Tạ Tốn hỏi:

– Hồi đó làm cách nào bà biết chỗ ở của ta, sao trước giờ vẫn không chịu nói ra? Là người của phái Võ Đang cho bà biết ư?

Kim Hoa bà bà nói:

– Người của phái Võ Đang làm sao biết được? Vợ chồng Trương Thúy Sơn bị các môn phái ép buộc, thà tự vẫn chứ không chịu tiết lộ chỗ ẩn cư của ông, người của phái Võ Đang dĩ nhiên không thể biết. Thôi được, hôm nay muội cũng chả giấu tam ca nữa. Ở Tây Vực muội có gặp một kẻ tên là Võ Liệt, vốn là con cháu của Võ Tam Thông, truyền nhân của Đoàn gia nước Đại Lý năm xưa. Trời xui đất khiến thế nào, muội nghe được câu chuyện y nói với con gái y. Muội bèn bắt cha con hắn, dùng cực hình ép y phải khai ra chỗ ở của ông.

Tạ Tốn ngẫm nghĩ một hồi, mới nói:

– Gã họ Võ đó có gặp hài nhi Vô Kỵ của ta phải không? Chắc là gã đánh lừa trẻ con nên mới moi ra bí mật đó.

Trương Vô Kỵ nghe tới đây, trong lòng vô cùng hổ thẹn, nhớ năm xưa ở Chu gia trang mình bị lừa, bị hai cha con Chu Trường Linh, Chu Cửu Chân dùng hàng loạt ngụy kế nói thật ra cả; giả dụ nghĩa phụ vì thế mà bị rơi vào tay kẻ gian, thì chàng có chết vạn lần cũng không chuộc hết tội. Nghĩa phụ tuy mù lòa, nhưng suy xét sự việc thì cứ y như chính mắt trông thấy vậy.

Lại nghe Tạ Tốn nói:

– Sáu đại môn phái vây đánh Minh giáo, không phải chuyện thường, cuối cùng bản giáo thế nào?

Kim Hoa bà bà nói:

– Minh giáo hưng suy tồn vong, từ lâu đã chẳng còn liên quan gì tới muội nữa. Năm xưa trên đỉnh Quang Minh, ai ai cũng gây khó dễ với muội, Tạ tam ca quên rồi ư? Muội thì còn nhớ như in. Hồi đó chỉ có Dương giáo chủ và Tạ tam ca đối tốt với muội thôi, muội không quên đâu.

Tạ Tốn nói:

– Ồ, tư oán là chuyện nhỏ, hộ giáo là đại sự. Hàn phu nhân, lòng dạ bà như thế hẹp hòi quá.

Kim Hoa bà bà giận, nói:

– Tạ tam ca là nam tử hán đại trượng phu, còn muội là đàn bà lòng dạ hẹp hòi. Hồi đó muội đã phá môn xuất giáo, thề không dính dáng tới Minh giáo nữa. Nếu không thế, gã Hồ Thanh Ngưu làm sao có thể coi muội là người ngoài? Gã đòi muội phải quay về với Minh giáo, gã mới chịu trị độc cho Ngân Diệp tiên sinh. Hồ Thanh Ngưu là do muội giết đó. Tử Sam Long Vương đã phạm một đại giới của Minh giáo rồi. Muội đâu còn dính dáng gì tới Minh giáo nữa?

Tạ Tốn lắc đầu, nói:

– Hàn phu nhân, ta thừa hiểu bụng dạ bà. Bà đòi mượn thanh đao Đồ Long, miệng bảo là để đối phó với phái Nga Mi, thực ra là để đối phó với Dương Tiêu, Phạm Dao. Bà lúc nào cũng chăm chăm lẻn vào đường hầm bí mật lên đỉnh Quang Minh. Bởi thế ta càng không thể cho bà mượn đao.

Kim Hoa bà bà ho mấy tiếng, nói:

– Tạ tam ca, năm xưa võ công giữa muội và tam ca, ai cao hơn ai?

Tạ Tốn nói:

– Tứ đại pháp vương, mỗi người có sở trường riêng.

Kim Hoa bà bà nói:

– Hiện nay ông đã mù hai mắt, so với lão bà tử này thì thế nào?

Tạ Tốn hiên ngang nói:

– Bà định cậy mạnh đoạt đao phải không? Tạ Tốn có thanh đao Đồ Long trong tay cũng đủ thay thế đôi mắt.

Tạ Tốn thở một hơi dài, bước lên một bước, cặp mắt mù hướng thẳng về phía Kim Hoa bà bà, thần uy lẫm liệt.

Ân Ly thấy vậy sợ hãi, lùi mấy bước về phía sau. Kim Hoa bà bà vẫn khom lưng đứng đó, tay chống gậy, thi thoảng ho vài tiếng, xem chừng Tạ Tốn chỉ cần vung đao lên là bà ta sẽ đứt làm đôi. Song bà ta vẫn đứng bất động, tựa hồ không sợ gì Tạ Tốn cả. Trương Vô Kỵ đã thấy bà ta ra tay mấy lần, quả là nhanh nhẹn tuyệt luân, lại có phần kỳ bí hơn cả Vi Nhất Tiếu, cứ y như yêu ma vậy. Lúc này bà ta đứng đối diện với Tạ Tốn, một người thì căng thẳng như kiếm tuốt cung giương; một người thì thản nhiên đứng chờ, như đã tính sẵn tất cả.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Bà ta còn được xếp hạng trên cả ông ngoại ta, nghĩa phụ và Vi Bức Vương, võ công tất phải vô cùng lợi hại", nên chàng rất lo cho nghĩa phụ. Chỉ nghe bốn bề tiếng gió ù ù, lẫn với tiếng sóng biển từ xa vọng tới, trong tình thế hung hiểm này nghe càng thê lương. Hai người đứng cách nhau chỉ hơn một trượng, song không ai ra tay trước.

Qua một hồi lâu, Tạ Tốn bỗng nói:

– Hàn phu nhân, hôm nay bà ép ta phải động thủ, vi phạm lời thề kết nghĩa năm xưa giữa bốn đại pháp vương chúng ta, Tạ Tốn này thật khó xử.

Kim Hoa bà bà nói:

– Tạ tam ca, tam ca bản tính hiền lành, hồi ấy muội quả không thể nào ngờ rất nhiều nhân vật anh hùng hào kiệt thành danh trong võ lâm lại do một tay ông giết.

Tạ Tốn thở dài, nói:

– Ta vì quá thương cha mẹ vợ con chết thảm, muốn trả thù nên bất chấp hết thảy. Trong đời ta, việc không nên làm, việc tệ hại nhất là đã đánh liên tiếp mười ba chiêu Thất Thương Quyền, khiến cho Không Kiến thần tăng phái Thiếu Lâm bỏ mạng.

Kim Hoa bà bà cả kinh, nói:

– Không Kiến thần tăng quả thật bị Tạ tam ca đánh chết ư? Ông luyện thành môn võ công lợi hại ấy khi nào vậy?

Bà ta vốn tự tin mình đủ tài đối phó với Tạ Tốn, nhưng bây giờ bắt đầu thấy sợ.

Tạ Tốn nói:

– Bà đừng sợ. Không Kiến thần tăng chỉ chịu đòn chứ không đánh lại; ông ấy muốn dùng Phật pháp quảng đại vô biên để độ hóa ngoại đạo tà ma.

Kim Hoa bà bà nói:

– Hừ, có thế chứ, muội đây không bằng được Không Kiến thần tăng, ông mười ba quyền đánh chết Không Kiến thần tăng, thì chỉ cần chín mười quyền là giết lão bà tử này thôi.

Tạ Tốn lùi một bước, giọng nói đột nhiên trở nên nhẹ nhàng:

– Hàn phu nhân, ngày xưa trên đỉnh Quang Minh, bà đối với ta hết sức tử tế. Hồi ấy ta bị bệnh, vợ ta thì mới sinh con sức còn yếu, chưa dậy nổi. Bà đã chu đáo săn sóc ta hơn một tháng, ta vẫn ghi nhớ trong lòng.

Ông giơ tay phủi bụi trên tấm áo bông, nói tiếp:

– Ở hải ngoại ta lấy da thú thay áo, bà đã may cho ta bộ quần áo bông này, vừa vặn hết sức, đủ biết tình nghĩa với nhau trên đỉnh Quang Minh vẫn còn. Thôi bà hãy đi đi! Từ rày chúng ta đừng gặp nhau nữa là xong. Ta chỉ xin bà hãy loan tin ra ngoài, bảo hài nhi Vô Kỵ của ta tới đây gặp ta một chuyến, thì ca ca đội ơn muội muội lắm lắm.

Kim Hoa bà bà cười buồn, nói:

– Tạ tam ca vẫn còn nhớ tình cũ nghĩa xưa. Chẳng giấu gì ông, từ khi Ngân Diệp đại ca mất đi, lão bà tử này đã coi nhân tình thế thái nhẹ lắm rồi, chỉ vì còn vài món oán thù chưa trả xong, nên không đành lòng xuôi tay về nơi chín suối với Ngân Diệp đại ca đó thôi. Tạ tam ca, đỉnh Quang Minh có một số nhân vật, dù võ công, cơ mưu hơn người, nhưng muội chẳng coi ra gì, chỉ nể trọng một mình Tạ tam ca, ông có biết là vì sao hay không?

Tạ Tốn ngẩng nhìn trời, ngẫm nghĩ một lát, lắc đầu nói:

– Tạ Tốn tầm thường kém cỏi, không đáng được hiền muội nể trọng như vậy.

Kim Hoa bà bà tiến lên vài bước, phủi bụi một tảng đá, thong thả ngồi xuống, nói:

– Năm xưa trên đỉnh Quang Minh chỉ có Dương giáo chủ và Tạ tam ca là muội thấy không chướng mắt thôi. Khi muội gá nghĩa với Ngân Diệp đại ca, chỉ có hai vị không trách muội lấy lầm người.

Tạ Tốn cũng ngồi xuống, nói:

– Hàn đại ca tuy không phải là người trong bản giáo, nhưng là bậc anh hùng. Các huynh đệ cứ điều ong tiếng ve, lòng dạ hẹp hòi. Ôi, sáu đại môn phái vây đánh đỉnh Quang Minh, không biết các huynh đệ có sao không?

Kim Hoa bà bà nói:

– Tạ tam ca, ông ở hải ngoại mà lòng vẫn hướng về Trung thổ, khắc khoải không quên các huynh đệ cũ. Đời người mấy chục năm trôi qua trong chớp mắt, hà tất phải lo cho kẻ khác làm chi?

Hai người lúc này chỉ cách nhau vài thước, nghe rõ cả hơi thở của người kia. Tạ Tốn thấy Kim Hoa bà bà mỗi lần nói lại húng hắng ho, bèn hỏi:

– Năm xưa ở đầm lạnh Bích Thủy hiền muội bị viêm phổi, dây dưa đến tận bây giờ vẫn chưa khỏi hẳn ư?

Kim Hoa bà bà đáp:

– Mỗi lần trời lạnh lại ho nhiều. Ôi dào, ho mấy chục năm, rồi cũng quen đi. Tạ tam ca, muội nghe tam ca thở không đều, có phải vì luyện "Thất Thương Quyền" mà bị tổn thương nội tạng hay chăng? Tam ca nên cố bảo trọng.

Tạ Tốn nói:

– Đa tạ hiền muội quan hoài.

Đột nhiên ông ngẩng lên, nói với Ân Ly:

– Ân Ly, hãy tới đây!

Ân Ly đến trước mặt Tạ Tốn, nói:

– Tạ công công!

Tạ Tốn nói:

– Ngươi hãy dùng toàn lực đâm ta một chỉ coi!

Ân Ly ngạc nhiên nói:

– Hài nhi không dám.

Tạ Tốn cười nói:

– Thiên thù vạn độc thủ của ngươi đâu có thể làm ta bị thương, cứ việc vận sức mà đâm. Ta chỉ muốn thử xem công lực của ngươi tới đâu thôi.

Ân Ly vẫn nói:

– Hài nhi không dám. Tạ công công, công công với bà bà ngày xưa đã kết nghĩa hữu hảo, có việc gì mà chẳng thỏa thuận êm đẹp với nhau được? Hai người chả nên tranh giành thanh đao làm gì.

Tạ Tốn cười buồn, nói:

– Ngươi cứ đâm ta một chỉ coi.

Ân Ly không còn cách nào khác, đành rút khăn bọc đầu ngón tay trỏ, rồi mới chọc một cái vào vai Tạ Tốn. Chỉ nghe nàng kêu "Ối" một tiếng, văng ra đằng sau đến hơn một trượng, rơi phịch xuống đất, xương cốt toàn thân như muốn gãy rời.

Kim Hoa bà bà thản nhiên như không, chậm rãi nói:

– Tạ tam ca, sao bụng dạ ông hiểm độc thế, ông sợ lão bà tử có thêm trợ thủ, nên ra tay khử trước đi phải không?

Tạ Tốn không đáp, ngẫm nghĩ một lát, nói:

– Hài nhi này bụng dạ thật tốt, nó đâm ta chỉ dùng hai, ba thành lực, lại bọc đầu ngón tay, không dùng "Thiên thù vạn độc thủ" để đả thương ta. Nếu không thế, "Thiên thù vạn độc thủ" đã trở ngược về tim nó, lúc này nó đã bỏ mạng rồi.

Trương Vô Kỵ nghe vậy thì toát mồ hôi lạnh; thấy nghĩa phụ rõ ràng bảo là muốn thử công lực của Ân Ly, nếu nàng dùng toàn lực đâm vào thì đã mất mạng. Người trong Minh giáo tâm địa hiểm ác, người hiền như nghĩa phụ ta mà cũng thế. Chàng đâu biết rằng Tạ Tốn và Kim Hoa bà bà biết nhau bao nhiêu năm, không lạ gì bụng dạ nhau, sau vài câu thăm hỏi thông thường là sẽ bắt đầu ác đấu không chút nương tay; nếu Kim Hoa bà bà có thêm Ân Ly làm trợ thủ, thì Tạ Tốn sẽ hết sức bất lợi, nên ông dùng kế trừ trước đi.

Tạ Tốn hỏi:

– Ân Ly, tại sao ngươi lại có thiện ý đối với ta như vậy?

Ân Ly đáp:

– Công công là nghĩa phụ của chàng, lại cũng là.. vì chàng mà đến đây; trên đời này chỉ có hai người là công công và hài nhi là nhớ đến chàng mà thôi.

Tạ Tốn nói:

– Ồ, không ngờ ngươi lại tốt với hài nhi Vô Kỵ của ta như vậy, thế mà ta lại định lấy mạng ngươi. Ngươi hãy ghé tai lại đây nào.

Ân Ly gượng đứng dậy, đi tới gần Tạ Tốn, Tạ Tốn ghé miệng sát tai nàng, nói:

– Để ta truyền cho con một pho tâm pháp nội công, do ta tham ngộ ở Băng Hỏa đảo mà có, có thể nói là tập đại thành võ công của cả đời ta.

Không đợi Ân Ly trả lời, Tạ Tốn liền đọc một lượt từ đầu chí cuối pho tâm pháp đó cho nàng nghe. Ân Ly nhất thời khó hiểu cho rõ, chỉ cố ghi nhớ. Tạ Tốn sợ nàng không nhớ nổi, lại đọc thêm hai lần nữa, rồi hỏi:

– Con nhớ hết chưa?

Ân Ly đáp:

– Hài nhi nhớ rồi.

Tạ Tốn nói:

– Con tu tập dăm năm sẽ đạt tiểu thành. Con có biết ta truyền thụ cho con là có dụng ý gì không?

Ân Ly đột nhiên khóc òa lên, nói:

– Hài nhi.. hài nhi biết. Nhưng.. hài nhi không thể.

Tạ Tốn xẵng giọng:

– Con biết cái gì nào? Tại sao lại không thể?

Nói đoạn ông giơ tay trái lên, chỉ cần Ân Ly nói sai một câu, ông sẽ giáng chưởng giết nàng ngay. Ân Ly hai tay ôm mặt, nói:

– Hài nhi biết công công muốn hài nhi đi tìm Vô Kỵ, đem công phu này truyền thụ cho chàng. Hài nhi biết công công muốn hài nhi luyện thành võ công thượng thừa để còn che chở cho chàng, để chàng khỏi bị người đời hãm hại, thế nhưng.. thế nhưng..

Nàng lại khóc òa lên.

Tạ Tốn đứng dậy, quát:

– Thế nhưng làm sao? Có phải hài nhi Vô Kỵ của ta đã gặp chuyện chẳng lành hay không?

Ân Ly sà vào lòng Tạ Tốn, nức nở:

– Chàng.. chàng từ sáu năm trước, ở Tây Vực đã rơi xuống vực sâu.. chết rồi.

Tạ Tốn rùng mình, run giọng, hỏi:

– Có.. có thật không?

Ân Ly khóc nói:

– Thật ạ. Hai cha con gã Võ Liệt chính mắt nhìn thấy chàng mất mạng. Hài nhi đã dùng "Thiên thù vạn độc thủ" chọc lên người họ bảy lần, rồi bảy lần cứu họ tỉnh lại, lần nào họ cũng nói như thế, chắc là họ nói thật.

Lúc Ân Ly bắt đầu nhắc đến cái chết của Trương Vô Kỵ, Kim Hoa bà bà đã định ngăn cản, song lại nghĩ, Tạ Tốn sau khi nghe tin nghĩa tử bị chết, tâm thần sẽ rối loạn; giao đấu sẽ hung hãn hơn, nhưng cũng sẽ kém thận trọng hơn, càng dễ dụ ông vào bãi chông gài sẵn, nên bà ta chỉ đứng một bên mỉm cười, không nói gì.

Tạ Tốn ngẩng mặt lên trời hú một tiếng dài, hai hàng nước mắt chảy xuống má. Trương Vô Kỵ thấy nghĩa phụ và biểu muội vì chàng mà đau lòng như thế, không nỡ, chỉ muốn nhảy ra giải thích, bỗng nghe Kim Hoa bà bà nói:

– Tạ tam ca, cậu con nuôi Trương công tử của ông đã chết rồi, ông còn giữ thanh đao Đồ Long làm gì kia chứ? Chi bằng cho lão bà tử này mượn đi.

Tạ Tốn nghẹn ngào nói:

– Bà đánh lừa ta quá thể. Muốn có bảo đao, hãy lấy mạng ta trước.

Ông đẩy nhẹ Ân Ly sang một bên, soạt một tiếng, xé rách vạt áo ném về phía Kim Hoa bà bà, việc đó gọi là "Cắt bào đoạn nghĩa" [118] .

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Mình nên bước ra, nói rõ sự việc, để hai người khỏi mất tình nghĩa một cách không đâu vào đâu". Đúng lúc ấy, chàng bỗng nghe thấy từ đám cỏ rậm xa xa phía bên trái, có tiếng thở của ai đó, tiếng thở rất nhẹ, nhưng Trương Vô Kỵ thính tai vẫn nghe thấy. Chàng nghĩ thầm: "Thì ra Kim Hoa bà bà còn ngầm mai phục trợ thủ kia đấy, đã thế, mình chưa nên ra mặt vội".

Chỉ nghe tiếng đao vù vù, Tạ Tốn đã đấu với Kim Hoa bà bà.

Tạ Tốn múa đao, thanh bảo đao chẳng khác gì một con rồng đen uốn lượn quanh thân hình ông, khi nhanh khi chậm, biến hóa thần kỳ. Kim Hoa bà bà sợ thanh đao sắc bén, chỉ chạy lòng vòng xa xa, khi nào Tạ Tốn tỏ ra sơ hở, bà ta lập tức xông vào tấn công không chút sợ hãi; khi ông thu đao về chém, bà ta lại khéo léo tránh vụt ra ngoài. Hai người biết quá rõ võ công của nhau, trong một hai trăm hiệp chưa thể phân cao thấp. Tạ Tốn dựa vào thanh đao sắc bén, Kim Hoa bà bà thì coi thường đối phương bị mù không nhìn thấy; mỗi người đều sử dụng sở trường của mình hòng thủ thắng, coi nhẹ chiêu số và nội lực.

Đột nhiên chíu chíu hai tiếng, hai điểm vàng lấp loáng, Kim Hoa bà bà phóng ra hai bông kim hoa. Tạ Tốn múa thanh đao Đồ Long, hai bông kim hoa dính luôn vào đao. Nguyên bông kim hoa đúc bằng thép, bên ngoài mạ vàng, còn thanh đao Đồ Long được đúc bằng huyền thiết có từ tính cực mạnh, gặp sắt sẽ hút liền. Bông kim hoa chính là ám khí thành danh của Kim Hoa bà bà, khi phóng ra sẽ biến ảo đa đoan, Tạ Tốn dù mắt còn tinh, cũng phải dốc toàn lực mới tránh được; ai ngờ thanh đao Đồ Long lại chính là khắc tinh của loại ám khí này. Kim Hoa bà bà phóng ra liên tiếp hai bên phải trái tám bông kim hoa, đều bị thanh đao hút lấy. Trong bóng đêm mờ mờ, tám bông kim hoa dính trên thanh đao đen sì khi múa lên trông cứ như một bầy đom đóm hàng trăm con lập lòe bay lượn.

Đột nhiên Kim Hoa bà bà ho một tiếng, phóng ra một nắm ám khí, phải tới mười bảy, mười tám bông kim hoa, để thanh đao Đồ Long của Tạ Tốn dù hút được các bông kim hoa bên đông, thì cũng không hút nổi các bông kim hoa bên tây. Tạ Tốn vung tay áo lên, cuốn được bảy tám bông, tám bông khác thì dính vào thanh đao. Ông quát:

– Hàn phu nhân, ngoại hiệu Tử Sam Long Vương của bà rất kỵ với thanh đao này, nếu bà còn ham đánh, càng bất lợi cho bà đó.

Kim Hoa bà bà cảm thấy lạnh người, phàm người võ học, tính mạng treo trên đầu đao mũi kiếm, rất kiêng những gì húy kỵ; ngoại hiệu của bà là "Long Vương", mà thanh đao kia lại tên là "Đồ Long" [119], thì quả thật không hay chút nào. Bà ta cười khẩy, nói:

– Không chừng "Sát sư trượng" [120] của lão bà tử lại giết sư tử mù trước đó.

Nghe "vù" một tiếng, Kim Hoa bà bà đã vung gậy đánh ra. Tạ Tốn trầm vai né tránh, đột nhiên bước hụt, kêu "Ôi" một tiếng, cây gậy đã đánh trúng vai trái, lực đạo tuy đã giảm quá nửa, song cũng không phải nhẹ.

Trương Vô Kỵ cả mừng, reo thầm. Chàng thấy Tạ Tốn cố ý giả vờ không tránh kịp, để bị trúng một gậy; nghĩ bụng: "Nghĩa phụ chỉ cần vung các bông kim hoa trong tay áo trái ra, tiếp đó thanh đao Đồ Long sử chiêu Thiên sơn vạn thủy, chém liên tiếp, thì Kim Hoa bà bà không dám chống đỡ thế đao sắc bén, ắt phải né sang bên trái, liên tiếp lùi hai lần, bấy giờ nghĩa phụ sẽ dùng nội lực hất các bông hoa dính trên thanh đao bắn thẳng ra, thì Kim Hoa bà bà không thể tránh xa, chắc chắn sẽ bị trọng thương".

Chàng vừa nghĩ thế, quả nhiên thấy hàn quang loang loáng, Tạ Tốn đã vung các bông kim hoa trong tay áo trái ra, Kim Hoa bà bà vội lùi sang trái. Trương Vô Kỵ đột nhiên lại nghĩ ra một chuyện, kêu thầm: "Ôi, không xong rồi, Kim Hoa bà bà sẽ tương kế tựu kế". Lúc này trong óc chàng kiến thức võ học bao la, mọi hành vi công thủ tiến thoái của hai đại cao thủ kia đều nằm trong dự tính của chàng; chỉ thấy Tạ Tốn xuất chiêu "Thiên sơn vạn thủy" chém liên tiếp, còn Kim Hoa bà bà tiếp tục lùi sang bên trái. Tạ Tốn quát to một tiếng, hất mạnh mười bông kim hoa dính trên bảo đao ra. Kim Hoa bà bà kêu "Ối chà", chân loạng choạng lùi lại mấy bước.

Tạ Tốn đã cắt áo đoạn tuyệt tình nghĩa, ra tay không nể nang gì nữa; ông tung mình nhảy lên, vung đao chém về phía Kim Hoa bà bà, chợt nghe tiếng kêu thảng thốt của Ân Ly:

– Cẩn thận, có chông nhọn dưới chân!

Tạ Tốn nghe tiếng gọi, giật mình, nhưng thu về không kịp nữa, chỉ nghe nghe tiếng chíu chíu, hơn chục bông kim hoa đã bắn tới. Kim Hoa bà bà muốn rằng ông đang ở lưng chừng trên không sẽ không cách gì né tránh, lúc đáp xuống hai chân sẽ đạp phải chông nhọn. Tạ Tốn không biết tính sao, chỉ còn cách vung đao hút các bông kim hoa, bỗng nghe dưới đất có mấy tiếng canh cách, hai chân ông chạm xuống đất an toàn.

Ông cúi người sờ thử, thấy bốn phía chỗ nào cũng cắm các cây chông sắt dài sáu bảy tấc, nhọn hoắt; chỉ riêng chỗ ông đặt chân xuống thì bốn cây chông đã bị ai đó dùng đá bắn văng đi, nghe kình lực ném đá gạt chông thì chính là của chàng thanh niên bang Cự Kình đã búng bảy viên sỏi ban sáng. Chàng ta ở bên cạnh coi trộm hai người đấu, mà ông không hề phát giác, nếu không được chàng ta ra tay cứu giúp, thì hai chân ông đã dẫm phải chông, chỉ còn nước nằm đó cho Kim Hoa bà bà băm vằm mà thôi. Nghĩ thế, Tạ Tốn không khỏi toát mồ hôi hột.

Hai người cùng thực hiện khổ nhục kế, Tạ Tốn bị một gậy vào vai, Kim Hoa bà bà cũng bị trúng hai bông kim hoa, tuy vết thương đều không phải là yếu hại, song cũng không dễ gì chịu đựng kình lực của đối phương. Kim Hoa bà bà ho mấy tiếng rất to, hướng tới chỗ Trương Vô Kỵ đang ẩn nấp, nói:

– Tên tiểu tử bang Cự Kình kia, ngươi lại nhúng tay vào việc lớn của lão bà tử, mau để lại họ tên.

Trương Vô Kỵ chưa kịp trả lời, đột nhiên hàn quang loáng lên, Ân Ly kêu hự một tiếng, đã bị ba bông kim hoa bắn trúng vào nơi yếu hại ở ngực. Nguyên Kim Hoa bà bà thấy Trương Vô Kỵ võ công cao cường, nếu bà ta trừng trị Ân Ly, chàng thể nào cũng phải ngăn trở, nên bèn dùng cách nói chuyện với chàng để chàng không phòng bị mà bất ngờ phóng kim hoa.

Trương Vô Kỵ cả kinh, phi thân nhảy tới, còn đang ở trên không đã chộp luôn hai bông kim hoa, khi đáp xuống liền ôm lấy Ân Ly vào lòng. Ân Ly thần trí còn tỉnh táo, thấy một chàng trai để râu quai nón ôm mình, vội giơ tay đẩy ra, vừa dùng sức liền ộc ra mấy ngụm máu tươi. Trương Vô Kỵ chợt hiểu, vội lau mặt, vứt bộ râu hóa trang, để lộ diện mạo thật của mình. Ân Ly kinh ngạc, ngẩn người, thốt lên:

– A Ngưu ca ca, là chàng đó ư?

Trương Vô Kỵ mỉm cười:

– Phải, ca ca đây.

Ân Ly bấy giờ mới cảm thấy yên tâm, tức thì ngất đi. Trương Vô Kỵ thấy nàng bị trọng thương, chưa dám nhổ mấy bông kim hoa cắm trên ngực nàng, chỉ điểm các huyệt Thần Phong, Linh Khư, Bộ Lang, Thông Cốc để bảo vệ tâm mạch cho nàng.

Chỉ nghe Tạ Tốn nói to:

– Các hạ hai lần ra tay giúp đỡ, Tạ Tốn đa tạ đại đức.

Trương Vô Kỵ nghẹn ngào, nói:

– Nghĩa.. nghĩa.. hà tất..

Comments

Comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 29: Bốn nữ cùng thuyền muốn gì hơn

Đúng lúc đó, bỗng nghe từ đằng sau vọng tới hai tiếng leng keng kỳ dị, có ba người từ đâu chạy vụt tới. Trương Vô Kỵ thoáng nhìn, thấy ba người đó mặc áo bào trắng rộng thùng thình, hai người thân hình cao lớn, còn người bên trái là một phụ nữ. Ba người ấy quay lưng về phía ánh trăng, nên không nhìn rõ mặt họ, nhưng trên chéo áo của cả ba đều có thêu hình ngọn lửa, hẳn là người theo Minh giáo. Ba người giơ cao hai tay, trong tay là một tấm hắc bài màu đen dài chừng hai thước; người cao nhất đứng giữa lớn tiếng nói:

– Thánh hỏa lệnh của Minh giáo tới, Hộ giáo Long Vương, Sư Vương sao chưa quỳ xuống nghênh tiếp, còn chờ đến khi nào?

Giọng nói của người này ngượng nghịu rất khó nghe.

Trương Vô Kỵ ngạc nhiên nghĩ thầm: "Trong di ngôn của Dương giáo chủ có nói, Thánh hỏa lệnh của bản giáo bị thất lạc từ đời giáo chủ thứ ba mươi mốt, là Thạch giáo chủ, sao bây giờ lại ở trong tay ba người này? Liệu Thánh hỏa lệnh là thật hay giả? Ba người này phải chăng là đệ tử bản giáo?"

Chỉ nghe Kim Hoa bà bà nói:

– Bổn nhân đã phá môn xuất giáo từ lâu, bốn chữ "Hộ giáo Long Vương" đừng nhắc đến nữa. Quý tính đại danh của các hạ là gì? Thánh hỏa lệnh là thật hay giả đây? Lấy từ đâu ra vậy?

Người kia quát:

– Bà đã phá môn xuất giáo, thì còn hỏi han lôi thôi gì nữa?

Kim Hoa bà bà lạnh lùng nói:

– Kim Hoa bà bà ta xưa nay chưa có kẻ nào dám nói nặng một câu, hồi Dương giáo chủ còn sống cũng kính nể ta ba phần. Ngươi là cái thá gì trong Minh giáo mà đòi phách lối với ta?

Đột nhiên ba người kia xông tới, ba cánh tay trái của họ cùng chộp vào Kim Hoa bà bà. Kim Hoa bà bà vung cây gậy quét ngang ba người, không ngờ họ di chuyển chân cách nào chẳng rõ, thân hình đã biến đổi sang vị trí khác. Cây gậy của Kim Hoa bà bà quét vào chỗ trống không, bà ta lại bị tay phải của ba người kia cùng chộp vào sau gáy mà vung tay quẳng ra rất xa bên ngoài.

Võ công của Kim Hoa bà bà cao cường là thế, dẫu có ba cao thủ bậc nhất thiên hạ vây đánh, cũng chẳng thể nào chỉ trong một chiêu đã thộp cổ bà ta quẳng ra ngoài xa như vậy. Thế nhưng bộ pháp của ba bạch y nhân này thực là kỳ dị, họ phối hợp với nhau lại cực kỳ nhịp nhàng, cứ y như một người có ba đầu sáu tay. Trương Vô Kỵ không khỏi thốt lên thán phục. Ba người kia di chuyển, chàng đã nhìn rõ, người cao nhất râu xồm, mắt xanh, người thứ hai râu vàng, mũi khoằm; còn người phụ nữ thì tóc đen không khác gì người Trung Hoa, song tròng mắt rất nhạt, như không có màu, mặt trái xoan, trạc ba mươi tuổi, trông lạ lùng nhưng tướng mạo vô cùng xinh đẹp. Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Thì ra họ là người Hồ, thảo nào nói năng ngọng nghịu, nghe đều đều như đọc thuộc lòng vậy".

Chỉ nghe gã râu xồm cao giọng nói:

– Thấy Thánh hỏa lệnh như thấy giáo chủ, Tạ Tốn còn chưa quỳ xuống nghênh tiếp?

Tạ Tốn nói:

– Ba vị rốt cuộc là ai? Nếu là đệ tử bản giáo, Tạ Tốn hẳn phải quen biết, còn nếu không phải là đệ tử bản giáo, thì Thánh hỏa lệnh đâu có liên quan gì với các vị.

Gã râu xồm nói:

– Minh giáo bắt nguồn từ đâu?

Tạ Tốn đáp:

– Bắt nguồn từ đất Ba Tư.

Gã râu xồm nói:

– Không sai! Ta là Lưu Vân sứ của Tổng giáo Ba Tư, còn hai vị này là Diệu Phong sứ và Huy Nguyệt sứ. Bọn ta phụng mệnh của đức Tổng giáo chủ từ Ba Tư đến Trung thổ.

Tạ Tốn và Trương Vô Kỵ đều kinh ngạc. Trương Vô Kỵ đã đọc cuốn Minh giáo lưu truyền Trung thổ ký của Dương Tiêu, biết Minh giáo quả thật từ Ba Tư truyền sang, xem ra ba vị này là người Hồ ở Ba Tư, võ công thân pháp như thế, chắc không phải giả. Chỉ nghe gã râu vàng Diệu Phong sứ nói:

– Tổng giáo chủ hay tin giáo chủ chi phái Trung thổ mất tích, các đệ tử tàn sát lẫn nhau, bổn giáo ngày một suy yếu, nên phái Vân, Phong, Nguyệt ba sứ giả sang chỉnh đốn giáo vụ. Toàn bộ giáo chúng từ trên xuống dưới đều phải tuân lệnh, không được sai sảy.

Trương Vô Kỵ cả mừng: "Tổng giáo chủ có lệnh truyền đến, thật không còn gì tốt hơn. Mình đỡ phải gánh vác trọng nhiệm, kiến thức nông cạn, dễ hỏng đại sự".

Tạ Tốn nói:

– Minh giáo Trung thổ tuy bắt nguồn từ Ba Tư, nhưng đứng riêng một cõi như một môn phái đã mấy trăm năm nay, chưa hề chịu sự quản hạt của Tổng giáo Ba Tư. Ba vị từ xa tới đây, Tạ Tốn rất mừng, song cái chuyện quỳ nghênh gì đó thì không hiểu từ đâu ra vậy?

Gã râu xồm tên Lưu Vân sứ bèn cầm hai tấm hắc bài gõ vào nhau, nghe "keng" một tiếng, âm thanh không phải tiếng kim khí hoặc ngọc khí, thập phần cổ quái, nói:

– Đây là Thánh hỏa lệnh của Minh giáo Trung thổ. Giáo chủ họ Thạch đời trước đã đánh mất ra bên ngoài, nay bọn ta lấy lại được. Xưa nay thấy Thánh hỏa lệnh như thấy giáo chủ, Tạ Tốn còn chưa tuân lệnh ư?

Khi Tạ Tốn gia nhập Minh giáo, thì Thánh hỏa lệnh đã thất lạc từ lâu, ông chưa từng nhìn thấy; song về sự thần kỳ của Thánh hỏa lệnh, ông đã được nghe, trong kinh thư điển tịch của Minh giáo cũng có nhắc đến, nay nghe âm thanh cổ quái kia, biết rằng ba người này quả đang cầm Thánh hỏa lệnh của bản giáo; huống hồ họ vừa ra tay đã thộp cổ Kim Hoa bà bà mà quẳng ra xa, thường nhân quyết không làm nổi, nên ông không còn nghi hoặc nữa, hỏi:

– Tại hạ tin lời tôn giá, không biết có điều chi sai bảo?

Lưu Vân sứ phất tay trái một cái, Diệu Phong sứ, Huy Nguyệt sứ cùng với gã lập tức nhảy tới, chỉ sau hai lần nhô lên hụp xuống đã đến bên Kim Hoa bà bà. Kim Hoa bà bà phóng các bông kim hoa vào ba sứ giả. Họ lạng người né tránh, Huy Nguyệt sứ sấn tới, giơ ngón tay chọc vào yết hầu Kim Hoa bà bà. Kim Hoa bà bà giơ gậy chặn lại, tiện thể trả đòn; đột nhiên người bị nhấc bổng, thì ra đã bị Lưu Vân sứ và Diệu Phong sứ túm lưng giơ lên. Huy Nguyệt sứ tiến lên ba bước, vỗ vào ngực và bụng bà ta liền ba chưởng, tuy không nặng, nhưng Kim Hoa bà bà đã không còn cử động được nữa.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Ba người này thân pháp nhô lên hụp xuống chẳng hơn ai, song họ phối hợp rất nhịp nhàng. Huy Nguyệt sứ dụ địch ở mặt trước, hai người còn lại bắt giữ Kim Hoa bà bà một cách xuất quỷ nhập thần. Nếu tính riêng võ công từng người, xem ra chưa bằng Kim Hoa bà bà. Gã kia vỗ ba chưởng, tuy không phải là đả huyệt, nhưng công hiệu thì chẳng khác gì phép điểm huyệt của Trung thổ".

Lưu Vân sứ giơ Kim Hoa bà bà lên, ném bà ta tới trước mặt Tạ Tốn, nói:

– Sư Vương, theo giáo quy bản giáo, đã gia nhập bản giáo thì suốt đời không được từ bỏ. Mụ này tự bảo đã phá môn xuất giáo, là phản đồ của bản giáo, Sư Vương hãy chém đầu mụ ta đi.

Tạ Tốn sững người, nói:

– Minh giáo Trung thổ trước nay không có thứ giáo quy ấy.

Lưu Vân sứ lạnh lùng nói:

– Từ nay trở đi Minh giáo Trung thổ phải tuân thủ hiệu lệnh của Tổng giáo Ba Tư. Đối với tên phản đồ xuất giáo, để lại chỉ là mầm họa, hãy mau trừ khử mụ ta đi.

Tạ Tốn hiên ngang nói:

– Tứ Vương của Minh giáo tình nghĩa như ruột thịt. Hôm nay tuy bà ta đối với Tạ mỗ vô tình, song Tạ mỗ không thể bất nghĩa, không thể ra tay làm hại bà ta.

Diệu Phong sứ cười ha hả, nói:

– Người Trung Quốc thật là lắm lời, chuyện gì cũng dây dưa nhùng nhằng. Kẻ đã từ bỏ bản giáo, sao lại không giết quách đi? Thế là nghĩa lý gì? Thật là kỳ quặc, khó hiểu.

Tạ Tốn nói:

– Tạ mỗ giết người không chớp mắt, nhưng không giết bằng hữu đồng giáo.

Huy Nguyệt sứ nói:

– Ngươi phải giết mụ ta. Ngươi không tuân lệnh, bọn ta sẽ giết ngươi trước.

Tạ Tốn nói:

– Ba vị vừa tới Trung thổ, trước hết đã ép buộc Kim Mao Sư Vương giết Tử Sam Long Vương, có phải là để ra oai dọa người hay không?

Huy Nguyệt sứ mỉm cười, nói:

– Ngươi hai mắt tuy mù, nhưng lòng rất sáng, mau ra tay đi!

Tạ Tốn ngẩng mặt cười một tràng, lớn tiếng nói vang động cả sơn cốc:

– Kim Mao Sư Vương quang minh lỗi lạc, đừng nói không sát hại bằng hữu đồng giáo, dù cho người này có thâm cừu đại oán, nhưng đã bị các người bắt giữ, không còn sức kháng cự, Tạ mỗ cũng không đời nào ra tay sát hại.

Trương Vô Kỵ nghe lời lẽ hào sảng của nghĩa phụ, lòng thầm cảm phục ông và đâm ra có ác cảm với ba vị sứ giả Minh giáo Ba Tư.

Lại nghe Diệu Phong sứ nói:

– Giáo đồ Minh giáo thấy Thánh hỏa lệnh như thấy giáo chủ, ngươi cả gan phản giáo chăng?

Tạ Tốn hiên ngang nói:

– Tạ mỗ bị mù đã hơn hai chục năm, các vị dẫu có chìa Thánh hỏa lệnh ngay trước mặt Tạ mỗ, Tạ mỗ cũng chẳng nhìn thấy, còn nói gì đến việc "thấy Thánh hỏa lệnh như thấy giáo chủ"?

Diệu Phong sứ cả giận, hỏi:

– Được! Vậy là nhà ngươi quyết ý phản giáo phải không?

Tạ Tốn nói:

– Tạ mỗ không dám phản giáo, nhưng tôn chỉ của Minh giáo là hành thiện trừ ác, lấy nghĩa khí làm trọng. Tạ Tốn thà mất đầu, chứ nhất định không làm việc xấu.

Kim Hoa bà bà tuy không cử động được, nhưng từng câu từng chữ Tạ Tốn nói ra đều lọt vào tai.

Trương Vô Kỵ biết nghĩa phụ đã lâm vào tình thế nguy đến tính mạng, bèn nhẹ nhàng đặt Ân Ly xuống đất. Chỉ nghe Lưu Vân sứ nói:

– Người trong Minh giáo không tuân theo Thánh hỏa lệnh đều phải bị giết sạch!

Tạ Tốn quát:

– Bản nhân là Hộ giáo pháp vương, dù là giáo chủ muốn giết ta, cũng phải lập đàn bẩm cáo với trời đất và Minh tôn bản giáo, nói rõ tội trạng cái đã.

Diệu Phong sứ cười hì hì, nói:

– Minh giáo ở Ba Tư đâu ra đấy, vừa tới Trung thổ đã đẻ ra lắm thứ quy định thối tha.

Ba sứ giả hò nhau xông tới. Tạ Tốn múa thanh đao Đồ Long bảo hộ phía trước mặt, ba sứ giả tấn công liên tiếp ba chiêu, vẫn chưa thể đến gần.

Huy Nguyệt sứ tiến thẳng lên, tay trái cầm Thánh hỏa lệnh đập xuống đỉnh đầu Tạ Tốn. Tạ Tốn vung đao gạt, nghe "keng" một tiếng rất quái dị. Thanh đao Đồ Long mọi khi chém gãy tất cả, dù là thứ binh khí cứng rắn nhất, đằng này không chém đứt được Thánh hỏa lệnh. Trong nháy mắt, Lưu Vân sứ lạng người sang bên trái, giáng một quyền trúng đùi Tạ Tốn. Tạ Tốn đang loạng choạng thì Diệu Phong sứ xoay Thánh hỏa lệnh đánh vào sau lưng ông. Đột nhiên cổ tay y bị ai nắm chặt, Thánh hỏa lệnh trên tay đã bị cướp mất. Y cả kinh quay lại, thấy tấm Thánh hỏa lệnh đã nằm trong tay phải của một thanh niên.

Trương Vô Kỵ nhảy tới cướp Thánh hỏa lệnh cực kỳ nhanh nhẹn và khéo léo. Huy Nguyệt sứ và Lưu Vân sứ ngạc nhiên và tức giận, từ hai bên cùng đánh tới. Trương Vô Kỵ xoay người sang trái tránh né, không ngờ nghe "bộp" một tiếng, chàng bị Huy Nguyệt sứ đánh một Thánh hỏa lệnh vào lưng.

Thánh hỏa lệnh làm bằng một chất liệu quái dị, cực kỳ cứng rắn; chàng bị trúng đòn, mắt tối sầm như muốn ngất đi. May có "Cửu dương thần công" hộ thể lập tức phát sinh uy lực, chàng vội trấn tĩnh, nhảy tới trước ba bước. Ba sứ giả Ba Tư bèn vây lại. Trương Vô Kỵ tay phải cầm Thánh hỏa lệnh đánh nhứ một chiêu về phía Lưu Vân sứ, tay trái vươn ra chộp Thánh hỏa lệnh trong tay trái của Huy Nguyệt sứ. Không ngờ Huy Nguyệt sứ vừa bung ra liền nhấn xuống một cái, đầu bên kia của tấm Thánh hỏa lệnh bật lên, cách một tiếng, trúng ngay cổ tay Trương Vô Kỵ. Năm ngón tay chàng tê dại, đành buông tấm Thánh hỏa lệnh vừa cướp được, Huy Nguyệt sứ liền đoạt lại.

Từ khi Trương Vô Kỵ luyện thành tâm pháp "Càn khôn đại na di", sau lại được Trương Tam Phong chỉ điểm thêm cái tinh diệu của "Thái cực quyền", chàng chưa hề gặp địch thủ; không ngờ lúc này lại bị một phụ nữ là Huy Nguyệt sứ liên tiếp đánh trúng; lần trúng đòn thứ hai, nếu không nhờ thần công hộ thể tự động thoái lực, thì cổ tay đã gãy rồi. Chàng kinh hãi, không dám cùng kẻ địch đối công, chỉ chăm chú theo dõi để nhận rõ chiêu số của đối phương.

Ba sứ giả Ba Tư thấy Trương Vô Kỵ hai lần trúng đòn, nhưng dường như không hề bị thương, cũng hết sức ngạc nhiên. Diệu Phong sứ đột nhiên cúi đầu, lấy đầu làm chùy húc thẳng vào người Trương Vô Kỵ. Lối đánh này vốn là đại kỵ trong võ học, dùng bộ phận trọng yếu nhất của cơ thể mình tông vào địch thủ. Trương Vô Kỵ đứng yên bất động, biết chiêu này của hắn trông tưởng vụng về, thực ra tinh diệu, ắt phục sẵn một chiêu khác lợi hại, chờ đầu hắn tới cách người mình một thước, chàng mới lùi lại một bước. Đúng lúc đó Lưu Vân sứ nhảy vọt lên trên không trung, rồi nhắm đỉnh đầu Trương Vô Kỵ mà ngồi xuống. Chiêu này lại càng quái dị, dùng mông đít tấn công đối phương, võ học thiên hạ tuy đa dạng thật, song chưa có chiêu số nào vừa vô dụng, vừa vụng về kiểu đó. Trương Vô Kỵ bình thản như không, lách sang một bên, bỗng cảm thấy ngực đau nhói, hóa ra đã bị Diệu Phong sứ lấy cùi chỏ thúc trúng, hắn cũng bị "Cửu dương thần công" dội ngược ra, phải lùi ba bước, loạng choạng lùi thêm ba bước, vẫn chưa đứng vững, lại phải lùi tiếp ba bước.

Ba sứ giả Ba Tư ngạc nhiên tái mặt, hai tấm Thánh hỏa lệnh trong tay Huy Nguyệt sứ vội quét ngang, còn Lưu Vân sứ thì đột nhiên nhảy lộn ba vòng trên không trung. Trương Vô Kỵ chưa hiểu ý định của gã là gì, nghĩ bụng nên tránh né là hơn, bèn bước sang trái một bước, thấy một luồng bạch quang loang loáng trước mắt, vai bên phải đã bị Lưu Vân sứ dùng Thánh hỏa lệnh giáng cho một đòn rất mạnh. Chiêu này hết sức bất ngờ, trước đó đối phương không có triệu chứng nào cả, Lưu Vân sứ rõ ràng lộn vòng trên không, tại sao lại tung Thánh hỏa lệnh đánh trúng vai chàng được kia chứ?

Trương Vô Kỵ kinh hãi, không dám ham đấu, huống hồ vai chàng vừa trúng một đòn rất nặng, tuy đã nhờ Cửu dương thần công dội ngược ra, song vẫn đau nhói tận xương. Nhưng chàng biết rằng chỉ cần mình lùi bước, thì nghĩa phụ sẽ mất mạng, nên vội hít một hơi thật dài, nghiến răng phi thân tới phía trước, giơ chưởng đánh vào ngực Lưu Vân sứ.

Lưu Vân sứ cũng đồng thời nhảy tới, hai tấm Thánh hỏa lệnh gõ vào nhau "keng" một tiếng, Trương Vô Kỵ cảm thấy choáng váng, thân hình đang ở trên không liền rơi thẳng xuống, chỉ cảm thấy bên sườn đau nhói vì bị Diệu Phong sứ đá trúng. Nghe "bịch" một cái, Diệu Phong sứ ngã ngửa ra sau; trong khi Thánh hỏa lệnh của Huy Nguyệt sứ lại đánh trúng tay phải của Trương Vô Kỵ.

Tạ Tốn ở bên cạnh nghe thấy hết, biết rằng chàng thanh niên của bang Cự Kình kia liên tiếp trúng đòn, hiện đang gắng sức chống đỡ; ông thì khổ nỗi bị mù, không có cách gì tiếp cứu chàng, trong bụng lo lắng bội phần, giả dụ chỉ một mình đối địch, ông còn có thể căn cứ tiếng gió để phân biện đường đi nước bước của binh khí và quyền cước đối phương; nếu tiến lên hiệp lực, thì biết quyền cước nào là của bằng hữu, binh khí nào là của kẻ địch? Nếu vung thanh đao Đồ Long lên không may chém chết bằng hữu, thì chẳng ân hận lắm ru? Bèn nói:

– Thiếu hiệp, hãy mau chạy thoát đi, đây là việc của Minh giáo, không liên can gì tới thiếu hiệp. Hôm nay được thiếu hiệp cứu giúp, Tạ Tốn cảm kích vô cùng.

Trương Vô Kỵ nói to:

– Tại hạ.. tại hạ.. Sư Vương mau chạy đi!

Thấy Lưu Vân sứ vung Thánh hỏa lệnh đánh tới, chàng đưa Thánh hỏa lệnh ra đỡ, hai tấm Thánh hỏa lệnh đụng nhau, phát ra một âm thanh cực kỳ khó nghe, khó tả. Tấm Thánh hỏa lệnh trong tay Lưu Vân sứ bị văng đi, Trương Vô Kỵ nhún mình nhảy lên định đoạt lấy, bỗng nghe "soạt" một tiếng, lưng áo chàng đã bị Huy Nguyệt sứ chộp rách toang một mảnh to. Móng tay nàng ta cào vào lưng chàng thành mấy vệt rách dài, cảm thấy khá rát; chàng bị chậm một chút, Lưu Vân sứ đã kịp chộp lại được tấm Thánh hỏa lệnh.

Sau một hồi tiếp chiến, Trương Vô Kỵ biết rõ công lực của ba người này so với chàng kẻ nào cũng kém xa; nhưng võ công của họ quái dị vô cùng, binh khí thì cực kỳ thần diệu, nguy hiểm nhất là ba người liên thủ trận pháp không ra trận pháp, bài bản không ra bài bản, kỳ bí và nham hiểm khôn lường; chỉ cần đánh bại một trong ba người, thì trận chiến hôm nay có thể thủ thắng. Chàng đánh một người, thì hai người kia liền tiếp ứng, quyền pháp không ngừng biến đổi, trước sau vẫn không sao phá vỡ cục diện liên thủ của họ, ngược lại còn bị Thánh hỏa lệnh đánh trúng hai lần. Rất may ba sứ giả Ba Tư mỗi lần đánh trúng người chàng, thì họ cũng bị phản kích mạnh mẽ, khiến họ không dám dùng quyền cước đụng tiếp vào cơ thể chàng.

Tạ Tốn quát lớn một tiếng, ôm thanh đao Đồ Long trước ngực, nhảy vào vòng chiến, tới bên cạnh Trương Vô Kỵ, nói:

– Thiếu hiệp, hãy dùng đao!

Ông đưa thanh đao cho chàng. Trương Vô Kỵ nghĩ dựa vào thần uy của thanh bảo đao có thể đẩy lui đại địch, bèn nhận lấy. Tạ Tốn nhún chân phải nhảy lùi ra sau, thì ngay lúc ấy lưng bị trúng một quyền cực mạnh của Diệu Phong sứ, tưởng chừng lục phủ ngũ tạng của ông đều bị đảo lộn. Cú đòn vừa rồi vô hình vô tung, Tạ Tốn không nghe thấy tiếng gió gì cả.

Trương Vô Kỵ vung đao chém Lưu Vân sứ. Lưu Vân sứ giơ hai tấm Thánh hỏa lệnh ra đỡ, hai tay kẹp thanh đao Đồ Long lại. Trương Vô Kỵ chỉ cảm thấy lòng bàn tay rung động mạnh, thanh đao như tuột khỏi tay; chàng kinh hãi, vội vận kình giữ lại. Lưu Vân sứ dùng Thánh hỏa lệnh định cướp binh khí đối phương, vốn ra tay là được, chưa lần nào hụt; lần này không đoạt được thanh đao của đối phương thì hết sức kinh ngạc. Huy Nguyệt sứ quát lên, cũng lấy hai tấm Thánh hỏa lệnh kẹp vào thanh đao, thành thế bốn tấm Thánh hỏa lệnh đoạt đao, uy lực càng thêm mạnh mẽ.

Trương Vô Kỵ đã bị thương bảy tám chỗ trên thân mình, tuy nhẹ, song cũng làm cho nội lực giảm hẳn đi, lúc này cảm thấy một nửa người nóng bừng, tay phải cầm đao run run. Chàng biết thanh đao Đồ Long can hệ mật thiết với tính mạng của nghĩa phụ, ông chưa biết chàng là ai, nhưng đã đưa đao cho chàng sử dụng, quả là một cử chỉ hào sảng; nếu chàng để bọn kia đoạt mất đao, thì còn mặt mũi nào nhìn nghĩa phụ? Bèn quát lớn một tiếng, "Cửu dương thần công" trong cơ thể cuồn cuộn tuôn trào. Huy Nguyệt sứ và Lưu Vân sứ mặt cùng biến sắc; Diệu Phong sứ thấy tình thế không ổn, còn tấm Thánh hỏa lệnh trong tay cũng đè luôn lên thanh đao Đồ Long.

Trương Vô Kỵ một chọi ba, song không hề núng thế; chàng tự mừng là đã cướp được một tấm Thánh hỏa lệnh của Diệu Phong sứ, nếu không cả sáu tấm cùng kẹp đao, thì sẽ khó đối phó hơn nhiều. Hiện thời bốn người đã tới giai đoạn tỷ thí nội lực. Trương Vô Kỵ nghĩ thầm, họ tỷ thí nội lực với chàng tức là lấy sở đoản chống sở trường, chàng hoàn toàn không sợ. Trong giây lát cả bốn người đứng bất động, ai nấy vận công. Đột nhiên Trương Vô Kỵ thấy ngực đau nhói, tựa hồ bị một vật sắc nhọn đâm vào.

Cơn đau nhói ấy bất ngờ xuyên vào tim phổi, tay Trương Vô Kỵ liền lỏng ra, thanh đao Đồ Long bị năm tấm Thánh hỏa lệnh hút đi. Trong cơn nguy biến, chàng không rối trí, thuận tay rút phăng thanh kiếm Ỷ Thiên đeo bên hông, sử chiêu "Viên chuyển như ý" trong Thái cực kiếm pháp, vạch một vòng tròn chéo, đâm vào bụng dưới của cả ba sứ giả Ba Tư. Ba người kia đang nhảy lùi ra né tránh, thì Trương Vô Kỵ đã gài kiếm vào bao, giơ tay đoạt lại thanh đao Đồ Long. Bốn bước mất đao, rút kiếm, hoàn kiếm, đoạt đao, thủ pháp nhanh như chớp, chính là công phu "Càn khôn đại na di" cấp thứ bảy.

Ba sứ giả Ba Tư cùng ồ lên kinh ngạc. Nội lực của họ kém xa Trương Vô Kỵ, nên họ vừa mở miệng, thì ba tấm Thánh hỏa lệnh liền bị thanh đao Đồ Long hút theo. Ba người kia vội vận sức giữ lại, thành thế giằng co không bên nào hơn bên nào. Trương Vô Kỵ bỗng lại cảm thấy ngực bị đâm nhói một cái.

Nhưng lần này chàng đã đề phòng, bảo đao không tuột khỏi tay. Hai lần đau nhói này tưởng là hữu hình, thực chất không phải, có một luồng hàn khí đã đột phá "Cửu dương thần công hộ thể" mà xuyên vào nội tạng. Chàng biết ba sứ giả Ba Tư này có nội lực cực kỳ âm hàn, tập trung vào một điểm, theo tấm Thánh hỏa lệnh truyền đi, sẽ đột phá mà xuyên vào cơ thể chàng. Lấy chí âm công chí dương, thì vị tất đã thắng được "Cửu dương thần công". Nhưng "Cửu dương thần công" của chàng thì trải ra toàn thân, còn âm kình của ba người kia tụ lại nhỏ như sợi tóc mà xuyên vào, cho nên rất khó đề phòng và chống đỡ. Chuyện đó giống như một con voi lớn tuy có sức mạnh khổng lồ, song vẫn có thể bị đàn bà trẻ con dùng kim nhọn chọc thủng da vậy. Âm kình xuyên vào cơ thể tuy sẽ biến mất ngay, nhưng cũng gây đau buốt thấu xương.

Huy Nguyệt sứ sử dụng liên tiếp hai lần nội kình "Thấu cốt châm", thấy đối phương hầu như chả tốn sức lực chống đỡ, thì rất lấy làm lạ. Diệu Phong sứ tuy tay trái để không, nhưng kình lực toàn thân đã dồn vào cánh tay phải, tay trái chẳng khác gì tê liệt. Trương Vô Kỵ biết rằng nếu cứ để giằng co thế này, âm kình của đối phương cứ liên tiếp xuyên phá sang, thì chàng sẽ không chịu nổi, thực chưa có cách gì đối phó. Tai nghe tiếng thở của Tạ Tốn rõ dần, rõ ràng ông đang tới gần, chàng biết nghĩa phụ muốn giúp chàng đánh địch. Lúc này bốn người nội kình trải rộng toàn thân, nếu Tạ Tốn giáng đòn vào kẻ địch thì cũng đánh vào Trương Vô Kỵ, nên ông cứ chần chừ chưa dám ra tay.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Tình thế nguy hiểm thế này, để nghĩa phụ thoát thân trước đi là hơn", bèn nói to:

– Tạ đại hiệp, võ công của ba sứ giả Ba Tư tuy kỳ dị, nhưng tại hạ muốn thoát đi không khó. Xin đại hiệp lánh đi trước cho, tại hạ sẽ chạy theo, trả lại bảo đao sau.

Ba sứ giả Ba Tư thấy chàng đang dốc toàn lực tỷ thí nội kình mà vẫn mở miệng nói năng thản nhiên như thường, thì không khỏi kinh ngạc.

Tạ Tốn nói:

– Quý tính đại danh của thiếu hiệp là gì?

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm lúc này chưa thể cùng ông nhận thân, nếu không nghĩa phụ vì quá yêu thương chàng, sẽ liều chết với ba sứ giả Ba Tư để bảo vệ chàng, bèn đáp:

– Tại hạ họ Tăng, tên A Ngưu. Tạ đại hiệp sao chưa chạy đi, chẳng lẽ không tin tại hạ, sợ tại hạ lấy mất bảo đao?

Tạ Tốn cười ha hả, nói:

– Tăng thiếu hiệp khỏi cần nói khích Tạ mỗ. Hai ta lo lắng cho nhau, Tạ mỗ vào lúc cuối đời còn được kết giao với một vị bằng hữu như Tăng thiếu hiệp, thật là một việc thú vị. Tăng thiếu hiệp, Tạ mỗ muốn dùng "Thất Thương Quyền" đánh nữ nhân này. Khi Tạ mỗ phát kình, Tăng thiếu hiệp hãy buông đao, thu tay về.

Trương Vô Kỵ biết "Thất Thương Quyền" của nghĩa phụ lợi hại vô cùng, chỉ cần chàng buông tay khỏi đao cho địch nhân, thì một quyền của Tạ Tốn sẽ đánh chết ngay Huy Nguyệt sứ; nhưng như thế bản giáo sẽ kết thù chuốc oán với Tổng giáo Ba Tư; bản thân chàng vẫn luôn miệng khuyên nhủ huynh đệ đồng giáo coi trọng hòa mục; hôm nay chẳng hỏi đầu đuôi lại đánh chết sứ giả Ba Tư, thì có giống một vị giáo chủ Minh giáo hay chăng? Chàng vội nói:

– Hãy khoan!

Rồi quay sang nói với Lưu Vân sứ:

– Chúng ta hãy tạm dừng tay, tại hạ có mấy lời muốn nói rõ cùng ba vị.

Lưu Vân sứ gật đầu. Trương Vô Kỵ nói:

– Tại hạ có liên hệ mật thiết với Minh giáo, ba vị lại mang Thánh hỏa lệnh tới đây, vậy là khách quý của tại hạ, vừa rồi vô lễ đắc tội. Bây giờ tất cả cùng thu hồi nội lực, dừng tay thôi đấu, được chăng?

Lưu Vân sứ liên tiếp gật đầu. Trương Vô Kỵ cả mừng, lập tức thu kình, ôm thanh đao Đồ Long vào ngực; cứ tưởng ba sứ giả Ba Tư cũng đồng thời thu hồi nội kình. Đột nhiên một luồng âm kình như đao như kiếm, như mũi dùi đâm thẳng vào huyệt Ngọc Đường ở ngực chàng.

Luồng khí âm hàn ấy tuy vô hình vô chất, nhưng khi xuyên vào cơ thể thì cũng sắc bén chẳng khác gì đao kiếm. Trương Vô Kỵ tức thời ngừng thở, toàn thân đờ đẫn không thể cử động, trong óc vụt thoáng hàng loạt ý nghĩ: "Sau khi ta chết, nghĩa phụ chắc cũng khó thoát khỏi độc thủ; không ngờ sứ giả Ba Tư lại bất chấp tín nghĩa như thế. Biểu muội Ân Ly có sống được chăng? Triệu cô nương và Chu cô nương sẽ ra sao? Tiểu Chiêu, ôi, cô bé thật đáng thương! Sự nghiệp cứu dân kháng Nguyên của bổn giáo cuối cùng sẽ tới đâu?" Chỉ thấy Lưu Vân sứ tay phải giơ tấm Thánh hỏa lệnh đập xuống đỉnh đầu chàng. Trương Vô Kỵ gấp vận nội lực, xung kích huyệt Ngọc Đường đang bị điểm trên ngực, song vẫn chậm một bước.

Bỗng có tiếng nữ giới quát to:

– Đại đội binh mã của Minh giáo Trung thổ đã tới!

Lưu Vân sứ kinh ngạc, cánh tay cầm Thánh hỏa lệnh đang giơ lên bỗng sững lại, chưa đánh xuống. Chỉ thấy một bóng xám nhanh như tia chớp vụt tới, rút thanh kiếm Ỷ Thiên bên hông Trương Vô Kỵ, cả người lẫn kiếm lao thẳng vào bụng Lưu Vân sứ.

Trương Vô Kỵ không cử động được, nhưng vẫn nhìn thấy rõ ràng, người đó chính là Triệu Mẫn; chàng cả mừng, song cũng kinh hãi không sao kể xiết.

Nguyên nàng đang sử dụng một sát chiêu của phái Côn Luân, gọi là chiêu "Ngọc toái côn cương[121]", một lối đánh thí mạng, mình và đối phương cùng chết. Trương Vô Kỵ tuy không biết tên gọi của chiêu này, song biết nàng sử kiếm xuất chiêu, kiếm Ỷ Thiên sắc bén như thế, Lưu Vân sứ hẳn sẽ bị nàng đâm chết, còn nàng thì cũng khó thoát khỏi độc thủ của địch.

Lưu Vân sứ thấy thế kiếm quá ghê gớm, đừng nói ba sứ giả liên thủ, tự mình gã bảo vệ cũng chẳng xong, trong cơn nguy cấp liền giơ Thánh hỏa lệnh gạt kiếm, rồi bất kể sống chết, lăn ngay xuống đất. Chỉ nghe "keng" một tiếng, Thánh hỏa lệnh đã gạt được kiếm Ỷ Thiên ra, nhưng thấy má bên trái mát rượi, nhất thời cũng chả biết là mình sống hay chết, đến lúc đứng dậy, giơ tay lên sờ má, thấy ướt dính và đau đớn dị thường, thì ra một mảng râu lẫn với thịt đã bị kiếm Ỷ Thiên sớt đi, nếu Thánh hỏa lệnh không phải là kỳ vật, gạt được nhát kiếm, thì nửa cái đầu của gã đã bị chém đứt rồi.

Sau khi Trương Vô Kỵ đi gặp Tạ Tốn, Triệu Mẫn nghĩ đến Kim Hoa bà bà gian trá ngụy bí, Trần Hữu Lượng hình tích khả nghi, nàng không thể yên tâm bèn len lén bám theo. Nàng tự biết mình khinh công không phải loại thượng thừa, chỉ cần theo gần sẽ bị phát giác, nên phải theo rất xa phía sau. Đến khi Trương Vô Kỵ ra tay đấu với ba sứ giả Ba Tư, nàng mới dám tới gần. Khi Trương Vô Kỵ tỷ thí nội lực với ba người đó, nàng mừng thầm, nghĩ bụng ba người Hồ kia tuy võ công quái dị, nhưng nội lực làm sao thâm hậu bằng "Cửu dương thần công" của Trương Vô Kỵ. Bỗng dưng Trương Vô Kỵ kêu gọi ba người kia ngừng đấu, Triệu Mẫn đang định lên tiếng nhắc chàng cẩn thận, thì đối phương đã sử dụng "Âm phong đao", khiến Trương Vô Kỵ bị thương ngã lăn ra đất. Nàng cả kinh, bất chấp hết thảy, nhảy bổ tới, sau khi rút kiếm Ỷ Thiên từ bên hông chàng, liền sử ngay chiêu số thí mạng của phái Côn Luân mà nàng học được ở chùa Vạn An.

Triệu Mẫn chỉ một chiêu đã buộc Lưu Vân sứ phải lui ra, song kiếm Ỷ Thiên cũng bật vòng lại, xén đứt một nửa cái vành mũ của nàng, để lộ ra mái tóc dài mượt. Trường kiếm của nàng vòng xéo lại, thì nàng lao người vào Diệu Phong sứ, thành thử kiếm Ỷ Thiên lại theo phía sau thân hình nàng. Chiêu này gọi là "Nhân quỷ đồng đồ", một tuyệt chiêu của phái Không Động, cùng một kiểu như chiêu "Ngọc toái côn cương" của phái Côn Luân, đều là loại chiêu số biết mình thua, nên quyết ý cùng chết với địch. Lối đánh này rất thảm liệt. Võ công cửa Phật như hai phái Thiếu Lâm, Nga Mi không có loại chiêu số này. "Ngọc toái côn cương" và "Nhân quỷ đồng đồ" không phải là những chiêu chuyển bại thành thắng, tìm đường sống trong cái chết, mà chỉ cốt cả hai cùng tử thương, cùng xuống suối vàng. Ngày trước ở chùa Vạn An, các cao thủ phái Côn Luân và Không Động bị nhốt, bị làm nhục, lúc tỷ võ thì công lực đã mất hết, không còn cách nào thủ thắng, vài người tính nết nóng nảy đã giở chiêu số này ra, nhưng vì họ đã mất nội lực, nên có liều chết cũng không thành. Triệu Mẫn đã ghi nhớ lại.

Diệu Phong sứ thấy nàng sử dụng các chiêu số hung hãn như thế thì cả kinh, bỗng dưng toàn thân lạnh ngắt, đứng sững bất động. Diệu Phong sứ võ công tuy cao, nhưng rất nhát gan, thấy không có cách gì chống đỡ chiêu này, thì sợ cứng người lại, đứng im chịu chết.

Thân hình Triệu Mẫn chạm tới tấm Thánh hỏa lệnh của Diệu Phong sứ, cổ tay nàng xoay một cái, trường kiếm liền đâm tới ngực Diệu Phong sứ. Chiêu này trước tiên dùng thân mình lao vào binh khí của đối phương, bất kể trong tay đối phương là đao kiếm, giáo rìu gì cũng mặc, khi đụng vào thân mình rồi cũng phải chững lại một chút; lúc đó mình sẽ đâm kiếm tới, thì kẻ địch võ công cao mấy cũng khó lòng tránh thoát. Diệu Phong sứ nhận ra chiêu này quá nguy hiểm, mới sợ đứng chết trân như vậy. Cũng may binh khí trong tay hắn chỉ là tấm Thánh hỏa lệnh bằng kim loại dài một thước, không nhọn không sắc, nên Triệu Mẫn lao người đụng vào cũng không bị thương; trường kiếm vừa đâm ra, thì nàng đã bị Huy Nguyệt sứ ôm chặt lấy từ sau lưng.

Ba sứ giả Ba Tư liên thủ nghênh địch, phối hợp với nhau tài tình không chê vào đâu được. Triệu Mẫn vừa xông tới, tung ra hai chiêu thí mạng, khiến cho trận pháp của ba đại cao thủ rối loạn; đến lúc này Huy Nguyệt sứ mới từ sau lưng ôm được nàng. Hành vi này của Huy Nguyệt sứ tưởng không có gì lạ, kỳ thực rất chuẩn xác, không sai một ly, ứng biến thần tốc như sao băng. Thế kiếm của Triệu Mẫn tuy lợi hại, nhưng đâm chưa tới Diệu Phong sứ thì tay nàng đã bị kéo lại. Triệu Mẫn biết là không ổn, thuận theo cái thế Huy Nguyệt sứ kéo nàng về đằng sau mà hồi kiếm luôn vào bụng dưới của mình.

Chiêu này rất tráng liệt, là một chiêu kiếm của phái Võ Đang, tên là "Thiên địa đồng thọ", không phải do Trương Tam Phong sáng tạo, mà là do Ân Lê Đình khổ tâm nghĩ ra, cốt là để cùng chết với Dương Tiêu. Sau khi Kỷ Hiểu Phù chết đi, Ân Lê Đình chỉ nghĩ đến việc duy nhất là giết bằng được Dương Tiêu để trả thù, song Ân Lê Đình tự biết võ công của mình không thể địch nổi Dương Tiêu; sư phụ tuy là đệ nhất cao thủ trong thiên hạ, nhưng tư chất, ngộ tính của mình không học được ba, bốn thành của thầy, cho nên chỉ cốt giết được Dương Tiêu, mình cũng chẳng thiết sống nữa; do đó ở trên núi Võ Đang mới nghĩ ra vài chiêu đánh thí mạng.

Khi Ân Lê Đình lén luyện tập các chiêu kiếm ấy, Trương Tam Phong bắt gặp, chỉ đành thở dài, biết chuyện loại này khó bề khuyên giải, mới đặt cho nó cái tên "Thiên địa đồng thọ", ngụ ý là sau khi người chết đi, tinh thần bất hủ, có thể xanh tươi muôn đời, thực là một chiêu kiếm bi tráng, giết mình để giữ điều nhân nghĩa. Tại chùa Vạn An, Ân Lê Đình sử dụng chiêu này, được Phạm Dao xông ra cứu kịp. Triệu Mẫn lúc này đem ra sử dụng, chính là để kiếm Ỷ Thiên xuyên qua bụng mình đâm vào bụng kẻ đang ôm mình phía sau, Huy Nguyệt sứ làm sao tránh nổi?

Giả dụ Diệu Phong sứ chưa sợ đến cứng đờ cả người, hoặc Lưu Vân sứ đứng gần ngay bên, với lối đánh ba người kết thành một khối, thì may ra còn có thể cứu mạng hai nữ nhân.

Nhìn kiếm Ỷ Thiên sắp đâm lút vào bụng cả Triệu Mẫn lẫn Huy Nguyệt sứ, trong một sát-na đó, Trương Vô Kỵ lúc này đã xung huyệt thành công, liền giơ tay đoạt lấy thanh kiếm.

Triệu Mẫn cố vùng vẫy, thoát khỏi vòng tay Huy Nguyệt sứ ôm nàng, nàng suy nghĩ cực nhanh, cầm ngay tấm Thánh hỏa lệnh trong tay Trương Vô Kỵ ném ra xa, nghe "keng" một tiếng, rơi ngay vào bãi chông do Kim Hoa bà bà sắp sẵn.

Tấm Thánh hỏa lệnh được ba sứ giả Ba Tư coi ngang tính mạng; Lưu Vân sứ và Huy Nguyệt sứ không còn thiết đối địch với Trương Vô Kỵ và Triệu Mẫn, thậm chí chẳng thèm biết Diệu Phong sứ sống chết ra sao, cùng nhảy đi tìm. Hai người đó chạy được hơn một trượng, đã tới bãi chông của Kim Hoa bà bà. Huy Nguyệt sứ kêu ối một tiếng thất thanh, đã đạp phải một mũi chông. Trăng mờ gió mạnh, cỏ cao lút gối, hai người khó lòng nhìn rõ Thánh hỏa lệnh và các cây chông, đành rờ rẫm vừa nhổ chông vừa tìm Thánh hỏa lệnh. Diệu Phong sứ như từ trong giấc mơ choàng tỉnh, vội vã chạy lại chỗ đồng bọn.

Triệu Mẫn vì muốn cứu mạng Trương Vô Kỵ, vừa rồi tung ra ba chiêu thí mạng nhanh như cắt, không kịp suy tính gì hết; lúc này bình tâm lại một chút, càng nghĩ càng rùng mình, kêu "ôi" một tiếng, sà vào lòng Trương Vô Kỵ.

Trương Vô Kỵ giơ tay ôm nàng, trong lòng cảm kích bội phần, nhưng biết ba sứ giả Ba Tư kia tìm thấy Thánh hỏa lệnh sẽ lập tức quay trở lại, vội nói:

– Chúng ta chạy đi thôi!

Chàng quay sang trả thanh đao Đồ Long cho Tạ Tốn, ôm nàng Ân Ly bị trọng thương, nói với Tạ Tốn:

– Tạ đại hiệp, tạm thời nên tránh đi đã.

Tạ Tốn nói:

– Phải.

Ông cúi xuống giải huyệt cho Kim Hoa bà bà. Trương Vô Kỵ nghĩ thầm Kim Hoa bà bà qua cơn đại nạn thập tử nhất sinh này, sẽ không còn hiềm khích gì với Tạ Tốn nữa.

Bốn người chạy xuống được vài trượng, Trương Vô Kỵ nghĩ bụng Ân Ly tuy là biểu muội của chàng, nhưng dẫu sao nam nữ thụ thụ bất thân, bèn trao lại Ân Ly cho Kim Hoa bà bà. Triệu Mẫn đi trước dẫn đường, tiếp đến Kim Hoa bà bà và Tạ Tốn, Trương Vô Kỵ đi sau cùng, đề phòng kẻ địch đuổi theo. Chàng ngoảnh lại, thấy ba sứ giả Ba Tư vẫn đang lom khom tìm Thánh hỏa lệnh trong đám cỏ cao. Hôm nay chàng bị thảm bại, nhớ lại tình thế hung hiểm vừa rồi, cảm thấy có điều hổ thẹn, lại không biết Ân Ly trọng thương như thế, có thể cứu sống được chăng.

Đang đi, bỗng nghe Tạ Tốn giận dữ quát to một tiếng, đấm ngay một quyền vào sau lưng Kim Hoa bà bà.

Kim Hoa bà bà đưa tay ra phía sau gạt đòn, đồng thời quẳng Ân Ly xuống đất. Trương Vô Kỵ cả kinh, phi thân tới. Tạ Tốn quát:

– Hàn phu nhân, sao bà lại nỡ ra tay sát hại Ân cô nương?

Kim Hoa bà bà cười khẩy, nói:

– Ông giết hay không giết lão bà tử là việc của ông. Lão bà tử giết hay không giết con bé này là chuyện của lão bà tử, ông quản được ư?

Trương Vô Kỵ nói:

– Có tại hạ ở đây, không cho phép bà tùy tiện giết người.

Kim Hoa bà bà nói:

– Tôn giá hôm nay lo chuyện bao đồng như thế vẫn chưa đủ sao?

Trương Vô Kỵ nói:

– Chưa chắc là chuyện bao đồng. Ba sứ giả Ba Tư sắp đuổi theo đó, bà còn chưa chịu đi cho mau?

Kim Hoa bà bà hừ một tiếng, chạy về hướng tây, đột nhiên vung tay ném ngược lại ba bông kim hoa vào phía sau gáy Ân Ly. Trương Vô Kỵ dùng ngón tay búng mạnh, chỉ nghe "keng keng keng" ba tiếng, ba bông kim hoa bay ngược trở lại phía Kim Hoa bà bà, kèm theo tiếng rít trong không trung, xem ra còn mạnh hơn cả bắn đi từ cung nỏ. Lúc chàng ôm Ân Ly ban đầu, chàng đã lột râu ria hóa trang trên mặt mình, Kim Hoa bà bà đã nhận ra diện mạo của chàng, nay thấy chàng nội công quá ư thâm hậu, thì không dám giơ tay đón bắt, phải nằm mọp xuống né tránh. Ba bông kim hoa bay xẹt sát qua lưng bà ta, xé rách lưng áo ba vệt dài, khiến bà ta hoảng hồn, cắm đầu chạy, không dám ngoảnh lại nữa.

Trương Vô Kỵ bế Ân Ly lên, bỗng nghe Triệu Mẫn rên một tiếng, cúi người xuống, hai tay ôm bụng. Chàng vội chạy lên, hỏi:

– Sao thế?

Chỉ thấy tay nàng máu chảy qua các kẽ ngón tay. Nguyên khi nàng sử chiêu "Thiên địa đồng thọ" ban nãy, mũi kiếm đã chạm vào bụng. Trương Vô Kỵ cả kinh thất sắc, vội hỏi:

– Bị thương có nặng không?

Bỗng nghe tiếng Diệu Phong sứ reo to trong bãi chông:

– Tìm thấy rồi, tìm thấy rồi!

Triệu Mẫn nói:

– Mặc kệ muội, mau chạy đi, mau chạy đi!

Trương Vô Kỵ ôm nàng lên, chạy nhanh xuống núi. Triệu Mẫn nói:

– Xuống thuyền thôi! Nhổ neo đào tẩu!

Trương Vô Kỵ nói:

– Đúng thế!

Chàng một tay ôm Ân Ly, một tay ôm Triệu Mẫn, chạy xuống rất nhanh. Tạ Tốn theo sau, thầm kinh ngạc: "Chàng trai này giỏi thật, hai tay ôm hai người mà vẫn chạy nhanh đến thế!"

Trương Vô Kỵ lòng rối như tơ vò, nếu một trong hai thiếu nữ bị thương trên tay chàng mà không cứu được, thì sẽ là mối đại hận của đời chàng; rất may chàng cảm thấy thân thể hai nàng vẫn ấm, không có dấu hiệu lạnh dần.

Ba sứ giả Ba Tư tìm được Thánh hỏa lệnh rồi, lại đuổi theo, nhưng ba người đó khinh công cố nhiên thua xa Trương Vô Kỵ và Tạ Tốn. Trương Vô Kỵ chạy gần tới thuyền, gọi to:

– Triệu Mẫn quận chúa có lệnh: Các thủy thủ nhổ neo giương buồm lập tức ra khơi!

Lúc chàng và Tạ Tốn lên thuyền, buồm đã kéo lên. Gã tài công phải chờ chính miệng Triệu Mẫn ra lệnh, nên gã chạy tới hỏi. Triệu Mẫn bị mất quá nhiều máu, chỉ thều thào nói:

– Hãy nghe.. lệnh Trương công tử.. là được..

Gã tài công lái thuyền ra, khi ba sứ giả Ba Tư chạy tới bờ biển, thì thuyền đã rời bờ mấy chục trượng.

*

* *

Trương Vô Kỵ đặt Triệu Mẫn và Ân Ly trong khoang thuyền, Tiểu Chiêu ở bên trợ giúp, cởi áo hai nàng để lộ chỗ vết thương. Trương Vô Kỵ xem xét thương thế, thấy bụng Triệu Mẫn bị vết kiếm rạch sâu nửa tấc, máu chảy tuy nhiều, nhưng không nguy đến tính mạng. Ân Ly thì bị trúng ba bông kim hoa vào chỗ yếu hại, Kim Hoa bà bà đã ra tay rất nặng, liệu có thể cứu sống nàng hay không, thật khó nói trước. Chàng rắc thuốc, băng vết thương cho hai nàng. Ân Ly đã hôn mê từ lâu, không biết gì. Triệu Mẫn thì nước mắt lưng tròng, Trương Vô Kỵ hỏi nàng cảm thấy thế nào, nàng chỉ cắn răng không đáp.

Tạ Tốn nói:

– Tăng thiếu hiệp, Tạ mỗ xa rời nhân thế đã lâu, nay tình cờ trở về Trung thổ, lại quen biết được một vị bằng hữu nghĩa khí sâu nặng như thiếu hiệp, thật là niềm vui bất ngờ.

Trương Vô Kỵ đỡ Tạ Tốn ngồi lên ghế trong khoang thuyền, rồi chàng quỳ xuống lạy, nói:

– Nghĩa phụ, hài nhi Vô Kỵ bất hiếu, không thể đi đón nghĩa phụ sớm hơn, để nghĩa phụ phải chịu bao nhiêu khổ sở.

Tạ Tốn cả kinh, hỏi:

– Thiếu hiệp.. nói gì lạ thế?

Trương Vô Kỵ nói:

– Hài nhi chính là Trương Vô Kỵ đây.

Tạ Tốn làm sao tin nổi, vẫn ấp úng:

– Thiếu hiệp.. nói gì lạ thế?

Trương Vô Kỵ liền đọc:

– Quyền học chi đạo tại ngưng thần, ý tại lực tiên năng chế thắng..

Chàng cứ đọc thuộc lòng thao thao bất tuyệt, từng câu từng chữ đều là yếu quyết võ học mà Tạ Tốn đã truyền thụ cho chàng trên Băng Hỏa đảo. Sau khi chàng đọc hơn hai chục câu, thì Tạ Tốn vừa kinh ngạc vừa vui mừng nắm chặt hai cánh tay chàng, nói:

– Con.. con quả thật là hài nhi Vô Kỵ của ta ư?

Trương Vô Kỵ đứng lên, ôm lấy ông, kể lại sơ qua mấy sự việc quan trọng nhất, riêng việc lên làm giáo chủ Minh giáo thì tạm chưa nhắc đến, để nghĩa phụ khỏi phải theo tôn ti bản giáo hành lễ với chàng. Tạ Tốn như trong mơ, lúc này không thể không tin, cứ nhắc đi nhắc lại:

– Thật ông trời có mắt, thật ông trời có mắt!

Bỗng nghe các thủy thủ ở phía đuôi thuyền kêu lên:

Có thuyền địch đuổi theo!

Trương Vô Kỵ chạy ra đuôi thuyền, thấy xa xa có một chiếc thuyền lớn giương cả năm cánh buồm đang lướt gió đuổi theo. Trong bóng đêm không không nhìn rõ thân thuyền, nhưng năm cánh buồm trắng thì nổi rõ mồn một. Trương Vô Kỵ nhìn một lát, thấy thuyền địch nhiều buồm, thân nhẹ, càng lúc càng đuổi tới gần, trong bụng hoang mang chưa biết đối phó thế nào; nghĩ thầm cứ để cho ba sứ giả Ba Tư sang thuyền, cùng với chúng giao đấu một phen trong khoang, ở chỗ hẹp như thế, ba sứ giả Ba Tư sẽ khó bề liên thủ với nhau. Chàng bèn dời Triệu Mẫn và Ân Ly sang một bên, ra ngoài xách vào hai cái neo sắt lớn, đặt trong khoang làm chướng ngại vật để buộc ba kẻ đó phải đấu riêng từng người một với chàng.

Vừa bố trí xong, bỗng nghe "ùm" một tiếng lớn, con thuyền nghiêng sang một bên, một cột nước biển bắn lên không trung, tạt cả vào trong khoang thuyền. Thủy thủ ở đuôi thuyền kêu lên:

– Thuyền địch nã pháo! Thuyền địch nã pháo!

Quả đạn nổ bên cạnh, may chưa trúng thuyền. Triệu Mẫn vẫy vẫy Trương Vô Kỵ, nói nhỏ:

– Thuyền mình cũng có đại bác đó!

Trương Vô Kỵ liền nhớ ngay, chàng chạy ra ngoài sai các thủy thủ gỡ vật che đậy các khẩu đại bác, nhồi thuốc, lắp đạn, châm mồi bắn trả. Chỉ nghe "đoành" một tiếng lớn, một khẩu đã bắn đi. Thế nhưng các thủy thủ này đều là võ sĩ thuộc hạ của Triệu Mẫn cải trang, võ công tuy khá, song bắn đại bác hải chiến thì không thạo, thành thử quả đạn bắn ra rơi tõm xuống khoảng cách giữa hai chiếc thuyền, nước tung lên cao hàng mấy trượng, nhưng thuyền địch chẳng bị chòng chành gì hết. Thuyền địch thấy bên đối phương cũng có đại pháo, thì không dám tiến thật gần. Một hồi sau, thuyền địch lại bắn sang một quả pháo nữa, lần này trúng mũi thuyền, thuyền liền bốc cháy.

Trương Vô Kỵ chỉ huy đám thủy thủ giội nước cứu hỏa, bỗng thấy tầng trên của khoang thuyền lại có ngọn lửa bùng lên. Chàng xách hai tay hai thùng nước lớn, đạp tung cửa khoang, hắt nước vào, dập tắt luôn ngọn lửa. Trong đám khói, chàng thấy một thiếu nữ nằm trên giường, người ướt mèm bởi nước chàng vừa hắt vào. Thiếu nữ chính là Chu Chỉ Nhược. Chàng vội hỏi:

– Chu cô nương, không sao chứ?

Chu Chỉ Nhược đầu tóc ướt sũng, hình dạng thảm hại; đang cơn nguy biến, nhìn thấy Trương Vô Kỵ xuất hiện thì sửng sốt vô cùng. Nàng vừa cử động hai tay, lập tức có tiếng loảng xoảng, nguyên Kim Hoa bà bà đã dùng dây xích khóa chân tay nàng. Trương Vô Kỵ chạy xuống khoang dưới, lấy kiếm Ỷ Thiên lên chặt đứt dây xích. Chu Chỉ Nhược nói:

– Trương giáo chủ, sao giáo chủ lại tới được đây?

Trương Vô Kỵ chưa kịp trả lời, thân thuyền đột nhiên lại rung động dữ dội. Hai chân nàng loạng choạng, ngã thẳng vào lòng Trương Vô Kỵ. Chàng vội giơ tay đỡ, ánh lửa bên ngoài chiếu vào, thấy khuôn mặt tái nhợt của nàng chợt ửng hồng, điểm mấy giọt nước trông mỹ lệ thanh nhã, như nàng tiên dưới nước hiện lên. Trương Vô Kỵ định thần, nói:

– Nào, mình xuống khoang dưới thôi.

Hai người vừa ra khỏi cửa khoang, thấy thuyền chòng chành dữ dội, thì ra một quả đạn của địch vừa trúng vào làm gãy nát bánh lái, người tài công đã bị văng xuống biển mất tăm.

Viên thuyền trưởng hoảng hốt, đích thân nhồi thuốc bắn trả, muốn đánh chìm thuyền địch, nên nhồi thật nhiều thuốc súng, dùng gậy sắt nén chặt, chỉnh cho miệng súng ngóc lên cao một chút, đốt mồi lửa. Chỉ thấy một ánh lửa nhoáng lên, một tiếng nổ vang trời, cỗ đại bác vỡ tan, sắt thép bay tung tóe, viên thuyền trưởng cùng các thủy thủ vây quanh đều tan xác. Chỉ vì viên thuyền trưởng muốn cho sức nổ thật mạnh, đã nhồi quá nhiều thuốc súng, làm nổ tan cả cỗ đại bác.

Trương Vô Kỵ và Chu Chỉ Nhược chạy ra ngoài boong, thấy trên thuyền chỗ nào cũng có lửa cháy, chỉ chốc lát thuyền sẽ chìm, thấy ở mạn thuyền bên trái có buộc một chiếc thuyền nhỏ, bèn gọi:

– Chu cô nương, mau nhảy xuống chiếc thuyền nhỏ kia đi.

Lúc này Tiểu Chiêu bế Ân Ly, Tạ Tốn bồng Triệu Mẫn từ khoang dưới chạy ra. Nguyên tiếng nổ vừa rồi làm cho đáy thuyền thủng một lỗ lớn, nước biển lập tức tràn vào ùng ục.

Trương Vô Kỵ chờ Tạ Tốn, Tiểu Chiêu đã xuống chiếc thuyền nhỏ, liền vung kiếm chặt đứt các sợi chão buộc nó với chiếc thuyền lớn, "ùm" một tiếng, chiếc thuyền nhỏ hạ xuống biển. Trương Vô Kỵ nhẹ nhàng nhảy xuống đó, cầm ngay hai mái chèo chèo thuyền tách ra.

Lúc này trên chiếc thuyền lớn lửa bốc cao và cháy to, làm đỏ rực cả một vùng biển. Trương Vô Kỵ dốc sức chèo thuyền, nghĩ thầm chỉ cần bơi ra được vùng ánh lửa không chiếu tới, thì các sứ giả Ba Tư sẽ không nhìn thấy chiếc thuyền nhỏ này, tưởng mọi người đã chết chìm dưới biển, sẽ không đuổi theo nữa. Tạ Tốn bóc một mảnh ván mà chèo phụ.

Chiếc thuyền nhỏ lướt như bay trên mặt nước, chẳng mấy chốc đã ra tới vùng tối. Chỉ nghe chỗ chiến thuyền nổ vang mấy tiếng lớn do thuốc nổ bốc cháy. Chiếc thuyền Ba Tư không dám lại gần, chỉ đậu ở xa quan sát. Một số võ sĩ của Triệu Mẫn thạo bơi lội, bơi lại gần thuyền địch cầu cứu, đều bị bọn Ba Tư trên thuyền dùng cung tên bắn chết.

Trương Vô Kỵ và Tạ Tốn không dám ngừng tay chèo. Nếu là trên đất liền, bị ba sứ giả Ba Tư đuổi kịp, còn có thể tử chiến một phen. Đằng này giữa biển cả mênh mông, thuyền địch chỉ cần bắn một quả đại bác, rơi cách thuyền vài trượng, sóng ập tới cũng đủ lật thuyền. May mà hai người nội lực thâm hậu, chèo đến nửa đêm cũng chưa thấm mệt.

Đến lúc trời sáng, thấy mây kéo đầy trời, dưới mặt biển thì sương mù dăng dăng. Trương Vô Kỵ mừng rỡ nói:

– Sương mù thế này hay lắm, cứ thế này kéo dài nửa ngày nữa, bọn địch không thể nào tìm thấy chúng ta.

Không ngờ chiều hôm đó gió bỗng thổi mạnh, mưa như trút. Chiếc thuyền nhỏ bị gió thổi trôi giạt về phía nam. Bấy giờ bắt đầu vào mùa đông, quần áo ai nấy ướt sũng, Tạ Tốn và Trương Vô Kỵ nội lực thâm hậu, còn không sao; Chu Chỉ Nhược và Tiểu Chiêu thì mỗi cơn gió bấc thổi tới, lại rét run cầm cập; nhưng trên thuyền chẳng có gì để làm cho bớt lạnh. Lúc này mấy chiếc giầm không ai chèo nữa, bốn người liền cởi giày làm tám cái gàu nhỏ liên tục tát nước mưa ra khỏi lòng thuyền.

Tạ Tốn cuối cùng gặp được Trương Vô Kỵ, trong lòng vui sướng; tuy tình cảnh hiện thời đầy nguy hiểm, song ông không coi ra gì, trong mưa to gió lớn vẫn cười nói không ngớt. Tiểu Chiêu ngây thơ trong trắng, cũng cười nói vui vẻ. Chỉ riêng Chu Chỉ Nhược cứ lẳng lặng không nói gì, mỗi khi bắt gặp ánh mắt của Trương Vô Kỵ, nàng lại quay mặt đi.

Tạ Tốn nói:

– Vô Kỵ, năm xưa ta cùng cha mẹ con giong thuyền ra biển khơi, giữa đường gặp một trận bão ghê gớm gấp nhiều lần thế này. Về sau bọn ta lên được núi băng, bắt hải cẩu ăn thịt. Có điều hồi ấy là gió nam thổi đưa bọn ta lên vùng cực bắc băng giá; còn hôm nay là gió bắc. Chẳng lẽ ông trời ghét Tạ Tốn muốn đày ta xuống Nam cực, đến phủ Tiên Ông, bắt sống ở đó hai chục năm nữa chăng? Ha ha, ha ha!

Ông cười một tràng, rồi nói tiếp:

– Năm xưa cha mẹ con một nam một nữ, trai tài gái sắc, đúng là duyên trời xe cho. Bây giờ con lại dẫn theo những bốn cô nương, thì phải làm thế nào đây? Ha ha, ha ha!

Chu Chỉ Nhược đỏ mặt, cúi đầu xuống. Còn Tiểu Chiêu thản nhiên như không, nói:

– Tạ lão gia tử, tiểu nhân chỉ là tiểu a hoàn hầu hạ công tử, không được tính vào trong đó ạ.

Triệu Mẫn tuy bị thương không nhẹ, lúc này chợt tỉnh, bỗng lên tiếng:

– Tạ lão gia tử, ông còn ăn nói bông phèng lung tung, đợi tiểu nữ khỏi rồi, sẽ cho ông một trận.

Tạ Tốn lè lưỡi, cười nói:

– Ầy, cô nương này ghê thật!

Ông không cười nữa, ngẫm nghĩ rồi nói:

– Này, đêm qua cô nương đánh thí mạng ba chiêu, thứ nhất là chiêu "Ngọc toái côn cương" của phái Côn Luân, thứ hai là chiêu "Nhân quỷ đồng đồ" của phái Không Động, còn chiêu thứ ba, hừ, lão phu quê mùa dốt nát này nghĩ chưa ra.

Triệu Mẫn thầm kinh hãi: "Thảo nào Kim Mao Sư Vương ngày xưa danh chấn thiên hạ, làm cho giang hồ một phen thất điên bát đảo. Ông ta mù cả hai mắt mà vẫn đoán trúng tuyệt chiêu ta dùng, quả thật danh bất hư truyền", bèn nói:

– Chiêu thứ ba là của phái Võ Đang, có tên "Thiên địa đồng thọ", hình như là chiêu số mới sáng tạo, Tạ lão gia tử không biết là phải.

Giọng nàng lúc này đã trở nên cung kính.

Tạ Tốn thở dài:

– Cô nương dốc toàn lực cứu Vô Kỵ, dĩ nhiên rất quý nhưng hà tất phải thí mạng? Việc gì cô nương phải thí mạng như thế?

Triệu Mẫn ấp úng:

– Chàng.. chàng ta..

Nàng ngập ngừng không biết có nên nói ra điều này hay chăng, cuối cùng không nhịn được, giọng nghẹn ngào:

– Ai bảo chàng ta.. ôm.. Ân cô nương.. tình tứ quá như thế, tiểu nữ chả thiết sống nữa!

Nói xong, nước mắt chảy ròng ròng.

Bốn người nghe cô nương trẻ tuổi thổ lộ tâm sự thầm kín trước mặt mọi người thì đều kinh ngạc, họ không biết rằng Triệu Mẫn là con gái Mông Cổ, yêu ai thì nói là yêu, hận ai thì nói là hận, không vờ vĩnh giấu giếm, khác hẳn con gái Trung thổ vốn thấm sâu khuôn sáo lễ giáo. Hơn nữa đang ở trên con thuyền nhỏ giữa biển khơi, mưa như trút, con thuyền có thể đắm bất cứ lúc nào, sống chết chỉ trong đường tơ kẽ tóc, chẳng cần phải kiêng dè gì nữa.

Trương Vô Kỵ nghe Triệu Mẫn nói mấy câu ấy thì vô cùng xúc động: "Triệu cô nương vốn là đại địch của ta, lần này ta theo nàng ra hải ngoại, cốt đón nghĩa phụ trở về, nào ngờ nàng lại có mối thâm tình với ta như thế". Không cầm lòng được, chàng bèn nắm lấy tay nàng, ghé tai nàng nói nhỏ:

– Từ nay dù thế nào cũng đừng dại thế nghe!

Triệu Mẫn nói xong thì hối hận, mình là con gái, sao không giữ gìn lời ăn tiếng nói, sao lại đi tự thốt ra thế để chàng ta coi thường mình? Nhưng nghe lời chàng vừa ân cần âu yếm dặn dò, thì vừa lo vừa mừng, vừa thẹn vừa yêu, cảm thấy hết sức êm đềm ngọt ngào, nghĩ rằng ba lần vào sinh ra tử đêm qua, nỗi lênh đênh trôi giạt trên biển hôm nay đều không uổng phí.

Mưa to một trận rồi cũng tạnh dần, nhưng sương mù càng lúc càng dày. Bỗng có tiếng quẫy nước mạnh, rồi một con cá lớn chừng ba chục cân từ dưới nước nhảy vọt lên không. Tạ Tốn giơ tay phải chộp nhanh, năm ngón tay ông cắm sâu vào bụng cá, lôi nó vào lòng thuyền. Mọi người reo vui. Tiểu Chiêu rút kiếm, đánh vẩy, mổ bụng cá, cắt thành nhiều khúc. Mọi người ai nấy đói bụng, tuy cá sống rất tanh, song cũng đành nhắm mắt mà ăn vài miếng. Riêng Tạ Tốn thì ăn rất ngon lành; ông sống trên hoang đảo hơn hai mươi năm, món gì ăn được cũng đã ăn, nói chi món cá sống? Huống hồ món cá sống nhai kỹ một chút, sau cái mùi tanh tanh sẽ thấy cái vị ngọt tươi của nó.

Sóng gió trên biển lặng dần, mọi người ăn cá xong đều nhắm mắt dưỡng thần. Cả một ngày đêm vừa qua giao chiến ác liệt, ai cũng mỏi mệt tâm và lực. Chu Chỉ Nhược và Tiểu Chiêu tuy không tham chiến, song cũng bị một phen kinh hãi quá chừng. Biển lớn đung đưa con thuyền như đưa võng, cả sáu người trên thuyền trước sau đều ngủ thiếp đi.

Họ ngủ ngon một giấc dài, phải tới ba canh giờ. Tạ Tốn tuổi già, tỉnh dậy trước, nghe hơi thở của năm người trai gái hòa với tiếng gió biển thổi nhẹ. Triệu Mẫn và Ân Ly bị thương, hơi thở có phần gấp gáp; Chu Chỉ Nhược thì thở nhẹ và dài. Hơi thở của Trương Vô Kỵ lúc đứt quãng lúc tiếp nối, không phân biệt rõ ràng thở ra hít vào, khiến Tạ Tốn thầm kinh ngạc: "Thằng bé này nội lực thâm hậu quá chừng, ta bình sinh chưa gặp ai được như thế". Hơi thở của Tiểu Chiêu thì lúc nhanh lúc chậm, rõ ràng là nàng luyện một môn nội công đặc dị. Tạ Tốn cau mày nghĩ thầm: "Lạ thật, không lẽ con bé này lại là.."

Đột nhiên Ân Ly quát to:

– Tiểu tử Trương Vô Kỵ kia, sao không đi ra đảo Linh Xà với ta?

Trương Vô Kỵ, Triệu Mẫn, Chu Chỉ Nhược, Tiểu Chiêu nghe tiếng thét đó đều choàng tỉnh. Lại nghe nàng Ân Ly nói:

– Ta thui thủi một mình ở đảo.. Sao chàng không theo ta ra đó? Ta đêm ngày thương nhớ chàng da diết; chàng.. ở cõi âm có thấu cho chăng?

Trương Vô Kỵ đưa tay sờ trán nàng, thấy nóng như hòn than, biết là nàng bị thương nặng, lên cơn sốt nói mê nói sảng. Chàng tuy y thuật tinh thâm, nhưng trên chiếc thuyền nhỏ này không có thuốc men gì, cũng đành bó tay, chỉ xé một mảnh áo, nhúng nước, đắp lên trán Ân Ly.

Ân Ly vẫn nói lảm nhảm, đột nhiên thét to:

– Cha, cha đừng.. giết mẹ con, đừng giết mẹ con! Dì hai là do con giết đó, cha cứ việc.. giết con đi, việc đó không liên can gì đến mẹ con.. Mẹ chết rồi! Ôi mẹ chết rồi! Con làm hại mẹ rồi! Hu hu, hu hu..

Nàng cất tiếng khóc thật thương tâm. Trương Vô Kỵ dịu dàng nói:

– Thù Nhi, Thù Nhi, muội tỉnh lại đi nào. Cha muội không ở đây đâu, đừng sợ.

Ân Ly giận dữ nói:

– Cha muội không tốt, muội không sợ ông ấy đâu! Tại sao ông ấy lại lấy vợ hai, vợ ba? Mỗi người đàn ông lấy một vợ còn không đủ hay sao? Cha ơi, cha thay lòng đổi dạ, cha có mới nới cũ, lấy hết người này lại lấy người khác, làm khổ mẹ con, làm khổ lây cả con nữa! Ông không phải là cha ta, ông là kẻ bạc tình, là kẻ đại ác!

Trương Vô Kỵ bỗng giật mình kinh hoảng, sợ tái cả mặt. Thì ra chàng vừa mới mơ một giấc mơ đẹp, thấy mình đã lấy Triệu Mẫn, lại cưới cả Chu Chỉ Nhược. Khuôn mặt sưng phù của Ân Ly cũng biến thành đẹp, luôn cả Tiểu Chiêu cũng làm vợ chàng luôn. Ban ngày ban mặt không dám nghĩ lung tung, nhưng trong giấc ngủ lại thành như thế, chỉ cảm thấy cả bốn cô nương, nàng nào cũng tốt đẹp, không nỡ chia tay với một nàng nào cả. Trong lúc chàng an ủi Ân Ly, trong óc vẫn còn mang máng cái cảm giác ngọt ngào của giấc mơ kia.

Bây giờ nghe Ân Ly trách mắng phụ thân, Trương Vô Kỵ nhớ lại câu chuyện ngày trước nàng kể, nàng không nỡ để mẹ nàng bị thiệt thòi, đã giết chết ái thiếp của cha, mẹ nàng vì vậy mà phải tự vẫn, thậm chí cả cậu ruột của Trương Vô Kỵ là Ân Dã Vương đã toan một đao giết luôn con gái mình. Câu chuyện luân thường thảm khốc ấy xảy ra chẳng qua là vì Ân Dã Vương không chung tình, năm thê bảy thiếp. Chàng liếc Triệu Mẫn, rồi lại nhìn trộm Chu Chỉ Nhược, nghĩ đến giấc mơ, không khỏi ngượng ngùng.

Ân Ly vẫn nói lảm nhảm một hồi, đột nhiên nàng đổi qua giọng van xin:

– Vô Kỵ, chàng hãy theo ta đi, theo ta đi nào. Chàng cắn tay ta đau quá, nhưng ta không giận chàng đâu. Ân Ly sẽ suốt đời hầu hạ chàng, chiều chuộng chàng, coi chàng như chủ nhân của ta vậy. Chàng đừng ngại ta xấu xí, chỉ cần chàng thích ta, ta sẽ hủy hết võ công, trừ hết chất nhện độc để chàng thấy ta đẹp như buổi ban đầu..

Lời này nàng nói bằng giọng dịu dàng, ngọt ngào vô cùng. Trương Vô Kỵ nghĩ biểu muội hành sự tùy tiện, hỉ nộ thất thường, bề ngoài có vẻ quái dị ngang ngạnh, nhưng bên trong đầy sự dịu dàng âu yếm.

Lại nghe Ân Ly nói:

– Vô Kỵ, muội đi khắp nơi tìm chàng, chân trời góc biển nào cũng đến, không được tin tức gì; mãi sau mới biết chàng ở Tây Vực đã rơi xuống vực chết rồi, muội đau lòng chẳng thiết sống nữa. Ở Tây Vực muội gặp một chàng trai tên là Tăng A Ngưu, chàng ta võ công đã cao cường, tính nết lại tử tế, chàng ta bảo sẽ lấy muội làm vợ.

Triệu Mẫn, Chu Chỉ Nhược, Tiểu Chiêu ba nàng đều biết Tăng A Ngưu là tên giả của Trương Vô Kỵ, không hẹn mà cùng quay lại nhìn chàng.

Trương Vô Kỵ đỏ bừng cả mặt, thấy ba thiếu nữ nhìn mình bằng ánh mắt khác lạ, thì chỉ tiếc không thể nhảy ngay xuống biển, chờ khi nào Ân Ly tỉnh lại mới quay trở lên.

Lại nghe Ân Ly lẩm bẩm nói:

– Anh chàng Tăng A Ngưu ấy bảo muội rằng "Cô nương, ta thành thật mong được lấy cô nương làm vợ, chỉ mong cô nương đừng cho là ta không xứng đáng". Chàng ta còn nói: "Từ nay trở đi, ta sẽ hết lòng ái mộ cô nương, săn sóc cô nương, bất kể ai đến gây khó dễ với cô nương, dù hắn tài ba đến mấy, ta cũng sẽ xả thân bảo vệ cho cô nương được chu toàn. Ta chỉ mong cô nương sung sướng trong lòng, quên đi mọi khổ đau từ trước". Vô Kỵ, anh chàng Tăng A Ngưu ấy nhân phẩm còn hơn chàng nhiều, võ công còn giỏi hơn cả Diệt Tuyệt sư thái phái Nga Mi cơ. Nhưng trong lòng muội đã có một gã tiểu quỷ lang tâm đoản mệnh là chàng rồi, nên muội không nhận lời chàng ta. Chàng đoản mệnh mất đi, muội sẽ thủ tiết một đời với chàng. Vô Kỵ, chàng nói xem, Ân Ly đối với chàng tốt hay không tốt? Hồi ấy chàng coi thường muội, bây giờ trong lòng chàng có ân hận hay không?

Khi Trương Vô Kỵ nghe nàng nhắc lại những lời chàng từng nói với nàng, chàng rất ngượng nhưng càng nghe càng cảm động, tự nhiên nước mắt ứa ra ròng ròng. Lúc này sương mù đã tan hết, trăng non chiếu xuống, Ân Ly trở mình nằm nghiêng, chỉ nhìn thấy thân hình thon thả của nàng.

Lại nghe nàng nói nhỏ nhẹ:

– Vô Kỵ, chàng ở chốn u minh có vắng vẻ lắm không? Có cô đơn không? Muội cùng bà bà lên Băng Hỏa đảo ở biển bắc đón nghĩa phụ chàng về, sau đó sẽ còn phải đến núi Võ Đang cúng tế phần mộ cha mẹ chàng, cuối cùng muội sẽ đi Tây Vực, đến đỉnh núi tuyết, nơi chàng bỏ mạng, nhảy xuống vực mà bầu bạn với chàng. Có điều muội phải chờ bà bà trăm tuổi đã, nên chưa thể về với chàng sớm hơn, để bà bà ở lại một mình khổ sở. Bà bà đối với muội rất tốt, nếu không có bà bà cứu cho, thì cha muội đã giết muội rồi. Vì nghĩa phụ của chàng mà muội phản lại bà bà, chắc bà bà ghét muội lắm. Muội chỉ muốn đối thật tốt với bà bà thôi. Vô Kỵ, chàng nghĩ có phải thế không?

Những lời này nàng như bàn bạc với Trương Vô Kỵ, trong lòng nàng, Trương Vô Kỵ đã thành ma ở cõi âm, những lời nói dịu dàng với một hồn ma, dưới ánh trăng suông, trên con thuyền lênh đênh giữa biển trong đêm vắng, nghe thật thê lương.

Ân Ly còn nói mãi, câu nọ xọ câu kia, không liền mạch với nhau; có lúc hoảng hốt thét to, có lúc giận dữ chửi mắng, mỗi câu đều bộc lộ tâm trạng sầu khổ bi thương của nàng. Nàng nói mê lảm nhảm một hồi, cuối cùng giọng nhỏ dần, rồi ngủ thiếp đi.

Năm người không ai nói gì, mỗi người một tâm sự, nghe tiếng sóng vỗ nhẹ mạn thuyền, thấy rằng gió mát trăng thanh là vĩnh viễn tồn tại, mối âu lo của kiếp người không bao giờ dứt được.

Bỗng nhiên một tiếng hát hết sức nhẹ nhàng, hết sức phiêu diêu lan vang trên mặt biển:

Cõi trần kẻ trước người sau

Cuối cùng cũng đến cái cầu xuôi tay.

Hôm nay hãy biết bữa nay,

Trăm năm thấm thoắt đã hay một đời.

Mấy ai thọ được bảy mươi,

Thời gian như nước chảy xuôi qua cầu.

Đó là nàng Ân Ly trong giấc mơ cất lên tiếng hát.

Trương Vô Kỵ giật mình, nhớ lại trong đường hầm bí mật lên đỉnh Quang Minh, khi bị Thành Côn bít mất lối ra, không còn cách gì thoát thân, Tiểu Chiêu cũng từng hát lên bài này. Chàng bất giác đưa mắt nhìn Tiểu Chiêu. Dưới ánh trăng, chàng thấy nàng cũng đang ngơ ngẩn nhìn mình.

Comments

Comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 30: Như Sâm Thương vĩnh viễn xa rồi

Ân Ly hát xong bài trên, nàng lại hát tiếp một bài khác; lần này tiếng ca hết sức kỳ bí, khác hẳn điệu hát ở Trung thổ, nhưng nghe kỹ thì thấy ý tứ cũng tương tự bài hát của Tiểu Chiêu:

Đến như nước chảy xuôi khe,

Đi như gió cuốn biết về nơi nao.

Cuộc đời như giấc chiêm bao,

Về đâu, rồi sẽ ra sao bây chừ?

Ân Ly cứ hát đi hát lại mấy câu ấy, giọng nhỏ dần, cho tới lúc chìm lẫn vào tiếng sóng, tiếng gió.

Mọi người nghĩ đến lẽ sinh tử vô thường, cõi nhân sinh thật giống như dòng nước trên sông, không biết từ đâu chảy tới, bất kể anh hùng hào kiệt, cuối cùng chẳng ai thoát khỏi cái chết, rời bỏ thế gian cũng như làn gió kia chẳng biết thổi về chốn nào. Trương Vô Kỵ cảm thấy bàn tay nhỏ nhắn của Triệu Mẫn trong tay chàng bỗng lạnh như băng, hơi run rẩy.

Tạ Tốn bỗng nói:

– Khúc hát Ba Tư này là do Hàn phu nhân dạy cho cô ta đó. Một buổi tối hơn hai mươi năm trước trên đỉnh Quang Minh, ta đã từng nghe bài hát này. Ôi, không ngờ Hàn phu nhân lại tuyệt tình như thế, cuối cùng nỡ hạ độc thủ với Ân Ly tới mức này.

Triệu Mẫn hỏi:

– Lão gia tử, Hàn phu nhân sao lại biết khúc hát Ba Tư này, hay đây là bài ca của Minh giáo?

Tạ Tốn nói:

– Minh giáo khởi nguồn từ Ba Tư, khúc hát Ba Tư này có chút uyên nguyên với Minh giáo, song không phải là bài ca của Minh giáo. Bài ca này vốn của một thi nhân nổi tiếng nhất ở Ba Tư hơn hai trăm năm trước, tên là Nga Mặc, nghe nói dân Ba Tư ai cũng biết hát bài này. Năm xưa khi ta nghe Hàn phu nhân hát bài này, ta xúc động, có hỏi bà ấy về lai lịch, bà ấy đã kể tỉ mỉ cho ta biết.

"Thời ấy đại triết gia của Ba Tư là Dã Mang mở lớp dạy học, môn hạ có ba đệ tử kiệt xuất: Nga Mặc giỏi về văn chương, Ni Nhược Mâu thạo về chính sự, còn Hoắc Sơn thì rất giỏi võ công. Ba người hợp tính nhau, nên cùng thề ước, họa phúc bên nhau, phú quý không quên nhau. Về sau Ni Nhược Mâu thanh vân đắc ý, làm đến chức Thủ tướng của Giáo chủ. Hai người bạn cũ tìm tới, Ni Nhược Mâu xin với Giáo chủ phong quan tước cho Hoắc Sơn. Nga Mặc thì không muốn làm quan, chỉ xin được cấp tiền hàng năm để tịnh cư nghiên cứu thiên văn lịch số, ngâm thơ uống rượu. Ni Nhược Mâu đáp ứng, đối đãi rất hậu hĩ.

Ngờ đâu Hoắc Sơn nuôi hùng tâm, không cam chịu ở dưới người khác, âm mưu nổi loạn. Việc làm thất bại, y liền lên núi kết bè đảng, trở thành thủ lĩnh một phái uy chấn thiên hạ, chuyên giết người, lấy tên là phái Y Tư Mỹ Lương. Thời Thập tự quân, ở Tây Vực hễ nhắc tới cái tên 'Sơn trung lão nhân' Hoắc Sơn, ai ai cũng kinh sợ. Thời ấy, quân vương các nước ở Tây Vực bị giết bởi thủ hạ của" Sơn trung lão nhân "không biết bao nhiêu mà kể".

"Hàn phu nhân nói rằng ở phía cực tây ngoài đại dương có một nước lớn, tên là Anh Cách Lan. Quốc vương nước này tên là Ái Đức Hoa đắc tội với" Sơn trung lão nhân ", bị hắn sai người đến hành thích. Quốc vương bị trúng lưỡi dao có bôi thuốc độc; may được hoàng hậu xả thân cứu chồng, hút chất độc ở vết thương ra, nhờ vậy quốc vương thoát chết. Hoắc Sơn bất chấp ân nghĩa cũ, còn sai người đi giết Thủ tướng Ba Tư Ni Nhược Mâu. Lúc lâm chung, Ni Nhược Mâu có ngâm câu thơ của Nga Mặc, chính là mấy câu:

Đến như nước chảy xuôi khe,

Đi như gió cuốn biết về nơi nao.

Cuộc đời như giấc chiêm bao,

Về đâu, rồi sẽ ra sao bây chừ?

Hàn phu nhân còn kể rằng sau này Minh giáo học được võ công của" Sơn trung lão nhân ". Ba sứ giả Ba Tư võ công quái dị, chắc là học từ" Sơn trung lão nhân "vậy.

Triệu Mẫn nói:

– Tạ lão gia, tính khí của Hàn phu nhân cũng y như" Sơn trung lão nhân ". Lão gia đối xử với bà ta hết tình hết nghĩa, vậy mà bà ta lại mưu hại lão gia.

Tạ Tốn thở dài nói:

– Người đời lấy oán báo đức là chuyện thường, đâu có gì lạ?

Triệu Mẫn ngẫm nghĩ một lát, nói:

– Hàn phu nhân đứng đầu Tứ vương của Minh giáo, sao võ công không có gì cao hơn lão gia. Đêm qua, khi bà ta động thủ với ba sứ giả Ba Tư, sao không thấy bà ta sử dụng độc chiêu" Thiên thù vạn độc thủ "?

Tạ Tốn nói:

–" Thiên thù vạn độc thủ "ư? Hàn phu nhân đâu biết sử dụng? Bà ấy là một mỹ nhân tuyệt sắc, coi trọng dung nhan còn hơn cả tính mạng mình, đời nào chịu luyện môn công phu ấy?

Trương Vô Kỵ, Triệu Mẫn, Chu Chỉ Nhược đều ngạc nhiên, nghĩ thầm tướng mạo Kim Hoa bà bà xấu xí thế, cứ nhìn hiện tại mà nói, dẫu có trẻ lại ba, bốn chục tuổi, cũng không thể nào gọi là" mỹ nhân tuyệt sắc ". Bà ta mũi thấp môi dày, mặt vuông chữ điền, tai vểnh đón gió, bộ mặt như thế làm sao mà thay đổi nổi. Triệu Mẫn cười, nói:

– Lão gia tử, tiểu nữ chả thấy Kim Hoa bà bà đẹp ở chỗ nào cả.

Tạ Tốn nói:

– Thế ư? Tử Sam Long Vương đẹp như tiên nữ, hơn hai chục năm trước là đệ nhất mỹ nhân trong võ lâm; bây giờ dù tuổi đã nhiều, dáng hình năm xưa chắc vẫn còn phảng phất chứ, ôi, tiếc thay ta đã không còn nhìn thấy nữa!

Triệu Mẫn nghe giọng nói của ông rất trân trọng, lờ mờ đoán rằng bên trong có điều bí ẩn gì đây. Bà già lưng còng, bệnh hoạn xấu xí kia lẽ nào có thời từng là đệ nhất mỹ nhân trong võ lâm, dẫu sao cũng không tin được, bèn hỏi:

– Lão gia tử danh chấn giang hồ, võ công cao cường, chuyện đó khỏi bàn. Bạch Mi Ưng Vương tự lập giáo phái, đối đầu với sáu đại môn phái, tranh hùng với võ lâm hơn hai chục năm. Thanh Dực Bức Vương thì xuất quỷ nhập thần, hôm trước ở chùa Vạn An ông ấy dọa hủy hoại diện mạo của tiểu nữ, mỗi lúc nhớ lại vẫn còn kinh hãi. Kim Hoa bà bà võ công tuy cao, cơ mưu tuy sâu, nhưng xếp trên ba vị, xem ra không xứng đáng, không biết vì duyên cớ gì? Tạ Tốn nói:

– Đó là Ân nhị ca, Vi tứ đệ và ta, ba người tình nguyện nhường cho bà ấy đấy.

Triệu Mẫn hỏi:

– Vì sao vậy?

Nàng cười khanh khách, nói tiếp:

– Có lẽ vì bà ta là đệ nhất mỹ nhân trong thiên hạ, anh hùng không qua nổi cửa ải mỹ nhân, nên ba vị đại hào kiệt đành cam tâm đứng sau bóng hồng quần?

Nàng là con gái phiên bang, không câu nệ lễ mạo tôn ti, nghĩ sao nói vậy, nói đùa luôn cả với Tạ Tốn.

Tạ Tốn lại không nổi giận, thở dài nói:

– Cam tâm đứng sau bóng quần hồng, há chỉ có ba người? Bấy giờ cả trong lẫn ngoài Minh giáo, số người mong được lọt vào mắt xanh của nàng Đại Ỷ Ty bảo là hàng trăm người thì vẫn còn ít.

Triệu Mẫn hỏi:

– Đại Ỷ Ty cũng là Hàn phu nhân phải không? Tên gì nghe lạ thế?

Tạ Tốn nói:

– Bà ấy từ Ba Tư sang, đó là cái tên Ba Tư.

Trương Vô Kỵ, Triệu Mẫn, Chu Chỉ Nhược cùng ngạc nhiên, hỏi:

– Bà ta là người Ba Tư ư?

Tạ Tốn cũng ngạc nhiên, hỏi:

– Chẳng lẽ các ngươi không nhận ra hay sao? Đại Ỷ Ty là người lai Trung Quốc – Ba Tư, tuy mái tóc màu đen, nhưng mắt sâu mũi cao, da trắng như tuyết, khác hẳn phụ nữ Trung nguyên, thoạt nhìn là nhận ra ngay.

Triệu Mẫn nói:

– Không, không phải thế! Bà ta mũi thì tẹt, mắt ti hí, chẳng giống lão gia mô tả chút nào. Trương công tử, có đúng thế không?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Đúng thế! Chả lẽ bà ta cũng cố ý hủy hoại dung mạo, như Khổ đầu đà?

Tạ Tốn hỏi:

– Khổ đầu đà là ai vậy?

Trương Vô Kỵ nói:

– Đó là Quang Minh hữu sứ Phạm Dao của Minh giáo.

Chàng bèn thuật sơ qua cho Tạ Tốn nghe chuyện Phạm Dao tự hủy dung mạo để trà trộn vào phủ Nhữ Dương Vương. Tạ Tốn thở dài, nói:

– Việc làm ấy của Phạm huynh thật khổ tâm và cô đơn, có công lớn với bản giáo, người thường thật không làm nổi. Ôi, chuyện đó phần lớn cũng vì Hàn phu nhân mà ra.

Triệu Mẫn nói:

– Tạ lão gia đừng vòng vo nữa, hãy kể đầu đuôi cho bọn vãn bối nghe đi.

Tạ Tốn ừ, ngẩng mặt lên trời, xuất thần hồi lâu, rồi thong thả nói:

– Hơn hai chục năm trước, bấy giờ Minh giáo dưới quyền thống lĩnh của Dương giáo chủ, giáo vụ hưng vượng. Một hôm đột nhiên có ba sứ giả người Hồ từ Ba Tư đến đỉnh Quang Minh, mang theo một lá thư của giáo chủ Tổng giáo Ba Tư, xin yết kiến Dương giáo chủ. Trong thư viết rằng Tổng giáo Ba Tư có một vị Tịnh Thiện sứ giả, vốn là người Trung Hoa, sống lâu năm bên Ba Tư, gia nhập Minh giáo, lập nhiều công lao, lấy vợ người Ba Tư, sinh được một cô con gái. Vị Tịnh Thiện sứ giả mới qua đời hơn một năm trước, lúc lâm chung nhớ về cố quốc, có di mệnh muốn con gái trở về Trung Hoa. Giáo chủ Tổng giáo tôn trọng di ngôn ấy, phái người đưa con gái ông ta đến đỉnh Quang Minh, mong Minh giáo Trung thổ chăm lo cho. Dương giáo chủ tất nhiên nhận lời, mời cô gái đó vào.

Thiếu nữ ấy vừa bước vào sảnh đường, lập tức sảnh đường bừng sáng, chỉ thấy nàng xinh xắn tuyệt trần. Khi nàng uyển chuyển vái chào Dương giáo chủ, thì các vị Tả hữu Quang Minh sứ giả, ba vị pháp vương, Ngũ tản nhân, Ngũ Hành kỳ sứ có mặt trong đại sảnh đều chấn động. Ba sứ giả Ba Tư hộ tống nàng sang đây, nghỉ lại một đêm trên đỉnh Quang Minh, hôm sau bái biệt ra về; còn nàng thiếu nữ Ba Tư Đại Ỷ Ty xinh đẹp tuyệt trần kia thì ở lại.

Triệu Mẫn cười nói:

– Tạ lão gia, bấy giờ lão gia cũng mê nàng thiếu nữ Ba Tư kia chứ? Cần gì lão gia phải xấu hổ, cứ tình thực mà kể là được rồi.

Tạ Tốn lắc đầu nói:

– Không đâu! Bấy giờ ta mới cưới vợ, vợ chồng ta tình cảm mặn nồng, vợ ta lại đang mang thai, làm sao ta có tình ý khác được?

Triệu Mẫn" à "một tiếng, hối hận mình đã lỡ lời. Nàng biết vợ con Tạ Tốn đều bị Thành Côn sát hại; lúc này vô ý nhắc đến, không khỏi khiến ông đau lòng, vội nói:

– Phải rồi, phải rồi! Thảo nào Hàn phu nhân bảo rằng hồi bà lấy Ngân Diệp tiên sinh, trên đỉnh Quang Minh ai ai cũng phản đối, chỉ có Dương giáo chủ và Tạ lão gia đối xử tốt với bà ta thôi. Chắc là phu nhân của Dương giáo chủ đã xinh đẹp, lại dữ dằn lắm, nên ông chồng mới phải nem nép một bề.

Tạ Tốn nói:

– Dương giáo chủ khảng khái hào hiệp, Đại Ỷ Ty tuổi chỉ đáng con gái ông ta. Huống hồ Tổng giáo Ba Tư đã gửi gắm nhờ ông săn sóc Đại Ỷ Ty, nên Dương giáo chủ phải đối xử tận tình với nàng, quyết không có ý gì khác. Phu nhân Dương giáo chủ là sư muội của Thành Côn sư phụ ta, là sư cô của ta. Dương giáo chủ đối với phu nhân hết sức yêu thương kính trọng.

Thành Côn đã giết cả nhà Tạ Tốn, tuy mối thù khắc ngày càng sâu trong tâm khảm ông, nhưng khi nhắc đến cái tên Thành Côn, Tạ Tốn chỉ thản nhiên nói qua, như chỉ nhắc đến một kẻ bình thường.

Triệu Mẫn nói:

– Khổ đầu đà Phạm Dao nghe nói hồi trẻ là một chàng trai tuấn mỹ, chắc là mê nàng Đại Ỷ Ty lắm nhỉ?

Tạ Tốn gật đầu nói:

– Đúng là vừa gặp đã mê, gặp một lần mà thành mối tình khắc sâu trong tâm khảm. Kỳ thực đâu chỉ một mình Phạm huynh như thế; chàng trai nào nhìn thấy nàng Đại Ỷ Ty xinh đẹp tuyệt trần mà chẳng xiêu lòng? Có điều là giáo quy Minh giáo rất nghiêm, mọi người đều giữ lễ, tất cả những ai muốn cầu thân với nàng Đại Ỷ Ty đều là trai chưa vợ. Nào ngờ nàng Đại Ỷ Ty đối với mọi chàng trai đều lạnh nhạt, lạnh lùng thực sự; bất cứ ai hễ biểu lộ tình ý đều bị nàng mắng cho một trận, đến mức xấu hổ, chẳng còn dám tơ tưởng gì nữa. Sư cô ta là Dương phu nhân có ý tác hợp, cho nàng lấy Phạm Dao. Song Đại Ỷ Ty một mực cự tuyệt, thậm chí còn giơ kiếm thề trước mặt mọi người không lấy chồng; nếu bị ép duyên thì nàng thà chết còn hơn. Từ đó mọi người đều nản lòng, không tính chuyện hôn nhân với nàng nữa.

" Nửa năm sau, ngày nọ có một người từ đảo Linh Xà ngoài khơi xa đến, tự xưng họ Hàn, tên Thiên Diệp, là con trai của kẻ thù Dương giáo chủ khi trước, đến đỉnh Quang Minh để báo thù cho cha. Mọi người thấy chàng trai họ Hàn kia diện mạo không có gì khác thường, vậy mà dám một mình lên đỉnh Quang Minh, thách đấu với Dương giáo chủ, thì ai cũng cười ầm lên. Song Dương giáo chủ lại trịnh trọng tiếp như khách quý, mở tiệc khoản đãi. Cuối bữa tiệc Dương giáo chủ mới kể cho chúng huynh đệ biết nguyên do. Thì ra năm xưa Dương giáo chủ và cha y hai người đã vì một lời nói trái ý nhau mà đi đến động thủ, Dương giáo chủ đã dùng một chưởng 'Đại cửu thiên thủ' đánh cha y gục xuống, không đứng dậy nổi. Bấy giờ cha y nói rằng mối thù này phải trả, nhưng biết võ công của mình không thể tiến thêm, sau này sẽ sai hoặc con trai, hoặc con gái đi thay. Dương giáo chủ nói rằng dù là con trai hay con gái, thì ông cũng sẽ nhường ba chiêu. Người kia nói, chiêu số không cần nhường, nhưng tỷ võ theo kiểu nào, phải để cho con ông ta lựa chọn. Dương giáo chủ đã bằng lòng. Chuyện xảy ra đã hơn mười năm, Dương giáo chủ không còn nghĩ đến nữa; không ngờ người kia lại sai con trai tới.

"Mọi người đều nghĩ, đã tử tế thì không đến, đã đến ắt không tử tế; người này dám một mình lên đỉnh Quang Minh, ắt phải có tài nghệ kinh nhân. Nhưng Dương giáo chủ võ công cao siêu, có thể nói là vô địch trong thiên hạ, trừ Trương Tam Phong chân nhân phái Võ Đang ra, chẳng ai thắng nổi Dương giáo chủ một chiêu. Gã trai họ Hàn kia được bao nhiêu tuổi, dẫu ba người, năm người như y cùng xông vào, Dương giáo chủ cũng chẳng coi ra gì. Chỉ lo không biết y sẽ đưa ra kiểu đánh nào mà thôi.

" Hôm sau, gã Hàn Thiên Diệp kia trước mặt mọi người nói rõ lời hẹn năm xưa, cốt ngăn trước, không cho Dương giáo chủ nuốt lời; sau đó y mới đưa ra cách đấu. Y muốn cùng Dương giáo chủ nhảy xuống đầm Bích Thủy Hàn trên đỉnh Quang Minh so tài cao thấp.

"Y vừa nói xong, ai nấy ngẩn người kinh hãi. Đầm Bích Thủy Hàn nước lạnh thấu xương, giữa mùa hè cũng không ai dám nhảy xuống đầm, huống chi bây giờ đang giữa mùa đông? Dương giáo chủ võ công tuy cao, nhưng lại không biết bơi lặn, nhảy xuống đầm Bích Thủy Hàn chưa tỷ võ thì đã đông cứng, chết đuối mất rồi. Lúc đó ở trong Thánh hỏa sảnh, quần hùng ai cũng lên tiếng nguyền rủa".

Trương Vô Kỵ nói:

– Chuyện đó thật là khó xử. Đại trượng phu nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy. Dương giáo chủ năm xưa đã nhận lời để con của người họ Hàn được chọn lối đấu võ. Nay Hàn Thiên Diệp chọn thủy chiến, thì về lý Dương giáo chủ không thể từ chối được.

Triệu Mẫn nắm tay chàng, bóp một cái, mỉm cười, nói:

– Đúng, đại trượng phu một lời đã nói, bốn ngựa khó đuổi kịp. Giáo chủ Minh giáo thân phận cao quý, há có thể nuốt lời đã hẹn, thất tín với thiên hạ? Đã nhận lời với người ta, nhất định phải làm cho xong.

Lời này là nói với Trương Vô Kỵ, nhắc nhở lời hẹn ước giữa hai người; Tạ Tốn làm sao biết chuyện đó, nói:

– Đúng là như thế. Hôm ấy Hàn Thiên Diệp lớn tiếng nói: "Tại hạ một mình lên đỉnh Quang Minh này, vốn không mong sống sót để xuống núi. Các vị anh hùng hào kiệt cứ việc vung đao băm vằm tại hạ; ngoại trừ người của Minh giáo, trên giang hồ sẽ không ai biết đấy là đâu. Tại hạ chỉ là một gã vô danh tiểu tốt, có đem giết đi, cũng đâu đáng nói? Các vị muốn giết, xin cứ việc ra tay!"

"Mọi người nghe y nói thế, thì không ai có thể nói gì được nữa. Dương giáo chủ ngẫm nghĩ một hồi, rồi nói:" Hàn huynh đệ, tại hạ năm xưa quả có hẹn với lệnh tôn. Hảo hán tử quang minh lỗi lạc, vụ tỷ võ này tại hạ nhận thua. Hàn huynh đệ muốn xử trí thế nào, tại hạ cũng tuân theo ". Hàn Thiên Diệp xoay cổ tay một cái, trong tay là một con dao găm sáng loáng, y chĩa mũi dao vào ngay chỗ tim mình, nói:" Con dao này là di vật của tiên phụ, tại hạ chỉ cần Dương giáo chủ cúi lạy con dao này ba lạy ". Quần hùng nghe vậy, ai cũng tức giận, đường đường là giáo chủ Minh giáo, há để người ta làm nhục như vậy? Thế nhưng Dương giáo chủ đã nhận thua, cứ theo quy củ giang hồ, không thể không do đối phương xử trí. Tình thế hiện tại đã hết sức rõ ràng, Hàn Thiên Diệp phen này liều mạng lên đây, sau khi nhận ba lạy của Dương giáo chủ, y sẽ lập tức đâm dao vào tim mình, để khỏi phải chết dưới tay quần hào Minh giáo.

" Lúc ấy trong đại sảnh im phăng phắc, Quang Minh tả hữu sứ "Tiêu Dao nhị tiên", Bạch Mi Ưng Vương Ân nhị ca, Bành Oánh Ngọc hòa thượng, bình thời vốn túc trí đa mưu, nhưng trước tình thế khó khăn này, cũng đành bó tay. Hành vi của Hàn Thiên Diệp rõ ràng muốn muốn bức tử Dương giáo chủ, để rửa mối nhục năm xưa cha y bị thương phải quỳ gối, sau đó y sẽ tự sát.

"Giữa lúc khẩn bách vạn phần đó, Đại Ỷ Ty đột nhiên bước ra, nói với Dương giáo chủ:" Gia gia, người ta có một đứa con trai hiếu thảo như vậy, chả lẽ cha không có một đứa con gái hiếu thảo? Vị Hàn gia này báo thù cho cha y, thì hãy để con thay cha tiếp y vài chiêu. Chuyện đời nào đời nấy lo, không nên làm loạn vai vế ". Mọi người kinh ngạc, sao nàng ta lại gọi Dương giáo chủ là gia gia? Nhưng rồi họ hiểu ý, nàng mạo xưng con gái của Dương giáo chủ cốt giải thoát cho ông khỏi cảnh nguy khốn; họ đều nghĩ thầm:" Trông dáng hình nàng thướt tha yểu điệu, gió thổi cũng ngã thế kia, liệu có biết võ hay không? Dẫu có biết võ, cũng chẳng thể cao cường, nói gì đến chuyện nhảy xuống đầm Bích Thủy Hàn thủy chiến ".

Dương giáo chủ chưa kịp trả lời, Hàn Thiên Diệp đã cười khẩy, nói:" Cô nương muốn thay cha tiếp chiêu, cũng được thôi. Có điều là nếu cô nương bị thua, tại hạ vẫn yêu cầu Dương giáo chủ phải lạy con dao ba cái ". Y thấy nàng Đại Ỷ Ty xinh đẹp yếu đuối, đâu có coi nàng ra gì? Đại Ỷ Ty hỏi:" Nếu tôn giá thua thì sao? "Hàn Thiên Diệp đáp:" Muốn chém muốn xẻo, cũng xin chịu cả ". Đại Ỷ Ty nói:" Được! Vậy hai ta đến đầm Bích Thủy Hàn! "Nói xong nàng đi trước. Dương giáo chủ vội xua tay, nói:" Không được! Con không nên dính vào vụ này ". Đại Ỷ Ty nói:" Gia gia, cha đừng lo ". Nói rồi nàng quỳ xuống lạy, coi như nàng nhận Dương giáo chủ làm nghĩa phụ.

" Dương giáo chủ thấy nàng có chủ ý, rõ ràng nắm chắc phần thắng, ngoài cách đó ra, ông cũng chưa biết làm sao, đành chiều theo ý nàng. Mọi người cùng kéo xuống đầm Bích Thủy Hàn ở chân núi. Lúc đó gió bấc thổi mạnh, mới đến bên đầm đã thấy lạnh buốt; những người nội lực kém đều khó chịu. Nước đầm kết thành một lớp băng mỏng, nhìn xuống chỉ thấy xanh ngăn ngắt, không thấy đáy.

"Dương giáo chủ nghĩ không nên để Đại Ỷ Ty phải vì ông mà bỏ mạng, nên hiên ngang nói:" Con ngoan của ta, hảo ý của con, ta ghi nhớ trong lòng; hãy để ta tiếp cao chiêu của Hàn huynh cho ". Nói xong ông cởi áo ngoài, cầm một thanh đơn đao, quyết ý nhảy xuống đầm Bích Thủy Hàn, rồi sẽ không bao giờ ngoi lên nữa. Đại Ỷ Ty mỉm cười, nói:" Gia gia, con sinh trưởng ở bên bờ biển, bơi lội nào kém ai ". Nói đoạn nàng tuốt kiếm, phi thân xuống đầm, đứng trên mặt băng, dùng mũi kiếm khoanh trên băng một vòng tròn đường kính chừng hai thước, chân trái đạp mạnh, nghe ục một tiếng, cả băng lẫn người đã chìm xuống lòng đầm".

Lúc này trên mặt đầm gió bấc rét căm căm thổi phần phật vào quần áo mọi người, Tạ Tốn nói:

– Tình cảnh trên bờ đầm Bích Thủy Hàn bấy giờ, hôm nay nhớ lại, ta tưởng như sự việc vừa xảy ra hôm qua. Đại Ỷ Ty mặc một chiếc áo màu tím nhạt, đứng trên mặt băng hệt như Lăng ba tiên nữ, đột nhiên rơi tõm xuống nước, quần hào đứng trên bờ ai cũng kinh dị. Hàn Thiên Diệp nhìn cách xuống nước của nàng, thì vẻ cuồng ngạo trên mặt y lập tức biến mất, y tay cầm chủy thủ, cũng nhảy xuống đó.

"Đầm Bích Thủy Hàn nước màu xanh lục, đứng trên bờ đầm không thể nhìn thấy tình hình hai người giao đấu ra sao, chỉ thấy mặt nước chao động không ngớt, có lúc lặng dần, rồi lại như sôi lên ùng ục. Quần hào Minh giáo hết sức lo lắng, thấy hai người lặn trong đầm đã lâu, làm sao có thể ở lâu dưới đáy nước như thế? Lại một hồi lâu, đột nhiên thấy có bọt nước nổi lên mang theo tia máu đỏ tươi. Ai nấy càng lo sợ, không biết có phải nàng Đại Ỷ Ty đã bị thương hay chăng. Bỗng Hàn Thiên Diệp từ dưới đầm lao vọt lên qua lỗ băng kia, thở hổn hển. Mọi người thấy y lên trước, cùng cả kinh, hỏi dồn:" Đại Ỷ Ty thế nào? Đại Ỷ Ty thế nào rồi? "Chỉ thấy y hai tay không, con dao găm thì cắm ở ngực bên phải, hai bên má có hai đường rạch dài.

" Mọi người còn đang kinh dị, thì nàng Đại Ỷ Ty vọt lên như một con cá bay lên mặt nước, trường kiếm hộ thân, nhẹ nhàng lượn một vòng trên không trung rồi mới đáp xuống mặt băng. Quần hùng lớn tiếng reo hò. Dương giáo chủ bước đến nắm chặt tay nàng, sung sướng không nói nên lời. Ai có thể ngờ một một cô nương thiên kiều bách mị thế kia mà công phu bơi lặn lại cao siêu đến thế. Đại Ỷ Ty liếc nhìn Hàn Thiên Diệp một cái, nói: "Gia gia, người kia bơi lội cũng khá, nghĩ đến lòng hiếu thảo báo thù cho cha của y, gia gia hãy tha cho y cái tội đã vô lễ với giáo chủ, có được chăng?" Dương giáo chủ tất nhiên bằng lòng, sai thần y Hồ Thanh Ngưu trị thương cho Hàn Thiên Diệp.

"Tối hôm đó trên đỉnh Quang Minh mở đại tiệc ăn mừng, người người đều bảo nàng Đại Ỷ Ty là đại công thần của Minh giáo, nếu không có nàng đứng ra giải vây, thì anh danh một đời của Dương giáo chủ đành trôi theo dòng nước. Bèn sắp đặt chức sắc, Dương phu nhân tặng nàng mỹ hiệu" Tử Sam Long Vương ", ngang hàng với Ưng Vương, Sư Vương, Bức Vương. Ba người hàng Vương bọn ta lại tình nguyện nhường cho nàng đứng đầu Tứ Vương, vì đại công của nàng hôm nay quả thực hơn hẳn tam Vương từ trước tới giờ. Sau đó ba Hộ giáo pháp vương bọn ta kết nghĩa huynh muội với Đại Ỷ Ty, nàng gọi ta là" Tạ tam ca ".

" Ngờ đâu sau trận thủy chiến ở đầm Bích Thủy Hàn, kết cục lại ngoài sức tưởng tượng của mọi người. Hàn Thiên Diệp tuy thất bại, nhưng chẳng hiểu bằng cách nào y lại chiếm được trái tim của nàng Đại Ỷ Ty. Có lẽ vì ngày ngày nàng đến thăm y trên giường bệnh, từ thương hại hóa thành thương yêu, từ thù hận hóa thành ái tình; nên khi Hàn Thiên Diệp khỏi hẳn, thì nàng bẩm với giáo chủ xin được kết hôn với Hàn Thiên Diệp.

"Mọi người nghe tin đó, kẻ thì đau lòng thất vọng, kẻ thì phẫn nộ bừng bừng. Cái gã Hàn Thiên Diệp từng bức bách Dương giáo chủ khiến mọi người trong Minh giáo căm hận y, nàng là hộ giáo pháp vương, làm sao có thể kết hôn với y kia chứ? Có người nóng tính nói thẳng vào mặt y. Đại Ỷ Ty tính nết cứng cỏi, cầm kiếm đứng ngay cửa sảnh, lớn tiếng nói:" Từ nay trở đi, Hàn Thiên Diệp đã là phu quân của ta. Kẻ nào muốn làm nhục Hàn lang, hãy tới thử kiếm với Tử Sam Long Vương trước đã! "Mọi người thấy thế, đành hậm hực bỏ đi.

" Khi Đại Ỷ Ty thành hôn với Hàn Thiên Diệp, phải quá nửa số huynh đệ không đến uống rượu mừng. Chỉ có Dương giáo chủ và ta cảm kích việc nàng đứng ra giải vây, mà hết lòng giúp nàng sắp đặt lễ thành hôn sao cho suôn sẻ, không gặp chuyện rắc rối. Nhưng khi Hàn Thiên Diệp muốn gia nhập Minh giáo, vì số người phản đối quá nhiều, Dương giáo chủ không tiện làm trái ý của số đông. Không lâu sau, vợ chồng Dương giáo chủ đột nhiên mất tích, lòng người trên đỉnh Quang Minh đều hoang mang. Mọi người đổ đi tứ phía tìm kiếm; một đêm nọ Quang Minh hữu sứ Phạm Dao bắt gặp Hàn phu nhân Đại Ỷ Ty từ trong đường hầm bí mật đi ra ".

Trương Vô Kỵ run giọng, hỏi:

– Từ trong đường hầm bí mật đi ra ư?

Tạ Tốn nói:

– Đúng thế. Giáo quy của Minh giáo cực nghiêm, đường hầm ấy chỉ có một mình giáo chủ được phép ra vào mà thôi. Phạm Dao vừa kinh ngạc, vừa giận dữ, liền tiến lên tra vấn. Hàn phu nhân nói:" Muội đã phạm trọng tội của bản giáo, muốn đâm muốn chém thế nào, muội cũng xin cam chịu ". Trong đại hội quần hào tối hôm ấy, Hàn phu nhân cũng chỉ nói mỗi câu ấy mà thôi. Hỏi nàng đi vào đường hầm bí mật làm gì, nàng bảo không muốn nói dối, song cũng không thể nói thật. Hỏi nàng Dương giáo chủ đi đâu, nàng bảo nàng không hề biết; còn việc lẻn vào đường hầm bí mật, thì ai làm nấy chịu, khỏi cần nói nhiều. Xét theo lý, nếu nàng không tự vẫn, thì hôm đó cũng phải tự chặt một chân; nhưng một là Phạm Dao tình cũ chưa quên, hết sức che chở cho nàng; hai là ta ở bên cạnh trần tình, nên quần hào mới định tội phạt giam nàng mười năm để ăn năn sám hối. Nào ngờ Đại Ỷ Ty cãi:" Dương giáo chủ không có ở đây, chẳng ai có quyền quản thúc ta ".

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Nghĩa phụ, Hàn phu nhân lẻn vào đường hầm bí mật làm gì thế?

Tạ Tốn nói:

– Chuyện này kể ra thì dài, trong Minh giáo chỉ mình ta biết mà thôi. Hồi ấy mọi người phần đông nghi nàng dính dáng đến việc hai vợ chồng Dương giáo chủ mất tích; song ta hết sức chứng minh hai việc đó không liên quan gì với nhau. Tối hôm đó, tại Thánh hỏa sảnh trên đỉnh Quang Minh, quần hào bàn mãi cũng không đến đâu, cuối cùng Hàn phu nhân phá môn xuất giáo, nói rằng từ đây sẽ không còn quan hệ gì với Minh giáo Trung thổ nữa. Nàng ta là người đầu tiên ra khỏi Minh giáo, ngay đêm đó cùng Hàn Thiên Diệp lặng lẽ xuống núi, đi đâu không biết.

" Sau đó các huynh đệ bản giáo tìm kiếm Dương giáo chủ không thấy, mấy năm liền tranh ngôi vị giáo chủ, tình thế ngày càng bi đát. Bạch Mi Ưng Vương Ân nhị ca lại rời đỉnh Quang Minh, tự sáng lập Thiên Ưng giáo. Ta hết sức khuyên can, ông ấy không nghe, huynh đệ hục hặc với nhau. Hơn hai mươi năm trước, tại Vương Bàn sơn đảo, Thiên Ưng giáo dương đao lập uy, Kim Mao Sư Vương ta tới đó phá đám, trước là cướp lấy thanh đao Đồ Long, sau là cho hả cơn giận năm trước, cốt làm mất mặt Ân nhị ca, làm cho ông ấy hiểu rằng sau khi rời bỏ Minh giáo, chưa chắc đã làm nên trò trống gì. Ôi hôm nay nghĩ lại, ta thấy mình hành xử không khỏi có phần nóng nảy nhỏ nhen! "

Tạ Tốn thở dài, một tiếng thở dài bao hàm bao nhiêu chuyện đau lòng trong dĩ vãng, vô số sóng gió chốn giang hồ.

Mọi người trầm mặc hồi lâu. Triệu Mẫn nói:

– Lão gia tử, sau này Kim Hoa Ngân Diệp uy chấn giang hồ, làm sao người của Minh giáo lại không nhận ra bà ta? Ngân Diệp tiên sinh tức là Hàn Thiên Diệp, vì sao bị trúng độc mà chết?

Tạ Tốn nói:

– Những chuyện đó thế nào, ta hoàn toàn không hay biết. Chắc là vợ chồng họ hành tẩu giang hồ, hết sức tránh chạm trán với người của Minh giáo.

Trương Vô Kỵ nói:

– Đúng thế. Kim Hoa bà bà từ đấy không đụng chạm với người của Minh giáo. Khi sáu đại môn phái vây đánh đỉnh Quang Minh, bà ta có lên đó, song không cứu viện.

Triệu Mẫn ngẫm nghĩ, nói:

– Nhưng Tử Sam Long Vương dung mạo xinh đẹp tuyệt trần, sao lại hóa ra xấu xí như thế kia chứ? Xem chừng khuôn mặt lại không có dấu vết hủy hoại.

Tạ Tốn nói:

– Ta đoán bà ấy khéo léo thay đổi diện dung. Hàn phu nhân một đời hành sự kỳ dị, thực ra vì trong lòng có nỗi khổ tâm không nói ra được. Bà ta suốt đời cứ phải trốn tránh sự truy tìm của Tổng giáo Ba Tư, nào ngờ cuối cùng cũng không sao thoát được.

Trương Vô Kỵ và Triệu Mẫn cùng hỏi:

– Tại sao Tổng giáo Ba Tư lại truy tìm bà ta?

Tạ Tốn nói:

– Đó là bí mật lớn nhất của Hàn phu nhân, đáng lẽ không nên nói ra. Nhưng ta mong các ngươi trở lại đảo Linh Xà cứu bà ấy, nên không thể không nói.

Triệu Mẫn kinh ngạc kêu lên:

– Trở lại đảo Linh Xà ư? Chúng ta làm sao địch nổi ba sứ giả Ba Tư?

Tạ Tốn không trả lời câu đó, chỉ kể chuyện:

– Mấy trăm năm nay, giáo chủ Minh giáo Trung thổ đều do nam giới đảm nhiệm; nhưng giáo chủ Tổng giáo Ba Tư thì lại là nữ giới, mà phải là xử nữ, không được lấy chồng. Trong kinh điển của Tổng giáo Ba Tư có quy định một cách trịnh trọng, rằng phải do thánh xử nữ đảm nhiệm chức giáo chủ, thì mới giữ được sự trinh khiết thiêng liêng của Minh giáo. Mỗi vị giáo chủ sau khi tiếp nhiệm, đều phải lựa chọn trong số con cái các nhân sĩ cao cấp của bản giáo ba người con gái, gọi là" thánh nữ ". Khi làm lễ nhận chức, các" thánh nữ "phải thề sẽ du hành bốn phương, lập công tích đức cho Minh giáo. Khi giáo chủ từ trần, các vị trưởng lão trong Tổng giáo sẽ họp xét công đức của ba" thánh nữ ", ai cao nhất sẽ được lên tiếp nhiệm chức giáo chủ. Ba" thánh nữ "kia, kẻ nào bị mất trinh, sẽ bị xử thiêu sống trên giàn lửa, dù nàng ta có trốn tận chân trời góc biển, Tổng giáo cũng sai người truy nã, để duy trì sự trinh thiện của thánh giáo..

Tạ Tốn kể tới đây, Triệu Mẫn kêu lên lạc cả giọng:

– Không lẽ Hàn phu nhân lại là một trong ba" thánh nữ "?

Tạ Tốn gật đầu:

– Chính thế! Trước khi Phạm Dao phát hiện Hàn phu nhân lẻn vào đường hầm bí mật, thì ta đã bắt gặp rồi. Hàn phu nhân coi ta như tri kỷ, nên đem mọi chuyện nói cho ta biết. Nàng đấu với Hàn Thiên Diệp dưới đầm Bích Thủy Hàn, hai người đụng chạm thịt da, nảy sinh tình cảm với đối phương; sau đó nàng lại an ủi y trong những ngày trị thương, cuối cùng thành mối tình oan nghiệt. Nàng biết thể nào cũng có ngày Tổng giáo Ba Tư sai người đi tìm, nên cố lập đại công để chuộc tội với Tổng giáo. Nàng lẻn vào đường hầm bí mật là để tìm võ công tâm pháp" Càn khôn đại na di ". Môn võ công tâm pháp ấy Tổng giáo bị thất lạc đã lâu, nhưng Minh giáo Trung thổ vẫn còn giữ được. Tổng giáo sai nàng đến đỉnh Quang Minh chính là vì lẽ đó.

Trương Vô Kỵ" ồ "lên một tiếng, lờ mờ cảm thấy có điều không ổn, nhưng là chuyện gì, thì chàng chưa nghĩ ngay ra được. Chỉ nghe Tạ Tốn nói tiếp:

– Hàn phu nhân mấy lần lẻn vào đường hầm bí mật, thủy chung vẫn không tìm thấy võ công tâm pháp kia. Khi ta biết chuyện, bèn nghiêm nghị cáo giới, rằng việc đó phạm đại quy của Minh giáo, khó có thể dung tha..

Triệu Mẫn nói xen vào:

– A, tiểu nữ hiểu rồi. Hàn phu nhân phá môn xuất giáo, cốt để tiếp tục lẻn vào đường hầm bí mật; nàng đã không còn là người trong Minh giáo Trung thổ, thì không bị cấm ra vào đường hầm nữa.

Tạ Tốn nói:

– Triệu cô nương thông minh lắm. Nhưng đỉnh Quang Minh là căn cứ địa của bản giáo, há có thể cho người ngoài tùy ý ra vào? Bấy giờ ta cũng đoán được dụng ý của Hàn phu nhân, nên sau khi nàng xuống núi, ta đích thân canh giữ cửa đường hầm; ba lần nàng lẻn lên núi đều gặp ta, mới đành từ bỏ ý định đó.

Tạ Tốn ngẫm nghĩ một chút, rồi hỏi:

– Màu sắc trang phục của ba sứ giả Ba Tư có khác gì với Minh giáo Trung thổ hay chăng?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Bọn họ đều mặc áo bào màu trắng, ở chéo áo có thêu ngọn lửa đỏ.. à, áo có viền màu đen, chỉ có một điểm khác biệt nhỏ vậy thôi.

Tạ Tốn vỗ vào mạn thuyền, nói:

– Đúng là giáo chủ Tổng giáo qua đời rồi. Người Tây Vực dùng màu đen là màu tang. Áo bào trắng viền đen là để tang đó. Họ cần tuyển lập vị giáo chủ mới, nên mới không quản đường xa vạn dặm sang Trung thổ truy tìm Hàn phu nhân.

Trương Vô Kỵ nói:

– Hàn phu nhân đã từ Ba Tư sang, tất phải biết thứ võ công quái dị của ba sứ giả Ba Tư, tại sao mới đấu một chiêu, đã bị bọn họ bắt rồi?

Triệu Mẫn cười, nói:

– Công tử ngốc lắm. Hàn phu nhân giả vờ đó. Bà ta cần che giấu lai lịch, tất nhiên không thể để lộ là mình biết võ công Ba Tư. Tiểu nữ đoán rằng, nếu Tạ lão gia lúc ấy nghe từ lời ba sứ giả Ba Tư, hạ sát bà ta, thì Hàn phu nhân thể nào cũng có cách thoát thân.

Tạ Tốn lắc đầu, nói:

– Bà ấy không chịu để lộ lai lịch thì đúng rồi. Nhưng bảo rằng sau khi bị ba sứ giả Ba Tư điểm huyệt mà vẫn có cách thoát thân, thì chưa chắc. Hàn phu nhân thà để ta một đao chém chết, còn hơn phải chịu cái khổ bị thiêu sống.

Triệu Mẫn nói:

– Tiểu nữ ngỡ Minh giáo Trung thổ là tà giáo, ai ngờ Minh giáo Ba Tư lại còn tà hơn. Tại sao cứ phải nữ mới được làm giáo chủ? Tại sao lại đem thánh nữ mất trinh ra thiêu sống?

Tạ Tốn gắt lên:

– Tiểu cô nương nói năng cho cẩn thận. Mỗi giáo phái đều có nghi điển quy củ truyền từ đời này sang đời khác. Hòa thượng ni cô không được lấy vợ lấy chồng, không được ăn mặn, chẳng phải là quy củ đó sao? Cái đó là tà hay không tà?

*

* *

Đột nhiên nghe tiếng canh cách, là hai hàm răng của Ân Ly va vào nhau, nàng đang run lập cập. Trương Vô Kỵ sờ trán nàng, thấy nóng hầm hập, rõ ràng đang sốt cao, bệnh tình rất nặng, bèn nói:

– Nghĩa phụ, hài nhi cũng nghĩ phải trở lại đảo Linh Xà. Ân cô nương thương thế không nhẹ, phải tìm thuốc cứu chữa mới được. Chúng ta hãy tận lực, nếu không cứu được Hàn phu nhân, thì cũng phải cố cứu Ân cô nương.

Tạ Tốn nói:

– Đúng thế. Ân cô nương đối với con tình ý sâu nặng như thế, lẽ nào không cứu? Chu cô nương, Triệu cô nương, ý hai cô nương thế nào?

Triệu Mẫn nói:

– Thương thế của Ân cô nương là hệ trọng, còn tiểu nữ chỉ bị thương nhẹ. Không trở lại đảo Linh Xà thì lấy gì cứu chữa đây?

Chu Chỉ Nhược thản nhiên nói:

– Lão gia tử bảo quay lại, thì tất cả cùng quay lại.

Trương Vô Kỵ nói:

– Chờ sương mù tan hết, nhìn thấy trăng sao, mới có thể nhận biết phương hướng. Nghĩa phụ, gã Lưu Vân sứ lộn hai vòng trên không, là có thể dùng thánh hỏa lệnh đả thương hài nhi, vậy là thế nào?

Thế là hai người cùng nghiên thảo gia số võ công của ba sứ giả Ba Tư. Sở học của Triệu Mẫn rất uyên bác, thỉnh thoảng nàng cũng góp vài câu, nhưng bàn luận chán, vẫn không tìm ra được yếu chỉ công phu liên thủ của ba sứ giả Ba Tư như thế nào.

Sương mù trên biển mãi khi mặt trời mọc mới tan. Trương Vô Kỵ nói:

– Chúng ta từ phương bắc trôi xuống hướng đông nam; bây giờ phải chèo thuyền về hướng tây bắc mới được.

Chàng cùng Tạ Tốn, Chu Chỉ Nhược, Tiểu Chiêu bốn người luân phiên chèo thuyền. Điều khiển chiếc thuyền nhỏ xông pha các đợt sóng trên biển cả thật chẳng dễ chút nào; may Trương Vô Kỵ và Tạ Tốn nội lực thâm hậu, còn Chu Chỉ Nhược và Tiểu Chiêu cũng có tu luyện, chèo thuyền cũng chẳng khác gì việc luyện võ công.

Chèo như thế mấy ngày liền, chiếc thuyền cô đơn cứ tiến dần về hướng tây bắc.

Trong mấy ngày đó, Tạ Tốn nhíu mày suy tư về võ công quái dị của ba sứ giả Ba Tư, ngoài việc hỏi Trương Vô Kỵ vài câu, ông không nói một lời. Đến chiều tối ngày thứ sáu, Tạ Tốn đột nhiên hỏi rất kỹ về công phu của phái Nga Mi mà Chu Chỉ Nhược học được. Chu Chỉ Nhược cứ sự thực trả lời. Hai người một hỏi một đáp, trò chuyện đến tận đêm khuya. Tạ Tốn thất vọng, nói:

– Võ công của ba phái Thiếu Lâm, Võ Đang, Nga Mi đều liên quan đến" Cửu dương chân kinh ", cùng một đường với sở học của Trương Vô Kỵ, thuộc loại dương cương. Nếu có Trương Tam Phong chân nhân ở đây, lấy võ học bác đại bao hàm hết thảy âm nhu dương cương của ông ấy liên thủ với Trương Vô Kỵ, thì mới có thể phối hợp âm dương, đánh bại được ba sứ giả Ba Tư. Thế nhưng nước xa không cứu được lửa gần, Hàn phu nhân mà rơi vào tay ba sứ giả Ba Tư, thì không biết ra sao đây?

Chu Chỉ Nhược bỗng hỏi:

– Lão gia tử, nghe nói một trăm năm trước, trong võ lâm có vị cao nhân tinh thông" Cửu âm chân kinh ", phải vậy không?

Hồi còn ở trên núi Võ Đang, Trương Vô Kỵ từng nghe thái sư phụ nhắc đến" Cửu âm chân kinh ", biết rằng mấy người như phụ thân Quách Tĩnh của tổ sư sáng lập phái Nga Mi Quách Tương, Thần điêu đại hiệp Dương Quá, đều học được võ công trong" Cửu âm chân kinh ", nhưng công phu trong" Cửu âm chân kinh "tập luyện vô cùng gian nan, Quách Tương dù là con ruột của Quách Tĩnh mà cũng không học nổi; giờ nghe Chu Chỉ Nhược hỏi đến, chàng nghĩ thầm:" Không lẽ tổ sư sáng phái Nga Mi có truyền lại một phần công phu trong "Cửu âm chân kinh" chăng? "Tạ Tốn nói:

– Thì các bậc trưởng lão đồn đại như thế, có ai biết thật giả ra sao đâu. Ta nghe các vị tiền bối bảo tuyệt kỹ ấy như phép thần vậy; ngày nay nếu có ai học được môn võ công ấy, liên thủ với Trương Vô Kỵ chống địch, thì chắc chắn diệt trừ được ba sứ giả Ba Tư.

Chu Chỉ Nhược" ồ "lên một tiếng, không hỏi thêm nữa.

Triệu Mẫn hỏi:

– Chu cô nương, phái Nga Mi của cô nương có ai biết môn võ công ấy không?

Chu Chỉ Nhược nói:

– Nếu phái Nga Mi có được thần công ấy, tiên sư đã chẳng bỏ mạng ở chùa Vạn An.

Diệt Tuyệt sư thái sở dĩ lìa trần, căn nguyên là do Triệu Mẫn mà ra, Chu Chỉ Nhược căm hận nàng ta vô cùng; bao nhiêu ngày đêm mưa gió ngồi chung trên một con thuyền, song nàng không trao đổi với Triệu Mẫn nửa lời; giờ nghe Triệu Mẫn hỏi đích danh, nàng liền nói móc cho một câu. Chu Chỉ Nhược tính nết hiền lành, bình sinh chưa từng bốp chát với ai như thế bao giờ. Triệu Mẫn nghe xong không giận, chỉ cười cười.

Trương Vô Kỵ mải miết chèo thuyền, đột nhiên nhìn về phía xa, kêu lên:

– Xem kìa, xem kìa! Đằng kia có ánh lửa.

Mọi người nhìn theo hướng mắt chàng, quả nhiên ở góc tây bắc, nơi đường chân trời, có ánh lửa chập chờn. Tạ Tốn tuy không nhìn thấy gì, nhưng trong lòng cũng nửa mừng nửa lo như mọi người, dồn sức vào mái chèo nhiều hơn.

Ánh lửa nhìn không xa, thực ra trên biển khơi phải cách xa đến mấy chục dặm. Hai người chèo cả nửa ngày mới tới gần. Trương Vô Kỵ thấy nơi ánh lửa có các ngọn núi nhấp nhô, chính là đảo Linh Xà, liền nói:

– Chúng ta đến nơi rồi.

Tạ Tốn đột nhiên kêu" Thôi chết! "Rồi hỏi:

– Có phải trên đảo Linh Xà có lửa bốc lên cao hay không? Chẳng lẽ bọn chúng thiêu sống Hàn phu nhân luôn sao?

Chỉ nghe" hịch "một tiếng, Tiểu Chiêu đã ngã lăn ra sàn thuyền. Trương Vô Kỵ kinh hãi, tới đỡ nàng dậy, thấy nàng bất tỉnh, hai mắt nhắm nghiền, vội day huyệt Nhân Trung cho nàng tỉnh lại, hỏi:

– Tiểu Chiêu, cô nương sao thế?

Tiểu Chiêu hai mắt rưng rưng, nói:

– Tiểu nữ nghe nhắc đến việc thiêu sống người nên.. lo.. sợ.. quá.

Trương Vô Kỵ an ủi nàng:

– Đấy là Tạ lão gia đoán thế thôi, chưa chắc có chuyện ấy. Ví dầu Hàn phu nhân có sa vào tay bọn chúng, mình bây giờ đến nơi, cũng còn cứu kịp.

Tiểu Chiêu nắm chặt tay chàng, cầu khẩn:

– Công tử, tiểu nữ cầu xin công tử hãy cố cứu mạng Hàn phu nhân.

Trương Vô Kỵ nói:

– Tất cả mọi người ở đây sẽ cố làm việc đó.

Đoạn chàng trở lại đuôi thuyền, cầm mái giầm lên, chèo nhanh hơn trước. Tiểu Chiêu cũng cầm lấy mái giầm, hai tay run run, song cũng cố sức chèo.

Triệu Mẫn bỗng hỏi:

– Trương công tử, có hai việc tiểu nữ nghĩ đã lâu, nhưng vẫn không chưa hiểu rõ, mong công tử chỉ giáo.

Trương Vô Kỵ tự dưng thấy nàng nói năng khách sáo như thế, lấy làm lạ, hỏi:

– Việc gì vậy?

Triệu Mẫn nói:

– Lần trước ở bên ngoài Lục Liễu trang, tiểu nữ sai người tấn công các vị lệnh ngoại công, Dương tả sứ, chính Tiểu Chiêu cô nương này đã điều động binh mã chống trả. Đúng là tướng đã mạnh ắt binh không yếu, một tiểu a hoàn của giáo chủ Minh giáo mà tài ba như thế, quả lạ thật.. Tạ Tốn liền hỏi:

– Ai là giáo chủ Minh giáo?

Triệu Mẫn cười, nói:

– Lão gia tử, bây giờ nói cho lão gia biết cũng được rồi, vị công tử con nuôi của lão gia đường đường là giáo chủ Minh giáo đó, lão gia trở thành thuộc hạ của chàng ta rồi.

Tạ Tốn bán tín bán nghi, nhất thời chưa biết nói sao. Triệu Mẫn liền thuật lại sơ qua việc Trương Vô Kỵ đảm nhiệm chức giáo chủ Minh giáo như thế nào, tuy có nhiều chi tiết nàng không biết. Trương Vô Kỵ bị Tạ Tốn hỏi dồn, không thể giấu được nữa, cũng đành kể lại vụ sáu đại môn phái vây đánh đỉnh Quang Minh ra sao, mình ở trong đường hầm bí mật học được tâm pháp" Càn khôn đại na di "như thế nào.

Tạ Tốn cả mừng, đứng dậy, rồi vái lạy ngay trong lòng thuyền, nói:

– Thuộc hạ Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn, tham kiến giáo chủ.

Trương Vô Kỵ vội quỳ xuống trả lễ, nói:

– Nghĩa phụ khỏi cần đa lễ. Dương giáo chủ có di mệnh để nghĩa phụ tạm giữ chức vị giáo chủ. Hài nhi đang lo không gánh vác nổi trọng nhiệm, may sao nghĩa phụ yên lành trở về, thật là phúc của bản giáo. Khi nào chúng ta trở về Trung thổ, xin nghĩa phụ tiếp nhiệm chức vị giáo chủ cho.

Tạ Tốn nói:

– Nghĩa phụ con tuy đã trở về, nhưng hai mắt đã lòa, hai chữ" yên lành "không đúng đâu. Thủ lĩnh Minh giáo há có thể để một người mù đảm nhiệm? Triệu cô nương, cô nương có hai việc gì chưa hiểu rõ?

Triệu Mẫn nói:

– Tiểu nữ định hỏi Tiểu Chiêu cô nương, thuật Kỳ môn bát quái, âm dương ngũ hành là do ai dạy cho cô nương vậy? Cô nương còn ít tuổi, làm sao đã học được nhiều môn công phu lạ thế?

Tiểu Chiêu nói:

– Đó là võ công gia truyền của tiểu nhân, chẳng bõ quận chúa nương nương cười cho.

Triệu Mẫn lại hỏi:

– Lệnh tôn là ai? Con gái giỏi thế, cha mẹ hẳn phải là bậc cao thủ lừng danh thiên hạ.

Tiểu Chiêu nói:

– Gia phụ mai danh ẩn tính, không đáng để quận chúa phải bận lòng. Chẳng lẽ quận chúa lại định chặt vài ngón tay của tiểu nhân để ép tiểu nhân phải bộc lộ võ công ra hay sao?

Cô bé tuổi còn nhỏ mà đối gia đối giảm với Triệu Mẫn không chịu kém câu nào, nhắc đến chuyện chặt ngón tay, rõ ràng là muốn khơi dậy lòng căm hận của Chu Chỉ Nhược.

Triệu Mẫn cười, quay sang hỏi Trương Vô Kỵ:

– Trương công tử, tối hôm ở quán rượu nhỏ tại Đại Đô, lần thứ hai mình gặp nhau, Khổ đầu đà Phạm Dao đến chào từ biệt muội, khi y nhìn thấy Tiểu Chiêu, đã nói hai câu gì nhỉ?

Trương Vô Kỵ vốn đã quên chuyện đó, nghe Triệu Mẫn nhắc đến, nghĩ một lát, mới nói:

– Khổ đại sư hình như có nói là tướng mạo Tiểu Chiêu giống một người quen nào đó.

Triệu Mẫn nói:

– Đúng. Công tử thử đoán xem Khổ đại sư bảo Tiểu Chiêu giống ai?

Trương Vô Kỵ nói:

– Ta làm sao đoán được?

*

* *

Hai người còn đang nói chuyện, chiếc thuyền nhỏ đã tới gần đảo Linh Xà. Chỉ thấy ở phía tây đảo có đậu một số thuyền lớn, trên các cánh buồm trắng đều thêu ngọn lửa đỏ rất lớn, đầu cột buồm thì treo một băng vải màu đen.

Trương Vô Kỵ cau mày nói:

– Tổng giáo Ba Tư lao sư động chúng, đưa sang đây quả không ít người.

Triệu Mẫn nói:

– Mình hãy chèo thuyền ra phía sau đảo, tìm một nơi kín đáo mà đổ bộ, khỏi bị bọn họ phát giác.

Trương Vô Kỵ gật đầu nói:

– Đúng thế.

Nhưng mới bơi thêm được ba, bốn trượng, đột nhiên trên chiếc thuyền lớn nổi lên tiếng tù và u u, tiếp đó đoàng đoàng hai tiếng, hai quả đại bác bắn tới, một viên rơi ở bên trái, một viên rơi ở bên phải con thuyền nhỏ, dựng lên hai cột nước, làm cho con thuyền này chòng chành như muốn lật. Trên thuyền lớn có người hô to:

– Thuyền kia mau chèo lại đây, nếu không tuân lệnh, sẽ bị bắn chìm lập tức.

Trương Vô Kỵ thầm kêu khổ, biết hai phát đạn vừa rồi địch chỉ thị uy, cố ý bắn sang hai bên; bây giờ hai bên gần nhau thế này, kẻ địch ngắm bắn dễ dàng, chỉ cần một quả đạn trúng thuyền thì cả sáu người khó bề sống sót, đành chầm chậm bơi thuyền tới.

Ba khẩu pháo trên thuyền lớn cũng từ từ chuyển dịch miệng súng, nhắm đúng vào con thuyền nhỏ. Khi thuyền nhỏ tới sát, thuyền lớn liền thả thang dây xuống. Trương Vô Kỵ nói:

– Bọn mình lên trên, tùy cơ đoạt thuyền.

Tạ Tốn mò thang dây, leo lên thuyền lớn trước nhất. Chu Chỉ Nhược lẳng lặng cúi xuống ôm Ân Ly, leo lên, kế đến Tiểu Chiêu, Trương Vô Kỵ ôm Triệu Mẫn, leo lên sau cùng. Chỉ thấy trên thuyền lớn rất đông người, ai cũng tóc vàng mắt xanh, thân hình cao lớn, đều là người Hồ xứ Ba Tư, không thấy ba sứ giả Vân, Phong, Nguyệt nọ.

Một người Ba Tư biết nói tiếng Trung Quốc, hỏi:

– Các người là ai? Đến đây làm gì?

Triệu Mẫn đáp:

– Chúng tôi đi biển gặp bão, thuyền lớn bị chìm, nhờ các vị cứu cho.

Người Ba Tư bán tín bán nghi, quay đầu nói với viên thủ lĩnh ngồi trên ghế ngay giữa sàn thuyền, nói mấy câu bằng tiếng Ba Tư. Viên thủ lĩnh nói xí xố mấy câu với đám thủ hạ.

Tiểu Chiêu đột nhiên vọt tới tung chưởng tấn công viên thủ lĩnh. Y kinh hãi vội né sang bên, chộp luôn cái ghế vừa ngồi mà phang vào Tiểu Chiêu. Trương Vô Kỵ không ngờ Tiểu Chiêu chưa chi đã động thủ, lạng người một cái đã tiến lên ba thước, giơ tay điểm huyệt viên thủ lĩnh. Mấy chục người Ba Tư trên thuyền lập tức náo loạn, rút binh khí ra, vây cả bọn lại. Những người này đều biết võ, nhưng so với ba sứ giả Vân, Phong, Nguyệt nọ thì kém xa. Trương Vô Kỵ tay phải đỡ Ân Ly, tay trái lúc thì vỗ chưởng, lúc thì điểm huyệt. Tạ Tốn múa thanh đao Đồ Long, Chu Chỉ Nhược vung trường kiếm, cộng với Tiểu Chiêu thân hình linh hoạt, chỉ trong giây lát đã thanh toán xong mấy chục người Ba Tư trên thuyền. Hơn chục tên bị chém nằm ngổn ngang trên sàn, bảy tám tên bị quăng xuống biển, còn lại bao nhiêu đều bị điểm huyệt.

Lúc đó trên biển vang động tiếng hò hét, tiếng tù và thổi loạn, những chiếc thuyền còn lại của bọn Ba Tư đều xáp lại gần, bọn người trên các thuyền toan nhảy sang đánh bọn Trương Vô Kỵ. Trương Vô Kỵ liền xách viên thủ lĩnh, nhảy lên cái đà treo buồm, nói lớn:

– Kẻ nào dám nhảy sang đây, ta sẽ đánh chết ngay gã này.

Chỉ nghe người trên các thuyền hô hoán ầm ỹ; tuy họ không hiểu Trương Vô Kỵ nói gì, song không một ai nhảy sang, thiết tưởng viên thủ lĩnh hẳn có địa vị rất cao, đối phương e ngại nên nhất thời chưa dám tấn công.

Trương Vô Kỵ nhảy trở xuống, đang định thả viên thủ lĩnh ra, bỗng nghe sau lưng một tiếng keng, có một binh khí đánh tới, chàng vội tránh sang bên, đá ngược trở lại, thấy một tấm thánh hỏa lệnh đánh tới trước mặt, bên trái cũng có một tấm thánh hỏa lệnh khác quét ngang. Trương Vô Kỵ thầm kêu khổ, không ngờ Phong, Vân tam sứ lại đến nhanh như thế, vội kêu:

– Mọi người hãy lui cả vào trong khoang.

Chàng giơ viên thủ lĩnh lên mà đỡ một tấm thánh hỏa lệnh.

Huy Nguyệt sứ vội thu thánh hỏa lệnh về, nhưng quá vội, nên hạ bàn sơ hở, Trương Vô Kỵ liền quét chân qua, đá trúng đùi nàng ta. Diệu Phong sứ và Lưu Vân sứ ở hai bên vội đánh tới, buộc Trương Vô Kỵ chưa đá hết chân phải thu chân về. Đôi bên trao đổi tám, chín chiêu, thánh hỏa lệnh trong tay trái của Diệu Phong sứ đánh xéo từ dưới lên, chiêu số rất quái dị, nhắm trúng bụng dưới của Trương Vô Kỵ. Trương Vô Kỵ liền hạ thấp thân hình viên thủ lĩnh xuống, thật khéo léo, nghe bộp một tiếng, tấm thánh hỏa lệnh đã đập vào má trái viên thủ lĩnh Ba Tư. Ba sứ giả kia cùng kinh hãi kêu lên, mặt mày biến sắc, cùng nhảy về phía sau, trao đổi mấy câu bằng tiếng Ba Tư, đột nhiên cúi mình cung kính hành lễ với viên thủ lĩnh đang nằm trong tay Trương Vô Kỵ, rồi quay về thuyền của chúng.

Bỗng tiếng tù và nổi lên từng chập, một chiếc thuyền lớn từ từ lại gần, trên mũi thuyền cắm mười hai lá cờ lớn thêu chỉ vàng. Trên thuyền đặt mười hai chiếc ghế bành lót da hổ, trong đó một chiếc bỏ trống, còn mười một chiếc kia đã có người ngồi. Chiếc thuyền lớn đó tới gần thì dừng lại, Triệu Mẫn thấy chiếc ghế trống đứng hàng thứ sáu, bụng nghĩ ngay ra, liền nói:

– Người mà ta bắt được trang phục giống như mười một kẻ đang ngồi bên thuyền kia, chắc là một trong mười hai viên đại thủ lĩnh của họ, địa vị đứng thứ sáu.

Tạ Tốn nói:

– Mười hai đại thủ lĩnh ư? Ồ, thì ra mười hai" Bảo thụ vương "của Tổng giáo cùng sang Trung thổ, thật không phải chuyện thường.

Triệu Mẫn hỏi:

– Mười hai" Bảo thụ vương "là gì vậy?

Tạ Tốn nói:

– Trong Tổng giáo Ba Tư, dưới giáo chủ có mười hai đại kinh sư, gọi là" Thập nhị Bảo thụ vương ", địa vị tương đương Tứ đại pháp vương của Minh giáo Trung thổ. Mười hai" Bảo thụ vương "này, thứ nhất Đại Thánh, thứ hai Trí Tuệ, thứ ba Thường Thắng, thứ tư Chưởng Hỏa, thứ năm Cần Tu, thứ sáu Bình Đẳng, thứ bảy Tín Tâm, thứ tám Trấn Ác, thứ chín Chính Trực, thứ mười Công Đức, thứ mười một Tề Tâm, thứ mười hai Câu Minh. Mười hai" Bảo thụ vương "lấy việc tinh thông giáo nghĩa, kinh điển làm chính, chứ không nhất thiết phải giỏi võ công. Người này đứng hàng thứ sáu, vậy là" Bình Đẳng Bảo thụ vương ".

Trương Vô Kỵ ngồi xuống chân cột buồm, đặt Bình Đẳng vương nằm ngang trên gối, người này có địa vị rất cao trong Tổng giáo Ba Tư, thì sự sống chết, khả năng thoát hiểm của sáu người bên chàng đều trông vào người này. Chàng cúi nhìn, thấy má trái của y sưng to lên, may mà vết thương không phải là trí mạng. Có lẽ Diệu Phong sứ lúc ra đòn biết là không ổn, đã vội thu lực về, cộng với nội công người này cũng khá, nên có sức chống đỡ.

Chu Chỉ Nhược và Tiểu Chiêu thu dọn đám người Ba Tư trên sàn thuyền, xác chết thì kéo vào khoang sau, những kẻ còn sống thì xếp thành một hàng. Chỉ thấy mười mấy chiếc thuyền Ba Tư vây quanh, các khẩu đại bác đều chĩa sang thuyền của bọn Trương Vô Kỵ. Các thuyền kia rất đông người Ba Tư, đao kiếm lấp loáng dưới ánh đuốc. Trương Vô Kỵ thầm kinh hãi, đừng nói các thuyền kia nã pháo, chỉ cần đám người kia tràn sang, thì chàng có ba đầu sáu tay cũng chẳng thể chống đỡ; dẫu có võ công tuyệt đỉnh để thoát thân, thì cũng không có cách gì bảo vệ cho mấy người đồng hành. Ân Ly và Triệu Mẫn đang bị thương, lại càng nguy hiểm hơn.

Chỉ nghe một người Ba Tư cao giọng nói bằng tiếng Trung Quốc:

– Kim Mao Sư Vương nghe đây," Thập nhị Bảo thụ vương "của Tổng giáo đều hiện diện tại đây. Ngươi đắc tội với Tổng giáo, các Bảo thụ vương rộng lòng tha cho, nhưng phải mau thả các giáo hữu của Tổng giáo ra, rồi giong thuyền đi ngay.

Tạ Tốn cười đáp:

– Tạ mỗ đâu phải là đứa trẻ lên ba, bọn ta thả tù binh rồi, các người nã pháo sang thuyền bọn ta thì sao?

Người kia giận dữ nói:

– Ngươi không thả ra, chúng ta không dám bắn chắc?

Tạ Tốn ngẫm nghĩ một chút, rồi nói:

– Ta có ba điều kiện, nếu bên quý vị đáp ứng, chúng ta sẽ cung kính trao trả các giáo hữu Tổng giáo lên bờ.

Người kia hỏi:

– Điều kiện gì?

Tạ Tốn nói:

– Thứ nhất, từ nay Tổng giáo và Minh giáo Trung thổ phải tương thân tương kính, không bên nào xâm phạm bên kia.

Người kia hỏi:

– Còn điều kiện thứ hai?

Tạ Tốn nói:

– Các vị giao Đại Ỷ Ty sang đây, tha cho bà ta tội thất trinh, từ rày không truy cứu nữa.

Người kia giận dữ nói:

– Việc ấy hoàn toàn không được. Đại Ỷ Ty đã phạm đại quy của Tổng giáo, phải chịu cực hình hỏa thiêu, đâu có liên quan gì tới Minh giáo Trung thổ các người? Còn điều kiện thứ ba?

Tạ Tốn nói:

– Điều kiện thứ hai đã không đáp ứng, thì còn nói điều kiện thứ ba làm gì?

Người kia nói:

– Giả dụ phía ta đáp ứng điều kiện thứ hai, thì ngươi thử nêu điều kiện thứ ba nghe coi.

Tạ Tốn nói:

– Điều kiện thứ ba hết sức dễ dàng, các vị phái một chiếc thuyền nhỏ đi theo thuyền của chúng ta. Sau khi đi năm chục dặm, nếu chúng ta không thấy thuyền lớn của các vị đuổi theo, thì sẽ thả những người bị bắt sang thuyền nhỏ cho các vị.

Người kia cả giận, quát:

– Nói nhăng nói cười! Nói nhăng nói cười!

Tạ Tốn ngẩn ra chưa hiểu người kia nói gì, Triệu Mẫn cười nói:

– Gã nói tiếng Trung Quốc chưa thạo, định bảo" Nói nhăng nói cuội "thì lại đánh thành" Nói nhăng nói cười ".

Tạ Tốn và Trương Vô Kỵ nghĩ nàng nói không sai, tuy tình thế lúc này căng thẳng, song cũng không nhịn được, cùng cười ồ lên.

Người vừa nhầm" Nói nhăng nói cười "kia đứng cuối cùng trong" Thập nhị Bảo thụ vương ", là Câu Minh vương, thấy bọn Tạ Tốn cười thì càng tức giận, bèn huýt một tiếng sáo, cùng người thứ mười một là Tề Tâm vương phi thân bay sang thuyền bên này.

Trương Vô Kỵ xông tới, tả chưởng đánh vào ngực Tề Tâm vương. Tề Tâm vương không né tránh thì chớ, còn giơ tay trái chụp xuống đầu chàng. Trương Vô Kỵ thấy chưởng của mình sẽ đánh tới ngực hắn trước, nào ngờ Câu Minh vương ở bên cạnh tung song chưởng tiếp chưởng của chàng, trong lúc năm ngón tay của Tề Tâm vương vẫn chộp xuống đầu chàng. Trương Vô Kỵ vội dấn lên một bước mới tránh được; biết rằng hai người kia liên thủ với nhau, chẳng khác gì một người có bốn tay bốn chân. Trong giây lát, ba người đã trao đổi bảy, tám chiêu.

Trương Vô Kỵ thầm kinh hãi, hai gã này tuy không bằng Phong, Vân, Nguyệt tam sứ, nhưng võ công thập phần quái dị, rất giống tâm pháp" Càn khôn đại na di ", song khi vận dụng đã biến đổi khác hẳn, không thể lần ra đầu mối, tuy rằng chiêu số không khôn khéo và lợi hại bằng tâm pháp" Càn khôn đại na di ". Hai gã đánh cứ như kẻ điên, ngẫu nhiên học được tâm pháp" Càn khôn đại na di ", nhưng học chưa đến nơi đến chốn, thần trí lại rối loạn, đấm đá lung tung, thành thử người khác chẳng biết đường nào mà chống đỡ.

Hai gã liên thủ rất chặt chẽ, y như Phong, Vân, Nguyệt tam sứ, tưởng chừng cả bọn cùng một lò ra vậy. Trương Vô Kỵ miễn cưỡng giao đấu, hi vọng sau vài ba chục chiêu sẽ chiếm thượng phong.

Ngay lúc ấy, Phong, Vân, Nguyệt tam sứ cùng hét lớn, lại nhảy sang thuyền bên này, xông cả lại hòng cướp lại Bình Đẳng vương để chuộc cái tội đã lỡ tay đánh trúng mặt y.

Tạ Tốn liền giơ Bình Đẳng vương lên quay ngang, thành một vòng tròn thật rộng. Phong, Vân, Nguyệt tam sứ lần này làm sao dám tấn công một cách khinh suất, chỉ né qua lạng lại, tìm sơ hở để xông vào.

Bỗng Câu Minh vương hự lên một tiếng, ngã xuống vì trúng một ngọn cước. Trương Vô Kỵ cúi xuống định bắt sống hắn, thì Huy Nguyệt sứ và Lưu Vân sứ cầm thánh hỏa lệnh xông tới, để Diệu Phong sứ ôm Câu Minh vương nhảy trở về thuyền. Lúc này Tề Tâm vương liên thủ với Vân, Nguyệt nhị sứ, nhưng sự phối hợp xem ra không ăn ý bằng Phong, Vân, Nguyệt tam sứ, nên sau vài hiệp thấy khó thủ thắng, bèn huýt sáo, nhảy trở về thuyền.

Trương Vô Kỵ định thần, nói:

– Bọn này tựa hồ đã học tâm pháp" Càn khôn đại na di ", nhưng lại học không đúng cách, đâm ra khó đối phó.

Tạ Tốn nói:

– Tâm pháp" Càn khôn đại na di "của bản giáo vốn bắt nguồn từ Ba Tư. Sau khi truyền sang Trung thổ mấy trăm năm trước, ở ngay bản quốc Ba Tư lại bị thất truyền, chỉ còn giữ được vài phần, theo lời Đại Ỷ Ty, là không đâu vào đâu cả, nên họ mới sai nàng tới đỉnh Quang Minh để lấy trộm tâm pháp mang về.

Trương Vô Kỵ nói:

– Căn cơ võ công của bọn họ rất nông cạn, đúng là có vài phần không đâu vào đâu, song họ lại vận dụng vô cùng khéo léo. Hiển nhiên là bên trong còn có một điều cốt lõi hệ trọng nào đó mà hài nhi chưa tìm ra. Ôi, trong tâm pháp" Càn khôn đại na di "cấp thứ bảy, có một vài chỗ hài nhi chưa luyện thành, chẳng lẽ lại là những chỗ ấy hay sao?

Nói xong chàng ngồi xuống sàn thuyền, ôm đầu suy nghĩ. Năm người kia không ai nói gì, sợ làm cho chàng mất tập trung tinh thần.

Đột nhiên Tiểu Chiêu hốt hoảng kêu" ối "một tiếng, Trương Vô Kỵ ngẩng lên, thấy Phong, Vân, Nguyệt tam sứ áp giải một người ra trước mặt mười một vị Bảo thụ vương. Người bị áp giải lưng còng, tay chống gậy, chính là Kim Hoa bà bà. Người ngồi chiếc ghế thứ hai là Trí Tuệ Bảo thụ vương lên tiếng hỏi bà ta mấy câu, Kim Hoa bà bà nghiêng đầu, kêu to:

– Ngươi nói gì? Ta không hiểu.

Trí Tuệ Bảo thụ vương cười khẩy, đứng dậy, giơ tay trái giật tóc Kim Hoa bà bà một cái, lột ngay bộ tóc bạc giả, để lộ mái tóc đen nhánh. Kim Hoa bà bà vội nghiêng sang bên trái né tránh, thì Trí Tuệ Bảo thụ vương dùng tay phải lột một lớp da trên mặt bà ta. Bọn Trương Vô Kỵ ai nấy nhìn rõ, cái mà Trí Tuệ vương lột ra chỉ là mặt nạ, trong nháy mắt, Kim Hoa bà bà hóa thành một mỹ nhân da trắng ngần, má đỏ hây, xinh đẹp tuyệt trần.

Đại Ỷ Ty bị lột mặt nạ, đành vứt cây gậy đi, cười nhạt. Trí Tuệ vương nói mấy câu, bà ta trả lời bằng tiếng Ba Tư. Hai người một hỏi một đáp, nhìn thần sắc mười một Bảo thụ vương càng lúc càng thêm chăm chú.

Triệu Mẫn bỗng hỏi:

– Tiểu Chiêu cô nương, họ nói gì thế?

Tiểu Chiêu ứa nước mắt, đáp:

– Quận chúa thông minh thật, chuyện gì cũng biết, sao không ngăn đừng để Tạ lão gia nhắc đến?

Triệu Mẫn lấy làm lạ, hỏi:

– Ngăn Tạ lão gia đừng nhắc cái gì?

Tiểu Chiêu nói:

– Bọn kia vốn chưa biết Kim Hoa bà bà là ai, về sau biết bà là Tử Sam Long Vương, song không thể nào ngờ Đại Ỷ Ty lại chính là thánh nữ Đại Ỷ Ty. Bà bà khổ công chỉ cốt đánh lừa bọn họ. Tạ lão gia lại nêu điều kiện thứ hai là đòi họ thả Đại Ỷ Ty; tuy là lòng tốt, song không lừa được Trí Tuệ Bảo thụ vương. Tạ lão gia không nhìn thấy, nên không biết Kim Hoa bà bà hóa trang quá tài, giấu được tất cả mọi người. Triệu cô nương, cô nương thì nhìn thấy rõ, chẳng lẽ không nghĩ ra sao?

Kỳ thực Triệu Mẫn sau khi nghe Tạ Tốn kể chuyện, nàng đã đoán biết Kim Hoa bà bà chính là thánh nữ Đại Ỷ Ty của Tổng giáo Ba Tư, song lại không nghĩ ra rằng người Ba Tư chưa phát giác ra điều đó. Triệu Mẫn định cãi lại, nhưng nghe giọng nói của Tiểu Chiêu quá đau buồn, đoán là giữa nàng ta với Kim Hoa bà bà tất có mối quan hệ rất mật thiết, nên chỉ nói:

– Tiểu Chiêu muội tử, ta quả không nghĩ ra, nếu ta có ý gia hại Kim Hoa bà bà, thì trời không cho ta được chết yên lành.

Tạ Tốn lại càng ân hận, không nói gì được, nhưng trong bụng đã định thầm, dù mình mất mạng cũng phải cố cứu sống Đại Ỷ Ty.

Tiểu Chiêu khóc nói:

– Bọn họ chỉ trích Kim Hoa bà bà dám lấy chồng, là phản giáo, họ muốn đem đi.. thiêu sống.

Trương Vô Kỵ nói:

– Tiểu Chiêu, đừng lo quá, nếu có cơ hội, ta sẽ nhảy sang cứu bà bà ngay.

Chàng gọi là" bà bà ", thực ra lúc này đã thấy chân tướng của Tử Sam Long Vương, tuy đã ở tuổi trung niên, song phong tư thật chẳng khác gì Triệu Mẫn, Chu Chỉ Nhược, trông cứ như tỷ tỷ của Tiểu Chiêu vậy. Tiểu Chiêu nói:

– Không được đâu! Mười một Bảo thụ vương, lại thêm Phong, Vân, Nguyệt tam sứ, công tử đấu không lại họ, có nhảy sang chỉ uổng mạng. Bên ấy họ đang bàn cách cướp lại Bình Đẳng vương đấy.

Triệu Mẫn nói:

– Hừ, gã Bình Đẳng vương có sống sót trở về, trên mặt bị in mấy hàng chữ thế kia thì cũng xấu hổ mà chết.

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Trên mặt có hàng chữ gì?

Triệu Mẫn nói:

– Gã râu vàng đã dùng thánh hỏa lệnh đánh trúng má Bình Đẳng vương.. Ồ, Tiểu Chiêu!

Đột nhiên Triệu Mẫn nghĩ ra chuyện gì đó, hỏi:

– Tiểu Chiêu muội tử, có biết chữ Ba Tư không?

Tiểu Chiêu đáp:

– Có.

Triệu Mẫn nói:

– Muội xem đây, trên má Bình Đẳng vương in mấy chữ gì nào?

Tiểu Chiêu nâng mặt Bình Đẳng vương lên nhìn, thấy má trái của y sưng vù, trên có in sâu trong thịt ba hàng chữ Ba Tư. Thì ra trên các tấm thánh hỏa lệnh đều có khắc chữ, Diệu Phong sứ dùng thánh hỏa lệnh đánh nhầm vào mặt Bình Đẳng vương, khiến chữ in vào đó. Có điều là chỗ thánh hỏa lệnh chạm vào da thịt chỉ rộng hai tấc, dài ba tấc, nên ba hàng chữ in không đầy đủ.

Khi Tiểu Chiêu cùng Trương Vô Kỵ lọt vào đường hầm bí mật trên đỉnh Quang Minh, nàng từng đọc thuộc mấy lần tâm pháp" Càn khôn đại na di ", tuy chưa được Trương Vô Kỵ chỉ bảo, tự mình cũng chưa tập luyện, nhưng môn võ công tâm pháp ấy nàng nhớ rất kỹ. Khi Trương Vô Kỵ trong đường hầm luyện tâm pháp tới cấp thứ bảy, gặp chỗ nghi nan bỏ qua không luyện, Tiểu Chiêu từng ghi nhớ hết. Giờ đây nhìn hàng chữ trên má Bình Đẳng vương, nàng bất giác buột miệng kêu lên:

– Cũng là tâm pháp" Càn khôn đại na di "!

Trương Vô Kỵ lấy làm lạ, hỏi:

– Cô nương bảo cũng là tâm pháp" Càn khôn đại na di "ư?

Tiểu Chiêu nói:

– Không, không phải, tiểu nữ thoạt nhìn tưởng thế, nhưng hóa ra không phải. Dịch sang tiếng Trung Quốc, đại ý như sau:" Muốn trái thì trước, muốn phải thì sau, ba hư bảy thực, trong cái không sinh cái có, rồi thì cái gì "trời vuông đất tròn", bên dưới đọc không rõ nữa.

Hơn hai chục chữ đó, Trương Vô Kỵ nghe rồi giống như đầy trời mây đen, chợt có vài tia chớp lóe sáng, lóe sáng rồi lại tắt ngấm, tối như mực; nhưng vài lằn chớp ấy cũng cho chàng thấy rõ phương hướng mà đi, miệng chàng lẩm bẩm "Muốn trái thì trước, muốn phải thì sau.." Chàng cố gắn mấy khẩu quyết đó với tâm pháp "Càn khôn đại na di", có lúc lờ mờ tựa hồ sắp nghĩ ra, nhưng rồi lại không phải.

Bỗng nghe Tiểu Chiêu kêu lên:

– Công tử, hãy chú ý! Bọn họ đã ra lệnh: Phong, Vân, Nguyệt tam sứ tấn công công tử; còn ba vương Cần Tu, Trấn Ác và Công Đức thì cướp lại Bình Đẳng vương.

Tạ Tốn bèn giơ ngang Bình Đẳng vương lên trước ngực, trao thanh đao Đồ Long cho Trương Vô Kỵ, nói:

– Con cứ dùng đao chém thật mạnh vào.

Triệu Mẫn cũng trao kiếm Ỷ Thiên cho Chu Chỉ Nhược, lúc này hai nàng cùng hội cùng thuyền, kề vai nghênh địch là trên hết.

Trương Vô Kỵ nhận thanh đao Đồ Long, đầu óc để tận đâu đâu, lại giắt đao sau lưng, miệng thì lẩm bẩm "Ba hư bảy thực, vô trung sinh hữu.."

Triệu Mẫn sốt ruột kêu lên:

– Chàng ngốc ơi, bây giờ không phải lúc nghiền ngẫm võ công, mau chuẩn bị nghênh địch là vừa!

Lời chưa dứt, Cần Tu vương, Trấn Ác vương và Công Đức vương đã phi thân sang, tung chưởng tấn công Tạ Tốn. Ba người ấy sợ đả thương Bình Đẳng vương nên không dùng binh khí, chỉ sử dụng quyền chưởng, chỉ cần một người nắm được thân hình Bình Đẳng vương là sẽ lập tức cướp về. Chu Chỉ Nhược đứng thủ bên cạnh Tạ Tốn, mỗi khi thấy tình thế nguy cấp lại giơ kiếm đâm Bình Đẳng vương, như thế bọn Cần Tu vương, Trấn Ác vương và Công Đức vương buộc phải ra tay tấn công nàng, để nàng không còn rảnh tay mà đâm Bình Đẳng vương.

Ở mé bên kia, Trương Vô Kỵ đấu với Phong, Vân, Nguyệt tam sứ. Bốn người đã mấy lần giáp trận, ai cũng từng nếm đòn của đối phương, nên không ai dám khinh suất. Sau vài hiệp, Huy Nguyệt sứ vung thánh hỏa lệnh tấn công Trương Vô Kỵ. Xét theo lý của võ học, chiêu này ắt phải đánh vào vai trái của chàng, nào ngờ thánh hỏa lệnh đang ở giữa chừng lại quay vòng một cách quái đản, giáng đánh bốp một cái vào sau gáy chàng.

Trương Vô Kỵ bị đau nhói một hồi, nhưng trong óc chợt lóe sáng, chàng kêu to:

– Tưởng trái thì sau, tưởng trái thì sau! Đúng rồi! Đúng rồi!

Trong khoảnh khắc chàng đã vỡ lẽ, những gì Phong, Vân, Nguyệt tam sứ sử dụng, chẳng qua chỉ là công phu nhập môn của tâm pháp "Càn khôn đại na di" cấp thứ nhất; nhưng trên thánh hỏa lệnh có khắc cách vận dụng biến hóa lạ lùng, kỳ ảo. Chàng lập tức hiểu rõ ý nghĩa mấy câu khẩu quyết mà Tiểu Chiêu vừa đọc. Còn câu "trời vuông đất tròn" thì vẫn chưa hiểu, nghĩ bụng cần phải đọc hết các chữ khắc trên thánh hỏa lệnh, mới có thể hiểu tinh yếu của võ công Ba Tư.

Chàng đột nhiên hú lên một tiếng, hai tay thi triển thủ pháp cầm nã, "ba hư bảy thực", đoạt luôn hai tấm thánh hỏa lệnh trên tay Huy Nguyệt sứ; tiếp đến "vô trung sinh hữu", lại đoạt hai tấm thánh hỏa lệnh của Lưu Vân sứ. Hai người kia còn đang ngơ ngẩn, thì chàng đã nhét bốn tấm thánh hỏa lệnh vào trong túi, hai tay thộp cổ hai người mà quẳng ra ngoài.

Đám người Ba Tư xì xà xì xồ ầm ỹ. Diệu Phong sứ vội nhảy trở về thuyền của mình. Lúc này Trương Vô Kỵ đã nắm rõ yếu quyết võ công của họ; tuy chàng mới lý giải được một phần, song võ công của Phong, Vân, Nguyệt tam sứ đối với chàng đã không còn gì là kỳ bí nữa. Chàng giơ tay phải ra chộp được chân trái của Diệu Phong sứ, kéo hắn đang lơ lửng trên không trung trở lại bên chàng, cướp luôn hai tấm thánh hỏa lệnh rồi nâng thân xác của hắn mà đập xuống đầu Trấn Ác vương. Tam vương cả kinh, vội nhảy cả về bên thuyền mình. Trương Vô Kỵ điểm huyệt Diệu Phong sứ, ném xuống dưới chân.

Chàng chiến thắng khá bất ngờ, trong giây lát đã từ thế yếu chuyển sang thế thượng phong. Bọn Triệu Mẫn ai nấy vui mừng, cùng hỏi nguyên do. Trương Vô Kỵ cười, nói:

– Nếu không nhờ trời xui đất khiến, để Bình Đẳng vương bị trúng đòn vào má, thì mình khốn khổ rồi. Tiểu Chiêu, cô nương hãy dịch cho ta nghe các hàng chữ trên mấy tấm thánh hỏa lệnh này đi. Mau lên nào!

Mọi người nhìn sáu tấm thánh hỏa lệnh, thấy chúng không phải bằng kim loại hoặc ngọc đá, vô cùng cứng rắn, cái ngắn cái dài, trông có vẻ trong suốt mà không phải vậy, ở giữa lờ mờ hình ngọn lửa bốc lên, màu sắc biến ảo lạ lùng. Mỗi tấm thánh hỏa lệnh đều khắc nhiều chữ Ba Tư, đừng nói nghiền ngẫm để hiểu thâm ý, chỉ dịch qua một lần cũng tốn không ít thời gian.

Nhưng Trương Vô Kỵ biết rằng muốn thoát khỏi tình cảnh nguy khốn trước mắt, không thể không hiểu rõ nguyên ủy võ công của phái Ba Tư, bèn nói:

– Chu cô nương, nhờ cô nương kề kiếm vào cổ Bình Đẳng vương. Nghĩa phụ, hãy nhứ đao vào cổ Diệu Phong sứ để kéo dài thời gian.

Tạ Tốn và Chu Chỉ Nhược gật đầu đáp ứng.

Tiểu Chiêu cầm sáu tấm thánh hỏa lệnh lên, thấy tấm ngắn nhất khắc ít chữ nhất, màu thì đen sì sì, trông chả đẹp mắt chút nào, nàng dịch từng câu cho Trương Vô Kỵ nghe. Trương Vô Kỵ nghe xong, không hiểu câu nào cả, cố nghĩ cũng không ra, thì càng nóng ruột.

Triệu Mẫn nói:

– Tiểu Chiêu muội tử, hãy dịch tấm thánh hỏa lệnh đánh vào má Bình Đẳng vương trước xem nào.

Lời nhắc này khiến Tiểu Chiêu bừng tỉnh, vội đọc các chữ khắc trên tấm thánh hỏa lệnh dài thứ hai, dịch nghĩa ra, Trương Vô Kỵ hiểu được bảy, tám phần. Đến khi dịch nghĩa trên tấm thánh hỏa lệnh dài nhất, thì Trương Vô Kỵ mới nghe vài câu, đã mừng rỡ nói:

– Tiểu Chiêu, văn tự trên sáu tấm thánh hỏa lệnh này, tấm càng dài càng dễ hiểu. Tất cả đều là công phu nhập môn.

Thì ra sáu tấm thánh hỏa lệnh này là do "Sơn trung lão nhân" Hoắc Sơn đúc nên, trên đó khắc tinh yếu võ công một đời của y. Cả sáu tấm thánh hỏa lệnh cùng với Minh giáo được truyền sang Trung thổ cùng lúc, vốn được dùng làm lệnh phù của giáo chủ Minh giáo Trung thổ. Về sau, trong Minh giáo Trung thổ không có ai biết văn tự Ba Tư. Mấy chục năm trước, sáu tấm thánh hỏa lệnh bị người của Cái Bang cướp mất, thương nhân Ba Tư mua lại được, nên trở về với Minh giáo Ba Tư. Tổng giáo Ba Tư nghiên cứu văn tự khắc trên đó, mấy chục năm qua, những người có võ công khá cao trong Tổng giáo ngày một tăng tiến. Nhưng vì võ công khắc trên đó bác đại tinh thâm, nên ngay cả người giỏi nhất là Đại Thánh Bảo thụ vương cũng chỉ học được ba, bốn thành mà thôi.

Còn tâm pháp "Càn khôn đại na di" thì vốn là thần công hộ giáo của Minh giáo Ba Tư, nhưng người thường không thể tu luyện được môn võ công kỳ diệu đó. Chức giáo chủ Minh giáo Ba Tư, theo quy định, lại chỉ do xử nữ đảm nhiệm, hàng trăm năm nay chỉ là các nữ giáo chủ võ công tầm thường, nên tâm pháp truyền lại rất hữu hạn; trong khi Minh giáo Trung Quốc vẫn còn giữ được toàn phần. Minh giáo Ba Tư lấy võ công "Càn khôn đại na di" cựu truyền chưa đến một thành, kết hợp với võ công trên sáu tấm thánh hỏa lệnh luyện được hai ba thành, để tạo ra một môn công phu kỳ dị cổ quái.

Trương Vô Kỵ ngồi xếp bằng ở mũi thuyền, Tiểu Chiêu đem từng câu từng chữ khắc trên sáu tấm thánh hỏa lệnh dịch cho chàng nghe. Thứ võ công hàm chứa trong các tấm thánh hỏa lệnh vốn vô cùng kỳ diệu, nhưng một phép thông, vạn phép thông; mọi học vấn cao thâm đến chỗ cùng cực thì đều quy về một mối. Trương Vô Kỵ đã thông hiểu "Cửu dương thần công", tâm pháp "Càn khôn đại na di", quyền lý của "Thái cực quyền" phái Võ Đang rồi, nay thứ võ công trên các tấm thánh hỏa lệnh tuy kỳ lạ thật, nhưng chẳng qua cũng là đỉnh cao của sở học bàng môn tả đạo mà thôi, chứ nói về tinh thâm rộng lớn, thì còn kém xa ba môn võ học kể trên. Trương Vô Kỵ nghe Tiểu Chiêu dịch xong cả sáu tấm thánh hỏa lệnh, thì nhất thời chỉ nhớ được bảy tám phần, trong đó hiểu rõ chỉ năm sáu phần; song chỉ ngần ấy thôi, thì võ công của các Bảo thụ vương và Phong, Vân, Nguyệt tam sứ dưới mắt chàng đã rõ như trên lòng bàn tay rồi, không còn gì đáng ngại.

*

* *

Thời gian trôi đi từng khắc, Trương Vô Kỵ toàn tâm toàn ý dồn cho việc tìm hiểu võ học, không quan tâm gì đến mọi chuyện xung quanh; nhưng Triệu Mẫn và Chu Chỉ Nhược thì nóng lòng sốt ruột vô cùng, thấy cảnh Đại Ỷ Ty chân tay đã bị xiềng xích; mười một Bảo thụ vương chụm đầu bàn bạc, các Bảo thụ vương cởi áo bào ra, thay vào bằng áo giáp; người ta đưa ra đủ loại binh khí kỳ hình quái trạng cho các Bảo thụ vương, đám người Hồ Ba Tư dàn ra lố nhố khắp các thuyền trước sau phải trái, một số người Hồ giương sẵn cung tên nhắm thẳng sang sáu người bên này, mười gã Ba Tư tay cầm búa và dùi, nhảy xuống biển, chỉ đợi thủ lĩnh hạ lệnh là lặn xuống đục thủng thuyền bên này.

Chỉ nghe Đại Thánh Bảo thụ vương ngồi chính giữa quát to một tiếng, trên các thuyền vây quanh tiếng trống, tiếng tù và cùng nổi lên ầm ỹ.

Trương Vô Kỵ giật mình, ngẩng đầu lên, thấy mười một vị Bảo thụ vương đều mặc áo giáp vàng lóng lánh, tay cầm binh khí, nhảy sang thuyền bên này. Tạ Tốn và Chu Chỉ Nhược cầm đao, kiếm đang kề cổ Bình Đẳng vương và Diệu Phong sứ. Mười một Bảo thụ vương tuy đã nhảy sang thuyền, nhưng thấy tình cảnh ấy cũng chưa dám xông lại gần, mà đứng thành hình bán nguyệt, mắt nhìn chằm chằm chờ cơ hội. Bọn Triệu Mẫn, Chu Chỉ Nhược thấy mười một Bảo thụ vương thân hình cao to, dáng điệu hùng hổ, thì họ thầm kinh hãi.

Trí Tuệ vương nói bằng tiếng Trung Quốc:

– Bọn bay mau mau thả giáo hữu của bên tao ra, thì sẽ được tha chết. Mấy giáo hữu kia đối với bên tao chỉ như lũ heo lũ chó mà thôi, bọn bay kề dao vào cổ chúng thì dọa được ai? Bọn bay có giỏi thì giết luôn họ đi xem nào. Trong thánh giáo Ba Tư, những người như họ đông hàng nghìn hàng vạn, mất một hai đứa đâu có sao?

Triệu Mẫn nói:

– Bọn bay đừng có già mồm, không lừa nổi bên tao đâu. Bên tao biết thừa, hai người này một là Bình Đẳng Bảo thụ vương, một là Diệu Phong sứ, có địa vị rất cao trong Minh giáo bọn bay. Mi bảo họ như heo như chó là lầm to rồi!

Trí Tuệ vương học tiếng Trung Quốc theo sách vở, mấy chữ "bọn bay", "bên tao" toàn là ngôn ngữ thô tục. Triệu Mẫn bắt chước giọng điệu và từ ngữ của y, khiến mấy người Tạ Tốn nghe mà không khỏi tức cười, dẫu đang ở trong hiểm cảnh.

Trí Tuệ vương cau mày, nói:

– Trong thánh giáo có cả thảy ba trăm sáu chục vị Bảo thụ vương. Bình Đẳng vương đứng thứ ba trăm năm mươi chín. Bọn tao có những một ngàn hai trăm sứ giả, gã Diệu Phong sứ kia võ công tầm thường, hoàn toàn vô dụng, bọn bay hãy mau giết gã đi không sao.

Triệu Mẫn nói:

– Hay lắm, hay lắm! Hai vị bằng hữu cầm đao kiếm, hãy mau giết hai kẻ vô dụng kia xem thử nào!

Tạ Tốn đáp:

– Tuân lệnh!

Ông giơ thanh đao Đồ Long lên, phạt ngang qua đỉnh đầu Bình Đẳng vương một cái.

Mọi người ồ lên kinh hãi, thanh đao Đồ Long chém hớt bên trên, cách đỉnh đầu Bình Đẳng vương chưa đến nửa tấc, làm đứt một túm tóc, gió biển thổi bay tán loạn trên không. Tạ Tốn lại vung đao chém bên trái một nhát, bên phải một nhát, xuống hai bên vai Bình Đẳng vương. Hai nhát đao này ai cũng tưởng sẽ chặt phăng hai cánh tay Bình Đẳng vương, nhưng khi lưỡi đao sắp chạm vào người y, thì cổ tay ông hơi xoay chút xíu, hớt mỗi bên tay áo một mảnh. Ba nhát đao chém mạnh mà bộ vị chuẩn xác, đừng nói người mù, ngay người sáng mắt cũng khó bề làm nổi.

Bình Đẳng vương chết đi sống lại, sợ tưởng muốn ngất xỉu. Mười một Bảo thụ vương, Phong, Vân, Nguyệt tam sứ đều trơ mắt, há hốc mồm, lè lưỡi.

Triệu Mẫn nói:

– Bọn bay đã thấy võ công của Minh giáo Trung thổ rồi đấy. Vị Kim Mao Sư Vương này trong Minh giáo Trung thổ đứng thứ ba ngàn năm trăm lẻ chín. Bọn bay mà cậy đông thủ thắng, sau này Minh giáo Trung thổ ắt sang Ba Tư báo thù, quét sạch tổng đàn của bọn bay, bọn bay tất không chống đỡ nổi, chi bằng sớm hòa giải với bên tao đi thì hơn.

Trí Tuệ vương biết Triệu Mẫn không nói thực, nhưng nhất thời cũng vô kế khả thi. Đại Thánh Bảo thụ vương bỗng nói vài câu. Tiểu Chiêu kêu lên:

– Trương công tử, bọn họ sắp đục thuyền.

Trương Vô Kỵ cả sợ, nếu thuyền chìm, mấy người không biết bơi sẽ bị bắt cả; vội nhún mình một cái, đã vọt tới trước mặt thuyền Đại Thánh vương.

Trí Tuệ vương quát:

– Ngươi làm gì vậy?

Công Đức vương và Chưởng Hỏa vương ở hai bên, một cầm roi, một cầm chùy, cùng xông vào. Trương Vô Kỵ lúc này đã thừa biết võ công Ba Tư, chàng không né tránh, hai tay cùng vươn ra thộp ngay yết hầu hai vương. Chỉ nghe keng một tiếng, cây thiết tiên[122] của Công Đức vương và cây chùy bát giác của Chưởng Hỏa vương đã đập vào nhau tóe lửa; cả hai vương bị Trương Vô Kỵ nắm trúng yếu huyệt mà lôi xềnh xệch về. Trong lúc nhốn nháo, Trương Vô Kỵ lại liên tiếp tung ra bốn cú đá, hai cú đá văng đại đao trong tay Tề Tâm vương và Trấn Ác vương, hai cú sau thì đá văng Cần Tu vương và Câu Minh vương xuống biển.

Một Bảo thụ vương thân hình cao gầy xông tới, hai tay cầm hai đoản kiếm, đâm vào ngực Trương Vô Kỵ.

Trương Vô Kỵ lại tung chân đá vào cổ tay hắn. Hắn đột nhiên đặt hai tay chéo nhau, đâm vào bụng dưới của chàng. Chiêu này biến hóa hết sức linh hoạt. Trương Vô Kỵ phải nhảy vội ra sau mới tránh được. Nguyên hắn là Thường Thắng Bảo thụ vương, kẻ có võ công cao nhất trong mười hai Bảo thụ vương của Tổng giáo Ba Tư. Trương Vô Kỵ liền khóa huyệt đạo của Công Đức vương và Chưởng Hỏa vương mà quẳng vào trong khoang thuyền, rồi xông tới đấu với Thường Thắng vương. Người này tuy cùng xếp hàng "vương", nhưng võ công cao cường hơn hẳn các vương khác. Trương Vô Kỵ công ba chiêu, thủ ba chiêu, ba lần tiến, ba lần thoái, trong bụng thầm khen: "Gã người Hồ Ba Tư này giỏi thật!"

Chàng đã hiểu rõ tâm pháp võ công trên thánh hỏa lệnh, nhưng chưa từng luyện tập, lại gặp ngay cường địch, phải vừa giao đấu với Thường Thắng vương, vừa nhớ lại những gì mới biết. Trong hơn mười chiêu đầu, chàng dựa vào nội lực thâm hậu, chiêu số xảo diệu, duy trì cục diện bất phân thắng bại; sau hơn hai chục chiêu, thì bí quyết trên thánh hỏa lệnh được phối hợp với tâm pháp "Càn khôn đại na di" càng lúc càng thuần thục như ý. Thường Thắng vương được xưng là "Thường Thắng", bình sinh chưa có đối thủ, bây giờ bị đối phương khắc chế khiến cho phải bó chân bó tay, là chuyện y chưa gặp bao giờ, thì y vừa kinh dị, vừa lo sợ. Đấu được hơn ba chục chiêu, Trương Vô Kỵ tiến lên một bước, đột nhiên ngồi bệt xuống sàn thuyền mà ôm chặt lấy hai cẳng chân Thường Thắng vương. Chiêu số quái dị này vốn được ghi trên thánh hỏa lệnh, nhưng đã là công phu cực kỳ cao thâm, Thường Thắng vương tuy có biết, song chưa dám sử dụng. Trương Vô Kỵ vừa ôm xong liền dùng mười ngón tay bấm mạnh hai huyệt Trung Đô, Trúc Tân, là phép điểm huyệt của võ công Trung thổ. Thường Thắng vương chỉ cảm thấy nửa thân bên dưới bị tê dại, khó bề cử động, đành thở dài cho người ta bắt.

Trương Vô Kỵ yêu mến tài năng của y, bèn nói:

– Ngươi võ công khá lắm. Ta muốn giữ thanh danh cho ngươi. Ngươi mau trở về thuyền đi.

Nói xong chàng buông tay ra. Thường Thắng vương vừa cảm kích vừa xấu hổ, nhảy về thuyền mình.

Đại Thánh vương thấy Thường Thắng vương hết sức khổ chiến mà vẫn thua, Công Đức vương và Chưởng Hỏa vương thì nằm trong tay địch; nếu đục chìm thuyền địch, thì chẳng khác gì ném chuột làm vỡ đồ quý, bọn Bình Đẳng vương bốn người sẽ mất mạng theo, bèn ra lệnh gọi tất cả trở về thuyền của mình.

Triệu Mẫn lớn tiếng nói:

– Bọn bay hãy mau trao Đại Ỷ Ty sang đây, chấp thuận ba điều kiện của Kim Mao Sư Vương.

Chín vị Bảo thụ vương chụm đầu bàn tính với nhau một hồi. Rồi Trí Tuệ vương nói:

– Ba điều kiện của bọn bay, cũng có thể chấp thuận. Vị công tử trẻ tuổi kia võ công rõ ràng cùng phái với võ công Ba Tư bọn tao. Y học ở đâu ra vậy? Bọn tao có điểm chưa rõ.

Triệu Mẫn cố nhịn cười, giả bộ nghiêm trang nói:

– Bọn bay không hiểu rõ, không biết gì, hiểu không ra đầu ra đũa. Vị công tử trẻ tuổi này là đệ tử thứ tám của Quang Minh sứ giả bản giáo. Bảy vị sư huynh sư đệ của chàng ta không lâu nữa sẽ tới, lúc ấy thì bọn bay cứ gọi là tan tác náo loạn, ô hô ai tai.

Trí Tuệ vương vốn cực kỳ thông minh, nhưng vốn liếng Hoa ngữ của hắn chưa sâu, chỉ hiểu được sáu bảy phần những gì Triệu Mẫn nói, cũng đoán là nàng khoác lác, nhưng ngẫm nghĩ một chút, nói:

– Được, cho Đại Ỷ Ty qua thuyền bên đó.

Hai giáo đồ Ba Tư áp giải Đại Ỷ Ty sang thuyền Trương Vô Kỵ. Chu Chỉ Nhược vung trường kiếm, "keng keng" hai tiếng, chặt đứt ngay xiềng xích khóa chân tay bà ta. Hai giáo đồ Ba Tư thấy kiếm sắc đến thế thì sợ xanh mặt, vội nhảy về thuyền chúng.

Trí Tuệ vương nói:

– Bọn bay mau mau giong thuyền trở về Trung thổ. Bọn tao sẽ chỉ cho một chiếc thuyền nhỏ theo sau bọn bay.

Trương Vô Kỵ ôm quyền nói:

– Minh giáo Trung thổ vốn bắt nguồn từ Ba Tư, đôi bên chúng ta tình như huynh đệ, chuyện hiểu lầm hôm nay, mong các vị đừng để bụng. Khi nào có dịp, mời các vị tới đỉnh Quang Minh, chúng ta cùng uống rượu vui chung. Những điều sai sót, xin tạ lỗi cùng các vị.

Trí Tuệ vương cười ha hả, nói:

– Ngươi giỏi võ lắm, bọn tao rất thán phục. Học mà được luyện tập, chẳng sướng lắm sao? Có bằng hữu phương xa đến chơi, chẳng sướng lắm sao? Tan tác náo loạn, ô hô ai tai!

Bọn Trương Vô Kỵ nghe hắn dẫn chứng hai câu trong sách của Khổng Tử, kể cũng hiếm có; không ngờ hắn lại nhắc nguyên xi hai câu của Triệu Mẫn, thì cười ồ lên. Triệu Mẫn nói:

– Ngươi nói tiếng Trung Quốc thạo lắm. Là dân Ba Tư man di mà thế là hiếm có! Chúc ngươi đa phúc đa thọ, sống lắm nhục nhiều, bôi nhọ tổ tiên, không bệnh cũng toi!

Trí Tuệ vương chỉ hiểu bốn chữ "đa phúc đa thọ", hắn nghĩ những chữ sau chắc cũng là lời chúc tụng cả, bèn cười hì hì, luôn mồm "đa tạ, đa tạ".

Trương Vô Kỵ nghĩ bụng, không chừng Triệu Mẫn còn cao hứng nói lắm chuyện kỳ quái khác, mình đang ở giữa hang hùm ổ rắn, dễ sinh chuyện chi bằng thoát đi cho sớm thì hơn; liền nhổ neo, xoay bánh lái, giương buồm cho thuyền từ từ chạy đi. Những người Ba Tư trên các thuyền xung quanh thấy chàng kéo neo giương buồm, một mình làm bằng cả chục thủy thủ, thần lực kinh người, thì không khỏi tấm tắc khen ngợi.

Người ta ném sợi dây buộc chiếc thuyền nhỏ sang cho Trương Vô Kỵ, chàng bắt lấy, buộc vào đuôi thuyền để kéo theo. Trên chiếc thuyền nhỏ kia chỉ có hai người, một nam một nữ, là Huy Nguyệt sứ và Lưu Vân sứ.

*

* *

Trương Vô Kỵ cầm lái, cho thuyền chạy về hướng tây, thấy các thuyền lớn của Ba Tư không hề đuổi theo; đi được mấy dặm, nhìn lại phía đảo Linh Xà, thấy đám thuyền kia chỉ còn nhỏ tí và vẫn ở yên một chỗ, chàng mới yên tâm.

Chàng nhờ Tiểu Chiêu cầm lái hộ, bước vào trong khoang xem thương thế của Ân Ly, thấy nàng nửa tỉnh nửa mê nằm thiêm thiếp, tuy không đỡ song cũng không nặng thêm, nghĩ bụng trên chiếc thuyền lớn này của Ba Tư có khi có thuốc men cũng nên.

Đại Ỷ Ty đứng ở mũi thuyền, nhìn ra xa, nghe tiếng bước chân của Trương Vô Kỵ, không quay đầu lại. Trương Vô Kỵ nhìn từ phía sau, thấy bà ta có thân hình thon thả, mái tóc dài bay phất phơ, cái gáy trắng như ngọc, Tạ Tốn bảo ngày trước Đại Ỷ Ty là đệ nhất mỹ nhân trong võ lâm, quả không sai. Thiết tưởng ngày nào trên đỉnh Quang Minh, trên mặt đầm Bích Thủy Hàn, tà áo tím đẹp như hoa, trường kiếm sáng như tuyết, nữ nhân này đã làm ngây ngất không biết bao nhiêu anh hùng hào kiệt.

Thuyền đi đến chiều tối, tính ra phải cách đảo Linh Xà ngót trăm dặm, nhìn về phía đông, trên mặt biển không thấy bóng một cánh buồm nào, quả thật là Tổng giáo Ba Tư bị ép không dám đuổi theo. Trương Vô Kỵ nói:

– Nghĩa phụ, mình đã thả bọn họ ra được chưa?

Tạ Tốn đáp:

– Được rồi, chúng có muốn đuổi theo, cũng chẳng kịp nữa.

Trương Vô Kỵ bèn giải huyệt cho Bình Đẳng vương, Công Đức vương, Chưởng Hỏa vương và Diệu Phong sứ, luôn miệng xin lỗi, thả họ xuống chiếc thuyền nhỏ kéo theo sau đuôi.

Diệu Phong sứ nói:

– Các tấm thánh hỏa lệnh do bọn ta nắm giữ, đánh mất phải chịu tội nặng, xin giao lại cho.

Tạ Tốn nói:

– Thánh hỏa lệnh là lệnh phù của giáo chủ Minh giáo Trung thổ, nay vật trở về với chủ cũ, làm sao có thể giao cho các ngươi.

Diệu Phong sứ cứ nằng nặc đòi lại. Trương Vô Kỵ nghĩ bụng hôm nay phải làm cho hắn tâm phục, để sau này khỏi dây dưa rắc rối, bèn nói:

– Nếu bọn ta giao lại cho ngươi, ngươi bản lĩnh quá thấp kém, làm sao giữ nổi? So với để bị người ngoài cướp mất, thì để trong tay Minh giáo có phải hơn không?

Diệu Phong sứ nói:

– Người ngoài làm sao có thể cướp được?

Trương Vô Kỵ nói:

– Ngươi chưa tin, cứ thử thì biết.

Liền đem sáu tấm thánh hỏa lệnh giao cho hắn. Diệu Phong sứ cả mừng, mới nói xong hai tiếng "Đa tạ", thì Trương Vô Kỵ tay trái móc nhẹ, tay phải kéo về, đã lấy lại cả sáu tấm thánh hỏa lệnh.

Diệu Phong sứ cả kinh, giận dữ nói:

– Ta cầm chưa chặt, như thế không tính.

Trương Vô Kỵ cười:

– Thì thử lần nữa coi.

Lại giao hết thánh hỏa lệnh cho hắn.

Diệu Phong sứ cất bốn tấm thánh hỏa lệnh vào bọc, rồi hai tay cầm hai tấm, thấy Trương Vô Kỵ giơ tay cướp, liền dùng thánh hỏa lệnh bên trái đánh vào cổ tay chàng. Trương Vô Kỵ xoay cổ tay một cái, tóm luôn cánh tay phải của hắn hất lên, hai tấm thánh hỏa lệnh đập vào nhau, nghe keng một tiếng chấn động cả người. Nội lực hùng hậu của Trương Vô Kỵ theo cánh tay hắn truyền sang, Diệu Phong sứ hai tay tê dại, toàn thân bủn rủn, như bị tê liệt, buông rơi hai tấm thánh hỏa lệnh.

Trương Vô Kỵ thò tay vào bọc lôi bốn tấm thánh hỏa lệnh ra, lại nhặt hai tấm thánh hỏa lệnh dưới sàn thuyền lên, hỏi:

– Thế nào? Ngươi còn muốn thử một lần nữa không?

Diệu Phong sứ mặt tái xám, lẩm bẩm:

– Ngươi không phải là người, ngươi là ma quỉ, là ma quỉ!

Hắn nhún chân định nhảy xuống chiếc thuyền nhỏ, nhưng gối còn bủn rủn, ngã ngay ra. Lưu Vân sứ vội bước tới đỡ, cắp hắn sang thuyền nhỏ.

Chiếc thuyền nhỏ giong buồm. Công Đức vương hai tay kéo căng sợi dây buộc, giựt mạnh một cái, dây đứt phựt, thuyền nhỏ tách ra khỏi thuyền lớn. Trương Vô Kỵ ôm quyền nói:

– Đã đắc tội nhiều, mong các vị lượng thứ.

Bọn Công Đức vương mặt hầm hầm, quay đi không nói một lời.

Chiếc thuyền lớn thuận gió lướt về phía tay, hai chiếc thuyền xa nhau dần. Bỗng nghe Đại Ỷ Ty kêu lên:

– Bọn giặc kia gớm thật!

Bà ta nhảy luôn xuống biển. Trương Vô Kỵ giật mình, vội xoay bánh lái, chỉ thấy có đốm máu đỏ từ dưới biển sủi lên, rồi cách đó một quãng, lại có đốm máu thứ hai sủi lên; trong giây lát có tới sáu đốm máu như thế. Bỗng thấy Đại Ỷ Ty từ dưới nước nhô lên, miệng ngậm đoản đao, tay phải túm tóc một gã Ba Tư. Trương Vô Kỵ vội quay thuyền lại đón; vì thuyền quá lớn, lại không kịp hạ buồm, nên phải lượn một vòng rộng mới lại gần Đại Ỷ Ty. Tử Sam Long Vương bơi lội dưới biển không khác gì cá, chẳng mấy chốc đã bơi tới thuyền, tay trái túm dây neo, nhún mình bay lên trên thuyền, kéo theo gã Ba Tư kia.

Mọi người lạnh sống lưng, biết bọn Ba Tư đã ngấm ngầm ám hại, bố trí mấy kẻ có tài bơi lội nấp sau chiếc thuyền nhỏ; đợi khi đám Bình Đẳng vương đã sang thuyền nhỏ rồi, bèn cho bọn bơi lội giỏi kia lặn sang đục thuyền lớn. May mà Đại Ỷ Ty phát hiện bọt hơi của chúng, nhảy xuống biển giết được sáu tên, bắt sống một tên.

Đại Ỷ Ty đang định tra hỏi tên kia, bỗng ở đuôi thuyền vang lên một tiếng nổ lớn, khói đen bốc ngùn ngụt. Con thuyền chòng chành như trúng đại bác, gỗ ở đuôi thuyền bay tứ tung. Bọn Trương Vô Kỵ thấy một luồn hơi nóng phả vào người, vội nằm mọp cả xuống.

Đại Ỷ Ty kêu lên:

– Bọn này gian ác quá!

Bà ta chạy lại khoang sau, thấy đuôi thuyền bị thủng một lỗ lớn, cái bánh lái đã bay đâu mất, nước biển đang tràn vào qua lỗ thủng. Đại Ỷ Ty hỏi gã Ba Tư mấy câu, rồi giơ chưởng đập xuống đầu hắn một cái, đá luôn xác hắn xuống biển, nói:

– Ta tưởng bọn chúng chỉ đục thuyền, không ngờ chúng còn buộc thuốc súng vào bánh lái.

Bây giờ chiếc thuyền nhỏ của bọn Bình Đẳng vương đã đi xa, Đại Ỷ Ty dẫu bơi giỏi đến mấy, cũng chẳng thể nào đuổi kịp.

Cả bọn rầu rĩ nhìn nhau, đành bó tay. Triệu Mẫn buồn bã nhìn Trương Vô Kỵ, nghĩ thầm: "Thuyền địch không lâu nữa sẽ kéo tới, mình thật là chết không có đất mà chôn".

Chiếc thuyền này thân rất lớn, có chìm cũng còn lâu. Đột nhiên Đại Ỷ Ty dùng tiếng Ba Tư nói gì đó với Tiểu Chiêu. Tiểu Chiêu cũng dùng tiếng Ba Tư trả lời, hai người một hỏi một đáp, sắc mặt thay đổi luôn luôn. Chỉ thấy Tiểu Chiêu đưa mắt nhìn Trương Vô Kỵ, hai má ửng hồng đầy vẻ thẹn thùng. Đại Ỷ Ty xẵng giọng hỏi dồn. Hai người nói chuyện rất lâu, dường như tranh biện chuyện gì, sau đó Đại Ỷ Ty tựa hồ khuyên nhủ Tiểu Chiêu bằng lòng việc gì đó, Tiểu Chiêu một mực lắc đầu, rồi đột nhiên nàng nhìn Trương Vô Kỵ, thở dài, nói mấy câu. Đại Ỷ Ty dang tay ôm Tiểu Chiêu vào lòng, cử chỉ vô cùng âu yếm thân mật. Hai người nước mắt giàn giụa. Tiểu Chiêu thút thít khóc mãi, Đại Ỷ Ty thì dịu dàng vỗ về an ủi.

Trương Vô Kỵ, Triệu Mẫn, Chu Chỉ Nhược ngơ ngác nhìn nhau, không hiểu chuyện gì. Triệu Mẫn ghé tai Trương Vô Kỵ, nói nhỏ:

– Công tử xem, hai người ấy giống nhau như đúc!

Trương Vô Kỵ chột dạ, nhìn kỹ, thấy Đại Ỷ Ty và Tiểu Chiêu cùng đều có khuôn mặt trái xoan cực kỳ thanh tú, mũi cao da trắng, ánh mắt long lanh, mặt mũi quả giống nhau thật. Có điều trong dung mạo của Tiểu Chiêu, hơi hướng của người Hồ Ba Tư chỉ còn loáng thoáng, trong khi nhìn Đại Ỷ Ty thì biết ngay không phải là dân Trung thổ. Chàng nhớ lúc ở quán rượu Đại Đô, Phạm Dao nhìn thấy Tiểu Chiêu đã thốt lên hai tiếng "Giống quá! Giống quá!" tức là bảo Tiểu Chiêu có tướng mạo giống hệt Tử Sam Long Vương. Thế thì Tiểu Chiêu là muội muội, hay là con gái của Đại Ỷ Ty?

Trương Vô Kỵ lại nhớ đến cha con Dương Tiêu, Dương Bất Hối luôn luôn đề phòng cô bé Tiểu Chiêu, mỗi khi chàng hỏi Dương Tiêu, tại sao cứ e ngại cô bé Tiểu Chiêu như đối với đại địch, thì Dương Tiêu chỉ trả lời ậm ừ. Bây giờ chàng mới biết, thì ra Dương Tiêu cũng thấy Tiểu Chiêu có diện mạo giống Tử Sam Long Vương, nhưng không có bằng chứng, lại thấy Trương Vô Kỵ có ý bênh vực cô bé, nên không tiện nói rõ ra. Còn việc Tiểu Chiêu cố tình méo miệng, nhăn mũi, he hé mắt, chẳng qua chỉ để che giấu mà thôi.

Đột nhiên chàng nghĩ đến chuyện: "Tiểu Chiêu trà trộn lên đỉnh Quang Minh để làm gì? Tại sao nàng lại biết lối vào đường hầm bí mật? Vậy hẳn nàng do Tử Sam Long Vương sai đến, cốt đánh cắp tâm pháp" Càn khôn đại na di ". Nàng chịu làm tì nữ hầu hạ ta, ở bên ta hai năm qua, mà ta không hề đề phòng nàng, pho tâm pháp võ công kia chính nàng đã đọc, sau đó muốn sao lại một bản thật dễ như trở bàn tay. Chao ôi! Ta cứ tưởng nàng là một cô bé hồn nhiên ngây thơ, ai ngờ nàng cũng đầy mưu mô tâm kế. Hai năm qua ta như kẻ ở trong mộng, ở trong bẫy của nàng mà có biết gì đâu. Trương Vô Kỵ ơi là Trương Vô Kỵ, mi suốt đời cả tin, ở đâu cũng bị người ta lừa dối, ngay một con hầu cũng có thể đùa giỡn với mi". Nghĩ đến đây, chàng không khỏi bực mình.

Lúc đó Tiểu Chiêu lại đưa mắt nhìn chàng. Trương Vô Kỵ thấy ánh mắt nàng vô cùng dịu dàng, âu yếm, không một chút giả dối, thì trong lòng xúc động dạt dào, nhớ đến lúc chiến đấu với sáu đại môn phái trên đỉnh Quang Minh, nàng đã xả thân bảo vệ cho chàng, hai năm qua chăm chút hầu hạ chàng, bây giờ chuyện gì chàng cũng nghi ngờ nàng như thế, chẳng oan cho nàng lắm sao? Chàng đang ngần ngừ, chiếc thuyền lắc mạnh một cái, chìm xuống thêm một nấc lớn.

Đại Ỷ Ty nói:

– Trương giáo chủ, các vị đừng lo sợ. Đợi thuyền của người Ba Tư tới đây, ta và Tiểu Chiêu sẽ có cách ứng phó. Tử Sam Long Vương tuy là phận nữ nhi, nhưng biết ai làm nấy chịu, quyết không để các vị bị vạ lây. Trương giáo chủ và Tạ tam ca đãi ta nghĩa nặng tày non, Đại Ỷ Ty lúc này xin cảm tạ.

Nói xong bà ta phục xuống lạy. Trương Vô Kỵ và Tạ Tốn vội trả lễ, nghĩ thầm: "Bọn Ba Tư hành sự tàn bạo, chúng sẽ đem bà ra thiêu sống, cũng chẳng đời nào tha cho bọn ta đâu".

Chiếc thuyền vẫn chìm dần, nước tràn vào khoang. Trương Vô Kỵ ôm Ân Ly, Chu Chỉ Nhược ôm Triệu Mẫn, mọi người cùng leo lên đà cột buồm.

Tiểu Chiêu bỗng chỉ tay về hướng đông, khóc òa lên. Mọi người nhìn theo hướng tay nàng, thấy xa xa có những cánh buồm lấm chấm. Không lâu sau, bóng cánh buồm lớn dần, chính là mười mấy chiếc thuyền lớn của bọn Ba Tư đang thuận gió đuổi tới.

*

* *

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Nếu ta là Đại Ỷ Ty, thì thà nhảy xuống biển mà chết, còn hơn là bị bắt đem đi thiêu sống". Chàng thấy vẻ mặt bà ta vẫn thản nhiên, không có gì là kinh sợ, thì không khỏi thán phục: "Bà ta đứng đầu Tứ đại pháp vương, quả không tầm thường. Thiết nghĩ năm xưa Ưng Vương, Sư Vương, Bức Vương là ba vị hào kiệt đứng tuổi, đã thành danh, còn Đại Ỷ Ty mới là một thiếu nữ, mà đã đứng trên cả ba Vương, đâu phải chỉ vì công lao một ngày mà được, tất phải có chỗ hơn người". Nhìn đoàn thuyền Ba Tư tới gần, chàng nghĩ thầm: "Ta đắc tội với đám Bảo thụ vương không nhỏ, nếu sa vào tay chúng, thì khó mong sống sót. Phải nghĩ cách làm sao để nghĩa phụ, Triệu cô nương, Chu cô nương và biểu muội an toàn. Tiểu Chiêu, ôi Tiểu Chiêu, thà để nàng bất nghĩa với ta, chứ ta không thể bất nhân với nàng".

Đoàn thuyền Ba Tư tới gần, các khẩu đại bác đều chĩa vào cột buồm chiếc thuyền đang chìm, lúc đến cách hai chục trượng đều hạ buồm, thả neo.

Chỉ nghe Trí Tuệ vương cười ha hả hết sức đắc chí, gọi to:

– Bọn bay đã chịu hàng hay chưa?

Trương Vô Kỵ nói to:

– Nghĩa sĩ Trung thổ thà chết không khuất phục, sao lại đầu hàng? Nếu là hảo hán, hãy dùng võ công để phân thắng bại.

Trí Tuệ vương cười, nói:

– Đại trượng phu đấu trí, không đấu lực, hãy mau mau chịu trói!

Đại Ỷ Ty bỗng nói lớn mấy câu bằng tiếng Ba Tư, giọng rất nghiêm trang. Trí Tuệ vương ngạc nhiên, cũng trả lời bằng tiếng Ba Tư. Hai người hỏi đáp hơn một chục câu, Đại Thánh vương cũng xen vào hỏi thêm. Nói mấy câu nữa, từ thuyền lớn thả xuống một chiếc thuyền nhỏ, trên có tám thủy thủ bơi thuyền sang.

Đại Ỷ Ty nói:

– Trương giáo chủ, ta và Tiểu Chiêu sang bên kia trước, xin các vị cứ chờ một lát.

Tạ Tốn gằn giọng:

– Hàn phu nhân, Minh giáo Trung thổ không hề bạc đãi phu nhân. Sự hưng suy, an nguy của bản giáo đều quy tụ ở một mình Trương Vô Kỵ. Nếu phu nhân bán rẻ bọn ta, cái mạng của Tạ mỗ không đáng gì, nhưng nếu hại đến một sợi tóc của Trương Vô Kỵ, thì Tạ mỗ dù thành ma cũng không tha cho phu nhân đâu.

Đại Ỷ Ty cười khẩy, nói:

– Con nuôi của Tạ tam ca là vàng là ngọc, còn con gái muội là đất là bùn chắc?

Nói rồi cầm tay Tiểu Chiêu khẽ nhún một cái, nhảy xuống chiếc thuyền nhỏ. Tám thủy thủ chèo mạnh, thuyền lướt như bay về phía đoàn thuyền Ba Tư.

Mọi người nghe Đại Ỷ Ty nói câu vừa rồi, đều ngẩn ra. Triệu Mẫn nói:

– Tiểu Chiêu quả nhiên là con bà ta.

Nhìn xa xa, thấy Đại Ỷ Ty và Tiểu Chiêu leo lên chiếc thuyền lớn, đứng ở đầu thuyền nói chuyện với các Bảo thụ vương; trong khi chiếc thuyền của mình thì vẫn chìm dần, cái cột buồm đang ngập dần từng tấc từng tấc.

Tạ Tốn thở dài:

– Không phải người cùng chủng tộc với mình, lòng dạ ắt khác xa. Vô Kỵ hài nhi, ta quen lầm Hàn phu nhân, con thì quen lầm Tiểu Chiêu. Vô Kỵ, đại trượng phu phải biết hành xử cho linh hoạt quyền biến, chúng ta hãy cố nhịn nỗi nhục nhất thời, tìm cơ hội đào thoát sau. Vai con phải đảm đương gánh nặng, dân chúng Trung nguyên đều mong Minh giáo ta phất cờ khởi nghĩa, đánh đuổi Thát tử; một khi thời cơ xuất hiện, con cứ việc một mình thoát thân, đừng lo gì mấy người khác. Con làm chủ một giáo phái, thế nào là nặng nhẹ lớn nhỏ, phải biết phân biện rõ ràng.

Trương Vô Kỵ trầm ngâm chưa đáp, Triệu Mẫn nói:

– Hừ, mạng sống của mình lo còn chưa xong, còn nói gì đến việc đánh đuổi Thát tử. Lão gia tử bảo người Mông Cổ hay người Ba Tư tử tế nào?

Chu Chỉ Nhược đã lâu không nói gì, đột nhiên xen vào:

– Tiểu Chiêu đối với Trương công tử tình ý sâu nặng, chắc chắn không phản bội chàng.

Triệu Mẫn nói:

– Cô nương không thấy Tử Sam Long Vương một mực bức bách Tiểu Chiêu hay sao? Tiểu Chiêu thoạt đầu không chịu, sau bị ép quá, rốt cuộc cũng chịu vậy, còn giả bộ khóc lóc một hồi.

Lúc này cái đà cột buồm chỉ còn cách mặt biển hơn một trượng, mỗi cơn sóng dềnh lại tạt nước tới mặt họ. Triệu Mẫn bỗng nhiên cười, nói:

– Trương công tử, cả bọn chết chung một chỗ với công tử cũng hay. Tiểu Chiêu gian trá xảo quyệt, thành thử không được chết chung với chúng mình.

Câu này tuy là nói đùa, song tình ý bao hàm thật là triền miên.

Trương Vô Kỵ nghe xong cảm động, nghĩ thầm: "Ta không thể lấy tất cả các nàng làm vợ, nhưng chết chung một chỗ cùng lúc với ba nàng, cũng chẳng uổng chút nào". Chàng nhìn Triệu Mẫn, nhìn Chu Chỉ Nhược, nhìn Ân Ly đang ôm trong tay. Ân Ly vẫn hôn mê chưa tỉnh, còn Triệu Mẫn, Chu Chỉ Nhược hai nàng thì hai má hồng tươi, mặt lấm tấm các hạt nước y như các giọt sương trên đóa hoa ban mai, nàng họ Triệu thì tươi tắn như bông hồng, nàng họ Chu tú lệ như bông lan, trong giây lát chàng cảm thấy bình an sung sướng.

Bỗng nghe trên mười mấy chiếc thuyền Ba Tư nổi lên tiếng hoan hô vang dậy. Bọn Trương Vô Kỵ kinh ngạc, chăm chú nhìn sang, thấy mọi người Ba Tư trên các thuyền đều quỳ xuống sàn, hướng về phía chiếc thuyền lớn mà hành lễ. Trên chiếc thuyền lớn kia, các Bảo thụ vương cũng quỳ ở đầu thuyền, trên chiếc ghế chính giữa có một người ngồi, hình như là Tiểu Chiêu thì phải, nhưng vì ở xa, nên nhìn không rõ. Bọn Trương Vô Kỵ chưa hiểu thế nào, không biết bọn Ba Tư giở trò gì. Đám người Hồ hoan hô một chập, rồi đứng dậy, tiếp tục xí xố với nhau ra chiều hoan hỉ, dường như họ gặp đại hỉ sự vậy.

Một lát sau, chiếc thuyền nhỏ lại bơi sang, có Tiểu Chiêu ngồi nghiễm nhiên trên đó. Nàng vẫy tay, gọi:

– Trương công tử, mời tất cả các vị cùng sang bên thuyền lớn. Minh giáo Ba Tư quyết không dám gia hại các vị.

Triệu Mẫn hỏi:

– Vì sao vậy?

Tiểu Chiêu đáp:

– Các vị cứ sang sẽ biết. Nếu có ý gia hại, Tiểu Chiêu biết ăn nói làm sao với Trương công tử?

Tạ Tốn hỏi:

– Tiểu Chiêu, cô nương lên làm giáo chủ của Minh giáo Ba Tư phải không?

Tiểu Chiêu cúi đầu không trả lời. Chỉ thấy từ đôi mắt to ứa ra hai hàng lệ trong như ngọc.

Ngay lúc ấy Trương Vô Kỵ thấy tai ù đi, mọi việc ra sao chàng cũng đoán được bảy, tám phần; trong lòng vô cùng xúc động, nói:

– Tiểu Chiêu, cô nương gánh chịu tất cả đều là vì ta!

Tiểu Chiêu nghiêng mặt qua, không dám nhìn vào mắt chàng.

Tạ Tốn thở dài, nói:

– Đại Ỷ Ty có người con như thế, không hổ anh danh một đời của Tử Sam Long Vương. Vô Kỵ, mình qua thôi.

Nói xong ông nhảy xuống thuyền nhỏ trước. Tiếp đó Chu Chỉ Nhược ôm Ân Ly nhảy xuống theo. Trương Vô Kỵ ôm Triệu Mẫn nhảy xuống sau cùng.

Tám thủy thủ chèo thuyền sang phía chiếc thuyền, còn cách thuyền lớn mươi trượng, các Bảo thụ vương đã cùng cúi mình nghênh tiếp giáo chủ.

Mọi người lên chiếc thuyền lớn rồi, Tiểu Chiêu dặn dò mấy câu, lập tức có người cung kính dâng lên khăn lau mặt, đồ ăn, rồi dẫn từng người vào các phòng thay quần áo ướt.

Trương Vô Kỵ thấy căn phòng chàng được dẫn vào rất rộng, bày biện không ít đồ đạc bằng ngọc ngà châu báu, chàng đang lau mình, thì "kẹt" một tiếng, cửa phòng hé mở, một người bước vào, chính là Tiểu Chiêu. Nàng cầm trên tay một bộ đồ lót, một trường bào, nói:

– Công tử, để tiểu nữ hầu công tử thay đồ.

Trương Vô Kỵ trong lòng chua xót, bồi hồi nói:

– Tiểu Chiêu, cô nương giờ đã là giáo chủ Tổng giáo, nói đúng ra ta còn là thuộc hạ của cô nương nữa, cần gì cô nương phải làm những việc này?

Tiểu Chiêu năn nỉ:

– Công tử, đây là lần cuối cùng. Từ nay hai đứa mình đông tây xa cách vạn dặm, không còn ngày gặp lại; tiểu nữ có muốn hầu hạ công tử một lần nữa, cũng không được nữa rồi.

Trương Vô Kỵ đau lòng, đành để nàng làm như vẫn thường làm, thay áo, cài khuy, thắt dây lưng, lại lấy lược chải đầu cho chàng.

Trương Vô Kỵ thấy nàng nước mắt lưng tròng, bỗng nhiên trong lòng xúc động, bèn dang tay ôm tấm thân thon thả của nàng vào lòng. Tiểu Chiêu thốt lên "ôi" một tiếng, toàn thân run rẩy. Trương Vô Kỵ đặt lên má nàng một cái hôn thật nồng nàn, nói:

– Tiểu Chiêu, lúc đầu ta còn tưởng nàng lừa dối ta, không ngờ nàng đối với ta sâu đậm đến thế.

Tiểu Chiêu ngả đầu vào bộ ngực nở nang của chàng, nói nhỏ:

– Công tử, thoạt tiên tiểu nữ có lừa dối chàng thật. Mẹ của tiểu nữ vốn là một trong ba thánh nữ của Tổng giáo, được phái sang Trung thổ, tích lập công đức, để rồi trở về Ba Tư, tiếp nhiệm chức vụ giáo chủ. Không ngờ sau khi gặp cha của tiểu nữ, tình ý không dứt được, đành phản giáo mà thành hôn với cha của tiểu nữ. Mẹ biết mình tội nặng, bèn đem chiếc nhẫn đá quý bảy màu của thánh xử nữ trao lại cho tiểu nữ, sai tiểu nữ trà trộn lên đỉnh Quang Minh, lấy trộm tâm pháp "Càn khôn đại na di". Công tử, chuyện đó tiểu nữ đã giấu công tử, nhưng trong lòng tiểu nữ, tiểu nữ không bao giờ sai trái với công tử. Bởi vì tiểu nữ không hề muốn trở thành giáo chủ Minh giáo Ba Tư, tiểu nữ chỉ mong được làm con tiểu a hoàn suốt đời hầu hạ công tử, vĩnh viễn không xa rời công tử. Tiểu nữ từng nói như thế với công tử, có đúng không? Công tử cũng đã bằng lòng như thế, có đúng không?

Trương Vô Kỵ gật đầu, đặt tấm thân nhỏ nhắn của nàng lên hai gối mình, lại hôn nàng, hôn tha thiết. Đôi môi nàng lẫn nước mắt, vừa ngòn ngọt, vừa mằn mặn.

Tiểu Chiêu lại nói:

– Tiểu nữ đã nhớ nằm lòng tâm pháp "Càn khôn đại na di", song hoàn toàn không phải vì có ý phản bội công tử. Nếu không phải hôm nay ở vào bước đường cùng, tiểu nữ sẽ không bao giờ nói lộ chuyện này ra cả..

Trương Vô Kỵ dịu dàng nói:

– Bây giờ thì ta hiểu cả rồi.

Tiểu Chiêu ngậm ngùi nói:

– Hồi nhỏ, tiểu nữ thấy mẹ ngày đêm bất an, lúc nào cũng nơm nớp lo sợ tìm cách che giấu dung nhan của mình, hóa trang thành một bà lão xấu xí. Mẹ lại không cho tiểu nữ được ở với bà, đem gửi nhà người khác nuôi, hai ba năm mới đến gặp một lần. Bây giờ tiểu nữ mới hiểu, mẹ đã hết sức mạo hiểm để được thành hôn với cha. Công tử, nếu hôm nay không sa vào tình thế này, thì đừng nói chức giáo chủ, ngay có làm nữ hoàng cai trị toàn thế giới, tiểu nữ cũng chẳng màng.

Nói tới đây, hai má nàng đỏ bừng lên.

Trương Vô Kỵ thấy thân thể nàng trong vòng tay mình chợt nóng bừng lên, lòng xúc động, bỗng nghe tiếng nói của Đại Ỷ Ty từ bên ngoài vọng vào:

– Tiểu Chiêu, nếu con không khắc chế được tình dục, tức là làm cho Trương công tử bị mất mạng đó. Tiểu Chiêu rùng mình, đứng ngay dậy, nói:

– Công tử, từ nay công tử đừng nhớ đến tiểu nữ nữa. Ân cô nương theo mẹ tiểu nữ nhiều năm, tình ý với công tử thật sâu nặng, rất xứng đáng với công tử.

Trương Vô Kỵ nói nhỏ:

– Chúng ta hãy xông ra, bắt giữ vài vị Bảo thụ vương, ép họ phải thả mình về đảo Linh Xà.

Tiểu Chiêu buồn bã lắc đầu:

– Lần này bọn họ khôn ra rồi. Tạ đại hiệp, Ân cô nương, lúc này mỗi người đều bị người Ba Tư kề gươm vào cổ, mình chỉ có hành động khác lạ, bọn họ sẽ giết ngay.

Nói xong nàng mở cửa khoang bước ra, thấy Đại Ỷ Ty đứng bên cửa, có hai gã Ba Tư gí trường kiếm ngay sau lưng. Hai gã đó cúi mình hành lễ với với Tiểu Chiêu, song mũi kiếm vẫn chĩa vào lưng Đại Ỷ Ty.

Tiểu Chiêu bước ra, Trương Vô Kỵ theo sau, quả nhiên thấy bọn Tạ Tốn đều có các võ sĩ Ba Tư cầm kiếm đứng sau khống chế. Tiểu Chiêu nói:

– Công tử, ở đây có linh dược trị thương của Ba Tư, công tử hãy lấy mà trị thương cho Ân cô nương.

Nói rồi nàng dùng tiếng Ba Tư ra lệnh mấy câu. Công Đức vương lấy một bình thuốc cao, đưa cho Trương Vô Kỵ.

Tiểu Chiêu nói:

– Tiểu nữ ra lệnh cho người tiễn các vị về Trung thổ, thôi chúng ta từ biệt nhau ở đây. Tiểu Chiêu thân ở Ba Tư, ngày ngày cầu cho công tử phúc thể khang ninh, mọi sự như ý.

Giọng nàng nghẹn ngào. Trương Vô Kỵ nói:

– Cô nương ở chốn hang hùm miệng sói, mọi việc hãy thận trọng.

Tiểu Chiêu gật đầu, ra lệnh cho thuộc hạ chuẩn bị thuyền.

Tạ Tốn, Ân Ly, Triệu Mẫn, Chu Chỉ Nhược từng người một sang thuyền. Tiểu Chiêu đem thanh đao Đồ Long và kiếm Ỷ Thiên trao lại cho Trương Vô Kỵ, nở nụ cười tê tái, giơ tay vẫy chào.

Trương Vô Kỵ không biết nói sao, đứng ngây một lát, rồi nhảy xuống thuyền. Chiếc thuyền lớn của Tiểu Chiêu bỗng nổi tiếng tù và vang động. Hai thuyền cùng giương buồm lên, khoảng cách xa dần. Tiểu Chiêu vẫn đứng ở đầu thuyền, đăm đăm nhìn về phía Trương Vô Kỵ.

Khoảng biển giữa hai người càng lúc càng xa, cuối cùng chiếc thuyền lớn của Tiểu Chiêu chỉ còn là một cái chấm nhỏ, rồi mặt biển tối sẫm, tiếng gió thổi vào buồm như mang theo cả tiếng ai nức nở nghẹn ngào.

Comments

Comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 31: Đao kiếm cùng mất, người bỏ mạng

Ân Ly sau khi được đắp thuốc cao của người Ba Tư, cơn sốt vẫn không giảm, luôn miệng lảm nhảm nói mê. Nàng ở trên biển mấy ngày, bệnh rồi lại bị phong hàn, thuốc cao kia chỉ dùng để trị ngoại thương, không chữa được phong tà bên trong. Trương Vô Kỵ bồn chồn lo lắng, đến ngày thứ ba chàng thấy ở xa xa phía đông có một hòn đảo nhỏ liền bảo đà công lái thuyền về phía đó.

Mọi người lên hòn đảo rồi, tinh thần phấn chấn hơn. Hòn đảo này rộng chỉ vài dặm, đầy các bụi cây lúp xúp và hoa cỏ. Trương Vô Kỵ nhờ Chu Chỉ Nhược săn sóc Triệu Mẫn, Ân Ly, rồi chàng đi tìm trong hoa cỏ xem có thảo dược cần thiết hay không. Trên hòn đảo này, cây cỏ hoa lá phần nhiều khác hẳn ở Trung thổ, chàng không am tường mấy. Trương Vô Kỵ cứ đi mãi, đến tối mịt mới tìm được một vị thuốc, đành đem về nhai nát, cho Ân Ly uống.

Sáu người ngồi quanh đống lửa, ăn cơm tối xong, bốn bề hương hoa thoang thoảng, thảo mộc thanh tân, dễ chịu hơn hẳn so với khi ở trên thuyền bó chân bó cẳng. Ân Ly cũng cảm thấy khá hơn đôi chút, nói:

– A Ngưu ca ca, đêm nay mình ngủ tại đây đi, đừng trở lại thuyền nữa.

Lời đó nói ra, ai cũng khen là phải. Thấy hòn đảo nhỏ này cây cỏ tươi xanh, nước trong mát, không có hung cầm mãnh thú gì, nên ai nấy yên tâm nằm ngủ.

Sáng hôm sau thức dậy, Trương Vô Kỵ đứng lên, mới đi được một bước, đã loạng choạng suýt ngã, cảm thấy hai chân bủn rủn không có sức, từ trước đến nay chưa bị như thế bao giờ. Chàng dụi mắt nhìn ra biển, không thấy chiếc thuyền Ba Tư ở chỗ cũ, hoảng hốt chạy ra tận mép nước nhìn tứ phía, chẳng còn thấy tăm hơi nó đâu nữa.

Chàng kinh hãi thật sự, vội gọi to:

– Nghĩa phụ, nghĩa phụ có sao không?

Không nghe Tạ Tốn trả lời, chàng vội chạy tới chỗ Tạ Tốn nằm, thấy ông đang ngủ say, thì thấy nhẹ cả người.

Chu Chỉ Nhược, Triệu Mẫn, Ân Ly ba người thì nằm ngủ ở phía sau một tảng đá lớn cách khá xa, chàng chạy tới đó xem sao, thấy Chu Chỉ Nhược nằm đối diện với Ân Ly, còn Triệu Mẫn thì không còn ở đó. Ngó qua thấy mặt Ân Ly đầy máu, cúi nhìn kỹ, thấy mặt nàng bị vật gì sắc bén rạch đến mươi vết; nàng đã hôn mê từ bao giờ; chàng vội đưa tay thăm mạch, may sao vẫn còn đập thoi thóp. Nhìn lại Chu Chỉ Nhược, thấy mái tóc dài óng ả của nàng bị cắt một mảng lớn, tai trái cũng bị cắt một miếng, máu chưa ngừng chảy, song khuôn mặt lại hơi mỉm cười, tựa hồ đang trong một giấc mộng ngọt ngào, dưới ánh ban mai trông như một đóa hải đường hé nở, xinh đẹp vô cùng.

Chàng thầm kêu khổ luôn miệng, vội gọi:

– Chu cô nương, dậy thôi! Chu cô nương, dậy thôi!

Chu Chỉ Nhược vẫn không tỉnh lại. Trương Vô Kỵ đưa tay lay vai nàng, nàng ngáp dài một cái, lại ngủ tiếp ngon lành. Trương Vô Kỵ biết nàng bị trúng thuốc mê; đêm qua đã xảy ra nhiều chuyện quái dị, chàng tuyệt nhiên không biết tí gì; bây giờ toàn thân uể oải, đúng là mình cũng trúng độc rồi.

Chàng gọi mà Chu Chỉ Nhược không tỉnh, bèn chạy sang chỗ Tạ Tốn, gọi:

– Nghĩa phụ, nghĩa phụ!

Tạ Tốn mơ hồ ngồi dậy, hỏi:

– Cái gì thế?

Trương Vô Kỵ nói:

– Nguy rồi! Chúng ta trúng phải gian kế mất rồi!

Chàng kể qua cho Tạ Tốn biết việc chiếc thuyền

Ba Tư đi mất, Chu Chỉ Nhược và Ân Ly bị thương.

Tạ Tốn kinh hãi hỏi lại:

– Còn Triệu cô nương thì sao?

Trương Vô Kỵ buồn bã đáp:

– Không thấy đâu cả.

Chàng hít một hơi, vận công xem thử, thấy tứ chi vô lực, không dùng sức nổi, bèn buột miệng:

– Nghĩa phụ, chúng ta bị người ta hạ độc "Thập hương nhuyễn cân tán" rồi.

Việc các cao thủ sáu phái bị Triệu Mẫn dùng "Thập hương nhuyễn cân tán" đánh ngã, rồi bắt sống mang cả về chùa Vạn An ở Đại Đô, Tạ Tốn đã nghe Trương Vô Kỵ kể từ trước, lúc này ông đứng dậy, thấy chân tay bửng lửng vô lực, cố định thần, hỏi:

– Thanh đao Đồ Long và kiếm Ỷ Thiên cũng bị nàng ta mang đi mất phải không?

Trương Vô Kỵ nhìn quanh, không thấy đao kiếm đâu cả, thất vọng vô cùng, ức muốn khóc lên được, không ngờ Triệu Mẫn cuối cùng lại thừa cơ chàng gặp nguy khốn, lại còn giậu đổ bìm leo, sử dụng gian kế với chàng.

Chàng đứng ngây ra một hồi, sực nhớ đến vết thương của Ân Ly, vội chạy về chỗ Ân, Chu hai nàng, lay lay Chu Chỉ Nhược. Nàng vẫn ngủ mê mệt. Chàng nghĩ thầm: "Ta nội lực thâm hậu nhất, nên tỉnh lại sớm nhất, tiếp đến là nghĩa phụ. Chu cô nương thua xa về nội lực, xem ra chưa tỉnh lại được". Chàng xé vạt áo, lau máu trên mặt Ân Ly, thấy nàng bị rạch bảy, tám đường ngang dọc, hiển nhiên là bằng mũi kiếm Ỷ Thiên. Ân Ly từ sau khi bị Kim Hoa bà bà Tử Sam Long Vương đả thương, mất rất nhiều máu, chất độc của loài nhện tích trong máu cũng theo máu ra khỏi cơ thể, nên mặt bớt sưng quá nửa, nét đẹp hồi thiếu nữ đang phục hồi dần dần, nay bị rạch ngang dọc, lại trở nên đáng sợ.

Trương Vô Kỵ vừa đau lòng vừa căm tức, nghiến răng nói:

– Triệu Mẫn ơi Triệu Mẫn, nếu có ngày nàng rơi vào tay ta, mà ta còn tha cho nàng, thì ta không kể là người nữa.

Chàng trấn tĩnh, chạy vào rừng tìm mấy thứ thảo dược cầm máu, nhai nát, đắp lên mặt Ân Ly, đắp cả chỗ tai và da đầu bị thương của Chu Chỉ Nhược.

Chu Chỉ Nhược ngáp dài, mở mắt ra, thấy chàng giơ tay sờ đầu mình, thẹn đỏ cả mặt, lấy tay hất tay chàng ra, giận dỗi:

– Huynh.. huynh làm cái gì?

Nói chưa dứt, cảm thấy đau ở tai, đưa tay sờ, giật mình kêu "Ối", đứng phắt dậy, hỏi:

– Sao thế này?

Đột nhiên hai đầu gối mềm nhũn, ngã phịch vào lòng Trương Vô Kỵ.

Trương Vô Kỵ giơ tay đỡ nàng, nói:

– Chu cô nương đừng sợ!

Chu Chỉ Nhược nhìn dung nhan đáng sợ của Ân Ly, vội đưa tay sờ mặt mình, hỏi:

– Mặt muội có bị thế kia hay không?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Không! Cô nương chỉ bị thương nhẹ thôi.

Chu Chỉ Nhược nói:

– Có phải bọn ác đồ Ba Tư làm đấy chăng? Muội, sao muội chả biết gì cả?

Trương Vô Kỵ thở dài, buồn bã nói:

– Chỉ e.. chỉ e do Triệu cô nương làm đó. Nàng ta đã bỏ thuốc độc vào bữa ăn tối qua.

Chu Chỉ Nhược ngẩn ngơ một hồi, sờ chỗ tai bị cắt, khóc òa lên. Trương Vô Kỵ an ủi:

– Cũng may cô nương bị thương không nặng, chỗ tai bị khuyết có thể buông tóc xuống che, người ngoài sẽ không nhìn thấy đâu.

Chu Chỉ Nhược nói:

– Lại còn nhắc đến tóc nữa? Tóc muội cũng bị cắt còn đâu..

Trương Vô Kỵ nói:

– Trên đỉnh đầu mất chút da tóc, chải tóc hai bên qua che lại cũng được..

Chu Chỉ Nhược nói dỗi:

– Tại sao muội phải lấy tóc hai bên che lại? Đến bây giờ mà huynh vẫn cố bênh Triệu cô nương của huynh.

Trương Vô Kỵ bị nàng đay nghiến, đành chống chế:

– Huynh đâu có bênh cô ta! Cô ta độc ác, hại Ân cô nương thế kia, huynh.. huynh sẽ không tha cho cô ta được.

Nhìn dung nhan của Ân Ly như thế, nước mắt chàng tự nhiên ứa ra.

Lâm vào cảnh này, Trương Vô Kỵ bối rối, ngồi xuống vận công, cảm thấy bị trúng độc không phải nhẹ. "Thập hương nhuyễn cân tán" này chỉ có thuốc giải của Triệu Mẫn mới giải độc được; bây giờ chỉ còn cách dùng nội công chống lại chất độc. Chàng bèn vận nội tức, dồn chất độc từ khắp nơi trong cơ thể về đan điền, rồi mới từ đan điền đẩy ra khỏi cơ thể.

Sau hơn một canh giờ vận công, thấy kiến hiệu, trong bụng cũng phần nào yên tâm, có điều cách này dựa vào "Cửu dương thần công", không thể truyền thụ cho Tạ Tốn và Chu Chỉ Nhược làm theo, chỉ có cách tự mình trừ độc hết rồi, sẽ giúp hai người kia giải độc.

Công phu đó nói thì dễ, khi thực hành mới thật là hết sức phức tạp, đến ngày thứ bảy, chàng chỉ mới loại trừ được ba phần chất độc trong cơ thể mình. May là chất độc này chỉ làm cho người ta không dùng sức được, chứ không phá hoại cơ thể.

Mấy ngày đầu Chu Chỉ Nhược bực dọc lắm, sau nàng cũng nguôi ngoai dần, nàng giúp Tạ Tốn bắt cá săn chim, nhóm lửa nấu ăn. Nàng ở một mình trong một cái hang ở phía đông hòn đảo, cách xa bọn Trương Vô Kỵ.

Trương Vô Kỵ thầm ngượng ngùng, nghĩ bụng cái họa Triệu Mẫn toàn do chàng mà ra. Triệu Mẫn hiển nhiên là quận chúa Mông Cổ, là kẻ tử thù của Minh giáo, không biết bao nhiêu cao thủ võ lâm từng bị nàng ta sát hại, vậy mà chàng không đề phòng, thực là ngu ngốc không để đâu cho hết. Tạ Tốn và Chu Chỉ Nhược không oán trách chàng, một câu họ cũng chả nhắc tới; nhưng chàng rất khổ tâm. Có lúc chàng thấy ánh mắt của Chu Chỉ Nhược như muốn nói: "Chỉ tại huynh mê mẩn sắc đẹp của Triệu Mẫn, nên mới bị đại họa thế này".

Thương thế của Ân Ly ngày một nặng. Hòn đảo nhỏ nằm ở Nam Hải, thảo mộc mọc ở đây phần lớn không thấy chép tới trong "Y kinh" của Hồ Thanh Ngưu. Chàng dù tinh thông y lý, biết thương thế của Ân Ly chữa trị được, nhưng không có thuốc cũng đành chịu. Cây trên đảo vừa thấp vừa nhỏ, chỉ có thể dùng làm củi đun, chẳng thể kết thành bè gỗ để mạo hiểm vượt biển. Nếu chàng không biết y thuật, thì đành một nhẽ; đằng này biết mà cứ y như ngày đêm bị hàng vạn mũi dao nhọn đâm nhói vào tim. Một buổi tối nọ chàng nhai vài thứ thảo dược hạ sốt, mớm cho Ân Ly, thấy nàng không nuốt nổi, thì lòng chàng đau xót, nước mắt rơi lã chã xuống mặt nàng.

Ân Ly bỗng nhiên mở mắt ra, mỉm cười, nói:

– A Ngưu ca ca, ca ca đừng buồn nhé. Muội phải xuống âm phủ tìm cái gã Trương Vô Kỵ tiểu quỷ tàn nhẫn chết non mới được. Muội phải nói với y rằng trên cõi trần muội có một người là A Ngưu ca ca đối với muội tử tế hơn y gấp ngàn vạn lần.

Trương Vô Kỵ nghẹn ngào, chưa biết có nên nói cho nàng biết mình chính là Trương Vô Kỵ hay không.

Ân Ly nắm tay chàng, nói:

– A Ngưu ca ca, thủy chung muội không nhận lời lấy ca ca, ca ca có hận muội không? Muội đoán rằng có lẽ ca ca muốn muội vui, nên nói dối muội thế thôi; chứ muội tướng mạo xấu xí, tính nết cổ quái, sao ca ca lại muốn lấy muội?

Trương Vô Kỵ nói:

– Không, huynh không nói dối muội đâu. Muội là một cô nương tình sâu ý nặng, mong được kết duyên với muội là nguyện vọng bình sinh của huynh đấy. Để hôm nào muội khỏi bệnh, mọi việc lo liệu xong xuôi, mình sẽ làm lễ thành hôn, muội nghĩ sao?

Ân Ly giơ tay vuốt nhẹ má Trương Vô Kỵ, lắc đầu nói:

– A Ngưu ca ca, muội không thể lấy ca ca được. Lòng muội sớm đã thuộc về cái gã Trương Vô Kỵ tàn nhẫn nọ mất rồi.. A Ngưu ca ca, muội có điều lo lo, xuống dưới âm phủ, liệu có gặp được y không? Y có đối xử với muội hung hăng như trước kia chăng?

Trương Vô Kỵ thấy nàng thần trí tỉnh táo, hai má ửng hồng, thì lòng thầm kinh hãi: "Đây là hiện tượng hồi quang phản chiếu, không lẽ hôm nay là ngày cuối cùng của nàng sao?" Chàng thừ người ra, không nghe nàng nói gì cả. Ân Ly lại nắm lấy tay chàng, hỏi lại lần nữa.

Trương Vô Kỵ dịu dàng đáp:

– Hắn sẽ mãi mãi đối với muội rất tử tế, sẽ coi muội như là báu vật vậy.

Ân Ly hỏi:

– Liệu có được bằng một nửa ca ca đối với muội hay chăng?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Nói có trời chứng giám, Trương Vô Kỵ thành tâm thành ý yêu thương muội, hắn đã sớm ân hận về chuyện ban đầu hắn dữ dằn với muội rồi. Hắn.. lòng hắn đối với muội, thật không khác gì huynh đối với muội đâu.

Ân Ly thở hắt ra, khóe miệng mỉm cười, nói:

– Thế thì.. thì muội yên tâm rồi..

Bàn tay nàng từ từ lỏng ra, hai mắt nhắm lại, cuối cùng tắt thở.

Trương Vô Kỵ ôm thi thể Ân Ly vào lòng, nghĩ đến khi tắt thở, nàng vẫn chưa biết chàng chính là Trương Vô Kỵ. Những ngày qua nàng cứ nửa mê nửa tỉnh, chàng không thể nói rõ chân tướng ra được, đến lúc lâm chung, nàng tỉnh táo được một lúc thì nói không kịp nữa. Thực ra, đến lúc này, nói hay không nói đâu có khác gì nhau. Chàng đau đớn khóc không thành tiếng, chỉ nghĩ thầm: "Nếu không phải do Triệu Mẫn rạch mặt nàng, bệnh tình của nàng chưa hẳn đã không chữa khỏi. Nếu Triệu Mẫn không bỏ rơi mấy người trên hòn đảo này, chỉ vài hôm về tới Trung nguyên, chàng nhất định có cách cứu sống nàng". Chàng căm hận nói thành tiếng:

– Triệu Mẫn, tâm địa ngươi chẳng khác gì rắn rết, nếu có ngày ngươi rơi vào tay ta, Trương Vô Kỵ nhất quyết không tha cho ngươi.

Chợt nghe sau lưng có tiếng nói lạnh lùng:

– Đến lúc huynh nhìn thấy khuôn mặt như hoa như ngọc của nàng ta, để xem huynh có dám hạ thủ hay không.

Chàng ngoảnh lại, thấy Chu Chỉ Nhược đứng trong gió, vẻ mặt đầy vẻ coi thường. Chàng vừa đau lòng, vừa hổ thẹn, nói:

– Ta đã thề với thi thể của biểu muội, nếu không tự tay tru diệt yêu nữ, Trương Vô Kỵ này không còn mặt mũi nào sống giữa thế gian.

Chu Chỉ Nhược nói:

– Thế mới là đấng nam nhi có chí khí.

Nàng bước lại, ngồi xuống bên cạnh thi thể Ân Ly, khóc lóc một hồi.

Tạ Tốn nghe tiếng khóc, dò dẫm đi tới, biết Ân Ly đã chết, cũng không khỏi thương tâm.

Trương Vô Kỵ đến chỗ bóng râm bên vách núi đào một cái huyệt, đất trên đảo không dày, đào được một thước thì gặp đá cứng, trong tay lại không có cuốc xẻng, chàng đành đặt Ân Ly vào chiếc hố nông ấy, sắp lấp đất đá lên, nhìn khuôn mặt sưng vù của nàng lẫn vết máu, chàng chợt nghĩ thầm: "Lấp thẳng đất lên, e làm nát mặt nàng mất". Chàng bèn lấy lá cây phủ lên người nàng, rồi mới nhè nhẹ xếp đá lên, tựa hồ nàng vẫn còn cảm giác, sợ đá đè nàng đau. Chàng bẻ một thân cây, bóc lớp vỏ đi, dùng con dao găm của Ân Ly khắc lên đó dòng chữ: "Ái thê Thù Nhi Ân Ly chi mộ", bên dưới khắc thêm năm chữ "Trương Vô Kỵ cẩn lập". Chôn cất xong xuôi, chàng mới phục xuống mà khóc.

Chu Chỉ Nhược khuyên:

– Ân cô nương hết mực chung tình với huynh, huynh đối với Ân cô nương cũng nhân nghĩa tột cùng. Chỉ cần huynh đừng quên lời thề hôm nay, giết Triệu Mẫn báo thù cho nàng, thì Ân cô nương có thể ngậm cười nơi chín suối.

Trương Vô Kỵ một phen đau lòng, khiến bao nhiêu chất độc tụ lại ở đan điền lại tản ra khắp cơ thể, phí mấy ngày thu tụ về, phải mười mấy hôm sau mới đẩy hết chất độc ra ngoài.

Trên đảo khí hậu nóng bức, quả dại rất sẵn, tha hồ hái nên không sợ đói, sống tạm bợ qua ngày không đến nỗi gian nan. Chu Chỉ Nhược biết Trương Vô Kỵ đau lòng vì cái chết của Ân Ly, căm hận sự xảo trá của Triệu Mẫn, lại buồn vì phải xa Tiểu Chiêu, nên nàng hết sức dịu dàng với chàng để bù lại.

Trương Vô Kỵ sau khi vận thần công khu trừ hết chất độc khỏi cơ thể Tạ Tốn, cũng tính giúp Chu Chỉ Nhược, nhưng nghĩ, theo phương pháp trừ độc này, một tay đặt ở sau lưng đối phương, một tay đặt ở bụng dưới người kia, đôi bên nam nữ làm sao có thể đụng chạm da thịt như vậy được? Nhưng không dùng cách đó, thì không thể truyền "Cửu dương chân khí" sang cho nàng, thành thử mấy ngày liền cứ lưỡng lự, vẫn chưa biết làm thế nào.

Một buổi tối, Tạ Tốn bỗng hỏi:

– Vô Kỵ, con thử nghĩ xem, chúng ta sẽ phải ở trên đảo này bao nhiêu lâu?

Trương Vô Kỵ thừ người ra, đáp:

– Cái đó cũng khó nói lắm, chỉ mong có chiếc thuyền nào đi qua, cứu chúng ta đưa về Trung thổ.

Tạ Tốn nói:

– Hơn một tháng nay, con có thấy có bóng dáng chiếc thuyền nào ở xa hay không?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Không ạ.

Tạ Tốn nói:

– Thế đấy. Không chừng ngày mai có thuyền tới đây, cũng có thể một trăm năm nữa cũng chẳng có chiếc thuyền nào ghé qua.

Trương Vô Kỵ thở dài nói:

– Hòn đảo nhỏ này chơ vơ giữa biển cả, không phải nằm trên hải trình của thuyền bè, việc chúng ta có trở về Trung thổ được hay không, quả là mờ mịt!

Tạ Tốn nói:

– Hừ, thuốc giải đã không kiếm được, "Thập hương nhuyễn cân tán" tích lâu trong cơ thể, ngoài việc làm cho tứ chi vô lực, còn gây hại gì khác chăng?

Trương Vô Kỵ nói:

– Thời gian ngắn thì cũng chả hại mấy, nhưng nếu để mãi, chất độc ngấm sâu vào xương cốt, lục phủ ngũ tạng khó tránh khỏi tổn thương.

Tạ Tốn nói:

– Vậy hả? Tại sao con không tìm cách trừ độc sớm cho Chu cô nương? Con bảo con và Chu cô nương biết nhau từ nhỏ, hồi con bị Huyền Minh thần chưởng, Chu cô nương từng có ơn với con. Một thục nữ dịu dàng đức hạnh như thế, tìm đâu cho thấy? Hay là con chê cô ta không xinh đẹp?

Trương Vô Kỵ vội nói:

– Không, không phải vậy, Chu cô nương mà còn chưa xinh đẹp, thì thiên hạ làm gì có mỹ nhân nữa?

Tạ Tốn nói:

– Vậy ta đứng ra làm chủ hôn cho con lấy cô ta làm vợ. Cái hủ lễ nam nữ thụ thụ bất thân kia khỏi phải e ngại nữa.

Chu Chỉ Nhược ở bên cạnh nghe hai người nói thế, thì thẹn đỏ mặt, đứng dậy đi ra chỗ khác.

Tạ Tốn đứng lên, dang hai tay ngăn lại, nói:

– Đừng đi! Đừng đi! Hôm nay nhất định ta phải làm mai cho hai cô cậu mới được.

Chu Chỉ Nhược giận dỗi nói:

– Tạ lão gia đừng có đùa bỡn. Chúng ta chỉ mong sao về được Trung thổ, ai lại đi nói những chuyện vớ vẩn thế?

Tạ Tốn cười ha hả, nói:

– Dựng vợ gả chồng là đại sự một đời, sao lại bảo là chuyện vớ vẩn? Vô Kỵ, cha mẹ con cũng ở trên hoang đảo tự bái trời đất mà làm lễ thành hôn. Hồi ấy nếu hai người không bỏ cái lệ của thế tục, thì trên đời làm gì có tên tiểu tử là ngươi? Huống hồ hôm nay có nghĩa phụ của con đứng ra làm chủ hôn. Hay là con không thích Chu cô nương? Chẳng lẽ con không muốn trừ độc giúp cô ta?

Chu Chỉ Nhược ôm mặt toan chạy đi, Tạ Tốn nắm áo nàng kéo lại, cười nói:

– Cô nương chạy đi đâu? Chẳng lẽ ngày mai chúng ta không gặp nhau nữa hay sao? À, ta biết rồi, cô nương không muốn gọi lão già đui mù này là bố chồng chứ gì?

Chu Chỉ Nhược vội nói:

– Không, không phải thế, Tạ lão gia là hào kiệt thời nay..

Tạ Tốn hỏi:

– Thế là cô nương bằng lòng chứ gì?

Chu Chỉ Nhược nói:

– Không, không!

Tạ Tốn nói:

– Chắc cô nương chê thằng nghĩa tử của ta không ra gì phải không?

Chu Chỉ Nhược ngập ngừng, nói:

– Trương công tử võ công trác tuyệt, lừng lẫy giang hồ. Có người.. người.. chồng như thế, còn mong gì hơn? Nhưng mà..

Tạ Tốn hỏi:

– Nhưng mà sao?

Chu Chỉ Nhược nháy mắt với Trương Vô Kỵ, nói:

– Chàng ta.. lòng chàng ta còn mê Triệu cô nương lắm, điệt nhi biết mà.

Tạ Tốn nghiến răng nói:

– Con tiện nhân Triệu Mẫn hại chúng ta đến nỗi này, không lẽ Vô Kỵ vẫn còn chưa tỉnh ngộ hay sao? Vô Kỵ, ngươi tự mình nói ta nghe coi.

Trương Vô Kỵ lúng túng, nhớ đến nụ cười giọng nói rung động lòng người của Triệu Mẫn, cảm thấy giá lấy nàng làm vợ, chung sống với nàng suốt đời, thì không còn gì sung sướng hơn, thế nhưng chàng chợt nhớ tới khuôn mặt bị rạch nát, máu me bê bết của Ân Ly, thì vội nói:

– Triệu Mẫn là kẻ thù của con, con phải giết cô ta để báo thù cho biểu muội.

Tạ Tốn nói:

– Thấy chưa, Chu cô nương còn nghi ngờ gì nữa không?

Chu Chỉ Nhược nói nhỏ:

– Tiểu nữ chưa an tâm, trừ phi.. trừ phi Tạ lão gia bảo chàng ta phải.. thề. Nếu không, tiểu nữ thà để cho chất độc phát tác mà chết, còn hơn cho chàng ta giúp khu trừ chất độc.

Tạ Tốn nói:

– Vô Kỵ, mau thề đi!

Trương Vô Kỵ quỳ xuống, nói:

– Tôi, Trương Vô Kỵ, nếu không trả mối huyết cừu của biểu muội, thì trời đất không dung tha.

Chu Chỉ Nhược nói:

– Muội muốn nghe huynh nói rõ, huynh sẽ đối với Triệu Mẫn như thế nào?

Tạ Tốn nói:

– Vô Kỵ, con nói cho rõ, chứ câu "trời đất không dung tha" nghe mơ hồ lắm.

Trương Vô Kỵ cao giọng nói:

– Yêu nữ Triệu Mẫn đã ra công giúp sức cho hoàng thất Thát tử, làm khổ trăm họ nước ta, hại cả nghĩa sĩ võ lâm, lại lấy trộm bảo đao của nghĩa phụ, hãm hại biểu muội Ân Ly. Trương Vô Kỵ còn sống ngày nào, không dám quên mối thù lớn đó, nếu làm trái, xin trời đất trách phạt.

Chu Chỉ Nhược cười nhạt, nói:

– Chỉ sợ đến lúc đó huynh lại không nỡ ra tay thôi.

Tạ Tốn nói:

– Nghe ta bảo đây, chọn ngày không bằng làm ngay, chúng ta là hào kiệt giang hồ, đâu cần câu nệ chuyện lễ nghi lôi thôi phiền toái, chi bằng hai ngươi hôm nay bái đường thành thân luôn đi. "Thập hương nhuyễn cân tán" trừ được sớm ngày nào hay ngày ấy.

Trương Vô Kỵ nói:

– Chưa được đâu! Nghĩa phụ, Chỉ Nhược, xin hai người hãy nghe cho. Ân cô nương đối với Vô Kỵ tình sâu ý nặng, nàng từ nhỏ đã coi Vô Kỵ là chồng, Vô Kỵ trong lòng cũng muốn lấy nàng làm vợ; tuy chưa cưới xin, nhưng hai người đã có cái nghĩa phu phụ. Nàng chết đi xác còn chưa lạnh, Vô Kỵ sao đành lòng kết hôn với người khác?

Tạ Tốn ngẫm nghĩ rồi nói:

– Con nói thế cũng phải, vậy ý con thế nào?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Theo ý hài nhi, hôm nay hài nhi sẽ đính hôn với Chu cô nương, để giúp nàng trừ độc trị thương cho tiện. Nếu trời cho chúng ta về được Trung thổ, khi nào hài nhi giết được Triệu Mẫn, đoạt lại thanh đao Đồ Long cho nghĩa phụ, bấy giờ sẽ thành hôn với Chu cô nương, vậy là vẹn cả đôi bề.

Tạ Tốn cười, nói:

– Con tính thế quá gọn. Nhưng nếu tám năm, mười năm chúng ta vẫn chưa về được Trung thổ, thì sao?

Trương Vô Kỵ nói:

– Ba năm nữa, dù có rời khỏi hòn đảo này hay không, cũng xin nghĩa phụ chủ trì hôn sự cho hài nhi.

Tạ Tốn gật đầu, quay sang hỏi Chu Chỉ Nhược:

– Chu cô nương, ý cô nương tính sao?

Chu Chỉ Nhược cúi đầu không trả lời, lát sau mới nói:

– Tiểu nữ chỉ là một đứa con gái bơ vơ cô khổ, tự mình làm gì có chủ ý được? Mọi việc xin nhờ Tạ lão gia định đoạt cho.

Tạ Tốn cười ha hả, nói:

– Hay lắm, hay lắm, ba người mình một lời đã định. Hai đứa bây giờ đã thành phu phụ đính hôn, không còn gì e ngại nữa. Vô Kỵ, ngươi hãy lo trừ độc ngay cho con dâu của ta đi.

Nói xong ông đi luôn ra sau núi.

Trương Vô Kỵ nói:

– Chỉ Nhược, nỗi khổ tâm của ta, nàng có lượng thứ cho được chăng?

Chu Chỉ Nhược mỉm cười, nói:

– Chẳng qua thiếp xấu xí, nên chàng cứ duỗi ra như thế, chứ nếu là Triệu cô nương xem, chỉ sợ ngay tối nay chàng đã..

Nói tới đó, nàng quay đầu ra chỗ khác, không nói nữa.

Trương Vô Kỵ chợt nghĩ: "Khi còn ở trên chiếc thuyền lênh đênh ngoài biển, ta từng si tâm vọng tưởng lấy cả bốn nàng. Kỳ thực, người ta thật sự si mê lại là tiểu yêu nữ tàn ác, xảo quyệt. Ta quả không đáng được gọi là bậc anh hùng hào kiệt, vì cái tội si mê nữ sắc, không phân biệt thiện ác".

Chu Chỉ Nhược ngoảnh lại, thấy chàng ngơ ngẩn xuất thần, bèn đứng dậy đi ra chỗ khác. Trương Vô Kỵ giơ tay kéo nàng lại, không ngờ Chu Chỉ Nhược không có sức, thân hình loạng choạng ngã luôn vào người chàng, vùng vẫy ra không được, giận dỗi nói:

– Rồi cả đời thiếp sẽ bị chàng ăn hiếp thôi.

Trương Vô Kỵ thấy nàng hờn dỗi rất dễ thương, ôm chặt lấy thân hình mảnh dẻ của nàng, thấp giọng nói:

– Chỉ Nhược, hai đứa mình hồi nhỏ gặp nhau trên sông Hán Thủy, đâu ngờ có ngày hôm nay. Trên đỉnh Quang Minh, khi ta một mình đấu với bốn lão của hai phái Côn Luân, Hoa Sơn, nhờ có nàng chỉ điểm, ta mới không bị mất mạng. Bấy giờ ta cũng mới chỉ cảm kích sự quan hoài của nàng, chứ đâu đã dám mơ tưởng gì khác.

Chu Chỉ Nhược ngả vào lòng chàng, nói:

– Hôm đó thiếp đâm chàng một kiếm, chẳng lẽ chàng không giận thiếp?

Trương Vô Kỵ nói:

– Nàng không đâm vào tâm khẩu ta, ta biết là nàng có tình ý ngầm với ta rồi.

Chu Chỉ Nhược "hứ" một tiếng, đỏ mặt nói:

– Biết thế, hôm ấy thiếp đâm ngay giữa tim chàng cho xong, để sau này bao nhiêu năm tháng khỏi bị chàng ăn hiếp.

Trương Vô Kỵ xiết chặt hai vai nàng, nói:

– Từ rày trở đi ta chỉ có yêu chiều nàng hơn mà thôi. Hai vợ chồng mình là một, sao ta lại ăn hiếp nàng kia chứ?

Chu Chỉ Nhược nhìn mặt chàng, nói:

– Nếu thiếp có làm sai điều gì, đắc tội với chàng, chàng có đánh, có chửi, có giết thiếp chăng?

Mặt hai người chỉ cách nhau vài tấc, thấy hơi thở của nàng thơm như hoa lan, chàng không nhịn nổi, hôn nhẹ vào má nàng, nói:

– Một người dịu hiền, đoan trang như nàng, làm sao có chuyện sai trái được?

Chu Chỉ Nhược vuốt ve gáy chàng, nói:

– Dẫu thánh nhân cũng có khi làm việc sai trái. Thiếp từ nhỏ không có cha mẹ dạy dỗ, khó tránh có lúc hồ đồ.

Trương Vô Kỵ nói:

– Giả dụ nàng có điều gì sai trái, thì ta sẽ nhẹ nhàng khuyên bảo.

Chu Chỉ Nhược hỏi:

– Có thật chàng sẽ không bao giờ thay lòng đổi dạ đối với thiếp? Nhất định chàng sẽ không giết thiếp chứ?

Trương Vô Kỵ thơm nhẹ lên trán nàng, dịu dàng nói:

– Nàng chớ nghĩ lung tung, làm sao có chuyện đó được?

Chu Chỉ Nhược run run giọng, nói:

– Thiếp muốn chàng chính miệng hứa với thiếp cơ.

Trương Vô Kỵ cười hì hì, nói:

– Được rồi! Ta đối với nàng quyết không thay lòng đổi dạ, không bao giờ giết nàng cả.

Chu Chỉ Nhược chằm chằm nhìn Trương Vô Kỵ, nói:

– Thiếp không muốn chàng cười hi hi ha ha, thiếp muốn chàng nói thật nghiêm trang cơ.

Trương Vô Kỵ cười, nói:

– Gớm, không biết trong cái đầu bé nhỏ này nàng đang nghĩ những chuyện gì.

Chàng nghĩ thầm: "Tại ta đối với Triệu Mẫn, Tiểu Chiêu, biểu muội, ai ai ta cũng có tình cả, thành thử nàng không yên tâm. Còn từ nay về sau sẽ ra sao đây?" Bèn không cười nữa, nghiêm trang đáp:

– Chỉ Nhược, nàng là ái thê của ta, trước kia ta lòng nọ dạ kia, mong nàng lượng thứ. Từ nay trở đi ta quyết đối với nàng một lòng một dạ, dẫu nàng có sai trái điều gì, ta cũng không nặng lời với nàng.

Chu Chỉ Nhược nói:

– Vô Kỵ ca ca, chàng là nam tử hán đại trượng phu, mong chàng nhớ kỹ những lời nói với thiếp hôm nay.

Nàng chỉ tay lên vừng trăng non mới mọc, nói:

– Có vầng trăng kia làm chứng cho đôi ta.

Trương Vô Kỵ nói:

– Đúng, nàng nói đúng, có vầng trăng kia làm chứng cho đôi ta.

Trương Vô Kỵ lại ôm nàng vào lòng, nhìn vầng trăng sáng, nói:

– Chỉ Nhược, đời ta đã bị không biết bao nhiêu kẻ lừa dối; hồi nhỏ cả tin, cho nên phải chịu vô vàn cái khổ, đến nay không sao nhớ hết. Chỉ có thời gian ta ở trên Băng Hỏa đảo với cha mẹ và nghĩa phụ là không có sự gian trá, xảo quyệt. Vừa về đến Trung nguyên, gặp ngay một gã ăn mày đùa với con rắn, hắn lừa ta chui đầu vào cái túi vải, bảo cho xem trò vui, ngờ đâu hắn chụp bắt ta mang đi. Ta không ngờ cuối cùng cả bọn chúng ta cùng sinh tử, chung hoạn nạn, đến hòn đảo nhỏ này, vậy mà Triệu Mẫn lại hạ độc vào thức ăn hại chúng ta ngay đêm đầu tiên.

Chu Chỉ Nhược cười khổ, nói:

– Chàng đúng là "Hoàng Hà mong đến cho bằng được, đến rồi chép miệng, hỡi, ôi thôi".

Trương Vô Kỵ bỗng có cảm giác tràn trề hạnh phúc, nói:

– Chỉ Nhược, nàng mới đúng là người bạn đời vĩnh viễn của ta, thủy chung nàng đối với ta thật hết lòng. Mai này về được Trung nguyên, nàng sẽ giúp ta đề phòng bọn tiểu nhân gian trá. Có người vợ hiền như nàng, chắc ta sẽ ít bị lừa dối.

Chu Chỉ Nhược lắc đầu:

– Thiếp chỉ là đứa con gái vô dụng, yếu đuối, lại ngu xuẩn. Đừng nói gì thiếp thua xa Triệu cô nương thông minh tuyệt đỉnh, mà ngay so với người có tâm cơ sâu sắc như Tiểu Chiêu, thiếp cũng chẳng bằng cái móng tay nàng ta. Chỉ Nhược của chàng chỉ là một con bé khờ khạo thật thà, chẳng lẽ đến giờ chàng cũng chưa biết hay sao?

Trương Vô Kỵ nói:

– Ta chỉ cần một cô nương trung hậu dịu hiền như nàng, không lừa dối ta là được.

Chu Chỉ Nhược quay sang gục đầu vào lòng chàng, nhỏ nhẹ:

– Vô Kỵ ca ca, thiếp được làm vợ chàng, lòng sung sướng bội phần, chỉ mong chàng đừng thấy thiếp ngu đần vô tích sự mà coi thường thiếp, ăn hiếp thiếp, thiếp sẽ hết lòng nâng khăn sửa túi cho chàng.

*

* *

Hôm sau, Trương Vô Kỵ lập tức vận "Cửu dương thần công" trừ độc cho Chu Chỉ Nhược, lúc đầu không ngờ lại rất dễ dàng, cứ ngỡ nàng trúng độc nhẹ, có lẽ do nàng ăn ít, nên không bị nặng như chàng và Tạ Tốn. Nhưng đến ngày thứ bảy, bỗng cảm thấy trong cơ thể nàng nổi lên một luồng âm hàn chống lại "Cửu dương chân khí" mà chàng truyền sang. Chu Chỉ Nhược cố kiềm chế nó lại, song vẫn không dễ tiếp nhận "Cửu dương chân khí" vào mình.

Trương Vô Kỵ kinh ngạc, vội hỏi nghĩa phụ. Tạ Tốn ngẫm nghĩ một hồi, nói:

– Điều này ta cũng không hiểu, có lẽ lâu nay sư phụ bên phái Nga Mi phần lớn là nữ, lối tập nội lực thiên về âm nhu chăng.

Trương Vô Kỵ gật đầu nghĩ phải. Cũng may nội công của Chu Chỉ Nhược thua xa chàng, chàng thúc đẩy thần công thì áp chế được âm kình của nàng ngay, nhưng vận công như thế tốn sức hơn rất nhiều so với khi trừ độc cho Tạ Tốn.

Trương Vô Kỵ lờ mờ cảm thấy hiện giờ âm kình của nàng tuy còn yếu, nhưng ngày sau thành tựu, thì sẽ rất ghê gớm, bèn khen ngợi:

– Chỉ Nhược, tôn sư Diệt Tuyệt sư thái quả là một bậc hào kiệt; nội công bà ta truyền cho nàng, pháp môn cao thâm khôn lường, bây giờ ta mới nhận ra. Nếu nàng dụng công tu luyện, mai sau cũng chả kém gì "Cửu dương thần công" của ta đâu.

Chu Chỉ Nhược nói:

– Chàng đừng có phỉnh thiếp, võ công phái Nga Mi làm sao sánh kịp "Cửu dương thần công", "Càn khôn đại na di" pháp của Trương đại giáo chủ?

Trương Vô Kỵ nói:

– Nàng bẩm sinh đôn hậu, tuy chiêu số võ công học chưa nhiều, nhưng căn cơ nội công rất vững. Thái sư phụ của ta có bảo rằng võ công thành tựu nhiều hay ít càng về sau càng liên quan đến tư chất của mỗi người, không hẳn cứ thông minh đĩnh ngộ là đạt tới cảnh giới võ công cao nhất. Nghe nói phụ thân của tổ sư sáng lập quý phái là Quách Tĩnh đại hiệp, tư chất vốn chất phác thô lỗ, song võ công đạt tới cảnh giới xưa nay hiếm. Chính thái sư phụ của ta bảo rằng ông chưa chắc có được công lực bằng Quách đại hiệp năm xưa đâu. Pháp môn của nội công phái Nga Mi tựa hồ còn cao hơn phái Võ Đang, ta nghĩ rằng sau này nàng sẽ có thể thành tựu hơn cả Diệt Tuyệt sư thái.

Chu Chỉ Nhược lườm chàng, nói dỗi:

– Chàng muốn lấy lòng thiếp, cứ gì phải khen thiếp giỏi võ công. Thiếp chỉ mong học được một, hai thành của sư phụ thiếp thì cũng mãn nguyện rồi. Rồi đây nếu chàng dạy cho thiếp công phu "Cửu dương thần công", "Càn khôn đại na di", thì thiếp mới chịu ơn chàng.

Trương Vô Kỵ trầm ngâm chưa đáp, Chu Chỉ Nhược nói:

– Hay là chàng cho rằng thiếp không xứng đáng làm đồ đệ của Trương đại giáo chủ?

Trương Vô Kỵ nói:

– Không, ta cảm thấy nội công của nàng và sở học của ta khác hẳn nhau, là do căn cơ trái ngược nhau mà ra. Nàng muốn học công phu của ta, chỉ e đó là điều cực kỳ nguy hiểm.

Chu Chỉ Nhược nói:

– Chàng không chịu dạy cho thì thôi. Học võ không xong thì cùng lắm là chẳng đi đến đâu, có gì mà bảo là nguy hiểm?

Trương Vô Kỵ nghiêm nghị nói:

– Không, không! "Cửu dương thần công" của ta là thuần túy dương cương, còn nội công của phái Nga Mi mà nàng đang tu luyện lại là môn thuần âm nhu. Nếu nàng lại luyện thêm công phu của ta, âm dương đôi bên hòa trộn vào nhau, trừ bậc võ học kỳ tài như thái sư phụ của ta mới có thể dung hòa thủy hỏa, cương nhu làm một; ngoài ra chỉ cần sơ sảy là sẽ bị đại họa tẩu hỏa nhập ma. Khi nào nội công của nàng đại thành rồi, nàng sẽ có thể học môn tâm pháp "Càn khôn đại na di" của ta.

Chu Chỉ Nhược cười nói:

– Thiếp đùa thế thôi, từ giờ lúc nào thiếp cũng ở bên chàng, võ công của chàng hay của thiếp thì có gì phân biệt đâu? Tính thiếp vốn lười biếng đểnh đoảng, "Cửu dương thần công" của chàng chắc là khó luyện lắm, dẫu chàng có ép thiếp phải luyện, thiếp cũng sợ khó, chả dám đâu.

Trương Vô Kỵ nghe nàng nói vậy, cảm thấy trong lòng rất êm dịu ấm áp.

Tình ý hai người cứ thế triền miên, quên cả thời gian. Thấm thoắt đã qua mấy tháng. Chu Chỉ Nhược tự thấy nội công đã hoàn toàn phục hồi, cơ thể không có triệu chứng khác lạ, chắc chất độc đã được loại trừ hoàn toàn.

Một hôm, mấy cây đào ở mé đông hòn đảo nở hoa rất đẹp, Trương Vô Kỵ bẻ vài cành, đem cắm trước mộ Ân Ly. Chàng thấy cây gỗ khắc dòng chữ "Ái thê Thù Nhi Ân Ly chi mộ" nằm ngang dưới đất, không biết bị loài thú nào húc đổ. Chàng dựng lại cho ngay ngắn, nghĩ đến biểu muội một đời khốn khổ, có lẽ chưa được hưởng hạnh phúc một ngày nào.

Chàng còn đang thương tâm, bỗng nghe ngoài biển có tiếng chim hải âu dáo dác, ngẩng đầu lên, thấy từ xa có một chiếc thuyền buồm căng gió lướt tới, chàng cả mừng, vội gọi to:

– Nghĩa phụ, Chỉ Nhược, có thuyền đến kìa, có thuyền đến kìa!

Tạ Tốn và Chu Chỉ Nhược nghe gọi, trước sau chạy lại bên Trương Vô Kỵ. Chu Chỉ Nhược run run hỏi:

– Sao lại có chiếc thuyền nào đến cái hoang đảo này làm gì nhỉ?

Trương Vô Kỵ nói:

– Kể cũng lạ thực, hay là thuyền của bọn hải tặc?

Chừng nửa canh giờ sau, chiếc thuyền buồm đậu ở ngoài khơi, dừng lại buông neo, thả một chiếc thuyền nhỏ xuống bơi vào phía đảo. Bọn Trương Vô Kỵ ra bãi biển đón, thấy mấy thủy thủ trên chiếc thuyền nhỏ đều trang phục theo lối hải quân Mông Cổ, Trương Vô Kỵ chợt nghĩ thầm: "Không lẽ Triệu cô nương bị lương tâm dằn vặt, nên quay lại đảo chăng?" Chàng liếc Chu Chỉ Nhược, thấy đôi mày đẹp của nàng hơi cau lại, ngực phập phồng, rõ ràng cũng đang vô cùng hồi hộp.

Trong giây lát chiếc thuyền nhỏ đã cặp bờ, năm thủy thủ nhảy lên, đi đầu là một viên quan thủy sư, hướng về phía Trương Vô Kỵ, cúi mình hỏi:

– Chẳng hay vị này có phải là Trương công tử Trương Vô Kỵ hay chăng?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Phải, trưởng quan là ai vậy?

Người kia thấy Trương Vô Kỵ nhận đúng, thì cả mừng, nói:

– Tiện nhân tiểu danh là Bạt Tốc Đài, hôm nay tìm thấy công tử, quả thật may mắn vô cùng. Tiểu nhân phụng mệnh thượng cấp tới rước Trương công tử và Tạ đại hiệp trở về Trung thổ.

Hắn chỉ nhắc đến Trương Vô Kỵ và Tạ Tốn, không nói tới Chu Chỉ Nhược. Trương Vô Kỵ hỏi:

– Trưởng quan vất vả từ xa đến, không biết phụng mệnh của ai?

Bạt Tốc Đài nói:

– Tiểu nhân là thuộc hạ của thủy sư đề đốc Đạt Hoa Xích Lỗ trú phòng ở Phúc Kiến, phụng mệnh tướng quân Bột Nhĩ Đô Tư tới đây nghênh đón. Tướng quân Bột Nhĩ Đô Tư phái đi cả thảy tám chiếc thuyền đi tìm Trương công tử và Tạ đại hiệp suốt dọc biển ngoài khơi ba tỉnh Mân, Triết, Việt, không ngờ tiểu nhân lập được công đầu.

Ý hắn nói rằng thượng cấp của hắn có hứa là ai tìm được Trương Vô Kỵ sẽ có thăng thưởng.

Tên của hai tướng lĩnh Mông Cổ mà hắn vừa nói, Trương Vô Kỵ đều không biết, thiết nghĩ hai viên tướng ấy cũng nhận lệnh từ Triệu Mẫn, bèn hỏi:

– Trưởng quan có biết quý thượng cấp vì sao phái trưởng quan đi tìm ta hay không?

Bạt Tốc Đài nói:

– Tướng quân Bột Nhĩ Đô Tư có dặn Trương công tử là đại quý nhân, là anh hùng hào kiệt thời nay, khi tìm thấy phải hết mực hầu hạ. Còn chuyện vì sao phái đi rước công tử, thì tiểu nhân chức vụ thấp kém, không được tướng quân cho biết.

Chu Chỉ Nhược hỏi xen vào:

– Có phải theo lệnh của Triệu Mẫn quận chúa hay chăng?

Bạt Tốc Đài ngạc nhiên nói:

– Triệu Mẫn quận chúa ư? Tiểu nhân chưa hề có phúc được gặp quận chúa.

Chu Chỉ Nhược lạnh lùng nói:

– Cái gì mà có phúc với chả vô phúc?

Bạt Tốc Đài nói:

– Triệu Mẫn quận chúa là đệ nhất mỹ nhân Mông Cổ chúng tôi, không, phải nói là đệ nhất mỹ nhân trong thiên hạ, văn võ toàn tài, là thiên kim của Nhữ Dương vương gia. Tiểu nhân làm gì có phúc được thấy kim diện của quận chúa?

Chu Chỉ Nhược "hừ" một tiếng, không nói nữa.

Trương Vô Kỵ nói với Tạ Tốn:

– Nghĩa phụ, vậy thì mình lên thuyền đi thôi.

Tạ Tốn nói:

– Chúng ta vào hang núi lấy ít vật phẩm tùy thân mang lên thuyền, xin trưởng quan chờ ở đây một lát.

Bạt Tốc Đài nói:

– Xin để tiểu nhân và các thủy thủ mang hành lý giùm ba vị.

Tạ Tốn cười nói:

– Bọn ta làm gì có hành lý, không dám phiền các vị.

Ông kéo Trương Vô Kỵ và Chu Chỉ Nhược đi ra sau núi, nói:

– Triệu Mẫn bỗng dưng sai người đi đón chúng ta về, ắt có âm mưu gì, các con nghĩ mình nên đối phó như thế nào?

Trương Vô Kỵ nói:

– Nghĩa phụ, nghĩa phụ nghĩ xem, liệu Triệu.. Triệu Mẫn có ở trên thuyền lớn hay không?

Tạ Tốn nói:

– Nếu con tiểu yêu nữ đó ở trên thuyền, thì càng dễ xử. Bọn ta chỉ cần cẩn trọng khi ăn uống để khỏi bị nó hãm hại.

Trương Vô Kỵ nói:

– Phải rồi, chúng ta hãy mang theo cá muối, trái cây khô và nước ngọt lên thuyền, không ăn uống món gì trên thuyền cả.

Tạ Tốn nói:

– Ta nghĩ Triệu Mẫn không có trên thuyền đâu. Có lẽ nó theo kế sách của bọn Ba Tư, lừa chúng ta lên thuyền, đợi lúc thuyền ra ngoài khơi, thì chiến thuyền Mông Cổ sẽ xuất hiện, nổ pháo bắn chìm thuyền chúng ta.

Trương Vô Kỵ đau đớn, run run nói:

– Nàng ta.. nàng ta dụng tâm tàn ác đến thế ư? Nàng ta cứ bỏ mặc chúng ta sống chết trên hòn đảo này, vĩnh viễn không trở về Trung thổ là được rồi. Ba chúng ta đã làm gì không phải với nàng ta đâu kia chứ?

Tạ Tốn cười khẩy, nói:

– Con đem thả bao nhiêu cao thủ sáu đại môn phái bị nó bắt nhốt trong chùa Vạn An, chẳng lẽ nó không hận con? Hơn nữa giáo chủ Minh giáo mất tích, mọi người trong bản giáo đều đổ đi tìm, rất có thể sẽ tìm thấy hòn đảo này. Chỉ có chôn vùi chúng ta dưới đáy biển, mới gọi là nhổ cỏ nhổ tận gốc mà thôi.

Trương Vô Kỵ nói:

– Bắn chìm thuyền chúng ta? Như thế là đánh chìm luôn cả bọn quan binh Mông Cổ Bạt Tốc Đài kia ư?

Tạ Tốn cười ha hả, rồi thở dài, nói:

– Vô Kỵ hài nhi, những kẻ chấp chưởng quân quốc trọng nhiệm, mấy ai quý trọng tính mệnh người khác? Nếu lòng dạ nhân từ như con, thì người Mông Cổ làm sao có thể hoành hành bốn bể, chiếm đóng hàng trăm quốc gia? Xưa nay, các vị đại anh hùng công danh lừng lẫy chẳng phải tùy thời quyết đoán, cần giết là giết đó sao? Đừng nói quan binh, ngay cả cha mẹ con cái mình cũng chẳng coi vào đâu nữa là.

Trương Vô Kỵ thừ người một hồi, buồn bã nói:

– Nghĩa phụ nói chí phải.

Chàng biết rằng xưa nay người Mông Cổ đối với kẻ địch hết sức tàn ác, nghĩ chắc là đối với thuộc hạ của mình hẳn là họ thương yêu lắm chứ, giờ nghe Tạ Tốn nói, chàng bất giác lạnh người, cảm thấy việc trở về Trung thổ thống suất hào kiệt Trung nguyên đánh đuổi Thát tử, đưa đất nước đến cảnh thái bình, quả thật ngoài khả năng của chàng.

Chu Chỉ Nhược hỏi:

– Nghĩa phụ, vậy chúng ta phải làm sao đây?

Tạ Tốn hỏi lại:

– Thế con dâu của ta có diệu kế gì nào?

Chu Chỉ Nhược nói:

– Vậy thì chúng ta không lên thuyền nữa, cứ nói với bọn quan binh Mông Cổ là ở đây rất dễ chịu, chúng ta không trở về Trung nguyên.

Tạ Tốn cười, nói:

– Đúng là một ý tưởng ngờ nghệch. Chúng ta không lên thuyền, kẻ địch đâu có chịu bỏ qua chúng ta. Chúng ta có giết mấy tên quan binh này, chúng sẽ phái hàng chục chiếc thuyền khác đi tìm. Huống hồ ở Trung nguyên có bao nhiêu đại sự đang chờ Trương Vô Kỵ trở về lo liệu, làm sao có thể để y chết già trên hoang đảo này?

Chu Chỉ Nhược đỏ mặt, nói:

– Vậy nghĩa phụ quyết định đi, nghĩa phụ bảo sao chúng con nghe vậy.

Tạ Tốn ngẫm nghĩ, nói:

– Vậy mình cứ làm thế này.. thế này.

Trương Vô Kỵ và Chu Chỉ Nhược nghe xong, đều khen là diệu kế.

Trương Vô Kỵ tới bên mộ của Ân Ly khấn vái, nhỏ lệ từ biệt rồi mới lên thuyền. Trong thời gian nhàn rỗi ở trên đảo, Chu Chỉ Nhược đã đẽo gọt rất nhiều con rối bằng gỗ, người có, ngựa có, nay nàng gói thành một bọc lớn, đeo sau lưng. Lên tới chiếc thuyền lớn, Trương Vô Kỵ lục soát khắp nơi một hồi, quả nhiên không có Triệu Mẫn ở đấy, trên thuyền cũng không có kẻ nào đáng gờm; các thủy thủ, quan binh hầu như không một ai biết võ công.

Khi thuyền nhổ neo giương buồm đi được vài dặm, Trương Vô Kỵ liền chộp lấy cổ tay phải của Bạt Tốc Đài, tay kia rút thanh đao bên hông hắn ra, kề vào cổ hắn, quát:

– Ngươi phải tuân lệnh ta, bảo tài công cho thuyền chạy về hướng đông.

Bạt Tốc Đài cả kinh, run run nói:

– Trương công.. công tử, tiểu nhân không dám đắc tội với công tử.

Trương Vô Kỵ nói:

– Ngươi phải tuân lệnh ta mà làm, nếu trái lời, ta sẽ chém đầu ngươi trước.

Bạt Tốc Đài vội đáp:

– Vâng, vâng.

Hắn phát lệnh cho tài công:

– Mau, lái.. lái thuyền về hướng đông.

Tài công theo lệnh quay mũi thuyền vòng qua hòn đảo tiến sang phía đông.

Trương Vô Kỵ quát:

– Bọn Mông Cổ các ngươi định sát hại ta, mưu kế của các ngươi, ta đã biết cả rồi, hãy mau khai ra. Nếu nói láo ta sẽ lấy mạng.

Rồi chàng giơ tay vỗ xuống mạn thuyền một cái, gỗ vỡ ra, bay văng đi, mạn thuyền thủng một lỗ to. Bọn quan binh trên thuyền thấy vậy cả kinh. Bạt Tốc Đài nói:

– Xin công tử minh xét cho, tiểu nhân phụng mệnh thượng cấp đi rước công tử trở về, hoàn toàn không có ý gì khác. Tiểu nhân.. tiểu nhân chỉ mong lập chút công lao, được thượng cấp ban thưởng, chứ không có mưu đồ gì xấu xa.

Trương Vô Kỵ thấy hắn nói năng thành khẩn, không phải dối trá, bèn buông cổ tay hắn ra, tới mũi thuyền, hai tay nhấc hai cây neo sắt, quát:

– Bọn bay hãy nhìn cho rõ!

Hai tay chàng vung lên, hai cây neo lớn bay vút lên không trung, bọn quan binh cùng kêu lên kinh hoảng. Chờ lúc hai cây neo rơi xuống, Trương Vô Kỵ liền sử dụng tâm pháp "Càn khôn đại na di", hai tay hất đẩy, hai cây neo lại bay vọt lên. Chàng làm như thế ba lần liền, mới nhẹ nhàng bắt lại, đặt hai cây neo xuống mũi thuyền.

Người Mông Cổ ngồi trên lưng ngựa mà lấy được thiên hạ, họ kính phục những bậc vũ dũng, thấy Trương Vô Kỵ võ công kinh nhân như thế, đều quỳ xuống lạy, chắc không một ai dám có bụng dạ nào khác.

Tài công theo lệnh của Trương Vô Kỵ, cho thuyền chạy về hướng đông liền ba ngày, ra mãi khơi xa, chỉ thấy bốn bề mênh mông sóng nước. Tạ Tốn liệu chừng các pháo thuyền theo lệnh Triệu Mẫn cũng chỉ tuần tiễu ven biển vùng Mân, Việt mà thôi, còn chiếc thuyền này đã xa tít ngoài đại dương, không thể có chuyện chạm trán pháo thuyền được nữa, nên sang ngày thứ năm mới lệnh cho thuyền chạy lên hướng bắc.

Đi lên hướng bắc hơn hai chục ngày, dẫu Triệu Mẫn thông minh cách mấy, cũng chẳng thể đoán biết thuyền đang ở đâu, lúc đó mới sai lái thuyền sang hướng tây, trở về Trung thổ. Hơn một tháng đó, bọn Trương Vô Kỵ chỉ dùng thức ăn nước uống mang theo, hoặc bắt cá biển mà ăn, tuyệt nhiên không động tới thức ăn trên thuyền.

Một buổi trưa nọ, mọi người thấy đất liền hiện ở phía tây xa xa. Bọn quan binh Mông Cổ phải ở lâu dưới thuyền, giờ được trở về, ai nấy vui mừng. Gần tối thì thuyền lớn đã thả neo gần bờ. Nguyên vùng này là núi đá, biển rất sâu, thuyền lớn có thể vào rất gần bờ. Tạ Tốn nói:

– Vô Kỵ, con hãy lên bờ trước, xem đây là vùng nào.

Trương Vô Kỵ vâng lời, phi thân bay lên bờ.

Chàng đi một hồi, chỉ thấy rừng cây rậm rạp, tuyết mới bắt đầu tan, đất dưới chân lầy lội. Đi thêm một đoạn nữa, cây cối càng nhiều hơn, phần lớn là cổ tùng cao chọc trời, gốc to mấy người ôm mới xuể. Chàng nhảy lên một cây cao, thấy bốn phía toàn là rừng cây, không một bóng người, nghĩ có đi thêm cũng thế mà thôi, bèn quay về thuyền.

Gần đến nơi, bỗng nghe tiếng rú thảm thiết từ chiếc thuyền vọng ra. Trương Vô Kỵ kinh hãi, vội chạy tới, nhảy xuống mũi thuyền; chỉ thấy trên chiếc thuyền xác người la liệt, đều là bọn quan binh Mông Cổ, từ Bạt Tốc Đài trở xuống đều chết cả; còn Tạ Tốn và Chu Chỉ Nhược đứng đó, mà không thấy kẻ địch đâu.

Trương Vô Kỵ ngạc nhiên hỏi:

– Nghĩa phụ, Chỉ Nhược, hai người không sao chứ? Địch nhân chạy đâu rồi?

Tạ Tốn hỏi lại:

– Địch nhân nào? Con thấy có tung tích kẻ địch ư?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Không, thế bọn quan binh này..

Tạ Tốn nói:

– Do ta và Chỉ Nhược giết đó.

Trương Vô Kỵ càng kinh ngạc, nói:

– Thật không ngờ bọn Thát tử này vừa về tới Trung thổ, đã cả gan có ý hại người.

Tạ Tốn nói:

– Bọn chúng không dám có ý hại ta, đấy là ta giết chúng để diệt khẩu thôi. Bọn này chết hết rồi, Triệu Mẫn sẽ không thể biết chúng ta đã về đến Trung thổ. Từ rày Triệu Mẫn ở ngoài sáng, ta ở trong tối, tìm cô ta trả thù không khó nữa.

Trương Vô Kỵ cảm thấy lòng tái tê, lặng người hồi lâu. Tạ Tốn thản nhiên nói:

– Sao vậy? Con trách ta ra tay tàn nhẫn quá chăng? Quan binh Mông Cổ là kẻ thù của chúng ta, không thể đối đãi với chúng bằng tấm lòng của Bồ Tát được đâu!

Trương Vô Kỵ không nói, nghĩ bọn kia ân cần hầu hạ mình suốt thời gian qua, tuy chúng là kẻ thù thật, nhưng giết sạch họ như thế, kể cũng tội nghiệp. Tạ Tốn nói:

– Người đời có câu "Lượng tiểu phi quân tử, vô độc bất trượng phu" [123], ta không hại người, người sẽ hại ta. Triệu Mẫn đối với chúng ta như thế, chúng ta phải dùng "gậy ông đập lưng ông" mới được.

Trương Vô Kỵ nói:

– Nghĩa phụ nói rất phải.

Miệng nói vậy, nhưng nhìn bọn Bạt Tốc Đài chết nằm la liệt, chàng không khỏi ngậm ngùi rơi lệ.

Tạ Tốn nói:

– Cho một mồi lửa đốt chiếc thuyền này đi. Chỉ Nhược, hãy lấy tiền bạc ở các xác chết cùng ba món binh khí để phòng thân.

Hai người phóng hỏa rồi nhảy lên bờ. Chiếc thuyền to, cháy đến nửa đêm mới tắt, chìm xuống biển, đem theo các xác chết đã cháy thành than. Trương Vô Kỵ thấy mọi việc xong xuôi, không còn chút dấu vết gì, nghĩ bụng nghĩa phụ hành sự tuy độc ác, nhưng lão luyện giang hồ, chàng không sao sánh kịp.

Ba người ngủ trên bờ, sáng hôm sau băng rừng đi về hướng nam. Đi đến ngày thứ hai mới gặp bảy, tám người đi tìm sâm, hỏi thăm thì biết đây là vùng Liêu Đông ở quan ngoại, cách núi Trường Bạch không xa bao nhiêu.

Sau khi chia tay với nhóm người tìm sâm, Chu Chỉ Nhược hỏi Tạ Tốn:

– Nghĩa phụ, có cần giết bọn này để diệt khẩu hay chăng?

Trương Vô Kỵ quát lên:

– Chỉ Nhược, nàng nói gì vậy? Mấy người đi đào sâm kia đâu có biết chúng ta là ai. Không lẽ từ rày đi đường hễ gặp ai cũng giết tuốt cả sao?

Chu Chỉ Nhược bối rối, mặt đỏ bừng, xưa nay Trương Vô Kỵ chưa bao giờ xẵng giọng với nàng như thế lần nào.

Tạ Tốn nói:

– Cứ như ý ta, thì cũng phải giết cả bọn tìm sâm kia. Trương giáo chủ đã không muốn sát hại thêm, thì chúng ta phải mau thay đổi y phục, khỏi lộ tung tích.

Thế là ba người vội vã đi ngay, hai hôm sau mới ra khỏi khu rừng. Lại đi một ngày nữa, mới gặp một nhà nông phu, Trương Vô Kỵ đem hai lạng bạc, xin mua quần áo. Song nhà này quá nghèo khổ, không có dư quần áo bán lại; phải đi hỏi bảy tám nhà, mới mua được ba bộ quần áo hết sức dơ dáy. Chu Chỉ Nhược vốn ưa sạch sẽ, ngửi thấy mùi hôi tích tụ lâu năm trong thứ quần áo đó, cơ hồ buồn nôn. Tạ Tốn thì cả mừng, bảo hai người lấy đất xoa lên mặt. Trương Vô Kỵ soi bóng xuống nước, thấy mình đã trở thành một gã ăn mày đất Liêu Đông, Triệu Mẫn dù có gặp cũng vị tất nhận ra chàng.

*

* *

Cả bọn tiếp tục đi về phía nam, vượt qua Trường Thành, hôm ấy đến một thị trấn lớn.

Ba người vào một đại tửu lâu, Trương Vô Kỵ lấy ra một đĩnh bạc ba lạng, đặt lên quầy, nói:

– Đợi bọn ta ăn uống xong xuôi, sẽ thanh toán sau.

Chàng ngại mình quần áo lam lũ, tửu quán không chịu đem thức ăn lên chăng. Nào ngờ gã chưởng quỹ hết sức cung kính đứng ngay dậy, hai tay nâng đĩnh bạc trả lại, nói:

– Quý khách quang lâm tiểu điếm, vài chén rượu nhạt, cơm thô, đâu có đáng gì? Tiểu điếm chúng tôi xin thết đãi.

Trương Vô Kỵ lấy làm lạ, sau khi ngồi vào bàn, bèn hỏi nhỏ Chu Chỉ Nhược:

– Trên người bọn mình có sơ hở gì chăng? Tại sao gã chưởng quỹ lại không chịu nhận bạc?

Chu Chỉ Nhược quan sát kỹ diện mạo, y phục của ba người, trông giống hệt ba kẻ hành khất, không hề lộ hình tích gì cả. Tạ Tốn nói:

– Ta nghe giọng nói của gã chưởng quỹ có vẻ sợ hãi, mình cứ cẩn thận là hơn.

Có tiếng chân dồn dập lên cầu thang, bảy người xuất hiện, thật khéo làm sao, cũng đều ăn mặc như kẻ hành khất. Bảy người đó đến bên cửa sổ, khệnh khạng ngồi xuống. Điếm tiểu nhị chạy tới, cung kính chào hỏi, miệng hết ngài nọ ngài kia, làm như đám khách toàn là quan lớn quan bé không bằng. Trương Vô Kỵ thấy bọn hành khất này kẻ thì đeo năm cái túi, kẻ đeo sáu cái túi, đều là các đệ tử có chức vụ cao trong Cái Bang.

Điếm tiểu nhị chạy đi, chưa kịp bưng lên mấy món rượu thịt tốp này gọi, thì lại có thêm sáu bảy đệ tử Cái Bang khác lên lầu. Trong giây lát, trên tửu lâu có tới hơn ba chục đệ tử Cái Bang, trong đó có ba người lưng đeo bảy cái túi vải.

Trương Vô Kỵ bây giờ vỡ lẽ, thì ra bữa nay Cái Bang tụ họp ở đây, gã chưởng quỹ tưởng ba người cũng là thuộc Cái Bang, chàng bèn nói nhỏ với Tạ Tốn:

– Nghĩa phụ, mình nên tránh xa nơi này cho khỏi rắc rối; người của Cái Bang tới đây không ít.

Ngay lúc ấy điếm tiểu nhị bưng tới một đĩa thịt bò to, một con gà quay, một vò năm cân rượu trắng. Tạ Tốn đang đói bụng, suốt mấy tháng nay chưa được ăn bữa nào cho ra hồn, ngửi thấy mùi gà quay thơm phức, bụng cồn cào, nói:

– Chúng ta cứ lặng lẽ ăn uống, để xem bọn họ thế nào.

Nói xong bưng bát rượu lên, uống ừng ực hết nửa bát, nghĩ thầm: "Quả là trời còn thương, Tạ Tốn ta lưu lạc hải ngoại hơn hai chục năm, mãi đến hôm nay mới lại được thưởng thức món rượu". Thứ rượu này cay, không ngon, nhưng vào miệng Tạ Tốn tưởng như quỳnh tương, cam lộ vậy.

Tạ Tốn "khà" một tiếng, cảm thấy thật là sung sướng, uống cạn bát rượu đó, rồi nói nhỏ:

– Cẩn thận, có hai nhân vật đầy bản lĩnh đang đi lên đấy.

Trương Vô Kỵ nghe kỹ tiếng bước chân ngoài cầu thang, quả nhiên hai kẻ đó võ công cao cường.

Khi hai người kia lên đến bậc cuối, chỉ nghe lục cục lạch cạch một hồi, toàn bộ đệ tử Cái Bang trên lầu đều đứng dậy. Tạ Tốn đưa tay làm hiệu, ba người cũng đứng dậy nghênh đón. Ba người ngồi ở một góc khuất, khi tất cả cùng ngồi thì không có gì lạ; nhưng nếu tất cả đứng dậy mà ba người vẫn ngồi thì sẽ có chuyện tức thời.

Trương Vô Kỵ thấy người thứ nhất thân hình tầm thước, diện mạo thanh tú, để râu ba chòm, trừ việc ăn mặc theo lối hành khất, thì dáng dấp y như một nhà nho chưa đỗ đạt. Người đi sau mặt gân guốc, râu xồm vểnh ra, tướng mạo cực kỳ hung dữ, nếu nước da đen hơn một chút nữa, thì sẽ giống hệt Chu Thương, là kẻ cầm đại đao đứng bên cạnh Quan Công. Cả hai trạc ngũ tuần, râu tóc đã chớm bạc, lưng đeo đến chín cái túi vải. Những cái túi ấy chỉ chứng tỏ thân phận của họ, chứ khó đựng được gì, vì rất nhỏ.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Cái Bang được coi là bang lớn nhất trên giang hồ. Dạo trước thái sư phụ kể rằng hồi xưa bang chủ Cái Bang Hồng Thất Công nhân hiệp trượng nghĩa, võ công cao siêu, bất kể bạch đạo hay hắc đạo, thảy đều kính phục. Về sau Hoàng bang chủ, Gia Luật bang chủ cũng là các nhân vật siêu quần, nhưng mấy chục năm nay không có ai chủ trì, thành thử danh tiếng kém hẳn trước kia. Bang chủ hiện nay là Sử Hỏa Long rất hiếm khi xuất hiện trên giang hồ, không biết người đó ra sao. Hai người kia lưng đeo những chín cái túi, trừ bang chủ ra, là nhân vật có địa vị cao nhất trong Cái Bang. Dạo nọ trên đảo Linh Xà, mấy đệ tử Cái Bang toan cướp thanh đao Đồ Long của nghĩa phụ, không biết có dính dáng gì tới hai người này không?"

Hiện tại thanh đao Đồ Long và kiếm Ỷ Thiên đã bị Triệu Mẫn đánh cắp, nhưng sáu cây thánh hỏa lệnh đang nằm trong bọc của Trương Vô Kỵ, không bị mất, có lẽ vì Triệu Mẫn e sợ võ công của chàng quá mạnh, sợ sau khi chàng trúng "Thập hương nhuyễn cân tán" vẫn không bị ngộ độc, nên nàng ta không dám lục lọi trong bọc. Trương Vô Kỵ thấy thế lực Cái Bang đông đảo, không dám coi thường, đưa tay sờ sáu cây thánh hỏa lệnh trong túi.

Hai nhân vật đeo chín túi vải kia đi tới chỗ chiếc bàn lớn ở chính giữa, ngồi xuống. Bang chúng Cái Bang lục tục ngồi xuống, bắt đầu ăn uống. Họ dùng tay bốc thức ăn, bưng tô lên húp canh, ăn uống nhồm nhoàm thô lỗ. Trương Vô Kỵ và Tạ Tốn lắng nghe xem hai trưởng lão chín túi có nói gì chăng, ngờ đâu họ chỉ chăm chú ăn uống, ngoài mấy câu thù tạc kiểu "mời bác một chén", "món thịt bò mềm lắm", không đả động gì tới chính sự cả.

Khi hai trưởng lão chín túi ăn xong, rời khỏi tửu lâu, bang chúng Cái Bang cũng đều cơm no rượu say, kéo nhau đi cả.

Chờ bọn họ đi hết, Tạ Tốn hỏi nhỏ:

– Vô Kỵ, con thấy sao?

Trương Vô Kỵ nói:

– Người của Cái Bang tụ tập rất đông ở đây, chắc không phải chỉ để ăn uống một bữa rồi thôi. Con đoán rằng tối nay thể nào họ cũng tụ tập ở một nơi vắng vẻ bàn việc chính.

Tạ Tốn gật đầu:

– Chắc chắn như thế. Cái Bang lâu nay vẫn đối địch với bản giáo, lên vây đánh đỉnh Quang Minh có bọn này dự phần; lại từng phái người đến cướp thanh đao Đồ Long của ta. Mình phải thám thính cho rõ, xem bọn chúng có gian kế gì khác làm hại bản giáo hay không?

Ba người xuống lầu, trả tiền cho chưởng quỹ. Chưởng quỹ kinh ngạc, nói sao cũng không dám nhận. Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Cái Bang làm loạn khiến hàng quán tửu lâu sợ hãi như thế, ăn uống không chịu trả tiền. Chỉ riêng việc đó cũng đủ biết ngày thường bọn họ hoành hành ngang ngược thế nào".

Ba người tìm một tiểu khách điếm nghỉ trọ. Tuy trong thị trấn tụ tập rất đông hành khất, nhưng xưa nay ăn mày có ở khách điếm bao giờ, nên ba người không chạm trán một nhân vật Cái Bang nào cả. Tạ Tốn nói:

– Vô Kỵ, ta mắt không nhìn được, chẳng tiện đi do thám tình hình. Chỉ Nhược võ công chưa cao, có đi theo con cũng không giúp gì được; thôi con chịu khó đi một mình vậy. Trương Vô Kỵ đáp:

– Đúng là như thế.

Chàng nghỉ một lát trong khách điếm, rồi đi ra. Trong thị trấn, chàng đi suốt đường phố từ nam đến bắc mà không thấy bóng một đệ tử Cái Bang nào hết.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Chưa đầy nửa canh giờ mà các đệ tử Cái Bang không còn bóng một ai, chắc họ đi chưa xa". Chàng bèn ghé vào một tiệm bán đồ tạp hóa, trừng mắt, đấm tay xuống quầy, quát to:

– Chưởng quỹ, các huynh đệ của ta đi về hướng nào vậy?

Người trong tiệm thấy chàng hung hăng dữ tợn như thế, ngỡ chàng là một tên ăn mày hung ác trong Cái Bang, ai nấy sợ mất vía; một người bạo gan nhất giơ tay chỉ về hướng bắc, cười lấy lòng, nói:

– Các vị bằng hữu của quý bang đều đi về phía ấy cả. Đại gia dùng trà nhé!

Trương Vô Kỵ quát:

– Không, ai thèm uống thứ trà hôi của các người!

Chàng quay mình rảo bước đi về phía bắc, trong bụng cười thầm.

*

* *

Ra khỏi thị trấn không xa, Trương Vô Kỵ thấy trong đám cỏ cao bên trái con đường có bóng người thấp thoáng, một đệ tử Cái Bang nhô đầu ra, bộ dạng như toan quát hỏi. Trương Vô Kỵ liền phóng vút qua. Tên kia dụi dụi mắt, tưởng mình hoa mắt, sao vừa nhìn hình như có bóng người, mà trong chớp mắt đã biến đâu mất.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm, dọc đường chắc hẳn Cái Bang bố trí các vọng gác, phòng bị nghiêm ngặt. Chàng bèn thi triển khinh công, chạy về phía bắc. Các đệ tử Cái Bang được bố trí tại các gốc cây, bụi cỏ, khe núi, hốc đá, hóa thành các dấu chỉ đường cho chàng chạy đến mục tiêu. Chạy chừng bốn, năm dặm, thì cứ dăm bước lại có một vọng gác, mỗi lúc một dày đặc. Bọn này võ công tuy không cao, nhưng giữa thanh thiên bạch nhật, muốn tránh được hết, không để họ nhìn thấy, quả không phải dễ. Sau cùng chàng đành bỏ đường cái, chạy lòng vòng mà đi tới.

Trước mắt thấy một con đường mòn dẫn đến một tòa miếu lớn ở lưng chừng núi. Chàng đoán Cái Bang chắc là tụ tập ở đấy, bèn chạy về phía đông bắc, rồi quành sang hướng tây, tránh một vọng gác mà lẻn tới bên hông tòa miếu. Thấy trước cửa miếu có tấm biển trên đề bốn chữ lớn "Di Lặc Phật miếu", đền miếu trang nghiêm, trông thật hùng vĩ.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Kỳ này các nhân vật trọng yếu của Cái Bang tới đây không ít. Ta trà trộn vào chỉ e sẽ bị phát giác". Chàng nhìn bốn phía, thấy ở đằng trước đại điện, bên trái có một cây cổ tùng, bên phải có một cây lão bách, hai cây này cao sừng sững trên hẳn mái điện, cành lá sum sê, có thể ẩn mình trong đó. Chàng vòng ra sau miếu, phi thân lên mái, bò dần tới bên hiên, nhẹ nhàng nhảy lên như một làn khói, tới ngọn cây tùng, nấp sau một cành lớn nhìn xuống, reo thầm "Hay quá!", thấy ở đây có thể nhìn bao quát toàn bộ bên trong đại điện.

Bang chúng Cái Bang ngồi chật kín cả đại điện, tối thiểu cũng phải ba trăm người. Tất cả đều ngồi quay mặt vào trong, thành thử khi chàng nhảy lên cây, không ai hay biết.

Bên trong điện đặt năm chiếc bồ đoàn còn để trống, rõ ràng chờ ai đó. Tuy trong điện mấy trăm người ngồi, mà không một tiếng động, khác hẳn lúc ồn ào ăn uống ở tửu lâu. Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Cái Bang danh tiếng mấy trăm năm qua, gần đây tuy có suy yếu, song quy củ đời trước vẫn còn giữ được ít nhiều. Cảnh hỗn độn ở tửu lâu chỉ là thói quen thường ngày. Xem ra các trưởng lão chấp pháp còn nghiêm cẩn lắm".

Chính giữa đại điện là pho tượng Phật Di Lặc, phanh áo để lộ cái bụng phệ, há to miệng cười trông rất hiền lành. Trương Vô Kỵ đang tính toán, bỗng nghe trong điện có tiếng hô:

– Chưởng Bát long đầu tới!

Bang chúng nhất tề đứng dậy. Vị trưởng lão chín túi trông như nho sĩ kia cầm chiếc bát mẻ thong thả bước ra, đứng hàng đầu bên phải. Lại có tiếng hô tiếp:

– Chưởng Bổng long đầu tới!

Vị trưởng lão chín túi giống Chu Thương kia hai tay giơ cao cây thiết bổng, hùng dũng bước ra, đứng hàng đầu bên trái. Người kia lại hô tiếp:

– Chấp pháp trưởng lão tới!

Một người hành khất già thân hình bé nhỏ, bước ra, tay cầm một mảnh tre vỡ, bước chân nhẹ nhàng, không có chút bụi nào quẩn lên theo bước đi.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Người này khinh công quá cao cường, chỉ kém Vi Bức Vương một chút thôi". Lại có tiếng hô:

– Truyền công trưởng lão tới!

Lần này là một người hành khất già râu tóc bạc phơ đi ra, hai tay không, nhìn thân hình bộ pháp không thể đoán biết tài nghệ võ công của lão ta thế nào.

Bốn trưởng lão kéo bốn chiếc bồ đoàn lùi lại sau một chút, chỉ còn một chiếc bồ đoàn ở chính giữa, rồi cùng khom lưng, đồng thanh nói:

– Mời bang chủ đại giá!

Trương Vô Kỵ hơi run, nghĩ thầm: "Nghe nói bang chủ Cái Bang là Kim Ngân Chưởng Sử Hỏa Long, rất ít người trong võ lâm biết mặt mũi ông ta như thế nào, không biết thuộc hạng người nào?"

Tất cả bang chúng trong đại điện đều cúi mình xuống, một lát sau phía sau bức bình phong có tiếng chân, rồi một đại hán hùng dũng bước ra. Thân hình y phải cao tới hơn sáu thước, trông vạm vỡ vô cùng, mặt mày hồng hào, ra dáng một đại quan thân hào. Y bước ra giữa đại điện, đứng chắp tay sau lưng. Bang chúng cùng hô to:

– Tọa hạ đệ tử, tham kiến bang chủ đại giá.

Bang chủ Cái Bang Sử Hỏa Long liền phẩy tay một cái, nói:

– Miễn lễ! Ai nấy khỏe cả chứ?

Bang chúng cùng đáp:

– Bang chủ an hảo.

Đợi Sử Hỏa Long ngồi xuống chiếc bồ đoàn chính giữa rồi, cả bọn mới lần lượt ngồi xuống. Sử Hỏa Long quay sang nói với Chưởng Bát long đầu:

– Ông huynh đệ, hãy kể cho mọi người cùng nghe về Kim Mao Sư Vương và thanh đao Đồ Long.

Trương Vô Kỵ nghe nhắc đến mấy tiếng "Kim Mao Sư Vương và thanh đao Đồ Long" thì giật mình, vội dỏng tai lắng nghe.

Chưởng Bát long đầu đứng dậy, cúi chào bang chủ, rồi thẳng người lại, nói:

– Chúng gia huynh đệ, Ma giáo với bổn bang tranh đấu với nhau đã sáu chục năm, tích oán rất nhiều. Gần đây Ma giáo lập một vị giáo chủ mới tên là Trương Vô Kỵ. Bổn bang có vị tham gia vây đánh đỉnh Quang Minh, đã thấy đó chỉ là một gã thiếu niên ngờ nghệch. Hạng con nít miệng còn hôi sữa, chưa rụng lông măng như thế phỏng làm nổi việc gì? Làm sao địch nổi bậc hùng tài vĩ lược như Sử bang chủ bổn bang?

Bang chúng cùng vỗ tay reo hò vang dội, Sử Hỏa Long thì vẻ mặt ra chiều đắc ý lắm.

Chưởng Bát long đầu lại nói:

– Có điều là sau khi Ma giáo lập giáo chủ mới, cục diện chia năm xẻ bảy, tàn sát lẫn nhau của Ma giáo liền thay đổi hẳn, trở thành mối họa lớn đối với bổn bang. Ngót một năm nay, bọn ma đầu Ma giáo nổi lên khắp nơi, một dải Hoài Tứ có Hàn Sơn Đồng, Chu Nguyên Chương; một dải Lưỡng Hồ có bọn Từ Thọ Huy, chúng liên tiếp đánh bại quân Nguyên, chiếm được không ít đất đai, phải nói là có khí thế lắm. Nếu để bọn chúng thành được đại sự, đuổi bọn Thát tử, lấy được thiên hạ, thì khi đó mấy chục vạn huynh đệ bổn bang sẽ chết không có đất mà chôn.

Bang chúng cả giận gào to:

– Quyết không để cho chúng thành đại sự!

– Cái Bang thề sống mái cùng với Ma giáo!

– Ma giáo chiếm được thiên hạ, thì huynh đệ bổn bang còn sống được sao?

– Bọn Thát tử phải đánh đuổi, nhưng nhất quyết không để cho giáo chủ Ma giáo lên ngôi hoàng đế.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Không ngờ mình ở hải ngoại có vài tháng, huynh đệ ở nhà đã làm được nhiều việc như thế. Cái Bang lo sợ không phải không có nguyên do. Cái Bang bang chúng đông đảo, hào kiệt trong bang không ít, nếu có thể liên thủ với họ chống Nguyên, đại sự sẽ dễ thành công. Phải làm thế nào cùng họ xóa bỏ hiềm khích, biến thù thành bạn?"

Chưởng Bát long đầu đợi tiếng la ó của bang chúng lắng xuống, mới nói tiếp:

– Sử bang chủ lâu nay vốn tĩnh dưỡng ở Liên Hoa sơn trang, đã lâu không bước chân vào giang hồ, nhưng nay gặp đại sự, không thể không đích thân đứng ra chủ trì. Cũng may ông trời phù hộ bổn bang, trưởng lão tám túi Trần Hữu Lượng mới làm quen được với một đệ tử phái Võ Đang, biết được một tin vô cùng trọng yếu.

Y cao giọng gọi:

– Trần trưởng lão!

Phía sau tường có tiếng đáp:

– Có đây!

Có hai người dắt tay nhau bước ra. Một người trạc ba mươi tuổi, vẻ mặt láu lỉnh, chính là Trần Hữu Lượng, kẻ đã được Tạ Tốn tha mạng trên đảo Linh Xà. Người thứ hai tuổi chừng hai mươi bảy, hai mươi tám, diện mạo tuấn tú, chính là Tống Thanh Thư, con trai của Tống Viễn Kiều.

Khi Trương Vô Kỵ nghe câu "Trần Hữu Lượng mới làm quen được với một đệ tử phái Võ Đang", chàng tưởng chỉ là một tên đệ tử tầm thường nào đó của sư bá sư thúc, nào ngờ lại chính là nhân vật số một của đời thứ ba phái Võ Đang, thì chàng nghĩ thầm: "Tống sư ca vì sao lại đi theo bọn Cái Bang kia chứ?" Nhưng chàng lại nghĩ: "Phái Võ Đang và Cái Bang vốn cùng là hiệp nghĩa đạo, đôi bên giao hảo cũng không có gì lạ".

Trần Hữu Lượng và Tống Thanh Thư trước tiên hành lễ với Sử Hỏa Long, sau đó quay sang vái chào Truyền công, Chấp pháp hai trưởng lão, Chưởng Bát, Chưởng Bổng hai long đầu, cuối cùng ôm quyền chào toàn thể bang chúng Cái Bang ngồi bên dưới. Chưởng Bát long đầu nói:

– Trần trưởng lão, hãy đem đầu đuôi mọi việc kể cho huynh đệ cùng nghe.

Trần Hữu Lượng nắm tay Tống Thanh Thư, nói:

– Chúng gia huynh đệ, vị Tống Thanh Thư Tống thiếu hiệp đây là công tử của Tống Viễn Kiều Tống đại hiệp, là người nay mai sẽ kế thừa chức chưởng môn phái Võ Đang. Tên giáo chủ Ma giáo Trương Vô Kỵ có thể nói là sư đệ của Tống thiếu hiệp, cho nên mọi sự mọi việc trong Ma giáo, Tống thiếu hiệp đây đều thấy rõ như trong lòng bàn tay. Mấy tháng trước, Tống thiếu hiệp có báo cho Trần mỗ biết, tên đại ma đầu của Ma giáo là Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn đã về tới đảo Linh Xà ngoài biển Đông.

Chấp pháp trưởng lão xen vào:

– Người trong võ lâm ra công tìm kiếm Kim Mao Sư Vương, mấy chục năm nay không ai biết hắn ở đâu, tại sao Tống thiếu hiệp bỗng nhiên lại biết? Lão phu mong được thỉnh giáo.

Trương Vô Kỵ trong lòng vẫn mang một mối nghi vấn: "Tử Sam Long Vương qua cha con Võ Liệt biết được nơi ở của nghĩa phụ ta, đã lên đón ông về đảo Linh Xà, việc ấy lẽ ra cần giữ thật kín, tại sao cuối cùng lại để cho Cái Bang hay biết mà sai người tới đảo Linh Xà đoạt đao?" Việc đó chàng đã cùng bàn thảo với Tạ Tốn mấy lần, vẫn không sao hiểu nổi nguyên do, giờ nghe Chấp pháp trưởng lão hỏi đến, chàng liền chăm chú lắng nghe.

Trần Hữu Lượng nói:

– May nhờ hồng phúc bang chủ mà có được cái cơ duyên ấy. Ngoài biển Đông có một người là Kim Hoa bà bà, không rõ vì sao biết được tung tích của Tạ Tốn, bà ta sinh trưởng trên biển, thành thạo việc thuyền bè, nhờ vậy đã tìm đến một hoang đảo ở miền cực bắc là nơi Tạ Tốn đang ở, đón hắn đưa về đảo Linh Xà. Trên đảo Linh Xà có cầm tù hai cha con Võ Liệt, Võ Thanh Anh, là truyền nhân của phái võ Nam Đế nước Đại Lý. Hai cha con Võ Liệt thừa cơ Kim Hoa bà bà đi Trung nguyên, đã giết kẻ coi ngục, chạy trốn, đến Sơn Đông gặp nguy nan, được Tống thiếu hiệp cứu thoát, mới kể ra mọi chuyện, nhờ vậy Tống thiếu hiệp biết được nơi đang ở của Kim Mao Sư Vương.

Chấp pháp trưởng lão gật đầu:

– Ồ, thì ra vậy.

Trương Vô Kỵ cũng tự nhủ: "Ồ thì ra là vậy. Cha con Võ Liệt thực chẳng phải là người đàng hoàng tử tế. Năm xưa Chu Trường Linh và cha con họ Võ khổ tâm bày kế, lừa ta nói ra chỗ ở của nghĩa phụ. Cũng may nhờ đó Tử Sam Long Vương mới biết được chỗ ở của nghĩa phụ ta. Thời nay, nói về tài bơi lội và thuật hàng hải, chỉ e ít ai sánh nổi Tử Sam Long Vương. Nếu không phải do bà ta cất công lặn lội, trên đại dương mênh mông ai có đủ bản lãnh tìm tới được Băng Hỏa đảo? Dẫu cha mẹ ta sống lại, cũng vị tất đã làm được việc đó. Đủ biết trong cõi mờ mịt cũng có ý trời sắp đặt".

Trần Hữu Lượng kể tiếp:

– Huynh đệ và Tống thiếu hiệp giao tình sống chết có nhau, sau khi biết tin đó, lập tức cùng Quý, Trịnh hai trưởng lão tám túi, dẫn thêm năm đệ tử bảy túi đến đảo Linh Xà, định bắt sống Tạ Tốn, đoạt lấy thanh đao Đồ Long về dâng bang chủ. Không ngờ bọn Ma giáo đã kéo rất đông tới đảo Linh Xà. Tuy chúng tôi kiệt lực tử chiến, nhưng quả bất địch chúng, Quý trưởng lão và bốn đệ tử bảy túi đã tuẫn nạn. Tình hình chiến đấu trên đảo Linh Xà thế nào, mời Trịnh trưởng lão bẩm cáo với bang chủ.

Trịnh trưởng lão từ trong đám đông đứng dậy, thân hình què quặt, kể lại cuộc giao chiến trên đảo Linh Xà giữa Minh giáo với Cái Bang. Lão ta không nói người của Cái Bang vây đánh Tạ Tốn; mà lại kể rằng người của Minh giáo quá đông, mấy người bọn lão anh dũng chống trả ra sao, cuối cùng Trần Hữu Lượng xả thân trượng nghĩa cứu sống lão thế nào. Giọng lão nghe khảng khái hiên ngang, nói văng cả nước bọt, rằng Tạ Tốn bị khuất phục bởi chính khí của Trần Hữu Lượng, rốt cục không dám động thủ.

Bang chúng Cái Bang trong đại điện nghe thế hết sức kích động, nhất tề reo hò.

Truyền công trưởng lão nói:

– Trần huynh đệ trí dũng song toàn, lại có nghĩa khí như thế, thật là hiếm có.

Trần Hữu Lượng cúi mình đáp:

– Huynh đệ được bang chủ và các vị trưởng lão giáo huấn, vì đại nghĩa của bổn bang thì dù nhảy vào nước sôi lửa bỏng cũng không dám từ nan. Việc nhỏ nhặt đó lại được Trịnh trưởng lão khen ngợi, khiến huynh đệ cảm thấy áy náy.

Bang chúng thấy y khiêm tốn, không nhận công của mình, lại càng hoan hô không ngớt.

Trương Vô Kỵ ngồi trên cây, càng nghe càng giận, nghĩ bụng kẻ này thật hèn hạ đáng khinh, hiển nhiên là hắn bán bạn cầu sống, thế mà lại thành trượng nghĩa cứu người. Có điều là hắn khôn khéo che đậy, khiến Trịnh trưởng lão không thấy chút sơ hở nào, quả thật Trần Hữu Lượng là một tên đại gian hùng. Nghĩ vậy, chàng chợt cảm thấy chua xót: "Ngụy kế của tên gian tặc này, khi đó chính nghĩa phụ cũng bị hắn đánh lừa, mình cũng bị hắn đánh lừa, hắn chỉ không lừa nổi Tử Sam Long Vương và Triệu Mẫn thôi. Ôi, Triệu Mẫn thông minh đa tài, tiếc rằng nhân phẩm lại.."

Chấp pháp trưởng lão đứng lên, lạnh lùng nói:

– Bao nhiêu huynh đệ bổn bang bị Ma giáo giết hại, mối huyết hải thâm cừu này làm sao chúng ta có thể bỏ qua?

Bang chúng lớn tiếng kêu gào:

– Chúng ta nhất định phải báo thù cho Quý trưởng lão!

– San phẳng đỉnh Quang Minh, quét sạch quần ma!

– Phanh thây Trương Vô Kỵ, phanh thây Tạ Tốn!

– Bổn bang và Ma giáo không đội trời chung, gặp tên nào giết tên đó!

– Xin bang chủ mau hạ lệnh, toàn bộ đệ tử Cái Bang nhất tề xông lên giết bọn Ma giáo!

Chấp pháp trưởng lão quay sang nói với Sử Hỏa Long:

– Bang chủ, việc báo thù rửa hận, phải làm thế nào, xin bang chủ chỉ thị.

Sử Hỏa Long cau mày, nói:

– Việc ấy ư, đấy là đại sự của bổn bang, hừ, cần phải bàn tính kỹ lưỡng. Hãy lệnh cho các đệ tử từ bảy túi trở xuống tạm thời lui ra, chờ chúng ta bàn thảo kỹ càng.

Chấp pháp trưởng lão đáp:

– Vâng!

Rồi quay ra nói to:

– Phụng lệnh bang chủ: Các đệ tử từ bảy túi trở xuống, hãy ra khỏi đại điện, chờ ở bên ngoài.

Bang chúng Cái Bang dạ ran, cúi mình hành lễ với Sử Hỏa Long, rồi cùng ra ngoài cửa điện. Trong đại điện lúc này chỉ còn các thủ lĩnh từ tám túi trở lên.

Trần Hữu Lượng tiến lên một bước, cúi mình nói:

– Khải bẩm bang chủ, vị Tống Thanh Thư Tống huynh đệ này có công lớn với bổn bang, nếu bang chủ ân chuẩn, cho phép y gia nhập Cái Bang, với địa vị của y, sau này tất sẽ lập đại công cho bổn bang.

Tống Thanh Thư nói:

– Việc đó.. hình như.. không..

Vừa nói đến chữ "không", thì cặp mắt sắc như dao của Trần Hữu Lượng trừng trừng nhìn vào mặt gã, Tống Thanh Thư thấy vậy cúi xuống, không nói thêm nữa.

Sử Hỏa Long nói:

– Thế thì hay lắm! Tống Thanh Thư gia nhập Cái Bang, tạm thời ở chức vị đệ tử sáu túi, thuộc quyền thống suất của trưởng lão tám túi Trần Hữu Lượng. Vậy phải tuân thủ bang quy của bổn bang, có công được thưởng, có tội bị phạt.

Mắt Tống Thanh Thư lóe lên ánh oán trách, nhưng gã vội kìm chế, bước lên quỳ xuống trước mặt Sử Hỏa Long, nói:

– Đệ tử Tống Thanh Thư khấu đầu tham kiến bang chủ. Đa tạ bang chủ khai ân, ban cho chức vị đệ tử sáu túi.

Sau đó gã tham kiến các vị trưởng lão. Chấp pháp trưởng lão nói:

– Tống huynh đệ, ngươi đã gia nhập bổn bang, thì từ nay phải tuân thủ sự ước thúc của bang quy. Mai sau dù ngươi có lên làm chưởng môn phái Võ Đang, ngươi vẫn phải tuân theo hiệu lệnh của bổn bang. Điều đó ngươi biết rồi chứ?

Giọng của lão hết sức nghiêm trang. Tống Thanh Thư nói:

– Vâng.

Chấp pháp trưởng lão nói tiếp:

– Bổn bang và phái Võ Đang tuy cùng là hiệp nghĩa đạo, nhưng đường lối dẫu sao cũng khác nhau. Chức chưởng môn phái Võ Đang mai đây chắc chắn rơi vào tay ngươi, vì cớ gì ngươi lại cam lòng gia nhập Cái Bang? Việc này phải nói cho minh bạch.

Tống Thanh Thư liếc Trần Hữu Lượng một cái, nói:

– Trần trưởng lão có ân nghĩa rất lớn với đệ tử, đệ tử ngưỡng mộ Trần trưởng lão, nên cam lòng theo hầu dưới trướng.

Trần Hữu Lượng cười, nói:

– Ở đây không có ai là người ngoài, có nói ra cũng không sao. Chưởng môn phái Nga Mi Diệt Tuyệt sư thái sau khi chết đi, người kế nhiệm là một cô nương xinh đẹp tên gọi Chu Chỉ Nhược. Chu cô nương có tình thanh mai trúc mã với Tống huynh đệ, vốn đã có ước định hôn nhân; không ngờ lại bị tên đại ma đầu Ma giáo là Trương Vô Kỵ ép nàng theo hắn ra hải ngoại. Tống huynh đệ phẫn uất, cầu cứu tại hạ. Tại hạ liền vỗ ngực bảo đảm sẽ giúp y đoạt lại Chu cô nương.

Trương Vô Kỵ càng nghe càng tức lộn ruột, nghĩ thầm: "Tên kia ăn nói đặt điều, làm gì có chuyện đó?" Chàng đã toan nhảy vào đại điện, nhưng rồi cố dằn cơn giận, tiếp tục lắng nghe.

Sử Hỏa Long cười ha hả, nói:

– Xưa nay anh hùng khó qua nổi cửa ải mỹ nhân, chuyện đó không có gì lạ. Một người là chưởng môn phái Võ Đang, một người là chưởng môn phái Nga Mi, chẳng những môn đăng hộ đối, mà còn là trai tài gái sắc, thật xứng đôi vừa lứa.

Chấp pháp trưởng lão hỏi thêm:

– Tống huynh đệ gặp cảnh oan ức đó, sao không nhờ Trương Tam Phong Trương chân nhân và Tống đại hiệp xử lý?

Trần Hữu Lượng nói:

– Tống huynh đệ bảo rằng tên tiểu tặc Trương Vô Kỵ là con trai của Trương Thúy Sơn phái Võ Đang, Trương Tam Phong bình sinh hết lòng thương yêu Trương Thúy Sơn, nên gần đây phái Võ Đang dường như có ý liên thủ với Ma giáo; Trương Tam Phong và Tống đại hiệp đều không muốn đắc tội với Ma giáo. Xem ra hiện thời trong võ lâm Trung nguyên chỉ có bản bang là thề không đội trời chung và có đủ lực lượng đối địch với Ma giáo mà thôi.

Chấp pháp trưởng lão gật đầu:

– Thì ra vậy, chỉ cần tiêu diệt Ma giáo, giết chết tên tiểu tử Trương Vô Kỵ, tâm nguyện của Tống huynh đệ làm gì chẳng xong.

Trương Vô Kỵ ẩn mình trong lùm cây, nhớ lại ngày trước ở sa mạc Tây Vực, trên đỉnh Quang Minh, điệu bộ của Tống Thanh Thư đối với Chu Chỉ Nhược đã rất khác lạ, bây giờ thì thấy rõ quả gã có tình ý với Chu Chỉ Nhược, song trong lòng chàng rất ngạc nhiên: "Đệ tử phái Võ Đang muốn gia nhập Cái Bang không phải là không được, nhưng trước hết phải bẩm cáo với thái sư phụ và Tống sư bá biết đã. Gã kia vì một thiếu nữ mà phản bội sư môn, phản bội phụ thân, nhân phẩm há chẳng thấp kém quá sao? Huống hồ Chu Chỉ Nhược đối với ta một tấm chân tình, Tống Thanh Thư dẫu có sự trợ giúp của Cái Bang, cũng đâu có thể ép nàng thuận theo? Tống Thanh Thư tên tuổi sớm nổi trên giang hồ, được coi là anh tài đời sau của phái Võ Đang, cớ sao hồ đồ như vậy?"

Chỉ nghe Trần Hữu Lượng nói:

– Khải bẩm bang chủ, đệ tử ở vùng phụ cận Đại Đô có bắt được một nhân vật trọng yếu của Ma giáo, tên đó có can hệ đến đại nghiệp của bổn bang, xin bang chủ phát lạc.

Sử Hỏa Long vui mừng nói:

– Mau dẫn vào đây.

Trần Hữu Lượng vỗ tay ba cái, nói:

– Dẫn tên ma đầu vào.

Từ sau điện bước ra bốn bang chúng Cái Bang, tay cầm binh khí, áp giải một người bị trói quặt tay ra sau lưng.

Trương Vô Kỵ thấy đó là một thanh niên chừng hai mươi tuổi, diện mạo rất quen thuộc, chàng nhớ đã gặp tại đại hội Minh giáo ở Hồ Điệp cốc, song không nhớ được họ tên. Người kia vẻ mặt cực kỳ căm phẫn, lúc đi ngang qua chỗ Trần Hữu Lượng, chàng ta đột nhiên há miệng, nhổ toẹt một bãi nước miếng vào mặt hắn ta. Trần Hữu Lượng nghiêng người né tránh, vung tay tát một cái lên má bên trái anh chàng kia, khiến mặt chàng sưng lên liền. Mấy đệ tử Cái Bang áp giải thúc vào lưng chàng, quát:

– Gặp bang chủ, mau quỳ xuống khấu đầu!

Người kia lại khạc một tiếng, nhổ một bãi nước miếng vào mặt Sử Hỏa Long.

Lúc này người đó ở gần Sử Hỏa Long, bãi nước miếng có kình lực rất mạnh, Sử Hỏa Long vội cúi đầu xuống nhưng không tránh kịp, nghe bộp một tiếng, trúng ngay giữa trán. Trần Hữu Lượng bèn đá quét qua, đánh ngã người đó, rồi sấn tới che cho Sử Hỏa Long, chỉ mặt người đó, quát:

– Cuồng đồ to gan, ngươi không thiết sống nữa sao?

Người đó chửi lại:

– Ông đây đã rơi vào tay bọn bay, vốn không mong sống mà trở về nữa rồi.

Thừa lúc Trần Hữu Lượng che cho, Sử Hỏa Long vội lau bãi nước bọt trên trán. Trần Hữu Lượng lùi lại hai bước, nói:

– Khải bẩm bang chủ, tên tiểu tử này là cao thủ hạng nhất trong Ma giáo, võ công xem chừng còn cao hơn cả bốn đại hộ giáo pháp vương, mình không thể coi thường hắn.

Trương Vô Kỵ nghe câu đó, hơi ngạc nhiên, song chàng hiểu ra liền, Trần Hữu Lượng cố ý thổi phồng võ công của người kia chỉ cốt chữa thẹn cho bang chủ. Sử Hỏa Long là bang chủ Cái Bang, vậy mà không tránh nổi bãi nước bọt, thật chẳng ra thể thống gì, đã thế, sau khi bị nhục nhã như vậy, bang chủ chẳng hề lộ vẻ tức giận, mà chỉ luống cuống kinh hãi thôi.

Chấp pháp trưởng lão hỏi:

– Trần huynh đệ, người này là ai?

Trần Hữu Lượng đáp:

– Hắn tên là Hàn Lâm Nhi, con trai của Hàn Sơn Đồng.

Trương Vô Kỵ thầm gật đầu: "Đúng rồi, ở đại hội Hồ Điệp cốc, chàng ta luôn đứng sau lưng phụ thân, không nói chuyện với mình, thành thử mình không nhớ ra tên". Chấp pháp trưởng lão vui mừng nói:

– Ồ, thì ra là con của Hàn Sơn Đồng. Trần huynh đệ, công của huynh đệ to lắm đó. Khải bẩm bang chủ, Hàn Sơn Đồng mấy năm qua liên tiếp đánh bại quân Nguyên, bọn đại tướng thuộc hạ của hắn như Chu Nguyên Chương, Từ Đạt, Thường Ngộ Xuân đều là các nhân vật lợi hại trong Ma giáo. Chúng ta bắt được tên tiểu tử này làm con tin, lo gì Hàn Sơn Đồng không nghe lệnh của bổn bang.

Hàn Lâm Nhi lớn tiếng chửi:

– Mẹ kiếp, bọn bay đừng có nằm mơ! Cha ta là bậc anh hùng hào kiệt, há để cho bọn vô sỉ các ngươi đe dọa? Cha ta chỉ nghe lệnh một mình Trương giáo chủ mà thôi. Cái Bang các ngươi mơ tưởng tranh hùng với với Minh giáo, thực là không biết tự lượng sức. Còn tên bang chủ thối tha của bọn bay xách dép cho Trương giáo chủ của bọn ta cũng không đáng.

Trần Hữu Lượng cười hì hì, nói:

– Hàn huynh đệ, chú em ca tụng Trương giáo chủ của quý giáo anh hùng như thế, bọn ta cũng vô cùng ngưỡng mộ, rất mong được gặp lão nhân gia một lần. Vậy chú em dẫn bọn ta tới gặp được chăng?

Hàn Lâm Nhi nói:

– Trương giáo chủ còn bận đảm đương đại sự, ngay huynh đệ bản giáo còn chưa dễ gì được gặp, đâu có rỗi hơi mà gặp bọn bay?

Trần Hữu Lượng cười nói:

– Trên giang hồ ai ai cũng bảo Trương Vô Kỵ đã bị quân Nguyên bắt ở Đại Đô, chém đầu làm gương, rồi đem thủ cấp đi bêu ở các nơi, vậy mà ngươi ở đây cứ huênh hoang khoác lác.

Hàn Lâm Nhi cả giận, quát to:

– Ngươi nói thối bỏ mẹ, Thát tử bắt được Trương giáo chủ hồi nào? Dù có thiên binh vạn mã vây quanh, Trương giáo chủ cũng ra vào như chơi. Trương giáo chủ có tới Đại Đô thật, nhưng là để cứu các nhân vật võ lâm của sáu đại môn phái thoát ra, làm đếch gì có chuyện bêu đầu làm gương? Ngươi chớ có ăn bậy nói láo!

Trần Hữu Lượng không nổi giận, vẫn cười hì hì, nói:

– Thì trên giang hồ người ta đồn ầm lên thế, bọn ta lẽ nào không tin? Suốt nửa năm nay chỉ nghe nói tới những người trong Minh giáo, như Hàn Sơn Đồng, Từ Thọ Huy, rồi Chu Nguyên Chương, hòa thượng Bành Oánh Ngọc chứ có ai nhắc gì đến Trương Vô Kỵ đâu? Đủ biết chắc chắn Trương Vô Kỵ toi mạng rồi.

Hàn Lâm Nhi mặt đỏ gay, nổi cả gân xanh trên trán, lớn tiếng nói:

– Cha ta và Từ Thọ Huy đều nghe lệnh Trương giáo chủ mà hành sự, làm sao có thể sánh vai với Trương giáo chủ được?

Trần Hữu Lượng chép miệng, nói:

– Gã Trương Vô Kỵ võ công kể cũng khá, nhưng lại có tướng đoản mệnh, có người xem số cho y, đoán là y sống không qua được đầu năm nay..

Lúc ấy, trên cây bách cổ thụ có một cành trước miếu hơi rung động, trong điện mọi người không ai hay biết, nhưng Trương Vô Kỵ đã nghe có tiếng thở nhẹ từ cành lá vọng ra, nhưng người kia lập tức nén thở lại liền. Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Thì ra có người nấp trên cây bách, người đó tới trước ta, vậy mà hồi lâu ta không phát giác, võ công người ấy chẳng phải thường". Chàng căng mắt nhìn vào lùm cây, thấy có một dải áo xanh. Người kia ẩn mình thật khéo, áo quần cùng màu với lá cây, mắt phải tinh như Trương Vô Kỵ mới nhận ra được.

Chỉ nghe Hàn Lâm Nhi giận dữ nói:

– Trương giáo chủ nhân hậu, ông trời ắt phù hộ cho. Trương giáo chủ tuổi còn trẻ, có sống cả trăm năm nữa cũng không có gì lạ.

Trần Hữu Lượng thở dài:

– Thế nhưng lòng người đời khôn lường. Nghe đâu Trương Vô Kỵ đã bị kẻ gian hãm hại, bị triều đình bắt giết đi rồi. Kể ra cũng chẳng lạ, phàm những ai đã gặp Trương Vô Kỵ cũng đều nói y không thể sống quá ba tám hai mươi tư tuổi.

Bỗng từ trên cây bách cổ thụ một cái bóng xanh nhảy xuống đất, kèm theo tiếng quát:

– Trương Vô Kỵ ta đây, kẻ nào dám rủa ta đoản mệnh thì bảo!

Lời chưa dứt, đã vọt vào trong đại điện. Chưởng Bổng long đầu đứng ở cửa điện giơ tay chộp vào gáy người đó, người đó nhẹ nhàng khéo léo tránh được.

Chỉ thấy y mặc áo xanh, đội mũ vuông, thần thái tươi tỉnh, mặt trắng như ngọc, mắt trong như nước, chính là Triệu Mẫn giả trai.

Trương Vô Kỵ thấy Triệu Mẫn bất ngờ xuất hiện, trong lòng chấn động, vừa kinh ngạc vừa tức giận, vừa yêu vừa mừng, bất giác kêu "ôi" một tiếng rất nhỏ. Bọn Cái Bang trong đại điện đang chăm chú đề phòng Triệu Mẫn, nên không ai nghe thấy tiếng thốt của chàng.

Bang chúng Cái Bang chưa biết mặt Trương Vô Kỵ, chỉ biết giáo chủ Minh giáo là một thanh niên tuổi đôi mươi, võ công hết sức cao cường, thấy Triệu Mẫn vừa tránh được một trảo của Chưởng Bổng long đầu bằng thân pháp khinh linh, quả có vẻ là một đệ nhất cao thủ, ai cũng tưởng đấy là giáo chủ Minh giáo, nên đều rúng động.

Song Trần Hữu Lượng thấy diện mạo người này quá xinh đẹp, tuổi quá trẻ, giọng nói đầy vẻ kiều mị, xem chừng không giống như giang hồ đồn đại về Trương Vô Kỵ, nên gã quát to:

– Trương Vô Kỵ chết từ lâu rồi, sao lại có kẻ giả mạo ló mặt ra đây vậy?

Triệu Mẫn giận dữ nói:

– Trương Vô Kỵ còn sống sờ sờ, sao ngươi cứ mở miệng nguyền rủa là thế nào? Trương Vô Kỵ hồng phúc tề thiên, trường mệnh bách tuế, dẫu các ngươi chết sạch cả rồi, Trương giáo chủ vẫn còn sống thêm tám chục năm nữa.

Trương Vô Kỵ nghe nàng nói mấy câu đó bằng một giọng buồn buồn, chắc là nàng nghĩ đến việc bỏ rơi chàng trên hoang đảo, lương tâm không khỏi cắn rứt, nhưng chàng lại nghĩ thầm: "Hạng người tàn nhẫn vô tình kia, làm gì có lương tâm mà bảo cắn rứt? Trương Vô Kỵ ơi là Trương Vô Kỵ, sao mi cứ day dứt thương yêu nàng ta là thế nào?" Trần Hữu Lượng nói:

– Ngươi thực ra là ai?

Triệu Mẫn đáp:

– Ta là giáo chủ Minh giáo Trương Vô Kỵ. Sao ngươi dám bắt huynh đệ thủ hạ của ta; hãy mau thả người kia ra, có chuyện gì thì cứ thanh toán với ta đây!

Bỗng nghe một người ở bên cạnh cười khẩy, nói:

– Triệu cô nương, người khác không biết cô nương, chứ Tống Thanh Thư ta lẽ nào không biết? Khải bẩm bang chủ, cô nương này là con gái của Nhữ Dương Vương. Thuộc hạ của cô ta có rất nhiều cao thủ, cần phải đề phòng.

Chấp pháp trưởng lão chúm môi huýt một tiếng sáo, rồi nói to:

– Chưởng Bổng long đầu, mau dẫn huynh đệ ra ngoài miếu nghênh địch, đề phòng kẻ địch đánh vào.

Chưởng Bổng long đầu vâng lệnh chạy ra, trong giây lát, bốn phía đông tây nam bắc chỗ nào cũng có tiếng í ới gọi nhau của bọn Cái Bang.

Triệu Mẫn thấy vậy, mặt hơi biến sắc, vỗ tay một cái, từ trên tường nhảy xuống hai người, chính là Huyền Minh nhị lão Lộc Trượng Khách và Hạc Bút Ông.

Chấp pháp trưởng lão quát:

– Bắt lấy chúng!

Lập tức có bốn đệ tử bảy túi xông tới vây đánh Lộc, Hạc nhị lão. Huyền Minh nhị lão võ công rất cao, chỉ trong ba chiêu, bốn đệ tử bảy túi đều đã bị thương. Truyền công trưởng lão râu tóc bạc phơ liền đứng dậy, vù một chưởng đánh thẳng vào Hạc Bút Ông, tiếng gió phần phật, nghe thật uy mãnh.

Hạc Bút Ông trả lại một chiêu Huyền Minh thần chưởng, nghe bình một tiếng, hai chưởng đụng nhau. Sau chưởng thứ ba, Truyền công trưởng lão xem chừng núng thế. Phía bên kia Lộc Trượng Khách múa cây trượng sừng hươu, đấu với Chấp pháp trưởng lão và Chưởng Bát long đầu hai người, nhất thời chưa phân cao thấp. Chưởng Bổng long đầu thấy Truyền công trưởng lão mặt đỏ gay, cứ lùi dần từng bước, thì không khỏi kinh hãi, nghĩ thầm Truyền công trưởng lão công lực thâm hậu, là cao thủ số một của bổn bang, sao lại không địch nổi lão già kia? Khi thấy đôi bên trao đổi đến chưởng thứ năm, Truyền công trưởng lão đã thở hồng hộc, chòm râu trắng phất phơ, tuy biết xưa nay ông ta đối địch không thích người khác tiếp tay, nhưng đến bước này, không thể để ông ta chết dưới tay kẻ địch, bèn giơ thiết bổng lên, quét ngang dưới chân Hạc Bút Ông.

Khi Huyền Minh nhị lão xuất hiện, Triệu Mẫn toan rút đi, nhưng bị Trần Hữu Lượng rút trường kiếm ra chặn lại. Hồi ở chùa Vạn An, Triệu Mẫn học được nhiều cái tinh túy trong võ công của sáu đại môn phái, liền đánh luôn ra ba kiếm, một chiêu "Hoa Sơn kiếm pháp", một chiêu "Côn Luân kiếm pháp", còn chiêu thứ ba là kiếm pháp tuyệt học của phái Không Động. Chiêu thứ tư nàng sử dụng "Kim đỉnh cửu thức" của phái Nga Mi. Trần Hữu Lượng kinh hãi, không chống đỡ kịp, nàng liền vòng mũi kiếm lại, chọc thẳng vào ngực y. Bỗng nghe "keng" một tiếng, từ bên trái có một thanh kiếm vung ra, gạt kiếm của nàng ra ngoài, kẻ xuất chiêu vừa rồi là Tống Thanh Thư.

Mọi người trong đại điện giao đấu với nhau, Trương Vô Kỵ ngồi trên cây nhìn rõ từng chiêu một. Tống Thanh Thư thi triển Võ Đang kiếm pháp, vừa kín vừa hiểm, quả được Tống Viễn Kiều chân truyền. Trần Hữu Lượng từ bên cạnh giáp công. Triệu Mẫn tuy tập được nhiều tuyệt chiêu, nhưng hỗn tạp chưa tinh, huống hồ là một địch hai, sớm rơi vào thế thủ nhiều hơn công.

Trương Vô Kỵ vừa cảm thấy sốt ruột, vừa lạ lùng: "Tại sao nàng chỉ sử dụng thanh kiếm tầm thường là sao? Nếu sử dụng kiếm Ỷ Thiên thì vũ khí của đối phương ắt gãy ngay, sẽ thoát vây dễ dàng". Song nhìn nàng quần áo mỏng manh, thân hình mảnh dẻ, bên lưng không thể giấu kiếm Ỷ Thiên. Lo cho nàng một hồi rồi, Trương Vô Kỵ lại tự trách mình: "Tiểu yêu nữ kia là hung thủ đã hại chết biểu muội của mi đó, Trương Vô Kỵ, tại sao mi lại đi lo cho nàng ta? Như thế chẳng những không phải với biểu muội, mà còn không phải với cả nghĩa phụ và Chỉ Nhược".

Đôi bên đấu một lát, phía Cái Bang có mấy cao thủ nữa xông vào, còn Triệu Mẫn thì không có thủ hạ nào tới giúp. Lộc Trượng Khách thấy tình thế bất lợi, bèn nói:

– Quận chúa nương nương, sư đệ, chúng ta lui ra ngoài sân, thừa cơ rút đi.

Triệu Mẫn nói:

– Được. Tên họ Trần này phỉ báng Trương công tử, bảo chàng đoản mệnh chết chém, ta không thể tha cho hắn, hai vị hãy trị cho hắn một phen đích đáng.

Huyền Minh nhị lão nói:

– Tuân lệnh. Xin quận chúa lui ra trước, tên tiểu tử ấy cứ để chúng tôi lo liệu.

Triệu Mẫn lại nói:

– Hàn Lâm Nhi đối với Trương công tử một mực trung thành, hai vị tìm cách cứu y ra.

Lộc Trượng Khách nói:

– Xin quận chúa cứ lui trước, việc cứu người, huynh đệ chúng tôi tùy cơ hành sự.

Ba người đang bị cường địch vây đánh, cứ nói chuyện thoái lui và cứu người, thực coi đối phương chẳng ra gì.

Cuộc đấu trong điện càng lúc càng hăng, bang chủ Cái Bang Sử Hỏa Long đứng trong góc, trước sau không nói một lời. Truyền công, Chấp pháp nhị lão nghe Triệu Mẫn và Huyền Minh nhị lão đối đáp, vội hạ lệnh cho thuộc hạ chặn các nẻo đường.

Đột nhiên Lộc Trượng Khách và Hạc Bút Ông đánh giạt các đối thủ sang một bên, xông tới chỗ Sử Hỏa Long, thân pháp cực lẹ làng, xem ra Sử Hỏa Long khó bề chống đỡ. Nào ngờ lúc Triệu Mẫn và Huyền Minh nhị lão đối đáp, Trần Hữu Lượng biết đối phương sẽ lấy tấn công để thoái lui, bèn đi trước một bước, đã vòng tới đứng bên cạnh Sử Hỏa Long. Chưởng lực của Huyền Minh nhị lão chưa tới, Trần Hữu Lượng đã đẩy vào vai Sử Hỏa Long, xô Sử Hỏa Long ra phía sau tượng Phật Di Lặc. Chưởng lực của Huyền Minh nhị lão đánh tới, nghe bộp một tiếng, pho tượng đất bị vỡ lớp ngoài, bụi bay tung tóe, ngả nghiêng muốn đổ. Hạc Bút Ông bước tới, giáng thêm hai chưởng, nửa trên của pho tượng lớn kia đổ xuống.

Bọn Cái Bang kêu la, nhảy tránh ra. Triệu Mẫn thừa cơ hỗn loạn, nhảy luôn ra sân. Tống Thanh Thư và Chưởng Bổng long đầu một kiếm một gậy, cùng đánh sau lưng nàng. Ra đến cửa điện, lại thêm ba cây gậy đều nhắm ngang chân Triệu Mẫn mà đánh quét. Triệu Mẫn vừa phải tránh một kiếm một gậy của Tống Thanh Thư và Chưởng Bổng long đầu, lại vừa phải tránh ba cây gậy đánh tới bên dưới; nàng chỉ tránh được hai cây, chỉ thấy ống chân trái đau nhói, đã bị cây gậy thứ ba đánh trúng, đứng không vững, ngã bổ nhào về phía trước. Tống Thanh Thư liền quay ngược cán kiếm, đánh vào ót Triệu Mẫn, định đánh nàng bất tỉnh để bắt sống.

Cán kiếm còn cách gáy nàng chừng nửa thước, bỗng cây gậy sắt của Chưởng Bổng long đầu liền đưa ra, gạt ngay thanh kiếm sang một bên, rồi một bóng người bay vút lên, nhảy vọt qua tường ra bên ngoài. Tống Thanh Thư quay đầu lại, hỏi Chưởng Bổng long đầu:

– Sao lại thả cho cô ta chạy mất?

Chưởng Bổng long đầu tức giận nói:

– Ngươi chặn cây gậy của ta là nghĩa làm sao?

Tống Thanh Thư nói:

– Chính đại ca dùng gậy hất kiếm của đệ tử, còn bảo.

Chưởng Bổng long đầu quát:

– Tranh cãi vô ích, mau đuổi theo!

Cả hai cùng nhảy qua tường, thấy ở góc tường nằm gục một đệ tử bảy túi, xương đùi bị gãy, không bò dậy được. Chưởng Bổng long đầu hỏi:

– Con yêu nữ ấy chạy về hướng nào?

Bảy gã đệ tử Cái Bang đứng canh bên ngoài cùng đáp:

– Đâu có ai, không thấy người nào cả.

Chưởng Bổng long đầu tức giận nói:

– Rõ ràng có người vừa từ bên trong nhảy ra, các ngươi mù hết cả hay sao?

Một tên đệ tử sáu túi đưa tay đỡ gã đệ tử bảy túi gãy chân, nói:

– Mới rồi chỉ có vị đại ca này nhảy qua tường ra đây, ngoài ra không có ai khác.

Chưởng Bổng long đầu gãi gãi gáy, hỏi gã đệ tử bảy túi:

– Ngươi vì lẽ gì nhảy qua tường ra đây?

Gã kia nhăn nhó nói:

– Đệ tử.. đệ tử bị chộp cổ ném ra đấy chứ. Con yêu nữ ấy thủ pháp thật quái dị.

Chưởng Bổng long đầu quay sang, hầm hầm nhìn Tống Thanh Thư, quát:

– Lúc nãy ngươi lấy cán kiếm gạt cây gậy của ta là có ý gì? Ngươi vừa gia nhập bổn bang, đã định "ăn cây táo rào cây sung" là sao?

Tống Thanh Thư vừa sợ vừa tức, nói:

– Đệ tử đang định đánh con yêu nữ ấy bằng cán kiếm, thì đại ca lấy gậy gạt phăng cán kiếm của đệ tử, thế nên yêu nữ mới chạy mất.

Chưởng Bổng long đầu cả giận, nói:

– Làm gì có chuyện đó! Ta gạt kiếm của ngươi ra để làm gì? Ta ở trong bang mấy chục năm nay, ở chức vị cao là Chưởng Bổng long đầu, không lẽ lại ra tay giúp người ngoài? Ta hỏi ngươi lần nữa, vì cớ gì ngươi không dùng mũi kiếm đâm luôn cho tiện, mà lại xoay cán kiếm, giả bộ gõ xuống? Hừ, mắt ta chưa hoa đâu, ngươi đừng hòng đánh lừa ta.

Tống Thanh Thư ở trong phái Võ Đang tuy là đệ tử trẻ tuổi đời thứ ba, nhưng môn hạ Võ Đang ai cũng biết gã là chưởng môn trong tương lai, thành thử ngay cả các vị sư thúc như Du Liên Châu, Trương Tòng Khê đối với gã cũng hết sức nể nang, chưa nói nặng với gã nửa câu bao giờ. Gã cao ngạo thành thói, tuy biết Chưởng Bổng long đầu trong Cái Bang có chức vị cao hơn nhiều so với một đệ tử mới gia nhập bổn bang, song việc này hiển nhiên phía bên kia trái lè, làm sao mình nhịn được, bèn nói:

– Sáu chữ "Ăn cây táo rào cây sung" không phải bạ ai cũng nói được. Long đầu đại ca muốn trách mắng như thế, phải có nhân chứng. Đệ tử rõ ràng vừa gõ cán kiếm xuống đầu yêu nữ, thì đại ca lấy gậy gạt phăng cán kiếm ra, giữa chỗ đông người, không lẽ không ai trông thấy.

Chưởng Bổng long đầu nghe gã nói thế, tựa hồ có ý bảo lão "Ăn cây táo rào cây sung", thả cho Triệu Mẫn chạy thoát, lão vốn tính nóng như lửa, bèn quát to:

– Thằng nhãi này không kính trọng bề trên, chắc ngươi ỷ vào thanh thế phái Võ Đang chăng?

Nói xong nhắm đầu Tống Thanh Thư đập luôn một gậy, trong cơn nóng giận, gậy này có kình lực cực kỳ cương mãnh.

Tống Thanh Thư tức không chịu nổi, dùng trường kiếm gạt đi. Gậy kiếm đụng nhau, nghe choang một tiếng, tóe ra mấy tia lửa. Tống Thanh Thư thấy hổ khẩu ngâm ngẩm đau. Chưởng Bổng long đầu quát:

– Họ Tống kia, ngươi cả gan phạm thượng tác loạn, có phải do địch nhân phái ngươi chui vào bản bang để phá ngầm chăng?

Vừa nói vừa giáng luôn một gậy nữa.

Từ cửa miếu đột nhiên có một người xông tới, giơ kiếm đẩy gậy chệch đi, nói:

– Long đầu đại ca, xin chớ nổi nóng.

Người đó chính là trưởng lão tám túi Trần Hữu Lượng. Sau khi gạt gậy, Trần Hữu Lượng hỏi:

– Con yêu nữ Triệu Mẫn đâu rồi?

Chưởng Bổng long đầu hầm hầm chỉ mặt Tống Thanh Thư, nói:

– Nó thả con ấy đi rồi.

Tống Thanh Thư vội nói:

– Chính Long đầu đại ca thả Triệu Mẫn nó đi mất.

Hai người cứ tranh cãi không thôi, Huyền Minh nhị lão từ trong miếu đã nhảy ra, nhìn tứ phía không thấy Triệu Mẫn đâu cả, biết nàng đã chạy thoát rồi, hai lão cùng cười phá lên một tràng dài, bốn chưởng cùng tung ra, đánh gục luôn bốn đệ tử Cái Bang. Đến lúc Truyền công trưởng lão, Chấp pháp trưởng lão đuổi ra theo, thì Huyền Minh nhị lão đã chạy xa hàng chục trượng rồi, không đuổi kịp nữa.

*

* *

Thì ra ban nãy Trương Vô Kỵ thấy Tống Thanh Thư xoay cán kiếm đánh xuống gáy Triệu Mẫn, cú đánh ấy chưa biết nặng nhẹ thế nào, nhẹ thì mê man bất tỉnh, nặng thì đánh nàng chết ngay tại chỗ, chàng không kịp suy nghĩ gì nữa, vội từ trên cây cổ tùng nhảy xuống, sử dụng thần công "Càn khôn đại na di", từ sau lưng Chưởng Bổng long đầu đẩy vào cây thiết bổng của lão ta, làm cho nó tạt qua gạt phăng cán kiếm của Tống Thanh Thư sang một bên. Tâm pháp "Càn khôn đại na di" của chàng vốn đã luyện tới mức thần diệu vô cùng, mấy tháng qua trên hoang đảo nhàn rỗi, chàng lại nghiên cứu "Bí quyết thánh hỏa lệnh" mà Tiểu Chiêu đã dịch, kết hợp hai thứ với nhau, còn cao minh gấp mười võ công kỳ bí của ba sứ giả Ba Tư.

Lúc này đột nhiên chàng đem ra sử dụng, hai cao thủ như Chưởng Bổng long đầu và Tống Thanh Thư mà cũng không phát hiện ra được. Chưởng Bổng long đầu cứ ngỡ Tống Thanh Thư đưa kiếm gạt gậy của lão, còn Tống Thanh Thư thì thấy rõ ràng Chưởng Bổng long đầu dùng gậy gạt kiếm của gã. Thừa lúc hai kẻ đó còn đang kinh ngạc, Trương Vô Kỵ giơ tay trái chộp ngay một tên đệ tử bảy túi, mà ném qua tường ra bên ngoài. Chưởng Bổng long đầu và Tống Thanh Thư thấy có bóng người bay qua tường, nghĩ rằng đó là Triệu Mẫn đã bỏ chạy, liền cùng đuổi theo, Trương Vô Kỵ bèn ôm Triệu Mẫn nhảy lên mái nhà.

Giữa thanh thiên bạch nhật vốn khó che giấu hình tích, nhưng bọn Cái Bang như một bầy ong ào ào chạy theo Chưởng Bổng long đầu và Tống Thanh Thư ra ngoài cửa miếu, tuy có rất nhiều kẻ hoa mắt, thấy hình như có vật gì nhảy vọt qua trên đầu, song sau khi pho tượng Phật Di Lặc trong đại điện đổ xuống, bụi bay mù mịt thành một lớp dày, cả bọn chạy nháo nhào cả lên; kẻ võ công cao thì mải vây đánh Huyền Minh nhị lão, kẻ võ công kém thì lo giữ thân, thành ra không một ai trông thấy cả.

Triệu Mẫn đúng lúc nguy cấp được người cứu thoát, thân hình nằm gọn trong hai cánh tay rắn chắc, tựa hồ đằng vân giá vụ bay lên nóc miếu. Nàng ngoảnh đầu lại, dưới ánh nắng nhìn mặt người kia mày rậm mắt sáng, chính là Trương Vô Kỵ, thì dường như không tin nổi mắt mình, thốt lên:

– Chàng đấy ư?

Trương Vô Kỵ vội giơ tay bịt miệng nàng, nhìn tứ phía, thấy trước sau phải trái miếu Di Lặc chỗ nào cũng đầy đệ tử Cái Bang, muốn cứu thoát Triệu Mẫn cũng không khó, song chàng đã biết Cái Bang đang bàn mưu đối phó với Minh giáo, Tống sư ca của phái Võ Đang lại gia nhập Cái Bang, nếu không dò xét cho rõ, chỉ lo thoát thân bỏ đi, thì thật đáng tiếc. Chàng thấy Chưởng Bổng long đầu và Tống Thanh Thư đang tranh cãi với nhau, Chưởng Bổng long đầu mắt đã lộ hung quang, trong Cái Bang có nhiều kẻ gian hiểm, không chừng Tống Thanh Thư có thể bị hạ độc thủ, huống hồ Hàn Lâm Nhi hết mực trung thành, không thể không cứu chàng ta. Trương Vô Kỵ thấy trong đại điện bụi bay mù mịt, bèn tính cách mạo hiểm vào bên trong miếu tìm chỗ ẩn nấp. Trương Vô Kỵ bèn nhảy về phía trước, lần xuống sát mái hiên, dùng hai chân quặp chặt mái hiên, thả người xuống từ từ, rồi co đùi một cái, đã chui vào phía sau một bức tượng Phật. Trong điện lúc này chỉ có mấy tên đệ tử Cái Bang bị pho tượng Di Lặc đổ trúng, đang nằm rên rỉ dưới đất, còn Hàn Lâm Nhi không rõ đã bị dẫn đi đâu. Trương Vô Kỵ đưa mắt bốn phía, chưa tìm ra chỗ nào có thể ẩn nấp thật tốt. Triệu Mẫn giơ tay chỉ một cái trống da lớn, treo trên một cái giá gỗ to, cách mặt đất hơn một trượng, đối diện với chiếc chuông lớn ở bên phải. Trương Vô Kỵ chợt hiểu, bèn men theo tường, đến sau cái trống, nhún chân nhảy lên, giơ ngón trỏ tay phải rạch ngang mặt trống một cái, mặt trống bằng da bị thủng một vệt dài. Chàng móc chân trái vào cái giá gỗ, ngón tay lại rạch một đường dọc, hai vết cắt thành hình chữ thập trên mặt trống; rồi chàng ôm Triệu Mẫn chui tọt qua chữ thập đó.

Cái trống tuy lớn, nhưng hai người cùng ẩn bên trong, cũng rất khó cử động. Triệu Mẫn tựa vào người Trương Vô Kỵ, thở hổn hển. Cái trống này chế tạo đã lâu, bụng trống đầy bụi, Trương Vô Kỵ ngửi thấy lẫn trong mùi ẩm mốc là mùi thơm thoang thoảng của thân hình Triệu Mẫn, chàng vừa yêu vừa giận, có bao nhiêu điều muốn trách cứ nàng, khổ nỗi ở đây không thể mở miệng, chỉ thấy thân thể nàng ngả vào lòng chàng rất mềm mại, tóc nàng cọ vào má chàng. Chàng giật mình nghĩ thầm: "Ta ra tay cứu nàng đã là không nên, sao lại còn cùng nàng thân mật quá thế này?" Chàng đưa tay đẩy đầu Triệu Mẫn ra, không cho tựa vào vai mình. Triệu Mẫn bực bội thúc cùi chỏ vào ngực chàng, Trương Vô Kỵ mượn sức thúc vào của nàng mà đẩy ngược trở lại, Triệu Mẫn bị đau, nhịn không nổi, phải kêu lên. Trương Vô Kỵ đã liệu trước, liền bịt miệng nàng lại.

Chỉ nghe tiếng Chấp pháp trưởng lão ở bên dưới vọng lên:

– Khải bẩm bang chủ, kẻ địch đã trốn mất tăm, thuộc hạ bất tài, xin bang chủ phạt tội.

Sử Hỏa Long nói:

– Thôi miễn! Địch nhân võ công quá cao cường, mọi người đều thấy cả. Mẹ kiếp, tất cả chúng ta cùng xui xẻo, chẳng riêng gì trưởng lão thôi đâu.

Chấp pháp trưởng lão nói:

– Đa tạ bang chủ!

Tiếp đó Chưởng Bổng long đầu tố cáo Tống Thanh Thư thả cho kẻ địch chạy mất. Tống Thanh Thư ra sức cãi lý, hai người ai cũng đòi phần phải về mình, trong điện thành ra to tiếng. Sử Hỏa Long hỏi:

– Trần huynh đệ, lúc ấy huynh đệ thấy thế nào?

Trần Hữu Lượng đáp:

– Khải bẩm bang chủ, Chưởng Bổng long đầu là nguyên lão của bổn bang, lời nói tất không thể nào sai. Tống huynh đệ vừa thành tâm gia nhập bổn bang, con yêu nữ Triệu Mẫn lại là kẻ thù của y, Tống huynh đệ không thể có ý thả cho nó chạy mất. Theo ngu kiến của đệ, thì Triệu Mẫn võ công hết sức quái dị, chắc nó mượn lực đánh lực, mượn thiết bổng của Long đầu đại ca gạt thanh kiếm của Tống huynh đệ ra. Trong cơn hỗn chiến, hai bên cùng không nhận biết, thành thử hiểu lầm nhau.

Trương Vô Kỵ thầm khen: "Trần Hữu Lượng quả nhiên lợi hại, gã không nhìn thấy sự việc, vậy mà đoán trúng đến tám, chín phần".

Chỉ nghe Sử Hỏa Long nói:

– Lời đó xem ra rất có lý. Hai vị huynh đệ, mọi người đều vì bổn bang mà gắng sức, đừng để chuyện nhỏ này làm tổn thương hòa khí hai bên.

Chưởng Bổng long đầu mặt vẫn hầm hầm, nói:

– Dẫu cho hắn..

Trần Hữu Lượng không để lão nói hết câu, liền ngắt lời:

– Tống huynh đệ, Long đầu đại ca đức cao vọng trọng, dù có trách lầm ngươi, ngươi cũng nên thành tâm thụ giáo. Ngươi hãy mau xin lỗi Long đầu đại ca!

Tống Thanh Thư không còn cách nào khác, đành phải bước lên thi lễ, nói:

– Long đầu đại ca, ban nãy tiểu đệ đắc tội, xin đại ca lượng thứ cho.

Chưởng Bổng long đầu tuy trong bụng còn tức lắm, nhưng cũng phải nén lại, hừ một tiếng, đáp:

– Thôi được.

Lời lẽ của Trần Hữu Lượng tuy có vẻ trách Tống Thanh Thư, song câu "Triệu Mẫn mượn thiết bổng của Long đầu đại ca gạt thanh kiếm của Tống huynh đệ ra", rồi "Long đầu đại ca đức cao vọng trọng, dù có trách lầm ngươi, ngươi cũng nên thành tâm thụ giáo" thì lại ngầm bảo Chưởng Bổng long đầu không đúng, các vị trưởng lão trong Cái Bang đều nghe ra cả. Nhưng gần đây Trần Hữu Lượng là người được bang chủ hết sức vì nể, nói gì cũng được Sử Hỏa Long nghe theo, nên không ai dám nói gì thêm.

Sử Hỏa Long nói:

– Trần huynh đệ, yêu nữ ban nãy tới quấy phá là con gái của Nhữ Dương Vương. Ma giáo vốn đối đầu với triều đình, vậy tại sao khi chúng ta nhắc tới tên tiểu ma đầu Trương Vô Kỵ, con yêu nữ kia lại nhảy ra bênh nó?

Trần Hữu Lượng còn đang ngẫm nghĩ, Chưởng Bát long đầu nói:

– Ta thấy ả quận chúa Thát tử ấy mắt rưng rưng lệ, vẻ mặt cực kỳ tức tối. Trần huynh đệ nguyền rủa tên giáo chủ Ma giáo, ả ta làm như nghe nguyền rủa cha anh ả không bằng, thật không thể nào hiểu nổi.

Tống Thanh Thư nói:

– Khải bẩm bang chủ, tình tiết bên trong thế nào, thuộc hạ biết rất rõ.

Sử Hỏa Long nói:

– Vậy Tống huynh đệ nói nghe coi.

Tống Thanh Thư nói:

– Ma giáo tuy đối nghịch với triều đình, nhưng tiểu yêu nữ quận chúa lại say mê Trương Vô Kỵ, chỉ mơ lấy hắn làm chồng, nên mới ra sức bênh vực hắn.

Quần hào Cái Bang nghe vậy cùng ồ lên kinh ngạc.

Trương Vô Kỵ ở trong cái trống, nghe rõ mồn một, trống ngực cũng đập mạnh, tự hỏi mình: "Có thực vậy không? Có thực vậy không?" Triệu Mẫn quay đầu lại, đôi mắt long lanh nhìn chàng. Tuy ở trong lòng trống tối om, nhưng nhãn quang của Trương Vô Kỵ rất tinh tường, chỉ một chút ánh sáng đã giúp chàng nhìn thấy đôi mắt ấy vô cùng đắm đuối; chàng không khỏi bồi hồi, ôm chặt hai vai nàng, định hôn lên cặp môi anh đào của nàng, nhưng đột nhiên nhớ tới cái chết thảm khốc của Ân Ly, thế là ái tình hóa thành thù hận, bàn tay phải đang nắm vai Triệu Mẫn bèn bóp lại.

Cái bóp này chưa sử dụng toàn lực, song Triệu Mẫn đã chịu không nổi, chỉ thấy mắt tối sầm, đau đến muốn ngất đi, toan bắt chước Ân Ly rủa chàng "Đồ tiểu quỷ lang tâm đoản mệnh", nhưng nàng cố nén lại, không nói thành tiếng, để cho nước mắt nhỏ ròng ròng từng giọt xuống mu bàn tay Trương Vô Kỵ, lăn xuống vạt áo chàng. Trương Vô Kỵ vẫn lầm lỳ phớt lờ.

Lại nghe Trần Hữu Lượng hỏi:

– Làm sao Tống huynh đệ biết? Có chuyện quái lạ thế thật ư?

Tống Thanh Thư hậm hực nói:

– Tên tiểu tử Trương Vô Kỵ tướng mạo cũng bình thường, chẳng có vẻ gì là anh tuấn, nhưng chắc là học được tà thuật của Ma giáo, biết cách mê hoặc nữ giới, biết bao nhiêu thiếu nữ ngây thơ đã sa vào cạm bẫy của hắn.

Chấp pháp trưởng lão gật đầu, nói:

– Đúng vậy, bọn dâm tà trong Ma giáo quả có phép thuật hái hoa, đàn ông đàn bà gì cũng rành cả. Nữ đệ tử Kỷ Hiểu Phù của phái Nga Mi cũng vì trúng phải tà thuật của Dương Tiêu mà thân bại danh liệt. Phụ thân Trương Vô Kỵ là Trương Thúy Sơn cũng khốn đốn vì yêu pháp của con gái Bạch Mi Ưng Vương. Ả quận chúa Thát tử chắc trúng phải tà pháp hái hoa của tên tiểu ma đầu, bị thất thân với hắn, ván đã đóng thuyền, gạo thổi thành cơm, sa vào bùn nhơ không rút ra được nữa.

Quần hào Cái Bang cùng gật đầu cho là phải. Truyền công trưởng lão bừng bừng nghĩa khí, nói:

– Những kẻ bại hoại như thế trên giang hồ, phải tru diệt cho bằng hết, nếu không thì sự trinh bạch của biết bao nhiêu con gái nhà lành sẽ bị tên dâm tặc đó làm cho ô uế.

Sử Hỏa Long liếm môi, chép miệng, cười nói:

– Mẹ kiếp, cái tên dâm tặc Trương Vô Kỵ ấy hóa ra lại có diễm phúc không nhỏ!

Trương Vô Kỵ tức đến run lẩy bẩy toàn thân, cho đến nay chàng vẫn còn là trai tơ, song từ khi Diệt Tuyệt sư thái phái Nga Mi cứ mồm năm miệng mười nhiếc chàng là tên dâm tặc, rồi kẻ khác nói theo, thì chàng không sao tẩy rửa được nỗi oan. Giờ không hiểu từ đâu người ta lại bảo Triệu Mẫn bị thất thân với chàng, nào là ván đã đóng thuyền, gạo thổi thành cơm, thật là kinh hãi, thầm nghĩ: "Triệu cô nương cùng ta ôm nhau ở trong cái trống này, nhất thiết không thể để cho bọn họ phát giác, nếu không người ta lại càng có cớ để vu hại ta".

Lại nghe Truyền công trưởng lão nói:

– Nếu Chu Chỉ Nhược cô nương của phái Nga Mi rơi vào tay tên dâm tặc ấy, chỉ e khó toàn trinh tiết. Tống huynh đệ cứ yên tâm, bọn ta sẽ hỗ trợ Tống huynh đệ giành lại ái thê, không tái diễn chuyện như Kỷ Hiểu Phù ngày trước.

Chấp pháp trưởng lão nói:

– Đại ca nói chí phải. Phái Võ Đang năm xưa không bảo vệ nổi Ân Lê Đình, nay lại không lo nổi cho Tống Thanh Thư. Tống huynh đệ gia nhập bổn bang, nếu bọn ta không làm cho y hả giận, không giúp y hoàn thành tâm nguyện, thì hà tất Tống huynh đệ chẳng màng cái danh chưởng môn tương lai của phái Võ Đang, để làm đệ tử sáu túi của Cái Bang ta làm chi?

Quần hào Cái Bang reo hò, thề phanh thây tên dâm tặc Trương Vô Kỵ, đoạt lại vợ cho Tống Thanh Thư.

Triệu Mẫn ghé tai Trương Vô Kỵ thì thầm:

– Chàng là tên tiểu dâm tặc đáng chết!

Câu nói này nửa như giận hờn, nửa như khích lệ, nói ra một cách êm dịu, Trương Vô Kỵ nghe mà bổi hổi bồi hồi, nghĩ thầm: "Giá như nàng đừng hiểm độc hại chết biểu muội ta, ta suốt đời được ở bên nàng, thật không còn cầu mong gì hơn nữa".

Chỉ nghe Tống Thanh Thư tỏ lời cám ơn quần hào Cái Bang. Chấp pháp trưởng lão lại hỏi:

– Tên dâm tặc ấy làm sao dan díu được với quận chúa Thát tử, Tống huynh đệ có biết không?

Tống Thanh Thư đáp:

– Các tình tiết bên trong, người ngoài làm sao biết được. Hôm tiểu yêu nữ dẫn các võ sĩ triều đình lên núi Võ Đang bắt thái sư phụ của đệ, ả vừa gặp mặt tên dâm tặc đó đã rút lui ngay, đại họa của phái Võ Đang lập tức được giải trừ. Tam sư thúc của đệ là Du Đại Nham hơn hai chục năm trước bị người ta đánh gãy chân tay, cũng được tiểu yêu nữ tặng thuốc để tên dâm tặc chữa lành các vết thương.

Chấp pháp trưởng lão nói:

– Thì ra vậy, lâu nay phái Võ Đang là cái gai trong mắt triều đình, quận chúa Thát tử hẳn phải si mê tên dâm tặc kia lắm, thì mới quên cả cội nguồn, đem thuốc tặng địch nhân. Suy cho cùng, tên dâm tặc ấy tuy thiếu đứng đắn, nhưng đối với thái sư phụ và các sư bá sư thúc vẫn nặng tình hương hỏa.

Tống Thanh Thư nói:

– Ồ, tiểu đệ nghĩ hắn cũng chưa đến nỗi hoàn toàn vong bản.

Trần Hữu Lượng nói:

– Khải bẩm bang chủ, ta nghe những điều Tống huynh đệ nói, bỗng nảy ra một kế có thể chế phục tên dâm tặc đó, khiến cho Ma giáo từ trên xuống dưới phải răm rắp theo lệnh bổn bang.

Sử Hỏa Long vui mừng nói:

– Trần huynh đệ có diệu kế gì, mau nói ra xem thử.

Trần Hữu Lượng nói:

– Ở đây tai vách mạch rừng, tuy là huynh đệ một nhà, nhưng chỉ e tiết lộ cơ mật.

Tiếng nói trong đại điện lắng xuống, nhiều tiếng chân, có tới hơn mười người rời khỏi đại điện, chắc chỉ còn lại vài nhân vật thủ lĩnh có chức vụ cao nhất trong Cái Bang. Trần Hữu Lượng nói:

– Việc này không thể nào tiết lộ phong thanh. Tống huynh đệ, hai vị Long đầu đại ca, mình cần tra xét trước sau một lượt, xem có kẻ nghe lén không đã.

Chỉ nghe hai tiếng vù vù, Chưởng Bổng long đầu và Chưởng Bát long đầu đã nhảy lên mái điện, Trần Hữu Lượng và Tống Thanh Thư thì tra xét đằng trước đằng sau điện thật kỹ, ngó cả vào phía sau các bức tượng, các màn che, từng ngóc ngách.

Trương Vô Kỵ thầm phục Triệu Mẫn ban nãy nhanh trí, trong đại điện trừ cái trống này ra, quả không còn chỗ nào ẩn nấp tốt hơn.

Bốn người tra xét xong, trở vào trong điện, Trần Hữu Lượng thấp giọng nói:

– Việc này hoàn toàn trông cậy ở Tống huynh đệ mà thôi.

Tống Thanh Thư ngạc nhiên:

– Ở tiểu đệ ư?

Trần Hữu Lượng đáp:

– Đúng vậy, Chưởng Bát long đầu, nhờ đại ca chế cho mấy thang "Ngũ độc thất tâm tán", giao Tống huynh đệ đem về núi Võ Đang, lén bỏ vào đồ ăn thức uống của Trương chân nhân và Võ Đang chư hiệp. Chúng ta sẽ ở dưới chân núi tiếp ứng. Sau khi thành công, bắt giữ Trương chân nhân và Võ Đang chư hiệp rồi, ta sẽ dùng họ để uy hiếp, lo gì tên tiểu tặc Trương Vô Kỵ không vâng lệnh bổn bang?

Sử Hỏa Long là người đầu tiên vỗ tay khen:

– Diệu kế, diệu kế!

Chấp pháp trưởng lão cũng nói:

– Kế này rất hay. "Ngũ độc thất tâm tán" của bổn bang rất lợi hại. Muốn hạ độc Trương Vô Kỵ, bọn Ma giáo đề phòng nghiêm mật, không dễ gì được. Tống huynh đệ là đệ tử phái Võ Đang, muốn bắt giữ người cùng phái, khó gì chẳng xong, cái đó gọi là "gia tặc nan phòng, quỷ thần đều không hay biết" vậy.

Tống Thanh Thư do dự, nói:

– Cái việc.. cái việc.. bảo tiểu đệ hạ độc gia phụ, thật không thể làm được.

Trần Hữu Lượng nói:

– "Ngũ độc thất tâm tán" là linh dược của bổn bang, chẳng qua chỉ làm cho người ta thần trí mơ hồ, chứ không nguy hiểm đến tính mạng. Lệnh tôn Tống đại hiệp nhân hiệp trượng nghĩa, bọn ta vô cùng kính trọng, quyết không dám động tới một sợi tóc của lão nhân gia.

Tống Thanh Thư vẫn không chịu, nói:

– Tiểu đệ gia nhập bổn bang, việc chưa được thái sư phụ và gia phụ chấp thuận, sau này hai vị đó biết, hẳn sẽ trách phạt rất nặng, tiểu đệ còn chưa biết biện bạch thế nào đây. Có điều là bổn bang vốn theo con đường hiệp nghĩa, so với tôn chỉ của phái Võ Đang không có gì khác, cho nên cũng không phải là tội lớn. Nhưng nếu đi làm chuyện bất hiếu phạm thượng như thế, thì tiểu đệ quyết không thể nghe theo được.

Trần Hữu Lượng nói:

– Tống huynh đệ nghĩ như thế là chưa thông. Xưa nay muốn thành đại sự, không nên câu nệ tiểu tiết. Cổ nhân vì đại nghĩa mà bỏ người thân, xưa nay không thiếu gương, huống hồ tôn chỉ của chúng ta là đối phó với Ma giáo; việc bắt giữ Võ Đang chư hiệp chỉ là một kế sách để kiềm chế tên dâm tặc Trương Vô Kỵ mà thôi. Hồi sáu đại môn phái vây đánh đỉnh Quang Minh, phái Võ Đang chẳng đã góp hết sức đó sao?

Tống Thanh Thư nói:

– Tiểu đệ nếu làm việc này, một là lương tâm cắn rứt, hai là sẽ bị người người trên giang hồ sỉ mắng, còn mặt mũi nào sống giữa trời đất nữa?

Trần Hữu Lượng nói:

– Vừa rồi ta đã chẳng bảo các trưởng lão tám túi lui ra đó sao? Vì lẽ gì phải tra xét trước sau, trên dưới thật kỹ càng? Chỉ là sợ chuyện này lộ ra đấy thôi. Tống huynh đệ, sau khi ngươi bỏ thuốc rồi, chính ngươi cũng sẽ giả vờ hôn mê, bọn ta cũng sẽ trói ngươi lại, cùng với thái sư phụ ngươi, tôn đại nhân cùng các sư thúc ở chung một chỗ, thì còn ai có thể nghi cho ngươi được? Trừ bảy người bọn ta ra, trên đời không còn ai hay biết cả. Bọn ta chỉ biết thán phục Tống huynh đệ là bậc anh hùng hảo hán, đảm đương nổi đại sự, ai dám chê cười nào?

Tống Thanh Thư ngẫm nghĩ một lát, rụt rè nói:

– Bang chủ và Trần đại ca đã ra lệnh, tiểu đệ không dám chối từ, hơn nữa tiểu đệ mới gia nhập bổn bang, đang mong có dịp lập công, dẫu có phải nhảy vào nước sôi lửa bỏng cũng nguyện tận tâm tận lực. Có điều người ta sống trên đời, hiếu nghĩa là gốc, bảo tiểu đệ đi hại gia phụ, thì nói sao cũng không dám phụng mệnh.

Trong Cái Bang xưa nay vốn hết sức tôn sùng chữ hiếu, mọi người nghe gã nói thế, đều cảm thấy không tiện cưỡng ép thêm.

Trần Hữu Lượng đột nhiên cười khẩy, nói:

– Kẻ dưới phạm thượng là điều đại kỵ đối với người trong võ lâm, Tống huynh đệ không cần nói ra, ta cũng thừa hiểu. Nhưng không biết Mạc Võ Đang thất hiệp với Tống huynh đệ quan hệ thế nào?

Ông ta hay Tống huynh đệ có vai vế cao hơn?

Tống Thanh Thư không trả lời, một lúc sau, bỗng nói:

– Được, bang chủ và các vị đã ra lệnh, tiểu đệ tuân theo vậy. Nhưng các vị phải nhận lời trước là sẽ không mảy may làm tổn thương hoặc vũ nhục gia phụ. Nếu không, tiểu đệ thà thân bại danh liệt, chứ quyết không đời nào làm chuyện bất hiếu.

Bọn Sử Hỏa Long, Trần Hữu Lượng đều cả mừng. Trần Hữu Lượng nói:

– Chuyện đó là tất nhiên rồi. Tống huynh đệ với bọn ta gọi nhau là huynh đệ, Tống đại hiệp là bề trên của cả bọn, dẫu Tống huynh đệ không nhắc đến, thì bọn ta cũng phải đối đãi với lão nhân gia như với bậc phụ huynh.

Trương Vô Kỵ trong lòng sinh nghi: "Tống Thanh Thư khăng khăng không nhận lời, vì sao Trần Hữu Lượng vừa nhắc đến Mạc sư thúc thì Tống Thanh Thư không từ chối nữa, hẳn bên trong có uẩn khúc gì đây. Chắc phải hỏi thẳng Mạc sư thúc mới biết được".

Chỉ nghe Chấp pháp trưởng lão và Trần Hữu Lượng thì thào bàn nhau, sau khi hạ độc Trương Tam Phong, huynh đệ Tống Viễn Kiều, bang chúng Cái Bang sẽ xông lên núi tiếp ứng ra sao. Mỗi khi Trần Hữu Lượng nói tới đâu, Sử Hỏa Long lại khen: "Diệu kế, hay lắm!"

Chưởng Bát long đầu nói:

– Hiện nay đang mùa rét, ngũ độc nằm phục ở dưới lòng đất, tiểu đệ phải đến chân núi Trường Bạch đào ngay, chậm thì một tháng, nhanh cũng hai mươi ngày, sẽ điều chế thành "Ngũ độc thất tâm tán". Độc trùng đào từ dưới đất lên, độc tính không lộ rõ, uống vào không dễ gì phát giác; dùng để đối phó với đệ nhất cao thủ thật không gì tốt bằng.

Chấp pháp trưởng lão nói:

– Trần huynh đệ, Tống huynh đệ, hai vị đi cùng Chưởng Bát long đầu tới núi Trường Bạch chế thuốc, bọn chúng ta xuôi nam trước, hẹn một tháng sau chúng ta tề tựu ở Lão Hà Khẩu. Hôm nay mồng tám tháng Chạp, đúng ngày mồng tám tháng Giêng sẽ gặp lại nhau.

Rồi lão nói tiếp:

– Còn tên Hàn Lâm Nhi rơi vào tay chúng ta, thật là hữu dụng. Mong Chưởng Bổng long đầu chú ý canh chừng, đề phòng bọn Ma giáo cướp lại. Chúng ta hãy chia nhau mà đi, để tránh tai mắt kẻ địch.

Rồi cả bọn lần lượt cáo từ bang chủ, Chưởng Bát long đầu cùng Tống Thanh Thư, Trần Hữu Lượng ba người đi trước về phía bắc. Lát sau, bọn Cái Bang đều rời khỏi miếu Di Lặc, không còn một ai.

Comments

Comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 32: Oan không thế nói, sầu phát điên

Trương Vô Kỵ nghe tiếng bọn Cái Bang đã đi xa, trong miếu không còn động tĩnh gì nữa, mới từ trong bụng trống nhảy ra. Triệu Mẫn theo ra, sửa lại quần áo, lườm chàng một cái nửa mừng nửa giận. Trương Vô Kỵ tức mình, nói:

– Hừ, cô nương như vậy còn mặt mũi nào nhìn ta nữa ư?

Triệu Mẫn xịu mặt, nói:

– Cái gì? Ta đắc tội gì với Trương đại giáo chủ?

Trương Vô Kỵ nghiêm mặt, xẵng giọng:

– Cô nương lấy trộm kiếm Ỷ Thiên và thanh đao Đồ Long, ta không trách! Cô nương bỏ rơi ta trên hoang đảo, ta cũng không trách cô nương. Thế nhưng Ân cô nương đã bị trọng thương như thế, mà cô nương lại đang tâm hạ độc thủ, hạng đàn bà lòng dạ hiểm độc như cô nương, thật ít thấy trong thiên hạ.

Nói tới đây, không dằn nỗi bi phẫn, chàng tiến lên một bước, xoạc cẳng cho vững, giáng liền bốn cái tát. Triệu Mẫn làm sao tránh nổi chưởng lực của Trương Vô Kỵ? Chỉ nghe bốp bốp bốn tiếng, hai má nàng lập tức sưng đỏ lên. Triệu Mẫn vừa đau vừa ức, nước mắt ròng ròng, nghẹn ngào nói:

– Chàng bảo ta lấy trộm kiếm Ỷ Thiên và thanh đao Đồ Long, có ai nhìn thấy không? Ai bảo là ta hạ độc thủ với Ân cô nương? Chàng hãy gọi kẻ ấy ra đây đối chất với ta!

Trương Vô Kỵ càng tức giận, lớn tiếng nói:

– Được, để ta cho ngươi xuống dưới âm phủ mà đối chất.

Chàng đưa hai tay bóp cổ Triệu Mẫn, nàng không thở được, giơ ngón tay chọc vào ngực chàng, nhưng cảm thấy như chọc vào bông, kình lực mất tiêu luôn; trong giây lát mặt nàng tím tái, nàng ngất đi không còn biết gì nữa.

Trương Vô Kỵ nghĩ đến mối thù Ân Ly, đã định bóp chết Triệu Mẫn cho hả giận; nhưng thấy nàng như thế, lại mềm lòng, buông hai tay ra. Triệu Mẫn ngã ngửa ra sau, "cộc" một tiếng, gáy va vào thềm đá của đại điện.

Lúc lâu sau, Triệu Mẫn từ từ tỉnh lại, thấy Trương Vô Kỵ đang nhìn mình chằm chằm, đầy vẻ lo lắng, lúc thấy nàng mở mắt ra, chàng mới thở phào nhẹ nhõm. Triệu Mẫn hỏi:

– Chàng bảo Ân cô nương chết rồi ư?

Trương Vô Kỵ lại nổi giận, quát:

– Bị ngươi rạch bảy, tám nhát kiếm.. nàng ta còn có thể sống nổi được sao?

Triệu Mẫn run giọng, hỏi:

– Ai bảo là ta rạch bảy, tám nhát kiếm? Là Chu cô nương bảo thế phải không?

Trương Vô Kỵ nói:

– Chu cô nương không đời nào nói xấu sau lưng người khác, nàng ta không tận mắt nhìn thấy, lẽ nào vu hãm cho ngươi?

Triệu Mẫn hỏi:

– Vậy là do chính Ân cô nương nói à?

Trương Vô Kỵ quát lên:

– Ân cô nương làm sao mà nói được? Trên hoang đảo chỉ có năm người, không lẽ do nghĩa phụ làm hay sao? Hay là ta rạch? Hay là Ân cô nương tự rạch mặt mình? Hừ, ta biết bụng dạ ngươi, ngươi sợ ta cùng biểu muội kết thành phu phụ nên mới hạ độc thủ. Ta nói để ngươi hay, Ân cô nương sống hay chết thì ta vẫn coi nàng ấy là vợ ta.

Triệu Mẫn cúi đầu, trầm tư một hồi, lại hỏi:

– Thế làm cách nào chàng về được Trung nguyên? Trương Vô Kỵ cười khẩy:

– Cũng là nhờ lòng tốt của cô nương phái thủy sư ra hoang đảo đón bọn ta về. May mà nghĩa phụ ta không thật thà khờ khạo như ta, bọn ta mới không sa vào gian kế của cô nương. Cô nương sai pháo thuyền chờ sẵn ở vùng duyên hải để đánh chìm thuyền của bọn ta về, chỉ phí công toi.

Triệu Mẫn đưa tay xoa xoa hai má bị sưng, ngẩn ngơ nhìn chàng hồi lâu, ánh mắt dần dần lộ rõ vẻ thương yêu, thở dài một tiếng não nuột.

Trương Vô Kỵ sợ mình động tâm, mủi lòng trước sắc đẹp và sức quyến rũ của nàng, bèn quay đầu sang chỗ khác, rồi đột nhiên dậm chân nói:

– Ta từng thề báo thù cho biểu muội, nhưng hóa ra ta nhút nhát vô dụng, hôm nay không nỡ ra tay. Cô nương tác ác đa đoan, thể nào cũng có ngày rơi phải tay ta!

Nói đoạn bước nhanh ra cửa miếu.

Chàng đi được mươi trượng, thì Triệu Mẫn đuổi theo, gọi:

– Trương Vô Kỵ, chàng đi đâu thế?

Trương Vô Kỵ nói:

– Ta đi đâu thì liên can gì tới cô nương?

Triệu Mẫn nói:

– Muội có điều muốn hỏi Tạ đại hiệp và Chu cô nương, nhờ chàng đưa tới gặp họ với.

Trương Vô Kỵ nói:

– Nghĩa phụ ta ra tay không nể nang gì hết, bộ ngươi muốn chết hay sao?

Triệu Mẫn cười nhạt, nói:

– Nghĩa phụ chàng tuy tàn ác thật, nhưng đâu có hồ đồ như chàng. Hơn nữa, nếu Tạ đại hiệp giết muội, thì chàng coi như đã báo thù cho biểu muội, chẳng phải là chàng được thỏa nguyện hay sao?

Trương Vô Kỵ nói:

– Ta hồ đồ ở chỗ nào? Ta không muốn cô nương đến gặp nghĩa phụ ta.

Triệu Mẫn mỉm cười:

– Gã tiểu tử Trương Vô Kỵ hồ đồ kia ơi, chàng trong bụng thực không bỏ muội được, nên không muốn muội bị Tạ đại hiệp giết chứ gì, đúng chưa nào?

Trương Vô Kỵ bị nàng nói trúng tâm trạng, thì đỏ mặt, quát lên:

– Đừng có nói lung tung! Cô nương hay làm những việc bất nghĩa như thế, thể nào cũng tự chui đầu vào chỗ chết. Cô nương tốt hơn hết hãy tránh ta cho xa, chớ để ta gặp lại, nóng tiết lên là ta giết luôn cô nương đó.

Triệu Mẫn thong thả lại gần, nói:

– Muội có vài câu không thể không hỏi Tạ đại hiệp và Chu cô nương cho ra lẽ. Muội không muốn nói xấu người khác ở sau lưng, muội cần phải nói rõ ngay trước mặt.

Trương Vô Kỵ bỗng nổi lòng hiếu kỳ, hỏi:

– Cô nương định hỏi họ chuyện gì?

Triệu Mẫn đáp:

– Đến lúc ấy chàng khắc biết. Muội không sợ nguy hiểm, chàng có gì phải sợ?

Trương Vô Kỵ chần chừ, nói:

– Vậy là chính cô nương đòi đi, nếu nghĩa phụ ta hạ độc thủ, ta muốn cứu cô nương cũng không nổi đâu.

Triệu Mẫn nói:

– Không cần chàng phải lo cho muội.

Trương Vô Kỵ tức giận:

– Lo cho cô nương? Hừ, ta còn mong cho cô nương chết là khác.

Triệu Mẫn cười:

– Thế thì chàng hãy mau ra tay đi.

Trương Vô Kỵ "hừ" một tiếng, không thèm nói nữa, rảo bước đi về phía thị trấn. Đến thị trấn rồi, Trương Vô Kỵ dừng chân, quay đầu lại, nói:

– Triệu cô nương, ta từng nhận lời làm cho cô nương ba việc. Việc thứ nhất là đi tìm thanh đao Đồ Long, coi như đã xong. Còn hai việc nữa chưa làm xong, cô nương mà gặp nghĩa phụ ta, thể nào cô nương cũng chết. Vậy cô nương cứ đi đi, chừng nào ta làm xong nốt hai việc kia, cô nương hãy tới gặp nghĩa phụ ta cũng chưa muộn.

Triệu Mẫn điềm nhiên cười, nói:

– Chàng cố tìm mọi lý do để muội khỏi bị giết, muội biết chàng thực lòng không thể bỏ muội mà.

Trương Vô Kỵ nổi giận:

– Cứ coi như ta không nỡ nhẫn tâm, thì sao nào?

Triệu Mẫn nói:

– Thì muội rất sung sướng. Lâu nay muội không biết chàng có thực lòng với muội hay không, giờ thì biết rồi.

Trương Vô Kỵ thở dài, nói:

– Triệu cô nương, ta van cô nương, cô nương hãy đi chỗ khác đi.

Triệu Mẫn lắc đầu:

– Muội nhất định phải gặp Tạ đại hiệp.

Trương Vô Kỵ không còn cách nào khác, đành phải vào khách điếm. Đến trước cửa phòng Tạ Tốn, chàng gõ cửa hai tiếng, gọi:

– Nghĩa phụ!

Miệng thì gọi, nhưng lại đứng chắn phía trước Triệu Mẫn. Chàng gọi hai lần, không thấy bên trong trả lời, cửa vẫn đóng im ỉm, trong bụng sinh nghi, nghĩ thầm nghĩa phụ rất thính tai, chàng tới bên cửa thì ông dẫu đang ngủ say cũng đã tỉnh dậy rồi; nếu bảo đã ra ngoài, tại sao cửa lại cài bên trong?

Chàng lấy tay đẩy nhẹ, nghe "cách" một tiếng, then cửa gãy liền, cửa phòng mở ra, quả nhiên không thấy Tạ Tốn ở trong đó. Có một cánh cửa sổ hé mở, chắc ông đã ra ngoài theo lối đó.

Trương Vô Kỵ sang phòng Chu Chỉ Nhược, gọi:

– Chỉ Nhược!

Cũng không có tiếng trả lời, đẩy cửa vào cũng không thấy nàng đâu, bọc áo vẫn còn để ngay ngắn trên giường.

Trương Vô Kỵ cảm thấy khó hiểu, tự hỏi: "Không lẽ họ gặp kẻ địch?" Bèn gọi điếm tiểu nhị tới hỏi, gã bảo rằng không thấy hai người đi ra, cũng không hề nghe có tiếng cãi cọ xô xát gì cả. Trương Vô Kỵ yên tâm, nghĩ thầm: "Chắc hai người nghe được chuyện gì, nên đi truy tìm tung tích địch nhân". Lại nghĩ Tạ Tốn tuy mù, song võ công cao cường, thời nay ít ai địch nổi, huống hồ bên cạnh có Chu Chỉ Nhược tinh tế cẩn trọng đi theo, chắc không sao cả. Chàng từ phòng Tạ Tốn nhảy qua cửa sổ ra ngoài, xem xét chung quanh, không thấy gì lạ, lại quay vào phòng.

Triệu Mẫn nói:

– Chàng thấy Tạ đại hiệp không có ở đây, lại có vẻ vui thì phải?

Trương Vô Kỵ nói:

– Đừng nói bậy, ta vui bao giờ?

Triệu Mẫn mỉm cười, nói:

– Chàng tưởng muội không biết nhận ra vẻ mặt của chàng hay sao? Chàng đẩy cửa phòng bước vào, hơi lo lắng, nhưng rồi hết ngay.

Trương Vô Kỵ mặc kệ nàng ta, ra ngồi tựa vào chiếc giường.

Triệu Mẫn tủm tỉm cười, ngồi xuống ghế, nói:

– Muội biết chàng sợ Tạ đại hiệp giết muội, may sao ông ấy không có nhà, đỡ phiền cho chàng. Muội biết chàng quả thật không thể bỏ muội được mà.

Trương Vô Kỵ nổi cáu:

– Không bỏ được thì đã sao?

Triệu Mẫn cười, nói:

– Thì muội sung sướng vô cùng.

Trương Vô Kỵ hậm hực, nói:

– Còn cô nương tại sao cứ năm lần bảy lượt rắp tâm hại ta? Cô nương cũng không bỏ được ta chứ gì?

Triệu Mẫn bỗng đỏ mặt, dịu giọng nói:

– Đúng vậy, ban đầu muội quả thực muốn giết chàng, nhưng từ hôm gặp nhau ở Lục Dương trang, muội mà còn có ý định hại chàng, thì trời cứ tru đất cứ diệt Mẫn Mẫn Đặc Mục Nhĩ này đi, khi chết sẽ rơi xuống mười tám tầng địa ngục, vạn kiếp không được trở lại làm người.

Trương Vô Kỵ nghe nàng thề độc, liền nói:

– Thế tại sao vì một cây đao, một thanh kiếm mà cô nương nỡ bỏ ta ở hoang đảo?

Triệu Mẫn nói:

– Chàng đã cho là như thế, thì muội dẫu có trăm cái miệng cũng không cãi được, chỉ còn cách chờ Tạ đại hiệp và Chu cô nương về đây, bốn người chúng ta đối chất cho minh bạch.

Trương Vô Kỵ nói:

– Cô nương khéo mồm khéo miệng, chỉ lừa được một mình ta, chứ không lừa nổi nghĩa phụ ta và Chu cô nương đâu.

Triệu Mẫn mỉm cười:

– Vì sao chàng lại chịu để muội đánh lừa? Vì trong bụng chàng thích muội chứ gì, phải vậy không?

Trương Vô Kỵ nói:

– Thích thì đã sao?

Triệu Mẫn nói:

– Thì muội rất vui.

Trương Vô Kỵ thấy nàng cười tươi như hoa, ai nhìn cũng phải xiêu lòng, vừa nãy lại bị chàng giáng bốn cái tát, sưng đỏ lên, trông tội nghiệp, chàng vội quay ra chỗ khác, không dám nhìn nàng.

Triệu Mẫn nói:

– Mình ở trong cái miếu ấy lâu quá, hóa ra đói bụng.

Bèn gọi điếm tiểu nhị, đưa cho một đĩnh vàng, bảo mau dọn một mâm cỗ thượng hạng bưng lên. Điếm tiểu nhị rối rít vâng dạ, vội mang trái cây và đồ điểm tâm lên trước, sau đó bưng rượu thịt tới.

Trương Vô Kỵ nói:

– Mình đợi nghĩa phụ về ăn một thể.

Triệu Mẫn nói:

– Tạ đại hiệp về đây thì mạng muội chắc gì còn, chi bằng ăn trước cho no, xuống âm phủ khỏi làm ma đói ma khát.

Trương Vô Kỵ thấy nàng tuy miệng nói vậy, mà cử chỉ dáng vẻ tựa hồ chẳng sợ hãi chút nào. Triệu Mẫn lại nói:

– Trong túi muội còn vàng nữa đây, để bảo điếm tiểu nhị làm mâm cỗ khác.

Trương Vô Kỵ lạnh lùng nói:

– Ta chả dám ăn uống chung với cô nương, biết đâu cô nương lại chẳng bỏ "Thập hương nhuyễn cân tán" vào đó.

Triệu Mẫn xịu mặt, nói dỗi:

– Thì chàng đừng ăn nữa, để khỏi bị trúng độc bởi tay muội.

Nói đoạn ngồi ăn một mình.

Trương Vô Kỵ bảo điếm tiểu nhị mang lên mấy cái bánh bao, tách ra một góc xa xa, ngồi ăn ngốn ngấu. Ở mâm của Triệu Mẫn nào gà quay, dê nướng, cá chiên, thịt hầm, đủ món ngon lành; nàng ăn một hồi, bỗng nước mắt rơi lã chã xuống cả chén bát, nàng gượng nuốt vài miếng, rồi quăng đũa bát, gục xuống bàn khóc tấm tức.

Nàng khóc một lát, chùi nước mắt, xem chừng trong lòng đã nhẹ nhõm đi nhiều, nhìn ra cửa sổ, nói:

– Chỉ một giờ nữa thì trời tối, không biết gã Hàn Lâm Nhi kia bị đưa đi đâu, nếu để mất tung tích thì khó lòng giải cứu cho y.

Trương Vô Kỵ chột dạ, đứng dậy, nói:

– Đúng thế, ta phải đi cứu Hàn Lâm Nhi đã.

Triệu Mẫn nói:

– Rõ không biết ngượng, ai nói chuyện với chàng mà cũng tiếp lời?

Trương Vô Kỵ thấy nàng chợt giận chợt thẹn, chợt vui chợt buồn, bất giác cảm thấy vừa giận vừa thương, chẳng biết thế nào cho phải, vội ăn trệu trạo cho xong cái bánh bao, rồi chạy đi. Triệu Mẫn nói:

– Muội cùng đi với.

Trương Vô Kỵ nói:

– Ta không cần cô nương đi cùng.

Triệu Mẫn hỏi:

– Vì sao?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Cô nương là hung thủ giết hại biểu muội ta, làm sao ta có thể đi cùng với kẻ thù?

Triệu Mẫn nói:

– Được, vậy chàng đi một mình đi!

Trương Vô Kỵ ra đến cửa, bỗng quay lại hỏi:

– Cô nương ở đây làm gì?

Triệu Mẫn đáp:

– Muội chờ nghĩa phụ của chàng về, nói cho ông ấy biết chàng đi cứu Hàn Lâm Nhi rồi.

Trương Vô Kỵ nói:

– Nghĩa phụ ta ghét kẻ ác như quân thù, lẽ nào tha mạng cho cô nương?

Triệu Mẫn thở dài:

– Cái số muội thế đành chịu, biết làm thế nào?

Trương Vô Kỵ nghĩ một lát, nói:

– Cô nương nên tránh đi chỗ khác thì hơn, chờ ta trở về hãy hay.

Triệu Mẫn lắc đầu:

– Muội biết tránh đi đâu bây giờ?

Trương Vô Kỵ nói:

– Thôi được, cô nương hãy theo ta đi cứu Hàn Lâm Nhi, sau đó quay về đây đối chất.

Triệu Mẫn cười:

– Đấy là chàng rủ muội cùng đi, chứ không phải muội cứ nằng nặc đòi theo đấy nhé.

Trương Vô Kỵ nói:

– Cô nương đúng là hung tinh chiếu mệnh ta, gặp cô nương thật là xui xẻo cho ta vô cùng.

Triệu Mẫn cười hồn nhiên, nói:

– Chàng đợi muội một lát.

Nói xong nàng thuận tay khép cửa phòng lại.

Lát sau, Triệu Mẫn mở cửa, nàng đã đổi sang y phục nữ giới, áo lông có mũ trùm đầu, áo gấm màu đỏ, ăn mặc cực kỳ sang trọng. Trương Vô Kỵ không ngờ nàng mang theo trong bọc mấy thứ quần áo sang trọng nhường ấy, nghĩ thầm: "Cô gái này thật là quỷ kế đa đoan, hành sự không biết đâu mà lần". Triệu Mẫn nói:

– Sao chàng cứ ngơ ngẩn nhìn muội thế? Muội ăn mặc thế này trông đẹp lắm hả?

Trương Vô Kỵ nói:

– Mặt đẹp như hoa, lòng dạ rắn rết.

Triệu Mẫn cười khanh khách, nói:

– Đa tạ Trương đại giáo chủ ban cho muội tám chữ đó. Trương giáo chủ ơi, ngài cũng nên thay bộ quần áo khác cho tử tế một chút đi.

Trương Vô Kỵ phật ý, nói:

– Ta từ nhỏ ăn bận rách rưới đã quen, nếu cô nương hiềm ngại quần áo ta lam lũ, thì đừng đi theo ta làm gì.

Triệu Mẫn nói:

– Chàng chớ nên cả nghĩ. Muội chỉ muốn xem chàng sau khi mặc quần áo đẹp, trông chàng sẽ như thế nào mà thôi. Chàng hãy chờ ở đây một lát, để muội chạy đi mua quần áo cho. Bọn ăn mày kia đi đường lớn để vào cửa ải, mình chỉ cần đi nhanh một chút là sẽ đuổi kịp chúng.

Nàng không đợi chàng trả lời, đi luôn ra ngoài. Trương Vô Kỵ ngồi lại, tự trách mình sao không đủ cứng cỏi, cứ để cho cô gái này đùa giỡn; rõ ràng cô ta là người hại chết biểu muội của ta, vậy mà ta cứ ở đây cười cười nói nói với cô ta. Trương Vô Kỵ ơi là Trương Vô Kỵ, mi còn gì là nam tử hán đại trượng phu? Mi còn mặt mũi nào làm giáo chủ Minh giáo, hiệu lệnh quần hùng?

Chàng đợi hồi lâu không thấy Triệu Mẫn quay về, trời thì đã sẩm tối, nghĩ thầm: "Việc gì ta phải chờ nàng ta? Cứ một mình đi cứu Hàn Lâm Nhi thì đã sao?" Nhưng chàng lại hình dung cái cảnh nàng mua quần áo về, gặp phải Tạ Tốn giáng cho một chưởng trúng thiên linh cái, vỡ đầu nát óc chết lăn quay, quần áo rơi tung tóe, thì cả sợ. Chàng cứ nhấp nhổm đứng lên ngồi xuống, nghĩ ngợi lung tung, mãi đến lúc nghe tiếng chân nhẹ lướt, hương thơm thoang thoảng, Triệu Mẫn ôm hai bọc quần áo bước vào phòng.

Trương Vô Kỵ nói:

– Đợi cô nương lâu quá chừng! Thôi khỏi cần thay quần áo, đuổi theo kẻ địch ngay mới kịp!

Triệu Mẫn mỉm cười:

– Đã đợi bao lâu, làm gì không chờ thêm chút nữa để thay đồ. Muội đã mua hai con ngựa, sẽ đi suốt đêm đuổi theo.

Nói rồi cởi cái bọc, lấy ra quần áo, giày vớ, nói:

– Thị trấn nhỏ chả có gì đáng mua, chàng dùng tạm, bao giờ tới Đại Đô sẽ mua chiếc áo lông.

Trương Vô Kỵ chột dạ, nghiêm mặt nói:

– Triệu cô nương, đừng bao giờ tính chuyện ta sẽ tham phú quý, quy hàng triều đình; cô nương hãy dẹp bỏ ngay ý nghĩ ấy đi. Trương Vô Kỵ ta đường đường là con cháu nhà Đại Hán, dù có được cắt đất phong vương, ta cũng không khi nào đầu hàng Mông Cổ.

Triệu Mẫn thở dài, nói:

– Trương đại giáo chủ, chàng hãy nhìn xem, đây là trang phục của người Mông, hay là quần áo của người Hán?

Vừa nói vừa giơ ra chiếc áo bào màu xám. Trương Vô Kỵ thấy các món đồ nàng mua đều là trang phục của người Hán, thì gật đầu. Triệu Mẫn xoay người lại, hỏi:

– Chàng xem muội có giống một quận chúa Mông Cổ, hay là một cô gái người Hán bình thường?

Trương Vô Kỵ giật mình, trước đây chàng chỉ nghĩ Triệu Mẫn trang sức hoa lệ, không nghĩ gì đến sự khác biệt người Mông, người Hán, lúc này nghe nàng nhắc, mới thấy nàng ăn mặc hoàn toàn giống một thiếu nữ người Hán. Chỉ thấy hai gò má ửng hồng, đôi mắt long lanh đầy vẻ thiết tha, thì chàng đột nhiên hiểu ra dụng ý của nàng, bèn nói:

– Cô nương.. cô nương.. Triệu Mẫn nhỏ nhẹ nói:

– Chàng không đành lòng bỏ rơi muội, đối với muội thế là đủ lắm rồi. Chàng là người Hán hay người Mông, đối với muội cũng thế cả thôi. Chàng là người Hán, muội cũng là người Hán; chàng là người Mông, thì muội cũng là người Mông. Trong lòng chàng toàn tính việc quân quốc đại sự, nên phân biệt kẻ Hoa người Di, canh cánh thịnh suy hưng vong, uy danh quyền thế. Còn muội thì, Vô Kỵ ca ca, trong lòng muội chỉ có một điều, ấy là chàng mà thôi. Chàng là người xấu hay người tốt, đối với muội cũng thế cả.

Trương Vô Kỵ cảm động, nghe nàng nói những lời đằm thắm như thế thì ý loạn tình mê, một lát sau mới nói:

– Cô nương hại chết biểu muội của ta, có phải vì sợ ta lấy nàng ấy?

Triệu Mẫn nói to:

– Ân cô nương không phải do muội giết hại; chàng tin hay không thì tùy; muội chỉ có một câu đó mà thôi.

Trương Vô Kỵ thở dài:

– Triệu cô nương, cô nương có lòng với ta như vậy, ta không phải là gỗ đá, lẽ nào không cảm động? Nhưng hôm nay, sự thể đến bước này, cô nương còn lừa dối ta làm gì kia chứ?

Triệu Mẫn nói:

– Muội từ lâu cứ tự cho mình là người thông minh lanh lợi, chuyện gì cũng thắng thế, nào ngờ sự đời khó tính trước. Vô Kỵ ca ca, bây giờ chúng ta không đi đâu nữa, chàng ở đây chờ Tạ đại hiệp, còn muội sang phòng Chu cô nương đợi cô ta.

Trương Vô Kỵ lấy làm lạ:

– Tại sao vậy?

Triệu Mẫn nói:

– Chàng đừng hỏi tại sao. Về Hàn Lâm Nhi, chàng khỏi lo; muội bảo đảm sẽ cứu được chàng ta là xong.

Nói đoạn nàng quay lưng đi ra, sang phòng của Chu Chỉ Nhược, đóng cửa lại.

Trương Vô Kỵ nhất thời chưa biết dụng ý của nàng, tựa người vào thành giường, cố nghĩ. Đột nhiên chàng nghĩ thầm: "Hay là Triệu Mẫn đoán biết ta với Chỉ Nhược đã đính hôn, giết hại một mình biểu muội ta chưa đủ, nên còn bày kế giết luôn Chỉ Nhược? Liệu có phải Huyền Minh nhị lão sau khi rời khỏi miếu Di Lặc đã tới đây tính kế hại chết nghĩa phụ và Chỉ Nhược?" Vừa nghĩ đến Huyền Minh nhị lão, thì trong lòng lập tức hoảng sợ, Lộc Trượng Khách và Hạc Bút Ông võ công quá cao siêu, Tạ Tốn dẫu sáng mắt cũng chưa chắc địch nổi một trong hai lão già ấy.

Chàng bèn nhổm dậy, chạy sang phòng Triệu Mẫn, hỏi:

– Triệu cô nương, Huyền Minh nhị lão thủ hạ của cô nương đi đâu rồi?

Triệu Mẫn từ bên trong nói vọng ra:

– Hai người ấy chắc đoán là muội đã thoát thân sẽ trở về bên trong quan ải, nên đuổi theo về hướng nam rồi.

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Có thật vậy không?

Triệu Mẫn cười khẩy:

– Nếu chàng không tin lời muội, thì còn hỏi làm gì?

Trương Vô Kỵ chả biết nói sao, đứng ngây ở ngoài cửa. Triệu Mẫn nói:

– Giả dụ muội nói với chàng, rằng muội đã sai Huyền Minh nhị lão tới khách điếm này giết Tạ đại hiệp và ý trung nhân của chàng là Chu cô nương, thì chàng có tin hay không?

Câu nói ấy chạm đúng vào ý nghĩ đáng sợ nhất trong đầu Trương Vô Kỵ, chàng bèn vung chân đá tung cánh cửa phòng, trán nổi gân xanh, run run nói:

– Ngươi.. ngươi..

Triệu Mẫn nhìn bộ dạng chàng như thế thì hoảng sợ, hối hận là đã nói như vậy, vội nói:

– Muội dọa chơi chàng thế thôi, không có chuyện đó đâu, chàng đừng nghĩ là thật.

Trương Vô Kỵ chăm chú nhìn nàng, chậm rãi nói:

– Cô nương không sợ tới khách điếm này gặp nghĩa phụ ta, luôn miệng đòi đối chất với hai người, có phải cô nương thừa biết hai người ấy không còn sống nữa, phải không?

Chàng vừa hỏi vừa tiến lên hai bước, cách nàng không đến ba thước, chỉ cần giáng cho một chưởng là Triệu Mẫn bỏ mạng tức thời.

Triệu Mẫn nhìn vào mắt chàng, nghiêm mặt nói:

– Trương Vô Kỵ, muội nói với chàng đây, việc trên đời, trừ phi chính mắt mình nhìn thấy, chứ đừng có nghe người ta nói ra nói vào, càng không nên tự nghĩ ngợi lung tung. Chàng muốn giết muội thì cứ ra tay đi; nhưng lát nữa chàng thấy nghĩa phụ chàng về đây, lúc ấy lòng dạ chàng sẽ ra sao nhỉ?

Trương Vô Kỵ trấn tĩnh lại, hơi ngượng ngùng, nói:

– Chỉ cần nghĩa phụ ta bình an vô sự, tức là đại cát. Chuyện sinh tử an nguy của nghĩa phụ ta, cô nương chớ có đem ra làm trò đùa.

Triệu Mẫn gật đầu, nói:

– Muội không nên nói thế mới phải, muội có lỗi, mong chàng đừng trách.

Trương Vô Kỵ thấy nàng thành khẩn nhận lỗi, cũng mềm lòng, mỉm cười, nói:

– Ta quả cũng hơi lỗ mãng, đắc tội với cô nương.

Sau đó chàng trở về phòng của Tạ Tốn.

Hai người đợi qua đêm, sáng hôm sau vẫn không thấy Tạ Tốn và Chu Chỉ Nhược trở về. Trương Vô Kỵ lại càng lo lắng, ăn qua quýt vài thứ lót dạ, rồi bàn với Triệu Mẫn, rốt cuộc hai người kia đi đâu. Triệu Mẫn nhíu mày nói:

– Chuyện này kể cũng lạ thật. Chi bằng mình đuổi theo bọn Sử Hỏa Long, nghe ngóng xem sao.

Trương Vô Kỵ gật đầu, nói:

– Cũng chỉ còn cách ấy thôi.

Bèn gọi chưởng quỹ thanh toán tiền phòng trọ, dặn là nếu Tạ Tốn và Chu Chỉ Nhược trở về, thì bảo họ cứ chờ ở đây.

Điếm tiểu nhị dẫn tới hai con ngựa màu hạt dẻ, Trương Vô Kỵ thấy hai con tuấn mã lông bóng mượt, chân dài bụng thon, đúng là loài ngựa quý danh tiếng, không khỏi tấm tắc khen ngợi, đoán là nàng đã dùng để đuổi theo bọn Cái Bang, chiều qua lúc ra ngoài mua quần áo, đã dắt về đây. Triệu Mẫn mỉm cười, nhảy lên mình ngựa. Hai con ngựa sóng vai chạy ra khỏi thị trấn, phi về hướng nam. Người ta thấy hai con tuấn mã như hai con rồng, cưỡi trên lưng là đôi nam nữ y phục sang trọng, tướng mạo tuấn mỹ, thì tưởng là một cặp vợ chồng trẻ con nhà quyền quý đi ra ngoài du ngoạn.

Hai người đi một ngày, được hơn hai trăm dặm, nghỉ lại trên đường một đêm, sáng hôm sau lại rong ruổi tiếp.

*

* *

Hôm ấy chạy đến trưa, thấy gió bấc thổi ù ù từng trận phía sau lưng, trời âm u, mây đen mỗi lúc một dày và thấp; cố chạy hơn hai chục dặm nữa, thì tuyết lông ngỗng bắt đầu rơi lả tả từng đợt dày. Dọc đường Trương Vô Kỵ và Triệu Mẫn ít nói chuyện, nhìn tuyết rơi mỗi lúc một dày, hai người cứ lặng lẽ giục ngựa chạy nhanh. Hai người đi qua một vùng hoang vu, chỉ toàn núi non, gần tối thì tuyết đã dày cả thước, hai con ngựa dẫu là thần mã, cũng hết chịu nổi.

Trương Vô Kỵ thấy trời tối dần, liền đứng trên lưng ngựa, nhìn tứ phía, không thấy nhà cửa khói lửa gì, trong bụng chần chừ, nói:

– Triệu cô nương, cô nương nghĩ sao, nếu cứ đi tiếp, chỉ e hai con ngựa hết chịu nổi.

Triệu Mẫn cười nhạt, nói:

– Chàng chỉ lo ngựa chịu hết nổi, chẳng cần biết người sống chết thế nào.

Trương Vô Kỵ ngượng ngùng, nghĩ thầm: "Mình nhờ có" Cửu dương thần công ", không biết mệt mỏi và giá lạnh, chỉ chú tâm chuyện cứu người, không ngó ngàng tới nàng".

Lại đi một quãng nữa, bỗng có tiếng sột soạt, rồi một con hoẵng chạy vụt qua đường, chạy vào trong núi. Trương Vô Kỵ nói:

– Để ta bắt nó làm bữa tối.

Miệng nói, thân rời khỏi yên ngựa, theo dấu chân con hoẵng để lại trên tuyết mà đuổi theo.

Vượt qua một dốc núi, dưới ánh sáng mông lung, chàng thấy con hoẵng sắp chui vào một cái hang. Chàng vội đề khí, phóng tới như một mũi tên, không cho con hoẵng chui vào, tóm luôn được cổ nó. Con hoẵng quay đầu đớp cổ tay chàng, năm ngón tay chàng bóp mạnh một cái, con hoẵng gãy cổ chết liền. Chàng thấy cái hang tuy không lớn, nhưng cũng tạm đủ chỗ cho hai người dung thân; bèn xách con hoẵng trở lại chỗ Triệu Mẫn, nói:

– Đằng kia có một cái hang, mình tạm trú ở đó qua đêm, cô nương nghĩ sao?

Triệu Mẫn gật đầu, đột nhiên má đỏ bừng, quay mặt, dắt ngựa đi.

Trương Vô Kỵ dắt hai con ngựa, buộc vào dưới gốc hai cây tùng lớn để tránh tuyết, kiếm ít cành khô, đốt một đống lửa trong hang. Cái hang khá sạch sẽ, hoàn toàn không có phân thú hoặc thứ gì dơ dáy, nhìn vào trong tối om om, chả biết sâu đến đâu. Trương Vô Kỵ làm thịt con hoẵng, lấy tuyết rửa sạch, rồi nướng trên lửa. Triệu Mẫn cởi áo lông, trải xuống đất. Lửa cháy bừng bừng, trong hang ấm áp như một phòng xuân.

Trương Vô Kỵ tình cờ quay đầu, thấy ánh lửa bập bùng chiếu lên khuôn mặt kiều diễm của nàng. Hai người nhìn nhau cười tủm tỉm, bao nhiêu mệt mỏi đói rét cả một ngày tiêu tan hết.

Thịt hoẵng chín rồi, hai người mỗi người cầm một đùi hoẵng mà ăn. Trương Vô Kỵ tiếp thêm củi vào đống lửa, tựa lưng vào vách đá, hỏi:

– Ngủ thôi chứ?

Triệu Mẫn mỉm cười, tựa lưng vào vách hang, nhắm mắt lại. Trương Vô Kỵ ngửi thấy mùi thơm thoang thoảng từ người nàng tỏa ra, nhìn hai má hây hây, chỉ muốn ghé môi hôn, nhưng phải cố dằn lòng, nhắm mắt ngủ.

Ngủ đến nửa đêm, bỗng nghe có tiếng vó ngựa từ xa vọng tới. Trương Vô Kỵ choàng dậy, dỏng tai nghe, biết có bốn con ngựa từ phía nam chạy lên phía bắc. Chàng thấy bên ngoài tuyết vẫn đang rơi dày, nghĩ thầm: "Đêm khuya tuyết lớn, người ta vẫn đội tuyết mà đi, hẳn có việc khẩn cấp". Tiếng vó ngựa đến gần bỗng dừng lại, rồi tiến gần hơn nữa, rõ ràng đã sắp tới cửa hang. Trương Vô Kỵ chột dạ nghĩ thầm: "Cái hang này ở sau dốc núi, nếu không có con hoẵng chạy vào đây, mình chẳng thể tìm ra, sao lại có người biết mà tìm đến nhỉ?" Rồi chàng chợt hiểu: "Đúng rồi, mình để lại dấu chân trên tuyết; tuy tuyết rơi suốt đêm, vẫn chưa xóa hết dấu vết".

Lúc này Triệu Mẫn cũng đã tỉnh dậy, nói nhỏ:

– Có thể kẻ địch tới đây không chừng, mình nên tránh đi, xem họ là ai đã.

Rồi nàng bốc tuyết ở cửa hang mà dập tắt đống lửa.

Lúc này tiếng vó ngựa đã lặng, chỉ nghe tiếng bốn người kia đạp tuyết đi tới, cách cái hang chỉ còn mươi trượng. Trương Vô Kỵ nói nhỏ:

– Bốn người này thân pháp nhanh nhẹn, là các cao thủ vô cùng lợi hại.

Bây giờ hai người mà chạy ra ngoài hang tìm nơi ẩn náu, thì sẽ bị họ phát giác ngay. Còn chưa biết tính sao, Triệu Mẫn đã cầm tay Trương Vô Kỵ đi vào phía trong. Cái hang này càng vào sâu càng hẹp, đi hơn một trượng, thì có ngã rẽ; bỗng nghe người ở bên ngoài nói:

– Ở đây có một cái hang.

Trương Vô Kỵ nghe giọng nói quá quen thuộc, chính là tứ sư bá Trương Tòng Khê, vừa mừng vừa lo, lại nghe tiếng người thứ hai nói:

– Vết chân ngựa và người chính là dẫn tới cái hang này.

Người nói là Ân Lê Đình.

Trương Vô Kỵ đang định lên tiếng gọi, thì Triệu Mẫn giơ tay bịt miệng chàng, ghé tai nói nhỏ:

– Chàng với muội ở chung chỗ này, để họ thấy được, e sẽ nghĩ xấu về mình.

Trương Vô Kỵ nghĩ nàng nói đúng. Mình cùng Triệu Mẫn tuy quang minh lỗi lạc, nhưng một đôi thiếu niên nam nữ ngủ chung trong một cái hang nhỏ, để các vị sư bá sư thúc trông thấy, ai dám tin rằng hai cô cậu không có chuyện này chuyện nọ? Huống hồ Triệu Mẫn còn là quận chúa nhà Nguyên, từng bắt giam Trương Tòng Khê, Ân Lê Đình ở chùa Vạn An, thật là nhục nhã, bây giờ họ bắt gặp kẻ thù, thật là bất tiện. Chàng nghĩ thầm: "Thôi mình chờ Trương tứ bá, Ân lục thúc rời khỏi hang, rồi sẽ một mình ra gặp họ cho đỡ ngượng".

Lại nghe tiếng Du Liên Châu nói:

– Ồ, ở đây có vết tích củi lửa, ồ, có cả lông da và vết máu làm thịt hoẵng nữa này.

Lại thêm giọng nói của người thứ tư:

– Ta thấy nóng ruột quá, chỉ mong sao cho thất đệ bình an vô sự.

Giọng nói đó chính là của Tống Viễn Kiều.

Trương Vô Kỵ thấy cả bốn vị sư bá sư thúc Tống Du Trương Ân cùng cất công đi tìm Mạc Thanh Cốc, nghe lời lẽ của họ, dường như thất sư thúc gặp phải cường địch, nên trong bụng cũng thấy lo lắng.

Lại nghe Trương Tòng Khê cười nói:

– Đại sư ca thương yêu thất sư đệ, vẫn cứ coi y như một tiểu sư đệ bé bỏng; kỳ thực mấy năm nay uy danh của Mạc thất hiệp vang dội, đâu phải như ngày xưa; dù có gặp cường địch, một mình thất đệ cũng đối phó được.

Ân Lê Đình nói:

– Đệ không lo cho thất đệ, mà chỉ lo cho điệt nhi Vô Kỵ không biết hiện giờ đang ở đâu thôi. Nó là giáo chủ Minh giáo, thuyền to sóng cả, không ít kẻ ngấm ngầm muốn hại nó. Vô Kỵ tuy võ công cao siêu, tiếc rằng lại là người quá trung hậu, không biết phong ba hiểm ác chốn giang hồ, chỉ sợ rơi vào bẫy của kẻ gian mà thôi.

Trương Vô Kỵ thật cảm động, nghĩ các vị sư bá sư thúc đối với chàng ân tình sâu nặng như thế, luôn luôn lo lắng cho chàng. Triệu Mẫn ghé miệng bên tai chàng thì thầm:

– Muội là kẻ gian đó, lúc này chàng đang rơi vào bẫy của muội, có biết chưa?

Lại nghe tiếng của Tống Viễn Kiều:

– Thất đệ lên mạn bắc tìm Vô Kỵ, hình như đã lần được chút manh mối, song thất đệ để lại tám chữ ở khách điếm Thiên Tân, khiến người ta không đoán nổi ý nghĩa thế nào.

Trương Tòng Khê nói:

– "Môn hộ hữu biến, cức tu thanh lý", không lẽ trong phái Võ Đang chúng ta lại có kẻ làm chuyện bại hoại hay sao? Hay là điệt nhi Vô Kỵ..

Ông nói tới đó thì dừng lại, giọng đầy vẻ lo lắng. Ân Lê Đình nói:

– Điệt nhi Vô Kỵ chắc không làm việc gì bại hoại môn hộ đâu, tiểu đệ tin chắc như thế.

Trương Tòng Khê nói:

– Ta sợ là sợ yêu nữ Triệu Mẫn quá gian trá độc ác, trong khi Vô Kỵ trẻ tuổi, huyết khí bồng bột, dễ sa vào tay mỹ nữ, như cha nó ngày xưa, đến nỗi thân bại danh liệt.

Bốn người không nói thêm, chỉ thở dài.

Tiếp đó có tiếng đánh lửa, tiếng củi kêu lách tách, lửa đã được nhóm lên, ánh lửa hắt vào trong hang, tuy đã qua một khúc quanh, Trương Vô Kỵ vẫn lờ mờ nhìn thấy vẻ mặt Triệu Mẫn dường như nửa giận nửa oán, chắc là bực mình về lời lẽ của Trương Tòng Khê. Trương Vô Kỵ cũng chột dạ nghĩ thầm: "Trương tứ bá nói thế cũng có lý. Mẹ ta chẳng làm việc gì xấu, mà đã khiến cha ta ra nông nỗi ấy. Còn Triệu cô nương này giết biểu muội ta, làm nhục thái sư phụ và các vị sư bá sư thúc của ta, xem ra ghê gớm hơn mẹ ta nhiều". Nghĩ tới đó, tim đập mạnh, nghĩ tiếp: "Nếu để họ bắt gặp mình cùng Triệu cô nương ở đây, dẫu có tát cạn nước Hoàng Hà cũng không rửa sạch được nỗi oan này".

Bỗng nghe Tống Viễn Kiều run run nói:

– Tứ đệ, trong lòng ta có một mối hồ nghi không tiện nói ra, vì nói ra chỉ e không phải với ngũ đệ đã qua đời.

Trương Tòng Khê thong thả nói:

– Có phải đại ca lo Vô Kỵ hạ độc thủ với thất đệ hay chăng?

Tống Viễn Kiều không đáp; Trương Vô Kỵ tuy không nhìn thấy, song cũng đoán là ông ta gật đầu.

Lại nghe Trương Tòng Khê nói:

– Thằng bé Vô Kỵ bản tính đôn hậu, về lý mà xét, quyết không khi nào làm chuyện đó. Đệ chỉ lo thất đệ tính khí quá nóng nảy, nếu cứ ép Vô Kỵ quá đáng, khiến nó không thể vẹn cả đôi bề; lại thêm con yêu nữ Triệu Mẫn sắp đặt gian kế, ở bên trong gièm pha xúi bẩy, thì.. ôi, lòng người khó lường, sự đời khó đoán trước, xưa nay anh hùng khó vượt qua cửa ải mỹ nhân, chỉ mong Vô Kỵ tỉnh táo trong giờ phút hệ trọng mà thôi.

Ân Lê Đình nói:

– Đại ca, tứ ca, hai vị cứ đoán mò mà lo hão, thất đệ chắc không gặp chuyện gì hung hiểm đâu.

Tống Viễn Kiều nói:

– Nhưng từ lúc ta nhìn thấy thanh kiếm tùy thân của thất đệ, thì ta lo lắng bồn chồn, ăn ngủ chẳng yên.

Du Liên Châu nói:

– Chuyện đó quả thực không thể hiểu nổi. Những người luyện võ chúng ta, binh khí tùy thân đâu có thể bạ đâu vứt đó, huống chi thanh kiếm ấy là do sư phụ ban tặng, phải là kiếm còn người còn, kiếm mất người..

Sau chữ "người", ông ngừng bặt, không dám nói tiếp chữ "mất".

Trương Vô Kỵ nghe nói Mạc Thanh Cốc bỏ lại thanh kiếm sư phụ ban cho, các vị sư bá sư thúc có ý nghi chàng nhúng tay vào; thì vừa lo lắng vừa đau đớn. Một lát sau, chàng loáng thoáng ngửi thấy bên trong hang dường như có mùi hôi, cái hang này sâu, không chừng có dã thú ở bên trong cũng nên. Chàng sợ bị bọn Tống Viễn Kiều phát giác, không dám thở mạnh, cầm tay Triệu Mẫn rón rén đi sâu vào trong, lại lo đụng phải chỗ đá nhô ra, nên giơ tay trái dò đường. Đi được ba bước, lại gặp một khúc quanh, bỗng tay trái chàng chạm phải một vật gì mềm mềm, hình như là một người nào đó.

Trương Vô Kỵ cả kinh, chợt nghĩ thầm: "Bất kể người này là bạn hay thù, chỉ cần y lên tiếng, các vị sư bá sư thúc sẽ phát giác ngay", chàng bèn vung tay điểm luôn năm huyệt đạo ở vùng ngực bụng của người kia, rồi chộp luôn cổ tay kẻ đó. Tay chàng chạm vào da thịt thấy lạnh ngắt, hóa ra người ấy đã chết từ lúc nào. Nhờ chút ánh sáng leo lắt từ bên ngoài hắt vào, chàng căng mắt nhìn khuôn mặt người kia, lờ mờ nhận ra hình như là Mạc sư thúc Mạc Thanh Cốc. Chàng cả kinh, chẳng còn sợ bị nhóm Tống Viễn Kiều phát giác hay không, liền ôm cái xác đi ra phía ngoài vài bước, chỗ ánh sáng chiếu vào rõ hơn, chàng nhìn thấy hiển nhiên đó là Mạc sư thúc, mặt ông ta không còn chút máu, hai mắt vẫn mở trừng trừng, càng nhìn càng kinh hãi. Chàng vừa kinh sợ vừa đau đớn, nhất thời cứ đứng ngây ra.

Mấy bước đi vừa rồi của chàng, bọn Tống Viễn Kiều đã nghe thấy. Du Liên Châu kêu to:

– Trong kia có người!

Hàn quang loáng lên, Võ Đang tứ hiệp nhất tề rút kiếm ra.

Trương Vô Kỵ thầm kêu khổ: "Mình đang ôm xác Mạc thất thúc, trốn ở trong hang thế này, cái tội giết sư thúc cãi sao cho được đây?" Nhớ lại Mạc Thanh Cốc đối với chàng biết bao nhiêu ân tình, nay bỗng dưng phát hiện ông ta chết thảm, trong bụng vạn phần bi phẫn, trong đầu nảy ra bao ý nghĩ, không biết lúc huynh đệ Tống Viễn Kiều tiến vào, chàng sẽ phải minh oan thế nào đây?

Triệu Mẫn suy tính nhanh hơn chàng rất nhiều; nàng nhảy vọt ra, múa trường kiếm, xông thẳng ra ngoài, đâm bốn kiếm liền, toàn là chiêu số thí mạng của phái Nga Mi, nhắm vào Võ Đang tứ hiệp. Võ Đang tứ hiệp giơ kiếm đỡ gạt, thì Triệu Mẫn đã chạy ra khỏi hang, vọt lên lưng một trong bốn con ngựa của mấy người đó, quay kiếm gạt mũi kiếm của Tống Viễn Kiều đâm tới, đồng thời thúc mạnh chân vào bụng ngựa. Con ngựa bị đau phóng vút đi.

Triệu Mẫn tưởng đã chạy thoát, đột nhiên lưng đau nhói, mắt nổ đom đóm, dường như nghẹn thở, thì ra vừa bị trúng một chiêu phi chưởng của Du Liên Châu. Chỉ nghe Võ Đang tứ hiệp thi triển khinh công rượt theo gấp gáp. Nàng nghĩ thầm: "Mình chạy càng xa, chàng càng dễ thoát thân; nếu không, nỗi oan kia làm sao biện bạch? May mà cả bốn người cùng đuổi theo mình, không nghĩ rằng trong hang còn có người khác". Nàng cảm thấy lưng đau ghê gớm bèn giơ kiếm đâm vào mông con ngựa một cái, con ngựa hí một tiếng dài, phi như bay.

Trương Vô Kỵ thấy Triệu Mẫn xông ra thì kinh ngạc, rồi hiểu đó là kế điệu hổ ly sơn của nàng, cốt cứu chàng thoát đi. Chàng liền ôm xác Mạc Thanh Cốc chạy ra khỏi hang. Nghe tiếng Triệu Mẫn và Võ Đang tứ hiệp chạy về hướng đông, chàng bèn chạy về phía tây. Chạy được hơn hai dặm, chàng bèn đem cái xác giấu kín sau một tảng đá lớn, rồi mới quay lại bên đường, nhảy lên một cây cao, hồi lâu trống ngực vẫn còn đập mạnh. Nghĩ đến cái chết thảm khốc của Mạc Thanh Cốc, Trương Vô Kỵ không sao cầm được nước mắt, nghĩ thầm: "Phái Võ Đang nhà ta sao lắm tai họa thế, không biết kẻ nào sát hại Mạc sư thúc? Gân cốt sau lưng Mạc sư thúc bị gãy cả, đã trúng chưởng lực nội gia".

Gần nửa canh giờ sau, nghe tiếng ba con ngựa từ phía đông chạy lại, dưới ánh tuyết phản chiếu, Trương Vô Kỵ thấy Tống Viễn Kiều và Du Liên Châu mỗi người cưỡi một con ngựa, còn Trương Tòng Khê và Ân Lê Đình hai người cưỡi chung một con. Chỉ nghe Du Liên Châu nói:

– Con yêu nữ ấy bị một chưởng của đệ, cả người lẫn ngựa rơi xuống vực sâu, chắc khó toàn mạng.

Trương Tòng Khê nói:

– Hôm nay mới trả được mối nhục bị giam ở chùa Vạn An, kể cũng bõ tức. Có điều là tại sao nó lại trốn trong cái hang đó, sự đời kỳ ảo, thực là bất ngờ.

Ân Lê Đình nói:

– Tứ ca thử đoán xem cô ta lấp ló một mình trong cái hang đó làm gì?

Trương Tòng Khê đáp:

– Việc đó thật khó hiểu. Giết con yêu nữ cũng chả được gì, chỉ có tìm được thất đệ mới thực là vui thôi.

Bốn người đi xa dần, lời họ nói đã không còn nghe thấy nữa.

*

* *

Trương Vô Kỵ chờ bốn người đi xa rồi, mới từ trên cây nhảy xuống, theo dấu chân ngựa trên tuyết mà chạy về phía đông, lòng bồn chồn hết chỗ nói, nghĩ thầm: "Nàng tuy gian trá, song lần này đúng là nàng xả mệnh cứu ta. Nếu vì thế mà nàng thiệt mạng, ta.. ta.." Chàng càng chạy nhanh hơn, thoáng chốc đã vượt bốn, năm dặm, tới bên một mép núi. Trên tuyết trắng có vũng máu, dấu chân loạn xạ, mép núi bị sạt lở một khối đá lớn, chắc là con ngựa Triệu Mẫn cưỡi đã chạy tới đây, hết đường mà đang đà, nên lao cả người lẫn ngựa xuống vực rồi.

Trương Vô Kỵ gọi to:

– Triệu cô nương, Triệu cô nương!

Chàng gọi bốn, năm tiếng nhưng không thấy đáp lại, càng lo lắng hơn, ra sát mép núi ngó xuống, thấy một cái vực sâu, trong đêm tối không thấy dưới đáy thế nào. Vách đá thẳng đứng, không có chỗ đặt chân.

Chàng hít một hơi dài, thò hai chân xuống, mặt hướng vào vách đá, tuột xuống. Tụt được ba, bốn trượng, thế rơi càng lúc càng nhanh, liền vận sức vào mười ngón tay, chọc vào lớp băng đóng cứng ở vách núi; đợi thân hình dừng lại một chút, mới lại tụt xuống tiếp. Cứ như thế dăm lần thì tới đáy vực, thấy dưới chân mềm mềm, vội nhảy tránh sang bên; thì ra chàng đạp trúng bụng con ngựa, Triệu Mẫn vẫn chưa rời yên, hai tay vẫn cứ ôm chặt cổ ngựa.

Trương Vô Kỵ đưa tay thăm mũi Triệu Mẫn, thấy còn thở nhè nhẹ, nhưng đã ngất lịm đi. Chàng hơi yên tâm, dưới đáy vực tối mờ, tuyết mùa đông đóng dày đến tận lưng, vẫn chưa tan. Xem ra Triệu Mẫn vì chưa rời yên ngựa, nên bao nhiêu lực rơi con ngựa chịu hết, bị chấn động chết tức thì, còn nàng chỉ hôn mê. Trương Vô Kỵ bắt mạch, thấy Triệu Mẫn tuy bị thương không nhẹ, nhưng tính mệnh không đáng ngại, liền ôm nàng vào lòng, bốn bàn tay áp vào nhau, vận công trị thương cho nàng.

Một chưởng Triệu Mẫn bị đánh là công phu bổn môn của phái Võ Đang, nên việc trị thương không khó, chưa đầy nửa canh giờ, nàng đã từ từ tỉnh lại. Trương Vô Kỵ đem "Cửu dương chân khí" trút cuồn cuộn sang người nàng, lại thêm nửa canh giờ nữa, trời đã tờ mờ sáng, Triệu Mẫn "ồ" lên một tiếng, thổ ra một ngụm máu bầm, hỏi khẽ:

– Họ đi cả chưa? Họ có nhìn thấy chàng hay không?

Trương Vô Kỵ thấy nàng chỉ nghĩ tới việc làm sao tránh cho chàng khỏi bị tiếng oan, thì vô cùng cảm kích, nói:

– Họ không thấy ta đâu. Cô nương.. tội nghiệp cho cô nương quá.

Chàng vừa nói vừa tiếp tục truyền "Cửu dương chân khí" sang người nàng.

Triệu Mẫn nhắm mắt, tuy tứ chi chưa có sức, nhưng vùng bụng ngực thấy rất ấm áp dễ chịu. "Cửu dương chân khí" đã lưu chuyển mấy vòng trong cơ thể, nàng quay đầu lại, nói:

– Chàng nghỉ một lát đi, muội đỡ nhiều lắm rồi.

Trương Vô Kỵ vòng hai tay ôm lấy eo nàng, áp má bên phải vào má trái nàng, nói:

– Nàng cứu thanh danh cho ta, hơn cả mười lần cứu mạng, ta cảm kích vô ngần.

Triệu Mẫn cười khúc khích, nói:

– Muội là con tiểu yêu nữ gian trá độc ác, thanh danh chả coi ra gì, chỉ coi trọng mạng sống thôi.

Ngay lúc ấy, bỗng nghe từ trên mỏm núi có tiếng người vọng xuống:

– Con tiểu yêu nữ khốn kiếp quả nhiên chưa chết, ngươi giết hại Mạc thất hiệp thế nào, mau nói ta nghe!

Giọng nói đó chính là của Du Liên Châu. Trương Vô Kỵ cả kinh, không ngờ bốn vị sư bá sư thúc quay trở lại. Triệu Mẫn nói:

– Chàng quay đầu đi, đừng để họ thấy mặt.

Trương Tòng Khê quát:

– Con tặc yêu nữ, nếu ngươi không trả lời, ta sẽ lăn đá xuống đè nát ngươi.

Triệu Mẫn ngẩng nhìn lên, quả thấy bọn Tống

Viễn Kiều đang vần một tảng đá lớn, họ chỉ cần lăn nó xuống đây, hai người khó mà thoát chết. Nàng bèn ghé tai nói nhỏ với Trương Vô Kỵ:

– Chàng hãy xé một mảnh áo da bịt mặt, rồi ôm muội chạy đi.

Trương Vô Kỵ y lời, xé vạt áo, bịt mặt, buộc nút ra sau gáy, lại kéo sụp cái mũ da xuống tận trán, chỉ để lộ đôi mắt.

Võ Đang tứ hiệp sau khi rượt đuổi Triệu Mẫn khiến nàng rơi xuống vực rồi, song bốn người hành hiệp giang hồ lão luyện, thiết tưởng Triệu Mẫn có thân phận quận chúa tôn quý, không thể chỉ đi một mình không ai hộ vệ. Họ bèn giả bộ cưỡi ngựa bỏ đi, được vài dặm liền buộc ngựa ở hàng cây ven đường, lặng lẽ trở lại xem xét. Họ trở lại cái hang trước, đốt đuốc đi sâu vào trong, thấy hai con hoẵng đã bị dã thú cắn xé máu thịt bầy nhầy, song vẫn còn hình dạng. Họ lại xem xét cửa hang, lần theo dấu chân của Trương Vô Kỵ, từ đó phát giác thi thể Mạc Thanh Cốc, thấy chân tay bị dã thú cắn nát. Bốn người vừa đau đớn vừa phẫn nộ không sao kể xiết, Ân Lê Đình nằm phục xuống mà khóc.

Du Liên Châu gạt lệ, nói:

– Con tiểu yêu nữ Triệu Mẫn võ công không kém, nhưng một mình nó thì không thể giết nổi thất đệ. Lục đệ hãy nén bi thương, chúng ta phải đi tìm cho ra hung thủ, giết chúng để trả thù cho thất đệ.

Trương Tòng Khê nói:

– Chúng ta hãy mai phục cạnh hang, đợi trời sáng, thuộc hạ của con tiểu yêu nữ thể nào cũng tìm đến.

Trương Tòng Khê túc trí đa mưu, trước nay nói gì huynh đệ Tống Viễn Kiều cũng đều làm theo kế, bốn người bèn nén đau thương, tìm các tảng đá ở hai bên cửa hang, ẩn mình chờ đợi. Trời sáng vẫn không thấy thủ hạ của Triệu Mẫn đâu cả, bốn người liền tới chỗ Triệu Mẫn bị rơi xem sao, thấy dưới vực có tiếng người nói chuyện, nhìn xuống thấy một nam tử mặc áo gấm ôm Triệu Mẫn, thì ra con tiểu yêu nữ kia vẫn chưa chết. Tứ hiệp muốn tra hỏi nguyên nhân vì sao sát hại Mạc Thanh Cốc, nên chưa lăn tảng đá xuống đè chết hai người. Cái vực này y như một cái giếng lớn, tứ phía là vách núi hiểm trở, chỉ ở góc tây bắc có một lối đi lên rất hẹp. Trương Tòng Khê quát:

– Hai con chó Nguyên kia, mau lên đây, nếu lần khân, ta sẽ lăn đá xuống ngay.

Trương Vô Kỵ nghe tứ sư bá tưởng lầm chàng là người Mông Cổ, chắc do mình ăn mặc sang trọng, lại đi cùng Triệu Mẫn; chàng nhìn quanh, bốn phía không có chỗ ẩn nấp, nếu tứ hiệp lăn đá xuống, tự chàng có thể nhảy nhót né tránh, chứ Triệu Mẫn thì khó lòng thoát chết; chỉ còn cách tới đâu hay đó, liền ôm Triệu Mẫn theo con đường hẹp kia thong thả bò lên.

Chàng giả bộ võ công kém cỏi, đi vài bước lại trượt chân một cái. Con đường vốn hẹp rất khó bám víu, chàng lại cố ý vụng về, mệt mỏi, nên mất nửa canh giờ, sau bảy tám lần vấp ngã, mới lên tới chỗ đất bằng.

Trương Vô Kỵ định bụng vừa lên tới sẽ ôm Triệu Mẫn chạy ngay, với tài khinh công của chàng, dù phải mang thêm Triệu Mẫn, tứ hiệp cũng khó lòng đuổi kịp. Nhưng Trương Tòng Khê cực kỳ khôn ngoan, thấy kẻ leo lên giả bộ vụng về, đã ngầm báo cho ba người kia, tứ hiệp chia ra bốn góc, Trương Vô Kỵ vừa bước lên, bốn thanh trường kiếm đã chĩa ngay vào, cách thân chàng chưa đầy nửa thước.

Tống Viễn Kiều tức giận nói:

– Tặc Thát tử, ngươi lấy tấm da che bộ mặt quỷ lại, tưởng chạy thoát được ư? Mạc thất hiệp phái Võ Đang là do kẻ nào hạ sát? Hãy mau khai ra, nếu ngươi nói láo nửa câu, ta sẽ mổ bụng moi gan, băm vằm đồ chó Thát tử nhà ngươi!

Tống Viển Kiều bản tính khoan hòa nhưng vì thấy Mạc Thanh Cốc chết thảm, không nhịn được phải buông lời nói ác, là điều chưa từng xảy ra đối với ông mấy chục năm qua.

Triệu Mẫn thở dài, nói:

– Áp Lỗ Bất Hoa tướng quân, việc đến nước này, ngươi hãy nói cho họ biết đi vậy!

Rồi nàng thì thầm bên tai Trương Vô Kỵ:

– Hãy dùng võ công thánh hỏa lệnh!

Trương Vô Kỵ vốn không muốn động thủ với các vị sư bá sư thúc, nhưng tình thế này thật chẳng đặng đừng. Chàng bèn nghiến răng, ném luôn Triệu Mẫn vào Ân Lê Đình, miệng xí xa xí xố, tung người lộn vài vòng trên không trung, vươn tay chộp vào người Trương Tòng Khê. Ân Lê Đình thuận tay bắt lấy Triệu Mẫn, hơi ngạc nhiên, điểm ngay huyệt đạo và vứt nàng sang một bên.

Trong sát-na đó, Trương Vô Kỵ đã dùng võ công quái dị ghi trên thánh hỏa lệnh, tay đấm Tống Viễn Kiều, chân đá Du Liên Châu, đầu húc Trương Tòng Khê, vung ngược tay cướp trường kiếm của Ân Lê Đình. Mấy chiêu ấy nhanh như cắt, lại lạ lùng. Võ Đang tứ hiệp võ công cao cường, thuộc hàng đệ nhất cao thủ võ lâm, nhưng bị chàng dùng bảy tám quái chiêu đánh loạn xạ, thành thử chân tay luống cuống, không ai chống đỡ nổi.

Ngày nọ trên đảo Linh Xà, Trương Vô Kỵ võ công cao như thế, vậy mà gặp phải chiêu số quái dị trong thánh hỏa lệnh của Lưu Vân tam sứ Minh giáo Ba Tư, chàng cũng không chống nổi, huống hồ bây giờ chàng đã học võ công ghi cả trên sáu thánh hỏa lệnh, còn cao hơn ba sứ giả Ba Tư đến mấy lần. Võ công ghi trên thánh hỏa lệnh vốn không phải là công phu thượng thừa, song kỳ dị cổ quái, khiến người ta không biết đằng nào mà lần, nếu do một người tầm thường sử dụng, thì cũng khó đối địch với võ công chính tông nội gia của phái Võ Đang. Nhưng Trương Vô Kỵ lấy "Cửu dương thần công" làm căn cơ, lấy tâm pháp "Càn khôn đại na di" làm rường cột, lại hiểu biết quá rõ cái cốt yếu trong võ công phái Võ Đang, nên chiêu thức nào cũng đánh thẳng vào chỗ sơ hở của tứ hiệp. Đấu được hơn hai chục chiêu, võ công thánh hỏa lệnh càng kỳ ảo khôn lường.

Triệu Mẫn nằm trên tuyết, lớn tiếng nói:

– Áp Lỗ Bất Hoa tướng quân, bọn người Hán vốn tự phụ lắm, hãy cho bọn họ nếm mùi thần kỹ đánh vật tổ truyền của người Mông Cổ chúng ta.

Trương Tòng Khê kêu lên:

– Dùng "Thái cực quyền" để tự vệ, quyền chiêu của tên Thát tử này quái dị quá chừng.

Bốn người lập tức thay đổi quyền pháp, sử dụng "Thái cực quyền" phòng thủ môn hộ thật nghiêm mật.

Trương Vô Kỵ đột nhiên ngồi phệt xuống đất, hai tay đấm loạn xạ vào ngực mình.

Võ Đang tứ hiệp bình sinh từng gặp không biết bao nhiêu cường địch, từng biết không ít chiêu thức quái đản; tâm pháp "Càn khôn đại na di" của Trương Vô Kỵ có thể coi là đỉnh cao công phu võ học; nhưng cái môn ngồi tự đấm ngực của tên Thát tử kia thì họ chưa từng thấy, cũng chưa từng nghe bao giờ.

Tứ hiệp vốn đã thu trường kiếm về, dùng "Thái cực quyền" phòng thủ môn hộ, lúc này kinh ngạc, Tống Viễn Kiều, Du Liên Châu, Trương Tòng Khê ba người lại rút kiếm ra chĩa vào Trương Vô Kỵ. Trường kiếm của Ân Lê Đình đã bị Trương Vô Kỵ giằng lấy ném đi, nhưng trên người còn đeo thanh bội kiếm của Mạc Thanh Cốc, lúc này bèn rút ra đâm tới.

Trương Vô Kỵ đột nhiên vung chân tạt ngang, hất mạnh cả đám tuyết lớn lên người tứ hiệp. Đây là một chiêu quái dị trong thánh hỏa lệnh, vốn là một chiêu Sơn Trung lão nhân Hoắc Sơn dùng để giết người cướp của. Hoắc Sơn hồi chưa sáng lập giáo phái, thường ở sa mạc Ba Tư ăn cướp hàng hóa của các khách thương, mỗi khi thấy có thương đội từ xa đi tới, lão bèn ngồi xuống đấm ngực, than khóc kêu trời trách đất, các thương khách thể nào cũng lại gần thăm hỏi. Lúc đó lão đột nhiên đá cát tung lên, làm cho đám dân buôn mù mắt, rồi vung đao đâm chém, trong giây lát đã khiến mấy chục khách thương máu vãi trên sa mạc, chết lăn quay, quả là một chiêu số cực kỳ âm độc. Trương Vô Kỵ lúc này đá tung tuyết phủ trên mặt đất, công hiệu chẳng khác gì đá cát.

Trong khoảnh khắc Võ Đang tứ hiệp bị tuyết văng đầy mặt, hai mắt không nhìn thấy gì; họ ứng biến thật nhanh, tức thời nhảy vọt về phía sau. Nhưng Trương Vô Kỵ ra tay còn nhanh hơn, chàng ôm hai chân Du Liên Châu lăn một cái, thuận tay điểm luôn ba đại huyệt; tiếp đó lộn một vòng trên không, lúc rơi xuống để đầu gối chân phải đụng vào đầu Ân Lê Đình, trúng hai huyệt Ngũ Xứ và Thừa Quang trên đỉnh đầu ông ta. Ân Lê Đình choáng váng, ngã lăn xuống tuyết. Tống Viễn Kiều phi thân lại cứu, Trương Vô Kỵ liền ngồi thụp xuống phía sau, trúng ngay vào lòng ông ta. Tống Viễn Kiều thu kiếm về không kịp, tay trái bỏ kiếm quyết, vung chưởng vỗ xuống đầu chàng, nhưng chưởng lực chưa kịp phát ra, ngực đã tê dại vì bị hai cùi chỏ của chàng thúc vào huyệt đạo.

Trương Tòng Khê cả kinh, thấy trong bốn người chỉ còn một mình, chẳng thể nào địch nổi, nhưng tình nghĩa đồng môn sâu nặng, quyết không thể bỏ chạy, liền vung trường kiếm đam liền ba nhát về phía Trương Vô Kỵ.

Trương Vô Kỵ thấy tứ sư bá lâm cảnh nguy nan, song bộ pháp vẫn trầm ổn, kiếm chiêu không loạn chút nào, ba đường kiếm lợi hại đều theo đúng gia pháp Võ Đang, thì trong bụng khen thầm: "Nếu ta không học được môn võ công cổ quái, để chống đỡ các vị sư bá sư thúc liên thủ tấn công, thật không dễ chút nào". Chàng liền cứ xoay cái đầu thành vòng tròn, Trương Tòng Khê chẳng buồn để ý tới cái trò xoay đầu của chàng, vù một tiếng, trường kiếm xé gió đâm thẳng tới ngực chàng. Trương Vô Kỵ thụp xuống, lao đầu đón mũi kiếm, bỗng nhiên ngã sấp mà nhoài về phía trước, thế là bốn huyệt ở bụng dưới và đùi trái của Trương Tòng Khê đã bị điểm trúng, ông ta ngã ngửa ra liền.

Bốn huyệt đạo Trương Vô Kỵ điểm vào ấy chỉ cốt làm cho đối phương tê dại nửa thân dưới, chàng đang định điểm thêm huyệt Trung Khu ở sau lưng ông ta, bỗng nghe ông rú lên một tiếng thảm thiết, hai mắt trợn ngược, nửa thân trên quằn quại, giãy giụa vài cái rồi thở hắt ra chết tươi. Trương Vô Kỵ thấy vậy cả kinh, nghĩ thầm vừa rồi mình điểm huyệt rất nhẹ tay, đừng nói trí mạng, ngay bị thương nhẹ cũng chẳng đến nỗi, hay là tứ sư bá vốn có bệnh cũ, nay đột nhiên bị đánh mà bỏ mạng chăng? Chàng toát mồ hôi lạnh, vội đưa tay thăm thử mũi của Trương Tòng Khê.

Đột nhiên Trương Tòng Khê đưa tay trái giật phăng mảnh áo che mặt chàng. Hai người sững sờ nhìn nhau, đều ngẩn ra.

Lát sau, Trương Tòng Khê mới nói:

– Vô Kỵ giỏi thật, hóa ra.. hóa ra.. là ngươi, thật không uổng công chúng ta đối đãi tử tế với ngươi.

Giọng ông nghẹn ngào, mặt đầy vẻ tức tối, nước mắt ròng ròng, không rõ vì phẫn uất hay vì đau lòng. Nguyên ông biết là không thể địch nổi, nhưng nghĩ bụng nếu chết mà không biết mặt mũi kẻ địch ra sao, Võ Đang tứ hiệp chết bởi tay ai, thì quả là chết không nhắm mắt; bởi vậy ông bèn giả chết để giật mảnh da che mặt đối phương.

Trương Vô Kỵ bản tính thật thà, hai là chàng quá lo lắng cho tứ sư bá, nên không hề đề phòng. Lúc này tâm trạng của chàng so với bị lăng trì còn khổ sở hơn nhiều. Chàng hết cả hồn vía, cứ ngây ra như tượng gỗ, hồi lâu mới nói:

– Tứ sư bá, không phải điệt nhi, không phải điệt nhi.. thất sư thúc không phải điệt nhi.. không phải điệt nhi hãm hại..

Trương Tòng Khê cười đau đớn, nói:

– Giỏi lắm, giỏi lắm, ngươi mau mau giết hết huynh đệ bọn ta đi! Đại ca, nhị ca, lục đệ, các vị nhìn rõ chưa, tên Thát tử chó má kia nào phải ai khác, lại chính là hài nhi Vô Kỵ mà chúng ta hết lòng thương yêu.

Tống Viễn Kiều, Du Liên Châu, Ân Lê Đình ba người không cử động được, chỉ ngẩn ngơ nhìn Trương Vô Kỵ.

Trương Vô Kỵ thần trí mê loạn, đang định nhặt thanh kiếm dưới đất lên, cứa ngang cổ mình, thì Triệu Mẫn kêu lên:

– Trương Vô Kỵ, đại trượng phu biết gắng chịu oan khuất nhất thời, đâu có gì phải gấp, mọi chuyện trong thiên hạ rồi sẽ rõ trắng đen. Chàng phải tìm cho ra hung thủ sát hại Mạc thất hiệp, báo thù cho Mạc thất hiệp, để khỏi phụ lòng thương yêu của Võ Đang chư hiệp.

Trương Vô Kỵ rùng mình, cảm thấy lời đó có lý, bèn nói:

– Thế bây giờ mình phải làm sao?

Nói xong bước tới bên nàng, đưa tay xoa bóp giải các huyệt nàng bị điểm ở lưng và thắt lưng. Triệu Mẫn nhỏ nhẹ an ủi chàng:

– Chàng đừng tuyệt vọng, Minh giáo có nhiều cao thủ, trong tay muội cũng không thiếu người tài trí, nhất định sẽ tóm được hung thủ.

Trương Tòng Khê kêu lên:

– Trương Vô Kỵ, nếu ngươi còn chút lương tri, thì hãy mau mau giết bốn huynh đệ ta đi. Ta không thể chịu nổi cái cảnh con yêu nữ chàng chàng thiếp thiếp với ngươi nữa.

Trương Vô Kỵ tái mặt, chưa biết làm thế nào. Triệu Mẫn nói:

– Chúng mình trước hết phải đi cứu Hàn Lâm Nhi, sau đó cứu nghĩa phụ chàng, dọc đường sẽ nghe ngóng xem kẻ nào sát hại Mạc thất hiệp, kẻ nào hãm hại biểu muội của chàng.

Trương Vô Kỵ ngây ra, hỏi:

– Cái gì kia?

Triệu Mẫn lạnh lùng nói:

– Mạc thất hiệp có phải do chàng giết không? Tại sao các vị sư bá sư thúc của chàng lại nghĩ là chàng giết? Ân Ly có phải do muội giết không? Vì sao chàng lại đổ oan cho muội? Chẳng lẽ chỉ mình chàng được quyền đổ oan cho người khác, còn người khác không thể đổ oan cho chàng?

Mấy câu đó nghe như sét đánh ngang tai chàng. Đến lúc này, khi đích thân chàng nếm trải, chàng mới hay sự đời thật khó lường, mới thấm thía nỗi khổ vì oan khuất mà không thể biện bạch. Chàng nghĩ thầm: "Không lẽ Triệu cô nương.. nàng.. cũng giống như ta, bị kẻ khác đổ oan hay sao?" Triệu Mẫn nói:

– Chàng điểm huyệt các vị sư bá sư thúc, liệu họ có thể tự giải huyệt được không?

Trương Vô Kỵ lắc đầu:

– Đây là kỳ môn công phu trên thánh hỏa lệnh, các vị sư bá sư thúc không tự giải được. Phải sau một ngày đêm mới tự giải khai.

Triệu Mẫn nói:

– Ồ, vậy thì mình đưa các vị sư bá sư thúc vào trong hang rồi hãy đi. Chưa tìm ra hung thủ, thì chàng đừng gặp họ làm gì.

Trương Vô Kỵ nói:

– Trong hang có dã thú, nai hoẵng ra vào, thi thể của Mạc thất thúc bị dã thú cắn nát đó thôi.

Triệu Mẫn thở dài:

– Xem ra lòng chàng rối loạn, chàng không nghĩ ra được chuyện gì nữa rồi. Chỉ cần có một vị nửa thân trên cử động được, tay cầm kiếm, thì dã thú nào dám động tới họ?

Trương Vô Kỵ nói:

– Đúng rồi, đúng rồi.

Chàng liền bế Võ Đang tứ hiệp mang tới đặt ngồi sau một tảng đá lớn để tránh gió tuyết, cả bốn người cứ chửi luôn miệng, Trương Vô Kỵ nuốt lệ, không dám trả lời. Triệu Mẫn nói:

– Các vị là cao nhân trong võ lâm mà chẳng thấu hiểu lý lẽ gì hết. Mạc thất hiệp nếu là do Trương Vô Kỵ giết hại, thì bây giờ chàng chỉ việc cho mỗi người một nhát kiếm diệt khẩu là xong, đâu có gì khó? Chàng đã nhẫn tâm giết Mạc thất hiệp, chẳng lẽ không đủ nhẫn tâm giết nốt bốn vị? Các vị mà còn mở miệng chửi rủa, Triệu Mẫn ta sẽ cho mỗi vị một cái tát đó. Ta là con tiểu yêu nữ gian trá độc ác, đã nói là làm. Ngày trước ở chùa Vạn An, ta nể mặt Trương công tử, nên giữ lễ đối với các vị hơn hẳn kẻ khác đó. Cao thủ năm phái Thiếu Lâm, Côn Luân, Nga Mi, Hoa Sơn, Không Động đều bị ta chặt một ngón tay. Còn đối với Võ Đang chư hiệp ta có chút nào kém lễ đâu?

Bọn Tống Viễn Kiều nhìn nhau, tuy vẫn cho rằng Trương Vô Kỵ giết hại Mạc Thanh Cốc, song họ sợ Triệu Mẫn ra tay tát thật; đại trượng phu thà chết còn hơn bị nhục, nếu bị tiểu yêu nữ tát tai, thì quả là đại sỉ nhục, thành thử đành ngậm miệng, không dám chửi nữa.

Triệu Mẫn mỉm cười, nói với Trương Vô Kỵ:

– Chàng hãy đi dắt mấy con ngựa lại đây để chở họ tới hang.

Trương Vô Kỵ lưỡng lự, nói:

– Để ta cõng các vị ấy cũng được.

Triệu Mẫn hiểu tâm ý của chàng, cười khẩy, nói:

– Chàng võ công cao siêu thật, nhưng liệu có thể mang cùng lúc cả bốn người đi được chăng? Chàng sợ lúc chàng vừa đi khỏi, muội sẽ ra tay giết hại các vị sư bá sư thúc chứ gì. Chàng trước sau vẫn không tin muội. Thôi được, để muội đi dắt ngựa lại, chàng ở đây canh chừng.

Trương Vô Kỵ bị nàng nói trúng tim đen, mặt đỏ lên, song quả thực chàng không dám giao tính mạng bốn vị sư bá sư thúc cho một thiếu nữ tính nết bất thường này, bèn nói:

– Phiền cô nương đi dắt ngựa tới vậy, ta ở đây canh chừng cho bốn vị sư bá sư thúc. Vết thương của cô nương ra sao, đi lại có trở ngại lắm không?

Triệu Mẫn cười nhạt:

– Chàng có ân cần đến mấy, người ta cũng chẳng tin chàng đâu. Mình có son sắt nhiệt tâm, người ta cũng chỉ cho rằng mình lòng lang dạ thú.

Nói đoạn nàng quay đi dắt ngựa.

Trương Vô Kỵ ngẫm nghĩ mấy câu nàng vừa nói, cảm thấy hình như nói chàng bị các vị sư bá sư thúc nghi ngờ, cũng chính là nói việc chàng nghi oan cho nàng. Chàng đưa mắt nhìn nàng chậm chạp bước đi, thân hình chệnh choạng, đúng là do bị thương nên đi đứng khó khăn, trong bụng vừa thương vừa áy náy.

*

* *

Triệu Mẫn vừa đi được một quãng, bỗng có tiếng vó ngựa theo đường cái từ phía bắc chạy xuống, một con chạy trước, hai con chạy sau, cả thảy ba người.

Nghe tiếng vó ngựa, Triệu Mẫn vội quay trở lại, nói:

– Có người đến kìa!

Trương Vô Kyỵ vẫy vẫy tay cho nàng, nàng chạy lại nấp sau tảng đá, nằm dán mình bên cạnh chàng; thấy Du Liên Châu một nửa người còn lộ ra bên ngoài, liền kéo ông ta vào.

Du Liên Châu trừng mắt nhìn nàng, nói:

– Đừng động vào ta!

Triệu Mẫn cười khẩy, nói:

– Bổn cô nương cứ động đấy, ông làm gì được nào?

Trương Vô Kỵ quát nhỏ:

– Triệu cô nương, không được vô lễ với sư bá của ta.

Triệu Mẫn lè lưỡi, nhăn mặt trêu Du Liên Châu.

Ngay lúc đó, con ngựa thứ nhất chỉ còn cách không bao xa, hai con ngựa chạy sau thì cách con đi đầu hai ba chục trượng. Khi con ngựa thứ nhất tới gần, Trương Vô Kỵ nói nhỏ:

– Đó là Tống Thanh Thư Tống sư ca!

Triệu Mẫn nói:

– Mau ngăn y lại!

Trương Vô Kỵ lấy làm lạ:

– Sao vậy?

Triệu Mẫn đáp:

– Đừng hỏi nhiều, chàng quên những gì đã nghe thấy trong miếu Di Lặc rồi à?

Trương Vô Kỵ chợt hiểu, nhặt một cục băng búng mạnh ra, nghe vèo một tiếng, trúng ngay đùi trước con ngựa Tống Thanh Thư cưỡi. Con ngựa đau quá, nằm khuỵu xuống liền.

Tống Thanh Thư nhảy ra, muốn kéo con ngựa đứng lên, nhưng nó đã gãy chân trái. Tống Thanh Thư thấy hai kẻ đuổi theo càng lúc càng tới gần, bèn chạy vội sang vệ đường. Trương Vô Kỵ lại búng một cục băng ra, trúng huyệt đạo trên đùi phải của gã. Triệu Mẫn thì vung tay liên tiếp bốn lần, điểm vào á huyệt của Võ Đang tứ hiệp, kịp thời ngăn chặn Tống Viễn Kiều lên tiếng gọi con.

Chỉ nghe Tống Thanh Thư kêu "ối" một tiếng, ngã xuống đất.

Sau hai lần ngăn trở đó, hai kẻ cưỡi ngựa đằng sau đã đuổi tới, chính là Trần Hữu Lượng và Chưởng Bát long đầu của Cái Bang. Trương Vô Kỵ thầm kêu lạ: "Ba người này cùng đi đến núi Trường Bạch tìm độc vật để chế thuốc, tại sao một người chạy, hai kẻ đuổi theo đến nơi đây?" Rồi chàng nghĩ thầm: "Phải rồi, chắc là thiên lương của Tống Thanh Thư trỗi dậy, không chịu thực hiện hành vi bất hiếu bất nghĩa kia, cũng may là gặp được mình cứu cho".

Trần Hữu Lượng và Chưởng Bát long đầu cùng nhảy xuống, cứ tưởng là con ngựa Tống Thanh Thư cưỡi chạy lâu hết hơi, mệt quá vấp ngã, hất luôn ngã xuống bị thương. Song Tống Thanh Thư võ công cao cường, có ngã cũng chỉ bị thương nhẹ, nên khi tới gần họ rút binh khí ra chĩa thẳng vào người gã.

Trương Vô Kỵ nhặt một cục băng, toan búng về phía Trần Hữu Lượng. Triệu Mẫn nắm cánh tay chàng, xua xua tay. Trương Vô Kỵ quay sang nhìn nàng. Triệu Mẫn khum khum lòng bàn tay đặt bên tai, rồi chỉ về phía Tống Thanh Thư, ngụ ý hãy nghe xem bọn kia nói gì.

Chỉ nghe Chưởng Bát long đầu tức giận nói:

– Tống Thanh Thư, ngươi đang đêm len lén bỏ chạy là cớ làm sao? Có phải ngươi định đi báo tin cho cha ngươi biết phải không?

Thanh Tử kim bát quái đao trong tay lão cứ múa nhứ nhứ trên đầu Tống Thanh Thư như định chém xuống. Tống Viễn Kiều nghe tiếng réo vù vù của thanh bát quái đao, rất lo cho tính mạng của đứa con yêu, bồn chồn ra mặt. Trương Vô Kỵ tình cờ ngoảnh lại, thấy ánh mắt đại sư bá từ vẻ lo lắng biến ngay thành vẻ khẩn cầu, bèn gật đầu, ý nói: "Sư bá cứ yên tâm, điệt nhi quyết không để Tống đại ca bị thương đâu". Chàng nghĩ thầm: "Lòng cha mẹ thương con thật y như trời bể, đại sư bá đang căm hận, muốn băm vằm ta thành ngàn mảnh, thế mà vừa thấy con ông gặp nguy hiểm, ông đã quay sang cầu khẩn ta. Giả sử chính đại sư bá gặp nguy, ông là người anh hùng can đảm, cũng chả tỏ ra yếu đuối, cầu khẩn đến ai". Trong giây lát, chàng lại mủi lòng nghĩ Tống Thanh Thư có người lo lắng thương yêu, còn chàng chỉ là một kẻ côi cút không cha không mẹ.

Chỉ nghe Tống Thanh Thư nói:

– Không phải tiểu đệ đi báo tin cho cha biết đâu.

Chưởng Bát long đầu hỏi:

– Bang chủ phái ngươi theo ta đến núi Trường Bạch tìm thuốc, ngươi lại tự dưng bỏ đi, không nói với ta, là sao?

Tống Thanh Thư nói:

– Ai cũng do cha mẹ sinh ra, các vị nỡ lòng nào lại cứ ép tiểu đệ làm hại phụ thân tiểu đệ? Tiểu đệ quyết không thể làm cái việc tồi tệ của loài cầm thú như vậy được.

Chưởng Bát long đầu xẵng giọng:

– Ngươi quyết ý chống lệnh của bang chủ hả? Tội phản bang bị trừng trị thế nào, ngươi biết chứ?

Tống Thanh Thư đáp:

– Tiểu đệ là kẻ có tội, vốn chả thiết sống nữa. Mấy hôm nay, mỗi khi chợp mắt, tiểu đệ lại thấy Mạc Thanh Cốc hiện ra đòi mạng, oan hồn ông ta cứ bám theo tiểu đệ. Chưởng Bát long đầu hãy chém một đao cho tiểu đệ chết quách đi rồi, tiểu đệ sẽ càng đa tạ đại ca!

Chưởng Bát long đầu giơ cao bát quái đao, quát:

– Được, để ta thành toàn cho ngươi!

Trần Hữu Lượng liền xen vào, nói:

– Long đầu đại ca, Tống huynh đệ đã không bằng lòng, có giết y cũng vô ích, thôi ta hãy để cho y đi.

Chưởng Bát long đầu kinh ngạc:

– Tha cho hắn đi ư?

Trần Hữu Lượng đáp:

– Đúng vậy! Y chính tay giết sư thúc Mạc Thanh Cốc của y, ắt sẽ có người trong môn phái của y thanh toán y, tội gì phải để binh khí của hiệp nghĩa đạo chúng ta bị dính bẩn thứ máu của kẻ bất nghĩa như y kia chứ.

Hôm trước ở miếu Di Lặc, Trương Vô Kỵ từng nghe Trần Hữu Lượng và Tống Thanh Thư nhắc tới Mạc Thanh Cốc, có câu "kẻ dưới phạm thượng" gì đó, lúc ấy Trương Vô Kỵ đã nghi Tống Thanh Thư đắc tội với Mạc sư thúc, song không thể ngờ cuối cùng Mạc Thanh Cốc lại bị chính Tống Thanh Thư giết hại. Bọn Tống Viễn Kiều bốn người tuy bị tảng đá che khuất không nhìn được, nhưng đã nghe rõ từng lời nói của Tống Thanh Thư, nên đều chấn động. Riêng Triệu Mẫn dường như đã đoán biết vài phần, nên khóe miệng nhếch nụ cười khinh miệt.

Chỉ nghe Tống Thanh Thư nói, giọng run run:

– Trần đại ca, đại ca từng thề độc, quyết không tiết lộ chuyện cơ mật đó, chỉ cần đại ca không nói ra, thì làm sao phụ thân tiểu đệ biết được?

Trần Hữu Lượng cười nhạt, nói:

– Ngươi chỉ nhớ lời thề của ta, song lại quên lời thề độc của chính ngươi. Ngươi thề từ nay về sau đều nghe lệnh ta, đó là ngươi hủy lời ước trước, đâu phải ta không chịu giữ lời?

Tống Thanh Thư ngẫm nghĩ một lát, nói:

– Đại ca bắt tiểu đệ bỏ thuốc độc vào đồ ăn thức uống của thái sư phụ và phụ thân, tiểu đệ thà chết cũng không làm, đại ca hãy mau đâm tiểu đệ một kiếm đi cho xong.

Trần Hữu Lượng nói:

– Tống huynh đệ, cổ nhân có câu "Kẻ thức thời mới là tuấn kiệt", bọn ta đâu có buộc ngươi thí phụ diệt tổ, chẳng qua chỉ bỏ thuốc khiến họ hôn mê một phen mà thôi. Ở miếu Di Lặc chẳng phải ngươi đã bằng lòng rồi ư?

Tống Thanh Thư nói:

– Không, không đâu! Tiểu đệ chỉ bằng lòng bỏ thuốc mê, đằng này Chưởng Bát long đầu lại đi bắt những rắn rết cực độc, là những thứ giết người, chứ đâu phải làm thuốc mê tầm thường.

Trần Hữu Lượng thản nhiên thu kiếm về, nói:

– Chu cô nương của phái Nga Mi đẹp như tiên giáng trần, trên đời này khó tìm được người thứ hai như nàng, ngươi đành lòng để nàng rơi vào tay tên tiểu tử Trương Vô Kỵ thì lạ thật. Này Tống huynh đệ, canh khuya bữa đó, ngươi nhòm trộm phòng ngủ của các cô nương phái Nga Mi, để thất sư thúc của ngươi bắt gặp, đuổi theo ngươi tới vách núi, đôi bên tỷ thí, mới dẫn đến việc ngươi giết chết sư thúc, là vì lẽ gì vậy? Chẳng phải vì Chu cô nương ôn nhu mỹ mạo đó sao? Việc đã làm rồi, đâm lao phải theo lao, ngựa vào đường hẹp làm sao quay đầu? Ta thấy ngươi trèo cau tới buồng mà lại tụt xuống không hái quả, chẳng đáng tiếc lắm sao?

Tống Thanh Thư loạng choạng đứng lên, giận dữ nói:

– Trần Hữu Lượng, ngươi đừng dùng lời lẽ ngon ngọt ép buộc ta nữa. Tối hôm đó ta làm bại hoại gia phong phái Võ Đang, bị Mạc sư thúc đuổi tới, có chết dưới tay sư thúc cũng đáng lắm, ai bảo ngươi ra tay giúp ta? Ta trúng phải ngụy kế của ngươi, để đến nỗi thân bại danh liệt, sa xuống bùn không rút chân lên được nữa.

Trần Hữu Lượng cười, nói:

– Hay lắm, hay lắm! Lưng Mạc Thanh Cốc bị trúng "Chấn thiên thiết chưởng" [124] là do ngươi đánh, hay Trần Hữu Lượng ta đánh? Món đó có phải là võ công của phái Võ Đang không nào? Ta làm sao biết môn võ công đó? Đêm hôm ấy ta cứu mạng ngươi, giữ thanh danh cho ngươi, ngươi lại cho là sai ư? Tống huynh đệ, ta với ngươi quen biết như thế, chuyện đã qua thôi không nhắc đến nữa. Việc ngươi giết sư thúc của ngươi, ta sẽ giữ kín như bưng, không tiết lộ nửa lời. Núi cao sông dài, hẹn sau này gặp lại.

Tống Thanh Thư run run hỏi lại:

– Trần.. Trần đại ca, đại ca muốn làm gì tiểu đệ?

Giọng nói của gã đầy vẻ lo lắng. Trần Hữu Lượng cười đáp:

– Làm gì ngươi ư? Chẳng làm gì cả. Để ta cho ngươi coi một thứ, xem ngươi có biết là gì không.

Trương Vô Kỵ và Triệu Mẫn nấp sau tảng đá, đều muốn thò đầu ra xem Trần Hữu Lượng giơ cái gì ra, nhưng đành cố nhịn, chỉ nghe Tống Thanh Thư ồ lên một tiếng kinh ngạc, run run nói:

– Cái này.. cái nhẫn sắt của chưởng môn phái Nga Mi này là vật của Chu cô nương, sao đại ca.. đại ca lấy ở đâu ra vậy?

Trương Vô Kỵ cũng giật mình, nghĩ thầm: "Lúc ta và Chỉ Nhược, rõ ràng nàng còn đeo chiếc nhẫn chưởng môn, sao lại rơi vào tay Trần Hữu Lượng là thế nào nhỉ? Chắc lão ta làm giả để bịp người khác".

Chỉ nghe Trần Hữu Lượng cười đáp:

– Ngươi hãy nhìn cho kỹ, món này là thật hay giả. Lát sau, tiếng Tống Thanh Thư nói:

– Khi tiểu đệ ở Tây Vực hỏi Diệt Tuyệt sư thái về võ công, có thấy trên tay bà ta đeo cái nhẫn này, chắc nó là thật.

Nghe "coong" một tiếng kim loại chạm nhau, rồi Trần Hữu Lượng nói:

– Nếu nó là đồ giả, nhát kiếm vừa rồi đã làm nó đứt đôi rồi. Ngươi nhìn đây, mặt trong chiếc nhẫn có bốn chữ "Lưu di tương nữ", làm sao là đồ giả được? Đây chính là cái nhẫn sắt đen, di vật của tổ sư phái Nga Mi Quách Tương nữ hiệp.

Tống Thanh Thư hỏi:

– Trần đại ca, đại ca.. lấy đâu ra thế? Chu cô nương.. ra sao rồi?

Trần Hữu Lượng lại cười, nói:

– Chưởng Bát long đầu, chúng ta đi thôi, Cái Bang từ rày không có người này nữa.

Nghe tiếng chân hai người bước đi, Tống Thanh Thư gọi:

– Trần đại ca, mau quay lại. Chu cô nương đang ở trong tay đại ca phải không? Hiện giờ nàng sống hay chết?

Trần Hữu Lượng quay lại, mỉm cười:

– Chu cô nương đang ở trong tay ta. Một giai nhân tuyệt trần như thế, có người đàn ông nào trông thấy chẳng động lòng? Ta đến giờ vẫn chưa thành gia thất, nếu cầu xin bang chủ để Chu cô nương làm vợ ta, chắc bang chủ chuẩn y liền.

Tống Thanh Thư ậm ự mấy tiếng, tựa hồ bị nghẹn cổ, không nói ra được.

Trần Hữu Lượng nói tiếp:

– Kể ra, bậc quân tử không nên cướp đoạt thứ mà người khác yêu thích. Tống huynh đệ chính vì Chu cô nương mà gây ra chuyện tày đình, Trần Hữu Lượng ta há có thể vì sắc đẹp mà làm tổn thương nghĩa khí huynh đệ? Thế nhưng bây giờ ngươi đã thành kẻ mắc tội phản bang, hai ta ân đoạn nghĩa tuyệt, không còn gì để nói với nhau nữa, phải vậy không?

Tống Thanh Thư lại ậm ự mấy tiếng. Trương Vô Kỵ liếc nhìn Tống Viễn Kiều, thấy hai dòng lệ chảy dài trên má ông, rõ ràng trong lòng ông đau đớn vô cùng.

Bỗng nghe Tống Thanh Thư nói:

– Trần đại ca, Long đầu đại ca, quả thực tiểu đệ nhất thời hồ đồ, mong hai vị đại ca lượng thứ cho. Tiểu đệ xin chuộc tội với hai vị.

Trần Hữu Lượng cười ha hả, nói:

– Có thế chứ! Có thế mới là hảo huynh đệ chứ! Ta vỗ ngực bảo đảm với chú em, chỉ cần chú em đem món "mông hãn dược" lên núi Võ Đang, lén bỏ vào ấm trà cho mọi người uống, chú em sẽ không có gì phải lo lắng cho tính mạng lệnh tôn cả, còn giai nhân tuyệt sắc Chu Chỉ Nhược thì sẽ thành người nâng khăn sửa túi cho chú em. Bọn ta chẳng qua chỉ muốn uy hiếp Trương Tam Phong và Võ Đang chư hiệp để buộc Trương Vô Kỵ nghe lệnh bọn ta mà thôi. Nếu hại chết Trương chân nhân và lệnh tôn, Trương Vô Kỵ sẽ tìm đến Cái Bang báo thù, thử hỏi đâu có lợi gì cho bọn ta?

Tống Thanh Thư nói:

– Trần đại ca nói chí phải.

Trần Hữu Lượng lại nói:

– Đợi khi Cái Bang chế ngự được Minh giáo, đánh đuổi Thát tử, lấy được thiên hạ rồi, bang chủ lên ngôi hoàng đế, thì huynh đệ chúng ta đều là khai quốc công thần, vinh thê ấm tử, đó là chuyện đương nhiên, ngay cả lệnh tôn đại nhân cũng nhờ chú em mà được nở mày nở mặt.

Tống Thanh Thư cười gượng:

– Phụ thân tiểu đệ không màng danh lợi, tiểu đệ chỉ mong lão nhân gia tha mạng, không giết tiểu đệ là đã mãn nguyện rồi.

Trần Hữu Lượng cười, nói:

– Trừ phi lệnh tôn là thần thánh, biết hết mọi chuyện quá khứ vị lai, còn không thì làm sao biết được bí mật kia? Tống huynh đệ, chân chú em có bị thương không? Thôi lên đây, hai ta cưỡi chung một con ngựa, đến thị trấn phía trước sẽ mua con ngựa khác.

Tống Thanh Thư nói:

– Tiểu đệ chạy vội, chân bị va vào băng, xui quá, lại trúng ngay huyệt Trúc Tân. Chuyện trên đời kể cũng khéo sắp đặt thật.

Ban nãy gã chỉ lo bị Chưởng Bát long đầu và Trần Hữu Lượng đuổi kịp, hoàn toàn không ngờ có người nấp sau tảng đá ám toán, cứ ngỡ mình vô ý va phải cạnh băng nhọn mà thôi.

Trần Hữu Lượng cười nói:

– Như thế sao gọi là xui? Phải nói là Tống huynh đệ diễm phúc quá lớn, có số lấy được giai nhân tuyệt sắc. Nếu không bị va vào băng, bọn ta không đuổi kịp, chú em vẫn chưa tỉnh ngộ, chính mình đã thân bại danh liệt, lại còn làm hỏng cả đại sự của bổn bang. Thế rồi Chu cô nương sắc nước hương trời kia phải theo Trần Hữu Lượng ta phí cả một đời, có khác gì phượng hoàng phải cặp với quạ khoang, bông hoa nhài cắm bãi phân trâu?

Tống Thanh Thư hừ một tiếng, nói:

– Trần đại ca, không phải là tiểu đệ không không biết hay dở, không tin Trần đại ca..

Trần Hữu Lượng không đợi gã nói hết câu, ngắt lời:

– Chú em muốn gặp Chu cô nương, phải không nào? Chuyện đó dễ thôi. Hiện giờ bang chủ và các vị trưởng lão đang ở Lư Long, Chu cô nương cũng đang ở đó với mọi người. Bọn mình cùng đến Lư Long gặp mặt là được. Đợi làm xong đại sự trên núi Võ Đang, ta sẽ lập tức lo việc cưới xin cho chú em, để chú em thỏa nguyện, chú em phải đội ơn Trần đại ca suốt đời, ha ha, ha ha!

Tống Thanh Thư nói:

– Hay lắm, vậy chúng ta đi Lư Long. Trần đại ca, Chu cô nương vì lẽ gì lại.. đi theo bổn bang vậy?

Trần Hữu Lượng cười, đáp:

– Đó là công lao của Long đầu đại ca. Hôm trước, Chưởng Bát long đầu và Chưởng Bổng long đầu uống rượu trên tửu lâu, thấy có ba người lạ giả làm đệ tử bổn bang trà trộn vào, bèn sai người theo dõi, sau đó mới hay trong đó có một vị tuyệt thế giai nhân là Chu cô nương. Chưởng Bát long đầu liền sai người đi mời họ đến. Chú em yên tâm, Chu cô nương bình yên đại cát, không mất một sợi tóc nào đâu.

Trương Vô Kỵ thầm kêu khổ: "Thì ra ở tửu lâu hôm ấy, cuối cùng bọn chúng đã nhận ra ba người lạ. Giá nghĩa phụ sáng mắt, thể nào lão nhân gia cũng nhìn ra những sự bất thường, ta và Chỉ Nhược chẳng biết gì cả. Không biết nghĩa phụ có được bình an hay không?"

Thế nhưng trong câu chuyện Trần Hữu Lượng chẳng nhắc gì đến Tạ Tốn, chỉ nghe lão nói tiếp:

– Sau khi Chu cô nương thành thân cùng chú em, hai phái Nga Mi, Võ Đang cùng tuân theo mệnh lệnh của Cái Bang, rồi cả Minh giáo tuân phục nữa, thanh thế sẽ lừng lẫy biết chừng nào? Chỉ cần đánh đuổi người Mông Cổ đi, thì giang sơn gấm vóc sẽ có chủ mới liền.

Gã nói lời này đầy vẻ đắc ý, làm như Cái Bang đã lấy được thiên hạ, và gã ta, Trần Hữu Lượng, đã lên ngôi hoàng đế rồi không bằng. Tống Thanh Thư và Chưởng Bát long đầu cũng cười phụ họa theo vài tiếng.

Trần Hữu Lượng nói:

– Bọn mình đi thôi. Tống huynh đệ, Mạc thất hiệp chết cũng gần đâu đây, cái hang mình giấu xác ông ta hình như cũng không xa mấy, phải không nhỉ? Chú em chạy tới đây, bỗng dưng ngựa khuỵu chân trước, không lẽ là do âm hồn Mạc thất hiệp hiển linh? Ha ha, ha ha!

Tống Thanh Thư không dám trả lời. Ba người tới bên ngựa, leo lên yên phóng đi.

Trương Vô Kỵ đợi ba kẻ kia đi xa rồi, vội giải huyệt cho Võ Đang tứ hiệp, liên tiếp cúi lạy, nói:

– Các vị sư bá sư thúc, điệt nhi lâm vào cảnh bị hiềm nghi, không biện bạch được, đắc tội với các vị sư bá sư thúc, xin chịu sự trừng phạt.

Tống Viễn Kiều thở dài não nuột, hai mắt rưng rưng, ngẩng mặt lên trời, không nói gì.

Du Liên Châu vội đỡ Trương Vô Kỵ đứng dậy, nói:

– Lúc nãy bọn ta đã trách lầm ngươi, là lỗi của bọn ta. Chúng ta thân như ruột thịt, ngươi khỏi cần nói nữa. Thật không ngờ Thanh Thư.. ôi, nếu không phải chính tai bọn ta nghe thấy, ai mà tin nổi?

Tống Viễn Kiều rút phắt trường kiếm, nói:

– Thì ra thất đệ bắt gặp tên súc sinh Thanh Thư.. thằng súc sinh ấy nhòm trộm phòng ngủ của các nữ hiệp phái Nga Mi, nên mới đuổi theo thanh lý môn hộ. Ba vị sư đệ, điệt nhi Vô Kỵ, chúng ta hãy đuổi theo, để ta tự tay giết chết tên súc sinh ấy.

Nói xong liền thi triển khinh công, đuổi theo Tống Thanh Thư.

Trương Tòng Khê nói:

– Đại ca hãy quay lại, mọi việc phải bàn cho kỹ đã.

Tống Viễn Kiều bất chấp, cứ xách kiếm chạy như bay. Trương Vô Kỵ vọt đi như tên bắn, sau vài lần nhún mình đã chắn phía trước Tống Viễn Kiều, cúi mình nói:

– Đại sư bá, tứ sư bá có lời muốn thưa với đại sư bá. Tống đại ca nhất thời bị người ta gài bẫy, rồi đây sẽ tỉnh ngộ. Đại sư bá muốn trách phạt, cũng không cần vội.

Tống Viễn Kiều nghẹn ngào nói:

– Thất đệ.. thất đệ.. người anh như ta thật có lỗi với đệ.

Ông nhớ tới năm nào Trương Thúy Sơn vì có lỗi với Du Đại Nham mà tự sát, lúc này mới thấu hiểu tâm trạng bấy giờ của ngũ đệ, liền đưa kiếm lên cứa ngang cổ mình.

Trương Vô Kỵ cả kinh, thi triển ngay thủ pháp

"Càn khôn đại na di" đoạt lấy thanh kiếm từ tay Tống Viễn Kiều, nhưng lưỡi kiếm vẫn chạm vào cổ thành một vệt máu dài.

Lúc ấy bọn Du Liên Châu đã chạy tới nơi, Trương Tòng Khê liền khuyên:

– Đại ca, Thanh Thư làm cái việc đại nghịch bất đạo đó, người trong phái Võ Đang không thể dung tha cho nó. Nhưng thanh lý môn hộ là việc nhỏ, hưng phục giang sơn là việc lớn, chúng ta không thể vì chuyện nhỏ mà bỏ việc lớn.

Tống Viễn Kiều trợn mắt, nói:

– Đệ.. đệ bảo thanh lý môn hộ là việc nhỏ ư? Ta.. ta sinh ra một đứa con ngỗ nghịch.. Trương Tòng Khê nói:

– Cứ theo lời Trần Hữu Lượng kia nói, thì bọn Cái Bang muốn mượn tay Thanh Thư mưu hại ân sư của chúng ta để khống chế các đại môn phái võ lâm, chiếm đoạt thiên hạ. An nguy của ân sư là chuyện lớn nhất của bản môn, còn họa phúc của võ lâm và bách tính là chuyện lớn nhất trong thiên hạ. Thanh Thư làm nhiều việc bất nghĩa, sớm muộn sẽ bị báo ứng; chúng ta nên bàn đại sự thì hơn.

Tống Viễn Kiều nghe có lý, đành tra kiếm vào bao, chán nản nói:

– Ta lúc này bụng rối như tơ vò, mọi việc nghe theo tứ đệ vậy.

Ân Lê Đình lấy thuốc rịt vào vết thương ở cổ cho đại sư ca.

Trương Tòng Khê nói:

– Cái Bang mưu hại ân sư, hiện giờ ân sư chưa hề hay biết, chúng ta phải gấp rút đi suốt ngày đêm về núi Võ Đang. Tên Trần Hữu Lượng kia tuy nói mượn tay Thanh Thư, song hạng người gian xảo như hắn có trăm phương ngàn kế, đã ra tay rồi không chừng. Việc hệ trọng trước mắt là huynh đệ chúng ta bảo vệ tấm thân vàng ngọc của ân sư, lão nhân gia tuổi đã cao, nếu lại xảy ra việc một hòa thượng Thiếu Lâm giả đến báo tin, thì bọn đệ tử chúng ta chết vạn lần cũng không chuộc lại được.

Vừa nói vừa đưa mắt về phía Triệu Mẫn ở đằng xa, trong lòng vẫn còn căm giận việc nàng sai người đến mưu hại Trương Tam Phong.

Tống Viễn Kiều toát mồ hôi lạnh, giọng run run, nói:

– Đúng, đúng thế! Ta vội lo việc truy sát nghịch tử, quên mất sự an nguy của ân sư, thật là đáng chết. Chuyện nặng nhẹ không biết xét đoán, đúng là kẻ hồ đồ.

Rồi giục:

– Thôi đi mau, đi mau!

Trương Tòng Khê nói với Trương Vô Kỵ:

– Vô Kỵ, ngươi hãy lo việc cứu Chu cô nương. Khi nào xong việc, về thăm núi Võ Đang một chuyến nhé.

Trương Vô Kỵ đáp:

– Xin tuân lệnh sư bá.

Trương Tòng Khê hạ giọng, nói:

– Triệu cô nương kia tính nết như lang sói, ngươi phải hết sức cẩn thận. Vết xe đổ của Thanh Thư, ngươi nên nhớ, nam tử hán đại trượng phu chớ sa chân vì nữ sắc.

Trương Vô Kỵ đỏ mặt gật đầu.

Trương Vô Kỵ cùng Võ Đang tứ hiệp đem thi thể Mạc Thanh Cốc chôn bên cạnh tảng đá lớn, năm người quỳ lạy, khóc một hồi, rồi bốn người lên ngựa đi trước.

Triệu Mẫn chậm rãi tới trước mặt Trương Vô Kỵ, nói:

– Tứ sư bá dặn chàng phải đề phòng, chớ để con yêu nữ này mê hoặc, phải nhớ cái vết xe đổ Tống Thanh Thư, có phải vậy không?

Trương Vô Kỵ đỏ mặt, ngượng ngùng nói:

– Sao cô nương biết? Tai cô nương thính tới mức ấy sao?

Triệu Mẫn hừ một tiếng, nói:

– Muội bảo, rồi đây mấy vị kia sẽ không trách Tống Thanh Thư có dã tâm, trái lại sẽ đổ tại sắc đẹp của Chu cô nương mà hủy hoại một đời vị Võ Đang thiếu hiệp cho coi. Trương Vô Kỵ nghĩ không chừng sẽ như vậy thật, song lại nói:

– Các vị sư bá đều là quân tử biết điều, ai lại đi trách người bừa bãi như thế?

Triệu Mẫn cười khẩy:

– Càng cho mình là quân tử, càng hay trách người bừa bãi.

Nàng ngừng một chút, rồi cười:

– Thôi mau đi cứu Chu cô nương của chàng đi, kẻo rơi vào tay Tống Thanh Thư thì chàng xôi hỏng bỏng không đấy.

Trương Vô Kỵ lại đỏ mặt, hỏi:

– Ta việc gì mà xôi hỏng bỏng không kia chứ?

Comments

Comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 33: Sáo dài đàn ngắn nhạc dập dìu

Trương Vô Kỵ đi dắt hai con ngựa tới, cùng Triệu Mẫn phóng vào vùng quan nội. Chàng nghĩ bụng nếu nghĩa phụ quả thực rơi vào tay Cái Bang, Cái Bang muốn dùng ông để khống chế Minh giáo, thì hiện thời chưa dám hãm hại ông, song làm nhục thì khó tránh khỏi. Riêng Chỉ Nhược băng thanh ngọc khiết, gặp phải tay Trần Hữu Lượng gian trá hiểm độc, thêm gã Tống Thanh Thư vô liêm sỉ, nếu bị cưỡng bức chắc chỉ còn đường chết. Bụng nghĩ thế, chàng chỉ hận không có cánh bay thẳng đến Lư Long. Triệu Mẫn thì đang bị thương, nên không thể cứ đi một mạch suốt ngày đêm không nghỉ.

Tối hôm ấy hai người trú trong một tiểu khách điếm, Trương Vô Kỵ nằm trên giường càng nghĩ càng lo, bèn sang bên cửa sổ phòng Triệu Mẫn, nghe tiếng nàng thở đều, chính đang ngủ say. Chàng bèn tới quầy chưởng quỹ lấy bút nghiên, một tờ giấy, viết mấy chữ cho nàng, nói là việc gấp gáp, nhất định phải đi suốt đêm ngày, khi nào xong việc sẽ tìm cách hội ngộ, dặn nàng dưỡng thương cho chu đáo, cứ thư thả đừng vội về nhà. Chàng lấy chiếc nghiên đè lá thư để trên bàn, rồi nhảy qua cửa sổ, chạy về hướng nam.

Sáng hôm sau chàng tìm mua ngựa, dọc đường liên tiếp thay ngựa, suốt ngày đêm rong ruổi trên đường, chỉ vài hôm đã tới Lư Long. Chàng đi nhanh như thế, song dọc đường không gặp Chưởng Bát long đầu, Tống Thanh Thư và Trần Hữu Lượng; chắc là ban đêm khi chàng chạy trên đường thì họ ngủ trong khách điếm, nên không thể gặp.

Lư Long là một đô thị của tỉnh Hà Bắc, đời nhà Đường là nơi đóng dinh của Tiết độ sứ; qua đời Tống Kim mấy phen chiến tranh bị phá hủy nặng nề, nguyên khí chưa được phục hồi, nhưng dân cư khá đông đúc. Trương Vô Kỵ chạy khắp đường lớn đường nhỏ cùng các trà lâu tửu quán của Lư Long, lạ thay không gặp một gã hành khất nào. Chàng lấy làm mừng, nghĩ thầm: "Cả một đô thị lớn mà ngoài đường không thấy bóng một gã ăn mày, quả là chuyện không bình thường. Trần Hữu Lượng nói Cái Bang tụ họp ở đây, là nói thực, có lẽ đám hành khất lớn bé đều đi tham kiến bang chủ rồi. Chỉ cần tìm ra nơi bọn họ tụ tập, là sẽ nghe ngóng biết được nghĩa phụ và Chỉ Nhược có bị Cái Bang bắt thật hay không". Chàng sục sạo khắp chỗ, nào miếu mạo, đền đài, từ đường, quảng trường, song không thấy chút manh mối gì, lại rảo khắp các thôn trang ngoại vi, cũng không có động tĩnh gì cả.

Đến gần tối, chàng càng lúc càng nôn nóng, chợt nghĩ đến sự tháo vát của Triệu Mẫn: "Giá như có nàng ta ở bên cạnh, thì ta đâu đến nỗi thúc thủ vô sách thế này". Chàng đành đi tới một khách điếm để tá túc, ăn bữa tối xong, ngủ một chút, khoảng cuối canh hai thì dậy, phi thân lên mái nhà, nhìn tứ phía xem sao.

Chàng thấy bốn bề tĩnh lặng, không nơi nào có vẻ là nơi tụ họp của giới giang hồ. Đang buồn phiền bỗng thấy ở trên một tòa lầu cao góc đông nam có đèn sáng, nghĩ bụng: "Nhà kia không phải nhà quan thì cũng là nhà giàu, chắc không liên quan gì tới Cái Bang.." Vừa nghĩ tới đây, bỗng chàng thấy hình như có một bóng người từ trên lầu nhảy ra, nhưng vì khoảng cách quá xa, nhìn không rõ, nghĩ thầm: "Chẳng lẽ có hào khách lục lâm đến trộm cướp nhà giàu đó, mình đang nhàn rỗi, tới đó coi thử".

Bèn thi triển khinh công, chạy tới bên tòa nhà ấy, phi thân qua tường bao, chợt nghe có tiếng người nói:

– Trần trưởng lão thật là nhiễu sự, rõ ràng tất cả đã ước định sẽ tụ tập ở Lão Hà Khẩu vào ngày mồng Tám tháng Giêng, đột nhiên lại báo tin cấp tốc bảo bọn ta chờ ở đây. Lão ta đâu phải là bang chủ mà nói gì là ai cũng phải nghe, thật vô lý quá chừng ".

Giọng nói sang sảng, đầy vẻ bực bội, hiển nhiên vừa nói đến chuyện nội bộ của Cái Bang. Trương Vô Kỵ nghe vậy thì cả mừng.

Tiếng nói từ đại sảnh vọng ra, Trương Vô Kỵ rón rén tới gần, nghe giọng nói của bang chủ Cái Bang Sử Hỏa Long:

– Trần trưởng lão tài ra phết, cái tên Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn chó đẻ ấy, hai chục năm qua biết bao nhiêu người trên giang hồ tìm kiếm hắn, đếch ai ngửi được hơi rắm do hắn vãi ra, vậy mà Trần trưởng lão vừa ra tay đã thộp cổ được hắn, đừng nói trong bổn bang không ai bằng, mà khắp cả võ lâm đếch có ai làm nổi.

Trương Vô Kỵ vừa lo vừa mừng, như thế là đã biết tung tích của nghĩa phụ, trong Cái Bang không có cao thủ nào ghê gớm, việc cứu nghĩa phụ không phải là khó khăn, bèn ghé mắt nhìn vào qua khe cửa sổ.

Chỉ thấy Sử Hỏa Long ngồi chính giữa, Truyền công, Chấp pháp hai trưởng lão, Chưởng Bổng long đầu và ba trưởng lão tám túi khác ngồi bên dưới, ngoài ra có một người trung niên to béo ăn mặc sang trọng, y như một kẻ giàu sang, nhưng lại đeo sáu cái túi. Trương Vô Kỵ thầm gật đầu:" Phải rồi, thì ra có một đại tài chủ ở Lư Long là đệ tử Cái Bang. Bọn hành khất tụ tập trong nhà một đại tài chủ, thì có ai ngờ được kia chứ? "

Lại nghe Sử Hỏa Long nói tiếp:

– Trần trưởng lão đã báo tin cấp tốc, bảo chúng ta chờ ở Lư Long, nhất định là ông ấy có lý do. Chúng ta mưu tính đại sự, mẹ kiếp, cái đó.. cái đó cứ phải thận trọng mới được.

Chưởng Bổng long đầu nói:

– Bang chủ minh giám, quần hào trên giang hồ tìm kiếm Tạ Tốn chẳng qua là muốn chiếm đoạt thanh đao Đồ Long võ lâm chí tôn mà thôi. Hiện giờ thanh bảo đao ấy không có trong tay Tạ Tốn, mình đã làm đủ cách uy hiếp, đánh lừa, hắn vẫn không chịu khai ra nơi giấu bảo đao. Chúng ta hóa ra chỉ bắt được một thằng già mù, ngoài việc thết hắn tiệc rượu, đâu có ích gì? Cứ theo ý huynh đệ, mình cứ tra khảo hắn một phen thật nặng, xem hắn có chịu nói không nào.

Sử Hỏa Long xua tay:

– Không ổn, không ổn, dùng phép cứng rắn dễ làm hỏng việc, bọn ta cứ chờ Trần trưởng lão về, bàn tính kỹ hãy hay.

Chưởng Bổng long đầu lộ vẻ bất bình, tựa hồ trách bang chủ chuyện gì cũng đều nghe theo chủ trương của Trần Hữu Lượng.

Sử Hỏa Long lấy ra một phong thư, đưa cho Chưởng Bổng long đầu, nói:

– Phùng huynh đệ, huynh đệ lập tức đi Hào Châu, giao phong thư này cho Hàn Sơn Đồng, bảo con trai y đang ở trong tay bọn ta bình an vô sự, chỉ cần y tuân lệnh bản bang, ta sẽ đối xử với con y tử tế.

Chưởng Bổng long đầu nói:

– Việc đưa thư nhỏ nhặt này, đâu cần huynh đệ phải thân chinh đi kia chứ?

Sử Hỏa Long hơi bực, xẵng giọng:

– Nửa năm nay bọn Hàn Sơn Đồng thanh thế lớn lắm. Nghe đâu dưới trướng y, mẹ kiếp, nào là Từ Đạt, nào Chu Nguyên Chương, nào Thường Ngộ Xuân, toàn những tên có tài trận mạc. Lần này ta cần Phùng huynh đệ thân chinh đi một chuyến, trước là thuyết phục Hàn Sơn Đồng quy thuận bản bang, thật sự tuân theo ta; lại quan sát xem y và các tướng lĩnh của y định làm những gì; thứ nữa thám thính xem lực lượng của Minh giáo, mẹ kiếp, có gì ghê gớm hay không. Công việc Phùng huynh đệ gánh vác nặng nề như thế, sao lại bảo là nhỏ nhặt?

Chưởng Bổng long đầu nói:

– Xin tuân lệnh bang chủ.

Nói rồi nhận phong thư, hành lễ với Sử Hỏa Long, rời khỏi sảnh.

Trương Vô Kỵ nán lại nghe thêm, thấy bọn kia bàn về việc sau này Minh giáo, các phái Thiếu Lâm, Võ Đang, Nga Mi quy thuận rồi, uy phong của Cái Bang sẽ hưng thịnh ra sao. Xem chừng dã tâm của Sử Hỏa Long không bằng Trần Hữu Lượng. Sử Hỏa Long chỉ mong Cái Bang độc bá giang hồ, xưng hùng võ lâm, coi như mãn nguyện rồi; chứ không nghĩ tới việc lấy được giang sơn, lên ngôi hoàng đế. Trong cách nói năng, Sử Hỏa Long dùng nhiều lời lẽ nham nhở thô tục. Trương Vô Kỵ nghe một hồi, cảm thấy chán chường, nghĩ thầm:" Chắc là nghĩa phụ và Chỉ Nhược bị giam ở đây, ta đến cứu họ ra trước đã, rồi sẽ trừng trị tên ăn mày khoác lác, vô liêm sỉ này một trận ".

Chàng nhún chân phải một cái, nhẹ nhàng nhảy lên một cây cao, nhìn bốn phía, thấy dưới lầu cao có mươi đệ tử Cái Bang tay cầm binh khí đi đi lại lại canh chừng, có lẽ đấy là nơi chúng nhốt Tạ Tốn và Chu Chỉ Nhược.

Chàng xuống khỏi cây, tới sát lầu cao, nấp sau hòn non bộ, chờ hai đệ tử Cái Bang đi tuần qua rồi, mới chạy tới dưới lầu mà tung mình nhảy lên. Trên lầu đèn đuốc sáng trưng, chàng nằm phục bên ngoài cửa sổ, lắng nghe động tĩnh bên trong. Nghe một lát, thấy bên trong hoàn toàn yên tĩnh, chàng lấy làm lạ:" Sao bên trong không có một người nào thế này? Chẳng lẽ trong ấy có cao thủ nằm phục, nín thở lâu đến thế? "Một lát sau vẫn không nghe tiếng hít thở, chàng bèn ghé mắt nhìn vào qua khe hở, thấy một cặp nến lớn ở trên bàn đã cháy quá nửa, trong phòng không có ai cả.

Trên lầu có ba phòng liền nhau, phòng phía đông không có người; chàng lại sang phòng phía tây thăm dò, thấy trong phòng này đèn sáng choang, trên bàn còn ngổn ngang chén đũa của bảy, tám người ăn là ít, rượu trong chén chưa cạn, thức ăn gần như còn nguyên, vậy mà cũng không một bóng người, dường như thực khách vừa ra khỏi phòng chưa lâu. Phòng ở giữa thì tối om không đèn đóm. Chàng đẩy cửa nhẹ, thấy bên trong cài then, bèn gọi khẽ:

– Nghĩa phụ ở trong này phải không?

Không có tiếng trả lời. Trương Vô Kỵ nghĩ thầm:" Xem chừng nghĩa phụ không có ở đây, tại sao Cái Bang lại canh gác nghiêm mật thế nhỉ? Chẳng lẽ họ giở trò thực thực hư hư để lừa người? "Bỗng chàng ngửi thấy mùi máu tanh từ bên trong xộc ra, thì kinh hãi, đặt tay trái trên cánh cửa, đẩy nhẹ một chút, nghe" cách "một tiếng nhỏ, then cửa đã gãy đôi. Chàng lập tức lẻn vào phòng, bắt ngay lấy hai mẩu then gỗ để nó khỏi rơi xuống phát ra tiếng động.

Chàng mới đi một bước đã vấp phải vật gì mềm mềm như thân người, vội cúi xuống sờ, quả nhiên là một thi thể. Người này đã tắt thở, nhưng mặt còn hơi ấm, tức là chết chưa lâu. Chàng sờ thử, thấy đầu nhỏ, cằm nhọn, không phải là Tạ Tốn, nên cũng yên tâm. Chàng đi bước nữa, lại đụng hai xác người, bèn giơ ngón tay chọc một lỗ thủng nhỏ ở tường phía tây, lấy ánh sáng từ phòng bên chiếu sang. Thấy dưới sàn la liệt xác chết, toàn là đệ tử Cái Bang, ai nấy bị nội thương rất nặng. Chàng dựng một cái xác lên, vạch áo ra, thấy trên ngực có dấu quyền đánh vào, xương gãy vụn, quyền lực uy mãnh phi phàm.

Trương Vô Kỵ cả mừng:" Vậy là nghĩa phụ đại triển thần uy, đánh chết bọn canh gác, rồi bỏ đi ". Chàng nhìn kỹ trong phòng, thấy ở góc tường có người dùng vật nhọn vạch hình ngọn lửa, chính là ký hiệu của Minh giáo. Lại thấy chốt cửa sổ gãy lìa, cánh cửa sổ chỉ khép hờ, chàng nghĩ thầm:" Phải rồi, hồi nãy ta thấy có một bóng đen thoáng qua lầu, chắc là nghĩa phụ thoát thân bỏ đi. Nhưng không biết vì sao bọn Cái Bang lại bắt được ông? Có lẽ ông bị lòa, không nhìn thấy, khó mà đề phòng gian kế của bọn Cái Bang. Bọn chúng không đánh thuốc mê, thì cũng dùng dây chằng, câu liêm, lưới cá gì đó mới bắt được ông ".

Trương Vô Kỵ cả mừng, chạy ra khỏi phòng, nép mình bên cửa nhìn xuống bên dưới, thấy bọn đệ tử Cái Bang vẫn tuần tra qua lại, chưa biết chút gì về biến cố ở trên lầu. Chàng nghĩ thầm:" Nghĩa phụ đi chưa lâu, mình phải đuổi theo ông, rồi hai cha con quay lại, đánh cho Cái Bang một trận tơi bời, để chúng biết tay Minh giáo ". Nghĩ vậy, hào khí trỗi dậy, nhớ lại ban nãy thấy bóng đen chạy về phía tây, chàng bèn tung mình nhảy sang một cành cây cao, vọt ra ngoài tường bao, đề khí nhắm hướng tây mà chạy.

Theo đường cái chạy vài dặm, đến một ngã ba, nhìn quanh quất, thấy sau một tảng đá có ký hiệu hình ngọn lửa của Minh giáo, chỉ về phía một con đường nhỏ phía tây nam. Trương Vô Kỵ cả mừng, nghĩ bụng hành tung của nghĩa phụ đã rõ, chẳng mấy chốc sẽ gặp lại. Ám hiệu liên lạc của Minh giáo, chàng đã được Dương Tiêu chỉ dẫn tường tận, chàng thấy dấu hiệu hình ngọn lửa này tuy chỉ là mấy nét vạch nguệch ngoạc, nhưng kình lực mạnh mẽ, phải là bậc văn võ toàn tài như Tạ Tốn, chứ trong Minh giáo mấy ai làm được như thế.

*

* *

Lúc này chàng không hồ nghi gì nữa, cứ theo đường nhỏ mà đuổi theo, đến tận trạm dịch Sa Hà, thì trời đã sáng, chàng ghé vào quán mua mấy cái bánh bao ăn qua quýt cho đỡ đói, rồi lại đi về hướng tây, đến trấn Bổng Tử. Chủ yếu thấy dưới chân tường ở góc đường có vẽ ký hiệu của Minh giáo, chỉ về phía một từ đường đổ nát. Chàng mừng thầm, chắc mẩm nghĩa phụ ẩn thân ở đó, bèn chạy tới bên cửa, nghe có tiếng lao xao, bên trong có một đám vô công rồi nghề đang đánh bạc. Thì ra đây là một sòng bạc.

Gã chủ sòng bạc thấy Trương Vô Kỵ ăn mặc sang trọng, tưởng là một vị đại hào khách tới chơi, vội cười hề hề chạy ra đón, nói:

– Công tử gia mau lại đổ vài bàn, công tử gặp vận may thì sẽ vơ sạch cả làng đấy.

Gã quay lại nói với đám con bạc:

– Mau nhường công tử gia làm cái nào, các người hãy đặt tiền cho to, để công tử ẵm về phủ.

Trương Vô Kỵ cau mày, thấy trong đám bạc không có nhân vật nào thuộc giới giang hồ, bèn gọi to:

– Nghĩa phụ, nghĩa phụ! Lão nhân gia có ở đây chăng?

Chờ một chút không có tiếng trả lời, chàng gọi thêm vài lần nữa.

Một tên vô lại thấy chàng đến không phải để đánh bạc, mà chỉ réo gọi ầm ỹ, bèn lên tiếng:

– Con ngoan ơi, thằng cha mi đang ở đây, mau lại đổ vài ván đi nào!

Cả đám bạc cười ầm lên. Trương Vô Kỵ hỏi gã chủ sòng:

– Ông có thấy một đại gia mù lòa, tóc vàng, thân hình cao lớn, tới đây hay không?

Gã chủ sòng thấy chàng đến không phải để đánh bạc, mà để tìm người, thì thất vọng, cười đáp:

– Nói chuyện nực cười, thiên hạ lại có thằng mù đi đánh bạc bao giờ? Chắc lão mù ấy còn bị khùng nữa chứ gì?

Trương Vô Kỵ đi tìm nghĩa phụ không thấy, đang bực sẵn, giờ nghe tên vô lại và gã chủ sòng ăn nói hỗn hào, làm nhục cả đến nghĩa phụ mình, chàng liền vung hai tay chộp cổ hai tên đó, ném cả hai lên nóc nhà. Hai tên đó tuy chưa bị thương, nhưng sợ quá, kêu oai oái như heo bị chọc tiết. Trương Vô Kỵ đẩy giạt bọn cờ bạc ra, cầm lấy hai đĩnh bạc trên bàn, nói:

– Công tử gia thu tiền về phủ đây.

Chàng nhét bạc vào bọc, đường hoàng bước ra khỏi từ đường. Bọn kia sợ xanh mắt, không kẻ nào dám đuổi theo.

Chàng tiếp tục đi về hướng tây, không lâu lại thấy ký hiệu hình ngọn lửa, chiều tối thì đến Phong Nhuận, một đô thị lớn của Ký Bắc, theo chỉ dẫn của ám hiệu, chàng đến một khu nhà tường quét vôi, cổng sơn đen. Chiếc vòng đồng ở cổng sáng loáng, nụ hoa mai trong vườn chìa ra ngoài tường sắp nở, chủ nhân hẳn là người thanh nhã. Chàng cầm cái vòng đồng lắc nhẹ ba lần. Lát sau có tiếng chân bước nhẹ, cánh cổng mở ra khẽ" két "một tiếng; một mùi thơm nồng xộc vào mũi, một a hoàn mặc quần áo màu hồng, nhoẻn miệng cười, nói:

– Ôi công tử lâu quá mới ghé chơi, thư thư nhớ công tử lắm đó. Mời công tử mau vào dùng trà.

Nói rồi a hoàn lại tủm tỉm cười, nháy mắt với chàng.

Trương Vô Kỵ ngơ ngác chả hiểu gì, hỏi lại:

– Sao ngươi lại biết ta? Thư thư của ngươi là ai?

A hoàn cười, đáp:

– Công tử biết thừa còn giả vờ, thôi vào mau đi cho thư thư khỏi thấp thỏm mong chờ.

Đoạn ả cầm tay chàng kéo vào trong. Trương Vô Kỵ lấy làm lạ, nghĩ thầm:" Sao con bé này vừa gặp mình mà làm như quen từ lâu? "Nhưng chàng nghĩ ra ngay:" Phải rồi, chắc là Chỉ Nhược đang ở đây, biết mình hôm nay sẽ theo ám hiệu tìm đến, nên mới sai a hoàn ngày đêm chực sẵn ở cổng. Ồ, mấy hôm không gặp, Chỉ Nhược thấp thỏm chờ mình là phải rồi ". Chàng cảm thấy ấm lòng, liền đi theo a hoàn, qua một con đường nhỏ trải đá dăm, xuyên qua một cái sân mới tới một căn buồng. Một con vẹt ở trên mái hiên cất tiếng:

– Tình ca ca đến kìa! Tỷ tỷ ơi, tình ca ca đến kìa!

Trương Vô Kỵ đỏ mặt, nghĩ bụng:" Ngay cả con vẹt cũng biết ta nữa ".

Trong buồng ghế ngồi đều bọc gấm, than trong lò đang đỏ hồng, ấm áp như phòng xuân, trên bàn có một lư hương. A hoàn quay mình đi ra, lát sau bưng vào một mâm gồm mấy món điểm tâm đủ màu và một bình trà xanh. A hoàn rót trà, bưng một chén đưa cho chàng, tiện thể bóp nhẹ vào cổ tay chàng một cái. Trương Vô Kỵ cau mày, nghĩ thầm:" Sao con a hoàn này dám sỗ sàng như vậy? "Nghĩ nể mặt Chu Chỉ Nhược, chàng không tiện trách mắng nó, liền hỏi:

– Tạ lão gia thế nào? Chu cô nương đâu?

A hoàn cười:

– Công tử hỏi Tạ lão gia làm gì? Chẳng lẽ ghen hay sao? Thư thư đến ngay bây giờ đây, làm gì mà công tử sốt ruột thế? Gớm, công tử chẳng có lương tâm chút nào, đã tới đây còn nhớ Chu cô nương, Vương cô nương nào nữa.

Trương Vô Kỵ ngơ ngác, nói:

– Ngươi nói lung tung gì vậy?

A hoàn tủm tỉm cười, quay ra. Lát sau, nghe có tiếng vòng đeo tay kêu loong coong, rồi rèm vén lên, a hoàn đỡ một thiếu nữ trạc hai mươi tuổi đi vào. Thiếu nữ da dẻ trắng trẻo, lông mày cong cong, dáng dấp uyển chuyển, mép bên phải có chấm thêm một nốt ruồi làm duyên, mắt long lanh đưa tình, chưa nói mắt đã cười. Trương Vô Kỵ ngửi thấy mùi hương đậm đà xông vào mũi, người bâng lâng.

Thiếu nữ kia hỏi:

– Tướng công quý tính là gì? Hôm nay có dịp ghé thăm, tiểu nữ thật vinh hạnh.

Vừa nói, thiếu nữ vừa đưa tay trái vịn vai chàng.

Trương Vô Kỵ đỏ mặt, vội tránh ra, nói:

– Ta họ Trương. Có một vị lão gia họ Tạ và một cô nương họ Chu, hai người đó hiện có ở đây không?

Thiếu nữ cười đáp:

– Đây là Lê Hương viện, nếu công tử muốn tìm Chu Tiêm Tiêm thì đến Bích Đào cư. Tướng công đã bị con bé ấy hút mất hồn, đến Lê Hương viện, mà lại hỏi Chu Tiêm Tiêm. Hì hì!

Trương Vô Kỵ chợt hiểu, thì ra đây là một kỹ viện, vội nói:

– Xin lỗi!

Chàng vội quay mình đi ra, a hoàn chạy theo, gọi:

– Thư thư chúng tôi đâu có gì kém Chu Tiêm Tiêm? Công tử nán lại một chút cũng không được sao?

Trương Vô Kỵ xua tay lia lịa, thò tay vào bọc lấy một đĩnh bạc mới cướp ở sòng bạc, ném xuống đất, đi như chạy ra cổng.

Sau vụ lôi thôi đó, tinh thần còn bối rối, thấy trời sắp tối, sợ rằng ban đêm khó nhận biết ám hiệu hình ngọn lửa của Minh giáo, Trương Vô Kỵ bèn tìm một khách điếm nghỉ ngơi, trong bụng hoang mang:" Nghĩa phụ sao lại đi vào sòng bạc, rồi lại tới kỹ viện? Bằng hai việc ấy, lão nhân gia muốn nói điều gì? "Ngủ đến nửa đêm, chàng đột nhiên tỉnh dậy, nghĩ thầm:" Nghĩa phụ lòa cả hai mắt, làm sao dọc đường lưu lại nhiều ám hiệu đến thế? Hay là có Chỉ Nhược ở bên cạnh chỉ dẫn? Hay là kẻ địch cố ý giả mạo ám hiệu của bổn giáo để trêu chọc ta? Thậm chí để dẫn dụ ta vào nơi mai phục? Hừ, dù có là đầm rồng hang hổ, tốt xấu thế nào ta cũng quyết xông vào một phen ".

Sáng hôm sau trở dậy, tiếp tục đi, ở ngoại vi thành Phong Nhuận chàng lại thấy có hình ngọn lửa chỉ về hướng tây. Quá trưa chàng tới Ngọc Điền, thấy ám hiệu chỉ vào một nhà giàu có, trước nhà treo đèn kết hoa, chính là đám cưới, trên đèn lồng có dán chữ đỏ" Chi tử vu quy ", xem ra là con gái đi lấy chồng, có tiếng chiêng trống, khách khứa đầy sân. Trương Vô Kỵ lần này dè dặt, không dám xông vào hỏi về Tạ Tốn, chỉ đi lẫn vào khách khứa nghe ngóng, thấy không có gì lạ, bèn đi ra tìm ám hiệu, quả nhiên thấy có ở một gốc cây lớn.

Ám hiệu lại chỉ đường cho chàng đi từ Ngọc Điền tới Tam Hà, rồi rẽ sang hướng nam đến tận Hương Hà. Lúc này chàng nghĩ rằng người của Cái Bang đã phát hiện tung tích của chàng, chúng dùng kế điệu hổ ly sơn dẫn chàng đi thật xa, để dễ bề thực hiện âm mưu xấu xa. Tuy nóng ruột lắm, song chàng không dám không đi theo chỉ dẫn của ám hiệu, lo rằng lỡ đúng là của Tạ Tốn và Chu Chỉ Nhược lưu lại thì sao?" Nếu quả thực hai người đang bị kẻ địch lợi hại truy kích, trong lúc chạy trốn, cố lưu lại dấu vết, mong mình cứu viện mà mình lại tự cho là thông minh, quay về Lư Long, để nghĩa phụ và Chỉ Nhược vì thế bị nạn, thì biết tính sao? Sự đã thế này, thôi thì cứ đuổi theo ám hiệu tới cùng vậy ".

Từ Hương Hà chạy đến Bảo Thành, rẽ sang Đại Bạch trang thì đã quay sang hướng đông nam, tới Ninh Hà thì hình ngọn lửa biến mất tăm. Chàng ở Ninh Hà tra xét kỹ càng, không thấy gì khác lạ, nghĩ thầm:" Quả nhiên Cái Bang cố ý dẫn dụ ta đến đây, làm cho ta mất công toi mấy ngày ".

Chàng bèn mua một con ngựa, cưỡi phi trở về Lư Long, vào tiệm quần áo mua một cái trường bào màu trắng, mượn cây bút son vẽ lên áo một ngọn lửa thật lớn, quyết ý lấy danh nghĩa giáo chủ Minh giáo đường đường chính chính xông vào tổng đàn của Cái Bang.

Chàng mặc áo trường bào, oai vệ đi tới trước cổng tòa nhà của gã đại tài chủ, thấy hai cánh cổng sơn đỏ rất lớn đóng im ỉm, những cái đinh đồng to bằng miệng chén đóng trên cánh cổng sáng bóng lên. Chàng hai tay đẩy một cái, hai cánh cổng lớn bay đổ vào sân nghe loảng xoảng một hồi, làm vỡ tan hai bồn nuôi cá vàng.

Mấy ngày qua chàng thấp thỏm lo cho sự an nguy của nghĩa phụ và Chu Chỉ Nhược, lại bị người ta đùa giỡn, phải chạy đôn chạy đáo một vòng thật lớn ở Ký Bắc, nỗi tức giận, uất ức trong lòng không có chỗ phát tiết, bây giờ trở lại tổng đà Cái Bang, nhất định phải làm tan hoang một trận. Chàng phá tung cổng rồi, hùng dũng bước vào, dọn giọng quát to:

– Người của Cái Bang nghe đây, mau bảo Sử Hỏa Long ra gặp ta!

Trong sân có mươi đệ tử bốn, năm túi, thấy hai cánh cổng lớn bay tung, đã hết hồn; lại thấy một bạch y thanh niên xông vào, liền có bảy, tám đứa hò hét xông ra chặn lại:

– Ngươi là ai? Muốn gì đây?

Trương Vô Kỵ hai tay gạt ra, bảy tám đệ tử Cái Bang đã bị hất văng đi. Chàng đi qua đại sảnh, đánh ra một chưởng lại vỡ tung cửa giữa, thấy trong trung sảnh bày một bàn tiệc, Sử Hỏa Long ngồi chính giữa. Một nhóm thủ lĩnh Cái Bang nghe tiếng huyên náo ngoài cổng, liền sai người ra xem xét. Nhưng Trương Vô Kỵ tiến vào quá nhanh, gã đệ tử bảy túi đang đi ra xem xét thì gặp Trương Vô Kỵ, bị chàng thộp ngực ném ngay về phía Sử Hỏa Long.

Chủ nhân tòa nhà trông như tài chủ đang ngồi bên dưới, thấy gã đệ tử bảy túi bay tới bàn tiệc, vội giơ tay ôm lấy. Vừa chạm được, bỗng cảm thấy một luồng kình lực như bài sơn đảo hải ùa tới, vội xuống tấn" Thiên cân trụy "để đứng cho vững, nào ngờ cứ thế loạng choạng lùi về phía sau đến bảy, tám bước mới đứng lại được, hai tay buông tên đệ tử bảy túi rơi phịch xuống đất, thở hồng hộc, toàn thân bủn rủn, sụm luôn xuống chân cột. Bọn Cái Bang thấy thế cùng kinh hãi.

Lúc đó Trương Vô Kỵ ồ lên một tiếng, vừa ngạc nhiên vừa vui mừng, thấy ngồi bên trái bàn tiệc là một thiếu nữ, chẳng ai xa lạ, chính là Chu Chỉ Nhược. Ngồi cạnh nàng là Tống Thanh Thư. Chu Chỉ Nhược vui mừng thốt lên:

– Vô Kỵ ca ca!

Nàng đứng dậy, nhưng lảo đảo ngã phệt xuống đất. Trương Vô Kỵ kinh hãi, vội tiến lại, đỡ nàng lên. Chàng chưa kịp đứng thẳng người lại, thì" bịch "một tiếng, lưng đã trúng một chưởng của Tống Thanh Thư, tiếp đó lại bị thêm một quyền của một cao thủ Cái Bang.

Lúc này" Cửu dương thần công "của Trương Vô Kỵ đã vận lên khắp người. Một chưởng một quyền kia đánh vào lưng chàng, lực đạo tiêu tán hết. Chàng ôm Chu Chỉ Nhược nhảy ra sân, hỏi:

– Nghĩa phụ đâu?

Chu Chỉ Nhược ấp úng:

– Muội.. muội..

Trương Vô Kỵ hỏi lại:

– Lão nhân gia có sao không?

Chu Chỉ Nhược đáp:

– Muội bị họ điểm huyệt..

Trương Vô Kỵ chỉ quan tâm đến Tạ Tốn, hỏi:

– Nghĩa phụ thế nào?

Chu Chỉ Nhược nói:

– Không biết, muội bị họ bắt tới đây, từ đó không biết nghĩa phụ ra sao cả.

Trương Vô Kỵ đưa tay xoa bóp các khớp xương ở chân nàng, rồi đặt nàng đứng xuống. Nào ngờ thủ pháp điểm huyệt trên người Chu Chỉ Nhược rất quái dị, mấy cái xoa bóp của chàng không có tác dụng gì. Nàng đặt chân xuống đất, song không đứng được, ngồi phệt ngay xuống.

Bọn Cái Bang lục tục chạy ra ngoài thềm. Sử Hỏa Long ôm quyền, nói:

– Các hạ có phải là Trương giáo chủ của Minh giáo chăng?

Trương Vô Kỵ nghĩ y là bang chủ một bang, mình chẳng thể bỏ lễ giáo, bèn ôm quyền đáp lễ, nói:

– Không dám, tại hạ mạo muội xông vào tổng đà của quý bang, mong Sử bang chủ tha cho tội vô lễ.

Sử Hỏa Long nói:

– Trương giáo chủ mấy năm nay danh chấn giang hồ, tại hạ nghe.. như sấm bên tai. Hôm nay được thấy thân thủ của lão huynh, quả lợi hại, hì hì, bội phục, bội phục!

Trương Vô Kỵ nói:

– Tại hạ đến hơi lỗ mãng, làm trò cười cho Sử bang chủ. Nghĩa phụ tại hạ là Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn có ở đây chăng? Làm ơn đưa lão nhân gia ra gặp mặt.

Sử Hỏa Long đỏ mặt, nhưng lại cười ha hả, nói:

– Trương giáo chủ tuổi còn trẻ, sao ăn nói lạ thế? Chúng tôi có thiện chí, mời Tạ Sư Vương.. đến đây uống rượu, nào ngờ Tạ Sư Vương ra đi không một lời từ giã, còn ra tay đánh chết tám đệ tử bổn bang, mẹ kiếp, món nợ ấy giờ tính sao đây? Phiền Trương giáo chủ trả giùm cho.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm:" Tám đệ tử Cái Bang quả nhiên bị nghĩa phụ đấm chết. Xem ra lão nhân gia không có ở đây thực, vậy ông đi đâu nhỉ? "Bèn hỏi:

– Thế còn Chu cô nương đây thì sao? Tại sao quý bang bắt nhốt nàng ở đây?

Sử Hỏa Long ấp úng:

– Chuyện đó.. chuyện đó..

Trần Hữu Lượng ngắt lời:

– Người ta đồn Trương Vô Kỵ của Minh giáo võ công tuy cao siêu, nhưng là một tên tiểu ma đầu ngang ngược bất chấp lý lẽ.. ha ha..

Trương Vô Kỵ sầm mặt hỏi:

– Cái gì?

Trần Hữu Lượng nói:

– Hôm nay gặp đây, hì hì, thấy quả là cây có bóng, người có danh, chẳng sai tí nào.

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Ta ngang ngược, bất chấp lý lẽ ở điểm nào?

Trần Hữu Lượng nói:

– Chu cô nương kia là chưởng môn phái Nga Mi, một lãnh tụ của danh môn chính phái, đâu có liên quan gì đến bọn bàng môn tả đạo Minh giáo? Còn vị Tống Thanh Thư huynh đệ đây là nhân tài của phái Võ Đang, cùng Chu cô nương trai tài gái sắc, châu bích liên hợp, thật là môn đăng hộ đối, xứng đôi vừa lứa. Hai người ấy đi qua đây, Cái Bang mời vào làm khách, uống chung chén rượu, tại sao Trương giáo chủ lại nhảy vào can thiệp? Thật quá tức cười!

Quần hào Cái Bang cười hô hố phụ họa.

Trương Vô Kỵ nói:

– Nếu bảo Chu cô nương là khách của các người, tại sao các người lại điểm huyệt nàng ta?

Trần Hữu Lượng nói:

– Chu cô nương đang vui vẻ ngồi đây ăn uống, trò chuyện thoải mái, ai bảo là nàng bị điểm huyệt? Cái Bang và phái Nga Mi có mối liên hệ vô cùng sâu xa, đời đời giao hảo. Quách nữ hiệp tổ sư phái Nga Mi chính là con gái của Hoàng bang chủ tệ bang, Gia Luật bang chủ lại là anh rể của Quách Tương nữ hiệp. Trong võ lâm, trừ bọn con nít miệng còn hôi sữa, có ai lại không biết chuyện đó. Làm sao Cái Bang bọn ta lại dám đắc tội với vị chưởng môn hiện thời của phái Nga Mi? Trương giáo chủ bạ đâu nói đó, chẳng sợ anh hùng thiên hạ chê cười cho sao?

Trương Vô Kỵ cười khẩy, nói:

– Nói thế tức là Chu cô nương tự mình điểm huyệt mình à?

Trần Hữu Lượng nói:

– Cái đó chưa hẳn thế đâu. Ai ai cũng thấy Trương giáo chủ nhảy tới, ôm luôn Chu cô nương chạy ra. Chu cô nương giãy giụa không chịu, tôn giá liền thuận tay điểm huyệt nàng. Trương giáo chủ, vẫn biết là anh hùng khó qua cửa ải mỹ nhân, cái tính háo sắc ai mà chẳng có, nhưng giữa chốn sảnh đường đông người, trăm mắt nhìn vào, Trương giáo chủ lại có hành vi ghẹo nguyệt trêu hoa, chẳng đánh mất thanh danh của mình hay sao?

Mồm mép Trương Vô Kỵ vốn không thể bì với Trần Hữu Lượng, bị hắn trâng tráo vu vạ cho như thế, tuy tức lắm nhưng khó giãi bày, đành tái mặt, quát:

– Như thế là các người nhất định không nói cho ta biết nghĩa phụ ta ở đâu phải không?

Trần Hữu Lượng lớn tiếng đáp:

– Trương giáo chủ, Quang Minh sứ giả Dương Tiêu của quý giáo năm xưa đã cưỡng gian và giết hại Kỷ Hiểu Phù của phái Nga Mi, đồng đạo võ lâm thiên hạ ai cũng căm hờn nguyền rủa hắn. Nay ngươi cậy võ công cao cường, lại giở trò đó ra, ắt không thoát khỏi sự phán xử đâu.

Trương Vô Kỵ quay lại nói với Chu Chỉ Nhược:

– Chỉ Nhược, nàng nói một tiếng đi, bọn chúng đã bắt cóc nàng đến đây như thế nào coi?

Chu Chỉ Nhược nói:

– Muội.. muội.. muội..

Nàng ấp úng ba tiếng" muội ", rồi đột nhiên thân hình lảo đảo, ngất đi.

Bọn Cái Bang tức thời kêu la ầm ỹ:

– Ma đầu Minh giáo giết người rồi!

– Trương Vô Kỵ cưỡng gian không được, giết chết chưởng môn phái Nga Mi rồi!

– Giết ngay tên dâm tặc Trương Vô Kỵ để trừ hại cho thiên hạ!

Trương Vô Kỵ cả giận, xông tới chỗ Sử Hỏa Long, nghĩ thầm:" Bắt giặc phải tóm tên đầu đảng, chỉ cần thộp cổ gã họ Sử, hay dở ở hắn mà ra, sẽ buộc hắn phải nói ra tung tích nghĩa phụ ".

Chưởng Bổng long đầu và Chấp pháp trưởng lão cùng tiến ra ngăn chặn. Chưởng Bổng long đầu múa cây thiết bổng, còn Chấp pháp trưởng lão thì tay phải cầm cương câu[125], tay trái cầm thiết quài, hai gã dùng ba món binh khí, vây đánh Trương Vô Kỵ. Chàng hú lên một tiếng, sử dụng tâm pháp" Càn khôn đại na di ", nghe" keng "một tiếng, cương câu của Chấp pháp trưởng lão lại gạt phăng thiết bổng của Chưởng Bổng long đầu, còn thiết quài thì đâm luôn vào sườn đồng bọn.

Truyền công trưởng lão đứng cạnh bèn rút kiếm, nói:

– Tên tiểu tử này võ công rất quái dị, mọi người hãy cẩn thận.

Vù, vù, vù ba kiếm liền, thế đánh rất lợi hại, nhắm ngực và bụng dưới của Trương Vô Kỵ mà đâm tới. Trương Vô Kỵ thấy chiêu số hiểm ác, thốt lên:

Hảo kiếm pháp!

Chàng xoay người né tránh, ngón tay trỏ bên trái điểm vào đùi lão ta. Truyền công trưởng lão vòng mũi kiếm về chém ngón tay chàng. Biến chiêu nhanh vô cùng, mũi kiếm không sai một ly, chỉ một chiêu này cũng đã là hiếm có trong võ lâm. Trương Vô Kỵ khen thầm:" Cái Bang nổi danh giang hồ, trăm năm không suy, trong bang ngọa hổ tàng long, quả nhiên không hiếm nhân tài kiệt xuất ".

Bữa trước trong miếu Di Lặc, chàng đã thấy Huyền Minh nhị lão đấu với các cao thủ Cái Bang, vì chàng phải núp trên cây, không dám ló đầu ra, nên chưa nhìn thấy hết; lúc này chính chàng giao đấu với họ, mới biết Truyền công và Chấp pháp trưởng lão quả có thể xếp vào đệ nhất cao thủ thời nay. Chưởng Bổng long đầu thì hỏa hầu kém hơn một chút mà thôi.

Trong giây lát Cái Bang tam lão đã qua lại với Trương Vô Kỵ hơn hai mươi chiêu. Trần Hữu Lượng đột nhiên kêu to:

– Bày" Sát cẩu trận "[126] !

Quần hào Cái Bang liền lớn tiếng reo hò, đao quang sáng lóa như tuyết, hai mươi mốt hảo thủ tay cầm loan đao, vây Trương Vô Kỵ vào giữa. Hai mươi mốt người ấy, kẻ thì hát khúc Liên Hoa Lạc, kẻ rên rỉ kêu than, kẻ đấm ngực khóc lóc, kẻ cao giọng van xin:

– Lạy ông, lạy bà, cho con xin chút cơm thừa canh cặn!

Trương Vô Kỵ thoạt tiên kinh ngạc, nhưng hiểu ngay, trò quái dị kia chỉ cốt làm bấn loạn tinh thần đối phương. Chỉ thấy quần hào Cái Bang tuy cước bộ hỗn tạp, nhưng tiến thoái đều có phép tắc chặt chẽ.

Truyền công trưởng lão quát lên:

– Hãy khoan!

Ông ta lùi hai bước, kiếm để ngang trước ngực. Chấp pháp trưởng lão và Chưởng Bổng long đầu cũng đều nhảy ra ngoài. Riêng quần hào bày" Sát cẩu trận "thì vẫn tiếp tục chạy qua chạy lại không ngừng. Truyền công trưởng lão nói:

– Trương giáo chủ, bọn ta lẽ ra không nên lấy thịt đè người. Nhưng trong Cái Bang không một ai có thể là địch thủ của các hạ. Trừ gian sát tặc không thể khư khư giữ quy củ một đánh một của hiệp nghĩa đạo.

Trương Vô Kỵ mỉm cười, nói:

– Khéo nói, khéo nói lắm!

Truyền công trưởng lão lại nói:

– Bọn ta trong tay ai ai cũng có binh khí, Trương giáo chủ lại tay không, thì Cái Bang được lợi thế quá nhiều. Trương giáo chủ muốn sử dụng loại binh khí gì, cứ cho biết, bọn ta sẽ tuân hành đưa ra.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm:" Vị Truyền công trưởng lão này võ công cao cường, lại có lòng trượng nghĩa, khác hẳn so với tên Trần Hữu Lượng gian xảo ", bèn nói:

– Đùa giỡn với các vị một phen, hà tất phải dùng đến đao gậy? Tại hạ muốn dùng binh khí, không biết tự kiếm lấy hay sao?

Chàng nói xong, lắc mình một cái đã nhảy ra ngoài vòng" Sát cẩu trận ", hai tay chia ra ấn vào vai Tống Thanh Thư và Trần Hữu Lượng, khi rút tay lại đã đoạt được hai thanh trường kiếm của hai kẻ đó, lại lộn người nhảy vào giữa trận. Chàng vọt ra lộn vào như thế mà hai mươi mốt đệ tử Cái Bang đang múa đao chạy vòng quanh không tên nào chạm được vào gấu áo chàng. Mọi người còn đang kinh ngạc, thì đã nghe chàng cao giọng nói:

– Đặt tên trận là" Sát cẩu "nghe có vẻ hay lắm, nhưng giết chó thì dễ, còn định hàng phục rồng hổ thì trận đồ này vô dụng.

Nói xong chàng rung hai tay một cái, một luồng kình lực truyền vào thân kiếm, nghe" rắc rắc "hai tiếng, hai thanh kiếm đã gãy đôi.

Chưởng Bổng long đầu hô to:

– Tất cả xông lên!

Thiết bổng của lão chọc vào ngực Trương Vô Kỵ. Một câu một quài của Chấp pháp trưởng lão cũng múa lên thành hai đám hoa tuyết cuồn cuộn áp tới. Trương Vô Kỵ lạng sang bên trái, thân hình lại nghiêng về bên phải, sử dụng tâm pháp" Càn khôn đại na di ", chỉ thấy bạch quang loang loáng, phập phập phập liên tục, toàn bộ loan đao trong tay bọn Cái Bang trong Sát cẩu trận đều bị chàng đoạt mất, ném lên xà nhà. Hai mươi mốt thanh đao xếp thành một hàng đều tăm tắp, cắm phập vào trong gỗ cả thước.

Bỗng nghe Trần Hữu Lượng gọi to:

– Trương Vô Kỵ, ngươi còn chưa dừng tay hả?

Trương Vô Kỵ ngoảnh lại, thấy Trần Hữu Lượng đang cầm một thanh trường kiếm, mũi kiếm chỉ vào hậu tâm của Chu Chỉ Nhược.

Trương Vô Kỵ cười khẩy:

– Một trăm năm nay giang hồ đều truyền tụng" Minh giáo, Cái Bang, Thiếu Lâm ". Trong các giáo phái, thì Minh giáo đứng đầu, các bang hội đưa Cái Bang lên hạng nhất, các vị làm thế này không sợ làm nhục uy danh của Hồng Thất Công lão hiệp hay sao?

Truyền công trưởng lão giận dữ nói với Trần Hữu Lượng:

– Trần trưởng lão, mau buông Chu cô nương ra, chúng ta quyết tử chiến với Trương giáo chủ. Cái Bang dốc lực toàn bang, chẳng lẽ không địch nổi một mình giáo chủ Minh giáo. Nếu đi giở trò hạ sách đó ra, thì còn mặt mũi nào làm người nữa.

Trần Hữu Lượng cười nói:

– Đại trượng phu đấu trí, không đấu sức. Trương Vô Kỵ, ngươi chưa chịu xuôi tay chịu trói hay sao?

Trương Vô Kỵ cười to, nói:

– Được, hôm nay Trương Vô Kỵ ta muốn thử xem uy phong của Cái Bang như thế nào.

Đột nhiên chàng lùi hai bước, lộn mình nhảy ngược về đằng sau, từ trên không trung rơi xuống, đã cưỡi ngay trên cổ bang chủ Cái Bang Sử Hỏa Long. Bàn tay phải của chàng úp trên đỉnh đầu Sử Hỏa Long, bàn tay trái thì nắm ngay kinh mạch sau ót.

Chiêu này trong võ công thánh hỏa lệnh được thực hiện dễ dàng ngoài cả dự liệu của Trương Vô Kỵ. Chàng vốn chỉ tính sử dụng một quái chiêu, bất ngờ tới sát Sử Hỏa Long, dợm sẵn ba chiêu nữa để bắt sống Sử Hỏa Long trong nháy mắt, chỉ lo Trần Hữu Lượng tâm địa hiểm độc rất có thể sẽ hạ độc thủ với Chu Chỉ Nhược. Nào ngờ chưa cần sử dụng đến ba chiêu lợi hại, chàng đã chế ngự được Sử Hỏa Long. Chàng cưỡi cổ hắn chả khác gì trẻ con đùa nghịch với người lớn, trông rất bất nhã, nhưng đã chế ngự được các yếu huyệt trên đầu đối phương, nên cũng không muốn nhảy xuống, để khỏi lôi thôi.

Bọn Cái Bang thấy bang chủ bị bắt, cùng ồ lên kinh hãi. Bàn tay phải của Trương Vô Kỵ úp trên huyệt Bách Hội ở đỉnh đầu Sử Hỏa Long, huyệt này là giao điểm của kinh Túc Thái Dương và mạch Đốc, là đại huyệt hệ trọng nhất của cơ thể con người; chàng chỉ cần ấn nhẹ xuống một cái, Sử Hỏa Long sẽ tức thời bị chấn đứt kinh mạch mà chết, không gì cứu nổi. Thành thử quần hào Cái Bang không ai dám động đậy. Sau một hồi hò hét, lúc này đại sảnh đột nhiên im ắng, mọi người trơ mắt nhìn Trương Vô Kỵ và Sử Hỏa Long, không biết phải làm gì.

*

* *

Giữa lúc đó, bỗng nghe trên mái nhà vọng xuống tiếng đàn hòa cùng tiếng sáo văng vẳng. Dường như có vài chiếc dao cầm và động tiêu hòa tấu với nhau. Tiếng nhạc dìu dặt uyển chuyển, ai nấy nghe rất rõ, có điều khi ở mé đông, khi ở mé tây, không biết từ hướng nào trên mái nhà vọng xuống.

Trương Vô Kỵ lấy làm lạ, không biết tiếng đàn sáo kia ngụ ý gì. Trần Hữu Lượng lớn tiếng nói:

– Cao nhân phương nào giá lâm Cái Bang đó? Nếu là quần ma Minh giáo, sao không hiện thân, hà tất phải giả bộ quỷ thần như thế?

Tiếng đàn tưng tưng tang ba tiếng, rồi có bốn bạch y thiếu nữ từ mái hiên hai phía đông tây nhảy xuống sân, trong tay mỗi nàng ôm một cây dao cầm. So với thất huyền cầm thông thường, loại dao cầm này ngắn và hẹp chỉ bằng một nửa, song vẫn đủ bảy dây. Bốn thiếu nữ nhảy xuống rồi liền chia nhau đứng bốn góc, Liền đó từ ngoài cửa tiến vào bốn hắc y thiếu nữ, mỗi nàng tay cầm một cây sáo dài màu đen, loại tiêu này dài gấp rưỡi các cây sáo thông thường. Bốn thiếu nữ này cũng chia ra đứng bốn góc, mỗi góc một trắng một đen.

Tám thiếu nữ đứng ổn định rồi, bốn cây dao cầm, rồi bốn cây động tiêu, bắt đầu tấu nhạc, tiếng nhạc vô cùng u nhã du dương. Trương Vô Kỵ không hiểu âm nhạc, chỉ cảm thấy tiếng nhạc uyển chuyển êm tai, tuy đang trong cục diện cực kỳ căng thẳng, nhưng vẫn muốn nghe thêm một lát.

Trong tiếng nhạc dìu dặt, một hoàng y thanh nữ khoan thai bước vào, tay trái dắt một nữ đồng mười hai, mười ba tuổi. Thanh nữ trạc hai mươi bảy, hai mươi tám, phong tư tha thướt, dung mạo tuyệt trần, chỉ tội sắc mặt quá xanh xao, nhợt nhạt. Còn nữ đồng thì mặt mày xấu xí, hai lỗ mũi hếch lên trời; cái mồm rộng, lộ ra hai cái răng cửa to tướng, trông có vẻ hung dữ. Nữ đồng một tay nắm tay thanh nữ, tay kia cầm cây gậy trúc xanh.

Quần hào Cái Bang thấy nhị nữ tiến vào, cả bọn không hẹn mà mục quang cùng chằm chằm nhìn cây gậy trúc. Trương Vô Kỵ thấy nhiều thiếu nữ tới đây, mình lại cưỡi trên cổ Sử Hỏa Long, trông thật tức cười, thế nhưng mũi kiếm của Trần Hữu Lượng vẫn đang chĩa vào hậu tâm Chu Chỉ Nhược, thì chàng không thể thả bang chủ Cái Bang ra một cách dễ dàng. Thấy bọn Cái Bang cứ chằm chằm nhìn cậy gậy trúc trong tay nữ đồng, tựa hồ trên đời không còn gì quan trọng hơn cây gậy đó, hết thảy các bạch y, hắc y thiếu nữ, hoàng y thanh nữ lẫn nữ đồng xấu xí đều coi như không có, thì chàng thầm kinh ngạc, cũng nhìn kỹ cây gậy trúc xem sao, thấy nó toàn một màu xanh lục, nhẵn bóng, không biết bao nhiêu năm đã qua tay bao nhiêu người sử dụng, ngoài ra không có gì khác lạ.

Hoàng y thanh nữ đưa mắt như hai tia chớp lạnh, nhìn lướt mọi người một vòng, cuối cùng dừng lại ở mặt Trương Vô Kỵ, lạnh lùng nói:

– Trương giáo chủ tuổi đâu còn nhỏ, việc đứng đắn không làm, lại ở đây đùa giỡn.

Câu nói đó có phần trách móc, nhưng từ ngữ rất thân tình, nghe như chị cả mắng em út. Trương Vô Kỵ đỏ mặt, phân trần:

– Trần trưởng lão của Cái Bang có hành vi đê hèn, chế ngự.. đồng bạn của tại hạ, tại hạ đành bắt giữ bang chủ của họ.

Thanh nữ mỉm cười, dịu dàng nói:

– Đem bang chủ của người ta ra làm ngựa cưỡi, chẳng hơi quá hay sao? Ta từ Tràng An tới, dọc đường nghe đồn giáo chủ Minh giáo là một tiểu ma đầu, hôm nay thấy đây, ôi, ôi!

Nàng vừa nói vừa lắc đầu, có vẻ không hài lòng. Sử Hỏa Long đột nhiên kêu lớn:

– Tên tiểu dâm tặc Trương Vô Kỵ, có mau mau tụt xuống không thì bảo!

Y giơ tay định hất chân chàng, nhưng kinh mạch sau ót đã bị nắm giữ, đâu có sử được chút kình lực nào. Trương Vô Kỵ nghe y trước mặt các thiếu nữ lại lớn tiếng chửi chàng là" tên tiểu dâm tặc ", thì vừa thẹn vừa tức, tay trái bèn ấn nhẹ vào gáy y. Sử Hỏa Long toàn thân tê dại, chịu không nổi phải kêu oai oái.

Bọn Cái Bang thấy Trương Vô Kỵ vô lễ, mà bang chủ của mình lại khiếp nhược như thế, thì ai nấy vừa xấu hổ vừa bực tức. Sử Hỏa Long bị đối phương chế ngự lại mở miệng rên rỉ, thật không còn chút thể diện anh hùng hảo hán gì nữa, đừng nói là bang chủ một bang lớn nhất trên giang hồ, ngay một đệ tử tầm thường của Cái Bang cũng không đời nào chịu tiếng hèn trước địch thủ.

Trần Hữu Lượng nói:

– Trương Vô Kỵ, ngươi thả Sử bang chủ ra, ta thu kiếm về, được chứ?

Hắn không đợi Trương Vô Kỵ đáp ứng, liền đút kiếm vào bao. Hắn đoán rằng giao hẹn như thế ắt được, quả nhiên Trương Vô Kỵ nói:

– Được lắm!

Chàng nhún mình một cái đã đứng ngay bên cạnh Chu Chỉ Nhược, thấy nàng nhíu mày, thần sắc mệt mỏi, trông thật tội nghiệp, bèn dìu nàng tới ngồi trên một cái đôn bằng đá.

Trần Hữu Lượng quay sang hoàng y mỹ nữ, chắp tay nói:

– Phương giá quang lâm tệ bang, không biết có điều chi giáo huấn? Quý tính đại danh có thể cho biết được chăng?

Rồi y lại hỏi cô bé xấu xí:

– Này tiểu cô nương, cây gậy trúc ấy ở đâu ra vậy?

Hoàng y mỹ nữ lạnh lùng nói:

– Hỗn Nguyên Tích Lịch Thủ Thành Côn ở đâu, mời y ra gặp.

Trương Vô Kỵ nghe bảy chữ Hỗn Nguyên Tích Lịch Thủ Thành Côn thì vô cùng kinh ngạc, thấy Trần Hữu Lượng mặt biến sắc, song hắn lập tức trấn tĩnh, thản nhiên đáp:

– Hỗn Nguyên Tích Lịch Thủ Thành Côn ư? Có phải là sư phụ của Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn? Cái đó phải hỏi Trương giáo chủ Minh giáo mới biết được.

Hoàng y mỹ nữ hỏi:

– Các hạ là ai?

Trần Hữu Lượng đáp:

– Tại hạ họ Trần, thảo tự Hữu Lượng, là trưởng lão tám túi trong Cái Bang.

Hoàng y mỹ nữ hất hàm về phía Sử Hỏa Long, hỏi:

– Còn gã kia là ai? Trông diện mạo tưởng là anh hùng hảo hán, mà có khác gì cái bị thịt; người ta mới ra tay một tí đã kêu rên oai oái chẳng ra thể thống gì cả.

Bọn Cái Bang tự ngượng ngùng, một số người bây giờ nhìn Sử Hỏa Long bằng ánh mắt có vài phần khinh bỉ và tức giận. Trần Hữu Lượng nói:

– Vị này là Sử bang chủ của bổn bang. Lão nhân gia gần đây bị bệnh nặng mới đỡ, người chưa thật khỏe. Cô nương là khách, chúng tôi nhường nhịn vài phần đấy; nếu còn nói năng vô lễ, có đắc tội cũng đừng trách.

Hắn nói câu cuối bằng giọng hăm dọa.

Hoàng y mỹ nữ thản nhiên nói với một hắc y thiếu nữ:

– Tiểu Thúy, hãy trả lại phong thư cho y.

Hắc y thiếu nữ kia đáp lời:

– Thưa vâng.

Nàng lấy trong bọc ra một bao thư cầm trong tay. Trương Vô Kỵ nhìn thấy trên phong bì viết:" Kính gửi Hàn Sơn Đồng đại gia của Minh giáo ", bên dưới có hàng chữ nhỏ hơn:" Cái Bang Sử kính gửi ".

Chưởng Bổng long đầu vừa thấy bức thư, lập tức đỏ mặt tía tai, chửi luôn:

– Con nô tì tiểu tặc, thì ra kẻ bỡn cợt lão gia trên đường, đánh cắp phong thư, chính là con a đầu chết tiệt này!

Lão giơ cây thiết bổng, tính xông lên làm dữ. Tiểu Thúy cười khúc khích, nói:

– Tiểu nữ là a đầu cũng được, nhưng không hề chết tiệt bao giờ. Người già đầu như lão mà có phong thư giữ cũng không xong, không biết ngượng hay sao?

Đoạn thiếu nữ phẩy tay nhẹ một cái, phong thư bay ngay về phía Chưởng Bổng long đầu, lão tiện tay bắt lấy.

Đêm nọ Trương Vô Kỵ nhìn thấy Sử Hỏa Long sai Chưởng Bổng long đầu mang thư đến cho Hàn Sơn Đồng, dùng Hàn Lâm Nhi làm con tin để uy hiếp, buộc Hàn Sơn Đồng đầu hàng Cái Bang, giờ chàng nghe họ đối đáp, thì đoán là mấy bạch y hắc y thiếu nữ đã trêu chọc Chưởng Bổng long đầu dọc đường, ăn cắp mất phong thư, khiến lão phải quay về Lư Long. Chưởng Bổng long đầu võ công cao siêu như thế, mà qua lời kể của lão, đến bây giờ lão mới biết người trêu chọc lão là ai, đủ biết tám thiếu nữ này nếu không cơ trí hơn người, thì võ công cũng rất cao siêu, đằng sau lại có hoàng y mỹ nữ chủ trì, khiến cho một cao thủ Cái Bang loay hoay chẳng biết đường nào mà lần. Nghĩ tới đó, chàng không khỏi thầm cảm kích hoàng y mỹ nữ.

Hoàng y mỹ nữ nói:

– Hàn Sơn Đồng khởi nghĩa ở Hoài Tứ, đánh đuổi Thát tử, dọc đường ta nghe kể y là người nhân hậu trượng nghĩa, không quấy nhiễu trăm họ. Một nhân vật anh hùng như thế, há lại vì một đứa con mà phản bội Minh giáo, đầu hàng Cái Bang hay sao? Các vị dẫu có mang được phong thư này tới chỗ Hàn Sơn Đồng đại gia, chắc cũng chả hay ho gì. Ta thấy vị long đầu đại ca này hồ đồ tức cười quá. Lại nhân vì trong Cái Bang có đại sự, nên ta đích thân tới đây, mới ngăn chặn phong thư này.

Trương Vô Kỵ ôm quyền nói:

– Đa tạ đại tỷ ra tay tương trợ. Trương Vô Kỵ cảm kích vô cùng.

Hoàng y mỹ nữ nói:

– Khỏi cần khách sáo.

Rồi nàng quay sang phía quần hào Cái Bang, nói:

– Các người tưởng rằng bắt được Hàn Lâm Nhi thì có thể buộc Hàn Sơn Đồng đầu hàng ư? Chưởng Bổng long đầu, hôm ấy ở trên đường cái ngươi cứ liên tiếp bị ngăn chặn, phải chuyển sang đường mòn, tưởng tránh nổi được sao? Hì hì, dẫu có mang được phong thư này tới chỗ Hàn Sơn Đồng đại gia, chắc cũng chả hay ho gì cho Cái Bang các người.

Trần Hữu Lượng trong lòng chợt động, cầm lấy phong thư, thấy ngoài bì nguyên vẹn, không có gì khác lạ, vội bóc ra xem, vừa đọc đã biến sắc hẳn. Thì ra phong thư chiêu hàng Hàn Sơn Đồng lại biến thành Cái Bang tình nguyện đầu hàng Minh giáo; lời lẽ trong thư hèn hạ quỵ lụy, tự chửi mình là những gì đã làm thật xấu xa, không thể tha thứ; nguyện từ nay trở đi sẽ thành tâm sám hối, mong sao Minh giáo khoan hồng độ lượng, bỏ qua lỗi lầm, thu nhận Cái Bang làm thuộc hạ, cử đi tiên phong đánh đuổi quân Nguyên.

Hoàng y mỹ nữ cười khẩy, nói:

– Đúng thế, phong thư này ta đã đọc qua, nhưng không phải do ta sửa. Ta xem xong thư, biết ngay Chưởng Bổng long đầu đã bị người ta đùa giỡn, lừa cho một vố đau. Ta nghĩ đến mối quan hệ sâu xa với Cái Bang đời trước, không muốn đại bang lớn nhất thiên hạ có uy danh lừng lẫy, nay lộ ra xấu xa như vậy, nên mới cướp lấy. Các vị thử nghĩ xem, lá thư này do Chưởng Bổng long đầu thân chinh mang đến cho Minh giáo, thì liệu từ rày trở đi Cái Bang còn mặt mũi nào trên giang hồ nữa chăng?

Truyền công trưởng lão, Chấp pháp trưởng lão, Chưởng Bát long đầu, Chưởng Bổng long đầu lần lượt cầm lá thư đọc, đọc xong người nào cũng tức giận, nghĩ thầm:" Nhục quá! "Quả như hoàng y mỹ nữ nói, lá thư xin hàng lời lẽ đê hèn này mà rơi vào tay Minh giáo thì tiếng xấu về Cái Bang truyền khắp giang hồ, đệ tử Cái Bang thật chẳng còn mặt mũi nào nhìn ai nữa. Như thế, hoàng y mỹ nữ cướp lấy lá thư, không cho đem đi, đã giúp Cái Bang một việc cực lớn. Nhưng kẻ đánh tráo lá thư là ai vậy?

Hắc y thiếu nữ tên Tiểu Thúy nói:

– Chắc các vị muốn hỏi, ai đã tráo bức thư này phải không?

Quần hào Cái Bang không trả lời, nhưng vẻ mặt ai cũng tỏ ra nóng lòng muốn biết. Tiểu Thúy nói:

– Chưởng Bổng long đầu, ông hãy cởi áo ngoài thì biết ngay thôi.

Chưởng Bổng long đầu đỏ mặt, gân xanh nổi rõ trên cổ từ nãy, nghe vậy bèn hai tay giật phăng hai vạt áo, nghe xoẹt xoẹt hai tiếng, lão lột nốt áo ngoài quẳng đi, nói:

– Thế thì sao nào?

Chỉ các đệ tử Cái Bang đứng phía sau lão cùng ồ lên kinh hãi, hình như họ nhìn thấy cái gì quái dị lắm. Chưởng Bổng long đầu quay lại hỏi:

– Cái gì vậy?

Thấy bảy, tám người chỉ trỏ nơi lưng lão, lão cuống lên, xé vạt áo, lột phăng nốt cái áo trong ra, để lộ tấm lưng cuồn cuộn bắp thịt. Lão giơ cái áo trong lên xem, thấy trên lưng áo vẽ một con dơi lớn màu xanh, hai cánh dang rộng, răng nhe đáng sợ, bên miệng có điểm vài chấm máu đỏ tươi.

Bọn Truyền công trưởng lão, Chấp pháp trưởng lão cùng kêu lên:

– Thanh Dực Bức Vương Vi Nhất Tiếu.

Vi Nhất Tiếu ít tới Trung nguyên, nên không mấy ai biết đến tên tuổi; nhưng vài năm qua trên giang hồ lão xuất quỷ nhập thần, đại hiển thân thủ, uy danh ngày càng nổi, không kém gì Bạch Mi Ưng Vương Ân Thiên Chính. Trương Vô Kỵ trong bụng mừng thầm:" Không phải người có tài khinh công đến không ai biết, đi chẳng ai hay như Vi huynh, thì làm sao có thể đùa giỡn mà Chưởng Bổng long đầu không hề hay biết ".

Chưởng Bổng long đầu sững sờ, cầm chiếc áo ném vào Trương Vô Kỵ, chửi:

– Giỏi nhỉ! Thì ra bọn ma đầu chúng bay trêu chọc lão phu.

Trương Vô Kỵ phất ống tay áo một cái, một luồng gió thổi chiếc áo bay lên móc vào một cái chạc cây ngân hạnh trong sân, gặp gió thổi phồng ra, hình con dơi hút máu vẽ trên áo trông sinh động như thật. Chàng cười, nói:

– Chưởng Bổng long đầu, Vi Bức Vương của tệ giáo ra tay còn lưu tình đó. Chẳng lẽ các hạ không biết, hôm đó nếu Vi Bức Vương muốn lấy mạng các hạ, thì các hạ đã ra sao rồi?

Chưởng Bổng long đầu nghĩ lại, không khỏi lạnh xương sống.

Trần Hữu Lượng thầm nghĩ việc này càng nói thêm càng xấu mặt, chỉ có cách lảng qua chuyện khác là thượng sách, bèn quay qua hỏi hoàng y mỹ nữ:

– Thỉnh vấn quý tính đại danh của cô nương, không biết có quan hệ gì với chúng tôi?

Hoàng y mỹ nữ cười khẩy, đáp:

– Có quan hệ gì với các vị ư? Ta chỉ có quan hệ với cây" Đả cẩu bổng "này thôi.

Nói rồi chỉ cây gậy trúc xanh trong tay cô bé xấu xí.

Quần hào Cái Bang vốn đã nhận ra đây là tín vật" Đả cẩu bổng "của bang chủ, không hiểu sao lại rơi vào tay người ngoài, nên ai nấy đều quay nhìn Sử Hỏa Long, chỉ thấy y mặt tái nhợt, chân tay luống cuống. Truyền công trưởng lão hỏi:

– Bang chủ, cây gậy đánh chó trong tay cô bé kia là giả phải không?

Sử Hỏa Long đáp:

– Ta.. xem ra quá nửa là giả.

Hoàng y mỹ nữ nói:

– Được, vậy thì ngươi hãy mang" Đả cẩu bổng "thật ra so sánh thử coi.

Sử Hỏa Long nói:

–" Đả cẩu bổng "là vật chí bảo của bản bang, đâu có thể đưa cho người ngoài xem được? Ta cũng không mang theo người, lỡ đánh mất thì nguy tai.

Quần hào Cái Bang nghe y nói vậy thật chẳng ra thể thống gì, ai đời thân là bang chủ mà lại sợ đánh mất" Đả cẩu bổng "?

Cô bé giơ cao cây gậy trúc, nói to:

– Mọi người hãy lại đây coi. Cây" Đả cẩu bổng "này là của bổn bang, truyền hết đời này sang đời khác, làm sao giả được?

Cả bọn nghe cô bé nói hai tiếng" Bổn bang "thì lấy làm lạ, lại gần xem kỹ, thấy cây gậy nhẵn bóng như ngọc, cứng rắn như thép, không còn nghi ngờ gì nữa, quả là tín vật" Đả cẩu bổng "của bang chủ Cái Bang. Mọi người nhìn nhau ngơ ngác, chưa hiểu sự thể ra sao cả.

Hoàng y mỹ nữ nói:

– Ta nghe đồn bang chủ Cái Bang có hai môn đại thần công lừng danh thiên hạ là" Hàng long thập bát chưởng "và" Đả cẩu bổng pháp ". Tiểu Hồng, ngươi hãy ra lĩnh giáo công phu" Hàng long thập bát chưởng "của Sử bang chủ trước. Tiểu Linh, ngươi đợi khi Tiểu Hồng tỷ tỷ thắng rồi, hãy lĩnh giáo công phu" Đả cẩu bổng pháp "của y.

Hai thiếu nữ cầm trường tiêu nghe lệnh bước ra, đứng hai bên.

Trần Hữu Lượng giận dữ nói:

– Cô nương không chịu xưng danh, đã nhìn Cái Bang bằng nửa con mắt, lại sai hai con hầu khiêu chiến với bang chủ chúng ta, trên giang hồ lại có cái lý thế sao? Sử bang chủ, để đệ tử thanh toán hai con hầu kia trước, rồi sẽ lĩnh giáo cao chiêu của cô nương, xem vị cô nương này là cao nhân phương nào mà dám coi thường Cái Bang như vậy.

Sử Hỏa Long nói:

– Hay lắm, mẹ kiếp, mời Trần trưởng lão cứ việc ra tay cho.

Trần Hữu Lượng rút luôn trường kiếm, thong thả bước ra giữa sân.

Thiếu nữ tên Tiểu Hồng nói:

– Cô nương sai ta ra lĩnh giáo" Hàng long thập bát chưởng ", các hạ có biết môn võ công ấy chăng? Sử" Hàng long thập bát chưởng "mà lại dùng kiếm ư?

Trần Hữu Lượng quát:

– Sử bang chủ thân phận cao cả, không lẽ thèm động thủ quá chiêu với một con hầu như ngươi?

Thần công" Hàng long thập bát chưởng "đâu phải để cho một con hầu ti tiện thưởng thức?

Nói rồi hắn tiến lên một bước.

Hoàng y mỹ nữ nói với Trương Vô Kỵ:

– Trương giáo chủ, ta nhờ giáo chủ một việc.

Trương Vô Kỵ đáp:

– Đại tỷ cứ nói.

Hoàng y mỹ nữ nói:

– Trương giáo chủ hãy đánh đuổi lão họ Trần, rồi lột mặt nạ kẻ mạo danh Sử bang chủ cho mọi người cùng thấy.

Trương Vô Kỵ vừa nãy chỉ một chiêu đã bắt được Sử Hỏa Long, cảm thấy võ công của y sao quá kém cỏi; lại nhớ bữa nọ Hàn Lâm Nhi nhổ bãi nước miếng, Sử Hỏa Long cũng không tránh được, trong bụng đã nghi; rồi thấy nhất nhất mọi việc y đều nghe lời Trần Hữu Lượng, bản thân y không có chủ định gì; cứ võ công như thế, kiến thức như thế, quyết chẳng thể làm bang chủ Cái Bang; giờ chàng nghe hoàng y mỹ nữ bảo chàng" lột mặt nạ kẻ mạo danh Sử bang chủ ", chuyện trước chuyện sau ăn khớp với nhau, chàng bèn gật đầu, nhảy tới trước mặt Sử Hỏa Long.

Sử Hỏa Long đánh ra chiêu" Xung thiên pháo ", nghe" bình "một tiếng, đấm trúng ngực Trương Vô Kỵ. Trương Vô Kỵ cười ha hả, nói:

– Thần công" Hàng long thập bát chưởng "gì mà lại kém cỏi thế!

Chàng đưa tay thộp ngực áo y, nhấc bổng lên. Trần Hữu Lượng tự biết mình không phải là địch thủ của Trương Vô Kỵ, không đợi chàng ra tay, đã lui về lẫn trong đám đông.

Cô bé xấu xí kia đột nhiên khóc tướng lên, chạy tới đấm túi bụi vào người Sử Hỏa Long, nói:

– Ngươi hại chết cha ta, ngươi hại chết cha ta, ngươi là tên ác tặc.

Sử Hỏa Long bị Trương Vô Kỵ nắm ngay huyệt đạo ở sau lưng, không cử động được. Thân hình y cao lớn nên cô bé chỉ đấm tới bụng y mà thôi. Trương Vô Kỵ bèn giúi đầu y xuống, cô bé liền túm tóc y mà giật, ai ngờ cô bé vừa giật mạnh, mớ tóc của Sử Hỏa Long bung ra liền, lộ cái đầu trọc nhẵn thín. Hóa ra y hói đầu, đội tóc giả. Cô bé cào cấu, lôi cả một mẩu mũi của y ra mà không thấy chảy máu.

Mọi người hết sức kinh ngạc, nhìn kỹ hóa ra y mũi tẹt, chỗ mũi đắp cao kia cũng là giả nốt. Mọi người ồ cả lên, cùng hỏi:

– Ngươi là ai? Sao dám mạo nhận Sử bang chủ?

Trương Vô Kỵ nhấc thân hình cao lớn của y lên rồi ném y xuống, khiến y đau đớn hồi lâu không nói nổi nửa lời. Trương Vô Kỵ mỉm cười, lui sang một bên, nghĩ thầm người này mạo nhận Sử Hỏa Long, nay chân tướng đã bại lộ, thì cứ để cho Cái Bang tự định liệu.

Chưởng Bổng long đầu tính nóng như lửa, bước tới, xoạc chân, dang tay tát bốp bốp bảy tám cái liền. Gã bang chủ giả kia má sưng đỏ, vội kêu:

– Không phải tôi, không phải tôi đâu, là do Trần.. Trần trưởng lão bắt tôi làm đó.

Chấp pháp trưởng lão chột dạ, quát hỏi:

– Trần Hữu Lượng đâu rồi?

Nhưng Trần Hữu Lượng đã biến mất tăm. Chắc hắn thấy sự việc bại lộ, đã lủi đi từ lúc nào. Chấp pháp trưởng lão quát:

– Mau bắt hắn lại!

Mấy đệ tử bảy túi tuân lệnh chạy ra, đuổi theo Trần Hữu Lượng.

Chưởng Bổng long đầu chửi:

– Đồ khốn nạn! Ngươi là cái thá gì mà bắt lão phu phải khấu đầu, gọi ngươi là bang chủ?

Lão giơ bàn tay to như cái quạt lên, lại định vả vào mặt gã bang chủ giả. Chấp pháp trưởng lão vội gạt đi, nói:

– Phùng huynh đệ đừng lỗ mãng. Huynh đệ đánh chết hắn thì không còn tra xét được gì nữa.

Đoạn lão quay sang hành lễ với hoàng y mỹ nữ, cung kính nói:

– Nếu không có cô nương vạch rõ mưu gian, thì đến hôm nay chúng tôi vẫn còn bị bịt mắt. Cô nương có thể cho biết phương danh được chăng? Tệ bang từ trên xuống dưới cảm tạ đại đức này.

Hoàng y mỹ nữ cười, đáp:

– Tiểu nữ sống ở thâm sơn cùng cốc, trước nay không giao thiệp với bên ngoài, có xưng danh cũng chẳng để làm gì. Còn vị tiểu muội muội này, các vị không ai nhận ra ư?

Quần hào Cái Bang chăm chú nhìn cô bé xấu xí, chưa ai nhận biết được. Truyền công trưởng lão chột dạ, tiến lên một bước, nói:

– Cô bé này.. cô bé này mặt mũi nhang nhác phu nhân Sử bang chủ.. hay là.. hay là.. Hoàng y mỹ nữ nói:

– Đúng thế, cô bé này họ Sử, tên Hồng Thạch, là con gái duy nhất của Sử bang chủ Sử Hỏa Long. Khi Sử bang chủ lâm nguy, đã bảo phu nhân ẵm con, cầm" Đả cẩu bổng "tìm đến tiểu nữ, nhờ báo thù rửa hận.

Truyền công trưởng lão hoảng sợ kêu lên:

– Cô nương, cô nương bảo Sử bang chủ qua đời rồi ư? Sử bang chủ.. lão nhân gia làm sao mà chết?

Các bang chủ Cái Bang đời trước truyền lại" Hàng long thập bát chưởng ", đến đời Gia Luật Tề thì học không hết, từ đó các bang chủ nhiều lắm chỉ học được mười bốn chưởng là cùng. Sử Hỏa Long học được mười hai chưởng, nhưng hơn hai chục năm về trước, do khổ luyện môn chưởng pháp này, nội lực không đều, đã bị chứng bán thân bất toại, hai cánh tay hầu như không cử động được. Sử Hỏa Long bèn cùng vợ đi vào những vùng núi non hiểm trở tìm linh dược trị bệnh; giao bang vụ lại cho Truyền công, Chấp pháp hai trưởng lão, Chưởng Bát, Chưởng Bổng hai long đầu cùng đảm trách.

Thế nhưng các vị trưởng lão, long đầu không ai chịu ai, mỗi người một phe cánh, hai phái áo sạch, áo dơ trong bang cũng không hòa thuận, khiến Cái Bang suy yếu dần. Gần đây tên bang chủ giả này đột nhiên xuất hiện, các đệ tử trẻ tuổi thì chưa gặp bang chủ bao giờ; còn bọn Truyền công trưởng lão, Chấp pháp trưởng lão thì xa Sử Hỏa Long đã hai chục năm, thấy người này tướng mạo rất giống bang chủ, có ai ngờ là giả.

Hoàng y mỹ nữ thở dài, nói:

– Sử bang chủ đã bỏ mạng dưới tay Hỗn Nguyên Tích Lịch Thủ Thành Côn.

Trương Vô Kỵ kêu" ồ "một tiếng, nghĩ thầm trên đỉnh Quang Minh, chàng từng chính mắt thấy Thành Côn chết nằm dưới đất, sao hắn còn đi giết Sử Hỏa Long? Chắc là việc đó xảy ra trước sự kiện trên đỉnh Quang Minh, chàng bèn hỏi lại:

– Xin hỏi, Sử bang chủ từ trần đã bao lâu rồi?

Hoàng y mỹ nữ đáp:

– Ngày mồng Sáu tháng Mười năm ngoái, đến nay đã hơn hai tháng.

Trương Vô Kỵ nói:

– Thế thì lạ thật. Không biết vì lẽ gì cô nương bảo rằng Sử bang chủ bỏ mạng dưới tay tên lão tặc Thành Côn?

Hoàng y mỹ nữ đáp:

– Sử phu nhân kể như sau: Sử bang chủ đấu với một lão già mười hai chưởng liền, lão già kia hộc máu, bỏ đi. Còn Sử bang chủ cũng bị trọng thương vì chưởng lực của lão già nọ. Sử bang chủ tự biết mình bị trọng thương, không chữa được; còn lão già nọ ba ngày sau phục hồi nguyên khí, sẽ trở lại báo thù, nên Sử bang chủ dặn dò Sử phu nhân mọi việc, nói tên lão già nọ là Hỗn Nguyên Tích Lịch Thủ Thành Côn. Hai cánh tay bị liệt của Sử bang chủ bấy giờ đã khỏi được chín phần, lại được chân truyền mười hai chưởng trong" Hàng long thập bát chưởng ", võ công vào hàng đệ nhất giang hồ, vậy mà dốc toàn lực đánh hết mười hai chưởng, vẫn không thoát khỏi độc thủ của Thành Côn.

Cô bé Sử Hồng Thạch nghe đến đó thì khóc òa lên.

Truyền công trưởng lão vẻ mặt đau buồn và phẫn uất, đưa vạt áo dơ lau nước mắt cho Sử Hồng Thạch, nói:

– Tiểu thế muội, mối thù của bang chủ là mối thù chung của mấy vạn đệ tử từ trên xuống dưới trong bang, bọn ta nhất quyết bắt bằng được Hỗn Nguyên Tích Lịch Thủ Thành Côn, băm vằm hắn vạn mảnh để rửa hận cho bang chủ. Không biết thân mẫu tiểu muội hiện giờ ở đâu?

Sử Hồng Thạch chỉ hoàng y mỹ nữ, nói:

– Mẹ cháu đang dưỡng thương ở nhà Dương tỷ tỷ.

Mọi người đến giờ mới biết hoàng y mỹ nữ họ Dương, song nàng ta là nhân vật như thế nào, thì vẫn chưa biết chút gì.

Hoàng y mỹ nữ thở dài, nói:

– Sử phu nhân cũng bị Thành Côn đánh trúng một chưởng, thương thế không nhẹ, lại vất vả đường xa chạy đến được tệ xá, chỉ còn thở thoi thóp, từ giờ trở đi có khỏi được hay không, kể cũng.. khó nói.

Chấp pháp trưởng lão tức giận nói:

– Lão Thành Côn kia không biết có thù oán gì với bang chủ mà lại hạ độc thủ như vậy?

Hoàng y mỹ nữ nói:

– Theo di ngôn của Sử bang chủ mà Sử phu nhân nói lại, thì đôi bên không hề biết nhau, không thể bảo là do thù oán. Thành thử đến lúc chết, Sử bang chủ cũng chẳng biết nguyên do vì sao. Sử phu nhân đoán rằng có lẽ ai đó trong Cái Bang đắc tội với Thành Côn, nên hắn trút giận xuống đầu bang chủ.

Chấp pháp trưởng lão trầm ngâm, nói:

– Lão Thành Côn ấy cố tránh mặt Tạ Tốn, mấy chục năm nay tuyệt tích trên giang hồ, không ai biết lão ở đâu, làm gì có chuyện đệ tử Cái Bang kết thù chuốc oán với lão ta? Chắc bên trong có sự hiểu lầm rất lớn.

Chưởng Bát long đầu từ nãy vẫn đứng nghe không nói một lời, lúc này đột nhiên nhặt một thanh loan đao, kề vào cổ tên hói giả mạo Sử Hỏa Long, quát lớn:

– Ngươi tên gì? Vì sao cả gan mạo làm Sử bang chủ? Mau khai cho thật, nếu nói láo một câu, thì hừm..

Nói đoạn lão vung đao chém phập một cái làm đứt đôi cái ghế, xong lại kề đao vào cổ gã hói. Gã sợ hết vía, khai:

– Tôi.. tiểu nhân là Nguyên Lưu Ngao, vốn làm đầu mục trong sơn trại Loạn Thạch Cương ở huyện Giải, tỉnh Sơn Tây; một hôm xuống núi đi buôn, gặp phải Trần Hữu Lượng Trần trưởng lão, có thêm sư phụ của Trần trưởng lão nữa. Trần trưởng lão đá tiểu nhân một cái ngã lăn ra, rồi vung đao toan chém tiểu nhân. Tiểu nhân vội vái lạy xin tha mạng. Trần trưởng lão ngắm nghía tiểu nhân một hồi, rồi bỗng nói:" Sư phụ, tiểu tử này giống người hôm trước mình gặp ". Sư phụ lão ta lắc đầu:" Tuổi chênh lệch, mũi thì tẹt, lại thêm hói đầu ". Trần trưởng lão cười, nói:" Đệ tử có cách làm cho y giống hệt ". Họ liền bắt tiểu nhân đi theo đến huyện Giải, ở tại khách điếm. Trần trưởng lão lấy thạch cao nặn cho mũi tiểu nhân cao lên, lại bắt tiểu nhân đeo tóc giả, hóa trang thành như thế này. Thưa các vị lão gia, tiểu nhân dẫu gan to bằng trời, cũng không dám đến đùa giỡn các vị, chỉ tại Trần trưởng lão bắt phải làm, nên tiểu nhân cố làm. Cái mạng chó của tiểu nhân nằm trong tay lão ta, thật.. không còn cách nào khác; ở nhà tiểu nhân còn có mẹ già tám mươi tuổi, mong các vị đại gia tha mạng.

Nói rồi gã quỳ xuống, rập đầu lia lịa.

Chấp pháp trưởng lão ngẫm nghĩ, nói:

– Trần Hữu Lượng xuất thân phái Thiếu Lâm, sư phụ hắn là một cao tăng của Thiếu Lâm tự, hắn.. hắn còn sư phụ nào nữa?

Câu đó nhắc Trương Vô Kỵ tỉnh ra, chàng liền nói:

– Không sai, sư phụ của hắn chính là Thành Côn.

Rồi chàng kể qua một lượt chuyện Thành Côn đổi tên là Viên Chân, vào Thiếu Lâm tự bái Không Kiến thần tăng làm sư phụ, chuyện Viên Chân lén lên đỉnh Quang Minh, cuối cùng bị Ân Dã Vương đánh chết, nhưng thi thể lại đột nhiên biến mất. Chưởng Bát long đầu và Chấp pháp trưởng lão cùng nói:

– Như vậy không còn nghi ngờ gì nữa, trên đỉnh Quang Minh, Thành Côn giả chết, sau đó nhân lúc hỗn loạn lẻn đi mất.

Truyền công trưởng lão giận dữ nói:

– Thì ra thủ phạm lại là tên gian tặc Trần Hữu Lượng. Hai thầy trò hắn mang dã tâm độc bá thiên hạ, giết chết Sử bang chủ, cho tên này đóng thế làm bù nhìn cho hắn giật dây; tiến thêm bước nữa khống chế Minh giáo, lung lạc ba phái lớn Thiếu Lâm, Võ Đang, Nga Mi. Gian kế của chúng thật thâm độc, dã tâm quá lớn. Còn Tống Thanh Thư đâu? Tống Thanh Thư đi đâu rồi?

Mọi người từ nãy chỉ chú ý đến bang chủ Cái Bang, hoàng y mỹ nữ, Sử Hồng Thạch, chả ai để ý tới Tống Thanh Thư đã lẻn đi theo Trần Hữu Lượng từ lúc nào.

Đến bây giờ, đối chiếu mọi sự việc, gian kế của Trần Hữu Lượng rốt cuộc đã hoàn toàn bại lộ.

Truyền công trưởng lão quay sang hoàng y mỹ nữ vái một vái thật dài, nói:

– Cô nương có đại đức với tệ bang, Cái Bang không biết báo đáp cách nào.

Hoàng y mỹ nữ cười nhạt, nói:

– Tiên nhân của tiểu nữ với bang chủ quý bang đời trước có quan hệ sâu đậm, chút công lao nhỏ bé này đâu có gì đáng nói. Cô bé họ Sử này, mong các vị chăm sóc cho.

Nàng cúi mình hành lễ, nhún một cái đã phi thân lên mái nhà.

Truyền công trưởng lão gọi với theo:

– Xin cô nương dừng bước đã!

Bốn bạch y thiếu nữ, bốn hắc y thiếu nữ nhất tề phi thân lên mái nhà, tiếng đàn tình tang, tiếng tiêu réo rắt, trong giây lát đã đi rất xa, khúc nhạc chưa dứt mà người không còn thấy bóng. Họ bất ngờ đến rồi bất ngờ đi, khiến ai nấy đều cảm thấy bồi hồi.

Truyền công trưởng lão cầm tay Sử Hồng Thạch, nói với Trương Vô Kỵ:

– Trương giáo chủ, xin mời vào trong sảnh chuyện trò.

Quần hào Cái Bang cung kính đứng sang một bên, mời Trương Vô Kỵ đi trước.

Trương Vô Kỵ vào trong sảnh, cùng bọn Truyền công trưởng lão phân chủ khách ngồi xuống; Chu Chỉ Nhược ngồi kề bên chàng. Trương Vô Kỵ hỏi họ tên mấy vị chủ chốt, rồi nói:

– Tào trưởng lão, nghĩa phụ của tại hạ Kim Mao Sư Vương nếu có ở quý bang, xin mời ra cho gặp, nếu không xin cho biết lão nhân gia hiện thời ở đâu. Truyền công trưởng lão thở dài, đáp:

– Tên gian tặc Trần Hữu Lượng giở thủ đoạn gian manh, khiến Cái Bang hổ thẹn với anh hùng thiên hạ. Chẳng giấu gì Trương giáo chủ, Tạ đại hiệp và Chu cô nương quả có bị chúng tôi mời đến khi ở quan ngoại; khi đó Tạ đại hiệp thân bị nhiễm bệnh, nằm hôn mê trên giường. Chúng tôi không cần động thủ quá chiêu cũng đưa được Tạ đại hiệp đại giá tới đây. Buổi tối cách nay năm hôm, Tạ đại hiệp đột nhiên đánh chết các đệ tử Cái Bang canh giữ, thoát thân đi mất. Các đệ tử tệ bang bị thiệt mạng, quan tài còn để ở hậu viện chưa mai táng. Trương giáo chủ nếu không tin, xin quá bộ ra sân sau sẽ rõ.

Trương Vô Kỵ nghe giọng nói thành khẩn, huống hồ tối hôm đó đệ tử Cái Bang chết ngổn ngang thế nào, chính mắt chàng nhìn thấy, bèn nói:

– Tào trưởng lão đã nói vậy, lẽ nào tại hạ không tin?

Rồi chàng hỏi tiếp:

– Từ Lư Long sang các vùng phía tây có ám hiệu liên lạc của tệ giáo, tại hạ tra xét, biết không phải do huynh đệ bản giáo thực hiện, không rõ việc này có quan hệ gì với quý bang hay chăng?

Truyền công trưởng lão đáp:

– Chắc là trò gian tặc của Trần Hữu Lượng, kể ra thật xấu hổ, chúng tôi không biết gì cả.

Trương Vô Kỵ gật đầu, ngẫm nghĩ giây lát, hiểu ra:" Tên Thành Côn ra vào đỉnh Quang Minh như chỗ không người, ám hiệu của bản giáo, lẽ nào hắn chẳng biết. Hắn chưa chết, thì trò kia chỉ có hắn làm mà thôi. Nếu như nghĩa phụ ta rơi vào tay hắn.."Chàng nghĩ tới đây thì vã mồ hôi, vội định thần, hỏi Sử Hồng Thạch:

– Tiểu muội muội, vị Dương tỷ tỷ sống ở đâu? Trước kia muội muội có biết người ấy không?

Sử Hồng Thạch lắc đầu:

– Trước kia tiểu muội không hề biết tỷ tỷ ấy. Khi cha tiểu muội mất rồi, mẹ tiểu muội và tiểu muội mang cây gậy trúc lên xe đi mấy ngày liền, sau đó bỏ xe, đi bộ lên núi. Mẹ tiểu muội mệt quá, đi không nổi nữa, ngồi nghỉ một lúc, rồi bò tới một bìa rừng. Mẹ tiểu muội gọi to mấy tiếng, có một tỷ tỷ mặc áo đen đi ra, rồi Dương tỷ tỷ đi ra, hỏi mẹ tiểu muội đủ chuyện, xong cầm cây gậy trúc đi đâu lâu lắm. Mẹ tiểu muội ngất đi. Sau đó Dương tỷ tỷ dẫn tiểu muội cùng tám tỷ tỷ áo trắng áo đen đi xe tới đây.

Cô bé tuổi nhỏ, kể không rõ đầu đuôi, hỏi địa danh, ngày tháng, cô bé đều không biết, nên khó lần ra manh mối.

Truyền công trưởng lão nói:

– Công tử của Hàn Sơn Đồng đại gia bên quý giáo đang có mặt tại tệ bang.

Rồi lão quay lại sai phái vài câu, một đệ tử Cái Bang hấp tấp chạy đi.

Lát sau đã nghe tiếng chửi bới oang oang của Hàn Lâm Nhi từ hậu đường vọng ra:

– Quân ăn mày ăn nhặt, chết đường chết chợ chúng bay đừng hòng lừa gạt ta! Trương giáo chủ của bọn ta thân phận cao quý, ai thèm đến cái hang chuột của bọn bay làm gì. Bọn bay có giỏi thì cứ việc cho ta chầu trời, đừng giở gian kế ma mãnh, chẳng tích sự gì đâu.

Mấy vị trưởng lão Cái Bang nghe vậy, ai cũng lộ vẻ sượng sùng.

Trương Vô Kỵ kính nể Hàn Lâm Nhi là người khí khái ngang tàng, vội đứng lên bước vào đón, thấy Hàn Lâm Nhi được dẫn từ hậu đường ra, vẻ mặt hầm hầm, thì bèn nói:

– Hàn đại ca, tại hạ đây, mấy hôm nay để đại ca phải bực mình.

Hàn Lâm Nhi kinh ngạc, cả mừng, vội quỳ xuống vái, nói:

– Trương giáo chủ, quả nhiên giáo chủ tới đây thật, tiểu nhân thật không ngờ. Trương giáo chủ hãy mau ra lệnh giết sạch bọn ăn mày thối tha này đi.

Trương Vô Kỵ nhịn cười, đỡ y đứng dậy, nói:

– Hàn đại ca, các vị trưởng lão Cái Bang bị trúng gian kế của người ngoài nên mới hiểu lầm. Bây giờ đã phân giải rõ ràng, đôi bên đều là hảo bằng hữu. Hàn đại ca hãy nể mặt ta, bỏ qua cho họ.

Hàn Lâm Nhi đứng lên, tức giận nhìn bọn Truyền công trưởng lão, toan chửi thêm vài câu cho bõ tức, nhưng giáo chủ đã nói thế, y đành nín lặng.

Chấp pháp trưởng lão nói:

– Hôm nay Trương giáo chủ quang lâm, thực là vinh hạnh lớn cho tệ bang. Hãy mau bày đại tiệc, tất cả mọi người trước là khoản đãi Trương giáo chủ, hai là để xin lỗi Chu chưởng môn phái Nga Mi, ba là để tạ tội với Hàn đại ca.

Các đệ tử Cái Bang nhất tề hưởng ứng.

Trương Vô Kỵ thấp thỏm lo lắng cho sự an nguy của nghĩa phụ, lại có nhiều điều cần hỏi Chu Chỉ Nhược, không còn bụng dạ nào để ăn uống, bèn ôm quyền, nói:

– Mỹ ý của các vị, tại hạ xin đa tạ. Song hiện giờ tại hạ phải đi tìm nghĩa phụ ngay, thể nào sau này cũng có lúc trở lại làm phiền các vị, cáo lỗi, cáo lỗi.

Bọn Truyền công trưởng lão chèo kéo mấy lần nữa, Trương Vô Kỵ thấy họ chân thành, nếu mình một mực bỏ đi, e thất lễ với Cái Bang, đành phải ở lại dự tiệc. Trong bàn tiệc, các cao thủ Cái Bang ai nấy trịnh trọng tạ tội, còn nói đã sai đệ tử đi khắp nơi thăm dò tung tích Tạ Tốn, có tin gì sẽ phi báo ngay cho Minh giáo. Trương Vô Kỵ cám ơn, cùng các vị trưởng lão, long đầu đính ước, sau đó túy lúy một phen.

Các cao thủ Cái Bang thấy chàng tuy quá trẻ, võ công đã cao siêu song tuyệt nhiên không hề kiêu ngạo, lại tỏ ra khoáng đạt độ lượng, nên nắm tay nhau thề chung sức kháng Nguyên. Đến khi đưa tiễn ai nấy bồi hồi, ra khỏi thành Lư Long mười dặm mới chia tay.

Comments

Comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 34: Tân giai nhân xé tan áo cưới

Trương Vô Kỵ, Chu Chỉ Nhược và Hàn Lâm Nhi ba người cưỡi ba con tuấn mã do đại tài chủ tặng, thẳng đường cái quan phi về phía nam.

Hàn Lâm Nhi đối với giáo chủ hết mực cung kính, không dám đi sánh vai, mà tụt lại rất xa đằng sau; dọc đường lo nấu nước bưng trà hầu hạ Trương, Chu hai người như một kẻ nô bộc. Trương Vô Kỵ thấy vậy rất áy náy, nói:

– Hàn đại ca, chúng ta cùng trong bản giáo, đệ rất kính trọng đại ca; trong công việc thì đại ca phải nghe lệnh của đệ thật; còn thường ngày đối xử với nhau ta cứ coi như ngang vai, như bằng hữu là được.

Hàn Lâm Nhi hoảng hốt nói:

– Thuộc hạ đối với giáo chủ vô cùng kính ngưỡng, coi nhau ngang hàng sao được? Bình thời không có duyên được gần giáo chủ, bây giờ tiểu nhân có dịp hầu hạ, quả là vinh hạnh lớn đối với thuộc hạ.

Chu Chỉ Nhược mỉm cười nói:

– Muội không phải là giáo chủ của đại ca, đại ca đừng cung kính với muội như thế nữa.

Hàn Lâm Nhi nói:

– Chu cô nương là tiên nữ, tiểu nhân được trò chuyện với cô nương vài câu cũng là nhờ phúc tu từ kiếp trước. Tiểu nhân nói năng thô lỗ, xin cô nương đừng trách.

Chu Chỉ Nhược nghe y nói thành thực, ánh mắt lộ vẻ sùng kính, quả thật y coi nàng như thiên thần. Nàng tự biết mình dung mạo xinh đẹp, thanh niên nam tử ai gặp nàng cũng xiêu lòng, nhưng sùng bái hết mức như Hàn Lâm Nhi thì chưa hề có, là thiếu nữ ai mà chẳng thích được như thế.

Trương Vô Kỵ hỏi nàng bị Cái Bang bắt giữ như thế nào. Chu Chỉ Nhược kể, hôm ấy chàng đi khỏi khách điếm chưa lâu, Tạ Tốn đột nhiên toàn thân run rẩy, miệng lảm nhảm. Nàng sợ quá, cố an ủi ông, nhưng Tạ Tốn tựa hồ không nhận ra nàng nữa, cứ lồng lộn trong phòng, rồi nằm lăn ra đất, ngất lịm đi. Đúng lúc đó có sáu, bảy cao thủ Cái Bang cùng xộc vào, nàng chưa kịp rút kiếm ra chống cự, đã bị họ điểm huyệt, rồi họ đưa Tạ Tốn và nàng đến Lư Long.

Trương Vô Kỵ hồi còn nhỏ đã biết nghĩa phụ vì luyện "Thất Thương quyền" nên tâm mạch bị chấn thương, cộng với nỗi đau cả nhà bị Thành Côn giết hại, nên thi thoảng ông nổi cơn điên; có điều không ngờ lại phát tác đúng hôm đó, nên không thể chống cự bọn Cái Bang. Hai người bàn tính mãi, vẫn chưa biết hiện giờ Tạ Tốn ở đâu, chẳng lần ra chút manh mối gì.

Trương Vô Kỵ nói:

– Kinh sư là nơi các lộ anh hùng tụ họp, đường xuôi nam của ta cũng qua đó, vậy ta hãy tới Đại Đô dò xét tin tức xem sao. Ta nghĩ rằng Thanh Dực Bức Vương Vi huynh thể nào cũng có manh mối.

Chu Chỉ Nhược bĩu môi, cười nói:

– Chàng tới Đại Đô có thực là để gặp Vi Nhất Tiếu hay chăng?

Trương Vô Kỵ hiểu ý nàng định bóng gió điều gì, thì bất giác đỏ mặt, nói:

– Cũng chưa chắc gặp được Vi huynh. Giả dụ gặp được Dương tả sứ, Khổ đầu đà, Bành hòa thượng, thì họ sẽ giúp mình được phần nào.

Chu Chỉ Nhược mỉm cười, nói:

– Có một vị thần cơ diệu toán, túc trí đa mưu, chàng tới Đại Đô tìm gặp thì thể nào cũng giúp được rất nhiều. Dương tả sứ, Khổ đầu đà, Bành hòa thượng làm sao sánh kịp trí thông minh của nàng ta kia chứ?

Trương Vô Kỵ hoàn toàn chưa dám kể nàng biết chuyện gặp Triệu Mẫn, giờ nghe nàng nhắc đến thì không khỏi ngượng ngùng, nói:

– Nàng không thể quên được Triệu cô nương, thành ra hễ cao hứng lại châm chọc ta vài câu.

Chu Chỉ Nhược cười, nói:

– Thiếp không quên, hay là người bên cạnh không quên? Lòng chàng toan tính những gì, tưởng thiếp không biết hay sao?

Trương Vô Kỵ nghĩ mình với Chu Chỉ Nhược đã ước hẹn đá vàng, từ nay sống chết có nhau, chẳng thể hai lòng, bất cứ chuyện gì cũng không nên giấu, bèn nói:

– Chỉ Nhược, có một chuyện ta nên nói với nàng, nàng đừng giận nghe.

Chu Chỉ Nhược nói:

– Chuyện đáng giận thì cứ giận, chuyện không đáng giận thì thôi.

Trương Vô Kỵ chột dạ, nghĩ thầm mình đã thề độc với nàng, nhất định sẽ giết Triệu Mẫn để báo thù cho biểu muội Ân Ly, nhưng khi gặp lại Triệu Mẫn, chàng chẳng những không giết Triệu Mẫn, mà còn cùng nàng ta qua đêm với nhau nơi hoang sơn, cưỡi chung một con ngựa, những chuyện ấy mới khó ăn khó nói làm sao. Chàng không quen giả dối, nên tự cảm thấy ngượng ngập, mặt mày mất hết vẻ tự nhiên.

Chàng còn đang nghĩ, thì đã tới một thị trấn, thấy trời sắp tối, liền tìm một khách điếm nhỏ nghỉ qua đêm. Ăn tối xong, chàng lại xoa bóp các huyệt đạo ở lưng cho Chu Chỉ Nhược một hồi lâu. Cách giải huyệt tuy không hợp, nhưng thời gian bị điểm huyệt đã quá lâu, thành ra sau khi xoa bóp cho khí huyết lưu thông, huyệt đạo bị phong bế cuối cùng sẽ tự mở ra. Chàng nghĩ thầm: "Các vị trưởng lão Cái Bang tuy võ công chưa phải cực cao, song thủ pháp điểm huyệt của họ thật là thần diệu. Chỉ Nhược tâm tính cao ngạo, trong bữa tiệc không chịu hé miệng nhờ họ giải huyệt, kẻ ra tay điểm huyệt cũng làm như không nhớ ra. Hì hì, mấy lão ăn xin ấy còn cố giữ thể diện, đã thua liểng xiểng rồi, còn cố tỏ ra lợi hại hơn về phương diện điểm huyệt".

Chu Chỉ Nhược không thích mùi hôi trong khách điếm, nên nói:

– Mình ra ngoài dạo chơi một lát cho thoáng đi.

Trương Vô Kỵ nói:

– Phải đấy.

Rồi nắm tay nàng đi ra vùng ngoại vi thị trấn.

Lúc này mặt trời vừa lặn, ráng chiều đỏ như máu, hai người thả bộ một hồi, rồi ngồi xuống một gốc cây lớn, nhìn cảnh trời tối dần. Trương Vô Kỵ lấy hết can đảm, kể cho Chu Chỉ Nhược nghe chuyện ở miếu Di Lặc chàng gặp Triệu Mẫn thế nào, phát hiện xác Mạc Thanh Cốc ra sao, gặp lại huynh đệ Tống Viễn Kiều ở đâu, theo ám hiệu hình ngọn lửa của Minh giáo chạy một vòng khắp vùng Ký Bắc thế nào. Kể xong, chàng nắm hai tay Chu Chỉ Nhược, nói:

– Chỉ Nhược, nàng là vị hôn thê của ta, hai ta phu thê nhất thể, ta không giấu nàng bất cứ chuyện gì. Triệu cô nương một mực đòi gặp nghĩa phụ ta bằng được, bảo là có mấy câu cần hỏi cho ra lẽ. Ta lúc ấy cũng nghi nghi, bây giờ nhớ lại, càng thấy đáng sợ hơn.

Câu sau cùng, giọng chàng trở nên run run.

Chu Chỉ Nhược nói:

– Chàng sợ cái gì?

Trương Vô Kỵ cảm thấy hai bàn tay thon nhỏ của nàng trong tay mình lạnh như băng, cũng hơi run run, liền nói:

– Ta nghĩ nghĩa phụ ta có bệnh mất trí, hễ lên cơn là không còn biết gì nữa. Năm xưa có lần lên cơn, ông đã bóp cổ mẹ ta suýt chết, chính vì thế mẹ ta đã phải dùng kim châm bắn ông mù hai mắt. Hôm ta chào đời, ông lên cơn, toan giết cha mẹ ta, may mà nghe thấy tiếng khóc của ta mới tỉnh táo trở lại. Ta sợ.. Ta quả thật sợ rằng..

Chu Chỉ Nhược nói:

– Chàng sợ cái gì?

Trương Vô Kỵ thở dài, đáp:

– Kể ra không nên nói, nhưng quả thật ta lo rằng biểu muội ta bị.. bị.. nghĩa phụ giết.

Chu Chỉ Nhược đứng bật dậy, run run nói:

– Tạ đại hiệp nhân hiệp trượng nghĩa, đối với bọn hậu bối chúng ta càng hết mực thương yêu, sao lại có chuyện giết Ân cô nương?

Trương Vô Kỵ nói:

– Là ta đoán chừng thế thôi, chưa có gì chuẩn xác. Nếu biểu muội ta đúng là do nghĩa phụ giết, thì chẳng qua chỉ vì bệnh cũ của ông tái phát, như kẻ nằm mơ, chứ đâu phải bản ý của lão nhân gia. Ôi, bao nhiêu món nợ đều do tên ác tặc Thành Côn mà ra cả.

Chu Chỉ Nhược ngẫm nghĩ một hồi, lắc đầu nói:

– Không, không đúng! Chẳng lẽ cả bọn bị trúng "Thập hương nhuyễn cân tán" cũng là bởi tay nghĩa phụ đầu độc hay sao? Ông lấy đâu ra thuốc độc kia chứ? Một kẻ tâm trí đột nhiên mê muội, ra tay giết người thì cũng chưa phải là lạ, nhưng làm sao có thể rành rọt tính toán hạ độc vào thức ăn kia chứ?

Trương Vô Kỵ thấy trước mắt như có mây mù che phủ, không nhìn ra chút manh mối nào. Chỉ nghe Chu Chỉ Nhược lạnh lùng nói tiếp:

– Vô Kỵ ca ca, chàng cứ cố tìm đủ mọi cách để chạy tội cho Triệu Mẫn.

Trương Vô Kỵ nói:

– Nếu Triệu cô nương đúng là hung thủ, thì cô ta chạy trốn nghĩa phụ còn chưa kịp, cớ gì cứ khăng khăng đòi gặp nghĩa phụ, bảo là để nói vài câu cho ra lẽ?

Chu Chỉ Nhược cười nhạt, nói:

– Triệu cô nương cơ biến vô song, nàng ta muốn chối tội thì nàng ta không nghĩ ra được cách khôn ngoan hay sao?

Giọng nàng bỗng trở nên dịu dàng, nàng ngả đầu vào vai chàng, nói:

– Vô Kỵ ca ca, chàng là người thật thà trung hậu nhất trên đời này, nói về thông minh cơ trí, làm sao có thể là đối thủ của Triệu Mẫn kia chứ?

Trương Vô Kỵ thở dài, nghĩ lời này quả có lý, đưa tay ôm nhẹ thân thể mềm mại của nàng vào lòng, dịu giọng nói:

– Chỉ Nhược, ta cảm thấy thế sự phiền não quá chừng, đến thân thiết như nghĩa phụ mà ta còn phải nghi ngờ. Ta chỉ ước gì sau khi đuổi sạch bọn Thát tử rồi, hai chúng mình sẽ ẩn cư nơi thâm sơn, hưởng phúc thanh nhàn, không màng sự đời nữa.

Chu Chỉ Nhược nói:

– Chàng là giáo chủ Minh giáo, nếu trời cho được như nguyện, đuổi sạch bọn Thát tử rồi thì đại sự thiên hạ đều do Minh giáo lo liệu cả, làm sao chàng có thể hưởng thanh nhàn kia chứ?

Trương Vô Kỵ nói:

– Ta chưa đủ tài cán mà làm giáo chủ, càng không muốn làm giáo chủ. Nếu Minh giáo phải đảm nhiệm trọng quyền, thì giáo chủ phải để một vị anh hùng sáng suốt đảm trách.

Chu Chỉ Nhược nói:

– Chàng tuổi còn trẻ, hiện giờ tài cán chưa đủ, nhưng đâu phải là không thể học được? Hơn nữa, thiếp là chưởng môn phái Nga Mi, gánh vác cũng rất nặng nề. Khi sư phụ giao cho thiếp cái nhẫn chưởng môn này, có dặn thiếp phải làm rạng danh môn phái, e rằng dù chàng có được ẩn cư chốn rừng sâu núi thẳm, thì thiếp cũng không có cái diễm phúc ấy.

Trương Vô Kỵ vuốt ve cái nhẫn trên ngón tay nàng, nói:

– Khi ta thấy cái nhẫn này ở trong tay Trần Hữu Lượng, ta lo quá chừng, chỉ sợ nàng bị kẻ gian làm nhục, ta hận không có cánh để bay tới bên nàng. Chỉ Nhược, ta không đủ tài cứu nàng thoát hiểm sớm hơn, khiến mấy ngày đó nàng phải chịu thiệt thòi chèn ép. Cái nhẫn này bọn họ trả cho nàng cách nào vậy?

Chu Chỉ Nhược nói:

– Đó là do thiếu hiệp Tống Thanh Thư phái Võ Đang trả cho thiếp đấy.

Trương Vô Kỵ nghe nàng nhắc đến cái tên Tống Thanh Thư, bỗng nhớ lại cái cảnh nàng ngồi kề vai Tống Thanh Thư bên bàn tiệc trong đại sảnh Cái Bang, bèn hỏi:

– Tống Thanh Thư đối với nàng tốt lắm phải không?

Chu Chỉ Nhược nghe giọng nói của Trương Vô Kỵ có vẻ khác thường, bèn hỏi lại:

– Chàng hỏi vậy là có ý gì?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Chẳng có ý gì cả. Ta thuận miệng hỏi thế thôi. Tống Thanh Thư vì nàng mà phản bội môn phái, đối nghịch phụ thân, mưu hại sư tổ sư thúc, chỉ tốt với một mình nàng thôi.

Chu Chỉ Nhược nhìn vầng trăng non mới mọc ở phía đông, buồn bã nói:

– Giá như chàng đối với thiếp chỉ bằng một nửa của y, thì thiếp cũng đã thỏa nguyện lắm rồi.

Trương Vô Kỵ đáp:

– Ta không thể si tình được như Tống sư ca; nếu muốn bắt ta phải vì nàng mà làm những việc bất hiếu bất nghĩa ấy, ta cũng không đời nào làm.

Chu Chỉ Nhược nói:

– Vì thiếp chàng không thể, nhưng vì Triệu cô nương thì chàng làm được lắm. Hồi ở trên đảo, chàng đã lập trọng thệ quyết giết con yêu nữ để trả thù cho Ân cô nương. Nhưng chàng vừa gặp nàng ta đã quên biến luôn lời thề.

Trương Vô Kỵ nói:

– Chỉ Nhược, nếu ta tra xét đúng là thanh đao Đồ Long và kiếm Ỷ Thiên là do Triệu Mẫn lấy trộm, biểu muội của ta đúng là bị nàng ta giết hại, thì ta sẽ quyết không tha. Còn như nàng ta trong trắng vô tội, làm sao ta có thể vô cớ giết nàng ta kia chứ?

Không chừng lời thề của ta ở trên đảo là nhầm lẫn cũng nên.

Chu Chỉ Nhược im lặng. Trương Vô Kỵ hỏi:

– Ta nói sai chăng?

Chu Chỉ Nhược đáp:

– Không! Thiếp đang nghĩ, hôm đứng trên tháp cao chùa Vạn An, thiếp cũng từng lập trọng thệ với sư phụ thiếp. Chỉ hận là khi trên đảo hứa hôn với chàng, thiếp đã không nói cho chàng biết lời thề đó.

Trương Vô Kỵ kinh hãi, hỏi:

– Nàng.. thề thế nào?

Chu Chỉ Nhược đáp:

– Thiếp thề với sư phụ, nếu sau này lấy chàng làm chồng, cha mẹ thiếp dưới suối vàng cũng không yên ổn, sư phụ thì sẽ hóa thành ma quỷ ám ảnh thiếp ngày đêm; nếu thiếp có con với chàng, con trai thì đời đời làm đầy tớ, con gái thì mãi mãi làm xướng kỹ.

Trương Vô Kỵ nghe những lời thề độc địa ấy, bất giác rùng mình, hồi lâu mới nói:

– Chỉ Nhược, lời thề đó sẽ không linh nghiệm, không thể linh nghiệm được, bởi vì sư phụ nàng cứ ngỡ Minh giáo là tà ma, chuyên làm điều ác, cứ ngỡ ta là một tên dâm tặc gian tà vô sỉ, nên mới ép buộc nàng thề độc như vậy. Lão nhân gia khi biết rõ sự thật, sẽ không bắt nàng giữ lời thề ấy nữa đâu.

Chu Chỉ Nhược nước mắt đầm đìa, thổn thức nói:

– Thế nhưng.. thế nhưng lão nhân gia đâu còn biết được nữa.

Nói rồi nàng gục đầu vào lòng chàng mà khóc nức nở.

Trương Vô Kỵ vuốt mái tóc mềm mại của nàng, an ủi:

– Sư phụ nàng dưới suối vàng nếu biết, sẽ không trách nàng làm trái lời thề. Chẳng lẽ ta đúng là một tên dâm tặc vô sỉ hay sao?

Chu Chỉ Nhược ôm lưng chàng, nói:

– Hiện tại thì chưa phải, nhưng mai sau bị Triệu Mẫn dụ dỗ mê hoặc, không chừng.. không chừng sẽ thành là một tên dâm tặc gian tà vô sỉ.

Trương Vô Kỵ giơ ngón tay búng nhẹ vào má nàng, cười nói:

– Sao nàng coi khinh ta như vậy? Phu quân của nàng đâu phải hạng người đó?

Chu Chỉ Nhược ngẩng lên, mấy giọt nước mắt trên má nàng long lanh như ngọc, mắt đã ánh lên nụ cười, nói:

– Không biết ngượng, chàng là phu quân của thiếp từ hồi nào? Chàng mà còn lén lút qua lại với tiểu yêu nữ Triệu Mẫn, thì thiếp khỏi cần đến chàng. Biết đâu một ngày kia chàng cũng giống như gã Tống Thanh Thư, chỉ vì một thiếu nữ mà làm đủ trò xấu xa đê tiện.

Trương Vô Kỵ cúi xuống hôn nhẹ vào má nàng, nói:

– Ai bảo nàng đẹp như tiên giáng trần, để những kẻ phàm phu tục tử như ta cầm lòng không đậu. Cha mẹ nàng có lỗi, sinh ra nàng quá đẹp, khiến nam giới bọn ta mê mệt đó mà.

Bỗng nhiên từ sau một thân cây to ở cách xa hai trượng, có hai tiếng cười khẩy vọng tới. Trương Vô Kỵ đang ôm Chu Chỉ Nhược trong lòng, còn đang kinh ngạc, đã thấy một bóng đen thoáng hiện ra rồi vụt đi xa.

Chu Chỉ Nhược đứng bật dậy, mặt tái đi, run run nói:

– Triệu Mẫn đấy! Yêu nữ ấy cứ bám theo chúng ta.

Trương Vô Kỵ nghe hai tiếng cười đúng là giọng nữ giới, nhưng không dám chắc là Triệu Mẫn; trong bóng đêm không phân biệt được hình dáng sau lưng, ngần ngừ hỏi:

– Là nàng ta thật ư? Nàng ta bám theo chúng mình để làm gì?

Chu Chỉ Nhược bực tức nói:

– Thì cô ả đó mê chàng, chàng còn giả bộ không biết. Hay là hai người đã hẹn hò với nhau, giở trò ma mãnh để chọc ghẹo thiếp đây?

Trương Vô Kỵ rối rít kêu oan. Chu Chỉ Nhược đứng sững trong gió lạnh, nghĩ ngợi thế nào, tự dưng nước mắt chảy ròng ròng.

Trương Vô Kỵ tay trái ôm nhẹ vai nàng, tay phải lấy tay áo lau nước mắt cho nàng, dịu dàng nói:

– Sao nàng lại khóc? Ta mà có hẹn Triệu Mẫn đến đây thì bị trời tru đất diệt. Nàng thử nghĩ xem, nếu ta có tình ý gì với Triệu Mẫn, lại biết nàng ta đang ở gần đâu đây, lẽ nào ta lại thân mật âu yếm với nàng như thế? Như thế có phải là ta cố ý chọc tức, làm cho nàng ta đau lòng hay chăng?

Chu Chỉ Nhược thở dài:

– Không sai. Vô Kỵ ca ca, lòng thiếp không thể nào bình tĩnh lại được.

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Sao thế?

Chu Chỉ Nhược nói:

– Thiếp vẫn không thể quên lời thề độc với sư phụ. Thiếp lại nghĩ đến chuyện Triệu Mẫn không buông tha thiếp, mà cả võ công lẫn mưu trí thì thiếp đều thua xa nàng ta.

Trương Vô Kỵ nói:

– Ta sẽ tận tâm kiệt lực bảo hộ cho nàng chu toàn. Ta quyết không để cho cô ấy động tới một sợi tóc ái thê của ta.

Chu Chỉ Nhược nói:

– Nếu thiếp có chết bởi tay nàng ta thì thôi, chỉ tại cái số thiếp hẩm hiu. Thiếp chỉ sợ chàng bị nàng ta mê hoặc, chàng đi tin vào lời lẽ ngon ngọt, mắc bẫy của nàng ta rồi ra tay giết thiếp, thì thiếp chết không nhắm mắt được.

Trương Vô Kỵ cười nói:

– Nàng chớ nên lo hão lo huyền như thế. Trên đời này có bao nhiêu kẻ hại ta, đắc tội với ta, ta còn không giết, sao ta lại đi giết nàng làm gì?

Chàng vạch vạt áo, để lộ vết sẹo trên ngực, cười nói:

– Vết kiếm nàng đâm còn đây, nàng đâm càng sâu, ta càng yêu nàng hơn.

Chu Chỉ Nhược đưa tay xoa xoa vết sẹo với cảm giác thương yêu vô hạn, đột nhiên nàng tái mặt, nói:

– Ác giả ác báo, sau này chàng có lấy kiếm đâm thiếp chết, thiếp cũng không hối tiếc gì cả.

Trương Vô Kỵ ôm nàng vào lòng, nói nhỏ nhẹ:

– Đợi khi mình tìm thấy nghĩa phụ, sẽ nhờ lão nhân gia làm chủ hôn, rồi từ đấy hai đứa mình không rời xa nhau một bước, sống với nhau đến lúc bạc đầu. Nếu muốn, nàng cứ việc đâm ta vài nhát kiếm nữa, ta cũng không nặng lời với nàng. Như thế nàng đã vừa lòng chưa?

Chu Chỉ Nhược kề má vào lồng ngực ấm áp của chàng, nói khẽ:

– Chỉ mong chàng là bậc đại trượng phu, không quên những gì đã nói với thiếp hôm nay.

Hai người rủ rỉ hồi lâu, mãi đến khuya, khi sương lạnh xuống nhiều, mới trở lại khách điếm, ai về phòng nấy ngủ.

*

* *

Sáng hôm sau ba người tiếp tục đi về phương nam, dọc đường không thấy tung tích Triệu Mẫn, ít ngày sau đã tới Đại Đô. Khi vào thành, trời đã gần tối, chỉ thấy ai nấy vẩy nước, quét dọn đường lớn hẻm nhỏ thật sạch sẽ, nhà nhà bày hương án trước cửa.

Bọn Trương Vô Kỵ vào khách điếm rồi, hỏi họ trong thành có đại sự gì. Điếm tiểu nhị nói:

– Quan khách từ xa tới không biết, nhưng như thế là cũng gặp may, mai là ngày đại du hoàng thành đấy.

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Đại du hoàng thành là thế nào?

Điếm tiểu nhị nói:

– Mai là ngày mỗi năm một lần hoàng thượng đại du hoàng thành. Hoàng thượng sẽ đến chùa Khánh Thọ dâng hương, có hàng vạn nam thanh nữ tú nô nức du hành, kéo dài phải đến ba, bốn chục dặm, cứ gọi là ngựa xe nườm nượp. Quan khách tối nay ngủ sớm một chút, sáng mai dậy sớm, đến bên ngoài cửa điện Ngọc Đức mà kiếm một chỗ cho tốt, nếu tinh mắt sẽ được nhìn rõ hoàng thượng, hoàng hậu, quý phi, thái tử, công chúa, tất cả đủ mặt. Các vị nghĩ thử, mình là dân đen, nếu không lên kinh sư, làm sao có phúc được nhìn thấy hoàng thượng?

Hàn Lâm Nhi nghe vậy cả giận, nói xẵng:

– Nhận giặc làm cha, đồ Hán gian vô liêm sỉ! Hoàng đế Thát tử có cái đếch gì đáng xem?

Điếm tiểu nhị trợn mắt, chỉ y, nói:

– Ngươi.. ngươi nói thế chẳng phải muốn làm phản sao? Ngươi không sợ mất đầu ư?

Hàn Lâm Nhi nói:

– Mi là người Hán, Thát tử giết hại bao nhiêu dân ta, mi còn luôn mồm hoàng thượng thế này, hoàng thượng thế nọ, thật không còn chút khí phách gì nữa.

Điếm tiểu nhị thấy y hùng hổ, định bỏ chạy. Chu Chỉ Nhược giơ tay điểm huyệt đạo sau lưng hắn, nói:

– Gã này chạy ra thể nào cũng kể lung tung, e rằng chẳng mấy chốc quan binh sẽ đến vây bắt người.

Đoạn nàng dùng chân đẩy hắn vào gầm giường, cười nói:

– Cho gã đói vài hôm, lúc nào mình rời khỏi đây hãy thả gã ra.

Chợt nghe có tiếng chưởng quỹ réo gọi ở bên ngoài:

– A Phúc, bớ A Phúc, ngươi rờ rẫm ở đâu mãi thế? Mau đem nước rửa mặt cho quý khách ở buồng số ba!

Hàn Lâm Nhi nghe vậy tức cười, đập bàn, quát:

– Mau bưng cơm rượu lên đây, các đại gia đói lắm rồi!

Lát sau, một điếm tiểu nhị khác bưng thức ăn lên, lẩm bẩm nói một mình:

– Cái thằng A Phúc chắc đến hoàng thành xem đốt pháo bông rồi. Việc nhà không lo, chỉ ham chơi.

Sáng sớm hôm sau, Trương Vô Kỵ vừa thức dậy, đã nghe bên ngoài đầy tiếng huyên náo. Chàng ra cửa, thấy ngoài đường vô số nam nữ, ai nấy quần áo sặc sỡ, ùn ùn kéo về phía bắc, vừa đi vừa cười đùa, xem ra còn tưng bừng hơn cả ngày Tết. Tiếng pháo nổ đì đùng tứ phía không ngớt. Chu Chỉ Nhược cũng đã ra cửa, nói:

– Chúng mình cũng đi coi xem sao.

Trương Vô Kỵ nói:

– Ta từng động thủ với các võ sĩ của Nhữ Dương Vương, không thể để bọn chúng nhận ra ta; nếu muốn đi xem phải cải trang khác đi mới được.

Ba người liền cải trang thành người nhà quê, lấy đất xoa lên mặt mũi chân tay, rồi hòa vào dòng người đổ tới hoàng thành.

Lúc này vào khoảng cuối giờ Mão đầu giờ Thìn, trong ngoài hoàng thành người đông như kiến, không còn chỗ trống. Trương Vô Kỵ đưa tay ra phía trước khẽ gạt mọi người, mở đường tiến vào bậc thềm cao dưới hàng hiên một tòa nhà lớn ngoài cửa Đình Xuân. Đứng đó xem rất tiện lợi. Đứng chưa lâu, đã nghe tiếng thanh la nổi lên, mọi người reo to:

– Đến rồi! Đến rồi!

Ai nấy vươn cổ ra xem.

Tiếng thanh la to dần, càng lúc càng tới gần. Đấy là một trăm lẻ tám đại hán lực lưỡng, mặc áo xanh, tay trái giơ chiếc thanh la đường kính phải đến ba thước, tay phải cầm dùi gõ thật đều nhịp. Tiếng một trăm lẻ tám cái thanh la được gõ cùng vang lên, nghe điếc cả tai. Tiếp sau đội thanh la là đội trống gồm ba trăm sáu chục người; kế đến đội thổi sáo của người Hán, đội đàn tì bà người Tây Vực, đội tù và người Mông Cổ, mỗi đội ít cũng hơn trăm người, nhiều phải tới dăm trăm người. Các đội nhạc đi qua rồi, thấy hai lá cờ lớn bằng gấm đỏ giương cao đi tới. Một lá trên đề "An bang hộ quốc", lá kia đề "Trấn tà phục ma", với nhiều chữ Phạn nhỏ dát vàng lấp lánh. Trước sau mỗi lá cờ có hai trăm kỵ binh Mông Cổ đi hộ vệ, đao dài sáng loáng, các cây thương tua tủa. Bốn trăm người cùng cưỡi ngựa trắng. Dân chúng thấy cảnh oai hùng đó liền vỗ tay hoan hô.

Trương Vô Kỵ than thầm: "Dân chúng khắp nơi đều hận thù quan binh Mông Cổ đến tận xương, thế mà dân kinh sư lại không cảm thấy cái nhục vong quốc nô, có lẽ vì mấy chục năm qua ngày ngày họ nhìn thấy uy phong của triều đình Mông Cổ, nên đã quên đi thân phận nô lệ của mình".

Hai lá cờ lớn vừa đi qua, đột nhiên từ phía tây, chỗ đông người, có vệt sáng loang loáng, hai hàng phi đao phóng ra, trúng hai cán cờ. Mỗi hàng phi đao gồm bảy chiếc, chiếc nào chiếc nấy cắm thẳng vào cán cờ. Cán cờ tuy lớn, nhưng bị cả bảy thanh đao chém vào, lắc lư rồi gãy gục, nghe lụp bụp mấy tiếng, từ trên cao ập xuống. Nhiều tiếng kêu oai oái, hơn mười người bị cán cờ đè lên. Đám đông kêu la ầm ỹ, vội dạt tránh, gây nên cảnh hỗn loạn.

Sự việc xảy ra đột ngột, bọn Trương Vô Kỵ cũng hoàn toàn bị bất ngờ. Hàn Lâm Nhi cả mừng, định reo to hoan hô, thì có một bàn tay mềm mại bịt miệng y lại, đó là Chu Chỉ Nhược ngăn không cho y reo hò.

Lập tức bốn trăm tên lính Mông Cổ tay lăm lăm vũ khí xông vào đám đông tra xét. Trương Vô Kỵ thấy mười bốn cây phi đao được phóng ra hết sức lợi hại, đúng là thủ pháp của hảo thủ võ lâm; do đám đông che khuất, nên không nhìn thấy là ai phóng. Chàng đã nhìn không thấy, thì bọn quan binh Mông Cổ làm sao thấy được, chúng sẽ chỉ nhắm mắt làm bừa. Lát sau có bảy tám hán tử trong đám đông bị lôi ra, người nào cũng kêu oan, nhưng đao kiếm của bọn lính Mông Cổ đã đâm họ chết ngay tại chỗ.

Hàn Lâm Nhi căm giận nói:

– Người phóng phi đao đã chạy đi từ đời nào, lũ bị thịt kia làm sao bắt được? Chúng quay ra giết người vô tội cho bõ tức.

Chu Chỉ Nhược nói nhỏ:

– Hàn đại ca, đừng nhiều lời. Chúng ta đi xem đại du hoàng thành, chứ có phải đến gây đại náo hoàng thành đâu.

Hàn Lâm Nhi đáp:

– Vâng ạ!

Y không dám nói thêm câu nào nữa.

Loạn xạ một hồi xong, ở phía sau lại nổi lên tiếng nhạc, đội xiếc người Tây Vực diễu qua, kẻ nuốt đao, người phun lửa, khiến dân chúng hoan hô ầm ỹ, tựa hồ đã quên luôn cái thảm kịch máu me vung vãi vừa rồi. Tiếp đó là đoàn múa rối, điều khiển các hình nhân trong chậu đủ trò, kế đến là các cỗ xe hoa do ngựa kéo, trên mỗi xe có các đồng nam đồng nữ xinh đẹp diễn các tích "Đường Tam Tạng Tây Thiên thỉnh kinh", "Đường Minh Hoàng du Nguyệt cung", "Lý Tồn Hiếu đả hổ", "Lưu Quan Trương tam chiến Lã Bố", "Trương Sinh nguyệt hạ hội Oanh Oanh", họ biểu diễn khéo léo, vô cùng hấp dẫn. Bọn Trương Vô Kỵ ba người vốn sống ở vùng quê hẻo lánh, chưa bao giờ thấy xem những cảnh phồn hoa như thế, nên hôm nay thầm nghĩ đúng là được một phen sáng mắt.

Trên mỗi xe có cắm cờ thêu, chỗ thì "Thần Hồ Quảng hành tỉnh tả thừa tướng mỗ mỗ cống phụng", chỗ thì "Thần Giang Chiết hàng tỉnh hữu thừa tướng mỗ mỗ cống phụng". Càng về sau, quan tước của những kẻ tiến cống càng cao, xe hoa càng lộng lẫy, các diễn viên trên xe trang phục càng sang trọng, nhiều ngọc ngà châu báu. Các vương công đại thần Mông Cổ trước là muốn làm đẹp lòng hoàng đế, sau là muốn khoe khoang giàu sang, nên đều không tiếc công tô điểm cho chiếc xe của mình thật hào nhoáng.

Trong tiếng nhạc dìu dặt, một cỗ xe diễn vở "Lưu Trí Viễn bạch thố ký" diễu qua, bỗng nhiên tiếng nhạc thay đổi, âm điệu cổ xưa, trên xe căng một tấm vải trắng viết dòng chữ "Chu Công lưu phóng Quản Sái". Trong xe, một Hán tử trung niên tay cầm thẻ ngà, sắm vai Chu Công, ngồi bên cạnh là một cậu bé ăn mặc giả thiên tử, đóng vai Thành Vương. Quản Thúc, Sái Thúc hai người chụm đầu vào nhau, chỉ chỉ trỏ trỏ Chu Công. Liền đó là cỗ xe khác, trên lá cờ đề "Vương Mãng giả nhân giả nghĩa", trên xe người sắm vai Vương Mãng mặt bôi phấn trắng, hai tay cầm nhiều vàng bạc, đang bố thí cho đám hàn sĩ. Đằng sau có bốn lá cờ vải trên viết bốn câu thơ:

Chu Công uy hiếp triều đình,

Cầu hiền, Vương Mãng hạ mình khiêm cung.

Hỡi ôi nếu thế là xong,

Đời sau ai biết nịnh trung thế nào .

Trương Vô Kỵ tự nhủ: "Trong thiên hạ, phải trái trắng đen không dễ gì biết được. Chu Công là bậc đại thánh nhân, khi ông đày Quản Thúc, Sái Thúc hai người, ai cũng bảo ông mưu đồ soán ngôi. Còn Vương Mãng là đại gian thần, nhưng thoạt đầu hắn mua chuộc lòng người, nên ai ai cũng ca tụng công đức của hắn. Hai câu chuyện xưa này, năm xưa trên Băng Hỏa đảo, nghĩa phụ đều đã kể cho ta nghe. Có câu," Đường xa mới biết ngựa hay ", rồi câu" Thức lâu mới biết đêm dài, ở lâu mới biết lòng người có nhân ". Sự việc đúng sai, thật giả, không phải một sớm một chiều mà biết được". Chàng lại nghĩ thầm: "Hai cỗ xe này khác hẳn những xe khác, bên trong hẳn có ẩn ý gì đây; người nào bày ra, hẳn là người có học thức". Bèn lẩm nhẩm đọc đi đọc lại bốn câu thơ kia.

Chợt nghe có mấy tiếng thanh la vang động, rồi một cỗ xe do hai con ngựa còm kéo qua. Cỗ xe này không kết hoa, không trang hoàng gì hết, dân chúng nhìn rồi bật cười, nói:

– Cái thứ xe tã như thế kia mà cũng đòi du ngoạn hoàng thành, không sợ người ta chê cười hay sao?

Cỗ xe tới gần, Trương Vô Kỵ nhìn rõ thì cả kinh, thấy một đại hán tóc vàng phủ xuống vai, hai mắt nhắm nghiền, ngồi xếp bằng trên giường, chẳng phải đóng giả Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn thì còn ai vào đấy? Bên cạnh có một thiếu nữ xinh xắn mặc áo xanh, tay bưng hầu chén trà với vẻ ân cần, tuy diện mạo không thanh tú xinh đẹp bằng Chu Chỉ Nhược, nhưng trang phục và hành vi thì giống y hệt khi nàng ở chùa Vạn An.

Hàn Lâm Nhi lạc cả giọng, nói:

– Chu cô nương, thiếu nữ kia giống cô nương quá.

Chu Chỉ Nhược hừ một tiếng, không trả lời. Trương Vô Kỵ ngoảnh nhìn, thấy nàng tái mặt, ngực phập phồng, biết nàng đang rất tức giận, bèn cầm lấy tay phải nàng, nhất thời chưa đoán cỗ xe kia có dụng ý gì.

Cỗ xe ấy đi qua, lại có cỗ xe thứ hai giống hệt, cũng một nam một nữ đóng giả Tạ Tốn và Chu Chỉ Nhược. Thiếu nữ cười hì hì, bước tới sau lưng, giơ hai ngón tay chọc vào lưng người đóng giả Tạ Tốn, Tạ Tốn giả kêu "ối" một tiếng, gục xuống giường, thiếu nữ giơ chân chặn xuống, vung kiếm định giết. Dân chúng xem cảnh đó reo to:

– Hay, hay quá! Giết nó đi!

Cỗ xe thứ ba vẫn có hai người đóng giả Tạ Tốn và Chu Chỉ Nhược, nhưng có thêm sáu, bảy bang chúng Cái Bang vây bắt hai người.

Trương Vô Kỵ lúc này không còn hồ nghi gì nữa, biết ba cỗ xe này là do Triệu Mẫn bày ra cho người diễn, đoán chừng chàng và Chu Chỉ Nhược sẽ tới Đại Đô, nên bày trò làm nhục nàng một phen. Chàng cúi nhặt mấy viên sỏi dưới chân, dùng ngón giữa búng ra, bắn mù mắt hai con ngựa kéo cỗ xe thứ ba. Hòn sỏi xuyên vào óc, hai con ngựa hí lên mấy tiếng thảm thiết, rồi gục xuống. Cỗ xe đổ nghiêng, những kẻ đóng giả trên xe ngã nhào xuống đường; dân chúng lại náo loạn lên một hồi.

Chu Chỉ Nhược cắn môi, nói nhỏ:

– Con yêu nữ ấy làm nhục thiếp đến thế, thiếp.. thiếp..

Giọng nàng nghẹn lại. Trương Vô Kỵ cảm thấy tay nàng lạnh ngắt, thân hình run rẩy, vội an ủi:

– Chỉ Nhược, con yêu nữ ấy trò gì cũng nghĩ ra được, nàng đừng bận tâm làm gì. Chỉ cần ta thật tâm với nàng, kẻ khác có xúi bẩy gì, ta cũng chẳng tin.

Chu Chỉ Nhược ngẫm nghĩ một lát, bỗng nói:

– À, thiếp nghĩ ra rồi. Hôm đó nghĩa phụ đang khỏe mạnh bình thường, đột nhiên lảo đảo, ngã lăn ra, miệng lảm nhảm liên hồi, không lẽ.. không lẽ con yêu nữ ấy ẩn ở một chỗ trong khách điếm, bắn ám khí vào sau lưng nghĩa phụ chăng?

Trương Vô Kỵ trầm ngâm, đáp:

– Giả dụ nàng ta có ra tay, rồi chạy đến miếu Di Lặc thì cũng vẫn kịp; song với võ công như nàng ta, chỉ e không ám toán nổi nghĩa phụ đâu; không chừng đó là do Huyền Minh nhị lão ám toán.

Trong lúc hai người nói chuyện, quan binh Mông Cổ đã gạt dân chúng sang bên, thu dọn hai con ngựa chết, để các cỗ xe từ phía sau tiếp tục diễu qua. Trương Vô Kỵ và Chu Chỉ Nhược mải nghĩ tới tình cảnh vừa rồi, chẳng còn thiết xem các xe diễn trò gì nữa. Các cỗ xe đi hết rồi, thì nghe đọc kinh tiếng Phạn ê a, một đội phiên tăng mặc áo cà sa đỏ đi bộ tới. Kế đó là đội thiết giáp, hai ngàn lính ngự lâm mặc áo giáp, tay cầm trường mâu, thẳng hàng diễu qua; tiếp theo là ba ngàn lính cung nỏ. Hết đội cung nỏ, thì thấy khói hương mù mịt, từng pho tượng thần được các phu kiệu mặc áo gấm rước qua. Nào là thần thổ địa, thành hoàng, linh quan, vi đà, thần tài, đông nhạc, tổng cộng ba trăm sáu chục tượng thần, cuối cùng là Quan Thánh đế quân. Dân chúng lầm rầm niệm Phật, có kẻ quỳ xuống mà vái.

Hết các tượng thần, thì tới đội nghi trượng, tay cầm kim qua, kim chùy, quạt lông, lọng vàng, từng đôi một diễu qua. Dân chúng liền reo lên:

– Hoàng thượng đến kìa! Hoàng thượng đến kìa!

Từ đằng xa, ba mươi hai tên cẩm y thị vệ khiêng một chiếc kiệu lớn sơn son thiếp vàng đi tới. Trương Vô Kỵ căng mắt nhìn gã hoàng đế Mông Cổ, thấy y mặt mày tiều tụy, dáng vẻ lờ đờ, chỉ thoáng nhìn đã biết ngay là do tửu sắc quá độ. Hoàng thái tử cưỡi ngựa đi một bên, lưng đeo cung bịt vàng nạm ngọc, trông khá oai hùng, lộ rõ bản sắc trai Mông Cổ.

Hàn Lâm Nhi ghé tai Trương Vô Kỵ nói thầm:

– Giáo chủ cho phép thuộc hạ xông ra chém chết gã hoàng đế Mông Cổ, trừ mối hại cho trăm họ được chăng?

Trương Vô Kỵ nói:

– Không, huynh đệ đừng nhảy ra. Xung quanh hoàng đế Mông Cổ tất có rất nhiều cao thủ hộ vệ, phải để ta may ra..

Một người đứng ngay bên trái Trương Vô Kỵ liền nói:

– Không ổn, không ổn. Lấy bạo thay bạo, chắc gì đã hay.

Trương Vô Kỵ, Hàn Lâm Nhi và Chu Chỉ Nhược ba người giật mình, liếc sang người kia, thấy là một thầy lang bán thuốc dạo trạc ngũ tuần, lưng đeo túi thuốc, tay phải cầm một bàn chân hổ. Người đó đặt hai ngón tay cái trên ngực làm hình ngọn lửa cháy của Minh giáo, nói nhỏ:

– Bành Oánh Ngọc tham kiến giáo chủ. Giáo chủ quý thể an khang, vui mừng xiết bao!

Trương Vô Kỵ cả mừng, nói:

– Thì ra là Bành..

Người đó chính là Bành Oánh Ngọc, y hóa trang thật khéo, đứng ngay bên cạnh đã lâu, mà ba người không hề hay biết. Bành Oánh Ngọc thấp giọng nói:

– Đây không phải là nơi trò chuyện. Hoàng đế Thát tử không nên trừ khử.

Trương Vô Kỵ biết y là người kiến thức sâu rộng, gật đầu, không nói thêm, chỉ cầm tay y bóp nhẹ vài cái.

Hoàng đế và hoàng thái tử đi qua rồi, lại tới ba ngàn tên thiết giáp ngự lâm quân, sau đó là hàng ngàn hàng vạn dân chúng lũ lượt đi xem hội. Những người đứng xem hai bên đường đều nói:

– Đi xem hoàng hậu nương nương, công chúa nương nương thôi!

Mọi người ùn ùn kéo về phía tây. Chu Chỉ Nhược nói:

– Mình cũng đi xem đi!

Bốn người liền chen vào đám đông, theo họ đi tới bên ngoài điện Ngọc Đức, thấy bảy tòa lầu kết hoa sặc sỡ, bên ngoài có lính ngự lâm tay cầm dây chão ngăn không cho mọi người tràn vào. Người tuy đông thật, nhưng bọn Trương Vô Kỵ chen được lên trên cũng chả có gì khó. Họ tới ngay hàng đầu. Tòa lầu ở giữa cao hơn cả, có hoàng đế ngồi giữa, hai bên là hai hoàng hậu, đều thân hình mập mạp, tuổi trung niên, người đeo đủ các thứ trang sức bằng ngọc, đầu đội chiếc mũ cao trông thật kỳ dị. Hoàng thái tử ngồi bên dưới, phía trái; còn bên dưới, phía tay phải có một thiếu nữ trạc hai mươi tuổi, mình mặc cẩm bào, hẳn là công chúa.

Trương Vô Kỵ đưa mắt nhìn sang tòa lầu thứ hai ở bên trái, thấy một thiếu nữ mặc áo lông, cổ đeo vòng ngọc trai, nói cười nhí nhảnh, ánh mắt long lanh, chính là Triệu Mẫn. Ngồi giữa tòa lầu ấy là một vương gia râu dài, tướng mạo uy nghiêm, là Nhữ Dương Vương Sát Hãn Đặc Mục Nhĩ, phụ thân của Triệu Mẫn. Anh trai nàng là Khố Khố Đặc Mục Nhĩ thì đang đi đi lại lại trên lầu, dáng đi như hổ, mắt sắc như ưng, trông thật dữ tợn.

Lúc này các phiên tăng đang diễn "Thiên ma đại trận" ngay phía trước dãy lầu, năm trăm người múa các loại pháp khí, khi qua trái, lúc sang phải, khi chồm lên, lúc phục xuống, biến đổi trận pháp cực kỳ huyền ảo. Dân chúng thán phục, hoan hô từng chập như sấm dậy.

Chu Chỉ Nhược nhìn Triệu Mẫn một hồi, thở dài nói:

– Về thôi!

*

* *

Bốn người chen ra khỏi đám đông, trở về khách điếm. Bành Oánh Ngọc làm lễ tham kiến Trương Vô Kỵ, đôi bên hàn huyên một hồi. Trương Vô Kỵ hỏi thăm tin tức Tạ Tốn, nhưng Bành Oánh Ngọc vừa từ miền Hoài Tứ tới Đại Đô, chưa biết chuyện Kim Mao Sư Vương đã về Trung nguyên. Y kể lại chiến công đánh thành chiếm đất của bọn Chu Nguyên Chương, Từ Đạt, Thường Ngộ Xuân đang làm cho uy danh của Minh giáo lên rất cao.

Hàn Lâm Nhi hỏi:

– Bành đại sư, hồi nãy nếu chúng ta xông lên lầu, một đao chém chết hoàng đế Thát tử, có phải chỉ mất công một lần mà được lợi lâu dài rồi không?

Bành Oánh Ngọc lắc đầu:

– Gã hoàng đế ấy ngu tối tầm thường, chính là kẻ giúp ta rất nhiều, sao lại giết hắn đi?

Hàn Lâm Nhi lấy làm lạ, hỏi:

– Hoàng đế Thát tử ngu tối, làm khổ trăm họ, sao lại bảo là giúp chúng ta rất nhiều?

Bành Oánh Ngọc đáp:

– Hàn huynh đệ có điều chưa hiểu. Hoàng đế Thát tử tin dùng bọn phiên tăng, triều chính rối loạn, lại sai Giả Lỗ vét sông Hoàng Hà, làm dân chúng khổ sở, hao tiền tốn của, khiến cho trời giận người oán. Mấy năm qua chúng ta đánh cho bọn Thát tử tơi bời, đâu phải vì đội quân ô hợp của chúng ta giỏi hơn tinh binh tung hoành khắp thiên hạ của Mông Cổ, mà chỉ là nhờ gã hoàng đế ngu xuẩn kia không trọng dụng người tài. Nhữ Dương Vương giỏi dùng binh, nhưng hoàng đế Thát tử lại nghi ngờ, bác bỏ các kế sách của ông ta, chỉ sợ ông ta lập công quá lớn sẽ cướp mất ngôi, cho nên liên tiếp hạn chế binh quyền của ông ta, sai bọn giá áo túi cơm, chỉ giỏi xu nịnh ra cầm quân đánh trận; cứ cái đà này, quân giỏi sẽ bị tướng ngu nướng chết hết cả. Hoàng đế Thát tử chẳng phải giúp ta rất nhiều là gì?

Những lời này khiến Trương Vô Kỵ gật gù khen phải. Bành Oánh Ngọc nói tiếp:

– Nếu chúng ta giết gã hoàng đế này đi, hoàng thái tử sẽ lên thay, xem ra hoàng thái tử là một kẻ rất lợi hại, mà dẫu có là hôn quân, thì cũng còn hơn thằng cha hồ đồ của hắn rất nhiều. Lỡ hắn cử một viên tướng có tài chinh chiến đánh chúng ta, thì thật là nguy to!

Trương Vô Kỵ nói:

– Cũng may có đại sư kịp thời nhắc nhở, nếu không hôm nay chúng tôi hành sự thô lỗ, e làm hỏng đại sự.

Hàn Lâm Nhi liên tiếp tự vả vào miệng mình, nói:

– Đáng chết, đáng chết! Để xem từ rày mi còn nói năng bậy bạ, đưa ra những ý kiến hồ đồ nữa thôi?

Trương Vô Kỵ, Chu Chỉ Nhược, Bành Oánh Ngọc cùng bật cười. Bành Oánh Ngọc nói:

– Tấm thân giáo chủ đáng ngàn vàng, hai vai gánh vác trọng nhiệm đánh đuổi Thát Lỗ, phục quốc, không nên mạo hiểm nhảy ra tấn công. Thuộc hạ thấy xung quanh hoàng đế có rất nhiều cao thủ hộ vệ. Giáo chủ tuy thần dũng tuyệt luân, cũng phải đề phòng "quả bất địch chúng", lỡ sơ sảy một chút thì sẽ thế nào?

Trương Vô Kỵ vòng tay nói:

– Xin lĩnh giáo lời vàng ngọc của đại sư.

Chu Chỉ Nhược thở dài:

– Bành đại sư nói không sai chút nào, làm sao chàng lại có thể dễ dàng mạo hiểm đến thế? Nên nhớ, một khi đại sự của chúng ta thành công, thì người sẽ ngồi chiếc ghế rồng ở lầu hoa đó chính là Trương giáo chủ.

Hàn Lâm Nhi vỗ tay reo lên:

– Khi đó Trương giáo chủ sẽ làm hoàng đế, Chu cô nương là hoàng hậu nương nương, Dương tả sứ và Bành đại sư làm tả hữu thừa tướng, thế mới hay đấy!

Chu Chỉ Nhược hai má đỏ bừng, thẹn thùng cúi đầu, nhưng ánh mắt long lanh không giấu được vẻ sung sướng.

Trương Vô Kỵ xua xua tay, nói:

– Hàn huynh đệ, những lời đó không được nhắc lại nữa. Ta chỉ mong cứu trăm họ thoát cảnh dầu sôi lửa bỏng, sau khi thành công ta sẽ thoái lui, không tham phú quý, thế mới là đại trượng phu quang minh lỗi lạc.

Bành Oánh Ngọc nói:

– Trương giáo chủ nghĩ thế thật cao cả hơn người, nhưng khi hoàng bào đã khoác lên người, giáo chủ có muốn từ chối cũng chả được. Khi làm binh biến ở Trần Kiều, Triệu Khuông Dẫn đâu có nghĩ mình sẽ trở thành hoàng đế?

Trương Vô Kỵ vẫn nói:

– Không được! Không được! Ta mà mơ tưởng làm hoàng đế, thì trời tru đất diệt, chết không yên lành.

Chu Chỉ Nhược thấy chàng khăng khăng cự tuyệt, mặt hơi biến sắc, thẫn thờ nhìn ra cửa sổ, không nói gì.

Bốn người trò chuyện một hồi, dùng bữa xong, Trương Vô Kỵ nói:

– Ta và Bành đại sư ra ngoài nghe ngóng tin tức nghĩa phụ xem sao.

Chàng lại nghĩ Hàn Lâm Nhi tính nết bộc trực, thấy việc bất bình là giơ quả đấm ra, rất dễ chuốc họa, bèn dặn:

– Hàn huynh đệ, ngươi và Chỉ Nhược tối nay chớ ra ngoài, hãy ở trong khách điếm nghỉ ngơi.

Hàn Lâm Nhi đáp:

– Vâng, xin giáo chủ cẩn thận giữ gìn.

Trương Vô Kỵ và Bành Oánh Ngọc hẹn nhau một người đi về phía đông, một người đi về phía tây, trước canh hai sẽ trở về khách điếm gặp lại.

*

* *

Trương Vô Kỵ ra khỏi khách điếm liền đi về hướng tây, dọc đường nghe dân chúng bàn tán râm ran về các trò vui trong cuộc đại du hoàng thành hôm nay. Có người nói:

– Minh giáo nổi loạn ở phương Nam, hôm nay trong cuộc du hành, Quan Đế Bồ Tát mặt đầy sát khí, phản tặc thể nào cũng bị tiêu diệt.

Người khác nói:

– Minh giáo có Di Lặc Bồ Tát phù hộ, xem ra giữa Quan Thánh Đế Quân và Phật Di Lặc sẽ có đánh nhau to.

Lại có người nói:

– Giả Lỗ đại nhân đem người đi khơi dòng Hoàng Hà, đào được bức tượng đá người độc nhãn, sau lưng khắc hai câu thơ:

Tượng đá một mắt đừng chê,

Đào sông, thiên hạ tứ bề nổi lên.

Như thế là số trời đã định, chẳng thể cưỡng lại.

Trương Vô Kỵ không muốn nghe thêm lời bàn tán của đám dân ngu ấy làm gì, bèn rảo bước đi nhanh, càng đi càng thấy vắng vẻ; ngẩng nhìn lên, thấy mình đứng trước cái tửu điếm nhỏ hôm nào chàng từng ngồi uống rượu với Triệu Mẫn. Chàng chột dạ: "Sao mình tự dưng lại đến chốn này? Không lẽ lòng ta vẫn còn lưu luyến không dứt với Triệu cô nương sao?"

Chàng thấy cánh cửa chỉ mở một nửa, bên trong lặng lẽ, tựa hồ không có người khách nào. Chàng ngần ngừ một lát rồi đẩy cửa bước vào, thấy cạnh quầy có một tên điếm tiểu nhị ngồi ngủ gật. Chàng đi vào gian trong, thấy một cái bàn vuông trên đặt ngọn nến lúc mờ lúc tỏ, có một người khách ngồi quay mặt vào trong. Chiếc bàn kia chính là nơi chàng cùng Triệu Mẫn đã ngồi uống với nhau. Trong tửu điếm trừ người kia, không còn vị khách nào khác.

Người kia nghe tiếng bước chân liền đứng dậy, ánh nến lung linh chiếu lên mặt, chính là Triệu Mẫn.

Cả nàng lẫn Trương Vô Kỵ đều không ngờ hai người gặp lại nhau ở đây, không hẹn cùng reo "a" lên một tiếng.

Triệu Mẫn nói nhỏ:

– Chàng.. chàng sao lại tới đây?

Giọng nàng run run, chứng tỏ trong lòng vô cùng xúc động. Trương Vô Kỵ đáp:

– Ta đi dạo qua, tiện đường ghé vào, không ngờ..

Chàng tới bên bàn, thấy ở phía đối diện với nàng có một chén rượu cùng bát đũa, liền hỏi:

– Có ai sắp tới chăng?

Triệu Mẫn đỏ mặt, nói:

– Không có ai cả. Hai lần trước ta uống rượu với công tử ở đây, công tử ngồi trước mặt, thành thử.. ta bảo điếm tiểu nhị dọn thêm một bộ chén đũa.

Trương Vô Kỵ cảm kích trong lòng, thấy trên bàn bày bốn món ăn, đúng những thức mà nàng từng gọi hôm đầu tiên hai người ngồi ở đây. Chàng hiểu ngay thâm ý và nhu tình của nàng, không dằn lòng được bèn đưa tay nắm lấy tay nàng, run run nói:

– Triệu cô nương!

Triệu Mẫn buồn bã nói:

– Chỉ hận là muội sinh ra trong một gia đình Mông Cổ quyền quý, làm kẻ đối đầu với công tử..

Bỗng từ ngoài cửa sổ vọng vào hai tiếng cười khẩy, một vật gì đó bay tới làm tắt phụt ngọn nến, trong phòng lập tức tối đen như mực. Trương Vô Kỵ và Triệu Mẫn nghe tiếng cười, biết ngay là Chu Chỉ Nhược, nhất thời bàng hoàng. Tai nghe tiếng chân lướt nhẹ trên mái nhà, Chu Chỉ Nhược đã như một ngọn gió lướt đi.

Triệu Mẫn hỏi nhỏ:

– Chàng và cô ta đã ước hẹn trăm năm phải không?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Phải, lẽ ra ta không nên giấu cô nương.

Triệu Mẫn nói:

– Hôm trước ở sau gốc cây, nghe chàng nói với cô ta những lời ngọt ngào, muội chỉ muốn chết đi cho xong, chỉ hận sao mình còn sinh ra trên đời này. Hôm ấy muội cười khẩy hai tiếng, nay cô ta trả lại hai tiếng cười đó. Có điều là.. là chàng chưa từng nói với muội một lời nào muội thích.

Trương Vô Kỵ cay đắng nói:

– Triệu cô nương, lẽ ra ta không nên tới đây, cũng không nên gặp lại cô nương mới phải. Lòng ta đã thuộc về người khác, không được làm cho cô nương buồn phiền. Nàng là cành vàng lá ngọc, từ nay hãy quên cái kẻ dân dã cục mịch này đi cho rồi.

Triệu Mẫn cầm tay Trương Vô Kỵ, vuốt ve vết sẹo ở mu bàn tay chàng, nhẹ nhàng nói:

– Chỗ muội cắn chàng đây, dẫu chàng võ công cao mấy, y đạo giỏi chừng nào cũng không làm mất được vết sẹo. Cái sẹo trên tay chàng còn không trừ được, thử hỏi làm sao chữa nổi vết thương trong lòng muội?

Nói rồi hai tay vòng ra sau gáy chàng, đặt một nụ hôn nồng nàn lên môi chàng.

Trương Vô Kỵ cảm thấy làn môi mềm của nàng và hương thơm đưa lên mũi, trong lòng đê mê. Bỗng nhiên Triệu Mẫn cắn mạnh môi chàng một cái bật máu tươi, đẩy vai chàng ra, xoay người nhảy qua cửa sổ và nói vọng lại:

– Chàng là tiểu dâm tặc, muội hận chàng, muội hận chàng!

*

* *

Khi Trương Vô Kỵ và Bành Oánh Ngọc ra khỏi khách điếm, Hàn Lâm Nhi nói với Chu Chỉ Nhược:

– Chu cô nương nên đi nghỉ sớm một chút.

Y không dám nói thêm câu nào, đứng dậy bước ra. Chu Chỉ Nhược mỉm cười, nói:

– Hàn đại ca, huynh sợ muội lắm ư? Ngồi nán lại một chút cũng không dám.

Hàn Lâm Nhi đỏ mặt, vội nói:

– Không, không phải vậy.

Miệng nói thế, nhưng chân thì bước nhanh hơn. Y về ngay phòng mình, đóng cửa, cài then lại, trống ngực đập thình thình, cố định thần, lên giường nằm, nghĩ đến khuôn mặt thanh tú kiều diễm cùng giọng nói dịu dàng ấm áp của Chu Chỉ Nhược, nghĩ thầm: "Mai sau Chu cô nương trở thành giáo chủ phu nhân, mình hầu cận bên cạnh giáo chủ, sẽ gắng sức lập công, bấy giờ Chu cô nương sẽ khen: Hàn đại ca phen này vất vả quá! Được như thế Hàn Lâm Nhi ta cũng không uổng một đời".

Y nghĩ ngợi miên man, mỉm cười, thiếp đi lúc nào không hay. Đang ngủ, bỗng có tiếng gõ cửa nhè nhẹ; y giật mình choàng dậy, hỏi:

– Ai đó?

Có tiếng Chu Chỉ Nhược ở bên ngoài trả lời:

– Muội đây, huynh mở cửa ra, muội có điều muốn nói với huynh.

Hàn Lâm Nhi vội nói:

– Vâng, vâng!

Rồi để chân trần chạy ra mở cửa, sau đó chạy vào thắp nến lên.

Chỉ thấy Chu Chỉ Nhược hai mắt sưng húp, thần sắc lạ lùng, Hàn Lâm Nhi hoảng hốt hỏi:

– Chu cô nương, cô.. cô nương..

Y ấp úng không nói thành lời, đột nhiên nghĩ ra một cách, nói:

– Để thuộc hạ đi lấy nước cho cô nương rửa mặt.

Lát sau y lại chân trần bưng về một chậu nước. Chu Chỉ Nhược cười buồn, một tay chống cằm, mắt đăm đăm nhìn ngọn nến. Hàn Lâm Nhi nói:

– Cô.. cô nương rửa mặt đi.

Chu Chỉ Nhược không nói gì, nhè nhẹ gật đầu, rồi tự dưng nước mắt chảy ròng ròng trên má. Hàn Lâm Nhi hoảng sợ ngây người ra, thõng tay đứng hầu một bên, y không biết vì sao nàng lại buồn khổ, cũng không biết nàng định nói gì với y.

Cứ thế hồi lâu, bỗng nhiên nghe "tách" một tiếng, ngọn lửa nến nổ tóe ra một cái. Chu Chỉ Nhược đang trầm tư chợt giật mình tỉnh lại, kêu "ôi" một tiếng nhỏ rồi đứng dậy. Hàn Lâm Nhi nói to:

– Chu cô nương, kẻ nào dám hỗn với cô nương, Hàn Lâm Nhi này sẽ vác đao đi hỏi tội hắn, dẫu có bỏ mạng cũng phải cho hắn vài nhát. Cô nương cứ nói tên hắn ra!

Chu Chỉ Nhược buồn bã lắc đầu, đi ra. Lúc nàng sang đây, tưởng sẽ trút hết bầu tâm sự, ngờ đâu chẳng nói gì cả, khiến gã Hàn Lâm Nhi phổi bò không hiểu đầu cua tai nheo thế nào, cứ đứng vò đầu bứt tai.

Y nghĩ mãi không ra chuyện gì, bỗng nghe có tiếng mõ cầm canh từ xa vọng tới, đã sang canh ba; y nghĩ thầm: "Tại sao giờ này Trương giáo chủ và Bành đại sư vẫn chưa về?" Y đành lên giường ngủ lại. Còn đang mơ màng, có tiếng lịch kịch, ở căn phòng phía đông, nơi ở của Chu Chỉ Nhược, hình như có tiếng bàn ghế đổ. Hàn Lâm Nhi vội nhảy ra khỏi phòng mình, dưới ánh trăng thấp thoáng, nhìn qua cửa sổ phòng phía đông, y thấy có một bóng người treo lơ lửng hơi giãy giụa.

Hàn Lâm Nhi cả kinh, gọi to:

– Chu cô nương, Chu cô nương!

Y đẩy cửa vào, cửa cài then bên trong. Y dùng vai huých mạnh cho gãy then, chạy xộc vào, vội đánh lửa châm nến, thấy Chu Chỉ Nhược hai chân lơ lửng trên không, treo cổ bằng một sợi dây thừng vắt qua xà ngang. Y sợ hết hồn, vội nhảy lên giật đứt sợi dây, đỡ Chu Chỉ Nhược nằm xuống giường, đưa tay thăm mũi, thấy chưa tắt thở. Y gọi to:

– Chu cô nương, Chu cô nương! Cô nương có.. chuyện gì.. mà đến nỗi.. Bỗng có tiếng hỏi ở ngoài cửa:

– Hàn đại ca, chuyện gì thế?

Một người bước vào, chính là Trương Vô Kỵ.

Trương Vô Kỵ thấy tình cảnh đó, khác gì sét đánh ngang tai, vội đưa hai tay run run cởi sợi dây thừng chẹn ở cổ Chu Chỉ Nhược, sờ ngực nàng, thấy tim còn đập thoi thóp, mừng nói:

– Chưa sao, cứu được!

Chàng xoa nắn các huyệt đạo ở sau lưng và bụng dưới cho nàng, một luồng "Cửu dương chân khí" từ bàn tay truyền sang vận hành trong cơ thể nàng, Chu Chỉ Nhược bỗng khóc òa lên.

Hàn Lâm Nhi mừng rỡ, reo lên:

– May quá, may quá! Chu cô nương sống lại rồi.

Chu Chỉ Nhược mở mắt ra, thấy Trương Vô Kỵ, khóc nói:

– Chàng còn lý đến thiếp làm gì, cứ đánh thiếp chết đi cho xong.

Bỗng nàng nhìn thấy vết thương trên môi Trương Vô Kỵ, còn hằn rõ mấy vết răng, thì cơn giận bùng lên, liền giơ tay tát chàng thật mạnh.

Hàn Lâm Nhi kinh hãi, nghĩ thầm: "Chết chửa, sao Chu cô nương lại dám đánh giáo chủ?" Nhưng vì Chu Chỉ Nhược là người mà y sùng bái như thiên thần, nên nhất thời y cứ ngớ ra, chưa biết làm sao cho phải. Bỗng có người vỗ nhẹ lên vai y hai cái, y ngoảnh lại, thấy đó là Bành Oánh Ngọc, bèn vui mừng nói:

– Bành đại sư, đại sư về rồi đấy ư? Mau lại khuyên giải Chu cô nương!

Bành Oánh Ngọc cười hỏi:

– Khuyên cái gì?

Rồi quay sang nói với Trương Vô Kỵ:

– Khải bẩm giáo chủ, thuộc hạ không dò la được tin tức gì về Kim Mao Sư Vương cả.

Trương Vô Kỵ ậm ừ, vẻ mặt ngượng ngùng. Bành Oánh Ngọc bảo Hàn Lâm Nhi:

– Hàn huynh đệ, ta ra ngoài dạo chơi một lát đi.

Hàn Lâm Nhi vội nói:

– Không, không được đâu, hai người sắp đánh nhau, Chu cô nương làm sao địch nổi giáo chủ?

Bành Oánh Ngọc cười ha hả:

– Thật đúng là một gã ngớ ngẩn! Không lẽ bọn mình lại giúp Chu cô nương đánh thắng Trương giáo chủ? Ta đoán rằng giáo chủ đánh không lại Chu cô nương đâu.

Nói xong nháy mắt, kéo Hàn Lâm Nhi ra khỏi phòng. Hàn Lâm Nhi vừa đi vừa ngoảnh đầu nhìn lại đầy vẻ lo lắng.

Chu Chỉ Nhược thấy thế bật cười, nhưng rồi lại gục xuống giường rấm rứt khóc. Trương Vô Kỵ ngồi bên cạnh, đưa tay vỗ vỗ nhẹ vai nàng, dịu dàng nói:

– Chỉ Nhược, ta quả thực không hẹn hò gì với nàng ta, chỉ tình cờ gặp nhau đó thôi.

Chu Chỉ Nhược đạp đạp hai chân, vừa khóc vừa nói:

– Thiếp không tin, thiếp không tin, từ nay dù chàng có nói gì đi nữa, cũng đừng hòng thiếp tin.

Trương Vô Kỵ thở dài:

Chu Công uy hiếp triều đình,

Cầu hiền, Vương Mãng hạ mình khiêm cung.

Hỡi ôi nếu thế là xong,

Đời sau ai biết nịnh trung thế nào.

Việc đời thật dễ làm cho người ta hiểu lầm..

Chu Chỉ Nhược liền ngồi dậy, nói:

– Ả quận chúa nương nương ấy dùng thơ chế giễu thiếp, vậy mà chàng cố nhớ cho kỹ để ngâm nga. Chàng thử nhìn môi chàng xem có ra cái thể thống gì không? Thật không biết ngượng!

Nói đến đây, mặt nàng hầm hầm.

Trương Vô Kỵ nghĩ chuyện hôm nay khó lòng biện bạch, mà mình đã quyết ý với Chu Chỉ Nhược thành vợ thành chồng, sống đến răng long đầu bạc, chỉ còn cách gợi lòng thương để nàng nguôi ngoai dần. Dưới ánh nến, thấy mặt nàng đỏ bừng, trên cổ còn hằn vết dây thừng, nghĩ thầm nếu Hàn Lâm Nhi không phát hiện và cứu kịp, đợi đến lúc chàng về thì e rằng đã hoa tàn ngọc nát, hết phương cứu vãn, thành nỗi hận suốt đời. Chàng không khỏi hổ thẹn, lại thêm yêu nàng, bèn ôm nàng vào lòng, thơm lên môi nàng. Chu Chỉ Nhược quay mặt tránh, giận dỗi nói:

– Chàng vừa tằng tịu với kẻ khác, lại còn về âu yếm thiếp, sao coi thường thiếp quá vậy?

Trương Vô Kỵ càng ôm chặt hơn, không cho nàng cựa quậy, cuối cùng cũng hôn được một cái thật lâu. Chu Chỉ Nhược vùng vẫy không nổi, lòng cũng nguôi dần.

Trương Vô Kỵ nghĩ mình với nàng tuy danh phận đã định, hai người đã là vợ chồng chưa cưới, nhưng canh khuya ở chung một phòng, khó tránh điều ong tiếng ve, không tiện với Bành Oánh Ngọc và Hàn Lâm Nhi, bèn buông nàng ra, nói:

– Chỉ Nhược, nàng ngủ đi, có gì ngày mai ta nói chuyện. Nếu ta còn giấu nàng đi gặp Triệu cô nương, thì nàng cứ việc đâm chém ta ngàn vạn nhát, ta chết cũng không oán trách.

Chu Chỉ Nhược đỏ mặt, ngực phập phồng, thở dồn dập, nói:

– Chàng nói lung tung gì vậy? Chàng thừa biết là thiếp không đời nào đâm chém chàng mà.

Trương Vô Kỵ cười nói:

– Vậy thì nàng chặt què chân ta đi vậy!

Chu Chỉ Nhược cúi đầu, nước mắt lại lăn xuống như những hạt ngọc.

Trương Vô Kỵ không đành đi ra, lại ngồi xuống bên cạnh, ôm hai vai nàng, âu yếm hỏi:

– Sao nàng lại đau lòng?

Chu Chỉ Nhược lặng lẽ khóc, không trả lời. Trương Vô Kỵ gặng hỏi mấy lần, không ngờ càng hỏi, nàng càng khóc già.

Trương Vô Kỵ bèn thề sống thề chết, hứa quyết không bao giờ thay lòng đổi dạ. Chu Chỉ Nhược hai tay ôm mặt, nói:

– Thiếp chỉ tủi cho số mệnh thiếp hẩm hiu, chứ đâu có trách chàng.

Trương Vô Kỵ nói:

– Số mệnh tất cả chúng ta đều khổ. Bọn Thát tử tác oai tác quái ở Trung Quốc, ai ai cũng gặp số phận hẩm hiu. Mai này chúng mình thành vợ chồng rồi, lại đuổi bọn Thát tử đi, thì sẽ chỉ có sung sướng, không còn đau lòng nữa.

Chu Chỉ Nhược ngẩng đầu lên, nói:

– Vô Kỵ ca ca, thiếp biết chàng chân tình với thiếp, có điều là con tiểu yêu nữ Triệu Mẫn kia cứ quyến rũ chàng; không phải là chàng bụng nọ dạ kia, có điều.. có điều là nàng ta thông minh trí tuệ, võ công cao cường; dung mạo, quyền thế, cái gì cũng hơn thiếp cả chục lần. Cuối cùng làm sao thiếp có thể giành giật thắng nàng ta. Như thế sẽ phải đau lòng suốt đời, chi bằng chết quách một lần cho xong. Nào ngờ cái gã Hàn Lâm Nhi ngốc nghếch lại cứu thiếp. Thiếp chết hụt một lần rồi, đâu còn can đảm chết lần thứ hai. Thiếp.. thiếp phải học sư phụ, cắt tóc làm ni cô. Ôi, chưởng môn phái Nga Mi bấy nay chẳng một ai đi lấy chồng.

Trương Vô Kỵ nói:

– Vậy là nàng vẫn chưa yên tâm. Thôi thì thế này, ngay sáng mai chúng ta sẽ đi Hoài Tứ, ta sẽ thành hôn với nàng.

Chu Chỉ Nhược nói:

– Chưa tìm thấy nghĩa phụ, hơn nữa, chàng từng bảo chưa diệt xong Hung Nô chưa thành gia thất kia mà? Xem chừng.. xem chừng không xong.

Nói đoạn lại nước mắt ròng ròng.

Trương Vô Kỵ nói:

– Nghĩa phụ thì dĩ nhiên phải ra sức đi tìm. Sau khi tập hợp các huynh đệ, việc tìm kiếm ông sẽ dễ hơn nhiều. Còn chuyện đánh đuổi quân Thát tử bao giờ đại thành, thật khó ai biết trước. Không lẽ đợi đến khi hai đứa mình thành ông già bà cả, bấy giờ mới lọm khọm làm lễ thành hôn? Ông lão bà cụ vái trời vái đất thì còn được đi, nhưng làm sao có thể sinh con đẻ cái, chẳng lẽ để họ Trương ta tuyệt tự hay sao?

Chu Chỉ Nhược đỏ mặt, cười nói:

– Gớm cái anh chàng lâu nay vốn thật thà, nay không biết học ai mà mồm miệng trơn như mỡ thế?

Bao nhiêu mây sầu sương thảm lập tức theo tiếng cười của hai người mà tiêu tan hết.

*

* *

Sáng hôm sau Trương Vô Kỵ dặn Bành Oánh Ngọc ở lại Đại Đô thêm ba ngày, nghe ngóng tin tức Tạ Tốn, còn mình thì cùng Chu Chỉ Nhược và Hàn Lâm Nhi đi về vùng Hoài Tứ ở phương nam.

Ba người tới Sơn Đông, thấy binh mã Mông Cổ thua chạy tơi tả như đàn ong tán loạn. Thấy tình hình đó, Trương Vô Kỵ bèn tránh đường lớn mà đi. Sau đó gặp một tên lính đi lẻ, chàng bèn bắt lại tra hỏi, thì biết Chu Nguyên Chương ở Hoài Bắc đánh bại quân Nguyên mấy trận lớn, làm cho đại đội binh mã của chúng tan vỡ. Ba người nghe cả mừng, cố đi thật nhanh, đến địa giới Lỗ Hoãn, thì đất đai đã thuộc quyền cai quản của nghĩa quân Minh giáo. Trong nghĩa quân có người nhận ra Hàn Lâm Nhi, vội phi báo về phủ nguyên soái.

Ba người tới gần thành Hào Châu, Hàn Sơn Đồng đã dẫn các đại tướng Chu Nguyên Chương, Từ Đạt, Thường Ngộ Xuân, Đặng Dũ, Thang Hòa.. ra ngoài ba mươi dặm nghênh tiếp. Mọi người cửu biệt trùng phùng, ai nấy cả mừng. Hàn Sơn Đồng nghe con trai kể bị Cái Bang bắt giữ, được Trương giáo chủ cứu thoát, lại càng luôn miệng cảm tạ. Trong tiếng chiêng trống rầm trời, binh giáp lóa mắt, nghĩa quân đón mừng giáo chủ vào thành Hào Châu.

Chu Chỉ Nhược cưỡi ngựa đi sau Trương Vô Kỵ, nhìn sang hai bên, thấy quang cảnh tuy không hoa lệ huy hoàng bằng cuộc "đại du hoàng thành" của hoàng đế hoàng hậu ở kinh đô, nhưng cũng phần nào thỏa nguyện bình sinh.

Trong mấy ngày Trương Vô Kỵ nghỉ ngơi ở Hào Châu, bọn Dương Tiêu, Phạm Dao, Ân Thiên Chính, Ân Dã Vương, Vi Nhất Tiếu, Thiết Quan đạo nhân, Thuyết Bất Đắc, Chu Điên, các chưởng kỳ sứ Ngũ Hành kỳ hay tin, lần lượt từ các nơi về gặp gỡ.

Trương Vô Kỵ kể lại cho mọi người biết việc Tạ Tốn trở về Trung nguyên, bị Cái Bang bắt, rồi lại mất tích lần nữa. Bọn Dương Tiêu, Phạm Dao, Ân Thiên Chính bàn đi tính lại, đều không tìm ra manh mối gì. Phạm Dao nói:

– Không biết hoàng y mỹ nữ lai lịch ra sao, không chừng hành tung của Tạ huynh có thể hỏi nàng ta sẽ biết.

Quần hào chưa ai nghe nhắc đến hoàng y mỹ nữ, chỉ khuyên Trương Vô Kỵ hãy cứ yên tâm, ai cũng cho rằng cứ như hành vi lời lẽ của hoàng y mỹ nữ đối với giáo chủ, thì nàng ta rõ ràng không có ác ý. Kim Mao Sư Vương rơi vào tay nàng ta, chắc hẳn không việc gì; cùng lắm là nàng ta chỉ muốn lục vấn về thanh đao Đồ Long mà thôi.

Trương Vô Kỵ vẫn cứ lo canh cánh, nhất thời chưa biết làm sao hơn, đành phái giáo chúng Ngũ Hành kỳ chia nhau đi các nơi thám thính. Hôm Bành Oánh Ngọc từ kinh đô về tới, cho biết cũng không nghe được chút tin tức nào về Tạ Tốn.

Nghĩa quân Minh giáo đánh mấy trận lớn, tuy đều chiến thắng, song tổn thất rất nặng nề, trong vòng vài ba tháng tới nghĩa quân ắt phải nghỉ ngơi chỉnh đốn, chiêu mộ tân binh, không thể tung ra đánh quân Nguyên.

Bành Oánh Ngọc hôm rồi thấy Chu Chỉ Nhược tự tận, tuy không biết nguyên do cụ thể, nhưng cũng đoán ra giữa hai người hẳn là có chuyện ghen tuông. Bọn Phạm Dao thì cũng biết quan hệ giữa Trương Vô Kỵ với Triệu Mẫn rất không bình thường, giả sử giáo chủ Minh giáo lấy quận chúa Mông Cổ làm vợ, thì công cuộc kháng Nguyên phục quốc sẽ bị tổn hại không nhỏ, thấy hiện tại chưa có việc gì hệ trọng, họ bèn khuyên Trương Vô Kỵ hãy sớm thành hôn với Chu Chỉ Nhược. Mà Trương Vô Kỵ cũng đã nói trước với Chu Chỉ Nhược, nên bằng lòng ngay. Dương Tiêu chọn ngày rằm tháng Ba là ngày hoàng đạo, toàn thể Minh giáo từ trên xuống dưới ai cũng vui mừng.

Lúc này thanh thế Minh giáo lẫy lừng thiên hạ, cánh quân phía đông của Hàn Sơn Đồng đã kiểm soát các đô thị lớn cả một vùng Hoài Tứ, cánh quân phía tây của Từ Thọ Huy tại Ngạc Bắc, Dự Nam cũng liên tiếp đánh bại quân Nguyên. Tin mừng về lễ thành hôn của giáo chủ truyền ra, các nhân sĩ võ lâm tới tấp gửi quà mừng. Các phái Côn Luân, Không Động vốn có thù oán với Minh giáo, nhưng một là ở chùa Vạn An họ đã được Trương Vô Kỵ cứu thoát, chịu ơn với chàng; thứ nữa Chu Chỉ Nhược là chưởng môn phái Nga Mi, nên các vị chưởng môn phái ai ai cũng sai người mang lễ đến mừng, riêng quà của Không Động ngũ lão vô cùng hậu hĩ.

Trương Tam Phong tự tay viết bốn chữ "Giai nhi giai phụ" vào một bức trướng, một bộ Thái cực quyền kinh do chính Trương lão chép tay, sai Tống Viễn Kiều, Du Liên Châu, Ân Lê Đình ba đại đệ tử mang đến mừng. Lúc này Dương Bất Hối đã thành hôn với Ân Lê Đình, cũng theo chồng tới Hào Châu. Trương Vô Kỵ ra đón, mỉm cười, lớn tiếng chào.

Dương Bất Hối đỏ mặt, nắm tay chàng, nhớ lại chuyện xưa, vừa vui mừng, vừa thương cảm.

Trương Vô Kỵ sợ Trần Hữu Lượng, Tống Thanh Thư chưa từ bỏ gian kế, thừa cơ làm hại, bèn phái Vi Nhất Tiếu làm sứ giả đi lên núi Võ Đang tạ ơn. Chàng kể tỉ mỉ cho Vi Nhất Tiếu biết việc Trần Hữu Lượng, Tống Thanh Thư giết hại Mạc Thanh Cốc, mưu toan đầu độc Trương Tam Phong. Chàng dặn Vi Nhất Tiếu tới bái kiến Trương Tam Phong, cùng với Du Đại Nham và Trương Tòng Khê hợp lực đề phòng Trần Hữu Lượng, Tống Thanh Thư; chờ khi huynh đệ Tống Viễn Kiều trở về núi hãy cáo biệt.

Vi Nhất Tiếu hầm hầm nói:

– Từ khi tuân hành huấn dụ của giáo chủ, thuộc hạ không dám hút máu người nữa; nhưng kỳ này nếu gặp hai tên gian tặc ấy, thuộc hạ phải hút hết máu chúng mới xong.

Trương Vô Kỵ vội nói:

– Đối với Trần Hữu Lượng, thuận tiện thì Vi huynh cứ việc diệt trừ; riêng Tống Thanh Thư là đứa con độc nhất của đại sư bá ta, là chưởng môn tương lai của phái Võ Đang, hãy để phái Võ Đang tự thanh lý môn hộ, khỏi tổn thương tình cảm của Tống đại sư bá ta.

Vi Nhất Tiếu vâng lệnh, bái biệt ra đi.

Ngày mồng mười tháng Ba, các nữ hiệp phái Nga Mi mang lễ vật tới Hào Châu, riêng Đinh Mẫn Quân nhờ người khác mang quà, còn mình thì không tới.

*

* *

Ngày rằm tháng Ba, người của Minh giáo từ trên xuống dưới ai ai cũng mặc quần áo mới. Lễ bái thiên địa được bố trí trong một sảnh đường của một đại phú gia ở Hào Châu, nơi đây treo đèn kết hoa, trang hoàng rực rỡ. Bức trướng viết bốn chữ lớn "Giai nhi giai phụ" của Trương Tam Phong tặng được treo ở chính giữa. Ân Thiên Chính làm chủ hôn đằng trai, Thường Ngộ Xuân làm chủ hôn đằng gái. Thiết Quan đạo nhân làm tổng tuần hành thành Hào Châu, thống lĩnh bộ hạ Minh giáo đi tuần tra bốn phía, đề phòng kẻ địch trà trộn vào quấy phá. Thang Hòa thì chỉ huy tinh binh nghĩa quân đóng ở bên ngoài thành để sẵn sàng chống địch.

Buổi sáng, các phái Thiếu Lâm, Hoa Sơn cũng cử người mang lễ vật tới mừng.

Giờ Thân là giờ lành, pháo hiệu nổ đì đùng liên hồi. Tất cả quan khách đều tới đại sảnh, theo tiếng xướng của người tán lễ, Tống Viễn Kiều và Ân Dã Vương đưa Trương Vô Kỵ bước ra. Tiếng đàn sáo nổi lên, tám thiếu nữ trẻ tuổi phái Nga Mi theo hầu Chu Chỉ Nhược uyển chuyển đi ra đại sảnh. Chu Chỉ Nhược mặc bộ đại hồng cẩm bào, đầu đội mũ phượng, mặt trùm khăn đỏ. Nam tả nữ hữu, tân lang và tân nương đứng sánh vai. Người tán lễ cao giọng xướng:

– Vái trời!

Trương Vô Kỵ và Chu Chỉ Nhược vừa định quỳ xuống chiếu cạp điều để lễ, bỗng từ ngoài cổng có một giọng nói trong trẻo kêu to:

– Hãy khoan!

Thoáng một cái bóng xanh, một thanh y thiếu nữ đã đứng tủm tỉm cười giữa sân, đó chính là Triệu Mẫn.

Quần hào vừa thấy nàng ta, lập tức ồn ào cả lên. Không ít cao thủ của Minh giáo và các đại môn phái từng bị khổ vì nàng ta, không ngờ nàng ta dám một mình vào nơi hiểm địa. Những người nóng tính đã toan bước ra động thủ với nàng ta.

Dương Tiêu dang hai tay, cũng nói to:

– Hãy khoan!

Rồi quay sang nói với mọi người:

– Hôm nay là ngày đại hỷ của giáo chủ tệ giáo và chưởng môn phái Nga Mi, Triệu cô nương đến chúc mừng, tức là khách của chúng ta. Xin các vị nể mặt phái Nga Mi và Minh giáo, tạm gác mọi chuyện đã qua sang một bên, không nên vô lễ với Triệu cô nương.

Nói xong, Dương Tiêu đưa mắt cho Bành Oánh Ngọc và Thuyết Bất Đắc, hai người kia hiểu ý, liền quay vào hậu đường, rồi ra ngoài tra xét xem Triệu Mẫn dẫn theo bao nhiêu cao thủ.

Tiếp đó Dương Tiêu nói với Triệu Mẫn:

– Xin Triệu cô nương qua bên này ngồi xem lễ, sau đó tại hạ sẽ mời cô nương ba chén rượu nhạt.

Triệu Mẫn mỉm cười, nói:

– Bổn cô nương có vài lời muốn nói với Trương giáo chủ, nói xong là đi liền, dịp khác sẽ uống rượu cùng các vị.

Dương Tiêu nói:

– Triệu cô nương có chuyện gì, đợi làm lễ xong hãy nói cũng chưa muộn.

Triệu Mẫn nói:

– Làm lễ xong thì đã muộn.

Dương Tiêu và Phạm Dao nhìn nhau, biết hôm nay Triệu Mẫn tới đây để phá đám, bất kể thế nào cũng phải ngăn nàng ta lại ngay, để ngày cưới khỏi bẽ bàng, mất hết cả vui. Dương Tiêu liền tiến lên hai bước, nói:

– Bữa nay chúng tôi đã tận lễ chủ khách, Triệu cô nương hãy tự trọng.

Dương Tiêu định bụng, nếu Triệu Mẫn cố tình phá bĩnh sẽ lập tức ra tay điểm huyệt nàng để chế ngự rồi tính sau.

Triệu Mẫn nói với Phạm Dao:

– Khổ đại sư, người ta định ra tay với ta đấy, đại sư có giúp ta hay chăng?

Phạm Dao cau mày, nói:

– Quận chúa, trên đời này mười điều có đến tám, chín điều không vừa ý, đã đến nước này, mong đừng ương ngạnh.

Triệu Mẫn nói:

– Ta cứ ương ngạnh thì sao?

Rồi quay sang nói với Trương Vô Kỵ:

– Trương Vô Kỵ, huynh là giáo chủ Minh giáo, nam tử hán đại trượng phu, nói rồi có giữ lời hay chăng?

Trương Vô Kỵ thấy Triệu Mẫn tới, trống ngực đã đập thình thình, chỉ mong Dương Tiêu có thể cứu vãn tình thế, khuyên nàng bỏ đi, đột nhiên nghe nàng hỏi chính mình, đành trả lời:

– Lời ta đã nói, tất nhiên ta sẽ giữ lời.

Triệu Mẫn nói:

– Hôm muội cứu mạng cho Du tam bá và Ân lục thúc của huynh, huynh bằng lòng làm cho muội ba việc, quyết không thất hứa, đúng thế chứ?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Đúng thế. Cô nương bảo ta đi mượn thanh đao Đồ Long cho cô nương xem, cô nương không những đã xem, mà còn lấy trộm đi luôn.

Mấy chục năm qua người người trên giang hồ đều quan tâm đến thanh đao Đồ Long "võ lâm chí tôn" kia ở đâu, nay nghe nó đã rơi vào tay Triệu Mẫn, thì ai nấy rúng động. Triệu Mẫn nói:

– Thanh đao Đồ Long rốt cuộc ở trong tay ai thì chỉ có Kim Mao Sư Vương Tạ đại hiệp mới biết, công tử cứ hỏi thẳng ông ta khắc rõ.

Việc Tạ Tốn đã về tới Trung nguyên, quần hào võ lâm ít ai hay biết, nay nghe nàng nhắc tới Kim Mao Sư Vương, tiếng ồn ào trong sảnh lập tức im bặt.

Trương Vô Kỵ nói:

– Nghĩa phụ ta hiện giờ ở đâu, ta ngày đêm lo lắng, mong Triệu cô nương làm ơn cho biết.

Triệu Mẫn mỉm cười, nói:

– Muội muốn công tử làm ba việc, chỉ cần không trái với đạo hiệp nghĩa trong võ lâm, thì công tử phải làm ngay. Việc mượn thanh đao Đồ Long để xem, tuy không hay ho gì lắm, song muội cũng đã nhìn thấy nó, sau đó bảo đao bị lấy cắp đi, cũng không thể trách công tử. Vậy cứ coi như việc thứ nhất công tử đã hoàn tất. Bây giờ muội muốn công tử làm việc thứ hai. Trương Vô Kỵ, trước mặt anh hùng hào kiệt trong thiên hạ, công tử không thể nói rồi nuốt lời.

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Cô nương muốn ta làm việc gì?

Dương Tiêu liền xen vào:

– Triệu cô nương, cô nương muốn giáo chủ tệ giáo làm việc gì cũng phải hẹn trước, chỉ cần không trái với đạo hiệp nghĩa của võ lâm, chẳng riêng Trương giáo chủ sẽ bằng lòng, mà tệ giáo từ trên xuống dưới cũng phải tận tâm thực hiện. Hiện tại là giờ tốt ngày lành để Trương giáo chủ và tân phu nhân tham bái trời đất, mọi việc khác hãy tạm gác qua một bên, xin đừng nhiều lời cản trở.

Câu sau cùng, giọng nói của Dương Tiêu rất kiên quyết.

Triệu Mẫn thản nhiên như không, coi vị Quang Minh tả sứ danh chấn giang hồ này của Minh giáo chẳng là gì hết, nhơn nhơn nói:

– Việc của ta còn cấp thiết hơn, trì hoãn một khắc cũng không được.

Nàng đột nhiên tiến lên mấy bước, đến ngay trước mặt Trương Vô Kỵ, kiễng chân ghé tai chàng nói nhỏ:

– Việc thứ hai là muốn công tử hôm nay không bái đường thành thân với Chu cô nương.

Trương Vô Kỵ sững sờ hỏi:

– Cái gì?

Triệu Mẫn nói:

– Đó là việc thứ hai. Còn việc thứ ba, khi nào nghĩ ra, muội sẽ nói cho biết sau.

Mấy câu vừa rồi nàng nói rất khẽ, song Chu Chỉ Nhược và những người đứng gần như Tống Viễn Kiều, Ân Lê Đình cùng tám thiếu nữ phái Nga Mi phù dâu nghe rất rõ, ai nấy không khỏi biến sắc. Tám thiếu nữ phái Nga Mi tay đã kín đáo nắm lại thành quyền, nếu Triệu Mẫn còn nói thêm một lời làm nhục chưởng môn của họ, thì họ sẽ lập tức cho nàng biết tay.

Trương Vô Kỵ lắc đầu nói:

– Việc này, xin lỗi, không thể tuân lệnh.

Triệu Mẫn nói:

– Vậy là công tử nói rồi không giữ lời ư?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Đôi bên đã nói rõ từ trước, không được trái với đạo hiệp nghĩa. Ta và Chu cô nương đã ước hẹn thành vợ chồng, nếu phải làm theo lời cô nương, tức là trái với chữ "nghĩa".

Triệu Mẫn cười khẩy:

– Nếu công tử thành hôn với nàng ta, thì mới là bất hiếu bất nghĩa. Khi du hoàng thành ở Đại Đô, chẳng lẽ công tử chưa nhìn thấy nghĩa phụ của công tử bị ai ám toán hay sao?

Trương Vô Kỵ lửa giận bừng bừng, quát to:

– Triệu cô nương, hôm nay ta nể cô nương là khách, nhịn cô nương ba phần; nếu cô nương còn nói nhăng nói cuội, đây có đắc tội thì đừng trách.

Triệu Mẫn nói:

– Việc thứ hai này, công tử không chịu nghe lời bổn cô nương phải không?

Trương Vô Kỵ nghĩ nàng ở địa vị quận chúa cao quý, vậy mà phải xuất đầu lộ diện trước mặt quần hào cầu khẩn chàng đừng làm lễ thành hôn, chẳng qua là vì quá si mê chàng, không khỏi mềm lòng, ôn tồn nói:

– Triệu cô nương, sự đến nước này, sao cô nương vẫn còn.. chưa hiểu kia chứ. Trương Vô Kỵ ta là một thất phu nơi thôn dã, không xứng.. không xứng..

Triệu Mẫn nói:

– Được, vậy công tử hãy xem đây là cái gì?

Nàng mở bàn tay phải ra, chìa vào trước mặt chàng.

Trương Vô Kỵ vừa nhìn thấy đã kinh hoàng, toàn thân run rẩy, giọng run run hỏi:

– Đây.. cái này ta..

Triệu Mẫn lập tức nắm tay lại, bỏ vật đó vào túi, nói:

– Việc thứ hai bổn cô nương đã nói, công tử làm theo hay không, hoàn toàn là tùy ở công tử.

Nói xong nàng quay mình đi ra cổng.

Trong tay nàng cầm vật gì khiến Trương Vô Kỵ vừa nhìn thấy đã kinh hoàng, không ai trông rõ cả. Chu Chỉ Nhược mặt bị tấm khăn trùm che lấp, chỉ nghe thấy lời đối đáp giữa Trương Vô Kỵ và Triệu Mẫn, chứ hoàn toàn không nhìn thấy gì.

Trương Vô Kỵ hấp tấp gọi theo:

– Triệu.. Triệu cô nương, xin hãy đứng lại đã.

Triệu Mẫn nói:

– Công tử muốn theo bổn cô nương thì theo, bằng không thì ở lại mà làm lễ tơ hồng với tân giai nhân. Là nam nhi mà hồ nghi không quyết đoán, sẽ ôm hận suốt đời đấy.

Nàng ta miệng nói, chân vẫn cứ đi thẳng ra cổng. Trương Vô Kỵ vội gọi to:

– Triệu cô nương hãy dừng bước, mọi việc để bàn tính kỹ lại đã.

Chàng thấy Triệu Mẫn rảo bước thêm, thì bèn chạy ra chắn trước mặt, nói:

– Được, ta nghe theo cô nương, hôm nay không thành hôn nữa.

Triệu Mẫn đứng lại, nói:

– Vậy công tử hãy đi theo bổn cô nương.

Trương Vô Kỵ ngoảnh lại, thấy Chu Chỉ Nhược đứng sững, thì hết sức phân vân, toan giải thích với nàng vài lời, nhưng thấy Triệu Mẫn lại đi ra cổng, sự việc vô cùng gấp gáp, phải quyết định ngay mới được, thế là đành nghiến răng đuổi theo Triệu Mẫn.

Trương Vô Kỵ đuổi tới bên cổng, đột nhiên thấy bên cạnh chàng một bóng hồng vút qua, một người đã đuổi tới sát phía sau Triệu Mẫn, từ trong ống tay áo đỏ vươn ra một bàn tay thuôn thuôn búp măng, năm ngón chộp xuống đỉnh đầu Triệu Mẫn. Biến cố diễn ra như chim cắt vồ mồi, nhanh không thể tả, người ra tay chính là cô dâu Chu Chỉ Nhược.

Trương Vô Kỵ giật mình: "Chiêu này lợi hại quá! Chỉ Nhược học ở đâu ra môn võ công tinh diệu thế này?" Chàng thấy bàn tay Chu Chỉ Nhược sắp chụp xuống đầu Triệu Mẫn, nếu năm ngón chọc xuống, thể nào Triệu Mẫn cũng vỡ sọ mà chết, thì không kịp nghĩ, liền vọt tới nắm lấy mạch môn Chu Chỉ Nhược.

Chu Chỉ Nhược thúc cùi chỏ bên trái về phía sau, nghe "hịch" một tiếng, trúng ngay ngực chàng. "Cửu dương thần công" trong cơ thể chàng lập tức phát động, hóa giải kình lực của cú thúc ấy, song cũng cảm thấy khí huyết nhộn nhạo, chân hơi loạng choạng.

Phạm Dao thấy tình thế nguy cấp, động lòng cứu chủ cũ, vội giơ chưởng lên đẩy vào vai Chu Chỉ Nhược, Chu Chỉ Nhược khẽ phẩy tay một cái, Phạm Dao đã thấy cổ tay tê dại, không thể làm gì được nữa.

Nhờ sự ngăn trở vừa rồi, Triệu Mẫn tiến được nửa bước, tránh khỏi cú chộp nguy hại xuống đỉnh đầu, song vai nàng đau nhói lên: Thì ra năm ngón tay của Chu Chỉ Nhược đã cắm xuống vai, sát gáy Triệu Mẫn. Trương Vô Kỵ kêu "A" một tiếng, giơ tay đẩy Chu Chỉ Nhược ra.

Chu Chỉ Nhược vẫn để nguyên tấm khăn hồng trùm đầu mặt, nghe hơi gió liền hất tả chưởng về phía sau chém cổ tay chàng. Trương Vô Kỵ hoàn toàn không muốn động thủ với nàng, chỉ vì thấy nàng xuất chiêu quá hiểm độc, chỉ một chiêu đã định lấy mạng Triệu Mẫn, nên chàng không còn cách nào khác, đành phải ra tay ngăn cản. Chu Chỉ Nhược đứng nguyên tại chỗ, hai tay liên tiếp tung ra tám chiêu hiểm ác, Trương Vô Kỵ vội sử dụng tâm pháp "Càn khôn đại na di" mới chống đỡ được. Tám chiêu tấn công, tám chiêu chống đỡ, diễn ra chỉ trong giây lát. Quần hào trong đại sảnh ai nấy nín thở, ngẩn người kinh hãi.

Triệu Mẫn bị trọng thương ở vai, ngã khuỵu xuống đất, máu từ năm lỗ thủng chảy ra như suối, nhuộm đỏ cả nửa cái áo.

Chu Chỉ Nhược ngừng tấn công, nói:

– Trương Vô Kỵ, chàng bị con yêu nữ kia mê hoặc, tính bỏ thiếp mà đi phải không?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Chỉ Nhược, mong nàng hiểu cho nỗi khổ tâm của ta. Ước định hôn nhân của hai ta, Trương Vô Kỵ ta quyết không hối hận, chỉ là tạm hoãn ít hôm..

Chu Chỉ Nhược lạnh lùng nói:

– Chàng mà đi thì đừng hòng quay lại, mong chàng sau này đừng có hối tiếc.

Triệu Mẫn nghiến răng đứng dậy, không nói một lời, lảo đảo đi ra, máu từ vai chảy nhỏ giọt xuống đất.

Quần hào từng chứng kiến không ít chuyện lạ trên giang hồ, nhưng hôm nay mới thấy cái cảnh "hai nàng tranh một chàng", máu đỏ phòng hoa, cô dâu đầu còn trùm khăn hồng mà dùng võ công thần kỳ đả thương tình địch, khiến ai nấy kinh hoàng không biết nói sao.

Trương Vô Kỵ giậm chân một cái, nói:

– Nghĩa phụ đối với ta ơn nặng tày non, Chỉ Nhược, Chỉ Nhược, nàng hãy lượng thứ cho ta.

Nói rồi chàng đi theo Triệu Mẫn.

Ân Thiên Chính, Dương Tiêu, Du Liên Châu, Ân Lê Đình mọi người chẳng ai hiểu sự tình thế nào, nên không dám ngăn cản.

Chu Chỉ Nhược giơ tay giật phắt tấm khăn hồng che mặt, cao giọng nói:

– Các vị chính mắt thấy đó, là chàng ta phụ tiểu nữ, chứ không phải tiểu nữ phụ chàng ta. Từ nay Chu Chỉ Nhược với gã họ Trương kia ân đoạn nghĩa tuyệt.

Rồi nàng gỡ chiếc mũ phượng khỏi đầu, dùng hai tay bóp nát các viên trân châu rơi lả tả như cám, nói:

– Chu Chỉ Nhược ta mà không rửa được mối hận hôm nay, thì cũng sẽ như các viên ngọc này.

Ân Thiên Chính, Tống Viễn Kiều, Dương Tiêu đều muốn lên tiếng khuyên nàng nên chờ Trương Vô Kỵ quay về, hỏi cho rõ lẽ hãy hay; nhưng họ thấy Chu Chỉ Nhược hai tay xé một cái, nghe "xoẹt" một tiếng, chiếc áo đại hồng trường bào thêu hoa vàng đã rách thành hai mảnh; nàng ném áo xuống đất, phi thân đi, ở trên không xoay mình một cái, đã bay vọt lên mái nhà.

Dương Tiêu, Ân Thiên Chính cả bọn cùng đuổi theo, chỉ thấy nàng phiêu diêu như một cụm mây hồng bay nhanh về hướng đông. Khinh công của nàng đẹp thế kia, xem ra đâu kém gì Thanh Dực Bức Vương Vi Nhất Tiếu. Mọi người nghĩ rằng có đuổi cũng không kịp, đứng ngẩn ngơ một hồi, rồi trở vào đại sảnh.

Lễ cưới đang vui vẻ bị Triệu Mẫn đến phá rối, trong giây lát bị rã đám, người của Minh giáo từ trên xuống dưới ai nấy mặt mày ủ rũ, khách khứa đến chúc mừng cũng mất cả vui. Người ta xôn xao bàn tán, không biết Triệu Mẫn chìa cho Trương Vô Kỵ xem cái gì để đến nỗi chàng phải hấp tấp đi theo, nghe chàng nói thì hình như việc đó gắn liền với Tạ Tốn, song sự thực thế nào thì không một ai hay biết.

Các nữ hiệp phái Nga Mi thì thầm trao đổi với nhau mấy câu, rồi nhăn nhó cáo từ. Ân Thiên Chính luôn miệng xin lỗi, nói thể nào cũng sẽ dẫn Trương Vô Kỵ lên Nga Mi Kim Đỉnh tạ tội, sắp xếp lại việc cưới hỏi, nhất thiết xin chớ làm mất hòa khí hai nhà. Phái Nga Mi không đáp lời, chia nhau đi tìm Chu Chỉ Nhược, miệng lẩm bẩm chửi bọn đàn ông bạc tình.

*

* *

Nguyên cái thứ mà Triệu Mẫn nắm trong tay, mở ra cho Trương Vô Kỵ nhìn thấy, là một lọn tóc màu vàng. Trương Vô Kỵ nhìn qua, nhận ngay ra là tóc của Tạ Tốn. Nội công của Tạ Tốn luyện đã khác người, cộng với sự bẩm sinh cũng lạ, nên từ trung niên trở đi, cả mái tóc dài của Tạ Tốn biến thành màu vàng nhạt, song không giống kiểu tóc vàng của người sắc tộc ở Tây Vực. Trương Vô Kỵ cho rằng Tạ Tốn đã bị Triệu Mẫn cắt đi một lọn tóc, tức là ông đã rơi vào tay nàng, nếu chàng thành thân với Chu Chỉ Nhược, thì Triệu Mẫn sẽ tức giận quay về không giết Tạ Tốn, thì cũng làm điều bất lợi cho ông ta, thành thử chàng không kịp giải thích nỗi khổ tâm của mình cho Chu Chỉ Nhược nghe trước mặt quần hào. Nên biết khách khứa ngày hôm nay, trừ người của Minh giáo và của phái Võ Đang ra, ai ai cũng muốn bắt giữ Tạ Tốn, trước là để báo thù cái tội ông ta giết người bừa bãi ngày xưa, thứ nữa là để chiếm đoạt thanh đao Đồ Long. Thành thử khi thấy Triệu Mẫn bỏ đi, chàng liền đuổi theo nàng ta, dù biết rằng làm như thế rất không phải với Chu Chỉ Nhược, nhưng rốt cuộc thì tính mạng của nghĩa phụ là hệ trọng.

Chàng ra khỏi cổng, thấy Triệu Mẫn đang cố chạy, máu tươi từ vai vẫn tiếp tục nhỏ xuống đường. Chàng hít một hơi, vọt lên mấy trượng, chắn trước mặt nàng, nói:

– Triệu cô nương, cô nương đừng ép ta trở thành một kẻ bất nghĩa, để cho anh hùng thiên hạ chê cười.

Triệu Mẫn bị thương nặng ở vai, lúc đầu chỉ nhờ chân khí mà còn gắng chạy được, nghe chàng nói vậy bèn há miệng đáp:

– Chàng.. chàng..

Chân khí tiết thoát, nàng lập tức ngã xuống. Trương Vô Kỵ cúi xuống hỏi:

– Cô nương nói đi, nghĩa phụ của ta hiện đang ở đâu?

Triệu Mẫn nói:

– Chàng mang muội đi cứu ông ấy, muội sẽ.. sẽ.. chỉ đường cho.

Trương Vô Kỵ nói:

– Tính mạng lão nhân gia không sao chứ?

Triệu Mẫn hữu khí vô lực, nói:

– Nghĩa phụ.. chàng.. rơi vào tay Thành Côn.

Trương Vô Kỵ nghe hai tiếng "Thành Côn" thì rụng rời chân tay, người ấy võ công cao siêu, mưu kế thâm độc, Tạ Tốn với lão ta thù sâu như biển, rơi vào tay lão ta thật hung hiểm muôn phần.

Triệu Mẫn nói:

– Một mình chàng không xong đâu, hãy gọi.. bọn Dương Tiêu đi cùng..

Nói rồi đưa tay chỉ về hướng tây, đột nhiên đầu ngật ra sau, ngất lịm đi.

Trương Vô Kỵ hình dung nghĩa phụ giờ này nguy nan khổ sở, ruột gan nóng như lửa đốt, vội ôm Triệu Mẫn lên, xé vạt áo băng bó vết thương cho nàng, giơ tay vẫy một giáo đồ Minh giáo đứng bên đường lại, nói:

– Ngươi mau bẩm báo với Dương tả sứ, bảo ông ấy dẫn mọi người đi về phía tây, nói là ta có việc gấp cần sai họ làm.

Gã giáo đồ tuân lệnh vội chạy đi bẩm báo.

Trương Vô Kỵ nghĩ mình sớm chút nào hay chút đó, sự đời khôn lường, không chừng chỉ cần chậm nửa khắc là hết cứu được nghĩa phụ, chàng bèn ôm Triệu Mẫn chạy ra phía cửa thành, sai sĩ tốt canh gác ở đó đem lại một con tuấn mã, phi thân lên ngựa, phóng ngay về hướng tây.

Chạy được vài dặm, chàng cảm thấy thân thể Triệu Mẫn lạnh dần, giơ tay thăm mạch, thấy mạch đập rất yếu, chàng hoảng sợ vội cởi vải bó vết thương ra xem, thấy năm lỗ ngón tay sâu vào tận xương, da thịt xung quanh tím ngắt, rõ ràng đã trúng chất kịch độc. Chàng hồ nghi: "Chỉ Nhược là đệ tử phái Nga Mi, làm sao lại biết sử dụng loại công phu âm độc thế này? Nàng xuất chiêu xem ra còn hiểm độc hơn cả Diệt Tuyệt sư thái là vì cớ gì?" Nếu không cứu chữa ngay, chất độc phát tác, Triệu Mẫn có thể bị mất mạng như chơi; chàng thì đang mặc quần áo chú rể, đâu có thuốc men gì trong người?

Nghĩ một chút, chàng bèn xuống ngựa, ôm Triệu Mẫn chạy lên triền núi bên trái, nhìn tứ phía tìm các loại thảo dược, nhưng nhất thời không thấy bất cứ thảo dược nào, dẫu là loại tầm thường nhất.

Chàng lo lắng chạy qua mấy cái thung lũng, miệng lẩm bẩm cầu trời phù hộ; đột nhiên nhìn thấy bên cạnh một ngọn thác nhỏ ở phía trước có bốn năm đóa hoa nhỏ màu đỏ, gọi là hoa "Phật tòa tiểu hồng liên" có tác dụng khử độc rất mạnh. Tuy hiện thời đang là giữa mùa xuân, trăm hoa đua nở, nhưng gặp được loài hoa này ở đây phải gọi là ơn trời phù hộ. Chàng cả mừng, ôm Triệu Mẫn nhảy qua hai khe suối, hái các đóa hoa ấy bỏ vào miệng nhai, một nửa mớm cho Triệu Mẫn, nửa kia đắp vào vết thương ở vai nàng, rồi lại ôm nàng chạy về phía tây.

Chạy khoảng ba chục dặm, Triệu Mẫn rên lên một tiếng, tỉnh lại, nói nhỏ:

– Muội.. muội còn sống ư?

Trương Vô Kỵ thấy hoa "Phật tòa tiểu hồng liên" có tác dụng, cả mừng, hỏi:

– Cô nương thấy trong người thế nào?

Triệu Mẫn đáp:

– Ở vai ngứa quá! Ôi, võ công của Chu cô nương quả là ghê gớm!

Trương Vô Kỵ nhẹ nhàng đặt nàng xuống đất, xem lại vết thương ở vai, thấy vệt bầm tím chưa đỡ chút nào, chỉ có mạch đập đã không còn yếu như trước. Chàng ngẫm nghĩ, biết dược tính của "Phật tòa tiểu hồng liên" quá chậm, chưa đủ để khử độc, bèn cúi xuống ghé miệng vào vết thương mà hút máu độc từng ngụm ra nhổ đi, mùi hôi tanh thật lợm giọng.

Triệu Mẫn nhìn chàng, giơ tay vuốt tóc chàng, thở dài nói:

– Vô Kỵ ca ca, nguyên do bên trong thế nào, chàng đã biết chưa?

Trương Vô Kỵ hút hết máu độc, lại bên dòng suối súc miệng, quay về ngồi bên cạnh Triệu Mẫn, hỏi:

– Nguyên do gì kia?

Triệu Mẫn nói:

– Chu cô nương là đệ tử danh môn chính phái, sao lại biết thứ võ công tà môn âm độc thế này?

Trương Vô Kỵ nói:

– Ta cũng thấy lạ, không biết ai dạy cho nàng ta vậy.

Triệu Mẫn mỉm cười, nói:

– Chắc là tiểu tặc của tà phái Ma giáo dạy cho nàng ta.

Trương Vô Kỵ cũng cười, nói:

– Trong Ma giáo tuy có nhiều ma đầu, nhưng không ai biết môn võ công ấy. Chỉ có Thanh Dực Bức Vương hút máu cổ người ta và Trương Vô Kỵ hút máu vai người khác là hơi giống nhau thôi.

Chàng hỏi tiếp:

– Nghĩa phụ của ta rơi vào tay Thành Côn như thế nào? Hiện giờ ông đang ở đâu?

Triệu Mẫn đáp:

– Muội sẽ đưa chàng đi cứu ông ta. Còn đang ở đâu, thì muội cũng giống như Bố Đại hòa thượng Thuyết Bất Đắc. Muội mà nói ra, chàng sẽ bay ngay đi tìm, quẳng muội ở lại đây mất.

Trương Vô Kỵ thở dài, nói:

– Ta lại là kẻ vô tình vô nghĩa như thế sao?

Triệu Mẫn nói:

– Vì nghĩa phụ của chàng mà chàng còn bỏ rơi cả cô dâu đẹp như ngọc tươi như hoa, nữa là muội?

Nói rồi nàng thong thả tựa vào người chàng, hỏi:

– Hôm nay muội làm lỡ cả dịp động phòng hoa chúc của chàng, chàng có trách muội không?

Không hiểu vì sao lúc này lòng Trương Vô Kỵ vô cùng vui sướng, ngoài việc lo lắng cho sự an nguy của Tạ Tốn, hiện thời chàng lại cảm thấy thoải mái bình an hơn cả lúc bái đường thành thân với Chu Chỉ Nhược. Tại sao như vậy thì chàng không biết. Nhưng nếu thừa nhận rằng mình thích bị Triệu Mẫn phá hỏng đám cưới, thì chàng cũng không dám mở miệng ra, nên chỉ nói:

– Dĩ nhiên là ta giận cô nương. Khi nào cô nương bái đường thành thân với một anh chàng quận mã anh hùng nào đấy, ta cũng sẽ đến đại náo một phen, quyết không để cho cô nương được yên lành làm cô dâu.

Khuôn mặt tái xanh của Triệu Mẫn chợt ửng hồng, nàng cười nói:

– Chàng mà đến phá đám, muội sẽ cho chàng một nhát kiếm.

Trương Vô Kỵ bỗng dưng thở dài, im lặng buồn bã. Triệu Mẫn hỏi:

– Sao chàng lại thở dài?

Trương Vô Kỵ nói:

– Không biết cái anh chàng quận mã kia kiếp trước làm điều thiện gì lớn mà có diễm phúc như thế.

Triệu Mẫn cười:

– Bây giờ chàng tu tỉnh thì vẫn còn kịp mà.

Trương Vô Kỵ rung động trong lòng, hỏi lại:

– Cái gì?

Triệu Mẫn đỏ mặt, không đáp.

Nói tới đây, cả hai người đều ngượng, không dám đẩy câu chuyện đi xa hơn. Sau khi nghỉ một lát, Trương Vô Kỵ lại đắp thuốc vào cho nàng, rồi ôm nàng đi về hướng tây. Triệu Mẫn dựa vào vai chàng, má kề má bên trái của chàng, Trương Vô Kỵ ngửi mùi phấn, mùi da thịt nàng, trong vòng tay là tấm thân ngọc ngà mềm mại, bất giác tâm viên ý mã, hồn phách phiêu diêu; nếu không phải đang gấp đi cứu nghĩa phụ, thì chàng chỉ muốn đi thật chậm, cứ quanh quẩn mãi thế này giữa chốn hoang sơn dã lĩnh.

*

* *

Đêm ấy hai người ngủ lại ở vùng núi hoang ngoại vi phía tây thành Hào Châu. Sáng hôm sau đến một tiểu trấn, mua hai con ngựa khỏe. Chất độc trong người Triệu Mẫn khó mà trừ hết, cơ thể yếu ớt, không đủ sức cưỡi ngựa một mình, nàng đành ngồi chung một ngựa với Trương Vô Kỵ, tựa vào người chàng. Đi như thế năm ngày thì tới địa phận tỉnh Hà Nam.

Hôm ấy hai người đang đi, bỗng thấy phía trước bụi bay mù mịt, khoảng hơn hai trăm người phi ngựa tới, tiếng giáp sắt chạm nhau lanh canh, chính là kỵ binh Mông Cổ. Trương Vô Kỵ đánh ngựa sang một bên, nhường đường cho bọn chúng.

Đội kỵ binh Mông Cổ qua rồi, vài chục trượng đằng sau lại có một đội cưỡi ngựa khác, chừng hơn hai chục người, nhưng đám này không có hàng lối gì cả. Trương Vô Kỵ thấy có cả "Thần tiễn bát hùng" trong số đó, thì giật mình kêu thầm "Hỏng rồi!" vội quay mặt ra chỗ khác.

Đám người kia thấy chàng ăn mặc sang trọng, lại ôm một thiếu nữ, cả hai quay mặt đi, nên họ cũng không để ý, cũng không một ai trong số "Thần tiễn bát hùng" nhận ra chàng. Đợi cả đám đi qua, Trương Vô Kỵ mới quay đầu ngựa, đang tính đi tiếp, thì bỗng nghe tiếng vó ngựa rộn rã, ba kỵ sĩ phi tới như bay. Người đi giữa cưỡi con ngựa trắng, thân mặc cẩm bào, đầu đội mũ vàng, đi kèm hai bên là hai con ngựa màu hạt dẻ, ngồi trên yên chính là Huyền Minh nhị lão, Lộc Trượng Khách và Hạc Bút Ông.

Trương Vô Kỵ toan quay đi, thì Lộc Trượng Khách đã nhìn thấy hai người, nói:

– Quận chúa nương nương đừng lo, có chúng tôi tới cứu giá đây.

Hạc Bút Ông liền lập tức hú lên một tiếng dài, bọn "Thần tiễn bát hùng" nghe thấy liền quay ngựa chạy trở lại, vây tròn hai người vào giữa.

Trương Vô Kỵ sững sờ, đưa mắt nhìn Triệu Mẫn đang nằm trong lòng chàng, như có ý hỏi: "Cô nương bố trí phục binh thế này định hại ta chăng?" Nhưng thấy vẻ mặt hoảng hốt của nàng, chàng biết là mình đã trách nhầm, thì cảm thấy yên tâm, chỉ nghe Triệu Mẫn lên tiếng:

– Ca ca, không ngờ lại gặp ca ca ở đây, gia gia mạnh khỏe chứ?

Trương Vô Kỵ nghe nàng gọi hai tiếng "ca ca", mới để ý nhìn người thanh niên mặc áo gấm cưỡi con bạch mã, nhận ra y là Khố Khố Đặc Mục Nhĩ, anh trai của Triệu Mẫn, có tên Hán là Vương Bảo Bảo. Trương Vô Kỵ từng gặp y hai lần ở Đại Đô, vừa rồi chàng chỉ chú ý đến Huyền Minh nhị lão, nên chưa nhận ra y.

Vương Bảo Bảo nhìn thấy em gái, không khỏi vừa ngạc nhiên vừa vui mừng, y lại không biết Trương Vô Kỵ, nên cau mày nói:

– Hiền muội, muội.. muội..

Triệu Mẫn nói:

– Ca ca, muội bị địch nhân ám toán, cơ thể trúng độc rất nặng, may nhờ Trương công tử đây cứu giúp, nếu không chắc chẳng còn dịp gặp được ca ca hôm nay.

Lộc Trượng Khách ghé tai Vương Bảo Bảo nói nhỏ:

– Tiểu vương gia, gã kia là giáo chủ Minh giáo Trương Vô Kỵ.

Vương Bảo Bảo từng nghe danh Trương Vô Kỵ từ lâu, nghĩ rằng Triệu Mẫn đang bị chàng kiềm chế, uy hiếp bắt nói như vậy, nên y phất tay một cái, Huyền Minh nhị lão liền chia ra hai bên vọt tới cách Trương Vô Kỵ dăm thước, bốn người trong "Thần tiễn bát hùng" thì lắp tên giương cung nhắm vào lưng chàng.

Vương Bảo Bảo nói:

– Trương giáo chủ, các hạ làm chủ một giáo phái, là một hào kiệt thành danh trong võ lâm, vậy mà lại ăn hiếp một thiếu nữ yếu đuối như xá muội, không sợ người của quý giáo chê cười hay sao? Mau mau thả xá muội ra, hôm nay ta sẽ tha chết cho giáo chủ.

Triệu Mẫn nói:

– Ca ca, sao lại nói thế? Trương công tử quả có ơn với muội, sao ca ca lại dùng hai chữ "ăn hiếp"?

Vương Bảo Bảo cho rằng em gái y đúng là đang bị kẻ địch đe dọa, đành phải nói như thế, nên y lớn thở dài nói:

– Trương giáo chủ, ngươi võ công giỏi mấy, song một mình khó địch nổi số đông, hãy mau thả xá muội ra, hôm nay đôi bên coi như không xâm phạm nhau, Vương Bảo Bảo ta nói sao đúng vậy, khỏi cần nghi ngại.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Triệu Mẫn trúng độc rất nặng, nếu theo mình bôn ba ngàn dặm, khó mà trị khỏi; chi bằng để nàng theo anh trai về vương phủ, có các danh y điều trị cho nàng thì hay hơn", bèn nói:

– Triệu cô nương, lệnh huynh muốn đón cô nương về, vậy thì hai ta từ biệt ở đây, chỉ mong cô nương cho biết chỗ của nghĩa phụ ta, để ta tìm cách cứu ra. Hai ta sẽ gặp lại nhau sau vậy.

Nói đến đây chàng bất giác buồn bã, thừa biết hai bên kẻ Hán người Mông, quan dân cách biệt, thù oán quá sâu, lúc biệt ly không khỏi bồi hồi lưu luyến.

Không ngờ Triệu Mẫn nói:

– Muội ngay từ đầu không nói cho chàng biết Tạ đại hiệp đang ở đâu là có thâm ý, muội chỉ bằng lòng dẫn chàng đi tìm, chứ không cho biết chỗ ấy đâu.

Trương Vô Kỵ ngẩn ra, nói:

– Cô nương bị trọng thương chưa khỏi, theo ta đi xa thật bất tiện, cô nương nên theo lệnh huynh về nhà thì hơn.

Triệu Mẫn vẻ mặt quả quyết, nói:

– Nếu chàng bỏ muội xuống thì sẽ không bao giờ biết chỗ của Tạ đại hiệp. Muội càng ngày càng thấy đỡ, đi đường rất dễ chịu, về vương phủ muội buồn chết đi được.

Trương Vô Kỵ nói với Vương Bảo Bảo:

– Nhờ tiểu vương gia khuyên lệnh muội giùm.

Vương Bảo Bảo lấy làm lạ, nhưng hiểu ra, cười khẩy:

– Hừ, ngươi đừng có giả bộ vờ vịt! Tay ngươi đặt vào tử huyệt trên người xá muội, nên nó phải nghe lời ngươi, nói lăng nhăng cho qua chuyện.

Trương Vô Kỵ liền nhảy xuống đất, hai tay cung "Thần tiễn bát hùng" lại ngỡ chàng tập kích Vương Bảo Bảo, bèn phóng hai mũi tên về phía chàng, mũi tên xé gió vút đi. Trương Vô Kỵ sử dụng thần công "Càn khôn đại na di", tay trái hất hai mũi lang nha tiễn bay ngược trở lại, kình phong còn ghê gớm hơn, nghe "cách cách" hai tiếng, làm gãy luôn hai cây cung của chủ nhân, hai người ấy mà không né tránh nhanh thì cũng đã bị thương rồi. Dư thế của hai mũi tên còn mạnh, sau khi cắm thẳng xuống đất, đuôi mũi tên còn rung bần bật. Mọi người ai nấy cả kinh.

Trương Vô Kỵ rời xa Triệu Mẫn rồi, nói:

– Triệu cô nương, cô nương hãy về phủ dưỡng thương đi, mình sẽ tìm cách gặp lại sau.

Triệu Mẫn lắc đầu:

– Ở vương phủ không có ai y đạo cao minh như công tử. Công tử đã làm ơn thì hãy làm cho trót.

Vương Bảo Bảo thấy Trương Vô Kỵ đã rời xa chỗ em gái y, mà Triệu Mẫn cứ đòi đi theo, thì không khỏi kinh ngạc, nhưng lại bực bội, nói với Huyền Minh nhị lão:

– Phiền hai vị bảo hộ xá muội, ta đi thôi!

Huyền Minh nhị lão đáp lời:

– Tuân lệnh!

Rồi đi tới bên ngựa của Triệu Mẫn. Triệu Mẫn nói to:

– Lộc, Hạc hai vị tiên sinh, ta có việc cần đi theo Trương giáo chủ để làm cho xong, đang hiềm thế cô lực nhược, hai vị tiên sinh đi với chúng ta thì tốt.

Lộc Trượng Khách nhìn Vương Bảo Bảo, rồi nói:

– Đại ma đầu của Ma giáo hành sự tà bí, quận chúa không nên qua lại nhiều với y, hãy theo tiểu vương gia về phủ thì hơn.

Đôi lông mày thanh tú của Triệu Mẫn hơi cau lại, nàng nói:

– Hai vị bây giờ chỉ vâng lời ca ca ta, không vâng lời ta nữa hả?

Lộc Trượng Khách cười nịnh, nói:

– Tiểu vương gia chỉ vì muốn ái hộ quận chúa đó thôi.

Triệu Mẫn hừ một tiếng, quay sang Vương Bảo Bảo, nói:

– Ca ca, muội hành tẩu giang hồ, là đã được gia gia cho phép từ lâu, ca ca khỏi cần lo hộ, muội tự lo liệu được. Khi nào ca ca gặp lại gia gia, hãy cho muội gửi lời vấn an.

Vương Bảo Bảo biết cha mình vốn sủng ái em gái y hết mực, vốn không định ép nàng, song nếu để cho nàng một thân một mình đi theo gã giáo chủ thì không thể yên lòng, thấy nàng nằm phục trên yên ngựa, dường như không còn chút hơi sức nào, nhưng lại toan giục ngựa chạy về hướng tây, thì y dang hai tay cản lại, nói:

– Hiền muội, gia gia ở phía sau sắp tới bây giờ, muội hãy chịu khó chờ một chút, bẩm rõ với gia gia rồi đi cũng chưa muộn.

Triệu Mẫn cười nói:

– Gia gia tới thì muội còn đi sao được. Ca ca, muội không xen vào việc của ca ca, ca ca cũng đừng nên xen vào việc của muội.

Vương Bảo Bảo quay sang nhìn kỹ Trương Vô Kỵ, thấy chàng cao lớn, mặt mày anh tuấn, nghe giọng điệu của em gái y, rõ ràng là say mê gã giáo chủ, nghĩ bụng Minh giáo làm loạn, là quân phản nghịch mà triều đình không thể tha thứ, nay em gái y lại bị tên ma đầu này quyến rũ, thật là mối họa không nhỏ, bèn phất tay trái một cái, quát:

– Hãy bắt lấy tên ma đầu kia đã!

Lộc Trượng Khách múa cây gậy sừng hươu, Hạc Bút Ông múa cây bút mỏ hạc thành một vòng hàn quang, hai vòng hắc khí, cùng tấn công Trương Vô Kỵ.

Triệu Mẫn biết rõ sự lợi hại của Huyền Minh nhị lão, Trương Vô Kỵ võ công tuy cao, nhưng lấy một địch hai, trong tay lại không có binh khí, sợ chàng bị thương, bèn kêu lên:

– Huyền Minh nhị lão, hai vị mà đả thương Trương giáo chủ, ta sẽ bẩm với cha ta, không tha cho các vị đâu.

Vương Bảo Bảo giận dữ nói:

– Loạn thần tặc tử, ai ai cũng có quyền tru diệt. Huyền Minh nhị lão, hai vị giết được tên ma đầu kia, phụ vương và ta đều sẽ trọng thưởng.

Y ngừng lời một chút, rồi nói tiếp:

– Lộc tiên sinh, tiểu vương sẽ tặng tiên sinh thêm bốn mỹ nữ, tiên sinh chắc chắn sẽ vừa lòng.

Hai anh em, một kẻ bảo phải giết, một người bảo không được đả thương, khiến Huyền Minh nhị lão lúng túng khó nghĩ. Lộc Trượng Khách quay sang nháy mắt với sư đệ, nói nhỏ:

– Bắt sống nó!

Trương Vô Kỵ đột nhiên sử dụng công phu thánh hỏa lệnh, nửa thân trên hơi nghiêng, tay phải vòng qua, chuyển phương vị một cách kỳ diệu, chỉ nghe bốp một tiếng, Lộc Trượng Khách bị một cái tát tai rất mạnh, Trương Vô Kỵ quát:

– Ngươi thử bắt ta coi!

Lộc Trượng Khách bất ngờ bị đòn nặng, vừa sợ vừa giận, nhưng lão thuộc loại đệ nhất cao thủ, tâm thần không loạn, múa tít cây gậy sừng hươu khiến cho mưa không lọt, gió không qua. Trương Vô Kỵ muốn đánh lén thêm một đòn nữa cũng chưa có cách gì.

Triệu Mẫn giục cương cho ngựa chạy đi. Vương Bảo Bảo quất roi vút một cái, đánh trúng vào mắt trái con ngựa nàng cưỡi. Con vật đau quá, hí một tiếng dài, chân trước chồm lên. Triệu Mẫn bị thương sức yếu, suýt nữa thì bị hất từ trên yên xuống đất, nàng tức giận nói:

– Ca ca, ca ca nhất định ngăn cản muội phải không?

Vương Bảo Bảo nói:

– Hiền muội, muội nghe lời ta đi, về nhà rồi ta sẽ tạ tội với muội.

Triệu Mẫn nói:

– Ca ca, nếu ca ca nhất định ngăn cản muội, thì hẳn sẽ có một người phải bỏ mạng tại đây. Trương giáo chủ từ nay sẽ hận muội thấu xương, muội.. muội chẳng còn thiết sống nữa.

Vương Bảo Bảo nói:

– Muội nói vậy là sao? Ở phủ Nhữ Dương Vương thiếu gì cao thủ, họ sẽ bảo hộ muội chu toàn. Tên ma đầu kia đừng nói việc xuất thủ làm hại muội, ngay hắn có muốn gặp mặt muội cũng chẳng được.

Triệu Mẫn thở dài:

– Muội chính vì sợ không còn được gặp chàng ta, mà muội.. không thiết sống nữa.

Huynh muội hai người bao lâu nay hết mực thương yêu, chuyện gì cũng kể với nhau. Triệu Mẫn lúc này trong lúc gấp gáp chẳng còn giấu giếm gì nữa, nói thẳng ra tấm tình của mình đối với Trương Vô Kỵ.

Vương Bảo Bảo giận nói:

– Muội thật hồ đồ. Muội là người của vương tộc Mông Cổ, đường đường kim chi ngọc diệp, làm sao có thể sánh đôi với gã cẩu tặc mọi rợ kia được? Để gia gia biết chuyện, chẳng hóa ra làm cho gia gia tức chết đi sao?

Y vẫy tay trái một cái, lại thêm ba hảo thủ tiến lên giáp công. Trương Vô Kỵ và Huyền Minh nhị lão lúc này đang vận thần công, nội kình phóng ra trong vòng mấy trượng hết sức hung hiểm, ba hảo thủ kia làm sao xen vào được?

Triệu Mẫn gọi:

– Trương công tử, chàng muốn cứu nghĩa phụ, hãy cứu muội trước!

Vương Bảo Bảo thấy em gái không hề chuyển ý, thì sốt ruột, ôm luôn lấy nàng đặt lên lưng ngựa, dùng hai chân mình kẹp giữ, toan phóng ngựa đi. Võ công của Triệu Mẫn vốn cao hơn anh trai, nhưng sau khi bị thương mất hết khí lực, đành chỉ há miệng kêu to:

– Trương công tử cứu muội, Trương công tử cứu muội với!

Trương Vô Kỵ vù vù đánh ra hai chưởng, sử đến mười thành kình lực, buộc Huyền Minh nhị lão thoái lui ba bước, rồi chàng thi triển khinh công đuổi theo ngựa của Vương Bảo Bảo. Huyền Minh nhị lão và ba hảo thủ cả kinh, vội đuổi theo sau. Trương Vô Kỵ đợi năm người đó tới gần, liền đánh ngược về phía sau mấy chưởng, uy lực của "Cửu dương thần công" thật lợi hại, mỗi chưởng của chàng đánh ra, Huyền Minh nhị lão đều phải tránh né, không dám đối địch. Sau ba lần như thế, Trương Vô Kỵ đuổi kịp con ngựa, tung mình nhảy lên, túm lấy gáy Vương Bảo Bảo. Trảo này ngầm chứa thủ pháp điểm huyệt, khiến Vương Bảo Bảo cảm thấy nửa thân trên tê dại, hai tay phải buông Triệu Mẫn, thân hình bị Trương Vô Kỵ nhấc bổng lên, ném về phía Lộc Trượng Khách. Lộc Trượng Khách vội đưa tay đón lấy, thì Trương Vô Kỵ đã ôm Triệu Mẫn rời khỏi lưng ngựa, chạy bộ lên triền núi bên trái.

Hạc Bút Ông và các hảo thủ còn lại cùng la lối đuổi theo. Ngọn núi này cao mấy trăm trượng, đuổi chạy lên cao là một cách thi tài khinh công. Huyền Minh nhị lão nội lực tuy cao cường, khinh công lại không phải hạng nhất, thành thử bốn người kia chạy vượt lên trước Hạc Bút Ông và Lộc Trượng Khách. Trương Vô Kỵ nhặt mấy cục đá liên tiếp ném xuống, lập tức có người trúng phải, gãy xương lăn xuống sườn núi. Những người còn lại thầm kinh hãi, nhưng vì có mặt tiểu vương gia, nên không dám dừng chân, nhưng cũng đã chạy chậm lại.

Họ thấy Trương Vô Kỵ ôm Triệu Mẫn chạy càng lúc càng lên cao, không còn cách nào đuổi kịp. Vương Bảo Bảo lớn tiếng chửi bới, quát:

– Bắn tên, bắn tên!

Chính y cũng giương cung, nhắm sau lưng Trương Vô Kỵ phóng tên đi, cung lực của y cực mạnh, nhưng vì khoảng cách quá xa, mũi tên còn cách chàng cả trượng đã rơi xuống đất.

*

* *

Triệu Mẫn ôm cổ Trương Vô Kỵ, thấy bọn kia không thể đuổi kịp nữa, mới yên tâm, thở dài nói:

– Cũng may muội khôn ngoan, không nói cho chàng biết nơi chốn của Tạ đại hiệp, bằng không cái tay tiểu ma đầu vô lương tâm này đã chẳng hết lòng cứu muội.

Trương Vô Kỵ đi vòng sang một thung lũng, chân không chậm lại chút nào, nói:

– Cô nương nghe lời ta, về phủ dưỡng thương, có phải tốt đẹp cả không? Tội gì vừa đắc tội với huynh trưởng, lại vừa khổ sở vì đi theo ta?

Triệu Mẫn nói:

– Muội đã quyết ý theo chàng chịu khổ, còn huynh trưởng thì sớm muộn gì cũng phải đắc tội thôi. Muội chỉ sợ chàng không cho muội đi theo, còn mọi thứ khác muội đều không cần.

Trương Vô Kỵ tuy biết nàng rất tốt đối với chàng, song có lúc chàng nghĩ đó chẳng qua chỉ là thứ tình cảm của thiếu nữ mới lớn, nhất thời ý động; nào ngờ nàng lại vứt bỏ hết mọi vinh hoa phú quý, có mối thâm tình như vậy. Chàng cúi xuống, thấy khuôn mặt xanh xao tiều tụy lộ đầy tình ý, ánh mắt long lanh, thật không còn gì âu yếm hơn, chàng không nhịn nổi liền hôn lên đôi môi run run của nàng.

Nụ hôn ấy khiến đôi má Triệu Mẫn hồng lên, nàng xúc động, lại ngất đi. Trương Vô Kỵ hiểu rõ y lý, biết là không có gì nguy hiểm, trong lòng càng thêm cảm kích, đột nhiên nghĩ thầm: "Chỉ Nhược đối với ta làm sao tốt được như thế này!"

Triệu Mẫn ngất đi một hồi, tỉnh lại, thấy chàng đang mải nghĩ, bèn hỏi:

– Chàng nghĩ gì vậy? Chắc là nghĩ đến Chu cô nương phải không?

Trương Vô Kỵ cũng chẳng cần giấu, gật đầu, nói:

– Ta nghĩ mình quả thật có điều không phải với nàng ta.

Triệu Mẫn hỏi:

– Chàng có hối hận không?

Trương Vô Kỵ nói:

– Lúc ta bái đường thành thân cùng nàng ta, nghĩ đến cô nương thì không khỏi đau lòng; còn bây giờ nghĩ đến nàng ta, ta lại thấy nàng tội nghiệp.

Triệu Mẫn mỉm cười, nói:

– Như thế là trong lòng chàng yêu muội nhiều hơn, phải không nào?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Thú thật, đối với cô nương, ta vừa yêu vừa hận; còn đối với Chu Chỉ Nhược, thì ta vừa kính vừa sợ.

Triệu Mẫn cười nói:

– Muội chỉ muốn chàng đối với muội vừa yêu vừa sợ, còn đối với nàng ta thì vừa kính vừa hận.

Trương Vô Kỵ cười nói:

– Hiện thời lại khác rồi, ta đối với cô nương vừa hận vừa sợ, hận vì cô nương phá đám, cản trở mối lương duyên của ta; sợ vì lo cô nương không chịu đền cho ta.

Triệu Mẫn hỏi:

– Đền cái gì?

Trương Vô Kỵ cười đáp:

– Hôm nay cô nương phải đem thân ra thay, đền cho ta một đêm động phòng hoa chúc.

Triệu Mẫn đỏ bừng cả mặt, vội nói:

– Không, chưa được đâu! Phải để muội thưa chuyện với cha muội.. chờ muội nói rõ với anh trai muội, rồi hãy.. rồi mới..

Trương Vô Kỵ nói:

– Nhỡ phụ thân cô nương nhất định không chịu thì sao?

Triệu Mẫn thở dài:

– Nếu thế thì muội đành phải.. trốn theo gã tiểu ma đầu, làm tiểu ma bà, chứ biết làm sao.

Trương Vô Kỵ giả bộ nghiêm mặt, quát:

– Yêu nữ thật to gan, dám theo tên dâm tặc Trương Vô Kỵ tạo phản làm loạn, đáng phạt tội gì?

Triệu Mẫn cũng giả bộ nghiêm trang, nói:

– Phạt hai đứa bay khi ở trên thế gian thì làm một cặp vợ chồng sung sướng đến đầu bạc răng long, nhưng chết đi sẽ phải xuống mười tám tầng địa ngục, vạn kiếp không được siêu sinh.

Hai người nói đến đây cùng phá lên cười ha hả.

*

* *

Bỗng nghe phía trước có tiếng người dõng dạc nói:

– Quận chúa nương nương, tiểu tăng cung kính chờ ở đây đã lâu.

Chỉ thấy từ sau núi bước ra hơn hai chục phiên tăng, tất cả đều mặc áo bào màu đỏ. Trương Vô Kỵ nhận ra một số phiên tăng này là bọn đêm nọ ở chùa Vạn An đã ra tay ngăn chặn chàng, võ công của họ rất cao cường, may nhờ Vi Nhất Tiếu đến phủ Nhữ Dương Vương phóng hỏa, mới dụ được họ tản đi, nếu không khó lòng cứu thoát quần hào của sáu đại môn phái.

Gã phiên tăng đi đầu chắp tay hành lễ, cúi mình nói:

– Tiểu tăng phụng mệnh vương gia tới đón quận chúa về phủ.

Triệu Mẫn hỏi:

– Các ngươi ở đây làm gì?

Gã phiên tăng ấy đáp:

– Quận chúa bị thương, vương gia vô cùng lo lắng, sai tiểu tăng nghênh tiếp phương giá của quận chúa.

Nói xong gã giơ con chim câu trắng đang cầm trong tay. Triệu Mẫn biết là anh trai nàng đã dùng chim câu truyền tin cho phụ thân nàng, để ông sai bọn phiên tăng ngăn chặn, bèn hỏi:

– Cha ta hiện ở đâu?

Gã phiên tăng đáp:

– Vương gia đang ở dưới chân núi đón chờ, rất nóng lòng muốn biết quận chúa bị thương nặng nhẹ thế nào.

Trương Vô Kỵ biết nói thêm cũng chỉ vô ích, bèn hùng dũng xông tới, quát:

– Muốn sống mau tránh đường, nếu không đừng trách ta ra tay không nể nang.

Hai gã phiên tăng kề vai tiến lên một bước, mỗi gã đều giơ hữu chưởng lên trước ngực mà đẩy ra. Trương Vô Kỵ dùng tay trái dẫn đẩy chưởng lực của hai gã đó ngược trở lại.

Hai gã phiên tăng cùng kêu lên:

– A mễ a mễ hống, A mễ a mễ hống!

Nghe như câu niệm chú hoặc như một câu chửi rủa. Triệu Mẫn cũng không chịu kém, kêu to:

– Ngươi mới là A mễ a mễ hống!

Hai gã phiên tăng phải thối lui liền ba bước, hai phiên tăng ở phía sau liền giơ lòng bàn tay phải đỡ vào lưng hai gã đầu, đẩy chúng về phía trước. Hai gã phiên tăng ở phía trước vẫn không đổi chiêu, tiếp tục dùng "Bài sơn chưởng" đẩy ra. Trương Vô Kỵ không muốn dùng ngạnh công chống chọi với họ để khỏi hao phí chân lực; mà sử dụng tâm pháp "Càn khôn đại na di" hóa giải kình lực của hai phiên tăng, ngờ đâu ngón tay chàng vừa chạm mép bàn tay họ thì như sắt gặp nam châm, liền bị dính chặt vào tay họ. Hai gã phiên tăng lại kêu:

– A mễ a mễ hống! A mễ a mễ hống!

Trương Vô Kỵ giựt tay ra hai lần không thoát, đành vận "Cửu dương thần công" phản kích.

Song lần này chàng không đẩy hai phiên tăng ra; chỉ thấy hai mươi hai phiên tăng khác phía sau xếp thành hai hàng, mỗi gã đều giơ hữu chưởng đặt vào lưng gã đằng trước. Hai mươi tư phiên tăng xếp thành hai hàng. Trương Vô Kỵ chợt nhớ lại: "Từng nghe thái sư phụ kể rằng ở Thiên Trúc có môn võ gọi là" Tính thể liên công "; hai mươi tư phiên tăng này hợp lực đối chưởng với ta, nội lực của ta dẫu mạnh đến mấy, cũng không thể địch nổi hợp lực của chúng".

Chàng sợ còn có thêm truy binh khác đuổi tới, bèn hú lên một tiếng, tăng thêm ba thành kình lực vào tay, đột nhiên đẩy xéo sang một bên, thân hình né qua bên trái, khiến cho lực đạo của hai mươi tư phiên tăng không còn đẩy thành một đường thẳng nữa; sáu phiên tăng đằng trước không kịp giữ chân lại, thân hình đổ nhào về phía trước. Trương Vô Kỵ hai tay liên tiếp đánh ra, bốp bốp liền sáu tiếng, cả sáu gã đều ngã xuống đất, mồm hộc máu. Vậy mà hai tên phiên tăng thứ bảy, thứ tám còn xông tới múa chưởng đánh ra.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Bộ các ngươi muốn chết cả sao?" Hữu chưởng liền đẩy ra chống lại hai chưởng của hai phiên tăng kia, vận sức một chút, đang định đẩy xéo đi, bỗng nghe tiếng chân bước rất nhẹ tới phía sau, có kẻ đã vung chưởng đánh tới. Chàng dùng tay trái phẩy ngược ra đằng sau, định hóa giải chưởng lực của địch, thế nhưng tâm pháp "Càn khôn đại na di" của chàng hoàn toàn lấy "Cửu dương thần công" làm gốc, lúc này bao nhiêu hơi sức chàng đều dồn ra đối phó với hợp lực của hai mươi tư phiên tăng; nên chưởng đánh về sau chỉ bằng hai thành lúc bình thường. Chỉ cảm thấy một luồng khí âm hàn từ bàn tay trái chạy lên, toàn thân lập tức run rẩy, người lảo đảo, ngã xuống. Thì ra đó là Lộc Trượng Khách vừa dùng Huyền Minh thần chưởng đánh lén chàng.

Triệu Mẫn kinh hoàng kêu lên:

– Lộc tiên sinh, dừng tay!

Nàng nhào tới, lấy thân mình che cho Trương Vô Kỵ, quát to:

– Còn kẻ nào dám động thủ nữa thì bảo?

Lộc Trượng Khách đang định giáng thêm một chưởng để lấy mạng kình địch số một trên đời, nhưng thấy quận chúa che đỡ như thế, đành phải lui ra. Lão hú một tiếng dài, báo tin đã chiến thắng, gọi đồng bọn mau tới, rồi nói:

– Quận chúa nương nương, vương gia chỉ mong quận chúa về phủ, chứ không có ý gì khác. Tên này là kẻ phản nghịch hết sức ghê gớm, sao quận chúa lại phải khổ như vậy?

Triệu Mẫn đau đớn, chỉ muốn chửi mắng lão ta một phen, nhưng nghĩ lại, nếu làm cho lão ta tức giận, lão ta có thể giết chết Trương Vô Kỵ, nàng bèn cố nhịn, bậm môi đỡ chàng dậy.

Lát sau, có tiếng nhạc ngựa vang lên, có ba người cưỡi ngựa từ sơn đạo chạy tới, một người là Hạc Bút Ông, một người là Vương Bảo Bảo, người cuối cùng chính là Nhữ Dương Vương thân chinh tới xem xét. Ba người tới nơi, nhảy xuống ngựa, Nhữ Dương Vương cau mày, hỏi:

– Triệu Mẫn, con sao thế? Cớ gì không vâng lời anh con, lại ở đây quấy rối là thế nào?

Triệu Mẫn rưng rưng nước mắt, nói:

– Cha, sao cha lại để cho kẻ khác hiếp đáp con như vậy?

Nhữ Dương Vương bước tới vài bước, giơ tay định kéo nàng, thì Triệu Mẫn đã thò tay vào bọc rút ra một con dao găm sáng loáng, chĩa vào ngực, nói:

– Cha, nếu cha không đáp lời con, thì hôm nay con đành chết trước mặt cha.

Nhữ Dương Vương hoảng hốt lùi lại hai bước, run giọng hỏi:

– Ấy, có gì cứ nói, chứ đừng làm thế! Con.. con muốn gì nào?

Triệu Mẫn kéo áo, gỡ băng vải ở vai phải, để lộ năm lỗ ngón tay, lúc này chất độc đã hết, nhưng vết thương chưa lành, máu thịt bầy nhầy trông mà ghê. Nhữ Dương Vương thấy vết thương nặng như thế, xót xa thương con, cứ luôn miệng hỏi:

– Trời ơi, sao đến nỗi thế? Sao con bị thương thế này?

Triệu Mẫn chỉ Lộc Trượng Khách, nói:

– Gã đó có dã tâm, gã muốn gian dâm nữ nhi, con thà chết không chịu. Gã.. gã.. liền chộp vào con như thế đấy, xin cha.. cha phân xử cho.

Lộc Trượng Khách sợ hết hồn, vội nói:

– Tiểu nhân to gan đến mấy cũng không dám, làm sao.. sao có chuyện đó được?

Nhữ Dương Vương quắc mắt nhìn lão ta, hừ một tiếng, nói:

– Ngươi quả là lớn mật! Chuyện Hàn cơ, ta đã rộng lượng không tra cứu, bây giờ ngươi lại dám mạo phạm con gái ta. Bắt lấy hắn!

Lúc này các võ sĩ theo hầu Nhữ Dương Vương đã tới đủ, nghe vương gia hạ lệnh bắt người, tuy biết Lộc Trượng Khách võ công lợi hại, song cũng có bốn võ sĩ xông lên. Lộc Trượng Khách vừa hoảng vừa tức, nghĩ bụng: "Cha con người ta cốt nhục tình thâm, quận chúa giận mình đả thương tình lang của nàng ta, nên vu vạ cho mình. Cổ nhân có câu" Sơ bất gián thân "[127] ; quận chúa lại ngụy kế đa đoan, mình cãi lại sao nổi?" Bèn vung chưởng đẩy lùi bốn vệ sĩ, thở dài, nói:

– Sư đệ, mình đi thôi!

Hạc Bút Ông còn chần chừ, Triệu Mẫn liền nói:

– Hạc tiên sinh, tiên sinh là người tốt, không phải hạng hiếu sắc như sư huynh, hãy mau bắt sư huynh lại, cha ta sẽ thăng chức cho tiên sinh làm đại quan, trọng thưởng thật hậu.

Huyền Minh nhị lão võ công trác tuyệt, chỉ vì ham lợi lộc công danh mà chịu đầu thân đệ nhất cao thủ của mình vào vương phủ cho người ta sai khiến. Hạc Bút Ông vốn biết sư huynh tham dâm hiếu sắc, nghe Triệu Mẫn nói cũng tin đến bảy, tám phần; việc thăng thưởng quan tước cũng khiến lão động tâm, có điều lão với Lộc Trượng Khách là đồng môn chí thân, nên không nỡ ra tay, nhất thời còn do dự.

Lộc Trượng Khách tái mặt, run run nói:

– Sư đệ, nếu muốn thăng quan phát tài, thì cứ đến bắt ta đi!

Hạc Bút Ông thở dài:

– Sư ca, thôi mình đi vậy!

Đoạn sánh vai cùng Lộc Trượng Khách mà đi.

Huyền Minh nhị lão uy chấn kinh sư, các võ sĩ trong phủ Nhữ Dương Vương coi họ như người nhà trời, ai dám đứng ra ngăn cản? Nhữ Dương Vương liên tiếp quát tháo, song các võ sĩ chỉ hư trương thanh thế, giả bộ hùng hổ, đành để Huyền Minh nhị lão đi xuống núi.

Nhữ Dương Vương nói:

– Mẫn Mẫn, con đã bị thương, mau theo cha về để chữa trị.

Triệu Mẫn chỉ Trương Vô Kỵ nói:

– Vị công tử này thấy Lộc Trượng Khách ăn hiếp con nên bất bình, ra tay cứu giúp, ca ca không rõ nguồn cơn, lại bảo chàng là quân phản tặc đại nghịch. Cha ơi, con có một việc hệ trọng cần theo Trương công tử đi làm, bao giờ xong con sẽ cùng chàng quay về bái kiến cha.

Nhữ Dương Vương nghe nàng nói, thấy ý nàng muốn sánh duyên với gã trai kia, nghe con trai ông nói, thì gã là giáo chủ Minh giáo. Phen này ông rời kinh đô xuống phương nam cũng là để điều binh khiển tướng đối phó với bọn phản tặc Minh giáo suốt một dải Hoài Tứ, Dự Ngạc, lẽ nào lại để cho con gái đi theo gã kia. Ông bèn hỏi:

– Anh con bảo người này là giáo chủ Ma giáo, chẳng lẽ không phải thế?

Triệu Mẫn đáp:

– Anh con nói đùa đấy. Cha xem, chàng ta được bao nhiêu tuổi mà có thể cầm đầu bọn phản tặc?

Nhữ Dương Vương nhìn kỹ Trương Vô Kỵ, thấy chàng chỉ độ hăm mốt, hăm hai tuổi, sau khi bị thương mặt mày tiều tụy, không có vẻ gì là anh tuấn siêu quần, càng không giống một người thống lĩnh mấy chục vạn quân. Nhưng ông biết con gái mình giảo hoạt, túc trí đa mưu, lại nghĩ Minh giáo là họa lớn của quốc gia, nếu gã trai kia không phải là giáo chủ, ắt cũng là một nhân vật trọng yếu của Ma giáo, không thể thả đi được, bèn nói:

– Cứ đưa y vào thành, rồi tra xét sau. Nếu y không phải kẻ theo Ma giáo, ta sẽ còn ban thưởng cho y.

Ông nói vậy đã là giữ thể diện cho con gái, cốt để nàng không thể làm nũng trước mặt mọi người.

Bốn tên võ sĩ vâng lệnh tới gần. Triệu Mẫn khóc, nói:

– Cha, cha quả thật định bức tử con hay sao?

Nói rồi ấn luôn mũi dao vào ngực đến nửa tấc, máu tươi lập tức thấm đỏ một mảng áo. Nhữ Dương Vương sợ hãi, nói:

– Mẫn Mẫn, không được làm bậy!

Triệu Mẫn lại khóc, nói:

– Cha ơi, đứa con gái bất hiếu của cha đã lén làm vợ Trương công tử. Cha cứ coi như không có đứa con này mà tha cho con đi. Bằng không thì con đành chết ngay trước mặt cha cho xong.

Nhữ Dương Vương tay trái cứ vò vò hàm râu, trên trán lấm tấm mồ hôi lạnh. Ông điều binh khiển tướng, giữa trận tiền xông pha chỉ một lời đã quyết, vậy mà hôm nay gặp phải chuyện khó xử của đứa con gái yêu, ông lại đành bó tay.

Vương Bảo Bảo nói:

– Hiền muội, muội và Trương công tử đều bị thương, cứ tạm theo cha về phủ, gọi danh y chữa trị, sau đó cha sẽ chủ trì hôn phối cho muội. Cha có được một chàng con rể tài ba, huynh cũng có một đứa em rể anh hùng, còn gì tốt bằng?

Vương Bảo Bảo nói thật ngọt ngào, nhưng Triệu Mẫn thừa biết đó chỉ là kế hoãn binh. Trương Vô Kỵ mà rơi vào tay Vương Bảo Bảo, còn gì mạng sống, chỉ phút chốc sẽ bị đem ra xử tử liền. Nàng bèn nói:

– Cha ơi, sự đã rồi, con lấy ai thì phải theo chồng, dù sống hay chết, con cũng sẽ theo Trương công tử. Cha và anh có mưu kế gì đều không giấu được con đâu, chỉ uổng công mà thôi. Hiện tại chỉ có hai đường, nếu cha chịu tha mạng cho con, thì con được nhờ; còn nếu cha muốn con chết, thì quá dễ, cha khỏi phí hơi sức.

Nhữ Dương Vương tức giận nói:

– Mẫn Mẫn, con nên suy nghĩ cho kỹ. Nếu con đi theo tên phản tặc kia, từ rày sẽ không còn là con ta nữa.

Triệu Mẫn lòng đau như cắt, thực không thể nào bỏ cha và anh, nghĩ bình thời phụ huynh vẫn cưng chiều nàng biết chừng nào. Nhưng chỉ cần nàng chần chừ, thì tính mạng Trương Vô Kỵ khó toàn, hiện thời phải cứu tình lang trước, ngày sau sẽ xin cha anh lượng thứ, bèn nói:

– Gia gia, ca ca, tất cả đều là do Mẫn Mẫn không ra gì, cha.. cha và anh hãy tha tội cho.

Nhữ Dương Vương thấy con gái không đổi ý, ân hận là mọi khi nuông chiều nàng quá đỗi, để cho nàng tùy tiện hành tẩu giang hồ, nên mới đến cơ sự này. Ông cũng biết tính nàng bướng bỉnh từ nhỏ, nếu như ép buộc, ắt nàng sẽ tự đâm vào ngực mà chết, ông đành thở dài não nuột, ứa nước mắt, nghẹn ngào nói:

– Mẫn Mẫn, nhớ bảo trọng, cha đi đây.. con.. con phải cố giữ gìn.

Triệu Mẫn gật đầu, không dám nhìn cha thêm nữa.

Nhữ Dương Vương quay người chậm rãi đi xuống núi. Tả hữu dắt ngựa lại, ông làm như không thấy, không nhảy lên ngựa, đi bộ hơn chục trượng rồi, ông đột nhiên quay lại hỏi:

– Mẫn Mẫn, vết thương của con không sao chứ? Trong người có mang tiền không?

Triệu Mẫn nuốt lệ gật đầu.

Nhữ Dương Vương nói với tả hữu:

– Đem hai con ngựa của ta cho quận chúa.

Vệ sĩ vâng lệnh, dắt ngựa lại chỗ Triệu Mẫn, rồi đi theo Nhữ Dương Vương xuống núi. Sáu gã phiên tăng ngã gục dưới đất, không thể tự đứng dậy nổi; bọn phiên tăng còn lại phải hai người đỡ một gã, dìu nhau đi xuống sau.

Chẳng mấy chốc, ai nấy đã đi cả, chỉ còn lại Trương Vô Kỵ và Triệu Mẫn mà thôi.

Comments

Comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 35: Đại hội anh hùng giết Sư Vương

Chưởng của Lộc Trượng Khách đánh lén Trương Vô Kỵ đúng vào lúc chàng phải dùng toàn lực chống hợp lực của mười tám gã phiên tăng ở trước mặt, thành thử sau lưng không có thần công hộ thể che chở, Huyền Minh hàn độc xâm nhập vào cơ thể, khiến chàng thụ thương không nhẹ. Chàng bèn ngồi xếp bằng, vận chuyển "Cửu dương chân khí" ba vòng trong người, rồi thổ ra hai ngụm máu bầm, mới thấy đỡ tức ngực, mở mắt ra, chỉ thấy Triệu Mẫn đang nhìn chàng với vẻ mặt hết sức lo lắng.

Trương Vô Kỵ dịu dàng nói:

– Triệu cô nương, phen này cô nương phải khổ lây.

Triệu Mẫn nói:

– Đến lúc này mà chàng vẫn cứ gọi thiếp là Triệu cô nương ư? Thiếp đã không còn là người của triều đình, không còn là quận chúa nữa, chàng.. trong lòng chàng vẫn cứ coi thiếp là tiểu yêu nữ hay sao?

Trương Vô Kỵ thong thả đứng dậy, nói:

– Ta hỏi cô nương một câu, cô nương hãy nói thực cho ta biết, vết kiếm trên mặt biểu muội Ân Ly của ta có phải do cô nương rạch hay không?

Triệu Mẫn đáp:

– Không phải.

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Vậy thì ai đã hạ độc thủ?

Triệu Mẫn đáp:

– Thiếp không thể nói cho chàng biết. Khi nào chàng gặp Tạ đại hiệp, ông ấy sẽ nói rõ sự việc với chàng.

Trương Vô Kỵ lấy làm lạ, hỏi:

– Nghĩa phụ ta biết rõ ư?

Triệu Mẫn đáp:

– Nội thương của chàng chưa khỏi, hỏi nhiều không lợi đâu. Thiếp chỉ nói với chàng thế này, giả dụ chàng tìm rõ ngọn ngành, Ân cô nương mà đúng là do thiếp sát hại, thì chàng khỏi cần ra tay, thiếp sẽ lập tức tự vẫn đền tội trước mặt chàng.

Trương Vô Kỵ nghe nàng nói như chém đinh chặt sắt, không thể không tin; chàng ngẫm nghĩ một hồi, nói:

– Chắc trên thuyền của Minh giáo Ba Tư có cao thủ mai phục, nửa đêm thi triển tà thuật, xông thuốc cho bọn mình mê đi, rồi hại biểu muội ta, đánh cắp kiếm Ỷ Thiên và thanh đao Đồ Long. Sau khi cứu nghĩa phụ, ta phải sang Ba Tư một chuyến, hỏi Tiểu Chiêu cho rõ ràng.

Triệu Mẫn bĩu môi cười, nói:

– Chắc chàng nhớ Tiểu Chiêu nên tìm cớ đi gặp chứ gì? Thiếp khuyên chàng không nên nghĩ ngợi vẩn vơ, chú tâm dưỡng thương là hơn; chúng ta phải mau đến Thiếu Lâm tự, đó mới là việc chính.

Trương Vô Kỵ lấy làm lạ, hỏi:

– Đến Thiếu Lâm tự làm gì?

Triệu Mẫn đáp:

– Để cứu Tạ đại hiệp.

Trương Vô Kỵ càng kinh ngạc hơn:

– Nghĩa phụ ta đang ở chùa Thiếu Lâm ư? Tại sao lại ở chùa Thiếu Lâm?

Triệu Mẫn đáp:

– Nguyên do bên trong thế nào, thiếp không biết rõ, nhưng Tạ đại hiệp đang ở Thiếu Lâm tự là điều chắc chắn. Thiếp nói cho chàng biết, thuộc hạ của thiếp có một người xuất gia ở Thiếu Lâm tự, chính y đã xả thân mang tin đó về cho thiếp.

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Tại sao lại phải xả thân?

Triệu Mẫn đáp:

– Thì người ấy muốn chứng minh với thiếp, nên đã tìm cách cắt một lọn tóc của Tạ đại hiệp, mà

Thiếu Lâm tự thì canh giữ Tạ đại hiệp vô cùng nghiêm mật. Người ấy sau khi lấy được lọn tóc, rời khỏi chùa thì bị phát giác, bị trúng hai chưởng, cố mang lọn tóc về trao cho thiếp, rồi chết.

Trương Vô Kỵ thốt lên:

– Ôi, lợi hại thay!

Ba tiếng "lợi hại thay" không biết là chàng khen thủ đoạn của Triệu Mẫn hay là nói về cục diện hung hiểm. Sự buồn phiền trong lòng khiến nội tức nhộn nhạo, chàng không nhịn được, lại thổ ra một ngụm máu.

Triệu Mẫn vội nói:

– Biết chàng bị thương nặng, lại dễ kích động thế này, thì thiếp chẳng nên nói với chàng mới phải.

Trương Vô Kỵ ngồi xuống đất, tựa lưng vào một tảng đá, cố trấn tĩnh để điều hòa hơi thở, nhưng ý nghĩ vẫn rối bời, nói:

– Không Kiến thần tăng của phái Thiếu Lâm bị nghĩa phụ ta dùng "Thất Thương quyền" đánh chết. Tăng tục chùa Thiếu Lâm hơn hai chục năm nay thề trả mối thù đó; huống hồ lão Thành Côn lại xuất gia ở Thiếu Lâm tự. Nghĩa phụ ta rơi vào tay bọn họ, làm sao sống nổi?

Triệu Mẫn nói:

– Chàng đừng quá lo, có một thứ cứu được Tạ đại hiệp.

Trương Vô Kỵ vội hỏi:

– Thứ gì vậy?

Triệu Mẫn đáp:

– Thanh đao Đồ Long.

Trương Vô Kỵ nghĩ một chút, hiểu ra ngay. Thanh đao Đồ Long được thiên hạ gọi là "võ lâm chí tôn", phái Thiếu Lâm mấy trăm năm nay đứng đầu võ lâm, phải chiếm được thanh bảo đao ấy mới cam lòng. Muốn có đao, họ chưa thể giết ngay Tạ Tốn, nhưng việc hành hạ thì khó tránh khỏi.

Triệu Mẫn nói tiếp:

– Thiếp cho rằng việc cứu Tạ đại hiệp chỉ nên hai chúng mình bí mật ra tay là hơn. Anh hùng của Minh giáo tuy đông thật, nhưng nếu kéo cả lên tấn công Thiếu Lâm tự, thì hai bên sẽ đều tổn thất nặng nề. Khi phái Thiếu Lâm thấy không chống đỡ nổi đòn tấn công của Minh giáo, không giữ nổi Tạ đại hiệp, không chừng họ sẽ sát hại ông ấy cũng nên.

Trương Vô Kỵ thấy nàng suy tính chu đáo, cảm kích nói:

– Mẫn muội, muội nói đúng lắm.

Triệu Mẫn lần đầu tiên được chàng gọi bằng "Mẫn muội" thì vô cùng sung sướng, nhưng chợt nhớ đến công ơn của cha mẹ, tình nghĩa anh em từ nay đã chẳng còn, thì không khỏi ngậm ngùi.

Trương Vô Kỵ đoán được tâm sự của nàng, song cũng không an ủi, chỉ nghĩ thầm: "Nàng từ đây đem thân phó thác cho ta, ta chưa biết phải làm sao đền đáp mối thâm tình hậu ý của nàng. Chu Chỉ Nhược và ta đã có ước định hôn nhân, ta làm sao có thể phụ nàng ta kia chứ? Ôi, trước mắt việc làm sao cứu nghĩa phụ là hệ trọng, còn tình nhi nữ hãy tạm gác một bên". Chàng gượng đứng lên, nói:

– Chúng mình đi thôi!

Triệu Mẫn thấy Vô Kỵ mặt mày nhợt nhạt, biết chàng bị thương nặng, nhíu mày ngẫm nghĩ, nói:

– Cha thiếp thương và chiều thiếp, không có gì đáng ngại. Chỉ sợ ca ca không chịu bỏ qua. Trong vòng vài canh giờ, thể nào anh ấy cũng tìm cách rời phụ thân, sai người đi bắt hai đứa mình về.

Trương Vô Kỵ gật đầu, nghĩ Vương Bảo Bảo hành sự quả quyết, là một nhân vật cực kỳ lợi hại, xem chừng y sẽ không chịu dễ dàng buông xuôi như thế; hiện tại cả hai đang bị trọng thương, nếu đi đến Thiếu Lâm tự ở phía tây, hẳn đường sá gian nan, nhất thời chưa biết tính sao. Triệu Mẫn nói:

– Mình phải mau mau rời khỏi chốn nguy hiểm này, xuống chân núi rồi sẽ định hướng đi.

Trương Vô Kỵ gật đầu, loạng choạng đi dắt ngựa lại, định trèo lên yên, thì thấy ngực đau nhói, không lên nổi. Triệu Mẫn dồn sức vào tay phải, nghiến răng đẩy được chàng lên lưng ngựa, nhưng vì cố dùng sức, vết thương trên ngực do mũi dao đâm lại chảy ra không ít máu tươi. Nàng ráng sức leo lên ngựa, ngồi ở sau lưng chàng. Lúc trước là chàng đỡ nàng, bây giờ lại là nàng phải giơ tay dìu chàng. Hai người thở hổn hển một hồi, rồi mới giục ngựa đi, con ngựa thứ hai thì dắt theo phía sau.

Họ xuống tới chân núi, ra đường lớn, đi về hướng đông để tránh đụng đầu với Vương Bảo Bảo. Đi được một quãng, thì bỏ đường lớn, rẽ sang một con đường nhỏ; lúc này hai người mới cảm thấy an tâm, nghĩ bụng dẫu Vương Bảo Bảo có phái người đuổi bắt, cũng không dễ tìm ra con đường nhỏ heo hút này, chỉ cần đi đến tối, vào sâu trong núi, thì có thể coi như thoát.

Đang đi bỗng nghe phía sau vang lên tiếng vó ngựa. Có hai con ngựa phi nhanh tới. Triệu Mẫn thất sắc, ôm lưng Trương Vô Kỵ nói:

– Ca ca đến nhanh quá, hai ta coi như xong đời, không thoát nổi độc thủ của ca ca. Vô Kỵ, chàng hãy để thiếp theo ca ca về phủ, tìm cách khẩn cầu gia gia, mai này hai đứa mình có dịp gặp lại. Trời đất trường cửu, hai ta mãi mãi không phụ lòng nhau.

Trương Vô Kỵ gượng cười, nói:

– Lệnh huynh chắc gì chịu thả cho ta đi.

Nói tới đó, hai con ngựa phía sau còn cách hai người vài chục trượng.

Triệu Mẫn cho ngựa tránh sang một bên, rút dao găm ra, trong bụng đã quyết, nếu có thể sẽ tìm cách thoát thân; còn nếu ca ca nhất quyết giết Trương Vô Kỵ, thì cả hai sẽ cùng chết một chỗ.

Hai kẻ cưỡi ngựa kia chạy ngang qua, không dừng bước, trên lưng ngựa là hai tên lính Mông Cổ; lúc ngang qua chỗ hai người, chúng chỉ liếc một cái rồi phóng đi. Triệu Mẫn thở phào, nghĩ thầm: "Tạ trời tạ đất, hóa ra chỉ là hai tên lính quèn chứ không phải kẻ đi bắt mình". Bỗng thấy hai tên kia gò cương chậm lại, nói với nhau gì đấy, rồi quay ngựa trở lại bên hai người. Tên râu quai nón quát:

– Hai tên mọi kia, chúng bay ăn cắp đâu ra hai con ngựa quý thế này?

Triệu Mẫn nghe khẩu khí của hắn, biết chúng trông thấy hai con ngựa phụ thân tặng nàng, nên nảy lòng tham. Hai con ngựa của Nhữ Dương Vương đúng là tuấn mã, lại thêm bộ yên cương bằng kim ngân, quý giá vô cùng. Người Mông Cổ quý ngựa như mạng sống của mình, trông thấy cặp ngựa kia, ai mà chẳng động tâm? Triệu Mẫn nghĩ thầm: "Hai con ngựa tuy là của gia gia ban tặng, nhưng nếu hai tên lính cậy mạnh cướp lấy, thì cũng đành thí cho chúng nó vậy". Nàng bèn dùng tiếng Mông Cổ nói:

– Hai vị là thuộc hạ của tướng quân nào mà dám vô lễ với ta như vậy?

Tên lính sững người, hỏi:

– Tiểu thư là ai?

Hắn thấy hai người ăn mặc sang trọng, cưỡi con ngựa thật đẹp, lại nói tiếng Mông Cổ lưu loát, nên không dám coi thường.

Triệu Mẫn đáp:

– Ta là con gái của tướng quân Hoa Nhi Bất Xích, còn đây là anh trai ta, hai ta trên đường đi bị cướp, bị chúng đánh trọng thương.

Hai tên lính đưa mắt cho nhau, đột nhiên phá lên cười. Tên râu quai nón nói lớn:

– Đâm lao thì theo lao, giết luôn hai tên nhãi này rồi tính sau.

Hắn rút yêu đao, giục ngựa chạy tới. Triệu Mẫn hốt hoảng kêu:

– Các ngươi làm gì vậy? Ta bẩm với tướng quân, hai đứa ngươi sẽ bị tứ mã phân thây đó.

"Tứ mã phân thây" là một hình phạt nặng trong quân đội Mông Cổ, kẻ phạm pháp tứ chi bị buộc vào bốn con ngựa; sau một tiếng lệnh, người ta sẽ đánh cho ngựa chạy ra tứ phía, xé xác phạm nhân thành bốn mảnh, là hình phạt tàn khốc nhất.

Tên lính râu xồm vẫn cười, nói:

– Tướng Hoa Nhi Bất Xích đánh không lại quân phản tặc Minh giáo, đi chém thuộc hạ cho bõ tức; hôm qua đại quân làm binh biến, băm vằm cha ngươi rồi. Bây giờ lại gặp hai con chó con là bọn ngươi ở đây, thật không còn gì tiện hơn.

Nói đoạn hắn vung đao lên toan chém xuống đầu hai người. Triệu Mẫn vội giật cương cho ngựa nhảy qua tránh được. Tên râu xồm đang định đuổi giết, thì tên kia nói:

– Đừng giết bông hoa nhỏ xinh tươi kia vội, hai ta hãy phong lưu khoái hoạt một phen trước đã.

Tên râu xồm nói:

– Hay lắm, hay lắm!

Triệu Mẫn chợt nghĩ ra một cách, liền xuống ngựa, chạy sang bên đường.

Hai tên lính Mông Cổ cùng xuống ngựa đuổi theo nàng. Triệu Mẫn kêu "ối chao", ngã lăn ra. Tên râu xồm nhảy tới ôm lưng nàng, Triệu Mẫn thúc luôn cùi chỏ, trúng vào yếu huyệt ở ngực hắn, hắn chưa kịp kêu đã ngã vật sang bên cạnh. Tên thứ hai không nhìn thấy đồng bọn bị ám toán, cũng vồ tới. Triệu Mẫn bằng cách tương tự, cũng thúc trúng yếu huyệt. Hai lần đả huyệt như thế, lúc khác thì chẳng tốn hơi sức gì, nhưng lúc này nàng rất mệt, phải thở hổn hển, đổ mồ hôi lạnh, toàn thân bủn rủn.

Nàng gắng gượng đứng dậy, đỡ Trương Vô Kỵ xuống ngựa, rút dao găm cầm lăm lăm trong tay, nói:

– Hai tên cẩu tặc phạm thượng làm loạn kia, có muốn sống thì bảo?

Hai tên lính Mông Cổ bị đánh trúng yếu huyệt, nửa thân trên hoàn toàn tê dại, hai tay không cử động được, hai chân còn tri giác, song cũng đau đớn khó chịu. Chúng ngỡ Triệu Mẫn sẽ lấy mạng cả hai, không ngờ nghe nàng hỏi thì còn có cơ hội sống sót, vội thưa:

– Xin cô nương tha mạng! Tướng quân Hoa Nhi Bất Xích không phải do tiểu nhân giết hại đâu ạ.

Triệu Mẫn nói:

– Được, nếu các ngươi làm đúng lời ta, ta sẽ tha cho hai cái mạng chó của các ngươi.

Hai tên lính Mông Cổ chưa biết nàng bảo chúng làm việc gì, đã lập tức đáp lời:

– Xin làm ngay ạ!

Triệu Mẫn chỉ hai con ngựa của mình, nói:

– Hai đứa bay cưỡi hai con ngựa này chạy về phía đông, trong vòng một ngày đêm phải đi cho được ba trăm dặm, càng nhanh chừng nào càng tốt chừng nấy, không được trái lời!

Hai tên lính ngơ ngác, có nằm mơ cũng không ngờ nàng lại chỉ bắt chúng làm một việc dễ dàng như vậy, ngỡ nàng nói ngược để đùa chúng chăng, tên râu xồm nói:

– Cô nương, tiểu nhân to gan đến mấy, cũng không dám tơ tưởng đến con ngựa của cô nương nữa ạ.

Triệu Mẫn ngắt lời hắn:

– Việc rất cần kíp, mau mau lên ngựa! Dọc đường nếu có ai hỏi đến, người phải nói là hai con ngựa này mua ngoài chợ, nhất thiết chớ nhắc tới hình dáng bọn ta, hiểu chưa?

Hai tên lính bán tín bán nghi, nghe Triệu Mẫn luôn miệng thúc giục, nghĩ bụng dẫu có gì dối trá, thì cũng còn hơn là bị nàng đâm chết tại chỗ, nên vội vàng xin tha tội, lết từng bước đến bên ngựa, leo lên yên. Người Mông Cổ từ nhỏ đã lớn lên trên lưng ngựa, cưỡi ngựa còn thạo hơn đi bộ. Hai tên này tuy tay chân ngượng nghịu, nhưng vẫn điều khiển được ngựa chạy. Chúng sợ Triệu Mẫn hồ đồ nhất thời, sẽ đổi ý, nên sau khi đi được vài trượng, liền kẹp hai chân, thúc ngựa phi nhanh.

Trương Vô Kỵ nói:

– Chủ ý của muội cao minh lắm. Thuộc hạ của ca ca muội thấy hai con tuấn mã kia, sẽ nghĩ rằng hai đứa mình đi về phía đông. Vậy bây giờ mình đi về hướng nào đây?

Triệu Mẫn nói:

– Dĩ nhiên sẽ đi về hướng tây nam.

Hai người leo lên hai con ngựa của hai tên lính Mông Cổ để lại, không theo đường cái mà băng qua vùng hoang dã, đi về hướng tây nam.

Quãng đường đi qua toàn là vùng núi hiểm trở, gai góc đâm vào chân ngựa khiến máu chảy nhiều chỗ, ngựa chỉ đi chừng hai chục dặm mỗi canh giờ. Trời sắp tối, bỗng thấy dưới thung lũng có một luồng khói xám bốc lên. Trương Vô Kỵ mừng nói:

– Đằng trước có người ở, mình tới đó xin tá túc.

Đến gần, thấy thấp thoáng sau các lùm cây một bức tường màu vàng, thì ra là một ngôi miếu. Triệu Mẫn đỡ Trương Vô Kỵ xuống ngựa, để hai con ngựa quay đầu về phía tây, nhặt dưới đất lên một cành gai, quất mấy cái vào mông ngựa. Hai con ngựa hí một tiếng dài, phóng vọt đi. Triệu Mẫn tới đâu cũng bày trận nghi binh, cốt đánh lừa truy binh của Vương Bảo Bảo, dù rằng sau khi mất ngựa việc đi lại sẽ rất gian nan, nàng cũng chấp nhận, miễn sao giữ được an toàn.

Hai người dìu lẫn nhau, lết từng bước đến trước miếu, thấy trên tấm biển ở cổng chính đề bốn chữ "Trung nhạc thần miếu". Triệu Mẫn cầm cái vòng cửa gõ ba cái, đợi một hồi không có ai trả lời, lại gõ ba tiếng nữa.

Bỗng nghe bên trong có tiếng người lạnh lùng hỏi:

– Người hay ma đó? Muốn chết hay sao?

Lạch cạch, rồi kẹt một tiếng, cánh cổng từ từ mở ra, sau cửa thoáng một bóng người. Lúc này trời sẩm tối, người kia đứng sấp bóng nên không nhìn rõ mặt, chỉ thấy y đầu trọc, mặc áo cà sa, thì ra là một hòa thượng.

Trương Vô Kỵ nói:

– Huynh muội chúng tôi đi đường gặp cướp, thân bị trọng thương, xin quý miếu cho tá túc một đêm. Mong đại sư mở lòng từ bi.

Người kia hừ một tiếng, lạnh lùng nói:

– Người xuất gia xưa nay không quen lo cho kẻ khác, các người đi đi.

Y vừa toan đóng cổng lại, Triệu Mẫn vội nói:

– Giúp người thì người giúp lại, biết đâu chẳng lợi cho mình nhiều hơn.

Gã hòa thượng kia bèn hỏi:

– Lợi gì mà nhiều hơn?

Triệu Mẫn giơ tay tháo cái vòng đeo tai có đính hạt ngọc đưa cho y.

Gã hòa thượng thấy hạt ngọc to bằng ngón tay út, thì nhìn kỹ lại hai người, rồi nói:

– Thôi được, giúp người thì người làm lợi cho mình.

Y né sang một bên, Triệu Mẫn dìu Trương Vô Kỵ đi vào. Nhà sư đó dẫn hai người đi qua đại điện và một khoảng sân, đến chái nhà bên đông, nói:

– Hai người hãy ở đây.

Trong phòng không có đèn nến gì, tối om om. Triệu Mẫn đưa tay sờ thử, thấy trên giường chỉ có một tấm chiếu cỏ, ngoài ra chẳng có vật gì khác.

Chợt nghe bên ngoài có tiếng nói oang oang:

– Hách tứ đệ, đệ đưa ai vào đó?

Nhà sư đáp:

– Có hai người khách xin ngủ nhờ một đêm.

Vừa nói y vừa sải bước ra cửa. Triệu Mẫn nói:

– Sư phó, xin bố thí cho hai bát cơm với chút rau dưa.

Nhà sư nói:

– Người xuất gia ăn cơm thập phương, chứ không bố thí.

Y nói rồi lẳng lặng đi ra. Triệu Mẫn tức giận nói:

– Gã hòa thượng này thật khả ố! Vô Kỵ ca ca, chàng đói lắm phải không? Mình phải tìm xem có gì ăn mới được.

Đột nhiên ngoài sân rầm rập tiếng chân, có đến bảy, tám người đi vào, ánh lửa bập bùng, cửa phòng mở toang, hai nhà sư giơ cao hai bó đuốc, chiếu vào hai người. Trương Vô Kỵ giật mình, thấy cả thảy tám hòa thượng, kẻ cao người thấp, kẻ mày rậm mắt trố, kẻ thì cằm bạnh trán gồ, mặt mày không một ai có vẻ lương thiện. Một lão già mặt nhiều nếp nhăn, nói:

– Hai đứa trên người có bao nhiêu vàng bạc châu báu, mau đưa hết ra đây.

Triệu Mẫn hỏi:

– Để làm gì?

Lão già cười đáp:

– Hai vị thí chủ có duyên đến chốn này, đúng lúc tiểu miếu cần làm một đàn tràng lớn, trùng tu sơn môn, lại phải tô tượng đúc chuông. Hai vị có vàng bạc thì đem ra bố thí; nếu không chịu làm vậy, đắc tội với Bồ Tát thì phiền lắm đó.

Triệu Mẫn giận dữ nói:

– Làm thế có khác gì ăn cướp?

Lão già nói:

– Tội quá, tội quá! Tám huynh đệ bọn ta đây giết người đốt nhà, vốn là dân trộm cướp, gần đây bỏ đao đồ tể, lập tức thành Phật, không biết làm gì, làm hòa thượng vậy. Hai vị thí chủ có duyên, hôm nay như hai con cừu mập dâng đến tận miệng, khiến cho bọn xuất gia như ta lục căn không sao thanh tịnh cho nổi.

Trương Vô Kỵ và Triệu Mẫn cả kinh, không ngờ tám nhà sư này là giặc cướp cải trang, lão già nói toạc móng heo như thế tức thị có ý giết người; đã nói lộ thân thế hẳn sẽ ra tay không tha.

Một nhà sư khác cười nham nhở:

– Nữ thí chủ đừng sợ. Tám hòa thượng cường đạo bọn ta chính đang thiếu một phu nhân giữ miếu, cô em xinh tươi chẳng khác gì Quan Thế Âm Bồ Tát hạ phàm, đến Phật Như Lai nhìn thấy cũng phải động lòng. Hay lắm, hay lắm!

Triệu Mẫn lấy trong bọc ra bảy, tám đĩnh vàng, một vòng ngọc, để lên bàn, nói:

– Tài vật châu báu có tất cả bấy nhiêu thôi, huynh muội chúng tôi cũng là người trong võ lâm, mong các vị giữ đúng nghĩa khí giang hồ cho!

Lão già hỏi:

– Hai vị là người trong võ lâm, vậy thì tốt quá, không biết thuộc môn phái nào?

Triệu Mẫn đáp:

– Chúng tôi là đệ tử phái Thiếu Lâm.

Phái Thiếu Lâm là môn phái lớn nhất trong võ lâm, nàng đoán chừng nếu tám người này không xuất thân từ một hệ phái Thiếu Lâm, thì cũng có thân hữu liên quan với Thiếu Lâm.

Lão già hơi sững, lập tức mắt lộ hung quang, nói:

– Là đệ tử của phái Thiếu Lâm ư? Thế thì thật không may cho các ngươi. Hai đứa trẻ ranh hãy tự trách mình nhập lầm môn phái.

Lão giơ tay toan chụp cổ tay Triệu Mẫn. Nàng rụt tay lại, lão ta chụp hụt.

Trương Vô Kỵ thấy tình thế trước mắt vô cùng nguy cấp, cả mình lẫn Triệu Mẫn đều bị thương nặng, không thể chống cự nổi, mấy năm qua chàng đã giao đấu với biết bao cao thủ thành danh trong võ lâm, chẳng lẽ hôm nay lại bỏ mạng bởi tám tên trộm cướp hạ lưu này ư? Dẫu sao cũng không thể giương mắt nhìn chúng làm nhục Triệu Mẫn, bèn nói:

– Mẫn muội, hãy nấp sau lưng ta, để ta xử tám tên giặc cỏ này.

Triệu Mẫn là người đầy mưu mẹo, mà lúc này cũng đành bó tay, hỏi:

– Các người là ai?

Lão già đáp:

– Bọn ta là phản đồ của phái Thiếu Lâm, bị đuổi ra khỏi Thiếu Lâm tự; gặp người của môn phái khác trên giang hồ còn ra tay nể nang đôi chút; chứ gặp đệ tử Thiếu Lâm thì quyết không tha mạng. Tiểu cô nương, vị huynh đệ này định giữ cô nương làm phu nhân giữ miếu, nhưng bây giờ biết cô nương là đệ tử Thiếu Lâm, thì bọn ta phải hạ sát thôi, không thể để cô nương sống sót được.

Trương Vô Kỵ trầm giọng hỏi:

– Giỏi thật! Các ngươi là môn hạ của Viên Chân, phải không nào?

Lão già "ồ" lên một tiếng, hỏi:

– Lạ thay, làm sao ngươi biết?

Triệu Mẫn liền tiếp lời:

– Hai ta đang cần tới Thiếu Lâm tự gặp Trần Hữu Lượng đại ca, suy cử Viên Chân đại sư lên làm phương trượng.

Lão già nói:

– Thiện tai, thiện tai! Ngã Phật Như Lai, phổ độ chúng sinh.

Triệu Mẫn nói:

– Đúng thế! Chúng ta phải đồng tâm hiệp lực, làm cho xong việc đó.

Nàng vừa nói xong thì cả tám nhà sư kia cười ồ cả lên. Thì ra tám tên này là đồng đảng của Viên Chân và Trần Hữu Lượng, do Trần Hữu Lượng dẫn nhập vào làm môn hạ của Viên Chân. Mấy năm nay, Viên Chân nóng lòng trở thành phương trượng Thiếu Lâm tự, nên tìm cách thu nhận nhân tài tứ xứ. Có điều là Thiếu Lâm tự giới luật nghiêm ngặt, mỗi khi thu nhận một đệ tử, đều phải do vị giám tự chấp chưởng giới luật tra xét kỹ càng lai lịch xuất thân, chứ không phải Viên Chân muốn thu nhận ai cũng được.

Do đó, Trần Hữu Lượng mới hiến kế chiêu mộ các lộ hào kiệt bang hội, bọn giang tặc hải tặc cho bái sư ở bên ngoài chùa Thiếu Lâm, làm đệ tử của Viên Chân, song không ở trong chùa Thiếu Lâm, đợi thời cơ đến sẽ cùng đứng lên làm đại sự. Võ công của Viên Chân quá cao siêu, hễ ra tay ắt quần hào giang hồ kính phục. Các nhân vật võ lâm vốn ngưỡng mộ uy danh của phái Thiếu Lâm, lại chứng kiến thần công tuyệt kỹ của Viên Chân, tất đều bằng lòng bái sư. Một số nhỏ không chịu phản bội môn hộ để theo Viên Chân, liền bị Viên Chân tức thời trừ khử, thành thử mưu gian của hắn thực hiện đã lâu, vẫn chưa bại lộ.

Lão già vừa nói câu "Ngã Phật Như Lai, phổ độ chúng sinh" chính là mật hiệu nhận nhau của bọn chúng, khi đồng đảng gặp nhau, nghe câu đó sẽ đáp là "Hoa khai kiến Phật, tâm tức Linh Sơn". Triệu Mẫn vừa nghe khẩu khí của lão già nhận là đệ tử của Viên Chân, liền đoán Viên Chân có mưu đồ lên làm phương trượng, còn mật hiệu của bọn chúng, thì nàng làm sao biết được?

Một hòa thượng lùn mập nói:

– Phú đại ca, con nhãi này nhắc đến việc suy cử sư phụ bọn ta lên làm phương trượng Thiếu Lâm tự, không biết cái tin đó nó lấy từ đâu ra? Sự việc hệ trọng như thế, không thể không hỏi cho rõ ràng.

Tám nhà sư này tuy đã cạo đầu làm hòa thượng, nhưng vẫn xưng hô với nhau là đại ca nhị ca, chưa bỏ được thói quen thời còn làm lục lâm.

Trương Vô Kỵ vừa nghe tiếng cười khả ố của bọn chúng, biết là nguy rồi, khổ nỗi sau khi bị trọng thương, chân khí không thể ngưng tụ, chỉ cố tập trung tinh thần, gắng gượng tụ khí, cảm thấy chân khí bốc lên bừng bừng, chỗ này một mảng, chỗ kia một mảng, song trước sau vẫn khó bề vận hành theo kinh lạc. Chỉ thấy lão già giơ năm ngón tay như vuốt chim vồ tới Triệu Mẫn, Triệu Mẫn không có sức chống đỡ, thu người trong giường; Trương Vô Kỵ thì nóng ruột lo lắng, nhưng không có cách nào khác hơn là ngồi xếp bằng vận công, chỉ mong phục hồi hai, ba thành công lực, đủ để đánh bại tám tên ác tặc kia.

Nhà sư mập lùn thấy chàng lúc này còn làm bộ ngồi vận khí, thì cả giận quát:

– Tên tiểu tử này không biết sống chết là gì, để ta cho ngươi về chầu trời trước đã, cho khỏi vướng chân vướng tay.

Nói rồi tay phải giơ lên, đấm mạnh một quyền vào giữa ngực Trương Vô Kỵ. Triệu Mẫn trông thấy thế, hoảng sợ kêu to, chỉ thấy hắn đấm xong, tay phải của hắn thõng xuống, hai mắt trợn trừng, đứng sững như trời trồng. Lão hòa thượng già kinh hãi, giơ tay đẩy nhẹ vào người hắn, hắn ngã ngay xuống, thì ra đã chết rồi. Cả đám hòa thượng vừa sợ vừa tức, nhao nhao hò hét:

– Tên tiểu tử này có tà thuật, có yêu pháp!

Vừa rồi nhà sư lùn mập vận kình ra cánh tay, đấm mạnh một quyền vào giữa ngực Trương Vô Kỵ, trúng ngay huyệt Đản Trung. "Cửu dương thần công" của Trương Vô Kỵ dùng để đánh người thì chưa đủ, song để hộ thể thì có thừa, không những phản kích lại quyền kình của đối phương đánh tới, mà còn nhờ cú đánh ấy của địch khởi động "Cửu dương chân khí" trong cơ thể chàng để gia tăng kình lực, khiến đối phương tức thời mất mạng.

Lão già đoán trên ngực Trương Vô Kỵ có giấu vật nhọn hoặc mũi tên tẩm độc, nên nhà sư mập lùn mới bị trúng phải mà chết; lão ta bèn xuất chưởng đánh vào chỗ cánh tay phải để trần của Trương Vô Kỵ, định rằng sau khi đánh gãy cánh tay, rồi sẽ thanh toán chàng sau. Chưởng lực cương mãnh đó trúng tay Trương Vô Kỵ, kích động "Cửu dương chân khí" trong cơ thể chàng phản kích lại, khiến lão già văng đi như một mũi tên, nghe "rầm" một tiếng lớn, đã làm vỡ toang cửa sổ mà bắn ra ngoài sân, đầu đập vào cây hòe, vỡ óc chết liền.

Sáu nhà sư còn lại kêu thét ầm ĩ; một tên nhắm huyệt Thái Dương của Trương Vô Kỵ đấm một quyền, một tên khác dùng chiêu "Song long sang châu" giơ ngón tay móc mắt chàng, tên thứ ba giơ chân phải đá vào đan điền chàng. Trương Vô Kỵ cúi đầu giữ đôi mắt, để cho ngón tay tên kia móc vào trán, chỉ nghe mấy tiếng "bộp", "cách", "hự", cả ba nhà sư lần lượt bị chấn động mà chết. Riêng tên thứ ba đá rất mạnh, nên chân hắn bị gãy rời ra. Đan điền của Trương Vô Kỵ trúng cú đá, chân khí trỗi dậy, các kinh lạc nửa thân mình bên phải đều thông suốt, chàng mừng thầm: "Tên ác tăng này chết sớm quá, giá hắn đá thêm vài cú nữa, có phải đã giúp ta phục hồi công lực mau hơn không. Xem ra ta bị thương tuy nặng, nhưng phục hồi không khó, chỉ cần nghỉ mươi bữa nửa tháng là sẽ phục hồi như cũ".

Tám nhà sư đã chết năm, ba tên còn lại hồn vía lên mây, vội chạy ra ngoài cổng. Chúng không thấy Trương Vô Kỵ đuổi theo, bèn đứng lại bàn với nhau. Một tên nói:

– Tên tiểu tử ấy chắc là có tà thuật.

Tên khác nói:

– Ta thấy không phải tà thuật gì đâu, mà là hắn có nội công quá lợi hại, phản kích chết người.

Tên thứ ba nói:

– Đúng thế. Bọn mình phải tìm cách báo thù cho năm huynh đệ kia.

Ba tên bàn tính một hồi, một tên bỗng nói:

– Tên tiểu tử ấy rõ ràng bị thương rất nặng, nếu không hắn đã đuổi theo ra ngoài này.

Tên thứ hai vui mừng nói:

– Đúng rồi, hắn không đi lại được, năm huynh đệ kia dùng quyền cước đánh hắn, hắn có thể dùng nội lực phản kích; còn nếu ba chúng ta dùng binh khí đâm chém hắn, chẳng lẽ hắn mình đồng da sắt hay sao?

Ba nhà sư bàn tính xong, một tên cầm ngọn giáo, một tên cầm đao, tên thứ ba cầm kiếm tiến vào trong sân. Chỉ thấy căn buồng phía đông yên lặng như tờ. Ba tên nhòm vào qua cửa sổ, thấy Trương Vô Kỵ vẫn ngồi xếp bằng trông dáng điệu cực kỳ mệt mỏi, thân hình lắc lư tựa hồ có thể ngã xuống bất cứ lúc nào. Thiếu nữ thì cầm chiếc khăn chấm các giọt mồ hôi trên trán chàng. Ba nhà sư đưa mắt cho nhau, chưa ai dám xông vào. Một tên quát to:

– Tiểu tử thối tha kia, có giỏi thì ra đây đấu với lão gia ba trăm hiệp xem nào!

Tên thứ hai chửi:

– Thằng cẩu tặc kia có bản lĩnh gì đâu, chỉ dùng yêu pháp hại người. Đó là trò hạ lưu đê tiện.

Ba tên thấy Trương Vô Kỵ không trả lời, cũng chẳng xuống giường, thì chúng trở nên can đảm hơn, lời lẽ chửi bới càng thô tục hơn, đám đệ tử cửa Phật chắc không ai hơn được ba tên này về khoản đó.

Trương Vô Kỵ và Triệu Mẫn nghe nhưng hoàn toàn không tức giận, vì điều hai người sợ nhất không phải là việc ba tên này trở lại báo thù, mà là sợ chúng bỏ đi. Nơi này cách Thiếu Lâm tự không xa, nếu ba hòa thượng đó đi báo tin cho Thành Côn biết, thì đại sự coi như chấm hết. Thương thế của Trương Vô Kỵ phải mươi ngày nữa mới khỏi, Thành Côn khỏi cần đích thân đến đây, mà chỉ cần phái một hai cao thủ hạng nhì, kiểu như Trần Hữu Lượng, thì chàng cũng chẳng đối phó nổi. Thành thử thấy ba tên ác tăng trở vào, họ lại mừng thầm. Trương Vô Kỵ liên tiếp bị năm nhà sư tập kích, "Cửu dương chân khí" trong cơ thể đã dần dần ngưng tụ, tuy chưa thể phát kình đả thương kẻ địch, nhưng trong lòng không còn hoảng sợ như lúc trước nữa.

Đột nhiên nghe "bình" một tiếng, một nhà sư giơ chân đá tung cửa, xộc vào, thanh quang loang loáng, cái tua đỏ lay động, trong tay hắn là một cây giáo dài. Triệu Mẫn kêu lên:

– Chao ôi!

Nàng vội đưa con dao găm cho Trương Vô Kỵ. Trương Vô Kỵ lắc đầu không cầm, bụng thầm kêu khổ: "Tay ta không có chút kình lực nào, dẫu cầm binh khí cũng chẳng chống đỡ được. Thể xác ta làm sao chọi nổi binh khí của địch đây?" Mới nghĩ thế, tên kia đã xoáy mũi giáo đâm thẳng vào ngực chàng.

Mũi giáo đó đâm tới rất nhanh, nhưng ý nghĩ của Triệu Mẫn còn nhanh hơn, nàng đã thò tay vào bọc của Trương Vô Kỵ rút ra một tấm thánh hỏa lệnh, nhắm chỗ mũi giáo đâm tới mà che chắn ngực chàng. Nghe "keng" một tiếng, mũi giáo trúng vào thánh hỏa lệnh. Kiếm Ỷ Thiên sắc hơn nước mà không chém đứt thánh hỏa lệnh, thử hỏi mũi giáo đâm vào thì bõ bèn gì? Cú đâm ấy kích động "Cửu dương thần công" trong cơ thể Trương Vô Kỵ, lực đâm bật ngược trở lại, chỉ nghe một tiếng "Ối" thảm thiết, cán giáo đã ngập vào ngực kẻ đâm.

Tên này chưa gục xuống, thì đơn đao của tên thứ hai đã chém xuống đầu Trương Vô Kỵ. Triệu Mẫn sợ một cái thánh hỏa lệnh không đủ đỡ chặn độ sắc bén của lưỡi đao, hai tay mỗi tay cầm một tấm thánh hỏa lệnh đỡ lên đầu Trương Vô Kỵ. Cái đỡ này quả thật là trong đường tơ kẽ tóc, chỉ nghe keng một tiếng, thanh đao bật lại, sống đao đập vỡ trán nhà sư, nhưng ngón út bên trái của Triệu Mẫn cũng bị đao cắt một mẩu, do nguy cấp nên chưa thấy đau.

Tăng nhân thứ ba cầm kiếm xông vào đến cửa, thấy hai đồng bọn đã chết tươi gần như cùng lúc, thì hoảng sợ kêu to, quay mình chạy ra. Triệu Mẫn nói:

– Đừng để nó chạy thoát.

Nàng cầm một tấm thánh hỏa lệnh ném theo qua cửa, tuy nhắm rất chính xác, nhưng vì không có sức, nên chưa đến lưng tên kia đã rơi xuống đất. Trương Vô Kỵ ôm nàng, nói:

– Ném cái nữa đi!

Chàng dồn chút chân khí ngưng tụ được ở ngực truyền sang lưng nàng, tấm thánh hỏa lệnh bên tay trái của Triệu Mẫn lại nhắm tên ác tăng ném ra, hắn chỉ cần chạy thêm hai bước nữa là nấp sau bức tường, nhưng tấm thánh hỏa lệnh đã bay nhanh tới, trúng giữa lưng hắn, hắn hộc máu ra chết liền.

Thánh hỏa lệnh vừa rời tay, thì Trương Vô Kỵ và Triệu Mẫn cũng ngất đi, họ ngã khỏi giường trong tư thế ôm nhau. Lúc này trong buồng có sáu xác chết, ngoài sân có hai tử thi, Trương Vô Kỵ và Triệu Mẫn thì nằm trong vũng máu kẻ khác chảy ra. Cái miếu giữa vùng núi hoang, trăng lạnh gió mát, tất thảy lặng đi không một tiếng động.

Rất lâu sau, Triệu Mẫn tỉnh lại trước, mơ mơ màng màng đưa tay rờ mũi Trương Vô Kỵ, thấy chàng hô hấp tuy yếu, nhưng dài và bình ổn. Nàng gượng đứng dậy, song chưa đủ sức dìu Trương Vô Kỵ lên giường, chỉ cố nâng đầu chàng gối lên một cái xác. Nàng ngồi giữa đám xác chết mà thở hổn hển. Lát sau Trương Vô Kỵ mở mắt ra, gọi khẽ:

– Mẫn muội, muội.. muội ở đâu?

Triệu Mẫn nở nụ cười, ánh trăng lạnh rọi vào buồng qua khung cửa sổ, hai người nhìn nhau, thấy mặt ai cũng có vết máu, trông thật ghê rợn, song vừa chết đi sống lại, cho nên liền dang tay ôm lấy nhau.

Trận kịch chiến vừa qua, Trương Vô Kỵ giết được bảy tên ác tăng mà không tốn chút hơi sức nào, chỉ là mượn sức đánh sức, đã không tốn sức lại còn có ích; thế nhưng lần cuối cùng phải vận sức ném thánh hỏa lệnh giết tên ác tăng thứ tám, thì hai người bị mất gần hết nguyên khí. Hiện thời cả hai đều không còn sức để cử động, đành nằm giữa đám tử thi, chờ cho khí lực phục hồi. Triệu Mẫn băng ngón tay trái bị thương, mơ mơ màng màng ngủ thiếp đi.

Mãi đến trưa hôm sau, hai người mới trước sau tỉnh dậy. Trương Vô Kỵ ngồi vận khí, điều tức đến hơn nửa canh giờ, tinh thần phấn chấn, gắng đứng lên, thấy bụng đói cồn cào, bèn mò xuống gian bếp, thấy một nồi cơm đến quá nửa đã cháy thành than, non nửa còn lại thì khê nồng, bèn xới một tô lớn mang lên buồng. Triệu Mẫn cười nói:

– Hai ta bữa nay ăn uống càn bậy thế này, chỉ nên để trời biết đất biết, thiếp biết chàng biết, chớ cho người khác biết đâu đấy.

Hai người nhìn nhau cả cười, thò tay bốc cơm cháy mà ăn, thấy mùi vị ngon lành còn hơn cả sơn hào hải vị. Tô cơm chưa ăn hết, bỗng nghe có tiếng vó ngựa từ xa chạy tới gần.

Choang một tiếng, tô cơm rơi xuống sàn vỡ tan. Triệu Mẫn và Trương Vô Kỵ nhìn nhau, trống ngực đập dồn. Nghe tiếng hai con ngựa chạy đến trước miếu thì dừng lại, kế đó là bốn tiếng gõ vòng cổng. Có ai đó gõ cổng; ngừng một lát, lại gõ thêm bốn tiếng. Trương Vô Kỵ nói nhỏ:

– Làm sao bây giờ?

Tiếng người bên ngoài gọi to:

– Thượng Quan tam ca, là Tần lão ngũ tới đây!

Triệu Mẫn nói:

– Bọn họ thể nào cũng phá cổng vào, mình hãy giả vờ chết, rồi tùy cơ ứng biến.

Hai người nằm phục giữa đám xác chết, úp mặt xuống. Vừa nằm xong, nghe "sầm" một tiếng lớn, cánh cổng bị đẩy tung ra, sức đẩy của người vừa đến chẳng phải nhẹ. Triệu Mẫn chợt nghĩ ra một kế, nói:

– Chàng hãy phục ở bên cửa, chặn đường rút của chúng.

Trương Vô Kỵ gật đầu, ra nằm phục bên ngưỡng cửa. Bỗng nghe hai tiếng kêu kinh hoảng, tiếng xoẹt xoẹt rút binh khí ra cầm tay, hẳn là hai kẻ tiến vào đã thấy xác chết trong sân. Một kẻ nói nhỏ:

– Cẩn thận, đề phòng địch nhân ám toán!

Người thứ hai quát to:

– Này các bằng hữu, thập thò ẩn náu đâu phải là bậc anh hùng? Có giỏi hãy ra đây tử chiến với lão một phen!

Người này giọng nói oang oang, trung khí dồi dào, chắc là đại lực sĩ đẩy cổng ban nãy. Lão gọi liền mấy lần, không thấy ai trả lời, thì nói:

– Bọn giặc chắc đi xa rồi.

Tiếng kẻ thứ hai nói, giọng run run:

– Mình phải xem xét bốn bề cho kỹ, đừng để trúng ngụy kế của địch.

Gã Tần lão ngũ nói:

– Thọ lão đệ, ngươi tra xét bên phía đông, để ta tra xét phía bên tây.

Gã họ Thọ hình như run sợ, nói:

– Chỉ e bên địch đông người, mình nên đi chung một chỗ thì hơn.

Tần lão ngũ chưa quyết định, gã họ Thọ bỗng kêu "Ối", chỉ vào căn buồng phía đông, nói:

– Trong ấy.. trong ấy cũng có người chết kìa!

Hai tên chạy tới bên cửa, thấy trong căn buồng nhỏ có nhiều xác chết ngổn ngang. Tần lão ngũ nói:

– Tám huynh đệ ở.. miếu này cùng bỏ mạng, không biết kẻ nào hạ độc thủ?

Gã họ Thọ nói:

– Tần ngũ ca, mình nên tức tốc trở về chùa bẩm.. bẩm báo với sư phụ.

Tần lão ngũ ngẫm nghĩ, nói:

– Sư phụ dặn chúng ta phải mau chóng đưa thiếp mời để kịp mở "Đồ Sư anh hùng hội" [128] vào dịp tiết Đoan Ngọ, nếu làm lỡ việc thì tội không phải nhỏ.

Trương Vô Kỵ nghe mấy tiếng "Đồ Sư anh hùng hội" thì ngẫm nghĩ, cảm thấy vừa kinh ngạc, vừa vui mừng, lại vừa băn khoăn, tức giận, trăm mối trong lòng, nghĩ thầm: "Sư phụ của hắn sai hắn mang thiếp mời đi dự cái gọi là" Đồ Sư anh hùng hội "là để chiêu tập anh hùng thiên hạ, trước mặt quần hào giết hại nghĩa phụ ta. Như thế thì trước tiết Đoan Ngọ, tính mạng của nghĩa phụ chưa đáng lo. Ta không bảo vệ cho nghĩa phụ được chu toàn, để lão nhân gia rơi vào tay kẻ gian, phải chịu nhục, ta thật là kẻ bất hiếu bất nghĩa".

Chàng càng nghĩ càng tức, hận không thể giết quách hai tên này; lại sợ bọn chúng bỏ chạy, mà mình thì không có sức đuổi theo; chỉ còn cách chờ chúng vào trong buồng, chàng sẽ chặn lối ra, cứ theo cách cũ, dùng Cửu dương chân khí phản kích kẻ địch. Không ngờ hai tên này thấy trong buồng đầy tử thi, lại không chịu vào, cứ đứng ngoài sân bàn bạc.

Gã họ Thọ nói:

– Chuyện lớn thế này, phải về bẩm sớm với sư phụ là hơn.

Tần lão ngũ nói:

– Thế cũng được, hai ta chia nhau hành sự, ta đi gửi thiếp, ngươi về chùa bẩm báo sư phụ.

Gã họ Thọ lại sợ dọc đường gặp địch, lưỡng lự chưa trả lời. Tần lão ngũ bực mình nói:

– Thế thì cho ngươi chọn, ngươi thích đi đưa thiếp thì cứ việc đi.

Gã họ Thọ lại phân vân, rồi cảm thấy có lẽ trở về chùa sẽ an toàn hơn, nên nói:

– Thôi cứ như Tần ngũ ca sắp đặt, để đệ về chùa bẩm sư phụ cho.

Hai tên lập tức quay mình đi ra.

Triệu Mẫn vội rên lên hai tiếng. Tần, Thọ hai tên kinh hãi, ngoảnh lại, thấy Triệu Mẫn cử động, nhìn kỹ hóa ra là một thiếu nữ. Tần lão ngũ lấy làm lạ, hỏi:

– Cô nương này là ai vậy?

Lão bước vào buồng. Gã họ Thọ tuy nhát gan, song thấy đó chỉ là một thiếu nữ, nàng lại đang bị thương nặng sắp chết, nên không sợ nữa, cũng theo vào. Tần lão ngũ giơ tay nắm lấy vai Triệu Mẫn, Trương Vô Kỵ liền ho một tiếng, ngồi dậy, xếp bằng vận khí, hai mắt lim dim. Thọ, Tần hai tên thấy chàng đột nhiên nhỏm dậy, mặt mũi máu me, trông thật ghê rợn. Gã họ Thọ kêu lên:

– Eo ôi, quỷ nhập tràng đấy. Cái thây.. ma.. ma kia âm hồn không tan.. Tần ngũ ca hãy cẩn thận.

Nói xong y vội vàng nhảy lên giường.

Tần lão ngũ quát:

– Quỷ nhập tràng à? Tần mỗ đâu có sợ mi!

Lão vung đao chém thẳng xuống đầu Trương Vô Kỵ, Trương Vô Kỵ cầm sẵn hai tấm thánh hỏa lệnh, liền giơ lên đỡ trên đầu; nghe xoảng một tiếng, lưỡi đao chém vào thánh hỏa lệnh, bật ngược trở lại, trúng đầu Tần lão ngũ, khiến lão vỡ óc chết tươi.

Gã họ Thọ tay cầm một thanh quỷ đầu đao, run bần bật, toan chém Trương Vô Kỵ nhưng nào có dám. Trương Vô Kỵ chỉ chờ y chém tới là sẽ dùng "Cửu dương chân khí" phản kích. Triệu Mẫn thấy tên kia hồi lâu không động đậy, thì sốt ruột nghĩ thầm: "Tên quỷ nhát gan này không dám ra tay, nếu hắn quăng đao bỏ chạy, thì mình đâu làm gì được hắn". Chỉ thấy hai hàm răng của y đánh vào nhau kêu canh cách, rồi "xoảng" một tiếng, thanh đao đã rơi xuống sàn.

Trương Vô Kỵ nói:

– Ngươi có giỏi hãy chém ta một đao, đấm ta một quyền xem nào!

Người kia đáp:

– Tiểu.. tiểu nhân không giỏi.. không dám động thủ với lão nhân gia.

Trương Vô Kỵ nói:

– Vậy thì ngươi hãy đá ta một cái coi!

Người kia nói:

– Việc đó.. việc đó.. tiểu nhân lại càng không dám.

Trương Vô Kỵ nổi giận:

– Ngươi mà bị thịt như thế, thì chết sẽ càng thảm đấy. Mau chém ta vài đao đi nào. Nếu ta thấy tay ngươi khỏe, không chừng ta lại tha chết cho ngươi đó.

Người kia nói:

– Vâng, vâng.

Y cúi xuống nhặt thanh đao lên, nhưng liếc sang thấy Tần lão ngũ đầu vỡ toang, thì nghĩ rằng con quỷ nhập tràng này pháp lực cao cường, chi bằng cố van xin may ra được tha mạng; thế là y bèn quỳ xuống, rập đầu nói:

– Xin lão gia tha mạng! Lão gia chết oan, không phải.. do tiểu nhân; xin lão gia chớ đòi.. tiểu nhân đền mạng.

Triệu Mẫn thấy y coi Trương Vô Kỵ như người đã chết, thì trong bụng tức lắm, hừ một tiếng, nói:

– Trong võ lâm sao lại có một tên nô tài vô tích sự như ngươi?

Người kia nói:

– Vâng, vâng! Tiểu nhân vô tích sự, vô tích sự, quả đúng là hạng nô tài, nô tài!

Y không dám ra tay, Trương Vô Kỵ cũng vô kế khả thi; đột nhiên chàng nghĩ ra một cách, quát:

– Lại đây! Người kia vội đáp; – Vâng!

Y tiến lên vài bước, lại quỳ xuống. Trương Vô Kỵ giơ hai ngón tay cái ấn vào mắt y, thét:

– Ta hãy móc hai con mắt nhà ngươi trước đã.

Người kia sợ quá, không kịp nghĩ gì, vội đưa tay gạt mạnh hai tay của Trương Vô Kỵ. Trương Vô Kỵ chỉ đợi y đẩy vào tay chàng, chàng liền mượn lực của y luồn tay xuống điểm luôn vào hai huyệt Thần Phong và Bộ Lang dưới vú y.

Người kia toàn thân tê dại, ngã lăn ra, lớn tiếng van xin:

– Lão gia tha mạng cho, lão gia tha mạng cho! Thì ra lão gia không phải là quỷ nhập tràng, thế thì may quá, càng nên tha mạng cho tiểu nhân.

Lúc này y nằm phục trước mặt Trương Vô Kỵ, nên nhìn rõ đối phương là người còn sống.

Triệu Mẫn biết rằng Trương Vô Kỵ vừa mượn sức điểm huyệt, nhưng sức mượn được quá yếu, chỉ khiến người kia tê dại chân tay một lúc, chứ vẫn cử động được. Nửa canh giờ sau, các huyệt đạo sẽ tự giải khai, khi đó rất phiền. Nàng có nhiều điều cần tra hỏi y cho rõ, nên không giết y ngay, chỉ nói:

– Ngươi đã bị vị huynh đài này điểm trúng tử huyệt; ngươi thử hít một hơi, xem xương sườn bên trái có ngâm ngẩm đau hay không?

Người kia theo lời hít một hơi, quả nhiên thấy mấy cái xương sườn bên trái đau đau, thực ra đấy chỉ là hiện tượng, do khí huyết bị bế tắc nhất thời tạo ra, người kia không biết nên ra sức cầu khẩn.

Triệu Mẫn nói:

– Muốn tha mạng cho ngươi ư? Thế thì phải dùng kim châm giải khai tử huyệt, tốn công lắm mới được.

Người kia rập đầu nói:

– Dù tốn công mấy cũng xin cô nương ra tay cứu giúp cho. Cô nương cứu được mạng cho tiểu nhân, tiểu nhân nguyện làm thân trâu ngựa, cô nương muốn sai bảo gì cũng được.

Triệu Mẫn cười thầm nói:

– Nhân vật giang hồ như ngươi, bổn cô nương thật mới gặp lần này là đầu. Thôi được, đi kiếm một cục gạch mang lại đây.

Người kia vội đáp:

– Vâng, vâng.

Rồi tập tễnh đi ra sân tìm một cục gạch.

Trương Vô Kỵ hỏi nhỏ:

– Muội cần cục gạch làm gì thế?

Triệu Mẫn mỉm cười:

– Chàng cứ chờ xem diệu kế của thiếp.

Người kia tìm được một cục gạch, cung kính mang vào buồng. Triệu Mẫn rút trên đầu ra một cành kim thoa, đặt mũi thoa đúng ngay huyệt Khuyết Bồn ở vai y, nói:

– Ta dùng kim châm giải khai kinh lạc nửa thân trên cho ngươi trước, để cho khí từ tử huyệt khỏi xông lên óc hết chữa. Nhưng không biết vị huynh đài kia có bằng lòng tha chết cho ngươi không?

Người kia đưa mắt nhìn Trương Vô Kỵ đầy vẻ cầu khẩn, Trương Vô Kỵ gật đầu. Người kia mừng rơn, nói:

– Vị đại gia kia bằng lòng rồi, xin cô nương mau mau cứu cho.

Triệu Mẫn hỏi:

– Ngươi có sợ đau hay không?

Người kia đáp:

– Tiểu nhân chỉ sợ chết, không sợ đau.

Triệu Mẫn nói:

– Thế thì được. Người hãy cầm cục gạch đập vào đuôi kim thoa một cái.

Người kia nghĩ kim thoa đâm vào vai cũng chỉ là bị thương ở da thịt, nên không nhăn nhó, cầm cục gạch đập luôn. Mũi kim thoa cắm vào huyệt Khuyết Bồn, y cảm thấy không hề đau đớn, mà lại còn tê tê khoai khoái, niềm tin đối với Triệu Mẫn tăng thêm mấy phần, cứ luôn mồm rối rít tạ ơn. Triệu Mẫn bảo y rút kim thoa ra, đặt vào các huyệt Hồn Môn, Phách Hộ, Thiên Trụ, Khố Phòng.. mà châm vào theo cách vừa rồi.

Trương Vô Kỵ mỉm cười, nói:

– Thôi được, được rồi!

Chàng đứng lên, nghĩ bụng người kia sau khi bị châm huyệt đạo như thế, nếu y bỏ chạy khỏi miếu, cố chạy cho nhanh, thì các huyệt bị điểm sẽ phát tác khiến y chết gục.

Triệu Mẫn nói:

– Ngươi đi lấy hai chậu nước cho bọn ta rửa mặt, rồi đi nấu cơm. Nếu ngươi muốn chết, thì cứ việc bỏ thuốc độc vào cơm canh, thế là cả ba chúng ta cùng mất mạng.

Người kia nói:

– Tiểu nhân không dám, tiểu nhân không dám.

Thế là tự nhiên Trương Vô Kỵ và Triệu Mẫn có được một gã đầy tớ hầu hạ mình. Triệu Mẫn hỏi họ tên, thì biết y họ Thọ, tên Nam Sơn, có ngoại hiệu Vạn Thọ Vô Cương, là cái biệt hiệu mà đám bằng hữu giang hồ chế giễu đặt cho y, bởi lẽ hễ lâm trận y lại rụt đầu rụt cổ, do đó sẽ không bị ai giết cả. Y theo một bọn hảo hán lục lâm xin làm môn hạ Viên Chân. Viên Chân thấy tư chất y kém cỏi, quá ư nhút nhát, thì chỉ sai y làm việc vặt, chưa hề truyền thụ cho y chút võ công nào cả. Thọ Nam Sơn bị điểm tám huyệt, song sức lực không mất, bị Triệu Mẫn sai khiến làm hết việc nọ việc kia, việc nào y cũng làm cật lực. Y mang chín cái xác ra vườn sau chôn cất, xách nước rửa sạch vết máu trong miếu. Y võ công kém cỏi, nhưng tài nấu nướng thì vào hạng nhất, y nấu món gì, Trương Vô Kỵ và Triệu Mẫn ăn cũng đều khen lấy khen để.

Sau khi mọi việc đâu vào đấy, Trương Vô Kỵ và Triệu Mẫn mới lục vấn kỹ càng về "Đồ Sư anh hùng hội". Thọ Nam Sơn không giấu giếm gì cả, nhưng tiếc rằng người ta coi y chẳng ra gì, nên không cho y biết nhiều chuyện. Y chỉ biết phương trượng Thiếu Lâm tự Không Văn đại sư giao cho Viên Chân chủ trì "Đồ Sư anh hùng hội", Không Văn và Không Trí đứng tên gửi thiếp mời anh hùng hảo hán các môn phái, bang hội, vào dịp tiết Đoan Ngọ đến Thiếu Lâm tự bàn bạc việc hệ trọng.

Trương Vô Kỵ cầm mấy tờ thiếp mời xem, thấy người được mời là Phù Trần Tử, Cổ Tùng Tử, Quy Tàng Tử, mấy kiếm khách của phái Điểm Thương thành danh đã lâu, nhưng ẩn cư ở Điền Nam, lâu nay không lai vãng với nhân sĩ võ lâm Trung nguyên. Nay ngay cả phái Điểm Thương mà chùa Thiếu Lâm cũng mời, đủ biết kỳ đại hội này tân khách rất đông, quy mô cực lớn. Phái Thiếu Lâm là lãnh tụ võ lâm, Không Văn và Không Trí đích thân đứng tên gửi thiếp mời, thì người được mời dù bận việc hệ trọng mấy cũng phải gác lại để đi phó hội.

Trương Vô Kỵ thấy trên thiếp mời viết: "Kính mời đến tiết Đoan Dương tụ hội tại chùa Thiếu Lâm, cùng anh hùng thiên hạ uống chén rượu mừng", không hề thấy hai chữ "Đồ Sư", bèn hỏi:

– Tại sao Tần lão ngũ lại gọi là "Đồ Sư anh hùng hội"?

Thọ Nam Sơn hơi có vẻ đắc ý, nói:

– Trương gia không biết, chứ sư phụ của tiểu nhân có bắt được một nhân vật lừng lẫy tiếng tăm, tên là Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn. Phái Thiếu Lâm chúng tôi phen này muốn mở mày mở mặt với anh hùng thiên hạ, trước mặt quần hào mang Kim Mao Sư Vương ra tùng xẻo, nên mới mở đại hội này, gọi là "Đồ Sư anh hùng hội".

Trương Vô Kỵ cố nén giận, hỏi:

– Thế Kim Mao Sư Vương là người thế nào, ngươi đã gặp người ấy chưa?

Thọ Nam Sơn đáp:

– Lão Kim Mao Sư Vương ấy ư, hì hì, quả thật lợi hại hết chỗ nói, cao phải gấp đôi tiểu nhân, bắp tay xem ra còn to hơn cả bắp vế của tiểu nhân, chẳng nói thứ khác, chỉ riêng cặp mắt sáng quắc của lão ta, ai nhìn vào cũng hồn xiêu phách lạc, lão chưa cần ra tay, đối phương đã lạy lục xin tha rồi..

Trương Vô Kỵ và Triệu Mẫn đưa mắt nhìn nhau, Thọ Nam Sơn lại kể tiếp:

– Sư phụ của tiểu nhân đấu với lão ta bảy ngày bảy đêm bất phân thắng bại, cuối cùng sư phụ của tiểu nhân giận quá, mới sử dụng môn võ uy chấn thiên hạ là "Cầm long phục hổ công" [129] mới thu phục được lão ta. Hiện tại Kim Mao Sư Vương bị nhốt trong một cái cũi sắt lớn, ở Đại Hùng bảo điện Thiếu Lâm tự; người lão ta còn bị xích bằng bảy, tám sợi xích sắt..

Trương Vô Kỵ càng nghe càng tức, quát:

– Ta hỏi sao, ngươi cứ thực mà nói, nếu còn kể bậy kể bạ, thì coi chừng cái mạng chó của ngươi đó! Kim Mao Sư Vương Tạ đại hiệp hai mắt đã mù, lấy đâu ra "cặp mắt sáng quắc"?

Thọ Nam Sơn nói phét bị vạch mặt, vội nói:

– Vâng, vâng, chắc tiểu nhân nhìn lầm người.

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Ngươi có thật đã trông thấy lão nhân gia hay không? Tướng mạo Tạ đại hiệp thế nào, ngươi nói ta nghe thử.

Thọ Nam Sơn thực ra chưa nhìn thấy Tạ Tốn, biết rằng nếu còn nói phét sẽ nguy đến tính mạng, vội đáp:

– Tiểu nhân không dám giấu, kỳ thực mới chỉ nghe các vị sư huynh kể lại thôi.

Trương Vô Kỵ muốn hỏi cho rõ chỗ Tạ Tốn bị nhốt, nhưng gặng đi gặng lại, Thọ Nam Sơn quả thật không biết, chắc hẳn việc đại sự cơ mật, hạng tép riu như y làm sao được can dự? Cũng may là từ nay đến tiết Đoan Dương còn những hơn hai tháng nữa, chờ khi thương thế khỏi hẳn sẽ tìm cách cứu, không cần vội vã.

Ba người ở Trung Nhạc thần miếu mấy ngày hoàn toàn yên ổn, chùa Thiếu Lâm không hề phái ai tới liên lạc. Đến ngày thứ tám, vết thương của Triệu Mẫn đã đỡ bảy, tám phần; còn Trương Vô Kỵ thì chân khí trong người càng lúc càng quán thông, tứ chi dần dần có lực, lúc này dẫu địch nhân kéo tới, muốn đào tẩu chẳng có gì khó. Thọ Nam Sơn hết lòng hầu hạ hai người, không hề có ý gì khác. Triệu Mẫn cười nói:

– Vạn Thọ Vô Cương, ngươi học võ chẳng bằng ai, nhưng làm quản gia thì đúng là nhân tài hiếm có.

Thọ Nam Sơn cười gượng, đáp:

– Cô nương nói không sai ạ.

Trương Vô Kỵ và Triệu Mẫn ngày ngày được ăn các món ngon lành do Thọ Nam Sơn cố nấu nướng, Trung Nhạc thần miếu lúc nào cũng thơm nức mùi thức ăn. Lại thêm mươi ngày nữa, sức khỏe của hai người đã hoàn toàn phục hồi, Trương Vô Kỵ và Triệu Mẫn liền bàn cách cứu Tạ Tốn.

Triệu Mẫn nói:

– Kể ra cách hay nhất là điểm vào tử huyệt của Thọ Nam Sơn, sai y quay về chùa Thiếu Lâm thăm dò tình hình. Nhưng gã này quá vô tích sự, rất dễ bại lộ, sẽ làm hỏng đại sự. Thôi thì chúng mình đến chân núi Thiếu Thất rồi tùy cơ hành sự. Có điều là hai ta phải cải trang mới được.

Trương Vô Kỵ nói:

– Cải trang thành ai bây giờ? Cạo trọc đầu làm hòa thượng, ni cô chăng?

Triệu Mẫn hơi đỏ mặt, nói:

– Chàng tính toán sao mà khéo quá! Một nhà sư trẻ với một tiểu ni cô, giữa thanh thiên bạch nhật mà đi dung dăng dung dẻ thì khéo bày trò!

Trương Vô Kỵ cười:

– Thế thì mình giả làm một cặp vợ chồng nông phu, đến chân núi Thiếu Thất cày ruộng, kiếm củi vậy.

Triệu Mẫn cũng cười, nói:

– Tại sao không giả làm huynh muội? Giả làm vợ chồng, lỡ Chu cô nương bắt gặp, vai bên trái của muội lại bị thêm năm cái lỗ nữa thì nguy to.

Trương Vô Kỵ không dám nói gì thêm, quay sang hỏi Thọ Nam Sơn thật tỉ mỉ nội tình các nơi trong chùa Thiếu Lâm, rồi nói:

– Các tử huyệt trên cơ thể ngươi bị điểm nay đã giải cả rồi, ngươi muốn đi đâu thì đi.

Triệu Mẫn nghiêm mặt nói:

– Thế nhưng ngươi suốt đời phải sống ở phương nam, chứ nếu gặp băng tuyết là lập tức lăn ra chết đó. Ngươi hãy mau đi xuống phương nam, sống ở vùng nào càng nóng càng tốt, đừng để bị phong hàn, ho hen là nguy lắm đấy.

Thọ Nam Sơn tưởng thật, bái biệt hai người, rời khỏi miếu là đi về hướng nam. Suốt đời y quả nhiên chỉ sống ở vùng Lĩnh Nam, giữ gìn gió máy cẩn thận, mãi đến triều vua Vĩnh Lạc nhà Minh mới chết, tuy không phải là Vạn Thọ Vô Cương, nhưng như thế là sống dai lắm rồi.

*

* *

Trương Vô Kỵ và Triệu Mẫn đợi y đi xa, cẩn thận xóa sạch mọi dấu vết ăn ở trong miếu, rời khỏi đó chừng hai chục dặm, tìm nhà nông mua quần áo nam nữ, ra chỗ vắng thay đồ, đem quần áo vừa thay chôn xuống đất, rồi thủng thẳng đi tới chân núi Thiếu Thất.

Cách núi Thiếu Thất bảy, tám dặm, trên đường đã ba lần gặp các nhà sư trong chùa. Triệu Mẫn nói:

– Không nên tới gần thêm nữa.

Nàng thấy bên đường có hai gian nhà tranh, phía trước có một mảnh vườn, một lão nông đang tưới rau, bèn nói:

– Mình hãy vào xin ông ta cho ở nhờ.

Trương Vô Kỵ tiến lại, vái chào, nói:

– Lão trượng, huynh muội chúng cháu đi đường mỏi mệt, xin lão trượng cho bát nước uống.

Ông lão hình như không nghe thấy, cứ lẳng lặng gánh thùng nước phân đi tưới rau. Trương Vô Kỵ nhắc lại một lần nữa, ông lão vẫn không trả lời.

Bỗng có tiếng kẹt cửa, cánh cửa gỗ mở, một bà lão tóc bạc bước ra, cười nói:

– Ông lão nhà tôi vừa điếc vừa câm, quan khách có việc gì vậy?

Trương Vô Kỵ nói:

– Em gái cháu đi không nổi, muốn xin một gáo nước uống ạ.

Bà lão nói:

– Mời vào trong này.

Hai người theo vào trong nhà, thấy đồ đạc xếp đặt rất gọn gàng, bàn ghế được lau chùi sạch sẽ; quần áo của bà lão tuy bằng vải thô, song cũng được giặt giũ tươm tất. Triệu Mẫn trong bụng rất ưng, uống nước xong, nàng lấy ra một đĩnh bạc, cười nói:

– Bà ơi, anh cháu dẫn cháu đi thăm bà ngoại, chẳng may dọc đường cháu bị trẹo chân, không đi được nữa, hôm nay xin bà cho ngủ nhờ một đêm, sớm mai anh em cháu lại lên đường.

Bà lão nói:

– Ngủ nhờ một đêm thì có gì đâu mà phải đưa tiền bạc. Có điều là nhà chúng tôi chỉ có một gian buồng, một cái giường, giả dụ vợ chồng tôi nhường cho cô cậu, nhưng hai anh em làm sao ngủ chung giường? Hì hì, tiểu cô nương, cô nương hãy thú thật với già này đi, có phải là cùng với tình lang trốn cha mẹ bỏ nhà đi hay không?

Triệu Mẫn nghe bà lão nói đúng tim đen, bất giác mặt đỏ bừng, nghĩ bụng bà lão này thật tinh đời, nghe kiểu nói xem ra không phải là một bà già nhà quê tầm thường, bèn ngắm kỹ thêm một lượt, thấy bà lưng còng tóc bạc, nhưng hai mắt long lanh có thần, không chừng còn giỏi võ nghệ. Triệu Mẫn nghĩ Trương Vô Kỵ còn có vẻ nông phu, chứ như nàng thì diện mạo cử chỉ, lời lẽ chẳng giống gái quê chút nào; bèn ngượng ngùng nói:

– Bà bà đoán không sai, cháu cũng chẳng dám giấu. Tăng ca ca đây chơi với cháu từ nhỏ; cha cháu thấy nhà anh ấy nghèo nên không chịu gả cháu. Mẹ cháu thấy cháu định quyên sinh, nên đứng ra giúp cháu cùng với anh ấy.. trốn khỏi nhà. Mẹ cháu dặn rằng vài ba năm sau, khi nào hai đứa bọn cháu có.. có con có cái, lúc ấy hãy về, bấy giờ cha cháu không chịu cũng không xong.

Nàng nói mà mặt đỏ bừng, chốc chốc lại liếc trộm Trương Vô Kỵ một cái, vẻ đầy tình ý. Ngừng một chút, lại nói tiếp:

– Nhà cháu ở Đại Đô, cũng có tiếng tăm, cha cháu thì làm quan. Chúng cháu mà bị bắt lại, thì A Ngưu ca ca thể nào cũng bị cha cháu đánh chết. Bà ơi, bà đừng kể cho ai biết nhé.

Bà lão cười ha hả, gật đầu lia lịa, nói:

– Hồi trẻ ta cũng có tính phong lưu. Cô nương yên tâm, già sẽ nhường buồng cho đôi vợ chồng son. Nơi đây vắng vẻ heo hút, người nhà cô nương chẳng tìm đến đâu; mà dù có kẻ nào gây khó dễ với cô cậu, thì già này cũng chẳng để yên.

Bà lão thấy Triệu Mẫn xinh xắn dịu dàng, vừa gặp đã đem chuyện tư tình kể cho bà nghe, bà liền có hảo cảm, quyết ý ra tay trợ giúp, tác thành cho hai người nên duyên.

Triệu Mẫn nghe lời lẽ bà lão, biết bà cũng là nhân vật võ lâm, ở đây sát chùa Thiếu Lâm, không biết bà với Thành Côn là bạn hay thù, mọi chuyện phải thật cẩn thận, không được để lộ chút sơ hở nào cả. Thế là nàng sụp lạy, nói:

– Bà bà chịu che chở cho bọn cháu, bọn cháu xin đa tạ. A Ngưu ca ca, mau tạ ơn bà bà đi.

Trương Vô Kỵ y lời nàng, chắp tay vái tạ.

Bà lão cười hì hì gật đầu, nhường luôn gian buồng, ra gian ngoài kê ván làm giường, trải cỏ làm nệm. Hai người vào buồng rồi, Trương Vô Kỵ nói nhỏ:

– Ông già tưới rau bản lĩnh còn lợi hại lắm đấy, muội có thấy không?

Triệu Mẫn nói:

– Ồ, thiếp không nhận ra.

Trương Vô Kỵ nói:

– Ông ta gánh hai thùng nước phân rất nặng, không thấy sóng sánh chút nào, nội lực chắc phải cao cường lắm đó.

Triệu Mẫn hỏi:

– So với chàng thì sao?

Trương Vô Kỵ cười đáp:

– Để ta thử đã, không biết có hơn chăng.

Nói đoạn liền bế Triệu Mẫn đặt ngang trên vai như thể đang gánh nước. Triệu Mẫn cười khúc khích:

– Ôi, chàng coi thiếp như gánh phân hay sao?

Bà lão ở gian ngoài, nghe tiếng hai người đùa cợt thân mật, thì có chút ngờ vực ban đầu cũng tan biến cả.

Bữa tối hôm ấy hai người dùng bữa chung với hai vợ chồng ông lão, thức ăn cũng có thị gà, thịt heo hẳn hoi. Trương Vô Kỵ và Triệu Mẫn cố ý làm như một cặp tình nhân thắm thiết trốn nhà ra đi, thi thoảng len lén nắm tay nhau, lưu luyến không rời. Ban đầu hai người chỉ làm bộ, về sau thì thành thật, bà lão nhìn thấy chỉ tủm tỉm cười, còn ông lão làm như không để ý, chỉ cắm cúi ăn.

Ăn xong, Trương Vô Kỵ và Triệu Mẫn vào buồng, cài then lại. Hai người trong lúc ăn đùa cợt giả giả thật thật, không ngờ cả hai đều động tình. Triệu Mẫn má đỏ hây hây, nói nhỏ:

– Chúng mình chỉ giả vờ, chứ không làm thật đâu đấy.

Trương Vô Kỵ ôm nàng vào lòng mà hôn lấy hôn để, cũng thì thầm:

– Nếu chỉ giả vờ, vài năm sau lấy đâu con cái bồng về khoe gia gia?

Triệu Mẫn e thẹn:

– Thì ra chàng nấp đằng sau, nghe lén thiếp nói chuyện với bà lão.

Trương Vô Kỵ tuy nói đùa như vậy, nhưng nghĩ lại mình với Chu Chỉ Nhược đã ước định hôn nhân, tuy mai đây lấy được cả hai nàng thì càng hay, song phải sau khi kết hôn với Chu Chỉ Nhược, chàng mới có thể tính chuyện nên duyên với Triệu Mẫn. Lúc này chàng đang ôm người ngọc trong tay, ý loạn tình mê, song vẫn cố dằn lòng, chỉ hôn lên môi lên má nàng, rồi đặt nàng nằm trên giường, còn chàng ra ngồi trên tấm ván cạnh giường, điều tức vận công, vận hành "Cửu dương chân khí" đủ mười hai vòng, rồi mới ngủ.

Triệu Mẫn mặt nóng bừng, lòng xao động, trằn trọc mãi vẫn chưa ngủ được; đến tận khuya, đang mơ mơ màng màng, bỗng nghe có tiếng bước chân từ xa đến gần, ai đó đã tới ngay trước cửa. Triệu Mẫn vội lay Trương Vô Kỵ, vừa hay chàng cũng đã nghe thấy và tỉnh giấc, giơ tay sang để lay nàng; tay hai người gặp nhau, nắm chặt ngay lấy.

Chỉ nghe ngoài cửa có tiếng nói:

– Chào vợ chồng Đỗ huynh, cố nhân đêm khuya tới thăm, liệu có vô lễ hay không đây?

Lát sau, tiếng bà lão trong nhà nói:

– Thanh Hải tam kiếm đấy phải không? Vợ chồng ta từ Xuyên Tây xa xôi lánh đến tận đây, coi như đã sợ Ngọc Chân quán của các người rồi. Chúng ta xích mích với nhau chẳng qua chỉ vì một chuyện nhỏ, hoàn toàn không phải là thâm cừu đại oán gì. Việc đã bao nhiêu năm, Ngọc Chân quán hà tất cứ phải ép cho bằng được? Các người đáng sợ thật đấy.

Người bên ngoài cười ha hả, nói:

– Nếu hai vợ chồng Đỗ huynh sợ thật, thì hãy rập đầu lạy bọn ta ba cái, Ngọc Chân quán sẽ bỏ qua hết mọi chuyện cũ.

Cánh cửa kẹt một tiếng, mở ra, bà lão nói:

– Tin tức của các vị linh thông quá, tìm đuổi tới tận đây.

Trăng mới quá ngày rằm, ánh bạc tràn ngập mặt đất, Trương Vô Kỵ và Triệu Mẫn nhìn qua khe ván trên tường, thấy bên ngoài có ba đạo sĩ đội mũ màu vàng. Người đứng giữa râu ngắn đâm tua tủa, vừa lùn vừa mập, nói:

– Vợ chồng Đỗ huynh định rập đầu tạ tội, hay muốn dùng song câu và liên tử thương một phen sống mái?

Bà lão chưa kịp đáp, ông lão câm điếc đã hùng dũng bước ra đứng trước cửa, tay chống nạnh, lạnh lùng nhìn ba đạo sĩ. Bà lão bước tới, đứng bên chồng.

Đạo sĩ mập lùn hỏi:

– Đỗ lão tiên sinh sao không hé miệng? Hay là không thèm nói chuyện với Thanh Hải tam kiếm?

Bà lão nói:

– Ông ấy bị điếc, không nghe thấy ba vị nói gì đâu. Gã mập lùn ồ lên một tiếng, nói:

– Tiếc quá, tiếc quá! Cái tài nghe gió nhận biết khí giới của Đỗ lão tiên sinh là một tuyệt nghệ trong võ lâm, sao lại để bị điếc như thế?

Gã đạo sĩ cũng mập, nhưng không lùn, rút kiếm ra, nói:

– Đỗ Bách Đương, Dịch Tam Nương, tại sao hai vị không sử dụng binh khí?

Bà lão là Dịch Tam Nương, đáp:

– Mã đạo trưởng, tính đạo trưởng vẫn nóng nảy; còn hai vị Thiệu đạo trưởng mấy năm không gặp, tóc đã bạc cả rồi. Hì hì, mấy việc nhỏ như vậy mà nhìn không ra, thế có khổ không?

Hai tay bà lão đột nhiên vung lên, thanh quang loang loáng, mỗi tay cầm ba đoản đao dài chưa đến nửa thước, hai tay cả thảy sáu đoản đao. Ông lão câm điếc Đỗ Bách Đương cũng vung tay, hai tay cầm cả thảy sáu đoản đao từ bao giờ, cứ thấy ông lăn đao từ tay trái sang tay phải, đao từ tay phải lăn sang tay trái, các ngón tay cứ đan vào nhau thuần thục vô cùng.

Ba đạo sĩ ngẩn ra, trong võ lâm chưa từng gặp loại binh khí này bao giờ; là phi đao ư, nhưng phi đao đâu có thủ pháp như thế? Đỗ Bách Đương vốn uy chấn Xuyên Tây nhờ cặp song câu, còn vợ ông Dịch Tam Nương thạo dùng liên tử thương. Nay hai vợ chồng họ lại từ bỏ món binh khí quen sử dụng mấy chục năm, vậy thì mười hai cây đoản đao này hẳn phải có chiêu số cực kỳ lợi hại và quái dị.

Gã đạo sĩ mập lùn tên Mã Pháp Thông vung trường kiếm, miệng ngâm:

– Tam tài kiếm trận Thiên – Địa – Nhân.

Gã đạo sĩ mập râu ngắn Thiệu Hạc đọc tiếp:

– Điện trục tinh trì xuất Ngọc Chân.

Ba đạo sĩ bước giãn ra, vây xung quanh hai vợ chồng họ Đỗ.

Trương Vô Kỵ thấy ba đạo sĩ lúc qua trái khi qua phải, lúc chạy ngang chạy dọc, tưởng là tam tài mà không phải tam tài, ba thanh trường kiếm dệt thành một cái lưới tia sáng, nhưng chưa hề tấn công đối phương. Khi ba đạo sĩ chạy bảy, tám bước rồi, Trương Vô Kỵ nhận ra đạo lý bên trong, nghĩ thầm: "Ba gã đạo sĩ thật là giảo hoạt, miệng nói" Tam tài kiếm trận ", kỳ thực ngầm sử dụng" Chính phản ngũ hành ". Nếu đối phương tưởng thật, theo phương vị tam tài thiên – địa – nhân mà phá giải, thì sẽ sa vào" Ngũ hành trận ", khó mà thoát chết".

Ba đạo sĩ bày "Ngũ hành kiếm trận", mỗi người đảm trách biến hóa sinh khắc từ một đến hai hành, kết hợp khinh công với kiếm pháp, phải nói uy lực không phải tầm thường.

Còn vợ chồng họ Đỗ thì dựa lưng vào nhau, bốn cánh tay loang loáng ánh bạc, mười hai cây đoản đao của họ đổi qua đổi lại, không phải chỉ tay nọ đổi đao sang tay kia, mà đao của Đỗ Bách Đương còn đổi sang tay của Dịch Tam Nương, đao của Dịch Tam Nương đổi sang tay của Đỗ Bách Đương, nhưng không một cây đao nào tuột tay rơi xuống hoặc bay đi, cứ qua lại như con thoi liên tục.

Triệu Mẫn xem thấy lạ, hỏi nhỏ:

– Bọn họ bày trò gì thế?

Trương Vô Kỵ cau mày không đáp, xem thêm một hồi, rồi nói:

– Ồ, ta hiểu rồi, bọn họ sợ môn "Sư tử hống" của nghĩa phụ ta.

Triệu Mẫn hỏi:

– "Sư tử hống" là cái gì?

Trương Vô Kỵ gật gù, bỗng cười nhạt, nói:

– Hừ, tài nghệ chỉ bây nhiêu, mà cũng đòi đồ sư phục hổ ư?

Triệu Mẫn chẳng hiểu nổi, hỏi:

– Chàng nói gì mà như đánh đố ấy thế?

Trương Vô Kỵ hạ giọng, thầm thì:

– Cả năm người kia đều là kẻ thù của nghĩa phụ ta. Ông lão kia sợ môn "Sư tử hống" của nghĩa phụ ta, nên tự đâm thủng màng nhĩ cho điếc tai..

Chỉ nghe tiếng leng keng ròn rã, năm người kia đã giao đấu với nhau.

Thanh Hải tam kiếm tấn công liên tiếp năm lần, đều bị hai vợ chồng họ Đỗ gạt ra cả. Mười hai cây đoản đao của họ đổi qua đổi lại, dưới ánh trăng dệt thành ba vòng sáng bao quanh thân hình, thủ hộ cực kỳ nghiêm mật. Thanh Hải tam kiếm tấn công lâu vô dụng, chuyển sang phòng thủ. Đỗ Bách Đương liền xông tới, đoản đao đâm vào bụng dưới gã đạo sĩ gầy nhỏ tên Thiệu Yến.

Trong võ học có câu "Dài một tấc, mạnh một tấc, ngắn một tấc, hiểm một tấc". Đoản đao dài chưa đến năm tấc, thành ra nguy hiểm vô cùng, lão đâm liền ba đao, toàn là đòn sát thủ, không hề phòng bị thân mình. Trường kiếm của Mã Pháp Thông và Thiệu Hạc đâm tới đều bị đoản đao của Dịch Tam Nương gạt đi; mới hay hai vợ chồng luyện môn đao pháp này, một công một thủ, phối hợp chặt chẽ, người tấn công cứ việc tấn công, người phòng thủ cứ việc phòng thủ, không phải lo cả hai bề.

Thiệu Yến bị đâm liền ba đao, chân tay luống cuống, liên tiếp thối lui. Đỗ Bách Đương vẫn không ngừng tấn công, mũi đao nào cũng nhắm toàn chỗ yếu hại, càng lúc càng nguy hiểm.

Thiệu Hạc hú lên một tiếng, kiếm chiêu biến đổi, cùng với Mã Pháp Thông hai kiếm từ bên cạnh đánh vào, kết thành lưới kiếm, chặn Đỗ Bách Đương ở ngoài xa ba thước. Thanh Hải tam kiếm phòng bị chặt chẽ, tưởng chừng có tạt nước cũng không lọt vào nổi.

Trương Vô Kỵ lại cười khẩy, ghé tai Triệu Mẫn nói:

– Cả đao pháp lẫn kiếm pháp kia đều luyện tập để đối phó với nghĩa phụ ta đó. Muội xem, họ cứ thủ nhiều công ít, thì có đánh nhau suốt cả ngày đêm cũng bất phân thắng bại.

Quả nhiên Đỗ Bách Đương công mấy lần không vào được, lại bỏ công quay về thủ. Triệu Mẫn nói nhỏ:

– Kim Mao Sư Vương võ công trác tuyệt, năm kẻ kia chỉ dựa vào thủ, thì làm sao thắng nổi?

Chỉ thấy năm người kia đao qua kiếm lại, thay đổi bảy, tám loại chiêu số, nhưng vẫn không phân thắng bại. Mã Pháp Thông đột nhiên quát:

– Dừng tay!

Y nhảy ra khỏi vòng chiến; Đỗ Bách Đương cũng lùi lại, chòm râu bạc phiêu động, trông có vẻ rất uy thế.

Mã Pháp Thông nói:

– Pho đao pháp này của vợ chồng Đỗ huynh cốt luyện để giết sư tử phải không?

Dịch Tam Nương hừ một tiếng, nói:

– Nhãn quang của Mã đạo trưởng quả lợi hại.

Mã Pháp Thông nói:

– Vợ chồng Đỗ huynh có mối thù bị Tạ Tốn giết con, không thể không báo. Đã biết kẻ thù đang ở trong Thiếu Lâm tự, sao không sớm thanh toán hắn?

Dịch Tam Nương liếc y thăm dò, rồi nói:

– Đó là chuyện riêng của vợ chồng chúng tôi, không dám phiền đạo trưởng nhọc lòng.

Mã Pháp Thông nói:

– Chuyện xích mích giữa Ngọc Chân quán với vợ chồng Đỗ huynh, đúng như Dịch Tam Nương vừa nói, chỉ là chuyện nhỏ, không đáng để đôi bên thí mạng đánh nhau. Chi bằng chúng ta đổi thù thành bạn, liên thủ với nhau đi tìm Tạ Tốn có hơn không?

Dịch Tam Nương hỏi:

– Ngọc Chân quán có thù gì với Tạ Tốn vậy?

Mã Pháp Thông nói:

– Không có thù oán gì cả, hì hì.

Dịch Tam Nương hỏi:

– Không có thù oán gì với Tạ Tốn, sao lại khổ công tập luyện môn kiếm pháp làm chi? Chiêu số của hai môn võ công chúng ta đều chung một gốc, chỉ dùng để khắc chế "Thất Thương quyền".

Mã Pháp Thông nói:

– Nhãn lực của Dịch Tam Nương lợi hại thật! Chẳng giấu gì người có con mắt tinh đời, Ngọc Chân quán chỉ muốn mượn thanh đao Đồ Long xem chơi một chút thôi.

Dịch Tam Nương gật đầu, dùng ngón tay viết nhanh lên lòng bàn tay Đỗ Bách Đương mấy chữ gì đó, Đỗ Bách Đương cũng viết lên lòng bàn tay Dịch Tam Nương mấy chữ, hai vợ chồng dùng ngón tay thay lưỡi, trao đổi một hồi. Rồi Dịch Tam Nương nói:

– Vợ chồng chúng tôi chỉ mong báo thù, dẫu chết cũng cam lòng; còn thanh đao Đồ Long, quyết không muốn đụng tới.

Mã Pháp Thông mừng nói:

– Thế thì hay lắm! Năm người chúng ta liên thủ xông vào Thiếu Lâm tự, vợ chồng Đỗ huynh giết người báo thù, còn Ngọc Chân quán lấy thanh đao Đồ Long. Tề tâm hiệp lực dễ thành đại công. Đôi bên toại ý, hòa khí không bị tổn thương.

Thế là năm người đập tay ước định, thề độc với nhau. Vợ chồng họ Đỗ bèn mời ba đạo sĩ vào nhà bàn kĩ kế sách báo cừu đoạt đao.

Thanh Hải tam kiếm vào ngồi xuống rồi, thấy trong buồng đóng cửa, muốn vào ngó qua xem có ai khác. Dịch Tam Nương cười nói:

– Ba vị khỏi cần nghi ngại, trong ấy là một cặp trai gái từ Đại Đô tới, hai đứa tư tình trốn nhà ra đi, đứa con gái đẹp như ngọc nữ, đứa con trai thì hình dáng thô lỗ, cả hai không biết tí võ công nào cả.

Mã Pháp Thông nói:

– Tam Nương đừng trách, chẳng phải chúng tôi không tin hai ông bà, chỉ vì chúng ta đang liệu tính một việc quá trọng đại, phạm vào điều kỵ của hào kiệt thiên hạ, nếu để tin này lộ ra, chỉ e..

Dịch Tam Nương cười, nói:

– Bọn mình đánh nhau chán chê mà hai đứa vẫn ngủ như khúc gỗ. Mã đạo trưởng cẩn thận, muốn tự mình xem lại cho chắc cũng tốt thôi.

Nói đoạn bà lão tiến tới đẩy cửa. Nhưng cửa buồng có cài then bên trong.

Trương Vô Kỵ muốn qua năm người này dò la manh mối để cứu Tạ Tốn, nên chàng chưa vội ra tay. Chàng lật đật cởi giày, ôm Triệu Mẫn, kéo chăn đắp lên người, giả vờ ngủ. Chỉ nghe cạch một tiếng, then cửa đã bị Thiệu Hạc đẩy gãy. Dịch Tam Nương cầm cây nến bước vào buồng, Thanh Hải tam kiếm theo sau.

Trương Vô Kỵ thấy ánh nến, mắt nhắm mắt mở choàng dậy, ngơ ngác nhìn Dịch Tam Nương. Mã Pháp Thông giơ kiếm đâm vào yết hầu chàng, xuất chiêu vừa nhanh vừa hiểm. Trương Vô Kỵ kêu "Ối" một tiếng kinh hoảng, nửa thân trên nhào về đằng trước hóa ra đưa cổ đón mũi kiếm. Mã Pháp Thông rụt tay thu kiếm lại, nghĩ thầm người này quả nhiên không biết tí võ công nào hết; nếu là kẻ biết võ, dù to gan đến mấy cũng đã né tránh thế kiếm vừa rồi của y.

Triệu Mẫn ậm ừ vài tiếng, làm như chưa tỉnh giấc hẳn, đôi má hồng hồng, dưới ánh nến trông kiều diễm lạ thường. Thiệu Hạc nói:

– Dịch Tam Nương nói không sai, ta ra ngoài thôi.

Năm người bỏ đi ra gian ngoài.

Trương Vô Kỵ xuống khỏi giường, xỏ giày vào. Chỉ nghe Mã Pháp Thông nói:

– Vợ chồng Đỗ huynh có biết đích xác là Tạ Tốn đang ở trong chùa Thiếu Lâm hay không?

Dịch Tam Nương đáp:

– Cái đó là chắc chắn, Thiếu Lâm tự đã gửi thiếp mời anh hùng thiên hạ vào dịp tiết Đoan Ngọ, đến chùa dự "Đồ Sư đại hội", giả dụ họ chưa bắt được Tạ Tốn, thì còn mặt mũi nào với quần hùng?

Mã Pháp Thông "ừ" một tiếng, lại nói:

– Không Kiến thần tăng của phái Thiếu Lâm chết bởi tay Tạ Tốn, đệ tử Thiếu Lâm dù tăng hay tục cũng không thể không báo thù. Vợ chồng Đỗ huynh chỉ cần chờ đến tiết Đoan Ngọ, vào chùa Thiếu Lâm mở to mắt xem kẻ thù giơ cổ chịu chém, không tốn hơi sức đã trả được món nợ máu. Đỗ huynh tội gì phải hủy đôi tai, lại mạo hiểm đắc tội với phái Thiếu Lâm?

Dịch Tam Nương cười khẩy, nói:

– Ông ấy chọc thủng hai tai là từ năm năm trước kia. Đứa con yêu độc nhất của vợ chồng ta bị ác tặc Tạ Tốn giết hại, mối thù của vợ chồng ta đối với hắn sâu như biển, chúng ta đâu cần nhờ tay kẻ khác trả thù? Khi vợ chồng ta gặp tên ác tặc Tạ Tốn, việc đầu tiên của lão bà này là sẽ tự chọc thủng hai tai mình, vợ chồng ta quyết cùng chết với hắn một lần. Ôi chao, từ ngày đứa con ta bị hắn giết đi, vợ chồng ta chẳng còn thiết sống nữa. Đắc tội với phái Thiếu Lâm hay phái Võ Đang thì có gì khác nhau, bị băm vằm trăm nhát hay ngàn nhát đao thì cũng thế cả thôi.

Trương Vô Kỵ ở trong buồng, nghe giọng bà lão oán hận tới mức kinh tâm động phách, nghĩ thầm: "Năm xưa nghĩa phụ bị Thành Côn làm hại, bao nhiêu oán hờn ông đem trút hết xuống đầu những người vô tội. Hai vợ chồng họ Đỗ này xem ra vốn không phải người xấu, chỉ vì thương đứa con yêu bị thảm tử, nên mới rắp tâm giết nghĩa phụ ta để báo thù. Mối thù ấy làm sao hòa giải cho nổi. Ta chỉ còn cách cứu nghĩa phụ đưa đi một nơi thật xa, để khỏi tăng thêm nghiệp chướng".

Lúc này năm người ở gian ngoài không phát ra tiếng động nào cả, Trương Vô Kỵ nhìn qua kẽ vách, thấy vợ chồng họ Đỗ và bọn Mã Pháp Thông chấm ngón tay vào nước trà mà viết lên mặt bàn. Chàng nghĩ thầm: "Bọn họ quả thận trọng, tuy đã tin ta và Triệu Mẫn không phải là người trong giang hồ, vậy mà vẫn sợ tiết lộ cơ mật. Ôi, nghĩa phụ ta có quá nhiều kẻ thù oán, số người dòm ngó thanh đao Đồ Long lại còn đông hơn, từ nay đến tiết Đoan Ngọ không biết bao nhiêu người muốn ra tay trước. Bọn này không chỉ khổ tâm trù tính, mà tài nghệ cao cường, thủ đoạn hiểm độc; Thiếu Lâm tự chỉ cần sơ sảy, nghĩa phụ ta sẽ bị đại họa, ta phải cố tìm cách sớm cứu ra mới được".

Năm người vẫn tiếp tục dùng ngón tay viết chữ, bàn bạc với nhau.

Trương Vô Kỵ bèn trở lại chỗ tấm ván nằm ngủ, không để ý tới họ nữa.

Sáng hôm sau chàng trở dậy, thì Thanh Hải tam kiếm đã không còn ở đây nữa. Chàng nói với Dịch Tam Nương:

– Bà ơi, đêm qua ba vị đạo gia cầm dao sáng loáng, để làm gì thế? Lúc đầu cháu ngỡ họ đến bắt hai đứa chúng cháu nên sợ hết hồn, sau mới biết là không phải.

Dịch Tam Nương thấy chàng nhìn trường kiếm thành con dao, thì trong bụng cười thầm, thản nhiên nói:

– Mấy người ấy bị lạc đường, uống xong chén trà là họ đi luôn. Này cậu, cơm trưa xong, vợ chồng ta muốn đem ba gánh củi lên chùa bán, cậu gánh giúp cho một gánh được không? Nếu các nhà sư hỏi đến, ta sẽ bảo cậu là con ta. Không phải ta lợi dụng cậu, mà chỉ là để các nhà sư khỏi nghi ngờ thôi. Vợ cậu xinh xắn như thế, chớ có nên đi theo ra ngoài.

Bà lão tuy hỏi ý chàng như thế, nhưng chẳng khác gì hạ lệnh cho chàng, đâu có để cho chàng từ chối.

Trương Vô Kỵ liền hiểu ý: "Bà lão tưởng ta là một gã nhà quê, nên bảo ta theo vào chùa Thiếu Lâm dò xét động tĩnh, thật không còn gì hay hơn". Chàng bèn đáp:

– Bà bảo sao cháu làm vậy, miễn sao bà cho hai đứa chúng cháu ở nhờ. Chúng cháu khỏi phải chạy hết chỗ này chỗ nọ, cứ lo nơm nớp, chả ngày nào được yên.

Quá trưa, Trương Vô Kỵ theo hai vợ chồng bà lão, mỗi người gánh một gánh củi đến chùa Thiếu Lâm. Chàng đầu đội nón mê, lưng giắt cây rìu ngắn, chân xỏ giày cỏ, trong ba gánh củi thì thì gánh của chàng to nhất. Triệu Mẫn đứng ở bên cổng đưa mắt tiễn chàng thật lâu.

Hai vợ chồng bà lão cố ý đi chậm, thở hồng hộc, đến sơn đình ở bên ngoài chùa Thiếu Lâm thì đặt gánh củi xuống nghỉ. Trong sơn đình có hai nhà sư đang ngồi chuyện gẫu, thấy ba người cũng chẳng buồn để ý.

Dịch Tam Nương gỡ chiếc khăn thô quấn trên đầu xuống lau mồ hôi, xong lại đưa cho Trương Vô Kỵ lau, hỏi:

– Có mệt lắm không con?

Trương Vô Kỵ lúc đầu không ưa bà ta, nay nghe giọng nói của bà đầy vẻ thân tình, là chân tình chứ không phải giả dối, chàng liếc nhìn, thấy đôi mắt bà rưng rưng lệ, thì biết bà đang nhớ đến đứa con bị Tạ Tốn sát hại; lại thấy bà nhìn mình đầy vẻ trìu mến, tựa hồ chờ câu trả lời của chàng, thì không nỡ nhẫn tâm, liền đáp:

– Mẹ ơi, con chưa mệt, chắc là mẹ mệt lắm phải không?

Chàng gọi "mẹ" vì nghĩ đến mẹ ruột mình, lòng không khỏi thương cảm. Dịch Tam Nương thấy chàng gọi bà là mẹ, thì nước mắt rơi lã chã, giả vờ dùng khăn lau mồ hôi, thực ra để lau nước mắt.

Ông lão đứng dậy, nhấc gánh củi lên vai, tay trái vẫy một cái, đi ra khỏi sơn đình. Tuy ông lão không nghe thấy hai người nói gì, song biết rằng bà vợ thấy cảnh động lòng nhớ đứa con xấu số, không khéo lộ chuyện, để hai nhà sư kia đoán ra chân tướng.

Trương Vô Kỵ gỡ bớt củi từ gánh củi của Dịch Tam Nương đưa sang gánh của mình, nói:

– Thôi mình đi, mẹ ạ!

Dịch Tam Nương đau khổ, nghĩ thầm: "Nếu con ta còn sống, nay đã lớn hơn cậu này nhiều, chắc mình đã có cháu bế rồi". Bà lão cứ ngẩn người tại chỗ, thấy Trương Vô Kỵ gánh củi ra khỏi sơn đình, bà mới đuổi theo, trong lòng xúc động khiến bước chân loạng choạng. Trương Vô Kỵ bèn quay lại, chìa tay ra đỡ, nghĩ bụng: "Mẹ ta còn sống đến giờ, ta cũng sẽ đưa tay ra đỡ như thế này.."

Một nhà sư thấy thế, nói:

– Gã thiếu niên kia thật là hiếu thuận, hiếm có trên đời.

Nhà sư thứ hai nói:

– Bà lão, có phải định gánh củi lên chùa bán chăng? Mấy hôm rày phương trượng hạ pháp chỉ, cấm người ngoài vào chùa, thôi đừng lên nữa.

Dịch Tam Nương thất vọng, nghĩ thầm: "Thiếu Lâm tự quả nhiên phòng phạm nghiêm mật, muốn trà trộn vào chùa không phải dễ". Đỗ Bách Đương đã đi được mấy trượng, thấy hai người không đi theo bèn dừng lại đợi.

Một nhà sư nói:

– Gia đình nhà này mẹ hiền con thảo, thôi mình dễ dãi với họ một chút. Sư đệ, đệ hãy dẫn họ vào cửa hậu bếp Hương Tích, nếu giám tự có hỏi thì cứ bảo mấy người này vẫn đến bán củi, chắc không sao đâu.

Nhà sư kia đáp:

– Vâng, giám tự không cho người người ngoài vào chùa là đề phòng những kẻ vô công rồi nghề. Còn mấy người nhà quê trung hậu thật thà, hà tất phải cản trở sinh kế của họ?

Thế là nhà sư đó dẫn đường cho hai vợ chồng ông lão và Trương Vô Kỵ đi vào chùa bằng cửa hậu, đưa ba gánh củi vào bếp Hương Tích, ắt có người trả tiền.

Dịch Tam Nương nói:

– Chúng tôi có cải bẹ trắng thật ngon, ngày mai sẽ sai cháu A Ngưu đây mang lên các vị nếm thử, khoản ấy không tính tiền.

Nhà sư dẫn đường bèn cười nói:

– Từ mai trở đi, các người không được đến nữa. Giám tự mà biết, trách phạt chúng bần tăng thì nguy lắm.

Nhà sư trông coi bếp Hương Tích nhìn Trương Vô Kỵ đánh giá, bỗng nói:

– Sau tiết Đoan Dương, nhà chùa sẽ có hơn một ngàn vị khách, việc gánh nước bổ củi xem chừng làm không xuể. Cậu này trông khỏe mạnh, ở đây giúp việc vài tháng, mỗi tháng trả công năm tiền được chứ?

Dịch Tam Nương cả mừng, vội nói:

– Thế thì còn gì bằng, A Ngưu ở nhà cũng không có việc gì cần kíp, đến chùa đây cho các vị sư phó sai bảo làm việc vặt, lại được thêm mấy lạng bạc để dành thì tốt quá.

Trương Vô Kỵ nghĩ không ổn: "Thiếu Lâm tự có nhiều người biết mặt ta, lỡ bất ngờ họ xuống nhà bếp thì nguy to. Ở trong chùa hai tháng, thể nào cũng có người nhận ra ta", bèn nói:

– Mẹ ơi, còn nhà con..

Dịch Tam Nương nghĩ đây là dịp may trời cho, không cầu mà được, vội nói:

– Thì vợ con cứ ở nhà, có sao, hay là con sợ mẹ hành hạ nó? Con cứ ở đây vâng lời các vị sư phó, đừng lười biếng, cứ vài bữa mẹ cùng vợ con sẽ lên thăm con một lần. Con nhà ngần này tuổi đầu mà xa mẹ một ngày cũng không dám, cứ như còn cần mẹ bú mớm, xi đái không bằng!

Bà lão vừa nói vừa đưa tay xoa đầu Trương Vô Kỵ, ánh mắt đầy vẻ hiền từ yêu thương.

Nhà sư trông coi bếp Hương Tích cả tuần nay lo lắng, nghĩ đến việc trước sau tiết Đoan Dương, anh hùng thiên hạ tụ hội, chuyện cơm nước sẽ rất vất vả. Giám tự tuy có phái không ít người tới bếp Hương Tích làm quen trước, nhưng các hòa thượng được phái tới ấy hoặc tham thiền thanh tu, hoặc luyện tập võ nghệ, tạp vụ ở nhà bếp chẳng ai muốn làm. Các hòa thượng do giám tự phái tới coi đây là việc chẳng đặng đừng, ở nhà bếp mà ra bộ ta đây, đứng coi thì nhiều mà làm việc thì ít; hiện thời như thế cũng chưa sao, song khi khách khứa kéo đến đông, thể nào cũng lôi thôi to. Nay trông thấy Trương Vô Kỵ có vẻ chất phác chăm chỉ, vị này liền có ý muốn giữ chàng lại, nên cứ hết lời khuyên nhủ.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Ban ngày ta cứ quanh quẩn trong bếp, cũng chả lo chạm trán các cao thủ trong chùa. Ban đêm ta sẽ tìm cách thám thính xem nghĩa phụ ở dâu, như thế cũng tiện". Nghĩ thế, nhưng ngoài mặt chàng vẫn giả bộ lưỡng lự, đến khi nhà sư dẫn đường cũng khuyên chàng nhận lời, chàng mới miễn cưỡng bằng lòng, nói:

– Sư phụ, tốt hơn hết mỗi tháng sư phụ trả cho tôi sáu tiền, năm tiền tôi đưa cho mẹ, còn một tiền cho vợ tôi mua vải hoa..

Nhà sư trông coi bếp Hương Tích nghe thế thì cười ha hả, nói:

– Được, sáu tiền thì sáu tiền, một lời đã định.

Dịch Tam Nương còn dặn dò vài câu, rồi mới cùng Đỗ Bách Đương thong thả đi xuống núi.

Trương Vô Kỵ chạy theo, gọi với:

– Mẹ ơi, xin mẹ coi sóc vợ con nhé!

Dịch Tam Nương đáp:

– Mẹ biết rồi, con cứ yên tâm.

Trương Vô Kỵ ở nhà bếp bổ củi xúc tro, nhóm lửa gánh nước, bận bịu toàn những việc chẳng lấy gì làm thích thú. Khi dọn tro, chàng cố ý bôi quệt cho mặt mày lem luốc, đầu tóc bù xù, soi vào vại nước thấy quả thật không ai nhận ra mình nổi nữa. Ban đêm, chàng cùng các hỏa công khác ngủ trong một gian nhà nhỏ ngay tại bếp Hương Tích. Chàng biết Thiếu Lâm tự là nơi ngọa hổ tàng long, ngay trong đám hỏa công cũng rất có thể có đại cao thủ trà trộn, thành thử việc gì cũng phải hết sức thận trọng, ngay cả nói năng cũng không dám nói thêm nửa lời.

Cứ như thế bảy, tám ngày, Dịch Tam Nương dẫn Triệu Mẫn lên thăm chàng hai lần. Chàng cặm cụi từ sáng đến tối, việc nặng nhọc mấy cũng không quản ngại, thành thử nhà sư trông coi bếp Hương Tích rất hài lòng, các hỏa công đối với chàng cũng hòa thuận. Chàng không hề dò hỏi, chỉ lắng tai nghe người khác nói chuyện, may ra biết được chút manh mối gì chăng; nghĩ thầm thể nào chẳng có người mang cơm cho nghĩa phụ, nếu đến lượt mình mang cơm đi, thì tự nhiên sẽ biết được chỗ nghĩa phụ bị giam cầm. Thế nhưng kiên nhẫn chờ cả tuần vẫn chả dò la được tin tức gì.

Tối ngày thứ chín, chàng ngủ đến nửa đêm, bỗng nghe văng vẳng từ xa chừng nửa dặm có tiếng người hò hét, chàng bèn len lén trở dậy, thấy mọi người xung quanh không ai hay biết, liền thi triển khinh công lần theo âm thanh mà tới, nghe tiếng người phát ra từ cánh rừng bên trái chùa, chàng bèn tung mình nhảy lên một cây lớn, xem xét kỹ cây tiếp sau không có ai mai phục, mới nhảy sang cây đó, tiếp cận dần dần.

Lúc này trong cánh rừng tiếng binh khí va chạm đã rõ, có mấy người đang đánh nhau. Chàng náu mình sau lùm cây, thấy đao quang tung hoành, kiếm ảnh loang loáng, sáu người chia thành hai phe đánh nhau. Ba người sử dụng kiếm chính là Thanh Hải tam kiếm, họ triển khai Chính phản ngũ hành giả làm "Tam tài trận", phòng thủ rất chặt chẽ. Phe tấn công gồm ba hòa thượng sử dụng giới đao, xông vào phá trận. Sau hai, ba chục chiêu, nghe xoẹt một tiếng, một người trong Thanh Hải tam kiếm bị trúng đao ngã vật ra, "Tam tài trận" giả bị phá vỡ, hai người còn lại khó bề chống đỡ, chỉ thêm vài chiêu, người thứ hai rú lên một tiếng thảm thiết, bị chém chết tươi, nghe giọng thì là gã lùn mập Mã Pháp Thông. Người cuối cùng tay phải cũng đã bị thương, song vẫn quyết tử chiến. Một hòa thượng quát nhỏ:

– Dừng tay!

Ba thanh đao vây người kia lại, song không tấn công nữa.

Một giọng người già hỏi gay gắt:

– Ngọc Chân quán ở Thanh Hải các ngươi và Thiếu Lâm tự bọn ta không thù oán, vì cớ gì nửa đêm tới đây xâm phạm?

Người cuối cùng của Thanh Hải tam kiếm là Thiệu Hạc, rầu rĩ đáp:

– Ba sư huynh đệ bọn ta thua rồi, chỉ trách mình học nghệ chưa tinh, có gì đáng hỏi?

Đối phương cười khẩy, nói:

– Các người vì Tạ Tốn mà tới đây, chắc muốn đoạt thanh đao Đồ Long chứ gì? Hì hì, chưa từng nghe kể Tạ Tốn giết ai của Ngọc Chân quán, thì đến đây ắt chỉ vì bảo đao. Tài nghệ tầm thường như các ngươi mà đòi xông vào Thiếu Lâm tự ư? Thiếu Lâm tự là lãnh tụ võ lâm hơn ngàn năm nay, không ngờ lại có kẻ dám xem thường như vậy.

Thiệu Hạc nhân lúc người kia đang cao hứng bèn đâm vút ra một kiếm. Hòa thượng kia vội né tránh, nhưng chậm mất nửa bước, bị kiếm đâm trúng vai trái. Hai tăng nhân đứng bên cùng vung đao chém tới, Thiệu Hạc lập tức đầu một nơi thân một nẻo.

Ba hòa thượng không nói một lời, cúi xuống vác ba cái xác lên mang về chùa. Trương Vô Kỵ toan đi theo xem thế nào, bỗng nghe trong đám cỏ cao ở phía trước, bên phải, có tiếng thở nhè nhẹ. Chàng nghĩ thầm: "Nguy hiểm thật, hóa ra có kẻ mai phục ở đây", bèn nằm im không nhúc nhích. Chừng nửa canh giờ sau, mới nghe trong bụi cỏ hai tiếng vỗ tay nhỏ, đằng xa có người vỗ tay đáp lại, rồi trước sau có sáu hòa thượng trồi lên, kẻ cầm thiền trượng, người xách đao kiếm chia thành hình nan quạt quay vào chùa.

Trương Vô Kỵ đợi cho sáu nhà sư kia đi xa rồi, mới trở về nhà bếp; các hỏa công vẫn đang ngủ say. Chàng than thầm: "Nếu không phải chính mắt ta chứng kiến, thì có ai ngờ chỉ trong giây lát, ba hảo hán kia đã bị chết mất xác". Từ bữa đó, chàng biết Thiếu Lâm tự phòng phạm nghiêm mật lạ thường, nên càng cẩn thận hơn.

*

* *

Thêm vài hôm nữa, đã đến trung tuần tháng Tư, khí hậu nóng dần, mỗi ngày lại gần tiết Đoan Dương một chút. Trương Vô Kỵ tự nhủ: "Mình ở bếp Hương Tích làm đủ việc nặng nhọc mà vẫn không dò hỏi được nghĩa phụ đang ở đâu, đêm nay phải mạo hiểm đi các nơi dò xét mới được".

Đêm đó, chàng ngủ đến canh ba, thì len lén trở dậy, tung mình lên mái, nấp sau nóc chùa quan sát. Một lát thì thấy có hai bóng người từ phía nam lướt lên phía bắc, tay áo bay phần phật, giới đao loang loáng dưới ánh trăng, chính là các nhà sư trong chùa đi tuần ngang qua.

Đợi hai nhà sư kia đi xa rồi, chàng tiến lên vài trượng, lại nghe trên mái ngói có tiếng chân người, hai tăng nhân khác đi qua; vậy là người này đi qua thì tới người khác, đan chéo vào nhau, tuần tra thật chặt chẽ, chỉ e trong hoàng cung cũng chưa bằng ở đây. Thấy tình hình như vậy, nghĩ rằng nếu tiếp tục tiến lên sẽ bị phát giác, chàng bèn bỏ cuộc quay về.

Thêm ba ngày nữa; đêm đó sấm chớp ầm ầm, trời đổ mưa rào. Trương Vô Kỵ cả mừng, nghĩ thầm: "Trời giúp ta đây". Mưa càng lúc càng lớn, bốn bề tối đen như mực. Trương Vô Kỵ lẻn ra, chạy về phía điện trước, nghĩ bụng: "La Hán đường, Đạt Ma đường, Bát Nhã viện, Phương trượng tinh xá là bốn yếu địa căn bản của Thiếu Lâm tự, mình phải tới đó thám thính mới được". Thế nhưng Thiếu Lâm tự nhà cửa san sát, thật không sao biết đâu là La Hán đường, đâu là Bát Nhã viện. Chàng lẳng lặng vọt đi, đến một khóm rừng trúc, thấy trước mặt có một căn nhà nhỏ, ánh đèn lọt qua cửa sổ. Lúc này người chàng ướt sũng; các hạt mưa to như hạt đậu rơi xuống mặt, xuống tay chàng, từng giọt từng giọt bắn văng lên. Chàng rón rén tới bên cửa sổ căn nhà, nghe bên trong có tiếng người nói, chính là giọng nói của phương trượng Không Văn đại sư.

Không Văn nói:

– Vì cái gã Kim Mao Sư Vương mà trong một tháng qua Thiếu Lâm tự đã giết chết hai mươi ba người, tạo thêm nghiệt chướng, thật trái với đức từ bi của nhà Phật. Quang Minh tả sứ của Minh giáo là Dương Tiêu, hữu sứ Phạm Dao, Bạch Mi Ưng Vương Ân Thiên Chính, Thanh Dực Bức Vương Vi Nhất Tiếu trước sau đều sai người đến chùa xin ta thả Tạ Tốn ra..

Trương Vô Kỵ nghe vậy, trong lòng vui mừng: "Thì ra ông ngoại ta cùng bọn Dương tả sứ cũng đã biết tin và cử người đến". Chỉ nghe Không Văn nói tiếp:

– Bổn tự đã thoái thác, nhưng Minh giáo há chịu khoanh tay? Gã Trương giáo chủ võ công xuất thần nhập hóa, thủy chung chưa thấy xuất hiện, chỉ e đang có mưu đồ gì còn giữ kín. Ta và Không Trí sư đệ từng được y ra tay cứu cho, còn nợ người ta một khoản ân tình; nếu y đích thân tới cầu xin, ta biết ăn nói làm sao? Việc này thật là khó xử. Sư đệ, sư điệt, hai vị có cao kiến gì chăng?

Một giọng già nua lạnh lùng khẽ ho, Trương Vô Kỵ vừa nghe đã giật mình, biết ngay đó là Thành Côn, kẻ cải danh thành Viên Chân. Người ấy Trương Vô Kỵ chưa được thấy mặt trực diện, nhưng hồi trước trên đỉnh Quang Minh, chàng ở trong túi vải nghe hắn kể chuyện cũ, rồi lại nghe hắn quát tháo ở bên kia vách đá, nên vẫn còn nhớ giọng nói của hắn. Trong giây lát chợt nhớ đến Tiểu Chiêu, lòng vừa bồi hồi vừa chua xót.

Chỉ nghe Viên Chân nói:

– Tạ Tốn do ba vị thái sư thúc canh giữ, chắc không có thể sơ sảy điều gì. Anh hùng đại hội kỳ này can hệ đến uy danh, đến sự hưng suy vinh nhục của phái Thiếu Lâm chúng ta cả ngàn năm nay; cái ơn nhỏ của Ma giáo kia, phương trượng sư thúc hà tất phải băn khoăn. Huống hồ việc xảy ra ở chùa Vạn An, chính là do Ma giáo ngấm ngầm câu kết với triều đình để gây khó khăn cho sáu đại môn phái, chẳng lẽ phương trượng sư thúc không hề hay biết?

Không Văn kinh ngạc hỏi:

– Minh giáo câu kết với triều đình là thế nào?

Viên Chân nói:

– Trương giáo chủ của Minh giáo vốn muốn kết hôn với Chu Chỉ Nhược, chưởng môn phái Nga Mi. Ngay hôm làm lễ cưới, quận chúa nương nương của Nhữ Dương Vương đột nhiên cùng với tên tiểu tử Trương Vô Kỵ bỏ trốn. Chuyện này dấy động giang hồ, phương trượng sư thúc chắc đã nghe rồi.

Không Văn nói:

– Phải, chuyện đó ta có nghe qua.

Viên Chân nói:

– Trong đám thuộc hạ của quận chúa nương nương có một tên đắc lực, gọi là "Khổ đầu đà", hai vị sư thúc hồi ở chùa Vạn An tất đã gặp hắn rồi.

Không Trí tại chùa Vạn An bị Triệu Mẫn ép thể hiện võ công, từng bị tên Khổ đầu đà hành hạ mấy lần, hồi ấy mất hết sức lực, không thể kháng cự; bây giờ nghĩ lại vẫn còn tức giận, liền nói:

– Hừ, lần này xong việc lớn, ta nhất định phải tới Đại Đô gặp tên Khổ đầu đà mới được.

Viên Chân hỏi:

– Thế hai vị sư thúc có biết tên Khổ đầu đà ấy là ai không?

Không Trí nói:

– Tên Khổ đầu đà ấy kiến thức vô cùng uyên bác, dường như võ công nhà nào phái nào hắn cũng thông thạo, nhưng không sao nhận biết được môn phái của hắn.

Viên Chân nói:

– Tên Khổ đầu đà ấy chính là Phạm Dao, Quang Minh hữu sứ của Minh giáo.

Không Văn và Không Trí cùng hỏi:

– Có thực vậy không?

Giọng của hai người hết sức kinh ngạc. Viên Chân đáp:

– Viên Chân lẽ nào dám nói sai với hai vị sư thúc? Tiết Đoan Dương này nếu hắn cả gan đến đây, hai vị sư thúc gặp là biết ngay.

Không Trí ngẫm nghĩ, nói:

– Nếu đúng thế thì Trương Vô Kỵ quả thật ngầm câu kết với ả quận chúa, để ả ta ra mặt bắt giữ thủ lĩnh của sáu đại môn phái, rồi để Trương Vô Kỵ cứu ra lấy lòng.

Viên Chân nói:

– Chuyện đó mười phần thì tám, chín là như thế.

Không Văn nói:

– Ta thấy Trương giáo chủ trung hậu hiệp nghĩa, tựa hồ không phải hạng người như thế, chúng ta đừng trách lầm người tốt.

Viên Chân nói:

– Phương trượng sư thúc minh giám, tục ngữ có câu "Biết người biết mặt, biết lòng sao đây". Tạ Tốn là nghĩa phụ của Trương Vô Kỵ, lại là một trong bốn đại hộ giáo pháp vương của Ma giáo, Ma giáo nhất định sẽ tìm cách cứu hắn bằng được, trong kỳ "Đồ Sư anh hùng hội" sắp tới, mọi chuyện sẽ rõ ràng.

Sau đó ba người bàn tính sẽ tiếp đãi khách khứa thế nào, làm cách nào ngăn chặn địch nhân đến cướp Tạ Tốn, rồi tính xem các môn phái có bao nhiêu cao thủ. Viên Chân muốn khích cho các phái đánh nhau; đợi khi các phái đều bại cả rồi, phái Thiếu Lâm mới sắm vai ngư ông đắc lợi, trấn áp thu phục các phái, danh chính ngôn thuận chủ quản thanh đao Đồ Long, giết Tạ Tốn tế Không Kiến thần tăng.

Không Văn rất không muốn làm tổn thương nhiều nhân mạng, đắc tội với đồng đạo võ lâm, cũng tựa hồ không dám coi thường Minh giáo.

Không Trí thì nước đôi, nói:

– Nói chán chê rồi, việc quan trọng nhất là làm sao buộc Tạ Tốn phải khai ra trước tiết Đoan Dương, thanh đao Đồ Long hiện đang ở đâu, nếu không, "Đồ Sư anh hùng hội" kỳ này hóa ra xôi hỏng bỏng không, lại làm mất cả uy danh bổn phái.

Không Văn nói:

– Sư đệ nói chí phải, kỳ đại hội này chúng ta phải dương đao lập uy, cho mọi người biết bảo đao Đồ Long võ lâm chí tôn kia đã được bổn phái chủ quản, bấy giờ bổn phái hiệu lệnh thiên hạ, thì còn ai dám trái lệnh?

Không Trí nói:

– Hay lắm. Vậy cứ thế mà làm. Viên Chân, ngươi hãy tìm cách nói chuyện với Tạ Tốn, khuyên hắn giao lại bảo đao, thì chúng ta sẽ tha mạng cho hắn.

Viên Chân đáp:

– Vâng, xin làm đúng lời sai bảo của hai vị sư thúc.

Tiếng chân bước nhẹ, Viên Chân đã đi ra.

Trương Vô Kỵ cả mừng, nhưng biết ba vị tăng nhân Thiếu Lâm này võ công cực cao, chỉ cần hơi có tiếng động, lập tức sẽ bị phát giác; nếu cả ba người kia cùng ra tay một lượt, một mình chàng e khó thủ thắng, giỏi lắm chỉ thoát thân được thôi, chứ không thể cứu nổi nghĩa phụ. Nghĩ vậy, chàng đành nín thở bất động.

Chỉ thấy thân hình cao gầy của Viên Chân đi về phía bắc, tay cầm một cây dù bằng giấy dầu, những giọt mưa rơi xuống dù nghe lộp bộp. Trương Vô Kỵ đợi Viên Chân đi xa hơn chục trượng, mới nhẹ nhàng cất bước theo sau.

Comments

Comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 36: Ba sợi dây cuốn mấy cây tùng

Dưới cơn mưa như trút, số người tuần tra trên mái nhà và các nơi giảm đi rất nhiều. Trương Vô Kỵ men nhờ các góc tường, các gốc cây che khuất mà đuổi theo một mạch. Chàng thấy Viên Chân nhảy qua bức tường sau chùa thì nghĩ thầm: "Hóa ra nghĩa phụ bị nhốt ở bên ngoài, hèn gì trong chùa không có một chút dấu vết nào cả". Chàng không dám công nhiên nhảy qua tường ra ngoài, đành từ chân tường thong thả leo lên, đến bờ tường rồi chàng đợi cho đám tuần tra bên ngoài đi qua, mới dám nhảy xuống.

Trong lớp mưa giăng, chàng thấy chiếc dù của Viên Chân ở phía bắc, cách chùa chừng một trăm trượng, thì rẽ sang trái, đi nhanh như gió lên một đỉnh núi nhỏ. Viên Chân đã ngoài bảy mươi tuổi, vậy mà thân thủ vẫn nhanh nhẹn lạ thường; chỉ thấy hắn đi lên núi mà cây dù không hề chao động, cứ thẳng lên tựa hồ có người buộc dây dài kéo hắn lên vậy.

Trương Vô Kỵ rảo bước tới chân núi, đang định tiến lên, bỗng thấy bên cạnh sơn đạo có bạch quang loang loáng, có kẻ cầm binh khí mai phục ở đó. Chàng vội dừng bước, thoáng chốc đã thấy từ sau các lùm cây lần lượt có bốn người nhảy ra, ba người đi trước, một người đi sau, cùng chạy lên đỉnh núi. Nhìn lên đỉnh núi, chỉ thấy trên cùng có mấy cây tùng xanh rì, không hề có nhà cửa gì hết, chẳng hiểu Tạ Tốn bị nhốt nơi nào. Thấy xung quanh không còn ai khác, chàng bèn theo lên trên đỉnh núi.

Bốn người đi trước khinh công rất cao siêu, chàng gia tăng cước bộ, đuổi theo sau, cách họ chừng hai chục trượng. Trong bóng đêm, chàng nhận ra một nữ, ba nam, trang phục theo lối tục gia, nghĩ thầm: "Bốn người này chắc là đến đây gây chuyện với nghĩa phụ ta, vậy cứ mặc cho họ đánh nhau với Viên Chân cho chết bớt đi, ta chẳng vội ra tay làm gì". Sắp tới đỉnh núi, bốn người kia càng chạy nhanh hơn. Chàng bỗng nhận ra hai người trong số đó: "Ồ, thì ra là hai vợ chồng Hà Thái Xung, Ban Thục Nhàn phái Côn Luân".

Chỉ nghe Viên Chân hú một tiếng dài, quay mình lại, chạy vụt trở xuống. Trương Vô Kỵ vội ẩn mình vào bụi cỏ ven đường, nằm mọp xuống mà bò sang bên trái vài trượng, đã nghe tiếng binh khí chạm nhau chát chúa, vậy là Viên Chân đã động thủ với mấy người kia.

Qua tiếng binh khí chạm nhau, biết là hai người đấu với một mình Viên Chân. Chàng chợt nghĩ bụng: "Nếu hai người còn lại không tham chiến, tức là họ lên đỉnh núi tìm nghĩa phụ ta rồi". Chàng vội lẩn trong các bụi cỏ mà đi lên.

Tới đỉnh núi rồi, thấy đó là một khoảng đất trống bằng phẳng, không có nhà cửa gì hết, chỉ có ba cây tùng cao ngất mọc thành hình chữ phẩm, cành uốn khúc trên không trung như ba con rồng, chàng thầm ngạc nhiên: "Chẳng lẽ nghĩa phụ bị nhốt không phải ở đây?"

Bỗng nghe trong đám cỏ phía bên phải có tiếng sột soạt, ai đó đang bò, rồi tiếng Ban Thục Nhàn nói:

– Phải mau động thủ, hai vị sư đệ chưa chắc địch nổi tăng nhân kia đâu.

Hà Thái Xung đáp:

– Đúng thế.

Hai người liền đứng thẳng dậy, xông tới giữa ba cây tùng. Trương Vô Kỵ lo rằng Tạ Tốn cũng ở gần đâu đây, chàng không dám sơ sảy chút nào, vội từ trong đám cỏ trườn lên.

Đột nhiên nghe Hà Thái Xung hự lên một tiếng, hình như đã bị thương. Trương Vô Kỵ nghển cổ lên nhìn, thấy Hà Thái Xung đang ở khoảng giữa ba cây tùng, vung trường kiếm như cùng ai đó giao đấu, song lại không thấy đối phương đâu cả, chỉ nghe vọng lại mấy tiếng bộp bộp, tựa hồ trường kiếm đụng vào một thứ binh khí quái dị nào đó. Chàng lấy làm lạ, bò lên thêm vài bước, căng mắt nhìn, bất giác cả kinh.

Thì ra hai cái gốc cây tùng đối diện với chàng đều lõm vào thành một cái hốc, đủ chứa một người, trong mỗi hốc cây có một lão tăng, tay múa một sợi dây màu đen dài ngoẵng, đánh tới vợ chồng Hà Thái Xung. Cây tùng thứ ba ở phía sau lưng Trương Vô Kỵ, cũng có một sợi dây màu đen đánh ra, tất cũng có một lão tăng ngồi trong hõm cây. Trong đêm tối, ba sợi dây màu đen uốn lượn tấn công, đâu có hình bóng gì cho đối phương trông thấy. Hai vợ chồng Hà Thái Xung vội múa tít trường kiếm phòng thủ thật nghiêm mật, không nhìn thấy đường đi của binh khí đối phương, nên không có cách gì phản kích. Ba sợi dây màu đen trông thì có vẻ chậm, song thực ra rất nhanh, lại không phát ra hơi gió, dưới trời mưa như trút, trên đỉnh núi trơ trọi, giữa đêm tối bít bùng, trông y như ma quỷ hiện hình.

Hai vợ chồng Hà Thái Xung luôn miệng kêu la chỉ điểm cho nhau, cố thoát ra khỏi vòng vây hình chữ "phẩm", nhưng mỗi lần xông ra, đều bị ba sợi dây dồn trở vào. Trương Vô Kỵ thầm kinh ngạc, thấy ba sợi dây múa lên không một tiếng động, tức là nội lực của người múa dây phản chiếu không minh, công lực tinh thuần, không còn lộ chút vấp váp gì, chính chàng cũng không sánh nổi, hoảng sợ nghĩ thầm: "Viên Chân có nói rằng nghĩa phụ do ba vị thái sư thúc canh giữ, chắc là ba vị lão tăng kia, công lực của họ thực quá ư thâm hậu!"

Chỉ nghe một tiếng rú "Ối" thảm thiết, sống lưng Hà Thái Xung đã bị một sợi dây quật trúng, cuộn y lại, ném văng ra xa, có lẽ hết sống nổi. Ban Thục Nhàn vừa hoảng hốt vừa đau đớn, sơ ý một chút, bị ngay ba sợi dây cùng quất tới vỡ đầu, gãy vụn tứ chi, không còn hình dạng con người. Một sợi dây đen cuốn xác bà ta quăng ra xa.

Viên Chân vừa đánh vừa rút lên đỉnh núi, miệng nói:

– Gớm thật, có giỏi thì lên đây chịu chết!

Hai đại hán đối địch với Viên Chân đều là cao thủ phái Côn Luân, xét về võ công thì Viên Chân chẳng hề thua kém, nhưng đâu dễ giết được họ; giỏi lắm hắn cũng chỉ đả thương được một người, người thứ hai sẽ tẩu thoát mất; bởi vậy hắn mới dụ họ tới chỗ ba cây tùng.

Hai người kia cách chỗ ba cây tùng vài trượng, thấy xác Hà Thái Xung nằm đó, bèn cùng dừng bước, không đề phòng có hai sợi dây dài từ phía sau lẳng lặng bay tới cuốn vào người họ mà quẳng từ đỉnh núi cao hơn trăm trượng xuống vực sâu. Hai người rơi xuống chết tươi ngay, nhưng tiếng kêu thảm thiết của họ lúc đang rơi thì cứ vang qua dội lại giữa hai vách núi hồi lâu chưa dứt.

Trương Vô Kỵ thấy ba vị lão tăng trong giây lát đã lấy mạng bốn đại cao thủ phái Côn Luân, ra tay tàn bạo mà nhẹ nhàng như chơi, võ công cao siêu đến thế, thật hiếm có trên đời; xem ra cao hơn Lộc Trượng Khách và Hạc Bút Ông; tuy chưa bì được với sự cao thâm khôn lường của thái sư phụ Trương Tam Phong, nhưng cũng đạt tới cảnh giới thần minh. Phái Thiếu Lâm còn các bậc nguyên lão như thế này, xem chừng ngay cả thái sư phụ và Dương Tiêu cũng không biết. Trống ngực đập thình thình, chàng nằm mọp trong bụi cỏ, không dám động đậy.

Chỉ thấy Viên Chân giơ chân đá luôn hai cái xác Hà Thái Xung và Ban Thục Nhàn xuống vực sâu. Hai tử thi rơi một hồi lâu, mới mới nghe vọng lên tiếng ình ịch. Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Hà Thái Xung đối với ta lấy oán báo đức, hôm nay lại muốn đến hại nghĩa phụ ta để cướp bảo đao, nhân cách thấp hèn, nhưng võ công cao siêu, vào hạng tông sư môn phái trong võ học, không ngờ bị kết cục thảm hại như vậy".

Chỉ nghe Viên Chân cung kính nói:

– Ba vị thái sư thúc thần công cái thế, vừa phẩy tay đã lấy mạng bốn đại cao thủ phái Côn Luân, Viên Chân khâm phục vô cùng, không thể diễn tả bằng lời.

Một lão tăng hừ một tiếng, không trả lời. Viên Chân lại nói:

- Viên Chân phụng mệnh phương trượng sư thúc, kính cẩn lên thỉnh an ba vị thái sư thúc, xin được nói chuyện với tên tù vài câu.

Một giọng khô khan nói:

– Không Kiến sư điệt tài cao đức trọng, ba lão phu đây yêu quý vô cùng, những mong y phát dương võ học phái Thiếu Lâm, chẳng may y chết bởi tay kẻ gian. Ba lão phu đây tọa quan đã mấy chục năm, vốn không màng tới việc trần tục, nay cũng vì Không Kiến sư điệt mà tới đỉnh núi này, kẻ gian kia có chết cũng đáng, một đao chém hắn cho xong, hà tất phải nhiều lời cho thêm phiền việc thanh tu của ba lão phu đây?

Viên Chân cúi mình nói:

– Thái sư thúc dạy chí phải. Có điều là phương trượng sư thúc bảo: Ân sư của đệ tử tuy bị kẻ gian hãm hại, song võ công của ân sư đệ tử cao siêu vô cùng, kẻ gian kia làm sao một mình lại giết nổi? Cho nên đem nhốt hắn ở đây, phiền ba vị thái sư thúc nhọc lòng canh giữ, trước là để dẫn dụ đồng bọn của hắn tới cứu, thế là có dịp trừ sạch những kẻ năm xưa hãm hại ân sư của đệ tử, không cho một đứa nào lọt lưới; hai nữa là buộc hắn giao lại thanh đao Đồ Long, không để cây bảo đao đó rơi vào tay phái khác, soán đoạt cái tên "võ lâm chí tôn", làm tổn hại uy vọng ngàn năm của bổn phái.

Trương Vô Kỵ nghe Viên Chân nói tới đây thì không khỏi nghiến răng, nghĩ thầm: "Tên ác tặc Viên Chân này dẫu đem tùng xẻo cũng không hết tội. Hắn khéo mồm khéo miệng mời được ba vị lão tăng đã mấy chục năm không lý đến trần tục, nay mượn tay ba vị đó giết các cao thủ võ lâm". Chỉ nghe một vị lão tăng "hừm" một tiếng, nói:

– Vậy có gì thì ngươi nói với hắn đi.

Lúc này mưa vẫn chưa tạnh, tiếng sấm ỳ ầm không dứt. Viên Chân đi tới khoảng giữa ba cây tùng, quỳ xuống, nói vọng xuống đất:

– Tạ Tốn, đã nghĩ kỹ chưa, chỉ cần ngươi nói ra nơi cất giấu thanh đao Đồ Long, ta sẽ lập tức thả cho ngươi đi.

Trương Vô Kỵ lấy làm lạ: "Hắn nói xuống mặt đất, không lẽ ở đấy có một địa lao, nghĩa phụ ta bị nhốt dưới đó hay sao?"

Bỗng nghe một giọng trong trẻo hơn của một vị lão tăng nói với vẻ bực bội:

– Viên Chân, người xuất gia không được cuồng ngữ, ngươi lại nói dối hắn là sao? Nếu hắn khai ra nơi cất giấu bảo đao, không lẽ ngươi thả hắn ra thật ư?

Viên Chân đáp:

– Xin thái sư thúc minh giám, đệ tử thiển nghĩ, mối thù của ân sư tuy quá sâu, nhưng đặt lên bàn cân, thì uy vọng của bản phái còn nặng hơn. Chỉ cần hắn khai ra nơi cất giấu bảo đao, bổn phái có được cây bảo đao rồi, sẽ thả cho hắn đi. Ba năm sau đệ tử sẽ đi tìm hắn báo thù cho ân sư cũng được.

Lão tăng kia nói:

– Như thế cũng phải. Trong võ lâm, tín nghĩa làm đầu, lời nói ra như mũi tên rời nỏ, dù đối với kẻ đại gian đại ác, đệ tử phái Thiếu Lâm cũng không thất tín với người.

Viên Chân nói:

– Xin kính cẩn tuân theo lời giáo huấn của thái sư thúc.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Ba vị lão tăng kia không chỉ võ công trác tuyệt, mà còn là các cao tăng đức độ. Chỉ tiếc là họ rơi vào gian kế của Viên Chân mà không hay biết". Chỉ nghe Viên Chân quát to xuống phía dưới:

– Tạ Tốn, lời của thái sư thúc ta, ngươi nghe rõ chưa? Ba vị lão nhân gia bằng lòng cho ngươi đào tẩu đấy.

Chợt từ dưới lòng đất vọng lên tiếng nói:

– Thành Côn, ngươi còn mặt mũi nào nói chuyện với ta nữa?

Trương Vô Kỵ nghe giọng nói hùng dũng, lạnh lùng, chính là giọng nói của nghĩa phụ, thì trong lòng chấn động, hận không thể lập tức xông lên đánh chết Thành Côn, cứu Tạ Tốn ra. Nếu chàng xuất hiện, ba sợi dây đen của ba vị cao tăng Thiếu Lâm sẽ đánh tới liền; dù Thành Côn không ra tay, chàng cũng không thể địch nổi ba vị cao tăng kia liên thủ; chàng đành cố dằn lòng, nghĩ thầm: "Đợi cho tên ác tăng Viên Chân này đi khỏi, mình sẽ ra bái kiến ba vị cao tăng, nói rõ đầu đuôi nguyên do. Ba vị cao tăng Phật pháp tinh thâm, không lẽ không rõ phải trái".

Chỉ nghe Viên Chân thở dài nói:

– Tạ Tốn, ta và ngươi tuổi đều đã cao, mọi chuyện xa xưa, hà tất cứ phải khắc khoải trong lòng? Cùng lắm cũng chỉ hai chục năm nữa, ta và ngươi cùng về trong lòng đất. Những gì ta không phải đối với ngươi, cũng như những gì tốt đẹp giữa hai ta, thôi thì xóa sạch đi là xong.

Tạ Tốn nghe hắn dài dòng, cứ mặc kệ, đến lúc hắn dừng lời, chỉ nói:

– Thành Côn, ngươi còn mặt mũi nào nói chuyện với ta nữa?

Viên Chân nói qua nói lại một hồi, Tạ Tốn cũng chỉ có mỗi một câu "Thành Côn, ngươi còn mặt mũi nào nói chuyện với ta nữa?"

Cuối cùng Viên Chân lạnh lùng nói:

– Ta hạn cho ngươi ba ngày để suy nghĩ. Ba hôm nữa, nếu ngươi vẫn không chịu nói ra thanh đao Đồ Long ở đâu, hẳn ngươi cũng đoán biết ta sẽ xử ngươi như thế nào.

Rồi hắn đứng lên, chắp tay bái biệt ba vị cao tăng mà đi xuống núi.

*

* *

Trương Vô Kỵ chờ hắn đi xa, đang định bước ra thưa chuyện với ba vị cao tăng, bỗng cảm thấy không khí bên cạnh mình có điều gì khác lạ, một cuộc tập kích không hề có dấu hiệu báo trước, chàng vội lăn đi, thấy có hai vật dài ngoẵng vút qua mặt, cách chưa đến nửa thước, thế đi cực nhanh mà không có kình phong, chính là hai sợi dây đen. Chàng lăn đi hơn trượng, lại thấy một sợi dây đen khác chạm tới ngực, sợi dây đen biến thành một thứ binh khí thẳng băng, y như mũi thương, đầu gậy chọc tới; cùng lúc đó hai sợi dây đen khác từ phía sau cuộn tới.

Chàng đã chứng kiến bốn cao thủ phái Côn Luân trong giây lát bị táng mạng bởi ba sợi dây đen này, biết đây là một loại binh khí quái dị cực kỳ lợi hại; bây giờ chính mình phải đối phó với chúng, càng kinh hãi hơn. Chàng đưa tay trái chộp được sợi dây đánh vào ngực, đang tính hất sang bên, bỗng thấy nó rung lên một cái, một luồng kình lực như bài sơn đảo hải tống vào ngực, nếu trúng phải nó, ắt gân cốt đứt gãy, ngũ tạng nát nhừ. Trong cái sát-na nhanh như tia chớp ấy, chàng vung tay phải về phía sau hất hai sợi dây đen đánh tới sau lưng, tay trái thì sử dụng tâm pháp "Càn khôn đại na di", phối hợp với "Cửu dương thần công" vừa nâng lên vừa đẩy ra, nhún mình bay thẳng lên cao.

Ngay lúc ấy, trên trời sáng lóe ba, bốn tia chớp, hai vị lão tăng cùng kêu "Ôi" một tiếng, tựa hồ họ kinh ngạc về võ công của chàng. Mấy ánh chớp soi rõ thân hình chàng, ba vị lão tăng cùng ngẩng đầu nhìn lên, thấy kẻ có thần công tuyệt đỉnh chỉ là một thiếu niên quê mùa mặt mày lem luốc, thì họ càng kinh ngạc. Ba sợi dây đen liền như ba con rồng nhe nanh múa vuốt bay vút lên theo, chia ba phía mà chụp tới. Trương Vô Kỵ nhờ ánh chớp, cũng nhìn rõ diện mạo ba vị lão tăng. Vị ngồi ở góc đông bắc mặt đen sạm như chì. Vị ngồi ở góc tây bắc mặt vàng như nghệ. Vị ngồi ở phía chính nam thì mặt trắng bệch như tuyết. Ba vị lão tăng đều má hõm sâu, gầy chỉ còn da bọc xương, vị mặt vàng lại chột mắt. Năm con mắt của ba vị lão tăng dưới ánh chớp trông càng lấp lánh có thần.

Trương Vô Kỵ thấy ba sợi dây sắp cuốn vào thân mình, liền tay trái gạt, tay phải kéo, một tay cuộn một tay xoay, mượn kình lực của ba vị lão tăng cuốn ba sợi dây vào nhau; chiêu thế này chính là "Thái cực tâm pháp" do Trương Tam Phong truyền thụ, kình lực trên ba sợi dây lập tức bị cuộn lại với nhau. Đúng lúc ấy trên trời nổ đoành đoành mấy tiếng sét, rồi tiếng sấm lan đi ầm ầm, thật là kinh tâm động phách. Trương Vô Kỵ ở trên cao lượn một nửa vòng, chân trái móc luôn vào một cành tùng, thân hình đứng vững ngay lại, trong tiếng sấm rền, chàng dõng dạc nói:

– Vãn bối hậu học, giáo chủ Minh giáo Trương Vô Kỵ tham kiến ba vị cao tăng.

Nói đoạn chân trái đứng trên cành tùng, chân phải đưa ra không trung, khom lưng hành lễ. Cành tùng theo thế đứng vái chào của chàng mà đung đưa lên xuống như sóng giồi, Trương Vô Kỵ vẫn đứng bình ổn, thân hình phiêu dật. Chàng tuy khom lưng hành lễ, nhưng ở trên cao vái xuống, không bị lép vế chút nào.

Ba vị lão tăng cảm thấy sợi dây đen bị nội kình của chàng gom lại một chỗ, bèn rung tay, làm cho ba sợi dây tách riêng ra.

Trong ba chiêu chín thức vừa rồi của ba vị lão tăng, mỗi thức đều ẩn tàng mười chiêu biến hóa, hàng chục lần hạ độc thủ, nào ngờ đối phương hóa giải hết mọi chiêu thức; tuy mỗi khi hóa giải chiêu thức đều vô cùng nguy hiểm, chỉ cần sai một ly là tan xương nát thịt tức thời, vậy mà chàng vẫn nhẹ nhàng tự nhiên như không. Ba vị lão tăng trong đời chưa từng gặp địch thủ nào cao cường đến thế, bất giác kinh hãi. Họ không biết rằng Trương Vô Kỵ hóa giải ba chiêu chín thức vừa nãy là đã giở hết sức bình sinh, chính nhờ cành tùng trồi lên hụp xuống, ngầm điều vận chân khí đang loạn lên trong đan điền.

Võ công Trương Vô Kỵ vừa sử dụng bao gồm ba đại thần công là "Thái cực quyền", "Càn khôn đại na di" và "Cửu dương thần công". Còn khi lượn nửa vòng trên không trung là tâm pháp khắc trên thánh hỏa lệnh. Ba vị lão tăng phái Thiếu Lâm tuy thân mang tuyệt kỹ, song họ tọa quan đã mấy chục năm, không quan tâm thế sự, cả bốn môn võ công kia họ đều chưa thấy bao giờ, chỉ mang máng cảm thấy nội kình của chàng hơi giống "Cửu dương công" của phái Thiếu Lâm, nhưng hùng hậu tinh vi hơn hẳn thần công của bản phái. Khi nghe chàng xưng danh là giáo chủ Minh giáo, thì sự khâm phục và kinh ngạc của ba vị lão tăng tức thì hóa thành phẫn nộ.

Vị bạch diện lão tăng khó chịu nói:

– Lão nạp còn đang tự hỏi cao nhân phương nào giá lâm, hóa ra lại là đại ma đầu của Ma giáo đến đây. Ba huynh đệ lão nạp tọa quan mấy chục năm, chẳng những không màng tục vụ, ngay đại sự của bổn tự còn không nghe không hỏi đến. Ai ngờ hôm nay lại gặp giáo chủ Ma giáo, thực là hân hạnh một đời.

Trương Vô Kỵ nghe vị lão tăng kia luôn miệng dùng từ ma đầu, Ma giáo, biết rằng họ quá ác cảm đối với bản giáo, thành thử chàng phân vân chưa biết nên thuật chuyện như thế nào, đã nghe hoàng diện lão tăng chột mắt nói:

– Giáo chủ Ma giáo là Dương Đính Thiên kia mà? Tại sao lại là các hạ?

Trương Vô Kỵ nói:

– Dương giáo chủ tạ thế đã ba mươi năm rồi.

Hoàng diện lão tăng ồ lên một tiếng, không nói thêm, nhưng tiếng ồ của vị lão tăng ấy chứa đựng đầy vẻ thương tâm thất vọng. Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Lão nghe tin Dương giáo chủ từ trần, xem ra vô cùng đau đớn, có lẽ năm xưa quá thân tình với Dương giáo chủ. Nghĩa phụ là bộ thuộc cũ của Dương giáo chủ, mình thử gợi nhớ tình cố nhân rồi sẽ nói nguyên do Dương giáo chủ bị Viên Chân chọc tức mà chết, xem thế nào", bèn nói:

– Hẳn là đại sư quen biết Dương giáo chủ?

Hoàng diện lão tăng nói:

– Dĩ nhiên. Lão nạp không biết đại anh hùng Dương Đính Thiên, thì đâu đến nỗi hóa thành lão chột? Ba sư huynh đệ lão đây việc quái gì phải ngồi khô thiền hơn ba chục năm?

Mấy câu trên nói ra rất thản nhiên, song chứa đựng bên trong nỗi trầm thống và oán hận vừa sâu vừa lớn. Trương Vô Kỵ than thầm: "Khổ rồi, khổ rồi!" Cứ nghe giọng điệu của vị lão tăng kia thì một mắt của lão đã bị Dương Đính Thiên chọc mù, và ba sư huynh đệ lão phải khổ công đau đớn ngồi khô thiền hơn ba chục năm nay chỉ là để báo thù việc đó. Giờ đây họ nghe tin kẻ thù lớn không còn nữa, đâm ra thất vọng.

Hoàng diện lão tăng bỗng hú một tiếng thanh thoát, nói:

– Trương giáo chủ, lão nạp pháp danh Độ Ách, vị bạch diện sư đệ pháp danh Độ Kiếp, còn hắc diện sư đệ pháp danh Độ Nạn. Dương Đính Thiên đã chết, mối thâm cừu đại oán của ba sư huynh đệ lão đây đành thanh toán với giáo chủ đương nhiệm. Hai sư điệt Không Kiến, Không Tính của huynh đệ lão đều chết dưới tay quý giáo. Các hạ đã tự đến đây, tức là không sợ. Tất cả ân oán mấy chục năm qua, đôi bên dùng võ công mà kết liễu cho xong.

Trương Vô Kỵ nói:

– Vãn bối vốn không có liên can gì với quý phái, tới đây chỉ cốt cứu nghĩa phụ Kim Mao Sư Vương Tạ đại hiệp. Không Kiến thần tăng tuy là do nghĩa phụ vãn bối lỡ tay đánh chết, nhưng bên trong có nhiều uẩn khúc. Còn cái chết của Không Tính thần tăng thì không liên quan gì đến tệ giáo. Ba vị xin chớ nghe lời một bên, cần nói rõ trắng đen phải trái ra đã.

Bạch diện lão tăng Độ Kiếp hỏi:

– Theo như ngươi nói, Không Tính là do ai hại?

Trương Vô Kỵ cau mày đáp:

– Cứ như vãn bối biết, Không Tính thần tăng chết bởi tay võ sĩ của triều đình thuộc phủ Nhữ Dương Vương.

Độ Kiếp hỏi:

– Các võ sĩ phủ Nhữ Dương Vương thì do ai thống lĩnh?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Do con gái của Nhữ Dương Vương, Hán danh Triệu Mẫn, thống lĩnh.

Độ Kiếp nói:

– Ta nghe Viên Chân nói rằng nữ nhân đó liên thủ một đường với quý giáo, nàng ta phản lại triều đình và cha mình, gia nhập Minh giáo, lời đó có thật hay không?

Lão tăng này lời lẽ đanh thép, càng lúc càng dồn ép, Trương Vô Kỵ đành ấp úng:

– Không sai, nàng.. nàng.. hiện tại.. hiện tại đã bỏ chỗ tối theo đường sáng.

Độ Kiếp lớn tiếng nói:

– Giết hại Không Kiến là Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn của Ma giáo; giết Không Tính là Triệu Mẫn của Ma giáo. Triệu Mẫn lại còn công phá Thiếu Lâm tự, bắt các đệ tử mang đi; chuyện không thể tha thứ là đem khắc lời lẽ nhục mạ trên tượng mười sáu vị La Hán. Cộng với một con mắt của sư huynh ta và tổng cộng một trăm năm khô thiền của ba huynh đệ ta. Trương giáo chủ, món nợ đó không thanh toán với ngươi thì còn tìm ai?

Trương Vô Kỵ thở dài, nghĩ thầm mình đã thừa nhận việc thu dung Triệu Mẫn, thì các tội lỗi của nàng trước đây chàng cũng phải gánh vác hết. Trong chớp mắt, chàng hiểu ngay tâm trạng của phụ thân chàng vì tội lỗi xa xưa của ái thê mà phải tự vẫn; thù oán mà Dương giáo chủ và Tạ Tốn gây ra năm xưa đến hôm nay phải được kết liễu; lời Độ Kiếp nói quả không sai, nếu chàng không gánh chịu thì còn ai vào đây?

Chàng đứng thẳng người lên, kình lực dồn xuống đầu ngón chân; cành tùng đang đung đưa lập tức dừng lại bất động, chàng lớn tiếng nói:

– Ba vị lão thiền sư đã nói thế, vãn bối chẳng thể trốn nợ; bao nhiêu tội nghiệt, để một mình vãn bối gánh chịu là được. Còn chuyện nghĩa phụ vãn bối đả thương Không Kiến thần tăng, bên trong quả có nhiều điều đau lòng, những mong ba vị lão thiền sư lượng thứ.

Độ Ách nói:

– Ngươi dựa vào đâu mà dám tới đây chạy tội cho Tạ Tốn? Ngươi tưởng ba sư huynh đệ bọn ta không giết nổi ngươi chăng?

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm sự đến nước này, đành liều mạng giao đấu một phen, bèn nói:

– Vãn bối lấy một địch ba, quyết không phải là đối thủ của cả ba vị. Không biết vị nào sẽ đứng ra chỉ giáo trước?

Độ Kiếp nói:

– Bọn ta mà đơn đả độc đấu, chắc không thắng nổi ngươi. Món huyết hải thâm cừu này, khỏi cần theo quy củ võ lâm. Tên ma đầu kia, mau xuống đây chịu chết. A Di Đà Phật!

Lão ta vừa niệm Phật xong, hai lão Độ Nạn, Độ Ách cùng nói:

– Ngã Phật từ bi.

Ba sợi dây đen cùng bay lên, cuốn nhanh vào người chàng.

Trương Vô Kỵ rùn người nhảy xuống giữa chỗ trống của ba sợi dây đen, chân chưa chạm đất, thân hình đã biến đổi, nhào về phía Độ Nạn. Độ Nạn dựng tả chưởng lên, đánh mạnh ra, một luồng kình phong thốc tới bụng dưới của chàng. Trương Vô Kỵ xoay mình, dùng tâm pháp "Càn khôn đại na di" hóa giải kình lực. Ngay lúc đó, hai sợi dây đen của Độ Ách, Độ Kiếp cùng cuốn tới. Trương Vô Kỵ nhẹ nhàng xoay nửa vòng; tả chưởng của Độ Kiếp liền đánh mạnh tới không một tiếng động. Trương Vô Kỵ ở khoảng giữa ba cây tùng, tùy chiêu chống trả, bất ngờ đánh ra một chưởng, chưởng lực mang theo mấy trăm hạt mưa to bằng hạt đậu bắn về phía Độ Ách; Độ Ách nghiêng đầu tránh, nhưng cũng bị trúng vài chục hạt vào mặt, hơi đau rát, bèn quát lên:

– Tiểu tử giỏi nhỉ!

Sợi dây đen trong tay lão rung lên, xoay thành hai vòng tròn, từ trên không chụp xuống đầu Trương Vô Kỵ. Thân hình Trương Vô Kỵ như một mũi tên bay xuyên qua vòng dây, tấn công Độ Kiếp. Chàng càng đấu càng kinh hãi, thấy không khí xung quanh thân mình bị rơi vào giữa ba sợi dây đen và ba luồng chưởng lực, càng lúc càng ngưng tụ đậm đặc như keo. Từ ngày chàng luyện thành võ công, chưa bao giờ gặp đối thủ cao cường nhường này. Ba vị lão tăng không chỉ chiêu số tinh xảo, mà nội kình cũng hùng hậu vô cùng. Ban đầu Trương Vô Kỵ dùng bảy thành phòng thủ, ba thành tấn công; đấu tới hai trăm chiêu, thì dần dần cảm thấy chân khí trong cơ thể không còn thuần chất, chỉ còn thủ mà không công, chỉ mong tự bảo vệ được thân mình.

"Cửu dương thần công" của chàng vốn dùng không bao giờ hết, càng sử dụng càng mạnh mẽ; nhưng lúc này mỗi chiêu đều hao tốn rất nhiều nội lực, cảm thấy dường như nội kình tiếp sau không nối liền được với kình lực đi trước, tình trạng này từ ngày luyện thành "Cửu dương thần công" chưa hề xảy ra. Đấu thêm mấy chục chiêu nữa, chàng nghĩ thầm: "Đấu nữa chỉ có nước bỏ mạng; hôm nay phải tìm cách thoát thân; sau này sẽ cùng với ông ngoại, Dương tả sứ, Phạm hữu sứ, Vi Bức Vương, năm người hợp lực, ắt đánh thắng tam tăng, cứu được nghĩa phụ". Nghĩ vậy, chàng bèn tấn công Độ Ách liền ba chiêu, để toan thoát ra, không ngờ ba sợi dây kết lại thành một cái vòng vững chắc như thành đồng vách sắt, mấy phen chàng xông ra đều bị dội trở lại, không thể thoát thân.

Chàng thầm kinh hoảng: "Thì ra tam tăng liên thủ, ba người như một, công phu tâm ý tương thông này, không lẽ trên thế gian có người luyện được hay sao?" Trương Vô Kỵ đâu biết rằng ba lão tăng Độ Ách, Độ Kiếp, Độ Nạn đã tọa khô thiền hơn ba chục năm, bao nhiêu công phu đều chuyên dùng vào việc luyện môn "Tâm ý tương thông" này. Một người nảy sinh ý niệm gì, hai người kia lập tức biết ngay, sự cảm ứng tâm linh đó vô cùng huyền diệu. Ba người ở chung một nơi, mặt đối mặt hơn ba mươi năm, chuyên tâm luyện cảm ứng, tâm ý chỉ còn là một, thì cũng không phải chuyện lạ. Chàng lại nghĩ thầm: "Cứ kiểu này, dù ta có hẹn thêm các cao thủ như ông ngoại đến chăng nữa, cũng chưa chắc phá vỡ được bức tường kiên cố tâm ý tương thông do ba lão tăng này tạo nên. Chẳng lẽ nghĩa phụ ta đã không cứu thoát, mà chính ta hôm nay phải bỏ mạng ở nơi đây?"

Chàng nóng ruột, tinh thần có phần rối loạn, đầu vai lập tức bị năm ngón tay của Độ Kiếp quét qua, đau thấu xương. Chàng nghĩ thầm: "Ta chết cũng không tiếc, nhưng nỗi oan khuất của nghĩa phụ không rửa được. Nghĩa phụ một đời cao ngạo, dù sa vào tay người, cũng quyết không biện giải nửa lời". Nghĩ thế, chàng dõng dạc nói:

– Ba vị lão thiền sư, hôm nay vãn bối bị nguy khốn, tính mạng khó toàn, đại trượng phu có chết cũng đành, đâu có gì đáng nói? Song có một chuyện phải nói cho rõ..

Nghe vù vù hai tiếng, hai sợi dây đen từ hai bên đánh tới, Trương Vô Kỵ dùng hai tay hóa giải hai luồng kình lực, nói tiếp:

– Gã Viên Chân kia tục danh Thành Côn, ngoại hiệu Hỗn Nguyên Tích Lịch Thủ, chính là nghiệp sư của nghĩa phụ vãn bối Tạ Tốn..

Ba vị lão tăng Thiếu Lâm thấy chàng hai tay chiết chiêu hóa kình, đồng thời miệng vẫn nói chuyện, công phu tu luyện như thế họ quả chưa theo kịp, thì không khỏi e ngại hơn. Ba vị lão tăng cho rằng Minh giáo là một tà giáo toàn làm điều ác, giáo chủ của chúng võ công càng cao, làm hại cho mọi người càng lớn; giờ thấy chàng lâm vào vòng vây, không thể thoát ra, chính là dịp tốt để trừ khử, thật không công đức nào sánh bằng; thế là chẳng nói một lời, sợi dây đen và chưởng lực càng được thi triển mạnh mẽ.

Trương Vô Kỵ nói tiếp:

– Ba vị lão thiền sư cần biết rằng sư muội của Thành Côn chính là phu nhân của giáo chủ Minh giáo Dương Đính Thiên. Thành Côn vốn say mê sư muội, vì tình mà sinh ra đố kỵ, có thâm cừu đại hận với Minh giáo..

Chàng tay thì hóa giải chiêu số của ba vị lão tăng, miệng thao thao thuật lại việc Thành Côn mưu tính phá hoại Minh giáo như thế nào, tư tình lén lút với Dương phu nhân để đến nỗi Dương Đính Thiên uất quá mà chết ra sao; sau đó hắn giả say cưỡng gian vợ Tạ Tốn, giết sạch cả gia đình Tạ Tốn, rồi kích động Tạ Tốn loạn sát nhân sĩ võ lâm, sau đó hắn bái Không Kiến thần tăng làm thầy, dụ cho Tạ Tốn đánh Không Kiến mười ba quyền, cuối cùng thất tín không xuất hiện, để Không Kiến phải ngậm hờn mà chết ra sao.

Ba vị lão tăng càng nghe càng kinh hãi, những chuyện như thế thật ngoài sức tưởng tượng, nhưng chuyện nào cũng hợp lý, mọi chi tiết đều ăn khớp với nhau. Ngọn roi đen trên tay Độ Ách chậm lại trước tiên.

Trương Vô Kỵ nói tiếp:

– Vãn bối không biết Dương giáo chủ gây thù chuốc oán với Độ Ách đại sư ra sao, chỉ sợ bên trong có kẻ gian xúi giục, mà kẻ đó hẳn là Viên Chân. Độ Ách đại sư hãy thử nhớ lại chuyện dĩ vãng, xem lời của vãn bối có đúng hay chăng?

Độ Ách ậm ừ, ngừng roi không đánh nữa, cúi đầu ngẫm nghĩ, rồi nói:

– Chuyện đó xem ra cũng có lý. Lão nạp kết cừu với Dương Đính Thiên, gã Thành Côn dốc sức giúp lão nạp, sau lại muốn bái lão nạp làm sư phụ, song lão nạp không thu nhận đệ tử, nên mới dẫn tiến cho gã làm môn hạ của Không Kiến sư điệt. Nói như thế, chẳng lẽ gã cố ý xếp đặt hay sao?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Chắc chắn như vậy, hiện tại hắn đang dòm ngó chức vị chưởng môn phương trượng Thiếu Lâm tự, gây bè kết đảng, âm mưu mật kế hãm hại Không Văn thần tăng..

Lời chưa dứt, đột nhiên có tiếng ầm ầm, từ dốc núi bên trái có một tảng đá tròn rất lớn lăn xuống khoảng giữa ba cây tùng. Độ Ách quát to:

– Ai đó?

Sợi dây đen chuyển động, bộp bộp hai tiếng, quất vào tảng đá tròn, mảnh vụn bay tung tóe. Từ sau tảng đá có một bóng người lao ra, nhanh như tên tới chỗ Trương Vô Kỵ, hàn quang nhoáng lên, một cây đoản đao đã đâm vào cổ họng chàng.

Sự việc diễn ra quá nhanh, Trương Vô Kỵ đang dốc toàn lực chống đỡ hai ngọn roi đen và chưởng lực của Độ Kiếp, Độ Nạn, không ngờ có kẻ đánh trộm; trong đêm tối chỉ nghe tiếng gió thốc tới, mũi đao đã đâm tới yết hầu, trong cơn nguy cấp vội ngả nửa thân trên sang một bên, soạt một tiếng, mũi đao rạch một đường trên áo chàng, suýt nữa thì rồi đời. Kẻ kia tấn công không trúng mục tiêu, nhờ tảng đá lớn che thân mà lăn ra khỏi vòng dây của ba vị lão tăng.

Trương Vô Kỵ thầm kêu: "Nguy hiểm thật!" Rồi quát to:

– Ác tặc Thành Côn, có giỏi hãy đứng lại đối chất với ta, ngươi muốn sát nhân diệt khẩu chứ gì?

Lúc đoản đao đâm tới, chàng không nhìn rõ mặt người, nhưng đối phương thân pháp nhanh nhẹn, ra tay hiểm độc, nội kình mạnh mẽ, gia số võ công thì cùng một kiểu cách như Tạ Tốn, ngoài Thành Côn ra, không còn ai vào đấy. Ba sợi dây của ba vị lão tăng chẳng khác gì ba cánh tay dài ôm lấy tảng đá, hất một cái, tảng đá nặng ngàn cân kia bị nâng lên, quẳng ra ngoài, còn Thành Côn thì đã chạy xuống núi khá xa.

Độ Ách nói:

– Có đúng là Viên Chân không?

Độ Nạn nói:

– Đúng là hắn rồi.

Độ Kiếp nói:

– Nếu hắn không có tật giật mình, thì việc gì..

Ngay lúc đó bốn phía liên tiếp vang lên tiếng hú, bảy tám bóng người ào tới, người đi đầu quát to:

– Các hòa thượng Thiếu Lâm uổng làm đệ tử cửa Phật, sát hại biết bao mạng người, không sợ tội nghiệt hay sao? Tất cả hãy xông lên.

Tám người cầm binh khí liền tấn công ba lão tăng ngồi trong ba hốc cây tùng.

Trương Vô Kỵ ở khoảng giữa ba lão tăng, thấy trong số tám người, có ba người cầm kiếm, năm người còn lại cầm đao hoặc roi, ai nấy võ công cao cường, lập tức đấu với ba sợi dây đen của tam tăng.

Trương Vô Kỵ quan sát một hồi, thấy kiếm chiêu của ba người sử dụng kiếm cùng kiểu cách với Thanh Hải tam kiếm bị chết dưới tay các hòa thượng Thiếu Lâm tự mấy hôm trước, nhưng biến hóa tinh vi, kình lực hùng hậu, vượt xa Thanh Hải tam kiếm, chắc là trưởng bối của phái Thanh Hải. Ba người cầm kiếm tấn công một mình Độ Ách. Ba người khác hợp lực tấn công Độ Nạn, hai người còn lại đối phó với Độ Kiếp. Đối phó với Độ Kiếp tuy chỉ có hai người, nhưng võ công của họ cao hơn một bậc so với sáu người kia. Đấu một hồi, Trương Vô Kỵ thấy Độ Kiếp dần dần núng thế, còn Độ Ách thì lại có phần thắng thế, một địch ba mà vẫn còn dư sức.

Lại đấu thêm hơn mười chiêu, Độ Ách thấy Độ Kiếp ứng phó vất vả, bèn rung sợi dây đen, điều khiển sợi dây đánh xuống hai người đang tấn công Độ Kiếp. Hai người ấy đều cao lớn, râu đen phất phơ, thân thủ cực kỳ lanh lẹn, một người sử dụng cặp phán quan bút; người kia sử dụng đả huyệt quyết. Độ Ách và Độ Kiếp ở cách xa mấy trượng, mà vẫn cảm thấy kình lực từ binh khí của hai người kia dồn tới, tưởng chừng ở ngay bên cạnh mình; sử dụng binh khí ngắn như thế quả là lợi hại. Ba người phái Thanh Hải thấy áp lực tới kiếm nhẹ đi, liền từ từ lấy lại thế tấn công. Vậy là đến lúc này Độ Nạn một địch ba, Độ Kiếp và Độ Ách hai người đấu với năm đối thủ, nhất thời chưa bên nào thắng thế.

Trương Vô Kỵ thầm lấy làm lạ: "Tám người này võ công thực là cao cường, chẳng kém vợ chồng Hà Thái Xung. Ngoài ba người thuộc phái Thanh Hải, năm người kia hoàn toàn không rõ lai lịch. Thế mới biết thiên hạ rộng lớn, nơi nào cũng có ngọa hổ tàng long, không biết có bao nhiêu anh hùng hảo hán vô danh ẩn phục".

Mười một người đấu hơn trăm chiêu, ba sợi dây của Thiếu Lâm tam tăng dần dần thu ngắn lại. Dây thu ngắn lại, việc điều khiển đỡ tốn sức hơn, nhưng khi tấn công cũng kém phần linh hoạt. Đấu thêm vài chục chiêu nữa, sợi dây đen của ba lão tăng chỉ còn chừng sáu, bảy thước. Hai ông già râu đen càng đấu càng tới gần, uy lực của binh khí trong tay họ cũng tăng hẳn lên, cứ nhè chỗ sơ hở mà tấn công, từng bước từng bước cố tới gần ba lão tăng. Nhưng ba sợi dây đen càng thu ngắn, thì sự phòng thủ của tam tăng càng nghiêm mật, cái vòng mà ba sợi dây kết lại có sức bật tưởng chừng vô cùng; hai ông già râu đen liên tiếp thay đổi chiêu thức tấn công, song đều bị vòng dây đánh bật ra. Lúc này ba lão tăng đã kết liền thành một khối, ở thế lấy ba người địch tám người.

Ba lão tăng Thiếu Lâm tận lực chống đỡ, trong bụng cứ thầm kêu khổ, đấu với tám người kia dù lâu mấy cũng không thua được; chỉ cần vòng dây thu ngắn tám thước, thì sẽ kết thành "Kim cương phục ma khuyên", đừng nói tám địch thủ, dẫu có mười sáu người hoặc ba mươi hai người cũng không thể tiến vào gần nổi. Đằng này bên trong cái vòng lại đang có một cường địch ẩn phục ngay trong gan trong ruột, nếu Trương Vô Kỵ ra tay, nội ngoại giáp công, thì sẽ dễ dàng lấy mạng ba vị lão tăng Thiếu Lâm. Tam tăng thấy chàng ngồi yên không cử động, hiển nhiên đang chờ cơ hội, chờ khi ba người bọn họ và tám đối thủ kia đều kiệt sức, lúc đó chàng sẽ làm ngư ông đắc lợi. Hiện tại nội công của ba vị lão tăng đã thi triển đến tận cùng, dẫu muốn há miệng hú to cầu cứu chùa Thiếu Lâm dưới kia, cũng không được, vì lúc này chỉ cần mở miệng nói dù chỉ một chữ, khí huyết cũng sẽ trào lên, không chết ngay lập tức thì cũng bị nội thương, thành kẻ tàn phế. Ba vị lão tăng tự trách mình quá ỷ y, lẽ ra lúc tám cường địch mới tấn công, phải lên tiếng thông báo cho tăng chúng bản tự hay biết, chỉ cần có vài hảo thủ La Hán đường và Đạt Ma đường lên tiếp viện, là đã khắc địch chế thắng rồi.

Tình thế này Trương Vô Kỵ đã sớm nhận ra, lúc này muốn lấy mạng ba vị lão tăng, chàng chỉ giơ tay một cái là xong; nhưng nghĩ đại trượng phu không nên lợi dụng lúc người ta nguy ngập, huống hồ tam tăng chỉ là bị Viên Chân đánh lừa, hoàn toàn không đáng phải chết. Mà giết xong ba vị lão tăng rồi, một mình chàng đối phó với tám người kia cũng vô cùng gay go. Hiện tại thấy hai bên nhất thời chưa phân thắng bại, chàng cúi đầu nhìn xuống, thấy một khối nham thạch lớn lấp chặt miệng địa lao, chỉ chừa ra một khe hở, chắc là để Tạ Tốn hít thở và nhận thức ăn. Chàng nghĩ thầm thời cơ này trong giây lát sẽ không còn nữa, để đôi bên phân rõ thắng bại, hoặc Thiếu Lâm tự cho người lên cứu viện, thì chàng sẽ không thể cứu nghĩa phụ ra được nữa. Thế là chàng quỳ xuống, sử dụng tâm pháp "Càn khôn đại na di" đưa lực ra đôi tay, đẩy khối nham thạch từ từ di chuyển.

Khối nham thạch di chuyển được chừng một thước, đột nhiên có một luồng kình phong từ sau lưng thổi tới, đó là Độ Nạn vung chưởng đánh vào hậu tâm chàng. Trương Vô Kỵ vừa chế ngự kình lực, vừa mượn sức, nghe bộp một tiếng, lưng áo chàng rách một miếng to, tan thành nhiều mảnh vụn bay lả tả như bươm bướm trong mưa. Nhưng chưởng lực của Độ Nạn được chàng truyền sang khối nham thạch, nghe ình một tiếng, khối nham thạch lập tức xê dịch ra hơn một thước. Chưởng lực của đối phương tuy đã được chế ngự, chàng không bị nội thương, nhưng lúc bị trúng chưởng, chàng đang dồn toàn lực đẩy khối nham thạch, nên lưng bị đau rát ghê gớm.

Độ Nạn đánh ra một chưởng, vòng dây đen lộ ra sơ hở, một ông già râu đen liền xông ngay vào bên trong vòng dây, điểm huyệt quyết trong tay lão liền đâm vào bên dưới vú trái của Độ Nạn. Sợi dây của Thiếu Lâm tam tăng chỉ giỏi về tấn công từ xa, không có lợi cho đánh gần. Độ Nạn vung tả chưởng đánh bật điểm huyệt quyết của đối phương; ông già râu đen bèn dùng ngón trỏ tay trái nhắm huyệt Đản Trung của Độ Nạn mà điểm tới. Độ Nạn thầm kêu: "Nguy rồi!" không ngờ công phu "Nhất chỉ thiền" của đối phương còn lợi hại hơn cả điểm huyệt quyết, Độ Nạn trong cơn nguy cấp đành vứt sợi dây xuống, hai tay giơ lên bảo vệ ngực, tiếp đó dùng ba ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa phản công. Độ Nạn tuy ngăn chặn được kẻ địch, nhưng sợi dây đã rời khỏi tay. Ông già sử dụng phán quan bút tức thì xông tới. Ba sợi dây của tam tăng bị thiếu mất một, "Kim cương phục ma khuyên" đã bị phá vỡ.

Đột nhiên sợi dây đen đang ở dưới đất bỗng dựng đầu dậy, chẳng khác gì một con rắn độc giả chết bất thình lình vùng lên cắn người; nghe vù một tiếng, nhắm mặt ông già sử dụng phán quan bút mà đánh tới, đầu dây chưa tới mà kình phong đã ào ạt khiến đối phương lạnh người. Ông già vội giơ bút gạt ra, bút dây đụng nhau, ông già cảm thấy hai cánh tay tê dại, cây bút bên tay trái suýt nữa bay đi mất, còn cây bút bên tay phải bị đẩy bật vào khối nham thạch, vụn đá và các tia lửa bay tung tóe. Sợi dây đen tiếp tục vung lên, buộc ba người phái Thanh Hải phải lùi ra hơn một trượng, "Kim cương phục ma khuyên" không những phục hồi nguyên trạng, mà uy lực còn mạnh hơn trước.

Ba vị lão tăng Thiếu Lâm vừa kinh ngạc, vừa mừng rỡ, chỉ thấy một đầu sợi dây đen đang nằm trong tay Trương Vô Kỵ. Chàng tuy chưa hề luyện qua công phu "Kim cương phục ma khuyên", nếu nói về tâm ý tương thông, người khác nghĩ gì mình biết liền, thì chàng không thể sánh bằng Độ Nạn, nhưng nói về nội lực cương mãnh, thì không ai bằng chàng, kình lực của sợi dây đen ào ạt tràn ra tứ phía như bài sơn đảo hải, có hai sợi dây đen của Độ Kiếp, Độ Ách hỗ trợ, tức thời buộc bảy người kia phải lùi ra xa.

Độ Nạn chuyên tâm toàn lực đối phó với ông già râu đen, cả về võ công lẫn nội lực đều cao hơn đối thủ; lão tăng ngồi trong hốc cây tùng, hoàn toàn không đứng lên, song mười ngón tay chọc, móc, búng, điểm, phất, chộp, nắm, sau một loạt chiêu số đã dồn ông già râu đen vào chỗ nguy hiểm. Người đó thấy bảy đồng bọn lâm vào thế bất lợi, bèn rống lên giận dữ, từ trong vòng nhảy ra ngoài.

Trương Vô Kỵ đưa sợi dây trả vào tay Độ Nạn, rồi cúi xuống vận tâm pháp "Càn khôn đại na di", đẩy khối nham thạch che địa lao mở ra thêm một thước nữa, mà nói vọng vào trong miệng hầm:

– Nghĩa phụ, hài nhi Vô Kỵ đến cứu viện chậm trễ, cha có ra được chăng?

Tạ Tốn đáp:

– Ta không ra đâu. Con giỏi lắm, hãy mau mau rời khỏi nơi này.

Trương Vô Kỵ kinh ngạc hỏi:

– Nghĩa phụ, cha bị người ta điểm huyệt, hay là bị xiềng xích?

Không đợi Tạ Tốn trả lời, chàng nhảy ngay xuống địa lao, nghe "ùm" một tiếng, nước văng tung tóe. Thì ra do trận mưa như trút mấy canh giờ liền, trong địa lao nước ngập đến ngang lưng, một nửa thân mình Tạ Tốn chìm trong nước.

Trương Vô Kỵ trong lòng đau khổ, giơ tay ôm Tạ Tốn, mò chân tay ông một lượt, không thấy có xiềng xích gì cả, lại xoa bóp mấy huyệt đạo chủ yếu, hình như không hề bị ai kiềm chế gì, chàng bèn bế nghĩa phụ tung mình nhảy vọt lên, ngồi trên khối nham thạch, nói:

– Lúc này thoát thân là hay nhất. Nghĩa phụ, cha con mình đi thôi.

Chàng vừa nói vừa cầm tay Tạ Tốn toan cất bước. Tạ Tốn vẫn ngồi yên, hai tay ôm gối, nói:

– Hài tử, tội nghiệt lớn nhất trong đời ta là ta đã giết hại Không Kiến đại sư. Nghĩa phụ của con nếu rơi vào tay kẻ khác, hẳn sẽ chống trả đến cùng. Nhưng nay bị nhốt trong Thiếu Lâm tự, ta cam chịu chết để đền tội cho Không Kiến đại sư.

Trương Vô Kỵ vội nói:

– Nghĩa phụ lỡ tay đả thương Không Kiến đại sư cũng chỉ do tên ác tặc Thành Côn sắp đặt mưu gian; huống hồ mối huyết cừu toàn gia nghĩa phụ chưa báo được, há có thể chịu chết dưới tay Thành Côn hay sao?

Tạ Tốn thở dài, nói:

– Hơn một tháng qua, ta ngày ngày ngồi dưới địa lao nghe ba vị lão tăng tụng kinh niệm Phật, nghe từ dưới chùa vọng lên tiếng chuông sớm chuông chiều, hồi tưởng dĩ vãng, hai bàn tay ta đã nhuộm máu bao nhiêu người vô tội, dẫu ta chết trăm lần cũng không đền hết tội. Ôi, bao nhiêu ác nhân tội nghiệt kia, ta so với Thành Côn xem ra còn nặng nề hơn nhiều. Hảo hài tử, con hãy mặc ta, hãy mau xuống núi một mình đi thôi.

Trương Vô Kỵ càng nghe càng sốt ruột, lớn tiếng nói:

– Nghĩa phụ, nếu cha không chịu đi, con đành phải ép cha đó.

Nói rồi chàng nắm lấy hai cánh tay Tạ Tốn, toan đặt ông lên lưng mình.

Bỗng nghe ở sơn đạo vang lên tiếng huyên náo, có mấy tiếng quát lớn:

– Kẻ nào dám tới Thiếu Lâm tự quấy rối đó?

Nhiều tiếng chân đạp nước bì bõm, hơn một chục người từ dưới núi chạy lên.

Trương Vô Kỵ hai tay đưa ra sau, cầm hai bên đùi Tạ Tốn để cõng ông đi, bỗng thấy huyệt Đại Chùy ở sau lưng tê dại, thì ra đã bị Tạ Tốn ấn vào huyệt, hai tay vô lực, đành buông ông ra, lòng bồn chồn tưởng phát khóc lên được, nói:

– Nghĩa phụ, cha.. sao cha phải khổ như thế?

Tạ Tốn nói:

– Hảo hài tử, nỗi oan khuất của ta con đã thưa rõ với ba vị cao tăng rồi. Tội nghiệt do ta gây ra, phải do chính ta chịu báo ứng. Nếu con không đi thì lấy ai thay ta báo thù đây?

Trương Vô Kỵ thầm lo, thấy hơn một chục tăng nhân Thiếu Lâm tự cầm thiền trượng, giới đao tấn công tám người kia. Leng keng giao đấu mấy hiệp, ông già râu đen cầm phán quan bút biết có đấu tiếp cũng không đi đến đâu, chỉ hận là việc sắp thành, thì lại bị một gã thiếu niên vô danh phá bĩnh, thật là tức không để đâu cho hết, bèn quát to:

– Xin hỏi quý tính đại danh của gã trai ban nãy, Hác Mật, Bốc Thái của Hà Giang muốn biết tên vị cao nhân nào đã thọc gậy bánh xe như vậy?

Độ Ách vung sợi dây đen, nói:

– Đó là Trương giáo chủ của Minh giáo, đệ nhất cao thủ thiên hạ, chẳng lẽ Hà Giang Song Sát lại không biết?

Ông già râu đen cầm phán quan bút tên Hác Mật à lên một tiếng, giơ hai cây bút nhảy ra khỏi vòng chiến, bảy người còn lại cũng nhảy ra theo. Các tăng nhân Thiếu Lâm tự muốn ngăn chặn, song tám người ấy võ công thật cao siêu, chỉ nhún vai một cái, đã cùng nhau xuống núi.

Ba vị lão tăng đã nghe rõ lời đối đáp giữa Trương Vô Kỵ và Tạ Tốn, lại nhớ ban nãy chàng đã không thừa cơ người khác nguy nan mà ra tay, chỉ tụ thủ bàng quan, không trợ giúp phe nào; đến khi Bốc Thái phá vỡ "Kim cương phục ma khuyên", tấn công đến sát bên họ, cứ với lối hạ độc thủ của Hà Giang Song Sát, nếu chàng không ra tay cứu giúp thì giờ này ba vị lão tăng đã mất mạng rồi. Ba vị lão tăng bèn bỏ sợi dây, đứng thẳng người lên, chắp tay hướng về phía Trương Vô Kỵ, cùng nói:

– Đa tạ đại đức của Trương giáo chủ.

Trương Vô Kỵ vội hoàn lễ, nói:

– Chuyện phải làm thôi mà, đâu có gì đáng kể.

Độ Ách nói:

– Việc hôm nay, lẽ ra lão nạp nên để cho Tạ Tốn đi theo Trương giáo chủ, vừa rồi nếu Trương giáo chủ quả muốn cứu người, thì lão nạp cũng không còn sức ngăn cản. Có điều ba huynh đệ lão nạp làm theo pháp chỉ của phương trượng canh giữ Tạ Tốn, đã lập trọng thệ trước chư Phật, nếu ba huynh đệ lão nạp còn sống, quyết không để cho Tạ Tốn thoát thân. Chuyện này liên quan đến sự vinh nhục hàng trăm năm của bổn phái, mong Trương giáo chủ lượng thứ cho.

Trương Vô Kỵ chỉ "hừm" một tiếng, không đáp lời. Độ Ách nói tiếp:

– Cái mối thù mất một mắt của lão nạp, hôm nay coi như xóa xong. Trương giáo chủ muốn cứu Tạ Tốn, có thể đến đây bất cứ lúc nào, chỉ cần phá vỡ "Kim cương phục ma khuyên" của ba huynh đệ lão nạp, lập tức có thể mang Kim Mao Sư Vương đi khỏi. Trương giáo chủ muốn hẹn mang thêm trợ thủ, xa luân chiến cũng được, nhất tề xông tới cùng một lượt cũng được, chỉ có ba sư huynh đệ lão nạp ứng chiến mà thôi. Trước khi Trương giáo chủ giá lâm, ba huynh đệ lão nạp nhất định sẽ bảo vệ Tạ Tốn chu toàn, không cho phép Viên Chân nói nặng ông ta nửa lời, hoặc đụng đến một sợi tóc của ông ta.

Trương Vô Kỵ nhìn Tạ Tốn, trong đêm tối chỉ thấy thân hình cao lớn của ông, mái tóc phủ xuống vai, ông đứng cúi đầu, dường như trong lòng hết sức hối hận về những tội lỗi đã gây ra, mất hết vẻ uy phong lẫm lẫm thuở nào. Trương Vô Kỵ rưng rưng lệ, nghĩ thầm: "Hôm nay ta không thể đánh bại họ, nghĩa phụ lại chẳng chịu đi, chỉ còn cách hẹn với ông ngoại, Dương tả sứ, Phạm hữu sứ tới đây tái đấu với ba vị này. Ba sợi dây đen kết thành một cái vòng vững chắc như thành đồng vách sắt, nếu ban nãy không phải do Độ Nạn đại sư đánh một chưởng vào lưng ta, thì Bốc Thái không tài gì xông vào được. Kỳ tới có thêm ông ngoại và Quang Minh tả hữu sứ trợ giúp, phá vỡ được hay không cũng khó biết. Thôi, hiện thời đành tới đâu hay đó vậy". Nghĩ thế, chàng bèn nói:

– Nếu vậy, nhất định vãn bối sẽ trở lại lĩnh giáo cao chiêu của ba vị đại sư.

Chàng quay lại ôm lưng Tạ Tốn, nói:

– Nghĩa phụ, con đi đây.

Tạ Tốn gật đầu, xoa mái tóc chàng, nói:

– Con khỏi cần trở lại cứu ta, ta đã quyết ý không đi nữa. Hảo hài tử, mong con mọi việc ở hiền gặp lành, không phụ lòng mong mỏi của cha mẹ con và của ta. Con hãy noi gương cha con, đừng học theo nghĩa phụ.

Trương Vô Kỵ nói:

– Cha con và nghĩa phụ đều là anh hùng hảo hán, là đại trượng phu quang minh lỗi lạc, đều là tấm gương cho con noi theo.

Đoạn chàng cúi mình bái biệt, lắc mình một cái, thân hình đã vọt ra khỏi phạm vi ba cây tùng, giơ tay chào ba vị lão tăng, rồi thi triển khinh công, thoáng chốc đã mất hút, song tiếng hú thanh thoát của chàng nghe vang vọng ngoài xa cả dặm.

Tăng chúng Thiếu Lâm trên đỉnh núi nhìn nhau kinh hãi, họ từng nghe đồn Trương giáo chủ của Minh giáo võ công trác tuyệt, song không ngờ lại thần diệu tới mức này.

*

* *

Trương Vô Kỵ thấy hình tích đã lộ, định tâm thể hiện một môn công phu, cốt làm cho tăng chúng Thiếu Lâm phải e sợ mà đối đãi phải chăng với Tạ Tốn. Tiếng hú thanh thoát của chàng vận đủ trung khí, triền miên không dứt, giữa tiếng mưa gió sấm chớp vang vọng truyền đi như một con rồng cực dài đang bay lượn giữa tầng không. Chàng toàn lực thi triển khinh công, chân chạy càng lúc cành nhanh, tiếng hú cũng càng lúc càng vang động. Hơn một ngàn nhà sư đang ngủ trong chùa Thiếu Lâm giật mình tỉnh giấc, đến khi tiếng hú xa dần, mới ồ lên bàn tán xôn xao. Bọn Không Văn, Không Trí thấy Trương Vô Kỵ đã tới, đều lo lắng ưu phiền.

Trương Vô Kỵ chạy được mấy dặm, bỗng từ phía sau một bụi liễu bên đường có tiếng người gọi:

– Này!

Một người vụt bước ra, chính là Triệu Mẫn.

Trương Vô Kỵ ngừng hú dừng bước, ôm lấy nàng, thấy toàn thân nàng ướt sũng, nước mưa chảy ròng ròng từ trên đầu trên mặt chảy xuống. Triệu Mẫn nói:

– Chàng động thủ với mấy lão trọc chùa Thiếu Lâm rồi ư?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Rồi.

Triệu Mẫn hỏi:

– Tạ đại hiệp thế nào? Chàng gặp Tạ đại hiệp chưa?

Trương Vô Kỵ khoác tay nàng, thong thả sóng bước dưới mưa, kể lại sơ qua mọi việc một lượt.

Triệu Mẫn ngẫm nghĩ, nói:

– Chàng có hỏi Tạ đại hiệp vì sao thất thủ để bị bắt hay không?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Ta chỉ chăm chăm lo việc cứu nghĩa phụ thoát hiểm, chưa có lúc nào rỗi để hỏi chuyện đó.

Triệu Mẫn thở dài, không nói thêm. Trương Vô Kỵ hỏi:

– Nàng không vui hay sao?

Triệu Mẫn đáp:

– Đối với chàng là chuyện nhàn rỗi, đối với thiếp thì là chuyện hệ trọng. Thôi được, chờ khi cứu Tạ đại hiệp ra hãy hỏi cũng chưa muộn. Thiếp chỉ sợ..

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Nàng sợ cái gì? Sợ chúng mình không cứu nổi nghĩa phụ ư?

Triệu Mẫn đáp:

– Minh giáo mạnh hơn hẳn phái Thiếu Lâm, muốn cứu Tạ đại hiệp thì cuối cùng sẽ tìm được cách cứu ra. Thiếp chỉ sợ Tạ đại hiệp đã quyết định lấy cái chết để trả nợ cho Không Kiến thần tăng mà thôi.

Trương Vô Kỵ cũng lo như vậy, hỏi:

– Nàng nghĩ có thể vậy chăng?

Triệu Mẫn đáp:

– Chỉ mong đừng như vậy.

Hai người vừa đi vừa trò chuyện, đã về tới trước nhà vợ chồng họ Đỗ. Triệu Mẫn cười nói:

– Chàng đã lộ diện, không thể giấu giếm họ nữa.

Trương Vô Kỵ thấy cánh cửa ngôi nhà tranh chỉ khép hờ, liền giơ tay đẩy ra, lắc người mấy cái cho bớt ướt rồi bước vào, bỗng ngửi xộc lên mùi máu tanh. Chàng sợ hãi, vội đưa tay trái ra sau lưng đẩy Triệu Mẫn ra bên ngoài. Trong bóng tối đột nhiên có kẻ giơ tay chộp lấy chàng. Cú trảo này không một tiếng động, cực nhanh; khi chàng cảm nhận được, thì các ngón tay kẻ kia đã chạm tới mặt. Trương Vô Kỵ lúc này không còn kịp né tránh, chân trái phóng thẳng ngay lên ngực kẻ kia. Kẻ kia lật ngược tay móc một cái, cùi chỏ đánh xuống huyệt Hoàn Khiêu trên đùi chàng, chiêu số rất hiểm độc. Trương Vô Kỵ chỉ cần rút chân về để tránh, thì tay trái của kẻ kia sẽ móc lấy hai con mắt của chàng. Chàng bèn giơ tay chộp hờ ra xem sao. Quả nhiên chàng đoán không sai, bàn tay chàng chạm ngay phải tả chưởng của địch; song lúc đó huyệt Hoàn Khiêu cũng tê dại, chân phải đứng không vững, khuỵu ngay xuống.

Chàng đang tính lợi dụng cái thế đó bẻ gãy cổ tay kẻ địch, nhưng lại thấy bàn tay chàng nắm được kia mềm và nhẵn nhụi là tay phụ nữ, nên thôi không ra đòn nặng, mà nhấc luôn kẻ đó quẳng đi; bỗng bụp một cái, vai phải của chàng đau nhói, đã bị một dao đâm trúng.

Kẻ kia nhảy vọt ra cửa, vung chưởng đánh thẳng vào mặt Triệu Mẫn. Trương Vô Kỵ biết Triệu Mẫn không thể chống đỡ nổi, sẽ chết tươi tại chỗ, bèn cố nhịn đau bật người lên, tung chưởng ra. Hai chưởng đụng nhau. Người kia lảo đảo, chân loạng choạng, mượn lực đối chưởng mà nhảy ra xa mấy trượng, trong đêm tối biến mất tăm.

Triệu Mẫn sợ hãi hỏi:

– Là ai vậy?

Trương Vô Kỵ ậm ừ, bùi nhùi trong người đã bị ướt sũng nước mưa, không thể châm lửa, sợ rằng đoản đao cắm ở vai có thuốc độc, bèn nói:

– Nàng hãy thắp đèn lên.

Triệu Mẫn mò xuống bếp đánh lửa, thắp ngọn đèn dầu, thấy có con dao cắm trên vai chàng, thì cả kinh. Trương Vô Kỵ thấy mũi dao không có thuốc độc, cười nói:

– Chỉ là ngoại thương, không đáng lo.

Chàng liền rút đao ra, quay đầu lại, thấy Đỗ Bách Đương và Dịch Tam Nương nằm chúi trong một góc nhà, chàng không kịp rịt vết thương đang chảy máu, chạy ngay tới coi, hai vợ chồng họ Đỗ đã chết từ bao giờ.

Triệu Mẫn hoảng sợ nói:

– Khi thiếp ra khỏi nhà, hai ông bà vẫn mạnh khỏe bình thường.

Trương Vô Kỵ gật đầu, chờ Triệu Mẫn buộc xong vết thương cho chàng, chàng cầm đoản đao lên xem, thấy chính là binh khí mà vợ chồng họ Đỗ sử dụng, chàng nhìn quanh, thấy trên xà nhà, cột kèo, mặt bàn, dưới đất đều có cắm các cây đao, rõ ràng kẻ địch đã giao đấu một phen ác liệt với hai vợ chồng họ Đỗ, đánh văng lần lượt các cây đao của họ, cuối cùng mới ra tay sát hại. Triệu Mẫn kinh sợ nói:

– Người ấy võ công quá lợi hại.

Ban nãy đấu mò với y trong bóng đêm, nếu Trương Vô Kỵ không ứng biến thật nhanh, đoán kẻ kia sẽ ra tay móc mắt chàng, thì giờ này chàng đã thành một kẻ đui mù, hoặc đã cùng Triệu Mẫn chết nằm sóng soài dưới đất rồi. Chàng xem kỹ lại xác hai vợ chồng họ Đỗ, thấy xương sườn của họ đều bị gãy thành nhiều đoạn, gân cốt sau lưng cũng thế, rõ ràng họ bị hại vì một loại chưởng lực cực kỳ hiểm độc. Chàng nhiều phen gặp đại địch và cảnh hung hiểm, nhưng nghĩ lại ba chiêu nhanh như cắt vồ mồi trong đêm tối vừa xảy ra, bất giác rùng mình ghê rợn. Tối nay hai trận ác đấu, trận thứ nhất một địch ba, tuy dằng dai hồi lâu, song không kinh tâm động phách bằng trận thứ hai chỉ qua vài chiêu ngắn ngủi.

Triệu Mẫn lại hỏi:

– Kẻ đó là ai thế?

Trương Vô Kỵ lắc đầu không đáp. Triệu Mẫn đột nhiên hiểu ra, ánh mắt lộ vẻ kinh hoàng, đứng ngây một hồi rồi sà vào lòng Trương Vô Kỵ, khóc nấc lên.

Hai người cùng nghĩ rằng nếu Triệu Mẫn không nghe thấy tiếng hú của Trương Vô Kỵ mà gội mưa chạy đi đón, thì không sao thoát khỏi đại nạn, lúc này nằm chết gục ở góc nhà không phải hai, mà là ba cái xác rồi.

Trương Vô Kỵ vỗ nhè nhẹ lưng nàng, dịu giọng an ủi. Triệu Mẫn nói:

– Người đó muốn giết thiếp, nên ra tay giết hai vợ chồng họ Đỗ trước, rồi nấp bên trong định ám toán thiếp, nhất định không phải toan giết chàng đâu.

Trương Vô Kỵ nói:

– Mấy ngày tới, nàng nhất thiết không được rời xa ta nửa bước đâu đấy.

Ngẫm nghĩ một lát, chàng tiếp:

– Chưa đầy một năm, sao nội lực và võ công lại tiến triển nhanh đến thế? Trên đời này, ngoài ta ra, e rằng không ai có thể bảo hộ chu toàn cho nàng.

*

* *

Sáng sớm hôm sau, Trương Vô Kỵ lấy cuốc xẻng của Đỗ Bách Đương đào một cái huyệt sâu, mai táng hai vợ chồng họ Đỗ, cùng Triệu Mẫn quỳ xuống vái mấy cái, nghĩ Dịch Tam Nương đối với hai người rất mực nhân hậu quý mến, thì không khỏi thương cảm.

Bỗng nghe từ phía Thiếu Lâm tự tiếng chuông vang lên dồn dập, nghe thật khẩn cấp; tiếp đó ở phía đông có một pháo hiệu màu xanh bay vút lên trời, phía nam có một pháo hiệu màu đỏ, phía tây có một pháo hiệu màu trắng, phía bắc có một pháo hiệu màu đen, xa xa mấy dặm là pháo hiệu màu vàng. Năm loại pháo hiệu vây chùa Thiếu Lâm vào giữa. Trương Vô Kỵ nói:

– Ngũ Hành kỳ của Minh giáo đều kéo tới, công khai thách thức Thiếu Lâm tự rồi đây, chúng ta đến đó mau.

Chàng và Triệu Mẫn vội thay đổi y phục, rửa ráy mặt mũi chân tay sạch sẽ, rồi hối hả đi tới chùa Thiếu Lâm.

Đi được vài dặm, gặp một đoàn giáo chúng Minh giáo tay cầm các lá cờ nhỏ màu vàng đi lên núi.

Trương Vô Kỵ gọi to:

– Nhan kỳ sứ có ở đó không?

Chưởng kỳ sứ Hậu Thổ kỳ là Nhan Viên nghe gọi, quay lại thấy giáo chủ thì cả mừng, vội tiến lại hành lễ tham kiến. Các giáo chúng hoan hô như sấm, cùng phục xuống vái lạy.

Nhan Viên bẩm cáo:

– Quần hào Minh giáo sau khi biết được tin về Tạ Tốn, bàn bạc với nhau, cho rằng nếu đợi đến tiết Đoan Dương cùng anh hùng thiên hạ tụ tập ở Thiếu Lâm tự để đòi người, thì như thế sẽ đối địch với cả quần hùng thiên hạ, hiện tại không có cách gì bẩm cáo với giáo chủ, đành phải quyền nghi, Dương Tiêu, Phạm Dao sẽ thống lĩnh thật đông đủ cao thủ của Minh giáo trước tiết Đoan Dương mười ngày cùng đến Thiếu Lâm tự đòi người. Vẫn biết đại động can qua là điều khó tránh, chuyện đó cũng không đáng ngại; chỉ đáng lo một điều là chưa tìm thấy giáo chủ, nên có cảm giác như rắn không đầu.

Các giáo chúng thổi tù và báo tin giáo chủ đã tới. Chẳng bao lâu, Dương Tiêu, Phạm Dao, Ân Thiên Chính, Vi Nhất Tiếu, Thuyết Bất Đắc, Ân Dã Vương, Chu Điên, Bành Oánh Ngọc, Thiết Quan đạo nhân lần lượt quy tụ. Giáo chúng bốn kỳ Nhuệ Kim, Cự Mộc, Hồng Thủy, Liệt Hỏa chia ra bốn mặt bao vây chùa Thiếu Lâm. Mọi người gặp nhau ai nấy vui mừng. Dương Tiêu, Phạm Dao tiến lên tạ tội vượt quyền.

Trương Vô Kỵ nói:

– Các vị không cần quá khiêm nhường, mọi người cùng đồng tâm hiệp lực cứu Tạ pháp vương, đó chính là nghĩa khí huynh đệ trong bổn giáo. Bổn nhân vô cùng cảm kích, lẽ nào lại trách cứ?

Rồi chàng kể sơ qua việc mình trà trộn vào Thiếu Lâm tự và chuyện đêm qua đã động thủ với ba huynh đệ Độ Ách ra sao. Mọi người thấy tất cả tất cả đều do mưu gian của Thành Côn thì ai cũng phẫn nộ. Chu Điên và Thiết Quan đạo nhân cất tiếng nguyền rủa. Trương Vô Kỵ nói:

– Hôm nay bổn giáo đường đường kéo quân tới gặp phương trượng Thiếu Lâm tự đòi người, tốt nhất là đừng để mất hòa khí. Vạn bất đắc dĩ phải động thủ, thì chúng ta một là cứu Tạ pháp vương, hai là bắt tên Thành Côn, ngoài ra không được sát hại người vô tội.

Mọi người đồng thanh dạ ran.

Trương Vô Kỵ quay sang bảo Triệu Mẫn:

– Mẫn muội, tốt nhất muội hãy cải trang, đừng để tăng chúng Thiếu Lâm nhận ra muội, khỏi phiền toái.

Nàng từng bắt các nhà sư chùa Thiếu Lâm đem về nhốt ở chùa Vạn An, đã gây thù chuốc oán sâu xa với Thiếu Lâm tự. Triệu Mẫn cười, đáp:

– Nhan đại ca, tiểu nữ sẽ giả làm một huynh đệ dưới cờ của đại ca!

Nhan Viên liền bảo một thuộc hạ cởi áo ngoài đưa cho Triệu Mẫn. Triệu Mẫn ra sau một gốc cây cải trang, bôi đen mặt mày, lúc bước ra đã hóa thành một hán tử gầy gò đen đúa.

Tiếng tù và lại vang động, quần hào Minh giáo xếp thành đội ngũ đi lên núi. Thiếu Lâm tự đã nhận được thiếp bái sơn của Minh giáo từ sớm, Không Trí thiền sư dẫn tăng chúng đón chờ ở sơn đình. Không Trí đã nghe lời Viên Chân, tin chắc các cao tăng Thiếu Lâm bị Triệu Mẫn bắt nhốt ở Đại Đô, bị chặt một ngón tay, ép phải truyền thụ võ công, là gian kế của Minh giáo ngầm câu kết sắp đặt với Nhữ Dương Vương, sau đó Trương Vô Kỵ ra tay cứu chỉ là giả vờ lấy lòng, toan tính mưu đồ khác mà thôi. Vì vậy khi đôi bên gặp nhau, Không Trí chỉ chắp tay hành lễ, không nói một câu.

Trương Vô Kỵ ôm quyền, nói:

– Tệ giáo có việc phải khẩn cầu quý phái, nên xin lên núi bái kiến phương trượng thần tăng.

Không Trí gật đầu, nói:

– Xin mời!

Rồi dẫn quần hào Minh giáo đi lên cổng chùa.

Không Văn phương trượng suất lĩnh các vị cao tăng thủ tọa Đạt Ma đường, La Hán đường, Bát Nhã đường, Giới luật viện ra ngoài cổng nghênh tiếp, mời quần hào vào Đại hùng bảo điện phân ngôi chủ khách ngồi xuống, các tiểu sa di bưng trà lên.

Không Văn cùng Trương Vô Kỵ, Ân Thiên Chính, Dương Tiêu hàn huyên vài câu, rồi im lặng. Trương Vô Kỵ nói:

– Phương trượng thần tăng, chúng tôi nếu không có việc thì chẳng dám đến cửa Phật. Hôm nay chúng tôi tới đây cầu khẩn phương trượng nể mặt đồng đạo võ lâm mà phóng thích Tạ pháp vương của tệ giáo, đại ân đại đức ấy mai này xin báo đáp.

Không Văn đáp:

– A Di Đà Phật, người xuất gia lấy từ bi làm gốc, giới sân giới sát, vốn không hề muốn làm khó với Tạ pháp vương. Thế nhưng sư huynh Không Kiến của lão nạp lại mất mạng vì tay Tạ thí chủ. Trương giáo chủ đứng đầu một giáo phái, chắc không lạ gì quy củ của võ lâm.

Trương Vô Kỵ nói:

– Việc đó bên trong có những duyên cớ khác, không thể chỉ trách Tạ pháp vương.

Rồi chàng kể lại chuyện Không Kiến cam nguyện chịu mười ba quyền để hóa giải một mối đại oan nghiệt trong võ lâm. Phía Không Văn mới nghe một nửa đã cùng cung kính đứng dậy niệm Phật hiệu. Không Văn rưng rưng nước mắt, run giọng nói:

– Thiện tai, thiện tai! Không Kiến sư huynh lấy đại nguyện lực để hoàn thành việc đại thiện, công đức không nhỏ.

Quần tăng cúi đầu đọc kinh, khâm phục Không Kiến là bậc cao nghĩa nhân hiệp. Quần hào Minh giáo cũng nhất tề đứng dậy tỏ lòng kính phục.

Trương Vô Kỵ kể xong sự việc đó, rồi nói:

– Tạ pháp vương lỡ tay đả thương Không Kiến thần tăng thì vô cùng hối hận; nhưng việc này suy cho cùng, thủ phạm chính là Viên Chân đại sư của quý tự.

Chàng thấy Viên Chân không có mặt ở trong điện, nên nói:

– Xin mời Viên Chân đại sư ra đây đối chất, để phân định phải trái.

Chu Điên xen vào:

– Đúng thế, trên đỉnh Quang Minh con lừa trọc ấy giả vờ chết, không ngờ hắn còn sống nhăn, cứ thập thập thò thò, chẳng ra cái giống gì. Mau gọi hắn ra đây coi.

Từ lần bị Viên Chân cho một vố đau trên đỉnh Quang Minh, Chu Điên bực lắm. Trương Vô Kỵ vội nói:

– Chu tiên sinh không được vô lễ trước mặt phương trượng đại sư.

Chu Điên nói:

– Ta chửi là chửi con lừa trọc Viên Chân, chứ đâu dám nhục mạ lão trọc..

Chữ "trọc" vừa thốt ra, y biết ngay là không ổn, vội lấy tay bịt miệng mình lại.

Không Trí thấy Chu Điên nói năng vô lễ, càng thêm tức giận, nói:

– Thế còn cái chết của sư đệ ta là Không Tính, Trương giáo chủ giải thích sao đây?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Không Tính thần tăng hào hiệp trượng nghĩa, tại hạ có duyên bái hội trên đỉnh Quang Minh, trong lòng hết sức kính phục. Không Tính đại sư từng ước hẹn với tại hạ, có dịp sẽ trao đổi để trau dồi võ học cho nhau. Ngờ đâu đại sư gặp đại nạn, tại hạ vô cùng thương tiếc. Việc đó do kẻ gian ám toán, thực không liên quan gì đến tệ giáo.

Không Trí cười, lạnh lùng nói:

– Trương giáo chủ việc gì cũng chối sạch. Còn việc quận chúa của Nhữ Dương Vương liên thủ với Minh giáo cũng là giả chăng?

Trương Vô Kỵ đỏ mặt, nói:

– Quận chúa không hợp ý với cha anh nàng, nên gia nhập tệ giáo. Dạo trước quận chúa có gì bất kính với quý tự, tại hạ sẽ bảo nàng ta lên chùa lễ Phật, trịnh trọng tạ tội.

Không Trí quát lên:

– Trương giáo chủ hoa ngôn xảo ngữ liệu có ích gì? Các hạ làm giáo chủ một giáo phái, mà lại tín khẩu hồ ngôn như thế, không sợ anh hùng trong thiên hạ chê cười hay sao?

Trương Vô Kỵ nghĩ việc giết Không Tính, bắt giữ quần tăng, đúng là việc hoàn toàn không nên làm của Triệu Mẫn, tuy không liên quan đến Minh giáo, nhưng nay Triệu Mẫn đã trao thân gửi phận cho chàng, chàng không thể đùn đẩy cho người khác.

Chính lúc đang khó nghĩ thì Thiết Quan đạo nhân lên tiếng, giọng gay gắt:

– Không Trí đại sư, Trương giáo chủ kính trọng đại sư là cao tăng tiền bối, nể mặt đại sư đó thôi, song đại sư cũng cần biết tự trọng. Trương giáo chủ trọng nghĩa thủ tín, chỉ nói sự thực. Đại sư làm nhục Trương giáo chủ, tức là làm nhục hàng trăm vạn giáo chúng Minh giáo ta. Dẫu Trương giáo chủ có khoan dung độ lượng, không thèm chấp, thì bọn bộ thuộc ta cũng chẳng bỏ qua cho đâu.

Vừa qua giáo chúng Minh giáo suốt một dải Hoài Tứ, Dự Ngạc hạ thành chiếm đất, chiêu binh mãi mã, nói "hàng trăm vạn giáo chúng" là không ngoa chút nào.

Không Trí cười khẩy:

– Hàng trăm vạn giáo chúng thì làm gì nào? Chẳng lẽ muốn san Thiếu Lâm tự thành bình địa chắc? Ma giáo làm nhục chùa Thiếu Lâm ta, không phải hôm nay là lần đầu. Bọn ta thất thủ bị bắt, bị nhốt ở chùa Vạn An, chỉ trách mình thiếu thận trọng, chứ xưa nay tà chính không thể đội trời chung, chuyện đó chẳng có gì lạ. Đằng này các người lại đến chùa Thiếu Lâm, khắc ở sau lưng mười sáu bức tượng La Hán mười sáu chữ, hừ, "Tiên tru Thiếu Lâm, tái diệt Võ Đang, duy ngã Minh giáo, võ lâm xưng vương!" Uy phong dữ dằn quá đấy!

Lần trước các võ sĩ của Triệu Mẫn, sau khi bắt giữ tăng chúng Thiếu Lâm tự giải đi, đã dùng dao khắc mười sáu chữ kia vào sau lưng mười sáu pho tượng La Hán. Phạm Dao chờ lúc mọi người đi khỏi, phi thân trở lại La Hán đường, di chuyển các pho tượng cho xoay lưng vào tường để làm cho âm mưu của Triệu Mẫn giá họa cho Minh giáo không thành. Sau đó bọn Dương Tiêu phát giác, đã xoay lại các bức tượng cho ngay ngắn, ngờ đâu tăng chúng Thiếu Lâm vẫn biết. Trương Vô Kỵ kém tài ăn nói, lại nghĩ Triệu Mẫn làm việc đó quả là sai quấy, trong bụng ngượng ngùng, không biết nói sao.

Dương Tiêu liền nói:

– Không Trí đại sư nói gì khiến chúng tôi không hiểu nổi? Trương giáo chủ của tệ giáo chính là công tử của Trương ngũ hiệp phái Võ Đang, trên giang hồ ai mà chẳng biết. Chúng tôi dẫu ngông cuồng đến mấy, cũng không dám nhục mạ thân sinh của Trương giáo chủ. Còn bản thân Trương giáo chủ lẽ nào lại khắc mấy chữ "tái diệt Võ Đang" kia chứ? Phương trượng đại sư và Không Trí đại sư đều là bậc cao tăng đức độ, đạo lý đơn giản như thế sao lại không nghĩ ra? Tại hạ quyết cho rằng không hề có việc đó.

Mấy câu trên lời lẽ đanh thép, khiến cho Không Trí chẳng thể nói thêm được nữa.

Không Văn phương trượng tu hành lâu năm, tâm tính hiền hòa, dầu gì cũng coi đại cục là trọng, thầm biết Minh giáo thế mạnh, giả dụ đôi bên đánh nhau thật, chỉ sợ tòa Thiếu Lâm tự cổ kính cả ngàn năm đến tay mình bị hủy diệt, bèn nói:

– Các vị cứ tranh luận bằng miệng với nhau, thiếu bằng chứng, vậy xin đi theo lão nạp tới La Hán đường chiêm ngưỡng pháp tượng, ai nói đúng sẽ biết liền.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Một khi tới La Hán đường, chân tướng sẽ bại lộ ngay mất". Chàng còn do dự chưa trả lời, thì Dương Tiêu nói:

– Vậy thì hay lắm.

Trương Vô Kỵ chưa hiểu ý của Dương Tiêu, nhưng nghĩ Triệu Mẫn trà trộn vào nhóm Hậu Thổ kỳ, chưa vào chùa, chắc chắn tăng chúng Thiếu Lâm tự chưa phát giác được, cho nên chàng cũng không lo lắm.

Thế là chủ khách đi tới La Hán đường. Không Văn vái các pho tượng La Hán, nói:

– Đệ tử kinh động các pháp tượng, xin chư vị La Hán lượng thứ.

Vái xong, phương trượng sai sáu đệ tử cung kính di chuyển pháp thân. Sáu đệ tử vâng lệnh bước lên, chắp tay, lầm rầm khấn vái mấy câu, rồi chia ra hai bên, mỗi bên ba người, xoay pho tượng La Hán thứ nhất lại.

Chỉ thấy sau lưng pho tượng được đẽo phẳng lì, được thếp vàng, trước đây vốn có khắc chữ "tiên" to tướng, giờ chẳng còn dấu vết gì nữa. Việc như thế, chẳng những Không Văn, Không Trí kinh ngạc, mà ngay cả Trương Vô Kỵ cũng thấy bất ngờ.

Quần đệ tử Thiếu Lâm bèn cùng nhau xắn tay áo, xoay tất cả các pho tượng La Hán còn lại từ sau ra trước, nhưng đâu còn nét khắc nào? Tăng chúng ngơ ngác nhìn nhau, không ai nói được gì. Chính bọn họ từng nhìn thấy rõ rành rành sau lưng mỗi pho tượng đều có khắc một chữ lớn, hợp lại thành mười sáu chữ "Tiên tru Thiếu Lâm, tái diệt Võ Đang, duy ngã Minh giáo, võ lâm xưng vương!" sao bây giờ lại không thấy đâu cả? Sau lưng các pho tượng La Hán, vết thếp vàng còn mới lắm, thế nhưng Thiếu Lâm tự mấy tháng nay được canh giữ cực kỳ nghiêm mật, muốn xóa hết vết tích các chữ kia, rồi sơn lại thật mới, hoàn toàn không phải chuyện dễ, vậy mà tăng chúng trong chùa không một ai hay biết là thế nào?

Trương Vô Kỵ quay lại, thấy Phạm Dao và Vi Nhất Tiếu nháy mắt cười với nhau, thì hiểu ngay đó là huynh đệ bổn giáo đã ra tay, nghĩ thầm: "Họ làm được việc đó quả là thần thông quảng đại, xuất quỷ nhập thần".

Dương Tiêu thấy các nhà sư cả kinh, bèn nói:

– Quý tự phúc trạch thâm hậu, công đức vô lường, kim thân của mười sáu pho tượng đều hoàn hảo, không suy suyển chút gì. Chắc có lẽ đúng như Không Trí đại sư nói, dạo trước có bị kẻ gian hủy hoại, nhưng mười sáu vị La Hán hiển linh, Phật pháp vô biên, đã lập tức tự bổ khuyết, thật là đáng mừng.

Nói rồi liền quỳ xuống vái các pho tượng La Hán. Trương Vô Kỵ và mọi người cùng quỳ xuống vái lạy.

Không Văn, Không Trí tuy không tin mấy lời ma mãnh rằng La Hán hiển linh, Phật pháp vô biên, song cũng đoán chừng đó là Minh giáo ngầm ra tay, dẫu gì cũng là người ta đã biết lỗi với bản tự, nên nỗi tức giận trong bụng cũng giảm đi ba phần; còn đối với tài xuất quỷ nhập thần của các ma đầu Ma giáo, thì ba phần khâm phục, ba phần lo sợ.

Không Văn nói:

– Các pho tượng La Hán giờ đã hoàn hảo như xưa, chuyện này khỏi nhắc tới nữa.

Rồi vẫy ta ra hiệu cho các đệ tử xoay lại các pho tượng La Hán và nói:

– Đêm qua Trương giáo chủ giá lâm, đã gặp ba vị sư thúc của lão nạp. Nghe nói Độ Ách sư thúc và Trương giáo chủ có ước hẹn với nhau, chỉ cần Trương giáo chủ phá vỡ được "Kim cương phục ma khuyên" của ba vị sư thúc lão nạp thì cứ việc đưa Tạ thí chủ đi.

Trương Vô Kỵ đáp:

– Đúng thế, Độ Ách đại sư quả có bảo vậy. Nhưng tại hạ khâm phục võ công cao siêu của ba vị lão tăng, tự biết mình không phải là địch thủ, đêm qua đã thua ba vị lão tăng rồi, kẻ bại trận đâu còn dám huênh hoang nữa?

Không Văn nói:

– A Di Đà Phật, Trương giáo chủ quá khiêm nhường. Đêm qua thắng bại chưa phân, Trương giáo chủ lại có lòng hiệp nghĩa, ra tay tương trợ, nên ba vị sư thúc rất cảm kích nghĩa cử của Trương giáo chủ.

Bọn Dương Tiêu, Phạm Dao nghe Trương Vô Kỵ kể ba vị lão tăng võ công tinh diệu, ai cũng muốn được gặp. Ân Thiên Chính nói:

– Nếu các vị cao tăng Thiếu Lâm quyết ý lấy việc cao thấp về võ học để phân xử, thì Trương giáo chủ, chúng ta không lượng sức mình, cũng đành lĩnh giáo tuyệt học của phái Thiếu Lâm một phen. Chúng ta đến đây cốt là để cứu Tạ huynh đệ, đến nước này cũng chả còn cách nào khác, chứ hoàn toàn không dám gây chuyện với chốn lãnh tụ võ lâm là chùa Thiếu Lâm.

Trương Vô Kỵ vốn rất tôn trọng lời lẽ của ông ngoại, lại nghĩ ngoài cách đó ra, cũng không còn cách gì hay hơn, bèn nói:

– Các huynh đệ nghe tại hạ ca tụng thần công cái thế của ba vị lão tăng, đều nói ba vị lão tăng đã tọa quan mấy chục năm, trong võ lâm không một ai hay biết, nay mọi người được dịp bái kiến, thực là vinh hạnh một đời.

Không Trí giơ tay nói:

– Xin mời!

Rồi dẫn đường đưa quần hào đi về phía đỉnh núi sau chùa.

Các giáo chúng thuộc Hồng Thủy kỳ theo sự điều khiển của chưởng kỳ sứ Đường Dương, bày trận dưới chân ngọn núi này, thanh thế vô cùng mạnh mẽ. Các cao tăng Thiếu Lâm nhìn qua, làm như không trông thấy, cứ đi thẳng lên núi.

Không Văn, Không Trí chắp tay, khom lưng hướng về phía ba cây tùng bẩm báo.

Độ Ách nói:

– Thù oán với Dương Đính Thiên đêm qua đã hóa giải rồi, sự việc tượng La hán hôm nay cũng đã xong, thật hay biết mấy, hay biết mấy! Trương giáo chủ, bên các vị có mấy người tới động thủ đây?

Bọn Dương Tiêu thấy ba vị lão tăng thân hình gầy đét, thấp bé, ngồi lọt thỏm trong ba hốc cây chẳng khác gì ba cái xác khô, nhưng mấy câu vừa nói thì vang vọng sơn cốc, rõ ràng nội lực thâm hậu quá chừng, bất giác không khỏi giật mình.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Đêm qua một mình ta đấu không lại ba vị lão tăng. Hôm nay tuy mình đông thật, nhưng nếu tất cả ào lên, một là vướng víu nhau khó thi triển, hai là mang tiếng ỷ nhiều thủ thắng, giảm mất uy phong của bản giáo. Nhiều không nên, ít không xong, ta cứ ba người chọi ba người là công bằng nhất". Bèn nói:

– Đêm qua tại hạ đã được thưởng thức thần công của ba vị lão tăng, trong lòng bội phục, vốn không dám lộ thêm cái kém cỏi trước mặt ba vị lần nữa. Ngặt vì Tạ pháp vương đối với tại hạ có cái ân phụ tử, đối với các huynh đệ đây có cái nghĩa bằng hữu, cho nên chúng tại hạ dẫu không tự lượng sức, cũng phải cứu Tạ pháp vương cho bằng được. Tại hạ muốn mời thêm hai vị huynh đệ trong bổn giáo tương trợ, lấy ba chọi ba, bình thủ lĩnh giáo.

Độ Ách thản nhiên nói:

– Trương giáo chủ khỏi cần khiêm tốn quá, nếu bên quý giáo có được một vị tài nghệ gần ngang giáo chủ, chỉ cần hai vị liên thủ cũng đủ lấy mạng ba huynh đệ lão nạp rồi. Nhưng nếu lão nạp không lầm, người có thân thủ như giáo chủ, trên đời này làm gì còn ai, cho nên nếu càng thêm nhiều người ùa lên càng hay.

Bọn Chu Điên, Thiết Quan đạo nhân người nọ nhìn người kia, đều nghĩ lão lừa trọc kia quá ư cuồng ngạo, chẳng coi anh hùng thiên hạ vào đâu; có điều vẫn phải thừa nhận trên đời không ai sánh ngang giáo chủ của họ, kể như cũng còn biết nể nang. Chu Điên vừa định lên tiếng, Thuyết Bất Đắc nhanh tay bịt miệng y lại.

Trương Vô Kỵ nói:

– Tệ giáo tuy là bàng môn tả đạo, khó sánh với danh môn chính phái, nhưng cơ nghiệp đã mấy trăm năm, cũng có một ít nhân tài. Tại hạ vì gặp được nhân duyên, tạm thời đảm đương chức giáo chủ, chứ kỳ thực luận về võ công thì người trong tệ giáo giỏi hơn tại hạ chẳng phải là ít. Vi Bức Vương, nhờ huynh mang danh thiếp trình lên ba vị cao tăng.

Nói xong chàng đưa cho Vi Nhất Tiếu tờ danh thiếp, trên ghi tên quần hào lần này tới bái sơn, từ Trương Vô Kỵ, Dương Tiêu, Phạm Dao, Ân Thiên Chính, Vi Nhất Tiếu.. trở xuống.

Vi Nhất Tiếu biết giáo chủ muốn y hiển thị tài khinh công vô song, để cho quần tăng Thiếu Lâm không dám coi thường các nhân vật của Minh giáo, bèn cúi mình tuân lệnh, cầm tờ danh thiếp, thân hình chưa đứng thẳng lên, cũng chưa xoay mình, đi giật lùi mà vút ra xa cả chục trượng như một làn khói mỏng, bay tới khoảng giữa ba cây tùng, hai tay lật một cái đã trao danh thiếp cho Độ Ách.

Ba vị lão tăng thấy nhoáng một cái y đã tới trước mặt họ, khinh công đẹp như thế, thực chưa từng thấy bao giờ, huống hồ là kiểu đi giật lùi mà tài tình đến vậy, thì không khỏi tấm tắc: "Giỏi quá!"

Tăng chúng Thiếu Lâm đều có con mắt tinh đời, tức thì tiếng hoan hô nổi lên như sấm. Quần hào Minh giáo tuy đều biết Vi Nhất Tiếu khinh công tuyệt luân, nhưng thân pháp bật ngược về sau thì mới được chứng kiến lần đầu, dù hết sức thán phục, song chẳng lẽ tự khen người đằng mình, nên đành im lặng, chỉ riêng Chu Điên vỗ tay tán thưởng.

Độ Ách hơi nghiêng người, giơ tay nhận tờ danh thiếp, năm ngón tay phải của lão tăng vừa chạm vào tờ giấy, Vi Nhất Tiếu thấy toàn thân tê dại, tựa hồ bị sét đánh trúng, ngực nóng ran, người muốn ngã nhào. Y cả kinh, vội vận công chống đỡ. Độ Ách đã nhận tờ danh thiếp, luồng nội lực hùng hậu truyền qua tờ giấy lập tức mất đi. Vi Nhất Tiếu mặt biến sắc, nghĩ bụng lão trọc chột này nội công quả thật khôn lường, không dám chần chừ, vội nghiêng người lướt trên đám cỏ cao trở về bên cạnh Trương Vô Kỵ. Môn khinh công "Thảo thượng phi" này tuy không lạ lắm, nhưng luyện tới mức lướt như bay thì quả cũng là một thần kỹ.

Cánh Không Văn, Không Trí đều nghĩ thầm: "Khinh công của người kia đạt tới mức này, dĩ nhiên phải nhờ cao nhân truyền thụ, nhưng cũng còn do thiên phú, xem ra y có dị bẩm, người khác dẫu khổ luyện mấy cũng không thể vươn tới cảnh giới đó".

Độ Ách nói:

– Trương giáo chủ bảo quý giáo có ba người hạ trường, trừ giáo chủ và vị Vi Bức Vương kia, còn vị thứ ba đứng ra chỉ giáo là ai đây?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Vi Bức Vương đã lĩnh giáo thần công nội kình của đại sư, tại hạ muốn mời tả hữu Quang Minh sứ giả trợ giúp.

Độ Ách hơi chột dạ: "Gã thiếu niên này tinh mắt quá chừng, vừa rồi ta dùng cách truyền kình lực qua tờ thiếp chỉ trong chớp mắt, mà hắn cũng nhận ra. Tả hữu Quang Minh sứ giả là ai, chẳng lẽ võ công còn cao hơn gã họ Vi kia ư?" Lão tăng tọa quan quá lâu năm, dĩ nhiên không nghe tên tuổi Dương Tiêu, còn Phạm Dao thì bao nhiêu năm qua mai danh ẩn tính, đến người bên cạnh còn không hay biết nữa là.

Dương Tiêu, Phạm Dao nghe giáo chủ nhắc đến tên mình, tức thời hiên ngang bước ra, cúi mình nói:

– Cẩn tuân mệnh lệnh giáo chủ.

Trương Vô Kỵ nói:

– Ba vị cao tăng sử dụng binh khí mềm, chúng ta dùng binh khí gì thì hơn?

Trương Vô Kỵ, Dương Tiêu, Phạm Dao bình thời lâm trận chỉ dùng tay không, hôm nay gặp kình địch, chẳng dám không dùng binh khí. Ba người nhất pháp thông, vạn pháp thông, binh khí gì cũng biết sử dụng, Trương Vô Kỵ hỏi thế là để cho hai người có quyền lựa chọn. Dương Tiêu nói:

– Xin tùy giáo chủ phân phó.

Trương Vô Kỵ ngẫm nghĩ một chút: "Đêm qua Hà Giang Song Sát dĩ đoản công trường, xem ra rất có lợi". Chàng bèn lấy trong bọc ra sáu tấm thánh hỏa lệnh, chia cho Dương Tiêu, Phạm Dao mỗi người hai tấm, nói:

– Chúng ta lên Thiếu Lâm tự bái sơn, không dám mang theo binh khí, đây là bảo vật trấn giáo của bổn giáo, mình cầm mà dùng vậy.

Dương Tiêu, Phạm Dao cúi mình nhận, rồi hỏi phương lược. Đột nhiên Không Trí nói lớn:

– Khổ đầu đà, ở chùa Vạn An chúng ta đã có chuyện với nhau, sao không nhân đây thanh toán cho xong? Lại đây nào, để lão nạp lĩnh giáo cao chiêu của các hạ trước đã. Lão nạp hôm nay không uống phải "Thập hương nhuyễn cân tán", đôi bên mới thật sự phân rõ cao thấp.

Lão bị nhốt ở chùa Vạn An, vẫn luôn ấm ức, chưa có dịp phát tiết, hôm nay gặp lại Phạm Dao, cố nén mãi, đến lúc này thì không nén thêm được nữa.

Phạm Dao cười nhạt, nói:

– Tại hạ phụng mệnh giáo chủ, ra lĩnh giáo ba vị cao tăng, đại sư muốn trả thù cũ, chờ xong vụ này sẽ phụng bồi.

Không Trí cầm lấy trường kiếm của một đệ tử đứng bên quát:

– Các hạ không tự lượng sức, dám động thủ với ba vị sư thúc của ta, không chết ắt cũng trọng thương, mối thù của ta như thế làm sao báo được?

Phạm Dao cười đáp:

– Tại hạ chết dưới tay lệnh sư thúc thì có khác gì?

Không Trí cười khẩy:

– Trong Minh giáo, ngoài các hạ ra, không còn cao thủ nào khác ư, thế thì thôi vậy.

Câu nói của lão là kế khích tướng, quần hào Minh giáo sao lại không hiểu? Thế nhưng nếu làm ngơ, chẳng hóa ra để lão ta coi thường Minh giáo lắm ư? Cứ theo thứ bậc mà luận, dưới Phạm Dao sẽ là Bạch Mi Ưng Vương Ân Thiên Chính. Trương Vô Kỵ thấy ông ngoại tuổi đã cao, không tiện mời ra, định mời cậu là Ân Dã Vương thay thế. Ân Thiên Chính tiến ra một bước, nói:

– Giáo chủ, thuộc hạ Ân Thiên Chính xin ra ứng chiến.

Trương Vô Kỵ nói:

– Ông ngoại tuổi cao, xin để mời cậu..

Ân Thiên Chính nói:

– Ta tuổi tuy cao, song vẫn còn ít hơn ba vị lão tăng. Phái Thiếu Lâm có bậc đại cao niên thượng võ, Minh giáo ta không có lão tướng hay sao?

Trương Vô Kỵ biết ông ngoại chàng võ công cao cường chẳng kém gì Dương Tiêu, Phạm Dao, so với cậu còn hơn nhiều, nếu để ông ngoại xuất chiến, xem ra phần thắng chắc hơn, bèn nói:

– Được, Phạm hữu sứ hãy để dành sức lĩnh giáo Không Trí thần tăng, xin ngoại công giúp cho hài nhi.

Ân Thiên Chính đáp:

– Tuân lệnh!

Rồi tiếp nhận hai tấm thánh hỏa lệnh từ tay Phạm Dao.

Không Văn phương trượng dõng dạc nói:

– Ba vị sư thúc, vị Ân lão anh hùng đây người đời gọi là Bạch Mi Ưng Vương, năm xưa từng sáng lập Thiên Ưng giáo, một mình đương đầu với sáu đại môn phái, quả là bậc anh hùng hảo hán. Còn vị Dương tiên sinh này, nội công ngoại công đều ở mức tuyệt luân, là nhân vật đệ nhất trong Minh giáo, nhiều cao thủ phái Nga Mi, phái Côn Luân từng đại bại dưới tay Dương tiên sinh.

Độ Kiếp cười khô khan, nói:

– Hân hạnh được gặp! Để xem hôm nay môn hạ đệ tử Thiếu Lâm thân thủ thế nào?

Tam tăng vung tay một cái, ba sợi dây chẳng khác gì ba con rồng đen quây thành vòng tròn ba tầng.

Đêm qua, khi động thủ với ba vị lão tăng, trời tối như mực, giơ tay không nhìn rõ năm ngón, Trương Vô Kỵ chỉ căn cứ kình khí trên vòng dây mà biện nhận hướng đánh tới của binh khí đối phương; còn lúc này trời sắp trưa, ánh nắng chan hòa, từng nếp nhăn trên mặt ba vị lão tăng đều nhìn rõ mồn một. Chàng xoay ngược thánh hỏa lệnh, ôm quyền cúi mình nói:

– Đắc tội!

Nói đoạn nghiêng người xông lên. Dương Tiêu phi thân qua bên trái, còn Ân Thiên Chính quát một tiếng, tay phải cầm thánh hỏa lệnh đánh vào sợi dây của Độ Nạn. "Pang", hai thứ binh khí kỳ dị đụng nhau, phát ra âm thanh cũng rất quái dị, cánh tay cả hai người đều ê ẩm, họ cùng nghĩ thầm: "Khiếp thật!" biết ra mình đã gặp kình địch khó kiếm trong đời.

Trương Vô Kỵ suy tính: "Sợi dây của ba lão tăng kết thành vòng tròn, chiêu số nghiêm mật, ba người mình liên thủ, trong vòng vài trăm chiêu khó lòng phá vỡ, vậy hãy làm hao tổn nội kình của ba lão tăng, rồi từ từ tìm chỗ sơ hở của họ". Thấy một sợi dây đen cuốn tới, chàng liền dùng thánh hỏa lệnh chọi lại.

Hai bên đấu bằng thời gian ăn xong một bữa, ba người phe Trương Vô Kỵ đã dồn vòng dây thu hẹp lại, đường kính còn hơn một trượng. Song vòng dây càng thu ngắn, kháng lực của tam tăng càng mạnh, ba người muốn tiến thêm một bước, phải tốn sức gấp mấy lần trước đó. Dương Tiêu và Ân Thiên Chính càng đấu càng kinh hãi, thoạt đầu cục diện là ba đánh ba; sau nửa canh giờ thì Dương Tiêu và Ân Thiên Chính dần dần chịu hết nổi, thành ra hai người hợp lực đấu với Độ Nạn, còn một mình Trương Vô Kỵ đấu với hai lão tăng Độ Ách, Độ Kiếp.

Đòn của Ân Thiên Chính toàn là một lối cương mãnh. Dương Tiêu thì lúc nhu lúc cương, biến hóa khôn lường. Trong sáu người, chỉ có võ công của Dương Tiêu là đẹp mắt nhất, hai tấm thánh hỏa lệnh trong tay y cứ múa tít lên, lúc thành kiếm, lúc thành đao, lúc lại như đoản thương, đâm, chém, đánh, gạt; khi thì thành phán quan bút điểm, chọc, đè, hất; khi thì tay trái như chủy thủ, tay phải như thủy thích; rồi đột nhiên tay phải biến thành cương tiên, tay trái biến thành thiết xích; đôi khi dùng hai tấm thánh hỏa lệnh gõ vào nhau, phát ra âm thanh kỳ bí làm rối loạn tinh thần đối phương. Đấu chưa đầy bốn trăm chiêu, y đã biến đổi liền hai mươi hai loại binh khí, mỗi loại binh khí sử dụng hai pho võ công, đã thành bốn mươi tư chiêu thức.

Không Trí đã luyện thành mười một trong bảy mươi hai tuyệt nghệ của phái Thiếu Lâm; Phạm Dao tự phụ mọi môn võ công trong thiên hạ y đều học lén được hết; nhưng lúc này chứng kiến thần kỹ của Dương Tiêu, cả hai đều phải thầm thán phục. Chu Điên vốn có hiềm khích với Dương Tiêu, từng mấy phen gây sự với nhau, lúc này càng xem càng hổ thẹn: "Thì ra con rùa Dương Tiêu toàn nhường nhịn mình. Dạo trước mình cứ tưởng võ công hắn chỉ nhỉnh hơn mình đôi chút, mỗi lần động thủ hắn thắng mình chẳng qua nhờ may mắn. Đâu ngờ con rùa Dương Tiêu hơn Chu Điên này một trời một vực".

Song bất kể Dương Tiêu biến chiêu thế nào, sợi dây đen của Độ Nạn vẫn chống đỡ cả hai người mà không hề tỏ ra núng thế. Mọi người thấy trên đầu Ân Thiên Chính có lớp hơi màu trắng bốc lên, biết là ông đã phát huy nội lực đến cùng; chiếc áo màu trắng ông mặc, bên trong cũng đầy hơi căng phồng lên. Mỗi bước đi của ông để lại một dấu chân; đấu khoảng gần một canh giờ, thì bên ngoài ba cây tùng đã thành một vòng tròn hõm xuống do vết chân ông tạo nên.

Lúc này Ân Thiên Chính chuyển tấm thánh hỏa lệnh từ tay phải sang tay trái, đè sợi dây đen của Độ Nạn, tay phải đánh ra một chiêu "Phách không chưởng" [130] . Độ Nạn giơ tay trái lên, năm ngón tay chụp hờ ra, thành đòn không quyền, cũng trả lại một chưởng.

Không Văn, Không Trí cả bọn cùng kêu "ồ" lên một tiếng đầy vẻ kinh ngạc và thán phục. Thì ra chưởng đánh trả vừa rồi của Độ Nạn là một trong bảy mươi hai tuyệt nghệ của phái Thiếu Lâm, gọi là "Tu di sơn chưởng". Môn chưởng lực này khó luyện thành là chuyện dĩ nhiên, song dẫu đã luyện thành, thì mỗi lần xuất chưởng đều phải xuống tấn vận khí, ngưng thần hồi lâu, mới có thể hội tụ nội kình ở đan điền; đằng này Độ Nạn muốn xuất chưởng là xuất chưởng liền, vừa nghĩ tới là đã có thể đánh ra "Tu di sơn chưởng", tiếp đó sợi dây đen lại rung lên, nhắm đánh Dương Tiêu.

Song Độ Nạn vừa sử dụng "Tu di sơn chưởng" đối chưởng với Ân Thiên Chính, nên kình lực trên sợi dây chỉ còn non nửa. Lão tăng bèn lấy sự khéo léo bù cho chỗ yếu, cứ múa sợi dây vun vút, biến nó thành một con linh xà màu đen không ngừng di động. Hai tấm thánh hỏa lệnh trong tay Dương Tiêu cũng biến hóa vô cùng. Phần lớn người đứng coi đổ dồn vào xem hai người này đấu với nhau.

Ân Thiên Chính ngưng thần đề khí, từng chưởng từng chưởng đánh ra, khi đột nhiên tiến lên hai bước, khi lại thoái lui hai bước. Cạnh đó, Trương Vô Kỵ một mình đấu với hai lão tăng, chiêu thức của ba người không có gì lạ, nhưng đều là thi triển nội kình. Kiểu đấu này so với lối đấu lực của Ân Thiên Chính và đấu xảo của Dương Tiêu còn hung hiểm hơn nhiều; chỉ cần nội kình bị đối phương đánh ép trở lại, nếu không tắt thở mà chết tươi, thì cũng bị tẩu hỏa nhập ma, bại liệt tàn phế. Nhưng kiểu đấu này chỉ có người trong cuộc hiểu được, người đứng ngoài dù võ công cao siêu mấy cũng không thể căn cứ chiêu thức của ba người mà biết được.

Mặt trời từ hơi chếch ở phía đông, giờ đã ngả dần sang phía tây. Các đại cao thủ như Không Văn, Không Trí, Phạm Dao, Vi Nhất Tiếu đã nhận ra cơ hội đôi bên thắng bại như thế nào. Chỉ thấy Ân Thiên Chính trên đầu hơi trắng bốc lên càng lúc càng đậm, còn các lá kim trên cây tùng nơi Độ Kiếp ngồi cũng không ngừng chao động, đủ biết hai lão tăng Độ Ách và Độ Kiếp công lực có kẻ thấp người cao. Lúc này Độ Kiếp phải dựa lưng vào cây tùng, mượn lực đỡ của cây đại thụ, mới cầm cự nổi "Cửu dương thần công" của Trương Vô Kỵ. Nếu Ân Thiên Chính chịu hết nổi, thì Minh giáo thua; nếu Độ Kiếp chống đỡ không nổi, thì phái Thiếu Lâm bại trận.

Sáu người đang giao đấu càng hiểu điều đó hơn ai hết. Ân Thiên Chính tỷ thí chưởng lực với Độ Nạn đến hơn ba mươi chưởng, thì biết ông không phải là đối thủ của lão tăng, nghĩ thầm: "Việc của bọn ta hôm nay, cốt sao cứu được Tạ huynh đệ là trọng. Thắng bại vinh nhục của cá nhân ta, đâu có đáng gì? Huống hồ thua dưới tay một vị cao nhân của phái Thiếu Lâm, thì cũng không hạ thấp uy danh của Bạch Mi Ưng Vương này". Thế rồi sau mỗi lần đánh ra một chưởng, ông lại thoái lui nửa bước; sau hơn mười chưởng đã lùi xa cả trượng. Nào ngờ "Tu di sơn chưởng" là một trong bảy mươi hai tuyệt nghệ của phái Thiếu Lâm, Độ Nạn đã luyện pho chưởng này mấy chục năm, uy lực quả là ghê gớm. Ân Thiên Chính lùi bước nào, chưởng lực của Độ Nạn lại tiến theo bước ấy, kình lực không vì lộ trình dài ngắn mà suy giảm.

Dương Tiêu nghĩ thầm: "Lão tăng này quả thật lợi hại, mình có thay đổi chiêu số trên tấm thánh hỏa lệnh thế nào chăng nữa, cũng không làm gì nổi lão ta. Bạch Mi Ưng Vương một mình chịu nội kình, thời gian kéo dài e rằng không chịu nổi", bèn dùng hai tấm thánh hỏa lệnh kẹp sợi dây đen, lấy cứng chọi cứng đấu lực với lão tăng, để giảm nhẹ gánh nặng cho Ân Thiên Chính. Không ngờ tấm thánh hỏa lệnh vừa kẹp vào sợi dây thì Độ Nạn rung cổ tay một cái, sợi dây duỗi thẳng ra đánh vào mặt Dương Tiêu. Một ý nghĩ lóe lên trong đầu, Dương Tiêu nhắm ngực Độ Nạn ném luôn tấm thánh hỏa lệnh, rồi dùng cả hai tay chộp lấy đầu sợi dây, dùng chiêu "Đảo duệ cửu ngưu vĩ" mà kéo thật mạnh ra ngoài.

Độ Nạn thấy binh khí của đối phương rời khỏi tay, bắn mạnh tới như một thứ ám khí thì vội hạ thấp cùi chỏ tay trái để đè tấm thánh hỏa lệnh bay tới trước ngực, chợt thấy tấm thánh hỏa lệnh thứ hai đột nhiên chuyển hướng, nghe "vút" một tiếng, bay xéo sang phía Độ Kiếp. Nguyên trong sáu người, Dương Tiêu đa mưu hơn cả, hai tấm thánh hỏa lệnh tấn công Độ Nạn chỉ là hư chiêu, kình lực trên tấm thánh hỏa lệnh tấn công Độ Kiếp mới sử dụng toàn lực.

Độ Kiếp đang dốc toàn lực đấu với Trương Vô Kỵ, thấy Độ Nạn vẫn chiếm thượng phong trong cuộc đấu với Dương Tiêu và Ân Thiên Chính, không thể ngờ Dương Tiêu lại sử dụng kỳ chiêu, dùng thủ pháp quái dị tập kích mình; lão đang sửng sốt thì tấm thánh hỏa lệnh đã tấn công đến trước mặt. Lão hơi hoảng, đưa hai ngón tay ra kẹp tấm thánh hỏa lệnh nọ. Vì lúc đó lão đang toàn tâm toàn lực tỷ thí nội kình với Trương Vô Kỵ, đâu được phép phân tâm như thế, vậy là cây tùng mà lão ta dựa vào rung lên bần bật, lá tùng rơi lả tả như mưa rào. Trương Vô Kỵ thấy đối phương sơ hở, tâm pháp "Càn khôn đại na di" của chàng tối kiến hiệu là nhè chỗ sơ hở của đối phương mà tấn công, dẫu đối phương phòng thủ nghiêm mật còn chẳng ổn, nữa là đang núng thế? Năm luồng kình lực của các ngón tay chàng lập tức đánh tới nhanh như chớp, nghe "rắc rắc" nhiều tiếng, nhiều cành tùng nhỏ trên cây mà Độ Kiếp đang ngồi gãy rơi liên tiếp.

Độ Ách thấy thế nguy, vội đứng bật dậy, lắc mình một cái đã lướt tới bên cạnh Độ Kiếp, giơ tay trái đỡ vai cho sư đệ. Độ Kiếp có sư huynh giúp sức, mới đứng vững lại được.

Ở mé bên kia, Độ Nạn cũng đang tỷ thí chân lực với Dương Tiêu và Ân Thiên Chính, việc sinh tử sẽ được quyết định trong giây lát. Dương Tiêu cầm đầu sợi dây kéo mạnh ra ngoài, trong khi Ân Thiên Chính tiếp tục sử dụng chưởng lực hùng hậu liên tiếp tấn công Độ Nạn. Hai đại cao thủ một kéo một đẩy, hai luồng kình lực trái ngược nhau, Độ Nạn ở giữa, tuy tốn sức vô cùng mà chưa có vẻ bại trận.

Quần hào Minh giáo và tăng chúng Thiếu Lâm đứng ngoài nhìn tình cảnh đó, biết rằng nếu cứ tiếp tục tỷ thí đến khi phân rõ thắng bại, thì e rằng trong sáu đại cao thủ sẽ có ít nhất một nửa bỏ mạng tại chỗ. Trên đỉnh núi rộng rãi cứ im phăng phắc, ai nấy toát mồ hôi lạnh, ai cũng thấp thỏm lo cho người của phe mình.

Giữa không khí căng thẳng lặng lẽ đó, bỗng từ dưới địa lao ở khoảng giữa ba cây tùng có giọng nói trầm trầm vọng lên:

– Dương tả sứ, Ân đại ca, Vô Kỵ hài nhi, Tạ Tốn này hai tay dính đầy máu, lẽ ra phải chết từ lâu rồi. Hôm nay các vị vì muốn cứu ta mà tới đây tỷ thí với ba lão tăng Thiếu Lâm. Nếu đôi bên lại có tổn thương, thì tội lỗi của Tạ Tốn càng thêm chồng chất. Vô Kỵ hài nhi, con hãy mau mau dẫn huynh đệ bản giáo rời khỏi Thiếu Lâm tự. Nếu không ta sẽ lập tức tự tuyệt kinh mạch để khỏi tăng thêm nghiệt chướng.

Chính là Tạ Tốn sử dụng thần công "Sư tử hống" từ dưới địa lao nói lên. Năm xưa ở Vương Bàn sơn đảo, Tạ Tốn đã dùng "Sư tử hống" làm vô số hào sĩ các phái hoặc chết hoặc hôn mê; lúc này Tạ Tốn không sử dụng thần công để đả thương ai, song quần hào nghe mà cảm thấy tai cứ lùng bùng buôn buốt, không khỏi thất sắc.

Trương Vô Kỵ biết lời nghĩa phụ đã nói ắt nặng như núi, ông đã quyết không vì sự thoát thân của mình mà để người khác bị tổn thương; tình thế trước mắt, nếu tỷ thí đến cùng, chàng có thể không sao, nhưng ông ngoại, Dương Tiêu, Độ Kiếp, Độ Nạn bốn người chắc sẽ bỏ mạng. Chàng còn đang trù trừ, lại nghe Tạ Tốn quát lên:

– Vô Kỵ! Ngươi chưa chịu đi hay sao?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Vâng! Cẩn tuân lời sai bảo của nghĩa phụ!

Chàng lùi lại một bước, cao giọng nói:

– Ba vị lão tăng võ công quả vô cùng thần diệu, hôm nay Minh giáo chưa có cách gì phá vỡ, ngày khác sẽ trở lại lĩnh giáo. Ngoại công, Dương tả sứ, chúng ta hãy thu tay lại!

Nói rồi kình khí thu về, thoái hồi kình lực của hai lão tăng Độ Ách và Độ Kiếp trên hai sợi dây.

Dương Tiêu và Ân Thiên Chính nghe rõ lệnh của chàng, khổ nỗi hai người đang toàn lực tỷ thí với Độ Nạn, không có cách gì thu tay về; nếu thu hồi nội kình, sẽ lập tức bị đả thương bởi kình khí của Độ Nạn. Còn Độ Nạn lúc này có muốn dừng cũng không thể. Trương Vô Kỵ tới trước mặt Ân Thiên Chính, song chưởng tung ra, tiếp nhận chưởng lực của Độ Nạn và Ân Thiên Chính từ hai bên đánh vào; tiếp đó chàng dùng thánh hỏa lệnh chặn lên đầu sợi dây đen của Độ Nạn. Sợi dây vốn đang bị Độ Nạn và Dương Tiêu kéo căng như dây cung, thánh hỏa lệnh vừa chặn xuống, thần công "Càn khôn đại na di" lập tức hóa giải ngay hai luồng lực đạo mãnh liệt từ hai đầu dây truyền tới. Sợi dây đen mềm đi, chùng lại, rơi xuống đất, Dương Tiêu nhanh tay nhặt ngay lên.

Độ Nạn mặt biến sắc, đang định nói, Dương Tiêu hai tay cầm sợi dây lại gần mấy bước, nói:

– Xin gửi lại binh khí của đại sư.

Độ Kiếp hiểu tâm ý của Dương Tiêu, bèn nhặt hai tấm thánh hỏa lệnh ở dưới đất bên cạnh mình, trao cho Dương Tiêu.

Sau trận chiến này, ba vị lão tăng Thiếu Lâm dẹp bỏ thói cuồng ngạo, biết ra dẫu có đấu tiếp, tất sẽ lưỡng bại câu thương, ba người họ không tài gì chiếm được thượng phong. Độ Ách nói:

– Lão nạp bế quan mấy chục năm, trở lại được gặp hiền hào thời nay, thật là hân hạnh. Trương giáo chủ, quý giáo có nhiều anh tài, các hạ lại càng siêu việt, mong sao hãy đem tài ba đó tạo phúc cho trăm họ, đừng làm những việc thương thiên hại lý.

Trương Vô Kỵ cúi mình, nói:

– Đa tạ đại sư chỉ giáo. Tệ giáo không dám làm việc gì sai trái.

Độ Ách nói tiếp:

– Ba sư huynh đệ lão nạp ở đây cung kính chờ Trương giáo chủ đại giá lần thứ ba.

Trương Vô Kỵ nói:

– Thưa vâng, thể nào cũng xin trở lại lĩnh giáo. Tạ pháp vương là nghĩa phụ của tại hạ, ơn như phụ thân vậy.

Độ Ách thở dài, nhắm mắt, không nói nữa.

*

* *

Trương Vô Kỵ cùng bộ thuộc chắp tay chào từ biệt Không Văn, Không Trí rồi xuống núi. Bành Oánh Ngọc truyền tín hiệu, triệt thoái giáo chúng Ngũ Hành kỳ. Giáo chúng Cự Mộc kỳ và Hậu Thổ kỳ lùi ra cách chùa Thiếu Lâm năm dặm, dựng mười mấy căn nhà gỗ dựa lưng vào núi để mọi người làm chỗ nghỉ ngơi.

Trương Vô Kỵ buồn bã, nghĩ bụng trong bản giáo không còn ai có võ công cao hơn ông ngoại và Dương Tiêu, nếu có thay bằng Phạm Dao và Vi Nhất Tiếu, chắc cũng chỉ như cục diện hôm nay; trên đời này tìm đâu ra hai người giỏi hơn họ để cùng chàng phá vỡ "Kim cương phục ma khuyên"?

Bành Oánh Ngọc đoán được tâm sự của chàng, nói:

– Giáo chủ quên Trương chân nhân rồi ư?

Trương Vô Kỵ lưỡng lự, nói:

– Nếu thái sư phụ ta chịu xuống núi tương trợ, liên thủ với ta, hẳn sẽ phá vỡ được "Kim cương phục ma khuyên". Nhưng sẽ làm tổn thương nghiêm trọng hòa khí giữa hai phái Thiếu Lâm và Võ Đang, cho nên chưa chắc thái sư phụ ta bằng lòng. Hơn nữa thái sư phụ ta tuổi đã trên trăm, võ học tu vi tuy đã tới mức lô hỏa thuần thanh, song tuổi tác như thế, lỡ có sơ sảy điều gì thì biết làm sao?

Bỗng nhiên Ân Thiên Chính đứng dậy, cười ha hả, nói:

– Trương chân nhân mà chịu hạ sơn, thể nào cũng mã đáo thành công, hay lắm, hay vô cùng!

Ông cười khan mấy tiếng, miệng há to, đột nhiên tiếng cười ngừng bặt.

Quần hào thấy ông mặt đang cười tươi, bỗng dưng bất động, đều ngạc nhiên. Dương Tiêu nói:

– Ân huynh, huynh nghĩ rằng Trương chân nhân chịu hạ sơn xuất thủ ư?

Dương Tiêu hỏi luôn hai lần, Ân Thiên Chính vẫn đứng im không trả lời. Trương Vô Kỵ cả kinh, giơ tay thăm mạch, ngờ đâu tâm mạch đã ngừng, khí tuyệt thân vong. Nguyên trên đỉnh Quang Minh, Ân Thiên Chính một mình đối phó với sáu đại môn phái, chân khí đã đại tổn, vừa rồi lại khổ chiến với Độ Nạn, hao kiệt toàn bộ lực khí, cộng với tuổi đã cao, thành ngọn đèn cạn dầu.

Trương Vô Kỵ ôm thi thể ông ngoại khóc òa lên. Ân Dã Vương vội chen vào, khóc rống lên đau đớn. Quần hào nghĩ đến nghĩa khí đồng giáo, ai nấy nước mắt lưng tròng. Tin buồn truyền ra, trong Minh giáo có nhiều người vốn ở dưới cờ Thiên Ưng giáo, thế là tiếng khóc vang động cả sơn cốc.

Mấy ngày liền quần hào bận bịu việc tang ma cho Ân Thiên Chính. Các bang hội, môn phái, các nhân vật võ lâm cũng lục tục lên núi. Một số người ngưỡng mộ uy danh của Ân Thiên Chính, đều tới trước linh sàng trong căn nhà gỗ để phúng điếu. Không Văn, Không Trí cũng đích thân tới viếng, sau đó lại phái ba mươi sáu nhà sư làm lễ cầu siêu cho Ân Thiên Chính. Nhưng ba mươi sáu nhà sư mới tụng vài câu kinh, thì Ân Dã Vương cầm gậy tre đuổi ra. Chu Điên đứng một bên cũng chửi toáng lên:

– Đám lừa trọc Thiếu Lâm, giả nhân giả nghĩa!

Trương Vô Kỵ buồn bã, cùng bọn Dương Tiêu, Bành Oánh Ngọc, Triệu Mẫn bàn tính mấy lần, vẫn chưa tìm được cách hay. Triệu Mẫn đã nghĩ đến việc bỏ "Thập hương nhuyễn cân tán" vào đồ ăn thức uống của ba vị lão tăng, lại nói đến việc đi gọi Lộc Trượng Khách, Hạc Bút Ông tới liên thủ với Trương Vô Kỵ, song Trương Vô Kỵ và Dương Tiêu đều thấy không ổn chút nào.

Comments

Comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 37: Anh hùng thiên hạ không đương nổi

Bấm đốt ngón tay đã đến ngày Tiết Đoan Dương, Trương Vô Kỵ thống lĩnh quần hào Minh giáo tới Thiếu Lâm tự. Trong chùa Thiếu Lâm, tiền điện hậu điện, dãy nhà bên phải dãy nhà bên trái, chỗ nào cũng đông nghẹt anh hùng hảo hán các môn phái. Trong số nhân vật võ lâm, người thì có oán cừu với Tạ Tốn, bao lâu nay chỉ mong giết Tạ Tốn để báo thù rửa hận; kẻ thì nhòm ngó thanh đao Đồ Long, si tâm vọng tưởng cướp đoạt thanh bảo đao để trở thành "võ lâm chí tôn"; một số kẻ thì có ân oán riêng với nhau, muốn nhân dịp này thanh toán cho xong; còn đại đa số chỉ ham vui, đến xem cảnh náo nhiệt. Thiếu Lâm tự cử hơn một trăm tri khách tăng tiếp đãi, đưa khách đến các chốn nghỉ ngơi.

Phái Võ Đang chỉ có Du Liên Châu và Ân Lê Đình hai người tới dự. Trương Vô Kỵ tiến lên bái kiến, hỏi thăm sức khỏe của Trương Tam Phong. Du Liên Châu hỏi nhỏ:

– Điệt nhi có nghe được tin gì về Thanh Thư và Trần Hữu Lượng hay không?

Trương Vô Kỵ đem mọi chuyện kể sơ qua một lượt, biết hai tên Trần, Tống kia chưa lên núi Võ Đang quấy phá; lần này sở dĩ Tống Viễn Kiều, Trương Tòng Khê không đi, là vì phải ở lại núi bảo vệ sư phụ và môn phái, đề phòng mưu gian. Du Liên Châu nói thêm, rằng Tống Viễn Kiều từ khi chính tai nghe thấy đứa con yêu duy nhất của mình nói ra những lời phản nghịch, thì sầu khổ đau lòng, không thiết ăn uống, gầy sọp hẳn đi chỉ còn bằng nửa hồi trước, song vẫn giấu sư tôn, không dám nói sự tình để sư phụ khỏi lo buồn.

Trương Vô Kỵ nói:

– Mong sao Tống sư ca đi lầm đường biết quay trở lại, mau chóng hối cải, cùng Tống đại sư bá cha con đoàn viên.

Du Liên Châu nói:

– Nói thế chứ tên nghịch tặc ấy đã giết hại Mạc thất đệ, không thể nào tha cho y được.

Giọng nói của ông lộ rõ vẻ tức giận.

Lát sau, các lộ anh hùng kéo tới càng lúc càng đông, trong đó có cả Hà Giang Song Sát cùng các kiếm khách phái Thanh Hải lần trước đã công phá "Kim cương phục ma khuyên".

Các cao thủ phái Hoa Sơn, phái Không Động, Côn Luân đều phó hội, riêng phái Nga Mi chưa thấy ai đến cả.

Trương Vô Kỵ rất mong gặp Chu Chỉ Nhược để giãi bày tình trạng bất đắc dĩ của mình ngày nọ; mỗi khi nhớ lại sắc mặt và ánh mắt của nàng, chàng lại cảm thấy bồn chồn day dứt. Quần hào Minh giáo tề tựu trong một tòa điện thuộc dãy bên tây, không giao tiếp với các lộ anh hùng, vì Minh giáo kẻ thù người oán quá nhiều, cừu nhân đụng nhau, chỉ e đại hội chưa bắt đầu thì đã đánh nhau sứt đầu mẻ trán.

Gần trưa, các tri khách tăng mời quần hùng tới một khoảng đất rộng trên núi. Chỗ này vốn là vườn rau rộng mấy trăm mẫu của chùa Thiếu Lâm, hiện thời được san phẳng, dựng lên vài chục cái lán gỗ lớn. Quần hùng được các tri khách tăng dẫn vào lán; môn phái bang hội nào đông người thì chiếm trọn một lán, ít người thì ở chung lán với môn phái khác.

Bành Oánh Ngọc bẩm cáo cho Trương Vô Kỵ biết lai lịch các nhân vật kiệt xuất hiện diện. Quả đây là một đại hội lớn, nhiều vị vốn ẩn dật chốn rừng sâu, ít hành tẩu giang hồ, lần này cũng đến dự. Bành Oánh Ngọc đếm kỹ, không kể Minh giáo, nơi đây đã tụ tập hơn bốn ngàn sáu trăm người. Bọn Trương Vô Kỵ, Dương Tiêu thấy quần hùng quá đông mà thù nhiều bạn ít thì không khỏi lo lắng.

Sau khi các tân khách ổn định, quần tăng Thiếu Lâm tự mới lần lượt đi ra, theo thứ tự vai vế các chữ Viên, Tuệ, Pháp, Tướng, Trang, hành lễ với quần hùng, sau cùng là Không Trí thần tăng, có chín lão tăng thuộc Đạt Ma đường hộ tống.

Không Trí ra chính giữa bãi rộng, chắp tay hành lễ, miệng niệm Phật hiệu, nói:

– Hôm nay được chư vị anh hùng thiên hạ nể mặt giá lâm, phái Thiếu Lâm vô cùng vinh hạnh. Chỉ tiếc là phương trượng sư huynh tệ tự đột nhiên bị bệnh nặng, không có duyên gặp các vị tuấn hiền, sai lão nạp ra khẩn khoản xin quý vị lượng thứ.

Trương Vô Kỵ hơi lấy làm lạ: "Mới rồi Không Văn đại sư tới viếng ông ngoại ta, trên mặt không có vẻ gì bệnh hoạn, thần thái sáng sủa; một người nội công thâm hậu như thế, làm sao có thể tự dưng bị bệnh nặng? Không lẽ bị thương?"

Chàng đưa mắt quan sát tứ phía, không thấy mặt Viên Chân và Trần Hữu Lượng, thì nghĩ thầm: "Đêm ấy ta đã vạch rõ với ba vị cao tăng Độ Ách về mưu gian của Viên Chân, không hiểu chùa Thiếu Lâm đã xử trí hắn hay chưa? Không Văn đại sư tự dưng cáo bệnh, có liên quan gì đến việc đó hay chăng?"

Cuối thời Nam Tống, vợ chồng Quách Tĩnh, Hoàng Dung từng hai lần tại ải Đại Thắng và trong thành Tương Dương triệu tập hào kiệt thiên hạ, cùng nhau bàn bạc kế lớn chống quân Mông Cổ xâm nhập. Ngót trăm năm sau, hôm nay mới lại có một đại hội anh hùng, quả là một đại sự trên giang hồ, vậy mà người chủ trì đột nhiên ngã bệnh, quần hùng tự nhiên mất hết hào hứng.

Lại nghe Không Trí nói:

– Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn là mối họa võ lâm, tội nghiệt thâm trọng, tệ tự may mà bắt được. Phái Thiếu Lâm không dám tự chuyên, cung kính mời các vị nhân sĩ vọng trọng trong võ lâm đến cùng bàn cách xử trí.

Không Trí vốn dĩ mặt mày sầu khổ, giọng nói lúc này lại buồn tẻ, vừa nói xong đã chắp tay lui xuống.

Ở góc đông nam có một người thân hình cao lớn đứng dậy, chòm râu muối tiêu gió thổi phất phơ, đưa mắt nhìn tứ phía, ánh mắt lấp lánh có thần, hình tướng hết sức uy nghiêm. Bành Oánh Ngọc liền nói để Trương Vô Kỵ biết, người kia là lão quyền sư đất Sơn Đông tên Hạ Trụ. Tiếng nói của Hạ Trụ vang như chuông:

– Tạ Tốn tác ác đa đoan, quý phái cuối cùng bắt được, là tạo phúc cho võ lâm không phải nhỏ. Hai vị thần tăng Không Văn, Không Trí quá ư khiêm tốn, một ác nhân như hắn, cứ một đao giết phắt đi cho xong, hà tất phải hỏi người ngoài? Nay anh hùng thiên hạ đã tụ hội thế này, thì gọi là đại hội Đồ Sư, đem Tạ Tốn ra lăng trì xử tử, mỗi người ăn một miếng thịt, uống một ngụm máu của hắn, trả thù cho bao bằng hữu vô tội đã chết dưới tay hắn, như vậy chẳng thống khoái lắm ru?

Huynh trưởng của Hạ Trụ bị Tạ Tốn giết, mấy chục năm qua lão ta chỉ muốn tìm Tạ Tốn báo thù. Lời lão vừa nói xong, bốn phía đã vài trăm người lên tiếng phụ họa, ai cũng bảo giết quách Tạ Tốn đi cho xong.

Trong tiếng ồn ào, bỗng nghe có giọng nói eo éo:

– Tạ Tốn là hộ giáo pháp vương của Minh giáo, nếu phái Thiếu Lâm không sợ đắc tội với Minh giáo, thì cứ việc một đao giết quách hắn đi, hà tất phải mời mọi người cùng đến để chia sẻ trách nhiệm? Ta nói cho Hạ đại ca hay, đại ca hơi hồ đồ đấy, ta khuyên đại ca hãy minh triết giữ thân là hơn.

Giọng nói người này rất quái dị, không ra nam không ra nữ, nhưng lọt vào tai mọi người rõ rành rành; mọi người cùng ngoảnh về nới âm thanh phát ra xem là ai, nhưng không thấy được, tức thị người ấy thấp bé, lúc nói không đứng dậy, ngồi lẫn giữa rừng người nên chẳng biết y là ai.

Hạ Trụ lớn tiếng nói:

– Có phải Túy Bất Tử Tư Đồ huynh đệ đó chăng? Tạ Tốn với ta có mối thù giết trưởng huynh, đại trượng phu ai làm nấy chịu, xin các vị cao tăng phái Thiếu Lâm giải hắn ra đây, lão phu một đao giết hắn tức thì. Các ma đầu Ma giáo cứ việc đến Sơn Đông tìm Hạ mỗ mà thanh toán.

Người có giọng eo éo lẫn trong đám đông cười khẩy, nói:

– Hạ đại ca, người trên giang hồ ai chẳng biết, thanh đao Đồ Long võ lâm chí tôn kia ở trong tay Tạ Tốn. Phái Thiếu Lâm đã bắt được Tạ Tốn, lẽ nào chả lấy được bảo đao? Chuyện giết Tạ Tốn chỉ là việc nhỏ, dương đao lập uy mới là đại sự số một. Này ta bảo Không Trí đại sư, thôi đừng giả đò làm bộ, mau đem thanh đao Đồ Long ra cho hết thảy được mở rộng tầm mắt một phen xem nào. Phái Thiếu Lâm các người hàng ngàn năm nay toàn làm trùm võ lâm, có thanh bảo đao chẳng phải là nhiều, không có thanh đao ấy cũng chẳng phải là ít, đằng nào mà chẳng là võ lâm chí tôn?

Bành Oánh Ngọc nói nhỏ với Trương Vô Kỵ:

– Người ấy là Túy Bất Tử Tư Đồ Thiên Chung, một kẻ ngang ngược không coi ai ra gì, không bái sư, cũng chẳng thu đồ đệ, không thuộc bang hộ môn phái nào hết, bình sinh ít khi động thủ với ai, nên không biết võ công cao thấp chừng nào, nhưng chuyên nói mỉa mai móc họng, đã nói là trúng tim đen kẻ khác.

Trong sân liền có bảy, tám người hùa theo:

– Nói có lý lắm. Xin phái Thiếu Lâm mang thanh đao Đồ Long ra cho mọi người cùng ngắm đi nào.

Không Trí chậm rãi nói:

– Thanh đao Đồ Long không có ở trong tệ tự, lão nạp cả đời cũng chưa từng nhìn thấy thanh đao đó, không biết trên đời có thanh đao ấy thật hay không.

Quần hùng nghe vậy tức thời ồn ào bàn tán, sân bãi ồn ào như chợ vỡ, mọi người vốn nghĩ rằng đại hội này có liên quan rất lớn đến thanh đao Đồ Long, bây giờ Không Trí lại phủ nhận như thế, khiến ai nấy đều bị bất ngờ.

Phía sau Không Trí là chín lão tăng, tất cả đều khoác đại cà sa. Chờ tiếng ồn ào của quần hùng tạm lắng, một trong chín lão tăng ấy tiến lên hai bước, dõng dạc nói:

– Thanh đao Đồ Long vốn nằm trong tay Tạ Tốn, nhưng khi tệ phái bắt được hắn, hắn lại không mang thanh đao bên người. Phương trượng bản tự coi đây là đại sự của võ lâm, từng tra vấn rất kỹ càng. Tạ Tốn ương ngạnh, nhất định không chịu nói ra. Đại hội anh hùng hôm nay một là hãy bàn tính xem nên xử trí Tạ Tốn thế nào, hai nữa hỏi thăm các vị xem có ai biết thanh đao Đồ Long đang ở đâu không, vị nào biết tin gì, xin hãy nói cho mọi người cùng biết.

Quần hùng ai nấy nhìn nhau, chưa biết nói gì.

Túy Bất Tử Tư Đồ Thiên Chung lại cất giọng eo éo, nói:

– Võ lâm một trăm năm nay có câu "Võ lâm chí tôn bảo đao Đồ Long, hiệu lệnh thiên hạ, mạc cảm bất tòng; Ỷ Thiên bất xuất, thùy dữ tranh phong?" Ngoài thanh đao Đồ Long, còn có kiếm Ỷ Thiên. Kiếm Ỷ Thiên nghe đồn ở trong tay phái Nga Mi, nhưng sau trận trên đỉnh Quang Minh, thì không biết đi về đâu. Đại hội hôm nay tuy gọi là đại hội anh hùng, chẳng lẽ các anh thư của phái Nga Mi không được đến dự hay sao?

Mọi người nghe câu sau cùng đều cười ồ lên. Giữa lúc đó, một viên tri khách tăng lớn tiếng báo tin:

– Sử bang chủ Cái Bang thống lĩnh chư trưởng lão, chư đệ tử Cái Bang đã tới.

Trương Vô Kỵ nghe ba tiếng "Sử bang chủ", thầm lấy làm lạ: "Bang chủ Cái Bang Sử Hỏa Long đã chết bởi tay Viên Chân từ lâu, sao lại còn vị Sử bang chủ nào nữa?" Không Trí nói:

– Mời vào!

Cái Bang là bang hội lớn nhất trên giang hồ, Không Trí phải đích thân ra nghênh đón. Chỉ thấy một đoàn chừng một trăm năm chục người, ai nấy ăn mặc lam lũ, tiến nhanh vào trong sân bãi. Mấy năm gần đây Cái Bang thanh thế không được như xưa, nhưng như một con rết trăm chân, con đỉa sống dai, còn tiềm lực rất lớn trên giang hồ, quần hùng không ai dám coi thường, quá nửa đứng lên chào.

Đi đầu là hai lão khất cái, Trương Vô Kỵ nhận ra là Truyền công trưởng lão và Chấp pháp trưởng lão, sau hai trưởng lão là một cô bé xấu xí mười hai, mười ba tuổi, mũi hếch, mồm rộng, để lộ hai chiếc răng cửa to tướng, chính là Sử Hồng Thạch, con gái của Sử Hỏa Long. Cô bé tay cầm cây Đả cẩu bổng, tín vật của bang chủ. Theo sau Sử Hồng Thạch là Chưởng Bổng long đầu, Chưởng Bát long đầu, tiếp đến các trưởng lão tám túi, các đệ tử bảy túi, đệ tử sáu túi. Người của Cái Bang đến dự kỳ này, thấp nhất cũng là đệ tử sáu túi.

Không Trí thấy người cầm Đả cẩu bổng là một cô bé con, đang ngần ngừ chưa biết bang chủ là ai, để chào hỏi cho tiện, nên chỉ chắp tay nói bâng quơ:

– Tăng chúng Thiếu Lâm cung nghênh quần hùng Cái Bang đại giá.

Đám khất cái nhất tề ôm quyền đáp lễ. Truyền công trưởng lão nói:

– Sử bang chủ tệ bang không may quy tiên, các trưởng lão quyết định lập con gái của Sử bang chủ là Sử Hồng Thạch cô nương lên làm bang chủ. Vị này chính là tân bang chủ của tệ bang.

Nói rồi giơ tay chỉ Sử Hồng Thạch.

Không Trí và quần hùng cùng ngẩn ra, nghĩ bụng, trên giang hồ vẫn có câu "Minh giáo, Cái Bang, phái Thiếu Lâm", ý nói các giáo phái thì Minh giáo đứng đầu, các bang hội thì Cái Bang cao nhất, còn môn phái võ học thì Thiếu Lâm là số một. Minh giáo đã lập một thiếu niên hai chục tuổi là Trương Vô Kỵ làm giáo chủ, đã khiến người ta hết sức lạ lùng; không ngờ Cái Bang lại đưa một cô bé con lên ngôi bang chủ, nếu không phải do chính miệng một vị trưởng lão Cái Bang nói ra, thì chẳng ai tin nổi. Năm xưa cô thiếu nữ Hoàng Dung làm bang chủ Cái Bang, tuy đã có tiền lệ thật, song dẫu sao hồi ấy Hoàng Dung cũng đã lớn hơn cô bé này dăm tuổi.

Không Trí rất đỗi ngạc nhiên, song vẫn giữ lễ, chắp tay nói:

– Môn hạ Thiếu Lâm Không Trí, tham kiến Sử bang chủ.

Sử Hồng Thạch vội vàng đáp lễ, ấp úng nói không nên lời. Truyền công trưởng lão nói:

– Bang chủ tệ bang còn ít tuổi, mọi bang vụ tạm do lão phu cùng Chấp pháp trưởng lão thay mặt lo liệu. Không Trí thần tăng là đại đức tiền bối, đa lễ quả không dám nhận.

Hai bên trao đổi vài câu khách sáo, rồi tri khách tăng dẫn đoàn khất cái vào vị trí dành cho họ.

Cái Bang quá đông người, hồi lâu mới ổn định xong chỗ ngồi. Trương Vô Kỵ thấy người của Cái Bang đều đeo băng tang, vẻ mặt buồn rầu phẫn nộ, trong túi đeo sau lưng hình như có vật gì ngọ nguậy, rõ ràng họ tới đây nhắm làm việc gì đấy, thì chàng mừng thầm, nói nhỏ với Dương Tiêu:

– Chúng ta có nhiều trợ thủ rồi.

Chỉ thấy Truyền công, Chấp pháp hai trưởng lão dẫn Sử Hồng Thạch tới trước lán của Minh giáo.

Truyền công trưởng lão ôm quyền thi lễ, nói:

– Trương giáo chủ, Kim Mao Sư Vương bị sa cơ, tệ bang có liên can rất lớn; chúng tôi hôm nay dẫu phải bỏ mạng, cũng quyết chuộc tội cho mình; hơn nữa cũng là để báo thù rửa hận cho cố Sử bang chủ tệ bang. Cái Bang trên dưới xin nhất tề tuân theo hiệu lệnh của Trương giáo chủ.

Trương Vô Kỵ vội hoàn lễ, nói:

– Không dám.

Truyền công trưởng lão nói những lời vừa rồi, trung khí dồi dào, tiếng vang oang oang, rõ ràng cố ý cho hết thảy mọi người cùng nghe thấy. Khi ông nói xong, chúng đệ tử Cái Bang cùng đứng dậy, nói lớn:

– Cẩn tuân hiệu lệnh của Trương giáo chủ Minh giáo, dù nước sôi lửa bỏng cũng không từ nan.

Quần hùng thảy đều kinh ngạc: "Cái Bang kết thành phe cánh với Minh giáo từ khi nào vậy?" Trừ số người sống ẩn dật, ít hành tẩu giang hồ, còn thì ai cũng biết bao năm nay Cái Bang với Minh giáo vẫn chém giết nhau, năm ngoái Cái Bang tham gia trận chiến trên đỉnh Quang Minh, đôi bên một phen huyết chiến, tử thương không ít, số bang chúng Cái Bang tấn công lên tới đỉnh núi gần như bị tiêu diệt sạch. Thế mà bây giờ Truyền công trưởng lão lại công nhiên tuyên bố toàn bang nhất tề tuân theo hiệu lệnh của Trương Vô Kỵ, rồi nào là phải báo thù rửa hận cho cố Sử bang chủ, thì chẳng ai hiểu đầu cua tai nheo sao cả.

Truyền công trưởng lão ngoảnh lại, nói to:

– Cái Bang chúng tôi với phái Thiếu Lâm xưa nay không thù không oán, tệ bang luôn tôn trọng phái Thiếu Lâm là đệ nhất đại môn phái võ lâm, nếu có hiềm khích nhỏ, chúng tôi đều cố kiềm chế, nhường nhịn, chưa hề dám đắc tội. Tệ bang từ Sử bang chủ trở xuống, luôn kính phục Tứ đại thần tăng Thiếu Lâm đức cao vọng trọng, xứng đáng làm mực thước cho những người học võ. Sử tiền bang chủ quy ẩn đã lâu, tĩnh cư dưỡng bệnh, mấy chục năm liền không lai vãng với các nhân sĩ giang hồ, không biết vì cớ gì, cuối cùng lại bị cao tăng Thiếu Lâm hạ độc thủ..

Truyền công trưởng lão nói tới đây, mọi người trên sân bãi đều kinh ngạc kêu "Ô hay", ngay cả Không Trí cũng bất ngờ. Chỉ nghe Truyền công trưởng lão nói tiếp:

– Chúng tôi hôm nay tới đây, là muốn trước mặt anh hùng thiên hạ, nhờ Không Văn phương trượng chỉ ra bến mê. Sử tiền bang chủ của chúng tôi rốt cuộc đắc tội gì với phái Thiếu Lâm, mà đến nỗi cao tăng Thiếu Lâm sau khi đã giết chết Sử bang chủ rồi, vợ góa con côi cũng đuổi theo định giết sạch, khiến cả Sử phu nhân cũng mất mạng?

Không Trí chắp tay nói:

– A Di Đà Phật, Sử bang chủ bất hạnh tiên du, lúc này lão nạp mới nghe nói lần đầu. Trưởng lão mở miệng là bảo đệ tử tệ phái gây ra, e rằng có sự hiểu lầm gì chăng, mong trưởng lão nói rõ sự việc thế nào.

Truyền công trưởng lão nói:

– Phái Thiếu Lâm cả ngàn năm qua vẫn là Thái Sơn Bắc Đẩu trong võ lâm, chúng tôi lẽ nào dám vu vạ? Xin mời một vị cao tăng và một đệ tử tục gia ra đây đối chất.

Không Trí nói:

– Trưởng lão sai bảo điều gì, chúng tôi xin đáp ứng. Chẳng hay trưởng lão muốn gọi hai người nào vậy?

Truyền công trưởng lão nói:

– Đấy là..

Truyền công trưởng lão nói đến chữ là thì tự dưng há miệng, cứng lưỡi không tiếp được nữa.

Không Trí cả kinh, vội bước tới, cầm lấy cổ tay bên phải của Truyền công trưởng lão, thì thấy mạch đã ngừng đập. Không Trí càng hoảng thêm, gọi giật:

– Trưởng lão, trưởng lão!

Nhìn kỹ mặt trưởng lão, thấy chính giữa hai đầu lông mày có một chấm đen to bằng hạt đỗ xanh, vậy là đã trúng ám khí cực độc vào chỗ yếu hại. Không Trí nói lớn:

– Các vị anh hùng minh giám cho, vị trưởng lão Cái Bang này đã trúng ám khí cực độc, không may tắt thở. Phái Thiếu Lâm chúng tôi không đời nào lại sử dụng loại ám khí hiểm độc như thế.

Bang chúng Cái Bang tức thời nhốn nháo cả lên, mấy chục người chạy ùa tới vây quanh thi thể Truyền công trưởng lão. Chưởng Bát long đầu lấy trong bọc ra một cục nam châm, đặt chỗ mi tâm của Truyền công trưởng lão, hút ra một cây kim thép dài một tấc, nhỏ như lông bò.

Các trưởng lão Cái Bang biết lời Không Trí nói là thật, loại ám khí cực độc thế này, một danh môn chính phái như Thiếu Lâm không bao giờ sử dụng. Ngay giữa thanh thiên bạch nhật, bao nhiêu con mắt đổ dồn vào, vậy mà có kẻ lén phóng ám khí, không một ai phát giác, quả là điều khó tưởng tượng. Bọn Chấp pháp trưởng lão đều nghĩ, Truyền công trưởng lão đứng quay mặt về hướng nam, ám khí ắt phải từ phía nam bắn tới, mà lúc này phía đó đang có ánh nắng chói chang, Truyền công trưởng lão lại đang phẫn khích, nên không thể đề phòng loại ám khí bé nhỏ như vậy.

Các vị trưởng lão hầm hầm nhìn về phía sau lưng Không Trí, chỉ thấy chín vị lão tăng khoác đại hồng cà sa, mắt lim dim, lông mày rủ dài đứng đó. Phía sau chín lão tăng là các hàng hòa thượng mặc áo vàng và áo xám, không cách gì nhận biết kẻ nào phóng ám khí. Nhưng hung thủ là người trong phái Thiếu Lâm thì không còn gì phải nghi ngờ nữa.

Chấp pháp trưởng lão cười một tràng, nhưng nước mắt chảy ròng ròng, nói:

– Không Trí đại sư có còn bảo chúng tôi vu oan cho phái Thiếu Lâm nữa thôi? Sự việc sờ sờ ra đó, có cãi nổi chăng?

Chưởng Bổng long đầu nóng tính hơn cả, giơ cây gậy sắt lên, quát lớn:

– Bữa nay nhất quyết sống mái với phái Thiếu Lâm!

Chỉ nghe loảng xoảng tiếng binh khí, các đệ tử Cái Bang cùng rút đao kiếm, xông ra giữa bãi.

Không Trí buồn bã quay đầu nhìn quần tăng phái Thiếu Lâm, chậm rãi nói:

– Bản tự từ thời Đạt Ma lão tổ từ phương tây sang đây, kiến lập cơ nghiệp, hàng ngàn năm nay các đời tăng lữ chăm chỉ tu học Phật pháp, giữ nghiêm giới luật, tuy có học võ phòng thân, lai vãng với anh hào chốn giang hồ, song chưa từng làm những việc thương thiên hại lý. Phương trượng sư huynh và lão nạp vốn đã xa lánh thế tình từ lâu, há còn luyến tiếc hồng trần..

Mục quang của thần tăng chiếu thẳng vào các nhà sư, nói:

– Cây kim độc kia kẻ nào đã bắn ra? Đại trượng phu dám làm dám chịu, hãy bước ra cho ta coi.

Mấy trăm tăng nhân không ai đáp lời, có người niệm:

– A Di Đà Phật, tội thay, tội thay!

Trương Vô Kỵ chợt nhớ lại chuyện cũ: Năm xưa mẫu thân chàng là Ân Tố Tố từng đóng giả phụ thân là Trương Thúy Sơn, dùng độc châm giết các hòa thượng Thiếu Lâm, khiến phụ thân chàng hàm oan, không cách gì biện bạch được. Nhưng ngân châm của Thiên Ưng giáo khác hẳn với loại cương châm này, chất độc trên mũi kim cũng khác. Nhìn xác Truyền công trưởng lão, thì chất độc trên cương châm dường như lấy từ loài trùng độc "Tâm Nhất Khiêu" ở Tây Vực. Sở dĩ gọi là "Tâm Nhất Khiêu", vì chất độc của con vật này vừa ngấm vào máu, thì người trúng độc tim chỉ còn đập mỗi một cái là ngưng liền. Chàng đã biết Sử Hỏa Long là do Viên Chân giết hại, lại biết trong đám hòa thượng kia có ẩn náu đồng đảng của Viên Chân, sở dĩ bắn ám khí giết Truyền công trưởng lão là cốt ngăn không cho ông ta nói tên hắn ra. Vì lúc đó ai cũng nhìn Truyền công trưởng lão, nên không thể biết kẻ nào phóng ám khí.

Chưởng Bổng long đầu nói lớn:

– Hung thủ sát hại Sử bang chủ là ai, mấy vạn đệ tử Cái Bang đều biết cả. Các người tưởng sát nhân diệt khẩu được sao? Hừ, trừ phi giết hết đệ tử Cái Bang trong thiên hạ, chứ gã hòa thượng giết người ấy chính là Viên Chân..

Chưởng Bát long đầu bỗng phi thân tới đằng trước Chưởng Bổng long đầu, giơ cái bát sắt ra, "keng" khẽ một tiếng, hứng ngay được một cây cương châm. Cây kim đó chưa rõ kẻ nào bắn tới, nhưng Chưởng Bát long đầu đã hết sức chăm chú phòng bị, nên khi thấy có ánh bạc loáng lên liền phi thân tới hứng; chỉ cần chậm nửa bước, Chưởng Bổng long đầu đã mất mạng rồi.

Không Trí bỗng lạng người một cái, vòng xuống phía sau chín vị lão tăng Đạt Ma đường, "bộp" một cái đá văng ra khỏi hàng lão tăng thứ tư tính từ bên trái, rồi thộp gáy hắn nhấc bổng lên, nói:

– Không Như, thì ra là mi, mi cũng cùng bọn với Viên Chân.

Tay phải của thần tăng nắm lấy vạt áo bào của hắn, xé mạnh một cái, áo rách để lộ một cái ống sắt nhỏ đeo bên sườn, đầu ống có một lỗ nhỏ. Ai nấy kinh ngạc: Bên trong ống hẳn có gắn lò xo cực mạnh, chỉ cần thò tay vào túi áo, ấn một cái chốt của chiếc ống, sẽ phóng ra một cây cương châm có độc. Kẻ bắn ám khí khỏi cần cất nhắc chân tay, dù hai người đứng đối diện, cách nhau vài thước, cũng không nhìn thấy đối phương phóng ám khí.

Chưởng Bổng long đầu cả giận, giơ cây gậy sắt quật vào đầu Không Như, hắn vỡ óc chết liền. Gã Không Như này cùng vai vế với Tứ đại thần tăng, võ công cũng cao, chỉ vì bị Không Trí nắm ngay yếu huyệt phía sau nên không vùng vẫy được, nên hắn không tránh nổi đòn đánh của Chưởng Bổng long đầu. Quần hùng lại ồ lên kinh ngạc.

Không Trí ngây ra, giận dữ nhìn Chưởng Bổng long đầu, nghĩ thầm: "Người này thật thô lỗ, chẳng chịu hỏi han cho rõ ràng gì cả".

*

* *

Giữa lúc đang hỗn loạn, bỗng có bốn huyền y ni cô tiến nhanh vào bãi, tay cầm phất trần, dõng dạc nói:

– Chưởng môn phái Nga Mi Chu Chỉ Nhược, tất lãnh đệ tử môn hạ, bái kiến Không Văn phương trượng Thiếu Lâm tự.

Không Trí vội đặt xác Không Như xuống, nói:

– Mời vào!

Rồi bình thản bước ra đón khách. Tám vị lão tăng Đạt Ma đường đi theo sau, làm như không hề nhìn thấy thảm kịch vừa xảy ra vậy.

Bốn ni cô hành lễ rồi xoay người lùi bước, đến nhẹ nhàng, đi nhẹ nhàng, cả bốn người cùng tiến cùng lui như thể chỉ là một người, bước chân phiêu diêu như nước chảy mây trôi.

Trương Vô Kỵ nghe tin Chu Chỉ Nhược đến thì mặt đỏ bừng lên, đưa mắt liếc trộm Triệu Mẫn. Triệu Mẫn cũng nhìn chàng, ánh mắt hai người chạm nhau, ánh mắt của Triệu Mẫn nửa cười nửa không, khóe miệng chỉ hơi nhếch, dường như có ý khinh miệt; không biết là chê Trương Vô Kỵ xôi hỏng bỏng không, hay là coi thường phái Nga Mi hư trương thanh thế.

Các nữ hiệp phái Nga Mi không giống như Cái Bang tự đi vào sân bãi, mà chờ Không Trí dẫn quần tăng ra ngoài đón, mới dàn thành đội ngũ tiến vào; tám chín chục nữ đệ tử người nào cũng vận đồ đen, trong đó quá nửa xuống tóc là ni cô, non nửa còn lại thì lão niên có, trung niên có, mà thiếu nữ trẻ tuổi cũng có. Các nữ đệ tử vào hết rồi, cách xa hơn một trượng là một thanh y thiếu nữ xinh đẹp tuyệt trần, thong thả bước vào, chính là chưởng môn phái Nga Mi Chu Chỉ Nhược.

Trương Vô Kỵ thấy nàng da hơi xanh, dung nhan có phần tiều tụy, thì trong lòng vừa thương thương vừa hổ thẹn.

Sau Chu Chỉ Nhược mấy trượng là hơn hai chục nam đệ tử, mặc trường bào màu đen, phần lớn trông thanh tú nho nhã, không tráng kiện vạm vỡ như nhân vật võ lâm các môn phái khác. Mỗi nam đệ tử đều cầm một cái hộp gỗ, hoặc dài hoặc ngắn. Hơn một trăm người phái Nga Mi không ai cầm theo binh khí, chắc là binh khí được cất trong các chiếc hộp ấy. Quần hùng khen thầm: "Phái Nga Mi quả là biết lễ, binh khí không để lộ liễu, ngụ ý kính trọng phái Thiếu Lâm".

Trương Vô Kỵ chờ cho người của phái Nga Mi ngồi yên vị rồi, mới đến trước lán của họ, chắp tay vái Chu Chỉ Nhược một cái thật dài, ngượng ngùng nói:

– Chu tỷ tỷ, Trương Vô Kỵ đến chịu tội đây.

Hơn mười nữ đệ tử phái Nga Mi lập tức đứng bật dậy, mày liễu dựng ngược, lộ vẻ tức tối.

Chu Chỉ Nhược chắp tay trả lễ, nói:

– Không dám, Trương giáo chủ hà tất phải đa lễ? Từ ngày cách biệt, vẫn mạnh giỏi chứ?

Sắc diện nàng bình thản, cũng chẳng rõ là vui hay giận. Trương Vô Kỵ lòng hoang mang bất định, nói:

– Chỉ Nhược, hôm ấy ta nóng lòng đi cứu nghĩa phụ, nên làm lỡ cả đại lễ, trong bụng vẫn áy náy vô cùng.

Chu Chỉ Nhược nói:

– Nghe nói Tạ lão gia bị nhốt trong chùa Thiếu Lâm, Trương giáo chủ anh hùng cái thế, thiết tưởng đã cứu ra được rồi.

Trương Vô Kỵ đỏ mặt, nói:

– Các cao tăng phái Thiếu Lâm võ công cao siêu,

Minh giáo đã thua một trận, ông ngoại của ta vì thế bất hạnh quy tiên.

Chu Chỉ Nhược nói:

– Ân lão gia tử một đời anh hùng, tiếc thay, tiếc thay!

Trương Vô Kỵ thấy nàng chẳng hề lộ vẻ hỉ nộ ra ngoài, không biết tâm ý của nàng ra sao, mỗi câu nói của chàng đều bị nàng đáp lời một cách lạnh nhạt, thì đâm ra cụt hứng. Nhưng chàng nghĩ lại, hôm đang làm lễ thành hôn với nàng, trước mặt vô số tân khách chàng đã chạy đi theo Triệu Mẫn, thì cái tâm trạng đau đớn của nàng lúc ấy hẳn còn khổ sở gấp ngàn vạn lần sự cụt hứng lúc này, bèn nói:

– Khi nào ta cứu nghĩa phụ, những mong nàng nghĩ đến tình cũ mà trợ giúp một tay.

Nói tới đây, chàng chợt nghĩ: "Trong nửa năm qua, công lực của nàng đại tiến, hôm ấy ở chốn hỷ đường, người có thân thủ như Phạm Dao hữu sứ mà chỉ một chiêu đã bị nàng đẩy lui. Triệu Mẫn học lấy sở trường của đủ các phái, thế mà suýt bị nàng giết chết tại chỗ. Đến như hôm đánh chết vợ chồng Đỗ Bách Đương, Dịch Tam Nương, thì.. dường như.. người tiếp nhiệm chức chưởng môn phái Nga Mi còn được mật truyền bí kíp võ công gì đó. Nàng ngộ tính cao hơn Diệt Tuyệt sư thái, nên trò giỏi hơn thầy. Nếu nàng liên thủ với ta, chắc là có thể phá vỡ" Kim cương phục ma khuyên' ". Nghĩ vậy, bất giác vui mừng, nói:

– Chỉ Nhược, ta có việc muốn nhờ nàng.

Chu Chỉ Nhược đột nhiên mặt đanh lại, nói:

– Trương giáo chủ, xin hãy tự trọng, hiện giờ không được xưng hô như ngày xưa nữa.

Nàng giơ tay ra phía sau vẫy một cái, nói:

– Thanh Thư, chàng lại đây, nói cho Trương giáo chủ biết chuyện của chúng ta đi.

Chỉ thấy một hán tử râu ria xồm xoàm tiến lại, ôm quyền, nói:

– Trương giáo chủ, khỏe chứ?

Trương Vô Kỵ nghe giọng, đúng là Tống Thanh Thư, nheo mắt nhìn kỹ, đúng là y, chẳng qua đã hóa trang thành một lão già xấu xí để che giấu bộ mặt thật, bèn ôm quyền, nói:

– Thì ra là Tống sư ca, sư ca cũng mạnh giỏi chứ?

Tống Thanh Thư mỉm cười, nói:

– Kể ra phải đa tạ Trương giáo chủ mới đúng. Nhờ hôm ấy Trương giáo chủ đổi ý, không thành hôn với nội tử[131], mà..

Trương Vô Kỵ cả kinh, hỏi bằng giọng run run:

– Sao cơ?

Tống Thanh Thư nói:

– Ta có được nhân duyên mỹ mãn với nàng, là nhờ Trương giáo chủ tác thành.

Trong giây lát, Trương Vô Kỵ nghe như năm tiếng sét đánh ngang tai, đứng ngây ra, mắt hoa lên, tai chỉ nghe các âm thanh loạn xạ, không biết những người xung quanh đang nói gì. Một lúc lâu sau thấy có người nắm lấy cánh tay mình, nói:

– Giáo chủ, xin trở về chỗ.

Trương Vô Kỵ định thần, thấy người đó chính là Hàn Lâm Nhi. Với vẻ mặt đầy sầu khổ, bi phẫn, Hàn Lâm Nhi nói với Chu Chỉ Nhược:

– Chu cô nương, giáo chủ của chúng tôi là bậc anh hùng đại nhân đại nghĩa, hôm ấy chỉ có một sự hiểu lầm nho nhỏ, mà cô nương lại bỏ đi lấy cái.. cái gã.. cái tên.. hừ hừ!

Hàn Lâm Nhi định chửi Tống Thanh Thư vài câu cho bõ tức, nhưng nhìn vẻ mặt Chu Chỉ Nhược, lời ra đến đầu lưỡi lại thôi.

Trương Vô Kỵ đối với Triệu Mẫn tình ý sâu xa, nhưng nghĩ dầu sao mình với Chu Chỉ Nhược cũng đã ước hẹn phu thê, ngày ấy chỉ vì nóng lòng đi cứu nghĩa phụ, mà bất đắc dĩ chạy theo Triệu Mẫn. Chàng cứ tưởng nàng vốn là người ôn nhu hòa thuận, chỉ cần thú thật với nàng vài câu, xin lỗi thành khẩn, thì thể nào cũng được nàng tha thứ. Ngờ đâu chỉ do một cơn giận, nàng lại đi lấy Tống Thanh Thư, khiến chàng đau xót trong lòng, còn đau bằng mấy nhát kiếm nàng đâm chàng trên đỉnh Quang Minh.

Chàng ngoảnh đầu lại, thấy Chu Chỉ Nhược giơ bàn tay thon thon trắng như ngọc vẫy vẫy Tống Thanh Thư. Tống Thanh Thư dương dương đắc ý, đến ngồi bên cạnh nàng, nhếch mép cười, nói với Trương Vô Kỵ:

– Khi chúng tôi thành hôn, không gửi thiếp mời rộng ra ngoài. Chén rượu mừng, ngày sau thể nào cũng phải mời các hạ uống bù.

Trương Vô Kỵ định nói tiếng" cám ơn ", nhưng cổ họng như nghẹn lại, không nói ra được.

Hàn Lâm Nhi nói:

– Giáo chủ, hạng người như hắn, hãy coi như không có.

Tống Thanh Thư cười ha hả, nói:

– Hàn đại ca, chén rượu mừng ấy, lúc đó sẽ mời cả đại ca.

Hàn Lâm Nhi nhổ toẹt một bãi nước miếng xuống đất, khó chịu nói:

– Ta thà uống ba vò nước đái ngựa, còn hơn uống thứ rượu xui xẻo chết tiệt của nhà ngươi.

Trương Vô Kỵ thở dài, kéo tay Hàn Lâm Nhi đi về chỗ mình.

*

* *

Lúc ấy Chưởng Bổng long đầu của Cái Bang đang tranh cãi kịch liệt với một nhà sư Thiếu Lâm, thành thử câu chuyện giữa Trương Vô Kỵ với Chu Chỉ Nhược, Tống Thanh Thư, Hàn Lâm Nhi trước dãy lán phái Nga Mi ở góc tây bắc, không bị ai chú ý. Quần hùng còn mải nghe cuộc tranh cãi giữa Cái Bang với phái Thiếu Lâm.

Trương Vô Kỵ về dãy lán của Minh giáo, ngồi xuống, nhưng hồn vía đâu đâu, chỉ loáng thoáng nghe một lão tăng mặc đại hồng cà sa nói:

– Ta bảo Viên Chân sư huynh và Trần Hữu Lượng đều không có mặt ở bản tự, quý bang nhất định không tin. Truyền công trưởng lão của quý bang không may mất mạng, thì Không Như sư thúc của tệ phái cũng đã đền mạng, còn có gì để nói nữa?

Chưởng Bổng long đầu nói:

– Các hạ bảo Viên Chân và Trần Hữu Lượng không có ở trong chùa, thì ai mà tin được, trừ phi để cho bọn ta khám xét một lượt mới xong.

Lão tăng Thiếu Lâm cười khẩy, nói:

– Các hạ đòi khám xét Thiếu Lâm tự, thì có vẻ hơi ngông cuồng đấy. Một bang hội như Cái Bang, đâu đủ sức làm nổi việc đó?

Chưởng Bổng long đầu tức giận nói:

– Các hạ coi khinh Cái Bang như vậy thì để ta lĩnh giáo các hạ trước.

Lão tăng Thiếu Lâm nói:

– Ngàn năm nay, không biết bao nhiêu anh hùng hảo hán đã tới Thiếu Lâm tự, nhưng lão tổ từ bi, bổn tự chưa để cho kẻ nào đốt cả.

Hai người càng lúc càng hăng, xem ra đánh nhau tới nơi. Không Trí ngồi bên cạnh, hoàn toàn không can thiệp.

Bỗng lại nghe cái giọng nói eo éo của Tư Đồ Thiên Chung:

– Hôm nay anh hùng thiên hạ tề tựu ở chùa Thiếu Lâm, có người từ vạn dặm xa xôi đến đây, đâu phải để xem Cái Bang báo thù?

Hạ Trụ nói:

– Đúng lắm, chuyện rắc rối giữa Cái Bang với Thiếu Lâm, hãy tạm gác sang một bên, thủng thẳng tính sau cũng chưa muộn, chúng ta hãy liệu lý tên gian tặc Tạ Tốn trước đã.

Chưởng Bổng long đầu tức giận nói:

– Các hạ hãy ăn nói cho cẩn thận, Kim Mao Sư Vương Tạ đại hiệp là một vị pháp vương của Minh giáo, sao lại bảo là gian tặc?

Hạ Trụ tiếng oang oang như chuông:

– Ngươi sợ Minh giáo, ta không sợ Minh giáo. Tên gian tặc lòng lang dạ thú như Tạ Tốn, không lẽ lại đi tôn làm anh hùng hiệp sĩ hay sao?

Dương Tiêu đi ra giữa bãi, ôm quyền chào vòng quanh, nói:

– Tại hạ là Quang Minh tả sứ Minh giáo Dương Tiêu, có lời muốn thưa với anh hùng thiên hạ. Tạ Sư Vương của tệ giáo năm xưa giết người vô tội, quả có điều sai trái..

Hạ Trụ nói:

– Hừ, bao nhiêu người đã bị hắn giết rồi, bây giờ nhà ngươi chỉ nói vài lời qua quýt là làm cho người chết sống lại được hả?

Dương Tiêu ngang nhiên nói:

– Chúng ta hành tẩu giang hồ, ngày ngày đâm chém, còn sống đến hôm nay, thử hỏi có ai tay không dính máu mấy mạng người? Kẻ võ công cao cường thì giết nhiều người, kẻ võ nghệ non kém thì bỏ mạng bởi tay người khác. Hễ cứ giết ai cũng phải đền mạng, thì a ha, sợ rằng mấy ngàn vị anh hùng hảo hán ngồi đây chả còn được sống mấy người. Hạ lão anh hùng, trong đời các hạ chưa từng giết ai chăng?

Thời ấy thiên hạ đại loạn, bốn bề nhiễu nhương, nhân sĩ võ lâm hành tẩu giang hồ, nếu không giết người thì bị người giết; kẻ khéo giữ mình đến mấy cũng vậy. Tay không dính máu, trừ số nhỏ tăng ni phái Thiếu Lâm và phái Nga Mi, thật là hãn hữu. Lão Hạ Trụ là đại hào ở Sơn Đông, tính khí nóng nảy, đã giết rất nhiều người, câu hỏi của Dương Tiêu khiến lão ta cứng họng. Lão ta đứng ngây một lát, mới đáp:

– Kẻ xấu thì đáng giết, người tốt thì không nên giết. Tên Tạ Tốn và các ma đầu Minh giáo cùng một giuộc với nhau, chuyên gây ra những chuyện thương thiên hại lý; ta hận không thể băm vằm chúng ra mà lột da uống máu. Này Dương Tiêu, ta thấy nhà ngươi cũng chẳng phải loại hiền lành tử tế gì.

Lão ta thừa biết trong Minh giáo có nhiều nhân vật lợi hại, nhưng hôm nay muốn giết Tạ Tốn báo thù cho trưởng huynh, thì không thể tránh một trận huyết chiến với Minh giáo, cho nên lão dùng lời lẽ khỏi cần nể nang gì hết.

Từ lán của Minh giáo có giọng nói the thé cất lên:

– Hạ Trụ, ngươi xem ta có hiền lành tử tế không nhé?

Hạ Trụ nhìn về phía người vừa nói, thấy một lão già má hóp miệng dẩu, mặt xanh mét không chút máu, chẳng biết đó là nhân vật nào, bèn quát:

– Ta không biết ngươi là ai, nhưng đã là ma đầu của Minh giáo, thì dĩ nhiên không hiền lành tử tế.

Tư Đồ Thiên Chung nói xen vào:

– Hạ huynh, vị này mà huynh không biết hay sao? Chính là một trong Tứ đại pháp vương Minh giáo, Thanh Dực Bức Vương đó.

Hạ Trụ nói:

– À, ồ, con quỷ hút máu!

Đột nhiên quần hùng thấy loáng một cái trước mắt, Vi Nhất Tiếu đã vọt tới bên Hạ Trụ. Hai người cách xa nhau hơn mười trượng, không biết Vi Nhất Tiếu bằng cách nào trong chớp mắt đã tới bên, giơ tay ra, chỉ nghe" bốp bốp ", giáng liền cho Hạ Trụ bốn cái tát, lại còn thúc cùi chỏ vào huyệt đạo ở bụng dưới. Hạ Trụ võ công vốn không tầm thường, nếu Vi Nhất Tiếu dùng tài nghệ chân thực đấu với lão ta, tối thiểu cũng phải dăm chục chiêu mới thắng nổi. Song khinh công của Vi Nhất Tiếu quá kỳ diệu, như ma như quỷ xẹt tới khiến lão ta trở tay không kịp, lập tức bị đòn.

Quần hùng kinh ngạc ồ lên, thì từ dãy lán của Minh giáo lại có một cái bóng trắng vút ra, thân pháp tuy không nhanh bằng Vi Nhất Tiếu, song cũng hệt như bóng câu qua cửa. Cái bóng trắng đó tới bên Hạ Trụ, tung ra một cái túi vải, chụp xuống đầu Hạ Trụ, bỏ gọn lão ta vào cái túi đó, vắt ngay lên vai. Quần hùng lúc này mới nhìn rõ, cái bóng trắng ấy chính là Bố Đại Hòa Thượng Thuyết Bất Đắc.

Thuyết Bất Đắc cười, nói:

– Nhà ngươi hiền lành tử tế, thì để bần tăng mang ngươi về xẻ thịt nấu ăn dần vậy!

Đoạn vác cái túi đựng Hạ Trụ trở về chỗ của mình.

Vở kịch đó mở màn nhanh chóng, hạ màn lẹ làng và bất ngờ, mười mấy bằng hữu và đệ tử của Hạ Trụ đứng ngay bên cạnh lão ta; song Vi Nhất Tiếu và Thuyết Bất Đắc đến và đi quá nhanh, bọn kia không một ai kịp cứu viện. Đợi lúc Vi Nhất Tiếu và Thuyết Bất Đắc trở về ngồi yên rồi, mười mấy người kia mới rút binh khí, xông đến trước dãy lán của Minh giáo, nhao nhao chửi bới đòi thả Hạ Trụ. Thuyết Bất Đắc vạch miệng túi, cười nói:

– Các ngươi mau xéo đi, về ở đâu yên đó. Đại hội xong, bần tăng sẽ thả hắn ra. Các ngươi không nghe lời, bần tăng sẽ cho một bãi phân, một bãi nước đái vào trong túi cho hắn ngửi. Các ngươi có tin hay không thì bảo?

" Bố Đại Hòa Thượng "vừa nói vừa làm như toan vạch quần ra. Bọn kia vô cùng tức tối, nhưng nghĩ Minh giáo là bọn không chừa việc ác gì không làm, nói sao làm vậy, dùng võ công đoạt người lại sợ không xong, lỡ lão trọc kia tương một bãi nước tiểu lên đầu, chỉ e Hà lão anh hùng chỉ còn nước tự sát mà thôi. Cả bọn cứ người nọ nhìn người kia, đành cúi đầu rầu rĩ trở về chỗ cũ.

Quần hùng vừa kinh hãi, vừa tức cười. Khi lên núi, ai cũng cao hứng chỉ muốn xem Tạ Tốn bị hành quyết như thế nào, bây giờ thấy tài nghệ của hai cao thủ Minh giáo, họ mới cảm thấy đại hội hôm nay đầy hung hiểm, có giết được Tạ Tốn thì trên sân bãi này cũng phải máu tràn thây đổ, không khỏi lo cho mình.

*

* *

Lại thấy Tư Đồ Thiên Chung tay trái cầm một chén rượu, tay phải cầm hồ lô đựng rượu, chệnh choạng bước ra giữa bãi, nói:

– Hôm nay quả là náo nhiệt; người đòi giết Tạ Tốn, kẻ đòi thả Tạ Tốn. Thế nhưng nói qua nói lại chán chê, cái gã Tạ Tốn nọ có thực đang ở trong chùa Thiếu Lâm hay không vẫn còn là một nghi vấn. Này ta bảo Không Trí đại sư, đại sư hãy mang gã Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn ra đây cho mọi người trông thấy y cái đã, sau đó ai muốn giết ai muốn cứu, các bên cứ đem bản lĩnh chân thực ra mà đánh nhau một trận, có phải thú không?

Câu nói của y, có quá nửa quần hùng trên bãi reo hò khen phải.

Dương Tiêu nghĩ thầm:" Tạ Sư Vương có quá nhiều kẻ thù. Minh giáo dẫu có liên thủ với Cái Bang, cũng không đương nổi anh hùng thiên hạ, chi bằng đem thanh đao Đồ Long ra nhử, biến thành cục diện tranh đoạt lẫn nhau ". Bèn dõng dạc nói:

– Các vị anh hùng hôm nay tề tựu ở chùa Thiếu Lâm, một là có ân oán với Tạ Sư Vương cần thanh toán; hai là, a hà, ai cũng muốn ngắm xem thanh đao Đồ Long nó như thế nào. Nếu cứ làm theo cách của Tư Đồ tiên sinh, mọi người hỗn chiến một phen, thì thanh đao Đồ Long kia sẽ về tay ai?

Quần hùng vừa nghe, cảm thấy có lý. Trong mấy ngàn người ở đây, số thực sự có huyết hải thâm cừu với Tạ Tốn chẳng qua chừng hơn trăm người, còn lại ai cũng mơ tưởng bốn chữ" võ lâm chí tôn ", thành thử không khỏi nao lòng.

Một ông già râu đen đứng dậy, nói:

– Thanh đao Đồ Long hiện đang ở trong tay ai, xin Dương tả sứ cho biết.

Dương Tiêu đáp:

– Điều đó tại hạ chưa rõ, chính đang muốn thỉnh giáo Không Trí đại sư.

Không Trí lắc đầu, không nói gì. Quần hùng đều thầm bất mãn:" Phái Thiếu Lâm là chủ nhân của đại hội, vậy mà Không Văn phương trượng cáo ốm không ra, Không Trí đại sư thì thần sắc không ra sống cũng chẳng phải chết, chả hiểu định giở trò gì đây? "

Một hán tử trung niên mặc trường bào màu xanh đứng lên nói:

– Không Trí thiền sư bảo không biết, thế Tạ Sư Vương thì phải biết chứ. Chúng ta hãy mời y ra, hỏi xem thế nào. Sau đó mới đem chút tài mọn ra so sánh, ai là người võ công đệ nhất thiên hạ, danh phó kỳ thực, người ấy dĩ nhiên sẽ thành" võ lâm chí tôn ". Bất kể thanh đao Đồ Long đang do ai giữ, cũng phải giao lại cho" võ lâm chí tôn ". Tại hạ nghĩ rằng mọi người hãy quyết định việc đó trước, để sau này khỏi tranh chấp; ai không chịu thì sẽ bị toàn bộ anh hùng thiên hạ cùng tấn công. Quý vị nghĩ sao?

Trương Vô Kỵ nhận ra người vừa nói chính là một trong ba cao thủ phái Thanh Hải từng phá vỡ" Kim cương phục ma khuyên "hôm trước.

Tư Đồ Thiên Chung nói:

– Thế thì hóa ra đả lôi đài à? Tại hạ thấy như vậy hoàn toàn không ổn.

Hán tử áo xanh lạnh lùng hỏi:

– Có gì mà không ổn? Theo ý các hạ, thì đừng tỷ võ, mà hãy thi nốc rượu phải không? Kẻ nào ngàn chén không say, hoặc say mà không chết, thì thành" võ lâm chí tôn "chứ gì?

Mọi người cười ồ, có kẻ còn mỉa mai:

– Như thế thì khỏi cần thi. Vị" võ lâm chí tôn "chắc chắn sẽ là Túy Bất Tử Tư Đồ tiên sinh!

Tư Đồ Thiên Chung nghiêng hồ lô, rót ra một chén rượu, ngửa cổ uống cạn, nghiêm trang nói:

– Không dám, không dám! Nếu là" tửu lâm chí tôn "thì Túy Bất Tử ta còn có vài phần hi vọng, chứ" võ lâm chí tôn "thì e hèm, không dám nhận, không dám nhận!

Rồi y quay sang nói với hán tử áo xanh:

– Các hạ đề nghị như thế, hẳn là võ học đã đến mức siêu phàm nhập thánh. Tại hạ mắt mờ, không rõ quý tính đại danh của các hạ.

Hán tử áo xanh lạnh lùng nói:

– Tại hạ là Diệp Trường Thanh phái Thanh Hải, tài nốc rượu và làm trò hề đều thua kém các hạ.

Ngụ ý là về phương diện võ công, thì hán tử cao hơn hẳn Tư Đồ.

Tư Đồ Thiên Chung nghiêng đầu ngẫm nghĩ một lát, nói:

– Phái Thanh Hải à, chưa từng nghe qua; Diệp Trường Thanh ư, ờ ờ, cũng chưa nghe nhắc đến.

Mọi người nghĩ thầm:" Lão Tư Đồ này quả là to gan, khinh miệt một mình Diệp Trường Thanh đã đành, đằng này dám vũ nhục cả môn phái Thanh Hải, chẳng lẽ có chỗ dựa nào hùng mạnh lắm sao? Liệu lão ta có thù oán sâu xa gì với phái Thanh Hải chăng? Chỉ nghe hai câu kia, phái Thanh Hải hẳn sẽ ra tay liền ".

Chỉ những ai biết rõ con người Tư Đồ Thiên Chung, mới biết lão chỉ một thân một mình, không hề có chỗ dựa nào, cũng không có oán thù gì với phái Thanh Hải; chẳng qua tính khí cuồng vọng, ưa nói châm chọc người khác, tuy một đời đã vì vạ miệng mà chịu bao nhiêu khổ sở, song trước sau vẫn không thay đổi được tính khí.

Diệp Trường Thanh trong bụng đã muốn hạ sát lão, nhưng vẫn thản nhiên nói:

– Phái Thanh Hải và Diệp mỗ vốn kém cỏi vô danh, hèn chi các hạ không biết. Các hạ bảo tỷ võ không ổn, vậy phải thi húp cháo chăng? Các hạ là người vô địch thiên hạ về nốc về húp, vậy xin thỉnh giáo các hạ..

Tư Đồ Thiên Chung nói:

– Nếu nhắc đến" người vô địch thiên hạ về nốc về húp ", cũng chả phải dễ đâu. Nhớ lại năm xưa ta ở phủ Tế Nam..

Y đang định lè nhè nói tiếp, thì có người quát lên:

– Túy Bất Tử, đừng giở thói say rượu lè nhè ở đây, chẳng ai thừa hơi nghe ngươi nói chuyện bá láp.

Một người khác nói:

– Chuyện Tạ Tốn rốt cuộc như thế nào? Thanh đao Đồ Long sẽ thế nào?

Người khác nói:

– Không Trí thiền sư, thiền sư là chủ nhân đại hội anh hùng hôm nay, mời chúng tôi cất công tới đây để làm gì thế này?

Mỗi người góp một câu, tất cả đều không để cho Tư Đồ Thiên Chung ba hoa thêm, đòi Không Trí phải lên tiếng.

Giữa tiếng ồn ào xa có, gần có, nhao nhao tứ phía ấy, Tư Đồ Thiên Chung vẫn nói:

– Sử lão đại của trại Hắc Phong ở Giang Lăng kia, ngươi đừng có nôn nóng," Hắc sa chưởng "của ngươi tuy lợi hại, nhưng vị tất đã vô địch thiên hạ." Thủy để kim ngao "Hầu huynh đệ ở Phiên Dương kia, Tạ Sư Vương võ công thủy bộ đều cao siêu, các người đừng khinh y không biết đánh nhau dưới nước, huống hồ người ta còn có vị Tử Sam Long Vương chưa ra mặt, a hà, ba ba sao sánh được với rồng? Này Ngô Tam Lang ở núi Thanh Sơn, ngươi chỉ quen dùng kiếm, dù có đoạt được thanh đao Đồ Long cũng không biết cách dùng, sử đao trái khoáy có mà..

Người này tuy điên điên khùng khùng nhưng có tài năng hơn người, hiểu nhiều biết rộng, tai lại cực thính, giữa tiếng ồn ào nhao nhao vẫn nhận biết, gọi ra vanh vách tên tuổi từng người, không sai một ai. Quần hùng thấy y hiển lộ một chút công phu, thì không khỏi reo hò.

Một lão tăng ở phía sau Không Trí đứng dậy, nói:

– Phái Thiếu Lâm tuy là chủ nhân, nhưng chẳng may Không Văn phương trượng đột nhiên lâm trọng bệnh, nên thịnh hội không người chủ trì, khiến cho quý vị chê cười. Tạ Tốn và thanh đao Đồ Long, hai việc, kỳ thực một mà là hai, hai mà là một, có thể gộp lại liệu lý luôn thể. Theo thiển ý của lão nạp, vị Diệp thí chủ phái Thanh Hải vừa nãy nói rất chí lý. Trong quần hùng tề tựu ở đây, toàn là các bậc anh tài, chỉ cần mỗi vị hiển lộ tài năng, cuối cùng người nào xứng đáng, thì Tạ Tốn sẽ do người đó xử trí, thanh đao Đồ Long cũng do người đó chấp chưởng, quần hùng một lòng quy phục, như thế chẳng hay lắm ru?

*

* *

Trương Vô Kỵ hỏi xem lão tăng kia là ai, Bành Oánh Ngọc lắc đầu, nói:

– Thuộc hạ không biết. Người này không tham gia chiến dịch vây đánh đỉnh Quang Minh, cũng không bị quận chúa nương nương bắt nhốt ở chùa Vạn An, mà dám cướp lời của Không Trí đại sư như thế, chắc địa vị trong chùa chẳng phải thấp.

Triệu Mẫn hạ giọng nói:

– Lão này mười phần đến chín là tòng đảng của Viên Chân. Tiểu nữ đoán rằng Không Văn phương trượng đang nằm trong tay Viên Chân, Không Trí đại sư thì bị đám phản đồ này khống chế, nên trông vẻ mặt đại sư mới rầu rĩ chán nản như vậy.

Trương Vô Kỵ rùng mình, hỏi:

– Bành đại sư nghĩ sao?

Bành Oánh Ngọc nói:

– Suy đoán của quận chúa rất có lý. Có điều trong chùa Thiếu Lâm cao thủ nhiều như ruồi, mà Viên Chân dám công khai phạm thượng làm loạn, thì hắn quả thật to gan.

Trương Vô Kỵ nói:

– Viên Chân bố trí đã lâu. Đầu tiên hắn muốn tiêu diệt bản giáo; việc thứ hai là hắn khống chế Cái Bang, cả hai phen mưu gian đều thất bại. Lần này ta thiết nghĩ hắn muốn làm phương trượng, chưởng môn phái Thiếu Lâm đây.

Triệu Mẫn nói:

– Không chỉ làm phương trượng chưởng môn thôi đâu.

Trương Vô Kỵ nói:

– Thiếu Lâm là đệ nhất môn phái trong võ lâm, làm phương trượng chưởng môn là lên đến tuyệt đỉnh, còn gì cao hơn nữa?

Triệu Mẫn nói:

–" Võ lâm chí tôn "thì sao? Chẳng phải là cao hơn chức phương trượng, chưởng môn phái Thiếu Lâm ư?

Trương Vô Kỵ ngẩn ra, nói:

– Hắn muốn trở thành" Võ lâm chí tôn "ư?

Triệu Mẫn nói:

– Vô Kỵ ca ca, Chu tỷ tỷ đi lấy chồng khác, ca ca như người mất hồn, không còn nghĩ được chuyện gì nữa rồi.

Trương Vô Kỵ bị nàng nói trúng tim đen, thì đỏ mặt, nghĩ thầm:" Trương Vô Kỵ ơi, mi không được phép chỉ tơ tưởng chuyện tình trai gái mà quên đại sự cứu thoát nghĩa phụ hôm nay ". Chàng định thần, cho rằng Viên Chân thâm mưu viễn lự, đại hội anh hùng hôm nay chính là hắn cố sức sắp đặt, bên trong hẳn có mưu gian, bèn nói:

– Mẫn muội, muội hãy đoán xem quỷ kế của Viên Chân thế nào?

Triệu Mẫn nói:

– Viên Chân là kẻ lắm mưu nhiều kế, phen này ắt hẳn hắn..

Chu Điên ở bên cạnh, nghe hai người to nhỏ với nhau, nhịn không được, xen vào nói:

– Quận chúa nương nương thì cũng lắm mưu nhiều kế, đâu kém gì Viên Chân.

Triệu Mẫn cười, nói:

– Quá khen!

Chu Điên nói:

– Không phải là quá khen đâu..

Bành Oánh Ngọc nói:

– Điên huynh, đừng có ngắt lời quận chúa.

Chu Điên giận dữ nói:

– Lão trọc đừng có ngắt lời ta thì có..

Bành Oánh Ngọc cười cười, không nói nữa, thừa biết nếu tranh cãi với Chu Điên thì có mất vài giờ cũng chẳng đi tới đâu, thôi thì nhịn trước là hơn. Chu Điên nói:

– Sao ngươi không nói nữa?

Bành Oánh Ngọc đáp:

– Huynh bảo ta đừng ngắt lời huynh, thì ta không ngắt lời chứ sao.

Chu Điên nói:

– Nhưng ngươi đã ngắt lời ta rồi.

Bành Oánh Ngọc nói:

– Thế thì huynh cứ nói tiếp đi.

Chu Điên nói:

– Ta quên rồi, thôi không nói nữa.

Triệu Mẫn cười cười, nói:

– Tiểu muội cho rằng nếu Viên Chân chỉ muốn làm phương trượng Thiếu Lâm tự, thì hà tất hắn phải tốn công mời anh hùng thiên hạ đến đây. Tạ đại hiệp đã sa vào tay hắn, hà tất còn phải gọi quần hùng đến tỷ võ tranh đoạt? Vô Kỵ ca ca, nếu nói về võ công, chỉ e trên đời này hiện chẳng một ai sánh kịp ca ca, điều đó Viên Chân thừa biết. Hắn không đời nào tốt bụng đến mức sắp đặt đại hội quần hùng để cho ca ca đánh thắng tất cả, trở thành võ lâm chí tôn, rồi hắn đem Tạ đại hiệp và thanh đao Đồ Long dâng lên cho ca ca.

Trương Vô Kỵ, Bành Oánh Ngọc và Chu Điên ba người cùng gật đầu, hỏi:

– Quận chúa đoán hắn có quỷ kế gì?

Lúc này Dương Tiêu cũng đã tới bên Trương Vô Kỵ, góp lời:

– Thuộc hạ vẫn nghĩ rằng mưu gian của Viên Chân nhất định không phải nhỏ..

Chu Điên không nhịn nổi, lại ngắt lời:

– Viên Chân là đại đối đầu của bản giáo, quận chúa nương nương trước kia cũng là đại đối đầu của bản giáo, Viên Chân quỷ kế đa đoan, quận chúa nương nương cũng nhiều kế lắm mưu, hai người cũng đâu khác nhau là mấy.

Dương Tiêu quát lên:

– Lại nói năng điên điên khùng khùng rồi.

Triệu Mẫn mỉm cười, nói:

– Chu tiên sinh nói cũng có lý, nếu muội là Viên Chân, thì muội sẽ mưu đồ những gì nào? Ồ, trước hết, muội sẽ khuyên Không Văn phương trượng gửi thiếp mời anh hùng thiên hạ đến Thiếu Lâm tự. Không Văn phương trượng là người tinh thông Phật pháp, vốn dĩ hòa bình từ bi, không ưa đa sự; nhưng muội chỉ cần nhắc đến hai vị Không Kiến và Không Tính thần tăng một cái, là Không Văn phương trượng nghĩ đến tình huynh đệ, ắt sẽ bằng lòng. Kế đến, Thiếu Lâm tự nếu giết Tạ đại hiệp, thì sẽ kết thù sâu như bể với Minh giáo; chỉ dựa vào lực lượng một phái Thiếu Lâm, khó lòng chống nổi nếu Minh giáo dốc toàn lực tấn công; còn như san sẻ cho anh hùng khắp thiên hạ, thì Minh giáo chẳng thể nào dại gì đương đầu với mấy ngàn anh hùng hảo hán tứ xứ.

Mấy người nghe đều gật gù khen phải.

Triệu Mẫn nói tiếp:

– Đại hội anh hùng mở ra rồi, muội cũng chưa ra mặt, chỉ sai người đem Tạ đại hiệp và thanh đao Đồ Long ra làm mồi nhử, xúi bẩy quần hùng tàn sát lẫn nhau. Minh giáo tất trở thành kẻ địch của quần hùng, đấu đến cuối cùng, bất kể ai thắng ai bại, các cao thủ của Minh giáo ít ra cũng chết quá nửa, nguyên khí đại thương tổn.

Trương Vô Kỵ nói:

– Đúng thế. Điều này, ta cũng đã nghĩ đến. Nhưng nghĩa phụ đối với ta ân nặng như non, với các huynh đệ thì có giao tình mấy chục năm, chúng ta há có thể ngồi khoanh tay không cứu? Ôi, mình lên núi chưa được mấy ngày, ông ngoại đã qua đời, Viên Chân ở trong bóng tối chắc là vỗ tay khoái trá lắm đó.

Triệu Mẫn nói:

– Đấu đến cuối cùng, cái danh hiệu" đệ nhất võ lâm "chắc sẽ rơi vào tay Trương giáo chủ. Bấy giờ quần tăng Thiếu Lâm sẽ nói:" Trương giáo chủ độc bá quần hùng, thực là đáng kính đáng mừng, bản tự xin giao Tạ đại hiệp cho Trương giáo chủ, mời Trương giáo chủ lên ngọn núi sau chùa mà đón ". Thế là mọi người cùng kéo lên ngọn núi kia, Trương giáo chủ phải một mình phá vỡ" Kim cương phục ma khuyên ". Nếu có ai bước ra trợ giúp, đồng đảng của Viên Chân sẽ nói:" Độc bá quần hùng là Trương giáo chủ Minh giáo, người ngoài không liên quan gì tới việc này, chỉ được đứng xem mà thôi ". Trương giáo chủ sau khi đoạt được danh hiệu đệ nhất võ công thiên hạ, cứ coi như không bị thương, song cũng hao tổn bao nhiêu thần công nội lực rồi, làm sao địch nổi ba vị đại lão tăng kia? Kết quả là Tạ đại hiệp đã chẳng cứu ra được, chính Trương giáo chủ cũng bỏ mạng giữa ba gốc cổ tùng. Chỉ có trăng lạnh gió thảm làm bạn với thi thể một đời đại hiệp Trương Vô Kỵ, như thế chẳng khéo lắm ru?

Mấy người nghe tới đây, mặt đều biến sắc, nghĩ bụng những điều vừa rồi hoàn toàn có thể xảy ra. Trương Vô Kỵ huyết tính hơn người, bất kể gian nan nguy hiểm đến mấy, chàng cũng không thể không cứu Tạ Tốn; dẫu có phải bỏ mạng, chàng cũng không hối hận. Mưu kế của Viên Chân nhắm đúng tính nết của Trương Vô Kỵ, biết chàng dù có rừng đao bể lửa, cũng quyết nhảy vào cho bằng được.

Triệu Mẫn thở dài, nói tiếp:

– Thế là Minh giáo sẽ bị tan vỡ. Viên Chân lại sử dụng kế gian, hạ độc giết Không Văn, đem tội vạ đổ lên đầu Không Trí, chuyện đó sắp đặt quá dễ, chỉ cần ngụy tạo vài chứng cứ, tăng chúng Thiếu Lâm không thể không tin. Thế rồi đồng đảng ra sức tiến cử, Viên Chân sẽ thuận lý thành chương lên làm phương trượng. Hắn sẽ ra lệnh cho quần hùng vây đánh Minh giáo, lấy nhiều thắng ít, gom lại mà giết sạch. Bấy giờ cái danh hiệu" đệ nhất võ công thiên hạ ", trừ Viên Chân ra, còn ai dám tranh vào đấy? Thanh đao Đồ Long không xuất hiện thì thôi, nhưng hễ có tung tích trên giang hồ, anh hùng thiên hạ người người đều biết, chủ nhân chính thức của thanh bảo đao là Viên Chân thần tăng, phương trượng Thiếu Lâm tự. Ai giữ bảo đao mà không dâng lên thần tăng, chỉ e gặp đại họa!

Nàng nói rất nhỏ, chỉ có mấy người ở một góc lán nghe thấy. Nàng nói xong, Chu Điên vỗ đùi đánh đét một cái, thốt lên:

– Chính thế! Chính thế! Mưu gian quá lớn!

Câu nói của Chu Điên oang oang, quá nửa người trên sân bãi nghe rõ, ai nấy nhìn về phía dãy lán của Minh giáo.

*

* *

Tư Đồ Thiên Chung hỏi:

– Mưu gian nào vậy? Nói cho lão phu nghe có được chăng?

Chu Điên nói:

– Chuyện này chưa nói ra được. Lão tử một mực xúi bẩy ly gián để anh hùng thiên hạ tàn sát lẫn nhau, một mất một còn, nếu nói ra thì mất linh đi à?

Tư Đồ Thiên Chung cười nói:

– Hay thật, hay thật! Nhưng làm cách nào để xúi bẩy ly gián, nói cho nghe thử đi!

Chu Điên nói lớn:

– Trong bụng ta có âm mưu độc kế, nhưng lại giả vờ bảo: Thanh đao Đồ Long đang ở trong tay lão tử đây, người nào võ công cao cường nhất, lão tử sẽ trao bảo đao cho người đó..

Tư Đồ Thiên Chung khen:

– Kế sách hay thật! Mưu sâu thật! Thế rồi sao?

Triệu Mẫn và Trương Vô Kỵ nhìn nhau, cùng nghĩ thầm:" Con ma men kia không quen biết thân thích gì với bọn mình, song lại giúp được nhiều ".

Chu Điên nói to:

– Tiên sinh thử nghĩ coi, vì mấy chữ" võ lâm chí tôn "của thanh đao Đồ Long kia, mà ai ai cũng cố dốc toàn lực ra tranh đoạt. Thế là thằng điên bị kẻ say giết, kẻ say bị hòa thượng giết, hòa thượng bị đạo sĩ giết, đạo sĩ bị cô nương giết.. giết đến nỗi thây chất đầy đồng, máu chảy thành sông, ô hô ai tai, bất diệc lạc hồ!

Quần hùng nghe vậy đều lạnh gáy, nghĩ bụng lão này tuy điên điên khùng khùng, nhưng lời nói quả thật chí lý.

Lão nhị của phái Không Động là Tông Duy Hiệp đứng lên, nói:

– Vị Chu tiên sinh nói rất có lý. Chúng ta bụng ngay dạ thẳng, không nói quanh co; mọi nhà mọi phái ai mà chẳng thèm muốn thanh đao Đồ Long; nhưng chỉ vì một thanh đao mà đến nỗi thân bại danh liệt, thậm chí tiêu ma cả môn phái, thì chẳng đáng chút nào. Lão phu mong mọi người hãy nghĩ ra cách thi đấu sao đó để kết bạn; chạm tới là dừng ngay, tuy phân thắng bại, song không tổn thương hòa khí. Các vị nghĩ sao?

Trong trận chiến trên đỉnh Quang Minh, Trương Vô Kỵ lấy đức báo oán, đã giúp Tông Duy Hiệp chữa khỏi nội thương do luyện Thất thương quyền mà ra, sau lại cứu lão khỏi chùa Vạn An, cho nên phái Không Động đến chùa Thiếu Lâm chuyến này có ý trợ giúp Minh giáo.

Tư Đồ Thiên Chung cười, nói:

– Ta thấy các hạ to xác thế mà sợ chết. Không gây đổ máu, cũng chẳng chết người, thế thì đấu võ có gì đáng xem?

Lão tứ của phái Không Động là Thường Kính Chi giận dữ nói:

– Muốn lấy mạng một con sâu rượu như ngươi, cần gì phải chảy máu.

Tư Đồ Thiên Chung nói:

– Con sâu rượu này chẳng qua nói đùa cho vui đó thôi, Thường tứ tiên sinh hà tất nóng giận như thế? Ai chẳng biết Thất thương quyền của phái Không Động giết người không thấy máu. Không Kiến thần tăng của phái Thiếu Lâm chẳng phải đã bỏ mạng vì Thất thương quyền đó sao? Con sâu rượu Tư Đồ này gầy yếu thế này, làm sao dám so bì với Không Kiến thần tăng?

Quần hùng đều nghĩ thầm:" Gã ma men này hễ mở miệng là châm chọc người khác, đã đắc tội với phái Không Động, lại đụng chạm cả phái Thiếu Lâm. Gã lăn lộn giang hồ đến bây giờ vẫn chưa chết, kể cũng lạ ".

Tông Duy Hiệp chẳng buồn lý đến, dõng dạc nói:

– Theo thiển ý của lão phu, mỗi môn phái, bang hội, giáo môn cử ra hai vị cao thủ, chia ra tỷ thí võ nghệ. Phái nào còn lại sau cùng, võ công cao nhất, thì Tạ đại hiệp và thanh đao Đồ Long sẽ do phái đó xử trí.

Quần hùng vỗ tay vang dội, khen cách đó hay hơn cả.

Trương Vô Kỵ để ý quan sát các nhà sư Thiếu Lâm đứng phía sau Không Trí, thấy đa số cau mày, không lấy gì làm vui. Chàng biết Triệu Mẫn đã đoán trúng mưu gian của Viên Chân, đoán trúng cái kế xúi bẩy ly gián quần hùng tàn sát lẫn nhau.

Một hán tử trung niên mặt trắng, râu thưa đứng lên, phe phẩy cây quạt xếp cán vàng, phong thái hết sức ung dung, nói:

– Tại hạ thấy lời luận bàn của Tông nhị hiệp vừa rồi rất xác đáng. Khi chúng ta thi đấu, tuy nói là vừa chạm tới là dừng ngay, song binh khí quyền cước không có mắt, nếu có lỡ tay, đành coi là tại số trời. Sư hữu đồng môn đồng phái của nạn nhân không được nhảy ra khiêu chiến báo thù, kẻo không sẽ dây dưa mãi, không biết đời nào mới chấm dứt.

Quần hùng đều nói:

– Đúng lắm! Phải thế mới được!

Tư Đồ Thiên Chung nói:

– Vị huynh đài kia quả là nhân vật bề ngoài anh tuấn, nói năng lại rào trước đón sau, đâu ra đấy, hình như là Âu Dương huynh ở phủ Hoành Dương đất Tương Nam thì phải?

Bạch diện hán tử phe phẩy quạt, cười nói:

– Không dám, chính là tại hạ; các hạ khen tại hạ một câu, lại chửi một câu, coi như hòa.

Tư Đồ Thiên Chung nói:

– Âu Dương huynh và đệ, hai ta đều là cô hồn dã quỷ, chẳng theo bang hội môn phái nào. Đệ thích rượu, huynh hiếu sắc, hai ta có lẽ nên lập ra phái" Tửu Sắc ", hai đại cao thủ của phái" Tửu Sắc "sánh vai nhau, tranh tài với các anh hùng thiên hạ được chăng?

Quần hùng cười ha hả, cảm thấy gã Tư Đồ Thiên Chung liên tiếp châm chọc người này người khác, thật là vui tính, tạo ra nhiều tiếng cười trên sân bãi, giảm bớt không khí gay gắt.

Bành Oánh Ngọc nói với Trương Vô Kỵ, bạch diện hán tử là Âu Dương Mục Chi, cưới cả thảy mười hai nàng cơ thiếp, võ công tuy cao cường nhưng ít xông pha giang hồ, suốt ngày chỉ vui vầy loan phượng, hưởng cái thú gia đình đầm ấm.

Âu Dương Mục Chi cười nói:

– Nếu cùng lão huynh liên thủ lập phái, đệ chỉ e cả gia tài của đệ không đủ mua rượu cho huynh uống. Các vị, nói đến tỷ võ so tài, chúng ta cần cử ra vài vị tiền bối tuổi cao đức trọng, được ai nấy ngưỡng vọng, làm công chứng, để tránh cái cảnh ngươi nói ngươi thắng, ta bảo ta thắng, tranh chấp không ngừng.

Tư Đồ Thiên Chung cười, nói:

– Thắng thua chẳng lẽ chính mình lại không biết? Có ai cãi chày cãi cối như huynh đâu mà lo?

Tông Duy Hiệp nói:

– Cử ra vài vị làm công chứng cũng hay. Phái Thiếu Lâm là chủ, Không Trí đại sư là một vị.

Tư Đồ Thiên Chung chỉ vào cái túi vải của Thuyết Bất Đắc, nói:

– Lão phu đề cử Sơn Đông đại hiệp Hạ Trụ Hạ lão anh hùng.

Thuyết Bất Đắc nhấc cái túi vải ném về phía Tư Đồ Thiên Chung, nói:

– Đón lấy người làm chứng này!

Tư Đồ Thiên Chung vứt chén và bầu rượu xuống, ôm lấy cái túi cởi dây buộc, không ngờ Thuyết Bất Đắc thắt nút rất khó gỡ, dây buộc lại bện từ dây tơ với dây câu của ngư dân mà thành, nên Tư Đồ Thiên Chung cố sức vẫn không cởi nút được. Thuyết Bất Đắc cười khà khà, tung mình nhảy tới, tay trái nhấc cái túi đưa ra sau lưng, tay phải đón lấy, mười ngón tay vặn mấy cái, lại kéo cái túi ra đằng trước, rồi xoay vòng tròn xung quanh mình vài lượt, nút thắt miệng túi liền bung ra. Thuyết Bất Đắc nghiêng miệng túi dốc một cái, Hạ Trụ liền lăn ra ngoài. Tư Đồ Thiên Chung vội giơ tay giải huyệt cho lão ta.

Hạ Trụ nằm hồi lâu trong cái túi tối om, ngộp thở; đột nhiên thấy ánh sáng chói lòa, trên sân bãi hàng ngàn cặp mắt chăm chú nhìn, thì hổ thẹn quá đỗi, bật dậy rút thanh đoản kiếm đeo bên lưng, đâm luôn vào ngực mình.

Tư Đồ Thiên Chung giằng lấy thanh kiếm, cười nói:

– Thắng bại là chuyện thường tình của võ lâm, Hạ đại ca hà tất phải làm thế?

Từ trong đám đông, một hán tử thấp lùn bước ra, nói lớn:

– Vị đại hiệp nằm trong túi vải kia e rằng chưa đủ tư cách làm công chứng, ta đề cử Tôn lão gia tử ở núi Trường Bạch.

Lại một nữ nhân trung niên nói:

– Huynh đệ" Chiết Đông song nghĩa "uy chấn Giang Nam, chính trực vô tư, làm công chứng là hay nhất.

Quần hùng mỗi người một câu, trong giây lát đã đề cử mười mấy người, đều là các vị hào kiệt có tiếng tăm trên giang hồ.

Đột nhiên một lão ni cô của phái Nga Mi lạnh lùng nói:

– Đề cử công chứng nhân làm quái gì? Có cũng bằng thừa thôi.

Bà ta nói không lớn tiếng, nhưng nghe rành rọt từng tiếng, chứng tỏ nội lực tu tập rất khá. Tư Đồ Thiên Chung cười nói:

– Thỉnh giáo sư thái, tại sao lại không cần đến các công chứng nhân?

Lão ni cô nói:

– Hai người đánh nhau, sống thì thắng, chết là thua, đã có Diêm Vương làm công chứng nhân.

Mọi người nghe mấy lời lạnh lẽo ấy không khỏi rùng mình.

Tư Đồ Thiên Chung nói:

– Chúng ta đấu võ để kết bạn, không có thâm cừu đại oán, hà tất phải đánh nhau đến chết mới được? Người xuất gia lấy từ bi làm gốc, vị sư thái nói vậy không sợ Phật tổ quở trách hay sao?

Lão ni cô lạnh lùng nói:

– Ngươi muốn hồ ngôn loạn ngữ với ai thì tùy, nhưng trước mặt đệ tử phái Nga Mi thì phải có quy củ.

Tư Đồ Thiên Chung cầm bầu rượu lên, rót đầy một chén, cười nói:

– Ái chà chà! Phái Nga Mi lợi hại quá! Người đời có câu" Khôn ngoan chớ dính đàn bà, rượu vào tối kỵ ấy là ni cô! "

Vừa nói vừa nâng chén rượu lên môi.

Đột nhiên nghe hai tiếng chíu chíu, có hai hạt niệm châu bắn tới, một viên trúng chén rượu, một viên trúng bầu rượu, tiếp đó viên thứ ba bắn tới trúng giữa ngực Tư Đồ Thiên Chung.

Chỉ nghe đoành đoành đoành ba tiếng, ba hạt niệm châu nổ tung, chén rượu, bầu rượu vỡ tan, còn ngực Tư Đồ Thiên Chung thì thủng một lỗ lớn, thân hình văng đi mấy trượng, quần áo tức thời bốc cháy. Hạ Trụ vội chạy tới dập lửa, thấy Tư Đồ Thiên Chung đã tắt thở, mặt như vẫn còn mỉm cười. Đủ thấy ba viên đạn kia bắn tới quá nhanh, Tư Đồ Thiên Chung đến lúc chết cũng không biết đại họa lâm đầu. Sự việc xảy ra bất ngờ như giữa lúc trời quang mây tạnh lại có tiếng sấm tiếng sét vậy.

Quần hùng không thiếu gì người hiểu nhiều biết rộng, song chẳng một ai nhìn thấy loại ám khí gớm ghiếc ấy là gì.

Chu Điên kêu lên:

Ối chà chà! Ám khí gì mà gớm thế?

Dương Tiêu nói nhỏ:

– Nghe đồn nước Đại Thực ở Tây Vực có người học được cách chế thuốc súng của Trung Quốc, làm ra một loại ám khí gọi là" Tích lịch lôi hỏa đạn ", bên trong chứa thuốc súng có sức công phá mạnh, dùng lò xo bắn đi. Xem chừng ni cô kia vừa sử dụng thứ ám khí đó.

Hạ Trụ ôm thi thể cháy đen của Tư Đồ Thiên Chung, dõng dạc nói:

– Vị Tư Đồ huynh đệ này tuy miệng lưỡi hay châm chọc người khác, chẳng qua vì bẩm tính hoạt kê, chứ lòng dạ nhân hậu, cả đời chưa từng làm việc gì thương thiên hại lý. Hôm nay anh hùng thiên hạ tụ tập cả ở đây, liệu có ai kể ra được hành vi tàn ác nào của Tư Đồ huynh đệ chăng?

Quần hùng ai nấy lặng thinh. Hạ Trụ chỉ lão ni cô, gằn giọng:

– Phái Nga Mi vẫn tự xưng là danh môn chính phái, theo đạo hiệp nghĩa, sao lại sử dụng loại ám khí hiểm ác đến thế? Trong võ lâm tuy vẫn nói ai mạnh thì thắng, song cũng không thể bỏ qua chữ" Lý ". Xin hỏi vị sư thái xưng hô thế nào?

Lão ni cô nói:

– Ta tên Tĩnh Già. Vị đại hiệp trong túi chui ra, hoa chân múa tay là muốn gì vậy?

Hạ Trụ rầu rĩ nói:

– Hạ mỗ học nghệ chưa tinh nên bị bọn ma đầu Minh giáo lăng nhục. Đó là do Hạ mỗ bản lĩnh non kém, nhưng không làm tổn hại thanh danh một đời hiệp nghĩa. Tĩnh Già sư thái, bà tàn ác như thế, không có lỗi với tổ sư quý phái Quách Tương Quách nữ hiệp hay sao?

Quần đệ tử phái Nga Mi nghe nhắc đến tên húy của tổ sư sáng phái thì cùng đứng phắt dậy.

Tĩnh Già nhướng đôi mày dài, quát:

– Húy danh của tổ sư bản phái há để cho một gã chó chết như ngươi bạ đâu nói đó?

Hạ Trụ nói:

– Đệ tử phái Nga Mi như bà hành sự bất nghĩa, làm điếm nhục tên tuổi của tổ sư. Đừng nói gì Quách nữ hiệp, ngay cả Diệt Tuyệt sư thái sinh tiền dẫu có hạ độc thủ, song cũng chưa dùng kiếm giết người vô tội. Bà lạm sát người vô tội như thế, mà vị chưởng môn của bà lại để yên không ngăn cản, hừ, phái Nga Mi từ nay không biết có còn chỗ đứng trên giang hồ nữa chăng?

Tĩnh Già nói:

– Ngươi còn nói láo nửa câu, thì cũng sẽ y như con sâu rượu kia.

Hạ Trụ đầy vẻ chính khí, hiên ngang bước lên ba bước, nói:

– Chưởng môn phái Nga Mi nếu không thanh lý môn hộ, anh hùng thiên hạ từ nay sẽ coi khinh phái Nga Mi.

Quần hùng cùng đệ tử phái Nga Mi mấy ngàn con mắt cùng đổ dồn vào Chu Chỉ Nhược, chỉ thấy nàng nhìn Tĩnh Già thong thả gật gật đầu. Đoành đoành hai tiếng nổ lớn," Tích lịch lôi hỏa đạn "từ tay Tĩnh Già bắn tới, ngực và bụng dưới Hạ Trụ thủng hai lỗ lớn, quần áo bốc cháy, nhưng lão vô cùng quật cường, tuy đã tắt thở, vẫn đứng sừng sững không ngã, hai tay ôm xác Tư Đồ Thiên Chung.

Quần hùng nhìn nhau, kinh hãi đờ người ra. Lát sau, mấy trăm người nhao nhao la ó, trách mắng phái Nga Mi không ra gì.

Vi Nhất Tiếu và Thuyết Bất Đắc nhìn nhau, gật đầu, cùng chạy tới bên thi thể Hạ Trụ, quỳ xuống vái lạy. Thuyết Bất Đắc nói:

– Hạ lão anh hùng, hai chúng tôi không biết huynh đài là bậc anh hùng nhân nghĩa, ban nãy đắc tội, thật hổ thẹn muôn phần.

Hai người giơ tay lên, tự vả bốp bốp mấy cái vào mặt mình, khiến hai má sưng đỏ lên. Hai người dập lửa trên hai cái xác, rồi ôm về lán của Minh giáo.

Trương Vô Kỵ thấy Chu Chỉ Nhược đột nhiên trở nên tàn bạo như vậy, thì khó chịu vô cùng.

*

* *

Trong lúc mọi người xôn xao, Chu Chỉ Nhược rỉ tai nói nhỏ mấy câu với Tống Thanh Thư. Tống Thanh Thư gật đầu, thong thả bước ra giữa bãi, dõng dạc nói:

– Hôm nay quần hùng tụ tập ở đây, vốn chẳng phải để uống rượu ngâm thơ, gảy đàn dạo nhạc, bình phẩm thơ văn câu đối. Đã sử dụng binh khí, quyền cước, không thể tránh chuyện tử thương. Vị Hạ lão anh hùng ban nãy có nói, Tư Đồ tiên sinh cả đời chưa làm việc gì xấu, oán trách Tĩnh Già sư thái của bản phái lạm sát người vô tội. Các vị anh hùng liền nhao nhao phụ họa, tựa hồ bất mãn với bản phái. Tại hạ xin hỏi: Hôm nay chúng ta tỷ võ tranh tài, có cần phải tra xét trước đức tính phẩm hạnh của từng người hay không? Nếu là bậc đại thánh đại hiền, thì nhất thiết không được đả thương họ; còn bọn cùng hung cực ác, thì cứ tha hồ mà chém giết hay sao?

Quần hùng nhất thời cứng họng, cảm thấy y nói không phải là không có lý.

Tống Thanh Thư nói tiếp:

– Nếu bảo thanh đao Đồ Long phải người có đức mới được giữ, thì chúng ta cần gì phải" tỷ võ tranh tài "? Mọi người chỉ việc cùng kéo nhau tới Sơn Đông, đến Khúc Phụ thăm Văn miếu thờ bậc Đại thành tiên thánh Khổng Phu Tử, cung thỉnh hậu duệ của Khổng thánh nhân ra nhận bảo đao cho xong. Còn đã nói đến chữ" Võ ", thì khi tranh tài chỉ tính sống chết thắng bại, làm sao còn tính chuyện đối phương vô tội hay có tội.

Trong quần hùng có kẻ phụ họa:

– Đúng thế, đao kiếm không có mắt, chúng ta đã giao hẹn là không được đi tìm nhau để báo thù cho sư hữu.

Du Liên Châu và Ân Lê Đình càng nghe càng thấy giống giọng của Tống Thanh Thư, có điều là y mặt đầy râu ria, lại cứ luôn miệng" bản phái "," bản phái ", tỏ ra là đệ tử phái Nga Mi, thành thử hai ông trong bụng không khỏi ngờ vực. Du Liên Châu bèn đứng dậy hỏi:

– Thỉnh giáo quý tính đại danh của các hạ?

Tống Thanh Thư thấy nhị sư thúc, xưa nay vốn sợ ông, lặng người đi một hồi, mới đáp:

– Hậu bối vô danh, Du nhị hiệp khỏi cần biết đến.

Du Liên Châu xẵng giọng, nói:

– Các hạ luôn miệng" tỷ võ tranh tài ", chắc là võ học tài ba hơn người. Sư phụ ta hồi trẻ có nhận đại ân của Quách nữ hiệp quý phái, luôn nghiêm huấn rằng đệ tử phái Võ Đang không được động thủ với đệ tử phái Nga Mi. Tại hạ muốn hỏi cho rõ ràng, các hạ có đúng là đệ tử phái Nga Mi hay không? Họ gì tên gì? Đại trượng phu quang minh lỗi lạc, có gì mà phải giấu giếm?

Chu Chỉ Nhược phẩy nhẹ cây phất trần, nói:

– Du nhị hiệp, bổn tòa cũng chẳng cần giấu ông nữa. Người này là phu quân của bổn tòa, họ Tống, tên Thanh Thư, xuất thân phái Võ Đang, nhưng nay đã gia nhập phái Nga Mi. Du nhị hiệp muốn gì thì cứ việc nói với bổn tòa.

Nàng nói mấy câu ấy, thanh âm trong trẻo lạnh giá, nghe như tiếng băng chạm nhau, gió động khánh ngọc; lại thêm dung mạo xinh đẹp như tiên nữ giáng trần; mấy nghìn hào kiệt trên bãi nín thở lắng nghe.

Tống Thanh Thư đưa tay xoa mặt, gỡ chòm râu hóa trang, sửa lại quần áo, lập tức trở thành một thiếu niên anh tuấn, mặt trắng như ngọc. Quần hùng nhìn thấy thế đều thầm tấm tắc:" Quả là một đôi đẹp như thần tiên ".

Du Liên Châu nghĩ đến tội y giết Mạc Thanh Cốc, bất giác lửa giận bừng bừng, nhưng tính ông vốn trầm tĩnh, gần đây càng đứng tuổi, mức độ tu tập càng tinh thâm, trong lòng tuy cuồng nộ, mà ngoài mặt vẫn bình thản, chỉ đưa đôi mắt thần quang như tia chớp quét vào mặt tên phản đồ. Tống Thanh Thư trong lòng hổ thẹn, bất giác cúi đầu xuống.

Chu Chỉ Nhược nói:

– Ngoại tử rời bỏ phái Võ Đang, gia nhập phái Nga Mi, hôm nay chính thức công bố như thế với anh hùng thiên hạ. Du nhị hiệp, Trương chân nhân nghĩ đến tình nghĩa xưa kia, không cho đệ tử đối địch với phái Nga Mi, đó là nghĩa khí của lão nhân gia, song đó cũng chính là sự khôn ngoan muốn bảo toàn uy danh cho phái Võ Đang đấy.

Ân Lê Đình nghe vậy thì hết nhịn nổi, nhảy ra, chỉ mặt Chu Chỉ Nhược nói:

– Chu cô nương, hồi cô nương còn nhỏ gặp nạn, sư phụ ta đã ra tay cứu giúp, tiến dẫn cô nương làm môn hạ phái Nga Mi. Dù sư phụ ta làm ơn không mong báo đáp, nhưng lời lẽ của cô nương hôm nay rõ ràng là bảo phái Võ Đang chỉ có hư danh, thua kém xa các vị nữ hiệp phái Nga Mi, như thế.. cô nương.. chẳng quá bạc bẽo với sư phụ ta ư?

Chu Chỉ Nhược cười nhạt, nói:

– Võ Đang chư hiệp uy chấn giang hồ, đều có chân tài thực học. Tống đại hiệp lại là bố chồng của bổn tòa, bổn tòa lẽ nào dám bảo các vị chỉ có hư danh? Còn về hai phái Võ Đang, Nga Mi, thì mỗi bên có sở truyền, sở học riêng, khó mà nói bên nào cao, bên nào thấp. Năm xưa Quách tổ sư bản phái có ơn với Trương chân nhân, Trương chân nhân sau này lại có ơn với bổn tòa, đôi bên thế là hòa, không bên nào nợ bên nào khoản ân tình gì nữa. Du nhị hiệp, Ân lục hiệp, cái quy củ đệ tử phái Võ Đang không được động thủ với phái Nga Mi, chúng ta từ nay bỏ đi là xong.

Từ các dãy lán trên sân bãi, quần hùng xôn xao bàn tán, cho rằng vị chưởng môn trẻ tuổi này quá bạo mồm bạo miệng, nghe giọng nói của nàng ta, thì dường như phái Nga Mi nắm chắc phần thắng, hơn hẳn phái Võ Đang. Du Liên Châu nội công ngoại công đều đạt tới cảnh giới đăng phong tạo cực, thế gian hiện thời ít ai có thể địch nổi ông. Chẳng lẽ phái Nga Mi chỉ ỷ vào mỗi cái món ám khí lợi hại tàn độc kia mà đã đòi độc bá giang hồ ư?

Ân Lê Đình tâm thần kích động, nghĩ đến cái chết thê thảm của thất sư đệ Mạc Thanh Cốc, nhịn không nổi, nước mắt trào ra, kêu lên:

– Thanh Thư.. Thanh Thư.. ngươi.. sao ngươi nỡ tay.. sát hại Mạc thất thúc..

Hai tiếng" thất thúc "vừa thốt ra, ông đã khóc òa lên.

Quần hùng ai nấy nhìn nhau ngơ ngác:" Ân lục hiệp phái Võ Đang thanh danh lớn là thế, sao tự dưng lại khóc rống lên trước mặt bao người như vậy? "

Du Liên Châu bước tới, kéo cánh tay phải của sư đệ, dõng dạc nói:

– Anh hùng thiên hạ hãy nghe đây, phái Võ Đang bất hạnh có một tên đệ tử phản nghịch là Tống Thanh Thư. Thất sư đệ Mạc Thanh Cốc của tại hạ đã bị tên nghịch đồ..

Đột nhiên chíu chíu hai tiếng rít lên trong không khí, hai viên" Tích lịch lôi hỏa đạn "bắn tới ngực Du Liên Châu.

Trương Vô Kỵ kêu to" Ối chao! ", toan vọt lên cứu, nhưng hai viên lôi hỏa đạn bay quá nhanh, vừa bắn ra đã tới mục tiêu, chàng vốn không ngờ rằng phái Nga Mi lại dám bắn trộm như thế, chàng thân pháp dẫu nhanh, cũng không kịp nữa rồi.

Việc đó cũng hoàn toàn bất ngờ đối với Du Liên Châu, nếu ông né người tránh, hai viên lôi hỏa đạn tất sẽ vút qua, đả thương không ít đệ tử Cái Bang. Ông nghĩ hai viên lôi hỏa đạn này là nhằm giết ông diệt khẩu, để không cho ông nói cho mọi người biết cái tội giết chú phản cha của Tống Thanh Thư; nếu ông né tránh, sẽ giết chết người vô tội. Ý nghĩ vừa lóe lên như tia chớp trong óc, thì hai viên đạn đã bay tới trước ngực, song chưởng của ông liền lật lên, sử dụng chiêu" Vân thủ "trong" Thái cực quyền ", hai bàn tay mềm mại đến cùng cực, nhẹ nhàng hóa giải kình lực mạnh của hai viên lôi hỏa đạn. Chỉ thấy hai bàn tay ông ngửa lên trời, ở ngang trước ngực, hai viên lôi hỏa đạn cứ quay tít giữa hai lòng bàn tay.

Quần hùng nhất tề đứng dậy, mấy ngàn ánh mắt đổ dồn vào hai bàn tay Du Liên Châu, trái tim ai cũng như ngừng đập, chỉ sợ hai viên" Tích lịch lôi hỏa đạn "kia nổ tung lúc nào không biết.

Nhu kình trong Thái cực quyền là công phu chí nhu trong võ học, đúng như câu nói" Một sợi tóc cũng không thêm vào được, một con ruồi cũng không đậu lên được ", tưởng như dính chặt mà bám hờ, tùy ý co duỗi, lấy cái" hình lão luyện ngự chúng "mà đạt tới mức" anh hùng sở hướng vô địch ".

Du Liên Châu những năm vừa qua cần tu khổ luyện, đã thâm đắc chân truyền của Trương Tam Phong, ban nãy đã thấy Tư Đồ Thiên Chung và Hạ Trụ lần lượt bỏ mạng vì thứ đạn này, biết rằng loại đạn này đụng vào đâu là nổ, vô cùng lợi hại, không cách nào khác đành mạo hiểm giở tuyệt học bình sinh ra đỡ, quả nhiên nhu có thể khắc cương, hai viên đạn bị nhu kình ở gan bàn tay chàng chế ngự, y như bị hút vào một vật rỗng và dẻo, chỉ quay tít mà không phát nổ.

Lại nghe chíu chíu hai tiếng, phái Nga Mi lại bắn hai viên" Tích lịch lôi hỏa đạn "về phía ông.

Ân Lê Đình đứng bên cạnh sư huynh, lập tức giơ hai bàn tay đón lấy hai viên đạn; chờ lúc hai bàn tay sắp bắt được ám khí, liền sử dụng thức" Lãm tước vĩ "[132] nhẹ nhàng giữ lấy hai viên đạn, bên dưới thì sử dụng thức" Kim kê độc lập ", chân trái dưới đất, chân phải co lên, toàn thân xoay tròn như một con quay.

Ân Lê Đình tinh thông kiếm thuật, còn công phu Thái cực quyền thì không thâm hậu bằng sư huynh; thấy Du Liên Châu đón hai viên đạn rất tốn sức, chưởng lực sử dụng chỉ cần hơi chặt một chút là hai viên đạn kia sẽ nổ tung liền. Đằng này ông xoay tròn toàn thân, hai bàn tay chỉ giữ hờ hai viên đạn, xoay vài vòng thì đã hóa giải được được kình lực bắn tới của viên đạn. Du Liên Châu dùng gan bàn tay hóa giải kình lực, còn Ân Lê Đình thì hóa giải kình lực bằng không trung; tuy về phương diện võ công thì kém một bậc, nhưng bên ngoài nhìn thân pháp xoay tròn của ông thì thấy đẹp hơn nhiều. Ông xoay đến hơn ba chục vòng, thì xung quanh tiếng hoan hô nổi lên như sấm, kình lực của hai viên lôi hỏa đạn cũng đã hết.

Ngờ đâu lại nghe chíu chíu, thêm tám viên lôi hỏa đạn bắn tới, Du Liên Châu và Ân Lê Đình cùng quát to, ném hai viên lôi hỏa đạn trong tay đi. Đệ tử phái Võ Đang đã luyện môn tuyệt kỹ" tiếp khí đả khí ", đón bắt ám khí của địch mà ném trả lại, có thể dùng một chống hai, dùng hai chống ba ám khí. Hai ông ném bốn viên đạn, trúng tám viên đạn đang bắn tới; tiếng đạn đụng nhau nổ đoành đoành rát cả tai, khói đen mù mịt, mùi diêm sinh thuốc súng xộc lên mũi.

Hai ông ném xong lôi hỏa đạn, lập tức nhảy lùi hơn mười trượng, đề phòng phái Nga Mi liên tiếp bắn nữa thì khó bề chống đỡ.

Quần hùng thấy lôi hỏa đạn lợi hại nhường ấy, đều kinh hãi thất sắc, nghĩ thầm trên đời trừ hai đại cao thủ phái Võ Đang, e rằng ít ai có thể đón bắt, dẫu người có khinh công tuyệt đỉnh, có thể né tránh, song nếu đối phương dùng thủ pháp" Mãn thiên hoa vũ "[133], bắn liên tiếp mấy viên cho đụng nhau nổ tung, thì thân pháp nhanh mấy cũng chẳng tránh nổi.

Từ dãy lán của phái Hoa Sơn, một người cao lớn đứng dậy, dõng dạc nói:

– Phái Nga Mi tỷ võ tranh tài với người khác, lại giở cái trò ỷ nhiều thắng ít hay sao?

Người này chính là một trong hai ông già phái Hoa Sơn năm ngoái trên đỉnh Quang Minh đã liên thủ cùng vợ chồng Hà Thái Xung mà đấu với Trương Vô Kỵ.

Tĩnh Già phái Nga Mi nói:

– Đạo võ công thiên biến vạn hóa, ai mạnh thì thắng, ai yếu thì bại. Chúng ta đâu phải là bọn hủ nho mà việc quái gì cũng phải giở lề luật lý lẽ ra mới được. Vả lại trên đời làm cóc gì có lắm lề luật như vậy?

Quần hùng thấy phái Nga Mi phần đông là nữ, song lại bất chấp lý lẽ, xem ra còn ngang ngược hơn cả nam giới. Ông già cao lớn phái Hoa Sơn đang tranh cãi với họ cũng không dám tới gần, cứ đứng ở lán của mình, từ xa nói chõ ra, chắc là sợ họ lại bắn cái thứ lôi hỏa đạn ghê gớm kia.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm:" Chỉ Nhược lấy Tống sư ca, không phải thực tâm nàng muốn thế, nhớ ngày nào nàng và mình lưu lạc ngoài biển khơi, sống trên hoang đảo, thân ái biết chừng nào? Ta và nàng đã thề non hẹn biển, không khi nào phụ nhau, lời còn văng vẳng bên tai, lẽ nào một sớm một chiều đã quên? Tất cả chỉ tại ta sai trái với nàng. Ai đời giữa ngày đại hỷ bái đường thành hôn, trước mặt đông đủ tân khách, ta lại nắm tay Triệu Mẫn bỏ đi. Chỉ Nhược là chưởng môn một phái, một thân ngàn vàng, ta lại làm nhục nàng như thế, bảo sao nàng chẳng căm hận? Hôm nay phái Nga Mi hành xử ngang ngược, cũng là tại ta mà ra ".

Chàng càng nghĩ càng thấy bất an, bèn từ trong lán đi tới trước phương, nói với Chu Chỉ Nhược:

– Chỉ Nhược, tất cả là do huynh sai trái đối với muội. Còn việc Tống sư ca giết hại Mạc thất thúc, rốt cuộc cũng phải liệu lý cho xong. Ta thấy Tống sư ca nên theo Du nhị bá, Ân lục thúc quay về núi Võ Đang chịu tội với Tống sư bá là hơn.

Chu Chỉ Nhược cười khẩy, nói:

– Trương giáo chủ, trước kia ta cứ tưởng giáo chủ là hảo hán, có điều hành sự hồ đồ mà thôi; không ngờ giáo chủ lại là một kẻ tiểu nhân đê tiện. Đại trượng phu đã làm thì hãy gánh lấy, giáo chủ đã giết Mạc thất thúc, sao lại đổ tội cho ngoại tử[134] .

Trương Vô Kỵ choáng váng, nói:

– Cô.. cô bảo ta giết Mạc thất thúc ư? Ta.. làm sao ta làm việc đó?

Chu Chỉ Nhược nói:

– Việc giết Mạc thất thúc hoàn toàn là do quận chúa phủ Nhữ Dương Vương của triều đình sắp đặt, sao giáo chủ không gọi cô ta ra đối chất với anh hùng thiên hạ?

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm:" Triệu Mẫn đắc tội với sáu đại môn phái, trên bãi đất này, số kẻ thù của nàng so với của nghĩa phụ, e rằng còn nhiều hơn, làm sao có thể để nàng xuất hiện? Chỉ Nhược nắm được cái thóp đó, dùng để vu hãm ta và Triệu Mẫn. Ôi, trăm ngàn chuyện này chuyện nọ đều chỉ vì ta đã sai trái bỏ nàng mà đi hôm lễ thành hôn ". Đành bậm môi nghiến răng quay mình đi về lán. Bỗng nghe từ chỗ phái Nga Mi có kẻ nói to:

– Không ngờ giáo chủ Minh giáo lại hèn hạ nhút nhát đến thế, vừa thấy" Tích lịch lôi hỏa đạn "của bọn ta lợi hại, vội cúp đuôi chuồn luôn.

Trương Vô Kỵ dừng bước, nhưng không quay đầu lại, nghĩ thầm:" Ta cũng chả cần xem kẻ nào nói câu đó, phái Nga Mi dù làm nhục ta cách nào, ta cũng đáng bị thế lắm ". Chỉ nghe tiếng cười nhạo mỗi lúc to thêm, chàng làm như không nghe thấy, lầm lũi đi về lán Minh giáo.

*

* *

Dương Tiêu cười khẩy, nói:

–" Tích lịch lôi hỏa đạn "chỉ là trò lặt vặt, không đáng kể. Đã chẳng làm gì nổi Võ Đang nhị hiệp, thì dĩ nhiên cũng chẳng là cái thá gì đối với người đích truyền của phái Võ Đang là Trương giáo chủ. Phái Nga Mi các người mới có thứ khí giới cỏn con ấy đã ra vẻ ta đây, để ta cho các người biết thế nào là khí giới của Minh giáo ta.

Nói đoạn phất tay trái một cái, một bạch y tiểu đồng bưng lên một cái giá gỗ nhỏ, trên giá cắm hơn chục lá cờ nhỏ đủ màu. Dương Tiêu rút một lá cờ trắng, vung tay một cái, lá cờ ấy bay ra giữa sân, cắm xuống đất.

Quần hùng thấy lá cờ đó cả cán cũng dài chưa đầy hai thước, trên thêu ký hiệu ngọn lửa của Minh giáo, chưa biết Dương Tiêu định làm gì. Ngay lúc ấy, một người đứng sau Dương Tiêu ném lên trời một mũi hỏa tiễn, khi lên cao nó nở bung ra một đám khói trắng.

Chỉ nghe tiếng chân rầm rập, một đội giáo chúng Minh giáo đầu chít khăn trắng, chạy vào sân, tất cả năm trăm người, mỗi người đều cầm cung tên lắp sẵn, vút vút vút, năm trăm mũi tên bắn tới cắm thành một vòng tròn bao quanh cây cờ trắng, chính là đội Nhuệ Kim kỳ do Ngô Kình Thảo chỉ huy.

Quần hùng chưa kịp hoan hô, giáo chúng Nhuệ Kim kỳ đã rút các mũi thương nhọn đeo sau lưng, tiến lên mươi bước, vung tay ném vào, năm trăm mũi thương cắm thành một vòng tròn bên trong các mũi tên. Rồi họ lại tiến thêm mươi bước nữa, rút rìu ngắn đeo bên hông, chỉ thấy loang loáng, năm trăm chiếc rìu phóng ra, cắm thành một vòng tròn nữa. Rìu ngắn, thương nhọn, mũi tên dài cắm thành ba vòng tròn đều tăm tắp. Người có võ công cao siêu bằng trời, mà bị một ngàn năm trăm món binh khí này giáp công, thì chỉ trong nháy mắt cũng thịt nát xương tan.

Nguyên năm trước Nhuệ Kim kỳ ác chiến với phái Nga Mi ở Tây Vực, bị tổn thất nặng, ngay cả chưởng kỳ sứ Trang Tranh cũng tử thương dưới kiếm Ỷ Thiên của Diệt Tuyệt sư thái. Sau đó, từ bài học xương máu ấy, họ nghĩ ra một thế trận vô cùng kiên cố. Mấy năm qua thanh thế của Minh giáo ngày càng mạnh, Ngũ Hành kỳ ngày một đông, riêng Nhuệ Kim kỳ đã có trên hai vạn người. Năm trăm người vừa bắn tên, phóng lao, ném rìu là những người tinh nhuệ được chọn lựa từ hơn hai vạn đó, vốn đã có căn cơ võ công, lại được minh sư huấn luyện kỹ càng hơn một năm, đã trở thành một lữ đoàn tham gia chiến trận chung hoặc đơn độc đều được cả.

Quần hùng nhìn nhau thất sắc, nghĩ thầm:" Lá cờ trắng của Dương tả sứ ném tới đâu, thì một ngàn năm trăm món binh khí cũng theo tới đó. "Tích lịch lôi hỏa đạn" của phái Nga Mi tuy lợi hại thật, nhưng khả năng sát thương có hạn, bắn ra mười viên, dù trúng cả mười, cũng chỉ đả thương được mười người, làm sao sánh được với Nhuệ Kim kỳ của Minh giáo? "Lại nghĩ:" Nếu Minh giáo đột nhiên trở mặt, gom tất cả bọn ta lại diệt sạch, thì làm sao đây? Hôm nay các hảo hán phó hội tuy ai nấy võ công cao cường, song chỉ là một đám người ô hợp, không thể đối phó nổi với các đội quân tinh nhuệ của Minh giáo đã được huấn luyện từ lâu, tuân lệnh chỉ huy răm rắp ". Quần hùng trong bụng nơm nớp lo sợ, thành thử không vỗ tay hoan hô công phu tinh diệu của Nhuệ Kim kỳ.

Dương Tiêu giơ lá cờ trắng lên vẫy vẫy mấy cái về phía sau. Năm trăm giáo chúng Nhuệ Kim kỳ liền nhổ các mũi tên, ngọn thương, cây rìu, chạy tới trước lán của Minh giáo, cúi chào Trương Vô Kỵ, rồi rút ra khỏi sân bãi.

Dương Tiêu ném một lá cờ xanh ra, cắm ngay cạnh lá cờ trắng. Chỉ nghe cạnh sân bãi rầm rập tiếng bước chân nặng nề. Năm trăm giáo chúng Cự Mộc kỳ đầu chít khăn xanh, cứ mười người khiêng một khúc gỗ lớn chạy nhanh vào sân. Mỗi khúc gỗ đều nặng trên ngàn cân, trên có gắn móc sắt, để cho từng người cầm vào, bước chân thật đều tăm tắp. Đột nhiên tất cả quát lên một tiếng, năm mươi khúc gỗ cùng được tung ra khỏi tay, có khúc cao, có khúc thấp, có khúc bên phải, có khúc bên trái, nhưng khúc nào tung ra cũng đụng vào khúc khác, không một khúc gỗ nào rơi vào khoảng không cả.

Chỉ nghe những tiếng hình hịch liên tiếp, năm mươi khúc gỗ chia thành hai mươi nhăm cặp đập vào nhau. Mỗi khúc gỗ nặng ngàn cân, đụng vào nhau ắt tạo ra cái thế kinh người, nếu có ai đứng bên lá cờ xanh kia, dù có nhảy lên thụp xuống, né phải tránh trái, cũng khó lòng thoát khỏi các khúc gỗ đó. Trận pháp này của Cự Mộc kỳ là rút từ phép công thành mà ra; muốn tấn công vào trong thành, phải dùng các khúc gỗ lớn thúc vào cổng thành, cổng thành dẫu vững chắc mấy, cuối cùng cũng sẽ bị khúc gỗ phá vỡ toang. Thể xác máu thịt của con người mà bị các khúc gỗ kia đụng phải, thì chỉ có nát bấy như tương.

Năm trăm giáo chúng Cự Mộc kỳ chờ các khúc gỗ rơi xuống rồi, mới lại chạy tới cầm móc sắt vác khúc gỗ lên, chạy ra ngoài mươi trượng đứng chờ, hễ lá cờ xanh của vị chỉ huy ném tới đâu, thì lại tung khúc gỗ tới đó. Dương Tiêu vẫy lá cờ xanh ra lệnh cho Cự Mộc kỳ lui ra, rồi ném một lá cờ đỏ vào giữa sân.

Các giáo chúng chít khăn xanh vừa rút ra, năm trăm giáo chúng chít khăn đỏ của Liệt Hỏa kỳ chạy vào. Họ cầm ống thụt, phun ra một thứ dầu đen sánh phủ đầy một khoảnh đất giữa bãi. Chưởng kỳ sứ Liệt Hỏa kỳ ném một viên hỏa đạn lưu hoàng vào chỗ đó, dầu tức thì bén lửa cháy đùng đùng. Vùng xung quanh Tổng đàn của Minh giáo trên đỉnh Quang Minh có rất nhiều dầu thô từ trong kẽ đá chảy ra suốt ngày đêm, gặp lửa liền cháy. Giáo chúng Liệt Hỏa kỳ sau lưng ai cũng đeo thùng sắt chứa đầy dầu thô, một khi phun trúng ai, đã bùng cháy thì hết bề cứu thoát.

Liệt Hỏa kỳ lui ra rồi, Dương Tiêu ném một lá cờ đen. Năm trăm giáo chúng chít khăn của Hồng Thủy kỳ chạy vào sân, mang theo hai chục bộ vòi rồng, lại có ống xịt, thùng đựng nước, mười người đi đầu đẩy mười cỗ xe. Chưởng kỳ sứ Đường Dương ra lệnh một tiếng, các cỗ xe mở cửa, hai chục con chó sói đói nhảy ra, nhe nanh múa vuốt, gầm gừ như muốn xông lên cắn xé mọi người. Quần hùng rất lạ, không biết lũ chó đói kia thì liên quan gì đến hai chữ" Hồng Thủy "? Chỉ nghe Đường Dương quát:

– Phun nước!

Một trăm giáo chúng cầm vòi phun bằng sứ liền phun ra, một trăm luồng nước xối vào lũ chó đói. Quần hùng ngửi thấy mùi khét; lũ dã thú trúng các tia nước lập tức ngã lăn ra, rống lên thảm thiết, trong giây lát đều nứt da rữa thịt, biến thành một đống bầy nhầy. Thì ra thứ nước của Hồng Thủy kỳ là một loại thuốc nước chế bằng lưu huỳnh, tiêu thạch, rất độc, làm rã thịt cực nhanh.

Quần hùng nhìn cảnh kinh tâm động phách ấy đều sởn gai ốc, nghĩ thầm:" Thứ nước độc kia nếu không phun vào lũ chó sói, mà là phun vào người mình, thì mình sẽ ra sao? "

Các giáo chúng Hồng Thủy kỳ giơ hai chục cái vòi rồng lên, làm động tác như sẽ phun nước vào bầy sói, cốt cho mọi người thấy rằng các vòi rồng này cũng chứa đầy nước độc, bắn ra bằng vòi rồng thì sẽ mạnh hơn và xa hơn.

Dương Tiêu giơ lá cờ đen làm hiệu thu binh. Giáo chúng Hồng Thủy kỳ thu dọn, kéo các bộ vòi rồng ra khỏi sân, mỗi khi đầu vòi rồng chĩa về phía nào, hào kiệt ngồi phía ấy không khỏi xanh mắt.

Dương Tiêu ném cây cờ vàng. Một đoàn giáo chúng chít khăn vàng chạy vào sân, mỗi người tay cầm xẻng, đẩy theo các cỗ xe chở vôi bột trộn cát. Quân số của Hậu Thổ kỳ ít hơn hẳn bốn kỳ kia, chỉ có một trăm người. Họ quây thành một vòng tròn, giơ xẻng lên cùng đập mạnh xuống đất một cái, đột nhiên nghe" Sầm "một tiếng lớn, cát bụi bay mù mịt, giữa bãi sụp xuống, để lộ ra một cái hố đường kính ba, bốn trượng. Tiếp đó từ dưới hố hàng loạt người đội nón sắt, tay cầm xẻng nhảy lên.

Bốn trăm đại hán từ dưới đất chui lên, khiến quần hùng cả kinh, cùng kêu" Ối chao! "

Thì ra bốn trăm người đó đã từ xa đào một đường ngầm, vào đến giữa bãi thì đào rộng ra thành một cái hố lớn, lấy gỗ chống bên trên, ẩn mình dưới đó. Khi chưởng kỳ sứ Nhan Viên hạ lệnh, bốn trăm người liền rút các cây chống cho đất sụp xuống thành một cái hố, các giáo chúng ẩn bên dưới lập tức chui lên. Như thế là xác chó sói, dầu thô, đất cháy sém đều tụt cả xuống hố. Một trăm người giơ xẻng đánh nhứ xuống hố ba lần, ngụ ý nếu kẻ nào rơi xuống hố, toan nhảy lên tìm cách thoát thân, sẽ bị cả trăm cái xẻng đập xuống. Tiếp đó các xe chở vôi, cát liền đổ xuống lấp đầy, trong giây lát đã san bằng mặt đất. Năm trăm cái xẻng lên lên xuống xuống đều tăm tắp, trông thật đẹp mắt. Chưởng kỳ sứ hạ lệnh một tiếng, năm trăm giáo chúng nhất tề hướng tới Trương Vô Kỵ hành lễ. Chỗ giữa sân bãi đổ vôi cát và xỉ, bây giờ phẳng lỳ, rắn chắc hơn hẳn lúc trước. Quần hùng trong lòng đều rõ:" Nếu mình đứng ở giữa bãi mà mở miệng bôi nhọ Minh giáo, e rằng lúc này đã bị chôn sống ở đó rồi ".

Ngũ Hành kỳ của Minh giáo thao diễn nhỏ, đại hiển thần uy, quần hùng xung quanh xem mà kinh hãi thất sắc; biết rằng mấy năm nay Minh giáo ở các vùng Hoài, Tứ, Dự, Ngạc nổi dậy đánh thành chiếm đất, liên tiếp đánh bại quân Nguyên; vừa rồi họ đem cái học binh pháp chiến trận vận dụng ở chỗ quần hùng tề tựu, nhân số đã đông, đội ngũ chặt chẽ, tập luyện bài bản, các môn phái giang hồ không thể bì kịp.

Dương Tiêu thu binh, giao lại cái giá gỗ cắm cờ cho đồng tử đứng sau, lạnh lùng nhìn Chu Chỉ Nhược một cái, không nói nửa lời, song ngụ ý thì mười phần rõ ràng:" Hơn một trăm nam nữ đệ tử phái Nga Mi các người liệu có địch nổi mấy ngàn giáo chúng của ta chăng? "

*

* *

Quần hùng trên sân bãi dường như ai cũng theo đuổi ý nghĩ của mình, nhất thời im lặng như tờ.

Hồi lâu sau, một lão tăng ở sau lưng Không Trí đứng dậy nói:

– Vừa rồi Minh giáo thao diễn trận pháp hành quân giao chiến, trông kể cũng đẹp mắt, nhưng chả biết có dùng được vào việc gì, có thắng nổi địch hay không, chúng ta chẳng phải tướng quân nguyên soái, cũng chưa từng học binh pháp Tôn Ngô, chỉ e cũng khó mà nói..

Mọi người đều hiểu mấy câu này của lão tăng kia chỉ cốt làm giảm uy phong của Minh giáo, phủ định sự lợi hại của Ngũ Hành kỳ mà thôi.

Chu Điên nói:

– Muốn biết có dùng được vào việc gì hay không thì quá dễ, Thiếu Lâm tự cử ra vài đại hòa thượng thử một chút là thấy ngay.

Lão tăng kia cứ lờ đi, nói tiếp ý mình:

– Hôm nay là đại hội anh hùng thiên hạ, các môn phái đều mong có dịp thi thố tài năng võ học, vậy hãy cứ theo lời mấy vị thí chủ đã nói ban nãy, mọi người cứ tỷ thí võ công, ai tài nghệ cao thì thắng. Chúng ta làm theo cách một chọi một, chứ còn ỷ đông thắng ít, thì võ lâm không có quy củ như thế.

Âu Dương Mục Chi nói:

– Ỷ đông thắng ít, võ lâm không có quy củ như thế thật, thế còn" Tích lịch lôi hỏa đạn ", nước độc, lửa độc.. có được dùng không?

Lão tăng kia ngẫm nghĩ, một chút, nói:

– Người hạ trường tỷ thí, nếu muốn sử dụng ám khí, thì cũng được. Một vài vị bằng hữu lại thích tẩm độc dược, độc thủy lên ám khí, thì cũng khó mà cấm đoán. Thế nhưng nếu người đứng ngoài đánh lén, tức là phá vỡ quy củ của đại hội, thì mọi người sẽ cùng tấn công kẻ đó. Ý các vị nghĩ sao?

Quá nửa quần hùng vỗ tay khen phải, nên làm theo cách đó.

Đường Văn Lượng của phái Không Động lên tiếng:

– Tại hạ xin thêm một lời, bất kể ai đã thắng liền hai trận, đều được lui về nghỉ ngơi để phục hồi nguyên khí nội lực. Nếu không sẽ thành lối xa luân chiến, thì dẫu có tài bằng trời, cũng chẳng ai có thể thắng một hơi từ đầu chí cuối. Thêm nữa, khi hai đại diện của môn phái, bang hội đã thua rồi, thì không được cử thêm ai ra nữa; nếu không, mấy ngàn anh hùng ở đây, người nào cũng ra tỷ thí, có mà đấu ba tháng cũng chưa xong. Chùa Thiếu Lâm lương thảo nhiều mấy, nhưng phải mời quần hùng ăn uống hết sạch, nguyên khí có mà trăm năm sau cũng chưa thể phục hồi.

Mọi người cười ầm, cảm thấy hai quy định ấy đều có lý.

Quần hào Minh giáo biết rằng Đường Văn Lượng cảm kích được Trương Vô Kỵ tiếp cốt trên đỉnh Quang Minh và cứu mạng ở chùa Vạn An, trong bụng mong chàng đắc thắng, độc quán quần hùng, nên mới nêu lên hai điều quy định kia, để cho chàng đỡ tốn hơi sức. Bành Oánh Ngọc cười, nói nhỏ:

– Đường lão tam quả là nhận biết đại thể. Xem ra phái Không Động hôm nay quyết ý giúp chúng ta rồi đó. Bên chúng ta, ngoài giáo chủ ra, sẽ có vị nào xuất trận đây?

Các cao thủ Minh giáo ai cũng nhấp nhổm muốn ra tỷ thí, nhưng cũng hiểu rằng sự việc hôm nay cực kỳ trọng đại, ắt phải dốc toàn lực đánh bại quá nửa anh hùng, để cho giáo chủ càng ít cường địch càng tốt, có thế giáo chủ mới giữ được nội lực đi tới thành công. Còn như chỉ đánh thắng vài người, rồi bị người ta đánh bại, để lại gánh nặng cho giáo chủ đảm đương; uy danh bản thân bị mất chỉ là chuyện nhỏ, làm liên lụy đến bản giáo, Tạ Tốn và giáo chủ mới là chuyện lớn. Hơn nữa, nếu tự mình nhảy ra xin ứng chiến, có khác gì vỗ ngực bảo rằng ngoài giáo chủ ra, mình có võ công cao hơn cả, mất cả nghĩa khí đồng giáo, thành thử không ai dám lên tiếng.

Chu Điên nói:

– Giáo chủ, Chu Điên này không sợ chết, có điều võ công chưa tới mức thượng thừa, có ra đấu chỉ tổ xấu mặt mà thôi.

Trương Vô Kỵ nhìn qua từng người, nghĩ thầm:" Dương tả sứ, Phạm hữu sứ, Vi Bức Vương, Thuyết Bất Đắc, Thiết Quan đạo trưởng, ai cũng có tuyệt nghệ, đều có thể xuất trận được cả. Trong số đó, Phạm Dao hiểu biết võ học uyên bác nhất, bất kể đối thủ có gia số thế nào, Phạm hữu sứ đều có cách thủ thắng, vậy mình mời Phạm Dao ra là hơn ". Bèn nói:

– Các vị huynh đệ ai ra cũng được cả, nhưng Dương tả sứ đã cùng bản nhân công phá" Kim cương phục ma khuyên ", Vi Bức Vương và Bố Đại đại sư bắt sống Hạ Trụ, đều đã tốn sức. Lần này bổn tòa xin mời Phạm hữu sứ ra tay.

Phạm Dao cả mừng, cúi mình nói:

– Tuân lệnh! Đa tạ giáo chủ đã coi trọng!

Quần hào Minh giáo đều biết Phạm Dao võ công cao cường, không ai dị nghị. Triệu Mẫn bỗng nói:

– Phạm đại sư, ta nhờ đại sư một việc, không biết có được chăng?

Phạm Dao nói:

– Quận chúa sai bảo gì, tiểu nhân ắt sẽ tuân theo.

Triệu Mẫn nói:

– Chuyện khúc mắc giữa Không Trí thần tăng phái Thiếu Lâm với đại sư chưa giải quyết xong; nếu đại sư đấu với ông ta trước, thắng bại ra sao khó đoán, song dù đại sư có thắng, thì cũng kiệt sức mất rồi.

Phạm Dao gật gật đầu, biết rằng Không Trí thần tăng thành danh đã mấy chục năm, nhìn bề ngoài nhăn nhó khổ sở, tướng như chết yểu, kỳ thực nội công ngoại công đều luyện tới mức thượng thừa. Triệu Mẫn nói tiếp:

– Chi bằng đại sư hẹn trước với ông ta, sau này sẽ tới chùa Vạn An ở Đại Đô, hai người một chọi một để phân thắng bại.

Dương Tiêu và Phạm Dao cùng thốt lên:

– Diệu kế, diệu kế!

Họ cùng biết rằng nếu Không Trí đã đính ước với Phạm Dao, thì hôm nay không thể động thủ; kế đó của Triệu Mẫn thực là loại bỏ cho Minh giáo một cường địch.

Lúc này tại các dãy lán, quần hùng các môn phái, bang hội đang chụm đầu bàn tính, cử người của phái mình ra ứng chiến. Có mấy chỗ to tiếng tranh cãi, chắc là phản đối người được chọn.

Phạm Dao tới trước lán chủ nhân của phái Thiếu Lâm, ôm quyền nói với Không Trí:

– Không Trí đại sư, đại sư có gan, có dám tới chùa Vạn An ở Đại Đô một lần nữa hay không?

Không Trí nghe ba tiếng" chùa Vạn An ", là nơi ông bị đại nhục trong đời, thì các nếp nhăn trên mặt hằn sâu xuống, đôi mắt nhỏ nheo nheo lấp lánh thần quang, hỏi:

– Để làm gì?

Phạm Dao đáp:

– Hai ta gây nên thù oán ở chùa Vạn An, thì cần kết thúc ở chùa Vạn An. Đại sư đức cao vọng trọng, còn tại hạ chẳng qua chỉ có chút hư danh; giả dụ hôm nay hai ta đấu với nhau, nếu đại sư thắng tại hạ, trên giang hồ sẽ bảo khách phương xa đến phải nể chủ nhà; đại sư thắng được chẳng qua vì mình có ưu thế sân bãi; còn nếu tại hạ may mắn thắng đại sư một chiêu nửa thức, bọn vô tri lại thêm mắm thêm muối, nói là Khổ đầu đà đến Thiếu Lâm tự đánh bại được đệ nhất cao thủ. Nếu đại sư không ngại nhìn lại cảnh cũ, thì rằm Trung thu năm nay, tại hạ sẽ đến chùa Vạn An thỉnh giáo vài chiêu tuyệt nghệ của đại sư.

Không Trí đối với võ công của Phạm Dao cũng rất e ngại, hơn nữa trong chùa đang có đại biến, thực chẳng bụng dạ nào động thủ với Phạm Dao, nay bị khích như thế, liền gật đầu, nói:

– Được, Trung thu tháng Tám năm nay, hai ta gặp nhau tại chùa Vạn An, chưa gặp thì không về.

Phạm Dao ôm quyền thi lễ, lập tức lùi về; y đi được bảy, tám bước, còn nghe Không Trí thong thả nói:

– Phạm thí chủ, hôm nay thí chủ nhất quyết cứu Kim Mao Sư Vương, nên không dám động thủ với lão nạp chứ gì?

Phạm Dao giật mình, dừng bước, nghĩ thầm:" Lão hòa thượng này nhìn thấu tim đen ta", bèn quay đầu lại, cười ha hả, nói:

– Vì tại hạ hoàn toàn không nắm chắc phần thắng đại sư.

Không Trí mỉm cười, nói:

– Lão nạp cũng không chắc thắng nổi thí chủ.

Hai người nhìn nhau gật đầu, bỗng nhiên trong lòng nảy sinh mối thiện cảm anh hùng trọng anh hùng, hảo hán nể hảo hán.

Comments

Comments

Trước Tiếp
 
Chia sẻ bài viết
Từ khóa: Sửa

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back