188 ❤︎ Bài viết: 8 Tìm chủ đề
960 4
thread-119291-1786151355-694573c88d.webp


Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ là một tác phẩm tiêu biểu cần được phân tích kỹ trong chương trình Ngữ văn 11. Đoạn dàn ý và phân tích này sẽ giúp người học nắm vững bối cảnh sáng tác, nội dung và nghệ thuật của bài hát nói mang dấu ấn cá nhân mạnh mẽ. Trước hết cần điểm qua vài nét về tác giả: Nguyễn Công Trứ có sự nghiệp quan trường thăng trầm, vừa được thăng chức nhờ tài năng vừa bị giáng chức vì cá tính ngông nghênh, sáng tác hầu hết bằng chữ Nôm và nổi bật với phong cách mạnh mẽ, tự khẳng định cái tôi. Về tác phẩm, Bài ca ngất ngưởng thuộc thể loại hát nói tự do, sáng tác khi tác giả cáo quan về quê, cấu trúc rõ ràng thành ba phần: Ngất ngưởng khi làm quan, ngất ngưởng khi cáo quan về quê và khẳng định quan niệm sống. Cảm hứng chủ đạo là thái độ ngất ngưởng, vừa là tự tin vào tài năng thực, vừa là lối sống không chấp nhận uốn mình theo lễ giáo. Phân tích sẽ làm rõ cách tác giả dùng giọng khoa trương, trào phúng, vận dụng điển tích điển cố và hình ảnh đối lập để biểu đạt quan niệm sống tự do, dửng dưng trước danh lợi và tinh thần trách nhiệm với đất nước. Dàn ý sẽ dẫn dắt từ phân tích chi tiết từng đoạn đến tổng kết ý nghĩa nhân sinh và giá trị nghệ thuật của bài thơ.

Văn bản Bài ca ngất ngưởng​


Vũ trụ nội mạc phi phận sự

Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng

Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng

Lúc bình Tây, cờ đại tướng

Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên

Đô môn giải tổ chi niên

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng

Kìa núi nọ phau phau mây trắng

Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi

Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng

Được mất dương dương người tái thượng

Khen chê phơi phới ngọn đông phong

Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng

Không Phật, không tiên, không vướng tục

Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung

Trong triều ai ngất ngưởng như ông!

Dàn ý Phân tích Bài ca ngất ngưởng - Nguyễn Công Trứ

1. Vài nét về tác giả​


Sự nghiệp thăng trầm:

Nhiều lần được thăng chức: Tài giỏi

Bị giáng chức: Cá tính, ngông

Sáng tác hầu hết bằng chữ Nôm

Phong cách sáng tác: Mạnh mẽ, có cá tính riêng, luôn khẳng định mình

2. Tìm hiểu chung về tác phẩm​


Thể loại hát nói: Tự do, mang dấu ấn riêng của tác giả

Hcst: Khi NCT cáo quan về quê sống thanh nhàn

Bố cục 3 phần​


Phần 1: Ngất ngưởng khi làm quan

Phần 2: Ngất ngưởng khi về hưu

Phần 3: Quãng đời khi cáo quan về quê: Khẳng định quan niệm sống.

Cảm hứng chủ đạo: "Ngất ngưởng"

⇒ gợi hình ảnh: Ở vị trí cao, dễ lung lay

⇒ người "ngất ngưởng" : Người có tài năng xuất chúng, hơn người

⇒ Khẳng định/ đề cao tài năng của bản thân, ngông cuồng, kiêu ngạo⇒ dựa trên năng lực có thực của bản thân.

⇒ Ngất ngưởng thực chất là phong cách sống tôn trọng trung thực, cá tính, không chấp nhận "khắc kỉ phục lễ" uốn mình theo lễ và danh giáo của Nho gia

3. Phân tích tác phẩm​


A. Ngất ngưởng khi làm quan​


Vũ trụ nội mạc phi phận sự

Câu thơ chữ Hán: Tuyên bố một cách trang trọng

- > quan niệm về chí làm trai: Hết thảy chuyện trong trời đất đều là phận sự của ta

- Quan niệm làm trai đương thời: "Làm trai phải lạ ở trên đời", "Chí làm trai Nam Bắc Tây Đông/ Cho thỏa sức vẫy vùng trong bốn bể" ⇒ Làm trai là phải: Mạnh mẽ, bản lĩnh, khẳng định/ ghi dấu ấn trên đời, cống hiến, làm những việc lớn lao.

⇒ tiến bộ, đúng đắn ⇒ tự tin, bản lĩnh, kiêu hãnh, ý thức trách nhiệm sâu sắc.

Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng

Hi Văn: Bút danh ⇒ Hi: Hi hữu, hiếm thấy; Văn: Văn chương + tự xưng "Ông" ⇒ khẳng định, tự đề cao tài năng hơn người

Tài bộ: Tài nghệ văn chương hiếm có, hơn người

⇒ giọng khoa trương, kiêu hãnh, nhưng không gây khó chịu

Đã vào lồng: Đi làm quan ⇒ sự tù túng, mất tự do

NCT chấp nhận đánh đổi cơ hội tự do phát triển tài văn chương của bản thân để ra làm quan vì ông muốn đem tài năng của mình để giúp nước cứu đời.

⇒ yêu nước thương dân với lí tưởng cao đẹp.

Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng

Lúc bình Tây, cờ đại tướng

Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên


- Liệt kê: Những chức vụ đã từng đảm nhận ⇒ văn võ song toàn

- Điệp từ khi + lúc + có khi: Nhiều lần thay đổi chức vụ ⇒ đường công danh lận đận

⇒ khoe khoang sự nghiệp

⇒Tiểu kết: Khoe khoang tài năng và sự nghiệp, thái độ ngông cuồng, bất cần, cá tính

B. Ngất ngưởng khi cáo quan​


Đô môn giải tổ chi niên

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng

Kìa núi nọ phau phau mây trắng

Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi

Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng

Được mất dương dương người thái thượng

Khen chê phơi phới ngọn đông phong

Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng

Không Phật, không tiên, không vướng tục


Hoạt động thường ngày: Cưỡi bò vàng đeo nhạc ngựa đi ngắm cảnh; đưa ả đào lên chùa

Bò: Dân dã, nhạc ngựa: Xa xỉ

Ả đào: Dung tục, lả lơi, chùa: Chốn trang nghiêm

⇒ kết hợp những thứ hoàn toàn trái ngược, không phù hợp ⇒ kì lạ, quái dị, độc đáo, bất cần, không quan tâm miệng lưỡi thiên hạ

Quan niệm sống:

"Được mất" : "Dương dương" ⇒ dửng dưng, không để tâm, ung dung; "người thái thượng"

⇒ từng trải, sõi đời, thông tuệ, tinh thông

⇒ tự cho mình là người tinh thông thói đời, không quan tâm đến chuyên được mất.

"Khen chê" : "Phơi phới ngọn đông phong"

⇒ không để tâm, không bị ảnh hưởng

⇒ không bị tác động bởi yếu tố bên ngoài, sống đơn giản theo bản năng, vui với chính bản thân, ung dung tự tại

Khi "ca, tửu, cắc, tùng" : Hoạt động giải trí, vui thú đa dạng, phong phú ⇒ cuộc sống an nhàn, không đơn điệu.

"Không Phật, không tiên, không vướng tục"

⇒ Nghĩa 1: Vô thần (số phận ở trong tay mình), không dung tục, thác loạn

⇒ Nghĩa 2: Đánh giá bản thân không phải là tiên/ Phật nhưng vẫn có lối sống thoát tục (không vướng vào hỉ nộ ái ố, tranh đua hơn thua)

⇒ Phong cách sống: Sống cho bản thân, chính trực, thanh cao ⇒ kì lạ, khác người, mang dấu ấn riêng ⇒ "NGẤT NGƯỞNG".

C. Quan niệm sống ngất ngưởng​


Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung

Trong triều ai ngất ngưởng như ông!


Điển tích điển cố: Trái, Nhạc, Hàn, Phú ⇒ tự ví mình sánh ngang các nhà hiền triết, nho sĩ, vĩ nhân TQ

"nghĩa vua tôi vẹn đạo sơ chung" : Tấm lòng trung quân trước sau như một → củng cố cho quan niệm làm trai ở phần mở đầu

Trong triều ai ngất ngưởng như ông!

⇒ câu hỏi tu từ: Khẳng định, đề cao cách sống "ngất ngưởng" → ngất ngưởng ở thái độ đánh giá và công nhận bản thân, sống một cách đầy bản lĩnh, hào hoa lãng tử → vượt ra khỏi chuẩn mực Nho gia thông thường.

D. Tổng kết​


Về nội dung:

Thái độ coi thường danh lợi, vượt lên thói thường để sống cuộc sống tự do tự tại.

Bộc lộ một bản lĩnh cứng cỏi, sự thức tỉnh ý thức cá nhân

Thể hiện rõ một nhân sinh quan tiến bộ hiện đại.

Về nghệ thuật:

Thể loại hát nói

Giọng khoa trương trào phúng

Vận dụng điển tích, điển cố

E. Phân tích 6 câu đầu​


Ngay từ tên đầu bài thơ, hai chữ "ngất ngưởng" đã khiến cho ta cảm nhận được những điều khác lạ của tác giả. Ít có một tác giả nào vào thời đại ấy lại đặt hai chữ "ngất ngưởng" vào ngay cái đề bài thơ. Đó hẳn cũng là một điều ngất ngưởng.

Rồi sau đó ngay câu đầu tiên tác giả đã nhận định:

Vũ trụ nội mạc phi phận sự

Không có việc gì trong nhân gian này, trong vũ trụ này không phải việc của ông. Việc nào cũng là việc của ông. Đó không phải sự kiêu ngạo, sự tự cao mà chính là sự đánh giá đúng nhất về bản thân mình, về sự nghiệp của mình. Không một chút tự ti, ông đã đứng lên chỉ rõ vai trò to lớn của mình, chẳng phải ông đã nói rằng:

Đã mang tiếng ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông


Đó sao?

Nhưng cũng chính vì cái phận sự đó, phải có cái danh với đời, với người đó lẽ ra ông phải sung sướng khi được ra làm quan, làm người cai quản, trông coi cuộc sống cùa nhân dân, nhưng không ông coi như khi đó ông đã "vào lồng"

Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng

Tại sao được làm công việc mình mong muốn, ao ước mà ông coi như sự đè nén, gò bó. "Cái lồng" ở đây chính là cái bộ máy, cái xã hội phong kiến lúc bấy giờ. Cái xã hội mà việc đổi trắng thay đen, sự ganh ghét, đố kỵ xảy ra như cơm bữa. Khi bước chân vào chốn quan trường cũng là lúc Nguyễn Công Trứ biết rằng ông sẽ bị chi phối, sẽ phải làm những việc mà bản thân không muốn. Mặc dù có tài nhưng Nguyễn Công Trứ biết rằng một mình ông thì đâu có thể thay đổi nổi một chế độ đã tồn tại lâu đến như vậy. Tuy nhiên trong câu thơ này, Nguyễn Công Trứ vẫn thể hiện được cái "ngất ngưởng" của mình. Ông đã dám gọi chốn quan trường, xã hội lúc bấy giờ là cái lồng. Đó gần như một cái tát vào mặt bộ mấy quan lại, triều đình vì trước nay có ai dám ngông cuồng như vậy. Trong xã hội phong kiến cũng không ít những nhà nho tiến bộ, những người có ý tưởng phản kháng lại chế độ. Nhưng cũng chẳng mấy ai dám khẳng định lại điều đó trước toàn thể mọi người mà nhất là trên giấy trắng mực đen như Nguyễn Công Trứ. Đó phải chăng chính là sự phá cách của Nguyễn Công Trứ.

Nguyễn Công Trứ có được sự "chơi ngông" đó cũng bởi một phần ông biết là ông có tài, điều đó chẳng cần giấu giếm:

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.

Một lần nữa Nguyễn Công Trứ "ngất ngưởng", lần này ông "ngất ngưởng" vì hãnh diện về cái tài của ông. Nguyễn Công Trứ đã thể hiện được rất rõ cái tôi của mình trong câu thơ này.

Nhưng cũng chính vì có tài, lại mang những tư tưởng tiến bộ nên Nguyễn Công Trứ đã không ít lần phải "lên voi, xuống chó" :

Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông,

Lúc bình Tây, cờ đại tướng,

Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên
.

Đó cũng là điều dễ hiểu trong chốn quan trường đầy ghen ghét đố kỵ, mưu hại lẫn nhau. Nguyễn Công Trứ tỏ ra rất thản nhiên đón nhận điều đó. Điệp từ "khi.. Khi" tuy dồn dập nhưng lại mang hơi thở bình thản, đón nhận một cách tự nhiên, vì vậy mà ông cũng đã nói:

Được mất dương dương người tái thượng

Khen chê phơi phới ngọn đông phong


Với Nguyễn Công Trứ, sự nghiệp là quan trọng nhưng ông cũng không quá coi trọng danh lợi. Với ông dù làm ở vị trí nào miễn là được đem sức giúp đời, giúp dân là ông đã thỏa được cái chí làm trai. Đó cũng chính là sự khác biệt của ông với quan lại bấy giờ và thể hiện được sự "ngất ngưởng" của ông.

Bài ca ngất ngưởng như một câu chuyện kể về cuộc đời của tác giả Nguyễn Công Trứ. Nhưng qua đó ta lại thấy hiện lên hình ảnh một con người, với chí làm trai cao cả, một cái tôi sánh ngang với trời đất, một sự "ngất ngưởng" không hề gây khinh ghét mà là cả một sự đáng kính nể, khâm phục.

Mẫu 2: Phong cách cảm nhận​


Đọc Bài ca ngất ngưởng, người ta có cảm giác như đang nhìn thấy Nguyễn Công Trứ đi qua chính cuộc đời mình với một nụ cười. Khi ở chốn quan trường, ông đứng giữa công danh mà không hề nhỏ bé. Khi rời quan trường, ông cưỡi bò thong dong trở về. Khi người đời bận lòng vì được mất, khen chê, ông lại "phơi phới ngọn đông phong". Đằng sau tất cả những hình ảnh ấy là một con người có một thứ rất khó có được: Sự tự tin vào giá trị của chính mình.

"Vũ trụ nội mạc phi phận sự"

Câu thơ mở ra một không gian rộng lớn. Trước vũ trụ ấy, Nguyễn Công Trứ không lùi lại mà nhận lấy trách nhiệm. Đó là tư thế của một con người muốn nhập cuộc, muốn làm việc, muốn để tài năng của mình có ích cho đời.

Vì thế mới có một "ông Hi Văn tài bộ" bước "vào lồng". Con đường quan trường có những khuôn phép riêng, nhưng chính ở đó tài năng của ông được thử thách:

"Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng"

Những chức vị nối tiếp nhau khiến câu thơ như mang nhịp bước của một cuộc đời nhiều trải nghiệm. Ở đây có niềm tự hào rất rõ, nhưng lại là niềm tự hào của người đã hành động chứ không phải lời khoe khoang trống rỗng.

Rồi đến ngày rời quan trường:

"Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng"

Chỉ một hình ảnh đã đủ làm cả bài thơ đổi sắc. Không còn sự trang nghiêm của chức tước, chỉ còn một con bò vàng và tiếng đạc ngựa rung lên trên đường về. Cái thú vị nằm ở chỗ Nguyễn Công Trứ dường như cố tình biến giây phút rời bỏ quyền chức thành một cuộc dạo chơi.

Phía trước là:

"Kìa núi nọ phau phau mây trắng"

Một không gian thanh sạch và khoáng đạt mở ra. Người từng "tay kiếm cung" nay mang "dạng từ bi". Tưởng như ông sẽ trở thành một ẩn sĩ hoàn toàn xa lánh cõi đời, nhưng không:

"Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng"

Cái hay của Nguyễn Công Trứ nằm ở đó. Ông không để mình bị đóng khung vào bất cứ hình mẫu nào. Đã đi chùa chưa chắc phải làm ra vẻ khắc khổ. Đã về hưu chưa chắc phải từ bỏ mọi niềm vui trần thế. Ông vẫn là ông, với nét tài tử và tiếng cười riêng.

Sau nhiều năm trải qua công danh, thăng trầm và biến động, cuối cùng Nguyễn Công Trứ đạt tới trạng thái:

"Được mất dương dương người tái thượng

Khen chê phơi phới ngọn đông phong"

Có lẽ đây mới là cái "ngất ngưởng" đáng quý nhất. Cưỡi bò khác người vẫn chỉ là một hành động bên ngoài. Không bị được – mất và khen – chê chi phối mới là tự do bên trong.

Người đời có thể cho ta chức vị rồi lấy đi chức vị, có thể hôm nay khen và ngày mai chê. Nhưng nếu một con người hiểu rõ mình là ai, những điều ấy sẽ không dễ dàng làm họ mất phương hướng.

Tuy nhiên, Nguyễn Công Trứ không biến tự do thành buông thả:

"Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung"

Một câu thơ đủ để giữ thăng bằng cho toàn bộ vẻ ngông nghênh phía trước. Ông khác người trong cách sống nhưng nghiêm túc trong trách nhiệm. Ông có thể cười với khuôn sáo nhưng không cười với đạo nghĩa mà bản thân tin tưởng.

Bởi vậy, khi Nguyễn Công Trứ kết thúc bằng câu:

"Trong triều ai ngất ngưởng như ông!"

Người đọc có thể vừa bật cười trước một cái tôi quá đỗi tự tin, vừa cảm thấy cái tự tin ấy có cơ sở. Bài thơ không dạy người ta phải cư xử khác người để chứng minh cá tính. Điều sâu sắc hơn mà Nguyễn Công Trứ để lại là: Hãy đủ tài năng để biết giá trị của mình, đủ trách nhiệm để không sống vô ích và đủ bản lĩnh để không phải sống bằng ánh mắt của người khác.

Mẫu 3: Phân tích theo quan điểm​


Nếu chỉ nhìn vào việc Nguyễn Công Trứ cưỡi bò đeo đạc ngựa, đi chùa có các cô gái theo cùng hay tự hỏi "Trong triều ai ngất ngưởng như ông!", người đọc rất dễ xem "ngất ngưởng" đơn giản là ngông, khác người, bất chấp dư luận. Tuy nhiên, đọc toàn bộ tác phẩm sẽ thấy cái "ngất ngưởng" của Nguyễn Công Trứ có một nền tảng sâu hơn nhiều: Tài năng, ý thức trách nhiệm và sự tự chủ.

Trước hết, nhà thơ không bắt đầu bài ca bằng thú vui mà bắt đầu bằng phận sự:

"Vũ trụ nội mạc phi phận sự"

Đây là lời của một con người nhận trách nhiệm chứ không chạy trốn trách nhiệm. Mọi việc trong trời đất đều có thể là việc mình phải góp sức. Như vậy, ngay từ câu đầu, Nguyễn Công Trứ đã đặt cá tính của mình trên nền tảng nhập thế.

Tiếp đó, ông kể:

"Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng"

Điều đáng chú ý là chữ "ngất ngưởng" lần đầu gắn trực tiếp với "thao lược". "Ngất ngưởng" vì có tài và đã từng gánh vác việc lớn. Đây là điểm quan trọng để phân biệt bản lĩnh với sự lập dị. Một người chưa làm được gì mà chỉ cố cư xử khác người thì chưa phải "ngất ngưởng" theo tinh thần Nguyễn Công Trứ.

Nghiên cứu của Khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội thậm chí đề xuất cách hiểu rằng chữ "ngất ngưởng" ở đoạn quan trường nhấn mạnh cái tài "cao ngất", không nên giản đơn hóa thành thái độ ngông nghênh khi làm quan.

Khi đã hoàn thành một chặng đường công danh, Nguyễn Công Trứ mới thực sự bước vào đời sống phóng túng:

"Đô môn giải tổ chi niên

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng"

Cái đạc vốn thuộc về ngựa lại được đặt trên bò. Sự lệch chuẩn ấy tạo nên tiếng cười. Nhưng đằng sau tiếng cười còn có một tâm thế đáng chú ý: Con người ấy có thể rời bỏ địa vị mà không quá lưu luyến.

Từ đây, hàng loạt cặp đối lập xuất hiện:

"Tay kiếm cung" – "dạng từ bi";

"Gót tiên" – "một đôi dì";

"được" – "mất";

"khen" – "chê";

"Phật", "tiên" – "tục".

Chính những đối cực ấy làm nên một Nguyễn Công Trứ không dễ bị đóng khung. Ông từng là người hành động giữa đời nhưng cũng có thể tìm tới chốn thanh nhàn. Ông yêu thú vui trần thế nhưng không tự nhận mình "vướng tục". Ông không muốn lựa chọn giữa hai cực để biến mình thành một hình mẫu đơn giản.

Đặc biệt:

"Được mất dương dương người tái thượng

Khen chê phơi phới ngọn đông phong"

Cho thấy sự tự do đã chuyển từ hành vi bên ngoài thành bản lĩnh tinh thần. Người thật sự tự do không phải người cố làm điều trái ngược với thiên hạ mà là người không để lợi danh và dư luận điều khiển mình.

Dẫu vậy, sự tự do ấy có giới hạn rất rõ:

"Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung"

Nguyễn Công Trứ không chủ trương phủ nhận mọi nguyên tắc. Ông chỉ chống lại sự trói buộc vô nghĩa của những hình thức cứng nhắc. Với những giá trị mà mình lựa chọn, ông vẫn giữ "sơ chung", tức giữ trọn từ đầu đến cuối.

Vì vậy, câu:

"Trong triều ai ngất ngưởng như ông!"

Có vẻ tự phụ nhưng lại là kết quả của cả một quá trình tự kiểm chứng. Ông đã làm việc, đã cống hiến, đã sống theo lựa chọn của mình và giờ đây tự nhận xét về chính cuộc đời ấy.

Giá trị lớn của Bài ca ngất ngưởng nằm ở chỗ Nguyễn Công Trứ không cổ vũ sự khác người vô nguyên tắc. Ông cho thấy cá tính chỉ thật sự đáng trân trọng khi đứng trên nền tảng của năng lực và trách nhiệm. "Ngất ngưởng" vì thế là dám là mình, nhưng trước khi dám là mình phải tạo ra một cái "mình" có giá trị.

Mẫu 4: Phân tích sự thống nhất​


Một trong những nét hấp dẫn nhất của Bài ca ngất ngưởng là Nguyễn Công Trứ không giấu những mặt tưởng như trái ngược trong con người mình. Ông vừa là nhà nho nhập thế, coi việc đời là trách nhiệm, vừa là một con người tài tử thích rượu, ca hát và cuộc sống tự do. Hai phương diện ấy không triệt tiêu nhau mà cùng làm nên chân dung Nguyễn Công Trứ.

Nửa đầu bài thơ là con người "hành đạo" :

"Vũ trụ nội mạc phi phận sự"

Câu thơ cho thấy ý thức mạnh mẽ về trách nhiệm. Nguyễn Công Trứ không coi cuộc đời là nơi để lánh xa mà là không gian để thi thố tài năng.

Bởi vậy, ông bước "vào lồng" và trải qua nhiều vị trí:

"Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông.."

Điệp từ "khi" cùng phép liệt kê khiến nhịp thơ trở nên dồn dập. Từ học vấn đến việc quân, việc chính sự, Nguyễn Công Trứ muốn cho thấy một con người đã thực sự nhập cuộc.

Nhưng cuộc đời không chỉ có công danh. Ngày "giải tổ", nhà thơ bước sang một trạng thái khác:

"Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng"

Những dấu hiệu trang trọng của chốn quan trường bị ông biến thành trò đùa vui vẻ. Địa vị đã ở phía sau, trước mặt là một đời sống rộng hơn.

"Kìa núi nọ phau phau mây trắng

Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi"

Từ "kiếm cung" đến "từ bi" là một sự chuyển đổi rất đẹp. Người từng cầm quân nay trở thành một ông già thong dong nơi cửa Phật. Nhưng Nguyễn Công Trứ vẫn không trở thành một người tu hành khắc khổ:

"Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng"

Chính ở đây xuất hiện con người "hành lạc". Ông yêu những thú vui của đời sống và không có ý định che giấu chúng.

"Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng"

Nhịp thơ như tiếng phách ca trù, vừa vui vẻ vừa phóng khoáng. Rượu, tiếng hát và âm nhạc tạo nên một đời sống đầy màu sắc.

Tuy nhiên, "hành lạc" ở Nguyễn Công Trứ không phải thái độ buông xuôi sau khi rời quan trường. Giữa những thú vui ấy vẫn tồn tại một con người rất tỉnh táo:

"Được mất dương dương người tái thượng

Khen chê phơi phới ngọn đông phong"

Ông vui sống bởi đã có khả năng đặt lợi danh xuống. Niềm vui không đến từ việc chiếm hữu nhiều hơn mà từ cảm giác không còn bị được – mất chi phối.

Đến cuối bài, hai con người "hành đạo" và "hành lạc" gặp nhau:

"Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung"

Nguyễn Công Trứ có thể uống rượu, nghe hát, sống phóng túng nhưng không xem nhẹ trách nhiệm. Ông không coi hưởng thụ và cống hiến là hai lựa chọn buộc phải loại trừ nhau. Khi phải làm việc thì làm hết mình; khi đã rời công danh thì cũng sống hết mình.

Một số tài liệu giảng dạy cũng lưu ý rằng sự phóng túng của Nguyễn Công Trứ không dẫn đến thái độ phủ nhận trách nhiệm nhập thế; đạo nghĩa vẫn là điểm tựa cho cái "ngất ngưởng" của ông.

Vì thế, Bài ca ngất ngưởng không chỉ hấp dẫn bởi một nhân vật khác đời. Tác phẩm còn gợi ra một cách sống có tính nhất quán: Làm điều cần làm bằng tất cả năng lực, nhưng không để công danh chiếm hết đời mình; biết tận hưởng cuộc sống nhưng không dùng hưởng thụ để trốn tránh trách nhiệm.

Đó chính là sự thống nhất độc đáo giữa một nhà nho hành đạo và một nghệ sĩ tài tử trong Nguyễn Công Trứ.

Mẫu 5: Phân tích thiên về nghệ thuật hát nói​


Sẽ khó hình dung Bài ca ngất ngưởng được viết bằng một thể thơ quá nghiêm ngặt. Một con người như Nguyễn Công Trứ cần một hình thức nghệ thuật có khả năng biến đổi linh hoạt, lúc trang trọng, lúc đời thường, lúc hào sảng, lúc hài hước. Hát nói chính là hình thức phù hợp với tinh thần ấy.

Trước hết, cấu trúc câu thơ rất linh hoạt. Có câu cô đọng:

"Vũ trụ nội mạc phi phận sự"

Nhưng cũng có câu kéo dài:

"Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông"

Sự co giãn về số tiếng giúp lời thơ gần với lời nói tự nhiên. Nhờ đó, người đọc có cảm giác Nguyễn Công Trứ đang trực tiếp kể chuyện về mình hơn là đang cố ép cuộc đời vào một khuôn thơ cố định.

Ngay phần mở đầu đã xuất hiện sự đan xen giữa ngôn ngữ Hán Việt trang trọng và giọng nói đời thường. "Vũ trụ", "phận sự", "Thủ khoa", "Tham tán", "Tổng đốc", "thao lược" tạo nên sắc thái của một người từng trải chốn công danh. Nhưng ngay sau đó lại là chữ "ngất ngưởng" giàu tính khẩu ngữ, có khả năng tạo hình và gây ấn tượng.

Phép liệt kê cũng được sử dụng hiệu quả:

"Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông.."

Các chức vị nối nhau tạo cảm giác một đời người luôn vận động. Điệp "khi" không chỉ kể lại quá khứ mà còn làm nổi bật sự đa dạng trong tài năng và công việc của nhân vật trữ tình.

Đến đoạn về hưu, nghệ thuật tạo hình phát huy mạnh:

"Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng"

Chỉ một sự kết hợp bất thường giữa "đạc ngựa" và "bò vàng" đã tạo ra tiếng cười. Không cần bình luận dài dòng, hình ảnh tự nó đã nói lên tính cách của Nguyễn Công Trứ.

Hệ thống đối lập tiếp tục làm chân dung ấy sinh động:

"Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi"

Một phía là cuộc đời trận mạc, một phía là sự thanh nhàn cửa Phật.

"Gót tiên" lại đi cùng "một đôi dì"; "Bụt" trang nghiêm lại "nực cười". Những phạm trù vốn cách xa nhau được đặt gần nhau khiến thơ Nguyễn Công Trứ luôn có yếu tố bất ngờ.

Nghiên cứu văn bản của Khoa Ngữ văn – Đại học Sư phạm Hà Nội cũng chú ý hàng loạt cặp đối lập trong tác phẩm như kiếm cung – từ bi, gót tiên – một đôi dì, được – mất, khen – chê, Phật Tiên – tục. Cách tổ chức các đối cực này góp phần làm nổi bật một con người có khả năng dung chứa nhiều phương diện khác nhau.

Nhạc tính của bài thơ đặc biệt rõ ở:

"Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng"

Bốn nhịp ngắn liên tiếp như mô phỏng tiếng phách, tiếng đàn và không khí ca trù. Nội dung nói về vui chơi, còn âm thanh của câu thơ cũng chuyển động theo niềm vui ấy.

Một thủ pháp quan trọng khác là điệp từ "ngất ngưởng". Từ này xuất hiện nhiều lần ở những vị trí then chốt và mỗi lần lại mang thêm một sắc thái. Khi gắn với "thao lược", đó là tài năng. Khi gắn với bò vàng, đó là hành động khác thường. Khi gắn với "Bụt cũng nực cười", đó là phong cách sống. Đến câu cuối, nó trở thành lời tổng kết về cả một con người.

Giọng điệu của tác phẩm cũng rất đặc biệt. Nguyễn Công Trứ có thể nói chuyện lớn bằng giọng trang trọng rồi ngay lập tức chuyển sang tự trào, hài hước. Ông tự khen mình nhưng không khiến bài thơ trở nên nặng nề bởi luôn có một nụ cười thấp thoáng phía sau.

Câu kết:

"Trong triều ai ngất ngưởng như ông!"

Là một câu hỏi nhưng thực chất không chờ câu trả lời. Nhân vật trữ tình tự đặt mình vào vị trí độc nhất. Chính kiểu kết thúc vừa ngạo nghễ vừa vui ấy khiến tiếng nói cá nhân của bài thơ vang lên rất mạnh.

Như vậy, nghệ thuật của Bài ca ngất ngưởng không chỉ nằm ở việc sử dụng thành công thể hát nói. Từ nhịp điệu, câu chữ, phép liệt kê, điệp từ, đối lập đến giọng tự trào đều cùng phục vụ một mục đích: Biến hình thức của bài thơ thành hình thức của chính cá tính Nguyễn Công Trứ. Con người tự do được nói bằng một thứ thơ cũng đầy tự do.
 
Last edited by a moderator:
6 ❤︎ Bài viết: 1 Tìm chủ đề
Nói đến sự nghiệp văn chương của Nguyễn Công Trứ, người ta không thể không nhắc đến thơ hát nói. Nói đến thơ hát nói Nguyễn Công Trứ, người ta lại không thể không nhắc đến Bài ca ngất ngưởng. Đây là tác phẩm tiêu biểu cho cá tính và phong cách văn chương (thơ ca) Nguyễn Công Trứ. Bởi vậy, tác phẩm được tuyển, dẫn trong hầu hết các công trình biên soạn, nghiên cứu về ông. Nó cũng được đưa vào giảng dạy chương trình Ngữ văn ở phổ thông trung học (Ngữ văn 11 ). Tuy nhiên, từ văn bản cho đến hướng tiếp cận bài thơ vẫn chưa phải đã ổn đáng. Khỏi phải dẫn lại rất nhiều ý kiến khác nhau về các vấn đề đã nêu, chúng tôi xin trình bày ý kiến của mình để độc giả tự so sánh và lựa chọn cho mình cách hiểu hợp lí nhất.

1. Vấn đề văn bản và chú giải Bài ca ngất ngưởng

Theo Nguyễn Thị Lâm[1], Bài ca ngất ngưởng hiện có 4 dị bản chính: Bản Gia phả tập biên (GPTB) [2] ; "bản Lê Thước" (LT) [3] ; bản Đỗ Trọng Huề, Đỗ Bằng Đoàn (ĐTH) [4] ; bản Thái Kim Đỉnh (TKĐ) [5]. Trong đó, theo Đoàn Lê Giang, hai bản LT và bản ĐTH là quan trọng hơn (không thấy ông nói đến bản TKĐ). Đoàn Lê Giang cũng đã tiến hành biện giải văn bản và đề xuất một "thiện bản" cho Bài ca ngất ngưởng [6]. Tuy nhiên, đó là một giải pháp. Ở đây, chúng tôi muốn trình bày một giải pháp khác. Căn cứ vào 4 dị bản này chúng ta sẽ lần lượt biện giải và xác lập văn bản Bài ca ngất ngưởng.

1.1. Tiêu đề tác phẩm

Bản GPTB và bản ĐTH chỉ ghi tiêu đề là Ngất ngưởng, bản LT và TKĐ ghi như tiêu đề hiện nay sử dụng là Bài ca ngất ngưởng. Vậy tiêu đề nào đúng và gần nguyên tác hơn? Xét tiêu đề các bài thơ hát nói của Nguyễn Công Trứ hiện còn chúng tôi nhận thấy, không có bài nào có tên chỉ thể loại của tác phẩm (như bài ca, bài hát, bài thơ) mà chỉ đơn giản là nêu nội dung của tác phẩm như: Chí nam nhi, Luận kẻ sĩ, Kiếp nhân sinh, Con tạo ghét ghen.. Những cái tên như thế tuy không đúng với quy luật đặt tên tác phẩm của thời trung đại nhưng phản ánh quan niệm văn chương của thời hậu kì văn học trung đại và của thể loại hát nói: Mọi quy chuẩn đều bị phá vỡ, ngay từ cách đặt tên. Như vậy, hoàn toàn có thể tin được rằng cái tên ghi trong bản Nôm GPTB là có lí nhất. Nguyễn Thị Lâm cũng tán thành với cách lựa chọn này. Cái tên Bài ca ngất ngưởng là do người đời sau đặt (có lẽ bắt đầu từ Lê Thước) mà có lẽ khi dùng cái tên này phải được đánh dấu là "bài ca Ngất ngưởng".

1.2. Nội dung tác phẩm

1) Câu 1 + 2

Hầu hết các bản ghi "Vũ trụ nội mạc phi phận sự/..". Riêng bản TKĐ ghi là "Vũ trụ giai nho chi phận sự/..". Chúng ta không rõ Thái Kim Đỉnh dùng theo nguồn nào. Chỉ riêng tính thiểu số của nó đã không thuyết phục. Ý nghĩa của câu cũng quá cụ thể và hơi tối nghĩa: "Vũ trụ đều là phận sự của nhà Nho". Câu "Vũ trụ nội mạc phi phận sự" có tính khái quát, tầm vóc hơn. Hơn nữa, về mặt âm luật, cấu trúc câu này bất ổn! Hai câu này được viết bằng cặp câu thất thường thấy trong thể song thất lục bát, trong đó có hai yếu tố bắt buộc: Một là về nhịp, nhịp của 2 câu phải là 3/4; hai là về khởi cú và đối, chữ thứ 3 của câu 1 phải là vận trắc, chữ thứ ba của câu 2 phải là thanh bằng. Câu "Vũ trụ giai nho chi phận sự/.." rõ ràng không đáp ứng được hai yêu cầu trên. Bên cạnh đó, cách nói hai lần phủ định "mạc phi" (không gì là không) hay hơn hẳn cách nói khẳng định thuần túy "giai" (đều). Nó là tiếng nói khẳng định một cách mạnh mẽ, dứt khoát, hào hứng. Cách nói trốn chủ ngữ (chủ thể) cũng là cách nói thường thấy của thơ ca trung đại, vừa hàm súc vừa có tính khái quát cao.

Ở câu thứ hai, có vấn đề phiên âm: "Vào lồng" hay "vào nhòng"? Các văn bản đều viết/ phiên là "vào lồng". Nhưng Trần Ngọc Vương lại đặt vấn đề nghi ngờ "lồng" hay "nhòng"? [7] Không rõ ông căn cứ vào tư liệu nào? Phải chăng, vì trong Bích Câu kì ngộ (truyện thơ) có câu: "Vào nhòng Lí Đỗ, nức danh Tô Tào (câu 62) ?" Vào nhòng "có nghĩa là" vào hạng "," vào loại ". Nhưng, l/nh là hiện tượng ngữ âm ở ngoài Bắc chứ không hề có ở miền Trung, vậy nên sự hoài nghi nhòng> lồng có lẽ là chưa có căn cứ vững chắc." Vào lồng "ở đây cũng có nghĩa là" vào guồng ", vào guồng máy quan chức khi Nguyễn Công Trứ xuất chính. Tuy nhiên, nếu là" vào nhòng "cũng có cái hay của nó, nhất là đặt trong văn cảnh (xem phần sau).

2) Câu 3 + 4:

Các bản đều thống nhất với nhau. Ở đây cần chú thích thêm về" Tổng đốc Đông ": Chỉ việc Nguyễn Công Trứ giữ chức tổng đốc Hải Yên: Tổng đốc kiêm coi hai tỉnh Hải Dương và Quảng Yên (tức Quảng Ninh ngày nay). Chế độ coi kiêm này khá thịnh hành thời Nguyễn, chẳng hạn như: Tổng đốc Sơn – Hưng – Tuyên, Tổng Đốc Hà – Ninh – Thái.. Đông chính là chỉ Hải Dương, vì tên thường gọi của tỉnh Hải Dương thời Nguyễn là tỉnh Đông. Hơn nữa, trước đó, trấn Hải Dương còn bao gồm cả Hải Dương, Hải Phòng và Quảng Ninh ngày nay. Từ thời Trần lộ Hải Dương còn gọi là lộ Hải Đông, tên này vẫn thường được dùng sau đó. Chẳng hạn, Ngô Thì Nhậm có tác phẩm Hải Đông chí lược viết về tiểu sử các danh nhân, chính trị, quân sự của tỉnh Hải Dương. Như vậy," tổng đốc Đông "là một chức vụ khá quan trọng, quản lĩnh một vùng rộng lớn, trọng yếu của đất nước.

3) Câu 5 + 6

Câu 5 đa số các bản ghi là" Lúc bình Tây, cờ đại tướng/.. ", riêng GPTB lại chép" Lúc bình Tây, cầm cờ đại tướng ". Câu thơ 7 chữ đầy đủ, rõ nghĩa. Chữ" cầm "thể hiện tư thế chủ động, hăng hái của nhà thơ; nó thống nhất với cách viết ở câu 6:" Có khi về, Phủ doãn Thừa Thiên ". Câu này nói rõ cái ý: Nguyễn Công Trứ khi tại chức chỉ làm Thự Phủ doãn phủ Thừa Thiên, tức mới là Quyền Phủ doãn. Năm 1848, khi ông dâng sớ xin về nghỉ hưu, vua Tự Đức mới cho ông được thực thụ chức Phủ doãn, như một sự gia ân để khi về hưu trí cho thêm vang vẻ. Câu thơ của Nguyễn Công Trứ đã nói rõ điều đó:" có khi về "(về đây là về hưu).

4) Câu 7 + 8:

Câu 7 đa số các bản chép" Đô môn giải tổ chi niên ", riêng bản TKĐ chép" giải tỏa "." Giải tổ "là một thành ngữ, chỉ người bỏ quan về nghỉ. Vi Ứng Vật có câu thơ:" Giải tổ ngạo viên lâm "(Bỏ quan về, sống ngạo ở chốn vườn, rừng). Câu 8 đa số các bản chép" Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng ", riêng bản GPTB chép" Lạc ngựa.. ". Nếu muốn dùng" lạc "thì thường người ta dùng" lục lạc ". Vì vậy, ở đây" đạc ngựa "thích hợp hơn. Theo Đoàn Lê Giang, đây là việc có thực chứ không phải là tương truyền. Việc này cũng diễn ra ngay tại kinh đô Huế trong ngày ông treo ấn từ quan, theo lệ trí sĩ, để về quê. Hai dòng: " Đô môn giải tổ chi niên/ Đạc ngựa, bò vàng đeo ngất ngưởng " chính là để diễn tả ý đó. Dòng trên chính là trạng ngữ chỉ thời gian cho dòng dưới với tư cách là nòng cốt.

5) Câu 9 + 10

Câu 9 đa số các bản chép" Kìa núi nọ phau phau mây trắng "riêng bản TKĐ chép" Kìa lĩnh thượng lơ thơ mây trắng ". Chữ" lĩnh thượng "bị lạc phong cách trong câu thơ này (phong cách thuần Nôm). Chữ" lơ thơ "lại làm cho ý câu thơ trở nên tầm thường. Chữ" núi nọ "các sách đều giải thích là núi Đại Nài gần thị xã Hà Tĩnh, quê hương của Nguyễn Công Trứ;" mây trắng "là mây ở núi này. Tuy nhiên, cả dòng thơ còn gợi nhớ đến một điển tích rất hay xuất hiện trong văn học trung đại. Theo sách Đường thư, Địch Nhân Kiệt đời Đường đi làm Tham quận ở Tinh Châu mà mẹ thì ở Hà Dương. Một hôm, ông lên núi Thái Hàng, thấy một đám mây trắng bay xa xa, bảo với những người cùng đi rằng:" Nhà cha mẹ ta ở dưới đám mây trắng ấy ". Điển tích này chỉ nỗi lòng nhớ cha mẹ, cũng chỉ nỗi nhớ quê hương. Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du có dùng điển tích này: Bốn phuơng mây trắng một màu/ Trông với cố quốc biết đâu là nhà. Bởi nhớ nhà nên cũng muốn về. Trương Hàn ngày xưa nhớ rau thuần cá vược nơi quê nhà mà từ quan về. Ngày nay, Nguyễn Công Trứ phải chăng cũng có tâm sự ấy?

Câu 10: Bản LT chép" Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi ". GPTB chép".. Nên dáng từ bi ", TKĐ chép" mà dạng từ bi "." Dạng "hay" dáng "có lẽ cũng chỉ do cách phiên Nôm khác nhau. Hơn nữa, nó cũng không ảnh hưởng đến nghĩa của cả câu.

6) Câu 11 + 12:

Các bản đều khá thống nhất:" Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì/ Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng ".

7) Câu 13 + 14

Câu 13 có một vấn đề đặt ra là:" Người tái thượng "hay" người thái thượng "? Thái thượng và tái thượng đều có nghĩa hay.

" Thái thượng "được Từ hải giải thích gồm 4 nghĩa: 1)" cũng gọi là 'tối thượng ", sách Kinh Lễ (phần Khúc Lễ) chép" Người đời thái thượng quý cái đức, tiếp đó là thi hành việc báo đáp "(Thái thượng quý đức, kì thứ vụ thi báo ), sớ chú:" thái thượng dùng để chỉ đời Tam hoàng, ngũ đế ", cũng có sách viết là" đại thượng ". Tả truyện (Tương công nhị thập tứ niên ) chép:" đời thái cổ có việc lập đức "(đại thượng hữu lập đức ), chú rằng:" Thời Hoàng đế, Nghiêu Thuấn, chữ đại có âm là thái ". Sớ rằng:" đại thượng, nói cái cao nhất của con người, tức là người có đức của thánh nhân "; 2) Chỉ người ở ngôi vị chí tôn, Khuông Hành truyện trong sách Hán thư chép" nói người bề trên, đó là cha mẹ của dân "(ngôn thái thượng giả, dân chi phụ mẫu ) ; 3) chỉ" thái cổ ", Ưng Trinh truyện trong Tấn thư chép:" thời thái cổ xa xăm, dân rất là giản dị "(du du thái thượng, nhân chi quyết sơ ) ; 4) Niên hiệu (năm 405) của Mộ Dung Siêu nước Nam Yên thời Tấn[8].

Về" tái thượng ", thiên Nhân gian sách Hoài Nam tử có chép:" Trong số những người ở trên vùng biên ải, có một người khá tài giỏi, có con ngựa vô cớ mất vì đi sang đất Hung Nô, người ta đều đến chia buồn, bố anh ta nói: Biết đâu đó chẳng phải là phúc? Mấy tháng sau, con ngựa mất quay về dắt theo một con ngựa tốt gốc Hung Nô, người ta đều đến chúc mừng, bố anh ta nói: Biết đâu đó chẳng phải là họa. Nhà có nhiều ngựa, người con trai thích cưỡi, bị ngã gãy cả chân, người ta lại đến chia buồn, bố anh ta nói: Biết đâu đó chẳng phải là phúc? Một năm sau, người Hung Nô tràn qua biên giới, những kẻ trai tráng đều phải tham chiến, người ở trên biên ải, mười phần chết mất chín, chỉ con trai ông già vì chân gãy mà hai bố con bảo toàn được tính mạng, vì thế trong phúc có họa, trong họa có phúc, biến hóa không cùng, sâu không thể lường được vậy "(Tái thượng chi nhân , hữu thiện thuật giả, mã vô cố vong nhi nhập Hồ, nhân giai điếu chi, kì phụ viết: Thử hà cứ bất năng vi phúc hồ?'Cư số nguyệt, kì mã tương Hồ tuấn mã nhi quy, nhân giai hạ chi, kì phụ viết: 'Thử hà cứ bất năng vi họa hồ?'Gia phú lương mã, kì tử hiếu kị, trụy nhi chiết kì bí, nhân giai điếu chi, kì phụ viết: 'Thử hà cứ bất năng vi phúc hồ?'. Cư nhất niên, Hồ nhân đại nhập tái, đinh tráng giả khống đạn nhi chiến, tái thượng chi nhân, tử giả thập cửu, thử độc dĩ bí chi cố, phụ tử tương bảo, cố phúc chi vi họa, họa chi vi phúc, hóa bất khả cực, thâm bất khả trắc dã ) [9].

Rõ ràng, câu thơ của Nguyễn Công Trứ phải là" Được mất dương dương người tái thượng ". GPTB chép rõ như vậy." Được "," mất "trước hết nhắc chuyện mất ngựa, được ngựa, rộng ra là chuyện được mất;" người tái thượng "là dịch cụm" tái thượng chi nhân "trong sách Hoài Nam tử.

Câu 14: Đa số các bản chép:" Khen chê phơi phới ngọn Đông phong ", riêng GPTB chép".. Trận thu phong "." Trận thu phong "không hợp lí, thậm chí tối nghĩa (gió thu lạnh lẽo làm sao phơi phới).

" Đông phong "là gì? Các sách đều giải thích" Đông phong "là gió xuân, chỉ ngọn gió ấm áp. Ở đây xin được cung cấp thêm một số kiến giải để hiểu rõ hơn câu thơ của Nguyễn Công Trứ:

+ Nếu hiểu" Đông phong "là gió xuân, thì cũng cần biết thêm quan niệm của nguời xưa về" gió xuân ". Sách Lễ kí, Nguyệt lệnh chép:" Tháng Giêng, gió xuân làm tan băng lạnh "(Mạnh xuân chi nguyệt, Đông phong giải đống ) [10]. Như vậy, gió xuân chỉ sự ấm áp.

+ Liên quan đến nghĩa này, trong văn học cổ còn có điển" Gió xuân thổi tai ngựa "(Đông phong xuy mã nhĩ ), dùng để ví với việc không quan tâm đến sự việc, thản nhiên không nghe. Bài thơ Đáp Vương Khứ Nhất của Lí Bạch có câu:" Thế gian nghe việc này đều lắc đầu/ Cũng giống như gió xuân thổi qua tai ngựa "(Thế gian văn thử giai điệu đầu/ Hữu như đông phong xuy mã nhĩ ) [11]. Nguyễn Huy Quýnh (1734 - 1785) có câu:" Trước thôn lắm chuyện làm ngựa gió Đông/ Bên bãi tùy duyên làm trâu sông Dĩnh "(Thôn tiền đa sự Đông phong mã/ Chử bạn tùy duyên dĩnh thủy ngưu ) [Họa Giang trung mục phố thi ] [12].

+" Đông phong "còn là tên một loại hoa (hoa cúc). Bài phú Ngô đô của Tả Tư có câu:" Đông phong, phù lưu "(cây cúc và cây trầu), trong Bản thảo cương mục của Lí Thời Trân cũng có chép tên loài cây này." Đông phong "tên khoa học là Aster scaber, thuộc loài cúc, sống nhiều năm thì sinh rễ, cao khoảng 4, 5 tấc, lá ở dưới to, lá ở trên nhỏ, hình quả trứng mà nhọn, mùa thu thì hoa nỏ, màu trắng. Hoa này sống ở đầm phẳng vùng Lĩnh Nam, lá dày mà mềm, có lông tơ, luộc lên ăn khá ngon. Cây này mọc vào đầu xuân, nên được mệnh danh là" đông phong "[13].

Nếu xét ý cả câu của Nguyễn Công Trứ thì cả hai kiến giải sau không phải không có lí, nhất là điển" Đông phong xuy mã nhĩ ". Chúng tôi nghiêng về hướng cho rằng" Đông phong "ở đây chính là từ từ điển" Đông phong xuy mã nhĩ ". Nếu hiểu như vậy, thì hai chữ" phơi phới "có lẽ cần được phiên âm lại là" phây phẩy "," phảy phảy "với nghĩa chính là" phe phảy "(bên tai ngựa) chẳng đáng quan tâm.

8) Câu 15 + 16

Câu 15: GPTB chép là" Khi thi khi rượu lúc trà thung "; TKĐ chép" Khi cầm kì, khi thi tửu, khi cắc, khi tùng ". Câu trong bản GPTB khá hiền lành, thanh khiết, không nổi rõ cái ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ. Câu trong bản TKĐ thì trùng lặp, dài dòng. Tóm lại, câu trong bản LT, ĐTH là hay nhất.

Câu 16: Đa số các bản chép" Không Phật, không Tiên không vướng tục ", hoặc" Chẳng Phật, chẳng Tiên "(bản TKĐ), riêng GPTB chép" Không Bụt.. "." Không "nghe hợp âm luật và chắc chắn hơn" chẳng ". Theo hệ thống các từ dùng ở đây đều là Hán Việt (tiên, tục), thì chữ" Phật "thích hợp hơn (Khác với chữ" Bụt "ở câu 12).

9) Câu 17 + 18

Câu 17: Các bản LT, TKĐ chép" Chẳng Trái Nhạc cũng vào phường Hàn Phú ". Riêng GPTB, ĐTH chép" Chẳng Hàn, Nhạc cũng vào phường Mai Phúc ". Theo chúng tôi, GPTB, ĐTH đã chép đúng. Mai Phúc đúng hơn vì như thế mới hiệp vần: tục/ phúc. Cả bài này dùng vần" liên châu "(vần chân, vần liền chứ không cách câu) : Lồng/ đông; ngưởng/ tướng; thiên/ niên; bi/ dì; ngưởng/ thượng; phong/ tùng; tục/ phúc; chung/ ông. Không lẽ nào đến câu này lại không vần. Hơn nữa, ở đây ông muốn nói là không phải bậc danh thần nhập thế (Hàn, Nhạc) thì cũng là danh nho xuất thế (Mai Phúc), như thế mới có ý nhấn mạnh, tăng tiến, và cũng hợp với hoàn cảnh về trí sĩ lúc bấy giờ của Nguyễn Công Trứ. Sự xuất nhập chữ" vào "không đáng kể. Tuy nhiên, theo chúng tôi không cần thiết phải có chữ này.

10) Câu 19

Các bản đều chép" Trong triều ai ngất ngưởng như ông "(hoặc" bằng ông "), riêng bản ĐTH chép:" Đời ai ngất ngưởng như ông ". Theo chúng tôi, câu" Đời ai ngất ngưởng như ông "hay hơn và đúng hơn vì hai lẽ: Một là, đáp ứng đúng cấu trúc thường thấy của bài hát nói: Câu cuối 6 chữ; hai là," đời ai "rộng hơn" trong triều ". Vả lại, lúc này Nguyễn Công Trứ đã" giải tổ ", cưỡi bò vàng mà về quê hương, nơi" phau phau mây trắng "! Ông còn lưu luyến gì triều đình mà còn phải nói" trong triều ". Câu cuối" Đời ai.. "Mới ứng hợp với câu đầu tiên:" Vũ trụ nội mạc phi phận sự ". Nguyễn Công Trứ nói đến cả cuộc đời ngất ngưởng của ông chứ đâu chỉ nói chuyện" trong triều "và ở đây, ông đâu chỉ ngông, chỉ ngạo với" trong triều "mà rộng hơn là với đời. Đó mới là bản lĩnh Nguyễn Công Trứ. Chữ" đời ai "mới tôn Nguyễn Công Trứ lên thành một bản ngã cao, một con người cá nhân triệt để; ông sánh mình vời cuộc đời rộng lớn, muôn thưở chứ đâu chỉ" trong triều "đầy chật hẹp, cụ thể. Ông nói câu chuyện về quan hệ giữa cá nhân (" ông ") với" vũ trụ ", với" đời "(thế gian) đấy chứ.

2. Hướng tiếp cận Bài ca ngất ngưởng

Sau khi đã tiến hành biện luận, hiệu khảo, chúng ta tạm có được một văn bản bài Ngất ngưởng để phân tích như sau:

Vũ trụ nội mạc phi phận sự,

Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng.

Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông,

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.

Lúc bình Tây, cầm cờ Đại tướng,

Có khi về, Phủ doãn Thừa Thiên

Đô môn giải tổ chi niên,

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng.

Kìa núi nọ phau phau mây trắng,

Tay kiếm cung mà nên dáng từ bi.

Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì,

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng.

Được mất dương dương người tái thượng,

Khen chê phẩy phẩy ngọn Đông phong.

Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng,

Không Phật, không Tiên, không vướng tục.

Chẳng Hàn, Nhạc cũng phường Mai Phúc,

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung.

Đời, ai ngất ngưởng như ông.

Bài ca Ngất ngưởng là nói về cuộc đời từ khi làm quan đến khi về trí sĩ. Theo chú thích của GPTB, Nguyễn Công Trứ làm bài này khi ông đã về hưu, đi chơi chùa Cảm Sơn (ở phường Đài Nài, Thành phố Hà Tĩnh ngày nay). Có thể xem đây là bản tổng kết cuộc đời của Nguyễn Công Trứ (chủ yếu là nửa phần đời sau khi đỗ Giải nguyên, ra làm quan của ông). Có thể nói, cả bài thơ đều xoay quanh chủ đề" ngất ngưởng ". Cấu trúc của bài thơ có thể chia làm 4 phần và cả bốn đều xoay quanh từ" ngất ngưởng ", xuất hiện 4 lần trong 4 phần và đồng quy về chữ" ngất ngưởng "ở cuối bài:

Phần I: Cuộc đời quan trường" ngất ngưởng ".

Phần II: Hành động từ quan về trí sĩ" ngất ngưởng ".

Phần III: Cuộc sống trí sĩ" ngất ngưởng ".

Phần IV: Tổng kết lại toàn bộ cuộc đời" ngất ngưởng ".

Quan niệm về ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ có sự thay đổi theo thời gian và cũng có nhiều sắc thái diễn biến. Chúng ta hãy theo dõi từng giai đoạn" ngất ngưởng "của ông.

2.1. Cuộc đời quan trường" ngất ngưởng "

Đọc đoạn thơ:

Vũ trụ nội mạc phi phận sự,

Ông Hi Văn tài bộ đã vào nhòng.

Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông,

Gốm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.

Lúc bình Tây, cờ Đại tướng,

Có khi về, Phủ doãn Thừa Thiên.

Trước hết cần hiểu từ" ngất ngưởng "ở đây có nghĩa gì? Theo chúng tôi, có thể hiểu" ngất ngưởng "là ở vị trí cao, nếu không muốn nói là cao nhất (tất nhiên là trong những phạm vi, giới hạn nhất định). Người ta hay nói cao" ngất ngưởng "là vì vậy. Nguyễn Công Trứ cũng đã nói rõ cái giới hạn đó. Mở đầu, ông nói" trong trời đất không có gì không phải là phận sự (của mình, của người nam nhi đại trượng phu) "song ông cũng tự giới hạn" vào lồng "(vì sự nhập thế, thi hành phận sự). Vì thế," ngất ngưởng ", cao ngất ở đây cũng trong giới hạn. Hãy để ý, Nguyễn Công Trứ liệt kê các vị trí, chức quan ông đã trải qua. Hóa ra, chúng đều là những vị trí cao nhất trong phạm vi của nó: Thủ khoa (đứng đầu khoa thi Hương, tức Giải nguyên), Tham tán (đứng đầu đội quan văn tham chiến: Tham tán quân vụ, Tham tán đại thần), Tổng đốc (Đứng đầu một tỉnh hoặc vài ba tỉnh), Đại tướng (cầm đầu đội quân bình Trấn Tây), Phủ doãn (Đứng đầu ở kinh đô). Vậy là, ở đây, ông muốn nói đến tài khí cao vút của mình. Ngất ngưởng ở đây là theo ý đó, chứ không, như ai đó vẫn hiểu ngất ngưởng là ông làm một ông quan ngất ngưởng," lên voi xuống chó ", ngông nghênh, điệu bộ. Tiểu sử cho biết, Nguyễn Công Trứ là một viên quan cần mẫn, thẳng thắn, tận tụy vì công việc và lập được nhiều công tích. Vì vậy, không thể coi ông làm quan một cách tài tử, ngông nghênh được! Cũng không nên hiểu" vào lồng "là sự bó buộc đối với tài năng của ông. Trái lại," vào lồng "là chỗ để Nguyễn Công Trứ thể hiện khả năng của mình. Nên chăng cần hiểu là ông nói đến cái tài" kinh bang tế thế "(" vào lồng" "phận sự") cao ngất của mình. Đó chính là biểu hiện của "ông Hi Văn tài bộ" (chứ không phải là đối lập với nó[14] ) và là một nét quan niệm về "ngất ngưởng" của Nguyễn Công Trứ ( "Tài thao lược đã nên tay ngất ngưởng").

2.2. Hành động từ quan về trí sĩ ngất ngưởng

Đô môn giải tổ chi niên,

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng.

"Ngất ngưởng" ở đây có hai nghĩa. Một là, tả cái thế của cái đạc ngựa, thế "ngất ngưởng", cao, rung rinh. Sở dĩ nó "ngất ngưởng" bởi đáng nhẽ đạc ngựa để đeo lên ngựa, đằng này lại đeo lên con bò, cho nên tạo ra cái thế chênh vênh, có vẻ không chắc chắn như thế. Cái thế đó tạo nên một hình ảnh khá hài hước, khá nghịch ngợm của ông quan Nguyễn Công Trứ (nhưng với ý nghĩa sâu xa là chứng minh sự thanh bạch và thái độ bình thản khi về hưu). Thứ hai, "ngất ngưởng" cũng để chỉ cái hành động khác người của ông, chỉ tính cách ngông của ông, dám treo đạc ngựa lên con bò, cưỡi nó trong ngày treo ấn từ quan về nghỉ lão. Phần này bắt đầu đi vào cái "ngất ngưởng" cá tính rất độc đáo của ông.

Ở đây, ta cũng nên chú ý đến hai dòng thơ chữ Hán trong bài: "Vũ trụ nội mạc phi phận sự""Đô môn giải tổ chi niên". Thông thường hai dòng chữ Hán thường được đặt ở giữa bài hát nói, hoặc đặt ở đầu bài. Theo Nguyễn Đức Mậu, đó là cách để cân bằng, để tạo ra sự hài hòa hai yếu tố: Bác học, điển nhã và đời thường, lệch chuẩn. Cách đặt hai dòng thơ chữ Hán của Nguyễn Công Trứ cũng tạo ra sự lệch chuẩn so với thông thường, và cũng là một biểu hiện của sự "ngất ngưởng" chênh vênh mà ngạo nghễ về mặt hình thứ nghệ thuật.

2.3. Cuộc sống trí sĩ "ngất ngưởng"

Kìa núi nọ phau phau mây trắng,

Tay kiếm cung mà nên dáng từ bi.

Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì,

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng.

Được mất dương dương người tái thượng,

Khen chê phơi phới ngọn đông phong.

Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng,

Không Phật, không Tiên, không vướng tục.

Đây là đoạn thơ thể hiện rõ quan niệm "ngất ngưởng" với ý nghĩa là ngông, là tài tử, khác thường của Nguyễn Công Trứ. Nguyễn Công Trứ thể hiện sự ngất ngưởng của mình ở cái nghĩa: Ông là người kiêm gồm những mâu thuẫn, những mặt đối lập mà ở đời mấy ai (rất ít người) có thể làm được được: Văn (Thủ khoa, Tổng đốc, Phủ doãn) >< võ (Tham tán, Đại tướng). Bài Luận kẻ sĩ của ông nói rõ điều này.

Đó còn là sự kiêm gồm cả: Tay kiếm cung (dữ dội) >< dáng từ bi (hiền lành) ; gót tiên (thoát tục, già lão) >< một đôi dì (đầy trần tục, trẻ trung) ; Bụt (Phật với triết lí khổ hạnh, nghiêm trang) >< nực cười (con người lạc quan, hài hước, bao dung) ; được >< mất; khen >< chê; ca, tửu, cắc tùng (hành lạc, phóng lãng) >< Phật Tiên (thoát tục, tiết dục) ; ca, tửu, cắc tùng (hành lạc, tao nhã) >< tục (đời thường) ; Phật Tiên (thoát tục) >< tục (đời thường) ; Hàn, Nhạc (quan võ, nhập thế) >< Mai Phúc (quan văn, ẩn sĩ xuất thế) ; vua >< tôi; sơ >< chung. Như vậy, ngất ngưởng đối với Nguyễn Công Trứ không phải là lệch chuẩn, là phá bỏ mà chính là sự đa tài, đa nghệ và bản lĩnh cao cả của mình; là sự xuất chúng, quảng bác của bản thân. Điều đó lí giải những mâu thuẫn trong cuộc đời Nguyễn Công Trứ mà người ta đã từng đặt ra đối với ông. Không ôm gồm "mâu thuẫn" không phải Nguyễn Công Trứ!

2.4. Tổng kết lại toàn bộ cuộc đời "ngất ngưởng"

Chẳng Hàn, Nhạc cũng phường Mai Phúc,

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung.

Đời ai ngất ngưởng như ông.

Để tổng kết cuộc đời mình, một mặt, Nguyễn Công Trứ lấy những tấm gương trong lịch sử; mặt khác, khẳng định trực tiếp. Cái cách nói "chẳng.. Cũng.." cho thấy Nguyễn Công Trứ muốn khẳng định cả hai phương diện sự nghiệp (văn, võ), tức là vẫn cái mạch khẳng định sự "kiêm toàn" của mình ở các mặt tưởng chừng mâu thuẫn. Sự kiêm toàn đó còn được khẳng định bằng sự trọn vẹn của các cặp khái niệm: Vua – tôi; "sơ" (ban đầu) – "chung" (cuối cùng). Đó là hiện tượng cho thấy ông đã thực sự "đắc đạo" (theo cách nói của Thiền tông là không câu chấp vào những cặp đối lập, cũng như không câu chấp cả việc có câu chấp hay không, như Ỷ Lan nguyên phi từng nói: "Sắc không đều không câu chấp/ Mới lĩnh hội được chân tông" (Sắc không câu bất quản/ Phương đắc khế chân tông ). Hay theo cách nói của Lão Trang là "tề vật luận", vô chấp). Chính vì "đắc đạo" như vậy cho nên ông hoàn toàn có thể sống một cách "ngất ngưởng" và bộc lộ niềm tự hào (thậm chí tự phụ) về điều đó ở câu cuối bài thơ. Như trên đã trình bày, câu cuối này có hai dị bản "Trong triều ai ngất ngưởng như ông" và "Đời ai ngất ngưởng như ông" và có lẽ Nguyễn Công Trứ ngất ngưởng với cả "đời" (thế gian) chứ không chỉ "trong triều". Cái ngất ngưởng này là cái ngất ngưởng của ba cái ngất ngưởng trên cộng lại: Tài cao (sự nghiệp) ngất ngưởng, về hưu ngất ngưởng, sống đời sống ngất ngưởng. Đó là chân dung tự họa của Nguyễn Công Trứ.

*

* *

Trên đây là một số ý kiến của chúng tôi về văn bản và cách tiếp cận bài thơ. Nói về văn bản, dù ý kiến người đọc (dẫu chuyên nghiệp hay không) có chứng lí đến mấy thì nó cũng không thay thế được "thủ cảo" (nếu có) của tác giả. Nhưng, cho đến khi tìm được "thủ cảo" đó thì độc giả có quyền tạo dựng cho mình một văn bản lí tưởng nhất, tối ưu nhất. Văn bản chúng tôi xác lập chỉ là một phương án đề xuất với hi vọng đó. Nói về hướng tiếp cận bài thơ, cũng không thể có một tiếng nói cuối cùng cho một tác phẩm văn học đích thực, có giá trị. Đó là một hành trình khám phá. Hướng tiếp cận của chúng tôi cũng là một kiểu khám phá: Xuất phát từ tiêu đề bài thơ/ cũng là từ từ ngữ xuất hiện với tần số dày nhất trong tác phẩm, coi đó là "mã khóa" để mở cánh cửa đi vào thế giới nghệ thuật tác phẩm. Nếu có thể giúp chạm tới một trong những "ý tứ" của thế giới đó, thì ấy là một trong những điều lí tưởng của bài viết này. /.

Hà Nội, tháng 9/2010 – tháng 9/2011

N. T. T

[1] Trong Nguyễn Công Trứ trong dòng lịch sử, Đoàn Tử Huyến chủ biên, Nxb Nghệ An & Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2008.

[2] Nguyên bản Nôm duy nhất ở Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, kí hiệu A. 3075, ước chép vào quãng cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX.

[3] Trong Sự nghiệp và thi văn của Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ, Lê Văn Tân xuất bản, Hà Nội, 1928; Thơ văn Nguyễn Công Trứ, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1958 (soạn chung với Hoàng Ngọc Phách, Trương Chính).

[4] Trong Việt Nam ca trù biên khảo, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1962. Theo Đoàn Lê Giang thì thực chất văn bản trong Việt Nam ca trù biên khảo là theo văn bản của Văn đàn bảo giám (Trần Trung Viên biên soạn), xuất bản lần đầu từ 1926 đến 1938.

[5] Trong Năm thế kỉ văn Nôm người Nghệ, Nxb Nghệ An, Vinh, 1994.

[6] Đoàn Lê Giang, Vấn đề văn bản bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 2/2006.

[7] Xem Báo cáo đề dẫn, trong Kỉ yếu hội thảo Danh nhân văn hóa Nguyễn Công Trứ, Trường Đại học KHXH&NV, ĐH Quốc gia Hà Nội và Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch Hà Tĩnh, Hà Tĩnh, 2008.

[8] Thư Tân Thành, Thẩm Di, Từ Nguyên Cáo, Trương Tương (cb), Từ hải (chính tục biên hợp đính bản), Trung Hoa Thư Cục, Thượng Hải, 1947, trang 354.

[9] Từ hải (chính tục biên hợp đính bản), trang 327.

[10] Từ hải (chính tục biên hợp đính bản), trang 676.

[11] Từ hải (chính tục biên hợp đính bản), trang 679.

[12] Lại Văn Hùng. Tác giả Nguyễn Huy Quýnh và mười bài thơ họa thập cảnh Quan Lan sào, Tạp chí Hán Nôm, số 4/2003.

[13] Từ hải (chính tục biên hợp đính bản), trang 676.

[14] Vì thế, cách hiểu "vào nhòng" cũng không phải không có lí.

Post by: Vu Nguyen HNUE
 
Last edited by a moderator:
1,646 ❤︎ Bài viết: 1934 Tìm chủ đề

Phân tích Bài ca ngất ngưởng


Trong văn học, ngoài cái tôi lãng mạn, hào hoa khiến người ta say đắm thì còn một cái tôi ngang tàn, ngạo nghễ cũng không kém phần thu hút. Nếu như cái "ngông" của Nguyễn Tuân thể hiện ở sự phản ứng tiêu cực và đầy kiêu ngạo trước cuộc đời, ông thể hiện phong cách tài hoa của mình qua những trang viết lịch lãm, đặt mình lên trên thiên hạ thì Nguyễn Công Trứ cũng thể hiện sự "ngất ngưởng", phóng khoáng trong cả tài năng, trí tuệ lần cốt cách của ông. Điều đó được thể hiện rõ nét qua tác phẩm Bài ca ngất ngưởng. Có thể nói, bài thơ chính là lời khẳng định của nhà thơ về thái độ sống của mình với cuộc đời.

Bài ca ngất ngưởng được sáng tác năm 1848, Nguyễn Công Trứ từ quan về quê nhà sau hơn 30 năm ông làm quan dưới triều Nguyễn. Trong suốt hơn 30 năm, Nguyễn Công Trứ lúc làm lính thú, lúc cầm quân chinh chiến, khi lại làm đại quan ông đã từng vinh nhục kinh qua, thăng trầm có cả nên có thể nói bài thơ Bài ca ngất ngưởng vang lên như một lời tự thuật về cuộc đời, qua đó ông Hi Văn tự hào về tài năng, đức độ và công danh của mình, biểu lộ một cá tính, một phong cách sống tài tử, phóng khoáng ở đời. Bài hát nói này có hai khổ đôi, tất cả có 19 câu thơ đầy vần điệu, nhạc điệu trầm bổng, réo rắt, lúc khoan thai, lúc hào hùng, đọc lên nghe rất thú vị. Hát nói là một thể thơ dân tộc, có bố cục chặt chẽ, chất thơ, chất nhạc kết hợp rất hài hòa, hấp dẫn.

Mở đầu bài thơ là lời khẳng định của tác giả về quan niệm sống của một đấng làm trai:

"Vũ trụ nội mạc phi phận sự."

(Mọi việc trong vũ trụ chẳng có việc nào không là phận sự của ta).

Nguyễn Công Trứ muốn khẳng định cái ngông của chính mình, rằng mọi việc trên đời này đều là việc của ông. Đây chính là sự xác định được vị trí của bản thân, là tuyên ngôn của kẻ sĩ có tài. Nếu như các nhà văn thường chỉ bày tỏ cái nhìn của mình đối với những khía cạnh khác nhau của cuộc đời và cảm xúc của mình với một trong những khía cạnh đó thì Nguyễn Công Trứ ngược lại hoàn toàn, ông cho rằng đã là nam nhi trong thiên hạ thì không có một việc gì là không giải quyết được. Đấng làm trai cũng không bao giờ được trốn tránh những việc liên quan đến phận sự của mình trong thiên hạ, trong trời đất. Để chứng minh cho quan niệm này thì Nguyễn Công Trứ đã nêu ra cái bản ngã của cuộc đời mình:

"Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng

Khi thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.

Lúc bình Tây, cờ đại tướng,

Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên."


Là một người có kinh nghiệm làm quan trên 30 năm, tác giả kể ra những chức vụ mà mình đã từng đảm nhiệm trong suốt những năm tháng phụng sự cho đất nước ấy. Đó là: "Thủ khoa, Tham tán, Tổng đốc Đông..". Hẳn phải là một người tài giỏi, trí tuệ hơn người, thông minh, điều sự đều nhanh trí thì Nguyễn Công Trứ mới được giao cho nhiều trọng trách như vậy. Vì lẽ đó mà không một công việc gì mà tác giả chưa từng nếm trải qua, nên ông đã khẳng định với những đấng nam nhi còn lại trên cuộc đời này một lí lẽ chắc nịch như vậy. Những chứng cứ nhà thơ nêu ra rất xác đáng, là ví dụ không thể chối cãi cho lập luận ban đầu của ông.

Những tưởng chỉ khi làm quan, có chức có quyền thì Nguyễn Công Trứ mới bày tỏ cái tôi ngạo nghễ, phi thường đến như vậy nhưng không, kể cả trong cuộc sống thường ngày hay khi cáo quan về quê thì cái tôi ấy vẫn không hề mất đi mà còn tự do hơn:

"Đô môn giải tổ chi niên

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng"


Hình ảnh "đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng" cho thấy thái độ giễu cợt của tác giả đối với cuộc đời. Ông chưa từng thấy cái tôi của mình nhỏ bé, thấp hèn mà luôn thấy nó to lớn, sánh ngang với cuộc đời, để có thể hiển nhiên mà chế giễu. Đến cả Bụt cũng phải cười trước sự ngất ngưởng của nhà thơ:

"Kìa núi nọ phau phau mây trắng

Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi

Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng."


Từ giã cuộc đời làm quan, trở về với cuộc sống bình thường giản dị nhưng lối sống của Nguyễn Công Trứ lại không tầm thường một chút nào. Hình ảnh miêu tả thật hóm hỉnh "Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi", cũng dễ hiểu thôi bởi nhà thơ trước kia là một người ở chốn quan trường đầy xô bồ, mưu mẹo, nay sống một cuộc sống của người dân bình thường bỗng cảm thấy mình thật "từ bi". Ông đi lễ chùa mà cũng phải "Gót tiên đủng đỉnh một đôi dì". Quả thật, Nguyễn Công Trứ là một con người sống vô cùng phóng túng, sống hết mình mà chơi cũng hết mình. Ông luôn tỏ một thái độ hiên ngang, giễu cợt trước cuộc đời, khiến cho đến cả Bụt cũng phải cười trước sự "ngất ngưởng" của riêng ông. Có thể nói, mấy ai đạt được đến cái sự bất cần, ung dung như Nguyễn Công Trứ. Nhà thơ có được cái phong thái này bởi lẽ:

"Được mất dương dương người thái thượng

Khen chê phơi phới ngọn đông phong"


Chốn quan trường giờ đây đã chẳng còn có ý nghĩa đối với tác giả. Bởi ông không còn phải phục tùng bề trên, nghĩa lệnh cho cấp dưới nữa. Mọi khen, chê, thưởng, phạt của cuộc đời làm quan giờ chỉ là hư vô. Nhà thơ đã thoát khỏi cái vòng danh lợi luẩn quẩn, để được thỏa sức vẫy vùng khắp bốn phương. Cuộc sống ấy thật đáng ngưỡng mộ:

"Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng

Không Phật, không Tiên, không vướng tục."


Nhà thơ không còn phải vướng bận bất cứ điều gì trên trần thế, ông có thể vui chơi, đàn hát, uống rượu một cuộc sống tự do, tự tại hơn bao giờ hết. Trải qua biết bao nhiêu năm cống hiến và phụng sự cho triều Nguyễn, tác giả cuối cùng cũng được tận hưởng trọn vẹn cuộc sống của riêng mình một cách "ngất ngưởng" nhất. Thái độ, phong thái này vốn có từ khi nhà thơ bắt đầu làm quan nhưng càng thể hiện rõ nét hơn khi ông về già, về nghỉ hưu.

Ba câu thơ cuối nhà thơ khẳng định rằng "không có một ai ngất ngưởng bằng mình" :

"Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung

Trong triều ai ngất ngưởng như ông!"


Nguyễn Công Trứ khẳng định với mọi người rằng ông là một vị trung thần tận tâm với triều đình bằng lối so sánh với những bậc anh hùng như Nhạc Phi, Hàn Kì, Phú Bật.. Của đời Hán, Tống bên Trung Quốc. Công lao và những đóng góp của ông là vô cùng nhiều và to lớn. Giọng văn đĩnh đạc, hào hùng như là lời khẳng định đầy tự hào của tác giả về bản thân. Cho nên ông đã tuyên bố: "Trong triều ai ngất ngưởng như ông!" Câu thơ cuối cùng nói lên nội dung của toàn bài, là sự cắt nghĩa, lí giải về quan niệm làm một đấng nam nhi ở trong trời đất của nhà thơ. Bằng việc khẳng định thái độ sống của mình, ông muốn gửi tới những bậc nam nhi trong thiên hạ rằng phải biết vị trí của mình đối với trời đất, "trị quốc bình thiên hạ" là phận sự của mỗi người. Lời khẳng định tuy ngắn gọn mà xúc tích, bày tỏ sự chắc chắn trong chí hướng của một người đã từng làm quan.

Toàn bộ bài thơ với nội dung mà nó truyền tải, người đọc chắc chắn sẽ hiểu được cái "ngất ngưởng" trong thơ của Nguyễn Công Trứ. Bằng tài năng, kinh nghiệm và những đóng góp của mình cho non sông, đất nước, tác giả đã khiến cho mọi người ý thức hơn về trách nhiệm của mỗi con người, đặc biệt là người con trai đối với cuộc đời. Như vậy, cái tôi "ngất ngưởng" của nhà thơ không phải là một thái độ tiêu cực mà là sự khẳng định bản thân của mình, là bản lĩnh dám sống ở đời, và một phong cách sống tài hoa, tài tử.

Chỉ qua một bài thơ ngắn mà tác giả đã gửi gắm được toàn bộ lối sống và cái nhìn của mình trước cuộc đời. Thể thơ Nôm độc đáo với nhịp điệu rõ ràng, nhấn mạnh được phong thái hơn người của Nguyễn Công Trứ. Đọc bài thơ, ta thấy thêm cảm phục những người nam nhi đã cống hiến hết mình cho đất nước trong thời kì phong kiến, cũng thấy trân trọng thêm thái độ và tinh thần của tác giả đối với cuộc đời.
 

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back