960
4
Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ là một tác phẩm tiêu biểu cần được phân tích kỹ trong chương trình Ngữ văn 11. Đoạn dàn ý và phân tích này sẽ giúp người học nắm vững bối cảnh sáng tác, nội dung và nghệ thuật của bài hát nói mang dấu ấn cá nhân mạnh mẽ. Trước hết cần điểm qua vài nét về tác giả: Nguyễn Công Trứ có sự nghiệp quan trường thăng trầm, vừa được thăng chức nhờ tài năng vừa bị giáng chức vì cá tính ngông nghênh, sáng tác hầu hết bằng chữ Nôm và nổi bật với phong cách mạnh mẽ, tự khẳng định cái tôi. Về tác phẩm, Bài ca ngất ngưởng thuộc thể loại hát nói tự do, sáng tác khi tác giả cáo quan về quê, cấu trúc rõ ràng thành ba phần: Ngất ngưởng khi làm quan, ngất ngưởng khi cáo quan về quê và khẳng định quan niệm sống. Cảm hứng chủ đạo là thái độ ngất ngưởng, vừa là tự tin vào tài năng thực, vừa là lối sống không chấp nhận uốn mình theo lễ giáo. Phân tích sẽ làm rõ cách tác giả dùng giọng khoa trương, trào phúng, vận dụng điển tích điển cố và hình ảnh đối lập để biểu đạt quan niệm sống tự do, dửng dưng trước danh lợi và tinh thần trách nhiệm với đất nước. Dàn ý sẽ dẫn dắt từ phân tích chi tiết từng đoạn đến tổng kết ý nghĩa nhân sinh và giá trị nghệ thuật của bài thơ.
Văn bản Bài ca ngất ngưởng
Vũ trụ nội mạc phi phận sự
Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng
Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng
Lúc bình Tây, cờ đại tướng
Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên
Đô môn giải tổ chi niên
Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng
Kìa núi nọ phau phau mây trắng
Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi
Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng
Được mất dương dương người tái thượng
Khen chê phơi phới ngọn đông phong
Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng
Không Phật, không tiên, không vướng tục
Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú
Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung
Trong triều ai ngất ngưởng như ông!
Dàn ý Phân tích Bài ca ngất ngưởng - Nguyễn Công Trứ
1. Vài nét về tác giả
Sự nghiệp thăng trầm:
Nhiều lần được thăng chức: Tài giỏi
Bị giáng chức: Cá tính, ngông
Sáng tác hầu hết bằng chữ Nôm
Phong cách sáng tác: Mạnh mẽ, có cá tính riêng, luôn khẳng định mình
2. Tìm hiểu chung về tác phẩm
Thể loại hát nói: Tự do, mang dấu ấn riêng của tác giả
Hcst: Khi NCT cáo quan về quê sống thanh nhàn
Bố cục 3 phần
Phần 1: Ngất ngưởng khi làm quan
Phần 2: Ngất ngưởng khi về hưu
Phần 3: Quãng đời khi cáo quan về quê: Khẳng định quan niệm sống.
Cảm hứng chủ đạo: "Ngất ngưởng"
⇒ gợi hình ảnh: Ở vị trí cao, dễ lung lay
⇒ người "ngất ngưởng" : Người có tài năng xuất chúng, hơn người
⇒ Khẳng định/ đề cao tài năng của bản thân, ngông cuồng, kiêu ngạo⇒ dựa trên năng lực có thực của bản thân.
⇒ Ngất ngưởng thực chất là phong cách sống tôn trọng trung thực, cá tính, không chấp nhận "khắc kỉ phục lễ" uốn mình theo lễ và danh giáo của Nho gia
3. Phân tích tác phẩm
A. Ngất ngưởng khi làm quan
Vũ trụ nội mạc phi phận sự
Câu thơ chữ Hán: Tuyên bố một cách trang trọng
- > quan niệm về chí làm trai: Hết thảy chuyện trong trời đất đều là phận sự của ta
- Quan niệm làm trai đương thời: "Làm trai phải lạ ở trên đời", "Chí làm trai Nam Bắc Tây Đông/ Cho thỏa sức vẫy vùng trong bốn bể" ⇒ Làm trai là phải: Mạnh mẽ, bản lĩnh, khẳng định/ ghi dấu ấn trên đời, cống hiến, làm những việc lớn lao.
⇒ tiến bộ, đúng đắn ⇒ tự tin, bản lĩnh, kiêu hãnh, ý thức trách nhiệm sâu sắc.
Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng
Hi Văn: Bút danh ⇒ Hi: Hi hữu, hiếm thấy; Văn: Văn chương + tự xưng "Ông" ⇒ khẳng định, tự đề cao tài năng hơn người
Tài bộ: Tài nghệ văn chương hiếm có, hơn người
⇒ giọng khoa trương, kiêu hãnh, nhưng không gây khó chịu
Đã vào lồng: Đi làm quan ⇒ sự tù túng, mất tự do
NCT chấp nhận đánh đổi cơ hội tự do phát triển tài văn chương của bản thân để ra làm quan vì ông muốn đem tài năng của mình để giúp nước cứu đời.
⇒ yêu nước thương dân với lí tưởng cao đẹp.
Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng
Lúc bình Tây, cờ đại tướng
Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên
- Liệt kê: Những chức vụ đã từng đảm nhận ⇒ văn võ song toàn
- Điệp từ khi + lúc + có khi: Nhiều lần thay đổi chức vụ ⇒ đường công danh lận đận
⇒ khoe khoang sự nghiệp
⇒Tiểu kết: Khoe khoang tài năng và sự nghiệp, thái độ ngông cuồng, bất cần, cá tính
B. Ngất ngưởng khi cáo quan
Đô môn giải tổ chi niên
Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng
Kìa núi nọ phau phau mây trắng
Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi
Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng
Được mất dương dương người thái thượng
Khen chê phơi phới ngọn đông phong
Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng
Không Phật, không tiên, không vướng tục
Hoạt động thường ngày: Cưỡi bò vàng đeo nhạc ngựa đi ngắm cảnh; đưa ả đào lên chùa
Bò: Dân dã, nhạc ngựa: Xa xỉ
Ả đào: Dung tục, lả lơi, chùa: Chốn trang nghiêm
⇒ kết hợp những thứ hoàn toàn trái ngược, không phù hợp ⇒ kì lạ, quái dị, độc đáo, bất cần, không quan tâm miệng lưỡi thiên hạ
Quan niệm sống:
"Được mất" : "Dương dương" ⇒ dửng dưng, không để tâm, ung dung; "người thái thượng"
⇒ từng trải, sõi đời, thông tuệ, tinh thông
⇒ tự cho mình là người tinh thông thói đời, không quan tâm đến chuyên được mất.
"Khen chê" : "Phơi phới ngọn đông phong"
⇒ không để tâm, không bị ảnh hưởng
⇒ không bị tác động bởi yếu tố bên ngoài, sống đơn giản theo bản năng, vui với chính bản thân, ung dung tự tại
Khi "ca, tửu, cắc, tùng" : Hoạt động giải trí, vui thú đa dạng, phong phú ⇒ cuộc sống an nhàn, không đơn điệu.
"Không Phật, không tiên, không vướng tục"
⇒ Nghĩa 1: Vô thần (số phận ở trong tay mình), không dung tục, thác loạn
⇒ Nghĩa 2: Đánh giá bản thân không phải là tiên/ Phật nhưng vẫn có lối sống thoát tục (không vướng vào hỉ nộ ái ố, tranh đua hơn thua)
⇒ Phong cách sống: Sống cho bản thân, chính trực, thanh cao ⇒ kì lạ, khác người, mang dấu ấn riêng ⇒ "NGẤT NGƯỞNG".
C. Quan niệm sống ngất ngưởng
Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú
Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung
Trong triều ai ngất ngưởng như ông!
Điển tích điển cố: Trái, Nhạc, Hàn, Phú ⇒ tự ví mình sánh ngang các nhà hiền triết, nho sĩ, vĩ nhân TQ
"nghĩa vua tôi vẹn đạo sơ chung" : Tấm lòng trung quân trước sau như một → củng cố cho quan niệm làm trai ở phần mở đầu
Trong triều ai ngất ngưởng như ông!
⇒ câu hỏi tu từ: Khẳng định, đề cao cách sống "ngất ngưởng" → ngất ngưởng ở thái độ đánh giá và công nhận bản thân, sống một cách đầy bản lĩnh, hào hoa lãng tử → vượt ra khỏi chuẩn mực Nho gia thông thường.
D. Tổng kết
Về nội dung:
Thái độ coi thường danh lợi, vượt lên thói thường để sống cuộc sống tự do tự tại.
Bộc lộ một bản lĩnh cứng cỏi, sự thức tỉnh ý thức cá nhân
Thể hiện rõ một nhân sinh quan tiến bộ hiện đại.
Về nghệ thuật:
Thể loại hát nói
Giọng khoa trương trào phúng
Vận dụng điển tích, điển cố
E. Phân tích 6 câu đầu
Ngay từ tên đầu bài thơ, hai chữ "ngất ngưởng" đã khiến cho ta cảm nhận được những điều khác lạ của tác giả. Ít có một tác giả nào vào thời đại ấy lại đặt hai chữ "ngất ngưởng" vào ngay cái đề bài thơ. Đó hẳn cũng là một điều ngất ngưởng.
Rồi sau đó ngay câu đầu tiên tác giả đã nhận định:
Vũ trụ nội mạc phi phận sự
Không có việc gì trong nhân gian này, trong vũ trụ này không phải việc của ông. Việc nào cũng là việc của ông. Đó không phải sự kiêu ngạo, sự tự cao mà chính là sự đánh giá đúng nhất về bản thân mình, về sự nghiệp của mình. Không một chút tự ti, ông đã đứng lên chỉ rõ vai trò to lớn của mình, chẳng phải ông đã nói rằng:
Đã mang tiếng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông
Đó sao?
Nhưng cũng chính vì cái phận sự đó, phải có cái danh với đời, với người đó lẽ ra ông phải sung sướng khi được ra làm quan, làm người cai quản, trông coi cuộc sống cùa nhân dân, nhưng không ông coi như khi đó ông đã "vào lồng"
Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng
Tại sao được làm công việc mình mong muốn, ao ước mà ông coi như sự đè nén, gò bó. "Cái lồng" ở đây chính là cái bộ máy, cái xã hội phong kiến lúc bấy giờ. Cái xã hội mà việc đổi trắng thay đen, sự ganh ghét, đố kỵ xảy ra như cơm bữa. Khi bước chân vào chốn quan trường cũng là lúc Nguyễn Công Trứ biết rằng ông sẽ bị chi phối, sẽ phải làm những việc mà bản thân không muốn. Mặc dù có tài nhưng Nguyễn Công Trứ biết rằng một mình ông thì đâu có thể thay đổi nổi một chế độ đã tồn tại lâu đến như vậy. Tuy nhiên trong câu thơ này, Nguyễn Công Trứ vẫn thể hiện được cái "ngất ngưởng" của mình. Ông đã dám gọi chốn quan trường, xã hội lúc bấy giờ là cái lồng. Đó gần như một cái tát vào mặt bộ mấy quan lại, triều đình vì trước nay có ai dám ngông cuồng như vậy. Trong xã hội phong kiến cũng không ít những nhà nho tiến bộ, những người có ý tưởng phản kháng lại chế độ. Nhưng cũng chẳng mấy ai dám khẳng định lại điều đó trước toàn thể mọi người mà nhất là trên giấy trắng mực đen như Nguyễn Công Trứ. Đó phải chăng chính là sự phá cách của Nguyễn Công Trứ.
Nguyễn Công Trứ có được sự "chơi ngông" đó cũng bởi một phần ông biết là ông có tài, điều đó chẳng cần giấu giếm:
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.
Một lần nữa Nguyễn Công Trứ "ngất ngưởng", lần này ông "ngất ngưởng" vì hãnh diện về cái tài của ông. Nguyễn Công Trứ đã thể hiện được rất rõ cái tôi của mình trong câu thơ này.
Nhưng cũng chính vì có tài, lại mang những tư tưởng tiến bộ nên Nguyễn Công Trứ đã không ít lần phải "lên voi, xuống chó" :
Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông,
Lúc bình Tây, cờ đại tướng,
Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên.
Đó cũng là điều dễ hiểu trong chốn quan trường đầy ghen ghét đố kỵ, mưu hại lẫn nhau. Nguyễn Công Trứ tỏ ra rất thản nhiên đón nhận điều đó. Điệp từ "khi.. Khi" tuy dồn dập nhưng lại mang hơi thở bình thản, đón nhận một cách tự nhiên, vì vậy mà ông cũng đã nói:
Được mất dương dương người tái thượng
Khen chê phơi phới ngọn đông phong
Với Nguyễn Công Trứ, sự nghiệp là quan trọng nhưng ông cũng không quá coi trọng danh lợi. Với ông dù làm ở vị trí nào miễn là được đem sức giúp đời, giúp dân là ông đã thỏa được cái chí làm trai. Đó cũng chính là sự khác biệt của ông với quan lại bấy giờ và thể hiện được sự "ngất ngưởng" của ông.
Bài ca ngất ngưởng như một câu chuyện kể về cuộc đời của tác giả Nguyễn Công Trứ. Nhưng qua đó ta lại thấy hiện lên hình ảnh một con người, với chí làm trai cao cả, một cái tôi sánh ngang với trời đất, một sự "ngất ngưởng" không hề gây khinh ghét mà là cả một sự đáng kính nể, khâm phục.
Mẫu 2: Phong cách cảm nhận
Đọc Bài ca ngất ngưởng, người ta có cảm giác như đang nhìn thấy Nguyễn Công Trứ đi qua chính cuộc đời mình với một nụ cười. Khi ở chốn quan trường, ông đứng giữa công danh mà không hề nhỏ bé. Khi rời quan trường, ông cưỡi bò thong dong trở về. Khi người đời bận lòng vì được mất, khen chê, ông lại "phơi phới ngọn đông phong". Đằng sau tất cả những hình ảnh ấy là một con người có một thứ rất khó có được: Sự tự tin vào giá trị của chính mình.
"Vũ trụ nội mạc phi phận sự"
Câu thơ mở ra một không gian rộng lớn. Trước vũ trụ ấy, Nguyễn Công Trứ không lùi lại mà nhận lấy trách nhiệm. Đó là tư thế của một con người muốn nhập cuộc, muốn làm việc, muốn để tài năng của mình có ích cho đời.
Vì thế mới có một "ông Hi Văn tài bộ" bước "vào lồng". Con đường quan trường có những khuôn phép riêng, nhưng chính ở đó tài năng của ông được thử thách:
"Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng"
Những chức vị nối tiếp nhau khiến câu thơ như mang nhịp bước của một cuộc đời nhiều trải nghiệm. Ở đây có niềm tự hào rất rõ, nhưng lại là niềm tự hào của người đã hành động chứ không phải lời khoe khoang trống rỗng.
Rồi đến ngày rời quan trường:
"Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng"
Chỉ một hình ảnh đã đủ làm cả bài thơ đổi sắc. Không còn sự trang nghiêm của chức tước, chỉ còn một con bò vàng và tiếng đạc ngựa rung lên trên đường về. Cái thú vị nằm ở chỗ Nguyễn Công Trứ dường như cố tình biến giây phút rời bỏ quyền chức thành một cuộc dạo chơi.
Phía trước là:
"Kìa núi nọ phau phau mây trắng"
Một không gian thanh sạch và khoáng đạt mở ra. Người từng "tay kiếm cung" nay mang "dạng từ bi". Tưởng như ông sẽ trở thành một ẩn sĩ hoàn toàn xa lánh cõi đời, nhưng không:
"Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng"
Cái hay của Nguyễn Công Trứ nằm ở đó. Ông không để mình bị đóng khung vào bất cứ hình mẫu nào. Đã đi chùa chưa chắc phải làm ra vẻ khắc khổ. Đã về hưu chưa chắc phải từ bỏ mọi niềm vui trần thế. Ông vẫn là ông, với nét tài tử và tiếng cười riêng.
Sau nhiều năm trải qua công danh, thăng trầm và biến động, cuối cùng Nguyễn Công Trứ đạt tới trạng thái:
"Được mất dương dương người tái thượng
Khen chê phơi phới ngọn đông phong"
Có lẽ đây mới là cái "ngất ngưởng" đáng quý nhất. Cưỡi bò khác người vẫn chỉ là một hành động bên ngoài. Không bị được – mất và khen – chê chi phối mới là tự do bên trong.
Người đời có thể cho ta chức vị rồi lấy đi chức vị, có thể hôm nay khen và ngày mai chê. Nhưng nếu một con người hiểu rõ mình là ai, những điều ấy sẽ không dễ dàng làm họ mất phương hướng.
Tuy nhiên, Nguyễn Công Trứ không biến tự do thành buông thả:
"Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung"
Một câu thơ đủ để giữ thăng bằng cho toàn bộ vẻ ngông nghênh phía trước. Ông khác người trong cách sống nhưng nghiêm túc trong trách nhiệm. Ông có thể cười với khuôn sáo nhưng không cười với đạo nghĩa mà bản thân tin tưởng.
Bởi vậy, khi Nguyễn Công Trứ kết thúc bằng câu:
"Trong triều ai ngất ngưởng như ông!"
Người đọc có thể vừa bật cười trước một cái tôi quá đỗi tự tin, vừa cảm thấy cái tự tin ấy có cơ sở. Bài thơ không dạy người ta phải cư xử khác người để chứng minh cá tính. Điều sâu sắc hơn mà Nguyễn Công Trứ để lại là: Hãy đủ tài năng để biết giá trị của mình, đủ trách nhiệm để không sống vô ích và đủ bản lĩnh để không phải sống bằng ánh mắt của người khác.
Mẫu 3: Phân tích theo quan điểm
Nếu chỉ nhìn vào việc Nguyễn Công Trứ cưỡi bò đeo đạc ngựa, đi chùa có các cô gái theo cùng hay tự hỏi "Trong triều ai ngất ngưởng như ông!", người đọc rất dễ xem "ngất ngưởng" đơn giản là ngông, khác người, bất chấp dư luận. Tuy nhiên, đọc toàn bộ tác phẩm sẽ thấy cái "ngất ngưởng" của Nguyễn Công Trứ có một nền tảng sâu hơn nhiều: Tài năng, ý thức trách nhiệm và sự tự chủ.
Trước hết, nhà thơ không bắt đầu bài ca bằng thú vui mà bắt đầu bằng phận sự:
"Vũ trụ nội mạc phi phận sự"
Đây là lời của một con người nhận trách nhiệm chứ không chạy trốn trách nhiệm. Mọi việc trong trời đất đều có thể là việc mình phải góp sức. Như vậy, ngay từ câu đầu, Nguyễn Công Trứ đã đặt cá tính của mình trên nền tảng nhập thế.
Tiếp đó, ông kể:
"Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng"
Điều đáng chú ý là chữ "ngất ngưởng" lần đầu gắn trực tiếp với "thao lược". "Ngất ngưởng" vì có tài và đã từng gánh vác việc lớn. Đây là điểm quan trọng để phân biệt bản lĩnh với sự lập dị. Một người chưa làm được gì mà chỉ cố cư xử khác người thì chưa phải "ngất ngưởng" theo tinh thần Nguyễn Công Trứ.
Nghiên cứu của Khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội thậm chí đề xuất cách hiểu rằng chữ "ngất ngưởng" ở đoạn quan trường nhấn mạnh cái tài "cao ngất", không nên giản đơn hóa thành thái độ ngông nghênh khi làm quan.
Khi đã hoàn thành một chặng đường công danh, Nguyễn Công Trứ mới thực sự bước vào đời sống phóng túng:
"Đô môn giải tổ chi niên
Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng"
Cái đạc vốn thuộc về ngựa lại được đặt trên bò. Sự lệch chuẩn ấy tạo nên tiếng cười. Nhưng đằng sau tiếng cười còn có một tâm thế đáng chú ý: Con người ấy có thể rời bỏ địa vị mà không quá lưu luyến.
Từ đây, hàng loạt cặp đối lập xuất hiện:
"Tay kiếm cung" – "dạng từ bi";
"Gót tiên" – "một đôi dì";
"được" – "mất";
"khen" – "chê";
"Phật", "tiên" – "tục".
Chính những đối cực ấy làm nên một Nguyễn Công Trứ không dễ bị đóng khung. Ông từng là người hành động giữa đời nhưng cũng có thể tìm tới chốn thanh nhàn. Ông yêu thú vui trần thế nhưng không tự nhận mình "vướng tục". Ông không muốn lựa chọn giữa hai cực để biến mình thành một hình mẫu đơn giản.
Đặc biệt:
"Được mất dương dương người tái thượng
Khen chê phơi phới ngọn đông phong"
Cho thấy sự tự do đã chuyển từ hành vi bên ngoài thành bản lĩnh tinh thần. Người thật sự tự do không phải người cố làm điều trái ngược với thiên hạ mà là người không để lợi danh và dư luận điều khiển mình.
Dẫu vậy, sự tự do ấy có giới hạn rất rõ:
"Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung"
Nguyễn Công Trứ không chủ trương phủ nhận mọi nguyên tắc. Ông chỉ chống lại sự trói buộc vô nghĩa của những hình thức cứng nhắc. Với những giá trị mà mình lựa chọn, ông vẫn giữ "sơ chung", tức giữ trọn từ đầu đến cuối.
Vì vậy, câu:
"Trong triều ai ngất ngưởng như ông!"
Có vẻ tự phụ nhưng lại là kết quả của cả một quá trình tự kiểm chứng. Ông đã làm việc, đã cống hiến, đã sống theo lựa chọn của mình và giờ đây tự nhận xét về chính cuộc đời ấy.
Giá trị lớn của Bài ca ngất ngưởng nằm ở chỗ Nguyễn Công Trứ không cổ vũ sự khác người vô nguyên tắc. Ông cho thấy cá tính chỉ thật sự đáng trân trọng khi đứng trên nền tảng của năng lực và trách nhiệm. "Ngất ngưởng" vì thế là dám là mình, nhưng trước khi dám là mình phải tạo ra một cái "mình" có giá trị.
Mẫu 4: Phân tích sự thống nhất
Một trong những nét hấp dẫn nhất của Bài ca ngất ngưởng là Nguyễn Công Trứ không giấu những mặt tưởng như trái ngược trong con người mình. Ông vừa là nhà nho nhập thế, coi việc đời là trách nhiệm, vừa là một con người tài tử thích rượu, ca hát và cuộc sống tự do. Hai phương diện ấy không triệt tiêu nhau mà cùng làm nên chân dung Nguyễn Công Trứ.
Nửa đầu bài thơ là con người "hành đạo" :
"Vũ trụ nội mạc phi phận sự"
Câu thơ cho thấy ý thức mạnh mẽ về trách nhiệm. Nguyễn Công Trứ không coi cuộc đời là nơi để lánh xa mà là không gian để thi thố tài năng.
Bởi vậy, ông bước "vào lồng" và trải qua nhiều vị trí:
"Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông.."
Điệp từ "khi" cùng phép liệt kê khiến nhịp thơ trở nên dồn dập. Từ học vấn đến việc quân, việc chính sự, Nguyễn Công Trứ muốn cho thấy một con người đã thực sự nhập cuộc.
Nhưng cuộc đời không chỉ có công danh. Ngày "giải tổ", nhà thơ bước sang một trạng thái khác:
"Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng"
Những dấu hiệu trang trọng của chốn quan trường bị ông biến thành trò đùa vui vẻ. Địa vị đã ở phía sau, trước mặt là một đời sống rộng hơn.
"Kìa núi nọ phau phau mây trắng
Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi"
Từ "kiếm cung" đến "từ bi" là một sự chuyển đổi rất đẹp. Người từng cầm quân nay trở thành một ông già thong dong nơi cửa Phật. Nhưng Nguyễn Công Trứ vẫn không trở thành một người tu hành khắc khổ:
"Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng"
Chính ở đây xuất hiện con người "hành lạc". Ông yêu những thú vui của đời sống và không có ý định che giấu chúng.
"Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng"
Nhịp thơ như tiếng phách ca trù, vừa vui vẻ vừa phóng khoáng. Rượu, tiếng hát và âm nhạc tạo nên một đời sống đầy màu sắc.
Tuy nhiên, "hành lạc" ở Nguyễn Công Trứ không phải thái độ buông xuôi sau khi rời quan trường. Giữa những thú vui ấy vẫn tồn tại một con người rất tỉnh táo:
"Được mất dương dương người tái thượng
Khen chê phơi phới ngọn đông phong"
Ông vui sống bởi đã có khả năng đặt lợi danh xuống. Niềm vui không đến từ việc chiếm hữu nhiều hơn mà từ cảm giác không còn bị được – mất chi phối.
Đến cuối bài, hai con người "hành đạo" và "hành lạc" gặp nhau:
"Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung"
Nguyễn Công Trứ có thể uống rượu, nghe hát, sống phóng túng nhưng không xem nhẹ trách nhiệm. Ông không coi hưởng thụ và cống hiến là hai lựa chọn buộc phải loại trừ nhau. Khi phải làm việc thì làm hết mình; khi đã rời công danh thì cũng sống hết mình.
Một số tài liệu giảng dạy cũng lưu ý rằng sự phóng túng của Nguyễn Công Trứ không dẫn đến thái độ phủ nhận trách nhiệm nhập thế; đạo nghĩa vẫn là điểm tựa cho cái "ngất ngưởng" của ông.
Vì thế, Bài ca ngất ngưởng không chỉ hấp dẫn bởi một nhân vật khác đời. Tác phẩm còn gợi ra một cách sống có tính nhất quán: Làm điều cần làm bằng tất cả năng lực, nhưng không để công danh chiếm hết đời mình; biết tận hưởng cuộc sống nhưng không dùng hưởng thụ để trốn tránh trách nhiệm.
Đó chính là sự thống nhất độc đáo giữa một nhà nho hành đạo và một nghệ sĩ tài tử trong Nguyễn Công Trứ.
Mẫu 5: Phân tích thiên về nghệ thuật hát nói
Sẽ khó hình dung Bài ca ngất ngưởng được viết bằng một thể thơ quá nghiêm ngặt. Một con người như Nguyễn Công Trứ cần một hình thức nghệ thuật có khả năng biến đổi linh hoạt, lúc trang trọng, lúc đời thường, lúc hào sảng, lúc hài hước. Hát nói chính là hình thức phù hợp với tinh thần ấy.
Trước hết, cấu trúc câu thơ rất linh hoạt. Có câu cô đọng:
"Vũ trụ nội mạc phi phận sự"
Nhưng cũng có câu kéo dài:
"Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông"
Sự co giãn về số tiếng giúp lời thơ gần với lời nói tự nhiên. Nhờ đó, người đọc có cảm giác Nguyễn Công Trứ đang trực tiếp kể chuyện về mình hơn là đang cố ép cuộc đời vào một khuôn thơ cố định.
Ngay phần mở đầu đã xuất hiện sự đan xen giữa ngôn ngữ Hán Việt trang trọng và giọng nói đời thường. "Vũ trụ", "phận sự", "Thủ khoa", "Tham tán", "Tổng đốc", "thao lược" tạo nên sắc thái của một người từng trải chốn công danh. Nhưng ngay sau đó lại là chữ "ngất ngưởng" giàu tính khẩu ngữ, có khả năng tạo hình và gây ấn tượng.
Phép liệt kê cũng được sử dụng hiệu quả:
"Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông.."
Các chức vị nối nhau tạo cảm giác một đời người luôn vận động. Điệp "khi" không chỉ kể lại quá khứ mà còn làm nổi bật sự đa dạng trong tài năng và công việc của nhân vật trữ tình.
Đến đoạn về hưu, nghệ thuật tạo hình phát huy mạnh:
"Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng"
Chỉ một sự kết hợp bất thường giữa "đạc ngựa" và "bò vàng" đã tạo ra tiếng cười. Không cần bình luận dài dòng, hình ảnh tự nó đã nói lên tính cách của Nguyễn Công Trứ.
Hệ thống đối lập tiếp tục làm chân dung ấy sinh động:
"Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi"
Một phía là cuộc đời trận mạc, một phía là sự thanh nhàn cửa Phật.
"Gót tiên" lại đi cùng "một đôi dì"; "Bụt" trang nghiêm lại "nực cười". Những phạm trù vốn cách xa nhau được đặt gần nhau khiến thơ Nguyễn Công Trứ luôn có yếu tố bất ngờ.
Nghiên cứu văn bản của Khoa Ngữ văn – Đại học Sư phạm Hà Nội cũng chú ý hàng loạt cặp đối lập trong tác phẩm như kiếm cung – từ bi, gót tiên – một đôi dì, được – mất, khen – chê, Phật Tiên – tục. Cách tổ chức các đối cực này góp phần làm nổi bật một con người có khả năng dung chứa nhiều phương diện khác nhau.
Nhạc tính của bài thơ đặc biệt rõ ở:
"Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng"
Bốn nhịp ngắn liên tiếp như mô phỏng tiếng phách, tiếng đàn và không khí ca trù. Nội dung nói về vui chơi, còn âm thanh của câu thơ cũng chuyển động theo niềm vui ấy.
Một thủ pháp quan trọng khác là điệp từ "ngất ngưởng". Từ này xuất hiện nhiều lần ở những vị trí then chốt và mỗi lần lại mang thêm một sắc thái. Khi gắn với "thao lược", đó là tài năng. Khi gắn với bò vàng, đó là hành động khác thường. Khi gắn với "Bụt cũng nực cười", đó là phong cách sống. Đến câu cuối, nó trở thành lời tổng kết về cả một con người.
Giọng điệu của tác phẩm cũng rất đặc biệt. Nguyễn Công Trứ có thể nói chuyện lớn bằng giọng trang trọng rồi ngay lập tức chuyển sang tự trào, hài hước. Ông tự khen mình nhưng không khiến bài thơ trở nên nặng nề bởi luôn có một nụ cười thấp thoáng phía sau.
Câu kết:
"Trong triều ai ngất ngưởng như ông!"
Là một câu hỏi nhưng thực chất không chờ câu trả lời. Nhân vật trữ tình tự đặt mình vào vị trí độc nhất. Chính kiểu kết thúc vừa ngạo nghễ vừa vui ấy khiến tiếng nói cá nhân của bài thơ vang lên rất mạnh.
Như vậy, nghệ thuật của Bài ca ngất ngưởng không chỉ nằm ở việc sử dụng thành công thể hát nói. Từ nhịp điệu, câu chữ, phép liệt kê, điệp từ, đối lập đến giọng tự trào đều cùng phục vụ một mục đích: Biến hình thức của bài thơ thành hình thức của chính cá tính Nguyễn Công Trứ. Con người tự do được nói bằng một thứ thơ cũng đầy tự do.
Last edited by a moderator:
