Admin

Nothing to lose.. your love to win..
23,326 ❤︎ Bài viết: 3604 Tìm chủ đề
1964 2
Bài ca ngất ngưỡng là bài thơ được Nguyễn Công Trứ sáng tác khi vừa trả lại phong ấn để về quê nghỉ hưu sau năm 1848. Bài thơ như một bảng tổng kết cuộc đời của tác giả với những sự "ngất ngưởng" của mình: Trí tuệ, tài năng, cả cốt cách, cá tính và triết lí. Khúc ca trác tuyệt viết bằng thể Hát nói này là tài hoa và khí phách của "Ông Hi Văn"

Cảm hứng chủ đạo của bài thơ được gợi lên bởi từ "ngất ngưởng". Từ này mang ý nghĩa gợi tư thế không chắc chắn, dễ bị ngã đổ, chao nghiêng. Trong bài thơ, "ngất ngưởng" được Nguyễn Công Trứ diễn tả mang hàm ý nói về tư thế, thái độ sống phóng khoáng, tự do và có phần ngang tàng của ông. Qua cảm hứng ấy, có thể thấy phần nào thấy được việc Nguyễn Công Trứ tự nhận thức như thế nào về bản lĩnh, khí khái của mình. Đó cũng nét tính cách mà ông bộc lộ trong suốt quá trình làm quan và kể cả khi đã cáo lui về hưu.

55448527197_1d1ee237b7_o.png


Bài ca ngất ngưởng


Vũ trụ nội mạc phi phận sự

Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng

Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng

Lúc bình Tây, cờ đại tướng

Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên

Đô môn giải tổ chi niên

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng

Kìa núi nọ phau phau mây trắng

Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi

Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng

Được mất dương dương người tái thượng

Khen chê phơi phới ngọn đông phong

Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng

Không Phật, không tiên, không vướng tục

Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung

Trong triều ai ngất ngưởng như ông!

20260808-015206-f7084640ab.png


Cảm nhận Bài ca ngất ngưởng​


Có những người càng cố hòa vào đám đông càng dễ được chấp nhận, nhưng Nguyễn Công Trứ dường như chọn cách ngược lại: Sống giữa những khuôn phép mà vẫn giữ nguyên cá tính của mình. Bài ca ngất ngưởng vì thế mang đến hình ảnh một con người tài năng, tự tin, ngang tàng, có phần khác đời nhưng tuyệt nhiên không phải kiểu ngông nghênh vô trách nhiệm.

Điều thú vị là Nguyễn Công Trứ chẳng hề khiêm nhường khi nói về chính mình. Ông biết mình có tài và cũng không ngại nhắc đến những gì mình từng làm được. Từ khoa bảng đến quan trường, từ việc cầm quân đến đảm nhiệm những trọng trách khác nhau, cuộc đời ấy đủ để ông có quyền tự hào. Nhưng phía sau sự tự tin ấy không đơn thuần là khoe công trạng. Đó còn là ý thức rất rõ về giá trị của bản thân: Đã có tài thì phải đem tài ấy ra giúp đời.

Đến khi rời quan trường, con người ấy càng trở nên phóng khoáng. Cưỡi bò vàng, lên chùa mà có những cô gái trẻ đi theo, để đến mức "Bụt cũng nực cười" – Nguyễn Công Trứ dường như cố tình làm những điều trái với cách ứng xử thông thường. Nhưng cái "ngất ngưởng" ấy không phải sự nổi loạn vô nghĩa. Ông đã đi qua đủ thăng trầm để hiểu rằng lời khen tiếng chê của thiên hạ rồi cũng chỉ như gió thoảng. Điều quan trọng là mình sống thế nào với chính mình.

Có lẽ đáng quý nhất là giữa một con người tưởng như chẳng chịu bất cứ sự ràng buộc nào, Nguyễn Công Trứ vẫn giữ một giới hạn rất rõ. Ông có thể coi nhẹ được mất, chẳng bận tâm khen chê, sống theo sở thích, nhưng với trách nhiệm đối với đất nước và đạo vua tôi thì vẫn trước sau trọn vẹn. Bởi vậy, "ngất ngưởng" ở đây không phải quay lưng với mọi chuẩn mực, mà là dám vượt qua những định kiến vụn vặt trong khi vẫn giữ những nguyên tắc lớn của đời mình.

Câu cuối vang lên đầy kiêu hãnh: Giữa chốn quan trường, còn ai có thể sống được như ông? Một câu hỏi nhưng cũng là lời tự khẳng định. Nguyễn Công Trứ biết mình khác người và ông tự hào về sự khác biệt ấy. Chính bản lĩnh sống thật với mình đã khiến hình tượng Nguyễn Công Trứ trong bài thơ vừa ngang tàng, thú vị, vừa khiến người đọc phải nể phục.
 
Last edited by a moderator:
1,648 ❤︎ Bài viết: 1936 Tìm chủ đề

Phân tích tác phẩm Bài Ca Ngất Ngưởng


Bài ca ngất ngưởng thường được tiếp nhận như tuyên ngôn về một cái tôi ngông nghênh, tài tử và phóng khoáng của Nguyễn Công Trứ. Cách hiểu đó có cơ sở, nhưng nếu chỉ đồng nhất "ngất ngưởng" với hành vi khác người thì chưa thể giải thích hết cấu trúc của tác phẩm. Ngay phần đầu, chữ "ngất ngưởng" không gắn với cưỡi bò, uống rượu hay thú vui mà gắn với "thao lược". Vì thế, "ngất ngưởng" cần được nhìn như một khái niệm nhiều tầng nghĩa.

Trước hết cần lưu ý rằng tác phẩm tồn tại qua nhiều dị bản. Một nghiên cứu của Khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội ghi nhận bốn dị bản chính và cho thấy một số câu, chữ có khác biệt đáng kể, đặc biệt ở phần cuối. Bài viết này phân tích theo văn bản có câu "Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú" và "Trong triều ai ngất ngưởng như ông" như văn bản đang xét.

Mạch thơ khởi đi từ:

"Vũ trụ nội mạc phi phận sự"

Cấu trúc phủ định kép làm ý thơ trở nên quyết liệt: Không có việc nào trong trời đất hoàn toàn nằm ngoài phận sự của con người mang chí lớn. Đây là nền móng tư tưởng cho toàn bộ đoạn nói về công danh.

"Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng"

Nếu hiểu "vào lồng" đơn giản là một tài năng bị quan trường trói buộc thì dễ tạo ra mâu thuẫn với câu trước. Chính vì coi việc đời là phận sự nên ông mới nhập thế. Một hướng nghiên cứu hiện nay đề nghị hiểu việc "vào lồng" như đi vào guồng máy quan chức để thi hành phận sự và thể hiện khả năng "kinh bang tế thế", thay vì chỉ coi đó là sự giam hãm tài năng.

Điều đó càng có cơ sở khi nhà thơ nói:

"Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng"


Chữ "ngất ngưởng" lần đầu tiên xuất hiện bên cạnh "thao lược". Trong tầng nghĩa này, nó gần với sự nổi trội, đạt tới vị trí cao bằng thực tài. "Thủ khoa" là đứng đầu khoa thi Hương; "Tổng đốc Đông" liên quan đến việc quản lĩnh Hải Yên.

Tầng nghĩa thứ hai xuất hiện sau khi ông từ quan:

"Đô môn giải tổ chi niên

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng"


Ở đây "ngất ngưởng" đã chuyển rõ sang nét nghịch thường. Cái đạc vốn dành cho ngựa được treo trên bò tạo nên một sự lệch chuẩn đầy tính hài hước. Con người từng đứng trong hệ thống lễ nghi nay cố ý sắp xếp lại các ký hiệu của nó theo ý mình.

Từ:

"Kìa núi nọ phau phau mây trắng"

Không gian quan trường được thay bằng không gian núi mây. Nhưng Nguyễn Công Trứ không đi từ nhập thế sang xuất thế theo một đường thẳng. "Tay kiếm cung" chuyển thành "dạng từ bi", song "gót tiên" lại có "một đôi dì" theo sau. Cách đặt những cực đối lập cạnh nhau làm cho nhân vật trữ tình không thể bị quy về một kiểu mẫu duy nhất.

Đến hai câu:

"Được mất dương dương người tái thượng

Khen chê phơi phới ngọn đông phong"


Cái "ngất ngưởng" đạt tới phương diện tinh thần. "Người tái thượng" gợi điển Tái ông mất ngựa: Phúc họa, được mất khó có thể đánh giá tức thời và tuyệt đối. "Đông phong" là gió xuân; nghiên cứu văn bản còn liên hệ với ý niệm gió xuân thổi qua tai ngựa, gợi thái độ không bận lòng trước lời bên ngoài.

Như vậy, tự do của Nguyễn Công Trứ không còn nằm ở hành động gây chú ý mà nằm ở khả năng không để đánh giá xã hội kiểm soát tâm thế của mình.

"Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng

Không Phật, không tiên, không vướng tục"


Lại dựng lên một thế cân bằng khác. Ông không chọn con đường tu hành để rời bỏ cõi đời, nhưng cũng không coi việc hưởng thú vui là đồng nghĩa với chìm vào tục lụy. Cái tôi đứng giữa các đối cực mà không bị một phía nào nuốt mất.

Ba câu cuối đưa nhân vật trở lại với hệ giá trị Nho gia:

"Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung"

Đây là điểm rất quan trọng. "Ngất ngưởng" không phá hủy nền tảng đạo nghĩa mà Nguyễn Công Trứ tự thừa nhận. Ông phá bỏ những ràng buộc hình thức nhưng vẫn muốn khẳng định sự nhất quán trong trách nhiệm.

Vì thế, "Trong triều ai ngất ngưởng như ông!" có thể được đọc như lời tổng kết của một cá nhân đã tự xây dựng thước đo cho mình. Nó có sự tự phụ, nhưng là sự tự phụ của một người ý thức rất rõ rằng quyền khẳng định bản thân phải được bảo chứng bằng tài năng, sự nghiệp và bản lĩnh.

Từ góc nhìn ấy, Bài ca ngất ngưởng không đơn thuần ca ngợi cái "ngông". Tác phẩm biểu hiện một cá nhân muốn đạt đến trạng thái tự chủ: Nhập thế mà không mất mình, hưởng đời mà không chìm trong đời, khác chuẩn mực bên ngoài nhưng vẫn giữ nguyên tắc bên trong.

Mẫu 2: Phong cách gần gũi, dễ hiểu​


Điều làm Bài ca ngất ngưởng thú vị là Nguyễn Công Trứ dường như chẳng hề cố tỏ ra khiêm tốn. Ông nói mình tài, kể những chức vụ mình từng giữ, kể cả chuyện cưỡi bò, đi chơi, uống rượu rồi cuối cùng còn hỏi có ai "ngất ngưởng" như mình hay không. Nếu một người bình thường nói như vậy, rất có thể người nghe sẽ thấy khoe khoang. Nhưng với Nguyễn Công Trứ, đằng sau lời nói ấy là cả một quan niệm sống.

Trước hết, ông là người coi trọng trách nhiệm:

"Vũ trụ nội mạc phi phận sự"

Nói đơn giản, đã sống trong trời đất thì phải có việc để làm, có phần trách nhiệm để gánh. Vì thế, Nguyễn Công Trứ không lựa chọn sống ngoài cuộc ngay từ đầu.

Ông bước vào quan trường và đã đi qua nhiều vị trí:

"Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông.."

Không cần né tránh, ông kể thẳng những gì mình từng đạt được. Đó là cách một con người tự ý thức rất rõ về năng lực của bản thân.

Thú vị nhất là khi ông về hưu:

"Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng"

Thay vì dựng cảnh một vị quan già rời kinh thành trong không khí buồn bã, Nguyễn Công Trứ lại tạo ra một cảnh có phần hài hước. Ông không biến việc rời quyền lực thành bi kịch.

Sau đó, cuộc sống của ông càng tự do:

"Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng"


Ông đi chùa nhưng không cố đóng vai một người hoàn toàn thoát tục. Ông vẫn mang theo những thú vui của một con người yêu cuộc sống. "Bụt cũng nực cười" khiến cả cảnh thơ như có một nụ cười bao dung.

Nhưng phần mình thích nhất trong bài có lẽ là:

"Được mất dương dương người tái thượng

Khen chê phơi phới ngọn đông phong"


Sống ở đời, con người thường mệt vì hai chuyện: Mình được hay mất gì và người khác nghĩ gì về mình. Nguyễn Công Trứ lại muốn đặt cả hai xuống.

Đó mới là tự do khó đạt được.

Ông vẫn uống rượu, ca hát:

"Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng"

Nhưng không phải vì thất vọng với cuộc đời. Trái lại, đó là một thái độ vui sống.

Điều quan trọng là cuối cùng nhà thơ vẫn khẳng định:

"Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung"

Như vậy, ông không sống kiểu "thích gì làm nấy" bất chấp hậu quả. Có những thứ ông xem nhẹ như dư luận, được mất; nhưng cũng có những điều ông coi là nguyên tắc, như trách nhiệm và đạo nghĩa.

Vì vậy, "ngất ngưởng" không có nghĩa là cố tình lập dị. Nếu phải rút ra một cách hiểu ngắn nhất thì có lẽ đó là: Biết mình có giá trị, làm hết trách nhiệm của mình rồi sống theo cách mình tin là đúng, không để thiên hạ khen chê quyết định mình là ai.

Đó cũng là lý do bài thơ đã ra đời từ thế kỉ XIX nhưng tinh thần của nó vẫn khiến người đọc hôm nay cảm thấy gần gũi.

Mẫu 3: Phong cách học sinh giỏi​


Có những nhà thơ để lại dấu ấn bằng một thế giới nghệ thuật; cũng có những nhà thơ khiến người đọc nhớ đến trước hết bởi một tư thế sống. Với Nguyễn Công Trứ, "ngất ngưởng" gần như đã trở thành một dấu hiệu nhận diện. Tuy nhiên, giá trị của Bài ca ngất ngưởng không nằm ở việc dựng lên một nhân vật cố ý khác đời, mà ở chỗ từ một đời người cụ thể, tác giả đặt ra mối quan hệ giữa tài năng và khuôn phép, giữa trách nhiệm và tự do, giữa đánh giá của xã hội và giá trị tự thân của cá nhân.

Câu mở đầu:

"Vũ trụ nội mạc phi phận sự"

Lập tức xác định tầm vóc tinh thần của nhân vật trữ tình. Vũ trụ rộng lớn không làm con người thu nhỏ lại; ngược lại, nó đánh thức ý thức gánh vác. Đây là quan niệm nhập thế tích cực: Con người phải nhận phần trách nhiệm của mình trước cuộc đời.

Bởi vậy:

"Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng"

Không đơn giản chỉ diễn tả bi kịch của một tài năng bị công danh trói buộc. Từ "vào lồng" có thể chứa sắc thái tự trào, nhưng trong logic của đoạn thơ, bước vào quan trường cũng là bước vào nơi tài năng được thực chứng.

"Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng"


Đây là lần đầu từ khóa "ngất ngưởng" hiện ra. Đáng chú ý, nó gắn với "thao lược", tức năng lực thực tế. Tự ý thức cá nhân ở Nguyễn Công Trứ vì thế không phải một tuyên ngôn trừu tượng. Ông định vị bản thân bằng điều mình đã làm.

Danh vị được liệt kê liên tiếp nhưng mục đích cuối cùng không phải ca ngợi chức tước. Chức tước trở thành chứng tích cho một quá trình nhập thế. Bởi nếu Nguyễn Công Trứ thực sự tuyệt đối hóa quyền lực, ngày về hưu khó có thể được tái hiện bằng một hình ảnh vui nhộn đến vậy:

"Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng"

Sự trang nghiêm của nghi thức bị chuyển hóa thành trò đùa. Con bò vàng mang đạc ngựa khiến hệ thống biểu tượng về địa vị bỗng trở nên nhẹ tênh.

Nguyễn Công Trứ từ chối để chức vị trở thành bản chất của mình.

Chính ở đây, "ngất ngưởng" chuyển từ tài năng sang tự do cá nhân.

"Kìa núi nọ phau phau mây trắng

Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi"


Không gian cũng chuyển đổi: Từ triều đình, chiến trận sang núi mây. "Kiếm cung" và "từ bi" tưởng đối nghịch nhưng lại cùng tồn tại trong một đời người. Nguyễn Công Trứ không phủ định quá khứ để có hiện tại; ông dung chứa cả hai.

Tiếp theo là một nghịch cảnh đầy chất tài tử:

"Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng"


Nếu "gót tiên" hướng về cõi thanh sạch thì "một đôi dì" lại đưa con người trở lại với vẻ đẹp và thú vui trần thế. Nguyễn Công Trứ đứng ngay giữa hai phía. Ông không chọn thành Phật, cũng chẳng nhận mình là kẻ tục.

Sự vận động ấy được đẩy đến chiều sâu triết lí ở:

"Được mất dương dương người tái thượng

Khen chê phơi phới ngọn đông phong"


Ở đây, Nguyễn Công Trứ đã vượt qua hai cơ chế thường dùng để ràng buộc con người: Lợi ích và dư luận.

Được – mất đánh vào ham muốn.

Khen – chê đánh vào lòng tự ái.

Khi cả hai không còn đủ sức làm chủ con người, cái tôi đạt tới một trạng thái tự do bên trong.

Điển "người tái thượng" gợi chuyện Tái ông mất ngựa, nơi điều tưởng là họa có thể hóa phúc và ngược lại. Vì hiểu tính tương đối của được – mất, con người có thể "dương dương". Còn khen – chê chỉ như "đông phong", một ngọn gió đi qua.

Từ trạng thái tự do ấy mới xuất hiện:

"Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng"

Nhịp thơ ngắn, đều và vui như tiếng phách. Nguyễn Công Trứ không xem hưởng thụ là điều phải giấu. Ông đưa đời sống cá nhân vào thơ một cách ngang nhiên.

Nhưng nếu bài thơ dừng ở đó, "ngất ngưởng" rất dễ biến thành chủ nghĩa hưởng lạc. Nguyễn Công Trứ lập tức thiết lập giới hạn:

"Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung"

Đây là chiếc neo giữ toàn bộ cái tôi phóng túng không trôi sang cực đoan. Con người có quyền không phục tùng mọi ánh mắt xã hội, nhưng không vì thế mà được phép phủ nhận trách nhiệm mình đã lựa chọn.

Do đó, câu cuối:

"Trong triều ai ngất ngưởng như ông!"

Vừa là câu hỏi tu từ vừa là một tuyên ngôn về bản ngã. Trong câu thơ có tự hào, có tự phụ, có cả tiếng cười. Nhưng đằng sau tất cả là niềm tin rằng ông đã đủ tư cách để tự nói về mình.

Thành công nghệ thuật của tác phẩm trước hết thuộc về thể hát nói với khả năng biến hóa độ dài câu, nhịp điệu và giọng điệu. Hán Việt trang trọng đứng cạnh lời Nôm đời thường; chuyện công danh đứng cạnh chuyện cưỡi bò; cửa Phật đứng cạnh bóng dáng những cô gái; suy tư triết lí đứng cạnh rượu và tiếng hát. Hình thức bài thơ vì thế cũng "ngất ngưởng" giống chính con người trong bài.

Bài ca ngất ngưởng cuối cùng cho thấy một quan niệm rất đáng suy ngẫm về cá tính. Cá tính không phải hành động khác người để được chú ý. Tự do cũng không phải phủ nhận mọi quy tắc. Cái tôi của Nguyễn Công Trứ đáng nhớ bởi nó có nền móng: Có thực tài nên dám tự tin, có thực nghiệp nên dám tự hào, đã làm tròn điều mình xem là trách nhiệm nên mới có thể thảnh thơi trước được – mất và khen – chê.

Có lẽ bởi vậy mà chữ "ngất ngưởng" sau khi đi hết bài thơ không còn mang dáng vẻ chênh vênh. Trái lại, phía sau cái dáng tưởng như nghiêng ngả ấy là một con người đứng rất vững trong ý thức về chính mình.
 

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back