2 ❤︎ Bài viết: 50 Tìm chủ đề
Chương 36: Nông Bà Bà ở thập niên 60 (13)

- Chẳng phải nhà chúng ta chỉ còn lại năm mươi tệ thôi sao? Sao bà lại mua được nhiều khoai lang thế này? Tôi nghe lão Trương nói giá khoai lang ngoài chợ đen đã lên tới một tệ hai mươi xu một cân rồi cơ mà! - Vương Dao Bang đầy vẻ kinh ngạc lên tiếng hỏi.

- Để tôi nói cho ông nghe, hôm nay tôi gặp được người tốt bụng. Họ bán với giá có năm mươi xu một cân thôi. Chính là bà cụ bán gạo lần trước ấy, ông còn nhớ không? Bà ấy bán gạo trắng cũng chỉ có một tệ năm mươi xu một cân thôi đấy! - Trương Mai nở nụ cười tự mãn nói, giọng đầy tự hào. - Tiếc là bà cụ bảo năm nay trời đất thất thường, mùa màng có vẻ không được tốt nên bà ấy sẽ gác kiếm, không đi bán ngũ cốc nữa. Nhưng may mắn là tôi đã dốc túi tích trữ được khoảng một trăm cân khoai với gạo thô. Tôi tính rồi, cả nhà mình cứ ăn uống tiết kiệm một chút thì chắc chắn đủ chống đói trong vòng hai tháng!

Là người tay hòm chìa khóa trong gia đình, việc mua được nguồn lương thực thượng hạng với cái giá rẻ như cho này đương nhiên là một chiến tích lớn của bà.

- Chờ một chút, mẹ ơi! Bà cụ ấy bảo sẽ không bán ngũ cốc nữa sao? Vậy chắc chắn lần này mẹ mua hàng mà không thèm kiểm tra kỹ rồi! - Vương Phượng luôn tin rằng trên đời này chẳng có bữa trưa nào miễn phí. Nghe mẹ nói đây là chuyến hàng cuối cùng của bà lão kia, cô ta lập tức nâng cao cảnh giác. Quên cả bữa ăn, cô ta vội vã đứng bật dậy: - Con nghe mấy người đồng nghiệp ở xưởng kháo nhau, có kẻ cố tình bán hàng giá rẻ đợt đầu để lấy lòng tin, rồi mấy đợt sau liền giở trò bán hàng kém chất lượng. Biết đâu bà ta xếp mấy củ khoai ngon lành ở phía trên miệng bao để che mắt mẹ, còn phần gốc toàn là đồ hư thối thì sao? Không được, con phải vào kho kiểm tra ngay mới yên tâm!

Sắc mặt Trương Mai lập tức tái mét khi nghe con gái phân tích. Lúc ở chợ đen tình hình hỗn loạn, ai nấy đều tranh nhau mua sắm điên cuồng vì sợ chậm chân là mất phần. Bà cũng vì tâm lý hoảng sợ đó nên vừa trả tiền xong là vác cả trăm cân khoai lang và chục cân gạo thô vội vàng chạy về nhà, hoàn toàn chưa hề mở bao ra xem xét.

Bản tính chất phác, lại thêm lòng tin tưởng vào bà cụ từ lần trước nên bà không mảy may nghi ngờ dối trá. Giờ đây, mấy lời đầy lý lẽ của con gái bỗng chốc khiến trái tim bà treo ngược lên tận cổ, hoảng sợ tột độ.

Bà cùng chồng nhanh chóng đứng dậy, hớt hải chạy theo con gái. Những thành viên khác trong nhà cũng chẳng còn tâm trí đâu mà ăn uống nữa, đồng loạt đặt bát đũa xuống, kéo nhau ùn ùn đi về phía phòng chứa ngũ cốc.

Vừa bước vào trong, họ đã thấy Vương Phượng đang hì hục đổ đống khoai lang từ trong bao tải xuống nền đất. Cô ta cầm từng củ lên xem xét kỹ lưỡng dưới ánh đèn dầu mờ ảo, lật đi lật lại một hồi rồi bỗng đần mặt ra, lẩm bẩm với vẻ hoang mang: - Sao.. Sao có thể như thế này được? Khoai lang củ nào củ nấy đều căng mọng, hoàn toàn bình thường, không hề có dấu hiệu hư thối. Không thể nào.. Trên đời này sao lại có kẻ ngốc đến mức bán rẻ như cho thế này chứ? Không thể nào! Sao bà ta lại không phải là kẻ nói dối chứ?

Thấy cảnh tượng trước mắt, Trương Mai vừa mừng rỡ vừa tức giận. Bà lao tới, giơ tay tét mạnh một cái vào gáy con gái, nghiến răng mắng: - Cái con bé này! Mày ăn nói cái kiểu gì thế hả? Người ta có lòng tốt để lại giá hời cho nhà mình, bà ấy không phải kẻ lừa đảo thì mày lại cảm thấy thất vọng và sai trái lắm à? Cút ngay ra ngoài cho mẹ! Tối nay cấm mày ăn cơm, cho mày nhịn đói một bữa để chừa cái thói nghi kỵ người tốt đi!

Nhìn những củ khoai lang hoàn mỹ, sạch sẽ đang nằm lăn lóc trên sàn nhà, Trương Mai bỗng dâng lên một niềm xúc động xen lẫn ái ngại. Bà cảm thấy vô cùng hối hận và tội lỗi vì vừa rồi đã lỡ dao động, đem lòng nghi ngờ nhân cách của bà lão tốt bụng kia.

Bà thật sự đã trách lầm người ta rồi.

Về phần Kiều Mộc, sau khi kết thúc chuyến giao dịch và trở về làng, cô đứng ở đầu thôn nhìn khung cảnh tiêu điều, trong lòng cảm thấy không thể khoanh tay đứng nhìn dân làng cứ thế chịu chết đói được. Dù sao cô cũng đang sở hữu một kho không gian gian, gian lận khổng lồ. Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng mọi rủi ro, cô quyết định rảo bước đi thẳng về phía nhà của vị trưởng thôn già, định bụng sẽ bàn bạc với ông một chuyện hệ trọng.

- Phục Hoa có nhà không đấy? - Vừa đến trước cổng, Kiều Mộc đã đưa tay gõ cửa và cao giọng hỏi lớn. Trương Phục Hoa xét theo vai vế trong làng thì cùng vai với con trai cô, nên cô gọi thẳng tên cúng cơm là Phục Hoa cũng là điều hợp tình hợp lý.

- Ồ, bà cụ Kiều đấy ạ? Sao giờ này bà lại lặn lội đến đây? Vào nhà ngồi đi bà, bà cần ta giúp chuyện gì ạ? - Trời lúc này đã nhá nhem tối, Trương Phục Hoa đương nhiên đang ở nhà. Thấy bà đột nhiên ghé thăm, ông liền vội vàng mở cửa đón cô vào, lễ phép hỏi han.

Kiều Mộc không vào phòng khách mà nghiêm nét mặt, thấp giọng bảo: - Phục Hoa này, tôi có chuyện này quan trọng muốn bàn riêng với ông. Chúng ta ra phía kho hàng của thôn nói chuyện được không?

Kiều Mộc thừa biết ở cái thời đại nhạy cảm này, nếu cô cứ oang oang nói ra kế hoạch của mình ở nơi trống trải thì rất dễ bị khép vào tội phá hoại nền kinh tế chủ nghĩa xã hội và đào góc tường công xã. Do đó, cô cần một không gian tuyệt đối kín đáo để bàn bạc.

Mặc dù cảm thấy yêu cầu của bà cụ có chút kỳ quặc, nhưng Trương Phục Hoa không hề từ chối. Ông quay người dặn dò vợ một tiếng rồi cùng Kiều Mộc đi bộ đến căn kho trống gần đó.

Vừa bước vào không gian tối tăm của căn kho, Kiều Mộc liền đi thẳng vào vấn đề: - Phục Hoa, hôm nay tôi vừa có việc lên huyện một chuyến. Lương thực trên đó hiện tại đã khan hiếm đến mức báo động rồi, rất nhiều gia đình phải chấp nhận bấm bụng mua lương thực với giá cắt cổ ở chợ đen thì mới có cái bỏ vào mồm qua ngày. Tình hình trong làng mình dạo này chắc ông là người nắm rõ nhất, cũng chẳng còn lại bao nhiêu lương thực dự trữ nữa đâu đúng không? Nhìn cái thời tiết hanh khô này xem, ông nghĩ vụ mùa năm nay có thể bội thu nổi không? Nếu từ giờ đến lúc đó trời thương mà cho vài trận mưa rào thì may ra làng mình còn vớt vát được chút ít, chứ cứ tiếp tục nắng hạn thế này thì coi như trắng tay!

Nghe cô phân tích trúng tim đen, Trương Phục Hoa thở dài sườn sượt, gương mặt hiện rõ vẻ sầu não và lo lắng: - Bà ơi, nói thật với bà, nếu bây giờ tôi đem chia đều toàn bộ kho lương thực còn lại của làng mình ra, thì tính trên đầu người mỗi dân làng chỉ được chia chưa đầy hai cân rưỡi, mà ngặt nỗi toàn là ngũ cốc thô mốc meo thôi. Nguồn lương thực ở nhà ăn tập thể của công xã cũng đã chạm đáy rồi, ban cán sự chúng tôi mấy ngày nay lo đến mất ăn mất ngủ, chẳng biết phải làm sao nữa! Vụ thu hoạch mùa thu năm nay quả thực là một dấu chấm hỏi lớn, tôi cũng chẳng dám đặt hy vọng gì vào ông trời nữa rồi.. Bà tuổi cao tri thức rộng, bà có cao kiến gì cứu dân làng không ạ?

Hằng ngày, dân làng chỉ biết than vãn vì thức ăn trong nhà ăn quá loãng, nhưng họ đâu biết rằng các cán bộ thôn khi nhìn vào cái kho lương thực ngày một cạn kiệt thì trong lòng còn như lửa đốt, chỉ sợ một ngày nào đó công xã buộc phải đóng cửa vì hết sạch gạo.

- Tôi muốn lên núi khai hoang trồng trọt. - Kiều Mộc nhìn thẳng vào mắt ông, chậm rãi nói. - Thời tiết bây giờ tuy hanh khô nhưng đất đai trên núi vẫn còn hơi ẩm, chúng ta hoàn toàn có thể tranh thủ trồng thêm một vụ khoai lang ngắn ngày. Nếu đến mùa thu hoạch năm nay làng mình thực sự mất mùa, hoặc số lượng thu về quá ít mà tiền thuế lương thực nộp lên cấp trên vẫn giữ nguyên như cũ, thì đống khoai lang ẩn giấu trên núi này chính là thứ duy nhất cứu sống mạng mạng của cả làng mình đấy!

Thấy gương mặt Trương Phục Hoa chợt biến sắc vì kinh hãi, Kiều Mộc vội vàng xua tay, nói thêm để trấn an ông: - Cháu đừng vội hoảng hốt! Tôi biết việc lén lút khai hoang trồng trọt riêng này là vi phạm quy định của công xã, nhưng cháu đừng quên vào cái năm đói kém kinh hoàng 1942, làng mình đã có bao nhiêu mạng người phải chết đói một cách thê thảm rồi. Nếu thảm kịch đó lại tái diễn, thì những người già như tôi thà liều mạng lên núi trồng khoai còn hơn ngồi chờ chết. Nếu cháu sợ bị liên lụy, cứ để một thân già này tự mình lên núi làm. Sau này nếu chẳng may có kẻ gian rắp tâm tố cáo và bị cấp trên phát hiện ra, tôi sẽ đứng ra nhận hết trách nhiệm, nói rằng tất cả là do một mình tôi tự ý làm, hoàn toàn là ý tưởng của tôi! Thân già này cùng lắm là bị bắt đi diễu hành khắp các con phố để phê bình thôi, tuyệt đối không để cả ngôi làng này phải chịu vạ lây đâu!

- Bà ơi.. Ôi bà ơi.. - Trương Phục Hoa nghe đến đây thì sống mũi cay xè, hai mắt đỏ hoe rồi bật khóc nức nở không kìm chế được.

Ông nghẹn ngào nắm lấy bàn tay gầy gộc của cô: - Bà ơi, tôi là trưởng thôn, tôi làm sao có thể trơ mắt để bà một mình gánh chịu rủi ro lớn như thế được cơ chứ? Bà đã lớn tuổi rồi.. Hay là để tôi lén huy động một vài thanh niên đáng tin cậy trong làng lên núi giúp bà một tay..

- Không được, ông tuyệt đối đừng làm thế! - Kiều Mộc kiên quyết gạt đi. - Chính vì những người như tôi đã già rồi nên mới không sợ hãi gì nữa, dù sao thân già này cũng chẳng còn sống được bao lâu. Chỉ cần đám trẻ các cháu được sống sót qua nạn đói này, những người già chúng tôi dẫu có chết cũng nhắm mắt xuôi tay thanh thản. Ban đầu, tôi tính cứ lén lút một mình lên núi trồng là xong, nhưng cháu xem, dạo này ngày nào cũng có dân làng rủ nhau lên núi tìm rau dại. Tôi chỉ lo rằng một ngày nào đó họ đói quá hóa liều, không đợi nổi đến lúc khoai lang chín mọng đã lao vào đào bới lên ăn sống nuốt tươi hết. Chính vì vậy tôi mới tìm đến ông, hy vọng ông với tư cách là trưởng thôn có thể giúp tôi dùng quyền lực để phong tỏa và che giấu khu vực đó. Ông cứ ghi nhớ điều này trong lòng là được.

Kiều Mộc thừa hiểu Trương Phục Hoa là người nôn nóng, muốn áp dụng phương pháp "càng đông người càng tốt" để nhanh chóng có lương thực. Nhưng nếu kéo một toán người rầm rộ lên núi cuốc đất trồng trọt thì tiếng tăm quá lớn, sớm muộn gì cũng rút dây động rừng. Tốt hơn hết là cô tự mình âm thầm trồng trọt, lợi dụng không gian để gian lận sản lượng thì mới an toàn. Hơn nữa, nếu huy động cả làng làm, thì một lượng lớn giống khoai lang biết tìm ở đâu ra giữa thời buổi thắt lưng buộc bụng này? Làm sao cô có thể danh chính ngôn thuận lén tuồn số lượng lớn dây giống từ trong Trang trại Chim Cánh cụt ra ngoài mà không bị ai nghi ngờ được?

Nghe những lời tâm huyết của bà cụ, Trương Phục Hoa lau nước mắt, cắn răng hạ quyết tâm: - Được rồi! Tôi làm cái chức lão trưởng thôn này bấy lâu nay, thực sự chưa từng làm được việc gì to tát cho dân làng cả. Lần này tôi quyết định sẽ dốc hết sức mình, đánh cược một ván, lén lên núi trồng khoai lang cùng với bà! Xin bà lần này đừng từ chối tôi nữa. Dù sao tôi cũng đã có tuổi rồi, coi như đây là chút đóng góp cuối cùng của tôi cho cái làng này đi! Mà đúng rồi cụ Kiều ơi.. Chúng ta lấy đâu ra dây khoai lang để trồng bây giờ?

Lúc này, Trương Phục Hoa mới sực nhớ ra một vấn đề nan giải: Muốn trồng khoai lang thì bắt buộc phải có củ giống hoặc dây khoai lang. Mà hiện tại, toàn bộ nông sản của người dân đều đã bị tịch thu, gom sạch vào kho của nhà ăn tập thể từ lâu rồi, đào đâu ra giống để gieo trồng bây giờ?
 
2 ❤︎ Bài viết: 50 Tìm chủ đề
Chương 37: Nông Bà Bà ở thập niên 60 (14)

- Già này vẫn còn một ít dây khoai lang, tôi đã bí mật trồng chúng ở nhà. Vậy là xong rồi. Ngày mai tôi sẽ lên núi trồng. Nếu ngày mai ông rảnh, ông có thể đến nhà tôi lấy một ít dây để cùng trồng. Tốt hơn hết là chúng ta nên giữ bí mật chuyện này! Làng mình chưa đến nỗi nghèo khó hoàn toàn, tôi lo có người có ý đồ xấu, nên tốt nhất là phải cẩn thận!

Kiều Mộc không dám đánh giá thấp lòng tham của con người. Hơn nữa, trên đời này chẳng bao giờ thiếu những kẻ ngốc. Ai biết được dân làng nào biết chuyện này mà lại nhịn đói báo cáo cho người khác?

Dạo này quả thật không thể đoán trước được gì.

- Tốt lắm. Ngày mai tôi sẽ cùng bà lên núi trồng khoai lang. Tôi sẽ giữ bí mật chuyện này trước đã. Thực ra trên núi có một thung lũng nhỏ với một khu đất bằng phẳng nhỏ bên trong. Ngoại trừ các trưởng làng qua các thế hệ, không ai biết đến nơi đó. Ban đầu nó được dự định là nơi trú ẩn khỏi chiến tranh và đã không được sử dụng trong hơn một trăm năm. Tôi không biết bây giờ ở đó như thế nào. Ngày mai chúng ta hãy đi xem thử. Nếu vẫn ổn, chúng ta có thể trồng khoai lang ở đó. À, tôi có một ít hạt giống ngô ở nhà. Tôi sẽ mang theo.

Nhiều việc, đặc biệt là những việc bất hợp pháp hoặc trái luật, thường khó khăn nhất lúc ban đầu. Một khi bạn có đủ can đảm để bắt đầu, bạn sẽ không còn sợ hãi nữa. Ít nhất bạn sẽ không còn quá sợ hãi.

Đó là cảm giác của Trương Phục Hoa. Vì họ đã bí mật lên núi trồng khoai lang, việc trồng những thứ khác cũng không thành vấn đề. Nếu không phải vì lúa và lúa mì khó trồng hơn khoai lang và ngô, những loại cây có thể kiểm tra ba đến năm ngày một lần, thì ông ấy đã muốn trồng lúa mì và lúa trên núi rồi.

- Được rồi, vậy là xong! Hẹn gặp lại ngày mai!

Thấy trưởng làng đồng ý, Kiều Mộc cảm thấy đỡ lo hơn một chút. Cô chào tạm biệt và trở về nhà.

Ở nhà cô không có một cây khoai lang nào, vì vậy cô phải thức cả đêm ở Trang trại Chim Cánh Cụt để trồng khoai lang và thu thập đủ dây leo cho ngày mai. Chắc chắn cô sẽ rất bận rộn và không có thời gian để nói chuyện phiếm.

Sau khi về nhà, Kiều Mộc khóa tất cả cửa ra vào và cửa sổ, thậm chí còn đặt hai chiếc gối lên giường để giả vờ ngủ, trước khi vào Trang trại Chim Cánh Cụt để trồng khoai lang.

Có hai mươi bốn mảnh đất trong trang trại, mỗi mảnh rộng khoảng một mẫu Anh. May mắn thay, cô không phải tự mình canh tác bất kỳ mảnh nào. Cô chỉ cần nhấn nút đào để đào, trồng và thu hoạch tự động, khá tiện lợi. Chính vì lý do này mà Kiều Mộc tự tin rằng cô có thể chuẩn bị đủ dây khoai lang trong một đêm. Nếu cô phải tự tay cắt khoai lang, ươm mầm và trồng chúng, dù có làm việc cật lực cũng không thể trồng được nhiều dây khoai lang.

Tuy nhiên, mặc dù mấy công đoạn trong trang trại đã được tự động hóa, nhưng đó chỉ bao gồm việc đào đất, bón phân và thu hoạch. Việc Kiều Mộc phải làm bây giờ là cắt dây khoai lang để dùng làm cây con khi khoai lang vừa nảy mầm. Bước này không được tự động hóa trong Trang trại Chim Cánh Cụt, vì vậy cô phải tự tay cắt từng dây một.

Sau khi trồng khoai lang trên tất cả các thửa ruộng của Trang trại Chim Cánh Cụt và bón phân kích thích sinh trưởng cho từng luống, Kiều Mộc ngay lập tức bắt đầu tỉa những dây khoai lang mới nảy mầm. Và cô phải thừa nhận rằng, việc đó thực sự rất mệt. Tỉa vài chục hay thậm chí vài trăm dây khoai lang thì không quá mệt, nhưng Kiều Mộc hiện đang tỉa cả một diện tích 24 mẫu Anh!

Đó là một con số thực sự đáng sợ.

Trung bình, phải mất nửa tiếng để cắt hết một mẫu đất trồng khoai lang – đó là công việc vô cùng vất vả. Kiều Mộc mới chỉ cắt chưa đến nửa tiếng mà đã cảm thấy đau lưng và bắt đầu buồn ngủ. Nhưng cô mới chỉ cắt được khoảng một nghìn dây khoai lang; như vậy là chưa đủ. Không còn cách nào khác, cô lấy hai cốc cà phê từ xưởng chế biến và ăn hai quả sâm đỏ từ kho để bổ sung năng lượng.

Sau đó, tất nhiên, cô tiếp tục cắt.

Sau gần mười tiếng làm việc vất vả, cuối cùng cô cũng thu hoạch được hơn 40.000 dây khoai lang. Điều này chỉ có được là nhờ cô đã trở nên thành thạo hơn và tốc độ cắt cũng nhanh hơn. Với tốc độ cắt trước đây, thậm chí thêm mười tiếng nữa cũng không đủ để thu hoạch được 40.000 dây.

- Đã hơn sáu giờ rồi. Trưởng thôn chắc sắp đến tìm mình rồi. Mình phải nhanh lên!

Kiều Mộc nhìn đồng hồ và nhận ra đã hơn sáu giờ sáng. Giờ này, dân làng đã thức dậy và đang đi đến nhà ăn sáng, nên cô không dám trì hoãn thêm nữa. Cô nhanh chóng tắm rửa ở Trang trại Chim Cánh Cụt, vội vàng lấy ra sáu nghìn dây khoai lang, chuẩn bị dùng chúng làm biện pháp tạm thời để cô và trưởng làng có thể cùng nhau trồng chúng hôm nay.

Không phải là Kiều Mộc không muốn lấy hết số dây khoai lang đó ra; vấn đề mấu chốt là ngay cả khi họ làm vậy, liệu hai người, một người hơn sáu mươi và người kia tám mươi, có thể trồng được hơn bốn mươi nghìn dây trong một ngày không? Chưa kể việc đào hố và trồng dây, chỉ riêng việc lên xuống núi hai lần cũng mất hơn hai tiếng đồng hồ. Thêm vào đó là thời gian ăn uống và phải về sớm vào buổi tối, thời gian làm việc sẽ càng bị rút ngắn. Cuối cùng, họ có thể may mắn lắm mới có được sáu tiếng làm việc.

Thậm chí họ có thể không trồng nổi sáu nghìn dây.

Hơn nữa, nếu không lấy hết số dây khoai lang đó ra hôm nay, chúng sẽ héo và không dùng được nữa trong vài ngày tới. Nhưng dù chúng có được cất giữ trong kho nông trại hay không cũng không sao; khi lấy ra chúng vẫn sẽ y hệt như cũ! Như vậy sẽ giúp cô khỏi phải cắt dây leo.

Quả nhiên, chưa đầy mười phút sau khi Kiều Mộc rời khỏi nông trại, có tiếng gõ cửa. Trưởng thôn và vợ ông, Kiều Tam Nương, đã đến.

- Cái này.. Vào nhanh lên, vào nhanh lên!

Kiều Mộc sững sờ một lúc, nhưng tin tưởng Trương Phục Hoa, cô nhanh chóng giục hai người vào nhà và hỏi nhỏ: - Phục Hoa, ông đã nói với vợ ông chưa?

- Cụ Kiều ơi, Phục Hoa đã kể hết cho tôi rồi. Tôi cũng thấy ý kiến của cụ rất đúng. Ở tuổi này, cụ vẫn còn nghĩ đến việc giúp đỡ dân làng, sẵn sàng mạo hiểm để làm việc cho họ. Sao chúng tôi lại không ủng hộ cụ được chứ! Hai người thì hơi chậm, nên tôi tình nguyện đến giúp. Càng nhiều người càng nhanh. Nhân tiện, tôi cũng mang theo một ít hạt bí ngô và hạt ngô. Bí ngô to và không khó chăm sóc. Trồng nhiều hơn cũng có thể có lương thực!

Vừa lúc Kiều Tam Nương bước vào và nghe thấy câu hỏi của Kiều Mộc, bà ấy liền hào hứng nói, giơ hai gói hạt giống trên tay lên.

- Được rồi, vậy thì chúng ta lên núi thôi! À, tiện thể, tôi để dây khoai lang trong phòng ngủ. Chờ một lát, khi mọi người đi làm xong, chúng ta sẽ lén mang dây khoai lang lên núi.

Kiều Mộc không có vấn đề gì với điều này, vừa nói vừa dẫn họ đến phòng ngủ để cho họ xem dây khoai lang mà cô vừa lấy từ Trang trại Chim Cánh Cụt.
 
2 ❤︎ Bài viết: 50 Tìm chủ đề
Chương 38: Nông Bà Bà ở thập niên 60 (15)

Hôm đó, ba ông bà già thực sự làm đến kiệt sức. Họ trồng được 6.000 cây khoai lang trên mảnh đất bằng phẳng trong thung lũng với rất nhiều khó khăn. Ngô và bí cũng được trồng.

Tiếp theo, Kiều Mộc bàn bạc với họ và đồng ý nghỉ ngơi một ngày trước khi tiếp tục trồng. Cô sẽ tìm cách kiếm cây khoai lang. Mặc dù Trương Phục Hoa cảm thấy hơi lạ, tự hỏi Kiều Mộc lấy đâu ra nhiều cây khoai lang như vậy, nhưng cuối cùng ông không hỏi. Dù sao thì đây cũng là việc có lợi cho làng, vậy tại sao phải bận tâm tìm hiểu sự thật?

Vì vậy, trong hai tuần tiếp theo, họ thực sự kiệt sức. Cứ cách một ngày, họ lại đến thung lũng trên núi và một số nơi khuất trên hai ngọn núi để trồng vài nghìn cây khoai lang. Đến cuối hai tuần, họ đã trồng tổng cộng 100.000 cây khoai lang trên núi.

Sáu mươi nghìn cây khoai lang được trồng trên mảnh đất bằng phẳng trong thung lũng, phủ kín toàn bộ khu vực. Bốn mươi nghìn cây còn lại nằm rải rác ở những góc khuất giữa hai ngọn núi. Sáu mươi nghìn cây đó là số mà họ cần tập trung chăm sóc. Bốn mươi nghìn cây kia, do phân tán rộng hơn, nên việc chăm sóc chúng là bất khả thi; họ thiếu sức lực và thời gian, vì vậy họ đành phải phó mặc số phận cho những mầm khoai lang.

Sau khi trồng xong mầm khoai lang cuối cùng, ba người họ mệt mỏi ngồi phịch xuống một tảng đá hình bầu dục. Nhìn những mầm khoai lang phủ kín mặt đất, họ mỉm cười.

- Cụ ơi, cụ nói đúng! Hai tuần nay trời không mưa, đất khô cằn kinh khủng. Vụ mùa năm nay chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng rồi. Nhà ăn tập thể đã cạn sạch từ mấy ngày trước; không còn một hạt nào, nên chúng tôi phải giải tán. Ai cũng yếu đến nỗi không tưới nổi cây! Chúng tôi rất biết ơn cụ vì mỗi ngày đều mang cho chúng tôi vài củ khoai lang; nếu không, chúng tôi đã không còn sức để trồng những mầm này. Trong hai ba tháng nữa, chúng sẽ là nguồn sống của chúng tôi. Cả làng chúng tôi đều mang ơn cụ; đó là một việc làm tốt!

- Tôi chỉ đang thận trọng thôi, dù chỉ là chuyện may rủi. - Kiều Mộc nói một lát với vẻ khiêm tốn, rồi hỏi về mối lo lớn nhất của dân làng. Họ gần như đang chết đói, nên việc họ hy vọng trưởng thôn có thể nhận được chút trợ cấp từ công xã là điều dễ hiểu. Mấy ngày nay, nhiều dân làng đã đứng ở cổng làng, háo hức chờ đợi tin tốt. - Nhân tiện, chẳng phải lúc nãy mọi người đã bàn xin trợ cấp từ cấp trên rồi sao? Kết quả thế nào? Chắc là không được rồi!

- Cụ ơi, cụ thông minh thật! Không được, nhưng tôi không dám nói gì, lo rằng nếu không có hy vọng, mọi người sẽ càng tuyệt vọng hơn. Công xã nói năm nay nhiều nơi thiếu lương thực, dặn chúng ta phải chăm sóc mùa màng cẩn thận. Năm nay vẫn phải đóng thuế lương thực nữa. Không biết báo cáo sẽ ra sao! Tôi nghe nói ở làng Vương Gia kế bên đã có người chết đói rồi. Trời đất này thật không ban cho người ta lối thoát nào cả.

Khi nói, giọng của Trương Phục Hoa nhỏ dần, giọng điệu thể hiện chút buồn rầu và thương tiếc, có thể là cho dân làng hoặc cho người đã chết đói ở làng Vương Gia kế bên. Suy cho cùng, nếu người này mất đi, người kia cũng sẽ mất đi!

- Chuyện này thì liên quan gì đến trời? - Kiều Mộc không khỏi phản bác sau khi nghe Trương Phục Hoa nói rằng ông trời không ban cho người dân cách nào để sống sót. - Ông thấy đấy, năm nay dân làng ta lười biếng thế nào rồi. Sông không cạn, nhưng nhìn xem có bao nhiêu người gánh nước tưới ruộng. Ai nấy đều chờ những nơi nào năng suất hàng nghìn, hàng chục nghìn cân mỗi mẫu gửi lương thực cứu trợ! Hệ thống công bằng tuyệt đối này sẽ không kéo dài được lâu; sớm muộn gì cũng phải thay đổi, nếu không thì ai còn muốn bỏ công sức ra làm ruộng nữa? Có làm ruộng hay không cũng vậy thôi!

Cô thở dài, nói tiếp: - Thôi, đừng bàn về chuyện này nữa. Khi báo cáo sản lượng năm nay, chúng ta tuyệt đối không được làm theo các làng khác mà báo cáo cao hơn thực tế. Sản lượng trên mỗi mẫu là sản lượng thực tế. Nếu chúng ta báo cáo lại như năm nay, dân làng ta sẽ chết đói mất!

Suốt nửa đầu năm nay, dân làng không hề làm ruộng một cách chuyên tâm; hầu hết họ chỉ làm việc qua loa và cẩu thả. Ngay cả khi năm nay không có hạn hán, thái độ như vậy cũng chẳng thu hoạch được nhiều lúa.

- Cụ ơi, cụ nói đúng! Nhưng chúng ta không thể làm gì được với các chính sách từ cấp trên; chúng ta chỉ có thể tuân theo. Tuy nhiên, năm nay chúng ta thực sự không thể tiếp tục báo cáo sai sản lượng ngũ cốc được nữa. Cứ cho là tôi bị sa thải đi; miễn là mọi người đều sống sót, thế là đúng rồi! Lát nữa ngươi phải thuyết phục đại đội trưởng! Lần này chúng ta không thể cạnh tranh về thành tích xuất sắc được; kiểu thành tích xuất sắc đạt được bằng cái giá của mạng sống thì tốt hơn hết là không nên làm. Được rồi, cụ ơi, cụ nghỉ ngơi đủ rồi. Chúng ta xuống núi thôi; trời sắp tối rồi!

Trương Phục Hoa đáp lại, liếc nhìn lên trời và ra hiệu rằng họ sẽ xuống núi về nhà. Kiều Mộc không phản đối và đương nhiên đi theo.

Cô vừa xuống núi xong còn chưa về đến nhà thì đã thấy ai đó mang một cái giỏ tre gõ cửa. Nhìn kỹ hơn, cô nhận ra con gái nhỏ của mình, Kiều Hoa!

Cô nhanh chóng gọi từ xa: - Hoa Nhi, mẹ về rồi! Đợi một chút!

Nói xong, Kiều Mộc bước nhanh hơn và vội vã về nhà. Kiều Hoa nghe thấy Kiều Mộc gọi, sợ mẹ ngã nên vội chạy ra đón.

- Mẹ ơi, sao giờ này mẹ về? Mẹ lên núi làm gì? Đừng có giấu nữa, con vừa thấy mẹ từ chân núi xuống mà! Nhà không có gì ăn à? Đừng lo mẹ, con mang khoai lang về cho mẹ này. Con lén trồng ở ngoài sân, giờ chúng ngọt lắm rồi. Tất cả đều ở trong giỏ rồi, nhưng con không cho mẹ xem bây giờ được, lát nữa con sẽ cất vào trong nhà! Các anh trai con không mang gì tới à?

Kiều Hoa vừa lo lắng vừa có chút trách móc. Bà lo lắng cho sức khỏe của Kiều Mộc, vừa trách hai anh trai vì từ khi nhà ăn đóng cửa mà không mang gì tới.

- Không sao đâu, mẹ chỉ lên núi đi dạo thôi! Thấy chưa, mẹ về tay không mà không thiếu ăn. Con lén trồng khoai lang ở nhà, mẹ cũng vậy! Nhà ăn đóng cửa rồi mà, phải không? Mẹ không thể cứ ở nhà cả ngày mà vẫn có đồ ăn được, đúng không? Cứ vài ngày mẹ lại lên núi, không xa lắm đâu, chỉ đi dạo một chút rồi quay về, chỉ để xuất hiện cho dân làng thấy chút thôi! Đừng đưa khoai lang cho mẹ, bây giờ mẹ không cần. Ôi, vào trong với mẹ nào.

Vừa nói, hai người đã đến trước cửa nhà Kiều Mộc. Kiều Mộc mở cửa và dẫn Kiều Hoa vào phòng trong.

Cô lấy một bao bột bắp từ tủ đựng ngũ cốc trong phòng trong và nói với nụ cười: - Lần trước mẹ đi thị trấn thấy có người bán bột bắp nên đã mua rất nhiều. Con đến rồi thì mang số bột bắp này về nhé. Khi nào rảnh thì làm bánh cho bọn trẻ ăn! Mẹ chỉ là bà cố của chúng thôi, cũng không có giỏi giang gì, có ít bột bắp này con cứ cầm lấy!
 
2 ❤︎ Bài viết: 50 Tìm chủ đề
Chương 39: Nông Bà Bà ở thập niên 60 (16)

- Mẹ ơi, sao lại thế này được? Mẹ cất mấy thứ này đi thôi. Giữ lấy bao bột ngô này mà ăn mẹ ạ! Mẹ đã già rồi, ăn chút ngũ cốc thô tốt cho sức khỏe đấy. Bọn trẻ ở nhà có thể nhịn đói vài bữa, đợi khi nào mùa màng bội thu chúng ăn bù lại sau cũng được.

Kiều Hoa nhìn bao bột ngô nặng ít nhất bảy, tám cân trước mặt, không dám nhận, vội vàng xua tay từ chối.

- Cứ nhận lấy đi! Nói thật với con, bột ngô này mẹ mua ở chợ đen đấy. Không cần phiếu lương thực gì đâu, chỉ tốn tí tiền thôi. Mấy thập kỷ qua mẹ đâu có sống túng thiếu, bây giờ mẹ cũng có thu nhập rồi! Nào, xem cái này đi!

Kiều Mộc kiên quyết đưa bao bột ngô cho Kiều Hoa. Cô xuyên không đến đây đã được một thời gian, con trai cả từng đến xin xỏ một lần, còn con trai thứ hai thì tăm hơi chẳng thấy đâu. Chỉ có cô con gái út này là còn nhớ đến mẹ, lén mang cho cô ít khoai lang ngọt giữa lúc đói kém. So với hai ông anh trai, cô ấy quả là hiếu thảo hơn nhiều.

Kiều Mộc đương nhiên muốn tặng con gái chút gì đó, đồng thời đây cũng là cơ hội tốt để cô công khai việc mình viết văn kiếm tiền. Như vậy, sau này khi cô có ăn ngon mặc đẹp cũng không lo bị người nhà hỏi han về nguồn gốc tiền bạc.

Vừa nói, Kiều Mộc vừa lấy ra vài tờ thư phản hồi từ các tạp chí văn chương, trong đó có kẹp hai phiếu gửi tiền ngân hàng chưa rút, đặt thẳng trước mặt Kiều Hoa.

Kiều Hoa ngơ ngác nhìn đống giấy tờ, vì cô không biết chữ.

- Mẹ ơi, mấy cái này là cái gì ạ?

- Hả? Mấy năm trước trong làng có phong trào học chữ, con không đi học sao? Sao bây giờ vẫn mù chữ thế này?

Kiều Mộc hơi ngạc nhiên. Mấy năm trước phong trào xóa mù chữ rầm rộ, ai ai cũng đi học cả nửa năm trời cơ mà? Sao con gái cô lại không biết đọc một chữ bẻ đôi thế này? Trong ký ức, nguyên chủ của thân xác này từng tham gia lớp học chữ của làng ba tháng, thậm chí còn nhận được chứng chỉ hoàn thành khóa học, biết khoảng một nghìn chữ và một chút toán cơ bản.

- Ôi mẹ ơi, mẹ còn lạ gì con nữa. Con đi học lớp xóa mù chữ chẳng qua là để làm màu cho qua loa, tiện thể kiếm bữa ăn miễn phí của công xã thôi. Cuối cùng con có được cấp bằng tốt nghiệp đâu cơ chứ? Hầu hết mọi người trong làng cũng giống con thôi mà. À đúng rồi, đợt đó mẹ được bằng khen đúng không? Mẹ ơi, con nói thật nhé, con không nhận ra chữ nào trong mấy tờ giấy này đâu. Nhìn vào thôi là con đã thấy đau đầu rồi!

Nghe Kiều Mộc nhắc nhở, Kiều Hoa mới sực nhớ ra mẹ mình biết chữ. Hồi làng tổ chức chiến dịch xóa mù chữ toàn dân, mẹ cô là người đầu tiên nhận được bằng tốt nghiệp, lại còn được thưởng một bánh xà phòng và một chiếc cốc men.

- Đây là thư trả lời của tạp chí, họ báo rằng đã chấp nhận bài viết của mẹ. Còn hai tờ này là phiếu nhận tiền nhuận bút của tòa soạn; một phiếu năm tệ, phiếu kia tám tệ. Đây là tiền công mẹ kiếm được nhờ viết bài đấy! Nhờ có khoản này mà mẹ mới có tiền mua bột ngô ở chợ đen. Bây giờ mẹ không cần phải làm lụng vất vả nữa; mỗi ngày chỉ cần dành hai ba tiếng ngồi viết bài là có thể kiếm được khoảng bốn mươi, năm mươi tệ một tháng, thừa sức mua thức ăn qua ngày!

Kiều Mộc vừa giải thích, vừa đưa thư và phiếu tiền cho Kiều Hoa xem, thậm chí còn chỉ vào con số trên phiếu đếm cho con gái nghe.

- Này mẹ, con nhận ra rồi nhé! Con nhìn ra số tám với số năm này rồi! Trời đất ơi mẹ ơi, mẹ đúng là người có học thức lớn mà! Mẹ còn có thể kiếm tiền bằng cách viết bài nữa cơ à? Mẹ chẳng thua kém gì các ông đồ, học giả ngày xưa đâu. Ngày trước, ông đồ ở làng bên cạnh phải chép sách ròng rã bao nhiêu ngày mới kiếm được một đồng bạc. Thế mà bây giờ mẹ lại kiếm được.. Bao nhiêu tiền thế này?

Kiều Hoa đếm đi đếm lại trên các ngón tay nhưng không tài nào tính nổi tám cộng với năm bằng bao nhiêu. Cô chỉ cảm thấy con số đó chắc chắn rất lớn, là một khoản tiền khổng lồ.

Kiều Mộc cũng sững sờ trước những lời khen ngợi dồn dập của con gái.

Ban đầu, Kiều Mộc đã chuẩn bị sẵn cả một loạt lý do để giải thích cho khả năng viết lách đột xuất này-ví dụ như việc cô đã bí mật tự học chăm chỉ sau khi rời lớp xóa mù chữ, hay việc cô may mắn được một vị giáo sư già đi ngang qua hướng dẫn, thậm chí là do bản thân có năng khiếu văn học bẩm sinh. Nhưng ai mà ngờ được cô con gái út này lại chẳng mảy may nghi ngờ, trái lại còn tiếp nhận điều đó một cách dễ dàng và tự nhiên đến thế?

Khả năng chấp nhận của cô ấy chẳng phải quá mạnh mẽ rồi sao? Cô ấy không có lấy một chút hoài nghi nào sao?

Nghĩ đến đây, Kiều Mộc liền thận trọng dò hỏi:

- Con không cảm thấy kỳ lạ khi mẹ bỗng nhiên biết viết bài báo, lại còn được xuất bản để kiếm tiền sao?

- Có gì mà lạ hả mẹ? Mẹ ơi, chẳng phải hồi trẻ mẹ luôn bảo với chúng con là mẹ thông minh lắm sao? Mẹ bảo nếu không vì nhà mình ngày xưa nghèo không có tiền đi học, lại còn phải gả cho bố con rồi làm lụng vất vả cả đời không có thời gian, thì biết đâu mẹ đã trở thành giáo viên hay giáo sư từ lâu rồi đúng không? Lúc đầu con cứ tưởng mẹ nói khoác nên không tin, ai ngờ mẹ của con lại giỏi giang đến thế thật. Mẹ chỉ học chữ có nửa năm mà đã viết được bài báo kiếm tiền rồi. Ôi trời, nếu con biết trước học chữ có lợi thế này thì hồi đó con đã chăm chỉ hơn, biết đâu bây giờ con cũng làm được giống mẹ rồi! Không được, chúng ta không thể để lũ trẻ ở nhà chơi bời lêu lổng nữa. Phải cho chúng đi học ở trên thành phố thôi. Người có học thức kiếm tiền dễ dàng hơn nhiều. Con phải tìm cách cho chúng đi học ở trên đó mới được!

Suy nghĩ của Kiều Hoa nhanh chóng nhảy số sang hướng khác. Cô lập tức mở rộng từ việc Kiều Mộc viết báo kiếm tiền sang tầm quan trọng của việc học hành, trong lòng nung nấu ý định quay về phải tìm mọi cách gửi các con trai của mình lên thành phố học tiểu học.

Được Kiều Hoa nhắc nhở, Kiều Mộc lật tìm lại những ký ức sâu thẳm của nguyên chủ, bấy giờ cô mới nhớ ra những lời khoe khoang của bà lão trước mặt các con ngày trước. Nguyên chủ thực ra không thông minh xuất chúng gì, cùng lắm chỉ là có chút khôn vặt của người già nông thôn. Đôi khi cuộc sống gặp khó khăn vất vả, bà lão lại hay than thở với chồng con rằng nếu ngày xưa mình không gả vào cái nhà này để chịu khổ thì số phận đã khác rồi. Lời bà ta nói nghe thì hùng hồn thế thôi, chứ chủ yếu là nói khoác cho oai miệng.

Còn lý do ngày trước bà ta học hành chăm chỉ ở lớp xóa mù chữ, lấy được chứng chỉ trong ba tháng, thực chất là vì phần thưởng một bánh xà phòng và một chiếc cốc men. Rốt cuộc, hai món đồ đó ở thời bấy giờ trị giá tận bốn, năm tệ. Nguyên chủ đã ghen tị với chiếc cốc men in chữ Song Hỷ của nhà đội trưởng sản xuất suốt bao nhiêu năm trời, nay cuối cùng cũng có cơ hội tự mình sở hữu một chiếc, bà ấy đương nhiên dốc sức học hành, đêm nào cũng thắp đèn học vẹt đến khuya.

Nhưng phải thừa nhận rằng, chính những lời nói khoác ngày trước của nguyên chủ cộng với ba tháng học vẹt chăm chỉ đó lại vô tình giúp ích rất lớn cho Kiều Mộc lúc này. Ít nhất, hai việc này đã làm tiền đề khiến việc cô kiếm tiền bằng nghề viết hiện tại trở nên hợp lý trong mắt người nhà.

Ít nhất là về mặt bề ngoài, điều đó hoàn toàn có thể chấp nhận được.

Nếu nguyên chủ của thân xác này thực sự chưa từng tham gia lớp học chữ nào và hoàn toàn mù chữ, thì việc cô đột nhiên viết được văn đúng là chuyện không tưởng. Tuy nhiên, Kiều Mộc cũng biết rõ giới hạn của mình, cô chỉ dám viết những thứ nằm trong phạm vi hiểu biết của nguyên chủ mà thôi.

Hơn nữa, các tác phẩm của cô đều tập trung vào bản chất mộc mạc, miêu tả những điều giản dị, gần gũi với đời sống thôn quê và khéo léo lồng ghép các câu tục ngữ kinh điển. Cô tuyệt đối không bao giờ đụng đến những chủ đề mà nguyên chủ chưa từng tiếp xúc, cũng không viết những thứ thuộc thể loại khoa học viễn tưởng hay các lý luận cao siêu, sáo rỗng. Cô chọn lối viết văn học dân dã, chân chất, loại văn phong này rất an toàn, ít có khả năng gây rắc rối trong thời đại nhạy cảm này, lại càng không sợ bị ai nghi ngờ.

Một bà lão xuất thân từ nông thôn, học được một vài chữ cái qua lớp xóa mù chữ của công xã, rồi viết nên những câu chuyện nông thôn gần gũi với cuộc sống thường nhật - điều đó chẳng có gì kỳ lạ cả. Cùng lắm, người ta cũng chỉ cảm thán rằng bà lão này thật siêng năng và hiếu học, ở tuổi này rồi mà vẫn biết tiến bộ mỗi ngày.

Đó là điều đáng được khích lệ. Chăm chỉ học tập và tiến bộ mỗi ngày!
 
2 ❤︎ Bài viết: 50 Tìm chủ đề
Chương 40: Nông Bà Bà ở thập niên 60 (17)

- Cho lũ trẻ đi học là tốt đấy. Nếu con không đủ tiền thì cứ đến bảo mẹ, mẹ vẫn lo được học phí. Tốt nghiệp tiểu học cũng là biết chữ rồi!

Kiều Mộc chợt nhận ra rằng trường học vẫn còn mở cửa khoảng bảy, tám năm nữa mới bị đóng cửa bởi tác đọng của thời cuộc. Nếu mấy đứa trẻ bắt đầu đi học từ bây giờ, chúng vẫn còn cơ hội.

Sau này khi trường học đóng cửa, tấm bằng trung học cơ sở chính là tấm vé thông hành giúp chúng có cơ hội thi tuyển vào làm việc trong các nhà máy. Mặc dù cơ hội đối với người có hộ khẩu nông thôn là rất nhỏ, nhưng vẫn tốt hơn hẳn việc không có bằng cấp gì trong tay rồi mất đi cả tư cách ứng tuyển. Chỉ cần có một tia hy vọng, người ta mới có thể cố gắng tìm cách mà phấn đấu.

- Mẹ ơi, sao con có thể nhận tiền của mẹ được cơ chứ! Mẹ biết đấy, nhà họ Lưu trước đây vốn là nông dân trung lưu, trong nhà cũng tích lũy được chút đỉnh. Hơn nữa, học phí bây giờ không còn đắt đỏ như thời trước, rẻ hơn nhiều so với mấy trường tư thục ngày xưa, giấy bút cũng chẳng đáng bao nhiêu tiền. Nếu hôm nay con không đến tìm mẹ, con thật sự chưa nghĩ sâu xa được đến chuyện phải cho tụi nhỏ đi học thế này đâu.

Kiều Hoa nhanh chóng xua tay từ chối.

Gia đình họ Lưu mà cô gả vào trước đây có điều kiện khá tốt, nhờ làm kinh doanh nhỏ nên tích lũy được một lượng vốn liếng đáng kể. Tuy nhiên vào năm 1947, một chuyến hàng lớn của nhà họ bị cướp sạch, khiến gia đình suýt nữa thì phá sản. Họ chẳng còn cách nào khác ngoài việc bán gần hết đất đai, chỉ giữ lại khoảng hai sào đất, vừa vặn đủ để trả sạch nợ nần.

Chính vì thế, đến năm 1950 khi phân chia giai cấp, nhà họ Lưu không bị xếp vào thành phần địa chủ hay phú nông, mà chỉ được định ra là nông dân trung lưu. Thành phần nông dân trung lưu thì không bị đấu tố, cũng không bị tịch thu nhà cửa. Thêm vào đó, người nhà họ Lưu vốn tính nhút nhát, vừa phát động phong trào là họ liền chủ động giao nộp ngay ba mẫu ruộng còn lại cho công xã, nhờ vậy mà trong nhà vẫn giữ lại được chút tài sản riêng.

Tuy nhiên, của cải họ tích trữ chủ yếu lại là những vật phẩm quý hiếm có giá trị như đồ trang sức, vàng bạc - những thứ cực kỳ khó bán vào thời điểm này. Họ không dám quang minh chính đại mang ra ngân hàng đổi lấy tiền mặt, mà dẫu có đổi được tiền, họ cũng chẳng gánh nổi rủi ro khi mang số tiền lớn đó đi mua lương thực ở chợ đen. Đó là lý do vì sao vẻ bề ngoài của họ trông có vẻ túng quẫn, nhưng so với các gia đình khác trong làng thì vẫn thuộc dạng tương đối khá giả.

- Nhà họ Lưu vẫn còn tiền tiết kiệm cơ à? - Kiều Mộc tò mò hỏi, cô đã lờ mờ đoán ra đầu đuôi câu chuyện.

- Nhà con vẫn còn một ít mẹ ạ, hiện tại cả nhà đang phải xoay xở ăn khoai lang trừ bữa, nhưng cứ tiếp tục thế này thì lo rằng không cầm cự được bao lâu nữa. Vì vậy, nhà con đang bàn nhau xem có nên lén mang một ít đồ ra chợ đen để đổi lấy thức ăn hay không. Nhưng ngặt nỗi, chúng con chẳng biết liệu việc đổi vàng lấy lương thực có dễ dàng không nữa.

Kiều Hoa hạ thấp giọng đầy lo lắng, nói tiếp: - Mẹ biết đấy, chính phủ hiện tại đã nghiêm cấm việc lưu thông vàng rồi, nó không còn giống như thời trước, không thể đem ra dùng trực tiếp làm tiền được nữa, giá trị cũng vì thế mà giảm mạnh. Cho nên việc có đổi được gạo hay không thật sự rất khó nói. Nhưng nhà con cũng hết cách rồi. Bố chồng con ngày trước cứ lo đồng bạc trắng bị mất giá, nên đã đem toàn bộ số đồng bạc còn lại cùng các vật phẩm giá trị khác đổi hết thành vàng thỏi. Ai mà ngờ được bây giờ vàng lại không được phép sử dụng tự do cơ chứ? Muốn tiêu thì bắt buộc phải mang ra ngân hàng nhà nước để đổi lấy tiền mặt, nhưng nhà con làm sao dám làm vậy! Lỡ như người ta thấy nhà con có nhiều vàng rồi hiểu lầm chúng con là địa chủ hoặc phú nông giấu của thì có mà mất mạng! Thở dài, đúng là đau đầu quá mẹ ạ!

Giọng Kiều Hoa nghẹn lại, gương mặt lộ rõ vẻ rầu rĩ. Mặc dù trong nhà vẫn còn giấu khoảng chục lượng vàng, nhưng vàng thỏi thì đâu có ăn thay cơm được. Khi cái bụng đã đói cồn cào mà không có lương thực, thì dẫu có ôm một hòm vàng cũng chỉ có đường chết đói. Vấn đề mấu chốt nằm ở chỗ vàng không còn tư cách làm tiền tệ lưu thông, họ không thể cầm nó đi mua sắm tùy tiện ngoài chợ như ngày xưa được nữa.

Nghĩ đến mà bực bội, bất lực vô cùng.

- Không sao đâu, nếu ngặt nghèo quá thì con cứ cầm tiền của mẹ mà dùng! Hoặc là thế này, con cứ mang một hai lượng vàng qua đây đưa cho mẹ thế chấp, mẹ sẽ đổi cho con theo đúng tỷ giá của ngân hàng. Biết đâu sau này giữ lại, mẹ còn đúc được một chiếc vòng tay vàng ấy chứ! - Kiều Mộc mỉm cười trấn an.

Tất nhiên, cô chẳng thèm muốn vài lượng vàng của Kiều Hoa làm gì. Trong không gian Trang trại Chim Cánh Cụt của cô có đến hàng trăm chiếc bát kho báu, bản thân những chiếc bát đó - chưa tính đến số đồ trang sức bằng vàng bạc chứa bên trong - đã nặng tới hàng chục kilôgam và toàn là vàng ròng nguyên chất. Cô chẳng thiếu thốn gì vàng bạc, cô chỉ đơn thuần muốn tìm một cái cớ hợp lý để giúp đỡ con gái mình mà thôi.

Việc mang vàng ra ngân hàng đổi vào thời điểm này quả thực ẩn chứa rủi ro rất lớn, chỉ cần một sơ hở nhỏ là có thể bị người ta tố cáo ngay lập tức. Xét cho cùng, những gia đình còn dự trữ được vàng thỏi từ một hai thập kỷ trước thường có xuất thân không hề tầm thường; họ nếu không phải tư sản thì cũng là địa chủ, thành phần chính trị chắc chắn sẽ bị soi xét rất kỹ. Do đó, hầu hết mọi người thà chấp nhận chịu thiệt một chút để lén lút đổi chác lấy nhu yếu phẩm ở bên ngoài, chứ quyết không muốn đem vàng vào ngân hàng để tự chuốc lấy rắc rối.

- Chuyện này.. Như vậy có ổn không mẹ? - Kiều Hoa quả thực đã bị dao động. Bà vốn tính nhút nhát, nếu không phải dồn vào đường cùng thì cô sẽ không bao giờ dám bén mảng đến chợ đen để đổi vàng. Giờ đây thấy mẹ đẻ sẵn lòng mua lại số vàng đó theo đúng giá ngân hàng, bảo bà làm sao không mừng cho được?

- Có gì mà không ổn, dù sao mẹ cũng là mẹ ruột của con cơ mà! Nhưng tiền mặt mẹ có trong tay cũng không quá nhiều. Con cứ đổi trước một hoặc hai lượng thôi, thế là đủ cho cả nhà xoay xở vào lúc này rồi, nhiều hơn nữa thì mẹ cũng không gánh nổi đâu. Gần đây mẹ có nghe ngóng được giá thu mua vàng của ngân hàng nhà nước là 170 nhân dân tệ một lượng. Chúng ta cứ tính theo giá đó mà làm! Mẹ chỉ có thể gom đủ tiền để đổi cho con hai lượng vàng là cùng thôi. Mà thực ra, một lượng vàng lúc này cũng đã đủ cho nhà con chi tiêu rồi, 170 nhân dân tệ thừa sức giúp con gồng gánh qua một thời gian dài đấy!

Kiều Mộc thừa khả năng tài chính để đổi hết số vàng đó, nhưng cô phải cân nhắc kỹ lưỡng giữa nhu cầu thực tế của con gái và tính hợp lý của số tiền cô đưa ra. Nếu đưa ra tầm ba trăm nhân dân tệ, cô còn có thể ngụy trang bằng cái cớ tiền nhuận bút nửa năm qua, chứ nếu đột nhiên lôi ra hơn ba nghìn nhân dân tệ thì quả thực là quá vô lý, chỉ tổ rước họa vào thân.

- Mẹ ơi, mẹ nói thật đấy à? Mẹ thực sự có nhiều tiền mặt như vậy sao?

Đôi mắt Kiều Hoa mở to vì kinh ngạc. Ngay từ đầu, bà quả thực không dám tin bà mẹ già của mình lại có thể gom góp nổi số tiền lớn đủ để đổi lấy một lượng vàng thỏi.

- Tất nhiên là thật rồi! Con đợi đấy, mẹ lấy cho con xem!

Kiều Mộc liếc nhìn con gái một cái, lập tức xoay người lại để che khuất tầm mắt của Kiều Hoa. Cô giả vờ thọc tay xuống dưới chăn giường tìm kiếm, nhưng thực chất là dùng ý thức rút ra khoảng mười mấy tờ tiền mệnh giá mười nhân dân tệ từ trong cửa hàng của Trang trại Chim Cánh Cụt, rồi cầm trên tay lắc lắc vài cái trước mặt con gái.

- Nhìn xem, chẳng phải tiền đây là gì!

- Trời đất ơi, mẹ của con thật sự phát tài rồi! Người có học thức đúng là khác biệt hoàn toàn mà! Mẹ ơi, con muốn đổi! Nhưng bây giờ con lại không mang vàng theo người. Hay là con chạy vội về nhà lấy một lượng vàng sang đây cho mẹ ngay nhé!

Chứng kiến xấp tiền mặt tươi rói trước mắt, Kiều Hoa mới hoàn toàn tin rằng mẹ mình thật sự có đủ tiềm lực tài chính để đổi vàng. Bà kích động đến mức đứng bật dậy, luống cuống muốn chạy về nhà lấy vàng ngay lập tức, cứ như thể sợ chỉ chậm một bước là Kiều Mộc sẽ đổi ý không bằng.

- Kìa, việc gì mà phải vội vàng hấp tấp thế? Cầm lấy số tiền này trước đi đã. Mang cả bao bột ngô này về nữa; lát nữa khi nào rảnh rỗi hoặc trời tối thì con hẵng mang vàng qua đây cho mẹ. Không cần phải cuống cuồng lên như vậy đâu.

Kiều Mộc đối với cô con gái út của nguyên chủ có ấn tượng cực kỳ tốt. Vào cái năm đói kém kinh hoàng 1942, chính Kiều Hoa đã cắn răng gửi về cho nguyên chủ vài trăm cân lương thực cứu mạng, số lương thực đó sau đó đã được chia cho gia đình của hai người anh trai, giúp cả nhà họ Kiều sống sót qua nạn đói năm ấy.

Có thể nói, vào thời điểm đó, Kiều Hoa đã phải âm thầm chịu đựng biết bao áp lực, hắt hủi từ phía mẹ chồng, gần như dốc cạn toàn bộ số tiền tiết kiệm của bản thân để mua vài trăm cân lương thực về cứu mạng nhà đẻ. Vì ân tình sâu nặng năm xưa, dẫu cho Kiều Mộc hiện tại không tin tưởng bất kỳ ai khác trong cái nhà này, cô cũng tuyệt đối không bao giờ nghi ngờ tấm lòng của cô con gái út hiếu thảo.

Vừa nói, Kiều Mộc vừa cẩn thận đếm ra đúng mười bảy tờ tiền mệnh giá mười nhân dân tệ từ xấp tiền lớn trên tay, rồi dứt khoát nhét thẳng vào tay Kiều Hoa.
 
2 ❤︎ Bài viết: 50 Tìm chủ đề
Chương 41: Nông Bà Bà ở thập niên 60 (18)

- Mẹ! Mẹ tốt với con quá!

Kiều Hoa xúc động đến rơi nước mắt khi thấy mẹ đẻ tin tưởng giao cả một xấp tiền lớn cho mình. Trong lòng bà ngập tràn sự cảm động.

- Được rồi, được rồi, đừng có sến sẩm nữa. Mau gánh bao bột ngô này về nhà đi con!

Kiều Mộc vẫy vẫy tay, nhét thẳng tiền vào túi áo Kiều Hoa. Sau đó, cô chỉ tay vào bao bột ngô mà hai người vừa đùn đẩy nhau trên bàn, nhắc nhở con gái đừng quên mang về.

Kiều Hoa thừa biết tính khí bướng bỉnh của mẹ mình nên không dám phản đối thêm nữa. Tuy nhiên, lúc vác bao bột ngô rời đi, cô lại cố tình để quên giỏ khoai lang ngọt ở lại. Vì sợ Kiều Mộc phát hiện lại cằn nhằn, cô liền vội vàng ba chân bốn cẳng chạy thẳng.

Thấy con gái chạy nhanh như bay, Kiều Mộc cũng chẳng buồn đuổi theo. Cô chỉ mỉm cười lắc đầu rồi xách giỏ khoai lang vào trong bếp. Dù sao thì cô cũng khá thích món khoai lang nướng, thỉnh thoảng những lúc rảnh rỗi nhóm bếp nướng vài củ ăn chơi cũng không hại gì.

* * *

Một tháng sau, tình hình hạn hán khiến sản lượng ngũ cốc sụt giảm nghiêm trọng đã trở thành sự thật phũ phàng.

Sau vụ thu hoạch hè, năng suất lúa thu về cuối cùng chỉ vỏn vẹn chưa đầy một trăm cân mỗi mẫu, trong khi hạn ngạch lương thực phải nộp lên cho nhà nước vẫn không hề giảm bớt. Chính vì vậy, mùa gặt năm nay chẳng có lấy một mảnh niềm vui; khắp thôn làng đâu đâu cũng là bầu không khí chán nản, rầu rĩ. Người dân điên cuồng càn quét, vơ vét sạch sẽ bất cứ thứ gì có thể bỏ vào mồm được trên các cánh đồng, từ trấu, mùn cưa, cho đến thân ngô và dây khoai héo. Tất cả những thứ đó đều được tận dụng triệt để làm lương thực thay thế chống đói.

Tại căn nhà nhỏ của Kiều Mộc, hơn một tháng sau, đại đội trưởng Trương Phục Hoa lại cùng vợ lén lút tìm đến để bàn bạc đại sự.

- Cụ Kiều ơi, sau khi làng mình giao nộp đủ số lương thực nghĩa vụ lên trên thì kho chứa cơ bản là trống rỗng, chẳng còn lại cái gì nữa rồi. Cụ xem tình hình này thì có cao kiến gì không?

Vì chính Kiều Mộc là người đầu tiên nhìn ra viễn cảnh này và đề xuất việc bí mật lên núi trồng khoai lang cứu đói, nên lúc này Trương Phục Hoa đương nhiên đặt toàn bộ hy vọng lên người cô.

Kiều Mộc khẽ lắc đầu. Cô tự biết mình không có bản lĩnh chống lại cả một thời đại, lại càng không có năng lượng xoay chuyển càn khôn:

- Một thân già khú đế như tôi thì biết làm sao bây giờ? Nếu các biện pháp ở làng mình đều bế tắc, ông thử đi tìm gặp các vị trưởng thôn khác trong công xã xem họ có giải pháp nào không.

- Bây giờ cũng chỉ còn cách đó thôi! - Trương Phục Hoa thở dài thườn thượt. - May mà làng mình còn có đống khoai lang ba người chúng ta lén trồng trên núi hơn một tháng trước. Chỉ cần tin tức này không bị rò rỉ ra ngoài thì dân làng mình vẫn có cơ hội vượt qua được tai ương này. Nhưng các làng khác thì không có cái may mắn đó. Tôi cứ lo lắng.. Thôi, thở dài mãi cũng chẳng giải quyết được gì!

Trương Phục Hoa ngẫm nghĩ một lát rồi tự cười khổ. Cho dù ông có lòng thương xót cho các làng bên cạnh thì ông có thể làm được gì cơ chứ? Ngay đến cả việc hé răng nói cho dân làng mình biết về bí mật đống khoai lang trên núi ông còn chẳng dám, huống chi là đi rêu rao cho người làng khác. Hơn nữa, sản lượng khoai lang lén trồng trên núi kia tuy nhiều nhưng cũng chỉ vừa đủ cứu mạng cho một làng này thôi, làm sao gánh nổi miệng ăn của cả thiên hạ. Xem ra, ông vẫn phải lên công xã tìm gặp bí thư một chuyến.

- Phục Hoa này, ông có biết tôi đang lo lắng điều gì không? Tôi chỉ sợ nửa cuối năm nay vụ mùa vẫn tiếp tục thất thu thôi. - Kiều Mộc đột ngột lên tiếng.

Mặc dù Kiều Mộc không nhớ rõ từng chi tiết vụ mùa của giai đoạn này, nhưng cô biết rất rõ lịch sử về ba năm thiên tai thảm khốc liên tiếp sắp tới. Hơn nữa, dẫu có số khoai lang trên núi cứu viện, thì trong vòng sáu tháng tới, hầu hết các gia đình trong làng vẫn phải rơi vào tình trạng đói kém, mỗi bữa ăn may ra chỉ đáp ứng được ba phần mười lượng thức ăn tiêu chuẩn trước đây. Mà một khi cái bụng không đủ ăn thì người dân sẽ không có sức để làm lụng, người không có sức thì năng suất cây trồng lại càng tụt dốc. Nếu gặp phải thời tiết không thuận lợi nữa thì cái vòng quẩn quanh ấy sẽ dẫn đến kết cục ra sao, ai cũng đoán trước được.

Chỉ cần nghĩ đến thôi là đã thấy tương lai phía trước mịt mù, ảm đạm.

- Chuyện này..

Sắc mặt Trương Phục Hoa lập tức tái mét. Ông hiểu rõ lời Kiều Mộc nói hoàn toàn không phải là hù dọa xuông. Tâm trí ông bỗng chốc rơi vào trạng thái mâu thuẫn dữ dội, ngập tràn sự hoang mang, hoảng sợ.

Rốt cuộc, ông cũng chỉ là một vị trưởng thôn nông thôn bình thường, cả đời quanh quẩn nơi lũy tre làng, nơi xa nhất từng đặt chân đến cũng chỉ là cái thị trấn huyện. Dẫu tuổi tác có mang lại cho ông chút trải nghiệm, thì vốn hiểu biết tích lũy ngần ấy năm làm sao đủ để ông đối phó với trận đại nạn đói kém mang tầm cỡ quốc gia này? Bảo ông biết phải làm sao bây giờ?

Kiều Mộc nhìn ông, chậm rãi phân tích: - Nhà ăn tập thể hiện tại rõ ràng là không thể duy trì được nữa rồi đúng không? Mặc dù cấp trên chưa chính thức ra văn bản giải tán, nhưng thực tế là nó đã trống rỗng từ lâu. Trong tình hình này, vụ mùa thu hoạch được bắt buộc phải chia đều đến tay từng hộ gia đình. Thế nhưng nếu cứ chia đều theo đầu người một cách tuyệt đối, thì những người quanh năm bán mặt cho đất bán lưng cho trời làm lụng chăm chỉ sao có thể không cam chịu, uất ức? Còn những kẻ lười biếng, ăn bám chẳng phải sẽ được nước mà thảnh thơi sao?

Cô gõ gõ ngón tay xuống bàn, nhấn mạnh: - Trong nửa cuối năm nay, ông phải bí mật áp dụng nguyên tắc phân phối theo sản lượng lao động. Hãy âm thầm ghi chép lại chính xác khối lượng công việc, ngày công của từng người, từng nhà, sau đó dựa vào bảng điểm lao động đó mà chia lương thực theo tỷ lệ. Chỉ có làm như vậy mới thúc đẩy được tính tích cực của bà con, khiến họ chịu dốc hết sức ra mà làm ruộng!

Thời điểm này, Kiều Mộc vẫn chưa dám liều mạng nhắc đến khẩu hiệu "khoán sản phẩm đến từng nhóm, từng hộ". Cô chỉ dám đi đường vòng, khơi gợi trước về hệ thống tính điểm lao động. Mặc dù phương pháp này không có sức bứt phá mạnh mẽ bằng việc chia ruộng khoán hộ, nhưng so với cái tư tưởng cào bằng, "bình quân chủ nghĩa" tuyệt đối trước đây thì nó đã là một bước tiến mang tính cách mạng rồi.

Nếu nửa cuối năm nay họ không bí mật thực hiện việc phân phối theo năng suất lao động mà vẫn tiếp tục duy trì chế độ cào bằng cũ, thì những kẻ lười biếng sẽ ngày càng ỷ lại, còn người siêng năng cũng chẳng còn động lực để cống hiến nữa. Bởi vì cái sự công bằng tuyệt đối trên bề nổi đó chính là nhát dao chí mạng làm tổn thương lòng tự trọng của những người lao động chân chính. Nếu một người làm việc kiệt lực để cày cấy mười mẫu đất và một kẻ chỉ nhởn nhơ làm cho có một mẫu đất, đến cuối vụ lại nhận về số lương thực ngang nhau, thì thử hỏi trên đời này còn ai ngu ngốc mà đi cày cấy mười mẫu đất nữa?

- Cụ ơi, ý kiến "làm theo năng lực, hưởng theo lao động" này của cụ quả thực là quá hay! Đúng ra là phải như thế, làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, thế mới hợp tình hợp lý! Tuy nhiên, dạo này tình hình nhạy cảm quá, bây giờ chưa phải lúc để đem chuyện này ra nói công khai. Chúng ta cứ cắn răng đợi đến khi nộp xong số thuế lương thực đợt này đã rồi tính tiếp cụ ạ!

Trương Phục Hoa vỗ tay tán thưởng kịch liệt. Thực ra vào thời điểm này, trong làng cũng có rất nhiều người có tư tưởng bất mãn với chế độ cào bằng giống như cô, có điều họ không ai dám đứng ra lên tiếng mà thôi.

Tại sao ư? Bởi vì những người tin vào đạo lý "gieo nhân nào gặt quả ấy" đại đa số đều là những người nông dân hiền lành, chất phác. Mà người lương thiện thì trừ khi bị dồn vào đường cùng, hoặc ngay cả khi đã bị dồn đến bước đường cùng, họ cũng thường chọn cách ngậm đắng nuốt cay chứ không suy nghĩ đến chuyện phản kháng. Ngược lại, chỉ có những kẻ lười biếng, gian manh mới là những kẻ to mồm và sẵn sàng làm loạn lên nếu quyền lợi bị đụng đến. Cái nguyên tắc chia đều quân phiệt kia rõ ràng đang mang lại lợi ích béo bở cho đám người lười biếng đó, nên tất nhiên bọn họ sẽ ra sức bảo vệ nó.

- Ông nói cũng có lý! Được rồi, hai vợ chồng ông cứ về trước đi, để tôi ở lại suy nghĩ thêm xem còn cách nào khác không.

Đúng lúc đó, ánh mắt của Kiều Mộc vô tình lướt qua xấp thư từ nằm ở góc giường. Một luồng nhiệt huyết bỗng chốc dâng trào mạnh mẽ trong lồng ngực; cô cảm thấy mình cần phải làm một điều gì đó lớn lao hơn cho mảnh đất này.

Cô muốn viết một bức thư tâm thư gửi thẳng cho tòa soạn báo trung ương của chính phủ.

Mặc dù hành động này ẩn chứa rủi ro chính trị cực kỳ lớn, nhưng xét cho cùng thì thời cuộc lúc này chưa đến mức hoàn toàn hỗn loạn, rất nhiều tầng lớp trí thức tiến bộ trong các tòa soạn báo vẫn giữ được sự liêm chính và cái tâm với vận mệnh đất nước; họ chắc chắn sẽ không biên báng hay chụp mũ vô căn cứ cho một lời góp ý chân thành. Do đó, Kiều Mộc sẵn sàng đánh cược một ván, viết thư gửi cho tờ báo lớn của chính phủ. Nếu bức thư này may mắn được đăng tải, hoặc được các vị lãnh đạo cấp cao chú ý tới, biết đâu nó có thể mang lại một bước ngoặt thay đổi cho cuộc sống của hàng triệu người dân.

Dù cô biết cơ hội thành công là vô cùng mong manh, nhưng nếu đến cả dũng khí để thử mà cũng không có thì cô sẽ cắn rứt lương tâm đến chết mất.

Sau khi nói thêm vài câu xã giao tiễn vợ chồng ông trưởng thôn ra về, Kiều Mộc nhanh chóng mài mực, trải giấy ra bàn và bắt đầu đặt bút viết với tinh thần hăng hái chưa từng có. Cô trút hết những điều tai nghe mắt thấy, những trải nghiệm thực tế trong suốt khoảng thời gian qua lên trang giấy, đưa ra những phân tích sắc bén về tâm lý con người dưới chế độ bao cấp, vạch rõ những nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan dẫn đến thảm họa đói kém hiện tại, thậm chí cô còn lồng ghép thêm một vài phương pháp khoa học đơn giản nhằm cứu đói.. Có lẽ do cảm xúc dâng trào quá mạnh mẽ, ngòi bút của Kiều Mộc lướt đi thoăn thoắt không cách nào dừng lại được. Chỉ trong vòng một buổi tối, hơn ba mươi nghìn chữ đã hiện ra kín mít trên các trang giấy.

Ngay sau đó, Kiều Mộc dành thời gian cẩn thận rà soát lại toàn bộ bản thảo một lượt. Cô chủ động lược bỏ những nội dung quá nhạy cảm chính trị, gọt giũa lại những câu văn có phần quá sắc bén và mỉa mai do cảm xúc kích động lúc đêm muộn tạo ra. Sau khi đã trau chuốt kỹ càng, cô cẩn thận chép lại thành vài bản sao, nhét vào trong phong bì thư đã chuẩn bị sẵn rồi vội vã đi bộ lên thẳng bưu điện trên thị trấn huyện để gửi đi. Phải tận mắt chứng kiến những bức thư này được đóng dấu gửi đi, trong lòng cô mới xem như trút được một gánh nặng.

* * *

Cuối tháng 7, tại trụ sở tòa soạn Nhân dân Nhật báo.

Trong phòng phân loại và sàng lọc bản thảo sơ bộ:

- Này, mọi người nhìn xem, ở đâu lại có một bức thư gửi từ cái làng nhỏ hẻo lánh vùng sâu vùng xa thế này nhỉ? Liệu bưu điện có giao nhầm địa chỉ không đấy? Khoan đã.. Tên người nhận đúng là tòa soạn chúng ta này!

Lý Văn cầm phong bì thư trên tay, nhìn vào cái địa chỉ gửi đi xa xôi trắc trở vô cùng kia mà không khỏi thốt lên một tiếng kinh ngạc.

Nhân dân Nhật báo vốn là tờ báo chính luận hàng đầu, hiếm khi tiếp nhận hay đăng tải bài viết của những tác giả tự do bên ngoài, nếu có thì cũng đều là những cây bút đại thụ vô cùng nổi tiếng trong giới văn đàn. Các tác giả bình thường dẫu có cho mười cái gan cũng chẳng ai dám gửi bài đến đây, chính vì thế, đây là lần đầu tiên trong suốt bao nhiêu năm làm việc tại phòng sàng lọc, Lý Văn mới nhìn thấy một bức thư gửi từ một vùng nông thôn hẻo lánh như vậy.
 
2 ❤︎ Bài viết: 50 Tìm chủ đề
Chương 42: Nông Bà Bà ở thập niên 60 (19)

Vì sự tò mò xen lẫn tinh thần trách nhiệm của một người làm công tác biên tập, Lý Văn lật mở phong bì, cẩn thận chăm chú đọc từng trang bản thảo bên trong.

Nói về chữ viết của Kiều Mộc, qua bao nhiêu năm rèn giũa, nét chữ của cô chắc chắn không thể tầm thường. Đập vào mắt người đọc là những hàng chữ đều tăm tắp, cứng cỏi và cực kỳ dễ nhìn. Trong giới văn chương, nét chữ chính là khuôn mặt của tác giả. Một bản thảo có nét chữ đẹp cũng giống như một người phụ nữ cốt cách thanh tao, dễ dàng tạo được ấn tượng tốt đẹp ban đầu và ghi điểm lớn trong mắt người kiểm duyệt.

Bài viết của Kiều Mộc chính là sở hữu lợi thế như vậy.

Thế nhưng, càng đọc sâu vào nội dung, vẻ mặt Lý Văn càng trở nên nghiêm nghị. Trong đầu anh liên tục phân tích xem tính xác thực của những luận điểm này đến đâu, và liệu một bài viết góc cạnh thế này có cơ hội nào được phê duyệt đăng tải hay không. Khi đọc được hơn một nửa, đặc biệt là lúc nhìn thấy bốn chữ lớn "phân phối theo lao động", Lý Văn không kìm nén nổi cảm xúc, đột nhiên đập bàn reo lên một tiếng đầy phấn khích. Anh thậm chí còn chẳng kịp đọc nốt phần còn lại, vội vàng vơ lấy xấp bản thảo rồi chạy như bay về phía văn phòng của tổng biên tập.

Sau hai tiếng gõ cửa dồn dập, Tổng biên tập Ngụy ở bên trong lên tiếng:

- Mời vào.

Lý Văn nhanh chóng đẩy cửa bước vào, hai tay cung kính đưa xấp bản thảo còn vương mùi mực cho Tổng biên tập Ngụy, hào hứng nói:

- Thưa tổng biên tập, chẳng phải ban nãy cấp trên vừa ban thị thị xuống, nói rằng tòa soạn chúng ta cần tích cực thu thập ý kiến đóng góp rộng rãi từ quần chúng nhân dân sao? Ở đây tôi vừa phát hiện một bài hiến kế cực kỳ sâu sắc, góc nhìn rất mới mẻ và thực tế. Ngài xem này, ngay giữa trang thứ năm đây: Phương thức phân phối theo lao động!

- Phân phối theo lao động ư? Thú vị đấy, đưa tôi xem nào!

Nghe thấy cụm từ đầy tính gợi mở này, Tổng biên tập Ngụy lập tức bị khơi gợi sự hứng thú. Ông nhanh chóng đón lấy xấp bản thảo, đeo kính lão vào và bắt đầu đọc một cách tỉ mỉ. Ban đầu, đôi lông mày của ông nhíu chặt lại, nhưng càng đọc, cơ mặt ông dần giãn ra, cuối cùng trên môi hiện lên một nụ cười tán thưởng khẽ khàng.

Tuy nhiên, Tổng biên tập Ngụy vốn là người có tác phong làm việc cực kỳ cẩn trọng. Sau khi nghiên cứu kỹ phần đầu và phần giữa viết về việc đổi mới chế độ phân phối dựa trên hiệu suất ngày công, ông tiếp tục lật xem các trang cuối. Ở đó, tác giả đang đề cập đến việc người dân dùng nước tiểu để nuôi cấy tảo tiểu cầu (tảo Chlorella) làm thức ăn cứu đói. Bài viết chỉ rõ loại tảo này thực chất có chứa một số độc tố gây hại cho cơ thể, đồng thời đưa ra các lập luận khoa học cùng phương pháp nuôi cấy cải tiến nhằm loại bỏ hoàn toàn độc tố, tránh gây nguy hại cho sức khỏe người ăn.

Đọc đến những dòng thông tin y học thực tiễn này, Tổng biên tập Ngụy đột nhiên sực nhớ ra một chuyện, vội ngẩng đầu lên hỏi:

- Tiểu Lý này, chẳng phải trên mặt báo của chúng ta cách đây một tuần vừa mới đăng một bài viết khuyến khích toàn dân ra sức nuôi cấy và sử dụng tảo tiểu cầu làm thực phẩm bổ sung đó sao?

- Dạ đúng vậy thưa tổng biên tập! Bài báo đó là do một số chuyên gia bên Học viện Nông nghiệp viết theo chỉ thị trực tiếp từ cấp trên. Nạn đói kém trên quy mô toàn quốc đang diễn biến quá nghiêm trọng, đến cả các loại lương thực phụ thay thế cũng đã cạn kiệt, vì thế chúng ta bắt buộc phải nhanh chóng tuyên truyền phương pháp nuôi tảo để người dân ăn cầm cự qua ngày.

Vì bài viết đó mới đăng cách đây một tuần và tạo ra làn sóng thảo luận khá sôi nổi trong giới biểu dương lúc bấy giờ, nên Lý Văn nhớ rất rõ.

Tổng biên tập Ngụy gõ ngón tay xuống bàn, trầm ngâm chỉ thị:

- Nhưng ở đây chúng ta lại có một bài viết mang tính phản biện khoa học cực kỳ chuẩn xác! Cậu cầm xấp bản thảo này về, trích riêng phần nội dung nghiên cứu về tảo tiểu cầu ra, tôi sẽ đích thân cử người chuyển ngay sang bên Học viện Nông nghiệp. Phải để các nhà khoa học bên đó thẩm định, kiểm tra lại thật kỹ xem đúng sai thế nào. Còn về phần nội dung chính luận, cậu hãy chủ động lược bỏ những đoạn miêu tả tình cảnh quá đói kém, khốn khổ ở nông thôn đi, chỉ giữ lại phần phân tích thực trạng, nguyên nhân cốt lõi và toàn bộ hệ thống lý luận liên quan đến việc phân phối theo lao động mà thôi. Sau khi biên tập và chép sạch lại xong thì đưa ngay cho tôi, tôi cần phải làm báo cáo đệ trình lên trên!

Cái gọi là "báo cáo đệ trình" của Tổng biên tập Ngụy thực chất là một quy trình bắt buộc. Đối với những bài viết mang tính chất nhạy cảm và có sức nặng cải cách thế này, bản thân ông không thể tự mình đưa ra quyết định có cho xuất bản hay không, mà bắt buộc phải gửi lên Cục Văn hóa để hội đồng cấp cao xét duyệt chính trị. Nếu những bài luận nhạy cảm này không được kiểm duyệt kỹ mà đã vội vàng cho in ấn, ông với tư cách là người đứng đầu tòa soạn chắc chắn sẽ là người đầu tiên phải gánh chịu hậu quả tai hại.

- Rõ, tôi sẽ quay về bàn làm việc chỉnh sửa và chép lại ngay lập tức ạ! - Lý Văn mỉm cười nhận lệnh. Anh cầm xấp bản thảo quay trở lại bàn làm việc của mình, rút bút mực ra rồi bắt đầu tỉ mỉ cân nhắc từng câu chữ, tiến hành biên tập, cắt xén và sao chép lại một cách vô cùng thận trọng.

Mặc dù Kiều Mộc vốn có sự nhạy bén của người đi sau, hiểu rõ những giới hạn đỏ không được phép chạm vào trong thời đại này, nhưng bức thư cô gửi cho Nhân dân Nhật báo lần này không phải là một tác phẩm văn học thông thường, mà là một bài bình luận chính sách mang tính vĩ mô. Dù cô đã cố gắng tiết chế và sửa đổi rất nhiều, nhưng cô chung quy không phải là nhà chính trị chuyên nghiệp, việc xuất hiện một vài điểm chưa thực sự phù hợp với bối cảnh hiện tại là điều khó tránh khỏi.

Đến sáng ngày hôm sau, Lý Văn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và giao lại hai bản thảo đã được phân tách rõ ràng cho Tổng biên tập Ngụy. Tổng biên tập Ngụy lập tức niêm phong bản thảo viết về chế độ phân phối theo lao động để gửi lên Cục Văn hóa xét duyệt, còn bản thảo phân tích kỹ thuật nuôi tảo tiểu cầu thì được ông đích thân mang sang Học viện Nông nghiệp ngay trên đường đi họp.

Ngay vào khoảnh khắc đó, một con bướm ở một góc khuất đã khẽ vỗ đôi cánh của nó. Mặc dù cơn lốc xoáy mà nó tạo ra chưa đủ lớn để lay chuyển toàn bộ cục diện thời đại, nhưng sự xuất hiện của nó đã âm thầm cứu sống mạng người của biết bao gia đình, và hoàn toàn thay đổi quỹ đạo tương lai của không ít nhân vật.

* * *

Sau khi hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế lương thực vào giữa tháng bảy, người dân trong làng lại bắt đầu một cuộc chạy đua vũ trang mới. Họ tất tả ngược xuôi thu gom đủ loại nguyên liệu hoang dã để chế biến thành đồ ăn chống đói, đồng thời, các hộ gia đình cũng bắt đầu đổ xô đi tích trữ các loại tảo bẹ, rong biển với hy vọng gượng dậy qua nạn đói năm nay.

Phải cảm thán rằng, thời thế đổi thay nhanh đến chóng mặt.

Trong ký ức của nhiều người, chỉ mới cách đây một hai năm, trên khắp các mặt báo vẫn còn nhiệt liệt ca ngợi tảo bẹ là loại thức ăn gia súc vô cùng bổ dưỡng, rất thích hợp để trộn vào cám cho lợn ăn mau lớn, tăng trọng nhanh. Ấy vậy mà chỉ vẻn vẹn một năm sau, luận điệu trên báo chí đã xoay ngoắt một trăm tám mươi độ, bắt đầu ra sức cổ động, khuyến khích người dân tích cực ăn tảo bẹ để.. Cứu đói, lấp đầy cái bụng rỗng.

Nhưng trong hoàn cảnh ngặt nghèo này thì con người ta còn sự lựa chọn nào khác đâu? Muốn sinh tồn thì bắt buộc phải thích nghi. So với việc phải bấu đất sét (đất Quán Âm) bỏ vào mồm ăn cho trướng bụng mà chết, thì việc ăn tảo bẹ rõ ràng đã là một đặc ân lớn của số phận. Ăn tảo bẹ cùng lắm chỉ khiến cơ thể bị phù nề, suy dinh dưỡng nghiêm trọng, nhưng nếu mạng số không quá ngắn thì người ta vẫn có thể cắn răng mà sống sót qua ngày, họa hoằn lắm thì để lại chút di chứng khiến thể trạng sau này suy nhược đi vài phần mà thôi.

Vào một buổi chiều nọ, ông trưởng thôn già hiếm hoi lắm mới đứng ra tổ chức một cuộc họp mở rộng quy mô toàn tộc, ông hạ lệnh yêu cầu mỗi một hộ gia đình trong làng bắt buộc phải cử ra một người đại diện đến tập trung tại nhà ông để bàn bạc đại sự. Theo lệ thường từ ngàn đời nay, những cuộc họp tộc thế này phải được long trọng diễn ra tại nhà thờ tổ của dòng họ. Thế nhưng hiện tại đang là thời kỳ nhạy cảm, để tránh việc công trình cổ kính bị quy vào hàng "tứ cựu" rồi bị đập phá uổng phí, ban quản lý làng đã chủ động hoán đổi công năng, biến nhà thờ tổ thành một kho chứa nông cụ và đồ đạc chung của công xã. Vì lẽ đó, cuộc họp tộc hệ trọng lần này đành phải dời địa điểm sang căn nhà cấp bốn của ông trưởng thôn.

Tuy căn nhà của Trương Phục Hoa không đến mức quá nhỏ hẹp, nhưng diện tích cũng chẳng lấy gì làm rộng rãi cho cam. Cho nên dẫu mỗi nhà chỉ cử duy nhất một người đến tham dự, thì chẳng mấy chốc, từ trong nhà ra đến ngoài sân đã bị người ta chen chúc đứng ngồi chật kín, không khí ngột ngạt vô cùng.

- Hôm nay gọi mọi người đến đây, là để cho các ông các bà xem một thứ này!

Trương Phục Hoa vừa dứt lời, liền đưa tay dứt khoát nhấc bổng tấm vải thô đang che đậy chiếc giỏ tre đặt ở giữa bàn lên, làm lộ ra một giỏ đầy ắp những ngọn lá khoai lang xanh mướt, tươi tắn.

- Lá khoai lang sao?

Đội trưởng sản xuất đứng vòng ngoài nhìn thấy vậy thì kích động đến mức hai mắt sáng rực lên, gạt người bên cạnh ra để lao vào hỏi dồn dập:

- Trưởng thôn ơi, đống lá khoai lang tươi tốt này ông kiếm ở đâu ra thế này? Chẳng lẽ ông mới phát hiện ra một vạt khoai lang dại trên núi sao ông?

Mấy người dân làng xung quanh cũng vừa mừng vừa rỡ, nhìn giỏ lá xanh mà nuốt nước bọt ực ực, nhao nhao ghé tai nhau bàn tán xôn xao với vẻ mặt không giấu nổi sự thèm thuồng.

- Tất cả trật tự, im lặng hết cho tôi! - Trương Phục Hoa đập mạnh tay xuống bàn, quét mắt nhìn một lượt rồi trầm giọng nói. - Hãy dỏng tai lên mà nghe cho kỹ những lời tôi sắp nói đây!

Ông hít một hơi thật sâu, giọng điệu trở nên vô cùng trang nghiêm kính cẩn: - Từ hơn hai tháng trước, bà cụ Kiều đã nhìn ra tình hình năm nay có điềm chẳng lành. Cụ lo lắng làng ta sẽ lại phải lặp lại thảm kịch đói khát kinh hoàng của năm 1942 ngày trước, chính vì thế cụ đã đưa ra một quyết định táo bạo. Ở cái tuổi gần đất xa trời ấy, cụ chấp nhận liều cả mạng sống của mình để tìm lối thoát cho dân làng chúng ta. Đó là âm thầm gom góp giống và bí mật lên núi khai hoang trồng khoai lang cứu đói! Khi đó, tôi vì lo lắng cho sức khỏe của cụ, lại sợ thời tiết khắc nghiệt một thân già không gánh vác nổi, nên hai vợ chồng tôi đã tình nguyện đi theo để phụ giúp cụ một tay!

Trương Phục Hoa chỉ tay vào giỏ lá khoai, dõng dạc tuyên bố: - Hiện tại, tổng cộng một trăm nghìn gốc khoai lang mà ba người chúng tôi âm thầm trồng trên núi suốt thời gian qua đã bắt đầu bén rễ bám đất. Mặc dù củ khoai bên dưới vẫn chưa đến độ thu hoạch, nhưng phần lá và ngọn non hiện tại hoàn toàn có thể hái về làm thức ăn chống đói được rồi. Chỉ cần chúng ta thu hoạch cuốn chiếu, không hái quá tay thì sẽ không ảnh hưởng gì đến sự phát triển của củ khoai dưới lòng đất.

Sắc mặt ông đột ngột sa sầm xuống, giọng nói trở nên đanh thép, đầy sát khí: - Tôi nói cho các người biết, lần này cụ Kiều Mộc chính là ân nhân cứu mạng của cả cái làng này! Bắt đầu từ ngày hôm nay, bất cứ kẻ nào dám hé răng nửa lời, để lộ bí mật đống khoai lang trên núi ra bên ngoài, làm ảnh hưởng đến đường sống của dân làng, thì lập tức sẽ bị gạch tên, trục xuất khỏi gia tộc ngay lập tức và giao cho ban trị sự xử lý theo gia quy nghiêm khắc nhất - quyết không có một chút khoan hồng, nhân nhượng nào hết!

Trương Phục Hoa đứng thẳng người, đôi mắt trừng lên giận dữ quét qua khuôn mặt của từng người có mặt trong căn phòng, bầu không khí bỗng chốc trở nên im phăng phắc.
 
2 ❤︎ Bài viết: 50 Tìm chủ đề
Chương 43: Nông Bà Bà ở thập niên 60 (20)

Nếu ông trưởng thôn già nói ra những lời này trước vụ thu hoạch hè, có lẽ dân làng đã xôn xao bàn tán xem điều đó là đúng hay sai, có vi phạm chính sách tập thể hay không. Thế nhưng giờ đây, phần lớn các gia đình trong làng đều đã cạn sạch lương thực, đến một hạt ngũ cốc thô cũng chẳng còn mà ăn, phải sống hoàn toàn dựa vào các loại rau dại thay thế và tảo bẹ qua ngày. Lúc này, họ chẳng còn tâm trí đâu mà nghĩ xem cấp trên có cho phép hay không nữa.

Khi con người ta bị đẩy vào bước đường cùng của cơn đói khát, đến cả đạo đức họ còn có thể chà đạp, huống chi là mấy cái quy định hay luật lệ trên giấy tờ. Vi phạm quy định để tìm đường sống chưa bao giờ là điều đáng xấu hổ. Vào khoảnh khắc này, trong lòng dân làng không hề có cảm giác sợ hãi hay lo lắng, mà thay vào đó là một sự nhẹ nhõm và phấn khích tột cùng, giống như họ vừa nhìn thấy một tia sáng le lói xua tan đi màn đêm tăm tối của sự tuyệt vọng.

- Trưởng thôn yên tâm, kẻ nào dám hé răng tung tin này ra ngoài thì cứ để trời đánh thánh đâm! - Đội trưởng sản xuất là người phản ứng đầu tiên, anh ta hoàn toàn hiểu rõ tầm quan trọng sống còn của vấn đề này. - Lần trước cụ Kiều Mộc có tới gặp để bày tỏ nỗi lo lắng, lúc đó tôi chỉ nghe tai này lọt tai kia chứ không để tâm mấy, nếu không thì năng suất vụ hè của đội ta đã chẳng thảm hại đến mức này. Tất cả là lỗi của tôi!

Anh ta nghẹn ngào, rồi quay ngoắt người lại đối diện với đám đông dân làng đang nhớn nhác phía sau, nghiêm nghị ra lệnh bằng giọng điệu đanh thép: - Những gì cụ Kiều làm lần này chính là ban ơn cứu mạng cho cả làng ta. Kẻ nào cảm thấy mình thanh cao, không muốn nhận phần lương thực "phạm quy" này thì cứ việc bước lên trước. Làng này nhất định sẽ không chia cho kẻ đó một cọng lá khoai nào, và chúng tôi cũng đỡ phải gánh trách nhiệm chung! Còn nếu không có ai bước lên, nghĩa là tất cả đã đồng ý. Từ giờ trở đi, cái miệng của ai người đấy tự mà quản cho chặt! Ngoài ra, các ông chồng về nhà phải trông chừng cho kỹ mấy mụ đàn bà trong nhà mình, đặc biệt là nhà họ Nhị Hoa với nhà Nhị Đản. Hai mụ vợ nhà đó suốt ngày có cái gì là lén lén lút lút mang về cho nhà đẻ. Nếu không muốn cả nhà mình phải chết đói, thì tốt nhất hãy canh chừng họ cho nghiêm vào!

- Kìa đội trưởng, tuy chúng tôi không được học hành chữ nghĩa nhiều, nhưng cái đạo lý làm người cơ bản, biết phân biệt tốt xấu thiện ác thì chúng tôi vẫn hiểu rõ chứ! - Kiều Đại Hổ là người đầu tiên xúc động đứng ra bày tỏ lòng biết ơn. - Khỏi phải bàn cãi gì nữa, cụ Kiều chính là đại ân nhân của cả nhà tôi. Sau này nếu cụ có trăm tuổi già, tôi nguyện sẽ đích thân chịu tang, làm đứa cháu hiếu thảo để phụng thờ cụ!

Cậu chàng vừa dứt lời, ông Kiều Tam - bố cậu - đã sa sầm mặt mày, giơ tay tát mạnh một cái "bốp" vào gáy con trai, quát lớn: - Thằng ranh con! Không biết ăn biết nói thì ngậm cái mồm thối lại cho tao! Mày nói cái kiểu thối tha ấy mà là ngôn ngữ của con người à? Cụ Kiều vừa tích đức làm một việc đại thiện đại nghĩa như thế, cụ nhất định sẽ sống lâu trăm tuổi, thân thể khỏe mạnh khang kiện!

Sau khi nổi trận lôi đình với con trai, ông Kiều Tam vội vàng khom lưng, chắp tay cúi đầu xin lỗi những người dân làng xung quanh: - Mọi người ơi, tôi thật sự xin lỗi. Thằng con nhà tôi đầu óc nó vốn chậm chạp, ăn nói xằng bậy thiếu suy nghĩ. Xin mọi người giơ cao đánh khẽ, lượng thứ cho cháu nó. Lát nữa về nhà tôi nhất định sẽ đóng cửa dạy dỗ lại nó một trận ra trò!

- Được rồi, được rồi! Ai mà chẳng biết tính thằng Đại Hổ nó ruột để ngoài da, không có ý xấu gì đâu. - Trương Phục Hoa đứng ra dàn xếp. - Dạo này đến cơm còn chẳng có mụn nào bỏ vào mồm, đánh nó chỉ tổ tốn sức, phí thêm lương thực thôi. Đợi đến hôm lên núi đào khoai, cứ xếp cho nó một chân đi gánh vác là được!

Ông trưởng thôn già ho hắng một tiếng, ra hiệu cho đám đông giữ trật tự: - Giờ thì tất cả im lặng và hạ thấp giọng xuống cho tôi. Đừng có làm ầm ĩ lên. Tôi không nói nhiều lời nữa, nhưng các người phải khắc cốt ghi tâm hai điều này: Thứ nhất là phải tuyệt đối giữ bí mật; thứ hai là cấm có ai được tự tiện ùa nhau lên núi hái trộm lá khoai lang. Mỗi ngày tôi sẽ đích thân chỉ định rõ mười hộ gia đình đi cùng tôi lên núi thu hoạch. Số lá hái về sẽ được chia đều cho cả làng, riêng những người trực tiếp bỏ công sức đi hái sẽ được phần nhỉnh hơn một chút. Nhưng mọi người cứ yên tâm.. Ai rồi cũng sẽ đến lượt, chúng ta cứ lần lượt theo thứ tự mà làm. Tôi nhẩm tính sau khi cả làng xoay xong một vòng công nhật, thì khoai lang dưới đất cũng vừa vặn đến độ chín để thu hoạch củ.

Ông gõ gõ cây tẩu thuốc xuống cạnh bàn: - Cho nên, mọi người đừng có tranh giành hay cãi vã làm gì cho mất đoàn kết. Bắt đầu từ ngày mai, mười hộ gia đình ở phía đông làng sẽ xuất phát đợt đầu tiên! Giờ thì giải tán, ai về nhà nấy đi! Nhớ kỹ tối mai quay lại đây để nhận phần lá khoai lang chia đợt đầu. À, còn một chuyện nữa, nếu dạo này có họ hàng làng bên đến vay mượn lương thực, dẫu có cho mượn ngô khoai gì đi nữa thì tuyệt đối cũng không được hở môi nửa lời về chuyện lá khoai lang trên núi đâu đấy!

Đám đông lập tức lục tục giải tán. Người thì vội vã chạy bay về nhà để thông báo tin vui trời ban này cho vợ con, người thì cuống cuồng chạy về để đút cho bố mẹ già hớp cháo rau dại, bởi mấy ngày qua các cụ cứ nhịn ăn để nhường phần cơm ít ỏi cho con cháu, suýt nữa thì chết đói. Dù sao thì chỉ còn chưa đầy một tháng nữa là đến mùa thu hoạch chính thức, có thêm đống lá khoai cứu viện này, họ tin chắc làng mình hoàn toàn có thể gồng gánh qua được chương đại hạn này.

Thế nhưng, trong dòng người ra về ấy, hai anh em Kiều Dũng và Kiều Phú lại không hề đi về hướng nhà mình. Họ liếc mắt ra hiệu cho nhau, gương mặt lộ rõ vẻ nghiêm trọng lẫn bực tức, rồi lầm lũi rảo bước đi thẳng về phía căn nhà nhỏ của Kiều Mộc.

Ngay khi Kiều Mộc vừa mới mở cửa ra, hai gã đàn ông đã thô bạo chen lấn đẩy cửa bước vào, vừa cằn nhằn vừa lớn tiếng trách móc: - Mẹ! Rốt cuộc là mẹ đang định làm cái trò gì thế hả? Sao tự dưng mẹ lại đi rước họa vào thân, gây rắc rối vô cớ như vậy? Mọi thứ trên núi đều là tài sản thuộc về tập thể công xã, mẹ không biết quy định cấm cá nhân lén lút khai hoang trồng trọt riêng tư à? Nếu chuyện này chẳng may bị bại lộ hoặc có kẻ xấu bụng đi tố cáo lên trên, thì hai anh em con biết giấu mặt vào đâu? Rồi còn tiền đồ của các con, các cháu, chắt chút chít của mẹ nữa chứ! Mẹ làm vậy là muốn hủy hoại cả cái gia đình này mới chịu được có phải không?

Ban đầu, Kiều Mộc vô cùng ngơ ngác trước sự xuất hiện đột ngột cùng thái độ hầm hầm của hai anh em nhà này. Cô xuyên không đến đây đã gần nửa năm, số lần chạm mặt hai gã con trai này đếm trên đầu ngón tay, cớ sao hôm nay lại đột ngột kéo đến rầm rộ như vậy?

Cô thật không ngờ, bọn họ mò đến đây là để hỏi tội và chỉ trích cô.

Sắc mặt Kiều Mộc lập tức tối sầm lại. Cô khoanh tay trước ngực, ngoài cười nhưng trong không cười, cất giọng mỉa mai đầy lạnh lùng: - Ồ, hóa ra trong mắt các anh, cái thân già này bây giờ đã trở thành cái gánh nặng, thành nỗi nhục nhã của các anh rồi cơ đấy? Các anh sợ cái gì chứ? Để tôi nói cho các anh hay, việc này là một tay tôi làm, dẫu sau này có bị người ta tố cáo, có phải chịu kỷ luật hay đi cải tạo thì cái thân già này cũng sẽ tự mình gánh vác, quyết không làm liên lụy đến một sợi tóc của các anh! Nếu các anh thấy sợ hãi quá, thì ngày mai cứ việc lên thẳng ủy ban công xã mà làm đơn cắt đứt quan hệ mẫu tử với bà già này đi! Viết thư ly khai hay tuyên bố từ mặt gì đó đúng không? Viết luôn bây giờ đi! Đây, giấy mực có sẵn trên bàn đây, hai anh mau múa bút viết ngay đi cho tôi nhờ!

Vừa nói, Kiều Mộc vừa đập mạnh xấp giấy mực dùng để viết văn xuống chiếc bàn gỗ trước mặt hai người đàn ông, tiếng động chát chúa vang lên trong căn phòng vắng.

Gương mặt của Kiều Dũng và Kiều Phú bỗng chốc trở nên vô cùng đặc sắc, tái xanh rồi lại chuyển sang đỏ bầm vì xấu hổ. Vào cái thời điểm nhạy cảm này, làm sao họ dám mở miệng viết đơn cắt đứt quan hệ cơ chứ? Mẹ đẻ của bọn họ hiện tại chính là đại ân nhân cứu mạng của cả cái làng này, được dân làng kính trọng phụng thờ chẳng khác nào một vị thánh sống. Nếu bây giờ hai anh em họ dám ký đơn từ mặt mẹ, dân làng không dùng nước bọt chửi rủa, không ném đá tới tấp vào mặt họ mới là chuyện lạ. Lúc đó, liệu họ còn có cái mặt mũi nào mà tiếp tục sinh tồn ở cái mảnh đất này nữa?

Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng lợi hại, hai gã nhận ra mình hoàn toàn chẳng thể làm gì được bà mẹ già bỗng dưng trở nên đanh đá, sắc sảo này. Cuối cùng, hai anh em chỉ có thể nén cục tức và sự lo lắng vào trong lòng, hậm hực quay người, đóng sầm cửa một cái "rầm" rồi bỏ đi thẳng mà không thèm hé răng thêm một lời nào.

- Đúng là một lũ vô ơn, ngu xuẩn! Nuôi con trai kiểu này thà nuôi một con chó còn hơn! - Kiều Mộc nhìn cánh cửa khép chặt mà không nhịn được chửi thầm một câu.

Tuy nhiên, cô liền hít thở sâu vài lần để điều hòa lại lồng ngực đang phập phồng. Suy cho cùng thì hai gã này cũng chẳng phải cốt nhục ruột thịt do cô sinh ra, việc gì cô phải đứng đây phí hoài tâm sức mà nổi giận với loại người đó cho tổn thọ? Thay vì lãng phí thời gian vào việc tức giận, cô thà đi tìm cái gì đó thật ngon để bỏ vào bụng, bồi bổ cho cái thân thể này khỏe mạnh để sống thêm vài năm nữa chẳng phải là có ích hơn sao!

Nghĩ đến đây, tâm trạng của Kiều Mộc lập tức chuyển biến tốt hơn hẳn. Cô cẩn thận gài chặt chốt cửa chính, khóa trái cửa phòng ngủ rồi dùng ý thức tiến thẳng vào không gian Trang trại Chim Cánh Cụt của mình. Cô đi tới kho lưu trữ, thoải mái lấy ra rất nhiều trái cây tươi và sữa nguyên chất, dự định sẽ mang chúng đến xưởng chế biến tự động trong không gian để tự tay làm cho mình vài món tráng miệng và đồ ăn nhẹ thật hấp dẫn.

Đối với một người phụ nữ, việc được thưởng thức những món bánh ngọt ngào, thơm ngon chính là liều thuốc chữa lành và xoa dịu tâm trạng tốt nhất mỗi khi gặp phải những chuyện phiền lòng.

Mỗi ngày ít nhất 10 chương theo dõi và tim cho tui đi
 
2 ❤︎ Bài viết: 50 Tìm chủ đề
Chương 44: Nông Bà Bà ở thập niên 60 (21)

Ngày hôm sau, ngoại trừ mười hộ gia đình đã được chỉ định từ hôm trước ra, những người dân làng còn lại đều có mặt đông đủ, cần mẫn làm việc trên các cánh đồng của công xã. Mặc dù một vài kẻ lười biếng kinh niên vẫn giữ thói làm việc qua loa, đại khái, nhưng tinh thần chung của bà con đã hoàn toàn khác hẳn so với mọi khi, ánh mắt ai nấy đều lấp lánh niềm hy vọng.

Trong lúc cuốc đất làm cỏ, thi thoảng họ lại vô thức ngước nhìn về phía ngọn núi xa xôi, ngóng trông xem đoàn người lên núi hái lá khoai lang đợt đầu đã trở về hay chưa.

Cùng lúc đó, Kiều Hoa vừa mới xin nghỉ phép chỗ đội trưởng sản xuất xong. Cô vội vã chạy về nhà thu dọn một số thứ, xách theo chiếc giỏ tre rồi rảo bước đi thẳng đến nhà Kiều Mộc. Kể từ sau khi nghe ngóng được tin tức chấn động vào tối hôm qua, trong lòng cô lúc nào cũng như có lửa đốt, lo lắng khôn nguôi cho sự an nguy của mẹ đẻ. Vì vậy, ngay sau khi lùa vội miếng cháo buổi sáng, cô liền xin nghỉ một buổi công nhật để sang thăm Kiều Mộc.

Vừa bước qua ngưỡng cửa, còn chưa kịp tìm chỗ đặt chiếc giỏ tre xuống, Kiều Hoa đã nhớn nhác nhìn quanh với vẻ mặt đầy lo âu, hạ thấp giọng trách móc: - Mẹ ơi là mẹ, mẹ gan to bằng trời rồi! Mẹ tự mình đưa ra cái quyết định tày đình như thế, lại còn lén lút lên núi khai hoang trồng cả một đống khoai lang nữa chứ. Mẹ đã ở cái tuổi này rồi, không sợ tấm thân già này phải làm việc quá sức mà gục xuống sao mẹ? Thanh niên trai tráng như tụi con ra đồng làm lụng có một lúc mà lưng đã đau nhức chịu không thấu rồi đây này.

Cô thở dài một tiếng, rồi như sực nhớ ra điều gì, vội nói tiếp: - Nhưng mà bây giờ con có cằn nhằn thì chuyện cũng đã rồi. Hôm nay con sang đây là để giao vàng cho mẹ như đã hẹn. Lẽ ra con phải mang sang từ sớm cơ, nhưng đợt trước nghe mẹ bùi ngùi bảo là muốn có một chiếc vòng tay vàng để đeo cho bằng chị bằng em đúng không? Vừa khéo dạo này nhà chồng con có quen biết một người thợ kim hoàn già lánh nạn, nên con đã cậy nhờ ông ấy dùng lượng vàng hôm nọ đúc cho mẹ một chiếc vòng tay thật tinh xảo đây này! Mẹ xem xem, tuy bối cảnh này thợ làm có hơi mảnh một chút, nhưng đeo vào nhìn thanh nhã mà lại không sợ bị phô trương quá mức!

Vừa nói, Kiều Hoa vừa cẩn thận lấy chiếc vòng tay vàng ròng được gói ghém kỹ càng từ trong đáy giỏ ra, trân trọng đặt vào lòng bàn tay Kiều Mộc.

Kiều Mộc nhìn chiếc vòng, trong lòng dâng lên một niềm vui sướng và ấm áp tột cùng. Cô vui vẻ đón lấy món quà. Suy cho cùng thì phụ nữ dẫu có ở độ tuổi nào đi chăng nữa, từ thiếu nữ mười tám cho đến cụ già tóc bạc phơ, thì trong sâu thẳm tâm hồn, họ vẫn luôn yêu thích những điều bất ngờ và những món quà tặng ý nghĩa. Dù đôi khi cái miệng họ cứ luôn cằn nhằn những câu quen thuộc như "vẽ chuyện tiêu hoang" hay "già rồi thích thú gì thứ này", thì đó chủ yếu cũng chỉ là lời nói khách sáo đầu môi mà thôi.

Bên trong thâm tâm, họ vẫn cảm thấy vô cùng hạnh phúc và mãn nguyện. Tất nhiên, sự mãn nguyện này chỉ thực sự trọn vẹn khi món quà đó xuất phát từ tấm lòng hiếu thảo của con cái hoặc sự chân thành của những người thân yêu, chứ chẳng phải sự ban ơn từ người ngoài.

- Con thật là chu đáo quá! Thuê thợ kim hoàn chế tác một chiếc vòng tay tỉ mỉ thế này vào thời điểm này chắc phải tốn kém không ít tâm tư và của cải đâu nhỉ. Kiểu dáng này đẹp thật đấy, trông vô cùng thanh tú! Tiền công thợ hết bao nhiêu để mẹ đưa lại cho con?

- Ôi mẹ ơi, có đáng là bao đâu mà mẹ tính toán với con! - Kiều Hoa vội vàng xua tay liên tục. - Thực ra, cả nhà chồng con còn phải mang ơn mẹ lớn lắm vì đã đứng ra đổi giúp số vàng đó đấy chứ. Nếu ngày hôm đó mẹ không dứt khoát thu mua một lượng vàng rồi đưa cho tụi con hẳn 170 nhân dân tệ tiền mặt, thì có lẽ nhà con đã bị đứt bữa, chết đói từ cả tuần trước rồi.

Cô khẽ thở dài, giọng điệu xen lẫn sự bàng hoàng khi nhớ lại: - Ban đầu, nhà chồng con cứ đinh ninh vụ hè dẫu thất thu thì cùng lắm cũng chỉ đói kém chút đỉnh, nên mới muốn đổi ít tiền mặt phòng thân. Ai mà ngờ được thực tế lại tàn khốc đến mức này, trong kho của công xã gần như chẳng còn lại một hạt ngô nào. Suốt một tháng qua, nhà con hoàn toàn phải sống sót nhờ vào việc nhà chồng con cứ tảng sáng là phải lén lút mò ra chợ đen để mua lương thực phụ về ăn trừ bữa. Trời đất ơi mẹ ơi, mẹ không thể tưởng tượng nổi giá lương thực ở chợ đen bây giờ nó phi mã đến mức điên rồ thế nào đâu! Một cân gạo ngon họ thét giá tận năm nhân dân tệ, mà đấy là còn chưa tính đến phiếu lương thực đi kèm đấy nhé! Ngay đến cả khoai lang khô mà họ cũng dám bán hai nhân dân tệ một cân! Cái giá đó đúng là trấn lột, cướp cạn tiền của người ta mà! Con cứ lo số tiền ít ỏi trong nhà chẳng mấy chốc mà cạn sạch, thậm chí còn đang tính đến chuyện cắn răng đem thêm một lượng vàng nữa đi đổi liều. May sao hôm qua nghe được tin mừng từ chỗ mẹ, cái gánh nặng trong lòng con mới thực sự được trút bỏ!

Kiều Hoa cười nhẹ, cô không hề hé răng nửa lời về việc mình đã phải đổi bằng năm cân khoai lang quý giá để trả công cho người thợ kim hoàn. Mặc dù năm cân khoai lang giữa mùa đói kém này giá trị chẳng khác nào mớ bạc trắng, nhưng làm sao có thể đem thứ tiền tài vật chất đó ra cân đo đong đếm với tình mẫu tử thiêng liêng? Hơn nữa, cô gả đi làm dâu nhà người, nay có chút lòng thành hiếu kính mẹ đẻ, làm sao có thể mặt dày mà nhận tiền mặt của mẹ cho được.

- Nếu con đã có lòng hiếu thảo như vậy, thì cái thân già này cũng không khách sáo với con gái mình nữa!

Vừa nói, Kiều Mộc vừa mỉm cười chậm rãi đeo chiếc vòng tay vàng vào cổ tay gầy guộc của mình, cảm nhận cái mát lạnh của kim loại quý, rồi cô trìu mến nhìn con gái, tiếp tục căn dặn: - Tiền công thợ mẹ không đưa nữa, nhưng lát nữa lúc về, con bắt buộc phải mang theo một ít khoai lang ngọt về nhà cho mẹ. Đống khoai lang trên núi của làng ít nhất cũng phải gần một tháng nữa mới đến độ chín để dỡ củ, ngày nào nhà con cũng bấm bụng ra chợ đen mua lương thực giá cắt cổ như thế thì không trụ nổi đâu. Dẫu cho nhà con có ăn dè xẻn, mỗi ngày chỉ dám nấu nửa cân khoai lang trừ bữa, thì tính nhẩm ra tiền mua thức ăn một tháng qua cũng ngốn mất gần cả trăm bạc rồi, tiêu hoang như thế xót ruột lắm! Đừng có từ chối mẹ làm gì. Đợt trước mẹ không chỉ trồng khoai trên núi đâu, mà còn tranh thủ vỡ hoang, rải rác trồng ở mấy vạt đất trống kín đáo quanh nhà nữa, sản lượng thu về khá lắm. Hiện tại trong góc bếp mẹ đang tích trữ sẵn khoảng chín mươi cân khoai lang đã dỡ sớm, lát nữa con cứ gánh hết về đi. Đừng có lo mẹ thiếu ăn, mẹ còn giấu kỹ vài bao ở chỗ khác nữa rồi, một thân một mình mẹ ăn không hết đâu, không để bản thân bị đói được đâu mà lo!

Quan điểm sống của Kiều Mộc từ trước đến nay luôn là "người kính ta một thước, ta kính người một trượng", chân tình phải đổi lấy chân tình. Cho dù là sự gắn kết ruột thịt hay các mối quan hệ xã hội bên ngoài, muốn bền vững thì bắt buộc phải có sự vun đắp và sẻ chia từ cả hai phía, chứ quyết không thể chỉ có một bên đơn phương cho đi mà bên còn lại chỉ biết ích kỷ nhận về.

- Mẹ ơi, mẹ nói thật cho con biết đi, rốt cuộc là mẹ đã âm thầm trồng bao nhiêu khoai lang vậy? Cái số lượng mẹ đưa ra làm con nghe xong mà tim đập chân run đây này! - Kiều Hoa thực sự bị sự táo bạo của mẹ đẻ làm cho kinh ngạc đến ngơ ngác. Cái mảnh sân nhỏ quanh căn nhà cấp bốn này diện tích có được bao nhiêu đâu cơ chứ, sao mẹ cô có thể biến ra cả trăm cân khoai lang một cách thần kỳ như vậy được? Cô chỉ lo mẹ mình thấy việc trồng trọt này có hời rồi sau này cứ liều mạng làm tiếp thì sớm muộn cũng có ngày bị người ta phát hiện.

- Mẹ có trồng nhiều nhặn gì đâu, loanh quanh cũng chỉ có vài chục gốc khoai thôi mà! - Kiều Mộc khẽ cười, vội vàng tìm một cái cớ hợp thức hóa. - Để mẹ giải thích cho con hiểu, số dây giống khoai lang đợt này mẹ trồng là loại đặc biệt do một người quen cũ đi tàu buôn từ nơi khác mang về tặng. Cái giống khoai này lạ lắm, mỗi một gốc của nó khi đào lên có thể cho ra chùm củ nặng tới năm, sáu cân là chuyện bình thường. Cho nên dẫu mẹ chỉ tận dụng mấy vạt đất trống trồng vài chục gốc quanh sân, thì đến khi thu hoạch vẫn dễ dàng thu về vài trăm cân củ như chơi. Số khoai mẹ cho con mang về chẳng thấm tháp vào đâu so với số mẹ đang có đâu!

Lúc này Kiều Mộc mới sực nhớ ra một chi tiết quan trọng, năng suất trồng trọt của thời đại những năm 60 này còn rất thấp, một gốc khoai lang thông thường người dân trồng ngoài đồng năng suất cao lắm cũng chưa đầy nửa cân củ. Chính vì sự chênh lệch quá lớn đó nên việc Kiều Hoa nảy sinh sự nghi ngờ và hoang mang khi nghe đến con số hàng trăm cân khoai của cô là điều hoàn toàn dễ hiểu.

- Sao trên đời lại có giống khoai cho năng suất khủng khiếp đến thế được cơ chứ? - Kiều Hoa kinh ngạc đến mức há hốc mồm, nhưng rồi đầu óc cô bỗng chợt nảy số, nhớ lại mấy lời tuyên truyền về vệ tinh năng suất cao từ mười nghìn đến cả trăm nghìn cân trên mỗi mẫu đất rầm rộ trên các mặt báo thời gian trước, cô liền tự tìm ra lời giải đáp hợp lý: - Ôi chu choa mẹ ơi, chắc chắn là mẹ đã may mắn mua được đúng cái giống khoai lang siêu năng suất mà báo chí nhà nước hay ca ngợi rồi! Thật là tuyệt vời quá đi mất! Với cái giống khoai thần kỳ này, nếu nửa cuối năm nay làng mình xin công xã trích ra một ít đất ruộng để canh tác, chẳng cần nhiều đâu, chỉ cần trồng tầm vài chục mẫu thôi là thừa sức nuôi sống, lấp đầy cái bụng đói của cả cái làng này rồi. Khoai lang dẫu không thuộc danh mục lương thực nghĩa vụ phải nộp lên cho nhà nước, nhưng dùng để ăn thay cơm chống đói thì không còn gì bằng! Lát nữa lúc về, con nhất định phải tìm gặp để hiến kế này cho ông trưởng thôn mới được!

Kiều Mộc đứng bên cạnh chứng kiến cô con gái út tự mình suy diễn, tự mình thêu dệt nên một câu chuyện hoàn toàn hợp lý từ đầu đến cuối mà không khỏi thầm cảm thán trong lòng. Cô thậm chí còn chưa cần phải tốn nơ-ron thần kinh để nghĩ ra một lời nói dối hoàn hảo, thì Kiều Hoa đã tự mình hoàn thiện toàn bộ vở kịch giúp cô rồi.

- À.. Ờ, đúng rồi đó! Con nói chỉ có chuẩn! - Lúc này Kiều Mộc còn biết làm gì hơn ngoài việc gật đầu lia lịa, hùa theo lời con gái cho qua chuyện. Dù sao thì vào cái thời buổi loạn lạc, đói kém bủa vây thế này, chỉ cần có cái ăn bỏ vào mồm để sinh tồn đã là phúc đức lắm rồi, chẳng có ai rảnh rỗi mà đi điều tra gốc tích của mấy củ khoai làm gì cho mệt xác.

* * *

Cuối tháng 8 năm 1960.

Tòa soạn Nhân dân Nhật báo bất ngờ gây chấn động dư luận khi cho đăng tải một bài xã luận dài chiếm trọn vị trí trang nhất, với tiêu đề đanh thép và trang trọng: "Thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động - Lao động là vinh quang". Bài viết này xuất hiện đã chính thức đặt một dấu chấm hết cho kỷ nguyên của chế độ cào bằng, "bình quân chủ nghĩa" tuyệt đối kéo dài suốt thời gian qua.

Đồng thời, hệ thống tính điểm lao động mới, lấy cốt lõi là nguyên tắc làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, chính thức được ban hành và triển khai đồng bộ trên quy mô toàn quốc.

Chẳng có một người dân cày nào biết được nguồn gốc sâu xa của bước chuyển mình mang tính lịch sử này xuất phát từ đâu, và thực tế là vào thời điểm cơm không đủ ăn này, cũng chẳng có ai thừa hơi mà đi đào sâu tìm hiểu làm gì. Điều duy nhất mà đại đa số quần chúng nhân dân quan tâm lúc này là làm sao để lo liệu được bữa ăn tiếp theo cho gia đình. Họ bắt đầu đổ xô ra các cánh đồng, ra sức thi đua lao động, cuốc đất lật cỏ một cách hăng hái chưa từng có để tích lũy thật nhiều điểm công nhật, với niềm hy vọng cháy bỏng rằng đến vụ gặt cuối năm, nhà mình sẽ được chia phần lương thực nhỉnh hơn để ấm cái bụng.

Mặc dù những chuyển biến tổng thể mang tính vĩ mô của nền kinh tế lúc này chưa đến mức thay da đổi thịt ngay lập tức, nhưng tinh thần và thái độ lao động của người nông dân trên khắp các vùng nông thôn đã tăng lên một cách rõ rệt.

Sự thay đổi mang tính bước ngoặt này giống như một hồi chuông cảnh tỉnh gõ mạnh vào tư duy của những nhà hoạch định chính sách cấp cao. Nó minh chứng một điều hiển nhiên rằng: Việc thực thi bất kỳ một đường lối, chính sách nào đối với vận mệnh của một quốc gia không thể chỉ đơn thuần dựa trên những giả định chủ quan hay tính khả thi nằm trên các trang lý thuyết suông; mà nó bắt buộc phải đặt nền móng dựa trên việc thấu hiểu tâm lý, nguyện vọng thực tế của hàng triệu người dân lao động gốc rễ.
 
2 ❤︎ Bài viết: 50 Tìm chủ đề
Chương 45: Nông Bà Bà ở thập niên 60 (22)

Vào những ngày cuối tháng tám oi ả, Kiều Mộc bất ngờ nhận được một phong thư gửi từ bưu điện thị trấn huyện. Đó là tiền nhuận bút và thư phản hồi của tòa soạn Nhân dân Nhật báo gửi về cho cô.

Số tiền thực chất chẳng đáng là bao, vỏn vẹn chỉ có năm nhân dân tệ, thế nhưng Kiều Mộc cứ cầm tờ phiếu lĩnh tiền cùng bức thư hồi âm kèm lời mời cộng tác mà đọc đi đọc lại, trên môi nở một nụ cười rạng rỡ, mãn nguyện.

Viết bài luận cho tờ báo chính luận hàng đầu đất nước như Nhân dân Nhật báo và viết cho mấy tờ báo, tạp chí văn nghệ địa phương là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau, có thể nói là một trời một vực. Kiều Mộc vốn là người đã nếm trải đủ mọi thăng trầm của cuộc đời, ở thời hiện đại cô cũng từng có vài bài viết được đăng tải, nhưng đây là lần đầu tiên cô được một cơ quan ngôn luận chính thức của chính phủ công nhận danh tính.

Trong bối cảnh thời đại này, sự phấn khởi và tự hào trong cô là điều không thể tránh khỏi.

Tấm phiếu nhuận bút nhỏ bé này không chỉ là sự thừa nhận đối với tài năng của cô, mà nó còn đồng nghĩa với việc những kiến giải, đề xuất cải cách của cô đã thực sự lọt vào mắt xanh của các vị lãnh đạo cấp cao. Trong tương lai, cô hoàn toàn có thể dùng ngòi bút của mình, thông qua những bài phân tích sâu sắc để âm thầm thúc đẩy và thay đổi phần nào cục diện thời đại, giúp nhân dân bớt khổ.

Nghĩ đến trọng trách thiêng liêng ấy, trong lòng Kiều Mộc bỗng dâng lên một cảm giác tự hào và thôi thúc mạnh mẽ. Cô muốn cống hiến nhiều hơn nữa, vì vậy cô liền lập tức ngồi vào bàn mài mực, tiếp tục vạch ra những ý tưởng cho bài luận tiếp theo. Thậm chí, ngay cả mấy bản thảo truyện dài văn học nông thôn mà cô dự định dùng để tìm kiếm tung tích đứa con trai thất lạc cũng bị cô tạm thời gác lại một bên, dành toàn bộ tâm trí cho việc viết bài xã luận chính trị.

Cùng lúc đó, những vạt khoai lang ngọt mà Kiều Mộc cùng vợ chồng ông trưởng thôn già lén lút khai hoang trồng trên núi suốt mấy tháng qua cũng đã chính thức bước vào mùa thu hoạch dỡ củ. Nhằm mục đích giữ bí mật tuyệt đối, tránh việc đông người dễ rút dây động rừng gây phiền hà về mặt chính trị, Trương Phục Hoa chỉ âm thầm tuyển chọn ra một nhóm khoảng mười đến hai mươi người toàn là những thanh niên lực lưỡng, kín tiếng trong tộc để lên núi đào khoai - càng ít người biết thì càng an toàn.

Nơi thung lũng khuất gió trên núi cao, Trương Phục Hoa đang dẫn đầu mười mấy gã trai tráng ra sức cuốc đất, lật từng vạt đất để dỡ khoai. Thế nhưng, càng đào bới, những người có mặt ở đó lại càng cảm thấy có điều gì đó không ổn. Sự bất thường này không phải là do họ phát hiện ra có kẻ rình rập, theo dõi; mà là bởi họ sững sờ nhận ra sản lượng khoai lang dưới lòng đất nhiều một cách kinh người, củ nào củ nấy to béo vượt xa sức tưởng tượng.

- Trưởng thôn ơi, đống khoai lang này hình như có gì đó lạ lắm ông ạ? Tôi thấy chúng không chỉ to ngoại cỡ mà một gốc cây sao lại bới ra được nhiều củ đến thế này chứ! - Kiều Thiết Hoa nhấc một chùm khoai lớn vừa mới đào lên, đầy kinh ngạc thốt lên.

Gã này trước đây từng có thâm niên nhiều năm làm nghề đồ tể bán thịt trong vùng, dẫu cho đã gác dao gần mười năm nay để chuyển sang làm ruộng, nhưng cái tài lẻ của gã vẫn còn nguyên vẹn. Chỉ cần dùng tay nhấc một vật lên là gã có thể ước lượng chính xác trọng lượng của nó, sai số chắc chắn không quá một cân. Gã ngắm nghía chùm khoai rồi tặc lưỡi: - Tôi tính sơ sơ, cứ mỗi một gốc khoai thế này phải cho thu hoạch từ năm đến sáu cân củ là ít! Cái này đúng là hoang đường quá rồi! Chẳng lẽ mấy lời tuyên truyền phóng đại trên đài phát thanh của công xã về việc năng suất đạt mười nghìn cân mỗi mẫu đất lại là sự thật sao hả ông?

- Cái này tôi cũng chịu, không rõ thực hư ra sao cả. Toàn bộ số dây khoai giống đợt trước đều là do một tay cụ Kiều Mộc bôn ba mang về cho làng mình đấy chứ. - Trương Phục Hoa lau mồ hôi trên trán, cười hớn hở. - Nhưng phải công nhận cái giống khoai này quý thật. Củ vừa to, sai quả mà ăn lại cực kỳ ngon. Hôm qua tôi có lén đào trước hai cây mang về nhà luộc thử, thịt khoai dẻo quánh, vị ngọt lịm, đậm đà hơn hẳn giống khoai nội địa làng mình vẫn trồng từ trước đến nay.

Ông vỗ vỗ vai Kiều Thiết Hoa, giục giã: - Thôi, thắc mắc làm gì cho mệt xác! Khoai lang cho sản lượng cao chẳng phải là phúc phận của dân làng mình sao? Dù sao đây cũng là khoai chúng ta lén lút khai hoang trồng trọt riêng, không nằm trong sổ sách nên chẳng phải đóng một cọng thuế lương thực nào cho công xã hết. Anh em mau tay lẹ chân đào tiếp đi, chuyện này cứ để tối nay tôi trực tiếp sang nhà hỏi cụ Kiều là ra ngô ra khoai ngay ấy mà.

Vì hôm qua chính mắt Trương Phục Hoa đã chứng nghiệm năng suất khủng khiếp này khi đào thử một gốc khoai nên lúc này ông tỏ ra vô cùng bình tĩnh, trong lòng chỉ ngập tràn niềm vui sướng và liên tục thúc giục mọi người đẩy nhanh tiến độ làm việc.

Kiều Thiết Hoa nghe trưởng thôn phân tích thấy cũng vô cùng hợp lý. Suy cho cùng thì toàn bộ số khoai này cuối cùng cũng sẽ được chia đều về cho từng bếp của các hộ gia đình trong làng ăn chống đói. Nếu muốn kiểm chứng xem giống khoai này có thực sự duy trì được năng suất cao ổn định hay không, thì vụ sau họ cứ lén giữ lại một ít củ làm giống để trồng tiếp là biết ngay. Nếu năm nào giống khoai này cũng cho thu hoạch bội thu như thế này, thì từ nay về sau dân làng bọn họ sẽ vĩnh viễn thoát khỏi cái bóng ma đói kém hành hạ.

Nghĩ đến viễn cảnh tươi sáng ấy, tinh thần làm việc của gã đồ tể bỗng chốc lên cao vút, tay cuốc tay xẻng thoăn thoắt không biết mệt mỏi. Cái sự hăng hái, nhiệt tình này của dân làng thậm chí còn mạnh mẽ hơn cả cái thuở đất đai mới được phân chia về tay từng nhà ngày trước.

Sau một ngày ròng rã dốc lực làm lụng, nhóm hơn mười người này đã dỡ sạch sẽ gần mười mẫu đất trồng khoai lang, tổng sản lượng thu về ước tính không dưới một trăm nghìn cân (khoảng năm mươi tấn). Với một khối lượng lương thực khổng lồ như thế này, chỉ dựa vào sức lực của mười mấy người đàn ông thì hoàn toàn bất khả thi trong việc gánh vác, vận chuyển toàn bộ xuống núi trong một thời gian ngắn, bởi một người khỏe mạnh lắm cũng chỉ gánh được tối đa một trăm cân mỗi chuyến mà thôi.

Chính vì vậy, vào buổi chiều muộn hôm đó, khi ánh mặt trời đã ngả bóng về tây nhưng đất trời vẫn còn sót lại chút ánh sáng nhập nhẹm, ông trưởng thôn già vội vàng chạy như bay xuống núi, hạ lệnh tập hợp toàn bộ dân làng để lên hỗ trợ khuân vác khoai xuống.

Dù sao thì lúc này trời cũng đã bắt đầu sập tối, cái thời buổi này ban đêm chẳng có ai rảnh rỗi mà mò mẫm lên núi hay đi lại giữa các làng, thế nên Trương Phục Hoa cũng không còn e ngại chuyện rò rỉ tin tức nữa. Ông huy động tổng lực, hầu như tất cả những ai trong làng còn đôi chân đi đứng được đều bắt buộc phải tham gia gánh vác. Họ cần phải tranh thủ từng phút từng giây để khuân sạch số khoai này về trước khi màn đêm buông xuống hoàn toàn, nếu không đường núi hiểm trở, bóng tối bao trùm sẽ cực kỳ nguy hiểm cho việc di chuyển.

Mười mấy người gánh một trăm nghìn cân khoai thì chậm chạp như sên bò, nhưng khi có sự chung tay của hàng trăm con người cùng đồng lòng góp sức, tốc độ vận chuyển đã tăng lên một cách chóng mặt. Chỉ sau vỏn vẹn hai chuyến đi về rầm rộ trong đêm, toàn bộ số khoai lang khổng lồ đã được tập kết an toàn bên trong kho thóc cũ của làng.

Bên trong không gian rộng lớn của kho thóc, mặc dù ai nấy đều đã thấm mệt sau một ngày lao động vất vả, cái bụng thì reo vang vì đói khát, thế nhưng trên gương mặt của mỗi người dân làng đều rạng rỡ, bừng sáng những nụ cười hạnh phúc khi chứng kiến ngọn núi khoai lang sừng sững trước mắt. Nhìn thấy bầu không khí hân hoan của bà con, lại nghĩ đến việc rất nhiều gia đình trong làng thực tế đã cạn sạch lương thực từ nhiều ngày qua, Trương Phục Hoa không muốn làm mất thêm thời gian vàng ngọc nữa. Ông bước lên bục cao, dõng dạc lên tiếng:

- Thôi, trời cũng đã muộn, tôi không dông dài nữa. Ngay bây giờ chúng ta sẽ tiến hành chia khoai lang luôn cho nóng. Ông Kiều Tam, chú Tư, thằng Đại Hổ với thằng Nhị Cẩu bước lên đây phụ giúp một tay cân đo đong đếm cho bà con. Làng mình hiện tại có tổng cộng tròn một trăm hộ gia đình, với một nghìn không trăm bảy mươi hai nhân khẩu. Quy định chia như sau: Mỗi một suất lao động chính (người lớn khỏe mạnh) sẽ nhận phần một trăm cân; người già và phụ nữ nhận phần tám mươi cân; trẻ nhỏ dưới mười tuổi nhận phần sáu mươi cân. Ngoài ra, những anh em nào hôm nay trực tiếp bỏ công sức lên núi đào khoai sẽ được thưởng thêm hai mươi cân, còn những ai tham gia vào đội gánh vác vận chuyển xuống núi sẽ được cộng thêm mười cân nữa vào phần của mình. Cách chia như vậy có ai ý kiến hay phản đối gì không?

- Không phản đối! Hoàn toàn không có ý kiến gì hết trưởng thôn ơi! Ông mau cho cân khoai đi thôi! Nhà tôi gần nửa tháng nay toàn phải ăn rau dại luộc chấm muối, ruột gan cồn cào hết cả lên rồi đây này!

- Đúng đấy trưởng thôn ơi, chia luôn đi thôi ông!

- Trưởng thôn công minh quá, chúng tôi nhất trí mười mươi!

Cách thức phân chia dựa trên độ tuổi và công lao đóng góp thực tế của ông trưởng thôn già đưa ra quá mực hợp tình hợp lý, vả lại cái bụng của dân làng quả thực đã đói đến mức cồn cào, ai cũng chỉ mong ngóng sớm nhận được phần khoai của nhà mình để gánh về nhóm bếp, lấp đầy cái bụng rỗng; cái cảm giác bị cơn đói giày vò thực sự là một nỗi tra tấn kinh hoàng.

- Được rồi, nếu bà con đã đồng lòng thì bắt đầu nổi cân lên đi!

Thấy toàn thể dân làng đều nhất trí cao, Trương Phục Hoa lập tức ra hiệu cho ông Kiều San bắt đầu tiến hành phân phát lương thực. Ở cái làng nhỏ thắt lưng buộc bụng này, mọi người vốn dĩ đã quá nhẵn mặt nhau, nhà ai có bao nhiêu miệng ăn, bao nhiêu người già trẻ nhỏ thì ai ai cũng nắm rõ như lòng bàn tay, chính vì thế đương nhiên không thể xảy ra chuyện gian lận hay khai khống; từng người một đều nhận được chính xác, sòng phẳng phần lương thực cứu mạng thuộc về mình.

Sau khi tất cả các hộ gia đình đã hân hoan nhận đủ phần khoai và gánh ra sân, bên trong kho thóc cũ vẫn còn trơ lại một đống khoai nhỏ nặng khoảng hơn hai trăm cân. Trương Phục Hoa đưa mắt quét quanh một lượt, chợt nhận ra bóng dáng của Kiều Mộc hôm nay không hề xuất hiện tại buổi chia lương thực, ông liền trầm giọng nói với đám đông:

- Bà con nhìn xem, chỗ này vẫn còn dư lại hơn hai trăm cân khoai lang ngọt nữa. Hôm nay cụ Kiều vì lý do sức khỏe nên không thể đến đây chứng kiến cùng chúng ta được. Thế nhưng toàn bộ số dây giống khoai lang thần kỳ trên núi kia từ đâu mà có? Đều là do một tay cụ Kiều đứng ra bôn ba, không biết đã phải tiêu tốn bao nhiêu tiền của, công sức và nợ bao nhiêu ân tình của người ta mới mang về được cho cái làng này. Chính vì lẽ đó, tôi quyết định toàn bộ số khoai hơn hai trăm cân còn lại này sẽ thuộc về phần của cụ Kiều Mộc. Tôi hy vọng mọi người ở đây không có ai nảy sinh lòng ích kỷ mà phản đối. Đây là những gì cụ Kiều hoàn toàn xứng đáng được nhận!

Ông chắp hai tay sau lưng, thở dài một tiếng: - Thậm chí, cá nhân tôi còn thấy phần thưởng này vẫn còn là quá ít ỏi so với công lao trời biển của cụ! Suy cho cùng, nếu ngày đó không có sự dũng cảm và tấm lòng bồ tát của cụ Kiều, thì ngày hôm nay dân làng chúng ta làm gì có cái phúc phận được đứng đây mà chia ngô chia khoai thế này, có khi đã chết rũ xương vì đói từ lâu rồi. Mấy ngày tới đây, anh em chúng ta sẽ tiếp tục lên núi đào nốt số khoai ở các vạt còn lại, phần dôi dư ra sau này cũng sẽ tiếp tục trích lại cho cụ Kiều! Được rồi, nếu không có ai dị nghị gì nữa thì gánh khoai về nhà nổi lửa lên đi! Nhưng hãy nhớ kỹ lời tôi dặn: Cái miệng phải giữ cho kín vào. Kẻ nào dám hé răng nửa lời làm lộ bí mật đống khoai này ra ngoài, tôi sẽ lập tức họp tộc để trục xuất kẻ đó ra khỏi gia phả!

Lần này, nhờ có sự xuất hiện thần kỳ của đống khoai lang siêu năng suất mà mỗi một người dân trong làng đều nhận được một số lượng lương thực vô cùng dồi dào, nằm ngoài sức tưởng tượng của họ. Ngay đến cả hộ gia đình neo đơn, ít người nhất trong làng đợt này tính ra cũng nhận về hơn hai trăm cân củ. Hơn nữa, ai ai cũng thấu hiểu rõ ràng nguồn gốc cứu mạng của những củ khoai này là từ đâu mà có, nên đương nhiên tuyệt đối không có một ai ngu ngốc mà đứng ra phản đối quyết định của trưởng thôn.

Từng người, từng người một đều nhao nhao lên tiếng bày tỏ sự đồng tình tuyệt đối với ban quản lý làng. Sau khi đồng thanh vâng vâng dạ dạ một cách vô cùng thành kính, họ vội vàng gánh những đôi quang gánh đầy ắp khoai lang, hồ hởi sải bước nhanh về phía mái nhà thân thương của mình để chuẩn bị cho một bữa cơm no nê, ấm áp sau bao ngày chịu cảnh đói khát bủa vây.
 

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back