Bạn được MTrang1102 mời tham gia diễn đàn viết bài kiếm tiền VNO, bấm vào đây để đăng ký.
125,659 ❤︎ Bài viết: 11500 Tìm chủ đề
Tiểu luận môn học

Pháp luật đại cương Việt Nam

Đề tài

Chế định bảo vệ người sử dụng lao động trong tình hình dịch Covid-19 theo quy định Pháp luật Lao động Việt Nam

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU..

Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG/LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRONG BỐI CẢNH ĐẠI DỊCH COVID 19.

1.1. Khái quát chung quan hệ lao động

1.1. 1. Khái niệm

1.1. 2. Đặc điểm

1.1. 3. Cơ sở xác lập

1.2. Khái quát và ý nghĩa quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người sử dụng lao động

1.2. 1. Khái quát

1.2. 2. Ý nghĩa

1.3. Khái quát bối cảnh dịch COVID 19

1.3. 1. Khái quát

1.3. 2. Tác động đến quan hệ lao động và quyền lợi của người sử dụng lao động .

1.3. 3. Những quy định của Luật lao động cho hoàn cảnh dịch bệnh nguy hiểm .

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1.

Chương 2 . THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRONG THỜI KỲ DỊCH COVID 19 .

2.1. Bình luận quy định pháp luật hiện hành và chính sách riêng cho thời kỳ dịch COVID 19 về bảo về bảo vệ người sử dụng lao động.

2.2. Thực trạng áp dụng pháp luật về bảo vệ người sử dụng lao động .

2.3. Những bất cập trong quy định và thực trạng áp dụng trên thực tế .

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2.

Chương 3 . GIẢI PHÁP BẢO VỆ NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRONG THỜI KỲ DỊCH COVID 19 .

3.1. Phương hướng bảo vệ người sử dụng lao động.

3.2. So sánh với pháp luật các quốc gia khác.

3.2. 1. Pháp luật Trung Quốc .

3.2. 2. Pháp luật Mỹ .

3.2. 3. Pháp luật Anh .

3.3. Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật để giải quyết tình hình cấp bách của Đại dịch.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3.

[COLOR=rgb(0, 0, 0) ]Kết luận[/COLOR]

[COLOR=rgb(0, 0, 0) ]Tài liệu tham khảo[/COLOR]

Nếu các bạn có đóng góp hoặc bình luận về bài tiểu luận, hãy vào link này để thảo luận nhé [Thảo Luận - Góp Ý] Các Tác Phẩm Của Mạnh Thăng

P. S: Vui lòng không reup bài tiểu luận dưới mọi hình thức
 
125,659 ❤︎ Bài viết: 11500 Tìm chủ đề
PHẦN MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài

Cụm từ "dịch Covid-19" đã trở thành chủ đề nóng hổi trên toàn thế giới trong suốt hai năm vừa qua. Mặc dù dịch bệnh không phải là điều hiếm gặp, và lịch sử nhân loại chúng ta đã phải trải qua rất nhiều dịch bệnh lớn (có thể kể đến như bệnh dịch hạch, SARS, Ebola), thế nhưng Covid-19 có thể nói là trận đại dịch để lại hậu quả nặng nề nhất từ trước đến giờ. Tính đến đầu tháng 4/2020, tức chỉ sau 5 tháng dịch hoành hành, dịch bệnh đã xuất hiện ở 206 quốc gia và vùng lãnh thổ. Dịch Covid-19 đã cướp đi sinh mạng của gần 5 triệu người, ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế, du lịch và vận tải ở hầu hết các quốc gia.

Đáng báo động hơn, dịch Covid-19 đã có tác động không nhỏ đến bộ phận người sử dụng lao động trên toàn thế giới. Chỉ riêng ở Việt Nam, tính đến tháng 12 năm 2020, khoảng 14, 0% doanh nghiệp trên cả nước buộc phải tạm nghỉ hoặc tạm ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh. Đại dịch cũng gây nhiều bất lợi cho người sử dụng lao động khi người lao động không thể đi làm, năng suất làm việc cũng giảm đáng kể, và đặc biệt hơn cả, là phải bỏ ra tiền túi để duy trì doanh nghiệp trước nguy cơ bị phá sản.

Lý do nhóm chọn đề tài "Chế định bảo vệ người sử dụng lao động trong tình hình dịch Covid-19 theo quy định Pháp luật Lao động Việt Nam" làm bài tập lớn để kết thúc môn học Pháp luật Việt Nam đại cương là để có thể hệ thống hóa kiến thức pháp luật về quan hệ lao động và những vấn đề bảo vệ bảo vệ quyền lợi của người sử dụng lao động trong giai đoạn đại dịch Covid-19. Đồng thời, cũng từ chế định đó để phát hiện những vấn đề bất cập trong những chính sách mà Nhà nước đã ban hành và thực trạng áp dụng, và từ những bất cập đó sẽ đưa ra được đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo vệ người sử dụng lao động tại Việt Nam.

Nhiệm vụ mà đề tài hướng tới:

Một là , khái quát chung về quan hệ lao động, hệ thống kiến thức lý luận và quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi người lao động trong thời kỳ dịch COVID 19

Hai là, Khái quát về tình hình dịch COVID 19 tác động trực tiếp và gián tiếp đến quan hệ lao động và ảnh hưởng đến quyền lợi của người sử dụng lao động.

Ba là , phân tích những chính sách mới áp dụng riêng cho thời kỳ dịch COVID 19, so sánh với các quy định pháp luật lao động hiện hành trong Bộ luật lao động 2019.

Bốn là, phân tích thực trạng áp dụng các chính sách và quy định pháp luật về lao động trong thời kỳ dịch COVID 19 liên quan đến quyền lợi của người lao động, rút ra những kết luận những điểm được và chưa được của các quy định.

Năm là, nêu phương hướng hoàn thiện pháp luật giúp bảo vệ quyền lợi của người sử dụng lao động

Đối tượng nghiên cứu: Pháp luật lao động Việt Nam và người sử dụng lao động trong thời kỳ đại dịch

Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu của nhóm gồm có: Phương pháp so sánh, tổng hợp; phương pháp định tính

Kết cấu của bài gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung/lý luận chung về pháp luật về bảo vệ người sử dụng lao động trong bối cảnh đại dịch COVID-19

Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo vệ người sử dụng lao động trong thời kỳ đại dịch COVID-19

Chương 3: Giải pháp bảo vệ người sử dụng lao động trong thời kỳ đại dịch COVID-19
 
125,659 ❤︎ Bài viết: 11500 Tìm chủ đề
Chương 1

KHÁI QUÁT CHUNG/LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRONG BỐI CẢNH ĐẠI DỊCH COVID 19

1.1. Khái quát chung quan hệ lao động

1.1. 1. Khái niệm

Quan hệ lao động là quan hệ giữa người lao động, tập thể người lao động với người sử dụng lao động và tổ chức đại diện người sử dụng lao động, được xác lập trên cơ sở pháp luật lao động bao gồm các tiêu chuẩn về lao động, cơ chế xác lập và vận hành quan hệ lao động, thiết chế giải quyết tranh chấp lao động, vai trò của các bên trong quan hệ lao động.

Theo Bộ luật Lao động, quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động và người sử dụng lao động.

Quan hệ lao động do nhiều chủ thể tương tác với nhau, gồm: Người lao động và tổ chức đại diện của người lao động, người sử dụng lao động và tổ chức đại diện của người sử dụng lao động, cơ quan nhà nước. Các chủ thể quan hệ lao động tương tác thông qua cơ chế tham vấn, đối thoại, thương lượng tạo thành cơ chế vận hành của quan hệ lao động. Trong đó có cơ chế hai bên (người lao động, đại diện của người lao động với người sử dụng lao động; đại diện của người lao động với đại diện người sử dụng lao động) và cơ chế ba bên (Nhà nước - đại diện người sử dụng lao động - đại diện của người lao động).

Cơ chế ba bên được hình thành trên cơ sở tương tác giữa Chính phủ với tổ chức đại diện người lao động và tổ chức đại diện người sử dụng lao động, trong đó Chính phủ có vai trò chính trong việc tham vấn ý kiến của các bên về những vấn đề liên quan đến việc xây dựng, ban hành các chính sách pháp luật về quan hệ lao động; đối thoại để giải quyết những vướng mắc cũng như hỗ trợ các bên trong việc triển khai thực hiện các quy định của pháp luật lao động, xây dựng quan hệ lao động hài hòa. Cơ chế ba bên được hình thành ở cấp quốc gia và cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Cơ chế hai bên được hình thành trên cơ sở tương tác giữa người lao động, tổ chức đại diện của người lao động với người sử dụng lao động động trong phạm vi doanh nghiệp hoặc giữa tổ chức đại diện của người lao động với tổ chức đại diện của người sử dụng lao động trong phạm vi ngành thông qua cơ chế đối thoại, thương lượng, thỏa thuận để giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của cả hai bên, xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định tiến bộ.

Quan hệ lao động được phân loại theo các tiêu chí sau:

Theo chủ thể: Một là, quan hệ lao động cá nhân giữa các cá nhân người lao động với người sử dụng lao động và quan hệ lao động tập thể giữa đại diện tập thể người lao động và người sử dụng lao động (quan hệ hai bên). Hai là, quan hệ giữa đại diện người lao động với đại diện người sử dụng lao động và với nhà nước (quan hệ ba bên).

Theo nội dung: Quan hệ lao động có quan hệ về việc làm, tiền lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, điều kiện lao động, bảo hiểm xã hội, kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất, quyền và nghĩa vụ của các bên, quan hệ trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động.

Theo cấp độ của quan hệ lao động có quan hệ lao động cấp quốc gia, cấp địa phương, cấp ngành và cấp doanh nghiệp:

Thứ nhất, trong phạm vi quốc gia là quan hệ giữa Chính phủ, tổ chức đại diện người lao động và tổ chức đại diện người sử dụng lao động ở Trung ương.

Thứ hai, ở cấp địa phương là quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương với tổ chức đại diện của người lao động, tổ chức đại diện người sử dụng lao động ở địa phương.

Thứ ba, ở cấp ngành và doanh nghiệp là quan hệ giữa tổ chức đại diện người lao động (công đoàn ngành và công đoàn cơ sở) với tổ chức đại diện người sử dụng lao động của ngành và người sử dụng lao động tại doanh nghiệp.
 
125,659 ❤︎ Bài viết: 11500 Tìm chủ đề
Chương 1

KHÁI QUÁT CHUNG/LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRONG BỐI CẢNH ĐẠI DỊCH COVID 19

1.1. Khái quát chung quan hệ lao động

1.1. 2. Đặc điểm


Quan hệ lao động trong các nước có nền kinh tế thị trường có những đặc trưng cơ bản. Thứ nhất, quan hệ lao động là quan hệ vừa mang tính chất kinh tế, vừa mang tính chất xã hội; thứ hai, vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn; thứ ba, vừa bình đẳng, vừa không bình đẳng; thứ tư, vừa mang tính chất cá nhân, vừa mang tính chất tập thể.

Tuy nhiên, biểu hiện cụ thể các đặc trưng này ở các nước khác nhau có thể có những điểm khác nhau. Đối với Việt Nam, về cơ bản, quan hệ lao động cũng mang đầy đủ 4 đặc trưng nêu trên. Song đây là vấn đề rất mới, đang trong quá trình hình thành, phát triển với những đặc điểm rất đặc thù cần phải lưu ý nhằm phát triển quan hệ lao động vừa tuân thủ những nguyên tắc của thị trường, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Các đặc điểm đó là:

Thứ nhất: Việt Nam là nước từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp tồn tại khá lâu trước đây, từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cho nên nhận thức của các chủ thể về quan hệ lao động còn ở mức độ khác nhau. Nhất là nhận thức của người lao động, tổ chức đại diện của người lao động và vai trò, trách nhiệm của mình về quan hệ lao động trong cơ chế thị trường còn mờ nhạt, chậm đổi mới. Khả năng thực hiện quyền tự thương lượng, thỏa thuận trong việc lựa chọn việc làm, nơi làm việc và các vấn đề liên quan đến lợi ích của người lao động còn hạn chế.

Thứ hai: Quan hệ lao động ở nước ta được thiết lập và thực hiện trong tình trạng mất cân đối giữa cung và cầu lao động. Trạng thái của quan hệ lao động phụ thuộc rất nhiều vào tương quan cung cầu trong thị trường lao động, tức là mối quan hệ giữa nguồn cung và cầu sức lao động. Ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, cung lao động luôn nhiều hơn cầu lao động, sự mất cân đối này không chỉ là về số lượng mà còn cả về chất lượng sức lao động, đã tác động không nhỏ đến quan hệ lao động. Như vậy người lao động luôn luôn ở vai trò vị thế yếu hơn so với người sử dụng lao động trong việc thương lượng, thỏa thuận về các vấn đề liên quan đến quan hệ lao động.

Thứ ba: Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam tuy đã được thiết lập để tạo hành lang, khung khổ pháp lý cho quan hệ lao động hình thành và phát triển, nhưng chưa được hoàn thiện, nhất là pháp luật về quan hệ lao động còn có một số vấn đề chưa phù hợp với kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và trong điều kiện kinh tế - xã hội luôn vận động phát triển nên phải thường xuyên bổ sung, sửa đổi.

Thứ tư: Doanh nghiệp Việt Nam phát triển khá mạnh trong những năm gần đây, nhưng có 98% là doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa, trình độ và năng lực cạnh tranh còn thấp, chưa có mối liên kết theo ngành để hình thành các chủ thể quan hệ lao động của ngành. Lao động trong các doanh nghiệp những năm gần đây được tuyển dụng chủ yếu từ nông thôn và nông dân, đội ngũ công nhân lành nghề còn ít và chưa hình thành đội ngũ công nhân nhiều đời, cha truyền con nối.

Thứ năm: Thiết chế chính trị của Việt Nam cũng có những điểm khác với các nước. Mặc dù mô hình của Việt Nam là phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý, điều tiết của Nhà nước, song các thiết chế quan hệ lao động có một số điểm khác với nguyên tắc thị trường, nhất là về thiết chế đại diện người sử dụng lao động và người lao động

1.1. 3. Cơ sở xác lập

Cần đăng nhập và nhấn Thích để xem đoạn này
 
125,659 ❤︎ Bài viết: 11500 Tìm chủ đề
Chương 1

KHÁI QUÁT CHUNG/LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRONG BỐI CẢNH ĐẠI DỊCH COVID 19


1.2. Khái quát và ý nghĩa quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người sử dụng lao động


1.2. 1. Khái quát

Cần đăng nhập và nhấn Thích để xem đoạn này
1.2. 2. Ý nghĩa

Cần đăng nhập và nhấn Thích để xem đoạn này
 
125,659 ❤︎ Bài viết: 11500 Tìm chủ đề
Chương 1

KHÁI QUÁT CHUNG/LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRONG BỐI CẢNH ĐẠI DỊCH COVID 19


1.3. Khái quát bối cảnh dịch COVID 19


1.3. 1. Khái quát

Cần đăng nhập và nhấn Thích để xem đoạn này
 
125,659 ❤︎ Bài viết: 11500 Tìm chủ đề
Chương 1

KHÁI QUÁT CHUNG/LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRONG BỐI CẢNH ĐẠI DỊCH COVID 19


1.3. Khái quát bối cảnh dịch COVID 19


1.3. 2. Tác động đến quan hệ lao động và quyền lợi của người sử dụng lao động


Cần đăng nhập và nhấn Thích để xem đoạn này
1.3. 3. Những quy định của Luật lao động cho hoàn cảnh dịch bệnh nguy hiểm

Cần đăng nhập và nhấn Thích để xem đoạn này
 
125,659 ❤︎ Bài viết: 11500 Tìm chủ đề
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Tóm lại, quan hệ lao động là quan hệ giữa người lao động người lao động, tập thể người lao động với người sử dụng lao động và tổ chức đại diện người sử dụng lao động, được xác lập trên cơ sở pháp luật lao động bao gồm các tiêu chuẩn về lao động, cơ chế xác lập và vận hành quan hệ lao động, thiết chế giải quyết tranh chấp lao động, vai trò của các bên trong quan hệ lao động. Quan hệ lao động được phân loại theo các tiêu chí: Theo chủ thể, theo nội dung và theo cấp độ của quan hệ lao động có quan hệ lao động cấp quốc gia, cấp địa phương, cấp ngành và cấp doanh nghiệp. Người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động; nếu là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ (khoản 2 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019). Từ việc nghiên cứu những vấn đề quan trọng của pháp luật lao động trong việc bảo vệ quyền của người sử dụng lao động và thực trạng pháp luật lao động tại việt nam ta có thể thấy quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động ngày càng được bảo vệ và củng cố. Cần đặt vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích của người sử dụng lao động trong tổng thể các quy định của pháp luật trong nước và quốc tế. Việc hoàn thiện chế định này cũng cần đặt trong sự hoàn thiện hệ thống pháp luật lao động và các luật khác nhằm có sự nhìn nhận chính xác, khách quan và khoa học. Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta đang đương đầu với muôn vàn thách thức do tác động của làn sóng dịch COVID-19 lần thứ 4, điều quan trọng là ba bên gồm Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động cần đồng lòng, thấu hiểu và cùng nhau chia sẻ những khó khăn, đồng thời nắm bắt cơ hội. Việc quan trọng và cần thiết hàng đầu là sự đồng lòng, thấu hiểu và cùng nhau chia sẻ những khó khăn của ba bên gồm Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động. Chính phủ đã đứng ra gánh vác khó khăn cùng cộng đồng doanh nghiệp và đưa ra những quyết sách để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp như việc miễn, giảm thuế, các gói hỗ trợ..
 
125,659 ❤︎ Bài viết: 11500 Tìm chủ đề
Chương 2

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRONG THỜI KỲ DỊCH COVID 19

2.1. Bình luận quy định pháp luật hiện hành và chính sách riêng cho thời kỳ dịch COVID 19 về bảo về bảo vệ người sử dụng lao động

Cần đăng nhập và nhấn Thích để xem đoạn này
 
Chỉnh sửa cuối:
125,659 ❤︎ Bài viết: 11500 Tìm chủ đề
Chương 2

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRONG THỜI KỲ DỊCH COVID 19

2.1. Bình luận quy định pháp luật hiện hành và chính sách riêng cho thời kỳ dịch COVID 19 về bảo về bảo vệ người sử dụng lao động

Cần đăng nhập và nhấn Thích để xem đoạn này
 
125,659 ❤︎ Bài viết: 11500 Tìm chủ đề
Chương 2

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRONG THỜI KỲ DỊCH COVID 19

2.1. Bình luận quy định pháp luật hiện hành và chính sách riêng cho thời kỳ dịch COVID 19 về bảo về bảo vệ người sử dụng lao động

Cần đăng nhập và nhấn Thích để xem đoạn này
 
125,659 ❤︎ Bài viết: 11500 Tìm chủ đề
Chương 3

GIẢI PHÁP BẢO VỆ NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRONG THỜI KỲ DỊCH COVID 19


3.3. Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật để giải quyết tình hình cấp bách của Đại dịch


Trước đây, khi làm bất kỳ việc gì, đặc biệt là sản xuất kinh doanh, mọi người sẽ nghĩ đến tính hiệu quả đầu tiên, nhưng bây giờ, phải nghĩ song song vừa hiệu quả vừa an toàn. An toàn là cái mới, là tất yếu trong khía cạnh y tế. Để ứng phó với tác động khổng lồ của đại dịch Covid-19, ta cần có những biện pháp, kế hoạch chặt chẽ để ổn định quan hệ lao động và chăm lo cho người lao động, đoàn viên bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh.

Theo Liên đoàn lao động Thành phố. Hà Nội, dịch bệnh Covid-19 (đợt dịch thứ 4) có diễn biến phức tạp, tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp và đời sống, việc làm, thu nhập của hàng chục nghìn người lao động, từ đó tiềm ẩn nhiều yếu tố có thể dẫn đến tranh chấp lao động, đình công và ngừng việc tập thể.

Đầu tiên, để nhanh chóng thiết lâp đời sống xã hội trở lại "bình thường mới", ta cần đảm bảo ổn định lao động, đảm bảo đời sống, công việc của người lao động. Do đó, cần tăng cường công tác tuyên truyền, phố biến các chính sách pháp luật, các nội quy, quy chế của doanh nghiệp về các quyền lợi và chế độ phúc lợi cho người lao động và đảm bảo mọi người đều biết, tạo sự thống nhất và an toàn khi triển khai điều luật mới.

Bên cạnh đó, vận động công nhân thi đua lao động, tạo động lực niềm vui trong công việc, giúp mọi người lạc quan. Qua đó, góp phần tăng năng suất lao động, đồng lòng đồng sức cùng doanh nghiệp vượt qua mùa dịch.

Chuẩn bị cho người lao động có thể làm việc lại là cấp thiết, đồng thời cần thông qua công đoàn cơ sở thường xuyên nắm chắc số lượng doanh nghiệp, mức độ bị ảnh hưởng và số người lao động bị ảnh hưởng thiếu việc làm, mất việc làm do dịch bệnh Covid-19, để có phương án hỗ trợ hợp lý. Hơn nữa, các công đoàn cấp trên hỗ trợ với doanh nghiệp để xây dựng phương án sản xuất, sử dựng lao động phù hợp với đặc thù doanh nghiệp, hạn chế thấp nhất việc phải cắt giải lao động.

Nên có những biện pháp linh hoạt hơn như lập các nhóm Zalo, xây dựng lực lượng "công nhân nồng cốt" ở doanh nghiệp để nắm bắt kịp thời tình hình hiện tại tại khu công nghiệp, chết xuất, qua đó người lao động có kênh để giao tiếp, trình bày các tư tưởng, kiến nghị, đề xuất của mọi người.

Mặt khác, đứng ở góc nhìn của chủ doanh nghiệp, phải đóng cửa, ngứng kinh doanh một thời gian dài là một điều hết sức khó khăn và đòi hỏi rất nhiều sự hy sinh, mất mát. Không những thế việc khôi phục lại kinh tế và dòng tiền sau mùa dịch cũng là một thách thức vô cùng to lớn và chông gai. Qua đó, Đảng và Nhà nước cần nắm bắt những khó khăn đó mà góp phần hỗ trợ cho các doanh nghiệp vào trạng thái "bình thường mới".

Những việc mang tính chuyển mình như vậy rất cần nhiều sự giúp đỡ từ các chuyên gia để nghiên cứu thị trường cũng như nghiên cứu các biện pháp giúp đỡ doanh nghiệp cũng như giúp quốc gia phục hồi nền kinh tế đã và đang bị chững lại vì thời gian dịch bệnh.

Thứ nhất, Nhà nước nên đưa thêm các pháp luật về thuế phí, kèm theo các hướng dẫn chi tiết, cụ thể cho từng cục thuế địa phương để kịp thời đến các doanh nghiệp. Đề xuất có thể là Nhà nước có thể miễn giảm hoặc gia hạn các loại thuế thuê mặt bằng, thuế doanh nghiệp khi các công ty chịu ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh hay đang trong thời gian nâng cấp cơ sở vật chất để thực hiện "3 tại chỗ". Vì nếu một doanh nghiệp có tiềm năng nhưng chịu tổn thất bởi dịch và thuế mà phá sản thì thật là đáng tiếc.

Bên cạnh đó, Nhà nước có thể đặt lại các tiêu chí xét điều kiện doanh nghiệp có đủ điều kiện vay vốn hay không hỗ trợ cho các doanh nghiệp dễ dàng vay vốn phát triển và cầm cự trong mùa dịch vì các thủ tục vay vốn ngân hàng thì lại rất nhiều khê, khó khăn. Thực tế rất nhiều doanh nghiệp đã phản ảnh các ngân hàng chưa thực sự hiểu các yếu tố kỹ thuật cụ thể và các yếu tố tài chính trong từng dự án cụ thể nên gặp rất nhiều khó khăn khi xác minh, thẩm định mức độ khả thi của dự án. Do đó, đề xuất Nhà nước và Ngân hàng Nhà nước cần nghiên cứu chính sách vay vốn hợp lý cho các doạnh nghiệp trong và sau mùa dịch, giảm thiểu các thủ tục tài chính nhưng vẫn khoa học và logic để các doanh nghiệp tiếp cận vốn dễ dàng hơn.

Hiện nay, nhiều công ty trong nước đang phải cầm cự, thậm chí tê liệt do gặp khó khăn trong bố trí sản xuất mà không những thế, họ còn đối mặt với hàng loạt chi phí hàng hóa gia tăng. Các bộ, ngành và các cấp có thẩm quyền cao hơn cần ban hành các chính sách cụ thể hơn, bám sát hơn và hiểu hơn về hiện trạng của doanh nghiệp để hỗ trợ. Nếu không, có thể nhiều doanh nghiệp sẽ phải đóng cửa, kéo theo tình trạng thất nghiệp tăng cáo. Khi đó, tổn thất của nền kinh tế nước nhà có thể còn trầm trọng hơn nữa.

Một việc mà Nhà nước cần quan tâm nữa là cố gắng kéo các công ty sản xuất có vốn nước ngoài đổ tiền đầu tư vào Việt Nam, đồng thời hỗ trợ nâng cao năng lực công nghiệp trong nước, các nhà máy của những công ty chuyển từ nước ngoài về Việt Nam sẽ được hỗ trợ thuế thu nhập. Qua đó tạo dựng được nhiều việc làm và tăng thêm thu nhập của người dân, và còn có thể tăng năng lực của người làm việc.

Tóm lại, doanh nghiệp cũng như người lao động là tầng lớp tiên quyết trong công cuộc ổn định nền kinh tế vào trạng thái "bình thường mới" sau đại dịch. Do đó, Những quyết sách hỗ trợ của Chính Phủ, Nhà nước sẽ góp phần củng cố niềm tin và có động lực mạnh mẽ hơn nhằm khắc phục thiệt hại, vực dậy sản xuất kinh doanh, đảm bảo an toàn cho người lao động. Qua đó, doanh nghiệp và người lao động có thể cùng với Nhà nước có thể thực hiện mục tiêu kép "vừa chống dịch, vừa phát triển kinh tế".
 
125,659 ❤︎ Bài viết: 11500 Tìm chủ đề
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

Không vì khó khăn mà chúng ta bi quan, hoang mang, lo sợ. Tình hình càng khó khăn, phức tạp, càng phải đoàn kết, phát huy dân chủ, huy động trí tuệ tập thể, lắng nghe và tôn trọng ý kiến của nhau, lấy khó khăn, thách thức làm động lực vươn lên, khẳng định mình, đưa đất nước phát triển và lấy khó khăn để thực hiện sự thay đổi, như chuyển đổi số.

Sau một thời gian phòng, chống dịch hết sức quyết liệt, quyết tâm, với sự thay đổi chiến lược, chúng ta đang từng bước kiểm soát hiệu quả dịch bệnh, đặc biệt tại những nơi tâm dịch như Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Long An.. Có được điều này chính là nhờ đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó có sự đóng góp quan trọng của cộng đồng doanh nghiệp.

Đảng và Nhà nước đã đưa ra rất nhiều luật pháp để hỗ trợ người dân cũng như doanh nghiệp Việt Nam chung tay vượt qua đại dịch. Cũng như các nước khác trên thế giới, luật pháp nước ta cũng có sự linh hoạt, học hỏi để đem điều tốt nhất đến từng công dân Việt Nam ta, cũng như các khách du lịch, người nước ngoài kẹt lại Việt Nam mùa dịch này. Qua đó, Đảng và Nhà nước có sự quan tâm và không bỏ rơi một ai cả.

Bên cạnh đó, khối lượng và tính cấp thiết của công việc trong thời gian dịch bệnh này là vô cùng khổng lồ và khó khăn, chắc hẵn ai cũng sẽ có gặp những sự cố mà chưa ai biết trước được. Từ đó, Đảng và Nhà nước cũng như các bộ, các ngành đã và đang lắng nghe những khó khăn và đáp ứng các nhu cầu cho doanh nghiệp một cách kịp thời để đất nước ta kịp thời khôi phục lại kinh tế bền vững sau một thời gian dài đại dịch hoành hành thế này.
 

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back