Nhà Thơ Yêu Nước Phạm Tất Đắc

Thảo luận trong 'Lịch Sử' bắt đầu bởi Admin, 16 Tháng bảy 2017.

  1. Admin Nothing to lose.. your love to win.. Chuyển tiền

    Bài viết:
    Tìm chủ đề
    4,977
    Phạm Tất Đắc (1909 - 1935)

    Ông sinh ngày 15 tháng 5 năm 1909, người làng Dũng Kim, tổng Công Xá, huyện Nam Xương, phủ Lý Nhân - nay là xã Hợp Lý, huyện Lý Nhân, Hà Nam. Cha ông là Phạm Văn Mười, một thông phán làm việc ở Nhà in Viễn Đông (Imprimerie d'Extrême orient - IDEO) tại Hà Nội.

    [​IMG]

    Do điều kiện gia đình, ông được ăn học đầy đủ và tốt nghiệp bằng Sơ đẳng tiểu học Pháp-Việt (Certificat d'Études Primaire Franco-Indigène - CEPFI). Năm 1923, ông vào học ở Trường Thành chung Bảo hộ (Collège du Protectorat, tức trường Bưởi), tuy nhiên năm 1926 ông bị đuổi khỏi trường vì tham gia tổ chức lễ truy điệu Phan Chu Trinh và hô hào bãi khoá, ít lâu sau vì viết cuốn Chiêu hồn nước (Hà Nội. 1927)- cuốn sách được giới học sinh, sinh viên hoan nghênh nhất.


    Trong tập thơ có những câu:

    Hồn trở về non sông đất cũ

    Mà mau mau giết lũ tham tàn

    Mau mau giết lũ hại đàn

    Túi tham dám chứa bạc vàng của dân

    Hồn trở về cho dân tỉnh lại

    Không ngu ngu, dại dại như xưa

    Không còn vất vả sớm trưa

    Không còn nắng nắng, mưa mưa dãi dầu

    Hồn trở về, mau mau hồn hỡi

    Hồn trở về tôi đợi, tôi mong

    Hồn về tô điểm non sông

    Hồn về đánh thức con Rồng, cháu Tiên.

    Hoạt động nhuốm màu dân tộc chủ nghĩa của ông khiến ông bị đuổi học và bị chính phủ Bảo hộ theo dõi. Năm 1927, nhân việc nhiều nhân sĩ trí thức để tang chí sĩ Lương Văn Can - người sáng lập trường Đông Kinh Nghĩa thục, ông cho phát hành tập thơ Chiêu hồn nước. Ban đầu, ông đưa đến Nhà in Nghiêm Hàn nhưng người quản lý không dám nhận. Sau đó, chủ nhà in Nhà in Thanh Niên là Lê Cương Đồng nhận in, phát hành dưới dạng sách khổ nhỏ, 12 trang. Khi tập thơ vừa phát hành, được giới học sinh, sinh viên đón nhận, nhưng chính quyền bảo hộ Pháp ra lệnh tịch thu và nghiêm cấm lưu hành. Phạm Tất Đắc bị bắt và bị kết tội tuyên truyền "vận động có tánh chất làm rối sự an ninh công cộng và gây ra những sự rối loạn trầm trọng", cùng với Lê Cương Đồng bị đưa ra xử ở Hà Nội ngày 15 tháng 6 năm 1927.

    Khi tòa án cho gọi cha ông là cụ Phạm Văn Mười ra chất vấn về tội không biết dạy con, để con làm loạn, cha ông khẳng khái trả lời: "Con tôi lúc ở nhà, quyền dạy dỗ thuộc về tôi. Nay đi học trường Chính phủ Bảo hộ thì việc nó làm Chính phủ phải chịu. Chính phủ đã nhận việc giáo dục nó, sao lại hỏi đến tôi?".

    Do mới 17 tuổi, chưa đến tuổi chịu trách nhiệm trước pháp luật, nên tòa án quyết định giam ông vào nhà trừng giới cho đến tuổi trưởng thành. Trên thực tế, ông bị đem giam ở trại giáo hóa Trị Cụ ở thượng du (nay thuộc xã Ngọc Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang). Ở đây ông tiếp tục tuyên truyền chống Pháp và đứng ra tổ chức đánh giám thị nên lại bị đưa về giam ở nhà pha Hỏa Lò (Hà Nội), mãi đến năm 1930 mới được tha.

    Vì bị giam lâu năm nên ông hay bệnh. Ông mất ngày 24 tháng 4 năm 1935 tại Hà Nội, khi mới 26 tuổi.

    Sự nghiệp của Phạm Tất Đắc tuy ngắn ngủi nhưng ông đã kịp để lại cho hậu thế những tác phẩm đậm đà tinh thần yêu nước. Các tác phẩm chính của ông là Chiêu hồn nước in tại nhà in Thanh niên năm 1927 và Sông Đà tùy bút (nhà xuất bản Văn học năm 1960).

    Chiêu hồn nước là bài thơ tiêu biểu nhất của Phạm Tất Đắc. Đây là bài ca gồm 198 câu song thất lục bát bày tỏ tình cảnh "nước mất nhà tan ", đồng thời kêu gọi hành động khôi phục giang san nòi giống:

    "Nghĩ thân thế héo hon tấc dạ

    Trông non sông lã chã dong châu

    Một mình cảnh vắng đêm thâu

    Muốn đem máu đỏ nhuộm màu giang san"

    Chiêu hồn nước vang vọng âm hưởng thơ văn của phong trào duy tân đầu thế kỷ XX và cũng in dấu tinh thần, tâm trạng của lớp thanh niên học sinh những năm 1920. Chiêu hồn nước là tiếng nói bồng bột của người vị thành niên thiết tha với vận nước .

    Sau đây tôi xin gửi đến các bạn trích đoạn nội dung chính của bài thơ Chiêu hồn nước:

    Hăm lăm triệu trẻ già trai gái,

    Bốn nghìn năm con cái Hồng Bàng.

    Cũng nhà cửa, cũng giang san (2)

    Thế mà nước mất nhà tan hỡi trời!

    Nghĩ lắm lúc đang cười hóa khóc

    Muốn ra tay ngang dọc, dọc ngang

    Vạch trời thét một tiếng vang

    Cho thân tan với giang san nước nhà!


    Đồng bào hỡi con nhà Đại Việt

    Có thân mà chẳng biết liệu đời

    Tháng ngày lần lữa đợi thời

    Ngẩn ngơ ỷ lại ở người, ai thương?

    Nay sóng gió bốn phương càng giữ

    Tính nết xưa còn giữ mãi sao?


    Đồng bào chút giọt máu đào,

    Thương ôi! Tội nghiệp đời nào xót đây?

    Nên mau mau dậy ngay kẻo muộn

    Mà xót thương đến chốn Nhị, Nùng (3)

    Xưa kia cũng lắm anh hùng

    Dọc ngang trời đất vẫy vùng bể khơi

    Xưa cũng có lắm người hào kiệt (4)

    Trong một tay nắm hết sơn hà (5)

    Nghìn thu gương vẫn không nhòa

    Mở mày mở mặt con nhà Lạc Long


    Non sông vẫn non sông gấm vóc

    Cỏ cây xem vẫn mọc tốt tươi

    Người xem cũng dáng con người

    Cũng tai cũng mắt như đời khác chi

    Cảnh như thế, tình thì như thế

    Sống mà chi, sống để mà chi?

    Đời người đến thế còn gì!

    Nước non đến thế còn gì nước non!


    Nghĩ thân thế héo hon tấc dạ

    Trông nước sông lã chã dòng châu (6)

    Một mình cảnh vắng đêm thâu

    Muốn đem máu đỏ nhuộm màu giang san.


    Đọc nguyên bài thơ:

    Chiêu Hồn Nước - Phạm Tất Đắc


    Chú thích:

    (1): Chiêu hồn: gọi hồn người chết, chiêu hồn nước, gọi hồn nước trở về

    (2): Giang san (giang sơn): sông núi, ngụ ý non sông đất nước

    (3): Nhị, Nùng: sông Nhị (Nhị Hà tức sông Hồng) và núi Nùng (quả núi đất ở trong Hà Nội, kinh đô lâu đời của nước ta) chốn Nhị, Nùng: ý nói giang sơn tổ quốc.

    (4): Hào kiệt: Người tài cao chí lớn phi thường

    (5): Sơn hà: Cũng như giang san, ngụ ý đất nước

    (6): Dòng châu: dòng nước mắt
     
    Last edited by a moderator: 2 Tháng sáu 2020
  2. Đang tải...
Trả lời qua Facebook
Đang tải...