Việt Nam nằm ở vị trí chuyển giao địa lý của các khối lục địa lớn trong khu vực dẫn đến sự giao thoa của nhiều hệ thống sinh vật: Phía đông mang các đặc điểm địa sinh học của dãy Hymalaya; phía nam có các kiểu hệ sinh thái (HST) tương tự với các HST biển đảo và đất liền của khu vực Đông Nam Á; dãy Trường Sơn là vùng chuyển tiếp giữa kiểu khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới [16] . Bên cạnh đó, Việt Nam còn có 16 hệ thống sông chính với 10 hệ thống sông lớn như hệ thống sông Hồng, sông Cửu Long, sông Đồng Nai.. Bên cạnh HST rừng thì Việt Nam còn có nhiều kiểu HST khác như trảng cỏ, đất ngập nước nội địa, đồi cát, bãi bồi ven biển, cửa sông, bãi cỏ biển, rạn san hô và vùng biển sâu [14] . Mặt khác, các HST nhân tạo như đập nước, đất nông nghiệp, đô thị cũng mang lại sự đa dạng nhất định cho hệ thống sinh vật của Việt Nam.
2.1. Hiện trạng tài nguyên sinh vật Việt Nam
Việt Nam là một trong 25 điểm nóng đa dạng sinh học toàn cầu [15] . Việt Nam có diện tích lớn nhất ở phía Đông của Bán đảo Đông Dương, nằm dọc theo rìa Đông Nam của Bán đảo kết hợp với mạng lưới thủy văn đa dạng với nhiều sông suối vừa và nhỏ. Sự phân bố TNSV theo địa lý của Việt Nam là không đồng đều [12] .
Hiện ở Việt Nam đã xác định được khoảng 49.200 loài, bao gồm gần 7.500 vi sinh vật; 20.000 cây trên cạn và dưới nước; khoảng 10.500 động vật trên cạn; khoảng 2.000 loài động vật không xương sống và cá nước ngọt; và ở biển, có hơn 11.000 loài sinh vật biển (6.300 loài động vật đáy, 2.500 loài cá biển, 653 loài rong biển, 657 loài động vật nổi, 537 loài thực vật nổi, 94 loài thực vật ngập mặn, 225 loài tôm biển, 14 loài cỏ biển, 15 loài rắn biển, 25 loài thú biển và 5 loài rùa biển) [1] .
Thống kê cụ thể của Bộ Tài nguyên và Môi (2011) cho thấy, Việt Nam là nơi trú ngụ của 13.766 loài thực vật, 10.300 loài động vật trên cạn (312 loài thú, 840 loài chim, 167 loài ếch nhái, 317 loài bò sát, trên 7.700 loài côn trùng, và nhiều loài động vật không xương sống khác). Số loài sinh vật nước ngọt đã được biết đến là hơn 1.438 loài vi tảo, 800 loài động vật không xương sống, 1.028 loài cá nước ngọt.
Thống kê từ cơ sở dữ liệu các nhóm động, thực vật cho thấy, Việt Nam có ít nhất 467 loài động vật đặc hữu, cao hơn nhiều so với các quốc gia lân cận như Lào, Campuchia, Thái Lan [2] .
Kết quả nghiên cứu cho thấy hàng trăm loại trên đất và loài nước ngọt mới được khoa học nhắc đến lần đầu tiên ở Việt Nam trong các nghiên cứu thường niên. Chỉ tính riêng từ năm 2006 đến năm 2011, trên 100 loài mới lần đầu tiên được phát hiện và mô tả khoa học ở Việt Nam, đặc biệt có 21 loài bò sát, 6 loài ếch và 1 loài chồn hương. Nhiều nhà khoa học cho rằng, còn nhiều loài động vật hoang dã khác ở Việt Nam vẫn chưa được tìm ra và số lượng loài đã biết có thể thấp hơn nhiều so với số loài thực tế trong tự nhiên [1] .
Trong các loài đã được biết đến tại Việt Nam có 882 loài động, thực vật quý hiếm, có giá trị kinh tế cao đang bị đe dọa ở các mức độ khác nhau và có tên trong Sách Đỏ Việt Nam 2007. Hiện nay Việt Nam có 28 khu vực di sản thế giới về tự nhiên và văn hóa, 128 khu bảo tồn trên cạn, 15 khu bảo tồn biển, 5 khu Ramsar và 8 khu bảo tồn sinh quyển [6] . Đây là nguồn dự trữ về TNSV cũng như bảo tồn giống và cung cấp nguồn gen cho khu vực và thế giới.
Ngoài sự đa dạng về TNSV tự nhiên, Việt Nam còn có TNSV trong nông nghiệp. Điều này xuất phát từ hoạt động nông nghiệp với khoảng 733 loài cây trồng. Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ sinh học, hệ thống sinh vật (bao gồm vật nuôi và cây trồng) ở nước ta càng ngày càng phong phú [3] .
Các con số thống kê nêu trên chưa thực sự phản ánh đầy đủ tính đa dạng sinh học của Việt Nam, khi mà số lượng loài mới được phát hiện không ngừng tăng nhanh trong những năm gần đây. Ví dụ, hơn 18 loài côn trùng mới được công bố vào năm 2017 chỉ từ một nghiên cứu, 5 loài mới của một giống thực vật mới cũng đã được mô tả từ một công trình vào năm 2014 [2] . Điều đó chứng minh nguồn tài nguyên về đa dạng loài động, thực vật ở Việt Nam chưa thực sự được hiểu biết đầy đủ.
Như vậy, có sự thống nhất giữa các nghiên cứu trong và ngoài nước về các nhận định sau:
- Việt Nam là một quốc gia có TNSV phong phú, hệ thống sinh vật đa dạng được tạo ra bởi các yếu tố địa lý và khí hậu;
- Việc khảo sát và cập nhật số liệu về TNSV được thực hiện khá thường xuyên nhưng vẫn chưa có được sự hiểu biết hoàn toàn đầy đủ.
2.2. Hiện trạng sử dụng tài nguyên sinh vật tại Việt Nam
Mặc dù có nguồn TNSV đa dạng và phong phú nhưng hiện trạng sử dụng TNSV tại Việt Nam đang đẩy các loài sinh vật đến sự suy thoái. Sự suy giảm nguồn TNSV diễn ra một cách mạnh mẽ do nhu cầu phát triển kinh tế [17] [10] .
Theo kết quả nghiên cứu của Viện điều tra và quy hoạch rừng, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng, khai thác quá mức lâm sản là nguyên nhân chính khiến rừng tự nhiên của Việt Nam bị suy giảm diện tích trong nhiều thập kỷ qua. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong thời gian 20 năm từ năm 1975 đến năm 1995, diện tích rừng tự nhiên của cả nước đã giảm 2, 8 triệu hecta. Sự suy giảm của diện tích rừng tự nhiên là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến suy thoái TNSV tại nước ta. Theo dữ liệu từ Danh lục đỏ IUCN năm 2020, tổng cộng có 6.640 loài sinh vật tại Việt Nam đã được đánh giá, trong đó có 1.081 loài (gồm 771 loài động vật và 310 loài thực vật) đang có nguy cơ tuyệt chủng, chiếm 16, 28% tổng số loài đã được đánh giá. Con số này đã tăng hơn so với tỷ lệ 13% ở năm 2012 [2] . Thêm vào đó, các hoạt động buôn bán, khai thác và sử dụng TNSV trái phép cũng là một trong những nguyên nhân gây nên sự cạn kiệt loại tài nguyên này. Cụ thể:
2.2. 1. Hiện trạng sử dụng động vật trên cạn:
Việc khai thác đáp ứng cho nhu cầu sử dụng, giải trí hoặc buôn bán đã đẩy nhiều loài động vật tự nhiên ở Việt Nam đến bờ vực tuyệt chủng, và đang gây áp lực nặng nề lên các quần thể khác. Nhu cầu sửu dụng đối với các sản phẩm từ động vật hoang dã để chữa bệnh như trong sừng tê giác, xương hổ và mật gấu.. tăng cao đã đẩy số lượng các sinh vật này giảm xuống mức thấp đến mức gần như tuyệt chủng. Mặt khác, do nhu cầu về các sản phẩm từ động vật hoang dã tăng lên nên các đối tượng buôn bán động vật hoang dã trái phép đã tăng cường hoạt động khiến cho công tác bảo vệ động vật của cơ quan quản lý gặp nhiều khó khăn. Kết quả đến năm 2007 cho thấy, có ít nhất 4 loài động vật và 1 loài thực vật đã được xem là tuyệt chủng ở Việt Nam như loài Heo vòi (
Tapirus indicus ), Tê giác 2 sừng (
Dicerorhinus sumatrensis ). Gần đây nhất (2012) là sự tuyệt chủng của loài Tê giác 1 sừng (
Rhinoceros sondaicus ) [2] .
2.2. 2. Hiện trạng sử dụng động vật dưới nước và các loài thủy sinh vật
Dân số bùng nổ và mức độ tiêu thụ của con người tăng lên đã dẫn đến việc đánh bắt quá mức ở nhiều vùng nước ngọt, dẫn đến giảm tổng sản lượng đánh bắt. Nhiều loài thủy sản có giá trị kinh tế cao bị suy giảm nghiêm trọng như cá anh vũ, cá lăng, tôm hùm, bào ngư, sò điệp.. Các kỹ thuật đánh bắt mang tính hủy diệt như sử dụng chất nổ, chất độc, kích điện được sử dụng tràn lan và thiếu kiểm soát đe dọa nghiêm trọng đến các HST tự nhiên ở các vùng ven biển Việt Nam [4] . Hiện nay, một số loài động vật biển đã tuyệt chủng tại Việt Nam (có thể vẫn còn một số cá thể trong vùng biển của nước ngoài) như: Loài Cá chép gốc (
Procypris merus ), loài Giải lớn (
Pelochelys cantorii ), loài Giải Thượng Hải (
Rafetus swinhoei ) [11] .
2.2. 3. Hiện trạng sử dụng thực vật
Dựa vào các đặc tính quý của thực vật như cung cấp gỗ, dược liệu, thực phẩm.. tình trạng khai thác xuất khẩu trái phép các loại thực vật quý qua biên giới diễn ra khá phổ biến. Tại Cao Bằng, thương nhân Trung Quốc đã thành lập các trạm thu mua và chế biến dược liệu địa phương như: Củ bình vôi trắng, củ bình vôi vàng, giảo cổ lam.. Nhiều cây thuốc được nhập lậu vào Trung Quốc nhưng chưa rõ giá trị kinh tế và tác dụng chữa bệnh.
Năm 1996, có 24 loài thực vật thuộc diện Nguy cấp được đưa vào Sách đỏ Việt Nam thì hiện nay con số này đã tăng lên 192 loài trong đó có 45 loài được coi là Rất nguy cấp. Phần lớn chúng thuộc Ngành Mộc Lan và Ngành Thông. Nhiều loại gỗ quý như Hoàng đàn rủ, Bách vàng, Ba gạc hoa đỏ, Sâm vũ điệp.. đã trở nên vô cùng hiếm với số lượng ít ỏi [11] .
2.2. 4. Tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên sinh vật
Việt Nam là một trong những quốc gia bị tác động mạnh của biến đổi khí hậu (BĐKH). Một số tác động như: Xâm nhập mặn tác động tới nhiều loài động - thực vật nước ngọt, làm biến mất nhiều loài sinh vật đặc hữu của nước ta. Mực nước biển dâng lên cùng với cường độ của bão tố tăng sẽ làm thay đổi thành phần của trầm tích, độ mặn và mức độ ô nhiễm của nước, làm suy thoái và đe dọa sự sống còn của rừng ngập mặn và các loài sinh vật trong đó. Nhiệt độ tăng sẽ làm thay đổi vùng phân bố và cấu trúc quần xã sinh vật của nhiều HST, làm suy giảm hoặc tuyệt chủng nhiều loài sinh vật [6] . Mặt khác, nghiên cứu của Hoàng Xuân Bền và cộng sự (2015) cho thấy, nhiều rạn san hô tại các vùng biển Việt Nam sau khi mất đi sẽ vĩnh viễn không thể phục hồi, kéo theo đó, các nhóm sinh vật biển có giá trị kinh tế cao cũng không có dấu hiệu phục hồi. Như vậy, dưới tác động của biến đổi khí hậu, nhiều loài sinh vật tại Việt Nam đang đứng trước nguy cơ bị suy giảm mạnh về số lượng thậm chí tuyệt chủng.