Bạn được cunyeukute32 mời tham gia diễn đàn viết bài kiếm tiền VNO, bấm vào đây để đăng ký.

funman

Funman
949 ❤︎ Bài viết: 393 Tìm chủ đề
148420 15
Tác phẩm: Thời đại của các đế chế

Tác giả: Funman


Thể loại: Tiểu thuyết, giả tưởng, hài hước, lãng mạn, viễn tưởng, ngôn tình, xuyên không, cổ đại

JNe3uSX.jpg



Một tiến sỹ khoa học vô tình lạc vào thế giới cổ đại và từ đây những câu chuyện hài hước đã đi theo bước chân của anh. Anh đã phải làm gì, đã đem đến những gì tới thế giới này và phải bảo vệ nó như thế nào. May mắn anh đã có những người bạn tốt đã luôn cùng anh trong hành trình chống lại các thế lực cho đến ngày anh phát hiện ra một bí mật kinh người. Một tiểu thuyết viễn tưởng được viết bằng lối hài hước pha chút tình cảm lãng mạn. Funman.
 
Chỉnh sửa cuối:
949 ❤︎ Bài viết: 393 Tìm chủ đề
Chương 1. Thế thân hành sự

Bầu trời như một dải lụa xám dài vô tận, lấp lánh dăm vì sao. Xa xa, vô số cánh chim đang tìm đường về tổ.

Ở tận cuối chân trời, một chiếc đĩa khổng lồ đỏ lừ, lơ lửng trên những đỉnh núi xanh, từng vệt mây màu mỡ gà nổi trôi như báo hiệu hoàng hôn buông xuống.

Có tiếng suối chảy róc rách hòa quyện cùng tiếng chim kêu chíc chíc gọi bầy giữa những tán lá rừng rậm rạp. Trong thế giới ngút ngàn màu xanh, thỉnh thoảng điểm xuyết vài mảng lá cây vàng úa như chứng tỏ mùa thu đang hiện hữu, tất cả tạo nên một khung cảnh bao la, kỳ vĩ khiến cho lòng người cảm khái.

Bên con đường nhỏ ven sườn núi có hai người chậm chạp đi tới, người đi đầu là một người đàn ông trung niên cởi trần, quanh eo quấn một mảnh da thú trông như một chiếc váy ngắn. Nước da ông ta hơi đen, toát lên vẻ chững chạc và khuôn mặt khắc khổ, râu tóc thì rậm rạp tán loạn. Sau lưng ông ta đeo một chiếc gùi mây màu đen lớn, bên hông còn một con dao rựa đen sì.

Theo sau ông ta là một thiếu niên khuôn mặt còn non nớt, da hơi tái, vóc người gầy với mái tóc dài buộc túm sau lưng, trên vai cậu ta đeo một chiếc gùi nhỏ, mình trần quấn ngang hông một tấm da thú nham nhở. Nhìn dáng vẻ cả hai người, đều biết họ là những thổ dân nghèo khổ.

Người thiếu niên bỗng cất giọng nói trong hơi thở hổn hển:

"Bảo thúc, chúng ta hãy tạm nghỉ đã, cháu mệt không chịu nổi."

Dứt lời, nó loạng choạng ngồi thụp xuống một tảng đá ven đường rồi đưa tay tháo chiếc gùi nhỏ xuống, sau khi đưa tay quệt những dòng mồ hôi chảy đầy trên trán, nó thở một hơi đánh phì..

"Ừ, nghỉ một lát vậy. Cũng gần đến nhà rồi, không vội." Người đàn ông tên là Bảo thúc nói.

Ông ta thong thả đặt cái gùi nặng trịch xuống rồi gỡ con dao để sang một bên, xong xuôi mới đến tảng đá ngồi xuống, gió thổi mái tóc bù xù của ông ta tung bay làm toát lên một vẻ hoang dại.

"Tiểu Hoàng à. Lần này xuống núi, nhờ số thảo dược và chục bộ xương khỉ, chúng ta đổi được hai gùi thóc và một con dao. Như vậy, cùng với số thóc chúng ta đã đổi lần trước là mùa đông này, chúng ta đủ ăn rồi." Người đàn ông nói.

"Vâng, đợt tới chúng ta kiếm thêm ít thảo dược rồi xuống núi, đem đổi ít vải may quần áo cho mùa đông. Nếu kiếm được thêm một hai củ nhân sâm, cháu sẽ đổi lấy tiền để mua đồ dùng." Người thiếu niên nói, ánh mắt của nó sáng lên vẻ tin tưởng.

Họ ngồi bên vệ đường ngắm nhìn mặt trời lặn dần xuống trong quang cảnh núi rừng hùng vĩ. Một lát sau họ thì thầm với nhau vài câu rồi cùng đứng dậy, vai đeo gùi lặng lẽ cất bước về phía xa.

Ẩn hiện cuối con đường, bóng dăm cái mái nhà tranh mờ ảo trong làn khói chiều.

* * *

Kể từ ngày đến thế giới này, đến nay đã được chừng sáu tháng. Lần đầu tiên hắn tỉnh dậy, thấy đầu đau như búa bổ với muôn vàn tiếng vo ve như muỗi bay vào óc, chắc tại hôm qua mình uống nhiều rượu quá, hắn thầm nghĩ.

Cố mở mắt rồi uể oải ngồi dậy, hắn giật thót khi thấy mình đang nằm giữa một đống cỏ khô trong một cái hang đá vắng lặng. Quay đầu bốn phía, hắn nhìn thấy nền hang đầy những mảnh đá và dăm cái vỏ gốm vỡ. Một bên vách hang treo lủng lẳng vài bộ xương khô có cả xương sọ trông như hài cốt trẻ em, chen lẫn với chúng là dăm ba chiếc rổ tre đen sì, bốc lên một mùi khăm khẳm tởm lợm.

Hắn hoảng hết cả hồn và nghĩ rằng: "Hay là mình bị bọn khủng bố quốc tế bắt cóc, đem nhốt ở đây?" Gì chứ với sáng chế của hắn, thừa sức để cho bọn khủng bố quốc tế đòi chính phủ hàng chục triệu đô la tiền chuộc.

Khi hắn chống tay bò ra khỏi đống cỏ, hắn càng kinh hãi hơn khi thấy tay chân của hắn bé tí và gầy đét như tay chân trẻ con. Dăm ba vết trầy xước bầm tím trên thân thể, làm cho hắn hoảng hốt nghĩ: "Hình như bọn khủng bố đã tra tấn và bắt hắn nhịn đói rất lâu".

Lảo đảo bước ra cửa hang, ánh mặt trời chói rọi vào mắt khiến hắn không nhìn thấy gì, rồi hắn lại ngã xuống bất tỉnh.

Trong cơn mơ khủng khiếp, hắn thấy mình trần truồng đi trong mưa lạnh. Bỗng nhiên, một bọn khủng bố râu tóc bù xù, rách rưới bẩn thỉu như những bọn man rợ ăn thịt người trong phim viễn tưởng cổ đại chạy đến xúm xít vật hắn ngã xuống.

Một tên khủng bố có bộ mặt đen sì hung ác, hai mắt lồi như cái đít chai, răng nhe ra lởm chởm cái đen cái vàng, cái sứt cái mẻ. Tay gã cầm một con giun đất to tướng đang quằn quại rồi nhét vào mồm hắn, mặc kệ cho hắn giãy giụa.

Sau đó cả bọn cười lên ha hả rồi trói hắn lại như bó giò. Cuối cùng, bọn chúng lôi hắn treo lên đống lửa rồi mổ bụng moi tim, làm hắn gào lên một tiếng kinh hãi.. vãi cả tiểu.

Cuối cùng, hắn cũng phải tỉnh dậy. Hình ảnh đầu tiên đập vào mắt làm hắn nghĩ: "Không biết tại sao lại ở đây?" Dường như có sự cố nào đó khiến hắn bị lạc vào một đám thổ dân mọi rợ ở Châu Phi xa xôi hay tận rừng Amazon Nam Mỹ? Cũng không thấy bọn khủng bố như trong mơ.

Nhưng sự thật hé lộ khiến hắn sửng sốt và kinh hãi hơn khi dần dần biết rằng, hắn đã trở thành một thế thân (avata) trong một thế giới cổ đại thực sự.

Thế thân của hắn là một thiếu niên khoảng 13, 14 tuổi và thế giới của hắn không phải là thế giới cổ đại như lịch sử trái đất, mà là thế giới của một hành tinh khác. Hắn phát hiện ra điều đó khi vô tình nhìn thấy những hai mặt trăng, một cái to và một cái bé như quả trứng chim lơ lửng trên bầu trời.

Hắn cũng phát hiện ra rằng, mọi sinh vật và thực vật trên thế giới này chẳng khác gì trái đất mà hắn sống trước kia, nhưng thế giới này có vẻ hoang sơ, hùng vĩ hơn. Điều đó làm cho hắn thực sự ngạc nhiên và khâm phục trước sự kỳ diệu của tạo hóa.

Trước kia khi xem phim viễn tưởng, hắn từng ngộ nhận rằng: Bọn người ngoài hành tinh phải có hình dáng như quái vật, đầu có sừng hoặc vảy, chân tay loằng ngoằng như bạch tuộc và da xanh mét như tàu lá.

Còn cây cối thì phải thâm thâm, mập mập và thẳng đứng như cái cột thịt khổng lồ. Tán cây phải khum khum, đỏ tía và tròn tròn như cái mũ nấm. Nhưng hắn biết rằng đã lầm.

Hắn không hiểu thế thân (avata) của hắn vì một lẽ gì mà bị rơi xuống suối và trôi đến đây, sau đó được một gia đình người bản địa cứu. Khi tỉnh táo, hắn đã thử nói mọi ngôn ngữ mà hắn biết, phải dùng mọi cử chỉ như khua tay, múa chân, lắc đầu như thằng điên để ra hiệu. Nhưng cuối cùng đều vô dụng, tất cả bọn họ không hiểu.

Trong thời gian được gia đình này cứu, hắn tạm ở lại và cố gắng tìm hiểu mới biết. Người đàn ông này là một thày lang và suốt ngày lượn lờ trong núi tìm thảo dược, ở nhà chỉ có vợ và đứa con gái nhỏ khoảng 8 - 9 tuổi của ông ta. Hàng ngày họ lên núi làm rẫy trồng khoai và hái lượm ít rau dại, vặt một ít quả. Đôi khi họ còn nhặt được một vốc hạt dẻ hoặc đào được mấy củ gì đó trông như củ chuối.

Dần dần, hắn làm thân với đứa con gái và giúp một số việc cho vợ ông ta. Nhờ có họ quý mến chỉ bảo, trong một thời gian ngắn, hắn đã có thể nói và hiểu ngôn ngữ ở đây.

Nhiều khi trong đầu hắn lại lởn vởn nhớ lại. Hình như đêm đó, hắn đã uống rất nhiều rượu, sau đó có một tia lửa điện đánh trúng đầu làm hắn ngã vật xuống không biết gì nữa. Đến khi tỉnh dậy, lại đến thế giới này.

Hắn đặt ra mấy giả thiết về việc đến đây, rồi thấy rằng giả thiết nào cũng đúng. Nhưng làm cách nào để về thế giới cũ, thì hắn không nghĩ ra biện pháp nào hữu hiệu. Lâu dần hắn chán, không thèm suy nghĩ nữa.

Đôi lúc, hắn cũng muốn chào gia đình này và ra đi. Một là để được tham quan tìm hiểu thế giới mới. Hai là hắn nghĩ đến một ngày nào đó, hắn sẽ tìm được cách trở về thế giới xưa kia của hắn, là nơi hắn từng sống, từng có gia đình, bạn bè và người thân.

Nhưng nhiều lúc nghĩ lại, hắn không dám. Thế giới này quá hoang vu cổ đại, biết có những nguy hiểm gì đằng sau vẻ hùng vĩ kia và những con người hoang dã này. Có lẽ cách tốt nhất là ở lại, tìm cách học hỏi và sinh tồn, đến khi thích hợp sẽ ra đi sau vậy. Hắn nghĩ thế.

Vì vậy, hắn bắt đầu tìm cách thể hiện bản thân, rằng hắn không hề mềm yếu, hắn cũng có can đảm, sức khỏe để đi rừng kiếm củi cho đỡ tủi.

Đầu tiên hắn nài nỉ đến mỏi cả mồm và cả.. tay, để cho người đàn ông bằng lòng đưa hắn vào rừng hái lá thuốc. Nhưng ông ta sợ hắn trở thành gánh nặng sơn lâm nên kiên quyết lắc đầu.

Lần thứ hai. Hắn dùng thêm nước mắt, nước mũi vẫn không đạt kết quả.

Lần thứ ba. Hắn quyết tâm chơi loại hạng nặng, ngoài nước mắt nước mũi, hắn còn xì ra một đống dớt dãi và tự nhủ: "Nếu cần thì dùng thêm cả nước.. hoa được sản xuất từ hai quả thận cũng phải đạt được mục đích, để cho ông ta thấy sự chân thành". Cũng may, thấy hắn khổ sở van nài nên ông ta đã đồng ý cho hắn đi cùng.

Về sau, hắn theo ông ta thường xuyên và học được nhiều thứ. Hắn biết nhiều loại cây có thể dùng làm thuốc và nhiều loại con có thể bắt. Tất nhiên hắn cũng biết, không phải con nào bắt được cũng ăn được, ngu phí mà hắn phải trả trong thời gian đi rừng không chỉ nhiều lúc sưng cả mặt mà đôi khi còn mất thêm tí tiết.

Người đàn ông này là một người man khoảng 45 tuổi khá khỏe mạnh, nghe nói trước kia ông ta bị bắt đi lính và làm lang y. Khi bị bắt, ông ta còn rất trẻ, thấy ông ta quá nhỏ không cầm dao búa chém giết được, nên sư phụ ông ta, lúc ấy là một thầy y trong quân ngũ đã nhận ông ta làm đệ tử pha trà đổ bô.

Mười hai năm sau, ông ta thay sư phụ hành nghề. Về sau, may mắn chữa khỏi bệnh yếu.. cái đó cho một tên quan lớn. Để trả ơn, tên quan đồng ý cho ông ta giải ngũ về quê với một ít quân lương.

Sau khi về cố hương, không còn nhà để ở nên ông ta tìm một hang đá để có chỗ chui ra tụt vào. Nhớ tới ơn sư phụ đã bảo ban cho y đạo, ông ta tự đặt cho mình cái tên là: Bảo Y Đạo.

Vợ ông ta là một người phụ nữ có nhan sắc, là con gái của một tù trưởng lớn. Trong một lần đi rừng bị rắn độc cắn vào đùi tí chết, may lúc đó ông ta đang hái thuốc ở gần nên kịp thời dùng miệng hút nọc độc ra, rồi rịt cho một loại cao dán bí truyền mới qua được cảnh ngàn cân treo sợi tóc.

Vì thế, mặc dù bị cha mẹ ngăn cản nhưng vì cảm động ơn cứu mạng, nàng ta tình nguyện bỏ nhà theo ông ta vào núi kết thành phu thê.

Về sau trong một lần đi hái thuốc, chẳng may ông ta bị heo rừng húc đúng chỗ hiểm, tuy không mất mạng nhưng bị mất.. tinh binh, nên cuối cùng hai người chỉ có một đứa con gái duy nhất, họ yêu thương nó còn hơn cả châu báu nên gọi nó là Bảo Quý Ngọc.

Thấy hắn mặt mũi sáng sủa tử tế nên những lúc rảnh rỗi, ông ta dạy hắn cách cài bẫy săn những con thú nhỏ và dẫn hắn vào rừng thực nghiệm. Vùng núi bao la này có vô vàn loài dã thú từ to tới bé, từ loại nhỏ như con thỏ đến loại ác như con tê giác, từ loại xấu như con gấu đến loại khú như con cú, loài nào cũng sẵn.

Hắn vốn thông minh lại thêm chăm chỉ sáng tạo nên đã chế ra một số loại bẫy rất hiểm và nhạy, chỉ cần con mồi chạy qua là a lê hấp.. dính bẫy. Nhưng hắn cũng chỉ dám đặt các loại bẫy nhỏ gần nhà chứ chưa dám đi xa để bẫy các loại thú lớn, sợ không biết người săn thú hay thú săn người. Hai nữa, nếu bẫy được thú lớn, hắn cũng không đủ đô vật để khênh về.

Dù thế, những con mồi nhỏ mà hắn săn được cũng rất phong phú, thường là những loại như gà gô, chồn cáo, thỏ.. đôi khi hắn còn bẫy được cả khỉ. Ngoài ăn uống hàng ngày, hắn còn biết đem số thịt thừa ướp muối và hun khói, để phòng khi trời mưa lũ không đi đâu được.

Xương khỉ thì hắn đem ra suối ngâm cho rã hết thịt thối rồi phơi khô để tích trữ, đến khi được nhiều thì đem nấu cao hoặc mang đi đổi thóc.

Sản phẩm có giá trị nhất của vùng này là thảo dược và xương cốt dã thú để nấu cao các loại. Khi kiếm đã đủ nhiều, hai người lại xuống núi đến cổ thành gần đó khoảng 20 dặm để đổi lấy thóc và đồ dùng.

Nhờ đó mà hắn biết rằng, thế giới này là một thế giới có nền văn hóa lâu đời nhưng trình độ kỹ thuật thì thảm thương, chỉ tương đương với thời Trung cổ hoặc Đường Tống, thế kỷ thứ 10.

Cổ thành mà bọn họ đến là một thành nhỏ gọi là Nam Sơn thành, được xây bằng đá hộc từ rất lâu đời, vị trí nằm ở phía bắc một dãy núi rất hùng vĩ gọi là dãy Đại Liên Sơn. Trong thành có khoảng một vạn dân sinh sống và chừng 500 quân binh bảo vệ.

Trước kia, thành được xây dựng nhằm phòng ngừa man dân trên núi tràn xuống cướp phá, về sau không có chiến tranh nên người man thường hay đến để đổi chác, mua bán mọi thứ, dần dần thành một thương thành.

Nhiều thương nhân từ các nơi đến đây để mua đổi thảo dược, thịt lông thú, gỗ.. của người man và bán vải lụa, lương thực, đồ gốm sứ, công cụ sắt, muối.. là những thứ người man cần.

Để có thể quên đi quá khứ và hy vọng sống tốt hơn trong tương lai, hắn tự đặt cho mình một cái tên mới: Hoàng Chân.
 
Chỉnh sửa cuối:
949 ❤︎ Bài viết: 393 Tìm chủ đề
Chương 2. Hang đá thưởng trà

Bóng đêm đã bao phủ toàn bộ núi rừng, khắp nơi đầy tiếng dế kêu ri rỉ và dăm ba tiếng ễnh ương, chẫu chàng ồm ộp. Từng đàn đom đóm vật vờ trôi trong không gian, hòa lẫn với các vì sao trên nền trời.

Giữa trời đêm đen kịt là bóng của ba ngọn núi nhỏ, cao thấp không đều gọi là núi Tam Sơn. Đây là mấy quả núi nằm ngoài rìa dãy Đại Liên Sơn, là địa phận người man sinh sống.

Dưới chân ngọn núi thứ nhất của núi Tam Sơn là một cái bản nhỏ, có khoảng hai chục nóc nhà lợp bằng cỏ tranh xơ xác, nhưng gia đình Bảo Y Đạo không sống ở đây. Bọn họ sống trong một cái hang, lưng chừng ngọn núi thứ ba của Tam Sơn, cách cái bản khoảng vài trăm thước, bọn họ vừa ăn xong bữa tối.

Cái hang này khá rộng chừng 400 - 500 thước vuông, cao chừng 6 - 7 thước, trần hang tương đối bằng phẳng và rủ xuống một ít thạch nhũ. Cửa hang hơi nhỏ so với lòng hang, phía ngoài là những thanh tre và cây gỗ to bằng bắp tay, xếp thành một cái hàng rào ngăn cách trong hang với bên ngoài để phòng dã thú.

Giữa lòng hang có một đống lửa bập bùng, hắt lên trần hang ánh sáng khi mờ khi tỏ. Ở giữa đống lửa có kê ba hòn đá to bằng quả bưởi và một ít cành cây khô đang cháy, nổ tí tách, đồng thời tỏa ra một làn khói nhẹ.

Từ khi Hoàng Chân đến đây, gia đình Bảo Y Đạo đã coi hắn như người nhà. Vợ của Bảo Y Đạo là Bảo thị đang ngồi xổm ở góc hang, mụ giơ tay đập cái "chát" vào con muỗi trên mặt, rồi lúi húi bỏ nắm thóc đã giã vào một cái sàng để sẩy.

Dáng người mụ đong đưa, hai tay sàng sẩy nhìn rất điêu luyện. Dưới động tác của mụ, hai quả mướp trâu lắc qua lắc lại, lồ lộ dưới lớp vải trễ trông thật mỏi mắt. Trên mặt sàng, từng hạt gạo trắng tinh xoay tròn như những hạt ngọc.

Bảo Y Đạo ngồi bên đống lửa, tâm trạng của lão rất là vui vẻ. Lần này xuống núi có được kết quả không tồi, đổi được hai gùi đầy thóc và một con dao rựa cực sắc. Lão thầm nghĩ: "Thằng nhỏ này thật là thông minh trước tuổi, khi cứu nó, tưởng tốn thêm cơm gạo, nào ngờ lại không bị lỗ."

"Tháng đầu khi tỉnh lại, nó đã biết chịu khó đi hái rau, kiếm củ quả và tìm cách bẫy thú. Những lúc rảnh rỗi, nó còn nghĩ ra nhiều thứ lạ. Đầu tiên, nó nghĩ ra một cái khố để bọc lấy chỗ kín rồi mới khoác da thú bên ngoài che đi. Bây giờ có thể ngồi dạng chân thoải mái mà không sợ lộ hàng, trước kia ngồi chỗ đông người, cứ phải co co khép khép cái chân, thật là không thoải mái."

"Rồi tiếp theo, nó còn nung được một đống đồ gốm như chum, vại, nồi niêu, bát đĩa.. tuy hơi méo và chưa đẹp lắm nhưng cũng tốt. Hơn thế nữa, nó còn biết cách làm ra vài cái bẫy rất nhạy. Lúc đầu lão chỉ nói chơi chơi cho nó biết những thói quen của mấy con vật, và cách bẫy đơn giản, nhưng hắn lại làm ra mấy loại bẫy lớn và hiệu quả không ngờ. Chưa nói số xương khỉ mà hắn kiếm được, riêng số đồ gốm mà hắn nung cũng có giá trị mấy trăm đô." *

Nếu để lão đi hái thuốc, chắc phải mất mấy năm mới mua được số đồ như vậy. * (Đô: Đơn vị tiền tệ ở đây, hoặc tương đương đồng).

"Hôm nay ta phải tự thưởng." Lão thầm nghĩ rồi hưng phấn đứng lên, đi đến vách hang lục lọi một lúc rồi bỏ một nắm lá khô vào cái nồi gốm nhỏ dưới đất.

Sau đó, lão bưng cái nồi đến bên chum nước rồi múc một ít nước đổ vào. Xong xuôi, lão đến bên đống lửa cẩn thận đặt cái nồi lên trên 3 hòn đá, cời cời cho lửa cháy to thêm rồi khoanh chân ngồi xuống, rung đùi chờ nước sôi.

"Dạo này tiểu Hoàng trông cứng cáp và khỏe mạnh hơn nhiều đó." Lão mỉm cười nói.

"Vâng." Hắn ngồi một bên đống lửa ngước nhìn lão.

Bảo thị bỗng cất tiếng hỏi tò mò:

"Tiểu Hoàng à, lâu rồi cháu đã nhớ lại được gì chưa? Cháu có nhớ trước kia ở đâu, làm gì không?"

"Á, bà cô lại bắt đầu hỏi mình rồi đây!" Hắn thầm nghĩ.

Nếu như nói là không nhớ gì thì mụ sẽ không tin, cứ hỏi đi hỏi lại liên lục, ai bảo mình nghĩ ra nhiều thứ mới lạ như vậy. Nhưng nếu nói là nhớ thì lại không đúng, cái thằng "thế thân" này trước kia nó là gì thì mình cóc biết. Còn nói là mình từ một thế giới văn minh rồi nhập hồn tới đây thì họ nghĩ mình là Yêu quái, Hồ Ly Tinh, Quỷ Dạ Xoa.. rồi bắt đi thiêu sống thì bỏ mẹ.

Hắn không muốn nói dối, nhưng cũng không muốn nói thật. Vì vậy, hắn ngập ngừng cố gắng tìm từ ngữ thích hợp để nói:

"Cháu không nhớ rõ lắm trước kia ở đâu, cháu chỉ nhớ là ở một nơi rất xa.. hình như là ở trong một cái thành lớn.."

Hắn ấp úng tìm cách diễn giải về thành phố, nơi mà hắn từng sống.

"Cháu nhớ, ở đó có những cái nhà bằng đá.. rất to như quả núi này." Hắn giang hai tay giải thích, ý hắn nói về những tòa nhà cao tầng bằng bê tông cốt thép.

"Hả, to thế cơ à?" Bảo Y Đạo trợn mắt, lão không tin vào tai mình nên hỏi lại.

"Vâng, vâng.. Có hàng ngàn người sinh sống ở trong đó." Hắn nói, ý bảo là chung cư cao tầng.

"Ấy ấy.." Bảo Y Đạo không hiểu, lão nghĩ thằng bé này trước kia bị đập đầu vào đá, nên thỉnh thoảng lú lẫn. Lão vội hỏi lại:

"Có phải ý cháu là, có hàng ngàn người chui vào trong một quả núi để làm nhà ở phải không?" Trong suy luận của lão thì cái thành đó có rất nhiều quả núi lớn.

"Vâng.. vâng. Chính thế.. chính thế, ý cháu là như vậy." Hắn vội khẳng định.

"Ồ, đông đúc như vậy thì người ta sống thế nào?" Bảo thị thắc mắc.

"À.. à. Ở đó mỗi gia đình có một cái hang, chỉ bằng một góc cái hang này." Hắn muốn nói về các căn hộ, rồi giơ tay vạch vạch trong không trung để ra hiệu.

"Thế thì ở hơi chật nhỉ." Bảo Y Đạo gật gù, lão thầm hãnh diện vì đã kiếm được một cái hang lớn như thế này.

"Bọn họ ăn uống.. sinh hoạt.. tắm rửa.. xả bã luôn ở trong các hang đó." Hắn ấp úng nói và muốn giải thích rằng, mỗi một căn hộ có 2 đến 3 cái toilet nhưng không biết nói thế nào cho dễ hiểu và lịch sự.

"Bậy.. bậy, bẩn quá, bẩn quá. Ăn xong lại còn xả bã ngay tại chỗ." Bảo thị thốt lên, mụ thầm nghĩ: "Tại sao lại có cái bọn sống bẩn như vậy?"

"Sao bọn họ không xuống chân núi mà làm việc đó?" Bảo Y Đạo trố mắt hỏi, lão cũng không tưởng tượng được trên thế giới này lại có cái bọn lười nhác, bẩn thỉu như thế.

"Vâng.. vâng. Tại vì ở dưới chân núi thường có nhiều người qua lại, ngoài ra có rất ít bụi cây để che. Hơn nữa, ở đó còn không có con thú rừng nào, kể cả.. con dế." Hắn lưỡng lự kể tiếp.

"Vậy ư?" Lần này Bảo Y Đạo ngạc nhiên, lão tưởng mình nghe lầm rồi thắc mắc hỏi: "Không có thú rừng thì họ lấy gì mà ăn, gặm đá à?" Rồi lão lẩm bẩm:

"Chả trách, hồi ta vớt ngươi từ dưới suối lên, thấy ngươi gầy như que củi, biết ngay là thiếu ăn." Rồi lão thở dài, gật gù cảm thán:

"Ta từng làm quân y 20 năm, đã được đi nhiều nơi, nhưng chưa bao giờ nghe kể về cái xứ nào mà nghèo khó như vậy. Có đến hàng ngàn người phải chui vào trong một quả núi để ở, lại còn không có cả thịt thú rừng để ăn. Chậc chậc.. quá khổ.. quá khổ.."

Thấy nước đã sôi sùng sục, lão nhặt lấy hai cái bát gốm gần đó rồi rót nước trong nồi vào.

"Uống đi, loại này là cực phẩm đấy." Lão nói rồi đưa cho hắn một cái bát. Lão đưa cái bát còn lại lên gần miệng, thổi phù phù rồi uống một ngụm.

"Chẹp chẹp. Đây là chè Tuyết cổ thụ loại hảo hạng, chỉ có ở trên đỉnh Tuyết Sơn, sâu trong dãy núi Đại Liên. Một vốc chè khô thế này mang tới thành Nam Sơn đổi được hai đấu thóc đó." Lão nói.

"Đầu tiên, uống thấy hơi hơi đắng, nhưng sau đó lại thấy vị ngọt ngọt thơm thơm, phảng phất như ngấm vào lưỡi. Ngoài công dụng mát gan êm bụng, loại này còn có nhiều công dụng khác như tráng dương, bổ thận.." Lão gật gù rồi lẩm bẩm:

"Hồi ta nhìn thấy mấy cây chè này, ta mừng quá đến nỗi không để ý xung quanh. Khốn kiếp cái con heo rừng đó, nó chơi ta một phát tý nữa thì gãy xương đùi. Nếu không, ta đã mang về được một đống lớn."

"Vậy mấy ngày nữa chúng ta đến đó đi, Bảo thúc?" Hắn nói giọng dụ dỗ, tay đưa bát nước chè lên miệng thổi phù phù rồi uống cái ực.

"Đến đó xa lắm, phải mất 4 - 5 ngày đi, rồi 4 - 5 ngày về. Vị chi mất khoảng chục ngày, lại còn phải trèo đèo lội suối, không dễ." Lão ngậm ngùi.

"Không sao, nếu kiếm được thêm nhiều tiền thì cũng đáng. Mấy ngày này chúng ta ở nhà chuẩn bị gạo rang, thịt muối và một số thứ, xong rồi sẽ lên đường." Hắn nói vẻ quyết tâm.

"Hơn nữa, cháu muốn hái thật nhiều, để đợt này xuống núi mua cho Ngọc nhi hai bộ quần áo mùa đông mặc cho đỡ rét." Hắn nói rồi mỉm cười, đưa mắt liếc về cô bé Bảo Quý Ngọc.

Cô bé đang ngồi tròn mắt bên đống lửa, lắng tai nghe bọn họ nói chuyện. Từ khi hắn đến đây, mỗi buổi tối, cô rất thích đến ngồi bên đống lửa để nghe hắn nói chuyện với gia phụ.

Thỉnh thoảng, Hoàng huynh của cô lại kể cho cô nghe một câu chuyện cổ tích rất hay. Đối với cô, mỗi một câu chuyện là một cái gì đó mới mẻ và lạ kỳ, hấp dẫn. Trong trí tưởng tượng non nớt của cô, Hoàng huynh trước kia phải ở trong một cái hang rất chật, lại còn phải hay thường xuyên nhịn đói.

"Ôi Hoàng huynh thực là khổ, Hoàng huynh thật là đáng thương.. Mình sẽ học nấu ăn để sau này nấu cho Hoàng huynh đáng thương ăn."

Cô nghĩ thầm, rồi tưởng tượng ra một đống thức ăn các loại đặt trên mặt đất thơm phức, nóng hổi. Bất tri giác, theo thói quen cô đưa ngón tay lên miệng mút mút cái "chụt".

Bỗng một tiếng nói to vang lên làm cô bé giật bắn mình:

"Ngọc nhi! Nói với muội bao nhiêu lần rồi, không được mút tay trong miệng."

Hoảng sợ, cô vội rụt tay lại rồi đưa mắt liếc về Hoàng huynh đáng thương một cái, hai bàn tay của cô đan lại với nhau rồi vặn vẹo như không biết giấu vào đâu. Chỉ thấy Hoàng huynh đáng thương trợn mắt, lườm cô một cái rồi nói tiếp:

"Nếu muội cứ hay mút tay trong miệng như vậy, sẽ có ngày, một con giun lớn sẽ đục thủng bụng muội mà chui ra đó." Hắn giơ ngón tay ngoáy ngoáy hăm dọa.

Lúng túng một lúc, cô cúi gằm mặt rồi lí nhí vớt vát:

"Muội chỉ thấy.. em bé chui ra từ trong bụng thôi, chứ chưa thấy giun chui ra bao giờ.."

Rồi cô lấy tay sờ sờ bụng, xong rồi chỉ chỉ xuống phía dưới như ngầm bảo, đã thấy em bé chui ra từ chỗ ấy.

"Hừ." Bảo Y Đạo gắt gỏng:

"Tiểu Hoàng nói đúng đó. Trước kia sư phụ ta thường giã một loại hạt cây nấu lên cho binh sỹ uống, hai hôm sau, bọn chúng xì ra một đống giun trắng nhơn nhởn, to như thế này." Lão nhặt một đoạn cành cây khô rồi giơ lên làm mẫu.

"Lâu rồi ta quên mất, hôm nào phải đi lấy một ít cho cả nhà uống." Lão nói rồi phân trần:

"Trước kia ta không hiểu, làm thế nào mà lũ giun lại chui vào trong bụng được. Hôm trước tiểu Hoàng nói chuyện ta mới biết, hóa ra là chúng đẻ trứng lẫn vào trong đất, nếu ăn bẩn sẽ mang trứng giun vào bụng, rồi chúng nở ra. Sau đó chúng ở trong bụng người, thỉnh thoảng chúng quậy phá gây đau bụng."

Rồi lão gằn giọng, nói to như ra lệnh:

"Vì vậy từ bây giờ, tất cả mọi người đều phải rửa tay sạch sẽ trước khi ăn, nghe rõ không?"

"Vâng.. vâng. Nhớ rồi, nhớ rồi. Lão gia.." Hai mẹ con Bảo thị rối rít.

Thế giới này lạc hậu quá, hắn mỉm cười nghĩ thầm: "Nếu đã đến đây, ta sẽ khai hóa văn minh cho cái xứ này." Rồi trong đầu hắn hiện ra một dự định, một kế hoạch to lớn:

"Đầu tiên, ta sẽ làm ra quần áo và đồ dùng..

Tiếp theo, sẽ làm ra ô tô, tàu hỏa..

Rồi sẽ chế ra máy bay, tên lửa.. Tivi, tủ lạnh.. Đồ điện và máy phát điện..

Cuối cùng ta sẽ chế ra máy vi tính và điện thoại di động.."

Hắn mỉm cười và mơ mộng, nghĩ đến những dự định vĩ đại rồi lẩm nhẩm: "Đến lúc đó ta sẽ cho xây một trạm phát sóng thật lớn trên đỉnh Đại Liên Sơn này.."

Đột nhiên, một ý nghĩ lóe lên trong đầu làm hắn giật mình. Một cơn buốt lạnh chạy suốt từ đỉnh đầu đến hậu môn làm lông tóc hắn dựng đứng, mồ hôi vã ra, chân tay tức khắc run lẩy bẩy.. "Trạm phát sóng.. tại sao mình không nghĩ ra từ sớm?"

Hắn ngồi ngửa mặt, đôi mắt thất thần, một lúc lâu sau mới thở dài lẩm bẩm:

"Rốt cục ta đã hiểu, tại sao lại đến đây? Nếu muốn trở về thì phải làm cách nào, nhưng trở về làm gì khi ta chỉ còn một mình.. Ta sống có ý nghĩa gì đâu!"

Hắn ngậm ngùi cúi đầu, từ mắt hắn xuất hiện hai dòng lệ nóng hổi chảy trên gò má.

Hắn nhớ về quá khứ.
 
Chỉnh sửa cuối:
949 ❤︎ Bài viết: 393 Tìm chủ đề
Chương 3. Dự án kinh nhân

Trước đó không lâu, tại một nơi rất xa.

Trong phòng hội nghị tại khách sạn 5 sao Beverly Hills, thành phố Los Angeles, Mỹ.

Phòng hội nghị là một phòng tương đối lớn của khách sạn. Trần phòng treo lủng lẳng 6 bộ đèn chùm bằng vàng ròng xen lẫn các hạt phalê to bự, phát ra ánh sáng lấp lánh hòa lẫn giữa những ánh đèn downlight, đèn tường sáng chói.

Giữa phòng là 15 hàng ghế ngồi bọc gấm vàng sang trọng, quay về phía khán phòng. Sàn nhà trải một tấm thảm dầy lớn dệt hoa văn theo kiểu Ả rập, làm toát lên sự quý phái và siêu đẳng cấp.

Tại một góc của phòng có kê một dãy bàn trải ga trắng, trên để mấy chục chai rượu Wishky, Champagne và mấy trăm ly cốc các loại.

Khán phòng lót bằng gỗ, nhô cao lên khoảng 40 cm, trên đó kê một chiếc bục diễn giả. Trần khán phòng có một hàng đèn rọi cao áp đang chiếu thẳng vào một tấm phông lớn màu xanh lam đậm, làm nổi bật lên hàng chữ to vàng chóe: "Chúc mừng quý khách tham dự hội nghị về dự án S".

Trong phòng có khoảng 200 người. Da trắng da vàng, da đen da đỏ đủ các quốc tịch đang đứng ngồi lẫn lộn.

Các quý ông, quý cậu đầu tóc mượt mà, mặc sơvin dài tay hoặc comple, caravat đủ màu lịch sự. Chân đi giày đen bóng đến nỗi, con ruồi nào vô ý đậu lên chắc chắn cũng bị trượt chân ngã vỡ đầu mà chết.

Các quý cô, quý bà thì hầu như ăn mặc vô cùng tự do, mát mẻ. Hai quý bà thân hình đầy đặn, mặc váy dài che từ cổ đến gót giầy, nhưng mỏng như cánh ve, thấp thoáng cái lỗ rốn đen đen và hai con ốc vặn đang bò trên đỉnh núi.

Các quý chị, quý em thì phần lớn ăn mặc theo kiểu: "Giá váy tăng lên, giá áo trên tụt xuống." Các loại khe rãnh kinh người, trắng nõn được phô bày hết cỡ.

Lại có quý em diện một bộ độc nhất vô nhị "black & white". Dọc nửa người là một chiếc váy dài đen, che kín cả ngón chân, còn nửa bên kia thì cởi trần như nhộng.

Khoảng hơn chục phóng viên da đen, da trắng các loại, tay cầm micro đi kèm với các cameraman, mắt láo liếc săm soi những chỗ nhạy cảm chết người của các quý nữ. Thỉnh thoảng ánh đèn chợt lóe, kèm theo tiếng máy ảnh cái "rụp".

Dăm nữ tiếp viên mặc mini jíup đang đi lại, tay bưng khay rượu mời từng quý khách.

Mấy quý anh tay nâng ly rượu, mắt lơ đễnh liếc theo từng cặp đùi mỹ nhân đang đong đưa uyển chuyển. Dường như thiếu món đùi, rượu không còn hương vị.

Trong tiếng ồn ào hỗn độn, vẫn nghe được âm thanh thốt lên đầy cảm thán của một phóng viên:

"Quả là một hội nghị khoa học kiểu Mỹ. Khi đến đây, tôi cứ tưởng lạc vào lễ trao giải Osca liên hoan phim quốc tế."

Bỗng nhiên, một người đàn ông trẻ bước lên bục diễn giả, sau khi e hèm và gõ gõ vào micro vài cái để chắc nhở mọi người chú ý và ngồi xuống, lát sau anh ta nói:

"Kính thưa các quý ông và quý bà. Hôm nay, tôi rất vinh dự và hân hạnh giới thiệu với các quý ông, quý bà về nhóm chuyên gia thực hiện dự án và xin trân trọng thông báo" Dự án S "đã thành công tốt đẹp.."

Sau đó ông ta tự vỗ tay lốp bốp. Vài giây sau, cả hội trường ngập tràn tiếng vỗ tay bôm bốp hưởng ứng.

"Cùng đến dự với chúng ta hôm nay là đông đảo các nhà tài trợ cho dự án. Các nhà tài phiệt, tài chính, chứng khoán, ngân hàng. Các minh tinh màn bạc, ngôi sao thể thao, ngôi sao ca nhạc. Ngoài ra, còn có đại diện chính phủ Hoa Kỳ và các tập đoàn đa quốc gia trên toàn cầu. Sau đây, tôi xin trân trọng giới thiệu: Giáo sư tiến sỹ, ngài Mister Bean lên trình bày chi tiết về quá trình triển khai dự án và sẵn sàng phúc đáp các câu hỏi của quý vị."

Ông ta giơ tay mời một quý ngài khoảng 60 tuổi ở phía dưới, đầu bờm xờm và bạc trắng như Anhxtanh, ra hiệu mời lên bục diễn giả rồi lặng lẽ rút khỏi khán phòng.

Một phút sau, quý ông đầu bạc bước lên bục diễn giả.

"Kính chào quý ông và quý bà." Ông ta lễ phép nói.

"Xin tự giới thiệu, tôi là Mister Bean. Giám đốc dự án." Sau một chút ngập ngừng và đưa mắt liếc toàn bộ bên dưới, ông ta nói tiếp:

"Hôm nay, tôi thật vinh dự có được cuộc gặp gỡ với các bạn ở đây để giới thiệu chi tiết về quá trình triển khai dự án S. Như tất cả chúng ta đều biết, dự án S là viết tắt của cụm từ" Super Controller to the Human and Animal Project ", có nghĩa là Dự án" Siêu điều khiển con người và động vật ". Dự án được hình thành dựa trên lý thuyết về sóng siêu cao tần, điều khiển sóng não của cố giáo sư Charlie Chaplin."

Nói đến đây, vẻ mặt ông ta dường như đang xúc động, nhớ lại một kỷ niệm nào đó rồi từ từ cho tay vào túi áo véc, rút ra một khăn mùi xoa trắng chấm lên hai bên mắt. Sụt sịt vài cái, ông ta lại tiếp tục:

"Cách đây hơn 10 năm, cố giáo sư thiên tài của chúng ta đã phát hiện ra não của người và động vật phát ra một loại sóng siêu cao tần vô cùng đặc biệt. Điều quan trọng là sóng não của mỗi người phát ra đều không giống nhau và có cấu trúc như một dạng mật mã."

"Vì vậy, ông đã tiên đoán rằng: Nếu như chúng ta tạo ra một thiết bị, có thể phát ra một tần số trùng với tần số sóng não của người hay động vật, thì chúng ta có thể điều khiển được mọi hành động và cảm xúc, suy nghĩ của người hay vật đó."

"Để chứng minh cho lý thuyết trên, cố giáo sư đã vận động được rất nhiều nhà tài trợ lớn, bỏ tiền giúp cố giáo sư tổ chức một nhóm các chuyên gia xuất sắc từ nhiều nước đến đây nghiên cứu dự án."

"Đến nay, cố giáo sư đã về với Chúa. Nhưng những lý tưởng của ông đã được chúng tôi, những học trò ưu tú của ông triển khai thành công và chứng minh: Lý thuyết của ông đã trở thành chân lý."

"Sau 9 năm, chúng tôi đã thiết kế và lắp đặt hoàn hảo một cỗ máy dùng để kết nối tín hiệu giữa não người điều khiển và đối tượng bị điều khiển. Năm ngoái, chúng tôi đã thí nghiệm thành công điều khiển động vật trong phòng thí nghiệm. Và tháng trước, chúng tôi đã lắp đặt thành công một trạm phát sóng công suất lớn tại đồi Hollywood, để thực hiện thí nghiệm trên người trong toàn thành phố."

Tạm ngừng một lát để thở, sau đó giáo sư hùng hồn nói tiếp:

"Nói cách khác, theo quan niệm phương Đông, đây được coi là một loại" Nhập hồn ". Nhưng khả năng của chúng tôi là loại" Siêu nhập hồn "ở khoảng cách xa và đa dạng đối tượng hơn. Sau đây, tôi xin được trình bày chi tiết của quá trình thực hiện dự án cũng như các vấn đề kỹ thuật liên quan."

Nói tới đây, ông ta chậm rãi cho tay vào túi áo véc và rút ra một vật đen đen, bẹt bẹt, to bằng bàn tay trông như một chiếc tablet loại nhỏ.

Chậm rãi dùng ngón tay xoa xoa, chọc chọc vài cái. Lập tức phía sau khán phòng, một cái màn hình projector cực lớn từ từ hạ xuống và ánh đèn máy chiếu lóe lên trên tấm màn dòng chữ "Super Controller to the Human and Animal Project." Từ lý thuyết đến hiện thực, từ điều khiển đến bị điều khiển.

Tiếp theo ông ta vừa nói lại vừa xoa xoa chọc chọc. Thứ tự theo lời nói của ông ta, trên màn chiếu lần lượt xuất hiện đủ các loại công thức vật lý, toán học, hóa học.. biểu đồ hình sin, pharabol.. Sau đó lại xuất hiện thêm vài cái vòng tròn như bánh quy, bánh gato xanh đỏ đầy màu sắc và dăm ba cái hình vẽ từ người đến ngợm.

Cuối cùng, ông ta kết luận:

"Tôi vô cùng cám ơn các quý khách đã bỏ chút thời gian quý báu đến tham dự hội nghị ngày hôm nay. Sau đây quý vị nào có câu hỏi gì, tôi xin được hân hạnh giải đáp."

Ngập ngừng một lúc, ông ta nói tiếp:

"Quý vị chú ý, đây là nước Mỹ nên các bạn có thể hỏi thoải mái không cần e ngại về phong tục tập quán hay mấy vấn đề tế nhị, miễn là trong khả năng chúng tôi có thể trả lời được."

Cả hội trường im lặng trong giây lát. Bỗng nhiên ở hàng ghế đầu, một người đàn ông trung niên béo quay cun cút giơ tay đứng dậy, có tiếng thì thầm bên dưới:

"Đây là ông Buffet, trùm chứng khoán phố Wall."

Sau khi ho khan vài tiếng, ông ta phát biểu:

"Xin giáo sư cho biết, phát minh này có thể ứng dụng như thế nào?"

Khẽ mỉm cười, giáo sư trả lời:

"Tôi nghĩ rằng, phát minh này là một sự kiện vô cùng to lớn trong lịch sử nhân loại. Ý nghĩa của nó còn vượt xa sự phát minh ra hạt của Chúa (tức hạt higgs), hay thành quả nhân bản vô tính mà internet thường nói tới. So với nó, những cái khác chỉ là nhảm nhí."

"Trong tương lai, chúng ta có thể ứng dụng nó trong rất nhiều trường hợp và lĩnh vực. Nói ví dụ: Chúng ta có thể sử dụng nó để duy trì an ninh trật tự trong một đô thị. Điều gì xảy ra khi một tên tội phạm khủng bố, ẩn nấp đâu đó trong thành phố để giết người. Cảnh sát thay vì tìm tòi truy bắt nó một cách đầy rủi ro, mạo hiểm đến tính mạng thì chỉ cần.. đăng nhập vào trạm máy chủ, xác định khu vực tọa độ, tìm kiếm và xâm nhập vào não nó. Tên tội phạm sẽ bị mất đi năng lực hoạt động như một động vật vô tri giác và bị điều khiển, nó sẽ tự đến đồn cảnh sát nạp mạng. Như vậy các bạn có hiểu không?"

"Good.. Good, OK.. OK. Hảo.. hảo. Yes.. yes. Khơrơsô.." Ở phía hàng quý khách bên dưới có nhiều tiếng trầm trồ và tiếng lốp bốp vỗ tay tán thưởng.

Bỗng một quý cô có thân hình gợi cảm, mặc một bộ váy dài gần trong suốt như cánh ve đứng lên. Hai quả bầu tiên ngồn ngộn mờ ảo sau lớp vải, đung đưa như hai quả núi lửa sắp bùng nổ, có tiếng thì thầm bên dưới:

"Đây là cô Madona, minh tinh ca nhạc."

"Thưa ngài Bean." Cô ta nói:

"Ngài có thể trả lời cho tôi biết. Trường hợp đối tượng bị nhập hồn chẳng may chết đột tử, thì người điều khiển có bị ảnh hưởng gì không ạ?"

"Ồ, tất nhiên là không." Giáo sư Bean trả lời.

"Thực ra thì khi người điều khiển xâm nhập và khống chế não bộ của đối tượng, sẽ có cảm giác như là chính bản thân đối tượng vậy, tức là cũng có cảm giác vui sướng, đau đớn, buồn phiền.. vv. Nhưng khi tắt điện thì mọi thứ đều trở lại bình thường. Chúng tôi đã từng giết hàng trăm con chuột thí nghiệm, làm thịt vô số khỉ và cả chó, mèo, voi ngựa.. đều nhận thấy sau khi đối tượng chết, người điều khiển chỉ có cảm giác đau đớn một chút mà thôi, sau đó thì không có gì nữa. Tất nhiên nếu giết người để thí nghiệm thì chúng tôi chưa làm, nhưng tôi nghĩ kết quả sẽ không khác biệt." Giáo sư nói.

"Ồ, vậy thì trong tương lai. Tôi có thể yên tâm thuê một người trẻ đẹp để biểu diễn thay mà không cần phải tự nhảy múa, hú hý đến khản cả họng rồi! Nhưng quan trọng là họ vừa hát vừa sexi như Somali mà không biết ngượng, đúng không thưa giáo sư?" Cô ta hỏi.

"À.. à, có thể.. được." Giáo sư ấp úng trả lời.

"Tôi muốn hỏi thêm giáo sư một vấn đề nữa." Cô ta nói tiếp:

"Trong trường hợp người điều khiển bị chết đột ngột, thì ý thức của đối tượng bị nhập hồn có trở về lúc ban đầu hay không, thưa giáo sư?"

"Ô la.. la, quả là một câu hỏi khó." Giáo sư lúng túng đáp.

"Chúng tôi chưa từng nghĩ đến vấn đề này, tôi nghĩ rằng không ai trong số chúng tôi tình nguyện làm thí nghiệm này cả, có điên mới làm như vậy." Giáo sư lúng túng trả lời sau một hồi gãi đầu, gãi tai sồn sột.

"Không sao, tôi chỉ hỏi cho biết thôi." Cô ta nói.

Bỗng nhiên một giọng nói khàn khàn, oang oang như chuông đồng vang lên ở hàng ghế giữa:

"Ngài có thể giới thiệu các thành viên của nhóm nghiên cứu được không ạ? Để tôi xin chữ ký, làm lưu niệm lúc tuổi già."

Tất cả mọi người quay mắt nhìn lại chỗ phát ra tiếng nói thì thấy một người đàn ông đầu trọc, da ngăm ngăm như nhọ nồi nhưng to con cường tráng đứng lên. Mặc dù anh ta mặc áo sơmi kín mít nhưng vẫn thấy ẩn hiện từng múi cơ trên cánh tay, lồng ngực.

"Đây là ngài Mike Tyson, ngôi sao quyền anh hạng nặng." Có tiếng thì thào trong đám người.

"Vâng.. vâng, rất sẵn sàng." Giáo sư Bean lên tiếng, sau đó ông giơ tay ra hiệu và nói to vào micro:

"Tôi xin trân trọng giới thiệu các thành viên chủ chốt trong nhóm dự án lên khán đài."

Lập tức theo hướng tay ông ta chỉ, một nhóm 6 người nhanh nhẹn bước lên giữa khán phòng, trên mặt họ toát lên vẻ hãnh diện và nụ cười tươi rói.

"Tôi xin giới thiệu, anh Hoàng Chính Long. Tiến sỹ cơ điện tử." Giáo sư chỉ vào người đầu tiên trong số họ.

"Cô Jennifer Trần. Tiến sỹ sinh hóa." Ông ta chỉ tiếp vào người thứ 2.

"Cô Dae Jang Geum. Tiến sỹ y khoa." Ông ta chỉ tiếp.

"Anh Putin Ivanop. Tiến sỹ toán và tin học điều khiển." Ông ta đưa tay về phía người thứ tư.

"Anh Alibaba.. Trasumaka. Tiến sỹ tự động hóa." Ông ta chỉ vào người thứ 5 và cuối cùng kéo dài giọng nói.

"Và người cuối cùng.. Anh.. Obama Scuta. Tiến sỹ vật.. lý.. nguyên tử."

"Ngoài ra còn một số kỹ sư, chuyên gia và công nhân tham gia dự án. Nhưng vừa rồi chúng tôi hết tiền nên đã sa thải một số, do đó họ không có mặt."

Sau một chút ngậm ngùi, ông Bean nói tiếp:

"Để cho không khí thêm sôi động, sau đây xin mời các quý vị có thể gặp gỡ và phỏng vấn từng chuyên gia của chúng tôi. Tôi chắc chắn rằng, quý vị sẽ nhận được những thông tin vô cùng bổ ích và lý thú."

Sau đó, ông ta làm điệu bộ ngả người đưa tay phải từ đằng trước ra đằng sau. Từ bên trái sang bên phải như mấy cô vũ nữ mời khách vào quán bar.

Lập tức, hàng chục phóng viên và các cameraman cùng ào lên sân khấu, quây lấy sáu người còn đang ngơ ngác.
 
Chỉnh sửa cuối:
949 ❤︎ Bài viết: 393 Tìm chủ đề
Chương 4. Giải đáp phóng viên

Tại một góc của khán phòng, hơn chục phóng viên và cameraman đứng vây quanh hai người Hoàng Chính Long và Jennifer Trần.

"Hân hạnh được làm quen với anh chị."

Một nữ phóng viên tóc vàng vô cùng hấp dẫn tiến đến, nàng mặc bộ mini jiup cực ngắn làm lộ ra cặp giò trắng muốt. Cổ áo trễ, hở ra một cái rãnh sâu ghê người.

"Tôi là Elyzabeth Taylor, phóng viên của tờ New York Times."

Nàng nói vẻ kiêu hãnh, tay giơ cao chiếc micro đen sì. Làm cho người ta nhớ đến bức tượng nữ thần tự do, tay cầm tên lửa Tomahawk, đang sẵn sàng đấu tranh đòi công lý cho các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.

"Tôi xin hỏi anh chị, phát minh này dùng trong chiến tranh được không?" Nàng hỏi.

"Tất nhiên là đơn giản như đan rổ." Hoàng Chính Long trả lời.

"Ồ, tốt.. tốt.. Hay.. hay. Tương lai, chúng ta sẽ không cần phải tốn bom đạn và tên lửa để giải quyết cái bọn như LiBi ở châu Phi, chỉ cần điều khiển cái ông Gadaffi nào đó là OK, hi hi.."

Nàng nở một nụ cười lạc quan và nói tiếp:

"Nếu như thế, chúng ta sẽ bắt ông ta ký hiệp ước đầu hàng vô điều kiện, hơn thế nữa còn phải tặng thêm cho nước Mỹ mấy cái mỏ dầu.. ha ha. Còn bọn Iran, Bắc Hàn. Sẽ đến lúc, cho chúng nằm dưới gót giày của chúng ta."

"Ồ, quý cô thật giàu trí tưởng tượng." Hoàng Chính Long mỉm cười.

"Nhưng chúng tôi hy vọng, phát minh này sẽ không được sử dụng vào các mục đích quân sự để chống lại bất kỳ quốc gia nào, chúng tôi ghét chiến tranh." Jennifer nói thêm.

"Thật sao!" Nàng thốt lên vẻ mặt đầy tiếc nuối.

"Nhưng tôi biết tại đây, có nhiều chàng trai đang thích.. nằm ngửa dưới gót giày của cô đấy. Ha ha ha.." Có tiếng của một cameraman vang lên.

"Ha ha ha." Cả đám người tay vỗ, ôm bụng cười lên ha hả.

"Chào các bạn. Tôi là James Bond, hành sự tại BBC News."

Một quý anh tay cầm micro tiến lên. Vẻ mặt của anh lạnh lùng như truyền thuyết xứ sở Ăng lê. Tóc của anh phất phơ màu bạch kim như được nhuộm bằng sương mù thành Luân Đôn.

"Cho tôi hỏi: Kỹ thuật này có thể điều khiển người ở khoảng cách bao xa?" Anh ta nói.

"À, nếu đã bị điều khiển thì anh ở tận Sao Hỏa cũng không thoát được." Jennifer trả lời.

"Ý tôi hỏi là, chúng ta ngồi đây, mà có thể" nhập hồn "vào người ngoài hành tinh ở xa được hay không? Ví dụ như: Có một bọn ngoài hành tinh đến xâm lược trái đất, chúng ta không cần đánh mà vẫn bắt được bọn chúng đầu hàng, hoặc đại loại thế?" Anh ta nói.

"Ồ. Tôi nghĩ rằng, nếu xây dựng được một trạm phát sóng cực mạnh, chúng ta có thể ngồi đây mà điều khiển cả thiên hà Orien xa xôi, xá gì mấy thằng ngoài hành tinh vớ vẩn." Hoàng Chính Long trả lời.

"Hay.. hay.. Ha.. ha. Như vậy trong tương lai, chúng ta có thể khống chế cả vũ trụ rồi." Anh ta cười lên sung sướng, bỗng dưng trán anh ta nhăn lại như nhớ ra một điều gì đó:

"Quái, sao cái ông Cameron người Mỹ ngớ ngẩn như vậy nhỉ, làm cái phim Avata thật là hồ đồ. Nếu như có kỹ thuật này, chỉ cần ngồi ở trái đất, là có thể điều khiển bọn mọi rợ đó chạy nhảy như khỉ. Cần gì phải đem máy bay, tên lửa và bom đạn lên cái hành tinh Pandora xa xôi ấy, lại còn phải nuôi mấy thằng da xanh cho tốn tiền. Ha ha ha. Thế cũng đòi là siêu phẩm, thế cũng đòi đoạt giải Osca.."

Anh ta cười to, đắc ý như phát hiện ra người Mỹ toàn là ấu trĩ.

Tất cả mọi người đều cười theo. "Chắc tên này xem nhiều" Star wars "*". Có tiếng thì thầm.

(Star wars: Bộ phim viễn tưởng nổi tiếng "chiến tranh giữa các vì sao").

"Chào hai vị. Tôi là Paris Hilton, phóng viên hãng tin Reuters." Một cô gái trẻ da trắng xinh đẹp chìa micro nói.

Nàng mặc một chiếc quần dài và chiếc áo phông ngắn. Ấn tượng nhất là hông nàng đeo một chiếc thắt lưng to vật, phía trước thắt lưng treo lủng lẳng một cái khóa đồng bự hơn quả đấm như ngầm cảnh báo: "Chú ý, phía dưới là khu vực.. không dành cho trẻ dưới 18 tuổi."

Mắt nàng trong veo như nước sông Seine và tóc nàng nâu nâu, lô nhô như những cành nho khô xứ Bordeaux.

"Hai vị có thể cho tôi biết, một người có thể điều khiển được bao nhiêu người không?" Nàng nhẹ nhàng hỏi.

"Hiện giờ thì một người, nhưng tương lai thì có thể nhiều người, giống như một mình ta điều khiển nhiều con robot vậy." Jennifer trả lời.

Nàng mở to đôi mắt nhìn người đẹp nước Pháp này, không hiểu nàng ta hỏi muốn điều khiển nhiều người để làm gì?

"Thật sao! Thế thì hay quá.". Nàng ta thốt lên:

"Rồi đến lúc, bà sẽ cho chúng mày biết tay!" Nàng ta lẩm bẩm.

"Sao ạ, cô có tâm sự gì phải không?" Nhìn thấy ánh mắt u ám của người đẹp, Chính Long hỏi.

"À không.. không có gì? Tôi đang nghĩ đến một ngày, tôi sẽ cho bọn da đen khốn kiếp biến hết khỏi Paris."

"Cô là người thích phân biệt chủng tộc à?" Chính Long hỏi, anh thầm lo lắng về thái độ tiêu cực của mỹ nữ Reuters này.

"Không.. không, tôi chỉ ghét bọn đàn ông.. da đen thôi.." Nàng ta ấp úng:

"Trước kia tôi từng bị bắt cóc bởi 4 thằng da đen ngay tại tháp Eiffel." Nàng ta căm hận nói tiếp.

"Ồ, đáng tiếc, chúng có tra tấn, có tống tiền cô không?" Chính Long hỏi giọng đồng cảm.

"Không.. không, chúng chỉ.. lột hết quần áo của tôi.. Xong rồi, chúng.. ấy.. ấy.. ấy tôi suốt 3 ngày 3 đêm. Cuối cùng, chúng.. quăng tôi vào thùng rác." Nàng ta lúng túng nói.

"Ồ, thật là bọn dã man, xin chia buồn cùng cô." Hai người cùng thở dài.

Mọi người xung quanh đều lắc đầu tặc lưỡi, cảm thán cho những người khốn khổ.

"Hân hạnh được làm quen với quý anh chị." Một mỹ nhân mặc váy dài giống như áo kimono, tay giơ cao micro nói:

"Tôi là Ajino Moto, phóng viên của Nhật báo Tokyo."

Giọng của nàng thánh thót ngọt ngào như được rót ra từ đôi môi hồng hào như hoa anh đào xứ Phù Tang.

"Hân hạnh được làm quen với cô." Cả hai cùng đồng thanh.

"Tôi xin hỏi. Chúng ta có thể điều khiển những loại như ẩm IC, chập CPU, cháy RAM hoặc Bad sector bộ nhớ không ạ?" Mỹ nhân Tokyo hỏi.

Tất cả mọi người đều ngạc nhiên, không hiểu nàng nói về người máy hay người thường.

"Hình như nước này bị thừa CHIP điện tử." Jennifer thì thào.

"Ý cô hỏi là bọn người điên, dở hơi biết bơi, thần kinh chập mạch, tâm thần phân liệt á?" Chính Long hỏi ngược lại.

"À.. vâng.. vâng. Xin lỗi, tôi quên mất, tôi lại dùng thuật ngữ kỹ thuật." Nàng nói ấp úng e thẹn.

"Chỉ cần là loại động vật có não không bị đứt dây thần kinh thì được, vậy cô hỏi vấn đề không bình thường này làm gì?" Chính Long nói.

"À, như các quý vị đều biết, đất nước chúng tôi là một quốc gia nghèo tài nguyên. Vì vậy, người dân Nhật Bản chúng tôi thường phải vất vả để lao động, đầu tắt mặt tối mới có hy vọng giàu có, sánh ngang với các cường quốc năm châu trên thế giới." Nàng thở dài rồi nói tiếp:

"Chính vì phải rất vất vả nên hiện nay, tình trạng căng thẳng thần kinh, stress xảy ra liên tục, không chỉ trong giới lao động mà còn xảy ra ở cả người già và học sinh tiểu học nữa. Hơn thế, căn bệnh này lại còn có dấu hiệu lây nhiễm rất trầm trọng đến biến thái." Nàng lắc lắc đầu rồi tiếp tục:

"Vài năm gần đây, ở Nhật Bản đã xuất hiện nhiều bọn thần kinh chập mạch, không chỉ một người, mà còn đồng loạt trên nhiều người. Đến nỗi, bọn chúng trần truồng đi lại ngoài đường mà chẳng biết gì là xấu hổ. Điều này xuất hiện ở nhiều nơi, không chỉ khu công cộng mà còn ở cả trường học, xe buýt, nhà hàng.. Thậm chí ở cả văn phòng nội các Chính phủ cũng có." Nàng nói giọng chán ngán:

"Nếu chỉ có như vậy thì cũng còn nhẹ, lại còn một số thằng và một số con còn thích.. ấy.. ấy nhau ngay tại chỗ đông người. Chúng nói như vậy mới phong cách, mới là cảm giác mạnh, mới khoái cảm thời thượng. Nào là dog style.. monkey style.. lại còn.. elephant style. Rồi chúng còn quay phim, chụp ảnh và đăng trên FaceBook, YouTube cho cả thế giới xem, thật là không biết xấu hổ." Khuôn mặt của nàng ửng đỏ:

"Vì vậy, chúng tôi nghĩ rằng, cần phải có một thiết bị nào đó để ngăn cản, không cho cái bọn quái thai lai quái vật này làm mất thuần phong mỹ tục, văn hóa văn nghệ mấy ngàn năm qua của chúng tôi. Để cho tất cả mọi người nghĩ về Nhật Bản như là một đất nước văn minh, lịch sự và giàu có nhất trên trái đất." Nàng nói mà ánh mắt sáng lên vẻ chờ mong và hy vọng.

"Ồ, chuyện đó thì không vấn đề, nhưng quan trọng là các bạn nên có một chính sách xã hội hợp lý để cho người dân được nghỉ ngơi, để cho trẻ em không bị quá tải học hành và một phương thức tuyên truyền, giáo dục và ngăn chặn hiệu quả." Chính Long nói.

"Vâng, xin cám ơn anh chị đã có ý đó." Mỹ nhân Tokyo gật đầu rồi lùi ra.

Một quý cô xinh đẹp khác lại tiến đến:

"Xin chào các bạn. Tôi là Bành Tử Cung, phóng viên của China Daily."

Nàng ngước đôi mắt híp lên nhìn ranh mãnh, miệng nàng cười rất tươi, làm lộ ra hàm răng trắng như sứ Giang Tây và đều tăm tắp như Trường Thành vạn lý.

"Tôi muốn hỏi một vấn đề tế nhị." Nàng nói.

"Vâng vâng. Chúng tôi có thể trả lời bất kỳ vấn đề gì, trừ bí mật an ninh quốc gia." Jennifer trả lời.

"Các bạn có thể cho tôi biết, cảm giác xâm nhập vào não bộ của động vật thí nghiệm được không ạ?" Nàng hỏi.

"À, rất thú vị." Jennifer nói.

"Khi lần đầu tiên, tôi" nhập hồn "vào một con chuột bạch, tôi mở mắt ra và.. oa, tôi thấy mình đang nằm trong một cái lồng nhỏ bằng kính. Sau đó tôi còn ăn thử một hạt dẻ.. và chạy lung tung, cứ như mình là một con chuột thực sự vậy.." Jennifer cười nói một cách vui vẻ.

"Vậy bạn có cảm giác gì không, khi đứng cạnh một con vật khác giới? Ý tôi nói là, có ham muốn sinh lý không ý?" Bành ký giả hỏi một cách đầy ranh mãnh.

"Ồ, cũng có chút.. cảm xúc. Tôi nhớ có lần, khi tôi nhập vào một con chuột cái, tôi đã chạy đến gần một con chuột đực. Oa.. tôi ngửi thấy mùi của nó.. và tự nhiên thấy.. thèm. Nhưng rồi tôi kiềm chế được, vì nhớ ra mình là một con người trong lốt chuột, chứ không phải một con chuột thực sự." Jennifer thì thào.

Sau đó nàng tiến lại, ghé vào tai Bành ký giả nói nhỏ:

"Cho cô biết, một lần tôi nhập hồn vào một con khỉ cái trong một đàn khỉ, tôi đã làm.. chuyện đó với 3 con khỉ đực một lúc.. Choa, thật hay, cứ như với người yêu của mình trên giường vậy." Nàng cười hí hí ranh mãnh.

"Thật vậy sao?" Bàng ký giả thốt lên đầy ngưỡng mộ.

"Vậy anh Chính Long đã làm chuyện đó bao giờ chưa? Ý tôi là anh đã" nhập hồn "vào con vật nào và làm chuyện đó chưa ấy?" Bành ký giả hí hí.. hỏi tiếp.

"Ồ, chưa, anh ý chỉ có nhiệm vụ thiết kế và lắp máy thôi. Trong nhóm dự án, chỉ có tôi mới là thí nghiệm viên duy nhất." Jennifer nói một cách tự hào rồi quàng tay Chính Long.

"Tôi thấy hai bạn có quan hệ rất thân mật, vậy hai bạn là?" Bành ký giả hỏi lấp lửng.

"Chúng tôi yêu nhau và vừa đính hôn." Jennifer trả lời.

"Vậy các bạn có kế hoạch gì hoặc dự định gì trong tương lai không?" Bành ký giả quay sang Chính Long hỏi tiếp.

"Chúng tôi dự định sẽ tổ chức đám cưới vào tuần sau, và sẽ đi hưởng tuần trăng mật ở đâu đó thật xa.. như đến Trung Quốc chẳng hạn." Chính Long trả lời.

"Ồ, chúc hai bạn vui vẻ và may mắn." Nói xong nàng vẫy tay ra hiệu, một Cameraman đứng ngoài hiểu ý chạy đi. Một lúc sau, anh ta cầm một chai Wishky và mấy cái ly chạy đến.

"Tôi. Bành Tử Cung, xin chúc mừng hạnh phúc hai bạn." Nàng cầm một cái ly rượu lên đưa cho Chính Long và Jennifer hai ly rượu khác, rồi nàng hô to:

"Jo Jo, 100%, bải phân sứ i bải, kempây, kempây.."

Nghe tiếng nàng hô to, một lúc sau hàng chục phóng viên và cameraman từ các nơi tay cầm ly cốc ào ào chạy đến. Sau đó là hàng chục cánh tay cầm ly rượu giơ lên, đụng nhau lách cách trong tiếng hô to hưởng ứng điên cuồng.

"Chúc mừng.."

"Chúc mừng hạnh phúc.."

"Jô Jô, Go Go, trăm phần trăm, kempây.. kempây.."

Chỉ thấy ở giữa, Hoàng Chính Long tay giơ hết ly rượu này đến ly rượu khác, nốc ừng ực.
 
Chỉnh sửa cuối:
949 ❤︎ Bài viết: 393 Tìm chủ đề
Chương 5. Tai họa trước bình minh

Reng.. Reng, tiếng chuông điện thoại vang lên trong phòng ngủ của Hoàng Chính Long.

Trên chiếc giường kê ở giữa phòng, Chính Long đang nằm, mình đắp một cái chăn mỏng, anh giơ tay với lấy chiếc điện thoại để ở đầu giường.

"A lô. Tôi, Chính Long nghe đây."

"Anh Chính Long phải không, có Jennifer ở đó không?" Tiếng của Dae Jang Geum vang lên trong máy.

"À. Tôi không biết, để tôi gọi xem Jennifer ở đâu. Jennifer, em có ở nhà không? Jennifer."

Chính Long gọi to. Một lúc lâu sau không có tiếng ai trả lời, anh nói lại vào trong máy điện thoại:

"Cô Dae Jang Geum đấy à, Jennifer không thấy có nhà, cô có nhắn gì không?"

"Không cần đâu. Lúc nãy Jennifer gọi điện cho em hẹn đến phòng thí nghiệm sớm, cô ấy nói là muốn kiểm tra lại cỗ máy để chuẩn bị cho thí nghiệm trên người trong tuần này, chắc là cô ấy đã đến phòng thí nghiệm rồi." Tiếng của Dae Jang Geum trả lời trong máy.

"Vậy à. Tại hôm qua tôi uống nhiều rượu quá, sáng nay ngủ quên, hẹn gặp cô ở phòng thí nghiệm nhé."

"Vâng, chào anh. Bye."

"Chào cô. Bye."

Chính Long uể oải ngồi dậy, anh vươn vai ngáp một cái rồi đưa mắt nhìn quanh. Ở trên gối của Jennifer có tờ giấy ghi mấy dòng chữ:

"Anh yêu. Em dậy sớm, thấy anh ngủ say quá nên em không đánh thức anh dậy, em đến phòng thí nghiệm trước. Đồ ăn sáng của anh, em đã chuẩn bị ở trong bếp, lúc nào dậy, anh đến phòng thí nghiệm luôn nhé. Jennifer của anh, hôn anh nhiều."

"Nàng đi rồi." Chính Long lẩm bẩm.

Anh tung chăn bước xuống giường, đứng vặn vẹo người vài cái rồi nhảy nhót vài điệu Gangnam style như con khỉ làm xiếc.

Bỗng nhiên, anh cảm giác có cái gì đó đập vào đùi bình bịch, nhìn xuống, anh mới.. giật mình khi ở dưới.. như nhộng.

"Oa. Thằng nhỏ sao mập vậy nhỉ? Chắc đêm qua, nàng đã chăm sóc nó rất lâu?" Rồi anh lẩm bẩm:

"Quái lạ, hôm qua rõ ràng là mình rất say, làm thế nào mà Jennifer đưa được mình về nhà?"

Sau đó, anh tưởng tượng đến cảnh Jennifer đã vất vả như thế nào khi lột trần anh ra rồi lôi anh lên giường.

"Ha ha." Anh cười một cách khoái chí rồi lò dò đi vào phòng tắm, vừa đi vừa lẩm nhẩm ngâm nga:

"Là la lá la. Ước gì em sẽ mang bầu, để anh mua cái nhà lầu tặng em.. la la."

* * *

45 phút sau, tại Trung tâm nghiên cứu khoa học, thành phố Los Angeles.

Một chiếc xe ô tô Toyata Avalon màu đen bóng đỗ xịch trước cánh cổng sắt kiên cố của Trung tâm, cửa kính xe hạ xuống, Hoàng Chính Long tay cầm thẻ mật mã đút vào máy quét.

Một lát sau, cánh cửa sắt từ từ dịch chuyển mở ra một lối đi, chiếc xe ô tô từ từ chạy vào bên trong.

Bốn phút sau, cánh cửa kính tự động tại sảnh chính của Trung tâm mở ra, Hoàng Chính Long mặc bộ đồ véc đen, chân đi giày bóng loáng, tay cầm cặp da bước vào. Khi đi qua quầy lễ tân, anh gật đầu giơ tay chào cô lễ tân xinh đẹp như mọi ngày rồi rảo bước đi vào trong.

Bỗng tiếng cô lễ tân gọi giật giọng:

"Anh Hoàng. Anh vào phòng thí nghiệm nhanh lên, Jennifer gặp chuyện rồi."

Hoàng Chính Long giật nảy mình, anh quay ngoắt lại hỏi gấp gáp:

"Hả, chuyện gì? Jennifer gặp chuyện gì?"

"Em không biết, lúc nãy thấy cảnh sát và bác sỹ đều đến, họ đang ở trong phòng thí nghiệm. Nghe nói chị Jennifer gặp chuyện, anh đi nhanh lên." Cô lễ tân hớt hải nói.

Hoàng Chính Long chạy như bay về hướng phòng thí nghiệm, tai anh như ù đi. Qua một cái sân rộng rồi chạy qua một cái hành lang dài, qua một khúc rẽ.. Anh cố gắng vừa chạy vừa hét:

"Lui ra, lui ra.. tôi có việc.."

Nghe tiếng anh thét, những người đi lại trên hành lang đều đứng lại, nhường đường cho anh chạy qua.

Qua hết một hành lang nữa. Từ xa, Hoàng Chính Long đã nhìn thấy một đám người đứng xúm xít trước cửa phòng thí nghiệm, họ đang ngó nghiêng vào bên trong.

Thấy Hoàng Chính Long xộc xệch chạy đến, đám người vội vàng tránh ra, nhường một lối đi cho anh vào.

Ở giữa phòng thí nghiệm có hai cảnh sát và ba nhân viên y tế, bác sỹ đang cầm máy ảnh đứng thì thầm bên cạnh một cỗ máy, một bác sỹ đang chăm chú ghi chép vào tờ giấy.

Dưới mặt sàn, Jennifer đang nằm, một tấm vải trắng được phủ trên người nàng, che kín cả khuôn mặt.

"Có chuyện gì? Jennifer có chuyện gì?" Hoàng Chính Long hớt hải xông tới, chiếc cặp da rơi xuống đất nhưng anh không còn để ý đến nó.

Lập tức, hai viên cảnh sát tiến lại giữ chặt lấy anh.

"Xin lỗi, anh không được lại gần, chúng tôi đang làm nhiệm vụ." Một cảnh sát nhắc nhở.

"Buông tôi ra." Hoàng Chính Long gào lên, anh nhoài người về phía Jennifer kêu:

"Jennifer.. Jennifer."

Hai người nữa tiến về phía anh, một người ôm ghì lấy anh từ phía sau.

"Anh Hoàng. Chúng tôi rất lấy làm tiếc, xin chia buồn cùng anh." Có tiếng ai đó nói.

Nhưng Hoàng Chính Long không còn nghe thấy, cũng như không còn nhận biết được ai. Mắt anh như nhòa đi, ngực nhói nghẹn như có cái gì dâng lên trong lồng ngực đến tức thở.

Vài nhân viên tiến tới chăng dây ruband, niêm phong hiện trường. Một lúc sau, hai nhân viên y tế đẩy một chiếc giường nằm đến, họ nâng Jennifer lên xe rồi đẩy ra cửa.

"Xin làm ơn cho tôi được nhìn mặt cô ấy." Hoàng Chính Long thổn thức, nước mắt lã chã trên mặt.

"Vâng." Người nhân viên y tế dừng lại.

Hoàng Chính Long lảo đảo đến bên chiếc xe, anh nhấc một góc khăn lên nhìn xuống. Dưới lớp khăn, gương mặt Jennifer tái xám, hai mắt nhắm nghiền, nàng đã tắt thở.

"Jennifer.. Jennifer." Hoàng Chính Long nấc lên nghẹn ngào.

Anh òa khóc rồi thổn thức lùi dần, lùi dần dựa lưng vào tường và ngồi phịch xuống, hai chân hai tay buông thõng, đôi mắt vô hồn như người đã chết.

Thật lâu sau, có tiếng chân người đi đến bên Hoàng Chính Long, người đó quỳ xuống cạnh anh, tiếng của Dae Jang Geum nghèn nghẹn:

"Xin lỗi, tôi thật lòng chia buồn với anh."

Hoàng Chính Long giương đôi mắt vô hồn lên nhìn nàng, anh cố gắng trấn tĩnh lại.

"Cô có thể cho tôi biết, có chuyện gì xảy ra?" Anh lẩm bẩm.

"Tôi không rõ. Khi tôi đến phòng thí nghiệm đã thấy Jennifer nằm trên mặt đất, tôi đã bấm chuông báo động và cố gắng cấp cứu cho cô ấy, nhưng vô ích, dường như cô ấy bị điện cao áp giật." Dae Jang Geum buồn rầu nói.

Hoàng Chính Long ngồi im lặng, một hồi lâu, anh uể oải đứng lên lê bước ra khỏi phòng thí nghiệm. Rất nhiều người tiến đến phía anh bày tỏ sự thông cảm, chia sẻ nỗi buồn, nhưng anh không còn cảm giác gì nữa.

Mọi tiếng nói vọng vào tai anh nghe ù ù như tiếng gió, xung quanh anh, dường như là bóng đen vô tận, bao trùm lấy ý thức và tâm trí anh.

Anh cứ đi lang thang như vậy, không định hướng được là đi đâu.

* * *

Mấy ngày sau, tại công viên nghĩa trang thành phố.

Ở một góc khuất của nghĩa trang có một ngôi mộ mới đắp trên nền cỏ xanh, trên tấm bia có hình ảnh của một cô gái, đôi mắt thông minh nhìn thẳng về cõi vĩnh hằng xa xôi.

Trên tấm bia có dòng chữ:

Jennifer Trần.

Tuổi 30.

Sinh ngày 4 - 7 - 1982.

Mất ngày 21 - 12 - 2012.

Phía trước ngôi mộ, có nhiều vòng hoa đã héo xếp trên mặt đất. Một bóng người mặc bộ véc đen đang quỳ phủ xuống, thỉnh thoảng, trên bờ vai của hắn lại thấy run lên bần bật.

Mãi đến đêm khuya, những người trông coi nghĩa trang mới thấy hắn đứng dậy ra về. Bóng dáng hắn lảo đảo, vật vờ trên đường trong ánh đèn mờ mịt.

* * *

Hơn tháng sau, trong phòng thí nghiệm "dự án S", đồng hồ trên tường chỉ sang 3 giờ 30 phút sáng.

Đèn trong phòng sáng trưng nhưng không gian tịnh mịch đến thê lương. Giữa phòng có một chiếc máy kỳ lạ to như một con nhộng khổng lồ mạ kền sáng bóng, một đầu bọc kính, còn đầu kia của chiếc máy gắn một đống dây cáp điện lằng nhằng, cái to cái nhỏ, xanh đỏ tím vàng.

Đống dây cáp nối lòng thòng xuống một cái bệ bằng đá, trên bệ là một cái bảng điều khiển điện tử cao ngang ngực, các dấu vết niêm phong xung quanh chiếc máy đã được dỡ bỏ.

Dưới chân máy có bóng người đang ngồi, một tay hắn cầm chai rượu uống dở. Dưới sàn nhà, một chai rượu khác còn nguyên chưa bóc.

Hai mắt hắn đỏ ngầu, từng hàng nước mắt lã chã xen lẫn tiếng nấc, tiếng nỉ non toát ra trên gương mặt gầy đầy râu nham nhở:

"Jennifer, sao em lại bỏ anh ra đi như vậy.. híc híc."

"Không có em, anh sống như thế nào đây.. híc híc."

"Một mình anh sống trên đời này, nào còn ý nghĩa gì.. híc híc."

Thỉnh thoảng, xen lẫn tiếng kể lể thê lương là những tiếng nức nở ai oán.

Lâu sau, hắn lại nâng chai rượu ngửa cổ uống một hơi rồi lệng cái chai đánh vèo vào góc phòng. Lảo đảo với lấy chai còn lại, hắn hì hục vặn nắp mở tiếp để uống. "Ừng ực" hai, ba ngụm.

Bỗng nhiên, hai mắt hắn trợn trừng gằn lên:

"Chỉ tại cái máy này, hại Jennifer của tao."

"Chỉ vì mày làm tao giờ đây cô đơn."

"Mày làm tao mất nàng, tao hận mày, tao sẽ đập tan mày ra.. Ha ha.."

Hắn lảo đảo đứng dậy, gào thét như một thằng điên, tay cầm chai rượu vung vẩy. Tiếng của hắn vang vọng khắp căn phòng, do phòng được cách âm kín nên không ai bên ngoài nghe thấy.

"Choang.. xoảng.." Hắn cầm chai rượu đập mạnh vào bảng điều khiển, miếng kính bảo vệ bảng điều khiển vỡ tan, lẫn vào những mảnh vỡ của chai rượu. Trong giây lát, rượu bắn tóe ra bốn phía, không gian lập tức tràn ngập mùi rượu.

Trên mặt bảng điều khiển, bỗng nhiên xuất hiện các ký tự, hình vẽ nhảy nhót loạn xạ, hàng loạt tiếng bíp bíp và tiếng nói "sẵn sàng điều khiển" vang lên trong chiếc máy.

Tiếng "bíp bíp" dội vào tai hắn, làm cho hắn càng thêm điên cuồng. Hắn vươn tay túm lấy nắm dây điện ở đầu chiếc máy giật mạnh, nhưng cáp điện được đấu nối rất chắc khiến cho hắn cố giật nhưng không được.

Điều đó làm cho hắn càng điên tiết hơn. Hắn túm hai tay vào nắm dây, đu cả người, co cả hai chân trèo lên chiếc máy rồi hét lên một tiếng, cố hết sức gồng người để giật ra.

"Xoẹt, xoẹt." Một luồng điện lóe lên đánh trúng ngay vào đầu hắn.

Gần như ngay lập tức, hàng loạt các tia chớp điện lóe sáng, bắn tung tóe khắp căn phòng. Các thiết bị điều khiển điện trong phòng bị tia lửa điện đánh trúng, cháy khét lẹt, đèn trong phòng vụt tắt.

Các tia chớp ngày càng mãnh liệt đánh ra xẹt xẹt khắp xung quanh, bao phủ cả chiếc máy và bóng người trên đó, lửa và khói dầy đặc lập tức tỏa ra.

Giây lát sau, ngọn lửa bùng lên dữ dội bao phủ xung quanh chiếc máy. Do hệ thống báo cháy đã bị hỏng nên không có tiếng còi cảnh báo vang lên. Đến khi thế lửa mãnh liệt làm các vòi cứu hỏa tự động trên trần nhà bị vỡ, nước phun khắp nơi, nhưng vẫn không ngăn cản nổi các tia lửa điện và khói tiếp tục phát ra.

Dưới chân chiếc máy, co quắp trong vũng nước là một bóng người đen sì, cháy nham nhở trong khói lửa với những tia chớp lóe sáng điên cuồng.

Đồng hồ trong phòng đã chết lúc 4 giờ 30 phút sáng.
 
Chỉnh sửa cuối:
949 ❤︎ Bài viết: 393 Tìm chủ đề
Chương 6. Chuyện kể của Bảo lão

Sáng sớm hôm sau, trời đổ mưa rất to. Mưa như trút nước, ào ào làm cho trời đất mờ mịt. Thỉnh thoảng tiếng sấm đánh "ầm" cùng với những tia chớp lóe sáng cả đất trời như sắp đến ngày tận thế, đứng ở trong hang không nhìn rõ cả bên ngoài.

Cả nhà Bảo Y Đạo đã ăn sáng xong, bọn họ ngồi quanh bếp lửa uống trà, trời mưa to làm cho không ai ra ngoài được.

Uống được một lúc thì Bảo thị đứng dậy, mụ đến góc hang bốc mấy nắm gạo cho vào một cái chảo đất rồi đặt lên bếp. Xong xuôi, mụ cầm một đôi đũa dài cho vào trong chảo đảo qua đảo lại "xoàn xoạt" như rang nhộng.

"Phải rang sẵn một ít gạo để làm lương khô." Mụ nói.

"Ầy, không biết đến lúc nào thì ngớt mưa." Bảo Y Đạo thở dài, lão từ tốn bưng bát nước chè lên uống một ngụm rồi nhìn chòng chọc ra bên ngoài hang.

"Chờ tạnh mưa, chúng ta lên đường đến Tuyết Sơn hái chè nhé? Bảo thúc." Hoàng Chân nói, hắn ngước mắt nhìn Bảo lão chờ câu trả lời.

"Ừ, tranh thủ những lúc như thế này, chúng ta chuẩn bị cho kỹ vậy, lần đi này sẽ mất hơn chục ngày đấy."

Bảo Y Đạo chậm rãi trả lời, lão nghĩ bụng "Chờ ngớt mưa phải tranh thủ chặt mấy cây nứa và ít dây rừng tết lại để chuẩn bị." Xoa xoa hai tay vào nhau, lão nói:

"Trời mưa như thế này, ngoài suối nước lũ sẽ lên rất to. Mùa này, phải mất 2 đến 3 ngày mới tạnh được mưa. Sau đó, phải chờ tiếp 3 đến 4 ngày nữa lũ mới rút. Cũng may theo ý của ngươi, ta đã quây gỗ ngay cạnh cửa hang thành cái buồng xí nhỏ rồi lợp lá che đi, trời có mưa to cũng không việc gì. Ngày xưa, mỗi khi trời mưa mà cần xả bã, chúng ta phải lò dò xuống chân núi mà làm chuyện ấy, ướt hết cả người."

Lão đưa mắt thưởng thức nhìn hắn rồi lại chậm rãi uống trà, ngoài trời mưa vẫn ào ào như trút nước.

"Hồi trước, có một tên còn xui ta mua mấy cái bô bằng đất nung, bỏ ở trong hang để tối đỡ phải đi ra ngoài. Ta ngồi được mấy lần thì nó bị vỡ, báo hại ta bê bết cả mông. Sau lần đó, ta không dám ngồi nữa, dùng đựng tiểu thì còn được." Lão hậm hực nói.

Hắn ngồi cười nhếch cả miệng vì câu chuyện ngô nghê của lão.

"Bảo thúc, nghe nói thúc đã đi nhiều nơi, có thể kể cho cháu nghe về chuyện trước kia của thúc được không?"

Hắn gợi ý hỏi, trong thâm tâm, hắn muốn biết cuộc đời của lão như thế nào. Nhẹ nhàng nâng bát trà, hắn uống một ngụm rồi ngước mắt nhìn lão chờ đợi.

"À. Ta nhớ, hồi ta bị bắt đi lính thì ta còn nhỏ lắm, bé hơn ngươi một chút." Lão chậm rãi trả lời rồi nhìn hắn.

"Hôm đó, cả nhà ta đang ngồi gặm khoai luộc thì thấy lão trưởng bản đến, theo sau lão có hơn chục tên nữa. Bọn họ tay cầm dao, cầm gậy rất hùng hổ." Lão nhăn trán nhớ lại.

"Cha ta liền đứng dậy, chưa kịp hỏi thì bị lão ta đạp cho một cái, ngã lăn ra đất. Lão nói cả nhà ta đi trên đường mà không chịu nộp thuế, nên lão bắt ta và huynh trưởng ta đi lính để phạt. Rồi bọn chúng xông tới đè hai người chúng ta trói lại."

"Mẹ ta liền quỳ xuống van xin, cũng bị bọn chúng quất cho mấy roi vào mặt. Mẹ ta khóc ghê lắm rồi lăn xả vào ôm lấy hai anh em ta, nhất quyết không cho lôi đi." Lão nói mà mắt ươn ướt.

"Một tên trong bọn chúng thấy vậy liền vụt vào đầu mẹ ta một gậy làm bà ngất xỉu. Huynh trưởng ta cố chống cự cũng bị chúng đánh rơi cả răng, toét cả mồm."

Nói xong, lão nhe hàm răng lởm chởm ra thở dài:

"Hầy, huynh trưởng ta lúc đó cũng chỉ lớn hơn ta hai tuổi, chúng ta không chống cự nổi nên bị bọn chúng bắt đi từ đấy. Từ đó đến nay, ta không còn gặp lại ai trong gia đình ta nữa, không biết bây giờ họ có còn sống không?" Lão lắc đầu ai oán, từ mắt lão ánh ra hai ngấn lệ.

Lão ngồi một lúc lâu để trấn tĩnh, rồi lại bưng bát trà lên uống cái ực.

Tất cả mọi người trong hang đều trầm ngâm, lặng im nhìn lão, chờ đợi lão kể tiếp.

Uống xong ngụm trà, lão lại uể oải tiếp tục:

"Huynh đệ chúng ta bị chúng bắt đưa đi mỗi người một nơi, ta thì được đưa đến thành Giang Bắc làm lính. Hàng ngày chúng ta phải tập đâm, chém, chạy, nhảy, khênh vác.. vật lộn còn hơn cả khổ sai. Hồi đó ta rất gầy, cầm con dao còn run lẩy bẩy, đến chém gió còn không nổi, nói chi đến chém giặc."

Chép chép cái miệng, lão lại lắc lắc đầu:

"Mà nếu không tập thì bị bọn quan đánh cho bê bết, rồi phạt đến cháo cũng chẳng có mà húp. Ở đó được hai chục ngày, ta kiệt sức. Ta nghĩ, trước sau gì cũng chết, không chết dưới đao của địch thì cũng chết vì đòn và đói. Vì thế, ta chán sống không thèm dậy tập nữa, chỉ nằm chờ chết mà thôi."

Hắn ngồi im lặng nghe lão kể và thầm nghĩ: "Hóa ra cuộc sống của lão ngày xưa cực khổ như vậy, đây là cái xã hội gì mà đến đồng bào, đồng chí của mình cũng đối xử tệ hại như vậy sao?"

Hắn thở dài chán ngán, "ta phải tìm cách thay đổi cái xã hội này." Hắn lẩm bẩm.

"Cái gì, thay đổi cái gì?" Bảo Y Đạo háo hức nhìn hắn có ý chờ đợi, nghe thấy hắn lẩm bẩm, lão vui mừng tưởng hắn muốn làm cái gì đó mới lạ.

"À không, không có gì ạ, cháu đang nghĩ linh tinh thôi." Hắn chống chế rồi đưa bát trà lên uống để che dấu sự lúng túng.

Bảo Y Đạo bật cười, rồi lão lại hồn nhiên kể tiếp:

"Đến khi thấy ta sắp chết, bọn lính khiêng ta ra sông để vứt. May thay, sư phụ của ta trông thấy bèn đến xem. Ông ấy thấy ta còn thở nên cõng ta về cứu, còn cho ăn uống tử tế. Sau đó, sư phụ ta đến nài nỉ tên quan để xin cho ta làm đệ tử. Từ đó, ta theo sư phụ học nghề thuốc."

Liếc mắt nhìn mọi người đang ngồi nghe, lão lại tiếp tục:

"Ta nhớ, hàng ngày phải theo sư phụ đi bôi thuốc, bó xương, khênh vác bọn lính bị thương. Mà lúc đó, ta khá gầy yếu, nhiều khi đang vác bọn chúng thì bị ngã lăn ra. Lại bị bọn chúng chửi bới, đánh đập, đôi khi còn bị đạp một cái vào mặt." Nói xong, lão vênh mặt chỉ vào mấy vết sẹo ở cằm.

"Đến tối khuya, ta cũng không được nghỉ, còn phải giúp sư phụ sắc thuốc, pha trà đổ bô. Cũng may lúc đó ta không phải ra trận, nếu không thì đã chết từ lâu." Lão ngậm ngùi:

"Được 12 năm, sư phụ ta bị nhiễm một căn bệnh lạ, không cứu được nên qua đời. Từ đó, ta thay sư phụ làm quân y. Sau nhiều năm, ta đã băng bó, cứu chữa biết bao người. Lính của phe ta cũng có, tù binh phe địch cũng có. Bọn phe ta thì chửi bới, hống hách, bức hiếp người, không vừa ý chúng là bị đánh đập. Trong con mắt của bọn chúng, loại như ta chỉ là tên đầy tớ không đáng một đô, cứ như việc cứu chúng là vinh dự và hạnh phúc của ta vậy."

Lão thở dài nói tiếp:

"Còn bọn phe địch thì ngược lại, chúng khúm núm lạy lục, đút lót, cầu ta cứu giúp. Thật ngược đời, cứu người mình thì bị chửi bới, đánh đập. Còn cứu kẻ địch thì được đút lót, nịnh nọt. Ha ha."

Lão cười nhếch cả mép, cái đầu bù xù rung rinh như đầu sư tử.

"Được mấy năm, nhờ có tí đút lót, ta cũng tích trữ được một ít. Sau đó, tên đại quan phát hiện ra, nó bắt ta đánh một trận rồi lột hết của ta. Không những vậy, nó còn bắt ta hàng tháng phải nộp phí 20 đô. Nó dọa, nếu không nộp sẽ cho ta thành.. pêđê."

Mắt của lão nheo lại, cười nhăn nhúm:

"Vì thế sau này, ta mặc kệ cho bọn phe ta mà chỉ để ý cứu bọn phe địch. Thấy tên nào có vẻ là quan lớn, ta liền cứu rất tận tình. Bọn chúng cũng rất biết điều, còn viết thư nhờ ta chuyển cho người nhà bọn chúng để xin tiền rồi biếu ta tử tế."

"Có mấy tên không chịu chi tiền, ta liền lẳng lặng cho nó uống mấy liều thuốc xổ, bọn chúng chạy cả đêm. Đến sáng hôm sau, ta phán cho chúng mấy câu, nào là bị nhiễm bệnh lạ, nào là vô phương cứu chữa vv.. Bọn chúng thằng nào chả sợ chết, nên lại phải lạy lục ta cứu giúp. Ha ha.." Lão cười đắc ý đến méo cả mặt.

"Hô hô, ha ha." Mọi người ngồi nghe lão kể chuyện, không nhịn nổi đều phá lên cười.

"Khổ nhất là phải đi ra trận với bọn lính. Khi biết tin chúng thắng trận, ta rất lo vì biết rằng sẽ phải vất vả, hì hục cả ngày lẫn đêm vì phải cứu chữa cả quân ta lẫn quân địch, đến ngủ cũng không được, ăn cũng không yên. Còn bọn chúng thua, ta lại thấy mừng vì đa số là chúng bị bắt hoặc chạy tứ tán cả, có rất ít thằng bị thương chạy được về. Còn thằng chết thì tất nhiên không quay về được rồi."

Rồi lão cười hà hà, xong nhún vai phân trần:

"Nói thế nào thì ta vẫn là người tốt, chỉ là bị hoàn cảnh xô đẩy."

Sau đó, lão lại vênh mặt vô tư kể tiếp:

"Có một lần, doanh trại chúng ta bị quân địch bao vây, ta phải nhảy xuống hố phân mới thoát chết. Hây a, thối không thể tả."

Lão nhăn mũi rồi lắc lắc đầu:

"Đến hơn tháng sau, ta vẫn ngửi thấy mùi thối trên người."

Lão đưa tay quệt quệt mũi, rồi hùng hồn kể tiếp:

"Lại có lần, chúng ta đang hành quân thì bị địch tập kích, cũng may ta đi hàng cuối nên vứt hết cả đồ mà chạy. Ngược lại được một đoạn thì thấy một đám quân địch ở đâu xông đến, thấy ta, chúng hò hét đuổi giết làm ta hết hồn, díu cả chân ngã quay xuống đất."

"Vậy sau đó thì sao hả cha? Có bị chết không?" Bảo nhi lo lắng hỏi.

"Hừ, hỏi gì mà ngu thế? Nếu ta mà chết thì làm sao còn ngồi đây mà kể chuyện cho ngươi." Lão cau mày nói:

"Tất nhiên là ta phải cố chạy ngược về hướng cũ, đến gần chỗ đánh nhau, ta lăn ra sau một bụi cây giả chết. Khi bọn địch ào qua được một lúc, ta liền lẻn ra, lột được cái áo của một tên địch chết trận mặc vào."

Mặt lão nhâng nhâng như muốn khoe sự nhanh trí:

"Sau đó, ta lại chạy ngược về phía sau. Được quãng xa, tưởng đã thoát thì lại có một đám quân tiếp viện phe ta chạy đến. Bọn chúng thấy ta thì tưởng là quân địch bèn hò hét, cầm đao đuổi giết làm ta phải chạy ngược lại một lần nữa. Chà, hôm đó ta phải chạy đi chạy lại mấy lần, đứt hết cả hơi, tưởng chết." Lão hừ hừ nói:

"Nhưng dù sao, ta cũng thích quân ta thắng nhiều hơn. Vì như vậy chúng ta mới bắt được nhiều tù binh, ta mới có cơ hội kiếm tiền. Quan trọng nhất là ta yên tâm, không sợ bị thành pêđê."

Rồi lão lảm nhảm than thở:

"Thật đúng là: Ăn cơm của ta để đi cứu địch, lấy tiền của địch để nộp cho ta. Nghịch lý, nghịch lý. Hây da."

"Nhưng có một lần làm ta nhớ mãi. Hôm đó là buổi trưa, chúng ta hành quân đến bên một con suối rồi nghỉ ngơi ăn cơm. Thấy nóng quá, bọn ta liền cởi hết quần áo xuống suối tắm cho mát." Lão cười hí hí:

"Đang tắm thì quân địch ở đâu kéo tới, ta vắt chân lên cổ bỏ chạy quên cả mặc đồ. Bọn địch đuổi theo phía sau, ta chạy đến rã cả chân bèn trốn vào một khe núi nhỏ."

"Sau đó thì sao hả thúc?" Hắn tò mò hỏi, muốn biết Bảo lão làm thế nào để kiếm được quần áo mà đi ra ngoài.

"Ờ ờ." Bảo lão lúng túng:

"Ta.. ta chạy thẳng vào cái khe đó.. thì thấy một đám sơn nữ cũng nấp ở bên trong.. Ta bị bọn chúng nhìn thấy hết mọi thứ.. xấu hổ quá. Hí hí."

Lão gãi đầu, gãi tai rồi vô tư cười hềnh hệch:

"Nhưng vì tính mạng là quan trọng nên ta mặc kệ. Ta chen vào giữa bọn chúng rồi đứng im như con chim, không đứa nào dám kêu lên vì sợ lộ. Hí hí.. thôi không nói tiếp nữa."

Lão cười nham nhở rồi đưa bát trà lên miệng uống cho đỡ ngượng.

"Sao lại không chịu kể tiếp, có phải ông đã giở trò bậy bạ gì với bọn chúng phải không?" Bảo thị to tiếng hỏi, mụ liếc cặp mắt trắng về phía lão, vẻ hơi giận.

"Hụ.. hụ." Bảo lão đặt vội bát trà xuống, mụ vợ hỏi làm lão suýt bị sặc. Nước trà phọt ra miệng, bê bết vào chòm râu của lão. Lão vội vàng quệt mép rồi khua tay thanh minh:

"Đâu có.. đâu có. Bọn chúng đứa nào cũng lăm lăm con dao chĩa vào chỗ hiểm của ta, đến tiểu đệ của ta còn không dám ngọ ngoạy. Hây, đến đêm bọn chúng mới bỏ đi, ta mới hết sợ, may mà vẫn còn din." Lão nhăn nhở.

"Tưởng bọn chúng cho ông biết mùi đời rồi?" Bảo thị lườm lão, giọng hơi mang mùi dấm.

"Hí hí. Chỉ khi gặp nàng, ta mới biết mùi đời thôi." Bảo lão nói giọng nịnh bợ, hai mắt lão híp lại, liếc về mụ vợ đang bĩu môi.

"Nhưng cái bọn hổ cái đó, chúng làm ta tơi tả mà không dám kêu một tiếng." Lão nói rồi vạch khố, chổng mông lên cho mọi người xem, trên mông của lão có mấy vết sẹo dài trông như mèo cào.

"Ở đùi cũng có, cũng may chúng không tóm lấy tiểu đệ của ta rồi cho một dao là xong đời trai trẻ.. Hê hê." Lão nói dương dương tự đắc.

Tất cả mọi người trong hang đều ôm bụng cười sặc sụa. Bảo thị buồn cười quá đến nỗi ngã lăn ra đất, chổng cả bốn vó lên trời, thấp thoáng thấy hai quả mướp đại.

"Bảo thúc. Thúc đã đi nhiều nơi, có thể kể cho cháu nghe về những vùng đất mà thúc đi qua không?" Hắn hỏi mà người vẫn còn cười rung bần bật, hắn muốn biết cái vùng đất này như thế nào, to tròn, méo mó ra sao.

"Ầy, mặc dù ta đi nhiều nơi, nhưng thực ra cũng chỉ loanh quanh một góc lục địa mà thôi. Nhưng vì ta cứu chữa cho nhiều tên địch, bọn chúng từ khắp nơi bị bắt đến, nên ta dò hỏi cũng biết rất nhiều chuyện. Hơn nữa, tính ta ham hiểu biết. Buổi tối, ta nằm lân la nghe bọn chúng nói chuyện với nhau nên biết thêm nhiều sự lạ."

Lão nói, rồi bê bát nước trà lên miệng cười khềnh khệch.
 
Chỉnh sửa cuối:
949 ❤︎ Bài viết: 393 Tìm chủ đề
Chương 7. Truyền thuyết Đại lục địa

Uống xong ngụm trà, lão "khà" một cái, rồi giơ bàn chân bẩn đen sì lên, gạt gạt trên nền hang vài cái tạo thành một mặt phẳng khá sạch.

Sau đó, lão lấy ngón tay trỏ vạch một cái hình vuông lớn trên nền hang, rồi nói:

"Chúng ta sống trên một mặt đất rất rộng lớn, vuông như cái hình này." Lão chỉ chỉ vào hình vuông.

"Từ bé, ta đã nghe nói. Trời thì tròn, còn đất thì vuông. Mặt đất thì lồi lõm như cái nền hang, còn bầu trời thì khum khum như cái rổ to úp lên trên." Hai tay lão khum khum, khua khoắng loạn xạ trên cái hình vuông để diễn họa bầu trời.

"Mặt đất là hạ giới, là nơi chúng ta sống. Còn trên trời là thượng giới, có lão mặt trời và mụ vợ là mặt trăng sống. Ngoài ra còn đứa con gái lão tên là Hằng Nga và bọn đầy tớ, binh lính là những ngôi sao ở trên đó." Lão giơ ngón tay chỉ chỏ lên cái rổ vô hình.

"Hây, bởi vì lão mặt trời là chồng nên ban ngày lão nhốt vợ con ở nhà để đi chơi đây đó. Đến tối, lão về uống rượu rồi đi ngủ, vợ con lão mới được đi ra ngoài." Lão chép chép miệng ra vẻ rất hiểu biết.

Bảo nhi đang ngồi bó gối bên cạnh bếp lửa, cô bé tròn mắt hỏi lão:

"Sao cha biết buổi tối lão ấy uống rượu ạ?"

"À.. à. Thế ngươi không thấy sáng hôm sau mặt lão đỏ rực hay sao?" Bảo lão hỏi ngược lại.

"Ngươi có thấy, buổi tối có lão nào tỉnh táo lại để vợ đi ra ngoài chơi bời chưa?" Lão lý sự thêm.

"Cha, thế ngoài trời đất, có cái gì nữa không hả cha?" Bảo nhi vẫn thắc mắc.

"Tất nhiên là âm phủ rồi, có thế mà cũng hỏi. Ngươi không nghe nói trên trời có thượng giới, dưới đất là hạ giới, còn dưới nữa là địa giới tức là âm phủ, từ bé ta đã nghe người ta nói như vậy." Tiếp theo, lão nói rất hùng hồn:

"Ở dưới địa giới chỉ toàn âm hồn, ma quỷ. Đôi khi buổi tối, chúng lên mặt đất rồi bắt trẻ con ăn thịt." Lão nói tiếp vẻ hăm dọa:

"Vì vậy, buổi tối ngươi không được đi ra khỏi hang, nghe không?"

"Vâng.. vâng." Nghe lão nói, Bảo nhi sợ hãi lè lưỡi, rụt cả cổ, cô bé không dám hỏi nữa.

Hắn ngồi cười thầm, im lặng nghe lão nói. Trong thâm tâm, hắn muốn giải thích cho bọn họ về kiến thức vũ trụ, nhưng lại thôi. Kiến thức của con người ở thời đại này quá lạc hậu, bọn họ lại rất bảo thủ, nếu nói không đúng ý bọn họ thì bọn họ rất dễ nổi nóng.

Sau khi cười khà khà, lão đứng dậy đi lượm mấy cục đá nhỏ rồi đến bên hình vẽ, đặt mấy cục đá vào hai cạnh của hình vuông tạo thành một mô hình có mấy ngọn núi. Xong xuôi, lão phủi phủi hai bàn tay vào nhau bành bạch:

"Nơi chúng ta đang sống là ở đây." Lão chỉ vào đống đá xếp ở dưới cùng của hình vuông.

"Chính là dãy núi Đại Liên Sơn này, còn ở đây là dãy núi Đại Thiên Trụ."

Lão chỉ vào đống đá xếp ở cạnh bên trái, sau đó chỉ vào hòn đá to nhất, xếp ở góc dưới cùng bên trái của hình vuông.

"Ở đây có ngọn Thiên Trụ Sơn cao chín tầng mây, quanh năm mờ mịt, không bao giờ nhìn thấy đỉnh. Tương truyền đây là cột chống trời, nếu nó mà sụp đổ thì bầu trời sẽ sập xuống đè mọi người chết hết." Bưng bát nước trà lên uống một ngụm, lão "khà" một tiếng ra vẻ vô cùng thông tuệ.

"Nếu trời sập thì tại sao mọi người lại chết hết hả cha?" Bảo nhi thắc mắc hỏi.

"Hỏi gì mà vớ vẩn thế, nếu ta va vào ngươi thì ngươi cũng chết bẹp nữa là trên trời có mấy vạn thằng đầy tớ rơi xuống, chúng ta không chết bẹp mới là lạ." Lão nói một cách đầy tin tưởng rồi khẳng định như đinh đóng cột:

"Trước kia, cha mẹ ta đã bảo như thế."

"Vậy, tại sao lại gọi là Đại Liên Sơn và Đại Thiên Trụ hả thúc?" Hắn hỏi giọng tò mò.

Lão nhăn mày suy nghĩ một chốc rồi trả lời:

"Cái đó thì ta không biết, chắc do người xưa thấy nhiều núi quá thì đặt tên như vậy. Từ bé, ta sống ở trên dãy Đại Liên Sơn nên biết nó rất rộng, hàng ngàn dặm. Ta đã từng thử đi sâu vào trong núi, đến cả tháng vẫn chưa vượt qua hết. Lần đó ta suýt chết đói, phải gặm vỏ cây, ăn cả cỏ dại mới bò về được."

Rồi lão lại nói tiếp:

"Còn Đại Thiên Trụ thì ta chưa đến, nhưng hồi xưa, chúng ta bắt được một tên tù binh, hắn nói là sống ở chân dãy Đại Thiên Trụ. Hắn nói rằng dãy núi này cao ngất, hiểm trở không ai trèo lên nổi. Cả dãy núi như một bức tường dài vạn dặm từ bắc xuống nam, rồi kết thúc ở đỉnh Thiên Trụ Sơn."

Lão chỉ vào mấy cục đá ở dưới hình vuông rồi nói tiếp:

"Chúng ta có lẽ ở chỗ này, từ đây đi đến đỉnh Thiên Trụ Sơn chắc cũng phải mất mấy tháng."

"Vậy ngoài vùng đất này còn cái gì hả thúc?" Hắn hỏi rồi chỉ ra bốn phía ngoài của hình vuông.

Nghe hắn hỏi, Bảo lão há hốc mồm rồi gãi gãi đầu:

"Ờ.. ờ, ở ngoài đó có cái gì thì chỉ có trời mới biết." Lão nói vẻ lưỡng lự.

"Vậy ở hai phía này không có núi à?" Hắn hỏi rồi chỉ về hai cạnh còn lại của hình vuông.

"À, không có." Lão trả lời.

"Trước kia, ta có hỏi mấy thằng tù binh thấy bọn chúng nói rằng: Ở phía đông có một cái biển rất rộng, gọi là Đông Hải." Lão giơ tay chỉ chỉ phía bên phải hình vuông rồi nói tiếp.

"Ta còn biết, ở ngoài đó có một hòn đảo lớn gọi là Hỏa Đảo, có rất nhiều người sinh sống trên đó. Nghe nói hòn đảo này nằm trên lưng một con Hỏa kỳ lân khổng lồ, thỉnh thoảng nó lại phun lửa lên trời đỏ rực."

"Hỏa kỳ lân ư! Đã có ai nhìn thấy nó chưa ạ?" Hắn hỏi rồi nghĩ thầm: "Không rõ đây là thế giới bình thường hay là thế giới cổ tích với những con kỳ thú."

"Bọn đó nói rằng chưa nhìn thấy bao giờ. Con Hỏa kỳ lân này, nó phun lửa qua mấy cái vây ở lưng, trông xa như những ngọn núi. Bọn chúng nói, mỗi khi như vậy, mặt đất lại rung chuyển ầm ầm, cây cối ngả nghiêng, mặt biển chấn động, khiến chúng rất khiếp sợ." Lão nói có vẻ run rẩy.

"A. Chắc đây là núi lửa, trí tưởng tượng của bọn cổ đại này phong phú thật." Hắn thầm nghĩ.

"Còn phía bắc thì sao ạ?" Hắn hỏi tiếp.

"Phía bắc ư." Lão ngước cặp mắt mờ mịt lên nhìn hắn rồi lưỡng lự:

"Ta.. cũng không rõ lắm, ta không hỏi được tên tù binh nào ở đó." Lão ngồi vò đầu, bứt tai như cố nhớ lại cái gì đó. Bỗng lão vỗ đùi đánh "bốp" rồi reo lên:

"A, ta nhớ ra rồi. Trước kia, từng có mấy cô nương kể cho ta nghe. Bọn họ nói, ở phía bắc là một cái thảo nguyên rất rộng, nhưng có một cái sa mạc toàn cát ở giữa không có sự sống, nếu đi lạc vào đó thì chắc chắn là chết. Bọn họ gọi nó là.. là sa mạc GiGa thì phải."

Lão vỗ vỗ vào trán như đã nhớ ra, rồi nói tiếp:

"Ở tít ngoài thảo nguyên còn có một hòn đảo lớn, gọi là Bắc Băng Đảo gì đó nữa. Bọn họ kể là ở đó quanh năm băng tuyết lạnh lẽo, con người rất khó sống." Rồi lão nhe răng ra cười hềnh hệch.

Bỗng có tiếng của Bảo thị gằn giọng:

"Lão nói là có mấy cô nương, ở đâu.. ở đâu hả? Nói mau không thì chết bây giờ."

"Hả." Bảo lão ngơ ngác, lão vội liếc về phía mụ vợ đang ngồi rang gạo, thấy mụ hai mắt trợn trừng, miệng thở phì phò như ác thú vồ mồi. Lão lúng túng nói:

"Thì ở.. ở kỹ viện.. chứ ở đâu."

"Á à." Bảo thị lồng lên, mụ vung tay phi đôi đũa đang cầm về phía lão. Bảo lão vội vàng cúi hụp người xuống để né tránh. Đôi đũa bay vèo qua đầu lão bay về phía vách hang rồi rơi xuống đất đánh "cạch" một cái nẩy "tưng tưng".

"Ấy ấy, nàng bớt giận.. bớt giận, nghe tôi nói đã."

Bảo lão vội vàng chồm dậy, lão lom khom chạy về phía đôi đũa, nhặt lấy rồi rón rén mang đến bên mụ vợ, vừa đi vừa ấp úng thanh minh:

"Đấy là chuyện ngày xưa.. hồi tôi chưa gặp nàng mà. Sau khi gặp nàng.. tôi không dám đi đâu cả.. Không dám, không dám."

Bảo thị trợn mắt, mụ thấy hơi xấu hổ khi mất kiềm chế như vậy trước mặt mấy đứa nhỏ. Mụ "hừ" một cái rồi giật phắt đôi đũa trong tay lão:

"Vậy ra trước khi gặp tôi, ông đã ăn chơi thế ư?" Mụ nói vẻ cay cú, tay cầm đôi đũa gõ "cành cạch" lên miệng chảo.

"Đâu có.. đâu có, nàng nghe tôi kể đã." Bảo lão lo lắng.

"Hồi trước, chúng ta có tham gia đánh chiếm một cái thành. Đến tối, một tên đồng hương đến rủ ta đi kỹ viện. Chúng ta chỉ đến đó nghe hát và nhậu nhẹt thôi chứ làm gì có nhiều tiền mà chơi với mấy cô nương đó." Lão nói giọng nịnh nọt.

"Có đúng không?" Bảo thị gằn giọng.

"Đúng.. đúng." Bảo lão rối rít:

"Mấy cô nương đó, chúng chỉ ngồi trên đùi bọn ta rồi bón cơm, bón rượu. Sau đó chúng bóp vai, bóp cổ cho chúng ta thôi, chứ chúng chưa làm gì ta cả." Lão phân trần.

"Hừ. Ngoài bóp vai bóp cổ, chúng có bóp vào chỗ nào nữa không?" Bảo thị lườm một cái lạnh lùng.

"Không, không." Bảo lão vội vàng nói vẻ thành thật.

"Hừ, được rồi." Bảo thị lạnh giọng:

"Nếu nói dối thì tôi sẽ cho tiểu đệ của ông nếm món dao phay đó." Mụ hừ hừ nói.

"Biết rồi.. khổ lắm.. nói mãi." Bảo lão nhăn nhở.

Hắn phì cười nghe hai vợ chồng lão tranh chấp. Đúng là thế giới nào, thời đại nào thì ớt nào cũng đều cay và đàn bà nào cũng đều như vậy. Nâng bát nước trà uống một ngụm rồi ngồi thưởng thức vị trà ngấm vào lưỡi, hắn lẳng lặng nghĩ.

Bằng vào kiến thức về sự hình thành lục địa trên trái đất, hắn suy luận. Vùng đất này chắc là do ba khối lục địa trôi dạt, kết hợp lại thành một đại lục địa, kích thước của đại lục địa này hẳn là rất lớn.

Khả năng là cách đây vài trăm triệu năm, có hai khối lục địa đông và tây xô vào nhau, phần đất xô vào nhau này nhô cao lên tạo ra dãy Đại Thiên Trụ.

Sau đó, một khối khác xô vào phía nam của hai khối trên, tạo ra dãy Đại Liên Sơn. Do dãy này thấp hơn, nên chắc chắn là hình thành sau.

Như vậy, chắc chắn sẽ có ba vùng lục địa và mấy dãy núi này còn kéo dài nữa, về phía tây. Khả năng là thành chữ T ngược, vùng đất này gần giống như lục địa Châu Á ngày nay.

"Không biết hành tinh này có lớn hay không!" Hắn lẩm nhẩm.

Chỉ tay vào giữa hình vuông, hắn hỏi tiếp:

"Thúc, vậy ở giữa vùng này toàn là đồng bằng phải không ạ?"

"Ừ. Ta nghe nói như vậy, tất nhiên là cũng có ít đồi núi."

Bảo lão đã trấn tĩnh lại, vừa rồi ăn cơn giận vô cớ của mụ vợ khiến lão ăn nói thận trọng. Lão trả lời rồi lấy ngón tay vạch hai đường ngoằn nghèo như con giun trên nền hang, từ tây sang đông rồi nói:

"Tổng hợp lại các chuyện mà ta biết. Ở giữa vùng đất này, có hai con sông lớn chia vùng đất làm ba phần. Phía nam là con sông Đại Nam Giang. Con sông này rất rộng, chảy từ dãy Đại Liên Sơn lên hướng đông bắc, đến đây thì rẽ về hướng đông ra biển. Ta đã đứng ở bờ bên này mà nhìn sang bên kia, chỉ thấy mờ mờ."

Lão chỉ tay vào con giun thứ hai, rồi nói tiếp:

"Còn đây là con sông Đại Bắc Hà. Con sông này bắt nguồn từ phía bắc dãy Đại Thiên Trụ, sau đó chảy thẳng ra phía đông rồi đổ vào Đông Hải. Ngoài hai con sông này còn có hàng trăm các con sông nhỏ hơn, chúng đều bắt nguồn từ hai dãy núi, chảy loằng ngoằng rồi đổ vào hai con sông trên, hoặc thẳng ra biển. Vùng đất ở giữa mấy con sông này là đồng bằng rất màu mỡ, là vựa lúa của nhân gian."

Vừa liếc liếc về phía mụ vợ, lão vừa giơ tay chỉ vào khoảng giữa hai con giun:

"Ở đây còn có một cái hồ rất lớn gọi là Tây Hồ. Bọn lính nói rằng phong cảnh rất đẹp, rất nhiều nhà hàng.. kỹ.. kỹ viện ở xung quanh. Hồ rất rộng, đứng ở bờ bên này không thấy bờ bên kia. Nghe đâu, cái hồ này do một lão mặt trời rơi xuống tạo thành."

Nói xong, lão bèn khoang chân rồi bê bát nước trà lên uống ực một cái sạch nhẵn.

"Thúc, tại sao lại có chuyện mặt trời rơi xuống đây hả thúc?" Hắn ngạc nhiên hỏi. Chắc có sự tích gì đó liên quan đến vùng đất này.

"À, cái đó là do ta nghe kể lại, cũng không biết thật hay bịa." Lão gật gù trả lời:

"Nhưng ta biết một sự tích."

Lão giơ một ngón tay lên trời ra dấu quan trọng, sau đó từ tốn nói:

"Đó là chuyện của mấy ngàn năm về trước. Nghe nói là nguyên nhân tổ tiên ta đến đây, cũng là nguyên nhân chúng ta phải sống khổ như thế này."

"Sao ạ. Đây là câu chuyện có thật ư?" Hắn ngạc nhiên hỏi.

"Cha, cha kể đi?" Bảo nhi tròn mắt hỏi lão. Cô bé ngồi háo hức, đối với cô, những câu chuyện cổ tích là những chuyện mới lạ, hấp dẫn.

"Hầy. Chuyện này dài lắm, ta cũng nghe kể lại từ nhiều người. Bọn họ đứa nói thế này, đứa nói thế khác, ta cũng không biết đứa nào nói đúng."

Lão thở một cái "phì" rồi bưng cái nồi, rót thêm vào bát một ít nước trà. Trong lòng cái bát, xuất hiện một vòng tròn màu xanh đậm sóng sánh, bốc hơi nghi ngút.
 
Chỉnh sửa cuối:
949 ❤︎ Bài viết: 393 Tìm chủ đề
Chương 8. Sự tích mặt trời

Đưa cái bát trà lên miệng thổi phù phù, lão nhấm một ngụm rồi bắt đầu khề khà:

"Ngày xửa ngày xưa, đã lâu lắm rồi, không ai còn nhớ nữa. Trên bầu trời có tới mười lão mặt trời cứ lượn qua lượn lại, khiến cho ngày chẳng ra ngày, đêm chẳng ra đêm. Ở dưới Đại Liên Sơn này, bấy giờ rất nóng, nóng như rang lửa vậy. Mặt đất nứt nẻ, cây cối héo khô, các con sông thì cạn sạch không có lấy một giọt nước. Súc vật thì ốm o, vật vờ vì chết khát, đến con người cũng héo khô như que củi."

Lão chép chép miệng kể:

"Lúc đó, có một lão thổ dân tên là Hậu Thổ gì gì đó, sống ở chân núi Đại Liên Sơn xuất hiện. Lão rất tức giận bọn mặt trời làm chết khát nhiều trâu bò của lão, nên lão quyết tâm tiêu diệt bọn mặt trời."

Đưa tay vuốt vuốt cằm, lão lại tiếp tục kể lể:

"Cái lão Hậu Thổ đó đi vào sâu trong dãy Đại Liên Sơn. Ở đây, lão tìm được một cái cây rất to và cứng như sắt gọi là cây Thiết Mộc. Lão chặt cái cây đó xuống rồi đẽo thành một cái cung lớn và chục mũi tên vô cùng sắc bén."

Bảo nhi đang chăm chú ngồi nghe, bỗng lên tiếng hỏi:

"Cha, cái cây đó cứng như sắt thì tại sao lão Hậu Thổ lại chặt được ạ?"

"À.. ờ. Ta làm sao mà biết được." Lão lúng túng trả lời.

"Có thể là lão ấy không chặt, mà là lão ấy nhổ." Lão trả lời bừa.

"Nếu là nhổ thì tại sao lại đẽo được hả cha?" Bảo nhi thắc mắc hỏi tiếp.

"Ờ.. Lão không đẽo được thì lão ấy mài cũng được chứ sao." Bảo lão gân cổ lên vặc lại rồi nói giọng tức tối:

"Tại sao ngươi cứ hay hỏi linh tinh thế nhỉ? Lão ấy làm cách nào thì ta mặc kệ, miễn là có một cái cung và chục mũi tên, được chưa?"

"Dạ.. dạ, được rồi ạ." Bảo nhi ấm ức.

Hừ hừ vài cái, Bảo lão lại tiếp tục:

"Lão Hậu Thổ đó mang cung tên đến bờ sông Đại Nam Giang. Ở đây, lão cầu khấn Long Thần, Long Thần xuất hiện cõng lão bay lên đỉnh Thiên Trụ Sơn. Tại đây, lão lắp cung tên bắn rơi một mặt trời."

"A, giống như truyện cổ tích Hậu Nghệ bắn rơi mặt trời đây mà. Quái, sao ở đây cũng có chuyện này nhỉ?" Hắn thầm thắc mắc nhưng vẫn ngồi im nghe Bảo lão kể tiếp:

"Lão Hậu Thổ này bắn liên tiếp rơi ba đến bốn mặt trời. Lúc đầu, bọn mặt trời không để ý. Đến khi mặt trời thứ 5 rơi xuống bọn chúng mới biết, vội vàng chạy quýnh lên, loạn xạ khắp bầu trời."

"Lão Hậu Thổ không thèm thương xót, lão giương cung bắn tiếp lão mặt trời thứ sáu, lão này trúng tên rơi xuống dãy núi Đại Liên Sơn. Khi lão rơi xuống, lửa bắn tóe ra xung quanh làm cháy rất nhiều cây rừng, mặt đất bị cày xới, tạo thành một cái hồ to gọi là hồ Nhật Hạ. Đến bây giờ mặt đất vẫn còn cháy đen, bốc hơi nghi ngút."

Lão vừa kể vừa giơ tay chỉ trên trời rồi vạch "chéo" một cái như diễn tả cảnh mặt trời đang rơi xuống vậy, làm cho Bảo nhi ngồi nghe lè cả lưỡi.

"Sau đó, lão thổ dân này bắn tiếp mặt trời thứ bảy. Lão mặt trời này rơi xuống, nổ đánh ầm một cái, tạo thành một cái hồ lớn là Tây Hồ ngày nay."

Lão hùng hồn kể tiếp:

"Còn thằng mặt trời thứ tám, bị lão thổ dân đó bắn rớt xuống đại thảo nguyên phương bắc. Khi lão rơi xuống, mặt đất bị nổ tung làm cây cỏ xung quanh bị cháy đen, các hồ nước bốc hơi nghi ngút. Đến con người, súc vật cũng thành thịt nướng."

Rồi lão chép chép miệng, nước dãi ứa ra như đang nghĩ đến món gà quay.

"Có lẽ cái nơi đó bị biến thành sa mạc GiGa thì phải?" Lão lẩm bẩm.

"Đến lão mặt trời thứ chín, hình như bị lão thổ dân đó bắn rớt ngoài Bắc Băng Đảo. Vì ở đó, khói và bụi bốc lên mù mịt, không ai nhìn thấy gì nên mọi người đều đoán vậy." Lão nói giọng không còn mấy tin tưởng.

Hắn ngồi thầm suy nghĩ. Mía ơi, chắc mấy mặt trời mà đám cổ đại này nói đến là đống thiên thạch từ vũ trụ đây mà, ở trái đất trước kia cũng có vài cục rơi xuống làm đám khủng long tuyệt chủng. Khi đi qua khí quyển, thiên thạch ma sát với không khí bốc cháy đỏ rực kèm theo tiếng nổ khủng khiếp khi chúng va vào mặt đất.

Ở thời cổ đại này, bọn họ không lý giải được hiện tượng trên nên sinh ra câu chuyện cổ tích này, đúng là bắn rơi thiên thạch. Hắn suy nghĩ, tự nhiên nhớ đến một bài hát về các cụ già bắn rơi máy bay.. hết xăng thời chiến tranh Việt Nam.

Hắn mỉm cười và thầm nghĩ, dù sao câu chuyện này cũng khá thú vị, đảm bảo kể cho bọn trẻ con khiến chúng phê lòi mắt.

"Vậy, còn lão mặt trời thứ mười thì sao hả cha?" Bảo nhi hỏi.

"À. Còn lão mặt trời thứ mười thì trốn biệt, không dám xuất hiện nữa. Vì vậy, mặt đất trở thành bóng đêm vô tận, không còn ban ngày. Lão mặt trời này trốn trong nhà uống rượu hết ngày này sang ngày khác, cuối cùng mụ vợ và đứa con gái lão phải xuất hiện."

Lão cười khà khà nói tiếp:

"Mụ vợ lão phải quỳ xuống xin xỏ Hậu Thổ tha cho lão mặt trời thứ mười. Đổi lại, mụ đồng ý gả con gái mụ là Hằng Nga cho lão thổ dân làm vợ, hai người bọn họ đưa nhau xuống chân núi Đại Liên Sơn sống. Về sau bọn họ đẻ ra một đống con gái, đứa nào đứa nấy đều xinh đẹp như tiên. Từ đó, bọn họ thờ cúng Long Thần, thế gian lại có ngày và đêm, mặt đất lại mát mẻ như bây giờ." Lão chậc chậc cái miệng kể.

"Cha ơi cha, tại sao có tới mười lão mặt trời mà chỉ có một mụ vợ hả cha? Có phải mụ này lấy mười lão phải không ạ?" Bảo nhi hỏi.

"Vớ vẩn, làm gì có chuyện đó. Ta chỉ thấy một lão lấy mười bà chứ làm gì có một bà lấy mười lão." Bảo lão nói vẻ hơi tức.

"Thế tại sao lại chỉ có một bà mà không phải mười bà ạ?" Tiếng của Bảo nhi thắc mắc.

"Hỏi gì mà hỏi lắm thế? Ta làm sao mà biết được?" Bảo lão to giọng:

"Có thể là mấy mụ kia trốn ở nhà hoặc đi đâu đó, cũng có thể là bọn chúng chết hết rồi. Ngươi có thấy mụ nào chồng chết mà vẫn tung tẩy đi chơi chưa?" Bảo lão vặn vẹo hỏi lại.

"Biết đâu trên thượng giới cho phép một bà được lấy nhiều chồng thì sao?" Bảo thị hỏi vu vơ.

"À.. à.. cũng có thể." Bảo lão ngập ngừng, mụ vợ hỏi làm lão khó trả lời như thế nào.

"Thúc. Lúc nãy thúc nói, mặt trời rơi là nguyên nhân tổ tiên thúc đến đây, cũng là nguyên nhân phải sống khổ như thế này, nghĩa là sao ạ?" Hắn hỏi lão.

"À.. à, đúng như vậy. Đây là ta nghe được từ cụ tổ ta kể lại, cụ tổ ta nghe kể lại từ cụ cố tổ ta rồi kể cho ông tổ ta nghe. Ông tổ ta nghe được kể cho cụ ta nghe, cụ ta nghe kể cho ông ta nghe. Ông ta nghe kể cho cha ta nghe, rồi cha ta kể cho ta nghe."

Vừa bị mụ vợ vặn vẹo khiến cho lão lúng túng, trả lời đến líu cả lưỡi:

"Ngày xưa, trước khi mặt trời bị cái lão Hậu Thổ kia bắn rơi, tổ tiên của chúng ta sống ở trên đại thảo nguyên mênh mông phương bắc."

Sau khi trấn tĩnh lại, lão bắt đầu khề khà tiếp:

"Lúc đó, không phải là đại thảo nguyên như bây giờ mà là một vùng đất vô cùng trù phú, khí hậu mát mẻ, cây cối rậm rạp tốt tươi, trăm hoa đua nở, muông thú sum vầy."

Lão ngẩng đầu tưởng tượng về một thế giới như thiên đàng trong chuyện cổ tích:

"Tổ tiên chúng ta lúc đó sống vô cùng tự do sung sướng, an nhàn.. Đói thì nằm dưới gốc cây há miệng ra, quả chín tự rơi vào miệng. Khát thì chỉ cần ngửa tay, mưa trên trời rơi xuống, khỏi phải mất công đi múc. Thú rừng thì nhan nhản khắp nơi, chỉ cần nhóm đống lửa là có con thú nhảy vào tự quay trên đống lửa thơm lừng". Lão chép miệng, từ mép lão dớt dãi chảy xuống lòng thòng.

"Hừ, đúng là nằm mơ giữa ban ngày." Bảo thị bĩu môi.

"Bà có để yên cho tôi kể hay không?" Bảo lão nổi nóng.

Lão đang cao hứng thì bị mụ vợ xen ngang làm vỡ mất giấc mộng đẹp, khiến lão bực bội. Sau khi lườm vợ mấy cái, thấy mụ im lặng không nói gì, lão lại e hèm tiếp tục:

"Cũng không có cảnh nóng như rang lửa, mặt đất nứt nẻ, cây cối héo khô, súc vật thì ốm o, vật vờ vì chết khát. Tóm lại, việc đó không có ở trên vùng đất của tổ tiên chúng ta. Đến khi lão thổ dân kia xuất hiện thì cuộc sống của tổ tiên chúng ta lập tức rơi vào thảm họa."

Lão bùi ngùi thở dài, mọi người đều im lặng nghe lão kể.

Trên bếp, Bảo thị đã rang xong đống gạo. Mụ đổ đống gạo rang vào một cái hũ, sau khi đậy nắp lại cho thật chặt, mụ lúi húi vốc gạo cho vào một cái rá rồi bưng đến góc hang, vo gạo để chuẩn bị nấu cơm.
 
Chỉnh sửa cuối:
949 ❤︎ Bài viết: 393 Tìm chủ đề
Chương 9. Thời đại Băng hà

Ngửa mặt lên trần hang, thở dài một cái. Bảo lão lại tiếp tục kể:

"Ngày xưa, cha ta kể: Mấy ngàn năm về trước, tổ tiên chúng ta là một bộ lạc hùng mạnh sống ở phương bắc, mọi người gọi tổ tiên chúng ta là người" Man tộc ". Ở phương bắc khi đó là một vùng rừng rậm vô cùng rộng lớn, khí hậu mát mẻ, dễ chịu. Cây cối tốt tươi, muôn hoa đua nở. Thú vật có hàng trăm loài, vô cùng phong phú."

"Còn ở phương nam thì khí hậu vô cùng nóng bỏng, đất đai cây cối khô cằn, muông thú đều khó sống. Vì thế trong con mắt của tổ tiên chúng ta, phương nam là nơi cư ngụ của bọn mọi rợ, dặt dẹo, nghèo đói. Tổ tiên chúng ta khi ấy không có cảnh phải lo đi kiếm ăn qua ngày đoạn tháng, cũng không có cảnh người bóc lột người như bây giờ."

Lão gãi gãi đầu rồi cao hứng tiếp:

"Khi một người kiếm được cái gì, thì đem góp tất cả lại, rồi chia đều cho mọi người cùng hưởng. Cuộc sống thật là sung sướng, không cần phải vất vả chăn nuôi, trồng trọt mà vẫn no ấm."

"Đây là thời đại công xã nguyên thủy mà." Hắn nghĩ thầm.

Bỗng có tiếng của Bảo nhi vang lên:

"Cha, nếu đã sung sướng như vậy thì tại sao, tổ tiên chúng ta lại đến đây làm gì?"

"À. Tại cái lão Hậu Thổ đó xuất hiện làm đảo lộn mọi thứ." Bảo lão than thở. Có lẽ kể nhiều quá làm lão khô cổ, nên lão bưng bát nước trà lên uống một hơi hết sạch.

Bảo nhi ngồi cắn móng tay suy nghĩ một lúc rồi reo lên:

"A, con biết rồi. Có phải lão Hậu Thổ đó bắn chết mấy cụ tổ nhà ta rồi bắt bộ tộc chúng ta đến đây làm nô lệ, phải không ạ?"

"Vớ vẩn." Bảo lão cằn nhằn:

"Tổ tiên chúng ta là chúa tể phương bắc, còn lão ấy ở phương nam thì làm gì được."

"Nếu lão không làm gì được, thì tổ tiên chúng ta đến đây làm gì?" Bảo nhi thắc mắc.

"Tại vì lão ấy bắn rơi mặt trời, hiểu chưa?" Bảo lão to tiếng, đứa con hỏi vặn vẹo làm lão bực mình.

"Lão ấy bắn rơi hết mặt trời làm cho bầu trời tối sầm lại, khí hậu không còn ấm áp nữa mà là lạnh buốt ghê người. Người ta nói rằng, khi đó khắp nơi đều là băng tuyết, khí hậu lạnh cóng. Cỏ cây, vạn vật đều chết rét hết."

Lão thở phì phì rồi hỏi một câu có vẻ rất lôgíc:

"Ngươi có biết, nếu ban đêm ta tắt cái bếp lửa này thì chuyện gì sẽ xảy ra không?"

"Thì cái hang này.. tối thui ạ." Bảo nhi ngập ngừng trả lời.

"Đúng rồi, sau đó thì thế nào?" Bảo lão hỏi tiếp.

"Sau đó.. cha sẽ.. bò lên người mẹ ạ." Bảo nhi lúng túng.

"Hả!" Bảo lão trố mắt, hai hàm răng lão há hốc như muốn rơi ra khỏi mồm, tay lão run rẩy.

"Còn mẹ thì kêu.. ư ư.. ự ự." Bảo nhi ấp úng.

"Bẹt." Bảo lão tức tối đập cái tay xuống nền hang làm tro than bay tung tóe, lão gần như gào lên:

"Ngu ngốc, làm gì có bò với kêu ở đây! Đầu ngươi chứa toàn phân hay sao! Tắt lửa thì cái hang này vừa tối thui vừa lạnh lẽo hiểu không?"

"Dạ.. dạ, con hiểu rồi, tắt lửa thì sẽ không còn sáng và ấm nữa." Bảo nhi hốt hoảng, cô bé không hiểu tại sao lão lại nổi nóng.

Bảo thị đang ngồi canh nồi cơm thấy vậy mặt mũi đỏ bừng, mụ giả vờ quay lưng về phía góc hang lục lục mấy miếng thịt khô đem ra nướng.

Bảo lão mặt nhăn nhó, cú đập xuống nền hang hơi quá tay khiến lão ê ẩm, sau khi e hèm mấy cái, lão trấn tĩnh lại. Liếc nhìn về phía Hoàng Chân thấy hắn chỉ mỉm cười, lão lại giả vờ ậm ọe như không có chuyện gì:

"Sau khi lão Hậu Thổ bắn rơi mặt trời thứ tám, nó rớt xuống đại thảo nguyên ngày nay. Khi rơi xuống, nó bốc cháy thành một khối lửa khổng lồ lan tỏa ra khắp xung quanh đốt cháy mọi thứ. Từ cây cối, thú vật và cả con người cũng không thoát chết."

"Tại nơi mặt trời rơi xuống, mặt đất bị nổ tung, đến đất cũng bị cháy khô thành cát, khói bụi bốc lên đến tận chân trời. Rừng rậm bị biến thành hoang mạc, tổ tiên bộ tộc chúng ta cũng kẻ chết, người bị thương. Các gia đình ly tán, khắp nơi vang lên tiếng khóc lóc, rên rỉ.." Lão thở dài.

"Đến khi mặt trời thứ chín rơi xuống Bắc Băng Đảo, tiếng nổ của nó còn vang xa hàng ngàn dặm, khói bụi bốc lên làm đen sì cả bầu trời biến mặt đất trở thành đêm đen vĩnh viễn. Về sau, thiếu ánh mặt trời, cả vùng đất trở thành vùng băng giá. Lạnh đến nỗi, há mồm ra là không ngậm lại được, đi tiểu một cái là nước tiểu đóng thành băng. Đến bã xả ra cũng hóa đá, ném chó.. chó chết."

Rồi lão kết luận:

"Cha ta kể, đây là thời đại băng hà hay còn gọi là thời kỳ băng giá vĩnh cửu."

Uống một ngụm trà, lão lại tiếp tục:

"Vì lạnh giá và không còn cái ăn, nên sau đó, tổ tiên chúng ta phải di cư về phương nam để sinh sống. Trên con đường di cư, vì sinh mạng mà cả người lẫn các con vật đều không ngừng đánh giết lẫn nhau, ăn thịt nhau, kể cả đồng loại để chống đỡ cơn đói và khát."

"Từ đó, tổ tiên bộ tộc của chúng ta ly tán thành nhiều nhóm nhỏ, tha phương khắp nơi sống lạc hậu, đói khổ. Dần dần, người ta gọi chúng ta là bọn" Dân man ", bọn" Man tộc ". Khi ấy có rất nhiều gia đình, bố mẹ ăn thịt con, rồi con ăn thịt bố mẹ, mọi người ăn thịt lẫn nhau, tất cả chỉ vì mạng sống, nguyên nhân chỉ vì lão Hậu Thổ kia bắn rơi mặt trời." Lão kể đến đây thì lắc lắc đầu vẻ căm hận.

"Ồ, đây giống như kỷ băng hà trên trái đất mà! Không tưởng tượng được, mấy cục thiên thạch lại mang đến hậu quả ghê gớm cho các hành tinh như vậy." Hắn nghĩ.

Hắn muốn giải thích cho bọn họ về việc thiên thạch rơi gây thảm họa chứ không phải do lão Hậu Thổ nọ. Nhưng nghĩ bụng, suy nghĩ của bọn họ đã ăn sâu vào ý thức mấy ngàn năm, không đơn giản chỉ là giải thích là xong. Vì thế hắn im lặng, chờ cơ hội giải thích sau.

"Thế tại sao tổ tiên chúng ta không cầu khấn lão mặt trời đẻ thêm vài thằng mặt trời con hả cha?" Tiếng Bảo nhi vang lên.

Cô bé nghĩ rằng, chỉ cần có thêm vài mặt trời là khí hậu sẽ ấm áp, mọi thứ sẽ tốt đẹp trở lại.

"Ngươi tưởng đẻ dễ lắm sao! Ta và mẹ ngươi hùng hục bao nhiêu năm mà chỉ đẻ được có mình ngươi thôi đấy." Bảo lão lớn giọng.

"Sao con thấy mụ Phập ở dưới bản đẻ được một đống hả cha?" Bảo nhi thắc mắc.

"Hừ. Cái mụ ấy chỉ biết ăn rồi nằm ngửa, dạng háng ra, làm gì mà chẳng đẻ lắm." Bảo lão giở giọng cùn.

"Sao cha không bảo mẹ nằm dạng háng ra ạ? Con muốn nhà mình có thêm em bé." Bảo nhi háo hức.

"Hả! Ngươi thì biết cái gì. Khi nào lớn, lấy một thằng chồng thì tha hồ mà nằm dạng háng, xem đẻ có dễ không?" Bảo lão lý sự.

"Này.. này, ông lại trả lời bọn trẻ linh tinh gì thế hả?" Bảo thị lườm lão nhắc nhở.

"À.. ờ. Tại nó hay hỏi vớ vẩn làm ta nhức cả đầu." Bảo lão nhăn nhở.

Lão giả vờ đứng dậy đi vệ sinh rồi chuồn mất. Một lúc sau, lão mới trở lại, xoa xoa hai tay rồi khoang chân ngồi xuống như không có chuyện gì xảy ra. Sau khi giả vờ ho khan vài cái, lão lại tiếp tục:

"E hèm.. Khoảng hai ngàn năm trước, khí hậu mới dần ấm áp lại, nhưng tổ tiên chúng ta đã ly tán khắp nơi, không ai còn nhớ đến quê hương cũ. Những người còn sống sót sau thảm họa bắt đầu tụ tập lại với nhau thành những nhóm nhỏ. Họ định cư, sinh con đẻ cái, dần dần phát triển lại thành những bộ lạc."

"Trải qua thời gian dài, những bộ lạc này sinh sôi nảy nở, dần dần trở nên mạnh hơn. Bọn họ chiếm lĩnh đất đai, đánh dấu lãnh thổ. Để chống chọi lại với tình trạng thiếu lương thực, thực phẩm, bọn họ bắt đầu tìm cách trồng trọt, canh tác lương thực và chăn nuôi." Lão khua tay, múa chân để diễn tả.

"Nhưng cũng có nhiều bộ lạc bản địa không chấp nhận đám di dân, bọn chúng sợ mất nguồn nước, nguồn thức ăn. Vì thế, dần dần có những xung đột từ nhỏ đến lớn giữa hai đám người. Những cuộc xung đột này dẫn đến tình trạng thôn tính, khi đám bộ lạc chiến thắng sẽ tước đoạt hết những gì mà đám người kia có. Từ phụ nữ, trẻ em, gia súc, đất đai.. vv. Còn đám bị thua thì hoặc chết, hoặc phải tìm cách đầu hàng bộ tộc khác. Trong các cuộc chiến tranh như vậy, các bộ tộc lớn hơn có lợi thế, họ chém giết, xua đuổi các bộ lạc nhỏ hơn phải đến các vùng đất xa xôi, nghèo nàn.."

Tiếp theo lời lão kể, mọi người biết thêm rằng. Khoảng một ngàn năm tiếp theo, tình trạng giữa các bộ tộc ngày càng hỗn loạn và trở nên ác liệt. Để tồn tại, các bộ lạc nhỏ bắt buộc phải liên kết lại với nhau trở thành các bộ tộc lớn hơn, họ trả thù và tiến công các bộ lạc không chịu liên kết.

Ngược lại, những bộ lạc đối thủ cũng làm như vậy. Thời kỳ này là các bộ lạc phát triển thành các bộ tộc, thủ lĩnh các bộ tộc dần dần trở thành các lãnh chúa.

Bảo lão càng nói càng cao hứng, nước bọt văng tung tóe khắp nơi:

"Đến một ngàn năm trước. Các lãnh chúa thi nhau chiếm lĩnh một vùng đất đai rộng lớn và bắt đầu chinh phạt nhau để tranh cướp lương thực, phụ nữ và bắt người làm nô lệ. Đến khi có một lãnh chúa rất mạnh tên là Hoàng Thiên xuất hiện thì tình trạng trên mới chấm dứt. Lão ta ban hành các mệnh lệnh ngăn cấm các lãnh chúa không được chém giết lẫn nhau. Không những vậy, lão ta còn liên hiệp với các lãnh chúa mạnh khác thành một liên minh để duy trì trật tự giữa các lãnh chúa. Để thể hiện uy quyền, lão tự gọi mình là Hoàng Đế."

Bảo lão vẫn còn cao hứng kể lể:

"Mỗi bộ tộc lúc đó, từ bộ tộc bé có vài ngàn người đến những bộ tộc lớn có tới hàng vạn người, các bộ tộc đều có phong tục cha truyền con nối, lâu dần thành những đại gia tộc. Bọn họ bắt đầu tự đặt tên họ cho các đại gia tộc của mình như: Đinh, Lý, Trần, Lê, Nguyễn.. vv"

"A. Đây là thời kỳ hình thành các quốc gia và chế độ chiếm hữu nô lệ." Hắn thầm nghĩ.

"Như vậy, thời kỳ này Hậu Gia đã trở thành là một trong những đại gia tộc lớn của phương nam, họ thờ cúng Long Thần và đem hình Long Thần làm thương hiệu. Bắt chước Hậu Gia, các đại gia tộc khác cũng bắt đầu tìm kiếm các linh thú làm thương hiệu của gia tộc mình. Người ta nói, đó là thời đại Bách Gia." Bảo lão kết luận.

"Thôi thôi, ăn cơm đã." Bảo thị giục, mụ lườm lão ra ý.

Bảo lão thấy vợ lườm liền nhổm đít đứng lên. Lão lấy mấy cái bát gốm và mấy đôi đũa bày ra bên cạnh nồi cơm. Dưới đất, Bảo thị đã bày sẵn một ít rau rừng.

Trên bếp, một cái nồi mở nắp đang bốc hơi nghi ngút. Bảo thị tay cầm đôi đũa bự đang xới qua xới lại, mùi cơm chín thơm lừng tỏa ra khắp cái hang.

Bữa ăn đã sẵn sàng. Ngoài trời, mưa vẫn rơi rả rích.
 
Chỉnh sửa cuối:
949 ❤︎ Bài viết: 393 Tìm chủ đề
Chương 10. Bách Gia đua sắc

Ăn cơm xong bọn họ nằm lăn ra đống cỏ khô trong hang. Đống cỏ này khá rộng, bằng bốn cái giường King-size loại lớn ghép lại, bên dưới lót một lớp lá khô dày hơn nửa thước nên khá êm.

Gia đình Bảo lão tích góp cỏ và lá khô làm cái đệm này có hai mục đích. Ngoài để nằm, đến mùa đông bọn họ còn có thể dùng để đốt lửa sưởi ấm khi hết củi.

Bảo thị thì lăn vào góc trong cùng. Mụ nằm quay mặt vào vách hang, một lúc sau đã thấy ngáy ô ô.

Bảo nhi thì lăn vào nằm giữa Bảo thị và Bảo lão.

Chỉ có Hoàng Chân thì không nằm, hắn ngồi bên đống lửa đã tàn ngẫm nghĩ.

Bảo lão nằm ngửa nhìn lên trần hang, chân phải gác lên chân trái, bàn chân lão ngoáy ngoáy như đuổi ruồi. Hai bàn chân lão đen sì như hai khúc củi cháy dở, tay lão khoanh lại gối sau đầu, lão hào hứng tiếp tục câu chuyện dang dở.

Miệng lão ngậm một cái que để xỉa răng, khi nói chuyện, cái que ngọ ngoạy, quằn quại như con giun.

"Thời đại Bách Gia bắt đầu từ 1.000 năm về trước và kéo dài khoảng 500 năm." Lão kể tiếp..

Lịch sử lại được Bảo lão diễn tả lại một cách sinh động và có đôi chút lãng mạn. Theo lão nói, thời kỳ đầu của thời đại Bách Gia, Hậu Gia là một đại gia tộc mạnh nhất của phương nam, bọn họ chọn linh thú là Kỳ Long làm thương hiệu. Tiếp theo là vài đại gia tộc lớn chiếm lĩnh các vùng đất màu mỡ cũng bắt chước Hậu Gia, tự tìm kiếm linh thú để tôn thờ.

Đầu tiên là Hoàng Gia ở phương bắc. Hoàng gia là hậu duệ của lão Hoàng Thiên, bọn họ lúc đó rất mạnh. Để đối chọi với ảnh hưởng của Hậu Gia ở phương nam, Hoàng Gia chọn Kỳ Phụng làm linh thú cạnh tranh với Kỳ Long.

Tiếp theo đó là một loạt các lãnh chúa lớn. Bọn họ chọn Kỳ Lân, Kỳ Quy, Kỳ Tượng, Kỳ Mã, Kỳ Hùng, Kỳ Trư, Kỳ Ngưu, Kỳ Hầu, Kỳ Lang, Kỳ Hùm, Kỳ Beo.. làm linh thú.

Còn các lãnh chúa nhỏ hơn, do không còn linh thú nào oai phong để chọn. Hơn nữa, bọn họ không dám chọn các linh thú mà các lãnh chúa lớn chọn, nên họ đành chọn các linh thú khác nhỏ bé hơn như Kỳ Hưu, Kỳ Tý, Kỳ Kê, Kỳ Hạc, Kỳ Xà..

Bảo lão vẫn tiếp tục hùng hồn kể, thỉnh thoảng lão lại đưa tay lên xỉa răng trông cứ như đứa trẻ đang cầm que chọc tổ dế.

"Có một số chuyện rất tức cười." Lão nói.

"Nhiều lãnh chúa khi chọn linh thú làm thương hiệu mà không biết kỳ thú mình chọn đã bị lãnh chúa khác chọn mất, vì thế mấy năm sau bọn họ mới phát hiện ra. Thế là dấy lên một loạt chửi bới, bôi bác, tố cáo nhau ăn cắp thương hiệu kỳ thú, vi phạm bản quyền, thương hiệu nhái, thương hiệu rởm.. vv"

Lão ngoáy ngoáy chân ra vẻ rất thú vị:

"Có lãnh chúa còn đưa ra khẩu hiệu:" Thương hiệu gia truyền mấy trăm năm. "Lãnh chúa khác lại nói:" Đề phòng thương hiệu rởm. "Thậm chí có lãnh chúa còn đưa ra khẩu hiệu giật gân như:" Nâng niu đầu lâu cọp "hoặc" Xơi kỳ cẩu 7 món là yêu nước ".. vv"

"Để bảo vệ thương hiệu, các lãnh chúa này nếu ở gần thì đánh nhau dữ dội. Nếu ở xa thì đánh nhau bằng võ mồm, lu loa, chửi bới, kiện cáo tùm lum lên các lãnh chúa lớn nhờ phân xử."

Phải nói rằng, kỹ năng kể chuyện của Bảo lão rất là hấp dẫn, khiến người nghe tròn cả mắt.

"Ha ha.." Lão đang há miệng cười, bỗng lão chồm cả người dậy ọe ọe liên tục, hóa ra cây tăm đang ngậm trong miệng bị tụt vào trong cuống họng. Sau khi ho ọe đến đỏ cả mắt lại thêm đưa hai ngón tay vào móc móc, ngoáy ngoáy liên tục trong họng, lão mới moi được cây tăm ra.

"Hừ.. hừ." Lão nhổ toẹt cây tăm ra góc hang, sau khi hoàn hồn thì ngồi nhăn nhó kể tiếp:

"Thậm chí có nhiều lãnh chúa gửi đơn đến Hoàng Đế, Hậu Đế để đăng ký mấy thương hiệu đẹp. Sau đó bọn họ rao bán, tất nhiên giá cả cũng không tính bằng tiền vì lúc đó chưa có tiền, hàng hóa là phương tiện để trao đổi. Chủ yếu là gia súc, lương thực, phụ nữ và đồ có giá trị như đồng, sắt.."

"Có những lãnh chúa vì đói, phải bán đi thương hiệu của mình. Sau đó đi chọn những thương hiệu khác kém hơn hoặc mua lại những thương hiệu khác rẻ hơn. Còn những lãnh chúa nhỏ nhất, bọn họ không dám tranh giành thương hiệu với các lãnh chúa lớn đành phải chọn mấy con kỳ thú yếu ớt làm thương hiệu như Kỳ Nhông, Kỳ Đà. Thậm chí có lãnh chúa phải chọn cả giun dế làm thương hiệu nghe rất kỳ cục. Thời kỳ này là thời kỳ loạn thương hiệu." Lão kết luận.

Bỗng có tiếng Bảo nhi vang lên:

"Cha. Kỳ thú với thú khác nhau như thế nào ạ?" Cô bé thắc mắc.

"À.. à. Kỳ thú thì cũng giống thú nhưng to khỏe, dữ tợn hơn." Bảo lão trả lời.

"A. Thế thì con biết rồi, kỳ thú chắc là do mấy con thú bị điên phải không? Có một lần con thấy một con chó to bị nổi điên, nó chạy lung tung và rất dữ tợn." Bảo nhi kể.

"Vậy Kỳ Xà chắc là một con rắn điên to lắm phải không cha?" Bảo nhi lại hỏi.

"À.. à.. Có thể to bằng con Trăn." Bảo lão ngập ngừng trả lời.

"Vậy Kỳ Trăn thì to như con gì hả cha?" Bảo nhi hỏi tiếp.

"À.. à.. Kỳ Trăn thì có thể to bằng con Mãnh Long." Bảo lão trả lời.

"Vậy Kỳ Long thì to như con gì ạ?" Bảo nhi vẫn hỏi riết.

"À.. à.. Kỳ Long thì có thể to bằng.. quả núi." Bảo lão lúng túng.

Bảo nhi im lặng suy nghĩ một lúc rồi reo lên:

"A. Có người bảo con Kỳ Long dài như quả núi, còn cha bảo to như quả núi, như vậy vừa dài vừa to thì thành hình vuông rồi còn gì."

Cô bé cười to rất vui vẻ như phát hiện ra một việc hết sức vĩ đại là con Kỳ Long có hình vuông lại bị điên với cái mặt nhe đầy răng, còn đằng sau là cái mông bẹt dí.

"Hả, hình vuông á." Bảo lão há hốc cả mồm, lão ngẫm nghĩ một lúc rồi phá ra cười ha hả. Thấy lão cười, Bảo nhi cũng cười theo.

Bảo lão sau khi cười đã chán chê, lão lại chậm rãi nằm xuống:

"Thôi, để ta kể tiếp. Trong thời đại Bách Gia, lúc đầu có hàng trăm đại gia tộc, về sau do chiến tranh bạo loạn, tranh chấp lãnh thổ, số gia tộc bị diệt vong nhiều lên. 200 năm sau của thời đại Bách Gia, số đại gia tộc chỉ còn khoảng trên dưới 100 gọi là trăm họ. Bọn họ chiếm cứ các vùng đất lớn, cử quân lính đồn trú, canh gác. Thậm chí xây dựng pháo đài, tường thành để bảo vệ lãnh thổ."

"Do cuộc sống đã ổn định nên các lãnh chúa phải tập trung canh nông, chăn nuôi gia súc. Chợ búa được mở khắp nơi để giao lưu hàng hóa. Vải lụa được phát minh khiến cho da thú dần không còn được sử dụng làm quần áo. Cũng nhờ làm ra vải, đồng và chữ viết nên thời kỳ này văn hóa bắt đầu phát triển."

"Các đại gia tộc đã ổn định thương hiệu, biểu tượng linh thú cũng được diễn họa khá rõ ràng như Kỳ Long là hình con rồng đang bay. Kỳ Phụng là con phượng hoàng hai đầu. Kỳ Lân là con sư tử phun lửa. Kỳ Quy là con rùa đang bơi. Kỳ Tượng là con voi đang tung vòi.. Bọn họ bắt đầu thêu Kỳ thú lên cờ hoặc tạc tượng để thờ cúng. Cờ được thêu có màu sắc vô cùng phong phú, hầu như bọn họ có thể dùng được màu gì thì đều dùng màu đó để in cờ và nhuộm quần áo. Vì vậy, lúc này gọi là thời kỳ trăm hoa đua nở, trăm nhà đua sắc." Bảo lão nhấn mạnh.

"Thúc có biết, bọn họ chọn linh thú như thế nào không?" Hắn hỏi.

"Hả, chọn như thế nào?" Bảo lão không hiểu nên hỏi lại.

"Ý cháu là, tại sao bọn họ lại chọn một con kỳ thú nào đó mà không phải là con khác? Có điều gì liên quan đến kỳ thú mà bọn họ chọn hay không? Ví dụ, tại sao bọn họ chọn Kỳ Trư mà không chọn Kỳ Ngưu chẳng hạn?" Hắn hỏi.

"À, cái đó thì ta không biết. Có thể là bọn họ thích vậy, cũng có thể con thú đó gắn liền với lịch sử của bọn chúng. Như Kỳ Long chẳng hạn, nó gắn liền với sự tích của Hậu Thổ cưỡi lên trời. Hoặc Kỳ Tượng, nó do Tịnh Gia nuôi để cưỡi trong mấy trăm năm."

"À, con biết rồi. Kỳ Trư là do bọn họ nuôi để cưỡi, phải không ạ?" Tiếng Bảo nhi reo lên, xong cô bé lại gãi gãi đầu:

"Không đúng, heo thì làm sao mà cưỡi được."

"Đúng là ngốc ngếch." Bảo lão cười khù khụ:

"Heo thì để ăn thịt chứ ai lại để cưỡi. Bọn họ chọn kỳ thú nào là do con thú đó có liên quan đến lịch sử của gia tộc bọn chúng. Có thể là chúng nuôi nhiều heo để ăn thịt, thấy heo có tác dụng, bọn chúng bèn chọn làm Kỳ thú, hiểu chưa?"

"Vâng.. ạ, con hiểu rồi." Bảo nhi ấp úng.

"Thế còn Kỳ Giun ạ, có phải bọn họ nuôi nhiều giun để ăn không?" Bảo nhi vẫn thắc mắc.

"Hả." Bảo lão sửng sốt. Lão ngạc nhiên trước ý tưởng bất ngờ của con gái, lão ấp úng:

"À.. có thể. Chẳng lẽ bọn chúng không có gì ăn, phải ăn giun chăng?"

Lão nói xong, chợt nghĩ ra mình nói một câu rất dở hơi, bèn phá lên cười khùng khục:

"Tóm lại, bọn họ chọn kỳ thú gì là việc của bọn chúng, ta không quan tâm." Lão nói.

"Vậy, thời đại Bách Gia cuối cùng như thế nào ạ?" Hắn hỏi.

"Hây dà, cuối cùng bọn họ diệt vong do tự đánh lẫn nhau." Bảo lão trả lời.

"Nửa đầu của thời đại Bách Gia, quyền lực phương bắc rơi vào tay Hoàng Gia, bọn họ tự xưng là Hoàng Đế. Quyền lực phương nam rơi vào tay Hậu Gia, bọn họ xưng là Hậu Đế. Hai đại gia tộc này nắm quyền chi phối toàn bộ lục địa, các lãnh chúa khác đều phải phục tùng. Bọn họ được Hoàng Đế hoặc Hậu Đế phong làm chư hầu, gọi là đại vương như Tượng Vương, Mã Vương, Lân Vương, Quy Vương, Hầu Vương.. Nam bắc được chia đôi giới tuyến, lấy khoảng giữa hai con sông lớn làm ranh giới."

"Nửa sau thời đại Bách Gia, các lãnh chúa càng ngày càng mạnh lên. Bọn họ bắt đầu thoát ly ảnh hưởng của hai đại đế, thậm chí họ còn liên kết với nhau để chống lại hai đại gia trên. Thời kỳ này, chiến tranh xảy ra liên tục, các đại gia tộc lần lượt bị tiêu diệt hoặc bị thôn tính, các gia tộc nhỏ bị biến mất hoàn toàn."

Thời kỳ này là thời đại "cá lớn nuốt cá bé, con giẽ nuốt con giun." Bảo lão kết luận, lão há miệng ngáp ngáp mấy cái.

"Thúc, thương hiệu của" Dân tộc "chúng ta là linh thú gì ạ?" Hắn hỏi.

"Hả. Linh thú gì á?" Bảo lão ểu oải hỏi lại.

"Dân tộc chúng ta không thờ linh thú mà thờ hai thứ." Lão nói.

"Thứ gì ạ?" Hắn ngạc nhiên hỏi.

"Thờ hai thứ mà sinh ra ngươi ý. Thôi buồn ngủ quá." Lão than thở:

"Trời mưa chẳng làm được việc gì, đến tiểu đệ cũng chẳng được giải trí, quá chán.." Lão lảm nhảm.

Ngoài trời mưa vẫn rơi rả rích, một lúc sau, trong hang vang lên tiếng ngáy "o o" của lão.
 
Chỉnh sửa cuối:
949 ❤︎ Bài viết: 393 Tìm chủ đề
Chương 11. Thập nhị kỳ quốc

Chiều tà, trời vẫn tiếp tục u ám. Mặc dù mưa không còn ào ào như trút nước, nhưng vẫn rả rích bên ngoài hang.

Bên bếp lửa, cả gia đình Bảo Y Đạo vẫn tiếp tục ngồi xúm xít, bọn họ đang chuẩn bị cơm tối.

"Cứ như thế này không biết lúc nào ngớt." Bảo lão càu nhàu.

Lão ngẫm nghĩ, còn bao nhiêu việc phải làm để chuẩn bị cho mùa đông sắp tới, thế mà trời mưa lớn làm cản trở công việc của lão.

Ở góc hang, nơi có mấy cái lu đựng nước ăn, Bảo thị đang vo gạo chuẩn bị nấu cơm. Trước kia mưa nắng thế nào, mụ phải ra ngoài hang ngồi. Nhưng giờ đây, nhờ có Hoàng Chân gợi ý, bọn họ đã dọn một chỗ riêng biệt làm bếp. Chỉ có điều, bếp vẫn còn đơn sơ nên mỗi khi nổi lửa, khói bốc lên mù mịt trong hang như hun chuột.

Bảo nhi thì đang lúi húi bên cạnh Bảo thị, cô bé đang giúp mụ nhặt rau.

Hoàng Chân vẫn ngồi ở một bên đống lửa, hắn nhìn Bảo lão đang trầm ngâm uống trà và gợi chuyện:

"Thúc, lúc nãy thúc đã kể về thời đại Bách Gia, vậy sau đó thì thế nào ạ?"

"Hả." Bảo lão ngước nhìn hắn, ngẫm nghĩ một lát lão nói:

"Thời đại Bách Gia kết thúc cách đây khoảng 500 năm, sau đó còn lại 12 đại gia tộc lớn lập thành 12 kỳ quốc là: Long Quốc. Lân Quốc. Quy Quốc. Phụng Quốc. Tượng Quốc. Mã Quốc. Lang Quốc. Trư Quốc. Ngưu Quốc. Dương Quốc. Kê Quốc. Hưu Quốc."

"Mỗi quốc gia trên đều lập thương hiệu dựa trên linh thú đặc thù. Ban đầu là mấy linh thú mang tính truyền thuyết, nhưng truyền thuyết thì đâu có nhiều. Vì vậy, các quốc gia sau này chọn linh thú dựa theo con vật gắn bó với bọn họ nhất. Ví dụ như Trư Quốc, bọn họ nuôi rất nhiều heo làm thực phẩm, lâu dần con heo gắn bó với cuộc sống bọn họ và bọn họ thấy rằng, nếu thiếu con heo thì cuộc sống bọn họ không còn ý nghĩa, vì thế bọn họ chọn Kỳ Trư làm linh thú."

"Hoặc như Ngưu Quốc. Bọn họ nuôi rất nhiều trâu, trâu vừa giúp bọn họ lao động vừa cung cấp thực phẩm, thậm chí vừa là con vật dùng trong chiến đấu. Mấy trăm năm, những đội Ngưu Binh giúp họ bảo vệ lãnh thổ. Vì vậy, bọn họ chọn Kỳ Ngưu. Các quốc gia khác cũng như vậy." Bảo lão kết luận, rồi lão nói thêm:

"Thời đại 12 kỳ quốc kéo dài khoảng 300 năm. Trong thời gian đầu, bọn họ chung sống khá hòa bình, thậm chí còn tổ chức thi thố vui đùa với nhau. Đến mấy chục năm cuối cùng của thời đại 12 kỳ quốc, bọn họ bỗng gây sự đánh nhau lẫn lộn đến khi chỉ còn lại 7 quốc gia đến ngày nay."

Ở góc bếp, Bảo nhi đang giúp mẹ, nhưng cô bé vẫn dỏng tai nghe nói chuyện. Các câu chuyện luôn gợi trí tò mò ham hiểu biết của cô, vừa làm cô vừa ngoái đầu lại hỏi chuyện:

"Cha, sao không thấy mấy kỳ quốc ác thú như Kỳ Hùm, Kỳ Beo. Chẳng lẽ mấy ác thú này lại bị heo với gà tiêu diệt hay sao?"

"Ờ.. ờ. Chắc mấy con hổ, con báo này bị gà đá chết rồi, mà nếu không bị gà đá thì chắc cũng bị heo húc lòi ruột chết, nếu không thì tại sao bọn chúng lại diệt vong nhỉ?" Bảo lão gãi đầu gãi tai.

Lão không lý giải được tại sao mấy kỳ quốc ác ôn này biến mất, rõ ràng là bọn họ nuôi rất nhiều hổ báo:

"Theo như ta được biết thì mấy kỳ quốc này lúc đầu rất mạnh, chúng nuôi rất nhiều hổ, báo tạo thành một đội quân Hùm binh, Beo binh đến mấy vạn con. Nuôi nhiều linh vật vốn là đặc trưng của các kỳ quốc."

"Hổ, báo nuôi không phải để ăn thịt, cũng không thể huấn luyện làm kỳ binh được." Hắn giải thích.

"Có thể đặc tính nuôi nhiều kỳ thú đã làm bọn họ diệt vong, vì hổ báo nuôi tốn rất nhiều thịt, một con hổ phải ăn hết hàng chục con trâu mới đủ lớn. Nếu nuôi được một đội quân hàng vạn con hổ thành một binh chủng thì không quốc gia nào kham nổi. Vả lại hổ báo không dễ thuần hóa, không thể huấn luyện dễ dàng như trâu ngựa được. Có lẽ bọn chúng nuôi nhiều ác thú quá, dần dần quốc gia suy yếu không đủ thực lực để chống chọi với các quốc gia khác, cuối cùng bị diệt vong." Hắn suy luận.

"Có lý, có lý." Bảo lão phụ họa.

"Heo, ngựa, trâu.. bọn chúng toàn ăn cỏ và lá cây, mà những thứ đó thì luôn có sẵn. Chúng lại dễ đẻ dễ nuôi, lâu dần mới trở thành nguồn lực cho các quốc gia được." Lão bồi thêm.

"Nếu quốc lực đã mạnh, vậy làm sao bọn họ lại diệt vong được?" Hắn hỏi.

"À. Có nguyên nhân của nó." Bảo lão trả lời:

"Lúc ban đầu của thời đại 12 kỳ quốc, cẫn là hai đại cường quốc là Long Quốc ở phương nam và Phụng Quốc ở phương bắc chiếm ưu thế. Nhưng về sau, các nước khác không ngừng thôn tính các nước nhỏ hơn nên dần dần phát triển thành thế gần ngang với hai cường quốc kia. Về sau, bọn họ không còn nghe sự chỉ đạo của hai cường quốc kia nữa, thậm chí còn không ít lần tấn công làm suy yếu hai đại cường quốc."

Lão nhăn trán rồi gãi gãi cái đầu bù xù như nhớ lại:

"Ta được nghe nhiều câu chuyện kể trong thời kỳ này." Lão nói:

"Mỗi một quốc gia đều có thế mạnh, yếu của riêng bọn họ, nếu không có nguyên nhân sẽ không có khả năng bị diệt vong. Nhưng các đại vương của bọn họ, không phải ai cũng đủ minh mẫn để lãnh đạo đất nước. Về sau, bọn họ bị sa vào mấy trò chơi vớ vẩn dẫn đến chia rẽ rồi tàn sát lẫn nhau, cuối cùng mất nước."

"Diệt vong vì mấy trò chơi vớ vẩn ư! Nghe thật viễn tưởng?" Hắn ngạc nhiên như không tin vào tai mình.

"Đúng vậy, bọn họ nghĩ ra mấy trò vớ vẩn làm dân tình mải mê ăn chơi sa đọa. Pháp luật kỷ cương dần hỗn loạn khiến quốc gia suy yếu, đến khi có chiến tranh ai cũng tham sống, sợ chết, cuối cùng bị thôn tính." Bảo lão nói:

"Kẻ nghĩ ra mấy trò thâm nho này là lão đại vương của Quy quốc tên là Quân Thất Đức. Vào cuối thời kỳ 12 kỳ quốc, lão này nghĩ ra một kế để lôi cuốn các nước vào những cuộc vui chơi vô bổ rồi khơi mào mâu thuẫn dẫn đến chiến tranh hỗn loạn nhằm trục lợi, từng bước đưa Quy quốc thành một siêu cường."

"Những trò gì thế?" Hắn hỏi.

"Lão Quân Thất Đức này lợi dụng sự nhẹ dạ của mấy đại vương các nước, tổ chức ra mấy cuộc thi như Kê quốc thì thi chọi gà. Ngưu quốc thì thi chọi trâu. Trư quốc thì tổ chức lễ hội con heo. Hưu quốc thì tổ chức cờ bạc, cá độ.. Lão cho treo giải thưởng thật lớn và quảng cáo rùm beng khiến cho các nước mải mê tham gia. Ngoài ra, lão còn chê bai nước này yếu, nước kia kém.. dẫn đến các nước mâu thuẫn lẫn nhau.."

"Ồ, mấy trò này thì có gì ghê gớm hả thúc?" Hắn thắc mắc, trong suy nghĩ của hắn, ở thế giới trước cũng đầy rẫy những trò này.

"À, mấy trò này thì mới nghe tưởng không có gì, nhưng cách làm của nó mới là vấn đề." Bảo lão hóm hỉnh nói:

"Ví dụ lão biết Kê quốc là đất nước của gà, lão liền xúi bẩy đại vương của Kê quốc tổ chức ra những lễ hội rất kỳ quái như thi chọi gà có thưởng. Giải thưởng rất cao như đất đai, gia súc, gái đẹp.. chức tước. Còn lão cho người tổ chức bán độ, cuối cùng lợi về lão, còn mâu thuẫn thì đã có mấy con bạc chịu. Lão còn được tiếng là nhà tổ chức.."

"Ồ. Chọi gà thì có gì là ghê gớm, chắc chắn Kê quốc sẽ thắng, vì đất nước họ nuôi toàn gà mà." Hắn nói.

"Chưa chắc." Bảo lão phản bác.

"Nếu là chọi gà bình thường thì không nói, nhưng đây là chọi gà đặc biệt. Trường gà chỉ có một con gà.. trống duy nhất, còn những người tham gia thì mỗi người thả một con gà mái vào xem con gà trống.. đạp con gà mái nào trước là thắng." Lão nói.

"Ha ha, thế thì đúng là lạ thật." Hắn cười phá lên.

"Ừ. Như vậy, các quốc gia khác mới dám thi chứ chọi gà bình thường thì tất nhiên, bọn họ thua là cái chắc."

"Chắc chọi trâu cũng như vậy, phải không thúc?" Hắn hỏi.

"Ừ.. ừ, đúng vậy." Bảo lão khẳng định.

"Vậy còn thi những cái gì lạ nữa ạ." Hắn thắc mắc.

"Thi vắt sữa người chẳng hạn." Bảo lão tủm tỉm nói.

"Vắt sữa người thì có gì đặc biệt, kiếm mấy con mụ" tú vo "là được." Bảo thị đang lúi húi nấu cơm liền quay người góp chuyện.

"Vấn đề là không phải vắt sữa đàn bà, mà là vắt sữa.. đàn ông." Bảo lão cười khành khạch trả lời.

"Đàn ông mà cũng có sữa sao?" Bảo thị ngớ người.

"Tất nhiên, bọn họ thi.. vắt tiểu đệ xem thằng nào phọt ra nhiều sữa nhất, thằng đó sẽ thắng." Bảo lão tếu táo.

"Trời!" Bảo thị đang ngồi thì ngã ngửa người ra bếp đúng vào vũng nước, mụ vội vàng đứng dậy, trông như vừa đái dầm.

"Cha, vắt tiểu đệ mà cũng ra sữa sao?" Bảo nhi không hiểu hỏi.

"À.. à, khi nào lớn ngươi sẽ biết thôi." Bảo lão nhăn nhở.

"Vậy thì con mong sẽ nhanh lớn để biết nhiều thứ. Hoàng huynh, khi nào huynh có sữa, cho muội vắt thử nhé?" Bảo nhi háo hức nhìn hắn.

"Ha.. ha." Trong hang tất cả mọi người đều cười, tất nhiên mỗi người cười vì có cách nghĩ không giống nhau.

"Lão Quân Thất Đức đó còn xui đại vương của Trư quốc tổ chức mỗi năm một lần lễ hội con heo. Tại lễ hội này, tất cả mọi người tham dự đều khỏa thân nhảy múa." Bảo lão nói.

"A, giống lễ hội Caravan ở Brazin đây mà." Hắn thầm nghĩ. Nhưng cái xứ này có vẻ ăn chơi hơn, ở Brazin ít ra mọi người còn đeo mấy miếng vải để che những chỗ nhạy cảm.

"Tại lễ hội tổ chức thi nhiều thứ kỳ quái như thi bắn chim." Bảo lão đế thêm.

"Ồ, bắn chim bằng cung hay bằng phi tiêu ạ?" Hắn hỏi.

"Không, dùng tiểu đệ bắn chứ không phải bắn chim đang bay." Bảo lão dí dỏm:

"Bọn chúng đặt một quả táo trên giá cách năm thước rồi cho bọn trai tráng xếp hàng dùng tiểu đệ để bắn, xem thằng nào làm rơi quả táo là thắng." Mặt lão nhăn nhó như cố nhịn cười.

"Hơ hơ, đúng là lạ thiệt." Bảo thị mắc cỡ quá, mặt đỏ bừng.

"Chưa hết, bọn chúng còn tổ chức nhiều cuộc thi kỳ quái như thi hoa hậu, thi nam vương. Những cuộc thi này không bình thường tý nào mà là những cuộc thi quái gở." Lão giơ tay chỉ lên miệng như nhấn mạnh tính đặc biệt.

"Quái gở như thế nào ạ?" Hắn hỏi, trong ký ức của hắn cũng đã có lần đi thi Nam vương hồi còn là sinh viên.

"Bọn họ cho mấy cô nương trẻ, cởi hết quần áo thi nhảy múa khỏa thân gọi là thi.." bé khỏe, bé đẹp ". Cô nào hàng hóa to.. đẹp thì đoạt giải hoa hậu. Thi Nam vương cũng như vậy." Lão hí hí nói:

"Vì mấy trò quái đản đó, khiến cho dân chúng các nước, nhất là bọn tráng niên suốt ngày luyện tập.. miệt mài đến quên cả làm việc. Bọn chúng còn chê bai nước thua cuộc khiến cho đại vương nước đó cay cú, rồi cổ động bọn tráng niên thề lấy lại danh dự cho quốc gia.. Cứ thế, các cuộc thi kéo dài mấy chục năm, khiến cho nước nào cũng mải mê tuyển sinh, luyện tập, thi đấu giao hữu.." Lão kể lể.

"Đúng là mấy trò nhảm nhí, vô bổ thật." Hắn phụ họa:

"Vậy đây là nguyên nhân bọn họ diệt vong sao?" Hắn hỏi thêm.

"Gián tiếp thì là như vậy." Bảo lão khẳng định:

"Chiến tranh đầu tiên nổ ra là do đại vương Lang quốc và Hưu quốc đánh bạc, bọn họ đánh cược bằng đất đai và gia súc của đối phương. Lang quốc bị thua, nhưng bọn họ.. bùng, hai bên chửi bới, bôi nhọ lẫn nhau. Thậm chí Hưu quốc còn cho người ném phân vào nơi ở của đại vương Lang quốc. Lang quốc tức quá bèn bất ngờ tấn công Hưu quốc, hai bên đánh nhau mấy năm. Về sau, Lang quốc biết Tượng quốc cũng là con nợ bạc của Hưu quốc, hai nước bèn tuyên bố quịt nợ, rồi liên minh đánh Hưu quốc và chia đôi lãnh thổ."

"Còn Dương quốc vì chế ra một loại rượu sữa dê, đàn ông uống vào khiến tiểu đệ vô cùng chắc khỏe. Trong các cuộc thi nam vương, bọn họ luôn đoạt huy chương vàng khiến cho Mã quốc luôn về nhì. Vì cay cú, Mã quốc bèn tố cáo Dương quốc chơi gian lận, dùng thuốc kích thích. Dương quốc phản bác lại, chê đàn ông Mã quốc là" đuôi chuột đòi ngoáy lọ mỡ, chầy bé đòi giã cối to ". Mã quốc tức quá bất ngờ đánh úp tiêu diệt Dương quốc để chiếm loại rượu bí truyền trên."

"Còn Trư quốc vì trụy lạc sa đọa, sau mỗi kỳ lễ hội con heo, bọn đàn ông đàn bà.. đại chiến với nhau nhiều quá khiến chân tay run lẩy bẩy. Đến khi Quy quốc bất ngờ đánh úp còn không cầm nổi vũ khí. Quy quốc sau đó còn tấn công Kê quốc và sáp nhập thêm lãnh thổ chiếm được của hai quốc gia."

"Sau đó, đại vương Tượng quốc thi chọi trâu bị thua, phải nộp mấy bà vợ cho đại vương Ngưu quốc cặp kè vài tháng. Đại vương Ngưu quốc liền đem mấy bà này cho khỏa thân dạo phố làm Tượng quốc mất mặt, bèn đánh úp Ngưu quốc. Ngưu quốc bị thua phải nhờ Long quốc giúp, cuối cùng Ngưu quốc bị diệt vong."

"Long quốc và Tượng quốc mỗi bên chiếm một phần lãnh thổ của Ngưu quốc. Bọn họ sau đó còn đánh nhau mấy lần nhưng không bên nào thắng, cuối cùng đành giảng hòa."

"Lân quốc thì đem mỹ nữ dụ dỗ mấy dãy đảo lớn nhỏ ngoài Đông Hải thành lãnh thổ của họ. Cuối cùng chỉ còn 7 quốc gia tồn tại đến ngày nay."

Bảo lão nói xong. Lão với tay cho thêm mấy thanh củi vào bếp rồi nhặt một ít mảnh gỗ cho vào, lập tức trong hang xuất hiện một làn khói nhẹ thơm thơm tỏa ra.

"Buổi tối phải đốt thêm thứ này, không thì muỗi vào đầy hang." Lão nói.

Ở góc bếp trong hang, Bảo thị đã chuẩn bị xong bữa cơm tối, mụ quát bảo Ngọc nhi giúp dọn cơm trên nền hang.

Nhìn hai mẹ con bọn họ loay hoay chuẩn bị, Bảo lão nói:

"Thôi, chúng ta vừa ăn cơm vừa nói chuyện tiếp."

Ngoài trời, màn đêm đã bắt đầu buông xuống, mưa vẫn rơi rả rích.
 
Chỉnh sửa cuối:
949 ❤︎ Bài viết: 393 Tìm chủ đề
Chương 12. Thất hùng xưng bá.

Trong hang đá, ánh lửa bập bùng. Cả gia đình Bảo lão vừa ngồi quây quần bên bếp lửa ăn cơm, vừa nói chuyện.

Thỉnh thoảng lại vang lên tiếng cười, cuộc sống của bọn họ đúng là tuy không khá giả nhưng cũng chẳng có gì lo lắng.

Hoàng Chân vừa ăn cơm vừa suy nghĩ. Nếu cuộc sống phụ thuộc vào ông trời thế này, không phải là giải pháp hay.

Giả sử không có mấy bộ xương thú, ít thảo dược quý mà Bảo lão lấy về được để đổi thóc thì cả gia đình này chỉ có cách hái rau rừng, đào củ chuối mà ăn thôi.

Mặc dù Bảo thị có trồng một ít lúa nương, nhưng năng suất chẳng đáng là bao, may ra đủ dùng cho mẹ con Bảo thị đã là hạnh phúc lắm.

Nếu như có thể khuyên được Bảo lão thay đổi tư duy, thay bằng việc phụ thuộc vào ông trời và cánh rừng rậm này để có thể chủ động cuộc sống. Ví dụ như chăn nuôi, trồng trọt, tự sản xuất mà sống. Nếu chăn nuôi thì chọn nuôi con gì, còn trồng trọt thì trồng cây gì, sản xuất thì sản xuất cái gì mới hiệu quả.

Hắn ngồi suy nghĩ rất lâu, trong mớ kiến thức khoa học mà hắn nhớ từ kiếp trước, lĩnh vực chăn nuôi, trồng trọt là hắn ù ù cạc cạc, không biết nên làm cái gì hiệu quả.

"Chẳng lẽ lại trồng rau, nuôi gà." Hắn lẩm bẩm rồi chậm rãi nhai miếng thịt khô.

"Hoặc là khuyên cả nhà Bảo lão xuống thành Nam Sơn định cư buôn bán. Nhưng gia đình Bảo lão mấy chục năm sống trong chốn núi rừng, không quen sống ở thành thị. Vả lại bọn họ không có tiền làm vốn."

"Hay là ta một mình xuống thành, xem có thể làm được việc gì. Nhưng với cái cơ thể gầy yếu này, nếu không có người giúp thì chẳng thể làm được việc gì lớn. Đến thân còn chẳng tự lo nổi, nói chi đến giúp người."

"Hay là nghĩ cách sản xuất hàng hóa rồi đem đổi lấy lương thực, vải vóc. Hừ, cách này có vẻ khả thi, nhưng sản xuất cái gì đây?"

Bằng vào kinh nghiệm mấy lần xuống núi, hắn biết kỹ thuật của thế giới này còn rất lạc hậu, vải vóc bọn họ sản xuất ra tuy khá tốt nhưng ít mẫu mã, màu sắc thì toe toét, không sang trọng tý nào, đồ gốm sứ cũng như vậy.

Còn nói về đồ kim khí, gọi là thép tốt nhưng chém gió mấy phát còn quằn, chưa thể gọi là sắc như nước được, kỹ thuật luyện kim còn kém.

"Nhưng nếu sản xuất hàng hóa, thì cần phải biết thế giới này muốn cái gì chứ, cũng không thể sản xuất bậy bạ được." Lập tức trong đầu hắn nghĩ ra mấy đại kế hoạch.

Hắn bèn cất tiếng hỏi Bảo lão đang ngồi nhồm nhoàm bốc rau ăn:

"Thúc. Như vậy, từ 200 năm nay, chỉ còn bảy quốc gia thôi ư? Vậy bọn họ có những đặc điểm gì ạ?"

Trong thâm tâm, hắn muốn biết sơ bộ về các quốc gia để có cái nhìn tổng quan. Ví như ở thế giới trước của hắn thì các quốc gia Trung Đông có rất nhiều dầu mỏ. Nga thì đất đai rộng lớn và nhiều tài nguyên. Trung Quốc là nước có dân số đông nhất thế giới, còn Việt Nam thì chẳng có gì.. đáng để ý ngoài việc giao thông rất lộn xộn.

Nếu biết đầu tư dựa theo đặc điểm của từng quốc gia sẽ rất có lợi, tất nhiên đấy chỉ là ý tưởng vĩ mô. Còn hiện tại, hắn mới lo được đủ ăn chứ chưa dám nghĩ xa vời.

"Ừ, chỉ còn bảy quốc gia. Đó là Long Quốc. Lân Quốc. Quy Quốc. Phụng Quốc. Tượng Quốc. Mã Quốc. Lang Quốc. Mỗi quốc gia đều có những điểm riêng."

Bảo lão nói xong, bèn cố nhét nắm rau xanh vào mồm. Xong lão giơ tay vạch vạch một hình vuông và mấy gạch ngang dọc trên nền hang rồi chỉ chỏ:

"Bố cục của các quốc gia là như thế này." Lão phùng mồm trợn má nói:

"Phía bắc có ba nước, theo thứ tự từ tây sang đông là: Lang Quốc, sa mạc GiGa và Mã Quốc. Phụng quốc thì ở tít phía trên sa mạc thì phải."

"Ở giữa có ba nước là Tượng Quốc, Quy Quốc và Lân Quốc. Tuy nhiên Lân quốc ngoài Hỏa Đảo, không phải trên lục địa."

"Cuối cùng ở phương nam là Long Quốc, chúng ta hiện đang sống trên vùng đất do Long Quốc cai trị."

Lão cho tiếp một nắm rau nữa vào miệng nhai rau ráu, vừa kể tiếp:

"Cách đây 200 năm, rút kinh nghiệm từ những quốc gia bị diệt vong nên bảy quốc gia trên đã không ngừng củng cố quân đội, xây thành đắp lũy và tấn công lẫn nhau. Nhưng không bên nào thắng, cuối cùng đành phải chung sống hòa bình."

Sau khi dừng lại một chút để nuốt, lão lại nói:

"Nếu nói đến điểm mạnh yếu, địa lý chiếm vai trò rất quan trọng trong sự tồn tại của các nước."

"Đầu tiên phải kể đến Lang quốc, đất nước bọn họ là những vùng băng tuyết trắng xóa, có nhiều chó sói sinh sống. Có lẽ khí hậu lạnh nên cơ thể bọn họ to lớn, khỏe mạnh hơn người thường, tóc vàng mắt xanh, mũi khoằm trông như ác quỷ."

"Nhưng cơ thể khỏe mạnh không phải là yếu tố quyết định chiến tranh, mà uy lực của bọn họ là chiến xa. Mỗi khi có chiến tranh, họ sử dụng hàng trăm chiến xa chó sói kéo, trên xe chất đầy lao nhọn. Những chiến sỹ ngồi chiến xa, xông pha giữa chiến trận và phóng lao liên tục tiêu diệt kẻ địch từ xa. Khi cần bọn họ sẵn sàng đánh giáp lá cà, nhờ cơ thể khỏe mạnh lại thêm sự hỗ trợ của bầy sói nên không kẻ địch nào thích đối đầu với bọn họ. Điểm yếu của họ chính là ít dân số, thứ hai là chiến xa chỉ phát huy tác dụng trên địa hình tuyết bằng phẳng, nếu dùng trên vùng đồi núi hiểm trở thì không được."

Bỗng có tiếng Bảo nhi vang lên:

"Cha ơi, sao bọn họ không dùng ngựa mà phải dùng sói ạ? Con thấy người ta toàn dùng ngựa để kéo xe mà?"

"À à, đấy là ngươi không biết. Ở nước này sói nhiều quá, nó cắn chết hết không những cả ngựa mà cả trâu bò ý chứ. Vì vậy, bọn họ đành phải dùng sói để kéo xe." Bảo lão trả lời vẻ khẳng định, sau đó lão lại nói tiếp:

"Vì vậy, trong nhiều năm, bọn họ không mở rộng thêm được lãnh thổ, nhưng cũng không ai muốn chiếm vùng băng tuyết của bọn họ. Để khẳng định mình, bọn họ thêu hình đầu sói xám trên nền cờ trắng, nhìn từ xa là biết."

Lão trợn mắt cố nuốt hết đám rau nhai nát trong miệng, rồi thở một hơi kể tiếp:

"Tiếp theo là Mã quốc, điểm mạnh của bọn họ chính là ngựa. Nhờ cưỡi ngựa, bọn họ có thể di chuyển nhanh chóng qua các địa hình hiểm trở, xuất kỳ bất ý tấn công các quốc gia đối thủ."

"Bọn họ còn có một câu nói" Vó ngựa Mã quốc chạy tới đâu, cỏ không mọc ở chỗ ấy ". Ý bảo rằng, ngựa Mã quốc nhiều đến nỗi đi đến đâu, cỏ cũng bị đạp nát. Điểm yếu là vũ khí bọn họ khá thô sơ, chủ yếu dùng loại cung tên nhỏ, tầm bắn ngắn. Còn mã đao tuy đáng sợ nhưng lại ít, không đủ trang bị cho binh lính."

"Xã hội của bọn họ giống Lang quốc, đều là các bộ tộc rải rác trên thảo nguyên, nên binh lính không chuyên nghiệp, không quy củ, không có chiến thuật gì để tấn công các thành trì kiên cố của đối phương. Bọn họ đi ăn cướp thì được, cướp xong thì chạy, chẳng quân đội nước nào truy đuổi kịp."

Bỗng Bảo nhi lại cất tiếng đầy thắc mắc:

"Cha ơi, lúc nãy cha bảo ở Lang Quốc, ngựa bị sói ăn sạch. Tại sao ở nước này lại không có sói, hay là sói bị ngựa ăn sạch rồi ạ?"

"À à.. ừ nhỉ, chắc ở đây ngựa nhiều quá đến nỗi cỏ cũng bị đạp chết sạch nữa là.. sói." Bảo lão ấp úng trả lời, lão ngẩn ngơ một lúc rồi nói tiếp:

"Để thể hiện mình, cờ của bọn họ thêu hình ngựa trắng trên nền đen." Nói đến đây, lão phải ngừng lại một lát để nghĩ rồi mới tiếp tục:

"Còn Phụng quốc, bọn họ xuất thân từ tầng lớp quý tộc Hoàng Gia. Qua bao nhiêu đời, quốc gia họ toàn những đại tướng lẫy lừng, pháp sư cao thủ. Nhưng toàn người tài không ai phục ai, thành ra rất lộn xộn, không còn kỷ luật."

"Vì vậy, họ chỉ còn hư danh mà không đủ thực lực. Pháp sư cao thủ của họ chỉ dùng ám sát, đánh lén. Hai nữa, họ rất giỏi trong việc thuyết pháp, nhiều tướng lĩnh của đối phương đã bị họ lung lạc. Nhưng cuối cùng, thực lực không đủ, vì vậy, họ bị thua trong chiến tranh, phải chạy tít lên sa mạc phương bắc. Cờ của bọn họ là con phượng hoàng hai đầu trên nền vải xanh."

Nghe đến đây, Bảo nhi lại tròn mắt hỏi:

"Cha, sao ở nước này không có ngựa hay chó sói gì ạ?"

Bảo lão tỏ vẻ ngẫm nghĩ, cuối cùng lão trả lời bừa:

"À, tại vì bọn họ ở trong sa mạc không có cái gì để ăn, chỉ có chim bay trên trời mới thoát nên họ đành phải chọn chim làm biểu tượng."

Sau khi trả lời bừa xong, thấy mọi người không hỏi han thêm, lão lại kể tiếp:

"Còn Tượng quốc, nước này dựa vào núi rừng hiểm trở và một đội quân toàn là voi chiến vô địch. Nhưng điểm mạnh cũng chính là điểm yếu của họ, đó là voi ăn quá khỏe. Bọn họ cũng có câu nói" Chân voi Tượng quốc đi đến đâu, chuối không mọc ở chỗ ấy ". Ý là voi của Tượng quốc nhiều đến nỗi, đi đến đâu, chuối chỗ đó bị voi ăn sạch. Vì vậy, khi rời xa vùng rừng núi, voi không đủ cái ăn, cuối cùng không thể đi đánh xa được. Chiến cờ của bọn họ thêu hình voi trắng trên nền cờ xanh đỏ."

Lão nói đến đây bèn uống một ngụm nước, vơ một đũa cơm vào miệng, vừa ăn vừa kể:

"Lân quốc thì ưu điểm của bọn họ là chiến thuyền, chiến thuyền vừa to vừa chứa được nhiều lính, thêm nữa là máy bắn đá. Đạn của họ là những cái lu có chứa dầu cá, hoặc là bột cháy, nghe nói được tán từ xương của Hỏa Kỳ Lân ra. Khi bọn họ bắn trúng đâu là cái lu vỡ ra, ở đó bốc cháy dữ dội thiêu đốt mọi thứ."

Kể đến đây, lão tấm tắc chặc lưỡi:

"Chậc chậc. Vì vậy ở trên sông biển, chiến thuyền và máy bắn đá của bọn họ là vô địch, không có đối thủ. Nhưng thuyền không lên được đất liền, máy bắn đá không còn tác dụng. Vì vậy, thỉnh thoảng họ chỉ dám đổ quân quấy nhiễu ven biển chứ không chiếm đất của ai. Chiến cờ của họ thêu hình hỏa kỳ lân trên nền trắng."

"Bột cháy tán từ xương của Hỏa Kỳ Lân ư?" Hắn nghĩ bụng, chắc là bột lưu huỳnh đây, ở đất nước nhiều núi lửa thì loại đó rất sẵn.

Bảo lão vẫn tiếp tục hùng hồn:

"Long quốc thì hơi khác một chút, địa hình rất nhiều ao hồ, sông ngòi nên chiến thuyền nhỏ và đông như lá tre."

"Điểm mạnh của họ là binh lính rất giỏi bơi lội nên đánh nhau trên sông nước, họ chỉ cần lặn xuống thuyền lớn của địch rồi đục thủng. Nếu gặp thuyền nhỏ, bọn họ lặn đến gần rồi bất ngờ ngoi lên vung đao chém, rất khó đề phòng. Bọn họ còn có hàng ngàn ngưu binh, khi ra trận thì tung vào trận địa làm rối loạn quân địch."

Nói đến đây, đôi mắt lão bỗng trở nên mơ màng, giọng nói đều đều như u mê:

"Ngoài ra, Hậu Gia của Long quốc là một đại gia tộc nổi tiếng có nhiều người đẹp. Chà chà chà.. rất nhiều cô gái xinh đẹp nghiêng nước nghiêng thành nhá, chỉ cần nghĩ đến thôi là tim đập thình thịch, bủn rủn cả chân tay."

Bỗng có tiếng Bảo thị hừ hừ vang lên:

"Vậy khi ông nghĩ đến tôi có bủn rủn chân tay không hả?"

"Hả hả." Bảo lão giật cả mình:

"Có chứ, có chứ. Mỗi khi nghĩ đến mình, không những ta bủn rủn chân tay mà tim còn suýt ngừng đập luôn. Thôi để ta kể tiếp."

Lão nhăn nhở xoa hai tay:

"Hoàng hậu của nhiều nước vốn là người Hậu Gia. Vì vậy, khi có chiến tranh, Long quốc thường hay xúi giục hậu cung đối phương gây sức ép, nhất là dụ dỗ các nước thông gia đánh lén đối phương. Sử dụng mỹ nhân kế là chiêu bài hay dùng của họ."

Nói đến đây, Bảo lão bỗng nhiên trợn mắt, há mồm như con cá ngão, hóa ra vì vừa ăn vừa nói làm lão bị nghẹn. Cũng có thể do lão vừa nghĩ đến bà vợ dữ bèn.. suýt tắt thở. Sau khi ngồi đần người ra một lúc, cảm thấy cục cơm đã trôi xuống dạ dày, lão bèn thở "phì" một cái, lắc lắc đầu.

Bảo thị ngồi gần đó liền nhắc nhở:

"Ông ăn nói từ từ thôi, có ai nói tranh của ông đâu mà vội vàng như vậy." Mụ nói xong liền lườm yêu chồng một cái.

Bỗng có tiếng của Bảo nhi cất lên:

"Cha, nếu Long Quốc hay dùng mỹ nhân kế thì chiến cờ phải thêu hình phụ nữ chứ nhỉ?"

"Hả." Bảo lão ớ người ra suy nghĩ, một lúc sau lão mới giải thích vẻ rất dạy đời:

"Không được, chiến cờ mà thêu hình phụ nữ thì trông kém khí thế. Ngươi không thấy phụ nữ toàn ở dưới đàn ông sao?"

Sau đó, lão lại nói tiếp như sợ ai tranh mất:

"Đã gọi là Long quốc thì tất nhiên phải là hình con rồng vàng trên nền đỏ."

Dường như cảm thấy hài lòng với giải thích của mình, lão lại tiếp tục:

"Cuối cùng là Quy quốc, nước này có đặc điểm đất rộng, người đông. Sau khi thôn tính mấy quốc gia nhỏ cách đây mấy trăm năm, dân số của Quy quốc đã trở thành nhiều nhất đại lục."

"Đến nay họ là quốc gia có nền kinh tế và văn hóa phát triển rất mạnh, hơn nữa, họ rất giỏi trong việc xây dựng và sản xuất vũ khí. Mỗi khi chiếm được đất đai ở nơi nào, bọn họ đều lập tức xây thành, đắp lũy, giết sạch đàn ông, con trai nơi đó. Ngoài ra, họ còn cướp đoạt phụ nữ đối phương để đồng hóa dân tộc."

Lão vỗ vỗ trán như nhớ ra sự việc gì đó:

"Ta còn nghe nói, Quy quốc nổi tiếng nhờ một loại rùa đen, đàn ông nước này mà uống tiết của nó là cảm thấy.. hừng hực. Vì thế, dân số của họ mới tăng nhanh như vậy. Do đó, thường có câu nói" Lính Quy quốc đi tới đâu, đàn bà không ở chỗ ấy ". Ý nói là đàn bà mà gặp lính Quy quốc thì phải chạy nếu không thì.. hắc hắc."

Kể đến đây, lão nhăn mặt cười một cách khó hiểu rồi vỗ tay kết luận:

"Vì vậy bây giờ, chẳng có nước nào thích đối đầu với Quy quốc. Chiến cờ của họ có hình cái khiên như mai rùa và hai thanh gươm bắt chéo trên nền đỏ. Tuy nhiên, nếu các quốc gia khác liên minh lại với nhau thì bọn họ cũng chẳng dám làm gì." Lão khẳng định.

Nói đến đây, lão đặt bát cơm đã hết sạch xuống đất rồi xoa xoa bụng, "khà" một tiếng ra vẻ đã no.

"Vậy, hồi trước thúc đi lính cho quốc gia nào?" Hắn hỏi.

"Tất nhiên là Long quốc. Cách đây 30 năm, có một cuộc loạn chiến giữa các nước mà nguyên nhân do lão đại vương của Quy quốc gây ra." Lão nói.

"Quy quốc khơi mào chiến tranh ư? Chẳng phải thúc nói là Quy quốc không thể làm gì nếu các nước khác liên minh với nhau hay sao?" Hắn ngạc nhiên hỏi.

"Tất nhiên, nhưng lão này rất khôn và mưu mẹo. Đầu tiên, lão gây chia rẽ giữa các nước để họ xích mích với nhau. Sau đó, lão giả vờ thành lập liên minh với một số nước, xúi giục họ tấn công nước khác nhằm" cò ngao tranh chấp, ngư ông đắc lợi ". Lão tên là Quân Thất Nhân, lão lên làm vua cách đây khoảng 40 năm."

"Thời kỳ này, Quy quốc liên tục cải cách kinh tế, chính trị và huấn luyện binh lính. Lão cho xây nhiều thành lũy để đề phòng chiến tranh, đồng thời cho đúc nhiều vũ khí để trang bị cho quân đội. Thời gian lão cầm quyền, các nước khác phải luôn trong tình trạng căng thẳng đề phòng."

"Ở phía bắc, lão bắt xây trường thành, đề phòng các nước đánh xuống. Phía tây, lão cho phá núi mở đường để dễ xâm chiếm Tượng quốc. Phía đông, lão cho lập các quân cảng, đóng nhiều chiến thuyền để cạnh tranh với Lân quốc. Còn phía nam, lão lùa dân chúng sang canh tác trên đất của Long quốc. Nếu binh lính Long quốc đến đuổi, thì lão cho người lu loa rằng Long quốc đàn áp dân chúng Quy quốc, từ đó lấy cớ gây chiến. Đồng thời lão cho xây thành, đưa binh lính đến với lý do bảo vệ dân. Cứ thế, lão cho lấn dần đất của các nước."

Lão nói đến đây bèn ngừng lại, lắc lắc đầu rồi vớ cái bát nước để uống:

"Đến khi thấy thời cơ, lão xúi giục Tượng quốc đánh chiếm đất của Long quốc. Khi hai nước đánh nhau thì Long quốc đại thắng, binh lính Tượng quốc bị thua phải chạy về nước. Quy quốc bèn rêu rao là phản đối Long quốc đánh Tượng quốc rồi bất thình lình đánh úp khiến Long quốc phải bỏ đất chạy về phía nam, lấy sông Đại Nam Giang làm phòng tuyến."

Đang nói, lão chợt quay phắt người ra lệnh cho Bảo nhi đang ngồi tròn mắt:

"Lấy cho ta cái tăm." Lão hất hàm.

Bảo nhi ngơ ngác đi đến góc bếp lục lọi. Một lúc sau, cô bé đưa cho lão. Bảo lão vội cắm cây tăm vào miệng chọc chọc, ngoáy ngoáy:

"Mấy miếng thịt khô này dai quá, đau cả răng." Lão lẩm bẩm.

"Vậy sau đó thế nào hả thúc?" Hắn hỏi tiếp.

"À. Sau đó, Long quốc nhờ Phụng quốc, Lang quốc, Mã quốc định đánh úp, uy hiếp Quy quốc. Nhưng bọn họ vì lợi riêng nên không chịu phối hợp với nhau, cuối cùng không làm gì được. Quy quốc còn đánh lén lại Phụng quốc khiến cho Hoàng đế phải bỏ cả kinh thành mà chạy lên phía bắc. Từ đó, đất đai của nước này rơi vào tay Quân Thất Nhân."

"Nếu không nhờ có Lân Quốc đổ quân đánh úp vùng ven biển Quy quốc thì chắc chắn Long Quốc đã bị đánh bại, nhưng Lân quốc cũng không làm được gì hơn. Bây giờ, Quy quốc đã là quốc gia lớn nhất lục địa, bọn họ chiếm hết các vùng tài nguyên màu mỡ, cả vựa lúa của nhân gian." Lão thở dài nói.

"Thúc. Tại sao cờ các nước khác thêu hình kỳ thú, mà của Quy quốc lại là hai thanh gươm và cái khiên ạ?" Hắn hỏi.

"À, ta nghe nói vì một nguyên nhân." Bảo lão nhếch miệng:

"Trước kia cờ của họ thêu hình con rùa đen trên nền trắng, trong một lần đánh nhau với Lân quốc, vương kỳ của lão Thất Nhân đó bị máy bắn đá của Lân quốc bắn te tua, thủng một lỗ to tướng đúng giữa mai rùa. Khi vương kỳ giơ lên, trông cứ như khoe biểu tượng.. phụ khoa của mấy bà đẻ."

"Về sau, bọn trẻ con hay vẽ cái mai rùa thủng đó lên tường, chúng còn vẽ thêm mấy cái ria đen đen te tua xung quanh để mỉa mai Quy quốc. Vì thế, lão Thất Nhân đó tức lắm, lão bèn thay vương kỳ thành cái khiên và hai thanh gươm bắt chéo nhau, nền dùng đỏ chứ không dùng trắng nữa."

Nói đến đây, lão cười hềnh hệch rồi với tay, lấy cái bát nước lên uống rất thong thả.

"Thì ra là vậy." Hắn méo miệng cười.

Ngoài trời, mưa vẫn rơi rả rích.
 
Chỉnh sửa cuối:
949 ❤︎ Bài viết: 393 Tìm chủ đề
Chương 13. Chuẩn bị đến Tuyết Sơn

Mấy hôm sau thì trời ngớt mưa, đã có tia nắng hửng trên bầu trời.

Hai mẹ con Bảo thị đã rời hang đi vặt rau rừng từ lúc sáng sớm, trời mưa mấy hôm khiến cho đám rau rừng bên bờ suối mọc lên tua tủa, nhưng nước lũ dưới suối vẫn còn chảy rất xiết khiến cho bọn họ không đi xa được.

Bảo lão và Hoàng Chân thì men theo thượng nguồn con suối tìm mấy cây nứa chặt xuống. Họ bó mấy cây nứa với nhau rồi khênh về, vứt ở cửa hang. Bảo lão còn chặt được mấy đoạn dây rừng rất dài, một đoạn dây mây và một ít dây sắn.

Đến chiều hôm đó thì mọi thứ đã được chuẩn bị. Bảo lão đứng ở cửa hang cầm dao chặt mấy cây nứa thành từng đoạn ngắn chừng một thước, đầu cây nứa được lão vát nhọn như hình mũi lao.

"Đi rừng phải mang theo mấy thứ này." Lão nói oang oang như cái loa bật hết công suất.

Hoàng Chân ngồi ở cửa hang, hắn mải mê bện mấy sợi dây rừng thành một cuộn dây dài, rồi xếp vào một góc. Còn đoạn dây mây to bằng ngón chân cái, hắn chặt ngắn cỡ một vòng tay rồi vứt vào hang, chờ đến tối sẽ đem hơ lửa để uốn thành công cụ trèo cây mà hắn đã từng xem trên tivi.

Cả gia đình Bảo lão, ai cũng bận rộn. Có lẽ mấy ngày ngồi trong hang khiến họ chồn tay, chồn chân nên bọn họ rất hăng hái, đến tận chiều tối mới nghỉ.

Sáng hôm sau, Bảo lão đưa hắn đến mấy cây to bên sườn núi tập trèo. Mấy cây này cũng khá lớn, to chừng vòng tay người ôm, thẳng đứng khoảng 20 thước. Lão bảo, mấy cây này giống loại chè cổ thụ trên đỉnh Tuyết Sơn nên bắt hắn chuẩn bị.

Trong thâm tâm, lão rất lo lắng vì chưa thấy hắn trèo cây bao giờ. Tối hôm qua thấy hắn đem cái vòng mây ra uốn trên bếp lửa, lão rất ngạc nhiên vì không biết hắn định dùng làm gì. Đến khi thấy hắn đem vòng mây ra buộc vòng qua thân cây chuẩn bị trèo, lão mới biết công dụng của cái vòng.

Lão đứng cạnh gốc cây, chú ý quan sát hành động của hắn. Đây là lần đầu tiên, lão thấy cách trèo cây bằng công cụ. Trước kia, mỗi khi trèo, lão cứ tay không mà leo thoăn thoắt như vượn, nhưng cũng chỉ leo được những cây nhỏ. Sau khi bị heo rừng húc, đùi trái lão bị đau nên không dám leo cây nữa.

"Cái vòng này là ngươi nghĩ ra hả?" Lão hỏi.

"Vâng." Hắn đang lom khom vòng cái dây mây và đoạn dây thừng qua thân cây để chuẩn bị trèo.

Cái dây mây này, tối qua hắn phải ngồi hơ lửa để uốn. Hai đầu dây được hắn uốn thành hình chữ U, rồi buộc dây thừng vào hai đầu cho nó khỏi tuột. Trước kia, hắn cũng thỉnh thoảng đi leo núi, nên độ cao không làm hắn sợ hãi.

Sau khi dùng chân móc đoạn dây thừng vào cổ chân, hắn cầm lấy cái vòng mây bắt đầu trèo. Một lúc sau, hắn đã leo lên được đến ngọn cây, vừa đứng ở trên, hắn vừa rung cây vừa ngó nghiêng như con đười ươi xổng chuồng.

Bảo lão đứng dưới gốc cây ngửa mặt lên nhìn, lão thầm thán phục mấy dụng cụ mới chế của hắn, tưởng chừng như đơn giản nhưng rất hiệu quả. "Mía ơi, nếu mà trước kia ta có loại này thì cây to đến mấy, ta cũng trèo được". Lão nghĩ.

Đến buổi chiều, mọi thứ đã được chuẩn bị đầy đủ. Các ống nứa đã được Bảo thị đổ đầy gạo rang, mấy cuộn dây thừng đã được bện xong. Bảo lão xếp các ống nứa vào hai cái gùi, lão đem con dao rựa ra mài xoàn xoạt bên bờ suối rồi giơ lên ngắm nghía, xong chém gió "vù vù" mấy phát.

"Mọi thứ đã chuẩn bị xong, sáng mai chúng ta lên đường." Lão nói.

Hắn đứng xem lão múa dao bên bờ suối rồi quay đầu ngó nghiêng xung quanh, thầm tính toán.

Chỗ này đất tốt có thể trồng rau, còn chỗ kia đất nhiều đá cuội, chắc chỉ trồng cây ăn quả. Chỉ cần ven bờ suối dọn sạch mấy tảng đá, phạt sạch đám cỏ lau là có được đám đất trồng khá tốt.

Nếu như có thể nuôi được một đàn gà vịt, nhưng ở đây không có chuồng trại, nếu nuôi gà vịt mà thả rông thì nó chạy sạch, hóa thành nuôi vịt giời. Mà thôi, ở đây gà rừng, vịt núi đầy rẫy, chỉ cần đặt mấy cái bẫy cũng không thiếu thịt. Nhưng nếu có cái cung thì tốt, thấy con nào béo là "phăng" chứ đặt bẫy, nhiều lúc toàn là loại nhép như con tép.

Sau khi suy nghĩ mông lung một lúc, hắn quay người hỏi Bảo lão:

"Thúc, thúc có cái cung tên nào không?"

"Hả, để làm gì?" Bảo lão đang chém gió như thằng điên bèn ngoái đầu lại hỏi.

"Cháu nghĩ, nếu có cái cung đi săn thì sẽ tốt hơn, thấy con nào béo mới bắn, chứ đặt bẫy phải chờ rất lâu. Hai nữa đi rừng dài ngày, nếu cần thịt thì mang cái cung sẽ rất tiện, bẫy không mang đi xa được." Hắn nói.

"À, ta có một cái để trong hang, nhưng lâu ngày không dùng, để ta về lấy ra xem thử." Lão nói xong bèn xách con dao chạy hùng hục về hang như một thằng điên.

Một lúc sau lão quay lại, tay cầm một cây cung đã mốc xanh và mấy mũi tên cong queo như que củi.

"Lâu ngày, ta để quên dưới đám lá khô, để bắn xem còn tốt không?" Lão nói rồi lấy mũi tên lắp vào cung rồi giương lên ngắm vào một cây to, cách xa khoảng 20 thước.

Sau khi đã ngắm nghía kỹ lưỡng, lão buông tay, mũi tên bay vụt qua thân cây cắm xuống đất làm tung lên mấy chiếc lá khô, lão lắc đầu rồi lẩm bẩm:

"Hừ, lâu rồi ta không dùng đến nó, nhưng xem ra vẫn còn bắn được."

"Để cháu bắn thử xem sao." Hắn nói rồi tiến đến bên lão, giơ tay ra cầm lấy cây cung.

Sau khi lóng ngóng lắp mũi tên, hắn bắt chước lão giương cung lên nhắm vào thân cây và buông tay, mũi tên bay trúng gốc cây rồi rơi xuống đất nẩy lên vài cái.

"Ha ha." Bảo lão cười lên khoái chí:

"Xem ngươi bắn kìa, trúng gốc cây mà còn không cắm vào được." Lão ôm bụng cười nghiêng ngả như bị chập mạch.

"Chắc tại cái cung này yếu quá." Hắn lấp liếm.

"Yếu cái con khỉ." Bảo lão cười nhăn nhở:

"Cung này là cung của bọn thợ săn, ta phải mất năm củ nhân sâm mới đổi được nó. Tại ngươi yếu quá, không giương nổi cung thì có." Lão vừa cười vừa nói, ý chê bai.

"Nếu có con gà gô đứng kia thì thúc bắn được không?" Hắn vừa hỏi vừa chỉ về phía một tảng đá bên bờ suối.

"Có gì mà không bắn được, chỉ là không biết trúng hay trượt." Lão trả lời.

"Vậy, khoảng cách bao nhiêu thì thúc có thể bắn trúng?" Hắn hỏi tiếp.

"Hả." Bảo lão gãi gãi đầu, suy nghĩ một lúc lão nói:

"Nếu có con gà đứng cách.. một thước, ta đảm bảo bách phát bách trúng."

"Mía nó, cách một thước thì ta đánh rắm cũng bách phát bách trúng, cần quái gì cung." Hắn lẩm bẩm.

"Vậy trước kia đi lính, thúc không tập bắn cung hay sao?" Hắn hỏi.

"Có chứ, cung của bọn lính là loại khác cái này, nó to và dài hơn, lực bắn rất mạnh. Ta tập mấy năm nhưng vẫn không thành, khó lắm. Ngươi đừng tưởng cầm cái cung là có thể bắn được ngay, phải luyện đến khi thành phản xạ và giương cung bằng cảm giác, chỉ cần giơ lên là có thể bắn trúng, lúc ấy mới được gọi là cao thủ." Lão giải thích một hơi.

"Vậy cái cung này thúc có thể bắn được bao xa?" Hắn chìa cái cung, hỏi thăm dò.

"Cái này nếu ngắm thẳng thì được khoảng 50 thước, còn bắn cầu vồng thì khoảng 100 thước." Lão giải thích.

"Vậy cái cung của bọn lính thì sao ạ?" Hắn hỏi tiếp.

"Cung của bọn lính là loại trường cung, có thể bắn xa hơn 150 thước. Nếu bắn thẳng trong vòng 70 thước, một tên cao thủ có thể lấy mạng người. Nhưng cũng chỉ có thể bắn được khoảng hai chục phát thôi." Lão trả lời.

"Tại sao chỉ bắn được hai chục phát ạ? Cháu cứ tưởng là bắn được nhiều hơn chứ?" Hắn ngạc nhiên.

"Hừ, ngươi không biết, một tên khỏe mạnh chỉ cần giương cung liên tiếp hai chục lần là mỏi nhừ tay rồi, làm sao mà bắn nổi nữa. Hơn nữa một bó tên hai chục mũi cũng khá nặng. Ngươi cứ nghĩ mà xem, một mũi tên to bằng ngón tay, dài cả thước thì nặng thế nào, chưa nói là cả bó. Vả lại khi ra trận, bọn chúng còn phải chạy, lại đeo cái cung nặng trịch, lại còn mặc giáp.. Chỉ cần chạy 200 thước là đã thở ra đằng đít, tưởng ngon hả." Lão nói liến thoắng.

"Thì ra là vậy." Hắn ngẫm nghĩ.

Như vậy với cái cung này, Bảo lão có thể bắn chết một con gà trong vòng 50 thước, quan trọng là có trúng hay không. Còn ta thì có thể bắn chết con gà trong vòng 20 thước, cũng không đơn giản như đan rổ.

"Nếu ngươi có thể chăm chỉ luyện từ bây giờ thì vài năm nữa sẽ bắn giỏi như ta." Bảo lão giở giọng khuyến khích.

"Hơ.. hơ. Cái này chắc khó quá, có loại nào dễ bắn hơn không hả thúc?" Hắn hỏi mà lòng thấy chán nản.

"À.. có. Dưới bản có mấy cái nỏ, cái đó dễ bắn hơn nhưng phải mất chục củ nhân sâm mới đổi được." Bảo lão trả lời.

"Có phải là loại giống như cái cung nhưng có thân dài như thế này, phải không ạ?" Hắn giơ cây cung lên và chỉ chỏ. Loại này, trước kia hắn đã nhìn thấy trong viện bảo tàng nào đó.

"Đúng đó. Loại đấy thì ngươi có thể dùng được, tuy nó hơi nặng nhưng bắn dễ hơn. Mỗi khi lên nỏ thì chống xuống đất rồi kéo dây như thế này, hai nữa, nó có thể bắn khá xa và chuẩn." Lão vừa nói vừa vung tay giải thích.

"Cháu hiểu rồi, vậy cái đó bắn xa hơn cái cung này không ạ?" Hắn hỏi tỏ vẻ vui mừng.

"Loại đấy có thể bắn xa như trường cung." Bảo lão gật gù rồi đế thêm:

"Nhưng nó có nhược điểm là bắn tương đối chậm, lại khá nặng. Mỗi khi bắn phải đặt tên lên giữa thân nỏ, rồi lấy ngón tay giữ, nếu không cẩn thận mũi tên sẽ rơi xuống, không bắn được." Lão kiên nhẫn giảng giải.

"Vâng, cháu biết, cháu sẽ chế một cái để dùng." Hắn nói vẻ tự tin.

"Cũng không khó lắm, chỉ cần kiếm ít ruột mèo hoặc gân thú sấy khô bện lại, là có một đoạn dây nỏ khá tốt. Còn cánh và thân nỏ thì vào rừng kiếm mấy khúc Thiết Sam là được." Bảo lão động viên.

"Vâng, đợt này về cháu sẽ tìm cách làm." Hắn nói chắc như đinh đóng cột.

Sau khi nâng thử cây cung bắn thêm vài phát nữa, thấy không dễ, hắn mới quyết tâm không tập cung nữa mà sẽ tìm cách chế một cái nỏ cho dễ dùng. Gì chứ với sự khéo tay của hắn, việc chế nỏ sẽ không khó khăn.

Hắn đứng ngó nghiêng, thầm đánh giá địa hình, địa vật xung quanh hang. Bỗng một ý tưởng mới xuất hiện trong đầu, hắn ngẫm nghĩ một lúc rồi quyết định, buổi tối sẽ nói chuyện với gia đình Bảo lão.

Khi màn đêm bắt đầu buông xuống, mọi người đều đã ngồi quây quần bên bếp lửa.

Bảo thị sắp mấy cái bát ăn cơm ra nền hang, Bảo nhi ngồi xếp đũa và thức ăn. Bữa cơm của bọn họ khá đạm bạc, ngoài cơm canh, còn thêm một đĩa rau sống mà mẹ con Bảo thị vừa hái ở rừng về.

Bảo lão ngồi khoanh chân trước mấy cái bát, lão cầm đôi đũa lên rồi hỏi:

"Mọi người đã rửa tay trước khi ăn chưa?"

"Rồi.. rồi, lão gia." Mẹ con Bảo thị đồng thanh.

"Thế thì ăn cơm thôi." Bảo lão ra lệnh.

Bọn họ vừa ăn vừa uống, vừa nói chuyện, không khí trong hang thật là vui vẻ.
 
Chỉnh sửa cuối:
949 ❤︎ Bài viết: 393 Tìm chủ đề
Chương 14. Bên hồ Nhật Hạ

"Thúc, cháu có chuyện muốn bàn với mọi người". Hắn vừa ăn vừa nói.

"Chuyện gì vậy?" Bảo lão vừa nhai nhồm nhoàm vừa hỏi, Bảo thị và Bảo nhi giương đôi mắt lên nhìn hắn.

"Cháu muốn chúng ta thử tính xem? Theo ý cháu, chúng ta sẽ không trồng khoai hoặc lúa nữa mà sẽ chuyển sang trồng thảo dược, rồi lấy thảo dược đem đi đổi thóc, như vậy có lẽ sẽ hiệu quả hơn?"

"Ha ha." Bảo lão phá lên cười, lão tưởng hắn nghĩ ra cái gì mới lạ, chứ nói về thảo dược, cả cái vùng này không ai sánh được với lão.

"Ngươi có biết, trồng được một củ nhân sâm mất bao nhiêu năm không? Trong từng ấy năm thì lấy gì mà ăn? Thảo dược thì sẵn trong rừng, chỉ cần chịu khó đi vài ngày là kiếm đầy một gùi. Còn khoai sắn thì đâu có sẵn, muốn đào một củ to cũng phải tìm mấy ngày, còn loại củ nhép thì không tính." Lão vừa nói vừa vung tay, đôi đũa ăn vung vẩy như lão nhạc trưởng đang chỉ huy dàn nhạc.

"Nhưng chúng ta đâu cần trồng nhân sâm, chúng ta chỉ trồng những loại nào mọc nhanh và hay dùng thôi." Hắn ngừng nhai nhìn lão trả lời.

"Loại trồng nhanh, hay dùng thì giá trị rất thấp." Bảo lão cười nhếch mép. Trong suy nghĩ của lão, mấy loại này trồng làm gì cho mất công.

"Thúc, cháu muốn biết những loại thuốc hay dùng nhất là loại nào? Trước kia, thúc làm quân y, chắc phải biết loại nào hay dùng nhất chứ?" Hắn hỏi.

"Tất nhiên." Bảo lão vênh mặt, lão đang nhai cơm nên phồng mồm về một bên rất tức cười:

"Loại hay dùng nhất là chữa đau bụng, lòi dom.. gãy xương, bong gân, cầm máu, cảm sốt, ho lao.. ghẻ lở, hắc lào, tổ đỉa.. Ngươi không nghe câu" không hắc lào, không được vào quân đội. Không ghẻ, không có thẻ quân nhân "hay sao?" Lão trả lời.

"Vậy, chúng ta sẽ trồng cây thuốc để chữa những loại bệnh này thôi, ngoài ra sẽ dành một ít đất trồng những cây thuốc quý lâu năm. Việc này, cô cô và Ngọc nhi cũng có thể ở nhà chăm sóc trồng trọt được, không cần phải đi xa để tìm kiếm." Hắn vừa gắp cơm vừa nói.

"Ngươi cóc hiểu gì cả, trồng những loại đó thì bán được bao nhiêu, đây là những loại bệnh thông thường nên cây thuốc ở đâu cũng sẵn, không chữa được bằng loại này thì chữa bằng loại khác. Vả lại, nếu có trồng rồi đem đi đổi thóc thì mấy chục gùi mới đổi được nắm thóc đây, trồng loại này có mà chết đói." Lão gõ "cạch cạch" đôi đũa trên miệng bát.

"Đúng đấy, chúng ta cứ tiếp tục trồng lúa và khoai thôi." Bảo thị đang nhai cơm bèn phụ họa.

Vừa ăn, vừa suy nghĩ một lát, hắn ngước đầu hỏi:

"Trước kia, thúc mang thuốc theo người bằng cách nào?"

"Nhoàm.. nhoàm, ta chỉ mang những loại công dụng đặc biệt như: Rắn cắn, trị độc, vết thương nguy hiểm tính mạng.. Những loại thông thường thì ta hái ở những nơi xung quanh rồi về sắc lên để dùng. Còn bọn lính, ta hướng dẫn cho chúng cách chữa rồi chỉ cho chúng đi hái lá thuốc, về tự sắc lấy mà chữa." Lão trả lời như máy khâu nhưng tay vẫn gắp liên tục và miệng thì tòm tọp như heo.

"Vậy nếu người bình thường mà bị bệnh thì thế nào? Họ có biết cách tự chữa không?" Hắn gặng hỏi tiếp.

"Người bình thường thì phải hỏi lang y, sau đó mua hoặc tự tìm lá thuốc, sắc lên mà dùng." Lão trả lời.

"Vậy các tiệm thuốc họ mua thảo dược của chúng ta, họ không mua thuốc đã chế biến sẵn hay sao?" Hắn hỏi thêm.

"Chế biến sẵn!" Bảo lão thốt lên. Lão ngừng nhai, sau khi ngẫm nghĩ một lúc rồi lắc đầu:

"Chắc không, vì thuốc chế biến sẵn hầu như chỉ chữa một loại bệnh. Còn thảo dược chưa chế biến thì có thể phối hợp loại này với loại kia để chữa nhiều bệnh hơn. Do đó, cũng sẽ dễ bán. Ta không tin các tiệm thuốc sẽ mua thuốc đã chế biến sẵn."

"Cũng chưa chắc." Hắn lắc đầu:

"Theo ý của cháu, chúng ta sẽ trồng và chế biến sẵn một số loại thuốc thông dụng, rồi sấy khô cho vào các bình gốm hoặc các hộp gỗ nhỏ, bên ngoài vẽ cách sử dụng. Sau đó, đem chào bán vào các tiệm thuốc hoặc bán cho binh lính. Chúng ta không cần bán đắt mà sẽ bán nhiều, kiếm lợi từ số lượng chứ không phải từ giá cao, số lượng ít, cháu nghĩ sẽ hiệu quả hơn trồng lúa hoặc cây lương thực khác."

"Có chắc chắn không?" Vợ chồng Bảo lão sáng mắt.

"Chúng ta chưa thử nên chưa chắc chắn lắm. Hay là đợt tới, trước khi xuống thành Nam Sơn, chúng ta chế biến thử một ít thuốc. Lọ gốm nhỏ thì cháu sẽ cho nặn trước một ít để nung, chế biến xong chúng ta sẽ cho vào lọ rồi mang đi chào bán. Còn chế biến loại thuốc nào thì tùy thúc lựa chọn." Hắn gợi ý rồi thong thả nhét đám rau xanh vào mồm.

"Muội sẽ xuống ven bờ sông kiếm đất sét, lần trước huynh bày cho muội cách nặn nên muội sẽ nặn thử ít lọ gốm xem sao." Bảo nhi ngừng ăn góp lời.

"Được, chúng ta sẽ thử xem." Bảo thị cũng háo hức không kém. Từ khi hắn nghĩ ra mấy thứ hữu ích, cả nhà Bảo lão đều mang tâm lý tin tưởng vào hắn.

"Okey, chúng ta sẽ cùng quyết tâm." Hắn tự tin động viên.

Cả nhà Bảo lão ngơ ngác, không hiểu hắn nói "Okey" nghĩa là gì. Bữa cơm tối kết thúc trong sự hy vọng.

Sáng sớm hôm sau, mặt trời vẫn còn chưa ló ra sau rặng núi, tiếng gà rừng gáy đã le te khắp nơi. Hai người, Bảo lão và Hoàng Chân đã chuẩn bị lên đường.

Trước khi đi, Bảo lão kiểm tra hai cái gùi cẩn thận. Lão đeo cái gùi to đựng các ống nứa chứa nước uống, con dao rựa sắc lém được lão đeo ở hông. Đằng sau cái gùi, lão còn buộc thêm mấy cái bùi nhùi giữ lửa và mấy cuộn dây thừng. Cái gùi có chứa ống nứa đựng gạo rang, lão chuẩn bị cho hắn.

Lão còn đưa cho hắn một con dao rựa cũ rích, long cả cán và cong queo, mẻ ngang mẻ dọc.

"Cầm lấy mà dùng. Đây là bảo bối tùy thân của ta trước đây, đã cùng ta chinh phạt hơn chục năm trong cánh rừng này." Lão nói vẻ trân trọng.

"Hứ, có con dao mẻ mà cũng làm bộ." Hắn cười thầm nhưng vẫn tỏ vẻ ngoan ngoãn, trịnh trọng cầm lấy rồi chém gió mấy phát xem thử vừa tay không.

"Cám ơn thúc, con dao này thật tốt. Để lúc nào rỗi, cháu sẽ đem mài cho sắc hơn."

"Ừ, nhớ phải giữ gìn nó nghe không?" Bảo lão dặn dò thêm.

Hai người bọn họ lên đường. Trước khi đi, hắn còn không quên khoác cái vòng mây qua đầu. Qua bên kia suối, hắn đứng lại vẫy tay với Bảo nhi rồi quay người chạy theo Bảo lão đã đi được một đoạn khá xa.

Bảo lão vẫn cắm cúi bước, lão không có thói quen vẫy tay hay nói dăm lời thương yêu với đám đàn bà, con gái mỗi khi đi vào rừng.

Họ đi qua những cánh rừng thưa với sườn đồi thoai thoải. Đây là khoảng rừng có ít cây to do bị chặt phá nhiều, những cây con còn chưa kịp cao nên hơi trống trải. Vì vậy, Bảo lão liên tục giục hắn phải đi thật nhanh qua cánh rừng này để kịp đến khu rừng rậm trước khi trời nắng to.

Thỉnh thoảng, sau những tảng đá bên đường, một vài con rắn chừng 2 - 3 thước bất thình lình vụt ra, chạy ngoằn nghèo trước mặt họ, hoặc phành phạch mấy con gà rừng hoảng hốt bay vút lên từ đám cỏ lau cao cỡ đầu người.

Gần đến giữa trưa, họ đã đến bên rìa cánh rừng già. Đây là nơi con người ít lai vãng đến nên cây cối xanh tươi, cao lớn khác thường.

Rất nhiều cây to và cây cổ thụ cao vút trên nền trời xanh. Ở dưới mặt đất, chen chúc rất nhiều bụi cây rậm và nhiều dây leo cỡ cổ tay lòng thòng, đây đó lẫn lộn vài bụi dương xỉ cổ đại to vật xen lẫn xác da rắn. Không khí có vẻ rất âm u, ẩm thấp và hoang dại.

Bảo lão dừng lại, lão ngó nghiêng rồi đi tới một gốc cây cổ thụ cành lá rậm rạp, rễ cây lô nhô trên mặt đất. Tới nơi, lão từ tốn hạ cái gùi xuống rồi ngồi trên một cái rễ cây lớn. Quẹt tay lau mấy giọt mồ hôi trên mặt, lão nói:

"Nghỉ ở đây một lúc, chúng ta ăn trưa rồi tiếp tục lên đường." Lão quay đầu nhìn hắn, chỉ đạo.

"Vâng." Từ lúc vào rừng, hắn vẫn lẽo đẽo đi sau lão. Giờ đã đến gần trưa nên trời khá nóng, mồ hôi hắn chảy ròng ròng trên tấm lưng trần, vừa thở phì phò, hắn vừa lẩm bẩm:

"Bây giờ mà không nghỉ thì tý nữa, có mà đi bằng mông."

Bọn họ dừng lại nghỉ ngơi một chút rồi lôi gạo rang, nước lã ra. Đến khi ăn đã cảm thấy đủ, lão bảo hắn ngồi nghỉ rồi xách dao vào mấy bụi cây, chặt lấy hai đoạn trông như hai cây gậy chừng hơn thước. Sau khi đã chặt xong, lão đưa lên ngang mắt ngắm nghía rồi quẳng cho hắn cây bé, còn cây to lão xách về vứt gần chỗ ngồi.

Trước khi đi tiếp, lão cho tay vào giữa cái gùi lục lọi rồi lấy ra một cái bọc lá chuối, bên trong có một thứ nan nát, dinh dính, xanh xanh vàng vàng như sản phẩm được tạo ra bởi cơm thiu trộn dưa khú mà hệ tiêu hóa của con người thải ra ngoài.

"Bôi cái này lên người, chống vắt, muỗi và côn trùng cắn." Lão nhắc nhở.

Rồi lão cho hai ngón tay vào ngoáy ngoáy, móc ra một cục xanh xanh vàng vàng bôi lên khắp người từ đầu đến chân. Ngay lập tức, người lão bốc ra một mùi nồng nồng khai khai, vằn vện như trang phục đặc nhiệm chống khủng bố, đang xông vào tiệm massage bắt mấy em bán trôn.

"Cái này làm bằng gì vậy, thúc?" Hắn nhăn mặt hỏi.

"Lá lim non, gừng, củ tỏi giã nát trộn với vôi tôi và nước tiểu." Lão trả lời thản nhiên.

"Hả, cháu tưởng là bôi.. bã lên người." Hắn cười méo cả miệng.

Nghe hắn nói, lão ngớ ra rồi nhìn xuống, bỗng nhiên lão cười sằng sặc. Một lúc sau, định thần lại, lão gật gù:

"Giống thật, giống thật. Trước kia, ta không để ý lại giống như vậy, ha.. ha."

Bọn họ lại tiếp tục lên đường, đây đã là giữa rừng già. Bảo lão đi trước, tay trái lão cầm gậy gạt mấy bụi cây vẹt ra, rồi cẩn thận ngó ngiêng lách vào, tay phải lão lăm lăm con dao như sẵn sàng chém xuống. Lão bước thong thả, chậm rãi và cẩn thận, vừa đi lão vừa nói:

"Phải để ý rắn cắn. Thường trên các bụi cây thấp hay có rắn lục, ban ngày, bọn chúng gần như mù chẳng thấy gì. Nhưng thấy động là chúng vụt ra đớp, chẳng may bị chúng cắn trúng mà cứu không kịp là xong đời."

Hắn lẳng lặng đi theo sau lão, vừa đi vừa chú ý trên mặt đất và các bụi cây xung quanh. Thỉnh thoảng trên mặt đất lại có vài con vắt nâu, vắt trắng bằng chiếc đũa, ngóc đầu lên ngoe nguẩy đánh hơi. Thậm chí có con vắt xanh lè còn búng người đánh veo dính vào người hắn, nhưng khi bám phải cái thứ xanh xanh vàng vàng bèn quằn quại rớt xuống.

Thỉnh thoảng, trên các ngọn cây cao lại ào ào bóng lũ khỉ di chuyển, vừa đu chúng vừa hú hí vang động cả khu rừng.

Địa hình đã bắt đầu lên cao dần và rừng cây cũng ngày càng rậm rạp. Đến khi mặt trời gần khuất núi, bọn họ đã đến bên một cái hồ rất lớn, nước trong vắt nhìn thấy cả cuội dưới đáy. Xung quanh hồ là một dải đất trống cây cối thưa thớt, dường như nước hồ rút xuống làm lộ ra dải đất này. Mặt hồ lăn tăn, in bóng khung cảnh núi rừng trông thật hùng vĩ.

Sau khi đến bên bờ hồ, Bảo lão cẩn thận hạ cái gùi xuống đứng quan sát. Một lúc sau, lão tay dao tay gậy, cẩn thận đi vòng quanh mấy cây to ven hồ xem xét rồi mới quay lại.

"Chúng ta chuẩn bị nghỉ ở đây thôi." Lão nói.

"Vâng." Hắn nhẹ nhàng hạ chiếc gùi nhỏ xuống đất rồi ngồi phịch xuống thở một hơi.

Bọn họ đã đi suốt từ trưa đến giờ, thỉnh thoảng mới dừng lại nghỉ dăm phút, đến giờ đã thực sự mệt.

"Hồ này là hồ gì hả thúc?" Hắn hỏi.

"Đây gọi là hồ Nhật Hạ, mọi người đi rừng đều gọi như vậy. Chắc là trước kia, do một lão mặt trời rơi xuống." Lão trả lời.

"Một cái hồ trên núi." Hắn lẩm bẩm, nếu là do thiên thạch rơi xuống, chắc khá sâu.

Hắn lò dò bước xuống mép hồ, sau khi tiến xuống vài thước đã thấy nước lên đến tận đầu gối, hắn dừng lại. Mấy đàn cá nhỏ ven hồ thấy tiếng động, lập tức bu lại rỉa rỉa vào chân hắn nhồn nhột, nhưng chỉ rỉa được vài cái là chúng bơi mất, chắc mùi lá nát trên người hắn làm chúng không mấy hứng thú.

Từ từ tuột phăng cái khố rồi ném lên bờ, hắn rùn người xuống rồi té nước lên người, kỳ cọ cho sạch hết mồ hôi nhầy nhụa, lẫn lộn với lớp bã xanh vàng, thứ này dính trên người thật là cực hình.

"Ấy.. ấy. Sao ngươi lại rửa hết đi như vậy, ngày mai lấy gì mà bôi?" Bảo lão hét toáng lên:

"Đám lá nát xanh vàng này, hiện đã bôi gần hết, không thể phí như vậy được." Lão bực bội lắm.

"Cháu thấy nó dinh dính, khó chịu quá." Hắn nhún vai phân trần.

"Ngươi phải biết chịu khổ chứ, mới đi được một ngày đã không chịu được thì mấy ngày nữa, biết làm sao?" Lão càu nhàu.

"Hì hì, ngày mai cháu sẽ cố chịu đựng vậy." Hắn nhăn nhở.

Sau khi tắm rửa sạch sẽ, hắn tồng ngồng lên bờ nhún nhảy một hồi cho ráo nước rồi nhặt cái khố lên, mặc vào.

Bảo lão đã nhặt được một nắm lá khô và ít cành cây, lão gom chúng lại một đống gần mép hồ rồi rút bùi nhùi ra nhóm lửa. Chỉ giây lát sau, một làn khói xanh bốc lên giữa đám lá rừng, tỏa ra trên mặt hồ mờ ảo như sương mai buổi sớm.

Sau khi đã nhóm lửa xong, lão lấy một ống nước ra uống một ngụm rồi lấy bọc lá ra, đưa cho hắn:

"Cầm lấy, chỉ còn từng ấy thôi, tý nữa bôi vào nếu ngươi không muốn làm mồi cho muỗi." Lão hăm dọa.

"Vâng." Hắn giơ tay cầm lấy bọc lá của lão rồi đặt xuống cạnh đống lửa.

"Tối nay, chúng ta ngủ ở đây hả thúc?" Hắn hỏi.

"Ừ, tối nay nghỉ ở đây thôi, tý nữa ngươi đem cắm các ống nứa thành một vòng tròn chĩa ra phía ngoài, sau đó lấy dây chăng xung quanh phòng thú dữ. Sau đó nhặt ít lá rải xuống đất mà nằm, ta sẽ đi chặt thêm một ít cành to để đốt." Lão căn dặn.

"Sao chúng ta không ngủ trên cây? Mấy ống nứa này có ngăn được thú dữ không ạ?" Hắn lo lắng hỏi.

"Yên tâm đi, ngươi đã từng nghe câu" hổ sợ giang nứa, trăn sợ sắn dây "chưa? Cứ làm theo lời ta, đảm bảo đêm nay ngủ ngon." Lão động viên.

"Vâng, nhưng" hổ sợ giang nứa, trăn sợ sắn dây "nghĩa là sao hả thúc?" Hắn tò mò.

"À, đây là câu nói của bọn đi rừng. Nếu gặp hổ, chỉ cần gõ vào ống nứa, nghe tiếng gõ, hổ sẽ tránh đi. Còn trăn, nó chỉ sợ dây sắn, chỉ cần ném sợi dây sắn lên người nó là nó nằm im chịu trói. Hai con này thuộc loại đáng sợ nhất trong rừng đấy."

"Vậy ngoài hai loại trên, còn loại nào đáng sợ hơn không hả thúc? Như heo độc, bò tót, voi, chó sói.. chẳng hạn."

"À, nhiều lắm. Nhưng quan trọng là loài nào cũng sợ lửa, chúng ta đốt lửa lên thế này, chúng không dám lại gần, cứ yên tâm." Lão an ủi.

Nói xong, lão xách dao vào mé rừng. Nhìn theo bóng lão biến mất sau mấy gốc cây to, hắn lưỡng lự rồi đi theo về hướng lão. Tới mấy bụi cây, hắn cẩn thận ngó nghiêng rồi bẻ mấy cành lá to, xong quay lại bên đống lửa, trải xuống đất tạo thành hai chỗ ngủ khá lý tưởng.

Sau khi đã dọn dẹp xong hai chỗ ngủ, hắn lôi mấy ống nứa đựng nước của Bảo lão ra cắm rải rác thành mấy cái cọc quanh đống lửa theo mệnh lệnh của lão. Hắn còn lấy dây thừng ra, buộc quanh các ống nứa thành một vòng tròn.

Bảo lão đã quay về bờ hồ, lão ôm một đống củi to khệ nệ, sau khi vứt phịch đống củi bên đống lửa, lão tới bên bờ hồ, khỏa nước rửa tay.

Bọn họ ngồi quanh đống lửa cháy tí tách, vừa bốc gạo rang ăn, vừa nói chuyện.

Chỉ một chốc sau, màn đêm nhanh chóng bao phủ mặt hồ. Không gian xung quanh chìm dần vào màn đêm mù mịt không còn nhìn rõ đâu với đâu. Ven bờ hồ, ủng oảng vang lên tiếng ếch kêu và tiếng côn trùng ri rỉ.
 
Chỉnh sửa cuối:
949 ❤︎ Bài viết: 393 Tìm chủ đề
Chương 15. Vượt qua núi Quỷ

Chích chích, cao huýt.. cao huýt.. huýt.. huýt.

Tiếng chim kêu, vượn hót vang động cả cánh rừng. Ở tít trên ngọn cây phía xa, một đàn vượn đang chuyền cành. Những cô vượn cái tru cái mỏ huýt líu lô, để cho các chàng vượn đực ngây ngô ngồi ngắm như những kẻ si tình.

Đằng đông, phía chân trời đã bắt đầu hửng sáng, báo hiệu một ngày mới.

Hoàng Chân thức giấc, hắn ngồi dậy nhìn quanh thấy Bảo lão vẫn còn đang cuộn mình dưới đám lá cây ngủ say sưa. Thỉnh thoảng lão lại chép chép miệng như đang mơ thấy một bữa đánh chén no nê nào đó.

Gỡ bỏ đám lá cây trên mình đã đẫm sương đêm, hắn vươn vai đứng dậy, vặn người vài cái rồi đến bên mép hồ khỏa nước rửa mặt. Đêm qua, hắn ngủ không ngon giấc, có lẽ vì chưa ngủ giữa rừng hoang bao giờ nên hắn loay hoay cả đêm để canh đống lửa, sợ nó tắt.

Mặc dù trước khi đi ngủ, hắn đã vứt thêm lá tươi vào đống lửa để tạo khói và bôi đám lá nát lên người, nhưng vẫn không đủ đuổi đám côn trùng vo ve loạn xạ bên tai. Vì vậy, đến nửa đêm, hắn phải liều đến gần mấy bụi cây bên hồ, bẻ thêm mấy cành lá rậm rạp rồi chui vào giữa, hòng ngăn đám côn trùng quấy nhiễu.

Thỉnh thoảng gần mép hồ có tiếng con gì đó sột soạt hoặc kêu hừ hừ khiến hắn giật mình chồm dậy, tay lăm lăm con dao mẻ và cây nứa nhọn. Cứ vậy cả đêm, khiến sáng ra trông hắn phờ phạc như con nghiện.

Bảo lão vẫn ngủ như chết, lão đã thành thói quen mặc kệ xung quanh khi đi ngủ. Ngủ giữa rừng hoang vu như thế này vốn không làm cho lão sợ hãi, có lẽ kinh nghiệm nhiều năm đi rừng và muôn lần cận kề cái chết đã làm lão chai sạn. Thỉnh thoảng, lão lại trở mình nói lảm nhảm vài câu gì đó "ủng oảng" như chó kêu.

Trời đã dần sáng hơn làm tan đi đám sương mờ trên mặt hồ, so với hôm qua, mực nước trong hồ có vẻ rút đi một ít làm lộ ra đám sỏi cuội lổn nhổn, đây là tính chất của loại hồ trên núi. Khi có mưa, nước hồ lên rất nhanh, nhưng cũng rút xuống rất nhanh.

Sau khi rửa mặt xong, hắn đứng lặng một chỗ nhìn về phía bên kia hồ. Nhật Hạ quả là một cái hồ lớn, đứng bên này không nhìn rõ bờ bên kia, chỉ thấy thấp thoáng bóng những ngọn núi xa tít trong mây mờ. Khung cảnh hoang sơ, vô cùng kỳ vĩ khiến cho hắn thấy xúc động. Ở thế giới trước kia của hắn, không bao giờ có được những giây phút như vậy.

Quay về bên đống lửa, hắn thấy Bảo lão đã ngồi dậy, tiếng vượn hót vang động đánh thức giấc mộng của lão. Lão ngồi trong đám cành cây, thò cái đầu lên nhìn quanh trông xa giống hệt một con đười ươi với cái đầu bù xù như tổ quạ.

"Tối qua ngủ ngon không?" Lão hỏi.

"Dạ, tối qua cháu không ngủ được." Hắn trả lời.

"Ừ, cứ đi vài lần là quen thôi." Bảo lão động viên.

Lão đứng dậy, chui ra khỏi đám cành cây rậm rạp rồi đến bên mép hồ múc nước rửa hai cái mắt và miệng một cách rất qua loa. Sau đó, lão đến bên hắn ngồi xuống lục cái gùi rồi bốc một nắm gạo rang cho vào mồm nhai tòm tọp. Sau khi đã uống thêm một ngụm nước, lão nói:

"Hôm nay, chúng ta sẽ vòng theo mép hồ sang rặng núi bên kia là đến gần chân núi Quỷ. Từ đó, chúng ta đi vòng dưới chân núi về phía tây nam, sang đến bên kia núi là đã ở dưới chân dãy Tuyết Sơn rồi."

"Núi Quỷ, sao lại có cái tên nghe rùng rợn vậy, thúc?" Hắn lạ lùng hỏi.

"À, người ta bảo đấy là nơi ở của Quỷ. Từ xưa đến nay, bộ lạc chúng ta chưa ai dám vào đó bao giờ." Lão trả lời thản nhiên.

"Nơi ở của Quỷ ư? Vậy ở đây có Quỷ thật không ạ?" Hắn phân vân.

Không biết thế giới này có Quỷ thật hay chỉ là mấy con thú kỳ lạ nào đó còn tồn tại từ thời nguyên thủy.

"Ta không biết, nghe mọi người nói vậy chứ có ai dám lên núi xem Quỷ bao giờ. Chỉ nghe nói trong vùng núi này, thỉnh thoảng bốc lên nhiều đám sương mù có mùi thối thum thủm. Buổi tối, đứng từ xa còn nhìn thấy nhiều ánh mắt quỷ đỏ rực như ánh lửa. Cây cối thì thưa thớt, cành lá cong queo và khô khốc, đến thú rừng, chim chóc cũng không có một con, dường như chúng sợ hãi một thứ gì đó. Ngày xưa, cha ta kể rằng có nhiều người vào trong núi Quỷ đều chết mất xác, không còn ai trở về." Lão trầm ngâm.

"Cháu nghĩ, có thể là do một nguyên nhân tự nhiên nào đó mà chúng ta chưa biết. Vậy nếu chúng ta đi vòng qua núi Quỷ thì sẽ mất bao nhiêu ngày hả thúc?" Hắn hỏi tiếp.

"Khoảng ba ngày. Sau đó, chúng ta mất thêm nửa ngày nữa sẽ tới cánh rừng chè cổ đại trên đỉnh Tuyết Sơn." Lão trả lời sau khi lẩm nhẩm tính toán.

"Như vậy nếu nhanh, chúng ta sẽ mất bốn ngày rưỡi. Thêm khoảng một, hai ngày ở lại là mất 11 ngày mới có thể trở về được, phải không ạ?" Hắn hỏi.

"Đúng." Bão lão khẳng định:

"Bây giờ chúng ta chuẩn bị lên đường thôi kẻo muộn."

Lão nhanh nhẹn nhấc cái gùi lên vai, sau khi cầm lấy cây gậy và con dao, lão xăm xăm đi trước, mặc kệ cho hắn còn chưa kịp ăn sáng.

Vội vàng bốc một nắm gạo rang cho vào mồm, hắn xốc cái gùi lên vai, tay dao tay gậy chạy theo lão như một con vịt con lạch bạch theo mẹ.

Bảo lão nghênh ngang đi trước, thỉnh thoảng lão lại dừng lại ngó nghiêng như để định hướng lối đi. Cũng may, bọn họ đi men theo mép hồ nên không phải vạch lá tìm đường như trước.

Khi mặt trời đã lên chừng con sào, họ đã đi được khá xa. Thỉnh thoảng, một con rắn to như cổ tay, dài cỡ 4 - 5 thước đang nằm phơi nắng bên mép hồ giật mình vì bóng người, tháo chạy vào rừng đánh "roẹt".

Đến một con suối khá lớn, nước chảy đục ngầu và tương đối xiết, Bảo lão dừng lại. Lão đến gần một cây to xem xét, sau khi đã xác định được vết dao lần trước, bọn họ bắt đầu men theo bờ suối và băng qua các tảng đá đi về hướng nam.

Dọc bờ suối, những con nhái bén, chẫu chàng nhìn thấy bọn họ, hoảng hốt nhảy bòm bõm xuống nước.

Thỉnh thoảng, họ lại nhìn thấy một con rết lớn như ngón chân cái dài chừng bốn chục phân, bò loằng ngoằng trên đám lá rụng ven bờ. Bảo lão liền cầm gậy vụt lấy vụt để vào đầu nó, sau đó lão xách đuôi con rết lên rồi bỏ vào cái gùi, mặt mỉm cười vẻ mãn nguyện.

"Tối nay có tí thịt ăn rồi." Lão phấn khởi nói.

Suốt chặng đường ven bờ suối đến chân dãy núi Quỷ, lão đã hạ gục được bốn con rết lớn và ba con ếch bầu to bằng bàn tay.

Con suối chảy ngoằn nghèo, uốn khúc giữa hai hàng cây rậm rạp ven bờ, bọn họ đi đến trưa thì gặp một khúc quanh lớn. Đây là khúc quanh do con suối chuyển dòng gây ra, bờ suối mở rộng ra mấy chục thước, khá bằng phẳng với đá cuội lô nhô. Những dòng nước uốn lượn qua các tảng đá nghe róc rách, đứng ở khúc quanh có thể nhìn thấy dãy núi Quỷ xa xa cao chừng 200 - 300 thước, một màu xanh ngắt.

Bảo lão đứng giữa khúc quanh, lão vẫy hắn đến gần rồi giơ tay, chỉ về núi Quỷ và nói:

"Chúng ta nghỉ trưa ở đây thôi, ăn xong chúng ta không men theo bờ suối nữa mà đi chéo về phía kia, vòng qua núi Quỷ về phía nam."

Hắn đứng nhìn theo hướng tay lão chỉ, rồi im lặng quay người tìm một tảng đá to dưới bóng cây để nghỉ ngơi. Bỗng có ánh lấp lánh dưới lòng suối làm hắn chú ý, hắn đi đến bên tảng đá, nhẹ nhàng đặt cái gùi xuống rồi lội đến bên vật lấp lánh đó nhặt lên xem xét.

Đó là một hòn đá to bằng nắm tay có mặt đen bóng phản chiếu ánh sáng mặt trời, hắn xoay xoay hòn đá rồi cúi người đập hòn đá vào một tảng đá lớn. "Cách" hòn đá vỡ một góc, những mảnh vỡ đen sì rơi lả tả xuống mặt nước.

"Đá Quỷ." Bảo lão thốt lên, lão đã đứng sau lưng hắn từ lúc nào.

Khi thấy hắn cầm hòn đá lên xem, lão tò mò đứng phía sau quan sát. Màu đen lấp lánh của hòn đá phản chiếu ánh mặt trời làm lão lóa mắt, trong trí nhớ của lão lập tức hiện về lời kể ma quỷ của cha lão dạo nào làm cho lão run rẩy.

"Đây là đá Quỷ ư?" Hắn cầm hòn đá giơ về phía lão.

Bảo lão lùi lại, lão rùng mình hoảng hốt trước hòn đá màu đen đầy ma quái trước mắt.

"Vứt xuống, vứt xuống đi." Lão rối rít.

"Đó là máu thịt của Quỷ đó." Lão run cầm cập.

"Máu thịt của Quỷ? Sao cháu chẳng thấy giống gì cả." Hắn cười nói, mắt liếc về phía lão vẻ chế nhạo, không ngờ Bảo lão can đảm như thế mà lại sợ một hòn đá đen.

"Đúng là máu thịt Quỷ đó, từ bé ta đã nghe kể về nó. Khắp trong bản, ai cũng sợ. Nghe nói đó là máu thịt của Quỷ chảy ra, ai giữ nó thì đến đêm, Quỷ sẽ tìm về giết cả nhà, da thịt bị lột ra, thân thể sẽ bị hút sạch máu." Lão vừa run vừa nói, hai hàm răng va vào nhau lập cập.

"Ha ha.. Thúc có biết nó là cái gì không? Hắn vừa cười vừa tung hòn đá trong tay, đây là than đá đó, thúc hiểu không? Không phải máu Quỷ gì cả, cũng không phải sợ nó." Hắn đưa hòn đá về phía lão.

Bảo lão vội vàng chạy tót ra nấp sau một tảng đá. Lão hoảng quá nên bị trượt chân, té quay giữa dòng nước, hai chân hai tay chổng lên trời. Sau khi lồm cồm bò dậy, lão hoảng loạn co rúm người lại.

"Ngươi không biết gì cả, đó là máu thịt của Quỷ, chỉ cần đốt trên đống lửa, nó sẽ đỏ rực và bốc mùi rất khó chịu. Ngươi mà không vứt nó sẽ chết thảm đó." Lão líu cả lưỡi.

"Hứ. Thúc đừng sợ, đây là than đá mà, không phải máu thịt Quỷ đâu." Hắn thấy tức cười sự nhát gan của lão, ai đời cọp beo không sợ mà lại đi sợ một hòn đá.

Hắn cũng không biết rằng, tại trái đất trước kia than đá được phát hiện ra từ rất lâu trước công nguyên, nhưng mãi đến tận thế kỷ 18, khi cuộc cách mạng công nghiệp tại nước Anh ra đời cùng với sự phát triển của máy hơi nước thì than đá mới được sử dụng rộng rãi.

Thậm chí tại Việt Nam, thời vua Tự Đức (1829 - 1883). Người ta còn chưa biết than đá dùng để làm gì. Có câu chuyện kể rằng, một viên quan cho người đào được một khối than đá lớn, thấy đen óng ánh bèn dâng lên hoàng cung, nhưng cả triều đình không biết cục đá này dùng để làm gì. Vua Tự Đức khi đó còn cho rằng hòn đá này do máu của Quỷ sinh ra sẽ đem lại sự xui xẻo cho nhà vua, do đó đem vứt đi.

Kể ra thì cũng oan cho Bảo lão, than đá tại thế giới này vẫn là thứ mà hầu như tất cả mọi người vừa nhìn thấy là đã sợ hãi, chưa nói đến chuyện đem ra sử dụng.

Bảo lão vẫn còn run lẩy bẩy, lão thò đầu ra khỏi tảng đá hỏi:

"Than đá à, than đá là cái gì?"

"Cái này là do thực vật, cây cối từ hàng trăm triệu năm trước bị chôn sâu trong lòng đất, lâu ngày hóa thành than đá chứ không phải máu Quỷ gì cả." Hắn giải thích.

Bảo lão ngạc nhiên, từ trước đến giờ lão chưa bao giờ nghe nói đến cây cối bị chôn dưới lòng đất hàng trăm triệu năm lại hóa thành than đá. Lão đứng dậy, rụt rè đến gần hắn nhìn chòng chọc vào hòn đá đen bóng kỳ lạ kia.

"Có thật là do cây cối hóa thành không?" Lão hỏi.

"Tất nhiên. Nếu gặp may, ta có thể nhặt được một hai hòn vẫn còn nguyên vết lá cây đó. Thậm chí, nếu nhìn kỹ hòn đá này, ta còn có thể thấy cả các thớ gỗ đã hóa đá." Hắn giải thích.

"Vậy không phải do máu Quỷ sinh ra sao?" Lão rụt rè hỏi.

"Không phải, chắc đây là hòn đá từ núi Quỷ trôi xuống theo khe suối. Nếu vậy, núi Quỷ chắc là có mỏ than đá lộ thiên." Hắn giải thích thêm.

"Khi thúc nói núi Quỷ có sương mù bốc lên mùi thum thủm, lại thêm cây cối gầy héo, khô khốc, cháu đã nghi ở đó có hiện tượng lạ do tự nhiên sinh ra." Hắn thốt lên.

"Chắc chắn không phải Quỷ chứ?" Bảo lão vẫn chưa hết băn khoăn.

"Chắc chắn vậy, chúng ta kiếm chỗ nghỉ ăn trưa rồi cháu sẽ kể cho thúc nghe về sự hình thành than đá." Hắn nói xong bèn đi về phía tảng đá dưới tán cây.

Trong thâm tâm, hắn quyết định sẽ đem các kiến thức khoa học ra để kể cho lão, mặc dù có thể lão không hiểu.

Bảo lão vội vàng đi theo. Đến tảng đá, bọn họ ngồi xuống lấy gạo rang, nước uống ra vừa ăn vừa nói chuyện.

Trên đường đi, hắn đã kể cho Bảo lão rất nhiều kiến thức về sự hình thành than đá.

Đó là do cách đây hàng trăm triệu năm về trước, những vùng đầm lầy hoặc bờ biển có rất nhiều cây cối to lớn rậm rạp. Các cây cối này bị chết đi, đổ xuống tạo thành một lớp xác thực vật rất dày.

Việc tích tụ xác cây cối được tích lũy trong một thời gian rất dài cho đến khi có một hiện tượng tự nhiên nào đó như biến động địa chất, hoặc núi lửa phun trào khiến cho các cánh rừng này bị vùi sâu vào trong lòng đất hoặc lòng biển.

Do sự phân hủy xác thực vật xảy ra ở trong tình trạng thiếu khí và dưới tác động của áp suất, nhiệt độ cao nên dần dần, lớp xác thực vật này biến thành các mỏ than bùn.. Qua thời gian lâu hơn nữa thì trở thành than nâu hoặc than đá.

Về sau, do một nguyên nhân nào đó như các mảng địa chất xô dịch nhau khiến cho các mỏ than này trồi lên gần mặt đất. Ở vị trí này, chúng rất dễ bắt lửa do bị sét đánh, hoặc do nhiệt lượng tích lũy qua năm tháng, đến một ngưỡng nào đó gây cháy ngầm.

Khi xảy ra hiện tượng trên, hơi nước và các loại khí được sinh ra như khí cácbon (CO), khí lưu huỳnh (SO2) sẽ thoát lên trên mặt đất gây ra hiện tượng sương khói, kèm theo mùi thối thum thủm khiến cho động vật chết hàng loạt vì ngộ độc.

Đó là lý do trên các mỏ than bị cháy ngầm thường không có sinh vật nào sống. Đồng thời, do các khí đó thoát ra kèm theo nhiệt độ khu vực mỏ tăng cao dẫn đến cây cối bị thiếu nước và giảm hô hấp, héo vàng không phát triển được.

Hắn giơ tay chỉ và hỏi Bảo lão:

"Thúc có nhìn thấy trên núi Quỷ có nhiều vùng cây cối lưa thưa và lá vàng đúng không?"

Bảo lão ngơ ngác nhìn theo hướng tay hắn, giây lát sau lão hỏi:

"Tại sao ngươi biết được việc này?" Lão giương mắt nhìn hắn, ý dò xét.

"Ha.. ha. Trước kia, cháu đã đọc một quyển sách nói như vậy." Hắn trả lời.

"Hả, ngươi biết chữ ư?" Lão ngạc nhiên lẩm bẩm:

"Từ trước tới nay, phàm người có học đều là con nhà giàu có, quan lại thế lực, còn đám thường dân như ta mà biết chữ thì đếm trên đầu ngón tay cũng không thấy. Té ra ngươi cũng không đơn giản, chắc ngươi là người có lai lịch. Nhưng tại sao ngươi lại không nhớ được gốc gác của mình mà lại biết nhiều thứ lạ như vậy?"

"À, cháu cũng không nhớ tại sao." Hắn cười xòa.

Đây là lần đầu tiên, hắn đem kiến thức khoa học ra giải thích, một phần là do hưng phấn, một phần là để trấn an cơn sợ hãi của lão.

Các mỏ than đá này do biến động địa chất có thể trồi lên gần sát với lớp đất bề mặt, khi gặp mưa lũ rất dễ bị lở, lộ ra và bị cuốn trôi về các con sông khiến cho người ta dễ bắt gặp.

Than đá có giá trị rất lớn, có thể dùng để đun nấu, nung gốm, luyện thép, làm năng lượng cho các máy hơi nước và các nhà máy điện.. Ngoài ra chúng còn có thể dùng để chế tạo nhiều vật liệu giá trị khác như nhựa, dầu hỏa, hóa chất..

Nói đến than đá, không thể quên được lợi ích của nó trong cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên của loài người.

Bảo lão há hốc mồm ra nghe như con khỉ trong chuồng thú chờ người ta cho ăn. Đối với đun nấu và nung gốm thì lão còn hiểu, chứ nói đến năng lượng hay nhà máy điện thì lão chẳng hiểu cái gì sất. Thậm chí mấy từ ngữ này, lão cũng lần đầu nghe thấy nên tưởng hắn nói tiếng ngoại ngữ.

Uống một ngụm nước, hắn nói tiếp:

"Cháu nghĩ rằng, chúng ta nên vượt qua dãy núi Quỷ này chứ không cần đi vòng nữa, có thể sẽ nhanh hơn được một ít, nhưng quan trọng là cháu muốn khảo sát các dấu hiệu của mỏ than ở đâu, chúng có lộ thiên không."

"Chắc chắn không xảy ra vấn đề gì chứ?" Bảo lão vẫn lo lắng.

"Ồ, không, thúc yên tâm, trong rừng cháu sẽ nghe lời thúc. Nhưng việc này, thúc nên tin vào sự hiểu biết của cháu." Hắn góp ý.

"Thôi được, ta cũng liều một lần xem sao." Bảo lão ngậm ngừng sau khi cân nhắc vài giây.

Một lúc sau, bọn họ lại lên đường, nhưng lần này, họ đi thẳng theo con suối đến chân núi rồi xiên rừng trèo lên.

Dãy núi Quỷ là một dãy núi không quá cao, địa hình thoai thoải nên khá thuận lợi khi leo trèo. Đến chiều, họ đã tới được giữa dãy núi, từ đây có thể nhìn thấy dãy Tuyết Sơn rất gần.

Sau khi xác định được phương hướng và địa thế dãy núi, Bảo lão rất mừng, xem ra vượt qua núi Quỷ rút ngắn được rất nhiều thời gian. Cứ thế này, đến trưa mai, bọn họ có thể đến được chân núi Tuyết Sơn. Nhưng lão vẫn chưa hết lo lắng về lời nguyền mà cha lão đã kể ngày xưa.

Trên đường vượt núi, hắn vừa đi vừa nhìn xung quanh, thậm chí chỗ nào lá cây khô vàng, chỗ nào đất có vết đen cũng được hắn quan sát cẩn thận. Mặc dù trận mưa vừa rồi đã làm lá cây xanh tươi lên không ít nhưng vẫn không che dấu hết được những khoảng rừng còi cọc do thiếu nước.

Sau khi đã leo lên đến một đỉnh núi, bọn họ quyết định dừng chân. Bảo lão tìm một chỗ đất trống để ngủ, lão đi chặt mấy cành cây về nhóm lửa, giây lát sau, ngọn lửa đã bốc lên tỏa ra một làn khói mờ bay theo gió.

Lão lục cái gùi lấy bốn con rết và ba con ếch ra, xiên vào que rồi hơ trên đống lửa, một lúc sau, lão đưa cái que lên mũi ngửi ngửi, mùi thịt nướng bốc ra làm lão chảy cả nước dãi.

Chờ cho hắn đi khảo sát trở về, lão bày mấy xiên thịt nướng trên nắm lá cây rồi hí hửng cầm một con rết đại lên ngắm nghía. Sau đó, lão cho con rết lên miệng cắn cái roạt để tước sạch vỏ và hai hàng chân rồi nhai ngấu nghiến ngon lành.

"Ăn đi, ngon hơn thịt gà đó." Lão chỉ vào mấy con rết còn lại bảo hắn.

"Dạ, mấy con rết này, cháu ăn không quen, để cháu ăn thử con ếch này xem." Hắn trả lời trong khi tay xách con ếch lên lột da, rồi bẻ hai cái đùi cho vào mồm nhai.

"Khá ngon, thịt rất mềm đó thúc." Hắn nhăn nhở cười, hàm răng lem nhem vì muội than dính vào.

"Con này ăn ngon hơn." Bảo lão vui mừng vì hắn không ăn tranh mất mấy con rết của lão.

"Đúng là ở đây có dấu vết của mỏ than lộ thiên, không biết có lớn không?" Hắn vừa ăn vừa nói:

"Cháu hy vọng sẽ đến lúc khai thác mỏ than này để lấy chất đốt, sẽ rất hữu ích."

"Củi trên rừng thiếu gì, cần gì phải đến đây mà lấy than." Bảo lão cằn nhằn.

"Thúc không biết giá trị của nó đâu? Nếu có nó, chúng ta có thể luyện ra được sắt cực tốt."

"Hả, ngươi cũng biết cách luyện sắt?" Bảo lão tròn mắt hỏi.

Nghĩ đến cái hang đầy những dao kiếm treo lủng lẳng làm lão thấy hưng phấn vô cùng. Từ xưa đến nay, trong bản của lão không có ai biết cách luyện sắt cả, bọn họ toàn phải đi mua với giá đắt đỏ nên đồ dùng bằng sắt là cả một gia tài lớn đối với họ. Nếu có một cái hang đầy đồ sắt thì thực sự là phát tài lớn.

"Không, nhưng cháu biết phương pháp." Hắn trả lời.

"Hừ, thế mà cũng khoe." Bảo lão mất hứng, lão thở dài đánh sượt.

"Nhưng thúc yên tâm, có loại than đá này, đảm bảo cháu sẽ luyện ra sắt tốt nhất. Lúc đó, chúng ta sẽ sản xuất ra các loại công cụ sắt để bán, giá trị sẽ rất lớn."

"Hả, thật không?" Bảo lão vẫn còn nghi ngờ, nhưng nhìn ánh mắt hắn, lão biết không cần hỏi nữa, ánh mắt hắn khẳng định tất cả.

Đến tối khuya, sau khi bẻ thêm ít cành lá làm chỗ lót, bọn họ đã chìm vào giấc ngủ trong màn đêm của núi Quỷ.

Bên cạnh họ, đống lửa vẫn cháy, nổ tí tách.
 
Chỉnh sửa cuối:
949 ❤︎ Bài viết: 393 Tìm chủ đề
Chương 16. Trên đỉnh Tuyết Sơn

"Dậy, dậy đi, trời sáng rồi.". Mấy cú đập vai của Bảo lão làm hắn thức giấc.

"Quái, sao sớm thế nhỉ, trời vẫn còn chưa sáng rõ mà." Hắn hé mắt nhìn.

"Tranh thủ dậy sớm đi, kẻo nắng." Bảo lão giục.

"Trời còn sớm quá mà thúc." Hắn uể oải ngồi dậy.

"Sớm gì nữa, ta nằm cả đêm không ngủ được, chỉ lo có con Quỷ nào đến gần chạy không kịp." Bảo lão ngồi chồm hỗm bên cạnh hắn, trông lão phờ phạc, hai mắt đỏ ngầu, vừa ngáp lão vừa cười như thằng dở hơi biết bơi.

"Ở đây yên tĩnh quá, không có tiếng chim kêu nào!" Hắn thốt lên.

"Ừ, không thấy có động tĩnh gì, làm ta thấy lo lo." Bảo lão than thở.

"Hổ báo thúc còn không sợ, sao lại lo Quỷ ạ?" Hắn hỏi.

"A, hổ báo ta nhìn thấy suốt, chứ Quỷ đã gặp bao giờ đâu mà biết nó vuông tròn, gầy béo ra sao." Lão thật thà nói.

"Ha ha, không ngờ thúc lại nhát gan thế?" Hắn cười trêu.

"Con người thì cũng phải sợ một cái gì chứ! Đêm hôm qua, ta cứ thấy run run, cảm giác rất bất an." Lão phân trần:

"Chúng ta vừa đi vừa ăn cho nhanh kẻo nắng. Chỗ này đồi núi cây cối thưa thớt, tý nữa nắng lên mà đi không kịp sẽ rất mệt đấy."

"Hừ, thúc sợ Quỷ thì cứ nói thẳng ra, chứ sợ gì nắng." Hắn tếu táo rồi liếc nhìn Bảo lão mặt đang nhăn như khỉ ăn phải mắm tôm.

Bảo lão cũng chẳng thèm phân trần, lão khoác gùi lên vai, vừa bốc nắm gạo rang, vừa đi rất nhanh. Trong thâm tâm, lão muốn biến khỏi nơi này càng nhanh càng tốt, mặc dù tối qua lão tỏ ra can đảm, nhưng những lời nguyền mà từ nhỏ, lão đã được nghe cứ càng ngày càng làm lão căng thẳng. Cuối cùng đến gần sáng, lão quyết tâm bỏ ngủ để chạy sớm cho nó lành.

Theo bước chân họ, các cánh rừng của núi Quỷ lùi dần về phía sau. Khi họ xuống đến chân dãy núi, mặt trời đã lên khá cao, theo ước lượng của hắn thì khoảng 9 giờ sáng, nếu tính theo giờ trái đất.

Ở đây, cây cối đã bắt đầu rậm rạp. Càng ngày, càng có nhiều cây cổ thụ lớn cỡ vài người ôm không xuể, cao vút hàng chục thước. Các cành lá tỏa ra tít ở trên cao, dầy đặc đến nỗi ánh mặt trời cũng khó xiên qua. Không khí dường như oi ả, ẩm ướt hơn rất nhiều.

Trên con đường bọn họ đi, một lớp thảm lá cây rất dày phủ trên mặt đất và vô số bụi cây cao ngang đầu với những sợi dây rừng lõng thõng, to như cổ tay vắt ngang dọc. Vài con cánh cam to như quả trứng gà bay rè rè giữa những đàn ong, bướm phấp phới. Khung cảnh kỳ vĩ, cổ đại như trong kỷ Jurassic của các phim khoa học viễn tưởng.

Từ lúc bước chân vào cánh rừng già, Bảo lão đã có vẻ tự tin như mọi khi. Lão xăm xăm đi trước, thỉnh thoảng ngó nghiêng rồi cầm gậy gạt mấy bụi cây một cách cẩn thận. Thậm chí có lúc lão còn dừng lại, khịt khịt đánh hơi như chó săn.

"Ở đây có một đàn heo rừng vừa đi qua." Lão chỉ vào mấy vết chân hằn trên mặt đất và mấy đám rễ cây bị ủi bật trơ trọi.

"Thúc không sợ mấy con này sao?" Hắn vừa thở hổn hển vừa hỏi, chủ ý để lão phân tâm mà đi chậm lại, không thì mệt chết.

"Chỗ nào có thú rừng thì ta lại không sợ, không như trên núi Quỷ, chẳng thấy bóng dáng con thú nào, thế mới ghê. Ngươi đúng là nghé con không sợ hổ, ngủ ở cái chỗ như thế mà cứ ngáy khò khò." Lão nói mà đầu cũng chẳng thèm ngoái lại.

"Tại thúc không biết nên mới sợ. Chỗ không có thú thì chưa chắc đã nguy hiểm, thúc có muốn cháu nói nguyên nhân không?" Hắn cố tình đi chậm lại, gợi chuyện.

"Hả, nguyên nhân gì, kể coi." Lão ngoái đầu đi chậm lại chờ đợi.

"Ha, mắc mưu rồi. Phải khề khà cho lão đi chậm lại mới được, nếu không mệt rã cả ba chân." Hắn mỉm cười gian xảo.

Thế là hắn vừa đi vừa kể từ nguyên nhân các mỏ than gần mặt đất dễ xảy ra cháy ngầm, đến khi chúng thoát ra một lượng khí than rất độc như khí các bon, khí lưu huỳnh gây ngộ độc hô hấp, khiến cho những con vật nào hít phải nhiều sẽ bị chết.

Quan trọng nhất là những khí này đều không mùi, không vị nên rất khó bị phát hiện, nhất là khí lưu huỳnh hydro sulfua (H2S) độc hơn rất nhiều các loại khí độc khác. Đầu tiên nó gây mùi trứng thối nhưng sau đó, nó làm cho mũi mất cảm ứng với mùi này nên người ta cứ hít mãi mà không biết dẫn đến ngộ độc khí.

Người nào hít nhiều còn bị choáng váng, ngất xỉu, thậm chí dẫn đến tử vong.

Bảo lão nghe vậy bèn hỏi vặn lại hắn, tại sao biết mà vẫn dám trèo lên, lại còn ngủ lại ngáy o o nữa khiến cho hắn chỉ biết cười trừ.

Hắn còn giải thích cho lão biết cách để ý khi đến gần các mỏ than bị cháy ngầm như dựa vào đặc tính thời tiết. Trời mưa hoặc cuối thu nhiệt độ sẽ không cao, nhiệt độ tích tụ trên mặt đất thấp sẽ không có khả năng gây cháy rừng, lan xuống các phần mỏ bên dưới.

Thứ hai là dựa theo hướng gió, nếu đi trên vùng đồi thoáng, không chui vào các khe rãnh núi thì cũng không việc gì.

Cứ thế, hắn vừa đi vừa kể, thấy Bảo lão im lặng, hắn bèn gặng hỏi:

"Cháu giải thích thế thúc có hiểu không nhỉ?"

"Mía! Ngươi cứ nói luyên thuyên, ta chẳng hiểu gì cả. Cái gì mà khí độc tích tụ, sườn đồi thoáng gió.. Ta mà hiểu ngươi nói thì đi ăn bã.. còn dễ hơn, cứ lảm nhảm như thằng điên." Lão càu nhàu rồi vọt bước.

"Hừ, đúng là bọn cổ đại lạc hậu, văn hóa thấp, nói khoa học thế mà cũng không hiểu." Hắn lầu bầu rồi cong đít chạy theo.

Họ đi mãi đến chân một dãy núi khá cao thì dừng lại. Dãy núi khá hùng vĩ, cao chừng trên ngàn thước, trên đỉnh núi thấp thoáng mây mờ ẩn hiện với bóng cây cối lô nhô xanh ngắt, trên vách núi xen kẽ rất nhiều bụi tre trúc và dây mây chằng chịt.

Sau khi đã nghỉ ngơi một lúc, Bảo lão kiểm tra lại cái gùi và đám dây rợ. Sau đó lão đu người bám vào mấy rễ cây nhỏ, bắt đầu leo lên. Từ đây trở đi đã bắt đầu khó khăn, lão phải dùng dao phạt rất nhiều đám cây bụi và những dây mây đầy gai rậm rạp.

Đôi khi, có con rắn đen đen, vàng vàng vằn vện chạy đánh roẹt ngay trước mặt lão làm lão giật thót mình không kịp vung dao. Còn vắt, thì nhiều vô kể nhưng không làm họ e ngại.

Tuyết Sơn là một dãy núi khá dốc chứ không thoai thoải như dãy núi Quỷ, chân và sườn núi khá nhiều tảng đá to trơ trụi, chỉ có rêu và những dây leo nhỏ bám vào.

Bảo lão trèo lên trước, thỉnh thoảng lão còn phải giơ tay để kéo hắn lên. Vài lần trượt chân, cái mông lão giáng thẳng vào mặt hắn, khiến cho hắn được ăn bữa phao câu bất đắc dĩ. Nhưng cũng có lần, lão được nếm thử món trứng chọi đá khi leo lên một tảng đá to đầy rêu trơn tuột, hai quả trứng của lão đập cái "bét" vào phiến đá khiến lão trợn mắt, lặng người đến vài phút.

Cứ thế, đến tầm ba, bốn giờ chiều, bọn họ đã lên gần đến đỉnh, Bảo lão đã có vẻ mệt mỏi, lão chỉ lên đỉnh núi có rất nhiều bóng cây to nhấp nhô.

"Kia là chè Tuyết cổ thụ đấy." Lão nói vẻ hưng phấn.

Bọn họ leo đến gần, những cây chè cổ thụ to cỡ hai, ba người ôm, cao hàng chục thước, thân cây mốc meo đầy rêu và địa y, ở những chỗ cành cây chĩa ra còn có mấy bụi phong lan xanh mướt. Tán cây rộng, trải ra che kín cả ánh mặt trời.

Bảo lão dướn người vặt một đọt lá ở mấy cành thấp, lão cho vào mồm nhai thử rồi gật gù:

"Đúng là chè Tuyết đây! Vị chè chát chát nhưng rất tuyệt, chúng ta đi lên thêm một chút nữa rồi tìm chỗ nghỉ, sáng mai dậy sớm. Hái chè phải hái vào lúc tờ mờ sáng thì chè ngấm sương mới ngon. Rất tiếc mùa này cuối thu nên hơi ít búp non, đến đầu mùa xuân chúng ta quay lại sẽ tha hồ mà thu hoạch."

"Những cây chè này chắc phải sống đến mấy trăm năm ấy nhỉ." Hắn hỏi bâng quơ.

"Ừ, trên đỉnh núi còn những cây to đến 5 - 6 người ôm không xuể, chắc đến cả ngàn năm. Giống chè này chỉ sống trên đỉnh núi cao, ở dưới chân núi không có. Mấy dẫy núi này, mùa đông trên đỉnh của chúng phủ trắng toàn tuyết là tuyết, lạnh vô cùng. Có lẽ giống chè này hít sương gió, uống băng tuyết nên mới thơm ngon, tinh khiết đến vậy." Lão cảm thán.

Bọn họ tiếp tục leo lên thêm, đến một chỗ khá bằng phẳng, họ dừng lại nghỉ ngơi dưới tán một cây chè to.

Sau khi vác dao chặt được một ít củi và mấy đám rêu khô, Bảo lão bắt đầu châm lửa. Chỉ một lúc sau, đống lửa đã cháy bùng lên, nổ tí tách, khói trắng tỏa ra quấn quanh những thân chè mờ ảo như trong tiên cảnh. Lão chặt một ống nứa làm hai đoạn cắm bên đống lửa rồi đổ nước, bứt mấy lá chè vò nát cho vào. Xong xuôi, lão lục gùi lấy gạo rang bày ra rồi ngồi tựa lưng vào một gốc cây chè, dáng vẻ rất hài lòng.

Chỉ một lúc sau, nước trong hai ống nứa đã sôi ùng ục, hơi nước bốc ra hương chè tươi quện với mùi cháy của vỏ nứa lan tỏa khắp cánh rừng. Bảo lão đưa cho hắn một ống, còn lão cầm một ống đưa lên miệng nhấm nháp, khà khà rồi gật gù thỏa mãn.

"Uống đi, trà tươi thật là ngon." Lão mỉm cười với hắn.

"Tối nay, chúng ta ngủ trên cây hay dưới đất hả thúc?" Hắn vừa đưa ống nứa lên miệng nhấp một ngụm chè vừa khà khà hỏi.

"Ngủ dưới đất là được rồi, lên cây khó ngủ lắm, đến đêm gió to nhỡ rơi xuống là bẹp xác." Lão trả lời.

"Nhỡ ở đây có con ác thú nào thì sao ạ?" Hắn hỏi.

"Hả, ngươi không sợ Quỷ, lại sợ ác thú sao. Ha ha.." Lão nói móc, hàm ý trả đũa câu nói của hắn ban sáng.

"Nhưng chúng ta cũng phải đề phòng chứ? Nhỡ đêm tắt lửa, ác thú mò đến thì toi?" Hắn nhìn lão chờ đợi.

"Thế thì ngươi thức mà trông đống lửa, còn ta phải ngủ một giấc cho đã, đi từ sáng đến giờ mệt khiếp." Lão cười, ánh mắt gian xảo.

"Thôi kệ, cháu cũng rất mệt đây. Ác thú mà đến thì nó bắt con nào to béo chứ con nhỏ, lại gầy thì chắc nó chẳng thèm." Hắn nói một cách mập mờ.

"Hả." Bảo lão trố mắt rồi lão cười khành khạch:

"Hí hí, ngươi cũng đáo để đấy. Nhưng không phải lo, khi chúng ta trong rừng, có con thú nào dám lại gần đâu, đúng không?" Lão hỏi giọng chế giễu.

"Vâng, cháu cũng thấy lạ, sao không thấy con thú nào ở gần? Bình thường, trong rừng có nhiều loại thú rất dạn, thấy người chúng còn không thèm chạy, vậy mà lần này đi rừng lại chẳng thấy con nào cả?" Hắn thốt lên ngạc nhiên.

"Hây da, bí quyết đấy." Lão nheo mắt tinh quái.

"Ta giã một ít phân hổ khô trộn vào đám lá nát để bôi lên người, lũ thú đánh hơi từ xa là chạy mất. Phân hổ có một mùi đặc trưng khiến đám thú sợ, không dám đến gần." Lão đắc ý nhăn nhở.

"Phân hổ ư?" Hắn giơ tay sờ sờ lên mặt, lè lưỡi rồi ọe mấy bãi nước bọt:

"Thảo nào không thấy con thú nào ở gần, cháu cứ tưởng vào rừng sẽ được ngắm mấy con báo hoặc heo rừng, hươu nai gì đó chứ." Hắn nhăn mũi cười khổ sở.

"Há, ngươi ngắm chúng xong thì xuống đất mà ngắm giun luôn nhé, đừng tưởng mấy con thú nhỏ là không nguy hiểm. Bình thường, chúng thấy người từ xa là lủi, nhưng khi chúng đói hoặc gặp người bất thình lình thì lại khác. Một con báo chưa đến chục cân hoặc một con heo rừng cỡ hai chục cân cũng đủ lấy mạng ngươi đấy, biết không? Chưa kể đến mấy con khác như khỉ đột, mèo rừng, chó sói.." Lão trợn mắt, vung vẩy hai tay.

"Vậy trước kia thúc bị heo rừng húc, có phải thúc quên không bôi phân hổ lên người?" Hắn hỏi.

"Hừ, ta có bôi. Hôm đó, ta hái đầy một gùi chè xong nên rất hưng phấn, khi xuống núi ta không để ý. Bỗng nghe xoạt một tiếng, các bụi cây bị ngả ra hai bên rồi thấy cái đầu đen sì của nó lao tới, ta bèn ném cái gùi vào nó rồi nhảy phắt lên, đu vào một sợi dây rừng, nhưng hơi chậm."

Lão kể đến đây thì nhăn trán như cố nhớ tiếp:

"Ta bị nó húc cho một phát gần trúng thằng cu, đau thấu xương. Ta liều chết bám chặt rồi cố sức leo lên một cành cây to, nó lồng lộn ở dưới đất húc tan cả cái gùi của ta, mấy tiếng sau nó mới bỏ đi. Đến hôm sau, ta tụt xuống, nhặt cái gùi rồi tìm đường lết về nhà."

"Sau lần đó, ta nằm mấy tháng mới bình phục. Đấy là một con heo độc, đi rừng mà để nó nhìn thấy thì chẳng mấy ai sống sót trở về. Cũng may, kinh nghiệm đi rừng của ta rất phong phú, hai nữa ta lại biết cách cầm máu, rịt thuốc nên không chết." Lão than thở.

"Thúc, heo độc không sợ mùi hổ sao?" Hắn hỏi.

"Hừ, cả bầy hổ cũng không làm nó sợ. Heo độc thường là những con đực sống lâu năm đi kiếm ăn một mình, nó không dát như heo đàn. Nó rất hung dữ và hiếu chiến, bất kỳ con nào đi vào khu vực kiếm ăn của nó cũng đều bị nó tấn công."

Bảo lão còn kể cho hắn nghe có lần lão chứng kiến một con heo độc đánh nhau với một con hổ lớn, cái mõm con heo có hai cái răng nanh nhọn hoắt, cong lên như hai con dao dài cả chục phân.

Nó lao vào con hổ húc túi bụi, con hổ chỉ có nước gào thét nhảy tránh rồi tát bên này một cái, vồ bên kia một cái. Thỉnh thoảng con hổ bấu được vào lưng con heo rồi ngoặm vào đít, nhưng da lưng con heo dầy đến bốn năm phân nên vuốt hổ không làm gì được.

Con heo này cũng rất khôn, nó chạy như bay, lôi con hổ chui qua mấy gốc cây đổ làm con hổ phải buông ra. Rồi nó lập tức quay ngoắt lại, nhằm bụng con hổ mà húc tới, hai cái răng nanh của nó húc thủng bụng con hổ, lòi cả ruột gan ra ngoài. Đánh nhau được mấy tiếng, con hổ đành bỏ chạy.

Những cuộc chiến kiểu này bao giờ cũng có một con bỏ mạng, không heo thì hổ. Thậm chí trước kia lão còn nhìn thấy một con voi rừng bị con heo độc húc, rách toạc cả hai chân sau, cuối cùng con voi cũng phải bỏ chạy.

"Thúc, vậy trong rừng con thú nào đáng sợ nhất?" Hắn hỏi.

"Hừ, nhiều lắm. Nhưng có mấy loại cực kỳ nguy hiểm, đi rừng chẳng may để nó nhìn thấy thì coi như là chết, trừ khi nhanh chân chạy kịp. Vì vậy, khi vào rừng phải để ý, phải nghe ngóng các tiếng động, phải ngửi, phải quan sát, nếu thấy dấu vết mấy con này thì phải tránh đi."

Nói đến đây, lão nheo mắt vẻ cười cợt:

"Ngoài ra, phải biết được thói quen của nó, cách nó di chuyển, săn mồi và ngủ, thậm chí phải nếm cả phân xem nó no hay đói, ăn thịt hay lá cây. Con nào ăn thịt thì phân sẽ chua chua, nát nát. Con nào ăn lá thì phân sẽ bã bã, hăng hăng. Hiểu chưa?"

"Vâng, cháu hiểu rồi." Hắn trả lời.

Bảo lão thấy thế bèn dặn thêm:

"Nhưng cũng có con không để lại dấu vết gì, vì vậy phải quan sát những con vật xung quanh như chim, sóc, khỉ, hươu nai.. nếu trong rừng không có bóng mấy con này thì chắc chắn sẽ có thú dữ ở gần.. Tóm lại, ngươi cứ chịu khó chết hụt nhiều lần, tự nhiên sẽ có kinh nghiệm."

"Hả.. Mía ơi, đúng là cháu không thích chịu khó kiểu này mà!" Hắn cười méo cả mặt.
 
Chỉnh sửa cuối:
949 ❤︎ Bài viết: 393 Tìm chủ đề
Chương 17. Trở về hang đá

"Trèo lên nữa đi, chỗ mấy cành to ấy." Bảo lão đứng dưới đất chỉ đạo.

Trên cây chè cổ thụ, Hoàng Chân đang thoăn thoắt ôm cái vòng mây trèo lên, nhanh không kém dân chuyên nghiệp. Đến một chỗ khá cao, hắn tháo dây thừng buộc một đầu vào thân cây, một đầu buộc vào eo rồi trườn dọc theo cái cành ra chỗ mấy tán lá còn xanh mơn mởn.

Một tay hắn cầm cái móc tự chế bằng một ngọn trúc dài để kéo các cành lá ở xa lại gần. Thỉnh thoảng, một đám mây trắng bay ngang qua ngọn cây khiến bóng hắn chập chờn như Tôn Ngộ Không đang đằng vân giá vũ trong vườn thượng uyển.

Tít về phía chân trời, ánh mặt trời vẫn còn chưa ló rạng, chỉ có một vầng sáng màu da cam, mảnh như sợi chỉ vắt ngang trên đỉnh các dãy núi chập trùng. Lưng chừng núi, mây mù phủ trắng xóa không rõ đâu với đâu.

Hắn ngồi trên một chạc cây ba nhánh, tay trái cầm cái móc để kéo mấy nhánh chè, tay phải thoăn thoắt vặt các búp chè non rồi bỏ ra cái gùi sau lưng, thiện nghệ như mấy cô gái H'mông hái chè trên đỉnh núi.

Khi cái gùi đã kha khá, hắn buộc dây thả cái gùi xuống cho Bảo lão hứng lấy. Lão nhanh chóng trút các búp chè còn tươi vào cái gùi to rồi kêu lên mấy tiếng "quang quác" như gà mái đẻ để ra hiệu cho hắn kéo cái gùi lên vặt tiếp.

Những tán chè dầy đặc khiến cho hắn vặt luôn tay, chẳng mấy chốc hai cái gùi đã được lèn chặt các búp chè.

Đến khi mặt trời lên chênh chếch, ánh nắng làm tan đi những đám mây lưng chừng núi thì hắn đã bẻ thêm được rất nhiều các cành chè to lẫn cả búp. Lần này, hắn bẻ cả cành rồi ném luôn xuống cho Bảo lão đi nhặt, bọn họ dự định buộc thành đống rồi vác về nấu chè tươi giải khát.

"Đủ rồi đấy." Tiếng Bảo lão vang lên dưới gốc cây:

"Hái nữa thì nhiều quá, không mang nổi về đâu."

"Vâng, cháu xuống đây." Hắn thả cây sào và cái vòng rồi đu dây thừng tuột xuống đất đánh phịch. Sau khi cuộn lại sợi dây và mấy thứ đồ nghề, hắn hưng phấn đến bên hai cái gùi ngắm nghía thành quả.

Hai cái gùi đầy ắp búp chè, từng búp chè tươi mơn mởn, tôm chè lông trắng mịn như tuyết chen lẫn mấy chiếc lá non đầu cành trông thật thích mắt. Bão lão đã xếp chặt hai cái gùi, ngoài ra lão còn nhồi thêm búp chè vào mấy ống nứa rỗng rồi buộc túm các ống nứa lại thành bốn bó, xếp vào hai bên cái gùi.

"Chúng ta kiếm chỗ cất mấy cái đồ này, lần sau đến còn dùng tiếp chứ, thúc?" Hắn chỉ vào cuộn dây và cái vòng mây cùng cây móc tự chế.

"Ừ, để ta cất dưới tảng đá to đằng kia." Bảo lão xách đống đồ nghề rồi đi về phía một tảng đá. Một lúc sau, lão quay lại, tay cầm sợi dây thừng.

"Cái này phải mang theo vì rất cần thiết. Bây giờ chúng ta nghỉ ngơi, ăn uống một chút rồi nhanh chóng quay về. Hôm nay là ngày thứ tư rồi đấy, chậm nhất thì ba ngày nữa là về đến nhà." Lão phấn khởi nhìn đống búp chè, miệng mỉm cười sung sướng.

Một lúc sau, bọn họ lên đường trở về theo lối cũ. Bảo lão nhanh nhẹn đi trước, lưng lão đeo cái gùi to lại thêm hai bó ống nứa dựng đứng hai bên, phía trên cái gùi lại thêm một bó cành chè to tướng che khuất cả đầu và lưng lão.

Phía sau, hắn cũng giống như lão, trông bọn họ như hai bụi cây di động, hai cái đầu bù xù ngoi giữa đám lá cây rậm rạp trông như Rôbinsơn trên hoang đảo.

Đường đi xuống khó khăn hơn rất nhiều so với lúc đi lên, đơn giản là bọn họ phải mang nặng mà các cành lá rậm rạp lại che mắt khiến họ không nhìn rõ phía dưới. Đến mấy chỗ dốc, Bảo lão phải quàng sợi dây qua mấy gốc cây rồi bọn họ bám theo sợi dây từ từ tụt xuống.

Sau khi xuống, lão lại thu sợi dây để quàng vào gốc cây khác. Cứ như vậy, gần đến chân núi thì trời đã tối, họ phải quyết định nghỉ lại.

"Gần đây có một cái động lớn, lần trước ta đã ngủ ở đó, để ta đi tìm xem nó ở phía nào." Bảo lão nói.

Lão hạ cái gùi và đám lá chè rồi xách dao mò mẫm quanh sườn núi một chốc rồi quay lại, vẻ mặt mừng rỡ:

"Tìm thấy rồi, chúng ta qua đó nghỉ đêm." Lão xốc cái gùi và đám lá lên vai rồi nhanh nhẹn dẫn đường. Đến cửa động, lão lách qua mấy tảng đá rồi chui vào kêu toáng lên:

"Vào đê, trong này rộng rãi lắm." Tiếng lão oang oang vang động cả cái hang.

"Vụt, vụt." Hàng trăm con dơi trong hang bị tiếng động giật mình xáo xác bay vụt ra loạn xạ, có con bay suýt va vào mặt hắn.

Theo lối đi của lão, hắn tiến vào cái động và hạ cái gùi cùng đám lá chè xuống. Đây là một cái động lớn sâu hun hút không thấy đáy, trần động càng vào trong càng rộng ra, trên trần đầy thạch nhũ rủ xuống, có cái to như cột nhà, sần sùi nhiều hình dáng kỳ quái.

Bảo lão đang lúi húi trên một phiến đá lớn trong động, giữa phiến đá còn dấu vết của một đống tro không rõ từ bao giờ. Sau khi sắp xếp đâu vào đấy, bọn họ ra ngoài kiếm củi, một ít rêu khô rồi đốt lửa, ăn và ngủ qua đêm chờ mai đi tiếp.

"Ở đây có thú dữ không hả thúc?" Hắn ngước nhìn lão qua đám khói mờ trong động.

"Có, nhưng trong động đốt lửa thì chúng không dám vào, có chăng chỉ mấy con rắn là cùng." Lão trả lời thản nhiên.

"Vậy rắn nguy hiểm hơn hay ác thú nguy hiểm hơn hả thúc?" Hắn tò mò hỏi.

Bảo lão nghe hắn hỏi bèn trả lời:

"Cũng tùy lúc gặp con nào. Thường thì ác thú nguy hiểm hơn vì chúng đói, phải đi săn mồi mà con người là con vật mà chúng có thể bắt. Con thú nào đã ăn thịt người rồi thì sẽ bị nghiện, rất dễ dàng tìm người bắt tiếp. Cũng có con rất khôn, thấy người là tránh vì kinh nghiệm dạy chúng, con người là loại động vật nguy hiểm."

"Còn rắn thì khác, con người không phải là món ăn của chúng, chúng cắn chỉ để tự vệ hoặc để đe dọa thôi. Do đó, khi gặp rắn độc, chúng ta chỉ cần tránh đi là xong. Nhưng khi gặp ác thú thì khác, chúng ta mà không tránh kịp thì dễ bị chúng tấn công ngay." Lão ngả lưng ra nền hang mà nói.

"Nhưng cũng có những con rắn khổng lồ ăn thịt người rất đáng sợ, chúng còn nguy hiểm hơn cả ác thú, nhưng rất may, trong tự nhiên chúng không có nhiều nên hiếm gặp." Lão nói tiếp.

"Rắn khổng lồ ư, chúng to như thế nào hả thúc?" Hắn tròn mắt hỏi.

"To như cái cột nhà, dài cả chục thước. Chúng đủ sức nuốt cả trâu, hổ mà gặp nó cũng phải chạy cúp đít. Nhưng nó hay sống ở nơi hoang sơn cùng cốc, rừng núi âm u, hiếm khi ra chỗ rộng rãi bằng phẳng như bãi cỏ hay sườn đồi."

"Đấy là con trăn đó chứ, thúc?" Hắn ngạc nhiên hỏi.

"Không hẳn con trăn. Trăn có hai loại chính là con trăn đất và trăn gấm, cả hai loại này thường ít khi ăn thịt người. Con trăn đất có thân mầu đen xám mốc thếch, còn con trăn gấm có màu vàng đất, cả hai con đều có những hoa văn trên người rất đặc trưng và nó không giống rắn."

"Ngoài ra còn có vài con trăn rất lạ, có con người rất ngắn và béo mum múp, cũng có con người rất gầy và dài. Trăn không có nọc nên khi nó tấn công thì chủ yếu là quấn chặt lấy con mồi cho ngạt thở, thậm chí nó còn tha con mồi lên cây rồi lợi dụng độ cứng của thân cây để làm gãy hết xương con mồi mới nuốt. Thức ăn của nó là những con thú nhỏ như con non, khỉ, hoẵng.." Lão giảng giải.

"Còn rắn khổng lồ thì khác. Có người nói nó là rắn hổ chúa, người thì nói nó là rắn hổ mang chúa, thực ra hai loại này khác nhau nhưng đều chung sở thích là thích ăn rắn, rắn càng độc thì nó càng thích ăn. Con mồi của nó như là rắn hổ mang, rắn cạp nong, cạp nia.."

"Còn rắn khổng lồ thì nghe nói nó là con lai của rắn hổ chúa hoặc hổ mang chúa với trăn hoặc ngược lại. Nó có nọc độc và cách bắt mồi giống như trăn nhưng nguy hiểm hơn rất nhiều, mỗi khi bắt mồi nó chạy ào ào trên các ngọn cây nghe như bão lốc nên nhiều người còn gọi nó là con trăn gió. Loại này đi rừng mà gặp nó thì tháng sau ngồi sau nải chuối ngắm gà khỏa thân luôn." Lão nói.

"Ghê thế cơ à, nếu nó nguy hiểm như vậy thì là vô địch rồi còn gì, nếu loại này mà đầy cả rừng thì ghê quá thúc nhỉ." Hắn rùng mình sởn cả gai ốc.

"Ừ, nhưng cũng may, con này không đẻ được. Nói chính xác thì nó không có khả năng phối giống với loài trăn hoặc loài rắn khác, nếu không thì chúng đầy rừng núi, đúng là rất nguy hiểm." Lão gật gù rồi dặn:

"Thôi ngủ đi, sáng mai dậy sớm cho nó mát." Chỉ một lúc sau, trong hang đã vang lên tiếng khò khò của lão.

Sáng sớm hôm sau, Bảo lão thức dậy khá sớm, lão nhìn lên trần hang rồi chửi rủa ầm ĩ như mấy bà già lắm mồm:

"Lũ khốn nạn, dám ị vào mồm ta lúc ta đang ngủ."

Lão nhặt một đoạn cành cây cháy dở ném lên trần hang đánh cạch một tiếng làm lũ dơi bay nháo nhác. Sau khi chửi bới chán chê, lão đánh thức hắn dậy ăn sáng để chuẩn bị lên đường.

Trên con đường băng qua khu rừng già dưới chân dãy núi Tuyết, Bảo lão dừng lại ngó nghiêng rồi đến bên một bụi cây, lão lấy cây gậy khiều cái gì đó rồi cho lên miệng nhấm nháp rồi nhổ phì phì.

"Có vị đăng đắng, con này ăn lá cây chứ không phải ăn thịt." Lão nói thản nhiên như đang ăn kẹo.

Sau đó lão chĩa cây gậy về phía hắn, đầu gậy còn dính một chất nhầy nhầy xanh ngắt.

"Nếm thử không cho biết?" Lão hất hàm hỏi.

"Dạ không, ghê quá, thế này thì giun sán đầy bụng mất." Hắn lắc đầu.

"Ta chỉ nếm thôi chứ có nuốt vào bụng đâu mà lo." Lão cười nhăn nhở.

Họ lại tiếp tục đi tiếp, con đường mà họ đi về khá thuận lợi. Do đã có kinh nghiệm qua núi Quỷ nên họ lại theo đường cũ, nhưng Bảo lão có chết cũng nhất định không ngủ tại đó, lão vẫn camêrun nên bắt qua hết núi Quỷ mới chịu nghỉ chân. Do đó hôm ấy, họ phải đốt đuốc đi trong đêm, cũng may núi Quỷ không phải là nơi dã thú sinh sống nên không có con ác thú nào để ý đến họ.

Đến trưa ngày thứ bảy, họ đã vượt qua hồ Nhật Hạ tiến vào vùng rừng thưa, từ đây về đến dãy Tam Sơn cũng không bao xa. Sự phấn khích làm cho họ quên cả mệt mỏi, chỉ mong muốn nhanh chóng về đến nhà.

Đến cuối giờ chiều, dãy Tam Sơn đã thấp thoáng sau mấy tán rừng, Bảo lão quyết định nghỉ chân một lúc bên dòng suối. Bảy ngày đi đường mệt nhọc với đống lá nát trộn phân hổ bê bết trên người làm lão khó chịu, lão hạ cái gùi và đống lá chè xuống rồi cởi khố vắt lên một cành cây, nhảy ùm một cái xuống dòng suối mát lạnh rồi cười lên hô hố.

"Xuống đây tắm rửa cho sạch sẽ rồi về nhà." Lão vẫy tay rối rít gọi hắn.

"Vâng, người cháu cũng bẩn quá rồi, đúng là bôi thứ này lên người chẳng sung sướng gì."

Hắn chậm rãi hạ đống lá xuống một phiến đá giữa dòng rồi cởi khố vứt sang một bên, nước suối mát làm tan cơn nóng và rửa trôi thứ cặn bã đeo bám hắn suốt mấy ngày qua khiến hắn nhẹ cả người.

Bảo lão thì nằm ngửa tơ hơ giữa dòng suối, lão vùng vẫy chân tay rồi kỳ cọ khắp người. Thỉnh thoảng hứng chí, lão lại ngụp đầu xuống dòng nước rồi bất thình lình ngóc đầu lên rú mấy tiếng hú quái dị như Táczăng-Boy trong phim "Chúa tể rừng xanh".

Hắn tìm một chỗ nước sâu đến thắt lưng rồi ngồi thụp xuống, chỉ để hở mỗi cái đầu. Ngâm trong nước mát một lúc và kỳ cọ làm hắn thấy tỉnh táo và hơi đói "chắc tối nay, ta phải đánh hết chục bát cơm." Hắn tự nhủ.

Bọn họ tắm rửa một lúc lâu, thỉnh thoảng hứng chí, Bảo lão lại tồng ngồng chạy dọc con suối đuổi theo mấy con cá nhỏ hoặc vồ bắt mấy con ếch, nhưng lão vồ mãi vẫn chưa bắt được con nào.

Một lúc sau, lão lùa được một đám cá suối vào chỗ nước cạn bèn réo gọi hắn đến bắt cùng. Hai người trần truồng, lom khom chạy nhảy dưới suối như hai con khỉ bị động kinh. Giả sử có bác phó nháy ở đây chụp vài pô rồi đăng lên YouTube, chắc chắn là đẹp rạng ngời và không chói lóa như mấy em người mẫu khỏa thân vì môi trường một cách khiên cưỡng trong quảng cáo.

Cuối chiều, trên cái cây bên dòng suối xuất hiện một đàn khỉ, chúng có vẻ muốn xuống uống nước nhưng e ngại hai con khỉ lớn lạ lẫm đang nhảy nhót dưới kia.

Vài con khỉ con ngồi bắt chí cho nhau rồi rung cành kêu "khẹch khẹch" như ngạc nhiên về hai đồng loại to lớn dưới suối. Đặc biệt, cả hai con đều có cái đuôi ngắn cũn mọc ở đằng trước mà không phải ở sau mông. Nhất là con khỉ to, dưới gốc đuôi lại có túm lông đen đen trông rất tức cười.

Con khỉ đầu đàn khá bạo dạn, nó leo đến gần cành cây nhặt lấy cái khố của Bảo lão ngắm nghía, rồi nó khoác lên người ngồi nhe răng ra một cách ngô nghê ngớ ngẩn. Trên cành cây phía xa, lũ khỉ còn lại rung cành, vỗ tay như thầm khen ngợi sự can đảm của nó.

"Ấy, ấy, cho mày chết." Bảo lão nhặt một hòn đá ném về con khỉ rồi chạy đến cái cây.

Con khỉ hoảng sợ xách cái khố của lão chạy tót vào rừng rồi leo tít lên một cây to ngồi vắt vẻo, hai hàm răng há ra kêu "khẹch khẹch".

Mắt nó trừng trừng nhìn về phía lão như trêu ngươi làm lão điên tiết, nhảy nhót lồng lộn như thằng điên. Lão nhặt đá, ném cành cây về phía nó nhưng không làm nó sợ. Trái lại, một lúc sau, nó chuyền cành sang một cây khác rồi tót vào rừng, biến mất khỏi tầm mắt.

"Quân ăn cướp, đồ mất dạy. Rồi tao sẽ lột da mày ra." Lão tức tối chửi rủa ầm ĩ rồi trở về bờ suối một cách chán nản, sau khi đã làm đủ mọi cách mà không lấy lại được cái khố.

"Mía nó, đành về hang thôi." Lão thở dài nhìn theo đàn khỉ tiếc rẻ.

"Ở trong hang còn mấy cái nữa, tuy đã cũ nhưng mặc tạm vẫn được." Lão làu bàu rồi xách cái gùi lên, chui vào giữa đám lá chè.

Đám lá chè tuy rậm rạp nhưng lại chỉ che đến bụng lão, còn phía dưới hở hoác khiến lão phải cho một tay kéo mấy cành lá che đi, nhưng thấp thoáng vẫn thấy cái gì đó lủng lẳng.

"Vòng ba của thúc trông nuột phết." Hắn cười nhăn nhở phía sau lão.

"Hử. Bây giờ, ngươi đi trước dẫn đường." Lão ra lệnh.

"Yes ser, tuân lệnh sếp." Hắn dập chân như quân nhân chuyên nghiệp rồi nhanh nhẹn chạy đến mặc cái khố, đeo cái gùi cùng đám lá chè lên vai thẳng tiến về dãy Tam Sơn.

Bảo lão mặt nhăn như bánh cu đơ ngâm nước lẽo đẽo theo sau, thỉnh thoảng có tiếng động ven bờ làm lão rối rít chạy đến nấp sau lưng hắn. Cũng may trời đã gần tối nên thằng cu của lão lẫn vào trong đám lá, nếu có ai nhìn thấy chắc cũng không để ý.

Họ đi dọc theo dòng suối về hang, từ xa cửa hang hiện ra thấp thoáng sau mấy bụi cây. Bước qua con suối, chân hắn chạm vào lớp đất mềm làm hắn hưng phấn, hắn há miệng định hét lên một tiếng gọi Bảo nhi thì một tiếng quát khẽ vang lên làm hắn giật mình nhìn lại.

"Đứng im, không được động đậy." Tiếng của Bảo lão phía sau.

Lão rút con dao lẳng lặng tiến đến bờ suối quan sát, sau đó nhìn quanh khắp con suối và khịt khịt đánh hơi như chó săn.

Ở trên bờ suối có nhiều vết chân như chân mèo nhưng to như cái bát đại hướng về cửa hang.

Dấu chân của Chúa sơn lâm.
 
Chỉnh sửa cuối:
949 ❤︎ Bài viết: 393 Tìm chủ đề
Chương 18. Chúa sơn lâm xuất hiện

"Có hổ." Bảo lão thét lên, lão co cẳng chạy thẳng lên núi bỏ mặc hắn đang đứng ngơ ngác như con nai vàng đứng trên lá vàng khô.

"Hả, hổ ư. Bỏ mẹ, quái vật rừng xanh đã đến rồi." Một ý nghĩ thoáng qua đầu hắn. Không kịp suy nghĩ thêm, hắn cong đít chạy theo lão nhanh như tên lửa Sputnik mà Liên Xô dùng để phóng vệ tinh đầu tiên trên thế giới.

Bảo lão đã đến cửa hang, lão lay cái hàng rào gỗ, gọi khàn cả giọng:

"Mẹ con nàng có trong đó không? Mở cửa ra." Lão gào thảm thiết như con heo bị chọc tiết.

"Lão gia đã về." Có tiếng hai mẹ con Bảo thị trong hang vọng ra.

Bảo thị mừng rỡ chạy ra mở cửa hang, mụ lúi húi gỡ đám dây buộc vào cái cửa do chục cây nứa bó thành. Sau khi mở cửa, Bảo lão lách vào hang như tên bắn.

Hắn cũng hồng hộc chạy vào theo, đoạn đường tuy không dài nhưng chạy nước rút như thế này không kém gì vận động viên Olimpic quốc tế. Nếu như có lão trọng tài ở đây, thế nào cũng cho hắn đạt huy chương vàng.

Bảo thị nhanh chóng đóng cửa hang lại, mụ cẩn thận lấy sợi dây thừng buộc thêm mấy vòng cho chắc.

Vừa thở hổn hển, Bảo lão vừa hỏi:

"Ở nhà không việc gì chứ? Thấy dấu chân hổ bên bờ suối hướng về cửa hang làm ta hết cả hồn, sợ hai mẹ con nàng có chuyện gì."

Lão gỡ cái gùi và đám lá chè xuống nền hang rồi đứng chống tay vào hai đầu gối thở hồng hộc.

"Ơ, thế cái khố của cha đâu mà lại cởi truồng thế kia?" Tiếng Bảo nhi hỏi.

"Hả." Bảo lão há hốc mồm nhìn xuống dưới, lão mới phát hiện ra là đang khỏa thân vì môi trường.

Lão vội vàng che hai tay vào chỗ kín rồi lúi húi quay mông chạy vào vách hang lục mấy cái bọc đang treo lủng lẳng.

Bảo thị xấu hổ vội quay mặt ra ngoài cửa hang giả vờ không để ý.

"Khốn kiếp mấy con khỉ cướp khố của ta rồi chạy mất, làm ta đuổi mãi không được." Tiếng của lão vọng ra từ góc hang.

Hai mẹ con Bảo thị che miệng cười khúc khích, Bảo thị còn nói mát:

"Mất cái khố thì thôi, chứ mất cái trong khố mới khổ chứ nhỉ?"

"Hừ." Bảo lão mặt nhăn như khỉ, nhưng lão chẳng dám tranh luận với mụ vợ nổi tiếng đanh đá này. Lão mặc vội cái khố rách rồi bước đến bên hắn, thu xếp lại mấy bó lá chè đang vứt ngổn ngang giữa hang.

"Ở nhà có xảy ra chuyện gì không?" Lão ngước đầu lên hỏi.

Bảo thị đang nhìn mấy đám lá chè xanh to tướng, nghe lão hỏi, mụ trả lời giọng lo lắng:

"Sau khi thúc điệt ông đi được hai hôm, có con hổ rất to xuất hiện quanh đây. Tối nào nó cũng lảng vảng ở cửa hang, thiếp phải gõ cây nứa rã cả tay nó mới bỏ đi. Sau đó nó mò xuống bản bắt heo, gà. Bọn thợ săn trong bản đã lùng nó mấy ngày nhưng nó rất khôn, thấy bóng thợ săn là lủi mất nên mọi người tưởng nó đã chạy vào rừng."

Mụ chảy nước mắt nói tiếp:

"Đến chiều hôm qua, đám trẻ ra bờ suối tắm bị nó vồ mất một đứa, tất cả mọi người trong bản đều đi tìm khắp nơi nhưng không thấy đứa trẻ tội nghiệp đâu, chắc là bị nó ăn thịt rồi. Từ mấy hôm nay, mẹ con thiếp chỉ ở trong hang, không dám đi ra ngoài."

"Hừ, con hổ này vẫn còn quanh quẩn ở đâu đây thôi. Ta đã phát hiện ra dấu vết của nó còn rất mới, mấy ngày tới, thế nào nó cũng đến." Bảo lão trầm giọng nói.

Lão đi vào góc hang gỡ cây cung và mấy mũi tên xuống rồi kéo thử cây cung đánh "pưng" một cái.

"Mía nó, tối nay mà nó đến, ta sẽ cho nó nếm thử sự lợi hại." Lão hùng hồn nói một cách tự tin.

"Thúc có chắc chắn bách phát bách trúng không?" Hắn nhớ đến tài nghệ bắn gà của lão nên vặn hỏi.

"Chỉ cần nó đứng ở cửa hang thò đầu vào, làm gì ta chẳng bắn trúng." Lão cười khẩy vẻ cao ngạo.

"Nhưng hàng rào dầy thế kia thì nó thò đầu vào thế nào được, hả thúc?" Hắn cười hỏi.

"Ừ nhỉ. Nếu nó không thò đầu vào được thì thôi, ta không bắn nữa cho phí tên." Lão gãi đầu chưng hửng.

"Vâng, được rồi. Bây giờ cháu đói quá, ở nhà có gì ăn không ạ?" Hắn xoa bụng hỏi.

"À.. à, để cô cô đi dọn cơm." Bảo thị cuống quít, mụ nhanh nhẹn chạy vào bếp bưng cái nồi cơm xuống, đặt giữa nền hang.

"Tưởng thúc điệt ông đi chục ngày mới về, sao lại nhanh vậy? Ăn tạm đi, tôi mới nấu được một ít, định để hai mẹ con ăn, bây giờ để tôi đi nấu thêm." Mụ liến thoắng.

"À, nhờ sự sáng suốt của ta, quyết định đi qua núi Quỷ nên nhanh được 3 đến 4 ngày." Bảo lão vỗ ngực tự khoe.

"Núi Quỷ ư, ông toàn là uống thuốc liều mà không sợ bục diều." Mẹ con Bảo thị lè lưỡi, lắc đầu thán phục.

"Hứ, chỉ biết tranh công." Hắn liếc nhìn lão mà cảm thấy khâm phục vì da mặt lão bỗng dày không kém gì da heo.

Bảo thị đã xới cơm ra hai cái bát, mụ ngước nhìn hai người rồi bảo:

"Hai người ăn cơm đi."

"Được, chúng ta ngồi ăn trước." Bảo lão khoanh chân ngồi đánh "phẹt" xuống nền hang.

Chẳng cần phải chờ đợi, lão bưng cái bát lên xúc tòm tọp như nhồi gà nhồi vịt. Chỉ vèo một cái, bát cơm đã sạch nhẵn. Đối diện lão, hắn cũng xúc cơm, ăn lấy ăn để như vừa trải qua nạn đói năm 1945.

"Còn nữa không?" Lão chìa cái bát không ra hỏi.

"Khiếp, hai thúc cháu nhà ông ăn cơm cứ như ăn cướp." Bảo thị lắc đầu.

"Bảy ngày trong rừng toàn ăn gạo rang, uống nước lã khiến cho bụng ta cứ kêu lọc xọc, nghe xót cả ruột." Lão lắc đầu than thở.

"Tội nghiệp, đây, chỉ còn hai bát này, để thiếp đi nấu thêm nữa." Bảo thị xới thêm cho hai người rồi mụ nhanh nhẹn đi tới bếp vo gạo, nấu thêm cơm.

Ăn xong bát cơm, lão chép miệng:

"Cũng tàm tạm, tí nữa ăn tiếp." Lão vỗ vỗ cái bụng "bồm bộp".

"Tưởng chỉ có mình là đói, hóa ra lão còn đói hơn cả mình." Hắn cười thầm.

Chừng tiếng sau, Bảo thị đã nấu xong nồi cơm mới, bọn họ lại quây quần bên bếp lửa vừa ăn vừa nói chuyện. Hai mẹ con Bảo thị vừa ăn vừa ngồi nghe Bảo lão bốc phét, thỉnh thoảng lại có tiếng ồ à, xít xoa thán phục của Bảo nhi.

"Hai mẹ con nàng có biết không? Lúc đi qua núi Quỷ, ta còn bắt sống được bốn con rết to như cổ chân và đánh chết ba con rắn hổ bằng bắp đùi, chúng ta xẻ thịt chúng rồi nướng ăn trên núi Quỷ. Ha ha, thật là tuyệt." Lão nháy mắt với hắn rồi huênh hoang như Binladen đòi khủng bố tiếp nước Mỹ.

"Đúng là bốc phét mà không biết ngượng mồm." Hắn đỏ mặt thầm nghĩ.

"Trên đỉnh núi Tuyết, ta còn ôm cả tảng đá choảng vào một con heo độc. Nó lao tới húc, ta giơ tảng đá lên đập vào mõm khiến nó gãy cả nanh, chính là con ngày xưa đã húc ta, ha ha.. Ngày xưa may cho nó là ta không vớ được tảng đá nào, bây giờ cho nó đáng đời." Lão nói lải nhải như ăn phải củ cải bị ngâm trong nước giải rồi phơi ngoài nắng cho nó ải.

"Sao không kể luôn bị dơi ị vào mồm và bị con khỉ cướp mất cái khố đi cho nó hoành tráng." Hắn nhăn mũi nghĩ.

Bảo lão vẫn còn hưng phấn, lão liên tục vung chân, múa tay như bị chập dây thần kinh.

Sau khi ăn cơm xong, lão vò nát một nắm lá chè cho vào nồi đặt lên bếp lửa. Một lúc sau nước sôi, lão rót nước chè ra bát cho mọi người cùng uống, hương chè tươi tỏa ra thơm lừng cả cái hang.

"Con hổ này rất khôn, nó đã ăn thịt người, chắc chắn sẽ quay lại tìm người bắt tiếp." Bảo lão lo lắng sau khi uống mấy ngụm trà.

"Thúc, thú rừng thiếu gì, tại sao con hổ này không bắt, lại mò xuống đây bắt người?" Hắn cau mày hỏi.

"Hừ, chắc là nó đã già nên không bắt được thú rừng mới phải mò xuống chỗ này kiếm ăn. Trước kia dưới bản, bọn thợ săn cũng bắn được một con như vậy. Đối với hổ thì người hay thú cũng đều như nhau, đều là đống thịt biết di động. Thú còn phải đuổi bắt, không dễ. Trong khi người thì chạy chậm, sức chống trả lại yếu ớt. Chỉ cần nó bắt người một lần mà thấy dễ dàng thì lần sau, nó lại tìm cách bắt tiếp. Hơn nữa, thịt người mềm, không dai như thịt thú khiến cho con hổ bị nghiện, nó sẽ liều lĩnh hơn." Bảo lão giải thích.

"Thế thì nguy hiểm quá nhỉ?" Hắn thốt lên.

"Giống ác thú này còn biết lựa chọn người để tấn công. Khi phát hiện ra thợ săn có vũ khí, nó lủi mất. Nhưng nếu nó thấy người không mang vũ khí hoặc trẻ con thì thế nào nó cũng tìm cách vồ ăn thịt." Lão trầm ngâm.

"Phải tìm cách tiêu diệt nó thôi, chừng nào nó còn ở ngoài kia thì chưa yên được." Hắn nhìn lão lo lắng.

"Bọn thợ săn này thật là vô dụng, mấy ngày rồi mà chưa bắt được nó." Lão lắc đầu, bĩu môi tỏ vẻ khinh thường.

"Bọn họ cũng cố gắng săn lùng nó suốt mấy ngày nay rồi, nhưng không thấy nó đâu." Bảo thị góp lời.

"Nếu là cha thì có bắt được nó không?" Bảo nhi hỏi.

Từ tối đến giờ, cô bé đang rất hâm mộ về những chuyện hào hùng mà lão đã kể.

"Hả, ta nghĩ, nếu nó chán sống mà mò đến đây, ta sẽ chém nó ra làm hai mảnh." Lão ngập ngừng giơ hai ngón tay lên trời.

"Chỉ sợ nó mà đến thì lão chạy vãi cả.. bã ra ấy chứ." Hắn thầm nghĩ rồi quyết định góp lời:

"Cháu nghĩ là phải tìm cách đặt bẫy mới diệt được nó, chứ săn lùng nó thế này thì cũng chẳng khác gì đuổi hổ về rừng. Sợ lúc nào đó, nó quay lại bắt người tiếp." Hắn góp ý.

"Đúng.. đúng, để sáng mai, chúng ta xuống bản hỏi bọn thợ săn rồi sẽ nghĩ cách, chắc phải nhờ bọn chúng giúp một tay." Lão gật đầu phụ họa.

Bọn họ ngồi nói chuyện đến khuya, có lẽ mấy ngày đi rừng căng thẳng khiến cho Bảo lão và hắn vô cùng mệt mỏi nên chẳng mấy chốc họ đã lăn quay ra đống cỏ ngáy "o o". Bảo thị đi ngủ muộn, mụ còn bận dỡ đống búp chè để ngày mai sao lên chờ ngày bán.

Ngoài trời, màn đêm vô cùng yên tĩnh, chỉ có mảnh trăng cuối thu cong như lưỡi liềm trên bầu trời, tỏa xuống mặt đất một thứ ánh sáng vàng nhờ nhờ yếu ớt, không đủ soi rõ mọi vật.

Nửa đêm, dưới tán cây ngoài cửa hang có một bóng đen to lớn vằn vện đang nằm phục, tiếng động trong hang thu hút sự chú ý của nó. Nó lẳng lặng bò đến gần ngó qua hàng rào, ánh lửa trong hang hắt qua khe hở, soi rọi bóng bốn người đang nằm ngủ. Dường như cảm thấy không xơ múi được gì ở nơi này, nó lặng lẽ chuồn xuống bản.

Đến gần sáng, tất cả mọi người trong hang đều giật mình tỉnh giấc vì tiếng gào hét và tiếng thanh la, chiêng trống "phèng phèng" từ dưới bản vọng đến ầm ĩ. Giây lát sau, hơn chục ánh đuốc soi sáng cả một góc núi lẫn tiếng người chửi rủa, hò thét đang ngày càng kéo đến gần.

Chúa sơn lâm đã xuất hiện.
 
Chỉnh sửa cuối:
949 ❤︎ Bài viết: 393 Tìm chủ đề
Chương 19. Bàn kế giết cọp.

Bình minh vừa ló rạng, trong ngôi nhà sàn to nhất bản Tam Sơn, có ba lão già đang ngồi uống trà xanh, hút thuốc lào trừ bữa.

Người ở giữa khoảng trên 50 tuổi là lão trưởng bản có ngoại hiệu là Phập Bách Phát. Thực ra tên thật của lão là Phập Văn Phát, lão là con nhà nòi hơn chục đời làm trưởng bản kiêm thợ săn nổi tiếng trong vùng.

Tương truyền, mỗi khi lão bắn tên, trong vòng trăm thước, không con thú nào có thể chạy thoát vì vậy mới được mọi người gọi là Phập Bách Phát. Lão bưng bát nước chè lên nhấp một ngụm rồi súc miệng òng ọc, khỏi cần đánh răng rồi nuốt ực một cái. Mặt lão đỏ bừng, dáng vẻ cau có luôn xuất hiện trên khuôn mặt hiếm khi thấy nụ cười.

Người bên trái có dáng vẻ gầy tầm 55 tuổi, khuôn mặt tinh quái với đôi mắt ti hí, lão có ngoại hiệu là Cắm Vào Đầu. Cũng như Phập trưởng bản, lão có tên thật là Cắm Văn Đâu. Nhưng khi đi săn, lão chỉ thích kết liễu mấy con thú bằng cách phóng thẳng lao vào đầu con mồi nên mọi người dần gọi là Cắm Vào Đầu.

Người cuối cùng tướng người hơi béo, bụng phệ tầm duới 50 tuổi. Mặt lão vàng vàng, tròn tròn như cái bánh đa gắn hai chùm ria mép trông như biểu tượng emoticons trên Messenger. Mỗi khi lão mở miệng, hai chùm ria mép lại nhấp nhô lên xuống y như ta cầm cái chổi quét nhà xí.

Ngoại hiệu của lão là Đút Vô Mồm. Có lẽ từ bé lão tham ăn nên luôn nghĩ đến phải đút cái gì đó vào mồm nên lâu dài, mọi người đều gọi lão như vậy đến mức quên cả tên thật của lão là Đút Văn Mô.

Thỉnh thoảng, Đút Vô Mồm lại vớ lấy cái điếu cày châm lửa rít xòng xọc. Sau khi nhắm mắt tận hưởng hơi thuốc, lão "phì" một hơi làm khói thuốc tuôn ào ào ra như cháy nhà.

Phập trưởng bản mặt vẫn còn hầm hầm, trời còn chưa sáng mà con hổ khốn nạn lẻn vào chuồng cắn chết con heo nái của lão, thế là mất toi mấy năm chăm bẵm. Lão khàn khàn giọng:

"Phải tổ chức nhiều đợt truy sát, quyết săn lùng con thú này. Để nó sống ngày nào, cả bản ta không yên ngày ấy."

"Vâng, thưa trưởng bản." Đút lão ngửa mặt phả khói thuốc lên mái nhà vừa trả lời:

"Tiếc là nhà đệ không còn con heo nào, nếu không đệ tình nguyện cho nó đến bắt, đỡ cho trưởng bản phải lo lắng."

"Hừ, đệ ăn còn khỏe hơn cả hổ, tình nguyện cái nỗi gì. Chỉ sợ hổ mà mò đến cũng bị đệ ăn tuốt không còn mẩu xương." Cắm lão lầu bầu.

"Vậy, các huynh đệ có cách nào không? Chúng ta rượt theo nó mấy ngày rồi mà không thấy nó đâu, cứ như chơi trò ú tim vậy?" Phập trưởng bản lo lắng hỏi.

Sau khi ngồi liếc mắt nhìn vẫn không thấy hai lão trả lời, Phập trưởng bản lắc đầu chán nản. Bỗng có tiếng ken két từ dưới cầu thang vọng lên rồi một cái đầu bù xù xuất hiện nơi cửa chính.

"Kính chào trưởng bản và hai vị trưởng lão tôn kính." Tiếng của người mới đến cất lên.

Phập trưởng bản ngước mắt nhìn về người mới đến, tưởng ai hóa ra là lão lang băm trong hang đá. Lão cất giọng e hèm:

"Bảo Y Đạo đấy à, có chuyện gì vậy? Vào nhà đi."

Bảo lão lễ phép bước vào nhà, theo sau lão là một thằng nhóc người khá gầy.

"Có chuyện gì mà lão lại dắt cả thằng nhãi này đến đây, định gả con gái cho nó sao?" Tiếng Cắm lão vang lên.

"Thế đã chuẩn bị rượu thịt chưa?" Đút lão cười tươi hớn hở.

"Dạ không ạ." Bảo lão lúng túng:

"Hạ.. dân chỉ đến tìm ba vị để.. nhờ giúp đỡ một chuyện." Lão ấp úng.

"Có chuyện gì, cứ nói thử xem?" Phập trưởng bản mặt vẫn còn nhăn nhó như ăn phải thịt chó điên lên tiếng.

"Dạ, hạ dân định tìm cách bắt hổ, nhưng chỉ có mỗi hai thúc điệt, sợ không đủ sức nên đến nhờ Phập lão, Cắm lão và Đút lão cho thêm người giúp." Bảo lão khúm núm.

"Cái dề, giúp ngươi bắt hổ ư." Phập trưởng bản trề môi.

"Ha ha." Cái mặt khó chịu của lão nở nụ cười trông méo mó, nhăn nhúm như trái phật thủ đặt trên nóc tủ.

"Một thằng già sợ chết và một tên nhãi còn chưa biết hết sự đời lại bày đặt bắt hổ. Đúng là" chim chích đòi mổ diều hâu, gà con tha quạ biết đâu mà tìm ". Ha ha."

"Thật là ngu ngơ nằm giữa rừng mơ đây mà, chỉ sợ chúng ta giúp lão đi chôn xác thì có. Ha ha." Đút lão đế thêm.

"Chắc lúc đó không cần chúng ta giúp, vì xác lão nằm trong phân hổ rồi còn đâu." Cắm lão nhếch mép cười khẩy.

"Thôi ngươi về đi, khi nào lùng bắt hổ, chúng ta sẽ gọi hai người. Đến lúc đó, chúng ta sẽ cho làm tiên phong." Phập trưởng bản e hèm sau khi cố rặn một nụ cười khích lệ.

Trước tràng cười mỉa mai khinh miệt của ba lão già, cả hắn lẫn Bảo lão lẫn đều bất ngờ. Cứ tưởng sẽ được động viên ủng hộ, không ngờ người ta lại coi thường như vậy.

Đúng là mấy lão cổ hủ, não bằng quả nho, bụng to như quả bí. Đuổi hổ mà cứ chạy loăng quăng khắp nơi như vậy thì bắt thế quái nào được.

"Chúng ta về thôi, thúc." Hắn giật mép khố của Bảo lão nhắc nhở.

Bảo lão vẫn còn đang đứng đờ người, lão cũng không biết nói gì nữa bèn lúng túng lùi người ra cửa:

"Dạ, cám ơn trưởng bản và hai vị tôn kính đã quan tâm, hạ dân xin phép ra về."

"Chậm đã." Phập trưởng bản gọi.

"Dạ, trưởng bản có gì căn dặn." Bảo lão khúm núm.

"Từ xưa đến nay, chúng ta chưa bao giờ coi gia đình lão là thành viên của bản. Nhưng mọi nghĩa vụ đối với bản, lão vẫn phải thực hiện. Thế năm nay, lão đã nộp thuế đường chưa nhỉ?" Phập trưởng bản nhắc nhở.

"Dạ, hạ nhân đã chuẩn bị xong rồi, lần này hạ nhân không có tiền nên nộp bằng thóc ạ." Bảo lão run rẩy.

"Tốt, về chuẩn bị 40 đấu thóc, mỗi người nhà lão 10 đấu. Nghe rõ không?" Phập trưởng bản lên giọng.

"Sao nhiều thế ạ? Năm ngoái nộp mỗi người có năm đấu thôi mà?" Bảo lão ngạc nhiên.

"Năm ngoái khác, năm nay khác, sang năm còn khác nữa, nghe rõ không?" Cắm trưởng lão trừng mắt.

"Đúng đấy, nói cái dề, lão cứ làm theo là được. Bảo nộp 10 đấu thì nộp 10 đấu, bảo 20 đấu là nộp 20 đấu, định lý sự hả?" Đút lão phả khói lên mái nhà, liếc mắt trầm giọng hỏi.

"Dạ, nhưng thằng cháu hạ nhân mới ở được sáu tháng, sao phải nộp 10 đấu ạ?" Bảo lão uất ức.

"Cái đó ta không quan tâm, đây là lệ của bản, ở một ngày cũng phải đóng như một năm, rõ không? Mùa đông sắp đến rồi, không thu của lão thì chúng ta nộp.. thủ cấp lên đại tù trưởng hả?" Phập trưởng bản gằn giọng.

Thấy Bảo lão còn đang lừng chừng, lão đế thêm:

"Thôi, về đi. Muốn sống yên ổn thì nôn ra, nếu không đừng trách chúng ta tàn bạo."

"Chúng ta đi về." Bảo lão lắc đầu thất vọng.

Lão kéo tay hắn bước xuống cầu thang. Trên đường về, lão cúi gằm mặt không nói một lời nào, sự ấm ức bùng nổ trong người làm lão thấy khó chịu.

"Thế này có khác gì cướp ngày." Hắn thốt lên bực tức.

Bảo lão thở dài, lắc đầu không nói gì. Lão lẳng lặng đi về hang, mặt xám xịt.

Bảo thị đứng ở cửa hang chờ đợi. Thấy hai người về, mụ hớn hở nở nụ cười:

"Thế nào? Trưởng bản có cho thêm người đi bắt hổ không?" Mụ nhìn về phía lão, thấy lão không nói gì, mụ hỏi lại giọng lo lắng:

"Có chuyện gì vậy? Lão ấy làm gì hai người?" Mụ cầm tay lão ân cần.

"Lão khốn đó không cho người giúp bọn ta, lại còn bắt nộp thuế đường." Bảo lão tức tối.

"Hả, phải nộp bao nhiêu?" Bảo thị run rẩy.

"40 đấu thóc đó, đúng là ăn cướp." Lão trợn mắt giọng đầy bi phẫn.

"Sao nhiều vậy?" Bảo thị tý nữa ngã ngửa ra hang.

"Thế là mất toi một chum thóc, mùa đông này chúng ta chắc ăn vỏ trấu luộc." Lão căm hận nghiến răng kèn kẹt.

"Thúc, chúng ta không nộp thì sao?" Hắn nhìn vợ chồng Bảo lão.

"Không được, nếu không nộp thì bọn chúng sẽ chẳng để cho mình yên, chỉ có nước vào rừng mà sống với dã thú." Bảo thị nói giọng chán nản.

"Chúng ta tính kế khác vậy, dù sao chúng ta vừa hái được rất nhiều chè, có thể đổi ra thóc." Hắn an ủi.

Bọn họ vào trong hang ngồi im lặng, trên khuôn mặt Bảo thị vẫn còn chưa hết lo lắng.

"Cháu tính thế này, thúc và cô cô xem có được không?" Một hồi lâu sau, hắn lên tiếng.

"Tiểu Hoàng định như thế nào?" Bảo thị hỏi.

"Nếu lão trưởng bản không chịu giúp thì chúng ta tự tìm cách diệt hổ vậy." Hắn trả lời.

Bởi vì bọn họ ở sát bìa rừng lại cách khá xa bản, nên con hổ đi tìm mồi, thế nào cũng đi qua chỗ họ, nếu không tìm cách diệt nó trước thì có ngày họ sẽ gặp nguy hiểm. Chẳng lẽ Bảo thị lẫn Ngọc nhi phải ở trong hang mãi không dám ra ngoài.

"Chỉ cần đặt một cái bẫy lớn trên đường nó đi qua là diệt được." Hắn nói.

"Cũng không đơn giản, nhìn dấu chân nó, ta biết nó rất to." Bảo lão trả lời.

Bảo lão còn gợi ý đào một cái hố sâu và to, đề phòng con hổ quá lớn sập bẫy nhưng vẫn nhảy lên được. Nhưng cuối cùng lão phải đổi ý vì con đường này, dưới đất toàn đá tảng, muốn đào được cái hố to, không vất vả cả chục ngày thì đào không xong, lại còn phải cắm chông, rải lá ngụy trang nữa.

Quan trọng là bọn họ đang đào mà con hổ xuất hiện thì chạy không kịp, lúc đó không biết người săn hổ hay hổ săn người.

"Sao cha bảo nếu nó xuất hiện sẽ cho nó một đao làm hai mảnh?" Bảo nhi hỏi.

"Hừ, nếu nó đứng im thì ta cho nó thành ba, bốn mảnh cũng được. Còn để nó vồ được thì ta thành muôn mảnh." Bảo lão hừ hừ trả lời.

"Đúng là cha chỉ giỏi nói khoác." Bảo nhi lắc đầu bĩu môi.

"Nói khoác là thế nào, ngươi cứ bảo nó đứng im thử coi, ta cho nó thành món giả cầy ngay." Bảo lão lý sự.

"Thôi thôi, hai cha con ông im lặng để tiểu Hoàng nghĩ cách, cứ ầm ĩ nhức cả đầu." Bảo thị gắt gỏng.

"Thúc lại đây, cháu có ý tưởng này, chúng ta sẽ đặt bẫy."

Hắn nhặt hai cái que dưới đất lên đặt song song, một đầu hắn lấy sợi cỏ buộc lại rồi tách đầu kia ra thành hình chữ V, xếp trên nền hang.

Cả Bảo lão và Bảo thị đều đến bên cạnh chăm chú xem hắn làm.

".. Sau đó chúng ta sẽ làm thế này.." Hắn vừa nói vừa chỉ tay giải thích.. "Cuối cùng là thế này.."

"Hay hay, liên hoàn bẫy.." Bảo lão tán thưởng.

"Chưa hết, chúng ta còn làm thêm thế này.. chờ nó dính đòn là nhảy xuống kết liễu."

Hắn giơ tay ngang cổ rồi làm dấu hiệu cứa một cái như người ta cắt tiết một con gà.

"Được, quá hay, sao mà ngươi thông minh giống ta hồi trước vậy nhỉ." Bảo lão vỗ đùi khen ngợi.

"Nếu trước kia ông mà giỏi như thế thì bây giờ đã là đại tù trưởng rồi." Bảo thị bĩu môi lườm yêu chồng.
 
Chỉnh sửa cuối:
Chia sẻ bài viết

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back