Trời vừa tờ mờ sáng, một hồi chuông vang dội từ đâu đấy kéo dài 15 phút hơn. Hóa ra hôm nay đã là Chúa Nhật, tôi bậc ngồi dậy, bấy giờ khoảng 6 giờ.
Màu đèn vàng trưng rọi lại từ hướng nhà bếp, cả nhà lại loay hoay chuẩn bị cho bữa sáng, tiếng người cười nói vui vẻ như ngọn lửa ấm áp được dấy lên trong bầu không khí lạnh lẽo.
Bữa sáng hôm nay giản đơn với bánh mì nướng, trứng và phomat, kèm theo ly cam vắt trong trẻo.
Khi dùng bữa xong, tôi khoác vội áo ấm và chạy sang bên kia, nơi người đàn bà bí ẩn đang sống. Mẹ tôi bất chợt gọi lại:
- Kia ơi! Hôm nay là Chúa Nhật, chúng ta có tiệc thánh đấy, con lên phòng chuẩn bị ngay nhé!
Tôi quên bén mất thói quen này, lật đật lên phòng sửa soạn.
Được rửa tội khi vừa tròn 1 tuổi, cho nên dù ở bất cứ nơi nào, tôi cũng phải cùng gia đình tham gia tích cực mọi hoạt động trong hội thánh.
Mẹ lái xe đưa cả gia đình đến một nhà thờ cách khoảng vài dặm đường. Buổi lễ bắt đầu vào lúc 8 giờ.
Nhà thờ khá giản dị, nhưng cũng hay hay, tôi thích các loại đá hạt pha lê trang trí trên tường, cây cối trồng chung quanh, ít trưng bày hình hay tượng Chúa ngoài một biểu tượng thánh giá bằng gỗ ngay giữa hội thánh. Nhà thờ có vẻ cũ vì thường xuân bám đầy trên khắp bức tường đá, trên tượng các thiên sứ nhưng không ai phá bỏ, chính điều ấy đã mang lại cái vẻ vừa mộc mạc lại thanh lịch cho nơi này.
Đã vào giữa buổi lễ, thật xấu hổ vì Chúa biết tôi ngủ gật mấy lần mỗi khi giọng mục sư vừa cất lên: Cứ đều đều và thẳng tắp khiến mắt tôi lim dim, rồi chợt vang to lên làm tôi choàng tỉnh. Cảm giác thật khó chịu khi phải gắng gượng ngồi trong nghiêm chỉnh, tôi chỉ ước bây giờ mình được nằm trên một chiếc giường êm ái trong căn phòng tăm tối.
Rồi điều kéo tôi trở về thực tại là bài hát thánh ca gần cuối buổi. Ca khúc: "Sắc màu nhiệm kỳ" được trình bày bởi người phụ nữ da màu, không kèn trống, nhạc nền duy nhất là tiếng đệm của chiếc chiếc dương cầm ngay góc thánh đường. Chính bài hát buồn trong trẻo này mới là điều làm cho chúng ta nhận thức được sự tồn tại của Chúa hiển vinh, nỗi mất mác của sự hy sinh cao cả và tình yêu thương đầy rẫy của Ngài đã giành cho chúng ta. Giá như biết trước được thì tôi đã thu âm bài hát này để lưu giữ lại.
Sau buổi lễ sáng, mẹ tôi không lái xe về nhà ngay mà ghé vào vườn cam, hôm nay người làm vườn được nghỉ.
Bà ngoại dẫn hai mẹ con tham quan xung quanh vườn, bà chỉ cho tôi cách hái những trái ngon đã chín, còn treo trên cành, chỉ cho mẹ xem những khu đất dự định sẽ quy hoạch trong nay mai.
Đỗi sau thì dì Tiana cùng chồng con đến, họ mang theo một thùng bia. Chồng dì là cậu Thomas và con gái là nhóc Nikki, thua tôi một tuổi. Chúng tôi đốn một ngọn lửa nhỏ bên cạnh gốc cây lớn, ngồi xung quanh, khui bia uống và trò chuyện, mẹ tôi không dùng bia vì bà còn phải lái xe.
Xong chúng tôi dập tắt ngọn lửa, gói ghém đồ đạc trở lại vào xe, tận 1 giờ trưa mới về đến nhà.
Vừa về đến, tôi leo thẳng lên giường đánh một giấc. Khoảng không gian im ắng bao trùm cả phòng khách, tôi chợt tỉnh. Thật là một giấc ngủ no và sâu, buổi trưa nơi đấy thật thanh tịnh.
"Mọi người ở đâu hết cả rồi". - Tôi tự nhủ.
Rồi chạy vòng ra sau nhà thấy bác Otis đang tưới cây. Tôi đến hỏi:
- Bác ơi, cả nhà cháu ở đâu vậy?
- Họ ngồi uống trà trên sân thượng đấy. - Bác trả lời.
Tôi cũng muốn lên một chút nhưng nghĩ lại, tôi chỉ muốn sang bên nhà người hàng xóm kia thôi. Tôi hỏi bác:
- Cháu muốn sang cái nhà bên kia một chút, vậy có được không?
- Ta không biết, cháu sang đấy làm gì?
- Cháu muốn tham quan chút xíu! Đấy là đất của ai thế bác?
- Cũng là đất của bà Rose (bà ngoại tôi), nhưng có người làm trong vườn đang sống.
- Bên đấy có chó dữ không bác?
- Không! Nhưng cháu nên nói với gia đình một tiếng, ta không muốn rắc rối đâu đấy!
- Ô, chắc không sao đâu ạ! Bác báo với gia đình khi họ xuống giúp cháu nhé! Cháu sẽ về ngay thôi!
- Ôi trời!
Nói rồi tôi chạy vụt ra cổng, mặc cho bác Otis cứ đứng đấy bối rối gãi đầu.
Khu đất hoang tàn được bảo bọc đơn sơ bằng một dãy hàng rào sắc, chúng dựng ngả nghiêng và chỉ thấp tầm vai tôi, ở giữa là một cánh cổng màu xanh lá cây bé tí, xập xệ. Tôi đẩy cổng ra và bước vào trong.
Bước vào sâu bên trong chừng chục mét thì ngôi nhà đấy hiện ra, nằm ẩn sau hai thân cây bách hợp, cành và lá cây phủ khắp trên đầu. Đấy không phải là một ngôi nhà là một cái xe, một loại nhà xe. Chắc không còn chạy được nữa vì xung quanh bị xâm lấn bởi các loại cây dại, rêu lá lâu năm, bánh xe lộ đai sắt, cắm sâu vào lòng đất, cỏ phủ bao đầy.
Tôi nhớ khi còn bé đã từng nhiều lần được mẹ đưa sang đây chơi nhưng chẳng hề thấy chiếc xe này. Tôi tiến từng bước chậm rãi vòng ra sau căn nhà xe.
Ở xung quanh được ngăn ra bằng các hàng rào sắt yếu ớt tương tự, hình chữ o, thân thì cũng bị che phủ bởi đủ loại cây lá: Dây leo, phi lao, dương liễu và một số hoa hòe chằng chịt. Dưới chân hàng rào, những ngọn hướng dương óng ánh mọc lên, chạy dọc vào bên trong.
Đây là sự sắp xếp của tạo hóa, tôi từng thấy những cảnh na ná trước đấy, tại nơi này. Mỗi khi một ngọn gió lạ thổi lên thì tất cả muôn vật đều rung rinh dưới ánh nắng, tạo ra tiếng động xào xạt. Quang cảnh này gợi cho tôi một cảm giác rất quen thuộc, kể cả mùi vị trong gió, vị mặn chát của biển, thời gian không thể bào mòn được chúng, chẳng ai quy hoạch, xây cất và tất cả đều nguyên vẹn hệt như trong hồi ức của tôi.
Tôi thường mang theo một chiếc máy ảnh, ba tặng cho tôi vào sinh nhật năm lên bốn tuổi, loại chụp rồi cho ra hình ngay. Tôi thích chộp lấy mọi khoảng khắc, những nơi chốn mà mình thường ghé qua, sau đấy cho tất cả vào chiếc hộp gỗ, tạo nên một bộ sưu tập ảnh.
Phía sau ngôi nhà xe. Cửa ngoài mở toang và bên trong là một cửa lưới. Người phụ nữ tôi thấy hôm đấy bất chợt xuất hiện, khiến tôi sững người, ban đầu tôi cảm thấy hơi sợ vì không gian quá im ắng, tôi nghĩ rằng không ai ở nhà.
Bà cũng lại ngồi trên chiếc ghế mây ấy, hướng về phía bức tường lớn đối diện. Trên tay bà là một tách nóng giống như cacao hay cà phê. Bức tường ấy cũng đầy những dây leo, hoa dại phủ quanh và đang đứng ngập trong ánh nắng buổi ban chiều.
Nhìn vóc dáng thì tôi đoán người phụ nữ tầm 50, vì bà ta sở hữu mái tóc phun sương và lưng hơi khòm. Bà mặc trên người chiếc váy đỏ dài phủ gối, khoác trên vai áo choàng màu nâu nhạt. Kích cỡ của bà ấy cũng khá thấp bé, ngang tầm với bà ngoại, nhưng gầy hơn một chút.
Tôi dạn dĩ bước đến gần và cất tiếng:
- Xin chào quý bà!
Bà ấy quay lại nhìn tôi, giờ đây thì trông bà non trẻ hơn nhiều so với khi nãy. Đỗi sau bà mỉm cười, hỏi:
- Chào! Cháu đến tìm ai chăng?
- Không ạ! - Tôi trả lời. - Cháu từ cái nhà phía bên kia sang.
Tôi chỉ tay về phía nhà bà ngoại. Bà ấy thốt lên:
- Ô! Nhà bà Rose, vậy cháu là cháu gái bà Rose à?
- Đúng như vậy ạ!
Bà ấy quay vào trong góc sân, lấy ra chiếc ghế gỗ nhỏ hơn, vỗ vỗ trên mặt ghế, với lên cành cây gần đấy lấy xuống một tấm chăn màu đà đang vắt trải ra ghế, mời tôi ngồi.
Bà ngồi xuống cạnh và quay sang nhìn tôi, tự giới thiệu:
- Ta là Rerm, người làm thuê của bà Rose.
- Cháu tên là Kia. Tôi đáp.
Tôi đoán chắc bà Rerm cũng dạng người nhập cư, nhưng là Âu lai Á. Bà sở hữu nước da trắng khỏe mạnh, màu hồng phấn, người đầy đặn, nhưng những đường gân chạy dọc trên trán thì lại khiến bà trông thật khắc khổ, tóc bà màu nâu hạt dẻ, lấm tấm vài sợi bạc.
Bà hỏi tôi:
- Cháu muốn uống gì không?
Tôi nghe mùi thơm bốc lên từ trong cốc của Rerm thì hỏi:
- Thế cô đang uống gì vậy?
- Cafe.
- Vậy cháu cũng dùng cafe.
- Cháu uống cafe được không?
- Cháu nghĩ là được.
Bà vào trong nhà khoảng 15 phút, mọi cử động đều hơi khập khiểng và chậm chạp, chính vì thế đôi khi tôi lại thấy Rerm giống một bà già.
Tôi ngồi đấy và ngắm nghía xung quanh, khung cảnh rất tuyệt.
Bức tường phía trước mặt, nắng đã dịu hơn một chút, chúng rọi xuyên qua các kẽ lá trên ngọn cây gần đấy, vẽ lên mặt tường một bức tranh đầy những chiếc lá phong nằm len lõi. Thảo nảo bà Rerm cứ mãi nhìn chăm chú vào nơi ấy.
Rồi bà bước ra đưa cho tôi một cốc cafe nóng hổi. Tôi cầm lấy, cũng cái mùi cafe thơm lừng ấy bốc lên trong bầu không khí trong trẻo. Nhìn trên cốc, hình thù các con thú được vẽ cách điệu đủ kiểu khiến tôi cười khan, từ mèo gấu chuột, sâu bọ lẫn sam sam đều đáng yêu cả. Bà Rerm cũng thật khéo chọn cốc dành cho trẻ con.
Tôi nhấp một ngụm, cafe rất ngon, rồi nhấp thêm ngụm nữa, hương vị cafe lan tỏa khắp lưỡi tôi, chút đăng đắng mà lại béo ngọt, tôi nốc hết sạch và đặt cốc lên mặt bàn, dựa lưng ra ghế ngồi thư giãn, tôi tán gẫu cùng bà.
- Cháu thấy ngon không? - Bà Rerm hỏi tôi.
- Quá ngon cô ạ! Cháu cám ơn cô nhé!
Cô Rerm này, cháu được biết những người làm công thì sống tại nông trại, nhưng cô lại sống ở đây cũng hay nhỉ?
- À! - Bà trả lời. - Vì ta không hợp với ai nên bà Rose tạo điều kiện để ta sống ở đây.
Nhưng không phải mọi người làm trong vườn đều sống ở nông trại, họ sống rãi rác khắp xung quanh.
- Cháu thích nơi này lắm!
Tôi xin phép Rerm vào tham quan bên trong căn nhà xe của bà.
Bên trong khá nhỏ hẹp, đầu tiên là gian bếp rồi đến một căn phòng với cánh cửa đóng kín, chắc đấy là phòng ngủ. Không gian ở với ánh sáng khá êm dịu.
Một cái bàn bếp với khăn trải caro màu xanh lá cây, một lọ hoa hồng tỉ muội nằm trên bàn. Cửa sổ treo rèm ren trắng bên ngoài, bên trong là rèm ren màu nâu tối. Đĩa bát và các dụng cụ làm bếp khô ráo, được úp trên bệ đựng. Tường được gián bằng lớp giấy hoa. Mọi thứ ngăn nắp, sạch sẽ cùng trang trí nhiều hoa và nến, tuy nhiên còn nhiều chỗ cũ kỹ và hư hỏng, như góc nhà bị vỡ, gió cứ luồng vào lạnh cả chân, cánh cửa chính bên ngoài hơi bị lệch.
Tôi trở ra, Rerm vẫn đang ngồi đấy mắt nhìn xa xăm vào một khoảng không. Trong ánh sáng, tôi mới nhận ra tròng măt bà màu xám bạc.
Tôi ngồi lại trên ghế. Chút gì đó sảng khoái và dễ chịu đang lan tỏa trong khắp cơ thể khiến tôi cảm thấy cái gì cũng thú vị cả. Mảng nắng đối diện chúng tôi cứ óng ánh lên không ngừng tạo ra luồng hơi ấm áp sưởi ấm cho chúng tôi. Hương vị cafe đầu đời đã đem đến cho tôi những điều thật ấn tượng.
Bây giờ tôi cũng suy tư như Rerm, không cần nói với nhau nhiều, nhưng chúng tôi vẫn có thể chia sẻ được từng khoảng khắc sống ở hiện tại và thấu hiểu nhau như hai tâm hồn đồng điệu. Lần đầu gặp gỡ, tôi cảm kích sự chu đáo, tận tình mà Rerm đã mang đến cho một đứa trẻ như tôi. Tuy rằng chúng chỉ là ít ỏi.
Tôi từ giã bà khi trời vừa chập tối và kịp trở vào trong nhà trước khi không khí lạnh tràn vào làm nhoè những tấm kiếng trên cửa sổ. Tôi vẫn không khỏi lo lắng một vài điều về căn nhà của Rerm, không có máy điều hòa vậy liệu bà có đủ ấm trong đêm nay? Nhưng vì bà ấy đã quen sống trong môi trường như vậy trước khi tôi đến, vậy nên tôi yên tâm rằng Rerm biết cách chăm sóc cho bản thân. Tối nay tôi ăn ít và ngủ sớm. Tôi bắt ghế trèo lên, nhìn sang phía nhà Rerm, tôi không ngừng nghĩ đến bà.
Từ thưở bé, tôi luôn bị thu hút bởi bất cứ điều gì câm lặng hay những vấn đề ít được ai quan tâm. Chẳng hạn như: Câu chuyện cổ tích về các chú lùn vá giày rách cho bọn trẻ vào lúc nửa đêm, con thỏ luôn vội vã trong alice và sứ xở thần tiên, vũ công ballet múa trên một chiếc hộp nhạc, những con búp bê nga hay bất kể ai luôn im lặng và trầm tính đều khiến tôi nghĩ về chúng. Người chợt đến chợt đi mà chẳng ai hay, không làm náo động đến thế sự cũng như không gây rắc rối, phiền toái đến ai, như chiếc bóng lặng lẽ, rời xa trong đêm tối dịu dàng, chỉ khi một ngày chúng ta nhận ra sự vắng mặt của họ thì khẽ nhún vai: Ồ họ biến mất rồi. Đôi khi tôi thắc mắc và cứ ngóng đợi tin tức của những điều tương tự thế, và dõi theo cho đến khi chúng biến mất mới thôi, nhưng hầu như chẳng bao giờ có thể tìm lại, chúng sẽ không quay trở về một lần nữa. Tôi đã rất buồn, nhưng biết làm sao được, tôi không thể níu giữ. Phải chi tôi được hòa mình vào với cái thế giới ấy, để có thể thấu hiểu và lắng nghe.
Tôi còn nhớ hồi còn học lớp ba ở Washington, tôi hay chú ý đến một đứa con gái trông nhỏ thó, xanh xao, răng vẩu và ăn mặc quê mùa nhưng nhìn rất hiền lành, chân chất. Tôi còn nhớ tên bạn ấy là Chiles. Chiles luôn học giỏi nhất nhì lớp, cực kỳ ít nói, chỉ trừ khi ai hỏi thì mới trả lời, chất giọng Anh lơ lớ của bạn nghe rất quê.
Bạn ấy như một cái máy, chỉ biết học và chẳng giao thiệp với ai. Chẳng ai thèm để ý đến sự hiện diện của Chiles ngoài tôi ra. Chiles luôn đến và đi như một cái bóng. Tôi còn nhớ cái điệu bộ của Chiles lúc nào cũng ngây ngô, tưng tửng, không vui không buồn, bất kể cô ấy có làm gì thì cũng giữ một kiểu như vậy. Tâm trạng Chiles lucs nào cũng thư thái như chẳng có chuyện gì quan trọng cả.
Tôi tò mò về Chiles đến mức một buổi trưa nắng nóng sau khi tan trường, tôi theo sau bạn ấy. Chiles biết tôi theo sau vì vài lần ngoáy đầu nhìn, nhưng cũng không phản ứng. Trời nóng như than, bạn ấy cứ dẫn tôi đi mãi đi mãi mà chẳng thấy nhà ở đâu. Khi không còn chịu đựng được nữa tôi bỏ cuộc, đến ngõ cua gần nhà, tôi quẹo về.
Tôi không hiểu vì sao như mọi ngày Chiles lại cuốc bộ đi học xa xôi như vậy, không trễ giờ, vẫn cần cù và chăm chỉ. Tôi đã ngừng theo dõi Chiles kể từ khi ấy.
Bây giờ nghĩ lại, tôi vẫn khâm phục cô học trò ấy. Có khi tôi lại nằm mơ thấy mình đi theo Chiles để nhìn thấy nhà của bạn ấy nhưng cứ đi mãi đi mãi. Không biết bây giờ Chiles đang làm gì và ở đâu, tôi chỉ mong cho Chiles gặp được những điều tốt lành. Chiles vẫn là một viên ngọc sáng bậc nếu có ở giữa những cô gái đẹp.
Sáng hôm sau, tôi ghé qua nhà Rerm nhưng không thấy bà ở nhà. Đoán bà còn đang làm việc trong vườn, tôi đành trở về nhà chơi bời linh tinh: Bày trò với mấy chiếc bánh quy ở trên bàn, xếp chúng thành hình trên những quả cam, sau đấy ném vào các chú chó.
Mẹ tôi bước đến hỏi:
- Con đã chán vui chơi chưa?
- Lại chuyện gì nữa vậy mẹ. - Tôi làu bàu.
- Không có chi, con cứ thoải mái vì còn cả tháng hè trước khi bắt đầu năm học, mai mẹ sẽ đi xin trường cho con cả mua thêm sách vở nữa.
Ôi chán nản vô cùng khi nghe mẹ nhắc đến trường học. Khi còn ở Washington tôi chẳng chơi được với ai lâu dài, kể cả thầy cô tôi cũng chẳng ưa, chỉ hy vọng rằng trường học tại Ab mọi thứ sẽ khá hơn.
- Và còn một điều nữa. - Mẹ tôi nói tiếp.
Tối Chúa Nhật này các bạn của mẹ đến thăm, nhà ta sẽ tổ chức tiệc, mẹ muốn con phải phụ giúp trong ngày ấy, nhớ nhé!
Ôi bạn của mẹ, tôi không biết ai sẽ đến, vì hầu như toàn là những loại người sẽ náo động cả cái khu phố yên tĩnh này.
Trở về chiếc giường xinh xắn của mình, tôi nằm đọc
truyện.
Đến tận 2 giờ trưa, bà Rerm bắt đầu trở về. Bà uể oải nặng nề lê từng bước chân dưới cái nắng nóng. Khi bà vừa mở cổng, tôi chạy sang ngay.
Thật lạ thay, bà Rerm trông rối ren với mớ tóc bù xù, áo quần nhăn nhúm cùng cặp mắt đỏ hoe. Vừa bước vào nhà bà nói giọng run run:
- Chào cháu!
Bà không nhìn tôi, chỉ gắng cười nhưng không được đón tiếp cho lắm, rồi vào trong nhà, bỏ dỡ chiếc giỏ xách to tướng lên sàn, ngồi phịch trên ghế. Thấy thế tôi ngại nên không dám vào. Đỗi sau thì bà gọi:
- Cháu vào trong nhà này! Đứng đấy làm chi thế!
Tôi lúng túng bước vào, lúc ấy bà đang ăn vội miếng bánh táo nướng cũ kỹ, ăn xong bà lôi mớ thuốc dưới hộc bàn ra uống. Sau cùng bà mới quay sang nói với tôi:
- Cháu cứ ở chơi nhé, khi nào muốn về thì về! Ta nghỉ ngơi một lát, chút xíu dậy ta sẽ làm café!
Tôi hỏi với theo:
- Mọi chuyện ổn cả chứ, thưa cô!
Bà vẫy vẫy tay:
- Không có chi cháu ạ!
Sau đấy vào phòng ngủ nhẹ nhàng khép cửa lại. Tôi ngồi ngay góc nhà, ngẫm nghĩ lung tung, tự hỏi liệu đã có chuyện gì xảy ra với bà Rerm. Lát sau, tôi đành trở về.
Tôi đã ngủ quên trên chiếc ghế bành ở phòng khách và thấy hơi mệt ở tim vì bị bóng đè. Mắt cứ khép hờ nhìn lên trên trần nhà, tôi không tài nào tỉnh dậy được dù cố gắng hết sức, tôi vẫy vùng trong giấc mơ, thấy mình đã tỉnh giấc rồi nhưng vẫn còn kẹt lại trong ấy, giấc mơ được lặp lại đến mấy lần cho đến khi các vị cứu tin đến giúp, đấy là hai chú chó rượt đuổi nhau từ trong bếp ra đến phòng khách, đụng mạnh vào chiếc ghế bành nơi tôi nằm khiến tôi ngồi bậc dậy và thở dốc, cảm thấy mình như vừa mới thoát xác vậy. « Chẳng nhẽ khi chết rồi thì cũng giống như vậy à », tôi nghĩ vớ vẩn.
Và hầu như nhớ ra mình sắp đánh mất một điều gì đấy, tôi nhìn vào đồng hồ đã là 4 giờ chiều. Tôi hoảng hốt và chạy như bay sang nhà bà Rerm để kịp uống cafe với bà.
Bên ngoài nắng đã bắt đầu lan rộng khắp hàng rào và len lõi qua cây lá dọc hai bên đường. Khi đến nơi tôi thấy Rerm đã ngồi đấy tựa khi nào. Khung cảnh thật tuyệt: Người phụ nữ ngồi trên chiếc ghế mây, đối diện bờ tường ấm đang nhuộm ánh nắng màu vàng rượm, rồi nắng chợt dịu lại, trong trẻo như được thanh lọc bởi một tấm lưới vô hình. Bóng những chiếc lá phong vẫn được vẽ trên bức tường ấy một cách ngoằn nghèo, xen dọc nhưng lần này thì lại giống bức tranh của một tay họa sĩ khác.
Gương mặt bà Rerm ánh lên niềm hạnh phúc vô bờ, bao nhiêu ánh sáng của nắng như đang hút phía bà, khiến bà trở nên lóng lánh và thánh thiện như một thiên thần. Lúc bấy giờ Rerm không phải là con người, bà trông như một vật thể vô cùng hòa hợp với thiên nhiên, một bông hoa dại có màu hồng nhạt đang tan chảy vào nắng rực rỡ và bất tử.
Tôi vẫy tay chào bà, thấy thế bà quay sang tôi và nói:
- Ồ, cháu đợi ta một chút!
Bà vào trong nhà một lúc rồi bước ra với ly café nóng hổi trên tay, đưa cho tôi, tôi đón lấy rồi cảm ơn bà.
Có một chiếc ghế mây nhỏ đã đặt sẵn bên cạnh ghế của bà, trải chăn sẵn để dành cho tôi, tôi bước đến ngồi và uống cafe.
Ở bà Rerm có một điểm thu hút tôi đấy chính là nụ cười, trông vừa lạ lẫm lại vừa quen thuộc, khi cười bà trông rất hiền lành, lành như một con chiên của Chúa vậy, nhưng cũng giống nhân vật trong truyện cổ tích, tôi đã nhìn thấy nụ cười này từ rất lâu nhưng không thể nhớ ra ở đâu, thường thấy trên gương mặt của những ông bà già hay bọn trẻ thơ sống nơi xứ lạnh. Hai gò má của bà luôn ửng hồng, cặp mắt thì to, ánh nhìn đầy bí ẩn, sóng mũi cao, đôi môi đầy đặn, kể cả bàn tay bà trông cũng đẹp và mủm mỉm. Rerm không giống như những người phụ nữ đẹp khác vì vẻ đẹp của bà bị che mờ bởi sự luộm thuộm và khắc khổ qua hình dáng bên ngoài.
Sáng nay trông bà buồn bã bao nhiêu thì bây giờ trông lại rạng rỡ bấy nhiêu, không biết điều gì đã làm bà thay đổi như thế, như bà có thể tự chữa lành bằng những niềm vui đối với thiên nhiên hay thưởng thức các món ăn uống và niềm vui do bản thân tự tạo ra, và đấy là điều mà tôi học được nơi bà Rerm, kể cả mẹ tôi, tất cả mọi người đều để cảm xúc phụ thuộc vào nơi con người mà không biết rằng cảnh vật trên thế gian có thể cảm hóa được chúng ta chứ khôngdễ đổi thay như loài người.
Chúng tôi thường ngồi cạnh nhau trong im lặng, bà Rerm tuy ít nói nhưng chất giọng rất đỗi nhẹ nhàng ấm áp. Một lần nữa, tôi được thưởng thức cafe và thư giãn vào một buổi xế chiều trong khu vườn này, khúc giao mùa giữa sáng và tối.
Một màu hồng ửng lan khắp bờ tường rồi dần chuyển sang xanh tím. Vài ngọn đèn vàng mọc lên dọc các con phố dầu chỉ mới 5 giờ chiều. Gió bỗng lay động không ngừng, có lúc trở nên dữ dội. Chính sự tuyệt diệu nơi thời tiết khiến chúng tôi ngồi nán lại chút nữa và cùng nhau trò chuyện. Bà hỏi thăm tình hình học tập của tôi:
- Cháu sắp đi học lại chưa?
- Vẫn chưa ạ, còn khoảng 1 tháng nữa mới bắt đầu năm học mới.
- Cháu đã kết bạn với ai ở đây chưa?
- Rồi ạ, cô đấy!
Rerm bật cười:
- Không, bạn đồng trang lứa ấy!
- Vẫn chưa ạ, bọn trẻ con ở xóm này không hay ra ngoài.
Thế còn cô, cô có nhiều bạn bè chứ.
- Ta không có nhiều bạn bè.
Tôi đắn đo môt chút rồi tiếp tục hỏi:
- Sáng nay đã có chuyện xảy ra với cô phải không?
Rerm ngó quanh hồi lâu, nhẹ nhún vai:
- Không, không có chuyện gì xảy ra cả!
- Vậy mà cháu thấy trông cô mệt mỏi và hoảng sợ lắm, giống như đã xích mích với ai vậy.
Lắc lắc cái đầu, bà nhăn mũi đáp:
- Ừ, cháu đoán cũng đúng, ta không mấy hòa hợp với người làm trong vườn lắm, dù đã cố gắng.
- Vậy họ gây gỗ với cô à?
- Cũng xích mích chút chút, chuyện này cứ xảy ra hoài, chắc do ta không thể hòa nhập được với tập thể nên vậy.
- Cháu thấy cô cũng thân thiện mà!
- Cháu khác với họ, họ có vẻ lãnh cảm lắm. Đối với họ chắc ta cũng vậy, từ bé ta không bao giờ hòa hợp được với ai cả.
- Từ bé? Thế lúc ấy cô sống với ai, gia đình cô hiện đang ở đâu? Rồi cô đã kết hôn và có con chưa?
- Không, ta vẫn còn độc thân.
- Thế à! Vậy còn cha mẹ!
Rerm lắc đầu:
- Không còn nữa, thế nên ta cũng không muốn nhắc.
Tôi không dám hỏi thêm điều gì về Rerm mặc dù vẫn còn nhiều gúc mắc. Bà lại nói tiếp:
- Có một điều rằng, hồi còn bé ta đã được xem rất nhiều phim ảnh. Những đoạn phim hay ta ghi dấu lại để cuối tuần mở ra xem. Gia đình luôn khuyên bảo hãy ra ngoài và giao tiếp với bạn bè nhưng ta không tìm thấy sự đồng cảm nơi ai cả, chỉ thích sống trong phim ảnh, vui với họ và buồn với họ, những nhân vật trong phim. Đến bây giờ tuy không có phim ảnh, nhưng tất cả đều nằm trong tâm trí và ta lại tìm niềm vui nơi cảnh vật, ngay đây và hiện tại. Cháu biết không, đấy mới là điều may mắn!
Tôi chợt cảm thấy rung động khi nghe Rerm tâm sự, tôi nghĩ đấy là kho tàng lớn lao và duy nhất của bà, tôi muốn hỏi về cha mẹ của bà nhưng lại chưa dám nên cố suy nghĩ về một vấn đề khác. Trưa nay khi thấy trước khi ăn miếng bánh nướng, Rerm đã nhắm mắt lại và lẩm nhẩm, tôi nghĩ bà cầu nguyện. Và tôi hỏi bà:
- Sáng nay cháu để ý thấy cô đã cầu nguyện trước khi ăn, thế cô theo công giáo hả?
- Không, ta là người tin lành, thế còn cháu?
- Cháu chỉ theo công giáo ạ.
- À vậy chúng ta cũng cùng một cha trên trời.
- Cháu có biết một nhà thờ ở gần đây, Chúa Nhật này cô muốn đến chứ.
- Ta không chắc nữa, lâu rồi ta không đến nhà thờ, nhưng không phải cháu đến cùng gia đình à.
- Đúng vậy, thế cô có muốn đi cùng bọn cháu không?
Rerm ngẫm nghĩ một lúc, rồi trả lời.
- Chắc không cháu ạ! Ta nghĩ gia đình cháu sẽ không thích.
Thấy bà nói cũng đúng nên tôi im lặng.
Tôi trở về nhà vào khoảng 7 giờ tối. Mẹ tôi đứng ngay phòng khách và hỏi:
- Con sang bên đấy làm chi thế?
Tôi ấp úng trả lời:
- Con chỉ qua nhà hàng xóm chơi thôi.
- Con nghĩ mình muốn làm chuyện chi cũng được, phải không?
- Không phải vậy ạ!
- Mấy ngày nay con hay sang bên đấy, chơi với ai?
- Con chơi với bà Rerm người hàng xóm.. à không, người làm công của bà ngoại.
- Làm công ư? - Mẹ tôi gắt gỏng.
Mẹ sẽ hỏi việc này sau, bây giờ con lên phòng tắm rửa thay đồ rồi xuống ăn tối ngay!
Tôi nghe theo.
Sau bữa ăn tối, chúng tôi cùng nhau nói chuyện, tôi kể cho mẹ nghe về bà Rerm. Bà ngoại nói với mẹ:
- Rerm là người phụ nữ rất đáng thương.
Nhưng dì Ray thì lại bảo:
- Đáng thương gì chứ, làm việc chậm chạp lại hay gây gỗ.
- Con chắc chứ vì mẹ thấy cổ đầm tính lắm, tuy thế mẹ vẫn trả công cho cổ thấp hơn người khác.
Mẹ tôi hỏi bà:
- Bên đấy là đất của bố, mẹ để cho chị ta ở chi vậy? Nông trại người làm gần đây mà.
- Tại Rerm hay bất hòa với người ta nên mẹ cho cổ ở. Hồi đấy ông bạn của bố gởi cái nhà xe ở đấy rồi biến luôn, mẹ tính kêu người mang bỏ nhưng thấy Rerm ở thì giữ lại.
Dì tôi bảo.
- Mẹ ưu tiên cho chị ấy đấy!
- Chẳng ưu tiên ai cả, hoàn cảnh cô ấy khó khăn, cái mảnh đất đấy thì bỏ phí, cho cô ấy vào ở cũng chẳng vấn đề gì. Cô ta tự thân vận động lấy, tìm nguồn nước, xây bếp, chi trả chi phí, chúng ta còn chẳng thiệt thòi.
- Không hòa hợp cũng thật là bất lợi nhỉ! Ở nông trại đầy đủ cả.
Bà ngoại hỏi mẹ tôi..
- Con còn nhớ ông Dave không? Dave Hawke.
Suy nghĩ một hồi lâu, mẹ tôi mới trả lời:
- À! Nhớ chứ, ông nhà quý tộc, bạn học của mẹ phải không?
- Ừa, Rerm là con gái ông ấy đấy. - Bà tôi bảo.
Mẹ tôi thốt lên:
- Ôi trời ơi! Thật hả? Vậy làm thế nào mà chị ta lại làm công cho nhà ta được?
- Ông ấy đã bỏ rơi Rerm rồi, trong một bệnh viện đấy! - Dì Ray bảo với mẹ tôi.
- Bệnh viện nào? Chị ta bị bệnh gì?
- Viện Ohio Mhas!
- Ohio? - Mẹ tôi lẩm nhẩm rồi quay sang hỏi Ray. - Đấy là bệnh viện tâm thần, không phải chứ?
- Chị ta bị điên mà. - Ray đáp.
Nghe thấy thế tôi cũng rất ngạc nhiên.
- Chị Rerm bị điên ư? - Mẹ tôi lại thốt lên. - Mẹ ơi, chị ta bị điên! Vậy mà bao lâu nay con gái của con sang bên đấy chơi, có phải là quá nguy hiểm không?
Bà tôi trấn an:
- Không phải là điên thông thường, chỉ là một dạng động kinh nhẹ thôi, cô ta chữa khỏi rồi, cổ vẫn dùng thuốc đều đặn mà!
- Mẹ có bênh không đấy, chị ấy thường xuyên gây gỗ mà!
- Mẹ bênh làm chi, suy luận thử xem, mọi chuyện đều bị tác động từ hai phía, không ai ở đấy để biết phân biệc đúng sai cả. Cứ tưởng tượng nếu các con không có cha mẹ nuôi dưỡng ngay từ tấm bé thì sẽ như thế nào. Rerm cần sự giúp đỡ, nếu không giúp người ta thì ai sẽ giúp các con khi khó khăn đây!
Mẹ tôi bảo:
- Mẹ nói Rerm là một người đáng thương vậy kể con nghe về chị ấy xem!
Bà tôi bắt đầu kể:
- Hồi đấy khi bố mẹ còn làm trong nhà máy giày cho gia đình ông Hawke, thì nhóm người Việt Nam nọ vào làm việc chung, họ sang đây trong chương trình lao động xuất khẩu. Trong nhóm ấy, một người phụ nữ đã gặp gỡ thân thiết với ông Hawke, mẹ không nhớ nổi tên bà ta. Tuy đã có vợ nhưng ông ấy vẫn lén dan díu với bà ấy. Sau đấy bà mang thai và sinh ra Rerm, mà bả cũng chưa biết rằng ông ta đã có vợ con. Bà ấy từng có chút vấn đề về thần kinh nhưng được chữa khỏi trước khi đến Mỹ, tới lúc phát hiện ra sự thật và bị ông Hawke bỏ mặc thì bà ta bắt đầu phát điên trở lại, không chấp nhận nổi sự thật, bà ấy uống thuốc tự tử không lâu sau. Ông ấy hối hận đưa Rerm về nhà nuôi. Ban đầu ông ta cũng thương yêu Rerm lắm, đưa cô ấy đi chơi khắp nơi cùng với gia đình riêng của ông, còn đến viếng vườn cam nhà ta, gặp gỡ bố mẹ.
Đến lúc phát hiện ra Rerm cũng lại là một đứa trẻ có vấn đề thần kinh như mẹ của mình, ông ấy ngỡ ngàng. Rerm luôn sống trong câm lặng, đặc biệc không thuận hòa với ai. Rerm không hay nổi điên nhưng lén phá hoại đồ dạc trong nhà, lên cơn co giật. Tổ chức xã hội buộc ông Hawke phải đưa con gái mình vào bệnh viện thần kinh chữa trị. Dần về sau, ông Hawke đã không còn đến thăm con gái nữa mà chỉ gởi trả viện phí cho đến khi Rerm được chữa trị khỏi. Lúc ra viện cũng là lúc cô đến tuổi trưởng thành, Rerm không còn liên lạc được với cha mình cũng không có chốn nương tựa. Ban đầu cô ấy lui tới vườn cam để hỏi thăm tung tích cha, đáng tiếc rằng ông và gia đình đã dọn đến nơi khác. Khi biết được rằng ông ấy đã thật sự muốn rời bỏ mình, Rerm rất hoảng loạn và tuyệt vọng, bố mẹ đã yêu cầu giúp đỡ nhưng vài hôm sau thì cổ bỏ ra khỏi thị trấn, mẹ nghĩ cô ấy tìm cha mình. Cho đến 2 năm trước thì Rerm lại xuất hiện và xin làm trong vườn cam nhà ta. Cô ấy vẫn không tìm được ông ấy.
- Tội nghiệp quá! Nhưng mẹ chắc bây giờ cô ta đã thật sự bình thường chưa? - Mẹ tôi bảo.
- Chẳng ai thả một người điên ra viện cả, song chưa bao giờ mẹ thấy cô ta nổi điên.
Dì Ray nói:
- Ai đấy bảo thấy chị ta ngồi dưới gốc cây, mặt bỗng đỏ tía rồi tay chân run rẩy, mỗi khi có chuyện bất mãn chị ta trở nên như vậy.
- Nếu có chút vấn đề gây ảnh hưởng đến mọi người thì cô ấy sẽ không làm ở đây nữa, đừng lo! - Bà ngoại đáp.
Mẹ tôi bỗng nhiên bực bội lắm, bảo:
- Đáng lẽ mẹ nên nói với con ngay từ đầu chứ, ai lại để con cháu mình gặp gỡ một người như vậy. Đợi đến lúc chuyện xảy ra rồi thì nói chi nữa.
Tôi cố gắng thuyết phục mẹ:
- Bà ấy không điên mẹ ạ!
Bà ngoại trở nên im lặng một hồi rồi gắt gỏng với mẹ tôi:
- Chuyện con lơ là hay không quan tâm đến con cái đấy là chuyện của con, còn mẹ chỉ kể về Rerm thôi, trách nhiệm cha mẹ vẫn là của con, nếu cứ trách người khác vớ vẩn thì không cần phải ở đây nữa, một mình con thôi, hiểu chứ!
Thấy bà nói cũng có lý, mẹ tôi lúng túng:
- Con biết, đúng lỗi do con cả. Con thấy mình cũng nên thông cảm với chị ta vì Kia cũng bị cha bỏ rơi từ bé mà, nhưng con cũng lo lo.
Rồi mẹ quay sang nhìn tôi:
- Từ nay con không được sang ấy chơi nữa, hiểu chưa?
Rồi bà đứng dậy rời khỏi bàn. Buổi tối hôm nay hơi căng thẳng, nhưng tôi tin mẹ tôi cũng là một người phụ nữ có tấm lòng nhân hậu, chỉ có điều bà ít khi thể hiện ra.
Sáng thứ bảy, mẹ dẫn tôi sang nhà bà Rerm để rủ bà đi lễ ngày Chúa Nhật. Mặc dù Rerm từ chối nhưng cả hai cũng khá cởi mở và hòa hợp. Sau khi đã tiếp xúc với Rerm, mẹ tôi có chút yên lòng. Những khi tôi xin phép để sang thăm Rerm bà đều đồng ý, nhưng phải về đúng giờ.
Rerm cũng rất có khiếu nấu ăn, bà thường làm cho tôi các món bánh táo nướng, mì ý hay các món ăn Viêt Nam, nước uống thì đơn giản là nước chanh, nước cam, trà đào. Mọi thứ bà làm tuy không quá xuất sắc nhưng sạch sẽ và rất bắt mắt. Đôi khi đói bụng, điều đầu tiên tôi nghĩ đến là những thứ Rerm đã làm cho tôi.
Bà cũng có vài cái thú lạ lẫm, quan sát nhiều lần tôi mới để ý. Bà thích ngắm nghía và lắng nghe các cụ già tán gẫu, bà không nhìn chằm chằm vào họ, mà hơi nghiêng đầu sang một bên để nghe nghóng, rồi lại mỉm cười. Khi ấy gương mặt bà sáng lên một màu sắc vui vẻ, thích thú. Cách bà nhìn các cụ giống như đang nhìn trẻ nhỏ vậy.
Bà thích dạo vòng quanh đường phố để nhặt thông vào sớm cuối tuần, đôi khi tha vài cành thông về nhà. Rerm có vẻ thích cây thông.
Rerm còn chia sẻ, khi còn tha hương ở Texas, bà hay lảng vảng vào các quán rượu xung quanh nhà nghỉ.
Tôi từng nghe nói Texas ở phía Tây Nam nước Mỹ, cái xứ sở nóng bừng và chán phèo ấy chẳng ai mê, toàn các thể loại sa mạc đường dài hay những gã cao bồi cục xúc, đàn bà lẳng lơ.. đầy xe tải và nhà nghỉ dọc đường. Cũng có thể một vài người suy nghĩ khá tiêu cực về Texas.
Nhưng, quán rượu như lời Rerm nói: Ở một nơi vắng vẻ, các loại nhạc sến ngầu của dân cao bồi, bàn biya và thứ ánh sáng lập lòe ấy, nghe cũng hay hay. Một trong những quán rượu Rerm đã từng ghé qua và miêu tả như vậy, ở đấy chẳng ai thèm để ý đến ai cả, mặc dù xung quanh toàn những gã giang hồ to lớn, râu hùm, xăm trổ đầy mình. Một người phụ nữ hấp dẫn còn khoác trên mình bộ đồ công sở, uốn mình theo giai điệu phát ra từ trong chiếc máy hát trong góc, sau giờ làm.. Nghe như một thế giới khác vậy.
Bà Rerm cũng thích nghe nhạc, loại âm nhạc bà thường nghe khá lạ lẫm đối với tôi, thường là những bản nhạc xa xưa từ cái thời tôi còn chưa sinh ra. Chúng phát ra từ trong chiếc máy radio cũ kỹ của bà, nhưng Rerm chỉ nghe một chút vào buổi sáng và một chút vào buổi tối, bà thường mở khe khẽ, khiến tôi nghe như xa xăm chứ không ở gần. Tất cả chúng đều ở trong một chương trình phát thanh nào đấy, người đàn ông dẫn truyện có chất giọng nam tính, đầy gợi cảm, âm thanh thì ò è không được tốt, ấy thế mà chúng lại mang đến cho tôi sự tò mò.
Dạo ấy, sáng nào khi sang nhà tôi cũng nghe Rerm mở mãi một bản nhạc, và đến bây giờ tôi cũng không biết tựa bài là gì, nữ ca sĩ hình như là một người da trắng, bà ấy cứ lập lại một câu: Frankie! Frankie! Tôi cố tìm bản nhạc này trên mạng internet nhưng không thể nào tìm ra, tôi có hỏi Rerm về tựa ca khúc nhưng bà lại càng không biết, bà nói mình chỉ mở lên thế thôi. Thế là câu hát Frankie.. Fankie.. chúng cứ mãi vang lên trong đầu tôi.
Vào buổi tối, Rerm thường mở các ca khúc theo phong cách blue va jazz, trình bày bởi các nghệ sĩ da đen. Tiếng piano ngẫu hứng cứ vang lên từng đợt một và xua tan bầu không khí lạnh lẽo, ấm áp vô cùng.
Đôi lần vào giữa đêm khuya khi tôi thức dậy để đi vệ sinh, qua cánh cửa thông gió tôi nghe một mùi cafe thơm phức. Trở về chỗ ngủ, tôi nhắt ghế và nhìn ra ngoài. Ánh trăng rọi sáng cả một khoảng sân nơi bà đang ngồi, mọi thứ dường như rất bí ẩn vào khoảng nửa đêm. Tôi ao ước mình có thể mở cửa ra và chạy sang, nhưng sẽ không ai cho phép tôi làm như vậy, thế nên tôi đành trở về giường ngủ. Trong giấc mơ, tôi thấy mình ngồi cạnh Rerm nhấm nháp café trong đêm khuya lạnh lẽo, rồi một ngày không xa tôi sẽ làm như vậy. Và đấy chính là sự tự do.
Đã đến ngày mẹ tôi mở tiệc, chẳng biết nhằm vào dịp gì, mẹ còn mời cả bà Rerm đến dự.
Đã 6 giờ tối, mọi người trong nhà đang trang hoàng phòng khách, đặt bàn, bày biện đồ ăn, tạo nên một không gian đơn giản và ấm cúm với nến và hoa, các món ăn bao gồm mì ý kèm bittet, rau trộn, súp măng tây và tráng miệng gồm cam và dâu, thức uống có rượu, nước trái cây.
Rerm đến khá sớm với một chai rượu nho trên tay, bà trông có vẻ tươm tất hơn ngày thường, tóc tai buộc gọn gàng, mặc chiếc áo sơmi caro đỏ bên trong và bên ngoài là áo gilê trắng bằng vải bông, quần nhung đen mang giày cao cổ.
Mẹ tôi bước ra mở cửa, mời Rerm vào bên trong, mẹ tôi trông rất quyến rũ với chiếc đầm dài màu xanh lá và cài trên đầu cây trâm bông đỏ thẫm.
Rerm vừa bước vào nhà thì đến ngồi ngay một góc phòng khách, ngắm nghía xung quanh, trông bà khá lúng túng.
Chúng tôi bắt đầu ngồi vào bàn ăn. Mẹ tôi bảo còn đang chờ hai người bạn từ Washington đến, họ nói đã có mặt ở đây từ sáng nhưng giờ vẫn chưa thấy. Thật ngạc nhiên khi chỉ có hai người thôi.
Chúng tôi ăn uống và tán gẫu vui vẻ.
Đến gần cuối buổi thì tiếng chuông vang lên, mẹ tôi thích thú bước ra mở cửa.
- Họ tới rồi. - Bà nói.
Một âm thanh ồn ào, hỗn loạn từ ngoài sân, bon chó sủa inh õi lẫn trong tiếng người cười nói khanh khách. Ôi không phải chứ, là Nikki và Cheille, hai bà thím nổi tiếng nhiều chuyện và bê bối, họ đến nơi đâu cũng luôn la lối ỏm tỏi hay gây náo động.
Bác Otis vào trong bếp cùng một số người làm ra khiên xách vali cho họ, đồ đạc nhiều như đang dọn nhà vậy. Bà và hai dì của tôi phải đứng lên để sắp xếp phòng ốc cho họ. Tôi cảm thấy hơi hoang mang.
Cũng gần nửa tiếng sau, mẹ tôi cùng hai bà thím ấy mới bước xuống và ngồi vào bàn ăn. Mẹ bảo họ:
- Các chị đến trễ quá, ngồi vào đây nào!
Mùi nước hoa nồng nặc xộc vào mũi tôi. Họ bắt đầu nói, vừa ăn và nói, khi cả hai đều nói thể nào cũng cãi nhau. Kể từ lúc đấy, chúng tôi chỉ nghe họ nói chuyện và không ai có thể xen vào một từ nào. Khoảng không gian ấm áp, lắng đọng bỗng trở nên bị ô nhiễm, không biết động lực nào thúc đẩy mà Nikki bỗng nhiên gào lên một phấn khích khiến mọi người giật nẩy mình và bọn chó cũng rú theo, có vẻ như không ai hiểu câu chuyện mà họ đang nói ngoại trừ mẹ tôi, mặc dù tất cả đều gật gù và cười theo một cách ngớ ngẩn. Nikki và Cheille là hai bà thím rất khỏe mạnh, vì họ đi đường dài cả ngày trời chưa hề nghỉ ngơi nhưng vẫn thể trò chuyện liên hồi không dứt.
Rerm càng trở nên im lặng và khiêm tốn hơn từ khi họ xuất hiện, họ hỏi han tất cả mọi người ngồi trong bàn nhưng lại không hề biết đến sự có mặt của Rerm, bà cố gắng tỏ vẻ thản nhiên nhưng sau đấy lẳng lặng rút ra khỏi bàn. Người duy nhất tiễn bà ra cửa là tôi, trước khi về Rerm nhờ tôi nhắn lời cảm ơn của bà đến tất cả mọi người.
Đỗi sau thì mẹ tôi mới chạy ra vẫy gọi:
- Rerm! Chị về ư?
- Bà ấy về rồi mẹ ơi! - Tôi bực bội đóng cửa lại.
Mọi người trong bàn tiệc lần lượt rời đi, còn lại ba người là Cheille, Nikki và mẹ. Họ ngồi uống rượu và tán gẫu đến qua 2 giờ khuya, thật là dễ sợ.
Cheille và Nikki muốn ở lại chơi trong 3 ngày, nhưng 3 ngày mà họ nói thật sự là 3 tháng. Chỉ trong vài ngày, ở bất cứ nơi nào trong căn nhà này cũng đầy dấu vết của họ, bê bối, ồn ào và dơ bẩn. Tôi luôn tránh mặt bằng cách qua nhà bà Rerm từ ngày đến tối.