30 ❤︎ Bài viết: 15 Tìm chủ đề
3253 86
Tiểu dẫn

Mùa thu là bạn muôn đời của thi nhân. Nói riêng, trong lịch sử thơ ca Việt Nam xưa nay, đã có không biết bao nhiêu bài thơ viết về mùa thu và tựu trung chùm thơ gồm ba bài thơ : Thu Vịnh, Thu Điếu, Thu Ẩm của Nguyễn Khuyến có lẽ là nổi tiếng nhất. Nhà thơ Xuân Diệu từng viết: Nguyễn Khuyến nổi tiếng nhất trong văn học Việt Nam là về thơ Nôm. Mà trong thơ Nôm của Nguyễn Khuyến, nức danh nhất là ba bài thơ mùa thu: Thu Vịnh, Thu Điếu, Thu Ẩm (Xem: Thơ Nguyễn Khuyến - Tiểu luận, in trong Thơ văn Nguyễn Khuyến, NXB Văn Học, Hà Nội, 1972)

jF4Djoq.jpg


THU VỊNH (1)​


Trời thu xanh ngắt mấy từng cao,

Cần trúc (2) lơ phơ gió hắt hiu.

Nước biếc trông như tầng khói phủ,

Song thưa để mặc bóng trăng vào.

Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái (3),

Một tiếng trên không ngỗng nước nào (4) ?

Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,

Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào (5).


THU ĐIẾU​


Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.

Sóng biếc theo làn hơi gợi tí,

Lá vàng trước gió khẽ đưa (6) vèo.

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.

Tựa gối, ôm cần lâu chẳng được,

Cá đâu đớp động dưới chân bèo.


THU ẨM​


Năm gian nhà cỏ (7) thấp le te,

Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe.

Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,

Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.

Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt?

Mắt lão không vầy (8) cũng đỏ hoe.

Rượu tiếng rằng hay, hay chả mấy.

Độ năm ba chén đã say nhè.

(Thơ văn Nguyễn Khuyến, sách đã dẫn)

Chú thích:

(1) Thu Vịnh: Thường được dịch là "Thơ vịnh mùa thu", nhưng trong một chùm ba bài của tác giả là Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm thì nghĩa của nó phải là "Mùa thu làm thơ", "Mùa thu câu cá", và "Mùa thu uống rượu" mới đúng.

(2) Cần trúc: Cây trúc thanh mảnh giống cần câu nên gọi là cần trúc.

(3) Giậu: Hàng rào. Hoa năm ngoái: Hoa giống như hoa năm ngoái. Đây là cảnh tả thực. Có người cho rằng câu này Nguyễn Khuyến lấy từ câu thơ "Xuân lai hoàn phát cựu thời hoa" (Xuân về lại nở những bông hoa thời trước) trong bài những Sơn phòng xuân sự của Sầm Tham.

(4) Ngỗng nước nào: Loại ngỗng trời không biết ở xứ sở nào thường bay thành từng đàn từ các vùng lạnh đến những vùng khí hậu ấm áp để tránh rét.

(5) Ông Đào: Đào Tiềm (365 - 427), còn gọi là Đào Uyên Minh, một nhà thơ nổi tiếng của Trung Quốc thời Lục Triều (xem chú thích 13 bài Lẽ ghét thương ). Nguyễn Khuyến viết "Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào" có thể vì Nguyễn Khuyến thấy thái độ từ quan về nhà của ông không được dứt khoát như Đào Tiềm nên ông thấy thẹn với Đào Tiềm. Cũng có thể do khiêm tốn nghĩ thơ mình viết về thiên nhiên không hay bằng thơ Đào Tiềm, nên ông vừa muốn viết vừa thẹn với Đào Tiềm.

(6) Khẽ đưa: Đưa nhẹ, đưa khẽ. Có bản chép: Sẽ

(7) Nhà cỏ: Nhà lợp bằng cỏ tranh

(8) Vầy (tiếng cổ) : Giụi, xát.


Nguồn:

Tài liệu ngữ văn 11
 
Last edited by a moderator:
68 ❤︎ Bài viết: 28 Tìm chủ đề
I. Giới thiệu về nhà thơ Nguyễn Khuyến

Nguyễn Khuyến (1835 - 1909) hiệu là Quế Sơn, tên lúc nhỏ là Nguyễn Thắng, sinh tại quê ngoại là xã Hoàng Xá (nay thuộc Yên Trung), huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Ông xuất thân trong một gia đình nhà Nho nghèo.

Năm 1864, ông đỗ đầu trong kỳ thi Hương. Nhưng mấy kì thi sau lại trượt, cho đến năm 1871, ông mới đỗ đầu cả kỳ thi Hội và thi Đình. Ông được người đời gọi là Tam Nguyên Yên Đổ (do đỗ đầu cả ba kỳ thi). Tuy vậy, ông chỉ làm quan có hơn mười năm, còn lại cuộc đời đều sống thanh bạch bằng nghề dạy học tại quê nhà.

Sáng tác của ông bao gồm cả chữ Hán và chữ Nôm với hơn 800 bài gồm nhiều thể loại: Thơ, văn, câu đối nhưng chủ yếu là thơ.

Nguyễn Khuyến là một người tài năng, có tấm lòng yêu nước thương dân. Thơ ông thường viết về đề tài tình yêu quê hương đất nước, bạn bè, gia đình; phản ánh cuộc sống của những con người thuần hậu, chất phác; châm biếm đả kích bọn thực dân xâm lược..

Xuân Diệu từng nhận xét: "Nguyễn Khuyến nổi tiếng nhất trong văn học Việt Nam là về thơ Nôm".

Một số tác phẩm tiêu biểu: Quế Sơn thi tập, Yên Đổ thi tập, Bách liêu thi văn tập, Cẩm Ngữ, cùng nhiều bài ca, hát ả đào, văn tế, câu đối truyền miệng.

Trong đó, chùm thơ về mùa thu của ông là đặc sắc nhất, bao gồm: Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh.

II. Chùm thơ mùa thu

Thu điếu (Câu cá mùa thu)

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,

Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.

Tựa gối, buông cần lâu chẳng được,

Cá đâu đớp động dưới chân bèo.


Thu ẩm (Uống rượu mùa thu)

Năm gian nhà cỏ thấp le te,

Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè.

Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,

Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.

Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt?

Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe.

Rượu tiếng rằng hay, hay chả mấy.

Độ năm ba chén đã say nhè.


Thu vịnh (Vịnh mùa thu)

Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,

Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.


Nước biếc trông như tầng khói phủ,

Song thưa để mặc bóng trăng vào.

Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,

Một tiếng trên không ngỗng nước nào?

Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,

Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.
 
Last edited by a moderator:

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back