- Xu
- 752,572,841
8051
4
Chiêu Hồn Nước
Hăm lăm triệu trẻ già trai gái,
Bốn nghìn năm con cái Hồng Bàng.
Cũng cửa nhà cũng giang san,
Thế mà nước mất nhà tan hỡi trời!
Nghĩ lắm lúc đương cười hóa khóc,
Muốn ra tay ngang dọc dọc ngang.
Vạch trời thét một tiếng vang,
Cho thân tan với giang san nước nhà.
Đồng bào hỡi! Con nhà Hồng Việt,
Có thân mà chẳng biết liệu đời.
Tháng ngày lần lữa đợi thời,
Ngẩn ngơ ỷ lại ở người, ai thương!
Nay sóng gió bốn phương dữ dội,
Có lẽ nào ngồi đợi mãi sao?
Đồng bào trút giọt máu đào,
Thương ôi! Tội nghiệp ai nào xót đây!
Nên mau mau dậy ngay kẻo muộn!
Mà xót thương đến chốn Nhị, Nùng.
Xưa nay vẫn lắm anh hùng,
Dọc ngang trời đất vẫy vùng bể khơi.
Xưa nay vốn lắm người hào kiệt,
Trong một tay nắm hết sơn hà.
Nghìn thu gương cũ không nhòa,
Mở mày mở mặt con nhà Lạc Long.
Non sông vẫn non sông gấm vóc,
Cỏ cây xưa vẫn mọc tốt tươi.
Người xem cũng dáng con người,
Cũng tai, cũng mắt như đời khác chi.
Cảnh như thế tình thì như thế!
Sống làm chi, sống để làm chi?
Đời người đến thế còn gì,
Nước non đến thế, còn gì nước non!
Nghĩ thân thế héo hon tấc dạ,
Trông non sông lã chã dòng châu,
Một mình cảnh vắng đêm thâu,
Muốn đem máu đỏ nhuộm màu giang san.
Ngọn gió lọt đèn tàn hiu hắt,
Tiếng cuốc kêu thức gọi anh hùng.
Nghiến răng nuốt cái thẹn thùng,
Tôi chiêu Hồn cũ lại cùng non sông!
Hồn hỡi Hồn, con Hồng cháu Lạc!
Bấy lâu nay giặc giã chiến tranh,
Bấy lâu thịt nát xương tan,
Bấy lâu tím ruột thâm gan vì Hồn.
Hồn hỡi Hồn! Kìa non nước cũ,
Bấy nhiêu lâu mặt ủ mày chau.
Bấy lâu ngậm tủi nuốt sầu,
Bấy lâu hèn kém vì đâu hỡi Hồn.
Trông bốn bể bồn chồn dạ ngọc,
Ngẩm năm châu khôn khóc nên lời.
Đêm khuya cảnh vắng êm trời,
Khôn thiêng chăng hỡi! Hồn thiêng Hồn về.
Hồn trở về, đừng mê mẩn nữa!
Tính nết xưa phải sửa từ giờ.
Hồn về Hồn cố cho nhờ,
Anh em Hồng Lạc, cõi bờ Việt Nam.
Hãy trở về chớ vì rượu thịt,
Chớ tham nhà cao tít nhiều từng.
Kìa con chim ở trong rừng,
Kiếm mồi đâu có lạc chừng quên cây.
Hồn trở về đừng say sắc đẹp,
Mà nặng tình kẻ khép phòng thu.
Đường đường một đấng trượng phu,
Lẽ đâu Hồn chẳng đền bù non sông.
Hồn trở về chớ mong giàu có,
Mà ước ao xe nọ ngựa kia.
Nghênh ngang mũ áo râu ria;
Trăm nghìn năm vẫn còn bia miệng cười.
Hồn cố về cõi đời chớ chán,
Mà vội đem lòng nản việc trần.
Bát cơm tấm áo manh quần,
Hồn ăn Hồn mặc nợ nần thế gian.
Hồn trở về bấm gan mà chịu,
Cảnh biệt ly tình hiếu đôi đường.
Cao nhân, trí ở bốn phương,
Lẽ đâu Hồn chịu vấn vương xó nhà.
Hồn trở về nguyệt hoa chi nữa,
Mà thoi đưa lần lữa tháng ngày.
Xưa nay những kẻ tỉnh say,
Lòng mê có nghĩ việc hay bao giờ!
Hồn Nước về chớ chờ sức yếu,
Hồn Nước hãy định liệu dọc ngang.
Hay Hồn bảo chẳng biết đàng,
Hay Hồn không muốn vội vàng làm ngay.
Hay Hồn sợ tai bay vạ gió,
Hồn Nước đành phải bỏ non sông!
Hoặc Hồn quen thói phục tòng,
Nên Hồn cam chịu làm dòng ngựa trâu.
Hoặc Hồn chỉ cháo rau no đói,
Mà Hồn chẳng mong khỏi cơ hàn.
Hoặc Hồn đã trải lầm than,
Mà Hồn đánh mất cái gan tung hoành?
Hoặc Hồn ở thị thành phố xá,
Hoặc Hồn núp túp lá lều tranh?
Hoặc Hồn trong chốn rừng xanh,
Hoặc Hồn lẩn quất ở quanh sơn hà?
Hoặc Hồn ở nước nhà chật hẹp,
Hoặc Hồn đi ẩn núp nước người?
Đêm khuya cảnh vắng im trời,
Khôn thiêng chăng hỡi, Hồn ơi Hồn về.
Hồn Nước về đừng mê mẩn nữa,
Tính nết xưa phải sửa từ giờ.
Hồn về, Hồn cố cho nhờ,
Con dân Hồng Lạc cõi bờ Việt Nam.
Còn chi sung sướng vẻ vang,
Bằng đem da ngựa sa tràng bọc thây.
Hồn trở về làm ngay ý muốn,
Chớ rụt rè sớm muộn nào nên.
Lẽ thường thành bại đôi bên,
Chớ đo đắn quá mà quên việc mình.
Hồn trở về hy sinh quyền lợi,
Mà tận tâm đối với nước non.
Dù cho thịt nát xương mòn,
Cái bầu nhiệt huyết vẫn còn như xưa.
Hồn Nước trở về đừng mơ ác mộng,
Để Hồn trở thành ra giống ngựa trâu.
Hồn về Hồn kíp đòi mau,
Tự do hành động mặc dầu dọc ngang.
Hồn trở về bền gan dốc trí,
Chớ có thèm cái vị cao lương.
Tháng ngày dưa muối rau tương,
Chớ tham rượu thịt mà nương nhờ người.
Hồn trở về xoay trời đất lại,
Hồn trở về tát hải đạp sơn!
Chớ nề gió kép mưa đơn!
Mà đem gan chọi với cơn phong trần!
Hồn Nước hỡi! Xa gần nghe thấy,
Thì vùng lên! Kíp dậy mà về.
Hoặc Hồn ở chốn thôn quê,
Hoặc là Hồn ở phủ kia lầu nầy?
Nước non cũ bấy nay khao khát,
Ngày nầy qua ngày khác lại qua,
Mấy phen lệ nhỏ máu sa,
Mấy phen xót xót xa xa lòng vàng.
Mong Hồn tỉnh Hồn càng không tỉnh;
Mong Hồn về, Hồn định không về.
Non sông Hồn bỏ lời thề,
Cho non sông chịu trăm bề lầm than.
Hồn hỡi Hồn! Giang san là thế,
Giống Lạc Hồng tôi kể Hồn hay:
Kể từ Hồn lạc đến nay,
Đêm đêm khóc khóc, ngày ngày than than.
Cũng có kẻ trên ngàn nhỏ máu,
Cũng có người nương náu phương xa.
Nhiều người bỏ cửa bỏ nhà,
Cũng người lo nghĩ tuyết pha mái đầu.
Cũng có kẻ làm thân trâu ngựa,
Cũng có người đầy tớ con đòi.
Cũng thằng buôn giống bán nòi,
Khôn thiêng chăng hỡi! Hồn coi cho tường!
Có mồm nói, khôn đường mà nói,
Có chân tay, người trói chân tay,
Mập mờ không biết dở hay,
Ù ù cạc cạc, công nầy việc kia.
Hồn hỡi Hồn! Đêm khuya canh vắng,
Hồn nghe có cay đắng hay không?
Tôi đây cùng giọt máu hồng,
Cũng xương cũng thịt con Rồng cháu Tiên.
Trông thấy cảnh mà điên mà dại,
Trông thấy tình mà dại mà điên
Mà sao không thể ngồi yên?
Sa câu gan ruột tôi biên mời Hồn.
Hồn nghe thấy nên chồn tấc dạ,
Hồn nghe xong nên khá mà về.
Chớ đừng tỉnh tỉnh mê mê,
Chớ đừng đo đắn trăm bề sâu nông.
Hồn trở về non sông nước cũ,
Mà mau mau giết lũ tham tàn,
Mau mau giết lũ hại đàn,
Túi tham cướp hết bạc vàng của dân.
Hồn trở về cho dân tỉnh lại,
Không ngu ngu dại dại như xưa.
Không còn khó nhọc sớm trưa,
Không còn nắng nắng mưa mưa dãi dầu.
Hồn trở về mau mau Hồn hỡi!
Hồn trở về tôi đợi tôi mong.
Hồn về dạy dỗ con Rồng cháu Tiên.
Ngọn gió lọt đèn tàn hiu hắt.
Dân không còn nước mất sao còn?
Hỡi Hồn Nước Nước non non!
Hồn về tôi sẵn lòng son giúp Hồn.
Tôi đây cũng không khôn cho lắm,
Nhưng cũng không dại lắm cho nhiều.
Tôi nay chỉ một lòng yêu,
Nên mong nên mỏi nên chiêu Hồn về.
Hồn hỡi Hồn! Hồn về Hồn hỡi!
Hồn hỡi Hồn! Hồn hỡi Hồn ơi!
Đêm khuya cảnh vắng êm trời.
Khôn thiêng chăng hỡi Hồn ơi Hồn về!
Bút viết xong tai nghe miệng đọc.
Miệng đọc xong giọt ngọc nhỏ sa.
Nhỏ sa nên chữ hóa nhòa,
Hóa nhòa nên mới in ra nghìn tờ.
In nghìn tờ mà đưa công chúng,
Công chúng xem mong bụng đổi dần.
Để rồi thúc kẻ xa gần
Rằng mau nên trả nợ nần non sông!
Phạm Tất Đắc
Tuổi đời mới 17 nhưng với lòng yêu nước dạt dào, Phạm Tất Đắc đã dốc hết gan ruột của thiếu niên yêu nước mà viết nên Chiêu hồn nước khiến cho chính quyền thực dân phải lo sợ mà trấn áp.
Vang động bài thơ Chiêu hồn nước
Đầu năm 1927, bài Chiêu hồn nước của Phạm Tất Đắc được nhà in Thanh niên in và phát hành rộng rãi, gây nên tiếng vang lớn trong công luận dạo ấy với những câu khuấy động lòng yêu nước:
Cũng nhà cửa cũng giang sơn,
Thế mà nước mất nhà tan hỡi giời.
Hay câu:
Đồng bào hỡi! Con nhà Đại Việt,
Có thân mà không biết liệu đời,
Tháng ngày lần lữa đợi thời,
Ngẩn ngơ ỷ lại ở người ai thương.
Thân thế và sự nghiệp
Ông sinh ngày 15 tháng 2 năm 1909, quê ở làng Dũng Kim, tổng Công Xá, huyện Nam Xương, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam - nay thuộc xã Lý Nhân, tỉnh Ninh Bình. Cha ông là Phạm Văn Mười, một thông phán làm việc ở Nhà in Viễn Đông - Imprimerie d'Extrême orient - IDEO tại Hà Nội.
Do điều kiện gia đình, ông được ăn học đầy đủ và tốt nghiệp bằng Sơ đẳng tiểu học Pháp Việt. Năm 1923, ông vào học ở Trường Thành chung Bảo hộ - tức trường Bưởi. Năm 1926 khi cụ Phan Châu Trinh mất, Đắc đang là học sinh Trường Bưởi. Đắc tham gia bãi khóa để tang cụ và bị đuổi. Nhân sự việc này, ông sáng tác tập thơ Chiêu hồn nước, gồm 198 câu song thất lục bát, với lời lẽ thống thiết dấy lên lòng yêu nước của người Việt trước cảnh nước nhà bị người Pháp đô hộ.
Khắp nơi để tang cụ Phan Châu Trinh. Ảnh: TƯ LIỆU
Trong tập thơ có những câu:
Hồn trở về non sông đất cũ
Mà mau mau giết lũ tham tàn
Mau mau giết lũ hại đàn
Túi tham dám chứa bạc vàng của dân
Hồn trở về cho dân tỉnh lại
Không ngu ngu, dại dại như xưa
Không còn vất vả sớm trưa
Không còn nắng nắng, mưa mưa dãi dầu
Hồn trở về, mau mau hồn hỡi
Hồn trở về tôi đợi, tôi mong
Hồn về tô điểm non sông
Hồn về đánh thức con Rồng, cháu Tiên.
Hoạt động nhuốm màu dân tộc chủ nghĩa của ông khiến ông bị đuổi học và bị chính phủ Bảo hộ theo dõi. Năm 1927, nhân việc nhiều nhân sĩ trí thức để tang chí sĩ Lương Văn Can - người sáng lập trường Đông Kinh Nghĩa thục, ông cho phát hành tập thơ Chiêu hồn nước. Ban đầu, ông đưa đến Nhà in Nghiêm Hàn nhưng người quản lý không dám nhận. Sau đó, chủ nhà in Nhà in Thanh Niên là Lê Cương Đồng nhận in, phát hành dưới dạng sách khổ nhỏ, 12 trang. Khi tập thơ vừa phát hành, được giới học sinh, sinh viên đón nhận, nhưng chính quyền bảo hộ Pháp ra lệnh tịch thu và nghiêm cấm lưu hành. Phạm Tất Đắc bị bắt và bị kết tội tuyên truyền "vận động có tính chất làm rối sự an ninh công cộng và gây ra những sự rối loạn trầm trọng", cùng với Lê Cương Đồng bị đưa ra xử ở Hà Nội ngày 15 tháng 6 năm 1927.
Khi tòa án cho gọi cha ông là cụ Phạm Văn Mười ra chất vấn về tội không biết dạy con, để con làm loạn, cha ông khẳng khái trả lời: "Con tôi lúc ở nhà, quyền dạy dỗ thuộc về tôi. Nay đi học trường Chính phủ Bảo hộ thì việc nó làm Chính phủ phải chịu. Chính phủ đã nhận việc giáo dục nó, sao lại hỏi đến tôi?"
Do mới 17 tuổi, chưa đến tuổi chịu trách nhiệm trước pháp luật, nên tòa án quyết định giam ông vào nhà trừng giới cho đến tuổi trưởng thành. Trên thực tế, ông bị đem giam ở trại giáo hóa Trị Cụ ở thượng du - nay thuộc xã Ngọc Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Ở đây ông tiếp tục tuyên truyền chống Pháp và đứng ra tổ chức đánh giám thị nên lại bị đưa về giam ở nhà pha Hỏa Lò - Hà Nội, mãi đến năm 1930 mới được tha. Vì bị giam lâu năm nên ông hay bệnh. Ông mất ngày 24 tháng 4 năm 1935 tại Hà Nội, khi mới 26 tuổi.
Vinh danh
Các bản in Chiêu hồn nước đều bị chính quyền thực dân Pháp truy lùng tịch thu. Những ai lưu trữ đều bị kết án, vì vậy nội dung bài thơ rất ít người biết, hoặc chỉ biết một vài câu, hoặc một đoạn ngắn. Mãi đến năm 1955, một ông giáo đã tặng một bản in còn sót lại của quyển Chiêu hồn nước mà ông lặng lẽ giữ lại cho ông Phí Văn Bái. Ông Bái sau đó cũng tặng lại cho Bảo tàng Nhà văn Việt Nam, nhờ đó mà mọi người lưu được toàn văn nội dung của tập thơ này. Tên của Phạm Tất Đắc được đặt cho đường phố tại thị trấn Vĩnh Trụ, huyện Lý Nhân và tại Phủ Lý, Hà Nam.
Một số tài liệu nhầm lẫn chí sĩ Phạm Tất Đắc với nhà giáo và dịch giả Phạm Tất Đắc, bút hiệu Hậu Năng, Mãi Sơn Ông, người Phúc Yên, tác giả của Quản Tử, Thương Tử và Văn pháp chữ Hán.
Chỉnh sửa cuối:
