Bạn được Minh Huyền mời tham gia diễn đàn viết bài kiếm tiền VNO, bấm vào đây để đăng ký.
15,989 ❤︎ Bài viết: 1929 Tìm chủ đề
Chương 20: Tôi làm vườn

Người ta định sáng hôm sau thì chôn cất cụ Vitali và ông bố Lidơ hứa sẽ dắt tôi đi đưa đám cụ.

Nhưng ngày hôm sau, thật ức quá! Tôi không dậy được vì trong đêm tối đã lên một cơn sốt nặng. Thoạt đầu tôi rùng mình ớn lạnh trong người, sau đó thấy nóng bừng. Tôi cảm thấy như có lửa nung trong ngực. Tôi nghĩ rằng tôi đã mắc bệnh y như con Giôlicơ sau cái đêm nó ngủ trên cây, dưới mưa tuyết.

Thật vậy, tôi sưng phổi nặng do bị cảm lạnh trong cái đêm mà cụ chủ đáng thương của tôi bỏ mạng. Chính trận sưng phổi ấy làm cho tôi nhận rõ lòng tử tế của gia đình ông Acanh, nhất là sự tận tâm của Êchiênnét.

Mặc dù thường thường những người nghèo không ưa mời thầy thuốc mấy, nhưng vì tôi lên cơn kịch liệt quá, khủng khiếp quá, nên lần này nhà bác Acanh phải phá bỏ lệ cũ. Người thầy thuốc được mời đến không phải mất công khám nghiệm lâu, không cần hỏi triệu chứng chi tiết, cũng nhận ra chứng bệnh tôi. Ông bảo ngay là phải đưa tôi đi bệnh viện. Cách đó thì tiện lợi và đỡ phiền phức. Tuy vậy ông Acanh không đồng ý. Ông nói:

Thằng bé đã đến ngã trước cửa nhà chúng tôi chứ có phải trước cửa nhà thương làm phúc đâu. Bởi vậy chúng tôi phải giữ nó ở đây để chạy chữa cho nó.

Ông thầy thuốc dùng nhiều lời lẽ ân cần để đánh đổ cách lập luận theo thuyết tiền định ấy; nhưng những lời lẽ ấy không làm cho ông chủ vườn lung lay. Ông bảo nhất định phải giữ tôi ở nhà và ông đã giữ tôi ở nhà. Thế là ngoài công việc thường ngày, Êchiênnét lại nhận thêm cái việc chăm sóc người bệnh. Chị dịu dàng và chăm sóc có phương pháp, luôn luôn kiên nhẫn và chu đáo. Khi chị phải rời giường tôi để làm việc nhà thì Lidơ thay thế cho chị; lắm khi trong lúc sốt tôi trông thấy em ngồi ở cuối giường mở đôi mắt to nhìn tôi lo ngại. Tinh thần hoảng loạn vì mê sảng; tôi tưởng em là thần hộ mệnh của tôi. Tôi nói với em những ước mơ, những ham muốn của tôi như nói với thiên thần. Cũng từ lúc ấy mà đi, tôi quen coi em như một nhân vật thần kỳ, rạng ánh hào quang; tôi lấy làm ngạc nhiên thấy emsống như chúng tôi, ở giữa chúng tôi và tôi chờ cái phút mà em bay bổng lên với đôi cánh trắng to rộng.

Bệnh tình của tôi kéo dài và làm cho tôi đau đớn vật vã đêm ngày, đôi lúc lại đột ngột trở nặng. Cứ tình hình ấy dù là cha mẹ đẻ đi nữa cũng phải ngã lòng. Thế mà chị Êchiênnét thì không hề bớt kiên nhẫn, bớt tận tâm. Nhiều đêm người nhà phải thức trông tôi bởi vì ngực tôi nặng đến nỗi lúc nào cũng tưởng sắp bị nghẹt thở. Những lúc ấy, Alơxi và Bănggiamanh thay phiên nhau ngồi bên giường.

Cuối cùng tôi cũng bước vào giai đoạn bình phục. Nhưng vì bệnh kéo dài và hay trở chứng cho nên phải chờ cho đến khi mùa xuân trở về làm xanh những đồng cỏ khu Gơlaxixe, tôi mới dám bước chân ra khỏi nhà. Bấy giờ thì em Lidơ thay thế cho chị Êchiênnét, vì em không phải làm lụng. Chính em đưa tôi đi dạo trên bờ sông Bievơrơ. Khoảng trưa, khi mặt trời ấm nhất thì chúng tôi ra đi. Tay nắm tay, Lidơ và tôi thong thả đi bước một, con Capi theo sau. Năm ấy mùa xuân êm đềm và đẹp đẽ lạ. Cũng có lẽ sự thật không hoàn toàn như thế, nhưng cái cảm tưởng mà tôi giữ lại về mùa xuân ấy là thế thì có khác gì.

Cái khu nằm giữa tòa Nhà trắng và đồng Gơlaxie người Pari ít biết đến. Người ta chỉ biết mơ màng đâu ở chốn ấy có một thung lũng nhỏ mà thôi. Vì con sông chảy qua thung lũng là sông Bievơrơ ở đoạn nó chảy qua khu công nghiệp Xanh Mácxen chứ không phải trên bộ mặt tự nhiên của nó, khi nó chảy qua Varie hay Rongít.

Không biết bây giờ thì thế nào chứ thưở ấy thì sông Bievơrơ chảy dưới hai hàng liễu và bạch dương rậm rạp. Ở hai bên bờ, những đồng cỏ xanh trải ra thoai thoải cho đến tận chân mấy ngọn đồi nhỏ đằng xa, trên ấy nhà cửa chen với vườn tược. Mùa xuân cỏ tươi lên ngồn ngộn, và đây đó trên tấm thảm bích ngọc, hoa cúc dại điểm những nụ trắng hình sao. Trên những cành liễu đương trổ lá, trong các cây bạch dương đầy lộc ứ nhựa dẻo, lũ chim sáo, chim bạc má, chim mai hoa bay liệng chập chờn. Tiếng hát líu lo của chim chóc chứng tỏ rằng đây còn ở thôn quê chứ chưa vào thành thị.

Đấy, tôi nhìn thấy cái thung lũng ấy như thế đây, và hình ảnh ấy mãi mãi về sau trong ký ức tôi vẫn còn tươi mới như thưở ban đầu. Nếu tôi là họa sĩ, tôi sẽ vẽ cho các bạn xem rặng bạch dương không sót một cây nào, cùng với những cây liễu to có những cây phúc bồn tử gai góc, rễ bám vào thân liễu cỗi, lá vườn xanh rờn trên đầu ngọn liễu. Tôi sẽ vẽ những bờ nghiêng của mấy công sự, trên ấy chúng tôi co một chân và trượt một cách say sưa.

Tôi sẽ vẽ cái Đồi chim giẽ với chiếc cối xay gió, cái sân Xanhtêlen với các chị thợ giặt, những xưởng thuộc đã làm hôi bẩn nước sông và cái trại tá điền Xanhtannơ; những người điên dại đáng thương trồng trọt ở trại này thường đi qua một bên chúng tôi với nụ cười ngớ ngẩn, đôi tay buông xuôi, mặt mày nhăn nhó, đầu lưỡi thò ra ngoài cái miệng để hở.

Trong những cuộc đi chơi ấy, Lidơ không nói năng gì, dĩ nhiên. Cái lạ là đến tôi cũng đâm ra không nói gì nốt, vì chúng tôi không cần nói nên lời, chỉ đọc trong mắt nhau thôi cũng đủ hiểu nhau, lâu dần thành quen.

Sức khỏe của tôi dần dần hồi phục, và đã đến lúc tôi làm vườn được. Bấy nay tôi sốt ruột trông cho mau đến cái ngày đó bởi vì tôi muốn mau chóng được làm bù lại cho người ta những cái người ta đã làm cho mình! Tôi muốn làm việc cho họ, cố gắng làm được chừng nào hay chừng ấy để đền đáp những cái họ đã cho tôi. Từ trước tới nay tôi chưa lao động bao giờ. Đi những đoạn đường dài cũng thật là mệt nhọc đấy, nhưng đó không phải là một thứ công việc liên tục đòi hỏi người ta phải bền bỉ và chăm chỉ. Tuy thế tôi vẫn tin rằng tôi sẽ lao động giỏi, hay ít nhất cũng dũng cảm lao động như những người chung quanh tôi.

Tiết này là tiết hoa yên chi bắt đầu được bày bán ở các chợ trong thành phố Pari. Bác Acanh tiết này cũng trồng yên chi đầy vườn; thứ thì hoa đỏ, thứ hoa trắng, thứ hoa tím. Mỗi loại cùng nhau trồng thành từng khoảng cách dưới lồng kính, thành thử có những luống trắng lốp bên cạnh những luống đỏ rực trông rất đẹp mắt. Buổi chiều, khi chưa đậy lồng kính thì không khí ngan ngát mùi hoa.

Người ta đã liệu cắt cho tôi một công việc vừa với sức yếu của tôi. Đó là việc giở những tấm cửa kính lên, buổi sớm khi sương giá đã tan, đậy lại buổi chiều khi sương giá sắp xuống, và khi nắng lên thì lấy rơm rải lên mặt kính để che cho yên chi khỏi bị nắng hun. Cái công việc ấy không khó, cũng không nhọc lắm, duy mất nhiều thời giờ vì có những mấy trăm tấm cửa phải đóng mở hàng ngày và phải coi chừng luôn để che cho mát hay dỡ cho quang tùy lúc nắng gắt hay dịu.

Trong khi tôi làm những việc ấy thì Lidơ ở bên cái guồng múc nước tưới: Con ngựa già Côcốt mang mặt nạ da che mắt đi vòng quanh mãi cũng có lúc đâm chán, nên bước chậm lại; mỗi lần như thế thì Lidơ vút cây roi da dê giục nó. Một trong hai anh của Lidơ nghiêng gàu trút nước, những gàu nước do guồng máy kéo lên, còn anh kia thì giúp bố. Như vậy mỗi người đều có một phần việc và không ai để uổng phí thì giờ.

Tôi đã thấy người nông dân ở làng tôi làm việc nhưng tôi chưa hề tưởng tượng những người làm vườn vùng lân cận Pari dũng cảm và cần mẫn như thế nào. Họ thức dậy trước khi mặt trời mọc, đi ngủ sau khi mặt trời lặn rất lâu, cả một ngày dài đằng đẵng như thế, họ luôn luôn làm việc không tiếc sức, còn làm được chừng nào thì cứ làm. Tôi cũng từng thấy người ta trồng trọt từ lâu rồi, nhưng rồi tôi chưa hề lường được sản lượng của đất đai khi người ta làm việc không ngừng tay, không để cho đất nghỉ. Ở với bác Acanh tôi học tập được những điều ấy.

Người ta không bắt tôi phải mãi mãi chăm lo các lồng kính. Càng ngày tôi càng khỏe ra. Đã đến lúc tôi cũng được gieo trồng một cái gì xuống đất, điều ấy làm cho tôi rất vui sướng, càng vui sướng hơn nữa khi thấy những cây tôi gieo mọc lên. Cây ấy là công trình, là sự nghiệp, là kết quả sáng tạo của tôi, tôi kiêu hãnh vì nó. Thế là tôi cũng được việc đấy chứ, tôi cũng có ích đấy chứ! Tôi đã chứng thực điều ấy, hơn nữa tôi cảm thấy như thế, và tôi tự hào lạ! Đúng thế các bạn ạ, cái cảm giác ấy làm cho mình quên hết bao nỗi khó nhọc.

Cách sống mới này tuy có nhọc nhằn hơn trước, tôi cũng chóng quen. Cảnh sống bây giờ khác hẳn với cái đời lang thang của người xiếc rong ngày trước. Ngày trước tôi chạy nhảy tự do không phải làm lụng khó nhọc gì ngoài việc xăm xăm đi tới phía trước, trên các nẻo đường dài. Bây giờ phải ở trong vườn giữa bốn bức tường, phải làm việc vất vả từ sáng đến tối, áo đẫm mồ hôi, hai tay xách hai thùng tưới nặng, chân giẫm trên các lối đi nhầy nhụa những bùn lầy. Nhưng mà xung quanh tôi, ai cũng làm việc vất vả như thế cả. Thùng tưới của ông bố nặng hơn thùng tôi, áo ông cũng ướt mồ hôi hơn áo chúng tôi. Gian khổ mà cùng chung chịu thì cũng thấy đỡ gian khổ đi nhiều, vả lại ở đây, tôi được sống cái không khí gia đình êm ấm đã tưởng không bao giờ được hưởng. Tôi không còn lẻ loi, không phải là đứa trẻ bị vứt bỏ nữa. Tôi có giường riêng của tôi, tôi có chỗ ngồi của tôi ở bàn ăn gia đình. Cũng có đôi khi trong lúc làm việc, Alơxi hay Bănggiamanh bớp tôi một cái. Tay chúng buông xuống thì tôi cũng quên ngay, không giận gì chúng, cũng như chúng nó, chúng nó không nhớ không thù những cú đánh trả. Và buổi tối chung quanh nồi xúp nóng, chúng tôi lại là bạn, là anh em.

Nói cho đúng thì không phải lúc nào cũng chỉ có lao động vất vả. Chúng tôi cũng có những giờ phút nghỉ ngơi và giải trí, ngắn thì quả là ngắn, nhưng càng ngắn càng thú vị.

Ngày chủ nhật, xế trưa, chúng tôi quây quần dưới giàn nho kế tiếp hiên nhà. Tôi đi lấy cây đàn treo trên đanh và đánh cho bốn chị em Lidơ nhảy, cả bốn người đều không học khiêu vũ. Nhưng Alơxi và Bănggiamanh đã dự một buổi dạ vũ sau lễ cưới ở khách sạn Thiên Trụ và nhớ lõm bõm mấy bước. Chúng dựa trên trí nhớ, mày mò dựng lại bài vũ. Nhảy chán thì chúng yêu cầu tôi hát những bài hát quen thuộc của tôi. Khi ấy, khúc hát miền Naplơ lại làm cho Lidơ cảm xúc, trăm lần như một.

Cửa sổ thấp.. mà chủ lầu khắc nghiệt.

Không bao giờ tôi hát đến đoạn cuối cùng mà Lidơ không ứa nước mắt. Thế là tôi diễn một hài kịch với con Capi để làm cho em khuây khỏa. Đối với con Capi cũng thế, những ngày chủ nhật ấy là những ngày hội. Những ngày ấy đưa nó trở về cái thời hoạt động năm xưa, cho nên khi đóng xong vai trò của nó một lần rồi thì nó chỉ chực đóng lại lần nữa.

Đối với tôi, những ngày chủ nhật ấy cũng là những ngày tưởng nhớ tới cụ Vitali. Tôi đánh đàn tôi hát y như có cụ ở bên tôi. Ôi! Cụ Vitali kính yêu! Tôi càng lớn lên càng kính mộ vong linh cụ, càng hiểu rõ công ơn của cụ đối với tôi.

Hai năm tròn đã trôi qua như thế. Bác Acanh thường dẫn tôi đi chợ, đi bến Hàng Hoa, nhà thờ Mađờlen, lầu chứa nước, hoặc đi lại các cửa hàng của những chị hàng hoa trong thành phố để mang cây cảnh đến cho họ, dần dà tôi biết Pari. Tôi thấy rằng Pari không phải là thành phố vàng và cẩm thạch như tôi tưởng tượng khi chưa đến, nhưng nó cũng không phải là một thành phố bùn lầy như tôi đã vội hình dung ra khi đi vào từ phía Sarăngtông, qua khu phố Muphơta. Tôi trông thấy nhiều công trình kiến trúc. Tôi đã đi vào xem một số những lâu đài ấy. Tôi đi chơi dọc bờ sông, trên các đại lộ, trong vườn Luyxăngbua; và vườn của cung điện Tuylơri ở quảng trường Săng Êlydê. Tôi được xem nhiều pho tượng. Thấy dòng người cuồn cuộn như thác chảy, tôi khôn xiết kính phục. Tôi bắt đầu cố ý niệm về cuộc sống của một thủ đô lớn.

Tôi học bằng mắt trong lúc có công việc cần phải đi hay trong những cuộc đi chơi phiếm. Nhưng việc giáo dục của tôi, may thay, không phải chỉ có thế.

Trước khi tự mình làm cái vườn của mình, - bác Acanh đã làm việc ở khu ươm cây vườn bách thảo. Ở đấy bác được tiếp xúc với nhiều nhà khoa học, nhiều người nghiên cứu. Sự gần gũi ấy làm cho bác cũng hóa ra có chí ham đọc sách, ham học hỏi. Năm này qua năm khác, bác dành tiền để mua sách và dùng thì giờ rỗi rãi để đọc sách. Khi bác lập gia đình và sinh con đẻ cái, cái thời giờ rảnh rang trở nên hiếm lắm. Trước hết phải lo chạy bữa cho vợ con. Bởi vậy bác không đọc sách nữa, nhưng không để mất cũng không bán đi. Bác cất lại trong một cái tủ. Mùa đông đầu tiên của tôi trong gia đình ấy dài lắm; mùa này công việc vườn tược trong vòng mấy tháng tuy không gác hẳn nhưng cũng thưa đi. Để dùng thì giờ những buổi tối ngồi quanh lò sưởi, bác Acanh rút những quyển sách ngày xưa ở trong tủ ra, đem phân phát cho chúng tôi. Sách ấy phần lớn là sách về thực vật học, về lịch sử cây cỏ, cùng với dăm ba quyển du ký.

Alơxi và Bănggiamanh không nối trí ham học của bố. Tối nào cũng vậy, giở đọc đến trang thứ ba thứ tư là các cậu ngủ gà ngủ gật trên trang sách bỏ dở. Phần tôi, ít mê ngủ hơn và cũng ham hiểu biết hơn, tôi đọc mãi cho đến giờ cả nhà đi ngủ. Những bài vỡ lòng tôi học với cụ Vitali thật đã không uổng phí, tôi tự nhủ như thế khi ngã lưng xuống giường và tôi nghĩ đến cụ với lòng trìu mến vô hạn.

Thấy tôi ham học như thế, bác Acanh tưởng nhớ lại thời bác bớt hai xu vào tiền bữa ăn trưa để mua sách. Bởi vậy, thêm vào số sách sẵn có trong tủ, thỉnh thoảng bác mua một vài quyền trên phố mang về cho tôi. Gặp dịp, hoặc thấy tên sách hay hay thì bác mua chứbác cũng chả lựa chọn gì. Tuy vậy, nó vẫn là sách và dù thưở ấy có nó làm cho đầu óc không phương hướng của tôi ngổn ngang bề bộn đi nữa, thì sau này sự bề bộn cũng mất đi, và những cái hay cái tốt trong sách thì còn lại và còn mãi tới nay. Đúng đọc sách là bao giờ cũng có lợi.

Lidơ không biết đọc. Nhưng thấy tôi rảnh giờ nào là cặm cụi đọc sách giờ ấy, em tò mò muốn biết cái gì trong sách làm cho tôi thích thú đến thế. Ban đầu, em muốn thu mấy quyển sách ấy, vì nó không để cho tôi chơi đùa với em. Nhưng thấy làm thế nào tôi cũng trở lại với sách, em bảo tôi đọc cho em nghe, rồi bày cho em đọc. Em bị câm, nhưng được cái thông minh, nhờ vậy tôi có thể dùng mắt thay thế cho tai để kiểm tra em và cũng đi đến kết quả. Tuy thế em vẫn thích tôi lên tiếng đọc to, làm cho cả hai người cùng làm việc. Thế là thêm một sợi dây ràng buộc chúng tôi với nhau. Tư tưởng mải quay vào cuộc sống bên trong, trí óc luôn luôn chờ làm việc, không vướng bận những cái phù phiếm trong đời, những sự chuyện trò lăng nhăng nhảm nhí, Lidơ hẳn đã tìm thấy một cách giải trí, một món ăn tinh thần.

Chúng tôi đã sống với nhau bao nhiêu thời khắc như vậy: Tôi thì đọc còn em thì ngồi trước mặt tôi nghe, mắt không rời tôi. Nhiều khi gặp những chữ, những đoạn tôi không hiểu thì tôi dừng lại nhìn em. Thế là cả hai chúng tôi cố sức tìm hiểu, một đôi khi mất khá nhiều thì giờ.

Khi nào tìm mãi vẫn không hiểu ra thì em lấy tay ra hiệu bảo tôi đọc tiếp và cố ý nói:

"Sau này hẵng hay".

Tôi cũng dạy cho em học vẽ nữa, hay nói cho đúng, làm cái việc mà tôi gọi là vẽ. Việc ấy mất nhiều thì giờ và khá gay go nhưng rồi cũng đạt kết quả. Đành rằng cái anh thầy này chả ra vẻ thầy gì, nhưng bù lại thì thầy và trò hiểu nhau sâu sắc: Sự ăn ý giữa thầy và trò nhiều khi lại được việc gấp mấy tài năng. Thật vui biết bao nhiêu khi qua mấy nét quệt ra, mọi người nhận được em muốn hình dung cái gì! Bác Acanh ôm tôi vào lòng, cười và nói: "Này, này bác nhận cháu thế mà hóa ra khôn đấy! Thôi để sau này em Lidơ sẽ đền ơn cháu".

"Sau này" có nghĩa là lúc Lidơ nói được, bởi vì trong nhà không hề bỏ cái ý định chữa chạy cho em nói được. Duy thầy thuốc họ nói rằng hiện nay thì còn đành phải chịu và đợi đến lúc có xảy ra một sự biến động nào đó ở nơi con bệnh.

"Sau này" cũng là cái ý mà bàn tay Lidơ rầu rầu bảo với tôi những lúc tôi hát cho em nghe. Lidơ muốn học đánh thụ cầm và mấy ngón tay em bắt chước tay tôi một cách mau chóng. Em lại muốn học hát nữa, nhưng dĩ nhiên là không được, vì thế em uất ức lắm. Đã bao lần thấy mắt em ứa lệ, tôi biết là em buồn khổ. Nhưng bản tính em thuần hậu, dịu dàng nên em không sầu não triền miên. Em gạt nước mắt mỉm cười nhẫn nại và đưa tay ra hiệu bảo: Sau này.

Được làm con nuôi bác Acanh, được con cái bác coi như anh em ruột, hẳn tôi đã ở đấy mãi mãi nếu không xảy ra một tai họa làm cho cuộc đời của tôi phải thay đổi một lần nữa. Lúc tôi đã chắc mẩm là được bình yên hơn hết thì cũng là lúc mà tôi sắp bị ném trả trở lại cuộc đời phiêu lưu vô định, bởi những biến cố ở ngoài ý chí tôi.
 
15,989 ❤︎ Bài viết: 1929 Tìm chủ đề
Chương 21: Gia đình tan tác

.. Tôi đã nói là bác Acanh giồng hoa yên chi. Giồng thứ hoa ấy không khó lắm, những người giồng hoa quanh Pari đều giồng hoa yên chi rất tốt, bằng chứng là mỗi năm cứ đếntháng ba tháng tư, họ mang ra chợ những cây cảnh sum xuê phủ đầy hoa từ gốc đến ngọn. Người giồng vườn chỉ cần nắm cho được kỹ thuật chọn cây hoa kép, vì khách hàng không mua hoa đơn. Hạt giống gieo xuống thường thường một nửa mọc cây hoa kép, một nửa mọc cây hoa đơn, cho nên nếu biết giữ lại rất những cây sẽ trổ hoa kép thì có lợi lớn. Không thế thì đành phải phí công của chăm nom cho một số cây bằng nữa tổng số, rồi đến khi cây bắt đầu trổ hoa thì phải vứt đi, nghĩa là sau một năm trời chăm bón. Người ta phân biệt cây hoa kép và cây hoa đơn bằng cách quan sát mấy đặc tính trên lá và trên dáng cây, ít người chủ vườn biết cách chọn lọc ấy; hơn thế, đó là một bí quyết lưu truyền riêng trong một số gia đình. Khi người làm vườn cần lọc cây hoa kép thì họ nhờ những bạn đồng nghiệp có nắm bí quyết ấy giúp đỡ, vì thế, đến tiết lọc yên chi thì những bác này được chỗ này mời, chỗ kia rước đèn để hỏi ý kiến, y như một bác sĩ hay một chuyên viên.

Bác Acanh là một trong những người lọc yên chi sành nhất thành Pari. Bởi vậy, đến mùa lọc hoa, bác đi cả ngày. Những ngày ấy là những ngày buồn của chúng tôi, nhất là đối với chị Êchiênnét. Giữa bạn đồng nghiệp làm vườn, không bao giờ người ta đi đến với nhau mà không cùng nhau đánh cạn một chai lít, có khi cả hai ba chai nữa kia. Thành thử khi ông bố đã đến nhà vài ba ông bạn thì y như là lúc về, mặt ông đỏ gay, tay run rẩy, giọng nói lè nhè.

Đêm đêm, hễ ông bố chưa về thì chị Êchiênnét chưa đi ngủ, dù có khuya đến mấy cũng thế. Lúc ấy, nếu tôi còn thức, hay tôi tỉnh giấc dậy vì tiếng khua động của ông, thì nằm trong buồng tôi nghe rõ tiếng hai cha con họ nói chuyện với nhau. Ông bố hỏi:

Sao con chưa đi ngủ đi con?

Con chờ xem bố có cần gì không!

À, ra cô cảnh sát theo dõi tôi đấy!

Con không thức đợi bố thì bố biết chuyện trò với ai?

Con muốn coi thử bố đi đứng có thẳng người không chứ gì? Thế thì coi đây này! Bố cược với con rằng bố đi từ đây lại buồng lũ nhỏ mà không bước chệch ra ngoài hàng gạch lát kia cho mà xem.

Tôi nghe có tiếng giày khập khiễng bước cao bước thấp vang lên ở phía nhà bếp, và sau đó thì yên lặng. Rồi tiếng ông bố lại hỏi:

Em Lidơ có chơi không?

Có! Em ngủ ngon. Bố chịu khó đừng làm ồn, em nó giật mình!

Bố có làm ồn đầu, bố đi ngay ngắn thế mà! Bố phải đi bước đi ngay ngắn chứ, vì mấy đứa con gái bố chỉ chực buộc tội bố thôi mà! Khi thấy bố không về ăn cơm tối thì bé Lidơ bảo gì nào?

Không bảo gì cả! Em nó chỉ nhìn cái ghế bỏ trống của bố!

A! Nó nhìn cái ghế của bố?

Vâng.

Nhiều lần à? Nó có nhìn ghế của bố nhiều lần không?

Nhiều.

Rồi nó nói thế nào?

Đôi mắt em nói rằng bố không về.

Rồi thì em nó hỏi con vì sao bố không về và con nói với nó rằng bố ở chơi nhà mấy ông bạn, phải không?

Không, em nó không hỏi gì con hết, và con cũng không nói gì với em hết! Em nó biết rõ là bố ở đâu.

Nó biết ư? Nó biết rằng.. Bé đã vào buồng ngủ ngoan chứ?

Không đâu! Mãi nó mới ngủ, cách đây mười lăm phút thôi! Nó cứ muốn thức đợi bố.

Còn con, con muốn gì?

Con muốn em nó đừng thấy cái lúc bố về.

Êchiênnét, con có hiếu lắm! Này nhé, mai bố đến bác Luidơ, để rồi con xem! Bố hứa với con, con nghe chưa? Bố hứa từ nay bố sẽ về ăn tối với các con. Bố không muốn con phải chờ bố nữa, và bố cũng không muốn em Lidơ của con vật vã khi ngủ.

Nhưng những lời nguyền lời hứa không phải lúc nào cũng có hiệu lực và ông Acanh lại cứ về muộn mỗi khi ông nhận uống một cốc vang; ở nhà thì ông chiều Lidơ nhất nhất, rađi thì ông quên nó. Ông nói:

"Con biết không, không tiện từ chối bè bạn, người ta uống một cốc, không lấy làm nhiều cho lắm. Đã uống cốc thứ nhất thì lại uống cốc thứ hai, và lúc ấy bố đã kiên quyết không uống cốc thứ ba, nhưng chén trong kéo chén ngoài, đã uống thì càng thấy khát, vả lại rượu bốc lên đầu, đã ngà ngà thì quên hết ưu phiền, quên cả chủ nó. Mọi việc đều sáng sủa. Người ta thoát xác để đi chơi ở một thế giới khác, thế giới mong muốn. Và thế là người ta lại uống. Nó thế đấy."

Cũng phải nói rằng chuyện ấy không xảy ra thường xuyên. Vả lại mùa lọc yên chi cũng ngắn thôi, mùa qua rồi thì bác Acanh không vắng nhà nữa vì không có chuyện gì phải

Đi. Ông không phải là người la cà quán rượu, lười biếng tìm cách giết thời giờ.

Mãn mùa yên chi thì chúng tôi chuẩn bị những loại hoa khác. Lệ của người làm vườn là không để một tấc đất trống: Thứ cây này vừa đánh lên bán thì cây khác phải thay ngay vào.

Cái thuật của người trồng hoa bán chợ là ở chỗ mang hoa đến chợ đúng lúc cao giá nhất. Đó là lúc có những ngày lễ lớn trong năm: Lễ Thánh Pie, lễ Thánh Mari, lễ Thánh Lui. Những người đặt tên là Pie, là Mari, là Lui hay Luidơ thì nhiều lắm, cho nên số bó hoa, chậu hoa bán trong những ngày lễ đó để cho người ta mang đi chúc mừng bạn bè thân thuộc cũng không kể xiết. Mọi người đều thấy hôm trước ngày lễ trên các đường phố Pari tràn ngập những hoa, không những ở hàng hoa, ở chợ, mà còn ở vỉa hè, ở góc phố, ở bậc tam cấp các thềm nhà, ở nơi nào có thể bày bán được.

Sau mùa yên chi thì chúng tôi lo hoa cho các ngày lễ tháng bảy và tháng tám, nhất là tháng tám, trong đó có lễ thánh Mari và Thánh Lui. Chúng tôi sửa soạn hàng nghìn gốc cúc đại đóa, lục lạc, trúc đào, hễ lồng kính vườn nhà chứa được bao nhiêu thì trồng bấy nhiêu. Những gốc cây ấy phải ra hoa đúng hạn, nếu sớm quá thì tàn trước khi bán, muộn quá thì không nở kịp ngày lễ. Vì thế mà nghề trồng hoa đòi hỏi người ta phải có tài, bởi vì ai làm chủ được thời tiết nắng mưa? Bác Acanh là bậc thầy trong nghề hoa: Không bao giờ hoa của bác nở trước hay nở sau dịp lễ. Nhưng muốn được thế, phải tốn biết bao công sức và mồ hôi!

Năm ấy, mùa hoa xem chừng thuận lắm. Bấy giờ là ngày mùng năm tháng tám, các loại hoa của chúng tôi đều đã đến kỹ. Ở giữa trời, cúc đại đóa hé nụ để chực nở và dưới các mặt kính đã quét vôi rất đều để làm dịu bớt ánh sáng, lục lạc cũng bắt đầu trổ hoa. Nom các cây ấy giống như những bụi rậm hay những hình tháp điểm đầy nụ từ trên xuống dưới: Cảnh tượng trông đến đẹp mắt. Chốc chốc ông bố lại xoa tay đắc ý. Ông nói với hai cậu con: "Mùa hoa này tốt ra phết!" Và vừa mỉm cười ông vừa tính nhẩm số tiền bán lứa hoa kia.

Để đạt kết quả như vậy, chúng tôi đã phải vất vả bao nhiêu, phải làm việc luôn tay, không nghĩ một giờ một khắc nào, kể cả ngày chủ nhật. Bây giờ thì mọi việc đều làm đến nơi

Đến chốn, đâu vào đấy cả rồi. Để thưởng công cho chúng tôi bác Acanh quyết định ngày chủ nhật mồng năm tháng tám ấy thì cho cả nhà đi chơi và ăn tối ở nhà ông bạn của bác cũng làm vườn ở Áccơi. Cả con Capi cũng được dự. Chúng tôi sẽ làm việc đến ba bốn giờ chiều, xong đâu đấy thì chúng tôi sẽ khóa trái cửa cổng lại và vui vẻ lên đường. Như thế khoảng năm sáu giờ chiều, chúng tôi đến Áccơi. Ăn cơm xong sẽ quay về ngay để khỏi phải đi ngủ quá khuya. Vì ngày thứ hai phải dậy sớm, phải tươi tỉnh bắt tay vào công việc.

Vui này còn vui nào hơn?

Mọi việc tiến hành như đã định và đến bốn giờ kém vài phút thì ông bố khóa cửa lớn, phởn phơ nói:

Nào tất cả chúng ta! Lên đường đi thôi.

Capi tiến lên.

Tôi hô thế rồi dắt tay Lidơ chạy lên, con Capi chạy theo nhảy nhót quanh chúng tôi vừa sủa oang oang đắc chí. Có lẽ nó tưởng rằng chúng tôi sẽ đi lang thang lâu dài, nó thích cái đó hơn là cứ ở nhà mãi. Ở nhà, nó chán, nó buồn, bởi vì tôi không thể săn sóc nó luôn, mà nó thì ưng được săn sóc hơn hết.

Cả bọn chúng tôi đểu ăn mặc như ngày hội, đều bảnh bao trong những bộ quần áo đi ăn cỗ. Khách qua đường có kẻ ngoảnh đầu lại nhìn theo. Tôi thì tôi không biết hình dáng mình như thế nào, chứ còn Lidơ đội mũ rơm, mặc áo dài xanh, mang giày vải xám, Lidơ quả thật là cô bé đẹp nhất, linh hoạt nhất trên đời này. Đôi mắt, cái mũi phập phồng, hai vai, hai tay tất cả người em đều nói lên sự vui sướng.

Thì giờ đi qua nhanh đến nỗi tôi không thấy nó trôi qua. Chỉ biết rằng cuối bữa tiệc, một đứa trong bọn chúng tôi nhận thấy về phía tây, trời ùn lên nhiều đám mây đen. Vì bàn ăn bày giữa trời dưới tán là một cây dứt, chúng tôi nhận thấy ngay là có cơn dông sắp kéo tới. Bác Acanh bảo:

Các con, nhanh lên để về khu Gờlaxie. Nghe thế, cả bọn chúng tôi buột miệng:

Phải về rồi ư?

Lidơ không nói được nhưng ra hiệu chối từ và phản kháng. Ông bố nói:

- Gió mà thổi mạnh lên nữa thì có thể làm đổ cửa kính mất. Về đi thôi.

Rõ ràng là không có cách gì khự nự lôi thôi nữa. Chúng tôi đều biết rằng cửa kính là tất cả gia sản của người chủ vườn, nếu gió làm vỡ cửa kính thì sạt nghiệp. Bác Acanh nói:

Bố đi trước. Bănggiamanh, con đi với bố, và cả con nữa, Alơxi. Bố con mình phải rảo bước đi nhanh. Rêmi và Êchiênnét thì đi sau với Lidơ.

Rồi không nói thêm gì nữa, cha con họ ba chân bốn cẳng rảo bước đi. Còn chúng tôi thì đi theo sau, chậm hơn, vì chị Êchiênnét và tôi phải bước thong thả để Lidơ theo kịp. Chuyện này đâu phải là chuyện đùa, bởi vậy chúng tôi không chạy nhảy tung tăng nữa.

Trời mỗi lúc một mờ mịt thêm. Gió mỗi lúc một mạnh, cuốn bụi lên mù mịt, báo hiệu cơn dông đương đến rất nhanh. Mỗi khi bị cuốn vào một đám bụi lốc ấy, chúng tôi phải dừng lại, quay lưng về phía gió, lấy hai bàn tay bịt mắt vì bụi làm mờ cả mắt; cũng phải nín thở nữa, nếu thở thì trong miệng thấy như có cả cát. Sấm rền từng hồi ở nơi xa và chuyển đến gần nhanh lắm, tiếng rền lẫn với những tiếng nổ inh tai.

Chị Êchiênnét và tôi nắm tay Lidơ kéo đi. Nhưng em phải khó nhọc lắm mới theo kịp cho nên chúng tôi không đi nhanh được như ý muốn.

Chúng tôi có kịp về đến nhà trước cơn mưa hay không? Nhất là ông bố và Bănggiamanh, Alơxi có về kịp hay không? Đối với họ vấn đề có về kịp hay không quan trọng

Hơn đối với chúng tôi nhiều. Đối với chúng tôi, về kịp thì chỉ là khỏi ướt. Đối với họ, về kịp là cứu lồng kính khỏi bị hủy hoại. Vấn đề là chỗ đóng các cửa kính lại để gió khỏi luồn vào phía dưới và lật đổ các lồng.

Bấy giờ, sấm sét nổ liên hồi, và mây kéo dày đến nỗi trông như trời đã tối. Thỉnh thoảng gió xé mây đi để lộ ra đây đó vài mảnh trời sâu thẫm màu đồng đỏ giữa các đám mây đen. Rõ ràng là những đám mây ấy sắp vỡ toạc ra trong giây lát.

Có một điều rất lạ: Giữa tiếng sấm sét, chúng tôi nhận thấy có tiếng ầm ầm không rõ là tiếng gì đương xô về phía chúng tôi, nghe như tiếng vó ngựa của cả một trung đoàn kị binh chạy cơn dông. Nhưng đoán thế thì vô lý quá: Kị binh kéo đến khu phố này làm gì chứ!

Thình lình mưa đổ xuống. Thoạt đầu, vài hạt nhỏ đập vào mặt chúng tôi, rồi hầu như tiếp ngay theo đó là cả một trận rào rào như đá chạy. Chúng tôi ù té núp vào dưới một cái cửa lớn.

Trận mưa đá rào rào này kinh khủng không thể tưởng tượng. Chỉ trong chốc lát đường phố bị phủ trắng như giữa mùa đông. Đá to như trứng bồ câu, rơi xuống ào ào nghe choáng cả tai; giữa tiếng ào ào ấy thỉnh thoảng chen những tiếng kính vỡ loảng xoảng. Những hòn đá rơi trên mái nhà rồi mới tuột xuống thì mang theo đủ thứ linh tinh, nào là mảnh ngói, mảnh gạch, vôi vữa vụn, nào là mảnh đá lợp vỡ, nhất là đá lợp vỡ, làm thành từng đống đen sì trên mặt trắng của những hạt mưa đá. Chị Êchiênnét kêu:

- Thôi rồi! Còn gì lồng kính!

Tôi cũng nghĩ đến điều đó. Tôi nói:

Có lẽ bố đã về kịp.

Có về đến nhà trước khi mưa xuống thì cũng không đủ thì giờ mang tranh ra đậy các lồng kính. Phen này thì không còn gì nữa.

Người ta nói mưa đá chỉ rơi trong từng khoảng.

Nhà ta gần đây quá, chắc không thoát khỏi. Nếu ở vườn nhà mà cũng có mưa nặng như ở đây thì bố chúng ta sạt nghiệp mất. Ôi, trời ơi! Bố trông ở món tiền bán hoa biết chừng nào, bố cần số tiền đó lắm.

Tôi không biết rõ giá trị các thứ, nhưng tôi có nghe nói rằng mỗi một trăm cửa kính phải mua mất nghìn rưỡi hay nghìn tám trăm phờrăng.

Vì vậy tôi hiểu ngay rằng nếu mưa đá làm vỡ hết năm hay sáu trăm cửa kính của chúng tôi thì đó là một tai họa ghê gớm khó lòng cứu vãn, chưa kể những khung lồng và số cây hoa. Tôi muốn hỏi chị Êchiênnét, nhưng tiếng đá rơi ầm ầm inh tai, nghe được nhau rất khó, vả lại hình như chị Êchiênnét cũng không còn bụng dạ nào để chuyện trò. Chị nhìn mưa rơi vẻ mặt rầu rầu thất vọng, như người cháy nhà đương trông thấy nhà cửa của mình bị thiêu ra tro.

Cơn mưa rào khủng khiếp ấy đâu chỉ trong năm sáu phút thôi chứ không kéo dài. Nó dứt cũng đột ngột như nó đến. Mây bay về phía thành phố. Chúng tôi rời bỏ chỗ núp. Trên

Đường về, những hạt đá còn cứng lăn sào sạo dưới chân như đá cuội ở bờ bể. Lớp đá dày quá đến nỗi chân đi ngập đến mắt cá. Lidơ mang giày vải nên không đi trên những hòn đá lạnh ngắt ấy được, tôi phải cõng em. Gương mặt em lúc đi tươi vui là thế mà bây giờ thì trông ảo não, nước mắt ứa đầy tròng.

Một lát sau, chúng tôi về đến nhà, cổng vẫn để ngỏ. Chúng tôi chạy ngay vào vườn. Quang cảnh mới thảm hại làm sao! Cái gì cũng vỡ hết, nát hết. Nào là cửa kính, nàohoa, nào mảnh thuỷ tinh, nào hạt mưa đá, tất cả làm thành một bãi những thứ hỗn hợptrông ngổn ngang, không ra hình thù gì cả. Cái vườn buổi sớm nay phong phú, đẹp đẽ là như thế mà bây giờ chỉ còn là những thứ đổ nát không biết gọi là gì.

Còn bác Acanh thì ở đâu nhỉ?

Không thấy bác, chúng tôi chạy đi tìm và đến bên cái cổng lớn không còn một miếng kính nào nguyên vẹn. Bác ngồi ủ rũ trên một chiếc ghế đẩu, giữa cảnh vườn đổ nát. Alơxi và Bănggiamanh đứng bên cạnh, lặng yên. Nghe tiếng kính vụn kêu rào rào dưới gót giày, biết là chúng tôi đến, bác ngẩng đầu lên. Bác kêu:

Chao ôi! Các con ôi! Chao ôi! Các con đáng thương của ta ơi! Rồi bác ôm em Lidơ mà khóc sướt mướt không nói gì nữa.

Nói gì bây giờ? Rõ ràng đây là một tai họa. Nhưng tai họa trước mắt dù thế nào cũng

Chưa khủng khiếp bằng hậu quả của nó.

Chị Êchiênnét và các cậu em nói ngay cho tôi biết rõ vì sao ông bố tuyệt vọng đến thế. Ông đã mua khu vườn và dựng ngôi nhà này mười năm về trước. Chủ vườn đã cho ông vay vốn để mua công cụ trồng hoa. Tiền mua vườn cũng như tiền vay phải trả góp trong mười lăm năm. Cho tới lúc này, nhờ làm nhiều mà ăn tiêu dè xẻn, năm nào ông cũng trả đủ và đúng kỳ hạn. Điều đó hết sức cần, là vì chủ nợ chỉ chờ một cơ hội, nghĩa là chờ ông chậm trả để lấy luôn vườn, nhà, công cụ, và tất nhiên vẫn giữ số tiền trả mười năm qua. Chắc hẳn đó là thủ đoạn làm tiền của hắn: Hắn tính rằng trong mười lăm năm đằng đẵng, ắt cũng có một năm nào đó bác Acanh không thanh toán nổi, nên hắn mới bỏ vốn ra như thế. Trong sự mua bán này, tên chủ nợ nắm chắc đằng chuôi, còn người khách nợ bị đe dọa luôn luôn.

Cái ngày mà tên chủ nợ ao ước đã đến với trận mưa đá. Sự việc rồi sẽ ra như thế nàođây?

Chúng tôi không phải mất thì giờ băn khoăn cho lắm. Sau cái ngày kỳ hạn trả nợ một hôm thì một ông vận đồ đen đến nhà chúng tôi. Tôi trông ông không ra vẻ người thanh nhã lắm. Ông đem ra một tờ giấy có dán tem, viết mấy chữ trên dòng còn để trống rồi đưa ra cho chúng tôi.

Đó là một viên mõ tòa.

Tối hôm đó mà đi, ông ấy cứ đến mãi, đến nỗi biết hết cả tên chúng tôi. Mỗi lần đến, ông ta nói: "Chào chú Rêmi, chào chú Alơxi. Mạnh khỏe chứ cô Êchiênnét?" Rồi ông ta đưa tờ giấy có dấu và mỉm cười như đối với người bạn:

Thôi chào các cô chú!

Mời ông.. xéo đi!

Bác Acanh không hay ở nhà nữa. Bác đi phố luôn. Đi đâu, tôi không biết, vì khác với trước kia bác thường cởi mở, bây giờ bác chẳng nói nửa lời. Có lẽ bác đi tìm những người thừa biện, hay là ra tòa án.

Nghĩ đến ra tòa mà tôi phát sợ. Cụ Vitali cũng đã từng ra tòa và tôi đã được biết hậu quả thế nào rồi.

Đối với bác Acanh thì kết quả phải chờ lâu hơn nhiều. Một phần mùa đông đã trôi qua trong tình cảnh ấy. Tất nhiên là chúng tôi không chữa lồng, chữa khung, lắp mặt kính mới được; vì thế chúng tôi trồng rau củ và những thứ hoa không cần che đậy. Những thứ hoa ấy bán chả được mấy đồng. Nhưng làm thế cũng còn hơn ngồi không. Vả lại có công việc động tay động chân là tốt rồi.

Một tối nọ, bác Acanh về nhà, trông vẻ người lại càng buồn nản hơn những hôm trước. Bác nói:

- Các con! Thế là hết.

Tôi toan bước ra ngoài, vì tôi biết sắp có việc nghiêm trọng mà ông bố đã gọi con mà nói, thì có lẽ tôi không nên nghe. Nhưng ông đã đưa tay giữ tôi lại:

Cháu không phải là người nhà à? Kể ra thì cháu còn bé quá chưa đáng nghe việc này, nhưng cháu đã nếm đủ mùi cay đắng, chắc cháu đã hiểu. Các con ạ, bố sắp xa các con đây!

Cả bọn chúng tôi đều buột miệng kêu lên một tiếng đau đớn. Lidơ nhảy vào lòng bố, vừa hôn ông vừa khóc.

Chao ôi! Các con hẳn biết rằng không phải tự ý bố muốn rời bỏ những đứa con ngoan như các con đây, rời bỏ đứa con cưng như Lidơ của bố.

Ông nói đến đó thì ôm chặt Lidơ vào lòng.

Tòa xử bố phải trả nợ, nhưng vì bố không có tiền nên người ta sắp phát mại tất. Thế cũng chưa đủ nên người ta sẽ bỏ tù bố.

Bố phải ngồi tù năm năm. Không có tiền để trả nợ thì phải đem thân bố, đem sự tự do của bố mà trả.

Chúng tôi khóc ầm lên.

Ừ, cái việc ấy đáng buồn thật, nhưng biết làm sao bây giờ? Đó là luật pháp. Năm năm! Trong năm năm ấy thì các con sẽ ra sao? Ấy, đó là điều đáng lo nhất!

Yên lặng. Sau đó ông nói tiếp:

Các con chắc cũng đoán biết rằng bố hằng nghĩ đến điều đó. Bởi vậy đây là điều bố

Định làm để cho các con khỏi bị bơ vơ thất thểu sau khi bố bị bắt. Nghe thế tôi thấy lóe lên một chút hy vọng.

Rêmi sẽ viết thư cho cô của các con, cô Catơrin Xuyriô ở Đơrơđi, quận Nievơrơ. Nó sẽ trình bày tình cảnh chúng ta và yêu cầu cô đến. Cô Catơrin của các con đầu óc tỉnh táo lắm và cô thạo việc, bố và cô ấy sẽ bàn cách giải quyết ổn nhất cho các con.

Tôi viết thư lần này là lần đầu; lần đầu tiên viết thư mà phải viết những chuyện buồn như thế này thì khổ tâm thật.

Mặc dù ông bố nói mập mờ, chúng tôi cũng thấy có hy vọng. Trong tình cảnh chúng tôi mà còn có hy vọng thì cũng đã là nhiều lắm. Hy vọng gì? Chúng tôi chả biết, nhưng chúng tôi có hy vọng. Cô Catơrin sắp đến, cô Catơrin tính toán công việc giỏi, thế là đủ để hy vọng. Có cần gì hơn đối với những đứa trẻ dại dột, dốt nát như chúng tôi. Đối với những người tháo vát như cô Catơrin thì ở đời này có gì là khó?

Tuy vậy, cô Catơrin không đến sớm như chúng tôi tưởng, và bọn lính tòa án thương mại, nghĩa là bọn đi bắt con nợ, đã đến trước cô.

Hôm đó, bác Acanh định đến nhà một ông bạn. Tôi theo bác. Vừa ra đường thì gặp ngay bọn lính tòa, chúng vây quanh chúng tôi tức khắc. Bác Acanh không có ý định chạy trốn. Bác tái mặt đi, y như sắp chết. Giọng yếu ớt, bác yêu cầu bọn lính để cho bác hôn con. Một tên lính nói:

Đừng có sầu thảm qua đi như thế, ông bạn ạ. Ở tù nợ thì cũng chẳng đến nỗi khổ tâm lắm đâu! Ở đấy có những người tốt đấy!

Chúng tôi quay lại, có bọn lính đi kèm. Tôi ra gọi hai anh con trai của bác Acanh lúcấy đang ở ngoài vườn. Khi ba chúng tôi vào nhà thì thấy ông bố đã ôm Lidơ trong lòng và em khóc sướt mướt.

Bấy giờ một người lính ghé miệng vào tai ông nói cái gì tôi không nghe rõ. Chỉ thấyông bô đáp: "Vâng, ông nói đúng. Đành phải thế!"

Đột nhiên ông đứng lên và nhấc em Lidơ để xuống. Lidơ bám chặt lấy ông, không chịu buông tay ông. Ông hôn Êchiênnét, Alơxi, và Bănggiamanh. Tôi đứng trong một góc phòng, mắt nhòa lệ. Ông gọi tôi: "Còn cháu Rêmi, sao cháu không lại hôn bác? Cháu không là con bác à?"

Cả mấy đứa chúng tôi đều như mất hồn. Giọng cứng rắn, báo Acanh nói:

Cứ ở yên đấy! Lệnh của ông bố là như thế đấy!

Thế rồi bác gỡ bàn tay Lidơ đặt vào tay chị Êchiênnét và bước nhanh ra cửa. Tôi định đi theo bác nên bước lại phía cửa, nhưng chị Êchiênnét khoát tay bảo tôi dừng lại.

Theo bác để đi đâu? Và rồi để làm gì?

Chúng tôi đứng ngẩn người giữa nhà bếp, cả mấy đứa đều khóc, không đứa nào nói lên một lời.

Nói lời gì nữa chứ?

Chúng tôi đều biết sớm muộn ông Acanh cũng bị bắt, nhưng chúng tôi tưởng lúc đó thì đã có cô Catơrin. Cô Catơrin là sự chở che, sự đùm bọc. Nhưng cô không đến.

Ông Acanh đi độ một tiếng đồng hồ, cô mới đến. Cô tìm thấy chúng tôi tụm hết dưới nhà bếp, không nói không rằng. Cái người bấy lâu nay nâng đỡ chúng tôi giờ đây cũng tê liệt rồi: Chị Êchiênnét cứng cỏi, kiên cường là thế mà giờ phút này cũng trở nên yếu đuối như chúng tôi. Chị không cổ vũ chúng tôi nữa. Yếu mềm không phương hướng, chìm đắm trong đau thương, chị chỉ gắng gượng để vỗ về em Lidơ thôi. Người hoa tiêu đã ngã xuống biển, con tàu không người lái, không hải đăng chỉ đường, không có gì để đưa vào bến. Mà biết có bến không? Chúng tôi là một lũ bé con lạc lối giữa biển đời bát ngát, lênh đênh theo chiều gió, không biết hành động thế nào, không có một ý định gì, trí hoang mang, lòng tuyệt vọng.

Cô Catơrin quả là một người đàn bà cừ, một người đầy sáng kiến và nghị lực. Cô đã từng làm vú sữa ở Pari năm lần. Cô biết các khó khăn trong cuộc sống, và cô cũng biết chống đỡ như cô nói.

Được cô chỉ huy, được làm theo lệnh cô, chúng tôi có phần nào yên dạ. Chúng tôi đã có người dìu dắt, đầu gối hết khuỵu.

Đối với một phụ nữ nông dân nghèo vô học thì đây là một trách nhiệm nặng nề có thể làm sờn gan những người quả cảm nhất. Một tốp trẻ mồ côi đứa đầu chưa tới mười bảy, đứa út thì câm! Xếp đặt chúng nó thế nào đây? Làm sao nuôi chúng nổi khi chính mình cũng phải vất vả bao nhiêu mới kiếm đủ cái sống hàng ngày.

Cô đã từng nuôi con cho một viên quản khế. Cô đến hỏi ý kiến ông ta và bàn bạc cùng ông ta để định đoạt về chúng tôi. Sau đó, cô đến bàn với bác Acanh ở nhà lao. Đến Pari tám hôm mà cô không hề nói với chúng tôi ý định và hoạt động của cô. Đến hôm thứ chín, cô cho chúng tôi biết những điều đã quyết định.

Vì chúng tôi còn bé quá không thể tự làm ăn một mình nên mỗi đứa phải đi về ở với những cô, bác nào sẵn lòng cáng đáng. Lidơ sẽ về ở với cô Catơrin ở miền Moócvăng. Alơxi về nơi ông chú làm thợ mỏ ở Vácxơ trong vùng núi Xêven. Bănggiamanh thì về với một ông chú làm vườn ở Xanh Căngtanh. Chị Êchiênnét đến ở với bà cô có chồng ở vùng biển tỉnh Sarăngtơ, làng Étxơnăng. Tôi chăm chú nghe nói về những sự xếp đặt ấy, đợi đến lượt mình. Nhưng vì cô Catơrin không nói nữa, tôi bước tới hỏi:

Còn cháu thì thế nào, thưa cô?

Cháu à, cháu có phải là người trong gia đình đâu!

Cháu sẽ đi làm cho cô.

Cháu không phải là con cái trong nhà.

Cô thử hỏi Alơxi, hỏi Bănggiamanh xem cháu làm việc có hăng không?

Và ăn cũng hăng đúng không?

Đúng, đúng. - Tất cả các anh chị Lidơ đồng thanh nói. - Rêmi là anh em trong nhà.

Lidơ bước tới trước mặt cô Catơrin, chắp tay lại. Cái chắp tay ấy hùng hồn hơn bao

Nhiêu lời van xin kể lể.

Cháu bé tội nghiệp của cô ơi, - cô Catơrin nói, - cô hiểu ý cháu lắm, cháu muốn anhấy đi với cháu. Nhưng cháu biết không, ở đời đâu có dễ muốn thế nào thì làm được thế ấy. Cháu là cháu ruột của cô, khi về nhà nếu chú ấy có nói tiếng gì không phải, hoặc có sa mày sa mặt lúc ngồi vào bàn ăn thì cô nói: "Nó là ruột rà của tôi, nếu vợ chồng mình không thương thì ai thương?" Đó, chỉ nói một câu ấy là đủ. Và cái chuyện đó giữa vợ chồng nhà cô thì ở ông chú tại Xanh Căngtanh, ông chú tại Vácxơ hay bà cô tại Étxơnăng cũng y hệt. Người ta nhận con cháu, người ta không nhận người dưng. Nội gia đình nhà người ta thôi cái ăn cũng đã khó khăn lắm rồi có đâu để cho mọi người.

Tôi cảm thấy rằng không có cách gì, không nói thêm được gì nữa. Cái việc cô ấy nóiđúng quá. Tôi không phải ruột thịt trong nhà, tôi không có quyền đòi hỏi gì! Vật nài nữa chẳng hóa ra ăn xin ư? Tuy nhiên, dù có là ruột thịt chăng nữa, dễ tôi có thể thương yêu họ hơn thế này hay sao? Alơxi, Bănggiamanh dễ không là anh em ruột của tôi ư? Còn Êchiênnét và Lidơ chưa phải là chị và em ruột tôi sao? Tôi chưa yêu họ đúng mức chăng? Hay là Lidơ chưa yêu quý tôi ngang với Bănggiamanh và Alơxi?

Hễ đã quyết định cái gì thì cô Catơrin thi hành ngay, không để trì hoãn. Cô báo cho chúng tôi biết là ngay ngày hôm sau chúng tôi phải chia tay nhau, thế rồi cô bảo chúng tôi đi ngủ. Vừa về tới phòng riêng của chúng tôi thì mọi người xúm xít quanh tôi, còn Lidơ bá cổ tôi mà khóc. Tôi hiểu rằng tuy họ buồn sắp phải xa nhau, nhưng họ nghĩ đến tôi hơn hết, họ ái ngại vì tôi. Điều đó làm cho tôi cảm thấy rằng họ coi tôi là anh em trong gia đình. Bấy giờ, trong đầu óc rối ren của tôi bỗng nảy ra một sáng kiến. Nói cho đúng - hay dở gì thì cũng đều nên nói ra - vì sáng kiến ấy xuất phát từ con tim rồi mới dâng lên khối óc. Tôi nói:

Này, các anh chị ơi, tôi biết rõ rồi, tôi biết rằng mặc dù các cô chú không bằng lòng nhận tôi, các anh chị vẫn coi tôi như ruột thịt.

Đúng rồi, - Cả ba đều nói một lượt, - Rêmi mãi mãi là anh em của chúng tôi.

Lidơ không nói được thì siết chặt tay tôi tỏ ý đồng tình và nhìn tôi bằng đôi mắt vời vợi làm cho tôi cảm động tràn nước mắt.

Thế thì vâng! Tôi sẽ làm em của các anh các chị, và tôi sẽ chứng tỏ điều đó.

Cậu định xin làm ở đâu? - Bănggiamanh hỏi.

Ở đằng ông Pécnuy có một chân khuyết. - Chị Êchiênnét nói. - Em có muốn, sáng mai chị đến xin chỗ ấy cho em không?

Em không muốn làm mướn. Có chỗ làm thì phải ở lại Pari, không gặp mấy anh chị và em Lidơ nữa. Em định lấy chiếc thụ cầm xuống, khoác lại tấm áo da cừu, đi từ Xanh

Căngtanh đến Vácxơ, rồi từ Vácxơ đến Étxơnăng và từ Étxơnăng đi Đơrơđi. Thế là em sẽ

Được gặp lại tất cả các anh chị, lần lượt hết người này đến người khác, và qua em anh chị cũng như là sum họp với nhau. Em vẫn chưa quên những bài hát, những điệu nhảy. Thế là em sinh sống được rồi.

Nhìn thấy vẻ mặt hân hoan của mọi người, tôi biết rằng sáng kiến của tôi thể hiện cả mơ ước của họ nữa, và trong cảnh buồn rầu tôi vẫn cảm thấy phấn khởi.

Chúng tôi nói chuyện với nhau mãi về dự định ấy, chuyện chia phôi, sum họp, về dĩ vãng, về tương lai. Rồi chị Êchiênnét buộc mọi người đi ngủ. Nhưng đêm ấy không ai ngủ yên cả, ai cũng thao thức, tôi lại càng thao thức hơn.

Ngày hôm sau, vừa tang tảng sáng, Lidơ đã rủ tôi ra vườn. Tôi biết em muốn nói gì.

Em muốn nói chuyện với anh à?

Lidơ gật đầu.

Em buồn vì chúng ta phải xa nhau chứ gì? Điều ấy Lidơ không cần nói, anh đã đọc thấy mắt em và cũng nghe thấy trong tim anh.

Em ra hiệu bảo rằng không phải em muốn nói điều ấy.

Chỉ nửa tháng nữa sẽ có anh ở Đơrơđi.

Lidơ không muốn anh về Đơrơđi à?

Thường thường tôi mò ý em bằng câu hỏi và em trả lời bằng cách ra hiệu, đúng thì ra hiệu bảo đúng, sai thì bảo sai.

Lidơ ra hiệu rằng em thích tôi đến Đơrơđi. Nhưng lại chỉ tay về ba hướng khác nhau, em cho tôi biết rằng, tôi phải đến ba anh chị của em trước.

Em muốn anh đi Vácxơ, Étnăngxơ và Xanh Căngtanh trước? Em cười sung sướng vì tôi đã hiểu được ý em.

Tại sao vậy? Anh, anh muốn đi thăm em trước.

Tức thời em dùng tay, dùng môi, nhất là dùng đôi mắt hùng biện, em đã làm cho tôi hiểu lý do tại sao em lại yêu cầu như thế. Tôi xin thuật lại lời giải thích của em như thế này:

Để em được biết tin tức của chị Êchiênnét, anh Alơxi, và anh Bănggiamanh, thì anh hãy đi thăm các anh chị ấy trước. Sau đó anh sẽ đến Đơrơđi để thuật lại cho em nghe những

Điều anh trông thấy và những điều các anh chị ấy nói với anh.

Ôi! Lidơ yêu quý!

Cô Catơrin định tám giờ sáng thì chị em Êchiênnét lên đường. Cô đã thuê một cỗ xe ngựa lớn để đưa họ cùng đi chào ông bố một lượt ở nhà lao. Sau đó, xe sẽ đưa từng người một cùng hành lý đến nhà ga nào cần phải đến để lên tàu về nơi dự định.

Lúc bảy giờ sáng chị Êchiênnét cũng gọi tôi ra vườn. Chị nói:

Chị em ta sắp phải xa nhau. Chị muốn tặng em một vật kỉ niệm. Em hãy giữ cái hộp khâu này trong ấy có kim, chỉ và một cái kéo của chị do người cha đỡ đầu của chị cho. Dọc

Đường, em cần các thứ đó bởi vì em có toạc một miếng quần hay đứt một cái cúc thì cũng không có chị ở đó để vá lại, đính lại cho em đâu. Em dùng kéo của chị, em sẽ nhớ đến mấy chị em nhà này.

Trong khi chị Êchiênnét nói chuyện với tôi thì Alơxi lảng vảng quanh đấy. Chị ấy vào nhà rồi, tôi còn dừng lại ngoài vườn chưa hết cảm động thì Alơxi đã đến bên tôi, nói:

Mình có hai đồng năm phờrăng, nếu cậu vui lòng nhận lấy một thì mình thú lắm.

Trong năm đứa chúng tôi, chỉ có Alơxi là chú ý tới tiền bạc, chúng tôi luôn chế nhạoanh ấy về tật ky cóp.

Anh chắt chiu từng xu và coi việc dành dụm được những đồng hào mới tinh là một hạnh phúc. Anh cứ mang theo những đồng hào mới của anh ra đếm đi đếm lại trong bàn tay để cho nó lấp lánh dưới ánh mặt trời, để nghe những tiếng leng keng một cách lý thú.

Đề nghị của Alơxi làm cho tôi xúc động lạ thường. Tôi muốn từ chối nhưng anh năn nỉ mãi và giúi vào tay tôi một đồng năm phờrăng sáng loáng. Qua cử chỉ ấy tôi biết rằng cảmtình của Alơxi đối với tôi rất sâu sắc bởi vì nó đã thắng sự thiết tha của anh đối với cái kho của nho nhỏ kia.

Bănggiamanh cũng không quên tôi. Anh ấy cũng muốn cho tôi một món quà. Anh cho tôi con dao của anh nhưng bắt tôi phải trả một xu để cho có vẻ mua bán, bởi vì bạn bè không tặng dao cho nhau, sợ "dao cắt đứt tình bạn".

Thời gian đi nhanh quá! Chỉ còn mười lăm phút nữa thôi! Rồi thì năm phút. Chỉ còn năm phút nữa là chúng tôi chia tay nhau. Rồi ra Lidơ còn có nhớ đến tôi không?

Lúc nghe thấy tiếng xe ngựa ầm ầm chạy tôi thì Lidơ ở trong buồng cô Catơrin chạy ra và ra hiệu cho tôi theo em ra vườn.

Lidơ! - Cô Catơrin gọi.

Lidơ không đáp. Em cứ việc đi nhưng bước nhanh hơn.

Trong vườn những người trồng hoa, trồng rau củ, cái gì cũng không bằng cái ích lợi thực tế: Người ta không chừa chỗ cho cây cảnh đâu!

Tuy vậy trong vườn chúng tôi có một cây hồng bănggan không bị nhổ đi vì mọc ở một xó.

Lidơ xăm xăm đi tới cây hồng cắt lấy một cành rồi quay lại tôi, em cắt cành ấy làm hai nhánh mỗi bên có một nụ hoa hàm tiếu và đưa cho tôi một.

Ôi! Cái thứ ngôn ngữ của miệng lưỡi có nghĩa lý gì đâu bên cạnh cái ngôn ngữ của khóe mắt! Ôi! Những lời những tiếng so với cái trông cái nhìn bây giờ tôi mới thấy nó nhạt nhẽo, trống rỗng làm sao?

Bà cô gọi: "Lidơ ơi! Lidơ!"

Hành lý đã đưa lên xe cả rồi.

Tôi với lấy cây đàn và gọi con Capi. Con Capi mừng rỡ nhảy cỡn lên khí thấy cây đàn và bộ đồ nghệ sĩ du phương của tôi ngày xưa. Bộ đồ ấy đối với nó quen thuộc lắm. Có lẽ nó hiểu rằng nó với tôi sẽ lên đường đi lang thang trở lại và như thế là nó được chạy nhảy tự do, cái ấy thích hơn là ở lỳ trong bốn bức tường.

Giờ phút chia tay đã đến. Cô Catơrin không để cho nó kéo dài. Cô bảo chị Êchiênnét lên xe rồi Alơxi, Bănggiamanh. Đến lượt Lidơ, cô bảo tôi đỡ em lên đùi cô.

Rồi, vì tôi đứng ngẩn người, cô ấy nhẹ tôi và đóng cửa xe.

Tôi thét:

Các anh chị hãy hôn bác hộ cho tôi với, vì..

Nói đến đó tôi ấm ức nghẹn lời. Cô Catơrin bảo:

Ta đi đi thôi.

Và cỗ xe chạy đi.

Cửa kính hạ thấp. Qua màn nước mắt, tôi nhìn thấy Lidơ thò đầu ra ngoài vừa đưa tay gửi cho tôi một cái hôn. Thế rồi cỗ xe nhanh chóng rẽ vào con đường ngoặt và tôi chỉ còn thấy một đám bụi tung trời.

Thế là hết.

Tựa vào cây đàn, con chó Capi ở bên chân, tôi thẫn thờ nhìn làn bụi từ từ rơi xuống đường.

Một người hàng xóm đến nhận chìa khóa, đóng cửa nhà lại và giữ chìa khóa hộ chủ nhà. Người ấy kéo tôi ra khỏi tình trạng thẫn thờ, đưa tôi về với thực tại.

Ông ta hỏi:

Chú bé định đứng đây mãi à?

Không, tôi đi đây.

Đi đâu?

Cứ đi tới phía trước, đến đâu hay đó.

Nếu chú muốn ở lại đây thì tôi sẽ nuôi chú, nhưng không tiền công bởi vì chú hãy còn chưa đủ sức. Sau này thì khác.

Tôi từ chối. Ông nói:

Tùy thích chú. Tôi nói đó là vì muốn giúp ích cho chú thôi. Thôi chú lên đường mạnh khoẻ.

Rồi ông ta đi mất.

Xe đi rồi. Nhà cũng đóng cửa.

Tôi choàng cái dây đeo đàn qua vai, cử chỉ ấy, ngày xưa con Capi trông đã quen mắt lắm nên bây giờ nó chú ý. Nó đứng lên đưa cặp mắt sáng ngời nhìn tôi.

"Ta đi đi thôi! Capi!"

Capi đã hiểu. Nó vừa nhảy lên, vừa sủa oang oang trước mặt tôi.

Tôi quay mặt đi để khỏi nhìn cái nhà tôi đã ở hai năm và tưởng là sẽ ở mãi. Tôi trông thẳng về phía trước.

Mặt trời đã lên cao. Trời rất trong, thời tiết nắng ấm. Cảnh này khác xa cái đêm giá buốt mà tôi ngã xuống kiệt sức và đói lả ở chính chân tường kia.

Hóa ra hai năm qua chỉ là một chặng thời gian đỗ tạm. Bây giờ lại đến lúc lên đường. Nhưng thời gian đỗ tạm này đã có ích cho tôi. Nhờ nó tôi đã khỏe lên. Và có cái đáng

Quý hơn sự rắn chắc của chân tay nữa, đó là cái tình yêu thương tôi cảm thấy ở trong lòng. Tôi không lẻ loi ở trên đời nữa.

Đời tôi đã có mục đích: Giúp ích những người yêu thương mình và được mình yêu thương và làm vui lòng họ.

Một cuộc đời mới mẻ đang mở ra trước mắt tôi. Tôi hồi tưởng hình ảnh cụ Vitali và tôi tự nhủ: "Nào! Hãy tiến lên!".
 
15,989 ❤︎ Bài viết: 1929 Tìm chủ đề
Chương 22: Tiến lên

Tiến lên!

Thế giới mở rộng trước mắt tôi, tôi có thể dời chân xuống Nam hay lên Bắc, sang Đông hay qua Đoài tùy lòng.

Tôi chỉ là một đứa trẻ con, thế mà tôi đã làm chủ cuộc đời của tôi.

Than ôi! Chính cái chỗ ấy lại là chỗ đáng buồn trong cảnh ngộ tôi.

Biết bao nhiêu đứa trẻ tự nhủ: "Ôi chao! Giá ta được tự ý làm cái gì thì làm tùy thích! Giá ta được tự do! Giá ta làm chủ lấy ta!". Biết bao nhiêu đứa sốt ruột trông cho mau tới cái ngày tuyệt sướng ấy, cái ngày mà nó được tự do, làm những điều dại dột!

Tôi thì tôi lại tự bảo: "Chao ôi! Ước gì có người để chỉ bảo ta, hướng dẫn ta!" Là vì giữa những đứa trẻ ấy với tôi có một sự khác nhau ghê gớm.

Nếu là đứa trẻ ấy làm điều dại dột thì sau lưng chúng có người đưa tay ra cho chúng níu khi chúng trượt, đỡ chúng khi chúng ngã. Còn tôi, dằng sau tôi không có ai cả. Nếu tôi ngã thì nhất định tôi phải lăn tuồn tuột đến cuối dốc rồi lúc đó mới lóp ngóp bò dậy một mình, nếu may mà chưa gãy xương. Mà việc gãy xương rất dễ xảy ra cho tôi. Tôi có đủ kinh nghiệm để nói như vậv. Mặc dù còn nhỏ, tôi đã qua nhiều thủ thách trong hoạn nạn, bởi vậy tôi thận trọng và khôn ngoan hơn phần nhiều đứa trẻ cùng lứa tuổi tôi. Cái phần hơn ấy tôi đã mua bằng một giá khá đắt.

Trước khi lao vào con đựờng rộng mở trước mắt. Tôi định hỏi ý kiến bác Acanh là người đã coi tôi như con đẻ mấy năm lại đây. Dù cô Catơrin không đem tôi cùng đi với các anh chị ấy đến chào bác, thì một mình tôi cũng có thể, và có bổn phận đến hôn bác.

Tôi chưa hề đến nhà lao giam con nợ, nhưng lâu nay nghe nói đến nó nhiều quá, tôi tin rằng thế nào cũng tìm ra.

Tôi sẽ đến nhà thờ Mađơlen, con đường ấy tôi biết quá rõ, đến nhà thờ tôi sẽ hỏi thăm đường đến nhà lao. Cô Catơrin và mấy anh chị ấy đã vào thăm ông bố được thì chắc họ cũng cho phép tôi vào. Tôi có gì khác họ, tôi đã làm con ông ấy, và ông ấy đã từng yêu quý tôi như con.

Tôi không dám đi suốt Pari với con chó Capi lơn tơn bên gót, bởi vì nếu các ông cảnh sát hỏi thì tôi biết trả lời làm sao? Trong mọi nỗi sợ hãi mà tôi đã trải qua, sợ cảnh sát là nỗi sợ lớn hơn cả. Tôi không quên vụ Tuludơ. Tôi kiếm chiếc dây đai buộc cổ con chó. Nó ức về việc ấy lắm bởi vì nó có lòng tự ái của một con chó thông thái được giáo dục. Tôi dòng dây dắt nó theo để đi tìm nhà lao Cơlisi. Trên đời này có những cái buồn lắm hễ trông thấy là phải có ý nghĩ u ám. Tôi chưa từng biết thứ gì xấu xí và buồn hơn cái cửa ngục.

Tôi đứng lại một lát không dám vào nhà ngục ngay, hình như sợ rằng sẽ bị nhốt lại trong đó và cái cửa gớm ghiếc kia một khi đã khép ập lại sau lưng tôi thì sẽ không mở ra nữa.

Trước đây tôi chỉ hình dung ra khỏi một nhà ngục thì khó khăn lắm, nhưng tôi không nghĩ rằng vào ngục cũng không dễ. Bây giờ thì tôi đã rõ, nhưng biết được điều ấy phải khó nhọc bao nhiêu.

Tuy vậy, vì tôi không nản lòng, không chịu về không, cho nên cũng đến được với người tôi muốn thăm.

Người ta đưa tôi vào một cái phòng khách không có cửa sắt, không có chấn song sắt như tôi hằng tưởng tượng và giây lát sau thì bác Acanh đến, cũng không bị xích tay xiềng chân. Bác nói:

- Bác mong cháu đến, Rêmi ạ, và bác đã trách cô Catơrin sao không đưa cháu đến với mấy anh chị em nó.

Từ sớm nay tôi buồn bã, ỉu xìu, câu nói của bác làm tôi phấn khởi. - Cô Catơrin không muốn đem cháu theo.

- Tội nghiệp cháu tôi. Nhưng cái ấy khó quá cháu ạ. Ở đời có phải muốn gì thì làmđược nấy đâu! Bác tin chắc rằng được về đấy thì cháu hết lòng làm lụng để bảo đảm cơm áo cho cháu. Nhưng cái không giải quyết được là chú Xuyriô chồng cô Catơrin không thể tìm ra công việc làm cho cháu. Chú ấy coi cống ở sông đào Nivécne, mà cháu biết, những người thợ cống thì mướn người trồng hoa làm gì! Lũ trẻ nói cháu muốn trở lại cái nghề hát rong. Vậy ra cháu quên rằng năm xưa cháu suýt chết rét, chết đói ở cổng nhà bác rồi hay sao?

- Không, cháu không quên!

Thế mà lúc ấy cháu không phải một thân một mình, cháu có một ông chủ dìu dắt cháu kia đấy. Cháu à, cái việc cháu định làm nó nguy hiểm lắm: Bé bỏng như cháu mà một mình lang thang trên con đường ngàn dặm!

Cháu có con Capi.

Như thường lệ, con Capi nghe đến tên nó thì sủa lên một tiếng như để bảo: "Có mặt! Nếu các ngài cần tới thì có tôi đây!"

Ừ! Capi là một con chó có nghĩa, nhưng dầu sao nó cũng chỉ là một con chó thôi. Cháu sẽ sinh sống bằng cách nào?

Cháu đi hát, còn con Capi thì diễn trò.

Capi làm sao diễn trò một mình được?

Cháu sẽ tập cho nó làm xiếc. Chú sẽ tập được những trò tôi muốn, phải không chú

Capi?

Capi để tay lên ngực.

Tóm lại, cháu ạ. Cháu đi làm thuê là khôn hơn hết. Cháu đã là một người thợ giỏi, đi làm lang thang đây đó, cái nghề lang thang ấy là nghề của bọn lười biếng.

Cháu không phải là đứa lười, cái đó thì bác biết. Tất bác chưa bao giờ nghe thấy cháu phàn nàn công việc quá nhiều. Nếu làm với bác thì bao nhiêu cháu cũng làm. Và sẽ ở mãi với bác. Nhưng cháu không muốn làm thuê cho người khác.

Hình như tôi nói mấy câu này một cách khác biệt thế nào ấy. Bác Acanh nhìn tôi không nói. Cuối cùng bác bảo:

Cháu có kể lại rằng lúc cháu chưa biết tông tích ông cụ Vitali thì cũng đã nhiều lần cháu ngạc nhiên về cách ông cụ nhìn người ta, về cái tư thế của ông cụ, nó hầu như nói lên rằng ông cụ là người sang trọng. Cháu có biết rằng cháu cũng có cái dáng điệu ấy không? Cháu không muốn làm thuê cho người ta? Thôi thì cũng tùy cháu. Bác nói những cái ấy vì lợi ích của cháu, không vì gì khác đâu, cháu nên tin thế. Bác nghĩ rằng bác có bổn phận phải phân giải điều hơn lẽ thiệt cho cháu nghe, thế thỏi. Còn tự cháu làm chủ cuộc đòi của cháu, vì cháu không có cha mẹ và bác cũng không làm bố cháu được nữa rồi. Một người khốn khổ đáng thương như bác đâu có quyền khiến bảo ai?

Những điều bác Acanh nói làm tôi băn khoăn lo nghĩ hết sức, nhất là vì tôi cũng đã tự nhủ như thế, nếu không y nguyên văn thì cũng gần gần.

Phải, một thân một mình thui thủi khắp đó đây là một điều rất nguy hiểm. Tôi cảm thấy cái đó, thấy rất rõ. Tôi đã sống cuộc đời nay đây mai đó, đã sống những đêm như đêm mấy con chó của chúng tôi bị sói bắt ăn thịt hay là đêm đi tìm mỏ đá Giăngtili. Tôi đã sống những ngày vừa đói vửa rét. Tôi đã bị xua đuổi hết làng này qua làng khác, một xu cũng không kiếm nổi trong cái thời gian cụ Vitali bị bỏ tù. Tôi biết rất rõ những nỗi hiếm nghèo, những cảnh khốn khổ trong cuộc sống phiêu lưu ấy, một cuộc sống không phải chỉ có ngày mai là bấp bênh mà cả đến ngày hôm nay cũng không có gì bảo đảm.

Nếu tôi từ bỏ cuộc sống ấy, thì tôi chỉ có một con đường: Đi làm mướn như bác Acanh đã chỉ cho. Nhưng từ bỏ cuộc sống giang hồ thì không giữ được lời hứa với chị Êchiênnét, với Alơxi, Bănggiamanh và Lidơ, nghĩa là bỏ mặc chị em họ. Nói cho đúng thì chị Êchiênnét, Alơxi và Bănggiamanh cũng không cần tôi cho lắm vì họ có thể viết thư cho nhau. Nhưng còn Lidơ? Lidơ không biết viết, cả bà cô Catơrin cũng vậy. Nếu tôi mặc Lidơ, thì nó sẽ bị quạnh hiu. Rồi nó sẽ nghĩ về tôi như thế nào? Chắc nó chỉ nghĩ một điều là tôi không yêu nó nữa, nó, cái cô bé đã tỏ ra tha thiết bao nhiêu với tôi và đã khiến cho tôi khôn xiết vui sướng. Cái đó không thể được.

Thế bác không muốn cháu đem tin các anh chị và em Lidơ đến cho bác ư?

Chúng nó có nói với bác chuyện ấy. Bác không nghĩ tới gia đình nhà bác khi khuyên cháu từ bỏ cái nghề hát rong. Không bao giờ nên nghĩ đến mình trước khi nghĩ đến người khác.

Thưa bác chính thế, và chắc bây giờ bác thấy rằng chính bác đã chỉ cho cháu cáiđiều phải làm: Nếu cháu xóa bỏ lời cam kết của cháu vì sợ những sự hiểm nghèo mà bác nói thì ra cháu chỉ nghĩ đến mình, chứ không nghĩ đến bác, đến các anh chị và em Lidơ.

Bác Acanh lại nhìn tôi, lần này lâu hơn. Rồi đột nhiên bác nắm hai tay tôi:

Này cháu ạ, bác phải hôn cháu một cái mới được, vì câu nói ấy. Cháu là người có tình có nghĩa. Đúng là cái đó không cần phải lớn tuổi mới có.

Chỉ có bác và tôi ở trong phòng khách ngồi bên cạnh nhau trên chiếc ghế dài. Tôi ngả vào tay bác. Bác lại nói:

Bác chỉ nói với cháu một lời này nữa thôi, là "Cầu trời phù hộ cho cháu, cháu thân

Mến!"

Cả hai chúng tôi ngồi im lặng một lúc. Nhưng thì giờ trôi qua, và sắp đến lúc phải chia tay.

Bỗng bác Acanh móc trong túi áo gilê ra một chiếc đồng hồ quả quýt lớn có sợi dây da mỏng đính vào khuyết áo. Bác nói:

Không thể nào bác cháu chúng ta xa nhau mà cháu không nhận của bác một vật kỷ niệm gì. Cái đồng hồ của bác đây, bác biếu cháu. Nó không phải là của quý vì cháu cũng biết, nếu là vật có giá trị thì bác đã bán lâu rồi chứ còn đâu nữa. Nó chạy cũng không tốt lắm nữa, thỉnh thoảng phải vặn lại. Dẫu sao đó cùng là tất cả gia tài của bác hiện nay, vì vậy bác biếu cháu.

Bác nói thế rồi đặt đồng hồ vào tay tôi. Thấy tôi tỏ ý không muốn nhận món quà quý giá ấy, bác buồn rầu nói thêm:

Cháu thừa hiểu rằng ở đây bác có cần xem giờ làm gì đâu. Xem giờ càng thấy thời giờ đi chậm. Nếu ngồi đếm từng phút từng giờ thì bác chết mất. Thôi chào cháu, cháu bé Rêmi. Nào, hôn bác lần nữa đi. Cháu là một chú bé tốt. Cháu nhớ giữ cho được mãi mãi như thế.

Việc gì đã xảy ra trong giờ phút ấy? Bác cháu chúng tôi đã nói với nhau những gì, tôi không nhớ rõ, bởi vì tôi xúc động quá. Tôi nhớ mang máng ràng bác đã cầm tay tôi dắt ra cửa.

Bây giờ hồi tưởng lại cái phút chia tay ấy, tôi chỉ nhớ cái cảm giác ngẩn ngơ trống trải trong tâm hồn.

Hình như tôi đứng lâu, rất lâu trên đường phố trước cổng nhà lao, mãi không biết đi chiều này hay chiều kia. Có lẽ tôi đứng đó đến tối mất nếu tay tôi không vô tình chạm phái một vật gì tròn và cứng trong túi áo.

Tự nhiên như cái máy và cũng chẳng biết mình làm gì, tôi sờ soạng vật ấy. Hóa ra cái đồng hồ của tôi.

Cái đồng hồ của tôi! Buồn bã, lo ngại, hãi hùng đều tiêu tan tức khắc, cái thằng trẻ con ở trong tôi chỉ còn nghĩ đến chiếc đồng hồ. Tôi có một cái đồng hồ, một cái dồng hồ của riêng tôi, đang nằm trong túi áo tôi, tôi muốn xem giờ lúc nào cũng được! Tôi rút dồng hồ ra xem giờ đây: Đúng trưa. Đúng trưa hay là mười giờ, hay là ba giờ chiều đi nữa, cái đó đối với tôi có ích gì. Nhưng tôi vẫn cứ sung sướng vì biết là đúng trưa. Tại sao thế? Hỏi thì chắc tôi lúng túng không biết trả lời ra sao. Nhưng nó cứ như thế đấy! Ồ! Đúng trưa, đã đúng trưarồi! Tôi biết là đúng trưa rồi đấy! Chính cái đồng hồ của tôi đã mách tôi là đúng trưa, ghê không? Tôi cảm thấy rằng đồng hồ là một người bạn tâm phúc: Của mình, mình có thể hỏi ý kiến nó, nó có thể trò chuyện với mình:

Mấy giờ rồi, bạn đồng hồ nhỉ?

Đúng trưa rồi đấy, anh Rêmi thân mến ạ.

Ồ! Đúng trưa. Thế thì ta phải làm việc này, và việc này, phải không?

Hẳn chứ lị!

Cậu nhắc mình thế là tốt đấy! Không có cậu thì mình quên mất.

Tôi theo anh là để nhắc nhở anh mà!

Có con chó Capi và cái đồng hồ, thế là tôi có bạn để chuyện trò rồi.

Đồng hồ tôi! Đó là ba tiếng nói lên nghe rất lý thú. Tôi đã từng vô cùng ao ước được có một chiếc đồng hồ và tôi cũng đã yên trí rằng mình sẽ không bao giờ có nổi! Thế mà giờ đây có một chiếc nằm trong túi áo tôi, kêu tích tắc. Ông bố nói nó chạy không đúng lắm. Cái đó không hề gì. Miễn nó chạy, thế là đủ. Nó cần được lên dây à? Tôi sẽ lên dây, sẽ vặn mạnh chứ, có hà tiện gì cái vặn! Và nếu vặn cũng chưa đủ thì tôi sẽ mở nó, tháo máy nó ra. Cái ấy thì phải biết là thú! Tôi sẽ xem có những gì trong lòng nó và cái gì đẩy nó chạy. Nó phải liệu mà cư xử cho đúng dắn. Tôi sẽ điều khiển nó một cách nghiêm khắc.

Tôi vui mừng quá đỗi nên không để ý rằng con Capi cũng vui sướng như tôi. Nó cứ kéo ống quần tôi và chốc chốc lại sủa dồn. Cuối cùng nó sủa to quá làm tôi bừng tỉnh cơn mơ mộng.

Capi đòi gì thế?

Nó nhìn tôi, nhưng tôi đương rộn niềm vui sướng nên không đoán ra ý nó. Đợi một phút không được, nó đứng thẳng lên áp vào người tôi và đặt một chân lên túi tôi, cái túi có chiếc đồng hồ. Thì ra nó muốn xem giờ "để báo cho chư vị khán giả" như thuở nó còn làm trò với cụ Vitali.

Tôi đưa đồng hồ cho nó xem. Nó nhìn lâu lắm tuồng như đang cố nhớ, rồi vẫy đuôi, sủa mười hai tiếng. Thế là nó không quên. A ha! Thế thì tôi có thể kiếm tiền với chiếc đồng hồ này chứ phải chơi đâu! Như vậy là thêm được một trò mà trước đây tôi không tính đến.

Câu chuyện vừa rồi diễn ra ở ngoài đường, ngay trước cổng nhà lao cho nên có những khách qua đường tò mò nhìn chúng tôi, hơn nữa, họ dừng lại. Nếu tôi bạo dạn thì tôi có thể biểu diễn ngay cho họ xem, nhưng tôi không có gan, tôi sợ cảnh sát.

Vả lại đã đúng trưa, tôi cần lên đường.

Tiến lên!

Tôi đưa mắt từ biệt nhà tù lần cuối cùng, cái nhà tù trong đó bác Acanh tội nghiệp bị giam hãm, trong khi tôi tung tăng khắp bốn phương trời. Cuối cùng chúng tôi lên đường.

Đối với cái nghề nghiệp của tôi, bản đồ nước Pháp là một vật có ích nhất. Tôi biết rằng thứ ấy ở bến tàu thủy thường có bán. Tôi định mua một tấm, nên tôi đi về phía bờ sông.

Tìm cho ra một bản đồ vừa ý cũng mất nhiều thì giờ. Bản đồ vừa ý tôi phải là một bản đồ bồi vải gấp lại được, mà giá không quá một phờrăng, vì một phờrăng đối với tôi đã là một số tiền to lắm. Nhưng rồi tôi cũng tìm được một tấm vàng ố, cũ kỹ đến nỗi người chủ quầy chỉ đòi tôi có bảy mươi nhăm xăngtim (1).

Bây giờ thì tôi có thể rời thành phố Pari được rồi. Tôi định đi ngay, không trì hoãn. Tôi có thể đi một trong hai con đường này: Hoặc là đường Phôngtenơbơlô qua cửa ô Italia, hoặc là đường Oóclêăng qua Mông Rugiơ. Đi đường nào cũng được thôi, tôi không thích đường nào hơn đường nào. Thật là ngẫu nhiên mà tôi đi con đường Phôngtenơbơlô.

Tôi vào phố Muphơta. Vừa đọc cái tên phố trên tấm bảng xanh xong thì cả một loạt chuyện cũ hiện lại trong trí óc: Nào là Garôphôli, nào là Mátchia, nào là Ricácđô, rồi cái nồi khóa vung, cái roi da và cuối cùng là cụ Vitali. Ông chủ tội nghiệp, ông chủ rất tốt của tôi, cái người đã chết vì không để thằng cha bầu trẻ con ở phố Luốcxin mướn tôi.

Tới nhà thờ Xanh Mêđa thì tôi thấy có một chú bé đứng tựa vào tường, nom hình như là thằng bé Mátchia: Rõ ràng cái đầu quá to ấy, cặp mắt ươn ướt, đôi môi mấp máy, cái vẻ hiền lành nhẫn nhục, cái dáng điệu buồn cười của thằng Mátchia. Nhưng lạ chưa? Nếu phải thằng Mátchia thì sao lâu nay nó vẫn thế, không lớn lên tí nào?

Tôi tiến đến gần để nhìn kỹ. Thôi không còn nghi ngờ gì nữa, chính nó. Nó cũng nhận ra tôi và gương mặt nhợt nhạt của nó sáng lên một nụ cười. Nó hỏi:

Có phải anh đã đến chỗ Garôphôli với ông cụ râu bạc, trước khi tôi vào bệnh viện không? Ôi chao! Cái ngày hôm đó sao mà tôi đau đầu thế!

Garôphôli vẫn là chủ của anh à?

Garôphôli đi tù rồi. Người ta tóm cổ nó bởi vì nó đánh đập thằng Oóclăngđơ tàn nhẫn quá đến nỗi thằng đó ốm chết.

Nghe nói thằng Garôphôli đi tù, tôi sướng lắm. Lần này là lần đầu tôi nghĩ rằng những nhà tù ghê gớm kia cũng có ích. Tôi hỏi:

Còn lũ trẻ?

Ồ! Tôi không biết. Lúc Garôphôli bị bắt thì không có tôi ở đó. Khi tôi ra viện, thằng Garôphôli thấy rằng hễ đánh đập tôi thì tôi đổ ốm nên muốn gạt tôi đi. Nó cho gánh xiếc Gátxô mướn tôi hai năm và nó nhận tiền trước. Anh biết gánh xiếc Gátxô chứ? Không à? Đó không phải là một gánh xiếc lớn nhưng cũng là một gánh xiếc. Họ cần một đứa bé để diễn trò uốn dẻo, cho nên bác Gátxô mới mướn tôi. Tôi làm với bác ấy cho đến hôm thứ hai vừa qua. Người ta thải tôi ra bởi vì bây giờ đầu tôi to quá rồi, không thể chui vào hộp được nữa, và nó cũng nhạy đau quá. Bởi vậy tôi đã đi từ Ghidô là nơi gánh xiếc đang diễn trò để về Pari tìm Garôphôli. Nhưng tôi không tìm thấy ai cả. Nhà thì đóng kín mít. Một ông láng giềng đã thuật lại cho tôi nghe cái việc tôi vừa nói với anh, là Garôphôli đi tù rồi. Thế là tôi đến đây vì không biết đi đâu, không biết làm gì bây giờ.

Sao anh không trở về Ghiđô?

Bởi vì cái hôm ở Ghidô tôi lên đường đi bộ về Pari thì gánh xiếc cũng khởi hành đi Ruăng. Anh tính tôi làm thế nào mà đi Ruăng cho được? Xa quá, mà tôi không có tiền. Từ trưa hôm qua đến nay tôi đã có gì vào bụng đâu!

Tôi không giàu, nhưng tôi có đủ để cứu thằng bé đáng thương ấy khỏi chết đói. Ngày tôi lang thang quanh vùng Tuludơ, đói khát như thằng Mátchia hôm nay, mà có ai chìa cho tôi một mẩu bánh mì thì tôi đã cảm tạ người ấy bao nhiêu! Tôi bảo thằng Mátchia:

Anh hãy đứng đó!

Rồi tôi chạy đến hiệu bánh mì ở góc phố. Trong giây lát, tôi trở lại, mang theo một chiếc bánh và tôi đưa biếu nó. Nó vồ lấy, ăn ngốn ngấu hết ngay.

Bây giờ thì anh định làm gì?

Tôi không biết.

Phải làm cái gì mới được chứ?

Tôi đương cố dạm bán cây vĩ cầm của tôi thì anh đến. Giá tôi không quyến luyến nó thì tôi đã bán được rồi. Cây đàn ấy là nguồn vui, là niềm an ủi của tôi. Khi nào buồn quá, tôi tìm một chỗ khuất, một mình kéo cho mình nghe. Lúc ấy thì tôi thấy không biết bao nhiêu làđiều tốt đẹp hiện lên giữa trời. Ôi! Còn đẹp hơn trong mơ nhiều! Nó cứ nối tiếp nhau không dứt..

Thế thì tại sao anh không kéo vĩ cầm ở đường phố cho người ta nghe?

Tôi đã làm thử. Không ai cho tiền cả!

Tôi cũng đã trải qua cái cảnh biểu diễn cho người ta xem mà không ai thò tay vào túi.

Mátchia hỏi:

- Còn anh? Lúc này anh làm gì?

Tôi bỗng nổi máu khoác lác trẻ con lên. Tôi nói:

- Mình ấy à? Mình là chủ gánh.

Chao ôi! Thực ra thì cũng đúng, bơi vì tôi làm chủ một gánh xiếc mà con Capi làm diễn viên. Nhưng cái thực ấy cũng không xa cái dối là mấy. Mátchia nói:

Chao ôi! Nếu anh vui lòng!

Vui lòng gì cơ?

Nhận tôi vào gánh của anh.

Tất cả gánh của mình chỉ có thế.

Cũng chẳng sao! Nó với tôi là hai vậy. Chao ôi! Tôi van anh, anh đừng bỏ tôi! Anh bỏ tôi thì tôi sẽ thế nào? Chỉ còn nước chết đói mà thôi.

Chết đói! Cái tiếng kêu ấy, không phải ai nghe nó cũng hiểu nó như nhau, và ở mỗi người nó cũng không dội vào cùng một chỗ. Với tôi thì nó dội vào đúng tim. Tôi đã hiểu thế nào là chết đói.

Tôi diễn được. -Mátchia tiếp. - Trước hết tôi biết chơi vĩ cầm. Và tôi uốn dẻo, tôi nhảy dây, tôi lộn vòng, tôi hát. Rồi anh xem, anh báo gì tôi làm nấy. Tôi sẽ là đứa ở của anh, tôi vâng lời anh. Tôi không đòi tiền công ở anh đâu, chỉ cần có ăn thôi. Nếu tôi làm ăn tồi thì anh đánh tôi, ta giao ước với nhau như vậy. Tôi chỉ yêu cầu một điều là đừng đánh vào đầu, cũng phải giao ước thêm điều đó, bởi vì đầu tôi rất kém chịu đau, từ ngày thằng tha Garôphôli cứ nện bừa lên đó.

Nghe cái thằng bé tội nghiệp ấy nói như thế, tôi suýt ứa nước mắt. Làm sao nói cho nó hiểu rằng tôi không thể nhận nó vào gánh của tôi? Chết đói ư? Một mình nó, nó có thể chết đói, đối với tôi, nó cũng không thiếu cơ hội chết đói đâu! Tôi giải thích điều ấy cho nó, nhưng nó không chịu nghe. Nó nói:

Không, hai đứa thì không chết đói được. Chúng mình sẽ nương tựa nhau, giúp đỡ lẫn nhau, đứa có chia xẻ với đứa không có, như anh đã làm vừa rồi.

Câu ấy làm cho tôi hết do dự. Tôi đã có thì tôi phải giúp nó. Tôi nói:

Thôi được, đồng ý!

Tức khắc nó cầm tay tôi mà hôn, khiến lòng tôi rung động một cách êm ái, nước mắt trào ra. Tôi nói:

Anh hãy đi với tôi, nhưng không phải như một đứa ở mà như một người bạn. Rồi kéo quai dây đàn lên vai, tôi bảo:

Ta đi thôi!

Mười lăm phút sau, chúng tôi ra khỏi thành Pari.

Nắng hanh tháng ba đã làm cho đường sá khô ráo nên bây giờ chúng tôi đi lại dễ dàng trên đất rắn. Không khí mát mẻ, mặt trời tháng tư rạng rõ, nền trời xanh không một gợn mây. Thật là khác biết bao nhiêu với cái ngày mưa tuyết mà tôi vào Pari năm nọ, Pari - cái thành phố mà tôi ước ao từ lâu như ước ao đất thánh.

Trên bờ hào ở hai bên đường, cỏ bắt đầu mọc; đó đây lấm tấm những bông hoa cúc dại và hoa dâu tây, cánh hoa hướng về mặt trời. Khi hai bên đường có vườn thì chúng tôi thấy những búp đinh hương tía nhú đỏ giữa màu xanh mơn mởn của lá non. Một ngọn gió thổi qua, từ trên chóp mấy bức tường cổ, những cánh đinh hương vàng lác đác rơi xuống đầu chúng tôi. Trong vườn, trong các bụi cây nhỏ và trên những cây lớn, đâu đâu cũng nghe tiếng chim kêu ríu rít, còn trước mặt thì chim én bay là là mặt đất để đuổi theo những con ruồi, con nhặng mà mắt ta chẳng nhìn thấy đâu cả.

Cuộc hành trình của chúng tôi bắt đầu tốt đẹp như thế, cho nên tôi rảo bước trên con đường vang dội tiếng chân, lòng đầy tin tưởng. Con Capi được thả lỏng chạy tung tăng quanh chân chúng tôi, sủa theo mấy chiếc xe, sủa vào mấy đống đá, sủa khắp nơi, sủa không vì cái gì cả ngoài thú được sủa; có lẽ nó có cái thú ấy cũng như con người ta có cái thú hát ca.

Mátchia đi bên cạnh tôi lặng lẽ. Có lẽ nó bận suy nghĩ cái gì, tôi cũng không bắt chuyện, phần sợ làm rầy nó, phần chính mình cũng có việc phải suy nghĩ. Chúng tôi dấn bước trên con đường có vẻ hăng hái như vậy, để đi đến đâu đây? Nói cho đúng thì tôi không biết cho rõ lắm, hơn thế, phải nói rằng tôi không biết gì cả. Cứ xăm xăm đi tới. Nhưng rồi sau đó? Tôi có hứa với Lidơ rằng sẽ đến thăm chị Êchiênnét và hai anh trước khi đến em, nhưng đến ai trước, Bănggiamanh, Alơxi hay Êchiênnét, thì tôi không giao hẹn gì. Tôi có thể đến người này hay người kia trước tùy ý, nghĩa là có thể bắt đầu bằng vùng núi Xêven, hay miền Srăng hoặc miền Picácđi.

Tôi đã ra khỏi Pari về phía Nam thì tất nhiên là tôi không đến Bănggiamanh trước.

Chỉ còn phải chọn giữa chị Êchiênnét và Alơxi nên đến thăm ai trước.

Sở dĩ tôi quvết định đi về phía Nam trước chứ không đi về phía Bắc là vì tôi có ý muốn ghé thăm má Bácbơranh.

Lâu nay tôi không nói đến má không phải vì tôi đã quên má như một thằng vong ơn bội nghĩa.

Cũng không nên kết luận tôi là thằng bội nghĩa vì lẽ tôi không gửi thư từ gì cho má từ cái ngày rời má ra đi. Đã bao lần tôi định viết thư cho má để nói: "Con nhớ má và con vẫn yêu má hết sức". Nhưng tôi biết rằng má không xem thư được, và tôi hãy còn sợ lão Bácbơranh. Nếu nhờ có thư mà lão tìm lại được tôi thì làm thế nào? Hoặc lão bắt tôi về? Hoặc lão lại bán tôi cho một ông Vitali nào khác không giống cụ Vitali của tôi tí nào? Hẳn lão có quyền làm những việc ấy. Nghĩ đến đó tôi chẳng còn lòng dạ nào mà viết thư, thà rằng bị má coi là bội bạc còn hơn là nỡ bị lão ta bắt vào tròng lần nũa. Hoặc lão bán tôi, hoặc lão sai bảo tôi làm việc, đằng nào cũng không xong cả. Thà rằng chết - chết đói - còn hơn là đưa đầu vào cảnh hiểm nghèo như vậy.

Tôi không dám viết thư cho má Bácbơranh, nhưng có lẽ tôi có thể về thăm má được, bởi vì ngày nay tôi muốn đi đâu thì đi, không ai cấm. Không những có thể, tôi lại thấy không khó, từ khi tôi thu nhận Mátchia vào "gánh". Tôi sẽ cho Mátchia đi trước, còn tôi thì sẽ cẩn thận trốn lại sau. Nó vào nhà má Bácbơranh kiếm chuyện nói với má. Nếu chỉ có mình má ở nhà thì Mátchia sẽ nói thật, rồi đến báo cho tôi biết, thế là tôi trở về cái nhà tôi đã sống tuổi thơ, để ngã vào lòng bà mẹ nuôi của tôi. Nếu trái lại, lão Bácbơranh có ở làng, thì Mátchia sẽ nói với má đến một chỗ nào đó đã hẹn, để tôi gặp má và hôn má.

Đó là kế hoạch của tôi đã nghĩ ra trong khi đi đường và vì thế mà tôi đăm chiêu yên lặng: Xét một vấn đề quan trọng như thế, dù tập trung tư tưởng, chăm chú hết sức cũng không thừa.

Quả vậy, không những tôi phải tính xem tôi có thể vế thăm má Bácbơranh được không, mà tôi còn phải cố tìm thử trên đường đi của chúng tôi có những làng mạc, những thị trấn nào có cơ kiếm tiền được. Muốn thế, tốt hơn hết là xem bản đồ.

Đúng vào lúc đó, chúng tôi ở giữa đồng. Chúng tôi có thể nghỉ chân trên đống sỏi kia, không ngại bị quấy phá. Tôi nói:

Mátchia, nếu anh đồng ý thì chúng mình nghỉ một lát.

Anh có vui lòng chuyện vãn không?

Anh muốn nói gì với tôi chăng?

Tôi muốn yêu cầu anh gọi tôi bằng "cậu".

Được lắm. Chúng mình sẽ "cậu, tớ" với nhau.

Anh thì "cậu, tớ" với tôi là phải chứ tôi thì sao được!

Cậu cũng như tớ, nghe chưa? Tớ ra lệnh cho cậu thế đấy, nếu không nghe, tớ choảng cho đấy!

Choảng thì cứ choảng, nhưng chớ choảng lên đầu. - Thằng Mátchia nói thế rồi cười một cách hiền lành, chân thật, nhe cả hai hàm răng trắng bóng trên khuôn mặt rám nắng.

Chúng tôi ngồi xuống, rồi tôi rút tấm bản đồ trong xắc, đem trải lên cỏ. Tôi tìm mất khá nhiều thì giờ. Nhưng nhờ nhớ lại cách làm của cụ Vitali, cuối cùng tôi đã vạch xong hành trình sắp tới của chúng tôi. Chúng tôi có thể đi Savanông được và nếu không gặp rủi ro quá thì cũng không đến nỗi chết đói dọc đường. Mátchia chỉ tấm bản đồ hỏi:

Cái này là cái gì thế?

Tôi giải thích cho nó biết thế nào là một tấm bản đồ và bản đồ dùng để làm gì. Tôi lặp lại hầu như nguyên văn những lời cụ Vitali giảng bài địa lý đầu tiên cho tôi. Nó chăm chú nghe, mắt dán vào mắt tôi. Nó hỏi:

Thế thì phải biết chữ chứ?

Hẳn rồi. Cậu không biết chữ à?

Không.

Cậu muốn học không?

Ồ! Muốn lắm.

Thế thì tớ sẽ bảo cho cậu học.

Này, coi trên bản đồ, có thể tìm được con đường từ Ghidô đến Pari hay không?

Hẳn chứ! Cái đó dễ lắm.

Tôi chỉ cho nó. Thoạt đầu nó chẳng thèm tin tôi, khi tôi lấy ngón tay kéo một đường từ Ghidô đến Pari. Nó nói:

Tớ đi bộ, thấy xa hơn thế nhiều.

Tôi bèn cố sức giảng giải cách ghi độ xa gần trên bản đồ, cố sức, nghĩa là lúng túng, chẳng có gì rõ ràng. Nó nghe nhưng có vẻ không tin lắm ở trình độ hiểu biết của tôi.

Vì cái xắc đương để hở, tôi bỗng nảy ý kiểm soát lại những đồ vật trong ấy, và nhân dịp khoe với Mátchia những của cải của mình. Tôi lấy ra, xếp tất cả trên cỏ. Tôi có ba cái sơmi vải, ba đôi bít tất, năm chiếc khăn tay, tất cả đều còn tốt, và một đôi giày hơi sờn, thằng Mátchia choáng mắt. Tôi hỏi nó:

Còn cậu, cậu có những gì?

Tớ có cây đàn này, với bộ quần áo đang mặc trên người đây.

Ồ, thế thì ta chia nhau những món này, có thế mới là bạn: Cậu lĩnh hai cái sơmi, hai đôi tất và ba cái khăn tay. Nhưng đã chia thì phải chia tất cả cho công bằng, vì vậy tớ mang cái xắc này một tiếng đồng hồ, cậu lại mang một tiếng.

Mátchia muốn từ chối phần đầu trong đề nghị của tôi. Nhưng tôi đã quen thói chỉ huy rồi, và phải nói rằng tôi lấy làm thú vị điều đó, cho nên tôi cấm nó nói lôi thôi. Trên mấy chiếc sơmi, tôi đã bày cái hộp khâu của Êchiênnét và cái hộp con đựng đóa hồng của Lidơ.

Mátchia muốn mở cái hộp con ấy xem. Nhưng tôi không cho mở và tôi bỏ luôn hộp vào xắc, không mở ra. Tôi nói:

Nếu cậu không muốn làm phiền lòng tớ thì đừng động tới cái hộp ấy, đừng bao giờ.

Đó là một vật lưu niệm.

Được rồi. Tớ hứa sẽ không bao giờ động tới.

Từ khi tôi khoác lại tấm da cừu và đeo cây đàn lên thì có một điều làm cho tôi khó chịu mãi, đó là cái quần dài. Ra giữa công chúng, người nghệ sĩ phải mặc quần cộc và mang bít tất dài quấn dây băng ngũ sắc. Quần dài chỉ thích hợp với người làm vườn còn tôi bây giờ là một nghệ sĩ..

Đã có quvền tự chủ thì khi người ta có một dự định người ta thực hiện không trì hoãn. Tôi mở cái hộp của chị Êchiênnét lấy kéo. Tôi nói:

Trong khi tớ chữa lại cái quần thì cậu nên kéo đàn đế tớ xem thử cậu chơi ra sao.

Ồ! Được chứ!

Trong lúc đó, tôi mạnh dạn chọc kéo vào ống quần, và cắt nghiến vải dạ. Phải thấy là cái quần ấy rất đẹp và cũng may bằng dạ xám như cái áo gilê và cái áo vét tôi đang mặc. Khi bác Acanh cho tôi bộ quần áo ấy, tôi mừng lắm. Tôi nghĩ rằng hớt như thế không làm quần hỏng đi mà trái lại.

Lúc đầu tôi vừa nghe Mátchia vừa cắt. Dần dần, tôi ngừng tay kéo, vểnh cả hai tai lên.

Mátchia kéo đàn hay không kém cụ Vitali mấy. Tôi vỗ tay hoan hô nó và hỏi:

Thế ai dạy cho cậu đàn như vậy?

Không ai cả, mỗi người bảo một chút, nhất là tự tớ vừa làm việc vừa tập.

Ai dạy nhạc lý cho cậu.

Tớ có biết nhạc lý gì đâu! Tớ nghe người ta đàn thế nào thì tập theo thế ấy.

Tớ sẽ dạy nhạc lý cho cậu.

Thế cái gì cậu cũng biết cả sao?

Tất nhiên là thế, vì tớ là chủ gánh kia mà.

Đã là nghệ sĩ thì người ta không khỏi có lòng hiếu thắng. Tôi muốn tỏ cho Mátchia biết tôi cũng là nhạc sĩ. Tôi cầm thụ cầm lên và muốn đánh ngay một đòn oanh liệt, tôi hát bài hát tủ của tôi.. Và thế là Mátchia vỗ tay hoan hô, để đáp lại những lời khen tặng của tôi lúc nãy. Nó là một bậc tài hoa, tôi cũng là một bậc tài hoa, rõ ràng là anh hùng tương ngộ (2). Nhưng có thể đâu chúng tôi cứ ngồi lì ở đó mà tán tụng nhau không ngớt! Sau khi đánh đàn cho nhau nghe vì hứng thú, còn phải đánh đàn cho người ta nghe vì bữa ăn chiều, vì chỗ ngủ trọ nữa chứ! Tôi nịt xắc lại và đến lượt thằng Mátchia mang lên vai. Đi lên, ta đi lên thôi trên đường gió bụi! Rồi thì ta sẽ dừng lại ở cái làng đầu tiên ta gặp trên đường cái, để tổ chức mừng buổi "diễn mở màn của gánh Rêmi".

Cậu dạy tớ cái bài hát ấy. - Mátchia nói. - Khi diễn, hai đứa mình sẽ song ca và tớ chắc là nay mai tớ sẽ có thể đệm vĩ cầm nữa, rồi cậu xem, "ác" lắm!

Phải, nhất định là "ác" lắm. Có họa là tim của "chư vị khán giả' bằng đá thì mới không chịu bỏ những đồng xu lớn đầy đĩa chúng tôi.

Chúng tôi không bị cái họa" diễn thì có, tiền thì không ". Đi khỏi Vilơduýp, đến một làng kia, chúng tôi định tìm chỗ thuận lợi để biểu diễn. Đi qua trước cổng một nông trang, chúng tôi thấy trong sân đứng đầy những người quần áo lịch sự, mỗi người mang một bó hoa buộc dây băng cuồn cuộn. Đàn ông thì cài hoa ở ve áo, đàn bà thì cài ở ngực. Không cần phải tinh ý cũng đoán ra đây là một đám cưới.

Tôi nghĩ rằng những người ấy có lẽ sẽ vui lòng nếu được ai đánh đàn cho họ khiêu vũ; tôi tiến vào trong sân, Mátchia và Capi theo sau. Tay cầm mũ, tôi bắt chước cụ Vitali chào trịnh trọng và trình bày đề nghị của tôi với người đầu tiên mà tôi gặp. Đó là một thanh niên béo phị, cái mặt màu gạch non trông như đóng khung giữa chiếc cổ cồn to, cứng, chỉ chực cứa hai mép tai anh ta. Anh có vẻ hiền lành phúc hậu.

Anh ta không trả lời. Anh quay cả người về đám khách dự lễ - hẳn anh bị vướng víu trong cái áo lễ bằng dạ đẹp và bóng. Anh thọc hai ngón tay vào mồm và dùng thứ nhạc cụ ấy huýt lên một tiếng còi dữ dội, làm cho con Capi phát hoảng. Rồi anh ta thét lên:

Ồ các bạn! Có chút đỉnh âm nhạc thì các bạn nghĩ thế nào? Có mấy nhạc sĩ vừa đến với chúng ta đây này.

Ừ, ừ, âm nhạc! Âm nhạc! Âm nhạc! - Nhiều giọng đàn ông và đàn bà thét lên nhưthế.

Hãy đứng vào để nhảy một bài cađơri đi nào!

Trong vòng mấy phút thôi, nhiều nhóm tay tư đã tụ họp giữa sân để chờ nhảy, làm cho lũ gà vịt kinh hoảng bay tứ tung. Tôi lo ngại quá, hỏi nhỏ thằng Mátchia bằng tiếng Italia:

Cậu đã từng đánh điệu nhảy cađơri rồi đấy à?

Đã.

Nó dạo thử một bài trên vĩ cầm. Tình cờ tôi cũng biết bài đó. Thế là chúng tôi thoát

Nạn.

Người ta kéo một cỗ xe bò từ nhà xe ra. Người ta bắc đòn, kê càng xe lên và bảo chúng tôi lên đấy. Mặc dù chưa khi nào chúng tôi hợp tấu với nhau, lần này chúng tôi xoay xở với bài cađơri cũng không đến nỗi tồi lắm. Cần phải thưa thật rằng thính giả của chúng tôi không khó tính và cũng không tinh về âm nhạc cho lắm. Cái anh chàng béo, mặt đỏ hồi nãy lại hỏi:

Trong hai chú có chú nào biết chơi kèn đẩy không?

Có, tôi. - Mátchia nói. - Nhưng tôi không có kèn ấy.

Để tôi đi kiếm cho chú một cái, bởi vì vĩ cầm thì hay đấy, nhưng cũng nhạt nhẽolắm.

Cậu cũng chơi được kèn đẩy à? - tôi hỏi thằng Mátchia cũng vẫn bằng tiếng Lalia.

Cả kèn loa, ống sáo nữa và tất cả những thứ đàn địch nói chung. Mátchia quả là của quý!

Lát sau, người ta mang kèn đẩy tới và chúng tôi lại chơi cađơri, pônka, vanxơ. Nhất là cađơri.

Chúng tôi đánh đàn. Thổi kèn mãi cho đến tối mà những người khách nhảy vẫn không để chúng tôi nghỉ ngơi phút nào. Cái đó đối với tôi không hại lắm. Nhưng đối với Mátchia thì thật là nghiêm trọng: Nó gánh phần nặng nhọc hơn hết trong dàn nhạc, vả lại nó đi đường xa và ăn uống thiếu thốn lâu nay nên suy nhược. Chốc chốc nó tái người đi nhưsắp ngất. Tuy vậy nó vẫn tiếp tục, vẫn ráng hết sức thổi kèn. May làm sao không riêng tôi nhìn thấy vẻ nhợt nhạt của nó, cô dâu cũng nhìn thấy, cô nói:

Thôi, thôi! Chú bé này đuối sức rồi. Bây giờ thì nào, mở túi ra để thù lao cho các bạn nhạc sĩ nào!

Tôi nhảy xuống xe và nói:

Nếu quý vị đồng ý tôi sẽ cho viên thủ quỹ của chúng tôi đi một vòng nhận tiền.

Tôi nói thế rồi ném cái mũ cho con Capi. Nó ngoạm vào mồm. Người ta tán thương điệu chào duyên dáng của nó mỗi khi nó nhận tiền người ta cho và, quý hóa hơn nữa người ta cho nhiều lắm. Tôi đi sau nó nên tôi thấy những đồng hào trắng rơi tới tấp vào mũ. Chú rể bỏ tiền sau cùng. Chú bỏ một đồng năm phờrăng. Thật là dịp may hiếm có! Thế mà đã hết đâu: Người ta mời chúng tôi vào ăn uống trong nhà bếp và người ta cho chúng tôi ngủ lại ở kho vựa. Sáng hôm sau, khi chúng tôi rời mái nhà hiếu khách đó ra đi, thì chúng tôi đã có một cái vốn hai mươi tám phờrăng. Tôi nói với Mátchia:

Chúng ta có được số tiền này là nhờ công cậu đấy, Mátchia ạ. Mình tớ thì làm gì thành một dàn nhạc.

Và cái câu bác Acanh nói khi tôi bắt đầu dạy cho em Lidơ học lại hiện về trong ký ức tôi để xác nhận rằng người ta làm điều lành thì bao giờ cũng được đền bù xứng đáng. Tôi nói:

Tớ nhận cậu thế mà hóa khôn đấy!

Với hai mươi tám phờrăng trong túi, chúng tôi quả là những ông hoàng. Với số tiền ấy, đến Coócbây, tôi đã mua sắm vài thứ cần thiết, không ngại tiêu phí quá tay: Trước hết là một cây kèn đẩy giá ba phờrăng, mua ở một cửa hàng sắt cũ; còn bán giá ấy thì tất nhiên không phải kèn mới, kèn đẹp, nhưng rồi mình lau chùi, sửa soạn thì cũng tươm tất. Rồi ít cuộn dây băng đỏ dể quấn bít tất và cuối cùng là một cái xắc lính cũ cho Mátchia. Mang lâu dài trên vai một cái xác nhẹ vẫn hơn là thỉnh thoảng mang một cái xắc nặng, cho nên chúng tôi sẽ chia đều đồ đạc. Và như thế, sẽ đi lại nhanh nhẹn, nhẹ nhàng hơn.

Ra khỏi Coócbây thì chúng tôi có vẻ tươm tất lắm. Những buổi biểu diễn của chúng tôi đều thu khá, nên sau khi mua sắm rồi, chúng tôi vẫn còn ba mươi phờrăng trong túi. Chúng tôi có thể sắp xếp tiết mục biểu diễn thế nào để có thể ở lâu tại một nơi mà khỏi phải diễn đi diễn lại nhiều lần độc có mỗi một chương trình. Máthia và tôi lúc nào cũng ăn ý nhau, chúng tôi sống với nhau chưa bao lâu mà cứ như anh em ruột. Đôi khi nó vừa cười vừa nói:

- Cậu biết không? Một ông chủ gánh mà không đánh đập kẻ tay chân thì quả là tuyệtdiệu.

Thế cậu có thích không?

Từ khi tớ bỏ xứ sở ra đi, lần này là lần đầu tiên tớ không tiếc cái thời nằm bệnhviện.

Cảnh làm ăn phát đạt ấy làm cho tôi nảy ra nhiều tham vọng.

Sau khi rồi Coócbây, chúng tôi đi về phía Môngtácgi; Môngtácgi nằm trên đường về nhà má Bácbơranh.

Về thăm má để hôn má, đó là trả ơn cho má, nhưng trả ơn như thế thì ít quá và dễ dàng quá. Hay là ta mang cho má một cái gì nhỉ? Bây giờ mình đã giàu rồi thì phải tặng má một món quà chứ! Quà gì đây?

Tôi không mất nhiều thì giờ suy nghĩ. Có một món quà sẽ làm má sung sướng, không những sung sướng lúc này, mà còn sung sướng cả cái tuổi già của má: Món quà đó là mộtcon bò sữa để thay cho con Rútxét. Má Bácbơranh sẽ vui sướng biết bao nhiêu nếu ta biếu má một con bò sữa! Và cả ta nữa, ta sẽ vui mừng bao nhiêu!

Tôi tính thế này: Trước khi về tới Savanông thì tôi mua một con bò sữa, rồi Mátchia dòng dây dắt nó, đưa vào sân nhà má. Tất nhiên phải không có lão Bácbơranh ở nhà. Mátchia sẽ nói:" Bà Bácbơranh ạ, cháu dắt con bò sữa đến cho bà "." Con bò sữa à? Cháu ơi, cháu nhầm rồi "(và má thở dài). " Không đâu. Thưa bà, đúng bà là bà Bácbơranh ở thôn Savanông chứ? Thế thì hoàng tử (như trong chuyện cổ tích ấy), hoàng tử truyền cho cháu đưa con bò này đến để biếu bà "." Hoàng tử nào? ". Lúc đó thì tôi hiện ra. Tôi xông vào lòng má Bácbơranh, và sau khi mẹ con hôn nhau phỉ sức, chúng tôi đi làm bánh rán và bánh kẹp; làm để ba mẹ con cùng ăn với nhau chứ không phải để cho lão Bácbơranh nuốt chửng, như cái ngày thứ ba ngả mặn mà lão ở đâu mò về lật chảo và trút tất cả chỗ bơ của chúng tôi vào món xúp hành của lão. Ôi! Giấc mơ đẹp quá! Duy muốn thực hiện thì phải mua cho được một con bò sữa. Bao nhiêu tiền một con bò sữa? Cái khoản này thì tôi không tưởng tượng được. Đắt tiền thì chắc đắt lắm nhưng bao nhiêu kia?

Con bò tôi định mua sẽ không phải là một con bò to béo dềnh dàng quá. Bỏi vì, trước hết bò càng béo thì giá càng đắt; rồi thì bò càng to thì càng cần nhiều thức ăn, mà tôi không muốn cái món quà tôi tặng lại làm cho má Bácbơranh của tôi phải lúng túng. Cái thiết yếu trước mắt là phải tìm hiểu giá bò sữa, hay nói cho đúng, giá một con bò sữa theo cỡ mà tôi muốn mua.

Cũng may là việc ấy đối với tôi không khó. Khi đi trên đường thiên lý, khi nghỉ lại ở quán trọ buổi tối, chúng tôi thường tiếp xúc với những người chăn bò, những người lái gia súc. Chỉ cần hỏi họ thôi, dễ lắm. Tôi nhằm một người chăn bò có vẻ cởi mở, dễ gần gũi mà hỏi. Vừa nghe xong thì anh cười phì vào mặt tôi. Rồi anh ta nằm ngả người trên ghế, chốc chốc lại đấm thình thình xuống bàn và gọi ông chủ quán mà hỏi:

Bác có biết cái chú nhạc sĩ bé con này hỏi tôi gì không? Giá bao nhiêu một con bò sữa? Một con bò sữa không to lắm, không béo lắm, tóm lại là một con bò sữa tốt. Nó có cần biết làm trò không hở?

Rồi anh ta lại cười nữa. Nhưng tôi đâu có chịu lép! Tôi nói:

Nó phải có sữa tốt và không ăn uống nhiều quá!

Có cần nó chịu cho các chú dòng dây dắt đi trên đường thiên lý như con chó kia

Không?

Sau khi dốc cạn kho bông đùa và trổ hết tài hóm hỉnh, anh ta chịu nói chuyện nghiêm chỉnh, hơn thế, chịu trao đổi giá cả với tôi nữa. Anh ta nói anh ta có đúng cái món tôi cần: Một con bò cái rất hiền, vắt được nhiều sữa, sữa sền sệt như kem, thế mà lại chẳng ăn uống mấy tí. Nếu tôi xỉa ra giữa bàn mười lăm pítxtôn hay năm mươi êquy thì con bò ấy sẽ về tôi.

Trước tôi vất vả bao nhiêu để làm cho anh ta nói, thì bây giờ tôi vất vả bao nhiêu để làm cho anh ta im mồm đi, khi anh ta đương đà tán hươu tán vượn. Nhưng rồi cuối cùng, anh em chúng tôi cũng đi ngủ được. Nằm trên giường, tôi cứ mơ màng nghĩ đến những điều người ta vừa nói. Mười lăm pítxtôn hay năm mươi êquy, tức là một trăm năm mươi phờrăng, cái vốn của tôi còn xa con số ấy quá!

Số tiền ấy có quá sức chúng tôi làm ra hay không? Có lẽ không! Tôi tưởng nếu cái vận đỏ buổi đầu này không bỏ chúng tôi thì dành dụm từng xu một, chúng tôi sẻ góp đủ số tiềnđó. Duy phải có thì giờ. Nghĩ đến đó thì một sáng kiến mới chợt lóe ra trong đầu óc tôi. Tôi tự bảo:" Nếu ta không đi thẳng một mạch đến Savanông mà đi Vácxơ trước thì có lẽ có đủ thì giờ kiếm được số tiền lớn ấy, vậy phải đi Vácxơ cái đã, đến lượt về sẽ ghé lại má

Bácbơranh. Như thế thì chắc chắn lúc ấy ta sẽ có đủ số tiền một trăm năm mươi phờrăng và hai đứa ta có thể diễn cái trò cổ tích: "Con bò sữa của" hoàng tử "được".

Rạng ngày hôm sau, tôi bày tỏ ý kiến ấy với Mátchia. Nó tán thành dễ dàng. Nó nói:

Thế thì ta đi thôi. Vùng mỏ có lẽ hay đấy, được xem một hầm mỏ thì tớ khoái lắm.
 
15,989 ❤︎ Bài viết: 1929 Tìm chủ đề
Chương 23: Một thành phố đen

Đường từ Môngtácgi đến Vácxơ quả là dài; Vácxơ ở chính giữa miền Xêvennơ, trên triền núi xuôi về phía Địa Trung Hải. Năm, sáu trăm kilômét theo đường thẳng, nhưng với chúng tôi thì phải đến trên một ngàn kilômét vì lối sống của chúng tôi bắt buộc phải tạt ngang rẽ ngửa đó đây: Phải tìm đến những thành phố và những thị trấn lớn mà biểu diễn để thu được kha khá! Chúng tôi đi ròng rã gần ba tháng trời mới vượt được cái chặng trên ngàn kilômét ấy; nhưng tới gần Vácxơ, đếm lại tiền, tôi sung sướng thấy đã dùng thì giờ rất có ích: Trong túi da của tôi đã để dành được một trăm hai mươi tám phờrăng; chỉ còn thiếu hai mươi hai phờrăng là có thể mua được con bò sữa cho má Bácbơranh.

Mátchia cũng thích thú không kém và cũng khá tự hào vì đã góp phần mình để kiếm ra số tiền như thế. Đúng là phần ấy rất lớn: Không có nó, trước hết là không có chiếc kèn đồng của nó, chỉ một mình tôi với Capi thì đừng có hòng thu góp được một trăm hai mươi tám phờrăng.

Từ Vácxơ dến Savanông làm gì chẳng kiếm thêm được cái món hai mươi hai phờrăng đương thiếu!

Chúng tôi đến Vácxơ. Nơi đây, độ trăm năm trước, là một làng nhỏ xơ xác, nằm heo hút trong núi; sở dĩ được người ta biết đến là nhờ nó thường là nơi trú quân của "Những đứa con của Chúa" do Giăng Cavaliê chỉ huy. Nằm giữa núi non trùng điệp, nó trở thành một vị trí quan trọng trong cuộc chiến tranh của những người Camida (1) ; nhưng mặt khác cũng chính cái vị trí đó đã làm cho nó đói nghèo.

Vào khoảng năm 1750, một nhà quí tộc đã có tuổi, vẫn rất say mê thăm dò địa chất đã phát hiện ở Vácxơ những mỏ than đá. Từ ngày ấy, Vácxơ trở thành một vùng than cùng với một số khu vực khác, cung cấp than cho miền Nam và có cơ giành giật thị trường Địa Trung Hải với than của người Anh. Khi ông ta bắt đầu đào bới, mọi người đều chế nhạo. Đến khi ông đào sâu tới một trăm rưỡi mét mà vẫn không thấy gì thì mọi người hối hả tìm mọi cách để nhốt giữ ông ta như một người điên, vì gia sản của ông có cơ bị chôn vùi vào những cuộc khảo sát vớ vẩn đó. Vácxơ có mỏ sắt nhưng làm gì có mỏ than đá! Im lặng và để tránh những tiếng thị phi, ông quí tộc già ấy bèn ở luôn trong giếng đào, không ra nữa. Ông ăn ngủ ngay tại chỗ, và như vậy cũng chỉ còn phải chịu đựng sự ngờ vực của những người thợ làm việc với ông. Cứ mỗi nhát cuốc bổ xuống, họ lại nhún vai. Nhưng được động viên vì nhiệt tình của ông, họ lại bổ thêm một nhát nữa và cứ thế giếng thăm dò cứ sâu xuống dần. Tới hai trăm mét thì gặp một vỉa than đá. Ông quí tộc già không còn là một người điên nữa mà là một thiên tài; chỉ hôm trước hôm sau, sự thay bậc đổi ngôi ấy đã trọn vẹn.

Hiện nay, Vácxơ là một thành phố có mười hai ngàn dân, trước mắt có một triển vọng công nghiệp to lớn có thể cùng Ale và Bécxêgiơ là niềm hy vọng của miền Nam trong lúc này.

Sự giàu có của Vácxơ, hiện nay cũng như sau này, là cái nằm dưới lòng đất chứ không phải là cái nằm trên mặt đất. Trên mặt đất, quang cảnh đến là buồn tẻ và tiêu điều: Đá vôi, bãi hoang bạc màu, tức là chỉ có khô cằn, không có một cây to. Đây đó lơ thơ vài ba cây dẻ, cây dâu hoặc cây ôliu khẳng khiu, không có đất màu, đâu đâu cũng chỉ một màu đá xám hoặc đá trắng. Lác đác có một vài đám đất trũng may mắn khí ẩm thấm lên được thì mới có chút ít cây cỏ xanh tươi, nổi bật lên mát mắt trên toàn cảnh trơ trọc của núi đá.

Do tình trạng trơ trọc ấy mà xảy ra những nạn lụt kinh khủng: Trời mưa nước chảy tuột trên những dốc trơ như trên phố lát gạch; rồi những con suối, thường thì khô cạn, lúc ấy vụt cuồn cuộn chảy đổ vào các con sông trong thung lũng, dâng nước lên nhanh như chớp; chỉ mấy phút sau mực nước sông lên cao tới ba, bốn, năm mét và có khi hơn nữa.

Vácxơ nằm vắt trên một con sông như thế, con sông Đivôn; ngay trong thành phố lại có hai con suối nhỏ để vào đó: Suối Tơruye và suối Xanh Ăngđêôn. Vácxơ không phải là một thành phố đẹp, cũng không sạch mà cũng không cân đối.

Đây, những toa goòng đầy ắp quặng sắt và than đá đi lại liên miên giữa phố từ sớmđến tối và không ngớt tung ra những thứ bụi đỏ, bụi đen. Ngày mưa, bụi hòa với nước, làm thành một thứ bùn lỏng, ngập sâu như nước bùn ở đầm lầy. Trái lại, những ngày nắng gió, nó cuốn thành những cơn lốc mò mịt, xoáy tròn trong các đường phố rồi bốc lên cao, phủ cả thị trấn. Nhà cửa đều đen thủi đen thui từ trên xuống dưới, đen vì bụi từ mặt đường tung lên, đen vì khói các lò nung, lò bếp hay ở mái nhà xuống. Cái gì cũng đen, đất đen, trời đen, cả nước sông Đivôn cũng đen nốt. Ngựa đen, xe đen, lá cây đen, thế mà người đi trong phố xá lại còn đen hơn nữa. Tưởng như có một đám mây bồ hóng đã phủ xuống thành phố suốt cả một ngày trời, hoặc là một trận lụt hắc ín đã dâng lên ngập nhà cửa đến tận nóc. Ở đây đường sá không phải đắp ra để cho người và xe ngựa đi lại, mà là để cho đầu tàu và toa goòng của khu mỏ chạy. Đâu đâu trên mặt đất cũng thấy đường ray và ghi quay. Những cầu tự hành, những dây cuaroa, những cây trục chuyền quay động trên đầu và rú lên đinh tai nhức óc. Đi cạnh mấy ngôi nhà lớn ta thấy chúng rung chuyển đến tận móng, nhòm vào trong nhà qua các cửa ta thấy có những khối gang to di động như những khối tinh thạch khổng lồ, những búa máy làm tóe lửa như mưa, và ở khắp mọi nơi, những chiếc píttông chạy bằng hơi nước lên xuống đều đều không ngớt. Không có công viên, không có tượng ở các quảng trường, không có công trình kiến trúc. Cái gì cũng giống nhau, cái gì cũng xây dựng trên một kiểu hình khối đục nhiều hay ít cửa sổ tùy theo sự cần thiết.

Chúng tôi đến gần thành phố lúc hai, ba giờ chiều, mặt trời rực rỡ, vòm trời trong sáng. Nhưng càng đi tối, trời càng sẫm dần: Giữa trời với đất, có một đám khói dày nặng nề kéo qua, thủng toạc ở những chỗ có ống khói cao vứt. Đã từ hơn một tiếng đồng hồ rồi, chúng tôi nghe thấy những tiếng rền mạnh, một thứ tiếng gầm giống như tiếng sóng biển, lẫn với những tiếng nện thình thình. Tiếng rền đó là tiếng quạt máy, còn tiếng nện thình thình là tiếng búa và chày (2) chạy bằng hơi nước.

Tôi biết ông chú của Alơxi là thợ mỏ ở Vácxơ, làm ở mỏ Tơruye, nhưng cũng chỉ biết có thế. Đến Vácxơ, tôi hỏi mỏ Tơruye thì người ta chỉ cho tôi sang tả ngạn sông Đivôn, trong một thung lũng nhỏ có một con suối chảy qua: Cái mỏ đã mang tên của chính dòng suối ấy. Thành phố đã không có gì hấp dẫn, mà đến phong cảnh thung lũng này thì lại hết sức ảm đạm: Một vành đồi trọc không cây, không cỏ, chỉ có đây đó những dãy đá xám xịt và một vàivạch đất đỏ cắt ngang những dãy đá kia. Đi vào thung lũng thì có những ngôi nhà lớn của sở mỏ, những nhà xe, chuồng ngựa, nhà kho, phòng giấy, những ống khói của nhà máy hơi nước.

Xung quanh là những đống than, đống đá. Chúng tôi vừa đến khu nhà cửa thì bị một thiếu phụ chặn lại. Dáng chị bơ phờ tóc chị phất phơ trên vai, tay chị dắt một em bé. Chị bảo:

Các người làm ơn chỉ cho tôi một con đường mát mẻ. Tôi sửng sốt nhìn chị. Chị tiếp:

Một con đường cây to, bóng mát, bên cạnh có dòng suối róc rách trên đá cuội và chim hót líu lo trên cành.

Chị nói thế rồi huýt một điệu sáo vui. Thấy tôi không trả lời, mà hình như cũng không nhìn thấy vẻ kinh ngạc của tôi, chị lại nói:

Các người không gặp con đường ấy ư? Đáng tiếc! Không gặp chắc là vì còn xa lắm. Ở bên phải hay bên trái, em hãy bảo chị đi em! Chị tìm mà có thấy đâu!

Chị nói thao thao, vừa nói vừa đưa tay vung vẩy, còn tay kia thì âu yếm xoa đầu đứacon.

Chị hỏi em con đường ấy, vì chị biết chắc là sẽ gặp được Mariuýt? Em biết Mariuýt chứ? Không à? Ấy, Mariuýt là bố của con chị đây. Khi Mariuýt bị khí nổ Gờridu (3) thiêu đốt thì anh trốn vào con đường ấy. Bây giờ thì anh chỉ đi dạo trên những con đường mát mẻ mà thôi, để cho những vết bỏng đỡ nóng rát. Mariuýt biết tìm ra những con đường ấy. Chị thì chị không biết. Bởi thế mà đã sáu tháng nay chị không gặp Mariuýt của chị. Sáu tháng thì lâu quá khi người ta yêu nhau. Sáu tháng, ôi sáu tháng đằng đẵng!

Chị quay về phía các tòa nhà lớn của sở mỏ, vung tay dữ dội chỉ những cuộn ông khói nhà máy đang phun khói cuồn cuộn và thét lên:

Công việc dưới hầm mỏ, công việc của quỷ sứ. Trả Mariuýt của tao cho tao!

Em không phải là người ở đây, phải không? Trông tấm da cừu và cái mũ của em thì biết em từ xa đến. Em hãy đến nghĩa địa mà xem và đếm những nấm mộ: Một, hai, ba.. toàn là chết trong hầm mỏ.

Thế rồi chị ẵm con lên, siết chặt vào lòng và bảo:

Mỏ, mày không cướp được bé Pie của tao đâu, không bao giờ! Nước ngọt lắm, mát lắm. Con đường mát ở đâu? Mày không biết con đường ấy thì mày cũng ngu ngốc chẳng kém bọn người kia, chúng cười cợt chế giễu tao. Không biết thì còn giữ tao lại làm gì?

Mariuýt đang chờ tao mà!

Chị quay lưng và vừa đi những bước dài vừa huýt điệu sáo vui khi nãy.

Tôi hiểu đây là một thiếu phụ đã hóa rồ sau khi chồng bị khí gridu nổ giết chết trong hầm mỏ. Chúng tôi đã gặp gỡ người thiếu phụ đáng thương vì quá đau khổ mà phát điên kia trong khung cảnh ảm đạm này, ngay khi mới đặt chân đến vùng mỏ, cuộc gặp gõ ấy làm chúng tôi buồn nẫu ruột.

Chúng tôi hỏi được nhà chú Gátxpa: Chú ở gần mỏ, trong một đường phố ngoằn ngoèo và dốc, chạy từ đồi xuống bến sông. Đến nơi, tôi gặp một người đàn bà tựa lưng vào cửa nói chuyện với một chị hàng xóm cũng đứng tựa cửa: Tôi hỏi ông Gátxpa thì bà ta trả lời rằng sau giờ tan tầm ông mới về. Bà hỏi:

Các anh hỏi ông Gátxpa có việc gì?

Cháu muốn tìm Alơxi.

Thế là bà nhìn tôi từ đầu đến chân, rồi nhìn con Capi và nói:

Anh là Rêmi đấy à? Alơxi có nóí chuyện anh với chúng tôi. Nó chờ anh đấy. Anh này là ai? - Vừa nói bà vừa trỏ Mátchia.

Bạn cháu.

Người ấy là bà thím của Alơxi. Tôi tưởng bà sẽ mời chúng tôi vào nhà để nghỉ ngơi, bởi vì đôi châu và gương mặt rám nắng của chúng tôi nói lên rõ ràng là chúng tôi mệt mỏi. Nhưng bà chẳng mời qua một tiếng; bà chỉ nhắc lại rằng Alơxi hiện đang ở trong mỏ, đến sáu giờ trở lại nhà thì sẽ gặp nó.

Tôi vốn không có gan đòi hỏi những cái mà người ta không mời. Tôi đành cảm ơn bà ta về những điều bà cho biết, và thế là chúng tôi trở ra phố, đi lùng ngay một hàng bánh mì vì đói quá: Từ sáng sớm chúng tôi chỉ ăn có mỗi một mẩu bánh mì tối hôm qua còn lại. Tôi lấy làm hổ thẹn về sự đón tiếp đó; tôi cảm thấy Mátchia đang băn khoăn tự hỏi như thế nghĩa là thế nào, và chúng tôi cất công đi bao nhiêu dặm đường vừa qua để làm gì? Tôi đoán rằng Mátchia sẽ không có ý nghĩ tốt đẹp về những người bạn của tôi, và nếu tôi có nói chuyện Lidơ thì nó sẽ không để tai nghe với mối thiện cảm như trước nữa. Mà tôi thì hết sức mong muốn Mátchia có sẵn thiện cảm và tinh thần đối với Lidơ trước khi gặp em.

Bị tiếp đón lạnh nhạt như thế, chúng tôi không buồn quay trở lại nữa. Gần sáu giờ thì chúng tôi đến chờ Alơxi ở cửa hầm mỏ. Người ta đào ba lò giếng để lấy than mỏ Tơruye. Thợ mỏ không lên xuống trong khu làm việc theo những giếng ấy; họ lên xuống theo một đường hầm dài bắt đầu bên cạnh kho đèn, thông tới tầng khai thác thứ nhất, từ đó tỏa ra khắp nơi trong mỏ. Bố trí như thế để tránh cho thợ những tai nạn thường vẫn xảy ra trong các giếng khi dây cáp đứt, hoặc một cái thùng chở bị vướng mà hất những người trong thùng xuống dưới sâu hàng hai ba trăm mét; lại cũng để tránh cho họ những thay đổi đột ngột khi từ dưới sâu quãng hai trăm mét, nhiệt độ đều và cao, bỗng nhiên vì lên bằng máy mà chuyển ngay vào một nơi nhiệt độ không đều dễ bị sưng phổi, sưng màng phổi.

Được biết trước thợ mỏ ra lò theo đường hầm ấy, tôi và Mátchia đứng sẵn trước cửa và khi chuông sáu giờ đổ xong, qua mấy phút thì bắt đầu thấy nhiều đốm sáng chập chờn trong hầm tối om. Những chấm ấy lớn dần lên nhanh chóng. Đó là những người thợ đã làm xong công việc trong hầm tối, bây giờ xách đèn đi lên mặt đất sáng sủa. Họ đi chậm chạp, nặng nề, có vẻ như đầu gối họ bị đau làm sao ấy, điều này thì về sau, khi chính mình cũng đã leo hết những thang bậc xuống đến tầng cuối, tôi mới hiểu. Mặt mày họ đen đủi như mặt những người thợ thông ống khói, áo mũ họ dính đầy bụi than và bết nhiều mảnh bùn ướt. Đi đến kho đèn, ai nấy mắc đòn của mình lên một chiếc đanh riêng. Tôi hết sức chú ý, nhưng cũng không thấy Alơxi đi ra, và nếu anh ấy không nhảy tới ôm choàng cổ tôi thì có lẽ tôi cũng đã để anh đi qua mất mà không nhận ra, bây giờ anh đen thủi đen thui từ đầu đến chân, chẳng còn giống cái thằng bạn ngày nào chạy đi chạy lại trong vườn, áo sơmi sạch sẽ xắn tận khuỷu tay, da trắng lồ lộ dưới cổ áo để hở. Anh ấy quay lại với một người trạc bốn mươi đi bên cạnh: "Rêmi đây!". Người đó có gương mặt trung hậu hiền lành cũng như bác Acanh. Điều này chắng có gì lạ, bởi vì họ là anh em ruột. Tôi biết đó là chú Gátxpa. Chú ân cần bảo:

Hai chú cháu tôi đợi anh đã lâu lắm!

Từ Pari đi Vácxơ đường dài quá!

Mà chân anh thì ngắn, có phải không? - Chú vừa bảo thế, vừa cười.

Được gặp lại Alơxi, Capi có vẻ sung sướng; nó ngoạm tay áo Alơxi mà lôi để tỏ bộ mừng rỡ. Trong lúc đó, tôi giới thiệu cho chú Gátxpa biết Mátchia là bạn và là người cộng sựvới tôi, một chú bé trung thực tôi quen biết từ trước, sau này mới gặp lại, chú ta thổi kèn đẩy thì không ai bì. Chú Gátxpa tiếp lời tôi:

Còn kia là "ông" Capi. Mai là chủ nhật, sau khi nghỉ ngơi đã lại sức, các anh biểu diễn cho chúng tôi xem với! Alơxi bảo cái anh Capi này thông thái hơn một thầy giáo, lành nghề hơn một diễn viên.

Đứng trước bà thím, tôi lúng túng bao nhiêu, thì giờ đây, với ông chú, tôi thấy thoải mái bấy nhiêu. Ông đúng là em "bố" Acanh. Ông bảo:

Hai cháu nói chuyện với nhau đi, chắc là có nhiều tâm sự để giãi bày với nhau. Phần chú, để chú chuyện trò với cái anh thanh niên nghệ sĩ kèn đẩy này.

Chuyện của chúng tôi đủ nói trong một tuần lễ, mà e một tuần lễ cũng còn ít quá! Alơxi muốn biết tôi đã đi đường như thế nào, còn tôi, tôi vội muốn nghe xem anh ấy đã làm quen với cuộc sống mới như thế nào. Hai đứa mải lo hỏi han nhau hóa ra không đứa nào chú ý trả lời cho đứa nào cả. Chúng tôi đi từ từ, những người thợ mỏ trên đường về lần lượt vượt chúng tôi, họ đi thành một hàng dài, choán hết cả đường phố, người nào người nấyđều dính đầy bụi đen, cũng thứ bụi đã đóng thành lốp dày trên mặt đất. Đi gần tới nhà thì chú Gátxpa đến bên chúng tôi, bảo:

Các chú bé này, các chú ăn bữa tối với chúng tôi nhé!

Trong khi đi đường, tôi nghĩ thầm rằng thái độ của bà thím đã không hứa hẹn gì tốt đẹp thì khi đến nhà e có lẽ phải chia tay với nhau. Cho nên lời mời của chú Gátxpa làm cho tôi sung sướng hơn bất cứ lời mời nào khác. Bước vào nhà, chú nói ngay:

Đây là Rêmi, và đây là bạn của chú ta.

Tôi cũng vừa gặp các chú ấy.

Càng hay! Vậy thì coi như đã quen nhau. Hai chú ăn tối với chúng ta đây.

Ăn tối với Alơxi nghĩa là được ở lại đêm với anh ấy, điều ấy đành rằng làm cho tôi sướng rơn đi, nhưng thực tình mà nói thì tôi phải thú thực rằng chỉ riêng cái việc được ăn bữa tối cũng đủ làm cho tôi sung sướng rồi. Từ khi ở Pari cất bước ra đi, hai chúng tôi ăn uống thất thường, gặp đâu ăn đó, đây một mảnh cùi nhỏ, kia một mẩu bánh con, chứ có mấy khi được ngồi ghế tựa dùng bữa đàng hoàng, ăn xúp trong đĩa. Thực ra chúng tôi đã kiếm được khá tiền, đủ sức để tự thết mình những bữa chén ra trò trong các quán ăn. Nhưng còn phải dành dụm để tậu con bò của hoàng tử, và Mátchia thì tốt bụng đến nỗi nghĩ đến việc mua bò, nó cũng sung sướng chẳng kém gì tôi.

Nhưng diễm phúc dự một bữa tiệc, tối hôm ấy chúng tôi nào có được hưởng! Tôi cũng ngồi trước bàn ăn, trên ghế tựa, nhưng người ta không dọn xúp cho chúng tôi xơi. Những công ty mỏ hầu hết đều có mở những cửa hàng bán theo giá vốn cho thợ tất cả những gì cần thiết cho đời sống của họ. Quả là có lợi rõ ràng: Người thợ được mua những thứ tốt và rẻ mà đến kì lương mới phải trừ tiền, tránh được nạn mua chịu của bọn con buôn nhỏ chúng rỉa ráy họ đến nghèo đói. Họ cũng tránh được nợ nần (4). Tuy nhiên cũng như nhiều chuyện tốt khác, cái điều này cũng có mặt xấu của nó. Ở Vácxơ, vợ những người thợ mỏ không có thói quen làm việc trong khi chồng xuống hầm. Họ dọn dẹp quét tước xong thì tụm nhau khi ở nhà này, khi ở nhà nọ để uống cà phê, hay sôcôla mua chịu ở cửa hàng tiếp phẩm. Họ nói chuyện, họ ngồi lê đôi mách cho đến khi chiều xuống, tức là lúc người chồng ở hầm mỏ ra, trở về nhà để ăn tối, thì họ không còn có thì giờ để nấu nướng gì nữa. Lúc ấy họ bèn chạy đến cửa hàng mua về những món thịt nguội. Tình trạng này không phải đều khắp nhưng cũng khá phổ biến. Cũng vì bà thím Gátxpa mải la cà tán gẫu mà chúng tôi không được ăn xúp. Đó là thói quen của bà ta, về sau tôi thấy tài khoản của bà ở cửa hàng gồm

Nhiều nhất là khoản cà phê với sôcôla và khoản thịt lợn chế biến sẵn. Ông chú là người dễ dãi vô sự, ông cứ việc xơi những món thịt này không một tiếng phàn nàn, hoặc có nói một lời nhận xét nào thì cũng là hết sức nhẹ nhàng. Ông chìa cốc nói:

Tôi không trở thành một đứa nát rượu vì tôi là người đạo đức. Vậy thì ngày mai nhà hãy cố gắng nấu cho một món xúp.

Thì giờ đâu?

Ngày giờ ở trên mặt đất ngắn hơn ở dưới mặt đất ư?

Thế thì ai khâu vá cho các người? Các người phá hoại quần áo khiếp lắm!

Bấy giờ chú Gátxpa nhìn lại áo quần vấy bẩn bụi than và thủng rách đây đó của mình:

Ừ, quả là chúng tôi ăn mặc như những ông hoàng thật!

Bữa ăn tối của chúng tôi chóng xong thôi! Lúc đứng lên chú Gátxpa bảo tôi:

- Chú bé, chú ngủ với Alơxi.

Rồi chú quay sang nói với Mátchia:

Còn chú, chú xuống nhà bếp, ta sẽ lót cho chú một ổ rơm và cỏ ấm áp. Suốt buổi tối và mãi đến quá nửa đêm, Alơxi và tôi thức nói chuyện.

Nhờ Alơxi, tôi được biết chú Gátxpa là thợ cuốc, nghĩa là chú dùng cuốc chim mà lấythan ra, Alơxi là thợ đun xe của chú, nghĩa là anh ấy đẩy, đun một toa goòng đầy than mới khao (5) chạy trên đường ray trong hầm, từ nơi lấy than cho đến lò giếng. Đến đó, goòng được móc vào một dây cáp và kéo lên trên mặt đất bằng máy.

Tuy Alơxi mới vào làm thợ mỏ chưa được bao lâu nhưng anh đã yêu mỏ và tự hào về mỏ: Theo anh thì đây là cái mỏ đẹp nhất xứ, kỳ lạ nhất xứ. Anh diễn tả với cái vẻ quan trọng của một nhà du lịch từ nơi xa lạ về, thấy người ta chăm chú nghe mình.

Trước hết, người ta đi theo một con đường ngầm đào sâu trong núi đá, chừng mười phút thì đến một bậc thang đá thẳng và dốc; dưới chân thang đá là chiếc thang bắc, rồi lại thang bậc đá, rồi thang bắc nữa và thế là đến tầng thứ nhất, sau chừng năm mươi mét. Muốn xuống tới tầng hai, sâu chín mươi mét, và tầng ba, sâu hai trăm mét, cũng lại theo một hệ thống thang bậc đá và thang bắc như thế, Alơxi làrn việc ở chính cái tầng ba này và muốn xuống tới đó, anh phải lên xuống con đường dài gấp ba lần trèo lên đỉnh tháp nhà thờ Đức Bà Pari.

Thế nhưng lên xuống tháp nhà thờ Đức Bà vẫn dễ dàng hơn; ở đó, thang bậc đều nhau và sáng sủa; còn ở đây, trong mỏ đâu có được như thế. Bậc thang nằm vào những chỗ gồ ghề trên vách đá, thì khi cao khi thấp, chỗ rộng chỗ hẹp. Chẳng có ánh sáng nào ngoài cái đèn cầm trên tay. Trên mặt đường, thuần một thứ bùn trơn nhẫy, luôn luôn ướt sũng vì những giọt nước nhỏ xuống đều đều, có khi rơi lên mặt lạnh buốt.

Xuống sâu hai trăm mét đã là lâu nhưng đâu đã xong, lại còn phải theo các đường hầm mà đi đến những lớp khác nhau mới tới chỗ làm việc. Tất cả hệ thống đường ngầm mỏ Tơruye ước độ ba mươi nhăm đến bốn mươi kilômét. Tất nhiên không phải đi hết cả bốn chục kilômét ấy, nhưng vẫn mệt lắm vì có những quãng phải lội trong nước thấm qua những kẽ hở trên vách đá chảy lênh láng về những giếng chứa, ở đó có máy bơm hút lên tống ra ngoài.

Những quãng đường ngầm xuyên qua những vỉa đá cứng thì chỉ là địa đạo bình thường, nhưng qua những lớp đất lổn nhốn hoặc dễ thụt thì phải chống đứng và chống ngang bằng những đoạn gỗ thông phạt bằng búa, bởi vì những vết cắt bằng cưa dễ làm cho gỗ sớm bị mủn. Tuy đã sắp đặt một cách riêng thích hợp để chống lại sức ép của lớp đất, nhiều khi sức ép quá mạnh cùng uốn cong gỗ khiến đường hầm hẹp vào hoặc thấp xuốngđến mức phải bò mà chui qua. Trên những đoạn gỗ ấy, nấm mọc nhiều lại có những nắm lông tơ nhẹ và xốp như bông, màu trắng như tuyết nổi bật trên đất đen, gỗ đương mục tỏa mùi nhựa cây; trên những mũ nấm, trên những cây cỏ lạ, trên rêu trắng, có những con ruồi, những con nhện, những con bướm, nhưng chúng không giống đồng loại trên mặt đất. Cũng có cả chuột cống chạy loăng quăng và những con dơi bám chặt vào thân gỗ, đầu lộn xuống dưới.

Những đường hầm ấy thường giao nhau, và đây đó, như ở Pari, cũng có những "quảng trường" và những ngã tư, cũng có con đường ngầm đẹp và rộng như đường phố lớn, hoặc hẹp và thấp như những phố nhỏ. Điều khác nhau là tất cả thành phố ngầm ấy không được sáng sủa, kém xa cái thành phố trên mặt đất ban đêm, vì thiếu những cây đèn dầu hoặc đèn khí lớn, mà chỉ có những cây đèn nhỏ người thợ mang theo. Ánh sáng không đủ đấy, nhưng tiếng động lại luôn luôn nhắc cho biết ở đây không phải là âm phủ: Trong những công trường khai phá, thường có tiếng thuốc nổ và mùi thuốc cùng với khói theo gió bay ra; trong đường ngầm, tiếng bánh xe lăn; trong lò giếng, tiếng thang kéo than cọ vào dây dịnh hướng, và át tất cả là tiếng máy hơi nước ở tầng hai chạy ầm ầm.

Nhưng quang cảnh lạ mắt hơn cả là những ngách ngược, tức là những đường ngầm đào trong dốc vỉa than. Những người thợ cuốc làm việc trong đó, cởi trần ra khao than; nằm nghiêng hoặc ngồi xổm. Từ ngách ngược, than đá trôi xuống các tầng, để chuyển từng goòng ra lò giếng khai thác.

Đó là quang cảnh hầm mỏ những ngày làm việc bình thường, nhưng cũng có những ngày xảy ra tai nạn. Đến Vốcxơ được hai tuần lễ, Alơxi đã chứng kiến một tai nạn kiểu đó và thiếu chút nữa thì anh ta cũng là một nạn nhân: Hơi Gờridu nổ. Gờridu là một thứ khí tự nhiên trong các mỏ than hễ gặp lửa là nổ ngay. Không gì ghê gớm hơn cơn nổ ấy: Nó đốt sạch, phá sạch tất cả chung quanh. Chỉ có thể ví với sức nổ của một thùng thuốc súng lèn đầy. Ngọn lửa đèn hoặc lửa diêm vừa bắt vào khí Gờridu, tức thì đám cháy bùng lên như chớp nhoáng trong khắp đường hầm, phá tan mọi thứ trong hầm mỏ; kể cả những lò giếng thông hơi, đều bị nó hắt tung mãi đi. Nhiệt độ có lúc lên cao đến nỗi than thường trong mỏ nóng lên biến thành than cốc.

Một vụ nổ khí Gờridu đã xảy ra sáu tuần lễ trước, giết mất chừng một chục người thợ. Vợ góa của một người thợ ấy đã hóa điên. Tôi hiểu đó là người đàn bà dắt con đi tìm "một con đường mát mẻ" mà tôi gặp khi mới tới đây.

Chống lại những vụ nổ ấy, người ta dùng nhiều cách để phòng: Cấm hút thuốc, và thường thường các kỹ sư, trong khi tuần tra, bắt buộc thợ phải hà hơi ngay vào mũi họ để xét xem có ai đã vi phạm điều cấm. Và cũng để đề phòng tai nạn kinh khủng ấy, người ta dùng loại đèn Đêvi, mang tên nhà bác học người Anh đã sáng chế ra nó. Những chiếc đèn ấy có một mạng lưới làm bằng những sợi kim khí đan khá dầy bao bọc, lửa cháy không lọt qua những lỗ đan được. Khi gặp khí Gờridu, chất khí sẽ bắt lửa nhưng chỉ cháy ngay bên trong đèn, không nổ lan ra ngoài.

Mới đến Vácxơ, tôi đã tò mò muốn xuống hầm mỏ một chuyến thử xem sao. Những chuyện Alơxi kể càng kích thích tính tò mò ấy đến cao độ. Nhưng ngày hôm sau, khi tôi nói với chú Gátxpa thì chú bảo rằng không thể được, vì chỉ những người làm trong mỏ mới được xuống mỏ mà thôi. Chú cười và nói thêm:

Nếu chú muốn làm thợ mỏ - cái đó dễ thôi - thì điều chú mong ước sẽ được thỏa mãn. Nói cho đúng thì cái nghề này cũng chả phải là khổ hơn nhiều nghề khác, và nếu chú sợ mưa, sợ sấm thì cái nghề này thích hợp với chú đấy. Dẫu sao nó cũng còn đỡ hơn cáinghề hát rong trên đường thiên lý. Chú ở lại với Alơxi nhé! Đồng ý chưa, chú bé. Rồi người ta cũng sẽ dùng Mátchia nhưng không phải để thổi kèn đẩy đâu nhá!

Tôi đi tới Vácxơ không phải là để ở lại đó. Tôi đã dự định cho tôi một nhiệm vụ, một mục đích khác hơn là suốt ngày đẩy một xe goòng ở tầng hai hay tầng ba tại mỏ Tơruye. Bởi thế, tôi đành nén cái tính tò mò của tôi xuống. Tôi tưởng rồi cho đến khi lên đường, tôi cũng chả biết gì hơn ngoài những điều Alơxi kể hoặc những câu giải đáp khi được khi mất ở chú Gátxpa. Thế mà tình cờ tôi lại được biết tất cả những ghê rợn, được cảm thấy tất cả những kinh hoàng của một tai nạn mà đôi khi người thợ mỏ gặp phải.
 
15,989 ❤︎ Bài viết: 1929 Tìm chủ đề
Chương 24: Thợ đun xe

Nghề mỏ không phải là một nghề hại sức khỏe. Ngoài vài thứ bệnh hoạn do sự thiếu không khí kéo dài làm giảm hồng huyết cầu trong máu, thì người thợ mỏ cũng khỏe mạnh như người nông dân ở vùng khí hậu tốt. Người thợ mỏ còn hơn người nông dân ở chỗ tránh được những thay đổi của thời tiết, tránh được mưa, rét, nóng bức quá độ. Đối với anh ta thì cái hại lớn nhất là ở những vụ sụt hầm, những vụ nổ và những trận lụt, sau nữa là ở những tai nạn lao động xảy đến do bất cẩn hoặc vụng về.

Một ngày trước hôm tôi định lên đường thì Alơxi bị giập bàn tay phải khá nặng vì anh đã vụng về để cho một tảng than to đè lên: Cả bàn tay thâm tím với nửa ngón tay bị giập. Thầy thuốc của sở mỏ đến khám và băng bó cho anh. Bệnh tình cũng không đến nỗi trầm trọng, bàn tay sẽ lành, cả ngón tay giập nữa. Nhưng cần phải nghỉ ngơi mới được.

Chú Gátxpa vốn dễ tính, sự đời diễn ra thế nào thế ấy, không buồn phiền cũng không giận dữ. Chỉ có mỗi một điều có thể làm chú mất vui, đó là công ăn việc làm bị trở ngại. Khi chú nghe nói Alơxi phải nghỉ nhiều ngày thì chú la lối lên. Trong những ngày đó, ai đẩy xe cho chú? Không có ai thay Alơxi cả. Nếu thay hẳn đi thì chú tìm được người đấy, nhưng ngay trong mấy ngày thôi thì lúc này không thu xếp được, người ta đang thiếu người làm, nhất là thiếu trẻ con.

Tuy thế, chú cũng vẫn chạy ngược chạy xuôi cố tìm một người đun xe. Nhưng chú không tìm được. Chú lại than thở. Trông chú quả thật khổ tâm, vì chú thấy mình bắt buộc cũng phải nghỉ việc, mà túi tiền của chú không cho phép chú nghỉ.

Tôi nhận thấy thế và hiểu rõ nỗi khổ tâm của chú; mặt khác cảm thấy trong hoàn cảnh như thế này, mình hầu như có bổn phận phải đền đáp sự tiếp đãi của người ta theo cách của mình, tôi hỏi chú xem cái công việc đẩy xe than có khó không. Chú trả lời:

Còn gì dễ bằng! Chỉ việc đẩy một cái gòng cho nó lăn trên đường sắt.

Gòng chắc là nặng?

Không nặng lắm, thằng Alơxi đẩy được kia mà.

Ờ nhỉ! Vậy, nếu Alơxi đẩy được thì cháu cũng đẩy được.

Cháu ấy à?

Hẳn là cháu làm được, nếu cháu muốn.

Cháu muốn, vì cái đó giúp ích cho chú.

Cháu là một chú bé tốt. Thế là quyết định rồi đấy! Mai cháu xuống mỏ với chú. Đúng là cháu giúp ích cho chú đấy! Nhưng có lẽ cũng sẽ có ích cho cháu một ngày kia. Nếu làm nghề này mà cháu thấy ưa thích thì còn hơn là đi lang thang trên đường thiên lý. Trong mỏ chẳng sợ đói đâu!

Mátchia sẽ làm gì trong khi tôi ở dưới mỏ nhỉ? Tôi không thề bắt chú Gátxpa nuôi nó. Tôi hỏi xem nó có muốn đi biểu diễn một mình với con Capi ở các vùng lân cận không. Nó nhận lời ngay. Nó vừa cười vừa nói:

Một mình tớ mà cũng làm ra tiền để thêm vào khoản tậu bò thì tớ thú lắm.

Ba tháng sống chung với tôi, sống ở ngoài trời, Mátchia không còn giống cái thằng bé gầy còm, buồn bực mà tôi đã gặp cạnh nhà thờ Xanh Mêđa đúng khi nó đói lả; lại càng không giống thằng nhãi nhóc mà tôi trông thấy lần đầu tiên ở góc nhà tên Garôphôli, đang trông nồi thịt hầm, chốc chốc lại đưa tay lên ôm cái đầu nhức nhối. Bây giờ thì Mátchia không còn bị nhức nhối cái đầu nữa, nó cũng chẳng còn buồn chán mà cũng không gầy còm nữa. Chính cái gác xép ở phố Luốcxin đã làm cho nó rầu rĩ. Bây giờ thì nắng và khí trời đã đem lại sức khỏe cho nó, do đó, cũng đem lại sự vui tươi.

Trong khi đi đường, nó là tiếng cười, là sự vui tính hiện thân lên; nó nhìn mọi việc ở khía cạnh tốt; trong chuyện rủi nó cũng tìm được thấy cái may; cái gì cũng làm nó vui được, đỉnh đinh gì cũng làm nó sướng rơn lên. Không có nó thì tôi đã ra sao rồi nhỉ? Chắc là đã nhiều lần không chống nổi mệt nhọc và buồn phiền.

Thế là chúng tôi giao hẹn với nhau, bắt đầu từ ngày hôm sau, trong lúc tôi xuống hầm mỏ làm việc thì Mátchia đi biểu diễn âm nhạc và kịch để gia tài của chúng tôi thêm to. Tôi giải thích cách thu xếp này cho con Capi nghe và chừng như nó cũng hiểu.

Sáng hôm sau, tôi mặc bộ đồ làm việc của Alơxi. Sau khi đã dặn dò Mátchia và Capi lần cuối, bảo phải hết sức ngoan trong khi biểu diễn, thì tôi theo chú Gátxpa. Lúc đưa cái đèn xách cho tôi, chú bảo:

Phải cẩn thận đấy! Cứ theo gót chú mà đi. Và lúc xuống thang bắc, cháu nhớ đừng bỏ nấc thang trên khi chưa bám được nấc dưới.

Chúng tôi đi vào đường hầm, chú đi trước, tôi theo sát chú. Chú nói tiếp:

Nếu cháu trượt ở cầu thang thì chớ có buông xuôi, phải cố víu vào cái gì đấy mà gượng lại, chứ đáy hầm sâu và rắn lắm đấy!

Dù không có những lời dặn dò ấy, tôi cũng đủ xúc động lắm rồi. Không thể nào bình tĩnh được khi người ta từ bỏ ánh sáng để đi vào đêm tối, rời bỏ mặt đất để đi xuống hang sâu. Tự nhiên, tôi quay đầu nhìn lại. Nhưng chúng tôi đi đã khá sâu vào trong đường hầm cho nên ở đầu kia cái ống dài ấy, ánh sáng chỉ còn là một quả cầu trắng, tựa như cái mặt

Trăng ở giữa một vùng trời tăm tối không sao. Tôi lấy làm xấu hổ về cái cử chỉ máy móc ấy của tôi, nó chỉ diễn ra trong một thoáng, và tôi lại bước theo gót chú Gátxpa ngay.

Lát sau, chú nói: "Cầu thang đây!" và chúng tôi đã đứng trước một cái hang đen ngòm. Trong khoảng sâu mà mắt tôi không ước lượng được, tôi thấy những ánh lửa đu đưa, gần miệng hang thì còn to, càng đi xa càng nhỏ dần, cho đến khi chỉ còn là những đốm. Đó là đèn của những người thợ mỏ đã vào hầm trước chúng tôi. Một luồng không khí hâm hẩm thổi tạt vào mặt, mang đến chúng tôi tiếng thì thào chuyện vãn của họ. Trong không khí ấy có cái mùi mà bây giờ tôi mới hít thở lần đầu, một cái mùi gì như là mùi ête và dầu xăng trộn lẫn.

Hết cầu thang thì đến cầu thang bắc, hết thang bắc thì đến một cầu thang nữa. Đến cuối cầu thang này, chú Gátxpa nói: "Chúng ta đã đến tầng một".

Chúng tôi đang ở trong một hầm xây cuốn tò vò, hai bên có tường gạch thẳng đứng. Vòm cuốn hơi cao hơn tầm người một ít. Tuy thế có những đoạn người ta phải cuối xuống mới đi qua được, vì vòm đá sụt xuống, hoặc là vì đất nền đã cồn lên. Chú Gátxpa nói:

Sức ép của đất như thế đấy! Vì hòn núi bị khoét khắp nơi và trong lòng núi có những chỗ trống cho nên đất cứ muốn sụt xuống và khi đã quá nặng thì nó đè bẹp hầm.

Trên nền đất có đường ray và dọc theo đường hầm có một dòng nước.

Dòng nước này sẽ hợp với nhiều dòng khác, chúng đều do những mạch nước rỉ kết lại. Tất cả đều đổ dồn vào một giếng chứa. Thế là máy bơm mỗi ngày phải hút từ một nghìn

Đến một nghìn hai trăm mét khối nước đổ ra sông Đivôn. Nếu máy nghỉ thì hầm mỏ bị lụt ngay. Với lại, bây giờ thì chúng ta đang ở ngay dưới lòng sông Đivôn đấy.

Tôi giật mình đánh thót một cái làm cho chú Gátxpa cười vang.

Ở sâu những năm mươi mét như thế này thì cháu không ngại bị nước đổ xuống đầuđâu!

Rủi có một cái hang, cái lỗ gì thì sao?

Ừ phải, một cái lỗ thì đáng sợ đấy! Các đường hầm đi ngang dọc chín mười lần dưới lòng sông. Có những mỏ đáng sợ lụt, nhưng ở đây thì không. Gờridu cháy, hầm sạt, mìn nổ, bấy nhiêu cũng đã quá đủ rồi.

Đến công trường, chú Gátxpa chỉ bảo công việc cho tôi làm. Khi chiếc xe goòng của tôi đầy than, chú cùng đẩy với tôi để chỉ bảo cho tôi cách đẩy xe cho tới giếng lấy than và cách đỗ xe bên đường tránh khi gặp xe khác đi ngược chiều. Chú nói có lý, cái nghề đẩy xe than này không khó: Vài giờ sau thì tôi đã làm tạm được, nhưng chưa thành thạo. Tôi chưa quen tay, chưa khéo tay, mà thiếu những cái đó thì có nghề gì ta làm tốt được. Tôi đành hì hà hì hục lấy sức thay vào, cho nên mệt nhiều mà hiệu quả thì ít.

Cũng may là cảnh sống mấy năm qua, nhất là hành trình ba tháng vừa rồi, đã làm cho tôi quen chịu đựng mệt nhọc. Vì thế, tôi không hề kêu rên, và chú Gátxpa tuyên bố tôi là một thằng bé ngoan, sau này tất trở thành một người thợ mỏ giỏi.

Nhưng tôi chỉ thích xuống mỏ chứ có thích gì ở lại trong mỏ! Tôi chỉ tò mò thôi, tôi không nghe thấy tiếng gọi của nghề nghiệp.

Muốn sống trong lòng đất, phải có những đức tính đặc biệt mà tôi không có: Phải ưa lặng lẽ, quạnh hiu, trầm tư mặc tưởng. Phải biết sống những khắc, những ngày đằng đẵng, tâm trí lắng xuống với mình, không trao đổi với ai một lời, không có một phút giải trí. Thế mà tôi thì không có cái khiếu ấy, xưa nay tôi quen sống lang thang, luôn chân đi, luôn mồm hát. Những giờ khắc tôi đẩy xe gòng trong đường hầm sao mà lạnh lùng, buồn tẻ thế! Đường hầm âm u, chiếc đèn tay le lói, tiếng ù ù xa xôi của xe gòng lăn trên đường sắt, tiếng róc ráchcủa dòng nước, thỉnh thoảng tiếng mìn nổ lại xé toang sự lặng lẽ cõi âm này và làm cho nó càng nặng nề, ảm đạm thêm.

Xuống mỏ, lên mỏ mất nhiều công sức cho nên người ta ở luôn dưới mỏ suốt cả ngày mười hai tiếng đồng hồ, không về nhà ăn trưa. Người ta ăn uống ngay ở công trường.

Gần khu khai thác của chú Gátxpa, có một người đun xe gòng không phải là trẻ con như những người đun gòng khác. Người ấy, ngược lại là một ông già râu bạc. Khi tôi nói râu bạc phải hiểu rằng nó chỉ bạc ngày chủ nhật, ngày tổng vệ sinh, còn trong tuần thì ngày thứ hai nó bắt đầu ngả màu xám để đến thứ bảy thì đen hoàn toàn. Người ấy trên sáu mươi. Ngày còn trẻ, ông ta là thợ chống hầm tức là thợ mộc chuyên việc làm cọc gỗ chống hầm và chăm sóc sửa chữa những cọc ấy. Nhưng trong một vụ sập hầm, ông bị dập nát ba ngón tay, từ đấy ông phải bỏ nghề thợ mộc. Vì ông cứu ba người bạn thợ mà bị nạn cho nên sở mỏ của ông cho ông hưởng một khoản trợ cấp nhỏ. Ông sống bằng khoản trợ cấp ấy được mấy năm, sau đó sở mỏ bị vỡ nợ, ông trở thành không nghề nghiệp, không kế sinh nhai. Lúc ấy ông phải xin vào làm thợ đẩy xe ở mỏ Tơruye. Người ta quen gọi ông là "cụ giáo" bởi vì ông hiểu biết nhiều điều mà những người thợ cuốc, ngay đến thợ cả cũng không biết, và cũng tự hào về những kiến thức đó, lúc nào ông cũng sẵn sáng trình bày.

Trong các bữa ăn trưa, chúng tôi làm quen với nhau, và ông tỏ ý trìu mến tôi ngay. Tôi là một đứa say sưa nói chuyện, ông là một người vui chuyện, hóa nên chúng tôi trở thành đôi bạn chẳng rời nhau. Thường thường trong mỏ người ta ít nói, nên những người khác bảo chúng tôi là ba hoa.

Nghe những chuyện Alơxi kể, tôi còn thèm thuồng vì chưa hiểu hết những điều mình muốn biết; những câu trả lời của chú Gátxpa cũng vẫn chưa làm tôi thỏa mãn vì khi tôi hỏi chú chẳng hạn: "Than đá là gì?" thì chú cứ một mực trả lời:

Đó là than có cái dáng đá.

Câu giải đáp của chú về than đá cũng như các câu giải đáp tương tự về những việc khác không làm cho tôi vừa ý, bởi vì cụ Vitali đã tập cho tôi cái thói quen không chịu thỏa mãn một cách dễ dàng như vậy. Khi tôi hỏi cụ giáo cái câu ấy thì cụ trả lời khác hẳn. Cụ nói:

Than đá thì cũng là than củi mà thôi! Khi chúng ta đốt than đá, chúng ta không bỏ vào lò những cây cối ở thời đại chúng ta, do những con người như cháu và bác làm thành than. Chúng ta bỏ vào lò những cây cối từ đời xửa đời xưa do những lực lượng thiên nhiên biến thành than, những lực lượng như cháy rừng, núi lửa, động đất.

Thấy tôi nhìn cụ một cách kinh ngạc, cụ bảo:

Hôm nay chúng ta không có thì giờ nói cái chuyện ấy, phải đẩy xe đã! Nhưng mai chủ nhật, cháu đến bác chơi, bác sẽ giải thích cho nghe. Ở nhà bác có những mẫu than, mẫuđá bác nhặt nhạnh được từ ba mươi năm nay, chúng sẽ giúp cháu hễ nghe cái gì thì nhìn thấy và hiểu ngay cái ấy. Người ta cười mà gọi bác là cụ giáo. Nhưng cháu sẽ thấy cũng có

Ích ít nhiều. Đời sống của con người không phải chỉ ở hai bàn tay, nó còn ở trong đầu nữa. Trạc tuổi cháu, bác cũng ham hiểu biết như cháu bây giờ. Sống trong mỏ bác muốn hiểu biết những điều mình nhìn thấy hằng ngày. Bác hỏi han các kỹ sư những khi họ vui lòng nói chuyện, và lúc đọc sách. Sau khi bị nạn, bác có thì giờ nhàn rỗi và dùng thì giờ ấy để học hỏi. Sách vở là những cặp kính, khi người ta có đôi mắt để trông nhìn mà người ta mang thứ kính ấy lên thì người ta sẽ nhìn thấy được rất nhiều. Bây giờ thì bác không có nhiều thì giờ lắm để đọc sách và bác cũng không có tiền mua sách. Nhưng bác còn cặp mắt luôn mở. Mai cháu tới nhà bác nhé! Được bày vẽ cho cháu, trông nhìn quanh cháu, bác cũng thích lắm. Một lời hay lọt vào một lỗ tai tốt sẽ làm nảy nở những gì, ai biết được? Vì đã đưa đường chomột nhà bác học lớn là Bờrôngnhia (1) đi vào đường hầm mỏ ở Bétxe và nghe ông ta nói chuyện trong lúc nghiên cứu mà bác nảy ra cái ý định muốn học tập. Và cũng nhờ vậy mà ngày nay bác hiểu biết hơn các bạn khác ít nhiều. Thôi mai nhé!

Sáng hôm sau, tôi báo với chú Gátxpa là tôi đi thăm cụ giáo. Chú cười, bảo tôi:

À, vậy là thằng bé đã gặp được người để chuyện rồi! Đi đi, cứ đi đi cháu ạ, cháu thích thì cứ đi! Dẫu sao thì tin cái gì, không tin cái gì cũng tùy cháu cả. Có điều là nếu cháu học được gì ở ông cụ ấy, cũng đừng nên tự phụ vì nó. Cái "cụ giáo" ấy mà không tự phụ thì quả là một con người tốt.

Cụ giáo không ở trong thành phố như phần nhiều những người thợ mỏ. Cụ ở một nơi buồn tẻ, nghèo nàn, trong vùng có những hang hốc tự nhiên khoét sâu vào sườn núi, cách thành phố một quãng ngắn. Cụ ở nhà một bà già vợ góa của một người thợ mỏ chết vì nạn sập hầm. Bà ấy cho cụ thuê cái hầm nhà bà và cụ kê giường nằm ở chỗ khô ráo nhất; nói thế không phải là nó khô ráo lắm đâu, bởi vì nấm vẫn mọc ngay trên chân giường. Nhưng đối với một người thợ mỏ luôn luôn dầm chân dưới nước, suốt ngày bị nước rỏ trên người, thì đây là một điều vụn vặt không đáng kể. Cái vấn đề trọng yếu là được ở gần các hang núi để tìm tòi nghiên cứu, nhất là làm sao có chỗ để tùy ý cắt đặt những mảnh than, những hòn thạch mà cụ tập hợp. Khi tôi bước vào thì cụ ra đón tôi và nói, giọng sảng khoái:

Bác đã mừng cháu một tiệc hạt dẻ lùi nhắm với vang trắng đây. Ừ, tuổi trẻ có tai có mắt muốn nghe, muốn nhìn thì cũng có họng nữa. Muốn đánh bạn với họ, phải thỏa mãn tất cả các cái ấy cùng một lúc. Sau tiệc hạt dẻ, chúng ta sẽ trò chuyện và bác cũng sẽ chỉ cho cháu xem kho sưu tầm của bác.

Cụ nói mấy tiếng "kho sưu tầm của bác" với giọng tự hào có lẽ không có ông viện trưởng viện bảo tàng nào tự đắc đến thế. Nói cho đúng thì cái kho sưu tầm ấy cũng khá phong phú, theo sự nhận xét của tôi, và nó chiếm cả gian phòng. Mẫu bé thì xếp trên những tấm ván hoặc trên những chiếc bàn, mẫu lớn thì đặt dưới đất. Đã hai mươi năm nay, trong lúc tìm tòi khảo cứu, cụ góp nhặt tất cả những cái gì đáng chú ý. Các mỏ ở khu vực sông Xerơ và sông Đivôn vốn giàu nhưng cây cỏ hóa thạch, cho nên ở kho tàng của cụ có những mẫu rất quý có thể làm cho một nhà địa chất hay một nhà sinh vật học sung sướng.

Cụ giáo nôn nóng nói cũng như tôi nôn nóng được nghe cho nên chúng tôi thanh toán nhanh chóng bữa tiệc hạt dẻ. Cụ nói:

Cháu muốn biết than đá là gì thì hãy nghe đây, bác sẽ giảng cho cháu, đại khái và vắn tắt, để cháu đủ sức xem những vật mẫu của bác. Chúng sẽ giảng giải rõ hơn vì mặc dù người ta gọi bác là cụ giáo, bác đâu có phải là một nhà bác học, không, còn xa lắm.

Cái quả đất chúng ta ở ngày xưa không phải như thế này nó trải qua nhiều trạng thái sau các cuộc biến động. Đã có những thời kì đất nước ta đây um tùm những cây cỏ ngày nay chỉ mọc ở vùng nhiệt đới, chẳng hạn như các loại phượng vĩ lớn. Rồi xảy ra một cuộc biến động lớn và những loại thực vật khác đã thay chân cho những loài ấy. Thế rồi đến lượt những loại này cũng thay thế bằng những loại mới, và sự việc cứ thế mà tiếp diễn trong có dễ hàng triệu năm. Những thực vật ấy chết chồng chất lên nhau và thối mục ra làm thành các tầng than. Cháu không tin thế à? Lát nữa bác sẽ chỉ cho cháu xem trong loạt mẫu vật của bác có những mẩu than và rất nhiều những mảnh đá lấy ở các vỉa quặng trên trần hầm hoặc thành hầm, còn in dấu vết những cây cỏ ấy. Dấu vết cây cỏ ở đây được giữ lại rõ rệt như những cây cỏ người ta xếp giữa các tờ giấy của một quyển tiêu bản thực vật. Thế là than đá hình thành do cây cỏ dồn chứa lại, như bác đã nói: Đó chỉ là gỗ phân hóa và bị ép xuống.

Cháu sẽ hỏi: Sự chứa chất ấy diễn ra như thế nào? Điều đó khó giải thích hơn và hình như các nhà bác học cũng chưa giải thích được tường tận, bằng chứng là họ không nhất trí với nhau. Có nhiều người cho là nước đã đưa tất cả cây cỏ ấy ra biển, ở đấy chúng kết thành những bè to lớn bị dòng nước biển xô đi và giạt vào nơi này nơi kia. Có người bảo, những tầng than hình thành do cây cỏ chất chứa lại một cách bình thường, những cây cỏ này nối tiếp nhau chôn vùi ngay ở nơi chúng mọc. Và họ làm những con tính khiến đầu óc ta choáng váng; họ tính ra nếu chặt một hécta rừng xếp trải ra trên diện tích ấy thì chỉ được mộ lớp gỗ dày tám ly là cùng; gỗ ấy thành than thì chỉ còn hai ly. Thế mà ở dưới đất có những tầng than dày đến hai mươi, ba mươi mét. Vậy phải bao nhiêu năm mới hình thành những tầng than như vậy! Chắc cháu cũng biết một rừng cây không phải mọc trong một ngày, mà phải khoảng một trăm năm. Để làm thành một tầng than dày ba mươi mét, phải có năm nghìn rừng kế tiếp nhau mọc ở chỗ ấy, nghĩa là phải năm mươi vạn năm. Con số đó đã kinh khủng lắm phải không? Tuy thế nó vẫn chưa đúng bởi vì cây cối không mọc nói tiếp nhau đều đặn như vậy; phải hơn một trăm năm nó mới mọc lên và chết đi được và khi một loạt mới thay thế một loạt cũ thì cần phải có nhiều sự đổi thay, nhiều cuộc biến động, cái lớp cây mục ấy mới thành thức ăn cho loại cây mới. Ấy đấy, cháu thấy chưa, năm mươi vạn năm đã có nghĩa lý gì, chắc là phải hơn thế nhiều. Nhiều nhưng là bao nhiêu? Bác không biết và cũng không phải là người đủ sức tìm tòi được điều đó. Bác chỉ muốn cho cháu một ý niệm về than đá, để cháu có đủ trình độ xem những vật mẫu của bác. Bây giờ thì mời cháu đi xem nào!

Tôi ở đến đêm, vì cứ gặp một mảnh đá, mỗi dấu vết cây cỏ, cụ giáo lại giảng giải. Nhờ vậy mà rốt cuộc, tôi cũng tạm tạm hiểu những điều thoạt đầu làm tôi hết sức ngạc nhiên.
 
15,989 ❤︎ Bài viết: 1929 Tìm chủ đề
Chương 25: Lụt mỏ

Sáng hôm say, chúng tôi lại gặp nhau trong mỏ.

Này cụ giáo! - Chú Gátxpa nói. - Cụ có hài lòng về thằng bé không đấy?

Có chứ! Nó biết lắng tai nghe và tôi tưởng rồi đây nó cũng sẽ biết mở mắt nhìn.

Trong khi chờ đợi, nó phải biết vung tay làm cái đã!

Chú Gátxpa đùa thế, rồi đưa cho tôi một cái nêm để giúp chú cậy một tảng than đã đục xoi ở dưới. Những người thợ cuốc thường bảo thợ đun xe giúp mình như vậy.

Tôi đẩy xe goòng của tôi đến giếng xúc lần ấy là lần thứ ba. Thình lình tôi nghe từ phía giếng vang lại một tiếng động dữ dội, một tiếng rền kinh khủng. Tôi chưa bao giờ nghe một tiếng như thế từ khi tôi vào làm trong mỏ. Một vụ sạt hầm chăng, hay là tất cả mỏ sụp đổ? Tôi lắng nghe. Tiếng ầm ầm kéo dài và dội đi tứ phía. Cái gì thế này nhỉ? Thoạt tiên tôi hoảng sợ, và tôi toan chạy lại thang bắc để thoát thân. Nhưng người ta đã nhiều lần chế nhạo tôi về những chuyện sợ sệt hão huyền, nên lúc ấy tôi thấy xấu hổ và dừng lại. Chắc là vụ nổ mìn, hoặc là một cái thùng xúc rơi xuống giếng mà thôi; hoặc có lẽ chỉ là tiếng đất đá vữa vụn đổ xuống theo các hành lang.

Bỗng một đàn chuột cống chạy đâm sầm qua chân tôi, y như một đội kị binh rút chạy thoát thân. Rồi tôi nghe như có tiếng cọ xát vào nền đất và tường hầm, một thứ tiếng cọ xátlạ lùng, trong ấy có tiếng nước vỗ. Chỗ tôi đứng hoàn toàn khô ráo, cái tiếng ấy từ đâu mà ra không thể hiểu được.

Tôi cầm đèn để soi thử và hạ xuống gần mặt đất: Đúng là có nước. Nước về từ giếng và đi ngược đường hầm. Cái tiếng ầm ầm dữ dội, cái tiếng rền đó là tiếng nước đổ vào mỏ. Tôi bỏ xe lại, chạy về công trường.

Chú Gátxpa ơi, nước đổ vào mỏ!

Lại chuyện vớ vẩn!

Đáy sông Đivôn bị thủng, ta chạy trốn đi thôi!

Đừng quấy chú mà!

Chú nghe thử coi!

Giọng của tôi xúc động quá nên chú Gátxpa ngừng tay cuốc để nghe ngóng. Vẫn cái tiếng ấy tiếp tục, càng to hơn, càng khủng khiếp hơn. Không còn nghi ngờ gì nữa, đó là tiếng nước xô đến. Chú Gátxpa thét:

Chạy nhanh đi, nước vào mỏ rồi!

Vừa thét "nước vào mỏ rồi" chú vừa vớ chiếc đèn vì đó là cử chỉ đầu tiên của người thợ mỏ, và chui tuột xuống đường hầm. Tôi đi chưa được mười bước thì trông thấy cụ giáo cũng xuống đường hầm để tìm hiểu cái tiếng động đã làm cụ chú ý. Chú Gátxpa kêu:

Nước ở trong mỏ!

Sông Đivôn thủng đáy! - Tôi nói.

Mày cứ nói nhảm!

Chạy đi cháu! - Cụ giáo thét.

Mực nước trong hầm lên rất mau, lúc đó đã đến đầu gối chúng tôi, cho nên không chạy nhanh được. Cụ giáo cũng chạy theo chúng tôi và cả ba chúng tôi mỗi khi chạy qua một hốc lấy than đều gọi chõ vào:

Chạy đi các anh! Nước vào mỏ rồi!

Nước dâng lên với tốc độ điên cuồng. May sao, chúng tôi ở gần chân thang, nếu không thì không tài nào tới kịp. Cụ giáo đến chân thang trước, nhưng cụ dừng lại và nói:

- Lên trước đi! Tôi là người già nhất, vả lại tôi không có gì ân hận.

Trong hoàn cảnh đó, nhường nhịn lễ nghĩa lại là không phải lúc, cho nên chú Gátxpa lên trước, thứ đến tôi, rồi đến cụ giáo và đằng sau cụ cách một quãng khá xa, có mấy người thợ chạy theo chúng tôi. Không bao giờ người ta vượt cái quãng bốn mươi mét giữa tầng hai và tầng một như vậy. Nhưng trước khi lên đến nấc cuối cùng thì một mảng nước đổ ập xuống đầu chúng tôi và dội tắt mấy cái đèn. Quả là một cái thác lũ.

Chú Gátxpa thét: - Cố bám nhé!

Chú ấy, cụ giáo và tôi bám riết vào mấy nấc thang và chống giữ được. Nhưng những người lên sau bị cuốn đi hết. Nếu chúng tôi cũng còn mươi bậc thang nữa mới lên tới thì chắc chắn cũng đã bị xô xuống như họ, bởi vì cái thác nước trong nháy mắt đã trở thành như một cơn lũ.

Đến tầng một cũng không phải là đã thoát nạn vì còn phải leo những năm chục mét nữa mới thoát ra khỏi mỏ, mà ở tầng ấy cũng có nước, đèn chúng tôi lại tắt hết, chẳng còn nhìn thấy gì. Giọng cụ giáo nói, khá bình tĩnh:

- Nguy mất rồi!

Vừa lúc ấy thì bảy tám ngọn đèn hiện ra trong đường hầm, đi về phía chúng tôi.

Nước đã đến gối, không cần cúi xuống, bàn tay chúng tôi cũng mó phải. Không phải thứnước lặng mà là một dòng thác lũ gặp vật gì cũng cuốn đi cả và làm cho những thớt gỗ quay cuồng như những chiếc lồng chim. Những người xách đèn đi ngược phía chúng tôi đi theo đường hầm để đến thang gần đấy. Nhưng trước một dòng thác lũ như thế thì không thể được: Làm sao đẩy nó lùi, làm sao chống lại sức cuốn của nó, làm sao chống lại được những thớt gỗ nó lùa đi?

Cái câu cụ giáo buột miệng kêu, những người này cũng buột miệng kêu: "Nguy mấtrồi!".

Họ đã đến chỗ chúng tôi. Cụ giáo là người duy nhất còn ít nhiều tỉnh táo. Cụ thét:

Đi tới chỗ đó, ừ chỗ công trình cũ là nơi duy nhất có thể tránh nạn được.

Khu công trình cũ là một khu vực mỏ đã bỏ từ lâu, không ai tới đó, trừ cụ giáo, cụ thường lui tới để tìm tòi những vật quý lạ. Cụ nói lớn:

- Hãy quay trở lại ngay! Cho tôi một cái đèn, tôi sẽ đưa các người đi.

Ngày thường, khi cụ nói người ta cười phì hoặc nhún vai mà quay lưng lại. Nhưng bây giờ thì những tay khỏe nhất và tự phụ nhất vào sức khỏe của mình cũng đã bủn rủn tay chân. Và tất cả đều răm rắp theo lời cái ông già ngây ngô mà năm phút trước họ còn chế giễu. Tự nhiên cả mấy chiếc đèn đều chìa lại phía cụ. Cụ vội vàng xách một chiếc, còn tay kia thì kéo tôi, cụ dẫn đầu đoàn chúng tôi đi lên. Vì xuôi chiều nước nên chúng tôi đi được khá nhanh. Tôi không biết là đi đâu, nhưng tôi đã có hy vọng. Chúng tôi đi dọc theo đường hầm một lúc, trong mấy phút hay mấy giây không biết, vì chúng tôi chẳng có ý niệm gì về thời gian nữa. Rồi cụ giáo dừng lại. Cụ kêu lên:

- Không kịp rồi, nước lên mau quá!

Quả thật nước lên nhanh như vọt, từ đầu gối nó lên hông, rồi đến ngực tôi.

Chúng ta phải chui vào một ngách ngược. - Cụ giáo nói.

Rồi sau đó?

Ngách ngược không có lối thoát.

Chui vào một cái ngách ngược thì đúng là chui vào một cái ngõ cụt. Nhưng không phải lúc chờ đợi hay kén chọn: Một là phải chui vào ngách ngược và như thế là còn lợi được dăm ba phút nghĩa là còn hy vọng thoát nạn, hay là phải tiếp tục đi dọc theo đường hầm để chắc chắn bị ngập đầu chìm nghỉm trong mấy giây nữa.

Vậy nên theo sau cụ giáo, chúng tôi chui vào ngách ngược. Có hai người khác cứ thế tiếp tục đi sâu vào ngách hầm, hai người này về sau không bao giờ chúng tôi gặp lại. Vào đây, hoàn hồn, chúng tôi mới nghe rõ cái tiếng ầm ầm làm choáng tai chúng tôi từ khi bắt đầu chạy trốn. Đó là tiếng đất lở, tiếng nước xoáy, nước đổ, tiếng gỗ chống gãy, tiếng nổ của không khí bị ép. Tất cả làm thành một tiếng náo động khủng khiếp khiến chúng tôi mất vía mất hồn.

Đúng là cơn hồng thủy (1).

Tận thế đến nơi!

Lạy chúa! Hãy thương lấy chúng con!

Từ khi vào ngách ngược, cụ giáo không nói gì cả, cụ không thèm than thở vô ích. Bây giờ cụ nói:

Các chú ạ, các chú đừng phí sức. Nếu chúng ta cứ dùng tay chân mà bấu víu thế này thì chả bao lâu chúng ta sẽ mệt lả đi. Phải khoét đá làm chỗ tựa mới được.

Lời khuyên đúng, nhưng khó thực hiện, vì không ai mang cuốc chim theo cả. Ai cũng có đèn, không ai có dụng cụ. Cụ giáo tiếp:

Dùng cái móc đèn mà đào.

Thế là người nào cũng lấy móc đèn mà moi đất. Công việc khó khăn lắm, vì ngách dốc quá và trơn, nhưng biết rằng hễ trượt chân một cái là tụt thẳng đến chỗ chết, nên người ta khỏe ra và khéo tay khéo chân hơn. Chỉ trong mấy phút, mỗi chúng tôi đã khoét được một cái hốc để đặt bàn chân. Xong việc đó, chúng tôi nghỉ một chút và nhận mặt nhau. Có bảy người: Cụ giáo, đến tôi ở cạnh cụ, rồi chú Gátxpa, tiếp đó ba người thợ cuốc là Pagiét, Côngpêru, Bécgunu và một thợ đun xe là Carôry. Những người khác đã mất tích trong đường hầm.

Tiếng động trong hầm mỏ vẫn vang lên dữ dội chứ không giảm đi chút nào. Âm vang của sự náo động ghê rợn ấy mãnh liệt như thế nào, quả không có chữ gì diễn tả được. Đại bác bắn, sét nổ, núi sạt cùng một lúc e cũng không gây tiếng động lớn như vậy. Đờ đẫn, hoảng hồn vì khiếp sợ, chúng tôi nhìn nhau, mỗi người cố tìm trong mắt người bạn bên cạnh sự giải thích mà mình không tìm ra được. Người này nói:

Nạn hồng thủy. Người kia:

Ngày tận thế. Rồi:

Động đất.

Lụt do nước đọng ở khu công trình cũ.

Chắc là sông Đivôn bị thủng đáy.

Lời ước đoán sau cùng này là của tôi. Tôi không thể từ bỏ ý nghĩ đáy sông Đivôn bị thẩm lậu một chỗ. Cụ giáo không nói gì cả. Cụ nhìn hết người này đến người khác, nhún vai, bình tĩnh y như là đang thảo luận ở giữa trời, dưới bóng một cây dâu, trong lúc ăn một củ hành. Cuối cùng, khi mỗi người đã phát biểu ý kiến của mình, cụ nói:

Lụt thì đây hẳn là một trận lụt..

Do động đất mà ra.

Ở khu công trình cũ tràn đến.

Qua một lỗ thủng ở đáy sông Đivôn.

Đây là một trận lụt.

Rồi sao nữa? Lụt ở đâu đến? - Nhiều người nổi lên hỏi cùng một lúc.

Tôi không biết. Nếu chỉ riêng có tầng ba bị lụt mà bảo là lụt từ công trình cũ thì còn có thể tin, đằng này cả tầng hai và tầng một cũng bị. Các anh biết rằng nước chảy xuống mãi chứ không bao giờ chảy lên mà!

Cái lỗ thủng?

Tự nhiên thì không thể sinh ra những lỗ thủng như vậy!

Chắc là động đất.

Tôi không biết.

Không biết thì đừng nói!

Tôi biết là lụt, và thế là có biết ít nhiều rồi, lụt từ trên xuống.

Gớm chửa! Cái đó ai không thấy, nước đuổi theo ta mà!

Từ khi vào chỗ khô ráo, người ta cảm thấy an toàn nên không cần nghe cụ giáo nữa.

Thôi, đừng có làm bộ thông thái nữa, anh có biết gì hơn chúng tôi đâu!

Trong lúc nguy nan, sự quyết đoán của cụ giáo đã gây nên uy tín cho cụ. Uy tín ấy bây giờ mất rồi. Cụ lặng yên, không cãi lại.

Để cho át tiếng động, chúng tôi nói như gào thét, thế nhưng tiếng chúng tôi cứ như thì thầm. Cụ giáo bảo tôi:

Cháu thử nói lên xem.

Nói gì bây giờ?

Nói gì cũng được, miễn là có nói, nói những tiếng thoạt tiên cháu nghĩ đến. Tôi nói một vài câu.

Được. Bây giờ nói khẽ hơn. Được rồi. Tốt.

Này cụ giáo, cụ loạn óc rồi đấy à? - Pagiét nói.

Cụ sợ quá mà hóa điên rồi chăng?

Cụ tưởng cụ đã chết rồi phỏng?

Tôi tưởng rằng nước sẽ không lên đến chỗ chúng ta và nếu phải chết thì chúng ta sẽ không chết đuối.

Thế nghĩa là thế nào, cụ giáo?

Anh nhìn đèn của anh xem.

Thì nó vẫn cháy.

Có giống như thường ngày không?

Ngọn đèn sáng chói hơn nhưng ngắn hơn.

Có Gờridu à?

Không. - Cụ giáo nói. - Cả cái đó cũng không đáng sợ. Sự nguy hiểm không ở khí Gờridu, cũng không ở nước; nước từ bây giờ sẽ không dâng lên tấc nào nữa.

Thôi đừng có bí mật như làm trò phù thủy.

Tôi không làm trò phù thủy, chúng ta đang như ở trong một cái chuông không khí (2), và chính không khí bị ép cản nước lại không cho lên. Cái ngách này bịt bùng ở trên có tác dụng như cái chuông của người thợ lặn. Không khí bị nước dồn lại đã tụ cả ở đây và bây giờ nó chống lại nước, ngăn nước không cho lên thêm nữa.

Nghe cụ giáo giải thích rằng chúng tôi đang ở trong một thứ chuông thợ lặn, ở đó nước không lên tới chúng tôi, có người bàn tán, không tin.

Nhảm chưa, không phải nước mạnh hơn tất cả à?

Đúng thế, khi nó tự do ở ngoài trời. Nhưng khi anh áp cái cốc xuống thùng nước, nước có lên đến đáy cốc không? Không chứ? Cứ còn một khoảng trống. Ấy đấy! Có khoảng trống ấy là vì có không khí. Ở đây cũng thế; chúng ta đang ở trong đáy cốc, nước có luôn luôn lên tới chúng ta đâu!

Cái đó tôi hiểu. - Chú Gátxpa nói. - Và bây giờ, các bác ạ, tôi thiết tưởng các bác hay chế nhạo cụ giáo là không đúng. Cụ biết những cái chúng ta không biết.

Thế là chúng ta thoát nạn. - Carôry kêu.

Thoát nạn? Tôi không nói vậy. Ta không chết đuối, đó là điều tôi bảo đảm. Cái nó cứu chúng ta là ở chỗ ngách này bịt bùng, không khí không thoát ra được. Nhưng chính cái cứu ta cũng là cái hại ta. Không khí không thoát ra được, nó bị giam hãm, nhưng chúng ta cũng bị giam hãm, chúng ta không thoát ra được.

Khi nước xuống..

Nó có xuống không? Cái đó tôi không biết. Muốn biết cái đó phải biết do đâu mà nó lên, và ai trả lời được?

Cụ đã bảo là lụt mà?

Ừ, rồi sao nữa? Lụt thì chắc chắn là lụt rồi. Nhưng do đâu mà lụt? Sông Đivôn đã dâng tràn đến giếng mỏ chăng? Mưa dông chăng? Một con suối lở bờ? Hay là một trận động

Đất? Phải ở ngoài mới nói được, khốn thay chúng ta lại ở trong.

Có lẽ thành phố bị cuốn đi rồi?

Có lẽ..

Một phút yên lặng và hãi hùng.

Nước không đổ ầm ầm nữa, duy thỉnh thoảng từ trong lòng đất dội tới những tiếng nổ không âm vang, và người ta cảm thấy hình như đất rung chuyển. Cụ giáo bảo:

Cả hầm mỏ này chắc là đầy ắp rồi, bởi vì nước không lên nữa.

Ôi thằng Pie! - Bác Pagiét kêu thất vọng.

Pie là con bác ấy, cũng là thợ cuốc như bác. Pie làm việc ở tầng ba. Nãy giờ bản năng sinh tồn quá mạnh át đi tất cả, khiến bác không nhớ đến con. Nhưng cái câu "mỏ này đầy ắp rồi" của cụ giáo đã lôi bác tỉnh dậy. Bác kêu lên những tiếng xé ruột: "Pie! Pie! Pie!". Không ai đáp, cả tiếng dội lại cũng không có: Tiếng gọi trầm đi và tắc lại trong cái chuông kín. Cụ giáo nói:

Nó cũng tìm được một ngách ngược thôi! Không có lý do nào mà đến trăm rưởi con người chết đuối một lần! Như thế thì gớm ghiếc quá!

Cụ giáo nói thế, nhưng qua giọng nói cụ tôi thấy hình như cụ cũng không tin tưởng cho lắm. Sớm nay ít ra là một trăm năm mươi người xuống mỏ. Trong số đó có bao nhiêu đã leo giếng lên khỏi mỏ, bao nhiêu đã tìm được chỗ lánh nạn như chúng tôi? Tất cả những người bạn thợ mỏ của chúng tôi nguy rồi, chìm rồi, chết rồi! Không ai nỡ mở miệng nói một tiếng.

Tuy nhiên trong tình huống bấy giờ, lòng thương cảm không điều khiển con người. Sau mấy phút im lặng, Bécgunu hỏi:

Này! Thế chúng ta phải làm gì bây giờ?

Làm gì?

Chỉ có việc chờ. - Cụ giáo nói.

Chờ gì?

Chờ thôi. Hay là anh muốn xoi thông cái khoảng cách bốn năm chục mét giữa mặt

Đất với chúng ta bằng cái móc đèn của anh?

Thế thì chúng ta đến chết đói mất!

Đó không phải là một đe dọa lớn nhất!

Nào nào, cụ giáo, cụ nói đi. Cụ làm chúng tôi sợ quá! Mối họa ở đâu, mối họa lớn nhất ở đâu mà ra nào?

Đói còn có thể chịu được. Tôi đã xem sách thấy có những người thợ cũng bị bí trong mỏ vì nước lụt như chúng ta đây, họ nhịn đói đến hai mươi bốn ngày đêm mà không chết. Việc này xảy ra đã lâu lắm, mà dù có xảy ra hôm qua cũng chỉ thế thôi! Không, cái đói thì ta không sợ lắm!

Thế cái gì làm cụ lo ngại nào? Cụ đã nói rằng nước không dễ dâng lên thêm nữa mà?

Các anh có thấy váng đầu, ù tai không? Các anh thấy có dễ thở không? Tôi thì

Không?

Tôi ấy à, tôi đau đầu.

Tôi thì thấy người xao xuyến, buồn nôn.

Thái dương tôi giật giật.

Tôi thì tôi đờ đẫn cả người đi.

Ấy đấy! Cái nguy cơ lúc này là ở chỗ đó! Ở trong bầu không khí này, chúng ta có thể sống được bao lâu? Tôi không biết. Vì tôi dốt nát, chứ nếu tôi là một nhà bác học thì tôi đã nói được rồi. Ta ở cách mặt đất khoảng bốn chục mét và ở bên dưới có lẽ độ ba mươi lăm hoặc bốn mươi mét nước. Thế có nghĩa là không khí ở đây bị một sức ép khoảng từ bốn đến năm átmốtphe. Trong không khí bị ép đó, con người sống như thế nào? Đó là điều cần biết, và chúng ta sắp biết đây, duy phải đánh đổi sự hiểu biết ấy bằng những tổn thương, có lẽ thế!

Tôi không hiểu không khí bị ép là như thế nào hết, chính vì đó mà những lời cụ giáo nói khiến tôi rất đỗi kinh hãi. Những người bạn thợ khác cũng xúc động không kém: Họ có hiểu biết gì hơn tôi đâu! Cái điều mình không hiểu là điều làm mình hãi hùng. Còn cụ giáo thì cũng không phút nào quên hoàn cảnh tuyệt vọng của anh em, và tuy nhìn thấy rất rõ cả sự rùng rợn của nó, cụ chỉ nghĩ đến những việc cần làm để chống với tai ương. Cụ bảo:

Bây giờ thì hãy xếp đặt thế nào cho khỏi lăn tõm xuống nước.

Có hốc rồi mà.

Các anh tưởng cứ đứng mãi một điệu như thế này mà không mỏi rã ra à?

Thế cụ cho rằng chúng mình còn phải ở đây lâu lắm ư?

Nào tôi có biết!

Người ta sẽ đến cứu chúng mình.

Cái đó đã hẳn, nhưng khi nào cứu được mới cứu chứ? Còn bao nhiêu lâu nữa người ta mới bắt đầu tổ chức cứu ta? Chỉ có những người ở trên kia mới nói được, còn chúng ta ở dưới này thì phải thu xếp thế nào cho đỡ khốn khổ nhất, bởi vì người nào trượt chân là người ấy đi đứt!

Chúng mình phải buộc nhau lại làm một khối.

Dây đâu?

Hay là nắm chặt tay nhau?

Tôi nghĩ rằng chúng ta đào thành những bậc như ở một cầu thang là tốt nhất. Chúng ta có bảy người, đào hai bậc là đủ: Bốn sẽ ngồi ở bậc trên, ba ở bậc dưới.

Đào bằng gì?

Chúng ta không có cuốc chim.

Ở chỗ đất bở thì lấy móc đèn mà đào, ở chỗ cứng thì dùng dao.

Không thể nào làm được!

Đừng nói thế, bác Pagiét! Ở cảnh ngộ chúng ta, gì mà chúng ta không làm được để thoát chết. Đứng như thế này, ai ngủ gà ngủ gật thì chết toi!

Nhờ bình tĩnh và quyết đoán, uy tín của cụ giáo càng lâu càng lớn lên trước mắt chúng tôi. Cái lớn lao, cái đẹp đẽ của sự dũng cảm là ở đó: Nó chinh phục người ta. Tự nhiên tôi cảm thấy cụ đang đem nghị lực của cụ chống chọi với cái tai họa đã làm tinh thần chúng tôi sụp đổ, và chúng tôi trông chờ cái sức mạnh đó giải thoát cho chúng tôi. Việc phải làm trước hết hiển nhiên là khoét hai bậc thang đó, cho nên chúng tôi bắt tay vào việc. Phải cho có chỗ ngồi, nếu không được thoải mái thì ít nhất cũng phải vững vàng, để đừng lăn tõm xuống cái vực thẳm ở dưới chân. Chúng tôi thắp bốn cây đèn, đủ để ánh sáng làm việc. Cụ giáo bảo:

Hãy chọn chỗ để đào.

Này các bạn. - Chú Gátxpa lên tiếng. - Tôi có đề nghị này. Giữa chúng ta, chỉ có một người không quẫn trí là cụ giáo. Khi chúng ta cuống cuồng thì cụ vẫn tỉnh táo. Thế mới là một con người. Mà tâm địa cụ cũng tốt nữa. Cụ cũng đã từng là thợ cuốc như chúng ta, và về

Nhiều mặt, cụ hiểu biết hơn chúng ta nhiều. Tôi đề nghị ta cử cụ làm chỉ huy và nhờ cụ điều khiển công việc.

Cụ giáo à? - Thằng Carôry ngắt lời, thằng này là một thằng ngu độn, chỉ có trí khôn vừa đủ để đẩy chiếc goòng. - Sao lại không cử tôi? Nếu lấy một tay đẩy goòng thì tôi cũng là tay đẩy goòng như cụ ấy.

Con bò! Người ta đâu có cần người đẩy goòng, người ta cần một con người, mà giữa chúng ta thì cụ ấy là con người trọn vẹn hơn cả.

Mấy hôm trước tao cũng ngu như mày và tao cũng nhạo báng cụ giáo như những người khác, nhạo báng để đánh trống lảng cái việc mình dốt hơn người ta. Nào cụ giáo, cụ cắt cho tôi công việc gì đây? Hai tay tôi chắc, cái đó cụ biết rồi. Còn các anh kia, ý kiến các anh như thế nào?

Ấy, cụ giáo, chúng tôi tuân lệnh cụ.

Và sẽ còn tuân lệnh cụ.

Này, các bạn đã muốn tôi chỉ huy thì tôi cũng sẵn lòng làm, nhưng với điều kiện là tôi nói gì thì làm nấy. Có thể chúng ta sẽ phải ở đây lâu, nhiều ngày đấy. Tôi không biết rồi sẽ ra sao. Chúng ta rồi cũng như những hành khách đắm tàu ở trên một cái bè giữa biển khơi. Hơn thế, tình cảnh chúng ta sẽ còn ghê gớm hơn nhiều, bởi vì ở trên bè, người ta còn có khí trời và ánh sáng, người ta thở được và trông nhìn được. Ở đây, nếu tôi là chỉ huy thì bất kỳ trường hợp nào, các anh cũng phải tuân lời tôi.

Chúng tôi tuân lệnh cụ. - Tất cả đều nói một lượt.

Khi các anh cho cái điều tôi bảo là đúng thì các anh vâng lời đấy, nhưng khi các anh không tin là đúng thì sao?

Chúng tôi sẽ tin.

Ai cũng biết cụ là người trung hậu, cụ giáo ạ!

Và là người dũng cảm.

Lại là người hiểu biết nhiều.

Cụ giáo nên bỏ qua những lời chế nhạo xưa kia cho chúng tôi.

Lúc bấy giờ tôi chưa từng trải việc đời. Trông thấy những người buổi trước đây vừa tuôn lên đầu cụ giáo không biết cơ man nào là câu giễu cợt, đến bây giờ lại thừa nhận cụ có những đức tính đáng quý, tôi lấy làm lạ lùng hết sức. Tôi có biết đâu là có một số người hễ hoàn cảnh thay đổi thì ý kiến, cảm tình cũng thay đổi. Cụ giáo hỏi:

Các anh có thề là sẽ vâng lời tôi không?

Xin thề. - Chúng tôi đồng thanh đáp.

Thế rồi chúng tôi bắt tay vào việc. Mọi người đều có dao trong túi áo, những con dao tốt, cán chắc, lưỡi cứng. Cụ giáo ra lệnh:

Ba người đào đất, ba người khỏe nhất. Những người yếu hơn: Rêmi, Carôry, Pagiét và tôi thì chúng ta dọn đất vụn đã được đào bới ra.

Côngpêru cao to như một người khổng lồ, nói:

Cụ đừng. Cụ không nên làm, cụ không đủ sức đâu!

Người ta nhận thấy vai trò điều khiển của cụ giáo rất cần thiết, đến mức sẵn sàng ủ cụ vào chăn bông để tránh cho cụ mọi tai nạn và nguy hiểm. Cụ là người hoa tiêu của chúng tôi.

Giá như có công cụ thì công việc của chúng tôi dễ như bỡn, nhưng chỉ có dao không thôi nên vất vả quá và cố nhiên là phải lâu. Cần phải khoét đá "sít" làm thành hai bậc thang

Để tránh nguy cơ rơi xuống vực, và bậc thang đó phải đủ rộng để đủ chỗ, một bậc cho bốn người, một bậc cho ba người ngồi. Chúng tôi tiến hành công việc đào bới để đạt kết quả đó.

Mỗi nơi làm việc, có hai người chuyên đào và một người lo đưa những mảnh đá "sít" xuống. Cụ giáo xách đèn đi lại giữa hai "công trường". Trong khi đào, chúng tôi tìm thấy một

Đôi khúc gỗ chống bị vùi lấp dưới đất, những khúc gỗ ấy rất có ích vì chúng giữ đất đá vụn không cho chảy xuống dưới. Sau ba tiếng đồng hồ làm liên miên không nghỉ tay, chúng tôi đã đào được những bậc vừa ngồi. Cụ giáo ra lệnh:

Trước mắt, thế cũng đủ rồi. Sau này chúng ta sẽ mở rộng để có đủ chỗ nằm được. Không nên phí sức một cách vô ích vì chúng ta sẽ còn cần sức khỏe đấy!

Chúng tôi xếp chỗ ngồi: Cụ giáo, chú Gátxpa, Carôry và tôi ngồi ở bậc dưới, ba người thợ cuốc ở bậc trên.

Phải tiết kiệm đèn dầu. - Cụ giáo nói. - Các anh tắt hết đi, chỉ để đỏ một ngọn thôi.

Mệnh lệnh truyền ra được thi hành ngay. Anh em sắp tắt hết những cây đèn không cần thiết thì cụ giáo ra hiệu cho họ ngừng tay. Cụ nói:

Hượm tí đã! Một luồng gió có thể làm tắt chiếc đèn mà chúng ta chong. Điều này có lẽ cũng không xảy ra, nhưng biết đâu đấy, phải đề phòng cả những cái vô lý. Lúc đó thì ai có diêm để thắp lại nào?

Mặc dầu người ta nghiêm cấm việc đánh lửa trong mỏ, hầu hết anh em thợ đều mang diêm trong túi áo. Vì ở đây không có kỹ sư để bắt những sự vi phạm nội quy, cho nên khi nghe hỏi: "Ai có diêm?" thì bốn người trả lời: "Tôi!". Cụ giáo nói tiếp:

Tôi cũng có nhưng nó ngấm nước hết.

Những người khác cũng bị như thế vì người nào cũng bỏ diêm ở túi quần mà trót dầm nước đến ngực hoặc đến tận vai. Thằng Carôry hiểu chậm, trả lời càng chậm, đến lúc ấy mới nói:

Tôi cũng có diêm đây!

Ướt!

Không biết! Tôi để trong mũ.

Thế thì đưa cái mũ đây!

Cái mũ không vành của Carôry là một cái mũ da rái, to như cái khăn xếp của một anh Thổ Nhĩ Kỳ ở chợ phiên. Đáng lẽ đưa mũ như người ta bảo thì nó lại đưa bao diêm. Bao diêm không ngấm nước nhờ ở vị trí đặc biệt của nó trong lúc người chúng tôi ngâm dưới nước.

- Bây giờ thì thổi đèn đi. - Cụ giáo ra lệnh.

Thế là chỉ có ngọn đèn le lói, rọi mờ mờ cái chuồng nhốt chúng tôi.
 
15,989 ❤︎ Bài viết: 1929 Tìm chủ đề
Chương 26: Trong ngách ngược

Im lặng đã trở lại trong mỏ. Không có tiếng động nhỏ nào vang đến chúng tôi. Dưới chân, nước nằm phẳng lặng, không một tí gợn, không một tiếng rì rào. Như cụ giáo nói, nước đầy ắp cả mỏ và sau khi tràn ngập các đường hầm từ nền đến nóc, nước vít chúng tôi lại trong cái nhà tù này, vít kín hơn, chắc chắn hơn một bức vách đá. Cái im lặng nặng nề, bí hiểm, cái im lặng ở cõi âm này còn ghê gớm, còn kinh hồn hơn cái náo động gớm ghiếc khi nước tràn lên. Giờ đây, chúng tôi bị chôn sống dưới mồ và trên tim chúng tôi có ba bốn mươi thước đất đè xuống nặng trĩu. Khi lao động thì chúng tôi lãng khuây. Bây giờ rỗi rãi, chúng tôi thật thấm thía cảnh ngộ của mình. Người nào cũng có lúc rời rã chán chường, kể cả cụ giáo.

Thình lình tôi cảm thấy có những giọt gì nóng nóng rỏ lên bàn tay tôi. Đó là thằng

Carôry đang khóc thầm. Cùng một lúc có nhiều tiếng thở dài và tiếng rên rỉ ở tầng trên: "Pie,

Pie con ơi!". Đấy là tiếng bác Pagiét nhớ đến con mà than vãn..

Không khí nặng nề khó thở. Tôi thấy tức ngực và ù tai. Cụ giáo thì không có vẻ phờ phạc, rã rời một cách quá đáng như chúng tôi, hoặc là cụ muốn chống trạng thái ấy và tránh không cho chúng tôi buông xuôi trong tuyệt vọng. Cụ lên tiếng nói:

Bây giờ chúng ta hãy xem còn bao nhiêu lương thực.

Cụ cho rằng. - Chú Gátxpa nói. - Chúng ta sẽ bị giam lâu dài ở dưới này chăng?

Không, nhưng phải đề phòng. Ai có bánh mì?

Cháu còn một mẩu trong túi.

Túi nào?

Túi quần.

Thế thì bánh của cháu thành cháo rồi. Hẵng cứ đưa ra.

Lúc sáng, tôi có cất trong túi một miếng vỏ bánh mì vàng ửng và giòn tan, bây giờ tôi móc túi ra một thứ cháo nhão nhoét. Thất vọng, tôi định vứt đi thì cụ giáo cản tay tôi. Cụ nói:

Cứ giữ món cháo của cháu lại! Bây giờ thì dở đấy, nhưng ít nữa rồi cháu thấy ngon cho mà coi.

Lời dự đoán ấy đáng làm chúng tôi lo ngại, nhưng chúng tôi không để ý. Sau này, tôi mới nhớ lại và biết rằng ngay từ lúc bấy giờ, cụ giáo đã nhìn thấy đầy đủ tình cảnh nguy khốn của chúng tôi. Nếu cụ không thấy trước một cách chi tiết những nỗi đau khổ ghê gớm mà chúng tôi sẽ phải chịu, thì ít ra cụ cũng không có ảo tưởng là người ta sẽ cứu được chúng tôi một cách dễ dàng.

Không còn ai còn bánh nữa à? - Cụ hỏi.

Thế thì phiền đấy!

Cụ đói à? - Côngpêru ngắt lời.

Tôi không hỏi cho tôi, mà cho Rêmi và Carôry. Nếu có bánh mì thì phải để cho chúng nó.

Bécgunu hỏi:

Sao không chia đều cho tất cả chúng ta? Như vậy là không công bằng! Ai thì cũng đói như nhau cả thôi!

À à, ra thế đấy! Giá có bánh mì, thì chắc hẳn đã xảy ra xích mích rồi đấy. Vậy mà các bạn đã hứa nghe theo tôi! Thực ra các bạn chỉ nghe theo tôi sau khi đã cãi vã chán chê và chịu nhận tôi nói đúng!

Thế tất anh ta phải tuân lệnh thôi!

Nghĩa là cũng sau khi có lẽ xảy ra xung đột! Vậy thì muốn khỏi có xung đột, tôi xin nói rõ vì sao bánh mì phải dành cho Rêmi và Carôry. Tự tôi không đề ra cái lệ ấy đâu! Đó là luật pháp: Luật pháp chỉ rõ là khi nhiều người cỡ dưới sáu mươi tuổi cùng chết trong một tai nạn nào đó thì người cao tuổi nhất thường là người sống dai nhất. Như thế cũng có nghĩa làRêmi và Carôry, còn ít tuổi, tất nhiên sức chịu đựng kém hơn so với Pagiét và Côngpêru.

Thế cụ, cụ giáo, cụ trên sáu mươi rồi.

Ồ, tôi ấy à? Tôi thì kể gì! Vả lại tôi đã có thói quen ăn uống chừng mực.

Thế thì nếu tôi có bánh, bánh ấy phải dành cho tôi.

Cho cháu và Rêmi.

Tôi không muốn chia cho nó thì sao?

Thì người ta sẽ lấy của mày mà chia. Mày đã không thề là vâng lời hay sao?

Nó lặng thinh một hồi khá lâu rồi đột ngột móc một chiếc bánh từ trong mũ nó ra.

Này, có một miếng đây!

Cái mũ của thằng Carôry là một cái kho vô tận chăng?

Đưa mũ đây! - Cụ giáo nói.

Carôry không muốn đưa mũ ra. Anh em giật lấy, trao cho cụ giáo. Cụ giáo bảo đưa đèn cho cụ và cụ vạch viền mũ xem có gì trong ấy. Tuy ở trong hoàn cảnh không vui vẻ gì, lúc bấy giờ chúng tôi cũng đã được một phút giải trí: Trong cái mũ của thằng Carôry có một cái điếu, một ít thuốc lá, một chìa khóa, một chiếc xúc xích, một cái còi làm bằng hạt đào, mấy lóng xương cừu nhỏ làm đồ chơi, ba quả hồ đào tươi, một củ hành. Nghĩa là cái mũ của nó là một cái chạn cất thức ăn, đồng thời là một kho chứa.

Bánh mì và xúc xích sẽ chia cho Rêmi và cháu tối nay. Thằng Carôry rên rỉ:

Nhưng mà tôi đói, tôi đương đói đây.

Tối nay, mày sẽ còn đói hơn!

Tiếc sao cái thằng bé này không có đồng hồ trong kho chứa của nó. Nếu có thì chúng ta đã biết giờ giấc. Đồng hồ của tôi chết máy rồi.

Chiếc của tôi cũng thế vì bị ngấm nước.

Câu chuyện đồng hồ nhắc chúng tôi trở về với thực tại. Mấy giờ rồi? Chúng tôi ở trong ngách ngược này bao lâu rồi nhỉ? Anh em bàn tán nhưng không đi đến nhất trí. Một số anh em cho là mới đúng trưa, một số khác lại bảo là đã sáu giờ chiếu. Nghĩa là đối với những người này, chúng tôi đã bị giam hãm đã hơn mười tiếng liền, đối với những kẻ khác thì chưa đầy năm tiếng. Sự chênh lệch trong ước lượng bắt đầu từ đây: Nó còn diễn ra nhiều lần và đưa đến những khoảng cách lớn.

Lúc này không phải lúc nói chuyện phiếm, cho nên khi cuộc bàn cãi về giờ giấc chấm dứt thì mọi người lại lặng im và có vẻ đăm chiêu suy nghĩ. Các bạn khác nghĩ những gì, tôi không biết. Nhưng cứ ý nghĩ của tôi mà suy ra thì ý nghĩ của họ chắc không có gì tươi vui cả. Dù ý kiến của cụ giáo có vẻ chắc như đanh đóng cột, tôi cũng không tin rằng sẽ được cứu thoát. Tôi sợ nước, sợ bóng tối, sợ cái chết. Sự lặng lẽ làm tôi tê dại. Vách đá gồ ghề chẹn nghẹt tôi y như là nó đổ xuống đè lên người tôi với tất cả sức nặng của nó. Tôi không được thấy mặt Lidơ nữa ư? Và cũng không thấy chị Êchiênnét, Alơxi, Bănggiamanh? Tôi chết đi, ai nối đường dây liên lạc cho chị em người ta? Tôi sẽ không được gặp Áctơ và bà Miligơn, Mátchia, và Capi? Làm sao nói cho Lidơ hiểu rằng tôi chết vì em đây? Còn má Bácbơranh, má Bácbơranh tội nghiệp! Ý nghĩ của tôi nối tiếp nhau, ý nghĩ nọ kéo theo ý nghĩ kia, ý nàocũng đen tối như ý nào. Tôi nhìn qua anh em khác để cho khuây lãng, nhưng thấy họ cũng buồn rầu, cũng ủ rũ như tôi thì tôi lại quay về với những suy nghĩ của mình, và lại càng buồn rầu, càng thất vọng hơn. Dẫu sao thì họ cũng đã quen sống trong hầm mỏ, do đó họ không khổ vì thiếu không khí, thiếu ánh mặt trời, thiếu tự do, và đất đá cũng không đè nặng lên trên người họ.

Thình lình, trong im lặng, tiếng chú Gátxpa cất lên:

Tôi cho rằng người ta chưa làm gì cả để cứu chúng ta.

Tại sao anh lại nghĩ như vậy?

Ta có nghe thấy gì đâu nào!

Cả thành phố bị phá hủy. Đây là một trận động đất.

Hay là ở trong thành phố người ta tưởng chúng ta đã chết hết, có làm gì nữa cũngvô ích?

Thế thì chúng ta bị bỏ mặc ở đây rồi! Cụ giáo ngắt lời:

Tại sao các anh lại nghĩ như vậy về các bạn của chúng ta? Buộc tội họ như vậy là không đúng! Các anh thừa biết rằng khi xảy ra tai nạn, người thợ mỏ không bỏ nhau bao giờ, và thà rằng hy sinh hai mươi người, một trăm người, chứ không đành không cứu một người bạn. Các anh biết điều ấy chứ?

Quả có thế!

Đã thế thì tại sao các anh lại bảo là người ta bỏ mặc chúng ta?

Tại vì chúng tôi không nghe thấy tăm hơi gì cả.

Đúng là chúng ta không nghe thấy gì. Nhưng ở chỗ này có thể nghe thấy gì không đã chứ? Ai biết được? Tôi thì không biết rồi đó. Với lại nếu chúng ta nghe được và biết rõ rằng người ta không làm việc, thì điều đó có đủ chứng tỏ rằng người ta bỏ rơi chúng ta hay không? Chúng mình có biết tai họa đã xảy ra như thế nào không? Nếu là một cuộc động đất thì những kẻ sống sót có bao nhiêu là công việc phải làm trong thành phố. Nếu chỉ là một cơn lụt, như tôi đoán, thì phải biết tình hình ở các giếng thế nào. Giếng có thể lở mất, đường hầm từ kho đến có thể sụp đổ rồi. Phải có thì giờ mới tổ chức việc cứu tế được. Tôi không dám nói rằng chúng mình sẽ được cứu thoát, nhưng tôi tin chắc rằng người ta đương tiến hành công việc giải cứu cho chúng mình.

Cụ giáo nói những điều đó với giọng quả quyết có thể thuyết phục những người hoài nghi nhất và làm yên lòng những người khiếp sợ nhất. Tuy thế bác Bécgunu còn có ý kiến:

Nếu người ta tưởng chúng ta đã chết hết rồi thì sao?

Người ta cũng cứ tổ chức tiếp cứu. Thế nhưng nếu anh lo ngại cái điều ấy thì chúng ta hãy làm cho họ biết rằng chúng ta còn sống. Chúng ta hãy đập vào vách hết sức mạnh. Các anh biết rằng âm vang truyền đi trong đất, nếu người ta nghe thấy, người ta biết rằng cần phải làm nhanh và tiếng gọi của ta lại còn chỉ hướng cho họ tìm đến.

Không chần chừ, bác Bécgunu vốn mang giầy bốt rất to, đập mạnh vào vách đá theo cách "gọi thợ mỏ lên khỏi hầm". Cái tiếng động ấy, nhất là những ý nghĩ đó gợi lên đã lôi chúng tôi ra khỏi cơn tê liệt. Anh em có nghe thấy tiếng gọi của chúng mình không? Họ có sắp trả lời cho chúng mình không? Chú Gátxpa hỏi:

Này, cụ giáo ơi, nếu anh em nghe thấy thì họ có thể làm gì để cứu chúng ta nhỉ?

Chỉ có hai cách, và tôi tin chắc rằng các ông kỹ sư sẽ dùng cả hai cách song song với nhau: Một là khoét lối xuống để thông với ngách chúng ta, hai là múc cho vơi nước đi.

Chao ôi! Khoét lối xuống!

Ái chà! Múc nước đi!

Ta ở sâu bốn mươi thước phải không? Mỗi ngày đào từ sáu đến tám thước thì bảy tám ngày là tới ta.

Không thể đào sáu thước mỗi ngày.

Làm công việc thường ngày thì thế, nhưng khi phải cứu sống những người bạn thợ với nhau thì anh em có thể làm những việc phi thường.

Tám ngày thì làm thế nào mà sống nổi! Cụ thử nghĩ xem, những tám ngày!

Này, còn nước thì sao? Làm thế nào cho vơi?

Nước thì làm thế nào, tôi không biết. Muốn biết điều đó, trước hết phải biết có bao nhiêu nước đã tràn vào trong mỏ: Hai mươi vạn mét khối chăng? Hay ba mươi vạn? Tôi chịu. Tuy nhiên, để tới chỗ ta, không cần thiết phải múc hết cả khối lượng nước đã đổ vào mỏ, bởi vì chúng ta ở tầng một. Vì người ta tổ chức múc luôn ở cả ba giếng một lúc, mỗi giếng hai gàu cho nên mỗi chuyến múc được sáu gàu, mỗi gàu chứa hai nghìn năm trăm lít vị chi là mười lăm nghìn lít tất cả. Như thế cũng là nhanh đấy chứ!

Một cuộc tranh cãi bí beng nổ ra về các biện pháp tốt nhất để cứu sống chúng tôi. Cuộc tranh cãi không đi đến đâu, nhưng riêng tôi thì rút trong ấy ra được cái kết luận là dù có đủ tất cả mọi thuận lợi, chúng tôi cũng phải ở lại ít nhất là tám ngày trong cái nhà mồ ấy.

Tám ngày! Cụ giáo có nói về trường hợp những người thợ bị nghẽn dưới hầm hai mươi bốn ngày. Nhưng đó là truyện, còn chúng tôi đây là sự thực. Khi cái ý nghĩ ấy ám ảnh tôi thì tôi không nghe thấy người ta nói gì nữa. Những tám ngày!

Tôi day dứt vì cái ý nghĩ ấy không biết đã được bao lâu thì bỗng thấy người ta thôi không bàn cãi nữa. Thằng Carôry bảo:

Nghe kìa!

Cái gì chứ?

Có tiếng gì trong nước..

Có lẽ mày làm lăn một hòn đá.

Không! Cái tiếng này không dội.

Chúng tôi lắng nghe. Tai tôi khá thính, nhưng chỉ thính đối với những âm thanh của cuộc sống, của đất bằng. Ở đây, tôi không nghe thấy gì cả. Các bạn của tôi vốn quen những tiếng động dưới mỏ nên may mắn hơn tôi.

Ừ. - Cụ giáo nói. - Có cái gì động ở dưới nước ấy!

Cái gì hở cụ giáo?

Tôi không biết!

Nước tuôn xuống đó thôi!

Không phải, tiếng này không liên tục. Nó vang từng lúc và cách quãng đều.

Từng lúc và cách quãng đều! Thế là chúng ta thoát chết rồi, các cậu ạ! Đó là tiếng của những gàu múc ở giếng!

Gàu múc..

Tất cả chúng tôi cùng buột miệng cùng một lúc reo lên, lặp lại hai tiếng ấy. Và như điện giật, chúng tôi đều đứng phắt lên.

Chúng tôi không ở cách mặt đất bốn mươi thước, không thở không khí bị ép nữa,

Vách mỏ không đè chúng tôi, tai không ù, hơi thở thoải mái, tim lại đập trong lồng ngực.

Carôry nắm tay tôi siết mạnh:

- Mày là một thằng tốt.

Không, mày ấy chứ!

Tao bảo là mày.

Chính mày nghe thấy tiếng gàu múc trước tiên.

Nó cứ khăng khăng bảo tôi là một thằng bé tốt. Nó say rồi, say như say rượu. Mà thực ra chúng tôi chả say là gì? Chúng tôi say hy vọng ấy! Tuy nhiên, cái hy vọng này không thực hiện được chóng vánh, cũng không thực hiện với đủ tất cả mọi người. Trước khi được nhìn lại ánh nắng ấm áp của mặt trời, trước khi được nghe tiếng gió luồn qua khe đá, chúng tôi còn phải sống những ngày dài ác nghiệt ở chỗ này, còn phải chịu đủ mọi nỗi đau đớn dằn vặt và hoang mang tự hỏi không biết mình có được nhìn lại ánh sáng ấy, nghe lại cái tiếng gió êm như đàn ấy không?

Nhưng đã kể cho các bạn nghe cái tai nạn khủng khiếp của mỏ Tơruye y như nó diễn ra, thì bây giờ cũng phải nói cho các bạn biết nó đã xảy ra như thế nào và các kỹ sư đã làm những gì để cứu chúng tôi.

Sớm thứ hai tuần ấy, khi chúng tôi xuống hầm mỏ thì trời đầy những mây sẫm và có hiện tượng của một cơn dông sắp diễn ra. Khoảng bảy giờ sáng thì cơn dông đến thật, kèm theo một cơn mưa xối xả như một trận lụt. Đó là vì những đám mây mù bay là là dưới thấp len vào thung lũng khúc khuỷu của sông Đivôn, đã bị chẹt trong vành đồi, không cất cao lên được. Thế là chúng mang được bao nhiêu nước thì cứ việc trút hết bấy nhiêu xuống thung lũng. Đây không phải là một cơn mưa rào mà là một con thác từ lưng chừng trời đổ xuống một trận hồng thủy. Trong vòng mấy phút, nước sông Đivôn và các chi nhánh lớn phình lên. Điều này dễ hiểu thôi. Trên mặt đất nền đá, nước không thấm xuống được nên cứ theo chiều nghiêng của mặt đất mà chảy ra sông. Bỗng chốc lòng sông Đivôn đầy ắp, còn mấy con suối thì tràn bờ. Sông Đivôn đầy, nước suối Tơruye không chảy xuống được bèn tràn lên đất khu mỏ. Nước dâng chớp nhoáng, nhưng anh em thợ rửa quặng ở trên mặt đất không hề gì, bởi vì họ đã đi trú mưa rồi. Khu mỏ Tơruye này không phải lần đầu bị lụt, nhưng miệng giếng mỏ ở cao, nước không lên tới được, cho nên người ta chỉ lo chạy những đống gỗ đã đẽo xong để chờ dùng chống hầm. Người kỹ sư đang điều khiển công việc đó bỗng thấy nước xoáy điên cuồng và lao vào một cái vực nó vừa xói lên. Cái vực ấy nằm ngay trên một tầng than cạn ở gần mặt đất.

Viên kỹ sư không cần suy nghĩ nhiều cũng hiểu đầu đuôi sự việc: Nước đã ập vào hầm mỏ và chảy theo mạch than cho nên mực nước ở ngoài rút xuống. Mỏ sắp bị lụt, sắp ngập đầy nước. Thợ trong mỏ sắp chết đuối. Viên kỹ sư chạy đến giếng Xanh Giuyliên, ra lệnh cho người ta dòng ông xuống. Nhưng sắp đặt chân vào thùng goòng để được thả xuống giếng thì ông ngừng lại. Từ trong lòng mỏ vang ra một tiếng náo động kinh khủng: Đó là tiếng dòng nước chảy xiết. Những người đứng xung quanh ông kỹ sư bảo: "Ông đừng xuống" và giữ ông lại. Nhưng ông gỡ họ ra, rút chiếc đồng hồ trong túi gilê đưa cho một bác thợ và nói:

- Này, nhờ anh đưa chiếc đồng hồ này cho con gái tôi, nếu tôi không trở về.

Rồi quay lại mấy công nhân coi việc dòng thùng, ông bảo: "Cho xuống!". Chiếc thùng bắt đầu xuống. Bây giờ ông kỹ sư ngẩng đầu lên, hướng về bác thợ ông đã trao đồng hồ, dặn:

- Anh nói với nó là cha nó hôn nó.

Chiếc thùng xuống tới hầm mỏ. Ông kỹ sư gọi. Năm công nhân chạy đến. Ông bảo họ vào trong thùng. Trong lúc những người này được kéo lên thì ông lại kêu to gọi thêm nữa. Nhưng không có ích gì. Tiếng gọi của ông bị tiếng nước đổ, tiếng đất sụt át mất đi. Nước đã

Tràn tới hầm và ngay lúc đấy, ông kỹ sư thấy thấp thoáng có mấy ngọn đèn. Ông lội nước đến gối, chạy xô về phía ấy và đưa về được ba người nữa. Thùng đã trở xuống. Ông bảo ba người ấy vào thùng rồi định quay lại tìm theo những ngọn đèn mà ông mới trông thấy. Nhưng mấy người ông vừa cứu thoát đã dùng sức bế thốc ông vào thùng rồi báo hiệu cho ở trên kéo dây. Vừa vặn kịp vì nước đã ngập tràn khắp nơi.

Cái cách tiếp cứu này đã không dùng được nữa. Phải dùng phương pháp khác. Nhưng phương pháp gì? Ông nhìn quanh mình thì vắng vẻ quá! Một trăm năm mươi công nhân đã xuống mỏ bởi vì một trăm năm mươi chiếc đèn đã được phát hồi sáng nay. Nhưng chỉ có ba mươi chiếc được mang về trả ở kho đèn, như thế nghĩa là có một trăm hai mươi người còn mắc nghẽn trong mỏ. Những anh em ấy chết rồi chăng? Hay còn sống? Họ có tìm được chỗ trốn không? Những câu hỏi ấy đã được đặt ra trong đầu óc hoang mang ghê rợn của ông.

Khi ông kỹ sư nghiệm thấy có một trăm hai mươi công nhân bị nghẽn trong mỏ thì ở ngoài tại nhiều nơi đã xảy ra những vụ nổ. Đất, đá bắn tung lên rất cao. Nhà cửa rung rinh như có động đất. Ông kỹ sư hiểu rõ hiện tượng đó: Không khí và các chất hơi khác bị nước dồn vào và nén ở các ngách không có lối thoát, khi khối đất ở trên quá ít, tức là ở những nơi mà ngách lên gần mặt đất, thì các khí bị ép đó làm nổ tung lớp vỏ đất mỏng đó như vỏ nồi súpde. Như thế cũng có nghĩa là mỏ đã đầy những nước và tai họa đã diễn ra rồi.

Lúc đó cái tin mỏ bị lụt đã truyền đi khắp thành phố. Từ mọi ngả, công chúng đổ về Tơruye, từ người dân lao động cho đến bọn tò mò, và vợ con những người thợ bị nghẽn dưới hầm mỏ. Thân nhân của anh em thợ bị nạn đó dò hỏi, tìm kiếm, yêu cầu. Vì người ta không biết thế nào mà trả lời với họ cho nên họ vừa đau thương vừa phẫn nộ. À, ra người ta giấu sự thật.

Ông kỹ sư không để ý đến sự náo động bên ngoài; ông đang cúi rạp xuống tấm bản đồ khu mỏ, nghiên cứu xem anh em thợ trong mỏ có thể lánh mình ở nơi nào và phải bắt đầu tiến hành công cuộc cứu nạn từ chỗ nào.

May thay, các kỹ sư những hầm mỏ lân cận đã dẫn thợ của họ tới, và đi theo những công nhân này, còn có thợ trong thành phố. Thế là có thể ngăn công chúng lại, và nói chuyện với họ. Nhưng nói gì đây cho ổn? Thiếu mất một trăm hai mươi người. Những người này ở đâu?

"Cha tôi thế nào?" "Chồng tôi đâu?" "Trả con tôi cho tôi!". Giọng người vỡ đi trong nước mắt, câu hỏi nghẹn ở cổ vì tiếng nấc. Biết trả lời làm sao với những người con, những người vợ, những người mẹ ấy?

Chỉ một câu thôi, câu trả lời của hội đồng các kỹ sư: "Chúng tôi sẽ tìm, chúng tôi sẽ làm hết cách".

Và thế là công việc cứu nạn bắt đầu.

Có tìm ra một số người nào sống sót trong số một trăm hai mươi người bị nạn đó không? Nỗi nghi ngại tràn trề mà hy vọng thì chả có mấy. Mặc! Cứ tiến lên!

Công việc cứu nạn được tổ chức như cụ giáo đã đoán. Người ta đặt thùng múc nước cả ba giếng và từ đó nó hoạt động ròng rã không kể ngày đêm, mãi cho đến khi giọt nước cuối cùng trong mỏ cũng được vét trút ra sông Đivôn mới thôi. Cùng một lúc, người ta bắt đầu đào hầm. Nhằm hướng nào mà đào? Biết sao được! Cũng hú họa thế thôi, nhưng cứ đào. Hội đồng kỹ sư không nhất trí về hiệu quả của những đường hầm đào mò vì không biết chắc chắn chỗ nào là chỗ lánh nạn của những người sống sót. Nhưng ông kỹ sư của mỏ Tơruye hy vọng rằng có người đến ẩn núp ở khu công trình cũ, ở đấy lụt không lên tới. Ông địnhđào một lối thẳng từ mặt đất thông đến khu ấy, vạn nhất không cứu được ai đi nữa thì cũng chẳng tiếc công. Người ta đào chiều ngang hết sức hẹp, để khỏi mất thì giờ. Chỉ có một người thợ cuốc đứng mũi. Anh khao được bao nhiêu than thì những người khác làm dây chuyền dùng giỏ lấy dần đi bấy nhiêu. Người thợ đứng mũi này mệt thì người khác vào thay. Cứ thế, không phút lơi tay, không phút nghỉ, không kể ngày đêm, người ta tiến hành song song hai việc vét nước và khao hầm.

Những người anh em làm việc ở ngoài kia để cứu chúng tôi thấy thời giờ chậm đi một phần, thì chúng tôi ở trong này thấy nó chậm đi mười phần: Bất lực và tù túng, chúng tôi chỉ biết chờ đợi, chờ đợi mà không biết anh em có đến kịp để cứu sống mình không! Những tiếng gàu dội xuống về sau không nuôi dưỡng được lâu dài cơn phấn khởi sôi nổi của chúng tôi như lúc ban đầu mới nghe thấy. Hễ suy nghĩ là lại lo buồn. Chúng tôi không bị bỏ rơi, anh em đang lo cứu chúng tôi, đó là niềm hy vọng; nhưng họ có vét ráo nước kịp khi chúng tôi còn sống không, đó lại là nỗi hãi hùng. Hơn nữa, trên những đau khổ tinh thần, giờ đây lại chồng lên những đau đớn xác thịt. Phải ngồi ở bậc thang theo một tư thế nhất định, chúng tôi thấy mệt mỏi rã rời quá đỗi: Chúng tôi không thể cử động để cho giãn gân cốt, và càng thấy đầu nhức buốt rất khó chịu.

Trong bọn chúng tôi có thằng Carôry là ít bị dày vò hơn cả. Chốc chốc nó lại nhắc:

Tôi đói. Cụ giáo, tôi muốn ăn bánh.

Mãi rồi cụ giáo cũng chịu đưa cho hai chúng tôi một miếng bánh lấy trong mũ da rái

Ra.

Ít quá. - Carôry nói.

Phải dè xẻn để dùng được lâu.

Những người khác giá được ăn với chúng tôi thì họ khoái biết bao nhiêu, nhưng họ đã thề tuân theo mệnh lệnh nên họ giữ lời thề. Côngpêru nói:

Chúng mình bị cấm ăn, nhưng được phép uống.

Cái đó thì tha hồ, chúng tôi có đủ nước để dùng tùy thích.

Cậu cố uống cho cạn hầm đi.

Anh sẽ làm sạt đất đi. Rêmi nhẹ người và nhanh nhẹn hơn, để nó xuống lấy rồi đưa lên cho chúng ta.

Bằng gì?

Bằng chiếc ủng của tôi đây!

Hãy hượm một tí, để bác đưa tay cho cháu nắm!

Cụ đừng lo, cháu có ngã xuống nước cũng chẳng hề gì! Cháu biết bơi.

Bác muốn đưa tay cháu nắm mà!

Không biết có phải cụ giáo đã cúi quá trớn không hay là vì không cử động mà cụ đã hóa tê dại, hoặc là vì than ở dưới chân đã sụt đi dưới sức nặng của người cụ. Chỉ biết rằng khi cụ cúi xuống thì cụ nhào luôn tới trước và đâm đầu vào vực nước đen sì. Chiếc đèn cụ cầm để soi cho tôi cũng lăn theo và chìm nghỉm. Nhoáng một cái, chúng tôi đã ở trong đêm dày đặc và tất cả mọi người buột miệng kêu lên một tiếng. Cũng may tôi đã ở tư thế đi xuống, tôi cứ việc nằm ngửa mà tuột và trong khoảnh khắc tôi đã lao xuống nước theo sau cụ giáo. Trong lúc đi đây đó với cụ Vitali, tôi tập bơi, tập lặn, và đã bơi lặn thạo đến mức xuống nước cũng thoải mái như ở trên cạn. Nhưng ở trong cái hang tối này thì còn biết phương hướng nào? Khi trụt xuống, tôi không nghĩ đến điều đó, tôi chỉ nghĩ rằng cụ giáosắp chết đuối và tôi lao xuống nước theo bản năng. Tìm đâu bây giờ? Đưa tay về phía nào? Làm sao mà lặn xuống? Tôi đang phân vân tự hỏi như thế thì thình lình thấy có một bàn tay bấu riết vai tôi và lôi tôi chìm nghỉm. Tôi đạp mạnh và trồi lên mặt nước. Bàn tay kia vẫn bám chặt vai tôi.

- Bám chặt cháu, cụ giáo nhé, và cố ngước đầu lên! Cụ thoát chết rồi đó?

Thoát chết ư? Cả cụ lẫn tôi cũng chưa thoát chết đâu, bởi vì tôi không biết phương hướng nào mà bơi cả. Tôi bỗng nảy ý gọi lên.

Các bác lên tiếng đi chứ!

Rêmi, cháu ở chỗ nào?

Đó là tiếng chú Gátxpa. Nó chỉ hướng cho tôi. Phải bơi về phía trái.

Thắp đèn lên cho.

Liền sau đó một ngọn đèn sáng lên. Chỉ cần với tay là tôi níu được bờ, một tay bám vào một tảng than, tay kia tôi kéo cụ giáo. Với cụ, như thế là kịp thời quá, vì cụ đã uống nước và bắt đầu ngạt thở. Tôi nâng đầu cụ lên khỏi mặt nước và cụ hồi tỉnh nhanh chóng. Chú Gátxpa và Carôry cúi xuống đưa tay kéo chúng tôi, còn bác Pagiét rời bỏ bậc thang bác ngồi, xuống bậc chúng tôi, đưa đèn soi cho chúng tôi lên. Chú Gátxpa nắm một tay, Carôry nắm một tay kéo cụ giáo, còn tôi thì đẩy ở dưới, đưa cụ lên bậc thang. Xong phần cụ đến lượt tôi lên. Bây giờ cụ đã tỉnh hẳn. Cụ nói:

Lại đây cháu, lại đây với bác, để bác hôn cháu mấy cái! Cháu đã cứu mạng bác!

Bác đã cứu mạng chúng cháu trước!

Thằng Carôry không phải là một đứa dễ cảm xúc, cũng không dễ quên những thiệt thòi vụn vặt, nó càu nhàu:

Tại tất cả những cái bí beng này mà tôi mất toi một chiếc giày và cũng chưa được uống nước.

Giày của mày thì để tao xuống vớt lên!

Bác cấm cháu!

Thế thì ai cho tôi mượn một chiếc giày khác! Ít ra tôi cũng phải mang nước lên cho các bác uống mới được.

Tôi không khát nữa. - Côngpêru nói.

Uống mừng cụ giáo bình an vô sự.

Tôi tụt xuống lần nữa, nhưng lần này thì chậm hơn và cẩn thận hơn.

Cụ giáo và tôi khỏi chết đuối nhưng bực một nỗi là ướt từ đầu đến chân. Lúc đầu, chúng tôi không nghĩ đến, nhưng lâu dần mới thấy áo quần ướt thấm lạnh vào người. Cụ giáo bảo:

Phải đưa cho Rêmi một cái áo!

Không ai trả lời vì kêu gọi chung ấy không bắt buộc nhất định một người nào phải thi

Hành.

Không ai thưa à?

Tôi thì tôi thấy rét lắm. - Carôry nói.

Thế thì chúng tôi đây ướt hết như thế này, chúng tôi thấy nóng à?

Ai bảo các người ngã xuống nước làm gì?

Đã thế thì phải rút thăm xem ai phải nhường một phần quần áo của mình. Tôi đã định không dùng cách ấy, nhưng bây giờ thì thấy cần phải công bằng.

Chúng tôi đều ướt cả; tôi thì đến cổ, còn những người cao lớn nhất cũng đến hông, cho nên được thay quần áo của họ cũng không phải là một ân huệ gì ghê gớm lắm. Tuy thế, cụ giáo cứ buộc phải thay, và nhờ số đỏ, tôi rút trúng cái áo của Côngpêru. Riêng cặp chân của Côngpêru cũng đã cao bằng người tôi, cho nên áo của anh ta không ướt. Được khoác cái áo ấy, tôi thấy ấm người lại ngay.

Cái việc bực mình vừa xảy ra đó có lay tỉnh chúng tôi trong chốc lát, nhưng sau đó thì chúng tôi lại như người mất hồn lởn vởn mãi với ý nghĩ đen tối về chuyện chết. Chắc hẳn những ý nghĩ ấy dày vò những người khác nặng nề hơn tôi bởi vì họ thì thức mà rã rời ngây dại còn tôi thì dần dần ngủ thiếp đi. Song cái chỗ ngủ này rất không ổn và tôi có cơ lăn tõm xuống nước. Thấy nguy cơ đó, cụ giáo bèn kẹp đầu tôi vào cánh tay cụ. Cụ không kẹp chặt lắm, nhưng đủ để giữ cho tôi khỏi rơi. Tôi nằm trong tay cụ như đứa trẻ nằm trên gối mẹ. Cụ là người không những có đầu óc vững mà còn có tấm lòng tốt. Khi tôi chập chờn tỉnh giấc thì cụ chỉ trở cánh tay cho đỡ tê dại, rồi lại ngồi yên ngay và khe khẽ nựng: "Ngủ đi cháu! Đừng sợ, đã có bác giữ cho. Cứ ngủ yên, bé!".

Thế là tôi nhắm mắt ngủ lại không chút lo sợ, vì tôi cảm thấy không đời nào cụ buôngtôi ra.

Thì giờ cứ thế trôi qua, và luôn luôn chúng tôi nghe thấy tiếng gàu đều đều vục xuống nước.
 
15,989 ❤︎ Bài viết: 1929 Tìm chủ đề
Chương 27: Công cuộc cứu nạn

Ngồi lên bậc thang quả chật chội không sao chịu nổi, chúng tôi quyết định khoét nới ra và thế là mọi người bắt tay vào việc. Chúng tôi lại dùng dao moi than và đưa than vụn xuống. Đã có chỗ đứng vững chân nên công việc bây giờ dễ dàng hơn trước, nhờ thế chúng tôi khoét được khá nhiều than để mở rộng nhà tù của chúng tôi. Khi không phải ngồi buông thõng chân nữa mà được nằm thì mọi người cảm thấy khoan khoái lạ thường.

Mặc dù chiếc bánh của Carôry được chia phát từng tí một, nó cũng phải có lúc hết. Miếng cuối cùng phát vừa đúng lúc nên mới đến được tay chúng tôi: Khi cụ giáo đưa miếng bánh ấy thì tôi thấy trong mắt mọi người ánh lên một cái gì khiến cho tôi hiểu ngay rằng nếu còn bánh để phát lần nữa, thì họ không chịu để yên, họ sẽ đòi phần họ, mà nếu không cho thì họ cũng cứ tự tiện lấy phần.

Lâu dần rồi hầu như người ta không buồn nói năng gì nữa. Trước kia thao thao bao nhiêu thì bây giờ im lặng bấy nhiêu. Có nói thì chỉ nói về hai vấn đề: Người ta dùng phương pháp gì để đến được với chúng tôi và chúng tôi bị giam hãm ở dưới này đã bao lâu rồi.

Nhưng câu chuyện chẳng sôi nổi như lúc đầu. Có ai nói một lời thì nó cũng rơi tõm đi chứ những người khác không buồn đáp lại, hoặc có thì cũng chỉ đáp nhát gừng. Nói trời, nói đất, nói trắng nói đen gì thì cũng không làm cho ai giận dữ, thậm chí cũng không ai cãi lại. Người ta chỉ nói: "Được, rồi sẽ hay". Chúng ta bị vùi lấp dưới này được hai ngày rồi, hay sáu? Thì cứ để lúc được cứu lên khắc biết.

Nhưng cái "lúc" ấy có đến không đã chứ? Riêng tôi thì tôi bắt đầu lung lay tợn. Và cũng không phải chỉ một mình tôi; đôi lúc những người bạn khác thốt ra một vài lời nhận xét chứng tỏ họ cũng không tin tưởng mấy. Chẳng hạn như bác Bécgunu:

Nếu tôi ở lại dưới này thì cái điều an ủi tôi là công ty mỏ sẽ cung cấp cho mẹ nó và các cháu một khoản thực lợi. Ít ra chúng khỏi phải vào nhà tế bần.

Là chỉ huy thì không những phải vì anh em chống đỡ tai họa, mà còn phải ngăn ngừa sự suy sụp tâm hồn của chính anh em, hẳn cụ giáo nghĩ thế. Cho nên mỗi khi có một bạn nào tỏ vẻ ngao ngán thất vọng thì cụ can thiệp ngay bằng một lời cổ vũ:

Anh cũng như chúng tôi, không ai ở lại dưới này đâu! Gàu múc đều, nước rút dần.

Rút ở chỗ nào?

Ở giếng.

Còn ở đường hầm?

Rồi cũng sẽ đến, phải chờ chứ.

Trong khi nói chuyện, mấy người trong bọn nghĩ rằng vì có kẻ phạm tội nặng nên trời phạt. Côngpêru tự thú là hắn đã ăn cắp một chiếc đồng hồ, để bạn bị xử năm năm tù oan uổng. Mọi người tẩy chay. Côngpêru phát sốt, Rêmi định đi lấy nước cho uống bị mọi người cản. Côngpêru tụt xuống uống, chết đuối.

Nếu mọi việc không tiến hành trôi chảy và chóng vánh thì đó không phải lỗi tại các kỹ sư và anh em thợ đang làm việc để cứu sống chúng tôi. Con đường hầm để thông xuống chỗ chúng tôi mà anh em đào từ đầu thì nay anh em vẫn đào tiếp không một phút nghỉ ngơi. Nhưng công việc quả thật là khó khăn. Tầng than anh em đang đào khoét là một tầng than rắn; vả lại đường hầm hẹp, chỉ đủ chỗ cho một người làm, mà anh em đào ham lắm nên chóng mệt, cứ phải thay người luôn. Trong lúc đó, việc thông hơi cũng chật vật: Đào tới đâu, người ta đặt ống dẫn không khí tới đó và nối các ống với nhau bằng đất sét; mặc dù vậy và mặc dù luôn luôn quạt không khí vào bằng một chiếc quạt tay mạnh, đèn cũng chỉ cháy ở miệng ống dẫn không khí, xê đi thì tắt. Tất cả những cái ấy làm chậm công việc đào hầm, cho nên đến người thứ bảy thì anh em mới đào được hai mươi mét. Bình thường thì mất một tháng mới đào được xong con đường hầm như thế, nhưng với tất cả mọi phương tiện và khí thế làm việc lúc này, nhất định thời gian được rút ngắn hơn.

Vả chăng nếu không có sự kiên trì cao cả của ông kỹ sư thì chắc chắn công việc phải bỏ dở. Dư luận đều cho rằng việc này là vô ích vì những anh em thợ bị chôn vùi trong mỏ đã chết hết rồi, chỉ còn việc dùng gàu múc cho hết nước để một ngày kia nhặt xác mà thôi. Đã thế thì sớm hay muộn vài giờ có nghĩa lý gì? Công chúng nói thế, những người am hiểu cũng nghĩ thế. Cho đến thân nhân của những người bị nạn, cả mẹ họ, vợ họ cũng để tang rồi. Không còn ai sống sót mà lên khỏi mỏ Tơruye đâu!

Vừa đẩy mạnh việc vét nước, công việc này chỉ gián đoạn tạm thời khi máy hư hỏng, ông kỹ sư vẫn cho tiếp tục mở con đường hầm xuống, mặc công chúng bàn tán và bạn bè đồng nghiệp bình phẩm. Ông kỹ sư này có cái đức kiên trì và lòng tin cao quý đã giúp cho Côlông tìm ra Tân thế giới. Ông nói với anh em thợ mỏ:

Hãy cố gắng một hôm nữa, các bạn ạ, một hôm nữa thôi! Nếu đến mai mà vẫn không thấy tăm hơi gì thì chúng ta sẽ đình lại. Tôi yêu cầu các anh làm việc vì bạn của các anh, cũng như tôi có thể yêu cầu người ta làm việc vì các anh nếu chẳng may chính các anh bị nạn.

Lòng tin tưởng hừng hực của ông truyền sang anh em thợ, cho nên khi đi thì họ hoang mang vì dư luận của dân thành phố, khi về thì họ tin tưởng vào ông..

Và nhờ vào một sự đồng lòng, một sự hoạt động tuyệt vời, con đường thông cứ sâu xuống mãi.

Mặt khác, ông kỹ sư cho chống lại con đường ngầm từ kho đèn đã bị sập nhiều chỗ. Cứ như thế bằng tất cả mọi phương tiện có thể có, ông quyết tâm giành giật với hầm mỏ cái bí mật khủng khiếp và những nạn nhân của nó nếu trong lòng nó còn giấu những người chưa chết.

Sang ngày thứ bảy, trong khi đổi phiên người thợ mới đến thoáng nghe thấy có tiếng động, như ai gõ nhè nhẹ. Anh ta không bổ cuốc chim mà lại áp tai vào vỉa than. Rồi e mình nhầm, anh gọi lại một người bạn cùng anh nghe ngóng. Cả hai im lặng lắng tai nghe một lúc thì quả thấy có tiếng gõ nhè nhẹ, cách quãng đều nhau, vọng lại.

Cái tin này truyền miệng đi rất nhanh. Một số người tin, số đông hơn ngờ vực. Rồi nó bay đến tai ông kỹ sư và lập tức ông nhảy xuống đường hầm. Như vậy là rốt cuộc ông đã nghĩ đúng! Trong mỏ vẫn có những người còn sống sót và sẽ được cứu thoát nhờ ở lòng tin tưởng của ông. Rất nhiều người đi theo ông. Ông bảo những người thợ mỏ giãn ra để ông nghe ngóng. Nhưng ông xúc động quá, ông run lên nên chẳng nghe thấy gì. Ông nói một cách thất vọng:

- Tôi chẳng nghe thấy gì cả!

Nhưng hai người thợ đầu tiên đã nghe tiếng gõ nói quả quyết rằng họ không nhầm vì chính tai họ đã nghe tiếng gõ trả lời tiếng gõ của họ. Họ là những người thông thạo, từng làm nghề mỏ lâu năm cho nên lời nói của họ có uy tín.

Ông kỹ sư bảo những người đi theo ông đi ra hết, kể cả những người làm dây chuyền để chuyển than ra ngoài, chỉ giữ lại hai người thợ ấy. Bây giờ họ lấy cuốc chim bổ vào than nhiều nhát rõ mạnh, cách quãng đều nhau, theo lối gọi bạn của những người thợ mỏ. Xong họ nín thở, áp tai vào vỉa than để nghe ngóng.

Đợi một lúc thì thấy tiếng trả lời yếu ớt, đều đặn. Những tiếng ấy dội mạnh vào tim họ. Ông kỹ sư ra lệnh:

Cuốc nữa đi, cuốc từng nhát cách quãng nhau xa để cho chắc chắn những tiếng trả lời không phải tiếng vang của những nhát cuốc do các anh bổ xuống.

Hai người thợ bổ cuốc xuống và ngay sau đó lại nghe những tiếng trả lời đều nhịp như họ đã nghe lúc trước, nghĩa là tiếng gõ theo lối "gọi thợ mỏ". Không nghi ngờ gì nữa, vẫn còn có người sống sót ở dưới ấy và có thể cứu họ.

Tin này lan nhanh khắp thành phố nhanh như làn thuốc súng cháy. Người ta đổ xô tới mỏ Tơruye đông hơn ngày xảy ra tai nạn và rõ ràng xúc động hơn. Vợ con, bố mẹ của những người bị nạn chạy đến, mặc quần áo tang, run run mà mắt ngời hy vọng. Bao nhiêu người còn sống? Chắc là nhiều lắm! Có thể là chồng chị. Nhất định là con tôi.

Mọi người muốn ôm hôn ông kỹ sư. Nhưng ông này vẫn điềm tĩnh trước niềm vui cũng như đã điềm tĩnh trước sự nghi ngờ và lời chế giễu. Ông chỉ nghĩ đến việc cấp cứu, và để giãn bớt những kẻ tò mò quấy rối cũng như thân nhân của những người bị nạn đổ xô tới, ông đã phải nhờ binh lính đến giữ trật tự, công việc khỏi bị trở ngại.

Những tiếng động vọng ra yếu ớt quá đến nỗi không thể nào định rõ được hướng chỗ phát ra. Tuy thế cũng đã đủ cho mọi người hiểu được rằng những người thợ còn sống sót hiện nay đang mắc nghẽn tại một trong ba ngách ngược chỗ hầm phẳng, nơi công trường cũ. Vậy thì không thể chỉ có một đường thông mà phải đào ba đường thông xuống cả ba ngách ngược. Chừng nào nghe rõ ra được thì sẽ bỏ những con đường vô dụng để tập trung sức vào con đường đúng. Thế là công việc lại tiếp tục khẩn trương hơn, phần lớn cũng nhờ có những công ty láng giềng đã gửi những người thợ cuốc giỏi nhất đến giúp. Song songvới hy vọng hoàn thành đường thông còn có hy vọng đi theo đường hầm bởi vì nước trong mấy cái giếng đã thấy rút dần.

Trong ngách của chúng tôi, khi nghe thấy tiếng cuốc gọi của ông kỹ sư thì chúng tôi cũng xúc động như khi nghe tiếng gàu múc vục xuống giếng. Cả bọn buột mồm reo lên một tiếng hồ hởi: "Sống rồi!" và tưởng chừng như người ta sắp đưa tay kéo mình lên.

Nhưng cũng như tiếng gàu vục nước, sau hy vọng thì lại thất vọng. Tiếng cuốc chim chứng tỏ những người bạn đào hầm còn cách chúng tôi xa lắm. Hai mươi mét có dễ, ba mươi mét cũng nên. Còn bao nhiêu ngày nữa mới chọc thủng được khối than này? Ước lượng của chúng tôi không thống nhất: Kẻ nói một tháng, người bảo một tuần, hoặc chỉ là sáu hôm thôi. Làm thế nào đợi được một tháng, một tuần, hoặc chỉ sáu hôm thôi? Ai ở đây có thể sống đến ngày thứ bảy? Chúng tôi đã nhịn đói bao nhiêu ngày rồi?

Còn mỗi một mình cụ giáo là nói năng cứng cáp, nhưng lâu dần rồi sự chán nản của chúng tôi cũng lây đến cụ, lâu dần cơ thể suy nhược cũng làm cho nghị lực cụ suy mòn.

Nếu như chúng tôi tha hồ uống nước đến vỡ bụng thì lại chẳng có chút gì ăn cho đỡ đói lòng. Cái đói ngày càng hành hạ da diết đến nỗi đã có lúc chúng tôi nhấm cả gỗ mục mủn ra trong nước.

Thằng Carôry háu đói nhất, đã cắt nhỏ chiếc ủng còn lại của nó và luôn miệng nhá những mẩu da ủng.

Nhìn thấy cái đói đã đưa các bạn tôi đến cơ sự đó, xin thú thực có lúc tôi rất khiếp sợ. Sự khiếp sợ này cùng với những nỗi kinh hoàng khác khiến tôi bứt rứt không yên. Chẳng là tôi đã từng nghe cụ Vitali kể chuyện về những chuyến tàu gặp bão. Cụ cũng đã chu du trên mặt biển rất nhiều, ít nhất cũng ngang với trên mặt đất. Có một câu chuyện cụ kể cứ ám ảnh tôi không rời, từ khi cái đói hành hạ chúng tôi. Trong chuyện đó, những người thủy thủ bị giạt lên một hòn đảo cát hoang vu, không kiếm được gì ăn, đã giết chú bé tập việc để ăn thịt. Mỗi khi nghe các bạn tôi gào đói, tôi lại kinh hãi lo ngại vớ vẩn số phận ấy sẽ rơi vào tôi. Trên cái đảo than trơ trọi này, liệu tôi có thể cũng bị giết thịt như chú bé kia không? Đành rằng nhất định cụ giáo và chú Gátxpa sẽ bảo vệ tôi, nhưng Pagiét, Bécgunu và Carôry, nhất là Carôry cứ nhe hai hàm răng trắng nhởn nhọn hoắt mài đi mài lại vào những miếng da ủng thế kia thì làm sao tôi có thể yên lòng được!

Tất nhiên những lo ngại ấy quả là rồ dại. Nhưng trong tình trạng chúng tôi lúc này, rõ ràng không phải là lý trí khôn ngoan và tỉnh táo đã điều khiển suy nghĩ và tưởng tượng.

Bóng tối lại càng làm tăng nỗi hãi hùng. Lần lượt mấy cái đèn cạn dầu. Khi chỉ còn hai chiếc thì cụ giáo quyết định chỉ thắp đèn khi nào thật cần thiết. Bởi thế cho nên giờ đây lúc nào chúng tôi cũng sống trong đêm tối. Ảm đạm quá! Không những ảm đạm mà lại còn nguy hiểm nữa, bởi vì hễ vụng về sơ suất một tí là lăn tòm xuống nước ngay.

Chốc chốc, chúng tôi lại gõ vào vách để báo cho những bạn đang lo cứu chúng tôi biết là chúng tôi hãy còn sống. Và chúng tôi nghe tiếng cuốc của họ bổ xuống than liên hồi.

Nhưng tiếng cuốc của họ cũng không dội mạnh hơn trước là mấy, như thế có nghĩa là họ hãy còn ở xa.

Khi tôi thắp đèn đi lấy nước thì tôi thấy hình như mực nước có xuống được vài phân. - Nước xuống.

- Ơn trời!

Một lần nữa, chúng tôi khấp khởi hy vọng. Anh em muốn chong đèn để theo dõi mực nước, nhưng cụ giáo không đồng ý. Thế là tôi tưởng như sắp có phản kháng. Nhưng cụ giáo có bao giờ đòi hỏi chúng tôi điều gì mà không kèm theo những lời lẽ xác đáng!

"Chúng ta còn nhiều lúc cần đến đèn! Nếu như động tí là thắp đèn thì làm thế nào khi cần đến có đèn thật sự? Hơn nữa, các bạn tưởng rằng được thấy nước xuống nhưng mà xuống quá chậm, các bạn lại khổ sở vì nóng ruột quá hay sao? Đừng có mong nhìn thấy nước vơi đi rõ ràng! Hãy vững lòng, nhất định sẽ thoát nạn! Ta còn mười ba que diêm, cần thì sẽ dùng ngay lập tức!". Chúng tôi ngồi im lìm hàng giờ, có lẽ hàng ngày, không có gì để tin vào mà sống ngoài tiếng cuốc khoét hầm và tiếng gàu múc nước. Những tiếng ấy càng lâu càng vang to dần, tiến triển này rất chậm vào khó nhận thấy. Nước xuống, những kẻ cứu nạn cũng đến gần, nhưng liệu họ có đến kịp hay không chứ. Nếu công việc của những người cứu nạn mỗi phút một tiến lên thì sự suy nhược của chúng tôi mỗi phút một tăng dần và dằn vặt chúng tôi nhiều hơn: Thể xác kiệt quệ, tinh thần rã rời.

Từ lúc bắt đầu lụt cho đến nay, các bạn tôi không có chút gì dính bụng. Ghê gớm hơn nữa, chúng tôi chỉ hô hấp một thứ không khí tù hãm cho nên ngày càng uế tạp, càng khó thở. Cũng may là nước càng rút thì áp suất không khí càng giảm đi, chứ nếu nó cứ găng như cũ thì chắc hẳn chúng tôi đã chết ngạt hết. Như vậy rõ ràng là nếu chúng tôi được cứu sống thì cũng do công việc cứu nạn được tổ chức và điều khiển khẩn trương.

Tiếng cuốc bổ và tiếng gàu múc nước đưa đến đều đặn như tiếng quả lắc đồng hồ. Mỗi khi họ dừng tay thay người thì chúng tôi xúc động đến phát sốt lên. Liệu chúng tôi có bị bỏ rơi không? Hay là lại có những khó khăn không vượt nổi! Trong một khoảng dừng như thế, bỗng nổi lên một tiếng động kinh khủng, một tiếng vù, một tiếng thổi rất mạnh.

Carôry kêu lên:

Nước ào xuống mỏ! Cụ giáo nói:

Không phải nước!

Thế thì là cái gì?

Tôi không rõ, nhưng không phải nước!

Mặc dầu đã nhiều lần cụ giáo tỏ ra sáng suốt và suy đoán vững vàng, chúng tôi vẫn chỉ tin ở cụ khi cụ đưa ra được những lý lẽ rõ ràng xác đáng. Bây giờ cụ đã thú nhận không hiểu nguyên nhân của tiếng động ấy (sau này chúng tôi được biết đó là tiếng quạt máy có bánh xe răng cưa, lắp lên để quạt không khí vào cho những người đào đất), mọi người lại rơi vào trạng thái điên loạn vì nghĩ tới nạn lụt.

Đốt đèn lên!

Không cần thiết!

Đốt đèn lên ngay! Đốt lên ngay!

Cụ giáo phải làm theo vì tất cả mọi người đều lên tiếng ùa vào. Ánh đèn chiếu sáng.

Chúng tôi thấy nước không dâng lên mà có lẽ rút xuống.

Cụ giáo bảo:

Đấy các bạn xem!

Nước sẽ lên thôi! Lần này thì chết ráo!

Nếu thế, thà chết ngay đi còn hơn! Tôi không chịu đựng được nữa!

Cụ giáo, đưa đèn đây! Tôi muốn viết vài dòng cho vợ con.

Viết hộ tôi nữa!

Hộ cả tôi nữa!

Chính bác Bécgunu đã đòi lấy đèn để viết thư cho vợ con trước khi chết. Trong túi bác ta còn có một mảnh giấy và một mẩu bút chì. Bác chuẩn bị viết.

- Tôi muốn viết thế này:

"Chúng tôi, Gátxpa, Pagiét, cụ giáo, Carôry, Rêmi và Bécgunu bị hãm trong ngách ngược, sắp chết".

"Tôi, Bécgunu, tôi cầu xin Chúa che chở cho vợ góa và các con côi cút của tôi. Tôi ban phúc cho chúng nó".

- Thế anh Gátxpa muốn nói gì?

Chú Gátxpa để cho cháu Alơxi tất cả tài sản của chú.

Bác Pagiét cầu Chúa, Đức Mẹ và nhờ công ty cùng che chở giúp đỡ cho vợ con.

Thế cụ giáo?

Tôi không có người thân. - Cụ giáo buồn rầu trả lời. - Chẳng ai sẽ khóc tôi cả!

Thế Carôry?

Tôi ấy à? Tôi nhờ ai đó bảo hộ cho đống hạt dẻ trước khi xát vỏ..

Không thừa giấy để ghi chuyện vớ vẩn!

Có vớ vẩn đâu!

Mày không có ai để gửi lại cái hôn ư? Mẹ mày đâu?

Mẹ tôi ấy à? Mẹ tôi sẽ hưởng tất cả những gì của tôi.

Thế Rêmi?

Tôi, Rêmi tặng cho Mátchia con Capi và chiếc thụ cầm, tôi hôn Alơxi và nhờ anh tìm gặp em Lidơ..

Chúng mình cùng ký tất cả vào đây!

Tôi chỉ xin gạch một dấu chữ thập. Mọi người ký xong, bác Bécgunu nói:

Thế là xong. Tôi xin mọi người để cho tôi chết yên tĩnh, đừng có nói năng gì với tôi. Vĩnh biệt các bạn!

Từ bực trên, bác ta bước xuống bực dưới, ôm hôn tất cả ba chúng tôi, rồi trở lên bực trên, ôm hôn bác Pagiét và Carôry. Sau đó, bác vun lại một đống than vụn, gối đầu lên, nằm dài ra và không động đậy nữa. Xúc động vì bức thư và sự chán ngán của bác Bécgunu, chúng tôi lại càng cảm thấy nản lòng.

Tuy nhiên, tiếng cuốc chim nghe đã rõ rệt, chắc hẳn là người ta đến gần chúng tôi lắm rồi, sắp gặp chúng tôi cũng nên. Cụ giáo giải thích điều đó để chúng tôi phấn chấn lên đôi chút.

Nếu quả họ đã đến gần lắm như cụ tưởng thì chúng mình đã nghe thấy họ kêu!

Đằng này mình không nghe thấy tiếng họ gọi cũng như họ không nghe thấy tiếng chúng mình kêu.

Có khi ở cách mấy thước mà vẫn không nghe thấy tiếng gọi. Cái đó là do chất đá có truyền tiếng đi hay không.

Hoặc là do khoảng cách!

Tuy vậy, nước vẫn cứ rút xuống và không bao lâu, chúng tôi có bằng chứng rõ ràng là nó không còn tràn ngập hầm đến tận nóc nữa. Chúng tôi nghe có tiếng sột soạt trên đá và tiếng nước óc ách như có những mảnh than nhỏ rơi xuống. Thắp đèn lên thì thấy có mấy con chuột cống ở phía dưới. Cũng như chúng tôi, chúng nó đã tìm được một cái chuông không khí và khi nước rút xuống thì chúng rời bỏ chỗ trú ẩn để đi kiếm ăn. Chúng đã đến được đây hẳn là vì nước không còn tràn ngập các con đường hầm từ đây đến trần nữa.

Những con chuột ấy đến với cái hầm giam chúng tôi khác nào con bồ câu đến với chiếc thuyền của Nôê (1) : Cơn hồng thủy đã dứt.

Cụ giáo nhướn người lên bậc trên, gọi:

- Bécgunu, phấn khởi lên!

Và cụ nói rõ cho anh hiểu rằng lũ chuột đến như thế tức là báo trước cho chúng ta biết sẽ được cứu thoát.

Nhưng Bécgunu không hề lay chuyển.

Nếu rồi lại phải chuyển từ hy vọng trở lại thất vọng thì thà đừng có hy vọng hão huyền còn hơn! Tôi cứ chờ chết! Nếu may mắn thoát nạn thì tạ ơn trời!

Tôi xuống chân ngách để xem rõ nước rút. Nước quả có rút nhanh đấy và bây giờ đã có một khoảng trống khá lớn giữa mặt nước và nóc hầm.

Thằng Carôry gọi với theo tôi:

Bắt ít con chuột để chúng mình ăn đi mày.

Nhưng muốn bắt chuột thì phải nhanh nhẹn hơn tôi kia! Tuy vậy sự hy vọng cũng làm cho tôi hồi tỉnh lại, và cái khoảng trống trong đường hầm làm nảy sinh trong đầu óc tôi một ý nghĩ cứ khiến tôi suy tính băn khoăn.

Cụ giáo ạ, cháu có ý kiến: Chuột sục sạo trong hầm như thế nghĩa là có thể đi lại

Được. Cháu sẽ bơi cho đến chỗ thang lên xuống. Đến đây cháu sẽ gọi lên, đánh tiếng cho người ta nghe thấy và giúp cho họ đến cứu chúng ta. Họ sẽ xuống tìm ta, như thế nhanh hơn là cứ khoét đường hầm mà xuống.

Bác cấm cháu làm việc đó.

Nhưng cháu bơi lội dưới nước y như cụ đi lại trên bộ. Xuống nước cháu không khác gì con lươn, con chạch.

Thế còn không khí độc?

Chuột đi qua được, không khí ấy chúng thở được thì tất cũng không có gì là độc đối với cháu.

Bác Pagiét to tiếng giục:

Ừ đi đi, Rêmi! Tao sẽ thưởng cho mày chiếc đồng hồ.

Anh Gátxpa. - Cụ giáo hỏi. - Ý kiến anh thế nào?

Tôi không có ý kiến. Nếu nó có thể bơi tới cầu thang được thì nó cứ đi, tôi không có quyền cản nó.

Nhỡ nó chết đuối thì sao?

Thế may nó thoát ra được, khỏi phải chờ đợi để rồi chết rũ ở dưới này, thì sao?

Lòng dạ cháu tốt đó, cháu ạ. Thôi thì cháu cứ làm như ý cháu. Phần bác, bác cho rằng cháu đang cố làm một việc không thể làm được. Nhưng việc không thể làm mà người ta làm được xưa nay cũng không phải là không có. Cháu hôn các bác đi.

Tôi hôn cụ, hôn chú Gátxpa, rồi cởi quần áo, tuột xuống nước. Trước khi bơi, tôi dặn

Lại: "Các bác cứ kêu lên đều đều. Tiếng các bác sẽ giúp cháu định phương hướng".

Khoảng trống dưới mái hầm là bao nhiêu? Có đủ để tôi khỏi vướng vất trong khi bơi lội không? Điều cốt yếu là ở đó. Bơi đi được mấy sải, tôi thấy rằng nếu cứ bơi từ từ thì không đến nỗi phải đụng đầu vào vách đá, như thế thì cái việc tôi làm không phải là phiêu lưu quá. Không biết rồi cuối cùng sẽ được giải phóng hay là chết? Tôi ngoảnh lại thì thấyánh đèn của anh em phản chiếu trên mặt nước đen ngầu: Rõ ràng đó là một ngọn hải đăng chỉ đường rọi lối cho tôi. Tôi vẫn nghe tiếng cụ giáo hỏi:

- Vẫn bình thường chứ?

Tôi trả lời: "Vâng" và thận trọng tiến lên. Từ ngách chúng tôi nấp đến chân thang, cái khó là ở phương hướng, vì cách chỗ chúng tôi không xa có một ngã tư, ở đấy các đường hầm gặp nhau. Trong bóng tối phải nhận cho ra lối đi đến chân thang, bằng không thì sẽ lạc đường. Mái hầm, vách hầm không đủ để tôi dựa vào mà tìm lối đi, chỉ có một chỗ dựa đáng tin cậy hơn, đó là đường ray trên mặt đất. Cứ theo đường ray chắc chắn tôi sẽ tìm được thang lên. Chốc chốc, tôi thả cho chân chìm xuống và khi chân đã mò gặp đường sắt rồi thì tôi từ từ trồi lên và bơi đi. Có đường ray ở dưới, có tiếng gọi của các bạn thợ đằng sau, tôi không ngại lạc hướng. Tiếng gọi đằng sau nhỏ dần, tiếng gàu múc phía trước to dần mách cho tôi biết rằng tôi đương tiến lên. Phải chăng tôi sắp được thấy ánh mặt trời? Phải chăng lát nữa các bạn tôi sẽ được cứu sống, nhờ sự cố gắng của tôi? Cứ nghĩ thế là tôi phấn chấn, tìm thấy đủ sức lực để vượt lên.

Bơi giữa hầm, hễ đứng thẳn người là gặp đường ray, và thường thường tôi chỉ quờ chân mò cũng đủ, lần này quờ chân mà không thấy, tôi lặn xuống lấy tay sờ soạng mãi cũng không tìm ra. Tôi mò từ vách bên này qua vách bên kia cũng không gặp. Tôi nhầm đường rồi. Tôi dừng lại để suy nghĩ và nhận phương hướng. Tiếng gọi của các bạn tôi bây giờ chỉ còn vọng đến như một tiếng thì thầm xa xôi khó nghe thấy.

Thở một lúc đỡ mệt, tôi hít không khí đầy ngực, rồi hụp xuống lần nữa. Lần này cũng không may mắn hơn lần trước: Vẫn không tìm thấy đường ray. Tôi đã đi nhầm lối mà không biết, cho nên cần phải quay lại. Nhưng làm sao quay trở lại lối cũ được? Các bạn tôi không kêu gọi nữa, hoặc là họ vẫn gọi mà tôi không nghe thấy thì kết quả cũng thế thôi.

Một lúc, tôi như bị tê liệt đi vì kinh hoàng. Tôi không biết phương hướng nào mà bơi đi cả. Hẳn tôi đành chịu chết giữa cái đen tối mờ mịt ở trong lòng nước lạnh như băng, dưới cái vòm cuốn nặng trình trịch này. Nhưng đột nhiên tiếng gọi lại vang lên và thế là tôi biết phải quay lại theo hướng nào.

Bơi lui độ hai mươi sải thì tôi lặn xuống và lại tìm thấy đường ray. Đúng lối rẽ ở nơi này đây. Tôi tìm tấm bảng không thấy, tôi tìm các cửa cũng không ra: Bên phải, bên trái, tôi đều gặp vách đá. Đường ray đâu rồi? Tôi lại men theo đường ray bơi cho đến khi không còn đường ray nữa: Đường ray đứt một cách đột ngột. Bấy giờ tôi mới hiểu rằng đường ray đã bị dòng nước cuốn phăng đi và tôi không có gì làm chuẩn để bơi đi nữa. Trong hoàn cảnh này thì dự định của tôi không thể thực hiện, chỉ còn việc quay về mà thôi.

Đường đã đi một lần rồi, tôi biết là không nguy hiểm vì vậy tôi bơi nhanh theo tiếng gọi, để cho mau đến ngách. Càng đến gần, tôi càng cảm thấy hình như giọng nói của các bạn tôi rắn chắc hơn, tuồng như họ được bồi thêm sức lực. Trong chốc lát, tôi đã đến miệng ngách và đến lượt tôi gọi lên. Cụ giáo bảo:

Đây nào! Lại đây.

Cháu không tìm được lối đi đến giếng.

Không sao! Họ đã xuống gần, họ nghe tiếng ta gọi, ta cũng nghe thấy tiếng họ gọi. Hai bên sắp nói chuyện với nhau đến nơi.

Tôi nhanh nhẹn leo lên bệ và lắng tai nghe ngóng. Quả nhiên tiếng cuốc bổ dội mạnh hơn trước nhiều và tiếng la tiếng thét của những người thợ đang làm việc ấy vang đến chúng tôi tuy còn yếu ớt nhưng khá rõ ràng. Qua phút mừng rỡ ban đầu, tôi mới nhận thấy người mình lạnh cóng đi. Vì không có quần áo ấm để đưa tôi mặc nên các bác ấy vùi tôi trong than cám đến tận cổ - than cám bao giờ cũng giữ được một chút ít sức ấm - và chú

Gátxpa cùng với cụ giáo ấp chặt lấy tôi. Bây giờ tôi kể lại cuộc thám hiểm của tôi và chuyện tôi không tìm thấy đường ray như thế nào cho họ nghe.

Cháu dám lặn xuống à?

Sao không? Rủi là cháu chẳng tìm thấy gì hết.

Cũng như cụ giáo đã nói, điều này không có gì là quan trọng nữa: Rõ ràng là nếu chúng tôi không được cứu thoát do con đường hầm cũ thì chúng tôi sẽ được cứu thoát qua con đường hầm sắp thông.

Lúc này chúng tôi phân biệt tiếng la hét bên trên đã khá rõ nên có thể hy vọng sắp được nghe nói chuyện đến nơi. Được một lát, quả nhiên chúng tôi nghe ba tiếng nói rành rọt: "Có mấy người?". Trong chúng tôi, chú Gátxpa có giọng nói vang dội và rành mạch hơn cả, chúng tôi cử chú trả lời.

- Sáu!

Một phút im lặng. Chắc ở trên ấy người ta trót dự đoán một số đông hơn. Chú Gátxpathét:

Nhanh lên anh em! Chúng tôi kiệt sức rồi.

Cho biết tên.

Chú báo tên chúng tôi lên: Bécgunu, Pagiét, cụ giáo, Carôry, Rêmi, Gátxpa.

Đối với những người trên mặt đất, phút này là phút hồi hộp nhất. Tất cả những người ruột rà thân thích của các bạn thợ bị chôn vùi dưới đáy mỏ đều đã chạy tới, khi biết tin sắp bắt được liên lạc với chúng tôi. Lính gác phải khó nhọc lắm mới giữ được họ ở miệng hầm. Khi ông giáo sư báo tin chỉ có sáu người thì đám đông thất vọng. Tuy vậy trong sự thất vọng chung, mỗi người còn nuôi hy vọng riêng: Trong số sáu người đó tất có người mình mong đợi. Ông kỹ sư nói tên chúng tôi. Hỡi ôi! Trong số một trăm hai mươi bà mẹ và chị vợ chờ mong, chỉ có bốn người được toại nguyện. Kể làm sao xiết những vật vã đau thương, những dòng nước mắt lã chã!

Về phía chúng tôi, chúng tôi cũng nghĩ đến những người đã được cứu sống. Chú Gátxpa hỏi:

Có bao nhiêu anh em thoát chết?

Người ta không đáp. Pagiét bảo:

Hỏi xem Pie ở đâu?

Câu hỏi được chuyển lên. Cũng như câu hỏi trước, nó không được trả lời.

Họ không nghe.

Phải nói rằng họ không muốn trả lời mới đúng. Có một vấn đề làm tôi bứt rứt. Tôi nói:

Hỏi xem chúng ta ở dưới đây đã bao lâu rồi.

Mười bốn hôm!

Mười bốn hôm! Trong sáu chúng tôi, kẻ ước lượng cao nhất cũng chỉ đến năm sáu hôm mà thôi.

Bây giờ thì anh em không ở lâu dưới đó nữa đâu, hãy yên tâm! Đừng nói chuyện nữa! Chuyện nhiều làm chậm công việc. Chỉ vài giờ nữa thôi.

Những giờ khắc cuối cùng này là những giờ khắc dài nhất trong thời gian chúng tôi bị nghẽn. Ít ra, đó cũng là những giờ đau đớn nhất, đau đớn hơn trước nhiều. Mỗi nhát cuốc bổ xuống cứ tưởng là nhát cuốc cuối cùng, ngờ đâu sau nhát ấy, có nhát nữa. Chốc chốc lại nghe hỏi:

Anh em có đói không?

Đói, đói lắm.

Anh em có đợi được không? Nếu anh em đuối sức quá, chúng tôi sẽ khoan một lỗ chuyển nước thịt ninh xuống, nhưng như thế sẽ làm chậm công việc giải thoát anh em. Nếu anh em chờ được thì sẽ chóng được tự do hơn.

Chúng tôi sẽ chờ. Các bạn làm nhanh lên.

Các gàu múc không ngừng hoạt động giây phút nào và mực nước cứ xuống đều đều.

Cụ giáo bảo:

Báo lên cho trên kia biết là nước đang xuống.

Chúng tôi biết. Bằng lối mới thông này hoặc là đường hầm cũ, chúng tôi sắp gặp anh em trong.. chốc lát thôi.

Tiếng cuốc bây giờ nghe nhẹ hơn. Chắc là anh em biết sắp thủng tới nơi, và chúng tôi đã báo cho biết vị trí của chúng tôi rồi, nên anh em sợ làm sụt đất: Đất kia mà sục xuống đầu thì có thể làm bị thương hoặc chết, hoặc xô luôn chúng tôi xuống nước lẫn với đất đá vụn. Cụ giáo cũng giải thích cho chúng tôi thấy rằng còn phải sợ một cơn lùa dữ dội của không khí: Khi có một lỗ thủng thì không khí sẽ tuồn ra như một viên đạn đại bác và quật ngã tất. Bởi thế, phải cẩn thận, phải đề phòng, cũng như anh em cuốc đất ở bên trên phải đề phòng về phần họ.

Bây giờ mỗi nhát cuốc đã làm chuyển động khối đất trên trần, khiến nhiều mẩu than vụn tách ra lăn theo dốc và rơi xuống nước. Lạ thay, càng gần lúc được cứu thoát, chúng tôi lại càng thấy yếu sức. Chính tôi, tôi cũng không đứng vững được nữa! Nằm dài trên đống than vụn, tôi không chống tay đứng dậy nổi, tôi run cầm cập mặc dù chẳng rét chút nào. Cuối cùng vài hòn than to hơn rã ra, lăn đến giữa chúng tôi.

Lỗ hổng đã khoét ra trên trần ngách. Ánh sáng đèn vừa làm lóa mắt chúng tôi một thoáng thì vụt tối sầm ngay. Một luồng gió dữ dội, một thứ vòi rồng mang theo bao nhiêu là than và các thứ linh tinh đã thổi đèn tắt phụt.

Gió lùa đấy, anh em đừng sợ, chúng tôi sẽ đem đèn ra ngoài thắp lại. Anh em chờmột tí.

Lại chờ! Lại chờ lần nữa! Nhưng trong lúc đó thì dưới nước có tiếng vang động mạnh. Tôi quay lại thì thấy có ánh đèn rất sáng đang lướt trên mặt nước có tiếng vỗ nhẹ lóc bóc. Và có tiếng người kêu:

Gắng lên! Gắng lên các bạn.

Cùng lúc đó từ trên lỗ thủng người ta đưa tay kéo các bạn ở bệ trên thì từ đường hầm người ta cũng đến với chúng tôi, những anh em ở bệ dưới. Ông kỹ sư là người đầu tiên leo lên lối ngách. Chưa nói được câu nào, tôi đã nằm gọn trong tay ông. Vừa vặn kịp, tôi sắp ngất đến nơi.

Tuy lả đi, tôi cũng biết rằng người ta mang tôi đi, và khi ra khỏi đường hầm thì người ta bọc tôi trong chăn. Tôi nhắm mắt lại nhưng chỉ giây lát sau thấy như bị quáng đi nên lại mở ra. Đó là ánh sáng ban ngày. Chúng tôi đã ra ngoài trời.

Lúc bấy giờ có một vật gì trăng trắng lao vào người tôi: Đó là con Capi, nó nhảy phóc lên tay ông kỹ sư, liếm mặt tôi. Đồng thời tôi cảm thấy ai nắm tay tôi hôn. Rồi nghe một giọng nói yếu ớt: "Rêmi!". Đó là tiếng của Mátchia.

Tôi nhìn ra chung quanh và thấy ngay một đám đông bị chen chúc hai bên, để trống một lối đi ở giữa. Đám đông ấy rất im lặng. Người ta đã căn dặn đừng có ai kêu lên khiến chúng tôi xúc động; nhưng thái độ và ánh mắt của họ cũng nói thay lời..

Hai chục cánh tay vươn ra muốn đỡ lấy tôi nhưng ông kỹ sư không có ý nhường tôi cho bất cứ ai. Tự hào về chiến thắng của mình, sung sướng và rạng rỡ, ông bế lấy tôi đem về ngay nhà vực; ở đó đã có những chiếc giường sửa soạn đầy đủ và sẵn sàng, chờ đón chúng tôi.

Hai ngày sau, tôi đi dạo giữa các đường phố Vácxơ cùng với Mátchia, Alơxi và Capi.

Đi tới đâu, khách qua đường cũng dừng lại để nhìn.

Có người lại gần tôi, bắt tay tôi, nước mắt giàn giụa. Cũng có người thấy tôi thì ngoảnh mặt đi. Những người này đang nặng tang tóc và đau xót.

Alơxi nói:

Khi tớ nghĩ rằng vì giúp tớ mà cậu hy sinh thì tớ rụng rời chân tay. Đúng thế, tớ cho rằng cậu đã chết rồi.

Tớ thì tớ chưa lúc nào tin rằng cậu đã chết. - Mátchia nói. - Tớ chưa dám chắc người ta có đến kịp để cứu cậu và cậu có còn sống mà ra khỏi mỏ hay không. Nhưng tớ tin rằng cậu không chịu để chết đuối, và đã thế thì người ta sẽ tìm thấy cậu ở đâu đấy, nếu công việc cứu nạn làm được nhanh chóng. Bởi vậy, trong khi anh Alơxi khóc cậu thì tớ thấy sốt cả ruột và tự nhủ: "Nó còn sống, nhưng có lẽ nó cũng sắp chết". Và gặp ai tớ cũng hỏi: "Không ăn thì sống được mấy ngày? Lúc nào thì múc hết nước? Đường hầm bao giờ mới mở xong?".

Nhưng không ai trả lời cho tớ được như tớ mong muốn cả. Khi người ta hỏi tên anh em dưới ấy, rồi ông kỹ sư hô lớn tên Rêmi lên sau thằng Carôry thì tớ ngã khuỵu xuống mà khóc. Lúc ấy người ta giẫm bừa lên mình tớ nhưng tớ sung sướng quá nên chẳng hay biết gì cả.

Tôi hết sức tự hào vì rằng Mátchia tin tưởng ở tôi đến nỗi không tin rằng tôi có thểchết.
 
15,989 ❤︎ Bài viết: 1929 Tìm chủ đề
Chương 28: Một bài học nhạc

Một số người trong mỏ đã trở thành thân thiết với tôi. Cảnh hoạn nạn cùng chịu đã gắn bó mọi người: Cùng đau khổ, cùng ước mong, người ta kết với nhau là một.

Chú Gátxpa và cụ giáo đều quý mến tôi, đặc biệt là cụ giáo. Còn ông kỹ sư mặc dù không bị mắc nghẽn cùng chúng tôi, ông cũng thương mến tôi vì tôi là một đứa bé mà ông giành giật lại với Thần Chết. Ông mời tồi đến ăn cơm. Theo yêu cầu của con gái ông, tôi phải kể lại tỉ mỉ tất cả những gì xảy đến trong khi chúng tôi bị chôn sống trong ngách cụt.

Ai cũng muốn tôi ở lại Vácxơ.

Ta sẽ tìm cho cháu một người thợ cuốc dùng cháu làm tay phụ đẩy goòng. - Chú Gátxpa bảo. - Và thế là chú cháu ta sẽ mãi mãi gần gũi nhau.

Nếu em thích làm việc bàn giấy thì ta sẽ cho em một chân, làm việc bàn giấy - Ổng kỹ sư nói.

Chú Gátxpa yên trí rằng tôi sẽ trở xuống làm việc dưới mỏ. Về phần chú, chú đã xuống làm việc dưới mỏ trở lại, thản nhiên như một người dày dạn hiểm nguy.

Nhưng tôi thì tôi không thích trở lại đi đẩy xe goòng chút nào cả. Mỏ thì quả thật là đẹp, là lạ mắt, tôi lấy làm sung sướng đã được trông thấy một cái mỏ. Nhưng trông thấy như thế đã đủ lắm rồi, tôi không còn chút lưu luyến nào nữa, không mảy may ao ước được trở lại một cái ngách cụt nào đó lần nữa. Chỉ mới nghĩ tới, tôi đã thấy ngột ngạt rồi. Rõ ràng là tôi không phải sinh ra để làm việc trong hang tối. Được sống quang đãng, đầu đội trời, dù là trời băng tuyết đi nữa, tôi vẫn cảm thấy thích hơn. Tôi đem điều đó bày tỏ với chú Gátxpa và cụ giáo thì chú Gátxpa lấy làm lạ lùng khó hiểu, còn cụ giáo thì buồn lòng vì tôi không có cảm tình với nghề mỏ. Thằng Carôry gặp tôi bảo tôi là đồ nhút nhát.

Với ông kỹ sư, tôi không thể đơn giản trả lời rằng tôi không còn muốn làm việc dưới hầm sâu nữa: Ông bảo tôi làm việc ngay tại công sở với ông. Ông hứa sẽ dạy bảo tôi nếu tôi muốn học. Tôi muốn nói với ông ấy tất cả sự thật và tôi đã nói như thế. Ông bảo:

Thế là em yêu cuộc sống ngoài trời, thích đi đây đi đó và được phóng khoáng. Tôi không có quyền làm trái với ý muốn của em. Vậy thì, chú bé của tôi ơi, chú cứ theo con đường của chú!

Đúng là tôi yêu cuộc sống ngoài trời, và chính trong khi bị hãm trong ngách ngược tôi lại càng cảm thấy như thế hơn bao giờ hết! Dễ gì để có thể quên nếp đã định đi đâu thì đi, đã định làm gì thì làm, luôn luôn chủ động?

Suốt trong thời gian người ta tìm cách giữ tôi lại Vácxơ thì Mátchia có vẻ buồn bã, ngẩn ngơ. Tôi hỏi nó: Nó bảo là nó vẫn thường, không thấy có gì khác. Đến khi tôi bảo nó sửa soạn để ba hôm sau sẽ lên đường thì nó bá lấy cổ tôi và thú thật vì sao nó buồn. Nó hét:

Thế là mày không bỏ rơi tao thật à?

Nghe thấy thế, tôi tông cho nó một quả để nó chừa cái tội đã dám nghi ngờ tôi và cũng để che giấu nỗi cảm động của tôi khi nghe tiếng reo tha thiết của tình bạn. Đúng, đó là tiếng reo của tình bạn, chỉ của tình bạn chứ không phải của lòng ích kỉ tự ti. Mátchia không cần có tôi cũng kiếm sống được, nó thừa sức tìm sinh kế một mình.

Nói cho đúng thì về sinh kế, Mátchia có những khả năng bẩm sinh mà tôi kém thua xa. Trước hết, nó hơn tôi ở chỗ có tài chơi đủ mọi thứ đàn địch, lại biết hát, biết nhảy múa, biết đóng đủ mọi vai trò. Đến cái việc kính thỉnh "chư vị khán giả" móc hầu bao chi tiền - cụ Vitali ngày xưa gọi thế - thì nó lại thạo hơn tôi vô kể. Chỉ mỗi cái nụ cười, đôi mắt hiền dịu, hai hàm răng trắng ngà ngọc, cái vẻ mặt cởi mở của nó đủ làm cảm kích những tay keo kiệt nhất. Nó không xin, nhưng trông thấy nó, người ta đã muốn cho rồi, và làm cho nó vui lòng cũng là một cái thú. Những điều này quả đã hai năm rõ mười chứ không phải bàn cãi gì nữa, bởi vì trong lúc tôi xuống mỏ đẩy goòng thì nó mới đi sơ sơ một vòng, đã kiếm được mười tám phờrăng, mười tám phờrăng chứ không ít. Tiền quỹ được một trăm hai mươi tám phờrăng, thêm mười tám phờrăng do Mátchia làm ra vị chi là một trăm bốn mươi sáu. Thế là chỉ cần có bốn phờrăng nữa là mua được con bò của hoàng tử.

Mặc dù không muốn làm việc ở mỏ, tôi cũng nao nao buồn khi rời bỏ thị trấn Vácxơ ra đi, bởi vì tôi phải xa Alơxi, chú Gátxpa và cụ giáo. Nhưng số kiếp tôi là như vậy đó, là phải xa rời những người mình yêu mến và cũng yêu mến mình. Phải đi lên!

Vai đeo đàn, lưng mang xắc, chúng tôi lại ra đi trên đường thiên lý cùng với Capi, con chó sung sướng quá cứ lăn bừa trên cát bụi. Ra khỏi thị trấn Vácxơ, được nện gót trên đường âm vang, nó dội tiếng lên thật sự chứ không như thứ đất bùn nhão nhoẹt vùng mỏ, tôi cảm thấy cũng khoái chí. Ôi! Cái ánh nắng sáng tươi và những hàng cây xinh đẹp.

Trước khi ra đi, Mátchia và tôi bàn bạc nhiều về hướng đi, bởi vì tôi đã bày cho nó biết xem bản đồ. Bây giờ nó không còn nghĩ rằng con đường dài đi bằng đôi chân từ thành phố này qua thành phố kia cũng không dài hơn con đường lần theo ngón tay trên bản đồ.

Cân nhắc kĩ chúng tôi quyết định tạt qua Clécmông chứ không đi thẳng đến Uýtxen để về Savanông đi vòng Clécmông cũng không xa hơn là mấy, lại được cái lợi là có thể biểu diễn ở những đô thị có suối tắm đương đông nghịt bệnh nhân. Lúc tôi làm việc dưới mỏ thì Mátchia có gặp một anh xiếc gấu, anh ta đang đi về nẻo suối tắm; anh ta bảo ở đó có thể kiếm tiền được. Mátchia muốn kiếm tiền vì nó cho rằng một trăm rưởi phờrăng vẫn chưa đủ để tậu một con bò sữa.

Càng có nhiều tiền, bò càng tốt; bò càng tốt, má Bácbơranh càng đẹp lòng; má càng đẹp lòng chúng tôi càng hởi dạ.

Vậy thì, cần phải tạt qua Clécmông.

Trên con đường Pari đi Vácxơ, tôi đã bắt đầu dạy cho Mátchia học, học chữ đồng thời học những điều nhập môn về nhạc lý. Từ Vácxơ đi Clécmông, tôi lại bày tiếp. Không biết tại tôi là một thầy giáo tồi - có lẽ như thế cũng nên - hay tại Mátchia là một cậu bé học trò kém - cũng có thể như thế - mà nó học chữ chậm chạp và khó khăn quá. Nó có cặm cụi bao nhiêu, có dán mắt trên trang sách bao nhiêu cũng chỉ đọc thấy vô khối những trò kỳ quặc chứng tỏ nó giàu tưởng tượng hơn là biết ham học. Bởi thế, mà đôi khi tôi mất bình tĩnh, đập tay lên sách, giận dữ hét lên rằng cái đầu nó rắn quá chừng quá đỗi, không nhét chữ nghĩa vào được.

Những lúc ấy, nó không hề hờn dỗi, nó nhìn tôi với đôi mắt dịu hiền, mỉm cười mànói:

Cậu nói đúng đây, cái đầu tớ chỉ mềm ra khi có người choảng lên đó. Cái thằng cha Garôphôli nó cũng khá ranh, nó đã tìm thấy điều ấy.

Nghe nói thế thì còn giận làm sao được nữa? Tôi bật cười và hai đứa lại bày, lại học. Về âm nhạc thì chúng tôi không gặp những khó khăn đó và ngay từ đầu, Mátchia đã

Đạt những bước tiến lạ lùng, hết sức đáng chú ý. Chẳng bao lâu, nó hỏi tôi những điều khiến tôi ngạc nhiên. Làm tôi ngạc nhiên chán, nó tiến lên làm tôi lúng túng và cuối cùng có nhiều lúc nó khiến tôi bí không trả lời được.

Thú thật quả là cái điều này là cho tôi bẽ mặt và tự ái. Tôi coi trọng vai trò thầy giáo của tôi và tôi cho rằng không trả lời được những câu hỏi của học trò là nhục. Không trả lời là trốn nhiệm vụ, mà cái chú học trò của tôi đó, chú chẳng hề tiếc câu hỏi:

"Tại sao người ta không viết nhạc theo một khóa duy nhất?"

"Tại sao khi lên giọng người ta lại dùng dấu thăng, và khi hạ giọng, người ta lại dùng dấu giáng?".

"Tại sao nhịp đầu và nhịp cuối của một bản nhạc có lúc lại không giữ đúng số phách đều của các nhịp khác trong bản?"

"Tại sao người ta lên dây vĩ cầm theo một số nốt nhất định mà không theo những nốt

Khác?"

Đối với câu hỏi sau này, tôi trịnh trọng trả lời rằng tôi không chuyên vĩ cầm, tôi không hề nghiên cứu xem người ta phải lên dây cho nó thế này hoặc thế khác. Mátchia đành chịu. Nhưng lối thoát ấy không thích hợp với những câu hỏi về khóa nhạc và các dấu thăng giáng. Đó là âm nhạc, là nhạc lý. Tôi là thầy dạy nhạc, là thầy dạy âm pháp, tôi phải giải đáp, nếu không thì mất uy tín, tôi cảm thấy thế. Mà tôi thì tôi lại rất cần giữ cho được cái uy tínđó.

Nghĩ thế cho nên khi không biết giải đáp như thế nào thì tôi tránh trớ theo lối trả lời của chú Gátxpa. Tôi còn nhớ khi hỏi chú: "Than đá là gì?" - chú nghiễm nhiên đáp: "Đó là than người ta tìm thấy ở dưới đất".

Khi tôi không biết giải đáp như thế nào cho đúng thì tôi cũng lấy cái tư thế vững vàng kiểu ấy mà nói:

"Cái đó là thế bởi vì phải là như thế mới được. Luật nhạc là thế đấy".

Mátchia vốn không phải là người hay phản kháng luật lệ. Duy nó có một cách nhìn thế nào ấy, vừa nhìn, vừa giương mắt, há mồm, làm tôi chẳng vừa lòng với mình tí nào.

Chúng tôi vừa đi khỏi Vácxơ ba hôm thì nó hỏi tôi một câu hỏi đúng kiểu đó. Đáng lý phải trả lời: "Mình không biết", tôi ngang nhiên bảo: "Bởi lẽ nó là như thế đó".

Từ đó, nó sinh đăm chiêu, và suốt ngày tôi không tài nào bắt nó trò chuyện. Việc này lạ vì ai chứ Mátchia thì bao giờ cũng ưa trò chuyện, cười cợt. Tôi bức bách nó quá nên cuối cùng nó phải nói:

Cậu là một ông giáo cừ, tớ tin rằng không ai bày vẽ cho tớ những điều tớ đã học

Được như cậu. Nhưng..

Nó không nói nữa.

Thế nào, nhưng.. thế nào?

Nhưng có lẽ có những điều cậu không biết, những người thông thái nhất cũng có những điều mà họ không biết, có phải không nào? Chẳng hạn khi trả lời tớ: "Cái đó là như thế bởi vì nó là như thế", thì có thể có những lý lẽ mà cậu không giảng được bởi cậu không hề được nghe giảng. Ấy, suy nghĩ như vậy cho nên tớ tự chủ rằng nếu cậu vui lòng thì chúng ta sẽ tìm mua một quyển sách, ồ, không mất nhiều tiền đâu - một quyển sách dạy những nguyên lý về khoa âm nhạc.

Đúng đấy!

Có phải không? Tớ cũng đã nghĩ rằng chắc cậu tán thành, bởi vì cậu làm thế nào mà biết hết những gì có trong sách, cậu có học trong sách vở đâu!

Một ông thầy tốt còn hơn gấp mấy lần một quyển sách hay nhất!

Cái điều cậu vừa nói đó khiến tớ muốn bày tỏ với cậu một việc nữa: Nếu cậu vui lòng thì tớ tìm tới ông thầy chính cống mà học một bài. Một bài thôi, như thế bắt buộc ông ta phải nói cho tớ biết tất cả những cái gì tớ bí.

Tại sao cậu không tìm thầy chính tông mà học cái bài ấy trong thời gian cậu đi biểu diễn một mình?

Tại vì hễ đã là thầy chuyên nghiệp thì họ đòi công, mà tớ thì không muốn lấy tiền của cậu để trả.

Nghe Mátchia nói đến thầy chính tông, tôi lấy làm phật ý. Nhưng câu cuối cùng của nó làm tiêu tan bệnh hiếu danh ngu muội của tôi. Tôi nói:

Cậu tốt quá! Tiền của tớ là tiền của cậu, vì cậu cũng làm ra như tớ, nhiều khi còn dồi

Đào hơn tớ nữa. Cậu học bao nhiêu bài cũng được, tùy cậu và tớ sẽ học cùng cậu.

Rồi tôi dũng cảm thú nhận sự dốt nát của tôi: "Như thế, về phần tớ, tớ cũng sẽ được học hỏi những điều tó không biết".

Ông thầy, ông thầy chính tông mà chúng tôi cần không phải là một nhạc công vườn mà phải là một nhạc sĩ, một nhạc sĩ lớn chỉ ở các đô thị quan trọng mới tìm thấy. Bản đồ mách cho tôi biết, từ nơi này đến Clécmông, đô thị quan trọng nhất là Măngđơ. Măngđơ có thật là một đô thị quan trọng hay không, tôi không rõ, nhưng vì trên bản đồ tên đó in chữ to nên tôi mới tin như thế. Chúng tôi quyết định đến Măngđơ thì sẽ thực hiện cái khoản chi lớn

Cho một bài học âm nhạc. Mặc dù qua các làng mạc thưa thớt và nghèo nàn trong vùng núi buồn tênh của tỉnh Lôde, chúng tôi thu thập được rất ít, tôi cũng muốn nhanh chóng làm vừa lòng Mátchia để nó khỏi phải mong đợi nhiều.

Đi hết cao nguyên Mêgiăng khô cằn, vắng vẻ, tiêu điều, chúng tôi đến Măngđơ. Đêm đã khuya, không thể đi học nhạc ngay được, vả lại chúng tôi cũng đã mệt phờ đi. Tuy vậy, Mátchia thấy Măngđơ không có vẻ gì là một đô thị quan trọng như tôi nói nên nôn nóng muốn biết ở đây có một nhạc sư chính tông hay không. Vừa ăn bữa tối tôi vừa hỏi bà chủ quán xem trong thành phố có một nhạc sư nào giỏi, chuyên dạy âm nhạc hay không. Bà ta trả lời rằng bà ta hết sức ngạc nhiên về câu hỏi của chúng tôi: Hóa ra chúng tôi không nghe tiếng ông Étxpinátxu hay sao?

Chúng tôi từ xa đến. - Tôi nói.

Hẳn là xa lắm?

Từ nước Italia. - Mátchia đáp.

Nghe thế, bà ta không lấy làm lạ nữa. Hình như bà ta thừa nhận rằng ở quá xa như vậy cho nên không nghe tiếng ông Étxpinátxu cũng phải. Chứ còn ở Lyông hay Mácxây mà vô ý thức đến nỗi không hay biết gì về ông Étxpinátxu thì bà ta có mà còn nói chuyện với.

Tôi nói với Mátchia, bằng tiếng Italia:

- Tớ tin rằng chúng mình gặp may rồi đó!

Đôi mắt của Mátchia ngời lên. Chắc chắn là ông Étxpinátxu sẽ giải đáp dễ dàng tất cả mọi câu hỏi của nó. Để giải thích vì sao người ta dùng dấu giáng khi hạ giọng và dấu thăng khi lên giọng, tất nhiên là ông không lúng túng đâu! Bỗng nhiên tôi đâm lo ngại. Một nhạc sĩ có danh vọng như thế có chịu dạy cho những đứa trẻ khốn khổ như chúng tôi hay không? Tôi hỏi:

Ông Étxpinátxu hẳn là bận lắm?

Ồ! Hẳn chứ! Hẳn là ông ta bận lắm! Ông ta không bận thế nào được?

Theo ý bà thì ngày mai, ông ta có vui lòng tiếp chúng tôi không?

Có chứ! Ai ông ta cũng tiếp miễn là tiền có trong túi, đành rồi.

Chúng tôi nghĩ như vậy cho nên yên lòng. Dù là mệt mỏi, trước khi ngủ, chúng tôi cũng thảo luận với nhau rất nhiều về những điều mà hôm sau chúng tôi sẽ đặt ra cho vị giáo sư lừng lẫy tiếng tăm ấy giải đáp.

Hôm sau dậy, hai anh em tôi sửa sang người ngợm hết sức cẩn thận. Nghĩa là chúng tôi rửa mặt mũi chân tay sạch sẽ, chỉ thế thôi, chứ còn áo quần thì vẫn nguyên những thứ mang trên người, không có cách nào khác hơn. Rồi Mátchia xách vĩ cầm, tôi mang thụ cầm lên đường đi tìm ông Étxpinátxu. Con Capi định đi theo chúng tôi như lệ thường. Chúng tôi phải buộc nó lại trong chuồng ngựa của bà chủ quán vì mang chó đến nhà nhạc sĩ nổi tiếng thị trấn Măngđơ e có khiếm lễ.

Người ta chỉ chỗ ở của giáo sư cho chúng tôi. Đến đấy, chúng tôi ngỡ là nhầm, vì trước cửa thấy treo lủng lẳng hai cái đĩa thợ cạo bằng đồng thau, không bao giờ bảng hiệu của một nhạc sư, lại như thế. Chúng tôi đang ngơ ngác nhìn cái bảng hiệu có vẻ là một bác phó cạo ấy, thì gặp một người qua đường. Chúng tôi hỏi ông Étxpinátxu ở đâu. Người ấy chỉ hiệu thợ cạo mà bảo: "Đấy!". Ừ, chẳng có gì là lạ: Tại sao một giáo sư âm nhạc lại không ở trong một nhà bác phó cạo được?

Chúng tôi bước vào. Hiệu thợ cạo ngăn ra làm hai: Bên phải, trên những tấm ván nhỏ, có bày bàn chải, lược, xà phòng và những lọ sáp, mỡ; bên trái, hoặc đặt ở bàn hoặc treo trên tường, có những nhạc cụ như vĩ cầm, kèn đẩy, kèn loa. Mátchia hỏi:

- Chúng tôi muốn gặp ngài Étxpinátxu.

Một người nhỏ bé, nhanh nhảu và lanh lẹ như một con chim, đang cạo mặt cho bác nông dân ngồi trên ghế bành. Người ấy trả lời giọng trầm:

Tôi đây.

Tôi đưa mắt ra hiệu bảo Mátchia rằng bác thợ cạo kiêm nhạc sĩ này không phải là người đáng làm thầy chúng tôi, nhờ bác ta dạy cũng bằng vứt tiền qua của sổ. Nhưng Mátchia lại không hiểu, không phục tùng. Nó ngồi vào ghế và thản nhiên hỏi:

Cạo mặt cho ông ấy xong ông có vui lòng hớt tóc cho tôi không?

Hẳn chứ, ông bạn trẻ ạ! Tôi cạo mặt cho cả ông bạn nữa, nếu ông bạn muốn.

Cám ơn ông, hôm nay tôi không cạo, để bận sau.

Vẻ mặt điềm tĩnh của Mátchia khiến tôi kinh ngạc. Nó ngầm đưa mắt bảo tôi chờ một lát rồi hãy bực mình. Giây phút sau, ông Étxpinátxu cạo xong cho người nông dân và mang khăn đến cắt tóc cho Mátchia. Trong khi ông buộc khăn vào cổ nó, nó nói:

Thưa ông, hai anh em chúng tôi vừa tranh cãi với nhau. Biết ông là một nhạc sĩ lừng danh, chúng tôi nghĩ chắc rằng ông vui lòng chỉ giáo về vấn đề đang làm chúng tôi lúng túng.

Nào, vấn đề gì làm các anh bạn trẻ lúng túng, hãy nói ta xem, thử sao!

Bây giờ tôi mới hiểu Mátchia muốn đi đến đâu! Trước hết nó muốn thử tài anh chàng thợ cạo kiêm nhạc sĩ này xem có trả lời nổi những câu hỏi của nó không, trường hợp anh ta thỏa mãn nó thì tiền công hớt tóc cũng đồng thời sẽ là tiền công học nhạc, không mất gì cả. Cái thằng bé láu cá thật! Mátchia hỏi:

Tại sao người ta lại lên dây vĩ cầm theo một số nốt nhất định mà không theo những nốt khác?

Lúc ấy, bác phó cạo đang xốc chiếc lược vào mớ tóc dài của Mátchia. Ngỡ bác ta sẽ trả lời bằng một câu theo kiểu của tôi, tôi đã cười thầm đắc chí. Bác nói:

Dây thứ hai bên trái vĩ cầm phải buông nốt la theo thanh mẫu bình thường, vậy thì phải lên những dây khác như thế nào cho cách nhau từng quãng năm, nghĩa là dây thứ tư phải buông son, dây thứ ba: Rê, dây thư hai: La, dây thứ nhất: Mi.

Cái người cười toáng lên không phải là tôi mà lại là Mátchia. Nó chế nhạo bộ mặt của tôi chăng? Hay nó chỉ vui thích vì được biết cái mà nó muốn biết? Dẫu sao, nó cũng cười oang oang.

Tóc chưa cắt hết thì Mátchia cũng chưa hết hỏi. Hỏi gì, ông thợ cạo cũng giải đáp một cách dễ dàng và chắc chắn như giải đáp câu hỏi về vĩ cầm. Trả lời xong chính ông lại hỏi, và chẳng mấy chốc ông ta biết rõ chúng tôi tìm tới ông với ý định gì. Ông cười khanh khách nói:

Những chú nhóc này khá, khá lắm. Các chú đến là ngộ!

Thế rồi ông muốn Mátchia chơi cho ông nghe một bài: Rõ ràng là Mátchia "ngộ" hơn tôi nhiều. Nó mạnh dạn cầm cây vĩ cầm của nó lên, kéo một bài vanxơ.

"Mày không biết lấy một nốt quèn âm nhạc mà thế đấy!". Ông thợ cạo reo lên như thế và vỗ tay. Ông gọi Mátchia là "mày" như đã thân với nó từ lâu lắm rồi.

Tôi đã nói có nhiều loại nhạc cụ đặt trên bàn hoặc treo trên vách. Xong bản vĩ cầm,

Mátchia với chiếc kèn Clarinét và nói:

Tôi cũng biết chơi Clarinét và cả kèn đẩy nữa.

Ừ thì chơi đi thử xem. Étxpinátxu nói.

Mỗi nhạc cụ, Mátchia chơi một bài.

Cái chú ranh này là một kỳ tài. - Étxpinátxu thét lớn. - Nếu chú mình bằng lòng ở lại đây với ta, ta sẽ đào tạo chú mình thành một nhạc sĩ vĩ đại. Buổi sớm, chú cạo râu cho khách hàng cùng với ta, rồi thì cả ngày, có bao nhiêu thì giờ ta sẽ vẽ cho chú học. Đừng có tưởng rằng ta không có đủ tài năng dạy bảo cho chú vì ta là thợ cạo! Không đâu! Cứ phải ăn uống, phải ngủ, phải sống, cho nên phải cầm con dao cạo. Giátxmanh (1) cũng cạo râu cắt tóc cho người ta đấy, nhưng Giátxmanh vẫn là đệ nhất thi sĩ của nước Pháp, thành Agiăng có Giátxmanh, thành Măngđơ có Étxpinátxu.

Khi nghe mấy lời cuối của người thợ cạo, tôi nhìn Mátchia. Nó trả lời sao đây? Tôi sắp mất người bạn thân, người đồng nghiệp, người anh em, cũng như tôi đã lần lượt mất những người thân trước chăng? Tim tôi đau quặn. Tuy thế, tôi không buông mình để cho thứ tình cảm ấy lôi cuốn. Tình huống Mátchia có phần giống tình huống tôi, khi bà Miligơn nói với cụ Vitali xin cho tôi ở lại. Tôi nói, giọng cảm động:

Cậu hãy nên nghĩ đến tương lai của cậu thôi, Mátchia ạ.

Xa bạn tôi sao? Không đời nào tôi làm thế! Thưa ông, tôi cảm ơn ông.

Ông Étxpinátxu nài nỉ bảo rằng khi Mátchia đã học qua bước đầu rồi thì sẽ tìm cách gửi nó đi học ở Tuludơ, xong sẽ cho đi Pari để vào Nhạc viện. Nhưng Mátchia cứ khăng khăng đáp:

Không bao giờ tôi rời bỏ Rêmi.

Đã thế thì ta cũng phải làm một cái gì có ích cho chú mới được, chú nhóc ạ. Ta muốn tặng chủ một quyển sách để chú học những gì chú không biết.

Thế là ông lục tìm các ngăn kéo. Lục một lúc khá lâu, ông mới tìm được cái quyển sách mang nhan đề: Nhạc lý. Sách cũ, sờn gáy, nhàu nát cả! Nhưng hề gì! Ông cầm bút, lật trang đầu viết:

"Tặng chú bé, sau này trở nên nghệ sĩ, sẽ nhớ đến anh thợ cạo thành Măngđơ".

Tôi không biết ở Măngđơ còn có giáo sư âm nhạc nào ngoài ông thợ cạo Étxpinátxu hay không, nhưng vị giáo sư mà tôi biết là ông ấy, và cả Mátchia lẫn tôi không bao giờ quên ông.
 
15,989 ❤︎ Bài viết: 1929 Tìm chủ đề
Chương 29: Con bò của hoàng tử

Đến Măngđơ, tôi đã yêu quý Mátchia lắm rồi, nhưng từ Măngđơ ra đi tôi càng yêu quý nó hơn nữa. Còn gì sung sướng hơn, còn gì êm dịu hơn trong tình bạn khi cảm thấy chắc chắn rằng người mình yêu quý lại cũng rất yêu quý mình? Và còn bằng chứng nào rõ ràng hơn để biết là Mátchia yêu quý tôi bằng cái việc nó đã từ chối đề nghị của ông Étxpinát xu, nghĩa là từ chối sự yên tĩnh, cuộc sống đầy đủ, học vấn cho lúc này và giàu sang cho mai sau, để chia sẻ với tôi cuộc sống lang thang và bấp bênh, không tương lai và cũng có thể không có cả ngày mai nữa!

Trước mặt ông Étxpinátxu, tôi không thể để lộ xúc cảm của mình khi nghe nó kêu lên: "Xa bạn tôi sao?", nhưng khi chúng tôi đã ra ngoài đường, tôi nắm chặt tay nó mà nói:

- Mày nhớ nhá! Chúng ta cùng sống cùng chết với nhau đấy nhá.

Nó mỉm cười và mở to mắt nhìn tôi, trả lời:

Tớ biết điều đó từ trước rồi!

Mátchia lâu nay không ham đọc sách mấy, thế mà khi được đọc quyển "Nhạc lý" của Kun thì nó tiến nhanh một cách phi thường. Khốn thay, tôi không bao giờ chỉ bảo cho nó được như chúng tôi mong muốn: Chúng tôi phải đi liên miên từ sớm đến tối trải qua những chặng đường dài để vượt qua khỏi mấy tỉnh Lôde và Ôvécnhơ cho nhanh chóng, vì những nơi này không quen niềm nở đối với bọn đàn hát rong chúng tôi.

Được đào tạo ở trường của Garôphôli, chỉ lo khai thác cho hết mức lòng thương người của kẻ khác, nó đã nhập tâm tất cả những mánh khóe của cái nghệ thuật vô cùng khó khăn là kích động lòng nhân từ hoặc thiện cảm của mọi người. Ngay từ lần thứ nhất, gặp nó trên gác xép phố Luốcxin, tôi đã vô cùng ngạc nhiên khi nghe nó giải thích những lý do khiến khách qua đường phải thò tay vào túi. Bây giờ tôi lại càng ngạc nhiên hơn khi thấy nó bắt tay vào việc.

Chỉ đến các thành phố dưỡng bệnh, Mátchia mới trổ hết tài năng của nó ra, trổ tài trước những người Pari, cái công chúng quen thuộc từ trước của nó mà giờ đây gặp lại. Chẳng hạn khi thấy một thiếu phụ mặc đồ tang đi đến, thì Mátchia bảo tôi: "Chú ý nhé! Phải đánh những điệu sầu. Phải cố gắng làm cho bà ta cảm động nghĩ đến người đã khuất. Nếu bà ta khóc thì ăn tiền!". Và thế là chúng tôi đánh những điệu u hoài, khoan thai, thống thiết, não ruột, nghe như xé ruột xé lòng.

Trong những nơi người ta đi dạo mát quanh vùng Môngđơ, có những chỗ người ta gọi là "Phòng khách". Đó là những lùm cây trồng rợp bóng mát, mấy người bệnh đi tắm suối thường ra đó nghỉ ngơi đôi chút ngoài trời. Mátchia tìm hiểu những thính giả trong những "Phòng khách" đó và dựa theo nhận xét của nó, chúng tôi xếp đặt chương trình. Khi thấy một người bệnh xanh xao vàng vọt ngồi tư lự trên ghế tựa, mắt mờ má hóp, chúng tôi không đường đột đến trước mặt họ, khiến họ phải rời bỏ những tư tưởng u buồn. Chúng tôi dừng lại ở xa, đánh đàn như để cho tự mình nghe thôi, và hết sức chăm chú vào việc đó. Chúng tôi liếc mắt trông trộm người bệnh: Nếu anh ta nhìn chúng tôi một cách bực bội thì chúng tôi cuốn gói, nếu ngược lại, anh ta có vẻ thích thú thì chúng tôi nhích lại gần và Capi có thể mạnh dạn đưa âu xin tiền mà không sợ bị mấy cái đá tống đi.

Nhưng phải nói rằng với trẻ con thì Mátchia đạt kết quả tốt đẹp nhất. Cái cung vĩ cầm của Mátchia chọc cho những đôi chân trẻ nhảy nhót, nụ cười của Mátchia khiến lũ trẻ nô cười cả những khi chúng bực bội. Nó làm cách nào mà được vậy, tôi không biết, nhưng hai năm rõ mười như thế: Người ta ưa thích nó, người ta mến nó.

Kết quả chúng tôi thu được thật là mỹ mãn: Trong một thòi gian ngắn, trừ chi phí xong, chúng tôi có sáu mươi tám phờrăng. Sáu mươi tám phờrăng cộng với một trăm bốn mươi sáu sẵn có trong quỹ, vị chi hai trăm mười bốn. Thế là chúng tôi lên đường đi Savanông được rồi, không phải chờ đợi gì nữa. Trên đường đi, chúng tôi sẽ ghé lại Uýtxen, ở đó có phiên chợ gia súc to, theo như người ta nói. Phiên chợ gia súc ấy chính là cái chúng tôi cần! Ở đây chúng tôi sẽ tậu được con bò sữa oai vệ, vì nó mà lâu nay chúng tôi luôn mồm bàn tán và thắt lưng buộc bụng không nề hà. Tới nay, chúng tôi chỉ mới hưởng cái thú mơn trớn một ước ao và tô vẽ cho nó tốt đẹp theo trí tưởng tượng của mình. Mátchia thì ước một con bò trắng; tôi thì ước một con bò màu hung, tưởng nhớ con Rútxét tội nghiệp của chúng tôi xưa kia; con bò sẽ rất hiền lành, sẽ có lắm sữa. Tất cả những cái ấy quả là rực rỡ, mê ly.

Bây giờ thì phải thực hiện cái ước mơ ấy, và cái khó bắt đầu từ đây. Làm thế nào chọn được một con bò cái chắc chắn có những đức tính mà chúng tôi hằng mơ ước? Cái nàyquả là trọng đại, và trách nhiệm của người mua bò nặng nề làm sao! Tôi không biết một con bò sữa tốt có những dấu hiệu gì, lông, xoáy ra sao. Mát chia thì cũng mù tịt như tôi.

Chúng tôi càng lo tợn vì có nghe nhiều chuyện lạ lùng trong các quán trọ, từ khi ôm cái mộng mua bò. Quả vậy, nói lái bò, lái ngựa cũng tức là nói bợm bãi, ba que. Bao nhiêu những chuyện lừa đảo, xỏ lá của bọn đó lởn vởn trong đầu óc chúng tôi, làm chúng tôi khiếp sợ! Một bác nông dân đến phiên chợ mua một con bò sữa có cái đuôi đẹp nhất tự cổ chí kim; có cái đuôi như thế, nó có thể đuổi ruồi, muỗi đến tận chóp mũi, ai cũng biết như thế là lợi lắm; bác mua được con bò khác thường đó với giá phải chăng nên hý hửng dắt bò về.

Sáng hôm sau bác ra thăm bò thì thấy con bò không có đuôi nữa; cái đuôi hiên ngang hôm trước chỉ là một cái đuôi giả, một túm lông dán vào cái đuôi cụt của con bò. Một bác nông dân khác mua phải một con bò sừng giả. Một bác nữa khi định vắt sữa con bò mới tậu thì thấy vú nó bị bơm lên chứ thực ra vú ấy thì mỗi ngày đêm chỉ tiết ra hai cốc là hết nhẵn. Phải làm sao tránh những cái xúi quẩy ấy.

Về khoản đuôi giả thì Mátchia không ngại: Nó sẽ đánh đu lên đuôi của tất cả những con bò mà chúng tôi định mua và nhún hết sức, để nếu là đuôi dán thì sẽ rơi ra. Còn vú bơm thì cũng có cách trị, hiệu nghiệm không kém. Nó sẽ dùng chiếc đanh ghim dài, to và châm vào vú bò xem sao. Cách thử ấy thì bách phát bách trúng nếu quả có đuôi giả và vú bơm hơi. Nhưng nếu là đuôi thật thì cũng dè chừng người kéo đuôi bò ăn phải một cú đá ra trò vào bụng, vào đầu chứ! Và khi bị kim châm vào thịt, e nó cũng làm thế chứ không chơi.

Nghĩ đến việc có thể ăn một cái đá của bò thì đầu óc Mátchia cũng nguôi đi phần nào, cho nên chúng tôi lại cứ băn khoăn, lo lắng. Nếu mang biếu má Bácbơranh một con bò không có sữa hoặc không có sừng thì sẽ buồn biết bao nhiêu!

Trong những câu chuyện chúng tôi được nghe, có một chuyện trong đó một viên thú y đã chơi cho tên lái bò một vố đau điếng. Ví thử chúng tôi nhờ một viên thú y giúp, cái đó hẳn là mất tiền mà yên bụng biết bao nhiêu! Luẩn quẩn mãi cuối cùng chúng tôi nhất định giải quyết theo cách đó. Cân nhắc mọi mặt thì thấy đó là cách khôn ngoan nhất, vì thế chúng tôi vui vẻ đi.

Đường từ Môngđơ đến Uýtxen không xa, chúng tôi đi hai hôm đã tới, mà khi tới trời hãy còn sớm nữa là khác. Đến Uýtxen thì cũng như là đến quê tôi: Tại đây tôi đã ra mắt công chúng lần đầu trong vở kịch "Kẻ đần độn nhất không phải là kẻ mà người ta tưởng'. Và cũng tại Uýtxen này, cụ Vitali đã mua cho tôi đôi giày đầu tiên trong đời, đôi giày đinh đã làm tôi khôn xiết sung sướng.

Tội nghiệp con Giôlicơ! Nó không còn đây với bộ quân phục tướng Anh màu đỏ. Và con Décbinô, con Đônxơ đáng yêu cũng vắng mặt. Cụ Vitali đáng thương, tôi đã mất cụ rồi, tôi không còn nhìn thấy cụ đi vào thị trấn, đầu ngẩng cao, ngực ưỡn, đi đều bước và thổi một điệu vanxơ véo von trên ông sáo. Trong số sáu nhân vật lúc bấy giờ, hiện nay chỉ còn hai: Capi và tôi, sống sót trên đời. Những kỉ niệm làm tôi ủ dột. Tôi có muốn thế đâu, nhưng sao cứ mường tượng sắp thấy cái mũ dạ của cụ Vitali hiện ra ở đầu phố và sắp nghe tiếng gọi lên đường đã bao lần thúc giục bên tai.

Cái hiệu bán quần áo hồi trước cụ Vitali dẫn tôi đến sắm bộ quần áo nghệ sĩ, may mắn đã xua đuổi giúp tôi những ý nghĩ u ám. Nó vẫn như hồi tôi đặt chân lên bực tam cấp trơn tuột của nó. Trước cửa vẫn lủng lẳng chiếc áo đính đầy quân hiệu mà tôi đã mê mẩn ngắm nghía mãi, và bên trong chiếc đồng hồ vẫn là những khẩu súng cũ ngày ấy cùng vởi chiếc đèn cũ ngày ấy.

Tôi cũng muốn giới thiệu cái bãi rộng ở đó tôi bắt đầu bước thân vào nghề trong vai người hầu của ngài Giôlicơ, tức là" kẻ đần độn nhất ". Capi đã nhận ra và phe phẩy đuôi.

Chúng tôi ghé vào cái quán cụ Vitali và tôi trọ ngày xưa. Cởi bỏ hành lý và nhạc cụ ra, rồi tìm tới một ông thú y. Khi nghe chúng tôi trình bày xong, ông cười chế nhạo và nói:

Trong vùng này không có bò thông thái (1) đâu.

Không, chúng cháu không tìm bò biết diễn trò, chúng cháu cần một con bò tốt sữa.

Và có đuôi thật.

Thưa ông thú y, tóm lại, chúng cháu đến nhờ ông đem sự hiếu biết của ông giúp chúng cháu khỏi bị cảnh lái bò lừa gạt.

Khi nói câu ấy, tôi cố bắt chước cái vẻ trang trọng của cụ Vitali khi cụ muốn thuyết phục người khác. Ông thú y nói:

Nhưng các em tậu bò làm gì kia?

Các em là những đứa trẻ ngoan. - Ông nói. -Sớm ngày mai, ta sẽ đi với các em đến chợ phiên, và ta hứa rằng con bò sữa ta chọn cho các em sẽ không mang đuôi giả.

Cũng không có sừng giả? - Mátchia hỏi.

Vú sữa cũng không bị bơm lên?

Con bò đó sẽ là con bò đẹp và tốt. Nhưng muốn mua, phải có tiền trả.

Tốt lắm! Sáng mai, bảy giờ các em lại đón ta.

Thưa ông thú y, thế còn công ông, cháu phải trả hầu ông bao nhiêu?

Không phải trả gì hết! Đời nào ta lại lấy tiển của những đứa bé ngoan như các em. Tôi chẳng biết làm thế nào để tỏ lòng biết ơn đối với con người hào hiệp đó, nhưng

Thưa ông, ông có thích âm nhạc không ạ?

Thích lắm, em ạ.

Và ông ngủ sớm chứ?

Khi đồng hồ đánh chín giờ.

Cảm ơn ông. Thế đến mai, bảy giờ, chúng cháu lại. Tôi đã hiểu ý Mátchia. Tôi hỏi:

Mày muốn hiến ông thú y một buổi hợp tấu?

Đúng thế. Một buổi dạ tấu khi ông ấy đi ngủ. Người ta làm thế đối với người mà người ta yêu quý.

Ý của mày hay đấy. Ta hãy trở về quán trọ lo tập dượt những bản tấu sắp tới. Dạo nhạc cho công chúng nghe để lấy tiền thì có sơ suất một chút cũng chả sao, đằng này đánh đàn để đền ơn người ta thì phải có gắng hết sức mình.

Bảy giờ kém vài phút thì chúng tôi đến trước nhà ông thú y. Mátchia mang vĩ cầm, tôi mang thụ cầm. Đường phố tối tăm vì người ta không đốt đèn đường, để chờ chín giờ đã có sáng trăng. Các hiệu buôn đều đóng cửa, người đi lại thưa thớt. Đến chín giờ khi đồng hồ bắt đầu buông tiếng chuông thứ nhất thì chúng tôi cũng bắt đầu hợp tấu. Trong đường phố chật hẹp vắng vẻ ấy tiếng đàn chúng tôi vang lên như ở trong gian phòng ấm tiếng nhất. Các cửa sổ đều mở. Và những cái đầu nhô ra, những cái đầu đội mũ chụp đêm hoặc trùm khăn; người ta ngạc nhiên, gọi nhau ý ới từ của này qua cửa nọ.

Ông bạn thú y của chúng tôi ở một nhà có cái phòng con xinh xắn nhô ra ở góc nhà. Cửa sổ phòng ấy mở, ông thò đầu ra xem ai đánh đàn. Hẳn ông nhận ra chúng tôi và hiểu dụng ý của chúng tôi vì thấy ông khoát tay bảo chúng tôi đừng đánh đàn nữa. Ông nói:

Ta đi mở cổng cho các em đây. Các em vào vườn mà đánh.

Ngay sau đó, cổng vườn mỏ ra đón chúng tôi. Ông thú y bắt chặt tay hai đứa chúng tôi và nói:

Các em là những chú bé tốt, nhưng các em dại lắm: Các em không để ý rằng các em có thể bị cảnh sát bắt vì tội làm náo động đường phố ban đêm.

Chúng tôi lại bắt đầu cuộc hợp tấu trong vườn. Vườn không rộng nhưng rất xinh: Trong vườn có một vỏ cua (2) mái phủ đầy dây leo. Ông thú y có vợ và đông con, cho nên trong chốc lát chúng tôi cũng có cả một công chúng thính giả. Người ta thắp nến dưới vỏ cua và chúng tôi đánh đàn đến gần mười giờ. Hễ xong một bản thì công chúng vỗ tay và yêu cầu

Đánh cho bản nữa. Giá như ông thú y không bắt buộc chúng tôi về thì có dễ, theo yêu cầu của lũ nhỏ, chúng tôi sẽ đánh đàn đến quá nửa đêm. Ông ta bảo:

Phải để cho các anh ấy đi ngủ với chứ! Sáng mai, các anh ấy cần đến đây lúc bảy giờmà!

Tuy nói vậy, ông vẫn giữ chúng tôi lại ăn khuya chứ không cho về ngay. Bữa bánh khuya ấy rất thú vị. Để tạ ơn, Capi diễn vài tiết mục ngộ nghĩnh nhất của nó, làm cho lũ trẻ nhỏ hết sức vui thích. Khi chúng tôi ra về thì đã gần nửa đêm.

Thị trấn Uýtxen ban đêm yên tĩnh là thế mà sáng hôm sau thì náo nhiệt lạ thường. Trời chưa sáng đã nghe tiếng xe tải lăn liên miên trên đường, xen lẫn với tiếng ngựa hí, tiếng bò rống, tiếng cừu be và tiếng la hét của các bác nông dân đi chợ. Khi chúng tôi xuống sân quán trọ thì thấy ở đây chật ních những xe tải vướng vào nhau chằng chịt; các bác nông dân diện quần áo ngày lễ từ trên mấy chiếc xe ngựa mới đến, nhảy xuống; rồi họ ôm xốc vợ

Đặt xuống đất. Xong, ai cũng co tay duỗi chân cho đỡ mỏi, các chị phụ nữ thì vuốt lại váy cho khỏi nhàu nát. Vì mới sáu giờ thôi, nên chúng tôi muốn đi duyệt qua các con bò sữa một lượt để thử chọn trước.

Ôi chao! Những con bò đẹp làm sao! Đủ mọi màu lông, đủ mọi vóc dáng, con béo, con gầy, con kèm bê, con kéo lê thế những chiếc vú dài mọng sữa. Trong chợ cũng có ngựa nữa, ngựa đực hí ran, ngựa cái liếm lông cho con, lại còn lợn, lợn béo khoét hốc dưới đất mà nằm, lợn con kêu như bị lột da sống, rồi cừu, gà, ngỗng.. nhưng cần quái gì những thứ ấy! Chúng tôi chỉ mê bò mà thôi. Lũ bò nheo mát nhìn chúng tôi, quan sát chúng tôi và bình thản đưa đẩy hàm dưới một cách chậm chạp để nhai lại bữa ăn đêm qua; chúng không hề ngờ rồi đây chúng có thể không còn được ăn ngọn cỏ ở làng quê.

Đi dạo xem nửa giờ, chúng tôi đã tìm ra mười bảy con hoàn toàn vừa ý, con thì vì đức tính này, con thì vì đức tính khác, ba con vì lông màu hung, hai con vì lông trắng; cái chuyện màu lông hung, màu lông trắng này dĩ nhiên đã làm Mátchia và tôi tranh cãi với nhau lần nữa.

Bảy giờ, chúng tôi đến đón ông thú y đang chờ chúng tôi ở nhà, rồi cùng đi với ông

Đến chợ. Đi đường, chúng tôi lại một lần nữa trình bày cho ông rõ chúng tôi cần mua con bò có những đức tính gì. Những đức tính ấy tóm tắt trong mấy chữ: Tiết sữa nhiều, ăn ít.

Mátchia chỉ một con bò trắng:

Con này chắc tốt.

Tôi thấy con này hơn.

Tôi chỉ con màu hung mà nói thế. Ông thú y hòa giải chúng tôi bằng cách không dừng lại ở con nào trong hai con đó cả. Ông đi thẳng đến một con thứ ba, một con bò cái nhỏ, chân mảnh khảnh, tai và má nâu đen, mắt viền đen, mõm viền trắng. Ông nói:

- Đây là một con bò sữa thuộc giống xứ Tuéc, đúng loại các em cần.

Một nông dân gày còm nắm dây thừng giữ bò. Ổng thú y hỏi người đó bán giá bao

Nhiêu.

Ba trăm phờrăng.

Con bò nhỏ vóc, thanh mảnh, nhanh nhẹn, linh lợi ấy đã chinh phục chúng tôi rồi. Nhưng nghe đến giá thì tay chúng tôi buông xuôi. Những ba trăm phờrăng thì chúng tôi mua làm sao nổi! Tôi ra hiệu cho ông thú y đi xem con khác. Ông ra hiệu cho tôi bảo phải kiên trì. Ông trao đổi giá cả với người nông dân. Ông trả một trăm năm mươi phờrăng. Bác nông dân bớt đi mười phờrăng. Ông thú y giả lên trăm bảy; bác nông dân hạ xuống hai trăm tám.

Sự việc diễn ra lúc ban đầu như vậy, đã đem lại cho chúng tôi nhiều hy vọng, nhưng đến đây thì nó xoay chiều. Đáng lẽ trả thêm thì ông thú y dừng lại, bắt đầu xem xét kỹ con bò; chân nó yếu quá, cổ thì quá ngắn, sừng lại quá dài, ngực lép. Vú không nở. Bác nông dân bảo vì chúng tôi thông thạo như vậy cho nên bác vui lòng bán với giá hai trăm năm mươi phờrăng để cho con bò về tay những ông chủ biết chăm sóc. Bấy giờ Mátchia và tôi đâm hoảng, tưởng con bò xấu thật. Tôi nói:

Thưa ông, chúng ta đi xem con khác.

Nghe thế bác nông dân miễn cưỡng hạ cho một chục nữa. Bớt lần bớt hồi, cuối cùng bác hạ giá xuống còn hai trăm mười và nhất định giữ giá đó. Ông thú y cũng đã huých khuỷu tay ra hiệu cho chúng tôi biết rằng cái chuyện ông nói đó là chuyện vớ vẩn, thật ra con bò ấy không phải là bò xấu, trái lại đó là một con bò rất tốt. Tuy thế hai trăm mười phờrăng vẫn là một số tiền khá lớn đối với chúng tôi.

Lúc này Mátchia vòng ra sau con bò, dứt của nó một cái lông đuôi dài và bị nó đá cho một cái. Điều này khiến tôi hết do dự:

Thôi, hai trăm mốt thì hai trăm mốt vậy!

Và tôi chìa tay ra để cầm lấy dây thừng buộc bò. Nhưng người chủ bò không trao cho tôi. Bác ta nói:

- Thế còn cái món tiền kim băng cặp tóc của bà xã nhà tôi?

Thế là lại phải mặc cả và cuối cùng phải thỏa thuận đưa thêm hai mươi xu về khoản kim băng cặp tóc.

Chúng tôi chỉ còn có ba phờrăng. Tôi chìa tay ra. Bác nông dân nắm lấy tay tôi bắt thật chặt như bạn chí thân. Đúng là bạn chí thân, và đã là bạn chí thân thì tôi không được quên cốc rượu nho cho cô con gái bác. Rượu nho của cô con gái xén đứt mười xu.

Lần thứ ba, tôi định cầm thừng. Nhưng ông bạn lái bò của tôi ngăn lại:

Thế anh bạn có đem theo vòng cổ bò không đấy? Tôi bán bò nhưng có bán vòng cổ

Đâu!

Tuy vậy, vì đã là bạn thân, bác ta cũng phải vui lòng nhường lại cái vòng cổ bò cho tôi lấy ba mươi xu, chẳng đắt đâu!

Tất nhiên phải có vòng cổ để buộc dây dắt bò; tôi đành xỉa ra ba mươi xu, nhẩm tính cũng còn được hai mươi xu. Thế là tôi đếm đủ hai trăm mười ba phờrăng và lần thư tư tôi chìa tay ra, bác ta hỏi:" Thế thì dây thừng của anh bạn đâu nhỉ? Tôi nhường vòng cổ, nhưng tôi đã bán dây thừng cho anh đâu ".

Phải trả hai mươi xu nữa để lấy dây thừng, hai mươi xu vét túi.

Trả tiền đủ, chúng tôi mới được nhận con bò với đủ lệ bộ vòng cổ, dây thừng. Chúng tôi có một con bò sữa, nhưng không có lấy một xu dính túi, một đồng xu để nuôi nó và để nuôi sống cả chúng tôi.

Mátchia bảo:

Chúng ta lại biểu diễn! Các quán nước rất đông khách. Mỗi đứa một ngả, chúng ta sẽ biểu diễn được ở khắp các quán và chiều nay chắc sẽ thu được khá đấy!

Sau khi dắt bò vào chuồng ở quán trọ và buộc cẩn thận ba bốn nút thừng, chúng tôi mỗi đứa đi biểu diễn một ngả. Chiều về gom tiền lại, Mátchia được bốn phờrăng năm mươi xăngtim, còn tôi được ba phờrăng.

Với bảy phờrăng mười xu chúng tôi lại giàu rồi! Tuy vậy, thu được bảy phờrăng mười xu ấy, niềm vui của tôi xem ra rất nhỏ nhoi bên cạnh niềm vui đã tiêu xài hai trăm mười bốn phờrăng kia.

Về quán trọ, chúng tôi năn nỉ chị bếp vắt hộ sữa bò và chúng tôi đem ăn bữa sáng: Chưa bao giờ chúng tôi được uống thứ sữa ngon như vậy. Mátchia tuyên bố rằng sữa nó ngọt lịm như đường và thơm mùi hoa cam, giống như thứ sữa nó uống ở bệnh viện, nhưng ngon hơn nhiều. Trong cơn hào hứng, chúng tôi ôm con bò, hôn cái mõm đen của nó. Có lẽ nó cũng cảm động vì sự vuốt ve đó nên thè cái lưỡi nhám sì liếm mặt chúng tôi. Mátchia phấn khỏi reo lên:

Nó hôn đó, mày biết không?

Muốn biết khi hôn con bò và được nó hôn lại, chúng tôi sung sướng ngần nào thì xin các bạn nhớ rằng hai chúng tôi không phải là những đứa được vuốt ve hôn hít quá nhiều. Chúng tôi khác với những đứa con cưng, chúng phải chống đỡ sự vuốt ve mơn trớn của mẹ, còn chúng tôi thì thèm khát được mơn trớn, vuốt ve.

Hôm sau, chúng tôi dậy thật sớm và lên đường đi Savanông ngay. Để đền ơn Mátchia, bởi vì không có nó chắc không đời nào tôi kiếm được món tiền kếch sù trên hai trăm phờrăng ấy, tôi nhường cho nó cái thú dắt bò. Được nắm dây dắt con bò đi, Mátchia khoái lắm, còn tôi thì lẽo đẽo theo sau. Ra khỏi thị trấn, tôi mới đi lên ngang hàng với nó, để chuyện trò với nhau như thường lệ, nhất là để nhìn con bò từ phía trước. Tôi chưa bao giờ thấy con bò nào đẹp như thế! Quả vậy, dáng dấp của nó toát lên trang nhã, nó bước đi nhún nhảy, chậm rãi, đủng đỉnh như một con vật tự biết giá trị của mình.

Bây giờ thì mỗi lúc chẳng còn phải giở bản đồ tìm đường như hồi mới từ Pari ra đi. Tôi biết rõ mình sẽ đi đâu và mặc dù từ khi qua chốn này với cụ Vitali đến nay đã nhiều năm rồi, tôi vẫn nhận ra những đặc điểm rải rác trên đường.

Để cho con bò cái đỡ mệt, nhưng cũng đừng có đến Savanông quá muộn, tôi quyết định sẽ ngủ lại ở cái làng trước kia, tôi đã trọ đêm đầu tiên trong cuộc đời giang hồ với cụ Vitali.

Cái đêm ấy, trong đệm cỏ, con Capi tốt bụng hiểu được nỗi buồn của tôi, đã đến nằm bên cạnh tôi và đặt chân nó vào lòng bàn tay tôi để tỏ cho tôi biết rằng nó sẽ là bạn thân thiết của tôi.

Tảng sáng hôm sau, chúng tôi sẽ lên đường về nhà má Bácbơranh cho được sớm. Nhưng số mệnh cho tới nay vẫn phù hộ chúng tôi bỗng trở tráo và đảo lộn tất cả

Những sự sắp đặt ấy.

Chúng tôi quyết định đi mỗi ngày hai đợt, giữa hai đợt nghỉ để ăn trưa, trước hết là cho bò ăn. Thức ăn của nó là cỏ ở bờ rào hai bên đường. Hôm đó vào khoảng mười giờ sáng,

Gặp nơi có cỏ dày, xanh mướt, chúng tôi cởi bỏ xắc và dắt bò xuống vệ đường. Thoạt đầu, tôi nắm dây thừng giữ nó, nhưng được giây lát, thấy nó hiền lành bình tĩnh, chỉ chăm gặm cỏ, tôi quấn dây lên sừng nó và ngồi xuống bên cạnh để ăn bánh.

Dĩ nhiên là chúng tôi ăn xong trước nó nhiều. Thế là chúng tôi ngồi ngắm nó say sưa. Ngắm khá lâu, rồi không có chuyện gì để làm nữa, chúng tôi rủ nhau chơi bi. Đừng tưởng chúng tôi là hai ông cụ non khắc khổ, nghiêm nghị, chỉ biết kiếm tiền. Cuộc sống của chúng tôi không giống cuộc sống của những đứa trẻ khác cùng tuổi, quả có vậy, nhưng chúng tôi cũng có những sở thích, những ý nghĩ của lứa tuổi chúng tôi. Nghĩa là chúng tôi thích những trò chơi của trẻ con và không ngày nào là chúng tôi không chơi bi, chơi bóng hoặc nhảy cừu một lần. Không cần duyên cớ gì hết, đột ngột Mátchia rủ:" Chơi chứ? "Thế là trở tay một cái, chúng tôi cởi bỏ hết đàn, xắc và nhào ra chơi ở giữa đường. Nhiều khi chúng tôi mải mê suýt tối mất, nếu không có cái đồng hồ nhắc nhở giờ giấc. Nó nhắc cho tôi nhớ rằng tôi là chủ gánh, cần phải làm việc, phải kiếm tiền để sinh sống, thế là tôi lại quàng quai đàn lên cái vai đau tấy, và lên đường!

Chúng tôi chơi xong mà con bò vẫn chưa ăn xong. Khi thấy chúng tôi nó lại ngoạm những miếng cỏ lớn, dường như để bảo rằng nó còn đói. Mátchia nói:

Hẵng đợi tí đã!

Mày không biết rằng giống bò ăn suốt ngày ư?

Tí thôi mà!

Chúng tôi vừa đợi vừa quàng đàn, xắc lên vai. Mátchia chẳng bao giờ chịu đứng yên,

Nó nói:

Hay là tớ thổi cho nó nghe một bài kèn ngăn ngắn nhỉ? Gánh xiếc Gátxô có một con bò cái ưa âm nhạc lắm.

Thế là không một hai gì nữa, Mátchia thổi ngay một khúc kèn diễu binh.

Thoạt nghe những tiếng kèn, con bò nghển cổ. Rồi bất thình lình nó vụt chạy, khiến tôi không kịp chộp lấy dây thừng ở cổ nó. Tức khắc chúng tôi phóng theo, vừa phi nước đại vừa gọi. Tôi thét bảo con Capi chặn nó lại. Nhưng làm sao đòi hỏi Capi đủ mọi tài! Giá là chó của người chăn nuôi thì hẳn, nó đã nhảy tới đón đầu con bò lại. Nhưng Capi chỉ là con chó thông thái, nó cứ chạy sau cắn theo chân con bò. Dĩ nhiên là cái ấy không làm cho con bò dừng lại, ngược thế, bò càng vọt mạnh. Tôi vừa đuổi theo bò vừa mắng Mátchia:" Thằng ngốc này! ". Nó cũng vừa chạy vừa hổn hển:" Rồi mày cứ việc choảng. Đáng đời lắm! ".

Chỗ chúng tôi dừng lại ăn trưa ở cách hai cây số một cái làng lớn trên đường cái. Bấy giờ con bò nhầm hướng làng ấy mà chạy và nó vào làng trước chúng tôi. Vì đường thẳng cho nên dù còn xa, chúng tôi vẫn thấy có nhiều người chặn nó và bắt nó. Thế là chúng tôi chạy chậm lại. Con bò sữa của chúng tôi không mất được, chỉ cần hỏi những người dân lành đã bắt nó, khắc họ trả lại. Chúng tôi càng đến gần thì số người vây quanh con bò càng đông thêm lên, cho đến khi chúng tôi tới bên cạnh nó thì đã có vài chục đàn ông, đàn bà, trẻ con vừa bàn tán, vừa nhìn chúng tôi đi đến.

Tôi cứ tưởng rằng chỉ cần hỏi xin con bò lại là xong cả. Không ngờ họ không giao bò, mà còn vây quanh chúng tôi hỏi hết câu này đến câu khác, nào là chúng tôi từ đâu đến, nào là chúng tôi tậu con bò đó ở đâu. Chúng tôi trả lời dễ dàng, đơn giản. Nhưng họ không tin và có vài ba người lên tiếng bảo rằng chúng tôi đã bắt trộm con bò sổng đó, phải bỏ tù chúng tôi cho đến khi điều tra rõ trắng đen.

Hai tiếng" bỏ tù "làm tôi kinh hoảng quá, đâm cuống ra và thế là hỏng bét. Tôi tái mặt, tôi ăn nói lắp bắp. Vừa chạy một thôi xong, đang thở dốc, tôi không thể tự bào chữa

Được. Giữa lúc ấy thì một viên cảnh sát tới. Người ta kể vắn tắt sự việc lại cho ông ta nghe. Thấy câu chuyện mập mờ khả nghi, ông ta tuyên bố giữ con bò và giam chúng tôi lại, sau sẽ hay. Tôi muốn phản kháng, Mátchia định trình bày, nhưng viên cảnh sát khắc nghiệt bảo chúng tôi im mồm. Tôi sực nhớ cái việc xảy ra giữa cụ Vitali với tên cảnh sát thành Tuludơ nên tôi bảo Mátchia im đi và đi theo ông ta.

Toàn xã hộ tống chúng tôi cho đến tòa xã trưởng, ở đó có nhà giam. Người ta vây bọc chúng tôi, ẩy chúng tôi, xô đẩy chúng tôi, mắng chửi chúng tôi. Giá không có người cảnh sát bênh vực thì chắc hẳn người ta đã ném đá chúng tôi như những tên trọng phạm, những tên giết người, những tên đốt nhà.

Lúc mới tới nhà giam, tôi có chút ít hy vọng: Viên gác trụ sở xã kiêm cai ngục và tuần phiên không chịu nhận chúng tôi. Tôi tự nhủ anh chàng này là người tốt. Nhưng viên cảnh sát nài nỉ, nên viên cai ngục nhượng bộ. Bước lên trước chúng tôi, ông ta mở một cánh cửa khóa ngoài, có ổ khóa to và hai chốt. Bấy giờ tôi mới hiểu vì sao lúc đầu ông ta không chịu nhận tù: Thì ra ông ta đã bày những củ hành để dành lại của ông ta lên sàn ván phòng giam để hong cho khô. Người ta lục soát chúng tôi, người ta thu tiền bạc, dao, diêm, trong khi viên cai ngục dồn hành vào một góc. Rồi thì họ đi ra và cánh cổng đóng lại với tiếng sắt rít rợn người.

Thế là chúng tôi ở tù, ở đến bao giờ đây? Tôi đương tự hỏi như vậy thì Mátchia đến đứng trước mặt tôi đưa đầu ra nói:

Cậu choảng tớ đi, cứ việc nhằm đầu mà nện. Choảng mạnh mấy cũng chưa vừa cái ngu ngốc của tớ.

Mày làm một việc ngốc mà tao không ngăn lại thì tao cũng ngốc không kém gì mày!

Thà rằng cậu choảng mà lại hơn đấy! Như thế sẽ bớt khổ hơn.. Chao ôi! Con bò tội nghiệp, con bò của hoàng tử!

Mátchia bật khóc. Bây giờ thì tôi phải an ủi nó. Tôi phân trần cho nó thấy cảnh ngộ chúng tôi không có gì ngặt nghèo lắm, có khó gì mà không chứng minh được rằng con bò đó là của mình mua. Ông thú y quý hóa ở Uýtxen sẽ làm chứng cho mình.

Thế nhưng họ buộc tội rằng cái khoản tiền dùng mua bò đó là do chúng tôi ăn cắp thì ăn nói làm sao?

Mátchia nói thế mà có lý. Nó vừa khóc, vừa kể lể thêm:

Rồi đây, khi chúng ta ra tù, dù họ có trả lại con bò thì chắc gì ta gặp được má Bácbơranh?

Sao không gặp?

Từ ngày mày rời bỏ má cho đến nay, má cũng có thể chết đi chứ!

Mối lo ngại của Mátchia xuyên thẳng vào tim tôi. Đúng là má Bácbơranh có thể đã chết mất rồi. Tuy còn ở tuổi mà người ta không dễ dàng nghĩ đến cái chết nhưng do cảnh ngộ của mình, tôi vẫn biết rằng người thân của mình có thể bị thần chết cướp mất lắm. Tối chẳng đã mất cụ Vitali đó sao? Thế thì tại sao tôi không nghĩ như Mátchia nhỉ? Tôi hỏi:

Tại sao mày không bảo cho tao biết sớm hơn?

Tại vì khi tớ sung sướng thì trong đầu óc đần độn của tớ chỉ có những ý nghĩ vui tươi, còn khi cực khổ thì tớ chỉ có những ý nghĩ đen tối. Mà khi tớ nghĩ đến cái việc trao tặng con bò sữa của cậu cho má Bácbơranh thì tớ sung sướng khôn xiết kể, tớ chỉ thấy má vui thích, chúng mình vui thích, và tớ lóa mắt, tớ say sưa.

Đầu óc của cậu cũng không đần độn hơn đầu óc của tớ đâu, Mátchia ạ! Tớ cũng chỉ có những ý nghĩ như cậu. Cũng như cậu, tớ lóa mắt, tớ say sưa.

Ôi, chao ôi! Con bò của hoàng tử! - Mátchia gào khóc. - Hoàng tử đẹp quá mà! Bất thình lình nó đứng dậy vung tay:

Nếu má Bácbơranh thì chết mà thằng cha Bácbơranh gớm ghiếc ấy lại sống và nó bắt mất con bò của chúng mình, nó bắt luôn cả mày nữa thì sao?

Rõ ràng là cảnh ở tù đã xui chúng tôi nghĩ ra những chuyện não nùng ấy, cảnh ở tù và những tiếng hò hét của công chúng, và tên cảnh sát, rồi thì tiếng rít của cái ổ khóa và hai cái chốt sắt khi người ta đóng cửa nhốt chúng tôi. Mátchia không những nghĩ đến tình cảnh hai chúng tôi, nó còn nghĩ đến cả con bò nữa:" Ai cho nó ăn bây giờ? Ai vắt sữa cho nó? "

Tuy nhiên tôi cũng cố gắng vỗ về Mátchia, tôi bảo cho nó biết người ta sắp đến hỏi cung rồi.

Ừ! Thế thì chúng mình khai thế nào?

Sự thật.

Để rồi họ giao cậu cho lão Bácbơranh à? Hoặc là nếu chỉ có má ở nhà thì người ta cũng sẽ xét hỏi má để xem thử chúng mình có nói dối không, và thế là cái trò bất ngờ của chúng ta đi tong.

Cuối cùng, cái cửa mở ra với tiếng sắt khua kinh khủng, rồi một ông tóc bạc đi vào. Vẻ mặt hiền từ cởi mở của ông ta khiến chúng tôi lạc quan ngay.

Viên cai ngục thét:

Nào, lũ ranh kia, đứng lên và trả lời quan dự thẩm.

Được rồi, được rồi. - Ông dự thẩm vừa nói vừa ra hiệu cho viên cai ngục hãy để một mình ông ta ở lại. - Để tôi hỏi cung tên này. - Ông chỉ tôi. - Còn ông đưa tên kia đi chỗ khác và giữ lấy nó. Tôi sẽ hỏi nó sau.

Tôi nghĩ rằng trong điều kiện thế này, cần phải làm sao cho Mátchia biết nó nên khai cái gì. Tôi nói:

Thưa ông dự thẩm, nó cũng như tôi thôi, nó sẽ khai với ông tất cả sự thật, tất cả.

Được, được. - Ông dự thẩm vội vã nói hớt như muốn cắt ngang lời tôi.

Trước khi ra cửa Mátchia còn kịp nheo mắt nháy tôi để tỏ cho tôi biết rằng nó đã hiểu. Ông dự thẩm nhìn thẳng vào mặt tôi, nói:

Người ta tố cáo anh ăn trộm một con bò sữa.

Tôi trả lời rằng hai chúng tôi dã mua con bò ấy ở phiên chợ Uýtxen và tôi nói tên viên thú y đã giúp chúng tôi mua bò.

Cái đó sẽ được xác minh.

Tôi cũng mong thế vì sự xác minh đó sẽ làm rõ rằng chúng tôi vô tội.

Thế các anh mua bò cái để làm gì?

Để đưa tới Savanông biếu bà má đã nuôi tôi bằng dòng sữa của bà, gọi là trả nghĩa cho bà và ghi lại lòng yêu mến của tôi.

Người đàn bà ấy tên gì?

Má Bácbơranh.

Có phải vợ một người thợ nề cách đây mấy năm đã bị nạn què chân ở Pari hay

Không?

Thưa ông, phải.

Việc này cũng sẽ được xác minh.

Nhưng tôi không trả lời câu hỏi này như tôi đã trả lời câu nói về ông thú y. Thấy tôi lúng túng, ông dự thẩm hỏi dồn tôi nhiều câu khác, làm tôi phải nói rằng nếu ông hỏi má Bácbơranh thì mục đích của chúng tôi sẽ không đạt, trò bất ngờ không thành.

Tuy nhiên trong nỗi băn khoăn của tôi lại lẫn lộn một niềm vui sướng lớn: Ông dự thẩm đã biết má Bácbơranh. Và định đến hỏi má xem tôi nói có thật không, thì tất nhiên là má tôi vẫn còn sống. Lát sau tôi lại càng vui mừng hơn nữa: Trong khi hỏi những điều kia nọ, ông dự thẩm cho biết rằng gần đây, lão Bácbơranh đã đi Pari. Tôi phấn khởi quá nên tìm được những lời lẽ thuyết phục ông dự thẩm, khiến ông ta tin rằng chỉ lời chứng của ông thú y thôi cũng đủ xác minh rằng không phải chúng tôi đã bắt trộm con bò sữa.

- Vậy thì các anh lấy tiền ở đâu mà tậu bò?

Đó là câu hỏi làm cho Mátchia sợ hãi nhất khi nó đoán rằng người ta sẽ hỏi câu đó.

Tôi đáp:

Chúng tôi kiếm ra.

Kiếm ở đâu? Bằng cách gì?

Tôi trình bày chúng tôi đã làm ra và dành dụm từng đồng xu trên đường đi từ Pari đến Vácxơ rồi từ Vácxơ dến Môngđờrơ như thế nào.

Thế các anh đến Vácxơ để làm gì?

Câu hỏi đó buộc tôi phải kể một thôi nữa. Khi ông dự thẩm nghe nói tôi bị vùi lấp trong mỏ Tơruye thì ông không cho tôi nói nữa và hỏi, giọng dịu hẳn đi, gần như thân ái:

Trong hai người, ai là Rêmi?

Tôi đây, thưa ông dự thẩm.

Ai làm chứng? Viên sen đầm nói rằng em không có giấy tờ.

Thưa ông, không có.

Thôi, em hãy kể cho ta nghe tai nạn ở Vácxơ đã xảy ra như thế nào, ta có đọc bài tường thuật trên báo, nêu em không phả là Rêmi thì không lừa ta được. Ta nghe đây, phải coi chừng.

Việc ông dự thẩm đã gọi tôi bằng em đã làm cho tôi yên lòng; tôi thấy rằng đốì với chúng tôi, ông không có ác ý. Tôi kể xong câu chuyện thì ông nhìn tôi rất lâu, với đôi mắt dịu hiền, trìu mến. Tôi cứ tưởng ông ta sẽ tuyên bố trả lại tự do cho chúng tôi. Nhưng chẳng phải thế! Ông đi ra không nói gì hết. Chắc ông ta đi hỏi Mátchia để xem những điều chúng tôi kể có giống nhau không. Tôi đứng một lúc khá lâu, đăm chiêu suy nghĩ. Cuối cùng thì ông dự thẩm trở lại cùng với Mátchia. Ông nói:

Ta sẽ cho điều tra ở Uýtxen. Nếu kết quả điều tra xác nhận những điều các em khai, ta mong thế, thì đến mai các em sẽ được tự do.

Còn con bò sữa của chúng tôi? - Mátchia hỏi.

Người ta sẽ trả lại cho các em.

Tôi không định hỏi cái đó, thưa ông dự thẩm, tôi chỉ muốn biết có ai cho nó ăn không? Ai vắt sữa cho nó?

Chú nhóc cứ yên lòng!

Người ta vắt sữa con bò của chúng tôi thì người ta có thể cho chúng tôi sữa ấy không nhỉ? Có sữa mà ăn tối thì thích quá!

Ông dự thẩm vừa quay lưng ra thì tôi báo cho Mátchia biết cái tin lớn đã khiến tôi quên khuấy đi rằng chúng tôi đang ở tù: Đó là tin má Bácbơranh vẫn còn sống và lão Bácbơranh thì lên Pari. Mátchia kêu lên:" Con bò sữa của hoàng tử sẽ đi vào nhà một cách vinh quang". Nó vui sướng quá, vừa nhảy vừa hát. Bị lôi cuốn theo, tôi cũng nắm tay nó múa hát. Còn Capi từ đầu vẫn ngồi một xó, buồn bã lo âu, bây giờ cũng chạy đến đứng thẳng lên trên hai chân sau, giữa hai chúng tôi. Thế là chúng tôi nhảy múa ầm ĩ, khiến người cai ngục lo sợ - có lẽ vì mớ hành của ông ta - chạy đến xem có phải chúng tôi nổi loạn hay không.

Người cai ngục bảo chúng tôi im đi. Nhưng lần này ông ta không ăn nói cục cằn như khi cùng đến với ông dự thẩm. Nhờ thế, chúng tôi biết rằng tình hình không đến nỗi xấu và chỉ lát sau thì chúng tôi biết rõ mình đoán không sai: Ông ta đã trở lại với một chậu sữa đầy, sữa con bò của chúng tôi. Đã hết đâu, ông ta còn cho chúng tôi một chiếc bánh mì trắng to và một miếng thịt bê luộc; ông ta nói thịt bê là của ông dự thẩm gửi đến. Xưa nay có lẽ không có tên tù nào được hậu đãi như thế.

Thế là vừa ăn thịt bê và uống sữa, tôi vừa xét lại ý niệm của tôi về nhà tù. Quả có khá hơn cái cảnh mà tôi tưởng tượng, và đó cũng là cảm tưởng của Mátchia. Nó vừa cười vừa nói:

Ăn ngủ không mất tiền, quả là dịp may hiếm có! Tôi dọa nó:

Nếu ông thú y chết bất thình lình thì lấy ai làm chứng cho chứng mình?

Mátchia không chút nao núng, bình tĩnh nói:

Chỉ khi nào người ta khổ, người ta mới có những ý nghĩ đen tối như thế, nay thì quả là không phải lúc.
 
15,989 ❤︎ Bài viết: 1929 Tìm chủ đề
Chương 30: Má Bácbơranh

Nằm trên sàn gỗ, chúng tôi ngủ cũng khá ngon. Chúng tôi đã nhiều đêm ngủ giữa trời khó chịu hơn. Sang ra Mátchia nói:

Tớ mơ thấy đám rước bò.

Tớ cũng thế.

Tám giờ sáng cửa mở, ông dự thẩm bước vào, có ông bạn thú y cửa chúng tôi theo sau; ông ta muốn đích thân đến giải phóng cho chúng tôi. Về phần ông dự thẩm thì không phải ông chỉ ân cần với chúng tôi ở bữa ăn hôm qua, ông còn trao cho tôi một tờ giấy đẹp có đóng dấu. Ông thân mật bảo:

Các em tay không mà đi tứ xứ như thế thì thật là liều lĩnh. Ta đã nói với ông xã trưởng cấp cho các em tờ giấy thông hành này, nó sẽ là bùa hộ mệnh của các em. Chúc các em lên đường bình yên.

Ông dự thẩm bắt tay chúng tôi, còn ông thú y thì ôm hôn chúng tôi.

Chúng tôi vào làng khốn khổ, nay chúng tôi ra đi vinh quang, tay nắm thừng dắt bò, đầu ngẩng cao. Những người nông dân đứng ở ngưỡng cửa nhìn chúng tôi với đôi mắt cảm mến. Mátchia nói:

Tao chỉ tiếc có một điều là tại sao cái lão cảnh sát đã bắt chúng mình hôm nay không có mặt ở đây để nhìn chúng mình diễu qua.

Lão cảnh sát đó làm sai. Nhưng chúng ta cũng không đúng ở chỗ không bao giờ nghĩ đến việc xin đủ giấy chứng minh lý lịch của mình, để cho người ta biết. Ở Pari thì việc ấy dễ thôi.

Chúng tôi đã nhận được một bài học quá đích đáng, đến mức không bao giờ còn tơ tưởng đến thả dây buộc bò nữa. Con bò cái của chúng tôi thì hiền lành đấy nhưng phải cái cũng nhút nhát.

Không bao lâu chúng tôi đã tới cái làng tôi ngủ trọ cùng cụ Vitali ngày xưa, Từ đây đến cái dốc đổ xuống làng Savanông chỉ còn phải qua một cánh đồng hoang lớn. Đi vào làng, ngay trước cửa hiệu mà Décbinô đã đánh cắp chiếc bánh, tôi bỗng nảy một ý kiến và vội vàng trao đổi với Mátchia:

Cậu có nhớ rằng tớ có hứa đãi cậu ăn bánh kẹp ở nhà má Bácbơranh không? Muốn làm bánh kẹp, phải có bơ, bột, trứng.

Chắc là ngon lắm.

Còn phải nói! Để rồi cậu xem. Cái món ấy cuộn lại và ta cứ việc tọng đầy mồm.

Nhưng có lẽ má Bácbơranh không có bơ, cũng không có bột, vì má nghèo. Hay là ta mang

Đến cho má?

Ý kiến đó hay đấy!

Thế thì cậu coi bò, nhất là đừng buông thừng ra nhé! Tớ vào hiệu này mua bơ, bột. Còn trứng, nếu má không có thì má sẽ đi vay tạm, chứ chúng mình mang trứng đi e dọc đường vỡ mất.

Tôi vào ngay hiệu ấy mua một cân bơ, hai cân bột rồi tiếp tục đi. Tôi không muốn thúc con bò đi nhanh, nhưng vì nôn nóng đến nhà, tôi sải những bước dài mà không biết. Còn mười cây số nữa, còn tám. Rồi còn sáu. Lạ chửa! Về đến gần má Bácbơranh, con đường như càng dài ra, dài hơn cái ngày mà tôi đi xa má, mặc dù hôm ấy trời mưa rét đến nỗi bây giờ tôi vẫn còn như thấy thấm da thịt. Tôi hết sức xúc động, hết sức xốn xang, cứ chốc chốc lại nhìn đồng hồ, Tồi nói với Mátchia:

Cậu thấy cảnh có đẹp không?

Cây cối có làm vướng tầm mắt đâu!

Khi chúng mình xuống dốc Savanông thì cậu sẽ thấy cây cối, cây to, đẹp, cây sồi này, cây dẻ này.

Có quả dẻ chứ?

Sao lại không? Và ở sân nhà má Bácbơranh thì có cây lê với cái cành uốn cong, mình thường leo lên cưỡi ngựa. Nó ra quả to như thế này này, và ngon nữa, rồi cậu xem.

Tả cái gì, tôi cũng nói "rồi cậu xem" như một điệp khúc. Tôi thành thật tin rằng tôi đưa Mátchia đi vào cõi tiên. Suy cho cùng thì đối với tôi, đó không phải là cảnh tiên hay sao?

Đó, mắt tôi được mở ra nhìn ánh sáng, ở đó tôi mới có cảm giác là được sống, ở đó tôi được sung sướng. Được mến yêu. Những kỷ niệm đau khổ trong cuộc sống phiêu lưu sau này làm cho những niềm vui ban đầu ấy càng thêm thắm thiết. Tôi càng đi đến gần làng quê thì những cảm giác ngây thơ càng như đổ xô về xôn xao, dồn dập trong tim, trong trí. Tuồng như trong bầu trời quê hương có một mùi hương làm tỏi ngây ngất: Cái gì tôi cũng thấy đẹp cả. Lây cái say sưa ấy, Mátchia cũng quay về quê hương, nhưng tội nghiệp, chỉ bằng tưởng tượng. Nó nói:

Nếu cậu đến Lúcca thì tớ cũng sẽ chỉ cho cậu bao cái đẹp. Rồi cậu xem!

Ừ thì chúng mình sẽ về Lúcca sau khi gặp Êchiênnét, Lidơ và Bănggiamanh.

Cậu cũng vui lòng đi Lúcca chứ?

Cậu cùng đi với tớ về nhà má Bácbơranh thì tớ sẽ cùng đi với cậu về thăm mẹ và em Crítxtina của cậu. Nêu nó không quá lớn thì tớ sẽ bế nó. Nó cũng là em tớ.

Ồ! Rêmi!

Nó chỉ nói được bấy nhiêu vì xúc động quá.

Vừa nói chuyện, vừa rảo bước đi nhanh, chúng tôi đã đến đỉnh đồi, nơi bắt đầu cái dốc ngoằn ngoèo dẫn đến thôn Savanông. Cái dốc đi qua trước nhà má Bácbơranh. Đi mấy bước nữa, chúng tôi đến cái lũy mà tôi xin phép cụ Vitali ngồi lại để nhìn về nhà má, ngôi nhà mà tôi tưởng như không bao giờ được trông thấy nữa. Tôi bảo Mátchia: "Cầm hộ thừng cho tao!" rồi tôi nhảy phắt lên lũy cỏ: Cái thung lũng của tôi vẫn giữ dáng cũ, không có gì thay đổi; giữa hai lùm cây, mái nhà má Bácbơranh hiện ra.

Cậu làm sao thế? -Mátchia hỏi?

Xem kìa, xem.

Nó đến bên tôi nhưng không leo lên lũy, con bò thì gặm cỏ ở bờ lũy. Tôi nói:

Nhìn theo tay tớ đây. Đây là nhà má Bácbơranh, kia là cây lê, và chỗ này là mảnh vườn của tớ.

Mátchia chỉ nhìn với con mắt trần, không có ký ức giúp đỡ như tôi, nên không thấy gì lắm, nhưng nó không nói. Lúc bây giờ, một cuộn khói nhỏ màu vàng thoát lên từ ống khói. Trời lặng gió, cuộn khói bay thẳng lên men theo triền đồi, Tôi nói: "Má Bácbơranh ở nhà!"

Một luồng gió nhẹ thổi qua hàng cây, bẻ gãy cuộn khói và phả khói vào mặt chúng tôi. Trong khói có mùi lá sồi. Bỗng chốc, tôi cảm thấy nước mắt trào ra và tôi nhảy xuống, ôm hôn Mátchia. Capi: Nhảy lên lòng tôi, tôi đưa tay ôm nó và cũng hôn nó. Còn Mátchia thì đến hôn trán con bò. Tôi bảo:

Ta đi xuống mau đi.

Nếu má Bácbơranh ở nhà thì làm sao chúng tôi bố trí cái chuyện bất ngờ được?

Cậu đi vào một mình: Cậu bảo là cậu nhân danh hoàng tử, mang bò đến cho má, và khi má hỏi hoàng tử nào, thì tớ hiện ra.

Rõ tiếc là ta không tổ chức được một đám rước có nhạc tấu!

Mátchia, chớ có vớ vẩn!

Cậu yên trí, tớ không buồn diễn lại cái trò ấy đâu! Giá như cô gái hoang dã này mà ưa âm nhạc để ta tấu một khúc quân nhạc thì hay biết bao nhiêu!

Chúng tôi vừa đến một khúc ngoặt ngang tầm nhà má Bácbơranh thì thấy một cái khăn trùm trắng hiện ra trong sân: Đó là má Bácbơranh. Má mở cổng, ra đường và đi về phía thôn xóm. Chúng tôi dừng lại và tôi chỉ cho Mátchia. Nó nói:

Má đi thì làm sao thực hiện được cái trò bất ngờ của chúng ta.

Ta sẽ bày một trò khác.

Trò gì?

Tớ chưa nghĩ ra.

Hay là cậu gọi má?

Tôi rất muốn gọi, nhưng rồi nén được. Đã bao lâu nay, tôi say sưa với cái ý nghĩ chơi một trò bất ngờ, bây giờ không dễ gì trong khoảnh khắc mà từ bỏ được ý định ấy.

Lát sau, đã đến cổng nhà, chúng tôi đi vào tự nhiên như xưa kia tôi vẫn ra vào. Tôi biết má Bácbơranh có thói quen chỉ kéo chốt ngoài, cho nên chúng tôi có thể vào nhà ngay được, nhưng trước hết phải nhốt con bò vào chuồng cái đã. Tôi đi xem chuồng, thấy nó vẫn như cũ, duy vướng những củi. Tôi gọi Mátchia lại. Buộc con bò trước máng xong, chúng tôi xếp củi vào một xó. Công việc này làm không mất nhiều thì giờ lắm vì chỗ củi dự trữ của má cũng chả là bao. Tôi bảo Mátchia:

Bây giờ thì chúng mình vào nhà đi! Tớ ngồi vào xó bếp để cho má bắt gặp tớ ở đấy. Còn cậu, vì cái cổng kêu cót két khi má đẩy, cho nên cậu sẽ có đủ thì giờ để trốn ra saugiường với con Capi. Như thế, mả chỉ bắt gặp mỗi mình tớ. Cậu tưởng tượng xem má sẽ ngạc nhiên chừng nào!

Công việc được xếp đặt như tôi nói. Chúng tôi đi vào nhà, tôi đến bên lò sưởi, ở chỗ tôi đã ngồi những mùa đông năm xưa. Không thể hớt mớ tóc dài, tôi bỏ nó vào trong cổ áo, tôi thu hình lại, cho giống Rêmi, bé Rêmi của má Bácbơranh ngày trước. Từ chỗ ấy, tôi nhìn thấy cổng, không sợ gì má hiện về đột ngột. Ngồi ở chỗ đó, tôi nhìn ra chung quanh. Dường như tôi mới rời nhà ngày hôm qua thôi, bởi vì không có cái gì thay đổi cả. Mọi vật đều ở nguyên chỗ cũ cho đến miếng giấy dán tấm kính mà tôi đánh vỡ đã ám khói vàng cả đi mà cũng không được thay. Nếu đứng dậy mà đi đi lại lại để nhìn tận mắt từng vật thì thú đấy, nhưng má có thể về bất thình lình, cho nên tôi đành phải ngồi mà quan sát. Bỗng tôi thấy chiếc khăn trùm trắng hiện ra, đồng thời cánh cổng rít lên. Tôi nói:

- Mátchia, mau mau trốn đi!

Và tôi càng thu mình lại. Cửa mở. Từ ngưỡng cửa, má Bácbơranh trông thấy tôi. Má

Hỏi:

Ai đấy?

Tôi nhìn má, không đáp. Má cũng nhìn tôi. Đột nhiên hai tay má run lẩy bẩy, má kêu

Khẽ:

Trời ơi! Trời ơi! Thật thế sao? Rêmi đó sao? Tôi đứng lên, chạy xổ đến ôm má:

Má!

Con! Con tôi đây mà!

Hẳn thế, nếu má không ngày đêm nhớ con thì có đâu mà nhận ra con ngay: Con đã thay đổi nhiều, lớn thổi lên, khỏera!

Một tiếng khịt mũi nén lạí nhắc tôi nhớ rằng có Mát- chi-a núp đằng sau giường. Tôi gọi nó, nó đứng lên.

Đây là Mátchia, em con.

Ồ! - Má reo lên. - Con đã tìm ra bố mẹ ư?

Không. Con muốn nói đó là bạn nghề nghiệp của con, bạn chí thiết của con. Và đây là Capi, cũng là bạn nghề nghiệp, là bạn chí thiết của con. Capi, chào bà mẹ của chủ mày đi.

Capi đứng lên trên hai chân sau, đặt một chân trước ngực và cúi chào trịnh trọng, làm má Bácbơranh cười và ráo cả nước mắt. Mátchia không bị một lý do nào làm cho quên cái trò bất ngờ như tôi, cho nên nó ra hiệu nhắc tôi. Tôi bảo má:

Nếu má vui lòng thì má con ta ra sân một lát. Con muốn xem cây lê quý mà đã nhiều lần con khoe với Mátchia.

Ta cũng nên đi xem mảnh vườn của con, vì má vẫn giữ nguyên như con xếp đặt, để khi con trở về thì sẽ tìm thấy cảnh xưa. Bao giờ má cũng tin rằng con sẽ trở vể, mặc dù thiên hạ nói này nói nọ.

Những củ cúc vu con trồng, má có thấy ngon không?

Hóa ra cái bất ngờ là cửa con đấy à? Má cũng đoán như vậy. Lúc nào con cũng ưng chơi trò bất ngờ.

Đã đến lúc rồi! Tôi nói:

Còn cái chuồng bò, từ khi vắng con Rútxét tội nghiệp thì có gì thay đổi không? Con

Rútxét, cũng như con, nó chả muốn đi.

Không có gì thay đổi, hẳn thế. Má chất củi ở đó.

Lúc bấy giờ chúng tôi vừa đến đứng trước chuồng bò. Má Bácbơranh đẩy cửa. Con bò đang đói, chắc nghĩ người ta đến cho ăn, nên rống lên tức khắc. Má Bácbơranh hét:

- Bò! Chao ôi! Trong chuồng có bò!

Không nén được nữa, Mátchia và tôi cười vang. Má Bácbơranh kinh ngạc nhìn chúng tôi. Nhưng chuyện con bò bị nhốt sẵn trong chuồng này là chuyện quá hoang đường, chúng tôi có reo cười bao nhiêu, má cũng không vỡ lẽ. Tôi nói:

Đây là một điều bất ngờ chúng con biếu má, nó cũng xứng với củ cúc vu má không ước mà có, phải không má.

Một trò bất ngờ, một trò bất ngờ! - Má lặp đi lặp lại.

Con không muốn trở về nhà má Bácbơranh hai tay không, bà má đã tốt đến thế với bé Rêmi cù bơ cù bất. Nghĩ mãi xem món quà gì có ích cho má hơn hết con thấy không gì hay hơn là có một con bò sữa má nuôi thay con Rútxét. Chúng con mua con bò này ở chợ phiên Uýtxen với số tiền anh em chúng con kiếm được!

Má Bácbơranh ôm tôi vào lòng, kêu lên:

Ôi, thằng con quý hóa, thằng bé mến yêu!

Thế rồi chúng tôi vào chuồng bò để má nhìn cho kỹ con bò sữa đã trở thành bò của má. Mỗi khi tìm thấy một dấu hiệu gì tốt trên con bò, má reo lên sung sướng, khâm phục: "Con bò tốt làm sao!". Bỗng má ngưng lại, nhìn tôi:

Này! Thế là con đã trỏ nên giàu có chăng?

Có lẽ thế! - Mátchia vừa cười vừa nói. - Anh em chúng con còn những năm mươi

Tám xu.

Má Bácbơranh lặp lại điệp khúc trước, nhưng có thay đổi: "Hai thằng bé mến yêu!". Tôi sung sướng thấy má nghĩ đến Mátchia và gộp cả hai đứa vào một mối tình yêu mến.

Con bò vẫn kêu rống lên. Mátchia nói:

Nó đòi người ta vắt sữa cho nó đấy.

Không để ý nghe ngóng gì nữa, tôi chạy vào trong nhà tìm cái thùng thiếc đem kỳ cọ thật sạch. Cái thùng này trước kia vẫn dùng để vắt sữa con Rútxét và vẫn treo ở chỗ cũ, mặc dầu đã từ lâu chẳng còn bóng dáng bò bê gì trong chuồng của má Bácbơranh cả. Tôi múc đầy thùng nước rửa sạch vú bò bám đầy bụi đường.

Thấy đến ba phần tư thùng đầy một thứ sữa đẹp mỡ màng, má Bácbơranh vui sướng vô cùng. Má nhận xét:

Có lẽ nó mọng sữa hơn con Rútxét!

Mátchia nói:

Lại còn ngon nữa chứ! Ngửi như mùi hoa cam.

Má Bácbơranh ngạc nhiên nhìn Mátchia; hẳn là má đương nghiệm xem cái mùi hoa cam là mùi gì. (1)

Mátchia không bao giờ giữ riêng cho mình những điều hiểu biết. Nó nói tiếp:

Đó là món sữa tuyệt ngon cháu được uống ở bệnh viện khi ốm phải nằm ở đó.

Vắt sữa xong, sau khi thả bò giữa sân để cho nó ăn cỏ, chúng tôi trở vào nhà. Trên chiếc bàn giữa nhà, trong khi vào lấy thùng đựng sữa, tôi đã bày biện bơ và bột ra. Khi má Bácbơranh trông thấy những món không ước mà có này nữa, thì má lại kêu lên. Nhưng lòng thành thật buộc tôi phải ngăn má:

Chỗ quà này sắm ra là để cả cho chúng con nữa chứ không phải dành riêng cho má.

Chúng con đói đến suýt chết đây và chúng con muốn ăn bánh kẹp. Má có nhớ cái ngày thứ ba ngả mặn cuối cùng mà con còn ở nhà này không? Cái ngày ấy, má con ta bị cản trở, chỗbơ má vay để làm bánh kẹp cho con lại bị dùng để phi hành trong chảo. Lần này thì chúng ta không bị quấy rầy đâu.

Con biết ông Bácbơranh hiện ở Pari à?

Vâng.

Thế con có biết ông ấy đi Pari làm gì không?

Không, má ạ.

Cái này quan hệ đến con đó, con ạ.

Quan hệ đến con? - Tôi kêu lên, sợ hãi.

Ồ! Má cứ nói trưỡc mặt Mátchia đi! Con đã bảo nó là anh em với con mà, cái gì quan hệ đến con thì cũng quan hệ đến nó.

À, cái việc này nói ra thì cũng dài lắm..

Ông Bácbơranh sắp về chăng?

Ồ! Không.

Thế thì không việc gì phải vội, ta hãy lo cái khoản bánh kẹp cái đã, rồi sau má hãy bảo cho con biết việc ông Bácbơranh đi Pari có lý thú gì đối với con. Không sợ ông ta về phi hành trong chảo của mình nữa thì không vội gì. Má có trứng không?

Không, má không còn gà.

Chúng con không mua trứng về cho má vì sợ mang đi vỡ. Má có thể đi vay không? Má có vẻ lúng túng. Tôi mới vỡ lẽ rằng má vay quá nhiều bận rồi, bây giờ khó nói vay

Thêm. Tôi nói:

Thôi, để con đi mua thì hơn, còn má ở nhà nhào bột với sữa. Mua trứng đằng lão Xôkê phải không má? Con chạy đi đây. Má bảo Mátchia bổ củi, nó bổ giỏi lắm.

Đến quán lão Xôkê, tôi mua một tá trứng, lại mua thêm một thẻo mỡ. Về nhà thì bột

Đã nhào sữa, chỉ còn có việc đánh trứng vào mà thôi. Đành rằng bột sẽ không kịp dậy, nhưng chúng tôi đói quá, chờ sao được. Dù bánh làm như thế ăn có hơi nặng bụng, hai cái dạ dày khá khỏe của chúng tôi cũng phớt đều.

Má Bácbơranh vừa đánh bột vừa nói:

Này, con ngoan như vậy mà cớ sao chẳng bao giờ con nhắn tin về cho má cả? Con có biết rằng nhiều khi má tưởng con chết rồi không, vì má tự nhủ: Nếu Rêmi còn sống thì chắc thế nào nó cũng viết thư về cho má Bácbơranh của nó chứ?

Nhưng má Bácbơranh của con không ở một mình. Con biết má sẽ không tự đọcđược những bức thư con viết mà bên cạnh má có ông bố Bácbơranh mà con rất sợ. Ông ấy là ông chủ duy nhất trong nhà, ông đã tỏ quyền hành của ông ta khi bán con với giá bốn mươi phờrăng cho một ông cụ nhạc sĩ.

Rêmi, đừng có nhắc làm gì những chuyện ấy con!

Con nhắc không phải để mà ca thán mà để cho má hiểu vì sao con không dám viết thư cho má thôi. Con sợ để người ta tìm thấy thì sẽ bị bán đi lần nữa, mà con thì chẳng muốn bán đi tí nào. Chính vì thế mà khi con mất ông chủ già của con, ông ấy là một người tốt, con cũng không viết thư cho má.

Ồ! Ồng nhạc sĩ già ấy chết rồi à?

Vâng, và con khóc ông cụ rất nhiều, bởi vì con biết những gì ngày nay và con tự kiếm sống được là nhờ ông ấy. Sau khi ông cụ qua đời, con cũng được những người tốt cưu mang và con làm với họ. Nhưng nếu con viết thư nói với má: "Con làm vườn ở khu Glaxie"

Thì e ông Bácbơranh đến bắt con mất! Hoặc là ông sẽ đến đòi tiền công ở những người tốt bụng ấy, cả hai việc ấy con đều không muốn.

Ừ, má hiểu rồi.

Dù thế nào, con vẫn nhớ má và một đôi khi gặp chuyện buồn khổ, con vẫn thầm kêu cứu má. Đến khi con được tự do muốn làm gì thì làm thì con về hôn má đây. Không về ngay, đành thế, vì có phải muốn cái gì là người ta làm được cái đấy đâu, vả lại con có một ý định không dễ gì thực hiện. Phải kiếm đủ tiền tậu bò thì mới có bò đem về cho má chứ, mà tiền thì nó không rơi lộp bộp vào túi chúng con thành những đồng năm phờrăng tươi tốt. Phải đánh bao nhiêu bản đàn dọc đường, bản vui có, bản buồn có, phải đi nhiều, phải đổ mồ hôi, chịu thương chịu khó, chịu thiếu thốn mọi bề! Nhưng càng vất vả bao nhiêu lại càng sung sướng bấy nhiêu, phải thế không Mátchia?

Mỗi tối lại đem tiền ra đếm, không những đếm chỗ làm ra ngày hôm đó, lại đếm cả số đã có từ trước để xem nó gấp đôi chưa!

Chao ôi! Hai thằng con quý hóa! Hai thằng bé mới ngoan làm sao!

Má Bácbơranh quấy bột đổ làm bánh, Mátchia bổ củi, còn tôi vừa kể chuyện vừa bày cốc đĩa trên bàn. Rồi tôi ra giếng múc nước. Lúc trở vào thì chậu đã đầy một thứ bột sền sệt, màu vàng óng ả, còn má thì đang cọ chảo bằng một nùi rơm. Mátchia bỏ từng que củi vào bếp để nuôi ngọn lửa hồng rất đượm trong lò. Ngồi xổm bên bếp, con Capi theo dõi mọi việc với đôi mắt cảm kích; nó bị nóng quá, thỉnh thoảng giơ một chân lên, rồi lại đổi chân khác, mồm kêu khe khẽ. Ánh lửa chói chang len vào những xó tối, mấy hình nhân in trên vải màn nổi lên nhảy múa, những hình nhân xưa kia bao lần làm tôi khiếp sợ những khi tỉnh giấc dưới ánh trăng.

Má Bácbơranh đặt chảo lên bếp, lấy dao xén một lát bơ gảy vào chảo, bơ tan ngay. Mátchia bất chấp nóng bỏng cúi sát trên chảo reo: "Thơm quá!". Bơ reo líu ríu, Mátchia hét: "Nó hát kìa! Chao ôi! Tớ phải đệm đàn cho nó mới được".

Đối với Mátchia thì làm cái gì cũng phải có nhạc. Nó lấy chiếc vĩ cầm ra và nhẹ nhàng, tỉ tê nó đệm đàn cho khúc ca của cái chảo, khiến má Bácbơranh cười vang. Tuy nhiên giây phút này nghiêm trọng quá, không phải là lúc vui đùa. Má Bácbơranh vục chiếc môi vào chậu bột, múc một môi: Bột tràn chảy xuống thành những sợi chỉ bạc. Má đổ bột vào chảo; bột loang thành một vạt trắng, còn bơ thì tản ra chung quanh viền một dường màu hung. Đến lượt tôi chồm tới. Má Bácbơranh vỗ vào cán chảo rồi trở tay một cái, má đã hắt cái bánh lên cao, làm Mátchia hoảng hốt. Nhưng không can gì! Ngao du trên không trung một thoáng, cái bánh lại rơi vào chảo, lật trái lại, phơi mặt vàng lên trên. Tôi vừa kịp cầm cái đĩa lên thì bánh đã trượt vào đĩa. Chiếc này dành cho Mátchia. Nó bị nóng bỏng cả tay, môi, lưỡi, họng, nhưng hề gì! Nó chẳng thèm nghĩ tới chuyện bỏng. Bánh đầy cả mồm, nó nói: "Chao ôi! Ngon quá!".

Đến lượt tôi chìa đĩa ra, rồi cũng bị nóng bỏng mồm bỏng miệng. Nhưng cũng giống như Mátchia tôi phớt lạnh.

Cái bánh thứ ba đã vàng và Mátchia chìa tay ra, nhưng con Capi sủa một tiếng dữ dội:

Nó đòi phần nó.

Thế là công bằng, cho nên Mátchia trao bánh cho nó, khiến má Bácbơranh không bằng lòng, vì sao lại cho chó ăn như người? Để an ủi má, tôi giải thích cho má rõ con Capi là một con chó biết diễn trò, vả lại nó cũng có đóng góp vào số tiền mua bò. Ngoài ra, nó là bạn nghề nghiệp của chúng tôi, nó phải ăn như chúng tôi, cùng với chúng tôi mới hợp lẽ. Vảlại má đã nói rằng má không động tới bánh kẹp chừng nào cơn đói của chúng tôi chưa dịu đi.

Phải lâu lắm, cơn đói nhất là sự háu ăn của chúng tôi mới dịu đi. Nhưng mãi rồi cũng đến lúc hai chúng tôi đồng thanh tuyên bố nếu má không ăn vài miếng thì chúng tôi cũng kiên quyết không ăn thêm một chiếc nào. Và thế là đến lượt tôi, rồi Mátchia muốn tự mình làm bánh kẹp. Bỏ bơ, đổ bột vào chảo không khó, chỉ có cái khoản hắt chảo để cho bánh nhảy lên thì chúng tôi vung tay quá. Tôi đưa một chiếc vào tro, còn Mátchia hắt một chiếc nóng bỏng lên tay nó.

Cuối cùng, khi đã vét hết chậu bột thì Mátchia muốn ra sân xem con bò ăn uống ra sao. Và thế là không nghe bàn tới bàn lui gì hết, nó đi ra, để má Bácbơranh và tôi ở lại với nhau: Nó đã nhận thấy má Bácbơranh không muốn nói đến "cái việc có quan hệ với tôi" ở trước mặt nó.

Còn tôi, chờ được đến lúc này, không phải là không nóng ruột, và đúng là cái việc làm bánh kẹp nó hấp dẫn quá nên tôi mới gác được chuyện kia.

Nếu lão Bácbơranh đang ở Pari thì, theo tôi đoán, là để tìm cụ Vitali đòi tiền thuê tôi những năm quá hạn. Tôi thì chẳng dính dáng gì vào chuyện ấy. Cụ Vitali chết rồi, còn trả được gì cho lão ta. Còn tôi thì lão đâu có quyển đòi gì ở tôi. Nhưng nếu không thể moi được tiền ở tôi thì lão có thể đòi tôi phải trả cái con người tôi cho lão. Tóm được tôi, lão lại đem cho mướn, ai mướn cũng được, miễn cứ trả cho lão một món tiền. Chính là tôi phải quan tâm đến điều đó và có thể phải quan tâm rất nhiều bởi vì tôi quyết tâm làm đủ mọi cách cho đến cùng mới chịu khuất phục uy quyền lão Bácbơranh ghê tởm! Nếu cần, tôi sẽ đi ra khỏi đất Pháp, tôi có thể sang Italia với Mátchia, mà cũng có thể sang châu Mỹ, đi đến tận cùng thế giới!

Suy nghĩ như thế tôi tự dặn mình phải thận trọng với má Bácbơranh. Không phải là tôi nghi ngờ má, má thân yêu. Tôi biết rằng má yêu quý tôi biết bao nhiêu, má hết lòng với tôi bao nhiêu! Nhưng má vốn sợ ông chồng, tôi đã rõ! Nếu tôi thổ lộ quá đà với má, tất vô tình má có thế nhắc lại với lão Bácbơranh, khiến lão có thể đuổi theo tôi và tóm cổ tôi. Nếu xảy ra như vậy thì rõ ràng là cũng vì tôi một phần! Bởi thế, tôi phải giữ ý.

Mátchia đi khỏi rồi, tôi hỏi má Bácbơranh:

Bây giờ chỉ còn má với con, má hãy cho con biết việc ông Bácbơranh đi Pari vì sao lại liên quan đến con?

Hẳn chứ, má vui lòng nói lắm.

Vui lòng nói? - Tôi thẳng thắn hỏi.

Má không nói tiếp mà ra cửa nhìn. Khi đã yên lòng, má trở lại và nụ cười trên môi, má hạ giọng:

Hình như gia đình con tìm con!

Gia đình con!

Ừ, gia đình con, Rêmi ạ.

Con có gia đình ư? Con có gia đình, má ơi, con, cái thằng bị bỏ rơi này mà cũng có gia đình?

Chắc người ta không cố ý bỏ con đâu, vì giờ đây người ta đi tìm con mà lị!

Ai tìm con? Ôi! Má Bácbơranh ơi! Má nói đi nói đi, con van má!..

Nhưng không, không có thể như thế. Chỉ có ông Bácbơranh ông ấy tìm con mà thôi.

Ừ, đúng là ông Bácbơranh đi tìm đấy, nhưng tìm cho gia đình con.

Không, ông ấy tìm cho ông ấy đấy, tìm để bắt con lại, để bán con lần nữa. Nhưng

Ông ta không bắt con được đâu.

Chao ôi! Rêmi con, sao con nỡ nghĩ là má nhúng tay vào công việc ấy?

Ông ta muốn đánh lừa má đấy!

Nào Rêmi, hãy tỏ ra biết điều đi con! Con nghe những điều má nói con đây và đừng có sợ bóng sợ gió như vậy.

Con đâu có quên được!

Con hãy nghe má kể những điều chính tai má nghe thấy đây và chắc con sẽ tin, phải không? Tính tới ngày thứ hai tới đây là vừa tròn một tháng, hôm ấy má đương lục đục trong bếp thì một ngài tử tế vào nhà, lúc đó có ông Bácbơranh ở nhà. Ông khách hỏi với giọng một người có lẽ không ở vùng ta: "Ông phải chăng là ông Bácbơranh? - Phải, chính tôi. - Có phải ông đã bắt được một đứa trẻ ở Pari, phố Brơtơi, và ông đã nhận nuôi nó? - Phải. - Thế bây giờ đứa bé ở đâu, mong ông cho biết. - Ngài cần biết để làm gì thưa ngài?".

Giá tôi có nghi má Bácbơranh nói rõ thì đến đây, nghe câu trả lời sốt sắng của lão

Bácbơranh, tất tôi cũng tỉnh ngộ rằng má nghe cái gì thì kể nguyên lại cái ấy. Má nói tiếp:

Con biết rằng ở trong bếp, có thể nghe hết những gì người ta nói với nhau ngoài nhà. Vả lại vì là việc của con nên má muốn lắng tai nghe. Lúc bấy giờ, má nhích lại gần và giẫm phải một cành củi làm nó gãy rắc. Ông khách hỏi: "Thế không phải chỉ có hai ta? - Đó là vợ tôi.

Ở đây bức quá! Nếu ông vui lòng thì chúng ta đi chơi để nói chuyện". Cả hai ông đi ra và đến ba bốn tiếng đồng hồ sau, ông Bácbơranh mới trở về một mình. Con tưởng tượng xem má tò mò muốn biết đến thế nào câu chuyện ông Bácbơranh và cái ngài, có lẽ là bố con đã nói với nhau. Nhưng ông Bácbơranh không chịu nói hết. Ông chỉ bảo ông kia không phải là bố con, nhưng ông ta tìm con vì gia đình con.

Thế gia đình con ở đâu? Nó thế nào? Con có bố không? Có mẹ không?

Cũng như con, má hỏi ông Bácbơranh những điều đó. Ông ấy bảo ông không biết gì sất. Rồi ông nói tiếp là ông sẽ đi Pari để tìm cái ông nghệ sĩ đã mướn con, ông này để địa chỉ

Phố Luốcxin, tại nhà một nghệ sĩ khác tên là Garôphôli. Má nhớ rõ cái tên ấy, con cũng phải nhớ lấy!

Con đã biết, má cứ yên lòng. Từ ngày ra đi đến nay, ông Bácbơranh không tin cho má biết gì thêm nữa sao?

Không, chắc là ông ấy còn đang tìm. Ông khách đã cho ông ấy năm đồng Lui vàng, tức là một trăm phờrăng. Món tiền đó, cùng với những tã xinh đẹp đùm bọc con lúc bắt

Được con, chứng tỏ cha mẹ con giàu sang. Khi má thấy con ngồi ở chỗ kia, bên cạnh bệ sưởi, má ngỡ rằng con đã gặp cha mẹ, vì thế mà tưởng chú bạn của con đây là em con.

Vừa lúc ấy, Mátchia đi qua trước cửa, tôi gọi nó:

Mátchia! Bố mẹ tao đi tìm tao. Tao có gia đình, một gia đình thực sự, mày ạ!

Nhưng, lạ chưa! Mátchia không có vẻ gì tỏ ra chia nỗi vui sướng về niềm phấn khởi của tôi cả. Bởi vậy, tôi thuật cho nó nghe câu chuyện má Bácbơranh đã kể với tôi.
 
15,989 ❤︎ Bài viết: 1929 Tìm chủ đề
Chương 31: Gia đình cũ và gia đình mới

Đêm hôm ấy tôi ngủ ít. Vậy mà trong những năm gần đây, biết bao lần tôi đã sướng rơn lên mỗi khi nghĩ tới được ngủ trên cái giường hồi nhỏ của mình. Trước kia tôi đã được nằm trên đó bao nhiêu tối, nép vào một góc, đánh một giấc dài đến sáng, chăn phủ tận cằm. Và cũng đã biết bao phen bắt buộc phải ngủ ngoài trời. Mà than ôi! Có phải lúc nào trời cũng tốt đâu. Biết bao phen co quắp vì rét cóng ban đêm hoặc lạnh buốt trong sương sớm, tôi đã nhớ tiếc tấm chăn ấm áp ấy!

Đặt lưng xuống, tôi ngủ ngay, thấm mệt sau ngày đi đường và cả sau cái đêm trong nhà giam nữa! Nhưng chẳng mấy chốc tôi đã thức giấc và thế là chong mắt suốt sáng: Tôi bồn chồn quá, tôi nôn nóng quá. Ôi! Gia đình tôi!

Trong giấc ngủ, tôi cũng nghĩ đến cái gia đình ấy của tôi. Khoảnh khắc ngắn được yên giấc, tôi đã nằm mơ thấy gia đình, bố mẹ, anh chị em. Vẻn vẹn mấy phút đồng hồ, tôi đã thấy mình cùng sống với những người mình chưa từng biết, bây giờ mới gặp lần đầu. Một điều lạ, Mátchia, Lidơ, má Bácbơranh, bà Miligơn, Áctơ, đều là trong gia đình tôi, mà bố tôi là cụ Vitali, cụ đã sống lại và rất giàu có. Trong thời gian xa cách, cụ đã tìm thấy con Décbinô và con Đônxơ, chứ không phải chúng đã vào miệng sói. Tôi nghĩ rằng chẳng ai lại không có lần thấy những ảo ảnh qua đó chỉ trong khoảnh khắc mình đã sống hàng năm trời và đi hàng vạn dặm. Ai ai cũng nhận thấy rằng sau khi tỉnh dậy, những cảm giác trong giấc mơ vẫn được giữ mãnh liệt và nồng nàn. Tôi tỉnh giấc.. Và thế là tôi không ngủ lại được nữa. Rồi những cảm giác của ảo ảnh cũng mờ nhạt dần; thực tại lại xâm chiếm tâm trí tôi và khiến tôi càng khắc khoải thao thức.

Gia đình tôi tìm tôi. Nhưng muốn gặp gia đình, tôi phải tìm tới chính cái lão Bácbơranh mà hỏi! Chỉ một ý nghĩ đó cũng đủ giảm niềm vui của tôi. Tôi thì cứ muốn rằng lão Bácbơranh đừng có can dự vào hạnh phúc của tôi. Tôi có bao giờ quên những lời lão bảo cụ Vitali khi lão bán đứng tôi cho cụ. Và tôi luôn luôn nhắc lại cho mình cái câu: "Những kẻ nào nuôi thằng bé này nhất định được hưởng một món bổng lớn. Nếu tôi không tính toán điều đó thì dại gì giữ lấy nó". Điều đó, từ dạo ấy, đã làm cho tôi thêm ghét lão Bácbơranh.

Đâu có phải vì từ tâm mà lão Bácbơranh đã nhặt tôi ngoài đường phố. Cũng lại không phải vì từ tâm mà lão nhận nuôi tôi, mà đơn giản chỉ vì tôi được bọc trong những tấm tã đẹp, chỉ vì một ngày nào đó lão sẽ được hưởng lợi khi lão trả tôi cho bố mẹ tôi. Cái ngày ấy lại không đến sớm như lão mong, lão bèn bán tôi cho cụ Vitali. Bây giờ lão lại muốn đem tôi cho bố tôi chuộc. Vợ chồng sao khác nhau đến thế! Má Bácbơranh đâu phải vì tiền của mà yêu quý tôi! Ôi! Tôi chỉ muốn tìm được cách nào để chính má, chứ không phải lão Bácbơranh, được hưởng lợi!

Nhưng trăn trở mãi vẫn chẳng nghĩ ra được cách nào, tôi cứ luôn luôn luẩn quẩn với cái ý nghĩ tuyệt vọng là rồi đây chính cái lão Bácbơranh ấy sẽ dẫn tôi đến với bố mẹ tôi, chính lão ta sẽ được cảm ơn, tặng thưởng! Nhưng cũng đành phải qua con đường ấy thôi! Chẳng còn cách nào khác! Chỉ còn là ở chính tôi, sau này, khi đã giàu có, tôi sẽ tỏ rõ tình cảm của mình đối với người vợ và người chồng đó khác nhau như thế nào. Rồi đây chính tôi sẽ đích thân trả ơn má Bácbơranh.

Giờ đây thì tôi cứ phải nghĩ đến lão Bácbơranh, nghĩa là phải đi tìm lão và kiếm cho ra lão! Lão không thuộc vào loại những ông chồng mỗi bước ra khỏi nhà cũng nói cho vợ biết mình đi đâu và nếu cần có thể tìm ở đâu. Má Bácbơranh chỉ biết là chồng bà hiện nay đang ở Pari. Từ ngày lão ra đi, lão chưa hề gửi một chữ, cũng chưa hề nhắn nhủ gì qua một vài người thợ nề quay về làng. Lão đâu có quen giữ nghĩa tình như thế!

Lão ở đâu! Lão trú ngụ nơi nào? Má chẳng biết chút gì để có thể gửi thư cho lão. Tuy nhiên cũng chỉ cần tìm đến vài ba quán trọ ở khu phố Mutơpha mà má nhớ rõ tên, không quán này thì quán kia, là có thể gặp được lão.

Vậy thì tôi phải đi ngay Pari và tự tôi tìm lấy con người đương đi tìm tôi. Tất nhiên gia đình quả là một niềm vui lớn, nhưng trong những điều kiện và hoàn cảnh mà nó đến với tôi, niềm vui ấy đâu đã trọn vẹn.

Tưởng rằng chúng tôi sẽ được sống một thời gian yên tĩnh vui sướng bên cạnh má Bácbơranh, cùng Mátchia chơi những trò chơi hồi thơ ấu, thế mà ngay sáng mai, chúng tôi đã phải lên đường!

Từ nhà má Bácbơranh, đáng ra tôi đi về phía bờ biển, tới Étnăngxơ thăm chị Êchiênnét. Bây giờ đành hoãn chuyến đi ấy và không còn được ôm hôn chị Êchiênnét tội nghiệp trước kia tốt với tôi và trìu mến tôi biết bao!

Và lẽ ra sau khi gặp chị Êchiênnét, tôi phải đến Đrơdy, trong vùng Nievơrơ, để nói cho Lidơ biết tin anh và chị của em rồi. Bây giờ cũng đành hoãn việc đến Lidơ cũng như hoãn việc đến thăm chị Êchiênnét.

Tôi thao thức gần suốt đêm, loay hoay với tất cả những ý nghĩ trên, lúc thì lòng tự nhủ không thể mặc kệ chị Êchiênnét và em Lidơ, lúc trái lại nghĩ rằng mình phải đi gấp đến Pari, càng sớm càng tốt, để tìm gia đình. Cuối cùng thì tôi ngủ thiếp đi, chẳng dứt khoát được gì.

Cái đêm ấy, lẽ ra là một đêm sướng nhất, thì lại là một đêm trằn trọc nhất, kém vui nhất trong hồi ức của mình.

Sáng hôm sau, cả ba chúng tôi, má Bácbơranh, Mátchia và tôi, ngồi bàn công việc bên lò sưởi quanh ngọn lửa trong sáng trên đó chúng tôi hâm sữa bò. Tôi phải làm thế nào bây giờ đây? Thế là tôi kể lại những nỗi thấp thỏm, những niềm băn khoăn tối hôm qua.

Má Bácbơranh nói:

Con phải đi Pari ngay. Cha mẹ con đang tìm con. Con đừng nên bắt người ta nay chờ mai đợi, phải mau mang niềm vui về cho cha mẹ con.

Má trở đi trở lại với ý kiến ấy, đưa ra nhiều lý lẽ để bênh vực nó. Nghe má giải thích, tôi thấy lý lẽ nào cũng xác đáng như lý lẽ nào. Tôi nói:

Thế thì chúng con đi Pari, đồng ý như vậy.

Nhưng mà ngược lại Mátchia không tán thành cách giải quyết đó tí nào cả. Tôi bảonó:

Cậu cho là chúng mình không nên đi Pari, thế sao cậu không đưa ra lý lẽ, như má Bácbơranh?

Nó lắc đầu. Tôi tiếp:

Cậu thấy mình khổ tâm thế này thì còn do dự gì nữa mà không giúp đỡ mình?

Mình nhận thấy rằng có mới nới cũ là không nên. Cho tới nay, gia đình của cậu là Lidơ, Êchiênnét, Alơxi và Bănggiamanh. Chúng nó đều là anh chị em của cậu và yêu thương cậu. Thế rồi một gia đình mà cậu chưa biết bao giờ, một gia đình mới xuất hiện. Gia đình đó chưa làm được cái gì cho cậu, trừ cái việc vứt bỏ cậu ngoài đường phố. Thế mà đột nhiên cậu lại bỏ những người đã ăn ở tốt với cậu để chạy theo những người chưa có vẻ gì là tốt với cậu cả. Mình thấy như vậy không công bằng!

Không nên nói rằng bố mẹ Rêmi đã bỏ nói. - Má Bácbơranh ngắt lời Mátchia. - Có lẽ người ta đã bắt mất con của họ, họ vẫn thương nhớ nó, chờ đợi nó và tìm kiếm nó lâu nay thì đúng hơn.

Cháu không biết cái đó! Cháu chỉ biết rằng ông Acanh đã nhặt được Rêmi ngắc ngoải ở xó cửa nhà ông. Rồi ông đã chăm nom nó như con đẻ. Và Alơxi, Bănggiamanh, Êchiênnét, Lidơ đã thương yêu nó như anh em ruột thịt. Cháu cho rằng những người đón nó về nuôi cũng có quyền được nó quyến luyến như những người dù hữu ý hay vô tình đã để mất nó. Ở ông Acanh và các con ông, tình quyến cố là do tự lòng họ. Họ chẳng hề chịu ơn gì của Rêmi cả.

Mátchia nói những câu ấy mà không nhìn tôi, không nhìn má Bácbơranh, như có vẻ giận tôi. Tôi khổ tâm. Nhưng dù có buồn lòng vì chê trách đi nữa, tôi vẫn cảm thấy lý lẽ của nó vững chắc. Vả lại, tôi đang ở vào tình trạng những người thiếu quyết đoán, thường ngả về phía ai nói sau cùng. Tôi đáp:

Mátchia nói phải đấy! Chưa gặp được chị Êchiênnét và Lidơ mà đã định đi Pari thì lòng con không khỏi áy náy.

Thế còn bố mẹ con! - Má Bácbơranh năn nỉ.

Chúng ta sẽ không đến thăm chị Êchiênnét, vì đường vòng như thế xa quá! Vả lại chị Êchiênnét biết đọc và biết viết, chúng ta có thể viết thư cho chị ấy. Nhưng trước khi đi Pari chúng ta sẽ tạt qua Đrơdy thăm Lidơ. Như thế sẽ chậm đi một chút ít, nhưng không là bao. Vả lại em Lidơ không biết viết và chính là vì em trước hết mà hồi nọ mình đã vạch hành trình này. Mình sẽ nói chuyện Alơxi với em. Còn chị Êchiênnét thì mình sẽ bảo chị gửi thư về Đrơdy cho mình. Nhận được thư, mình sẽ đọc cho Lidơ nghe.

Tốt lắm. - Mátchia mỉm cười đáp lại.

Chúng tôi quyết định sáng ngày mai sẽ lên đường và tôi đã dành gần một buổi trọn viết thư dài cho chị Êchiênnét nói rõ vì sao không thể đến thăm chị như đã dự định.

Và hôm sau, lại một lần nữa tôi phải chịu đựng những nỗi buồn của buổi chia ly. Tuy nhiên, lần này tôi không từ giã Savanông như lần trước, hồi đi theo cụ Vitali. Tôi được ôm hôn má Bácbơranh đàng hoàng và hẹn sẽ trở lại thăm má cùng với bố mẹ tôi..

Chúng tôi cũng phải từ giã cả con bò cái đáng yêu. Mátchia ôm cổ nó, hôn vào cái mõm nó đến mươi lần chứ không ít. Có lẽ con bò thích lắm: Mỗi lần được hôn, nó lại thè cái lưỡi dài của nó ra.

Thế là chúng tôi lại ra đi trên con đường vạn dặm, lưng đeo xắc, con Capi chạy trước lơn tơn. Chúng tôi rảo bước thật nhanh, hay nói cho đúng thì riêng tôi nhiều khi sải những bước dài, không nghĩ rằng chính vì mình quá mong muốn chóng tới Pari. Theo tôi được một lúc, Mátchia bảo nếu cứ đà ấy thì chẳng mấy chốc sẽ kiệt sức. Tôi bèn đi chậm lại. Nhưng chẳng bao lâu chân tôi lại thoăn thoắt bước dồn.

Sao cậu vội thế?

Đúng đấy! Đáng lẽ ra cậu cũng phải vội lên chứ, vì gia đình mình cũng là gia đình cậu thôi!

Nó lắc đầu. Tôi tủi thân và buồn rầu trước cái cử chỉ ấy mà tôi đã nhận thấy nhiều lần từ khi nói đến gia đình tôi.

Thế chúng mình không phải là anh em ruột thịt sao?

Ồ, giữa chúng mình với nhau thì nhất định là thế rồi! Mình không nghi ngờ gì cậu hết! Mình là anh em ruột của cậu ngày hôm nay cũng như ngày mai. Điều đó mình tin, mình cảm thấy rõ.

Thế thì còn gì nữa?

Này nhé, tại sao cậu lại muốn tớ là anh em với anh em của cậu, nếu cậu có anh em? Tại sao cậu muốn tớ cũng là con của bố mẹ cậu?

Giả sử chúng ta về Lúcca thì tớ chẳng phải là anh của Cơrítxtina, em gái của cậu haysao?

Ồ, cái đó thì hẳn rồi.

Vậy sao cậu lại không có thể là anh em của những anh chị em của tớ, nếu tớ có anh

Chị em?

Vì sự việc không giống nhau! Nhất định không phải như nhau!

Không phải như nhau ở chỗ nào?

Tớ không được bọc trong những chiếc tã sang trọng!

Cái đó có làm sao!

Làm sao lắm chứ! Nó quyết định tất cả, cậu cũng hiểu như tớ thôi! Bây giờ thì tớ dám chắc không bao giờ cậu đến Lúcca, nhưng giá lúc này mà cậu đến đó thì cậu sẽ được bố mẹ tớ là dân nghèo đón tiếp. Bố mẹ tớ sẽ không có điều gì phiền trách cậu vì bố mẹ tớ có lẽ còn nghèo hơn cậu. Nhưng nếu những chiếc tã sang trọng nói đúng, như má Bácbơranh nghĩ và chắc hẳn là thế, thì bố mẹ cậu là người giàu có, có lẽ là người quyền quý cũng nên! Đã thế thì làm sao họ rước một đứa trẻ khống khổ như tớ được!

Thế bản thân tớ là gì nếu chẳng phải là một thằng khốn khổ?

Bây giờ thì thế, nhưng mai đây cậu sẽ là con của bố mẹ cậu! Còn tớ mãi mãi vẫn chỉ là thằng khốn khổ như ngày hôm nay thôi! Bố mẹ cậu sẽ cho cậu đi học, sẽ tìm thầy cho cậu. Còn tớ thì chỉ còn biết một mình một bóng lủi thủi trên đường và nhớ tới cậu cũng như cậu sẽ không quên tớ, tớ mong thế!

Chao ôi! Mátchia thương mến ơi, sao cậu lại nói như vậy được nhỉ?

Tớ nghĩ sao nói vậy, anh bạn ạ! Do đó tớ không thể vui trọn vẹn với niềm vui của cậu được. Vì thế này và cũng chỉ thế này mà thôi, là chúng mình sắp phải xa lìa nhau, mà tớ thì trước đây tớ cứ nghĩ, cứ hình dung, hơn nữa, cứ mơ thấy rằng chúng mình luôn luôn ở bên nhau, bao giờ cũng như bao giờ. Ồ! Không phải trong tình cảnh như hiện nay là những nhạc sĩ đầu đường xó chợ đâu, mà hai đứa mình sẽ cùng học tập, sẽ trở thành những nghệ sĩ thực sự, biểu diễn trược một công chúng đàng hoàng, không bao giờ phải rời nhau.

Việc đó sẽ thực hiện được, Mátchia ạ! Nếu bố mẹ tớ giàu thì bố mẹ sẽ giàu cả cho cậu cũng như cho tớ. Bố mẹ tớ sẽ cho tớ vào trường trung học thì cậu sẽ đi với tớ. Chúng ta sẽ không xa rời nhau, chúng ta cùng học với nhau; chúng ta sẽ cùng sống với nhau như cậu mong muốn, mong muốn tha thiết không kém cậu, cậu nên tin thế!

Tớ biết cậu mong muốn thế, nhưng lúc đó cậu sẽ không quyết định được công việc của cậu như bây giờ!

Này hãy nghe tớ nói đây: Bố mẹ tớ tìm kiếm tớ có nghĩa là bố mẹ tớ quan tâm đến tớ, có phải không? Như thế là bố mẹ tớ sẽ thương yêu tớ hoặc rồi sẽ thương yêu tớ. Đã thương yêu tớ thì tất không từ chối những điều tớ xin, và sẽ làm cho những người ăn ở tốt với tớ được sung sướng, những người đã thương yêu tớ khi tớ bơ vơ trên đường đời, như má Bácbơranh, ông Acanh chúng ta sẽ lo liệu cho ông ra khỏi nhà lao - mẹ tớ sẽ đem Lidơ về, cho đi học, chữa khỏi bệnh. Còn cậu, cậu sẽ vào trường trung học với tớ, nếu bố mẹ tớcho tớ vào đấy học. Mọi việc sẽ diễn ra như thế đấy nếu bố mẹ giàu có. Cậu nên hiểu là vì cả hai đứa chúng mình mà tớ sẽ rất vui sướng nếu được bố mẹ giàu sang.

Còn tờ thì tớ rất vui mừng nếu bố mẹ cậu nghèo!

Cậu ngốc lắm!

Có lẽ thế!

Không nói gì thêm nữa, Mátchia gọi Capi. Đã đến giờ chúng tôi nghỉ chân để ăn sáng.

Nó ôm con chó và nói như nói với một người có thể hiểu nó và trả lời nó:

Này bạn Capi ơi, có phải là bạn cũng mong cho bố mẹ Rêmi nghèo, phải không? Nghe thấy tên tôi, như thường lệ, con Capi sủa mấy tiếng vui vẻ và đặt chân lên ngực.

Với bố mẹ nghèo thì cả ba chúng ta lại tiếp tục tự do, muốn đi đâu thì đi. Chẳng có mối lo âu gì khác ngoài việc làm hài lòng "chư vị khán giả".

Gâu, gâu!

Với bố mẹ giàu thì ngược lại, Capi sẽ bị xua đuổi ra khỏi sân, ở cũi, có lẽ còn bị xích nữa. Xích rất đẹp bằng thép, những vẫn là xích, vì chó không được vào trong các phòng lịch sự.

Tôi cả giận Mátchia chút ít vì nó đã mong cho bố mẹ tôi nghèo, nó không tán thành cái điều mơ ước mà má Bácbơranh đã khêu gợi cho tôi và tôi đã hứng lấy vội vàng, quá trọn vẹn. Nhưng mặt khác, tôi sung sướng nhận ra và hiểu rõ cái điều đã làm cho nó buồn: Vì tình bạn bè, vì sợ phải xa cách, chỉ có thế thôi.

Giá không cần phải kiếm ăn hàng ngày thì dù có trái với ý muốn của Mátchia, tôi vẫn tiếp tục đi mau. Nhưng phải biểu diễn ở những làng lớn trên đường đi để có cái ăn! Trong khi chờ đợi những người cha mẹ giàu sang chia của cho thì hãy bằng lòng với những đồng xu nhỏ cóp nhặt đây đó tùy may rủi! Bởi thế, chúng tôi đã mất nhiều thì giờ hơn là tôi mong muốn, để đi từ sông Crơdơ đến sông Nievơrơ, tức là từ Savanông đến Đơrơdy.

Vả chăng, ngoài cái ăn ra, còn có một lý do khác bắt buộc chúng tôi phải kiếm được càng nhiều tiền càng tốt. Tôi không quên lời má Bácbơranh, khi má đinh ninh rằng sau này giàu sang tôi có đem bao nhiêu của cải làm cho má sung sướng cho bằng cái việc tôi làm vừa qua, trong cảnh nghèo nàn. Tôi muốn em Lidơ cũng được vui lòng như má Bácbơranh vậy. Chắc chắn là tôi sẽ chia cảnh giàu sang với Lidơ, điều đó không nghi ngờ gì nữa. Nhưng trước khi giàu sang, tôi muốn biếu Lidơ một món quà bằng tiền tôi làm ra, một món quà của bạn nghèo.

Tôi đã mua một con búp bê và một bộ đồ làm bếp. May sao những thứ này không tốn nhiều tiền quà như con bò sữa biếu má Bácbơranh.

Từ Đơxidơ đến Đơrơdy, chỉ còn việc rảo chân bước mà thôi. Và chúng tôi đã rảo chân bước, bởi vì, trừ thị trấn Satiông, chúng tôi chỉ có đi qua những thôn xóm nghèo, ở đó người dân quê không thể bớt miệng để chiếu cố tới những nhạc công không cần để ý tới.

Từ Satiông, chúng tôi đi dọc kênh đào. Bờ cây xanh tốt, dòng nước lững lờ, những chiếc tam bản có ngựa kéo từ từ lướt nhẹ trên mặt nước. Tất cả những cái đó gợi lại cho tôi cái thời sung sướng hồi xưa, khi cùng bà Miligơn và Áctơ trên chiếc thuyền Thiên Nga, tôi cũng đã dạo trên một con kênh như vậy. Thuyền Thiên Nga hiện nay ở đâu? Biết bao lần, mỗi khi đi qua hoặc đi dọc một con kênh, tôi đều hỏi thăm xem có ai gặp một chiếc du thuyền có cái mái hiên đặc biệt, do sự sắp xếp rất lịch sự của nó, không thể nhầm với bất cứ chiếc thuyền nào khác. Rất có thể bà Miligơn đã trở về nước Anh cùng với chú bé Áctơ đã khỏi bệnh. Đó là điều chắc chắn, điều đó đáng tin cậy hơn cả, vậy mà vẫn cứ mỗi lần, mentheo bờ kênh Nievơrơ này, hễ thấy từ xa thấp thoáng bóng một con thuyền có ngựa kéo, tôi lại lòng hỏi phải chăng là thuyền Thiên Nga đương tiến về phía chúng tôi.

Trời đương tiết thu, ngày đi đường của chúng tôi không đến nỗi dài lắm như về hè. Chúng tôi thường tính toán để kịp đến những xóm làng có chỗ ăn chỗ ngủ trước khi trời tối hẳn. Tuy thế, và mặc dù chúng tôi rảo bước đi gấp, nhất là vào cuối độ đường, khi chúng tôi đến Đrơdy thì trời đã tối mịt.

Để đến nhà bà cô của Lidơ, chúng tôi chỉ việc đi theo con sông đào. Vì ông chồng cô Catơrin làm nghề coi cống nên ông ở nếp nhà ngay cạnh cống. Như vậy chúng tôi không phải mất thì giờ tìm kiếm. Chẳng mấy chốc, chúng tôi đã tìm thấy nếp nhà ấy ở cuối làng, giữa cánh đồng cỏ có những cây cao, đứng xa trông lơ lửng trong sương mù. Đi đến gần nhà thì tim tôi đập mạnh. Ngọn lửa rực trong lò sưởi soi sáng cái cửa sổ và thỉnh thoảng lại bùng lên, ném từng mảnh ánh hồng ra ngoài, chiếu sáng đường đi.

Đến sát ngôi nhà thì thấy cửa ra vào và cửa sổ đều đóng. Nhưng qua khung cửa sổ không có cánh gỗ, cũng không có rèm, tôi nhìn thấy Lidơ ngồi bên bàn ăn, bên cạnh cô em. Trước mặt em một người đàn ông, chắc là chú em, ngồi quay lưng lại phía chúng tôi. Mátchia nói:

Người ta ăn bữa tối, mình đến đúng lúc quá!

Tôi không nói, chỉ lấy tay cản nó, còn tay kia thì khoát bảo Capi đứng im lặng đằng sau chúng tôi. Rồi tôi cởi cây thụ cầm ra, sửa soạn đánh. Mátchia thầm thì:

Ừ, ừ! Một bản dạ tấu, ý kiến hay đấy!

Không mày đừng! Để mình tao!

Thế rồi tôi bật lên những nốt đầu tiên của bài dân ca vùng Naplơ, nhưng không hát, để cho khỏi lộ. Tôi vừa đánh đàn vừa nhìn Lidơ. Nghe đàn, Lidơ ngẩng phắt đầu lên, mắt em sáng quắc. Tôi cất tiếng hát.

Tức thời Lidơ từ ghế nhảy xuống và chạy bổ ra cửa. Tôi vừa kịp trao cây đàn cho Mátchia thì Lidơ đã nằm gọn trong tay tôi.

Vợ chồng cô Catơrin đón chúng tôi vào nhà. Cô ôm hôn tôi rồi đặt hai bộ thìa dĩa lên bàn. Tôi yêu cầu cô sửa soạn thêm một bộ nữa:

- Nếu cô cho phép thì còn một cô bạn gái nhỏ cùng đi với chúng cháu..

Nói xong tôi mở xắc lấy con búp bê ra, đặt ngồi trên chiếc ghế cạnh ghế Lidơ. Lidơ đưa mắt nhìn tôi, cái nhìn lúc ấy, tôi không bao giờ quên và bây giờ vẫn còn trông thấy.
 
15,989 ❤︎ Bài viết: 1929 Tìm chủ đề
Chương 32: Lão Bácbơranh

Nếu tôi không vội đi Pari thì tôi đã ở lại lâu, thật lâu với Lidơ rồi. Chúng tôi có bao nhiêu chuyện để nói với nhau nhưng cái ngôn ngữ chúng tôi dùng thì quả là nói với nhau được quá ít.

Lidơ cần kể cho tôi nghe chuyện em về ở Đơrơdy và về sự trìu mến của cô em và chú em; cô em đã sinh đẻ năm bận và bây giờ chẳng còn được mụn con nào. Đó là cái nạn chung của các gia đình tỉnh Nievơrơ; ở đó người mẹ phải bỏ con mình lại nhà để lên Pari ở vú, và tả cách em ăn ở trong nhà với công việc của em, trò chơi và thú vui của em. Chỉ những đi câu cá, bơi thuyền và chạy nhởn trong rừng mà hết thì giờ, vì em không đi học được.

Về phần tôi, tôi cần hỏi em có tin tức gì của bố không và tôi phải kể cho em nghe những gì xảy đến cho tôi từ lúc chia tay nhau. Tôi kể chuyện tôi suýt chết trong hầm mỏ chỗ

Alơxi làm việc, chuyện khi về nhà tìm mẹ nuôi thì nghe nói gia đình đang tìm tôi và vì thế mà tôi không đi thăm chị Êchiênnét được như mong muốn.

Dĩ nhiên là tôi nói nhiều hơn hết về gia đình tôi, cái gia đình giàu sang của tôi. Tôi nhắc lại với Lidơ những điều tôi đã nói với Mátchia, nhấn mạnh về cái triển vọng giàu sang của tôi: Cái triển vọng ấy mà thực hiện thì mọi người sẽ sung sướng, bố em, các anh em và em - nhất là em - sẽ được sung sướng.

Lidơ đâu đã được sớm từng trải việc đời như Mátchia, và cũng là may mắn cho em, cũng không xuất thân từ cái trường học Garôphôli. Em rất sẵn sàng tin rằng những kẻ giàu sang thì chỉ có mỗi việc là sống sung sướng, và tiền bạc là một lá bùa, giống như trong truyện thần tiên, có phép làm ngay ra những gì người ta ao ước. Chẳng phải là vì nghèo thiếu mà bố em đã phải nằm ở nhà giam và gia đình em đã tan tác đó sao! Dù tôi giàu hay em giàu, điều đó có quan hệ gì! Cuối cùng thì cũng như nhau thôi! Tất cả chúng ta sẽ được sung sướng, và em cũng chỉ mong muốn như vậy! Mọi người đoàn tụ, tất cả sung sướng.

Ngoài những buổi chuyện trò trên cống, giữa tiếng nước chảy xiết qua các cửa tháo nước, ba chúng tôi Lidơ, Mátchia và tôi còn đi dạo chơi đây đó. Nói cho đúng thì năm chứ không phải ba vì ông Capi và cô búp bê lúc nào cũng có mặt.

Chu du nước Pháp mấy năm trời với cụ Vitali và mấy tháng gần đây với Mátchia, tôi đã đặt chân đến nhiều quê xa cảnh lạ, nhưng tôi chưa hề trông thấy cảnh vật nào lạ mắt như cảnh vật đang bày ra trước mắt chúng tôi. Những cánh rừng bao la, những đồng cỏ xanh rợn chân trời, rồi những núi đá, những đồi, những hang động, những thác tung bọc, những đầm nước phẳng lỳ và, trong thung lũng chật hẹp, con sông đào uốn lượn chảy đi êm ả giữa hai dãy đồi dựng dốc. Thật là đẹp đẽ. Chỉ có tiếng nước chảy rì rầm, tiếng chim hót và tiếng gió than vãn trên cành lá. Thực ra thì mấy năm trước đây, tôi cũng cho thung lũng sông Nievơrơ là đẹp. Kể ra cũng không nên tin tôi một cách máy móc. Tôi chỉ muốn nói rằng ở đâu mà có Lidơ cùng đi với tôi, cùng nô đùa với tôi thì ở đó có những nét đẹp, những vẻ quyến rũ mà tôi không nhận thấy ở nơi khác, dù những nơi này có được thiên nhiên tô vẽ hơn nhiều.

Tối đến, nếu trời khô ráo thì chúng tôi ngồi trước nhà, hoặc bên lò sưởi nếu sa mù dày đặc, và tôi gảy thụ cầm cho Lidơ nghe. Em thích thú lắm. Mátchia cũng kéo vĩ cầm hoặc thổi kèn đẩy. Nhưng Lidơ ưa thụ cầm hơn, điều này làm tôi đắc ý không phải là ít. Trước khi chia tay đi ngủ, Lidơ đòi nghe dân ca vùng Naplơ, và tôi hát cho em nghe.

Nhưng, dù sao tôi cũng phải từ giã Lidơ và phong cảnh nơi này để lên giường. Cảnh biệt ly đối với tôi lần này không đến nỗi buồn quá. Luôn luôn say sưa với mộng giàu sang, tôi hầu như không còn tin là mình sẽ giàu mà cứ tưởng rằng mình đã giàu rồi, ước gì được nấy, không nay thì mai là có thể giàu ngay tức khắc.

Câu nói cuối cùng của tôi với Lidơ trước khi chia tay, hơn là nghìn lời giải thích, chứng tỏ tôi thật thà sống trong ảo mộng. Tôi nói:

Anh sẽ đến đón em trên cỗ xe tứ mã!

Và Lidơ tin tôi đến nỗi em vẫy tay ra hiệu vung roi quất ngựa. Chắc hẳn em trông thấy cỗ xe, cũng như tôi vậy.

Tuy nhiên, trước khi xe tứ mã từ Pari đi Đrơdy thì phải lết bộ từ Đrơdy đến Pari cái đã. Nếu không có Mátchia thì tôi chỉ có mỗi một mối lo là vượt đường cho mau tới, ngoài ra, kiếm đủ bữa thì thôi. Bây giờ thì cần gì phải vất vả nữa! Bò mua rồi, búp bê cũng sắm rồi, miễn kiếm ăn qua ngày là được chứ bố mẹ tôi cần gì tôi mang của về! Nhưng, những lý lẽ tôi đưa ra chẳng lay chuyển được Mátchia tí nào. Nó bắt tôi cứ phải đánh thụ cầm và nói:

Kiếm được chừng nào thì hãy cứ kiếm! Chắc đâu ta đã tìm thấy lão Bácbơranhngay!

Trưa không tìm thấy thì xế chiều cũng tìm thấy! Phố Muphơta có phải là vô tận đâu!

Thế ngộ lão không ở phố Muphơta nữa?

Thì ta đến chỗ ở mới của lão!

Ngộ nhỡ lão trở về Savanông thì sao? Tất phải viết thư cho lão và chờ lão trả lời.

Trong lúc đó thì chúng ta lấy gì mà ăn nếu không có đồng nào trong túi? Đúng là cậu chưa hiểu biết Pari.

Đến nhà bố mẹ tới rồi thì chúng mình sẽ ăn tối tươi hơn.

Không phải mình không màng ăn tối khi đã ăn sáng đủ. Nhưng khi không ăn sáng và cũng không được ăn tối thì mình không chịu được, mình không thích thế. Thôi hãy cứ làm việc đi, y như là phải mua một con bò sữa cho bố mẹ cậu.

Ý kiến của Mátchia khôn ngoan đáo để! Tuy vậy, phải thú nhận rằng tôi vẫn không ca hát nhiệt tình như khi cần nhặt nhạnh từng xu để mua bò cho má Bácbơranh hay búp bê cho Lidơ. Mátchia than thở: "Sau này giàu sang thì mày lười phải biết!".

Đến Coócbây thì chúng tôi gặp lại con đường mà chúng tôi đã đi sáu tháng trước, khi từ Pari chúng tôi cất bước về Savanông. Chúng tôi vào cái nông trang mà gánh chúng tôi đã diễn buổi hợp tấu đầu tiên cho khách dự lễ cưới khiêu vũ. Đôi vợ chồng mới cưới nhận ra chúng tôi và yêu cầu chúng tôi đánh đàn cho họ khiêu vũ lần nữa. Họ mời chúng tôi ăn tối và cho ngủ lại. Sáng hôm sau, chúng tôi khởi hành từ đó để trở về Pari. Tính ra, kể từ khi ở Pari ra đi cho đến nay vừa đúng sáu tháng mười bốn ngày.

Nhưng ngày trở về chẳng giống ngày ra đi tí nào. Trời hôm nay u ám và lạnh ngắt. Trên cao không có mặt trời, hai bên lề đường không hoa, không lá. Mặt trời mùa hạ đã làm xong nhiệm vụ và sương mù mùa thu bắt đầu kéo về; từ trên chóp tường hoa đinh hương không rơi lên đầu chúng tôi nữa, chỉ có lá khô trên cây úa vàng lìa cành rụng xuống. Nhưng có hề gì cái cảnh đất trời ảm đạm! Chúng tôi có một niềm vui sướng bên trong không cần ngoại cảnh kích thích. Nói chúng tôi thì không đúng, thật ra chỉ có mỗi mình tôi là có sự hoan hỉ trong lòng. Nghĩ đến cảnh được ngã vào lòng một bà mẹ, đích là mẹ đẻ của mình, và một ông cha gọi mình bằng con, tôi sung sướng đến phát sốt lên.

Về phần Mátchia, thì càng tiến gần đến Pari, nó càng có vẻ âu sầu, nhiều khi lùi lũi đi hàng giờ không hé răng nói nửa tiếng. Nó không nói vì sao nó buồn, cho nên tôi cứ ngỡ là vì nó sợ phải xa nhau. Bởi thế, tôi không muốn nhắc lại lần nữa cái điều mà tôi đã nhiều lần giải thích, nghĩa là cha mẹ tôi không thể nào có ý định chia rẽ hai đứa tôi. Cho đến khi gần tới vùng những pháo đài ngoại vi, dừng lại ăn trưa, nó mới thổ lộ nỗi lo âu của nó. Nó ngồi trên một tảng đá, vừa ăn bánh mì vừa nói:

Sắp đặt chân vào Pari, cậu có biết tớ nghĩ đến ai không?

Đến ai à?

Ừ, đến ai? Đến Garôphôli! Lão đã mãn hạn tù thì mới rắc rối! Khi người ta bảo lão đi tù, tớ quên không hỏi là tù bao lâu. Cho nên giờ phút này, có thể là lão đã được tự do rồi, và lão đã trở về chỗ trọ của lão ở phố Luốcxin rồi cũng nên. Chúng mình cần tìm Bácbơranh ở phố Muphơta, nghĩa là ở chính khu phố của Garôphôli, ngay cạnh nhà lão. Gì sẽ xảy đến nếu tình cờ lão gặp chúng mình? Lão là chủ tớ, là cậu tớ, lão có quyền bắt tớ lại mà tớ thì không có cách nào thoát tay lão. Cậu đã từng sợ rơi trở vào tay lão Bácbơranh, hẳn cậu hiểu tớ cũng sợ rơi trở vào tay Garôphôli dường nào. Chao ôi! Thương hại cho cái đầu của tớ! Ấy nhưng đau đầu thì đã thấm vào đâu bên cạnh cái đau ly biệt. Anh em ta sẽ không được gặpnhau. Sự chia rẽ vì gia đình tớ sẽ còn tàn nhẫn hơn sự chia rẽ bởi gia đình cậu biết mấy! Chắc hẳn Garôphôli cũng muốn giữ cậu và giáo dục cậu theo kiểu lão dạy học trò lão, nghĩa là có kèm roi vọt. Nhưng chắc cậu không ở, mà tớ, tớ cũng không muốn cậu làm bạn với tớ trong cảnh ấy. Cậu có bị đánh đập bao giờ đâu!

Lao theo ước vọng của mình, tôi chưa hề nghĩ đến Garôphôli. Nhưng mấy điều Mátchia vừa nói có thể xảy ra được quá! Không cần giải thích, tôi cũng hiểu chúng tôi bị đe dọa như thế nào. Tôi hỏi:

Thế cậu muốn thế nào? Hay là cậu đừng vào Pari vậy?

Tớ tưởng rằng nếu tớ không đi đến phố Muphơta thì cũng đủ tránh được cái rủi ro bị lão Garôphôli bắt gặp.

Ồ, thế thì cậu đừng đến phố Muphơta, để tớ đi một mình thôi. Chúng mình hẹn bảy giờ tối sẽ lại gặp nhau ở một nơi nào đó!

Cái nơi chúng tôi hẹn nhau là ở đầu cầu Đại giám mục, về phía Nhà thờ Đức Bà. Xếp đặt xong, chúng tôi lại lên đường vào thành phố.

Đến quảng trường Italia, chúng tôi chia tay nhau, bùi ngùi như thể sẽ không bao giờ gặp nhau nữa. Mátchia và Capi đi về phía vườn Bách Thảo, còn tôi thì xăm xăm đến phố Muphơta, không cách quảng trường là mấy. Từ sáu tháng nay, lần đầu tiên đi một mình không có Mátchia và Capi bên cạnh, tôi thấy lòng nao nao khó chịu. Tôi tự nhủ không nên để cho cảm giác ấy làm nản lòng nhụt chí. Không phải tôi đang đi tìm Bácbơranh, để rồi qua lão, tìm thấy gia đình của tôi là gì?

Tôi đã ghi tên và chỗ ở những chủ trọ của lão Bácbơranh vào một mảnh giấy. Kể ra cũng là thừa! Tôi không quên chút nào, tên cũng như chỗ ở, và tôi cũng chẳng phải ngó vào giấy: Pagiô, Barabô và Sôphinê. Vào phố Muphơta, người đầu tiên tôi gặp là Pagiô, trong cái quán khổ chiếm tầng dước một ngôi nhà khi thuê. Tôi vào quán khá mạnh dạn nhưng lại hỏi thăm ông Bácbơranh với giọng run run.

Bácbơranh nào? - Chủ quán hỏi.

Ông Bácbơranh người ở Savanông.

Tôi tả hình dáng Bácbơranh, nói cho đúng hơn là hình dáng mà tôi trông thấy khi lão mới ở Pari về: Mặt mũi cộc cằn, vẻ người khắc nghiệt, đầu vẹo trên vai phải.

Không biết! Ở đây không có cái của ấy!

Tôi cảm ơn y và đi thêm một quãng đường nữa, đến nhà Barabô. Ngoài nghề chứa trọ, anh này còn kiêm nghề bán hoa quả. Tôi cũng hỏi như trước. Vất vả lắm họ mới chịu để

Đến tôi. Hai vợ chồng đều bận. Chồng thì đang dùng một cái gì như cái bay thợ nề xén bột dọn cho khách, một thứ bột nhão màu xanh, mà anh ta gọi là "rau diếp". Vợ thì mải cãi cọ với khách hàng về một đồng xu trả thiếu. Tôi hỏi đi hỏi lại ba lần cuối cùng họ mới trả lời:

À phải! Bácbơranh.. Hắn ở đây ngày trước, lâu rồi, cách đây bốn năm là ít!

Năm chứ! - Chị vợ ngắt lời. - Tôi nhớ cả hắn còn nợ ta một tuần tiền trọ. Cái lão chết tiệt ấy bây giờ ở đâu?

Thì tôi cũng chỉ hỏi có thế! Tôi đi ra, ngán ngẩm và có phần nào lo ngại. Chỉ có Sôpinê nữa thôi. Nếu hắn ta không biết gì ráo thì hỏi ai bây giờ? Tìm Bácbơranh ở đâu?

Cũng như Pagiô, Sôpinê là chủ quán. Khi tôi bước chân vào gian phòng ở đấy ông ta nấu nướng và dọn ăn cho khách thi có nhiều người ngồi ở bàn ăn. Sôpinê đang cầm môi chan xúp vào bánh mì cho khách hàng. Tôi hỏi ông ta.

Bácbơranh. - Ông ta đáp. - Hắn không ở đây nữa!

Tôi run rẩy hỏi tiếp:

Thế ông ấy ở đâu?

Ồ, cái đó ta không biết!

Bây giờ cháu phải tìm ông ta nơi nào?

Lão ta không để địa chỉ lại!

Chắc là nỗi thất vọng đã hiện lên trên mặt tôi một cách rõ ràng và cảm động đến nỗi có một ông khách đang ăn ở bàn cạnh bếp gọi tôi hỏi:

Cháu bé hỏi Bácbơranh làm gì?

Cháu ở làng bên, làng ông ta, Savanông ấy! Cháu mang tin của bà Bácbơranh lên cho ông ta. Bà ấy bảo cháu đến gặp ông ta ở đây.

Ông chủ quán nói với người vừa hỏi tên tôi:

Nếu ông bạn biết Bácbơranh ở đâu thì hãy mách hộ thằng bé. Chắc là nó không có ý gì làm hại lão ta đâu, phải không chú bé?

Ồ, thưa ông, không ạ!

Bácbơranh, hiện giờ hắn đang trọ ở khách sạn Căngtan, ở ngõ Ốtxtéclíc. Cách đây ba tuần lão còn ở đó.

Tôi cảm ơn và ra đi. Trước khi đến ngõ Ốtxtéclíc, tôi muốn biết tin tức Garôphôli để về thuật lại với Mátchia. Chỗ này ở ngay phố Luốcxin. Chỉ cần đi mấy bước là đến cái nhà tôi

Đã đến với cụ Vitali. Cũng như lần đầu tôi đến, một cụ già, vẫn cụ già ngày nọ, đang mắc những tã rách lên bức tường xanh bẩn trong sân. Hẳn là từ độ ấy đến này, ông không ngừng mắc tã kia lên tường nọ.

Ông Garôphôli đã về chưa, thưa cụ? - Tôi hỏi.

Ông lão nhìn tôi không trả lời và bắt đầu ho. Tôi thấy phải tỏ ra mình biết Garôphôli

Đâu rồi, chứ không thì chả moi được gì ở cái ông lão nhặt giẻ ấy. Tôi lấy vẻ thông thạo, hỏi:

Hắn ta vẫn còn ở đấy chứ? Chắc là hắn ta chán ngấy ra rồi!

Có lẽ, nhưng rồi ngày giờ cũng trôi qua thôi!

Trôi như thế nào hắn cũng cứ thấy chậm, chứ không thấy nhanh như ta!

Câu bông đùa làm ông cụ cười, và thế là lại nổi một cơn ho dữ dội. Chờ ông hết ho, tôi hỏi:

Cụ có biết bao giờ hắn ta về không?

Ba tháng nữa.

Garôphôli còn ở tù ba tháng, Mátchia có thể thở phào! Trong vòng ba tháng, thế nào bố mẹ tôi cũng tìm được cách không cho lão bầu ghê gớm này có hành động gì hại đến cháu lão..

Nếu tôi đã bị thất vọng cay đắng ở nhà Sôphinê thì bây giờ tôi lại tràn trề hy vọng, tôi đi tìm ngay lão Bácbơranh tại khách sạn Căngtan.

Không thể chậm một phút, tôi xăm xăm đi về hướng ngõ Ốtxtéclíc, lòng tràn đầy hân hoan và hy vọng. Có lẽ vì tin vì vui mà tôi trở nên khoan dung đối với Bácbơranh.

Suy cho cùng thì có lẽ lão ta cũng không đến nỗi độc ác như người ta tưởng! Không có lão, nhất định tôi sẽ chết vì đói rét ở phố Brơtơi. Ừ thì đúng là lão ta đã cướp sống tôi trên tay má Bácbơranh đem bán cho cụ Vitali nhưng thật tình lão có thể trìu mến một đứa trẻ mà tới lúc đó lão chưa hề nhìn thấy, và lão lại rơi vào cảnh túng thiếu nó thường dễ khuyên người ta làm bậy! Lão đương tìm tôi, lão chú ý đến tôi, và nếu tôi được gặp bố mẹthì chính cũng là nhờ lão! Điều đó đáng được tính đến hơn là cái nỗi oán hờn nuôi mãi trong lòng tôi từ ngày từ biết Savanông, cổ tay bị bàn tay cụ Vitali nắm chặt. Thế thì tôi vẫn phải biết ơn lão: Nếu không thể quí yêu trìu mến như đối với má Bácbơranh thì ít ra cũng phải coi như một trách nhiệm theo lương tâm chứ!

Đi băng qua vườn Bách thảo thì từ phố Luốcxin đến ngõ Ốtxtéclíc cũng nhanh thôi.

Chẳng mấy chốc tôi đã đến trước khách sạn mà thực ra chỉ là một cái nhà trọ tồi tàn. Chủ nhà là một bà cụ, đầu lắc lư, tai nghễnh ngãng. Tôi hỏi câu hỏi quen thuộc. Bà cụ lấy tay loa ra sau tai và bảo tôi nhắc lại. Bà nói khẽ:

Già hơi nặng tai.

Cháu tìm ông Bácbơranh, ông Bácbơranh người Savanông ấy mà! Ông ấy trọ ở nhà cụ, có phải không?

Bà cụ không đáp, đột ngột đưa hai tay lên trời, khiến con mèo đang ngủ trong lòng bà ta kinh hãi nhảy choàng xuống đất. Bà kêu: "Ôi thôi! Ôi thôi", rồi nhìn tôi, đầu càng lắc lư tợn. Bà hỏi:

Anh là thằng bé chăng?

Thằng bé nào?

Thằng bé xưa ông ta tìm.

Thằng bé xưa ông ta tìm. Nghe tiếng ấy, tim tôi đau thắt. Tôi kêu to lên:

Ông Bácbơranh!

Mồ ma ông Bácbơranh, phải nói mồ ma ông Bácbơranh.

Tôi tựa vào cây thụ cầm cho khỏi ngã.

Tôi nói to lên cho bà cụ nghe thấy nhưng giọng tôi đã nghẹn đi vì xúc động:

Vậy ra ông ấy chết rồi ư?

Đã tám hôm rồi, ở bệnh việc Xanh Ăngtoan.

Tôi chết điếng người, Bácbơranh chết rồi! Thế thì gia đình tôi, bây giờ tôi làm sao tìm ra được? Mà tìm kiếm ở đâu chứ? Bà cụ lại hỏi tiếp:

Thế anh là thằng bé? Thằng bé mà ông ta tìm để trao trả lại gia đình giàu có của nó? Tôi lại thấy có hy vọng. Tôi bám riết câu ấy. Tôi hỏi:

Thế ra cụ biết?

Già biết những cái gì mà mồ ma ông ấy hồi còn sống kể cho già nghe: Ông ta bắt

Được một thằng bé và nuôi nấng nó, bây giờ cái gia đình mất con muốn tìm con, và ông ta đi Pari là để lùng kiếm nó.

Nhưng còn cái gia đình đó bây giờ ở đâu rồi? Cái gia đình của tôi đó?

Thế ra đúng anh là thằng ấy rồi, có phải không? Ừ! Đúng là anh rồi! Đích thị là anh! Vừa lắc lư cái đầu, bà cụ vừa nhìn tôi, tận mắt. Tôi không thể để cho bà cụ nhìn ngằmnữa.

Van cụ, xin cụ nói hết cho cháu nghe.

Thì già còn biết gì nữa ngoài những cái già đã nói với anh.. à, với cậu.

Cụ nói cho cháu nghe những gì ông Bácbơranh nói với cụ về gia đình cháu. Thưa cụ, cụ đã thấy cháu buồn, cháu lo, cháu bối rối như thế đấy, cụ hãy thương cháu!

Bà không đáp lại và lại đưa tay lên trời lần nữa. Bà kêu: "Rõ oái ăm chưa!"

Lúc ấy có một người đàn bà, có vẻ là người giúp việc, đi vào phòng. Tức thời bà chủ khách sạn bỏ tôi để kể lể với người ấy:

Rõ oái ăm chưa! Cái anh bé này, cái cậu mà chị thấy đó, là người mà mồ ma ông Bácbơranh nói chuyện. Cậu ấy đến mà Bácbơranh thì lại không còn nữa. Rõ oái ăm chưa!

Ông Bácbơranh không hề nói gì với cụ về gia đình cháu ư?

Nói nhiều, hàng chục lần, hàng trăm lần ấy chứ! Một gia đình giàu có.

Gia đình ấy ở đâu? Tên họ là gì?

Ấy đấy! Bácbơranh không hề nói những cái ấy với tôi. Cậu hiểu chứ, ông ta giữ bí mật. Ông ta muốn một mình lĩnh thưởng, cái đó đúng thôi. Chả ông ta là một anh láu cá mà!

Chao ôi! Phải, tôi hiểu lắm, tôi hiểu cái điều bà cụ nói quá đi chứ! Tôi hiểu rằng sống

Để dạ chết mang đi, Bácbơranh đã mang theo xuống mồ cái điều bí mật về gia đình dòng họ tôi. Tôi đi gần tới đích như thế chỉ để mà hỏng tuột. Hỡi ôi, những mộng đẹp, những niềm tin! Tôi lại hỏi bà cụ:

Thế cụ có biết có người nào được Bácbơranh nói cho biết nhiều hơn cụ không?

Bácbơranh có dại gì mà thổ lộ với ai! Ông ta đa nghi lắm.

Cụ có thấy người nào trong nhà cháu đến tìm ông ấy không?

Không hề thấy!

Hoặc cụ có biết một vài ông bạn thân của ông ta được nghe ông ta kể chuyện gia

Đình cháu không?

Ông ta không có bạn bè!

Tôi ôm đầu suy nghĩ. Nhưng nghĩ mãi cũng không thấy có dấu hiệu gì có thể mách bảo cho mình. Vả chăng tôi xúc động quá, bối rối quá nên không thể nào suy nghĩ có mạch lạc. Bà cụ cũng nghĩ ngợi một hồi lâu rồi nói:

Có lần ông ta nhận được một phong thư bảo đảm.

Thư từ đâu đến thưa cụ?

Tôi không biết! Người phát thư trao thẳng cho ông ấy, tôi không trông thấy con

Dấu!

Chắc chúng ta có thể tìm lại được bức thư ấy chứ nhỉ?

Sau khi ông ta chết, chúng tôi có lục trong đồ đạc ông ta để lại. Ồ! Không phải vì tọc mạch đâu, mà chỉ cốt để báo tin cho bà vợ. Chúng tôi không tìm thấy gì cả. Ở bệnh viện cũng vậy, người ta không tìm thấy giấy tờ gì trong áo quần của ông ta cả! Giá mà trước kia ông ta không nói mình ở Savanông thì hẳn người ta không thể báo tin cho bà vợ ông ta biết.

Thế má Bácbơranh đã được biết?

Hẳn thế!

Tôi đứng lặng hồi lâu, không nói năng gì. Nói gì, hỏi gì bây giờ? Có biết cái gì, họ đều nói cả với tôi rồi. Mà họ có biết gì đâu! Lẽ thường, họ đã làm đủ mọi cách để tìm hiểu cái điều mà Bácbơranh cố giấu họ. Tôi chào bà cụ rồi tiến ra cửa. Bà cụ hỏi:

Thế cậu đi đâu đấy?

Đi về với bạn cháu.

À, cậu có một người bạn à?

Vâng.

Cậu ấy ở Pari?

Chúng cháu mới đến Pari sáng nay.

Thế thì, này cậu, nếu cậu chưa giữ chỗ ở khách sạn nào thì cậu cứ việc lại đây. Cậu ở đây rất tốt, tôi có thể nói khoe như vậy không ngoa. Cái nhà trọ này là một nhà lương thiện. Nên chú ý là thân nhân cậu đang tìm cậu, cho nên khi chờ mãi không được tin tức gì của

Bácbơranh, tất thế nào họ cũng đến hỏi ở đây chứ còn chạy đâu! Như vậy thì cậu sẽ có mặt

Đây để đón tiếp gia đình cậu. Tiện như thế đấy! Còn nếu cậu không ở đây thì người ta biết tìm đâu cho ra cậu! Tôi nói thế là vì cậu thôi! Bạn cậu bao nhiêu tuổi?

Nó bé hơn cháu chút ít!

Thử nghĩ xem! Hai thiếu niên như thế đấy lạc lõng giữa Pari đô hội. Tránh sao khỏi gặp nhiều người xấu! Có những khách sạn có nhiều người không tốt lui tới! Không phải như đây đâu, ở đây thì thật yên tĩnh! Cái khu phố này bó buộc phải thế!

Tôi cũng chẳng tin hẳn là khu phố này ưa yên tĩnh. Dù sao thì khách sạn Căngtan cũng là một khách sạn thuộc loại bẩn nhất và tồi nhất trần gian. Tuy vậy, đề nghị của bà cụ cũng đáng chú ý. Vả lại kén chọn lúc này là không phải lúc.. Ở khách sạn Căngtan thì không phải trả nhiều tiền mà hiện nay chính chúng tôi cần ăn tiêu dè xẻn. Ồ! Cái thằng Mátchia thế mà nó nói chí phải! Nó muốn kiếm tiền trên con đường Đrơdy đi Pari. Nếu không có mười bảy phờrăng trong lưng thì nay biết xoay sở ra sao! Tôi hỏi:

Cho hai anh em chúng cháu thuê một cái phòng, cụ lấy bao nhiêu?

Mỗi ngày mười xu. Có đắt không nào?

Thế thì tối nay chúng cháu sẽ trở lại!

Hãy về sớm nhé, Pari ban đêm nguy hiểm đấy!

Trước khi trở về, tôi phải đến nơi hẹn để gặp Mátchia nhưng còn lâu mới đến giờ hẹn. Không có việc gì làm tôi buồn rầu đi về phía vường Bách thảo, tìm một cái ghế ở nơi vắng vẻ mà ngồi! Phải chăng cứ hết nạn nọ đến nạn kia, tôi phải nếm cho đủ mùi đau khổ? Phải chăng mỗi khi tôi vừa với tay nắm cành cây để có thể ngồi vững chãi thì cành cây gãy rắc dưới tay, làm cho tôi ngã xuống? Cứ mãi như thế! Lão Bácbơranh chết đúng cái lúc tôi cần đến lão thì quả là do cái số kiếp của tôi nó xui nên. Và cũng do số kiếp của tôi xui khiến cho nên gặp phải lão là con người hám lợi, lão giấu biệt tên họ và chỗ ở của người đã ủy thác cho lão lùng kiếm tôi, người đó có lẽ là cha tôi.

Tôi đang ngồi ở một xó dưới bóng mát của một cây xanh tốt, ứa nước mắt mà suy nghĩ như vậy, thì có một gia đình nhỏ đi đến: Một ông và một bà, theo sau là thằng bé kéo chiếc xe con, đến ngồi ở một chiếc ghế trước mặt tôi. Họ gọi đứa bé. Đứa bé bỏ xe ra, dang hai tay chạy đến với bố mẹ. Người cha ôm nó vào lòng, đặt những cái hôn rất kêu lên tóc nó. Xong ông trao nó qua cho bà mẹ, bà cũng hôn nó nhiều lần, cùng hôn ở một chỗ. Đứa bé cười giòn tan, khum khum đôi bàn tay xinh xẻo bụ bẫm vỗ vỗ vào má bố mẹ nó.

Trước cảnh hạnh phúc gia đình ấy, bất giác nước mắt tôi tuôn rơi. Tôi chưa được hôn hít như thế bao giờ và liệu tôi có hy vọng được hôn hít như thế bao giờ không?

Tôi bỗng nảy ra ý định. Tôi lấy thụ cầm gảy nhè nhẹ một bài "van" cho thằng bé nghe. Nó nhịp nhịp đôi chân bé xíu của nó. Người bố đến bên tôi, đưa cho tôi một đồng bạc. Tôi lễ phép từ chối:

Thưa ông, không, cháu không lấy, xin ông vui lòng. Ông để cho cháu cái thú được làm vui giây lát cho em bé con ông, em kháu quá!

Ông khách chăm chú nhìn tôi. Nhưng giữa lúc ấy một người gác vườn đến. Mặc những lời phản kháng của ông khách, người gác vườn ra lệnh cho tôi đi ra ngay, nếu không muốn ngồi tù vì tội chơi nhạc trong công viên. Tôi quàng đàn lên vai rồi ra đi, thỉnh thoảng lại ngoái cổ nhìn hai ông bà ấy. Họ trông theo tôi, bùi ngùi. Cũng vẫn chưa tới giờ hẹn đến cầu Đại giám mục để gặp Mátchia, tôi thẫn thờ trên bờ sông, ngắm dòng nước chảy.

Đêm đến, đèn khi sáng lên. Bấy giờ tôi mới đi về phía Nhà thờ Đức Bà có hai ngọn tháp in bóng sẫm trên nền trời đỏ rực đằng Tây. Đến đó, tôi tìm được một chỗ và ngồi xuống khoan khoái, vì hai chân tôi rời rã như đã đi một độ đường quá xa, và tôi trở lại với những suy nghĩ phiền não. Chưa bao giờ tôi cảm thấy mình rã rời, mệt mỏi như thế này. Ở tôi, chung quanh tôi, thảy đều ảm đạm. Trong cái đô thành Pari bát ngát, sáng trưng, ồn àovà hối hả này, tôi lại càng cảm thấy bơ vơ hơn bất cứ lúc nào ngày giữa đồng không mông quạnh hoặc trong rừng rậm âm u.

Khách qua đường thỉnh thoảng ngoảnh lại nhìn tôi. Những đối với tôi, sự tò mò hoặc lòng thương cảm của họ nào có nghĩa lý gì! Tôi đâu có trông chờ sự cám cảnh của những kẻ bàng quan!

Chỉ còn một cách giải phiền là nhẩm đếm những tiếng chuông buông rơi quanh tôi. Thế là tôi lại tính toán xem còn phải chờ đợi bao lâu nữa mới lấy lại sức lực và dũng khí từ tình bạn của Mátchia! Nghĩ rằng mình sắp được gặp đôi mắt dễ thương, dịu hiền và tươi vui của nó, tôi phấn chấn lên nhiều.

Vào khoảng gần bảy giờ, tôi nghe thấy một tiếng sủa mừng rỡ. Ngay sau đó một vật trắng từ trong bóng tối lao đến phía tôi. Tôi chưa kịp nghĩ ra thì con Capi đã nhảy lên đùi tôi, liếm lấy liếm để hai bàn tay tôi. Tôi ôm nó, hôn lên mũi nó. Phút sau, Mátchia xuất hiện. Từ xa, nó đã kêu lên:

Thế nào?

Bácbơranh chết rồi!

Nó rảo chân chạy lên để chóng đến bên tôi. Bằng mấy lời vội vã, tôi kể cho nó nghe tôi đã làm gì và biết được những gì. Nó buồn lắm, điều đó khiến tôi cảm thấy dễ chịu: Tôi nghiệm rằng mặc dù Mátchia lo nếu tôi tìm thấy gia đình tôi thì nó chẳng gặp hay gì cả, mặc dù thế, nó vẫn thành tâm mong muốn tôi tìm gặp được bố mẹ. Âu yếm và trìu mến, nó cố an ủi tôi, nhất là thuyết phục tôi không nên nản chí:

Bố mẹ cậu đã tìm được ra Bácbơranh thì nay sẽ lo ngại khi không thấy tin tức gì về lão ta nữa. Cho nên họ sẽ tìm hiểu xem có việc gì xảy đến với lão và tất nhiên họ sẽ đến khách sạn Căngtan. Thôi, ta tới khách sạn Căngtan đi thôi. Bất quá chậm mấy ngày, thế thôi!

Bà cụ có cái đầu lắc lư cũng nói với tôi như thế, nhưng cũng vẫn những lời ấy mà Máchia nói thì tác dụng hẳn. Hiển nhiên đây chỉ là vấn đề chậm trễ chút ít thôi. Thế mà mìnhđã đâm phiền muộn và chán nản, thật là trẻ con! Thấy trong người bình tĩnh hơn, tôi bèn thuật cho Mátchia nghe điều tôi biết được về Garôphôli. Nó reo lên:

Còn ba tháng nữa!

Thế là nó nhảy một điệu vũ ở giữa đường phố, vừa nhảy vừa hát. Bỗng dưng nó dừng lại và đến bên tôi:

Rõ thật là gia đình đằng này và gia đình đằng ấy khác nhau quá lắm! Cậu mất gia đình, cậu rầu rĩ. Mình mất gia đình, mình hát vang.

Một ông cậu, đâu đã là gia đình! Ý mình muốn nói một ông cậu như Garôphôli. Chứ giả thử cậu mất em Crítxtina của cậu thì cậu có nhảy múa không nào?

Chao ôi! Đừng nói dại!

Đấy, thấy chưa!

Chúng tôi men theo bờ sông để đi đến phố Ốtxtéclíc. Không mờ mắt vì xúc động nữa, bây giờ tôi mới thấy sông Xen ban đêm có ánh trăng thật là đẹp: Trăng rằm rọi ánh sáng xuống mặt nước sáng rõ như một tấm gương mênh mông và di động, rắc những vảy bạc sóng sánh đó đây.

Khách sạn Căngtan là một khách sạn lương thiện, nhưng không phải là một khách sạn đẹp. Chúng tôi được xếp vào một buồng con áp mái, chật đến nỗi khi một đứa đứng thì một đứa phải ngồi trên giường. Tôi không thể không nghĩ rằng đâu phải trong một gian phòng thế này mà tôi hy vọng được nghỉ lưng! Và những tấm chăn trải giường bằng vải thôi đã ngả màu cháo lòng, sánh sao được những tấm tã đẹp, biết bao lần má Bácbơranh đã tảcho tôi biết! Miếng bánh mì trát phomát Italia, mà người ta dọn cho chúng tôi ăn tối, thật khác xa với bữa tiệc thịnh soạn tôi dự định thết Mátchia. Nhưng đã mất đi đâu! Chỉ cần chờ ít lâu thôi. Tôi ngủ thiếp đi với ý nghĩ ấy.
 
15,989 ❤︎ Bài viết: 1929 Tìm chủ đề
Chương 33: Tìm kiếm

Sáng hôm sau, việc đầu tiên của tôi là viết thư cho má Bácbơranh tin cho má rõ những điều tôi mới được biết. Đối với sức của tôi, đây không phải là một công việc nhỏ. Ai đành lòng nói cộc lốc với má rằng chồng má đã qua đời. Má yêu mến "anh Giêrôm" của má. Má với ông ấy đã ăn ở với nhau mấy chục năm nay, nếu mình không chia sẽ nỗi đau buồn với má thì sẽ phiền lòng má.

Hì hục mãi, cuối cùng tôi cũng viết xong lá thư. Suốt thư, tôi cứ nhắc đi nhắc lại là tôi thương má. Tất nhiên tôi có kể cho má nghe sự thất vọng vừa qua và những hy vọng hiện nay của tôi. Nói cho đúng thì chỉ việc này là tôi nói đến nhiều nhất. Tôi nhờ má tin ngay cho tôi biết nếu má được thư của gia đình tôi gửi hỏi tin tức ông Bácbơranh, nhất là cần nhớ gửi địa chỉ đến cho tôi: Gửi đến khách sạn Căngtan, ở Pari.

Xong nhiệm vụ ấy, còn một nhiệm vụ thứ hai nữa đối với ông bố Lidơ. Nhiệm vụ này cũng khó khăn không kém. Khi ở Đrơdy, tôi nói với Lidơ rằng hễ đến Pari, lần đi phố đầu tiên của tôi là đi thăm ông bố em ở nhà lao. Tôi giải thích là nếu cha mẹ tôi mà giàu có như tôi tin tưởng, thì tôi sẽ xin tiền trả nợ cho bác Acanh; như vậy, tôi đến nhà lao chỉ để giải phóng cho bác và đưa bác đi với tôi thôi. Việc này nằm trong chương trình những niềm vui tôi đã vạch sẵn cho mình. Trước tiên là bác Acanh, sau đến má Bácbơranh, rồi lần lượt đến Lidơ, Êchiênnét, Alơxi, Bănggiamanh. Về phần Mátchia thì tất nhiên tôi được cái gì, nó được cái ấy, và hạnh phúc của tôi sẽ làm nên hạnh phúc của nó. Thế mà nay phải tay không mà đến nhà lao mới chán nản làm sao! Đến gặp bác Acanh mà vẫn bó tay như ngày từ giã bác, không giúp được gì, không đền ơn đáp nghĩa.

Cũng may là tôi có những lời âu yếm và những cái hôn mà Lidơ và Alơxi trao gửi để mang đến cho bác. Niềm vui sướng của người cha chắc sẽ xoa dịu nỗi ân hận trong lòng tôi và tôi cũng được hởi dạ vì đã giúp ông được nhiều ít, trong khi chờ cơ hội làm hơn. Mátchia thích xem nhà tù quá nên đi theo tôi, vả lại tôi cũng muốn cho nó biết mặt người trong hai năm trời đã coi tôi như con. Bây giờ tôi đã biết cái mẹo làm thế nào để vào nhà lao Clisy, nên chúng tôi không phải đứng trơ ra và chờ đợi rất lâu trước cổng lớn như lần trước nữa.

Người ta cho chúng tôi vào phòng đợi và lát sau thì bác Acanh đến. Từ bục cửa, bác đã dang tay ra đón tôi. Bác vừa ôm vừa nói:

- Ôi! Cái thằng bé ngoan! Thằng cháu Rêmi trung hậu!

Tôi báo tin về Lidơ và Alơxi ngay. Rôi khi tôi muốn bày tỏ vì sao tôi không thể đến chị Êchiênnét thì ông nói:

Thế bố mẹ cháu?

Bác biết chuyện rồi sao?

Lão ta chết rồi. - Tôi nói.

Tai hại chưa!

Bác nói cho tôi biết vì sao Bácbơranh đến tìm bác để hỏi tin tức tôi: Đến Pari thì Bácbơranh tới nhà Garôphôli và tất nhiên là không gặp hắn ta. Lão bèn đi rất xa, về tận tỉnh

Có cái nhà lao đang giam hắn, để hỏi về tôi. Tên này cho lão biết sau khi cụ Vitali mất đi, thì tôi được một ngươi trồng vườn tên là Acanh đem về nuôi. Bácbơranh bèn trở về Pari đến khu Glaxie, ở đấy người ta cho lão biết người trồng vườn ấy hiện đang bị giam giữ ở Clisy. Lão đến nhà lao và bác Acanh nói cho lão biết tôi đi chu du nước Pháp như thế nào, cho nên, dù bây giờ không biết rõ tôi ở đâu, nhưng đến một lúc nào đó, nhất định tôi sẽ ghé lại thăm một trong những đứa con bác ấy. Bởi thế, chính tay bác Acanh đã viết mấy lá thư cho tôi và gửi đến Đrơdy, Vácxơ, Étxnăngđơ và Xanh Căngtăng cùng một lúc. Tôi không nhận được thư bác gửi đến Đrơdy chắc là vì tôi đi rồi thư mới đến. Tôi hỏi:

Thế Bácbơranh có nói gì với bác về cha mẹ cháu không?

Không! Chỉ nói tí chút, chả có ích lợi mấy. Lão nói cha mẹ cháu đã dò hỏi phòng cảnh sát khu Anh Valiđơ và biết rằng đứa bé bị vứt bỏ ở phố Bơrơtơi đã được một người thợ nề nhặt về nuôi. Họ đến tìm cháu ở nhà lão Bácbơranh. Không thấy cháu họ đã nhờ lão lùng kiếm giúp họ.

Lão không nói tên của cha mẹ cháu, không nói gì về quê quán cháu hay sao?

Bác hỏi thì lão bảo để rồi sẽ nói chuyện. Bác chẳng buồn nhắc lại. Bác hiểu rằng lão ta giấu kỹ tên tuổi bố mẹ cháu chỉ vì lão sợ không được hưởng một mình tất cả món thù lao lớn như lão mong muốn: Chẳng là bác cũng có nuôi nấng cháu nên cái lão Bácbơranh ấy tưởng là bác muốn được đền công. Vì thế, bác tiễn lão ra ngay và từ đó không thấy tăm hơi lão đâu nữa. Bác không ngờ lão đã qua đời. Hóa ra có cha mẹ mà vì sự tính toán của lão keo bẩn ấy thành ra cháu chẳng biết cha mẹ cháu là ai, ở đâu!

Tôi bày tỏ niềm hy vọng của chúng tôi. Bác cho rằng tin tưởng như thế là phải và viện ra nhiều lý lẽ xác đáng để khuyến khích tôi:

Bố mẹ cháu đã moi lão Bácbơranh ở tận Savanông ra, rồi Bácbơranh lại truy ra Garôphôli và tìm ra được cả bác ở đây nữa, thì tất người ta sẽ tìm thấy cháu ở khách sạn Căngtan thôi! Hãy ở đấy mà chờ!

Những lời lẽ ấy khiến tôi cảm thấy dễ chịu và trở lại vui vẻ. Tôi nói chuyện Lidơ, Alơxi và chuyện tôi bị vùi trong hầm mỏ. Khi tôi kể hết, bác than thở:

Cái nghề sao mà hiểm nghèo thế! Mà thằng Alơxi lại làm cái nghề ấy mới tội chứ! Chà! Hồi nó trồng yên chi thì sung sướng hơn biết bao nhiêu.

Thời ấy rồi sẽ trở lại, bác ạ!

Ơn trời mà được như cháu nói, cháu Rêmi yêu mến ạ!

Lưỡi tôi ngọ nguậy muốn nói rằng không lâu nữa bố mẹ tôi sẽ vận động cho bác ra tù. Nhưng tôi kịp nghĩ rằng không nên khoe trước những điều tốt mình định mang lại cho người ta. Tôi chỉ nói không bao lâu nữa bác sẽ ra khỏi nhà tù và con cái sẽ quây quần bên bác. Khi ra đường, Mátchia nói:

Trong khi chờ đợi cái giờ phút tốt đẹp ấy, mình có ý kiến là chúng ta không nên bỏ phí thời gian. Phải kiếm tiền đi!

Giá thử mấy hôm trước, dọc đường chúng ta không dành nhiều thì giờ kiếm tiền như thế thì hẳn chúng ta đã đến Pari kịp cho gặp lão Bácbơranh.

Cái đó đúng! Làm cho cậu đến chậm, tớ đã tự trách mình bao nhiêu rồi, cậu đừng trách tớ nữa!

Tớ có trách móc gì cậu đâu, Mátchia thân mến ạ! Tớ cam đoan với cậu như thế. Không có cậu, làm sao tớ mua được con búp bê cho Lidơ? Không có cậu, hẳn lúc này chúng mình phải vất vưởng trên vỉa hè thành phố Pari, không có một đồng xu nào để nuôi miệng.

Đã thế thì thế này nhé: Cậu đã cho cái việc tớ muốn làm cho có tiền là phải thì giờ

Đây ta hẵng cứ coi là phải. Vả chăng, chúng mình có việc gì đáng làm hơn là ca hát và biểu diễn cái chương trình của đoàn ta. Còn như dạo chơi đây đó, thì ta hãy chờ khi cậu có xe ngựa, đỡ mệt hơn. Gì chứ, ở Pari thì tớ coi như ở nhà vậy, tớ biết rõ chỗ nào là chỗ hời.

Mátchia quả biết rõ những chỗ kiếm ra tiền, những quảng trường, những sân họp

Đặc biệt, những hiệu cà phê, cho nên tối hôm đó, trước khi đi ngủ chúng tôi đếm lại số tiền thu được thì thấy những mười bốn phờrăng. Thế là khi sắp đi ngủ, tôi nhớ lại một câu quen thuộc của cụ Vitali nói rằng của cải chỉ đến với người không cần đến nó. Thu được khá thế này hẳn là dấu hiệu bố mẹ tôi sắp đến, chỉ ngày một ngày hai, vì chính tôi không cần tiền nữa, tiền mới đổ xô về như vậy.

Tôi tin chắc ở linh tính của tôi nên hôm sau, tôi sẵn sàng nằm ỳ ở khách sạn, nếu Mátchia không thúc ép tôi dậy đi. Nó lại bắt tôi đàn, tôi hát, và ngày hôm đó, chúng tôi lại thu mười một phờrăng, Mátchia vừa cười, vừa nói:

Ta không trở nên giàu có nhờ của cải của bố mẹ cậu thì tự tay ta, với sức ta, ta cũng sẽ làm nên giàu có được đấy! Mà như thế thì tuyệt!

Ba ngày trôi qua như thế mà vẫn không có gì mới lạ xảy đến. Ngày nào chị giúp việc

Khách sạn cũng chỉ trả lời tôi một câu, như một điệp khúc bất diệt: "Không có ai hỏi ông Bácbơranh cả và tôi cũng không nhận được thư nào gửi cho cậu hoặc cho ông ta". Mãi đến ngày thứ tư chị ta mối đưa cho tôi một phong thư. Đó là thư trả lời của má Bácbơranh do má nhờ người ta viết. Thư má nói rằng má đã được báo tin chồng má mất và trước đó ít lâu, má có nhận được thư của ông ấy. Cái thư đó có nói đến tung tích gia đình tôi, má nghĩ rằng nó có thể giúp ích cho tôi nên mới chuyển theo tôi. Mátchia reo:

Mau lên, mau lên. Mau xem thư của lão Bácbơranh đi!

Tôi mở phong bì, tay run run, lòng như thắt lại:

"Tôi đang nằm viện, ốm nặng lắm, có lẽ không qua khỏi. Giá tôi có đủ sức thì tôi kể cho u nó nghe tôi lâm bệnh như thế nào. Nhưng kể chẳng chả ích gì, tốt hơn là đi ngay vào công việc gấp rút này. Tôi viết thư cho u nó cốt để dặn dò u nó, nếu chẳng may tôi có mệnh hệ nào thì u nó phải viết thư cho các ông Gơrét và Gơli, công viên Grin, quán trọ Linhcôn, ở Lơnđơn. Họ là những người thừa biện được ủy nhiệm lùng tìm Rêmi. U nó nói với họ rằng chỉ có u nó là biết tung tích thằng bé và u nó nhớ đòi tiền công cho xứng đáng để u nó có chút dư dật mà sống no ấm trong lúc tuổi già. Muốn biết Rêmi bây giờ thế nào thì u nó cứ việc gửi thư hỏi lão Acanh, trước làm nghề trồng vườn, bây giờ bị tù tại nhà lao Clisy ở Pari. Thư từ, u nó nhờ cha xứ viết tất, chứ trong công việc này đừng có tin ai. Khi nào u nó biết chắc tôi đã chết rồi thì chừng đó, làm gì hãy làm.

Tôi hôn u nó lần cuối cùng đây.

" Bácbơranh "

Tôi chưa đọc hết câu cuối thì Mátchia đã nhảy choàng lên, hét:

Đi Lơnđơn đi thôi!

Tôi đang còn ngạc nhiên về những điều tôi vừa đọc nên chỉ đưa mắt nhìn Mátchia, không hiểu nó nói gì. Nó tiếp:

Trong thư, lão Bácbơranh chẳng bảo rằng những người thừa biện ngươi Anh được ủy nhiệm lùng tìm cậu là gì! Cái đó có nghĩa là bố mẹ cậu cũng là người Anh, phải không nào?

Cậu không thích là người Anh à?

Giá tớ là người Pháp, cùng một Tổ quốc với Lidơ và lũ trẻ nhà ấy thì thích hơn.

Tớ thì lại muốn cho cậu là người Italia kia!

Nếu tớ là người Anh thì tớ sẽ là đồng bào của Áctơ và bà Miligơn.

Thế nào? Nếu cậu là người Anh à? Cái đó chắc chắn rồi chứ còn nếu niếc gì nữa! Nếu bố mẹ cậu là người Pháp thì có đâu lại đi nhờ cậy bọn thừa biện Anh lùng kiếm đứa con đánh mất, ở nước Pháp? Cậu đã là người Anh thì phải sang Anh đi. Đó là cách tốt nhất để cậu nhích gần đến bố mẹ. Hay là ta viết thư cho các lão thừa biện ấy?

Viết làm gì? Gặp nhau nói thẳng với nhau dễ ăn ý hơn là dùng thư từ. Khi chúng mình đến Pari, chúng mình còn mười bảy phờrăng. Một hôm sau chúng mình kiếm được mười bốn, hôm khác mười một, hôm sau nữa chín, thế là cộng được năm mươi mốt phờrăng. Chúng mình đã tiêu hết tám, thế là còn bốn mươi ba. Đi Lơnđơn thừa đi ấy chứ! Chúng mình đến Bulônhơ xuống tàu đi Lơnđơn, chả tốn là bao!

Cậu chưa ở thành phố Lơnđơn chứ?

Cậu thừa biết là chưa. Thế nhưng ở gánh xiếc Gátxô có hai anh hề người Anh. Họ hay nói chuyện thành phố Lơnđơn với tớ. Họ còn dạy tớ một số tiếng Anh đủ dể trò chuyện với nhau thế nào cho bà lão Gátxô, tò mò như một con vọ, không nghe ra gì hết. Tớ sẽ đưa cậu đi Lơnđơn.

Tớ cũng vậy, tớ có học tiếng Anh với cụ Vitali.

Ừ, nhưng đã ba năm rồi, chắc cậu quên hết, chứ còn tớ thì tớ nhớ. Rồi cậu xem. Với lại tớ ưng đi Lơndơn không phải chỉ vì muốn giúp cậu mà thôi. Nói thật với nhau, tớ còn một lí do nữa.

Lý do gì?

Nếu bố mẹ cậu đến đón cậu ở Pari thì có thể người ta không mang tớ đi với cậu.

Còn như tớ mà sang Anh thì người ta không nỡ đuổi tớ về.

Phỏng đoán như vậy có phần xúc phạm đến bố mẹ tôi đấy nhưng xét cho cùng thì cũng không hẳn là không có lý. Dù muốn một điều gì đó có thể xảy ra đi nữa thì tôi cùng phải ngăn chặn, tức là phải đồng ý đi Lơnđơn ngay với Mátchia. Tôi nói:

Ta đi chứ?

Cậu bằng lòng chứ?

Trong dăm phút, chúng tôi đã soạn xong xắc và xuống dưới nhà, sẵn sàng để ra đi.

Trông thấy chúng tôi đóng bộ như thế, bà chủ khách sạn Căngtan phản kháng:

Coi cái cậu cả kìa! (cậu cả là tôi) Cậu không đợi ông bà nhà ta à? Đợi lại thì hơn đấy, cậu ạ! Với lại, để cho ông bà nhà ta đến sẽ thấy cậu quý tử được chăm sóc tử tế như thế nào chứ!

Nhưng cái tài hùng biện ấy không giữ chân tôi được. Trả tiền trọ xong, tôi đi ra đường. Mátchia và Capi đã ra trước, đứng đó đợi tôi. Bà cụ hỏi:

Thế thì cậu nên để địa chỉ lại đây!

Ở Lơnđơn! Bà cụ kêu. - Hai thiếu niên thế này mà vào giữa Lơnđơn! Lại băng đường trường! Lại vượt biển khơi nữa chứ!

Trước khi lên đường đi Bulônhơ, phải đến chào tạm biệt ông bố đã chứ!

Nhưng buổi chào tạm biệt này không buồn thảm! Bố Acanh sung sướng được biết là tôi sắp gặp gia đình, và tôi cũng rất vui mừng được nhắc lại với ông rằng nhất định tôi sẽ cùng bố mẹ trở lại ngay đây để cám ơn ông.

Thôi, chào con, chúc con may mắn, ta sẽ gặp nhau! Nếu vì một lý do nào đó mà con chưa trở lại được như ý muốn, con cứ viết thư cho ta cũng được!

- Nhất định con sẽ trở lại!

Ngày hôm ấy, chúng tôi đi một mạch đến Moátxen và xin ngủ nhờ ở một trang trại vì cần phải ăn tiêu dè xẻn để dành tiền mua vé tàu vượt biển. Mátchia nói chả tốn bao nhiêu, nhưng chả tốn" bao nhiêu "là từng nào mới được chứ?

Vừa đi đường, tôi vừa học tiếng Anh với Mátchia.

Tôi hết sức băn khoăn về một ý nghĩ nó làm cho tôi mất tươi vui hỉ hả: Chẳng hay bố mẹ tôi có nghe được tiếng Pháp hay tiếng Italia không nhỉ? Làm thế nào trò chuyện với nhau nếu như bố mẹ tôi chỉ nói tiếng Anh thôi? Nếu mà thế thì bất tiện biết bao nhiêu! Nếu có anh chị em thì tôi sẽ nói gì với họ cho được? Chưa nói chuyện được với anh chị em thì chắc anh chị em coi như người ngoài thôi! Từ khi ở Savanông ra đi, tôi đã nhiều lần hình dung trước cái cảnh đoàn tụ, và chưa bao giờ tôi thoáng nghĩ rằng mình có thể bị cụt hứng như thế này. Chắc là còn lâu nữa tôi mớí học thông được tiếng Anh, chừng như nó cũng khó học thật!

Từ Pari đến Bulônhơ, chúng tôi đi mất tám ngày vì phải dừng lại ở các thị trấn lớn trên đường đi để biểu diễn gây lại vốn. Tôi Bulônhơ, chúng tôi vẫn còn được ba mươi hai phờrăng thừa mua vé tàu. Đến Bulônhơ, trước hết chúng tôi đi dạo xem cái đập ở cảng, vì Mátchia chưa bao giờ tròng thấy biển bao giờ. Nó đứng sững mấy phút, mắt nhìn đắm vào cõi mù mù, tăm tăm, ở chân trời xa tắp rồi tặc lưỡi bảo là xấu lắm, buồn lắm và bẩn nữa.

Thế là chúng tôi tranh luận. Ngày thường chúng tôi vẫn hay nói đến biển và bao giờ tôi cũng nói với nó rằng cảnh biển là cảnh đẹp nhất trên đời. Cho nên tôi bênh vực ý kiến ấy. Mátchia nói:

Có lẽ cậu nói có lý khi mặt biển xanh biếc như cậu trông thấy ở Xếttơ và thuật lại với tớ. Nhưng mà khi biển như biển này, vàng kệch và xanh lục, bên trên là trời xám xịt với những đám mây lớn âm u thì biển xấu, xấu lắm, tớ chẳng thích đi trên ấy tí nào..

Thường thường, Mátchia với tôi, chúng tôi vẫn dễ dàng nhất trí với nhau: Hoặc là nó

Đồng ý với tôi hoặc là tôi cũng tỏ ra hợp ý với nó. Nhưng lần này tôi cứ khư khư giữ ý mình và tôi cho rằng mặc dầu một màu xanh lục, nhìn xuống thì mờ mờ, nhìn lên thì mây kéo ùa ùn theo gió thổi loạn xạ. Vùng biển này vẫn vô cùng đẹp hơn một cái biển xanh biếc dưới một bầu trời xanh lam.

Mátchia đáp lại:" Chỉ vì cậu là người Anh cho nên mới nói như vậy và cậu yêu thích cái biển tồi tệ này chẳng qua vì nó là biển của xứ sở quê hương đấy thôi! "

Tàu đi Lơnđơn sẽ nhổ neo vào bốn giờ sáng hôm sau. Mới ba giờ rưỡi, chúng tôi đã lên tàu, cố tìm lấy một chỗ tốt. Chúng tôi nấp sau một đống thùng gỗ để che bớt ngọn gió bấc lạnh và ẩm ướt. Dưới ánh sáng của mấy chiếc đèn lồng um khói, người ta bốc hàng xuống tàu, ròng rọc rít, những két hàng thả xuống hầm tàu kêu răng rắc, thủy thủ chốc chốc lại thét lên vài tiếng với giọng ồ ồ. Át cả mọi tiếng huyên náo là tiếng xì xụp của hơi nước, từ máy bốc lên thành những cuộn trắng. Một hồi chuông réo, dây cáp buông xuống nước và thế là chúng tôi lên đường. Lên đường về quê hương tôi.

Tôi thường nói với Mátchia rằng không có gì lý thú bằng đi chơi trên tàu thủy. Mình lướt êm ru trên mặt nước, không hề biết đã đi mấy đỗi đường. Thật là mê ly - như một giấc mơ.

Nói như vậy là tôi nghĩ đến thuyền Thiên Nga và cuộc du hành trên kênh Nam.

Nhưng biển không giống sông đào. Vừa đi khỏi đập thì con tàu hình như đâm sâu xuống rốn nước lần nữa, cứ thế liên tục bốn năm bận, chẳng khác những chuyển động ấy, hơi nước từ ống khói thoát ra với tiếng rít chát tai rồi đột ngột lặng im. Bấy giờ chỉ còn nghe tiếng guồng

Gạt nước (1) lúc ở mạn bên này, lúc ở mạn bên kia tùy con tàu nghiêng bên nào. Mátchia nói:" Lướt êm quá nhỉ! "Tôi không biết đáp thế nào vì lúc bâv giờ tôi có biết sóng ngang ở cửa biển là thế nào đâu!

Thật ra thì không phải chỉ có sóng ngang (2) làm cho tàu tròng trành; hôm ấy ngoài khơi, biển cũng động nữa.

Mátchia lặng thinh đã lâu bỗng nhiên vùng dậy. Tôi hỏi:

Cậu làm sao thế?

Tớ thấy nó nhảy nhót nhiều quá, ruột gan tớ lộn lên đây!

Say sóng đấy!

Hẳn rồi! Mình cảm thấy rõ quá!

Mấy phút sau, nó chạy lên mạn tàu vịn vào be. Tội nghiệp! Nó mệt quá! Tôi cố ôm nó vào lòng, ấp đầu nó trong ngực tôi, nó cũng không khỏi. Nó rên rỉ và chốc chốc nó vùng dậy, khập khiễng đi lại chống tay chồm qua be tàu. Mấy phút sau nó mới trở lại nép vào người tôi. Cứ mỗi lần trở về nó lại giơ quả đấm ra với tôi và nửa cười cợt, nửa cáu gắt, nó bảo:

Chà! Cái bọn Ănglê (3) này, chúng không có ruột gan!

Cũng may đây.

Trời hửng sáng thì chúng tôi nhìn thấy những ghềnh đá trắng cao ở bờ biển và đây đó vài chiếc tàu im lìm, không kéo buồm. Dần dần tàu bớt tròng trành rồi lướt đi trên mặt nước phẳng lặng, nhẹ nhàng không kém gì đi trên kênh. Bây giờ tàu không ở biển khơi nữa, và chúng tôi nhìn thấy - nói cho đúng hơn là đoán thấy - qua màn sương sớm, bóng cây thấp thoáng ở hai bên bờ xa, xa tít. Chúng tôi đã đi vào sông Tamidơ. Tôi bảo Mátchia:

Chúng mình đến đất Anh rồi!

Mátchia không hoan nghênh cái tin mừng này. Nó nằm dài trên boong, đáp:

- Để yên cho tao ngủ!

Tôi không bị say sóng khi vượt biển nên không buồn ngủ. Tôi sắp xếp cho Mátchia nằm thoải mái chừng nào hay chừng ấy, rồi tôi leo lên đống thùng gỗ, chọn chồng cao nhất để ngồi và đặt con Capi ở giữa hai chân. Con Capi đã vượt sóng gió một cách can đảm. Biết đâu! Biết đâu Capi không là một dân biển lão luyện! Ở với cụ Vitali, cái gì mà nó không biết!

Từ chỗ ngồi cao ấy, mắt tôi bao quát con sông, tôi nhìn thấy được dòng sông chảy ở hai bên bờ, nhìn ngược dòng, lại nhìn được cả về xuôi, đằng sau lái. Bên phải chạy dài một cồn cát lớn, mép viền bọt trắng. Bèn trái xanh mù như lại sắp đi vào biển nữa. Nhưng không, đó chỉ là ảo giác: Chẳng mấy chốc bờ sông xanh xanh dịch lại gần rồi hiện lên rõ là những bãi lầy lội, màu sắc vàng.

Cả một hạm đội thả neo đỗ ở giữa sông. Len giữa đám tàu ấy, những tàu chạy hơi nước, tàu kéo đi đi lại lại. Và biết cơ man nào là buồm! Tôi chưa hề nghĩ rằng một con sông lại có thể đông đúc đến thế. Sông Garon đã khiến tôi ngạc nhiên, thì sông Tamidơ giờ đây khiến tôi thán phục. Nhiều tàu sửa soạn để nhổ neo. Trên giàn buồm, các thủy thủ chạy đây chạy đó trên những chiếc thang dây trông xa mỏng mảnh như tơ nhện.

Con tàu của chúng tôi để lại sau lái một làn bọt trắng trên mặt nước vàng. Vô khối những thứ rêu rác trôi nổi lềnh bềnh trên mặt sông: Nào là ván, nào là đầu đày gỗ, nào là cỏ rác, nút chai, nào là xác súc vật trương sình lên. Chốc chốc một con chim có đôi cánh lớn sà xuống đám rác rểu ấy để rồi tức khắc kêu lên một tiếng xé tai mà bay lên, mỏ đã quắp mồi rồi.

Sao Mátchia lại muốn ngủ nhỉ? Nó thức dậy có hơn không? Cảnh tượng này kỳ thú, đáng xem lắm mà! Tàu càng ngược sông, lại càng kỳ thú, càng đẹp. Bây giờ, cái đáng xem

Không chỉ có thuyền buồm hay tàu chạy hơi nước, hoặc những chiếc tàu ba buồm to lớn, những thuyền đi biển khổng lồ từ phương xa về, những tàu than đen đủi, những thuyền chất rạ và cỏ khô trông như những đụn rơm cuốn theo dòng nước, những phao nổi to tướng sơn đen, trắng, đỏ bị dòng nước xô quay tròn. Còn đáng chú ý nữa là những việc xảy ra, những điều ta trông thấy ở hai bên bờ bây giờ hiện rõ mồn một. Những ngôi nhà quét sơn màu duyên dáng, những đám cỏ xanh, những cây sum suê cành lá chưa hề chạm lưỡi (4) dao tiện, và đây đó những chiếc cầu tàu nhô ra giữa bãi bùn đen, những tín hiệu thủy triều, những cọc xanh xanh, nhơn nhớt.

Tôi ngồi như thế lâu lắm, đôi mắt mở to chỉ để mà trông, mà phục.

Nhưng đến đây thì bỗng nhiên nhà ở hai bên bờ sông dồn đống lại, chen chúc thành từng hàng dài đỏ ngòm. Trời trở nên mù mịt. Khói và sương mù quyện lại với nhau, khó mà nói được sương dày hơn hay khói. Rồi thì giữa các đồng cỏ, đáng lẽ có cây cối và gia súc thì đột nhiên xuất hiện một rừng cột buồm: Tàu bè đỗ trên đồng cỏ.

Không nhịn được nữa, tôi tụt từ" đài quan sát "xuống đi tìm Mátchia. Nó đã thức giấc. Hết say sóng rồi, nó không cáu kỉnh nữa và vui lòng leo lên đống thùng gỗ với tôi. Nó cũng thấy choáng và đưa tay dụi mắt. Đây đó, từ các đồng cỏ, có những con sông đào chảy ra sông lớn, các sông ấy cũng đầy tàu bè.

Khốn thay, sương mù và khói cứ càng lâu càng dày đặc. Chúng tôi thì chỉ nhìn thấy cảnh vật quanh mình từng quãng và cứ càng đi sâu vào nội địa càng lờ mờ.

Cuối cùng, con tàu đi chậm lại, tắt máy, và thủy thủ ném dây cáp lên bờ. Thế là chúng tôi đã ở thành phố Lơnđơn. Chúng tôi bước chân lên bờ giữa đám người chỉ nhìn chúng tôi mà không nói gì với chúng tôi." Này, Mátchia thân mến, lúc này là lúc cậu cần giở cái vốn liếng tiếng Anh của cậu ra mà dùng đấy!". Không chút e ngại, Mátchia đến gần một ông to béo, có chòm râu màu hung, và cầm mũ ở tay, nó lễ phép hỏi đường đi công viên Gờrin. Hình như Mátchia phải mất nhiều thì giờ lắm mới làm cho người đó hiểu mình và người đó đã bắt hắn nhắc đi nhắc lại mãi mấy tiếng. Nhưng tôi không muốn tỏ vẻ hoài nghi sự thông thái của bạn tôi. Mãi rồi nó cũng trở về chỗ. Nó nói:

Dễ lắm! Cứ việc đi dọc sông Tamidơ. Chúng mình sẽ lần theo bờ kè mà đi.

Nhưng ở Lơnđơn hồi đó không có bờ kè, nhà cửa cứ việc nhô ra tận sông. Cho nên chúng tôi phải đi theo những đường phố đoán chừng là chạy dọc theo dòng sông. Những đường phố đó tối tăm lầy lội quá sức và ngổn ngang những xe cộ, những hòm xiểng, những kiện hàng, gói bọc đủ loại. Những thứ ấy, hết đây lại đó, cứ vướng chân vướng cẳng, chúng tôi len lỏi đi lên cho được rất khó khăn. Tôi buộc con Capi vào một sợi dây thừng và kéo nó theo sát bên tôi. Mới một giờ trưa mà đèn khí đã thắp trong các cửa hàng.

Nhìn thấy Lơnđơn như vậy, chúng tôi không có cảm tình như đối với sông Tamidơ. Chúng tôi cứ đi lên và chốc chốc Mátchia lại hỏi thăm xem chúng tôi còn cách quán

Trọ Linhcôn bao xa. Rồi chúng tôi không còn đi trên đường phố ồn ào, nhộn nhịp nữa. Chúng tôi vào những con phố vắng vẻ, chằng chịt, ở đấy chúng tôi có cảm giác là cứ đi quẩn đi quanh tại chỗ như trong một trận đồ bát quái (5) chứ không tiến lên được bước nào.

Bỗng nhiên, giữa lúc tưởng đã lạc đường thì chúng tôi đến một nghĩa địa nhỏ đầy mồ mả, bia mộ đen sì như thể quét bồ hóng hay đánh xi đen: Đó là công viên Gờrin. Trong lúc Mátchia đón một bóng người qua đường để hỏi han thì tôi đứng lại để tim khỏi đập mạnh. Tôi không thở được nữa, người tôi run lên. Rồi tôi bước theo Mátchia và dừng lại trước một tấm biển đồng đọc thấy mấy chữ: Gơrét và Gơli. Mátchia bước lên định kéo chuông thì tôi ngăn tay nó. Nó hỏi:

Cậu làm sao thế? Mặt tái đi thế kia!

Hượm tí đã, đợi mình bớt hồi hộp!

Mátchia giật chuông và chúng tôi bước vào nhà. Tôi bối rối quá, không trông rõ quanh mình: Chừng như đây là một phòng giấy, có hai người đang gò lưng viết trên bàn, dưới mấy ngọn đèn khí vừa cháy, vừa reo sè sè.

Mátchia đến nói với một trong mấy người đó vì dĩ nhiên là tôi đã cậy nó đỡ lời. Trong khi nó nói, tôi nghe mấy tiếng family, boy (6), Bácbơranh trở đi trở lại; tôi hiểu là nó trình bày rằng tôi là chú bé mà gia đình đã cậy Bácbơranh tìm kiếm. Cái tên Bácbơranh có tác dụng: Mọi người nhìn chúng tôi và người kia đứng lên mở cửa cho chúng tôi vào một căn phòng đầy giấy tờ, sách vở. Một ông đang ngồi trước bàn giấy, một ông khác mặc áo dài, đầu chụp tóc giả, tay xách nhiều túi vải xanh, đang nói chuyện với ông kia.

Người đưa chúng tôi vào báo cáo vắn tắt chúng tôi là ai, tức thời hai ông ấy nhìn chúng tôi từ đầu đến chân. Cái ông ngồi bàn giấy hỏi bằng tiếng Pháp:

Anh nào là đứa bé Bácbơranh nuôi?

Thưa ông, tôi đây!

Bácbơranh đâu?

Ông ta chết rồi?

Hai ông nhìn nhau một lát rồi ông có tóc giả xách mấy chiếc túi đi ra. Ông vừa hỏi tôi lại tiếp:

Thế anh đến đây bằng cách nào?

Đi bộ đến Bulônhơ, rồi từ Bulônhơ, đáp tàu thủy đi Lơnđơn. Chúng tôi vừa lên bộxong.

Bácbơranh có cấp tiền cho anh chứ?

Chúng tôi không gặp ông Bácbơranh.

Thế thì làm sao các anh biết tìm đến đây?

Tôi thuật lại rất vắn tắt câu chuyện mà ông ấy hỏi. Tôi nôn nóng muốn đến lượt mình hỏi một đôi câu, trước hết là một câu cháy lưỡi. Nhưng tôi không kịp hỏi. Người ta cứ bắt tôi kể vì sao mà tôi được Bácbơranh nuôi, vì sao mà lão bán tôi cho cụ Vitali; rồi khi cụ chủ tôi chết, tôi được gia đình bác Acanh cứu mạng như thế nào và cuối cùng, khi bác Acanh bị bỏ tù vì thiếu nợ, tôi trở lại làm nghề nhạc sĩ lang thang như thế nào. Tôi nói đến đâu thì ông ta ghi lại đến đó và nhìn tôi với con mắt thế nào ấy, nó làm tôi khó chịu. Quả là ông ta có vẻ khắc nghiệt và nụ cười có ẩn cái gì man trá.

Thế còn chú bé này là ai? - Ông ta vừa hỏi vừa đưa cây bút sắt chỉ vào Mátchia như muốn bắn một mũi tên vào người nó.

Là bạn thân, bạn nghề nghiệp, một người anh em ruột thịt của tôi.

Tốt lắm! Chỗ quen biết gặp nhau trên bước giang hồ, chắc thế?

Một người anh em ruột thịt âu yếm và thân tình nhất!

Ồ! Ta có nói khác đâu!

Tôi nghĩ đã đến lúc đặt cái câu hỏi làm tôi ấm ức trong lòng từ khi bắt đầu câu chuyện:

Thưa ông, có phải gia đình tôi ở nước Anh không?

Hẳn là ở Anh rồi, ít nhất là trong lúc này!

Thế tôi sắp được gặp chưa?

Lát nữa anh sẽ về gia đình anh. Tôi sẽ bảo người đưa anh đi.

Ông bấm chuông gọi. Khó khăn lắm tôi mới thốt được mấy tiếng sau đây:

Ông cho phép tôi hỏi một câu nữa thôi! Tôi có bố không?

Không những bố, anh có một bà mẹ và nhiều anh chị em nữa.

Chao ôi! Ông ơi!

Cánh cửa mở ra chặn đứng sự cảm khái của tôi. Tôi chỉ biết đưa mắt trào lệ nhìn Mátchia. Ông kia nói tiếng Anh với người mới vào. Tôi hiểu chừng như ông ấy bảo người ấy đưa chúng tôi đi. Tôi đứng dậy. Ông nói tiếp:

Ồ! Tí nữa thì quên. Tên họ anh là Đơrixcơn. Đó là tên bố anh.

Mặc dù với vẻ mặt bất lương của ông ta, tôi cũng muốn nhảy lên ôm cổ ông ta mà hôn, nếu ông để cho tôi đủ thì giờ. Nhưng ông ta đưa tay trỏ ra phía cửa và chúng tôi đi ra.
 
15,989 ❤︎ Bài viết: 1929 Tìm chủ đề
Chương 34: Gia đình Đơrixcơn

Viên thư lại đưa tôi đi tìm gia đình là một lão già nhỏ bé, củ củ rù rù, cứng đờ, da dẻ nhăn nheo, mặc áo dài đen đã bợt và bóng, cổ đeo cà vạt trắng. Ra đến ngoài đường, lão ta xoa rối rít hai bàn tay, bẻ ngón tay và cườm tay "cục cục", đá đá chân như muốn hất tung ra xa đôi ủng đã vẹt gót và nghếch mũi lên trời, lão hít mạnh sương mù luôn mấy nhịp, bộ điệu khoái trá của một người đã tù cẳng trong phòng.

Mátchiaa bảo tôi bằng mấy tiếng Italia: "Lão ta hít hít có vẻ thích thú lắm nhỉ?"

Lão già nhìn chúng tôi không nói một lời, lão chỉ "sịt, sịt" như xuýt chó, như thế nghĩa là chúng tôi phải bám sát gót lão, đừng có để bị lạc.

Chẳng mấy chốc chúng tôi đã lọt vào một dãy phố nườm nượp xe cộ. Lão ta chặn một chiếc xe lại. Đây là một thứ xe lạ kiểu ở chỗ người đánh xe đáng lẽ ngồi trên ghế ngay sau ngựa thì lại vắt vẻo trên cao sau một thứ mui vải.

Lão già bảo chúng tôi lên xe, phía trước thì trống hoác. Lão trõ qua một lỗ hổng nói chuyện với người đánh xe. Nhiều lần tiếng "Bétnơn Gờrin" được nhắc đến và tôi đã ngờ rằng đó là tên cái khu phố bố mẹ tôi ở. Tôi cũng hiểu rằng "Gờrin" tiếng Anh có nghĩa là "xanh" và nó gợi cho tôi nghĩ rằng ở đó chắc là trồng nhiều cây cối xanh tươi, điều này xưa nay tôi rất thích thú. Như thế thì khác hẳn những phố xá tồi tàn ở Lơnđơn, vừa tối tăm vừa buồn tẻ mà chúng tôi đã đi qua khi mới đến. Hẳn là một ngôi nhà rất xinh trong đô thành lớn, chung quanh trồng cây.

Câu chuyện trao đổi khá lâu giữa hai người, khi thì người ngồi bên dưới phải dướn người lên tới lỗ hổng để giải thích cho người ngồi trên, khi thì bác đánh xe muốn từ trên caotụt xuống qua lỗ hổng để nói cho rõ rằng mình chẳng biết chút gì về điều mà người khách đang nói.

Mátchia và tôi ngồi dồn vào một góc, con Capi ngồi giữa hai chân tôi. Nghe cãi cọ thế ấy, tôi ngạc nhiên cớ sao một người đánh xe chở thuê như vậy lại có thể không biết cái nơi tươi mát như là "Bétnơn Gờrin" ấy? Ở Lơnđơn có nhiều khu phố xanh tươi chăng? Cũng khá lạ đấy! Cứ như chúng tôi đã thấy, có lẽ nhiều bồ hóng hơn thì phải! Chúng tôi đi khá nhanh trong những đường phố rộng, rồi vào những phố hẹp, rồi đến những phố rộng nhưng hầu như chẳng thấy rõ gì chung quanh mình, sương mù dày đặc che phủ tất cả. Trời đã chuyển lạnh, vậy mà chúng tôi cảm thấy khó thở như bị nghẹt. Đó là Mátchia với tôi thôi, còn viên thư lại dẫn đường thì trái lại lão tỏ ra rất khoan khoái. Rõ ràng lão ta hít mạnh khí trời, miệng há to, mũi phồng lên hít lấy hít để. Dường như lão ta cố sống cố chết tích lấy một khối lượng lớn khí trời vào trong phổi. Thế rồi, thỉnh thoảng lão lại tiếp tục bẻ tay cục cục và duỗi chân duỗi cẳng; cứ như lão ta phải ngồi yên hàng bao nhiêu năm trời, không được cử động và không được thở!

Cứ nghĩ rằng chỉ trong chốc lát, vài giây đồng hồ chưa chừng, tôi sẽ được ôm hôn bố mẹ tôi, anh chị tôi, mối xúc cảm lại khiến tôi phát điên lên được! Thế nhưng tôi vẫn rất muốn được nhìn cái thành phố chúng tôi đi qua. Chẳng phải là thành phố của tôi, quê cha đất tổ của tôi ư?

Nhưng dù đã hoài công mở to đôi mắt, tôi vẫn chẳng thấy gì hoặc hầu như chẳng thấy được chút gì ngoài mấy đốm lửa đỏ của ngọn đèn khí lập lòe trong sương mù tựa như trong một đám khói dày đặc. Ngay những chiếc đèn ló ở xe cộ qua lại cũng thấy rất lờ mờ. Thỉnh thoảng xe chúng tôi dừng đứng ngay lại để khỏi vướng phải, hoặc cán phải những người qua lại rất đông trên đường phố.

Xe vẫn chạy. Chúng tôi rời nhà Gơrét và Gơli đã rất lâu rồi; như thế, theo suy nghĩ của tôi, lại càng rõ là bố mẹ tôi ở tại miền thôn quê. Nhất định chỉ trong khoảnh khắc, chúng tôi sẽ đi ra khỏi đường phố chật chội để đi vào miền đồng nội.

Mátchia và tôi vẫn nắm tay nhau. Niềm tin sắp được gặp gia đình khiến tôi nắm tay nó thật chặt. Hình như chính trong lúc này, hơn tất cả lúc nào hết, tôi cần tỏ rõ cho nó biết rằng tôi là bạn chí thân, bạn suốt đời của nó. Nhưng đáng lẽ phải tới miền đồng quê, chúng tôi lại lọt vào những đường phố chật hẹp hơn, và nghe có cả tiếng còi xe lửa.

Thế là tôi nhờ Mátchia hỏi hộ người đưa đường xem chúng tôi đã sắp đến chỗ bố mẹ tôi chưa? Câu trả lời của Mátchia thật là ngán ngẩm: Nó nghĩ rằng viên thơ lại nhà Gơrét và Gơli đáp là lão chưa hề đặt chân đến khu tụ tập của quân trộm cắp. Chắc là Mátchia nghe nhầm; nó không hiểu rõ câu trả lời của lão ấy. Nhưng nó vẫn khăng khăng cái từ thieves, từ Anh mà viên thơ lại dùng để trả lời nó, rõ ràng có nghĩa là quân trộm cắp, chắc chắn thế. Tôi bàng hoàng một chút nhưng rồi lại nghĩ thầm rằng viên thư lại kia sợ quân trộm cắp, chính vì chúng tôi đi vào miền đồng quê vắng vẻ và cái từ Gờrin đặt sau từ Bétnơn, có nghĩa rõ ràng là cây cối hoặc nội cỏ. Tôi nói ý nghĩ ấy với Mátchia và thế là cái điều lo sợ của lão cứ khiến chúng tôi cười mãi. Những kẻ không bao giờ ra khỏi thành phố đúng là ngốc ngếch.

Nhưng vẫn chưa có vẻ nông thôn tí nào! Phải chăng cái nước Anh chỉ là một thành phố đầy những đá và bùn tên gọi Lơnđơn? Cái thứ bùn này nó tràn ngập cả vào trong xe, nó bắn lên tận chúng tôi từng mảng đen ngòm; một mùi nhạt thếch bao quanh chúng tôi đã khá lâu rồi! Tất cả những cái đó chứng tỏ rằng chúng tôi hiện đương ở trong khu phố tồi tàn, có lẽ là khu phố cuối cùng, trước khi tới những nội cỏ của Bétnơn Gờrin.

Tôi cảm thấy như chúng tôi đương xoay quanh và thỉnh thoảng người lái xe lại cho xe đi chậm lại, hình như anh ta cũng ngập ngừng, không hiểu là đương ở nơi nào! Thình lình, anh ta dừng ngay xe lại và cái lỗ cửa phía trên chúng tôi mở ra.

Thế là một cuộc trao đổi, đúng hơn là một cuộc đôi co, nổ ra. Mátchia bảo tôi rằng theo như nó nghe được thì hình như người đánh xe không muốn đi xa hơn nữa vì anh ta không biết đường nữa rồi. Anh ta đòi phải chỉ dẫn kỹ hơn. Còn viên thư lại của Gơrét và Gơli vẫn trả lời một mực rằng chưa bao giờ lão ta đặt chân tới khu phố của bọn trộm cắp. Tôi nghe rõ cái từ thieves. Nhất định nơi đó không phải là Bétnơn Gờrin được. Vậy thì điều gì đã xảy ra? Cuộc đấu khẩu lại tiếp tục qua lỗ cửa nhỏ và hai bên đều phát cáu ngang nhau trong lời qua tiếng lại qua cái lỗ cửa ấy.

Cuối cùng, viên thư lại trả tiền cho người đánh xe đương lẩm bà lẩm bẩm, rồi bây giờ xuống xe, và lại "sịt, sịt, sịt" với chúng tôi. Rõ ràng chúng tôi phải xuống xe theo lão. Bây giờ thì chúng tôi đi trong một đường phố lầy lội. Một cửa hàng thắp đèn sáng choang; từ những tấm gương lớn, những mảng thiếp vàng và những cái chai vuông mặt, ánh sáng đèn khi phản chiếu sáng lòa ra ngoài đường phố, rồi xuyên qua đám sương dày ra tận con ngòi. Đó là một tiệm rượu mạnh, một ngôi nhà lầu trong đó bán rượu mạnh đủ loại, chế biến bằng chất rượu cất từ các thứ hạt hoặc từ củ cải đỏ.

Người đưa đường lại "sịt sịt". Chúng tôi theo lão ta vào hiệu. Đúng là chúng tôi đã nhầm mà ngỡ rằng mình đương ở trong một khu phố tồi tàn; tôi chưa bao giờ được thấy một chốn nào lịch sự hơn: Đâu đâu cũng là những tấm gương và những mảng thiếp vàng; quầy hàng thì dát bạc. Ấy vậy mà những người đứng trước quầy hàng, hoặc tựa vai vào tường hay là vào những thùng rượu, thì lại ăn mặc rách rưới. Có thể không đi giày, và cặp chân trần của họ, vì lội trong những bãi phân nhão nhoẹt, cũng đen xỉn như thể bôi xi đánh giày chưa kịp để cho khô. Trên cái quầy dát bạc ấy, người đưa đường chúng tôi mua một cốc nước trăng trắng thơm thơm, khoái trá uống cạn một hơi cũng như trước đó một chút, lão ta đã hít lấy hít để sương mù. Sau đó, lão nói chuyện với người bán hàng mặc áo xắn tay đến khuỷu. Nhất định lão ta hỏi đường, và tôi cũng không cần phải hỏi đến Mátchia nữa.

Chúng tôi lại ra đi, bám gót lão ta.

Đến đây đường phố hẹp lắm, cho nên dù có sương mù, chúng tôi vẫn trông thấy nhà cửa hai bên. Nhiều dây thừng chăng từ nhà nọ qua nhà kia, trên đó áo quần và tã rách vắt lòng thòng, chắc là không phải để phơi. Mình đi đâu đây? Tôi bắt đầu băn khoăn. Chốc chốc Mátchia liếc nhìn tôi, nhưng nó không hỏi chuyện.

Từ đường phố, chúng tôi đi vào một ngõ hẹp, qua một cái sân lại đến một ngõ phố nữa. Nhà cửa quãng này tồi tàn quá, tồi hơn cả những làng tồi tàn nhất bên nước Pháp. Một số lớn làm bằng ván gỗ như nhà xe hay chuồng bò vậy, nhưng chính lại là nhà ở. Ở các thềm nhà lố nhố những người đàn bà để đầu trần và trẻ con.

Khi có chút ít ánh sáng để nom rõ quanh mình thì tôi nhận thấy những người đàn bà này nước da tái, tóc vàng nhạt buông xõa xuống vai; trẻ con hầu như trần truồng, có chút ít quần áo gì trên người thì đều rách bươm. Ở ngõ phố nọ, lợn ủi trong một rãnh nước đọng lại hôi thối. Người đưa đường cho chúng tôi dừng lại. Chắc là ông ta mất phương hướng rồi. May lúc ấy có một người đi tới chỗ chúng tôi. Ông ta mặc áo khoác xanh, đội mủ da bóng; tay ông ta đeo lon nửa đen, nửa trắng, bao súng nịt ở thắt lưng. Đó là một viên cảnh sát của Thành phố Lơnđơn.

Hai người nói chuyện với nhau, sau đó, chúng tôi lại đi qua nhiều ngóc ngách, sân nhà, đường phố khúc khuỷu. Hình như đây đó, có những nhà đổ nát. Cuối cùng, chúng tôi đến một cái sân, giữa có ao nước nhỏ. Người cảnh sát nói: "Sân Sư tử đỏ!"

Sao lại dừng lại ở đây? Ồ đây không thể là Bétnơn Gờrin. Bố mẹ ta đâu lại ở cái sân này cơ chứ! Thế thì tại sao?

Tôi không có thì giờ suy nghĩ về những nỗi băn khoăn ấy. Viên cảnh sát gõ cửa một thứ nhà xe bằng gỗ ván và người đưa đường cho chúng tôi cảm ơn ông ta. Chúng tôi đến nơi rồi sao?

Mátchia siết tay tôi, - nó vẫn giữ tay tôi từ đầu, - và tôi siết tay nó. Chúng tôi cảm thông với nhau. Nỗi khắc khoải trong lòng tôi cũng bóp thắt trái tim nó.

Quá xúc động, tôi không biết người ta mở cửa đón chúng tôi như thế nào sau khi viên cảnh sát gõ cửa. Chỉ từ khi vào cái buồng lớn có ánh đèn, có lửa sưởi đốt bằng than đá sau tấm lưới sắt, chỉ từ khi ấy, sự việc mới được tôi ghi nhớ. Trước bếp lửa, trong một chiếc ghế bành rơm, trông như cái bệ thờ thánh khoét lõm vào tường, có một ông cụ già ngồi im lìm như một pho tượng, râu bạc trắng, đầu đội mũ chụp đen. Một người đàn ông và một người đàn bà ngồi đối diện nhau, ở hai bên một chiếc bàn. Người đàn ông trạc bốn mươi, mặc quần áo bằng nhưng màu xám, vẻ mặt thông minh nhưng khắc nghiệt; người đàn bà trẻ hơn chừng năm sáu tuổi, tóc vàng rủ xuống chiếc khăn kẻ ô đen trắng choàng qua trước ngực. Mắt bà mơ màng vô định, và trên gương mặt, ngày xưa chắc là đẹp, cũng như trên cử chỉ uể oải người ta thấy dáng của một người hờ hững, vô tình. Trong phòng còn có bốn đứa trẻ, hai trai, hai gái, đều tóc vàng, một màu vàng nhạt như mẹ. Đứa lớn nhất khoảng mười một, mười hai, hai đứa sau là trai, đứa bé nhất chưa đầy ba tuổi, nó lê la dưới đất.

Thoáng một cái, tôi đã thấy hết tất cả cảnh đó, trước khi viên thư lại của Gơrét và Gơli nói chuyện với tôi.

Lão ta nói cái gì? Tôi chỉ nghe loáng thoáng và chẳng hiểu gì hết, trừ cái tên Đơrixcơn, cái tên của tôi mà người chức việc đã bảo cho biết là tôi nghe được mà thôi.

Tất cả các con mắt đều quay nhìn về phía Mátchia và tôi, kể cả mắt của cụ già ngồi im. Chỉ có đứa bé gái là chú ý đến Capi. Người đàn ông mặc đồ nhung xám hỏi bằng tiếng Pháp.

Trong hai chú, chú nào là Rêmi?

Tôi bước lên một bước nói:

Tôi!

Thế thì lại hôn cha đi, con!

Trước đây, khi nghĩ tới phút đoàn viên này, tôi cứ hình dung rằng tôi sẽ cảm thấy có một sức bật bên trong nó đẩy tôi vào lòng bố tôi. Nhưng bây giờ tôi không cảm thấy sự phấn chấn đó. Tuy vậy tôi vẫn bước đến ôm hôn bố tôi. Bố tôi nói:

Và đây là ông con và kia là mẹ con và các em con.

Trước hết tôi đến bên mẹ tôi và ôm mẹ. Mẹ tôi để cho tôi ôm hôn nhưng không hôn trả; mẹ chỉ nói vài câu mà tôi không hiểu. Bố bảo tôi:

Bắt tay ông đi con, và nhè nhẹ đó! Ông bị bại liệt.

Tôi lại bắt tay hai em trai và em gái lớn. Tôi định bế em bé, nhưng vì mải vuốt ve con Capi, em xô tôi ra. Tôi vừa đi từ người này qua người khác như thế, vừa lấy làm bất mãn với mình. Sao thế chứ? Sao mà được trở về giữa cha mẹ anh em như thế này, tôi không cảm thấy vui sướng hơn trước? Tôi có cha, có mẹ, có em trai, em gái, lại có ông, tôi được đoàn tụ với người thân thế này mà sao tôi lạnh nhạt! Tôi đã chờ mong cái phút này thiếu điều phátsốt lên; tôi sung sướng như điên như dại khi nghĩ rằng tôi cũng sắp có một gia đình như ai, cũng có cha mẹ để yêu thương và được yêu thương. Thế mà giờ đây tôi lúng ta lúng túng, ngắm nhìn cha mẹ tôi một cách tò mò, không tìm thấy trong lòng mình một chút gì, một lời trìu mến chẳng hạn, để bày tỏ với người thân. Tôi là một con yêu, con quái chăng? Tôi không xứng đáng có gia đình chăng?

Ví thử tôi tìm thấy cha mẹ tôi ở trong một tòa lâu đài chứ không phải ở một nhà chứa xe như thế này thì những niềm trìu mến yêu thương đã dậy lên trong lòng tôi chăng? Ý nghĩ ấy làm cho tôi nghẹn ngào vì xấu hổ. Tôi lại đến trước mẹ tôi, ôm hôn mẹ lần nữa, hôn bằng cả hai môi không dè dặt. Chắc là mẹ tôi không hiểu nguyên do gì khiến tôi trở nên cuồng nhiệt như thế, cho nên đáng lẽ ra hôn lại tôi thì bà nhìn tôi cũng với cái vẻ hững hờ uể oải lúc trước. Rồi bà nhún vai nhè nhẹ, nói với bố tôi mấy câu làm cho bố tôi cười mà tôi không hiểu. Thái độ ghẻ lạnh của mẹ và tiếng cười của cha làm tôi nát lòng. Tôi cho rằng đối xử như thế đáp lại sự bộc lộ tình cảm của tôi là không thỏa đáng. Nhưng tôi không có thì giờ suy tưởng miên man vì bố tôi đã trỏ tay vào Mátchia mà hỏi:

- Còn chú này là ai?

Tôi bày tỏ những mối liên hệ đã buộc tôi với Mátchia; tôi cố đưa tình bạn của tôi vào lời lẽ và cố nói lên cái ơn của nó đối với tôi.

Ừ, nó muốn đi cho biết đó biết đây!

Tôi toan trả lời thì Mátchia nói hớt:

Thưa ông, đúng đấy!

Thế còn lão Bácbơranh? - Bố tôi hỏi. - Sao lão không đến?

Tôi nói Bácbơranh đã chết rồi và đó là điều thất vọng lớn nhất của tôi lúc đến Pari khi được nghe má Bácbơranh bảo cho biết bố mẹ tìm tôi. Bố tôi dịch lại cho mẹ nghe. Tôi thấy chừng như mẹ tôi đáp là hay lắm hoặc tốt lắm gì đó. Điều chắc chắn là mẹ tôi nói đi nói lại nhiều lần những tiếng "well" và "good" mà tôi biết. Tại sao Bácbơranh chết đi lại là hay, là tốt nhỉ? Đó là điều tôi tự hỏi mà không trả lời được. Bố tôi lại hỏi:

Con không biết tiếng Anh?

Không. Con chỉ biết tiếng Pháp và cũng biết tiếng Italia nữa vì có học với ông chủ đã mướn con nơi ông Bácbơranh.

Ông Vitali.

Bố đã biết..

Bácbơranh nói cho bố biết tên ông ta, cách đây ít lâu bố sang Pháp để tìm con. Chắc con cũng tò mò muốn biết vì sao đã mười ba năm, bố mẹ không lùng kiếm con mà đùng một cái lại nảy ra cái ý đi tìm Bácbơranh!

Chao ôi! Vâng, tò mò lắm! Thật tình là con muốn được biết lắm!

Ừ thì lại bên bếp lửa đây, bố sẽ thuật lại cho con nghe.

Khi vào nhà thì tôi đã cởi đàn dựng tựa vách. Bây giờ thì cởi xắc ra và ngồi vào chỗ bố tôi chỉ. Nhưng khi tôi duỗi chân lấm ướt ra trước bếp lửa thì ông tôi không nói năng gì cả, phun khạc về phía tôi như một con mèo già nổi nóng. Tôi biết là tôi quấy ông cụ, nên co chân lại. Bố tôi nói:

Con chẳng cần bận lòng! Ông cụ không thích người ta đến sưởi lửa của ông cụ, nhưng nếu con thấy rét thì cứ việc sưởi, không cần phải nể nang gì ông cả.

Tôi lấy kinh ngạc khi nghe nói như thế về ông già râu trắng phau phau kia. Tôi tưởng rằng nếu có một người cần được nể nang thì chính là ông cụ. Vì thế, tôi cứ để chân dưới ghế. Bố tôi nói:

Con là con lớn của bố mẹ. Lúc bố cưới mẹ thì có một người con gái trước đó cứ tưởng rằng bố sẽ lấy cô ta. Bởi vậy cô ta coi mẹ là người tình địch và căm thù mẹ dữ dội. Để báo thù, đúng cái ngày con được sáu tháng, cô ấy đánh cắp con, mang con sang Pháp, đến Pari vứt con ở đường phố. Bố mẹ đã hết sức tìm kiếm, nhưng không đến tận Pari vì không ngờ rằng người ta mang con đi xa như thế. Bố mẹ không tìm thấy con, đã tưởng con chết rồi và mất hẳn, thì cách đây ba tháng, người đàn bà ấy lâm bệnh ngặt nghèo đã thổ lộ hết sự thật trước khi nhắm mắt. Lúc bấy giờ, bố tức tốc sang Pháp, tìm đến ông cẩm ở khu phố mà người ta vứt con. Ở đấy người ta cho biết rằng một người thợ nề tỉnh Cơrơdơ đã nhận con về nuôi, và đó chính là người đã nhặt được con. Tức thời bố đi Savanông hỏi Bácbơranh. Lão nói lão đã cho Vitali thuê con, Vitali là một nhạc sĩ rong, cho nên con đang dạo nước Pháp với ông già ấy. Vì bố không thể ở lại bên Pháp để đuổi theo Vitali nên bố cậy

Bácbơranh và đưa tiền cho lão ta để khi tìm được con thì cho những người thừa biện lo việc cho bố biết. Bố không để địa chỉ ở đây cho lão là vì chúng ta chỉ ở Lơnđơn trong mùa đông thôi. Mùa nóng ấm thì chúng ta đi khắp nơi trên đất Anh và đất Êcốtxơ để bán hàng rong mang theo xe cộ và cả gia đình. Thế đấy, con ạ, ta đã tìm lại được con và sau mười ba năm cách biệt, con đã trở về vị trí của con trong gia dinh như thế đây. Bố biết rằng tất thế nào con cũng còn sợ sệt khó gần, vì con chưa hề biết những người thân trong nhà ta và hai bên lại chưa hiểu được tiếng nhau. Nhưng bố hy vọng rằng con sẽ chóng sống quen trong nhà này.

Đúng, tôi sẽ chóng quen thôi. Cái đó dĩ nhiên quá bởi vì tôi trở về giữa gia đình tôi, và những người chung sống với tôi là cha tôi, mẹ tôi, các em trai, em gái tôi.

Những chiếc tã đẹp mách bảo sai rồi. Đối với má Bácbơranh, em Lidơ và bác Acanh, đối với những ai chở che đùm bọc tôi thì đây là điều không may. Tôi không thể giúp đỡ họ như tôi mơ ước. Bán hàng rong, mà lại ở trong cái nhà chứa xe như thế này thì có đâu phải là người lắm tiền nhiều của! Nhưng đối với tôi thì nghĩ cho kỹ, chẳng có hề gì! Tôi có gia

Đình, thế là đủ, còn cái việc tưởng tượng rằng mình là con nhà giàu thì chẳng qua là một giấc mơ con trẻ, có xá gì. Tình ở bên trên tiền, tôi không cần tiền bạc, tôi chỉ cần trìu mến yêu thương.

Trong khi tôi chăm chăm chú chú nghe chuyện bố tôi thì bữa cơm tối đã dọn lên: Những chiếc đĩa nhỏ hoa xanh bày quanh một đĩa sắt lớn đựng một tảng thịt bò bỏ lò, chung quanh xếp đầy khoai tây.

Bố tôi hướng về Mátchia và tôi mà hỏi:

Hai đứa nhỏ có đói không?

Mátchia không đáp, nhe hàm răng trắng nõn ra.

- Thế thì chúng ta dùng bữa đi thôi. - Bố tôi nói.

Trước khi ngồi vào bàn ăn, bố tôi đẩy chiếc ghế bành của ông tôi đến bên bàn. Rồi bố ngồi xuống, quay lưng lại bếp và bắt đầu cắt miếng thịt thăn bò quay; ông xé cho chúng tôi mỗi người một lát lớn, kèm với khoai tây. Tôi không nuôi dạy theo phép lịch sự xã giao, nói cho đúng thì tôi không được giáo dục gì cả. Nhưng tôi cũng nhận thấy rằng các em tôi thường thường lấy tay bốc thức ăn, nhúng cả ngón tay vào nước xốt rồi đưa lên miệng liếm mà hình như bố mẹ tôi không để ý. Còn ông tôi thì chỉ chăm chú vào cái đĩa của mình: Bàn tay duy nhất dùng được của ông cụ cứ luôn luôn đưa từ đĩa lên mồm. Khi những ngón tay run rẩy làm sẩy ra một miếng thì mấy em trai tôi chế nhạo ông cụ.

Bữa tối xong, tôi ngỡ gia đình sẽ quây quần chung quanh ngọn lửa. Nhưng bố tôi bảo sắp phải tiếp mấy người bạn cho nên chúng tôi phải đi ngủ. Rồi ông cầm một cây nến đưachúng tôi đến một buồng xép tiếp với buồng ăn, ở đấy có hai cỗ xe lớn thuộc loại những người buôn bán rong thường dùng. Bố tôi mở cửa một chiếc xe, trên ấy có hai cái giường đặt chồng lên nhau. Ông nói:

Giường của các anh đâv. Ngủ ngon giấc nhé!

Tôi được gia đình tôi, - gia đình Đơrixcơn, - đón tiếp như thế đấy!
 
15,989 ❤︎ Bài viết: 1929 Tìm chủ đề
Chương 35: Thờ kính cha mẹ

Khi lui ra, bố tôi không mang nến đi. Nhưng ông đã đóng cửa kéo chốt ngoài. Như thế thì chỉ còn có việc đi ngủ thôi. Chúng tôi lên giường ngay, không chuyện vãn với nhau như bình thường chúng tôi có thói quen trước khi đi ngủ, cũng không kể lể với nhau những cảm tưởng trong cái ngày lắm việc này.

Rêmi ngủ ngon nhé! - Mátchia nói.

Chúc Mátchia ngủ ngon!

Mátchia không thích trò chuyện, cũng như tôi không thích. Sự im lặng của Mátchia làm tôi nhẹ người. Nhưng không thích nói chuyện không có nghĩa là thích ngủ. Nến tắt rồi mà tôi vẫn không chợp mắt, cứ trăn trở trên chiếc giường nhỏ hẹp mà nghĩ ngợi về những việc đã xảy ra. Nghĩ ngợi phần mình đã đành, tôi lại nghe thấy Mátchia nằm ở giường trên cũng động đậy, cũng trăn trở, nghĩa là nó cũng thao thức như tôi. Tôi hỏi khe khẽ:

Cậu không ngủ sao?

Không, chưa ngủ được!

Chỗ nằm không tốt à?

Cảm ơn! Không đâu! Trái lại chỗ tớ tốt lắm! Có điều là quanh tớ, cái gì cũng quay quay, y như là còn ở giữa biển và cái xe này thì cứ nhô lên hụp xuống và tròng trành bốn phía hai bên.

Có phải chỉ vì say sóng mà Mátchia trằn trọc không ngủ? Hay nó cũng mải nghĩ ngợi về những điều như tôi? Nó yêu mến tôi, tâm hồn trí óc chúng tôi hòa hợp với nhau đến mức tôi cảm thấy thế nào thì nó cảm thấy thế ấy.

Giấc ngủ vẫn không đến và đêm càng về khuya càng làm tôi sợ sệt thêm, sợ sệt vô cớ. Sợ gì? Tôi không biết, nhưng rõ ràng là tôi sợ. Không phải sợ vì nằm trong chiếc xe này ở giữa cái khu phố Bétnơn Gờrin nghèo khổ này. Đã bao nhiêu lần trong quãng đời lưu lạc, tôi phải ngủ đêm với màn trời chiếu đất chứ đâu được yên ổn như chỗ này! Tôi biết rằng ở đây không có gì nguy hiểm hết mà sao tôi vẫn hãi hùng. Càng cố làm gan trấn tĩnh, tôi lại càng hoang mang tợn.

Thời khắc trôi qua nhưng tôi không biết đêm đã khuya chừng nào vì chung quanh không có đồng hồ điểm canh. Thình lình tôi nghe có tiếng động khá mạnh ở cửa buồng xép, cái cửa này trông ra một đường phố khác chứ không ở phía sân Sư tử đỏ. Rồi sau nhiều tiếng gõ gọi cách quãng đều đều thì có ánh đèn lọt vào trong xe. Tôi lấy làm lạ. Vội nhìn quanh mình, còn con Capi ngủ bên cạnh thì choàng dậy định sủa. Tôi thấy ánh đèn lọt vào chỗ tôi qua một cửa sổ nhỏ trên thành xe. Giường của chúng tôi kê sát thành xe ấy, nhưng lúc đi nằm chúng tôi không để ý đến cái cửa sổ vì có màn che cửa lại. Nửa trên cửa sổ nằm đứng ngang giường Mátchia, nửa dưới trông vào giường tôi. Tôi để tay lên mõm con Capi để cho nó khỏi sủa vang làm thức giấc mọi người trong nhà và tôi nhìn ra ngoài.

Bố tôi đã vào trong buồng xép; nhanh chóng và lặng lẽ, ông mở cái cửa trông ra đường. Hai người đàn ông vác những bọc nặng bước vào và bố tôi lại nhanh chóng và lặng lẽ đóng cửa lại. Rồi ông đặt một ngón tay lên môi và đưa tay kia đang xách đèn lên chỉ cái xe có chúng tôi nằm. Cái đèn của ông là một thứ đèn lồng có nắp, có thể che ánh sáng tùy ý. Và cái cử chỉ của ông tỏ ý bảo người ta không nên gây tiếng động làm chúng tôi thức giấc.

Sự quan tâm của bố tôi khiến tôi cảm động. Tôi toan kêu lên bảo bố cứ mặc tôi vì tôi vẫn thức giấc. Nhưng rồi tôi lặng thinh vì sợ gọi toáng lên thì làm mất giấc ngủ của Mátchia. Bố tôi đỡ cho hai người đàn ông đặt các bọc đồ xuống. Rồi ông đi một lát và trở lại cùng với mẹ tôi. Trong lúc vắng bố tôi, hai người đàn ông đã mở các bọc hàng. Một bao đựng đầy những súc vải, bít tất, găng tay. Lúc đó tôi mới hiểu cái việc thoạt đầu làm cho tôi ngạc nhiên: Những người này đến bán hàng cho bố mẹ tôi.

Bố tôi cầm từng món đồ hàng lên, đưa ra ánh đèn xem xét rồi trao cho mẹ tôi. Mẹ tôi cầm chiếc kéo con cắt nhãn hiệu bỏ vào túi. Cái việc này kỳ quặc, cũng như việc mua bán giữa đêm khuya thế này xem ra cũng thật lạ lùng.

Bố tôi vừa xem hàng vừa nói khe khẽ mấy câu với hai người đưa hàng tối. Nếu tôi biết tiếng Anh thì hẳn tôi đã nghe đủ, nhưng không hiểu tiếng thì nghe rõ làm sao được. Chỉ có hai tiếng bob và policeman (1), thì lặp lại nhiều lần là tôi nghe rõ.

Khi đã xem xét cẩn thận tất cả những món hàng chứa trong mấy cái bao, bố mẹ tôi và hai người khách ra khỏi buồng xép để vào nhà. Buồng lại tối. Rõ ràng là họ đi tính toán tiền nong. Tôi muốn tự bảo rằng những việc mắt thấy vừa rồi là bình thường thôi, không có gì lạ. Nhưng dù cố gắng bao nhiêu, tôi cũng không tự mình tin được. Những người đó đến nhà bố mẹ tôi sao không đi qua sân Sư tử đỏ? Tại sao khi nói về cảnh sát, họ lại thì thầm với nhau như tuồng sợ người ngoài nghe thấy. Tại sao mẹ tôi cắt các nhãn hiệu đính vào các thứ hàng bà mua?

Mải loay hoay với những câu hỏi đó, tôi không ngủ được và tôi cố xua đuổi chúng nó vì không tìm ra lời giải đáp. Nhưng không tài nào xua đuổi được. Lát sau lại có ánh sáng rọi vào xe tôi và tôi lại nhìn qua khe màn. Lần này tôi không muốn nhìn mà cứ phải nhìn, khác với lần trước, tôi nhìn một cách tự nhiên để thấy, để biết. Bây giờ thì tôi tự nhủ không nên nhìn ra, vậy mà tôi vẫn cứ nhìn ra. Tôi cũng tự nhủ rằng có lẽ tốt hơn hết là không nên biết, vậy mà tôi vẫn cứ muốn biết.

Bây giờ chỉ có bố mẹ tôi thôi. Trong khi mẹ tôi nhanh chóng gói các món hàng thành hai kiện, thì bố tôi quét một góc buồng. Dưới lớp cát khô mà ông quét bạt đi, hiện ra một nắp hầm. Ông nhấc nắp và đưa xuống hầm hai kiện hàng mẹ tôi vừa gói xong. Mẹ tôi cầm đèn soi cho bố tôi. Cái hầm sâu bao nhiêu, tôi không nhìn thấy. Làm xong, bố tôi leo lên, đậy nắp hầm lại và lấy chổi quét cát phủ lên. Trên mặt cát, bố mẹ tôi rắc mấy cọng rơm cho giống các nơi khác trên nền buồng. Công việc xong xuôi, bây giờ không tài nào trông thấy chỗ nắp hầm được. Rồi bố mẹ tôi đi ra.

Khi bố mẹ tôi nhẹ tay đóng cửa lại thì tôi nghe thấy Mátchia động đậy trên giường, tuồng như nó kê đầu lên gối thì phải! Nó đã nhìn thấy sự việc xảy ra chăng? Tôi không dám hỏi. Bây giờ có một cái gì còn nghiêm trọng hơn là một sự lo sợ mơ hồ đang đè nặng ngực tôi. Tôi biết vì sao tôi sợ rồi. Từ đầu đến chân, cơ thể tôi đẫm mồ hôi lạnh toát. Suốt đêm tôi cứ như thế. Một con gà ở nhà bên gáy lên, báo hiệu trời sắp sáng. Bấy giờ tôi mới thiếp đi, thiếp đi trong một giấc ngủ nặng nhọc, chập chờn, đầy những mộng mị hãi hùng làm tôi nghẹt thở.

Tiếng ổ khóa cót két làm tôi tỉnh giấc và cửa buồng mở ra. Tưởng bố tôi gọi chúng tôi dậy, tôi nhắm mắt lại để đừng nhìn thấy ông. Mátchia nói:

Em cậu đến mở cửa cho chúng ta đó! Nó đi rồi.

Chúng tôi đứng lên. Mátchia không hỏi tôi có ngủ ngon không và tôi cũng không nói gì với nó hết. Có một lúc nào đó, nó nhìn tôi thì tôi quay nhìn chỗ khác. Chúng tôi đi vào nhà bếp, ở đấy không có bố tôi, cũng không có mẹ tôi. Ông tôi thì vẫn ngồi trong ghế trước lò sưởi y như là từ tối hôm qua ông không hề rời khỏi chỗ. Em gái lớn của tôi là Anni đang lau bàn, còn em trai lớn là Alơn thì quét rác. Tôi đến bắt tay chúng, nhưng chúng không đáp. Tôi bèn đến ông tôi. Ông tôi không để cho tôi lại gần và cũng như tối hôm qua, ông khạc nhổ về phía tôi. Cử chỉ đó làm tôi cụt hứng. Tôi bảo Mátchia:

Cậu hỏi giúp tớ xem trong buổi sớm nay, lúc nào thì tớ gặp được bố mẹ tớ? Mátchia hỏi.

Nghe nói tiếng Anh, mặt ông cụ có co giãn ra một chút, bớt cái vẻ bất động đáng

Khiếp đi. Ông chịu khó trả lời. Tôi hỏi:

Ông cụ nói gì?

Nói bố cậu đi vắng suốt cả ngày hôm nay, mẹ cậu ngủ, anh em chúng mình có thể đi dạo chơi được.

Ông cụ chỉ nói thế thôi à? - Tôi hỏi như vậy vì thấy lời dịch của Mátchia ngắn quá. Mátchia có vẻ lúng túng, nó nói:

Tớ không biết đoạn sau tớ hiểu có đúng hay không?

Thì cứ thử nói cậu hiểu như thế nào để xem!

Hình như ông cụ nói nếu chúng ta đi ra phố mà gặp cơ hội tốt thì không nên bỏ lỡ. Rồi ông cụ nói thêm, và câu này thì tớ tin chắc là tớ hiểu rõ: "Hãy nhớ lấy lời tao, phải biết sống trên lưng những đứa dại".

Chắc là ông cụ đoán Mátchia đang giải nghĩa những lời ông cụ nói cho tôi hiểu, vì nghe đến câu sau cùng này, thì ông dùng cái bàn tay không bị bại của ông làm cái cử chỉ bỏ một vật gì vào túi. Cùng lúc ấy, ông nheo mắt lại.

Chúng ta đi chơi đi. - Tôi bảo Mátchia.

Trong hai hay ba tiếng đồng hồ, hai đứa tôi đi dạo quanh quẩn gần sân Sư tử đỏ. Chúng tôi không dám đi xa ra vì sợ lạc đường. Ban ngày khu Bétnơn Gờrin này hiện ra còn xấu xí tồi tệ hơn ban đêm nữa, cảnh bần cùng bày ra khắp nơi; từ nhà cửa đến người ngợm,

Đâu cũng thấy sự nghèo khổ não lòng nhất. Mátchia và tôi chỉ trông thấy, chứ không nói năng gì cả.

Quay trở lại thì vừa đến đầu sân, chúng tôi đi vào nhà.

Mẹ tôi đã ra khỏi buồng ngủ. Từ cửa, tôi đã nhìn thấy mẹ áp đầu trên mặt bàn. Ngỡ mẹ ốm, tôi chạy đến để hôn mẹ, vì tôi không nói chuyện với mẹ được. Tôi đưa tay ôm mẹ. Mẹ tôi ngẩng đầu lên, cái đầu cứ lắc lư, rồi mẹ nhìn tôi nhưng chắc là không trông thấy. Lúc

Ấy từ hơi thở nóng hổi của mẹ tôi toát ra mùi rượu mạnh. Tôi lùi lại. Mẹ tôi lại gục đầu bên hai cánh tay duỗi thẳng trên mặt bàn. Ông tôi nói "gin" (2) rồi nhìn tôi mà cười gằn và nói mấy tiếng gì nữa tôi không hiểu. Lúc đầu, tôi đứng sững như mất hồn. Giây phút sau, tôi nhìn Mátchia, Mátchia cũng nhìn tôi, ứa nước mắt. Tôi ra hiệu cho nó, rồi hai đứa tôi trở ra.

Vai kề vai, tay nắm tay, chúng tôi đi mãi, không nói với nhau một lời, cứ nhìn thẳng trước mặt mà đi tới, không biết là đi đâu. Mátchia có hơi lo ngại, hỏi:

Chúng mình đi đâu thế này?

Không biết, đi chỗ nào nói chuyện với nhau được thì đi. Mình cần nói với cậu điều này, nhưng ở đây, giữa đám đông này, mình không nói được.

Chính như thế đấy! Trong cuộc đời nay đây mai đó, qua nội qua rừng, theo kiểu cụ Vitali, tôi đã có thói quen không bao giờ nói chuyện quan trọng giữa đường phố, hoặc trong làng, và khi nói có người qua lại là tôi quên ngay những ý định nói. Vậy mà lúc này tôi lại muốn nói chuyện quan trọng với Mátchia và tôi hiếu rõ là tôi sẽ nói gì với nó.

Lúc ấy, chúng tôi đã vượt qua những ngõ hẹp đến một đường phố rộng hơn, ở cuối đường hình như có cây cối. Có lẽ ở đầu ấy là thôn quê rồi, chúng tôi đi theo hướng ấy.

Nhưng không phải là thôn quê mà là một công viên bao la, có những bồn cỏ rộng xanh mướt và những lùm cây tơ đây đó. Chỗ này quả là chỗ lý tưởng để tâm sự. Tôi đã có chủ định, tôi biết rõ tôi muốn gì. Khi đã ngồi yên ở một xó cách bức và kín đáo, tôi nói với bạn tôi:

Mátchia thân mến, cậu biết là mình yêu thương cậu và chắc cậu cũng biết là chỉ vì tình bạn mà mình bảo cậu đi theo mình về nhà bố mẹ mình chứ? Bây giờ mình yêu cầu cậu làm gì thì cậu cũng chả nghi ngờ gì cái tình bạn của mình, phải không?

Cậu ngu lạ! - Mátchia đáp và gượng cười.

Cậu cười để cho mình khỏi mủi lòng. Nhưng mủi lòng cũng chả việc gì. Mình còn khóc được với ai nếu không là với cậu?

Nói đến đây, tôi ngã vào lòng Mátchia khóc òa lên. Những lúc một thân một bóng, thất thểu trên mặt đường mênh mông, tôi cũng chưa bao giờ thấy khổ sở như hôm nay. Tôi nấc lên một hồi rồi cố trấn tĩnh: Tôi đưa Mátchia đến vườn này có phải để cho nó than thở vì tôi đâu! Không phải vì tôi, chỉ vì nó! Tôi nói:

Mátchia ơi, cậu phải đi thôi. Cậu trở về Pháp đi!

Kìa cậu à? Không đời nào!

Mình biết trước thế nào cậu cũng trả lời mình như vậy, và cậu hãy tin rằng mình lấy làm sung sướng, rất sung sướng được nghe cậu nói không đời nào cậu rời mình. Tuy vậy, cậu phải rời bỏ mình đi, cậu trở về Pháp hay đi Italia tùy cậu, về đâu không quan trọng, miễn là cậu không ở trên đất nước Anh nữa.

Thế còn cậu, cậu định đi đâu? Cậu tính cho chúng ta đi đâu đây?

Mình ấy à? Mình thì phải ở lại đây, ở Lơnđơn đây với gia đình mình chứ! Bổn phận của mình không phải ở bên cạnh bố mẹ mình thì là gì? Còn lại bao nhiêu tiền, cậu lấy mà đi đi!

Đừng nói thế, Rêmi! Nếu có một người cần đi thì người ấy là cậu mới đúng!

Tại sao?

Tại vì..

Mátchia này, cậu hãy trả lời tớ thẳng thắn, thành thực, không nể nang, không e sợ, tối hôm qua, cậu thức? Và cậu có trông thấy, phải không?

Mátchia không ngước mắt lên, đáp khe khẽ:

Mình thức.

Cậu thấy gì?

Tất cả.

Và cậu hiểu?

Là những món hàng bọn kia đem tới bán không phải là hàng buôn. Bố cậu rầy chúng sao không gõ cửa trước mà lại gõ cửa buồng xép. Chúng bảo chúng bị cảnh sát rình mò, theo dõi.

Đã thế thì cậu phải thấy cậu đi là đúng.

Nếu tớ cần phải đi thì cậu cũng phải đi. Chả ai cần hơn ai.

Khi mình yêu cầu cậu đi với mình thì mình ngỡ là gia đình mình sẽ cho cả hai đứa đi học và chúng ta sẻ ở gần nhau. Sở dĩ mình tin thế vì nghe má Bácbơranh nói và cũng vì mình mơ tưởng thế. Nhưng sự việc đã không như thế và chiêm bao vẫn hoàn là chiêm bao. Cho nên chúng ta phải chia tay nhau.

Không khi nào.

Hãy nghe mình cho kỹ, hãy thông cảm với mình đi, Mátchia! Đừng làm mình buồn bực thêm mà! Ví như chúng mình gặp lão Garôphôli ở Pari và lão bắt cậu về thì có phải là cậu không muốn cho mình ở lại với cậu, phải không nào? Ấy đấy, cái điều mình nói với cậu bây giờ đây, tất cậu cũng nói với mình nếu gặp trường hợp ấy.

Có đúng thế không? Cậu hãy nói cho mình biết có đúng thế không?

Bây giờ đến lượt cậu phải nghe tớ nói, cậu nghe cho rõ đây. Khi ở Savanông, nghe cậu bảo gia đình cậu đi tìm cậu thì mình buồn lắm. Đáng lẽ phải vui thì mình lại bực mình. Mình đã không nghĩ tới hạnh phúc của cậu, mình chỉ nghĩ tới mình. Mình tự nhủ là cậu sẽ có anh chị em trai gái mà cậu sẽ yêu thương như yêu thương mình, có lẽ còn hơn mình nữa. Những người ấy là những người giàu sang, thông thái, lịch sự, những cậu ấm, cô chiêu xinh trai đẹp gái. Mình nghĩ thế rồi hóa ra ghen tị. Đó là điều cậu cần biết, đó là sự thật mà mình cần thú nhận với cậu để cậu tha thứ cho mình, nếu cậu có thế tha thứ cái loại tình cảm xấu xa như vậy.

Chao ôi! Mátchia!

Nói đi, nói là cậu tha thứ cho mình đi!

Sẵn lòng! Mình có thấy nỗi buồn phiền của cậu. Mình có bao giờ thù hằn cậu đâu!

Bởi vì cậu là con bò. Và là con bò lành quá! Còn mình thì ác. Cậu tha thứ cho mình vì cậu tốt bụng, chứ mình thì mình không tự tha thứ đâu, vì mình không lành như cậu. Cậu chưa biết hết đâu. Mình tự bảo: Ta đi với hắn sang Anh để xem sao; rồi khi hắn đã sung sướng, thật sung sướng rồi, khi hắn không có thì giờ nghĩ đến ta nữa thì ta cút, và cút thẳng; ta sẽ đi một mạch về Lúcca hôn em Crítxtina của ta. Nhưng đáng lẽ giàu sang và sung sướng như chúng mình tưởng thì cậu không giàu và cậu.. nghĩa là cậu không như chúng mình tưởng trước đâu. Bởi vậy, mình không nên xéo, và cái người cần ôm vào lòng không phải là Crítxtina, em gái mình; cái người cần ôm vào lòng là người bạn nghề nghiệp, người bạn thiết cốt, người anh em của mình, cái người đó là Rêmi.

Mátchia nói thế và cầm lấy tay tôi mà hôn. Bấy giờ nước mắt tôi tuôn trào, nhưng nước mắt này không đắng cay, không nóng bỏng như trước nữa.

Tuy hết sức cảm động, tôi vẫn không từ bỏ ý định:

Cậu phải đi đi! Cậu phải trở về Pháp, phải gặp Lidơ, bác Acanh, má Bácbơranh, gặp tất cả những người thân của tớ và nói cho họ biết vì sao tớ không giúp được họ như tớ mong muốn, tớ mơ tưởng và hứa hẹn. Cậu sẽ phân trần là bố mẹ tớ không giàu có như chúng mình tưởng, thế cũng đủ để họ tha thứ cho mình. Cậu hiểu chứ? Gia đình tớ nghèo, cái đó giải thích tất! Nghèo khó không phải là điều đáng xấu hổ!

Không phải vì nghèo mà cậu muốn cho mình xéo. Bởi vậy mình không đi.

Mátchia ơi, mình van cậu. Cậu đừng làm cho mình khổ thêm. Cậu thấy mình đã khổ quá rồi mà!

Ồ! Tớ không muốn ép cậu nói cái điều mà cậu sợ xấu hổ không nói trắng ra. Tớ không linh lợi, không tinh ý, không hiểu hết những cái dội vào đầu - Nó đập đập trên đầu - Nhưng tớ cảm thấy hết những cái xói vào chỗ này - Nó đặt tay lên ngực - Không phải vì cha mẹ cậu nghèo mà cậu muốn cho tớ bước! Không phải vì họ không nuôi nổi tớ, vì tớ có ăn báo cô người ta đâu, tớ sẽ làm lụng cho người ta chứ! Cậu muốn mình đi nơi khác bởi cậu đã thấy những việc đêm qua và cậu sợ cho mình.

Đừng nói thế, Mátchia!

Cậu sợ rồi đến lúc mình phải cắt nhãn hiệu những món hàng không mua mà có!

Ôi chao ôi! Mátchia, Mátchia thân mến ơi, cậu im đi mà!

Lấy cái gì dám chắc rằng không thể có hai đứa bé bị vứt bỏ ở đại lộ Brơtơi cùng một hôm? Và tại sao viên cẩm lại không có thể nhầm lẫn khi chỉ cho ông Đơrixcơn về Savanông? Có thể lắm chứ!

Cái đó thì phi lý quá.

Cũng có lẽ! Điều tớ nói, tớ giải thích nghe ra phi lý. Chẳng qua là tớ nói kém, tớ giải thích không ra trò, bởi cái đầu óc khốn nạn của tớ. Người khác sẽ giải thích hay hơn, và nó sẽ trở nên có lý. Chỉ có tớ mới là phi lý, thế thôi!

Chao ôi, không! Chưa phải thế là thôi đâu!

Cuối cùng, cậu phải chú ý rằng cậu không giống bố cậu, cũng không giống mẹ cậu, và cậu không có mái tóc vàng như các em cậu. Tóc tất cả lũ chúng - tất cả, cậu nghe rõ chưa? - đều một màu vàng như nhau. Nếu là anh em thì sao tóc cậu lại không thế? Mặt khác, có điều này cũng lạ, rất lạ: Tại sao người ta nghèo như thế mà bỏ ra được nhiều tiền như thế để tìm lại một đứa con? Vì các lẽ ấy, theo tớ thì cậu không phải là một người họ Đơrixcơn. Tớ biết rằng tớ chỉ là một con bò thôi, người ta luôn luôn mắng tớ như vậy, lỗi ở cái đầu óc kém thông minh này. Nhưng tớ cũng cứ tin chắc rằng cậu không phải là một chú bé Đơrixcơn và cậu không nên ở gia đình Đơrixcơn. Nếu bất chấp tất cả, cậu muốn ở lại thì mình cũng ở lại với cậu. Nhưng cậu cũng phải cố gắng viết cho má Bácbơranh một lá thư để hỏi thật rõ xem những tã lót và áo xống của cậu lúc bấy giờ như thế nào! Khi được thư trả lời, cậu sẽ hỏi thử người mà cậu gọi là bố, và lúc ấy có lẽ chúng ta sẽ hiểu rõ hơn ít nhiều. Từ nay đến đó, mình sẽ không đi đâu hết, mình ở đây với cậu, ra sao thì ra! Cần làm việc thì chúng mình cùng làm với nhau.

Nhưng nếu rủi một ngày kia, người ta choảng lên đầu chú Mátchia?

Cái đó không phải là cái khổ nhất: Vì bạn mà nhận đòn thì đòn có đau đâu!
 
15,989 ❤︎ Bài viết: 1929 Tìm chủ đề
Chương 36: Capi hư nết

Đến đêm chúng tôi mới về đến sân Sư tử đỏ. Suốt ngày, chúng tôi chỉ đi dạo trong công viên xinh đẹp vừa đi vừa trò chuyện, sau khi mua một miếng bánh mì ăn lót dạ. Lúc bấy giờ bố tôi đã về và mẹ tôi cũng tỉnh rượu rồi, cả bố lẫn mẹ không trách mắng chúng tôi về việc đi chơi quá lâu. Sau bữa tôi, bố tôi bảo cần nói chuyện với hai đứa tôi. Bố đưa chúngtôi đến trưởc lò sưởi khiến ông tôi buông một tiếng gầm gừ: Quả là ông tôi bảo vệ chỗ sưởi của mình một cách dữ tợn thật. Bố tôi hỏi:

Ở bên Pháp, các anh sinh nhai như thế nào? Nói cho tôi nghe thử xem. Tôi kể lại công việc làm ăn của chúng tôi, như ông đã bảo.

Như thế thì các anh không bao giờ lo chết đói, có phải không?

Không bao giờ. - Mátchia đầy tự tin. - Chẳng những chúng tôi sinh sống được, mà chúng tôi còn kiếm ra tiền để tậu một con bò sữa nữa.

Và đến lượt Mátchia thuật lại chuvện mua bò.

Thế thì các anh cũng lắm tài đấy! Hãy cho tôi xem các anh làm được những gì nào! Tôi lấy thụ cầm làm một bản, nhưng không phải là bài dân ca xứ Naplơ của tôi.

Khá đấy, khá đấy. - Bố tôi nói. - Còn Mátchia thì làm được gì?

Mátchia chơi một bài vĩ cầm và một bài kèn đẩy. Bản sau này làm cho lũ nhỏ vỗ tay rầm rộ; chúng đứng thành vòng tròn chung quanh chúng tôi để nghe.

Còn con Capi? Nó biết làm trò gì? Thiết tưởng các anh mang con chó theo không phải để cho vui mà thôi. Chắc ít nhất nó cũng kiếm đủ ăn phần nó chứ!

Tôi tự hào về tài nghệ của con Capi. Thật ra không phải vì nó mà thôi, mà còn vì cụ Vitali nữa. Tôi muốn nó diễn một đôi tiết mục trong pho trò của nó. Capi được lũ nhỏ hoan nghênh nhiệt liệt, như thường lệ. Bố tôi nói:

Ồ! Con chó này là cả một gia tài đây!

Tôi đáp lời khen đó bằng những lời ca tụng con Capi. Tôi cam đoan rằng nó có thế học tập nhanh chóng tất cả những gì người ta vui lòng dạy nó, kể cả những ngón mà thường thường chó không làm được.

Bố tôi dịch những lời tôi nói ra tiếng Anh. Hình như ông có thêm thắt đôi câu mà tôi không hiểu nhưng làm mọi người cười ầm. Ông tôi cũng cười và nheo mắt nhiều lần kêu fine dog, nghĩa là chó đẹp. Con Capi không lấy thế làm vinh hạnh. Bố tôi lại nói:

Đã thế thì ta đề nghị với hai anh thế này.. Nhưng trước hết Mátchia phải cho biết chú ở trên đất Anh có tiện không và chú có muốn ở đây với chúng tôi không?

Tôi muốn ở lại với Rêmi. -Mátchia đáp. -Rêmi đi đâu thì tôi đi đó.

Mátchia tự cho là ngu, nhưng thật ra là nó láu, nó tinh ý hơn nó nói ra nhiều, hơn cả là nó tưởng. Bố tôi lấy làm vừa lòng về câu trả lời của nó vì không hiểu ẩn ý trong đó. Ông nói:

Đã thế thì tôi trở lại với đề nghị của tôi: Nhà ta nghèo cho nên ai cũng phải làm việc cả mới có cái sống. Mùa hè, ta đi rong trên đất Anh và các con ta đưa hàng tới bán tận nhà những người không chịu bỏ công đi mua. Mùa đông, ta không có việc gì làm cho lắm. Chừng nào chúng ta còn ở Lơnđơn thì Rêmi và Mátchia có thể đi đánh đàn ở các phố. Chác chắn là hai chú sẽ đạt những khoản thu hàng ngày khá lắm, nhất là vào khoảng gần đến ngày lễ Nôen. Nhưng ở đời không nên phung phí, cho nên con Capi thì phải để cho nó đi diễn trò với thằng Alơn và thằng Nét.

Tôi vội vã nói:

Chỉ có đi với con thì con Capi mới diễn trò tốt. Bắt con rời nó thì không tiện chocon.

Nó sẽ tập làm việc với Alơn và Nét. Con cứ yên lòng. Chia toán của con ra như vậy sẽ thu được nhiều tiền hơn.

Nhưng mà nó đi riêng thì chẳng làm nên cơm cháo gì, con cam đoan là thế! Vả lại số thu của Mátchia và con sẽ sụt đi. Biểu diễn với con Capi, chúng con sẽ thu nhiều hơn.

Chuyện! Thế là đủ rồi. - Bố tôi nói. - Khi ta đã quyết định một điều thì ta muốn điều đó phải được thực hiện, và thực hiện tức khắc. Đó là gia pháp ở nhà này. Ta muốn anh phục tùng gia pháp đó như mọi người.

Biết không thể rằng một rằng hai gì được, tôi không nói nữa. Nhưng tôi nghĩ thầm rằng những điều tôi mơ ước cho con Capi cũng diễn ra một cách đen tối như những mơ ước của bản thân tôi. Thế là chúng tôi sắp xa nhau. Nó sẽ buồn và tôi cũng buồn biết bao nhiêu!

Chúng tôi trở về chiếc xe hôm qua đi ngủ. Hôm nay bố tôi không đẩy chốt cửa nhốt chúng tôi.

Tôi vừa nằm xuống thì Mátchia chưa cởi áo xong đã lại ghé tai tôi nói thầm:

Mày thấy không, cái người mà mày gọi là bố đó không những bắt con làm việc cho ông ta. Lại bắt cả chó cũng phải làm. Cái việc này đã làm sáng mắt mày ra rồi chứ? Đến mai chúng mình viết thư cho má Bácbơranh nhé!

Nhưng sáng hôm sau thì phải dặn bảo con Capi đã. Tôi ôm nó trên tay. Vừa hôn lên mũi nó nhiều lần, tôi vừa nhẹ nhàng, êm ái giải thích cho nó hiểu tôi muốn nó làm gì. Tội nghiệp con chó! Nó nhìn tôi quyến luyến, nó nghe tôi chăm chú làm sao! Khi tôi trao chiếc dây dắt cho Alơn, tôi giải thích với nó lần nữa. Con chó mới thông minh, dễ bảo làm sao! Nó

Đi theo hai em tôi. Dáng buồn rầu, nhưng không phản kháng.

Về phần Mátchia và tôi thì bố tôi đã hạ cố đưa chúng tôi đến một khu phố, ở đấy có cơ kiếm được nhiều tiền. Chúng tôi đi xuyên qua thành phố Lơnđơn để đến những ngôi nhà tráng lệ với những cổng nguy nga trong những đường phố đồ sộ hai bên có vườn tược, ở mấy con đường đẹp đẽ rộng lề ấy, không có những người nghèo khổ rách rưỡi và đói xo: Chỉ có những bà phu nhân xinh đẹp, áo xiêm sặc sỡ, những cỗ xe ván cửa bóng loáng như gương, những người xà ích to béo, tóc rắc phấn thơm, dong những con ngựa quý giá. Đường đi khá dài, chúng tôi trở về sân Sư tử đỏ hơi chậm. Tôi rất sung sướng lại được thấy con Capi, lấm lem nhưng hí hửng.

Tôi sung sướng được gặp lại nó đến nỗi sau khi lấy rơm khô kỳ cọ thật sạch cho nó. Tôi bọc nó trong tấm da cừu và ủ nó trên giường tôi. Trong hai đứa, nó và tôi, đứa nào sung sướng hơn, kể cũng khó nói.

Mọi việc cứ qua đi như thế trong nhiều hôm liền.

Chúng tôi đi từ sáng, diễn hết pho trò ở khu phố này thì đi đến khu phố khác, mãiđến tối mới về nhà. Trong lúc đó thì Alơn và Nét dẫn con Capi đi biểu diễn. Nhưng một hôm, bố tôi bảo hôm sau tôi có thể mang con Capi theo bởi vì ông giữ Alơn và Nét ở nhà. Chúng tôi thích quá. Chúng tôi quyết nỗ lực thu một món tiền lớn với Capi, sao cho từ nay về sau người giao hẳn nó cho chúng tôi. Vấn đề là phải thu hồi con Capi, cho nên cả Mátchia lẫn tôi đều không tiếc công sức.

Thế là sáng hôm đó, chúng tôi chăm chút tắm rửa, chải chuốt cho nó thật kỹ. Rồi chúng tôi lên đường, tìm đến khu phố mà kinh nghiệm cho chúng tôi biết là "chư vị khán giả" ở đây móc túi chi tiền một cách dễ dàng. Muốn vậy, chúng tôi phải đi suốt Lơnđơn từ Đông sang Tây. Không may cho kế hoạch chúng tôi dự định là từ hai hôm rồi sương mù không tan. Trời lúc này là một tầng mây mầu da cam và trong các đường phố lửng lơ một màn khói xám xám cách ít bước đã không còn trông rõ hình người. Thế này thì người ta ít đi ra đường đây, và từ sau các cửa sổ, người ta nghe chúng tôi đàn hát chứ không nhìn thấy con Capi, đó là một điều không lợi cho khoản thu nhập. Bởi thế Mátchia cứ nguyền rủa cái màn sương chết tiệt, không ngờ rằng lát sau nó giúp ích cho cả ba chúng tôi.

Chúng tôi rảo bước đi nhanh; để giữ con Capi bên gót, chốc chốc tôi bảo nó một câu, đối với nó câu nói đó có tác dụng hơn một cái xích chắc nhất. Chúng tôi đi qua một phố đông đúc nhất và buôn bán thịnh vượng nhất của thành phố Lơnđơn. Thình lình tôi thấy vắng con Capi. Nó ra sao rồi? Lạ thật! Tôi rẽ vào đầu một ngõ phố, đứng lại chờ nó. Tôi huýt sáo khe khẽ vì tôi không trông được xa. Tôi bắt đầu lo có kẻ bắt trộm nó, thì thấy nó phi đến, mồm ngoạm một đôi tất len, đuôi ve vẩy mừng rỡ. Nó chồm lên, đặt hai chân trước lên người tôi và đưa đôi tất để tôi cầm lấy. Trông dáng nó đắc ý lắm như những khi vừa hoàn thành một tiết mục khó khăn nhất, nó đến đòi tôi ban khen. Sự việc xảy ra trong nháy mắt. Tôi còn đương kinh ngạc thì đột nhiên Mátchia một tay chụp đôi tất, một tay lôi tôi đi sâu vào trong ngõ. Nó nói:

Đi nhanh lên, nhưng mà đừng chạy!

Tớ cũng như cậu, đang ngẩn ngơ tự hỏi đôi tất này từ đâu ra thì tớ nghe thấy một người nói: "Thằng kẻ cắp đâu rồi?". Thằng kẻ cắp là con Capi đó, chắc cậu hiểu. Nếu không có sương mù thì người ta đã tóm cổ chúng mình vì tội ăn cắp rồi.

Tôi hiểu quá chứ! Tôi uất ức đến nghẹn thở. Chúng nó đã biến con Capi hiền lành, lương thiện thành một tên kẻ cắp. Tôi bảo Mátchia:

Đi về thôi! Cậu cầm dây dắt lấy con Capi!

Mátchia không nói gì cả. Chúng tôi đi nhanh về tới sân Sư tử đỏ. Bố mẹ và mấy em tôi đang gấp vải quanh bàn. Tôi ném đôi tất lên bàn, làm thằng Alơn và thằng Nét bật cười. Tôi nói:

Đây là một đôi tất con Capi vừa đánh cắp, vì người ta đã biến con Capi thành một tên kẻ cắp. Tôi muốn tin rằng đây chỉ là một trò đùa thôi!

Tôi vừa nói vừa run, nhưng chưa bao giờ thấy mình cương quyết như thế. Bố tôi hỏi:

Nếu không phải là trò đùa thì mày làm cái gì, thử nói xem?

Tôi sẽ buộc dây vào cổ con Capi rồi đem dìm xuống sông Tamidơ, mặc dù tôi yêu quý nó. Tôi không muốn con Capi trở thành một tên trộm cắp, cũng như không muốn mình trở thành một tên trộm cắp. Nếu tôi nghĩ rằng một ngày kia tôi sẽ phải thế thì ngay tức khắc tôi đâm đầu xuống sông tự tử cùng nó.

Bố tôi nhìn thẳng vào mặt tôi, vung tay giận dữ như muốn quật chết tôi. Đôi mắt ông thiêu đốt tôi. Nhưng tôi không nhìn xuống. Dần dần, mặt ông giãn ra. Ông nói:

Mày cho đó là một trò đùa thì đúng, đấy là một trò đùa. Để cho cái trò đùa ấy đừng diễn lại, từ nay con Capi chỉ đi với mày thôi.
 
15,989 ❤︎ Bài viết: 1929 Tìm chủ đề
Chương 37: Tã đẹp nói dối

Tôi cố gắng làm thân nhưng hai thằng em tôi, Alơn và Nét, chỉ một mực tỏ ác cảm ra mặt. Tất cả những gì tôi muốn làm cho chúng nó đều bị chúng nó hắt hủi. Rõ ràng, đối với chúng, tôi không phải là một người anh.

Chuyện con Capi đã dựng nên một sự ngăn cách rõ rệt giữa chúng tôi. Tôi bảo chúng nó rõ không phải bằng lời nói vì tôi nói tiếng Anh còn khó khăn, mà bằng điệu bộ rất sinh động và đầy ý nghĩa, trong đó hai nắm đấm đóng vai trò chính. Tôi dùng hai nắm đấm nói rằng nếu chúng nó còn muốn giở trò gì với con Capi thì sẽ đụng ngay với tôi, tôi sẵn sàng bảo vệ con Capi hoặc trả thù cho nó.

Không có em trai nữa, tôi tìm đến em gái. Nhưng Anni, con chị đối xử với tôi cũng chẳng hơn gì mấy đứa em trai nó. Cũng như hai thằng kia, nó ác cảm ra mặt đối với những cố gắng làm thân của tôi. Không ngày nào nó không bày trò cho tôi một vài vố theo kiểu của nó, và con bé quả là giàu sáng kiến về mặt này!

Bị Alơn và Nét xa lánh, bị Anni hắt hủi, tôi chỉ còn con bé Két, mới lên ba, còn quá ngây thơ để nhập bọn với các anh chị. Con bé cũng thích để tôi vuốt ve, trước hết bởi vì tôi thường bảo Capi diễn trò cho nó xem. Về sau, khi Capi trở về với chúng tôi thì tôi lại đưa về cho con bé nào kẹo, nào bánh, nào cam; trong khi chúng tôi diễn trò ngoài đường phố, bọn trẻ nhỏ đã mang quà lại và long trọng bảo: "Phần con chó!". Đem cam làm quà cho chó, có lẽ chẳng thích hợp lắm, nhưng tôi cũng nhận và cảm ơn. Những quả cam ấy sẽ giúp tôi giành được thiện cảm của tiểu thư Két.

Ấy đó, trong cả cái gia đình mà tôi dành cho biết bao nhiêu trìu mến trong tim tôi khi mới đặt chân lên đất Anh, chỉ còn mỗi con bé Két là còn cho phép tôi được quý mến nó. Ông tôi vẫn cứ khạc nhổ một cách giận dữ về phía tôi mỗi khi tôi đến gần. Bố tôi chỉ chú ý đến tôi mỗi buổi chiều khi hỏi đến số tiền thu được. Mẹ tôi thường vắng mặt; Alơn, Nét và Anni thì ghét bỏ tôi. Chỉ còn Két là còn để cho tôi vuốt ve, nhưng phải chăng chỉ khi nào túi tôi còn đầy quà? Đến là thất vọng!

Bởi thế, lúc đầu tuy tôi bác bỏ những điều ức đoán của Mátchia, nhưng trong tâm trạng buồn bực, cũng đã có lúc tôi phải tự hỏi mình rằng nếu tôi đúng là con của nhà này, thì mọi người tất đã bộc lộ những tình cảm khác với cách đối xử khá thô bạo với tôi như hiện nay. Mà tôi đâu đã làm gì đáng phải chịu sự ghẻ lạnh hoặc sự phũ phàng ấy cho cam!

Thấy tôi ủ rũ và suy nghĩ buồn phiền, Mátchia hiểu ngay vì sao. Nó bảo tôi, mà cũng như tự nhủ với mình: "Tớ nóng lòng muốn biết má Bácbơranh sẽ trả lời cậu ra sao!".

Muốn nhận được bức thư mà chúng tôi đã dặn gửi theo cách "lưu trạm" (1), chúng tôi thay đường đi mọi ngày. Chúng tôi xuống tận nhà bưu điện. Trong nhiều ngày, chẳng có gì, nhưng cuối cùng thì lá thư hằng nóng lòng mong đợi ấy cũng đã được trao tận tay người nhận. Nhà bưu điện không phải là nơi thuận tiện để đọc thư, chúng tôi lại đến con đường nhỏ ở một phố gần đây, cũng là để có thời gian cho cảm xúc lắng xuống chút ít. Ở đó, tôi đã mở bức thư của má Bácbơranh nghĩa là thư mà người cha xứ Savanông viết hộ:

"Bé Rêmi yêu mến,

Những điều con cho má biết trong thư khiến má ngạc nhiên và bực bội.. Má cứ tưởng bố mẹ con gia tư dư dật, hơn thế, vào hạng giàu sang quyền quý nữa kia..

Con bảo má nói tường tận cho con rõ những chiếc tã bọc con như thế nào. Dễ lắm, vì má đã giữ lại tất cả những vật ấy, để dùng làm tang chứng trong việc nhìn nhận con, cái ngày người ta đến hỏi con. Trước nay má vẫn đinh ninh rằng thế nào rồi cũng có cái ngày ấy.

Nhưng trước hết phải nói rằng con không có tã. Đôi lúc má nói đến tã là vì thói quen và cũng vì trẻ em ở xứ má bọc tã. Con thì không bọc tã. Trái lại con mặc quần áo đàng hoàng. Đây là những vật mặc trên người con lúc bấy giờ: Một cái mũ chụp bằng ren, chỉ khác thường

Chỗ đẹp và sang quá, một chiếc yếm vải phin viền ren cỡ nhỏ ở cổ và cánh tay; một đôi hài dệt tay màu trắng đính những cái găng tơ; một cái áo dài bằng dạ trắng và cuối cùng là một chiếc áo khoác ngoài trùm cả đầu bằng hàng cátsơmia trắng, lót lụa, thêu thùa rất đẹp..

Sau hết phải nói rằng tất cả những áo xống ấy đều không mang dấu hiệu. Nhưng cái khăn bọc và cái yếm chắc là có đánh dấu, bởi vì cái góc thường thường mang dấu hiệu thì đã bị cắt đi. Việc này chứng tỏ người ta đã tìm đủ mọi cách để đề phòng kẻ đi tìm không theo dấu

Vết được. Đó là tất cả những cái má có thế nói rồi đó, bé Rêmi yêu quý ạ. Nếu con thấy cần những vật ấy, con chỉ việc viết thư cho má, má sẽ gửi đến cho con.

Con đừng phiền lòng, con yêu quý, đừng phiền lòng là không biếu má được những tặng vật tốt đẹp mà con hứa với má. Con bò sữa, do con nhịn bữa mà mua, đối với má quý hơn tất cả những vật biếu tặng trên đời. Má vui mừng tin cho con biết rằng con bò khỏe, sữa không giảm và nhờ nó ngày nay má sống thư thả. Mỗi khi thấy nó, má không thể không nghĩ tới con và chú bạn nhỏ Mátchia của con.

Má sẽ rất vui lòng nhận thư con viết cho má biết tin tức của con. Má mong những tin ấy luôn luôn tốt lành. Con âu yếm, giàu tình cảm là thế, lẽ nào chẳng sung sướng giữa gia đình con, có cha, có mẹ, anh chị em trai gái bên cạnh! Thế nào người ta cũng sẽ yêu con xứng đáng với tấm lòng con.

Chào con, con yêu quý, má hôn con âu yếm.

Mẹ nuôi của con.

Quả phụ BÁCBƠRANH."

Đoạn cuối bức thư khiến tim tôi se lại. Tội nghiệp má, má tốt với tôi làm sao! Vì má

Yêu tôi nên má ngỡ ai cũng yêu tôi như má.

Bà ấy tốt quá. - Mátchia nói. - Bà có nghĩ đến tớ đấy! Mà dù bà không nghĩ đến đi nữa tớ cũng cảm ơn bà. Bà đã tả tỉ mỉ, trọn vẹn như vậy thì ông Đờrixcơn không thể nhầm lần nổi đối với cậu khi kể những áo quần cậu mặc lúc người ta bắt trộm cậu.

Ông ấy có thể quên!

Đừng nói thế! Ai lại đi quên những bộ quần áo con mình mặc ngày mình mất nó vì chính những bộ quần áo ấy sẽ giúp mình tìm lại nó.

Tớ xin cậu đừng có đoán già đoán non, chờ đến khi bố tớ trả lời hẵng hay.

Tớ có đoán gì đâu, chỉ có cậu nói là ông ấy có thể quên.

Thôi được, để rồi xem.

Hỏi bố xem tôi ăn mặc như thế nào cái ngày bị bắt trộm là việc không dễ. Giá tôi hỏi một cách thực thà, không dụng ý thì hết sức đơn giản. Đằng này không phải như thế và chính sự dụng ý khiến tôi rụt rè do dự.

Thế rồi một hôm, vì mưa rét quá, phải về sớm, tôi đánh bạo nói về cái vấn đề lâu nay giày vò tôi. Tôi mới bắt đầu hỏi thì bố tôi đã nhìn trừng trừng vào mặt tôi. Ông có thói quen làm thế mỗi khi tôi nói cái gì phật ý ông. Nhưng tôi đương đầu với cái nhìn ấy gan dạ hơn là tôi tưởng trước đây khi nghĩ tới giây phút này. Tôi ngỡ rằng ông sắp nổi giận. Tôi lo lắng liếc mắt về phía Mátchia, nó lắng tai nghe mà vờ không để ý. Tôi muốn phân bua với nó là tại nó nên tôi mới mắc vào cái việc vụng dại này. Nhưng bố tôi không nổi nóng. Qua cơn giận lúc đầu, ông mỉm cười. Thực ra thì trong nụ cười ấy có cái gì tàn ác, nhẫn tâm, nhưng dù sao đó vẫn là một nụ cười. Ông nói:

Cái điều giúp bố tìm con đắc lực nhất là sự mô tả những quần áo con mặc ngày con bị bắt trộm: Một mũ chụp bằng ren, một chiếc yếm viền ren, một khăn bọc và một cái áo dài bằng dạ, một đôi tất len, một đôi hài dệt tay, một áo khoác ngoài trùm cả đầu bằng cátsơmia trắng có thêu. Bố rất trông cậy ở hai chữ F. Đ đánh dấu trên khăn yếm; nó là tên con: Phờrăngxi Đơrixcơn. Nhưng dấu hiệu ấy đã bị người phụ nữ bắt trộm con cắt đi, chị ta hy vọng rằng làm thế thì không bao giờ ta tìm lại được con. Bố cũng đã xuất trình tờ khai lễ rửa tội sao lục ở nhà thờ xứ; người ta đã trả lại bố và hình như bố còn cất đâu đây.

Ông nói thế và sốt sắng đi tìm trong ngăn kéo, bình thường ông không sốt sắng như thế bao giờ, lát sau ông mang lại một tờ giấy có đóng nhiều con dấu trao cho tôi. Tôi đánh bạo một lần cuối:

Nếu bố cho phép, -tôi nói, - con nhờ Mátchia dịch ra cho con nghe.

Được chứ!

Chữ được chữ mất, Mátchia dịch ra cho tôi biết là tôi sinh ngày thứ năm mồng 2 tháng 8, tôi là con ông Pơtơrích Đơrixcơn và bà Mácgơrít Gơrengiơ, vợ ông ta.

Còn đòi hỏi gì nữa kia chứ? Tuy nhiên Mátchia cũng không lấy làm thỏa mãn. Đêm đến, khi chúng tôi đã chui vào chiếc xe của chúng tôi rồi thì nó lại ghé vào tai tôi như khi cần nói một điều bí mật:

Tất cả các cái ấy không thể chê được, nhưng rốt cục vẫn không làm sáng tỏ vì sao

Ông Đơrixcơn bán hàng rong và bà Gơrengiơ, vợ ông, lại giàu có đến mức sắm cho con những mũ ren, những yếm viền ren, những áo khoác thêu thùa. Những người buôn bán hàng rong đâu có lắm tiền thế!

Chính vì người buôn bán cho nên người ta có thể mua sắm những thứ ấy không mất nhiều tiền!

Mátchia huýt sáo, lắc đầu. Xong, nó lại rỉ tai tôi:

Cậu muốn tớ nói cái điều cứ lởn vởn mãi trong óc tớ không? Là cậu không phải là con của Đơrixcơn tiên sinh mà chính Đơrixcơn tiên sinh đã bắt trộm cậu.

Tôi muốn cãi lại, nhưng Mátchia đã lên giường nó. Nếu tôi là Mátchia thì có lẽ tôi cũng giàu tưởng tượng như nó. Nhưng ở vị trí tôi, không thể nghĩ ngợi lung tung bừa bãi được! Đối với Mátchia thì đó là chuyện của Đơrixcơn tiên sinh, như nó nói. Nhưng đối với tôi thì lại là chuyện của bố tôi. Khi trí óc tôi muốn nhảy bừa theo Mátchia, thì tôi đưa tay nắm giữ nó lại, và tôi cố làm cho tay tôi rắn chắc.

Về Đơrixcơn tiên sinh, Mátchia có thể suy nghĩ đủ điều. Đối với nó, Đơrixcơn tiên sinh hoàn toàn là người dưng nước lã, chẳng có gì gắn bó. Nhưng trái lại, đối với bố tôi, thì tôi có bổn phận phải tôn kính.

Rõ ràng là có điều bất thường trong hoàn cảnh của tôi, nhưng tôi đâu có quyền tự do nhìn cái đó với con mắt của Mátchia.

Mátchia có quyền nghi ngờ. Đối với tôi, đó là một điều cấm kị. Khi Mátchia thổ lộ những điều nghi ngờ thì bổn phận của tôi là phải buộc nó im đi. Tôi đã cố gắng làm thế, nhưng Mátchia có ý riêng của nó, không phải lúc nào tôi cũng khuất phục được nó! Nhiều khi đâm tức, nó nói:

Mày muốn choảng thì choảng, nhưng phải nghe đã!

Và thế là tôi cứ phải nghe những câu nó hỏi:

"Tại sao Alơn, Nét, Annơ và Két tóc vàng, còn cậu thì không?"

"Tại sao tất cả mọi người trong nhà đều ác cảm với cậu, như đối với một con chó ghẻ, chỉ trừ Két nó đã biết gì đâu?"

"Làm thế nào mà những người nghèo như thế lại sắm nổi hàng ren cho con mặc?" Đối với tất cả những cái tại sao, những cái thế nào ấy, tôi chỉ có một câu trả lời thích

Đáng, tự nó cũng là một câu hỏi:

Gia đình Đờrixơn tìm tôi làm gì nếu tôi không phải là con họ? Và nếu không phải là con thì họ đưa tiền cho Bácbơranh, cho Gơret và Gơli làm gì?

Nghe thế, Mátchia bắt buộc phải trả lời rằng nó không giải đáp được. Tuy nhiên nó vẫn không chịu thua.

Nó nói:

Tớ không thể trả lời được câu hỏi của cậu, chưa hẳn là tớ đã sai khi đặt ra với cậu những điều mà chính cậu cũng không giải đáp được. Một người khác ở địa vị tớ sẽ tìm ra ngay cớ sao Đờrixcơn tiên sinh đã cất công kiếm cậu và nhằm mục đích gì ông ta đã tiêu tiền như thế! Về phần tớ thì tớ chẳng hiểu được vì sao, bởi vì tớ không tinh ranh và cũng chẳng biết cái gì ra cái gì cả!

Cậu đừng nói thế, cậu vốn tinh mà lị.

À, nếu quả tớ tinh thật, tớ sẽ giải thích ngay lập tức cho cậu cái điều mà tớ không thể giải thích nhưng cảm thấy được. Không đâu! Cậu không phải là con trong gia đình Đơrixcơn đâu! Cậu không phải và không thể là như thế được! Điều này nhất định một ngày kia sẽ rõ như ban ngày. Tuy nhiên, bởi vì cậu cứ ương ngạnh không chịu mở mắt ra, tự cậu làm cho cái ngày đó càng đến chậm. Tớ hiểu rằng cái điều mà cậu gọi là lòng tôn kính đối với gia đình đã níu cậu lại, nhưng mà nhất định nó không thể khiến cậu hoàn toàn tê liệt được.

Vậy thì cậu muốn tớ làm thế nào?

Tớ muốn rằng chúng ta trở về đất Pháp.

Không thể được!

Rõ ràng là vì bổn phận gia đình mà cậu nán lại đây! Nhưng nếu gia đình ấy không phải là gia đình cậu thì còn cái gì giữ cậu lại nữa!

Những cuộc tranh luận kiểu ấy chỉ đưa đến kết quả là làm cho tôi đã buồn khổ lại càng buồn khổ hơn. Có gì ghê gớm bằng sự hoài nghi? Ấy thế mà mặc dù không muốn, tôi vẫn phải nghi ngờ.

Người cha ấy có đích thực là cha tôi không? Người mẹ ấy cứ đích thực là mẹ tôi không? Gia đình ấy có phải là gia đình của tôi không?

Cái điều này nói ra thì thật kinh tởm: Khi tôi sống một thân một mình, tôi lại thấy ít dằn vặt, ít khổ sở hơn ngày nay. Lúc ấy, lúc tôi buồn tôi khóc vì không có gia đình, ai có thể nói trước rằng khi tôi có gia đình thì tôi sẽ khóc vì thất vọng? Ánh sáng sẽ từ phương nào đến? Do ai đem lại? Tôi sẽ có ngày tìm thấy chân lý hay không?

Tôi đờ đẫn vì cảm thấy bất lực trước những câu hỏi ấy. Tôi tự nghĩ rằng tôi như người giữa đêm tối húc đầu vào một bức tường không có cửa thoát. Ấy thế mà phải ca hát, phải đánh những bản nhạc vũ, phải cười cợt, nhăn nhỏ trong khi lòng mình thấm thía nỗi buồn riêng.

Những ngày chủ nhật đối với tôi là ngày dễ chịu nhất vì ở Lơnđơn người ta không chơi nhạc ngoài đường vào ngày chủ nhật. Những hôm ấy tôi đi chơi với Mátchia và con Capi, có thể buồn bực tha hồ, không gò bó. Ôi! Sao mà tôi lại ít giống cái thằng Rêmi mấy tháng trước đây thế! Một chủ nhật nọ, tôi sắp sửa đi chơi với Mátchia thì bố tôi giữ tôi lại. Ông nói ông có việc cần đến tôi ngày hôm đó, và Mátchia cứ đi chơi một mình, ông tôi không ra nhà ngoài; mẹ tôi đã đi vắng cùng với Anni và Két, hai em trai tôi đã đi dạo phố. Thế là ở nhà chỉ có bố con tôi.

Chúng tôi ngồi với nhau khoảng một tiếng đồng hồ thì có tiếng gõ cửa. Bố tôi đứng lên đi mở cửa rồi trở vào với một người đàn ông khác với các bạn hữu bố tiếp thường ngày. Người này đúng là một người mà ở Anh người ta gọi là bậc thượng lưu, nghĩa là một người đàng hoàng, áo quần bảnh bao, vẻ hợm hĩnh nhưng vẫn có nét chán chường. Ông ta vào khoảng năm mươi. Cái điều làm tôi chú ý nhất ở ông ấy là cái nụ cười. Khi ông ta cười, hai môi chành ra đe lộ cả hai hàm răng trắng nhởn và nhọn hoắt như răng một con chó tơ. Cáinét này thật đặc biệt. Nhìn ông ấy, người ta phải tự hỏi cái chành môi kia có đúng là một nụ cười không, hay chỉ là một kiểu nhe răng chực cắn.

Vừa nói chuyện với bố tôi bằng tiếng Anh, ông vừa luôn luôn liếc mắt về phía tôi. Nhưng gặp luồng mắt tôi thì ông tránh ngay, không quan sát tôi nữa. Nói chuyện được mấy phút thì ông bỏ tiếng Anh, dùng tiếng Pháp. Ông nói tiếng Pháp trôi chảy, hầu như không lẫn cái giọng lơ lớ của người nước ngoài. Ông lấy ngón tay trỏ tôi mà nói với bố tôi:

Đây phải chăng là thằng bé mà anh đã nói chuyên với tôi? Nom nó khỏe đấy chứ?

Con hãy thưa ông đi, con! - Bố tôi bảo.

Sức khỏe anh tốt chứ? - Người khách hỏi tôi.

Thưa ông tốt.

Anh không bao giờ ốm đau à?

Tôi đã có lần sưng phổi.

Ồ! Ồ! Vì sao thế?

Vì đã ngủ một đêm trên tuyết phải lúc trời rét dữ dội. Chủ tôi cùng ngủ với tôi và đã chết rét. Còn tôi thì tôi bị sưng phổi.

Đã lâu chưa?

Cách đây ba năm.

Từ lúc ấy, anh có cảm thấy di hại gì của bệnh cũ không?

Thưa ông không.

Không mệt nhọc, không uể oải, không đổ mồ hôi trộm ban đêm?

Thưa ông không, không lúc nào như vậy. Có khi tôi mệt nhọc là vì đã đi bộ quá nhiều, nhưng không vì thế mà tôi sinh ốm.

Và anh chịu gian lao một cách dễ dàng.

Thưa ông, đành phải thế.

Ông ta đứng lên, đi lại phía tôi. Ông sờ nắn cánh tay tôi rồi đặt lên bàn tay lên chỗ tim tôi. Cuối cùng ông áp đầu vào ngực tôi, bảo tôi thở mạnh như là đã chạy nhiều: Ông lại bảo tôi ho lên.

Làm xong những việc ấy, ông nhìn chăm chú vào mặt tôi một lúc khá lâu. Chính lúc ấy tôi lại nghĩ rằng ông ta ưa cắn, bởi vì nụ cười của ông ta khiếp quá.

Ông không nói gì với tôi nữa, tiếp tục nói chuyện với bố tôi bằng tiếng Anh. Mấy phút sau, cả hai người đi ra, không đi qua cái cửa trước nhìn ra phố mà qua cửa buồng xép. Còn lại một mình, tôi suy nghĩ không hiểu những câu hỏi của ông khách có ý nghĩa gì. Ông muốn mướn tôi chăng? Thế thì phải xa Mátchia và con Capi! Với lại tôi đã quyết không làm đầy tỏ của một ai hết thảy, không làm đầy tớ của ông khách thượng lưu này mà tôi ghét, cũng không làm đầy tớ một người nào khác dù tôi ưa.

Một lát sau, bố tôi trở về nhà. Ông nói vì phải đi có việc, ông không sai khiến tôi vào công việc dự định trước đây và tôi có thể đi chơi nếu tôi thích. Tôi chả thích đi chơi chút nào, nhưng ở trong cái nhà buồn thiu này thì làm được gì? Thôi, đi dạo chơi còn hơn là ngồi rũ ra buồn chán thế này?

Trời mưa, tôi vào xe lấy tấm da cừu. Tôi ngạc nhiên biết bao nhiêu khi gặp Mátchia ở đây. Tôi sắp sửa hỏi thì nó đưa tay bịt miệng tôi, rồi nói thầm:

Đi ra mở cửa buồng xép đi! Xong tớ sẽ lặng lẽ chuồn ra sau lưng cậu. Không nên để người ta biết tớ ở trong xe.

Ra tới phố rồi, Mátchia mới chịu nói:

Cậu biết cái ông khách đến gặp bố cậu hồi nãy là ai không? Đó là ông Giem Miligơn, chú của Áctơ bạn cậu.

Tôi đứng ngẩn người ở giữa phố. Nó nắm cánh tay tôi, vừa đi vừa nói tiếp:

Tớ đi dạo một mình trong các phố buồn bã vào cái ngày chủ nhật rầu rĩ này cũng chán, bèn về ngủ quách. Tớ nằm lên giường nhưng chưa ngủ. Bố cậu cùng ông khách thượng lưu đi vào trong buồng xép này. Tớ không cố ý xem, nhưng vẫn nghe lọt câu chuyện họ nói với nhau. Ông khách nói: "Vững như quả núi! Lâm vào cảnh nó thì mười đứa chết cả mười, nó thì chỉ trả lời bằng một cơn sưng phổi thôi!" Bấy giờ tớ tưởng là họ nói về cậu nên lắng tai nghe. Nhưng câu chuyện đã chuyển ngay sang đề tài khác. "Thưa, cháu ngài sức khoẻ thế nào?" - Bố cậu hỏi. - "Khá hơn, lần này nữa nó cũng sẽ thoát nạn. Ba tháng trước đây, tất cả thầy thuốc đều chạy. Lần này nữa, người mẹ quý hóa của nó đã chăm sóc nó tận tình và lại cứu được nó! Ôi chao! Bà Miligơn ấy quả là một từ mẫu!" Cậu tưởng tượng xem nghe đến cái tên ấy tớ vểnh tai thế nào! Bố cậu nói: "Nếu cháu ngài khá lên thì thưa ngài, tất cả sự đề phòng của ngài đều hóa ra hoài công sao?"... "

Trước mắt thì có lẽ thế! Nhưng tôi không thừa nhận rằng thằng Áctơ sẽ sống được. Nó mà sống thì là một chuyện mầu nhiệm, mà chuyện mầu nhiệm thì không còn xảy ra ở cái thế giới này nữa! Phải làm thế nào để cái ngày nó chết đi, không thể có ai về làm thiệt hại cho tôi, và người thừa kế duy nhất sẽ là tôi,

Giem Miligơn"... "

Xin ngài cứ yên lòng, thưa ngài, mọi việc sẽ diễn ra đúng như thế, tôi bảo

Đảm"... "

Tôi trông cậy ở anh". Người khách nói thế. Rồi ông ta nói thêm một câu mà tớ không hiểu rõ cho lắm. Tớ cứ thử dịch ra xem, mặc dù thấy không có nghĩa: "Lúc bấy giờ, chúng ta sẽ xem nên xử trí cái đó như thế nào". Thế rồi ông ta đi.

Nghe xong câu chuyện, tôi thoạt có ý nghĩ về ngay nhà hỏi bố tôi chỗ ở của ông

Miligơn để được biết tin tức về Áctơ và bà mẹ nó. Nhưng tôi kịp thấy ngay đó là một dự định điên rồ. Ai lại đi hỏi tin cháu ở một ông chú đang nóng đợi giờ phút cháu chết! Lại nữa, về mặt khác, cho ông Miligơn biết là người ta đã nghe hết những lời ông nói, thế có phải là dại dột, nguy hiểm không!

Áctơ vẫn sống. Nó khá hơn trước. Lúc này được cái tin lành ấy cũng đủ vui rồi.
 
15,989 ❤︎ Bài viết: 1929 Tìm chủ đề
Chương 38: Những đêm Nôen

Từ bấy giờ, chúng tôi chỉ nói đến Áctơ, bà Miligơn và ông Giem Miligơn. Áctơ và bà mẹ nó hiện ở đâu? Tìm chỗ nào thì thấy được người ta?

Việc ông Giem Miligơn đến đây gợi ra cho chúng tôi một ý định và giúp chúng tôi nghĩ ra một kế hoạch mà chúng tôi tin chắc rằng sẽ thành công: Ông Giem Miligơn đã tới sân Sư tử đỏ một lần thì thế nào ông cũng đến lần thứ hai, lần thứ ba. Ông ấy không có việc với bố tôi là gì! Cho nên lần sau, lúc ông về thì Mátchia sẽ đi theo ông, vốn ông không biết mặt Mátchia mà! Thế là ta biết chỗ ở của ông. Rồi thì ta gợi chuyện với kẻ ăn người ở trong nhà và có lẽ những điều họ cho biết sẽ đưa chúng ta đến bên cạnh Áctơ.

Chứ không sao? Trí tưởng tượng của chúng tôi cho là việc này nhất định sẽ thực hiện. Cái kế hoạch tốt đẹp ấy không những có thể giúp chúng tôi tìm Áctơ vào một lúc nhất định nào đó, mà bây giờ đây nó lại gỡ cho tôi khỏi nỗi lo âu.

Từ sự việc con Capi và từ khi có thư trả lời của má Bácbơranh. Mátchia luôn luôn nhắc tôi bằng mọi cách: "Chúng ta trở về đất Pháp thôi!" Điệp khúc ấy mỗi ngày lại được nó tô vẽ thêm tình tiết mới. Đáp lại, tôi đưa ra một điệp khúc khác, cũng luôn luôn lặp đi lặp lại một giọng. "Tớ có bổn phận không được từ bỏ gia đình". Và chúng tôi không nhất trí được với nhau là ở cái vấn đề bổn phận ấy. Liên tiếp nổ ra những cuộc tranh cãi không đi đến đâu bởi vì bên nào cũng khư khư giữ chặt cái ý mình. "Phải đi thôi"... "

Tớ phải ở lại". Những khi tôi thêm "để tìm cho được Áctơ" vào cái điệp khúc muôn thuở "Tớ phải ở lại" thì Mátchia không còn đường cãi nữa! Nó không thể chống lại vấn đề Áctơ: Cần phải cho và Miligơn biết rõ ý đồ của em chồng bà chứ!

Nếu chờ ông Miligơn đến mà cứ ngày đi vắng từ sớm đến tối như từ khi chúng tôi đến Lơnđơn đến nay thì thật là ngu xuẩn. Nhưng cũng đã gần đến lúc chúng tôi không đi biểu diễn ngoài phố ban ngày nữa. Chúng tôi sắp đi diễn đêm vì những cuộc hợp tấu trong dịp lễ Nôen tiến hành vào khoảng giữa đêm. Như thế thì ban ngày nằm nhà, cắt một đứa canh phòng nghiêm ngặt, chắc chắn chúng tôi sẽ gặp ông chú của Áctơ.

Một hôm Mátchia nói với tôi:

Giá cậu biết tớ mong cậu tìm thấy bà Miligơn chừng nào!

Tại sao mới được chứ?

Tại vì bà ấy tốt với cậu quá! Rồi nó lại thêm:

Và cũng vì có lẽ bà ấy có thể làm cho cậu gặp được bố mẹ.

Mátchia!

Cậu không muốn tớ nói rõ cái điều ấy? Tớ không cố ý nghĩ như vậy nhưng hiểu sao mà không một phút nào tớ có thể chấp nhận rằng cậu lại là con trong nhà Đơrixcơn này. Hãy nhìn kỹ tất cả những người trong gia đình ấy và hãy nhìn lại cậu một chút. Không phải tớ chỉ muốn nói đến những món tóc chổi rễ đâu! Thử hỏi xem, cậu có cái kiểu giơ bàn tay như cái ông cụ nội ấy, và cái cười giả tạo của cụ ta không! Rõ ràng cậu phải là người thượng lưu và nhất định là như thế khi nào chúng ta tìm gặp được bà Miligơn.

Vì sao vậy?

Tớ nghĩ một điều.

Hãy nói xem sao!

Ồ! Không!

Vì sao mà không?

Vì nếu ý nghĩ đó ngu xuẩn..

Thì?

Nếu nó không đúng thì ngu xuẩn quá! Không nên mừng trước về những việc chưa thực hiện! Ta phải rút bài học ở cái chuyện cây lá xanh tươi trong khu Bétnơn chứ! Chúng ta đã trông thấy nhiều đồng cỏ tươi tốt trong thực tế chỉ là những ao đầm lầy lội rồi mà.

Tôi không vật nài vì tôi cũng có một ý nghĩ.

Thực ra thì ý nghĩa của tôi lờ mờ, phiếm ảo, rụt rè lắm, chắc là còn ngu xuẩn hơn của Mátchia nhiều, tôi tin thế. Chính vì vậy mà tôi không gạn hỏi thêm Mátchia. Ví thử ý nghĩ của nó lại giống ý nghĩ đang phảng phất trong đầu tôi như một giác chiêm bao thì tôi biết trả lời thế nào! Tôi đã không dám diễn đạt ra rõ ràng thì sao tôi lại có gan tranh cãi với nóđược.

Chỉ có việc chờ đợi thôi, và chúng tôi chờ đợi. Trong khi chờ đợi thì chúng tôi tiếp tục chạy ngang chạy dọc giữa thành phố Lơnđơn, bởi vì chúng tôi không thuộc hạng những nhạc sĩ có ưu thế, làm chủ một khu phố có công chúng riêng của mình. Chúng tôi bé bỏng quá, mới mẻ quá, không thể làm vương làm tướng một nơi nào. Chúng tôi bắt buộc phải nhường chỗ cho những người biết chứng minh quyền sở hữu của mình bằng những luận cứ mà chúng tôi không đủ sức bác bỏ.

Đã bao lần, sau khi trổ tài nghệ chơi những bài tủ, sắp được thu tiền thì phải vội vàng cuốn gói trước một anh chàng Êcốtxe (1) hộ pháp, chân không đi tất, váy xòe, áo khoác kẻ ô, mũ cắm lông chim. Chỉ nghe tiếng kèn bị của anh ta thôi, chúng tôi cũng đủ chạy đi rồi. Chiếc kèn đẩy của Mátchia có thể át tiếng kèn bị ấy, nhưng sức chúng tôi thì không đương nổi sức con người thổi kèn bị kia.

Chúng tôi cũng không đủ sức cự địch những toán nghệ sĩ da đen đương dạo khắp phố phường.. Những người da đen giả hiệu ấy ăn mặc một cách lố bịch: Họ mặc những chiếc áo hình đuôi cá, họ đóng những cổ áo rộng thênh thang, nó bọc cái đầu họ lại như tờ giấy bọc bó hoa. Bọn này làm chúng tôi khủng khiếp hơn cả bọn đàn hát Êcốtxe. Thoạt thấy họ đến, hay chỉ mới nghe tiếng đàn bănggiô của họ thôi, chúng tôi cũng đã kính cẩn im lặng và rút lui khỏi chỗ đó, đến một khu vực có hy vọng không gặp một toán nào khác. Hoặc là chúng tôi xem họ và chờ họ dứt những tiết mục ầm ĩ của họ rồi mới biểu diễn.

Một hôm đang đứng làm khán giả của họ, tôi chợt nhận thấy một người trong bọn họ, người kỳ quặc nhất, ra hiệu cho Mátchia. Thoạt tiên tôi tưởng anh ta muốn chế giễu chúng tôi, đưa chúng tôi làm trò cười cho khán giả. Nhưng tôi hết sức ngạc nhiên khi thấy Mátchia trả lời anh ta một cách thân thiện.

Cậu quen với anh ấy à? -Tôi hỏi nó.

Anh Bốp đấy!

Bốp nào nhỉ?

Anh bạn Bốp của tớ trong gánh xiếc Gátxô, một trong hai vai hề tớ đã nói chuyện với cậu ấy mà. Tớ biết chút ít tiếng Anh là nhờ anh ấy nhiều hơn cả.

Lúc đầu, cậu không nhận ra anh ta à?

Đành rồi! Ở đàng Gátxô, anh ấy đầu xoa bột trắng ở đây thì lại trát xi.

Khi toán nhạc sĩ da đen ấy biểu diễn xong, anh Bốp đến chỗ chúng tôi. Có nhìn thấy anh ấy chào hỏi Mátchia mới biết chú bạn tôi biết ăn ở cho người ta yêu mến đến như thế nào. Một người anh ruột gặp em chưa chắc đã có cái ánh mắt và cái giọng nói vui mừng như thế. Anh hề xiếc xưa kia bảo "vì thời buổi khó khăn, anh ta phải đi làm nhạc sĩ du phương để kiếm bữa". Chúng tôi không thể đứng với nhau lâu: Anh ấy phải đi theo toán của anh ấy, còn hai chúng tôi thì phải tìm đến một khu phố mà toán anh không đến. Hai người hẹn nhau đến chủ nhật sẽ hưởng cái thú kể cho nhau nghe những việc mỗi người đã làm từ khi chia tay nhau. Hẳn là do tình bạn đối với Mátchia, anh Bốp cũng muốn tỏ thiện cảm với tôi và chẳng mấy chốc chúng tôi đã có một người bạn thân. Những kinh nghiệm và những lời khuyên bảo của anh đã giúp chúng tôi biết cách kiếm sống ở Lơnđơn dễ dàng hơn trước. Anh Bốp cũng rất mến con Capi và thường vẫn nói một cách thèm thuồng rằng nếu anh có được một con chó như thế thì làm giàu chẳng mấy chốc! Đã nhiều lần, anh bàn với chúng tôi nên hùn sức tay ba, đúng là tay tư, anh Bốp, Mátchia, Capi và tôi. Nhưng tôi không muốn từ bỏ gia đình trở về đất Pháp tìm gặp em Lidơ và các bạn cũ thì tôi càng không tha thiết lang thang cùng anh Bốp khắp nước Anh.

Chúng tôi nhích dần đến ngày lễ Nôen như thế đấy! Bây giờ thì chúng tôi không ra đi từ sáng nữa. Chúng tôi chờ đến tám chín giờ đêm mới lên đường để đến những khu vực chọn trước.

Chúng tôi bắt đầu ở những công viên và đường phố đã vắng bóng xe cộ. Những khúc hợp tấu của chúng tôi cần có sự thanh vắng nhất định để luồn vào cửa kính, đánh thức trẻ con trên giường ngủ, báo cho các em biết Nôen sắp đến. Nôen, ngày lễ chí thân của tất cả những người Anh. Đêm càng về khuya thì chúng tôi xuống dần các phố lớn: Bây giờ những chiếc xe cuối cùng chở người đi xem hát về đã đi qua, sự yên tĩnh đến thay cho cảnh huyên náo đinh tai trong ngày. Thế là chúng tôi đánh những bản đàn tình cảm nhất, êm đềm nhất, những bản đàn có tính chất sầu thương hay tín mộ. Cây vĩ cầm của Mátchia than khóc, cây thụ cầm của tôi rên rỉ. Buổi hợp tấu của chúng tôi đã xong: "Chúc quý ông quý bà ngon giấc và vui lễ Nôen!". Rồi chúng tôi đi đến một nơi khác diễn lại buổi hợp tấu.

Giữa đêm khuya nằm trong giường chăn ấm gối êm mà nghe âm nhạc thì hẳn là thú vị tuyệt vời. Nhưng chúng tôi ở ngoài đường thì không có chăn, cũng chả có gối. Thế mà lại phải đánh đàn, mặc dù mấy ngón tay đã tê, lạnh cóng. Có hôm trời đùn mây, sương mù thấm da thịt, ẩm ướt; có hôm trời vừa xanh vừa vàng, thăm thẳm, gió bấc thổi, rét đến buốt xương. Không có hôm nào khí hậu ôn hòa dễ chịu cả. Thời tiết Nôen khắc nghiệt với chúng tôi như thế, mà suốt ba tuần lễ chúng tôi chẳng ở nhà tối nào. Biết bao nhiêu lần, các cửa hiệu đóng cửa hết, chúng tôi dừng lại trước hàng gà vịt, hàng hoa quả, hàng tạp phẩm, hàng bánh mứt! Chao ôi! Những con ngỗng béo tròn! Những con gà tây núng nính! Những con gà mái tơ trắng nõn! Và đây là những núi cam, táo, những đống quả dẻ, mận khô! Những quả ướp lạnh ấy trông mới thèm làm sao!

Nhất định sẽ có những đứa trẻ, hí hửng vì thấy nhiều quà bánh, sung sướng ngả vào lòng bố mẹ. Là những kẻ khốn khổ lang thang trên phố, chúng tôi vẫn hình dung cảnh ngày lễ gia đình êm đẹp này ở lâu dài người quyền quý cũng như trong lều cỏ kẻ nghèo hèn.

Chúc một đêm Nôen vui vẻ cho những ai được yêu thương!

Sau những ngày Nôen, phải đi làm ban ngày, cho nên chúng tôi càng ít hy vọng gặp ông Giem Miligơn. Chúng tôi chỉ còn trông mong ở ngày chủ nhật, ngày đó là ngày tự do, có thể là ngày giải trí, đáng lẽ đi dạo chơi thì thường chúng tôi ở lì nhà.

Chúng tôi chờ đợi.

Không đả động gì đến những điều đương ám ảnh chúng tôi, Mátchia thành khẩn hỏi anh bạn Bốp có cách tìm được địa chỉ của bà Miligơn, có một đứa con trai bị bệnh bại liệt, hoặc là đơn giản hơn thì địa chỉ của ông Giem Miligơn. Nhưng anh Bốp đã trả lời rằng cần phải biết rõ cái bà Miligơn ấy thế nào và cũng phải biết rõ nghề nghiệp hoặc địa vị xã hội của ông Giem Miligơn ấy. Bởi vì ở ngay Lơnđơn đã có một số người mang cái tên Miligơn ấy huống hồ ở trong nước Anh thì lại còn nhiều người mang tên ấy hơn nữa.

Chúng tôi đâu có nghĩ đến điều đó. Đối với chúng tôi, chỉ có một bà Miligơn, đó là mẹ của Áctơ, và chỉ có mỗi một ông Giem Miligơn, đó là ông chú của Áctơ.

Mátchia lại bảo nên trở về Pháp và chúng tôi tranh luận lại càng hăng. Tôi nói:

Cậu từ bỏ cái ý định tìm gặp bà Miligơn rồi à?

Hẳn là không! Nhưng không gì chứng tỏ bà ấy còn ở Anh.

Cũng không có gì chứng tỏ bà ấy hiện ở Pháp.

Có phần chắc là bà ấy đã sang Pháp. Áctơ đã ốm thì mẹ nó tất phải đưa nó đến một vùng khí hậu tốt, người ốm dễ bình phục.

Không phải chỉ ở Pháp mới có khí hậu tốt cho sức khỏe.

Ở Pháp, thằng Áctơ đã lành bệnh một lần rồi, thì tất bà mẹ nó lại đưa nó sang Pháp lần nữa. Vả lại tớ muốn cậu đi khỏi nơi này!

Tôi ở vào cái cảnh ngộ gay cấn đến nỗi không dám hỏi Mátchia vì sao nó muốn tôi đi khỏi nơi này. Tôi ngại nó trả lời đúng chính cái điều mà tôi không muốn nghe thấy! Nó nói tiếp:

Tớ sợ quá! Đi đi thôi, Rêmi ạ! Rồi cậu sẽ thấy tai vạ giáng xuống đầu chúng ta cho mà xem. Ta đi đi thôi..

Tuy thế, tôi vẫn không đành nghe theo lời khuyên của Mátchia, mặc dầu thái độ của gia đình tôi đối với tôi vẫn như cũ, ông tôi vẫn cứ khạc nhổ một cách giận dữ về phía tôi, bố tôi vẫn chỉ có ra lệnh, mẹ tôi vẫn không bao giờ để mắt đến tôi, hai thằng em luôn giở đủ trò ác độc, hòng làm hại tôi, còn Anni vẫn ra mặt ghét bỏ tôi, bé Két vẫn chỉ mến tôi vì kẹo bánh

Đem về cho nó. Mà tôi cũng không thể nào tin được khi Mátchia cứ một mực nói rằng tôi không phải là "cậu ấm của Đơrixcơn tiên sinh". Ngờ vực, đúng tôi có thể ngờ vực lắm lắm, nhưng bảo tôi tin quả quyết rằng mình đúng là dòng máu Đơrixcơn hay không phải thế thì tôi không thể làm nổi.

Thời gian trôi đi chậm chạp, rất chậm, nhưng rồi ngày nối ngày, tuần tiếp tuần, cũng đã đến lúc gia đình tôi rời Lơnđơn để đi khắp chốn trên đất nước Anh.

Hai chiếc xe đã được sơn lại và đã chất đầy ắp đủ thứ hàng hóa đem bán trong mùa khô ráo.

Cơ man nào là hàng hóa đã được chất trong xe đến là tài tình: Vải, áo sợi, mũ nồi, khăn quàng, khăn tay, bít tất, quần đùi, áo gilê, cúc áo, chỉ khâu, vải bông, vải len, len sợi, kim, kéo, dao cạo, hoa tai, nhẫn, xà phòng, thuốc mỡ, xi đánh giầy, bàn là bằng đá, thuốc bột chữa bệnh ngựa, bệnh chó, thuốc tinh dầu để tẩy vết bẩn, thuốc nước chữa răng, thuốc làm mọc tóc hoặc nhuộm tóc!

Chúng tôi đứng đó và thấy rõ ràng là những kiện hàng ấy đều chuyển từ dân Sư tử đỏ ra, chứ không phải thẳng từ những của hàng bình thường vẫn bán.

Cuối cùng, xe chất đầy, ngựa cũng đã mua, mua ở đâu, mua cách nào, tôi không biết! Chỉ thấy dắt ngựa về và mọi việc xếp đặt xong xuôi để lên đường.

Còn chúng tôi thì sẽ làm gì? Ở Lơnđơn với ông già không hề rời sân Sư tử đỏ hay sao? Hay là sẽ đi bán hàng như Alơn và Nét? Cũng có thể cùng đi theo xe của gia đình, tiếp tục cái nghề nhạc sĩ rong, biểu diễn tiết mục tại những làng mạc, thành phố xe đi qua? Bố tôi thấy chúng tôi kiếm được khá tiền với cây vĩ cầm và cây thụ cầm, bèn quyết định chúng tôi

Đi với ông, nhưng vẫn làm cái nghề nhạc sĩ. Trước ngày lên đường ông nói ý định của ông. Mátchia bảo tôi:

Về Pháp nhé! Ta rình cơ hội đầu tiên để trốn đi.

Sao không chu du nước Anh một chuyến cho hay?

Vì chúng mình sẽ gặp họa, tớ nói cho cậu biết đấy!

Chúng ta có cơ hội gặp bà Miligơn trên đất Anh.

Tớ thì tớ tin rằng chúng ta có nhiều hy vọng thấy bà ấy trên đất Pháp hơn.

Thôi được, chúng ta hãy cứ thử tìm trên đất Anh. Sau này sẽ hay!

Cậu biết cậu đáng gì không?

Không!

Đáng cho tớ bỏ mặc cậu, tớ cút một mình sang Pháp!

Cậu nói có lý đấy! Vì vậy tớ khuyên cậu cứ làm thế đi! Tớ biết tớ không có quyền giữ cậu, tớ biết cậu ở với tớ thế này là cậu tốt bụng quá. Vậy thì cậu hãy đi đi, rồi cậu tìm

Đến Lidơ, nói với em..

Rằng cậu là một thằng ngu, một thằng xấu cho nên mới nghĩ rằng tớ có thể bỏ cậu mà đi trong lúc cậu đương khốn khổ thế này. Cậu khổ, phải, cậu khổ lắm. Thì tớ làm gì cậu mà cậu có những ý nghĩ thế kia cơ chứ? Hãy nói đi nào, nói tớ đã làm gì cậu? Không làm gì hết, phải không? Thế thì chúng ta lên đường với họ đi thôi!

Chúng tôi lại ra đi trên đường thiên lý. Nhưng lần này, tôi không được tự do muốn đi đâu thì đi, tự ý muốn làm gì thì làm. Chúng tôi đi theo gia đình Đơrixcơn.

Tuy nhiên, tôi rời bỏ thành phố Lơnđơn với cái cảm giác là được giải phóng. Tôi phải nhìn thấy cái sân Sư tử đỏ và cái miệng hầm, nó luôn luôn thu hút mắt tôi mặc dù tôi cố cưỡng lại. Đã bao nhiêu lần đương đêm tôi giật mình tỉnh giấc, vì mơ thấy ánh sáng đèn soi vào cửa chỗ tôi nằm. Đó là một ám ảnh, một cơn mê, nhưng vẫn đáng sợ. Tôi đã nhìn thấy cái ánh đèn ấy một lần, thế là đủ để cho tôi cảm thấy nó ở mãi trước con mắt tôi như một ngọn lửa nóng bỏng.

Hai đứa tôi đi theo sau xe. Chúng tôi không phải ngửi mùi hôi thối ở Bétnơn Gờrin nữa, mà hít thở khí trời trong sạch ở những cánh đồng chúng tôi đi qua..

Những cánh đồng ấy không mang cái từ "Gờrin" trong tên, nhưng lại có màu xanh cho đôi mắt ngắm và tiếng chim hót cho đôi tai nghe.

Ngay trong hôm đầu ra đi, tôi đã thấy người ta bán những hàng hóa không mất tiền mua ấy như thế nào. Đoàn chúng tôi đến một thôn lớn, đỗ xe ngay giữa chợ, người ta hạ một bên thành xe xuống và thế là cả gian hàng phơi bày dưới con mắt tọc mạch của người mua. Bố tôi rao:

Các ông các bà hãy xem giá hàng, xem giá hàng đi! Không đâu người ta bán giá như thế cả! Vì không bao giờ xỉa tiền mua cho nên tôi có thể bán rẻ. Bán ấy à? Không, bán thế cũng bằng cho không mà thôi! Hãy xem giá hàng! Mời các ông các bà hãy xem giá hàng.

Có những người tới xem giá hàng; lúc đi, tôi nghe thấy họ nói:

Hàng hóa này chắc là đồ trộm cắp!

Tự hắn nói rồi đó chứ còn gì!

Giá như họ nhìn qua phía tôi, họ thấy mặt tôi đỏ bừng lên thì chắc họ biết rằng những lời ức đoán của họ rất có căn cứ. Mátchia thì nó thấy và ngay tối hôm đó, nó nói thêm về chuyện ấy, mặc dù từ trước tới nay nó tránh không đi thẳng vào vấn đề.

Cậu chị mãi được sự sỉ nhục này chăng?

Van cậu đừng có nhắc đến nếu cậu không muốn làm khổ tớ hơn nữa.

Tớ có muốn thế đâu! Tớ muốn chúng mình trở về Pháp. Tớ nói mãi với cậu rằng thế nào cũng xảy ra tai vạ. Bây giờ tớ nhắc lại lần nữa và tớ cảm thấy tai vạ sắp giáng xuống rồi. Cậu phải hiểu rằng không chóng thì chầy, rồi cũng có ngày bọn cảnh sát muốn biết làm thế nào mà tiên sinh Đơrixcơn bán hàng của mình rẻ đến thế. Lúc bấy giờ sự thể sẽ ra sao?

Mátchia tớ van cậu!

Cậu đã không muốn mở mắt ra cho thấy, thì tớ phải nhìn thấy hộ cậu! Sẽ có ngày người ta tóm cổ ráo, cả cậu, cả tớ nữa, mặc dù chúng mình không làm gì nên tội. Làm sao chứng minh được rằng chúng ta không can dự vào? Làm sao tự bào chữa cho được! Không phải mình ăn thứ bánh mua bằng tiền bán những món hàng ấy hay sao?

Tôi chưa hề nghĩ đến điều đó. Nó đạp vào tâm trí tôi như một nhát búa tạ ai nện lên óc. Tôi gắng gượng chống chế, không phải chống chế với Mátchia mà chống chế với cái ý nghĩ ấy. Tôi nói:

Đúng đấy, - Mátchia đáp. - Nhưng có điều này cũng đúng tức là chúng ta hợp tác với những người ăn cái thứ họ không làm ra. Người ta sẽ vạch ra điều đó và người ta cũng chỉ vạch đến điều đó mà thôi. Chúng ta sẽ bị tù tội cũng như họ. Điều đó nhất định làm cho tớ đau khổ vô cùng vì bị cầm tù do tội trộm cắp, nhưng tớ còn đau khổ hơn nhiều nếu chính cậu bị như thế. Tớ, tớ chỉ là một đứa trẻ cùng khốn nghèo hèn, và rồi tớ cũng đến thế mà thôi, còn cậu. Khi tìm thấy gia đình, gia đình thật sự của cậu, gia đình cậu sẽ buồn tủi biết bao, cậu sẽ xấu hổ biết bao, nếu cậu đã bị tù tội! Vả lại, bị tù thì không có cách nào báo cho bà Miligơn hay cái việc ông Giem Miligơn mưu hại thằng Áctơ. Thôi thì chúng ta hãy chuồn đi trong khi còn kịp.

Cậu chuồn đi!

Cậu cứ nhai mãi cái chuyện dại dột ấy! Chuồn thì chúng ta cùng chuồn, hoặc bị tóm thì chúng ta cùng bị tóm. Chừng nào chúng mình bị tóm rồi - sắp đấy, không phải chờ đợi lâu đâu - chừng ấy, cậu sẽ chịu trách nhiệm làm liên lụy đến tớ. Rồi cậu xem cái trách nhiệm ấy có nặng nề không! Cậu khăng khăng đòi ở lại bên cạnh người ta mà có ích lợi gì cho người ta thì sự cứng đầu của cậu, tớ còn hiểu được. Đó là một cử chỉ đẹp đẽ. Đằng này, cậu chả cần thiết gì cho họ: Không có cậu, ngày trước họ vẫn sống, sau này họ cũng sẽ sống. Ta

Đi mau mau đi thôi!

Thế thì cậu hãy thư thư cho tớ vài ngày để tớ suy nghĩ rồi hãy hay.

Phải nhanh lên! Yêu quái đánh hơi thấy thịt tươi, tớ đánh hơi thấy tai vạ.

Chưa bao giờ lời lẽ và sự van nài của Mátchia làm tôi xúc động sâu sắc đến thế. Mỗi khi nghĩ đến thì tôi tự nhủ rằng thái độ do dự của tôi là hèn nhát, rằng bề nào thì tôi cũng phải quyết định đi, phải biết mình muốn gì mới được. Sự việc xảy ra đến về sau đã làm hộ tôi cái việc tự tôi không dám làm.

Chúng tôi rời bỏ thành phố Lơnđơn đã mấy tuần rồi. Bây giờ chúng tôi đến một đô thị sắp mở hội đua ngựa. Đua ngựa ở Anh không giống như ở Pháp; ở Pháp đua ngựa là một trò giải trí cho kẻ giàu sang, họ đến để xem ba bốn con ngựa chạy thi, để cho người ta xem mình và để đánh cá dăm ba đồng bạc. Ở đây đua ngựa là một ngày hội dân gian của cả một vùng mà người ta đến không chỉ để xem ngựa chạy. Trên đồng hoang hay trên động cát dùng làm bãi quần, tự mấy ngày trước những đoàn xiếc, những người bói toán du phương, nhưng người bán hàng rong đã đến họp chợ. Mátchia và tôi với tư cách là nhạc sĩ, gia đình Đơrixcơn với tư cách là người buôn bán.

Tuy nhiên, bố tôi không đến bãi quần, mà lại dọn hàng ngay trong thành phố. Có lẽ ông nghĩ ở đó hàng bán chạy hơn.

Đến sớm và không bận vào công việc bày hàng, hai chúng tôi đi dạo xem bãi quần ở một cánh đồng cói gần thành phố. Nhiều lều vải đã được dựng lên, từ xa trông thấy những cột khói mỏng thì biết ngay địa điểm và ranh giới của bãi quần. Chúng tôi đi vào một con đường trũng, trong giây lát thì ra tới cánh đồng. Cánh đồng ngày thường cằn cỗi và trống hoang, chiều hôm nay lô nhô những nhà ván dùng làm quán rượu, quán ăn, những lều, những xe, có khi chỉ là những bếp lửa trại giữa trời, chung quanh đó chen chúc những người mặc quần áo đẹp lắm hình nhiều sắc.

Chúng tôi vừa đi ngang một bếp lửa trại trên đó lủng lẳng một chiếc nồi, thì nhận thấy anh Bốp. Gặp chúng tôi, anh mừng rỡ khôn xiết. Anh đến hội đua với hai người bạnđồng nghiệp để biểu diễn tài nghệ và thể lực. Nhưng mấy nhạc sĩ đã hẹn với các anh ấy lại không giữ lời hứa, thành thử cái khoản thu hôm nay sẽ chả ra gì chứ không hời như các anh hy vọng. Anh bảo chúng tôi có thể giúp ích cho các anh nhiều lắm nếu chúng tôi vui lòng thay thế bọn nhạc sĩ kia: Tiền thu sẽ chia năm, lại có phần cho con Capi nữa.

Mátchia liếc mắt sang tôi. Thấy con mắt nó, tôi biết rằng nhận lời anh Bốp thì nó sẽ khoái lắm. Vì chúng tôi được tự do muốn làm gì tùy thích, miễn là đem nhiều tiền về, nên tôi nhận lời. Hai bên giao hẹn sáng hôm sau đến cho các anh ấy bố trí công việc.

Khi về, tôi báo cáo về việc thu xếp này với bố tôi thì xảy ra một trở ngại. Bố tôi bảo.

Ngày mai tôi cần con Capi. Các anh không được mang nó theo!

Nghe thấy thế, tôi đâm lo. Người ta muốn dùng con Capi vào một chuyện xấu xa đây chăng? Nhưng bố tôi đánh tan ngay sự lo lắng ấy:

Con Capi thính lắm. - Ông nói. - Tiếng động nhỏ nào nó cũng nghe và nó biết giữ của giỏi. Nó giúp chúng ta coi xe rất tốt vì trong cảnh lộn xộn lắm kẻ lại người qua, ta có thể bị lấy trộm hàng. Vậy chỉ hai anh đi đánh đàn cùng với Bốp thôi. Nếu biểu diễn quá khuya - chắc là thế - thì các anh đến tìm tôi ở quán Cây Sồi Lớn; gia đình sẽ ngủ ở đó vì tôi định tối mai rời khỏi nơi đây.

Quán Cây Sồi Lớn mà chúng tôi trọ đêm trước ở cách nơi này chừng một dặm (2). Quán dựng ở giữa cánh đồng trống, tại một nơi vắng vẻ, rùng rợn. Vợ chồng chủ quán có một vẻ khả nghi. Đường thẳng băng, tìm đến quán rất dễ, duy phiền một nỗi là sau một ngày làm việc mệt nhọc, đi thế cũng hơi xa. Nhưng đó không phải là một điều đáng lưu ý bố tôi: Ông không chịu để cho người ta cãi lại, ông đã bảo thì phải vâng, không được đối đáp.

Sáng hôm sau, tôi dắt con Capi đi dạo một vòng, cho nó ăn uống để chắc chắn là nó không thiếu thốn gì. Xong tôi tự tay buộc nó vào trục bánh xe mà nó có bổn phận canh giữ, rồi hai đứa tôi đi đến bãi quần.

Đến nơi thì chúng tôi vào chơi nhạc liền, và chơi suốt đến tối, không nghỉ ngơi. Mấy đầu ngón tay tôi đau buốt như bị châm ngàn mũi gai. Mátchia thì thổi kèn đẩy đến không thở ra hơi. Tuy thế vẫn cứ phải đánh đàn, phải thổi kèn: Anh Bốp và các bạn anh diễn xiếc không biết mệt, thì chúng tôi cũng phải chơi nhạc không biết mỏi. Đêm đến, tôi tưởng được nghỉ hóa ra vẫn chưa! Chúng tôi rời lều vải, đến một quán bằng gỗ ván, và ở đấy xiếc nhạc diễn lại càng hăng. Cứ thế cho đến quá nửa đêm. Tôi vẫn cào thụ cầm ầm ĩ, nhưng chẳng biết là mình đánh bản gì; Mátchia cũng không hơn gì tôi. Hàng chục lần, anh Bốp rao đây là biểu diễn cuối cùng, hàng chục lần chúng tôi diễn lại.

Chúng tôi chỉ mới mệt mỏi, còn các anh ấy thì đã rã rời vì họ dùng sức nhiều hơn. Họ đã diễn hỏng vài tiết mục. Một lần cây gậy làm trò của họ đổ xuống bàn chân Mátchia. Đau quá, nó kêu thét lên. Tôi tưởng nó giập chân rồi. Anh Bốp và tôi xúm lại quanh nó. May quá, vết thương không đến nỗi nặng như tôi tưởng: Có bầm nát, rách da thịt, nhưng xương không bị giập. Tuy vậy Mátchia không đứng được. Làm thế nào bây giờ?

Chúng tôi giải quyết là Mátchia thì cứ nằm ở lại xe anh Bốp, để một mình tôi về quán Cây Sồi Lớn. Tôi cần phải biết gia đình Đơrixcơn hôm sau đi đâu. Mátchia bảo:

Đừng đi, Rêmi ạ! Mai chúng ta sẽ cùng đi với nhau!

Nhỡ mai không tìm thấy người ta ở quán Cây Sồi Lớn thì thế nào?

Càng hay! Chúng ta được giải phóng!

Nếu tớ rời bỏ gia đình Đơrixcơn thì không phải bằng cách ấy! Vả lại, cậu tưởng họ không tìm thấy chúng ta ngay à? Cậu còn đi đâu được với bàn chân ấy?

Ừ thì đi! Cậu đã muốn thế thì mai chúng ta đi. Nhưng đêm nay hượm đã, tớ sợ lắm!

Sợ gì?

Không biết. Tớ sợ cho cậu!

Để tớ đi, Mátchia ạ! Tớ hứa với cậu mai sẽ trở lại!

Lỡ ra họ giữ cậu lại thì sao?

Để họ không giữ tớ được thì tớ gửi đàn cho cậu. Như thế tất họ phải để tớ trở lại lấyđàn.

Và thế là mặc dù Mátchia lo ngại, tôi vẫn ra đi không chút e sợ.

Sợ ai, sợ cái gì kia chứ? Ai người ta đòi gì, hỏi gì ở cái thằng cầu bơ cầu bất này!

Tuy không chút sợ hãi, tôi vẫn thấy xúc động nhiều. Lần này là lần đầu tiên tôi thực sự cô đơn, không có con Capi, không có Mátchia bên mình. Tôi thấy khó chịu vì cô độc, tôi bàng hoàng khi nghe tiếng kêu huyền bí của đêm khuya. Nhìn lên gương trăng nhàn nhạt, tôi cũng thấy buồn.

Tôi đi nhanh, mặc dù đương mệt, và cuối cùng đến quán Cây Sồi Lớn. Tôi kiếm mỏi mắt không thấy chiếc xe của gia đình tôi. Có hai, ba chiếc xe mui vải tồi tàn, một nhà gỗ ván và hai cỗ xe thấp, bên trong ấy vang ra tiếng thú dữ khi tôi đến gần. Nhưng hai chiếc xe xinh đẹp, sơn màu sắc lộng lẫy của gia đình Đơrixcơn thì không thấy đâu cả.

Đi quanh quán, tôi thấy có ánh sáng ở một vòm cửa sổ gắn kính. Nghĩ rằng trong nhà còn có người thức, tôi gõ cửa. Người chủ quán có vẻ mặt gian giảo mà tôi để ý hôm trước đích thân mở cửa cho tôi. Hắn soi đèn thẳng vào mặt tôi. Hắn nhận ra tôi. Nhưng hắn không nhường lối cho tôi vào, mà cắp đèn đi sau lưng, hắn nhìn chung quanh nghe ngóng mấy giây rồi mới nói:

Xe nhà anh đi rồi! Bố anh dặn đến gặp ông ta ở Lúitxơ, không được trì hoãn và phải đi suốt đêm. Thôi anh đi mạnh giỏi!

Thế rồi hắn bỏ mặc tôi, đóng ngay cửa lại. Từ khi đến Anh, tôi đã học tiếng nước này

Đủ để hiểu các câu ngắn đó. Tuy nhiên, có một tiếng không gợi cho tôi ý niệm nào cả, mà đó là tiếng quan trọng nhất. Lão chủ quán nói: Lúitxơ. Lúitxơ là nơi nào cơ chứ? Tôi chẳng biết mô tả ra sao cả, bởi vì tôi không hiểu ra rằng Lúitxơ là cách đọc theo tiếng Anh của Lewes, tên một thị xã có ghi trên bản đồ. Vả lại, có biết Lúitxơ ở đâu chăng nữa thì tôi cũng không thể bỏ Mátchia mà đến đó ngay. Bởi vì tôi phải trở lại bãi quần, dù đã mệt mỏi lắm. Tôi quay lại và một tiếng rưỡi đồng hồ sau thì tôi nằm trong xe anh Bốp trên một cái ổ rơm ấm, bên cạnh Mátchia. Tôi thuật lại sự việc vắn tắt cho nó nghe rồi ngủ thiếp đi vì mệt mỏi.

Đánh một giấc mấy tiếng đồng hồ lại sức, sáng hôm sau tôi tươi tỉnh, sẵn sàng đi Lúitxơ nếu Mátchia - nó còn đương ngủ - có thể đi theo tôi.

Tôi ra khỏi xe, lại chỗ anh Bốp. Anh dậy trước tôi, đương nhóm bếp. Tôi đương nhìn anh bò rạp xuống đất, phùng má thổi dưới nồi, thì thoáng thấy viên cảnh sát nắm dây con Capi dắt đi. Tôi sửng sốt đứng im, nghĩ thầm không biết có chuyện gì lạ vậy. Nhưng con Capi nhận ra tôi; nó đã giằng mạnh, làm dây tuột khỏi tay viên cảnh sát. Tức thời nó nhảy mấy nhảy đến bên tôi và vọt lên tay tôi. Viên cảnh sát đi đến, nói:

Con chó này của anh phải không?

Phải!

Thế thì tôi bắt anh!

Bàn tay hắn chộp lên cánh tay tôi, siết chặt. Lời nói và cử chỉ của viên cảnh sát khiến anh Bốp đứng lên. Anh bước tới, hỏi:

Này! Vì cớ gì ông bắt em này!

Anh là anh nó à?

Không. Là bạn!

Đêm qua, một người đàn ông và một thằng bé đã bắc thang leo qua một cửa sổ cao, vào trong nhà thờ Xanh GioócGiơ. Chúng đem theo con chó này để nó báo hiệu cho chúng, nếu có người đến phá đám. Sự việc quả đã xảy ra như thế. Bị bất ngờ chúng nhảy qua cửa sổ chạy trốn, không kịp mang con chó theo. Con chó không chạy theo chủ được bị bắt lại ở ngay nhà thờ. Dắt con chó đi, tôi biết chắc thế nào cũng bắt được bọn trộm, và tôi đã bắt được một đứa. Thằng bố giờ ở đâu?

Tôi không biết viên cảnh sát hỏi anh Bốp hay hỏi tôi. Tôi không đáp, tâm thần thảng thốt. Tuy nhiên, tôi hiểu sự việc xảy ra như thế nào rồi. Dù không đúng tôi cũng nghiệm ra: Người ta bảo tôi trao con Capi cho người ta không phải để giữ xe hàng, mà để báo động cho những người vào lấy trộm trong nhà thờ, vì tai nó thính. Rồi cũng không phải chỉ để đến ngủ ở quán Cây Sồi Lớn cho khoái mà người ta cho xe khởi hành lúc chập choạng tối. Sau đó, xe không nghỉ lại ở quán là vì vụ trộm bị bại lộ, phải mau mau xa chạy cao bay.

Tuy nhiên tôi thấy không nên nghĩ đến những kẻ phạm tội mà chỉ nên nghĩ đến mình. Họ có là ai thì tôi cũng vẫn tự bào chữa được và chứng minh được sự trong trắng của mình, không cần tố giác họ. Tôi chỉ cần báo cáo công việc làm từng giờ của tôi trong đêm ấy là rõ.

Tôi lý luận thế. Trong khi đó Mátchia không biết vì viên cảnh sát nói hay nghe tiếng ồn ào mà thức dậy. Nó ra khỏi xe, đi tập tễnh đến bên tôi. Tôi nói với anh Bốp:

Anh giải thích hộ cho ông ấy rõ tôi không phải là kẻ phạm tội vì tôi đã làm việc bên cạnh anh đến một giờ đêm. Sau đó, tôi đến quán Cây Sồi Lớn gặp ông chủ quán nói vài câu rồi đi ngay trở về đây.

Anh Bốp dịch mấy lời tôi nói cho viên cảnh sát nghe. Nhưng viên cảnh sát không chấp nhận như tôi hy vọng, trái lại. Hắn ta nói:

Chúng vào nhà thờ lúc một giờ một khắc. Thằng bé này xưng là nó ở đây lúc một giờ đúng hay kém mấy phút. Như thế nó có thể ở nhà thờ lúc một giờ một khắc, cùng với bọn trộm.

Từ đây đi vào thành phố phải đi hơn một khắc - anh Bốp nói.

Ồ! Chạy thì kịp. - Viện cảnh sát đáp. - Với lại ai chứng thực với tôi rằng nó đi lúc một

Giờ?

Tôi, tôi thề đấy!

À, anh? Còn phải xem sự chứng thực của anh có giá trị như thế nào đã!

Tôi lưu ý ông: Tôi là một công dân Anh. Viên cảnh sát nhún vai.

Nếu ông lăng mạ tôi thì tôi viết bài đăng tờ Thời báo.

Trong khi chờ đợi, tôi hẵng mang thằng bé này đi đã! Nó sẽ trình bày với quan tòa! Mátchia ôm lấy tôi, tôi tưởng để hôn. Nhưng không, nó thường lo chuyện thực tếtrước chuyện tình cảm. Nó rỉ tai tôi:

- Hãy vững tâm! Chúng tớ không bỏ cậu đâu!

Xong, nó mới hôn tôi. Tôi nói với nó bằng tiếng Pháp: "Hãy giữ con Capi lại!". Nhưng viên cảnh sát hiểu. Hắn nói:

Không, không! Ta giữ con chó! Nó đã giúp ta bắt được chú mày, nó sẽ giúp ta tóm cổ những tên kia.

Tôi bị bắt lần này là lần thứ hai, nhưng tôi cảm thấy nhục nhã ê chề hơn trước nhiều. Lần này không phải là một sự buộc tội vô nghĩa lý như vụ con bò sữa dù sau này người ta có xét thấy tôi vô tội và tha bổng đi nữa, để tôi không đau đớn thấy những người kia kết án đúng hay sao?

Tôi phải đi qua giữa hai hàng rào người tò mò đến xem. Nhưng người ta không la ó, không hăm dọa chúng tôi như ở bên Pháp. Nhưng người đến xem đây không phải là nông dân mà toàn là những người dù ít dù nhiều đều đã có chuyện với cảnh sát. Đó là dân xiếc rong, dân hàng quán, dân bói du phương, tóm lại là dân lang thang.

Cái nhà tù họ nhốt tôi không phải là một nhà tù trò chơi như cái trại giam chứa đầy hành năm trước. Cái nhà tù này là một cái nhà tù thực sự có cửa sổ chắn những song sắt lớn, chỉ mới nhìn thấy cũng đủ tiêu tan từ trong trứng mọi ý chí vượt ngục. Trong buồng giam tôi chỉ có một cái ghế dài để ngồi và một cái võng để ngủ.

Tôi ngồi phịch xuống ghế, rũ rượi một lúc lâu, tôi nghĩ ngợi về cảnh ngộ của tôi, nghĩ lang bang không mạch lạch vì không tài nào kết ý này với ý kia và chuyển từ ý trước qua ý sau cho được. Hiện tại thật là kinh khiếp mà tương lai còn khôn xiết hãi hùng!

Mátchia bảo: "Hãy vững tâm! Chúng tớ không bỏ cậu đâu!" Nhưng thử hỏi một chú bé như Mátchia thì làm nên trò trống gì? Hơn nữa, nếu anh Bốp vui lòng giúp Mátchia thì một người lớn hồ dễ làm được gì?

Khi ở tù thì người ta chỉ có một ý định là ra tù.

Không bỏ tôi và làm đủ mọi cách để giúp tôi thì Mátchia và anh Bốp có thể làm như thế nào để giúp tôi ra khỏi cái ngục kín này nhỉ? Tôi đến bên cửa sổ, mở ra, sờ mó những song sắt đóng chéo bên ngoài. Song sắt gắn cứng trong đá. Tôi xem xét từng vách tường dày gần một mét. Nền lất những tảng đá lớn. Cửa ra vào bọc một lớp tôn.

Tôi lại quay về cửa sổ. Cửa sổ mở nhìn xuống một khoảng sân hẹp và dài, đằng đầu kia có một bức tường lớn bịt kín, ít nhất cũng cao đến bốn mét.

Chắc hẳn là không thể trốn thoát cái nhà ngục này dù có được những bạn tận tâm giúp đỡ. Sự tận tình của bạn phá sao nổi cái thực tại gay gắt nơi đây? Sự tận tình không thể chọc thủng tường vách được!

Với tôi bây giờ, vấn đề chỉ còn là tìm hiểu xem phải ở bao nhiêu lâu trong ngục này, trước khi ra trước quan tòa để định đoạt số phận. Ra đấy, tôi có thể chứng minh sự trong trắng của mình hay không, mặc dù con Capi bị bắt trong nhà thờ? Liệu tôi có thể tự bào chữa mà không cần phải vạch tội của những người mà tôi không muốn và không thể tố cáo hay không?

Tất cả vấn đề của tôi là ở đó. Ở đó, và chỉ có ở đó thôi, là Mátchia và anh bạn Bốp của nó có thể giúp tôi. Vai trò của họ là thu thập những bằng cớ để chứng thực là lúc một giờ một khắc, tôi không thể có mặt ở nhà thờ Xanh Gioócgiơ. Nếu họ đưa được bằng chứng ấy thì tôi thoát nạn, bất chấp cái bằng chứng câm chống lại tôi, là con Capi tội nghiệp. Những bằng chứng ấy tôi cho là không phải tìm được.

Chao ôi! Giá mà Mátchia không đau chân thì thế nào nó cũng biết sục sạo, xoay xở. Nhưng nó đau như thế thì có rời khỏi xe được không? Nó không đi lại được thì anh Bốp có sẵn lòng làm thay nó không?

Tôi biết nhiều chuyện về những người tù tội, trong đó có một chuyện nói đến cách người bên ngoài dùng để liên lạc với người bị giam giữ: Người ta giấu những mảnh giấy con vào trong thức ăn mang từ ngoài vào. Có lẽ Mátchia và anh Bốp cũng dùng cách ấy. Chợt nghĩ thế tôi bẻ vụn miếng bánh khẩu phần ra. Nhưng tôi không tìm thấy gì cả. Cùng vớibánh, người ta có cho khoai tây. Tôi tán khoai tây ra bột và vẫn không thấy có mẩu giấy nhỏ nào.

Chắc Mátchia và anh Bốp không biết nhắn gì với tôi, hoặc là điều này có phần chắc hơn, họ không thể nhắn gì với tôi được cả.

Vậy hãy đợi đến mai thôi, đợi mà cố gắng đừng lo phiền quá đáng! Khốn thay! Tôi lại không thể không lo phiền! Tôi dám chắc rằng sau này, dù sống lâu đến bao nhiêu, tôi cũng vẫn nhớ cái đêm khủng khiếp tôi sống trong nhà ngục này như mới hôm qua thôi. Chao ôi! Tôi quả rồ dại đã không tin vào linh tính và sự lo lắng của Mátchia.

Sáng hôm sau, viên cai ngục mang đến cho tôi một bô nước và một cái chậu. Lão ta bảo tôi rửa mặt nếu thấy thích, bởi tôi sắp ra trước tòa. Lão nói thêm rằng ăn mặc sạch chỉnh tề đôi khi là cách bào chữa tốt nhất của người bị cáo. Rửa ráy xong, tôi muốn ngồi xuống ghế. Nhưng không tài nào ngồi yên một chỗ được, tôi cứ loanh quanh trong buồng giam như con thú quay quay trong chuồng.

Tôi định nghĩ sẵn những câu trả lời và những lý lẽ để bào chữa. Nhưng tôi hốt quá. Tôi không nghĩ đến hiện tại, chỉ vẩn vơ nghĩ đến đủ các thứ chuyện vô lý, chúng nó lần lượt diễu qua trong đầu óc mệt mỏi của tôi như những hình ảnh của một chiếc đèn chiếu.

Người cai ngục trở lại, bảo tôi đi theo lão. Tôi đi bên cạnh lão ta, qua nhiều lần hành lang đến một cái cửa sổ nhỏ. Lão mở cửa nói:

Vào đi.

Một luồng không khí nóng hắt vào mặt tôi cùng với tiếng ồn ào không nghe ra gì cả. Tôi bước vào phòng và thấy mình đứng trước một phòng tòa án!

Tôi đương ở trong một cơn mê hoảng, mạch máu ở thái dương đập như sắp vỡ. Tuy thế, nhìn quanh một vòng, tôi cũng trông thấy rõ ràng và đầy đủ cái phòng xử án và những người có mặt ở đấy.

Phòng xử án khá rộng, trần cao, cửa sổ lớn. Phòng ngăn làm hai, một nửa dành cho tòa án, một nửa dành cho những người hiếu kỳ đển xem, quan tòa ngồi trên một bục cao. Trước mặt ông, thấp hơn một ít, có ba nhân vật tòa án nữa. Sau này tôi mới biết ba ông này, một ông là lục sự (3), một ông là thủ quỹ để lo về việc phạt tiền, và một quan tòa gọi là công tố viên (4). Trước kệ tôi đứng, có một nhân vật mặc áo thụng cài tóc giả, đó là vị trạng sư của tôi.

Sao tôi lại có trạng sư? Ông ấy từ đâu đến với tôi? Ai đem ông ấy đến cho tôi đấy? Mátchia và anh Bốp chăng? Lúc này không phải là lúc xem xét các câu hỏi đó. Chỉ biết rằng tôi có một trạng sư, thế là đủ.

Tôi nhìn thấy, trên một kệ khác, chính anh Bốp và hai đồng nghiệp của anh, người chủ quán Cây Sồi Lớn và mấy người khác mà tôi không quen biết. Trên kệ đối diện, tôi nhận ra viên cảnh sát đã bắt tôi; bên cạnh hắn ta có nhiều người khác. Tôi biết đó là những kệ dành cho người làm chứng.

Phần dành cho công chúng đã chật người. Trên một bao lơn, tôi trông thấy Mátchia, bốn mắt chúng tôi giao nhau, quấn lấy nhau, thế là tôi tức khắc lại vững lòng. Tôi sẽ được bênh vực, chỉ cần về phần tôi đùng nản chí và phải tự bênh vực lấy mình. Tất cả những tia mắt chĩa vào người tôi bây giờ không đè bẹp được tôi nữa.

Viên công tố đọc cáo trạng. Ông ta có vẻ vội vàng. Ông trình bày vắn tắt sự việc: "Một vụ trộm đã xảy ra ở nhà thờ Xanh Gioócgiơ. Bọn kẻ trộm, gồm có một người lớn và một đứa bé, đã dùng thang leo lên phá cửa sổ chui vào nhà, chúng mang theo một con chó để canh giữ và báo động khi có biến. Một khách qua đường khuya muộn - lúc ấy là một giờ một khắc

Lấy làm lạ sao có chút ánh sáng le lói trong nhà thờ. Ông ta lắng tai và nghe thấy có tiếng răng rắc, tức thì ông chạy đi đánh thức viên coi nhà thờ. Có đông người đến. Nhưng con chó đã sủa lên và trong khi người ta mở cửa thì bọn trộm hoảng sợ đã nhảy cửa sổ chạy trốn. Chúng đã bỏ con chó lại, con chó không leo thang được. Viên cảnh sát Gierê dắt con chó đến bãi quần. Sự thông minh và mẫn cán của ông ta thì không thể hết lời ca ngợi được. Tại đấy, con chó đã nhận ra được chủ nó, tức là cái người bị cáo đương ngồi ở ghế trên. Còn tên trộm thứ hai thì đương bị truy nã".

Viên công tố viên nêu một số lý lẽ để chứng minh rằng tôi phạm tội, rồi chấm dứt cáo trạng. Một giọng the thé thét lên: "Yêu cầu im lặng". Bây giờ, không quay sang phía tôi và như tự nói riêng với mình, quan tòa hỏi tên, tuổi, nghề nghiệp của tôi. Tôi đáp bằng tiếng Anh rằng tôi là Phơrăngxi Đơrixcơn, tôi ở với cha mẹ tôi ở Lơnđơn, khu Bétnơn Gờrin, sân

Sư tử đỏ. Xong tôi xin phép được nói bằng tiếng Pháp bởi vì tôi lớn lên ở nước Pháp và mới đến nước Anh được mấy tháng. Quan tòa nghiêm giọng nói:

- Đừng có mong lừa dối được bản chức! Bản chức biết tiếng Pháp!

Thế là tôi kể câu chuyện của tôi bằng tiếng Pháp và tôi giải thích không thể nào tôi vào trong nhà thờ lúc một giờ đêm vì vào giờ ấy, tôi còn ở bãi quần ngựa và đến hai giờ rưỡi thì tôi đến quán Cây Sồi Lớn rồi.

Thế anh ở đâu lúc một giờ một khắc? - Quan tòa hỏi.

Đương trên đường đi!

Đó là điều phải chứng nghiệm. Anh nói anh đương trên đường đi tới quán Cây Sồi Lớn mà bản cáo trạng thì khẳng định là anh ở trong nhà thờ. Đi từ bãi quần từ một giờ kém mấy phút, hẳn là anh đã đến với tên đồng lõa của anh dưới tường nhà thờ. Tên ấy đợi anh ở

Đó với chiếc thang. Khi vụ trộm vỡ lở, anh mới đi đến quán Cây Sồi Lớn.

Tôi gắng sức chứng minh rằng sự việc không thể xảy ra như thế được nhưng tôi thấy ông thẩm phán không có gì tin tôi. Ông hỏi:

Thế anh giải thích việc con chó của anh có mặt trong nhà thờ như thế nào?

Tôi không giải thích được vì chính tôi cũng không hiểu. Hôm qua, con chó của tôi không đi với tôi. Tôi buộc nó ở nhà, dưới gầm xe.

Tôi thấy không tiện nói thêm vì tôi không muốn đưa dao cho người ta chém cha tôi. Tôi nhìn Mátchia, nó ra hiệu bảo tôi tiếp nhưng tôi không nói.

Người ta gọi một nhân chứng. Người ta bảo người ấy thề trên sách Thánh ước là sẽ nói sự thật, không vì hằn thù mà cũng không vì đắm đuối. Đó là một người đứng tuổi, béo lùn, dáng dấp oai vệ lạ lùng mặc dù mặt ông ta đỏ, mũi ông ta tím. Trước khi thề, ông nhún gối thi lễ tòa án, rồi đứng lên có vẻ trịnh trọng lắm. Đó là viên coi nhà thờ Xanh Gioócgiơ.

Ông ta bắt đầu nói rất nhiều về nỗi xúc động và niềm căm phẫn không bờ bến của

Ông khi nghe người ta đến đánh thức ông đột ngột để báo rằng có kẻ trộm vào nhà thờ. Thoạt tiên ông ta nghĩ rằng người ta bày trò đùa ông, nhưng rồi nghĩ ai lại bày trò đùa với một người tư cách như ông, cho nên ông hiểu là có việc nghiêm trọng đã xảy ra. Ông vội vàng mặc áo, vội đến nỗi làm đứt phăng hai cúc áo gilê. Cuối cùng, ông chạy đến, ông mở cửa nhà thờ và ông thấy.. ai? Hay nói cho đúng: Gì? Một con chó.

Tôi không đối đáp gì về những chuyện ấy, nhưng ông trạng sư của tôi từ đầu không nói gì bây giờ đứng lên. Ông vung đầu tóc, xốc áo và lên tiếng hỏi:

Tối hôm trước, ai đóng cửa nhà thờ?

Tôi. - Viên coi nhà thờ đáp. - Đó là nhiệm vụ của tôi!

Ông có chắc thế không?

Khi tôi làm việc gì thì tôi biết chắc là tôi làm việc đó!

Còn khi ông không làm?

Thì tôi biết chắc là tôi không làm!

Tốt lắm! Thế thì ông có thể thề rằng ông không nhốt con chó ấy trong nhà thờ khi ông đóng cửa, hay không?

Nếu con chó ở trong nhà thờ, thì tôi đã thấy!

Mắt ông có tốt không?

Mắt tôi như mắt mọi người.

Trước đây sáu tháng, có phải ông đã xông vào một con bê bụng mổ phanh treo trước cửa hàng một anh đồ tể, có phải không?

Viên coi nhà thờ tím mặt hét:

Tôi không thấy sự quan trọng của một vấn đề như thế đặt ra với một người tư cách

Như tôi.

Xin ông hết sức chịu khó trả lời y như thể vấn đề đó là quan trọng.

Đúng là tôi có đụng phải một con vật treo một cách vụng về ở cửa hàng anh đồ tể!

Thế nghĩa là ông không thấy nó?

Lúc ấy tôi bận trí.

Khi ông đóng cửa nhà thờ, chắc ông đã ăn tối?

Hẳn rồi!

Thế khi chui vào con bê, ông đã ăn tối chưa?

Ái chà..

Ông bảo ông chưa ăn tối à?

Ăn rồi chứ?

Ông uống bia nhẹ hay bia mạnh?

Bia mạnh.

Mấy chai lớn.

Hai.

Không bao giờ nhiều hơn?

Có khi ba?

Không khi nào bốn? Không khi nào sáu?

Họa hoằn thôi!

Ông không uống nước đường pha rượu mạnh sau bữa tối?

Cũng có một đôi khi..

Ông ưa pha nhiều rượu hay loãng?

Không loãng lắm!

Mấy cốc?

Tùy.

Ông có sẵn sàng thề rằng không lúc nào ông uống đến ba hoặc bốn cốc hay không? Vì viên coi nhà thờ cứ mỗi lúc càng tím mặt, không trả lời nữa, ông trạng sư ngồi

Xuống. Ông vừa ngồi xuống vừa nói:

Cuộc khẩu vấn này tạm đủ để xác minh rằng con chó đó có thể bị ông thủ từ nhốt lại trong nhà thờ, ông ấy sau bữa tối đã từng không nhìn thấy con bê vì bị bận trí. Đó là tất cả điều tôi muốn biết.

Nếu tôi bạo gan, hẳn tôi đã ôm ông trạng sư của tôi mà hôn. Tôi được cứu thoát rồi

Đây! Sao con Capi lại không bị viên thủ từ nhốt vào nhà thờ kia chứ? Có thể lắm! Mà nếu nóđã bị nhốt theo cách ấy thì hẳn là không do tôi đưa vào. Như vậy, nghĩa là tôi không có tội, vì chỉ có sự kiện ấy buộc tội tôi mà thôi.

Sau đó, tòa nghe những người chứng về phía tôi khai. Đó là anh Bốp, hai người bạn và người chủ quán. Ai cũng nói về giờ giấc làm việc của tôi đêm hôm đó. Tuy nhiên vẫn còn một điểm quyết định, ấy là cái giờ chính xác tôi rời bãi quần ra đi.

Lấy cung xong, quan tòa hỏi tôi có muốn nói gì không và bảo cho tôi biết là tôi có thể không nói nếu thấy im lặng là hơn. Tôi đáp rằng tôi bị oan, mong nhờ lượng tòa minh xét. Bấy giờ quan tòa cho đọc biên bản những người hỏi cung mà tôi vừa nghe. Rồi ông tuyên bố sẽ cho rời tôi đến nhà lao tỉnh, để đợi đại hội đồng thẩm án quyết định có đưa tôi ra xử trước tòa đại hình hay không?

Tòa đại hình ư? Tôi bủn rủn khuỵu xuống ghế. Chao ôi! Sao tôi không sớm nghe lời Mátchia?
 
15,989 ❤︎ Bài viết: 1929 Tìm chủ đề
Chương 39

Bị đưa về nhà lao một lúc lâu, tôi mới tìm thấy lý do vì sao tôi không được tha bổng: Đó là vì quan tòa muốn chờ bắt được những người đã vào nhà thờ để xem tôi có đồng lõa với họ không! Ông ủy viên công tố có nói người ta đang theo vết họ. Thế là tôi sẽ đau đớn xấu hổ ngồi bên cạnh họ khi ra phiên tòa đại hình. Bao giờ đây? Khi nào người ta đưa tôi đến nhà lao tỉnh. Nhà lao ấy thế nào? Ở đâu? Nó có buồn thảm hơn nhà lao này không? Trí óc tôi mải bận rộn về những câu hỏi ấy cho nên thì giờ đi nhanh hơn hôm qua. Tôi không còn nôn nóng đến phát sốt lên, đến cháy ruột cháy gan nữa; tôi hiểu rằng phải chờ đợi. Khi thì đi đi lại lại, khi ngồi nghỉ trên ghế dài, tôi đợi.

Lúc gần tối, tôi nghe một hồi kèn đẩy và nhận ra đó là lối chơi kèn của Mátchia. Thằng bé tốt quá, nó muốn tin cho tôi biết là nó nghĩ đến tôi và đang rình chờ. Hồi kèn bay qua trên đầu bức tường chắn đằng trước cửa sổ mà vọng đến tôi. Tất nhiên là Mátchia đứng bên kia tường ở ngoài phố và chỉ có một khoảng cách ngắn chừng dăm ba thước, giữa hai chúng tôi. Khốn nạn thay, mắt chúng tôi không xuyên qua tường được. Nhưng mắt không xuyên tường thì tiếng vượt tường. Lẫn với tiếng kèn, có tiếng chân người, tiếng huyên náo. Tôi đoán có lẽ Mátchia và anh Bốp biểu diễn ở đó.

Tại sao họ chọn chỗ này nhỉ? Vì đắt khách hay chỉ để nhắn giúp cho tôi? Thình lình tôi nghe một giọng trong trẻo, giọng Mátchia nói lớn bằng tiếng Pháp: "Ngày mai, lúc tảng sáng!". Rồi tức khắc tiếng kèn đẩy lại vang lên, ồn ào hơn nữa.

Không cần động não lắm cũng biết rằng Mátchia không nói câu: "Ngày mai, lúc tảng sáng" với công chúng người Anh của nó. Nó nói với tôi đấy! Ngược lại không dễ gì đoán ra ý nghĩa của mấy tiếng ấy! Tôi lại tự đặt mình một loạt câu hỏi mà không tìm được những câu trả lời cho hợp lý.

Chỉ có mỗi một điều này là rõ ràng cụ thể: Đó là sáng hôm sau, lúc tinh mơ, tôi phải thức dậy và sẵn sàng. Từ bây giờ cho đến lúc đó, chỉ có việc cố gắng đừng sốt ruột. Trời vừa tối tôi lên võng nằm, cố ngủ. Tôi nghe đồng hồ điểm liên tiếp mấy lần, cuối cùng tôi thiếp đi. Lúc thức dậy thì đêm đang dày đặc sao lấp lánh trên vòm trời mờ mịt, bốn bề lặng ngắt. Chắc là còn lâu mới tới sáng. Tôi đến ngồi trên ghế, chứ không dám đi lại sợ người ta chú ý nếu người ta đi tuần. Tôi ngồi chờ. Lát sau, một tiếng đồng hồ nào đó điểm tuần ba tiếng. Hóa ra tôi đã thức dậy quá sớm. Tuy nhiên tôi không dám ngủ lại, vả lại, dù có muốn ngủ bao nhiêu đi nữa, tôi cũng không thể nào chợp mắt được: Tôi nóng ruột quá, tôi bàng hoàng quá!

Công việc độc nhất của tôi lúc đó là đếm những tiếng chuông đồng hồ. Nhưng cái thời gian mười lăm phút từ khi điểm khắc, rồi từ khắc đến giờ, đối với tôi sao nó lâu thế, lâu đến nỗi có lúc tôi tưởng mình đã không nghe thấy tiếng chuông hoặc là đồng hồ bị hỏng. Tôi tựa lưng vào vách, dán mắt lên cửa sổ. Ngôi sao tôi quan sát hình như bớt sáng và da trời đã nhờ nhờ trắng ra.

Trời đang sắp sáng rồi, xa xa có tiếng vọng lại.

Tôi đứng lên, kiễng gót đi lại mở cửa sổ. Mở cho đừng cót két là một việc tinh vi, nhưng kéo nhẹ tay và thật chậm rốt cục tôi cũng làm xong. May mắn sao, cái hầm giam này lại là một cái phòng thấp cũ, đã từng dùng làm ngục giam và người ta chỉ cần giữ tù bằng song sắt, chứ nếu cửa sổ hầm giam đóng chặt thì tôi không thể nào đáp lại được tiếng gọi của Mátchia. Nhưng mở xong cửa sổ chưa phải là hết. Còn những thanh sắt, còn những bức tường dày và cái cửa bọc tôn! Hy vọng được giải thoát là điên rồ, tuy thế tôi vẫn hy vọng. Sao trời càng mờ nhạt dần và khí lạnh ban mai khiến tôi run lên. Nhưng tôi không rời cửa sổ, cứ đứng đấy trông tìm, nghe ngóng, không biết trông tìm nghe ngóng gì đây. Một bức màn trắng mênh mông kéo lên giữa trời. Trên mặt đất, vạn vật đã hiện lên gần rõ hình rõ dáng. Lúc này đúng là lúc tảng sáng mà Mátchia nói. Tôi nín thở lắng tai nghe, nhưng chỉ nghe thấy tiếng quả tim tôi đập trong lồng ngực.

Cuối cùng tôi nghe như có tiếng cọ xát trên tường. Nhưng vì trước đây không có tiếng chân người đi lại, nên tôi ngỡ mình đã nghe nhầm. Tuy vậy, tôi vẫn nghe ngóng. Tiếng cọ xát vẫn vọng lại. Rồi thì một cái đầu người đột ngột nhô lên trên đỉnh tường. Tôi thấy ngay không phải là đầu Mátchia. Dù trời còn tờ mờ tôi cũng nhận đó là đầu anh Bốp. Anh thấy tôi dán chặt người vào song sắt bèn "xuỵt" một tiếng khe khẽ. Rồi anh đưa tay làm hiệu cho tôi đi ra cửa sổ. Không hiểu đầu đuôi gì hết, tôi vẫn làm theo anh bảo. Bấy giờ tôi mới thấy tay kia anh cầm một cái ống dài và sáng loáng như làm bằng thủy tinh. Anh đưa cái ống lên mồm. Tôi hiểu đó là ống xì đồng. Tôi nghe một hơi thổi đồng thời thấy một viên trăng trắng bay vụt đến rơi dưới chân tôi. Cái đầu anh Bốp cũng biến mất ngay tức khắc sau bức tường và tôi không nghe thấy gì nữa.

Tôi vồ lấy viên bi. Đó là một tờ giấy mỏng vấn nhiều lớp bọc quanh một viên chì lớn. Hình như có chữ viết trên giấy, nhưng trời còn mờ sáng chưa đọc được. Tôi phải chờ đến sáng. Tôi rón rén đóng cửa sổ lại rồi vội vã nằm lên võng, tay giữ chặt viên giấy. Chậm chạp, rất chậm chạp, càng quá chậm chạp đối với lòng tôi nôn nóng. Bình minh ửng vàng và cuối cùng một ánh sáng hồng nhạt lướt đến trên tường. Tôi mở tờ giấy ra đọc:

"Tối mai cậu sẽ bị dời đến nhà lao tỉnh. Cậu sẽ đi tàu hỏa trong một toa hạng nhì, có một viên cảnh sát áp giải. Cậu hãy ngồi gần cái cửa lên xuống của toa tàu. Khi đã chạy được bốn mươi lăm phút (nhớ tính cho đúng) thì tàu đi chậm lại để vượt qua một ngã ba. Bấy giờ

Cậu mở cửa ra và mạnh dạn nhảy xuống. Cậu phóng ra, đưa hai tay về phía trước và làm thế nào để chân xuống trước. Tới đất rồi thì leo ngay lên con đê đất bên trái, chúng mình đợi ở đấy với một cỗ xe và một con ngựa tốt để đưa cậu đi. Đừng sợ gì cả. Hai hôm sau thì chúng ta

Trên đất Pháp rồi. Hãy tin tưởng và vững lòng. Cần nhớ nhất là phải phóng ra cho xa và rơi xuống đất bằng hai chân".

Thoát rồi! Tôi không còn phải ra trước tòa đại hình, tôi không còn phải thấy những gì diễn ra ở đó! Ồ! Cái thằng Mátchia quý hóa! Cái anh Bốp tốt bụng sao! Chắc là anh ấy hào hiệp giúp Mátchia chứ còn gì nữa! "Chúng mình đợi ở đấy với một con ngựa tốt" một mình Mátchia hẳn không bố trí nổi một kế hoạch này. Tôi đọc lại mảnh giấy: Bốn mươi lăm phút sau khi tàu chạy; con đê đất bên trái, hai chân xuống trước, ừ, tôi sẽ mạnh dạn phóng xuống hẳn đi chứ lị, có chết cũng không cần. Thà chết còn hơn bị kết án về tội ăn trộm. Chao ôi! Nghĩ được cái kế hoạch này thì ghê gớm thật: "Hai hôm sau thì chúng ta đã ở trên đất Pháp rồi".

Tuy nhiên trong cơn hứng khởi, tôi có một niềm lo buồn: Đó là về khoản con Capi. Nhưng tôi vội xua ngay niềm lo lắng ấy. Không có lý nào Mátchia bỏ con Capi! Nó đã tìm được cách giải thoát cho tôi thì tất cũng tìm được cách cho con Capi. Tôi đọc đi đọc lại mảnh giấy ba bận nữa rồi vò lại, nhai nuốt. Bây giờ thì chỉ có việc ngủ yên. Tôi ngủ kỹ đến nỗi chỉ thức dậy khi người cai ngục mang cơm đến.

Thời giờ trôi đi khá nhanh, xế chiều hôm sau, một viên cảnh sát lạ mặt vào buồng giam của tôi, bảo tôi đi theo ông ta. Tôi vui mừng nhận thấy ông ấy vào khoảng năm mươi, trông người không còn nhanh nhẹn nữa. Tôi cố làm đúng theo lời dặn của Mátchia và khi tàu chạy thì tôi ngồi gần cái cửa lên xuống phía ngược hướng tàu chạy. Người cảnh sát ngồi ngay trước mặt tôi. Trong toa chỉ có ông ta và tôi. Ông hỏi:

Anh nói được tiếng Anh?

Chút ít thôi!

Người ta nói, anh nghe hiểu không?

Cũng tàm tạm, khi người ta không nói nhanh quá!

Thế thì, chú bé ạ, tôi muốn khuyên chú một điều này: Đừng nên gian ngoan với pháp luật, cứ thú tội là tốt nhất: Anh thú tội sẽ được cảm tình của mọi người. Không gì khó chịu bằng những tên cứ chối cãi sự thật hiển nhiên, cho nên những người thú tội thì được hưởng đủ mọi thứ chiếu cố và ân huệ. Nói giả dụ như tôi đây, nếu anh kể sự việc như thế nào cho tôi nghe, tôi sẽ biếu ngay anh một đồng bạc. Và anh sẽ thấy tiền bạc làm cho đời sống của anh trong chỗ tù ngục sẽ dễ chịu hơn chừng nào.

Tôi toan nói tôi không có tội gì mà phải thú cả. Nhưng nghĩ lại tốt nhất là nên gây cảm tình với ông ta, như ông ta nói, cho nên tôi không đáp. Ông ta nói tiếp:

Chú cứ suy nghĩ, ở trong nhà lao, chừng nào chú đã nhận thấy lời khuyên bảo của tôi là đúng đắn thì chú nhờ người ta gọi tôi đến. Bởi vì không nên bạ ai cũng thú tội mà phải chọn cái người quan tâm tới chú, và tôi, thì chú đã thấy đó, tôi sẵn sàng giúp đỡ chú.

Tôi gật đầu.

Cứ bảo gọi ông Đơnphin. Chú nhớ tên tôi chứ?

Thưa ông, vâng.

Tôi tựa vào cửa. Tấm kính đã mở, tôi xin phép ông ta nhìn xem phong cảnh những vùng tàu vừa đi qua. Vì ông muốn "gây cảm tình" với tôi nên ông ta bảo tôi cứ việc trông ngắm tha hồ. Ông ta còn sợ gì chứ? Con tàu chạy nhanh là thế!

Được một lát, gió thốc vào mặt khiến ông thấy lạnh bèn rời chỗ cửa đến ngồi giữa toa. Phần tôi thì không thấy lạnh. Tôi nhẹ nhàng luồn tay trái ra ngoài, vặn quả nắm, còn tay phải thì giữ cánh cửa không cho bật ra.

Thì giờ trôi qua. Tàu huýt còi và chậm lại. Thời cơ đã đến, tôi xô mạnh cửa, cố sức nhảy ra xa. Tôi rơi xuống cái rãnh bên đường. May thay, hai tay tôi đưa ra trước chạm phải bờ đất phủ cỏ. Tuy vậy, tôi bị ném xuống mạnh quá đến nỗi lăn ra bất tỉnh.

Khi tỉnh lại, tôi ngỡ mình còn đi trên tàu hỏa vì cảm thấy vẫn lao nhanh và nghe có tiếng bánh xe lăn.

Tôi nằm trên một ổ rơm. Lạ chưa! Mặt tôi ướt át, và có cái gì êm êm, ấm ấm, mơn trớn má tôi, trán tôi. Tôi mở mắt: Một con chó, một con chó vàng xấu xí cúi xuống mặt tôi và liếm. Mắt tôi gặp mắt Mátchia! Nó quỳ bên cạnh tôi. Nó đẩy con chó ra, ôm hôn tôi và nói.

Cậu sống rồi!

Ta ở đâu đây?

Trên xe ngựa! Anh Bốp đánh xe.

Thế nào? Có sao không? - Anh Bốp ngoảnh lại hỏi.

Em không biết. Có lẽ không việc gì!

Co tay, duỗi chân xem.

Đang nằm dài trên ổ rơm, tôi làm theo lời anh bảo.

Tốt lắm! - Mátchia nói. - Không trật gẫy chỗ nào cả!

Nhưng sự việc đã diễn ra như thế nào?

Cậu đã nhảy tàu, như tớ dặn, bị ném mạnh cậu ngất đi và lăn xuống cái rãnh bên vệ

Đường. Anh Bốp không thấy cậu, bèn tuột khỏi bờ đê xuống tìm, còn tớ thì giữ ngựa. Anh ấy bế thốc cậu lên. Chúng tớ tưởng cậu chết rồi chứ! Sợ quá. Buồn quá! Nhưng bây giờ thì cậu sống rồi!

Còn lão cảnh sát!

Lão ta đi thẳng với đoàn tàu. Tàu không dừng lại.

Tôi đã biết những điều thiết yếu. Trông quanh, tôi thấy con chó vàng nhìn tôi âu yếm; mắt nó giống mắt con Capi, nhưng nó không phải Capi và Capi là con chó trắng. Tôi hỏi:

Thế còn con Capi, nó đâu rồi?

Mátchia chưa kịp đáp thì con chó vàng đã nhảy lên người tôi, liếm tôi, mặt giàn giụa nước mắt.

Nó đấy mà! - Mátchia nói. - Chúng mình nhuộm lông nó đấy! Tôi vuốt ve con chó và hôn nó.

Tại sao cậu nhuộm lông nó?

Đó là cả một câu chuyện để tớ kể cho cậu nghe.

Em đánh ngựa đi, và cố kèm nó. Trong lúc đó thì anh thu xếp cái xe thế nào để đi qua cái cổng gác, người ta không nhận ra.

Cái xe này có mui bằng vải phủ lên những chiếc vành hình cánh cung. Anh Bốp giở vành ra xếp vào xe, gấp tư tấm bạt, và bảo tôi che lên người. Đoạn anh bảo Mátchia trốn dưới tấm bạt. Nhờ thế, chiếc xe thay hình đổi dạng hẳn: Nó không có mui nữa và chỉ chở một người chứ không phải ba. Nếu người ta đuổi theo chúng tôi thì chắc người ta phải lạc hướng vì những lời mách bảo của kẻ qua đường.

Khi Mátchia đã nằm bên cạnh tôi thì tôi hỏi:

Chúng ta đi đâu thế này?

Đi Laitơnhemtơn. Đó là một hải cảng nhỏ, ở đấy anh Bốp có người anh làm thuyền trưởng một chiếc thuyền chở bơ, trứng ở xứ Noóc-măng-đi bên Pháp. Chúng mình mà trốn thoát được - mà chắc chắn là thoát - là nhờ công anh Bốp. Anh ấy làm tất cả. Chứ cái thằng tớ thì giúp gì được cho cậu! Chính anh Bốp có sáng kiến xui cậu nhảy tàu, chính anh ấy thổi cái giấy của tớ vào cho cậu và cũng chính anh thuyết phục bạn anh cho chúng ta mượn con ngựa này. Sau hết, cũng chính anh ấy xoay cho ta một chiếc thuyền để sang Pháp vì chắc cậu biết nếu cậu đi tàu máy thì bị tóm ngay. Cậu thấy có bạn tốt có sướng không?

Thế còn con Capi, ai có sáng kiến bắt nó đấy?

Tớ! Nhưng anh Bốp lại nghĩ ra cái việc nhuộm nó ra màu vàng để người ta không nhận ra. Chúng tớ đã trộm nó ở tay lão cảnh sát Giêre, lão Giêre thông minh, như ông quan tòa đã bảo ấy mà! Nhưng lần này thì lão ta không được thông minh cho lắm, vì lão để chúng tớ cuỗm mất con Capi mà không biết. Thực ra thì chính con Capi đã làm hầu hết mọi việc khi nó đánh hơi thấy tớ, vả lại anh Bốp thì anh ấy biết hết thủ đoạn của bọn bắt trộm chó.

Chân cậu ra sao rồi?

Khỏi rồi, nghĩa là gần khỏi. Tớ không có thì giờ nghĩ đến nó.

Xe cộ đi trên đường sá nước Anh không được tự do như ở nước Pháp, ở đây từng chặng có những trạm gác, muốn đi qua thường phải nộp một món tiền. Đến mỗi trạm, anh Bốp lại bảo chúng tôi lặng im và đừng động đậy, thế là những người gác cổng chỉ thấy chiếc xe trần cùng với một người đánh xe. Anh Bốp nói với họ vài câu pha trò rồi đi qua. Với cái thuật vẽ mặt làm hề, anh đã cải dạng thành một nông dân khéo đến nỗi người quen biết anh nhất cũng không nhận ra khi nói chuyện với anh.

Chúng tôi đi khá nhanh vì con ngựa chạy hay và anh Bốp đánh xe giỏi. Tuy nhiên, cũng phải dừng lại để cho con ngựa thở một chút và cho nó ăn ít nhiều. Chúng tôi không nghỉ ở quán. Anh Bốp cho dừng xe giữa rừng, cởi cương giàm cho con ngựa, lấy túi lúa trong xe tròng vào cổ nó. Đêm tối mịt, không lo bị lộ. Bây giờ tôi mới nói chuyện được với anh Bốp và cảm ơn anh bằng vài lời xúc động. Nhưng anh không để nói tôi nói hết những tình cảm tràn ngập trong lòng. Anh siết tay tôi nói:

Chú đã giúp tôi, bây giờ đến lượt tôi giúp chú, có đi có lại! Vả lại chú là anh em của Mátchia, đối với cái chú bé ngoan ấy thì gì mà người ta không làm để giúp đỡ chứ!

Tôi hỏi anh đã gần đến bến tàu hay chưa. Anh đáp còn phải đi chừng hai tiếng nữa, cho nên phải vội lên; thuyền của anh anh đi ngày thứ bảy, đi sớm vì hình như thủy triều lên sớm, mà hôm nay đã thứ sáu rồi. Chúng tôi lại lên ổ rơm, chui vào dưới tấm bạt và con ngựa đã hồi sức lại tế nước đại vượt lên.

Cậu có sợ không? - Mátchia hỏi.

Cũng có, nhưng cũng không! Tớ rất sợ bị bắt lại, nhưng chắc là không đâu! Trốn đi không phải là thú nhận có phạm tội hay sao? Đó là điều day dứt tớ nhất. Rồi sẽ chống cãi thế nào chứ?

Chúng tớ cũng có nghĩ đến điều đó. Nhưng anh Bốp cho là phải làm tất cả để cậu khỏi phải ra ngồi trên ghế bị cáo trước tòa đại hình. Đã ra đó, dù có được trắng án đi nữa cũng buồn lắm. Tớ thì tớ chẳng dám nói gì cả vì sẵn có ý định đưa cậu về Pháp, tớ chỉ sợ cái

Định đó lái tớ làm sai.

Cậu làm đúng. Dù xảy ra gì nữa, tớ cũng chỉ biết ơn cậu và anh Bốp.

Chẳng xảy ra gì đâu, cậu cứ yên tâm. Khi tàu dừng lại thì viên cảnh sát làm báo cáo.

Nhưng họ tổ chức cho xong việc truy nã cũng còn lâu, trong khi đó thì chúng ta đã rông xa, vả lại, họ không thể biết chúng ta rời bến ở Laitơnhemtơn.

Nếu người ta không đuổi theo chúng tôi thì đúng là chúng tôi sẽ xuống thuyền một cách yên ổn. Nhưng tôi không dám tin chắc như Mátchia, rằng khi tàu dừng lại, viên cảnh sát còn phải mất thì giờ mới đuổi theo chúng tôi được. Cái nguy là ở đó và có thể nguy lớn. Tuy nhiên dưới bàn tay cứng cáp của anh Bốp, con ngựa vẫn tiếp tục phóng nước đại trên con đường vắng vẻ. Thỉnh thoảng thôi, chúng tôi mới gặp một đôi chiếc đi ngược chiều, chứ không có cái nào vượt chúng tôi. Thôn xóm vắng lặng, họa hoằn mới có một cửa sổ để lọt ánh sáng muộn màng. Chỉ mấy con chó chú ý đến xe chúng tôi và sủa đuổi theo. Lên khỏi một dốc thấp, anh Bốp dừng xe cho ngựa thở; chúng tôi leo xuống, áp tai trên mặt đất nghe ngóng. Ngay Mátchia tai nhạy hơn cả cũng không nghe thấy tiếng động gì khả nghi. Chúng tôi đi trong bóng tối và sự vắng lặng của cảnh đêm.

Bây giờ thì hai đứa tôi nằm trong tấm bạt không phải để trốn con mắt thiên hạ nữa, mà vì rét. Gió bấc lạnh đã thổi khá lâu rồi. Đưa lưỡi lên môi thấy có vị mặn: Thế là chúng tôi đã đến gần biển. Lát sau chúng tôi thấy một ánh đèn rất sáng ẩn hiện đều đều. Đó là một ngọn đèn biển, chúng tôi đã đến đích. Anh Bốp dừng ngựa, cho đi bước một vào một con

Đường tắt. Rồi anh xuống xe, bảo chúng tôi giữ ngựa, đợi ở đấy. Anh phải đến xem thử anh anh còn ở bến không, và đáp nhờ thuyền như thế có ngại gì không?

Anh Bốp vắng mặt sao mà lâu quá, dài dằng dặc! Chúng tôi không nói chuyện. Gần

Đâu đây, tiếng sóng vỗ bờ đều đều càng làm chúng tôi xúc động thêm. Mátchia cũng run, y như tôi. Nó thầm thì:

Vì rét đấy!

Có chắc vì rét không? Cái chắc là khi có một con bò hay một con cừu ở đồng cỏ hai bên đường chạm phải một viên đá hay một hàng giậu, chúng tôi lại thấy rét hơn, nghĩa là run nhiều hơn.

Cuối cùng, chúng tôi nghe thấy tiếng chân người trên con đường anh Bốp đã đi. Chắc là anh ấy trở về. Số phận tôi sắp quyết định đây rồi.

Anh Bốp không đi một mình. Khi anh đến gần, chúng tôi thấy có người đi với anh. Người đó mặc một chiếc áo varơi bằng vải dầu và đội một cái mũ len không vành. Anh Bốp nói:

Anh mình đấy! Anh ấy sẵn lòng cho hai chú đáp nhờ thuyền. Anh ấy sẽ đưa các chú đến bến. Chúng ta chia tay nhau ở đây thôi vì không cần để cho người ta biết là mình có đến đây.

Tôi muốn cảm ơn anh Bốp. Nhưng anh bắt tay tôi để ngắt lời tôi. Anh nói:

Đừng có nói làm gì cái việc ấy! Phải giúp nhau, khi thì chú, khi thì tôi, thế thôi! Ngày khác chúng ta gặp lại nhau. Giúp được Mátchia là tôi sung sướng rồi!

Chúng tôi đi theo người anh anh Bốp. Lát sau, vào những phố vắng lặng trong thị trấn, quanh co một lúc thì đến bờ kè, gió biển phả vào mặt. Anh anh Bốp không nói gì, đưa tay chỉ chiếc thuyền đã kéo buồm. Tôi hiểu đó là thuyền của anh. Mấy phút sau, chúng tôi đã

Trên thuyền. Anh đưa chúng tôi xuống một cái buồng con, bảo:

Hai tiếng nữa tôi mới nhổ neo. Các chú ở đây và cố giữ im lặng.

Khi anh đã khóa cửa buồng, Mát-chi-a im lặng ngả vào lòng tôi và hôn tôi. Nó không run nữa.
 
Từ khóa: Sửa

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back