Bạn được chiqudoll mời tham gia diễn đàn viết bài kiếm tiền VNO, bấm vào đây để đăng ký.
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 39: Đại Chiến Tương Dương

Cả đoàn người đi xuống phía nam, dọc đường hỏi dò tin tức về Kim Luân pháp vương và Quách Tương. Đi được mấy hôm, dọc đường nghe tin dồn dập, nói hai đạo quân Nam Bắc của đại quân Mông Cổ giáp công thành Tương Dương, đã giao chiến mấy trận với quân Tống dưới chân thành, có thắng có bại, tình hình Tương Dương thập phần nguy cấp. Hoàng Dung lo lắng nói:

– Bọn Thát tử mãnh công thành Tương Dương, chúng ta phải cấp tốc về đó, sự an nguy của Quách Tương đành tạm lo sau.

Mọi người đồng thanh khen phải.

Mấy người như Nhất Đăng, Chu Bá Thông, Hoàng Dược Sư vốn là các bậc cao sĩ siêu nhiên vật ngoại, không quan tâm thế sự, nhưng sự tồn vong của thành Tương Dương quá hệ trọng, hoặc Hán hoặc Lỗ, đều ở trận này, nên họ không thể khoanh tay làm ngơ.

Thế là không chút chậm trễ, cả bọn đi gấp, mấy hôm sau đã đến vùng ngoại vi thành Tương Dương. Chỉ nghe tiếng tù và nổi lên đây đó, nhìn xa xa tinh kỳ phấp phới, gươm giáo như rừng, ngựa phóng vùn vụt qua lại, bụi tung mù mịt, thành Tương Dương nằm trong vòng vây dày đặc của đại quân Mông Cổ. Mọi người nhìn thanh thế quân địch, không khỏi kinh hãi. Hoàng Dung nói:

– Quân địch dày đặc thế kia, phải chờ đêm tối mới có thể vào thành.

Bảy người bèn nấp trong một cánh rừng, trừ Chu Bá Thông cười hi hi như thường, sáu người còn lại đều ủ dột.

Chờ đến canh hai, Hoàng Dung là người đầu tiên xông vào doanh trại quân địch. Bảy người khinh công tuy cao, nhưng quân doanh Mông Cổ trùng trùng điệp điệp, vượt qua lớp này lại đụng lớp khác, cuối cùng họ bị một đội quân tuần tra phát giác. Tiếng trống, tiếng thanh la trong quân nổi lên, lập tức có ba đội bách phu vây họ lại. Các quân doanh khác hoàn toàn im lặng, không hề kinh động.

Chu Bá Thông đoạt hai ngọn giáo dài, đi trước mở đường. Hoàng Dược Sư và Nhất Đăng mỗi người cầm một cái thuẫn đi sau ngăn chặn truy binh, bốn nữ nhân đi giữa, cùng tiến nhanh về phía trước. May mà trong quân doanh Mông Cổ, quân địch sợ đả thương người ngựa của chúng, không dám bắn tên, bớt được một loại binh khí hết sức lợi hại, nếu không ở chỗ trống trải thế này, vạn mũi tên cùng bắn, bọn Hoàng Dược Sư, Chu Bá Thông dẫu ba đầu sáu tay cũng chẳng thể chống đỡ. Bảy người vừa đánh vừa tiến, quân địch càng lúc càng bu lại, mấy chục ngọn giáo dài xung quanh cùng đâm về phía bảy người. Chưởng phong của Chu Bá Thông, Hoàng Dược Sư, Nhất Đăng đánh tới đâu, gươm giáo của quân địch gãy đến đó. Quân địch tử thương không ít, nhưng chúng cậy đông, vẫn hăng hái lăn xả vào tấn công.

Chu Bá Thông cười nói:

– Hoàng lão tà, ba cái mạng già hôm nay khéo phải bỏ lại đây mất, nhưng lão phải nghĩ cách cứu bốn con nhóc kia mới được.

Anh Cô nguýt lão một cái, nói:

– Nói năng chẳng suy nghĩ gì hết. Lão thái bà đây mà cũng là một con nhóc hay sao? Đã bỏ mạng thì cùng bỏ, chỉ cần cứu ba con nhóc kia là được.

Hoàng Dung thầm kinh hãi: "Lão Ngoan đồng vốn không sợ trời sợ đất, chưa từng nói một câu nhụt chí. Hôm nay sa vào trùng vây, lại bảo phải bỏ cái mạng già, xem chừng nguy thật!" Nhìn bốn phía quân địch đông như kiến có, trừ liều chết khổ chiến, cũng chưa nghĩ ra kế gì khác.

Lại vượt qua mấy lớp quân doanh, Hoàng Dung thấy mé trái có hai doanh trướng lớn màu đen, năm xưa từng theo Thành Cát Tư Hãn tây chinh, biết đấy là chỗ cất giữ lương thực, chợt nảy ra một kế, xông tới cướp một cây đuốc từ tay quân địch, lao thẳng tới kho lương. Quân địch la hét đuổi theo. Hoàng Dung chạy nhanh như một tia chớp, cúi thấp đầu một cái đã chui tọt vào trong doanh trướng, châm lửa vào các xe lương trong đó, giây lát lửa đã bùng lên bảy, tám chỗ. Hoàng Dung mới chạy trở ra hội họp với cả đoàn.

Các xe lương có nhiều vật dễ cháy, gặp lửa liền bùng cháy đùng đùng. Chu Bá Thông thích thú nhìn lửa cháy, cướp luôn hai cây đuốc từ tay quân địch, lao đi đốt các nơi, vô ý đốt một chuồng ngựa, bầy chiến mã tức thời hý lên inh ỏi, bỏ chạy tán loạn, đại doanh quân Mông Cổ nhốn nháo cả lên.

Quách Tĩnh ở trong thành nghe bên ngoài cửa Bắc quân địch huyên náo, bèn chạy ra mặt thành, thấy có mấy đám cháy ngút trời trong quân doanh Mông Cổ, biết có người quấy rối quân địch, bèn điểm hai ngàn binh mã, lệnh cho huynh đệ Võ Đôn Nhu, Võ Tu Văn xuất thành tiếp ứng.

Nhị Võ tiến ra hơn một dặm, trong ánh lửa thấy Hoàng Dược Sư dìu Lục Vô Song, Nhất Đăng dìu Chu Bá Thông, bảy người cưỡi năm con ngựa phi gấp tới. Nhị Võ không xông lên, mà triển khai trận thế, ngăn chặn quân địch đuổi theo, rồi hạ lệnh hậu đội biến thành tiền đội, yểm hộ cho bảy người ung dung rút về thành.

Quách Tĩnh đứng bên bờ thành chờ đón, thấy nhạc phụ, ái thê, Nhất Đăng đại sư, Chu Bá Thông.. tới thành thì cả mừng, vội cho mở cổng thành. Thấy Lục Vô Song bị trúng giáo vào lưng, Chu Bá Thông bị trúng ba mũi tên vào lưng, râu tóc cháy xém, hai người bị thương không nhẹ. Trình Anh, Hoàng Dung, Anh Cô cũng đều bị trúng tên, nhưng không vào chỗ yếu hại. Nhất Đăng và Hoàng Dược Sư tinh thông y đạo, sau khi xem kỹ vết thương cho Chu Bá Thông và Lục Vô Song, đều cau mày, không nói gì.

Chu Bá Thông cười, nói:

– Đoàn Hoàng gia, Hoàng lão tà, hai vị đừng buồn. Lão Ngoan đồng còn hăng hái lắm, biết chưa chết được đâu. Hai vị hãy dồn sức chữa cho con nhóc Lục Vô Song kia là được.

Lão vẫn cười đùa với Hoàng Dược Sư, còn đối với Nhất Đăng thì không chỉ kính nể, mà còn hơi sợ. Nhất Đăng xuất gia đã lâu, Chu Bá Thông vẫn cứ gọi là Đoàn hoàng gia. Hoàng Dược Sư và Nhất Đăng thấy Lão Ngoan đồng cố nén đau, cười đùa như thường thì cũng yên tâm hơn. Nhưng Lục Vô Song thì vẫn hôn mê chưa tỉnh.

Hôm sau trời vừa sáng, đã nghe ngoài thành tiếng trống, tiếng tù và inh ỏi. Đại quân Mông Cổ tiến công. An phủ sứ thành Tương Dương Lã Văn Đức, đại tướng giữ thành Vương Kiên đốc suất binh mã giữ bốn cổng thành. Quách Tĩnh và Hoàng Dung lên mặt thành nhìn xuống, thấy quân Mông Cổ hằng hà sa số, không thấy tận cùng. Đại quân Mông Cổ từng mấy phen vây công thành Tương Dương, chưa lần nào binh cường thế mạnh như lần này. May mà Quách Tĩnh ở lâu trong quân đội Mông Cổ, thông thạo rành rẽ các phương lược công thành của chúng, có chuẩn bị sớm, bất kể quân địch sử dụng cung tên, hỏa khí, luỹ thạch, thang gỗ tấn công, quân Tống thủ thành từ trên cao đều phá giải tất cả. Đánh nhau đến lúc mặt trời lặn, quân Mông Cổ đã mất hai ngàn binh mã nhưng vẫn cứ dũng cảm xông lên.

Trong thành Tương Dương ngoài mấy vạn tinh binh, còn có vài chục vạn dân, ai ai cũng hiểu, thành này bị hạ sẽ không còn người nào sống sót, cho nên các tráng đinh cầm vũ khí giữ thành đã đành, ngay cả phụ nữ, cụ già, em nhỏ cũng gánh đất khiêng đá, góp sức chống giặc. Nhất thời trong thành ngoài thành tiếng hò hét chấn động đất trời, tên bay trên không như châu chấu.

Quách Tĩnh tay cầm trường kiếm, đứng trên mặt thành đốc chiến. Hoàng Dung đứng bên cạnh chồng, nhìn nửa bầu trời đỏ hồng, cảnh sắc đẹp mê hồn, dưới chân thành, kỵ binh địch phóng qua như gió, có thể nhìn thấy diện mạo hung dữ của một số tên lính, nhìn lại Quách Tĩnh, thấy chồng đứng sừng sững, oai phong lẫm liệt, thì trong lòng dâng lên một niềm ái mộ khó tả. Hai vợ chồng tương kính tương ái, bao năm vẫn như thuở ban đầu, nay cường địch áp cảnh, liệu có thể một lần nữa đánh lui chúng hay chăng, không ai dám đoán trước. Hoàng Dung nghĩ: "Cuộc sống vợ chồng của mình và Tĩnh ca ca ba mươi năm nay phần lớn tâm huyết dành cho thành Tương Dương. Phen này chung sức chống địch, dẫu cả hai vợ chồng mình có phải đổ máu trên mặt thành, cuộc đời coi như cũng không uổng chút nào". Liếc nhìn chồng, thấy tóc mai bên trái điểm vài sợi bạc, bất giác thương mến, nghĩ: "Mỗi lần quân địch tiến đánh, Tĩnh ca ca lại bạc thêm vài chục sợi tóc".

Bỗng nghe dưới chân thành quân Mông Cổ cùng hô:

– Vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế!

Tiếng hô từ xa tới gần, ầm ầm như sóng thuỷ triều, cuối cùng hơn mười vạn người cùng đồng thanh hô lớn, thật đúng như trời đất rung chuyển. Chỉ thấy một lá cờ soái được giơ cao, quân thiết kỵ hộ vệ một cái kiệu xanh có che lọng vàng tiến đến gần, chính là đại hãn Mông Kha lâm trận đốc chiến.

Quan binh Mông Cổ thấy đại hãn thân chinh ra trận, thì sĩ khí tăng mạnh hẳn lên. Chỉ thấy hồng kỳ phất ngang phất dọc, đội ngũ dưới chân thành chia ra hai phía tả hữu, hai vạn nhân đội tiến công gấp cổng Bắc. Đây là thân binh của đại hãn, là đội quân tinh nhuệ nhất, lại chưa hề bị tổn thương, ai ai cũng muốn lập công trước mặt đại hãn, mấy trăm chiếc thang được tấp vào tường thành, binh tướng Mông Cổ như kiến leo lên bờ thành.

Quách Tĩnh thét lớn:

– Hỡi các huynh đệ, hôm nay chúng ta làm cho đại hãn Thát tử chính mắt chứng kiến thân thủ của hảo nam nhi đại Tống.

Tiếng thét của Quách Tĩnh trung khí sung mãn, giữa tiếng huyên náo của hàng vạn người mà ai cũng nghe rõ. Quân Tống trên mặt thành đã đánh suốt một ngày mệt mỏi, nhưng nghe tiếng kêu gọi của Quách Tĩnh, lập tức trở nên hăng hái, đều nghĩ: "Bọn Thát tử khi vũ chúng ta lâu nay, giờ phải làm cho đại hãn của chúng thấy rõ sự lợi hại của quân ta". Thế là ai nấy ra sức tử chiến.

Thi thể quân địch dần dần chất cao dưới chân thành, đội ngũ phía sau lại trào lên như sóng, đạp lên xác kẻ đã ngã mà tấn công. Các quan tả hữu phi ngựa đi truyền lệnh của đại hãn điều binh khiển tướng. Trong thành ngoài thành hàng vạn bó đuốc đã được đốt lên, chiếu sáng như ban ngày.

An phủ sứ Lã Văn Đức thấy tình thế nguy ngập, cho rằng không giữ nổi thành, khiếp sợ, mặt tái mét, chạy đến chỗ Quách Tĩnh, gọi:

– Quách.. Quách đại hiệp, giữ không nổi đâu, chúng.. chúng ta rút khỏi thành, chạy về phía nam thôi!

Quách Tĩnh gằn giọng:

– An phủ sứ gì mà nói năng như thế? Thành Tương Dương còn, chúng ta còn. Thành Tương Dương mất, tất cả sẽ chết!

Hoàng Dung nghĩ Lã Văn Đức chỉ cần ra lệnh lui binh, lòng quân sẽ dao động, thành Tương Dương lập tức sẽ thất thủ, bèn chĩa kiếm, quát:

– Ngài chỉ cần nói thêm một lời về việc bỏ thành lui binh, ta sẽ đâm chết ngài tức thời!

Bốn thân binh tả hữu của Lã Văn Đức xông tới ngăn chặn, đều bị Hoàng Dung gạt chân đánh ngã.

Quách Tĩnh quát:

– Mọi người hãy cùng lên mặt thành chống đich, không tử chiến thì còn gì là nam tử hán.

Các thân binh vốn kính phục Quách Tĩnh, nghe tiếng quát oai nghiêm ấy đều đồng thanh khen phải, xông tới bờ thành chống giặc. Đại tướng Vương Kiên nói to:

– Chúng ta liều chết tử thủ, bọn Thát tử sẽ không chịu nổi đâu!

Bỗng nghe viên quan Mông Cổ truyền lệnh nói:

– Chúng quan binh nghe đây! Đại hãn có chỉ dụ, người nào leo lên mặt thành đầu tiên sẽ được làm chúa thành này.

Quân Mông Cổ hò reo hưởng ứng, tướng sĩ ai nấy cũng liều chết xông lên. Viên quan truyền lệnh tay cầm hồng kỳ, qua lại truyền chỉ của đại hãn. Quách Tĩnh giương cung, phóng đi một mũi lang nha tiễn, trúng ngực viên quan truyền lệnh, hắn ngã ngựa liền. Sĩ khí quân địch giảm đi. Không lâu sau, lại có một vạn nhân đội mới áp tới chân thành.

Gia Luật Tề tay cầm giáo dài, chạy tới trước mặt Quách Tĩnh, nói:

– Nhạc phụ, nhạc mẫu! Bọn Thát tử mãnh công không thoái. Con xin xông ra ngoài thành chém giết một trận.

Quách Tĩnh nói:

– Được lắm! Ngươi dẫn bốn ngàn người xông ra, nhưng phải cẩn thận.

Gia Luật Tề lui xuống, lát sau trống trận rền vang, cổng thành mở ra, Gia Luật Tề suất lĩnh một ngàn đệ tử Cái Bang, ba ngàn quan binh chĩa giáo xông ra.

Quân Mông Cổ đang hung hăng đánh thành ở cửa Bắc, thấy quân Tống tràn ra chém giết, bèn rút chạy. Gia Luật Tề dẫn quân đuổi theo. Đột nhiên trong quân Mông Cổ có ba tiếng pháo lệnh, hai vạn nhân đội từ hai phía tả hữu bao vây đội quân bốn ngàn người của Gia Luật Tề vào giữa.

Ba ngàn quan binh được huấn luyện bài bản, võ nghệ thành thạo, lại có một ngàn đệ tử Cái Bang làm cốt cán, tuy bị vây nhưng không hề run sợ. Quách Tĩnh, Hoàng Dung, Lã Văn Đức, Vương Kiên bốn người ở trên mặt thành nhìn xuống, thấy quân Tống trận thế không loạn, lấy một địch mười, hăng hái chống trả, đao quang loang loáng dưới ánh đuốc như hàng vạn con ngân xà chuyển động, thật là một trận đại chiến!

Quân Mông Cổ cậy đông, hai vạn nhân đội vây chặt bốn ngàn tinh binh của Gia Luật Tề, một vạn nhân đội khác lại leo thang công thành.

Quách Tĩnh thấy đội quân của Gia Luật Tề chặn ở bên ngoài, viện binh Mông Cổ điều động bất tiện, bèn hạ lệnh cho huynh đệ họ Võ lui binh một quãng, nhường cho quân Mông Cổ leo lên bờ thành. Nhị Võ vâng lệnh, dẫn binh tạm lui. Lập tức hàng trăm hàng ngàn tên lính Mông Cổ leo lên mặt thành. Ngàn vạn binh lính Mông Cổ bên dưới ngỡ thành đã bị phá, liền hò reo "Vạn tuế! Vạn tuế!"

Lã Văn Đức mặt như chàm đổ, toàn thân run rẩy, nói:

– Quách đại hiệp.. giờ.. giờ phải làm sao? Chúng.. ta.. làm thế..

Quách Tĩnh không nói, chờ chừng năm ngàn quân Mông Cổ leo lên mặt thành, bèn phất lá cờ đen một cái, trống trận bỗng rền vang. Chu Tử Liễu và Võ Tam Thông mỗi người suất lĩnh một đội tinh binh từ chỗ mai phục xông ra, không để cho quân Mông Cổ leo lên mặt thành nữa. Năm ngàn quân Mông Cổ đã leo lên mặt thành liền bị vây chặt lại.

Lúc này quân Tống ở ngoài thành bị vây, quân Mông Cổ ở trong thành bị vây. Ba cửa Đông, Tây, Nam đều diễn ra ác chiến, tiếng hò hét chém giết dậy đất.

Đại hãn Mông Cổ cưỡi ngựa đứng trên một cái gò nhỏ, thân chinh đốc chiến. Hơn hai trăm chiếc trống lớn mặt da gõ ầm ầm điếc tai, át hết mọi tiếng nói chuyện. Chỉ thấy nào thiên phu trưởng, bách phu trưởng, kẻ chết, kẻ bị thương, áo giáp loang máu, được cáng từ trận tiền về. Đại hãn Mông Kha từng trải trăm trận, từng tây chinh, tiêu diệt liên quân các nước châu Âu, tiến đến tận sông Đa-nuýp, tận thành Viên, lúc này nhìn cảnh ác chiến cũng không khỏi kinh hãi: "Người ta cứ bảo bọn Nam man khiếp hãi vô dụng, kỳ thực họ chẳng thua gì tinh binh Mông Cổ ta!"

Lúc này đã là nửa đêm, trăng sao đều sáng, mây mỏng gió nhẹ, trên trời hiền hòa, nhưng dưới đất thì mười mấy vạn người đang liều mình ác chiến.

Trận chiến kéo dài từ sáng sớm đến nửa đêm, song phương đều tử thương nặng nề, bất phân thắng bại. Quân Tống chiếm địa lợi, quân Mông Cổ có ưu thế số đông.

Lại đánh hồi lâu. Bỗng nghe tiền quân có tiếng huyên náo, một đội quân Tống xông thẳng tới chiếc gò nhỏ. Thân binh hộ tống đại hãn vội bắn tên rào rào ngăn chặn. Mông Kha từ trên gò cao nhìn xuống, thấy một viên tướng hai tay cầm hai ngọn giáo, cưỡi một con ngựa cao lớn, tả xung hữu đột giữa chiến trận, tên bắn như mưa về phía viên tướng đó đều bị y gạt hết. Mông Kha giơ tay trái lên, tiếng trống liền ngưng, Mông Kha quay sang hỏi tả hữu:

– Người kia dũng mãnh thế, không biết là ai?

Một vị tướng bạc đầu ở bên trái nói:

– Khải bẩm bệ hạ. Người ấy là Quách Tĩnh. Năm xưa Thành Cát Tư Hãn phong y làm Kim đao phò mã, viễn chinh Tây Vực, lập nhiều chiến công.

Mông Kha lạc giọng nói:

– À, thì ra là y! Tướng quan thần dũng, quả nhiên danh bất hư truyền!

Các tướng tả hữu nghe Mông Kha khen tướng địch, đều không bằng lòng. Bốn danh tướng liền cùng hô to, tế ngựa xông ra.

Quách Tĩnh thấy có bốn người thân cao ngựa lớn, hai đội mũ trắng của vạn phu trưởng, hai đội mũ hồng của thiên phu trưởng, thét vang như sấm, phi ngựa tới gần mình, keng một tiếng, làm gãy cán đại đao của một tên thiên phu trưởng, rồi đâm giáo xuyên qua ngực hắn. Hai vạn phu trưởng cùng xông tới, hai cây thiết thương ép mũi giáo của Quách Tĩnh lại, xà mâu của một tên thiên phu trưởng thì đánh tới bụng dưới của Quách Tĩnh. Cả bốn người đều sử dụng binh khí dài, không tiện chuyển gấp, Quách Tĩnh buông ngọn giáo dài, lách người sang bên phải tránh mũi xà mâu của tên thiên phu trưởng, đồng thời lật hai cổ tay chụp lấy mũi thương của hai vạn phu trưởng, quát to một tiếng như tiếng sấm nổ giữa trời xanh, giật mạnh hai mũi thương. Hai tên vạn phu trưởng tuy là dũng sĩ có tiếng trong quân Mông Cổ, nhưng chịu sao nổi thần lực của Quách Tĩnh? Lập tức cánh tay tê dại, thiết thương rời tay. Quách Tĩnh không kịp đảo mũi thương, tiện thể thúc ra, hự hự hai tiếng, hai cán thiết thương thúc vào ngực hai tên vạn phu trưởng, may mà chúng mặc áo giáp nên không bị thủng ngực, song cũng hộc máu, ngã lăn xuống ngựa.

Tên thiên phu trưởng rất quả cảm, tuy thấy ba người kia đều bỏ mạng, vẫn đâm xà mâu tới. Quách Tĩnh dùng thiết thương bên tay trái gạt xà mâu của hắn, thiết thương bên tay phải thì đánh xuống đỉnh đầu hắn, bộp một cái, hắn vỡ sọ liền.

Bọn thân binh thấy Quách Tĩnh trong giây lát đánh chết bốn viên dũng tướng, thảy đều kinh hãi, tuy ở bên cạnh đại hãn, cũng không ai dám xông ra trổ tài, chỉ không ngớt bắn tên. Quách Tĩnh định phi ngựa xông lên gò, nhưng mấy trăm mũi thương dài chĩa ra tua tủa nhiều lớp bảo vệ đại hãn, khiến Quách Tĩnh không thể tiến đến gần. Đột nhiên con ngựa hí một tiếng thảm thiết, khuỵa hai vó trước, nó đã bị trúng hai mũi tên vào ngực. Quân Mông Cổ hò reo xông tới.

Chỉ thấy Quách Tĩnh bật dậy, chĩa thương đâm chết một tên bách phu trưởng, nhảy lên ngựa của hắn, thoáng chốc đã giết thêm mười mấy quan binh Mông Cổ.

Mông Kha thấy Quách Tĩnh xung sát giữa ba quân như ở chỗ không người, quan binh Mông Cổ tuy đông nhưng không làm gì nổi, thì cau mày, hạ lệnh:

– Ai giết được Quách Tĩnh, lập tức thưởng hoàng kim vạn lượng, quan thăng ba cấp!

Phần thưởng khích lệ quan binh tràn lên như nước lũ.

Quách Tĩnh thấy tình thế nguy cấp, lại không thể tiến đến chỗ đại hãn, bèn vung giáo đánh dạt mấy tên lính Mông Cổ ở gần, lắp tên giương cung bắn về phía Mông Kha. Mũi tên xé gió lao đi nhanh như tia chớp, thẳng tới chỗ đại hãn. Thân binh hộ giá cả kinh, hai bách phu trưởng vội lấy thân mình che trước mặt đại hãn, mũi tên dài xuyên qua tên thứ nhất, vẫn còn đà, lại xuyên tiếp qua ngực tên thứ hai, thành một chuỗi ngay trước mặt Mông Kha.

Mông Kha thấy vậy không khỏi biến sắc, bọn thân binh vội hộ giá đại hãn rút khỏi chiếc gò.

Đúng lúc ấy trong quân Mông Cổ có tiếng kêu la, một cánh quân Tống xông tới, dẫn đầu là một người múa hai cái mái chèo bằng sắt, chính là Tứ Thuỷ Ngư Ẩn. Nguyên Hoàng Dung thấy Quách Tĩnh hãm trận, không yên tâm, lệnh cho Tứ Thuỷ Ngư Ẩn dẫn hai ngàn quân xông ra tiếp ứng. Quân Mông Cổ thấy đại hãn rút lui, trận thế hơi rối loạn.

Hoàng Dung trên mặt thành thấy rõ, hạ lệnh:

– Mọi người cùng kêu to lên, rằng đại hãn Mông Cổ chết rồi!

Binh sĩ liền hô lớn:

– Đại hãn Mông Cổ chết rồi! Đại hãn Mông Cổ chết rồi!

Binh sĩ thành Tương Dương nhiều năm đánh nhau với quân Mông Cổ, những người thông minh đều học nói vài câu tiếng Mông Cổ, lúc này có người hô to bằng tiếng Mông Cổ.

Quan binh Mông Cổ nghe tiếng hô, đều nghển cổ ngó lại phía sau, thấy đại hãn quả nhiên đã rút, cờ suý phía đó tản dần, nào biết thật giả, cứ tưởng đại hãn đã chết thật, lòng quân lập tức rối loạn, mất chí chiến đấu, lũ lượt tháo lui.

Hoàng Dung hạ lệnh truy sát, mở toang cổng thành. Ba vạn tinh binh ùa ra. Bốn ngàn quân do Gia Luật Tề suất lĩnh đã tổn thất một nửa, nửa còn lại thừa thế truy kích. Quan binh Mông Cổ từng trải chiến trận, tuy bại không loạn, tinh binh đoạn hậu, chậm rãi rút về phía bắc, quân Tống khó lòng lại gần. Riêng năm ngàn quân Mông Cổ tinh nhuệ leo được vào trong thành Tương Dương thì không một ai sống sót.

Khi quân Mông Cổ rút hết khỏi cả bốn cửa thành, thì trời đã sáng rõ. Trận đại chiến này kéo dài đủ mười hai canh giờ, máu chảy đầy đồng, thây chất thành núi. Ngựa chết, giáo gãy, cờ rách la liệt trong vòng mười dặm.

Trận này quân Mông Cổ tử thương hơn bốn vạn, quân Tống thủ thành cũng tử thương hai vạn ba ngàn người, từ khi Mông Cổ hưng binh xâm lăng phương nam đến nay, chưa bao giờ thảm liệt như trận này.

Quân Tống giữ thành Tương Dương tuy đánh lui quân địch, nhưng khắp nơi trong thành đều có tiếng khóc, mẹ khóc con, vợ khóc chồng.

Quách Tĩnh, Hoàng Dung không kịp cởi áo giáp nghỉ ngơi, phải đi tuần thị bốn cổng thành, thăm hỏi tướng sĩ. Khi ghé thăm Chu Bá Thông và Lục Vô Song, thấy hai người đã đỡ. Chu Bá Thông không chịu nằm bệt một chỗ, cứ đi đi lại lại trong hoa viên. Quách Tĩnh, Hoàng Dung nhìn nhau mỉm cười, mới trở về phủ nghỉ ngơi.

Sáng sớm hôm sau, Quách Tĩnh đang ở trong dinh An phủ sứ thương nghị quân tình với Lã Văn Đức và đại tướng Vương Kiên, thì có tin báo rằng có một vạn quân Mông Cổ đang tiến đến cửa Bắc. Lã Văn Đức kinh ngạc nói:

– Tại sao.. vừa rút đi đã lại kéo đến? Thật là khó hiểu!

Quách Tĩnh đập bàn đứng dậy, lên mặt thành quan sát, thấy vạn nhân đội của địch bày trận cách thành mấy dặm, chứ không tấn công. Lát sau, hơn một ngàn thợ mộc gánh đá đóng cọc, khuân gỗ, dựng lên một cái đài cao hơn mười trượng.

Lúc này Hoàng Dược Sư, Hoàng Dung, Nhất Đăng, Chu Tử Liễu đều đã ra mặt thành quan sát, thấy quân Mông Cổ dựng cái đài cao, đều không hiểu. Chu Tử Liễu nói:

– Bọn Thát tử dựng cái đài cao, nếu để nhìn trộm quân tình trong thành, thì không làm cách xa như thế. Hơn nữa quân ta chỉ cần bắn hỏa tiễn, sẽ lập tức thiêu huỷ. Cái đài cao ấy thật vô dụng.

Hoàng Dung trầm ngâm, nhất thời cũng chưa biết dụng ý của quân địch.

Cái đài cao dựng xong, thấy mấy trăm quân Mông Cổ đánh ngựa chở củi cỏ đến chất xung quanh đài, như thể chuẩn bị đốt cháy nó đi. Mọi người càng lấy làm lạ. Chu Tử Liễu nói:

– Chẳng lẽ quân địch công thành không nổi, đi dựng đàn cầu trời, hoặc giả bày trò yêu pháp gì đây?

Quách Tĩnh nói:

– Tiểu đệ ở lâu trong quân Mông Cổ, chưa hề thấy họ giở trò lạ lùng thế này bao giờ.

Vừa nói vừa nhìn, thấy cả ngàn binh sĩ Mông Cổ dùng cuốc xẻng đào xung quanh cái đài cao một cái hào vừa sâu vừa rộng, đất đào lên thì đắp thành bờ phía ngoài hào như một bức tường đất. Hoàng Dược Sư tức giận nói:

– Thành Tương Dương là quê của Gia Cát Lượng thời Tam Quốc, bọn Thát tử vô lễ, giở trò múa rìu qua mắt vị đại hiền, chẳng hóa ra coi khinh người Tống lắm sao?

Chỉ nghe tiếng tù và, tiếng trống vang lên, một vạn nhân đội tiến đến dàn trận bên trái cái đài cao, một vạn nhân đội khác dàn trận bên phải cái đài. Trận thế dàn xong, lại thêm một vạn nhân đội dàn ra phía trước đài, cùng ba vạn nhân đội kia, tổng cộng thành bốn vạn nhân đội xung quanh cái đài cao. Đại trận trải dài mấy dặm, gươm giáo, cung thủ, trường mâu thủ, trảm mã thủ, thiết xung thủ tầng tầng lớp lớp vây quanh cái đài cao.

Bỗng nghe pháo hiệu, tiếng trống ngừng bặt, mấy vạn người im phăng phắc, từ xa có hai người phi ngựa đến chân đài. Hai người xuống ngựa, dắt tay nhau đi lên cái đài cao, chỉ vì quá xa nên không nhìn rõ diện mạo hai người ấy, chỉ lờ mờ đoán là một nam một nữ.

Mọi người đang kinh ngạc, Hoàng Dung đột nhiên kêu lên một tiếng, ngã ngửa ra sau, ngất đi. Mọi người vội cứu tỉnh, cùng hỏi:

– Sao? Chuyện gì vậy?

Hoàng Dung mặt tái nhợt, run giọng, nói:

– Là Tương nhi, là Tương nhi!

Mọi người kinh hãi nhìn nhau. Chu Tử Liễu nói:

– Quách phu nhân, phu nhân nhìn rõ chứ?

Hoàng Dung nói:

– Muội nhìn không rõ mặt mũi, nhưng xét về lý, thì nhất định là Quách Tương. Bọn Thát tử đánh thành không được, cuối cùng thực thi gian kế. Thật là.. thật là quá đê hèn.

Hoàng Dược Sư và Chu Tử Liễu nghe Hoàng Dung nói, đã hiểu ra, tỏ vẻ tức giận. Quách Tĩnh thì chưa hiểu, hỏi:

– Tương nhi sao lại ở trên cái đài kia? Bọn Thát tử thực thi gian kế gì?

Hoàng Dung đứng thẳng người, hiên ngang nói:

– Tĩnh ca ca! Tương nhi không may sa vào tay bọn Thát tử. Bọn địch dựng cái đài cao kia, chất củi cỏ bên dưới, là định thiêu sống Tương nhi để ép Tĩnh ca ca đầu hàng. Nếu ca ca không đầu hàng, chúng sẽ phóng hỏa để vợ chồng ta đau đứt ruột, thần trí rối loạn, không thể chuyên tâm giữ thành.

Quách Tĩnh vừa kinh ngạc vừa tức giận, hỏi:

– Tương nhi tại sao lại sa vào tay bọn Thát tử?

Hoàng Dung nói:

– Mấy ngày qua quân vụ khẩn cấp, thiếp sợ tướng công phân tâm, nên chưa kể.

Rồi thuật lại việc Quách Tương ở Tuyệt Tình cốc bị Kim Luân pháp vương bắt đi như thế nào. Quách Tĩnh nghe Dương Quá mất tích ở dưới đáy sơn cốc, thì hỏi tỉ mỉ. Sau khi Hoàng Dung kể xong, liền chau mày nói:

– Dung nhi! Nàng làm thế là sai. Dương Quá sống chết chưa rõ, sao nàng lại bỏ đấy mà đi?

Quách Tĩnh xưa nay nhất mực kính trọng ái thê, trước mặt người khác chưa bao giờ thất lễ với vợ. Lời trách cứ vừa rồi là rất nặng. Hoàng Dung ngượng đỏ cả mặt.

Nhất Đăng nói:

– Quách phu nhân đã lặn xuống đầm nước băng giá, suýt bị đông cứng, để tìm Dương Quá dưới đáy cốc. Huống hồ tiểu cô nương nằm trong tay gian tặc, mọi người đều chủ trương đuổi theo hắn trước, không nên trách Quách phu nhân.

Nhất Đăng nói thế, Quách Tĩnh không dám trách thêm, chỉ bực bội nói:

– Con nhãi Quách Tương gây lắm chuyện rắc rối. Nếu Dương Quá có mệnh hệ gì, chúng ta làm sao có thể an tâm? Cứ để cho bọn Thát tử thiêu sống con nhãi đi.

Hoàng Dung không nói gì, quay mình rời khỏi mặt thành. Mọi người đang bàn cách làm thế nào cứu Quách Tương, bỗng thấy cổng thành mở, một người cưỡi ngựa phóng ra phía bắc, chính là Hoàng Dung. Ai cũng kinh ngạc. Quách Tĩnh, Hoàng Dược Dư, Nhất Đăng, Chu Tử Liễu vội lên ngựa đuổi theo.

Đoàn người phi ngựa về phía cái đài cao, dừng lại ở chỗ cũng tên của quân địch bắn không tới. Chỉ thấy trên đài cao có hai người, một mặc áo hoàng bào, chính là Kim Luân pháp vương, người kia bị trói vào một cây cột, chính là Quách Tương.

Quách Tĩnh tuy giận con thường gây lắm chuyện rắc rối, nhưng vẫn là tình cha con, làm sao không lo, bèn cao giọng gọi:

– Tương nhi! Đừng sợ! Có cha mẹ đến cứu con đây!

Quách Tĩnh nội lực dồi dào, tiếng nói vang rành rọt lên cái đài cao. Tương nhi bị ánh nắng hun nóng đang như người say nắng, bỗng nghe tiếng gọi của phụ thân, liền mừng rỡ đáp lại:

– Gia gia, má má!

Kim Luân pháp vương cười ha ha, dõng dạc nói:

– Quách đại hiệp! Đại hiệp muốn ta phóng thích lệnh ái thì không khó chút nào. Chỉ sợ đại hiệp không có can đảm mà thôi.

Quách Tĩnh vốn trầm ổn hậu trọng, càng nguy cấp càng trầm tĩnh, nghe Kim Luân pháp vương nói thế vẫn không giận, nói:

– Pháp vương có việc gì khó, xin cứ cho biết.

Pháp vương nói:

– Nếu đại hiệp có lòng từ tâm của người làm cha, thì hãy lên đài chịu trói đổi người. Lão phu sẽ lập tức thả lệnh ái ra.

Pháp vương thừa biết Quách Tĩnh hiểu rõ đại nghĩa, không đời nào chịu vì nhi nữ mà thí bỏ trăm họ trong thành Tương Dương, nên mới nói khích để Quách Tĩnh bày tỏ sự can đảm mà mắc mưu lão ta. Nhưng Quách Tĩnh đâu dễ mắc lừa, nói:

– Thát tử nếu không sợ Quách mỗ, hà tất phải gây khó dễ đối với một tiểu nữ nhi? Thát tử đã sợ Quách mỗ, thì tấm thân này sao lại dễ dàng chịu chết?

Pháp vương cười khẩy, nói:

– Người ta bảo Quách đại hiệp võ công trác tuyệt kiêu dũng vô luân, kỳ thực chỉ là một kẻ tham sinh uý tử.

Cái kế khích tướng của Pháp vương nếu đem dùng với người khác thì có thể thu kết quả, nhưng Quách Tĩnh liên quan đến sự an nguy của cả thành Tương Dương, nên chỉ cười nhạt, không thèm lý đến.

Mấy câu nói của Pháp vương làm cho Võ Tam Thông và Tứ Thuỷ Ngư Ẩn tức giận. Hai người một vung thiết chuỳ, một vung cặp mái chèo, phi ngựa lên phía trước. Mấy ngàn xạ thủ Mông Cổ giương cung lắp tên, chờ hai người tới gần sẽ bắn, biến họ thành hai con nhím. Nhất Đăng thấy vậy liền phi thân xuống ngựa, nhảy ba bước đã tới chặn trước đầu ngựa hai đệ tử, quát:

– Quay trở lại!

Võ Tam Thông và Tứ Thuỷ Ngư Ẩn thừa biết xông lên chỉ có chết, thấy sư phụ ngăn cản, bèn quay ngựa chạy trở lại. Quan binh Mông Cổ thấy vị hòa thượng cao niên đuổi vượt cả ngựa phi, thì hoan hô rầm trời.

Kim Luân pháp vương nói:

– Quách đại hiệp! Lệnh ái thông minh lanh lợi, lão phu rất mến nó, có ý nhận nó làm đệ tử, truyền cho y bát. Nhưng đại hãn có chỉ, nếu Quách đại hiệp không quy hàng, sẽ thiêu sống nó trên đài cao. Chẳng riêng Quách đại hiệp đau đớn cho ái nữ, lão phu cũng lấy làm tiếc lắm, mong đại hiệp nghĩ cho kỹ.

Quách Tĩnh hừ một tiếng, nhìn bốn chục tên cầm đuốc đứng cạnh đống củi cỏ dưới chân đài cao, chỉ cần Kim Luân pháp vương phát lệnh sẽ châm lửa. Bốn vạn nhân đội vây kín cái đài cao, thân xác trần tục không tài gì vượt qua đó, huống hồ có xông đến gần, địch phóng hỏa thì làm sao cứu được nữ nhi xuống?

Quách Tĩnh ở lâu trong quân Mông Cổ, biết quân Mông Cổ dụng binh tàn bạo, cướp đất hạ thành, trong một ngày có khi thảm sát hàng vạn phụ nữ trẻ thơ, nếu chúng thiêu sống Quách Tương thì cũng giống như chúng xéo lên một con kiến, mới ngẩng đầu lên, thấy sắc diện tiều tuỵ của nữ nhi, tự dưng lòng đau như cắt, bèn gọi to:

- Tương nhi! Con là hảo nữ nhi của Đại Tống, khẳng khái tựu nghĩa, chớ run sợ. Cha mẹ hôm nay không thể cứu con, mai sau nhất định sẽ giết tên ác tăng này trả thù cho con. Con hiểu chứ?

Quách Tương nuột lệ gật đầu, đáp to:

– Gia gia má ma! Hài nhi không sợ đâu!

Quách Tĩnh nói:

– Thế mới là hảo nữ nhi của ta!

Đoạn giương cung, bắn liền ba mũi tên dài, ba tên lính Mông Cổ cầm đuốc đứng dưới chân đài cao ngã vật xuống vì bị tên xuyên qua ngực. Quách Tĩnh học xạ thuật từ đại tướng Mông Cổ "Thần tiễn" Triết Biệt, cộng với mấy chục năm tu vi, chỗ Quách Tĩnh đứng tên của địch không thể bắn tới, song Quách Tĩnh vẫn có thể bắn tới kẻ địch. Quân Mông Cổ cùng kêu lên kinh hãi, giơ mộc hộ thân. Quách Tĩnh nói:

– Đi thôi!

Rồi quay đầu cùng Hoàng Dung quay về thành.

Mọi người về đứng trên mặt thành. Hoàng Dung thẫn thờ nhìn cái đài cao, tâm trí rối bời.

Nhất Đăng nói:

– Thát tử trị quân nghiêm chỉnh, muốn cứu Quách Tương, phải tìm cách trước tiên làm rối loạn bốn vạn nhân đội ở xung quanh cái đài cao.

Hoàng Dược Sư nói:

– Đúng thế!

Lão ngẫm nghĩ, rồi nói:

– Dung nhi, chúng ta sử dụng đại trận Nhị thập bát tú, đấu với Thát tử một phen.

Hoàng Dung cúi đầu, nói:

– Dù có thắng địch, Thát tử phóng hỏa đốt cái đài cao thì biết làm sao?

Quách Tĩnh hiên ngang nói:

– Chúng ta tận lực giết địch, Tương nhi sống hay chết còn tùy ý trời. Nhạc phụ, xin hỏi cách bày trận Nhị thập bát tú thế nào?

Hoàng Dược Sư cười, nói:

– Trận pháp này biến hóa rắc rối, năm xưa sau khi quan sát Thiên Cang Bắc Đẩu trận của phái Toàn Chân, ta ngẫm nghĩ mãi, tìm học trận pháp của cổ nhân, sáng tạo ra trận Nhị thập bát tú, định tranh cao thấp với các đạo sĩ phái Toàn Chân.

Nhất Đăng nói:

– Thuật Ngũ hành kỳ môn của Hoàng lão tà độc bộ thiên hạ, đại trận Nhị thập bát tú hẳn là huyền diệu.

Hoàng Dược Sư nói:

– Trận pháp Nhị thập bát tú vốn chỉ để đấu với vài chục người trong võ lâm, chứ không nghĩ đánh với thiên quân vạn mã. Nhưng nếu biến hóa, có khi cũng hữu dụng, chỉ tiếc thiếu mất đôi chim điêu.

Nhất Đăng nói:

– Xin được biết rõ hơn.

Hoàng Dược Sư nói:

– Đôi chim điêu giá không bị gã gian tăng giết hại, khi trận pháp phát động, đôi chim điêu sẽ có thể bay tới cái đài cao cứu Quách Tương, giờ thì chưa có cách nào hay hơn. Đại trận Nhị thập bát tú là dựa trên sự biến hóa ngũ hành sinh khắc, do năm vị cao thủ chủ trì. Chúng ta bốn phương vị Đông, Nam, Bắc, Trung đều có người, nhưng Lão Ngoan đồng bị trọng thương, thiếu một một người ở mé Tây. Nếu Dương Quá ở đây, võ công của y không thua gì Âu Dương Phong thời trước, bây giờ biết tìm đâu ra y? Chủ tướng mé Tây thiếu không được.

Quách Tĩnh nhìn lướt qua cái đài cao, nhìn xa tít về trời mây phương bắc, nghĩ đến Tuyệt Tình cốc, miệng lẩm bẩm:

– Quá nhi sống chết sao đây, thật khiến người ta lo quá!

Hôm Dương Quá đứng trước Đoạn Trường nhai, biết không thể gặp lại Tiểu Long Nữ, đau đớn nhảy xuống vực sâu, nghĩ rằng sẽ thịt nát xương tan, không ngờ rơi xuống hồi lâu, đột nhiên "ùm" một cái, lại rơi xuống một cái đầm nước. Chàng rơi từ trên cao hàng trăm trượng, xung lực cực mạnh, cứ thế chìm thẳng xuống, cũng không biết chìm sâu bao nhiêu thước nước, đột nhiên trước mắt sáng bừng, tựa hồ nhìn thấy một cái thủy động, đang ngưng thần nhìn kỹ, thì ở dưới sâu lực đẩy lên rất mạnh, người chàng tự nổi lên, đúng lúc ấy thấy Quách Tương rơi xuống đầm.

Lúc này chuyện lạ cứ thế nối tiếp, Dương Quá chưa kịp nghĩ kỹ, chờ Quách Tương nổi lên mặt nước, chàng giơ tay kéo nàng lên bờ đầm, hỏi:

– Tiểu muội tử, tại sao lại ngã xuống đây?

Quách Tương nói:

– Muội thấy đại ca ca nhảy xuống, thì muội cũng nhảy theo.

Dương Quá lắc đầu, nói:

– Loạn quá, loạn quá! Tiểu muội tử chẳng lẽ không sợ chết?

Quách Tương mỉm cười, nói:

– Đại ca ca không sợ chết, thì tiểu muội cũng chả sợ.

Dương Quá chợt nghĩ: "Chẳng lẽ tiểu cô nương này cũng có thâm tình với ta như vậy?" Nghĩ vậy, bất giác tay run run.

Quách Tương rút trong bọc ra cây kim châm cuối cùng, nói:

– Đại ca ca, lần ấy đại ca ca đưa cho tiểu muội ba cây kim châm, bảo cho tiểu muội ba điều ước, đại ca ca đều sẽ đáp ứng. Hôm nay tiểu muội cầu xin đại ca ca, bất kể Dương đại tẩu có thể tái hợp với đại ca ca hay không, đại ca ca cũng đừng tự vẫn.

Đoạn đưa cây kim châm cho chàng.

Dương Quá nhìn cây kim châm trong tay, run giọng hỏi:

– Tiểu muội tử từ thành Tương Dương đến đây, chỉ để cầu xin một việc ấy thôi ư?

Quách Tương vui vẻ nói:

– Đúng vậy, đại trượng phu nói sao làm vậy, đại ca ca đã hứa đáp ứng tiểu muội rồi đấy.

Dương Quá thở dài, một người vừa trải qua một phen từ sống đến chết, lại từ cõi chết sống lại, hẳn sẽ không muốn chết một lần nữa. Chàng nhìn Quách Tương từ đầu xuống chân, thấy nàng ướt sũng cả người, răng đánh cầm cập, nhưng sắc diện vui vẻ, bèn nhặt củi khô định đốt lửa, nhưng đồ đánh lửa hai người mang theo đều bị ướt, không sử dụng được, chàng đành nói:

– Tiểu muội tử, hãy vận nội công để hàn khí khỏi ngấm vào người dễ sinh bệnh.

Quách Tương vẫn chưa yên tâm, hỏi:

– Đại ca ca có đáp ứng tiểu muội sẽ không tự vẫn nữa chứ?

Dương Quá đáp:

– Có!

Quách Tương mừng rỡ nói:

– Vậy hai chúng ta cùng vận công.

Hai người ngồi kề bên nhau, vận khí điều tức.

Dương Quá từ nhỏ đã luyện nội công trên chiếc giường hàn ngọc, chút khí lạnh này chẳng đáng gì, chàng đưa tay xoa xoa huyệt Thần Đường ở sống lưng Quách Tương, một luồng khí dương hòa ấm áp truyền sang cơ thể nàng. Lát sau Quách Tương cảm thấy huyết mạch toàn thân thông suốt dễ chịu.

Đợi khi Quách Tương dễ chịu hoàn toàn, Dương Quá mới hỏi tại sao nàng đến Tuyệt Tình cốc. Quách Tương kể lại. Dương Quá tức giận nói:

– Kim Luân pháp vương thật đáng ghét, chờ khi nào chúng ta tìm được lối leo lên, đại ca ca của tiểu muội tử sẽ đánh cho lão ta một trận thừa sống thiếu chết.

Lời chưa dứt, bỗng có một con chim điêu rơi xuống đầm, chìm xuống rồi nổi lên, nó bị thương rất nặng.

Quách Tương kêu lên:

– Là con chim điêu của nhà tiểu muội.

Lại thấy con chim điêu mái bay xuống, cõng con chim điêu trống đưa lên. Lần thứ hai con chim điêu mái bay xuống, Dương Quá đặt Quách Tương lên lưng con chim điêu, đoán rằng nó sẽ trở xuống đưa chàng lên, ai ngờ chờ mãi vẫn không thấy, chàng đâu biết con chim điêu mái đã tuẫn tình mà chết.

Chờ chim điêu không thấy, Dương Quá bèn quan sát cảnh vật bên đầm nước. Thấy trên cây lớn có treo mấy chục cái đõ ong. Đõ ong ở đây to hơn loại đõ ong thông thường, và bay lượn quanh đõ ong chính là loài ong ngọc phong Tiểu Long Nữ từng nuôi ở tòa cổ mộ.

Dương Quá vừa nhìn thấy liền kêu lên kinh ngạc, sững người một lát, mới lại bên quan sát các đõ ong, biết đó là do tay người làm ra, không chừng có dấu tích của Tiểu Long Nữ.

Chàng định thần, nghĩ: "Không lẽ năm xưa Tiểu Long Nữ nhảy xuống đây, hiện vẫn còn sống?" Chàng đi quanh đầm nước lạnh quan sát một lượt, thấy bốn phía đều là vách đá dựng đứng, giống như mình đang ở dưới đáy một cái giếng khổng lồ, có câu "ếch ngồi đáy giếng nhìn trời", nhưng từ đây nhìn lên chỉ thấy sương mù, nào thấy ánh nắng?

Dương Quá bẻ mấy thân cây, gõ mạnh vào vách núi bốn phía, không thấy dị trạng, nhưng nhìn kỹ, phát hiện một số cây bị người ta bóc vỏ, một số hòn đá được kê ngay ngắn cạnh cây hoa, không phải là tự nhiên, mà có bàn tay con người sắp đặt, thì chàng hồi hộp, trống ngực đập mạnh, lúc này chàng đoán chắc Tiểu Long Nữ ở đây, chỉ không biết đằng đẵng mười sáu năm rồi, người ngọc giờ đây thế nào? Dương Quá vốn không tin quỉ thần, nhưng lúc này hồi hộp quá, chàng quì xuống mà khấn:

– Lạy trời phù hộ cho con gặp lại Long nhi!

Khấn cầu mấy lần, tìm kiếm một hồi, vẫn không thêm dấu tích gì. Dương Quá ngồi dưới một gốc cây ngẫm nghĩ: "Nếu Long nhi đã chết, cũng phải còn hài cốt chứ, trừ phi hài cốt ở dưới đáy đầm". Nhớ lúc chìm xuống đầm từng thấy có một vầng sáng rộng, thật khó hiểu, chắc phải có gì dưới đó, chàng liền đứng dậy.

Chàng nói to:

– Lành dữ gì cũng phải tìm cho ra chân tướng, tìm bao giờ thấy hài cốt của nàng mới thôi.

Chàng liền nhảy xuống đầm, lặn hẳn xuống chỗ sâu. Càng xuống sâu càng lạnh buốt, lặn một hồi, thấy bốn phía toàn là băng màu xanh sẫm. Dương Quá tuy không sợ lạnh, nhưng ở chỗ sâu lực đẩy lên rất mạnh, chàng cố gắng mấy lần cũng chỉ lặn sâu thêm vài trượng, vẫn chưa tới đáy, đã tức thở, phải ngoi lên mặt nước.

Chàng lên bờ bưng một hòn đá lớn, rồi lại nhảy xuống. Lần này chàng chìm rất nhanh, chợt thấy trước mắt sáng bừng, vội bơi tới chỗ quầng sáng, chỉ thấy một dòng nước chảy mạnh cuốn chàng đi, hóa ra quầng sáng quả nhiên là một cái động. Chàng quẳng hòn đá đi, tay chân cùng bơi trong động, đây là một cái hố băng chênh chếch lên cao. Chàng thuận thế bơi lên, không lâu thì lên tới mặt nước, cảm thấy ánh nắng lóa mắt, mùi hoa thơm nức, như lạc vào một thế giới khác. Chàng chưa vội bò lên bờ, đưa mắt nhìn quanh, chỉ thấy cỏ xanh và vô vàn hoa lá, như thể trong một hoa viên cực lớn, nhưng im ắng không một bóng người. Chàng vừa kinh ngạc vừa vui mừng, vọt lên bờ, thấy cách hơn mười trượng có một ngôi nhà tranh.

Chàng chạy nhanh về phía đó, nhưng được ba, bốn trượng, thì dừng lại bước thong thả, nghĩ: "Nếu trong nhà không có dấu vết gì về Long nhi thì sao?" Càng đến gần ngôi nhà, chàng càng bước chậm hơn, trong thâm tâm chỉ sợ tất cả chỉ là ảo ảnh, còn cách một trượng cuối cùng, chàng dỏng tai nghe ngóng, bốn phía vẫn im ắng, không tiếng chim tiếng người, chỉ có tiếng ong vo ve.

Chàng chờ một lát, cuối cùng đánh bạo nói, giọng run run:

– Dương mỗ mạo muội bái yết, xin cho gặp mặt.

Trong nhà không có tiếng trả lời, chàng giơ tay đẩy nhẹ, cửa mở ra nghe két một cái.

Dương Quá bước vào, vừa nhìn lướt qua đã chấn động toàn thân, thấy bên trong bầy biện đơn giản, nhưng vô cùng sạch sẽ, gian ngoài chỉ có một cái bàn một cái ghế, không còn vật gì khác, vị trí kê bàn ghế cũng vô cùng quen thuộc, chẳng khác gì ở trong tòa cổ mộ. Không cần suy nghĩ, chàng tự dưng đi sang bên trái, quả nhiên thấy một gian buồng nhỏ, qua gian này tới một gian rộng hơn, giường ghế ở đây kê y hệt ở trong phòng ngủ của tòa cổ mộ, chỉ khác là ở đây dụng cụ toàn làm bằng cành cây ghép lại.

Gian bên phải có một cái giường, kiểu như cái giường hàn ngọc chàng luyện công hồi nhỏ, cạnh đó chăng ngang một sợi dây, để chàng nằm luyện khinh công, một ô cửa sổ nhỏ, nơi chàng đọc sách, viết chữ. Từ lúc bước vào đây sờ giường sờ ghế, Dương Quá đã rưng rưng nước mắt, lúc này chàng không nhịn được nữa, lệ chảy ròng ròng.

Bỗng cảm thấy có một bàn tay mềm mại vuốt nhẹ tóc chàng, một giọng nói dịu dàng:

– Quá nhi, sao chàng không vui mừng?

Giọng nói này, cái vuốt tóc này hệt như xưa, mỗi lần Tiểu Long Nữ an ủi chàng. Dương Quá quay phắt lại, thấy trước mặt một bạch y nữ tử, da trắng như tuyết, diện mạo như xưa, chính là Tiểu Long Nữ chàng vẫn đêm ngày tương tư mười sáu năm qua.

Hai người đứng ngây hồi lâu, cùng kêu khẽ một tiếng "a", rồi ôm chầm lấy nhau, ngỡ ngỡ ngàng ngàng, chưa biết là thật hay ảo?

Lát sau, Dương Quá mới nói:

– Long nhi, diện mạo của nàng chẳng thay đổi gì, còn ta thì đã già.

Tiểu Long Nữ chăm chú nhìn, nói:

– Không phải già, mà là Quá nhi của thiếp đã trưởng thành.

Tiểu Long Nữ hơn Dương Quá vài tuổi, nhưng nàng từ bé sống trong cổ mộ, theo sư phụ tu tập nội công, rũ bỏ mọi tư lự dục niệm. Dương Quá thì lo nghĩ đủ thứ, đại bi đại lạc, cho nên đến khi hai người thành hôn, trông hai người như cùng tuổi với nhau.

Phép tu luyện dưỡng sinh của "Ngọc nữ công" phái Cổ Mộ có mười hai yếu quyết chữ "Thiểu" là "Thiểu tư, Thiểu niệm, Thiểu dục, Thiểu sự, Thiểu ngữ, Thiểu tiếu, Thiểu sầu, Thiểu lạc, Thiểu hỉ, Thiểu nộ, Thiểu hiếu, Thiểu ố (Ít: Suy, nghĩ, ham muốn, làm việc, nói, cười, buồn, sướng, vui, giận, ưa thích, ghét bỏ). Bởi lẽ suy nhiều ắt mệt mỏi tinh thần, nghĩ nhiều ắt tinh tán, muốn nhiều ắt trí tổn, làm nhiều ắt mệt mỏi, nói nhiều ắt hụt hơi, cười nhiều ắt hại gan, buồn nhiều ắt mệt tim, sướng nhiều ắt ý lạm, vui nhiều ắt hại trí nhớ, giận nhiều ắt huyết mạch bất định, ưa thích nhiều ắt mê muội bất trị, ghét bỏ nhiều ắt nôn nóng bất an. Không trừ bỏ mười hai cái" nhiều "ấy, chính là gốc của việc mất mạng vậy. Tiểu Long Nữ tu vi từ nhỏ, không vui không buồn, vô tư vô lự, công lực tinh thuần có điểm còn hơn cả sư tổ Lâm Triêu Anh. Nhưng sau đó Dương Quá đến tòa cổ mộ, hai người sống với nhau nhiều năm, tình ý nảy sinh, những điều" Thiểu sự, Thiểu ngữ, Thiểu lạc, Thiểu hỉ "dần dần không theo được nữa. Thành hôn xong lại biệt ly mười sáu năm, Dương Quá phiêu bạt giang hồ, tóc mai nhuốm bạc, Tiểu Long Nữ thì ở dưới u cốc, tuy không tránh khỏi nỗi khổ tương tư, song công phu tu luyện hai mươi năm không nhỏ, mấy năm sau tái tu luyện mười hai yếu quyết chữ" Thiểu ", dần dần" Thiểu tư, Thiểu niệm, Thiểu dục, Thiểu sự ", độc cư dưới đáy sơn cốc, nên khi hai người gặp lại nhau thì trông Dương Quá rõ ràng lại già hơn Tiểu Long Nữ. Tiểu Long Nữ mười sáu năm không nói, ban đầu nói năng khó khăn. Hai người nói ít, chỉ nhìn nhau mỉm cười. Sau đó Dương Quá nhiệt huyết trào dâng, chàng cầm tay Tiểu Long Nữ chạy ra bên ngoài, nói:

– Long nhi, ta sung sướng quá!

Rồi chàng tung mình nhảy lên, cao đến ngang ngọn một cây đại thụ, lộn người bảy, tám vòng.

Cái trò lộn người mấy vòng vì quá vui này có từ hồi Dương Quá chung sống với Tiểu Long Nữ ở chân núi Chung Nam. Ngót hai chục năm nay Dương Quá đã quên hẳn, không ngờ hôm nay sắp bước sang tuổi trung niên, đột nhiên chàng lại lộn người. Chỉ khác là bây giờ võ công cao siêu, nên lúc thân hình ở trên không trung chàng tự nhiên hiển lộ ra khinh công thượng thừa. Tiểu Long Nữ cười phá lên, những qui tắc" Thiểu ngữ, Thiểu tiếu, Thiểu lạc, Thiểu hỉ "đều quẳng cả xuống đầm.

Tiểu Long Nữ rút ra chiếc khăn tay, hồi còn ở chân núi Chung Nam, mỗi lần Dương Quá lộn người, rồi cười hi hi bước đến bên nàng, nàng lại rút khăn lau mồ hôi trán cho chàng, lúc này nhìn chàng lại gần, mặt không đỏ, hơi thở không dồn dập, làm gì có mồ hôi trán? Nhưng nàng vẫn dùng khăn chấm chấm vài cái trên trán chàng.

Dương Quá cầm chiếc khăn xem, thấy nó được đan bằng các gân sợi vỏ cây rất thô, hình dung nỗi khổ sở bao năm nay của nàng dưới đáy sơn cốc, bất giác quặn lòng, nhè nhẹ vuốt tóc nàng, nói:

– Long nhi, nàng phải chịu đựng mười sáu năm ở đây thật là khổ!

Tiểu Long Nữ thở dài, nói:

– Nếu thiếp không trưởng thành từ nhỏ ở trong tòa cổ mộ, chắc là không chịu đựng nổi mười sáu năm vừa rồi.

Hai người ngồi kể cho nhau nghe mọi chuyện.

Dương Quá luôn miệng hỏi hết câu này câu kia. Tiểu Long Nữ nói một hồi, bớt dần ngượng nghịu, mới thong thả thuật lại các biến cố mười sáu năm qua.

Hôm Dương Quá ném nửa viên Tuyệt Tình đơn xuống vực, Tiểu Long Nữ biết chàng nghĩ nàng trúng độc khó trị, không muốn sống một mình trên đời. Đêm ấy nàng suy đi tính lại, chỉ có cách nàng phải chết trước mới có hi vọng chàng chịu giải độc hoa Tình. Nhưng nếu nàng hé lộ ý định tự tận sẽ chỉ đẩy chàng chọn cái chết mau hơn, nên nghĩ đến nửa đêm, nàng bèn lên Đoạn Trường nhai, dùng kiếm khắc hai dòng chữ, cố ý ước hẹn mười sáu năm tái hợp, rồi mới nhảy xuống thâm cốc. Bấy giờ nếu nàng nghĩ Dương Quá may mắn thoát chết, cách mười sáu năm chàng vẫn không nguôi thương nhớ nàng, thì nàng đã chẳng tự tận.

Nàng kể đến đây, Dương Quá thở dài, nói:

– Tại sao nàng lại hẹn những mười sáu năm? Nếu hẹn tám năm thôi, chẳng phải chúng mình đã đoàn tụ sớm tám năm rồi không?

Tiểu Long Nữ nói:

– Thiếp biết thâm tình của chàng đối với thiếp, chỉ tám năm thì quyết chưa phai nhạt. Ôi, mười sáu năm sau mà chàng còn nhảy xuống vực tuẫn tình.

Dương Quá cười nói:

– Thế mới biết một người càng có thâm tình càng tốt. Giả dụ lòng ta sớm phai nhạt, chỉ đứng bên Đoạn Trường nhai khóc một hồi rồi bỏ đi, thì suốt đời chúng mình không còn được gặp lại nhau

Tiểu Long Nữ nói:

– Mọi việc đều do ý trời!

Hai người vào sinh ra tử, sau bao biến cố, cuối cùng lại được đoàn tụ, giờ đây ngồi tựa bên nhau, trong thâm tâm đều cảm tạ ông trời.

Hai người im lặng hồi lâu. Dương Quá hỏi:

– Lúc nàng nhảy xuống vực, sự việc thế nào?

Tiểu Long Nữ nói:

- Thiếp nửa tỉnh nửa mê rơi xuống đầm nước, lúc đang nổi lên thì bị dòng nước đẩy vào một hố băng, thông lên đây, thế là sống ở nơi này. Chỗ này không có cầm điểu dã thú, nhưng trong đầm có nhiều thuỷ sản, hoa quả dưới đáy cốc ăn không hết, chỉ không có vải, phải bóc vỏ cây may quần áo mà thôi.

Dương Quá nói:

– Bấy giờ nàng trúng" Băng phách ngân châm ", chất cực độc đã ngấm vào kinh mạch, không thứ thuốc nào trên thế gian chữa đuợc, làm sao ở đây lại vẫn khoẻ?

Chàng nhìn kỹ Tiểu Long Nữ, thấy dung mạo nàng trắng trẻo, không hồng hào, nhưng hắc khí ẩn hiện ở hai đầu lông mày sau khi trúng độc đã biến mất.

Tiểu Long Nữ nói:

– Thiếp xuống đây mấy ngày sau thì độc tính phát tác, người sốt nóng như lửa, đầu nhức như muốn nổ tung, thật không chịu nổi. Thiếp nhớ lại đêm động phòng hoa chúc trong tòa cổ mộ, chàng dạy thiếp ngồi trên giường hàn ngọc nghịch vận kinh mạch, tuy không thể trừ độc nhưng cũng đỡ khổ sở đau đớn. Thế là thiếp lặn xuống chỗ hố băng, tựa đầu vào đó một hồi, thấy hiệu nghiệm. Sau đó thiếp thường quay lại bờ đầm, nơi mình rơi xuống, ngẩng lên xem có tin tức gì của chàng hay không. Một hôm bỗng thấy có mấy con ong ngọc phong xuyên qua lớp sương mù bay xuống, hẳn là bầy ong mà Lão Ngoan đồng mang đến Tuyệt Tình cốc. Thiếp như gặp hảo hữu, bèn làm các tổ ong cho ong ở lại. Sau ong kéo đến ngày càng nhiều. Thiếp ăn mật ong, lại bắt bạch ngư dưới đầm mà ăn, cảm thấy bệnh đỡ dần, không ngờ mật ong và bạch ngư dưới hàn đầm lại là thứ giải độc rất công hiệu. Số lần độc tính phát tác trong cơ thể ít dần và cách quãng xa dần. Thoạt đầu phát tác ngày một lần, sau vài ngày một lần, rồi một tháng một lần, cuối cùng năm sáu năm nay không phát tác lần nào nữa, chắc đã khỏi hẳn.

Dương Quá cả mừng nói:

– Đủ thấy người hảo tâm tất được báo đáp. Năm xưa nếu nàng không tặng đàn ong ngọc phong cho Lão Ngoan đồng, thì lão không thể mang ong đến Tuyệt Tình cốc này, bệnh của nàng khó bề chữa trị.

Tiểu Long Nữ nói:

– Sau khi khỏe lên, thiếp rất nhớ chàng, nhưng thâm cốc sâu hàng trăm trượng, bốn phía toàn vách đá dựng đứng, không thể leo lên. Thế là thiếp dùng gai nhọn xăm lên cánh ong sáu chữ" ta ở dưới đáy tình cốc ", chỉ mong ong bay lên, có người phát hiện ra mình. Mấy năm qua, thiếp đã xăm chữ lên cánh mấy ngàn con ong, song chẳng có một chút hồi âm. Mỗi năm thiếp lại thêm nản lòng, xem chừng kiếp này không còn được gặp chàng nữa.

Dương Quá vỗ đùi ân hận, nói:

– Ta cũng ngốc thật, mỗi lần trở lại Tuyệt Tình cốc đều gặp ong ngọc phong, mà không bắt một vài con xem sao, có phải đã bớt được vài năm khổ sở cho nàng rồi không..

Tiểu Long Nữ nói:

– Cái đó chỉ là hạ sách khi thiếp không biết cách gì khác, chứ ai lại nghĩ trên cánh con ong bé nhỏ có xăm chữ bao giờ? Chữ xăm quá nhỏ, dẫu có hàng trăm con ong bay qua trước mắt, chàng cũng chẳng đọc được hàng chữ xăm trên cánh ong. Thiếp chỉ mong một lúc nào đó, một con ong sa vào màng nhện, trời rủ lòng để cho chàng nhận thấy, chàng nhớ đến tình nghĩa đôi ta, thò tay cứu con ong ra, chàng sẽ phát hiện cánh nó có xăm chữ.

Tiểu Long Nữ không ngờ rằng người phát hiện cánh ong có xăm chữ là Chu Bá Thông, và Hoàng Dung đã đoán ra hàm ý của sáu chữ xăm.

Hai người trò chuyện rất lâu, Tiểu Long Nữ vào nhà nướng một xâu cá, ăn kèm với trái cây, mật ong. Nước đầm lạnh giá, giống bạch ngư trong đầm tuy thân nhỏ nhưng thịt béo ngậy. Dương Quá ăn một bữa no nê, cảm thấy trong bụng rất ấm áp dễ chịu, bây giờ chàng mới kể những gì mình trải qua trong mười sáu năm. Chàng tung hoành giang hồ, uy danh chấn động quần hào, gặp phiền toái nguy hiểm gấp trăm lần so với Tiểu Long Nữ độc cư dưới thâm cốc này.

Nhưng Tiểu Long Nữ vốn không quan tâm đến sự đời, chỉ cần gặp được Dương Quá là đủ, cho nên nghe những chuyện kinh tâm động phách, nàng chỉ cười nhạt, nghe như thoảng qua tai, chẳng chú tâm. Còn Dương Quá thì cứ hỏi nàng cặn kẽ việc bắt cá hái quả, làm nhà may áo, việc nhỏ nhất cũng hỏi tỉ mỉ từ đầu chí cuối, làm như chốn đáy cốc nhỏ hẹp này là ngũ hồ tứ hải không bằng.

Hai người trò chuyện một đêm, gần sáng mệt quá mới ngủ thiếp đi. Tỉnh giấc thì đã ngả chiều, Dương Quá nói:

– Long nhi, chúng mình sống ở đây đến già, hay tìm cách trở lại chốn thế gian phồn hoa?

Cứ theo tâm ý của Tiểu Long Nữ, thà ở dưới đáy cốc thái bình yên ổn còn hơn, nhưng nghĩ Dương Quá thích náo nhiệt, tuy tình nghĩa sâu nặng với nàng, nhưng chàng không quen cảnh u tịch thế này, bèn nói:

– Chúng mình nghĩ cách leo lên trên kia, nếu ở trên đó không tốt, thì lại xuống đây. Có điều.. có điều là muốn leo lên cũng không dễ chút nào.

Hai người lặn xuống hố băng, sang bờ đầm bên kia, thấy có một sợi dây dài bằng vỏ cây thòng từ trên xuống, ven đầm có rất nhiều vết chân, một đống lửa còn chưa nguội tro. Xem xét một hồi, thấy trên một thân cây có người dùng mũi kiếm khắc hai hàng chữ:" Nhất Đăng, Bá Thông, Anh Cô, Hoàng Dung, Trình Anh, Vô Song xuống đây tìm Dương Quá không gặp rất buồn leo trở lên ".

Dương Quá thầm cảm kích, nói:

– Họ rốt cuộc không hề quên ta.

Tiểu Long Nữ nói:

– Không ai quên được chàng đâu.

Dương Quá nói:

– Họ tuy lặn xuống đầm, nhưng vì họ không ngã từ trên cao trăm trượng, nên lực chìm không mạnh, không đủ chìm tới hố băng. Nếu ta cũng dùng dây leo xuống, cũng sẽ không tìm được nàng.

Tiểu Long Nữ nói:

– Thiếp đã bảo từ sớm, rằng vạn sự tiền định, ông trời đã an bài tất cả.

Dương Quá lắc đầu cười, nói:

– Cái đó gọi là thành tâm hết mực, gỗ đá cũng động lòng.

Chàng đưa tay kéo sợi dây, thử xem bên trên có được buộc chắc hay không, rồi nói:

– Ta lên trước, xem Kim Luân pháp vương còn ở đó hay không.

Nhưng nghĩ Nhất Đăng đại sư, Hoàng đảo chủ, Lão Ngoan đồng.. đã tới đây, chắc Kim Luân pháp vương đã bỏ chạy rồi, lại nói:

– Võ công của nàng thế nào? Nếu không leo được, để ta cõng nàng.

Tiểu Long Nữ mỉm cười, nói:

– Mười sáu năm qua tuy không tăng tiến, nhưng công phu sở học quá nửa vẫn còn.

Dương Quá ngoảnh đầu cười, tay trái nắm lấy sợi dây, hơi vận kình, thân mình đã bật lên hơn một trượng. Tiểu Long Nữ cũng bám dây leo lên. Không lâu sau, hai người lên khỏi thâm cốc.

Họ kề vai đứng trước Đoạn Trường nhai, nhìn hai hàng chữ năm xưa Tiểu Long Nữ khắc trên vách đá, tưởng như sang kiếp khác, họ nhìn nhau cười. Lúc này họ vô cùng vui sướng, bao nỗi thống khổ trong mười sáu năm hóa thành mây khói.

Dương Quá hái một bông hoa Long Nữ cài lên mái tóc Tiểu Long Nữ, nhất thời không biết hoa làm đẹp người hay người làm cho bông hoa thêm kiều diễm?

Hoàng Dược Sư đứng trên mặt thành nói muốn bày trận thế" Nhị thập bát tú ", đấu một trận lớn với Kim Luân pháp vương. Quách Tĩnh bẩm minh với An phủ sứ Lã Văn Đức, xin hạ tướng lệnh để Hoàng Dược Sư tại hiệu trường điều binh khiển tướng. Hiện thời các lộ anh hùng hào kiệt tham gia đại hội anh hùng tuy đã ra về quá nửa, song cũng còn rất nhiều anh tài ở lại thành Tương Dương, ai nấy tề tựu tại hiệu trường nghe lệnh.

Hoàng Dược Sư nói:

– Bọn Thát tử sử dụng bốn vạn nhân đội vây quanh cái đài cao, chúng ta nếu điều động binh mã nhiều hơn, dù có đánh bại chúng cũng không phải giỏi giang gì. Cho nên chúng ta cũng chỉ sử dụng bốn vạn người. Binh pháp Tôn Tử có nói, đông gấp mười lần thì vây địch, nhưng người giỏi dùng binh chỉ lấy một vây một, đâu có gì khó? Trận thế" Nhị thập bát tú "của chúng ta chia ra năm phương vị.

Các tướng lĩnh được triệu tập để nghe giải thích tỉ mỉ, Hoàng Dược Sư nói:

– Trận thế biến hóa phức tạp, nhất thời không thể quán thông, cho nên trận đánh hôm nay, muốn mời năm vị cao thủ võ học tinh thông thuật biến hóa ngũ hành chỉ huy, các vị tướng lĩnh cầm quân phải tuân theo hiệu lệnh của năm vị cao thủ đó.

Chúng tướng cúi mình nghe lệnh.

Hoàng Dược Sư nói:

– Hoàng lăng ngũ khí trung ương, thuộc Thổ, do Quách Tĩnh thống lĩnh tám ngàn quân, đạo quân này tiến thẳng vào giữa, chỉ lo cứu Quách Tương, không lo diệt địch. Mỗi người gánh đất đến chân cái đài cao, lập tức dùng đất dập lửa lấp củi cỏ, dỡ đài cao cứu người.

Quách Tĩnh nhận lệnh, đứng sang một bên.

Hoàng Dược Sư nói tiếp:

– Chu lăng tam khí phương nam, thuộc Hỏa, phiền Nhất Đăng đại sư thống lĩnh, gồm tám ngàn quân. Đạo quân này, một ngàn người hộ vệ chủ tướng, bảy ngàn người còn lại chia thành bảy đội, do bảy vị là Chu Tử Liễu, Võ Tam Thông, Tứ Thuỷ Ngư Ẩn, Võ Đôn Nhu, Võ Tu Văn, phu nhân Võ Đôn Nhu Gia Luật Yến, phu nhân Võ Tu Văn Hoàn Nhan Bình thống lĩnh, ứng với bảy sao Chu Tước, là Tỉnh mộc ngạn, Quỉ kim dương, Liễu thổ chương, Tinh nhật mã, Trương nguyệt lộc, Dực thủy xà, Sâm hỏa dẫn.

Nhất Đăng đại sư nhận lệnh.

Hoàng Dược Sư nói tiếp:

– Huyền lăng thất khí phương bắc, thuộc Thủy, do Hoàng Dung thống lĩnh, gồm tám ngàn quân. Đạo quân này, một ngàn người hộ vệ chủ tướng, bảy ngàn người còn lại chia thành bảy đội, do bảy vị là Gia Luật Tề, Lương trưởng lão, Quách Phù, các vị trưởng lão Cái Bang thống lĩnh ứng với bảy sao Huyền Vũ là Đẩu mộc ngạn, Ngưu kim dương, Nữ thổ bức, Hư nhật thử, Nguy nguyệt yến, Thất hỏa trư, Bích thủy chương.

Hoàng Dung nhận lệnh. Đạo quân này lấy đệ tử Cái Bang làm chủ lực, có nhiều nhân tài.

Hoàng Dược Sư điểm xong ba đạo binh, nói:

– Thanh lăng cửu khí phương đông, thuộc Mộc, đạo binh này do Đông Tà Hoàng Dược Sư ta thống lĩnh, cũng gồm tám ngàn quân. Các đệ tử của ta đã chết sạch, Ngốc cô không ở bên ta, ở đây chỉ còn mỗi một người là Trình Anh.

Đoạn Hoàng Dược Sư chọn sáu người trong số hào kiệt từng dự đại hội anh hùng, nói:

– Đạo binh này cũng chia thành tám đội, một đội hộ vệ chủ tướng, bảy đội còn lại ứng với bảy sao Thanh Long là Giốc mộc giao, Cang kim long, Đê thổ hạc, Phòng nguyệt hồ, Tâm nhật thố, Vĩ hỏa hổ, Ki thủy báo.

Điểm binh đến đạo quân tây lộ, Hoàng Dược Sư nói:

– Lộ này do giáo chủ giáo phái Toàn Chân Lý Chí Thường thống lĩnh..

Mọi người nghe đến đây, đều cảm thấy luận về danh vọng và võ công, chủ tướng cánh quân này thua xa bốn lộ quân trước. Bỗng nghe bên dưới có người nói lớn:

– Này Hoàng lão tà, lão không thèm đếm xỉa đến tiểu đệ ư?

Mọi người ngoảnh nhìn, người vừa lên tiếng chính là Lão Ngoan đồng Chu Bá Thông. Hoàng Dược Sư nói:

– Chu huynh, huynh bị thương ở lưng chưa khỏi, không thể xung trận, chứ nếu mời được Chu huynh làm chủ tướng tây lộ thì còn gì bằng..

Chu Bá Thông cướp lời:

– Vết thương nhỏ đâu có gì đáng kể? Cứ để tiểu đệ làm chủ tướng tây lộ. Này Chí Thường, ngươi có dám tranh chức chủ tướng với ta hay không đấy?

Lý Chí Thường cúi mình đáp:

– Đệ tử không dám.

Chu Bá Thông cười, nói:

– Tốt, ta cũng biết nhà ngươi không dám.

Nói đoạn cầm lấy lệnh tiễn từ tay Lý Chí Thường.

Hoàng Dược Sư không thể làm gì khác, đành nói:

– Thế thì mong Chu huynh cẩn thận cho. Chu huynh thống lĩnh tám ngàn quân, trong đó một ngàn do Anh Cô chỉ huy, bảy ngàn còn lại giao cho các đệ tử đời thứ ba của phái Toàn Chân như Lý Chí Thường chỉ huy, ứng với bẩy sao Bạch Hổ, là Khuê mộc lang, Lâu kim cẩu, Vị thổ trĩ, Ngang nhật kê, Tất nguyệt điểu, Chuỷ hỏa hầu, Thương thủy viên.

Điểm binh xong, lệnh cho các lộ quân sĩ đến kho quân khí nhận đủ vật dụng cần thiết, rồi phất cờ lệnh, bốn vạn binh mã chia ra năm phương đông, nam, tây, bắc, chính giữa, Hoàng Dược Sư dõng dạc nói:

– Năm xưa hai mươi tám viên tướng ứng với điềm trời, phò tá Hán Quang Vũ trung hưng, nay trận thế" Nhị thập bát tú "của chúng ta tuy không sánh nổi thanh thế của Hán Quang Vũ, nhưng chống giặc giữ nước, cũng đường đường chính chính là một kỳ soái oai hùng. Chư quân hãy nghe hiệu lệnh của chủ tướng, hôm nay quyết một trận tử chiến với bọn Thát tử Mông Cổ.

Tướng sĩ đồng thanh đáp ứng vang vang như tiếng sấm. Sau ba phát pháo hiệu, bốn cổng thành mở rộng, năm lộ binh mã hùng dũng tiến ra.

Tây lộ quân lấy phái Toàn Chân làm chủ lực, các đạo sĩ vốn thành thạo" Thiên Cang Bắc Đẩu trận ", chỉ thấy trường kiếm sáng loáng, bảy người một nhóm, bốn mươi chín người một đội, chuyển dịch như sao sa, tướng sĩ Mông Cổ nhìn hoa cả mắt, chỉ biết bắn tên ngăn chặn.

Chỉ nghe ở mạn bắc quân địch rú lên thất thanh, Hoàng Dung chỉ huy đệ tử Cái Bang dùng vòi dài phun nước độc dơ về phía quân địch. Thứ nước ấy dính vào người lập tức ngứa ngáy như điên, lát sau đã làm thối rữa cả da thịt, quân địch không chịu nổi, phải rút chạy.

Ở Nam lộ quân khói bốc ngút trời, là Nhất Đăng suất lĩnh tám ngàn quân thi triển hỏa công, dùng ống đồng phun lửa lưu huỳnh. Quân Mông Cổ thấy tình hình nguy hiểm, vội dồn vào giữa.

Quách Tĩnh suất lĩnh tám ngàn quân từ phía sau từ từ tiến lên, thấy quân địch bắt đầu rối loạn, liền xông thẳng tới chỗ đài cao.

Bỗng nghe bên cạnh đài cao nổi lên tiếng tù và vang vọng, từ dưới đất có mấy vạn quân địch đội đất chui lên. Thì ra chủ soái Mông Cổ cũng giỏi dùng binh, ngoài bốn vạn nhân đội bố trí xung quanh cái đài cao, còn đào hầm mai phục mấy vạn quân nữa. Thành thử cục diện đang bại của quân Mông Cổ lập tức thay đổi, trận thế" Nhị thập bát tú "tung hoành, tuy có làm rối loạn quân địch, song không thể tiêu diệt chúng.

Trống trận vang rền, quân Tống hò hét xông vào ác chiến với quân địch. Đội cung nỏ từ chân đài cao bắn tên ra như mưa, Trung lộ quân do Quách Tĩnh chỉ huy mấy phen xông vào đều bị mưa tên hất trở ra. Đôi bên ác chiến đã nửa canh giờ vẫn chưa phân thắng bại. Hoàng Dược Sư phất lá cờ xanh, đột nhiên Đông lộ quân đánh về phía nam, Tây lộ quân đánh lên phía bắc, trận pháp biến động.

Trận thế" Nhị thập bát tú "ngầm chứa cái lý ngũ hành sinh khắc. Hồng kỳ quân Nam lộ của Nhất Đăng đại sư đánh vào chính giữa, Hoàng kỳ quân của Quách Tĩnh đánh sang phía tây, Bạch kỳ quân của Chu Bá Thông xông về phía bắc, Hắc kỳ quân của Hoàng Dung thì xông sang phía đông, còn Thanh kỳ quân của Hoàng Dược Sư chuyển xuống phía nam. Sự luân chuyển ngũ hành này là hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thủy, thủy sinh mộc, mộc sinh hỏa.

Quân Tống tuy chỉ có bốn vạn người, nhưng trận pháp tinh diệu, chỉ huy đều là cao thủ võ lâm, quân binh người người đều biết ơn vợ chồng Quách Tĩnh, quyết ý liều mình cứu ái nữ của vợ chồng họ, cho nên tuy quân địch đông gấp đôi, cũng không ngăn được.

Ác chiến hồi lâu, Hoàng Dược Sư hú một tiếng dài, Thanh kỳ quân lui vào chính giữa, Hoàng kỳ quân đánh lên phía bắc, Hắc kỳ quân vu hồi xuống phía nam, Hồng kỳ quân tiến sang phía tây, Bạch kỳ quân tấn công phía đông. Lần biến đổi trận pháp này là nghịch chuyển ngũ hành, là mộc khắc thổ, thổ khắc thủy, thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim, kim khắc mộc.

Sự biến hóa ngũ hành sinh khắc nói ra nghe huyền diệu, thật ra là do cổ nhân Trung Quốc tinh nghiên. Sự biến đổi vật tính mà ngộ được cái lý, hiểu cái đạo âm dương, cái thuyết phản hồn thần. Nền y học, lịch số của Trung Quốc đều dựa vào đây, cái gọi là" ngũ vận cánh thủy, trên ứng thiên kỳ, âm dương vãng phục, hàn thử nghênh tùy, chân tà tương bác, nội ngoại phân li, lục kinh ba đang, ngũ khí khuynh di "có thể nói là cử thế vô song đương thời. Quân Mông Cổ tinh nhuệ, võ công cao cường, nhưng văn trí nông cạn, làm sao địch nổi đệ nhất đại gia thời nay là Hoàng Dược Sư? Thấy trận thế biến hóa mấy lần, tướng lĩnh quân địch trấn giữ cái đài cao cứ chóng mặt hoa mắt, thấy quân Tống cánh này đến, cánh kia đi, đề phòng chỗ này thì bỏ chỗ kia, thật không biết đường nào mà lần.

Kim Luân pháp vương đứng trên đài cao, quan sát cuộc đại chiến bên dưới, cũng thầm kinh hãi. Năm nào Hoàng Dung chỉ dùng tiểu thạch trận, lão ta đã không hiểu gì, huống hồ Hoàng Dược Sư tinh thông Dịch học gấp mười lần con gái mình. Trận thế" Nhị thập bát tú "dưới sự chủ trì của năm vị đại cao thủ đương đại triển khai ra, Kim Luân pháp vương không thể không thán phục, thấy quân Mông Cổ tử thương mỗi lúc một nhiều, Hoàng kỳ quân áp sát dần tới cái đài cao. Kim Luân pháp vương tuy dùng Quách Tương để uy hiếp, song lão ta cũng không nỡ thiêu sống nàng, lão ta quay nhìn nàng, thấy nàng tuy bị trói hai tay, song vẫn ngẩng cao đầu không chút run sợ. Kim Luân pháp vương nói:

– Tiểu Quách Tương, mau gọi phụ thân ngươi đầu hàng đi, ta đếm từ một đến mười, phụ thân ngươi không hàng, ta sẽ hạ lệnh phóng hỏa.

Quách Tương nói:

– Lão thích đếm thì cứ việc đếm, đừng nói là đếm từ một đến mười, lão có đếm đến một ngàn, một vạn cũng mặc lão.

Pháp vương tức giận nói:

– Ngươi tưởng ta không dám thiêu sống ngươi chắc?

Quách Tương lạnh lùng nói:

– Bổn cô nương chỉ cảm thấy lão thật đáng thương mà thôi.

Pháp vương hỏi:

– Tại sao ta lại đáng thương?

Quách Tương nói:

– Lão đánh không nổi gia gia má má của bổn cô nương, đánh không nổi ngoại công Hoàng đảo chủ, đánh không nổi Nhất Đăng đại sư, đánh không nổi Lão Ngoan đồng Chu Bá Thông, đánh không nổi đại ca ca Dương Quá của bổn cô nương, lão chỉ bắt trói được bổn cô nương ở đây mà thôi. Trong thành Tương Dương của bổn cô nương, dù một gã tiểu tốt cũng không hèn mạt vô sỉ như lão. Này Pháp vương, bổn cô nương muốn khuyên lão một câu.

Pháp vương nghiến răng hỏi:

– Ngươi muốn khuyên ta điều gì?

Quách Tương nói:

– Làm một kẻ như lão thì còn có ý vị gì trên đời nữa? Chi bằng đâm đầu xuống dưới đài mà chết cho rồi!

Quách Tương lúc này đã không còn quan tâm đến sự sống chết của mình, nàng từ bé miệng lưỡi đã đáo để, nói năng không chịu thua ai, mấy câu kia làm cho Pháp vương tức muốn vỡ ngực ra. Lão quát to:

– Quách Tĩnh nghe đây, ta đếm từ một đến mười, nếu ngươi không đầu hàng, ta sẽ hạ lệnh phóng hỏa đốt đài.

Quách Tĩnh nói:

– Lão nghĩ Quách mỗ là kẻ chịu đầu hàng hay sao?

Hoàng Dược Sư dùng tiếng Mông Cổ nói lớn:

– Kim Luân pháp vương, ngươi không hiểu rõ đối phương, là kẻ bất trí, khi vũ nhược nữ, là kẻ bất nhân, không dám quyết thắng bằng đao thương thật sự với bọn ta, là kẻ bất dũng. Một kẻ bất trí, bất nhân, bất dũng như thế có còn là anh hùng hảo hán nữa chăng? Ở Tuyệt Tình cốc ngươi bị ta bắt, ngươi phải cầu xin, lạy tiểu cô nương Quách Tương mười tám cái mới được Quách Tương tha cho ngươi. Ngươi lại vong ân bội nghĩa, tham sinh úy tử, còn mặt mũi nào chiếm địa vị đệ nhất quốc sư Mông Cổ kia chứ.

Thực ra hoàn toàn không có chuyện Pháp vương lạy Quách Tương mười tám cái, nhưng Hoàng Dược Sư thâm mưu viễn lự, trước khi phát binh đã nhờ Hoàng Dung dịch mấy câu chỉ trích Pháp vương sang tiếng Mông Cổ, lão học thuộc lòng, bây giờ dùng khí đan điền nói ra trước muôn vạn người, tuy họ đang mải ác chiến, song ai cũng nghe rõ, Pháp vương dù có lên tiếng cải chính hay không cũng vô ích. Người Mông Cổ xưa nay rất tôn kính dũng sĩ, họ hết sức khinh bỉ kẻ nhu nhược hèn hạ. Binh sĩ Mông Cổ nghe câu nói của Hoàng Dược Sư bất giác đều ngẩng nhìn lên đài cao, ánh mắt lộ vẻ khó chịu. Lưỡng quân giao chiến, khí thế bên nào hăng hái sẽ thắng, quân Mông Cổ nghe bảo chủ tướng của mình hèn hạ vô sỉ như vậy, khí thế giảm hẳn đi, trong khi quân Tống người người lăn xả vào quyết thắng.

Pháp vương thấy tình hình không ổn, bèn nói to:

– Quách Tĩnh nghe đây, ta đếm từ một đến mười, đến chữ" mười "thì ái nữ của nhà ngươi sẽ hóa thành than đó. Một.. hai.. ba.. bốn..

Pháp vương đếm xong mỗi số đều dừng lại một lát, chỉ mong Quách Tĩnh cuối cùng không chịu đựng nổi, dù không đầu hàng thì cũng rối loạn tâm trí.

Quách Tĩnh, Hoàng Dược Sư, Nhất Đăng, Hoàng Dung, Chu Bá Thông năm lộ binh mã nghe Pháp vương trên đài cao đếm số, nhìn mấy trăm tên lính cầm đuốc đứng dưới chân đài, chỉ đợi Pháp vương hạ lệnh sẽ châm lửa vào củi cỏ, thì ai cũng tức giận và lo lắng, gắng sức xung sát, tiến đến chỗ đài cao cứu Quách Tương. Nhưng quân Mông Cổ tiễn pháp tinh diệu, mấy trăm tinh binh phóng tên, dưới làn mưa tên, Tứ Thủy Ngư Ẩn, Lương trưởng lão, Võ Tu Văn đều đã trúng tên bị thương, bốn đệ tử đời thứ ba của phái Toàn Chân, hơn chục hảo thủ Cái Bang cũng đã trúng tên bỏ mạng, tướng sĩ quân Tống bị tử thương vô số.

Hoàng Dung lúc đầu từng sai Quách Phù đưa áo giáp lông nhím cho ngoại công mặc để đỡ phần hung hiểm, kẻo lỡ vì cứu nữ nhi mà phụ thân bị thương thì suốt đời Hoàng Dung ân hận. Hoàng Dược Sư nghĩ đó là cử chỉ hiếu lễ của nữ nhi, không tiện từ chối, nhưng sau đó lão lại cởi ra, lừa mặc vào người Chu Bá Thông, cho nên Chu Bá Thông lao qua lao lại giữa làn mưa tên mà không hề hấn gì. Lão thấy tên bắn vào thân mình đều rơi rụng lả tả, thì khoái trá xông thẳng tới phía trước, chưởng phong phát đến đâu, các xạ thủ Mông Cổ giạt ra tới đó.

Chỉ nghe Kim Luân pháp vương trên đài cao đêm to:

– Tám.. chín.. mười! Được lắm, phóng hỏa!

Tức thì các đống củi cỏ đặt dưới chân đài được châm lửa, khói bốc lên. Tám ngàn quân Hoàng kỳ đo Quách Tĩnh thống lĩnh tuy vác bao đất trên lưng, song không thể tới được cách chân đài hai trăm bước, đành chỉ đứng nhìn.

Hoàng Dung thấy khói lửa bốc lên, thì mặt tái nhợt đi, lảo đảo chực ngã. Gia Luật Tề đưa tay đỡ, nói:

– Nhạc mẫu, hãy lùi về phía sau nghỉ ngơi, con dù mất mạng, cũng phải cứu Tương muội ra.

Đúng lúc đó, bỗng nghe đằng xa có tiếng hò reo như sấm, mấy vạn quân thiết giáp Mông Cổ từ hai cánh tiến thẳng tới tấn công thành Tương Dương. Tiếng hô" Vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế! "Chấn động đất trời. Lá cờ lớn của đại hãn Mông Cổ Mông Kha giương cao, tiến nhanh đến chân thành, tinh binh hãn tướng đông như kiến, do đại hãn thân chinh chỉ huy ào ạt công thành.

Quách Tĩnh tay trái cầm khiên, tay phải cầm mâu, vốn đã đến cách cái đài cao không đầy trăm bước, các xạ thủ Mông Cổ bắn tên như mưa, thủy chung vẫn không đả thương nổi, thấy sắp có thể xông lên trên đài cao, bỗng nghe phía sau lưng có biến, không khỏi giật mình, nghĩ:" Nguy quá, trúng kế điệu hổ ly sơn của Thát tử mất rồi. An phủ sứ nhu nhược sợ địch, trong thành binh mã tuy đông, nhưng thiếu người thống lĩnh, chỉ sợ đại sự nguy to ".

Quách Tĩnh và Hoàng Dược Sư lúc phát binh, việc phòng bị trong thành đã được gia tăng, đề phòng quân địch thừa cơ tập kích, không ngờ quân địch quanh cái đài cao kháng cự dũng mãnh, còn đại hãn Mông Cổ thì bỏ mặc mấy vạn binh mã quanh đài cao đang lâm nguy, thân chinh mạo hiểm công thành. Quách Tĩnh nghĩ:" Việc cứu con là chuyện nhỏ, giữ thành là chuyện lớn! "Bèn gọi to:

– Nhạc phụ, chúng ta đừng lo cho Tương nhi nữa, phải cấp tốc quay lại đánh quân địch ở phía sau.

Hoàng Dược Sư ngoảnh đầu nhìn lại, thấy lửa bén dần lên cao, Pháp vương chính đang thong thả theo cái thang gỗ đi xuống, trên đài cao chỉ còn một mình Quách Tương, lão đảo chủ há không hiểu khinh trọng hoãn cấp, một mình Quách Tương làm sao có thể so với sự an nguy của cả thành Tương Dương? Lão đành thở dài, nói" Thôi! "Rồi lệnh cho người cầm cờ xanh phất cờ điều binh quay về phía nam.

Quách Tương bị trói trên đài cao, thấy phụ mẫu, ngoại công đều không cách gì đến cứu nàng, khói dày lửa mạnh ùn ùn dưới chân đài cao, tự biết mình sắp bị thiêu sống. Ban đầu nàng rất hoảng sợ, nhưng lúc sự việc xảy ra, nàng lại trở nên bình thản, ngẩng đầu nhìn xa tít về phương bắc, thấy bình nguyên trải dài xanh tươi, giang sơn như tranh vẽ, nghĩ thầm:" Thế giới đẹp nhường kia, mình lại sắp phải chết. Không biết đại ca ca lúc này ở đâu, đã lên khỏi đáy sơn cốc hay chưa? "

Hồi tưởng mấy lần gặp gỡ với Dương Quá, tuy từ nay không còn được gặp lại chàng, nhưng chỉ ba lần giải cấu tương phùng ấy cũng đủ cho cả đời. Lúc này thân lâm cực hiểm, trong tâm tại vô cùng thanh thản, đối với cuộc ác chiến dưới chân đài cao, nàng không quan tâm nữa. Chính đang thả hồn tới thâm cốc, hồi tưởng hôm nào, bỗng nghe có tiếng hú từ xa vọng tới, tiếng hú ấy tựa hồ át hết tiếng hò hét xung sát của thiên binh vạn mã nơi này.

Quách Tương giật mình, tiếng hú kinh tâm động phách ấy chính là tiếng hú của Dương Quá hôm chàng trấn áp bầy dã thú, nàng bèn ngoảnh về phía tiếng hú vọng tới, thì thấy ở mạn tây bắc quân Mông Cổ đang liên tiếp dạt cả ra hai bên, có hai người đang xông thẳng qua một rừng đao kiếm, như con thuyền lướt trên sóng dữ. Đi trước hai người là một con chim khổng lồ, hai cánh không ngừng vẫy đập, tạo nên hai luồng cuồng phong, đánh rơi lả tả những mũi tên bắn tới. Con chim vô cùng lợi hại ấy chính là Thần điêu của Dương Quá.

Quách Tương cả mừng, chăm chú nhìn kỹ hai người kia, thấy người đi bên trái mũ xanh áo vàng, đúng là Dương Quá, người đi bên phải áo trắng bay bay là một mỹ mạo nữ nhân. Hai người tay cầm trường kiếm, múa thành một đạo bạch quang, theo sau Thần điêu, xông thẳng tới chỗ đài cao. Quách Tương gọi lạc cả giọng:

– Đại ca ca, người kia là Tiểu Long Nữ phải không?

Nữ nhân bên cạnh Dương Quá chính là Tiểu Long Nữ, họ đang ở xa, không thể nghe thấy tiếng gọi của Quách Tương. Thần điêu đi trước mở đường, hai cánh vỗ đập đẩy rơi đẩy chệch các mũi tên bắn tới, dù tên có trúng người cũng không còn đà bay nữa, nếu không, Thần điêu dù là linh cầm, cánh cứng như sắt, rốt cuộc cũng vẫn là huyết nhục, chịu sao nổi mũi tên nhọn?

Tướng sĩ Mông Cổ thấy Thần điêu tiến đến hung mãnh như thế, bèn nhảy lên ngựa dùng giáo dài mà đâm, đều bị Dương Quá và Tiểu Long Nữ đánh cho ngã ngựa. Hai người một chim điêu yểm hộ cho nhau, thoáng chốc đã xông tới trước đài cao.

Dương Quá gọi:

– Tiểu muội tử đừng lo, ta đến cứu muội đây!

Chàng thấy nửa dưới của cái đài cao đã chìm trong lửa, chàng tung người nhảy vọt lên cái thang gỗ, leo lên mấy trượng, bỗng cảm thấy một luồng chưởng phong áp xuống đỉnh đầu, chính là Kim Luân pháp vương phát chưởng tập kích. Dương Quá tung chưởng nghênh tiếp, bùng một tiếng, hai luồng kình lực đụng nhau, hai người cùng loạng choạng, cái thang gỗ rung chuyển mấy cái tựa hồ sắp gãy. Hai người cùng kinh ngạc, thầm thán phục đối thủ lợi hại:" Mười sáu năm không gặp, công lực của y tinh tiến ghê gớm như thế! "

Dương Quá thấy tình thế nguy cấp, không thể đấu chưởng lực trên cái thang gỗ, bèn dùng trường kiếm đâm nhanh lên bắp chân hoặc bàn chân của Pháp vương. Pháp vương ở bên trên, nếu dùng kim luân đối phó, thứ binh khí ấy ngắn, phải cúi gập người rất bất tiện, lão ta đành nhảy vọt lên đài cao. Dương Quá đâm theo sau lưng Pháp vương liên tiếp vài nhát, chiêu nào cũng như cuồng phong bạo vũ, song Pháp vương không hề ngoảnh đầu lại, chỉ nghe tiếng gió mà dùng luân gạt đỡ, như thể lão ta có con mắt thứ ba ở sau lưng. Dương Quá quát:

– Lão giặc trọc, khá khen!

Pháp vương vừa lên tới mặt đài cao, liền đánh trả một luân. Dương Quá nghiêng đầu tránh, thân theo kiếm nhảy vọt lên. Pháp vương dùng kim luân và cả ngân luân gạt mạnh thanh kiếm của chàng.

Ban nãy ở cái thang gỗ hai người đã đấu một chưởng, Dương Quá cảm thấy chưởng lực của Pháp vương quá trầm hùng, chàng chưa từng gặp đối thủ nào như thế, bất giác lấy làm lạ, nghĩ bụng mình từng luyện công trong hải triều, đủ sức chống chọi với sóng dữ, mười sáu năm trước Pháp vương đã không địch nổi chàng, tại sao hôm nay một chưởng vừa rồi của lão ta, chàng lại chút nữa không đỡ nổi? Thấy song luân của Pháp vương đánh tới, chàng không tránh, mà dùng trường kiếm chống trả, muốn thử xem chân lực của Pháp vương tới mức nào. Kiếm luân đập vào nhau, choang một cái, hai luồng kình lực lại tương kháng, kiếm của Dương Quá bị gãy làm mấy đoạn, song luân của Pháp vương cũng tuột khỏi tay, bay xuống dưới đài, làm chết ba xạ thủ Mông Cổ. Dương Quá thầm kinh hãi:" Mười sáu năm nay mình không dùng đến thanh Huyền thiết trọng kiếm, hôm nay đúng là quá xem thường đối phương ".

Sau chiêu này, hai người đều tự nhảy lùi, đều cảm thấy cánh tay hơi tê dại, Pháp vương thò tay vào bọc rút ngay ra đồng luân và thiết luân mà đánh tới.

Dương Quá không còn binh khí, chàng phất ống tay áo rỗng một cái, tay trái phát chưởng chống trả.

Quách Tương kêu lên:

– Lão ác tăng kia, bổn cô nương đã bảo lão đánh không nổi đại ca ca có phải không nào? Lão khoe võ công cao siêu, tại sao lại phải dùng hai món binh khí đấu với người tay không? Thật không biết giữ thể diện!

Pháp vương hừ một tiếng, không trả lời, chiêu số của song luân trong tay càng dồn dập thêm.

Hoàng Dược Sư, Quách Tĩnh, Hoàng Dung đang tự dẫn quân về cứu thành Tương Dương, đột nhiên thấy Dương Quá, Tiểu Long Nữ và Thần điêu vượt qua hàng ngũ quân địch, xông tới chỗ cái đài cao, thì tinh thần vô cùng phấn chấn. Hoàng Dược Sư phất cờ lệnh, điều động từ năm lộ binh mã Đông, Nam, Tây, Bắc, Trung mỗi lộ bốn ngàn người, hợp thành hai vạn binh mã, đánh vào sau lưng đội quân Mông Cổ đang công thành, hai vạn binh mã còn lại thì ở quanh đài cao thanh viện Dương Quá. Quân Tống nhân số bị giảm đi một nửa, nhưng thấy Dương Quá vọt lên đài cao, thì ai nấy gắng sức tử chiến, một có thể địch mười. Song bọn xạ thủ Mông Cổ vẫn bắn tên như mưa, không nhường một tấc. Quân Tống mấy phen tràn lên, đều bị đánh bật trở lại.

Dưới chân thành Tương Dương, cuộc công thành cũng diễn ra ác liệt. An phủ sứ Lã Văn Đức không dám ra mặt thành, y mặc áo giáp sắt, mang theo hai ái thiếp, chui vào bên trong tiểu lũy mà run rẩy, miệng cứ lẩm bẩm khấn:

– Cứu khổ cứu nạn Quan thế âm bồ tát.. xin hãy phù hộ.. phù hộ cho cả gia đình chúng ta con già trẻ gái trai bình yên.. Cứu khổ cứu nạn..

Hai ái thiếp thì kẻ xoa ngực, kẻ lau bọt mép cho y.

Quân thám báo chốc chốc chạy vào bẩm,

– Ở cửa Đông quân địch lại tăng viện thêm một vạn nhân đội..

– Ở cửa Bắc quân địch đã dựng thang leo lên..

Lã Văn Đức chỉ trợn mắt hỏi:

– Quách đại hiệp đã về thành chưa? Bọn Thát tử vẫn chưa lui binh hay sao?

Lúc này Dương Quá tay không đã đấu với đồng luân và thiết luân của Pháp vương hơn hai trăm chiêu. Hai người võ công gia số khác hẳn nhau, nhưng đều càng đấu càng hăng, luân ảnh chưởng phong bao trùm cả mặt đài cao, khói đen từ dưới bốc lên làm cho ba người cay cả mắt. Dương Quá tuy không có binh khí, nhưng không hề bị núng thế.

Pháp vương đang ác đấu, cảm thấy cái đài cao hơi lung lay, thầm nghĩ chân đài cao bị cháy, cái đài cao sắp đổ sập, khi đó lão ta sẽ cùng bỏ mạng với Dương Quá và Quách Tương. Lại thấy chưởng pháp của Dương Quá càng lúc càng biến ảo, đấu thêm trăm hiệp nữa, lão ta ắt bị chàng chế ngự, trong cơn nguy cấp, liền nảy độc kế, lão đánh mạnh thiết luân tới vai phải của Dương Quá, thừa lúc chàng trầm vai tránh né, đồng luân trong tay phải đột nhiên văng mạnh tới trước mặt Quách Tương. Nàng bị trói vào cây cột, toàn thân không thể cử động, làm sao tránh nổi?

Dương Quá cả kinh, vội nhảy lên cao, vung ống tay áo phải đánh rơi đồng luân. Nhưng hai đại cao thủ giao đấu, quả thực không thể sai sót dù nhỏ, Dương Quá chỉ cốt cứu Quách Tương, nên môn hộ toàn thân lộ liễu, Pháp vương nhoài người giơ tay, cái cạnh sắc của thiết luân chém vào bắp chân trái của Dương Quá. Dương Quá đang lơ lửng trên không, vội dùng chân phải đạp vào cổ tay đối phương. Thiết luân của Pháp vương lật chếch đi, lần này thì Dương Quá không thể né tránh, phập một cái bắp chân phải của chàng trúng luân, máu chảy xối xả, chàng bị thương không nhẹ. Quách Tương thảng thốt kêu" Ối! "Pháp vương đã rút diên luân, vẫn song luân trong tay, tiếp tục tấn công Quách Tương. Lão ta biết Dương Quá tuy bị thương, nhưng lão ta chưa thể ngay lập tức chế ngự được chàng, chỉ có cách tập kích Quách Tương, buộc chàng phải dốc sức cấp cứu, luống cuống chân tay, mới xoay chuyển được cục diện.

Quách Tương kêu lên:

– Dương đại ca, đừng chú ý đến tiểu muội, đại ca ca hãy giết lão ác tăng ấy trả thù cho tiểu muội.

Chỉ nghe Dương Quá rên một tiếng, vai trái của chàng đã trúng luân.

Tiểu Long Nữ và Thần điêu đứng dưới chân đài cao, cùng Chu Bá Thông hợp lực đánh đuổi bọn xạ thủ Mông Cổ, không để chúng có thể nhắm Quách Tương mà bắn tên. Nhưng toàn bộ tâm trí của Tiểu Long Nữ đều dồn cho Dương Quá, trong lúc vung kiếm giết địch, chốc chốc nàng lại nhìn lên đài cao, đột nhiên thấy Dương Quá máu me đầm đìa thì giật mình, suýt ngất đi. Lúc này cái thang gỗ đã cháy, gãy rời, không cách gì leo lên trên kia trợ chiến. Đầu óc nàng mơ hồ, tay vung kiếm giết địch mà không biết mình đang ở đâu và đang làm gì.

Dương Quá lâm vào hiểm cảnh cực độ, mấy lần định sử dụng" Ám nhiên tiêu hồn chưởng "để đánh bại cường địch, nhưng theo lộ chưởng pháp này, thân phải hợp với tâm, sau khi chàng đoàn tụ với Tiểu Long Nữ, lòng quá sung sướng, làm gì còn chỗ cho tâm trạng" Ám nhiên tiêu hồn "? Tuy gặp nguy cấp, nhưng không có nỗi khổ tương tư ngày trước, nên chiêu thức sử dụng kém hẳn uy lực.

Tình cảnh Dương Quá trên đài cao tay không chống chọi, vai và chân bị thương chảy máu, nhóm Quách Tĩnh ở bên dưới nhìn thấy cả, nhưng khoảng cách quá cao xa, không tài gì bay lên cứu trợ. Hoàng Dung chợt nghĩ ra một cách, chạy tới cầm lấy thanh kiếm trong tay Gia Luật Tề, tung cho Quách Tĩnh, nói:

– Hãy bắn lên cho Quá nhi!

Quách Tĩnh nhận thanh kiếm, lấy hai cái cung cứng chập vào nhau, đặt cán kiếm vào dây cung, tay trái giữ chắc hai thân cung, tay phải kéo căng hai dây cung, rồi buông tay, thanh kiếm bay vút lên, bạch quang loang loáng.

Thanh kiếm bay vo vo tới phía sau Dương Quá, chàng phất ống tay áo rỗng cuốn lấy nó, rồi tay trái chộp được thân kiếm. Vừa lúc ấy cái diên luân của Pháp vương đánh tới. Dương Quá đâm một kiếm vào giữa song luân. Nhưng vai trái của chàng đã bị thương, kình lực giảm hẳn. Song luân của Pháp vương dập lại cạch một cái, lại đánh gãy trường kiếm. Mọi người ở dưới đài cao nhìn rõ mồn một, thảy đều thất sắc.

Dương Quá thầm biết hôm nay thế là hết, chẳng những không cứu được Quách Tương, mà chính mình cũng bỏ mạng trên đài cao này, chàng buồn rầu nhìn Tiểu Long Nữ ở bên dưới một cái, gọi:

– Long nhi, vĩnh biệt, vĩnh biệt, nàng hãy bảo trọng!

Đúng lúc ấy thiết luân của Pháp vương đánh tới đầu chàng. Dương Quá trong lòng không còn thiết gì nữa, tuyệt vọng phất ống tay áo, đánh ra một chưởng, chỉ nghe" hự "một tiếng, chưởng đó đã trúng vai Pháp vương. Bỗng nghe Chu Bá Thông ở bên dưới reo to:

– Chiêu" Đà nê đới thủy "tuyệt quá!

Dương Quá sững sờ, chợt tỉnh ngộ, thì ra chàng biết mình sắp chết, thất hồn lạc phách, đánh đại một chiêu, không ngờ lại là chiêu" Đà nê đới thủy "trong" Ám nhiên tiêu hồn chưởng ". Theo bộ chưởng pháp này, tâm điều khiển cánh tay, cánh tay điều khiển bàn tay, tâm ý hoàn toàn làm chủ. Ngày nọ tại Vạn Hoa cốc, Chu Bá Thông tuy tinh thông võ học, song không có tâm trạng như Dương Quá nên chưa hiểu được cái kỳ diệu của" Ám nhiên tiêu hồn chưởng ". Nay Dương Quá và Tiểu Long Nữ trùng phùng, lộ chưởng pháp này mất đi thần hiệu, mãi đến thời khắc sinh tử hệ trọng này, lòng chàng nghĩ tới cảnh phải vĩnh biệt Tiểu Long Nữ, vô cùng đau đớn tuyệt vọng, thì" Ám nhiên tiêu hồn chưởng "mới tự nhiên lại phát sinh đại uy lực.

Pháp vương vốn đang nắm chắc phần thắng, đột nhiên vai bị trúng chưởng, thân hình lảo đảo, vừa kinh hãi vừa tức giận, liền nhào cả người tới. Dương Quá lùi bước né tránh, sử liên tiếp ba chiêu" Hồn bất thủ xả "," Đảo hành nghịch thi "," Nhược hữu sở thất ". Tiếp đó đá một cước, sử chiêu" Hành thi tẩu nhục ". Cước này tung ra nửa hư nửa thực, Pháp vương không biết đường nào mà tránh. Hự một cái, trúng ngay giữa ngực lão ta. Pháp vương rú lên một tiếng, hộc ra một ngụm máu tươi ngã lộn khỏi cái đài cao rơi xuống đất.

Quân Tống và quân Mông Cổ không hẹn cùng kêu to, quân Tống là tiếng reo hò, còn quân Mông Cổ là tiếng kinh sợ.

Lúc này cái đài cao chao đảo, nhiều tiếng răng rắc, Dương Quá biết tình thế gấp rút, không kịp cởi dây trói cho Quách Tương, chàng vung chưởng đánh gãy cái cột, ôm nàng cùng khúc cột gãy, nhắm chuẩn lưng Thần điêu mà nhảy xuống. Thần điêu liền dang rộng hai cánh, nhảy lên cao hơn một trượng, nó thân thể quá to nặng, không bay được, nhưng cái nhảy này khá cao, Dương Quá ôm Quách Tương đáp xuống lưng Thần điêu, sau đó từ từ tiếp đất. Đúng lúc đó, khói lửa bốc cao trong tiếng nổ lốp bốp, cái đài đổ ụp xuống.

Pháp vương bị Dương Quá đạp văng khỏi cái đài cao, tuy bị trọng thương, song vẫn muốn thoát chết, lão rơi xuống đất rồi vội lăn một vòng định bật dậy, bỗng nghe có tiếng cười hô hô sau lưng, rồi một người ôm lấy lão ta mà đè nghiến xuống đất, tiếp đó lão cảm thấy có hàng ngàn mũi gai nhọn đâm ngập vào da thịt lão. Thì ra người đè Pháp vương chính là Chu Bá Thông. Chu Bá Thông mặc chiếc áo giáp lông nhím của đảo Đào Hoa, cái áo quí này đao kiếm đâm không thủng, song lại đầy gai nhọn tua tủa, Pháp vương đã bị thương nặng, còn bị Lão Ngoan đồng ôm chặt và đè nghiến xuống, làm sao còn cựa quậy? Khi cái đài cao đổ sập, Lão Ngoan đồng nhảy ra xa, Pháp vương nằm lại bị vùi trong biển lửa.

Hoàng Dung thấy ái nữ cuối cùng thoát chết thì sung sướng chảy nước mắt, lòng cảm kích đối với Dương Quá thật không bút nào tả xiết, nếu cần chết vì Dương Quá cũng cam lòng, vội chạy tới bên nữ nhi, cắt dây trói cho nàng. Quách Tĩnh, Hoàng Dược Sư, Nhất Đăng đại sư, Gia Luật Tề cũng vô cùng phấn chấn tinh thần.

Quân Mông Cổ bên cái đài cao thấy chủ tướng bỏ mạng, lập tức rối loạn, lại bị năm lộ quân Tống đánh ập trở lại, thì nhanh chóng tan rã. Quách Tĩnh giơ tay hô to:

– Về cứu thành Tương Dương, đi giết đại hãn Thát tử!

Quân Tống reo hò hưởng ứng, hăm hở tiến về phía quân Mông Cổ đang công thành.

Tiểu Long Nữ xé vạt áo băng vết thương cho Dương Quá, hai tay run run, không nói nên lời. Dương Quá mỉm cười, nói:

– Nàng ở dưới đài cao lo sợ cho ta, còn khổ hơn ta ác chiến trên đó.

Chỉ nghe tiếng quân Tống hò reo dậy đất, cờ chia ra ngũ sắc, đang xung phong về phía quân Mông Cổ. Dương Quá chăm chú nhìn ra xa, thấy quân địch đội ngũ chỉnh tề, quân số đông gấp mấy lần quân Tống, quân Tống mấy phen tràn lên như nước thủy triều, nhưng chẳng làm gì nổi quân địch.

Dương Quá nói:

– Tên đại tặc đã chết, song quân địch chưa bại, chúng ta hãy tái chiến. Long nhi có mệt không?

Ba câu đầu hiên ngang khảng khái, câu thứ tư chuyển thành giọng dịu dàng, Tiểu Long Nữ cười nhạt, nói:

– Chàng bảo đánh thì đánh!

Bỗng có một giọng nói trẻ trung vang lên ngay bên cạnh:

– Dương đại tẩu, đại tẩu đẹp quá!

Người vừa nói là Quách Tương. Tiểu Long Nữ quay đầu mỉm cười, nói:

– Tiểu muội tử, đa tạ tiểu muội cầu chúc cho vợ chồng ta đoàn tụ. Đại ca ca của tiểu muội cứ khen tiểu muội hết lời, nhất định đòi dẫn ta đến thành Tương Dương gặp tiểu muội.

Quách Tương thở dài, nói:

– Đúng là chỉ có đại tẩu mới xứng với đại ca ca thôi.

Tiểu Long Nữ nắm tay Quách Tương hết sức thân mật. Tiểu Long Nữ đối với ai vốn cũng đều lạnh nhạt, hờ hững, nhưng nghe Dương Quá khen ngợi Quách Tương, bảo Quách Tương đã cầu trời phù hộ cho vợ chồng mình đoàn tụ, lại bất chấp tính mệnh nhảy theo xuống vực để khuyên chàng đừng tự tận, nên đối với Quách Tương khác hẳn.

Dương Quá kéo mấy con ngựa chiến vô chủ đang chạy lung tung lại, nói:

– Ta sẽ mở đường, mọi người hãy cùng xông lên!

Chàng nhảy lên yên, phóng đi trước. Tiểu Long Nữ và Quách Tương mỗi người cưỡi một con ngựa theo sau. Ba người phi về hướng nam, thấy có mấy trăm cái thang áp vào tường thành Tương Dương, quân Mông Cổ đông như kiến đang leo thang lên.

Ba người lên một cái gò cao nhìn tứ phía, bỗng thấy ở mé tây có hơn một ngàn quân Mông Cổ đang vây đội quân chừng ba trăm người do Gia Luật Tề suất lĩnh. Quân địch toàn dùng loan đao kéo bộ thuộc của Gia Luật Tề ngã ngựa. Quách Phù dẫn một tốp binh mã xông đến cứu, nhưng bị hai thiên nhân đội Mông Cổ ngăn chặn, hai vợ chồng nhìn thấy nhau từ xa, mà không thể xáp lại gần. Quách Phù thấy sĩ tốt bên cạnh chồng ít dần thì lo lắng, thầm biết trong chiến trận, nếu một mình bị vây hãm giữa thiên binh vạn mã, thì võ công cao mấy cũng sẽ tử trận.

Dương Quá gọi to:

– Quách đại cô nương, cô nương lạy ta ba cái, ta sẽ đi cứu phu quân của cô nương.

Với cái tính kiêu ngạo cố hữu của mình, đừng nói lạy ba cái, dù phải chết, Quách Phù cũng chẳng chịu thua Dương Quá, nhưng lúc này thấy chồng nguy ngập quá, Quách Phù liền phi ngựa lên gò, nhảy xuống đất mà quì lạy.

Dương Quá kinh ngạc, vội đỡ dậy, hối hận là mình nói năng khinh bạc, nói:

– Là ta sai, ta nói năng nhảm nhí, muội đừng cho là thật. Gia Luật huynh với ta vốn là bằng hữu, lẽ nào thấy nguy không cứu?

Chàng chạy xuống khỏi gò, thấy con ngựa chiến nào chạy qua đều bắt lấy, tổng cộng tám con, cho bốn con trước, bốn con sau, xếp thành hai hàng, đoạn chàng nhảy phốc lên lưng ngựa, một tay cầm tám dây cương, quát to, cho bầy ngựa xông thẳng vào trận.

Trong chiến trận thời Tống, vốn có kiểu giáp mã liên hoàn, bấy giờ Song Tiên Hô Diên Chước đánh lên Lương Sơn Bạc, từng dùng trận pháp giáp mã liên hoàn mà thủ thắng. Dương Quá đem tám con ngựa xếp thành hai hàng, giống như một giáp mã liên hoàn trận nhỏ. Có điều tám con ngựa ghép đại vào nhau, chưa qua huấn luyện, lúc tiến lên con chạy đông con chạy tây, không ăn ý, Dương Quá phải dùng thần lực ghì cương mới điều khiển được chúng, tám con ngựa xông tới, vó tung đất bụi. Dương Quá thi triển khinh công, cứ nhảy từ lưng con ngựa này sang lưng con ngựa khác. Quân địch chưa từng thấy thuật cưỡi ngựa kỳ dị thế này, còn đang kinh ngạc, thì bầy ngựa đã xông tới. Dương Quá cướp một lá cờ to, cắm trên yên ngựa.

Tướng sĩ Mông Cổ hò hét ngăn chặn, Dương Quá cầm lá cờ quét ngang, làm cho ba quan binh ngã ngựa, thấy chỉ còn cách Gia Luật Tề chưa đầy hai trượng, bèn gọi:

– Gia Luật huynh, mau nhảy lại đây!

Gia Luật Tề nhún người nhảy tới, Dương Quá vung lá cờ cuốn ngay lấy thân mình Gia Luật Tề. Hai người tám ngựa, thoát ra khỏi vòng vây của quân địch.

Gia Luật Tề thở phào nhẹ nhõm, nói:

– Dương huynh đệ, đa tạ ơn cứu mạng, nhưng thuộc hạ của đệ còn ở trong vòng vây, đệ không thể một mình sống sót, đệ phải chết cùng với họ.

Dương Quá chợt nảy một kế, nói:

– Huynh hãy cướp một lá cờ lớn lại đây!

Rồi chàng đánh lửa, châm vào lá cờ. Gia Luật Tề nói:

– Diệu kế!

Chàng phi ngựa lên cướp một lá cờ to, châm lửa. Hai chàng quát to, vung lá cờ cháy, lại xông vào trận địch.

Hai lá cờ quạt lửa từng chập, thanh thế kinh hồn, quân Mông Cổ đứa cháy tóc, kẻ sém mày, hung hãn mấy cũng đành phải lùi ra. Thuộc hạ của Gia Luật Tề còn bảy, tám chục người nhờ đó chạy thoát ra khỏi vòng vây. Gia Luật Tề thu thập tàn binh, ngồi nghỉ trên một cái gò.

Quách Phù đến trước mặt Dương Quá, vái thật dài, nói:

– Dương đại ca, cả một đời muội đối xử không tốt với đại ca, nhưng đại ca đại nhân đại nghĩa, lấy đức báo oán, đã cứu sống..

Nói đến đây, giọng nàng nghẹn ngào. Kỳ thực trước đây Dương Quá từng mấy đận cứu mạng nàng, song Quách Phù vẫn cứ căm tức chàng, thừa biết chàng có ơn lớn đối với nàng, song nàng không sao rũ bỏ được sự căm hận, thường nghĩ chàng cậy võ công cao hơn, cố ý ban ơn, chứ vị tất có hảo ý gì với nàng. Đến khi Dương Quá cứu chồng nàng, Quách Phù mới thật sự cảm kích, nhận ra sai lầm của mình ngày trước.

Dương Quá vội đáp lễ, nói:

– Phù muội, hai ta sống một nhà từ nhỏ, tuy thường gây sự, thực ra tình như huynh muội. Chỉ cần từ nay muội không căm hận huynh, thì huynh đã thỏa mãn lắm rồi.

Quách Phù ngẩn người, bao nhiêu chuyện cũ dồn dập tái hiện trong óc:" Không lẽ mình căm hận chàng thật ư? Huynh đệ họ Võ một mực liều chết lấy lòng mình, còn chàng thì chẳng thèm ngó ngàng đến mình. Chỉ cần chàng để mắt đến mình một chút thôi, dù có phải chết vì chàng, mình cũng cam lòng. Tại sao mình lại cứ căm hận chàng một cách vô cớ? Chỉ là vì mình cứ thầm yêu trộm nhớ chàng, mà chàng thì chẳng thèm để mắt đến mình chăng? "

Hai mươi năm nay nàng không hiểu rõ tâm sự của mình, mỗi khi nghĩ đến Dương Quá, lại coi chàng là kẻ đối đầu, trong khi thật ra từ đáy lòng nàng luôn nghĩ đến chàng với một tình cảm khó nói, tiếc rằng Dương Quá không hiểu rõ tâm sự của nàng đã đành, chính nàng cũng không hiểu rõ tâm sự của mình.

Lúc này khi đã rũ bỏ ý nghĩ căm hận, nàng mới đột nhiên hiểu, thì ra tình cảm của nàng đối với chàng lại sâu xa như vậy." Lúc chàng xông vào trận giặc cứu Tề ca, mình rốt cuộc lo cho ai nhiều hơn nhỉ? Chính mình cũng không biết nữa ". Giữa chiến trường thiên quân vạn mã, Quách Phù đột nhiên hiểu rõ tâm sự của mình:" Hôm sinh nhật Quách Tương chàng tặng nó ba món quà lớn, vì sao mình lại căm hận tận xương? Khi chàng vạch trần âm mưu của Hoắc Đô, giúp Tề ca đắc nhiệm bang chủ Cái Bang, vì sao mình lại thầm tức giận? Quách Phù ơi là Quách Phù, thì ra mi đi ghen với muội tử của mi. Chàng dịu dàng âu yếm với Tương muội, song chẳng dành cho mi một phần nhỏ chút tình ".

Nghĩ đến đây, bất giác nàng lại bực tức nhìn Dương Quá và Quách Tương một cái, nhưng lại nghĩ:" Mi còn đứng đây làm gì? Mi là một phụ nữ có chồng, Tề ca đối với mi yêu thương như thế còn gì nữa ". Nàng thở dài lúc nào không biết. Tuy cuộc đời nàng không thiếu thứ gì, nhưng trong đáy lòng đúng là có một điều ân hận khó nói. Từ nhỏ nàng vốn muốn gì được nấy, nhưng ước muốn mãnh liệt nhất, thì không tài gì đạt được. Do đó trong đời nàng, thường thường nàng không hiểu rõ chính mình:" Tại sao mi nóng nảy khó chịu? Vì sao trong khi mọi người đều vui vẻ, thì mi lại bực tức vô cớ? "

Quách Phù mặt cứ lúc đỏ lúc tái, nghĩ về tâm sự kỳ dị của mình. Dương Quá, Tiểu Long Nữ, Gia Luật Tề, Quách Tương.. đều chăm chú nhìn về phía cuộc ác chiến ở tường thành Tương Dương. Quân Mông Cổ leo lên mặt thành đông như kiến, binh mã do Quách Tĩnh, Hoàng Dược Sư thống lĩnh tuy tấn công địch từ phía sau, nhưng quân số quá ít ỏi, không thể làm dao động đội ngũ công thành của đại quân địch. Lá cờ cửu tộc lớn của đại hãn Mông Cổ đã áp sát thành, lòng quân trong thành dường như đã loạn, không còn sức chống trả quân địch đang leo thang lên mặt thành.

Quách Tương kêu lên:

– Đại ca ca, làm thế nào bây giờ? Làm thế nào bây giờ?

Dương Quá nghĩ:" Kiếp này được gặp lại Tiểu Long Nữ, ông trời đãi ta quá hậu rồi, hôm nay dẫu có chết cũng không ân hận. Nam tử hán đại trượng phu vì nước tử trận chốn sa trường, chính là cái chết hay nhất ". Nghĩ đến đây, tinh thần phấn chấn, nói:

– Gia Luật huynh, chúng ta hãy xông lên xung sát một trận!

Gia Luật Tề nói:

– Thế mới hay đó!

Tiểu Long Nữ và Quách Tương cùng nói:

– Mọi người nhất tề xông lên!

Dương Quá nói:

– Hay lắm! Ta đi tiên phong, các vị hãy mang thật nhiều trường mâu theo sau ta!

Gia Luật Tề bèn truyền lệnh cho thuộc hạ thu nhặt trường mâu trên chiến trường, mỗi người ôm theo dăm ba chiếc.

Dương Quá cầm một ngọn trường mâu, cưỡi ngựa xông lên trước. Thần điêu hùng dũng sải bước bên cạnh ngựa, vẫy cánh gạt cung tên bắn tới. Tiểu Long Nữ, Gia Luật Tề, Quách Phù, Quách Tương bốn người bám sát theo sau. Dương Quá nhắm chỗ có lá cờ cửu tộc lớn của đại hãn mà phi tới. Gia Luật Tề kinh ngạc, nghĩ đại hãn Mông Cổ thân chinh ra trận, quanh đại hãn phòng vệ cực nghiêm, toàn là tinh binh mãnh tướng, mình chỉ có hơn trăm người xông tới, chẳng hóa tự nộp mạng hay sao? Nhưng nghĩ mạng sống của mình là do Dương Quá ứng cứu, Dương Quá bảo xông vào lửa, mình cũng theo vào, hà tất nhiều lời?

Tốp người tiến rất nhanh, thoáng chốc đã vượt mấy dặm, đến chân thành Tương Dương. Thân binh của đại hãn Mông Kha thấy Dương Quá hung hăng xông tới, đã có ngay hai bách nhân đội tới ngăn chặn. Dương Quá vung tay trái, một ngọn trường mâu bay đi xuyên qua áo giáp gã bách phu trưởng ra sau lưng. Chàng thuận tay nhận tiếp ngọn trường mâu từ tay Gia Luật Tề, ném xuyên qua ngực gã bách phu trưởng thứ hai. Bọn thân binh cả kinh, rối loạn, Dương Quá đã vọt qua trận, bọn thân binh ùn ùn nhào tới, dùng đao, kích ngăn chặn. Dương Quá cứ phóng trường mâu, mỗi ngọn mâu hạ một tên. Cánh tay của chàng đã tôi luyện trong suối lũ, hải triều, trường mâu phóng đi dù là nham thạch cũng xuyên qua, huống hồ thân xác kẻ địch? Chàng cứ nhắm bọn tướng quân mà phóng trường mâu, thoáng chốc đã phóng đi mười bảy ngọn trường mâu, giết chết mười bảy mãnh tướng Mông Cổ.

Cuộc đột kích này thật như sấm sét ngang tai, đại quân Mông Cổ đông tới hơn chục vạn dưới chân thành song Dương Quá phi ngựa cứ xông thẳng qua một mạch đến trước ngựa đại hãn.

Thân binh của đại hãn Mông Kha liều chết ngăn chặn. Các giáp sĩ dàn kín phía trước đại hãn. Dương Quá giơ tay về phía sau nhận trường mâu thì không thấy gì, hóa ra nhóm Gia Luật Tề đi sau đã bị bọn thân binh chặn lại. Dương Quá thấy sắc diện đại hãn có vẻ kinh hoàng, đang kéo cương ngựa bỏ chạy, Dương Quá bèn hú một tiếng dài, hai chân đứng trên yên ngựa, rồi chàng nhún mình nhảy vọt lên phía trước. Hơn mười thân binh vội chĩa giáo mà đâm. Dương Quá đang lơ lửng trên không, lộn người một vòng, vọt qua cả chục mũi giáo.

Đại hãn thấy tình thế xấu, liền kéo cương phi ngựa bỏ chạy. Con ngựa đại hãn cưỡi là giống ngựa quí được chọn ra từ hàng vạn con ngựa ở Mông Cổ, lưng rồng cổ chim, xương thịt dẻo dai rắn chắc, hí to như sấm, phi nhanh như gió, gọi là giống ngựa" Phi vân truy ", không thua gì con ngựa quí" hãn huyết "của Quách Tĩnh ngày trước. Lúc này con" Phi vân truy "cõng đại hãn trên lưng, tung vó phóng ra giữa đồng trống. Dương Quá thi triển khinh công đuổi theo sau. Mấy trăm kỵ binh Mông Cổ phi ngựa đuổi theo phía sau Dương Quá.

Dương Quá thấy đại hãn cưỡi ngựa bỏ chạy một mình thì mừng thầm, nghĩ ngựa phóng nhanh mấy, chàng cũng sẽ đuổi kịp, nào ngờ con" Phi vân truy "quả không phải tầm thường, hai vó sau chỉ chạm đất một cái đã vọt đi vài trượng. Dương Quá đề khí đuổi gấp, song càng lúc càng cách xa đại hãn. Chàng cúi nhặt một ngọn trường mâu dưới đất, phóng mạnh tới lưng Mông Kha.

Quân sĩ đôi bên nhìn ngọn trường mâu bay vút như lưu tinh, ai nấy trố mắt há miệng, nín thở. Chỉ thấy con" Phi vân truy "dướn thân một cái, mũi trường mâu còn cách lưng đại hãn chừng một thước thì hết đà rơi xuống. Quân Tống kêu to:

– Tiếc quá!

Quân Mông Cổ hô to:

– Vạn tuế!

Lúc này Quách Tĩnh, Hoàng Dược Sư, Chu Bá Thông, Nhất Đăng.. đều ở xa, chỉ đứng nhìn chứ không thể giúp gì cho Dương Quá. Quân Mông Cổ cả vạn người cũng chỉ biết đứng hô hoán trợ uy, dù kẻ tận tâm trung thành mấy cũng không thể đuổi kịp con" Phi vân truy ".

Mông Kha ngoảnh đầu lại, thấy đã bỏ khá xa Dương Quá, thì đỡ lo, cho ngựa phi về phía tây, nơi có một vạn nhân đội. Quân sĩ vạn nhân đội kia đồng thanh tung hô, ào lại nghênh đón. Chỉ cần đại hãn phóng ngựa tới đó, Dương Quá bản lĩnh cao mấy, cũng chẳng làm gì được nữa.

Dương Quá thấy đại sự sắp thành lại hỏng, tiếc đứt ruột nhưng chợt nghĩ:" Trường mâu quá nặng, khó phóng đến nơi, sao không dùng cục đá? "Bèn nhặt hai cục đá, vận kình ném đi. Chỉ nghe" chíu chíu ", hai cục đá cùng trúng mông con" Phi vân truy ". Con ngựa đau quá, hí một tiếng dài, dựng đứng hai vó trước lên.

Mông Kha tuy tiếng là đại hãn của một đại đế quốc lớn nhất trong lịch sử, nhưng từ nhỏ đã học cưỡi ngựa bắn cung, từng theo tổ phụ Thành Cát Tư Hãn, phụ thân Đà Lôi mấy phen xuất chinh, sang cả châu Âu, từng lập nhiều chiến công, một đời ngồi trên lưng ngựa, dạn dày chiến trận, lúc này gặp biến cố phi thường, vẫn không hề hoảng loạn, còn lắp tên, giương cung, hai chân kẹp chặt bụng ngựa, xoay người phóng một mũi tên về phía Dương Quá.

Dương Quá cúi đầu tránh được, nhảy vọt tới, tay trái đã thủ sẵn một cục đá to bằng nắm tay, vù một cái, chàng ném cục đá trúng lưng Mông Kha. Lực ném của chàng cực mạnh, Mông Kha gãy sống lưng, ngã ngựa, chết ngay tức khắc. Tướng sĩ Mông Cổ thấy đại hãn ngã ngựa, thảy đều kinh hoàng, từ bốn phía ùa tới. Quách Tĩnh lớn tiếng hạ lệnh, thừa thế xung sát. Quách Tĩnh, Hoàng Dược Sư, Hoàng Dung.. phát động trận thế" Nhị thập bát tú "xung kích qua lại. Lòng quân Mông Cổ đã loạn, chúng tự tàn sát lẫn nhau, tử thương không biết bao nhiêu mà kể, cờ rách giáo gãy, hàng ngũ đại loạn, kéo nhau chạy về hướng bắc.

Quách Tĩnh đang truy kích, bỗng thấy có một cánh quân địch ở phía tây triển khai, hàng ngũ chỉnh tề, giương cao cờ hiệu của Tứ vương tử Hốt Tất Liệt. Quân Mông Cổ bại trận như núi lở, nhất thời chưa thể thu thập. Hốt Tất Liệt trị quân tuy nghiêm, nhưng bị bại binh tràn qua như nước thủy triều, thuộc hạ cũng lập tức rối loạn. Hốt Tất Liệt thấy tình thế xấu, bèn suất lĩnh một đội thân binh đoạn hậu, từ từ rút về phía bắc. Quách Tĩnh đuổi theo hơn ba chục dặm, thấy quân Mông Cổ vẫn không ngừng thoái lui, trong khi Lã Văn Đức liên tiếp truyền lệnh triệu Quách Tĩnh kéo quân về giữ thành, quân Tống mới chịu quay về.

Kể từ khi quân Mông Cổ và quân Tống giao tranh đến nay, chưa bao giờ quân Mông Cổ đại bại như lần này, vị chúa của một nước lại chết ngay dưới chân thành, khiến lòng quân càng loạn. Chức vị đại hãn Mông Cổ hoàn toàn không phải cha truyền con nối, mà do hội nghị vương công hoàng tộc, trọng thần đại tướng lập nên. Mông Kha chết đi, em trai y là Thất vương tử A Lý Bất Kha ở miền bắc Mông Cổ được các vương công đưa lên ngôi đại hãn. Hốt Tất Liệt được tin lập tức dẫn quân về nước, tranh ngôi với A Lý Bất Kha. Huynh đệ mỗi người thống lĩnh tinh binh đánh nhau. Cuối cùng Hốt Tất Liệt đắc thắng, nhưng nguyên khí của quân Mông Cổ đã bị đại tổn thương, không còn lực đánh xuống phương nam, thành Tương Dương được hưởng thái bình. Mãi mười ba năm sau, vào năm Tống Độ Tông Hàm Thuần thứ chín, quân Mông Cổ mới lại kéo xuống đánh thành Tương Dương.

Khi Quách Tĩnh kéo quân về gần đến thành Tương Dương, An phủ sứ Lã Văn Đức đã suất lĩnh thân binh tướng hiệu, xếp hàng nghênh đón long trọng từ bên ngoài thành. Trăm họ cũng nô nức đổ ra ngoài thành, bày rượu, trái cây đón mừng úy lạo.

Quách Tĩnh nắm tay Dương Quá, nhận ly mỹ tửu trăm họ dâng lên, kính cẩn trao cho Dương Quá, nói:

– Quá nhi, hôm nay Quá nhi lập đại công, dương danh thiên hạ, quân dân toàn thành trọng cảm ân đức của Quá nhi.

Dương Quá xúc động, có một câu giấu trong lòng hơn hai chục năm chưa nói ra, bây không nhịn được nữa, sang sảng đáp:

– Quách bá bá, tiểu điệt từ nhỏ nếu không nhờ có Quách bá bá nuôi dưỡng dạy dỗ, thì làm sao có được ngày hôm nay?

Hai người bao lâu nay vạn sự tâm chiếu, không quen nói lời ghi ân cảm đức, lúc này đối ẩm ba ly, hai vị đại hiệp mới thổ lộ tâm sự, đều cảm thấy đời người được đến thế này thì còn mong gì hơn?

Hai người cầm tay nhau đi vào thành, nghe quân dân đứng hai bên đường hoan hô như sấm dậy. Dương Quá chợt nghĩ:" Hơn hai chục năm trước, Quách bá bá cũng cầm tay dắt mình đến núi Chung Nam, lên cung Trùng Dương tìm thầy học nghệ. Tấm lòng chân thành của Quách bá bá không một chút sai dị. Nhưng mình lại cuồng vọng hồ náo, phản sư bội giáo, gây ra bao nhiêu tai họa! Nếu mình cứ dấn sâu vào con đường lầm lạc, làm sao có cảnh được Quách bá bá cầm tay dắt vào thành như hôm nay? "Nghĩ đến đây, chàng không khỏi bồi hồi ứa nước mắt.

Trong thành Tương Dương nhà nhà treo đèn kết hoa, tuy có người thân tử trận, song quân thắng thành còn, nỗi bi thương cũng vơi non nửa.

Tối hôm ấy An phủ sứ mở đại yến mừng chiến thắng, Lã Văn Đức muốn mời Dương Quá ngồi chỗ cao nhất. Dương Quá nói thế nào cũng không chịu. Mọi người nhường nhịn hồi lâu, cuối cùng mời Nhất Đăng đại sư lên thủ tịch, tiếp đến Chu Bá Thông, Hoàng Dược Sư, Quách Tĩnh, Hoàng Dung, rồi mới đến Dương Quá, Tiểu Long Nữ, Gia Luật Tề. Lã Văn Đức trong bụng không vui, nghĩ thầm:" Hoàng đảo chủ là nhạc phụ của Quách đại hiệp, cũng được đi. Nhưng còn Nhất Đăng đại sư diện mạo bình thường, Lão Ngoan đồng Chu Bá Thông điên điên khùng khùng làm sao lại ngồi chiếu trên? "Quần hùng sôi nổi hứng thú kể lại tình huống chiến trận ban ngày, Lã Văn Đức đâu có gì để nói?

Rượu qua mấy tuần, quan viên, tướng lĩnh, sĩ tốt trong thành lũ lượt bưng chén tới chúc mừng Quách Tĩnh, Dương Quá.. hết lời ca ngợi quần hiệp công lược phong vĩ, võ nghệ hơn người. Quách Tĩnh nghĩ đến công ơn của sư môn, nói:

– Năm xưa nếu không có Khưu đạo trưởng phái Toàn Chân trượng nghĩa, bảy vị ân sư lặn lội sang Mông Cổ, lại thêm Hồng lão ân sư dạy bảo, Quách Tĩnh này há có thể lập được một chút công lao? Hôm nay chúng ta sung sướng ăn mừng ở đây, các vị ân sư trừ Kha lão ân sư ra, đều đã tạ thế, nhớ đến thật đau lòng.

Nhất Đăng đại sư và mấy vị đều cúi đầu buồn rầu.

Quách Tĩnh lại nói:

– Bây giờ đại sự đã hoàn tất, ngày mai Quách Tĩnh ta muốn khởi hành đi Hoa Sơn tảo mộ ân sư.

Dương Quá nói:

– Quách bá bá, điệt nhi cũng định nói câu đó, mọi người cùng đi có được chăng?

Nhất Đăng đại sư, Chu Bá Thông, Hoàng Dược Sư đều nhớ đến các vị lão hữu đã khuất, đồng thanh tán thường. Quần hùng uống rượu đến tận đêm khuya, thật say mới giải tán.

* * *

CHÚ GIẢI:

" Nguyên sử "bản kỷ quyển 3 chép:" Hiến Tông húy Mông Kha, Duệ Tông là con trưởng của Đà Lôi vậy. Tháng hai (năm) Bính Tí thống suất chư binh.. (Năm) Đinh Sửu, đốc chư quân đánh thành.. tấn công cửa Tây, tấn công cửa Tân môn ở mé Đông, cửa Kỳ Thắng.. tấn công cửa Hộ Quốc.. giết rất nhiều quân Tống.. Mấy lần tấn công không hạ được.. (Năm) Quý Hợi, (hoàng) đế băng hà. (Hoàng) đế sáng suốt, cương nghị, quả cảm, quyết đoán mà ít nói.. đối với quần thần cực nghiêm.

"Tục thông giám" viết: "Chúa Mông Cổ mấy lần đốc quân tấn công, không hạ được.. Chúa Mông Cổ tử trận. Sử Thiên Trạch cùng quần thần cử tang về bắc, thế là Hợp Châu được giải vây". "Tục thông giám khảo dị" viết: "Nguyên Hiến Tông từ khi đánh mãi không thắng, mắc bệnh mà qua đời." Trùng Khánh chí"viết là bị đá ném trúng.. không biết thế nào.

Theo sử sách ghi chép, Hiến Tông vì đánh Trùng Khánh Tứ Xuyên không thắng mà chết, có phải là bị đá ném trúng hay không, sử chép khác nhau. Nhưng quân Mông Cổ và quân Tống đánh nhau lâu nhất, ác liệt nhất là ở thành Tương Dương, quân Mông Cổ trước sau mấy chục năm đánh thành mà không hạ được. Để tăng sự hấp dẫn cho bộ tiểu thuyết, tác giả cho Hiến Tông đánh thành Tương Dương không hạ nổi, bị đá ném trúng mà chết, thành Tương Dương nhờ đó được giải vây.

Comments

Comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 40: Trên đỉnh Hoa Sơn

Sáng sớm hôm sau, đoàn người khởi hành, sợ quân dân thành Tương Dương long trọng đưa tiễn, nên lặng lẽ ra cửa Bắc mà đi Hoa Sơn. Chu Bá Thông, Lục Vô Song, Tứ Thủy Ngư Ẩn, huynh đệ họ Võ vết thương chưa khỏi, thì cưỡi ngựa đi thong thả. Cũng không có việc gì cần kíp, nên mỗi ngày chỉ đi vài chục dặm là dừng.

Ít ngày sau thì đến Hoa Sơn. Những người bị thương được dưỡng thương dọc đường, đến nơi thì đã đỡ hẳn. Đoàn người lên núi, Dương Quá chỉ chỗ mai táng Hồng Thất Công và Âu Dương Phong, Hoàng Dung lúc còn ở dưới chân núi đã mua sẵn gà, rượu, thực phẩm, bây giờ liền nổi lửa nấu mấy món ăn mà sinh thời Hồng Thất Công thích nhất để cúng. Quần hùng nhất nhất vái lạy. Mộ phần của Âu Dương Phong nằm ngay bên cạnh Hồng Thất Công. Quách Tĩnh căm thù Âu Dương Phong tận xương, nghĩ đến việc Âu Dương Phong giết hại năm vị ân sư như Chu Thông, Hàn Bảo Câu, tuy đã cách mấy chục năm, song vẫn vô cùng căm hận. Chỉ có Dương Quá nghĩ đến tình xưa, cùng Tiểu Long Nữ quì vái trước mộ. Chu Bá Thông bước đến vái một cái, nói:

– Lão độc vật ơi lão độc vật, lão sinh tiền tác ác đa đoan, sau khi chết lại nằm cạnh lão khiếu hóa, cũng có thể nói là may mắn ba đời. Hôm nay người người đều đến cúng viếng lão khiếu hóa, chỉ có hai đứa nhóc con tới khấu đầu trước mộ lão mà thôi, lão nằm dưới đất có biết hẳn cũng hối hận về sự tàn bạo ngày trước của mình đấy nhỉ?

Lời khấn của Lão Ngoan đồng kỳ dị, ai nghe cũng thấy tức cười.

Mọi người lấy chén đũa ra, định ngồi ăn uống ngay bên mộ, bỗng nghe từ sau núi theo gió vọng lại tiếng binh khí va chạm nhau cùng tiếng la hét, hiển nhiên có người đang động thủ. Chu Bá Thông chạy ngay về phía phát ra tiếng huyên náo. Mọi người chạy theo sau. Qua hai cái thung lũng, thì thấy trên một bãi đá bằng phẳng tụ tập ba, bốn chục nam nữ tăng tục, tay người nào cũng lăm lăm binh khí. Đám người kia cãi cọ ầm ĩ, thấy đoàn người Chu Bá Thông, Quách Tĩnh.. chạy đến, chỉ tưởng là khách du sơn, nên cũng chẳng buồn để ý. Một đại hán cao lớn nói to:

– Mọi người cứ làm loạn cả lên thế này không được. Danh hiệu "Đệ nhất võ công thiên hạ" quyết không phải cứ to mồm là giành được. Hôm nay các lộ hảo hán đều tụ tập ở đây, tại sao mọi người không dựa vào binh khí, quyền cước mà thư hùng một phen? Chỉ cần người nào luôn thắng không bại, mọi người đều phục, sẽ tôn làm "Đệ nhất võ công thiên hạ".

Một đạo nhân râu dài vung kiếm nói:

– Đúng đấy. Võ lâm tương truyền có cuộc "Hoa Sơn luận kiếm". Hôm nay chúng ta cũng thử luận một phen, xem rốt cuộc ai là anh hùng thời nay?

Những người còn lại vỗ tay khen phải, rồi có mấy người nhảy ra trước, nói to:

– Ai dám ra nào?

Chu Bá Thông, Hoàng Dược Sư, Nhất Đăng đại sư nhìn nhau, vì cả đám người kia không một ai quen mặt.

Cuộc "Hoa Sơn luận kiếm" lần thứ nhất, Quách Tĩnh còn chưa ra đời, bấy giờ Đông Tà, Tây Độc, Nam Đế, Bắc Cái, Trung Thần Thông vì tranh nhau bộ "Cửu Âm chân kinh" mà hẹn nhau lên đỉnh Hoa Sơn tỷ thí, ai võ nghệ cao nhất sẽ được sở hữu, kết quả Trung Thần Thông Vương Trùng Dương độc quán quần hùng, được tôn là "Đệ nhất võ công thiên hạ".

Hai mươi lăm năm sau, Vương Trùng Dương tạ thế, tại cuộc "Hoa Sơn luận kiếm" lần thứ hai, ngoài Đông Tà, Tây Độc, Nam Đế, Bắc Cái, còn có thêm ba người tham gia là Chu Bá Thông, Cầu Thiên Nhẫn, Quách Tĩnh. Mỗi người tu vi tinh thâm, đều có sở trường riêng, nhưng thật sự đạt bốn chữ "Đệ nhất thiên hạ" thì cũng khó nói, luận võ công đơn thuần, tựa hồ Âu Dương Phong mạnh nhất. Không ngờ mấy chục năm sau, lại có một đám hảo thủ võ lâm hẹn nhau làm cuộc "Hoa Sơn luận kiếm" lần thứ ba. Việc này khiến đoàn Hoàng Dược Sư vô cùng kinh ngạc, càng lạ nữa, là mấy chục người kia toàn người lạ, chẳng lẽ đúng là "Trường Giang sóng sau đè sóng trước, một lớp người mới hơn lớp người cũ"? Chẳng lẽ cả đoàn người mình đều là ếch ngồi đáy giếng, không biết rằng ngoài trời có trời, trên người có người?

Chỉ thấy đám kia nhảy ra sáu người, chia làm ba cặp sử dụng binh khí bắt đầu động thủ. Sau vài chiêu, Hoàng Dược Sư, Chu Bá Thông.. đều cười, ngay Nhất Đăng đại sư là người trang nghiêm hiền từ cũng phải tủm tỉm. Thêm vài chiêu nữa thì Hoàng Dược Sư, Chu Bá Thông, Dương Quá, Hoàng Dung.. đều không thể nhịn nổi, cùng cười phá lên. Nguyên lai sáu người động thủ võ công quá ư tầm thường, ngay với huynh đệ họ Võ, tỷ muội Quách gia cũng còn thua xa. Xem chừng bọn này chỉ là một nhóm người tầm thường trong giang hồ, chẳng hiểu gì về cuộc "Hoa Sơn luận kiếm" cũng học đòi.

Sáu người kia nghe đoàn Chu Bá Thông cười to thì ngừng đấu, nhảy tách ra, gằn giọng quát:

– Đúng là một bọn chán sống muốn chết! Các lão gia đây đang tỷ võ luận kiếm, tranh danh hiệu "Đệ nhất võ công thiên hạ", các người lại cười cợt nỗi gì. Mau mau xéo xuống núi, sẽ được bọn ta tha mạng.

Dương Quá cười ha ha, hú một tiếng dài, sơn cốc tứ phía âm vang, lập tức gió quạt mặt đất, mây mù tụ lại. Đám người kia thoạt tiên tái mặt, rồi thân hình run rẩy, nghe tiếng ù ù bất tuyệt, các thứ binh khí đều rơi xuống đất.

Dương Quá quát:

– Tất cả hãy xéo đi!

Đám người kia ngẩn ngơ một hồi, đột nhiên bảo nhau cắm đầu cắm cổ chạy xuống núi, binh khí cũng không dám nhặt, thoáng chốc đã không còn một bóng người.

Anh Cô, Quách Phù.. cười gập cả bụng, cười không nói được. Hoàng Dược Sư thở dài, nói:

– Bọn mù quáng khi thế đạo danh vẫn còn khá nhiều, nhưng không ngờ trên đỉnh Hoa Sơn lại có hạng người như vậy.

Chu Bá Thông nói:

– Thiên hạ "Ngũ Tuyệt" năm xưa, Đông Tà, Tây Độc, Nam Đế, Bắc Cái, Trung Thần Thông đã tạ thế, cao thủ thời nay liệu có mấy người xứng danh "Ngũ Tuyệt"?

Hoàng Dung cười, nói:

– Nhất Đăng đại sư và gia gia của tiểu muội công lực còn thâm hậu hơn trước, năm xưa đã nằm trong "Ngũ Tuyệt", hiện nay càng xứng. Nghĩa đệ Quách Tĩnh của Chu huynh được Bắc Cái chân truyền, có thể xứng đáng. Quá nhi tuy trẻ tuổi nhưng võ công trác tuyệt, anh tài mấy lứa trẻ không ai sánh kịp, huống hồ còn là nghĩa tử của Âu Dương Phong. Đông và Nam là hai vị cũ, Tây và Bắc hai vị tất do nghĩa đệ của Chu huynh và Dương Quá kế thừa.

Chu Bá Thông lắc đầu, nói:

– Không đúng, không đúng!

Hoàng Dung hỏi:

– Sao lại không đúng?

Chu Bá Thông nói:

– Âu Dương Phong là Tây Độc, tên tiểu tử Dương Quá thủ đoạn và tâm địa đều không tàn độc, gọi nó là tiểu độc vật thì oan cho nó.

Hoàng Dung cười, nói:

– Tĩnh ca ca cũng không làm khiếu hóa tử, Nhất Đăng đại sư hiện cũng không còn làm hoàng đế nữa rồi. Tiểu muội thấy nên đổi ngoại hiệu của mấy vị đi. "Đông Tà" của gia gia muội thì khỏi cần đổi. Nhất Đăng đại sư hiện không còn làm hoàng đế, đang làm hòa thượng, nên gọi là "Nam Tăng", Quá nhi thì tiểu muội tặng cho chữ "Cuồng", các vị thấy có được không?

Hoàng Dược Sư là người đầu tiên khen hay, nói:

– Đông Tà, Tây Cuồng, một già một trẻ hai ta chính thành một cặp.

Dương Quá nói:

– Thiết tưởng tiểu tử ít tuổi, không thể sánh vai với các vị tiền bối.

Hoàng Dược Sư nói:

– A ha, tiểu huynh đệ, huynh đệ nói thế sai rồi. Huynh đệ đã có chữ "Cuồng" trong ngoại hiệu, thì cứ chơi ngông một chút đã sao? Hơn nữa, với danh tiếng lừng lẫy, võ công cao cường như huynh đệ hiện giờ, chẳng lẽ còn chưa thắng Lão Ngoan đồng hay sao?

Hoàng Dược Sư biết nữ nhi cố ý không nhắc đến Chu Bá Thông là muốn khích Lão Ngoan đồng, nên mới châm chọc một câu như thế. Dương Quá cũng hiểu tâm ý của hai cha con Hoàng Dược Sư, nên nhìn Tiểu Long Nữ mỉm cười, nghĩ: "Chữ Cuồng quả có lý".

Chu Bá Thông nói:

– Nam Đế, Tây Độc đều đổi ngoại hiệu, còn Bắc Cái thì đổi thành gì?

Chu Tử Liễu nói:

– Hào kiệt thiên hạ thời nay khi nhắc đệ tử Quách huynh đều gọi là Quách đại hiệp, mà không gọi tên. Quách huynh mấy chục năm nay khổ thủ thành Tương Dương, bảo cảnh an dân, lòng hiệp nghĩa như thế, cái dũng nhất thời của Chu Gia, Quách Giải thời cổ quyết không sánh kịp. Đệ nói gọi Quách huynh là Bắc Hiệp, chắc ai ai cũng tâm phục.

Nhất Đăng đại sư, Võ Tam Thông đều vỗ tay khen hay. Hoàng Dược Sư nói:

– Đông Tà, Tây Cuồng, Nam Tăng, Bắc Hiệp, bốn người đều có rồi, còn Trung ương thì ai giữ đây?

Đoạn nhìn Chu Bá Thông một cái, nói tiếp:

– Dương phu nhân là truyền nhân duy nhất của phái Cổ Mộ. Năm xưa Lâm Triêu Anh nữ hiệp võ công trác tuyệt, "Ngọc nữ tố tâm kiếm pháp" xuất thần nhập hóa, ngay cả Trùng Dương Chân Nhân cũng phải e ngại ba phần. Bấy giờ giả dụ Lâm nữ hiệp tham gia cuộc "Hoa Sơn luận kiếm", đừng nói danh hiệu "Ngũ Tuyệt" đã khác đi, ngay Trùng Dương Chân Nhân cũng vị tất được tôn xưng là "Đệ nhất võ công thiên hạ". Võ nghệ của Dương Quá là do phu nhân truyền thụ, đệ tử được xếp vào "Ngũ Tuyệt", sư phụ càng xứng đáng. Vậy địa vị Trung ương thuộc về Dương phu nhân.

Tiểu Long Nữ mỉm cười, nói:

– Địa vị ấy, tiểu nữ không thể nào dám nhận.

Hoàng Dược Sư nói:

– Thế thì thuộc về Dung nhi. Hoàng Dung võ công tuy không cực mạnh, nhưng túc trí đa mưu, vô cùng cơ biến, xưa nay trí vẫn thắng lực, xếp Hoàng Dung vào "Ngũ Tuyệt" là xứng đáng.

Chu Bá Thông vỗ tay reo cười:

– Hay lắm, hay tuyệt! Hoàng lão tà, Quách đại hiệp gì gì, Lão Ngoan đồng nói thực, đều không phục, chỉ có con nhãi Hoàng Dung tinh linh cổ quái, Lão Ngoan đồng hễ gặp là luống cuống chân tay, không cựa quậy nổi. Xếp Hoàng Dung vào "Ngũ Tuyệt" là hay nhất.

Mọi người nghe vậy đều sững sờ, luận về võ công, Hoàng Dược Sư, Nhất Đăng đại sư đều tự biết còn thua Chu Bá Thông ba phần, sở dĩ chưa nhắc đến tên lão, chỉ là vì muốn chọc tức cho lão cuống lên để vui cười một phen. Ai ngờ Chu Bá Thông ngây thơ hồn nhiên, không so đo tính toán chút gì, tuy rất hiếu võ, song hoàn toàn không có ý tranh hùng dương danh, chẳng hề tính xếp mình vào hàng "Ngũ Tuyệt".

Hoàng Dược Sư cười, nói:

– Lão Ngoan đồng ơi là Lão Ngoan đồng, huynh mới là bậc anh tài. Hoàng lão tà ta coi nhẹ cái danh, Nhất Đăng đại sư coi cái danh là hư ảo, chỉ có Chu huynh trong lòng không hề nghĩ đến chữ "Danh", còn cao hơn bọn tiểu đệ một bậc. Đông Tà, Tây Cuồng, Nam Tăng, Bắc Hiệp, Trung Ngoan Đồng, trong "Ngũ Tuyệt", huynh đứng đầu!

Mọi người nghe mười một chữ "Đông Tà, Tây Cuồng, Nam Tăng, Bắc Hiệp, Trung Ngoan Đồng" thì nhất tề reo hò, song cũng tức cười.

Địa vị "Ngũ Tuyệt" đã định xong, người người hoan hỉ, liền tản đi các nơi trên đỉnh Hoa Sơn mà thưởng ngoạn phong cảnh.

Dương Quá chỉ đỉnh Ngọc Nữ nói với Tiểu Long Nữ:

– Hai ta học "Ngọc nữ kiếm pháp", đỉnh Ngọc Nữ kia không thể không đến xem.

Tiểu Long Nữ nói:

– Đúng vậy.

Hai người dắt tay nhau lên đỉnh núi, thấy có một ngôi miếu nhỏ, cạnh miếu có tạc một con ngựa đá. Đây là miếu Ngọc Nữ. Trong miếu, trên một phiến đá lớn có một chỗ lõm sâu, nước đọng ở đó xanh ngắt.

Dương Quá năm xưa từng lên Hoa Sơn, tuy chưa thăm đỉnh Ngọc Nữ, song từng nghe Hồng Thất Công kể về các thắng cảnh trên núi, bèn nói với Tiểu Long Nữ:

– Đây là cái chậu gội đầu của Ngọc Nữ, nước trong quanh năm không cạn.

Tiểu Long Nữ nói:

– Chúng mình vào trong điện bái lạy Ngọc Nữ đi.

Vào trong điện, thấy tượng thần Ngọc Nữ dung mạo xinh đẹp, phong tư uyển chuyển, rất giống bức chân dung sư tổ Lâm Triêu Anh trong tòa Cổ Mộ. Hai người cùng kinh ngạc.

Tiểu Long Nữ nói:

– Không lẽ vị nữ thần này chính là tổ sư bà bà của chúng mình?

Dương Quá nói:

– Tổ sư bà bà đương niên hành hiệp thiên hạ, có ơn với nhiều người, người ta nhớ đến ân đức mà lập miếu thờ, không chừng đúng là tổ sư bà bà.

Tiểu Long Nữ gật đầu, nói:

– Nếu là một tiên cô thông thường, hà tất còn có một con ngựa đá? Chắc là để tưởng nhớ con ngựa của tổ sư bà bà.

Hai người kề vai quì lạy trước tượng Ngọc Nữ, tám ý tương thông, cùng lầm rầm khấn:

– Nguyện đời đời kiếp kiếp hai chúng con được kết làm phu phụ.

Bỗng có tiếng bước nhẹ vào điện. Hai người đứng dậy, thấy Quách Tương đi vào. Dương Quá vui mừng nói:

– Tiểu muội tử, hãy cùng hai ta đi chơi nhé!

Quách Tương nói:

– Vâng!

Tiểu Long Nữ cầm tay Quách Tương, ba người ra khỏi điện.

Qua một cái cầu đá, đến một núi cao, thấy ở lưng chừng núi có một cái đầm lớn. Quách Tương ngó xuống đầm, chỉ thấy từ dưới đầm một luồng hàn khí xộc lên, không khỏi rùng mình. Cái đầm lớn này sâu không thấy đáy, khác hẳn với cái vực sâu ở Tuyệt Tình cốc. Cái vực ở Tuyệt Tình cốc bị sương mù bao phủ, nhìn từ trên xuống không biết quang cảnh bên dưới thế nào, người ta cứ việc tha hồ tưởng tượng. Cái đầm này thì nhìn rõ ràng ngay trước mắt, có điều là càng nhìn càng thấy sâu thăm thẳm mà sợ. Tiểu Long Nữ kéo tay Quách Tương, nói:

– Cẩn thận!

Dương Quá nói:

– Cái đầm này nghe đồn nó thông ra tận Hoàng Hà, là một trong tám hồ chứa nước lớn nhất thiên hạ. Đời Đường phương bắc bị đại hạn, Đường Huyền Tông từng viết lời khấn cầu mưa lên mặt mảnh ngọc, rồi ném xuống đầm này.

Quách Tương nói:

– Cái đầm này thông ra tận Hoàng Hà thật ư? Lạ quá nhỉ?

Dương Quá cười, đáp:

– Là tương truyền thế thôi, chưa ai lặn xuống, khó biết có thông ra hay không.

Quách Tương hỏi:

– Lúc Đường Huyền Tông ném mảnh ngọc xuống đầm, có Dương quí phi ở bên cạnh nhà vua hay chăng? Sau đó trời có mưa hay không?

Dương Quá cười ha ha, nói:

– Chuyện ấy sao tiểu muội lại hỏi ta, ông trời muốn mưa thì mưa, không muốn mưa thì nắng, vị tất nghe lời cầu xin của hoàng đế lão nhi.

Quách Tương nhìn đăm đăm xuống đầm, rầu rầu nói:

– Đó, dù là cao quí như đế vương, cũng chưa chắc muốn sao được vậy.

Dương Quá thầm nghĩ: "Tiểu cô nương này mới một chút tuổi đầu mà đa sầu đa cảm thế. Phải tìm cách làm cho tiểu cô nương vui lên mới được". Đang tìm lời an ủi, thì Tiểu Long Nữ động kêu "Ôi kìa" và nói:

– Ai lên núi thế kia?

Dương Quá nhìn theo tay chỉ của Tiểu Long Nữ, thấy dưới chân núi có hai người đang luồn lách trong lớp cỏ cao đi lên. Hai người ấy khinh công rất cao, luồn lách rất khôn khéo kín đáo, rõ ràng sợ bị người ta phát hiện, nhưng Tiểu Long Nữ nhãn lực hơn hẳn người thường, vẫn phát hiện từ xa.

Dương Quá nói nhỏ:

– Hai kẻ kia lén lén lút lút, võ công rất lợi hại, lên Hoa Sơn tất có duyên cớ, chúng ta hãy nấp vào một chỗ xem họ giở trò gì.

Ba người liền nấp vào sau tảng đá và gốc đại thụ.

Lát sau có tiếng bước chân vọng tới. Lúc này trời đã nhá nhem. Vầng trăng non treo phía trên ngọn đại thụ. Quách Tương dựa vào bên người Tiểu Long Nữ, hoàn toàn không quan tâm đến hai kẻ đang đi lên núi. Nàng nhìn mặt nghiêng của Dương Quá, bỗng nghĩ: "Ước gì suốt đời mình được ở bên cạnh đại ca ca, Long tỷ tỷ như thế này, thì không còn mong gì hơn". Lúc này nàng chỉ muốn thời gian dừng lại, vĩnh viễn ngừng trôi, dù trong thâm tâm biết rằng điều đó quyết không thể xảy ra.

Tiểu Long Nữ trong bóng tối nhá nhem vẫn nhìn rất rõ, thấy dưới hàng mi dài và cong của Quách Tương có ngấn nước mắt, nghĩ bụng: "Thần tình tiểu cô nương hơi lạ, không biết có tâm sự gì. Mình và Quá nhi phải tìm cách giúp tiểu cô nương vui lên mới được".

Chỉ nghe hai kẻ kia đã lên đến đỉnh núi, nấp sau một khối nham thạch lớn, lát sau, một người lên tiếng:

– Tiêu Tương huynh, Hoa Sơn rừng thẳm núi cao, khắp nơi có thể ẩn thân. Chúng ta lánh ở đây vài ngày, con lừa trọc ấy dù có thần thông quảng đại đến mấy, cũng chưa chắc tìm thấy. Chờ khi lão ta đi nơi khác tìm, hai ta hãy đi sang miền Tây.

Dương Quá không nhìn thấy mặt hai kẻ kia, nghe khẩu âm, kẻ vừa nói chính là Doãn Khắc Tây, còn "Tiêu Tương huynh" tất là Tiêu Tương Tử. Chàng nghĩ: "Đám võ sĩ Mông Cổ sang Trung Nguyên ta lộng hành, Kim Luân pháp vương, Ni Ma Tinh, Hoắc Đô đã bỏ mạng. Đạt Nhĩ Ba, Mã Quang Tá làm ít điều ác, chỉ còn hai gã Tiêu Tương Tử và Doãn Khắc Tây. Lần trước mình đã tha mạng cho hai tên này, nhưng xem ra chúng không biết hướng thiện; chẳng hiểu lại đến giở trò gian ác gì đây?"

Chỉ nghe Tiêu Tương Tử nói:

– Doãn huynh đừng mừng vội, con lừa trọc tìm chưa thấy chúng ta, lão nhất định sẽ rình ở dưới chân núi. Chúng ta lớ ngớ đi xuống là rơi vào tay lão.

Doãn Khắc Tây nói:

– Tiêu Tương huynh thâm mưu viễn lự, nói rất đúng, vậy huynh có cao kiến gì?

Tiêu Tương Tử nói:

– Đệ nghĩ trên núi này có rất nhiều tự quán, chúng ta chọn một chỗ vắng vẻ, bất kể trụ trì là hòa thượng hay đạo sĩ, ta đều hạ thủ giết quách, chiếm lấy tự quán, ở lại ít lâu. Con lừa trọc ấy quyết không thể ngờ hai ta lại ở trên núi lâu như vậy. Lão ta sẽ nôn nóng tìm kiếm vài lượt, rình dưới chân núi vài tháng rồi cũng bỏ đi thôi.

Doãn Khắc Tây vui mừng nói:

– Kế của Tiêu Tương huynh hay lắm!

Hắn mừng rỡ nên nói to hơn.

Tiêu Tương Tử vội nói:

– Đừng lớn tiếng!

Doãn Khắc Tây nói:

– Chết, đệ mừng quá quên biến đi mất.

Tiếp đó hai gã hạ thấp giọng, Dương Quá không nghe rõ, thầm lấy làm lạ: "Hai tên này rất sợ một vị hòa thượng, sợ bị hòa thượng tóm được. Hai tên này võ công rất lợi hại, hiện thời ngoài mấy vị như Hoàng đảo chủ, Nhất Đăng đại sư, Quách bá bá, ít ai có thể địch nổi chúng, huống hồ hai tên này liên thủ lại càng lợi hại, không biết vị cao tăng ấy là ai mà làm cho chúng run sợ như vậy? Mà không biết vì sao lại phải khổ sở truy đuổi hai tên ác nhân này như vậy?" Lại nghĩ: "Tiêu Tương Tử nói sẽ giết người chiếm chùa, chủ ý tàn ác, mình đã biết trước, làm sao có thể bỏ qua?"

Có tiếng Quách Phù gọi vang vọng phía xa:

– Dương đại ca, Dương đại tẩu, nhị muội.. Dương đại ca, Dương đại tẩu, nhị muội.. về ăn cơm.. về ăn cơm thôi!

Dương Quá ngoảnh lại nhìn Tiểu Long Nữ và Quách Tương, xua xua tay, bảo họ đừng lên tiếng đáp ứng. Một hồi sau, Quách Phù không gọi nữa. Bỗng nghe từ lưng chừng núi có tiếng quát:

– Hai vị bằng hữu mượn sách không trả, hãy ra đây gặp nào!

Tiếng quát vang vọng núi rừng, hiển nhiên nội lực sung mãn, tuy không uy mãnh, nhưng công lực như thế thật chẳng thua gì tiếng hú của Dương Quá.

Dương Quá kinh ngạc, nghĩ: "Trên thế gian còn có một vị cao thủ như thế mả mình lại chưa biết!"

Chàng hơi nhô người ra nhìn về phía người nói, dưới ánh trăng thấy có một vệt xám chạy nhanh lên núi, nhìn kỹ gồm hai người, một hòa thượng áo xám dắt một gã thiếu niên. Tiêu Tương Tử và Doãn Khắc Tây nấp trong cỏ cao, không dám thở mạnh. Dương Quá thấy thân hình và bộ pháp của vị hòa thượng thì kinh ngạc: "Người này khinh công vị tất cao hơn mình và Long nhi, nhưng còn phải dắt theo một người mà chạy lên dốc núi như bay, nội lực thâm hậu ngang với Quách bá bá, Nhất Đăng đại sư. Tại sao trên giang hồ chưa hề nghe nhắc đến nhân vật này?"

Vị hòa thượng chạy lên gần mé trái, nhìn tứ phía, không thấy tung tích Tiêu, Doãn hai gã, bèn chạy sang quả núi mé tây. Quách Tương không nhịn được, gọi:

– Này hòa thượng, hai kẻ kia núp ở đây này!

Tiếng gọi vừa dứt, nghe chíu chíu, có hai ngọn phi chùy, một mũi táng môn đinh bắn nhanh tới chỗ Quách Tương đang nấp. Dương Quá phẩy tay áo cuốn lấy ba mũi ám khí. Quách Tương nội công không sâu, tiếng gọi truyền đi không xa, vị hòa thượng lại chạy quá nhanh nên không nghe thấy tiếng gọi của nàng. Quách Tương thấy hòa thượng vẫn chạy đi xa hơn, vội nói:

– Đại ca ca, mau gọi họ lại đi.

Dương Quá ngâm lên:

– Hữu duyên thiên lý lai tương hội, vô duyên đối diện bất tương phùng!

Hai câu này từng chữ vang đi rất xa. Vị hòa thượng đang chạy ở lưng chừng quả núi bên kia lập tức dừng chân, ngoảnh đầu lại, nói:

– Phiền cao nhân chỉ điểm bến mê.

Dương Quá lại ngâm:

– Đạp phá thiết hài vô mịch xứ, đắc lai toàn bất phí công phu.

Vị hòa thượng cả mừng, dắt gã thiếu niên chạy như bay trở lại.

Tiêu Tương Tử và Doãn Khắc Tây nghe tiếng ngâm của Dương Quá thì hoảng sợ, nhìn nhau ra hiệu, từ trong bụi cỏ chạy vọt sang mé đông. Dương Quá thấy vị hòa thượng cước lực tuy nhanh, nhưng khoảng cách khá xa, trên Hoa Sơn này khắp nơi đầy bụi cỏ, thạch động, nếu để hai tên ác nhân kia lẩn đi, đêm tối thế này khó bề tìm được, bèn giơ ngón tay búng một cái, một ngọn phi chùy xé gió bay vút đi, chính là dùng thứ ám khí ban nãy Tiêu Tương Tử đã tập kích Quách Tương. Dương Quá chưa biết vị hòa thượng tìm hai tên kia về chuyện gì, chưa muốn lấy mạng chúng, mũi phi chùy bay vụt qua trước mặt chúng chừng một thước, gió tạt rát da, hai gã khẽ kêu la, quay đầu sang mạn bắc. Dương Quá lại búng một mũi táng môn đinh, buộc hai gã chuyển hướng.

Hai lần ngăn chặn như thế, vị hòa thượng kia đã chạy tới gần. Tiêu Tương Tử và Doãn Khắc Tây biết khó bề thoát thân, bèn rút binh khí cầm tay, đứng kề vai nhau, một gã cầm cây bổng, một gã cầm nhuyễn tiên. Sợi Kim long tiên ngọc ngà châu báu của Doãn Khắc Tây đã bị Dương Quá làm gãy nát ở cung Trùng Dương, sợi nhuyễn tiên này tuy cũng gắn nhiều vàng ngọc, nhưng không đẹp và quí bằng Kim long tiên ngày trước.

Vị hòa thượng nhìn bốn phía, thấy người giúp mình không xuất hiện, thì chưa thèm để ý đến hai tên Tiêu, Doãn kia, mà chắp tay thi lễ về phía trống không, nói:

– Tiểu tăng Giác Viễn ở Thiếu Lâm tự kính tạ cư sĩ cao nghĩa.

Dương Quá nhìn vị hòa thượng, thấy thân hình cao cao, phong thái nho nhã, nếu không mặc tăng bào thì giống như một thư sinh tướng công. So với vị hòa thượng này, Hoàng Dược Sư có ba phần sơn lâm phóng túng hơn, Chu Tử Liễu thì có ba phần sang trọng cung đình hơn. Hòa thượng Giác Viễn tuổi trạc ngũ tuần, đúng là một vị túc nho uyên thâm quảng bác, một danh gia kinh thuật siêu nhân. Dương Quá không dám xem thường, liền từ chỗ nấp bước ra, vái dài đáp lễ, nói:

– Tiểu tử Dương Quá bái kiến đại sư.

Chàng nghĩ: "Phương trượng và thủ tòa Đạt Ma viện của Thiếu Lâm tự mình đều quen biết, tu vi võ công của hai người ấy xem chừng không bằng vị cao tăng này, tại sao mình chưa hề nghe họ nhắc đến vị này?"

Giác Viễn cung kính nói:

– Tiểu tăng được Dương cư sĩ tôn phạm, may mắn quá chừng.

Rồi bảo gã thiếu niên đứng bên cạnh:

– Mau khấu đầu chào Dương cư sĩ.

Gã thiếu niên bước lên quì lạy, Dương Quá đáp nửa lễ. Lúc này Tiểu Long Nữ và Quách Tương cũng đều xuất hiện, Giác Viễn chắp tay rất mực cung kính.

Tiêu Tương Tử và Doãn Khắc Tây đứng chôn chân tại chỗ; nếu xông tới động thủ, tự biết không phải là đối thủ của Giác Viễn, Dương Quá và Tiểu Long Nữ, nếu bỏ chạy, cũng hoàn toàn không thể thoát thân. Hai gã đứng đó, mắt láo liên, chờ cơ hội.

Dương Quá nói:

– Thủ tòa La Hán đường Vô Sắc thiền sư của quí tự hào sảng khoáng đạt, tương giao với tại hạ đã hơn mười năm. Sáu năm trước, tại hạ có được phương trượng quí tự Thiên Minh thiền sư mời đến núi Thiếu Thất lễ Phật, được trò chuyện với phương trượng và Thủ tòa Đạt Ma viện Vô Tướng thiền sư, mở rộng tầm mắt. Có lẽ khi ấy đại sư đi vắng, nên tại hạ không có duyên bái kiến.

Thần điêu đại hiệp Dương Quá danh tiếng lẫy lừng thiên hạ, song Giác Viễn lại không biết, chỉ nói:

– Thì ra Dương cư sĩ có quen biết Thiên Minh sư thúc, Vô Tướng sư huynh và Vô Sắc sư huynh. Tiểu tăng nhận một chức vị an nhàn ở Tàng kinh các, ba chục năm nay không hề bước ra khỏi cửa, chỉ vì chức phận thấp kém, nên không dám giao tiếp với quí khách đến bản tự.

Dương Quá thầm lấy làm lạ: "Thiên hạ thật là rộng lớn, bậc kỳ tài dị năng nơi nào cũng có. Vị Giác Viễn đại sư này võ công tuyệt thế mà giấu kín không lộ, trong Thiếu Lâm tự e rằng cũng không ai hay biết, nếu không Vô Sắc giao hảo với mình như thế, nếu biết bản tự có một nhân vật cỡ đó, hẳn đã kể với mình".

Dương Quá và Giác Viễn đối đáp với nhau, cánh Hoàng Dược Sư đã nghe thấy, biết mé núi này có chuyện, bèn nhất tề kéo đến. Trong lúc Dương Quá và Giác Viễn nói chuyện, mọi người đã tới nơi, Dương Quá liền dẫn kiến mọi người. Hoàng Dược Sư, Nhất Đăng đại sư, Chu Bá Thông, Quách Tĩnh, Hoàng Dung nổi danh đã mấy chục năm trong võ lâm, có thể nói bất cứ ai trong giang hồ cũng đều biết, riêng Giác Viễn lại không hề biết, chỉ cung kính hành lễ và sai gã thiếu niên vái lạy mọi người. Mọi người thấy Giác Viễn uy nghi, nghiêm trang, cũng không khỏi kính nể.

Giác Viễn thi lễ xong, bèn chắp tay nói với Tiêu Tương Tử và Doãn Khắc Tây:

– Tiểu tăng giám quản Tàng kinh các, chỉ một trang giấy bị mất, tiểu tăng cũng bị nghiêm trách, cuốn kinh thư mà hai vị đã mượn, xin trả lại cho, thật cảm đại đức.

Dương Quá vừa nghe đã biết Tiêu Tương Tử và Doãn Khắc Tây ăn cắp cuốn kinh thư gì đó ở Tàng kinh các của Thiếu Lâm tự, nên Giác Viễn mới nhất quyết đuổi theo, song thấy đối với hai tên đạo tặc, Giác Viễn còn nói năng tử tế thì thật không ngờ.

Doãn Khắc Tây cười hi hi nói:

– Đại sư nói sai rồi. Hai chúng tôi gặp bất hạnh, may được đại sư thi ân thu lưu, báo đáp còn chưa kịp, ai lại đi mượn kinh thư của đại sư mà không trả lại, phiền đại sư phải cất công theo đòi? Hơn nữa, hai chúng tôi hoàn toàn không phải là đệ tử cửa Phật, đi mượn kinh thư của đại sư làm gì kia chứ.

Doãn Khắc Tây xuất thân buôn bán châu báu, miệng lưỡi giảo hoạt, lời hắn vừa nói nghe cũng có lý. Nhưng cánh Dương Quá thừa biết hắn và Tiêu Tương Tử không phải là người lương thiện, kinh thư mà chúng đánh cắp cũng không phải là kinh Phật thông thường, mà hẳn là quyền kinh kiếm phổ của phái Thiếu Lâm.

Cứ như Dương Quá, chỉ cần nhảy tới giáng cho mỗi tên một chưởng, lục soát kinh thư trong người chúng là xong, hà tất phải phí lời? Song Giác Viễn là người nho nhã, lại nói với mọi người:

– Sự việc thế nào, tiểu tăng xin thưa cùng các vị, mong các vị bình đạo lý cho.

Quách Tương không nhịn được, liền nói:

– Đại sư, hai người này lén lút nấp ở chỗ kia, bàn nhau giết người cướp chùa, may mà bị đại sư tìm thấy. Nếu họ không rắp tâm hành ác, thì sao lại có mưu đồ xấu xa như vậy?

Giác Viễn hướng về phía Tiêu, Doãn hai gã, nói:

– Tội quá, tội quá, hai vị cư sĩ có nghiệt tâm như thế, hãy sớm thành tâm hối cải.

Mọi người thấy Giác Viễn nói năng hành sự có phần cổ hủ, tựa hồ hoàn toàn không rõ thế sự, đối với hai tên gian ác mà lại khuyên chúng thành tâm hối cải, thì không khỏi tức cười.

Doãn Khắc Tây thấy Giác Viễn không động thủ, mà định nói lý lẽ, thì có thêm vài phần hi vọng, bèn nói:

– Mọi người cần phải bình đạo lý cơ mà?

Giác Viễn gật đầu, nói:

– Thưa các vị, một hôm tiểu tăng đang đọc kinh thư trong Tàng kinh các, bỗng nghe sau núi có tiếng ẩu đả, rồi có người kêu cứu. Tiểu tăng chạy ra xem, thấy hai vị cư sĩ đây nằm dưới đất, bị bốn võ quan Mông Cổ đánh cho chỉ còn thở thoi thóp, tiểu tăng không nỡ lòng nào, liền tới khuyên bốn vị võ quan, rồi dìu hai vị cư sĩ bị thương vào Tàng kinh các nghỉ ngơi. Xin cứ hỏi hai vị cư sĩ đây, có đúng vậy không?

Doãn Khắc Tây nói:

– Không sai. Đúng là như thế, bởi vậy hai chúng tôi vô cùng cảm kích ơn cứu mạng của đại sư.

Dương Quá hừ một tiếng, nói:

– Với võ công của hai vị cư sĩ này, đừng nói bốn võ quan Mông Cổ, dù bốn chục, thậm chí bốn trăm võ sĩ Mông Cổ cũng không đánh ngã nổi. Giác Viễn đại sư đã bị hai gã này đánh lừa rồi.

Giác Viễn lại nói:

– Hai vị đây dưỡng thương một ngày, nói nằm một chỗ buồn quá, xin tiểu tăng cho mượn kinh thư. Tiểu tăng thiết nghĩ hoằng pháp quảng đạo là việc tốt, mấy khi được hai vị cư sĩ nảy sinh tuệ căn, thân cận Phật pháp, thế là liền cho họ mượn đọc mấy bộ kinh thư. Ai ngờ có một buổi tối hai vị cư sĩ này nhân lúc tiểu tăng tham thiền nhập định, lại lấy đi bốn quyển "Kinh Lăng Già" mà tiểu đệ tử Quân Bảo đang tụng. Tự tiện lấy đi, không mở miệng hỏi, khó tránh khỏi vi phạm cái đạo của bậc quân tử, vậy xin hai vị trả lại cho.

Nhất Đăng đại sư Phật học tinh thâm, Chu Tử Liễu theo hầu sư phụ lâu ngày, cũng từng đọc không ít kinh Phật, nghe nói thế, đều nghĩ: Hai kẻ này lấy trộm kinh thư trong Thiếu Lâm tự, mình cứ ngỡ chỉ là sách quyền kinh kiếm phổ, ai dè lại là bốn quyển "Kinh Lăng Già". Bộ "Kinh Lăng Già" tuy là do Đạt Ma tổ sư sở truyền, nhưng trong kinh lại chép rằng đó là yếu chỉ thuyết pháp của Phật Như Lai trên đảo Lăng Già, minh tâm kiến tính, tuyên thuyết Phật pháp Đại thừa, không liên quan gì đến võ công. Hai tên ác nhân này lấy trộm mang đi làm gì? Hơn nữa "Kinh Lăng Già" trong thiên hạ nơi nào cũng có, không phải là bí kíp, vì sao Giác Viễn lại truy đuổi đến cùng, tất bên trong có chuyện gì đây.

Chỉ nghe Giác Viễn nói:

– Bốn quyển "Kinh Lăng Già" ấy là nguyên bản Đạt Ma tổ sư mang theo khi đi sang phía đông, viết bằng văn tự Thiên Trúc, chỉ e hai vị cư sĩ không biết đọc, trong khi đó là vật báu truyền thụ bao đời của Thiếu Lâm bổn tự.

Mọi người chợt hiểu: "Thì ra là nguyên bản Đạt Ma tổ sư mang theo từ Thiên Trúc sang, tất quí giá vô cùng."

Doãn Khắc Tây cười hi hi, nói:

– Hai chúng tôi không biết văn tự Thiên Trúc, ai lại đi mượn đọc bộ kinh ấy? Tuy gọi là báu vật, nhưng đem bán cũng chẳng đáng giá bao nhiêu. Trừ cao tăng Phật gia, chẳng ai thiết đến nó. Mà các đại hòa thượng hóa duyên qua ngày, làm gì có tiền bạc để mua.

Mọi người nghe hắn giảo biện đã tức giận, riêng Giác Viễn vẫn điềm đạm nói:

– Bộ "Kinh Lăng Già" tổng cộng có bốn bản dịch Hán văn khác nhau, hiện còn giữ được ba bản. Một là bản dịch của Bạt Đà La thời Lưu Tống, tên là "Lăng Già A Bạt Đa La bảo kinh", gồm bốn quyển, người đời gọi là "Bốn quyển Lăng Già". Hai là bản dịch thời Nguyên Ngụy của Bồ Đề Lưu Chi dịch, tên là "Nhập Lăng Già kinh" gồm mười quyển, người đời gọi là "mười quyển Lăng Già". Ba là bản dịch thời nhà Đường của Bảo Thoa Nan Đà, tên là "Đại Thừa Nhập Lăng Già kinh" gồm bảy quyển, người đời gọi là "Bảy quyển Lăng Già". Trong ba bản dịch ấy, bản "Bảy quyển Lăng Già" dịch rõ ý, dễ hiểu nhất, tiểu tăng có mang theo đến đây nếu hai vị cư sĩ tâm cận Phật pháp, tiểu tăng sẵn lòng gửi tặng. Nếu hai vị muốn bản "Bốn quyển Lăng Già" hoặc bản "Mười quyển Lăng Già", cũng không phải là không thể, tiểu tăng sẽ đi tìm mang tới.

Nói đoạn rút từ trong ống tay áo ra bản "Bảy quyển Lăng Già", đưa cho gã thiếu niên, sai mang tặng Doãn Khắc Tây.

Dương Quá nghĩ thầm: "Vị Giác Viễn đại sư này quá ư cổ hủ, ít thấy trên đời, chẳng trách bộ kinh thư do đại sư giám quản bị hai tên ác nhân lấy đi."

Chỉ nghe chàng thiếu niên nói:

– Sư phụ, hai kẻ kia có mưu đồ bất lương, họ lấy mất bộ kinh quí, đâu phải là có tâm cận Phật pháp?

Chàng thiếu niên thân hình nhỏ bé, nhưng lời nói chứng tỏ trung khí sung mãn, giọng vang như chuông.

Mọi người thấy chàng ta diện mạo kỳ dị, trán nhọn gáy nhỏ, ngực rộng chân dài, mắt tròn tai to, tuy chỉ độ mười hai, mười ba tuổi, nhưng rất chững chạc, uy nghiêm.

Dương Quá lấy làm lạ, hỏi:

– Vị tiểu huynh đệ này cao tính đại danh là gì?

Giác Viễn nói:

– Tiểu đồ họ Trương, tên Quân Bảo, từ nhỏ sống trong Tàng kinh các, giúp tiểu tăng quét nhà, phơi sách, tuy hắn gọi tiểu tăng là sư phụ, kỳ thực hắn chưa xuống tóc, vẫn còn là tục gia đệ tử.

Dương Quá khen:

– Danh sư xuất cao đồ, đệ tử của đại sư khí vũ bất phàm.

Giác Viễn nói:

– Sư phụ không phải danh sư, nhưng tên đồ nhi này thì quả là bất phàm. Chỉ tiếc tiểu tăng tu vi nông cạn, không khỏi thiệt thòi cho nó. Quân Bảo, hôm nay ngươi được gặp nhiều bậc cao sĩ, đúng là tam sinh hữu hạnh, ngươi hãy thỉnh giáo các vị. Tục ngữ có câu "Nghe người khôn nói chuyện một buổi hơn đọc sách mười năm".

Trương Quân Bảo đáp:

– Vâng.

Chu Bá Thông nghe Giác Viễn cứ nói vòng vo đâu đâu mãi, tuy sự việc không liên quan đến mình, nhưng cũng là người đầu tiên hết nhịn nổi, lên tiếng:

– Này hai gã Tiêu Tương Tử và Doãn Khắc Tây kia, hai đứa bay lừa được vị đại hòa thượng chứ không lừa nổi Lão Ngoan đồng này. Hai đứa bay có biết "Ngũ Tuyệt" thời nay gồm những ai không?

Doãn Khắc Tây nói:

– Không, xin nói cho biết.

Chu Bá Thông dương dương đắc ý nói:

– Được, hai đứa bay đứng cho vững mà nghe đây: Đông Tà, Tây Cuồng, Nam Tăng, Bắc Hiệp, Trung Ngoan Đồng. Trong "Ngũ Tuyệt", Lão Ngoan đồng này đứng đầu, hiểu chưa. Lão Ngoan đồng đã đứng đầu "Ngũ Tuyệt", lời nói tất nhiên có sức nặng. Bộ kinh thư ấy ta nói là hai đứa bay lấy trộm, tức là hai đứa bay lấy trộm. Cho dù không phải hai đứa bay lấy trộm, thì nó cũng đang ở trong người hai đứa bay, mau lấy ra trả cho đại hòa thượng! Nếu trì hoãn, mỗi đứa sẽ ăn một cái bạt tai, rồi tính sau. Hai đứa bay thích chìa má bên trái hay má bên phải nào?

Nói đoạn lão xoa xoa hai tay chuẩn bị động thủ.

Tiêu Tương Tử và Doãn Khắc Tây cau mày, thầm biết Lão Ngoan đồng võ công cao lạ thường, nói sao làm vậy đang chưa biết làm thế nào, thì Giác Viễn nói:

– Chu cư sĩ nói sai rồi! Thế sự không qua được một chữ "Lý". Bộ "Kinh Lăng Già" hai vị cư sĩ nếu đã mượn, tức là đã mượn. Nếu không mượn, tức là không mượn. Nếu quả thật hai vị cư sĩ không mượn, thì có lý nào lại vu cho họ lấy trộm?

Chu Bá Thông cười ha hả, nói:

– Các vị xem đại hòa thượng này có ra sao không? Ta giúp y đòi lại bộ kinh, y lại đi thanh minh cho kẻ cắp, có lý nào như thế? Đại hòa thượng, ta nói cho hòa thượng biết, Lão Ngoan đồng ta cứ thích vu cho hai đứa kia lấy trộm đấy. Bộ kinh ấy nếu quả thật chúng chưa lấy trộm, thì ta đoan chắc rằng ngay ngày mai hai đứa kia sẽ đến Thiếu Lâm tự lấy trộm. Nói tóm lại, quân trộm cắp là quân trộm cắp, chưa trộm cắp, thì sẽ trộm cắp. Hôm qua chưa trộm cắp, ngày mai tất trộm cắp, hôm nay đã trộm cắp, ngày mai tiếp tục trộm cắp.

Giác Viễn gật đầu lia lịa, nói:

– Chu cư sĩ nói rất hợp với thiền lễ. Phật gia nói sắc tức là không, không tức là sắc, ranh giới giữa sắc và không, vốn không nên phân định một cách gượng ép. Nói "lấy trộm sách" e bất nhã, chi bằng nói là "không hỏi cứ mượn". Hai vị cư sĩ nếu đã có cái tâm "không hỏi cứ mượn", thì dù chưa "không hỏi cứ mượn", thể nào cũng "không hỏi cứ mượn".

Mọi người nghe hai bên nói lý, một người cổ hủ, một người cả vú lấp miệng em, ai cũng có cái lý của mình, nếu cứ tiếp tục, không biết bao giờ mới dừng.

Dương Quá cướp lời Chu Bá Thông, nói với hai gã Tiêu, Doãn:

– Hai đứa ngươi giúp Mông Cổ xâm phạm cương thổ của bọn ta, giết hại bách tính nước ta, có chết cũng chưa hết tội. Nhưng hôm nay có hai võ hiệp cao tăng Nhất Đăng đại sư và Giác Viễn đại sư ở đây, nếu ta xuất thủ giết hai đứa ngươi, hai vị cao tăng hẳn không nỡ nhìn. Vậy ta chỉ cho hai con đường cho hai đứa ngươi tự lực chọn, một là ngoan ngoãn đưa trả bộ kinh thư, từ nay không được đặt chân lên Trung Thổ. Hai là mỗi đứa tiếp một chưởng của ta, sống chết tùy vận khí của từng đứa.

Doãn, Tiêu nhìn nhau, không dám tiếp lời. Hai gã từng ăn đòn của Dương Quá, thừa biết một chưởng của chàng, chúng không thể chịu nổi. Doãn Khắc Tây nghĩ: "Chỉ cần qua được hôm nay, mai sau luyện thành võ công, sẽ trở lại báo thù rửa hận. Trong đám người kia, chỉ có Giác Viễn hòa thượng là dễ nói chuyện nhất, muốn thoát nạn, phải dựa vào gã hòa thượng ấy", bèn nói:

– Dương đại hiệp, chuyện giữa tại hạ và đại hiệp, để sau hãy tính. Đại hiệp võ công cao hơn tại hạ, tại hạ không dám đắc tội với đại hiệp. Còn chuyện có mượn kinh thư hay không, cứ để Giác Viễn đại sư bàn tính tỉ mỉ với hai chúng tôi, việc ấy đâu có liên quan đến Dương đại hiệp?

Dương Quá chưa trả lời, Giác Viễn đã gật đầu lia lịa, nói:

– Đúng, đúng thế, Doãn cư sĩ nói rất có lý.

Dương Quá lắc đầu cười khổ, ngoảnh đầu lại, thấy Trương Quân Bảo mục quang long lanh, ngọ nguậy muốn hành động. Dương Quá bèn nháy mắt, ngụ ý bảo cậu ta cứ hành động, chàng sẽ đứng sau hỗ trợ.

Trương Quân Bảo hiểu ý, nói to:

– Doãn cư sĩ, hôm ấy tiểu tử đang đọc kinh ở hành lang, cư sĩ lẻn đến sau lưng tiểu tử, điểm huyệt tiểu tử rồi lấy đi bốn quyển "Kinh Lăng Già", chuyện ấy có hay không?

Doãn Khắc Tây lắc đầu nói:

– Nếu ta muốn mượn sách, thì ta chỉ việc hỏi mượn là tiểu sư phụ cho mượn, hà tất phải điểm huyệt?

Giác Viễn gật đầu nói:

– Ờ, ờ, kể cũng có lý.

Trương Quân Bảo nói:

– Hai vị bảo không hề mượn, vậy có dám để cho tiểu tử lục soát trên người hay không?

Giác Viễn nói:

– Khám người thì quá ư vô lý. Nhưng vụ này phải trái chưa rõ, hai vị cư sĩ có cách gì hay, có thể cho biết?

Doãn Khắc Tây đang định giảo biện, Dương Quá cướp lời:

– Giác Viễn đại sư, hai tên gian tặc kia quyết không có ý tiềm tâm Phật học, bốn quyển "Kinh Lăng Già" có điểm nào đặc dị hay không?

Giác Viễn hơi trầm ngâm, nói:

– Người xuất gia không nói dối, Dương cư sĩ đã hỏi, tiểu tăng đành nói thật. Bên lề bộ "Kinh Lăng Già" còn có một bộ kinh thư khác, do chính Đạt Ma sư tổ tự tay viết, gọi là bộ "Cửu Dương chân kinh".

Lời này vừa dứt, ai nấy giật mình. Thời trước các võ sĩ tranh đoạt "Cửu Âm chân kinh" mà dẫn đến chỗ chém giết nhau khắp cả thiên hạ, cuối cùng năm đại cao thủ tụ tập tại "Hoa Sơn luận kiếm", bộ kinh đó rốt cuộc do Vương Trùng Dương là người võ công cao nhất sở hữu. Sau đó việc Hoàng Dược Sư đuổi hết đệ tử, Chu Bá Thông bị nhốt ở đảo Đào Hoa, Âu Dương Phong mắc bệnh tâm thần, Đoàn hoàng gia xuất gia đi tu bao nhiêu việc đều có liên quan đến bộ "Cửu Âm chân kinh". Ai dè ngoài bộ "Cửu Âm chân kinh", Đạt Ma sư tổ còn viết bộ "Cửu Dương chân kinh". Bốn chữ này mọi người lần đầu nghe thấy, còn bộ "Cửu Âm chân kinh" thì quá nổi tiếng, Hoàng Dược Sư, Chu Bá Thông, Quách Tĩnh, Hoàng Dung, Dương Quá, Tiểu Long Nữ đều đã trước sau nghiên tập, võ công Thiếu Lâm tự là do Đạt Ma sư tổ sở truyền, bộ kinh do sư tổ tự tay viết ra tất nhiên rất hệ trọng, quần hùng vừa nghe thấy đều giật mình.

Giác Viễn không thấy sự kinh ngạc của mọi người, nói tiếp:

– Chức phận của tiểu tăng là giám quản Tàng kinh các, tất cả các bộ kinh thư tất nhiên đều phải xem qua một lượt. Cứ ngỡ trong kinh Phật toàn chép những câu danh ngôn chí lý, song tiểu tăng lại đọc thấy trong bộ "Cửu Dương chân kinh" rất nhiều pháp môn cường thân kiện thể, dịch trợ tẩy tủy, tiểu tăng nhất nhất luyện theo mấy chục năm nay, kết quả là bách bệnh không sinh; mấy năm qua bèn truyền thụ một số môn dễ luyện cho Quân Bảo. Bộ "Cửu Dương chân kinh" chẳng qua chỉ dạy người ta bảo dưỡng cái thân xác hữu sắc hữu tướng mà thôi, cái thân xác này vốn cũng không đáng gì cho lắm. Bộ kinh thư tuy do Đạt Ma sư tổ trước tác, cuối cùng chỉ là cái học bỉ tướng tiểu đạo, dù có bị mất đi cũng không sao. Nhưng bộ kinh "Lăng Già" là đại điển của nhà Phật, hai vị cư sĩ lại không biết văn tự Thiên Trúc, có mượn cũng vô dụng. Chi bằng hãy trả lại cho tiểu tăng.

Dương Quá thầm kinh hãi: "Giác Viễn đã học xong công phu thượng thừa trong võ học mà hoàn toàn không biết, cứ tưởng chỉ là pháp môn cường thân kiện thể, bách bệnh không sinh mà thôi. Chuyện lạ nhường này, trong võ lâm chưa từng xảy ra. Nếu mình không tận mắt chứng kiến Giác Viễn đại sư cố chấp, một mực giữ lễ, ắt sẽ cho rằng Giác Viễn cố ý giả bộ, giấu kín võ công. Chẳng trách các vị thiền sư cao tăng Thiên Minh, Vô Sắc, Vô Tướng chung sống với Giác Viễn mấy chục năm trong chùa mà không biết rằng đang ở bên cạnh một dị nhân".

Nhất Đăng đại sư thì nghĩ thầm: "Vị sư huynh bảo" Cửu Dương chân kinh "chỉ là cái học bỉ tướng tiểu đạo, quả nhiên thâm ngộ Phật lý. Cái học Thiền tông cố nhằm minh tâm kiến tính. Nếu biết" Cửu Dương chân kinh "là võ công, thì Giác Viễn đã chẳng học theo".

Doãn Khắc Tây vỗ vỗ trên người, cười, nói:

– Tại hạ tứ đại giai không, trên người làm gì có kinh thư?

Tiêu Tương Tử cũng phẩy phẩy áo, nói:

– Tại hạ cũng không có.

Trương Quân Bảo bỗng nói:

– Để tiểu tử lại soát!

Chàng ta bước tới giơ tay nắn nắn ngực Doãn Khắc Tây. Doãn Khắc Tây tay trái chộp cổ tay Trương Quân Bảo, tay phải đẩy nhẹ vào vai cậu ta một cái, Trương Quân Bảo lập tức bị ngã lộn một vòng.

Giác Viễn kêu lên:

– Úi chao, không hay rồi, Quân Bảo! Ngươi hãy khí trầm Vu Uyên, lực ngưng Sơn Căn, xem y có đẩy nổi ngươi xê dịch không nào?

Trương Quân Bảo bò dậy, nói:

– Vâng, thưa sư phụ!

Đoạn lao người về phía Doãn Khắc Tây. Mọi người đang chán chường, chợt nghe Giác Viễn chỉ điểm võ nghệ cho Trương Quân Bảo, đều vui thích, nghĩ bụng: "Không ngờ vị hòa thượng quân tử này cũng biết dạy đồ đệ đánh nhau".

Chỉ thấy Trương Quân Bảo xông thẳng đến, Doãn Khắc Tây chộp lấy cánh tay chàng ta mà đẩy về phía trước một cái. Trương Quân Bảo y theo cách bình thời sư phụ đã dạy, khí trầm hạ bàn, cái đẩy của đối phương chỉ khiến nửa thân trên hơi nghiêng, còn toàn thân không bị xê dịch. Doãn Khắc Tây kinh ngạc, nghĩ: "Ta chỉ e ngại Chu Bá Thông, Quách Tĩnh, Dương Quá, là những đại cao thủ hạng nhất trong võ lâm, ngoài mấy người ấy ra, ta hoàn toàn có thể tung hoành thời nay, ai ngờ tới một tên tiểu hài đồng mà cũng không hạ nổi". Bèn gia tăng kình lực đẩy thật mạnh.

Trương Quân Bảo vận khí kìm lại. Không ngờ lực đẩy của Doãn Khắc Tây đột nhiên mất tiêu, Trương Quân Bảo đứng không vững, ngã chúi xuống đất. Doãn Khắc Tây đỡ dậy, cười nói:

– Tiểu sư phụ, không cần dùng đại lễ đâu.

Trương Quân Bảo đỏ bừng cả mặt, trở lại bên cạnh Giác Viễn, nói:

– Sư phụ, vẫn chưa được.

Giác Viễn lắc đầu, nói:

– Đấy là đối phương cố ý lấy không thắng có. Trong lúc vận khí, ngươi cần phải vận khí ghìm mình, thây kệ ngoại lực từ phía nào đẩy tới. Ngươi hãy nhìn ngọn núi kia coi.

Đoạn chỉ tay về phía một ngọn núi nhỏ ở mé tây, nói tiếp:

– Ngọn núi sừng sững ở đó, thiên cổ vẫn vậy. Đại phong từ phía tây thổi tới, bạo vũ từ phía đông tràn sang, ngọn núi vẫn không di chuyển, cũng không cố ý kháng cự.

Trương Quân Bảo ngộ tính rất cao, nghe sư phụ nói xong liền gật đầu, nói:

– Sư phụ, đệ tử hiểu rồi, phải soát người y mới được.

Rồi chậm rãi tiến tới trước mặt Doãn Khắc Tây.

Dương Quá thấy cậu ta hai lần lao vội tới, lần này được Giác Viễn chỉ dẫn vài câu, lập tức cước bộ trầm ổn, thì nghĩ: "Sư đồ cậu ta tu tập Cửu Dương chân kinh đã lâu, nhờ vậy nội công thâm hậu. Song hai người hoàn toàn không ngờ bộ kinh thư ấy không chỉ dạy cách cường thân kiện thể, mà còn dạy cách khắc địch chế thắng, hộ pháp phục ma, cho nên quyết khiếu đánh địch khi lâm trận họ lại chẳng biết chút gì".

Trương Quân Bảo đến cách Doãn Khắc Tây chừng bốn thước, giơ hai tay nắm cánh tay đối phương. Doãn Khắc Tây cười hô hô, tay trái vỗ "bộp" một cái vào ngực Trương Quân Bảo. Đại địch đứng đầy xung quanh, Doãn Khắc Tây không dám đả thương Trương Quân Bảo, cái vỗ vừa rồi chỉ sử có một thành kình lực hi vọng làm cho đối phương cảm thấy đau, không dám gây sự với hắn nữa.

Trương Quân Bảo hoàn toàn không biết cách né tránh, vừa thấy bàn tay đối phương vụt qua trước mắt, ngực đã trúng một chưởng, bèn kêu lên:

– Sư phụ, đệ tử bị đánh.

Doãn Khắc Tây đánh một chưởng vào ngực Trương Quân Bảo, cảm thấy từ ngực đối phương có một luồng lực đẩy trở lại, may mà hắn chỉ sử có một thành kình lực nếu không có khi đã nguy hại. Hắn huơ huơ tay trái, nắm lấy vai Trương Quân Bảo định nhấc bổng lên mà ném đi, song không nhấc lên nổi.

Doãn Khắc Tây ngượng ngùng bối rối, ngay mấy chiêu cầm nã thủ pháp của hắn cũng chỉ làm cho Trương Quân Bảo chao đảo chứ không ngã, bất đắc dĩ phải đánh mấy chưởng, cười nói:

– Tiểu sư phụ, ta không đánh nhau với ngươi đâu. Quân tử động khẩu không động thủ, ngươi hãy lui về đi, chúng ta nói lý lẽ thì hơn.

Mỗi chưởng của hắn đều đánh vào người Trương Quân Bảo, chưởng lực mạnh dần, nhưng cơ thể Trương Quân Bảo mỗi lần đều sinh ra phản lực, lực gia tăng thì lực đề kháng của đối phương cũng gia tăng tương ứng

Trương Quân Bảo kêu to:

– Ối, ối, sư phụ, y đánh đệ tử đau quá, sư phụ mau đến giúp đệ tử.

Doãn Khắc Tây nói:

– Ta bất đắc dĩ phải làm thế, là ngươi tới đánh ta, chứ không phải ta tới đánh ngươi. Lão sư phụ, sư phụ muốn đánh tại hạ, thì cứ việc đánh, sư phụ có ơn cứu mạng đối với tại hạ, tại hạ nhất quyết không dám đánh lại đâu.

Giác Viễn lắc đầu, nói:

– Đúng, Doãn cư sĩ nói có lý.. ừm, Quân Bảo, giúp thì ta không đến giúp, nhưng ngươi phải nhớ, cần phân định hư thực cho rõ ràng, mỗi chỗ đều có hư thực, mọi chỗ đều có hư thực. Ngươi nhớ lời ta dặn, khí phải căng lên, thần cần thu vào, toàn thân không có chỗ nào khuyết hãm, không có chỗ nào lồi lõm, không có chỗ nào gãy nối.

Trương Quân Bảo từ năm, sáu tuổi làm công việc phục dịch trong Tàng kinh các, từ đấy Giác Viễn đem căn cơ công phu ghi trong "Cửu Dương chân kinh" truyền thụ cho cậu ta, có điều cả hai thầy trò đều không biết đó là tu vi nội công tinh thâm nhất trong võ học. Tăng chúng Thiếu Lâm đa phần tinh thông quyền nghệ, nhưng Giác Viễn cho rằng quả đấm không phù hợp với bản chỉ Phật gia, cũng không phải là hành động bậc quân tử nên làm, cho nên mỗi khi thấy người ta luyện võ, Giác Viễn đều tránh xa. Mãi đến lúc này, khi Trương Quân Bảo động thủ với Doãn Khắc Tây, Giác Viễn mới dạy cho đệ tử cách chống đỡ nhưng cũng chỉ để phòng thân, chứ hoàn toàn không có ý công kích kẻ địch. Trương Quân Bảo nghe sư phụ chỉ dạy, liền vận khí toàn thân, tuy không được như Giác Viễn nói "toàn thân không có chỗ nào khuyết hãm, không có chỗ nào lồi lõm, không có chỗ nào gãy nối", song bất kể Doãn Khắc Tây ra đòn gì, cậu ta cũng chỉ cảm thấy hơi đau chứ không sao cả.

Nhưng không thể qua đó đem so sánh công lực của Doãn, Trương hai người với nhau. Doãn Khắc Tây nếu thực sự hạ sát thủ, dĩ nhiên có thể dễ dàng giết chết Trương Quân Bảo; nhưng hắn thấy Dương Quá, Tiểu Long Nữ, Chu Bá Thông, Quách Tĩnh.. đứng đầy bên cạnh, làm sao hắn dám hạ độc thủ? Hai người quấn lấy nhau hồi lâu, Trương Quân Bảo cố nhiên không thể lục soát người đối phương, mà Doãn Khắc Tây cũng không đánh ngã được Trương Quân Bảo.

Mấy người trong nhóm Dương Quá thấy tức cười, còn Tiêu Tương Tử thì không ngớt cau mày.

Quách Tương gọi:

– Tiểu huynh đệ, hãy xuất thủ đánh hắn đi chứ, sao huynh đệ chỉ chịu đòn mà không đánh trả?

Giác Viễn vội nói:

– Không được, chớ giận chớ buồn, chớ đánh chớ chửi!

Quách Tương nói:

– Huynh đệ cứ thỏa sức đánh hắn đi, đánh không lại sẽ có người giúp huynh đệ.

Trương Quân Bảo nói:

– Đa tạ cô nương!

Rồi vung quyền đánh vào ngực Doãn Khắc Tây.

Giác Viên lắc đầu, thở dài, nói:

– Nghiệt chướng, nghiệt chướng, giận dữ nổi lên, linh đài sẽ không thể như gương trong nước lặng.

Trương Quân Bảo đấm một quả vào ngực Doãn Khắc Tây, cậu ta chưa từng luyện quyền thuật, quả đấm này chỉ như người thường đấm đá, làm sao đả thương nổi đối phương? Doãn Khắc Tây ngoài miệng cười hô hố, nhưng trong bụng căm tức, hắn thành danh mấy chục năm nay, bất luận bằng hữu hay địch nhân đều không dám coi thường hắn, ai ngờ hôm nay trước mắt mọi người hắn lại không thể hạ gục một gã hài đồng, không dám giết đã đành, ngay cả quẳng nó ra xa cũng không dám, chỉ có thể đánh cho nó thấy đau mà lui đi thôi.

Giác Viễn nghe Trương Quân Bảo không ngớt kêu đau, thì chỉ lên tiếng xin tha:

– Doãn cư sĩ, xin cư sĩ chớ nặng tay đả thương tính mạng tiểu đồ. Hài tử này rất thông minh, hiền lành, tốt bụng, nó biết tiểu tăng để mất kinh thư tổ truyền, trở về chùa tất bị phương trượng phạt nặng, nên mới bám riết lấy cư sĩ lục soát, xin cư sĩ chớ đánh nó thật..

Cầu xin một hồi rồi, Giác Viễn bất giác lại chỉ điểm cho Trương Quân Bảo:

– Quân Bảo, trong kinh có nói, cần dụng ý, không dụng kình. Theo người mà động, nên co nên duỗi, bị đánh chỗ nào, tâm phải dụng ở chỗ đó..

Trương Quân Bảo đáp:

– Vâng!

Thấy Doãn Khắc Tây tâm ý bèn đưa tới chỗ đó, quả nhiên dùng tâm sử kình, chỗ bị đánh bớt đau hẳn.

Doãn Khắc Tây nói:

– Cẩn thận này, ta đánh vào đầu ngươi đó!

Trương Quân Bảo giơ cánh tay trước mặt, tinh thần chăm chú, chờ đối phương đánh tới, nào ngờ Doãn Khắc Tây nhứ nhứ quả đấm, chân trái tung đòn, huỵch một cái, đá cho Trương Quân Bảo ngã lộn đi một vòng. Trương Quân Bảo lăn đến bên cạnh Dương Quá mới đứng dậy được.

Giác Viễn kêu lên:

– Doãn cư sĩ, sao cư sĩ lại nói dối lừa người như thế? Cư sĩ bảo nó cẩn thận, sẽ đánh vào đầu, song lại đá nó là sao?

Mọi người nghe đều buồn cười, nghĩ bụng trong trò đấu võ, hư thực bất định, ai lại đi trách đối phương nói dối, đánh lừa?

Trương Quân Bảo tuy nhỏ tuổi, tâm ý lại kiên định, cậu xoa xoa chỗ chân bị đá, nói:

– Không lục soát không được!

Cậu ta lại định bước tới. Dương Quá giữ tay cậu ta lại nói:

– Tiểu huynh đệ, hãy khoan!

Trương Quân Bảo bị nắm cánh tay, nửa người lập tức tê dại, không thể cử động, kinh hãi ngoảnh đầu.

Dương Quá nói nhỏ:

– Tiểu huynh đệ chỉ chịu đòn không đánh trả, thì không thể chế ngự được hắn. Ta dạy cho huynh đệ một chiêu mà đánh hắn, hãy nhìn đây!

Đoạn phất ống tay áo rỗng bên phải trước mặt Trương Quân Bảo, tay trái đấm ra cách ngực Trương Quân Bảo nửa thước thì đột nhiên vòng xuống đánh vào mạng mỡ, miệng nói nhỏ:

– Sư phụ của tiểu huynh đệ dạy rằng bị đánh chỗ nào, tâm phải dụng ở chỗ đó. Câu ấy rất quan trọng, khi tiểu huynh đệ đánh người khác ở chỗ nào, tâm cũng phải dụng ở chỗ đó. Đánh người phải chú ý, như sư phụ tiểu huynh đệ vừa dặn, phải tập trung tinh thần, dụng ý chứ không dụng kình.

Trương Quân Bảo cả mừng, ghi nhớ chiêu thức Dương Quá vừa dạy, đến trước mặt Doãn Khắc Tây, hữu thủ thành chưởng, huơ lên trước mặt, tay trái đấm ngang ra, thẳng đến trước ngực Doãn Khắc Tây. Hắn giơ ngang cánh tay che kín, quả đấm của Trương Quân Bảo đột nhiên vòng xuống, hự một cái, đánh trúng mạng mỡ Doãn Khắc Tây.

Doãn Khắc Tây nhìn thấy Dương Quá truyền thụ chiêu số cho Trương Quân Bảo, hắn coi thường nghĩ rằng hắn có bị Trương Quân Bảo đấm một trăm quyền, hai trăm quyền, thì cũng chẳng sao. Ai ngờ một quyền vào mạng mỡ lại làm cho hắn đau thấu xương, toàn thân run rẩy, đau đến cong gập người lại.

Doãn Khắc Tây không biết Trương Quân Bảo đã luyện công phu cơ bản trong "Cửu Dương chân kinh", chân lực sung mãn, không chút tầm thường, có điều chưa từng sử dụng, bây giờ được sư phụ và Dương Quá chỉ điểm, hiểu cách dụng ý không dụng kình, giống như bảo kiếm đã rút khỏi bao, uy lực của sự sắc nhọn đã khác hẳn lúc còn ở trong bao.

Doãn Khắc Tây vừa kinh ngạc vừa tức giận, thấy Trương Quân Bảo lại lặp lại chiêu vừa xong, biết đối phương sắp đấm xuống mạng mỡ, bèn chộp lấy cổ tay phải, giáng một chưởng, đẩy Trương Quân Bảo văng ra xa mấy trượng.

Trương Quân Bảo nội lực tuy mạnh, nhưng khi lâm địch chưa biết chút gì về cách chiết giải, làm sao địch nổi Doãn Khắc Tây? Cú văng vừa rồi, trán cậu ta bị chạm vào đá, máu chảy ròng ròng. Cậu ta không ngán, đưa tay áo lau máu, đến bên cạnh Dương Quá, quì xuống khấu đầu, nói:

– Dương cư sĩ, xin dạy thêm cho tiểu đệ một chiêu.

Dương Quá nghĩ thầm: "Nếu mình để cho Doãn Khắc Tây nhìn thấy, hắn sẽ có đề phòng, mất hết uy lực". Bèn ghé tai Trương Quân Bảo nói nhỏ:

– Lần này ta sẽ dạy cho tiểu huynh đệ ba chiêu liền. Chiêu thứ nhất tả hữu hỗ điều, khi ta dùng tay trái, kỳ thực là phải dùng tay phải, còn khi ta dùng ống tay áo bên phải, thì lúc đánh hắn, tiểu huynh đệ phải dùng tả quyền.

Trương Quân Bảo gật đầu. Dương Quá liền dạy cho cậu ta chiêu "Thôi tâm trí phúc", Trương Quân Bảo làm theo, xuất quyền đẩy chưởng, ghi nhớ cách tả hữu hỗ điều.

Dương Quá nói:

– Chiêu thứ hai, ta dùng tay trái là dùng tay trái, dùng ống tay áo bên phải là dùng tay phải, gọi là chiêu "Tứ thông bát đạt", thế quyền đi mở lớn khép rộng, đều đầy uy lực.

Trương Quân Bảo làm thử hai lần thì nhớ.

Dương Quá lại nói nhỏ:

– Chiêu thứ ba "Lộc tử thùy thủ", là chiêu khó nhất, bộ vị không được nhầm lẫn. Tiểu huynh đệ không biết nhận huyệt cũng không sao, ta sẽ đánh dấu huyệt ấy trên lưng hắn, tiểu huynh đệ cứ việc dùng ngón tay ấn mạnh chỗ đó là chế ngự được hắn.

Rồi chàng xoay người, xoay phải vặn trái, đột nhiên tay trái biến thành hình hổ trảo, ngón tay giữa đặt trên ngực Trương Quân Bảo, nói nhỏ:

– Chiêu này toàn dựa vào bộ pháp thủ thắng, tiểu huynh đệ nhớ chưa?

Trương Quân Bảo gật đầu, nói:

– Nhớ rồi!

Cậu ta nhẩm lại trong óc một lần, rồi bước tới trước mặt Doãn Khắc Tây.

Lúc Dương Quá dạy chiêu số, Doãn Khắc Tây nhìn rõ rành rành, nghĩ bụng: "Ba chiêu này quả thật tinh diệu, nếu là Dương Quá nhà ngươi đột nhiên thi triển đánh ta, thì ta cũng khó chống đỡ, nhưng nhà ngươi đã diễn trước mặt ta, lại để cho thằng nhãi con không biết võ công kia thi triển, nếu ta không đối phó nổi, chẳng hóa ra Doãn Khắc Tây này ngu xuẩn quá sao. Dương Quá ơi là Dương Quá, nhà ngươi coi thường người khác quá đấy". Hắn bực tức nên cũng không cần nghĩ sâu, thấy Trương Quân Bảo đến gần, không đợi cậu ta xuất chiêu, liền giáng một quyền vào vai cậu ta. Trương Quân Bảo sợ lẫn lộn chiêu số Dương Quá vừa dạy, thấy đối phương đấm tới đành nghiến răng chịu đau không tránh. Doãn Khắc Tây một quyền này cốt trước tiên đánh gục uy thế, nên sử dụng năm thành kình lực, khiến xương vai Trương Quân Bảo kêu lách cách. Trương Quân Bảo vừa kêu đau, vừa thi triển chiêu thứ nhất "Thôi tâm trí phúc".

Lúc Dương Quá truyền thụ quyền pháp cho Trương Quân Bảo, Doãn Khắc Tây đã nhìn rất rõ, nên đã có cách ứng phó, quyết làm cho Trương Quân Bảo sứt đầu chảy máu, không còn khả năng thi triển chiêu thứ hai, thứ ba nữa. Ai ngờ chiêu "Thôi tâm trí phúc" này Trương Quân Bảo lúc thi triển phương vị lại tả hữu hỗ điều, ngược hẳn với Dương Quá. Doãn Khắc Tây gạt ngang cùi chỏ bên trái, tưởng có thể gạt hữu chưởng của Trương Quân Bảo, không ngờ chỉ gạt vào khoảng không, hự một tiếng, bị trúng luôn một quyền, tay phải lại chộp vào khoảng không, bụng dưới lại trúng một chưởng, chỉ cảm thấy nội tạng đảo lộn, toàn thân vã mồ hôi lạnh, hai đòn quả không nhẹ chút nào. Nếu hắn không tự cho mình giỏi, cứ chờ Trương Quân Bảo xuất chiêu rồi hãy chiết giải, thì quyền pháp sở học của Trương Quân Bảo dẫu có tinh diệu, cậu ta cũng chưa thể xuất chiêu nhanh như chớp, Doãn Khắc Tây hoàn toàn có thể hóa giải; giả dụ có bị trúng một quyền, thì cũng tránh được đòn thứ hai.

Trương Quân Bảo một chiêu đắc thủ, phấn chấn hẳn lên, tiến lên một bước, thi triển chiêu thứ hai "Tứ thông bát đạt". Chiêu này tuy chỉ là một chiêu quyền pháp, nhưng hàm chứa bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc, tám cửa Hưu, Sinh, Thương, Đỗ, Tử, Cảnh, Kinh, Khai. Doãn Khắc Tây bụng đau chưa đỡ, thấy cậu bé lại sấn tới tấn công, vừa rồi hắn bị trúng đòn, đã ngộ ra rằng quyền pháp Dương Quá truyền thụ là theo kiểu tả hữu hỗ điều, cứ tưởng chiêu này cũng hoán đổi phương vị, thấy cậu bé xuất thủ cực nhanh, bèn bước sang trái phóng quyền đánh trước. Hắn đâu ngờ chiêu này phương vị không hề tả hữu hỗ điều. Hắn liệu địch đã sai, có khác gì bị trói chân trói tay, khi xuất chiêu lại toàn đánh vào khoảng không, còn chính hắn thì lại bị trúng chưởng liên tiếp ở vai trái, chân phải, trước ngực, sau lưng. May mà Trương Quân Bảo đánh nhanh quá chưa kịp vận nội lực, nên Doãn Khắc Tây bị trúng bốn chưởng không đau mấy, chỉ luống cuống chân tay mà thôi.

Giác Viễn bỗng gọi:

– Doãn cư sĩ, vừa rồi cư sĩ nhầm lẫn. Nên biết trước sau phải trái hoàn toàn không định hướng, ra đòn sau chế ngự được người, kẻ ra đòn trước bị người chế ngự.

Dương Quá nghĩ: "Vị hòa thượng này hiểu rất sâu diệu lý quyền thuật, câu vừa nói giúp mình không ít. Ra đòn sau chế ngự được người, kẻ ra đòn trước bị người chế ngự, cái lý này trước đây mình chỉ hiểu lờ mờ. Khi đệ tử của hòa thượng giao đấu với kẻ khác, hòa thượng lại đi chỉ điểm cho đối phương, kể cũng lạ thật". Nhưng chàng lại nghĩ: "Doãn Khắc Tây có ngẫm nghĩ dăm ba năm, cũng chưa hiểu ra đạo lý ấy đâu".

Doãn Khắc Tây nghe Giác Viễn, đâu nghĩ rằng Giác Viễn vừa vô tình thổ lộ quyết khiếu võ học thượng thừa, chỉ cho rằng Giác Viễn cố ý nói nhăng nói cuội để làm rối trí hắn, bèn quát:

– Lão giặc trọc, nói thối lắm. Úi chao..

Tiếng "Úi chao" là do hắn bị trúng một cước của Trương Quân Bảo vào chân trái. Hắn cuồng nộ, giơ cao song chưởng, vận mười thành kình lực mà đánh xuống.

Trương Quân Bảo chưa kịp sử chiêu thứ ba, dưới ánh trăng chỉ thấy râu tóc đối phương dựng nguợc, một luồng chưởng lực nặng như núi đè xuống đỉnh đầu, vội kêu:

- Thôi chết!

Định nhảy lùi lại thì toàn thân đã bị chưởng lực bao trùm.

Giác Viễn nói:

– Quân Bảo, lực của ta tiếp lực của người, trong cong cầu thẳng, mượn lực đánh người phải dùng phép bốn lạng gạt ngàn cân.

Mấy câu nhắc của Giác Viễn đúng là tinh nghĩa của quyền học trong "Cửu Dương chân kinh", tiếc rằng nói ra quá muộn, rơi vào tình thế này, Trương Quân Bảo dù có thông minh tuyệt đỉnh cũng không thể nào hiểu ngay để dùng nó hóa giải chưởng lực của kẻ địch. Lúc này cậu ta bị chưởng lực của Doãn Khắc Tây đè cho ngộp thở, đầu óc trống rỗng, toàn thân lạnh toát như rơi vào hố băng.

Doãn Khắc Tây bị trúng đòn liên tiếp, nên dốc toàn lực vào chưởng này, quyết hạ gục gã thiếu niên cứ bám lấy hắn không buông, dù đám người kia có tha cho hắn hay không cũng thây kệ, gì thì cũng phải rửa cái nhục với gã thiếu niên vô danh tiểu tốt này. Sắp đắc thắng, hắn bỗng nghe "chíu", một viên sỏi bay ngang tới má trái của hắn, viên sỏi tuy nhỏ, song kình lực mạnh đáng sợ. Doãn Khắc Tây đành lùi lại tránh né.

Viên sỏi chính là được Dương Quá dùng công phu "Đạn chỉ thần thông" bắn tới, trước khi bắn viên sỏi, chàng đã ngắt mấy đóa hoa tươi, vo thành viên tròn, lúc viên sỏi bay đi, chàng cũng búng luôn mấy viên tròn đó. Viên sỏi bay ngang tới má trái của Doãn Khắc Tây, còn mấy viên tròn đó thì bay sượt qua sau lưng hắn. Doãn Khắc Tây bị viên sỏi buộc phải lùi lại một bước, huyệt Đại Chùy ở sau gáy hắn liền bị "viên hoa" đánh dấu.

Nếu Dương Quá búng mấy "viên hoa" trúng vào huyệt đạo, mấy "viên hoa" ấy tuy nhỏ, cũng tất có kình phong, Doãn Khắc Tây sẽ tránh được. Đằng này chàng chỉ búng sượt qua, chạm vào áo mà đánh dấu vị trí huyệt bằng nước hoa màu hồng, Doãn Khắc Tây không cảm thấy gì hết.

Doãn Khắc Tây lùi lại, sức ép chưởng lực đè xuống thân thể Trương Quân Bảo lập tức mất đi, cậu ta liền bước sang mé tây một bước, thi triển chiêu thứ ba "Lộc tử thùy thử" mà Dương Quá đã dạy.

Doãn Khắc Tây ngẩn người, nghĩ: "Chiêu thứ nhất nó hoán đổi phương vị phải trái, chiêu thứ hai bỗng nhiên không hoán đổi, còn chiêu này ta không thể lỗ mãng, phải nhìn rõ thế quyền đánh tới đâu mà đối phó". Hắn nghĩ thế không sai, chỉ tiếc là sớm đã nằm trong dự liệu của Dương Quá. Khi truyền thụ chiêu này, Dương Quá đã đoán rằng nhất định hắn sẽ chậm lại, nhưng thời cơ chỉ trong giây lát, chiêu "Lộc tử thùy thử (Hươu chết sẽ vào tay ai) này phải thần tốc, cổ nhân có câu" Hươu đã trúng tên, thiên hạ cùng đuổi theo ", há có thể do dự chậm trễ?

Trương Quân Bảo nhào bên trái ngoặt sang phải, đã vòng ra sau lưng Doãn Khắc Tây; lúc này ánh trăng chiếu vào lưng hắn, thấy rõ trên cổ áo có vết màu hồng to bằng đốt ngón tay. Trương Quân Bảo nghĩ:" Dương cư sĩ thần thông quảng đại, không thấy cư sĩ bước tới đây làm sao có thể đánh dấu sau lưng hắn? "Bèn không kịp suy nghĩ, dùng ngón tay trái gập thành hình hổ trảo, ấn mạnh xuống chỗ đánh dấu. Huyệt Đại Chùy này rất hệ trọng, là nơi giao hội của Thủ, Túc Tam Dương Đốc mạch, ở đốt sống lưng thứ nhất, bên dưới ba đốt cổ gáy. Thân người có hai mươi bốn đốt sống lưng, Y kinh thời cổ nói là ứng với hai mươi bốn tiết khí, huyệt Đại Chùy là tiết khí thứ nhất. Huyệt Đại Chùy của Doãn Khắc Tây bị ấn mạnh, chân tay hắn tê dại, hai gối mềm nhũn, tức thời khuỵu xuống.

Mọi người đứng xem đều hoan hô, trừ một mình Tiêu Tương Tử.

Trương Quân Bảo thấy kẻ địch đã không thể chống cự, bèn nói:

– Đắc tội!

Rồi đưa tay lục soát khắp người Doãn Khắc Tây một hồi, nhưng không thấy kinh" Lăng Già "đâu cả.

Trương Quân Bảo ngẩng lên nhìn Tiêu Tương Tử. Tiêu Tương Tử đã hiểu ý cậu bé, nghĩ bụng võ công hắn tương đương Doãn Khắc Tây, Doãn Khắc Tây đã bị gã thiếu niên này hạ nhục, thì hắn biết đối phó cách gì hay hơn?

Bèn vỗ vỗ áo mấy cái, nói:

– Trên người ta cũng không có kinh thư, hẹn ngày sau gặp lại.

Rồi hắn lao vút đi về mạn tây nam.

Giác Viễn phẩy tay áo một cái, đã chắn trước mặt hắn. Tiêu Tương Tử nảy sinh ác niệm, hắn hít một hơi, vận toàn bộ nội kình mà hắn khổ luyện được trong thâm sơn vào song chưởng, một luồng âm phong ngần ngật ập tới ngực Giác Viễn.

Dương Quá, Chu Bá Thông, Nhất Đăng, Quách Tĩnh bốn người cùng kêu lên:

– Hãy cẩn thận!

Chỉ nghe" bình "một tiếng, ngực Giác Viễn đã trúng chưởng, ai nấy thầm thốt lên:" Nguy rồi! "Song chỉ thấy Tiêu Tương Tử bay văng đi mấy trượng như một cái diều đứt dây, rồi rơi xuống đất, nằm co quắp ngất lịm. Thì ra Giác Viễn không biết võ công, song chưởng của Tiêu Tương Tử giáng vào người Giác Viễn, Giác Viễn đã không thể chống đỡ, cũng không biết tránh né, chỉ đứng chịu trận, nhưng Giác Viễn tu tập" Cửu Dương chân kinh "đã tới mức đại thành, chân khí trong người lưu chuyển, địch yếu mình yếu, địch mạnh thì mình mạnh. Chưởng lực đánh vào người Giác Viễn bật ngược cả lại, thành thử Tiêu Tương Tử coi như dùng công lực cả đời mà đánh chính mình, làm sao không bị trọng thương?

Mọi người vừa kinh ngạc vừa vui mừng, cùng tấm tắc khen Giác Viễn nội lực mạnh mẽ. Nhưng Giác Viễn không hiểu, chỉ nói:

– A Di Đà Phật! A Di Đà Phật!

Trương Quân Bảo cúi xuống lục soát khắp người Tiêu Tương Tử, cũng không thấy kinh thư.

Dương Quá nói:

– Lúc nãy tại hạ nghe hai tên gian tặc này nói chuyện với nhau, bộ kinh thư chúng đã lấy trộm được rồi, chỉ không biết chúng giấu ở chỗ nào mà thôi.

Võ Tu Văn nói:

– Chúng ta hãy tra khảo chúng một phen, xem chúng có chịu khai ra hay không.

Giác Viễn nói:

– Tội quá tội quá, nhất định không nên làm như vậy.

Hoàng Dung nói:

– Hạng người như chúng, có chặt tay chặt chân chúng cũng không chịu khai ra đâu, tra khảo chỉ vô ích.

Lúc ấy bỗng nghe ở dốc núi mé tây có tiếng chân vượn rầm rập. Mọi người ngoảnh nhìn, thấy Thần điêu của Dương Quá đang vẫy cánh xua đuổi một con vượn màu xám nhạt. Con vượn này to lớn lạ lùng, nhưng nó sợ Thần điêu hung dữ, không dám đánh nhau, cứ chạy qua chạy lại, kêu lên kinh hãi. Quách Tương thấy nó đáng thương, bèn gọi:

– Điêu đại ca, tha cho con vượn kia đi.

Thần điêu cụp cánh vào, đứng lại, vẻ oai vệ.

Doãn Khắc Tây đứng dậy, dìu Tiêu Tương Tử, vẫy vẫy con vượn. Con vượn chạy tới bên hắn, tựa hồ nó được Doãn Khắc Tây thuần dưỡng. Hai người một vượn thong thả khập khiễng đi xuống núi. Mọi người thấy tình cảnh ấy, cảm thấy thương hại, cũng không gây khó dễ với hai tên kia nữa.

Quách Tương ngoảnh lại, thấy vết thương ở trán Trương Quân Bảo vẫn chưa cầm máu, bèn rút chiếc khăn tay băng bó cho cậu ta.

Trương Quân Bảo cảm kích, định lên tiếng cảm tạ, nhưng thấy Quách Tương rơm rớm nước mắt, thì trong bụng lấy làm lạ, không biết vì sao cô nương ấy lại đau lòng, thành thử không nói nữa.

Chỉ nghe tiếng nói dõng dạc của Dương Quá:

– Cuộc gặp gỡ hôm nay thật là hào hứng. Sau này giang hồ tương hội, sẽ lại uống rượu chuyện trò. Chúng ta tạm biệt ở đây.

Nói rồi chàng phất tay áo, nắm tay Tiểu Long Nữ, cùng Thần điêu sánh vai nhau đi xuống núi.

Lúc này trăng sáng, gió nhẹ rì rào, Quách Tương không nhịn được nữa, lệ ứa ra thành hai hàng trên má.

Chính là:

Mùa thu con gió trong veo

Mùa thu trăng sáng dõi theo bóng nàng

Lá bay kìa hợp rồi tan

Lạnh lùng quạ khóc mênh mang đêm trường

Bao giờ gặp lại người thương

Đêm nay tình ấy tỏ tường cùng ai

[Bộ tiểu thuyết này đến đây là hết. Các nhân vật Quách Tương, Trương Quân Bảo, Giác Viễn, sự tích" Cửu Dương chân kinh"sẽ được kể tiếp trong bộ tiểu thuyết Ỷ Thiên Đồ Long ký]

Hết

Comments

Comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Ỷ thiên đồ long ký

upload_2021-11-30_12-47-0.png

Ẩn giấu pho võ công thượng đẳng Cửu Âm Chân Kinh và bộ Võ Mục Di Thư lừng lẫy, Ỷ Thiên kiếm và Đồ Long đao đã gây nên những cuộc tranh giành không hồi kết giữa các bang phái võ lâm. Người cần đao để trả thù, người lại muốn giương danh với thế nhân, kẻ tham vọng hiệu triệu cả thiên hạ. Giữa lúc triều đình phong kiến Trung Hoa đang dần suy yếu, đất nước đứng trước nguy cơ xâm lược của người Mông Cổ, sứ mạng tái thiết trật tự được đặt vào tay những người thành tâm và hùng tâm mà Trương Vô Kỵ là nhân vật tiêu biểu. Vô Kỵ sẽ thống nhất các bang phái như thế nào để hiệp tâm đánh bại quân Mông Cổ? Bí quyết ẩn giấu trong hai báu vật sẽ giúp Vô Kỵ ra sao? Hãy khám phá bí mật trong 40 hồi Ỷ Thiên Đồ Long Ký .​
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 1: Góc biển chân trời da diết nhờ chàng

Mùa xuân bao phủ đất trời. Tiết Thanh minh hoa lê nở rộ. Cây ngọc phủ tấm áo choàng trắng như tuyết. Đêm khuya thanh vắng, vầng trăng vừa tắm, sương lạnh dăng dăng. Trên trời dưới đất, ánh trăng dát bạc.

Thiếu nữ như một nàng tiên, thiên tư linh tú, vạn phần thanh khiết; dáng vẻ dịu dàng, khí phách tinh anh, tài hoa lạ thường, người phàm khó sánh. Gót sen nàng in dấu muôn nơi.

Đó là bài từ nhan đề "Vô tục niệm" của một bậc võ học danh gia thời Nam Tống, họ Khưu, tên Xứ Cơ, đạo hiệu Trường Xuân Tử, một trong bảy vị Toàn Chân thất tử, một nhân vật xuất sắc của giáo phái Toàn Chân. Sách Từ phẩm bình phẩm rằng "Trường Xuân Tử được người đời coi là vị tiên, mà thi từ của vị tiên ấy cũng bất hủ như ngài". Bài từ này ca ngợi hoa lê, thực ra là tán thưởng một bạch y thiếu nữ vô cùng diễm lệ, ví "như một nàng tiên, thiên tư linh tú, vạn phần thanh khiết; dáng vẻ dịu dàng, khí phách tinh anh, tài hoa lạ thường, người phàm khó sánh". Mỹ nữ tuyệt trần ấy là Tiểu Long Nữ, truyền nhân phái Cổ Mộ. Nàng quanh năm vận bộ bạch y, trông chẳng khác gì "cây ngọc phủ tấm áo choàng trắng như tuyết", cộng với thiên tính thanh khiết, y hệt "vầng trăng vừa tắm", thật xứng với ba chữ "Vô tục niệm". Trường Xuân Tử Khưu Xứ Cơ là láng giềng của nàng trên núi Chung Nam, sau lần gặp gỡ ấy đã viết bài từ trên.

Giờ đây Khưu Xứ Cơ lánh về cõi hạc đã lâu, nàng Tiểu Long Nữ cũng đã kết duyên với Thần điêu đại hiệp Dương Quá. Trên con đường rừng ở núi Thiếu Thất tỉnh Hà Nam lúc này có một thiếu nữ đang cúi đầu ngâm ngợi bài từ kia.

Thiếu nữ tuổi chừng đôi tám, vận bộ hoàng y, cưỡi con lừa xanh, đang thong thả đi lên núi, nghĩ thầm trong bụng: "Cũng chỉ có người như Long tỷ tỷ mới xứng với chàng". Chữ "chàng" dĩ nhiên là chỉ Thần điêu đại hiệp Dương Quá. Nàng cũng chẳng buồn cầm cương, cứ mặc cho con lừa xanh chở nàng đi. Khá lâu sau nàng lại ngâm nga: "Hoan lạc thú, ly biệt khổ, tựu trung chỉ có nhi nữ si tình. Chàng thử nói xem, chàng đang ở chân trời góc bể nào đây?"

Đoản kiếm bên lưng, sắc diện lộ vẻ phong trần, rõ ràng nàng viễn du đã lâu. Tuổi xuân như hoa, chính đang lúc hồn nhiên vô ưu, vậy mà sắc diện nàng lại phảng phất nỗi sầu muộn, đầu mày cuối mắt không thể che giấu được.

Thiếu nữ này họ Quách, đơn danh có một chữ Tương, là thứ nữ của đại hiệp Quách Tĩnh và nữ hiệp Hoàng Dung, có một ngoại hiệu là Tiểu Đông Tà. Một lừa một kiếm, nàng chu du tha thẩn nơi này chốn nọ cho vơi nỗi sầu. Nào ngờ chốn danh sơn lẻ bóng chỉ càng thêm hiu quạnh, chẳng khác gì uống rượu quên sầu càng sầu thêm.

Thế núi Thiếu Thất tỉnh Hà Nam hiểm trở, nhưng sơn đạo lại khá rộng và được lát các bậc đá, quy mô đồ sộ, tốn bao sức người, dài tám dặm này, được mở ra để vua Cao Tông đời Đường ngự giá Thiếu Lâm tự. Con lừa xanh của Quách Tương cứ cắm cúi đi, chỉ thấy từ trên quả núi đối diện có năm thác nước nhỏ đổ xuống, tung tóe muôn ngàn hạt ngọc; xung quanh trập trùng đồi núi, nhìn xuống bên dưới, vạn vật đã nhỏ như đàn kiến. Qua một khúc quành, thấy xa xa hiện ra một tòa tự viện tường vàng ngói xanh vô cùng bề thế.

Nàng ngắm tòa đại tự một hồi, thầm nghĩ: "Thiếu Lâm tự vốn là nguồn gốc võ học của thiên hạ, nhưng hai phen luận kiếm ở Hoa Sơn, tại sao trong số Ngũ tuyệt hoàn toàn không thấy một vị cao tăng nào của Thiếu Lâm tự? Chẳng lẽ các vị hòa thượng Thiếu Lâm tự biết không nắm chắc phần thắng, sợ làm mất uy danh nên không dám phó hội? Hay họ dốc lòng tu luyện tinh thâm, võ công cái thế, nhưng không muốn tranh cường đồ thắng với người ngoài?"

Nàng xuống lừa, thong thả đi bộ tới trước chùa, chỉ thấy cây cối um tùm, có một dãy bia đá. Các tấm bia đã bị hủy hoại quá nửa, chữ khắc mờ đi không còn đọc nổi. Nàng nghĩ: "Chữ khắc vào bia đá sau bao năm tháng còn bị mờ đi; vậy mà sao những gì khắc trong tim ta thì cứ càng ngày lại càng sâu đậm?"

Trên một tấm bia lớn có khắc lời Đường Thái Tông khen ngợi tăng chúng Thiếu Lâm tự đã lập công giúp Đường Thái Tông dẹp loạn Vương Thế Sung. Khi Đường Thái Tông cất binh thảo phạt, các hòa thượng Thiếu Lâm tự đã đầu quân, trong đó mười ba vị lập công lớn. Nhưng chỉ có một hòa thượng là Đàm Tông nhận tước phong Đại tướng quân, còn mười hai vị kia không muốn làm quan. Đường Thái Tông bèn ban cho mỗi vị một tấm áo cà sa bằng lụa tía.

Quách Tương nghĩ thầm: "Thời Tùy – Đường, võ công của Thiếu Lâm tự đã vang danh thiên hạ, mấy trăm năm nay lại càng thêm tinh xảo, chùa này ngọa hổ tàng long, hẳn có không biết bao nhiêu cao thủ".

Ba năm trước, Quách Tương chia tay với Dương Quá và Tiểu Long Nữ trên đỉnh Hoa Sơn, từ bấy đến nay nàng không nhận được tin tức gì về hai người ấy nữa. Nàng nhớ họ da diết, liền thưa với phụ mẫu, rằng nàng muốn đi du sơn ngoạn thủy; thực ra là để nghe ngóng tin tức của Dương Quá. Không nhất thiết nàng phải gặp gỡ phu phụ Dương Quá, chỉ cần hay tin họ hành hiệp như thế nào trên giang hồ là nàng đủ mãn nguyện rồi. Đằng này từ sau khi từ biệt, phu phụ Dương Quá không hề lộ diện trên giang hồ, chẳng biết họ ẩn cư chốn nào. Quách Tương đã đi từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây, cơ hồ đi quá nửa đất Trung nguyên mà không nghe chút phong thanh gì về Thần điêu đại hiệp.

Hôm nay tới Hà Nam, nàng chợt nhớ ở Thiếu Lâm tự có một vị hòa thượng là Vô Sắc thiền sư vốn là hảo hữu của Dương Quá, khi nàng tròn mười sáu tuổi, do nể tình Thần điêu đại hiệp, Vô Sắc thiền sư đã cho người mang quà đến mừng tặng nàng. Tuy đôi bên chưa diện kiến, nhưng nàng cứ thử tới thăm hỏi Vô Sắc thiền sư một phen, không chừng thiền sư biết được tung tích của Dương Quá cũng nên. Vậy là nàng tới Thiếu Lâm tự.

Đang lúc xuất thần, bỗng từ phía sau cánh rừng có hàng bia vọng tới tiếng xích sắt loảng xoảng, một người đang tụng niệm kinh Phật: "Thị thời dược xoa cộng vương lập yếu, tức ư vô lượng bách thiên vạn ức đại chúng chi trung, thuyết thắng diệu già tha viết: Do ái cố sinh ưu, do ái cố sinh bố; nhược ly ư ái giả, vô ưu diệc vô bố" [1] .

Quách Tương nghe mấy câu kệ đó, bất giác sững người, nghĩ thầm: "Vì ái tình mà sinh lo buồn, vì ái tình mà sinh sợ hãi; nếu từ bỏ ái tình, sẽ khỏi lo buồn cùng sợ hãi". Tiếng xích sắt và tiếng tụng kinh xa dần.

Quách Tương nói nhỏ: "Ta phải hỏi người ấy làm thế nào mới từ bỏ được ái tình, làm thế nào mới khỏi lo buồn cùng sợ hãi?" Nàng bèn buộc con lừa vào một gốc cây, rồi vạch lá đuổi theo người kia. Chỉ thấy trên con đường mòn có một hòa thượng quẩy đôi thùng lớn, thong thả đi lên núi. Quách Tương rảo bước theo, khi còn cách vị hòa thượng bảy, tám trượng, thì nàng bất giác cả kinh – hóa ra đó là đôi thùng bằng sắt, to gấp đôi loại thùng gánh nước quen dùng; mà vị hòa thượng thì cổ, tay và chân đều bị tròng xích sắt to tướng, mỗi bước đi lại kéo dây kêu loảng xoảng. Riêng đôi thùng sắt đã nặng hai trăm cân lại đựng đầy nước, sức nặng thật kinh hồn. Quách Tương gọi: "Đại hòa thượng, xin dừng bước, tiểu nữ có điều cần thỉnh giáo!"

Vị hòa thượng kia ngoảnh đầu lại, hai người nhìn thấy nhau cùng ngạc nhiên. Thì ra vị hòa thượng chính là Giác Viễn. Ba năm trước, hai bên đã có duyên diện kiến trên đỉnh Hoa Sơn. Quách Tương biết vị hòa thượng này tuy tính nết cổ hủ, nhưng nội công thâm hậu không thua kém bất cứ cao thủ nào, bèn nói:

– Tưởng ai, hóa ra Giác Viễn đại sư. Tại sao đại sư lại đến nông nỗi này?

Giác Viễn gật đầu, mỉm cười, chắp tay hành lễ, không nói một lời, quay mình đi. Quách Tương gọi:

– Giác Viễn đại sư, đại sư không nhận ra tiểu nữ sao? Tiểu nữ là Quách Tương đây mà.

Giác Viễn quay đầu lại, mỉm cười gật đầu, song vẫn không dừng bước.

Quách Tương hỏi:

– Ai xiềng xích đại sư như thế? Tại sao người ta lại ngược đãi đại sư tới mức này chứ?

Giác Viễn giơ tay trái ra sau gáy xua xua ngụ ý nàng khỏi cần hỏi han.

Quách Tương thấy có chuyện kỳ quái như vậy, chưa rõ nguồn cơn, lẽ nào nàng chịu để yên? Nàng chạy vọt lên tính chắn đường Giác Viễn, ai ngờ Giác Viễn tuy toàn thân đầy xích sắt, lại phải gánh đôi thùng sắt cực nặng, song Quách Tương chạy nhanh mấy cũng không thể đuổi kịp. Tính tự ái trẻ con trỗi dậy, nàng bèn thi triển thuật khinh công gia truyền, hai chân lướt như bay trên mặt đất. Khi tới gần, nàng giơ tay định chụp lấy miệng thùng sắt, nào ngờ chụp hụt, bàn tay vẫn còn cách miệng thùng hai phân. Quách Tương nói:

– Bản lĩnh của đại sư quả lợi hại, tiểu nữ phải theo cho kịp mới được.

Chỉ thấy Giác Viễn cứ thế đi tiếp, tiếng xích sắt vang lên như tiếng nhạc, càng lúc càng lên cao, vang đến tận sau núi.

Quách Tương đuổi đã mệt, hơi thở hổn hển mà vẫn còn cách Giác Viễn hơn một trượng, bất giác thán phục thầm: "Hồi trên đỉnh Hoa Sơn, phụ mẫu ta có nói vị hòa thượng này nội công rất cao, ta không tin lắm. Hôm nay thử tài một chút, mới biết lời phụ mẫu ta quả nhiên chẳng sai chút nào".

Chỉ thấy Giác Viễn quay mình rẽ vào một tiểu thất, đổ hai thùng nước vào một cái giếng. Quách Tương rất đỗi ngạc nhiên, liền hỏi:

– Đại sư có khùng hay không mà lại đi gánh nước đổ vào giếng chứ?

Giác Viễn sắc diện vẫn bình thản, chỉ lắc đầu. Quách Tương chợt hiểu, cười nói:

– Chà, thì ra đại sư đang luyện một môn võ công cao siêu.

Giác Viễn lại lắc đầu.

Quách Tương bực tức, nói:

– Vừa nãy tiểu nữ đã nghe thấy đại sư tụng kinh rõ ràng không phải người á khẩu, tại sao đại sư không trả lời tiểu nữ?

Giác Viễn chắp tay hành lễ, vẻ mặt sượng sùng, không thốt một lời, lại quẩy đôi thùng đi xuống núi. Quách Tương ngó thử vào trong giếng, chỉ thấy nước trong veo, cũng chẳng có gì lạ; nàng ngẩn người nhìn theo Giác Viễn đang đi xuống núi, trong lòng khó hiểu.

Vừa rồi nàng gắng sức đuổi theo Giác Viễn nên bây giờ đã thấy thấm mệt, hơi thở còn hổn hển, nàng bèn ngồi xuống thành giếng ngắm phong cảnh. Chỗ nàng ngồi cao hơn Thiếu Lâm tự, nhưng nhìn lên thì núi Thiếu Thất vẫn còn cao ngất trời với những dải sương mù vắt ngang. Gió đưa tiếng chuông chùa từ phía dưới vọng lên khiến người nghe như trút hết phiền tục. Quách Tương nghĩ thầm: "Không biết đệ tử của vị đại sư kia ở đâu? Đại sư không chịu mở miệng thì mình đành tìm gã thiếu niên nọ hỏi cho ra lẽ". Đoạn nàng lững thững đi xuống núi để tìm đệ tử của Giác Viễn tên là Trương Quân Bảo. Nàng đi một quãng, chợt nghe tiếng xích sắt loảng xoảng, thì ra Giác Viễn đã lại gánh nước lên núi rồi. Nàng bèn nấp sau một gốc cây, nghĩ thầm: "Mình phải ngầm theo dõi xem lão hòa thượng này rốt cuộc làm trò quỷ gì đây".

Tiếng xích sắt đã tới gần, chỉ thấy Giác Viễn vẫn gánh đôi thùng sắt, một tay cầm cuốn sách gì đó, chăm chú thấp giọng tụng kinh. Quách Tương chờ vị hòa thượng đi ngang qua thì thình lình nhảy ra hỏi:

– Đại sư đang đọc sách gì vậy?

Giác Viễn thất thanh la lên:

– Ối chà, làm bần tăng giật cả mình! Vẫn lại là cô nương.

Quách Tương cười thích thú:

– Đại sư giả câm không thành rồi.

Giác Viễn có vẻ hoảng hốt, nhìn sang hai bên rồi xua xua tay. Quách Tương hỏi:

– Đại sư sợ ai chứ?

Giác Viễn chưa kịp đáp, thì đột nhiên từ sau các bụi cây có hai hòa thượng mặc áo màu tro bước ra, một cao gầy, một thấp mập. Vị cao gầy quát:

– Giác Viễn không tuân thủ giới pháp, tự tiện mở miệng đối đáp với người ngoài bổn tự, huống hồ người ấy lại là một thiếu nữ. Vậy hãy theo ta lên gặp thủ tọa Giới luật đường.

Giác Viễn cúi mặt buồn bã, gật gật đầu, đi theo hai hòa thượng kia.

Quách Tương vừa ngạc nhiên vừa tức giận, nói lớn:

– Thiên hạ lại có luật cấm người ta mở miệng ư? Ta quen biết vị đại sư này, ta hỏi chuyện vị đó thì can hệ gì tới hai vị kia chứ?

Vị hòa thượng cao gầy trợn mắt nói:

– Cả ngàn năm nay Thiếu Lâm tự vẫn cấm nữ lưu lai vãng. Mời cô nương xuống núi ngay cho để khỏi chuốc lấy những điều khó xử.

Quách Tương càng giận, nói:

– Nữ lưu thì sao? Chẳng lẽ nữ lưu không phải là người? Tại sao các vị gây khó dễ cho Giác Viễn đại sư, đã xiềng xích đại sư, còn cấm đại sư nói là nghĩa lý gì?

Vị hòa thượng kia lạnh lùng đáp:

– Việc của bổn tự, ngay hoàng đế cũng không được can thiệp, cô nương hà tất đa vấn.

Quách Tương cả giận:

– Ta biết vị đại sư này là người hiền lành trung hậu, vậy mà các người lại hành hạ đại sư như thế thì lạ thật. Còn Thiên Minh thiền sư đâu rồi? Vô Sắc thiền sư, Vô Tướng thiền sư ở đâu cả? Các người mau gọi mấy vị ấy ra đây, ta muốn hỏi thử việc này là nghĩa lý gì.

Hai hòa thượng kia nghe nàng nói vậy thì giật mình. Thiên Minh thiền sư là Phương trượng của Thiếu Lâm tự, Vô Sắc thiền sư là Thủ tọa La Hán đường, Vô Tướng thiền sư là Thủ tọa Đạt Ma đường, ba vị ấy đức cao vọng trọng, tăng nhân trong chùa đều kính cẩn gọi các vị ấy là "lão Phương trượng", "Thủ tọa La Hán đường", "Thủ tọa Đạt Ma đường" chứ không dám gọi ngay pháp danh của họ; ai ngờ con nhỏ này lại dám lên núi lớn tiếng gọi thẳng pháp danh của họ ra như vậy.

Hai hòa thượng kia đều là đệ tử của Thủ tọa Giới luật đường, phụng mệnh Thủ tọa thiền sư giám thị Giác Viễn. Lúc này nghe thấy Quách Tương nói năng vô lễ, vị hòa thượng cao gầy liền quát:

– Nữ thí chủ kia nếu còn gây sự trước Phật môn thanh tịnh thì đừng trách bần tăng không khách khí.

Quách Tương nói:

– Chẳng lẽ ta ngán nhà ngươi ư? Nhà ngươi hãy mau mau cởi bỏ xiềng xích cho Giác Viễn đại sư, bằng không ta sẽ đi tìm Thiên Minh hòa thượng mà hỏi cho ra lẽ.

Vị hòa thượng thấp mập nghe Quách Tương nói năng lỗ mãng, lại thấy nàng đeo đoản kiếm, bèn xẵng giọng:

– Nữ thí chủ hãy để binh khí lại, bần tăng cũng không định tranh hơn thua làm gì, nữ thí chủ hãy mau xuống núi cho yên chuyện.

Quách Tương gỡ thanh đoản kiếm ra, hai tay nâng lên, cười nhạt:

– Thì đây, xin tuân lệnh.

Hòa thượng này xuất gia ở Thiếu Lâm tự từ nhỏ, luôn nghe thấy các sư bá, sư thúc và sư huynh kể rằng Thiếu Lâm tự là khởi nguyên của võ học trong thiên hạ, rằng bất cứ nhân vật nào danh vọng lớn đến đâu, bất cứ cao thủ võ lâm nào tài ba đến mấy, xưa nay cũng chẳng dám mang theo binh khí vào cổng Thiếu Lâm tự. Cô nương này tuy chưa bước qua cổng Thiếu Lâm tự, nhưng đã ở trong phạm vi nhà chùa; nay nàng ta hai tay nâng kiếm thế kia hẳn là biết sợ rồi, hòa thượng bèn giơ tay cầm lấy thanh kiếm. Ngón tay của hòa thượng vừa chạm cán kiếm thì đột nhiên cánh tay ấy như bị điện giật, cảm thấy một cường lực từ thanh kiếm truyền sang, đẩy hòa thượng ngã ngửa ra phía sau, hai chân loạng choạng không vững, bị ngã sóng soài, chỗ ngã lại dốc, thế là y lăn xuống phía dưới mấy trượng mới chộp được búi cỏ khỏi bị lăn tiếp.

Hòa thượng cao gầy vừa ngạc nhiên vừa tức giận, quát:

– Ngươi đúng là ăn tim sư tử, uống mật hổ báo nên mới dám đến Thiếu Lâm tự gây sự mà.

Đoạn tiến một bước, hữu thủ vung quyền, tả chưởng tiếp theo hữu quyền, thành song chưởng chém xuống, chính là thế thứ hai mươi tám "Phiên thân phách kích" của Sấn Thiếu Lâm.

Quách Tương cầm thanh kiếm còn nằm trong bao chém vào vai hòa thượng kia. Y trầm vai thu một tay về, tay kia chộp thanh kiếm. Giác Viễn đứng bên nhìn cảnh ấy, hoảng sợ kêu to:

– Đừng động thủ, đừng động thủ! Có gì hãy thương lượng thì hơn.

Lúc ấy vị hòa thượng kia đã chộp tới thanh kiếm, chính đang vận sức định giành lấy bỗng cảm thấy lòng bàn tay chấn động, rồi cả cánh tay tê dại, chỉ kịp kêu "Nguy tai!" thì Quách Tương đã dùng chân trái gạt ngang, đẩy y ngã lăn lông lốc xuống dốc, đầu và mặt y bị va nhiều chỗ, xây xát rớm máu, rồi mới dừng được.

Quách Tương nghĩ thầm: "Mình lên Thiếu Lâm tự là định thăm dò tin tức của đại ca, vô duyên vô cớ lại động thủ với hai hòa thượng kia, thật chẳng hay ho chút nào". Nàng thấy Giác Viễn đứng bên với vẻ mặt khổ sở, bèn vung thanh kiếm chặt đứt xiềng xích ở chân tay của đại sư. Kiếm của nàng tuy chưa thuộc vào hàng bảo kiếm, nhưng cũng cực kỳ sắc bén nên vừa nghe "keng keng" mấy tiếng thì xiềng xích đã đứt thành ba đoạn. Giác Viễn luôn miệng kêu: "Không được đâu! Không được đâu!" Quách Tương nói:

– Sao lại không được?

Đoạn nàng chỉ về phía hai hòa thượng một cao một thấp đang chạy vào chùa, nói:

– Hai gã ác tăng kia chắc là chạy đi báo tin, chúng ta hãy đi thôi. Tiểu đồ đệ họ Trương của đại sư đâu rồi? Hãy đem gã đi luôn thể!

Giác Viễn chỉ xua xua tay. Chợt nghe sau lưng có tiếng người nói:

– Đa tạ cô nương quan tâm, tiểu đệ đây.

Quách Tương quay đầu lại, thấy phía sau có một thiếu niên trạc mười sáu mười bảy tuổi, mắt to mày thô, thân hình vạm vỡ, song vẻ mặt trông hết sức thơ ngây, chính là Trương Quân Bảo mà nàng đã gặp trên đỉnh Hoa Sơn ba năm về trước. Bây giờ Trương Quân Bảo cao lớn hơn hẳn hồi ấy, riêng vẻ mặt chẳng thay đổi chút nào. Quách Tương cả mừng, nói:

– Các ác tăng nơi đây khinh khi sư phụ của đệ, chúng ta rời bỏ nơi này thôi.

Trương Quân Bảo lắc đầu nói:

– Chẳng ai khinh khi sư phụ của đệ cả.

Quách Tương chỉ Giác Viễn nói:

– Hai gã ác tăng ban nãy đã dùng xiềng xích trói buộc sư phụ của đệ lại còn không cho nói nửa lời, chẳng phải là khinh khi đó sao?

Giác Viễn cười khổ, lắc đầu, chỉ tay xuống núi, ý bảo Quách Tương hãy mau thoát thân, kẻo ở lại sẽ gặp rắc rối.

Quách Tương thừa biết Thiếu Lâm tự có biết bao nhiêu cao thủ võ công hơn hẳn nàng, nhưng chứng kiến cảnh bất bình nhãn tiền thế này, nàng không thể khoanh tay làm ngơ. Song nàng lo ngại các cao thủ trong chùa ra ngăn chặn, bèn một tay kéo Giác Viễn, một tay kéo Trương Quân Bảo, giậm chân nói:

– Mau mau chạy đi đã, có việc gì xuống được dưới núi hãy nói.

Hai người kia cứ đứng im một chỗ.

Bỗng thấy trên sườn núi bên cửa hông Thiếu Lâm tự có bảy tám tăng nhân xông ra, tay cầm gậy, miệng quát:

– Con nhóc nào cả gan đến Thiếu Lâm tự gây sự đó?

Trương Quân Bảo lớn tiếng đáp:

– Các vị sư huynh chớ vô lễ, vị này là.. Quách Tương vội ngăn:

– Đừng nói lộ tên của ta.

Nàng nghĩ vụ rắc rối này xem ra không nhỏ, không khéo chẳng thể dàn xếp ổn thỏa; bởi vậy không nên để liên lụy đến phụ mẫu. Thế là nàng giục thêm:

– Ba chúng ta cứ băng rừng mà chạy. Dù thế nào cũng chớ nhắc đến tên phụ mẫu và bằng hữu của tiểu nữ!

Chợt trên đỉnh núi phía sau nghe mấy tiếng quát, lại thêm bảy, tám tăng nhân xông tới.

Quách Tương thấy trước sau đều có các tăng nhân xuất hiện, bèn cau mày nói:

– Sao hai người cứ rụt rụt rè rè như thiếu nữ thế? Chẳng có chí khí nam nhi gì cả! Hai người có định chạy hay không nào?

Trương Quân Bảo nói:

– Thưa sư phụ, Quách cô nương đã có thiện ý như thế..

Lúc ấy từ bên cửa hông Thiếu Lâm tự lại có bốn hoàng y hòa thượng xông ra và lao về phía Quách Tương; tay họ không có khí giới, nhưng thân pháp lanh lẹ, tay áo quạt gió đủ biết võ công thuộc loại khá cao siêu. Quách Tương thấy tình thế này dù nàng muốn một mình thoát thân cũng chẳng nổi, bèn đứng yên coi diễn biến ra sao.

Một hòa thượng chạy tới cách nàng bốn trượng, dõng dạc cất tiếng:

– Tôn sư Thủ tọa La Hán đường truyền dụ: Kẻ lạ mặt hãy bỏ khí giới, xuống Nhất Lô đình dưới chân núi tường trình sự việc và nghe pháp dụ.

Quách Tương cười nhạt:

– Đại hòa thượng của Thiếu Lâm tự thật là quan cách quá chừng! Chẳng hay các vị đại hòa thượng làm quan cho hoàng đế Đại Tống hay hoàng đế Mông Cổ vậy?

Thời gian này từ sông Hoài trở lên phía bắc, quốc thổ của Đại Tống đều đã rơi vào tay quân Mông Cổ; Thiếu Lâm tự nằm trên địa phận do Mông Cổ cai quản, nhưng vì đại quân Mông Cổ mấy năm nay liên tục tấn công vẫn chưa hạ nổi thành Tương Dương, còn bận điều binh khiển tướng, không có lực lượng cai quản chùa chiền am miếu nên Thiếu Lâm tự mới được giữ nguyên vẹn. Vị hòa thượng kia nghe Quách Tương mỉa mai lợi hại như vậy thì bất giác đỏ mặt, thầm nghĩ hạ lệnh cho người ngoài như vừa rồi cũng hơi quá, bèn đổi giọng, chắp tay nói:

– Không biết nữ thí chủ có việc gì mà quang lâm tệ tự, xin hãy bỏ khí giới, xuống Nhất Lô đình dưới chân núi dùng trà, nói chuyện.

Quách Tương nghe đối phương đổi giọng ôn hòa thì muốn nhân đây rút lui cho xong, bèn nói:

– Các vị không cho ta vào chùa thì thôi, ta đâu cần. Hừ, cứ làm như trong Thiếu Lâm tự có báu vật, ta được trông thấy thì sẽ vẻ vang hơn không bằng.

Đoạn nàng đưa mắt cho Trương Quân Bảo, thấp giọng hỏi:

– Thế nào? Có đi hay không?

Trương Quân Bảo lắc đầu, liếc mắt về phía Giác Viễn, ngụ ý là mình còn phải theo hầu sư phụ. Quách Tương nói rõ:

– Thôi được, vậy ta mặc các người, ta đi đây.

Đoạn nàng đi nhanh xuống núi.

Hoàng y hòa thượng thứ nhất né sang một bên nhường đường, nhưng vị thứ hai và thứ ba thì cùng giơ tay ngăn lại và nói:

– Hãy khoan. Bỏ khí giới lại đã!

Quách Tương cau mày, tay nắm cán kiếm. Hoàng y hòa thượng thứ nhất nói:

– Chúng tăng cũng không dám giữ khí giới của nữ thí chủ đâu. Nữ thí chủ xuống dưới kia rồi, chúng tăng sẽ hoàn trả bảo kiếm tức thì, đó là luật lệ của Thiếu Lâm tự đã có từ ngàn năm nay, mong nữ thí chủ hiểu cho.

Quách Tương nghe vị kia nói năng từ tốn, nghĩ thầm: "Nếu không để kiếm lại, ắt xảy ra quyết đấu, ta chỉ có một mình, làm sao địch nổi từng kia tăng chúng? Nhưng để kiếm lại, hóa ra làm mất hết thể diện của ông ngoại, của phụ mẫu, của đại ca ca và Long tỷ tỷ ư?"

Nàng đang phân vân chưa quyết, chợt loáng một cái bóng vàng phía trước, kèm theo tiếng quát:

– Cả gan mang kiếm tới Thiếu Lâm tự, lại còn đả thương người khác, có lý nào như vậy?

Rồi kình phong tràn tới, chỉ thấy năm ngón tay chộp lấy thanh đoản kiếm.

Nếu hòa thượng kia không đột nhiên động thủ, có lẽ sau giây lát phân vân, Quách Tương hẳn sẽ để kiếm lại. Tính nàng khác hẳn tính của Quách Phù là tỷ tỷ của nàng, tuy hào sảng, nhưng không thô lỗ; tình cảnh trước mắt quá ư bất lợi, thì đành nín nhịn, sau đó sẽ bàn với ông ngoại và phụ mẫu, trở lại vụ này. Đằng này đối phương lại bất ngờ cậy thế mạnh, nàng há có thể trơ mắt để người ta tước đoạt khí giới của mình?

Cầm nã thủ pháp của tăng nhân kia vừa độc địa vừa tinh xảo, y vừa chộp lấy bao kiếm bèn nghĩ thầm: "Con nhỏ thể nào cũng giằng lại, mà một hòa thượng đi giằng co với thiếu nữ thì coi sao được", y liền vận nội công đẩy chếch sang bên tả, rồi kéo mạnh về bên hữu. Quách Tương bị y đẩy và kéo như thế, quả nhiên không giữ chắc nổi bao kiếm, nàng bèn nắm cán kiếm rút phắt ra; chỉ nghe "xoẹt" một tiếng, hàn quang lóe lên. Hòa thượng kia hữu thủ đoạt được bao kiếm, nhưng hai ngón tay của tả thủ thì bị thanh kiếm tiện đứt, đau quá, y buông rơi bao kiếm, nhảy lùi sang một bên.

Các tăng nhân thấy đồng môn bị thương thì hết thảy tức giận, cùng vung côn và trượng xông tới. Quách Tương nghĩ thầm: "Đã trót thì trét; dầu sao hôm nay cũng không yên rồi", nàng liền thi triển "Lạc Anh kiếm pháp" gia truyền, vừa đánh vừa chạy xuống núi.

Lạc Anh kiếm pháp là do Hoàng Dược Sư diễn hóa từ "Lạc Anh chưởng pháp" mà ra, tuy không tinh diệu như Ngọc Tiêu kiếm pháp, song cũng là một tuyệt kỹ của Đào Hoa đảo; chỉ thấy thanh quang loang loáng, kiếm hoa điểm điểm tựa như các cánh hoa rơi rụng tản mác tứ phía. Trong chớp mắt đã có hai tăng nhân bị thương, nhưng mấy người khác từ phía sau cùng xông tới, từ trên đánh xuống. Quách Tương bị hai mũi giáp công, lẽ ra nàng khó bề chống cự, song các hòa thượng Thiếu Lâm tự lấy từ bi làm gốc, không định hạ sát nàng, nên chiêu thức của họ chỉ cốt đánh ngã nàng hòng giáo huấn nàng một phen, tước khí giới rồi đuổi nàng xuống núi. Thế nhưng kiếm quang của Quách Tương rất lợi hại, họ chẳng dễ gì tiếp cận được.

Ban đầu các tăng nhân cứ tưởng hàng phục một thiếu nữ đâu có gì khó. Nhưng sau thấy kiếm pháp tinh xảo của nàng, mới đoán rằng nếu nàng không phải là môn hạ của một môn phái danh tiếng thì cũng là đệ tử của một danh sư; thế là họ sợ đắc tội, xuất chiêu càng thêm thận trọng, một mặt cho người cấp báo với Thủ tọa La Hán đường là Vô Sắc thiền sư.

Trong lúc diễn ra cuộc đấu, có một lão tăng cao gầy, hai tay lồng vào tay áo, thong thả đi tới, mỉm cười quan sát. Hai tăng nhân đến bẩm nhỏ vài câu với vị lão tăng. Quách Tương đấu đã mệt, kiếm pháp đã rối, liền lớn tiếng:

– Thế cũng đòi là nguồn gốc của võ học thiên hạ! Chẳng qua hàng chục hòa thượng vây đánh một người, cậy đông để thắng thôi.

Vị lão tăng kia chính là Vô Sắc thiền sư, Thủ tọa La Hán đường, thấy nàng nói vậy, bèn lên tiếng:

– Các người dừng tay!

Các tăng nhân lập tức xuôi tay nhảy sang hai bên. Vô Sắc thiền sư nói:

– Cô nương quý tính là gì, lệnh tôn và lệnh sư là ai? Cô nương quang lâm Thiếu Lâm tự chẳng hay có việc chi?

Quách Tương nghĩ thầm: "Mình không thể cho vị này biết danh tính của phụ mẫu. Ngay cả việc mình đến Thiếu Lâm tự để nghe tin tức của đại ca, cũng không thể nói ra trước mặt mọi người. Hôm nay mình gây chuyện rắc rối, ngày sau phụ mẫu và đại ca biết chuyện sẽ trách cứ mình, chi bằng mình cứ lẳng lặng mà đi thì hơn". Nghĩ đoạn, nàng đáp:

– Tính danh tiểu nữ không tiện thưa với đại sư. Tiểu nữ chẳng qua thấy phong cảnh trên núi quá đẹp, nên tiện đường ghé qua du ngoạn. Nào ngờ Thiếu Lâm tự còn lợi hại hơn cả hoàng cung, động một chút đã bị người ta đòi tước binh khí. Thỉnh vấn đại sư, tiểu nữ đã bước vào đại môn của quý tự hay chưa? Năm xưa Đạt Ma tổ sư truyền lại võ nghệ chẳng qua cốt giáo huấn chúng tăng khỏe mạnh để tu hành tăng tiến; nào ngờ danh tiếng của Thiếu Lâm tự càng lớn, võ công càng cao, thì những vị cậy thế hiếp đáp người khác càng nhiều. Được thôi, các vị muốn tước khí giới của tiểu nữ thì cứ việc tước, cũng nên hạ sát tiểu nữ luôn, kẻo giới giang hồ thể nào cũng hay biết chuyện hôm nay.

Lý lẽ của Quách Tương khá sắc sảo, vả lại vụ này cũng không hoàn toàn do lỗi của nàng nên Vô Sắc thiền sư lúng túng chưa biết trả lời ra sao. Quách Tương quan sát sắc diện, nghĩ thầm: "Vụ rắc rối hôm nay mình sợ người ta biết đã đành, xem ra Thiếu Lâm tự càng không muốn lan rộng ra ngoài. Mười mấy hòa thượng vây đánh một thiếu nữ mà lộ ra thì hay ho nỗi gì?" Nàng bèn hừ một tiếng, ném thanh kiếm xuống đất, dợm chân bỏ đi.

Vô Sắc thiền sư bước tới, phất tay áo một cái, đã cuốn thanh kiếm lên, dùng hai tay nâng thân kiếm, nói:

– Cô nương đã không muốn để lộ gia môn sư thừa thì hãy thâu lại thanh bảo kiếm, lão tăng sẽ thân chinh tiễn cô nương xuống núi.

Quách Tương nhếch mép cười:

– Vị đại sư này còn thấu tình đạt lý, thế mới đúng phong cách của một danh gia.

Nàng được thể liền thuận miệng tán dương Vô Sắc thiền sư một câu, rồi giơ tay ra nhận thanh kiếm, nhưng bất giác kinh hãi vì đối phương phát ra từ lòng bàn tay một luồng lực đạo giữ chặt thanh kiếm, khiến nàng tuy đã nắm cán kiếm rồi nhưng không tài nào nhấc nổi. Mấy phen nàng vận lực vẫn không sao lấy được thanh kiếm, bèn nói:

– Được, thì ra đại sư định biểu diễn võ công kia đấy!

Đoạn nàng phẩy tả thủ, định điểm nhẹ vào hai huyệt Thiên Đỉnh và Cự Cốt ở phía cổ bên trái của Vô Sắc thiền sư. Vô Sắc thiền sư hơi rùng mình, nghiêng người né tránh, lực giữ thanh kiếm giảm đi, nhờ vậy Quách Tương lấy được thanh kiếm về.

Vô Sắc thiền sư nói:

– Công phu "Lan hoa phất huyệt thủ" [2] quả là lợi hại! Chẳng hay cô nương xưng hô thế nào với Đào Hoa đảo chủ?

Quách Tương vừa cười vừa đáp:

– Đào Hoa đảo chủ ấy ư? Tiểu nữ gọi vị ấy là Lão Đông Tà.

Đào Hoa đảo chủ Đông Tà Hoàng Dược Sư là ông ngoại của Quách Tương, tính nết quái dị, xưa nay không câu nệ lễ giáo, thường gọi đứa cháu gái nhỏ là Tiểu Đông Tà; còn Quách Tương gọi ông ngoại là Lão Đông Tà. Nghe đứa cháu gọi mình như thế, Hoàng Dược Sư chẳng cho là hỗn xược mà còn lấy làm thích thú.

Nguyên Vô Sắc thiền sư thuở thiếu thời xuất thân lục lâm, sau vào cửa thiền tu luyện đã mấy chục năm, rất tinh thâm Phật học, nhưng hào khí thuở nào vẫn không giảm, nếu không đã chẳng kết thành hảo hữu với Dương Quá. Nay thấy tiểu cô nương không chịu để lộ lai lịch sư thừa, Vô Sắc thiền sư càng muốn nàng phải nói ra, bèn vừa cười vừa nói to:

– Cô nương thử tiếp mười chiêu của lão tăng, xem nhãn lực của lão tăng có thể nhận biết môn phái của cô nương hay chăng?

Quách Tương hỏi:

– Nếu trong mười chiêu mà không nhận biết nổi thì sao?

Vô Sắc thiền sư cười ha hả:

– Nếu tiểu cô nương tiếp được mười chiêu của lão tăng thì còn nói gì nữa, lão tăng nguyện làm theo ý của tiểu cô nương.

Quách Tương chỉ Giác Viễn, nói:

– Tiểu nữ và vị đại sư này từng có duyên diện kiến một lần, nên tiểu nữ muốn thỉnh cầu giúp đại sư này một việc. Nếu trong mười chiêu mà đại sư không nói được sư phụ của tiểu nữ là ai thì đại sư phải nhận lời tiểu nữ không hành tội vị này nữa.

Vô Sắc thiền sư hết sức ngạc nhiên, nghĩ thầm: "Giác Viễn tính nết cổ hủ, mấy chục năm nay chuyên trông coi sách ở Tàng kinh các, không hề giao du với người ngoài, tại sao lại quen biết cô nàng này?" Nghĩ đoạn, liền đáp:

– Thực ra không ai hành tội Giác Viễn cả. Mọi tăng chúng bổn tự, hễ phạm giới luật, bất kể là ai, đều bị phạt cả; hơn nữa phạt như thế cũng không thể coi là hành tội.

Quách Tương bĩu môi cười nhạt, nói:

– Hừ, nói đi nói lại, các vị cũng chỉ tìm cách biện hộ thôi.

Vô Sắc thiền sư giơ song chưởng nói:

– Được, lão tăng chấp nhận. Nếu thua, lão tăng sẽ thay Giác Viễn sư đệ gánh ba ngàn một trăm lẻ tám gánh nước. Cô nương chú ý, lão tăng xuất chiêu đây!

Trong lúc đối đáp với Vô Sắc, Quách Tương sớm đã tính thầm: "Lão hòa thượng này nội công thâm hậu, võ công tất lợi hại. Nếu để lão động thủ trước, mình phải hết sức chống đỡ, ắt phải giở võ công của phụ mẫu ra. Chi bằng mình hãy chiếm tiên cơ, xuất liền mười chiêu". Nghĩ tới đó đã nghe Vô Sắc nói "Cô nương chú ý, lão tăng xuất chiêu đây", thế là nàng không đợi Vô Sắc xuất chưởng, liền vung đoản kiếm đâm thẳng tới ngực đối phương. Đây là chiêu "Vạn tử thiên hồng" [3] trong Lạc Anh kiếm pháp của Đào Hoa đảo, mũi kiếm trong lúc đâm cứ không ngừng di động, khiến đối thủ chẳng biết rốt cuộc mũi kiếm định nhắm vào đâu. Vô Sắc thiền sư biết thế công lợi hại, không dám đỡ, phải nhảy sang bên né tránh.

Quách Tương quát:

– Chiêu thứ hai!

Đoản kiếm thu về, rồi từ phía dưới xọc lên, đây là chiêu "Thiên thân đảo huyền" [4] của Toàn Chân kiếm pháp. Vô Sắc thiền sư nói:

– Khá lắm, đó là Toàn Chân kiếm pháp!

Quách Tương đáp:

– Vị tất như thế!

Đoản kiếm của nàng đâm không trúng, chỉ thấy Vô Sắc thiền sư chuyển từ thủ sang công, các ngón tay của thiền sư chộp tới cổ tay nàng thì kinh hãi nghĩ thầm: "Lão hòa thượng quả lợi hại, trước kiếm chiêu hung hiểm như thế, chỉ tay không mà vẫn tấn công trở lại được". Nàng thấy các ngón tay của đối phương tới trước mặt liền vội thi triển chiêu "Ác khuyển lan lộ" thuộc chữ Phong trong "Đả cẩu bổng pháp".

Nguyên hồi nhỏ nàng từng giao hảo với Lỗ Hữu Cước, bang chủ tiền nhiệm của Cái Bang. Cái Bang có luật lệ quy định, rằng Đả cẩu bổng pháp[5] là thần kỹ trấn bang, chỉ có bang chủ mới được truyền lại. Trong lúc trà dư tửu hậu, Lỗ Hữu Cước thường biểu diễn Đả cẩu bổng pháp, nhờ thế Quách Tương mới học lóm được vài chiêu thức. Huống hồ mẫu thân nàng là Hoàng Dung cũng từng làm bang chủ nhiệm kỳ trước; còn bang chủ đương nhiệm Gia Luật Tề là anh rể của nàng; nàng nhiều lần được thấy "Đả cẩu bổng pháp", tuy không rõ quyết yếu của phép đó, nhưng sử một chiêu y chang cũng đủ khiến người ngoài kinh hãi.

Ngón tay của Vô Sắc thiền sư vừa chạm cổ tay nàng, thì đột nhiên một đường bạch quang như tia chớp xẹt qua, mũi kiếm biến ảo thần diệu, suýt nữa tiện ngọt cả năm ngón tay của Vô Sắc thiền sư. May mà thiền sư võ công cao siêu, biến chiêu thần tốc, kịp thoái lui hai bước, chỉ nghe "soạt", ống tay áo bên tả đã bị đoản kiếm lia đứt một mảnh dài. Vô Sắc thiền sư mặt biến sắc, lưng toát mồ hôi lạnh.

Quách Tương đắc chí hỏi:

– Vừa rồi là kiếm pháp gì nào?

Thực ra trong thiên hạ làm gì có thứ kiếm thuật đó, chẳng qua nàng học lóm được một chiêu trong Đả cẩu bổng pháp, đem ra sử dụng nửa thực nửa hư, khiến cho vị cao tăng lừng danh của Thiếu Lâm tự cũng phải ngẩn người không hiểu là kiếm pháp gì.

Quách Tương nghĩ thầm: "Mình chỉ cần thi triển tiếp vài chiêu của Đả cẩu bổng pháp là đánh bại lão hòa thượng kia; tiếc rằng mình nắm vững mỗi chiêu này thôi". Không để Vô Sắc thiền sư kịp thở, thanh đoản kiếm đã lướt tới, thân hình nàng phiêu diêu như tiên nữ giáng trần, mũi kiếm cứ nhắm phía gối của thiền sư mà điểm lia lịa. Đây là chiêu "Tiểu viên nghệ cúc" [6] của Ngọc Nữ kiếm pháp mà nàng học được qua Tiểu Long Nữ.

Ngọc Nữ kiếm pháp do nữ hiệp Lâm Chiêu Anh sáng tạo từ hồi xưa, chẳng những kiếm chiêu lợi hại, mà phong thái thoát tục, tư thế tao nhã, chúng tăng chưa từng gặp qua, ai nấy vừa kinh ngạc vừa thích thú. Nên biết Đạt Ma kiếm pháp, La Hán kiếm pháp của phái Thiếu Lâm đều thuộc loại cương mãnh, còn Ngọc Nữ kiếm pháp thì tuyệt tích giang hồ từ lâu, vốn có bản chất tương phản với kiếm thuật của phái Thiếu Lâm. Thực ra luận về kiếm pháp vị tất đã hơn được kiếm thuật của phái Thiếu Lâm, có điều là ngắm nó uyển chuyển mỹ lệ vô cùng, hệt như kinh Phật có câu: "Dung nghi uyển mị, trang nghiêm hòa nhã, đoan chính khả hỉ, quan giả vô yếm".

Vô Sắc thiền sư thấy kiếm thuật này quá mỹ diệu, chỉ mong ngắm một lần nữa, bèn né người sang bên chờ nàng sử thêm một chiêu nữa.

Kiếm chiêu của Quách Tương biến hóa, chỉ sang đông lại chém về tây, đoản kiếm rạch mấy đường nữa. Trương Quân Bảo đứng bên cạnh mà ngắm, đang ngẩn cả người, bỗng kêu "Ơ" một tiếng. Thì ra Quách Tương vừa sử chiêu "Tứ thông bát đạt" ba năm trước trên đỉnh Hoa Sơn Dương Quá đã truyền thụ cho Trương Quân Bảo. Lúc ấy Quách Tương đứng xem bên cạnh, bây giờ nàng đem ra sử dụng. Nhưng thứ Dương Quá truyền thụ là chưởng pháp, bây giờ Quách Tương biến thành kiếm pháp, uy lực tuy giảm đi mấy thành, song kiếm thuật kỳ diệu cũng đủ khiến Vô Sắc thiền sư kinh ngạc.

Tính ra Quách Tương đã sử năm chiêu mà Vô Sắc thiền sư vẫn chưa nhận biết được lai lịch. Thời trẻ tung hoành trên giang hồ, lịch duyệt phong phú; mười mấy năm nay làm thủ tọa La Hán đường, càng có dịp nghiên cứu võ công của các môn phái, đem so sánh với võ công Thiếu Lâm tự, chọn lấy sở trường của các môn phái bổ khuyết cho sở đoản của bổn tự. Do đó Vô Sắc thiền sư tự tin rằng bất cứ cao nhân của môn phái nào chỉ sử vài chiêu là sẽ nhận ra lai lịch ngay. Vô Sắc thiền sư giao hẹn với Quách Tương mười chiêu là đã dự phòng quá dư rồi. Ai ngờ phụ mẫu, sư phụ và bằng hữu của Quách Tương đều là những đệ nhất cao thủ đương thời, nàng chỉ cần sử một chiêu trong võ công của mỗi người ấy rồi kết nối với nhau cũng đủ khiến Vô Sắc thiền sư hoa mắt, làm sao đoán ra nổi lai lịch.

Sau bốn thức kiếm "Tứ thông bát đạt" của Quách Tương, Vô Sắc thiền sư nghĩ thầm: "Nếu cứ để cô nương ấy xuất chiêu trước, chỉ e sẽ giở hết quái chiêu này quái chiêu nọ, thì đừng nói mười chiêu, sau cả trăm chiêu ta cũng chẳng thể nhận ra lai lịch. Bây giờ ta phải chủ động tấn công, buộc cô nương ấy sử dụng võ công bản môn chống đỡ mới ổn". Nghĩ đoạn Vô Sắc thiền sư xoay người sang bên trái, dùng chiêu "Song quán nhĩ", hổ khẩu của hai quyền đối xứng với nhau, vạch thành hình cánh cung, thay nhau công kích.

Quách Tương thấy kình lực của thế quyền quá mạnh, không dám chống đỡ, vội xoay mình thoát ra khỏi phạm vi tấn công của hai quyền. Nguyên hồi trước ở đầm Hắc Long, nàng thấy cảnh Anh Cô đấu với Dương Quá, yếu không địch nổi mạnh, Anh Cô đã dùng "Nê thu công" thoái lui, nên lúc này nàng bắt chước y chang. Công lực và thân pháp của nàng đều không thể sánh với Anh Cô, nhưng Vô Sắc thiền sư hoàn toàn không định hạ sát nàng, để nàng nhẹ nhàng luồn ra.

Vô Sắc thiền sư khen:

– Thân pháp khá lắm, hãy tiếp thêm chiêu này!

Nói đoạn, tả chưởng xoay một vòng, khuỷu tay ở trước ngực, hổ khẩu hướng lên phía trên, chính là chiêu "Hoàng oanh lạc giá" trong Thiếu Lâm quyền. Vô Sắc thiền sư là đại sư võ học của Thiếu Lâm tự, thân phận không phải tầm thường, tuy am hiểu các loại võ công nhiều hơn hẳn Quách Tương; song mỗi chiêu thức sử dụng đều là võ công thuần chính của bổn tự. Các pho quyền của phái Thiếu Lâm quang minh chính đại, trông rất bình thường, không có gì lạ, nhưng luyện đến chỗ tinh thâm thì uy lực khôn cùng. Tả chưởng của Vô Sắc thiền sư vừa xoay một vòng, Quách Tương đã cảm thấy nửa thân mình phía trên của nàng nằm trong tầm khống chế của chưởng lực, vội quay cán kiếm, dùng kiếm thay ngón tay mà sử một chiêu "Nhất dương chỉ" học được của Võ Tu Văn, điểm tới ba huyệt Oản Cốt, Dương Cốc, Dưỡng Lão ở cổ tay Vô Sắc thiền sư. Phép điểm huyệt "Nhất dương chỉ" nàng mới học sơ sơ, nhưng thủ pháp dùng một ngón tay điểm ba huyệt lại chính là yếu quyết của nó.

Võ công "Nhất dương chỉ" của Nhất Đăng đại sư lừng danh thiên hạ, Vô Sắc thiền sư dĩ nhiên nhận biết, thấy Quách Tương sử một chiêu thì ngạc nhiên lắm, vội thu tay biến chiêu.

Thực ra, nếu Vô Sắc thiền sư không thu tay lại mà cứ để nàng điểm vào ba yếu huyệt, sẽ phát giác thứ "Nhất dương chỉ" mà nàng sử dụng là giả chứ đâu phải thật. Nhưng đôi bên đang giở toàn lực giao đấu, Vô Sắc thiền sư sao dám mạo hiểm để mất thanh danh một đời?

Quách Tương cười to:

– Đại sư đã thấy lợi hại chưa?

Vô Sắc thiền sư hừ một tiếng, đánh ra chiêu "Đơn phụng triều dương" [7], hai tay vung rộng lên cao rồi chém xuống, đoản kiếm trong tay Quách Tương không giữ được, bị rớt xuống đất.

Quách Tương thừa biết đối phương không định tâm hạ sát nàng, nên dù bị rơi mất kiếm nàng cũng chẳng sợ, hai quyền giao nhau, như có như không, sử dụng thức thứ năm mươi tư "Diệu thủ không không" trong bảy mươi hai thức "Không Minh quyền" – kiệt tác của Chu Bá Thông.

Không Minh quyền là do Chu Bá Thông sáng tạo, chưa hề lưu truyền trong giang hồ; Vô Sắc thiền sư dù uyên bác đến mấy cũng chẳng thể nhận biết, liền dùng chiêu "Thiên hoa thất tinh", song chưởng vạch hình cánh cung, nhanh như chớp chặt xuống bàn tay Quách Tương; nếu nàng không xuất nội lực chống đỡ, bàn tay sẽ bị chặt gãy liền. Chiêu "Thiên hoa thất tinh" này của phái Thiếu Lâm tưởng chậm mà nhanh, tưởng nhẹ mà nặng, tuy là thức của Sấn Thiếu Lâm, nhưng kình lực lại xuất phát từ chỗ kỳ ảo của Thần hóa Thiếu Lâm.

Bàn tay Quách Tương bị khống chế, nàng nghĩ thầm: "Lẽ nào lão ta thực tâm đánh gãy bàn tay mình?", bèn phẩy tay một cái, sử chiêu "Thiết bồ phiến thủ", lấy chưởng đối chưởng, phản công tức thời. Chiêu này nàng học của Hoàn Nhan Bình là vợ của Võ Tu Văn, là tâm pháp mà Thiết Chưởng Thủy Thượng Phiêu Cừu Thiên Nhận truyền lại. Môn "Thiết Chưởng công" này được các phái chưởng pháp trong võ lâm tôn là đệ nhất cương mãnh, Vô Sắc thiền sư nghiên cứu chưởng pháp tinh thâm, chắc hẳn phải biết. Thấy nàng sử chiêu thiết chưởng quan yếu này, Vô Sắc thiền sư bất giác giật mình, vội thâu chưởng về, một là không muốn đả thương nàng, hai là quả cũng hơi ngán môn võ công ấy. Thiền sư là người trung hậu, thấy chiêu nào của Quách Tương cũng đều đại diện cho một môn phái, không ngờ một thiếu nữ chưa đầy hai mươi tuổi lại am hiểu nhiều môn võ công đến thế thì vội thu chưởng về, thoái lui nửa trượng.

Quách Tương cười, nói to:

– Đây là chiêu thứ mười rồi, đại sư hãy xem tiểu nữ thuộc môn phái nào?

Đoạn nàng giơ tả thủ, rướn người lên, hữu thủ đẩy thẳng vào dưới cằm của Vô Sắc thiền sư.

Vô Sắc thiền sư và tăng chúng đứng xem bất giác cùng ồ lên kinh ngạc. Thì ra đây chính là chiêu "Khổ hải hồi đầu", một chiêu trong La Hán quyền chính tông của phái Thiếu Lâm, chứ phái khác không hề có. Thủ pháp của chiêu này là tay trái nắm đỉnh đầu đối phương, tay phải tựa vào dưới cằm của địch thủ mà vặn đầu một cái, mạnh thì địch thủ gãy cổ, nhẹ cũng trật khớp xương, là một sát chiêu cực kỳ lợi hại.

Vô Sắc thiền sư thấy nàng dám sử dụng chiêu thức La Hán quyền, thật chẳng khác gì kẻ đánh trống trước cửa nhà sấm, múa búa trước cửa Lỗ Ban, thiền sư vừa giận vừa buồn cười. Chiêu thức này thiền sư luyện thành thạo từ mấy chục năm trước, dù đang ngủ gật mà gặp chiêu này cũng có thể đối phó khỏi cần suy tính. Vô Sắc thiền sư liền né mình bước lên, tả thủ tạt ngang qua phía trước ngực Quách Tương, phẩy tay một cái đã chộp được vai bên hữu của nàng; hữu thủ nhanh như chớp vỗ vào gáy nàng. Chiêu này gọi là "Hiệp sơn siêu hải", vốn là chiêu thức hóa giải chiêu "Khổ hải hồi đầu", hai tay nhấc bổng địch thủ lên khỏi mặt đất. Đáng lẽ Quách Tương phải dùng thức "Bàn trửu" [8] đè khuỷu tay của Vô Sắc thiền sư thì vừa có thể thoát nạn, vừa có thể phản kích đối phương, nhưng thủ pháp của Vô Sắc thiền sư quá mau lẹ; trong nháy mắt thân hình nàng đã bị nhấc bổng lên, cả hai chân rời khỏi mặt đất thì còn làm gì được nữa; dĩ nhiên là nàng đã thua.

Vô Sắc thiền sư tuy chế phục được Quách Tương, nhưng sực nghĩ: "Nguy tai! Ta chỉ mải mê hơn thua, chẳng để ý nhận biết môn phái sư thừa của cô nương ấy. Trong mười chiêu, cô nương ấy sử dụng quyền pháp của mười môn phái khác nhau, mình biết nói sao đây? Không thể bảo cô nương thuộc phái Thiếu Lâm được!"

Quách Tương cố giãy giụa, miệng la:

– Buông tiểu nữ ra đi!

Bỗng nghe "keng" một tiếng, từ trong người nàng có một vật gì đó rơi xuống đất. Quách Tương lại kêu:

– Lão hòa thượng còn không biết xấu hổ mà buông tiểu nữ ra ư?

Vô Sắc thiền sư là một cao tăng, coi chúng sinh đều bình đẳng, chẳng phân biệt nam nữ đã đành, ngay cả trâu bò heo chó cũng coi như nhau, liền cười nói:

– Lão tăng đáng tuổi tổ phụ của tiểu cô nương, có gì phải xấu hổ.

Nói đoạn thiền sư hẩy nhẹ tay một cái, Quách Tương đã văng xa hơn hai trượng.

Trận đấu vừa rồi Quách Tương tuy thua, nhưng qua mười chiêu mà Vô Sắc thiền sư rốt cuộc không nhận biết nàng thuộc môn phái nào, đang định mở miệng chịu thua, nhưng vừa cúi đầu chợt nhìn thấy dưới đất có một chùm vật gì đó màu đen, ngó kỹ thì ra hai vị La Hán bằng sắt đúc.

Quách Tương đứng vững rồi, bèn hỏi:

– Đại sư đã chịu thua hay chưa?

Vô Sắc thiền sư ngẩng lên, vui vẻ đáp:

– Lão tăng thua sao được? Lão tăng biết lệnh tôn là đại hiệp Quách Tĩnh, lệnh đường là nữ hiệp Hoàng Dung, Đào Hoa đảo Hoàng đảo chủ là ông ngoại của cô nương. Phương danh của Quách nhị tiểu thư là chữ Tương trong Tương Dương. Lệnh tôn học kiêm các vị tôn trưởng của Giang Nam thất quái, Đào Hoa đảo, Cửu chỉ thần cái và Toàn Chân phái. Quách nhị tiểu thư gia học uyên thâm, thân thủ quả nhiên bất phàm.

Nghe Vô Sắc thiền sư nói ra vanh vách, Quách Tương tròn mắt cứng lưỡi, không nói được gì nghĩ thầm: "Lão hòa thượng này hẳn là tà môn, mình sử mười chiêu lung tung mà lão ta vẫn nhận biết lai lịch của mình thì quái dị thật".

Vô Sắc thiền sư thấy nàng ngẩn người như kẻ mất hồn, liền tủm tỉm cười, cúi xuống nhặt đôi La Hán nhỏ bằng sắt lên, nói:

– Quách nhị cô nương, lão tăng không thể nói dối tiểu bối được, lão tăng nhận biết cô nương là nhờ đôi La Hán này. Dương đại hiệp thế nào, cô nương có gặp Dương đại hiệp hay không?

Quách Tương chợt hiểu, liền vui mừng hỏi:

– Ồ, thì ra là Vô Sắc thiền sư, đôi La Hán này đại sư đã tặng tiểu nữ nhân dịp sinh nhật, cho nên đại sư nhận ra tiểu nữ! Chẳng hay đại sư có biết Dương đại ca và Long tỷ tỷ của tiểu nữ hiện ở đâu hay không? Tiểu nữ đến quý tự chính là để gặp đại sư, hỏi thăm tin tức hai người ấy, nghĩa là phu thê Dương đại hiệp ấy mà.

Vô Sắc thiền sư đáp:

– Mấy năm trước Dương đại ca có tới thăm bổn tự và ở chơi vài ngày, rất hợp chuyện với lão tăng. Sau nghe tin Dương đại hiệp ở thành Tương Dương chống giặc; lão tăng theo lời kêu gọi của Dương đại hiệp, cũng từng tham gia chống ngoại xâm. Còn hiện giờ thì không biết Dương đại hiệp ở đâu.

Quách Tương ngẩn người một lát, thở dài:

– Đại sư mà còn không rõ Dương đại hiệp đi đâu, thì ai biết nổi kia chứ?

Rồi nàng định thần nói:

– Đại sư là hảo bằng hữu của Dương đại ca, hèn chi võ công cao minh như thế. À, tiểu nữ còn chưa đa tạ đại sư đã tặng quà sinh nhật, hôm nay tiện đây xin đa tạ!

Vô Sắc thiền sư cười:

– Chúng ta đúng là đánh nhau bể đầu mới nhận họ. Khi nào có dịp gặp Dương đại hiệp, cô nương chớ có bảo lão tăng ỷ lớn bắt nạt tiểu cô nương nhé.

Quách Tương ngước mắt nhìn mấy ngọn núi xa xa, lẩm bẩm một mình:

– Biết bao giờ mới gặp được đây?

Lần sinh nhật năm Quách Tương mười sáu tuổi, Dương Quá bỗng nảy ra ý tưởng mới là viết thiếp mời đồng đạo giang hồ đến quây quần ở Tương Dương mừng sinh nhật nàng. Bấy giờ rất nhiều cao thủ võ lâm của Hắc – Bạch hai đạo đều nể mặt Dương Quá đến chúc mừng; ai không thể đến thì cũng cho người mang lễ vật quý giá tới tặng. Vô Sắc thiền sư nhờ người mang tặng cho nàng chính là đôi thiết La Hán tinh xảo này. Trong ruột đôi thiết La Hán có bố trí máy móc, mỗi khi lên dây là hai thiết La Hán lại đấu với nhau cả một pho La Hán quyền của phái Thiếu Lâm. Đôi thiết La Hán này do một vị kỳ tăng ở Thiếu Lâm tự hơn một trăm năm trước đã tốn bao tâm huyết sáng chế ra, thật vô cùng linh xảo tinh diệu. Quách Tương rất thích chơi món quà này, nàng luôn đem theo bên mình. Không ngờ vừa nãy nó từ trong túi rơi ra, nhờ đó Vô Sắc thiền sư nhận biết lai lịch của nàng. Chiêu thức quyền pháp Thiếu Lâm mà nàng sử dụng ban nãy cũng là học từ đôi thiết La Hán này.

Vô Sắc thiền sư mỉm cười nói:

– Do quy củ nhiều đời của bổn tự, không thể mời Quách nhị cô nương vào chùa du ngoạn, xin cô nương lượng thứ.

Quách Tương có vẻ buồn, đáp:

– Không có chi, việc tiểu nữ muốn biết thì cũng đã hỏi rồi.

Vô Sắc thiền sư chỉ Giác Viễn, nói:

– Còn về việc của vị sư đệ này, thư thả lão tăng sẽ giải thích cho cô nương rõ. Bây giờ lão tăng sẽ cùng cô nương xuống núi, tìm một phạn điếm để lão tăng thực hiện nghĩa vụ đãi khách uống rượu cái đã, cô nương nghĩ sao?

Địa vị của Vô Sắc thiền sư trong Thiếu Lâm tự rất cao, nay lại tỏ ý tôn kính một thiếu nữ tới mức thân chinh tiễn xuống núi và trịnh trọng khoản đãi, các tăng nhân nghe vậy hết thảy không khỏi kinh ngạc. Quách Tương đáp:

– Đại sư khỏi cần khách sáo. Tiểu nữ vừa rồi ra tay quá trớn, đắc tội với mấy vị đại sư, mong lão thiền sư xin lỗi giùm tiểu nữ. Giờ thì xin cáo biệt. Hậu hội hữu kỳ.

Nói đoạn nàng vái chào rồi quay mình đi thẳng xuống núi.

Vô Sắc thiền sư mỉm cười:

– Cô nương không cần lão tăng tiễn chân, lão tăng cũng cứ tiễn. Năm sinh nhật cô nương, lão tăng phụng mệnh Dương đại hiệp đi đốt kho lương thảo và thuốc súng của đại quân Mông Cổ ở Nam Dương, sau đó liền về bổn tự, không thể đến thành Tương Dương chúc mừng nên trong lòng áy náy không yên. Hôm nay cô nương quang lâm bổn tự, nếu không cung kính tiễn đưa ba mươi dặm, há là phải phép với quý khách?

Quách Tương thấy thiền sư thật lòng, nói năng hào sảng, nàng cũng muốn kết bạn vong niên với ngài, bèn mỉm cười nói:

– Vậy mời thiền sư đi cùng!

Hai người sánh vai xuống núi, sau khi ngang qua Nhất Lô đình, nghe có tiếng chân phía sau, nhìn lại thấy Trương Quân Bảo đi theo sau, nhưng cậu ta không dám đến gần. Quách Tương cười nói:

– Trương huynh đệ, huynh đệ cũng tiễn khách xuống núi phải không?

Trương Quân Bảo đỏ mặt, khẽ đáp: "Dạ!"

Lúc đó, từ trên Thiếu Lâm tự có một tăng nhân thi triển khinh công chạy như bay xuống núi, dáng vẻ hết sức vội vã. Vô Sắc thiền sư cau mày, hỏi:

– Làm gì mà hấp tấp thế?

Tăng nhân kia chạy tới bên Vô Sắc thiền sư, hành lễ, nói nhỏ mấy câu. Vô Sắc thiền sư mặt biến sắc, nói lớn:

– Có chuyện như thế được sao?

Tăng nhân kia đáp nói:

– Lão Phương trượng mời Thủ tọa về nghị sự ạ.

Quách Tương nhìn thần sắc của thiền sư liền biết là Thiếu Lâm tự có việc nghiêm trọng, nói:

– Lão thiền sư, bằng hữu tương giao quý ở chỗ tri tâm, đâu cần giữ lễ khách sáo. Lão thiền sư có việc cần kíp, xin cứ quay về quý tự. Dịp khác hữu duyên tương ngộ trên giang hồ, chúng ta sẽ uống rượu luận võ thỏa chí.

Vô Sắc thiền sư cả mừng:

– Thảo nào Dương đại hiệp quý trọng cô nương cũng phải. Cô nương quả là anh hiệp trong nhân quần, trượng phu trong nữ lưu, lão tăng vui lòng kết bạn với cô nương.

Quách Tương mỉm cười:

– Thiền sư là bằng hữu của Dương đại ca thì đã là bằng hữu của tiểu nữ từ sớm rồi còn gì.

Đoạn hai người cáo biệt nhau, Vô Sắc thiền sư trở lên Thiếu Lâm tự.

Quách Tương tiếp tục xuống núi. Trương Quân Bảo theo sau nàng, cách dăm sáu bước, không dám sánh vai đi ngang hàng. Quách Tương hỏi:

– Trương huynh đệ, vì sao các tăng nhân lại hành hạ sư phụ của huynh đệ như thế? Sư phụ của huynh đệ nội công thâm hậu, sợ gì bọn họ kia chứ?

Trương Quân Bảo tới gần hai bước, nói:

– Giới luật Thiếu Lâm tự rất nghiêm khắc, tăng chúng hễ phạm lỗi đều bị phạt, chứ không phải có ai cố ý hà hiếp sư phụ đâu.

Quách Tương ngạc nhiên:

– Sư phụ của huynh đệ là bậc chính nhân quân tử, thiên hạ chưa thấy ai tốt như thế, người đã phạm lỗi gì vậy? Ta nghĩ chắc sư phụ của huynh đệ chịu phạt thay cho ai đó, chứ người như thế còn phạm lỗi gì nữa.

Trương Quân Bảo nói:

– Nguyên ủy của việc này thực ra cô nương cũng biết đấy, tất cả chỉ bởi bộ kinh Lăng Già.

Quách Tương hỏi:

– Ồ, là bộ kinh bị hai tên Tiêu Tương Tử và Doãn Khắc Tây lấy trộm ấy à?

Trương Quân Bảo đáp:

– Phải. Hôm ấy trên đỉnh Hoa Sơn tiểu đệ được Dương đại hiệp chỉ giáo, chính tiểu đệ đã tự tay lục xét toàn thân hai kẻ đó, sau khi xuống núi thì không còn thấy tung tích của chúng đâu nữa. Hai thầy trò tiểu đệ đành trở về bẩm báo lão Phương trượng. Bộ kinh Lăng Già có bút tích của Đạt Ma tổ sư, Thủ tọa Giới luật đường khiển trách sư phụ tiểu đệ trông coi không cẩn thận, để mất bộ kinh vô giá đó nên mới phạt nặng như vậy. Phạt thế là đáng tội mà.

Quách Tương thở dài một tiếng, nói:

– Chẳng qua sư phụ của đệ gặp vận xui, chứ không thể bảo là đáng tội được.

Nàng chỉ lớn hơn Trương Quân Bảo vài tuổi, nhưng nghiễm nhiên tự coi mình là bề trên, lại hỏi: – Vì vụ ấy mà phạt không cho sư phụ của đệ nói năng hay sao?

Trương Quân Bảo đáp:

– Đó là giới luật truyền từ nhiều đời của bổn tự. Kẻ phạm lỗi phải đeo xiềng gánh nước, không được nói chuyện. Tiểu đệ nghe các lão thiền sư bổn tự bảo rằng tuy gọi là xử phạt, nhưng rất có ích cho kẻ bị phạt: Một người không nói năng gì thì tu luyện càng dễ tăng tiến; còn bị xiềng mà gánh nước cũng là dịp tốt để rèn luyện thể phách.

Quách Tương cười:

– Nói thế chẳng hóa ra sư phụ của đệ không hề bị phạt mà đang luyện võ công, còn ta chính là kẻ đa sự.

Trương Quân Bảo vội biện bạch:

– Hảo tâm của cô nương, sư đồ tiểu đệ vô cùng cảm kích, vĩnh viễn không quên.

Quách Tương khe khẽ thở dài, nhủ thầm:

– "Nhưng có người hẳn đã quên ta rồi".

Bỗng nghe có tiếng lừa kêu trong rừng cây. Chính là con lừa xanh của nàng đang gặm cỏ. Quách Tương nói:

– Trương đệ, đệ cũng khỏi cần tiễn tỷ nữa.

Đoạn nàng huýt một tiếng sáo miệng gọi con lừa xanh tới trước mặt. Trương Quân Bảo có vẻ quyến luyến, song chưa biết nói thế nào.

Quách Tương đưa đôi thiết La Hán đang cầm trong tay cho cậu:

– Tặng cho đệ đấy.

Trương Quân Bảo ngơ ngác, không dám giơ tay nhận, miệng ấp úng:

– Cái.. cái này..

Quách Tương nói:

– Đã bảo là tặng đệ thì đệ cứ nhận lấy.

Trương Quân Bảo nói:

– Đệ.. tiểu đệ..

Quách Tương liền nhét đôi thiết La Hán vào tay cậu, rồi nhảy lên lưng lừa.

Đột nhiên từ trên bậc đá lát đường sườn núi có tiếng người gọi vọng xuống:

– Quách nhị cô nương, hãy tạm dừng bước.

Chính là Vô Sắc thiền sư vừa từ Thiếu Lâm tự chạy ra. Quách Tương nghĩ thầm: "Lão hòa thượng này cũng đa lễ thật, hà tất cứ phải tiễn mình mới được?" Vô Sắc thiền sư đi rất nhanh, chỉ giây lát đã đuổi kịp Quách Tương. Thiền sư nói với Trương Quân Bảo:

– Ngươi hãy hồi tự, đừng đi lung tung trong rừng nữa.

Trương Quân Bảo cung thân vâng lệnh, nhìn Quách Tương một cái rồi đi lên núi.

Đợi cậu đi rồi, Vô Sắc thiền sư lấy trong tay áo ra một mảnh giấy nói:

– Quách nhị cô nương, cô nương có biết ai viết giấy này chăng?

Quách Tương nhảy xuống khỏi lưng lừa, cầm lấy mảnh giấy, thấy trên đó viết hai hàng chữ đậm, mực vẫn chưa ráo hẳn: "Võ công phái Thiếu Lâm, xưng hùng Trung nguyên, Tây Vực nhiều năm, Côn Luân Tam Thánh ít hôm nữa sẽ tới liều chết lĩnh giáo".

Nét bút rất phóng khoáng và cứng cát. Quách Tương hỏi:

– Côn Luân Tam Thánh là ai vậy? Xem ra khẩu khí của ba người này khá ngông cuồng.

Vô Sắc thiền sư nói:

– Thì ra cô nương cũng không quen biết họ.

Quách Tương lắc đầu:

– Chẳng những không quen biết, mà ngay mấy chữ Côn Luân Tam Thánh tiểu nữ cũng chưa nghe phụ mẫu nhắc bao giờ.

Vô Sắc thiền sư nói:

– Thế thì lạ thật!

Quách Tương hỏi:

– Có gì lạ kia ạ?

Vô Sắc thiền sư nói:

– Lão tăng và cô nương tuy gặp nhau lần đầu, nhưng lão tăng coi cô nương như chỗ thân tình, có thể nói thật cho cô nương hay. Cô nương có biết mảnh giấy này tìm thấy ở đâu không?

Quách Tương nói:

– Côn Luân Tam Thánh sai người mang đến phải không ạ?

Vô Sắc thiền sư đáp:

– Nếu họ sai người mang đến thì không có gì lạ. Tục ngữ có câu "Cây cao chịu gió lớn". Thiếu Lâm tự mấy trăm năm nay được coi là nguồn gốc võ lâm thiên hạ, cho nên liên tiếp có các bậc cao thủ đến chùa đòi tỷ võ tranh tài. Lần nào có người đến đòi so sánh tài nghệ, bổn tự cũng khoản đãi tử tế, cố tìm cách thoái thác, né tránh việc tỷ thí. Những người tu hành chú trọng tránh né sân si hỷ nộ, đâu muốn trình cường tranh thắng. Nếu ngày ngày chỉ lo tỷ thí với mọi người, còn gọi là đệ tử của Phật môn ư?

Quách Tương gật đầu:

– Lão thiền sư nói chí phải.

Vô Sắc thiền sư nói tiếp:

– Có điều là các võ sư đã tới bổn tự, nếu không thi thố vài miếng võ tất không cam chịu. La Hán đường của Thiếu Lâm tự phải chuyên trách cái việc tiếp các võ sư từ bên ngoài tới.

Quách Tương cười:

– Thế ra lão thiền sư phải chuyên trách cái vụ đánh nhau với người ngoài.

Vô Sắc thiền sư gượng cười:

– Nhìn chung các võ sư tới, dù võ công tài giỏi mấy, đệ tử của bổn đường cũng đủ khả năng đối phó, khỏi cần lão tăng phải ra tay. Riêng bữa nay thấy cô nương thân thủ bất phàm, lão tăng mới đứng ra đấu thử.

Quách Tương cười:

– Lão thiền sư coi trọng tiểu nữ quá rồi.

Vô Sắc thiền sư nói:

– Chà, lão tăng càng nói càng xa đề! Chẳng giấu gì cô nương, mảnh giấy này được lấy xuống từ bàn tay tượng Phật Giáng Long trong La Hán đường.

Quách Tương hỏi:

– Ai đã gài nó vào bàn tay tượng Phật?

Vô Sắc thiền sư gãi đầu:

– Nào có biết. Thiếu Lâm tự đến mấy trăm tăng nhân, nếu có người lạ lẻn vào chùa, lẽ nào không ai phát hiện? Riêng La Hán đường luôn luôn có tám đệ tử luân phiên canh gác suốt ngày đêm. Vừa rồi có người phát hiện mảnh giấy này, vội phi báo với Phương trượng, ai nấy cho là kỳ quái nên mới triệu lão tăng về nghị sự.

Quách Tương nghe tới đây, đã hiểu ý của Vô Sắc thiền sư, bèn nói:

– Có phải lão thiền sư nghi tiểu nữ thông đồng với

Côn Luân Tam Thánh, tiểu nữ ở bên ngoài quấy nhiễu để ba kẻ kia lẻn vào La Hán đường gài mảnh giấy này, phải vậy không?

Vô Sắc thiền sư nói:

– Lão tăng đã gặp cô nương, dĩ nhiên không chút nghi ngờ. Nhưng có một sự trùng hợp là cô nương vừa rời khỏi bổn tự, thì người ta phát hiện ra mảnh giấy này trong La Hán đường. Phương trượng và Vô Tướng thiền sư không thể không nghi cho cô nương.

Quách Tương nói:

– Tiểu nữ không hề quen biết ba kẻ nọ. Lão thiền sư sợ gì kia chứ? Mươi ngày sau nếu chúng cả gan kéo đến, cứ tỷ thí với chúng một phen xem ai hơn ai kém là xong.

Vô Sắc thiền sư nói:

– Sợ gì, dĩ nhiên là không sợ gì. Nếu cô nương không liên can gì tới chúng thì lão tăng khỏi cần lo ngại.

Quách Tương hiểu rằng Vô Sắc thiền sư có hảo ý, lo ngại Côn Luân Tam Thánh có quen biết với nàng, khi giao đấu sẽ phải giữ ý giữ tứ để khỏi đắc tội với bằng hữu, nàng bèn nói:

– Lão thiền sư, nếu bọn chúng thực tình muốn nghiên cứu võ công với quý tự thì thôi, bằng không lão thiền sư cứ giã cho chúng một trận nên thân. Cứ xem khẩu khí qua mảnh giấy này đủ thấy bọn chúng ngông cuồng lắm. Thế nào là "liều chết lĩnh giáo"? Chẳng lẽ Thiếu Lâm tự có bảy mươi hai tuyệt kỹ võ nghệ, bọn chúng đều muốn "liều chết lĩnh giáo" cả hay sao?

Nói đến đây, như chợt nghĩ ra việc gì, nàng tiếp:

– Không chừng trong quý tự có kẻ thông đồng với bọn chúng mà lén gài mảnh giấy này vào bàn tay tượng Phật cũng nên.

Vô Sắc thiền sư nói:

– Điều này các lão tăng cũng đã tính đến, nhưng chắc chắn bổn tự không có kẻ phản trắc như thế. Bàn tay của Phật Giáng Long La Hán ở trên cao, cách mặt đất hơn ba trượng, ngày thường quét bụi đều phải kê giá leo lên. Hiếm người có tài khinh công đủ nhảy cao tới đó. Bổn tự dù có kẻ phản nghịch chăng nữa, hắn cũng không thể tài giỏi như vậy.

Lòng hiếu kỳ của Quách Tương trỗi dậy, nàng rất muốn gặp mặt xem Côn Luân Tam Thánh rốt cuộc là các nhân vật thế nào, muốn xem bọn chúng tỷ thí võ nghệ với các tăng nhân Thiếu Lâm tự, xem ai thắng ai bại. Nhưng Thiếu Lâm tự có lệ không tiếp đãi nữ khách, xem ra nàng chẳng thể chứng kiến trận tỷ thí ngoạn mục kia.

Vô Sắc thiền sư thấy nàng cúi đầu trầm tư, tưởng nàng đang nghĩ kế hộ Thiếu Lâm tự, bèn nói:

– Một ngàn năm nay Thiếu Lâm tự từng trải qua bao phong ba bão tố mà vẫn bình yên. Nay nếu Côn Luân Tam Thánh cố ý gây khó dễ, họ sẽ biết thế nào là uy phong của Thiếu Lâm tự. Quách cô nương, nửa tháng nữa trên giang hồ cô nương hãy lắng nghe tin tức, xem Côn Luân Tam Thánh có làm gì nổi Thiếu Lâm tự hay không.

Nói tới đây, Vô Sắc thiền sư bỗng trở nên bừng bừng hào sảng như hồi tráng niên. Quách Tương mỉm cười nói:

– Ban nãy lão thiền sư vừa bảo còn sân si hỷ nộ thì không phải là đệ tử Phật môn kia mà? Được rồi, nửa tháng sau tiểu nữ sẽ chờ nghe tin mừng.

Đoạn nàng quay người nhảy lên lưng lừa, hai người nhìn nhau cùng mỉm cười.

Quách Tương giục con lừa xanh đi thẳng xuống núi, lòng đinh ninh thể nào cũng phải tìm cách mục kích cuộc nhiệt náo sắp tới cho bằng được.

Nàng nghĩ thầm: "Mình phải tìm một cách thật hoàn hảo để mươi ngày sau trà trộn vào Thiếu Lâm tự thưởng thức trận đấu ngoạn mục kia mới được". Lại nghĩ: "Chỉ e Côn Luân Tam Thánh không có chân tài thực học, chưa chi đã bị các vị hòa thượng đánh bại thì cuộc nhiệt náo bất thành. Giả như bọn chúng có được nửa bản lĩnh của ông ngoại, của phụ thân hoặc của đại ca, thì sự kiện" Côn Luân Tam Thánh đại náo Thiếu Lâm tự "mới đáng xem".

Nghĩ tới Dương Quá, nàng lại ấm ấm ức ức. Ba năm nay Quách Tương tìm kiếm chàng khắp nơi, nhưng hình bóng chàng vẫn biền biệt. Núi Chung Nam cổ mộ từng dãy, lũng Vạn Hoa muôn đóa rời cành, Tuyệt Tình cốc vắng vẻ tịch mịch, bến Phong Lăng ánh nguyệt lạnh lùng. Nàng đã bao lần tự nhủ: "Thực ra, dù ta tìm thấy chàng, thì cũng có nghĩa lý gì đâu? Hay chỉ nặng thêm mối tương tư, sầu não? Chàng sở dĩ lánh đi thật xa có lẽ chỉ cốt cho ta đỡ đau khổ cũng nên. Vốn biết chỉ là hoa trong gương, trăng dưới nước, hoàn toàn ảo ảnh, chẳng hiểu sao ta vẫn cứ nhớ nhung, tìm kiếm".

Nàng để mặc con lừa xanh muốn đưa tới đâu thì tới, cứ thẩn tha trong núi Thiếu Thất, đi mãi về hướng tây, đã vào địa giới Tung Sơn, nhìn lại đỉnh núi Đông của núi Thiếu Thất chỉ thấy nó cao chót vót, dọc đường phong cảnh khá đẹp, ngắm không chán mắt. Cứ thế ngao du mấy hôm thì tới Tam Hưu đài, nàng nghĩ thầm: "Tam Hưu, Tam Hưu! Tại sao chỉ có Tam Hưu? Đời người có hàng ngàn hàng vạn Hưu, há chỉ có Tam Hưu?"

Nàng rẽ sang hướng bắc, qua một đỉnh núi, chỉ thấy có tới hơn ba trăm cây bách cổ thụ cao vút, rễ quấn quýt bên dưới, lá kết hoa trên ngọn, sáng đẹp cả một vùng. Nàng đang mải ngắm cảnh, bỗng nghe từ phía sau thung lũng văng vẳng tiếng đàn vọng lại, ngạc nhiên nghĩ thầm: "Giữa chốn hoang vu này lại có cao nhân nhã sĩ nào tới đây dạo đàn nhỉ". Từ nhỏ nàng đã được mẫu thân giáo huấn, cầm kỳ thi họa môn gì cũng am hiểu, tuy chưa tinh thông nhưng nhờ bẩm tính thông tuệ, lại ưa tìm tòi phát hiện, nên khi đàm luận với mẫu thân về đàn, về sách, nàng thường đưa ra những kiến giải độc đáo, những phát hiện mới mẻ. Lúc này nghe thấy tiếng đàn, lòng hiếu kỳ trỗi dậy, nàng bèn xuống lừa, đi tìm về phía tiếng đàn.

Đi hơn chục trượng, thoạt nghe trong tiếng đàn có lẫn vô số tiếng chim; nhưng khi lắng nghe mới hay tiếng đàn và tiếng chim như đang ứng đáp, phối hợp tiết tấu với nhau hết sức ăn ý. Quách Tương nấp sau một bụi hoa, đưa mắt về phía phát ra tiếng đàn, thì thấy dưới gốc ba cây thông lớn có một bạch y nam tử ngồi quay lưng về phía nàng, cây tiêu vĩ cầm đặt trên gối, đang gảy đàn. Trên các cành cây xung quanh chàng ta có vô số loài chim như hoàng oanh, đỗ quyên, hỷ thước, sơn ca, sáo sậu, và nhiều giống chim không rõ tên hoặc đang đối đáp, hoặc hòa tấu cùng tiếng đàn. Quách Tương nghĩ thầm: "Mẫu thân kể rằng trong các nhạc khúc có khúc" Không sơn điểu ngữ "bị thất truyền từ lâu, chẳng lẽ chính là khúc này?"

Nàng nghe một lát, thấy tiếng đàn lên cao dần, tới mức bầy chim không kêu hót nữa; trên không trung bỗng tràn ngập tiếng chim vỗ cánh, từ bốn phía đông tây nam bắc cơ man nào là chim bay đến hoặc tụ tập trên các cành cây, hoặc bay lượn xập xòe khoe những bộ lông ngũ sắc, cứ y như một kỳ quan. Tiếng đàn trung chính bình hòa, cho thấy người gảy đàn có phong thái của bậc vương giả.

Quách Tương kinh ngạc nghĩ thầm: "Người kia dùng tiếng đàn mà quy tụ được ngần ấy chim muông, chẳng lẽ vừa rồi là nhạc khúc 'Bách điểu triều phụng'? Chỉ tiếc ông ngoại không có ở đây, chứ không thì cây ngọc tiêu thiên hạ vô song của ông ngoại hòa với tiếng đàn người kia sẽ tuyệt diệu vô cùng".

Người kia gảy tới khúc cuối, tiếng đàn thấp dần, bầy chim trên cây cùng nhau cất cánh bay lượn. Chợt "keng" một tiếng, tiếng đàn im bặt, chim muông dần dần bay tản đi.

Người kia tiện tay gảy vài âm ngắn, rồi ngửa mặt lên trời thở dài:

– Ôm trường kiếm, ngước nhìn trời, kìa nước xanh, nọ đá trắng, sao chẳng ở bên nhau! Thế gian không có tri âm tri kỷ, dù sống ngàn năm phỏng ích gì?

Nói đến đây, người nọ đột nhiên rút từ bên dưới cây đàn ra một thanh trường kiếm, chỉ thấy một đạo thanh quang lóe lên trong bóng cây. Quách Tương nghĩ thầm: "Thì ra người này văn võ toàn tài, không rõ kiếm pháp của y như thế nào?"

Người kia thong thả bước tới khoảng đất trống trước cây thông cổ thụ, dùng mũi kiếm vạch xuống đất các đường ngang dọc. Quách Tương ngạc nhiên nghĩ thầm: "Thế gian sao lại có thứ kiếm pháp quái lạ như vậy? Lẽ nào vạch mũi kiếm loạn xạ trên mặt đất là có thể thắng địch thủ được sao? Người này thật kỳ dị, khó đoán biết!"

Thử để ý chiêu thức, thấy chàng ta vạch ngang mười chín đường, rồi chuyển sang vạch dọc cũng mười chín đường; kiếm chiêu trước sau không thay đổi, toàn là vạch đường thẳng. Quách Tương dựa theo kiếm thế, dùng tay vạch theo trên mặt đất, suýt cười thành tiếng, thì ra có phải kiếm pháp kỳ quái gì đâu, chẳng qua chàng ta dùng mũi kiếm vẽ một bàn cờ, ngang dọc mỗi chiều mười chín đường.

Vẽ bàn cờ xong, chàng ta dùng mũi kiếm vẽ một vòng tròn ở phía trên góc trái và phía dưới góc phải, vạch dấu chữ X phía trên góc phải và phía dưới góc trái. Quách Tương đã thấy rõ đó là bàn cờ vây, những vòng tròn là quân trắng, dấu X là quân đen. Đoạn chàng ta khuyên một vòng tròn nữa ở phía trên góc trái, cách vòng tròn ban đầu ba ô, còn bên dưới vòng tròn hai ô thì vạch một dấu X. Khi chàng ta đặt đến quân cờ thứ mười chín thì chống mũi kiếm, cúi đầu suy tư, chưa quyết định nên thí quân lấy thế, hay là tranh lực ở góc bàn cờ.

Quách Tương nghĩ thầm: "Hóa ra người kia cũng cô đơn lẻ bóng như ta, ngồi gảy đàn chốn núi hoang, lấy chim muông làm tri âm, đánh cờ không đối thủ, đành tự đấu với mình vậy".

Người kia nghĩ một lát, quân trắng chưa chịu thua, đang triển khai kịch chiến với quân đen ở góc trái; đôi bên tranh giành ngang ngửa, từ bắc xuống nam, dần dần tới vùng Trung nguyên là giữa bàn cờ. Quách Tương chăm chú theo dõi, cứ bước tới mỗi lúc một gần, thấy quân trắng ở thế thua, trước sau luôn luôn bị lép vế, đến nước thứ chín mươi ba thì gặp thế công liên hoàn của quân đen, đã vô cùng nguy cấp, song chàng ta vẫn cố chống chọi. Tục ngữ có câu "Cờ ngoài bài trong". Quách Tương tuy không cao cờ, nhưng cũng nhận ra, nếu quân trắng không chịu thí quân thì khó tránh toàn quân ở Trung nguyên bị tiêu diệt; nàng không nhịn được, bèn buột miệng nói to:

– Sao không bỏ Trung nguyên mà giành lấy Tây Vực?

Người kia rùng mình, thấy ở mé tây bàn cờ có một khoảng trống rộng lớn, nếu nhân lúc này đặt luôn hai quân chiếm lấy, thì dù có bỏ mảng giữa, cũng vẫn duy trì được cục diện bất phân thắng bại. Người kia được Quách Tương mách nước, ngửa mặt lên trời cả cười, miệng nói:

– Hay, hay lắm!

Đoạn đi tiếp vài nước, mới sực nhớ có người lạ ở bên cạnh, bèn quẳng kiếm xuống đất, quay người lại hỏi:

– Tại hạ đa tạ vị cao nhân nào vừa chỉ giáo?

Rồi chàng ta hướng về phía Quách Tương ẩn núp mà vái một vái.

Quách Tương thấy người kia mặt dài, mắt sâu, má hõm, trạc ba mươi tuổi. Tính nàng vốn phóng khoáng, chẳng câu nệ nam nữ, liền từ phía sau bụi cây bước ra, cười nói:

– Vừa rồi được nghe tiên sinh tấu khúc nhạc "Không sơn điểu ngữ" khiến chim muông quây quần, tiểu nữ thật thán phục! Sau lại thấy tiên sinh vẽ bàn cờ trên mặt đất, tự đấu cờ tài tình, tiểu nữ đứng ngoài xem không nhịn nổi mới lên tiếng xen vô, mong tiên sinh lượng thứ.

Người kia thấy Quách Tương là một thiếu nữ thì quá ngạc nhiên, nhưng nghe nàng ca ngợi tiếng đàn liền cao hứng đáp lại:

– Cô nương thông hiểu nhạc lý, liệu có thể cho tại hạ thưởng thức vài bản đàn hay chăng?

Quách Tương cười nói:

– Tiểu nữ tuy có được thân mẫu dạy đàn, song không thể so với tuyệt kỹ thần kỳ của tiên sinh. Có điều tiểu nữ đã được nghe diệu khúc của tiên sinh, mà không hồi đáp thì e thất lễ quá. Vậy tiểu nữ xin gảy một bài, chỉ mong tiên sinh đừng cười.

Người kia nói:

– Đâu dám.

Đoạn dùng cả hai tay nâng cây đàn đến trước mặt Quách Tương.

Quách Tương thấy cây đàn rất cổ, có nhiều vết rạn nứt; nàng lên dây, dạo thử vài tiếng, rồi gảy khúc "Khảo bàn". Thủ pháp của nàng dĩ nhiên không có gì kỳ diệu, nhưng người kia nghe đàn với vẻ mặt ngạc nhiên xen lẫn vui mừng. Thì ra khúc nhạc này xuất xứ từ một bài thơ trong Kinh Thi, ca ngợi bậc ẩn sĩ, đại ý là có một đấng trượng phu ngao du sơn thủy, bên dòng suối vắng, đơn độc một mình, dáng vẻ tiều tụy, nhưng chí hướng cao khiết thì không bao giờ thay đổi.

Người kia nghe tiếng đàn diễn tả đúng tâm sự của mình liền cảm kích vô cùng; tiếng đàn đã dứt mà chàng ta vẫn cứ đứng ngây ra đó.

Quách Tương đặt nhẹ cây đàn xuống, quay mình rời khỏi chốn này, vừa cất tiếng ca bài Kinh Thi vừa rồi, vừa vẫy con lừa xanh tới, nàng lại cưỡi lừa đi tiếp vào rừng sâu.

Ba năm lang thang đây đó trên giang hồ, nàng từng gặp biết bao nhiêu điều kỳ dị, chuyện người kia gảy đàn rủ chim, vạch bàn cờ tự đấu cũng chỉ như cánh bèo tụ tán, nhanh chóng thoảng qua, chẳng còn dấu vết.

Hai ngày sau, bấm đốt ngón tay, nàng nhớ từ hôm rời Thiếu Lâm tự đến nay đã mười ngày, đã gần tới thời gian Côn Luân Tam Thánh hẹn ước tỷ thí võ nghệ với chúng tăng Thiếu Lâm tự. Quách Tương chưa biết làm cách thế nào lẻn vào trong chùa xem cuộc nhiệt náo, nghĩ thầm: "Mẫu thân ta gặp việc gì cũng chỉ cau mày một cái là nghĩ ngay ra mười mấy diệu kế, mình thì quá ngu xuẩn, một kế tính mãi cũng chẳng xong. Thôi được, dẫu sao bây giờ mình hãy cứ đến bên ngoài Thiếu Lâm tự xem rồi liệu sau. Không chừng các tăng nhân mải lo đối phó với kẻ địch mà quên cả việc ngăn cản ta vào chùa cũng nên".

Nàng ăn qua loa chút lương khô, rồi cưỡi con lừa xanh đi về phía Thiếu Lâm tự. Cách chùa mươi dặm, chợt nghe tiếng vó ngựa; trên con đường núi bên trái có ba người phóng ngựa tới. Ba con ngựa ấy phi rất nhanh, thoáng một cái đã lướt qua chỗ Quách Tương, thẳng về phía Thiếu Lâm tự. Ba người cưỡi ngựa đều trạc ngũ tuần, bận y phục ngắn màu xanh, treo túi binh khí trên yên.

Quách Tương liền nghĩ thầm: "Ba lão kia đều có võ công, dám mang binh khí tới chùa, hẳn là Côn Luân Tam Thánh. Mình mà đến chậm một bước, chỉ e lỡ mất dịp may". Nghĩ đoạn nàng đét mạnh vào mông con lừa, nó ngẩng cao đầu hí một tiếng dài, phóng vội theo ba con ngựa.

Ba lão già cưỡi ngựa luôn tay vung roi giục ngựa; ba con ngựa tung vó lao nhanh, loáng một cái đã bỏ xa con lừa của Quách Tương. Một lão già ngoảnh nhìn lại, vẻ mặt hơi lạ.

Quách Tương thúc lừa đuổi theo hai, ba dặm nữa thì mất hút nhóm kỵ sĩ kia. Con lừa xanh của nàng sau một hồi gắng sức đã thở phì phò gấp gáp, có vẻ sắp kiệt sức. Quách Tương quát to:

– Con súc sinh vô dụng này, ngày thường chẳng vội thì cứ giở quẻ phóng nhanh; đến lúc bổn cô nương cần mi phóng thật nhanh thì mi chạy chậm như rùa.

Thấy thúc nó cũng chẳng xong, nàng bèn xuống lừa, vào một thạch đình bên đường ngồi nghỉ đôi chút, cho con lừa uống nước suối cạnh đó. Lát sau, bỗng nghe tiếng vó ngựa, thì ra ba lão già lúc nãy phi ngựa trở lại. Quách Tương ngạc nhiên quá đỗi, nghĩ thầm: "Tại sao họ phi ngựa trở lại, chẳng lẽ họ không chịu nổi vài đòn?"

Ba người kia phóng thẳng vào thạch đình, cùng nhảy xuống ngựa. Quách Tương bây giờ có dịp nhìn kỹ họ. Một lão lùn mặt đỏ như chu sa, mũi cũng đỏ choét, miệng tủm tỉm cười, trông hòa nhã dễ mến; lão thứ hai cao như sếu vườn, mặt xanh tái, tựa hồ quanh năm suốt tháng không ra nắng. Hai lão già kia thân hình và diện mạo hoàn toàn tương phản nhau; còn lão thứ ba tướng mạo bình thường, nhưng sắc mặt vàng khè như kẻ có bệnh.

Quách Tương nổi lòng hiếu kỳ, lên tiếng hỏi:

– Ba vị lão tiên sinh đã tới Thiếu Lâm tự hay chưa? Tại sao vừa mới lên đó đã quay trở xuống?

Lão mặt xanh lườm nàng một cái, tựa hồ trách cứ nàng dám lục vấn lung tung. Lão lùn mặt hồng mũi đỏ cười hỏi lại:

– Sao cô nương biết bọn ta đến Thiếu Lâm tự?

Quách Tương nói:

– Có mỗi con đường này, không đến Thiếu Lâm tự thì còn đi đâu kia chứ?

Lão lùn nói:

– Cô nương nói không sai, thế còn cô nương định đi đâu?

Quách Tương đáp nói:

– Các vị đến Thiếu Lâm tự, tiểu nữ cũng đến Thiếu Lâm tự.

Lão mặt xanh nói:

– Thiếu Lâm tự xưa nay không cho phép nữ lưu đến đó và cũng cấm người ngoài mang khí giới vào chùa.

Giọng nói của lão rất ngạo mạn, thân hình lại quá cao, nên lúc nói ánh mắt lão nhìn qua đầu chứ không phải nhìn vào mặt Quách Tương.

Quách Tương khó chịu nói:

– Thế sao các vị lại mang theo khí giới? Cái túi đeo bên yên ngựa kia chẳng phải đựng khí giới đó sao?

Lão mặt xanh lạnh lùng đáp:

– Ngươi làm sao có thể so bì với bọn ta?

Quách Tương cười nhạt:

– Ba vị thì hơn nỗi gì? Hơn ở sự ngang ngạnh chăng? Côn Luân Tam Thánh đã tỷ thí với các hòa thượng Thiếu Lâm tự hay chưa? Ai thắng ai bại vậy?

Ba lão già nghe vậy hơi biến sắc. Lão mặt đỏ hỏi:

– Tiểu cô nương, tại sao ngươi biết chuyện Côn Luân Tam Thánh?

Quách Tương đáp:

– Thì tự nhiên biết thôi!

Lão mặt xanh bỗng tiến một bước, quát hỏi:

– Tên họ mi là gì? Môn hạ của ai? Đến Thiếu Lâm tự làm gì?

Quách Tương trừng mắt nói:

– Không liên can tới ngươi.

Lão mặt xanh tức giận, giơ tay lên định cho nàng một cái tát, nhưng sực nghĩ mình cậy lớn hiếp nhỏ, cậy nam khinh nữ chẳng hay hớm gì; hơn nữa thân phận cao quý sao lại đi dính vào chuyện con nít nhà người. Nghĩ vậy, lão hơi chuyển mình, giơ tay rút thanh đoản kiếm đang đeo ở lưng Quách Tương. Thủ pháp của lão nhanh khôn tả. Quách Tương chỉ cảm thấy một làn gió lạnh thoảng qua, bóng người loáng một cái, thanh kiếm của nàng đã bị người ta đoạt mất.

Bất ngờ không kịp đề phòng, bị kẻ khác đoạt vũ khí, thật là điều chưa từng xảy ra từ khi nàng bước chân vào chốn giang hồ. Thực ra, võ công và lịch duyệt của nàng hoàn toàn chưa đủ để dấn thân vào chốn giang hồ, nhưng tám chín phần trong giới võ lâm đều biết nàng là quý nữ của Quách Tĩnh và Hoàng Dung. Sau lần Dương Quá tổ chức mừng sinh nhật cho nàng, ngay trong giới bàng môn tả đạo hầu hết ai cũng đều biết nàng; nếu không trọng Quách Tĩnh và Hoàng Dung thì cũng phải nể mặt Dương Quá. Thêm vào đó, Quách Tương vừa xinh đẹp, vừa hào phóng hiếu khách, dù là dân bán hàng rong hay chủ tiệm thịt chó, nàng cũng coi trọng như nhau, thi thoảng vẫn thết họ chén rượu. Vì thế, tuy giang hồ đầy rẫy phong ba hiểm ác, song nàng đều hóa hung thành cát, chưa hề bị thất thế một lần. Bây giờ bất ngờ bị lão già mặt xanh kia đoạt kiếm, nàng chưa biết đối phó ra sao. Nếu xông lên giành lại, tự nghĩ võ công còn thua xa lão; song nếu bó tay, thì há cam lòng?

Lão mặt xanh dùng ngón trỏ và ngón giữa tay trái kẹp bao kiếm, lạnh lùng nói:

– Kiếm của mi, lão đây tạm giữ. Mi dám vô lễ với ta, hẳn do phụ mẫu và sư phụ của mi thiếu giáo huấn mà nên. Mi hãy về bảo họ tới gặp ta mà nhận lại kiếm; để ta hướng dẫn cho phụ mẫu và sư phụ của mi cách giáo huấn mi.

Lời lẽ đó khiến Quách Tương đỏ bừng mặt; nói thế khác gì bảo nàng không phải con nhà gia giáo. Nàng tự nhủ: "Được lắm! Lão chửi mắng ta, chửi cả ông bà cha mẹ ta nữa. Lão có bản lĩnh thông thiên hay sao mà dám cả gan như vậy?" Nàng định thần giây lát, cố nén giận, hỏi:

– Này lão kia, tên lão là gì?

Lão mặt xanh hừ một tiếng, nói:

– Ai bảo mi nói năng vô lễ như thế? Để lão dạy cho, mi phải hỏi: Xin thỉnh giáo quý tính đại danh của lão tiền bối là chi?

Quách Tương tức giận nói:

– Ta cứ thích hỏi lão tên gì đấy. Lão không muốn nói thì thôi, ta chẳng cần biết. Thanh kiếm kia cũng chẳng đáng gì, lão lớn tuổi mà không biết tự trọng lại đi cướp giật của kẻ hậu bối, ta chẳng thèm đòi.

Đoạn nàng quay người ra khỏi thạch đình.

Bỗng một cái bóng đỏ loáng qua trước mặt, lão lùn mặt đỏ đã chắn đằng trước, lim dim mắt, nói:

– Con gái chớ nên nóng nảy như thế. Rồi đây sắp về làm dâu nhà người, chẳng lẽ cứ thế nói năng với cha mẹ chồng hay sao? Thôi được, để lão nói cho cô nương biết, ba lão đây là sư huynh sư đệ, mấy ngày qua từ ngoài Tây Vực xa hàng vạn dặm tới Trung nguyên..

Quách Tương bĩu môi, ngắt lời:

– Lão không nói, ta cũng biết. Ở Thần Châu Trung nguyên này người ta không hề biết đến tự hiệu của ba lão.

Ba lão già đưa mắt nhìn nhau. Lão mặt đỏ hỏi:

– Xin hỏi cô nương, tôn sư là vị nào vậy?

Ở Thiếu Lâm tự, Quách Tương không chịu nói tên phụ mẫu; còn lúc này vì tức giận, nên nàng liền nói:

– Thân phụ ta họ Quách tên Tĩnh, thân mẫu ta họ Hoàng, tên Dung. Ta không có sư phụ, võ nghệ là do phụ mẫu chỉ dẫn qua loa đôi chút.

Ba lão già lại đưa mắt nhìn nhau. Lão mặt xanh lẩm bẩm: "Quách Tĩnh? Hoàng Dung? Họ thuộc môn phái nào vậy? Là đệ tử của ai nhỉ?"

Quách Tương nghe lão mặt xanh lẩm bẩm như thế thì càng bực, nghĩ thầm: "Phụ mẫu ta danh tiếng lẫy lừng thiên hạ, chẳng riêng người trong võ lâm, ngay cả bá tánh tầm thường ai ai cũng biết Quách đại hiệp vì nghĩa giữ thành Tương Dương như thế nào".

Nhưng nhìn mặt ba lão già kia, nàng thấy không có vẻ gì là giả dối, nàng chợt hiểu: "Côn Luân Tam Thánh ở tận Tây Vực xa xôi, chưa hề tới đất Trung nguyên. Võ công của họ cao siêu, phụ mẫu ta cũng chưa lần nào nhắc đến họ; thế thì họ không biết danh tiếng phụ mẫu ta cũng chẳng có gì là lạ. Chắc xưa nay họ ẩn cư chốn thâm sơn cùng cốc ở Côn Luân, chuyên tâm tập luyện võ nghệ, nên không hay biết gì chuyện bên ngoài". Nghĩ tới đó, cơn giận tiêu tan, nàng vốn không phải là một thiếu nữ xấc xược, bèn nói:

– Tiểu nữ họ Quách, tên Tương, là chữ Tương trong "Tương Dương" ấy mà. Vậy là tiểu nữ đã xưng danh rồi đó. Còn ba vị, xin thỉnh vấn ba vị lão tiên sinh quý tính đại danh là chi?

Lão mặt đỏ cười hì hì:

– Hay lắm, tiểu cô nương như thế mới ngoan, vừa dạy đã hiểu liền. Thế mới là đạo tôn kính bề trên.

Lão chỉ người mặt vàng, nói:

– Đây là đại sư huynh của các lão, họ Phan, tên Thiên Canh. Lão đây là nhị sư huynh, họ Phương, tên Thiên Lao.

Đoạn chỉ người mặt xanh, nói:

– Còn đây là tam sư đệ, họ Vệ, tên Thiên Vọng. Ba huynh đệ lão đều có đệm chữ Thiên.

Quách Tương vừa nghe vừa lẩm nhẩm ghi nhớ, rồi hỏi:

– Chẳng hay ba vị đã tới Thiếu Lâm tự chưa? Ba vị tỷ thí võ công với các hòa thượng phải không? Võ nghệ bên nào cao hơn?

Lão mặt xanh, tức Vệ Thiên Vọng, hừ một tiếng, quát nói:

– Sao chuyện gì mi cũng biết hết vậy? Bọn ta tính tỷ thí với đám hòa thượng Thiếu Lâm tự, thiên hạ này chưa ai hay biết, làm sao mi biết hả? Nói mau!

Vừa nói lão vừa sấn đến trước mặt Quách Tương, tay phải nắm chặt lại, mắt trừng trừng dữ tợn.

Quách Tương nghĩ thầm: "Ta há sợ sự uy hiếp của lão? Ta cũng định nói cho lão biết, nhưng lão càng tỏ vẻ hung ác, ta càng không nói", đoạn nàng cũng trừng mắt nhìn lại, lạnh lùng nói:

– Cái tên của lão không hợp đâu, phải đổi thành Thiên Ác mới đúng.

Vệ Thiên Vọng cả giận, hỏi:

– Mi bảo sao hả?

Quách Tương đáp nói:

– Một nhân vật hung thần ác sát như lão, bổn cô nương đây chưa từng gặp. Lão đã cướp binh khí của người ta, lại còn hung hung hăng hăng, chẳng phải ác thần hạ phàm thì là gì?

Vệ Thiên Vọng kêu mấy tiếng ồ ồ trong họng như tiếng thú rống, ngực lão ta đột nhiên phình to gấp đôi lúc bình thường, râu tóc và lông mày như dựng đứng cả lên.

Lão mặt đỏ, tức Phương Thiên Lao, vội nói:

– Tam đệ, đừng nổi nóng!

Rồi cầm tay Quách Tương kéo nàng về phía sau mấy thước, tự mình đứng chắn ở giữa hai người.

Quách Tương thấy bộ điệu của Vệ Thiên Vọng như thế, lão ta mà động thủ hẳn khí thế phải đáng sợ lắm. Bất giác nàng ngầm lo sợ.

Vệ Thiên Vọng dùng tay phải rút kiếm khỏi bao, lấy hai ngón tay trái kẹp lưỡi kiếm, vận sức bẻ nghe "cắc" một tiếng, thanh đoản kiếm gãy đôi. Đoạn lão ta cắm nửa kiếm gãy vào bao, nói:

– Ai thèm lấy thanh đoản kiếm vô dụng của mi làm gì?

Quách Tương thấy sức mạnh của hai ngón tay lão ta như thế lại càng thêm kinh hãi.

Vệ Thiên Vọng thấy nàng tái mặt thì đắc chí, ngửa mặt cười ha hả; tiếng cười nghe chói cả tai, làm rung cành cạch cả lớp ngói lợp thạch đình.

Bỗng nghe "ịch" một tiếng, đỉnh thạch đình vỡ toác, hất xuống đất một vật lớn. Mấy người cùng cả kinh, ngay Vệ Thiên Vọng cũng không ngờ rằng mình vận nội lực để phát ra tiếng cười lại có thể làm chấn động lớp ngói lợp thạch đình, như vậy là trong thời gian gần đây nội công của lão ta đã tiến triển vượt bậc. Khi lão ta nhìn kỹ vật vừa rơi xuống thì càng kinh dị hơn, vì đó là một bạch y hán tử trạc tam tuần, hai tay ôm cây đàn, đang nằm đó ngủ khì.

Quách Tương mừng rỡ:

– Kìa, sao tiên sinh lại ở đây?

Thì ra đó chính là người gảy đàn và tự đấu cờ trong rừng thông ít hôm trước Quách Tương đã gặp.

Người kia nghe giọng nói của Quách Tương, liền choàng dậy, nói:

– Cô nương, ta tìm cô nương khắp nơi chẳng thấy, không ngờ lại gặp ở đây.

Quách Tương hỏi:

– Tiên sinh tìm tiểu nữ làm chi?

Người kia đáp nói:

– Vì ta quên thỉnh vấn quý tính đại danh của cô nương.

Quách Tương nói:

– Thỉnh với chả vấn quý tính đại danh, nghe văn vẻ sáo rỗng lắm, tiểu nữ chẳng thích nghe đâu.

Người kia ngẩn ra giây lát, rồi cười:

– Đúng lắm, đúng lắm! Càng văn vẻ sáo rỗng, càng làm bộ làm tịch, thì càng không có chân tài thực học. Những kẻ đó chỉ lừa dối được dân quê thôi.

Đoạn nhìn chằm chằm vào mặt Vệ Thiên Vọng mà cười nhạt mấy tiếng. Quách Tương cả mừng, không ngờ chàng ta hiểu hàm ý của nàng nhanh đến thế, lại còn lên tiếng bênh vực nàng nữa.

Vệ Thiên Vọng cũng trợn mắt nhìn người kia, mặt càng xanh thêm, lạnh lùng hỏi:

– Các hạ là ai?

Người kia chẳng buồn trả lời, nói với Quách Tương:

– Cô nương, cô nương tên là gì nhỉ?

Quách Tương đáp nói:

– Tiểu nữ họ Quách, tên Tương.

Người kia vỗ tay reo lên:

– Ồ, tại hạ quả có mắt mà không thấy Thái Sơn. Thì ra đây là Quách đại cô nương lừng danh bốn bể. Lệnh tôn Quách Tĩnh đại hiệp, lệnh đường Hoàng Dung nữ hiệp, trừ mấy kẻ vô tri vô thức, lẫn lộn tốt xấu ra, trên giang hồ có ai không biết. Hai vị đó văn võ song toàn, đao thương kiếm kích, quyền chưởng khí công, cầm kỳ thi họa, thi từ ca phú, môn nào cũng thông hiểu hơn người. Ha ha, chỉ có mấy gã ngông cuồng ngu xuẩn mới không biết hai vị ấy thôi!

Quách Tương thầm khoái chí: "Thì ra chàng ta nấp trên thạch đình đã nghe thấy ta đối đáp với ba lão già kia, chớ thực ra chàng ta cũng có biết phụ mẫu ta là người thế nào đâu. Mình thứ hai, mà chàng ta lại gọi mình là Đại cô nương, lại bảo phụ thân ta thông hiểu cầm kỳ thi họa, thi từ ca phú, quả thật tức cười". Nghĩ đoạn, nàng hỏi:

– Thế còn tiên sinh tên chi?

Người kia đáp:

– Ta họ Hà, tên Túc Đạo.

Quách Tương cười:

– Hà Túc Đạo ư! "Hà Túc Đạo" là có gì đáng nói đâu. Sao tiên sinh lại dùng cái tên khiêm nhường như thế?

Hà Túc Đạo giải thích:

– Vì ta không muốn bắt chước mấy gã tiểu tử ngông cuồng tự đại, dám ví mình như thiên như địa này nọ, mới nghe qua cái tên đã thấy lờm lợm.

Hà Túc Đạo cứ liên tiếp mỉa mai ba huynh đệ Vệ Thiên Vọng. Bọn họ thấy chàng ta đè vỡ được mái thạch đình mà xuống, hẳn chẳng phải tầm thường, nhưng ban đầu cố nhịn để xem lai lịch của Bạch y quái khách này ra sao. Thế nhưng càng nghe càng thấy lời lẽ của y quá mai mỉa, thì Vệ Thiên Vọng hết chịu nổi, bèn vung chưởng nhắm vào má trái của Hà Túc Đạo.

Hà Túc Đạo cúi đầu luồn bên dưới cánh tay của lão già; Vệ Thiên Vọng chỉ cảm thấy cổ tay trái hơi tê, thì thanh đoản kiếm trong tay đã bị cướp mất. Khi Vệ Thiên Vọng đoạt kiếm của Quách Tương, thân pháp lanh lẹ vô cùng, khiến người ta không sao nhìn rõ; đằng này khi Hà Túc Đạo đoạt kiếm của Vệ Thiên Vọng thì thân pháp và thủ pháp hết sức đơn giản nhẹ nhàng, chẳng có gì kỳ lạ.

Vệ Thiên Vọng giật mình, tiến lên một bước, giơ năm ngón tay như năm cái móc chộp tới vai Hà Túc Đạo. Hà Túc Đạo né người một chút, bàn tay của Vệ Thiên Vọng bị chộp hụt. Phan Thiên Canh và Phương Thiên Lao đột nhiên nhảy lùi khỏi thạch đình. Lúc ấy Vệ Thiên Vọng đã dùng tả quyền hữu chưởng tấn công dồn dập bảy, tám chiêu liền, còn Hà Túc Đạo tránh phải né trái, ngay vạt áo của chàng ta cũng chưa bị chạm tới. Tay chàng cầm đoản kiếm mà chẳng buồn sử dụng, mặc cho quyền chưởng của đối phương tấn công tới tấp, trước sau chàng vẫn chỉ hơi lắc thân tránh né. Các chiêu đòn của Vệ Thiên Vọng đều bị lạc vào khoảng không.

Quách Tương còn ít tuổi, võ công tuy chưa tinh thâm, nhưng thân hữu của nàng toàn là những cao thủ võ lâm đệ nhất đương thời, nên nàng có kiến thức rất cao. Nay thấy Hà Túc Đạo thân pháp vô cùng uyển chuyển, né tránh được mọi chiêu thức cương mãnh của đối phương, võ công cao siêu khác hẳn các môn phái lừng danh ở Trung nguyên, nàng càng xem càng kinh ngạc.

Vệ Thiên Vọng tấn công liền hơn hai mươi chiêu vẫn không buộc được đối phương xuất thủ thì tức giận gầm một tiếng, biến đổi quyền pháp, xuất chiêu chậm lại, nhưng quyền lực rất nặng và mạnh. Quách Tương đứng trong thạch đình, cảm thấy quyền phong cứ dồn ép vào người mình, đẩy nàng lùi dần ra bên ngoài.

Lúc này Hà Túc Đạo cũng không dám chỉ né tránh mà không phản công; chàng cắm thanh kiếm vào bao thắt lưng, hai chân đứng vững như bàn thạch, quát to:

– Ngươi biết Ngạnh công, chẳng lẽ ta không biết sử dụng hay sao?

Chờ song chưởng của Vệ Thiên Vọng đẩy tới, mới dùng tả chưởng phản kích, lấy Ngạnh công đối phó Ngạnh công; nghe "bùng" một tiếng, Vệ Thiên Vọng loạng choạng thoái lui hai bước. Hà Túc Đạo vẫn đứng nguyên chỗ cũ.

Vệ Thiên Vọng ỷ mình có ngoại môn Ngạnh công cao siêu, hiếm có đối thủ trong thiên hạ, nào ngờ Ngạnh công của đối phương chẳng cần lấy đà tạo thế gì cả vẫn có thể đẩy lão ta thoái lui mấy bước. Lão ta chưa phục, liền hít mạnh một hơi, thét to một tiếng, lại dùng song chưởng tấn công lần nữa. Hà Túc Đạo cũng quát một tiếng, phản kích lại một chưởng; chỉ nghe mấy tiếng răng rắc, nóc thạch đình rung chuyển, cát bụi rớt xuống mù mịt.

Vệ Thiên Vọng thoái lui bốn bước mới đứng vững nổi. Sau khi đối chưởng, lão ta đầu tóc rối bù, hai mắt lồi ra, trông bộ dạng thật đáng sợ. Lão ta hai tay ôm đan điền, vận khí mấy cái, ngực lõm vào, bụng phình ra như cái trống, các khớp xương toàn thân kêu lách cách, thong thả tiến từng bước về phía Hà Túc Đạo.

Hà Túc Đạo thấy tư thế của đối phương như vậy, không dám khinh thường, vội điều vận chân khí đối địch.

Tới cách đối phương chừng bốn, năm thước, Vệ Thiên Vọng lẽ ra cần phải phát chiêu, song chân lão ta vẫn chưa dừng mà tiến thêm hai bước, tới mức mặt đôi bên rất gần, hơi thở phả vào mặt nhau thì mới giơ song chưởng lên, một đánh vào mặt, một đánh vào bụng dưới kẻ địch. Lần này song chưởng một trên một dưới như thế là nhằm buộc địch thủ phải phân tán sức lực. Cả thế công lẫn chưởng lực đều vô cùng lợi hại.

Hà Túc Đạo cũng giơ song chưởng cùng lúc, nhưng chưởng lực của chàng một cương một nhu. Vệ Thiên Vọng chỉ cảm thấy tả chưởng đánh vào bụng dưới của đối phương như đánh vào chỗ trống không, còn hữu chưởng đánh vào mặt thì như đụng phải tường đồng vách sắt. Biết là nguy tai, thì một luồng lực đã lùa tới đẩy lão bật khỏi thạch đình.

Đây là cách dùng cương đối cương, lực đối lực, bên nào lực yếu hơn ắt bị thụ thương, hoàn toàn không có sự nửa vời; bất luận Vệ Thiên Vọng còn đứng vững hay ngã sóng soài, thì chưởng lực phản kích của lão ta cộng với chưởng lực của Hà Túc Đạo cũng đủ làm cho lão ta phải hộc máu tươi.

Phan Thiên Canh và Phương Thiên Lao đồng thanh la to:

– Xuất thủ!

Hai lão cùng giơ tay ra, mỗi người đỡ một bên cánh tay của Vệ Thiên Vọng nhấc vội lên mới làm tiêu tan chưởng lực cương mãnh của Hà Túc Đạo. Vệ Thiên Vọng tuy chưa thụ thương, nhưng ngũ tạng đảo lộn, xương cốt toàn thân tưởng như sắp gãy vụn, mệt tưởng đứt hơi, chân tay bủn rủn.

Lão già mặt đỏ, tức Phương Thiên Lao, thấy sư đệ bị đòn đau như vậy thì ngầm kinh hãi và tức giận, nhưng ngoài mặt lại cười hi hi nói:

– Chưởng lực của các hạ mạnh như vậy, quả là thế gian hiếm có, thán phục, thán phục!

Quách Tương nghĩ thầm: "Nói về sức cương mãnh của chưởng lực, ai dám sánh với Giáng Long thập bát chưởng của phụ thân ta chứ? Ba lão Côn Luân Tam Thánh ở chốn khỉ ho cò gáy, ếch ngồi đáy giếng, ngông cuồng tự đại, tất có ngày được nếm tài ba của các nhân vật Trung nguyên". Nghĩ tới đây, nàng chợt đau nhói trong lòng, vì người mà nàng muốn Côn Luân Tam Thánh được nếm tài ba của các nhân vật Trung nguyên không phải phụ thân, mà chính là Dương Quá.

Chỉ nghe Phương Thiên Lao nói tiếp:

– Tiểu lão nhi bất tài, mong được lĩnh giáo kiếm pháp của các hạ.

Hà Túc Đạo nói:

– Phương huynh đối với Quách cô nương rất chu đáo, tại hạ không dám trách cứ. Hai ta cũng chẳng nên tỷ thí.

Quách Tương ngẩn người: "Thế ra chàng ta làm cho lão họ Vệ khổ sở là vì lão đối xử xấu với ta ư?"

Phương Thiên Lao đi tới bên con ngựa, lấy từ trong túi khí giới ra một thanh trường kiếm, rút xoẹt khỏi bao, búng ngón tay vào thân kiếm nghe nó ngân lên "coong coong" hồi lâu. Với thanh kiếm trong tay, lão ta nghiêm mặt không cười nữa, tay trái trình kiếm quyết, từ từ đưa ra, quyết chỉ hướng lên trời, hữu thủ cầm kiếm chỉ lên trời bất động, chính là thế "Tiên nhân chỉ lộ".

Hà Túc Đạo nói:

– Phương huynh cứ đòi động thủ, tại hạ đành dùng đoản kiếm của Quách cô nương hầu vài chiêu vậy.

Nói đoạn chàng nhặt thanh đoản kiếm gãy của Quách Tương; thanh kiếm này vốn dài hai thước, sau khi bị Vệ Thiên Vọng bẻ gãy, lưỡi kiếm chỉ còn dài bảy, tám tấc, mũi kiếm thì tù, hết cả nhọn, chẳng thể gọi là kiếm. Tay trái chàng cầm bao kiếm, tay phải cầm thanh kiếm gãy, đột nhiên tấn công.

Lần này chàng xuất chiêu cực nhanh, Phương Thiên Lao chỉ thấy cái bóng trắng loáng trước mắt một cái. Hà Túc Đạo đã tấn công liền ba chiêu. Tuy thanh kiếm quá ngắn, không thể đả thương lão ta, nhưng lão ta cũng thầm kinh hãi: "Ba chiêu tấn công lẹ quá, không tài nào chống đỡ, là thứ kiếm pháp gì chứ? Ví thử trong tay y là thanh trường kiếm, chỉ e lúc này mình mất mạng rồi".

Sau khi tấn công liền ba chiêu, Hà Túc Đạo bèn nhảy sang một bên, đứng bất động. Phương Thiên Lao triển khai kiếm pháp, nửa thủ nửa công, chém tới. Hà Túc Đạo chỉ né tránh chứ không phản công, nhưng chốc chốc lại tấn công liền ba chiêu thần tốc khiến thủ vong cước loạn, rồi chàng lại nhảy ra ngoài. Phương Thiên Lao bây giờ dồn dập tấn công, kiếm quang vùn vụt, xuất thủ cực kỳ mau lẹ.

Quách Tương nghĩ thầm: "Chiêu thức của lão này cương mãnh giống như chưởng pháp của lão họ Vệ kia, nhưng linh hoạt hơn, cho nên cũng lợi hại hơn mấy phần.." Nàng vừa nghĩ tới đó bỗng nghe Hà Túc Đạo quát "Cẩn thận này!" Chữ "này" vừa dứt thì bao kiếm ở tay trái chàng đã nhanh như chớp chụp vào mũi kiếm của Phương Thiên Lao, còn đoản kiếm gãy bên tay hữu gí vào cổ họng lão ta.

Trường kiếm đã bị chụp vào bao, Phương Thiên Lao không cách gì chống đỡ, trước mũi kiếm tuy cùn nhưng gí sát cổ họng, lão ta chỉ còn cách buông rơi trường kiếm, ngã người lăn một vòng tránh thế công. Lão ta chưa đứng lên thì một bóng người vút tới, Phan Thiên Canh đã chộp được cán kiếm, rút đánh xoẹt ra khỏi bao. Hà Túc Đạo và Quách Tương cùng lúc thốt lên:

– Thân pháp tuyệt vời!

Lão già mặt vàng như nghệ, trước sau chưa nói nửa lời, võ công hẳn là cao hơn hai lão kia. Hà Túc Đạo nói:

– Võ công của các hạ cao siêu, tại hạ thán phục vô cùng!

Đoạn chàng quay sang nói Quách Tương:

– Quách cô nương, sau hôm nghe cô nương nhã tấu, ta có sáng tác một nhạc khúc, muốn được cô nương phẩm bình.

Quách Tương hỏi:

– Nhạc khúc gì vậy?

Hà Túc Đạo ngồi xếp chân bàn tròn, đặt cây đàn trên đùi, so dây, định gảy.

Phan Thiên Canh nói:

– Các hạ liên tiếp đánh bại hai sư đệ của tại hạ, tại hạ muốn được thỉnh giáo.

Hà Túc Đạo xua xua tay:

– Võ công tỷ thí xong rồi, tại hạ không còn hứng cái trò ấy nữa. Để tại hạ gảy đàn cho Quách cô nương nghe. Đây là một nhạc khúc mới. Ba vị muốn thưởng thức thì xin mời ngồi xuống nghe, hiểu hay không là tùy các vị.

Nói rồi tay trái vê dây, tay phải gảy đàn tức thì.

Quách Tương chỉ nghe vài cung đã vừa ngạc nhiên vừa vui mừng. Thì ra nhạc khúc này một phần là điệu "Khảo bàn" trong Kinh Thi mà nàng đã gảy bữa trước, một phần là điệu "Kiêm hà" trong Tần Phong[9] . Hai điệu thơ này khác hẳn nhau, được chàng phối hợp thành một nhạc khúc, một ứng một đáp, nghe xúc động diệu kỳ. Khi nghe cầm vận tấu tới đoạn "Khảo bàn tại giản, thạc nhân chi khoan. Kiêm hà thương thương, bạch lộ vi sương, sở vị y nhân, tại thủy nhất phương.. thạc nhân chi khoan, thạc nhân chi khoan.. Tố hồi tòng chi, đạo trở thả trường, tố du tòng chi, uyển tại thủy trung ương.. độc mỵ ngụ ngôn, vĩnh thỉ phất huyên, vĩnh thỉ phất huyên..", thì Quách Tương có cảm tưởng nhạc khúc này bày tỏ sự nhớ nhung gắn bó, dường như có nhắc đến nàng; bất giác nàng đỏ mặt thẹn thùng.

Nhạc khúc quá ư huyền diệu, nguyên vận hai bài "Khảo bàn" và "Kiêm hà" không lạc nhau chút nào, cứ nhịp nhàng ứng đáp, mỗi bên vẫn giữ đầy đủ sự hoa mỹ của mình. Đời nàng chưa bao giờ có diễm phúc được nghe một nhạc khúc như thế cả.

Ba lão già nghe đàn chẳng hiểu gì hết. Bọn họ không biết Hà Túc Đạo tính tình cuồng phóng, si tình, pha chút hủ nho, chàng mới sáng tác nhạc khúc này nên phải tìm Quách Tương để nàng thưởng thức cho bằng được; huống hồ nhạc khúc này đúng là vì nàng mà sáng tác, nên chàng chẳng còn để ý đến mọi chuyện khác. Thấy chàng chăm chú gảy đàn, chẳng buồn để mắt tới ba lão già, hiển nhiên là không coi họ ra gì, thử hỏi họ chịu sao đặng? Phan Thiên Canh liền cầm trường kiếm chỉ vào vai trái Hà Túc Đạo, quát lớn:

– Mau đứng dậy, ta phải đấu thử với các hạ một phen!

Hà Túc Đạo đang đắm mình say sưa theo khúc nhạc, tựa hồ một gã cuồng sinh đang ngao du sơn thủy, thấy trên tiểu đảo xa xa giữa hồ nước hình bóng một thiếu nữ dịu dàng, thế là bất chấp núi non cách trở, chàng liền lao về phía nàng.. Bỗng nghe vai trái đau nhói, chàng ngẩng nhìn lên, thấy trường kiếm của Phan Thiên Canh điểm vào vai chàng làm rách một chút da thịt; nếu chàng không mau chống đỡ, e sẽ bị kiếm đả thương. Nhưng nhạc khúc chưa gảy xong, lại có kẻ phàm tục kè kè quấy nhiễu, bảo sao Hà Túc Đạo không nổi giận; chàng liền rút phắt thanh kiếm gãy, hất trường kiếm của Phan Thiên Canh bật ra, tay phải vẫn tiếp tục dạo đàn.

Lúc này Hà Túc Đạo mới giở hết tuyệt kỹ bình sinh, tay trái sử kiếm, tay phải gảy đàn, không còn tay nào để nắn dây nên khi nào âm vực cần lên cao thì chàng vận khí thổi cho dây đàn lõm xuống như dùng tay nắn vậy, nhờ đó tiếng đàn vẫn dìu dặt luyến láy như thường.

Phan Thiên Canh tới tấp tấn công mấy chiêu, Hà Túc Đạo chỉ thuận tay chống đỡ, hai mắt vẫn chăm chú vào dây đàn, miệng lo thổi hơi sao cho âm thanh của đàn đúng nốt. Phan Thiên Canh cả giận, kiếm chiêu càng nhanh càng hiểm, song trường kiếm của lão đâm tới bất cứ chỗ nào cũng đều bị Hà Túc Đạo dễ dàng gạt đi.

Quách Tương mải nghe đàn, thả hồn theo nhạc điệu, cũng chẳng để ý tới kiếm thế lợi hại của Phan Thiên Canh, chỉ đôi lúc nhận thấy tiếng kiếm va nhau không ăn nhập với tiếng đàn. Nàng dùng hai tay nhè nhẹ đánh nhịp, cau mày trách Phan Thiên Canh:

– Vị này xuất chiêu lúc nhanh lúc chậm, chẳng hợp nhịp đàn, lẽ nào không hiểu chút gì về âm vận? Giá như biết xuất chiêu hợp theo tiết tấu bản đàn, có phải dễ nghe hơn không.

Phan Thiên Canh không đếm xỉa gì đến nàng. Lão ta thấy đối thủ ngồi dưới đất, chăm chú chơi đàn, một tay sử dụng thanh kiếm gãy, chẳng thèm để mắt tới mình, thì lão ta càng giận thêm, đột ngột thay đổi kiếm pháp tấn công dồn dập liên hồi. Tiếng hai thanh kiếm va chạm nhau sầm sập như tiếng mưa rào. Tiếng đàn cũng gấp gấp một chập, không hòa hợp với âm vận dìu dặt ôn hòa.

Hà Túc Đạo trừng mắt, truyền kình lực vào đoản kiếm, chỉ nghe "coong" một tiếng, trường kiếm của Phan Thiên Canh bị gãy đôi, nhưng lúc này dây thứ năm của cây thất huyền cầm cũng đứt phựt.

Phan Thiên Canh mặt nhợt nhạt như kẻ mất hồn, không nói nửa lời, quay người ra khỏi thạch đình. Ba lão già cùng nhảy lên ngựa, phóng vội lên núi.

Quách Tương vô cùng ngạc nhiên, hỏi:

– Ủa, ba người kia đã bại trận, sao lại còn lên Thiếu Lâm tự làm gì? Chẳng lẽ họ định đánh chí chết hay sao?

Nàng quay lại, thấy Hà Túc Đạo vẻ mặt rầu rĩ, tay xoa xoa sợi dây đàn bị đứt, tựa hồ đau đớn không nói nên lời. Quách Tương nghĩ thầm: "Đứt một sợi dây đàn, hà tất phải rầu rĩ đến thế?" Nàng liền đỡ cây thất huyền cầm, tháo đoạn dây đứt ra, kéo đoạn dây bên trên buộc vào trụ bên dưới, rồi lên dây thử tiếng.

Hà Túc Đạo lắc đầu thở dài:

– Tu luyện ngần ấy năm, rốt cuộc tâm vẫn chưa an. Tuy tay trái vận sức đánh gãy khí giới đối phương nhưng tay phải lại gảy đứt dây đàn.

Giờ Quách Tương mới hiểu thì ra Hà Túc Đạo buồn phiền vì võ công của chàng luyện chưa tới mức thuần thục, liền cười an ủi:

– Tiên sinh thử nghĩ xem, tay trái giao đấu với địch lợi hại như vậy mà tay phải vẫn thong thả dạo đàn, gọi là phép phân tâm nhị dụng, thiên hạ chỉ có ba vị đạt tới mức tuyệt kỹ mà thôi. Tiên sinh cũng chẳng nên vì thế mà phiền lòng.

Hà Túc Đạo hỏi:

– Ba vị nọ là những ai?

Quách Tương đáp:

– Người thứ nhất là Chu Bá Thông, người thứ hai là phụ thân của tiểu nữ, người thứ ba là Dương phu nhân Tiểu Long Nữ. Ngoài ba vị ấy, ngay những người võ công cao siêu như ông ngoại của tiểu nữ là Đào Hoa đảo chủ, thân mẫu của tiểu nữ và Thần điêu đại hiệp Dương Quá cũng chưa luyện thành tuyệt kỹ.

Hà Túc Đạo nói:

– Thế gian có các kỳ nhân vậy ư? Chẳng hay khi nào cô nương dẫn kiến ta gặp họ?

Quách Tương thản nhiên đáp:

– Muốn gặp phụ thân của tiểu nữ không khó, còn hai vị kia thì không biết đã đi đâu mất dạng.

Thấy Hà Túc Đạo ngẩn ngơ, Quách Tương tưởng chàng ta vẫn nghĩ đến việc đứt dây đàn, bèn an ủi:

– Một mình tiên sinh đã đánh bại Côn Luân Tam Thánh cũng đủ hãnh diện với thế gian, hà tất phải buồn phiền về sợi dây đàn bị đứt?

Hà Túc Đạo kinh ngạc, hỏi:

– Côn Luân Tam Thánh? Cô nương bảo sao? Sao cô nương biết?

Quách Tương cười:

– Ba lão già ban nãy từ Tây Vực đến chính là Côn Luân Tam Thánh chứ còn ai. Võ công của họ quả có chỗ độc đáo, nhưng đòi khiêu chiến với Thiếu Lâm tự thì e rằng không biết tự lượng sức..

Nói tới đây, thấy vẻ mặt Hà Túc Đạo càng thêm kinh ngạc nàng bất giác ngừng lời, hỏi:

– Có gì lạ chăng, tiên sinh?

Hà Túc Đạo lẩm bẩm:

– Côn Luân Tam Thánh.. Côn Luân Tam Thánh Hà Túc Đạo chính là ta đây.

Quách Tương sửng sốt:

– Tiên sinh là Côn Luân Tam Thánh ư? Vậy còn hai người nữa đâu?

Hà Túc Đạo nói:

– Côn Luân Tam Thánh trước giờ chỉ có một người, đâu phải có ba. Ta ở Tây Vực có chút danh tiếng, được bằng hữu khen là có ba tuyệt kỹ cầm – kỳ – kiếm, đáng gọi là cầm thánh, kỳ thánh, kiếm thánh. Ta lại sống ở Côn Luân nên họ mới đặt cho ta ngoại hiệu Côn Luân Tam Thánh. Song ta nghĩ đâu dễ xứng với chữ "thánh", nên mới thêm hai chữ "túc đạo" vào họ Hà, hợp lại thành Côn Luân Tam

Thánh Hà Túc Đạo, nghĩa là "không đáng gọi là Côn Luân Tam Thánh" để người trong thiên hạ khỏi chê ta ngông cuồng tự đại.

Quách Tương cười:

– Hóa ra vậy, thế mà tiểu nữ cứ ngỡ Côn Luân Tam Thánh tức là phải có ba người. Vậy ba lão già ban nãy là ai?

Hà Túc Đạo nói:

– Bọn họ ư? Bọn họ thuộc phái Thiếu Lâm.

Quách Tương càng thêm kinh ngạc, nói:

– Hóa ra ba người ấy lại là đệ tử của phái Thiếu Lâm! Phải rồi, võ công của họ quả nhiên cùng một kiểu cương mãnh. Đúng rồi, lão mặt đỏ chẳng đã sử dụng Đạt Ma kiếm pháp là gì? Còn lão mặt vàng trông như bệnh nhân cứ tấn công tới tấp hẳn là Vĩ Đà phục ma kiếm? Lão ta có biến đổi một chút nên nhất thời tiểu nữ chưa nhận ra. Tại sao họ từ Tây Vực lại tới đây?

Hà Túc Đạo nói:

– Chuyện này kể ra có duyên cớ của nó. Mùa xuân năm ngoái, ta đang gảy đàn trên đỉnh Kinh Thần Phong tại Côn Luân, bỗng nghe bên ngoài lều tranh có tiếng ẩu đả, bèn ra xem, thì thấy có hai kẻ đang vật lộn nhau kịch liệt, mà cả hai đã cùng thụ thương trí mạng. Ta quát họ dừng tay, họ không nghe, ta đành xông vào gỡ họ ra. Một người trợn mắt nhìn ta, rồi thở hắt ra chết liền. Người thứ hai còn thoi thóp, ta bèn dìu vào trong lều, cho uống một viên

Thiếu Dương đan, nhưng vì thương thế quá nặng, linh đan cũng chẳng cứu sống nổi, được nửa ngày cũng tắt thở. Lúc lâm chung, y trăn trối, rằng y là Doãn Khắc Tây..

Quách Tương "ồ" một tiếng, hỏi:

– Vậy kẻ ẩu đả với y là Tiêu Tương Tử rồi. Có phải hắn vừa gầy vừa cao, mặt trông chẳng khác gì tử thi?

Hà Túc Đạo ngạc nhiên:

– Phải đó, tại sao chuyện gì cô nương cũng biết?

Quách Tương nói:

– Tiểu nữ có biết mặt họ, ai ngờ hai kẻ đó cuối cùng lại đánh lẫn nhau mà mất mạng.

Hà Túc Đạo kể:

– Doãn Khắc Tây nói rằng trong đời hắn tác ác đa đoan, lúc chết có hối cũng đã muộn. Hắn nói hắn cùng Tiêu Tương Tử có lấy trộm một cuốn kinh của Thiếu Lâm tự. Hai gã cứ canh chừng lẫn nhau, quyết không cho người kia đọc trước, vì sợ đối phương học được võ công cao hơn sẽ ra tay hạ thủ mình để độc chiếm cuốn kinh. Hai gã ăn cùng bàn, ngủ cùng giường, quả thật không rời nhau nửa bước; nhưng khi ăn thì sợ kẻ kia hạ độc, khi ngủ thì lo kẻ kia ám hại, lúc nào cũng lo sợ thấp thỏm chẳng yên. Chúng còn lo các hòa thượng Thiếu Lâm tự truy đuổi nên mới chạy đến tận Tây Vực. Khi tới đỉnh Kinh Thần Phong, cả hai đều kiệt sức hẳn, đều biết nếu cứ tiếp tục sống như thế thì sẽ chết vì mệt; rốt cuộc đôi bên xáp vào ẩu đả nhau. Doãn Khắc Tây nói võ công của Tiêu Tương Tử vốn cao hơn hắn, ngờ đâu Tiêu Tương Tử ra tay trước, mà kết quả hắn lại chiếm được thượng phong. Sau đó hắn mới nghĩ ra, Tiêu Tương Tử vốn bị trọng thương trên đỉnh Hoa Sơn, nguyên khí vẫn chưa phục hồi. Nếu hai gã không tranh giành nhau, hẳn chúng chẳng khi nào tới vùng Côn Luân làm gì.

Quách Tương nghe kể, tưởng tượng cái cảnh suốt dọc đường hai gã kia lúc nào cũng lo ngay ngáy đủ điều, bất giác nàng sinh lòng thương hại, thở dài nói:

– Vì một cuốn kinh mà phải khổ sở rồi mất mạng như thế, thật chẳng đáng!

Hà Túc Đạo kể tiếp:

– Doãn Khắc Tây nói tới đó thì thở dốc, cuối cùng hắn cầu xin ta đến Thiếu Lâm tự một phen, để nói với Giác Viễn hòa thượng ở đó, rằng cuốn kinh nào đó vẫn ở trong dầu. Ta nghe rất lạ, cuốn kinh ở trong dầu là nghĩa làm sao? Định hỏi hắn cho rõ chi tiết thì hắn đã ngất lịm đi. Ta tính chờ hắn ngủ dậy, lại sức, sẽ hỏi cho rõ. Nào ngờ, đó là giấc ngủ ngàn thu của hắn. Ta nghĩ, liệu có phải cuốn kinh được gói trong giấy dầu? Nhưng khám kỹ cả hai gã, chẳng thấy có dấu vết kinh kệ gì cả. Đã nhận lời ủy thác của người, vốn bình sinh chưa bao giờ đặt chân vào Trung nguyên, nên nhân cơ hội này muốn ngao du một chuyến, thế là ta đến Thiếu Lâm tự đây.

Quách Tương hỏi:

– Tại sao tiên sinh lại vào chùa hạ chiến thư, đòi tỷ thí võ nghệ với họ?

Hà Túc Đạo mỉm cười:

– Việc ấy là do ba lão vừa rồi mà ra. Ba người kia là đệ tử tục gia của phái Thiếu Lâm Tây Vực. Theo lời giới võ lâm ở Tây Vực thì cả ba đều có vai vế chữ "Thiên", ngang hàng lão phương trượng Thiếu Lâm tự hiện thời là Thiên Minh thiền sư. Nghe đâu sư tổ của họ xưa kia vì bất đồng ý kiến với sư huynh đệ trong chùa nên đã giận dữ bỏ đi tới tận Tây Vực xa xôi, lập ra một chi phái Thiếu Lâm tự ở Tây Vực. Võ công của phái Thiếu Lâm vốn do Đạt Ma tổ sư truyền từ Thiên Trúc tới Trung nguyên, rồi từ Trung nguyên phân chia ra một chi phái ở Tây Vực thì cũng đâu có gì lạ. Ba người kia nghe ngoại hiệu Côn Luân Tam Thánh của ta, cứ theo đòi tỷ võ với ta. Đi đâu họ cũng luôn miệng dương ngôn rằng võ công của phái Thiếu Lâm là thiên hạ vô địch, ta muốn xưng là "cầm thánh", "kỳ thánh" gì gì cũng được tuốt, nhưng họ quyết không cho phép ta xưng "kiếm thánh", họ đòi ta phải từ bỏ ngoại hiệu Tam Thánh. Đúng lúc đó ta gặp Doãn Khắc Tây, nghĩ bụng thôi thì nhân tiện đi Thiếu Lâm tự làm luôn hai việc một lần; ta bèn phái người hẹn với ba lão kia ở Thiếu Lâm tự, rồi khởi hành đi Trung nguyên liền. Ai dè ba vị ấy cũng nhanh chân phải biết, họ khởi hành sau ta mà cũng tới kịp rồi.

Quách Tương cười:

– Ồ, đầu đuôi câu chuyện là thế, hóa ra tiểu nữ đoán sai hết cả! Ba lão đó lúc này hẳn đã tới Thiếu Lâm tự, không biết họ sẽ nói gì đây?

Hà Túc Đạo nói:

– Ta với đám hòa thượng Thiếu Lâm tự vốn không quen biết, cũng chẳng thù oán gì nhau; sở dĩ ta hẹn mươi ngày là muốn chờ cho ba lão này tới kịp, ta mới hành động. Vừa nãy đánh nhau rồi, bây giờ hai ta cùng lên trên đó, đợi ta chuyển lại lời trối trăn của Doãn Khắc Tây, rồi xuống núi là xong.

Quách Tương cau mày, nói:

– Luật lệ của giới hòa thượng nhiều và nghiêm lắm, không cho nhi nữ vào chùa.

Hà Túc Đạo nói:

– Luật với chả lệ! Hai ta cứ tiến thẳng vào trong chùa, để xem ai giết nổi ai?

Quách Tương vốn tính hiếu kỳ, nhưng nàng đã kết giao với Vô Sắc thiền sư, cũng không có ý thù địch với Thiếu Lâm tự, nên nàng cười, lắc đầu:

– Tiểu nữ ở bên ngoài chờ tiên sinh, tiên sinh cứ vào trong mà chuyển lời cho đỡ phiền phức.

Hà Túc Đạo gật đầu:

– Vậy cũng được. Nhạc khúc ban nãy ta chưa đàn xong, chờ lát nữa ta sẽ đàn lại hầu cô nương.

Comments

Comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 2: Tùng bách đua mọc trên đỉnh Võ Đan

Hai người thong thả đi lên núi, từ đây tới thẳng cổng lớn Thiếu Lâm tự không một bóng người.

Hà Túc Đạo nói:

– Ta cũng chẳng vào chùa nữa, cứ mời vị hòa thượng nọ ra nói vài lời thôi.

Đoạn chàng lớn tiếng gọi:

– Hà Túc Đạo từ Côn Luân tới thăm Thiếu Lâm tự, có lời muốn thưa!

Câu này vừa dứt, bỗng nghe mười mấy cái chuông lớn trong chùa cùng gióng lên vang động cả núi rừng.

Đột nhiên cổng lớn mở toang, tả hữu hai hàng tăng nhân mặc áo bào xám bước ra, mỗi hàng năm mươi tư người, tổng cộng một trăm linh tám người, là đệ tử của La Hán đường, đúng bằng con số một trăm linh tám vị La Hán. Tiếp sau là mười tám vị tăng nhân cũng mặc áo bào xám, nhưng trên phủ cà sa màu vàng nhạt, tuổi vị nào cũng lớn hơn các đệ tử của La Hán đường, đó là đệ tử của Đạt Ma đường, cao hơn đệ tử La Hán đường một bậc. Tiếp sau có bảy lão tăng khoác áo bào kẻ ô vuông, mặt đầy nếp nhăn, vị trẻ nhất cũng ngoại thất tuần, vị cao niên đã ở cửu tuần, đó là Tâm Thiền đường thất lão. Đoạn Thiên Minh phương trượng thong thả bước ra, bên tả có Thủ tọa Đạt Ma đường Vô Tướng thiền sư, bên hữu có Thủ tọa La Hán đường Vô Sắc thiền sư. Đằng sau có Phan Thiên Canh, Phương Thiên Lao và Vệ Thiên Vọng. Cuối cùng còn có bảy tám chục đệ tử tục gia phái Thiếu Lâm.

Ngày Hà Túc Đạo bí mật đột nhập La Hán đường, dán mảnh giấy vào tay tượng Phật Giáng Long La Hán, thì võ công cao siêu của chàng ta đã khiến Thiên Minh phương trượng cùng Vô Sắc và Vô Tướng thiền sư cả kinh. Mấy ngày sau nhóm Phan Thiên Canh từ Tây Vực đến, kể về việc Hà Túc Đạo ước hẹn tỷ thí, các cao tăng trong chùa càng tăng cường phòng bị. Nên biết chi phái Thiếu Lâm ở Tây Vực do đường sá xa xôi cách trở, mấy chục năm nay hiếm khi lai vãng hoặc thông tin với phái Thiếu Lâm ở Trung nguyên. Nhưng các cao tăng trong chùa đều biết vị sư thúc tổ Khổ Tuệ thiền sư năm xưa bỏ đi Tây Vực lập chi phái Tây Vực có võ công cao siêu khôn tả; các đồ đệ, đồ tôn của Khổ Tuệ thiền sư được truyền thụ võ công đó nhờ vậy cũng có võ công phi phàm. Nghe nhóm Phan Thiên Canh thuật lại về Côn Luân Tam Thánh với vẻ đầy kính nể, họ hiểu rằng "Thiện giả bất lai, lai giả bất thiện" [10], nên trong chùa càng đề phòng nghiêm mật. Phương trượng còn hạ pháp chỉ cho các tăng tục đệ tử trong vòng năm trăm dặm đều phải trở về chùa nghe lệnh điều động.

Ban đầu tăng chúng cũng tưởng Côn Luân Tam Thánh là ba người, sau nghe nhóm Phan Thiên Canh nói mới biết chỉ có một người, song diện mạo và tuổi tác thì nhóm Phan Thiên Canh cũng không rõ, chỉ biết người ấy tự phụ là cầm-kiếm – kỳ tam tuyệt. Hai môn gảy đàn và đánh cờ thuộc loại ăn chơi buông lỏng tâm tính, là thứ Thiền tông đại cấm kỵ, tăng chúng Thiếu Lâm tự xưa nay vốn không màng tới; riêng những ai trong chùa là cao thủ kiếm thuật thì đều ra sức ôn luyện, để chuẩn bị so tài cao thấp với nhân vật tự xưng là Kiếm thánh.

Ba sư huynh đệ Phan Thiên Canh nghĩ rằng vụ này do họ gây nên, phải do tự tay họ kết thúc, vì thế hàng ngày ba lão liên tục cưỡi ngựa tuần tiễu trước núi sau núi, dự tính đón đường ngăn cản Côn Luân Tam Thánh, đánh cho y phải tháo chạy về Tây Vực; rồi ba lão sẽ trở lại chùa thử tài với các tăng nhân trong chùa, đánh bại họ, để phái Thiếu Lâm Trung nguyên từ rày không dám vênh mặt lên nữa. Ai ngờ ở thạch đình, Hà Túc Đạo mới chỉ dùng một nửa công lực đã khiến ba huynh đệ lão cuốn gói chạy dài.

Thiên Minh thiền sư nghe tin, thầm biết hôm nay là giờ phút vinh nhục thịnh suy của Thiếu Lâm tự, nhưng tự lượng võ công của bản thân, của Vô Sắc và Vô Tướng chưa chắc đã cao hơn ba huynh đệ Phan Thiên Canh là bao; đành phải thỉnh Tâm Thiền đường thất lão ra áp trận. Có điều võ nghệ của Tâm Thiền đường thất lão cao tới mức nào thì không ai hay biết; liệu các vị ấy có đủ khả năng xuất thủ chế ngự nổi Côn Luân Tam Thánh hay chăng, lão phương trượng cùng Vô Sắc và Vô Tướng thiền sư cũng không dám cả quyết điều gì.

Lại nói lão phương trượng Thiên Minh thiền sư thấy Hà Túc Đạo và Quách Tương thì chắp tay nói:

– Vị này hẳn là Hà cư sĩ, biệt hiệu Cầm Kiếm Kỳ Tam Thánh. Lão tăng không kịp ra ngoài xa nghênh tiếp, xin lượng thứ cho.

Hà Túc Đạo cúi mình đáp lễ, nói:

– Vãn sinh Hà Túc Đạo, cuồng danh Tam Thánh, thật không đáng nói! Vãn sinh phiền nhiễu quý tự, tự thấy áy náy; lại còn kinh động các vị cao tăng ra ngoài nghênh tiếp thế này, vãn sinh thật hổ thẹn!

Thiên Minh thiền sư nghĩ thầm: "Gã cuồng sinh này nói năng đâu có ngông cuồng. Y trạc tam tuần, mà sao đánh bại được nhóm Phan Thiên Canh nhỉ?", bèn nói:

– Hà cư sĩ khỏi cần khách sáo, xin mời vào dùng trà. Còn vị nữ cư sĩ này thì..

Nói tới đó giọng lão phương trượng ngập ngừng, ngụ ý khó xử.

Hà Túc Đạo hiểu ý người nói không cho phép Quách Tương vào chùa, thế là thái độ cuồng phóng của chàng phát tác ra liền; chàng ngửa mặt cả cười, nói:

– Lão phương trượng, vãn sinh tới quý tự là do nhận lời ủy thác của người khác, đến đây chuyển một lời trối; cũng định nói xong lời trối đó là phủi tay đi liền; không dè quý tự trọng nam khinh nữ, thanh quy giới luật quái quỷ quá nhiều, vãn sinh thấy có lắm điều chướng mắt. Nên biết Phật pháp vô biên, chúng sinh như nhất, phân biệt nam nữ là tâm còn vẩn đục.

Thiên Minh phương trượng là bậc cao tăng hữu đạo, thiền tâm minh triết, tính cách khoan dung, nghe Hà Túc Đạo nói vậy thì mỉm cười:

– Đa tạ cư sĩ đã chỉ giáo. Thiếu Lâm bổn tự cứ phải phân biệt nam nữ thì cũng có phần hẹp lượng, vậy xin mời Quách cô nương cùng vào dùng trà luôn thể.

Quách Tương nhìn Hà Túc Đạo, tủm tỉm cười, nghĩ thầm: "Chàng cũng khéo ăn khéo nói thật, chỉ vài câu đã thuyết phục được lão phương trượng". Thấy Thiên Minh phương trượng đứng sang một bên, đưa tay mời khách, nàng đang định cất bước đi vào chùa, bỗng có một lão tăng rất gầy gò đứng bên trái Thiên Minh phương trượng bước ra, nói:

– Chỉ vì một lời của Hà cư sĩ mà Thiếu Lâm bổn tự phải bỏ luật lệ vốn có từ ngàn năm, kể ra cũng được, song cũng nên xem người nói lời đó có bản lĩnh thật sự, hay chỉ là hư danh. Vậy mong Hà cư sĩ hãy chứng tỏ thân thủ một chút, để chúng tăng được thêm kiến thức, cũng là để mọi người trong bổn tự biết tại ai mà phải phế bỏ luật lệ đã có từ ngàn năm.

Lão tăng vừa nói chính là thủ tọa Đạt Ma đường Vô Tướng thiền sư. Giọng thiền sư trầm hùng, chứng tỏ trung khí sung mãn, nội lực dồi dào.

Ba sư huynh đệ Phan Thiên Canh nghe vậy, mặt hơi biến sắc. Vô Tướng thiền sư nói như vậy là có ý xem thường ba người ấy, Hà Túc Đạo tuy đánh bại cả ba sư huynh đệ, nhưng vị tất đã có bản lĩnh hơn người.

Quách Tương thấy Vô Sắc thiền sư có vẻ rầu rĩ, nàng nghĩ thầm: "Vị hòa thượng này thật tốt bụng, lại là bằng hữu của đại ca ca; nếu Hà Túc Đạo và tăng chúng Thiếu Lâm tự vì ta mà giao đấu, bất cứ bên nào thua, ta đều không muốn". Nàng bèn nói to:

– Hà đại ca, tiểu muội không nhất thiết cứ phải vào Thiếu Lâm tự. Đại ca cứ vào chuyển xong lời nọ, rồi ta đi cũng được mà.

Đoạn nàng chỉ Vô Sắc thiền sư, nói:

– Vô Sắc thiền sư đây là hảo bằng hữu của tiểu muội, mong đôi bên chớ vì tiểu muội mà tổn thương hòa khí.

Hà Túc Đạo ngẩn người, nói:

– Ồ, ra là vậy!

Rồi quay sang nói với Thiên Minh thiền sư:

– Lão phương trượng, quý tự có một vị là Giác Viễn thiền sư, vị ấy đâu? Có người nhờ vãn sinh chuyển lời tới vị đó.

Thiên Minh phương trượng lẩm bẩm: "Giác Viễn thiền sư ư?" Địa vị của Giác Viễn thiền sư trong Thiếu Lâm tự thấp kém, mấy chục năm nay tăng nhân đó chỉ ẩn thân trong Tàng kinh các, chẳng mấy ai biết tới, chẳng ai thêm hai tiếng "thiền sư" vào pháp danh Giác Viễn cả; bởi thế khi nghe Hà Túc Đạo nhắc đến, lão phương trượng nhất thời chưa biết đó là ai. Lão phương trượng ngẩn người giây lát, rồi sực nhớ:

– À, lão tăng nhớ rồi, người ấy đã thất chức vì để mất cuốn kinh Lăng Già. Hà cư sĩ tìm Giác Viễn có liên quan gì tới vụ kinh Lăng Già chăng?

Hà Túc Đạo lắc đầu:

– Vãn sinh không biết.

Lão phương trượng bảo một đệ tử:

– Bảo Giác Viễn ra gặp khách.

Người kia lập tức chạy đi.

Vô Tướng thiền sư lại nói:

– Hà cư sĩ có biệt hiệu "Cầm – kiếm – kỳ tam thánh", thiết tưởng một chữ "thánh" người thường không ai dám nhận thì phải? Hà cư sĩ có cả ba tuyệt kỹ ấy. Hôm trước Hà cư sĩ đã để lại giấy, hẹn sẽ thể hiện võ công; hôm nay đã quang lâm, sao chẳng chịu ban cho vài thế để chúng tăng được chiêm ngưỡng tuyệt kỹ!

Hà Túc Đạo lắc đầu:

– Cô nương này vừa nói rồi, đôi bên chúng ta đều không nên làm tổn thương hòa khí.

Vô Tướng cả giận, nghĩ thầm: "Chính ngươi gửi thư thách đấu, bây giờ đến lúc thì lại thoái thác, cả ngàn năm nay có kẻ nào dám vô lễ với Thiếu Lâm tự như vậy? Huống hồ nhóm Phan Thiên Canh bị đánh bại dưới tay ngươi, chuyện này giang hồ biết tới, sẽ đồn rằng đại đệ tử của phái Thiếu Lâm thua ngươi, hai chữ" Kiếm Thánh "sẽ càng lừng lẫy hơn. Xem chừng các đệ tử không phải là đối thủ của ngươi, ta đích thân ra tay mới được". Nghĩ vậy, Vô Tướng tiến lên hai bước, nói:

– Tỷ thí võ công chưa hẳn đã làm tổn thương hòa khí, Hà cư sĩ khỏi cần thoái thác.

Đoạn quay lại quát các đệ tử Đạt Ma đường:

– Mang kiếm ra đây! Chúng ta sẽ lĩnh giáo kiếm thuật của "Kiếm thánh", xem "thánh" tới mức nào?

Trong chùa các loại khí giới đã được chuẩn bị sẵn, chỉ vì mọi người phải xếp hàng đón khách, không tiện đem ra để khỏi mang tiếng; nay mấy đệ tử nghe Vô Tướng hạ lệnh như thế, liền mang ra bảy tám thanh trường kiếm, hai tay bưng ngang mày, tới trước mặt Hà Túc Đạo, hỏi:

– Chẳng hay Hà cư sĩ sử dụng bảo kiếm tự mang đến, hay dùng loại kiếm tầm thường của tệ tự?

Hà Túc Đạo không đáp, cúi xuống nhặt một viên đá nhọn, bất ngờ vẽ một bàn cờ lớn trên tảng đá xanh trước cổng chùa, ngang dọc mỗi chiều mười chín vạch có khoảng cách đều tăm tắp, vạch nào vạch nấy hằn sâu hơn nửa tấc. Nên biết, tảng đá xanh lát đường kia cứng như sắt, trải qua mấy trăm năm bao người qua lại chỉ bị bào mòn tí chút, nay Hà Túc Đạo tiện tay vẽ bàn cờ mà hằn sâu thế kia, đủ thấy nội công của chàng quả thực hiếm có trong thiên hạ. Mọi người chỉ nghe chàng vừa cười vừa nói:

– Đấu kiếm e là bá đạo, thi thố tiếng đàn thì không có cách gì. Đại hòa thượng đã cao hứng vậy hai ta đấu một ván cờ thôi.

Thiên Minh, Vô Tướng, Vô Sắc cùng Tâm Thiền đường thất lão chứng kiến tuyệt kỹ vô song kia của Hà Túc Đạo đều trố mắt nhìn nhau kinh hãi. Lão phương trượng thừa biết trong chùa không một ai có nội lực hùng hậu như thế; là người có tấm lòng khoáng đạt, đang định lên tiếng nhận thua, bỗng nghe tiếng xiềng xích kêu leng keng, Giác Viễn gánh đôi thùng sắt lớn, theo sau một thiếu niên cao lớn, đi tới trước mặt. Giác Viễn tay tả giữ quang gánh, tay hữu giơ lên hành lễ với Thiên Minh, nói:

– Nghe Phương trượng phán gọi, tiểu tăng tới chờ sai bảo.

Thiên Minh nói:

– Vị Hà cư sĩ kia có điều gì đó muốn nói với ngươi.

Giác Viễn quay sang phía Hà Túc Đạo, thấy không quen biết, liền hỏi:

– Tiểu tăng Giác Viễn, chẳng hay cư sĩ có điều chi dạy bảo?

Hà Túc Đạo vừa vẽ xong bàn cờ, cao hứng nói:

– Câu chuyện ấy để lát nữa nói hẵng chưa muộn. Bây giờ để vị đại hòa thượng đấu với ta một ván cờ đã.

Thực tình chàng không định phô diễn tài ba, song bình sinh đối với ba môn cầm – kỳ – kiếm lại si mê lạ lùng, đã nổi hứng thì trời có sụp chàng cũng bất chấp. Bây giờ chàng nổi hứng đánh cờ, rất cần có người cùng chơi, đã quên hẳn chuyện tỷ thí võ công.

Thiên Minh thiền sư nói:

– Hà cư sĩ vạch đá thành bàn cờ, thần công như thế, bần đạo bình sinh chưa từng thấy, tăng chúng tệ tự nguyện bái phục cư sĩ.

Giác Viễn nghe phương trượng nói thế, nhìn xuống mặt đá thấy bàn cờ lớn vừa vạch ra mới biết người lạ kia tới đây thể hiện võ công, liền để nguyên đôi thùng sắt trên vai, hít một hơi, vận hết công lực dồn xuống hai chân mà bước theo các lằn vạch của bàn cờ.

Bàn chân của Giác Viễn đặt tới đâu là hằn dấu vết rộng năm tấc trên mặt đá chỗ đó, xóa nhòa hết các đường Hà Túc Đạo vừa vạch. Tăng chúng thấy vậy cùng ồ lên sửng sốt. Thiên Minh, Vô Tướng, Vô Sắc lại càng kinh ngạc xen lẫn vui mừng. Ai ngờ một lão tăng ngơ ngơ ngẩn ngẩn như vậy lại có nội công thâm hậu dường này. Mọi người chung sống với Giác Viễn mấy chục năm trong chùa lại không hề nhận biết một chút gì. Thiên Minh, Vô Tướng, Vô Sắc đều hiểu rằng một người dù nội lực mạnh đến mấy cũng chẳng tài nào để lại vết chân trên đá như thế. Đây là nhờ Giác Viễn đang gánh đôi thùng sắt chứa đầy nước, sức nặng tổng cộng phải tới hơn bốn trăm cân. Sức nặng đó từ trên vai dồn xuống dưới chân cùng dây xích sắt sẽ như cái đục đục vào đá, mới xóa nhòa các đường vạch của Hà Túc Đạo. Nếu Giác Viễn đi người không thì chẳng thể làm được như vậy. Dầu sao biết mượn lực làm được điều đó cũng quả là thần công hiếm có trên đời.

Hà Túc Đạo không chờ Giác Viễn đi hết ba mươi tám đường vạch ngang dọc, đã nói to:

– Đại hòa thượng, nội công thâm hậu quá chừng, tại hạ không sao bằng lão rồi!

Giác Viễn lúc này cảm thấy tuy chân khí trong đan điền vẫn rất dồi dào, nhưng hai bàn chân là máu thịt đã đau nhức vô cùng; nghe Hà Túc Đạo nói thế liền dừng bước, mỉm cười hỏi:

– Chắc là cư sĩ thấy khỏi cần đấu cờ nữa?

Hà Túc Đạo đáp:

– Không sai! Khỏi cần đấu cờ nữa, vãn sinh chịu thua rồi. Nay muốn lĩnh giáo kiếm pháp của đại hòa thượng.

Nói đoạn rút phắt thanh trường kiếm giấu dưới đáy huyền cầm, chỉ mũi kiếm giữa ngực mình, chuôi kiếm chênh chếch ra phía ngoài. Chiêu thức khởi đầu thật quái dị, chẳng khác gì dùng kiếm tự sát, trong các thứ kiếm pháp của thiên hạ chưa có chiêu nào khó hiểu như thế.

Giác Viễn nói:

– Lão tăng chỉ biết tụng kinh, quét sân, phơi sách, chứ võ công chẳng biết môn nào cả.

Hà Túc Đạo đời nào chịu tin. Chàng ta cười nhạt, tung mình nhảy tới, thanh kiếm oằn cong rồi bật ra, mũi kiếm đâm thẳng vào ngực Giác Viễn. Xuất chiêu quá nhanh, kiếm pháp nào cũng không lẹ bằng. Thì ra chiêu này không phải đâm thẳng, mà trước hết tụ đủ nội lực rồi mới hất mũi kiếm ra. Nhưng nội công của Giác Viễn quả đã luyện tới cảnh giới tùy tâm sở dục, thu phát tùy ý. Kiếm chiêu của Hà Túc Đạo tuy mau lẹ, song tâm niệm của Giác Viễn còn nhanh hơn, ý sao tay vậy, thân ý hợp nhất; Giác Viễn thu tay phải vào, thùng sắt lớn tức thời được hất ra phía trước mặt, chỉ nghe "keng" một tiếng, mũi kiếm đâm vào thùng, thân kiếm uốn cong thành hình vòng cung. Hà Túc Đạo vội thu trường kiếm, rồi đâm tiếp một kiếm; tay trái của Giác Viễn hất thùng ra, lại nghe "keng" một tiếng.

Hà Túc Đạo nghĩ thầm: "Võ công của lão dù cao đến mấy, với đôi thùng nước nặng thế kia, làm sao lão đủ khả năng tránh kịp thế công mau lẹ của ta? Giả sử lão tay không đối địch, ta còn e ngại đôi phần". Chàng ta búng ngón tay vào thân kiếm, kiếm thanh phát ra như long ngâm, rồi chàng nói to:

– Đại hòa thượng, hãy cẩn thận!

Thanh trường kiếm chuyển động thoăn thoắt, loang loáng trước sau tả hữu, chỉ vài khoảnh khắc đã tấn công mười sáu chiêu.

Chỉ nghe "keng keng" dồn dập đủ mười sáu tiếng, mười sáu chiêu kiếm thần tốc của Hà Túc Đạo cuối cùng vẫn đâm vào đôi thùng sắt. Mọi người đứng xem thấy Giác Viễn luống cuống chân tay, thân hình loạng choạng, rõ ràng chẳng có vẻ là người biết võ công; nhưng mười sáu chiêu kiếm thần diệu vô phương của Hà Túc Đạo đều bị đôi thùng sắt chậm chạp nặng nề của Giác Viễn cản được hết, mà lại cản được bằng tư thế vụng về đến tức cười.

Vô Tướng, Vô Sắc và các vị cao tăng cùng bất giác lo sợ cho Giác Viễn, đồng thanh la lên:

– Hà cư sĩ, xin hãy nhẹ tay!

Quách Tương cũng nói:

– Chớ nên sát thương!

Mọi người đều thấy Giác Viễn không biết võ công, Hà Túc Đạo là người trong cuộc nhưng đã tận lực tấn công mà vẫn không làm gì nổi đối phương. Chính Giác Viễn chưa từng học võ công; sở dĩ lão hòa thượng chống đỡ được các chiêu kiếm kia hoàn toàn là nhờ nội công thượng thừa mà hòa thượng luyện thành một cách vô chủ ý.

Hà Túc Đạo tấn công mau lẹ không xong, liền quát to một tiếng, thấy loáng ánh hàn quang, mũi kiếm nhắm bụng dưới của Giác Viễn đâm tới. Giác Viễn la hoảng:

– Úi chà!

Trong lúc vội vã, Giác Viễn chụp tay lại, khiến đôi thùng sắt kẹp chặt trường kiếm vào giữa. Hà Túc Đạo ráng sức rút thanh kiếm ra, nhưng không sao lay chuyển nổi. Chàng ứng biến cực nhanh, tay hữu buông luôn kiếm, dùng cả hai tay cùng đẩy thẳng vào mặt Giác Viễn, chưởng lực như bài sơn đảo hải[11] .

Lúc này Giác Viễn không còn tay đâu chống đỡ. Trương Quân Bảo đứng bên thấy tình thế của sư phụ thập phần nguy cấp, liền vọt tới, sử dụng chiêu "Tứ thông bát đạt" mà Dương Quá từng dạy cho chàng, đánh chéo một chưởng vào vai Hà Túc Đạo. Lúc này kình lực của Giác Viễn đã truyền vào đôi thùng sắt, hai dòng nước từ đôi thùng bay thẳng tới mặt Hà Túc Đạo. Nước và chưởng lực đụng nhau, nước bắn tung tóe làm cả đôi bên ướt sũng, chưởng lực của Hà Túc Đạo do đó bị triệt tiêu.

Hà Túc Đạo đang tập trung toàn lực tấn công Giác Viễn, không để ý đến Trương Quân Bảo, nên bị trúng một chưởng vào vai. Ai ngờ Trương Quân Bảo còn ít tuổi, chưởng pháp đã lạ mà nội lực cũng khá thâm hậu khiến Hà Túc Đạo đứng không vững phải lùi sang bên tả ba bước.

Giác Viễn nói:

– A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, Hà cư sĩ hãy lượng thứ cho lão tăng! Kiếm của cư sĩ làm cho lão tăng hết cả hồn vía.

Đoạn vội giơ vạt áo lau nước trên mặt và đứng tránh sang một bên.

Hà Túc Đạo cả giận nói:

– Thiếu Lâm tự là nơi ngọa hổ tàng long, quả nhiên lợi hại khôn lường. Ngay một thiếu niên mới ngần này tuổi mà thân thủ cũng đã cao thế này. Gã tiểu tử kia, hai ta phải tỷ thí một phen, nếu ngươi tiếp được mười chiêu của ta, thì Hà Túc Đạo này thề suốt đời không trở lại Trung Châu nữa.

Vô Tướng, Vô Sắc thiền sư đều biết Trương Quân Bảo chỉ là một thiếu niên quét dọn trong Tàng kinh các, chưa hề tập luyện võ công, vừa rồi chẳng hiểu trời đất run rủi thế nào lại đánh trúng một chưởng; chứ nói phải đấu võ thật sự thì nói chi mười chiêu, chỉ e một chiêu cũng đã táng mạng dưới tay Hà Túc Đạo. Vô Tướng liền xen ngang vào:

– Hà cư sĩ lầm rồi! Cư sĩ được tôn là Côn Luân Tam Thánh, võ học siêu tuyệt cổ kim, ai lại đi tỷ thí với một tiểu tử chỉ biết đun nước quét nhà? Nếu cư sĩ vui lòng, lão tăng xin tiếp cư sĩ mười chiêu.

Hà Túc Đạo lắc đầu:

– Cái nhục một chưởng ban nãy, tại hạ há có thể bỏ qua? Tiểu tử, tiếp chiêu đi!

Nói đoạn, Hà Túc Đạo giáng luôn một quyền giữa ngực Trương Quân Bảo. Thế của đòn quyền này nhanh lạ lùng, Trương Quân Bảo lại đứng gần bên chàng ta, Vô Tướng, Vô Sắc có muốn tiếp cứu cũng không kịp.

Ai nấy thầm tội nghiệp cho chàng thiếu niên, chỉ thấy Trương Quân Bảo vẫn đứng yên tại chỗ, chỉ dùng đầu ngón chân di chuyển là thân hình quay sang bên hữu, nhẹ nhàng khéo léo tránh khỏi quyền của đối phương; tiếp đó dùng chiêu "Hữu xuyên hoa thủ", một chiêu trong quyền pháp cơ bản của phái Thiếu Lâm, tay tả che ngang bụng, tay hữu chém ra, khí ngưng tụ như sơn, chưởng thế như sóng lớn trường giang, dáng dấp y như một cao thủ võ lâm lão luyện, chứ không phải thân thủ của một gã thiếu niên.

Từ lúc bị một chưởng trúng vai, Hà Túc Đạo đã biết nội lực của Trương Quân Bảo vượt xa nhóm Phan Thiên Canh, nhưng chàng tự tin nội trong mười chiêu hẳn sẽ đánh bại gã thiếu niên này; thấy chiêu "Hữu xuyên hoa thủ" tuy là chiêu thức nhập môn của Thiếu Lâm quyền, nhưng lúc phát chưởng và xoay mình, kình lực hùng hậu, thân hình Trương Quân Bảo rất trầm ổn, không để lộ bất cứ sơ hở nào, chàng phải buột miệng thốt:

– Quyền pháp tuyệt diệu!

Vô Tướng nghĩ gì đó, quay sang mỉm cười với Vô Sắc:

– Mừng sư huynh đã có đệ tử đắc ý!

Vô Sắc lắc đầu nói:

– Không phải..

Chợt thấy Trương Quân Bảo sử dụng liên tiếp ba chiêu "Ảo bộ lạp cung", "Đơn phụng triều dương", "Nhị lang đản sam", pháp độ chính xác, kình lực mạnh mẽ, không thua gì một cao thủ của phái Thiếu Lâm.

Thiên Minh, Vô Tướng, Vô Sắc và Tâm Thiền thất lão thấy Trương Quân Bảo sử dụng mấy chiêu của Thiếu Lâm quyền xuất sắc như thế thì cùng nhìn nhau kinh hãi. Vô Tướng nói:

– Quyền pháp của y chính xác, nghiêm cẩn như thế cũng chưa lạ; kỳ lạ nhất là nội công..

Lúc này Hà Túc Đạo đã đánh tới chiêu thứ sáu, nghĩ bụng: "Với một gã thiếu niên miệng còn hôi sữa, ta đối phó chẳng xong, lại cả gan gửi thư khiêu chiến với Thiếu Lâm tự, ắt hẳn các anh hùng trong thiên hạ cười ta vỡ bụng mất thôi". Đột nhiên chàng quay mình sử chiêu "Thiên Sơn tuyết phiêu" chưởng ảnh quay cuồng vây chặt lấy thân hình Trương Quân Bảo từ tứ diện bát phương.

Về phần Trương Quân Bảo, khi ở trên đỉnh Hoa Sơn chỉ được Dương Quá dạy cho bốn chiêu, ngoài ra chàng chưa hề thụ giáo một danh sư nào cả. Nay đột nhiên bị tấn công bằng một thứ chưởng pháp thượng thừa, kỳ ảo, biến hóa khôn lường, làm sao biết cách chống đỡ? Trong lúc nguy cấp, chàng xoay lưng sang bên trái thành thế "Hàn kê", song chưởng giơ trên trán, hổ khẩu của hai bàn tay đối xứng nhau, chính là chiêu "Song khuyên thủ" trong Thiếu Lâm quyền. Chiêu này ngưng trọng như núi, tự hóa giải các chiêu thức của đối phương. Bất kể Hà Túc Đạo tấn công từ phương vị nào cũng đều bị "Song khuyên thủ" bao trùm.

Các đệ tử của Đạt Ma đường và La Hán đường reo vang như sấm để bày tỏ sự thán phục và cổ vũ cho Trương Quân Bảo, vì chàng đã dùng một chiêu thức hết sức bình thường trong pho Thiếu Lâm quyền để hóa giải các chiêu thức kỳ ảo của đối phương.

Trong tiếng reo hò, Hà Túc Đạo thét lớn một tiếng, đấm mạnh một quyền vào ngực Trương Quân Bảo. Đòn này kình lực phi phàm. Trương Quân Bảo dùng chiêu "Thiên hoa thất tinh", đưa song chưởng ra chống đỡ, quyền chưởng đụng nhau, chỉ nghe "bùng" một tiếng, Hà Túc Đạo loạng choạng, còn Trương Quân Bảo phải thoái lui ba bước. Hà Túc Đạo "hừ" một tiếng, sấn tới hai bước, đấm một quyền nữa, kình lực vô biên. Trương Quân Bảo vẫn dùng chiêu "Thiên hoa thất tinh", song chưởng đẩy mạnh ra. Lại nghe "bùng" một tiếng lớn hơn. Lần này Trương Quân Bảo phải thoái lui năm bước. Hà Túc Đạo nhoài tới, tái mặt quát lớn:

– Chỉ còn một chiêu này nữa, ngươi hãy dùng toàn lực mà đỡ!

Chàng sấn tới ba bước, từ từ đấm một quyền.

Lúc này mấy trăm người ở phía trước Thiếu Lâm tự đều nín thở, ai nấy đều biết đòn này của Hà Túc Đạo liên quan đến thanh danh của cả đời chàng, hẳn chàng dồn hết sức bình sinh vào đó.

Trương Quân Bảo một lần nữa dùng chiêu "Thiên hoa thất tinh", song lần này quyền chưởng đụng nhau lại không gây ra tiếng vang nào. Đôi bên cùng vận nội công đẩy ra để lấn át đối phương. Nói về chiêu thức võ công thì Hà Túc Đạo am hiểu gấp trăm lần Trương Quân Bảo; nhưng về chuyện tỷ thí nội lực thì Trương Quân Bảo đã học được tâm pháp "Cửu dương chân kinh" nên nội lực dồi dào cứ không ngớt dâng trào. Giữa lúc đó Hà Túc Đạo biết mình không nắm chắc phần thắng, bèn nhảy vọt sang một bên để chưởng lực của Trương Quân Bảo hoàn toàn lạc không, rồi chàng xoay chưởng đẩy nhẹ một cái vào lưng Trương Quân Bảo. Trương Quân Bảo ngã sóng soài xuống đất, nhất thời không đứng dậy nổi.

Hà Túc Đạo phẩy tay, cười khổ, nói:

– Hà Túc Đạo ơi là Hà Túc Đạo, ngươi thật quá ngông cuồng!

Đoạn hướng về phía Thiên Minh thiền sư cúi đầu vái rạp, nói:

– Võ công của Thiếu Lâm tự lừng danh ngàn năm, quả thật phi thường; hôm nay kẻ cuồng sinh này mới sáng mắt ra. Thán phục, thán phục!

Rồi quay người, nhún mình một cái đã vọt ra ngoài xa mấy trượng. Chàng dừng bước, quay lại nói với Giác Viễn:

– Giác Viễn đại sư, câu trối mà người nọ nhờ tại hạ chuyển tới đại sư là "Cuốn kinh ở trong dầu".

Đoạn chàng nhún mình mấy cái nữa đã lướt đi rất xa, thân pháp nhanh hiếm thấy.

Trương Quân Bảo chậm chạp bò dậy, mặt mũi lấm lem bụi đất. Chàng thiếu niên này tuy bị Hà Túc Đạo đánh ngã, nhưng các cao thủ đều biết Hà Túc Đạo chỉ khôn khéo hơn mà thôi; câu nói của chàng ta trước lúc bỏ đi đã ngụ ý rõ chàng ta không phải là đối thủ của thần công Thiếu Lâm tự.

Vị gầy gò nhất trong Tâm Thiền thất lão đột nhiên lên tiếng:

– Võ công của đệ tử này là do ai truyền thụ?

Giọng nói của lão nghe thé, chói lói y như tiếng cú kêu trong đêm lạnh, ai nấy bất giác rùng mình. Thiên Minh, Vô Tướng, Vô Sắc đều đã nghi ngờ, lúc này cùng quay nhìn Giác Viễn và Trương Quân Bảo. Thầy trò Giác Viễn đứng ngẩn người, nhất thời chưa biết nói sao cho xuôi. Thiên Minh nói:

– Nội công của Giác Viễn tuy tinh thâm, nhưng y chưa học qua quyền pháp. Vậy Thiếu Lâm quyền của gã thiếu niên kia là do ai truyền dạy?

Các đệ tử của Đạt Ma đường và La Hán đường đều nghĩ thầm, chẳng ai ngờ hôm nay bổn tự gặp nguy nan, gã thiếu niên vô danh tiểu tốt kia lại đánh bại cường địch, chắc sẽ được lão phương trượng ban thưởng hậu hĩnh, còn sư phụ truyền thụ nội công và quyền pháp cho y hẳn cũng được hưởng vinh dự lớn.

Lão tăng gầy gò kia thấy Trương Quân Bảo đứng ngẩn người ở đó, không nói được gì, liền cau mày, mặt đầy sát khí, quát lớn:

– Ta hỏi ngươi, pho La Hán quyền là do ai dạy cho ngươi?

Trương Quân Bảo lấy trong túi ra đôi thiết La Hán mà Quách Tương đã tặng và nói:

– Đệ tử xem đôi thiết La Hán này phô diễn mà tự học theo vài chiêu thức, chứ thực tình không được ai truyền dạy cả.

Lão tăng kia bước tới hạ thấp giọng, nói:

– Ngươi hãy nhắc lại cho thật rõ một lần nữa: Pho La Hán quyền hoàn toàn không phải do vị sư phụ nào trong chùa truyền dạy, mà do ngươi tự học lấy.

Giọng nói của lão tuy nhỏ, nhưng lần này đã chứa đựng vẻ dọa nạt.

Trương Quân Bảo thản nhiên, tự nghĩ mình hoàn toàn không làm việc gì xấu, tuy thấy lão tăng hung hăng truy vấn, chàng cũng chẳng sợ, liền nói rõ to:

– Đệ tử tối ngày quét dọn, đun nước pha trà trong Tàng kinh các, hầu hạ sư phụ Giác Viễn. Pho La Hán quyền hoàn toàn không phải do vị sư phụ nào trong chùa truyền dạy mà do đệ tử tự học lấy. Chắc là sử dụng chưa đúng, mong lão sư phụ chỉ giáo.

Mục quang của lão tăng kia dường như nảy lửa, cứ trừng trừng nhìn Trương Quân Bảo hồi lâu.

Giác Viễn biết vị lão tăng Tâm Thiền đường thất lão này vai vế rất cao, lại là sư thúc của Thiên Minh phương trượng; nay thấy lão ta bỗng dưng quát tháo Trương Quân Bảo, Giác Viễn chưa hiểu tại sao nhưng nhìn ánh mắt chứa đầy oán độc của lão ta, Giác Viễn sực nhớ ra năm nọ trong Tàng kinh các ngẫu nhiên có đọc một cuốn sách mỏng.

Cuốn sách mỏng ấy có chép lại một đại sự trong Thiếu Lâm tự.

Hơn bảy chục năm về trước, phương trượng của Thiếu Lâm tự là Khổ Thừa thiền sư, là sư tổ của Thiên Minh thiền sư hiện thời. Tết Trung thu, theo lệ của chùa, mỗi năm đều có cuộc khảo thí võ công của các đệ tử Đạt Ma đường, do phương trượng cùng hai vị thủ tọa Đạt Ma đường và La Hán đường làm chủ khảo, xét võ công của các đệ tử xem một năm qua tiến bộ đến mức nào. Khi các đệ tử trình diễn xong, thủ tọa Đạt Ma đường là Khổ Trí thiền sư thăng tọa bình phẩm.

Bỗng nhiên có một tên đầu đà còn để tóc dài gạt mọi người xông ra, lớn tiếng nói:

– Lời bình phẩm của Khổ Trí thiền sư nghe không ngửi được! Khổ Trí thiền sư căn bản chẳng hiểu võ công là gì, mà cũng đòi làm thủ tọa Đạt Ma đường, thật nhục nhã!

Ai nấy kinh hãi, nhìn kỹ kẻ kia, mới hay đó là tên đầu đà hỏa công chuyên việc nhóm lửa ở bếp Hương Tích. Các đệ tử của Đạt Ma đường chưa đợi sư phụ của mình lên tiếng đã nhất tề quát mắng tên kia. Tên đầu đà ấy quát lại:

– Sư phụ các ngươi ngu xuẩn, các ngươi còn ngu xuẩn hơn!

Đoạn hắn nhảy vào giữa sới võ. Các đệ tử xông tới tấn công hắn, nào ngờ đều bị hắn đánh bại nhanh chóng bằng vài ba quyền cước. Xưa nay trong Đạt Ma đường, các đồng môn đấu với nhau ai nấy đều nương tay, không bao giờ hạ độc thủ. Đằng này tên đầu đà kia ra tay quá tàn ác, chín đại đệ tử Đạt Ma đường, người gãy tay kẻ què chân, người thì thụ trọng thương dưới đòn của hắn.

Khổ Trí thiền sư vừa kinh ngạc vừa tức giận. Thấy hắn sử dụng toàn các chiêu thức của phái Thiếu Lâm, chứ hắn hoàn toàn không phải là cao thủ các môn phái khác cố ý trà trộn vào chùa quậy phá, Khổ Trí thiền sư cố nén giận, hỏi xem võ công của y là do ai truyền dạy.

Tên đầu đà kia đáp:

– Chẳng ai truyền dạy hết, mỗ tự học lấy.

Thì ra tên kia làm việc nhóm lửa ở bếp Hương Tích. Tăng nhân giám quản bếp này là một người tính tình nóng nảy, thô bạo động một tí lại đánh đập thủ hạ. Y biết võ công, lại khỏe như vâm. Trong vòng ba năm, tên đầu đà nhóm bếp bị y đánh hộc máu ba lần nên ngầm oán hận, bí mật học lóm võ công. Người người trong Thiếu Lâm tự đều giỏi võ, muốn học lóm chẳng thiếu gì cơ hội. Hắn đã khổ công rèn luyện, lại có trí hơn người, nên sau hơn hai chục năm đã luyện được võ công thượng thừa. Nhưng hắn vẫn giấu kỹ, không để lộ ra, vẫn lặng lẽ tiếp tục bổn phận nhóm lửa ở nhà bếp. Lão giám quản có đánh đập hắn, hắn cũng không đánh đỡ, nhờ nội công đã tinh thâm nên hắn không thụ thương như trước nữa.

Tên đầu đà này tính nết thâm trầm, hắn suy tính khi nào võ công của hắn giỏi hơn tất cả tăng chúng trong chùa thì hắn mới biểu lộ trong cuộc thi đấu dịp tết Trung thu. Mấy chục năm tích uất lũy hận trong lòng, khiến hắn căm hận tăng chúng trong chùa, vì vậy lúc ra tay hắn không nể nang gì hết.

Khổ Trí thiền sư hỏi rõ nguyên ủy rồi cười nhạt, nói:

– Ngươi khổ tâm học hỏi như vậy, kể cũng đáng kính!

Đoạn thiền sư bước ra tỷ võ với hắn. Thiền sư là cao thủ Thiếu Lâm tự, nhưng một là tuổi đã cao, trong khi tên đầu đà đang độ tráng niên; hai là xuất thủ nương nhẹ, trong khi tên đầu đà toàn hạ độc thủ. Hai bên đấu hơn năm trăm hiệp Khổ Trí thiền sư mới có phần thắng thế; đến chiêu "Đại triền ti", bốn cánh tay quấn chặt lấy nhau, hai tay của Khổ Trí thiền sư đã ấn vào tử huyệt ở giữa ngực đối phương, chỉ cần phát nội lực một cái là tên đầu đà táng mạng, không còn cách nào hóa giải nổi. Nhưng Khổ Trí thiền sư nghĩ tiếc cho hắn khổ công tự học mà đạt tới võ công thượng thừa, thiền sư không nỡ giết hắn, bèn buông hai tay và quát: "Lui ra!"

Ai ngờ tên đầu đà hiểu lầm hảo ý của Khổ Trí thiền sư, chỉ biết đối phương đang sử một chiêu trong "Thần chưởng bát đả". "Thần chưởng bát đả" là một trong những tuyệt học của võ Thiếu Lâm; hắn từng thấy các đại đệ tử của Đạt Ma đường sử dụng, song chưởng chỉ chém một cái là đánh gãy một cây cọc, kình lực phi phàm. Võ công của tên đầu đà tuy cao cường nhưng toàn là học lóm, chưa hề được danh sư chỉ giáo; võ Thiếu Lâm bác đại tinh thâm, hắn chỉ dòm trộm thì dù bao nhiêu năm cũng không thể thấu triệt nổi. Khổ Trí thiền sư thực ra dùng chiêu "Phân giải chưởng", mượn lực giải lực, để đôi bên cùng lùi cả ra, là có ý ngừng đấu. Ai ngờ tên đầu đà lại tưởng lầm là "Liệt tâm chưởng", chưởng thứ sáu trong "Thần chưởng bát đả"; hắn nghĩ thầm: "Lão muốn giết ta, nhưng đâu có dễ". Hắn phi thân tới, song quyền cùng giáng xuống.

Song quyền này lực như bài sơn đảo hải ập tới, Khổ Trí thiền sư cả kinh, vội quay chưởng lại chống đỡ nhưng đã muộn; chỉ nghe "răng rắc" mấy tiếng, cánh tay trái và bốn cái xương sườn của thiền sư đã bị đánh gãy.

Tăng chúng đứng bên kinh hoàng biến sắc, nhất tề xông lại tiếp cứu, nhưng Khổ Trí thiền sư chỉ thở thoi thóp, không nói được một lời, nội tạng đã bị trọng thương. Lúc nhìn lại tên hỏa công đầu đà thì nhân lúc hỗn loạn hắn đã lủi đi mất tăm. Khuya hôm đó, Khổ Trí thiền sư viên tịch vì thương thế quá nặng. Trong lúc cả Thiếu Lâm tự đang đau buồn, tên hỏa công đầu đà lại lẻn vào chùa giết hại vị hòa thượng giám quản bếp Hương Tích và năm tăng nhân khác vốn bất hòa với hắn. Cả Thiếu Lâm tự chấn động, phái mấy chục cao thủ đi khắp nơi truy nã hắn, song tìm khắp Giang Nam Giang Bắc cũng chẳng thấy tung tích.

Các vị cao tăng trong chùa vì vụ ấy mà sinh ra tranh cãi, đổ lỗi cho nhau. Thủ tọa La Hán đường Khổ Tuệ thiền sư nổi giận bỏ đi Tây Vực, sáng lập phái Thiếu Lâm Tây Vực. Ba người Phan Thiên Canh, Phương Thiên Lao, Vệ Thiên Vọng là đệ tử tái truyền của Khổ Tuệ thiền sư vậy.

Sau biến cố tang tóc kia, võ học của Thiếu Lâm tự bị suy vong mấy chục năm. Và cũng từ đó, nhà chùa mới có quy định: Phàm đệ tử nào không được sư phụ truyền thụ mà học lóm võ công, nếu bị phát hiện, nặng sẽ bị xử tử, nhẹ cũng bị cắt đứt gân mạch toàn thân trở thành phế nhân. Mấy chục năm qua, trong chùa đề phòng nghiêm mật, không còn ai dám học lóm võ công, nên tăng chúng quên dần quy định ác nghiệt kia.

Lão tăng Tâm Thiền đường gầy gò này chính là tiểu đệ tử của Khổ Trí thiền sư năm xưa; cảnh thảm tử của ân sư khắc sâu trong tâm trí lão bảy chục năm qua, nay thấy Trương Quân Bảo lại học lóm võ công thì xúc động hồi tưởng chuyện cũ, ắt vừa buồn vừa giận.

Giác Viễn coi sách trong Tàng kinh các, sách nào cũng đọc qua, chợt nhớ lại chuyện cũ thì toát mồ hôi lạnh, nói:

– Lão phương trượng, việc này.. không thể trách cứ Trương Quân Bảo..

Lời chưa dứt, đã nghe thủ tọa Đạt Ma đường Vô Tướng thiền sư quát lớn:

– Các đệ tử Đạt Ma đường, hãy nhất tề xông ra bắt tên tiểu tử kia!

Mười tám đệ tử Đạt Ma đường lập tức ào ra vây lấy thầy trò Giác Viễn từ bốn phương tám hướng. Phương vị của mười tám người đó rất rộng, cả Quách Tương cũng bị ở trong vòng vây.

Lão tăng Tâm Thiền đường gầy gò cao giọng quát lớn:

– Chúng đệ tử La Hán đường, sao không tiến lên hợp lực!

Một trăm linh tám đệ tử La Hán đường đồng thanh "Dạ!" nghe như sấm động, quây thành ba vòng tròn bên ngoài mười tám đệ tử Đạt Ma đường.

Trương Quân Bảo tứ chi luống cuống, cứ ngỡ mình đánh đuổi Hà Túc Đạo là phạm giới quy của chùa, miệng lắp bắp:

– Sư phụ, đệ tử.. đệ tử..

Giác Viễn đã hơn mười năm sống chung cùng đệ tử, tình như phụ tử; biết rằng Trương Quân Bảo bị bắt thì chắc hẳn sẽ bị xử tử hoặc biến thành phế nhân. Chỉ nghe Vô Tướng thiền sư quát:

– Sao không động thủ, còn chờ gì nữa?

Mười tám đệ tử Đạt Ma đường miệng niệm nam mô, dợm chân bước tới. Giác Viễn chẳng kịp nghĩ ngợi liền quay đôi thùng sắt một vòng, một luồng kình phong quạt mạnh, ngăn không cho tăng chúng tới gần. Giác Viễn quay mạnh một vòng nữa, hất văng nước trong đôi thùng ra, đoạn nghiêng thùng bên tả múc lấy Quách Tương, nghiêng thùng bên hữu múc lấy Trương Quân Bảo, quay đôi thùng liên tiếp bảy tám vòng nữa. Đôi thùng sắt lớn tựa như hai cây chùy nặng ngàn cân, ai dám giơ tay ngăn cản?

Các đệ tử Đạt Ma đường vội vã dạt cả sang bên. Nhanh như bay, Giác Viễn gánh Quách Tương và Trương Quân Bảo chạy xuống núi. Tăng chúng hô hoán đuổi theo, chỉ nghe tiếng xích sắt càng lúc càng xa dần, đuổi được chừng bảy tám dặm thì không nghe thấy nữa.

Luật lệ của Thiếu Lâm tự rất nghiêm, một khi thủ tọa Đạt Ma đường đã hạ lệnh bắt giữ Trương Quân Bảo, các tăng nhân tuy thấy đuổi chẳng kịp nhưng vẫn phải gắng gượng truy đuổi. Thời gian càng dài, cước lực của từng người lộ ra cao thấp, người nào khinh công kém sẽ tụt lại phía sau. Đuổi tới lúc trời tối thì tốp đi đầu chỉ còn năm đại đệ tử, trước mặt lại là ngã ba, không biết Giác Viễn chạy về ngả nào. Vả lại họ thừa biết, dù có đuổi kịp, bọn họ năm người cũng chẳng địch nổi hai thầy trò Giác Viễn, nên họ đành lủi thủi trở về Thiếu Lâm tự chờ lệnh.

Giác Viễn gánh hai người chạy mấy chục dặm mới dừng bước, nhìn quanh thì đây là một cánh rừng sâu, sương mù bao phủ khắp nơi, từng đàn quạ đang trở về tổ. Giác Viễn tuy nội lực dồi dào, nhưng đã xả thân chạy một mạch xa như thế cũng đã mỏi gối chồn chân, nhất thời kiệt sức chưa thể gỡ đôi thùng sắt ra khỏi vai.

Quách Tương và Trương Quân Bảo từ trong thùng nhảy ra, mỗi người gỡ một chiếc thùng khỏi vai Giác Viễn. Trương Quân Bảo nói:

– Sư phụ hãy nghỉ ngơi, đệ tử đi kiếm thức ăn đã.

Nhưng giữa chốn núi non hoang vu, cỏ cao, dây leo chằng chịt này thì kiếm đâu ra thức ăn. Trương Quân Bảo đi chán chê mới kiếm được ít trái mâm xôi đem về. Ba người ăn qua loa rồi tựa lưng vào phiến đá mà nghỉ.

Quách Tương nói:

– Đại sư, tiểu nữ thấy nhiều tăng nhân Thiếu Lâm tự, ngoài đại sư và Vô Sắc thiền sư ra, đều kỳ quái tệ hại cả.

Giác Viễn chỉ ậm ừ, không nói gì.

Quách Tương nói tiếp:

– Côn Luân Tam Thánh Hà Túc Đạo tới Thiếu Lâm tự khiêu chiến, cả chùa không ai địch nổi, chỉ nhờ hai thầy trò đại sư đánh lui chàng ta, mới bảo tồn được danh dự Thiếu Lâm tự. Họ đã chẳng cảm kích đại sư thì chớ, lại hùng hùng hổ hổ đòi bắt giữ Trương đệ đây, họ lẫn lộn thị phi hắc bạch như thế, thật vô lý hết sức!

Giác Viễn lại thở dài, nói:

– Việc này cũng không thể trách lão phương trượng và Vô Tướng sư huynh được. Thiếu Lâm tự vốn có một điều luật..

Nói tới đây, Giác Viễn hụt hơi, ho sặc sụa một hồi không dứt. Quách Tương đấm nhè nhẹ vào lưng Giác Viễn, nói:

– Đại sư mệt mỏi rồi, hãy cố ngủ một giấc, ngày mai hãy kể tiếp.

Giác Viễn thở dài:

– Phải, lão tăng thấm mệt rồi.

Trương Quân Bảo nhặt một ít cành khô, nhóm lửa hong khô y phục cho Quách Tương và cho mình. Ba người ngủ tạm dưới gốc một cây cổ thụ.

Quách Tương ngủ đến nửa đêm, chợt mơ mơ màng màng nghe Giác Viễn lẩm bẩm một mình như đang tụng kinh, liền tỉnh giấc. Nàng thấy Giác Viễn nói nhỏ:

–.. Lực của đối phương vừa mới chạm tới da ta thì ý niệm của ta đã vào tới xương tủy của y. Hai tay chống đỡ, một hơi quán xuyến. Tả trọng thì tả hư mà hữu đã đi; hữu trọng thì hữu hư mà tả đã đi..

Quách Tương giật mình nghĩ thầm: "Vị hòa thượng này hoàn toàn không phải đang tụng kinh Phật, đại loại 'Không tức thị sắc, sắc tức thị không', mà đang đọc võ học quyền kinh thì phải".

Nàng lắng nghe tiếp:

–.. Khí như xa luân, toàn thân phải có khí đi tới; chỗ nào không tới, thân sẽ tán loạn, muốn cứu vãn phải nhờ đến lưng và đùi..

Quách Tương nghe tới câu này thì hiểu rằng Giác Viễn đang đọc một yếu lĩnh võ học, nàng nghĩ thầm: "Vị hòa thượng này hoàn toàn không biết võ công, chỉ đọc sách thành si mê, phàm những gì ghi trong sách, đều coi là thiên kinh địa nghĩa bất di bất dịch. Mấy năm trước trên đỉnh Hoa Sơn, lần đầu gặp lão, mình từng nghe lão nói, rằng Đạt Ma lão tổ sau khi tự tay viết kinh Lăng Già, lại viết bộ 'Cửu dương chân kinh' vào các khoảng trống của cuốn kinh Lăng Già; rằng muốn cho thân thể khỏe mạnh cần tập luyện theo bộ 'Cửu dương chân kinh'. Hai thầy trò lão học theo cách đó, chứ không nhờ ai chỉ giáo, cuối cùng đạt tới được cảnh giới thượng thừa trong thiên hạ từ lúc nào không biết. Năm ấy Tiêu Tương Tử đánh lão một chưởng, lão chịu đòn mà không việc gì, trái lại Tiêu Tương Tử bị trọng thương. Thần công cao siêu như thế, hẳn phụ thân và đại ca ca của mình cũng chưa chắc sánh kịp. Hôm qua thầy trò lão lẳng lặng đánh bại Hà Túc Đạo, có lẽ là nhờ bộ 'Cửu dương chân kinh'. Lúc này lão đang đọc liệu có phải bộ kinh đó chăng?"

Nghĩ tới đây, để khỏi làm bấn loạn tinh thần của Giác Viễn, nàng rón rén ngồi dậy, lắng nghe lời tụng niệm của Giác Viễn và cố ghi nhớ. Nàng nghĩ thầm: "Nếu quả đó là 'Cửu dương chân kinh', thì bộ kinh ấy tinh vi ảo diệu, không thể hiểu trong giây lát.

Mình phải nhớ kỹ, để mai thỉnh giáo lão cũng chưa muộn". Chỉ nghe Giác Viễn lẩm bẩm:

–.. Trước tiên dùng tâm sai khiến thân, theo người chứ không theo mình, theo thân có thể theo tâm, do mình tức là theo người. Do mình ắt trệ, theo người ắt hoạt. Theo được người thì trong tay có sẵn chừng mực, cân đo kình lực kích thước của đối phương không sai một li. Tiến trước thoái sau, bước nào cũng chính xác, càng luyện càng tinh xảo..

Quách Tương nghe tới đây, bất giác lắc đầu, nghĩ thầm: "Không đúng, không đúng. Phụ mẫu mình thường nói, khi đối địch, ta phải chế ngự người trước, chứ không để người chế ngự ta. Vậy là lão đọc sai rồi". Lại nghe Giác Viễn đọc:

–.. Người không động, ta không động, người hơi động, ta đã động trước. Kình lực tưởng nhẹ mà không lỏng lẻo, làm như sắp thi triển mà chưa thi triển, kình lực đã dứt mà ý chưa dứt..

Quách Tương càng nghe càng thấy mông lung. Nàng học võ từ thời thơ ấu, toàn nghe dạy rằng phải trước tiên chế ngự người, chiêu thức nào cũng phải tranh tiên, phải ra tay trước đối phương. Những bí quyết quyền kinh mà Giác Viễn đang đọc, kiểu như câu "Do mình ắt trệ, theo người ắt hoạt", trái hẳn với những lý thuyết nàng được học bấy nay. Nàng nghĩ thầm: "Khi gặp địch động thủ, đôi bên đấu trí mạng với nhau mà ta lại bỏ ta theo người, kẻ địch muốn Đông ta theo Đông, kẻ địch muốn Tây ta theo Tây, thế thì có khác gì tha hồ cho kẻ địch tấn công?"

Nàng mải nghĩ, Giác Viễn đọc lại nhỏ, nên nàng nghe câu được câu mất. Dưới ánh trăng, bỗng thấy Trương Quân Bảo cũng đang ngồi xếp chân bằng tròn chăm chú lắng nghe, Quách Tương nghĩ thầm: "Bất kể lão nói đúng hay không đúng, mình cứ việc nhớ cho kỹ. Vị hòa thượng này đã khiến Tiêu Tương Tử bị chấn thương, Hà Túc Đạo phải rút lui, là điều chính mình mục kích. Vậy pháp môn võ công mà lão đọc đây hẳn phải có lý lắm". Thế là nàng lại lắng nghe và cố nhớ.

Giác Viễn cứ nhớ tới đâu đọc thuộc lòng tới đó, có lúc lẫn vào lời văn của kinh Lăng Già, kể về việc Phật tổ ở đảo Lăng Già lên núi thuyết pháp. Là bởi bộ kinh "Cửu dương chân kinh" được viết xen vào chỗ trống của cuốn kinh Lăng Già, Giác Viễn thì cứ rập khuôn mà đọc thuộc lòng, nên mới có sự xen lẫn như vậy. Kinh Lăng Già vốn là văn tự Thiên Trúc, điều Giác Viễn đọc lại là lời dịch, đôi chỗ lẫn lộn, nghe cứ câu được câu mất, may nhờ thông minh đĩnh ngộ, nên Quách Tương vẫn hiểu được vài phần.

Mặt trăng chếch non Đoài, bóng người cứ dài dần ra, tiếng đọc kinh của Giác Viễn cũng thấp dần, nghe chẳng rõ nữa. Quách Tương liền lên tiếng:

– Đại sư, đại sư đã mệt suốt cả ngày rồi, xin hãy nằm nghỉ một chút.

Giác Viễn tựa hồ không nghe thấy lời khuyên của nàng, vẫn tiếp tục đọc:

–.. Mượn lực của người, khí phát ra từ sống lưng. Vì sao khí từ sống lưng phát ra? Khí trầm xuống dưới, do hai vai thu vào cột sống, dồn xuống thắt lưng. Khí này từ trên đi xuống, gọi là hợp. Từ thắt lưng lan ra cột sống, ra hai cánh tay, khí này từ dưới đi lên, gọi là khai. Hợp là thu vào, khai là phóng ra. Hiểu được khai hợp là biết âm dương..

Tiếng tụng kinh của Giác Viễn càng lúc càng nhỏ, cuối cùng im bặt, hình như lão hòa thượng đã ngủ thiếp đi.

Quách Tương và Trương Quân Bảo không dám kinh động, chỉ lặng lẽ ngồi ôn lại lời kinh.

Trên trời trăng đã lặn, sao đã mờ. Mây đen kéo tới bao phủ tứ phía, mặt đất tối như mực. Chừng bằng thời gian ăn xong một bữa, phía đông sáng dần, chỉ thấy Giác Viễn nhắm mắt, ngồi bất động, nét mặt như lộ vẻ tươi cười.

Trương Quân Bảo chợt thấy phía sau một gốc cổ thụ thoáng một bóng người, hình như đó là vạt áo cà sa màu vàng. Chàng giật mình, hỏi to:

– Ai đó?

Chỉ thấy một hòa thượng cao gầy từ phía sau thân cây bước ra. Chính là thủ tọa La Hán đường Vô Sắc thiền sư.

Quách Tương vừa ngạc nhiên vừa vui mừng, hỏi:

– Đại hòa thượng sao cứ đuổi theo mãi thế? Lẽ nào cứ phải bắt hai thầy trò họ về chùa mới được hay sao?

Vô Sắc thiền sư đáp:

– Thiện tai, thiện tai! Lão tăng còn biết phải trái, đâu phải là kẻ chỉ biết câu nệ giới luật xưa cũ. Lão tăng tới đây từ lúc nửa đêm, nếu định động thủ thì khỏi cần chờ tới lúc này. Này Giác Viễn sư đệ, Vô Tướng thiền sư suất lĩnh đệ tử Đạt Ma đường đang đuổi về phía đông, thầy trò sư đệ hãy mau mau chạy về phía tây!

Chỉ thấy Giác Viễn cứ cúi đầu nhắm mắt, vẫn chưa tỉnh giấc.

Trương Quân Bảo bước lại, thưa:

– Sư phụ tỉnh dậy thôi, có thủ tọa La Hán đường đang nói chuyện với sư phụ đó.

Giác Viễn vẫn bất động. Trương Quân Bảo kinh hãi, vội rờ tay vào trán sư phụ, thấy lạnh giá như băng, thì ra Giác Viễn đã viên tịch từ lúc nào rồi. Trương Quân Bảo đau đớn phục xuống, gọi to:

– Sư phụ! Sư phụ!

Tiếng gọi của chàng làm sao có thể khiến sư phụ tỉnh lại kia chứ?

Vô Sắc thiền sư chắp tay hành lễ, miệng niệm kệ:

– Chư phương vô vân ế, tứ diện giai thanh minh, vi phong xuy hương khí, chúng sơn tịnh vô thanh.

Kim nhật đại hoan hỉ, xả tức nguy thúy thân. Vô sân diệc vô ưu, ninh bất đương hân khánh? [12]

Đoạn Vô Sắc thiền sư nhẹ nhàng rời chân.

Trương Quân Bảo khóc một hồi, Quách Tương cũng chảy không ít lệ. Tăng chúng Thiếu Lâm tự khi viên tịch đều được hỏa táng; hai người bèn nhặt củi, chất lại hỏa thiêu Giác Viễn.

Quách Tương nói:

– Này Trương đệ, tăng chúng Thiếu Lâm tự sẽ không buông tha đệ đâu, đệ phải hết sức thận trọng đó. Chúng ta chia tay ở đây, ngày sau ắt sẽ có dịp gặp lại.

Trương Quân Bảo ứa lệ, nói:

– Quách tỷ tỷ đi đâu? Còn tiểu đệ biết đâu mà đi đây?

Quách Tương nghe Trương Quân Bảo hỏi đi đâu thì nàng cũng mủi lòng, nói:

– Tỷ tỷ thì góc biển chân trời, hành tung bất định; tỷ tỷ cũng chưa biết mình sẽ đi đâu. Đệ thì tuổi còn nhỏ, lại chưa duyệt lịch trong giang hồ. Tăng chúng Thiếu Lâm tự đang lùng sục tróc nã đệ. Vậy..

Nói tới đây nàng rút cái vòng vàng đeo ở cổ tay ra, trao cho Trương Quân Bảo dặn:

– Đệ hãy cầm cái này, đến thành Tương Dương tìm phụ mẫu tỷ tỷ, họ sẽ che chở cho đệ. Được phụ mẫu tỷ tỷ che chở thì dù tăng chúng Thiếu Lâm tự tàn ác đến mấy, đệ cũng khỏi lo.

Trương Quân Bảo rưng rưng lệ đỡ lấy chiếc vòng. Quách Tương lại nói:

– Đệ hãy thưa với phụ mẫu tỷ tỷ, rằng tỷ tỷ rất khỏe và vui, để họ khỏi nặng lòng thương nhớ. Phụ thân tỷ tỷ rất quý các thiếu niên anh hùng, thấy đệ là người tài năng, không chừng sẽ nhận đệ làm đệ tử. Còn em trai của tỷ tỷ rất thật thà trung hậu, nhất định sẽ thân với Trương đệ. Riêng chị gái của tỷ tỷ tính tình nóng nảy, có điều gì không bằng lòng là chị ấy bốp chát, chẳng nể nang gì đâu. Nhưng đệ chỉ cần nghe theo chị ấy là ổn thỏa.

Nói xong nàng quay mình đi liền.

Trương Quân Bảo cảm thấy trời đất bao la mà mình không chốn nương thân. Chàng đứng rất lâu bên chỗ hỏa táng sư phụ, rồi mới bước đi. Đi hơn mười trượng, chàng bỗng quay lại, lấy đôi thùng sắt của sư phụ gánh lên vai, rồi thong thả bước. Giữa chốn núi rừng hoang vu, một thiếu niên cao gầy lầm lũi trơ trọi đi về hướng tây, trông tội nghiệp vô cùng.

Đi đã nửa tháng, tới địa giới Hồ Bắc, còn cách thành Tương Dương không bao xa. Tăng chúng Thiếu Lâm tự vẫn không đuổi kịp chàng. Đó là nhờ Vô Sắc thiền sư ngầm hỗ trợ, chỉ dẫn tăng chúng đuổi ngược đường về hướng đông nên càng ngày càng cách xa chàng.

Chiều một ngày nọ, chàng tới chân một dải núi lớn, chỉ thấy cây cối um tùm rậm rạp, sơn thế cực kỳ hùng vĩ. Hỏi khách bộ hành ngang qua mới biết đây là núi Võ Đang.

Chàng ngồi tựa lưng vào một tảng đá dưới chân núi nghỉ ngơi. Chợt thấy hai người nhà quê, một nam một nữ, sánh vai nhau đi trên con đường mòn ngang qua chỗ chàng, thái độ thân mật rõ là một cặp vợ chồng trẻ. Cô vợ cứ luôn miệng trách chồng, còn anh chồng thì cúi đầu lầm lũi mà đi.

Cô vợ nói:

– Chàng là nam nhi đại trượng phu, không tự lập thân, cứ đi nhờ vả người anh rể nên mới bị họ sỉ nhục như vậy. Vợ chồng mình đủ chân đủ tay, tự làm lấy mà ăn, tuy rau dưa đạm bạc nhưng được cái tự do ung dung. Đằng này chàng chẳng có chút chí hướng gì hết, sống trên đời cứ như cái giá áo túi cơm vậy.

Anh chồng ậm ừ mấy tiếng. Cô vợ lại nói:

– Cổ nhân có câu "Cùng lắm là chết, chết thì hết chuyện", hà tất chàng cứ phải dựa dẫm kẻ khác mới sống được hay sao?

Anh chồng bị vợ trách một hồi, không dám nói lại một câu, ngượng đỏ cả mặt, cứ thế mà đi.

Những lời cô vợ kia nói, câu nào cũng buộc Trương Quân Bảo phải suy nghĩ. "Chàng là nam nhi đại trượng phu, không tự lập thân.. nên mới bị họ sỉ nhục như vậy.. Cổ nhân có câu 'Cùng lắm là chết, chết thì hết chuyện', hà tất chàng cứ phải dựa dẫm kẻ khác mới sống được hay sao?" Chàng cứ ngẩn ra nhìn theo cặp vợ chồng kia. Bỗng thấy anh chồng ngẩng đầu lên, thẳng lưng lại, nói mấy câu gì đó, rồi hai vợ chồng cười rộ một hồi; tựa hồ anh chồng đã quyết chí tự lập nên cả hai mới vui vẻ như thế.

Trương Quân Bảo nghĩ bụng: "Quách cô nương bảo rằng bà chị của cô nương tính tình nóng nảy, nói năng bốp chát chẳng nể nang ai, mình phải nhất nhất nghe lời chị ta. Mình là nam nhi đại trượng phu, hà tất phải cúi đầu nín nhịn, ủy khúc cầu toàn ư? Cặp vợ chồng nông phu kia còn biết nỗ lực tự cường, Trương mỗ ta há phải làm nô lệ cho người sai khiến?"

Nghĩ như thế, tâm ý đã quyết, chàng đứng dậy, quẩy đôi thùng đi lên núi, tìm một cái hang, khát uống nước suối, đói ăn trái cây, chăm chỉ luyện tập theo "Cửu dương chân kinh" do sư phụ Giác Viễn truyền thụ.

Mấy năm sau, chàng chợt ngộ ra: "Đạt Ma tổ sư là người Thiên Trúc, nếu soạn bộ kinh bằng văn tự Trung Hoa ta thì lời văn ắt thô sơ. Đằng này bộ 'Cửu dương chân kinh' lời văn cô đọng thâm thúy, người ngoại quốc quyết không thể sáng tác được như thế. Đây hẳn là sáng tác của các nhân sĩ Trung Châu, đa phần là các tăng lữ Thiếu Lâm tự; rồi mượn danh Đạt Ma tổ sư mà chép xen vào cuốn kinh 'Lăng Già' bằng văn tự Thiên Trúc". Giác Viễn đã tin tưởng hoàn toàn vào lời văn trong cuốn kinh. Trương Quân Bảo lúc này còn ít tuổi, cũng không dám quả quyết rằng suy đoán của mình là đúng.

Chàng được sư phụ Giác Viễn truyền thụ đã lâu nên bộ "Cửu dương chân kinh" nhớ được năm, sáu phần, sau mười mấy năm trời, nội lực tăng tiến rất nhiều, chàng lại đọc nhiều kinh Đạo tạng, hiểu biết rất sâu về thuật luyện khí của Đạo gia. Một bữa nọ đang lững thững dạo chơi trong núi, ngẩng lên nhìn trời thấy mây trôi như nước chảy, Trương Quân Bảo chợt ngộ ra, trở vào hang vắt óc suy nghĩ bảy ngày bảy đêm, cuối cùng lĩnh hội được đạo lý trong võ công là lấy nhu khắc cương, bèn ngẩng mặt lên trời mà cười vang.

Đấy là tiếng cười của một vị đại tông sư thừa tiên khải hậu, người đã dựa vào quyền pháp mà mình sở ngộ, đạo lý "Xung hư viên thông" của Đạo gia và nội công nói trong bộ "Cửu dương chân kinh" mà phát minh, sáng lập nên phái Võ Đang – một môn phái võ công rạng rỡ ngàn thu.

Về sau chàng du ngoạn lên phía bắc, đến Bảo Minh, thấy ba đỉnh núi sừng sững giữa biển mây, về võ học lại ngộ thêm, bèn lấy tự hiệu Tam Phong, và Trương Tam Phong trở thành kỳ nhân độc nhất vô nhị trong lịch sử võ học Trung Hoa.

Comments

Comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 3: Bảo đao bách luyện sinh huyền quang

Hoa nở hoa tàn, hoa tàn hoa nở. Chàng thiếu niên năm nào rồi cũng thành bậc tiền bối trên giang hồ; thiếu nữ má hồng rốt cuộc cũng thành lão bà tóc bạc.

Bấy giờ là năm Chí Nguyên thứ hai thời Nguyên Thuận Đế, triều đại nhà Tống bị diệt vong đến lúc này đã hơn năm mươi năm.

Đang giữa tháng Ba, cuối mùa xuân; ở miền duyên hải Giang Nam có một lam y tráng sĩ trạc ba mươi tuổi, chân đi hài cỏ, rảo bước trên đường cái quan. Thấy trời đã ngả hoàng hôn, tráng sĩ không để ý thưởng thức hương sắc tươi thắm của cảnh vật mùa xuân ven đường, mà cứ vừa đi vừa suy tính: "Hôm nay hai mươi bốn tháng Ba rồi, đến mồng chín tháng Tư chỉ còn mười bốn ngày, ta phải nhanh chân mới kịp về tới núi Võ Đang mừng đại thọ ân sư chín mươi tuổi".

Tráng sĩ họ Du, tên Đại Nham, là đệ tử thứ ba của tổ sư phái Võ Đang Trương Tam Phong. Đầu năm nay, Du Đại Nham phụng mệnh sư phụ đi Phúc Kiến diệt trừ một bọn đạo tặc chuyên giết hại lương dân. Nghe tin Du Đại Nham tới, chúng liền ẩn náu một nơi, tạm ngưng hoạt động. Du Đại Nham phải tốn hơn hai tháng mới tìm ra sào huyệt của chúng, liền tới khiêu chiến, sử dụng Huyền tư đao pháp do sư phụ truyền dạy, đến chiêu thứ mười một thì giết chết tên đầu đảng, giải tán băng cướp. Lúc đầu dự tính mươi ngày là xong việc, ai ngờ mất đứt hơn hai tháng trời; bấm đốt ngón tay, đã quá gần tới ngày mừng thọ sư phụ chín mươi tuổi, vì thế Đại Nham vội vã từ Phúc Kiến trở về, hôm nay đã tới phía nam sông Tiền Đường, tỉnh Chiết Đông.

Chàng rảo bước một hồi, thấy đường mỗi lúc một hẹp dần, bên phải giáp bờ biển, thấy có nhiều mảnh ruộng vuông vắn mỗi chiều bảy tám trượng, trông phẳng và sáng như gương. Đại Nham đã đi khắp nam bắc Trường Giang, mắt thấy nhiều thứ, song đồng ruộng kỳ dị thế này thì chưa gặp bao giờ. Hỏi dân địa phương, họ Du bất giác phì cười khi biết đó là các ruộng muối. Diêm dân[13] dẫn nước bể vào ruộng, phơi nắng gió cho khô bớt, lại dẫn vào ruộng khác, nước có độ mặn hơn, cuối cùng nước bay hơi hết, họ sẽ cào lấy muối hạt. Du Đại Nham nghĩ thầm: "Mình ăn muối ba mươi năm, không ngờ phải tốn bao công sức mới có được hạt muối".

Đang đi, bỗng thấy trên con đường nhỏ phía tây có hơn hai chục người quang gánh đi tới. Du Đại Nham nhìn kỹ, thấy họ đều mặc y phục màu xanh ngắn tay, đội nón lá, gánh hai thúng muối. Chàng biết nhà đương cục bạo ngược, thu thuế muối rất nặng, nên mặc dù ở ngay ven biển nhưng dân chúng cũng không sao mua nổi muối quan mà ăn, phải mua muối của dân buôn lậu (tránh thuế nên rẻ). Du Đại Nham đoán kia là nhóm buôn lậu muối, người nào người nấy vạm vỡ, đòn gánh trên vai họ có cái lạ, không phải bằng tre, đen thui và thẳng đơ, hình như là các cây côn sắt. Gánh muối của họ nặng hơn hai trăm ký mà họ đi cứ vùn vụt. Du Đại Nham nghĩ thầm: "Đám buôn lậu muối này tay nào cũng biết võ công. Nghe nói ở Giang Nam có phái Hải Sa buôn lậu muối, thanh thế rất lớn, phái đó có nhiều danh gia võ học nhưng chẳng mấy khi những hơn hai chục cao thủ tụ tập thành một bọn như đám này". Giả sử lúc khác, hẳn Đại Nham quyết tìm cho ra manh mối, nhưng bây giờ chàng còn phải về cho kịp dự lễ chúc thọ sư phụ, chẳng để tâm chuyện trời ơi đất hỡi làm gì. Nghĩ thế, Đại Nham rảo bước thật nhanh.

Gần tối, chàng tới trấn Am Đông, huyện Dư Diêu, từ đây qua sông Tiền Đường là tới Lâm An, rẽ sang phía tây bắc, qua hai tỉnh Giang Tây, Hồ Nam mới về đến núi Võ Đang ở tỉnh Hồ Bắc. Buổi tối không có thuyền đưa khách qua sông, Đại Nham đành vào một tiểu khách điếm trấn Am Đông nghỉ tạm.

Cơm nước xong, chàng vừa định đi nằm, bỗng nghe ồn ào ngoài sân khách điếm – có nhiều người tới trọ. Những người kia toàn nói giọng Chiết Đông, song trung khí rất mạnh, đủ hiểu là dân võ nghệ. Chàng ló đầu nhìn ra, mới hay chính là đám buôn lậu muối đã gặp dọc đường. Du Đại Nham chẳng để ý nữa, lên giường ngồi xếp bằng tròn luyện khí hành công ba lần rồi mới ngủ.

Nửa đêm, bỗng nghe phòng bên cạnh có tiếng lịch kịch nhè nhẹ, Du Đại Nham tỉnh giấc ngay. Có tiếng nói nhỏ: "Bọn ta cứ lẳng lặng mà đi, đừng lên tiếng khiến người khách phòng bên hay biết, khỏi sinh rắc rối". Cả đám không nói gì, chỉ khẽ mở cửa đi ra sân. Du Đại Nham nhìn qua cửa sổ, thấy đám buôn lậu muối quảy gánh rời khách điếm. Đại Nham nhớ đến câu nói ban nãy "Bọn ta cứ lẳng lặng mà đi, đừng lên tiếng khiến người khách phòng bên hay biết, khỏi sinh rắc rối", thì nghĩ thầm: "Đám buôn lậu muối này lén lén lút lút thế này, hẳn định gây trò xấu xa gì đây. Mình đã biết, không thể không ngăn cản. Ví thử ta ngăn cản chúng hãm hại người lương thiện, cứu được vài mạng người, thì dù có lỡ ngày chúc thọ ân sư, ân sư cũng không nỡ trách cứ ta". Nghĩ vậy, Du Đại Nham liền đeo túi binh khí lên vai, vọt qua cửa sổ, nhảy lên bờ tường.

Nghe tiếng chân người đi về hướng đông bắc, Du Đại Nham thi triển khinh công đuổi theo. Đêm nay mây phủ đầy trời, trăng sao mất dạng, trong bóng tối thấp thoáng hơn hai chục bóng người gồng gánh đi như bay trên bờ ruộng muối. Du Đại Nham nghĩ thầm: "Đám buôn lậu muối lên đường giữa đêm hôm là chuyện rất thường; nhưng tên nào tên ấy võ công cao cường, nếu chúng định câu kết nhau làm trò phi pháp, đừng nói vào nhà phú ông ăn trộm, có muốn cướp phá ngân khố, quan quân cũng chẳng cản nổi; hà tất chúng phải đi buôn lậu muối, kiếm chút lợi nhỏ? Chắc bên trong có mưu đồ gì đây?"

Không đầy nửa canh giờ, đám buôn lậu muối đã đi được hơn hai chục dặm. Du Đại Nham dùng khinh công bám theo, không phát ra một tiếng động; đám buôn lậu kia tựa hồ mải lo việc hệ trọng, cứ mải miết đi không hề ngoái lại, nên chẳng biết có người dõi theo. Lúc này cả bọn đã tới sát bờ biển, tiếng sóng vỗ vào bờ đá ầm ào bất tuyệt.

Đang đi, chợt nghe người dẫn đầu giậm chân một cái, tất cả dừng bước. Người đi đầu hỏi:

– Ai đó?

Trong bóng tối có tiếng khàn khàn hỏi lại:

– Có phải là các bằng hữu có ba chấm thủy?

Người đi đầu đáp:

– Phải. Các hạ là ai?

Du Đại Nham nghĩ bụng: "Các bằng hữu có ba chấm thủy là gì nhỉ?" Rồi chàng hiểu ngay, đúng là phái Hải Sa rồi. Ba chữ "phái Hải Sa", mỗi chữ đều có ba chấm thủy bên cạnh. Giọng khàn khàn nói:

– Vụ thanh đao Đồ Long, ta khuyên các vị đừng nhúng tay vào.

Người đi đầu nói, giọng ngạc nhiên xen lẫn tức giận:

– Các hạ cũng vì thanh đao Đồ Long mà tới đây ư?

Người có giọng khàn khàn cười khinh khỉnh vài tiếng, không trả lời.

Du Đại Nham đang nấp sau một tảng đá, liền vòng ra phía trước, chỉ thấy có một người cao gầy đứng chắn đường. Trong bóng tối nhìn không rõ diện mạo y, chỉ thấy y bận bộ đồ màu trắng; đi đêm mà bận y phục màu trắng, rõ ràng là kẻ rất tự phụ về võ công của mình.

Chỉ nghe thủ lĩnh phái Hải Sa nói tiếp:

– Thanh đao Đồ Long là của bổn phái, bị kẻ gian lấy trộm, đương nhiên bổn phái phải đòi lại.

Kẻ bận đồ trắng lại cười khinh khỉnh ba tiếng "hi-hi-hi", vẫn nghênh ngang chắn lối. Người đứng sau kẻ dẫn đường quát lớn:

– Tránh ra, tên ác cẩu! Ngươi muốn chết phải khô.. ông..

Hắn chưa dứt câu đã rú lên và ngã ngửa ra phía sau. Cả đám thất kinh, trong bóng tối chỉ thấy cái bóng trắng loang loáng vài cái rồi biến mất liền.

Bọn Hải Sa tới bên kẻ bị đánh ngã, thấy hắn nằm co quắp, đã tắt thở. Ai nấy vừa kinh hãi vừa tức giận, có mấy người đặt gánh xuống, đuổi theo kẻ bận đồ trắng nhưng y biến đi quá nhanh, trời lại tối đen, làm sao tìm ra y?

Du Đại Nham nghĩ thầm: "Bạch y quái khách xuất thủ quá lẹ, đó là thủ pháp Đại lực Kim Cương trảo của phái Thiếu Lâm, nhưng trong bóng tối nhìn không rõ lắm. Nghe khẩu âm của y, rõ ràng y là người vùng biên giới tây bắc. Phái Hải Sa gây thù chuốc oán với kẻ thù ở nơi xa xôi thật đó!" Chàng vẫn nấp sau tảng đá, không dám cử động mạnh, sợ bọn Hải Sa phát hiện ra mình sẽ vô cùng nguy hiểm. Chỉ nghe người dẫn đầu nói:

– Hãy đặt xác lão Tứ sang một bên, khi quay về sẽ mai táng sau, nhất quyết phải làm rõ vụ này.

Đám buôn lậu đáp ứng, lại gánh muối đi tiếp.

Du Đại Nham đợi họ đi xa mới tới gần tử thi xem xét, thấy cổ họng hắn có hai lỗ thủng nhỏ, máu tươi từ đó vẫn đang trào ra, lỗ thủng hiển nhiên là do ngón tay chộp vào. Chàng cảm thấy vụ này thật khó hiểu, bèn gia tăng cước bộ đuổi theo bọn Hải Sa.

Đám kia đi được mấy dặm thì người dẫn đầu huýt một tiếng sáo, cả đám tản ra tứ phía, chậm rãi tiến lại gần một ngôi nhà lớn ở phía đông bắc. Du Đại Nham nghĩ thầm: "Thanh đao Đồ Long mà bọn họ nói đến, chẳng lẽ ở trong tòa nhà kia?" Chỉ thấy từ ống khói tòa nhà bốc lên một cột khói đen, khói cứ tụ lại hồi lâu không tản ra. Đám người buôn lậu muối đặt gánh xuống, mỗi tên lấy ra một cái gáo gỗ, múc từ trong sọt ra một thứ gì đó rồi rải tứ phía. Du Đại Nham thấy vật họ rải là chất bột trắng như tuyết, rõ ràng là muối biển, thì nghĩ thầm: "Rắc muối xuống đất làm gì nhỉ? Quái lạ thật! Mình về kể chuyện này với các sư huynh sư đệ, chắc họ chẳng tin".

Chàng thấy trong lúc rải muối bọn kia làm rất chậm và nhẹ, tựa hồ chúng sợ bị các hạt muối dính vào người vậy. Chàng chợt hiểu thì ra đấy là loại muối cực độc; bọn kia rải muối xung quanh ngôi nhà, hẳn là để hãm hại người bên trong. Chàng nghĩ thầm: "Đôi bên ai phải ai trái ta chưa cần biết, nhưng bọn này hành sự quỷ quái, quá ư mờ ám; dù thế nào ta cũng phải báo cho người trong nhà biết để họ khỏi bị chúng hãm hại mới được". Thấy bọn kia còn rải muối ở phía trước nhà, chàng bèn vòng ra phía sau tòa nhà rồi vọt qua tường vào trong.

Tòa nhà tính từ ngoài vào có năm dãy, tổng cộng ba bốn chục gian. Trong nhà tối om, chẳng thấy một ngọn đèn. Du Đại Nham nghĩ thầm: "Mình thấy có khói đặc bốc lên từ ống khói tòa nhà, thế nào cũng có người mới phải", bèn ngẩng lên xác định rõ chỗ ống khói, rồi đi về phía đó, nghe từ trong đại sảnh vọng ra tiếng lửa cháy phừng phừng. Đại Nham vòng qua một cái vách chiếu, tiến vào đại sảnh, chợt lóa mắt và có một luồng khí nóng phả mạnh vào mặt, thì ra giữa sảnh có một lò lửa lớn xây bằng đá; lửa trong lò cháy ngùn ngụt, cạnh lò có ba người đang điều khiển ba cái bễ thổi khí vào lò. Trong lò đặt ngang một thanh đao đen đen dài chừng ba thước.

Ba người kia đều ở tuổi lục tuần, y phục màu xanh, bị thủng lỗ chỗ vì các tàn lửa trong lò bắn ra làm cháy; cả ba lão tro bụi phủ đầy mặt, đang ra sức kéo bễ quạt gió vào lò, khiến ngọn lửa bốc cao năm thước, phát ra tiếng ù ù, liếm quanh thanh đao. Du Đại Nham cách xa lò lửa mấy trượng mà còn thấy nóng rực. Lửa trong lò từ màu đỏ đã chuyển sang màu xanh, từ màu xanh chuyển sang màu trắng, vậy mà thanh đao kia trước sau vẫn đen sì, không hề đỏ hồng lên chút nào.

Giữa lúc ấy, từ trên mái nhà bỗng có tiếng quát lớn:

– Hủy hoại bảo đao, thương thiên hại lý, hãy mau dừng tay!

Nghe tiếng nói, Du Đại Nham nhận ra ngay đó chính là bạch y quái khách. Ba lão già kéo bễ luyện đao làm như không nghe thấy, càng kéo bễ gấp hơn. Chỉ nghe trên mái ba tiếng cười "hi-hi-hi" khinh khỉnh, ngoài hiên có tiếng động, rồi người kia nhảy vào sảnh.

Trong sảnh lửa đang sáng rực, Du Đại Nham nhìn rõ bạch y quái khách là một người trạc tứ tuần, mặt trắng bệch pha màu xanh nhạt. Người ấy lạnh lùng nói:

– Trường Bạch Tam Cầm, các vị giành được bảo đao Đồ Long sao không giữ gìn, lại cả gan dùng lửa lớn hủy hoại báu vật ấy?

Vừa nói y vừa tiến lên.

Lão già đứng phía tây trong nhóm Trường Bạch Tam Cầm bước tới, giơ năm ngón tay trái bổ thẳng vào mặt gã bạch y mặt trắng. Gã né mặt và tiến thêm một bước. Lão già đứng phía đông trong nhóm Trường Bạch Tam Cầm thấy gã đến gần mình, liền nhặt cây búa lớn cạnh lò, thét một tiếng, bổ mạnh xuống đỉnh đầu đối phương. Gã hơi né mình, cây búa bổ hụt xuống sàn nhà, chỉ nghe "bùng" một tiếng, đom đóm lửa văng tứ tung. Thì ra sàn nhà không phải được lát bằng gạch tầm thường mà bằng loại đá hoa cương cứng dị thường. Lão già đứng phía tây xáp tới giáp công, hai tay lão cứ như hai cái chân gà, múa lên múa xuống trông rất lợi hại.

Du Đại Nham thấy võ công của gã bạch y hiển nhiên thuộc phái Thiếu Lâm nhưng xuất thủ cực kỳ hiểm độc, khác hẳn thủ pháp cương mãnh mà quang minh chính đại của phái Thiếu Lâm. Đấu qua vài hiệp, lão già sử dụng cây búa quát hỏi:

– Các hạ là ai? Muốn cướp bảo đao cũng phải để lại danh tính cái đã.

Gã bạch y cười nhạt mấy tiếng, không đáp, chỉ thấy gã xoay mình một cái, "rắc rắc" hai tiếng, hai cổ tay của lão già đứng phía tây đã bị đánh gãy, cây búa của lão già đứng phía đông thì văng lên, xuyên qua mái nhà, rồi rơi xuống sân trước, nghe "ịch" một tiếng nặng nề. Lão già bèn nhặt cây kìm đưa vào lò lửa gắp thanh đao ra.

Lão già đứng phía nam trong nhóm Trường Bạch Tam Cầm thủ sẵn ám khí trong tay, chờ cơ hội tấn công địch thủ, nhưng gã bạch y xoay trở quá lẹ, khiến lão chưa ra tay được. Lúc này thấy lão già phía đông dùng kìm gắp thanh đao, lão già phía nam bèn thò luôn tay vào chộp lấy thanh đao lôi ra trước, từ bàn tay cầm đao bốc lên một đám khói trắng, ai nấy ngửi thấy mùi thịt khét lẹt, chứng tỏ lòng bàn tay lão ta bị cháy xém, song lão ta không chịu buông cây đao mà lùi vội về phía sau, thân hình lảo đảo chực ngã. Hình như cây đao quá nặng, lão ta phải dùng cả tay trái đỡ lấy sống đao, thế là lại nghe "xèo xèo", lòng bàn tay trái của lão ta cũng bị cháy xém luôn.

Mọi người kinh hãi, ngẩn cả ra, song lão ta vẫn hai tay giữ chặt cây đao, lao như điên ra cửa.

Gã bạch y cười nhạt, nói:

– Đâu có chuyện dễ thế!

Đoạn gã duỗi dài cánh tay một cái đã chộp tới vai lão già. Lão già thuận tay chém một đao ngược ra sau lưng; lưỡi đao chưa tới nhưng hơi nóng đã phả vào mặt, tóc và lông mày gã bạch y đều quăn cả lại. Gã không dám chống đỡ, bèn dồn sức vào tay đẩy mạnh một cái, hất lão già về phía lò lửa.

Du Đại Nham từ nãy đứng bên, thấy mấy kẻ kia tên nào cũng hung ác, mà sự việc chẳng dính dáng gì tới mình, nên không can thiệp. Nay thấy lão già cầm đao sẽ hóa thành tro nếu ngã vào lò lửa, phải tức thời ra tay cứu giúp, chàng liền tung mình vọt tới, người đang lơ lửng trên cao đã giơ tay túm tóc lão già nhấc lão lên, rồi chàng nhẹ nhàng khéo léo đặt chân xuống cạnh lò lửa.

Gã bạch y và Trường Bạch Tam Cầm thấy chàng đứng trong sảnh từ lâu, không hề can dự, bỗng nhiên giở môn khinh công thượng thừa kia ra thì cả kinh. Gã bạch y tròn mắt, hỏi:

– Vừa rồi có phải là thủ pháp "Thê vân túng" lừng danh thiên hạ hay chăng?

Du Đại Nham thấy gã nói trúng biệt danh khinh công của mình thì giật nảy người, song bất giác cũng cảm thấy đắc ý, nghĩ thầm: "Võ công của phái Võ Đang ta lừng danh thiên hạ, ai mà chẳng biết", bèn nói:

– Không dám, xin hỏi quý tính đại danh của các hạ là chi? Chút võ công nhỏ mọn của tại hạ đâu có gì đáng nói?

Gã bạch y đáp:

– Hay, hay lắm! Khinh công của phái Võ Đang quả nhiên độc nhất vô nhị.

Giọng điệu của gã tuy khen, song lại ra vẻ khinh mạn, tựa hồ bề trên khen kẻ dưới. Du Đại Nham tuy bực, nhưng nén giận, nói:

– Dọc đường các hạ vung tay một cái đã đánh chết cao thủ của phái Hải Sa, võ công xuất quỷ nhập thần như thế khiến người ta khó bề đoán định.

Gã bạch y giật mình, nghĩ bụng: "Hành động của ta hắn thấy rõ cả, trong khi ta không nhìn thấy hắn, chẳng hiểu lúc đó hắn nấp ở đâu?" Y lạnh lùng nói:

– Phải, ngón võ công ấy của ta, người ngoài khó bề lĩnh hội; đừng nói các hạ, ngay cả lão già họ Trương chưởng môn phái Võ Đang cũng vị tất hiểu nổi.

Du Đại Nham nghe gã kia sỉ nhục ân sư như vậy, nín nhịn sao nổi? Song đệ tử phái Võ Đang rất chú trọng tu tâm dưỡng tính, nên Đại Nham nghĩ thầm: "Y cố tình khiêu khích, chẳng hiểu có dụng ý gì? Người này võ công kỳ dị, ta không nên vì vài lời vô lễ mà gây thù chuốc oán cho phái Võ Đang", bèn mỉm cười, nói:

– Võ học thiên hạ vô cùng vô tận, chính phái với tà đạo nhiều vô số phái. Võ Đang chỉ là một hạt thóc trong vựa thóc võ lâm. Như võ công của các hạ đây, cứ tưởng thuộc phái Thiếu Lâm nhưng không phải là Thiếu Lâm, chỉ e tôn sư bổn phái cũng không biết thật.

Câu nói của chàng tuy khiêm nhường, song ngụ ý rằng phái Võ Đang quả thực chẳng thèm biết đến võ công của bọn bàng môn tả đạo. Gã kia nghe câu "cứ tưởng thuộc môn phái Thiếu Lâm nhưng không phải là Thiếu Lâm" lập tức tái mặt.

Lão già cầm cây đao, hai lòng bàn tay da thịt đã bị cháy đến tận xương; còn hai lão già kia thì đang sẵn sàng xông tới đoạt lấy thanh bảo đao. Bỗng "vù" một tiếng, lão già cầm đao vung thanh đao lên xông thẳng ra ngoài. Lão ta vung đao chỉ để dọn đường, không định chém ai, song Du Đại Nham đứng ngay trước mặt lão nên phải vội vàng nhảy vọt lên cao né tránh. Đại Nham không ngờ mình vừa cứu sống lão ta, vậy mà lão ta trở mặt chém chàng.

Lão già hai tay cầm đao cứ vừa vung chém như điên vừa xông ra. Gã bạch y và hai lão già còn lại đều sợ đao thế lợi hại, không dám ngăn chặn, chỉ đuổi theo sau hò hét. Lão già hai tay cầm đao đã lao ra khỏi cổng, đột nhiên vấp chân, ngã bổ nhoài về phía trước, rú lên một tiếng lớn, tựa hồ đã bị trọng thương.

Gã bạch y và hai lão già còn lại cùng chạy tới, giơ tay cướp thanh đao; nhưng không hẹn mà cùng kêu thét lên như bị rắn độc cắn. Gã bạch y vừa ngã đã bật dậy, chạy vội ra bên ngoài; riêng ba lão già thì cứ nằm lăn lộn dưới đất, không sao đứng dậy nổi.

Du Đại Nham thấy thảm cảnh ấy, đang tính ra tay cứu người, bỗng giật mình sực nhớ việc phái Hải Sa rắc muối độc ở bên ngoài tòa nhà, da thịt đụng phải thì nguy. Lúc này quanh tòa nhà toàn là muối độc, bản thân Đại Nham cũng khó bề thoát ra. Đưa mắt nhìn quanh, Đại Nham thấy ở hai bên cổng có hai chiếc ghế dài, bèn dựng hai cái ghế ấy lên theo chiều thẳng đứng, đặt chân bên trên mà đi ra ngoài như đi cà kheo. Lúc đi qua chỗ lão già hai tay cầm đao đang lăn lộn, Đại Nham xé vạt áo bọc bàn tay, cúi xuống chộp lưng lão ta mà đi cà kheo thật nhanh về hướng đông.

Hành động của Du Đại Nham khiến phái Hải Sa bị bất ngờ hoàn toàn. Bọn họ tưởng ba lão già sắp chết thì sẽ dễ dàng đoạt được thanh đao, ai dè bị đối phương cướp đi; bọn họ liền hò hét đuổi theo, vừa đuổi vừa tung mười mấy loại ám khí về phía đối phương.

Du Đại Nham vận sức vào hai chân, hai cái ghế dài làm cho chân tựa hồ dài thêm bốn thước, chỉ dăm sáu bước chàng đã bỏ xa bọn Hải Sa, các thứ ám khí của chúng đều ném hụt. Du Đại Nham thấy bọn họ cứ la hét đuổi theo, bèn hất mạnh hai cái ghế về phía sau; chỉ nghe mấy tiếng la oai oái, hẳn có mấy tên bị ghế văng trúng. Du Đại Nham đã cách xa bọn chúng hơn mười trượng, tuy một tay phải xách lão già, song chàng chạy càng lúc càng nhanh, bọn Hải Sa không thể đuổi kịp được nữa.

Du Đại Nham chạy gấp một hồi, chỉ nghe có tiếng sóng biển chứ không có tiếng chân người đuổi theo, bèn hỏi lão già:

– Nè lão, sao rồi?

Lão già rên rỉ, không trả lời. Du Đại Nham nghĩ bụng: "Lão ta bị dính muối độc, phải tắm rửa cho lão cái đã"; liền xách lão ra sát mép biển, nhúng lão ta xuống nước. Nước biển gặp thanh đao nóng sôi "xèo xèo" và bốc khói trắng. Lão già nửa tỉnh nửa mê, được ngâm nước biển hồi lâu, vẫn chưa tự bò dậy nổi. Du Đại Nham đang định kéo lão ta lên thì có một lớp sóng lớn tràn tới đẩy lão ta lên bãi cát.

Du Đại Nham nói:

– Bây giờ lão đã thoát hiểm, tại hạ còn bận việc lớn, vậy chúng ta chia tay ở đây.

Lão già gượng dậy, nói:

– Các hạ.. sao không cướp.. lấy bảo đao?

Du Đại Nham cười đáp:

– Thanh đao quý thật, song không phải của tại hạ, làm sao tại hạ có thể cướp nó?

Lão già kinh ngạc, không dám tin, nói:

– Các hạ có quỷ kế gì, định làm gì lão phu vậy?

Du Đại Nham đáp:

– Tại hạ và lão không thù không oán, thấy lão thụ thương thì tại hạ cứu giúp, chứ có quỷ kế gì đâu.

Lão già lắc đầu nói to:

– Tính mạng lão phu ở trong tay các hạ, muốn giết thì giết, chứ đừng giở thủ đoạn hiểm độc với lão phu; lão phu mà chết cũng biến thành ma quỷ không buông tha cho các hạ đâu.

Du Đại Nham biết lão ta thụ trọng thương, thần trí bấn loạn nên chẳng buồn cãi vã với lão, chỉ mỉm cười, đang định bỏ đi thì bỗng có một đợt sóng lớn tràn tới, lão già rên rỉ, người ướt sũng, run lên cầm cập.

Du Đại Nham nghĩ thầm, cứu người thì cứu cho trót, lão già này trúng độc rất nặng, nếu ta cứ bỏ mặc mà đi, hẳn lão sẽ chôn thây dưới đáy biển. Thế là chàng túm lấy lão già, xách lên một cái gò nhỏ, đưa mắt nhìn xung quanh, thấy trên sườn núi phía đông bắc có một căn nhà trông như cái miếu, bèn đem lão già tới đó; thấy trước cửa có tấm biển đề ba chữ đã mờ "Hải Thần miếu", liền đẩy cửa bước vào, thấy trong miếu rất sơ sài, nền nhà đầy cát bụi, không ai trông coi.

Chàng đặt lão già nằm trên bục gỗ trước bàn thờ thần Biển, đá lửa trong túi chàng đã bị nước biển làm ướt; chàng tới bàn thờ sờ tìm một lát, quả nhiên thấy có đá lửa, liền đánh lửa châm cây nến cháy dở ở đó. Nhờ ánh sáng nến, chàng thấy mặt lão già tím bầm, hiển nhiên chất độc đã ngấm sâu, bèn móc túi lấy ra một viên "Thiên tâm giải độc đơn", nói:

– Lão hãy nuốt viên giải độc này đi.

Lão già đang nhắm nghiền hai mắt, nghe vậy liền mở mắt, nói:

– Lão phu không sử dụng thứ độc dược hại người của các hạ đâu.

Dù giỏi nhịn đến mấy, lúc này Du Đại Nham cũng hết chịu nổi, trợn mắt nói:

– Lão nghĩ tại hạ là ai hả? Môn hạ Võ Đang há làm việc gì hại người? Đây là viên thuốc giải độc, nhưng chưa chắc có thể cứu lão thoát chết vì lão trúng độc quá nặng, song chí ít nó cũng giúp lão sống thêm ba hôm nữa, đủ để lão mang thanh bảo đao kia đổi lấy thuốc giải độc của phái Hải Sa, cứu mạng mình đó.

Lão già đột nhiên đứng phắt dậy, nói to:

– Lão phu nhất quyết không cho bất cứ ai lấy thanh đao Đồ Long này.

Du Đại Nham nói:

– Đến tính mạng lão chẳng còn, cố giữ bảo đao phỏng ích gì?

Lão già nói, giọng run run:

– Lão phu thà chết chứ thanh đao Đồ Long phải là của lão phu!

Nói đoạn lão ôm chặt lấy thanh đao, áp má vào nó ra chiều yêu quý vô cùng, vừa nhận viên "Thiên tâm giải độc đơn" nuốt vào bụng.

Du Đại Nham nảy sinh tính hiếu kỳ, rất muốn biết thanh đao Đồ Long rốt cuộc quý hiếm ở chỗ nào, nhưng thấy cặp mắt của lão già chứa đầy vẻ tham lam hung ác như con dã thú đói khát đang nhắm ăn thịt con mồi, trông thật đáng ghét, chàng bèn quay lưng bỏ đi. Bỗng nghe lão ta quát lớn:

– Đứng lại! Các hạ đi đâu?

Du Đại Nham cười đáp:

– Tại hạ đi đâu thì việc gì đến lão?

Đoạn chàng rảo bước đi liền. Nhưng được vài bước, chợt nghe lão già khóc rống lên, chàng ngoảnh lại hỏi:

– Tại sao lão khóc?

Lão già nói:

– Lão phu cực khổ biết bao mới lấy được thanh đao Đồ Long, nhưng chẳng mấy chốc sẽ bỏ mạng, thì thanh bảo đao còn có ích chi?

Du Đại Nham hừ một tiếng, nói:

– Ngoài việc đem thanh đao ấy đi đổi lấy thuốc giải độc của phái Hải Sa, lão không còn cách nào khác.

Lão già lại khóc:

– Nhưng lão phu không nỡ rời bỏ thanh đao Đồ Long.

Trông thần thái của lão già thật tức cười, Du Đại Nham cười chẳng nổi, lát sau chàng nói:

– Người có võ hoàn toàn dùng võ công của chính mình để khắc địch chế thắng, hành hiệp trượng nghĩa, lưu danh hậu thế. Còn bảo đao bảo kiếm chỉ là vật ngoại thân, được chẳng đáng mừng, mất cũng không đáng buồn, lão trượng hà tất phải phiền não như vậy?

Lão già nổi giận:

– "Võ lâm chí tôn, bảo đao Đồ Long, hiệu lệnh thiên hạ, mạc cảm bất tòng", mấy câu ấy, các hạ đã nghe bao giờ chưa?

Du Đại Nham cười đáp:

– Bốn câu ấy dĩ nhiên tại hạ đã nghe, còn hai câu tiếp nữa, là "Ỷ Thiên bất xuất, thùy dữ tranh phong?" Đấy là nói về một chuyện kinh thiên động địa trong võ lâm mấy chục năm về trước chứ không phải nói về thanh bảo đao nào cả.

Lão già hỏi:

– Chuyện kinh thiên động địa nào vậy?

Du Đại Nham nói:

– Là chuyện hồi trước Thần điêu đại hiệp Dương Quá giết hoàng đế Mông Kha của Mông Cổ, khiến ai ai là người Hán chúng ta cũng hả lòng hả dạ. Từ đó, Dương đại hiệp có hiệu lệnh gì, các anh hùng võ lâm đều "mạc cảm bất tòng" [14] . Chữ "Long" là chỉ hoàng đế của Mông Cổ, "Đồ Long" tức là "giết hoàng đế của Mông Cổ", chứ thế gian làm gì có rồng để mà giết?

Lão già cười nhạt:

– Lão phu hỏi các hạ, năm xưa Dương đại hiệp sử dụng binh khí gì?

Du Đại Nham ngẩn người giây lát mới đáp:

– Tại hạ nghe sư phụ nói rằng Dương đại hiệp mất một cánh tay, bình thường không sử dụng binh khí. Lão già nói:

– Đúng vậy, thế Dương đại hiệp giết hoàng đế Mông Cổ bằng cách gì?

Du Đại Nham đáp:

– Dương đại hiệp dùng đá ném chết hoàng đế Mông Kha, việc ấy thiên hạ ai chẳng biết.

Lão già có vẻ đắc chí, hỏi tiếp:

– Dương đại hiệp bình thường không sử dụng binh khí, lại giết hoàng đế Mông Cổ bằng cách ném đá, vậy thì câu "bảo đao Đồ Long" đâu phải nói về chuyện kinh thiên động địa như các hạ vừa nói?

Câu này khiến Du Đại Nham không biết đối đáp ra sao, lát sau mới nói:

– Câu ấy hẳn là do võ lâm thuận miệng nói vậy, chẳng lẽ lại bảo "thạch đầu đồ long" [15] thì khó nghe quá!

Lão già cười khẩy:

Giải nghĩa như thế nghe chối tai lắm! Lão phu hỏi các hạ, hai câu "Ỷ Thiên bất xuất, thùy dữ tranh phong" nghĩa là gì?

Du Đại Nham trầm ngâm, đáp:

– Tại hạ không biết. "Ỷ Thiên" có lẽ là tên người chăng? Nghe nói võ công của Dương đại hiệp là do Dương phu nhân truyền thụ, vậy thì "Ỷ Thiên" có thể là tên của Dương phu nhân, hoặc là biệt hiệu của đại hiệp Quách Tĩnh, người tử thủ thành Tương Dương.

Lão già nói:

– Vậy ư? Lão phu nghĩ các hạ không biết, chỉ đoán mò thôi. Để lão phu giảng cho mà nghe. Đồ Long là một thanh đao, tức thanh đao lão phu cầm đây, còn Ỷ Thiên là tên một thanh kiếm. Ý của sáu câu trên là: Vật chí tôn trong võ lâm là thanh đao Đồ Long, ai có được nó thì dù phát ra hiệu lệnh gì, các anh hùng hảo hán trong thiên hạ đều phải tuân theo. Một khi thanh kiếm Ỷ Thiên chưa xuất hiện thì thanh đao Đồ Long là thứ khí giới thần diệu nhất thiên hạ.

Du Đại Nham bán tín bán nghi, nói:

– Lão trượng đưa thanh đao đó tại hạ coi thử, xem có gì thần kỳ không nào?

Lão già ôm khư khư lấy thanh đao, cười khẩy:

– Các hạ tưởng lão phu là con nít hay sao mà đòi lừa lấy thanh đao của lão phu.

Lão ta sau khi trúng độc, thần trí và sức lực đều suy nhược, vừa rồi nhờ viên giải độc đơn của Du Đại Nham mới phấn chấn đôi chút, lúc này lại sử dụng nhiều sức nên rên rỉ đau đớn. Du Đại Nham cười nói:

– Không cho xem thì thôi. Lão trượng tuy được thanh đao Đồ Long, nhưng có sai khiến nổi ai đâu? Chẳng lẽ tại hạ thấy lão trượng ôm thanh đao kia mà phải tuân lệnh lão trượng hay sao? Thật nực cười! Lão trượng ngần ấy tuổi rồi mà còn đi tin những lời đồn đại hoang đường, rốt cuộc sắp mất mạng tới nơi vẫn chưa chịu tỉnh ngộ. Lão trượng đã không sai khiến nổi tại hạ, đủ biết thanh đao ấy thực ra chẳng có gì thần kỳ.

Lão già ngẩn người hồi lâu, mới nói:

– Này lão đệ, lão phu ước hẹn thế này: Nếu lão đệ cứu lão phu khỏi chết, lão phu sẽ chia cho lão đệ một nửa lợi ích của thanh đao này.

Du Đại Nham ngửa mặt cả cười, nói:

– Sao lão trượng coi rẻ đệ tử phái Võ Đang thế? Cứu nguy giúp người là phận sự của huynh đệ tại hạ, đâu phải muốn trông chờ báo đáp! Lão trượng đã trúng phải muối độc, tại hạ thì không biết cách giải, vậy lão trượng hãy đi mà cầu cứu phái Hải Sa cho thuốc giải.

Lão già nói:

– Thanh đao này, lão phu lấy trộm của phái Hải Sa, bọn chúng căm hận lão phu, đời nào chịu cho thuốc giải?

Du Đại Nham nói:

– Lão trượng trả thanh đao cho họ là hóa giải được ngay oán cừu, như thế họ còn giết hại lão trượng làm gì nữa?

Lão già nói:

– Lão phu thấy võ công của lão đệ rất cao siêu, thừa sức đến lấy trộm thuốc giải của phái Hải Sa về cứu sống lão phu.

Du Đại Nham nói:

– Một là tại hạ có việc cần làm, không thể trì hoãn; hai là lão trượng lấy trộm bảo đao của người ta, là cái sai của lão trượng, làm sao tại hạ có thể hùa theo cái sai kia chứ? Thôi, lão trượng hãy mau đi cầu cứu phái Hải Sa cho thuốc giải! Còn chần chừ, để chất độc phát tác thì không cứu kịp đâu.

Lão già thấy chàng dợm bước định đi, vội nói:

– Thôi được, lão phu hỏi ngươi câu này, lúc ngươi xách người lão phu lên, có cảm thấy gì khác lạ chăng?

Du Đại Nham nói:

– Tại hạ cũng thấy lạ thật, lão trượng gầy ốm như thế, mà sao nặng đến hai trăm cân là ít, lại chẳng thấy lão trượng mang theo vật nặng nào cả.

Lão già đặt thanh đao Đồ Long xuống đất, nói:

– Bây giờ lão đệ thử nhấc lão phu lên coi.

Du Đại Nham nắm vai lão già nhấc lên, quả nhiên thấy nhẹ hẳn, chỉ chừng tám chục cân, nghĩ thầm: "Hóa ra thanh đao kia nặng tới hơn trăm cân, quả không phải vật tầm thường" bèn đặt lão già xuống và nói:

– Thanh đao Đồ Long quả rất nặng!

Lão già lại vội ôm lấy thanh đao Đồ Long, nói:

– Nó không chỉ nặng thôi đâu. Chẳng hay lão đệ họ Du hay họ Trương?

Du Đại Nham đáp:

– Tại hạ họ Du, tên thường gọi Đại Nham, tại sao lão trượng hỏi vậy?

Lão già nói:

– Trương chân nhân phái Võ Đang có bảy đệ tử, kêu là Võ Đang thất hiệp. Trong đó Tống đại hiệp trạc tứ tuần, nhị vị Ân, Mạc chưa tới hai mươi tuổi, nhị hiệp và tam hiệp cùng họ Du, tứ hiệp và ngũ hiệp cùng họ Trương, trong võ lâm ai chẳng biết. Thì ra lão đệ là Du tam hiệp, thảo nào võ công siêu tuyệt đến thế. Võ Đang thất hiệp danh tiếng vang thiên hạ, hôm nay lão phu được gặp, quả thật danh bất hư truyền.

Du Đại Nham tuy tuổi chưa nhiều nhưng cũng đã lão luyện giang hồ, giờ nghe lão già khen ngợi như thế thì thừa biết chẳng qua lão ta muốn cầu cạnh mình thôi nên trong lòng thầm ác cảm, bèn nói:

– Thế quý tính đại danh của lão trượng là gì?

Lão già đáp:

– Lão phu họ Đức, tên Thành, các bằng hữu vùng Liêu Đông đặt cho lão phu ngoại hiệu Hải Đông Thanh.

Hải Đông Thanh là một loài ác điểu lớn ai cũng biết ở vùng quan ải Liêu Đông, chuyên ăn thịt các loài cầm thú nhỏ.

Du Đại Nham chắp tay lại, nói:

– Ngưỡng mộ lão trượng đã lâu.

Rồi ngẩng lên nhìn trời. Đức Thành biết chàng sắp bỏ đi, nếu không dùng mối lợi lớn quyến rũ chàng ở lại thì khó bề cầu chàng cứu mạng, bèn nói:

– Lão đệ tưởng lầm tám chữ "Hiệu lệnh thiên hạ, mạc cảm bất tòng" là ai có thanh đao Đồ Long thì ra lệnh gì, người người đều phải tuân theo. Hiểu như thế thì lầm to, lầm to.

Lão già vừa nói tới đó, Du Đại Nham chợt biến sắc mặt, tay phải giơ ra phẩy một cái, ngọn nến trên bàn thờ tắt phụt, khẽ nói:

– Có người tới!

Nội công của Đức Thành tu luyện không bằng Đại Nham nên lão chẳng nghe thấy gì lạ, còn đang bán tín bán nghi, bỗng có tiếng í ới từ xa vọng tới, rồi có tiếng chân chạy về phía miếu. Lão kinh hãi nói:

– Kẻ địch đã đuổi tới, mau rút ra phía sau miếu!

Du Đại Nham nói:

– Phía sau miếu cũng có người chắn rồi.

Đức Thành nói:

– Có lẽ nào..

Du Đại Nham nói:

– Đức lão trượng, bọn đang tới đây là phái Hải Sa đó, như vậy rất tiện cho lão trượng hỏi xin họ thuốc giải độc. Tại hạ không muốn dính vào chuyện này..

Đức Thành giơ tay trái nắm chặt cổ tay Đại Nham, run giọng:

– Du tam hiệp, lão đệ chớ bỏ lão phu mà đi, chớ..

Du Đại Nham cảm thấy năm ngón tay của lão lạnh như băng, bấu chặt vào da thịt mình, chàng bèn vặn cổ tay, dùng nửa chiêu "Cửu chuyển đơn thành" xoay một vòng, hất mấy ngón tay của lão ra.

Lúc này chỉ nghe tiếng chân rầm rập chạy thẳng tới miếu, rồi "sầm" một cái, ai đó dùng chân đạp mạnh đẩy toang cửa miếu, rồi nhiều tiếng "chíu chíu", các hạt gì đó tới tấp bay vào. Du Đại Nham vội co người lại, nhún mình nhảy lên nấp sau bức tượng Hải Thần Bồ Tát. Chỉ nghe Đức Thành khẽ kêu "ối" một tiếng, lão ta đã bị trúng ám khí, ngã khuỵu xuống. Những tiếng "chíu chíu" vang lên từng chập dồn dập. Du Đại Nham nghĩ thầm: "Đó là thứ muối độc của bọn Hải Sa". Rồi nghe trên mái có mấy tiếng "lịch kịch", có kẻ dỡ ngói ra để ném muối xuống.

Du Đại Nham đã tận mắt chứng kiến cảnh gã bạch y và Trường Bạch Tam Cầm bị hại bởi muối độc như thế nào. Gã bạch y võ công cao siêu thế mà mới bị dính muối độc đã kêu thất thanh và vội vã đào tẩu, đủ hiểu thứ muối kia độc tới mức nào. Lúc này các hạt muối độc bay tứ tung trong miếu, Đại Nham biết cứ thế này thì chẳng mấy chốc mình sẽ bị dính phải nó, nghĩ cách chống đỡ, chợt gõ nhẹ vào bức tượng, biết là tượng rỗng, bèn đấm mấy quả thủng lưng bức tượng, co mình lại chui vào bên trong, lập tức có cảm giác đang khoác một bộ y phục thật dày bằng đất, muối độc dù nhiều mấy cũng chẳng làm gì được chàng.

Chỉ nghe ở bên ngoài miếu bọn Hải Sa lớn tiếng bàn tán:

– Không thấy kêu la nữa, chắc mê man bất tỉnh rồi.

– Gã trẻ tuổi võ công cao siêu lắm, hãy đợi thêm chút nữa, hà tất phải vội.

– Chỉ sợ hắn đã chuồn xa, không có trong miếu.

Rồi có tiếng quát:

– Này mấy kẻ trong kia, khôn hồn mau đầu hàng đi!

Giữa lúc ấy bỗng nghe xa xa có tiếng vó ngựa, phải tới mười mấy con ngựa đang phi tới, xen lẫn tiếng vó ngựa là giọng người nói lớn:

– Nhật nguyệt quang chiếu, Ưng Vương vỗ cánh.

Bọn Hải Sa bên ngoài miếu lập tức im như thóc, lát sau có kẻ run run nói:

– Đó là Thiên.. Ưng giáo, bọn chúng.. sắp tới đó..

Lời chưa dứt, tiếng vó ngựa đã tới miếu, có kẻ trong bọn Hải Sa nói:

– Chạy chẳng kịp nữa rồi!

Chỉ nghe tiếng mấy người đi vào miếu. Du Đại Nham giấu mình trong ruột bức tượng, thấy có ánh sáng, chắc bên ngoài có kẻ mang đèn đuốc tới. Một lát sau, có tiếng hỏi:

– Các ngươi biết chúng ta là ai chứ?

Bọn Hải Sa đồng thanh đáp:

– Dạ, dạ, các vị là bằng hữu Thiên Ưng giáo!

Tiếng người kia nói:

– Vị này là Lý đường chủ Thiên thị đường của Thiên Ưng giáo. Lý đường chủ hiếm khi vi hành; hôm nay bọn các ngươi có diễm phúc lắm mới được kiến diện đó. Lý đường chủ hỏi các ngươi: Thanh đao Đồ Long hiện ở đâu, khôn hồn hãy dâng ngay ra, Lý đường chủ sẽ đại phát từ bi tha chết cho hết thảy bọn ngươi.

Một kẻ trong bọn Hải Sa nói:

– Là hắn.. hắn lấy trộm thanh đao Đồ Long mang đi, bổn phái đuổi theo hắn tới đây, thưa Lý.. đường chủ.

Tiếng người Thiên Ưng giáo nói:

– Hừ, vậy thanh đao Đồ Long đâu, ta hỏi ngươi?

Câu này hiển nhiên là nhắm vào Đức Thành, nhưng không thấy Đức Thành trả lời. Chỉ nghe "huỵch" một tiếng, có người ngã xuống đất. Mấy người cùng ồ lên.

Tiếng người Thiên Ưng giáo nói:

– Hắn chết rồi, hãy khám người hắn xem nào.

Có tiếng xé vải, tiếng lật xác người, rồi tiếng người kia nói:

– Bẩm đường chủ, trong người tên này không có vật gì cả.

Kẻ thủ lĩnh của phái Hải Sa nói, giọng run rẩy:

– Bẩm Lý đường.. đường chủ, chính hắn là kẻ lấy.. trộm bảo đao; chúng tại hạ quyết không dám nói gạt..

Nghe giọng nói của kẻ đó, rõ ràng là đang bị Lý đường chủ quắc mắt soi mói nên hoảng sợ.

Du Đại Nham nghĩ thầm: "Thanh đao ấy rõ ràng Đức Thành ôm khư khư, sao lại biến đâu mất nhỉ?"

Chỉ nghe tiếng người Thiên Ưng giáo nói:

– Các ngươi bảo hắn lấy trộm đao, tại sao tìm không thấy trong người hắn? Vậy là các ngươi đã ngầm giấu nó đi. Bây giờ ai nói thật sự việc ra, Lý đường chủ sẽ tha mạng cho. Cả bọn ngươi, chỉ một người được tha mạng, ai nói trước thì được sống.

Trong miếu im phăng phắc, lát sau, thủ lĩnh phái Hải Sa nói:

– Lý đường chủ, chúng tại hạ quả thật không biết. Vật mà Thiên Ưng giáo muốn có, chúng tại hạ quyết không dám giữ..

Lý đường chủ hừ một tiếng, không nói gì, chỉ nghe gã thuộc hạ của y nhắc lại:

– Kẻ nào bẩm báo đúng sự việc sẽ được tha mạng.

Một lát sau, phái Hải Sa vẫn không ai lên tiếng.

Đột nhiên có người nói:

– Chúng ta đến đây lấy đao, còn chưa kịp vào trong miếu thì các vị đã tới; các vị Thiên Ưng giáo cũng là người bước vào miếu trước, làm sao chúng ta lấy được bảo đao. Các vị nhất quyết không tin, đằng nào cũng chết, chi bằng hôm nay chúng ta liều mạng với các vị một phen. Bảo đao ấy cũng chẳng phải của Thiên Ưng giáo, thế mà các vị hoành hành bá đạo, để xem.

Lời chưa nói hết đã im bặt, chắc người đó đã bị hạ sát chết tươi.

Một giọng khác run rẩy nói:

– Ban nãy có một đại hán chừng tam tuần đã cứu lão già kia đưa tới đây, khinh công của hắn vô cùng cao siêu, thoáng một cái đã chẳng ai nhìn thấy hắn biến đi đâu. Bảo đao chắc hẳn bị hắn lấy đi rồi.

Lý đường chủ nói:

– Khám xét từng tên một!

Mấy tiếng "dạ" đồng thanh, rồi tiếng y phục bị xé rách, hẳn là mấy gã Thiên Ưng giáo đang khám xét từng người phái Hải Sa. Lý đường chủ nói:

– Có lẽ gã đại hán lấy đao đi rồi.

Tiếng mấy người ra khỏi miếu, rồi tiếng vó ngựa xa dần về hướng đông bắc.

Du Đại Nham không muốn tự dưng can dự vào cuộc tranh chấp đôi bên, tính chờ cho bọn Hải Sa cũng đi hẳn rồi mới chui ra, nhưng chờ hồi lâu trong miếu vẫn chẳng thấy động tĩnh gì, tựa hồ phái Hải Sa đã lẳng lặng rút đi cả rồi sao. Từ trong ruột bức tượng, Đại Nham ló đầu nhìn ra, thấy hơn hai chục gã buôn muối thuộc phái Hải Sa vẫn đứng trơ trơ, ai nấy bất động, có lẽ đều bị điểm huyệt.

Du Đại Nham ra khỏi ruột tượng, nhặt bó đuốc bọn kia vứt lại dưới đất lên, soi trong miếu thấy mặt mũi bọn Hải Sa người nào người nấy bầm tím đáng sợ, chàng nghĩ thầm: "Thiên Ưng giáo là giáo phái nào sao mình chưa nghe nói bao giờ nhỉ? Xem ra phái Hải Sa không phải là địch thủ của chúng, vừa gặp bọn Thiên Ưng giáo đã sợ hết hồn. Đúng là ác nhân sẽ có ác nhân trị". Đoạn Du Đại Nham giơ tay ấn vào huyệt Hoa Cái của một tên đứng bên cạnh để giải khai huyệt đạo cho hắn.

Ngờ đâu người hắn cứng đờ, ấn mãi hắn cũng không cử động, thử đằng mũi thì thấy đã tắt thở, hóa ra hắn bị điểm vào tử huyệt. Hơn hai chục đại hán phái Hải Sa đều chết ráo, chỉ còn một người đang quằn quại dưới đất, thở thoi thóp, chắc là người nói câu cuối cùng nên được tha mạng. Du Đại Nham ngạc nhiên tự nhủ: "Thiên Ưng giáo khi hạ độc thủ không phát ra một tiếng động nào, đủ biết thủ pháp của bọn chúng cực kỳ hiểm độc". Chàng đỡ người sống sót kia đứng dậy, hỏi:

– Thiên Ưng giáo là giáo phái nào? Giáo chủ của chúng là ai vậy?

Nghe hai câu hỏi liên tiếp, gã kia cứ trố mắt ngơ ngác như kẻ mất trí. Du Đại Nham nắm cổ tay gã thăm mạch thì thấy mạch rối loạn; xem ra bọn Thiên Ưng giáo tha mạng cho gã, nhưng đã đánh đứt mất vài kinh mạch để biến gã thành một kẻ ngớ ngẩn.

Lúc này Du Đại Nham không còn ngạc nhiên, chỉ giận dữ nghĩ thầm: "Thiên Ưng giáo là thứ giáo phái quỷ quái gì mà hạ thủ tàn ác quá chừng?" Lại nghĩ võ công của chúng thực cao siêu, chàng đơn thương độc mã không thể địch nổi. Phải trước hết về núi Võ Đang thỉnh thị sư phụ điều tra rõ lai lịch của Thiên Ưng giáo rồi sẽ tính sau.

Nhìn trong miếu vung vãi muối trắng như tuyết, lại là muối độc, Du Đại Nham nghĩ thầm: "Sớm muộn dân chúng cũng tới miếu thờ cúng, họ không biết đây là muối độc, cứ chạm vào ắt sẽ bị họa. Muối độc và các tử thi thu nhặt thật khó, chi bằng phóng hỏa thiêu luôn cái miếu này đi cho khỏi hậu họa". Chàng bèn dìu người bị đứt kinh mạch hóa thành ngớ ngẩn ra khỏi miếu, quay trở vào thì thấy trong khi hơn hai chục cái xác đều đứng trơ như phỗng, lại có một tử thi phủ phục cạnh bàn thờ, lưng đẫm máu. Du Đại Nham cảm thấy hơi lạ, vừa kéo cái xác đó lên xem thử, người chàng liền bị chúi về phía trước, hóa ra cái xác đó quá nặng. Trông thân hình cũng bình thường, đâu có to béo vạm vỡ mà sao lại quá nặng như vậy?

Chàng nhìn kỹ cái xác đó, thấy trên lưng có một vết thương lớn, rờ tay coi thử, chạm phải vật cứng lạnh, lôi ra thì là một thanh đao, nặng chí ít cũng phải trên trăm cân, chính là thanh đao Đồ Long mà bao nhiêu người đã xả thân thí mạng để tranh đoạt bằng được. Chàng chợt hiểu: Thì ra khi lão Đức Thành lúc chết ngã xuống, thanh đao trong tay lão đã chém ngập vào sau lưng một gã thuộc phái Hải Sa. Thanh đao quá nặng, lại cực sắc, nên khi rơi xuống đã cắm phập thật sâu vào lưng gã nọ. Bọn Thiên Ưng giáo khi khám xét mọi người đã không phát hiện ra.

Du Đại Nham chống thanh đao xuống đất, nhìn quanh, nghĩ thầm: "Thanh đao này có đúng với lời đồn là vật chí tôn của võ lâm hay không chưa rõ, chỉ biết nó là một vật rất xui xẻo. Hải Đông Thanh Đức Thành và mấy chục gã buôn muối phái Hải Sa đã uổng mạng vì nó. Giờ mình cần mang thanh đao này về dâng sư phụ, tùy Người định đoạt". Đoạn chàng nhặt bó đuốc dưới đất lên, châm lửa đốt ngôi miếu, thấy lửa lan rộng, bèn ra khỏi miếu.

Du Đại Nham lau chùi thanh đao, đứng bên đám lửa xem kỹ nó. Thanh đao màu đen nhánh, không phải vàng, không phải sắt, chẳng biết chế bằng chất gì. Thoạt đầu Trường Bạch Tam Cầm thiêu đốt trong lò lửa lớn mà thanh đao không hề hấn gì, quả là một kỳ vật. Chàng lại nghĩ thầm: "Thanh đao nặng thế này, lúc giao đấu làm sao sử dụng? Đến như Quan Vũ thần lực hơn người mà cây đao Thanh long yển nguyệt của Người cũng chỉ nặng tám mươi mốt cân". Chàng gói thanh đao vào bọc, rồi hướng về phía Đức Thành đang được hỏa thiêu, thầm khấn: "Đức lão trượng, tại hạ hoàn toàn không tham đoạt thanh đao này. Nhưng nó là một kỳ vật trong thiên hạ, nếu lọt vào tay kẻ ác ắt sẽ gây nguy hại cho nhân gian. Sư phụ của tại hạ là bậc đại trí công tâm, tất sẽ có cách xử trí hoàn hảo". Khấn xong, Du Đại Nham vác bao lên vai, rảo bước đi về hướng bắc. Chừng nửa canh giờ, chàng đến bờ sông. Lúc này ánh trăng sao chiếu xuống mặt sông, nhìn dưới nước thấy đầy sao, đưa mắt nhìn quanh thì chẳng có chiếc thuyền nào, đành thả bộ ven sông. Thời gian chừng dùng xong một bữa ăn, chàng thấy xa xa phía trước có ánh đèn nhấp nháy, một chiếc thuyền câu đậu cách bờ vài trượng. Du Đại Nham lên tiếng gọi:

– Ngư phủ đại ca, làm ơn cho qua sông, xin hậu tạ!

Có lẽ vì chiếc thuyền ở xa bờ, ngư phủ tựa hồ không nghe tiếng chàng gọi nên vẫn ngồi yên. Du Đại Nham hít một hơi sâu, gọi đò một tiếng thật dài. Lát sau, từ phía thượng lưu có một chiếc thuyền nhỏ bơi vào phía bờ, người lái đò hỏi:

– Có phải khách định qua sông chăng?

Du Đại Nham cả mừng đáp:

– Phải, phiền đại ca giúp cho.

Người lái đò giục:

– Vậy mời xuống thuyền.

Du Đại Nham nhảy xuống thuyền, chiếc thuyền ngay lập tức bị chúi hẳn xuống. Người lái đò ngạc nhiên hỏi:

– Quan khách mang thứ hàng gì nặng thế?

Du Đại Nham cười đáp:

– Không có thứ hàng gì, tại thân xác tôi vụng về thôi, đi được rồi!

Chiếc thuyền giương buồm lên, vừa thuận gió vừa xuôi dòng chạy xéo về hướng đông bắc, qua sông rất nhanh. Chừng hơn một dặm, bỗng nghe có tiếng sấm ì ầm, tiếng ào ào xa xa, Du Đại Nham hỏi người lái đò:

– Đại ca, trời sắp mưa lớn ư?

Người lái đò cười nói:

– Đấy là tiếng nước triều đêm trên sông Tiền Đường đó, trôi theo nước triều, chỉ một lúc nữa là tới bờ bên kia.

Du Đại Nham phóng tầm mắt sang phía đông chỉ thấy từ chân trời lớp lớp sóng bạc đầu, tựa như thiên binh vạn mã đang ào ạt tràn tới, sóng lớn cứ như những bức tường nước từ xa đổ tới dồn dập không ngừng. Chàng nghĩ thầm: "Trong trời đất lại có cảnh hùng tráng thế này, hôm nay mình mới được dịp mở rộng tầm mắt, cũng không uổng một chuyến đi vất vả". Đang ngắm cảnh, chợt thấy có một chiếc thuyền buồm đè sóng lao tới, trên cánh buồm trắng thêu một con chim ưng lớn màu đen, dang rộng đôi cánh như sắp sà xuống, chàng liền nghĩ đến ba chữ "Thiên Ưng giáo" và thầm phòng bị.

Đột nhiên người lái đò nhảy phắt xuống sông, thoắt một cái đã mất hút trong dòng nước. Chiếc thuyền không người lái, bị dòng nước cuốn bắt đầu xoay tròn, Du Đại Nham vội nhảy tới đuôi thuyền bẻ lái. Lúc ấy chiếc thuyền buồm lớn trờ tới, "sầm" một tiếng, mũi thuyền bịt sắt của chiếc thuyền lớn đâm vào chiếc thuyền nhỏ làm nó thủng một lỗ to, nước tràn vào ào ào. Du Đại Nham tức giận nghĩ bụng: "Thiên Ưng giáo các người xảo trá thật! Thì ra gã lái đò chính là người của chúng bố trí dụ ta vào bẫy". Thấy chiếc thuyền nhỏ sắp chìm, chàng liền nhún chân vọt sang mũi chiếc thuyền lớn.

Vừa lúc ấy có một đợt sóng lớn đánh tới, đẩy chiếc thuyền lên cao hơn một trượng, Du Đại Nham đang lơ lửng trên không, liền rớt xuống lòng thuyền. Trong lúc nguy ngập, chàng hít một hơi, tay trái đẩy vào mạn thuyền lấy đà, thi triển khinh công "Thê vân túng" tung mình lên cao hơn một trượng, cuối cùng đáp chân xuống mũi chiếc thuyền lớn.

Chỉ thấy cửa khoang thuyền đóng kín, không một bóng người. Du Đại Nham gọi:

– Các bằng hữu Thiên Ưng giáo!

Chàng gọi hai lần, trong thuyền không ai đáp lời; chàng dùng tay đẩy vào cửa khoang, thấy giá lạnh vô cùng, hóa ra nó được đúc bằng gang hết sức vững chắc. Du Đại Nham vận sức vào hai cánh tay, quát to một tiếng, hai tay đẩy thật mạnh, "hịch" một cái, cửa khoang vẫn đóng, nhưng chưởng lực của chàng làm cho mộng cửa long ra, cánh cửa rung rinh qua lại, chỉ giáng thêm một chưởng nữa là cửa sẽ mở toang.

Từ bên trong có tiếng người vọng ra:

– Khinh công "Thê vân túng" và chưởng lực "Chấn sơn chưởng" của phái Võ Đang quả là danh bất hư truyền. Du tam hiệp, hãy để thanh đao Đồ Long trên lưng lại đây, bổn giáo sẽ tiễn Du tam hiệp qua sông tức thì.

Lời lẽ tuy khách sáo, nhưng giọng điệu rất ngạo mạn, nghe như mệnh lệnh vậy. Du Đại Nham nghĩ thầm: "Không hiểu sao hắn biết tên mình nhỉ?"

Người kia lại nói:

– Du tam hiệp hẳn ngạc nhiên, không hiểu tại sao bổn giáo lại biết đại danh của các hạ chứ gì? Thực ra chẳng có chi lạ, phép khinh công "Thê vân túng" và chưởng lực "Chấn sơn chưởng", trừ các cao thủ của phái Võ Đang, nào ai có thể sử dụng xuất thần nhập hóa như thế chứ? Du tam hiệp đến Giang Nam, Thiên Ưng bổn giáo là chủ nhân đất này, dọc đường chưa bố trí đón tiếp, những mong các hạ lượng thứ.

Du Đại Nham chưa biết đối đáp ra sao cho phải, bèn nói:

– Xin cho biết quý tính đại danh, thỉnh các hạ hiện thân tương kiến.

Tiếng người kia nói:

– Thiên Ưng giáo với quý phái Võ Đang không hề quen biết, cũng chẳng có oán cừu, không thấy mặt nhau thì hơn. Chỉ cần Du tam hiệp đặt thanh đao Đồ Long ở mũi thuyền, bổn phái sẽ đưa Du tam hiệp qua sông liền.

Du Đại Nham tức giận nói:

– Thanh đao Đồ Long đâu phải của quý giáo?

Người kia nói:

– Vẫn biết thế. Nhưng thanh đao Đồ Long là vật chí tôn của võ lâm, các cao thủ trong thiên hạ ai ai cũng muốn chiếm giữ nó.

Du Đại Nham nói:

– Thế thì thanh đao Đồ Long đang ở trong tay tại hạ, tại hạ phải mang về núi Võ Đang để sư tôn định đoạt, chứ tại hạ không thể tùy tiện giao nó cho ai cả.

Người kia nói nhỏ mấy câu gì đó, nghe loáng thoáng như tiếng muỗi kêu, Du Đại Nham nghe không rõ, bèn hỏi:

– Các hạ bảo sao?

Trong khoang thuyền, người kia lại nói mấy câu, thanh âm còn nhỏ hơn lúc nãy, Du Đại Nham chỉ nghe loáng thoáng "Du tam hiệp.. thanh đao Đồ Long.." Chàng liền tiến lên hai bước, hỏi:

– Các hạ bảo sao?

Vừa lúc ấy có một đợt sóng lớn vỗ tới, đẩy mũi thuyền lên cao, chàng chợt cảm thấy chỗ ức và đùi của mình nhói một cái như bị muỗi đốt. Dạo này đang là đầu xuân, lẽ ra không hề có muỗi, song chàng chẳng để ý, chỉ nói to:

– Thiên Ưng giáo vì thanh đao Đồ Long mà sát hại bao nhiêu người, riêng ở miếu Hải Thần để lại mấy chục tử thi, thật là hạ thủ quá tàn ác.

Người kia nói:

– Thiên Ưng giáo xưa nay hạ thủ đều có phân biệt nặng nhẹ. Đối với ác nhân, phải thẳng tay; còn đối với người tử tế, bổn giáo rất nương nhẹ. Như trường hợp của Du tam hiệp nổi danh nghĩa hiệp trong thiên hạ, bổn giáo không nỡ lấy mạng. Du tam hiệp chịu để thanh đao Đồ Long lại, tại hạ sẽ trao cho thuốc giải "Văn tu châm" [16] tức thời.

Du Đại Nham nghe ba tiếng "Văn tu châm" thì giật mình, vội đưa tay rờ chỗ ức vừa bị muỗi đốt chỉ thấy tê tê, ngưa ngứa, hệt như muỗi đốt thật, thì liền tỉnh ngộ: "Vừa rồi hắn cố ý nói nhỏ để dụ mình lại gần, thừa cơ phóng ám khí". Nhớ lại cái cảnh mấy gã buôn muối thuộc phái Hải Sa sợ Thiên Ưng giáo như sợ độc xà, chàng đoán thứ ám khí này hẳn rất độc, bây giờ phải tóm cổ hắn trước, mới mong buộc hắn trao thuốc giải độc ra. Nghĩ vậy, chàng quát nhỏ một tiếng, tay trái che mặt, tay phải che ngực, tung mình nhảy vào khoang thuyền.

Chân chưa đặt xuống lòng thuyền, Đại Nham đã thấy từ trong bóng tối có kình phong thổi tới, người trong khoang múa chưởng đón đánh. Du Đại Nham cả giận, dồn mười thành công lực vào hữu chưởng giáng mạnh một cái. Hai chưởng đập vào nhau nghe "bốp" một tiếng, kẻ trong thuyền bay về phía sau, loảng xoảng mấy tiếng, chắc là không ít vật dụng bị gãy vỡ. Du Đại Nham thì cảm thấy lòng bàn tay đau buốt tận xương: Thì ra vừa rồi đối phương cầm vật nhọn tua tủa trong tay, khi hai chưởng đập vào nhau, vật nhọn ấy đâm sâu vào lòng bàn tay chàng. Tuy đối phương cũng thụ thương không nhẹ bởi chưởng lực của chàng, song trong khoang tối om, không biết kẻ địch thế nào, nhiều hay ít, chàng không dám mạo hiểm xông vào nữa, đành trở lại mũi thuyền.

Chỉ nghe người kia ho vài tiếng, nói:

– Chưởng lực của Du tam hiệp quả thực lợi hại, tại hạ thán phục, thán phục! Nhưng "Thất tinh đinh" trong bàn tay tại hạ cũng lợi hại chẳng kém. Đôi bên tám lạng nửa cân, lưỡng bại câu thương.

Du Đại Nham vội lấy mấy viên "Thiên tâm giải độc đơn" nhai nuốt, đoạn cởi bao lấy thanh đao Đồ Long ra, hai tay cầm cán đao, quát một tiếng, phạt ngang một cái, cánh cửa sắt đứt lìa thành hai mảnh, thanh đao quả thực sắc bén tuyệt luân. Chàng chém luôn bảy, tám nhát; khoang thuyền đúc bằng gang mà gặp phải bảo đao cứ như lau sậy bị chém tơi tả. Người ở trong khoang phải nhảy lùi về phía đuôi thuyền, miệng kêu to:

– Các hạ bị trúng độc hai lần, còn muốn ra oai nữa ư?

Du Đại Nham múa đao xông tới, phạt ngang lưng. Người kia thấy thế công của chàng hung mãnh, tiện tay giơ cái neo sắt lên đỡ, chỉ nghe "keng" một tiếng nhẹ, cây neo đã đứt đôi, người kia vội né sang bên, nói:

– Muốn giữ mạng sống, hay là muốn bảo đao?

Du Đại Nham nói:

– Được, ngươi đưa thuốc giải cho ta, ta sẽ trao đao cho ngươi.

Lúc này chỗ bị trúng "Văn tu châm" trên đùi chàng đang ngứa mạnh dần, chàng tự biết "Thiên tâm giải độc đơn" không giải được chất độc này, mà thanh đao Đồ Long chẳng qua vô tình lượm được, chàng vốn cũng không coi trọng gì nó cho cam, nên chàng bèn ném ngay nó vào khoang thuyền.

Người kia cả mừng, cúi xuống dùng cả hai tay nâng thanh đao đặt lên đùi, lấy vạt áo lau lau chùi chùi ra chiều yêu quý nó vô cùng. Hắn ngồi sấp bóng trăng nên không nhìn rõ mặt, hắn chỉ mải ngắm thanh đao mà không đưa thuốc giải. Du Đại Nham cảm thấy lòng bàn tay đau nhức ghê gớm, bèn giục:

– Thuốc giải đâu?

Người kia cười ha hả, tựa hồ hắn nghe một câu chuyện cực kỳ hoạt kê không bằng. Du Đại Nham nổi giận:

– Ta bảo ngươi đưa thuốc giải thì có gì tức cười?

Người kia giơ ngón trỏ tay trái chỉ mặt chàng mà cười:

– Ha ha, ngươi quá ngốc nghếch, sao không chờ ta trao thuốc giải rồi hãy đưa đao cho ta?

Du Đại Nham tức giận nói:

– Quân tử không nói hai lời, ngựa hay chỉ cần một roi. Ta đã nhận lời ngươi dùng đao đổi lấy thuốc, thì đưa đao trước hay sau có khác gì nào?

Kẻ kia cả cười:

– Ngươi nắm bảo đao trong tay, ta còn nể sợ ngươi vài phần. Giả sử ngươi địch chẳng nổi ta, ngươi ném đao xuống sông, vị tất ta mò lên được. Bây giờ bảo đao đã nằm trong tay ta, ngươi đừng hòng ta trao thuốc giải ra.

Du Đại Nham nghe kẻ kia nói vậy thì cảm thấy một luồng khí lạnh chạy từ sống lưng lên gáy. Chàng tự nhủ, phái Võ Đang và Thiên Ưng giáo vô oán vô cừu, tên kia võ công khá cao, cũng phải là một nhân vật có địa vị, đã nhận được thanh đao Đồ Long rồi, sao lại có thể nuốt lời? Chàng xưa nay vốn hành xử thận trọng, đâu dễ bị dối lừa; có điều phen này chàng bị mất tiên cơ, một mình rơi vào thuyền địch, thầm biết đối phương giăng bẫy sẵn, trong thuyền ắt có đồng bọn tiếp tay, lại hiềm thân mình hai lần trúng độc, chỉ mong mau nhận thuốc giải, cho nên mới bị thua bởi sự xảo trá đê hèn của đối phương, bèn nén giận, hỏi:

– Các hạ quý tính đại danh là chi?

Kẻ kia cười:

– Tại hạ chỉ là một kẻ vô danh tiểu tốt trong Thiên Ưng giáo, phái Võ Đang muốn tìm Thiên Ưng giáo báo thù, đã có Giáo chủ và các vị Đường chủ của bổn giáo nghênh tiếp. Kể ra đêm nay Du tam hiệp chết một cách mờ ám thế này, tổ sư Trương Tam Phong của phái Võ Đang dù có tài thông thiên thiết địa, cũng chắc gì biết được Du tam hiệp chết bởi tay ai.

Hắn nói bằng cái giọng tựa hồ Du Đại Nham sắp tắt thở rồi không bằng.

Du Đại Nham cảm giác như có hàng ngàn con kiến cùng nhất loạt đốt lòng bàn tay chàng, buốt ngứa không sao chịu nổi, bèn chộp lấy nửa cái neo sắt mà chàng chém đứt ban nãy, nghĩ bụng: "Đêm nay dù ta có chết, ta cũng phải cho ngươi mất mạng luôn thể".

Kẻ kia đang thao thao ra chiều cao hứng thì Du Đại Nham quát to một tiếng, tay trái vung nửa cái neo, tay phải phóng ra một chưởng, nhằm vào mặt và ngực kẻ kia mà đánh tới.

Kẻ kia kêu "ối" một tiếng, vung thanh đao Đồ Long định chống đỡ, nào ngờ thanh đao nặng đến lạ thường, hắn quen tay vung đao, không ngờ mới được nửa vòng thì cổ tay bỗng trầm hẳn xuống. Nguyên võ công của hắn cũng sử dụng được thanh đao này, có điều là khi vận lực, hắn không ngờ cây đao quá nặng, lực vận không đủ, thanh đao rơi thẳng xuống, chém ngay vào đầu gối hắn; hắn thất kinh, tay cầm đao đang cố nâng thanh đao lên thì cảm thấy kình phong quạt vào mặt, cây neo sắt đang bổ tới. Tình thế muôn phần nguy ngập, hết đường chống đỡ, hắn đành nhún chân lộn người xuống sông.

Kẻ kia tuy tránh được cái neo sắt, nhưng vẫn bị trúng một chưởng giáng vào bụng dưới, hắn chỉ cảm thấy lục phủ ngũ tạng lộn tùng phèo, lúc ngã xuống nước đã bất tỉnh nhân sự.

Du Đại Nham hít một hơi dài, thấy tên kia tuy trúng chưởng nhưng vẫn nắm chặt thanh đao Đồ Long không chịu buông thì chàng cười khẩy, nghĩ thầm: "Ngươi lấy được bảo đao, rốt cuộc đem thân làm mồi cho cá".

Bỗng đâu có một dải lụa trắng bay vút xuống sông, cuốn lấy ngang thắt lưng tên kia và cả thanh đao mà kéo lên thuyền. Du Đại Nham kinh ngạc, nhìn theo dải lụa trắng thì thấy ở mũi thuyền có một người gầy gò, mặc áo xanh, hai tay đang thoăn thoắt kéo dải lụa lên thuyền. Chàng định tung mình nhảy về phía đó, nhưng chất độc trong người phát tác, trước mắt tối sầm, chàng ngã vào khoang thuyền, ngất đi luôn.

Không biết bao nhiêu thời gian trôi qua, khi Du Đại Nham mở mắt ra, vật nhìn thấy trước tiên là một lá cờ của tiêu cục, trên thêu một con cá chép vàng. Chàng nhắm mắt lại một lát, khi mở mắt ra vẫn thấy lá cờ nhỏ ấy được cắm trong một cái bình hoa bằng sứ sứt mẻ. Con cá chép thêu chỉ vàng óng ánh trên lá cờ cứ như đang đùa giỡn với sóng nước, chàng nghĩ thầm: "Lá cờ này là của tiêu cục Long Môn phủ Lâm An. Mình bị làm sao thế nhỉ?" Lúc này đầu óc Du Đại Nham mê mê tỉnh tỉnh, ý nghĩ rối loạn; phải định thần giây lát, chàng mới phát giác mình đang nằm trên một cái cáng do hai người khiêng, và hình như đang ở trong một tòa đại sảnh. Chàng định quay đầu sang hai bên xem sao nhưng cổ cứ cứng đơ, không sao cử động nổi.

Du Đại Nham cả kinh, muốn ngồi dậy, song chân tay tựa hồ đã không còn là của chàng nữa, dù vận lực thế nào cũng không thể cử động, bấy giờ mới sực nhớ trên sông Tiền Đường mình đã bị trúng hai thứ ám khí tẩm chất độc là "Văn tu châm" và "Thất tinh đinh".

Chợt nghe tiếng nói chuyện giữa hai người, một người giọng sang sảng cất tiếng hỏi:

– Quý tính đại danh của các hạ là gì?

Người kia đáp:

– Khỏi cần biết tính danh của ta, ta chỉ hỏi các vị, có nhận món hàng này hay không?

Du Đại Nham tự nhủ: "Giọng người này trong trẻo, có lẽ là một thiếu nữ!"

Giọng sang sảng nói có vẻ phật ý:

– Tiêu cục Long Môn không thiếu gì việc. Các hạ đã không chịu cho biết tính danh thì xin mời đến giao dịch với tiêu cục khác.

Giọng thiếu nữ nói:

– Ở phủ Lâm An chỉ có tiêu cục Long Môn làm ăn khá giả hơn các tiêu cục khác. Nếu các hạ không phải là nhân vật quyết định thì mau mời Tổng tiêu đầu ra đây.

Nghe khách hàng nói năng vô lễ, người có giọng sang sảng quả nhiên không vui, nói:

– Tại hạ là Tổng tiêu đầu đây. Bây giờ tại hạ có chút việc bận, không thể hầu chuyện, mong các hạ lượng thứ.

Giọng thiếu nữ nói:

– Ủa, vậy các hạ chính là Đa Tý Hùng Đô Đại Cẩm..

Thiếu nữ nói tới đó, ngừng một lát, mới nói tiếp:

– Đô Tổng tiêu đầu, tại hạ ngưỡng mộ đại danh đã lâu. Tại hạ họ Ân.

Đô Đại Cẩm có vẻ nguôi giận, nói:

– Chẳng hay quý khách có gì sai bảo?

Người khách họ Ân nói:

– Tại hạ trước hết cần hỏi Đô Tổng tiêu đầu, Đô Tổng tiêu đầu có dám nhận bảo tiêu món hàng này không đã, món hàng này không phải tầm thường, tuyệt nhiên không được để lỡ việc.

Đô Đại Cẩm cố nén giận, nói:

– Bổn tiêu cục Long Môn hoạt động đã hai chục năm nay, quan tiêu, diêm tiêu, kim ngân châu báu, món hàng quý giá đến mấy cũng đều nhận bảo tiêu, chưa từng có chuyện để xảy ra thất thoát lần nào.

Du Đại Nham cũng từng nghe danh Đô Đại Cẩm, biết y là đệ tử tục gia của phái Thiếu Lâm, quyền chưởng đơn đao đều cao siêu, nhất là ám khí Liên châu cương tiêu, y có thể phóng đi liền một hơi bảy bảy bốn mươi chín chiếc phi tiêu bằng thép, nên giang hồ đặt cho y ngoại hiệu Đa Tý Hùng[17] . Tiêu cục Long Môn của y cũng nổi tiếng khắp vùng Giang Nam. Chẳng qua đệ tử hai phái Võ Đang và Thiếu Lâm lâu nay không thân cận với nhau, nên tuy nghe danh không quen biết.

Thiếu niên họ Ân mỉm cười, nói:

– Nếu tại hạ không biết thanh danh của tiêu cục Long Môn thì tìm tới đây làm gì? Đô tổng tiêu đầu, tại hạ có một món hàng giao cho các hạ, nhưng với ba điều kiện.

Đô Đại Cẩm nói:

– Bổn tiêu cục cũng có lệ: Món hàng nào có tranh chấp, tiêu cục không nhận; món hàng nào lai lịch bất minh, và món hàng nào trị giá dưới năm vạn lượng bạc, tiêu cục không nhận.

Y chưa nghe đối phương nói ra ba điều kiện, đã nói trước điều kiện của mình.

Thiếu niên họ Ân nói:

– Món hàng của tại hạ, thật đáng tiếc, nói ra hơi không phải, lại có tranh chấp, lai lịch cũng bất minh, trị giá bao nhiêu cũng khó nói. Ba điều kiện của tại hạ cũng chẳng dễ đáp ứng. Thứ nhất, phải do Đô tổng tiêu đầu thân chinh áp tải. Thứ hai, từ phủ Lâm An đây tới phủ Tương Dương Hồ Bắc, phải đi gấp cả ngày lẫn đêm để kịp đưa hàng tới nơi nội trong mười hôm. Thứ ba, nếu có gì sơ sảy, thì hì-hì, đừng nói tính mạng của Đô tổng tiêu đầu chẳng còn, mà toàn bộ tiêu cục Long Môn, già trẻ lớn bé sẽ không một ai sống sót.

Nghe "ầm" một tiếng, chắc là Đô Đại Cẩm đập mạnh tay xuống bàn, rồi nghe y quát:

– Các hạ muốn đùa giỡn thì đi tìm nơi khác, chớ có đến Long Môn bổn tiêu cục! Nể các hạ gầy gò ốm yếu, thân hình chỉ được vài ba lượng thịt, chứ không thì hôm nay Đô mỗ không để cho yên đâu!

Thiếu niên họ Ân cười khẩy mấy tiếng hi-hi-hi, rồi nghe "kình kịch" mấy tiếng, có vật nặng được quẳng lên mặt bàn, giọng thiếu niên nói:

– Đây là hai ngàn lượng vàng, là tiền thuê bảo tiêu của tại hạ. Đô tổng tiêu đầu hãy nhận trước đi!

Đô Đại Cẩm sửng sốt nghĩ thầm: "Hai ngàn lượng vàng, giá trị tới mấy vạn lượng bạc, tiêu cục không biết phải vất vả bao nhiêu năm mới kiếm được món bạc khổng lồ này"!

Du Đại Nham cổ gáy bị cứng đờ không thể cử động, chỉ nhìn thấy lá cờ tiêu cục thêu con cá chép cắm trong bình hoa; lúc này trong đại sảnh yên lặng như tờ, chỉ nghe có tiếng con nhặng xanh bay vù qua mặt và tiếng thở nặng nhọc của Đô Đại Cẩm. Du Đại Nham tuy không nhìn thấy mặt Đô Đại Cẩm, nhưng cũng đoán được lúc này y đang trợn mắt há hốc mồm nhìn hai ngàn lượng vàng sáng lóa trên bàn. Từ ngày lập ra tiêu cục, số tài sản lớn ngần này y vẫn thường gặp nhưng toàn là của người khác. Bây giờ bỗng dưng có người mang hai ngàn lượng vàng đặt ngay trước mặt y, y chỉ cần gật đầu một cái, hai ngàn lượng vàng kia sẽ thành của y, bảo sao y chẳng động lòng?

Một lát sau, nghe Đô Đại Cẩm nói:

– Ân đại gia định nhờ bổn tiêu cục bảo tiêu món hàng gì?

Thiếu niên họ Ân đáp:

– Trước tiên Đô tổng tiêu đầu hãy trả lời, có thể đáp ứng đủ ba điều kiện của ta hay không?

Đô Đại Cẩm nghĩ giây lát, rồi vỗ mạnh vào đùi, đáp:

– Ân đại gia đã thù lao hậu hĩnh như thế, Đô mỗ dù có phải bán mạng cho Ân đại gia cũng sẵn lòng. Chẳng hay bảo vật của Ân đại gia khi nào mới đem tới?

Thiếu niên họ Ân nói:

– Thứ mà tại hạ muốn nhờ tiêu cục bảo tiêu chính là người đang nằm trên cáng kia.

Nghe câu ấy, Đô Đại Cẩm cố nhiên "ớ" lên một tiếng sửng sốt, riêng Du Đại Nham lại càng kinh ngạc hơn, chàng không nhịn được, liền kêu lên:

– Ta.. ta..

Chàng há miệng thật lớn, nhưng nói không ra hơi; cứ như kẻ đang ngủ bị bóng đè, dù cố gắng dùng sức đến đâu toàn thân cũng không nghe theo trí óc sai khiến. Hiện tại mình mẩy tứ chi tê liệt, chỉ còn mắt chưa mù và tai chưa điếc mà thôi. Chỉ nghe Đô Đại Cẩm hỏi:

– Là vị.. thiếu gia.. này ư?

Thiếu niên họ Ân đáp:

– Phải, Đô tổng tiêu đầu phải thân chinh hộ tống, được phép thay xe thay ngựa chứ không thay người. Phải đi suốt ngày đêm, nội nhật mười hôm kịp tới núi Võ Đang ở phủ Tương Dương Hồ Bắc, giao cho tổ sư phái Võ Đang là Trương Tam Phong chân nhân.

Du Đại Nham nghe câu đó mới thở một hơi dài nhẹ nhõm. Đô Đại Cẩm nói:

– Phái Võ Đang ư? Đệ tử phái Thiếu Lâm chúng tôi tuy không có oán thù gì với phái Võ Đang, nhưng.. nhưng xưa nay không hề qua lại.. Việc này..

Thiếu niên họ Ân lạnh lùng nói:

– Vị thiếu gia này thân có vết thương, chậm trễ giây lát, dù vạn lượng vàng cũng không chuộc được. Món hàng này, Đô tổng tiêu đầu có nhận hay không là tùy. Đại trượng phu cần nói năng dứt khoát, đừng nên ấp úng này nọ.

Đô Đại Cẩm nói:

– Được, nể mặt Ân đại gia, bổn tiêu cục Long Môn xin nhận!

Thiếu niên họ Ân mỉm cười, nói:

– Hay lắm! Hôm nay là hai mươi chín tháng Ba, đến ngày mồng chín tháng Tư, nếu Tổng tiêu đầu không đưa vị thiếu gia này bình an tới núi Võ Đang thì tại hạ sẽ không để cho một ai của tiêu cục Long Môn toàn mạng!

Chỉ nghe "chíu chíu" vài tiếng, mười mấy chiếc kim bạc nhỏ xíu đã được bắn đi, trúng vào chiếc bình hoa cắm lá cờ tiêu cục, chiếc bình sứ vỡ tan thành mấy mươi mảnh, văng tứ tung.

Tài sử dụng ám khí như thế thật táng đởm kinh hồn. Đô Đại Cẩm thốt lên "úi chà!" một tiếng. Du Đại Nham cũng rùng mình. Chỉ nghe thiếu niên họ Ân quát:

– Đi thôi!

Hai kẻ khiêng cáng đặt cáng chở Du Đại Nham xuống đất rồi theo thiếu niên họ Ân ra khỏi tiêu cục Long Môn tức thời.

Một lát sau Đô Đại Cẩm mới định thần lại, tới trước mắt Du Đại Nham, hỏi:

– Vị thiếu gia quý tính đại danh là chi, có phải là người của phái Võ Đang hay chăng?

Du Đại Nham chỉ đăm đăm nhìn y, không sao đáp thành lời. Chàng thấy vị Tổng tiêu đầu này tuổi trạc ngũ tuần, thân hình vạm vỡ, cơ bắp ở hai cánh tay vồng lên, tướng mạo oai phong, hiển nhiên là một cao thủ ngoại gia.

Đô Đại Cẩm nói:

– Ân đại gia trông tuấn tú nho nhã, mà võ công siêu việt như thế, không biết là thuộc môn phái nào vậy?

Đô Đại Cẩm hỏi, Du Đại Nham liền nhắm mắt lại, chẳng để tâm tới y nữa. Y tự nghĩ, mình là một hảo thủ sử dụng ám khí nổi tiếng, được giang hồ tặng cho ngoại hiệu Đa Tý Hùng, nhưng thiếu niên họ Ân kia chỉ phẩy tay một cái đã búng mấy chục cây kim bạc nhỏ xíu như sợi tóc làm vỡ tan chiếc bình sứ, tài nghệ như thế mình thật không sao bì kịp.

Đô Đại Cẩm chủ trì tiêu cục Long Môn đã hơn hai chục năm, từng chứng kiến biết bao chuyện lạ lùng trên giang hồ, nhưng trả công những hai ngàn lượng vàng chỉ để thuê vận chuyển một người sống thì đừng nói Đô Đại Cẩm, chỉ e mọi tiêu cục trong thiên hạ cũng chưa từng gặp bao giờ. Đô Đại Cẩm cất vàng đi, sai cáng Du Đại Nham vào phòng nghỉ, rồi lập tức triệu tập các tiêu đầu của tiêu cục, chuẩn bị xe ngựa khởi hành ngay trong ngày.

Ai nấy ăn uống và chuẩn bị xong xuôi, lá cờ lớn thêu cá chép của tiêu cục được cuộn vào cán cờ, khi ra khỏi cổng lớn tiêu cục liền được bung ra, kèm theo tiếng hô to:

– Long Môn lý tam diệu, ngư nhi hóa vi long[18] .

Du Đại Nham nằm trong cỗ xe lớn, lòng đầy cảm khái: "Du Đại Nham ta bao lâu tung hoành trên giang hồ, bình sinh nhìn đám bảo tiêu bằng nửa con mắt, không ngờ phen này gặp đại nạn, lại phải do họ hộ tống về núi Võ Đang". Lại nghĩ thầm: "Vị bằng hữu họ Ân cứu ta không biết là ai, nghe giọng nói giống như một thiếu nữ, song Đô Đại Cẩm lại bảo, trông Ân đại gia dung mạo tuấn tú nho nhã mà võ công trác tuyệt, hành sự khác người, tiếc thay ta không được thấy mặt, cũng chẳng thể đa tạ một câu. Du Đại Nham ta nếu còn sống, nhất định phải báo đáp ơn này".

Đoàn người và xe tiến thẳng về phía Tây, ngoài ba vị tiêu đầu Đô, Chúc, Sử, còn có bốn thiếu niên tiêu sư khỏe mạnh nhanh nhẹn. Họ theo đúng lời dặn của "Ân đại gia", dọc đường chỉ thay xe đổi ngựa, chứ không thay người, đi liền một mạch không nghỉ suốt ngày đêm.

Khi ra cửa tây phủ Lâm An, Đô Đại Cẩm cứ ngờ rằng không biết dọc đường sẽ xảy ra bao nhiêu trận ác chiến đây, thế nhưng đã rời khỏi tỉnh Chiết Giang, qua tỉnh An Huy, vào địa phận tỉnh Giang Tây, mấy ngày liền đều bình yên vô sự. Hôm ấy đã qua Phàn Thành, khách điếm Thái Bình, bến đò Tiên Nhân, huyện Quang Hóa, vượt sông Hán Thủy đến Hà Khẩu, còn cách núi Võ Đang chỉ một ngày đường. Hôm sau chưa tới giờ Ngọ đã đến Song Tỉnh Tử, cách núi Võ Đang chẳng qua vài chục dặm. Hành trình tuy vất vả mệt nhọc, nhưng rốt cuộc đúng theo điều kiện thời gian của "Ân đại gia", vừa vặn ngày mồng chín tháng Tư thì tới núi Võ Đang. Ngót chục ngày vừa qua cứ cắm đầu mà đi, ai nấy đều lo sợ, mãi đến bây giờ các tiêu sư mới cảm thấy yên tâm.

Đang là cuối xuân đầu hạ, bên đường núi muôn hoa khoe sắc, như nghênh đón viễn khách vậy. Đô Đại Cẩm cầm roi ngựa chỉ lên đỉnh Thiên Trụ ẩn hiện trong mây, nói:

– Chúc tam đệ, mấy năm qua thanh thế của phái Võ Đang rất mạnh, tuy chưa bằng phái Thiếu Lâm chúng ta, song danh tiếng của Võ Đang thất hiệp hiện lừng lẫy khắp giang hồ. Cứ nhìn đỉnh Thiên Trụ cao sừng sững kia thì biết nơi này địa linh nhân kiệt. Phái Võ Đang xem ra đúng là hùng cứ một phương.

Chúc tiêu đầu nói:

– Thanh thế của phái Võ Đang mấy năm qua tuy phát mạnh nhưng chưa có bề dày, không thể nào sánh kịp phái Thiếu Lâm có ngàn năm lịch sử được. Không nói đâu xa, cứ riêng "Nhị thập tứ Giáng ma chưởng" và tài sử dụng bốn mươi chín cây phi tiêu liên châu của Tổng tiêu đầu, người của phái Võ Đang đã chẳng ai bì kịp.

Sử tiêu đầu tiếp lời:

– Đúng thế. Những chuyện đồn đại trên giang hồ chỉ đáng tin vài phần. Danh tiếng Võ Đang thất hiệp lừng lẫy thật, nhưng sự thực võ công của họ tới mức nào, chúng ta chưa từng chứng kiến. Chỉ sợ một số kẻ trong giang hồ kiến thức non nớt cứ thêm mắm thêm muối, đồn đại bản lĩnh của thất hiệp lên tận mây xanh cũng nên.

Đô Đại Cẩm mỉm cười, hiểu biết của y cao hơn hẳn Chúc, Sử, thầm biết danh tiếng của Võ Đang thất hiệp quyết không phải do đồn đại, chắc chắn họ có võ nghệ kinh hồn. Chẳng qua y hành nghề bảo tiêu hai chục năm nay hiếm gặp địch thủ, y rất tự tin tự phụ về võ công của mình, nay lại nghe Chúc, Sử ca ngợi tài nghệ của y – những lời như thế y nghe không biết bao nhiêu lần – nên bất giác cũng thấy đắc ý.

Đường núi càng lên cao càng hẹp dần, ba người cưỡi ngựa không thể sánh vai nhau như cũ, Sử tiêu đầu phải ghìm ngựa lùi lại vài bước. Chúc tiêu đầu nói:

– Tổng tiêu đầu, lát nữa gặp lão đạo sư Trương Tam Phong của phái Võ Đang thì nên dùng lễ gì chào hỏi?

Đô Đại Cẩm nói:

– Chúng ta khác môn phái, ai nấy bằng vai phải lứa với nhau cả. Có điều Trương lão sư sắp chín mươi tuổi, là bậc đệ nhất cao niên trong võ lâm. Chúng ta tôn trọng bậc võ lâm tiền bối, cúi lạy vài cái là được.

Chúc tiêu đầu nói:

– Theo ý đệ, chúng ta nên cúi mình nói: "Trương chân nhân, chúng vãn bối xin kính lạy người!" Lão ta nhất định sẽ giơ tay cản lại và nói: "Từ phương xa tới là quý khách, khỏi cần đa lễ". Vậy là chúng ta khỏi phải cúi lạy.

Đô Đại Cẩm mỉm cười, vẫn mải nghĩ không biết người đang nằm trong cỗ xe kia rốt cuộc là ai, lai lịch ra sao. Suốt mười ngày qua chàng ta không nói năng cử động, việc ăn uống và đại tiểu tiện đều phải do phu xe giúp đỡ. Đô Đại Cẩm và các tiêu sư đã mấy lần bàn tán với nhau vẫn không đoán nổi thân phận của chàng ta. Chàng ta có phải là đệ tử của phái Võ Đang? Hay là bằng hữu? Hay chàng ta là kẻ thù của phái Võ Đang, bị người ta bắt đưa lên núi? Càng gần đến núi Võ Đang, những nghi vấn ấy càng luôn lởn vởn trong óc Đô Đại Cẩm, chờ khi gặp Trương Tam Phong tất sẽ biết ngay. Nhưng đó là phúc hay họa, y khó đoán biết nên không kém phần lo ngại.

Đang trầm ngâm, bỗng nghe có tiếng vó ngựa trên sơn đạo dãy núi phía Tây, rồi có mấy con ngựa phóng về phía này. Chúc tiêu đầu tế ngựa lên xem xét. Một lúc sau, có sáu người cưỡi ngựa cắt rừng chạy xéo sang, cách đoàn người xe của tiêu cục mươi trượng thì họ gò cương, dàn thành hai hàng giữa đường mà cản lối. Đô Đại Cẩm nghĩ bụng: "Không ngờ đến chân núi Võ Đang mà còn gặp chuyện rắc rối". Y nói nhỏ với Sử tiêu đầu: "Cẩn trọng bảo vệ cỗ xe!" Đoạn y thúc ngựa tiến lên, một tiêu sư cầm lá cờ của tiêu cục thực hiện động tác cuốn cờ và phất cờ là nghi thức kính lễ và nói:

– Tiêu cục Long Môn ở phủ Lâm An đi qua quý địa, lễ giáo thiếu chu đáo, mong các vị hảo bằng hữu lượng thứ.

Đô Đại Cẩm quan sát sáu người chắn đường, thấy hai người đội mũ màu vàng kiểu đạo sĩ, bốn người trang phục kiểu tục gia; cả sáu đều mang bao khí giới, ai nấy trông thật dũng mãnh, hăng hái. Đô Đại Cẩm liền nghĩ thầm: "Sáu người này là lục hiệp trong Võ Đang thất hiệp chăng?" Bèn giục ngựa tiến thêm vài bước, bao quyền, nói:

– Tại hạ là Đô Đại Cẩm, tổng tiêu đầu tiêu cục Long Môn ở phủ Lâm An, thỉnh vấn quý tính đại danh của sáu vị?

Đứng bên tay phải ở hàng trước là một người cao lớn, má bên trái có một nốt ruồi lớn màu đen với ba sợi lông để dài, người ấy lạnh lùng hỏi:

– Đô huynh lên núi Võ Đang làm gì?

Đô Đại Cẩm đáp nói:

– Bổn tiêu cục nhận lời ủy thác đưa một người bị thương lên quý sơn, muốn được kiến diện chưởng môn quý phái Trương chân nhân.

Người kia nói:

– Đưa một người bị thương ư? Là ai vậy?

Đô Đại Cẩm nói:

– Bổn tiêu cục nhận ủy thác của một vị đại gia họ Ân, đưa một người bị trọng thương lên núi Võ Đang. Còn người bị thương là ai, bị thương như thế nào và tại sao thì bổn tiêu cục không hay biết. Tiêu cục Long Môn nhận sự ủy thác của người, chỉ lo làm tròn phận sự của mình, còn mọi việc riêng tư của khách hàng, bổn tiêu cục xưa nay không bao giờ hỏi tới.

Đô Đại Cẩm lăn lộn mấy mươi năm trên giang hồ, lại chuyên sống bằng nghề bảo tiêu, dĩ nhiên hành sự vô cùng khôn khéo; lời vừa nói cốt để cho thấy rằng Du Đại Nham dù là bằng hữu hay thù địch của phái Võ Đang thì cũng chẳng liên can đến y.

Người mặt có nốt ruồi nhìn hai đồng bọn, rồi hỏi:

– Vị đại gia họ Ân ư? Hình dạng người đó trông như thế nào?

Đô Đại Cẩm đáp:

– Đó là một người trẻ tuổi, dung mạo tuấn tú nho nhã, sử dụng ám khí đại tài.

Người kia hỏi:

– Đô huynh đã động thủ với người ấy rồi sao?

Đô Đại Cẩm vội đáp:

– Chưa, chưa hề, là vị đó tự..

Chưa nói hết câu, thì người hói đầu đứng chắn đường ở hàng trên cướp lời:

– Thanh đao Đồ Long đâu? Hiện giờ ở trong tay ai?

Đô Đại Cẩm ngạc nhiên hỏi lại:

– Thanh đao Đồ Long nào? Có phải là thanh đao vẫn nghe nhắc tới trong câu "Võ lâm chí tôn, bảo đao Đồ Long" hay chăng?

Người hói đầu tựa hồ tính khí nóng nảy, kém nhẫn nại, đột nhiên từ trên lưng ngựa nhảy phắt xuống đất, đến bên cỗ xe, vạch tấm vải che mà nhòm vào bên trong.

Đô Đại Cẩm thấy thân pháp của người kia quá ư cứng cỏi và thành thục, nghĩ thầm: "Vị tổ sư sáng lập phái Võ Đang Trương Tam Phong từng ngụ trong Thiếu Lâm tự, võ công của phái Võ Đang quả nhiên vẫn chưa thoát khỏi phạm vi của phái Thiếu Lâm, chưa thật sự độc đáo cho lắm!" lòng càng hoài nghi, bèn hỏi:

– Chẳng hay các vị có phải là Võ Đang thất hiệp lừng lẫy giang hồ? Vị nào là Tống đại hiệp? Tiểu đệ nghe đại danh đã lâu, lòng vốn ngưỡng mộ.

Người mặt có nốt ruồi nói:

– Chút hư danh ấy, Đô huynh hà tất nhắc tới làm gì, Đô huynh quá khiêm nhường.

Người hói đầu trở lại, lên ngựa, nói:

– Người kia thương thế rất nặng, không nên chậm trễ giây phút nào nữa. Chúng ta tiếp nhận trước đã.

Người mặt có nốt ruồi ôm quyền, nói:

– Đô huynh đi xa như vậy, thật là vất vả, tiểu đệ xin đa tạ.

Đô Đại Cẩm chắp tay đáp lễ:

– Không dám, không dám.

Người kia nói:

– Vị thiếu gia này thương thế không nhẹ, chúng tiểu đệ phải đưa ngay lên núi cứu chữa.

Đô Đại Cẩm chỉ mong sớm thoát trách nhiệm, liền nói:

– Được, như vậy là bổn tiêu cục coi như đã giao người cho phái Võ Đang.

Người kia nói:

– Đô huynh an tâm, cứ trao cho tiểu đệ phụ trách là được. Chẳng hay tiền công bảo tiêu Đô huynh đã nhận đủ chưa?

Đô Đại Cẩm đáp:

– Đã nhận đủ cả.

Người kia lấy trong túi ra một thỏi vàng ròng chừng hai mươi lượng, chìa ra, nói:

– Gọi là chút tiền trà nước, nhờ Đô huynh thưởng cho các vị huynh đệ.

Đô Đại Cẩm khước từ:

– Bổn tiêu cục đã nhận hai ngàn lượng vàng tiền công, đủ cho mọi chi phí rồi, Đô mỗ không phải là kẻ lòng tham không đáy.

Người kia nói:

– Chà, những hai ngàn lượng vàng!

Hai người đồng hành của người kia giục ngựa tiến lên phía trước, một người nhảy lên chỗ của xà ích, tiếp lấy dây cương, quất ngựa kéo xe đi trước, bốn người hộ tống phía sau xe.

Người mặt có nốt ruồi khẽ vẩy tay tung thỏi vàng tới trước mặt Đô Đại Cẩm, cười nói:

– Đô huynh chớ nên khách sáo, xin hãy trở về Lâm An!

Thỏi vàng bay tới trước mặt, Đô Đại Cẩm đành phải giơ tay bắt, định ném trả lại thì người kia đã quay ngựa phóng vội đi, chỉ thấy cỗ xe lớn do năm người cưỡi ngựa hộ tống, quành sang eo núi, lát sau đã mất dạng.

Đô Đại Cẩm nhìn kỹ thỏi vàng, thấy có năm vết ngón tay hằn lõm xuống vài phân. Vàng tuy mềm hơn sắt và đồng, nhưng chỉ lực của người kia mạnh như thế thật đáng sợ. Đô Đại Cẩm ngẩn người nhìn theo, nghĩ thầm: "Đại danh của Võ Đang thất hiệp chẳng phải tự dưng mà có. Trong phái Thiếu Lâm ta, chỉ có vài vị sư bá sư thúc luyện tập 'Kim Cương chỉ lực' mới có công lực thế này".

Chúc tiêu đầu cũng ngẩn người nhìn năm vết ngón tay hằn lõm trên thỏi vàng, rồi nói:

– Tổng tiêu đầu, đệ tử phái Võ Đang thật không biết lễ giáo gì hết, kiến diện không thèm xưng danh tính, chúng ta từ ngàn dặm xa xôi tới tận chân núi Võ Đang mà họ không mời lên ăn uống nghỉ ngơi. Cùng giới võ lâm với nhau mà đối xử chẳng thân thiện chút nào.

Đô Đại Cẩm trong thâm tâm cũng bất mãn từ sớm, chỉ là không tiện nói ra, nên chỉ cười nhạt, nói:

– Như thế chúng ta càng đỡ phải đi thêm một đoạn đường nữa, chẳng hơn sao? Đệ tử phái Thiếu Lâm mà đi vào đạo quán của phái Võ Đang kể ra cũng bất tiện lắm. Thôi, hai vị hiền đệ, chúng ta quay ngựa trở về thôi!

Chuyến đi bảo tiêu này tuy không xảy ra rắc rối, nhưng việc gì cũng khó hiểu, mình không được biết, lại cứ bị người ta vô tình hay cố ý khinh khi. Như Võ Đang thất hiệp đó, đến danh tính họ cũng chẳng buồn xưng, hiển nhiên là bọn họ chẳng coi y ra gì. Đô Đại Cẩm càng nghĩ càng căm tức, thầm tính cách trả mối hận này. Đoàn người đi ngược trở lại đường cũ, Đô Đại Cẩm lòng không vui, còn các tiêu sư và xà ích thì ai nấy cao hứng, nghĩ tới mười ngày đêm hành trình vất vả nhưng tiêu cục được nhận những hai ngàn lượng vàng, Tổng tiêu đầu vốn là người rộng rãi, hẳn các huynh đệ đều sẽ được hưởng hoa hồng hậu hĩnh.

Chiều tối, còn cách Song Tỉnh Tử chừng hơn mười dặm, Chúc tiêu đầu thấy Đô Đại Cẩm vẻ mặt rầu rĩ, bèn nói:

– Tổng tiêu đầu, chuyện hôm nay Tổng tiêu đầu chẳng cần để bụng. Núi cao sông dài, trên giang hồ rồi sẽ có lúc tương phùng. Để xem uy phong của Võ Đang thất hiệp còn được bao lâu nữa?

Đô Đại Cẩm thở dài:

– Có một việc khiến ta nghĩ lại mà ân hận.

Chúc tiêu đầu hỏi:

– Việc gì vậy?

Bỗng từ phía sau có tiếng vó câu lộp cộp, rồi một con ngựa chạy tới, con ngựa ấy chạy trông rất nhởn nhơ, mà tốc độ nhanh lạ thường, thoáng giây lát đã tới gần. Mọi người cùng quay đầu lại, thấy con ngựa ấy thân cao hơn giống ngựa thường cả thước, có bộ vó đặc biệt dài, nhờ vậy mà chạy cực nhanh. Loài ngựa Thanh Thông[19] này lông xanh trải khắp thân mình và rất mướt.

Chúc tiêu đầu thốt lên tán thưởng:

– Ngựa đẹp quá!

Rồi nói tiếp:

– Tổng tiêu đầu, chúng ta có điều gì thất thố ư?

Đô Đại Cẩm buồn rầu nói:

– Đấy là chuyện của ta hai mươi lăm năm về trước. Bấy giờ ta học võ công ở Thiếu Lâm tự. Ân sư khuyên ta học thêm năm năm nữa sẽ truyền thụ hết bộ "Đại Vĩ Đà chưởng"; nhưng dạo ấy ta còn trẻ người non dạ, tưởng rằng với bản lĩnh hiện có đã đủ để hành tẩu trên giang hồ, không nghe lời ân sư kiên trì tiếp tục khổ luyện trong Thiếu Lâm tự. Ôi, giả sử dành thêm năm năm khổ học thì hôm nay đâu chịu để Võ Đang thất hiệp khinh khi vũ nhục như vậy..

Nói tới đó thì con ngựa Thanh Thông kia lướt qua đoàn tiêu cục, người ngồi trên mình ngựa liếc nhìn Đô Đại Cẩm và Chúc tiêu đầu bằng ánh mắt rất lạ.

Đô Đại Cẩm thấy có người lạ đi ngang qua, liền dừng lời, nhìn sang. Đó là một thiếu niên chừng hai mươi tuổi, diện mạo tuấn tú, nước da hơi xanh, nhưng thần sắc sáng sủa, thân hình gầy ốm không giấu được vẻ dũng mãnh. Chàng ta ôm quyền, nói:

– Xin phép, mạn phép!

Con ngựa của chàng vọt qua tiêu đội, phi nhanh lên trước.

Đô Đại Cẩm nhìn theo người kia, nói:

– Chúc hiền đệ có nhận ra đó là nhân vật nào không?

Chúc tiêu đầu đáp:

– Người ấy từ trên núi xuống, có lẽ là đệ tử phái Võ Đang. Có điều là không mang theo binh khí, thân hình lại gầy ốm, chẳng giống người có võ công chút nào.

Lời vừa dứt thì chàng thiếu niên kia bỗng nhiên cho ngựa chạy trở lại, rồi còn cách khá xa đã ôm quyền, nói:

– Tiểu đệ xin mạn phép được hỏi một lời, xin các đại huynh chớ cho là lạ!

Đô Đại Cẩm thấy chàng nói năng khách sáo, liền đáp:

– Các hạ muốn hỏi gì?

Chàng thiếu niên nhìn lá cờ thêu cá chép do một phu xe đang giương cao, hỏi:

– Quý cục có phải là tiêu cục Long Môn ở phủ Lâm An chăng?

Chúc tiêu đầu nói:

– Phải!

Chàng thiếu niên nói:

– Thỉnh vấn quý tính đại danh của các vị đại huynh là chi? Đô tổng tiêu đầu của quý cục có mạnh giỏi hay chăng?

Chúc tiêu đầu tuy thấy chàng thiếu niên nói năng lễ độ, nhưng dân giang hồ khó biết lòng dạ thế nào, không thể sơ kiến đã tỏ ra thành thật, bèn đáp:

– Tại hạ họ Chúc, còn quý danh của bằng hữu? Bằng hữu có quen biết Tổng tiêu đầu của bổn tiêu cục ư?

Chàng thiếu niên nói:

– Tại hạ họ Trương, tên thường gọi Thúy Sơn, tại hạ ngưỡng mộ Đô tổng tiêu đầu của quý cục đã lâu, tiếc rằng chưa có duyên hội ngộ.

Vừa nghe chàng thiếu niên xưng danh Trương Thúy Sơn thì Đô Đại Cẩm và Chúc, Sử tiêu đầu đều kinh ngạc. Trong Võ Đang thất hiệp, Trương Thúy Sơn đứng thứ năm; mấy năm qua người trong võ lâm nhắc đến Trương Thúy Sơn đều ca ngợi chàng có võ công cực kỳ cao siêu, không ngờ lại là một thiếu niên nho nhã, mảnh khảnh, gió thổi dễ bay thế này.

Đô Đại Cẩm bán tín bán nghi, tế ngựa tới gần nói:

– Tại hạ chính là Đô Đại Cẩm, chẳng hay các hạ chính là người mà giang hồ vẫn gọi là Ngân Câu Thiết Hoạch Trương ngũ hiệp?

Chàng thiếu niên mỉm cười đáp:

– Đô tổng tiêu đầu quá khen, tại hạ đâu xứng với anh danh đó. Các vị đến núi Võ Đang, tại sao qua cửa không vào? Hôm nay chính là ngày mừng gia sư đại thọ chín mươi tuổi, nếu các vị không bận bịu, xin mời lên núi uống vài chung rượu lạt được chăng?

Đô Đại Cẩm nghe chàng nói chân thành như vậy thì nghĩ thầm: "Sao nhân phẩm của Võ Đang thất hiệp lại khác nhau đến thế? Sáu người kia ngạo mạn vô lễ, trong khi Trương ngũ hiệp thật khiêm nhường khả ái". Bèn xuống ngựa, mỉm cười nói:

– Giá lệnh sư huynh cũng quý mến bằng hữu như Trương ngũ hiệp, thì giờ này chúng tôi đã ở trên núi Võ Đang rồi.

Trương Thúy Sơn ngạc nhiên:

– Sao? Đô tổng tiêu đầu đã gặp sư huynh của tại hạ ư? Đã gặp sư huynh thứ mấy vậy?

Đô Đại Cẩm nghĩ bụng: "Ngươi thật giảo hoạt, đến lúc này mà còn giả bộ ngây ngô", bèn nói:

– Tại hạ hôm nay thật xui xẻo, trong một ngày bị toàn bộ Võ Đang thất hiệp dối lừa.

Trương Thúy Sơn kêu "ớ" một tiếng, ngẩn người ra, hỏi:

– Cả Du tam ca của tại hạ, Đô tổng tiêu đầu cũng gặp rồi ư?

Đô Đại Cẩm nói:

– Du Đại Nham Du tam hiệp ấy à? Đô mỗ chẳng biết vị nào là Du tam hiệp. Gặp cả sáu vị một lúc, tất nhiên trong số đó có Du tam hiệp.

Trương Thúy Sơn nói:

– Gặp cả sáu người? Kỳ thật! Làm sao lại gặp cả sáu người kia chứ? Đô Đại Cẩm nói:

– Thì các sư huynh sư đệ của các hạ có chịu xưng danh đâu mà Đô mỗ biết được? Các hạ là Trương ngũ hiệp, sáu vị kia dĩ nhiên là Tống đại hiệp cho đến Mạc thất hiệp chứ gì.

Cứ mỗi chữ "hiệp" y lại dài giọng, ngụ ý giễu cợt.

Nhưng Trương Thúy Sơn đang mải nghĩ, không nhận ra thái độ đó, lại hỏi:

– Đô tổng tiêu đầu gặp họ thật ư?

Đô Đại Cẩm nói:

– Không riêng tại hạ, mà cả mấy chục con mắt tiêu đội chúng tôi cùng nhìn thấy.

Trương Thúy Sơn lắc đầu:

– Không thể có chuyện đó được. Tống sư ca hôm nay luôn luôn túc trực ở cung Tử Tiêu trên núi chờ lệnh sư phụ, không rời nửa bước. Sư phụ và Tống sư ca thấy Du tam ca quá Ngọ vẫn chưa về tới bèn sai tiểu đệ xuống núi nghe ngóng, làm sao Đô tổng tiêu đầu lại gặp Tống sư ca được kia chứ?

Đô Đại Cẩm hỏi:

– Người mặt có nốt ruồi đen với ba sợi lông mọc dài từ nốt ruồi ra là Tống đại hiệp hay Du tam hiệp? Trương Thúy Sơn ngớ ra, nói:

– Tất cả các sư huynh sư đệ của tại hạ, không ai có nốt ruồi trên mặt cả.

Đô Đại Cẩm nghe câu ấy thì lạnh hết người, nói:

– Sáu vị ấy tự xưng Võ Đang lục hiệp, đã xuất hiện dưới chân núi Võ Đang, trong đó lại có hai vị đội mũ đạo sĩ, chúng tôi dĩ nhiên..

Trương Thúy Sơn ngắt lời:

– Sư phụ tại hạ tuy là Đạo nhân, nhưng Người chỉ thu nhận tục gia đệ tử. Sáu người ấy tự xưng là Võ Đang lục hiệp thật ư?

Đô Đại Cẩm điểm lại tình hình lúc đó, mới nhớ ra rằng vừa mới gặp mình đã tự gọi họ là Võ Đang lục hiệp, chứ đối phương không nói câu nào bộc lộ thân phận cả; bọn họ chỉ không phủ nhận sự ngộ nhận của y thôi. Bất giác Đô Đại Cẩm và Chúc, Sử tiêu đầu đưa mắt nhìn nhau ngơ ngác một hồi, mới nói:

– Vậy thì chỉ e sáu người kia có ác ý. Chúng ta phải mau đuổi theo!

Đoạn nhảy ngay lên ngựa, ra roi phóng ngược lên núi.

Trương Thúy Sơn cũng giục ngựa phóng theo. Ngựa của chàng chân dài, chạy trông thong thả mà nhanh, lát sau đã tới tới ngang đầu ngựa của Đô Đại Cẩm. Trương Thúy Sơn nói:

– Sáu vị ấy mạo nhận danh tính, Đô huynh đừng chấp nhặt chuyện đó làm gì!

Đô Đại Cẩm nói:

– Nhưng còn người kia nữa? Bổn tiêu cục nhận lời ủy thác phải đưa người ấy lên núi Võ Đang giao cho Trương chân nhân. Nay sáu kẻ kia giả mạo tính danh, đã tiếp nhận người kia, chỉ e.. chỉ e sự việc nguy mất..

Trương Thúy Sơn hỏi:

– Đô huynh mang ai tới giao cho sư phụ tiểu đệ? Sáu kẻ kia đã tiếp nhận ai thế?

Đô Đại Cẩm vừa giục ngựa phi nhanh hơn, vừa đem chuyện vận chuyển một người thụ trọng thương lên núi Võ Đang kể cho Trương Thúy Sơn nghe. Trương Thúy Sơn ngạc nhiên, hỏi:

– Danh tính người bị thương là gì? Diện mạo ra sao?

Đô Đại Cẩm nói:

– Cũng không biết danh tính người ấy là gì, người ấy thụ thương sao đó không nói, cũng không cử động được. Người ấy tuổi trạc tam tuần.

Đoạn miêu tả diện mạo của Du Đại Nham.

Trương Thúy Sơn cả kinh, nói:

– Đó.. chính là Du tam ca!

Tâm trí bấn loạn cả lên, nhưng chàng lập tức trấn tĩnh, giơ tay tả nắm lấy cương ngựa của Đô Đại Cẩm ghìm lại. Con ngựa đang phi nước đại, bị Trương Thúy Sơn ghìm phắt lại, không thể phi thêm nửa vó, bên mép bật máu tươi, hí to một tiếng đau đớn. Đô Đại Cẩm bị văng khỏi yên ngựa, rơi xuống đất, chỉ nghe "xoẹt" một tiếng, đã rút thanh đơn đao ra, y thầm sợ, không ngờ chàng thiếu niên mảnh khảnh chỉ giơ tay gò cương mà đã giữ cứng lại một con ngựa đang phi.

Trương Thúy Sơn nói:

– Đô huynh chớ hiểu lầm, Đô huynh vất vả hộ tống Du tam ca từ ngàn dặm xa xôi tới đây, tiểu đệ vô cùng cảm kích, chứ không có ý gì khác.

Đô Đại Cẩm "hừ" một tiếng, cắm đao vào bao, tay phải vẫn nắm cán đao.

Trương Thúy Sơn nói:

– Du tam ca bị thương như thế nào? Đối thủ là ai? Người nào nhờ Đô huynh mang Du tam ca về đây?

Cả ba câu hỏi ấy, Đô Đại Cẩm đều không thể trả lời. Trương Thúy Sơn cau mày, lại hỏi tiếp:

– Kẻ tiếp nhận Du tam ca hình dạng ra sao?

Sử tiêu đầu nhanh miệng trả lời. Nghe xong, Trương Thúy Sơn nói:

– Tiểu đệ phải đi trước đây.

Đoạn ôm quyền, phóng ngựa đi liền.

Con ngựa của chàng đi thong thả đã nhanh lạ thường, lúc này nó phi thì chỉ nghe gió thổi ù ù bên tai, cây cối hai bên đường vùn vụt lùi về phía sau. Võ Đang thất hiệp, đồng môn học nghệ, chung vai hành hiệp, tình hơn cốt nhục, Trương Thúy Sơn nghe tin Du tam ca thụ trọng thương, lại rơi vào tay những kẻ lai lịch mờ ám thì lòng như lửa đốt, liên tiếp ra roi giục ngựa, giả dụ con ngựa có chết vì kiệt sức, chàng cũng chẳng tiếc.

Phi một mạch tới thảo điếm, chỗ ấy là ngã ba đường, một dẫn lên núi Võ Đang, một chạy về hướng đông bắc đến Vân Dương. Trương Thúy Sơn nghĩ bụng: "Sáu kẻ kia mà có hảo tâm chở Du tam ca lên núi thì khi từ trên núi đi xuống mình đã gặp họ rồi", bèn kẹp hai đùi vào lưng ngựa, phóng về hướng đông bắc.

Phi một mạch chừng hơn nửa canh giờ, ngựa quý dù khỏe mấy, sức cũng có hạn, mỗi lúc một chạy chậm dần, nhìn sắc trời sắp tối, mà cả một vùng núi non quạnh vắng, chẳng gặp được ai để hỏi thăm. Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: "Du tam ca võ công trác tuyệt, sao lại bị đánh trọng thương được nhỉ? Nhưng cứ nhìn sắc diện của Đô Đại Cẩm thì chắc không phải y bịa chuyện". Nhìn đường xem chừng sắp tới trấn Thập Yển, bỗng thấy có một cỗ xe lớn lật nghiêng trong bãi cỏ ven đường, lại gần vài bước, thấy một con la kéo xe nằm chết bên cạnh, đầu vỡ toang, não phòi ra ngoài.

Trương Thúy Sơn nhảy xuống ngựa, vạch rèm che cửa xe, bên trong không có ai, quay mình lại, thì thấy trong trong đám cỏ cao có một người nằm sấp bất động, tựa hồ đã chết hàng giờ trước đó. Trống ngực đập thình thình, Trương Thúy Sơn vạch cỏ chạy tới, nhìn kỹ sau lưng đúng là tam sư huynh Du Đại Nham, vội luồn hai tay ôm người kia lên. Trong ánh hoàng hôn chỉ thấy Du Đại Nham hai mắt nhắm nghiền, sắc mặt nhợt nhạt đáng sợ. Trương Thúy Sơn vừa kinh hãi vừa đau đớn, áp má mình vào mặt sư huynh, cảm thấy còn chút hơi ấm. Chàng cả mừng, đưa tay rờ ngực sư huynh, thấy tim còn đập, tuy rất chậm, lúc đập lúc dừng, mạch có thể mất bất cứ lúc nào.

Trương Thúy Sơn trào lệ, gọi:

– Tam ca, tam ca.. sao đến nỗi.. Ngũ đệ đây.. mà..

Trương Thúy Sơn nhẹ nhàng ôm sư huynh đứng dậy, thấy tứ chi của sư huynh thõng thượt mềm nhũn, thì ra tất cả các khớp tứ chi đã bị bẻ gãy, từ các khớp cổ tay, khuỷu tay, các ngón tay, cổ chân chỉ thấy máu tươi ri rỉ chảy ra, hiển nhiên kẻ địch hạ thủ cách đây chưa lâu, hơn nữa hắn hạ thủ tàn bạo như thế khiến chàng kinh sợ không nỡ nhìn.

Trương Thúy Sơn cảm thấy lửa giận bừng bừng, con ngươi mắt như muốn nổ tung, chàng biết kẻ địch đi chưa xa, bằng con tuấn mã, chàng thừa sức đuổi kịp, trong cơn cuồng nộ chàng chỉ muốn băm vằm kẻ địch thành trăm mảnh; nhưng lại nghĩ, sư huynh phải được cứu chữa sớm chút nào hay chút đó, quân tử báo thù mười năm chưa muộn. Lúc xuống núi, chàng chỉ định sẽ trở lên ngay, nên không mang theo binh khí và túi thuốc, giờ nhìn tình cảnh Du Đại Nham thế này, nếu đi ngựa lắc qua lắc lại, mỗi bước đều làm cho sư huynh đau đớn; chàng liền nhẹ nhàng ôm sư ca lên tay, thi triển khinh công chạy nhanh lên núi. Con tuấn mã lẽo đẽo theo sau, thấy chủ nhân không cưỡi mình, có lẽ nó cũng lấy làm lạ.

Hôm nay là ngày mừng đại thọ vị tổ sư phái Võ Đang Trương Tam Phong tròn chín mươi tuổi. Từ sáng, cung Tử Tiêu đã tràn ngập không khí tưng bừng, sáu đệ tử từ đại đệ tử Tống Viễn Kiều trở xuống đều lần lượt bái thọ sư phụ, trong bảy đệ tử chỉ thiếu Du Đại Nham chưa về. Trương Tam Phong cùng mọi người biết rằng Du Đại Nham hành sự thận trọng, xuống phương nam diệt bọn đạo tặc nọ cũng chẳng phải thuộc loại lợi hại gì cho lắm, nên nghĩ thể nào cũng về kịp. Thế nhưng đợi đến chính Ngọ vẫn chưa thấy Du Đại Nham về tới, ai nấy nóng lòng sốt ruột. Trương Thúy Sơn thưa với sư phụ:

– Để đệ tử xuống núi đón tam ca.

Nào ngờ Trương Thúy Sơn đi chán cũng chẳng đem tin về. Con ngựa Thanh Thông chàng cưỡi là loại cước lực cực nhanh, dù có chạy đến tận Lão Hà Khẩu thì cũng phải trở về nhà rồi. Đằng này đã tới giờ Dậu vẫn chưa thấy tăm hơi. Bàn tiệc từ lâu đã bày sẵn sàng trong đại sảnh, cây nến hồng lớn đã cháy quá nửa, hết thảy mọi người đều cảm thấy bồn chồn lo lắng. Đệ tử thứ sáu Ân Lê Đình, đệ tử thứ bảy Mạc Thanh Cốc cứ sốt ruột đi ra đi vào cung Tử Tiêu không biết bao nhiêu lần. Trương Tam Phong biết rõ tính cách hai đệ tử của mình, Du Đại Nham thận trọng, đáng tin cậy, có thể đảm đương đại sự; Trương Thúy Sơn thì thông minh cơ trí, biện sự nhanh nhẹn, lâu nay không hề do dự chậm chạp, đến lúc này vẫn chưa về tới, hẳn phải có biến cố bất thường.

Tống Viễn Kiều nhìn cây nến hồng, nói:

– Sư phụ, tam đệ và ngũ đệ chắc hẳn gặp chuyện bất bình nên phải ra tay can thiệp đấy thôi! Sư phụ vẫn thường giáo huấn chúng con cần tích đức hành thiện, hôm nay là ngày đại hỉ ngàn thu mới có một lần của lão nhân gia, hai sư đệ có làm được việc nghĩa hiệp thì mới là cách mừng thọ hay nhất.

Trương Tam Phong vuốt bộ râu dài, cười:

– Ha ha, sinh nhật lần thứ tám mươi của ta, ngươi có cứu được một quả phụ đâm đầu xuống giếng, thật là hay! Có điều là cách mười năm mới làm được một việc nghĩa hiệp thì bàn dân thiên hạ phải chờ đợi quá lâu, phát ngán mất thôi.

Năm đệ tử cùng cười rộ. Trương Tam Phong tính tình vui vẻ nên sư đồ vẫn thường cười đùa với nhau.

Đệ tử thứ tư Trương Tòng Khê nói:

– Sư phụ tối thiểu sẽ thọ đến hai trăm tuổi, chúng con cứ mười năm làm được một việc nghĩa hiệp, cộng lại cũng chẳng ít đâu.

Đệ tử thứ bảy Mạc Thanh Cốc cười:

– Ha ha, chỉ sợ bảy đệ tử chúng con không sống lâu được đến ngày ấy..

Y nói chưa dứt câu, Tống Viễn Kiều và đệ tử thứ hai Du Liên Châu cùng bật dậy, chạy ra ngoài hiên, hỏi:

– Tam đệ đó phải không?

Chỉ nghe Trương Thúy Sơn nói:

– Là đệ!

Tiếng thưa có vẻ nghẹn ngào, chỉ thấy chàng hai tay bồng một người tiến vào, mặt đầy vết máu lẫn mồ hôi, đến trước mặt Trương Tam Phong thì quỳ xuống khóc không thành tiếng, nấc lên:

– Sư phụ, tam.. tam ca bị ám toán..

Mọi người vô cùng kinh hãi, chỉ thấy Trương Thúy Sơn loạng choạng rồi ngã ngửa ra phía sau. Chàng vừa gắng chạy một chặng đường dài, trong lòng lại quá đau thương, cuối cùng về đến chỗ sư phụ và huynh đệ đồng môn thì hết chịu nổi, ngã lăn ra bất tỉnh.

Tống Viễn Kiều và Du Liên Châu biết rằng Trương Thúy Sơn ngất lịm chỉ vì tâm thần xúc động, lại vừa lao lực quá độ mà ra; còn tam sư đệ Du Đại Nham thì chưa biết sống chết thế nào, hai người không hẹn mà cùng giơ tay bế Du Đại Nham lên, chỉ thấy hơi thở thoi thóp, mạng sống mong manh như sợi tơ.

Trương Tam Phong thấy đệ tử yêu của mình bị thương nghiêm trọng tới mức ấy thì bàng hoàng, không kịp hỏi han, vội vào nội đường lấy ra một bình "Bạch hổ đoạt mệnh đan". Miệng bình được gắn kín bằng sáp trắng, lúc này chẳng hơi đâu cạy sáp mở nắp, Trương Tam Phong dùng hai ngón tay trái bóp nhẹ, chiếc bình vỡ luôn, lấy ba viên thuốc màu trắng nhét vào miệng Du Đại Nham. Nhưng Du Đại Nham đã mất hết tri giác, làm sao nuốt xuống được?

Trương Tam Phong dùng hai ngón cái và ngón trỏ của cả hai tay hợp lại thành thế "Hạc chủy kình", đầu ngón trỏ ấn vào "Long dược khiếu" cách vành tai ba phân về phía trên, vận nội lực day nhè nhẹ. Với công lực của mình hiện tại, khi sử dụng "Hạc chủy kình điểm Long dược khiếu", Trương Tam Phong sẽ làm cho người mới tắt thở cũng phải hoàn hồn giây lát, đằng này Trương lão day đến hai chục lần mà Du Đại Nham vẫn không động đậy.

Trương Tam Phong khẽ thở dài, hai tay đặt thành kiếm quyết, lòng bàn tay úp xuống, cùng ấn vào huyệt Giáp Xa của Du Đại Nham. Huyệt Giáp Xa nằm ở hai bên má, chỗ hai hàm răng cắn chặt lại. Trương Tam Phong âm thủ điểm vào, lập tức ngửa lòng bàn tay lên, chuyển thành dương thủ, một âm một dương đổi cho nhau, đổi qua đổi lại đến lần thứ mười hai, thì Du Đại Nham mới há miệng ra, từ từ nuốt đan dược vào cổ họng.

Ân Lê Đình và Mạc Thanh Cốc từ nãy nín thở lo lắng dõi theo, lúc này cùng reo lên một tiếng "a".

Nhưng bắp cơ ở cổ họng Du Đại Nham đã cứng đơ, đan dược vào tới đó mà không xuống bụng. Trương Tòng Khê liền vuốt xuôi cổ họng cho Du Đại Nham, còn Trương Tam Phong thì dùng ngón tay đóng bế hai huyệt Khuyết Bồn và Du Phủ trên vai, hai huyệt Dương Quan và Mệnh Môn ở sau lưng Du Đại Nham, để khi chàng tỉnh dậy sẽ không vì đau đớn quá ở tứ chi mà lại ngất đi.

Tống Viễn Kiều và Du Liên Châu quen thấy sư phụ dù gặp đại sự hung hiểm cách mấy cũng vẫn bình thản như không; vậy mà lần này hai tay Trương lão hơi run, mắt lộ vẻ kinh hoàng, thì hai người biết rằng thương thế của tam sư đệ hẳn là vô cùng nguy kịch.

Lát sau, Trương Thúy Sơn mơ mơ màng màng hồi tỉnh, hỏi:

– Sư phụ, có cứu được tam ca hay chăng?

Trương Tam Phong không trả lời vào câu hỏi, chỉ nói:

– Thúy Sơn, thế gian có ai bất tử?

Chợt có tiếng chân người, rồi một tiểu đồng tiến vào bẩm báo:

– Ngoài kia có một tiêu khách xin cầu kiến tổ sư gia, nói là Đô Đại Cẩm của tiêu cục Long Môn phủ Lâm An.

Trương Thúy Sơn bật dậy, mặt đầy vẻ giận dữ, nói:

– Chính hắn đó!

Đoạn chàng chạy ra ngoài, chỉ nghe mấy tiếng loảng xoảng của binh khí bị quăng xuống đất. Ân Lê Đình và Mạc Thanh Cốc đang tính chạy ra trợ giúp sư huynh, thì thấy Trương Thúy Sơn tay phải nắm cổ một đại hán đẩy vào, giúi giúi đầu hắn xuống đất, giận dữ nói:

– Chính kẻ này đã làm hỏng hết mọi sự.

Mạc Thanh Cốc nghe nói kẻ kia làm cho sư ca bị trọng thương, bèn co chân đá Đô Đại Cẩm. Tống Viễn Kiều khẽ quát:

– Hãy khoan!

Mạc Thanh Cốc liền thu chân lại.

Từ bên ngoài có tiếng nói vọng vào:

– Phái Võ Đang các người không cần lý lẽ thì phải? Chúng tôi có hảo ý cầu kiến, sao lại sỉ nhục chúng tôi như thế?

Tống Viễn Kiều cau mày, giơ tay vỗ nhẹ vài cái vào lưng và bả vai Đô Đại Cẩm, giải các huyệt đạo do Trương Thúy Sơn vừa điểm, nói vọng ra:

– Khách ở bên ngoài không nên huyên náo, chờ đó một lát sẽ phân định đúng sai!

Hai câu đó ngữ khí uy nghiêm, nội lực sung mãn; Chúc, Sử tiêu đầu vừa nghe đã khiếp phục ngay, ngỡ rằng Trương Tam Phong lên tiếng ngăn chặn, nên không dám ho he gì nữa.

Tống Viễn Kiều nói:

– Tam đệ bị thương ra sao, ngũ đệ hãy từ từ kể lại coi, đừng vội.

Trương Thúy Sơn quắc mắt nhìn Đô Đại Cẩm, rồi kể lại việc tiêu cục Long Môn nhận lãnh hộ tống Du Đại Nham về núi Võ Đang ra sao, đem giao cho sáu kẻ mạo danh như thế nào. Tống Viễn Kiều đã thấy võ công của Đô Đại Cẩm, sớm biết người như thế quyết không đủ bản lĩnh sát hại Du Đại Nham, huống hồ y còn dám lên đây cầu kiến, ắt thực tâm chứ không phải man trá, nên dịu giọng ôn tồn hỏi kỹ Đô Đại Cẩm về sự việc xảy ra.

Đô Đại Cẩm nhất nhất cứ thực tình thuật lại, cuối cùng rầu rĩ nói:

– Tống đại hiệp, họ Đô tôi biện sự không chu đáo, khiến Du tam hiệp bị thảm họa thế này, tội thật đáng chết. Có điều toàn bộ thân quyến của chúng tôi ở phủ Lâm An hiện giờ không rõ tính mệnh ra sao?

Trương Tam Phong liên tiếp dùng song chưởng đặt lên hai huyệt Thần Tàng và Linh Đài của Du Đại Nham, đem nội lực của mình truyền sang cơ thể chàng, nghe Đô Đại Cẩm nói vậy, liền nói:

– Liên Châu, con hãy cùng Thanh Cốc lập tức đi Lâm An bảo hộ mọi người ở tiêu cục Long Môn.

Du Liên Châu đáp lời, tuy chàng ngạc nhiên, nhưng hiểu ngay lòng từ bi, hiệp nghĩa của sư phụ. Vị họ Ân nọ từng nói rằng nếu để việc hộ tống Du Đại Nham xảy ra nửa phần sơ suất, sẽ giết sạch già trẻ lớn bé ở tiêu cục Long Môn. Câu nói đó nghe chỉ như một lời hăm dọa, nhưng Đô Đại Cẩm và các hảo thủ của tiêu cục đều đi bảo tiêu ở bên ngoài cả rồi, nếu quả gặp nguy biến, sẽ không có ai chống đỡ.

Trương Thúy Sơn nói:

– Sư phụ, gã họ Đô này hành sự hồ đồ ngu xuẩn, để tam sư ca đến nông nỗi này, chúng ta không hỏi tội gã thì thôi, lẽ đâu còn cất công đi bảo hộ gia quyến cho gã nữa?

Trương Tam Phong chỉ lắc đầu, không nói gì. Tống Viễn Kiều nói:

– Ngũ đệ sao hẹp lượng như thế? Đô tổng tiêu đầu bôn ba ngàn dặm tới đây là vì ai?

Trương Thúy Sơn cười nhạt:

– Gã vì hai ngàn lượng vàng, chứ đâu phải vì tử tế với Du tam ca?

Đô Đại Cẩm vừa nghe thì mặt đỏ bừng, nhưng ngẫm ra thì y nhận bảo tiêu chuyến này đích thị là vì khoản tiền công hậu hĩnh.

Tống Viễn Kiều quát:

– Ngũ đệ, không được vô lễ với khách, đệ đã vất vả nửa ngày rồi, mau đi nghỉ đi!

Trong phái Võ Đang, sư huynh có uy quyền rất lớn, Tống Viễn Kiều tính lại đoan nghiêm, từ Du Liên Châu trở xuống ai ai cũng đều kính nể. Trương Thúy Sơn nghe Tống Viễn Kiều trách mắng, không dám cãi nửa lời, nhưng vì lo lắng cho thương thế của Du Đại Nham, nên chưa chịu lui vào nghỉ. Tống Viễn Kiều nói với Du Liên Châu:

– Nhị đệ, sư phụ đã có lệnh, nhị đệ cùng thất đệ phải đi suốt ngày đêm, sự việc khẩn cấp, không được chậm trễ.

Du Liên Châu và Mạc Thanh Cốc đáp lời, vội về phòng mình chuẩn bị binh khí và y phục.

Đô Đại Cẩm thấy Du, Mạc hai người phải gấp đi Lâm An bảo hộ gia quyến của y thì vô cùng xúc động, ôm quyền nói với Trương Tam Phong:

– Trương chân nhân, việc của vãn bối thật không dám làm phiền Du, Mạc nhị hiệp, xin cáo từ!

Tống Viễn Kiều nói:

– Các vị đêm nay hãy tạm nghỉ lại đây, chúng tôi còn vài điều cần thỉnh giáo.

Lời lẽ của Tống Viễn Kiều tuy bình thường nhưng có một vẻ uy nghiêm khiến người ta không dám trái lời. Đô Đại Cẩm đành im lặng, ngồi sang một bên.

Du Liên Châu và Mạc Thanh Cốc bái biệt sư phụ, bịn rịn nhìn nhìn Du Đại Nham mấy lần, rồi mới xuống núi. Lòng họ nặng trĩu, chẳng biết lần này là sinh li hay tử biệt, không biết mai ngày còn gặp lại Du Đại Nham nữa chăng.

Lúc này trong đại sảnh không một tiếng động, chỉ nghe tiếng hít thở nặng nề của Trương Tam Phong, lại thấy nhiệt khí từ đỉnh đầu Trương lão bốc lên như từ cái nồi hấp vậy. Chừng hơn nửa canh giờ sau, bỗng nhiên Du Đại Nham kêu "A" một tiếng rõ to, vang động cả đại sảnh. Đô Đại Cẩm giật mình, đưa mắt nhìn trộm Trương Tam Phong, thấy mặt Trương lão không lộ vẻ buồn hay vui nên không thể đoán tiếng kêu vừa rồi là lành hay dữ.

Trương Tam Phong chậm rãi nói:

– Tòng Khê, Lê Đình, hai ngươi khiêng tam ca vào phòng nghỉ ngơi đi!

Trương Tòng Khê và Ân Lê Đình đưa Du Đại Nham vào trong phòng rồi trở ra. Ân Lê Đình không nhịn nổi, hỏi:

– Sư phụ, võ công của tam ca có thể phục hồi được toàn bộ không ạ?

Trương Tam Phong thở dài, lát sau mới đáp:

– Y có bảo toàn được tính mạng hay không, phải một tháng sau mới rõ. Gân cốt tứ chi đứt gãy cả, không cách gì nối lại được. Ôi cả một đời, cả một đời..

Nói đoạn, Trương lão buồn bã lắc đầu. Ân Lê Đình đột nhiên khóc òa lên.

Trương Thúy Sơn bật dậy, "bốp" một tiếng, Đô Đại Cẩm bị đánh một cái bạt tai. Lần này chàng ra tay nhanh như chớp, Đô Đại Cẩm vội giơ tay đỡ nhưng tay đưa ra thì mặt đã trúng chưởng rồi. Trương Thúy Sơn không nén được cơn giận, cùi chỏ trái lại xoay qua thúc luôn vào mạng sườn. Chiêu đó cực nhanh, song Trương Tòng Khê đã kịp đưa tay đẩy nhẹ vào vai Trương Thúy Sơn nên cùi chỏ của chàng chệch ra ngoài. Đô Đại Cẩm vội lùi về phía sau tránh né, chợt nghe "kịch" một tiếng, thỏi vàng từ trong bọc của y rớt xuống đất.

Trương Thúy Sơn dùng chân trái hất thoi vàng lên, giơ tay bắt lấy, cười khẩy:

– Đồ tham tài vô nghĩa, người ta ném cho ngươi một thoi vàng là ngươi liền giao Du tam ca của ta cho chúng hành hạ..

Lời chưa dứt, chàng đột nhiên kêu "Ủa!" một tiếng, nhìn đăm đăm năm vết ngón tay hằn trên thoi vàng, nói:

– Đại sư ca, cái này là.. là công phu "Kim Cương chỉ" của phái Thiếu Lâm.

Tống Viễn Kiều cầm thoi vàng xem qua, rồi đưa cho sư phụ. Trương Tam Phong lật qua lật lại, xem kỹ thoi vàng mấy lần, đưa mắt nhìn Tống Viễn Kiều, cả hai không nói một lời.

Trương Thúy Sơn nói to:

– Sư phụ, đây chính là công phu "Kim Cương chỉ" của phái Thiếu Lâm, thiên hạ làm gì có môn phái thứ hai sử dụng công phu này; phải vậy chăng, sư phụ?

Trong chớp mắt, Trương Tam Phong hồi tưởng thuở thơ ấu mình ở trong Tàng kinh các của Thiếu Lâm tự hầu hạ thiền sư Giác Viễn ra sao, đấu chưởng với Côn Luân Tam Thánh Hà Túc Đạo như thế nào, rồi bị tăng chúng Thiếu Lâm tự truy bắt phải chạy lên núi Võ Đang, chuyện mấy mươi năm cũ thoáng hiện cả về trong trí nhớ. Vẻ mặt Trương lão lộ vẻ hoang mang, cứ theo vết ngón tay hằn trên thoi vàng này, hiển nhiên là "Kim Cương chỉ" của phái Thiếu Lâm; Trương Thúy Sơn nói không sai, thế gian này không môn phái thứ hai nào có nổi công phu ấy. Phái Võ Đang ta chuyên luyện nội công thâm hậu, không chú trọng đến môn Ngạnh công nén vàng đập đá; còn các môn phái ngoại gia, dù luyện chưởng lực, quyền lực, cước lực, lực cánh tay, lực chân đá, cho đến việc dùng đầu mà đánh, dùng cùi chỏ mà thúc, dùng đầu gối hoặc cạnh bàn chân, cạnh bàn tay thật cao siêu chăng nữa thì riêng công phu Chỉ lực không thể nào sánh kịp phái Thiếu Lâm.

Nghe Trương Thúy Sơn hỏi thẳng như thế, nếu nói ra sự thật thì các đệ tử quyết chẳng chịu để yên cho phái Thiếu Lâm; mà như vậy thì giữa hai đại môn phái lớn mạnh nhất võ lâm sẽ khó tránh khỏi cơn đại phong ba bão táp.

Trương Thúy Sơn thấy sư phụ trầm ngâm không nói, biết suy nghĩ của mình là đúng, lại hỏi:

– Sư phụ, trong võ lâm có kỳ nhân dị sĩ nào tự luyện thành môn "Kim Cương chỉ" không?

Trương Tam Phong chậm rãi lắc đầu, nói:

– Phái Thiếu Lâm phải tích lũy kinh nghiệm ngàn năm mới luyện thành tuyệt kỹ này, không thể một sớm một chiều mà xong. Dù là người thông minh tuyệt đỉnh cũng không tài nào tự nghĩ ra nổi.

Ngừng một lát, Trương lão tiếp:

– Hồi ta còn nhỏ ở Thiếu Lâm tự, vì chưa hề được truyền thụ võ công, nên đến giờ vẫn không hiểu nổi làm thế nào mà tấm thân bằng xương bằng thịt, chứ không phải bằng gang bằng sắt, lại có thể luyện ngón tay có sức mạnh đến thế?

Mắt Tống Viễn Kiều bỗng lóe lên một tia sáng khác lạ, nói:

– Gân cốt tứ chi của tam đệ chính là bị "Kim Cương chỉ" làm đứt gãy rồi!

Ân Lê Đình kêu "A" một tiếng, mắt rưng rưng rồi lệ chảy thành dòng.

Đô Đại Cẩm nghe nói người tàn hại Du Đại Nham rốt cuộc là đệ tử phái Thiếu Lâm thì càng kinh hoảng, há hốc miệng, lát sau mới nói:

– Không, quyết không thể thế được! Tại hạ học nghệ hơn mười năm ở Thiếu Lâm tự, chưa hề thấy mặt kẻ có nốt ruồi đen kia bao giờ.

Tống Viễn Kiều ngưng thần nhìn y, không lộ thái độ gì, thản nhiên nói:

– Lục đệ hãy đưa Đô tổng tiêu đầu và các huynh đệ Long Môn vào hậu viện nghỉ ngơi, sửa soạn cơm rượu, dặn lão Vương tiếp đãi khách phương xa cho chu đáo, không được sơ suất.

Ân Lê Đình vâng lời, dẫn tiêu đội của Đô Đại Cẩm ra hậu viện. Đô Đại Cẩm còn muốn biện bạch vài câu, nhưng trong tình cảnh ấy dù nửa câu cũng chẳng nói nổi.

Ân Lê Đình lo liệu cho đám tiêu sư xong quay trở lại phòng Du Đại Nham, chỉ thấy tam sư ca mắt mở trừng trừng như kẻ mất trí, còn đâu dáng vẻ anh hùng hào sảng mọi khi, chàng đau đớn thốt lên hai tiếng "tam ca" rồi ôm mặt chạy ra đại sảnh, thấy Tống Viễn Kiều cùng mấy huynh đệ đang ngồi trước mặt sư phụ, bèn lại ngồi bên cạnh Trương Thúy Sơn.

Trương Tam Phong đăm đăm nhìn cây hòe lớn ngoài sân, lắc đầu nói:

– Việc này ta thật khó nghĩ, Tòng Khê, ngươi nghĩ sao?

Trong bảy đệ tử của phái Võ Đang, Trương Tòng Khê là người túc trí đa mưu hơn cả. Thường ngày Tòng Khê trầm mặc ít nói, nhưng suy tính liệu sự đã nói là đúng. Từ lúc Trương Thúy Sơn ôm Du Đại Nham về tới, tuy trong lòng đau đớn, song Tòng Khê vẫn suy xét mọi chuyện xem bên trong có gì, giờ nghe sư phụ hỏi mới lên tiếng:

– Cứ như đệ tử nghĩ, thủ phạm không phải phái Thiếu Lâm, mà là thanh đao Đồ Long.

Trương Thúy Sơn và Ân Lê Đình cùng "à" lên một tiếng, Tống Viễn Kiều giục:

– Tứ đệ, sự lý bên trong ra sao, tứ đệ đã suy tưởng minh bạch, mau nói ra để còn xin sư phụ định liệu.

Trương Tòng Khê nói:

– Tam ca hành sự thận trọng, vững vàng, đối xử với người rất hữu hảo, chắc không dễ gây thù chuốc oán. Tam ca đi phương nam diệt trừ bọn đạo tặc đầu trộm đuôi cướp vốn là bọn ai ai trong võ lâm cũng căm ghét, phái Thiếu Lâm quyết không phải vì việc ấy mà hạ thủ với tam ca.

Trương Tam Phong gật gù. Trương Tòng Khê nói tiếp:

– Gân cốt ở tứ chi tam ca bị đứt gãy, đó là ngoại thương; nhưng trước đó tại phủ Lâm An tỉnh Chiết Giang đã bị trúng độc nặng. Đệ tử nghĩ rằng chúng ta trước tiên cần đến Lâm An tra xét xem tam ca bị trúng độc ra sao, ai là kẻ hạ độc?

Trương Tam Phong gật đầu, nói:

– Chất độc mà Đại Nham bị trúng rất quái dị, ta vẫn chưa nghĩ ra đó là chất gì. Lòng bàn tay phải của Đại Nham có bảy cái lỗ nhỏ, đùi có mấy vết kim châm li ti. Trên chốn giang hồ chưa nghe nói có cao thủ nào sử dụng hai loại ám khí kịch độc như vậy.

Tống Viễn Kiều nói:

– Vụ này quái dị thật! Theo lẽ thường mà suy, người phát xạ thứ ám khí nhỏ li ti mà tam đệ không tránh nổi phải là một đệ nhất hảo thủ, nhưng đã là hảo thủ hạng nhất đích thực thì sao lại đi tẩm độc dược vào ám khí?

Mọi người im lặng, ai cũng thầm nghĩ xem nhân vật sử dụng ám khí đó là thuộc môn phái nào. Một lúc sau cả năm người chỉ nhìn nhau, không nghĩ được là ai cả.

Trương Tòng Khê nói:

– Tại sao kẻ mặt có nốt ruồi lại đánh gãy gân cốt của tam ca? Nếu hắn có thù oán với tam ca thì chỉ cần một chưởng cũng đủ giết được rồi; còn nếu hắn muốn cho tam ca thêm khổ sở đau đớn, vậy sao không đánh gãy xương sống, xương sườn? Vì sao thì đã rõ: Hắn chỉ muốn bức tam ca phải cung khai. Vậy hắn cần hỏi điều gì? Cứ như đệ tử suy tưởng, ắt hẳn là về thanh đao Đồ Long. Đô Đại Cẩm đã kể, một trong sáu người nọ có hỏi "Thanh đao Đồ Long đâu? Hiện trong tay ai?"

Ân Lê Đình nói:

– "Võ lâm chí tôn, bảo đao Đồ Long, hiệu lệnh thiên hạ, mạc cảm bất tòng, Ỷ Thiên bất xuất, thùy dữ tranh phong". Câu này lưu truyền đã mấy trăm năm, chẳng lẽ đến nay mới xuất hiện thanh đao Đồ Long hay sao?

Trương Tam Phong nói:

– Không phải mấy trăm năm, cùng lắm chỉ bảy, tám chục năm thôi! Hồi ta còn trẻ chưa từng nghe thấy mấy câu đó.

Trương Thúy Sơn nhỏm dậy, nói:

– Tứ ca nói rất đúng, thủ phạm tàn hại tam ca ắt chỉ ở vùng Giang Nam, chúng ta phải tìm cho ra hắn! Song tên ác tặc phái Thiếu Lâm hạ thủ tàn ác như thế, chúng ta cũng quyết không thể bỏ qua cho hắn.

Trương Tam Phong nói với Tống Viễn Kiều:

– Viễn Kiều, ngươi thấy trước mắt phải tính sao?

Mấy năm gần đây, mọi việc của phái Võ Đang, Trương Tam Phong đều trao cho Tống Viễn Kiều định liệu; vị đại đệ tử này làm việc gì cũng chu đáo mực thước, không để sư phụ phải bận tâm. Nghe sư phụ hỏi, y đứng dậy cung kính nói:

– Việc này không đơn thuần chỉ báo cừu rửa hận cho tam đệ, mà còn liên quan đến đại sự của bổn phái; chỉ cần ứng phó kém thích đáng một chút thôi, e rằng có thể gây ra phong ba bão táp trong võ lâm, kính mong sư phụ chỉ dạy.

Trương Tam Phong nói:

– Được! Ngươi cùng Tòng Khê và Lê Đình mang thư của ta đến Thiếu Lâm tự trên núi Tung Sơn bái kiến phương trượng Không Văn thiền sư, trình bày việc này, thỉnh phương trượng chỉ thị. Vụ này chúng ta khỏi cần nhúng tay, Thiếu Lâm tự quy củ nghiêm cẩn, phương trượng Không Văn là bậc võ lâm vọng trọng, ắt sẽ có cách xử lý thích đáng.

Tống Viễn Kiều, Trương Tòng Khê và Ân Lê Đình ba người cùng đứng nghiêm vâng lệnh.

Trương Tòng Khê nghĩ thầm: "Nếu chỉ là mang một lá thư, thì chỉ cần sai lục đệ đi cũng đủ; đằng này sư phụ bảo đại sư ca xuất mã, còn sai ta đi theo, bên trong chắc có thâm ý. Có lẽ đề phòng việc Thiếu Lâm tự muối mặt không nhận, nên để bọn mình tùy cơ hành sự".

Quả nhiên Trương Tam Phong nói tiếp:

– Bổn phái và phái Thiếu Lâm đôi bên có mối liên quan khá đặc thù. Ta vốn là đồ đệ đào tẩu khỏi Thiếu Lâm tự. Bao năm rồi, có lẽ họ nghĩ ta tuổi tác đã cao, nên họ không đến đây bắt về, tuy nhiên đôi bên dầu sao cũng có chỗ không thuận thảo.

Nói tới đây, Trương lão ngừng lại, mỉm cười, rồi tiếp:

– Các ngươi đến Thiếu Lâm tự, đối với phương trượng Không Văn thiền sư dĩ nhiên phải cung kính, song cũng không nên làm mất thanh danh của bổn môn.

Ba đệ tử cùng lên tiếng vâng lệnh.

Trương Tam Phong quay sang Trương Thúy Sơn:

– Thúy Sơn, sáng mai ngươi đi Giang Nam tìm cách tra xét, mọi việc hãy nghe nhị sư ca phân phó.

Trương Thúy Sơn xuôi tay vâng lệnh.

Trương Tam Phong nói:

– Chung rượu thọ đêm nay thôi khỏi uống. Một tháng sau, tất cả sẽ tề tựu về đây, giả dụ không cứu chữa được cho Đại Nham thì sư huynh sư đệ cũng được nhìn thấy y lần cuối.

Nói tới đây, Trương lão không khỏi bùi ngùi, không ngờ mình lừng lẫy võ lâm suốt mấy mươi năm, đến khi tròn chín mươi tuổi, một đệ tử tâm ái lại gặp chuyện bất hạnh nhường này. Ân Lê Đình đưa tay áo gạt lệ, khóc rưng rức. Trương Tam Phong phất tay áo một cái, nói:

– Tất cả đi ngủ.

Tống Viễn Kiều nói:

– Sư phụ, tam sư đệ một đời hành hiệp trượng nghĩa, tích đức thật dày. Cổ nhân dạy rằng ở hiền gặp lành. Trời xanh có mắt, ắt không để sư đệ phải.. yểu.. mệnh..

Nói đến đó thì lệ chảy ròng ròng, biết rằng có tìm cách an ủi càng làm cho sư phụ thêm thương cảm, bèn cùng các sư đệ chúc sư phụ ngủ ngon rồi chia nhau về phòng. [20]

Comments

Comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 4: Tự tác tang loạn ý bàng hoàng

Trương Thúy Sơn lòng đầy đau thương, căm giận, mà không phát tiết ra được, nằm trằn trọc hơn một canh giờ thì rón rén trở dậy quyết định tìm bọn Đô Đại Cẩm để trút giận. Chàng e ngại đại sư huynh, tứ sư huynh ngăn cản, không dám gây tiếng động, rón rén đi ra, khi tới đại sảnh lại thấy một bóng người hai tay chắp sau lưng đang đi đi lại lại.

Trong ánh sáng mông lung mờ ảo, thấy người kia thân dài lưng rộng, bước chân ngưng trọng, chính là sư phụ. Trương Thúy Sơn nấp sau cột, không dám đi lại, tuy chàng thầm biết phải về phòng ngay, nhưng như thế tất sư phụ sẽ hay biết, nếu bị lục vấn chàng ắt phải nói thực thì khó tránh khỏi bị sư phụ trách cứ.

Chỉ thấy Trương Tam Phong đi lại một hồi, ngẩng đầu ngẫm nghĩ, bỗng nhiên giơ tay hữu lên không trung làm cây bút mà viết chữ. Trương Tam Phong văn võ toàn tài, ngâm thơ viết chữ đều thông, các đệ tử ai cũng biết nên không lấy làm lạ. Trương Thúy Sơn dõi theo nét bút của ngón tay, hóa ra sư phụ viết đi viết lại hai chữ "tang loạn" mấy lần, rồi viết hai chữ "đồ độc". Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: "Thì ra sư phụ đang nghĩ đến 'Tang loạn thiếp'". Chàng có ngoại hiệu Ngân Câu Thiết Hoạch, bởi lẽ tay trái chàng sử dụng "Lạn ngân hổ đầu câu", tay phải sử dụng "Tân thiết phán quan bút" mà ra. Từ khi mang ngoại hiệu ấy, chàng sợ mang tiếng danh bất phó thực, sợ giới văn nhân chê cười, nên một mực chăm chỉ học thư pháp, các kiểu chữ Chân, Thảo, Triện, Lệ, kiểu nào chàng cũng tập viết. Lúc này sư phụ dùng ngón tay làm bút, viết không có nét nào duỗi ra mà không thu vào, không nét nào đi rồi mà không trở lại, chính là bút ý của Vương Hy Chi trong "Tang loạn thiếp".

Bài "Tang loạn thiếp", hai năm trước Trương Thúy Sơn cũng từng xem qua. Tuy cảm nhận được cách dụng bút phóng túng, thanh cương tiêu bạt của người viết, song nghĩ rằng nó không được nghiêm trang, tràn đầy khí tượng như hai bài "Lan đình thi tự thiếp" và "Thập thất thiếp". Lúc này chàng nấp sau cột, nhìn sư phụ dùng tay thay bút viết lên không trung liền một mạch mười tám chữ "Hi Chi đốn thủ: Tang loạn chi cực, tiên mộ tái li đồ độc, truy duy khốc thậm", nét nào nét ấy đều toát ra vẻ uất ức bi phẫn, chàng lập tức hiểu ra tâm tình của Vương Hy Chi khi viết bài "Tang loạn thiếp".

Vương Hy Chi là người thời Đông Tấn. Thời bấy giờ vùng Trung nguyên cực kỳ rối ren, rơi vào tay dị tộc. Họ Vương, họ Tạ đầy thế lực phải di cư xuống phía nam tránh giặc, trong cơn tang loạn ấy, phần mộ của tổ tiên cũng bị đào bới, giày xéo; những nỗi đau thương uất ức chất chứa trong lòng đều ẩn tàng trong bài "Tang loạn thiếp". Trương Thúy Sơn dạo trước tuổi còn niên thiếu, vô tư vô lự, làm sao có thể lãnh hội thâm ý trong bài thiếp? Lúc này gặp cái cảnh sư huynh bị đại họa chưa biết sống chết thế nào, chàng mới hiểu hai chữ "tang loạn", hai chữ "đồ độc", bốn chữ "truy duy khốc thậm".

Trương Tam Phong viết đi viết lại mấy lần, thở một tiếng thật dài, bước ra giữa sân, trầm ngâm một hồi, rồi lại giơ ngón tay lên viết. Lần này kiểu chữ khác hẳn trước. Trương Thúy Sơn dõi theo nét bút, thấy chữ đầu tiên là chữ "võ", chữ thứ hai là chữ "lâm", tiếp theo tổng cộng hai mươi bốn chữ, chính là mấy câu được nhắc tới ban nãy "Võ lâm chí tôn, bảo đao Đồ Long, hiệu lệnh thiên hạ, mạc cảm bất tòng, Ỷ Thiên bất xuất, thùy dữ tranh phong?" Tựa hồ Trương Tam Phong đang cố xác định thâm ý ẩn chứa trong hai mươi bốn chữ kia, suy tưởng xem vì lẽ gì Du Đại Nham bị trọng thương? Vụ này có liên quan gì tới hai loại binh khí thần kỳ nói trong truyền thuyết là đao Đồ Long và kiếm Ỷ Thiên hay chăng?

Chỉ thấy Trương Tam Phong viết một lần hai mươi bốn chữ, rồi viết lần thứ hai, nét bút mỗi lúc dài thêm, nhưng đưa tay mỗi lúc một chậm, sau đó đóng mở ngang dọc hệt như đang thi triển quyền cước. Trương Thúy Sơn ngưng thần quan sát, trong lòng vừa sợ vừa mừng, hai mươi bốn chữ sư phụ viết kia hợp lại với nhau hiển nhiên là một pho võ công thật cao minh, mỗi chữ gồm vài chiêu, mỗi chiêu lại có vài cách biến hóa. Chữ "long" và chữ "phong" nhiều nét nhất, chữ "đao", chữ "hạ" ít nét hơn cả, nhưng chữ nhiều nét mà không rườm rà, chữ ít nét mà không thô lậu, lúc thu vào như con sâu co mình, lúc bung ra thì như con thỏ vuột chạy, sảng khoái lâm ly, cương kiện hùng hồn; nét phóng túng thì như gió vờn tuyết múa, nét hậu trọng như hổ bước voi đi. Trương Thúy Sơn định thần chú tâm ghi nhớ. Trong hai mươi bốn chữ ấy có hai chữ "bất", hai chữ "thiên"; song hai chữ ấy viết ra hình giống nhau mà ý không đồng, khí từa tựa nhưng thần thì không, biến hóa kỳ diệu, quả là một công phu.

Những năm vừa qua Trương Tam Phong ít khi hiển thị võ công. Võ công của hai tiểu đệ tử Ân Lê Đình và Mạc Thanh Cốc phần lớn do Tống Viễn Kiều và Du Liên Châu thay sư phụ truyền thụ; còn Trương Thúy Sơn tuy danh nghĩa là đệ tử thứ năm của Trương Tam Phong, nhưng đích thực là quan môn đệ tử, được sư phụ đích thân truyền dạy. Dạo trước Trương Thúy Sơn học chưa đến nơi đến chốn, nhiều khi nhìn sư phụ thi triển quyền kiếm mà chàng chưa lĩnh hội được những chỗ bác đại tinh thâm. Mấy năm gần đây võ học của chàng tiến bộ vượt bậc, đêm nay hai sư đồ lại tâm ý tương thông, tình chí hợp nhất, cùng gặp cảnh tang loạn mà bi phẫn, gặp cảnh đồ độc mà uất ức. Trương Tam Phong bèn đem cái tình xúc động mà viết hai mươi bốn chữ kia thành một pho võ công. Lúc đầu viết chữ, Trương lão chưa có ý đó, mà Trương Thúy Sơn nấp sau cột cũng chỉ là cơ duyên xảo hợp. Tâm thần hai sư đồ cùng say sưa chìm đắm vào cảnh giới kết hợp võ công với thư pháp, quên hết cả người lẫn ta.

Pho quyền pháp này, Trương Tam Phong diễn đi diễn lại suốt hơn hai canh giờ. Khi trăng đã lên tới đỉnh đầu, Trương lão hú một tiếng dài, hữu chưởng vạch một nét từ trên thẳng xuống như ánh kiếm loáng vung, như mũi tên lao vút, nhanh hơn cả tia chớp, chính là nét sổ cuối cùng trong chữ "Phong".

Trương Tam Phong ngẩng nhìn trời, hỏi:

– Thúy Sơn, đường thư pháp đó, ngươi thấy sao?

Trương Thúy Sơn giật mình, không ngờ chàng nấp sau cây cột, sư phụ không hề quay đầu lại mà vẫn biết từ lâu, vội chạy ra thưa:

– Đệ tử có phúc được coi lén tuyệt kỹ của sư phụ, thật là no mắt thỏa lòng. Đệ tử đi gọi các sư ca ra cùng ngưỡng mộ, có được không ạ?

Trương Tam Phong lắc đầu, nói:

– Hứng của ta hết rồi, chỉ e có viết lại cũng chẳng thể đẹp như thế. Viễn Kiều, Tòng Khê không hiểu thư pháp, dẫu họ có coi cũng chẳng lĩnh hội được bao nhiêu.

Đoạn Trương lão phất tay áo đi vào nội đường.

Trương Thúy Sơn không dám đi ngủ, sợ sau một giấc sẽ quên mất những chiêu thuật tinh diệu vừa được xem, liền ngồi xếp bằng, cố nhớ lại từng nét bút, từng chiêu thức. Lúc nào nổi hứng, chàng lại đứng lên biểu diễn vài đường. Cũng không biết bao nhiêu lâu sau chàng mới ghi nhớ hết mọi biến hóa của hai mươi bốn chữ gồm hai trăm mười lăm nét đó.

Chàng đứng dậy tập một lần, tự cảm thấy các động tác thư pháp cứ như nhạn bay ưng lượn, khi xoãi cánh, lúc vươn cổ, thế tựa mây bay, toàn thân nhẹ lướt hệt như đằng vân giá vụ. Chưởng sau cùng chàng chém thẳng xuống, nghe "bụp" một tiếng, đánh rách ngay một mảng vạt áo của mình. Trương Thúy Sơn vừa kinh ngạc vừa vui mừng, ngoảnh đầu lại thấy vầng dương đã ở bức tường phía đông. Chàng đưa tay dụi mắt, chỉ sợ mình nhìn lầm, định thần cho kỹ mới hay quả nhiên đã quá Ngọ. Thì ra chàng mải mê luyện công, không ngờ đã qua hơn nửa ngày trời.

Trương Thúy Sơn lấy tay áo lau mồ hôi, chạy vào phòng tam sư ca, thấy Trương Tam Phong đang đặt hai bàn tay áp lên ngực và bụng Du Đại Nham mà vận công trị thương. Thúy Sơn hỏi ra mới biết Tống Viễn Kiều, Trương Tòng Khê, Ân Lê Đình ba người đã lên đường từ sáng sớm; họ thấy chàng lúc ấy đang tĩnh tọa mặc tưởng, nên không quấy rầy việc chàng luyện công. Đám tiêu sư Long Môn tiêu cục cũng đã xuống núi. Lúc này toàn thân Trương Thúy Sơn đầm đìa mồ hôi, nhưng nóng lòng báo thù cho sư huynh nên chàng không kịp tắm rửa thay quần áo, lấy ngay binh khí, y phục, vài chục lượng bạc tùy thân, lại qua phòng Du Đại Nham, nói:

– Sư phụ, đệ tử đi đây!

Trương Tam Phong gật đầu, mỉm cười như có ý khích lệ.

Trương Thúy Sơn đến bên giường, thấy Du Đại Nham sắc diện xám xịt, lưỡng quyền nhô cao, hai má lõm sâu, cặp mắt nhắm nghiền, ngoại trừ mũi còn thở nhè nhẹ, nếu không thì trông chẳng khác gì xác chết. Chàng đau nhói trong lòng, nghẹn ngào nói:

– Tam ca, tiểu đệ dẫu tan xương nát thịt cũng sẽ báo thù cho tam ca.

Đoạn chàng quỳ xuống lạy sư phụ rồi ôm mặt chạy ra ngoài.

Trương Thúy Sơn cưỡi con ngựa Thanh Thông vó dài, phi nhanh xuống núi. Lúc ấy trời đã xế chiều, chạy được hơn năm chục dặm là trời tối. Chàng vừa vào khách điếm, thì mây đen ùn ùn kéo tới, rồi mưa đổ xuống ào ào như trút nước. Mưa mỗi lúc một mạnh, mãi tới khuya vẫn không tạnh. Sáng hôm sau thức dậy, chàng thấy tứ phía mờ mịt, trời vẫn mưa rả rích. Chàng gọi chủ quán mua một chiếc áo tơi, rồi chàng đội mưa mà đi. Cũng may con Thanh Thông quả là thần mã, đường lầy lội, trơn trượt nhưng nó vẫn phóng như bay.

Khi tới Lão Hà Khẩu, qua sông Hán Thủy, chỉ thấy sóng nước đục ngầu, băng băng cuồn cuộn chảy xuôi, trông thật nguy hiểm. Ngang qua Tương Phàn, chàng nghe người đi đường kháo nhau, rằng bên dưới hạ lưu đê bị vỡ, người bị thương không đếm xuể. Hôm đến Nghi Thành, thấy dân chúng chạy lụt bồng bế con trẻ, tay xách nách mang, lũ lượt từng đoàn mà trời vẫn mưa tầm tã, ai nấy ướt như chuột lột, tình cảnh thật đáng thương.

Trương Thúy Sơn đang đi, chợt thấy phía trước có một đoàn người ngựa, tiêu kỳ giương cao, chính là đám tiêu sư Long Môn tiêu cục. Chàng thúc ngựa chạy lên, vượt qua tiêu đội, quay đầu ngựa lại chặn ngay giữa đường.

Đô Đại Cẩm thấy Trương Thúy Sơn đuổi tới, giật mình sợ hãi, ấp úng nói:

– Trương.. Trương ngũ hiệp có điều chi chỉ giáo?

Trương Thúy Sơn nói:

– Dân chúng bị thủy tai, Đô tổng tiêu đầu thấy chứ?

Đô Đại Cẩm không ngờ Trương Thúy Sơn lại hỏi y như vậy, ngẩn người hỏi:

– Sao kia?

Trương Thúy Sơn cười khẩy:

– Ta muốn Đô tổng tiêu đầu rộng lòng đem một số vàng ra cứu tế dân bị nạn.

Đô Đại Cẩm tái mặt, nói:

– Chúng tôi làm nghề bảo tiêu, đem tính mạng mình đặt trên đường đao mũi kiếm để kiếm sống, lấy đâu ra tiền của cứu tế dân bị nạn?

Trương Thúy Sơn hạ thấp giọng nói:

– Ngươi mau đem hai ngàn lượng vàng trong bọc ra đây, đưa cả cho ta!

Đô Đại Cẩm tay nắm cán đao, nói:

– Trương ngũ hiệp, có phải hôm nay Trương ngũ hiệp nhất quyết gây khó dễ với Đô mỗ chăng?

Trương Thúy Sơn nói:

– Không sai! Ta phải cho ngươi biết tay.

Hai tiêu đầu Chúc, Sử đều rút khí giới, đứng sóng vai với Đô Đại Cẩm. Trương Thúy Sơn vẫn hai tay không, cười nhạt mấy tiếng, nói:

– Đô tổng tiêu đầu, ngươi đã nhận vàng của người ta thì phải làm tròn việc người ta ủy thác chứ? Hai ngàn lượng vàng kia, ngươi mặt mũi nào mà nhận?

Đô Đại Cẩm tím mặt, nói:

Du tam hiệp chẳng đã về đến núi Võ Đang đó sao? Khi người ta giao y cho chúng tôi, y đã bị trọng thương trước rồi, hiện giờ vẫn còn sống đó thôi!

Trương Thúy Sơn cả giận, quát:

– Ngươi còn dám cãi, Du tam ca của ta khi rời phủ Lâm An, chân tay có bị gãy hay không?

Đô Đại Cẩm im lặng. Sử tiêu đầu xen vào:

– Trương ngũ hiệp, người rốt cuộc muốn gì, cứ nói toạc ra đi.

Trương Thúy Sơn nói:

– Ta muốn bẻ gãy xương tứ chi các ngươi từng cái một.

Vừa nói, chàng vừa nhảy xuống, phi thân đến. Sử tiêu đầu vung côn định đánh, Trương Thúy Sơn liền giơ tay trái chộp lấy, dùng luôn môn võ công vừa học được, chính là yếu quyết nét phẩy trong chữ "Thiên". Cây côn tuột khỏi tay Sử tiêu đầu, y cũng văng khỏi yên ngựa. Chúc tiêu đầu muốn co mình lùi lại, nhưng làm sao kịp? Trương Thúy Sơn thuận tay sử nét nhấn của chữ "Thiên", ngón tay quét ngang trúng ngay xương sườn Chúc tiêu đầu, nghe "bụp" một tiếng, hất luôn y cả người lẫn yên ngựa ra xa hơn một trượng. Thì ra hai chân Chúc tiêu đầu quặp chặt vào yên, trong khi kình lực của nét quét kia quá mạnh khiến cái đai buộc yên ngựa cũng bị đứt lìa, Chúc tiêu đầu chân vướng trong ngàm, nên ngã lăn ra không dậy nổi.

Đô Đại Cẩm thấy chàng xuất thủ quá nhanh, sợ hãi giật cương thúc ngựa xông lên. Trương Thúy Sơn quay người, quyền trái đấm ra, chính là nét chấm trong yếu quyết chữ "Hạ", nghe "hự" một tiếng, trúng vào hậu tâm Đô Đại Cẩm. Đô Đại Cẩm thân hình rung động, võ công của y so với hai tiêu đầu Chúc, Sử thì cao hơn nhiều, nên không bị ngã ngựa. Đô Đại Cẩm nổi giận, nhảy xuống ngựa định giao đấu, bỗng thấy cổ họng mằn mặn, ọe một tiếng, ộc ra một ngụm máu tươi. Hai chân Đô Đại Cẩm loạng choạng, y vội hít một hơi, chỉ cảm thấy trong ngực máu nóng dồn lên, cố giữ vẫn không sao chịu nổi, hai gối nhũn ra, ngồi bệt luôn xuống đất.

Trong tiêu đội còn ba tiêu sư và một số phu xe, trông thấy thế chỉ biết há hốc mồm, trơ mắt đứng nhìn, không ai dám chạy tới đỡ.

Trương Thúy Sơn thoạt đầu lửa giận bừng bừng, những tưởng sẽ bẻ gãy chân tay từng người trong bọn Đô Đại Cẩm cho bõ tức. Nhưng chàng thấy mình vừa thuận tay một quyền một chưởng đã đánh ba gã tiêu đầu bò lê bò càng, Đô Đại Cẩm còn bị trọng thương, thì chàng bất giác thầm kinh dị, không ngờ hai mươi bốn chữ trong bộ "Ỷ Thiên Đồ Long công" vừa học được lại có uy lực lớn mức ấy. Trong lòng mừng rỡ, chàng không muốn ra tay tàn nhẫn, bèn nói:

– Họ Đô kia, hôm nay ta xuống tay lưu tình, đánh ngươi như vậy là đủ. Ngươi hãy mang hết hai ngàn lượng vàng trong túi ra đem cứu tế dân bị nạn. Ta sẽ kín đáo theo dõi, nếu ngươi giữ lại dù chỉ một lượng, ta sẽ đến tiêu cục Long Môn các ngươi giết sạch già trẻ lớn bé cho coi.

Câu cuối cùng là lời chàng từng nghe Đô Đại Cẩm thuật lại, lúc này chợt nhớ đến nên thuận miệng nói ra.

Đô Đại Cẩm từ từ đứng dậy, nhưng thấy giữa lưng đau nhói, hễ cử động mạnh lại thổ ra một ngụm máu tươi. Sử tiêu đầu chỉ bị sây sát ngoài da, tự biết mình không phải là đối thủ của Trương Thúy Sơn, cũng không dám mạnh miệng nói cứng nữa, y nói:

– Trương ngũ hiệp, chúng tôi tuy có nhận tiêu kim của người ta, nhưng chuyến này làm không nên việc, tất phải đem số vàng đó hoàn trả họ. Hơn nữa, số vàng đó lại để hết ở tiêu cục phủ Lâm An, chúng tôi ở chốn tha hương xa xôi này lấy đâu ra tiền cứu tế dân chúng bị nạn?

Trương Thúy Sơn cười khẩy, nói:

– Bộ ngươi coi ta là con nít chăng? Tiêu cục Long Môn các ngươi có gì quý đều dốc mang theo cả, ở phủ Lâm An chẳng còn hảo thủ nào giữ nhà, số vàng đó dĩ nhiên các ngươi phải đem theo đây.

Chàng nhìn qua tiêu đội vài lượt, bước tới một cỗ xe lớn, vung chưởng lên đánh một cái, thùng xe vỡ toang rơi ra mấy chục thoi vàng.

Các tiêu sư ai nấy tái mặt, kinh hãi nhìn nhau, không rõ tại sao chàng biết chỗ giấu vàng. Họ đâu biết rằng Trương Thúy Sơn tuổi tuy còn rất trẻ, nhưng đã cùng các sư huynh hành hiệp khắp thiên hạ, chuyện trên chốn giang hồ chứng kiến đã nhiều. Chàng thấy bánh cỗ xe này lún xuống bùn đất sâu hơn cả, còn ba gã tiêu sư lực lưỡng ban nãy thấy Đô Đại Cẩm bị thương ngã xuống mà không chạy tới cứu, lại đến bên cỗ xe này canh chừng, thì chàng đủ biết trong xe ắt giấu thứ gì quý giá. Thấy các thoi vàng rơi vung vãi trên mặt đất, chàng cười khẩy mấy tiếng, nhảy lên ngựa phóng đi.

Trương Thúy Sơn rất khoái chí về việc vừa làm, nghĩ rằng Đô Đại Cẩm lo sợ tính mạng già trẻ lớn bé trong tiêu cục nên gã nhất định sẽ phải đem hai ngàn lượng vàng ra cứu tế dân chúng bị nạn. Chàng vừa phi ngựa trên đường, vừa nghĩ tới sự biến hóa chiêu số của hai mươi bốn chữ mới học được. Đêm chàng học lỏm pho võ công này, chỉ cảm thấy sư phụ xuất chiêu biến hóa kỳ diệu mà thôi, đâu ngờ khi đem thi triển mới thấy quả là thần uy nên trong lòng sung sướng gấp mười lần so với việc nhặt được báu vật. Song vừa chợt nghĩ đến Du Đại Nham sống chết chưa biết ra sao, chàng bất giác thở dài não nuột.

Mưa lớn suốt mấy ngày đường, con ngựa Thanh Thông tuy tráng kiện nhưng cũng không chịu nổi, đến địa phận tỉnh Giang Tây, miệng nó bỗng sùi bọt trắng, thân sốt nóng bừng bừng. Trương Thúy Sơn thương cho con vật, đành đi chậm lại. Hôm chàng đến phủ Lâm An thì đã là chiều tối ngày ba mươi tháng Tư.

Trương Thúy Sơn vào một khách điếm, nghĩ thầm: "Mình đi đường chậm thế, không biết bọn Đô Đại Cẩm đã về tới tiêu cục chưa? Nhị ca và thất đệ hiện giờ không biết ở đâu nữa? Mình đã làm cho bọn tiêu đầu mất mặt, không tiện đến gặp họ, đêm nay mình thử đến tiêu cục thám thính xem sao".

Ăn xong bữa tối, chàng hỏi thăm chủ quán thì biết tiêu cục Long Môn nằm trên bờ Tây Hồ. Chàng ra phố mua một bộ khăn áo, thêm một chiếc quạt xếp vốn nổi tiếng của đất Hàng Châu, về tắm gội sạch sẽ, chải đầu gọn ghẽ, thay y phục mới, soi gương thấy mình đã trở thành một công tử điển trai, chẳng còn vẻ gì một hiệp sĩ uy chấn võ lâm. Chàng mượn bút mực, định đề thơ lên chiếc quạt, nào ngờ vừa cầm bút lên, tự nhiên không chủ ý mà viết liền bốn chữ "Ỷ Thiên Đồ Long" nọ, nét nào nét ấy cứ như muốn xuyên qua lớp giấy mà đi. Viết xong, chàng giơ lên ngắm, không khỏi đắc ý nghĩ thầm: "Học được sư phụ pho quyền pháp, ngay cả thư pháp của mình cũng tiến bộ hơn hẳn". Chàng phe phẩy chiếc quạt, tha thẩn dạo bước, nhắm hướng Tây Hồ mà đi.

Hồi đó nhà Tống đã bị diệt, phủ Lâm An rơi vào tay quân Nguyên. Lâm An vốn là kinh đô cũ của triều Nam Tống, người Mông Cổ sợ dân chúng còn nhớ tiền triều, lưu luyến chúa cũ, nên đặt trọng binh trấn áp. Để ra oai, quân Mông Cổ ở đây tỏ ra tàn bạo hơn những nơi khác, nên trong thành mười nhà thì đến chín bỏ trống, dân chúng đã dời đi vùng khác. Trăm năm trước, phủ Lâm An chốn chốn đàn sáo, nhà nhà liễu rủ, cảnh tượng phồn hoa nay chẳng còn.

Dọc đường Trương Thúy Sơn đi qua, chỗ nào cũng ngói vỡ tường xiêu, cảnh vật tiêu điều, đô thành hoa lệ nổi danh một thời của miền Giang Nam nay chỉ còn là hư phế. Trời chưa tối hẳn mà nhà nào cũng cửa đóng then cài, ngoài đường hiếm người qua lại, chỉ thấy kỵ binh Mông Cổ phi ngang phi dọc tuần tra.

Trương Thúy Sơn không muốn bị phiền nhiễu, mỗi khi nghe tiếng quân thiết kỵ tới gần là chàng lại náu mình vào một góc tường hoặc hẻm nhỏ để tránh né.

Thời trước cứ vừa chập tối là trên hồ đã đầy đèn đóm; nhưng bây giờ khi Trương Thúy Sơn tới mặt đê, chỉ thấy vùng hồ tối đen, không một bóng du khách. Theo lời chỉ dẫn của điếm tiểu nhị, chàng tìm đến tiêu cục Long Môn.

Tiêu cục Long Môn là một tòa nhà lớn gồm năm dãy, mặt hướng ra Tây Hồ, trước cổng có một đôi sư tử bằng đá trắng, khí thế oai phong. Trương Thúy Sơn từ xa nhìn tới, thong thả lại gần, thấy trên mặt hồ đối diện với tiêu cục có một du thuyền, mũi thuyền treo hai cái đèn lồng bằng vải sa màu xanh, dưới ánh đèn có một người đang ngồi tựa án uống rượu.

Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: "Người kia kể cũng có nhã hứng thật". Lại thấy cái lồng đèn lớn treo ngoài cổng tiêu cục không đèn nến gì, cánh cổng có vòng đồng sơn màu đỏ đóng im ỉm, hẳn là người trong tiêu cục đã ngủ cả rồi.

Trương Thúy Sơn đến trước cổng, nghĩ thầm: "Hơn một tháng trước có người đưa tam ca qua cổng này vào bên trong, không biết người ấy là ai?" Lòng dạ bùi ngùi, chàng bỗng nghe sau lưng có tiếng thở dài.

Trong bóng đêm tĩnh lặng, tiếng thở dài não nuột kia nghe như tiếng của hồn ma, Trương Thúy Sơn quay phắt lại, thấy sau lưng không có ai hết, chàng đảo mắt nhìn quanh, trừ người khách ngồi một mình trên chiếc thuyền nhỏ kia, bốn phía tịnh không một bóng người. Trương Thúy Sơn lấy làm lạ, liếc xéo du khách trên thuyền kia, thấy y áo xanh khăn vuông giống hệt chàng, cũng trang phục theo lối văn nhân, dưới ánh sáng mờ mờ chẳng nhìn rõ diện mạo, nhìn nghiêng chỉ thấy mặt y xanh như tàu lá. Ánh đèn lồng chiếu vào mặt y, màu nước hồ xanh lục hắt lên, nước lạnh thuyền đơn, tối tăm lạnh lẽo, trông như không phải người trần thế. Chỉ thấy y ngồi trên thuyền hồi lâu, rất lâu, trừ việc để gió thổi vào áo quần phơ phất, y tuyệt nhiên không hề động đậy.

Trương Thúy Sơn vốn định chọn chỗ tối vượt tường vào tiêu cục, nhưng thấy có người trên thuyền, cảm thấy đêm hôm làm như vậy không được quang minh chính đại cho lắm, bèn tới bên cổng cầm cái vòng đồng gõ vào cánh cổng coong coong ba tiếng. Trong đêm vắng, ba tiếng đó kêu rất to và vang đi rất xa. Đợi một lát, bên trong không có ai ra mở cổng, Trương Thúy Sơn lại gõ thêm ba tiếng nữa, lần này kêu to hơn, chàng dỏng tai nghe, bên trong vẫn không thấy tiếng chân người. Chàng lấy làm lạ, dùng tay đẩy cổng một cái, cánh cổng liền mở ra không một tiếng động. Thì ra cửa không cài then. Chàng bước vào gọi to:

– Đô tổng tiêu đầu có nhà không?

Rồi tiến vào đại sảnh.

Trong sảnh tối mò mò, không đèn đuốc gì cả. Ngay lúc đó bỗng nghe "sình" một tiếng, cánh cổng đóng sập lại.

Trương Thúy Sơn càng thấy lạ, vội nhảy ra cổng thì thấy cánh cổng đã đóng chặt, lại cài then ngang hẳn hoi, hiển nhiên trong nhà có người. Chàng cười hì hì mấy tiếng, nghĩ thầm: "Người ta giở trò quỷ gì đây?" Rồi mạnh dạn đi thẳng vào đại sảnh.

Vừa bước vào cửa sảnh, chợt nghe hơi gió từ trước sau phải trái thổi tới, có bốn người cùng ập tới tấn công. Trương Thúy Sơn nghiêng mình nhảy qua. Trong bóng tối hơi loáng qua một đạo bạch quang, thấy cả bốn người kia đều sử dụng khí giới. Chàng xoay sang trái một bước, tiến qua phía tây, hữu chưởng từ trái chém ngang sang phải, nghe "bốp" một tiếng, trúng vào huyệt Thái Dương của một người, kẻ đó lập tức ngã lăn ra bất tỉnh; tiếp đó tả chưởng từ góc phải phía trên đánh chéo xuống góc trái bên dưới, trúng mạng sườn một người khác. Hai chiêu đó là một nét ngang, một nét phẩy của chữ "Bất". Hai cú đòn vừa xong, tay trái gạt xuống, tay phải đấm ra, đủ bốn nét của chữ "Bất", đánh ngã luôn bốn đối thủ.

Chàng không biết bọn mai phục trong sảnh để tập kích hạng người nào nên ra tay không lấy gì làm nặng, mỗi chiêu chỉ sử chừng ba thành kình lực. Người thứ tư bị cú đấm phải lùi lại mấy bước, nghe "rắc rắc", đã làm gãy một chiếc ghế gỗ cứng, liền quát to:

– Ngươi tàn ác, hạ độc thủ như vậy; nếu là nam tử hán đại trượng phu thì hãy nói rõ tính danh.

Trương Thúy Sơn cười đáp:

– Nếu ta thực sự hạ độc thủ, liệu ngươi còn sống được chăng? Tại hạ là Trương Thúy Sơn phái Võ Đang đây.

Người kia kêu "ồ" một tiếng tựa hồ vô cùng kinh ngạc, nói:

– Có thực người là Trương ngũ.. Trương ngũ.. Ngân Câu Thiết Hoạch Trương Thúy Sơn phái Võ Đang? Ngươi không mạo danh đó chứ?

Trương Thúy Sơn mỉm cười, đưa tay vào bên hông lấy ra hai thứ binh khí, "Lạn ngân hổ đầu câu" và "Tân thiết phán quan bút", đánh hai thứ vào nhau loong coong một chập, tia lửa bắn ra tung tóe.

Các tia lửa ấy giúp Trương Thúy Sơn nhận ra cả bốn người kia đều mặc tăng y màu vàng, hóa ra họ là hòa thượng. Có hai người ở ngay đối diện nên chàng nhìn thấy diện mạo họ. Chàng thấy hai người đó mặt đầy vết máu, ánh mắt lộ vẻ oán độc, tựa hồ họ muốn băm thịt lột da chàng mới hả. Chàng ngạc nhiên hỏi:

– Bốn vị đại sư là ai?

Chỉ nghe một tăng nhân kêu lên:

– Mối huyết hải thâm cừu này hôm nay chưa trả được, đi thôi!

Đoạn bốn hòa thượng cùng đứng dậy chạy ra cửa, trong đó một người chân khập khiễng, được vài bước đã ngã lăn, tựa hồ bị đòn của Trương Thúy Sơn quá nặng. Hai hòa thượng quay lại đỡ lên, dìu y ra khỏi sảnh.

Trương Thúy Sơn nói với theo:

– Bốn vị hượm đã! Cái gì mà huyết hải..

Lời chưa nói hết, bốn hòa thượng đã vượt tường chạy mất.

Trương Thúy Sơn thấy chuyện tối nay hết sức lạ lùng, suy nghĩ một hồi vẫn không hiểu nổi nguyên do tại sao trong tiêu cục Long Môn lại có bốn hòa thượng mai phục? Chàng vừa bước vào đã bị họ tập kích, lại còn nói cái gì "huyết hải thâm cừu"? Chàng nghĩ thầm: "Chuyện này phải hỏi người trong tiêu cục mới giải được nghi nan", bèn cao giọng gọi:

– Đô tổng tiêu đầu có nhà hay không? Đô tổng tiêu đầu có nhà hay không?

Đại sảnh trống không, vang vọng tiếng chàng dội lại, song tuyệt nhiên không có ai trong tiêu cục trả lời.

Chàng nghĩ thầm: "Chắc chắn không phải họ ngủ say đến thế. Chẳng lẽ họ sợ ta nên trốn hết cả rồi sao? Lẽ nào mọi người trong tiêu cục đều trốn đi cả, không còn một ai?" Chàng thò tay vào bọc lấy bùi nhùi đánh lửa, thắp sáng lên, thấy trên bàn trà có một cái chân nến cháy dở, liền châm vào đó, đi ra phía hậu đường, đi được vài bước thì thấy một phụ nữ nằm sấp dưới đất, không hề động đậy. Trương Thúy Sơn gọi:

– Đại thư, sao nằm đó?

Người phụ nữ vẫn không cựa quậy. Trương Thúy Sơn cúi xuống lay vào vai, soi nến vào mặt chị ta, bất giác kêu lên kinh ngạc.

Người phụ nữ kia mặt tươi cười, nhưng các cơ lạnh cứng, đã chết từ lâu. Khi chàng lay vai chị ta, chàng đã nghi rằng có lẽ chị ta đã chết, nhưng tại sao còn cười? Ban đêm tự dưng nhìn thấy thế thì không khỏi giật mình. Chàng đứng thẳng lên, thấy sau cây cột bên trái cũng có một người nằm thẳng cẳng, tới gần thấy đó là một ông già trang phục như một nô bộc, mặt cũng mỉm cười ngô nghê, nằm chết ở đó.

Trương Thúy Sơn rất hồi hộp, tay trái chàng rút cái Hổ đầu câu bên thắt lưng, tay phải giơ cao cây nến, từng bước từng bước đi xem xét, chỉ thấy chỗ này một người, chỗ kia một người, cả trong lẫn ngoài đến mấy chục mạng người nằm chết la liệt, xem chừng tiêu cục Long Môn có lẽ không còn ai sống sót. Trương Thúy Sơn hành tẩu giang hồ, bình sinh những cảnh thảm khốc từng chứng kiến không ít, nhưng nhìn cái cảnh sát diệt mãn môn bày trước mắt thế này thì chàng không khỏi trống ngực đập thình thình, chỉ thấy bóng mình trên tường cứ lập lòe, hóa ra tay chàng cầm nến run run làm cho bóng in lên tường rung theo.

Chàng dừng lại, nhớ đến câu "Dọc đường nếu để xảy ra sơ suất, ta sẽ giết sạch già trẻ lớn bé của tiêu cục Long Môn không chừa một ai". Cảnh tượng trước mắt mọi người ở tiêu cục Long Môn đều chết, rõ ràng là do Đô Đại Cẩm hộ tống Du Đại Nham không chu đáo. Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: "Kẻ hạ độc thủ như thế này hẳn là vì Du tam ca, vậy thì kẻ đó phải là hảo bằng hữu của tam ca. Kẻ đó đã có bản lĩnh cao hơn Đô Đại Cẩm rất nhiều, lại biết dọc đường có thể xảy ra hung hiểm, sao không thân chinh hộ tống tam ca về núi Võ Đang? Tam ca là người nhân hậu chính trực, ghét kẻ ác như kẻ thù, sao lại giao du với kẻ có tâm địa hiểm độc như vậy?" Càng nghĩ càng thêm nhiều nghi nan, chàng cất bước từ sảnh phía tây đi ra. Dưới ánh nến thấy có hai hoàng y tăng nhân tựa lưng vào tường, mắt mở trừng trừng, cười nhe hết cả răng.

Trương Thúy Sơn vội lùi hai bước, giơ Hổ đầu câu lên, hỏi to:

– Hai vị làm gì ở đây?

Hai hòa thượng kia cứ ngồi yên bất động, chàng chợt hiểu hai người ấy cũng đã chết từ lâu; bỗng chàng lạnh toát cả người, thốt lên:

– Nguy tai! Huyết hải thâm cừu, huyết hải thâm cừu..

Lúc này chàng mới hiểu tại sao bốn hòa thượng ban nãy lại nói "Ngươi tàn ác, hạ độc thủ như vậy; nếu là nam tử hán đại trượng phu thì hãy nói rõ tính danh", rồi "Mối huyết hải thâm cừu hôm nay chưa trả được". Xem ra món nợ máu mấy chục mạng của tiêu cục Long Môn đều bị trút xuống đầu chàng. Lúc ấy vì không hiểu chuyện này nên chàng chẳng những xưng rõ tính danh, lại còn để lộ món binh khí thành danh là Ngân câu thiết hoạch của mình. Nhưng lai lịch của bốn hoàng y hòa thượng ấy là thế nào nhỉ?

Trương Thúy Sơn xuất thủ quá nhanh, chỉ bằng bốn nét bút của tự quyết chữ "Bất" đã đánh ngã cả bốn tăng nhân, không kịp nhận biết gia số võ công của đối phương; nhưng kình lực của bốn tăng nhân khi tấn công đều rất cương mãnh, rõ ràng là phong cách ngoại gia của phái Thiếu Lâm. Đô Đại Cẩm là đệ tử phái Thiếu Lâm, mấy tăng nhân kia hẳn là do y mời đến cứu viện cho tiêu cục Long Môn; vậy không biết Du nhị ca và Mạc thất đệ hiện giờ ở đâu, sư phụ đã sai họ tới bảo hộ già trẻ lớn bé trong tiêu cục Long Môn, với tài năng của nhị ca sao lại để người ta hạ độc thủ như thế này?

Trương Thúy Sơn trầm ngâm suy nghĩ, lát sau hiểu một phần nguyên do, nghĩ thầm: "Bốn hòa thượng kia bỏ đi, phái Thiếu Lâm thể nào cũng đổ tội lên đầu ta nhưng cuối cùng chân tướng sẽ lộ rõ hung thủ là ai; hai phái Võ Đang và Thiếu Lâm liên thủ tra xét, nhất định sẽ lần ra manh mối. Hiện tại hãy cứ để nguyên như thế này, mình phải đi tìm nhị ca và thất đệ trước đã". Đoạn chàng thổi tắt nến, đi tới bên tường, nhảy ra ngoài.

Chân chưa chạm đất, bỗng nghe "vù" một tiếng thật lớn, một thứ binh khí nặng đánh ngang qua thắt lưng, kèm theo tiếng quát:

– Trương Thúy Sơn, ngã này!

Trương Thúy Sơn lơ lửng trên không, chẳng có cách gì né tránh, cú đánh của đối phương đã hiểm lại mạnh, trong lúc nguy ngập, chàng giơ tả chưởng đè xuống binh khí của địch, mượn sức đẩy của nó nhẹ nhàng nhảy trở lên bờ tường. Chiêu này chính là nét mác trong tự quyết chữ "Võ", đúng như câu "Sai trì yến khởi, chấn tốc hồng phi, lâm nguy chế tiết, trung hiểm đằng ky" [21], trong đường tơ kẽ tóc đã chuyển nguy thành an.

Trong lúc lâm vào tình thế hết sức hung hiểm, chàng không ngờ pho võ công mới học được khi thì nặng như đá lở, lúc lại nhẹ tựa sương khói, không tốn sức mà hóa giải được đòn sấm sét của đối phương. Chân trái vừa đặt trên bờ tường, tay phải đã rút phán quan bút ra; biết rằng ngón đòn vừa rồi của đối phương vừa hiểm vừa mạnh là của một hảo thủ chẳng thể coi thường.

Người vừa xuất thủ tập kích thấy Trương Thúy Sơn có thể nhẹ nhàng khéo léo tránh thoát, thật ngoài dự liệu, không nén nổi cũng phải thốt lên "ái chà!" rồi nói:

– Hảo tiểu tử, ngươi quả chẳng vừa!

Trương Thúy Sơn tay trái cầm móc câu, tay phải cầm bút, mũi câu và ngọn bút đều chĩa chếch xuống phía dưới, là chiêu "Cung linh giáo hối", biểu thị thái độ khiêm nhường cung kính khi đối địch với bậc tiền bối võ lâm. Vừa rồi đối phương xuất thủ mạnh và hiểm, Trương Thúy Sơn giả dụ chưa tình cờ học được pho võ công được biến hóa từ thư pháp ra thì có lẽ chàng đã gãy lưng nát xương; trong bụng tuy rất tức giận, song chàng nhớ lời sư huấn, không dám thất lễ với hảo thủ võ lâm.

Trong bóng đêm, chàng thấy ở dưới chân tường, hai bên phải trái có hai hoàng y tăng nhân án ngữ, mỗi vị cầm một cây thiền trượng to chắc. Vị đứng phía trái dộng mạnh cây thiền trượng xuống đất nghe "hịch" một cái, nói:

– Trương Thúy Sơn, Võ Đang thất hiệp các ngươi cũng được coi là nhân vật thành danh trên chốn giang hồ, sao lại hành sự tàn ác như vậy?

Trương Thúy Sơn nghe đối phương gọi thẳng tên chàng, không gọi là Trương ngũ hiệp, cũng không gọi là Trương ngũ gia thì trong bụng hơi bực, lạnh lùng nói:

– Đại sư chẳng buồn hỏi duyên do, phải trái gì hết đã nấp ngay sau tường mà lén lút tập kích, như thế đáng gọi là hành vi của anh hùng hảo hán chăng? Vẫn nghe võ công phái Thiếu Lâm lừng danh thiên hạ, ai ngờ thủ đoạn ám toán cũng có bí quyết độc đáo khác người.

Tăng nhân đó gầm lên, cầm ngang cây thiền trượng nhảy lên bờ tường, người chưa tới nhưng đầu thiền trượng đã chọc tới. Trương Thúy Sơn cảm thấy một luồng kình phong đâm thẳng trước ngực, liền vung hổ đầu câu ngăn chặn thế đến của thiền trượng; phán quan bút lập tức điểm ra, "cạch" một tiếng, ngọn bút trúng ngay thân cây thiền trượng. Tăng nhân chỉ thấy cánh tay bị chấn động, người không thể đứng lên bờ tường nữa mà nặng nề rơi phịch xuống đất. Nhưng sau chiêu vừa rồi, Trương Thúy Sơn cũng cảm thấy hai cánh tay tê chồn, tức là lực cánh tay của tăng nhân rất mạnh; chàng bèn quát:

– Hai vị là ai, hãy xưng pháp hiệu đi!

Tăng nhân đứng bên phải từ tốn nói:

– Bần tăng là Viên Âm, còn kia là sư đệ Viên Nghiệp.

Trương Thúy Sơn chúc mũi binh khí xuống, vòng tay nói:

Hóa ra là hai vị đại sư thuộc hàng chữ "Viên" của phái Thiếu Lâm. Tại hạ ngưỡng mộ thanh danh đã lâu, không biết các vị đại sư có điều chi chỉ giáo?

Viên Âm nói, giọng nghe yếu ớt, hơi thở hổn hển:

– Chuyện này liên quan đến đại sự môn hộ của hai phái Thiếu Lâm và Võ Đang, sư huynh đệ bần tăng không đủ tư cách để nói, song vụ việc xảy ra tối nay, bần tăng muốn hỏi: Trai gái mấy chục mạng người ở tiêu cục Long Môn, trong đó có cả hai sư điệt của bần tăng, đều chết dưới tay Trương ngũ hiệp. Cổ nhân có câu "Nhân mệnh quan thiên" [22], sao cho an lành về sau, thử hỏi Trương ngũ hiệp định thế nào?

Câu nói của hòa thượng tựa hồ khiêm hòa từ tốn, nhưng lời lời kết tội, xem ra vị này lợi hại hơn Viên Nghiệp nhiều. Trương Thúy Sơn cười nhạt nói:

– Án mạng ở tiêu cục Long Môn do kẻ nào gây ra, chính tại hạ cũng đang lấy làm lạ. Đại sư mở miệng liền gán ngay là do độc thủ của tại hạ, đại sư có tận mắt chứng kiến hay không?

Viên Âm gọi:

– Tuệ Phong, ngươi hãy ra đối chất với Trương ngũ hiệp.

Từ sau các gốc cây bước ra bốn hoàng y tăng nhân, chính là bốn người bị Trương Thúy Sơn đánh ngã bên trong tiêu cục ban nãy bằng một chiêu trong tự quyết chữ "Bất". Người có pháp danh Tuệ Phong khom lưng nói:

– Khải bẩm sư bá, mấy chục mạng người ở tiêu cục Long Môn, trong đó có cả hai sư đệ Tuệ Thông, Tuệ Quang, đều là.. do tên ác tặc họ Trương kia hạ độc thủ.

Viên Âm hỏi:

– Hai ngươi có tận mắt chứng kiến hay không?

Tuệ Phong đáp:

– Đích thực chứng kiến tận mắt, nếu bốn đệ tử chúng con không chạy nhanh thì cũng bỏ mạng bởi tay tên ác tặc này rồi.

Viên Âm nói:

– Đệ tử Phật môn không được bịa đặt. Việc này liên quan đến hai đại môn phái Thiếu Lâm chúng ta và phái Võ Đang, ngươi tuyệt nhiên không được nói bậy.

Tuệ Phong liền quỳ xuống, chắp tay nói:

– Có Đức Phật ở trên, đệ tử Tuệ Phong xin thưa, quả thực chân tình, quyết không dám lừa dối sư bá.

Viên Âm nói:

– Ngươi chứng kiến những gì, hãy kể lại đầu đuôi xem nào.

Trương Thúy Sơn nghe tới đó, liền từ trên bờ tường nhảy xuống. Viên Nghiệp ngỡ chàng định sát hại Tuệ Phong, bèn vung thiền trượng quét ngang đầu chàng. Trương Thúy Sơn rùn mình xuống, vọt lên trước, thoáng cái đã vòng ra sau lưng Tuệ Phong. Viên Nghiệp một đòn chưa trúng, theo chiêu số của Phục Ma chưởng, vốn phải hồi chuyển đầu cây trượng đâm tới vai của Trương Thúy Sơn, nhưng lúc này chàng đã ở sau lưng Tuệ Phong, nếu hồi chuyển cây thiền trượng, ắt sẽ đánh vào Tuệ Phong trước, bởi thế Viên Nghiệp phải thu thiền trượng về, quát:

– Ngươi định giở trò gì?

Trương Thúy Sơn nói:

– Ta cần nghe thật rõ, xem hắn kể hắn thấy ta sát hại người trong tiêu cục Long Môn như thế nào.

Tuệ Phong thấy Trương Thúy Sơn đã đứng cách mình không đầy hai thước, chỉ cần vung binh khí một cái là y sẽ táng mạng tức thời, dù có hai vị sư bá ở đó cũng chẳng kịp cứu; nhưng y trong lòng giận dữ nên chẳng sợ hãi, lớn tiếng nói:

– Sư thúc Viên Tâm ở Giang Bắc nhận được thư cáo cấp của sư huynh Đô Đại Cẩm, liền phái hai vị sư huynh Tuệ Thông, Tuệ Quang gấp đi cứu nguy, sau lại lệnh cho đệ tử đem theo ba sư đệ đến tiêu cục Long Môn. Chúng con vừa đến tiêu cục thì Tuệ Quang sư huynh nói đêm nay chỉ e có cường địch tấn công, nên sai bốn người chúng con phục ở chân tường phía đông, đón địch, còn dặn phải cẩn thận đề phòng kẻ địch dùng kế điệu hổ li sơn, không được tự ý rời khỏi nơi đó.

Viên Âm giục:

– Rồi thế nào, nói mau đi!

Tuệ Phong kể tiếp:

– Trời tối một lúc, thì nghe có tiếng sư huynh Tuệ Thông chửi mắng và động thủ với ai đó ở hậu sảnh, rồi nghe sư huynh rú lên thảm thiết, tựa hồ bị trọng thương. Đệ tử vội chạy về phía đó, chỉ thấy Tuệ Thông đã.. đã viên tịch, tên ác tặc họ Trương này..

Nói tới đó, Tuệ Phong giậm chân, giơ tay chỉ thẳng mặt Trương Thúy Sơn, nói:

– Chính ta thấy ngươi dùng một chưởng đánh Tuệ Quang sư huynh văng vào tường chết tươi. Ta tự biết không phải là đối thủ của tên ác tặc, nên nằm phục ở bên ngoài cửa sổ, thấy ngươi chạy thẳng ra hậu viện giết người, sau thấy có tám người của tiêu cục từ hậu viện chạy ra, ngươi đuổi theo họ, dùng chỉ[23] điểm chết từng người một, già trẻ lớn bé không còn một ai, bấy giờ ngươi mới nhảy qua tường đi mất.

Trương Thúy Sơn lẳng lặng đứng nghe. Tuệ Phong nói, nước bọt bắn ra, văng cả vào mặt chàng. Chàng cũng không né tránh, không động thủ, chỉ lạnh lùng hỏi:

– Rồi sau thế nào?

Tuệ Phong phẫn uất nói:

– Rồi thế nào ư? Rồi ta trở lại bức tường phía đông, bàn với ba vị sư đệ, cùng thấy ngươi võ công quá mạnh, bốn người chúng ta địch không nổi, chỉ còn cách xem xét tình hình, sau sẽ tính. Ai ngờ đợi chưa lâu thì ngươi lại đạp cửa xông vào, còn gọi đích danh Đô tổng tiêu đầu ra đối đáp. Bốn người chúng ta biết ra là chết, song cũng liều sống mái với ngươi một phen. Ta hỏi tính danh của ngươi, ngươi chẳng phải đã tự báo danh hiệu, là "Ngân Câu Thiết Hoạch Trương Thúy Sơn" đó ư? Ta lúc đầu chưa tin, nghĩ rằng Võ Đang thất hiệp có khi nào lại tàn ác giết người không chớp mắt như thế, nhưng khi ngươi tự lộ binh khí thì còn là giả được sao?

Trương Thúy Sơn nói:

– Ta tự báo tính danh, để lộ binh khí, việc đó không phải là giả, bốn sư huynh đệ các ngươi cũng đúng là do ta đánh ngã. Nhưng ngươi hãy nói lại một lần nữa coi: Án mạng mấy chục người trong tiêu cục này, đích thị ngươi tận mắt chứng kiến họ Trương ta ra tay giết hại?

Lúc ấy Viên Âm phất tay áo một cái, kéo Tuệ Phong ra xa vài thước, nghiêm nghị nói:

– Ngươi hãy nhắc lại một lần nữa, để cho vị Trương ngũ hiệp lừng danh thiên hạ kia không còn cách gì chối cãi.

Viên Âm kéo Tuệ Phong ra khỏi nơi nguy hiểm, là đề phòng Trương Thúy Sơn trong cơn giận dữ có thể đột nhiên sát nhân diệt khẩu, không còn ai đối chứng.

Tuệ Phong nói:

– Được, để ta nhắc lại lần nữa chính mắt ta chứng kiến, thấy ngươi xuất chưởng đánh chết hai vị sư huynh Tuệ Thông và Tuệ Quang, thấy ngươi xuất chỉ điểm chết tám người trong tiêu cục.

Trương Thúy Sơn nói:

– Ngươi có nhìn rõ diện mạo của ta hay không? Y phục của ta như thế nào?

Đoạn chàng đánh lửa châm đuốc, chiếu ngay vào mặt mình. Tuệ Phong chăm chú quan sát diện mạo của chàng, hậm hực nói:

– Y phục của ngươi đúng như thế này, áo dài khăn vuông, không sai. Lúc ấy tay trái ngươi cầm một cái quạt xếp, cái quạt đó hiện đang gài sau gáy ngươi kia.

Trương Thúy Sơn giận như điên, không hiểu vì sao kẻ kia lại vu hãm cho chàng như thế, liền giơ cao cây đuốc, tiến thêm hai bước, quát:

– Ngươi có dám nhắc lại một lần nữa kẻ giết người là Trương Thúy Sơn ta đây chứ không phải ai khác?

Tuệ Phong bỗng nhiên đôi mắt phát ra ánh kỳ dị, tay chỉ về phía chàng, miệng ú ớ:

– Ngươi.. ngươi.. ngươi không..

Đoạn ngã vật xuống đất, nằm lăn ra. Viên Âm và Viên Nghiệp cùng hoảng hốt kêu lên, chạy tới đỡ y dậy, chỉ thấy y hai mắt mở trừng trừng, đầy vẻ kinh hoàng, khí đã tuyệt hoàn toàn.

Viên Âm nói:

– Ngươi.. ngươi đánh chết hắn rồi ư?

Sự việc xảy ra quá nhanh, Viên Âm và Viên Nghiệp dĩ nhiên vừa kinh sợ vừa tức giận, Trương Thúy Sơn cũng bị bất ngờ, vội quay đầu lại, chỉ thấy lùm cây phía sau rung động nhẹ. Trương Thúy Sơn quát:

– Không được chạy!

Chàng tung mình nhảy tới, biết trong lùm cây có người ẩn núp, xông vào đó vô cùng nguy hiểm, nhưng trong tình thế này nếu không bắt được hung thủ vừa sử dụng ám khí giết người thì chàng khó thoát khỏi liên can.

Nào ngờ thân còn lơ lửng trên không, chàng nghe có tiếng ù ù phía sau, hai cây thiền trượng từ hai bên tả hữu đánh tới, đồng thời nghe hai hòa thượng quát:

– Ác tặc đừng hòng bỏ chạy!

Trương Thúy Sơn quét bút và câu xuống, đưa tay ra sau sử tự quyết chữ "đao", ngân câu móc vào đầu cây thiền trượng của Viên Nghiệp, phán quan bút điểm vào cây thiền trượng của Viên Âm, thân hình mượn sức nhảy lên bờ tường, đưa mắt chăm chú nhìn vào lùm cây, chỉ thấy tán cây hơi rung động, còn người nấp trong đó đã biến mất tăm.

Viên Nghiệp liên tiếp gầm lên, vung thiền trượng định nhảy lên bờ tường liều mạng giao đấu. Trương Thúy Sơn quát:

– Đuổi theo hung thủ là cần kíp hơn cả, hai vị chớ có ngăn cản.

Viên Âm hổn hển nói:

– Ngươi.. ngươi giết người ngay trước mắt ta, còn định chối cãi nữa ư?

Trương Thúy Sơn vung quét hổ đầu câu, không để cho Viên Nghiệp nhảy lên bờ tường.

Viên Âm nói:

– Trương ngũ hiệp, hôm nay chúng ta cũng không cần lấy mạng của ngươi, ngươi hãy hạ khí giới, theo chúng ta về Thiếu Lâm tự là được.

Trương Thúy Sơn nổi giận nói:

– Hai vị làm vướng chân vướng tay ta, để cho hung thủ chạy mất, đến bây giờ vẫn còn chưa rõ đầu đuôi thế nào, đòi ta theo các vị về Thiếu Lâm tự làm gì?

Viên Âm nói:

– Về Thiếu Lâm tự nghe phương trượng bổn tự phán định, ngươi sát hại liền một lúc ba mạng người của bổn tự, chuyện tày đình thế này, bần tăng chẳng dám định đoạt.

Trương Thúy Sơn cười khẩy:

– Uổng cho đại sư là hảo thủ thuộc hàng chữ "Viên" của phái Thiếu Lâm, để hung thủ đào tẩu ngay trước mắt mà chẳng hay biết.

Viên Âm nói:

– Thiện tai, thiện tai! Ngươi sát hại nhân mạng, quyết không thể để cho ngươi đào tẩu.

Trương Thúy Sơn nghe Viên Âm cứ khăng khăng coi chàng là hung thủ thì càng lúc càng phẫn nộ, vừa đấu khẩu với y vừa ngăn chặn không cho Viên Nghiệp nhảy lên bờ tường, cuộc giao đấu mỗi lúc một mãnh liệt, chàng cười khẩy, nói:

– Hai vị đại sư có bản lĩnh thì bắt ta xem có nổi chăng?

Viên Nghiệp chống cây thiền trượng xuống đất đẩy một cái, mượn sức nhảy lên cao, Trương Thúy Sơn cũng nhảy lên, khinh công của chàng cao hơn hẳn Viên Nghiệp, từ trên đánh xuống, khác gì cưỡi gió. Viên Nghiệp giơ ngang thiền trượng định đỡ, hổ đầu câu của Trương Thúy Sơn chuyển qua, nghe "xoẹt" một tiếng, đã móc trúng vai Viên Nghiệp, máu tươi chảy ròng ròng. Viên Nghiệp kêu rống lên, ngã huỵch xuống đất. Đấy là Trương Thúy Sơn hạ thủ lưu tình, nếu không chỉ hướng móc câu xéo qua một chút, móc vào yết hầu Viên Nghiệp thì y bỏ mạng tại chỗ rồi.

Viên Âm kêu lên:

– Viên Nghiệp sư đệ, bị thương nặng không?

Viên Nghiệp giận dữ nói:

– Không sao cả! Sư huynh mau xuất thủ, khỏi cần nhiều lời!

Viên Âm ho một tiếng, vung thiền trượng đánh lên. Viên Nghiệp vẫn hùng hổ, bất chấp vết thương ở vai, cứ múa trượng như gió, hai bên cùng xáp lại công kích. Trương Thúy Sơn thấy lực cánh tay của hai hòa thượng rất mạnh, họ sử dụng thứ khí giới cứng nặng, nếu để họ nhảy lên được bờ tường, một mình chàng chống đỡ đôi bên sẽ khó bề thủ thắng, liền phòng bị môn hộ cực kỳ nghiêm mật, từ trên cao đánh xuống, hai hòa thượng chẳng có cách gì đánh lên được. Ba hòa thượng thuộc hàng chữ "Tuệ" võ công thấp hơn nhiều, thấy hai vị sư bá đánh mãi chẳng ăn thua gì, cũng muốn nhảy vào trợ lực, nhưng biết chen vào chỗ nào?

Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: "Hiện tại cách hay nhất là phải điều tra ra hung thủ, chẳng nên luẩn quẩn ở đây mãi", bèn giơ bút và câu chéo ra trước mặt để ngăn chặn mọi thế công đánh tới, hú một tiếng, đang định nhảy vọt đi, bỗng nghe phía bên trong tường có người rống to như sấm, từ sau lưng có một luồng kình phong đánh tới. Trương Thúy Sơn nhảy xuống đất, thấy một tăng nhân cao lớn vọt qua tường, giơ cả hai tay ra đoạt binh khí của chàng. Trong bóng đêm không nhìn rõ diện mạo người ấy, chỉ thấy mười ngón tay y như móc câu, trảo cứng mà đoạt cũng mạnh, chính là "Hổ trảo công" cực kỳ lợi hại của phái Thiếu Lâm. Viên Nghiệp nói:

– Viên Tâm sư huynh, dẫu thế nào cũng đừng để tên ác tặc ấy chạy thoát.

Trương Thúy Sơn từ khi học võ thành công, hiếm khi gặp đối thủ; nửa tháng trước chàng lại học thêm được "Ỷ Thiên Đồ Long công" nên võ nghệ càng cao hơn. Nay thấy tăng nhân kia công kích uy mãnh, để chọc tức đối phương, chàng bèn giắt hổ đầu câu cùng phán quan bút vào lưng, nói:

– Hỡi ba đại sư Thiếu Lâm tự, hãy cùng liên thủ xông tới đây, Trương Thúy Sơn ta đâu có ngán!

Thấy tay trái của Viên Tâm trảo tới, hữu chưởng của chàng vờn ra thăm dò thật nhanh rồi ngoắt ngón tay chộp lại, nghe "soạt" một tiếng đã xé rách một mảnh tay áo tăng bào của Viên Tâm. Thủ trảo của Viên Tâm đang định chộp tới vai Trương Thúy Sơn, thì chân trái của chàng đã đá lên trúng ngay đầu gối của y.

Nào ngờ hạ bàn công của Viên Tâm cực kỳ vững chắc, đầu gối bị trúng một cước rất nặng, nhưng y chỉ loạng choạng chứ không ngã. Viên Tâm gầm lên như hổ, tay phải lại chộp tới. Đồng thời hai cây thiền trượng của Viên Âm và Viên Nghiệp cũng đánh tới, một thọc vào sườn, một bổ xuống đầu. Viên Âm nói năng yếu ớt, lại húng hắng ho như đang bị bệnh nặng, song thực ra trong ba hòa thượng kia, y là vị có võ công cao nhất. Cây thiền trượng bằng đồng nặng mấy chục cân mà y sử dụng linh hoạt như thứ đao kiếm bình thường, đâm đỡ chém gạt nhẹ nhàng như không.

Trương Thúy Sơn gặp được đối thủ, nghĩ thầm: "Võ Đang ta và phái Thiếu Lâm những năm gần đây cùng lừng danh trong võ lâm, song ai cao ai thấp, chưa hề có dịp so sánh. Hôm nay chính là một dịp hay để thử xem thủ pháp của các cao tăng Thiếu Lâm tới mức nào". Chàng liền thi triển hai tay không đối phó với hai cây thiền trượng, một đôi hổ trảo, chàng cứ tung hoành tới lui, chém chặt chộp phạt, chỉ chọc chưởng tạt, tuy là một địch ba mà dần dần lại chiếm thượng phong.

Võ công của hai phái Võ Đang và Thiếu Lâm mỗi bên có sở trường sở đoản riêng. Phái Võ Đang có được bậc kỳ tài cái thế Trương Tam Phong, thì phái Thiếu Lâm có hơn ngàn năm truyền thụ tu chính, nào phải loại thường. Chẳng qua hiện thời võ công của Trương Thúy Sơn thuộc hàng đệ nhất cao thủ trong phái Võ Đang, còn ba hòa thượng Viên Âm, Viên Tâm, Viên Nghiệp tuy võ công cũng cao, song chỉ thuộc hàng thứ hai ở Thiếu Lâm tự mà thôi. Giao đấu càng lâu, Trương Thúy Sơn càng thần định khí túc, động tác nhẹ nhàng. Chàng tay phải vươn ra sử thế móc trong tự quyết chữ "Long", chộp lấy thiền trượng của Viên Nghiệp, thuận tay hất ra trúng vào thiền trượng của Viên Âm đang đánh tới, tức là mượn lực đánh địch, chỉ nghe "choang" một tiếng lớn điếc cả tai, lực khí của Viên Âm, Viên Nghiệp đều mạnh, cộng thêm lực đạo của Trương Thúy Sơn, khiến cho hổ khẩu của hai hòa thượng bị chấn động ứa máu. Viên Tâm vội xông tới tiếp cứu. Trương Thúy Sơn đưa chân ra móc một cái, lật chưởng vỗ vào lưng y, lại là mượn lực đánh địch, mượn sức y đang xông tới trước mà đẩy y ngã chúi xuống. Trương Thúy Sơn cười khẩy, nói:

– Muốn bắt ta đem về Thiếu Lâm tự, chỉ e các vị phải khổ luyện vài năm nữa.

Đoạn quay lưng bỏ đi. Viên Tâm bật dậy quát:

– Hung đồ chớ hòng đào tẩu!

Viên Âm và Viên Nghiệp cũng đuổi theo chàng. Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: "Ba lão hòa thượng này cứ quấn lấy chân mình mãi thế này, chẳng lẽ phải đánh chết họ?" Liền đề khí thi triển khinh công vọt đi.

Viên Tâm và Viên Nghiệp hò hét ầm ĩ đuổi theo. Khinh công của họ không bằng Trương Thúy Sơn, chỉ vừa hét to:

– Bắt lấy hung thủ giết người! Ác tặc đừng hòng tẩu thoát!

Vừa chạy đuổi theo chàng trên bờ hồ. Trương Thúy Sơn cười thầm trong bụng, nghĩ: "Các ngươi đuổi sao cho kịp ta!" Bỗng nghe Viên Tâm và Viên Nghiệp không hẹn mà cùng kêu:

– Ối!

Viên Tâm cũng rú lên một tiếng đau đớn, tựa hồ bị trúng thương nặng.

Trương Thúy Sơn kinh ngạc ngoảnh lại, chỉ thấy ba hòa thượng lấy tay ôm mắt bên phải, tựa hồ mắt đó bị trúng ám khí. Quả nhiên nghe Viên Tâm lớn tiếng quát:

– Họ Trương kia, ngươi có giỏi thì đánh mù nốt mắt trái của ta đi!

Trương Thúy Sơn càng ngạc nhiên hơn: "Chẳng lẽ mắt phải của y đã bị người nào làm mù rồi ư? Rốt cuộc là ai ám trợ mình chứ?" Chợt nghĩ ra, bèn gọi:

– Thất đệ, thất đệ, đệ ở đâu?

Trong Võ Đang thất hiệp, Mạc Thanh Cốc là người sử dụng ám khí tài tình hơn cả nên Trương Thúy Sơn mới đoán là thất đệ đã tới.

Chàng gọi mấy tiếng nhưng không thấy ai trả lời. Trương Thúy Sơn vội chạy một vòng quanh mấy cây liễu lớn ven hồ, song chẳng thấy một bóng người.

Viên Nghiệp bị bắn mù một mắt, tức giận điên cuồng, bất kể sống chết muốn xông lên liều mạng với Trương Thúy Sơn. Nhưng Viên Âm biết dù có lành lặn cả hai mắt, ba người họ cũng chẳng thể địch nổi Trương Thúy Sơn, nên níu giữ Viên Nghiệp lại:

– Viên Nghiệp sư đệ, việc báo thù đâu phải chuyện nhất thời. Vụ này dù ta và sư đệ có bỏ qua thì phương trượng và hai vị sư thúc cũng chẳng bỏ qua đâu.

Trương Thúy Sơn thấy ba hòa thượng không đuổi theo chàng nữa thì lòng đầy nghi hoặc: "Người náu mình trong bóng tối ám trợ ta là ai?" Chàng không dám ở lại lâu bên bờ hồ, vội rảo bước trở về khách điếm, được hơn mười trượng bỗng thấy đám lau sậy bên hồ không ngừng chao động.

Lúc này không có gió, lau sậy chao động, hẳn là có người nấp bên trong. Trương Thúy Sơn nhẹ bước tới gần, đang định lên tiếng hỏi, thì từ trong đám lau sậy có một người nhảy vụt ra, vung đao bổ xuống đầu chàng, miệng thét to:

– Ngươi không chết thì ta chết!

Trương Thúy Sơn né nghiêng người, chân đá lên, trúng cổ tay kẻ kia, cây đao vuột khỏi tay y, nhoáng một vệt sáng, cây đao đã rơi tõm xuống hồ. Nhìn kẻ kia thấy mặc tăng bào, đầu trọc, lại là hòa thượng Thiếu Lâm tự. Trương Thúy Sơn quát:

– Ngươi làm trò gì ở đây?

Chỉ thấy trong đám lau còn ba người nữa, không biết là người chết hay bị thương. Chàng nghĩ hòa thượng này võ công tầm thường, chẳng có gì đáng ngại, bèn bước lên mấy bước, cúi xuống nhìn cho rõ, thì ra ba người kia chính là Đô Đại Cẩm và hai tiêu đầu Chúc, Sử của tiêu cục Long Môn.

Trương Thúy Sơn kinh ngạc, nói:

– Đô tổng tiêu đầu, ngươi.. ngươi làm sao..

Lời chưa dứt, y đã nhảy lên, hai tay túm chặt lấy ngực áo của Trương Thúy Sơn, nghiến răng nói:

– Ác tặc, ta chẳng qua giữ lại có ba trăm lạng vàng, vậy.. mà ngươi cũng hạ độc thủ!

Trương Thúy Sơn nói:

– Ngươi làm gì vậy?

Chàng định thi triển Cầm nã pháp để thoát ra, thấy Đô Đại Cẩm ở khóe mắt, khóe miệng đều có máu tươi, lúc này tuy trời tối, nhưng hai người cách nhau chưa đầy nửa thước, chàng nhìn khá rõ, ngạc nhiên hỏi:

– Ngươi bị nội thương hay sao vậy?

Đô Đại Cẩm quay sang hòa thượng kia, nói:

– Sư đệ, sư đệ hãy nhìn cho rõ, đây là Ngân Câu Thiết Hoạch Trương Thúy Sơn, chính là.. hung thủ giết người. Sư đệ mau chạy đi, chạy ngay đi, chớ để hắn đuổi kịp!

Đoạn hai tay y nắm chặt ngực áo Trương Thúy Sơn, dùng đầu đập thật mạnh vào trán chàng, cho cả hai cùng vỡ đầu mà chết.

Trương Thúy Sơn vội hai tay xoay qua, đẩy vào vai Đô Đại Cẩm, chỉ nghe "soạt" một tiếng, vạt áo chàng bị rách toạc một mảnh lớn, Đô Đại Cẩm thì ngã văng xuống đất.

Trương Thúy Sơn tuy rất gan dạ, nhưng tối nay gặp bao nhiêu chuyện quái dị, thần sắc của Đô Đại Cẩm lại trông cực kỳ đáng sợ, nên bất giác tim chàng đập thình thịch, cúi xuống nhìn, thấy hai mắt Đô Đại Cẩm đã trợn trừng, khí đã tuyệt, vậy là y bị nội thương quá nặng từ trước, chứ một cái đẩy của chàng vào vai làm sao đủ giết chết y.

Vị hòa thượng kia thất thanh kêu lên:

– Ngươi.. ngươi.. lại giết Đô sư huynh..

Đoạn quay mình chạy thục mạng, nhưng vì kinh hoảng và vội vã, mới được vài bước đã ngã sóng soài.

Trương Thúy Sơn lắc đầu, thấy hai tiêu đầu Chúc, Sử chân ngâm trong nước hồ, chết đã lâu. Nhìn ba thi thể, bất giác thương cảm. Chàng với Đô Đại Cẩm tuy không có giao tình, việc tiêu cục Long Môn hộ tống Du Đại Nham cũng không chu đáo khiến chàng rất căm giận, song nhìn ba người họ chết một cách oan ức khó hiểu như thế, chàng khó tránh khỏi thương cảm. Chàng đứng bên bờ hồ giây lát, bỗng nghĩ thầm: "Đô Đại Cẩm có nói" Ác tặc, ta chẳng qua giữ lại có ba trăm lạng vàng, vậy.. mà ngươi cũng hạ độc thủ! "Mình bảo y đem hai ngàn lượng vàng cứu tế dân bị nạn, chắc y tiếc của nên giữ lại ba trăm lượng. Đừng nói là mình hoàn toàn không hay biết, mà dẫu có biết thì mình cũng chỉ cười một tiếng, có lẽ nào vì chuyện đó mà làm khó cho y?"

Chàng nhấc thử cái bọc sau lưng Đô Đại Cẩm, quả nhiên thấy nó nặng chình chịch, mở ra, có mấy thoi vàng lăn ra cạnh mặt Đô Đại Cẩm. Lúc này chàng chợt nhận thấy nhân sinh vô thường, vị Tổng tiêu đầu này suốt đời vất vả, ngàn dặm bôn ba, liều thân trên đường đao mũi kiếm, chẳng qua cốt kiếm được một số vàng bạc, giờ thì vàng bạc lăn lóc ngay trước mặt đó nhưng y nào được hưởng dụng. Lại nghĩ mới rồi chàng dốc sức kịch chiến với ba hòa thượng Thiếu Lâm, tuy toàn thắng, được tiếng anh hùng nhất thời, nhưng một trăm năm nữa, so với Đô Đại Cẩm thì cũng có khác gì đâu. Nghĩ đến đó, chàng bất giác thở dài buồn bã.

Bỗng dưng có tiếng đàn tình tang từ mặt hồ vẳng tới. Trương Thúy Sơn ngẩng đầu lên, thấy người đang gảy đàn trên thuyền chính là thiếu niên văn nhân mà chàng đã thấy ở dưới hồ trước cửa tiêu cục Long Môn ban đầu. Nhìn ba thi thể dưới chân, nếu chiếc du thuyền kia lại gần, người kia trông thấy ắt kinh hoảng kêu lên, tuần binh Mông Cổ nghe được sẽ khó tránh khỏi phiền toái. Chàng đang định bỏ đi, bỗng nghe văn nhân trên thuyền gảy nhẹ ba tiếng đàn, rồi y ngẩng lên nói:

– Huynh đài đã có nhã hứng du ngoạn trên hồ canh khuya, sao không xuống thuyền chơi?

Đoạn vẫy tay một cái. Từ phía lái thuyền có một người chờ sẵn nhỏm dậy đẩy hai mái chèo, đưa thuyền bơi vào gần bờ.

Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: "Người kia từ đầu tới giờ vẫn ở trên hồ, có lẽ y nhìn thấy gì chăng, tại sao mình không hỏi thăm y thử xem". Nghĩ vậy, chàng đi lại phía mé nước, đợi chiếc thuyền tới gần liền nhẹ nhàng nhảy xuống mũi thuyền.

Chàng thư sinh trên thuyền đứng dậy, mỉm cười, chắp tay hành lễ, tay trái chìa ra phía đối diện, mời khách ngồi. Dưới ánh đèn lồng che bằng vải sa màu xanh, trông thư sinh tay trắng ngần, trắng hơn cả tuyết, mặt ngọc hơi gầy, mi cong mũi thẳng, lúc cười thì má trái lúm đồng tiền, nhìn xa ngỡ là một công tử phong lưu nhàn nhã, bây giờ đối diện mới thấy rõ là một mỹ nữ giả trai.

Trương Thúy Sơn tuy là người phóng khoáng tự nhiên, nhưng theo quy củ sư môn, chuyện nam nữ ngăn cách rất chặt chẽ. Võ Đang thất hiệp hành tẩu giang hồ, về phương diện nữ sắc ai nấy đều nghiêm cẩn, nay thấy đối phương là một thiếu nữ, chàng liền ngạc nhiên, hai má đỏ bừng, đứng ngay dậy nhảy trở lại bờ, chắp tay nói:

– Tại hạ không biết cô nương cải nam trang, vô ý mạo muội.

Thiếu nữ không nói gì. Chỉ nghe tiếng mái chèo khuấy nước, con thuyền lặng lẽ bơi ra giữa hồ, thiếu nữ thì gảy đàn hát:

"Nhã hứng kia đêm nay đã tận, mong đêm mai lại đến cùng nhau, Lục Hòa tháp, dưới chân cầu, bên cây liễu rủ thuyền câu đón chờ. Quân tử hỡi, nếu chàng không ngại, tới nơi kia du ngoạn một phen".

Con thuyền xa dần, lời ca cũng nhỏ dần, chỉ thấy sóng nước chao động, ngọn đèn chỉ còn bằng hạt đỗ, chìm lẫn vào sắc nước trong đêm.

Sau một phen kịch chiến giữa kiếm ảnh đao quang, gió tanh mưa máu, bỗng dưng gặp cảnh lả lướt phiêu diêu như thế, Trương Thúy Sơn lặng người đứng tần ngần trên bờ hồ, bất giác lòng thấy nao nao, hơn nửa canh giờ sau mới trở về khách điếm.

Hôm sau trong thành Lâm An truyền ra vụ đại huyết án mấy chục nhân mạng ở tiêu cục Long Môn lan truyền ra, ai ai cũng biết. Trương Thúy Sơn dáng người nho nhã nên không một ai nghi ngờ chàng. Từ sáng tới chiều chàng nhàn du khắp phố phường, đền miếu, nghe ngóng tin tức của nhị sư huynh Du Liên Châu và thất đệ Mạc Thanh Cốc, nhưng đi cả buổi cũng chẳng tìm được ký hiệu liên lạc nào của Võ Đang thất hiệp.

Đến chiều tà, trong lòng lại rộn lên tiếng hát của người thiếu nữ: "Nhã hứng kia đêm nay đã tận, mong đêm mai lại đến cùng nhau, Lục Hòa tháp, dưới chân cầu, bên cây liễu rủ thuyền câu đón chờ. Quân tử hỡi, nếu chàng không ngại, tới nơi kia du ngoạn một phen". Hình ảnh thiếu nữ cứ chập chờn ẩn hiện trong óc chàng. Chàng nghĩ thầm: "Mình giữ đúng lễ, thì gặp nàng một lần cũng có sao đâu? Giá có nhị sư ca và thất sư đệ đi cùng thì hay quá, nhưng lúc này, trừ việc hỏi thăm thiếu nữ kia, không còn nơi nào khác có thể nghe ngóng để tìm ra chân tướng án mạng đêm qua".

Dùng bữa tối xong, Trương Thúy Sơn nhắm hướng tháp Lục Hòa bên sông Tiền Đường đi tới.

Comments

Comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 5: Cánh tay ngọc trúng mai hoa tiêu

Sông Tiền Đường đến chỗ tháp Lục Hòa thì chuyển qua một khúc quanh lớn, rồi mới chảy thẳng về phía đông. Chỗ này cách phủ Lâm An không gần, khi Trương Thúy Sơn tới đó thì trời đã tối, thấy phía đông ngọn tháp quả nhiên có ba cây liễu lớn, bên dưới đậu một chiếc thuyền. Chiếc thuyền trên sông Tiền Đường này có buồm, lớn hơn hẳn loại du thuyền trên Tây Hồ, nhưng mũi thuyền vẫn treo hai chiếc đèn lồng vải sa xanh y hệt tối qua. Trương Thúy Sơn hồi hộp, tim đập mạnh, cố trấn tĩnh đi tới bên cây liễu lớn, thấy thiếu nữ nọ ngồi một mình ở mũi thuyền, y phục màu xanh nhạt, hôm nay đã đổi sang trang phục nữ nhi.

Trương Thúy Sơn tới đây chỉ cốt hỏi thiếu nữ chuyện tối qua, giờ thấy nàng đổi sang trang phục nữ nhi thì còn đang ngần ngại, bỗng nghe nàng ngẩng mặt lên trời mà ngâm: "Ngồi ôm gối đầu thuyền đợi khách, biết khi nào chàng mới đến cho, gió kia với sóng muốn đùa, lay ai mau tỉnh qua cơn mơ màng".

Trương Thúy Sơn nói to:

– Tại hạ Trương Thúy Sơn có điều muốn hỏi, chưa dám mạo muội!

Thiếu nữ nói:

– Mời chàng xuống thuyền.

Trương Thúy Sơn nhảy nhẹ xuống mũi thuyền.

Thiếu nữ nói:

– Tối qua mây đen đầy trời, không thấy ánh trăng. Tối nay mây tan trời trong, cảnh đẹp hơn nhiều.

Tiếng thiếu nữ trong trẻo ngân nga, song lúc nói nàng chỉ nhìn trời, chẳng buồn nhìn Trương Thúy Sơn lấy một lần. Chàng nói:

– Mạn phép được thỉnh vấn tôn tính của cô nương?

Thiếu nữ đột nhiên quay mặt lại, đôi mắt sáng lướt qua lướt lại trên mặt Trương Thúy Sơn, không trả lời. Chàng thấy diện mạo nàng vô cùng mỹ lệ, nhưng như có điều gì dồn bức, chàng chợt thấy ngượng ngùng, không dám hỏi thêm, đành quay mình nhảy luôn lên bờ, chạy ngược về phía mặt đường.

Chạy hơn mười trượng, chàng bỗng dừng bước, nghĩ thầm: "Trương Thúy Sơn ơi là Trương Thúy Sơn, mi bảy thước ngang tàng, nam tử hán đại trượng phu tung hoành giang hồ không biết sợ, vậy mà giờ đây lại sợ hãi một thiếu nữ là sao?" Ngoảnh nhìn lại chỉ thấy chiếc thuyền của thiếu nữ đang từ từ trôi xuôi theo dòng sông Tiền Đường, hai ngọn đèn lồng chiếu xuống mặt sông. Trương Thúy Sơn nhất thời chưa biết nên làm gì, bèn thả bộ men sông mà đi.

Người đi trên bờ, thuyền trôi dưới sông, một người một thuyền cứ thế song hành cùng nhau. Thiếu nữ vẫn ngồi ôm gối ở mũi thuyền, ngẩng nhìn mảnh trăng non phía chân trời.

Trương Thúy Sơn đi một hồi, bất giác cũng theo nàng nhìn lên trời, bỗng thấy phía đông bắc đùn lên một đám mây đen lớn. Trời quả thật không sao lường trước được, đám mây đen kia lan ra rất nhanh, chẳng mấy chốc đã che lấp mặt trăng, một trận gió thổi tới rải mưa lắc rắc. Bờ sông quãng này hoàn toàn trống trải, không có chỗ nào trú mưa. Trương Thúy Sơn cũng đang bận lòng, chẳng tính đến việc trú mưa, mưa tuy không nặng hạt, nhưng nếu mưa lâu thì sẽ ướt hết người. Thiếu nữ vẫn ngồi ở mũi thuyền, mặc cho mưa tạt vào ướt người.

Trương Thúy Sơn như sực tỉnh, nói:

– Cô nương, hãy vào khoang thuyền tránh mưa đi!

Thiếu nữ "à" một tiếng, đứng dậy, nói:

– Thế chàng không sợ mưa ướt hay sao?

Đoạn nàng chui vào khoang thuyền, cầm ra một cái dù, vung tay ném cây dù lên bờ.

Trương Thúy Sơn giơ tay đón lấy, thấy đó là một cây dù đỏ làm bằng giấy dầu, mở dù ra thấy trên tán vẽ cảnh sông núi xa gần, vài cây liễu rủ, một bức tranh thủy mặc thanh nhã, đề bảy chữ "Tà phong tế vũ bất tu quy" [24] . Các cây dù ở Hàng Châu thường có vẽ cảnh đề chữ, xưa nay vẫn thế, chẳng có gì lạ. Tranh vẽ và chữ viết của thợ làm dù cũng giống như trên đồ gốm Giang Tây, thường có cái vẻ của dân thợ. Còn tranh và chữ trên cây dù này lại rất tinh xảo, bảy chữ kia tuy nét bút hơi thiếu kình lực, nhưng là do con nhà khuê tú viết nên, đầy vẻ thanh lệ thoát tục.

Trương Thúy Sơn giương dù che mưa, ngẩng nhìn thư họa trên cây dù, chân vẫn không ngừng bước, nào ngờ phía trước có một con mương nhỏ, chân trái của chàng vẫn bước tới liền đạp vào chỗ trống không. Nếu là người thường, bước hụt này đương nhiên sẽ ngã bổ chửng. Nhưng chàng biến chiêu cực nhanh, chân phải đá mạnh về phía trước, thân hình đã vọt lên, nhẹ nhàng xảo diệu bay qua con mương. Chỉ nghe thiếu nữ trên thuyền thốt lên trong trẻo:

– Hay lắm!

Trương Thúy Sơn ngoảnh nhìn, thấy nàng đội nón lá đứng ở mũi thuyền, gió mưa thổi bay bay tà áo, trông hệt như tiên nữ đứng trên những ngọn sóng.

Thiếu nữ nói:

– Thư họa trên cây dù liệu có vừa mắt Trương tướng công chăng?

Trương Thúy Sơn vốn không lưu tâm đến hội họa, chỉ chú ý thư pháp, bèn nói:

– Nét bút là thư pháp của Vệ phu nhân trên "Danh Cơ thiếp", bút dứt mà ý vẫn liền, bút ngắn mà ý vẫn dài, diễn tả hết cái kỳ diệu của trâm hoa tả vận.

Thiếu nữ thấy chàng nhận ra thể chữ của mình thì trong lòng rất vui, nói:

– Trong bảy chữ ấy, chữ "Bất" viết dở nhất.

Trương Thúy Sơn nhìn kỹ, nói:

– Chữ "Bất" viết rất tự nhiên, có điều không được hàm súc, như sáu chữ kia dư vận bất tận khiến người xem nhìn không biết chán.

Thiếu nữ nói:

– Phải rồi, tiểu muội cảm thấy chữ ấy viết có gì không ổn, nghĩ mãi chưa thấy dở ở chỗ nào, chàng vừa nói là tiểu muội nhận ra ngay.

Chiếc thuyền của thiếu nữ trôi xuôi theo dòng, Trương Thúy Sơn ở trên bờ đi theo, hai người trò chuyện với nhau về thư pháp, người hỏi kẻ đáp, không để ý đã đi cả dặm. Lúc này trời đã tối hơn, đôi bên không còn nhìn rõ mặt nhau nữa, thiếu nữ bỗng nói:

– Trò chuyện với chàng một buổi, hơn cả đọc sách mười năm. Đa tạ Trương tướng công chỉ bảo, giờ xin cáo biệt!

Rồi thiếu nữ giơ tay lên, người lái thuyền liền kéo buồm, chiếc buồm trắng từ từ được kéo lên, no gió, con thuyền lập tức trôi nhanh. Trương Thúy Sơn thấy cánh buồm xa dần, bất giác cảm thấy bồi hồi, chợt nghe giọng nàng vọng lại từ xa:

– Tiểu muội họ Ân, mai ngày có dịp, lại xin thỉnh giáo tướng công..

Trương Thúy Sơn nghe bốn chữ "Tiểu muội họ Ân" liền giật mình nhớ lại rằng Đô Đại Cẩm từng nói, người nhờ y hộ tống Du tam ca là một thư sinh diện mạo tuấn tú, tự xưng họ Ân, liệu có phải là thiếu nữ này giả trai? Nghĩ tới đó, chàng không còn ngại ngần chuyện nam nữ, liền đề khí đuổi theo. Thuyền căng buồm trôi nhanh, song chàng thi triển khinh công, chẳng mấy chốc đã đuổi kịp, lớn tiếng gọi vào thuyền:

– Ân cô nương, nàng có biết Du tam ca Du Đại Nham của tại hạ hay chăng?

Thiếu nữ quay đầu lại, nhưng không trả lời. Trương Thúy Sơn dường như nghe có tiếng thở dài, nhưng người ở trên bờ, người dưới thuyền, nghe không được rõ có đúng là tiếng thở dài hay không.

Trương Thúy Sơn lại nói:

– Trong lòng tại hạ có biết bao nhiêu là nghi vấn, cần hỏi cho rõ.

Thiếu nữ nói:

– Cứ nhất thiết phải hỏi cho rõ ư?

Trương Thúy Sơn nói:

– Ủy thác tiêu cục Long Môn hộ tống Du tam ca của tại hạ về núi Võ Đang phải chăng là Ân cô nương? Ân đức ấy có ngày phải báo đáp.

Thiếu nữ nói:

– Ân ân oán oán, cũng thật khó nói.

Trương Thúy Sơn hỏi:

– Du tam ca của tại hạ về đến chân núi Võ Đang còn bị người ta hạ độc thủ, Ân cô nương có biết hay chăng?

Thiếu nữ nói:

– Tiểu muội quả không vui, rất tiếc về việc đó.

Hai người một hỏi một đáp, gió mạnh dần, thuyền trôi càng nhanh. Trương Thúy Sơn nội lực thâm hậu, trước sau vẫn đi song song với con thuyền, không tụt lại nửa bước. Thiếu nữ nội lực tuy không bằng chàng, nhưng từng câu từng chữ đều nghe rõ ràng.

Sông Tiền Đường càng về phía hạ lưu mặt sông càng rộng. Mà gió nhẹ mưa nhỏ lúc đầu cũng dần dần biến thành cuồng phong bạo vũ.

Trương Thúy Sơn hỏi:

– Tối qua mấy chục mạng người ở tiêu cục Long Môn bị giết, cô nương có biết ai hạ độc thủ chăng?

Thiếu nữ đáp:

– Tiểu muội đã bảo Đô Đại Cẩm phải hộ tống thật chu đáo Du tam hiệp về núi Võ Đang, nếu dọc đường để xảy ra nửa phần sơ suất.. Trương Thúy Sơn nói:

– Thì cô nương sẽ giết sạch già trẻ lớn bé trong tiêu cục của y chứ gì?

Thiếu nữ nói:

– Không sai! Hắn đã hộ tống Du tam hiệp không đến nơi đến chốn, đó là hắn tự rước họa vào thân, còn oán trách ai kia chứ?

Trương Thúy Sơn thấy lạnh người, nói:

– Chẳng lẽ.. bấy nhiêu mạng người trong tiêu cục đều do.. đều do..

Thiếu nữ đáp:

– Đều do tiểu muội giết đó.

Trương Thúy Sơn tai bỗng ù đi, chàng không thể ngờ một thiếu nữ kiều diễm nhường kia rốt cuộc lại là một hung thủ giết người không chớp mắt. Lát sau, chàng hỏi:

– Còn.. còn hai hòa thượng Thiếu Lâm tự?

Thiếu nữ nói:

– Cũng là do tiểu muội giết. Tiểu muội vốn không định kết oán thù với phái Thiếu Lâm, nhưng bọn họ lại sử ám khí tẩm độc đả thương tiểu muội trước, nên không thể tha cho họ được.

Trương Thúy Sơn nói:

– Thế sao.. tại sao họ lại đổ oan cho tại hạ?

Thiếu nữ cười khanh khách, nói:

– Cái đó là do tiểu muội sắp đặt đó.

Trương Thúy Sơn cả giận nói to:

– Cô nương sắp đặt để họ đổ oan cho ta?

Thiếu nữ mỉm cười yêu kiều:

– Đúng vậy.

Trương Thúy Sơn nói:

– Ta với cô nương không thù không oán, tại sao lại làm như thế?

Chỉ thấy thiếu nữ phẩy tay áo, chui vào khoang thuyền. Đến nước này, Trương Thúy Sơn làm sao có thể không hỏi cho ra nhẽ? Thấy chiếc thuyền cách xa bờ mấy trượng, không thể nào nhảy xuống thuyền, trong cơn cuồng nộ, chàng liền vung chưởng đánh mạnh vào cây phong bên bờ sông, nghe "rắc rắc" mấy tiếng, hai cành lớn gãy rời. Chàng vận lực ném một cành xuống sông, tay trái cầm một cành, chân phải nhún một cái, nhảy xuống sông, chân trái đáp xuống cành cây nổi dưới đó liền mượn lực nhảy tiếp, cùng lúc ném cành thứ hai tới phía trước, chân phải đáp vào nó, lại mượn sức lần nữa, vọt lên mũi thuyền, quát to:

– Cô nương.. cô nương sắp đặt như thế nào?

Khoang thuyền tối om, không một tiếng động. Trương Thúy Sơn dợm bước tiến vào, nhưng trong cơn thịnh nộ vẫn biết tự kiềm chế, nghĩ thầm: "Xông vào khoang thuyền của phụ nữ, e mang tiếng thất lễ!" Chàng đang ngần ngại, chợt trong khoang thuyền lóe lên ánh lửa, một ngọn nến được thắp sáng. Thiếu nữ nói:

– Mời vào!

Trương Thúy Sơn sửa lại áo mũ, khép dù, bước vào khoang thuyền và bất giác sững sờ khi thấy trong này là một thư sinh áo xanh khăn vuông, tay cầm quạt giấy phe phẩy, thần thái ung dung; thì ra thiếu nữ kia trong giây lát đã cải nam trang, nhìn thoáng qua diện mạo giống Trương Thúy Sơn như đúc. Thúy Sơn hỏi nàng sắp đặt như thế nào, để các hòa thượng phái Thiếu Lâm đổ oan cho chàng, bây giờ thiếu nữ kia cải trang, chẳng cần đáp, chàng cũng đã hiểu ra, trong đêm tối, ai ai cũng sẽ ngỡ hai người là một, chẳng trách Tuệ Phong và Đô Đại Cẩm cứ một mực đổ riệt cho chàng đã hạ độc thủ.

Thiếu nữ giơ chiếc quạt chỉ phía đối diện, nói:

– Trương ngũ hiệp, mời ngồi!

Nàng cầm ấm trà nhỏ trên kỷ lên, rót một chén, đưa tới trước mặt chàng, nói:

– "Hàn dạ khách lai trà đương tửu" [25], trong thuyền không có rượu, đúng là không khỏi giảm mất thanh hứng của Trương ngũ hiệp.

Cách nàng cầm ấm rót trà, bưng chén mời trà và lời nói thanh nhã khiến Trương Thúy Sơn nguôi bớt cơn giận, chỉ nghiêng mình nói:

– Đa tạ.

Thiếu nữ thấy y phục của chàng ướt sũng, liền nói:

– Trong thuyền có sẵn y phục, Trương ngũ hiệp hãy ra đằng lái mà thay.

Trương Thúy Sơn lắc đầu nói:

– Khỏi cần.

Đoạn chàng ngầm vận nội lực, một luồng hơi ấm từ đan điền bốc lên, toàn thân nóng bừng, quần áo dần bay hết hơi nước. Thiếu nữ nói:

– Nội công của phái Võ Đang đứng đầu võ lâm, tiểu muội bảo Trương ngũ hiệp thay y phục quả là ếch ngồi đáy giếng.

Trương Thúy Sơn nói:

– Cô nương thuộc môn phái nào, có thể cho biết chăng?

Thiếu nữ nghe chàng hỏi câu ấy, thì đưa mắt nhìn qua song cửa, đầu mày hơi cau biểu lộ nét buồn.

Trương Thúy Sơn thấy thần sắc nàng tựa hồ có điều u uất, không tiện gặng hỏi, nhưng lát sau chàng không nhịn được, lại hỏi:

– Du tam ca của tại hạ rốt cuộc là do kẻ nào đả thương, mong cô nương cho biết.

Thiếu nữ nói:

– Chẳng cứ gì Đô Đại Cẩm nhìn lầm, mà chính tiểu muội cũng bị lừa. Tiểu muội luôn nghĩ rằng Võ Đang thất hiệp phong tư anh sảng, chứ đâu thô lỗ táo tợn như thế.

Trương Thúy Sơn thấy nàng không trả lời câu hỏi của chàng, lại nhắc đến bốn chữ "phong tư anh sảng", hiển nhiên là tán thưởng phong thái của chàng thì trong lòng rộn ràng, hai má nóng bừng, chưa rõ ý tứ câu nói vừa rồi của nàng là thế nào.

Thiếu nữ thở dài, đột nhiên vén tay áo bên trái lên, để lộ ra cánh tay trắng như ngọc. Trương Thúy Sơn vội cúi mặt xuống, không dám nhìn. Thiếu nữ nói:

– Trương ngũ hiệp có nhận ra thứ ám khí này chăng?

Trương Thúy Sơn nghe hai tiếng "ám khí" mới ngẩng lên, thấy trên cánh tay nàng có cắm ba mũi cương tiêu nho nhỏ màu đen, làn da nàng trắng như tuyết, chỗ trúng tiêu thì đen như mực. Phần đuôi của ba chiếc tiêu đều có hình hoa mai, thân tiêu dài không quá tấc rưỡi, song lại cắm sâu vào da thịt hơn một tấc. Trương Thúy Sơn ngạc nhiên đứng bật dậy, nói:

– Đây là Mai hoa tiêu của phái Thiếu Lâm, sao.. sao nó lại màu đen?

Thiếu nữ nói:

– Không sai, là Mai hoa tiêu của phái Thiếu Lâm, mũi tiêu có tẩm chất độc.

Cánh tay trắng muốt của nàng có cắm ba cây tiêu nhỏ, dưới ánh nến trông đẹp đến nao lòng, song lại mang vẻ huyền bí đáng sợ, như trên giấy trắng ngần có ba giọt mực đen.

Trương Thúy Sơn nói:

– Phái Thiếu Lâm là danh môn chính phái, ám khí của họ quyết không thể tẩm chất độc. Nhưng ba đóa Mai hoa tiêu này, trừ đệ tử phái Thiếu Lâm ra, chưa từng nghe có nhân vật phái nào khác biết sử dụng. Cô nương trúng tiêu bao lâu rồi? Mau chóng tìm cách giải độc là điều cần kíp hơn cả.

Thiếu nữ thấy chàng hết sức quan tâm, bèn nói:

– Trúng tiêu đã hơn hai mươi ngày, độc tính đã bị tiểu muội dùng thuốc ngăn chặn, nhất thời chưa thể lan rộng, nhưng ba mũi ác tiêu này không dám rút ra, sợ nếu rút tiêu ra, chất độc sẽ theo máu lan đi tứ phía.

Trương Thúy Sơn nói:

– Trúng tiêu đã hơn hai mươi ngày, chỉ sợ.. chỉ e.. sau khi trị lành, trên da sẽ để lại vết sẹo rất lớn..

Thực ra chàng định nói "Chỉ sợ chất độc ở trong cơ thể quá lâu, cánh tay này phải cắt bỏ".

Thiếu nữ nước mắt lưng tròng, rầu rĩ nói:

– Tối qua, tiểu muội đã cố.. lục tìm thuốc giải bên người mấy hòa thượng Thiếu Lâm tự.. Ôi, có lẽ cánh tay này của tiểu muội phải bỏ mất thôi..

Đoạn nàng từ từ kéo tay áo xuống.

Trương Thúy Sơn chợt thấy ngực nóng ran, nói:

– Ân cô nương, cô nương tin tại hạ chứ? Tại hạ nội lực tuy kém, nhưng tự tin có thể giúp cô nương trục xuất chất độc khỏi cánh tay này.

Thiếu nữ mỉm cười, trên má hiện rõ lúm đồng tiền, tựa hồ trong lòng vô cùng hoan hỉ, nhưng ngoài miệng lại nói:

– Trương ngũ hiệp, lòng chàng còn đầy nghi hoặc, tiểu muội phải nói rõ trước, kẻo sau khi chữa cho tiểu muội, chàng lại hối hận.

Trương Thúy Sơn khảng khái nói:

– Trị bệnh cứu người vốn là việc tại hạ phải làm, tại sao phải hối hận?

Thiếu nữ nói:

– Dẫu gì cũng đã chịu được hơn hai chục ngày rồi, trong giây lát chẳng cần vội. Tiểu muội cần phải nói với Trương ngũ hiệp, rằng sau khi giao Du tam hiệp cho tiêu cục Long Môn, tiểu muội có thân chinh đi theo sau tiêu đội, dọc đường có vài kẻ định hạ thủ Du tam hiệp, đều bị tiểu muội kín đáo loại trừ, nực cười thay Đô Đại Cẩm cứ như kẻ mơ ngủ.

Trương Thúy Sơn chắp tay nói:

– Đại ân đại đức của cô nương, đệ tử phái Võ Đang cảm kích vô cùng.

Thiếu nữ thản nhiên nói:

– Trương ngũ hiệp khỏi cần đa tạ tiểu muội, chỉ sợ rồi chàng lại hận tiểu muội không chừng.

Trương Thúy Sơn ngẩn người, chưa hiểu ý tứ nàng ra sao.

Thiếu nữ nói:

– Dọc đường tiểu muội nhiều lần cải trang, lúc thành nông phu, lúc làm khách thương, theo sau tiêu đội một quãng khá xa. Nào ngờ đã tới chân núi Võ Đang còn gặp chuyện rắc rối.

Trương Thúy Sơn nghiến răng nói:

– Sáu tên ác tặc nọ, cô nương có thấy mặt chúng hay không? Chỉ giận gã Đô Đại Cẩm mù mù mờ mờ, không nói rõ được lai lịch của sáu tên ác tặc.

Thiếu nữ thở dài, nói:

– Tiểu muội chẳng những thấy mặt mà còn giao đấu với chúng nữa kia, song tiểu muội cũng mù mù mờ mờ, không nói rõ được lai lịch bọn chúng.

Nàng nâng chén trà, nhấp một ngụm, nói tiếp:

– Hôm ấy tiểu muội thấy từ trên núi Võ Đang có sáu người xuống đón, nghe Đô Đại Cẩm chào hỏi họ, gọi họ là "Võ Đang lục hiệp", sáu người ấy cũng không phủ nhận. Tiểu muội từ đằng xa quan sát, thấy họ tiếp nhận cỗ xe lớn chở Du tam hiệp, tưởng là công việc đã hoàn tất, bèn gò ngựa né sang bên đường, nhường cho đám Đô Đại Cẩm đi qua. Thế nhưng tiểu muội bỗng nảy sinh nghi ngờ: "Võ Đang thất hiệp là huynh đệ đồng môn, tình như cốt nhục, Du tam hiệp bị trọng thương nằm đó, lẽ ra cả bọn phải tức thời đổ xô lại xem thương thế ra sao mới phải. Đằng này chỉ thấy mỗi một người trong bọn đến bên cỗ xe lớn ngó vào trong một cái, năm người còn lại chẳng đếm xỉa gì tới, lại còn tỏ vẻ vui mừng, rối rít giục nhau đánh xe đi, thật trái lẽ thường tình".

Trương Thúy Sơn gật đầu:

– Cô nương rất tinh tế, nghi ngờ là phải lắm.

Thiếu nữ nói:

– Tiểu muội càng nghĩ càng thấy không phải, bèn phóng ngựa đuổi theo, hỏi tính danh bọn họ. Sáu người ấy nhãn lực cũng khá, vừa thấy tiểu muội đã biết là gái giả trai. Tiểu muội trách họ dám mạo danh đệ tử Võ Đang, cướp Du tam hiệp mang đi hẳn là có tâm địa bất lương. Đôi bên lời qua tiếng lại, tiểu muội xông lên động thủ. Trong sáu người ấy, một tên trạc ba mươi tuổi, thân hình gầy gò, ra đấu với tiểu muội, một gã đạo sĩ đứng bên trông chừng, còn bốn tên kia đánh xe chạy đi. Tên gầy bản lĩnh rất khá, tiểu muội đấu với hắn hơn ba mươi hiệp mà chưa thắng nổi, bỗng gã đạo sĩ đứng bên cạnh vung tay một cái, tiểu muội chỉ cảm thấy cánh tay tê chồn và ngứa ngáy, thế là không nghe một tiếng động, tiểu muội đã trúng ba mũi Mai hoa tiêu. Tên gầy nói năng vô lễ, toan bắt sống tiểu muội, tiểu muội phóng cho hắn ba mũi ngân châm, nhờ vậy mới thoát được.

Nói đến đây, má nàng ửng hồng, nhớ lúc tên gầy nọ thấy nàng là một thiếu nữ cô thân mỹ lệ đã định giở thói sàm sỡ với nàng.

Trương Thúy Sơn trầm ngâm nói:

– Mai hoa tiêu này, chúng phát xạ bằng tay trái ư? Môn hạ phái Thiếu Lâm sao lại xuất hiện đạo sĩ, chả lẽ cũng lại giả trang?

Thiếu nữ mỉm cười:

– Đạo sĩ cải trang thành hòa thượng thì phải cạo đầu, hòa thượng cải trang thành đạo sĩ thì quá dễ, chỉ cần đội mũ là xong.

Trương Thúy Sơn gật đầu. Thiếu nữ nói:

– Tiểu muội thầm biết sự việc nguy rồi, nhưng tự lượng sức mình không thắng nổi tên gầy, gã đạo sĩ xem ra còn lợi hại hơn, huống hồ bọn chúng những sáu người? Thật không còn cách nào khác.

Trương Thúy Sơn mở miệng định nói gì đó, song lại thôi.

Thiếu nữ tiếp:

– Tiểu muội đoán chàng định hỏi, tại sao tiểu muội không lên núi Võ Đang kể rõ sự việc với các vị trên đó, phải không nào? Tiểu muội làm sao có thể lên núi Võ Đang, nếu tiểu muội có thể lộ diện thì cần gì phải nhờ bọn Đô Đại Cẩm hộ tống kia chứ? Tiểu muội đang bàng hoàng vô kế khả thi, đang buồn phiền thì vừa hay thấy Trương ngũ hiệp nói chuyện với bọn Đô Đại Cẩm, sau đó thấy Trương ngũ hiệp đi tìm Du tam hiệp. Tiểu muội nghĩ Võ Đang thất hiệp đã đứng ra lo vụ này, tiểu muội cũng chẳng nên xen vào nữa. Với bản lĩnh nhỏ mọn của mình, tiểu muội có giúp cũng chẳng được bao nhiêu. Bấy giờ tiểu muội mới vội lo chuyện giải độc, đi ngược trở về phía đông, không biết Du tam hiệp sau đó thế nào?

Trương Thúy Sơn bèn kể cho nàng nghe việc Du Đại Nham bị người ta hạ độc thủ ra sao. Thiếu nữ thở dài, chớp chớp mắt xúc động, nói:

– Chỉ mong Du tam hiệp ở hiền gặp lành, cuối cùng sẽ được chữa khỏi, nếu không.. nếu không..

Trương Thúy Sơn nghe giọng nói thành thực của nàng thì cảm động, nói:

– Đa tạ hảo tâm của cô nương.

Chàng rưng rưng nước mắt. Thiếu nữ lắc đầu, kể tiếp:

– Tiểu muội về tới Giang Nam, nhờ người xem giùm thứ Mai hoa tiêu này, có người nhận ra đó là ám khí độc môn của phái Thiếu Lâm, bảo rằng trừ phi người phát xạ ám khí cho giải dược bổn môn, nếu không khó lòng giải trừ được độc tính. Ở phủ Lâm An, ngoài tiêu cục Long Môn, đâu có ai khác thuộc phái Thiếu Lâm? Bởi thế đang đêm tiểu muội mới lẻn vào tiêu cục, định buộc họ trao giải dược, nào ngờ họ đã chẳng cho, lại còn mai phục nhân mã, tiểu muội vừa vào đến cửa liền bị họ hạ độc thủ. Trương Thúy Sơn "à" một tiếng, trầm ngâm nói:

– Cô nương bảo cố ý sắp đặt để họ tưởng lầm là tại hạ?

Thiếu nữ tỏ vẻ bẽn lẽn, cúi đầu nói nhỏ:

– Tiểu muội thấy chàng mua bộ y phục này, mặc vào trông rất.. rất dễ ưa. Nên tiểu muội cũng bắt chước mua một bộ.

Trương Thúy Sơn nói:

– Thì ra thế! Có điều cô nương ra tay giết liền mấy chục mạng người, quả là tàn ác, mà mọi người trong tiêu cục có thù oán gì với cô nương đâu.

Thiếu nữ sa sầm mặt, cười nhạt nói:

– Trương ngũ hiệp định giáo huấn tiểu muội sao? Tiểu muội sống mười chín năm nay, chưa nghe ai giáo huấn đâu. Trương ngũ hiệp đại nhân đại nghĩa thì mời đi chỗ khác. Trong con thuyền này toàn hạng người tàn ác, đâu dám mong kết giao với Trương ngũ hiệp!

Trương Thúy Sơn bị thiếu nữ nói cho một trận, bất giác đỏ mặt, đứng dậy tính rời khỏi thuyền, nhưng chợt nhớ mình đã nhận lời trị thương cho nàng, bèn nói:

– Cô nương vén tay áo lên đi.

Thiếu nữ hơi nhướn đôi mày ngài, nói:

– Trương ngũ hiệp hay mắng người như thế, tiểu muội không cần chàng trị thương cho đâu!

Trương Thúy Sơn nói:

– Vết thương trên cánh tay cô nương để vậy đã lâu, dây dưa thêm chỉ sợ.. chỉ sợ chất độc phát tác khó trị.

Thiếu nữ giận dỗi nói:

– Có chết cũng không sao, chẳng qua đều do Trương ngũ hiệp làm hại tiểu muội.

Trương Thúy Sơn ngạc nhiên:

– Ô hay, bắn tiêu vào tay cô nương là kẻ ác của phái Thiếu Lâm, đâu có liên quan gì tại hạ?

Thiếu nữ nói:

– Nếu tiểu muội không vượt ngàn dặm hộ tống tam sư ca của Trương ngũ hiệp về núi Võ Đang, liệu tiểu muội có gặp sáu tên ác tặc nọ hay không? Khi chúng cướp tam sư ca của chàng đi, nếu tiểu muội tụ thủ bàng quan, liệu cánh tay có bị trúng tiêu hay không? Nếu chàng đến sớm một bước, giúp tiểu muội một tay, liệu tiểu muội có bị trúng tiêu độc hay không?

Trừ hai câu cuối cùng cưỡng từ đoạt lý, những lời khác nghe cũng hợp tình hợp lý, chàng chắp tay nói:

– Không sai, tại hạ giúp cô nương trị thương, chẳng qua chỉ báo đáp được một chút đại ân đại đức của cô nương.

Thiếu nữ nghiêng đầu nói:

– Trương ngũ hiệp nhận sai rồi chứ?

Trương Thúy Sơn hỏi:

– Nhận sai cái gì?

Thiếu nữ nói:

– Trương ngũ hiệp bảo tiểu muội tàn ác, nói thế là sai. Mấy lão hòa thượng Thiếu Lâm tự, bọn Đô Đại Cẩm và những người trong tiêu cục đều đáng chết.

Trương Thúy Sơn lắc đầu nói:

– Cánh tay cô nương tuy bị trúng độc, vẫn còn cứu được. Tam sư ca của tại hạ bị trọng thương, cũng chưa mất mạng; mà dẫu có không chữa trị được, thì mình cũng chỉ nên tìm kẻ thủ ác, chứ giết hại một lúc mấy chục mạng người thì chẳng hợp lý chút nào.

Thiếu nữ nhướn đôi mày ngài, nói:

– Trương ngũ hiệp bảo tiểu muội giết lầm người ư? Thế kẻ phát xạ Mai hoa tiêu không phải là người của phái Thiếu Lâm hay sao? Tiêu cục Long Môn chẳng phải do người của phái Thiếu Lâm mở ra đó sao?

Trương Thúy Sơn nói:

– Môn đồ Thiếu Lâm ở khắp thiên hạ, đông ngàn vạn người, tay cô nương trúng ba mũi tiêu, không lẽ vì thế mà phải giết sạch môn hạ đệ tử của phái Thiếu Lâm?

Thiếu nữ cãi không lại, bỗng giơ tay phải vỗ một chưởng vào chỗ ba mũi Mai hoa tiêu trên cánh tay trái, cái vỗ đó khiến ba mũi tiêu ngập sâu vào thịt, thương thế càng nặng thêm.

Trương Thúy Sơn hoàn toàn không ngờ tâm tính nàng lại quái dị như thế, nghe một lời không vừa ý liền ra tay tàn hại chính cơ thể mình. Đối với bản thân nàng còn như vậy, thì việc nàng tùy tiện hạ độc thủ giết người đâu có gì lạ. Chàng định ngăn lại, nhưng không kịp, vội nói:

– Sao cô nương.. tự hành hạ mình như vậy?

Chỉ thấy máu đen thấm ra tay áo nàng. Trương Thúy Sơn biết rằng lúc này vết thương đã rất nặng, nội lực của nàng không còn đủ sức ngăn máu độc chảy ngược lên, nếu không cứu chữa ngay chắc sẽ nguy đến tính mệnh, bèn đưa tay trái nắm lấy cánh tay trái của nàng, tay phải vén ống tay áo của nàng lên.

Bỗng sau lưng có người quát:

– Cuồng đồ không được vô lễ!

Nghe vù một tiếng, người ấy đã vung đao chém lưng chàng. Trương Thúy Sơn biết đó là gã lái thuyền, tình huống khẩn cấp, không kịp giải thích, chàng đá ngược một cú về phía sau, khiến hắn văng khỏi khoang thuyền.

Thiếu nữ nói:

– Tiểu muội không cần chàng cứu, tiểu muội tự mình muốn chết, đâu có liên quan đến chàng?

Nói đoạn nghe "bốp" một tiếng, thiếu nữ đã cho Trương Thúy Sơn một cái tát. Nàng xuất thủ quá nhanh, Trương Thúy Sơn không hề đề phòng, bị bất ngờ liền buông tay nàng ra. Thiếu nữ sầm mặt, nói:

– Trương ngũ hiệp lên bờ đi, tiểu muội không muốn thấy mặt chàng nữa!

Trương Thúy Sơn bị một cái tát của nàng, vừa xấu hổ vừa tức giận, nói:

– Được lắm! Tại hạ chưa từng gặp người nào vô lễ như cô nương!

Đoạn bước ra mũi thuyền. Thiếu nữ cười khẩy, nói:

– Chưa từng gặp thì bây giờ được gặp rồi đấy!

Trương Thúy Sơn cầm một tấm ván lên, tính ném xuống sông làm bàn đạp để lên bờ, nhưng chợt nghĩ lại: "Mình mà bỏ đi, thể nào nàng ta cũng mất mạng", bèn nén giận trở vào khoang thuyền, nói:

– Cô nương đánh ta, ta cũng chẳng thèm chấp cái thứ lý sự khó nghe của cô nương. Hãy mau vén tay áo lên đi, cô nương có muốn sống hay không?

Thiếu nữ hậm hực nói:

– Tiểu muội muốn sống hay muốn chết thì liên quan gì Trương ngũ hiệp?

Trương Thúy Sơn nói:

– Cô nương vất vả đi ngàn dặm hộ tống Du tam ca của ta, ơn đó không thể không báo đáp.

Thiếu nữ cười nhạt nói:

– À, thì ra chẳng qua chàng thay mặt tam sư ca trả nợ thôi! Nếu tiểu muội không hộ tống tam sư ca của chàng, tiểu muội có bị thương nặng hơn thế này, chàng cũng thây kệ chứ gì?

Trương Thúy Sơn ngẩn ra, nói:

– Chưa hẳn như thế.

Chỉ thấy thiếu nữ co ro run rẩy, hẳn là chất độc đang lan đi, chàng vội nói:

– Mau vén áo lên nào, cô nương tính đùa bỡn với tính mệnh của mình hay sao?

Thiếu nữ nghiến răng đáp:

– Chàng không nhận sai, tiểu muội sẽ không chịu để chàng cứu đâu!

Sắc diện nàng vốn trắng trẻo, lúc này nàng vừa giận dỗi vừa sợ hãi, trông càng thêm phần đáng thương.

Trương Thúy Sơn thở dài:

– Thôi được, cứ coi như ta nói sai, cô nương giết người không sai.

Thiếu nữ nói:

– Không được, sai là sai, sao lại "coi như"? Tại sao chàng thở dài rồi mới nhận sai, rõ ràng chưa thành tâm thành ý.

Trương Thúy Sơn nghĩ cứu người là cần kíp, giờ không phải lúc tranh cãi hơn thua với thiếu nữ, liền nói to:

– Hoàng thiên ở trên, giang thần ở dưới, tại hạ Trương Thúy Sơn hôm nay thành tâm thành ý.. nhận với Ân.. Ân..

Nói đến đó, chàng ngập ngừng; thiếu nữ tiếp lời:

– Ân Tố Tố.

Trương Thúy Sơn nói tiếp:

– Nhận với cô nương Ân Tố Tố là mình nói sai.

Ân Tố Tố cả mừng, nhoẻn miệng cười, nhưng chân nàng bỗng bủn rủn, lảo đảo ngồi phịch xuống ghế. Trương Thúy Sơn vội móc lọ thuốc trong bọc, lấy ra một viên Thiên tâm giải độc đơn cho nàng uống. Chàng vén tay áo nàng lên, thấy nửa cánh tay đã tím bầm, khí đen đang lan nhanh lên vai. Chàng dùng tay trái bóp chặt phía trên cánh tay của nàng lại, hỏi:

– Cô nương cảm thấy thế nào?

Ân Tố Tố nói:

– Tức ngực quá. Ai bảo chàng không chịu nhận sai sớm hơn? Tiểu muội có chết cũng do chàng hại đó!

Đến nước này, Trương Thúy Sơn chỉ đành dịu giọng an ủi:

– Cô nương cứ yên tâm. Đừng gắng gượng, hãy thả lỏng toàn thân, chớ vận khí, cứ làm như mình đang ngủ vậy.

Ân Tố Tố lườm chàng một cái, nói:

– Thì cứ coi như tiểu muội chết rồi đi.

Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: "Lúc này mà cô nàng vẫn ương ngạnh điêu ác, mai kia ai lấy phải nàng ta chắc khổ cả đời". Nghĩ đến đây, chàng bỗng thấy bồi hồi trong lòng, mặt nóng bừng, chỉ lo Ân Tố Tố đoán biết ý nghĩ của mình, bèn liếc trộm một cái, chỉ thấy nàng đỏ bừng hai má, đầy vẻ thẹn thùng, không biết đang nghĩ gì. Ánh mắt đôi bên gặp nhau, không hẹn mà cùng ngó sang phía khác.

Ân Tố Tố bỗng nhỏ nhẹ:

– Trương ngũ ca, tiểu muội nói năng thiếu ý tứ, lại đánh chàng nữa, chàng.. chàng đừng giận muội nhé!

Trương Thúy Sơn thấy Ân Tố Tố bỗng đổi cách xưng hô, từ "Trương ngũ hiệp" sang "Trương ngũ ca" thì tim đập rộn ràng, bèn hít một hơi, thâu nhiếp tâm thần, một luồng khí ấm từ đan điền dâng lên, truyền ra hai tay, chàng nắm chặt lấy hai phía trên dưới vết thương ở cánh tay Tố Tố.

Lát sau, từ đỉnh đầu Trương Thúy Sơn có làn hơi trắng bốc lên, hiển nhiên chàng đã dốc toàn lực, mồ hôi đang bốc hơi. Ân Tố Tố cảm động, biết đây là lúc quan trọng nhất trong việc trị độc, sợ chàng phân tâm, bèn nhắm mắt lại không dám nói chuyện. Bỗng "phựt" một tiếng, một cây Mai hoa tiêu từ cánh tay nàng bắn ra, văng xa hơn trượng, rồi một vòi máu đen từ vết thương phun ra. Máu đen dần dần chuyển sang màu hồng, mũi hoa tiêu thứ hai cũng bị nội lực của Trương Thúy Sơn trục khỏi cánh tay nàng.

Lúc đó bỗng nghe trên mặt sông có tiếng gọi to:

– Ân cô nương có ở đó chăng? Chu Tước đàn chủ xin tham kiến.

Trương Thúy Sơn thấy hơi lạ, nhưng đang lúc vận lực gấp gáp, chàng không bận tâm. Người kia lại gọi to một lần nữa. Chỉ nghe gã lái thuyền này nói:

– Ở đây có một kẻ ác đang muốn hại Ân cô nương, Thường đàn chủ mau tới cứu!

Người ở thuyền bên kia quát lớn:

– Ác tặc không được vô lễ, ngươi chỉ cần động tới một sợi tóc của Ân cô nương, ngươi sẽ bị băm vằm ngàn nhát.

Giọng người kia như tiếng chuông, vang vọng trên mặt sông nghe thật uy mãnh.

Ân Tố Tố mở mắt ra nhìn Trương Thúy Sơn mỉm cười, tựa hồ muốn chàng lượng thứ cho sự hiểu lầm này. Mũi Mai hoa tiêu thứ ba bị nàng đập ngập sâu vào trong thịt, Trương Thúy Sơn vận lực đạo ba lần liên tiếp vẫn chưa đẩy được nó ra ngoài. Chỉ nghe tiếng mái chèo khua gấp, chiếc thuyền bên kia đã áp tới gần, Trương Thúy Sơn thấy thuyền hơi chòng chành, hẳn có người đã nhảy sang, chàng đang mải vận lực, chẳng để tâm tới.

Người kia tiến vào khoang thuyền, thấy Trương Thúy Sơn đang dùng hai tay nắm chặt cánh tay trái của Ân Tố Tố, không biết chàng đang vận lực trị thương, bèn cả giận giáng ngay một chưởng vào hậu tâm của Trương Thúy Sơn, miệng quát:

– Ác tặc còn chưa buông tay ra!

Trương Thúy Sơn không cách gì giơ tay chống đỡ, bèn hít một hơi, phơi lưng cho hắn đánh một chưởng, chỉ nghe "hự" một tiếng, chưởng lực cực mạnh kia đã giáng ngay giữa lưng chàng. Trương Thúy Sơn nắm vững tinh yếu nội công của phái Võ Đang, toàn thân bất động, mượn lực dẫn chưởng lực trầm trọng kia ra lòng bàn tay, chỉ nghe "phựt" một tiếng, mũi Mai hoa tiêu thứ ba từ cánh tay Ân Tố Tố bật ra, cắm vào ván thuyền, dư lực còn mạnh nên rung rung hồi lâu.

Kẻ phát chưởng giáng tiếp chưởng thứ hai, nhưng thấy thế vội thu tay về, nói:

– Ân cô nương, cô nương.. không bị thương chứ?

Chỉ thấy máu đen từ vết thương phun ra. Người ấy là đại hành gia trên chốn giang hồ, biết mình vừa đánh lầm người, trong lòng cảm thấy rất áy náy, nghĩ thầm chưởng vừa rồi của mình có kình lực đánh vỡ bia đá, không khéo nội tạng của chàng trai này bị chấn thương hết cả, chỉ e tính mạng khó toàn, hắn vội vàng mở bọc lấy thuốc trị thương đưa cho Trương Thúy Sơn uống.

Trương Thúy Sơn lắc đầu, thấy máu từ vết thương của Ân Tố Tố đã chuyển thành màu đỏ, mới buông tay ra, ngoảnh lại nói với người kia:

– Chưởng vừa rồi của các hạ, lực đạo quả không nhỏ.

Người kia sửng sốt, nghĩ thầm rằng một chưởng của hắn đã đánh chết không biết bao nhiêu hảo thủ đã thành danh trong võ lâm, chàng thiếu niên này không né tránh, lãnh trọn một chưởng, mà vẫn điềm nhiên như không. Hắn nói:

– Ngươi.. ngươi..

Vừa quan sát sắc diện, vừa giơ tay xem mạch cho chàng. Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: "Mình phải đùa y cho biết", bèn ngầm vận nội kình, cho phúc mạc nâng lên khiến tim ngừng đập trong giây lát. Người kia bắt mạch cổ tay, thấy khí đã tuyệt thì càng sợ hãi.

Trương Thúy Sơn nhận chiếc khăn tay Ân Tố Tố đưa, buộc vào vết thương cho nàng, nói:

– Chất độc đã theo máu ra hết, cô nương chỉ cần uống thuốc giải độc thông thường là xong.

Ân Tố Tố nói:

– Đa tạ.

Rồi quay sang người kia, nghiêm mặt, nói:

– Thường đàn chủ không được vô lễ, đây là Trương ngũ hiệp của phái Võ Đang.

Người kia lùi một bước, cúi mình thi lễ, nói:

– Hóa ra là Trương ngũ hiệp trong Võ Đang thất hiệp, thảo nào nội công thâm hậu như thế, tiểu nhân Thường Kim Bằng mạo phạm quá nhiều, mong Trương ngũ hiệp đừng trách cứ.

Trương Thúy Sơn thấy người kia tuổi trạc ngũ tuần, mặt mũi và hai tay bắp thịt cuồn cuộn từng múi, bèn đứng dậy đáp lễ.

Thường Kim Bằng thi lễ xong với Trương Thúy Sơn thì quay sang cung kính thi lễ với Ân Tố Tố. Ân Tố Tố chỉ lặng lẽ gật đầu. Trương Thúy Sơn hơi lạ, lại nghe Thường Kim Bằng nói:

– Huyền Vũ đàn Bạch đàn chủ có ước hẹn với nhân vật các phái Hải Sa, bang Cự Kình, môn phái Thần Quyền, sáng sớm ngày mai tương hội tại Vương Bàn sơn đảo ở cửa sông Tiền Đường để giương đao lập uy. Cô nương không được khỏe, để tiểu nhân hộ tống cô nương về phủ Lâm An. Việc trên Vương Bàn sơn đảo, do một mình Bạch đàn chủ lo liệu cũng dư sức.

Ân Tố Tố hừ một tiếng, nói:

– Phái Hải Sa, bang Cự Kình, môn phái Thần Quyền, được.. Thế chưởng môn của phái Thần Quyền là Quá Tam Quyền cũng tới chứ?

Thường Kim Bằng đáp:

– Nghe đâu y sẽ dẫn mười hai đệ tử hảo thủ của phái Thần Quyền đến Vương Bàn sơn đảo phó hội.

Ân Tố Tố cười khẩy:

– Quá Tam Quyền tuy có địa vị cao, nhưng chịu chẳng nổi một đòn của Bạch đàn chủ. Còn có cao thủ nào nữa không?

Thường Kim Bằng ngập ngừng một lát, rồi nói:

– Nghe đâu phái Côn Luân có hai kiếm khách trẻ tuổi cũng đến phó hội, nói là muốn được thấy Đồ..

Đồ..

Nói tới đây, hắn liếc Trương Thúy Sơn một cái, không nói nữa. Ân Tố Tố lạnh lùng nói:

– Bọn họ cũng muốn xem thanh đao Đồ Long ư? Chỉ e thấy rồi lại nổi lòng..

Trương Thúy Sơn nghe đến bốn tiếng "thanh đao Đồ Long" thì giật mình, chỉ thấy Ân Tố Tố nói:

– Hừ, người của phái Côn Luân, không thể coi thường. Vết thương trên tay ta không đáng ngại, vậy chúng ta phải tới xem trò nhiệt náo ấy mới được, không chừng cũng giúp được Bạch đàn chủ một tay.

Đoạn nàng quay sang nói với Trương Thúy Sơn:

– Trương ngũ hiệp, hai ta tạm biệt ở đây thôi, muội sẽ đi thuyền của Thường đàn chủ, chàng hãy đáp thuyền này về phủ Lâm An. Phái Võ Đang của chàng không nên dính vào chuyện ngày mai.

Trương Thúy Sơn nói:

– Tam sư ca của tại hạ bị thương dường như có liên quan tới thanh đao Đồ Long, sự việc ra sao, mong cô nương cho biết.

Ân Tố Tố đáp:

– Những tình tiết và uẩn khúc của việc đó, muội cũng không biết rõ lắm, sau này chàng hỏi chính tam sư ca thì hơn!

Trương Thúy Sơn thấy Ân Tố Tố không chịu nói, biết có hỏi nữa cũng vô ích, nghĩ thầm: "Kẻ tàn hại tam ca của ta cốt nhắm đến thanh đao Đồ Long. Thường Kim Bằng nói rằng họ sẽ giương đao lập uy tại Vương Bàn sơn đảo, tựa hồ thanh đao Đồ Long đang ở trong tay họ. Sáu tên ác tặc kia nghe tin thể nào cũng tới phó hội", bèn nói:

– Tên đạo sĩ phóng ba mũi Mai hoa tiêu nọ, cô nương bảo liệu hắn có tới Vương Bàn sơn đảo hay chăng?

Ân Tố Tố mỉm cười không đáp, chỉ nói:

– Nếu Trương ngũ hiệp tính đi xem trò vui, vậy chúng ta cùng đi.

Đoạn quay sang nói với Thường Kim Bằng:

– Thường đàn chủ, thuyền của ngươi hãy đi trước dẫn đường!

Thường Kim Bằng đáp:

– Tuân lệnh!

Đoạn cúi người đi lùi ra khỏi khoang thuyền, vẻ cung kính như đầy tớ đối với chủ. Ân Tố Tố chỉ gật đầu. Trương Thúy Sơn nể chút võ công của hắn nên đứng dậy tiễn ra ngoài khoang.

Ân Tố Tố thấy trường bào của chàng bị Thường Kim Bằng đánh rách một mảng, chờ lúc chàng trở vào trong khoang, bèn nói:

– Chàng hãy cởi trường bào ra, để muội vá lại cho.

Trương Thúy Sơn nói:

– Không cần đâu!

Ân Tố Tố nói:

– Chàng sợ muội khâu vá vụng về ư?

Trương Thúy Sơn nói:

– Đâu dám.

Nói xong hai tiếng đó, chàng im lặng nghĩ đến việc tối hôm qua Ân Tố Tố ra tay giết hại liền một lúc mấy chục mạng người già trẻ lớn bé trong tiêu cục Long Môn; hung thủ đại gian đại ác như thế, đáng lý chàng phải xuất thủ diệt trừ, đằng này chàng chẳng những ngồi cùng thuyền, mà còn trị thương cho nàng ta, tuy nói là báo đáp cái ơn đã hộ tống sư huynh, song dẫu sao cũng là thiện ác bất minh, lúc nào xong việc ở Vương Bàn sơn, mình sẽ lập tức chia tay, quyết không tái ngộ với nàng ta nữa.

Ân Tố Tố thấy vẻ mặt khó coi của Thúy Sơn, đoán biết ý nghĩ của chàng, bèn lạnh lùng nói:

– Không chỉ Đô Đại Cẩm và hai tiêu đầu Chúc, Sử; không chỉ gia môn tiêu cục Long Môn và hai hòa thượng Thiếu Lâm tự, mà cả Tuệ Phong cũng do muội giết đó!

Trương Thúy Sơn nói:

– Tại hạ cũng nghi cô nương từ sớm, có điều chưa hiểu cô nương giết y bằng cách nào.

Ân Tố Tố nói:

– Đâu có gì lạ? Muội ngâm mình dưới hồ, nghe các vị đấu khẩu với nhau. Gã Tuệ Phong bỗng phát hiện hai ta tướng mạo khác nhau, đang định nói ra, muội liền phóng một mũi ngân châm vào miệng gã. Chàng cứ đi tìm tung tích muội ở trên đường, trong lùm cây, thì thấy sao được?

Trương Thúy Sơn nói:

– Hèn chi phái Thiếu Lâm cứ một mực bảo rằng tại hạ là hung thủ. Ân cô nương, cô nương thật quá ư thông minh, quá ư thủ đoạn!

Câu sau cùng chàng nói bằng giọng đầy tức tối. Ân Tố Tố giả bộ không hiểu, đứng dậy nói:

– Không dám, Trương ngũ hiệp quá khen!

Trương Thúy Sơn hết chịu nổi, xẵng giọng:

– Họ Trương ta không thù không oán với cô nương, sao cô nương lại cố công hãm hại ta chứ?

Ân Tố Tố mỉm cười nói:

– Muội cũng không muốn hãm hại chàng đâu, chẳng qua Thiếu Lâm và Võ Đang hiệu xưng là hai đại tông phái võ học đương thế, muội muốn hai phái các vị đánh nhau một phen, xem bên nào mạnh bên nào yếu.

Trương Thúy Sơn quá kinh hãi, lửa giận nguôi hẳn, nhưng trong lòng thấy cần phải hết sức đề phòng thiếu nữ đáng gờm này: "Thì ra nàng ta không chỉ hãm hại riêng ta, mà còn có đại gian mưu khác. Nếu phái Võ Đang ta với phái Thiếu Lâm đánh nhau thật, tất sẽ lưỡng bại câu thương, thành một đại kiếp nạn trong võ lâm mất thôi".

Ân Tố Tố mở chiếc quạt ra phe phẩy, thần sắc thản nhiên, nói:

– Trương ngũ hiệp, chàng có thể cho muội thưởng thức thư họa trên chiếc quạt của chàng được chăng?

Trương Thúy Sơn chưa kịp đáp, bỗng nghe có người ở thuyền của Thường Kim Bằng lớn tiếng hỏi:

– Có phải thuyền của bang Cự Kình đó không? Vị nào ở thuyền đó vậy?

Trên mặt sông phía bên hữu có tiếng đáp:

– Thiếu bang chủ bang Cự Kình đến Vương Bàn sơn đảo phó hội đây!

Người trên thuyền của Thường Kim Bằng nói:

– Tại đây có Ân cô nương và Thường đàn chủ Chu Tước đàn của Thiên Ưng giáo, lại có quý khách danh môn. Quý thuyền hãy lùi lại nhường đường đi! Người trên thuyền ở bên hữu đáp, giọng thô lỗ:

– Nếu là giáo chủ quý giáo giá lâm, bọn này sẽ nhường, người khác thì đừng hòng.

Trương Thúy Sơn trong lòng chợt động, nghĩ thầm: "Thiên Ưng giáo là tà giáo nào mà mình chưa hề nghe qua thế nhỉ? Xem thanh thế và lực lượng của họ thì chẳng phải nhỏ. Chắc giáo phái này nổi lên chưa lâu, mình lại ít xuống vùng Giang Nam, không biết họ là phải. Bang Cự Kình thì nghe tiếng đã lâu, là một bọn chẳng tử tế gì". Chàng mở cửa sổ khoang thuyền, nhìn ra thấy ở mé bên phải có một chiếc thuyền đóng thành hình một con cá kình, mũi thuyền lấp lánh bạch quang, có mấy chục cây đao sắp thành hàm răng con cá kình, thân thuyền cong cong, đuôi vểnh lên y như cá. Chiếc thuyền đó buồm lớn, thân nhẹ, lướt nhanh hơn hẳn thuyền của Thường Kim Bằng.

Thường Kim Bằng đứng ở mũi thuyền, gọi to:

– Mạch thiếu bang chủ, Ân cô nương đang ở đây, bộ ngươi không nể mặt chút nào ư?

Từ trong khoang thuyền của bang Cự Kình bước ra một hoàng y thiếu niên, y cười khẩy, nói:

– Ở trên bộ thì Thiên Ưng giáo các vị là hơn, nhưng trên mặt nước thì phải là bang Cự Kình của bọn này chứ? Làm sao có thể nhường các vị đi trước?

Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: "Mặt sông rộng nhường này, vài trăm chiếc thuyền cùng đi cũng được, hà tất đòi họ phải nhường đường, Thiên Ưng giáo này kể cũng ngang ngược thật".

Lúc này thuyền của bang Cự Kình lại giương thêm một chiếc buồm, nên lướt càng nhanh. Hai thuyền cách nhau xa dần, thuyền này chẳng cách gì theo kịp. Thường Kim Bằng hừ một tiếng, nói:

– Bang Cự Kình.. thanh đao Đồ Long.. đúng.. thanh đao Đồ Long..

Sông rộng, gió mạnh, sóng cao, hai thuyền cách nhau lại xa, chẳng hiểu Thường Kim Bằng nói những gì.

Mạch thiếu bang chủ nghe mấy tiếng "thanh đao Đồ Long", nghĩ là chuyện hệ trọng, bèn lệnh cho thủy thủ quay thuyền trở lại, mỗi lúc một gần thuyền của Thường Kim Bằng, cao giọng hỏi:

– Vừa nãy Thường đàn chủ nói gì vậy?

Thường Kim Bằng nói:

– Mạch thiếu bang chủ.. Bạch đàn chủ của Huyền Vũ đàn chúng tôi.. thanh đao Đồ Long ấy..

Trương Thúy Sơn cảm thấy hơi kỳ "Sao hắn cứ nói lấp lấp lửng lửng vậy nhỉ?"

Chỉ thấy thuyền của bang Cự Kình đã tới gần, chỉ còn cách vài trượng, nghe "vù" một tiếng, Thường Kim Bằng đã cầm cây neo lớn ở mũi thuyền quăng mạnh sang phía thuyền bên kia, tiếng xích sắt loảng xoảng, hai tên thủy thủ bên đó rú lên thảm thiết, cây neo đã ngoắc vào thuyền của bang Cự Kình.

Mạch thiếu bang chủ quát:

– Ngươi làm gì thế?

Thường Kim Bằng tay chân thật nhanh nhẹn, nhấc luôn cây neo thứ hai quăng sang. Hai cây neo đã đánh chết ba thủy thủ thuyền đối phương, đồng thời móc chùm hai chiếc thuyền lại với nhau. Mạch thiếu bang chủ vội chạy ra mạn thuyền để gỡ cây neo. Thường Kim Bằng vung tay phải, tiếng xích leng keng, một trái dưa hấu to tướng màu xanh bay đi, rồi "bình" một tiếng, giáng trúng cột buồm cái của thuyền bang Cự Kình. Lúc này Trương Thúy Sơn mới biết trái dưa hấu lớn kia là binh khí thường dùng của Thường Kim Bằng, nó được đúc bằng sắt, vỏ sơn màu xanh sọc đen, có hai trái như thế, sử dụng như chùy lưu tinh, chỉ khác là mỗi trái dưa này nặng đến dăm sáu chục cân, cánh tay phải cực khỏe mới đủ sức nhấc lên.

Trái dưa sắt bên tay phải giáng trúng đích, cột buồm cái của thuyền bang Cự Kình kêu răng rắc. Thường Kim Bằng thu hồi vũ khí bên tay phải, lại vung trái dưa bên tay trái đánh sang, đến lần thứ ba thì cột buồm bên kia gãy gục. Bọn hải tặc trên thuyền bang Cự Kình kêu la om sòm. Thường Kim Bằng quăng hai trái dưa cùng một lúc, nhắm đánh vào cột buồm phụ phía sau, một đòn gãy liền.

Lúc đó hai thuyền cách nhau hơn hai trượng, Mạch thiếu bang chủ đành trơ mắt nhìn hai cột buồm lần lượt bị đánh gãy, chẳng thể làm gì, chỉ biết chửi bới ầm ĩ.

Thường Kim Bằng quát:

– Có Thiên Ưng giáo ở đây, ở dưới nước cũng chẳng có chỗ cho bang Cự Kình các ngươi xưng hùng!

Tay phải lại vung trái dưa sang, lần này đánh vào mạn thuyền bang Cự Kình, "bình" một tiếng, mạn thuyền vỡ ra một mảng lớn, nước tràn vào trong, bọn thủy thủ kêu la nhớn nhác.

Mạch thiếu bang chủ cầm chiếc "Phân thủy Nga Mi thích" nhún chân tung mình nhảy sang mũi thuyền của Thường Kim Bằng. Thường Kim Bằng chờ lúc y nhảy lên vị trí cao nhất liền văng trái dưa bên tay trái lên đánh thẳng vào mặt hắn; chiêu này rất hiểm, khi trái dưa sắt bay đến là lúc tên kia đang lơ lửng trên không, lực nhảy sắp suy, khó bề né tránh. Mạch thiếu bang chủ kêu "Ối cha!" vội dùng "Nga Mi thích" điểm vào trái dưa, muốn mượn lực bay trở lại, cảm thấy tức ngực ngộp thở, mắt tối sầm, lộn người trở ngược về thuyền mình.

Hai trái dưa của Thường Kim Bằng thay nhau tung ra thu vào, trong giây lát chiếc thuyền của bang Cự Kình đã bị đánh thủng bảy tám lỗ lớn. Thường Kim Bằng nắm dây neo, vận kình kéo mạnh. "Xoạch xoạch" hai tiếng, mạn thuyền kia bị toạc ván, hai cây neo được kéo về thuyền bên này.

Thủy thủ trên thuyền của Thiên Ưng giáo không đợi đàn chủ phân phó, liền giương buồm bẻ lái cho thuyền lướt thẳng lên phía trước.

Trương Thúy Sơn thấy Thường Kim Bằng đánh phá thuyền địch uy mãnh như thế, thầm kinh hãi: "Mình mà không được ân sư truyền thụ phép mượn lực ngự lực, thì một chưởng 'Cự linh thần chưởng' của hắn giáng vào giữa lưng mình chịu sao nổi. Tên này trong giây lát biết dụ địch phá địch, chẳng những võ công đáng gờm mà còn nham hiểm tàn ác, tâm kế đa đoan, quả là một nhân vật vô cùng lợi hại trong tà giáo". Nhìn lại Ân Tố Tố, chỉ thấy nàng thần sắc thản nhiên, tựa hồ những chuyện thế này là chuyện thường ngày, chẳng đáng bận tâm.

Nghe có tiếng sấm ì ầm xa xa, ấy là thủy triều ban đêm trên sông Tiền Đường sắp tới. Bang chúng của bang Cự Kình tuy ai nấy thông thạo thủy tính, nhưng lúc này đang ở chỗ sông biển giao nhau, mặt nước rộng tới vài chục dặm, cách xa hai bờ nam bắc. Nghe thấy tiếng thủy triều sắp tràn tới, bang chúng bang Cự Kình không khỏi hoảng sợ kêu cứu ầm ỹ.

Hai chiếc thuyền của Thường Kim Bằng và Ân Tố Tố cứ thế lướt về phía đông, chẳng thèm để ý đến bọn kia.

Trương Thúy Sơn thò đầu ra ngoài, nhìn về phía sau, thấy chiếc thuyền của bang Cự Kình đã chìm non nửa dưới nước, khi thủy triều tràn tới ắt sẽ bị đánh vỡ tan. Nghe tiếng kêu cứu thảm thiết, chàng cầm lòng không đậu; nhưng thừa biết Ân Tố Tố và Thường Kim Bằng là hạng người tàn ác, dù có bảo họ dừng thuyền cứu hộ, họ cũng cự tuyệt, chỉ khiến mình thêm bực bội, nên chàng đành ngồi im không nói gì.

Ân Tố Tố nhìn thần sắc của chàng, mỉm cười, gọi to:

– Thường đàn chủ, quý khách Trương ngũ hiệp của chúng ta đại phát từ bi, người hãy mau cứu vớt bang chúng bang Cự Kình!

Điều này thật bất ngờ đối với Trương Thúy Sơn, chỉ nghe Thường Kim Bằng ở chiếc thuyền đằng trước đáp:

– Xin tuân lệnh quý khách!

Đoạn chiếc thuyền nghiêng qua, quay về phía ngược dòng. Thường Kim Bằng lớn tiếng nói:

– Bang chúng bang Cự Kình nghe đây, Trương ngũ hiệp của phái Võ Đang cứu mạng các ngươi đó, kẻ nào muốn sống mau bơi xuống đây!

Bang chúng liền thuận dòng bơi xuống, thuyền của Thường Kim Bằng chạy ngược lên, chặn đầu thủy triều, vớt Mạch thiếu bang chủ và tám chín phần bang chúng lên thuyền, song vẫn còn ngót chục thủy thủ bị táng mạng trong sóng gió.

Trương Thúy Sơn như được an ủi, vui vẻ nói:

– Đa tạ cô nương!

Ân Tố Tố lạnh lùng nói:

– Bang Cự Kình giết người như ngoé, bọn chúng tên nào tay cũng dính máu, chàng cứu chúng làm gì kia chứ?

Trương Thúy Sơn ngẩn ra, không biết nói sao. Bang Cự Kình lừng danh tàn ác, là một trong tứ đại ác bang trên sông nước, chàng từng nghe danh, chẳng biết sao hôm nay lại cứu mạng chúng. Ân Tố Tố nói:

– Không vớt chúng lên thuyền, Trương ngũ hiệp lại rủa thầm muội là kẻ tâm địa tàn ác như độc xà, lại hối hận đã trị thương cho muội!

Câu này nói trúng tâm sự của Trương Thúy Sơn, khiến chàng đỏ mặt, đành cười gượng:

– Cô nương miệng lưỡi sắc sảo, tại hạ đối đáp chẳng lại. Cứu người là cô nương tích công đức cho cô nương, chứ liên can gì tại hạ.

Lúc đó thủy triều ầm ầm như sấm động váng cả tai, chiếc thuyền Ân Tố Tố và Trương Thúy Sơn đang đi cứ bị dồi lên giáng xuống, mọi lời nói đều bị tiếng sóng át đi. Trương Thúy Sơn nhìn qua cửa sổ, thấy sóng cao như bức tường trong suốt, bang chúng bang Cự Kình mà không được vớt từ sớm thì lúc này đã bị sóng cuốn vùi rồi.

Ân Tố Tố đi ra khoang sau, đóng cửa lại, lúc trở ra đã đổi sang y phục thiếu nữ. Nàng dùng tay ra hiệu Trương Thúy Sơn cởi trường bào. Chàng không tiện từ chối nữa, đành cởi áo ra. Cứ ngỡ Ân Tố Tố sẽ vá chỗ rách trên trường bào cho chàng, nào ngờ nàng đưa cho chàng cái trường bào mà nàng vừa thay, bảo chàng mặc vào, còn cái áo rách thì nàng đem cất vào khoang sau.

Trương Thúy Sơn trên mình chỉ còn chiếc áo ngắn, đành mặc cái trường bào giả trai của Ân Tố Tố. Cái áo ấy vốn rộng rãi, Trương Thúy Sơn tuy cao lớn hơn nàng nhiều, song chàng mặc cũng không đến nỗi quá chật; một mùi hương dễ chịu đưa lên mũi, chàng cảm thấy lâng lâng, không dám nhìn nàng, chỉ nghiêm trang ngồi giả bộ thưởng thức thư họa trên vách thuyền. Nhưng tâm sự của chàng giống như nước triều đưa con thuyền trồi lên hụp xuống, chứ đâu có nhìn thấy thư họa gì. Ân Tố Tố cũng không nói chuyện với chàng.

Bỗng có một đợt sóng lớn ập tới, con thuyền chao nghiêng, đèn nến tắt ngấm. Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: "Trong khoang thuyền tối om chỉ có mình và Ân Tố Tố, tuy mình không làm gì mờ ám, nhưng có thể hại cho thanh danh của nàng", chàng bèn đẩy cửa khoang sau, đi ra xem người lái đang vững vàng tay lái điều khiển con thuyền vượt lên sóng dữ.

Hơn nửa canh giờ sau, nước thủy triều rút trở ra biển, thuận gió xuôi dòng, thuyền chạy càng nhanh, sáng sớm hôm sau đã tới gần Vương Bàn sơn đảo.

Vương Bàn sơn đảo là một hoang đảo nhỏ ở cửa sông Tiền Đường, trên biển Đông. Đảo này đá núi lởm chởm, không có người ở. Hai chiếc thuyền tiến gần phía nam đảo, còn cách vài dặm đã nghe có tiếng tù và thổi vang trên đảo, hai người đứng trên bờ vẫy hai ngọn cờ lớn làm hiệu. Thuyền từ từ tiến vào, thấy hai lá cờ đều thêu một con chim ưng lớn dang rộng đôi cánh, trông thật uy vũ.

Đứng giữa hai lá cờ là một lão già. Lão lớn tiếng nói:

– Huyền Vũ đàn Bạch Quy Thọ cung nghênh Ân cô nương.

Giọng y chậm và dài, thanh âm quyện vào nhau, tuy không vang động nhưng khí lực hùng hậu. Thuyền cập bến, Bạch Quy Thọ đích thân bắc ván làm cầu cho khách lên bờ. Ân Tố Tố mời Trương Thúy Sơn đi trước, sau khi lên bờ mới đưa chàng lại giới thiệu với Bạch Quy Thọ.

Bạch Quy Thọ thấy Ân Tố Tố hết sức kính nể Trương Thúy Sơn, lại nghe chàng là Trương ngũ hiệp trong Võ Đang thất hiệp thì chột dạ, nói:

– Nghe thanh danh Võ Đang thất hiệp từ lâu, hôm nay được gặp, thực là đại vinh hạnh.

Trương Thúy Sơn khiêm tốn đáp lại vài câu.

Ân Tố Tố cười:

– Hai vị nói năng giữ kẽ, nghe chẳng thoải mái chút nào. Một vị thì nghĩ thầm: "Nguy rồi, người của phái Võ Đang cũng tới, thêm một nhân vật lợi hại giành giật thanh đao Đồ Long". Vị kia thì nghĩ thầm: "Lão thuộc loại tà giáo tả đạo, ta đâu thèm kết giao với ngươi". Bổn cô nương ta muốn hai vị cứ thích sao nói vậy, đừng nghĩ một đằng nói một nẻo.

Bạch Quy Thọ cười ha hả. Trương Thúy Sơn thì nói:

– Không dám! Bạch đàn chủ võ công tinh thâm, tại hạ được nghe công phu "Cách hải truyền thanh" của các hạ, trong lòng khâm phục bội phần. Tại hạ theo Ân cô nương tới đây xem trò vui, không hề có ý nhòm ngó thanh đao Đồ Long.

Ân Tố Tố nghe Trương Thúy Sơn nói vậy thì rất vui mừng, mặt tươi như hoa. Bạch Quy Thọ biết Ân Tố Tố mặt lạnh lùng, dạ lang sói, lâu nay chẳng tử tế với ai, nay đối với Trương Thúy Sơn quả nhiên khác hẳn thì đoán rằng nàng coi trọng nam tử lắm, lại nghe chàng tán tụng nội công của lão, nên lão hết coi chàng là thù địch, nói:

– Ân cô nương, một số nhân vật của phái Hải Sa, bang Cự Kình, môn phái Thần Quyền đã tới rồi, còn có hai kiếm khách trẻ tuổi của phái Côn Luân. Hai tên tiểu tử ấy đầy vẻ vênh váo, phách lối, đâu được như Trương ngũ hiệp danh vang thiên hạ mà vẫn khiêm nhường. Đủ biết có một phần bản lĩnh rồi, rất cần có một phần tu dưỡng..

Lão nói tới đó, thì bỗng nghe có tiếng người quát từ phía núi đằng sau:

– Lén lén lút lút phỉ báng sau lưng người khác, là cái thói gì chứ?

Tiếng nói dứt, có hai người đi ra, cả hai đều mặc trường bào màu xanh lưng đeo chéo một thanh trường kiếm, tuổi ngót tam tuần, vẻ mặt vênh vênh như muốn gây sự.

Bạch Quy Thọ cười, nói:

– Vừa nhắc Tào Tháo thì Tào Tháo đến liền. Lại đây, lại đây nào, tại hạ sẽ giới thiệu các vị với nhau!

Hai kiếm khách của phái Côn Luân đang định sinh sự, bỗng nhiên thấy dung quang diễm lệ phi phàm của Ân Tố Tố liền bất giác cùng động lòng, một gã cứ nhìn nàng chằm chằm không chớp mắt, gã kia thì quay mặt đi rồi chốc chốc lại liếc trộm nàng.

Bạch Quy Thọ chỉ gã đang ngây người nhìn Ân Tố Tố, nói:

– Đây là Cao đại kiếm khách Cao Tắc Thành.

Đoạn chỉ gã thứ hai, nói:

– Vị này là Tưởng đại kiếm khách Tưởng Đào. Hai vị đều là cao thủ võ học của phái Côn Luân. Phái Côn Luân uy chấn Tây Vực, võ học có những môn bí truyền. Hai vị Cao, Tưởng đây lại là nhân vật kỳ tài, siêu quần của phái Côn Luân. Lần đầu đến Trung nguyên này, hẳn hai vị sẽ đại hiển tài nghệ để mở mắt cho mọi người.

Mấy câu trên hàm ý mỉa mai, Trương Thúy Sơn cứ tưởng hai gã kiếm khách nếu không tức thời động võ, hẳn cũng đấu khẩu vài câu, nào ngờ cả hai gã Cao Tưởng chỉ ậm à ậm ừ, tựa hồ chẳng nghe gì cả; lúc chàng ngó lại thần sắc của hai gã, thì chợt hiểu, vừa nhìn thấy Ân Tố Tố, một gã cứ đờ đẫn như kẻ mất hồn, một gã len lén nhìn trộm nàng, cả hai cùng như si như ngốc. Trương Thúy Sơn cười thầm: "Phái Côn Luân nổi danh thiên hạ, hiệu xưng kiếm thuật thông thần, ai ngờ đệ tử của họ lại thiếu tư cách đến thế".

Bạch Quy Thọ nói tiếp:

– Vị này là Trương Thúy Sơn Trương tướng công thuộc phái Võ Đang, vị này là Ân Tố Tố Ân cô nương, vị này là Thường đàn chủ Thường Kim Bằng của bổn giáo.

Lão giới thiệu tính danh ba người một cách sơ lược, không màu mè, đối với Trương Thúy Sơn, lão gọi là Trương tướng công chứ không hề nhắc đến ba chữ "Trương ngũ hiệp", chứng tỏ lão coi chàng là người rất thân cận.

Ân Tố Tố mừng rỡ trong lòng, đưa mắt nhìn lướt qua mặt chàng, làn thu ba lóng lánh, lúm đồng tiền hơi lộ.

Cao Tắc Thành thấy Ân Tố Tố tỏ ra thân mật với Trương Thúy Sơn thì không hiểu sao hậm hực, trừng mắt nhìn đối phương một cái, giọng lạnh lùng nói:

– Tưởng sư đệ, ở Tây Vực hình như chúng ta cũng có nghe nói phái Võ Đang cũng là danh môn chính phái trong võ lâm Trung nguyên thì phải?

Tưởng Đào nói:

– Không sai, hình như có nghe qua.

Cao Tắc Thành nói:

– Quả nhiên tai nghe không bằng mắt thấy, chỉ nghe đồn thật khó mà tin.

Tưởng Đào nói:

– Vậy ư? Giang hồ thiếu gì tin đồn, mười điều chỉ đáng tin một thôi. Cao sư ca bảo phái Võ Đang làm sao?

Cao Tắc Thành nói:

– Đệ tử danh môn chính phái, sao lại đi đàn đúm với bọn tà giáo, như thế khác gì tự hạ thấp mình?

Hai gã kẻ xướng người họa, cứ nhắm Trương Thúy Sơn châm chọc; chúng không biết Ân Tố Tố cũng là nhân vật trong Thiên Ưng giáo, hai chữ "tà giáo" của chúng là chỉ hai lão Bạch, Thường.

Trương Thúy Sơn nghe hai gã nói năng vô lễ như thế, đã giận lắm, nhưng chợt nghĩ mình tới Vương Bàn sơn đảo chuyến này là nhằm điều tra hung thủ hãm hại Du tam ca; hai tên đệ tử phái Côn Luân kia tuy hơn tuổi chàng, nhưng chỉ là bọn vô danh, mới "ra khỏi lều tranh", không cần hạ mình tranh biện với chúng, huống hồ Thiên Ưng giáo hành sự quả thực tà ác, cứ xem Ân Tố Tố cùng Thường Kim Bằng giết người như ngóe thì biết, mình không thể nào gắn bó với họ; thế nên chàng mỉm cười nói:

– Tại hạ với các vị Thiên Ưng giáo cũng mới quen, chẳng khác gì hai vị nhân huynh đây.

Câu nói của chàng, ai nghe cũng bị bất ngờ. Bạch, Thường hai đàn chủ cứ ngỡ Ân Tố Tố với chàng là chỗ thâm giao, ai ngờ chỉ mới quen. Ân Tố Tố thì trong bụng giận lắm, biết Trương Thúy Sơn nói như thế là có ý coi Thiên Ưng giáo chẳng ra gì. Hai gã Cao Tưởng thì nhìn nhau cười nhạt, nghĩ thầm: "Tên tiểu tử này là đồ bị thịt, mới nghe danh phái Côn Luân đã sợ huynh đệ ta rồi".

Bạch Quy Thọ nói:

– Các vị quý khách đã tề tựu, chỉ còn thiếu Mạch thiếu bang chủ của bang Cự Kình, chúng ta khỏi cần chờ y. Bây giờ các vị tùy ý ngao du, chính Ngọ xin mời tới sơn cốc đằng kia uống rượu xem đao.

Thường Kim Bằng cười nói:

– Thuyền của Mạch thiếu bang chủ bị đắm, Trương tướng công ra lệnh cứu y, hiện giờ y đang ở dưới thuyền, đợi lúc đó mời y phó yến cũng được.

Trương Thúy Sơn thấy hai vị đàn chủ Bạch, Thường đối với chàng quá cung kính, Ân Tố Tố thì đầu mày cuối mắt cứ đắm đuối nhìn mình, chàng nghĩ phải làm sao xa lánh bọn này, bèn nói:

– Tại hạ muốn đi loanh quanh một mình, mong các vị cứ tự nhiên.

Cũng không đợi ai hồi đáp, chàng giơ tay lên ra hiệu, rồi đi về phía cánh rừng ở mé đông.

*

* *

Vương Bàn sơn là một đảo nhỏ, đá núi và thảo mộc chẳng có gì đáng ngắm. Ở góc đông nam có một cái vịnh, thấy lô xô cột buồm, đậu mươi chiếc thuyền lớn, chắc là của phái Hải Sa và bang Cự Kình. Trương Thúy Sơn thả bộ trên bờ biển. Chàng hết sức bất mãn về hành vi giết người tàn bạo của Ân Tố Tố, nhưng lạ thay, ý nghĩ về nàng cứ luôn lởn vởn trong tâm trí: "Ân cô nương có địa vị cực kỳ tôn quý trong Thiên Ưng giáo, hai lão Bạch, Thường đàn chủ đối với nàng ta cung kính cứ như với một nàng công chúa, nhưng rõ ràng nàng ta không phải giáo chủ, thế nghĩa là sao?" Lại nghĩ thầm: "Thiên Ưng giáo muốn giương đao lập uy trên đảo này, trong khi phái Hải Sa, Thần Quyền môn và bang Cự Kình đều do các thủ lĩnh phó hội, Thiên Ưng giáo chỉ phái hai vị đàn chủ chủ trì, tức không hề coi trọng các đối thủ. Xem ra Bạch đàn chủ của Huyền Vũ đàn có võ công cao hơn Thường đàn chủ của Chu Tước đàn. Thiên Ưng giáo đã trở thành mối lo cực lớn trong võ lâm; hôm nay mình cần dò xét cho rõ lai lịch của chúng, không chừng mai này Võ Đang thất hiệp sẽ phải đối đầu một mất một còn với chúng cũng nên".

Đang trầm ngâm, bỗng nghe từ phía rừng cây vọng ra tiếng binh khí va chạm nhau, chàng nổi tính hiếu kỳ bèn đi về hướng đó, thấy dưới tán cây là Cao Tắc Thành và Tưởng Đào đang luyện kiếm với nhau, Ân Tố Tố đứng bên cạnh vừa xem vừa cười khúc khích. Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: "Sư phụ thường nói kiếm thuật của phái Côn Luân có nhiều chỗ độc đáo, hồi trẻ lão nhân gia từng giao đấu với một danh gia của phái Côn Luân được tôn là" Kiếm thánh ", cơ duyên này thật hiếm có". Thế nhưng nhân sĩ võ lâm khi đang luyện võ, rất kỵ người khác coi lén. Trương Thúy Sơn tuy rất muốn xem, nhưng phải theo quy củ võ lâm, chàng chỉ liếc một cái, rồi quay mình trở lui.

Song Ân Tố Tố đã trông thấy chàng, nàng vừa vẫy tay vừa gọi:

– Trương ngũ ca, mau lại đây.

Trương Thúy Sơn lúc này nếu cứ bỏ đi, sẽ bị người ta nghi là đã xem lén, chàng đành đủng đỉnh lại gần, nói:

– Hai vị huynh đài kia đang luyện kiếm ở đây, mình ra chỗ khác để người ta khỏi bực.

Chưa nghe Ân Tố Tố trả lời, chỉ thấy một đạo bạch quang lóe lên, Tưởng Đào trả đòn, đâm một kiếm trúng vai Cao Tắc Thành, máu tươi bắn ra. Trương Thúy Sơn kinh ngạc, cứ ngỡ Tưởng Đào lỡ tay đả thương sư huynh, nào ngờ Cao Tắc Thành bặm môi, mặt hầm hầm, nghe "chát, chát, chát" ba tiếng, vung trường kiếm đâm toàn vào những chỗ yếu hại của Tưởng Đào, chiêu số xảo diệu và hiểm độc. Trương Thúy Sơn nhìn kỹ mới biết hai gã đang đánh nhau thật, thì càng lạ thêm.

Ân Tố Tố cười, nói:

– Xem ra sư ca không bằng sư đệ, kiếm pháp của Tưởng huynh có phần tinh diệu hơn.

Cao Tắc Thành nghe vậy thì nghiến răng, đảo người hồi kiếm, kiếm quyết nghiêng đi, một chiêu "Bách trượng phi bộc" mũi kiếm từ trên lưng chừng đâm thẳng xuống. Trương Thúy Sơn không nhịn được, thốt lên:

– Hảo kiếm pháp!

Tưởng Đào rụt người tránh, nhưng kiếm thế của Cao Tắc Thành không sử hết, giữa chừng liền biến chiêu, mũi kiếm chợt đâm chéo sang, "kịch" một tiếng, đâm trúng vào đùi bên trái Tưởng Đào. Ân Tố Tố vỗ tay reo to:

– Thì ra sư huynh cũng có miếng đòn lợi hại, chiêu này thì Tưởng huynh chịu rồi.

Tưởng Đào nổi giận nói:

– Cái đó chưa hẳn!

Kiếm chiêu chợt biến hóa, pho kiếm pháp "Vũ đả phi hoa" được phô bày. Đường kiếm này toàn là đâm xéo, phiêu dật vô luân, cứ bảy tám chiêu đâm xéo lại xen một chiêu chọc thẳng, khiến đối phương rất khó chống đỡ. Đối với đường kiếm pháp của bản môn này, Cao Tắc Thành đã quá quen thuộc, cứ kiến chiêu chiết chiêu, trả đòn không chút nương tay. Cả hai gã đều bị thương, tuy không vào chỗ yếu hại, nhưng trong trận kịch đấu máu cứ văng tung tóe, mặt mũi, tay chân, quần áo đều có vết máu. Hai sư huynh sư đệ càng đấu càng hăng, tưởng chừng liều chết với nhau một phen. Ân Tố Tố đứng bên cạnh luôn miệng xui nguyên giục bị, tán dương Cao Tắc Thành vài lời, rồi lại tán dương Tưởng Đào vài câu làm cho hai gã như điên như si cứ lao vào đâm chém nhau, chứng tỏ kiếm pháp của mình cao cường để lấy lòng Ân Tố Tố.

Lúc này Trương Thúy Sơn đã hiểu hai gã kia xả thân ác đấu với nhau chẳng qua là do Ân Tố Tố xúi giục, nàng trả thù cái việc hai gã trước đó dám nói lời khinh bỉ Thiên Ưng giáo. Hai gã càng đấu càng ác, ban đầu chẳng qua chỉ muốn thủ thắng, về sau thì đều không tự kiềm chế được nữa, cứ như thể muốn lấy mạng đối phương, nếu cứ tiếp tục thế này, ắt gây ra đại họa. Nhìn kiếm pháp của hai gã tuy có tinh diệu nhưng biến hóa chưa linh hoạt, nội lực còn non yếu, chỉ phát huy được một hai thành uy lực mà thôi.

Ân Tố Tố vỗ tay thích thú, nói:

– Trương ngũ ca, chàng thấy kiếm pháp của phái Côn Luân thế nào?

Không thấy Trương Thúy Sơn đáp lời, nàng ngoảnh lại, thấy chàng hơi cau mày có vẻ chán ghét, bèn nói:

– Quanh đi quẩn lại chỉ có mấy đường, cũng chẳng có gì lý thú, thôi mình ra kia ngắm cảnh biển hay hơn!

Đoạn nắm lấy bàn tay trái của Trương Thúy Sơn mà bước đi.

Trương Thúy Sơn cảm thấy một bàn tay mềm mại ấm áp nắm lấy tay mình, lòng chợt bồi hồi, thừa biết Ân Tố Tố cố ý chọc giận hai gã Cao Tưởng, song cũng không tiện gỡ tay ra, đành cùng nàng đi ra phía biển.

Ân Tố Tố nhìn cảnh biển bao la vô bờ, lặng ngắm một hồi, rồi nói:

– Trong sách Trang Tử Thu thủy thiên có viết: "Nước trong thiên hạ, không gì lớn bằng biển, vạn dòng chảy về đó không ngừng nghỉ mà chẳng biết bao giờ đầy". Song biển cả hoàn toàn không kiêu ngạo, chỉ nói: "Ta ở giữa trời đất, giống như viên sỏi, ngọn cỏ giữa núi lớn vậy". Trang Tử quả là người bao dung, tài tình.

Trương Thúy Sơn thấy nàng xúi giục hai gã Cao Tưởng tàn sát lẫn nhau để lấy làm trò vui, chàng vốn rất bất mãn, bỗng nhiên nghe mấy câu này của nàng thì bất giác ngẩn người. Trang Tử là cuốn sách mà người tu dưỡng Đạo gia ai ai cũng phải đọc, trên núi Võ Đang, sư phụ Trương Tam Phong vẫn thường đem sách đó ra giảng giải cho bảy sư huynh sư đệ của chàng. Nay nữ ma đầu giết người không chớp mắt kia đột nhiên thốt lên mấy câu cảm khái như thế, quả là điều chàng không ngờ tới. Ngẩn người một lát rồi, chàng nói:

– Đúng thế, "Phù thiên lý chi viễn, bất túc dĩ cử kỳ đại, thiên nhận chi cao, bất túc dĩ cực kỳ thâm".

[26]

Ân Tố Tố nghe chàng cũng dùng lời trong sách Trang Tử, Thu thủy thiên miêu tả biển cả để trả lời, vẻ mặt không khỏi biểu lộ sự ngưỡng mộ, nói:

– Chàng nhớ đến sư phụ phải không?

Trương Thúy Sơn kinh ngạc, bất giác đưa tay phải nắm lấy bàn tay kia của nàng, nói:

– Sao cô nương biết?

Năm nào trên núi Võ Đang, chàng cùng đại sư huynh Tống Viễn Kiều và tam sư ca Du Đại Nham đọc chung sách Trang Tử, Thu thủy thiên, đến câu "Phù thiên lý chi viễn, bất túc dĩ cử kỳ đại, thiên nhận chi cao, bất túc dĩ cực kỳ thâm", Du Đại Nham nói: "Huynh đệ chúng ta theo sư phụ học võ nghệ, càng học càng thấy mình thua xa lão nhân gia, tựa hồ mỗi ngày một kém đi. Dùng hai câu này của Trang Tử để hình dung công phu sâu không thể đo, cao không thể với của lão nhân gia thì thật là hợp". Tống Viễn Kiều và Trương Thúy Sơn đều gật đầu tán đồng. Bây giờ nhắc đến câu kia của Trang Tử, chàng dĩ nhiên nhớ tới sư phụ.

Ân Tố Tố nói:

– Trông sắc mặt chàng, nếu không phải lòng đang nghĩ đến phụ mẫu thì cũng là nhớ sư trưởng, nhưng câu "thiên lý chi viễn, bất túc dĩ cử kỳ đại.." thì thời nay, ngoài Trương Tam Phong đạo trưởng, e rằng không có người thứ hai sánh nổi.

Trương Thúy Sơn cả mừng, nói:

– Cô nương thông minh quá.

Chợt nhận ra mình đang nắm hai tay Ân Tố Tố, chàng đỏ mặt, từ từ buông ra.

Ân Tố Tố nói:

– Võ công của tôn sư xuất thần nhập hóa như thế nào, chàng kể cho muội nghe được chăng?

Trương Thúy Sơn trầm ngâm giây lát, rồi nói:

– Võ công chỉ là tiểu đạo, sở học của lão nhân gia không chỉ dừng ở võ công, ôi, bác đại tinh thâm, biết kể từ đâu bây giờ?

Ân Tố Tố mỉm cười, nói:

– "Phu tử bộ diệc bộ, xu diệc xu. Phu tử trì diệc trì; Phu tử bôn dật tuyệt trần, Nhan Hồi sanh nhược hồ hậu hĩ" [27] .

Trương Thúy Sơn nghe nàng dẫn chương Nhan Hồi ca tụng Khổng Tử trong sách Trang Tử, mà trong lòng chàng quả thực kính phục sư phụ muôn phần, nên nói:

– Sư phụ của tại hạ chẳng cần chạy tung bụi, chỉ cần rảo bước thôi tại hạ đã chẳng theo kịp rồi.

Ân Tố Tố thông minh lanh lợi, có ý lấy lòng chàng, hai người trò chuyện ý hợp tâm đầu, mãi không biết chán, họ ngồi kề vai nhau trên phiến đá, không để ý gì đến thời gian.

Bỗng nghe từ xa có tiếng bước chân nặng nề, tiếng húng hắng ho, rồi tiếng gọi:

– Trương tướng công, Ân cô nương, đã tới giờ Ngọ, xin mời nhập tiệc.

Trương Thúy Sơn quay đầu lại thấy Thường Kim Bằng đứng cách mươi trượng, tuy thần sắc trang nghiêm cung kính, nhưng khoé miệng tủm tỉm, giống như một kẻ bề trên nhìn một cặp tình nhân trẻ tuổi xứng đôi vừa lứa thì rất hài lòng vậy. Ân Tố Tố luôn coi hắn là kẻ dưới, không cần giữ lễ, song lúc này nàng e lệ cúi đầu. Trương Thúy Sơn trong lòng quang minh lỗi lạc, nhưng nhìn vẻ mặt hai người kia, bất giác chàng cũng đỏ mặt.

Thường Kim Bằng quay người đi trước dẫn đường. Ân Tố Tố nói nhỏ:

– Để muội đi trước, chàng đừng đi cùng.

Trương Thúy Sơn hơi lạ, nghĩ thầm: "Sao nàng ta lại sợ hiềm nghi nhỉ?" Chàng gật đầu, Ân Tố Tố rảo bước theo kịp Thường Kim Bằng, chỉ nghe tiếng nàng cười, hỏi:

– Hai tên ngốc phái Côn Luân đánh nhau tới đâu?

Trương Thúy Sơn trong lòng vui không ra vui, buồn chẳng ra buồn, nhìn hai người đi khuất sau hàng cây, mới thong thả tiến về phía sơn cốc.

Tới nơi, chàng thấy trên bãi cỏ xanh bày bảy tám chiếc bàn vuông, trừ bàn thứ nhất ở phía đông, bàn nào cũng đã có người ngồi. Thường Kim Bằng thấy chàng tới gần, nói to:

– Trương ngũ hiệp phái Võ Đang giá đáo!

Tám tiếng đó như tiếng sấm vang vọng sơn cốc. Thường Kim Bằng nói xong, liền cùng Bạch Quy Thọ bước nhanh lên trước mấy bước, mỗi người dẫn theo năm gã đà chủ của bổn đàn, tổng cộng mười hai người, sắp thành hai hàng đứng bên lối vào sơn cốc, cúi mình đón khách. Bạch Quy Thọ nói:

– Thuộc hạ của Ân giáo chủ Thiên Ưng giáo, Huyền Vũ đàn Bạch Quy Thọ, Chu Tước đàn Thường Kim Bằng cung nghênh Trương ngũ hiệp đại giá!

Ân Tố Tố tuy không bước ra đón chàng, nhưng cũng đứng dậy.

Trương Thúy Sơn nghe ba tiếng "Ân giáo chủ", trong lòng chấn động, nghĩ thầm: "Giáo chủ của họ quả nhiên họ Ân!", vội chắp tay đáp lễ:

– Không dám! Không dám!

Rồi chàng đi vào, chỉ thấy mọi người ở các bàn ai nấy tỏ vẻ bất bình, tức tối, chàng hơi lạ, nhưng cũng chẳng bận tâm. Chàng đâu biết rằng, khi thủ lĩnh các lộ như phái Hải Sa, bang Cự Kình, Thần Quyền môn tới đây, Thiên Ưng giáo chỉ cho một gã đà chủ ra đón, dẫn vào bàn tiệc, khác hẳn thái độ long trọng như đối với Trương Thúy Sơn, rõ ràng hàm ý coi thường bọn kia.

Bạch Quy Thọ dẫn Trương Thúy Sơn đến chiếc bàn thứ nhất ở phía đông, cung kính mời ngồi. Chiếc bàn này chỉ đặt một cái ghế, là bàn tôn quý nhất trong các bàn. Trương Thúy Sơn đưa mắt nhìn qua, thấy các bàn khác đều có bảy tám người, riêng bàn thứ sáu có hai người là Cao Tắc Thành và Tưởng Đào. Chàng bèn cao giọng khước từ:

– Tại hạ mạt học hậu tiến, không dám ngồi bàn đầu. Mong Bạch huynh cho chuyển xuống bàn dưới tiện hơn.

Bạch Quy Thọ nói:

– Phái Võ Đang hiện là Thái Sơn, Bắc Đẩu trong võ lâm thiên hạ, Trương ngũ hiệp uy chấn thiên hạ, nếu không ngồi bàn đầu, chắc không còn ai dám ngồi.

Trương Thúy Sơn nhớ thường ngày sư phụ vẫn dạy bốn chữ "ninh tĩnh khiêm ức" [28], nghĩ thầm: "Giá sư phụ hoặc đại sư ca ở đây, ngồi bàn đầu là đúng, còn mình đâu đã xứng đáng". Bởi vậy chàng kiên quyết từ chối.

Cao Tắc Thành và Tưởng Đào đưa mắt cho nhau, Tưởng Đào đột nhiên cầm cái ghế của gã ném vọt sang bàn đầu. Chỗ gã ngồi cách bàn đầu năm bàn, sức ném của gã quả là mạnh mẽ, chiếc ghế bay vù qua đầu những người ngồi quanh năm cái bàn kia, rơi xuống đúng bên cạnh bàn đầu, ngay ngắn thẳng thắn, cách chiếc ghế đặt sẵn tại đó một thước, tài nghệ quả phi phàm. Tưởng Đào ném ghế xong, Cao Tắc Thành nói lớn:

– Hi hi, Thái Sơn, Bắc Đẩu ư, không biết ai phong cho danh hiệu Thái Sơn, Bắc Đẩu đó? Họ Trương kia không dám ngồi, chứ hai sư huynh sư đệ ta đâu có phải thuộc hạng khiếp nhược.

Đoạn hai gã thân pháp như gió lướt ngay tới chiếc bàn đầu.

Thì ra lúc sáng Ân Tố Tố có hỏi hai gã rốt cuộc võ công của ai cao hơn, nàng nói muốn học vài chiêu kiếm pháp của phái Côn Luân, mong được bậc cao thủ kiếm pháp chỉ giáo; hai gã không hề từ chối, lập tức rút kiếm phô diễn. Thoạt đầu cũng chỉ định thắng đối phương, nhưng càng đấu càng hung hăng, dần dần không nương tay được nữa. Ân Tố Tố đứng bên lại nói khích, khiến hai gã đánh nhau tới mức cùng bị thương. Đến khi thấy nàng và Trương Thúy Sơn thân mật nắm tay bỏ đi, hai gã mới biết đã mắc mưu nàng, bèn thu kiếm, băng vết thương, vừa đau vừa ức, song không dám gây sự với nàng. Lúc này hai gã thừa cơ đoạt lấy chỗ ngồi của Trương Thúy Sơn, định khích chàng xuất thủ để chúng có dịp làm cho chàng bẽ mặt một phen trước quần hùng.

Thường Kim Bằng giơ tay ngăn lại, nói:

– Hãy khoan!

Cao Tắc Thành giơ ngón tay định điểm vào huyệt ở khuỷu tay của Thường Kim Bằng.

Trương Thúy Sơn nói:

– Hai vị ngồi ở bàn số một này là thích hợp hơn cả. Tại hạ xuống bàn dưới cũng được!

Đoạn đi xuống chiếc bàn thứ sáu. Ân Tố Tố bỗng giơ tay vẫy, nói:

– Trương ngũ ca, lại đây nào!

Trương Thúy Sơn không biết nàng muốn nói gì, bèn bước tới gần. Ân Tố Tố đưa tay kéo một chiếc ghế, đặt ngay bên cạnh mình, mỉm cười, nói:

– Chàng hãy ngồi đây.

Trương Thúy Sơn không ngờ Ân Tố Tố lại bộc lộ hình tích ngay trước mắt quần hào thế này, còn đang phân vân, nếu ngồi xuống kề vai nàng, không tránh khỏi quá ư thân mật; nếu không ngồi, e sẽ làm cho nàng bẽ mặt. Ân Tố Tố thấp giọng nói:

– Muội có điều muốn nói với chàng!

Trương Thúy Sơn thấy vẻ mặt cầu khẩn của nàng thì không tiện từ chối, bèn ngồi xuống. Ân Tố Tố tươi như hoa, cười sung sướng, rót rượu mời chàng.

Bàn đằng kia, Cao Tắc Thành và Tưởng Đào tuy đã chiếm được vị trí tôn quý, nhưng nhìn cảnh ấy lại càng hậm hực. Chỉ thấy Bạch Quy Thọ phẩy phẩy tay mấy cái để phủi bụi, rồi cười, nói:

– Hai vị kiếm khách phái Côn Luân muốn ngồi bàn đầu, không sai chút nào, vậy thì mời ngồi, mời ngồi!

Đoạn cùng Thường Kim Bằng và mười tên đà chủ ai nấy trở về chỗ ngồi của mình. Cao Tắc Thành và Tưởng Đào đều nghĩ bụng: "Tên tiểu tử kia không dám ngồi bàn đầu, uy phong của phái Võ Đang rốt cuộc đã bị phái Côn Luân ta đè bẹp". Hai gã đưa mắt cho nhau, vênh vang ngồi xuống.

Chỉ nghe "rắc rắc" hai tiếng, chân ghế gãy rời, cả hai ngã ngửa về phía sau. Kể ra võ công của họ cũng khá, lưng chưa chạm đất đã kịp dùng tay đẩy xuống đất mà bật người lên, tuy khỏi ngã bổ chửng nhưng cũng bị một phen hoảng hồn. Hào khách ở các bàn cùng cười ầm lên. Cao Tắc Thành và Tưởng Đào biết vừa rồi Bạch Quy Thọ phẩy tay phủi bụi đã lén ra tay, phải nói âm kình như thế quả lợi hại, hai gã tự liệu không thể bì kịp. Hai gã vốn hết sức tự phụ, coi Thiên Ưng giáo là loại bàng môn tả đạo tầm thường, lần này đến Vương Bàn sơn đảo là muốn trổ tài một phen, lúc này thấy Bạch Quy Thọ hiển thị chút công lực thì cả hai đã nhụt hết nhuệ khí.

Bạch Quy Thọ cười ha hả, nói:

– Võ công của phái Côn Luân, mọi người đều biết là cao; hai vị đâu cần làm gãy hai cái ghế cho bõ giận? Thứ công phu thô thiển ngồi làm sao cho gãy ghế, ở đây ai mà chẳng làm được?

Đoạn giơ tay chỉ về phía mười tên đà chủ ngồi ở bàn cuối, nói:

– Các ngươi cũng luyện được phải không?

Chỉ nghe rắc rắc rắc, mười chiếc ghế đều gãy rời. Mười tên đà chủ có chuẩn bị trước cả, ghế gãy rời mà họ vẫn ở tư thế ngồi cười ha hả, thần định khí nhàn, tỏ ra hơn hẳn hai gã Cao, Tưởng lảo đảo chới với ban nãy. Quần hào ở đây phần nhiều hiểu sâu biết rộng, thừa hiểu Bạch Quy Thọ hí lộng hai gã kia, song tình cảnh thật lý thú nên ai nấy cười rộ.

Mọi người còn đang cười thì có hai tên đà chủ của Thiên Ưng giáo bưng hai tảng đá tới bàn thứ nhất, giơ chân gạt hai cái ghế gãy ra, nói:

  • Ghế gỗ mỏng manh, không đỡ nổi quý thể của hai vị, xin mời hai vị ngồi trên hai tảng đá này vậy!

Hai tên đà chủ này nổi danh là đại lực sĩ của Thiên Ưng giáo, tuy võ công tầm thường nhưng thân thể thô tráng, trời phú thần lực, tảng đá mỗi người bưng kia phải nặng tới bốn trăm cân. Họ bưng tới, muốn giao cho hai gã kiếm khách tiếp nhận.

Cao Tắc Thành và Tưởng Đào kiếm pháp tinh diệu, chứ việc đỡ lấy tảng đá khổng lồ kia thì bất lực hoàn toàn.

Cao Tắc Thành cau mày nói:

– Bỏ xuống đi!

Hai tên đà chủ cùng kêu "hự" một tiếng, hai tay giơ thẳng tảng đá lên cao quá đầu và nói:

– Nhận lấy này!

Như thế là buộc hai gã Cao, Tưởng phải co người thoái lui, chỉ sợ một trong hai đại lực sĩ kia yếu sức, lỡ để tảng đá bốn năm trăm cân rơi xuống thì xương thịt nào chịu cho thấu. Hai gã trong bụng tức giận, nhưng không dám xuất thủ tập kích hai đại lực sĩ, tảng đá chênh vênh thế kia, chẳng dại gì xáp tới hiểm địa.

Bạch Quy Thọ cao giọng nói:

– Hai vị kiếm khách phái Côn Luân không dám ngồi bàn đó thì mời Trương ngũ hiệp ngồi cho!

Trương Thúy Sơn đang ngồi bên cạnh Ân Tố Tố, mùi hương thoang thoảng, tâm hồn ngất ngây, bỗng nghe Bạch Quy Thọ gọi thì tức thời cảnh giác: "Mình quyết không thể rơi vào ma chướng, bị nữ ma đầu tà giáo này lôi cuốn nữa!" bèn đứng ngay dậy, bước tới.

Bạch Quy Thọ nghe Thường Kim Bằng ca ngợi võ công của Trương Thúy Sơn cao cường, song lão chưa được tận mắt chứng kiến, lúc này muốn thử một chút, bèn đưa mắt ra hiệu cho hai tên đà chủ đại lực sĩ.

Hai tên kia hiểu ý, chờ lúc Trương Thúy Sơn tới gần liền nhất tề nói lớn:

– Trương tướng công cẩn thận, đỡ lấy này!

Lời vừa dứt, hai tên rùn mình, bốn cánh tay bung ra, thả hai tảng đá rơi thẳng xuống đầu Trương Thúy Sơn.

Quần hào nhìn cảnh tượng đó, bất giác cùng đứng bật dậy.

Bạch Quy Thọ vốn chỉ định thử võ công của Trương Thúy Sơn chứ không hề có ác ý, một phần vì danh tiếng Võ Đang thất hiệp quá lừng lẫy trên giang hồ, hôm nay thấy chàng chẳng qua chỉ là một thiếu niên thư sinh trông quá yếu ớt; một phần vì Ân Tố Tố lâu nay vốn chẳng coi ai ra gì, nay lại tỏ ra si mê chàng thiếu niên kia, hẳn sau này chàng ta sẽ có liên quan lớn lao đến Thiên Ưng giáo. Thấy hai tên đại lực sĩ thả rơi hai tảng đá, lão chợt hối hận, nghĩ thầm: "Nguy rồi!" song biết Trương Thúy Sơn là danh môn đệ tử, tất nhiên sẽ không để cho mình bị thương vì hai tảng đá, nhưng lúc hốt hoảng né tránh, tình cảnh cũng sẽ chẳng đẹp đẽ gì, không chừng còn bị bẽ mặt, Trương Thúy Sơn ắt tức giận, Ân cô nương lại càng phẫn nộ. Trong giây lát lão định ngay chủ ý, nếu tình huống bất lợi, lão sẽ quy tội cho hai tên đà chủ, thà thí mạng hai tên đó chứ không thể đắc tội với Ân cô nương.

Trương Thúy Sơn thấy hai tảng đá rơi xuống, cũng giật mình, giả dụ nhảy lùi về đằng sau né tránh thì có khác gì hai gã Cao – Tưởng phái Côn Luân, khó tránh làm tổn hại uy danh sư môn; thời điểm này không cho phép nghĩ lâu, người luyện võ vào sát-na cấp bách, công phu súc tích lâu dài sẽ tự nhiên nảy ra. Lập tức chàng dùng tay trái sử cái móc bên phải trong tự quyết chữ "Võ", đẩy vào tảng đá bên trái; tay phải sử nét phất bên trái trong tự quyết chữ "đao", đẩy vào tảng đá bên phải. Hai tảng đá vốn đã nặng dăm trăm cân, cộng với thế rớt từ trên xuống, quả thật nặng ghê gớm. Trương Thúy Sơn không có sức mạnh cơ bắp, bảo chàng bưng tảng đá kia lên cũng chẳng nổi, nhưng hai chiêu thuật chàng vừa sử là diễn hóa từ bộ thư pháp của võ công Trương Tam Phong mà ra, thực là thần kỳ, đoạt cả công phu của tạo hóa. Nên biết võ công của phái Võ Đang không chú trọng dùng sức mạnh, không yêu cầu ra chiêu nhanh, chỉ cần sử dụng lực đạo đúng cách thì bốn lạng cũng gạt được ngàn cân. Lúc này Trương Thúy Sơn sử dụng công phu tinh diệu nhất mà sư môn truyền thụ, mượn thế ném của hai tên đà chủ hất hai tảng đá bay lên trời.

Hai tảng đá bay lên chính là nhờ lực ném của hai tên đà chủ, chẳng qua chàng dùng chưởng đẩy, làm thay đổi phương hướng. Tay áo chàng phất múa, chưởng giấu trong tay áo, người ngoài nhìn vào cứ ngỡ tay áo chàng cuốn lấy hai tảng đá mà hất lên cao. Hai tảng đá một cao một thấp, nối nhau rớt xuống. Trương Thúy Sơn nhẹ nhàng tung mình nhảy lên, ngồi xếp bằng ở tảng đá bên trên.

Chỉ nghe "ình" một tiếng, mặt đất chấn động, một tảng đá rơi xuống trước, lún sâu quá nửa dưới đất, rồi tảng thứ hai rơi xuống ngay trên tảng thứ nhất, hai tảng đá va nhau, tia lửa bắn tung tóe, bát đĩa trên các bàn tiệc kêu loảng xoảng. Trương Thúy Sơn thản nhiên ngồi ở tảng đá bên trên, cười nói:

– Hai vị đà chủ thần lực kinh người, thán phục, thán phục!

Hai tên đà chủ sửng sốt, trợn mắt há hốc mồm, đứng ngây như phỗng, không thốt được một lời.

Trong giây lát, sơn cốc yên lặng như tờ, sau đó mới òa ra tiếng vỗ tay như sấm hồi lâu không dứt.

Ân Tố Tố nhìn Bạch Quy Thọ một cái, cười tươi như hoa, vô cùng đắc ý. Bạch Quy Thọ cả mừng, may sao Trương Thúy Sơn võ công siêu việt đã biến trò đùa nguy hiểm của lão ta thành cách làm vui lòng Ân cô nương. Thế là lão bèn tới bàn thứ nhất rót rượu vào chén, cao giọng nói:

– Từ lâu nghe uy danh của Võ Đang thất hiệp, bữa nay được thấy võ công của Trương ngũ hiệp, quả thực thán phục vô cùng. Tiểu nhân xin kính Trương ngũ hiệp một chén.

Đoạn lão uống cạn. Trương Thúy Sơn nói:

– Không dám!

Rồi cũng uống cạn một ly.

Bạch Quy Thọ đứng thẳng người, lớn tiếng nói:

– Tệ giáo gần đây có một thanh bảo đao, tên là Đồ Long. Thường nghe: "Võ lâm chí tôn, bảo đao Đồ Long, hiệu lệnh thiên hạ, mạc cảm bất tòng!"

Nói tới đây, lão ngừng lời, đưa ánh mắt sắc lạnh quét từ tả sang hữu một lượt toàn trường. Thân hình lão không cao lớn, nhưng ngữ thanh âm vang, mục quang sắc nhọn, thần khí uy nghiêm buộc người ta nể sợ. Lão nói tiếp:

– Ân giáo chủ tệ giáo cũng định gửi danh thiếp mời các lộ anh hùng thiên hạ đến núi Thiên Ưng dự hội để tệ giáo hiển thị bảo đao cho mọi người cùng chiêm ngưỡng; ngặt vì việc đó phải trù hoạch thời gian cho chu đáo. Hiện thời chỉ lo anh hùng thiên hạ chưa biết bảo đao đã ở trong tay tệ giáo, nên vừa rồi có mời các vị bằng hữu các bang hội ở Giang Nam tới đây chiêm ngưỡng bảo đao.

Nói tới đó, Bạch Quy Thọ khoát tay một cái, tám tên đệ tử của Thiên Ưng giáo đồng thanh dạ một tiếng thật to rồi quay mình đi vào một sơn động ở phía tây.

Quần hào nghĩ tám tên đó đi lấy bảo đao, nên đều chăm chú nhìn theo. Nào ngờ lúc từ trong sơn động đi ra, chúng đều ở trần, khiêng ra một cái đỉnh sắt lớn. Trong cái đỉnh ấy lửa đang cháy rừng rực, bốc cao hàng trượng. Tám tên cách xa đỉnh, dùng mấy chiếc đòn dài mà khiêng đỉnh ra, tên nào tên ấy thở phì phò, ỳ ạch đặt cái đỉnh xuống giữa bãi trống. Mọi người bị lửa phả vào mặt, cảm thấy nóng rát. Sau tám tên kia lại có bốn tên nữa, hai tên khiêng một cái đe sắt lớn, hai tên còn lại mỗi người vác một chiếc búa sắt lớn.

Bạch Quy Thọ nói:

– Thường đàn chủ, xin mời giương đao lập uy.

Thường Kim Bằng nói:

– Tuân lệnh!

Rồi quay qua nói lớn:

– Mang đao ra!

Hai tên đà chủ đại lực sĩ vác đá ban nãy đi vào sơn động, lúc ra thì một tên bưng một cái bao màu vàng đặt ngang, tên thứ hai đi bên cạnh hộ vệ. Sau khi giao cái bao cho Thường Kim Bằng, hai tên đứng ở hai bên tùy giá. Thường Kim Bằng mở bao, lộ ra một thanh đơn đao, Thường Kim Bằng cầm trong tay, đưa mắt nhìn quần hào một lượt, đoạn rút đao ra khỏi vỏ, nói:

– Đây chính là "Võ lâm chí tôn, bảo đao Đồ Long", mời các vị nhìn cho kỹ!

Đoạn hai tay nâng thanh đao lên ngang quá trán, vẻ cực kỳ cung kính.

Quần hào nghe uy danh bảo đao Đồ Long đã lâu, giờ thấy cây đao đen đen, chẳng đẹp chút nào, thì ai nấy nảy sinh nghi ngờ: "Làm sao biết thanh đao này thật hay giả?" Chỉ thấy Thường Kim Bằng thong thả trao thanh đao cho tên đà chủ đứng bên trái, nói:

– Thử búa đi!

Tên đà chủ tiếp lấy thanh đao, đặt trên cái đe, lưỡi đao hướng lên trời; tên kia quai cây búa sắt, nhắm lưỡi đao giáng xuống. Chỉ nghe "keng" một tiếng nhẹ, đầu búa bị cắt làm đôi, một nửa còn dính ở cán búa, nửa thứ hai rơi xuống đất. Quần hào kinh ngạc, lập tức đứng bật dậy, ai cũng nghĩ thầm: "Bảo kiếm, lợi đao có thể cắt vàng chặt ngọc dù là của hiếm, song vẫn có; nhưng thanh đao Đồ Long này cắt cây búa sắt ngọt như cắt miếng đậu phụ, ngay tiếng keng nghe cũng rất nhỏ, nếu không phải là thần vật thì bên trong ắt có gì man trá".

Có người thuộc Thần Quyền môn và bang Cự Kình bước tới bên cái đe, nhặt mảnh búa dưới đất lên xem kỹ, thấy vết cắt phẳng lỳ, loang loáng, đúng là vết vừa bị cắt.

Tên đà chủ lại vung cây búa với nửa còn lại giáng xuống lưỡi đao, lại nghe "keng" một tiếng nhẹ, nửa đầu búa lại bị chém đứt đôi. Lần này quần hào hoan hô vang động.

Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: "Đao báu tới mức này, quả là chưa từng được nghe và nhìn thấy bao giờ!"

Thường Kim Bằng thong thả bước ra bãi, giơ thanh đao lên sử một chiêu "Thượng bộ phách sơn", chỉ nghe "xoẹt" một tiếng, hắn đã chém đứt đôi cái đe sắt. Đột nhiên hắn lướt sang bên trái, phạt ngang một cái, chém đứt thân một cây tùng lớn; rồi hắn cứ nhảy qua chạy lại, vung đao liên tiếp chém qua mười tám cây đại thụ. Quần hào thấy hắn không ngừng huy động bảo đao mà sao các cây kia vẫn đứng thẳng không có gì lạ, thảy đều khó hiểu, thì Thường Kim Bằng đột nhiên cười một tiếng dài, chạy tới cây thứ nhất, phất tay áo một cái, đánh vào thân cây, "rầm" một tiếng lớn, cây đó đổ gục ra phía ngoài. Thì ra cây đã bị chém đứt đôi, nhưng vì bảo đao quá bén, Thường Kim Bằng lại sử dụng lực rất cân bằng, tuy nửa trên đã đứt đoạn nhưng vẫn đứng thẳng trên cây, đến khi bị ngoại lực đẩy vào mới đổ ụp xuống. Cây đại thụ thứ nhất đổ xuống tạo ra luồng gió mạnh, chỉ nghe "rầm rầm rầm" không dứt, mười bảy cây đại thụ còn lại lần lượt đổ theo.

Thường Kim Bằng cười ha hả, vung tay ném thanh bảo đao Đồ Long vào cái đỉnh sắt đang bốc lửa ngùn ngụt.

Tiếng cây đổ chưa dứt, bỗng nghe từ xa vọng lại tiếng chan chát như có người cũng đang chặt cây. Thường Kim Bằng và Bạch Quy Thọ kinh ngạc nhìn về hướng tiếng động kia truyền lại thì thấy các cột buồm trên thuyền ngoài vịnh đang lần lượt gãy đổ. Các cột buồm đều có treo cờ. Đám thủ lĩnh của Thiên Ưng giáo, Thần Quyền môn, phái Hải Sa, bang Cự Kình thấy cột buồm thuyền mình bị gãy đổ thì thảy đều ngạc nhiên và tức giận, lập tức phái thủ hạ đi tra vấn.

Tiếng chan chát rầm rầm vẫn không dứt, chỉ trong giây lát tất cả các cột buồm đều bị hoặc đánh gãy, hoặc đổ nghiêng, tựa hồ các con thuyền đậu trong vịnh bất ngờ bị cơn lốc hoặc thủy quái lần lượt đánh chìm chẳng còn một chiếc. Quần hào tề tựu trên bãi cỏ hoàn toàn không ai tiên liệu được biến cố này, nhất thời không nói nên lời, thoạt đầu còn nghi Thiên Ưng giáo có âm mưu phá hoại, sau thấy thuyền của Thiên Ưng giáo cũng ngộ kiếp nạn thì mới hết nghi.

Nhóm người thứ hai được phái đi tra vấn. Bãi cỏ này cách vịnh không xa lắm, hơn mười người phái đi mà chẳng một ai quay về.

Mọi người nhìn nhau hoang mang, kinh nghi bất định. Bạch Quy Thọ bảo một tên đà chủ bản đàn:

– Ngươi thử đi coi sao.

Tên đà chủ vâng lệnh đi liền. Bạch Quy Thọ cố trấn tĩnh, cười nói:

– Dù ngoài biển có biến cố chăng nữa, các vị cũng đừng quá lo. Thuyền bị đánh đắm cả, chẳng lẽ chúng ta không thể đi bè trở về hay sao? Thôi, mời các vị, ta cùng cạn chén nào, nào, nào!

Quần hào ai nấy bồn chồn, song không muốn để lộ sự hoảng sợ trước mặt người khác, bèn nhất tề nâng chén lên, nhưng vừa đưa chén tới môi đã bỗng nghe một tiếng rú thảm thương từ phía vịnh vọng vào.

Bạch Quy Thọ và Thường Kim Bằng nghe tiếng kêu liền nhận ra đó là tiếng của tên đà chủ vừa phái đi. Đang sững sờ thì có tiếng bước chân huỳnh huỵch chạy về gần, rồi một người mình mẩy máu me xuất hiện trước mắt mọi người, chính là tên đà chủ vừa nãy.

Hắn hai tay ôm bịt lỗ thủng trên mặt, máu từ các kẽ ngón tay chảy ra, đỉnh đầu bị lột da, quần áo từ ngực xuống qua bụng dưới, tới đùi đều rách nát, một vết thương thật dài, chẳng biết nông sâu, máu thịt bầy nhầy, hắn kêu lên thê thảm:

– Kim Mao Sư Vương, Kim Mao Sư Vương!

Bạch Quy Thọ hỏi:

– Một con sư tử ư?

Nghe tên kia nói, nghĩ là do mãnh thú, lão cảm thấy yên tâm. Tên đà chủ nói:

– Không, không! Là một người. Tất cả mọi người đều bị hắn xé xác, các thuyền đều bị đánh đắm rồi!

Chỉ nói được tới đó, hắn kiệt sức ngã quỵ xuống, tắt thở.

Bạch Quy Thọ nói:

– Ta phải đi coi.

Thường Kim Bằng cũng nói:

– Đệ đi với huynh.

Bạch Quy Thọ nói:

– Huynh ở lại bảo hộ Ân cô nương.

Lão biết tên đà chủ vừa rồi võ công không kém, được xếp vào loại cứng trong Thiên Ưng giáo, vậy mà trong giây lát đã bị đả thương như thế, đủ thấy đối thủ rất ghê gớm. Thường Kim Bằng gật đầu đáp:

– Xin vâng.

Bỗng nghe có tiếng người ho rồi nói:

– Kim Mao Sư Vương đây này!

Ai nấy sửng sốt, chỉ thấy từ sau một gốc đại thụ có một người chậm rãi bước ra. Người ấy cao lớn dị thường, tóc vàng xõa xuống vai, cặp mắt xanh biếc phát quang lóng lánh, tay cầm một cây lang nha bổng có hai đầu, dài chừng trượng sáu trượng bảy. Lão ta đứng sừng sững trước bàn tiệc, uy phong lẫm liệt, hệt như thiên thần thiên tướng.

Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: "Kim Mao Sư Vương? Biệt hiệu này chắc là do mái tóc vàng của lão mà ra. Lão là ai nhỉ? Mình chưa hề nghe sư phụ nhắc tới nhân vật này".

Bạch Quy Thọ tiến lên mấy bước, nói:

– Thỉnh vấn tôn giá cao tính đại danh?

Người kia nói:

– Không dám, tại hạ họ Tạ, đơn danh một chữ Tốn, biểu tự Thoái Tư, có một ngoại hiệu là Kim Mao Sư Vương.

Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố đưa mắt nhìn nhau, đều nghĩ thầm: "Vị này thần thái uy mãnh thế kia mà tên nghe quá văn nhã, chỉ có ngoại hiệu nghe còn thích hợp". Bạch Quy Thọ thấy người kia nói năng từ tốn, bèn nói:

– Vậy là Tạ tiên sinh. Tiên sinh với chúng tại hạ không quen biết, tại sao vừa tới đảo đã hủy thuyền giết người?

Tạ Tốn mỉm cười phô hàm răng trắng sáng lấp lánh, hỏi:

– Các vị tề tựu ở đây làm gì thế?

Bạch Quy Thọ nghĩ thầm: "Việc này chẳng giấu nổi y. Võ công của y dĩ nhiên lợi hại, song dẫu sao chỉ có một thân một mình; ta liên thủ với Thường Kim Bằng, lại có Trương ngũ hiệp và Ân cô nương ở bên cạnh trợ giúp, chắc có thể diệt được y". Bèn cao giọng nói:

– Tệ giáo Thiên Ưng giáo mới có được một thanh bảo đao, nên mời bằng hữu chốn giang hồ tới đây cùng chiêm ngưỡng.

Tạ Tốn đưa mắt nhìn thanh đao Đồ Long hiện đang ở trong cái đỉnh rừng rực lửa, thấy thanh đao bị nung bởi nhiệt độ ngần kia mà không hề suy tổn, quả là lợi khí thần vật, liền sải bước tới đó.

Thường Kim Bằng thấy Tạ Tốn thò tay cầm lấy thanh đao, liền quát:

– Dừng tay!

Tạ Tốn ngoảnh lại, cười nhạt, hỏi:

– Cái gì?

Thường Kim Bằng nói:

– Thanh đao này là sở hữu của tệ giáo, Tạ bằng hữu chỉ có thể đứng xem từ xa, không được chạm vào.

Tạ Tốn nói:

– Thanh đao này bọn ngươi đúc ra, hay bọn ngươi mua được?

Thường Kim Bằng cứng họng, nhất thời chưa biết trả lời thế nào. Tạ Tốn tiếp:

– Bọn ngươi đoạt nó từ tay kẻ khác, ta đoạt lại từ tay bọn ngươi, trời đất công bằng, có gì mà không được chạm tới?

Đoạn họ Tạ quay lại để lấy đao.

Chỉ nghe loảng xoảng, Thường Kim Bằng đã gỡ từ lưng ra hai trái dưa lưu tinh chùy, quát:

– Tạ bằng hữu, nếu không dừng tay, tại hạ đành thất lễ!

Lời lẽ của Thường Kim Bằng nghe như cảnh cáo, kỳ thực nói là đánh ngay, trái dưa sắt từ tay trái nhắm thẳng hậu tâm Tạ Tốn mà bay tới. Tạ Tốn chẳng buồn quay đầu lại, hất cây lang nha bổng về phía sau, "xoảng" một tiếng lớn, trái dưa đụng phải lang nha bổng liền bay ngược lại với tốc độ kinh người. Thường Kim Bằng cả kinh, phóng luôn trái dưa sắt bên tay phải đi, hai trái dưa đụng vào nhau, ai ngờ thần lực của Tạ Tốn quả là khủng khiếp, cả hai trái dưa cùng bay trở lại giáng ngay vào ngực Thường Kim Bằng. Thường Kim Bằng lảo đảo ngã ngửa ra chết liền.

Khi ở trên sông Tiền Đường, hắn dùng chùy sắt đánh phá thuyền của Mạch thiếu bang chủ mới thần uy làm sao, vậy mà giờ đây không chịu nổi một đòn đỡ bằng lang nha bổng của Tạ Tốn.

Năm tên đà chủ thuộc Chu Tước đàn cả kinh, nhất tề xông lên. Hai tên khiêng Thường Kim Bằng lên, ba tên rút binh khí, liều mạng tấn công Tạ Tốn. Tạ Tốn tay trái cầm lấy thanh đao Đồ Long, cây lang nha bổng trong tay phải kề vào đáy đỉnh hất một cái; đỉnh sắt nặng mấy trăm cân kia liền bay lên, quét ngang, đè bẹp liền một lúc cả ba tên đà chủ, rồi dư thế còn khiến nó lăn đi, đè bẹp nốt hai tên đà chủ đang khiêng Thường Kim Bằng. Y phục trên thi thể của năm tên đà chủ cùng Thường Kim Bằng bén lửa cháy bùng, bốn tên đà chủ bị đỉnh đụng chết liền, chỉ còn tên thứ năm quằn quại hấp hối.

Mọi người nhìn cảnh ấy, ai nấy rụng rời. Tạ Tốn mới chỉ vung tay một cái đã đánh chết tươi năm hảo thủ giang hồ, còn tên thứ sáu đang quằn quại kia cũng sắp tắt thở. Trương Thúy Sơn hành tẩu giang hồ từng gặp không ít cao thủ, nhưng võ công thần lực siêu phàm như Tạ Tốn thì chàng chưa hề thấy, nghĩ thầm mình chẳng phải đối thủ của lão, ngay cả đại sư ca, nhị sư ca cũng không thể bì kịp. Hiện nay trong thiên hạ, trừ phi sư phụ xuống núi, ngoài ra chẳng biết có ai thắng nổi người này không.

Tạ Tốn giơ thanh đao Đồ Long lên, dùng ngón tay búng một cái, thanh đao phát ra âm thanh trầm uất không phải của vàng, không phải của gỗ, lão gật gù tán thưởng:

– Vô thanh vô sắc, thần vật tự giấu mình, quả là bảo đao!

Đoạn lão ngẩng đầu, nhìn về phía cái bao của thanh đao đặt bên cạnh Bạch Quy Thọ, hỏi:

– Có phải cái bao của thanh đao Đồ Long đó không? Đưa đây cho ta.

Bạch Quy Thọ thầm biết trong tình thế này tính mạng của mình mười phần chỉ còn một, nếu đưa cái bao đao cho Tạ Tốn, chẳng những anh danh một đời trôi theo dòng nước, mà sau này giáo chủ truy cứu tội trạng thì cái chết còn thảm khốc hơn; song chống lại Tạ Tốn lúc này chắc chết mười mươi, bèn ngang nhiên đáp nói:

– Người muốn giết thì cứ giết, họ Bạch này há là phường tham sống sợ chết ư?

Tạ Tốn mỉm cười, nói:

– Cứng cỏi lắm, cứng cỏi lắm! Thiên Ưng giáo quả cũng có vài nhân vật.

Rồi họ Tạ đột nhiên vung tay phải, thanh đao Đồ Long nặng hơn trăm cân bay vút về phía Bạch Quy Thọ. Bạch Quy Thọ sớm đã đề phòng, thấy thanh đao bay tới, biết kình lực của người kia nào phải tầm thường nên không dám dùng binh khí đón đỡ, cũng chẳng dám giơ tay đón bắt, vội né người tránh; thanh đao bay xéo qua, "xoạch" một tiếng, nó phóng ngay vào cái bao đao đặt nằm trên bàn, lực ném quá mạnh, khiến nó tiếp tục bay lên. Tạ Tốn liền giơ cây lang nha bổng vừa móc vừa khều thanh đao Đồ Long lại gần, rồi tiện tay giắt luôn vào thắt lưng. Thủ pháp ném đao thu bao vừa chuẩn xác vừa kỳ lạ, thật không ai có thể ngờ.

Mục quang của Tạ Tốn quét một lượt khắp mặt quần hào từ trái sang phải, đoạn lão hỏi:

– Tại hạ muốn lấy thanh đao Đồ Long này, các vị có dị nghị gì chăng?

Lão nhắc lại câu hỏi, không một ai dám trả lời.

Bỗng từ bàn tiệc của phái Hải Sa có một người đứng dậy, nói:

– Tạ tiền bối đức cao vọng trọng, danh vang tứ hải, đao này do Tạ tiền bối sở hữu là phải lắm. Chúng vãn bối đều hết sức tán thành.

Tạ Tốn hỏi:

– Các hạ là Tổng đà chủ phái Hải Sa Nguyên Quảng Ba thì phải?

Người kia đáp:

– Thưa phải.

Hắn thấy Tạ Tốn biết tính danh mình thì vừa vui mừng, vừa hoảng sợ.

Tạ Tốn nói:

– Ngươi có biết sư phụ của ta là ai không? Ta thuộc môn phái nào? Ta đã làm những hảo sự gì nào?

Nguyên Quảng Ba ấp úng nói:

– Cái đó.. Tạ tiền bối..

Về mấy điều đó, hắn quả thật chẳng biết gì hết. Tạ Tốn lạnh lùng nói:

– Mọi điều về ta, ngươi không hay biết chút nào cả, sao lại bảo ta đức cao vọng trọng, danh vang tứ hải? Ngươi chỉ quen xu nịnh, nói láo quen mồm! Ta bình sinh chúa ghét hạng tiểu nhân vô liêm sỉ như ngươi, mau ra đây!

Câu cuối cùng mỗi tiếng nghe vang như sấm, Nguyên Quảng Ba bị uy thế của Tạ Tốn khuất phục, cúi đầu đi tới trước mặt lão ta, thân hình không cưỡng được cứ run cầm cập.

Tạ Tốn nói:

– Phái Hải Sa các ngươi võ công tầm thường, chuyên dùng muối độc hại người. Năm ngoái ở Dư Diêu đã hại chết toàn gia Trương Đăng Vân, đầu tháng này Âu Dương Thanh bị chết ở Hải Môn, đều là hảo sự của ngươi phải không?

Nguyên Quảng Ba kinh hãi, nghĩ bụng hai vụ đó được thực hiện cực kỳ bí mật, làm sao lão kia biết được chứ? Tạ Tốn quát:

– Bảo thủ hạ của ngươi mang hai tô muối độc ra đây, để ta coi xem rốt cuộc nó như thế nào nào?

Bang chúng phái Hải Sa tên nào cũng mang theo muối độc, Nguyên Quảng Ba không dám trái lời, đành lệnh cho thủ hạ bưng ra hai tô muối độc.

Tạ Tốn cầm một tô đưa lên mũi ngửi ngửi, rồi nói:

– Hai ta, mỗi người xơi một tô.

Đoạn cắm cây lang nha bổng xuống đất, túm lấy Nguyên Quảng Ba, bóp vào quai hàm buộc hắn phải há to miệng không sao ngậm lại được, đoạn đổ hết cả tô muối độc vào đó.

Toàn gia Trương Đăng Vân ở Dư Diêu bị giết hại trong một đêm, Âu Dương Thanh bị chết ở Hải Môn trong khách điếm, là hai nghi án trong võ lâm năm qua. Trương Đăng Vân và Âu Dương Thanh thanh danh trên chốn giang hồ không đến nỗi nào, ai ngờ đều bị Nguyên Quảng Ba phái Hải Sa hãm hại. Trương Thúy Sơn thấy hắn bị bức phải nuốt muối độc thì cảm thấy có phần thích thú.

Tạ Tốn bưng tô muối độc thứ hai, nói:

– Tạ mỗ làm việc gì cũng công bằng, ngươi đã xơi hết một tô, ta cũng tiếp ngươi một tô.

Đoạn lão há to miệng, trút muối độc vào bụng.

Việc này hoàn toàn bất ngờ đối với tất cả mọi người. Trương Thúy Sơn thấy Tạ Tốn tuy hạ thủ tàn bạo nhưng chính khí ngang tàng, huống hồ mấy kẻ bị lão giết toàn là hạng hung ác, nên trong lòng nảy sinh hảo cảm đối với lão, không nhịn được bèn lên tiếng:

– Tạ tiền bối, hạng gian ác như hắn có chết cũng đáng tội, hà tất phải chịu đựng theo hắn?

Tạ Tốn quay sang, trừng mắt nhìn chàng. Trương Thúy Sơn mỉm cười, không hề sợ hãi. Tạ Tốn hỏi:

– Các hạ là ai?

Trương Thúy Sơn đáp:

– Vãn bối là Trương Thúy Sơn phái Võ Đang.

Tạ Tốn nói:

– Hừ, ngươi là Trương ngũ hiệp phái Võ Đang, cũng tới đây tranh đoạt thanh đao Đồ Long ư?

Trương Thúy Sơn lắc đầu nói:

– Vãn bối tới đây chỉ cốt tra vấn nguyên ủy vì sao sư ca Du Đại Nham của vãn bối bị đả thương. Tạ tiền bối nếu biết rõ vụ đó, những mong chỉ giáo.

Tạ Tốn chưa kịp nói thì nghe Nguyên Quảng Ba rú lên thảm thiết, ôm bụng lăn lộn dưới đất mấy vòng, rồi co rúm người mà chết. Trương Thúy Sơn vội giục:

– Tạ tiền bối mau uống thuốc giải độc đi!

Tạ Tốn nói:

– Uống thuốc giải độc làm gì? Mang rượu cho ta!

Gã ty tân chuyên lo việc tiếp khách của Thiên Ưng giáo vội bưng vò rượu và chén ra. Tạ Tốn quát:

– Thiên Ưng giáo tính khí nhỏ nhen, mau mang vò rượu lớn cho ta!

Gã ty tân bưng ra một vò rượu lớn, cung kính đặt trước mặt Tạ Tốn, nghĩ thầm: "Trúng độc rồi còn nốc rượu vào, chẳng lẽ lão ta sợ chết chưa đủ nhanh chắc?"

Chỉ thấy Tạ Tốn bưng vò rượu lên tu ừng ực. Vò rượu này chí ít cũng tới hai mươi cân rượu, vậy mà trong giây lát Tạ Tốn tu hết sạch. Lão vỗ vỗ mấy cái vào cái bụng phình to, rồi bỗng nhiên há mồm, một dòng rượu phun mạnh ra, trúng ngay giữa ngực Bạch Quy Thọ. Bạch Quy Thọ còn đang kinh ngạc, thì cột rượu phun trúng người, tựa hồ bị một quả chùy nặng hàng trăm cân liên tiếp giáng vào ngực, khiến cho lão dù nội công thâm hậu cũng không chịu nổi, lảo đảo ngã lăn ra bất tỉnh.

Tạ Tốn quay đầu lại, phun rượu lên trời, thành đám mưa rơi xuống, bao phủ đám người bang Cự Kình. Từ bang chủ Mạch Kình trở xuống, tên nào cũng bị dính rượu đầy đầu đầy mặt, thấy thứ rượu đó hôi tanh nồng nặc, những kẻ công lực kém một chút đều ngất lịm. Thì ra Tạ Tốn nốc rượu vào bụng để rửa sạch muối độc trong dạ dày, rồi dùng nội lực phun ra, hơn hai mươi cân rượu biến thành rượu độc; trong bụng chỉ còn một chút chất độc, so với nội công như của lão thì chút độc tố ấy chẳng thấm tháp gì.

Bang chủ bang Cự Kình là Mạch Kình bị Tạ Tốn giễu cợt như thế, cả giận đứng lên, nhưng nghĩ thế nào lại không dám lên tiếng, bèn ngồi xuống.

Tạ Tốn nói:

– Mạch bang chủ, hồi tháng Năm năm nay, ngươi có cướp một hải thuyền viễn dương ở Mân Giang Khẩu phải không?

Mạch Kình mặt xám lại như tro, đáp:

– Không sai.

Tạ Tốn nói:

– Các ngươi làm hải tặc, không cướp bóc thì lấy gì mà sống? Điều đó ta không trách cứ, thế nhưng ngươi lại quẳng hết mấy chục thương nhân vô tội xuống biển, cưỡng hiếp đến chết bảy phụ nữ, cái đó có phải là quá thương thiên hại lý hay không?

Mạch Kình ấp úng nói:

– Việc đó.. là do các huynh đệ trong bang làm, chứ.. không phải tại hạ.

Tạ Tốn nói:

– Thủ hạ của ngươi làm những việc cùng hung cực ác mà ngươi không ngăn cản, vậy có khác gì ngươi làm? Việc đó do những tên nào làm?

Mạch Kình lúc này chỉ mong mình thoát chết, liền rút yêu đao, nói:

– Thái Tứ, Hoa Thanh Sơn, Hải Mã Hồ Lục, việc hôm đó ba ngươi đều có phần!

Nói đoạn "phập, phập, phập", hắn vung đao chém luôn ba tên thủ hạ; hắn xuất thủ quá nhanh, ba tên kia chưa kịp chống đỡ đã trúng đao chết liền.

Tạ Tốn nói:

– Được! Nhưng quá muộn, lại không phải ngươi thực tâm muốn thế. Giá như hôm đó ngươi giết ngay ba tên kia thì hôm nay ta cũng chẳng tỷ thí với ngươi làm gì. Mạch bang chủ, công phu sở trường của ngươi là gì?

Mạch Kình biết không còn cách né tránh, nghĩ thầm: "Tỷ thí với lão ta ở trên bộ, chỉ e mình không tiếp nổi ba chiêu; nhưng dưới biển là giang sơn của ta, lỡ thua kém ta còn có đường đào tẩu, chẳng lẽ về thủy tính mà lão ta cũng giỏi hơn ta sao?" bèn nói:

– Tại hạ muốn lĩnh giáo Tạ tiền bối công phu dưới nước.

Tạ Tốn nói:

– Được, vậy hai ta ra biển tỷ thí.

Đi được vài bước, Tạ Tốn bỗng nói:

– Hãy khoan, ta ra ngoài kia, chỉ e bọn ở đây sẽ đào tẩu!

Ai nấy cùng giật mình, nghĩ thầm: "Lão ta sợ mọi người chạy trốn, chả lẽ lão tính giết hết mọi người ở đây hay sao?"

Mạch Kình vội nói:

– Thực ra có xuống biển tỷ thí, tại hạ cũng không phải là đối thủ của Tạ tiền bối, tại hạ nhận thua cho rồi.

Tạ Tốn nói:

– Ừ, như thế càng tiện. Ngươi đã nhận thua thì dùng đao tự sát đi!

Mạch Kình giật mình, nói:

– Cái chuyện.. cái chuyện tỷ thí, thắng bại là chuyện thường, cần gì phải tự sát.. Tạ Tốn quát:

– Nói láo! Cái hạng ngươi mà đòi tỷ thí với ta! Hôm nay ta tới lấy mạng các ngươi. Chúng ta con nhà võ, tay người nào chẳng vấy máu? Nhưng Tạ mỗ bình sinh chỉ giết những người biết võ; chúa ghét kẻ có võ công ỷ mạnh hiếp yếu, sát hại phụ nữ trẻ con không biết võ. Phàm những kẻ như thế, hôm nay Tạ mỗ quyết không bỏ qua.

Trương Thúy Sơn nghe vậy, bất giác nhìn trộm Ân Tố Tố một cái, nghĩ thầm: "Nàng sát hại mấy chục mạng người già trẻ ở tiêu cục Long Môn, trong đó không ít người không biết võ công, Tạ Tốn mà biết việc đó, hẳn sẽ tính sổ với nàng". Chỉ thấy Ân Tố Tố mặt trắng bệch, môi run run, chàng lại nghĩ thầm: "Nếu Tạ Tốn định giết nàng, mình có ra tay cứu hay không nhỉ? Mình ra tay cứu, chẳng qua chỉ là nộp mạng cho lão. Huống hồ tội nàng đáng bị.. có điều.. có điều.. Chẳng lẽ mình trơ mắt nhìn nàng bị hành hung hay sao?" Chỉ nghe Tạ Tốn lại nói:

– Chỉ e các ngươi chết mà không phục, nên ta cho các ngươi một dịp thi triển tuyệt nghệ bình sinh, chỉ cần thắng được ta một ngón nào đấy, ta sẽ tha chết ngay.

Nói xong, Tạ Tốn cúi xuống móc hai nắm đất lên đổ rượu vào hòa thành hai nắm bùn, rồi nói với Mạch Kình:

– Thủy tính hay dở, là xem nín thở lặn dưới nước lâu mau. Ta và ngươi dùng bùn bịt kín mũi miệng, ai không chịu nổi, đưa tay móc bùn ra trước để thở, kẻ đó sẽ phải vung đao tự tận.

Đoạn lão cũng chẳng đợi Mạch Kình có đồng ý hay không đã đưa nắm bùn tay trái lên bịt kín mũi miệng của mình, rồi vung tay phải, "bạch" một tiếng, nắm bùn thứ hai bay tới bịt kín mũi miệng Mạch Kình.

Mọi người nhìn cảnh tượng đó tuy quá tức cười, nhưng không ai cười nổi.

Trước khi bị bịt mũi miệng, Mạch Kình đã hít một hơi dài, giờ hắn liền ngồi xếp bằng, nín thở bất động. Từ bảy tám tuổi, hắn đã quen lặn xuống biển mò cua bắt cá, thủy tính cực cao, có thể lặn tàn một nén nhang mới trồi lên mặt nước vẫn không bị ngộp thở; bởi vậy trong cuộc tỷ thí này hắn tự tin quyết không thể thua; hết sợ rồi, hắn ngưng thần tĩnh tâm để trụ được lâu hơn.

Tạ Tốn thì chẳng ngồi bất động như hắn mà sải bước tới bên bàn tiệc của Thần Quyền môn, trừng mắt nhìn gã chưởng môn là Quá Tam Quyền.

Quá Tam Quyền sởn tóc gáy trước ánh mắt của Tạ Tốn, đứng dậy ôm quyền nói:

– Thưa Tạ tiền bối, tại hạ là Quá Tam Quyền.

Tạ Tốn miệng bị bịt, không nói được, giơ ngón tay chấm vào rượu, viết lên mặt bàn ba chữ. Quá Tam Quyền tức thời mặt xám ngoét, thần sắc cực kỳ hoảng hốt, tưởng chừng thấy ma quỷ hiện hình. Các đệ tử của hắn cúi nhìn mặt bàn, thấy ba chữ "Thôi Phi Yên" do Tạ Tốn vừa viết, họ không hiểu Thôi Phi Yên là gì, nghe có vẻ như tên phụ nữ, tại sao sư phụ của họ lại hoảng sợ như thế chứ?

Quá Tam Quyền dĩ nhiên biết Thôi Phi Yên là chị dâu của hắn, hắn cưỡng dâm không thành nên đã giết chị ta. Quá Tam Quyền nghĩ bụng: "Chắc chắn lão không tha cho ta, chi bằng nhân lúc lão đang bị bùn bịt kín mũi miệng, ta toàn lực tấn công, lão mà vận khí phát quyền, ắt sẽ thua Mạch Kình", bèn lớn tiếng nói:

– Tại hạ chấp chưởng Thần Quyền môn, bình sinh có học quyền pháp, xin lĩnh giáo tiền bối vài chiêu!

Cũng chẳng chờ Tạ Tốn dự phòng, hắn tung ngay một quyền vào bụng dưới của Tạ Tốn, một quyền đã đánh ra, quyền thứ hai sẽ tiếp liền. Cái tên Quá Tam Quyền xuất hiện chính là vì quyền lực của hắn cực mạnh, một quyền có thể đấm chết tươi một con trâu đực, một võ sư tầm thường không thể chịu nổi ba cú đấm của hắn, từ đó giang hồ truyền đi, chẳng ai còn nhớ tên thật của hắn là gì nữa. Hắn thầm biết rằng tình thế lúc này phải tấn công thật lẹ, nếu Mạch Kình không nín thở nổi, phải móc bùn ra trước thì Tạ Tốn cũng sẽ móc ra để thở. Giờ là lúc hắn chiếm lợi thế hoàn toàn, đối phương không thể hít khí vận lực, võ công sẽ mất đi phần lớn sức mạnh.

Hai quyền của hắn đánh ra, Tạ Tốn tiện tay hóa giải; Quá Tam Quyền cảm thấy kình lực của đối phương quá yếu, khác hẳn thần uy lúc lão đánh chết Thường Kim Bằng và phun ngã Bạch Quy Thọ. Hắn bèn quát to:

– Quyền thứ ba này!

Cú đấm thứ ba của hắn có tên hẳn hoi, gọi là "Hoành tảo thiên quân, trực thôi vạn mã" [29], là chiêu lợi hại nhất trong sở học bình sinh của hắn; không ít anh hùng hảo hán thành danh chốn giang hồ đã bị đả thương bởi cú đấm này.

Lúc đó Mạch Kình mặt đỏ tía tai, mồ hôi vã ra như tắm, khó bề chịu đựng thêm. Mạch thiếu bang chủ thấy tình thế của phụ thân vô cùng nguy cấp, còn Tạ Tốn đang mải đối phó với Quá Tam Quyền, y chợt nghĩ ra một mẹo, giơ tay rút một cái ngân thoa cài trên tóc một nữ đà chủ trong bang, bẻ lấy một đoạn chừng hơn tấc, rồi nhắm miệng Mạch Kình mà búng tới. Đoạn thoa ấy tuy không khỏi làm tổn thương răng lợi của Mạch Kình, song sẽ tạo nên một lỗ thủng nhỏ qua lớp bùn, không khí theo đó được hít vào, Mạch Kình sẽ không thể thua cuộc.

Đoạn ngân thoa còn cách Mạch Kình hơn một trượng, Tạ Tốn liếc mắt thấy, liền giơ chân hất một cục đá nhỏ dưới đất lên trúng đoạn ngân thoa. Nó bay ngược trở lại, thế nhanh dị thường, chỉ nghe Mạch thiếu bang chủ rú lên một tiếng "ái" thảm thiết, giơ tay ôm mắt phải, máu tươi chảy ròng ròng qua kẽ tay, thì ra đoạn ngân thoa đã đâm mù một con mắt của y.

Mạch Kình đưa tay định móc bùn ở mũi ra thở, Tạ Tốn liền đá hai cục đá lên, nghe hai tiếng "pạch, pạch", trúng hai bả vai của Mạch Kình, làm gãy xương bả vai khiến hai tay hắn không thể động đậy được nữa.

Lúc ấy cú đấm thứ ba của Quá Tam Quyền đánh trúng vào bụng dưới của Tạ Tốn. Quyền này thế như sấm sét, chưa tới mà đã rất uy mãnh. Quá Tam Quyền cho rằng đối phương không dám tiếp cú đấm này, sẽ phải né tránh, nhưng bất kể né phải tránh trái, rướn lên cao rùn xuống thấp, hắn cũng đã chuẩn bị sẵn đòn lợi hại tiếp theo. Nào ngờ Tạ Tốn chẳng hề di động thân hình. Quá Tam Quyền cả mừng, cú đấm thôi sơn của hắn giáng trúng bụng dưới của Tạ Tốn. Trên cơ thể người ta, bụng dưới vốn là nơi rất mềm, đằng này quyền của hắn đấm tới lại không khác gì đụng vào sắt đá, lúc biết nguy tai thì đã hộc máu chết.

Tạ Tốn quay đầu lại thấy Mạch Kình hai mắt trợn lên toàn lòng trắng, khí đã tuyệt hẳn. Lão móc bùn khỏi mũi miệng của Mạch Kình trước, thử xem tên đó còn thở hay không rồi mới gỡ bùn khỏi miệng mình, ngửa mặt lên trời cười một hồi, nói:

– Hai tên này bình sinh tác ác đa đoan, hôm nay mới bị báo ứng là hơi muộn.

Nói rồi lão đưa cặp mặt sáng quắc như tia chớp nhìn hai kiếm khách phái Côn Luân, từ Cao Tắc Thành sang Tưởng Đào, rồi lại quét từ Tưởng Đào sang Cao Tắc Thành, hồi lâu không nói.

Cao, Tưởng hai gã mặt trắng bệch, nhưng vẫn hiên ngang tay nắm đốc kiếm, giương mắt nhìn đối phương.

Trương Thúy Sơn thấy Tạ Tốn trong khoảnh khắc hạ sát liền các thủ lĩnh của bốn đại bang hội, lúc này hẳn đang định hạ sát Cao Tắc Thành và Tưởng Đào, chàng bèn đứng dậy nói:

– Tạ tiền bối, cứ theo lời tiền bối, thì mấy kẻ vừa bị giết đều đáng chết vì quá nhiều tội, bị báo ứng. Nhưng nếu tiền bối cứ ra tay lạm sát, chẳng phân biệt nếp tẻ gì hết, thì có khác chi bọn chúng?

Tạ Tốn cười nhạt, nói:

– Có khác chi ư? Ta võ công cao, chúng võ công thấp, mạnh thắng yếu bại, khác ở chỗ đó đấy.

Trương Thúy Sơn nói:

– Người khác cầm thú ở chỗ phân biệt phải trái, nếu cứ ỷ mạnh hiếp yếu, vậy khác gì cầm thú?

Tạ Tốn cười ha hả, nói:

– Lẽ nào trên thế gian có phân biệt phải trái thật sao? Người Mông Cổ làm hoàng đế, muốn giết bao nhiêu người Hán thì giết, có nói chuyện phải trái với ngươi hay không? Bọn Mông Cổ muốn cướp vợ con, vàng ngọc của người Hán là cứ việc đưa tay ra cướp, người Hán mà không chịu, chúng rút đao chém liền, chúng có nói chuyện phải trái với ngươi hay không?

Trương Thúy Sơn im lặng một lát, rồi nói:

– Bọn Mông Cổ tàn ác bạo ngược, hoành hành như cầm thú, phàm những ai có chí khí, đều nghiến răng căm hận chúng, ngày đêm mong mỏi đuổi bọn Thát tử, lấy lại giang sơn.

Tạ Tốn nói:

– Thời trước người Hán làm hoàng đế, có phân biệt phải trái hay không? Nhạc Phi là đại trung thần, tại sao lại bị Tống Cao Tông giết hại? Tần Cối là đại gian thần, tại sao lại được giữ địa vị cao, tận hưởng vinh hoa phú quý?

Trương Thúy Sơn nói:

– Các hoàng đế Nam Tống trọng dụng gian thần, sát hại bậc trung lương, bài xích danh tướng, cuối cùng để giang sơn gấm vóc rơi vào tay bọn dị tộc, trồng cái nhân ác, hái cái quả ác, đó cũng là phân biệt phải trái.

Tạ Tốn nói:

– Hoàng đế Nam Tống hôn quân vô đạo đã đi một nhẽ, nhưng người Hán khắp thiên hạ đều bị bọn Mông Cổ, bọn người Kim tàn sát, thử hỏi Trương ngũ hiệp, bách tính có làm gì ác mà phải chịu bao nhiêu tai họa như vậy?

Trương Thúy Sơn im lặng.

Đột nhiên Ân Tố Tố lên tiếng:

– Bách tính vô quyền vô dũng, dĩ nhiên phải bị người ta chém giết. Người ta là dao thớt, mình là cá thịt, chuyện ấy âu cũng là lẽ thường trên đời.

Trương Thúy Sơn nói:

– Chúng ta khổ công học võ là để giải oan cứu khổ, diệt cường bạo, giúp kẻ yếu. Tạ tiền bối anh hùng vô địch, nếu đem võ công tuyệt thế này đi hành hiệp thiên hạ, người người đều được hưởng phúc lành.

Tạ Tốn nói:

– Hành hiệp trượng nghĩa có gì là tốt? Tại sao phải hành hiệp trượng nghĩa?

Trương Thúy Sơn ngẩn ra, từ nhỏ, trước khi học võ, chàng đã được sư phụ giáo huấn hành hiệp trượng nghĩa là đại sự phải làm suốt đời, cho nên học võ chính là để hành hiệp, hành hiệp là gốc, học võ chỉ là cái ngọn. Trong tâm trí, chưa khi nào chàng tự hỏi hành hiệp trượng nghĩa có gì là tốt? Tại sao lại phải hành hiệp trượng nghĩa? Chàng chỉ coi đó là cái lý đương nhiên, hoàn toàn sáng tỏ, căn bản không phải bận tâm suy nghĩ; lúc này nghe Tạ Tốn hỏi như thế, chàng ngây người, lát sau mới nói:

– Hành hiệp trượng nghĩa là để khuếch trương chính nghĩa, sao cho thiện được đền đáp, ác bị quả báo.

Tạ Tốn cười một hồi, nói:

– Thiện được đền đáp, ác bị quả báo! Ha ha, toàn là nói láo! Ngươi thử nói xem, trong võ lâm có chuyện thiện được đền đáp, ác bị quả báo thực không?

Trương Thúy Sơn nhớ đến Du Đại Nham, tam sư ca của chàng một đời làm bao nhiêu việc thiện, bỗng dưng lại bị thảm họa như thế, tám chữ "thiện được đền đáp, ác bị quả báo" kia chính chàng cũng khó tin là có thực, đành thở dài, nói:

– Đạo trời khó nói, việc người khó biết. Chúng ta chỉ mong tâm được an, thấy việc nghĩa thì làm, còn chuyện họa hay phúc, chả nên tính đến làm gì.

Tạ Tốn liếc xéo Trương Thúy Sơn một cái, nói:

– Nghe đồn tôn sư Trương Tam Phong tiên sinh võ công quán thế, tiếc rằng chưa có duyên diện kiến. Ngươi là cao đồ của y mà kiến thức tầm thường như thế, thiết tưởng Trương Tam Phong cũng chẳng hơn gì, không diện kiến cũng chẳng sao.

Trương Thúy Sơn nghe lời lẽ của lão hiển nhiên có ý coi thường ân sư thì không nhịn nổi, nói:

– Ân sư của vãn bối sở học cao siêu, kẻ phàm phu tục tử há có thể đo lường. Tạ tiền bối võ công cao cường, vãn bối hậu học không sánh kịp, nhưng so với ân sư, chẳng qua chỉ là cái dũng của kẻ thất phu mà thôi.

Ân Tố Tố kéo kéo vạt áo chàng, ngụ ý khuyên chàng tạm thời nhịn nhục để tránh cái họa trước mắt. Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: "Đại trượng phu thà chết, quyết không để lão ta làm nhục ân sư".

Nào ngờ Tạ Tốn chẳng hề nổi giận, chỉ thản nhiên nói:

– Trương Tam Phong tiên sinh khai sáng tông phái, võ công chắc hẳn cao siêu hơn người. Võ học chi đạo, vô cùng vô tận, ta không bì kịp tôn sư thì cũng chẳng có gì lạ. Rồi sẽ có ngày ta lên núi Võ Đang lĩnh giáo một phen. Này Trương ngũ hiệp, công phu sở trường nhất của ngươi là gì, Tạ mỗ muốn được biết đến.

Comments

Comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 6: Dập dềnh biển tối mênh mang

Ân Tố Tố nhìn thi thể Bạch Quy Thọ, Thường Kim Bằng, Nguyên Quảng Ba, Mạch Kình, Quá Tam Quyền ngổn ngang trên mặt đất, người nào động thủ với Tạ Tốn cũng không thoát chết, giờ nghe Tạ Tốn khiêu chiến với Trương Thúy Sơn, biết chàng võ công tuy cao, song hoàn toàn không phải là đối thủ của lão, bèn nói:

– Tạ tiền bối, thanh đao Đồ Long đã ở trong tay tiền bối, tất thảy mọi người đều thán phục tiền bối võ công cao cường, vậy tiền bối còn muốn gì nữa?

Tạ Tốn nói:

– Về thanh đao Đồ Long này, có mấy câu tương truyền lâu nay, cô nương có biết không?

Ân Tố Tố đáp:

– Vãn bối có nghe qua.

Tạ Tốn nói:

– Tương truyền đó là vật chí tôn của võ lâm, người nào có được nó, ra lệnh thế nào, thiên hạ đều phải tuân theo. Rốt cuộc thanh đao này có bí mật gì mà khiến quần hùng khắp thiên hạ phải tuân phục?

Ân Tố Tố nói:

– Tạ tiền bối việc gì cũng biết, vãn bối chính đang muốn thỉnh giáo.

Tạ Tốn nói:

– Ta cũng không biết. Ta muốn tìm một chốn thanh vắng để suy nghĩ kỹ về chuyện đó.

Ân Tố Tố nói:

– Vậy thì hay quá. Tạ tiền bối tài trí hơn người, Tạ tiền bối mà nghĩ không ra thì còn ai hiểu nổi.

Tạ Tốn nói:

– Hì hì, Tạ mỗ chưa đến nỗi cuồng vọng tự đại đâu! Nói về võ công, hiện nay trong thiên hạ người giỏi hơn ta thực chẳng phải ít. Chưởng môn phái Thiếu Lâm Không Văn đại sư này..

Nói tới đây lão dừng lại, vẻ mặt thoáng nét u ám.

– Hai vị đại sư Không Trí, Không Tính ở Thiếu Lâm tự, đạo trưởng Trương Tam Phong phái Võ Đang, rồi còn các vị chưởng môn phái Nga Mi, phái Côn Luân, vị nào chẳng có tuyệt học trong người? Phái Thanh Hải ở vùng biên cương phía Tây, võ công cũng có chỗ bí hiểm, độc đáo. Tả hữu Quang Minh sứ giả của Minh giáo.. hì hì, chẳng phải loại thường. Rồi Bạch Mi Ưng Vương Ân giáo chủ của Thiên Ưng giáo cô nương, cũng là bậc kỳ tài hiếm có trên đời, ta chắc gì thắng nổi họ.

Ân Tố Tố đứng lên nói:

– Đa tạ Tạ tiền bối có lời khen ngợi.

Tạ Tốn nói:

– Ta lấy được thanh đao Đồ Long, dĩ nhiên không ít người ngoài sẽ thèm muốn. Hôm nay trên Vương Bàn sơn đảo này không một ai địch nổi ta, chẳng qua là do Ân giáo chủ tính lầm. Y tưởng rằng hai gã Bạch đàn chủ, Thường đàn chủ thừa sức đối phó với phái Hải Sa, bang Cự Kình, đâu ngờ giữa chừng Tạ mỗ lại xuất hiện..

Ân Tố Tố nói xen vào:

– Hoàn toàn không phải Ân giáo chủ tính lầm, chẳng qua Ân giáo chủ có việc hệ trọng, chẳng thể phân thân.

Tạ Tốn nói:

– Cứ cho là thế, nếu Ân giáo chủ ở đây, một là ta tự nghĩ võ công đôi bên kẻ tám lạng người nửa cân; hai là nghĩ đến giao tình cố nhân, rõ ràng chẳng nỡ tranh đoạt. Nếu thế, Tạ mỗ đâu tới đây làm gì? Ân giáo chủ xưa nay tự phụ tính toán không sai bao giờ, hôm nay thanh đao Đồ Long rơi vào tay ta, danh tiếng của giáo chủ khó tránh bị tổn hại.

Ân Tố Tố nghe Tạ Tốn nhắc có "giao tình cố nhân" với Ân giáo chủ, nàng liền cảm thấy đỡ lo, thế là tiếp tục tranh biện với Tạ Tốn, để lão quên đi cái việc đòi tỷ thí với Trương Thúy Sơn. Nàng nói:

– Việc người khó biết, ý trời khó đoán, vật bên ngoài không phải hễ muốn là được. Cho nên mới có câu "Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên". Tạ tiền bối phúc trạch thâm hậu, dễ dàng lấy được thanh đao Đồ Long, người khác dốc hết tâm cơ bày thiên phương bách kế vẫn chẳng đoạt được.

Tạ Tốn nói:

– Thanh đao này từ khi ra đời, không biết đã bao lần đổi chủ, cũng chẳng rõ nó đã gây cho chủ nhân của nó bao nhiêu cái họa sát thân. Hôm nay ta giành được nó, không chừng ngày mai lại có cao thủ giỏi hơn tới giết ta, đoạt mất đao này.

Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố nhìn nhau, cảm thấy câu nói của lão đầy thâm ý. Trương Thúy Sơn nhớ đến tam sư ca Du Đại Nham chỉ vì liên quan đến thanh đao này mà hiện giờ chưa rõ sống chết ra sao, còn chàng chỉ mới nhìn thấy nó mà tính mạng đã do người ngoài định đoạt.

Tạ Tốn thở dài, nói:

– Hai ngươi văn võ song toàn, diện mạo tuấn nhã, giết đi chẳng khác gì đập nát một đôi ngọc khí quý giá, kể cũng đáng tiếc, nhưng tình thế này không thể không giết.

Ân Tố Tố sợ hãi, hỏi:

– Vì sao?

Tạ Tốn nói:

– Ta đoạt đao mang đi, nếu trên đảo để cho một người sống sót, ắt chỉ vài hôm sau cả thiên hạ đều sẽ biết thanh đao Đồ Long đang ở trong tay họ Tạ, người này đi tìm, kẻ kia đến kiếm Tạ mỗ. Tạ mỗ lại chưa phải là vô địch thiên hạ, lấy gì bảo đảm không có sơ sảy? Chẳng nói đâu xa, ngay Bạch Mi Ưng Vương, Tạ mỗ chắc gì đã thắng nổi, huống hồ Thiên Ưng giáo của y người đông thế mạnh, Tạ mỗ lại có một mình.

Nói đoạn lão lắc đầu, tiếp:

– Ân Thiên Chính cả nội công lẫn ngoại công đều cương mãnh vô song, Tạ mỗ hết sức thán phục.. Nhớ ngày nào.. Ôi..

Đoạn lại thở dài, lắc đầu.

Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: "Thì ra giáo chủ Thiên Ưng giáo tên là Bạch Mi Ưng Vương Ân Thiên Chính". Chàng lạnh lùng nói:

– Thì ra Tạ tiền bối muốn giết người diệt khẩu.

Tạ Tốn nói:

– Không sai.

Trương Thúy Sơn nói:

– Đã vậy thì Tạ tiền bối cần gì phải kể tội mấy vị phái Hải Sa, bang Cự Kình, Thần Quyền môn?

Tạ Tốn cười ha hả, nói:

– Cái đó gọi là để chúng chết mà không oán hận, lúc chết vẫn phải bái phục ta.

Trương Thúy Sơn nói:

– Tạ tiền bối có lòng từ bi gớm.

Tạ Tốn nói:

– Người ta có ai không chết? Chết sớm chết muộn vài năm nào khác gì nhau? Trương ngũ hiệp và Ân cô nương đang tuổi xuân phơi phới, hôm nay bỏ mạng trên Vương Bàn sơn đảo, kể cũng tiếc thật. Nhưng một trăm năm nữa nhìn lại thì cũng có khác gì những kẻ kia đâu. Thời xưa giả dụ Tần Cối không hại chết Nhạc Phi, chả lẽ Nhạc Phi còn sống đến thời nay chăng? Người ta lúc chết chỉ cần tâm an lý đắc, không thống khổ vạn phần là được rồi. Những người học võ chúng ta muốn chết thư thái chẳng phải chuyện dễ. Bởi vậy ta muốn tỷ thí công phu với hai ngươi, ai thua sẽ chết, không gì công bằng hơn thế nữa. Hai ngươi còn trẻ, ta nhường lợi thế cho các ngươi. Binh khí, quyền cước, nội công, ám khí, khinh công, thủy công, tùy các ngươi chọn, ta sẵn sàng hầu tiếp.

Ân Tố Tố nói:

– Tạ tiền bối tự phụ quá đấy, tỷ thí công phu gì cũng được, đúng không?

Nàng nghe Tạ Tốn nói, biết hôm nay không còn cách gì tránh khỏi tai ương. Vương Bàn sơn đảo trơ trọi giữa biển, Thiên Ưng giáo lại ỷ đã có Bạch, Thường hai đại đàn chủ tại chỗ, chẳng thể sai sót, nên không phái cường viện tới đây. Nàng tuy nói cứng, nhưng giọng nghe đã hơi run.

Tạ Tốn ngẩn ra, nghĩ bụng lỡ nàng đòi ta thi may vá thêu thùa, chải đầu thoa phấn thì không ổn, bèn cao giọng nói:

– Dĩ nhiên chỉ tỷ thí trong phạm vi võ công, chả lẽ thi cả chuyện xơi cơm nốc rượu? Mà dù có thi xơi cơm nốc rượu, ngươi cũng chẳng thắng nổi cái hũ rượu túi cơm như ta đâu. Chúng ta chỉ tỷ thí một lần để quyết định thắng bại, các ngươi thua thì phải tự sát tức thời. Ôi, một đôi người ngọc tuấn nhã thế kia, ta quả thật không nỡ xuống tay hạ thủ.

Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố nghe lão nói "một đôi người ngọc" thì cùng đỏ mặt.

Ân Tố Tố nhướn mày nói:

– Thế Tạ tiền bối thua cũng phải tự sát chứ?

Tạ Tốn cười:

– Ta thua sao được?

Ân Tố Tố nói:

– Tỷ thí ắt có kẻ thắng người thua. Vị Trương ngũ hiệp đây là danh gia đệ tử, không chừng có môn công phu thắng được Tạ tiền bối cũng nên.

Tạ Tốn cười, nói:

– Chàng ta mới ngần kia tuổi đầu, dù chiêu số cao mấy đi chăng nữa thì nội công cũng không thâm hậu.

Trương Thúy Sơn nghe hai người tranh biện, đang tính thầm: "Công phu gì mình có thể đấu ngang ngửa với lão ta nhỉ? Khinh công ư? Pho chưởng pháp mới học được ư?" Bỗng nhiên linh cơ nhất động, chàng nói:

– Tạ tiền bối, tiền bối đã buộc vãn bối động thủ, vãn bối đành bộc lộ sự kém cỏi vậy. Nếu vãn bối thua, sẽ rút kiếm tự sát liền; song nếu may mắn thủ hòa thì sao?

Tạ Tốn lắc đầu nói:

– Không có chuyện hòa, môn thứ nhất đấu hòa thì đấu môn thứ hai, khi nào phân rõ thắng bại mới thôi.

Trương Thúy Sơn nói:

– Được, nếu vãn bối thắng một chiêu nửa thức, vãn bối cũng không đòi hỏi tiền bối thế này thế nọ, chỉ xin tiền bối đáp ứng một điều thôi.

Tạ Tốn nói:

– Nhất ngôn vi định. Thế ngươi định tỷ thí môn gì?

Ân Tố Tố lo lắng, hỏi nhỏ:

– Chàng tính thi môn gì với lão ta? Có chắc thắng không?

Trương Thúy Sơn đáp nhỏ:

– Không dám chắc, cứ cố hết sức thôi.

Ân Tố Tố nói nhỏ:

– Nếu thấy không ổn, hai chúng mình tùy cơ đào tẩu, không lẽ bó tay chịu chết?

Trương Thúy Sơn gượng cười, nghĩ thầm: "Thuyền đã bị đánh đắm hết, trên hòn đảo nhỏ này còn biết đào tẩu đường nào?" Chàng sửa lại y phục, rút từ thắt lưng ra cây phán quan bút đúc bằng thép. Tạ Tốn nói:

– Trên giang hồ vẫn nghe danh Ngân Câu Thiết Hoạch Trương Thúy Sơn, hôm nay cây lang nha bổng hai đầu của ta được dịp lĩnh giáo tài ba của ngươi. Còn hổ đầu câu bằng bạc đâu, sao không đem ra nốt?

Trương Thúy Sơn nói:

– Vãn bối không đấu binh khí với Tạ tiền bối, chỉ thi viết vài chữ thôi.

Đoạn chàng thong thả tới bên vách đá thuộc ngọn núi bên trái, hít một hơi thật dài, hai chân nhún mạnh một cái, tung mình lên. Khinh công của phái Võ Đang đứng đầu các môn phái, vào thời điểm quyết định sống chết này nào dám sơ ý? Chàng tung mình lên cao hơn trượng, sử dụng tuyệt kỹ "Thê vân túng", chân phải đạp vào vách đá một cái, mượn sức đẩy mình lên cao hơn hai trượng nữa, cây phán quan bút nhắm chuẩn vách đá, "xoẹt xoẹt" mấy tiếng, đã viết xong chữ "võ". Viết xong một chữ, thân hình chàng sắp rơi xuống.

Tay trái chàng rút phắt cái ngân câu, móc ngay vào một kẽ nứt trên vách đá, treo giữ trọng lượng thân hình chàng, tay phải viết tiếp chữ "lâm". Hai chữ này, mỗi nét mỗi vạch đều do Trương Tam Phong khổ công suy xét đêm nọ mà sáng tạo ra, bao hàm đủ âm dương cương nhu, tinh thần khí thế, có thể nói là một kiệt tác võ công của phái Võ Đang. Tuy Trương Thúy Sơn công lực còn non, nét chữ hằn vào đá chưa sâu, nhưng hai chữ ấy như rồng bay phượng múa, bút lực hùng kiện, tựa hồ được khắc nên bởi khoái kiếm trường kích vậy.

Xong hai chữ kia, chàng viết tiếp chữ "chí" và "tôn", càng viết càng nhanh, chỉ thấy vụn đá rơi xuống rào rào, lúc như linh xà uốn khúc, lúc như mãnh thú chuyển mình, trong giây lát đã viết xong hai mươi bốn chữ. Việc viết chữ hằn sâu vào vách đá này thật đúng như mấy vần thơ Lý Bạch miêu tả "Tiêu phong sậu vũ kinh táp táp, Lạc hoa phi tuyết hà mang mang. Khởi lai hướng bích bất đình thủ, Nhất hàng sổ tự đại như đẩu. Hoảng hoảng như văn quỷ thần kinh, Thời thời chỉ kiến long xà tẩu. Tả bàn hữu túc như kinh lôi, Trạng đồng Sở Hán tương công chiến" [30] .

Trương Thúy Sơn viết xong nét cuối cùng của chữ "phong", ngân câu và thiết bút cùng đẩy một cái vào vách núi, xoay mình nhẹ nhàng khéo léo đáp xuống đúng ngay bên cạnh Ân Tố Tố.

Tạ Tốn lặng lẽ nhìn ba hàng chữ lớn trên vách đá hồi lâu, cuối cùng thở dài, nói:

– Ta chịu không viết nổi, ta thua rồi.

Nên biết hai mươi bốn chữ này, từ "Võ lâm chí tôn" đến "thùy dữ tranh phong", là một pho bút ý do Trương Tam Phong sáng chế ra sau bao trăn trở suy tư; mỗi nét ngang, nét dọc, mỗi dấu chấm, dấu phẩy đều dung hợp thứ võ công tinh diệu nhất. Giả sử chính Trương Tam Phong tới đây, nhưng trước đó chưa qua một đêm khổ công suy tư thì cũng không có cái tâm cảnh thế này. Mà dù có được ngưng thần suy nghĩ hồi lâu, mới viết lên vách đá hai mươi bốn chữ kia, cũng quyết không đạt tới cảnh giới xuất thần nhập hóa như thế được. Tạ Tốn đâu biết căn nguyên bên trong, cứ tưởng Trương Thúy Sơn thấy cảnh tranh chấp thanh đao Đồ Long mà viết liền mấy câu tương truyền đó. Thực ra, ngoài hai mươi bốn chữ này, nếu bảo Trương Thúy Sơn viết các chữ khác, thì cảnh giới cao thấp, bút lực mạnh yếu sẽ lộ ra khác hẳn.

Ân Tố Tố vỗ tay cả mừng, nói:

– Tạ tiền bối thua rồi, không được nuốt lời đấy nhé.

Tạ Tốn nói với Trương Thúy Sơn:

– Trương ngũ hiệp lồng võ công vào thư pháp, mở con đường mới, khiến người ta sáng mắt, bội phục, bội phục! Trương ngũ hiệp có gì phân phó, xin cứ nói.

Bị buộc phải giữ lời cam kết, Tạ Tốn thật cảm thấy thất vọng lắm.

Trương Thúy Sơn nói:

– Vãn bối mạt học hậu tiến, may có chút kỹ năng nhỏ mọn nên được Tạ tiền bối khen ngợi, đâu dám nhận hai chữ "phân phó"? Chỉ đánh bạo cầu xin Tạ tiền bối chấp thuận cho một việc.

Tạ Tốn hỏi:

– Việc gì?

Trương Thúy Sơn nói:

– Tạ tiền bối cứ việc mang đao Đồ Long đi, nhưng hãy tha mạng cho mọi người trên đảo, chỉ yêu cầu họ thề độc, không được tiết lộ việc này.

Tạ Tốn nói:

– Ta đâu ngu tới mức tin vào lời thề của kẻ khác.

Ân Tố Tố nói:

– Hóa ra tiền bối nói không giữ lời; đã nói nếu thua sẽ nghe theo lời sai bảo của người khác, bây giờ lại nuốt lời là sao?

Tạ Tốn nói:

– Ta muốn nuốt lời thì nuốt lời đấy, ngươi làm gì được ta nào?

Rồi nghĩ lại, thấy mình ăn nói như thế quá ngang ngược, nên nói:

– Tính mạng của hai ngươi, ta tha cho; những kẻ khác thì không được.

Trương Thúy Sơn nói:

– Hai vị kiếm sĩ phái Côn Luân là danh môn đệ tử, bình sinh chưa làm điều ác..

Tạ Tốn ngắt lời chàng:

– Ác hay thiện gì đối với ta cũng vậy cả. Hai ngươi mau xé vạt áo lấy vải mà đút nút lỗ tai, rồi dùng hai tay bịt thêm bên ngoài cho kín. Muốn sống thì chớ có sơ hở.

Câu cuối cùng lão nói rất khẽ, hình như sợ người bên cạnh nghe thấy.

Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố nhìn nhau, chưa hiểu Tạ Tốn có dụng ý gì, nhưng nhìn thái độ trịnh trọng của lão, ắt bên trong có duyên cớ gì đây, thế là vội xé vạt áo, lấy vải đút nút lỗ tai, rồi dùng hai tay bịt thêm bên ngoài nữa.

Đột nhiên Tạ Tốn há to mồm, hình như cất tiếng hú thật dài, hai người không nghe thấy, nhưng không hẹn mà thân hình cùng chấn động. Chỉ thấy tất cả mọi người Thiên Ưng giáo, phái Hải Sa, bang Cự Kình, Thần Quyền môn ai cũng há mồm líu lưỡi, mặt lộ đầy vẻ kinh hãi, tiếp đó biến thành vẻ đau đớn ghê gớm chịu khôn xiết, tựa hồ đang bị cực hình tra tấn, lát sau thì lần lượt ngã xuống, lăn lộn trên mặt đất.

Hai kiếm sĩ phái Côn Luân kinh hãi, vội ngồi xếp bằng, nhắm mắt, vận nội công chống đỡ tiếng hú. Trán họ mồ hôi to như hạt đậu chảy ròng ròng, các cơ mặt giật giật liên hồi, họ mấy phen đưa hai tay lên định bịt tai, nhưng không hiểu sao còn cách tai vài tấc đều lại buông thõng xuống. Bỗng chốc Cao, Tưởng hai người vọt lên cao hơn một trượng, rồi rơi phịch xuống đất, nằm bất động.

Tạ Tốn ngậm miệng ngừng hú, ra hiệu cho Trương, Ân hai người gỡ nút lỗ tai ra, nói:

– Bọn kia nghe tiếng hú của ta đã ngất lịm cả rồi, tính mạng có thể được bảo toàn, nhưng khi tỉnh dậy, thần kinh rối loạn hóa thành người mất trí, không nhớ và không thể kể lại chuyện đã chứng kiến ở đây được. Trương ngũ hiệp, điều phân phó của ngươi, ta đã thực hiện, hết thảy đám người kia, ta đều tha chết cho cả rồi đó.

Trương Thúy Sơn buồn rầu nghĩ thầm: "Lão tha chết cho họ, nhưng những người kia sống có khác gì chết, thà họ bị giết còn đỡ thảm khốc hơn". Đối với hành vi tàn ác của Tạ Tốn, chàng thực vô cùng căm hận. Song nhìn Cao, Tưởng hai người đang nằm hôn mê kia, mặt mày vàng ệnh, chả khác gì xác chết, nghĩ thầm Tạ Tốn chỉ hú không thôi đã có thần uy kinh khủng như thế thì quả đáng sợ; nếu mình không nút lỗ tai, không hiểu tình cảnh giờ đây ra sao rồi.

Tạ Tốn thản nhiên, lạnh lùng nói:

– Chúng ta đi thôi!

Trương Thúy Sơn nói:

– Đi đâu kia?

Tạ Tốn nói:

– Về. Việc ở Vương Bàn sơn đảo xong rồi, còn ở lại đây làm chi?

Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố nhìn nhau, cùng nghĩ thầm: "Còn phải đi chung thuyền với tên ma đầu này một ngày một đêm nữa, trong mười hai canh giờ ấy không biết sẽ còn gặp biến cố gì đây?"

Tạ Tốn dẫn hai người đến sau một hòn núi phía tây đảo, thấy trong vịnh đậu một chiếc thuyền có ba cột buồm, là chiếc thuyền mà Tạ Tốn đã đi tới đây. Lão đến bên thuyền, cúi người nói:

– Mời hai vị lên thuyền.

Ân Tố Tố cười khẩy, nói:

– Lúc này Tạ tiền bối khách khí quá.

Tạ Tốn nói:

– Hai vị lên thuyền của ta, là khách quý của ta, sao lại không dùng lễ tiếp đãi chu đáo kia chứ?

Sau khi ba người lên thuyền, Tạ Tốn đưa tay làm hiệu lệnh cho các thủy thủ nhổ neo đưa thuyền ra.

Trên thuyền có tới mười sáu mười bảy thủy thủ, nhưng gã tiêu công cầm lái mỗi khi ra lệnh gì, chỉ giơ tay giơ chân, không nói một tiếng, tựa hồ tất cả bọn họ đều cấm khẩu. Ân Tố Tố nói:

– Tạ tiền bối tài thật, tìm được toàn những thủy thủ vừa câm vừa điếc.

Tạ Tốn cười nhạt, nói:

– Việc ấy có gì là khó? Ta chỉ cần tìm các thủy thủ mù chữ, rồi chọc thủng màng nhĩ và cho họ uống thuốc câm là xong.

Trương Thúy Sơn cảm thấy sởn gai ốc. Ân Tố Tố vỗ tay cười:

– Hay quá là hay! Đã câm điếc, lại mù chữ, Tạ tiền bối có bí mật gì, bọn họ cũng chẳng thể tiết lộ. Tiếc rằng họ còn phải lái thuyền, nếu không thì chọc cho mù luôn thể.

Trương Thúy Sơn lườm nàng một cái, trách:

– Ân Tố Tố, nàng là một cô nương non trẻ, sao nỡ tàn nhẫn như thế? Đây là một đại thảm sự trên thế gian, có gì đáng cười đâu?

Ân Tố Tố lè lưỡi, toan biện bạch, nhưng nhìn lại sắc diện của chàng, vội im lặng. Tạ Tốn thản nhiên nói:

– Lúc nào về tới đất liền, ta sẽ chọc mù mắt họ.

Trương Thúy Sơn nhìn mấy thủy thủ trên thuyền, thương thầm cho họ: "Chỉ một ngày đêm nữa thôi, các người ngay đôi mắt cũng không còn nốt".

Buồm được kéo lên, thuyền từ từ quay mũi, Trương Thúy Sơn nói:

– Tạ tiền bối, còn những người trên đảo thì sao? Tiền bối đánh chìm hết thuyền của họ, họ biết về bằng gì?

Tạ Tốn nói:

– Trương tướng công, ngươi kể cũng tốt bụng, hỏi không sai, nhưng cũng đừng đa sự như đám đàn bà làm gì. Cứ mặc họ tự sinh tự diệt trên đảo, muốn ra sao thì ra, chẳng hay hơn sao?

Trương Thúy Sơn biết không thể nói lý lẽ với lão, đành im lặng nhìn con thuyền rời đảo xa dần, nghĩ thầm: "Những kẻ trên đảo tuy phần đông là bọn tác ác đa đoan, nhưng gặp cảnh ngộ bi thảm này, nếu không có ai đến cứu, nội nhật mươi ngày cũng chết hết thôi". Lại nghĩ: "Hai đệ tử của phái Côn Luân bỏ mạng trên đảo, sư trưởng của họ tất phải tìm kiếm, xem ra võ lâm Trung nguyên chẳng mấy chốc sẽ nổi cơn sóng gió".

Mấy năm qua Võ Đang thất hiệp tung hoành giang hồ, mọi việc đều chiếm thượng phong, thế mà hôm nay đành thúc thủ, tính mạng nằm trong tay kẻ khác, không cách gì phản kháng. Trương Thúy Sơn vừa buồn chán, vừa tức giận, chỉ cúi đầu ngẫm nghĩ, chẳng thèm để ý đến Tạ Tốn và Ân Tố Tố.

Lát sau, chàng quay đầu nhìn qua song cửa ngắm cảnh biển, thấy mặt trời sắp chìm vào các đợt sóng, ánh chiều tà chiếu trên mặt biển thành ngàn vạn con rắn vàng lấp lóa bất định; chàng đang xuất thần, chợt ngạc nhiên: "Sao tịch dương lại lặn ở phía đuôi thuyền?" bèn ngoảnh lại nói với Tạ Tốn:

– Tài công lái thuyền lạc hướng rồi, thuyền lại đi về hướng đông.

Tạ Tốn nói:

– Thì hướng đông, không sai.

Ân Tố Tố sợ hãi nói:

– Phía đông là biển cả mênh mông, mình đi đâu bây giờ vậy? Sao tiền bối không lệnh cho tài công đổi hướng?

Tạ Tốn nói:

– Ta chẳng đã nói với các ngươi rồi sao? Ta lấy được thanh đao Đồ Long, cần tìm một nơi yên tĩnh thanh vắng để suy nghĩ xem vì sao thanh đao này lại là "võ lâm chí tôn, hiệu lệnh thiên hạ, mạc cảm bất tòng". Trung nguyên là vùng đất lắm chuyện, lỡ có người biết bảo đao trong tay ta, nay kẻ này đến cướp, mai kẻ khác tới trộm, cứ phải lo đánh đuổi họ cũng đủ nhiêu khê phiền toái, làm sao tĩnh tâm được? Nếu người tìm đến lại là cao thủ như Trương Tam Phong tiên sinh, giáo chủ Thiên Ưng giáo, Tạ mỗ chắc gì đã thắng nổi họ? Bởi vậy phải ra ngoài đại dương bao la, tìm một hoang đảo không dấu chân người để ở.

Ân Tố Tố nói:

– Vậy hãy cho chúng vãn bối về trước đi.

Tạ Tốn cười:

– Các ngươi về Trung nguyên thì lộ hết hành tung của ta ư?

Trương Thúy Sơn giận dữ đứng phắt lên, hỏi:

– Vậy tiền bối định sao đây?

Tạ Tốn nói:

– Đành phiền hai vị cùng ta sống cuộc đời tiêu dao khoái lạc trên hoang đảo vậy.

Trương Thúy Sơn nói:

– Lỡ mười năm, tám năm tiền bối vẫn chưa nghĩ ra bí mật của thanh đao Đồ Long thì sao?

Tạ Tốn nói:

– Thì hai vị ở trên hoang đảo với ta mười năm, tám năm; nếu cả đời ta chưa nghĩ ra, thì hai vị theo ta cả đời. Hai vị trai tài gái sắc, tình đầu ý hợp, trên hoang đảo kết thành phu thê, sinh nhi dục nữ, há chẳng hay lắm sao?

Trương Thúy Sơn cả giận, đập bàn quát:

– Lão chớ nói bậy!

Chàng liếc nhìn Ân Tố Tố, thấy nàng thẹn thùng cúi đầu, hai má đỏ bừng.

Chàng thầm hoảng sợ, có linh cảm rằng nếu ở lâu bên cạnh Ân Tố Tố, chỉ e chàng khó tự kiềm chế. Tạ Tốn là một cường địch, cái tâm viên ý mã trong lòng chàng còn là loại cường địch ghê gớm hơn, như thế bốn bề đầy rẫy nguy cơ, phải nhanh chóng thoát ra sớm chừng nào hay chừng ấy. Nghĩ vậy, chàng nén lửa giận, nói:

– Tạ tiền bối, tại hạ là người nói sao làm vậy, quyết không tiết lộ hành tung của tiền bối. Ngay bây giờ tại hạ có thể lập trọng thệ sẽ không tiết lộ những điều tai nghe mắt thấy hôm nay với bất cứ ai.

Tạ Tốn nói:

– Trương ngũ hiệp là hiệp nghĩa danh gia, một lời nặng ngàn vàng, nói như đao chém đá, chốn giang hồ sớm đã lan truyền như thế. Nhưng Tạ mỗ từ năm hai mươi tám tuổi đã lập trọng thệ, ngươi hãy coi ngón tay của ta đây.

Nói đoạn chìa tay phải ra, Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố thấy ngón út đã bị chặt đứt, chỉ còn bốn ngón.

Tạ Tốn thong thả nói:

– Năm đó, người mà ta bình sinh sùng kính nhất, yêu quý nhất đã làm nhục ta, hại ta nhà tan cửa nát, phụ mẫu thê nhi của ta chỉ trong một đêm chết không còn một ai. Bởi vậy, ta chặt ngón tay lập thệ, Tạ mỗ còn sống ngày nào thì quyết không tin bất cứ ai cả. Năm nay ta bốn mươi mốt tuổi, mười ba năm nay ta chỉ làm bạn với cầm thú, ta tin tưởng cầm thú chứ không tin con người. Mười ba năm qua ta giết cầm thú ít hơn là giết người.

Trương Thúy Sơn rùng mình, nghĩ thầm, thảo nào lão có võ công tuyệt thế mà chốn giang hồ không hề nghe nhắc đến tên tuổi, biến cố mà lão gặp năm hai mươi tám tuổi hẳn phải vô cùng thảm khốc nên lão mới phẫn thế kỵ tục, lánh mình ẩn cư, căm hận hết thảy mọi người trong thiên hạ. Chàng rất thống hận hành vi tàn ác bạo ngược của Tạ Tốn, nhưng lúc này nghe lão nói thế, chàng bất giác cảm thấy đôi chút đồng tình, trầm ngâm giây lát, rồi nói:

– Tạ tiền bối, mối thâm cừu đại hận ấy, tưởng tiền bối đã báo phục rồi chứ?

Tạ Tốn nói:

– Chưa. Kẻ hại ta võ công cực cao. Ta chưa thắng được hắn.

Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố không hẹn mà cùng ồ lên một tiếng, nói:

– Còn lợi hại hơn tiền bối kia à? Người đó là ai vậy?

Tạ Tốn nói:

– Tại sao ta phải nói tên hắn ra cho mình thêm nhục? Nếu không phải vì mối thâm cừu đại hận ấy, ta hà tất phải đi cướp thanh đao Đồ Long? Hà tất phải khổ công tìm hiểu bí mật của thanh đao? Trương ngũ hiệp, ta vừa gặp ngươi đã thấy hợp tính, nếu không cứ như tính nết của ta thì ta đã chẳng để ngươi được sống đến phút này. Ta để cho hai ngươi sống thêm một thời gian nữa đã là phá lệ rồi, chỉ e sẽ có chuyện không hay.

Ân Tố Tố nói:

– Sống thêm một thời gian nữa là sao?

Tạ Tốn thản nhiên nói:

– Là chờ đến khi ta nghĩ ra bí mật của thanh đao Đồ Long, lúc rời hoang đảo ta sẽ giết hai ngươi. Ta nghĩ ra chậm ngày nào, hai ngươi được sống thêm ngày đó.

Ân Tố Tố nói:

– Ồ, thanh đao này nặng nề, chỉ được cái sắc bén, lửa nung không chảy, chứ có gì bí mật đâu? Câu "hiệu lệnh thiên hạ, mạc cảm bất tòng" chẳng qua chỉ có nghĩa nó là thứ binh khí có thể làm bá chủ thiên hạ thôi.

Tạ Tốn nói:

– Nếu đúng là vậy, ba chúng ta sẽ ở hoang đảo một thời gian dài lắm đó.

Bỗng nhiên thần sắc của lão trở nên sầu thảm, tuyệt vọng, cảm thấy nếu Ân Tố Tố nói đúng thì suốt cuộc đời lão sẽ không thể báo cừu.

Trương Thúy Sơn nhìn thần sắc của lão, nhịn không nổi định nói vài lời an ủi. Nào ngờ Tạ Tốn hừ một tiếng, thổi tắt ngọn nến, nói:

– Ngủ thôi!

Đoạn thở dài một tiếng não nuột, một tiếng thở dài chứa đựng nỗi thống khổ vô cùng, nỗi tuyệt vọng vô tận, tưởng như không phải tiếng người, mà là tiếng rên của con thú bị thương sắp chết. Tiếng đó lẫn vào tiếng sóng biển bên ngoài con thuyền, Trương Ân hai người nghe thấy không khỏi rùng mình.

Từ cửa khoang thuyền, gió biển thổi vào từng cơn, Ân Tố Tố y phục mỏng manh, một lát sau rét không chịu nổi, bắt đầu run. Trương Thúy Sơn hỏi nhỏ:

– Cô nương lạnh hả?

Ân Tố Tố nói:

– Còn chịu được.

Trương Thúy Sơn cởi trường bào, nói:

– Cô nương khoác lên người đi.

Ân Tố Tố vô cùng cảm kích, nói:

– Không cần đâu, chàng cũng lạnh mà.

Trương Thúy Sơn nói:

– Ta không sợ lạnh.

Rồi cứ giúi trường bào vào tay nàng. Ân Tố Tố cầm lấy khoác lên vai, cảm thấy hơi ấm của Trương Thúy Sơn thật êm dịu, bất giác mỉm cười sung sướng trong bóng tối.

Trương Thúy Sơn chỉ nghĩ kế thoát thân, suy đi tính lại chỉ có một cách: "Không giết Tạ Tốn, không thể nào thoát".

Chàng dỏng tai nghe, giữa tiếng ầm ào của sóng biển, chỉ nghe tiếng thở ngưng trọng của Tạ Tốn, rõ ràng lão đã ngủ say. Chàng nghĩ thầm: "Người này lập trọng thệ suốt đời quyết không tin ai, nay đi chung thuyền với ta, lão lại yên tâm nằm ngủ, không sợ ta hạ độc thủ hay sao? Dẫu thế nào ta cũng phải mạo hiểm tấn công. Nếu trì hoãn, cả đời ta sẽ phải theo lão sống nơi hoang đảo". Chàng nhẹ nhàng xích lại bên Ân Tố Tố, định kề tai nói nhỏ với nàng vài câu, nào ngờ lúc ấy Ân Tố Tố quay mặt lại, đôi bên chạm nhau, môi của Trương Thúy Sơn đặt ngay lên má nàng.

Trương Thúy Sơn giật mình, định biện bạch là mình không có ý khinh bạc, song chưa biết nói sao. Ân Tố Tố trong lòng vui sướng, ngả luôn đầu vào vai chàng, cảm thấy êm đềm dịu ngọt, những mong con thuyền cứ trôi mãi thế này giữa đại hải mênh mông, trôi cả trăm năm đừng tới bến. Chợt Trương Thúy Sơn lại ghé môi nói nhỏ bên tai nàng:

– Cô nương đừng giận nhé.

Ân Tố Tố thẹn thùng, đỏ bừng mặt như một đóa hồng, cũng thấp giọng nói:

– Chàng thích muội, muội sung sướng vô cùng.

Nàng tuy hành sự tùy hứng, giết người không chớp mắt, nhưng trong ái tình, nào có khác chi mọi thiếu nữ trong thiên hạ biết yêu lần đầu, trong lòng vừa mừng vừa lo, vừa hoảng sợ, nếu không phải trong bóng tối, chắc đến nói cũng chả dám.

Trương Thúy Sơn ngẩn người, không ngờ lời xin lỗi của mình lại khiến đối phương thổ lộ chân tình. Ân Tố Tố kiều diễm tuyệt trần, từ lần gặp đầu tiên, nàng đối với chàng mặn mà đầy tình ý, bảy tiếng nàng vừa thốt ra đã thể hiện tất cả lòng yêu thương. Trương Thúy Sơn đang tuổi thanh xuân khí huyết dồi dào, tuy tự kiềm chế để giữ lễ, song rốt cuộc đâu phải gỗ đá, chỉ cảm thấy thân hình mềm mại của nàng ngả vào bên vai mình, mùi hương nhẹ nhàng ngây ngất xông lên mũi, chàng đang định nói với nàng vài lời tình tứ, bỗng sực nghĩ: "Trương Thúy Sơn, đại địch đang ở trước mặt, sao không lo đến? Lời giáo huấn của ân sư, mi quên sạch rồi ư? Dẫu nàng và mi có tình cảm với nhau, nàng có ơn với Du tam ca, nhưng suy cho cùng nàng xuất thân tà giáo, hành vi bất chính, mi có muốn lấy nàng, cũng phải thưa bẩm với ân sư, được lão nhân gia cho phép lại phải nhờ mai mối, há có thể làm điều xằng bậy trong bóng tối?" Nghĩ đến đây, chàng liền ngồi thẳng người dậy, nói nhỏ:

– Hai đứa mình phải tìm cách chế ngự lão ta, mới có thể thoát thân.

Ân Tố Tố đang mơ mơ màng màng, nghe chàng nói vậy bất giác ngẩn ra, hỏi:

– Gì kia?

Trương Thúy Sơn nói nhỏ:

– Hai ta lâm vào hiểm cảnh, nếu nhân lúc lão ta ngủ say mà tấn công thì không phải là hành vi của đại trượng phu. Ta sẽ gọi lão dậy, đấu chưởng với lão, nàng hãy ném ngân châm đả thương lão. Lấy hai địch một, kể ra không đúng cách con nhà võ, nhưng võ công của hai ta so với lão quá chênh lệch, đành phải dùng cách đó vậy.

Mấy câu này chàng nói thật nhỏ, nghe chỉ như tiếng muỗi vo ve, lại kề môi sát tai Ân Tố Tố mà nói, nào ngờ nàng chưa kịp đáp thì Tạ Tốn ở khoang sau đã cười ha hả, nói:

– Nếu ngươi bất ngờ đánh lén, Tạ mỗ tuy chẳng để cho ngươi làm được gì, song cũng còn chút hi vọng; nay lại muốn quang minh chính đại, bảo toàn môn phong nghĩa hiệp của danh môn chính phái, thì quả thật chỉ chuốc khổ vào thân thôi.

Chữ thôi vừa dứt, thân hình đã vọt tới trước mặt Trương Thúy Sơn, vung chưởng đánh vào ngực chàng.

Trương Thúy Sơn khi đang nghe lão nói, sớm đã ngưng tụ chân khí, ám vận công lực, đợi lúc chưởng của lão vừa đánh ra, liền giơ hữu chưởng sử dụng "Miên chưởng" sư môn tâm truyền chống đỡ. Hai chưởng đụng nhau, chỉ nghe khẽ "bộp" một tiếng, chưởng lực bài sơn đảo hải của đối phương đã ào tới. Trương Thúy Sơn biết công lực của đối phương hơn mình quá xa, nên đã dự tính trước chỉ thủ không công, cầm cự được phút nào hay phút đó. Vì thế khi hai chưởng đụng nhau, chưởng của chàng bị đẩy lùi tám tấc. Tám tấc sai biệt đó khiến chàng phòng ngự càng thêm dễ dàng, bất kể Tạ Tốn vận kình thế nào, nhất thời cũng không phá được chưởng lực phòng ngự của chàng.

Tạ Tốn đẩy ra liên tiếp ba luồng lực đạo, chỉ cảm thấy chưởng lực của đối phương yếu hơn mình rất nhiều, nhưng yếu mà không suy, nhẹ mà không kiệt, chưởng lực của lão càng đẩy ra càng mạnh, song Trương Thúy Sơn vẫn chống đỡ được. Tạ Tốn bèn đưa tay trái ra nhắm đỉnh đầu Trương Thúy Sơn mà đè xuống. Trương Thúy Sơn cánh tay trái hơi co lại, dùng chiêu "Hoành giá kim lương" chống đỡ. Võ công phái Võ Đang vốn lấy sự mềm khít làm sở trường, các phái khác không thể bì kịp, võ công đôi bên tuy chênh lệch rất xa, nhưng Trương Thúy Sơn vận dụng tâm pháp sư truyền, Tạ Tốn nhất thời vẫn chưa làm gì được.

Hai người đấu chưởng một hồi, Trương Thúy Sơn mồ hôi như tắm, người ướt đẫm, sốt ruột nghĩ thầm: "Sao Ân Tố Tố còn chưa xuất thủ? Lão ta đang toàn lực tấn công ta, Ân Tố Tố mà phóng ngân châm vào các huyệt của lão, dù không hạ được lão thì cũng buộc lão phải thu chưởng chống đỡ, chỉ trong một sát-na, lão sẽ lập tức bị trúng thương bởi chưởng lực của ta".

Điều đó Tạ Tốn sớm đã nghĩ tới, lão cứ ngỡ rằng khi lão dùng song chưởng tấn công, Trương Thúy Sơn lập tức sẽ bị trọng thương, ai ngờ chàng tuy trẻ tuổi nhưng nội công lại phi phàm, chống đỡ đến hết một tuần trà rồi vẫn chưa núng thế. Hai người tỷ thí chưởng lực, đồng thời nghe ngóng động tĩnh từ phía Ân Tố Tố. Trương Thúy Sơn ngưng khí ở ngực, không dám mở miệng gọi nàng. Tạ Tốn thì không đến nỗi đó, nói:

– Tiểu cô nương, ngươi chưa động thủ là khôn, nếu không ta biến chưởng thành quyền, thì ý trung nhân của ngươi sẽ đứt hết gân cốt.

Ân Tố Tố nói:

– Tạ tiền bối, chúng vãn bối bằng lòng đi theo tiền bối, mau thu chưởng lại đi.

Tạ Tốn nói:

– Trương tướng công nghĩ sao?

Trương Thúy Sơn sốt ruột hết mức, trong bụng kêu thầm: "Phóng ngân châm đi, phóng đi! Cơ hội hiếm có này sao không nắm bắt?" Ân Tố Tố vội nói:

– Tạ tiền bối mau thâu chưởng lại, nếu không vãn bối sẽ liều mạng với Tạ tiền bối.

Tạ Tốn kỳ thực cũng sợ Ân Tố Tố bất ngờ dùng ngân châm tập kích lão, khoang thuyền chật hẹp, ngân châm nhỏ xíu, trong bóng tối phóng ra chỉ e vô hình vô thanh, thật chẳng dễ gì đối phó, dù lão có lập tức đánh chết Trương Thúy Sơn, cũng không đạt ý muốn, lão nghĩ thầm: "Con bé kia sợ uy thế của ta, không dám động thủ, chứ không thì trong tình cảnh này, chỉ e cả ba sẽ cùng phải chết", bèn nói:

– Nếu các ngươi không có ý khác, ta có thể tha mạng cho cả hai.

Ân Tố Tố nói:

– Tiểu nữ không hề có ý gì khác.

Tạ Tốn nói:

– Vậy ngươi hãy lập thệ thay hắn đi.

Ân Tố Tố nghĩ một chút, rồi nói:

– Trương ngũ hiệp, hai ta không phải là địch thủ của Tạ tiền bối, thôi thì mình theo Tạ tiền bối ra hoang đảo ở một vài năm. Với tài trí của mình, việc tìm ra bí mật của thanh đao Đồ Long đối với Tạ tiền bối hoàn toàn không phải là chuyện khó, thôi để muội lập thệ thay chàng vậy!

Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: "Thề với chả thốt! Mau phóng ngân châm, mau phóng ngân châm đi!" Khổ nỗi chàng không thể mở miệng, trong đêm tối chẳng có cách gì ra hiệu cho nàng, huống hồ cả hai tay đều đang dính chặt vào tay đối phương, muốn ra hiệu cũng chẳng được.

Ân Tố Tố thấy Trương Thúy Sơn trước sau không lên tiếng, bèn nói:

– Chúng tôi, Ân Tố Tố và Trương Thúy Sơn, quyết ý theo Tạ tiền bối sống trên hoang đảo cho đến khi tìm ra bí mật của thanh đao Đồ Long. Nếu chúng tôi có dị tâm, xin chịu chết dưới đao kiếm.

Tạ Tốn cười nói:

– Chúng ta là con nhà võ, chết dưới đao kiếm thì có gì lạ?

Ân Tố Tố nghiến răng, nói:

– Được, vậy thì tiểu nữ không sống đến hai mươi tuổi!

Tạ Tốn cười ha hả, thu chưởng về.

Trương Thúy Sơn toàn thân thoát lực, ngồi bệt xuống sàn thuyền. Ân Tố Tố vội đánh lửa thắp đèn dầu, thấy mặt chàng vàng như nghệ, hơi thở yếu ớt, thì nàng cuống quýt lo sợ, vội rút khăn tay lau mồ hôi đầm đìa trên mặt chàng.

Tạ Tốn cười nói:

– Đệ tử phái Võ Đang quả nhiên danh bất hư truyền, giỏi lắm!

Trương Thúy Sơn giận Ân Tố Tố bỏ lỡ cơ hội hiếm có không phóng ngân châm đánh địch, nhưng thấy nàng rưng rưng lệ, vẻ mặt đầy lo lắng, quả thật chí tình với chàng thì cảm động thở dài, toan nói vài lời an ủi, bỗng thấy trước mắt tối sầm, trong cơn mê man còn nghe loáng thoáng tiếng kêu của Ân Tố Tố:

– Lão Tạ kia, lão đánh chết Trương ngũ ca rồi, ta quyết liều mạng với lão.

Tạ Tốn chỉ cười ha hả.

Đột nhiên thân hình Trương Thúy Sơn chao qua một bên, lăn đi mấy vòng, có tiếng Tạ Tốn, Ân Tố Tố cùng hét lớn, lẫn trong tiếng gió rít ù ù, tiếng sóng ầm ầm, tưởng như có hàng ngàn hàng vạn con sóng cùng ập tới.

Trương Thúy Sơn chỉ cảm thấy toàn thân lạnh giá, mồm mũi đầy nước mặn, chàng vốn đang mê man bị nước lạnh tạt vào người lập tức tỉnh lại. Ý nghĩ đầu tiên lóe lên là: "Chẳng lẽ đắm thuyền?" Chàng không biết bơi, vội quờ quạng đứng dậy. Ván thuyền dưới chân chao mạnh qua bên trái, nước trong thuyền hắt cả ra ngoài, nhưng cuồng phong vẫn rú rít, xung quanh người toàn là nước biển. Chàng chưa hiểu chuyện gì xảy ra, bỗng nghe Tạ Tốn quát to:

– Trương Thúy Sơn, mau ra đuôi thuyền giữ tay lái!

Tiếng quát ấy vang như sấm, trong cảnh gió to sóng cả vẫn toát ra đầy vẻ uy nghiêm. Trương Thúy Sơn không kịp nghĩ ngợi, nhảy ngay về phía đuôi thuyền, chỉ thấy một bóng đen bay qua, một thủy thủ đã bị sóng lớn hất khỏi thuyền xa tới mấy trượng, tiếp đó bị sóng cuốn mất tiêu.

Trương Thúy Sơn chưa tới được đuôi thuyền, lại có một con sóng khác ập tới. Con sóng này chẳng khác gì một bức tường nước khổng lồ, chỉ nghe sầm một tiếng, đã đánh văng mấy tấm ván thuyền bay đi. Lúc này võ công khổ luyện một đời của Trương Thúy Sơn có dịp sử dụng, hai chân chàng xuống tấn trên mặt sàn, như đóng đinh vào ván, không hề lay chuyển, chờ con sóng đi qua, mới sải bước tới đuôi thuyền, giơ tay giữ chặt tay lái.

Chỉ nghe mấy tiếng "phập phập" rất mạnh, Tạ Tốn đã dùng lang nha bổng đánh gãy cột buồm chính và cột buồm đằng mũi. Hai cây cột buồm mang theo hai cánh buồm trắng rơi luôn xuống biển.

Nhưng gió quá lớn, lúc này tuy chỉ còn một cột buồm ở phía đuôi còn no gió, nhưng thuyền vẫn cứ nghiêng ngả qua lại, quay cuồng trồi hụp trên mặt biển. Tạ Tốn cố sức hạ cánh buồm đó xuống, mặc dù võ công đầy mình, nhưng trước cái uy của sóng gió giữa đất trời, lão cũng đành thúc thủ vô sách. Cột buồm bị nghiêng sang trái, tới sát mặt nước, Tạ Tốn lớn tiếng chửi:

– Lão tặc thiên kia, sóng gió chi dữ vậy!

Xem chừng nếu do dự, thuyền sẽ bị lật úp, Tạ Tốn đành vung lang nha bổng đánh gãy nốt cây cột buồm cuối cùng.

Ba cột buồm đều gãy cả, con thuyền giữa sóng to gió lớn biến thành hồn ma vô chủ, chỉ theo gió mà trôi.

Trương Thúy Sơn gọi to:

– Ân Tố Tố, nàng ở đâu?

Chàng gọi mấy tiếng liền, không nghe nàng trả lời, gọi thêm lần cuối, chợt nghe như có tiếng khóc nghẹn ngào. Bỗng có một bàn tay vịn vào gối chàng, một con sóng lớn ào qua đầu chàng, giữa khối nước biển ấy có người ôm chặt ngang lưng chàng.

Khi con sóng đã tràn qua mặt thuyền, người ôm chàng kia đưa tay níu cổ chàng, dịu dàng hỏi:

– Trương ngũ ca, chàng nhớ muội lắm ư?

Trương Thúy Sơn cả mừng, tay hữu giữ chắc tay lái, đưa tay trái ôm chặt lấy Ân Tố Tố, thốt lên:

– Tạ trời tạ đất!

Chàng vừa ngạc nhiên vừa vui mừng, nghĩ thầm: "Nàng đang ở bên ta đây, nàng không bị rơi xuống biển". Trong thời điểm bất cứ lúc nào cũng có thể bị cuồng phong cự lãng cuốn xuống đáy biển, sống chết chỉ trong gang tấc, chàng bỗng phát hiện bản thân đang lo cho sự an nguy của Ân Tố Tố còn hơn cho chính mình.

Ân Tố Tố nói:

– Trương ngũ ca, hai ta có gì thì chết chung với nhau.

Trương Thúy Sơn nói:

– Đúng! Hai ta có gì thì chết chung với nhau.

Nếu ở cảnh ngộ thông thường, hai người chính tà khác biệt, phải suy tính rất nhiều, dù có tình luyến ái đằm thắm, cũng chẳng thể chỉ trong giây lát đã hai lòng như một. Còn lúc này hai người ôm chặt lấy nhau, xung quanh họ tối như mực, thân thuyền cứ kêu răng rắc không ngừng, bất cứ lúc nào cũng có thể vỡ nát thì trong lòng họ lại cảm thấy êm ái ngọt ngào lạ lùng. Sau một phen đấu chưởng với Tạ Tốn, Trương Thúy Sơn bị kiệt sức, nhưng giờ được khích lệ bởi ái tình của Ân Tố Tố, tinh thần chàng lập tức phấn chấn, dẫu bốn bề sóng to gió cả, trước sau chàng vẫn giữ vững tay lái không chút ngả nghiêng.

Tất cả số thủy thủ câm điếc đều đã bị cuốn xuống biển, trận cuồng phong bạo vũ này ập đến không một điềm báo trước. Thì ra dưới đáy biển đột nhiên có địa chấn, cộng với sự kích động của hải lưu, khí lưu mà gây nên giông bão, nếu Tạ Tốn và Trương Thúy Sơn không phải là những người có võ công cao siêu, hẳn đã chẳng thể trụ nổi. Cũng may con thuyền này kiên cố, tuy nóc khoang, ván thuyền bị đánh vỡ xơ xác, nhưng thân thuyền vẫn nguyên vẹn.

Trên đầu mây đen đầy trời, mưa xuống như trút, bốn bề sóng cao như núi, chẳng thể phân biệt đông tây nam bắc. Mà dù có biết phương hướng thì cột buồm đã gãy cả, họ cũng chẳng cách gì lái thuyền đi được.

Tạ Tốn đi tới đuôi thuyền, nói:

– Trương huynh đệ, rất may có ngươi, thôi để ta cầm lái, hai ngươi vào trong khoang mà nghỉ.

Trương Thúy Sơn đứng dậy, trao lại tay lái cho Tạ Tốn, nắm tay Ân Tố Tố định bước đi, thì một con sóng lớn bay tới, hất văng hai người ra khỏi thuyền. Con sóng này ập tới quá đột ngột, hai người hoàn toàn không kịp phòng bị.

Trương Thúy Sơn vừa cảm thấy kinh hoàng thì thân hình đã bị hất tung lên không, lúc rơi xuống thì dưới chân đã là các lớp sóng giồi, tay trái vội chộp lấy cổ tay Ân Tố Tố, trong đầu chỉ có một ý nghĩ duy nhất: "Ta sẽ cùng nàng chết giữa biển cả, quyết không rời nhau". Tay trái chàng vừa nắm được cổ tay Ân Tố Tố thì đột nhiên có một sợi dây chão quấn vào cánh tay phải, chỉ cảm thấy thân hình được kéo bay ngược lại, vượt qua ngọn sóng, trở lên thuyền. Hóa ra Tạ Tốn kịp thời phát giác, đã tung ngay sợi dây cột buồm ở dưới chân ra cuốn lấy hai người trở lại thuyền. "Bịch, bịch" hai tiếng, hai người đã nằm trên sàn thuyền. Một phen chết đi sống lại, quả thật không ai ngờ, Tạ Tốn cũng kêu lên:

– May quá!

Ví thử dưới chân không có sẵn sợi dây chão cột buồm, dù có tài ba gấp mười lần cũng chẳng cứu nổi.

Trương Thúy Sơn dìu Ân Tố Tố vào trong khoang, con thuyền lúc thì trồi lên cao như lao lên đỉnh núi, lúc lại hẫng hụt như rơi xuống vực sâu, nhưng hai người vừa trải qua giây phút nguy nan, lúc này chẳng còn chú ý tới hiện trạng nữa. Ân Tố Tố ngả người vào lòng Trương Thúy Sơn, kề môi bên tai chàng dịu dàng nói:

– Trương ngũ ca, nếu hai ta không chết, muội muốn được vĩnh viễn sống bên chàng.

Trương Thúy Sơn ngây ngất nói:

– Ta cũng đang định nói với nàng một câu: Khắp thế gian này, chân trời góc biển, hai ta mãi mãi bên nhau.

Ân Tố Tố vui mừng vô hạn, nhắc lại:

– Khắp thế gian này, chân trời góc biển, hai ta mãi mãi bên nhau.

Hai người má tựa vai kề, thầm cảm tạ trận giông tố đáng sợ này.

Tạ Tốn thì trong bụng không ngớt kêu than, dù võ công cao cường đến mấy, trước cuồng phong hải lãng, cũng đành thúc thủ, đành phó mặc cho trời, sóng gió muốn đẩy tới đâu thì tùy.

Giông tố kéo dài hơn ba canh giờ mới giảm dần. Mây đen trên trời dần dần tan hết, trời sáng ánh sao đêm.

Trương Thúy Sơn đi tới đuôi thuyền, nói:

– Đa tạ tiền bối đã cứu mạng hai tiểu nhân.

Tạ Tốn lạnh lùng nói:

– Câu đó e rằng còn quá sớm. Tính mạng ba chúng ta, tám chín phần mười đang ở trong tay tặc lão thiên.

Trong đời Trương Thúy Sơn, chưa bao giờ nghe ai thêm chữ "tặc" [31] vào chữ "lão thiên" [32], thầm nghĩ người này hận đời tới mức chẳng còn úy kỵ gì nữa, song nghĩ lại, con thuyền nhỏ bé cô đơn trôi giạt trên biển cả mênh mông ngó bộ không mấy hi vọng. Chàng và Ân Tố Tố vừa mới thổ lộ ái tình với nhau, đang vô cùng lưu luyến thế gian, khác gì mỹ tửu vừa rót vào chén ngọc lại bị kẻ khác đoạt mất, cái cảnh tạo hóa trớ trêu với ba chữ "tặc lão thiên" càng ngẫm kỹ càng thấm thía.

Chàng thở dài, cầm lái thay Tạ Tốn, lão đã hơn nửa ngày vất vả mỏi mệt, liền vào khoang nằm nghỉ.

Ân Tố Tố ngồi bên Trương Thúy Sơn, ngẩng đầu nhìn sao trời, theo cái cán gáo chòm Bắc Đẩu, tìm thấy sao Bắc Cực, nàng thấy con thuyền thuận dòng hải lưu đang trôi về phương bắc, bèn nói:

– Ngũ ca, thuyền cứ trôi mãi lên phương bắc thế này.

Trương Thúy Sơn nói:

– Đúng thế, giá như thuyền trôi sang hướng tây, chúng mình mới có hi vọng về nhà.

Ân Tố Tố thừ người một lát, rồi nói:

– Giả sử thuyền cứ đi mãi về phía đông, không biết sẽ tới đâu.

Trương Thúy Sơn nói:

– Phía đông là biển khơi vô tận, chỉ lênh đênh bảy tám ngày là chúng ta hết nước uống..

Ân Tố Tố mới hưởng phong vị ái tình, như mơ như say, không muốn nghĩ đến cảnh đau thương chết chóc, nói:

– Nghe người ta bảo ngoài biển Đông có núi tiên, ở đó đó các vị tiên trường sinh bất lão, không chừng chúng ta sẽ tới được đảo tiên, gặp các vị tiên mỹ lệ..

Nàng ngẩng nhìn dải Ngân Hà trên trời, nói tiếp:

– Thuyền ta trôi mãi, có khi đến dải Ngân Hà, chúng mình sẽ gặp Ngưu Lang Chức Nữ trên cầu Ô Thước cũng nên.

Trương Thúy Sơn cười nói:

– Mình đem thuyền tặng cho Ngưu Lang, mỗi khi chàng ta muốn gặp Chức Nữ, chỉ việc chèo thuyền qua sông, khỏi phải đợi đến mồng Bảy tháng bảy mới qua cầu gặp được.

Ân Tố Tố nói:

– Mình đem thuyền tặng Ngưu Lang rồi, hai đứa mình muốn gặp nhau, biết lấy gì mà đi?

Trương Thúy Sơn mỉm cười, nói:

– Khắp thế gian này, chân trời góc biển, hai ta mãi mãi bên nhau. Đã ở bên nhau rồi, còn phải bơi thuyền qua Ngân Hà làm chi?

Ân Tố Tố cười sung sướng, mặt tươi như hoa mới nở, nắm lấy tay Trương Thúy Sơn mà vuốt ve.

Hai người tình cảm chứa chan như mật ngọt, tựa hồ có biết bao điều muốn nói, song lại thấy không cần phải thốt thành lời. Hồi lâu, Trương Thúy Sơn cúi xuống thấy Ân Tố Tố mắt rưng rưng lệ, vẻ mặt u buồn, vội hỏi:

– Nàng nghĩ gì vậy?

Ân Tố Tố nói nhỏ:

– Trên thế gian, dưới đáy biển, muội được ở bên chàng, nhưng mai sau chết đi, chàng được lên thiên đường, muội.. muội.. phải xuống địa ngục.

Trương Thúy Sơn nói:

– Đừng nói bậy nào.

Ân Tố Tố thở dài:

– Muội biết mà, trong đời muội đã làm nhiều việc ác, giết hại không biết bao nhiêu người.

Trương Thúy Sơn kinh hãi, thầm hiểu nàng là kẻ tàn ác, với chàng thực không phải mối lương duyên, nhưng phần thì ái tình đã đậm đà, phần thì trong cảnh thập tử nhất sinh giữa biển cả hãy khoan tính chuyện mai sau; bèn an ủi nàng:

– Từ rày nàng hãy sửa lỗi hướng thiện, tích công đức cho dày. Người đời có câu: "Biết lỗi mà sửa, không gì thiện hơn" đó.

Ân Tố Tố lặng thinh, lát sau nàng bỗng khe khẽ cất giọng ca khúc "Sơn pha dương[33]" : "Chàng với thiếp, thiếp với chàng, hai đàng cùng thương nhớ. Hỡi oan gia, sao kết mối duyên này. Kịp khi thác xuống tuyền đài, Diêm vương ném vào cối giã, lấy cưa cưa đầu, bỏ vào vạc dầu, vạc dầu ối a! Sống mà phạm tội, chết ắt mang gông, ối à mang gông. Ôi chao lửa cháy, cháy sém lông mày, mau quay đầu lại, quay đầu lại mau!"

Bỗng từ trong khoang thuyền vọng ra tiếng nói lớn của Tạ Tốn:

– Khúc ca hay, hay lắm! Ân cô nương, ta thấy cô nương hợp ý ta hơn hẳn cái gã Trương tướng công giả nhân giả nghĩa kia.

Ân Tố Tố nói:

– Tiền bối và tiểu nữ đều là kẻ ác, sau này tất sẽ bị đọa đày.

Trương Thúy Sơn nói nhỏ:

– Nếu sau này nàng bị đọa đày, ta sẽ cùng chịu cảnh đọa đày với nàng.

Ân Tố Tố vừa ngạc nhiên vừa vui sướng, chỉ thốt được hai tiếng "Ngũ ca!"

*

* *

Hôm sau, trời vừa sáng, Tạ Tốn dùng lang nha bổng đánh được một con cá chừng mươi cân. Cây lang nha bổng có móc câu ở đầu, dùng làm dụng cụ đánh cá rất tiện lợi. Ba người bị đói đã hai ngày. Cá sống ăn rất tanh, nhưng vẫn thấy ngon lành. Trên thuyền không có nước ngọt, đành ép thịt của cá lấy nước, tạm uống cho đỡ khát.

Hải lưu vẫn chảy về phía bắc, đẩy con thuyền không ngừng trôi về hướng đó. Ban đêm, sao Bắc Cực cứ lấp lánh ở mũi thuyền, mặt trời mọc phía hữu, lặn bên phía tả, mười ngày liên tục như vậy, con thuyền không hề đổi hướng.

Khí hậu mỗi ngày thêm lạnh, Tạ Tốn và Trương Thúy Sơn nội công thâm hậu, còn chịu được; Ân Tố Tố thì càng ngày càng tiều tụy, Trương Tạ hai người phải cởi áo ngoài cho nàng mặc, cũng chỉ đỡ rét phần nào. Trương Thúy Sơn nhìn nàng gượng vui, cố chống đỡ cái lạnh thì trong lòng chàng rất thương, nếu con thuyền cứ tiếp tục trôi ít hôm nữa về phương bắc, không khéo Ân Tố Tố bị chết cóng mất thôi.

Thật may là trời còn thương, một hôm thuyền đột nhiên trôi vào giữa một đàn hải cẩu. Tạ Tốn dùng lang nha bổng đánh chết mấy con, ba người lột da hải cẩu làm áo khoác lên người rất ấm, thịt hải cẩu ăn cũng được, cả ba vô cùng vui sướng.

Chiều nọ ba người đang ngồi ở đuôi thuyền trò chuyện, Ân Tố Tố cười hỏi:

– Loại cầm thú nào tốt nhất trên thế gian nhỉ?

Cả ba cùng cười, đáp:

– Hải cẩu!

Chợt có mấy tiếng keng coong nghe rất lạ. Ba người ngẩn ngơ. Tạ Tốn tái mặt, kêu lên:

– Băng trôi!

Lão lấy lang nha bổng thọc xuống biển khoắng mấy cái, quả nhiên lang nha bổng đụng phải một số khối đá cứng.

Lúc này, tâm tình cả ba người tức thời trở nên lạnh lẽo như băng giá, hiểu rằng nếu con thuyền tiếp tục ngày đêm trôi lên phương bắc, sẽ càng ngày càng lạnh, bây giờ trên biển chỉ xuất hiện các tảng băng nhỏ, dần dần mặt biển sẽ đầy băng, con thuyền sẽ bị kẹt trong băng, không di động được, cả ba sẽ hết đường sống sót.

Trương Thúy Sơn nói:

– Trong sách Trang Tử, Tiêu dao du có câu: "Tại miền cực bắc có biển tối, gọi là ao trời". Chúng ta đã đến ao trời rồi chăng?

Tạ Tốn nói:

– Không phải ao trời thì cũng là biển tối, biển chết.

Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố nhìn nhau cười khổ.

Tối và đêm hôm đó ba người cứ nghe tiếng các khối băng va vào nhau keng coong liên tục, không ai ngủ được.

Sáng hôm sau, mặt biển đã đầy các cục băng to bằng cái đấu, va vào thuyền nghe "cùng cục". Tạ Tốn cười nhăn nhó, nói:

– Ta si tâm vọng tưởng, muốn tìm bí mật ẩn chứa trong thanh đao Đồ Long, ngờ đâu lại đến biển băng, làm người băng, thành băng nhân mai mối cho hai ngươi, thật là danh phó kỳ thực.

Ân Tố Tố đỏ mặt, nắm lấy tay Trương Thúy Sơn.

Tạ Tốn cầm thanh đao Đồ Long lên, hậm hực nói:

– Thôi thì ta cho mi xuống Long cung để mi giết rồng mẹ rồng con gì thì giết!

Lão toan quẳng thanh đao xuống biển, nhưng nghĩ sao đó lại thở dài, ném vào trong khoang thuyền.

Lại trôi về phương bắc bốn ngày nữa, các khối băng nổi trên mặt biển đã to như cái bàn, cái nhà, ba người hiểu rằng tình thế vô phương cứu vãn, chẳng thiết nghĩ đến chuyện sống chết nữa. Hôm đó, nửa đêm đang ngủ, bỗng nghe "sình" một tiếng lớn, con thuyền rung chuyển rất mạnh.

Tạ Tốn kêu to:

– Được lắm, hay lắm đấy! Đụng cha nó vào núi băng rồi!

Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố nhìn nhau cười khổ, ngồi xích lại gần nhau, chỉ thấy nước biển lạnh buốt từ từ dâng lên ngập tới bắp chân, hiển nhiên đáy thuyền đã bị vỡ thủng. Rồi tiếng Tạ Tốn nói to:

– Hãy nhảy lên núi băng đi, sống thêm ngày nào hay ngày đó. Tặc lão thiên muốn ta chết sớm, ta không chịu, xem tặc lão thiên làm gì nổi ta!

Trương Ân hai người vọt ra mũi thuyền, trước mặt sáng lóa lên dưới ánh trăng một tòa núi băng lớn màu xanh tím, trông vừa đẹp lạ lùng, vừa đáng sợ. Tạ Tốn đã đứng trên một tảng băng hình thoi bên sườn núi băng, chìa cây lang nha bổng cho hai người níu lấy. Ân Tố Tố giơ tay kéo mạnh nó một cái, cùng Trương Thúy Sơn nhảy lên núi băng.

Đáy thuyền thủng một lỗ quá lớn, nên chỉ chừng ăn xong một bữa cơm, con thuyền đã chìm nghỉm mất tăm.

Tạ Tốn lấy hai tấm da hải cẩu trải xuống mặt băng, ba người kề vai ngồi xuống. Tòa núi băng này trông như một hòn núi nhỏ trên đất liền, nhìn ra chiều ngang chừng hai chục trượng, chiều dọc chừng tám chín trượng, so với con thuyền thì mặt bằng rộng rãi hơn nhiều. Tạ Tốn ngẩng mặt lên trời, hú một tiếng, nói:

– Ở dưới thuyền mãi buồn quá, thôi ta lên đây càng được giãn gân giãn cốt.

Đoạn lão đứng dậy, đi đi lại lại trên núi băng, ra chiều đắc ý. Mặt băng tuy trơn trượt, nhưng bước đi của lão trầm ổn, cứ như đi trên đất liền bằng phẳng vậy.

Núi băng theo chiều gió và thủy lưu vẫn không ngừng trôi về phương bắc. Tạ Tốn cười, nói:

– Tặc lão thiên tặng chúng ta một con thuyền lớn này, đón chúng ta đi hội kiến Bắc Cực tiên ông đây mà.

Ân Tố Tố hình như chỉ cần có tình lang bên cạnh là thỏa lòng, dù trời có sập nàng cũng chẳng màng. Trong ba người, chỉ một mình Trương Thúy Sơn cau mày, buồn rầu về vận nguy trước mắt.

Núi băng lại trôi về hướng bắc bảy, tám ngày nữa. Ban ngày băng trắng phản chiếu ánh nắng làm cháy rám da người, mắt bị chói sưng tấy lên, thành thử ban ngày họ lấy tấm da hải cẩu trùm đầu mà ngủ, chiều tối mới trở dậy bắt cá, săn hải cẩu. Kể cũng lạ thật, càng đi lên phương bắc, ngày càng dài ra, về sau ban ngày dài đến mười một canh giờ, ban đêm chỉ còn một canh giờ.

Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố càng lúc càng uể oải, mặt mày tiều tụy, riêng Tạ Tốn thần sắc dần dần khác thường, mắt phóng ra những tia sáng quái dị, thường giậm chân, chỉ tay lên trời mà chửi mắng, những lời lẽ oán độc trong lòng cứ thế xổ ra không còn kiềm chế được nữa.

Một chiều nọ, Trương Thúy Sơn đang che tấm da hải cẩu nằm ngủ bỗng nghe có tiếng Ân Tố Tố kêu to:

– Buông ta ra, buông ta ra!

Trương Thúy Sơn vội bật dậy, dưới ánh sáng lấp lóa của núi băng, thấy Tạ Tốn đang ôm chặt vai Ân Tố Tố, miệng cứ phát ra tiếng gầm gừ như mãnh thú. Mấy hôm nay Trương Thúy Sơn thấy Tạ Tốn thần sắc quái dị đã ngầm đề phòng, nhưng không ngờ lão lại xâm phạm Ân Tố Tố, chàng bất giác vừa ngạc nhiên vừa tức giận, nhảy vụt tới, thét lớn:

– Buông tay ra!

Tạ Tốn lầm lì nói:

– Tên gian tặc kia, mi giết chết thê tử của ta, được, hôm nay ta sẽ bóp chết thê tử của mi, cho mi phải sống cô quạnh một mình trên trần thế!

Đoạn lão dùng tay trái bóp cổ Ân Tố Tố. Ân Tố Tố kêu thất thanh một tiếng "á".

Trương Thúy Sơn kinh hãi nói:

– Vãn bối không phải là kẻ cừu nhân của tiền bối, vãn bối không hề giết thê tử của tiền bối, tiền bối hãy mau tỉnh lại đi, vãn bối là Trương Thúy Sơn, Trương Thúy Sơn phái Võ Đang ấy mà, không phải là cừu địch của tiền bối đâu.

Tạ Tốn ngẩn ngơ, nói:

– Nữ nhân này là ai? Có phải mụ vợ của mi không?

Trương Thúy Sơn thấy lão nắm cổ Ân Tố Tố, rất lo sợ, vội nói:

– Đó là Ân cô nương, Tạ tiền bối, nàng không phải là thê tử của cừu địch đâu.

Tạ Tốn gầm lên:

– Bất kể nó là ai, thê tử của ta bị người giết hại, mẫu thân ta bị người giết hại rồi, ta phải giết sạch nữ nhân trong thiên hạ!

Đoạn tay trái bóp mạnh, Ân Tố Tố lập tức cảm thấy khó thở, không kêu được tiếng nào.

Trương Thúy Sơn thấy Tạ Tốn đột nhiên phát điên, không thể nói lý lẽ, vội ngưng khí dồn vào hữu chưởng vỗ vào hậu tâm của lão. Tạ Tốn hất tay trái ra sau, đánh lại một chưởng. Trương Thúy Sơn loạng choạng, vì mặt băng trơn trượt nên chàng ngã lăn ra. Tạ Tốn tung chân phải đá vào eo chàng. Trương Thúy Sơn biến chiêu thật lẹ, đẩy tay xuống băng, vọt người lên, dùng ngón tay điểm huyệt ở đầu gối Tạ Tốn. Tạ Tốn đá chân đến nửa đường thì giật ngược về, hữu chưởng đánh xuống đỉnh đầu chàng.

Ân Tố Tố nghiêng người, vung tay trái chém xuống đầu Tạ Tốn. Tạ Tốn chẳng để ý, tiếp tục giáng chưởng xuống đầu Trương Thúy Sơn. Trương Thúy Sơn dùng song chưởng đưa ra tiếp một chưởng của lão, tức thời chàng cảm thấy ngực khó thở, chân khí không vận lên nổi. Cú chém của Ân Tố Tố trúng vào gáy Tạ Tốn, chỉ thấy gáy của lão vừa dai vừa cứng, tay nàng bị dội trở ra, cạnh bàn tay tê dại đau điếng. Tạ Tốn hai mắt đỏ ngầu như tóe lửa, bàn tay hộ pháp của lão lại đưa ra tóm lấy cổ nàng, nàng kêu lên thất thanh.

Ngay lúc ấy, phía trước bỗng sáng bừng, ở phương bắc hiện ra một khung cảnh màu sắc kỳ dị khó tả, vô số màu sắc diễm lệ trong bóng tối lúc nở bùng ra, lúc thu gọn lại, ánh vàng xen lẫn màu tím nhạt, dải màu tím càng lúc càng dài ra, màu tím xen lẫn các tia vàng, lam, lục, hồng. Tạ Tốn sửng sốt kêu "ồ" một tiếng, buông cổ Ân Tố Tố ra. Trương Thúy Sơn cũng cảm thấy áp lực trên tay mình nhẹ hẳn đi.

Tạ Tốn hai tay chắp sau lưng, đi ra mạn bắc của núi băng, đăm đăm ngắm khung cảnh màu sắc kỳ ảo. Thì ra ba người theo hải lưu trôi đi, lúc này đã tới gần Bắc Cực, khung cảnh màu sắc kỳ ảo kia gọi là Bắc Cực quang, người Trung Hoa xưa nay chưa một ai được thấy bao giờ.

Trương Thúy Sơn bước lại đỡ Ân Tố Tố, trống ngực hai người còn đập thình thình.

Tối hôm đó, Tạ Tốn đứng ngắm Bắc Cực quang, không động tĩnh gì nữa. Sáng hôm sau màu sắc nhạt dần, Tạ Tốn cũng đã hồi tỉnh, không hiểu có quên biến chuyện phát điên chiều tối qua hay không mà ngôn ngữ cử chỉ lại rất nho nhã.

Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố đều nghĩ thầm: "Phụ mẫu thê tử của Tạ Tốn đều bị sát hại, chẳng trách lão ta quá đau lòng, nhưng không biết cừu nhân của lão là ai?" Chỉ sợ bệnh điên của lão tái phát, hai người không dám nhắc đến chuyện đó.

Cứ thế mấy ngày nữa, núi băng tiếp tục trôi lên phương bắc. Tạ Tốn lại bắt đầu chửi rủa "tặc lão thiên" mỗi lúc một thậm tệ hơn, lắm lúc ánh mắt lão lại tóe ra tia sáng long sòng sọc giống như mãnh thú. Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố tuy không nói ra lời, nhưng đều ngấm ngầm đề phòng, chỉ e lão bất chợt nổi điên.

Một ngày kia, mặt trời đỏ ối cứ dừng lại mãi ở trên mặt biển phía tây, không chịu lặn xuống biển. Tạ Tốn đột nhiên nhảy lên, chỉ vầng dương mà lớn tiếng lăng mạ:

– Cái mặt trời kia mi cũng chọc tức ta, tặc thái dương, quỷ thái dương, ta mà có cây cung cứng, mũi tên dài, thì, hừ, chỉ bắn một phát là xuyên thủng cái mặt mi.

Lão đột ngột chém mạnh tay xuống băng, làm vỡ một tảng lớn, nhặt lên ném về phía mặt trời. Tảng băng văng xa hai chục trượng, rơi tõm xuống biển. Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố thầm kinh hãi, nghĩ bụng: "Cánh tay người này khỏe thật, nếu là mình, chỉ e ném không xa bằng một nửa".

Tạ Tốn ném hết tảng này tảng khác, tổng cộng sáu, bảy chục tảng mà kình lực không suy giảm. Lão cứ ném tới ném lui, tựa hồ chưa tính đúng khoảng cách bao xa với mặt trời vậy. Rồi lão đá lung tung vào băng, khiến vụn băng bay tứ tung.

Ân Tố Tố can:

– Tạ tiền bối, hãy nghỉ đã, đừng chấp quỷ thái dương làm gì!

Tạ Tốn ngoảnh lại, mắt vằn các tia máu, ngẩn ngơ nhìn nàng. Ân Tố Tố thầm hoảng sợ, gượng nở nụ cười. Tạ Tốn bỗng nhiên hét lên, nhảy tới ôm lấy nàng, nói:

– Ta giết mi! Ta giết mi! Tại sao mi giết mẫu thân ta, giết nhi tử của ta?

Ân Tố Tố tưởng như mình đang bị kẹp trong một cái lồng sắt và cái lồng ấy cứ xiết chặt dần dần.

Trương Thúy Sơn vội gỡ tay Tạ Tốn ra, nhưng cánh tay lão không hề nhúc nhích. Thấy Ân Tố Tố lè lưỡi, nghẹt thở đến nơi, chàng liền vung chưởng giáng vào huyệt Thần Đạo ở hậu tâm lão, nghe "hự" một tiếng. Ai ngờ chưởng này như trúng vào sắt, Tạ Tốn vẫn cứ gầm gừ như dã thú, vòng tay càng xiết chặt thêm. Trương Thúy Sơn nói:

– Lão mà không buông ra, tại hạ sẽ sử dụng binh khí đó.

Thấy lão chẳng lý gì đến mình, chàng bèn rút cây phán quan bút điểm mạnh vào huyệt Tiểu Hải ở khuỷu tay lão. Tạ Tốn dùng tay phải giật lấy cây phán quan bút ném vèo xuống biển.

Ân Tố Tố thấy vòng tay lão lỏng ra, vội chuội xuống mà thoát ra ngoài. Tạ Tốn tả chưởng đánh xéo vào cổ Trương Thúy Sơn, tay hữu thì chộp lấy vai Ân Tố Tố, nghe "roẹt" một tiếng, cái áo da hải cẩu của nàng đã bị năm ngón tay của lão cào rách một đường. Trương Thúy Sơn biết nếu chàng né tránh, Ân Tố Tố hẳn sẽ bị Tạ Tốn chộp được, bèn tức thời sử chiêu "Tự tại phi hoa" trong Miên chưởng để chế ngự chưởng lực của lão, ai dè bàn tay chàng và cạnh bàn tay của lão vừa chạm vào nhau ngay lập tức cảm thấy có một sức hút cực mạnh, không tài gì tách ra được, chàng đành vận nội kình chống đỡ.

Sau khi dùng một chưởng chế ngự Trương Thúy Sơn, Tạ Tốn liền kéo chàng về phía Ân Tố Tố. Ân Tố Tố tung mình nhảy lên, hai chân chưa chạm xuống đất thì Tạ Tốn đá một cái làm bảy tám cục băng bay lên, có cục trúng vào đùi phải của nàng, nàng kêu "ối" và ngã lăn xuống.

Tạ Tốn đột nhiên phát xuất chưởng lực đánh Trương Thúy Sơn văng xa mấy trượng. Lực văng rất mạnh, Trương Thúy Sơn rơi xuống mép núi băng, băng trơn, khiến chân phải của chàng vừa tính đứng lên liền bị trượt, nghe "ùm" một tiếng, chàng đã rơi xuống biển.

Comments

Comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 7: Ai đẩy núi băng tới đảo tiên

Trương Thúy Sơn tay trái vung ngân câu móc vào núi băng, mượn thế nhảy lên, ngỡ rằng Ân Tố Tố đã rơi vào tay Tạ Tốn nhưng không ngờ dưới ánh trăng suông chỉ thấy Tạ Tốn hai tay ôm mắt, rên rỉ đau đớn, còn Ân Tố Tố nằm trên mặt băng.

Trương Thúy Sơn vội vọt tới đỡ nàng dậy. Ân Tố Tố nói nhỏ:

– Muội.. muội phóng trúng mắt lão ta rồi..

Lời chưa dứt, Tạ Tốn gầm lên, xông tới. Trương Thúy Sơn ôm lấy Ân Tố Tố lăn liền mấy vòng, tránh ra chỗ khác thật lẹ, chỉ nghe "bình bình" nhiều tiếng, Tạ Tốn đang vung cây lang nha bổng đánh vào núi băng. Đoạn lão vứt lang nha bổng xuống, hai tay nhấc một tảng băng lớn nặng hơn trăm cân, ném về phía Trương Ân hai người.

Ân Tố Tố định bật dậy chạy trốn, Trương Thúy Sơn lấy tay ấn lưng nàng xuống, hai người nấp trong hốc lõm của núi băng, không dám thở mạnh. Tạ Tốn ném tảng băng rồi, đứng im bất động, hiển nhiên đang nghe ngóng tìm chỗ ẩn núp của hai người. Trương Thúy Sơn thấy hai mắt lão chảy hai dòng máu tươi, biết là Ân Tố Tố trong cơn nguy cấp rốt cuộc đã phóng ngân châm, Tạ Tốn lúc ấy thần trí hôn mê không hề đề phòng, cả hai mắt đều trúng kim trở thành người mù. Nhưng thính giác của lão cực kỳ linh mẫn, chỉ cần một tiếng động nhỏ, lão cũng sẽ chồm tới, hậu quả ra sao thật khó lường. Cũng may trên biển còn có tiếng sóng ì ầm, tiếng gió ù ù, tiếng các khối băng đụng nhau át đi tiếng thở của hai người, chứ không thì khó bề thoát khỏi độc thủ của Tạ Tốn.

Tạ Tốn nghe ngóng một hồi, trong tiếng sóng, tiếng gió, tiếng băng đụng nhau, lão không thể phát hiện nổi hai người kia đang núp ở đâu, hai mắt lại đau nhức, trước mắt toàn một màu tối đen, lão vừa cuồng nộ vừa hoảng sợ, kêu rống lên, tay đấm chân đá loạn xạ vào núi băng, nhặt các cục băng ném tứ phía, nghe cứ rầm rầm liên hồi. Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố nép sát vào nhau, sợ hãi mặt cắt không còn hột máu, có vô số cục băng bay vèo vèo qua đầu, lỡ trúng một cục thôi cũng đủ táng mạng.

Trận ném băng của Tạ Tốn kéo dài nửa canh giờ mà Trương Ân hai người tưởng chừng phải đến mấy năm.

Tạ Tốn ném băng chán chê, không thấy hiệu quả, bèn dừng tay, nói:

– Trương tướng công, Ân cô nương, vừa rồi Tạ mỗ nhất thời hồ đồ, nổi điên phá phách, chắc là mạo phạm, những mong hai vị đừng trách.

Lời lẽ Tạ Tốn ôn tồn, khiêm hòa, thần thái trở lại bình thường. Lão nói xong, ngồi xuống tảng băng, im lặng chờ hai người lên tiếng trả lời.

Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố đâu dám lên tiếng trong tình cảnh này. Tạ Tốn nhắc lại vài lần, không thấy hai người hồi đáp, thì đứng dậy thở dài, nói:

– Hai vị không chịu lượng thứ, thì ta cũng chả có cách gì khác.

Đoạn lão hít một hơi thật dài. Trương Thúy Sơn giật mình, nhớ lại hôm Tạ Tốn cất tiếng hú tại Vương Bàn sơn đảo khiến mọi người gục ngã, lão cũng đã hít mạnh một hơi như thế này. Lão tuy mù hai mắt, nhưng tiếng hú chế ngự địch thủ thì đâu có gì khác trước. Lúc này nguy cơ sẽ ập tới liền, muốn xé áo nhét kín lỗ tai đã muộn, chàng không kịp nghĩ ngợi gì nữa, bèn ôm Ân Tố Tố nhảy ùm xuống biển.

Ân Tố Tố chưa rõ chuyện gì thì tiếng hú của Tạ Tốn đã cất lên. Trương Thúy Sơn ôm nàng hụp xuống, nước lạnh thấu xương ngập lút đầu, cũng che lấp luôn hai tai. Tay trái chàng cầm ngân câu móc vào núi băng, tay phải ôm Ân Tố Tố, trừ bàn tay trái ở trên mặt nước, còn toàn thân hai người đều chìm dưới nước, vậy mà vẫn nghe văng vẳng và cảm thấy uy lực của tiếng hú kia. Núi băng không ngừng trôi về phương bắc mang theo hai người ở dưới nước. Trương Thúy Sơn thấy vẫn còn may, giả sử vừa rồi bị mất không phải thiết bút mà là ngân câu, thì dẫu có thoát khỏi tiếng hú của Tạ Tốn cũng chết đuối dưới biển.

Lâu lâu hai người lại trồi mũi lên trên mặt nước, hít một hơi, hai tai vẫn chìm trong nước; sáu bảy phen như thế tiếng hú của Tạ Tốn mới ngừng. Đợt hú này quá dài, tiêu hao rất nhiều nội lực nên lão cảm thấy mệt mỏi, không còn hơi sức dò tìm hai người sống chết ra sao, đành phải ngồi xuống băng điều tức. Trương Thúy Sơn giơ tay làm hiệu, hai người lẳng lặng leo lên núi băng, vặt một ít lông hải cẩu trên mảnh da thú, nhét kín vào lỗ tai, coi như tạm qua cơn kiếp nạn.

Nếu cứ ở chung với Tạ Tốn trên một núi băng, chỉ cần phát ra một tiếng động nhỏ, đại họa sẽ tức thời giáng xuống. Hai người buồn bã nhìn nhau, rồi nhìn về phía tây, nơi mặt trời đỏ như máu mãi vẫn chưa lặn xuống mặt biển. Họ không biết ở gần Bắc Cực ngày giờ khác hẳn, có chỗ sáu tháng là ngày liên tiếp, sáu tháng còn lại là đêm vô tận, họ chỉ ngạc nhiên thấy bao điều quái dị, ngỡ đã tới nơi tận cùng của thế gian.

Ân Tố Tố toàn thân ướt sũng, rét buốt thấu xương, người cứ run cầm cập, răng đánh vào nhau canh cách. Thế là Tạ Tốn nghe thấy. Lão rống lên, cầm lang nha bổng lao tới đánh ngay xuống. Trương Ân hai người đã có phòng bị, liền nhảy tránh, chỉ nghe rầm một tiếng, lang nha bổng đánh vào băng. Cú đánh này lực đạo phải tới bảy tám trăm cân, làm cho bảy, tám tảng băng lớn bay văng xuống biển. Hai người kinh hãi nhìn nhau, thấy Tạ Tốn múa vung lang nha bổng, phát ra ngàn đạo ngân quang, ép thẳng tới. Cây lang nha bổng đó dài đã hơn một trượng, khi múa lên thì uy lực bao trùm đến dăm trượng xung quanh, hai người nhảy tránh lẹ mấy cũng không thoát nổi, chỉ còn cách liên tiếp lùi về phía sau, lùi một hồi đã tới mép núi băng.

Ân Tố Tố hoảng hốt kêu "Ối chà!" Trương Thúy Sơn nắm cánh tay nàng, hai chân nhún một cái, nhảy luôn xuống biển. Hai người còn đang lơ lửng trên không, chỉ nghe tiếng băng rơi rào rào sau lưng, có cục văng trúng người khá đau. Lúc nhảy, Trương Thúy Sơn đã nhắm một tảng băng to bằng cái bàn, tay trái chàng vung ngân câu móc luôn vào đó. Tạ Tốn nghe tiếng hai người nhảy xuống biển, lão dùng lang nha bổng đập băng vỡ thành cục mà ném theo. Nhưng hai mắt lão đã mù, Trương Ân hai người ở dưới biển liên tục di động theo tảng băng trôi, cục băng đầu không trúng, các cục băng sau cũng rơi lạc cả.

Núi băng trôi trên biển, phần nổi trên mặt nước chỉ là phần nhỏ của toàn khối, phần chìm bên dưới mới thật lớn. Tảng băng mà Trương Ân hai người đang nằm phục trên đó là một khối băng do Tạ Tốn đánh vỡ ra, nhỏ chưa đến một phần ngàn của núi băng, cho nên nó theo dòng thủy lưu trôi rất nhanh, càng lúc càng xa núi băng nơi Tạ Tốn đang đứng. Đến chiều tối, ngoảnh nhìn lại, thân hình Tạ Tốn chỉ còn là một chấm đen trên cái núi băng đang lấp lóa phát quang.

Hai người bám vào tảng băng này, chỉ cốt nó không chìm, thân mình còn một nửa ngâm dưới nước, làm sao chịu được lâu? May sao trên đường trôi lên phương bắc, không lâu sau gặp được một núi băng nhỏ, chờ tới gần họ liền bám vào leo lên.

Trương Thúy Sơn nói:

– Bảo rằng trời không đẩy người vào tuyệt lộ. Thế mà hai ta cứ phải chịu bao nhiêu là khổ sở? Nàng nghĩ sao?

Ân Tố Tố nói:

– Tiếc là mình không đem theo được chút thịt hải cẩu. Chàng không bị thương đấy chứ?

Hai người nói mà như cho mình nghe, không hiểu bên kia nói gì, sau chợt hiểu, vội móc lông hải cẩu trong tai ra. Vì cố đào thoát, họ quên biến rằng hai tai còn bị nút chặt.

Hai người thoát đại nạn, sóng tình trong lòng càng dâng lên mạnh. Trương Thúy Sơn nói:

– Tố Tố, hai ta dẫu chết trên núi băng thì cũng là vĩnh viễn bên nhau đó.

Ân Tố Tố nói:

– Ngũ ca, muội có câu muốn hỏi, chàng phải nói thật nhé. Giả dụ hai ta còn ở trên đất liền, không trải qua mọi nguy nan như vừa rồi, nếu muội quyết một lòng kết duyên với chàng thì chàng có muốn lấy muội hay không?

Trương Thúy Sơn ngẩn người, đưa tay gãi gáy, nói:

– Ta nghĩ rằng mình sẽ chưa thân nhau sớm đến thế, hơn nữa.. hơn nữa.. nhất định sẽ có nhiều trở ngại, gian lao, hai ta môn phái khác nhau..

Ân Tố Tố thở dài, nói:

– Muội cũng nghĩ vậy, nên hôm chàng đấu chưởng với Tạ Tốn, mấy lần muội tính phóng ngân châm hiệp trợ chàng, cuối cùng vẫn không phóng.

Trương Thúy Sơn ngạc nhiên nói:

– Vậy ư, vì sao thế? Ta cứ ngỡ là trong đêm tối nàng nhìn không rõ, sợ trúng phải ta kia đấy.

Ân Tố Tố nói nhỏ:

– Không phải vậy, giả dụ lúc đó muội đả thương lão, hai ta trở về đất liền, chàng sẽ không ở bên muội nữa.

Trương Thúy Sơn lòng dạ bồi hồi, thốt lên:

– Tố Tố!

Ân Tố Tố nói tiếp:

– Chàng có lẽ sẽ trách muội, nhưng lúc ấy muội chỉ mong được ở bên chàng, hai ta đến một hoang đảo không người, sống mãi với nhau ở đó. Tạ Tốn ép hai ta đi theo lão, chính hợp với tâm nguyện của muội.

Trương Thúy Sơn không ngờ nàng lại yêu thương mình sâu đậm đến thế, cảm động lắm, dịu dàng nói:

– Ta không trách nàng đâu, mà phải đa tạ nàng là đằng khác.

Ân Tố Tố ngả đầu vào lòng Trương Thúy Sơn, ngước lên nhìn vào mắt chàng, nói:

– Ông Trời đưa muội tới địa ngục băng giá này, muội không hề oán hận, chỉ vui sướng. Muội mong sao núi băng đừng trôi về phương nam, ôi, nếu có ngày hai ta trở về Trung nguyên, sư phụ của chàng hẳn sẽ căm ghét muội, còn phụ thân muội không chừng sẽ giết chàng..

Trương Thúy Sơn nói:

– Phụ thân nàng ư?

Ân Tố Tố nói:

– Phụ thân muội là Bạch Mi Ưng Vương Ân Thiên Chính, giáo chủ sáng lập Thiên Ưng giáo.

Trương Thúy Sơn nói:

– Thì ra vậy. Nàng đừng lo, ta sẽ luôn ở bên cạnh nàng, thân phụ nàng dữ cách mấy cũng không nỡ giết con rể của mình.

Ân Tố Tố đôi mắt sáng ngời, hai má đỏ bừng, nói:

– Chàng nói thật lòng đấy chứ?

Trương Thúy Sơn nói:

– Hai đứa mình kết thành vợ chồng luôn nhé.

Hai người tức thời quỳ ngay xuống mặt băng.

Trương Thúy Sơn cao giọng nói:

– Có hoàng thiên chứng giám, hôm nay đệ tử Trương Thúy Sơn cùng Ân Tố Tố kết thành phu phụ, họa phúc bên nhau, trước sau không phụ bạc.

Ân Tố Tố kính cẩn khấn:

– Xin hoàng thiên phù hộ độ trì, cho hai chúng con đời đời kiếp kiếp là phu phụ.

Ngừng một lát, nàng khấn tiếp:

– Nếu sau này trở về Trung nguyên, tiểu nữ quyết cải tà quy chính, sám hối tội lỗi đã qua, theo phu quân làm việc thiện, không bao giờ giết ai nữa. Nếu phạm lời thề, xin trời và người trừng phạt.

Trương Thúy Sơn cả mừng, không ngờ Ân Tố Tố lập thệ như vậy, vòng tay ôm lấy nàng. Hai người tuy toàn thân ướt sũng nước biển, nhưng trong lòng ấm áp, phơi phới gió xuân.

Rất lâu sau, cả hai mới nhớ ra là cả một ngày chưa ăn gì. Trương Thúy Sơn cầm ngân câu đứng rình bên mép núi băng, đợi cá bơi đến gần thì móc lên. Cá biển ở vùng này vì phải chống lạnh nên thịt dày và nhiều mỡ, ăn sống rất tanh, nhưng ăn vào sẽ tăng khí lực rất nhiều.

Hai người ở trên núi băng, biết rõ không có hi vọng quay về Trung nguyên, nhưng cũng chẳng lo buồn. Dạo này ngày rất dài mà đêm thì ngắn, hết sức khác thường, không có cách gì tính toán thời gian, cũng chẳng biết mặt trời mọc hay lặn trên biển đã bao nhiêu lần.

Một hôm, Ân Tố Tố chợt trông thấy ở chính phía bắc có một cột khói bốc lên, nàng sợ mất vía, gọi to:

– Ngũ ca!

Nàng giơ tay chỉ cột khói đen. Trương Thúy Sơn nửa mừng nửa lo, nói:

– Chẳng lẽ vùng này cũng có người?

Cột khói kia tuy nhìn thấy đó, song vẫn còn xa lắm, núi băng trôi suốt một ngày vẫn chưa tới gần nó, nhưng khói đen bốc càng lúc càng cao, rồi thấy trong khói thấp thoáng có ánh lửa.

Ân Tố Tố hỏi:

– Đó là cái gì nhỉ?

Trương Thúy Sơn lắc đầu không đáp. Ân Tố Tố run run nói:

– Hai ta chắc sắp hết kiếp rồi! Đó là.. là cửa địa ngục đấy.

Trương Thúy Sơn cũng rất lo sợ, nhưng chàng vẫn an ủi, nói:

– Không chừng chỗ ấy có người ở, người ta đang đốt lửa trên núi.

Ân Tố Tố nói:

– Lửa gì mà bốc cao như thế?

Trương Thúy Sơn thở dài, nói:

– Đã tới miền quỷ quái này, mọi sự đều do ông Trời sắp đặt. Trời đã không để chúng mình chết rét, lại muốn chúng mình chết thiêu, là tùy ý trời thôi.

Kể ra thật lạ, núi băng hai người đang ở cứ từ từ trôi thẳng về phía có ánh lửa. Trương Ân hai người không hiểu nguyên do, chỉ nghĩ là do ông Trời sắp đặt, là họa hay phúc cũng đành phó mặc cho số mệnh. Họ đâu biết rằng cột lửa kia là một hỏa diệm sơn ở gần Bắc Cực đang hoạt động, khi phun lửa sẽ làm cho nước biển xung quanh ấm lên. Nước nóng chảy về phía nam, tự nhiên cuốn dòng nước băng từ phía nam đến thế chỗ, do vậy mà núi băng trôi tới càng lúc càng gần.

Núi băng này trôi một ngày đêm nữa thì tới chân hỏa diệm sơn, chỉ thấy xung quanh nó là một vùng xanh tươi, hóa ra là một hòn đảo cực lớn. Phía tây hòn đảo là núi đá lởm chởm, hình thù quái dị, Trương Thúy Sơn đã đi quá nửa Trung nguyên mà chưa thấy thế này bao giờ. Hai người chưa từng thấy hỏa diệm sơn, không hề biết các mỏm núi kia là do phún thạch hàng ngàn hàng vạn năm của hỏa diệm sơn kết thành. Phía đông hòn đảo là một bình nguyên mênh mông vô bờ, do tro của hỏa diệm sơn rơi xuống biển dần tạo nên. Vùng này tuy gần kề Bắc Cực, nhưng nhờ có lửa của hỏa diệm sơn hoạt động hàng vạn năm không tắt, nên khí hậu tương tự như dãy núi Trường Bạch, vùng Hắc Long Giang, trên núi cao có băng tuyết, dưới bình nguyên thảo mộc xanh tươi, tùng xanh bách biếc, cao to dị thường, lại có nhiều loài kỳ hoa dị thảo mà vùng Trung thổ không hề gặp.

Ân Tố Tố đứng ngắm hồi lâu, đột nhiên nhảy lên, hai tay ôm cổ Trương Thúy Sơn, nói:

– Ngũ ca, hai ta đến núi tiên rồi!

Trương Thúy Sơn trong lòng cũng hết sức vui sướng, mơ mơ màng màng không nói nên lời. Nhìn trên bình nguyên, thấy một bầy mai hoa lộc đang cúi đầu gặm cỏ, đưa mắt ngó tứ bề, ngoài tòa hỏa diệm sơn đáng sợ kia thì, tất thảy đều thanh bình.

Thế nhưng núi băng trôi đến gần đảo, bị nước ấm đẩy ra, nên lại trôi ra xa. Ân Tố Tố vội kêu lên:

– Chao ôi, chao ôi, đảo tiên lại cách xa mất rồi!

Trương Thúy Sơn thấy tình thế không ổn, nếu không lên đảo, núi băng này sẽ trôi tiếp đi nơi khác, chưa biết khi nào mới dừng. Tình thế cấp bách, chàng dùng chưởng và ngân câu cùng đánh, "bộp, bộp bộp", vỡ ra một tảng băng lớn. Hai người ôm lấy tảng băng, lăn xuống nước, tay chân quạt mạnh, cuối cùng cập vào đất liền.

Bầy mai hoa lộc thấy có người đến, giương mắt tròn xoe mà nhìn, đầy vẻ hiếu kỳ, không một chút hoảng sợ. Ân Tố Tố thong thả lại gần một con, đưa tay vuốt ve lưng nó, nói:

– Giá có thêm vài con hạc tiên, muội nghĩ đây chính là Nam Cực tiên cảnh.

Bỗng mặt đất rung rinh chao đảo, nàng ngã lăn ra. Trương Thúy Sơn cả kinh, gọi:

– Tố Tố!

Chàng chạy tới đỡ nàng dậy, nhưng hai chân cũng loạng choạng đứng không vững.

Chỉ nghe mặt đất rùng rùng chuyển động, thì ra hỏa diệm sơn lại phun lửa. Hai người ở trên biển trôi nổi mấy chục ngày, phong ba nhồi lên dìm xuống suốt ngày đêm, nay vừa lên bờ, dưới chân vẫn còn cảm giác bồng bềnh, nên mặt đất vừa chao động một cái đã ngã lăn ra.

Hai người hoảng sợ, nhưng chẳng thấy gì xảy ra, mới cười hà hà đứng dậy. Hôm ấy cả hai đã mệt lả, họ nằm ngay trên bãi cỏ ngủ một giấc hơn bốn canh giờ liền.

Lúc thức dậy, mặt trời vẫn chưa gác núi, Trương Thúy Sơn nói:

– Hai ta đi một vòng xem xung quanh thế nào, có người ở hay không, có độc trùng mãnh thú gì không?

Ân Tố Tố nói:

– Cứ nhìn bầy mai hoa lộc hiền thuận như thế, đủ biết đảo tiên này hết sức thanh bình.

Trương Thúy Sơn cười nói:

– Ước gì như thế! Vậy hai ta cũng phải đi bái yết các vị tiên chứ.

Ân Tố Tố lúc còn ở trên núi băng cũng đã cố giữ gìn dung nhan, y phục chỉnh tề, bây giờ đến đảo này, nàng càng chú ý chăm chút hơn; nàng chải đầu cho Trương Thúy Sơn, rồi mới cùng chàng đi thám thính. Tay nàng cầm trường kiếm. Trương Thúy Sơn đã mất phán quan bút, liền bẻ một cành cây thật chắc thay thế. Hai người thi triển khinh công, chạy từ nam lên bắc đến mươi dặm. Lâu lắm rồi mới có một vùng đất rộng để vẫy vùng, thực là sung sướng hết chỗ nói. Khắp nơi họ chạy qua, ngoài gò thấp và cây cao, toàn là kỳ hoa dị thảo; thi thoảng từ trong cỏ xuất hiện những loại muông thú nhỏ không biết tên, hiền thuận không làm hại người.

Hai người đi qua một cánh rừng rộng, thấy phía tây bắc có một ngọn núi đá, ở chân núi có một cái hang. Ân Tố Tố nói:

– Chỗ này thích quá!

Đoạn chạy lên trước. Trương Thúy Sơn nói:

– Cẩn thận!

Lời chưa dứt, có tiếng "gừm", rồi từ trong hang lao ra một con gấu trắng.

Con gấu này lông dài, to như con bò mộng. Ân Tố Tố hốt hoảng vội nhảy lùi. Con gấu chồm tới, giơ cái chân trước to bè đập xuống đầu Ân Tố Tố. Ân Tố Tố vung trường kiếm chém vào vai con gấu. Ai ngờ nàng trôi giạt trên biển lâu ngày, thân thể suy nhược, xuất thủ kém lực, kiếm tuy chém trúng vai con gấu nhưng chỉ làm nó bị thương nhẹ, chiêu thứ hai vừa tới, con gấu chồm lên gạt phắt ra, "cạch" một tiếng, thanh kiếm đã văng xuống đất. Trương Thúy Sơn vội kêu:

– Tố Tố lui ra!

Chàng nhảy tới, vung cành cây quật ngang, trúng vào khuỷu chân trước của con gấu, nghe "rắc" một tiếng, cành cây gãy đôi, con gấu cũng bị gãy chân trái, nó đau quá liền rống lên vang động cả sơn cốc, hung hăng chồm tới tấn công Trương Thúy Sơn.

Trương Thúy Sơn hai chân nhún một cái, sử dụng khinh công "Thê vân túng" nhảy vọt lên cao hơn trượng, sử cái móc trong tự quyết chữ "tranh", giáng mạnh cái ngân câu từ trên cao xuống trúng ngay huyệt Thái Dương của con gấu. Chiêu này kình lực quá mạnh, ngân câu móc sâu vào đến mấy tấc. Con gấu rống lên một tiếng kinh thiên động địa, hất văng cả ngân câu khỏi tay Trương Thúy Sơn, lăn ra giãy giụa mấy vòng, rồi chổng bốn vó lên trời mà chết.

Ân Tố Tố vỗ tay reo:

– Khinh công hay quá, câu pháp hay quá!

Lời chưa dứt, bỗng nghe Trương Thúy Sơn gọi giật giọng:

– Nhảy lại đây mau!

Nghe tiếng gọi có vẻ kinh hoàng của chàng, Ân Tố Tố không kịp hỏi han, vội nhào vào lòng chàng, quay nhìn lại, giật mình kêu lên "ôi chao!" Thì ra ngay sau lưng nàng lại xuất hiện một con gấu trắng khác, nó nhe răng giơ vuốt, trông hung dữ đáng sợ.

Trương Thúy Sơn không có thứ vũ khí gì trong tay, vội kéo Ân Tố Tố nhảy lên một cây tùng lớn. Con gấu cứ đi loanh quanh dưới gốc, chốc chốc ngẩng đầu gầm một tiếng. Trương Thúy Sơn bẻ một cành tùng, nhắm mắt phải của nó phóng xuống, nghe phập một tiếng, đầu nhọn của cành tùng đã cắm trúng mắt nó. Con gấu đau quá, rống ầm ỹ, toan leo lên cây. Trương Thúy Sơn tiếp lấy thanh kiếm từ tay Ân Tố Tố, nhắm đầu con gấu, vận kình phóng xuống, nghe "bụp" một tiếng, lưỡi kiếm cắm ngập đến quá nửa, con gấu ngã vật xuống, chết dưới gốc cây.

Trương Thúy Sơn nói:

– Không biết trong hang còn con gấu nào hay chăng?

Chàng kiếm mấy cục đá ném vào hang, lát sau không thấy động tĩnh gì, mới tiến vào trước, Ân Tố Tố bám sát theo sau. Chỉ thấy cái hang này rất rộng, sâu bảy tám trượng, trên nóc lại có một cái khe có ánh sáng chiếu xuống, chẳng khác gì cửa sổ tự nhiên. Trong hang có nhiều thức ăn còn dư của cặp gấu trắng, mình cá, xương cá, hết sức tanh tưởi. Ân Tố Tố bịt mũi, nói:

– Hang này tốt thì tốt thật, nhưng hôi thối quá!

Trương Thúy Sơn nói:

– Chỉ cần ngày ngày quét dọn, rửa ráy, thì mươi bữa nửa tháng sẽ hết hôi.

Ân Tố Tố nghĩ đến việc từ nay sẽ cùng chàng chung sống mãi mãi trên hòn đảo này đến khi đầu bạc răng long, thì cảm thấy vừa sung sướng, vừa thê lương.

Trương Thúy Sơn ra ngoài hang, bẻ cành cây, làm thành một cái chổi lớn, cầm vào quét dọn rác rưởi trong hang. Ân Tố Tố cũng giúp chàng dọn dẹp. Rác đã quét sạch, nhưng mùi tanh hôi vẫn còn nguyên. Ân Tố Tố nói:

– Gần đây có suối nước mang về rửa thì hay quá. Nước biển quá nhiều mà mình không có thùng để gánh.

Trương Thúy Sơn nói:

– Huynh đã có cách.

Chàng ra chỗ lạnh giá ở khe núi, bưng về mấy tảng băng to, đặt ở chỗ cao trong hang. Ân Tố Tố vỗ tay reo lên:

– Hay quá!

Các tảng băng tan dần thành nước, chảy ra bên ngoài hang, nhưng như thế quá chậm.

Trong khi Trương Thúy Sơn chùi rửa trong hang, Ân Tố Tố ở bên ngoài dùng trường kiếm xẻ thịt hai con gấu, cắt thành nhiều miếng. Vùng này tuy có hỏa diệm sơn, nhưng gần Bắc Cực, khí hậu rất lạnh, các miếng thịt gấu có thể để nhiều tháng không hư. Ân Tố Tố thở dài, nói:

– Lòng người thật khó chiều, được voi đòi tiên, giá bây giờ có lửa, nướng bàn tay gấu mà ăn hẳn ngon biết mấy! Chỉ e tảng băng để trong hang không tan thì không hết mùi hôi.

Trương Thúy Sơn nhìn về phía miệng hỏa diệm sơn đang phun lửa, nói:

– Lửa thì khối ra kia, có điều lại quá lớn, để thư thả huynh nghĩ xem có cách gì lấy lửa mang về đây.

Tối hôm ấy, hai người ăn một bữa não gấu, rồi leo lên cây ngủ. Trong giấc ngủ, họ thấy mình vẫn đang ở trên núi băng trôi dạt trên biển cả, với tiếng sóng ì ầm nhấp nhô lên xuống, thực ra chỉ là gió thổi lay động cành lá.

Hôm sau Ân Tố Tố chưa mở mắt đã nói:

– Thơm quá! Thơm quá!

Nàng nhảy xuống đất, ngửi thấy một mùi hương dễ chịu của nhiều đóa hoa không tên thoang thoảng đưa tới. Nàng vui sướng nói:

– Trước cửa hang có nhiều hoa thơm thế này thì tuyệt trần!

Trương Thúy Sơn nói:

– Tố Tố này, việc mừng để sau, có việc cần làm trước đây.

Ân Tố Tố nhìn vẻ mặt trịnh trọng của chàng, lo lắng hỏi:

– Việc gì vậy?

Trương Thúy Sơn nói:

– Huynh đã nghĩ ra cách lấy lửa.

Ân Tố Tố cười:

– Ồ, thế mà chàng cứ làm như có chuyện không hay vậy, cách gì đâu, chàng nói mau đi!

Trương Thúy Sơn nói:

– Lửa ở miệng hỏa diệm sơn quá lớn, không thể tới gần, chỉ sợ đến cách vài chục trượng thì đã chết cháy rồi. Mình phải lấy vỏ cây tết thành một sợi dây thừng, đem phơi khô, sau đó..

Ân Tố Tố vỗ tay reo:

– Hay lắm! Cách đó hay lắm! Sau đó mình buộc cục đá vào một đầu dây, ném tới miệng hỏa diệm sơn, lửa bén vào dây, mình kéo về.

Hai người ăn thịt sống đã lâu nên muốn có lửa ngay, nói xong làm liền, mất hơn hai ngày mới tết được một sợi dây dài trăm trượng, phơi một ngày gần khô, ngày thứ tư thì nhắm hướng miệng hỏa diệm sơn đi tới.

Miệng hỏa diệm sơn nhìn tưởng gần, vậy mà đi suốt hơn bốn chục dặm mới tới. Càng tới gần hai người càng thấy nóng, thoạt tiên cởi áo lông hải cẩu, rồi chỉ còn mảnh áo đơn cũng nóng không chịu nổi; đi một dặm nữa thì miệng khô lưỡi háo, mồ hôi vã ra như tắm, xung quanh không còn thảo mộc, chỉ toàn nham thạch màu vàng trơ trụi.

Trương Thúy Sơn vai vác cuộn dây, nhìn mấy sợi tóc dài của Ân Tố Tố bị nóng quá đã xoăn cả lại, lòng trào dậy niềm thương, nói:

– Nàng ở lại đây chờ huynh, để mình huynh đi được rồi.

Ân Tố Tố nói dỗi:

– Chàng còn nói thế nữa, muội sẽ mặc kệ chàng đấy. Cùng lắm mình không có lửa, suốt đời ăn thịt sống cũng chẳng sao!

Trương Thúy Sơn mỉm cười.

Đi chừng một dặm nữa, hai người đã thở phì phò như kéo bễ. Trương Thúy Sơn tuy nội công thâm hậu mà cũng bị hun tới mức nổ đom đóm mắt, đầu óc cứ ong ong. Chàng nói:

– Thôi, mình dừng ở đây, quẳng dây mà không tới chỗ bén lửa, thì.. thì..

Ân Tố Tố cười, tiếp lời:

– Thì tức là trời bắt chúng mình làm một đôi phu thê ăn lông ở lỗ vậy.

Nói đến đó thì thân hình lảo đảo, mắt hoa lên, phải níu vào vai Trương Thúy Sơn mới đứng được. Trương Thúy Sơn nhặt một hòn đá, buộc vào đầu sợi dây, đề khí chạy lên phía trước vài trượng, quát một tiếng "Đi này!" rồi ném hòn đá đi.

Hòn đá bay như tên bắn, mang theo sợi dây thẳng băng, rơi xuống rất xa. Hơn chục trượng cách chỗ hai người đứng tuy có nóng hơn thật, nhưng so với miệng hỏa diệm sơn thì còn quá xa, làm sao sợi dây có thể bén lửa? Hai người đợi hồi lâu, cơ thể nóng ran, mắt muốn đổ lửa mà sợi dây vẫn thế, không thấy chút khói nào bốc lên cả. Trương Thúy Sơn thở dài, nói:

– Cổ nhân xiết gỗ, đánh đá lấy lửa, cũng đều được cả; thôi hai ta về, thong thả tìm cách khác vậy! Cách ném dây lấy lửa này không xong rồi.

Ân Tố Tố nói:

– Cách ném không xong, nhưng sợi dây thì khô lắm rồi. Mình đi tìm vài cục đá lửa, dùng kiếm đánh lửa xem sao.

Trương Thúy Sơn nói:

– Đúng đấy!

Chàng cuộn sợi dây vào, xé tưa một đầu thành nhiều sợi nhỏ, làm bùi nhùi. Xung quanh có rất nhiều đá lửa, nhặt mấy hòn, dùng kiếm đập vào tức thời tóe ra mấy tia lửa, bắn vào bùi nhùi, thử mươi lần thì được lửa.

Hai người mừng rỡ ôm lấy nhau reo to. Sợi dây giữ lửa rất đượm, hai người hớn hở mang về hang. Ân Tố Tố gom củi nhóm thành một đống lửa lớn.

Có lửa, mọi việc đều xong, nào làm cho băng tan, nào nướng thịt, sấy thịt. Từ ngày đắm thuyền đến nay, họ chưa được ăn nóng, bây giờ lần đầu có miếng thịt nướng thơm nức, họ ăn một cách thèm khát, tựa hồ nuốt luôn cả lưỡi xuống bụng.

Đêm ấy trong hang hương hoa thoang thoảng, ánh lửa chập chờn. Từ hôm kết thành phu thê, đêm nay hai người mới hưởng cái thú động phòng thanh xuân.

Sáng hôm sau, Trương Thúy Sơn ra khỏi hang, đưa mắt nhìn ra xa, trong lòng đang khoan khoái, bỗng thấy trên một tảng đá ven biển xa xa nổi lên một bóng người sừng sững.

Người đó không phải Tạ Tốn thì là ai? Trương Thúy Sơn vô cùng hoảng sợ, những tưởng sau khi cùng Ân Tố Tố trải qua một phen đại nạn, hai người sẽ được an cư trên hòn đảo này, nào ngờ gã ma đầu kia cũng mò tới đây. Trong giây lát chàng như hóa đá, đứng ngây ra không dám cử động, nhìn Tạ Tốn lảo đảo sờ soạng tiến vào sâu trong đất liền. Hẳn là từ hôm bị mù, lão không thể bắt cá hoặc săn hải cẩu, phải nhịn đói tới giờ. Đi được vài trượng, lão bị vấp, ngã chúi về phía trước, cứ thế nằm phục dưới đất.

Trương Thúy Sơn trở vào hang, Ân Tố Tố thấy chàng, nũng nịu gọi:

– Ngũ ca, chàng..

Thấy sắc diện nghiêm trọng của chàng, nàng không nói nữa. Trương Thúy Sơn nói:

– Lão họ Tạ cũng tới rồi!

Ân Tố Tố giật mình, bật dậy hỏi nhỏ:

– Lão có nhìn thấy chàng không?

Chợt nhớ Tạ Tốn đã mù, nên nàng bớt sợ hẳn, nói:

– Hai ta mắt sáng, chẳng lẽ không đối phó nổi một lão mù?

Trương Thúy Sơn gật đầu, nói:

– Lão đói quá, nằm ngất xỉu rồi.

Ân Tố Tố nói:

– Thử ra xem.

Nàng xé tay áo ra bốn mảnh vải nhỏ, nhét hai mảnh vào tai Trương Thúy Sơn, hai mảnh vào tai mình, tay phải nàng lăm lăm trường kiếm, tay trái thủ sẵn mấy cái ngân châm, cùng chàng ra ngoài hang.

Hai người đến cách Tạ Tốn bảy tám trượng, Trương Thúy Sơn nói to:

– Tạ tiền bối, có đói không?

Tạ Tốn bỗng dưng nghe thấy tiếng người, vừa kinh ngạc, vừa vui mừng, nhưng nhận ra giọng của Trương Thúy Sơn, liền sa sầm mặt, hồi lâu mới gật đầu. Trương Thúy Sơn vào hang mang ra một tảng thịt gấu đã nướng chín từ tối qua, đứng xa xa ném tới, nói:

– Hãy đón lấy này!

Tạ Tốn nhỏm dậy, nghe gió nhận biết sự vật, giơ tay đón tảng thịt rồi thong thả nhai từng miếng nhỏ.

Trương Thúy Sơn nghĩ lão là một đại hán oai hùng như rồng như cọp, nay bị cái đói cái khát làm cho suy nhược thảm hại thì bất giác cảm thấy thương hại. Ân Tố Tố thì nghĩ thầm: "Ngũ ca thật quá nhân từ, cứ mặc lão ta chết quách đi, có phải đỡ rắc rối không? Lần này cứu sống lão ta, chỉ e rồi đây phiền não vô cùng, không chừng hai ta còn mất mạng bởi lão ta". Song nghĩ nàng đã lập trọng thệ, quyết ý theo Trương Thúy Sơn làm người tốt, nên tuy trong bụng có ý không muốn cứu người, cũng chẳng dám nói ra.

Tạ Tốn ăn hết nửa tảng thịt thì nằm xuống ngủ, ngáy khò khò. Trương Thúy Sơn nhóm cho lão một đống lửa ở bên cạnh.

Tạ Tốn ngủ hơn một canh giờ thì tỉnh dậy, hỏi:

– Đây là đâu vậy?

Trương Ân hai người đang canh gần đó, thấy lão nhỏm dậy, mở miệng hỏi, bèn móc vải ở tai bên phải ra để nghe cho rõ, nhưng tay phải vẫn giữ cách tai chỉ vài tấc, đề phòng khi cần sẽ bịt tai lại tức thì mảnh vải bên tai trái vẫn để nguyên. Trương Thúy Sơn nói:

– Đây là một hoang đảo ở Bắc Cực.

Tạ Tốn "ừm" một tiếng, trong lòng nổi lên vô số ý nghĩ, lão thừ người hồi lâu, rồi nói:

– Như thế chúng ta không trở về được nữa!

Trương Thúy Sơn nói:

– Cái đó còn tùy ý ông Trời.

Tạ Tốn chửi liền:

– Ông Trời cái gì, đồ tặc thiên, đồ cẩu thiên, cường đạo lão thiên thì có!

Đoạn lão sờ soạng đến ngồi trên một phiến đá, ăn nốt miếng thịt gấu, hỏi:

– Các ngươi định đối xử với ta thế nào?

Trương Thúy Sơn đưa mắt nhìn Ân Tố Tố, chờ nàng lên tiếng. Ân Tố Tố đưa tay làm hiệu, ý nói mọi việc tùy chàng quyết định.

Trương Thúy Sơn trầm ngâm giây lát, rồi nói to:

– Tạ tiền bối, phu thê vãn bối..

Tạ Tốn gật đầu:

– Ừm, thành phu thê rồi đấy.

Ân Tố Tố đỏ mặt, nhưng có vẻ đắc ý, nói:

– Cũng có thể coi tiền bối là người làm mai, vậy xin đa tạ tiền bối đã tác thành.

Tạ Tốn hừ một tiếng, hỏi:

– Thế phu thê nhà ngươi định đối với ta sao đây?

Trương Thúy Sơn nói:

– Chúng tôi làm cho tiền bối bị mù, quả thật khó nghĩ, nhưng sự đã rồi, có nói muôn ngàn lời cũng vô ích. Ý trời đã muốn chúng ta sống chung với nhau trên hoang đảo này, xem chừng cả đời cũng không còn dịp trở về Trung thổ, vậy hai chúng tôi sẽ phụng dưỡng tiền bối suốt đời.

Tạ Tốn gật đầu, thở dài:

– Thì đành thế vậy.

Trương Thúy Sơn nói:

– Phu thê chúng tôi nghĩa trọng tình thâm, sống chết có nhau, tiền bối nếu bệnh điên tái phát, hại một trong hai chúng tôi thì người kia quyết không sống làm gì nữa.

Tạ Tốn nói:

– Nghĩa là ngươi muốn nói với ta rằng nếu hai ngươi chết, ta mù lòa thế này thì cũng chẳng thể sống nổi trên hoang đảo chứ gì?

Trương Thúy Sơn nói:

– Đúng vậy!

Tạ Tốn nói:

– Đã thế, các ngươi hà tất còn phải đút nút tai trái?

Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố nhìn nhau cười, moi giẻ trong tai ra, cùng kinh hãi nghĩ thầm: "Lão ta tuy mù lòa, song tai quá thính, tựa hồ có thể dùng tai thay mắt, hơn nữa lại thông minh cơ trí, liệu sự như thần, nếu không phải đang ở trên hoang đảo kỳ quái vùng Bắc Cực này, vị tất lão đã cần đến mình phụng dưỡng".

Trương Thúy Sơn mời Tạ Tốn đặt tên cho hòn đảo này. Tạ Tốn nói:

– Đảo này đã có băng giá vạn niên, lại có hỏa diệm sơn muôn đời chưa tắt, vậy hãy gọi nó là Băng Hỏa đảo.

Từ đó ba người sống trên Băng Hỏa đảo khá bình yên vô sự. Cách hang gấu nửa dặm có một cái hang nhỏ hơn, vợ chồng Trương Thúy Sơn sắp xếp thành nơi ở rồi đưa Tạ Tốn tới đó. Ngoài thời gian bắt cá săn thú, phu thê họ còn nung đất làm chén bát, đắp đất làm lò, các vật dụng tuy thô sơ nhưng khá đầy đủ.

Tạ Tốn cũng không trò chuyện với hai người, chỉ ngồi ôm thanh đao Đồ Long, cúi đầu suy tư. Trương Ân hai người có lần thấy lão đáng thương, khuyên lão khỏi cần suy nghĩ về bí mật của thanh đao làm gì nữa cho khổ. Tạ Tốn nói:

– Ta thừa hiểu dù có tìm ra bí mật của thanh đao này, thì ở hoang đảo cũng hoàn toàn vô dụng, thế nhưng biết làm gì cho qua ngày đoạn tháng đây?

Hai người thấy lão nói có lý, cũng không khuyên can nữa.

Thấm thoắt đã mấy tháng, một hôm Trương Ân hai người nắm tay nhau đi du ngoạn về phía bắc của hòn đảo, hóa ra đảo này chu vi quá lớn, cứ trải dài lên phía bắc mãi, chưa biết đâu là tận cùng. Đi hơn hai mươi dặm, họ gặp một khu rừng rậm, cây cổ thụ cao vút che phủ bầu trời. Trương Thúy Sơn muốn đi sâu vào rừng thám hiểm, Ân Tố Tố lo sợ, nói:

– Đừng, lỡ trong rừng có gì cổ quái, thôi mình đi về là hơn.

Trương Thúy Sơn thấy hơi lạ, nghĩ thầm: "Tố Tố lâu nay vốn hiếu kỳ, sao gần đây có vẻ uể oải, khởi xướng việc gì nàng cũng gạt đi thế nhỉ?" Nghĩ đến đây, chàng hơi lo, bèn hỏi:

– Nàng có gì không được khỏe thì phải?

Ân Tố Tố bỗng đỏ mặt, nói nhỏ:

– Đâu có sao.

Trương Thúy Sơn thấy thần sắc nàng rất lạ, cứ gặng hỏi. Ân Tố Tố nửa cười nửa không, nói:

– Ông Trời thấy chúng mình tịch mịch quá, nên phái một người xuống làm trò vui nhộn đấy mà.

Trương Thúy Sơn ngẩn người, cả mừng, hỏi:

– Mình có con phải không?

Ân Tố Tố vội nói:

– Nói nhỏ thôi, kẻo người ta nghe thấy bây giờ.

Rồi nàng bật cười; giữa chốn hoang sơn tịch mịch này, làm gì có người thứ ba.

Khí hậu biến đổi, ngày ngắn dần mà đêm dài ra, sau đó ngày chỉ còn hai canh giờ là trời sáng, thời tiết cũng mỗi lúc một thêm lạnh giá. Ân Tố Tố từ khi mang thai cũng lười biếng hơn, nhưng các việc nấu nướng, khâu vá thì vẫn siêng năng.

Hôm đó, mười tháng mang thai sắp mãn, hai vợ chồng đốt lửa trong hang, ngồi tựa vào nhau trò chuyện. Ân Tố Tố nói:

– Chàng thử đoán xem mình sẽ sinh con trai hay con gái nào?

Trương Thúy Sơn nói:

– Con trai giống ta, con gái giống nàng, con trai hay con gái đều được cả.

Ân Tố Tố nói:

– Không, thiếp muốn con trai kia. Chàng hãy chọn cho con một cái tên đi.

Trương Thúy Sơn ậm ừ, hồi lâu không nói gì. Ân Tố Tố hỏi:

– Mấy bữa nay chàng có tâm sự gì vậy? Muội thấy chàng dường như đang lo lắng thì phải.

Trương Thúy Sơn nói:

– Có gì đâu, chắc là sắp được làm cha nên ta sướng quá hóa ra hồ đồ một chút.

Câu này vốn là nói đùa cho vui nhưng vẻ mặt chàng không giấu nổi vẻ ưu tư. Ân Tố Tố dịu dàng nói:

– Chàng đừng giấu thiếp nữa, thiếp chỉ thêm lo. Chàng thấy có điều gì không ổn phải không?

Trương Thúy Sơn thở dài, nói:

– Chỉ mong là ta đa nghi. Ta thấy mấy bữa rày, thần sắc lão Tạ có vẻ bất thường.

Ân Tố Tố kêu "ôi" một tiếng, nói:

– Thiếp cũng thấy thế! Sắc diện lão ta càng lúc càng hung dữ, hình như lại sắp nổi điên.

Trương Thúy Sơn gật đầu, nói:

– Chắc lão nghĩ không ra bí mật của thanh đao Đồ Long, nên hóa buồn bực mà thế.

Ân Tố Tố nước mắt lưng tròng, nói:

– Vợ chồng mình có cùng chết với lão một lượt cũng chẳng sao, có điều.. đằng này..

Trương Thúy Sơn nắm vai nàng, an ủi:

– Nàng nói đúng, chúng mình có con rồi, không thể liều chết với lão được. Lão tử tế thì thôi. Nếu hành hung tác ác, mình chỉ còn cách đành phải giết lão. Dẫu sao lão cũng mù lòa, không làm gì nổi chúng mình đâu.

Ân Tố Tố từ ngày mang thai không hiểu sao tự nhiên trở nên nhân từ. Hồi còn là thiếu nữ, một lúc giết cả chục mạng người nàng cũng không coi vào đâu, giờ đây làm thịt một con thú nàng cũng không nỡ. Có lần Trương Thúy Sơn bắt được một con hươu mẹ, con hươu con chạy theo về tận hang này, Ân Tố Tố đòi thả con mẹ ra, dù sau đó ba người phải ăn trái cây dại mấy ngày. Lúc này nghe Trương Thúy Sơn nói phải giết Tạ Tốn, nàng bất giác run lên.

Ân Tố Tố đang tựa vào người Trương Thúy Sơn, nên lúc run, chàng nhận biết ngay. Chàng nhìn vẻ hiền dịu của nàng, cười nói:

– Chỉ mong lão ta không nổi điên. Mình không rắp tâm hại người, song phải đề phòng mới được.

Ân Tố Tố nói:

– Đúng thế. Nếu lão ta lại phát điên, mình có cách gì chế ngự không? Hay là khi chuẩn bị thức ăn cho lão, mình bỏ độc dược vào.. không, không, có lẽ lão không phát điên đâu, chúng mình đa nghi quá đấy thôi.

Trương Thúy Sơn nói:

– Ta có cách này. Từ mai trở đi, mình dời vào sâu trong hang, bên ngoài đào một cái hào sâu, trên trải da và đất mềm.

Ân Tố Tố nói:

– Cách ấy kể cũng hay, nhưng ngày ngày chàng ra ngoài săn bắt, lỡ bị lão ta hành hung..

Trương Thúy Sơn nói:

– Ta một mình bỏ chạy dễ dàng, hễ thấy tình huống nguy nan, ta chạy lên mấy mỏm đá tai mèo, lão bị mù đuổi sao nổi?

Sáng sớm hôm sau, Trương Thúy Sơn bắt tay đào một cái hố sâu trước hang. Không có cuốc xẻng, phải bẻ cành cây làm dụng cụ, tốn sức mà kết quả chẳng là bao. May nhờ nội lực thâm hậu, bảy ngày sau chàng cũng vất vả đào xong một cái hố sâu ba trượng.

Thấy Tạ Tốn thần sắc ngày càng có vẻ bất thường, chốc chốc lại múa thanh đao Đồ Long như điên, Trương Thúy Sơn càng gắng đào sâu thêm, dự tính đến độ sâu năm trượng, sẽ cắm chông dưới đáy. Hố này trên rộng dưới hẹp, Tạ Tốn không tiến vào hang xâm phạm Ân Tố Tố thì thôi, nếu tiến vào ắt sẽ sa xuống hố. Cạnh hố chất sẵn không ít hòn đá lớn, khi lão sa xuống hố, sẽ dùng đá mà ném.

Xế trưa hôm đó, thấy Tạ Tốn cứ đi đi lại lại ở bên ngoài, cách cửa hang dăm trượng. Trương Thúy Sơn không dám tiếp tục đào, sợ lão nghe tiếng động sinh nghi ngờ. Chàng cũng không dám đi xa săn thú, chỉ thủ ở bên cạnh, theo dõi động tĩnh. Chỉ nghe Tạ Tốn luôn mồm thóa mạ, từ ông Trời đến Phật tổ tây phương, Quan Âm Đông Hải, Ngọc hoàng trên trời đến Diêm vương dưới đất, tiếp đó lão chửi rủa từ Tam hoàng Ngũ đế đến Nghiêu Thuấn Vũ Thang, Tần hoàng Đường tông, văn thì Khổng Mạnh, võ thì Quan Nhạc[34], bất kể đại thánh hiền, đại anh hùng đều bị lão chửi rủa thậm tệ. Tạ Tốn là người có học, nên khi nghe lão ta chửi bới, Trương Thúy Sơn thấy có nhiều câu khá thú vị.

Bỗng Tạ Tốn chửi tới các nhân vật võ lâm, từ Hoa Đà sáng tạo Ngũ Cầm Hí, tới Đạt Ma tổ sư của phái Thiếu Lâm, Thần quyền tán thủ của Nhạc Vũ Mục, ai và thứ gì cũng bị lão chửi tuốt. Có điều là lão không chửi suông, mà mỗi môn phái lão đều vạch rõ khuyết điểm, thiếu sót đâu ra đấy, hễ chửi là đúng. Nghe lão chửi từ đời Đường đời Tống, đến Đông Tà, Tây Độc, Nam Đế, Bắc Cái, Trung Thần Thông cuối thời Nam Tống, đến Quách Tĩnh, Dương Quá, sau cùng chửi thậm tệ tổ sư phái Võ Đang Trương Tam Phong.

Lão chửi ai cũng mặc, đằng này lão nhục mạ Trương Tam Phong, bảo Trương Thúy Sơn làm sao nhịn nổi? Chàng toan lên tiếng đốp lại, đột nhiên Tạ Tốn thét lớn:

– Trương Tam Phong không ra gì, đệ tử Trương Thúy Sơn của hắn càng chẳng ra gì, ta phải bóp chết con vợ nó cái đã!

Đoạn lão xông tới, vượt qua bên cạnh Trương Thúy Sơn, xông vào hang.

Trương Thúy Sơn vội đuổi theo, chỉ nghe "hịch" một tiếng, Tạ Tốn đã sa xuống hố. Thế nhưng đáy hố chưa cắm chông, lão chưa bị thương, chỉ vì bất ngờ mà kinh hoảng thôi. Trương Thúy Sơn dùng ngay cành cây đang cầm, thấy Tạ Tốn từ dưới hố leo lên, chàng giáng mạnh xuống đầu lão ta. Tạ Tốn nghe tiếng gió, quơ tay trái chộp được cành cây, giật mạnh một cái. Trương Thúy Sơn cầm không chắc, cành cây tuột khỏi tay. Cú giật của Tạ Tốn rất mạnh, khiến hổ khẩu Trương Thúy Sơn bị rách, lòng bàn tay bị xước tóe máu. Tạ Tốn thì theo thế giật lại tụt xuống đáy hố.

Lúc này Ân Tố Tố đang trở dạ, nàng đau bụng đã nửa ngày, thoạt tiên thấy Tạ Tốn đi lại bên ngoài hang, nàng không dám nói cho phu quân biết việc mình trở dạ, sợ Tạ Tốn nghe được sẽ tìm cách gây sự sớm hơn. Bây giờ thấy tình thế nguy cấp, nàng cố nén cơn đau xé ruột, nhấc thanh trường kiếm đặt bên cạnh ném cho Trương Thúy Sơn.

Trương Thúy Sơn chụp lấy cán kiếm, nghĩ thầm: "Tạ Tốn võ công cao hơn ta quá nhiều, lão nhảy lên mà ta chém xuống, thì thể nào thanh kiếm cũng bị lão đoạt mất ngay". Trong lúc nguy cấp, chàng bèn nghĩ cách: "Lão mù lòa, sở dĩ đoạt được vũ khí của ta là nhờ nghe tiếng gió mà vũ khí phát ra".

Vừa lúc ấy, Tạ Tốn cười ha hả, lại tung mình nhảy lên. Trương Thúy Sơn nhắm chính xác đường lên của lão, chĩa mũi kiếm đúng đầu lão, giữ nguyên bất động. Tạ Tốn phóng người lên, thế phóng cực mạnh, đâm đầu vào đúng mũi kiếm chờ sẵn, vì thanh kiếm bất động, vô thanh vô tức, nên dẫu võ công cao siêu đến mấy, lão cũng không thể biết. Chỉ nghe "phập" một tiếng, Tạ Tốn rú lên, mũi kiếm đã đâm vào trán lão, sâu hơn một tấc. Phải nói lão ứng biến cực nhanh, mũi kiếm vừa chạm vào đầu, lão liền ngả đầu ra phía sau, đồng thời sử gấp công phu "Thiên cân trụy" rơi xuống hố. Giả dụ lão biến chiêu chậm một chút, mũi kiếm đâm thẳng vào óc thì lão đã chết tươi. Tuy thoát chết, song lão cũng đã bị trọng thương, máu chảy ròng ròng trên mặt, thanh kiếm cắm ở trán vẫn còn rung động.

Tạ Tốn rút bật thanh kiếm ra, xé vạt áo buộc vết thương, thấy choáng váng đầu óc, mắt hoa, tự biết bị thương không nhẹ, bệnh điên nổi lên, lão rút thanh đao Đồ Long bên thắt lưng ra, múa vù vù bảo vệ đỉnh đầu, lại nhảy lên lần thứ ba. Trương Thúy Sơn vác các hòn đá ném xuống, đều bị thanh đao gạt ra, chỉ thấy đao hoa như tuyết, hàn quang loang loáng. Tạ Tốn nhảy được lên khỏi hố, tiến thẳng vào hang. Trương Thúy Sơn lùi dần từng bước, đau đớn nghĩ rằng hôm nay chàng và Ân Tố Tố sẽ táng mạng mà không được nhìn thấy đứa con chào đời.

Tạ Tốn sợ Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố lẻn qua chỗ lão mà ra khỏi hang thì lão không thể đuổi kịp, bèn tay phải cầm thanh đao, tay trái cầm trường kiếm, sử dụng những chiêu số khống chế một phạm vi thật rộng, bao trùm hơn hai trượng vuông, tin chắc hai người không tài gì thoát ra.

Bỗng "oa, oa!" từ trong hang truyền ra tiếng khóc hài nhi, Tạ Tốn sửng sốt, tức thời dừng bước, tiếng hài nhi chào đời cứ oa oa liên tiếp.

Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố biết đại nạn lâm đầu, nhưng họ bất chấp, không thèm để ý đến Tạ Tốn mà chỉ chăm chú ngắm hài nhi vừa lọt lòng, đó là một bé trai cứ liên tục vùng vẫy tay chân, tiếng khóc rất to. Trương Ân hai người thừa biết Tạ Tốn chỉ cần một đao chém tới thì phu thê họ và hài nhi cùng bỏ mạng tức thời. Họ không nói nửa lời, mắt cũng không nhìn ngang, trong lòng thầm đa tạ ông Trời đã cho phu thê họ có dịp nhìn thấy hài nhi sơ sinh, được ngắm nó thêm giây lát nào là hưởng diễm phúc giây lát ấy. Phu thê họ đã mãn nguyện, không nghĩ gì đến số phận của mình, nếu giữ được mạng sống cho hài nhi thì tốt nhất, nhưng họ biết chẳng có hi vọng nên cũng chẳng trông mong.

Hài nhi sơ sinh vẫn khóc oa oa rất to. Đột nhiên lương tri của Tạ Tốn trỗi dậy, cuồng tính dịu hẳn đi, đầu óc trở nên tỉnh táo sáng suốt, nhớ lại hôm cả gia đình mình bị sát hại, vợ lão mới sinh hài nhi được ít ngày, rốt cuộc cả đứa bé sơ sinh cũng không thoát khỏi độc thủ của địch. Tiếng khóc oa oa lúc này gợi lão nhớ tới bao nhiêu chuyện cũ: Sự ân ái của phu thê, sự hung tàn của kẻ địch, cảnh hài nhi vô tội bị quật chết thành một đám thịt bầy nhầy, sự lênh đênh cô khổ của lão, sự khổ công luyện võ mà vẫn chưa cách gì báo hận, nay tuy đã có thanh đao Đồ Long nhưng chưa tìm ra bí mật của nó.. Lão đứng ngẩn ngơ xuất thần, vẻ mặt lúc thì hiền dịu vui tươi, lúc lại nghiến răng trợn mắt.

Trong giây lát trước đó, cả ba người lâm vào tình thế một mất một còn, nhưng ngay từ tiếng khóc oa oa đầu tiên của hài nhi, cả ba bỗng dưng cùng toàn thần chú tâm vào đứa bé.

Tạ Tốn đột nhiên hỏi:

– Con trai hay con gái?

Trương Thúy Sơn nói:

– Là con trai.

Tạ Tốn nói:

– Tốt lắm. Thế đã cắt rốn chưa?

Trương Thúy Sơn nói:

– Phải cắt rốn ư? À, phải rồi, phải rồi, quên biến đi mất.

Tạ Tốn quay ngược thanh kiếm, đưa phía cán ra. Trương Thúy Sơn nhận kiếm, cắt rốn cho đứa bé, bấy giờ mới nghĩ đến việc Tạ Tốn đang ở ngay bên cạnh, song lão ta không hề động thủ nên chàng lấy làm lạ, ngoảnh nhìn lão, thấy vẻ mặt của lão đầy vẻ quan hoài, tựa hồ lão sẵn sàng giúp một tay không bằng.

Ân Tố Tố nói, giọng yếu ớt:

– Để thiếp bế con.

Trương Thúy Sơn trao đứa bé vào lòng Ân Tố Tố. Tạ Tốn lại nói:

– Ngươi đã đun nước để tắm cho bé chưa?

Trương Thúy Sơn bật cười, nói:

– Tại hạ thật hồ đồ, chẳng chuẩn bị gì cả, làm cha thế này thật vô dụng.

Nói xong định chạy đi đun nước, nhưng vừa dợm bước, thấy thân hình cao lớn của Tạ Tốn sừng sững trước đứa bé, chàng sợ run lên. Tạ Tốn nói:

– Thôi ngươi ở lại săn sóc phu nhân và hài nhi, để ta đi đun nước cho.

Lão giắt thanh đao vào thắt lưng, đi ra khỏi hang, lúc tới bên cái hố thì nhẹ nhàng nhảy qua.

Lát sau quả nhiên Tạ Tốn đã bưng một chậu nước nóng vào, Trương Thúy Sơn tắm cho đứa bé. Tạ Tốn nghe tiếng khóc to của nó, hỏi:

– Bé giống cha hay giống mẹ?

Trương Thúy Sơn mỉm cười nói:

– Có vẻ giống mẹ nhiều hơn, không mập, mặt trái xoan.

Tạ Tốn thở dài, thấp giọng nói:

– Chỉ mong sau này khôn lớn, đa phúc đa thọ, ít gặp khổ nạn.

Ân Tố Tố nói:

– Tạ tiền bối thấy tướng mạo cháu bé không được tốt hay sao?

Tạ Tốn nói:

– Không phải thế. Có điều là nếu nó giống phu nhân thì sẽ quá tuấn mỹ, e rằng phúc trạch sẽ không nhiều, sau này bước vào đời dễ gặp nhiều tai ách.

Trương Thúy Sơn cười nói:

– Tạ tiền bối nghĩ quá xa, bốn chúng ta ở hòn đảo Bắc Cực này, sống đến già ở đây, làm gì còn có chuyện bước vào đời nữa?

Ân Tố Tố vội nói:

– Không, không! Chúng ta người lớn có thể không về, nhưng thằng bé này chẳng lẽ để nó lênh đênh cô khổ suốt đời trên hoang đảo? Vài chục năm nữa, ba chúng ta chết rồi, nó làm bạn với ai? Khi nó trưởng thành, làm sao lấy vợ sinh con?

Nàng từ nhỏ nhiễm tính cha, trong Thiên Ưng giáo toàn chứng kiến những sự độc ác, tàn bạo, cho nên bước vào đời hành sự cũng theo cách đó, coi là sự thường. Từ khi kết thành phu thê với Trương Thúy Sơn, nàng dần dà hướng thiện, hôm nay lại được làm mẹ, lòng nhân ái nảy sinh, nên toàn tâm toàn ý nghĩ đến con.

Trương Thúy Sơn buồn bã nhìn Ân Tố Tố, đưa tay vuốt tóc nàng, nghĩ thầm: "Hoang đảo này cách xa Trung thổ hàng vạn dặm, làm sao về được?" Nhưng chẳng nỡ làm cho nàng đau lòng, nên không nói ý nghĩ đó ra.

Tạ Tốn bỗng nói:

– Trương phu nhân nói đúng lắm. Ba chúng ta coi như xong đời, nhưng sao lại để đứa bé chết già trên hoang đảo, không được hưởng niềm hoan lạc của thế gian? Trương phu nhân, ba người mình phải dốc hết trí lực, thể lực, làm sao đưa cháu bé về Trung thổ.

Ân Tố Tố cả mừng, run rẩy đứng lên. Trương Thúy Sơn vội giơ tay đỡ nàng, lo lắng nói:

– Tố Tố, nàng làm gì vậy, cứ nằm nghỉ đã.

Ân Tố Tố nói:

– Không, ngũ ca, vợ chồng mình phải khấu đầu lạy tạ đại ân đại đức của Tạ tiền bối.

Tạ Tốn xua tay, nói:

– Đừng, đừng làm thế, cháu bé đã được đặt tên chưa?

Trương Thúy Sơn nói:

– Chưa, tiền bối học vấn uyên bác, xin hãy cho hài nhi một cái tên.

Tạ Tốn trầm ngâm nói:

– Ừm, phải đặt một cái tên thật hay, để ta nghĩ xem đã..

Ân Tố Tố chợt nghĩ thầm: "Chẳng lẽ quái nhân này lại yêu trẻ đến thế, nếu lão coi đứa bé như con mình, thì đứa bé sống trên đảo này sẽ không sợ lão sát hại, dù lão có nổi cơn điên, chắc cũng sẽ không hạ độc thủ", bèn nói:

– Tạ tiền bối, tiểu nữ vì hài nhi này mà khẩn khoản cầu xin tiền bối một việc.

Tạ Tốn hỏi:

– Việc gì?

Ân Tố Tố nói:

– Xin tiền bối nhận hài nhi làm nghĩa tử! Lớn lên, nó sẽ phụng dưỡng tiền bối như thân sinh phụ thân. Có tiền bối che chở, nó sẽ không sợ bị ai ăn hiếp. Ngũ ca, chàng thấy có được chăng?

Trương Thúy Sơn hiểu ngay mối lo của nàng, nói:

– Hay lắm! Hay lắm! Tạ tiền bối, xin hãy chấp nhận lời cầu khẩn của chúng tôi.

Tạ Tốn buồn rầu nói:

– Thân sinh hài tử của ta bị người ta đập chết, thành một đống máu thịt bầy nhầy, các ngươi biết không?

Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố nhìn nhau, cảm thấy điều lão vừa nói lại có vẻ điên khùng, nhưng nghĩ cái cảnh thảm khốc mà lão phải chịu đựng thì cũng không khỏi se lòng. Tạ Tốn nói tiếp:

– Con ta không chết thì năm nay nó mười tám tuổi, ta đem võ công một đời truyền thụ cho nó, hà hà, thì nó cũng chẳng kém gì Võ Đang thất hiệp.

Câu nói đó vừa có vẻ thê lương, vừa có phần cuồng ngạo, trong cái tự phụ lại chứa chất nỗi thương tâm vô hạn. Ân Tố Tố và Trương Thúy Sơn bất giác cảm thấy ân hận: "Giá hôm trước trên núi băng mình không hủy hoại cặp mắt của lão ta, bốn người chung sống ở hoang đảo này, không lo nghĩ gì, chẳng hay lắm ru?"

Ba người im lặng giây lát. Trương Thúy Sơn nói:

– Tạ tiền bối, nếu tiền bối nhận hài nhi này làm nghĩa tử, chúng tôi sẽ cho nó đổi sang họ Tạ.

Tạ Tốn thoáng lộ vẻ vui mừng, nói:

– Ngươi chịu để nó mang họ Tạ ư? Đứa con của ta bị chết, tên nó là Tạ Vô Kỵ đó.

Trương Thúy Sơn nói:

– Nếu tiền bối muốn, thì thằng bé này cũng lấy tên là Tạ Vô Kỵ đi.

Tạ Tốn cả mừng, chỉ lo Trương Thúy Sơn nói rồi sau lại hối hận, bèn hỏi:

– Các ngươi đem con cho ta, còn chính mình thì sao?

Trương Thúy Sơn nói:

– Hài nhi dù họ Trương hay họ Tạ, chúng tôi cũng yêu thương nó. Sau này nó hiếu thuận với song thân, kính ái nghĩa phụ, không phân biệt thân sơ, há chẳng hay lắm sao? Tố Tố, nàng thấy thế nào?

Ân Tố Tố ngần ngại một chút, rồi nói:

– Chàng bảo sao thì là vậy. Hài nhi có thêm một người yêu thương thì càng may cho nó.

Tạ Tốn vái hai người một cái thật dài, nói:

– Vậy Tạ mỗ đa tạ hai vị, cái hận mù mắt, từ nay xóa bỏ. Tạ mỗ tuy mất con, nay lại có con, tương lai Tạ Vô Kỵ dương danh thiên hạ, người đời sẽ biết phụ mẫu của nó là Trương Thúy Sơn, Ân Tố Tố, còn nghĩa phụ của nó là Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn.

Ân Tố Tố ban nãy hơi ngần ngại, vì nàng nghĩ Tạ Vô Kỵ, con của Tạ Tốn, đã bị người ta quật chết thảm khốc, nay con mình lấy tên đó e chẳng lành; nhưng khi thấy Tạ Tốn quá ư sung sướng, hẳn rồi đây lão sẽ cưng chiều thằng bé hết mực, thằng bé sẽ được hưởng rất nhiều may mắn, cái tình mẫu tử nó thế, việc dù nhỏ nhưng miễn có lợi cho con, thì đều hi sinh cả, bèn nói:

– Tiền bối có muốn bế nó một chút không?

Tạ Tốn chìa hai tay ra, bồng đứa bé bằng hai cánh tay, sung sướng quá chảy cả nước mắt, hai tay run run, nói:

– Trương phu nhân.. ẵm nó đi, hình dạng ta thế này, nó sợ chết khiếp mất.

Thực ra trẻ sơ sinh đâu biết gì, nhưng lời nói của Tạ Tốn đã chứng tỏ lão yêu thương thằng bé lắm lắm. Ân Tố Tố mỉm cười, nói:

– Tiền bối thích thì cứ bồng nó một lát; sau này tiền bối còn dắt nó đi chơi.

Tạ Tốn nói:

– Hay lắm, hay lắm!

Nghe thằng bé khóc to, lão nói:

– Thằng bé đói rồi, cho nó bú thôi! Ta ra bên ngoài đây.

Thực ra lão mù lòa, Ân Tố Tố có vạch vú cho con bú cũng không sao, nhưng khi lão nổi điên thô bạo bao nhiêu đến khi tỉnh táo lại thành bậc quân tử nho nhã bấy nhiêu.

Trương Thúy Sơn nói:

– Tạ tiền bối..

Tạ Tốn ngắt lời, nói:

– Này, giờ chúng ta đã thành người một nhà, đừng có xưng hô tiền bối hậu bối gì nữa, nghe xa cách lắm. Để ta nói mà nghe, ba chúng ta hãy kết thành kim lan huynh đệ, lợi cả cho thằng bé sau này.

Trương Thúy Sơn nói:

– Các hạ là cao nhân tiền bối, vợ chồng chúng tôi thân phận thua kém quá xa so với tiền bối, sao dám với cao?

Tạ Tốn nói:

– Ồ, là con nhà võ, sao còn cổ hủ thế? Này ngũ đệ, ngũ muội, hai người gọi ta là đại ca, được hay không thì bảo?

Ân Tố Tố cười đáp:

– Để muội gọi đại ca trước cho, hai ta kết thành huynh muội. Nếu ngũ ca còn gọi đại ca là tiền bối thì muội cũng thành tiền bối của ngũ ca!

Trương Thúy Sơn nói:

– Đã thế, tiểu đệ đành phải tuân lệnh đại ca vậy.

Ân Tố Tố nói:

– Ba chúng ta cứ định trước như thế đã. Vài hôm nữa muội khỏe lại, mình sẽ làm lễ cáo tế thiên địa, bái kết nghĩa phụ, nghĩa huynh.

Tạ Tốn cười ha hả, nói:

– Đại trượng phu một lời đã nói, suốt đời không đổi, hà tất phải tế thiên cáo địa? Tặc lão thiên không lo nổi cho chính mình, Tạ Tốn này hận tặc lão thiên vô cùng.

Nói xong hiên ngang đi ra khỏi hang, chỉ nghe vọng vào tiếng cười ha hả đắc ý của lão. Trương Ân hai người từ dạo biết Tạ Tốn đến nay chưa bao giờ thấy lão hoan hỉ như thế.

Từ đó ba người toàn tâm toàn ý nuôi dưỡng thằng bé. Tạ Tốn thời trẻ vốn làm thợ săn, hiệu xưng Kim Mao Sư Vương, kỹ năng săn bắt và thuần dưỡng muông thú là vô song trong thiên hạ. Trương Thúy Sơn miêu tả tỉ mỉ địa hình trên đảo, đưa Tạ Tốn đi một lượt là Tạ Tốn nhớ hết. Từ đó việc săn bắt gấu, hươu do một mình Tạ Tốn lo liệu.

Thấm thoắt mấy năm trôi qua, ba người sống trên đảo bình yên vô sự. Thằng bé không bệnh tật gì, càng lớn càng khỏe mạnh. Trong ba người, hóa ra Tạ Tốn lại cưng chiều nó nhất, mỗi khi nó quá ương ngạnh, Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố định trách phạt nó, Tạ Tốn lại can ngăn. Mấy lần như thế, nó biết có nghĩa phụ che chở nên hễ thấy phụ mẫu nổi giận là lập tức chạy sang cầu cứu Tạ Tốn. Trương Ân hai người chỉ còn còn cách lắc đầu cười nụ, nói đại ca nuông nó quá hóa hư.

Năm Tạ Vô Kỵ lên bốn, Ân Tố Tố dạy nó học chữ. Sinh nhật năm tuổi, Trương Thúy Sơn nói:

– Đại ca, thằng bé học võ được rồi đấy, từ hôm nay đại ca dạy cho nó được chưa?

Tạ Tốn lắc đầu:

– Chưa được, võ công của huynh quá sâu, trẻ con không thể lĩnh hội nổi. Đệ hãy truyền tâm pháp Võ Đang cho nó trước đi, đến năm nó lên tám, huynh sẽ dạy nó. Dạy hai năm thì các ngươi có thể trở về được rồi!

Ân Tố Tố ngạc nhiên hỏi:

– Đại ca nói trở về là về đâu? Về Trung thổ ư?

Tạ Tốn nói:

– Mấy năm nay huynh ngày đêm lưu tâm nghe ngóng hướng gió và thủy lưu, hàng năm, đến thời gian đêm tối dài nhất đều có gió bắc thổi liên tiếp mấy chục ngày đêm. Mình có thể đóng một cái bè gỗ lớn, giương buồm lên, thuận theo gió bắc xuôi bè về nam, nếu tặc lão thiên không phá đám thì các người có thể về đến Trung thổ.

Ân Tố Tố nói:

– Chỉ vợ chồng muội thôi ư? Còn đại ca sao không đi cùng?

Tạ Tốn nói:

– Ta mù lòa, về Trung thổ mà làm gì?

Ân Tố Tố nói:

– Dù đại ca không đi cùng, chúng tôi cũng quyết không bỏ đại ca ở lại một mình. Thằng bé chắc cũng không chịu, thiếu nghĩa phụ, ai cưng chiều nó đây?

Tạ Tốn thở dài:

– Huynh cưng chiều nó mười năm là đủ rồi. Tặc lão thiên vốn hay sinh sự với huynh, nếu thằng bé ở bên huynh quá lâu, chỉ e tặc lão thiên giận nó, giáng họa cho nó mất thôi.

Ân Tố Tố run sợ, mong rằng Tạ Tốn chỉ thuận miệng nói thế thôi, nên cũng không để tâm.

Trương Thúy Sơn truyền thụ cho thằng bé nội công thật căn cơ, nghĩ rằng nó còn nhỏ, chỉ cốt sao khỏe mạnh là đủ, chứ ở trên hoang đảo này thì đánh nhau với ai. Tạ Tốn tuy có nhắc đến việc trở về Trung thổ, nhưng sau đó cũng không lần nào đề cập nữa, xem ra chỉ là cái hứng nhất thời, không thể theo đó mà làm.

Đến năm thứ tám, Tạ Tốn quả nhiên muốn Vô Kỵ theo lão học võ. Khi truyền thụ, lão không gọi Trương Ân hai người đứng bên cạnh xem, mà vợ chồng họ cũng tuân thủ quy củ võ lâm, tránh ra một chỗ thật xa, về sự tiến triển võ công của thằng bé, họ cũng không dò hỏi, tin rằng những gì Tạ Tốn truyền cho đều là tuyệt học cao minh dị thường.

Trên đảo không có gì đáng nhớ, tháng ngày trôi như nước chảy, thắm thoắt lại hơn một năm nữa qua mau.

Từ khi Vô Kỵ ra đời, Tạ Tốn trong lòng đã có chốn ký thác nên không để tâm đến thanh đao Đồ Long nữa. Một đêm nọ Trương Thúy Sơn mất ngủ, nửa đêm ra ngoài tản bộ, dưới ánh trăng thấy Tạ Tốn ngồi xếp bằng trên một tảng đá, tay nắm thanh đao Đồ Long, đang cúi đầu trầm tư. Trương Thúy Sơn giật mình, định tránh đi, nhưng Tạ Tốn đã nghe thấy tiếng chân của chàng, nói:

– Ngũ đệ này, tám chữ "Võ lâm chí tôn, bảo đao Đồ Long" xem ra chỉ là hư vọng.

Trương Thúy Sơn tới gần, nói:

– Trong võ lâm có rất nhiều chuyện hoang đường, người thông minh tài trí như đại ca sao lại quá tin vào mấy truyền thuyết về một thanh đao kia chứ?

Tạ Tốn nói:

– Ngũ đệ có điều chưa biết đấy, huynh từng nghe một vị cao tăng của phái Thiếu Lâm là Không Kiến đại sư nói về việc này rồi.

Trương Thúy Sơn nói:

– Ồ, Không Kiến đại sư ư? Nghe nói đó là sư huynh của chưởng môn phái Thiếu Lâm Không Văn đại sư, viên tịch đã lâu.

Tạ Tốn gật đầu nói:

– Phải, Không Kiến đại sư chết rồi, là do huynh đánh chết đó.

Trương Thúy Sơn cả kinh, nghĩ trong giang hồ có câu "Thiếu Lâm thần tăng, Kiến, Văn, Trí, Tính" là chỉ bốn vị hòa thượng võ công tối cao của phái Thiếu Lâm đương thời Không Kiến, Không Văn, Không Trí, Không Tính; sau nghe tin Không Kiến đại sư viên tịch vì bệnh, không ngờ là bị Tạ Tốn đánh chết.

Tạ Tốn thở dài, nói:

– Không Kiến đại sư quá ư cố chấp, toàn để ta đánh, trước sau không chịu đánh trả, huynh đánh Không Kiến đại sư được mười ba quyền thì đại sư chết.

Trương Thúy Sơn càng thêm kinh hãi, nghĩ thầm: "Người nào chịu nổi một quyền một cước của đại ca mà chưa chết, đã được xếp vào loại đệ nhất cao thủ võ lâm, vậy mà vị thần tăng của phái Thiếu Lâm chịu được tới quyền thứ mười ba, thân thể có lẽ còn hơn thiết thạch".

Chỉ thấy Tạ Tốn thần sắc thê lương, có vẻ hối hận, hẳn trong vụ này ẩn giấu điều gì rất hệ trọng. Từ dạo chàng kết nghĩa huynh đệ với Tạ Tốn đến nay đã tám năm cùng sống trên hoang đảo, tình như cốt nhục, song đối với vị nghĩa huynh này, dù kính trọng bảy phần vẫn còn ba phần kinh hãi, không dám hỏi nhiều, chỉ lo khơi lại hận cũ của lão.

Tạ Tốn nói tiếp:

– Huynh bình sinh chỉ khâm phục có vài người. Tôn sư Trương chân nhân, huynh ngưỡng mộ đã lâu, nhưng chưa có duyên diện kiến. Còn Không Kiến đại sư quả là một vị cao tăng. Tuy về võ công Không Kiến đại sư chẳng nổi danh như hai sư đệ Không Trí, Không Tính, nhưng dưới mắt huynh thì hai vị sư đệ kia không thể nào sánh kịp Không Kiến đại sư.

Trương Thúy Sơn cũng từng nghe Tạ Tốn bình phẩm về các nhân vật đương thời, phần đông đều bị lão chê bai, ai được lão chửi bới vài câu, đã được coi là nhân vật hạng nhất, được y tán thưởng một lời lại càng hiếm có; nào ngờ nhắc đến Không Kiến đại sư, lão lại tỏ ý khâm phục như vậy, quả thật bất ngờ, chàng nói:

– Có lẽ vì người ẩn cư thanh tu, ít hành tẩu giang hồ, nên tuy võ học cao siêu mà ít ai biết đến.

Tạ Tốn ngẩng mặt lên trời, lẩm bẩm một mình:

– Tiếc thay một vị kỳ sĩ cái thế trong võ lâm như thế, cuối cùng lại để cho ta đánh chết! Không Kiến đại sư tuy võ công cao siêu, song không lợi hại. Nếu dạo đó Không Kiến đại sư xuất thủ trả đòn thì Tạ Tốn này đâu còn mạng sống đến hôm nay?

Trương Thúy Sơn nói:

– Không lẽ võ công của vị cao tăng ấy còn thâm hậu hơn cả đại ca?

Tạ Tốn nói:

– Huynh làm sao bì kịp Không Kiến đại sư? Huynh còn thua xa, thua xa lắm! Đúng là cách nhau một trời một vực!

Lúc nói câu này, sắc diện và giọng nói Tạ Tốn đầy vẻ kính ngưỡng khâm phục.

Trương Thúy Sơn lấy làm lạ, thâm tâm không tin lắm, tự nghĩ ân sư Trương Tam Phong võ công hiếm có trên thế gian, so với Tạ Tốn chỉ e cao hơn nửa bậc, nếu Không Kiến đại sư quả thật so với Tạ Tốn là "một trời một vực", vậy chẳng lẽ còn cao siêu hơn ân sư hay sao? Chàng cũng biết tuy trong danh tính của Tạ Tốn có chữ "Tốn" là khiêm tốn, song tính cách lão cực kỳ kiêu ngạo, nếu võ công của Không Kiến đại sư không thật sự cao siêu chắc chắn Tạ Tốn không khi nào chịu khâm phục như vậy.

Tạ Tốn tựa hồ đoán biết ý nghĩ của chàng, nói:

– Đệ không tin chứ gì? Được, hãy đi gọi Vô Kỵ lại đây, huynh kể chuyện cũ cho nghe.

Trương Thúy Sơn thầm nghĩ lúc tam canh bán dạ này, Vô Kỵ hẳn đã ngủ say, lay nó dậy để nghe chuyện cũ, đối với thằng bé thật vô ích, nhưng đại ca đã ra lệnh, chàng không thể chối từ, bèn đi vào hang lay gọi con dậy. Vô Kỵ nghe nói nghĩa phụ kể chuyện cũ thì reo lên mừng rỡ khiến Ân Tố Tố cũng dậy theo. Ba người cùng đi ra, ngồi xuống bên Tạ Tốn.

Tạ Tốn nói:

– Hài tử, không lâu nữa ngươi sẽ trở về Trung thổ..

Vô Kỵ ngơ ngác:

– Trở về Trung thổ nghĩa là sao ạ?

Tạ Tốn xua xua tay, ngụ ý đừng ngắt lời lão, rồi nói tiếp:

– Nếu chiếc bè chúng ta làm bị chìm dưới biển khơi, hoặc trôi đi mất tăm thì khỏi nói, coi như hết. Nhưng nếu về được Trung thổ, ta dặn ngươi thế này: Tâm địa người đời rất hiểm ác, không được tin bất cứ ai. Trừ phụ mẫu, còn hết thảy mọi người đều rắp tâm hại ngươi. Tiếc rằng thời ta còn nhỏ, không ai nói cho ta biết điều đó. Ôi, mà dù có nói, chắc dạo ấy ta cũng chẳng tin.

"Năm ta lên mười, vì một cơ duyên bất ngờ, ta trở thành môn đệ của một người có võ công cao siêu. Sư phụ của ta thấy ta tư chất cũng khá, nên đem hết tuyệt nghệ truyền thụ cho. Sư đồ ta tình như phụ tử, này ngũ đệ, dạo ấy ta đối với sư phụ cũng ngưỡng mộ kính ái chẳng khác gì ngũ đệ đối với ân sư Trương chân nhân đâu. Năm hai mươi ba tuổi, ta rời sư môn, đi mãi Tây Vực, kết giao với một số bằng hữu rất có danh vọng, được họ quý trọng, coi ta như huynh đệ. Này ngũ muội, lệnh tôn Bạch Mi Ưng Vương thời gian ấy cũng đã kết giao với huynh đó. Rồi ta lấy vợ sinh con, một nhà sum họp hết sức vui vầy.

" Năm ta hai mươi tám tuổi, sư phụ đến thăm gia đình ta mấy ngày, ta rất đỗi vui mừng, toàn gia thành tâm khoản đãi; khi rảnh rỗi, sư phụ lại chỉ giáo thêm cho ta về võ nghệ. Ai ngờ vị cao thủ thành danh trong võ lâm ấy rốt cuộc lại mặt người dạ thú, rằm tháng Bảy năm đó, uống rượu xong, bỗng giở trò cường bạo với thê tử ta.. "

Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố cùng kêu" ôi "một tiếng, việc sư phụ cưỡng gian thê thiếp của đệ tử là điều chưa từng xảy ra trong võ lâm, có thể coi là đại ác sự mà cả trời lẫn người đều căm phẫn.

Tạ Tốn kể tiếp:

– Thê tử ta kêu cứu, phụ thân ta nghe tiếng chạy vào buồng, sư phụ ta thấy sự tình bại lộ liền một quyền đánh chết phụ thân ta, sau đó đánh chết luôn mẫu thân ta, đem đứa con ta chưa đầy năm là Tạ Vô Kỵ..

Vô Kỵ nghe nhắc đến tên mình, lấy làm lạ, hỏi:

– Tạ Vô Kỵ à?

Trương Thúy Sơn mắng nó:

– Không được hỏi, để nghĩa phụ kể.

Tạ Tốn nói:

– Phải, con trai ta trùng tên với ngươi, cũng gọi là Tạ Vô Kỵ. Sư phụ ta túm chân nó lên, quật xuống thành một đống máu thịt bầy nhầy.

Vô Kỵ không nhịn được, lại hỏi:

– Nghĩa phụ, thế y.. y có sống được không?

Tạ Tốn rầu rĩ lắc đầu:

– Không sống được! Sống sao được!

Ân Tố Tố quay qua phía con, xua xua tay, bảo nó đừng hỏi nữa.

Tạ Tốn lặng người hồi lâu, mới kể tiếp:

– Lúc ấy ta thấy tình cảnh đó, sợ hết hồn, ngây ra chưa biết đối phó thế nào với vị ân sư bình sinh ta kính ái bậc nhất, thì đột nhiên sư phụ đã giáng một quyền vào ngực ta. Ta bàng hoàng đến mức không nghĩ đến việc chống đỡ, trúng một quyền liền ngã lăn bất tỉnh. Lúc tỉnh lại, sư phụ ta đã đi mất, chỉ thấy trong nhà ngổn ngang tử thi, phụ mẫu, thê tử, đệ muội, nô bộc, toàn gia mười ba người, đều chết dưới tay sư phụ. Có lẽ y tưởng rằng một quyền đã đánh chết ta nên không hạ độc thủ nữa.

" Ta bị một trận ốm nặng, sau đó ta khổ luyện võ công, ba năm sau đi tìm sư phụ báo cừu. Nhưng công phu của ta còn thua kém y quá xa, gọi là báo cừu, nào ngờ chỉ chuốc thêm nhục, nhưng món nợ máu mười ba nhân mạng kia, làm sao có thể bỏ qua? Thế là ta tìm kiếm mọi danh sư, luyện tập quên ăn quên ngủ, sự khổ công ấy cũng thành tựu phần nào. Năm năm sau, ta tự cảm thấy công phu đại tiến, lại đi tìm sư phụ. Ai ngờ công phu của ta tuy cao, song tài nghệ của lão ta còn cao hơn nhiều, chuyến báo cừu lần thứ hai, ta bị đánh trọng thương.

"Sau khi hồi phục không lâu, ta có được pho quyền phổ Thất Thương Quyền, đường quyền pháp này uy lực quả không tầm thường. Thế là ta chuyên luyện nội kình theo Thất Thương Quyền, hai năm sau thì quyền kỹ đại thành, tự cho mình đã ngang ngửa với các cao thủ đệ nhất trong thiên hạ. Sư phụ ta nếu không có sự kỳ ngộ nào khác, chắc chắn quyết không thể là địch thủ của ta. Ai ngờ lần thứ ba đi tìm lão ta, thì không thấy y ở chốn cũ nữa. Ta nghe ngóng khắp nơi trong giang hồ, vẫn không tìm ra tung tích lão ta, có lẽ lão ta đã lẩn tránh vào một nơi thâm sơn cùng cốc nào đó, đất trời bao la biết đằng nào mà tìm?

Ta vô cùng tức giận, liền đi gây án khắp nơi, giết người phóng hỏa, việc gì cũng làm. Mỗi vụ án, ta đều lưu lại danh tính của sư phụ ta trên tường!"

Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố cùng kêu "à" một tiếng. Tạ Tốn nói:

– Các ngươi đã biết sư phụ ta là ai rồi chứ?

Ân Tố Tố gật đầu, nói:

– Ồ, hóa ra đại ca là đệ tử của Hỗn Nguyên Tích Lịch Thủ Thành Côn.

Hơn hai năm trước, trong võ lâm đột nhiên xảy ra nhiều sóng gió, từ Liêu Đông đến Lĩnh Nam, trong vòng nửa năm xảy ra hơn ba chục vụ đại án, nhiều hào kiệt nổi danh bỗng dưng bị giết một cách mờ ám, hung thủ lần nào cũng lưu lại trên tường cái tên Hỗn Nguyên Tích Lịch Thủ Thành Côn. Người bị hại nếu không phải là chưởng môn phái, thì cũng là một lão anh hùng quảng giao. Mỗi vụ án đều liên quan đến nhiều người. Chỉ cần một vụ cũng đủ chấn động võ lâm, huống hồ liên tiếp hơn ba chục vụ. Dạo đó Võ Đang thất hiệp cũng được lệnh sư phụ xuống núi xác minh, song không lần ra manh mối. Mọi người đều biết rằng có kẻ cố ý giá họa cho Thành Côn. Hỗn Nguyên Tích Lịch Thủ Thành Côn võ công rất cao, trước nay thanh danh rất tốt, trong số nạn nhân lại có mấy vị bằng hữu thâm giao của Thành Côn, nên các vụ án kia tất nhiên không phải do lão gây ra. Song muốn biết hung thủ là ai, trước tiên cần tìm gặp Thành Côn đã, thế nhưng lão lại bỗng dưng biến mất, không chút tung tích, tăm hơi gì cả. Sau một thời gian náo loạn, hơn ba chục vụ án rồi cũng lắng dần. Tuy có hàng trăm hàng ngàn người muốn báo cừu rửa hận, song không biết hung thủ là kẻ nào, ai nấy đành ghi nhớ trong lòng. Nếu hôm nay Tạ Tốn không thổ lộ chân tướng, hẳn Trương Thúy Sơn cũng không bao giờ biết được nguyên ủy sự việc.

Tạ Tốn nói:

– Ta mạo danh Thành Côn gây án, là nhằm bức lão phải ra mặt, dù lão có rụt cổ rụt đầu như con rùa để trốn tránh, thì cũng có hàng ngàn người trong võ lâm đi tìm lão hỏi chuyện, dĩ nhiên phải hơn là một mình ta tìm kiếm.

Ân Tố Tố nói:

– Kế đó cũng hay, có điều là rất nhiều người vô tội phải chết dưới tay đại ca, thành các oan hồn dưới âm phủ, thật tội nghiệp.

Tạ Tốn nói:

– Thế phụ mẫu thê nhi của ta bị Thành Côn sát hại không phải là những người vô tội cả sao? Không tội nghiệp sao? Huynh thấy trước kia tính muội rất sảng khoái, sống chín năm với ngũ đệ, nay nhiễm phải cái tính ủy mị của hắn mất rồi.

Ân Tố Tố nhìn phu quân một cái, mỉm cười, nói:

– Đại ca, các vụ án kia bất ngờ xảy ra, rồi lẳng lặng chìm đi, sau đó đại ca có tìm thấy Thành Côn hay không?

Tạ Tốn nói:

– Không tìm thấy, không tìm thấy! Sau đó ở Lạc Dương ta gặp Tống Viễn Kiều.

Trương Thúy Sơn kinh ngạc, hỏi:

– Gặp đại sư ca Tống Viễn Kiều của tiểu đệ ư?

Tạ Tốn nói:

– Phải, chính là Tống Viễn Kiều, kẻ đứng đầu Võ Đang thất hiệp. Ta đã gây ra nhiều đại án, làm náo loạn đảo điên cả giới giang hồ, sư phụ ta Hỗn Nguyên Tích Lịch Thủ Thành Côn.

Vô Kỵ nói:

– Nghĩa phụ, lão ta xấu xa như thế, sao nghĩa phụ còn gọi lão ta là sư phụ?

Tạ Tốn cười buồn, nói:

– Ta từ nhỏ gọi thế quen miệng rồi. Vả lại, quá nửa võ công của nghĩa phụ là do lão ta truyền thụ. Tuy lão ta cực kỳ xấu xa tệ hại, nghĩa phụ cũng chả phải người tốt, không chừng mọi cái hay, cái dở của nghĩa phụ đều do lão ta dạy cả, cho nên ta vẫn gọi lão là sư phụ.

Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: "Đại ca một đời bị thảm họa, quá căm phẫn, nên hành sự không phân biệt phải trái. Vô Kỵ nghe các chuyện đó, ghi nhớ trong lòng, thì sau này lập thân sẽ rất có hại, vài bữa nữa mình phải giải thích rõ cho nó mới được".

Tạ Tốn nói tiếp:

– Ta thấy sư phụ nín nhịn, nhất quyết không lộ diện như thế, bèn nghĩ rằng nếu không gây một vụ đại án kinh thiên động địa, thì khó lòng bức lão ta xuất hiện. Hiện nay trong võ lâm có hai phái Thiếu Lâm và Võ Đang được đề cao hơn cả, xem chừng phải giết một đệ nhất cao thủ của phái Thiếu Lâm hoặc phái Võ Đang, may ra mới kiến hiệu. Hôm đó ở Mẫu Đơn viên, bên ngoài quán Thanh Hư ở Lạc Dương, ta thấy Tống Viễn Kiều ra tay trừng trị một tên ác bá, võ công rất cao cường, ta quyết định đêm ấy sẽ giết hắn.

Trương Thúy Sơn nghe vậy thì sợ quá, chàng biết đại sư ca không hề bị Tạ Tốn sát hại, nhưng hình dung tình thế hung hiểm lúc đó, tâm tư không khỏi ghê sợ. Tạ Tốn võ công cao hơn hẳn Tống sư ca, huống hồ một người ở ngoài sáng, một kẻ trong bóng tối, nếu thực sự ra tay, đại sư ca khó bề toàn mạng. Ân Tố Tố cũng biết là Tống Viễn Kiều chưa chết, nói:

– Đại ca, chắc là tự dưng đại ca không nỡ giết người vô tội, chứ nếu đại ca giết Tống đại hiệp, thì Trương ngũ hiệp đây sớm đã liều mạng với đại ca, chứ đâu có kết thành huynh đệ.

Tạ Tốn hừ một tiếng, nói:

– Làm gì có chuyện nỡ hay không nỡ? Nếu là hôm nay, ta nể mặt ngũ đệ, sẽ không gây sự với phái Võ Đang; chứ dạo đó, ta chưa biết ngũ đệ, đừng nói Tống Viễn Kiều, có chính là ngũ đệ bị ta gặp chăng nữa, ta cũng giết đã rồi tính sau.

Vô Kỵ lấy làm lạ, hỏi:

– Nghĩa phụ, tại sao nghĩa phụ lại muốn giết phụ thân con?

Tạ Tốn mỉm cười:

– Là nói giả dụ, chứ không phải muốn giết thật.

Vô Kỵ nói:

– Thì ra vậy.

Thằng bé lúc ấy mới hết lo. Tạ Tốn vuốt tóc nó, nói:

– Tặc lão thiên tuy có nhiều trò tệ hại, nhưng rốt cuộc không để ta giết Tống Viễn Kiều, nếu không, ta và thân phụ ngươi đâu có kết thành huynh đệ.

Ngừng giây lát, Tạ Tốn nói tiếp:

– Tối hôm đó, dùng bữa xong, ta ngồi dưỡng thần. Ta biết Tống Viễn Kiều là kẻ đứng đầu Võ Đang thất hiệp, võ công ắt cao siêu hơn người; nếu giáng một đòn không trúng, để hắn chạy thoát, hoặc hắn chỉ bị trọng thương chứ không chết, thì hành tung của ta sẽ bại lộ, mưu kế bức sư phụ xuất đầu lộ diện hóa thành xôi hỏng bỏng không, hào kiệt khắp thiên hạ sẽ dồn vào đánh ta, dù Tạ Tốn này có ba đầu sáu tay cũng chẳng địch nổi. Ta có chết cũng không sao, nhưng mối huyết hải thâm cừu kia làm sao báo được.

Trương Thúy Sơn nói:

– Thế đại ca tỷ thí với đại sư ca của tiểu đệ, sau đó thế nào? Lạ thật, đại sư ca chẳng kể gì với các sư đệ về vụ đó.

Tạ Tốn nói:

– Tống Viễn Kiều trước sau đâu hay biết chút gì, cả đến sáu chữ Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn e rằng hắn cũng chưa nghe bao giờ, bởi lẽ sau đấy ta không đi tìm hắn nữa.

Trương Thúy Sơn thở phào, nói:

– Đa tạ thiên địa!

Ân Tố Tố cười, nói:

– Sao lại đa tạ tặc lão thiên, tặc lão địa, phải đa tạ Tạ đại ca ngay trước mặt mới đúng chứ!

Trương Thúy Sơn và Vô Kỵ cùng cười.

Comments

Comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 8: Mười năm Bắc cực đáp bè về xuôi

Tạ Tốn thong thả kể:

– Tình cảnh tối hôm đó, giờ ta vẫn còn nhớ như in. Ta ngồi trên giường lò trong khách điếm, ngầm vận chân khí, ôn lại trong óc vài lượt pho Thất Thương Quyền. Ngũ đệ, ngươi chưa hề biết đến Thất Thương Quyền của ta, có muốn xem thử hay không?

Trương Thúy Sơn chưa kịp đáp, Ân Tố Tố vội nói:

– Chắc là thần diệu vô song, uy mãnh tuyệt luân. Đại ca, sao lúc đó đại ca không đi tìm Tống đại hiệp?

Tạ Tốn mỉm cười, nói:

– Muội sợ ta thử quyền sẽ đả thương phu quân muội chứ gì? Nếu không thu phát quyền lực tùy ý muốn, thì sao được gọi là "Thất Thương Quyền"?

Nói đoạn lão đứng lên, đi tới bên một cây đại thụ, quát một tiếng như tiếng sấm, giáng một quyền vào thân cây.

Cứ như công lực của lão, thì một quyền kia nếu không làm gãy lìa thân cây, cũng sẽ lõm sâu vào trong gỗ; nào ngờ khi lão thu quyền về, cây ấy không suy suyển gì cả, ngay lớp vỏ cây cũng chẳng hề sây sát. Ân Tố Tố không khỏi thương cảm, nghĩ thầm: "Đại ca ở trên đảo chín năm, võ công bị mất hết rồi. Bao năm nay mình không thấy đại ca ôn luyện, làm gì chẳng mất". Sợ Tạ Tốn đau lòng, nàng vẫn lớn tiếng khen ngợi.

Tạ Tốn nói:

– Ngũ muội, lời khen của muội nghe gượng lắm. Muội tưởng võ công của ta kém hẳn ngày trước, phải không?

Ân Tố Tố nói:

– Ở chốn hoang đảo cực bắc, quanh quẩn chỉ có bốn người thân, còn luyện võ làm chi?

Tạ Tốn hỏi:

– Ngũ đệ, ngươi có nhận biết điều huyền diệu gì chăng?

Trương Thúy Sơn nói:

– Tiểu đệ thấy thế đánh một quyền của đại ca thập phần cương mãnh, vậy mà lúc đánh vào thân cây, đến cái lá cũng không lay động, điều đó tiểu đệ không sao hiểu nổi. Ngay bé Vô Kỵ đánh một quyền, cành cây cũng phải rung chuyển nữa là.

Vô Kỵ nói:

– Con làm được!

Thằng bé chạy tới, đấm "bình" một cái vào thân cây, quả nhiên cành lá rung chuyển, ánh trăng chiếu vào, bóng cây dưới mặt đất chao động không ngừng.

Phu phụ Trương Thúy Sơn thấy quyền của đứa con đánh ra có lực như thế, trong lòng vui mừng, cùng nhìn Tạ Tốn, chờ lão giảng giải đạo lý Thất Thương Quyền.

Tạ Tốn nói:

– Ba ngày sau, lá cây sẽ vàng úa và rụng dần, nửa tháng sau, cây kia sẽ khô héo hết. Ta đã đánh đứt các gân mạch bên trong thân cây rồi.

Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố không khỏi kinh hãi, biết Tạ Tốn không hề nói ngoa. Tạ Tốn rút thanh đao Đồ Long ra khỏi vỏ, chém vào thân cây một nhát, "rầm" một tiếng, nửa trên của cây đại thụ đổ ra phía ngoài. Tạ Tốn thu đao về, nói:

– Các ngươi nhìn xem uy lực Thất Thương Quyền của ta có còn uy mãnh hay không?

Ba người đến nhìn vết đao cắt ngang thân cây, thấy các gân mạch dẫn nước trong lõi cây quá nửa đã bị gãy đứt, bị vặn xoắn, vỡ nát, các thớ gỗ chỗ thì đứt làm vài đoạn, chỗ đứt chỗ không, hiển nhiên một quyền vừa rồi của Tạ Tốn bao hàm nhiều kình lực khác nhau. Trương Ân hai người vô cùng thán phục. Trương Thúy Sơn nói:

– Đại ca, hôm nay quả thật khiến cho tiểu đệ sáng mắt ra rất nhiều.

Tạ Tốn không giấu vẻ đắc ý, nói:

– Một quyền của ta bao gồm bảy kình lực khác nhau, cương mãnh có, âm nhu có, trong cương có nhu, trong nhu có cương, đánh ngang có, chém thẳng có, ép vào có. Đối phương đỡ được kình lực thứ nhất, không đỡ nổi kình lực thứ hai; đỡ được kình lực thứ hai cũng không đỡ nổi kình lực thứ ba. Hà hà, bởi thế mới có tên là Thất Thương Quyền! Ngũ đệ, hôm ngươi đấu chưởng lực với ta, nếu ta sử dụng Thất Thương Quyền, làm sao ngươi chịu thấu?

Trương Thúy Sơn nói:

– Đúng vậy.

Vô Kỵ muốn biết tại sao phụ thân lại đấu chưởng với nghĩa phụ, thấy mẫu thân liên tiếp xua tay nên không dám hỏi việc đó, chỉ nói:

– Nghĩa phụ dạy Thất Thương Quyền cho hài nhi được chăng?

Tạ Tốn lắc đầu:

– Không được!

Vô Kỵ lộ vẻ thất vọng, toan năn nỉ thì Ân Tố Tố cười, nói:

– Vô Kỵ, sao ngươi ngốc thế? Môn võ công tinh diệu của nghĩa phụ ngươi phải có nội công thượng thừa trước đã, rồi mới luyện được.

Vô Kỵ nói:

– Phải rồi, vậy để con luyện nội công thượng thừa rồi sẽ hay.

Tạ Tốn lắc đầu:

– Môn Thất Thương Quyền này không luyện thì hơn. Trong cơ thể mỗi người đều có hai khí âm dương, ngũ hành kim mộc thủy hỏa thổ. Tim thuộc hỏa, phổi thuộc kim, thận thuộc thủy, tì thuộc thổ, gan thuộc mộc. Khi luyện Thất Thương Quyền thì cả bảy bộ phận đều bị thương. Mỗi lần luyện là một lần nội tạng bị tổn hại, nên gọi là Thất Thương, đúng là hại mình trước, hại địch sau. Chính vì ta luyện môn quyền pháp này mà bị thương tâm mạch, thi thoảng nổi cơn điên, không cách gì chế ngự đó.

Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố lúc này mới biết vì sao Tạ Tốn tài trí hơn người, võ công cao cường, nhưng khi nổi điên lại mất hết lý trí.

Tạ Tốn lại nói:

– Nếu như nội lực của ta vững vàng được như Không Kiến đại sư hoặc Trương chân nhân phái Võ Đang rồi mới luyện Thất Thương Quyền, có lẽ đã không bị tổn thương, hoặc chỉ tổn thương chút ít, không đáng ngại. Đằng này dạo đó ta quá nóng lòng báo cừu, phải tốn bao tâm lực mới đoạt được từ tay phái Không Động một bản sao rất cổ của pho Thất Thương Quyền, rồi quyền phổ vừa đến tay là ta đã luyện ngay, chỉ lo quyền công chưa thành mà lão sư phụ chết mất, cừu hận không báo được. Đến lúc phát giác nội tạng đã bị tổn thương nặng thì hết cách cứu chữa. Bấy giờ ta chưa nghĩ ra, phái Không Động nhiều đời tương truyền bản quyền phổ đó, tại sao không có một ai nổi danh thiên hạ về môn công phu này. Ta lại tham lam, thấy pho võ công này khi xuất quyền thì thanh thế lẫm liệt, cực kỳ oai phong. Ngũ muội, muội có hiểu đạo lý bên trong không?

Ân Tố Tố trầm ngâm, nói:

– Ừm, có phải quyền pháp này giống như công phu "tích lịch" [35] gì đó của sư phụ đại ca chăng?

Tạ Tốn nói:

– Chính thế. Sư phụ ta ngoại hiệu Hỗn Nguyên Tích Lịch Thủ, chưởng lực chẳng khác gì sấm sét, uy lực kinh người. Nếu ta tìm thấy lão ta, sử dụng môn Thất Thương Quyền mà đối địch, lão ta sẽ tưởng là môn võ công do y đích thân truyền dạy, đến lúc thân bị trúng đòn, nhận ra mình lầm thì đã muộn rồi. Này ngũ đệ, ngươi đừng trách ta dụng tâm hiểm độc, sư phụ ta bề ngoài có vẻ thô lỗ, nhưng là người đa mưu túc trí số một trong thiên hạ. Nếu không lấy độc trị độc, mối đại cừu kia làm sao báo được.. Ôi, nói mãi mà vẫn chưa đả động tới Không Kiến đại sư. Lại nói tối hôm ấy ta vận khí ôn lại ba lượt Thất Thương Quyền công, rồi vượt tường ra ngoài, toan đi tìm Tống Viễn Kiều.

Ta nhảy qua tường, chân chưa chạm đất, bỗng cảm thấy có ai đó vỗ nhẹ vào vai. Ta giật mình kinh ngạc, với võ công của ta hồi đó, có kẻ giơ tay vỗ vào người mà ta không kịp chống đỡ là một điều khó bề tưởng tượng. Vô Kỵ, ngươi nghĩ coi, cái vỗ vai tuy nhẹ, nhưng nếu người vỗ dồn kình lực vào chưởng, thì có phải ta đã bị trọng thương rồi không? Ta vội đưa tay chộp nhưng chộp hụt, phản kích một quyền cũng chẳng trúng ai; lúc chân trái chạm đất, ta lập tức xoay người lại xem sao, thì lại bị người kia vỗ nhẹ một chưởng vào lưng, kèm theo tiếng thở dài sau câu nói "Biển khổ vô biên, quay lại là bờ".

Vô Kỵ thấy câu chuyện hết sức lý thú, cười hỏi:

– Nghĩa phụ, người kia định đùa với nghĩa phụ à?

Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố đoán người ấy hẳn là Không Kiến đại sư. Tạ Tốn kể tiếp:

– Lúc đó ta lạnh toát cả người như bị rơi xuống vực sâu, người kia võ công như thế, muốn giết ta thật dễ như trở bàn tay. Tám chữ "Biển khổ vô biên, quay lại là bờ" y nói tuy chỉ trong giây lát, nhưng thong thả, đầy lòng từ bi, ta nghe rành rọt từng lời. Nhưng lúc đó ta chỉ cảm thấy vừa sợ vừa giận, quay mình lại, thấy một bạch y tăng nhân đứng cách xa bốn trượng. Lúc ta quay mình, nghĩ bụng y chỉ cách ta ba thước là cùng, nào ngờ vừa vỗ lưng ta xong, y đã bay ra xa những bốn trượng, thân pháp nhanh như thế, bộ pháp nhẹ như thế, thực không ai ngờ.

Lúc đó ta chỉ nghĩ "Có lẽ oan hồn của người bị ta giết hiện ra đòi mạng đây! Chứ làm gì có người sống nào thân pháp nhanh như chớp thế được?" Ta nghĩ đó là ma, thì trở nên can đảm, quát:

– Yêu ma quỷ quái kia, mau cút đi, trời ta không sợ, đất ta chẳng ngán, há ta sợ cô hồn dã quỷ?

Bạch y tăng nhân chắp tay nói:

– Tạ cư sĩ, lão tăng Không Kiến xin chào!

Ta vừa nghe hai chữ "Không Kiến", liền nhớ trên chốn giang hồ có câu "Thiếu Lâm thần tăng, Kiến Văn Trí Tính". Người này đứng đầu bốn vị thần tăng, thảo nào võ công cao siêu như vậy.

Trương Thúy Sơn nghĩ đến vị Không Kiến đại sư này sau đó bị Tạ Tốn đánh mười ba quyền mà chết, thì trong lòng bồn chồn không yên.

Tạ Tốn kể tiếp:

– Bấy giờ ta mới hỏi, có phải là Không Kiến thần tăng của Thiếu Lâm tự hay chăng? Bạch y tăng nhân đáp: "Hai chữ thần tăng, quả không dám nhận. Lão nạp chính là Không Kiến ở Thiếu Lâm tự đây". Ta nói, tại hạ với đại sư vốn không quen biết, sao lại đùa giỡn như thế? Không Kiến đại sư nói: "Lão nạp đâu dám đùa giỡn với cư sĩ? Xin hỏi cư sĩ định đi đâu giờ này?" Ta nói, tại hạ đi đâu thì liên quan gì tới đại sư? Không Kiến đại sư nói: "Có phải đêm nay cư sĩ tính đi giết Tống Viễn Kiều đại hiệp của phái Võ Đang phải không?"

Ta nghe người kia nói trúng ý định thầm kín của ta thì vừa lấy làm lạ, vừa kinh hãi. Người ấy lại nói: "Tạ cư sĩ muốn gây một vụ đại án làm chấn động võ lâm, khích cho Hỗn Nguyên Tích Lịch Thủ Thành Côn xuất đầu lộ diện, để trả thù việc y giết hại toàn gia cư sĩ chứ gì?" Ta nghe lão tăng nói đúng danh tính sư phụ ta thì lại càng kinh hãi. Nên nhớ, việc sư phụ giết hại cả gia đình ta, ta không hề nói cho người ngoài biết. Hành động xấu xa đê tiện ấy, sư phụ ta dĩ nhiên cố giấu, vậy tại sao Không Kiến đại sư lại biết?

Lúc ấy ta bị kích động mạnh, bèn nói, nếu đại sư chịu cho tại hạ biết Thành Côn hiện ở đâu, thì Tạ Tốn này nguyện suốt đời làm trâu ngựa cho đại sư. Không Kiến đại sư thở dài nói: "Hành vi mà Thành Côn đã làm, quả thật nghiệt chướng quá lớn, nhưng Tạ cư sĩ vì nóng giận mà sát hại nhiều nhân vật võ lâm, cũng là tội lớn, tội lớn!" Lúc ấy ta định nói, đại sư đừng có đa quản nhàn sự! Nhưng nghĩ lại thứ võ công mà Không Kiến đại sư vừa hiển thị, ta không phải là đối thủ; huống hồ mình đang phải cầu xin người, bèn nén giận, nói, tại hạ quả thật thế chẳng đặng đừng, Thành Côn lẩn trốn vô ảnh vô tung, bốn biển mênh mông, tại hạ biết tìm lão ta ở đâu bây giờ? Không Kiến đại sư gật đầu, nói: "Lão nạp cũng biết Tạ cư sĩ đầy lòng thù oán, không có chỗ phát tiết. Nhưng Tống Viễn Kiều là đệ tử số một của Trương Tam Phong phái Võ Đang, cư sĩ mà giết Tống Viễn Kiều thì cái họa này to lớn khôn lường". Ta nói, thì chính tại hạ đang muốn gây đại họa, họa càng lớn, càng mau bức Thành Côn xuất hiện.

Không Kiến đại sư nói: "Tạ cư sĩ, cư sĩ mà giết Tống đại hiệp thì Thành Côn không thể không xuất hiện. Nhưng Thành Côn hôm nay không còn là Thành Côn ngày trước; võ công của cư sĩ còn thua xa Thành Côn, mối huyết hải thâm cừu chẳng báo được đâu". Ta nói, Thành Côn là sư phụ của tại hạ, võ công của lão ta thế nào, tại hạ biết rõ hơn đại sư.

Không Kiến đại sư lắc đầu, nói: "Thành Côn có theo học một danh sư, ba năm nay tiến cảnh khó bề tưởng tượng. Cư sĩ tuy luyện được Thất Thương Quyền của phái Không Động, nhưng cũng chưa đủ tài đả thương được Thành Côn đâu".

Ta kinh ngạc quá đỗi, mình bình sinh chưa hề gặp Không Kiến đại sư, vậy mà nhất cử nhất động của mình, Không Kiến đại sư đều thấy rõ. Ta ngẩn người giây lát, rồi hỏi, sao đại sư lại biết? Không Kiến đại sư đáp: "Là Thành Côn kể cho lão nạp đó".

Tạ Tốn kể tới đây, Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố cùng kêu "ủa" một tiếng.

Tạ Tốn nói:

– Các ngươi lúc này nghe kể mà còn kinh ngạc, thử hỏi lúc ấy ta sửng sốt đến mức nào, ta nhảy dựng lên, quát, làm sao Thành Côn biết được? Không Kiến đại sư thong thả nói: "Mấy năm nay, lúc nào Thành Côn cũng ở bên cạnh Tạ cư sĩ, có điều y luôn luôn cải trang một cách dễ dàng, nên cư sĩ không nhận ra y đó thôi". Ta nói, hừ, tại hạ mà lại không nhận ra lão ta ư? Dù lão ta có hóa thành tro, tại hạ cũng nhận ra. Không Kiến đại sư nói: "Tạ cư sĩ, cư sĩ không phải là người thô tâm đại ý, nhưng mấy năm qua cư sĩ chỉ chăm chăm luyện võ báo cừu, chẳng để ý gì tới mọi thứ quanh mình. Cư sĩ ở ngoài sáng, Thành Côn ở trong tối, không phải cư sĩ không nhận ra được, mà là cư sĩ không để tâm nhận diện".

Câu nói đó, ta không thể không tin, huống hồ Không Kiến đại sư là cao tăng lừng danh thiên hạ, đâu có lừa dối ta làm chi. Ta nói, nếu thế, sao lão ta không giết tại hạ đi, cho khỏi rắc rối? Không Kiến đại sư nói: "Nếu Thành Côn có ý hại Tạ cư sĩ, y chỉ cần phẩy tay một cái là xong. Tạ cư sĩ, cư sĩ đã hai phen tìm y báo cừu, cả hai phen đều thua, nếu y muốn giết cư sĩ, sao lúc đó y không hạ độc thủ cho yên chuyện? Lại nói việc cư sĩ đi đoạt pho Thất Thương Quyền, cư sĩ từng đấu nội lực với ba đại cao thủ phái Không Động, vậy còn hai người trong Không Động ngũ lão kia đâu? Tại sao không thấy họ ra vây đánh cư sĩ? Giả sử cả ngũ lão cùng xông tới, liệu cư sĩ còn toàn mạng được chăng?"

Hôm đó, sau khi ta đả thương Không Động tam lão, mới phát giác hai lão còn lại đã bị trọng thương, thật không hiểu tại sao, nghi vấn đó ta vẫn giữ trong lòng. Chả lẽ nội bộ phái Không Động có tranh chấp? Hay là có cao thủ nào đó bí mật trợ giúp ta? Lúc nghe Không Kiến đại sư nói, ta chợt hiểu, hóa ra hai lão kia bị Thành Côn đả thương.

Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố càng nghe kể càng thấy ly kỳ, tuy chốn giang hồ chẳng thiếu gì chuyện khó hiểu, hai người kiến văn đều quảng bác, chuyện cổ quái mấy cũng từng nghe qua, nhưng câu chuyện Tạ Tốn đang kể thì thật khó tưởng tượng. Cả hai nghĩ thầm, Tạ Tốn đã là nhân vật kỳ tài, nhưng sư phụ Hỗn Nguyên Tích Lịch Thủ Thành Côn của lão bất kể về mưu trí hay võ công đều cao hơn lão một bậc.

Ân Tố Tố nói:

– Đại ca, Không Động nhị lão có đúng là do sư phụ của đại ca ngấm ngầm đả thương để trợ giúp đại ca chăng?

Tạ Tốn nói:

– Lúc ấy ta cũng đã hỏi như vậy. Không Kiến đại sư nói: "Không Động nhị lão bị thương ra sao, Tạ cư sĩ tận mắt chứng kiến, sắc diện hai người đó thế nào?" Ta im lặng một lát, rồi nói, nếu vậy, quả thực Không Động nhị lão là do sư phụ tại hạ đả thương. Nguyên ta nhớ lại, ta thấy Không Động nhị lão nằm dưới đất, mặt lấm chấm những vết máu đỏ, hiển nhiên hai lão đó dùng âm kình đánh người khác lại bị cao thủ dùng Hỗn Nguyên công đẩy trở lại. Tình trạng mặt lấm chấm đầy vết máu kia, theo chỗ ta biết, nếu không phải là do âm kình bị Hỗn Nguyên công đẩy trở lại thì chỉ do bệnh thương hàn gây nên, mà hôm ta gặp Không Động ngũ lão, thì cả năm lão đều khỏe mạnh bình thường, không thể có chuyện đột khởi bạo bệnh. Bấy giờ trong võ lâm, trừ hai sư đồ ta ra, không có người thứ ba luyện Hỗn Nguyên công.

Nghe ta nói vậy, Không Kiến đại sư gật đầu, thở dài, nói: "Sư phụ của cư sĩ uống rượu vào rồi làm chuyện vô đức, sát hại cả gia đình cư sĩ, tỉnh rượu rồi thì ân hận vô cùng, nên hai phen cư sĩ đến báo cừu, y đều không lấy mạng cư sĩ. Y thậm chí không muốn đả thương cư sĩ, nhưng cả hai phen cư sĩ đều nổi điên liều chết với y, nếu không đả thương cư sĩ thì y chẳng thể thoát thân. Sau đó y luôn luôn bám sát cư sĩ, ba lần cư sĩ gặp nguy, y đều bí mật giải cứu".

Ta nhẩm tính, ngoài vụ Không Động ngũ lão, còn ba lần nữa, khi ta đang cực kỳ nguy khốn thì thế công của địch đột nhiên bị hóa giải, nhất là lần ta đấu với một cao thủ phái Thanh Hải, tình thế vạn phần nguy ngập. Không Kiến đại sư lại nói: "Thành Côn tự biết tội lỗi quá nặng, không thể cầu xin cư sĩ lượng thứ, chỉ mong cùng với thời gian, cư sĩ sẽ nguôi dần. Ai ngờ cư sĩ cứ ngày càng làm dữ, sát hại ngày một nhiều người. Hôm nay nếu cư sĩ giết Tống Viễn Kiều đại hiệp, đại họa này càng khó bề thu xếp cho yên".

Ta nói, đã vậy, xin đại sư bảo sư phụ tại hạ ra gặp tại hạ. Chúng tôi sẽ thanh toán với nhau, chẳng liên quan gì đến người ngoài. Không Kiến đại sư nói: "Sư phụ của cư sĩ không còn mặt mũi nào gặp cư sĩ, hơn nữa, Tạ cư sĩ, không phải lão nạp coi thường cư sĩ, nhưng dẫu cư sĩ có gặp Thành Côn, thì cũng uổng công mà thôi". Ta nói, đại sư là một vị cao tăng, trắng đen phải trái đương nhiên biết rõ. Lẽ nào món nợ máu cả gia đình tại hạ, nói bỏ qua là bỏ qua được ư? Không Kiến đại sư nói: "Thảm họa mà Tạ cư sĩ gặp phải, lão nạp cũng cảm thấy thương tâm lắm. Nhưng tôn sư vì say rượu mà làm bậy, thực không phải là bản ý, huống hồ y đã thành tâm sám hối, chỉ mong Tạ cư sĩ nghĩ đến tình sư đồ thuở trước mà mở cho một lối thoát". Ta nổi giận, nói, tại hạ nếu đánh không lại lão ta, thì lão ta cứ việc đánh chết tại hạ, mối huyết cừu này không báo, tại hạ cũng chẳng thiết sống nữa.

Không Kiến đại sư trầm ngâm hồi lâu, nói: "Tạ cư sĩ, võ công của tôn sư nay đã khác hẳn trước, cư sĩ dù đã luyện thành Thất Thương Quyền, cũng không hạ nổi y đâu. Tạ cư sĩ không tin, hãy đánh thử lão nạp vài quyền thử coi". Ta nói, tại hạ với đại sư vô oán vô cừu, đâu dám đả thương? Tại hạ tuy võ công thấp kém, song Thất Thương Quyền không phải là thứ dễ đối phó. Không Kiến đại sư nói. "Tạ cư sĩ, lão nạp đánh cuộc với cư sĩ. Tôn sư giết hại toàn gia cư sĩ tổng cộng mười ba người, vậy cư sĩ hãy đánh lão nạp mười ba quyền. Nếu cư sĩ đả thương được lão nạp thì lão nạp không can dự vào vụ này nữa, tôn sư sẽ tới gặp cư sĩ. Nếu không đả thương được, thì mối thâm cừu này coi như chấm dứt, được chăng?"

Ta trầm ngâm không đáp, thầm biết vị cao tăng này võ công vô cùng cao thâm, Thất Thương Quyền tuy lợi hại thật, nhưng nếu không đả thương nổi Không Kiến đại sư, chẳng lẽ món nợ máu không trả hay sao?

Không Kiến đại sư lại nói: "Nói thật với Tạ cư sĩ, lão nạp đã can dự vào vụ này, quyết không để cho cư sĩ giết hại các đồng đạo võ lâm vô tội nữa đâu. Nếu cư sĩ có ý hướng thiện, các vụ đã qua coi như quên hẳn. Còn nếu cư sĩ cứ tìm người báo cừu, lẽ nào gia nhân đệ tử của những người đã bị cư sĩ sát hại không biết đi tìm cư sĩ để báo cừu hay sao?"

Ta nghe giọng nói của Không Kiến đại sư trở nên nghiêm nghị, thì nổi điên lên, nói, được, tại hạ sẽ đánh mười ba quyền, lúc nào đại sư không chịu nổi nữa thì cứ nói, tại hạ sẽ dừng tay. Đại trượng phu một lời như đao chém đá, không chịu nổi là phải bảo sư phụ tại hạ đến gặp tại hạ đó. Không Kiến đại sư mỉm cười, nói: "Mời Tạ cư sĩ ra đòn!" Ta thấy Không Kiến đại sư thân hình thấp nhỏ, lông mày và râu bạc trắng như cước, tướng mạo từ bi trang nghiêm, lòng không nỡ đả thương đại sư, quyền thứ nhất chỉ sử ba thành công lực, "hự" một tiếng, giáng trúng giữa ngực đại sư.

Vô Kỵ kêu lên:

– Chao ôi, nghĩa phụ sử dụng thứ Thất Thương Quyền đã đánh đứt gân mạch cây cổ thụ kia ư?

Tạ Tốn nói:

– Không, quyền thứ nhất ta đánh ra là Tích Lịch Quyền do sư phụ Thành Côn truyền thụ. Bị quyền đó, Không Kiến đại sư loạng choạng lùi lại một bước. Ta nghĩ, quyền này mới có ba thành công lực, Không Kiến đại sư đã phải thoái lui một bước, nếu ta thi triển Thất Thương Quyền, hẳn chưa tới ba quả đấm đại sư đã bỏ mạng. Bèn tăng kình lực cho quyền thứ hai. Không Kiến đại sư lại loạng choạng lùi một bước. Quyền thứ ba, ta dồn đến bảy thành kình lực, Không Kiến đại sư cũng chỉ loạng choạng lùi một bước. Ta cảm thấy hơi lạ, kình lực quyền tiếp theo ta đã tăng gấp đôi, mà đánh vào cơ thể Không Kiến đại sư vẫn cứ trơ trơ như cũ. Với thân hình gầy gò thế kia, một quyền của ta cũng đủ đánh gãy hết gân cốt Không Kiến đại sư, vậy mà ta thấy cơ thể đại sư hoàn toàn chẳng phát ra lực phản kích, chịu đựng ba quyền cứ như không.

Ta nghĩ, muốn đánh gục Không Kiến đại sư thì phải dốc toàn lực, nhưng khi đó đại sư không chết cũng bị trọng thương. Ta tuy tác ác đã lâu, nhưng thấy vị cao tăng đầy lòng từ bi xả thân cứu người thế này, chợt cũng có phần kính nể, bèn nói, đại sư, đại sư không đỡ đòn thì tại hạ không nỡ đánh tiếp. Đại sư đã chịu nổi ba quyền rồi, tại hạ sẽ không đi hại Tống Viễn Kiều nữa. Nhưng Không Kiến đại sư nói: "Còn mối oan cừu với Thành Côn thì sao?" Ta nói, mối thù ấy không đội trời chung, chỉ có cách một mất một còn mà thôi. Ta ngừng giây lát, lại nói, nhưng nể đại sư xuất diện, tại hạ từ giờ trở đi sẽ chỉ tìm Thành Côn và gia nhân của y, chứ quyết không làm liên lụy đến đồng đạo võ lâm vô can nữa.

Không Kiến đại sư chắp tay nói: "Thiện tai, thiện tai! Tạ cư sĩ có ý như vậy, lão nạp thay mặt đồng đạo võ lâm đa tạ cư sĩ; có điều lão nạp đã lập tâm hóa giải trường oan nghiệt này, giờ còn lại mười quyền, xin cứ đánh tiếp".

Ta thầm tính, chỉ có dùng Thất Thương Quyền đả thương Không Kiến đại sư, thì Thành Côn mới chịu lộ diện. Được cái là kình lực Thất Thương Quyền có thể thu phát tùy ý, ta xuất thủ có mức độ chuẩn xác, bèn nói, vậy tại hạ đành đắc tội! Quyền thứ tư đánh ra đã là Thất Thương Quyền. Quyền đánh vào ức, chỗ đó hơi lõm vào, Không Kiến đại sư tiến lên phía trước một bước.

Vô Kỵ hỏi:

– Sao lạ thế? Lần này Không Kiến đại sư không thoái lui, mà lại tiến lên!

Trương Thúy Sơn nói:

– Cái đó có phải là thần công "Kim cương bất hoại thể" [36] của phái Thiếu Lâm hay chăng?

Tạ Tốn nói:

– Ngũ đệ kiến đa thức quảng, đoán không sai chút nào. Quyền đó của ta đã khác hẳn ba quyền trước, cơ thể Không Kiến đại sư phát ra một lực phản chấn, khiến ta bị chấn động vùng ngực và bụng, tưởng chừng ngũ tạng đảo lộn hết cả. Ta biết Không Kiến đại sư buộc phải sử dụng thứ thần công kia, nếu không sẽ không chịu đựng nổi Thất Thương Quyền của ta. Từ lâu ta đã nghe danh "Kim cương bất hoại thể" của phái Thiếu Lâm là một trong năm đại thần công tự cổ chí kim, lúc đó chính mình được lĩnh giáo, quả thật ghê gớm. Quyền thứ năm của ta liền chuyển sang lực âm nhu, Không Kiến đại sư lại tiến lên một bước, một luồng kình lực âm nhu phản kích lại, ta cũng hóa giải được..

Vô Kỵ hỏi:

– Nghĩa phụ, lão hòa thượng nói là không trả đòn, tại sao còn dùng quyền kình phản kích nghĩa phụ?

Tạ Tốn xoa đầu thằng bé, nói:

– Ta đánh xong quyền thứ năm, Không Kiến đại sư nói: "Tạ cư sĩ, lão nạp không ngờ Thất Thương Quyền có uy lực ghê gớm đến vậy, lão nạp mà không vận công phản chấn, chắc hết chịu nổi". Ta nói, đại sư không đánh trả, tại hạ cảm kích tấm thịnh tình đó. Rồi ta xuất quyền như gió, đánh liền một mạch quyền thứ sáu, quyền thứ bảy, quyền thứ tám, quyền thứ chín. Không Kiến đại sư quả thực bản lĩnh siêu phàm, cả bốn quyền giáng vào thân thể đại sư đều được phản chấn, cương nhu phân minh, tầng thứ đâu ra đó.

Ta thầm kinh ngạc, quát: "Cẩn thận này!" Quyền thứ mười ta nhẹ nhàng đánh ra. Không Kiến đại sư hơi gật đầu, không đợi quyền của ta chạm vào người, đã rướn tới hai bước, trong chớp mắt chiếm được tiên cơ.

Vô Kỵ dĩ nhiên chưa hiểu cái khó của hai bước đi trước kia. Trương Thúy Sơn thì biết rõ, khi cao thủ đối địch, thật khó đoán biết trước lúc nào địch thủ xuất chiêu, thông thường chỉ cần đoán trước một chiêu cũng đủ chiến thắng, chàng gật đầu, nói:

– Không xong rồi, không xong rồi!

Tạ Tốn kể tiếp:

– Quyền thứ mười ấy, ta đã sử toàn lực nhưng Không Kiến đại sư đã chiếm tiên cơ phản chấn, nên làm cho ta bị bật lùi hai bước. Tuy ta không nhìn thấy sắc diện của mình, song ta cũng đoán rằng lúc đó mặt mình nhợt nhạt như tờ giấy trắng, không còn hạt máu. Không Kiến đại sư chậm rãi thở ra một hơi, nói: "Quyền thứ mười một, cư sĩ đừng đánh vội, cứ định thần một chút rồi hãy đánh ra!" Ta tuy vạn phần hiếu thắng, nhưng bị tức thở, người lẩy bẩy, quyền thứ mười một quả thực chưa thể đánh ra.

Bọn Trương Thúy Sơn nghe tới đây, ai cũng bồn chồn, Vô Kỵ bỗng nói:

– Nghĩa phụ, còn ba quyền nữa, nghĩa phụ đừng đánh nữa là hơn.

Tạ Tốn hỏi:

– Vì sao?

Tạ Vô Kỵ đáp:

– Không Kiến đại sư là người quá tốt, nghĩa phụ đả thương đại sư, trong lòng sẽ áy náy không yên, mà để cho chính mình bị thương, thật cũng chẳng hay.

Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố đưa mắt nhìn nhau, nghĩ thầm con mình tuy nhỏ tuổi mà đã có kiến thức như thế, quả thật hiếm có. Trương Thúy Sơn lại càng yên tâm khi thấy Vô Kỵ có tấm lòng nhân hậu, lại biết phân biệt phải trái.

Chỉ nghe Tạ Tốn thở dài, nói:

– Uổng cho ta sống ngần ấy tuổi, mà kiến thức lúc ấy không bằng một đứa bé. Lòng ta tràn ngập ý định báo cừu rửa hận, chưa tìm ra sư phụ của ta thì quyết chưa dừng, thừa biết nếu đánh tiếp hẳn một trong hai người tất bị tử thương, nhưng ta đâu còn tỉnh táo. Ta vận đủ kình lực, quyền thứ mười một lại đánh ra. Lần này Không Kiến đại sư rướn người lên, nên thay vì trúng ngực, quyền đó trúng vào bụng dưới. Không Kiến đại sư chau mày, rõ ràng đại sư rất đau đớn. Ta hiểu thiện ý của đại sư, nếu đại sư dùng ngực đỡ quyền của ta, lực phản chấn rất mạnh, sợ ta không chịu nổi; còn lực phản chấn của bụng sẽ nhẹ hơn đối với ta, song đại sư sẽ bị đau đớn gấp bội.

Ta ngẩn ngơ một hồi, nói, sư phụ của tại hạ tội nghiệt thâm trọng, chết là nhẹ, đại sư dại gì đem thân thể vàng ngọc của mình chịu đòn thay cho lão ta chứ? Không Kiến đại sư gắng điều hòa hơi thở, gượng cười, nói: "Ước sao chịu được hai quyền nữa, để.. để hóa giải vụ kiếp nạn này". Ta nghe Không Kiến đại sư nói, hơi thở bị đứt quãng, chợt nghĩ: "Xem chừng khi vận thần công Kim cương bất hoại thể, đại sư không được mở miệng ra, tại sao ta không dụ cho đại sư nói, rồi bất ngờ ra đòn?" Nghĩ vậy, ta bèn nói, nếu trong mười ba quyền, tại hạ đả thương được đại sư, đại sư có bảo đảm là sư phụ tại hạ nhất định sẽ ra gặp tại hạ không? Không Kiến đại sư nói: "Chính Thành Côn nói với lão nạp như.." Không đợi đại sư nói hết, ta giáng ngay một quyền vào bụng dưới của đại sư. Quyền này thế đi cực nhanh, lại đánh chỗ thấp, cốt sao đại sư không kịp phát động thần công hộ thể.

Nào ngờ thần công của Phật môn tùy tâm phát động, quyền của ta vừa chạm vào bụng của Không Kiến đại sư thì thần công của đại sư đã trải toàn thân. Ta chỉ thấy trời đất ngả nghiêng, tim phổi tựa hồ vỡ nát, bị đẩy lùi đến bảy tám bước, lưng đụng vào một thân cây mới đứng vững lại được.

Ta thất vọng quá, ác niệm nảy sinh, bèn nói, thôi, thế là hết! Thù này khó báo, Tạ Tốn này còn sống trên thế gian làm chi? Đoạn ta vung chưởng lên nhắm ngay "thiên linh cái" [37] của mình mà đánh xuống.

Ân Tố Tố thốt lên:

– Diệu kế, diệu kế!

Trương Thúy Sơn hỏi:

– Vì sao?

Rồi chợt hiểu, nói:

– Ồ, dùng thủ đoạn đó đối phó với một vị cao tăng, thật quá hiểm độc.

Chàng đã hiểu ra, Tạ Tốn đánh thẳng xuống đỉnh đầu mình, Không Kiến đại sư chắc chắn sẽ kêu dừng tay, chạy bổ tới cứu, Tạ Tốn sẽ thừa cơ đại sư không phòng bị mà hạ độc thủ. Trương Thúy Sơn vốn thông minh cơ linh chẳng kém gì Ân Tố Tố, có điều bình thời không toan tính các trò dối trá, nên chậm hiểu thủ đoạn trên một chút.

Tạ Tốn thở dài buồn bã, nói:

– Ta đã lợi dụng từ tâm của vị thần tăng ấy, các ngươi đoán không sai. Ta vung chưởng đánh xuống thiên linh cái của mình, tuy là ngụy kế, nhưng rất nguy hiểm. Nếu chưởng đó đánh xuống không đủ mạnh, Không Kiến đại sư phát hiện sự giả trá, sẽ không chạy tới ngăn cản. Mười ba quyền, giờ chỉ còn một quyền cuối cùng. Quyền kình của Thất Thương Quyền quả lợi hại, song đâu phá nổi Thần công hộ thể? Việc tìm sư phụ ta để báo cừu coi như chấm dứt. Do đó, chưởng này quả thực ta phải dùng toàn lực đánh xuống, nếu đại sư không chạy tới cứu, ta sẽ tự đánh vỡ sọ mình mà chết, bởi lẽ nếu không trả được món nợ máu, ta cũng chả thiết sống nữa.

Không Kiến đại sư thấy sự việc diễn ra bất ngờ, bèn kêu: "Đừng, sao cư sĩ lại.." lập tức vọt tới, giơ tay chặn hữu chưởng của ta; thế là tay trái ta phóng ra một quyền trúng vào ức đại sư. Quyền này đại sư quả không hề phòng bị, ngay cả việc vận thần công hộ thể cũng chẳng nghĩ đến. Cái thể xác bằng xương bằng thịt của đại sư làm sao chịu nổi một quyền như thế? Lập tức nội tạng bị vỡ nát, Không Kiến đại sư ngã vật xuống.

Đánh quyền đó xong, ta thấy Không Kiến đại sư cầm chắc cái chết, thì thiên lương trong lòng ta trỗi dậy, ta phục xuống bên cạnh vị lão hòa thượng mà khóc to, nói, Không Kiến đại sư, Tạ Tốn này vong ân bội nghĩa, không bằng loài cẩu trệ!

Bọn Trương Thúy Sơn im lặng, cả ba đều nghĩ việc Tạ Tốn dùng ngụy kế đánh chết một vị cao tăng đức độ quả thật rất không nên.

Tạ Tốn nói:

– Không Kiến đại sư thấy ta khóc thì mỉm cười, an ủi ta rằng nào có ai không chết? Cư sĩ hà tất phải đau buồn? Sư phụ của cư sĩ sắp tới đó, cư sĩ hãy trấn tĩnh lại, đừng nên lỗ mãng. Lời nói của đại sư khiến ta tỉnh người, mười ba quyền vừa rồi đại hao chân lực, trước mắt đại địch sắp tới, há cứ khóc lóc cho hại đến tinh thần? Thế là ta ngồi xếp bằng, điều hòa hô hấp. Nào ngờ hồi lâu vẫn không thấy sư phụ ta đến. Ta ngạc nhiên nhìn Không Kiến đại sư.

Lúc đó đại sư hơi thở đã yếu lắm rồi, thều thào nói: "Ai.. ai ngờ.. y nuốt lời.. chẳng lẽ.. có người đột nhiên ngăn cản y hay sao?" Ta cả giận, quát, đại sư lừa dối tại hạ, tại hạ đánh chết đại sư, mà y có chịu ra gặp tại hạ đâu? Không Kiến đại sư lắc đầu, nói: "Lão nạp không lừa dối cư sĩ, lão nạp thật có lỗi với cư sĩ". Trong cơn cuồng nộ, ta còn định mạ lị Không Kiến đại sư, bỗng nghĩ thầm: "Đại sư lừa dối ta đánh chết đại sư thì được lợi gì kia chứ? Ta đánh chết đại sư, mà đại sư còn xin lỗi ta". Quá hối hận, ta bèn quỳ xuống bên lão hòa thượng mà nói, đại sư, đại sư có tâm nguyện gì, tại hạ xin dốc lòng thực hiện? Không Kiến đại sư mỉm cười, nói: "Chỉ mong sau này, khi nào định giết người, cư sĩ hãy nhớ tới lão nạp".

Vị cao tăng ấy không những võ công tinh thâm, mà còn là bậc đại trí đại tuệ, hiểu rất rõ con người của ta. Đại sư biết ta không thể dứt lòng thù hận để trở thành người tốt, nên nói thẳng ra khi nào định giết người thì hãy nhớ tới đại sư. "Này ngũ đệ, hôm ở trên thuyền ta và ngũ đệ đấu chưởng lực với nhau, ta không lấy mạng của đệ chính vì ta chợt nghĩ tới Không Kiến đại sư đó".

Trương Thúy Sơn không ngờ mình còn toàn mạng chính là nhờ Không Kiến đại sư, nên chàng càng thêm ngưỡng mộ vị cao tăng đó.

Tạ Tốn thở dài, kể tiếp:

– Hơi thở của Không Kiến đại sư càng lúc càng yếu, ta đặt bàn tay trên huyệt Linh Đài của đại sư, cố truyền nội lực để kéo dài tính mạng cho đại sư. Không Kiến đại sư bỗng hít mạnh một hơi, hỏi: "Sư phụ của cư sĩ vẫn chưa tới ư?" Ta đáp, chưa. Không Kiến đại sư nói: "Vậy thì y không đến nữa rồi". Ta nói, đại sư cứ yên tâm, từ nay tại hạ sẽ không giết người bừa bãi để bức lão ta ra mặt nữa. Nhưng dù tại hạ có phải đi khắp chân trời góc biển, cũng quyết tìm lão ta bằng được. Không Kiến đại sư nói: "Ôi, có điều là võ công của cư sĩ chưa thể sánh với y.. trừ phi.. trừ phi.." Nói tới đó, giọng của Không Kiến đại sư nhỏ lắm rồi, ta phải ghé tai sát miệng đại sư để nghe: ".. Trừ phi.. tìm được thanh đao Đồ Long, tìm ra bí mật chứa trong bảo đao.." Nói đến đó thì Không Kiến đại sư tắt thở.

Đến bây giờ phu phụ Trương Thúy Sơn mới hiểu vì sao Tạ Tốn cố trầm tư mặc tưởng, quyết tìm cho ra bí mật chứa trong thanh đao Đồ Long, vì sao bình thời mềm mỏng nhã nhặn, nhưng khi nổi điên lại chẳng khác gì dã thú. Vì sao có võ công tuyệt thế mà lúc nào cũng sầu khổ..

Tạ Tốn nói:

– Về sau ta nghe tin về thanh đao Đồ Long, bèn đến Vương Bàn sơn đảo đoạt lấy. Ngũ muội, lệnh tôn trước kia là bằng hữu tri giao, vô cùng thân thiết với ta; Ưng Vương, Sư Vương, tên tuổi cùng một hàng trên thế gian, về sau lại hóa thành thù nghịch. Chuyện đó rắc rối, liên quan đến rất nhiều người, ta chưa thể nói cho ngũ muội biết được. Trước khi có được thanh đao Đồ Long, ta nghĩ trăm phương ngàn kế tìm Thành Côn; lúc đoạt được đao rồi, lại chỉ sợ Thành Côn tìm đến ta, cho nên phải tìm một nơi thật kín đáo để còn thong thả nghĩ cho ra bí mật chứa trong bảo đao. Vì ta lo các ngươi tiết lộ hình tích, nên mới đem hai ngươi đi cùng. Không ngờ thấm thoắt đã mười năm, Tạ Tốn ơi là Tạ Tốn, mi vẫn chưa làm xong việc gì.

Trương Thúy Sơn nói:

– Không Kiến đại sư lúc lâm chung nói chưa hết câu "Trừ phi.. tìm được thanh đao Đồ Long, tìm ra bí mật chứa trong bảo đao.." không chừng lại có ý nghĩa khác cũng nên.

Tạ Tốn nói:

– Mười năm qua, mọi sự mọi điều ta đã nghĩ đến cả rồi, mà chưa có điều gì phù hợp với câu nói ấy. Thanh đao Đồ Long ẩn chứa bí mật lớn, đó là điều không còn nghi ngờ gì nữa, song ta đã dồn hết tâm trí nhưng vẫn chưa đoán ra được.

Từ sau buổi trò chuyện tối hôm đó, Tạ Tốn không nhắc lại việc đó nữa, nhưng việc thúc giục Vô Kỵ luyện công thì trở nên nghiêm khắc lạ thường. Vô Kỵ bất quá hơn chín tuổi đầu, tuy thông minh, nhưng trong một thời gian ngắn làm sao lãnh hội đủ thứ võ công tuyệt thế của Tạ Tốn? Tạ Tốn lại dạy nó cách chuyển đổi huyệt đạo, thuật xung giải các huyệt đạo bị phong bế, là công phu rất cao thâm trong võ học. Vô Kỵ đến huyệt đạo còn chưa nhận ra được, lại chưa có căn cơ nội công, học làm sao nổi? Tạ Tốn thì hết đánh đập lại la mắng, không cho thằng bé nghỉ ngơi lúc nào.

Ân Tố Tố thường thấy mình mẩy thằng bé có những chỗ thâm tím, thì thương con quá, nói với Tạ Tốn:

– Đại ca, võ công cái thế của đại ca, trong vòng dăm ba năm Vô Kỵ làm sao luyện thành kia chứ? Trên hoang đảo này thời gian là vô tận, đại ca cứ thong thả dạy cho nó cũng được.

Tạ Tốn nói:

– Ta không dạy nó luyện, mà dạy nó ghi nhớ thật kỹ.

Ân Tố Tố không hiểu ý Tạ Tốn, biết vị đại ca này làm việc gì cũng khác người, đành để tùy ý lão. Mỗi lần thấy Vô Kỵ trên mình hằn các vết roi, nàng lại ôm con vỗ về một cách xót xa. Vô Kỵ thì hiểu nguyên do, nói:

– Mẹ ơi, nghĩa phụ muốn con giỏi giang hơn, đánh thật đau để con nhớ kỹ, nhớ lâu đấy.

Cứ thế chừng già nửa năm. Một sớm nọ, Tạ Tốn bỗng nói:

– Ngũ đệ, ngũ muội, bốn tháng nữa gió sẽ chuyển sang hướng nam, hôm nay chúng ta bắt đầu đóng bè được rồi.

Trương Thúy Sơn vừa ngạc nhiên vừa vui mừng, hỏi:

– Đại ca bảo đóng bè để về Trung thổ ư?

Tạ Tốn lạnh lùng đáp:

– Chuyện đó còn phải xem ông Trời có nổi thiện tâm không đã. "Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên" mà. Thành công thì về được, không thành công thì bỏ xác giữa biển khơi.

Cứ như tâm ý của Ân Tố Tố, bốn người cứ ở trên cái hoang đảo thần tiên này mà tiêu dao tự tại, chả tội gì mạo hiểm trở về, nhưng nghĩ tới việc Vô Kỵ sau này lớn lên, làm sao lấy vợ sinh con, không thể để nó mai một cuộc đời ở chốn này, thế là nàng liền hăm hở bắt đầu đóng bè. Trên đảo có rất nhiều cây cổ thụ, vì mọc ở vùng lạnh giá nên chất gỗ thật bền chắc, cứng như sắt đá. Tạ Tốn và Trương Thúy Sơn hì hục chặt cây, Ân Tố Tố thì tết dây, dùng da thú may buồm, Vô Kỵ chạy qua chạy lại đưa tin.

Tuy Tạ Tốn và Trương Thúy Sơn võ công tinh thâm, Ân Tố Tố cũng không phải hạng phụ nữ chân yếu tay mềm, nhưng vì không có dụng cụ nên việc đóng bè tốn rất nhiều công sức mà kết quả chẳng được bao.

Trong lúc đóng bè, Tạ Tốn bảo Vô Kỵ đứng bên cạnh, tra hỏi võ công sở học của nó. Bấy giờ vợ chồng Trương Thúy Sơn cũng không còn phải tránh ra chỗ khác nữa, nghe nghĩa phụ nghĩa tử hai người kia cứ một hỏi một đáp, toàn là các khẩu quyết mà thôi. Tạ Tốn thậm chí dạy cả đao pháp, kiếm pháp, nhưng toàn bắt Vô Kỵ học thuộc lòng như kiểu đọc thuộc sách vậy. Cái lối "dạy võ như học văn" của Tạ Tốn thật kỳ quái, không một lời giải thích, cứ y như một ông thầy vụng về bắt lũ trẻ tóc còn để chỏm ê a thuộc lòng "Thi vân Tử viết" [38] . Ân Tố Tố ở bên cạnh nghe, không khỏi thương Vô Kỵ, nghĩ thầm chẳng riêng thằng bé, ngay người lớn tinh thông võ học cũng vị tất nhớ nổi biết bao nhiêu chiêu thức, khẩu quyết, hơn nữa lại không hề diễn tập, chỉ nhớ suông trong đầu thì có tác dụng gì kia chứ? Không lẽ chỉ đọc thuộc các câu khẩu quyết là đủ thắng địch hay sao? Vậy mà hễ Vô Kỵ nhớ sai một chữ lại bị Tạ Tốn giáng cho một cái tát, tuy Tạ Tốn không dùng sức, nhưng cũng đủ khiến Vô Kỵ nổ đom đóm mắt, sưng cả má nửa ngày trời.

Cái bè gỗ lớn đóng hơn hai tháng ròng rã mới xong, việc dựng cột buồm lớn, cột buồm phụ lại mất hơn nửa tháng nữa. Tiếp đó phải đi săn, muối thịt, khâu túi da đựng nước ngọt. Đến khi mọi việc xong xuôi thì ngày đã trở nên cực ngắn, đêm thật dài, riêng gió vẫn chưa chuyển hướng. Ba người làm một cái lều cạnh bờ biển để che cái bè, chờ khi nào gió thổi về nam sẽ cho bè hạ thủy.

Dạo này Tạ Tốn không rời Vô Kỵ một bước, ban đêm cũng bắt thằng bé phải ngủ với mình. Phu phụ Trương Thúy Sơn thấy Tạ Tốn đối với con mình vừa thân thiết, vừa nghiêm khắc như thế, chỉ còn cách nhìn nhau cười gượng.

*

* *

Nửa đêm nọ, Trương Thúy Sơn bỗng nhiên tỉnh giấc, nghe tiếng gió thổi có vẻ khác lạ. Chàng ngồi dậy, quả nhiên gió đã thổi từ phương bắc xuống, vội đánh thức Ân Tố Tố, mừng rỡ nói:

– Nàng nghe kìa!

Ân Tố Tố còn đang mơ màng, chưa kịp trả lời đã nghe tiếng Tạ Tốn từ bên ngoài vọng vào:

– Chuyển sang gió bắc rồi, chuyển sang gió bắc rồi!

Giọng nói giống như tiếng khóc thổn thức, giữa đêm khuya nghe thật thê lương.

Sáng hôm sau, phu phụ Trương Thúy Sơn vui mừng thu xếp hành trang. Họ đã sống ở Băng Hỏa đảo mười năm trời, nay rời bỏ nó, lòng không khỏi bùi ngùi quyến luyến. Khi mọi thứ đã chuyển xuống bè gỗ đâu vào đó thì đã chính Ngọ, ba người hợp lực đẩy chiếc bè xuống nước. Vô Kỵ là người trước tiên nhảy lên bè, kế đến là Ân Tố Tố.

Trương Thúy Sơn nắm tay Tạ Tốn, nói:

– Đại ca, chiếc bè ra cách bờ sáu thước, chúng ta cùng nhảy lên nhé!

Tạ Tốn nói:

– Ngũ đệ, huynh đệ ta từ đây vĩnh biệt, đệ nhớ bảo trọng nghe!

Trương Thúy Sơn chợt giật mình, tưởng như có ai giáng một quyền vào ngực mình, nói:

– Đại ca.. đại ca..

Tạ Tốn nói:

– Ngũ đệ tấm lòng nhân hậu, phúc trạch thật dày, nhưng quá cố chấp phải trái thiện ác, nên cẩn thận là hơn. Vô Kỵ phóng khoáng, xem ra sau này hành sự xử thế sẽ thành công dễ hơn đệ đấy. Ngũ muội tuy phận nữ nhi, song không chịu kém ai. Người mà ta lo hơn cả, chính là ngũ đệ.

Trương Thúy Sơn càng nghe càng kinh ngạc, run run nói:

– Đại ca nói gì vậy? Đại ca không.. về cùng.. gia đình tiểu đệ ư?

Tạ Tốn nói:

– Ta đã nói với ngũ đệ từ mấy năm trước, ngũ đệ quên rồi sao?

Câu nói trên Trương Thúy Sơn nghe như tiếng sấm, lúc này chàng mới nhớ lại, quả thật dạo ấy Tạ Tốn có nói sẽ không rời đảo này, nhưng sau không nhắc tới chuyện đó nữa nên chàng và Ân Tố Tố cũng chẳng để tâm. Khi đóng bè, Tạ Tốn không để lộ chút nào về ý định một mình ở lại đảo, ai ngờ đến lúc khởi hành Tạ Tốn mới đột nhiên nói ra. Trương Thúy Sơn vội nói:

– Đại ca, một mình ở lại hoang đảo thì tịch mịch thê lương lắm. Chúng ta mau cùng xuống bè đi thôi.

Nói đoạn kéo tay Tạ Tốn. Nhưng thân hình Tạ Tốn y như một cây đại thụ rễ ăn chắc xuống lòng đất, không hề lay chuyển.

Trương Thúy Sơn gọi:

– Tố Tố, Vô Kỵ, mau lên bờ! Đại ca bảo sẽ không về cùng chúng ta!

Ân Tố Tố và Vô Kỵ nghe vậy cả kinh, cùng nhảy lên bờ, Vô Kỵ nói:

– Nghĩa phụ, sao không cùng đi? Nghĩa phụ ở lại, con cũng không đi đâu.

Tạ Tốn trong thâm tâm quả cũng không muốn xa lìa ba người, ba người đi rồi, vĩnh viễn sẽ không có ngày gặp lại, một mình lão cô đơn thui thủi trên hoang đảo, thực sống đấy mà khác gì chết? Lão với Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố kết nghĩa kim lan, lão lo cho phu thê họ còn hơn cả bản thân lão; còn đối với nghĩa tử Vô Kỵ thì lão yêu nó còn hơn con ruột. Lão nghĩ từ lâu, biết mình có nợ máu với quá nhiều người, trên chốn giang hồ bất luận là danh môn chính phái hay hắc đạo lục lâm, có biết bao nhiêu người cố tìm cách giết lão, huống hồ thanh đao Đồ Long đang ở trong tay lão, việc đó khó lòng giữ kín mãi được. Giả như thời trước, lão nào sợ gì ai; nhưng bây giờ hai mắt đã mù, quyết không thể chống chọi nổi sự vây công của số đông kẻ thù, mà Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố thấy thế cũng nhất định sẽ không khoanh tay đứng nhìn, sẽ liều chết cứu lão. Một khi tranh chấp xảy ra, cả bốn người sẽ phải bỏ mạng. Có về tới Trung nguyên, chỉ e bốn người không sống nổi già nửa năm. Những ý nghĩ đó, lão không thể nói cho phu phụ Trương Thúy Sơn biết, đành đợi đến phút cuối cùng mới nói rõ ý định ở lại đảo.

Tạ Tốn nghe Vô Kỵ nói mấy lời chân tình, bèn bồng nó lên, dịu dàng nói:

– Vô Kỵ, ngươi hãy nghe lời nghĩa phụ. Nghĩa phụ cao tuổi rồi, mắt lại lòa, ở đây dễ chịu lắm, về Trung nguyên chỉ e hết thảy mọi chỗ mọi thứ đều không quen thì sẽ khổ sở lắm.

Vô Kỵ nói:

– Về Trung nguyên rồi, hài nhi sẽ ngày ngày hầu hạ nghĩa phụ, sẽ không rời nghĩa phụ nửa bước. Nghĩa phụ muốn ăn uống gì, hài nhi sẽ đem tới ngay, thế thì có khác gì ở đây?

Tạ Tốn lắc đầu, nói:

– Không được đâu! Nghĩa phụ thích ở đây hơn.

Vô Kỵ nói:

– Hài nhi cũng thích ở đây. Phụ thân, mẫu thân, chi bằng chúng ta đừng đi nữa, tất cả ở đây vẫn tốt.

Ân Tố Tố nói:

– Đại ca có điều chi lo lắng, hãy nói rõ ra, mọi người cùng bàn tính xem sao. Chứ bỏ đại ca ở lại đây một mình, quyết không thể được.

Tạ Tốn nghĩ thầm: "Ba người kia đối với ta tình thâm nghĩa trọng, muốn họ bỏ ta mà đi, e rằng có nói khô cổ, họ cũng chẳng chịu. Phải nghĩ cách bắt họ ra đi thôi".

Trương Thúy Sơn bỗng nói:

– Đại ca sợ kẻ thù quá nhiều, sẽ liên lụy đến gia đình tiểu đệ chứ gì? Bốn người chúng ta sau khi về tới Trung nguyên sẽ tìm một nơi hoang vắng sinh sống, không giao thiệp với người ngoài, thì có gì đáng lo? Tốt hơn hết là cả bốn người chúng ta lên trú ngụ trên núi Võ Đang, sẽ chẳng ai nghĩ rằng Kim Mao Sư Vương lại ở trên đó.

Tạ Tốn kiêu hãnh nói:

– Đại ca của ngũ đệ tuy khó sánh với tôn sư, nhưng cũng đâu đến nỗi phải núp bóng tôn sư Trương chân nhân!

Trương Thúy Sơn hối hận đã lỡ lời, vội nói:

– Đại ca võ công không thua gì sư phụ của tiểu đệ, không phải núp bóng ai cả. Hồi Cương, Tây Tạng, sa mạc phía bắc, thiếu gì chỗ cho bốn người chúng ta tiêu dao tự tại?

Tạ Tốn nói:

– Nếu tìm chốn hoang vắng để ở, thiên hạ còn chỗ nào tốt hơn chốn này? Các ngươi rốt cuộc có chịu đi hay không thì bảo?

Trương Thúy Sơn nói:

– Đại ca không đi, gia đình đệ quyết không đi.

Ân Tố Tố và Vô Kỵ cùng nói:

– Cả nhà quyết không đi, nếu người ở lại.

Tạ Tốn thở dài:

– Được lắm, tất cả không đi, đợi lúc ta chết các ngươi đi cũng chưa muộn.

Trương Thúy Sơn nói:

– Đúng thế, chúng mình ở đây mười năm rồi, không làm gì phải vội.

Tạ Tốn quát to:

– Ta chết rồi, các ngươi mới hết lưu luyến chứ gì?

Ba người còn đang kinh ngạc, thì "roạt" một tiếng, Tạ Tốn đã rút phắt thanh đao Đồ Long, đưa lên cắt ngang cổ.

Trương Thúy Sơn cả kinh, kêu lên:

– Khéo đả thương Vô Kỵ kìa!

Chàng biết với võ công của mình, chàng không thể ngăn cản nghĩa huynh vung đao tự tận, trong lúc nguy cấp vội kêu Tạ Tốn đừng đả thương Vô Kỵ, quả nhiên Tạ Tốn sững người, thu đao lại, hỏi:

– Cái gì?

Trương Thúy Sơn thấy Tạ Tốn quyết liệt như vậy, đành nghẹn ngào nói:

– Đại ca quyết ý như thế, tiểu đệ đành bái biệt.

Đoạn quỳ xuống lạy mấy lạy. Vô Kỵ nói to:

– Nghĩa phụ không đi, con cũng không đi! Nghĩa phụ tự tận, con cũng tự tận. Đại trượng phu nói sao làm vậy, nghĩa phụ dùng đao cắt cổ, con cũng sẽ làm như vậy.

Tạ Tốn quát:

– Con nít nói nhăng nói cuội!

Rồi chộp cổ thằng bé ném nó xuống bè, liền đó hai tay chộp Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố cùng quẳng xuống theo, cao giọng nói:

– Ngũ đệ, ngũ muội, Vô Kỵ! Lên đường thuận buồm xuôi gió! Mong các ngươi bình an vô sự, sớm về đến Trung nguyên!

Đoạn lão lại nói:

– Vô Kỵ, sau khi về đến Trung nguyên, hãy xưng là Trương Vô Kỵ, ba chữ Tạ Vô Kỵ chỉ nên giấu trong lòng, chớ có nói ra! Vô Kỵ khóc òa lên, gọi:

– Nghĩa phụ, nghĩa phụ!

Tạ Tốn giơ đao dọa:

– Các ngươi mà còn lên bờ, thì tình nghĩa chúng ta từ đây đoạn tuyệt!

Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố thấy nghĩa huynh tâm ý kiên quyết, chẳng thể thay đổi, đành gạt lệ vẫy tay từ biệt. Lúc này hải lưu đẩy chiếc bè gỗ từ từ trôi xa, hình bóng Tạ Tốn mờ dần, mỗi lúc một nhỏ. Rất lâu sau thì không còn thấy bóng Tạ Tốn nữa, ba người mới quay đầu. Vô Kỵ gục vào lòng mẹ khóc mãi, sau đó ngủ thiếp đi.

*

* *

Chiếc bè trôi trên biển, từ hôm ấy quả nhiên chỉ toàn gió bấc đẩy chiếc bè trôi về phương nam. Giữa biển cả mênh mông, chả biết đâu là phương hướng, nhưng ngày ngày thấy mặt trời mọc phía tay trái và lặn bên tay phải, ban đêm thấy sao Bắc Cực lấp láy phía đuôi chiếc bè, mà chiếc bè cứ không ngừng trôi, đủ biết họ đang ngày một về gần Trung nguyên.

Hai mươi ngày đầu, Trương Thúy Sơn sợ chiếc bè va phải núi băng, chỉ giương một cánh buồm phụ, chiếc bè trôi tuy chậm nhưng an toàn, dù đụng vào núi băng cũng chỉ chao đảo rồi lại dạt ra. Khi đã ra khỏi vùng núi băng thật xa, chàng mới giương hết buồm.

Gió bấc ngày đêm không đổi hướng, chiếc bè trôi càng lúc càng nhanh, rất may trên đường không gặp bão biển, xem ra có bảy tám phần hi vọng về được cố hương. Suốt mấy tháng đó, vợ chồng Trương Thúy Sơn sợ Vô Kỵ đau lòng, không nhắc gì đến Tạ Tốn cả.

Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: "Võ công mà đại ca truyền cho Vô Kỵ, liệu có dùng được không, thật khó nói. Vô Kỵ về đến Trung nguyên, phải để nó làm môn hạ phái Võ Đang". Ở trên bè suốt ngày không biết làm gì, chàng bèn truyền thụ cho Vô Kỵ các công phu nhập môn về quyền pháp, chưởng pháp của phái Võ Đang. Phương pháp truyền thụ của chàng so với Tạ Tốn cao minh hơn hẳn, võ công nhập môn của phái Võ Đang lại hoàn toàn không khó, giảng giải vài lần, chỉ vẽ đôi chút là Vô Kỵ học được ngay. Hai cha con trên bè cứ thế tập dượt.

Một hôm Ân Tố Tố thấy mặt biển lặng sóng, chiếc bè gỗ căng gió trôi rất nhanh về phương nam thì không nhịn nổi, nói:

– Đại ca không chỉ võ công tinh thâm, mà còn tính toán chuẩn xác thiên thời địa lý, quả là bậc kỳ tài.

Vô Kỵ bỗng nói:

– Nếu cứ nửa năm gió thổi về nam, nửa năm gió thổi lên bắc, thì sang năm chúng ta quay lại Băng Hỏa đảo thăm nghĩa phụ.

Trương Thúy Sơn vui mừng nói:

– Vô Kỵ nói rất phải, khi nào ngươi trưởng thành, chúng ta lại lên phương bắc..

Ân Tố Tố bỗng chỉ về phía nam, kêu lên:

– Cái gì thế kia?

Chỉ thấy xa tít phía chân trời thấp thoáng hai chấm đen. Trương Thúy Sơn kinh ngạc nói:

– Liệu có phải là kình ngư không? Nó mà húc vào bè thì nguy lắm.

Ân Tố Tố nhìn kỹ một hồi, nói:

– Không phải kình ngư, không thấy nó phun nước lên cao.

Ba người cứ chăm chú nhìn hai chấm đen kia, hơn một canh giờ sau, Trương Thúy Sơn vui mừng reo lên:

– Là thuyền, là thuyền đó!

Chàng cao hứng nhảy tung người lên, lộn một vòng. Từ khi sinh Vô Kỵ, chàng ngày ngày bận bịu, chưa một lần có hành vi tinh nghịch kiểu con nít như vậy. Vô Kỵ cười khanh khách, bắt chước theo, cũng nhảy lộn hai vòng.

Chiếc bè trôi hơn một canh giờ nữa, dưới ánh nắng xiên xiên đã nhìn rõ hai chiếc thuyền lớn. Ân Tố Tố bỗng run người, tái mặt. Vô Kỵ lấy làm lạ, hỏi:

– Mẫu thân, người sao vậy?

Ân Tố Tố môi mấp máy, không nói nên lời. Trương Thúy Sơn nắm lấy tay nàng, lộ vẻ quan tâm. Ân Tố Tố thở dài nói:

– Vừa về đã gặp rồi.

Trương Thúy Sơn hỏi:

– Gặp cái gì?

Ân Tố Tố nói:

– Chàng thử nhìn cánh buồm kia.

Trương Thúy Sơn nheo mắt, thấy chiếc thuyền lớn bên trái, trên buồm có vẽ một con chim ưng lớn màu đen dang rộng đôi cánh, hình dáng uy mãnh, chàng chợt nhớ lá cờ lớn của Thiên Ưng giáo năm nào mình nhìn thấy trên Vương Bàn sơn đảo, liền giật mình, hỏi:

– Là.. Thiên Ưng giáo phải không?

Ân Tố Tố hạ giọng đáp:

– Đúng thế, chính là Thiên Ưng giáo của phụ thân thiếp!

Trong giây lát, rất nhiều ý nghĩ nổi lên trong đầu chàng: "Phụ thân của Ân Tố Tố là giáo chủ Thiên Ưng giáo, tà giáo này không từ việc ác nào, lúc ta gặp nhạc phụ, phải làm thế nào đây? Ân sư sẽ nói sao về cuộc hôn nhân này của ta?" Chàng thấy bàn tay nhỏ nhắn của Ân Tố Tố run run trong tay mình, biết là nàng cũng đang đầy nỗi niềm lo lắng, bèn nói:

– Tố Tố, hài tử của chúng mình lớn ngần kia rồi! Trên trời dưới đất, vĩnh viễn không xa nhau. Nàng có gì phải sợ?

Ân Tố Tố thở phào một cái, liếc chàng mỉm cười, nói nhỏ:

– Chỉ mong chàng không vì thiếp mà bị gây khó dễ, có gì chàng hãy cứ nghĩ đến Vô Kỵ.

Vô Kỵ chưa bao giờ nhìn thấy thuyền, nên cứ chăm chú ngắm hai chiếc thuyền không chớp mắt, chẳng để ý tới những điều phụ mẫu đang nói.

Chiếc bè gỗ trôi tới gần, thấy hai chiếc thuyền kia đậu rất gần nhau. Nếu không đổi hướng, chiếc bè sẽ trôi qua chỗ giao thoa giữa hai chiếc thuyền kia, nhìn từ xa thấy chỉ cách mũi thuyền bên phải vài mươi trượng.

Trương Thúy Sơn nói:

– Có nên gọi người trên thuyền hay không? Thử hỏi thăm tin tức phụ thân nàng xem sao?

Ân Tố Tố nói:

– Đừng gọi. Để về tới Trung nguyên, thiếp sẽ đưa chàng và Vô Kỵ tới gặp gia gia.

Trương Thúy Sơn nói:

– Ừ, thế cũng được.

Bỗng Trương Thúy Sơn thấy trên thuyền đao quang lấp loáng, dường như có đến bốn, năm người đang giao đấu, bèn nói:

– Người trên hai thuyền kia đang đánh nhau.

Ân Tố Tố nhìn kỹ một hồi, có vẻ hơi lo, nói:

– Không biết gia gia ở trên chiếc thuyền nào?

Trương Thúy Sơn nói:

– Nếu đã gặp, chúng ta nên qua thăm.

Thế là chàng bẻ lái chiếc bè. Chiếc bè nghiêng sang trái, trôi về phía hai chiếc thuyền.

Tuy vẫn để buồm ăn gió, song chiếc bè trôi quá chậm, rất lâu mới tới gần hai chiếc thuyền. Chỉ nghe trên thuyền của Thiên Ưng giáo có tiếng nói lớn:

– Có việc giao thương nghiêm chỉnh, người ngoài không liên quan hãy tránh ra nơi khác.

Ân Tố Tố nói:

– Nhật nguyệt quang chiếu, Thiên Ưng triển xí, thánh diệm hùng hùng, phổ huệ thế nhân[39] ! Đây là Đường chủ của tổng đà. Bên đó đàn nào nổi lửa thắp nhang vậy?

Câu nói của nàng là mật ngữ của Thiên Ưng giáo. Người trên chiếc thuyền kia lập tức cung kính đáp:

– Lý đường chủ của Thiên Thị đường, suất lĩnh Trình đàn chủ Thanh Long đàn, Phong đàn chủ Thần Xà đàn đang ở đây. Có phải là Ân đường chủ của Thiên Vi đường giá lâm đó chăng?

Ân Tố Tố nói:

– Là Tử Vi đường đường chủ.

Người trên thuyền kia nghe năm chữ "Tử Vi đường đường chủ" thì tức thời nhộn nhịp hẳn lên. Một lát sau, hơn một chục người đồng thanh reo to:

– Ân cô nương về rồi, Ân cô nương về rồi!

Trương Thúy Sơn thành hôn với Ân Tố Tố đã mười năm, song chưa hề hỏi nàng về việc của Thiên Ưng giáo, cũng chưa nghe nàng kể bao giờ, lúc này thấy đôi bên hỏi đáp mới biết nàng còn là "Tử Vi đường đường chủ" gì đó, xem ra địa vị của đường chủ cao hơn đàn chủ. Hồi ở trên Vương Bàn sơn đảo, chàng đã biết thân thủ của hai vị đàn chủ Huyền Vũ đàn và Chu Tước đàn, nói về võ công thì hai vị ấy cao hơn Ân Tố Tố, sở dĩ nàng giữ địa vị đường chủ vì nàng là quý nữ của giáo chủ. Vậy thì vị đường chủ họ Lý của Thiên Thị đường hẳn phải là một nhân vật cực kỳ lợi hại.

Chỉ nghe trên chiếc thuyền đối diện vang lên giọng nói của một vị cao niên:

– Nghe nói thiên kim tiểu thư của giáo chủ tệ giáo Ân cô nương trở về, chúng ta hãy tạm ngưng đấu được chăng?

Một giọng sang sảng đáp lại:

– Được! Tất cả dừng tay!

Tiếng binh khí chạm nhau lập tức im bặt, những người đang giao đấu liền dãn sang hai bên.

Trương Thúy Sơn nghe giọng nói sang sảng trầm hùng kia quá quen, chợt sững người, rồi gọi to:

– Có phải Du sư ca Du Liên Châu đó chăng?

Người trên thuyền đáp:

– Chính là Du Liên Châu đây.. ôi.. ôi.. ngươi.. ngươi..

Trương Thúy Sơn nói:

– Tiểu đệ Trương Thúy Sơn đây!

Chàng xúc động mạnh, thấy chiếc bè còn cách thuyền mấy trượng, bèn lấy một cây gỗ trên bè, vận kình ném ra, tiếp đó nhảy tới, đạp vào cây gỗ mượn lực mà vọt lên chiếc thuyền kia.

Du Liên Châu chạy tới, sư huynh sư đệ xa nhau mười năm, không biết sống chết thế nào, bây giờ gặp lại vui mừng xiết bao! Bốn bàn tay nắm chặt, bên gọi "Nhị ca!", bên kêu "Ngũ đệ!" cả hai nước mắt rưng rưng, không nói nên lời.

Phía bên kia nghênh đón Ân Tố Tố rầm rộ lắm. Tám chiếc tù và bằng ốc biển loại lớn được thổi lên cùng lúc, Lý đường chủ đứng trên cùng, Phong Trình hai đàn chủ đứng phía sau Lý đường chủ, tiếp đến cả trăm giáo chúng. Từ thuyền lớn xuống bè có bắc ván làm cầu, bảy tám thủy thủ dùng sào dài móc giữ chiếc bè. Ân Tố Tố dắt Vô Kỵ theo tấm ván đi lên thuyền.

Giáo chủ Bạch Mi Ưng Vương Ân Thiên Chính chia Thiên Ưng giáo ra làm Nội tam đường, Ngoại ngũ đàn, để cai quản các lộ giáo chúng. Nội tam đường là Thiên Vi đường, Tử Vi đường và Thiên Thị đường. Ngoại ngũ đàn là Thanh Long đàn, Bạch Hổ đàn, Huyền Vũ đàn, Chu Tước đàn và Thần Xà đàn. Đường chủ của Thiên Vi đường là Ân Dã Vương, trưởng tử của Ân Thiên Chính. Đường chủ của Tử Vi đường là Ân Tố Tố, còn đường chủ của Thiên Thị đường là Lý Thiên Viên, sư đệ của Ân Thiên Chính.

Lý Thiên Viên thấy Ân Tố Tố áo quần lam lũ, làm bằng lông và da thú, dắt theo một hài đồng thì không khỏi kinh ngạc, nhưng tức thời mừng rỡ, cười nói:

– Tạ trời tạ đất, cháu đã về, mười năm qua gia gia cháu mong ngóng quá chừng!

Ân Tố Tố vái lạy, nói:

– Sư thúc vẫn khỏe chứ?

Rồi bảo Vô Kỵ:

– Mau khấu đầu trước sư thúc tổ đi con.

Vô Kỵ quỳ xuống khấu đầu, đôi mắt đen láy chăm chăm nhìn Lý Thiên Viên. Thằng bé thấy trên thuyền quá đông người thì không khỏi hiếu kỳ.

Ân Tố Tố đứng dậy, nói:

– Sư thúc, đây là con của điệt nữ, cháu tên Vô Kỵ.

Lý Thiên Viên sửng sốt, nhưng lập tức cười ha hả, nói:

– Hay lắm, hay lắm! Gia gia cháu sẽ sướng điên người mất, không những quý nữ trở về, còn đem theo một đứa cháu ngoại tuấn tú thế này.

Ân Tố Tố thấy trên sàn cả hai chiếc thuyền đều ngổn ngang mấy tử thi, máu tươi vương vãi, bèn hỏi nhỏ:

– Đối phương là ai? Vì sao động võ?

Lý Thiên Viên nói:

– Là người của phái Võ Đang và phái Côn Luân đó.

Ân Tố Tố ban nãy nghe trượng phu gọi "Du sư ca" rồi nhảy lên chiếc thuyền bên kia, ôm chầm lấy một người, thì biết là bên đó có người của phái Võ Đang, bây giờ nghe Lý Thiên Viên nói vậy, bèn nói:

– Tốt nhất là đừng động thủ, cố hóa giải thì hơn.

Lý Thiên Viên nói:

– Phải.

Lý Thiên Viên tuy là sư thúc, nhưng trong Thiên Ưng giáo, Thiên Thị đường xếp chót trong Nội tam đường, sau Tử Vi đường. Luận về sư môn, Lý Thiên Viên ở vai trên, nhưng xử lý giáo vụ thì Ân Tố Tố có quyền cao hơn sư thúc.

Bỗng nghe Trương Thúy Sơn từ thuyền bên kia gọi:

– Tố Tố, Vô Kỵ, hãy sang bên này chào sư ca của ta.

Ân Tố Tố dắt Vô Kỵ đi sang thuyền bên kia. Lý Thiên Viên và Trình, Phong hai đàn chủ sợ nàng có điều gì thất thố, vội nối gót theo sau.

Sang đến thuyền bên kia, thấy có bảy tám người đứng, một người cao gầy trạc ngoại tứ tuần nắm tay Trương Thúy Sơn, thần thái vô cùng thân thiết. Trương Thúy Sơn nói:

– Tố Tố, đây là Du nhị sư ca mà ta thường nhắc đến! Nhị ca, còn đây là vợ tiểu đệ và cháu Vô Kỵ.

Du Liên Châu và Lý Thiên Viên nghe vậy thì cùng kinh ngạc. Thiên Ưng giáo và phái Võ Đang, hai bên chính đang liều chết ác đấu, nào ngờ mỗi bên lại có một nhân vật trọng yếu kết thành phu phụ, hơn thế nữa lại sinh một hài tử.

Du Liên Châu biết rằng nguyên ủy bên trong có nhiều uẩn khúc, chẳng thể nói rõ ngay được, bèn giới thiệu Trương Thúy Sơn với những người khác trên thuyền.

Một đạo nhân đội mũ vàng mập lùn là Tây Hoa Tử thuộc phái Côn Luân, một phụ nữ trung niên là sư muội của Tây Hoa Tử, Thiểm Điện nương nương Vệ Tứ Nương, người trên giang hồ vẫn gọi sau lưng mụ là Thiểm Điện nương nương. Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố từng nghe danh hai người này. Những người khác cũng đều là hảo thủ của phái Côn Luân, nhưng không nổi danh bằng Tây Hoa Tử và Vệ Tứ Nương. Lão Tây Hoa Tử tuy đã đứng tuổi nhưng không điềm tĩnh chút nào, vừa mở miệng đã hỏi ngay:

– Trương ngũ hiệp, tên ác tặc Tạ Tốn hiện ở đâu, ngũ hiệp có biết không?

Trương Thúy Sơn chưa về đến Trung thổ, còn đang ở giữa biển cả mênh mông đã gặp hai cái khó, một là bản môn rốt cuộc đang động thủ với Thiên Ưng giáo; hai là vừa gặp, ai cũng hỏi Tạ Tốn ở đâu. Chàng nhất thời chưa biết trả lời ra sao, bèn hỏi Du Liên Châu:

– Nhị ca, rốt cuộc chuyện này thế nào?

Tây Hoa Tử thấy Trương Thúy Sơn không trả lời câu hỏi của lão, liền nổi nóng quát to:

– Ngươi có nghe ta hỏi không? Tên ác tặc Tạ Tốn hiện ở đâu?

Trong phái Côn Luân, Tây Hoa Tử có địa vị rất cao, võ công xuất chúng, hống hách đã quen.

Phong đàn chủ của Thần Xà đàn thuộc Thiên Ưng giáo là người nham hiểm, trong cuộc ác đấu vừa rồi có hai đệ tử bị mất mạng dưới kiếm của Tây Hoa Tử, nên đang căm tức lão, lúc này bèn lạnh lùng nói:

– Trương ngũ hiệp là ái tế[40] của giáo chủ bổn giáo, ngươi nói năng nên lễ độ một chút.

Tây Hoa Tử cả giận, nói to:

– Yêu nữ của tà giáo, há được phép kết hôn với đệ tử danh môn chính phái? Vụ hôn phối này hẳn có điều mờ ám.

Phong đàn chủ cười khẩy, nói:

– Ân giáo chủ bổn giáo đã có cháu ngoại rồi, ngươi nói quàng nói xiên gì chứ?

Tây Hoa Tử tức giận nói:

– Con yêu nữ..

Vệ Tứ Nương đã nhận ra dụng ý của Phong đàn chủ là vừa muốn xúi giục hai phái Côn Luân và Võ Đang hiềm khích với nhau, vừa nhân đây lấy lòng Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố, mụ biết Tây Hoa Tử càng nói càng phun ra những lời khó nghe, vội can:

– Sư huynh, đừng nên đôi co những lời vô vị với họ, mọi người hãy nghe Du nhị hiệp chỉ giáo.

Du Liên Châu nhìn Trương Thúy Sơn, nhìn Ân Tố Tố một hồi, trong lòng có biết bao nghi vấn, nói:

– Mọi người hãy vào trong khoang nói chuyện. Những huynh đệ cả đôi bên bị tử thương, hãy mau cứu chữa trước đã.

Lúc này Thiên Ưng giáo là khách, mà quyền lực cao nhất hiện thuộc về đường chủ Tử Vi đường Ân Tố Tố. Nàng dắt Vô Kỵ đi vào khoang trước, tiếp đến Lý Thiên Viên.

Khi Phong đàn chủ bước vào khoang, chợt cảm thấy có làn gió nhẹ thổi tới sau lưng, y là người lịch lãm, biết ngay là đòn đánh lén của Tây Hoa Tử, y không đỡ mà nhào về phía trước và kêu to:

– Ối chà, đánh trộm à?

Thế là chiêu "Tam âm thủ" của Tây Hoa Tử bị hụt, ai nấy cùng quay lại nhìn hai người.

Vệ Tứ Nương đưa mắt lườm sư huynh. Mặt Tây Hoa Tử từ màu tía chuyển sang màu hồng. Ai nấy biết rằng khi đã lên thuyền này, cả bọn Phong đàn chủ đều là khách, cái trò đánh lén của Tây Hoa Tử thật làm mất đi thân phận của một cao thủ danh môn chính phái.

Hai bên phân chủ khách ngồi xuống. Ân Tố Tố là thủ tịch phía khách, Vô Kỵ đứng bên cạnh mẹ. Phía chủ thì Du Liên Châu đứng đầu, chàng chỉ chiếc ghế bên dưới Vệ Tứ Nương, nói:

– Ngũ đệ, ngồi đó đi.

Trương Thúy Sơn vâng lời ngồi xuống. Như thế hai vợ chồng Trương – Ân thành ra hai bên chủ khách, cũng là vào thế đối địch nhau.

Mười năm qua, Du Đại Nham bị trọng thương không thể ra ngoài, Trương Thúy Sơn mất tích, sống chết không ai hay, còn lại Võ Đang ngũ hiệp danh tiếng càng thêm lừng lẫy. Tống Viễn Kiều, Du Liên Châu tuy chỉ là đệ tử đời thứ hai trong phái Võ Đang, nhưng trong võ lâm thì nghiễm nhiên ngang hàng với các cao tăng của phái Thiếu Lâm. Người trên giang hồ đối với Võ Đang ngũ hiệp cực kỳ kính trọng, vì vậy Tây Hoa Tử, Vệ Tứ Nương phải nhường cho Du Liên Châu vai thủ tịch.

Du Liên Châu nghĩ thầm: "Ngũ đệ mất tích mười năm, hóa ra đã cùng con gái của giáo chủ Thiên Ưng giáo kết thành phu phụ, nếu bây giờ tra vấn trước mặt mọi người, ngũ đệ ắt có điều khó nói". Bèn cao giọng nói:

– Chúng ta bao gồm Thiếu Lâm, Côn Luân, Nga Mi, Không Động, Võ Đang, cộng là năm phái, Thần Quyền, Ngũ Phụng Đao, cộng là chín môn, Hải Sa, Cự Kình, bảy bang, tổng cộng hai mươi mốt môn phái bang hội, vì việc truy tìm ba người là Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn, Ân cô nương của Thiên Ưng giáo và sư đệ Trương Thúy Sơn của tệ phái, mà có sự hiểu lầm với Thiên Ưng giáo, không may đôi bên đều có người tử thương, mười năm qua võ lâm chẳng được yên..

Du Liên Châu nói tới đây thì ngừng một lát, rồi mới nói tiếp:

– Thật may Ân cô nương và Trương sư đệ đột nhiên xuất hiện, biết bao nghi vấn sẽ lộ rõ chân tướng. Nhưng sự việc trong mười năm qua có quá nhiều uẩn khúc, không thể nói rõ ngay một lần. Tại hạ thiết nghĩ, chúng ta hãy cùng trở về đất liền, Ân cô nương bẩm rõ với giáo chủ, tệ sư đệ cũng về núi Võ Đang bẩm với gia sư, sau đó hai bên sẽ chọn nơi hội ngộ, phân biện phải trái đúng sai, nếu qua đó có thể biến cừu thù thành bằng hữu thì không gì bằng..

Tây Hoa Tử đột nhiên nói xen vào:

– Tên ác tặc Tạ Tốn hiện giờ ở đâu? Kẻ chúng ta cần tìm là tên ác tặc Tạ Tốn.

Trương Thúy Sơn nghe nói vì việc tìm kiếm ba người mình mà hai mươi hai môn phái bang hội trong võ lâm Trung nguyên đại động can qua, đánh nhau mười năm, chết chóc hẳn không ít thì trong lòng vô cùng áy náy. Chàng lại nghe Tây Hoa Tử luôn mồm truy vấn chỗ ở của Tạ Tốn, càng cảm thấy khó nói. Nếu nói thẳng ra, sẽ có không biết bao nhiêu cao thủ võ lâm đi Băng Hỏa đảo tìm Tạ Tốn báo thù; còn nếu không nói, vậy giấu bằng cách nào đây? Chàng đang phân vân, Ân Tố Tố đột nhiên nói:

– Tên ác tặc Tạ Tốn không từ việc ác, giết người không ghê tay, đã chết cách nay chín năm rồi.

Du Liên Châu, Tây Hoa Tử, Vệ Tứ Nương cùng kinh ngạc kêu lên:

– Tạ Tốn chết rồi ư?

Ân Tố Tố nói:

– Hôm tiểu nữ sinh hài nhi này, tên ác tặc Tạ Tốn nổi cơn điên, định sát hại ngũ ca và tiểu nữ, bỗng nghe tiếng khóc của hài nhi, tâm bệnh phát tác, cái tên ác tặc Tạ Tốn hành động điên loạn đã chết tức thì.

Lúc này Trương Thúy Sơn chợt hiểu, lúc Ân Tố Tố nhắc lại câu "cái tên ác tặc Tạ Tốn đã chết rồi", cũng không phải là nói trái sự thực, bởi lẽ từ khi Tạ Tốn nghe thấy tiếng khóc chào đời của Vô Kỵ, thiên lương liền trỗi dậy, chấm dứt cơn điên, bỏ ác hướng thiện, cho đến hôm Tạ Tốn buộc ba người rời đảo trở về, rõ ràng đó là hành vi xả kỷ vị nhân[41], đại nhân đại nghĩa, do đó hoàn toàn có thể nói "tên ác tặc Tạ Tốn không từ việc ác, giết người không ghê tay kia đã chết chín năm về trước", và "Tạ Tốn cao thượng" đã sinh ra chín năm về trước.

Tây Hoa Tử nhăn mũi hừ một tiếng, lão cho rằng Ân Tố Tố là yêu nữ của tà giáo, lời nàng chẳng thể tin. Lão nói, giọng gay gắt:

– Trương ngũ hiệp, tên ác tặc Tạ Tốn có chết thật hay không?

Trương Thúy Sơn thản nhiên đáp:

– Đúng, tên ác tặc Tạ Tốn hành động điên loạn đã chết từ chín năm trước.

Vô Kỵ đứng bên, nghe mọi người chửi rủa tên ác tặc Tạ Tốn, cha mẹ nó thậm chí nói Tạ Tốn chết từ lâu rồi, nó tuy thông minh, nhưng làm sao hiểu nổi uẩn khúc chốn giang hồ? Tạ Tốn đối với nó ân sâu nghĩa nặng, chăm chút che chở cho nó đâu kém gì phụ mẫu, nó cảm thấy quá đau lòng, nhịn không được khóc òa lên, nói:

– Nghĩa phụ không phải là ác tặc, nghĩa phụ chưa chết, nghĩa phụ chưa chết!

Tiếng khóc và lời nói của thằng bé khiến mọi người trên thuyền cùng kinh hãi.

Ân Tố Tố cả giận, tát cho Vô Kỵ một cái, quát:

– Câm miệng!

Vô Kỵ mếu máo nói:

– Mẹ, sao mẹ lại bảo nghĩa phụ chết rồi? Nghĩa phụ rõ ràng còn sống kia mà?

Thằng bé từ nhỏ chỉ sống chung với ba người là phụ mẫu và nghĩa phụ, các mưu mô dối trá của người đời nó chưa từng gặp; nếu là một đứa trẻ sống trong giang hồ, dù chỉ thông minh bằng nửa nó thôi, cũng thừa biết người đời nói dối như cơm bữa, thì đâu có gây ra đại họa? Ân Tố Tố mắng nó:

– Người lớn đang nói chuyện, con nít không được xen vào! Mọi người đang nói về tên ác tặc Tạ Tốn, chứ đâu phải nói về nghĩa phụ của ngươi.

Vô Kỵ hoang mang không hiểu, nhưng cũng không dám nói nữa.

Tây Hoa Tử cười nhạt, hỏi Vô Kỵ:

– Tiểu đệ đệ, Tạ Tốn là nghĩa phụ của tiểu đệ đệ, đúng không? Hiện giờ Tạ Tốn ở đâu?

Vô Kỵ nhìn mặt phụ mẫu, biết rằng những điều họ nói là vô cùng hệ trọng, nghe Tây Hoa Tử hỏi vậy, bèn lắc đầu:

– Hài nhi không nói đâu.

Năm tiếng "Hài nhi không nói đâu" của nó càng chứng tỏ Tạ Tốn chưa chết.

Tây Hoa Tử trừng mắt nhìn Trương Thúy Sơn, nói:

– Trương ngũ hiệp, vị Ân cô nương của Thiên Ưng giáo kia có đúng là phu nhân của ngũ hiệp chăng?

Trương Thúy Sơn không ngờ lão ta lại hỏi như vậy, liền đáp:

– Phải, nàng là hiền thê của tại hạ.

Tây Hoa Tử gằn giọng:

– Phái Côn Luân chúng tôi có hai đệ tử bị hại bởi tôn phu nhân, biến thành sống dở chết dở, món nợ đó tính sao đây?

Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố đều kinh ngạc. Ân Tố Tố chặn ngay:

– Nói năng hồ đồ!

Trương Thúy Sơn nói:

– Việc đó chắc là sự hiểu lầm, vợ chồng tại hạ xa Trung thổ đã mười năm, làm sao có thể bức hại đệ tử của quý phái?

Tây Hoa Tử nói:

– Mười năm trước thì sao? Cao Tắc Thành và Tưởng Đào, hai người bị hại, tính ra cũng mười năm rồi.

Ân Tố Tố hỏi:

– Cao Tắc Thành và Tưởng Đào ư?

Tây Hoa Tử đáp:

– Phu nhân còn nhớ hai người đó chứ? Chỉ sợ phu nhân giết nhiều người quá, nhớ không xuể nữa.

Ân Tố Tố nói:

– Hai người ấy ra sao? Vì cớ gì vu cho tiểu nữ làm hại họ?

Tây Hoa Tử ngửa mặt cười ha hả, nói:

– Ta vu cho người, ta vu cho người ư? Ha ha! Cao Tắc Thành và Tưởng Đào tuy đã mất trí, nhưng vẫn nhớ được một việc, nói ra tên kẻ đã hại họ chính là "Ân.. Tố.. Tố!"

Ba chữ "Ân Tố Tố", Tây Hoa Tử dằn mạnh từng tiếng, cách nói đầy vẻ oán độc, cặp mắt lão trừng trừng nhìn nàng, tựa hồ hận không thể tuốt gươm băm vằm cho hả giận.

Phong đàn chủ đột nhiên xen vào:

– Khuê danh của đường chủ Tử Vi đường bổn giáo há để cho lão đạo gọi ra tùy tiện? Đến giới luật thanh quy còn không theo đúng, mà đòi làm tiền bối võ lâm ư? Trình hiền đệ, hiền đệ thử xem trên đời có việc nào vô liêm sỉ đến thế không?

Trình đàn chủ tiếp lời:

– Chưa từng có! Trong danh môn chính phái lại có một gã cuồng đồ như thế, thật tức cười, tức cười!

Tây Hoa Tử cả giận, quát to:

– Hai ngươi bảo ai vô liêm sỉ? Bảo ai tức cười?

Phong đàn chủ không thèm nhìn lão, nói:

– Trình hiền đệ, có kẻ mới học được vài chiêu kiếm pháp võ vẽ đã vội vênh mặt lên, hiền đệ bảo đó là hạng người gì?

Trình đàn chủ nói:

– Phái Côn Luân từ khi Linh Bảo đạo trưởng lìa trần, đời sau càng kém hơn đời trước, thật chẳng ra gì!

Linh Bảo đạo trưởng là sư tổ của Tây Hoa Tử, đức độ và võ công, ai ai trong võ lâm cũng kính phục. Tây Hoa Tử nghe câu đó thì giận tím cả mặt, nhưng không dám đốp lại, nếu bảo câu đó sai, có khác gì vỗ ngực bảo mình giỏi hơn cả sư tổ danh chấn thiên hạ? Lão nhảy ra cửa khoang thuyền, rút kiếm, quát to:

– Tên ác đồ của tà giáo kia, có giỏi hãy ra đây thử sức!

Phong đàn chủ và Trình đàn chủ sở dĩ muốn khích cho Tây Hoa Tử nổi giận là để giải vây cho Ân Tố Tố, nghĩ Trương Thúy Sơn và Ân đường chủ đã thành phu phụ, quan hệ giữa phái Võ Đang và Thiên Ưng giáo bây giờ đã khác hẳn lúc trước, dù Du Liên Châu và Trương Thúy Sơn không tiện ra tay thì ít ra cũng không giúp bên nào, như vậy Thiên Ưng giáo đối phó với mấy người của phái Côn Luân quá dễ dàng.

Vệ Tứ Nương cau mày, nhận ra điều đó, nghĩ rằng với sáu bảy người mình và sư ca, không thể địch nổi quá nhiều cao thủ của Thiên Ưng giáo, huống hồ Trương Thúy Sơn trọng tình phu phụ, hẳn sẽ ra tay trợ giúp đối phương, bèn nói:

– Sư ca, người ta lên thuyền bên mình thì là khách, chúng ta nên nghe Du nhị hiệp chỉ giáo là hơn.

Mụ ta đẩy việc xử lý cho Du Liên Châu, nghĩ với danh vọng và địa vị của mình, họ Du không thể thiên vị. Ai ngờ Tây Hoa Tử tính tình nóng nảy, quát to:

– Phái Võ Đang của y đã kết thân gia với Thiên Ưng giáo, hợp dòng ô uế với nhau rồi, y làm sao có thể nói năng công bằng nữa?

Du Liên Châu là người thâm trầm, hỉ nộ không lộ ra ngoài mặt, nghe Tây Hoa Tử nói vậy cũng chỉ im lặng.

Vệ Tứ Nương vội nói:

– Sư ca, sao lại nói năng hồ đồ thế! Phái Võ Đang với phái Côn Luân ta đồng khí liên chi, cội nguồn sâu xa, mười năm nay liên thủ chống địch, quan hệ bền chặt; Du nhị hiệp lại là một hảo hán thiết diện vô tư, anh danh lừng lẫy giang hồ, thiên hạ có ai không khâm phục? Võ Đang ngũ hiệp xử sự đâu có thiên vị bao giờ?

Tây Hoa Tử hừ một tiếng, nói:

– Cái đó chưa chắc!

Vệ Tứ Nương thầm mắng sư ca hồ đồ không hiểu ngụ ý của mụ, bèn cao giọng:

– Sư ca, sư ca tự dưng đắc tội với Võ Đang ngũ hiệp, nếu sư phụ và sư thúc chưởng môn hỏi tới thì muội không chịu đâu đấy.

Mụ chỉ luôn miệng "Võ Đang ngũ hiệp", không đả động gì tới Trương Thúy Sơn. Tây Hoa Tử nghe nhắc tới sư phụ và sư thúc chưởng môn, liền không dám nói nữa.

Du Liên Châu chậm rãi nói:

– Việc này liên quan đến các đại môn phái và đại bang hội trong võ lâm. Tại hạ vô đức vô năng, sao dám đưa ra chủ trương? Hơn nữa, việc này cũng đã mười năm rồi, có tốn thêm nửa năm hay một năm nữa cũng không phải là lâu. Tại hạ phải cùng Trương sư đệ trở về núi Võ Đang, bẩm rõ với ân sư và đại sư huynh, xin ân sư chỉ thị.

Tây Hoa Tử cười nhạt, nói:

– Cái chiêu "Như phong tự bế" của Du nhị hiệp dùng để thoái thác, quả thực quá cao minh.

Du Liên Châu là người vô cùng trầm tĩnh, không dễ nổi nóng, nhưng Tây Hoa Tử vừa nhạo báng chiêu "Như phong tự bế", chính là công phu phòng thủ nổi danh thiên hạ của phái Võ Đang do ân sư Trương Tam Phong sáng tạo, như thế có khác gì Tây Hoa Tử làm nhục ân sư; nhưng Du Liên Châu nghĩ thầm: "Vụ này xử lý không khéo một chút, sẽ dẫn tới kiếp nạn ghê gớm trong võ lâm. Lão đạo sĩ nói năng hồ đồ này chẳng đáng để mình phải tranh biện".

Tây Hoa Tử thấy Du Liên Châu nghe mấy câu lão vừa nói, liếc nhìn lão một cái, mà ánh mắt như tia chớp, thì giật mình nghĩ thầm: "Sư phụ và sư thúc chưởng môn của ta là cao thủ đứng đầu môn phái, mà nhãn thần xem ra không lợi hại bằng người này". Ánh mắt của Du Liên Châu chợt dịu lại, nói giọng bình thản:

– Tây Hoa đạo huynh có cao kiến gì, tại hạ xin rửa tai lắng nghe.

Tây Hoa Tử vừa bị ánh mắt của Du Liên Châu quét qua, còn khiếp đảm, quay sang nói với Vệ Tứ Nương:

– Sư muội, sư muội bảo sao, không lẽ chuyện của Cao, Tưởng hai người mình đành buông tay cho qua?

Vệ Tứ Nương chưa kịp đáp, bỗng từ hướng nam nổi lên tiếng tù và rền rĩ. Một đệ tử phái Côn Luân chạy vào cửa khoang, nói:

– Phái Không Động và Nga Mi đã tới tiếp ứng!

Tây Hoa Tử và Vệ Tứ Nương cả mừng, Vệ Tứ Nương nói:

– Du nhị hiệp, chúng ta hãy nghe cao kiến của phái Không Động và phái Nga Mi luôn thể.

Du Liên Châu nói:

– Được!

Lý Thiên Viên và Trình đàn chủ đưa mắt nhìn nhau, mặt hơi biến sắc.

Trương Thúy Sơn có thêm nỗi lo: "Phái Nga Mi chẳng đáng ngại, còn phái Không Động có thâm cừu với Tạ Tốn đại ca. Tạ Tốn đã đả thương Không Động ngũ lão, đoạt lấy bộ kinh Thất Thương Quyền, bọn họ chắc chắn đã khổ công truy tìm chỗ ở của đại ca".

Ân Tố Tố cũng nghĩ như thế, lại nghĩ giá như Vô Kỵ không nói ra lời ngây ngô của con trẻ thì sự việc đã dễ xử lý hơn rất nhiều. Thế nhưng nghĩ lại, Vô Kỵ từ nhỏ đến nay chưa bao giờ nghe nói dối, đối với Tạ Tốn tình sâu nghĩa nặng, bỗng dưng nghe bảo nghĩa phụ chết rồi, dĩ nhiên nó phải khóc phải kêu, chẳng thể trách mắng nó. Nàng nhìn má nó còn in vết mấy ngón tay hồng hồng bởi cái tát ban nãy, không khỏi thương thằng bé, bèn kéo nó vào lòng. Vô Kỵ vẫn chưa hết lo, ghé tai mẹ hỏi nhỏ:

– Mẹ, nghĩa phụ chưa chết, phải không mẹ?

Ân Tố Tố cũng ghé tai con, nói nhỏ:

– Chưa. Ta đánh lừa bọn họ đó. Mấy người kia độc ác, xấu xa, muốn hại nghĩa phụ của ngươi đó.

Vô Kỵ chợt hiểu, đưa mắt tức giận nhìn từng người, nghĩ thầm: "Hóa ra các người đều độc ác, xấu xa, định hại nghĩa phụ ta".

Từ hôm nay, Trương Vô Kỵ bước chân vào chốn giang hồ, bắt đầu thấy sự hiểm ác của lòng người trên thế gian. Nó đưa tay rờ má, cái tát của mẹ nó vẫn còn đau rát. Nó biết tuy là mẫu thân đánh nó, nhưng lại do mấy kẻ độc ác xấu xa kia gây nên. Từ nhỏ đến giờ nó sống trong vòng tay bao bọc yêu chiều của cha mẹ và nghĩa phụ, đâu biết trên đời có những kẻ địch tâm địa độc ác. Tuy Tạ Tốn đã kể chuyện Thành Côn, nhưng mới chỉ là tai nghe, đến lúc này nó mới mắt thấy và đối mặt trực tiếp với kẻ địch..

Comments

Comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 9: Thất hiệp trùng phùng, mừng mừng tủi tủi

Một lúc sau, có sáu bảy người thuộc phái Không Động, phái Nga Mi bước vào khoang thuyền chào hỏi Du Liên Châu, Tây Hoa Tử, Vệ Tứ Nương. Dẫn đầu phái Không Động là một lão niên gầy gò rắn rỏi, mặc áo vải gai. Dẫn đầu phái Nga Mi là một ni cô trung niên. Đám người vừa tới thấy bọn Lý Thiên Viên ở trong khoang thuyền thì không khỏi kinh ngạc.

Tây Hoa Tử lớn tiếng nói:

– Đường tam gia, Tĩnh Hư sư thái, phái Võ Đang đã liên thủ với Thiên Ưng giáo rồi! Kỳ này phe ta thua thiệt hẳn.

Lão niên gầy gò mặc áo vải gai là Đường Văn Lượng, một trong Không Động ngũ lão, còn ni cô Tĩnh Hư sư thái là đại đệ tử đời thứ tư của phái Nga Mi, đều là hảo thủ có danh vọng trong võ lâm, nghe Tây Hoa Tử nói vậy liền sững sờ. Tĩnh Hư sư thái là người tinh tế, vốn biết tính nóng nảy bộp chộp của Tây Hoa Tử, nên chưa nói gì. Riêng Đường Văn Lượng lập tức trợn mắt nhìn Du Liên Châu, hỏi:

– Du nhị hiệp, có đúng thế không?

Du Liên Châu chưa đáp, Tây Hoa Tử đã cướp lời:

– Phái Võ Đang đã kết thông gia với Thiên Ưng giáo, Trương Thúy Sơn đã thành ái tế của Ân Thiên Chính..

Đường Văn Lượng lấy làm lạ, nói:

– Trương ngũ hiệp mất tích mười năm, nay đã biết ở đâu rồi ư?

Du Liên Châu chỉ Trương Thúy Sơn, nói:

– Đây là ngũ sư đệ Trương Thúy Sơn của tại hạ, còn vị này là cao nhân tiền bối của phái Không Động, Đường tam gia Đường Văn Lượng, đôi bên hãy làm quen đi nào.

Tây Hoa Tử lại nói:

– Vợ chồng Trương Thúy Sơn biết chỗ ở của Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn, nhưng không chịu nói ra, lại còn tung tin bịa đặt rằng Tạ Tốn đã chết.

Đường Văn Lượng vừa nghe mấy chữ "Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn" thì vừa sợ vừa tức, quát hỏi:

– Hắn ở đâu?

Trương Thúy Sơn nói:

– Việc này tại hạ phải bẩm rõ với gia sư trước đã, chưa thể nói bây giờ, mong các vị hãy lượng thứ.

Đường Văn Lượng mắt như tóe lửa, quát:

– Tên ác tặc Tạ Tốn ở đâu? Hắn giết cháu ta, Đường mỗ thề không đội trời chung với hắn. Hắn ở đâu? Ngươi có nói hay không thì bảo?

Câu sau cùng giọng của lão thật gay gắt, không còn nể nang gì hết.

Ân Tố Tố lạnh lùng nói:

– Các hạ chẳng qua là nhân vật có tuổi của phái Không Động, đâu đủ tư cách truy vấn Trương ngũ gia? Các hạ là bậc chí tôn trong võ lâm, hay là chưởng môn phái Võ Đang?

Đường Văn Lượng cả giận, giơ cả mười ngón tay toan bổ về phía Ân Tố Tố, nhưng thấy nàng là một thiếu phụ mảnh mai, còn mình đường đường là nhân vật tiền bối thành danh trong võ lâm, thật không tiện động thủ với nàng, đành nén giận hỏi Trương Thúy Sơn:

– Vị này là ai?

Trương Thúy Sơn nói:

– Là hiền thê của tại hạ.

Tây Hoa Tử nói xen vào:

– Chính là thiên kim ái nữ của Ân đại giáo chủ Thiên Ưng giáo. Hừ, yêu nữ của tà giáo, có tốt lành gì.

Bạch Mi Ưng Vương Ân Thiên Chính võ công tinh thâm, cho tới nay, những ai trong võ lâm từng động thủ với Ân giáo chủ, chưa một ai chống đỡ nổi mười chiêu. Đường Văn Lượng vừa nghe nói nàng là nữ nhi của Bạch Mi Ưng Vương Ân Thiên Chính thì bất giác e ngại, chỉ nói:

– Được, được, được lắm!

Tĩnh Hư sư thái từ khi bước vào khoang thuyền vẫn im lặng, bây giờ mới lên tiếng:

– Việc này đầu đuôi ra sao, mong Du nhị hiệp cho biết.

Du Liên Châu nói:

– Chuyện này có rất nhiều uẩn khúc, lại kéo dài đã mười năm, nhất thời chưa thể làm sáng tỏ ngay một lúc. Thôi để ba tháng sau, tệ phái sẽ thiết yến tại lầu Hoàng Hạc ở Võ Xương, mời hết thảy các môn phái, bang hội hữu quan tham dự, đúng sai phải trái thế nào, bấy giờ sẽ rõ. Ý các vị ra sao?

Tĩnh Hư sư thái gật đầu:

– Như thế rất hay.

Đường Văn Lượng nói:

– Đúng sai phải trái, ba tháng sau luận cũng được, nhưng ác tặc Tạ Tốn ẩn thân nơi đâu, mong Trương ngũ hiệp hãy nói ngay bây giờ.

Trương Thúy Sơn lắc đầu:

– Hiện giờ quả thực chưa tiện nói ra.

Đường Văn Lượng tuy rất bất mãn, nhưng nghĩ thầm phái Võ Đang đã liên thủ với Thiên Ưng giáo, vậy tạm thời đành chịu, song lẽ công bằng là ở lòng người, để xem ba tháng sau họ sẽ ăn nói thế nào với quần hùng thiên hạ. Cho nên lão không nói thêm, liền đứng dậy, chắp tay nói:

– Vậy ba tháng sau tái kiến, cáo từ.

Tây Hoa Tử nói:

– Đường tam gia, mấy người chúng tôi đi nhờ thuyền các hạ trở về, có được chăng?

Đường Văn Lượng nói:

– Được, có gì mà không được Tây Hoa Tử nói với Vệ Tứ Nương:

– Sư muội, mình đi thôi.

Lão vốn đi cùng thuyền với Du Liên Châu tới đây, bây giờ làm thế, rõ ràng coi phái Võ Đang là thù địch. Du Liên Châu vẻ mặt thản nhiên, khách sáo tiễn ra mũi thuyền, nói:

– Chúng tôi về núi bẩm rõ với sư tôn, rồi sẽ gửi thiếp mời quý vị tới dự anh hùng yến.

Ân Tố Tố đột nhiên nói:

– Tây Hoa đạo trưởng, tiểu nữ có một việc muốn thỉnh giáo.

Tây Hoa Tử ngạc nhiên quay đầu lại hỏi:

– Việc gì vậy?

Ân Tố Tố nói:

– Đạo trưởng cứ luôn miệng bảo tiểu nữ là yêu nữ tà giáo, không biết tà ở việc gì, yêu ở chỗ nào?

Tây Hoa Tử sững người, nói:

– Tà ma ngoại đạo, hồ mị yêu dâm, thì là như thế, cần gì phải nói nhiều? Nếu không tại sao đường đường một vị Trương ngũ hiệp của phái Võ Đang lại bị ngươi mê hoặc kia chứ? Hi hi ha ha!

Nói đoạn lão ta cười khẩy một hồi.

Ân Tố Tố nói:

– Được, đa tạ đã chỉ điểm!

Tây Hoa Tử thấy câu nói của mình khiến cho Ân Tố Tố á khẩu vô ngôn, cũng lấy làm bất ngờ, thấy nàng không nói gì nữa, bèn bước lên tấm ván bắc cầu đi sang thuyền phái Không Động.

Hai chiếc hải thuyền đều thuộc loại lớn có ba cột buồm, tuy đậu cạnh nhau nhưng cũng cách nhau ngót hai trượng, cầu ván bắc ngang rất dài. Tây Hoa Tử đối đáp mấy câu với Ân Tố Tố, nên thành người đi sau cùng, mấy người kia đã sang chiếc thuyền bên kia cả rồi. Tây Hoa Tử đi tới giữa tấm ván, chợt nghe sau lưng có tiếng gió thoảng, kèm theo một tiếng xoẹt nhỏ. Lão ta tuy tính tình nóng nảy, song võ công chẳng phải vừa, hành tẩu giang hồ đã nhiều, biết là có kẻ ám toán nên lập tức quay người lại rút trường kiếm cầm lăm lăm. Ngay lúc đó, lão ta thấy dưới chân hẫng hụt, tấm ván bắc cầu đã gãy rời làm đôi. Lão ta vội tung mình nhảy lên, nhưng giữa hai chiếc thuyền là khoảng không, dưới chân là biển sâu màu lam, nhảy thêm rồi đâu có thể nhảy lên lần nữa, "ùm" một tiếng, lão ta đã rơi xuống nước.

Tây Hoa Tử không biết bơi, thế là phải uống liền mấy ngụm nước mặn, hai tay đập loạn xạ, đột nhiên túm được một sợi dây thừng, lão mừng quá, giữ chặt lấy, cảm thấy có người đang kéo dây đưa mình lên mặt nước. Tây Hoa Tử ngẩng đầu nhìn, thấy người cầm đầu dây chính là Trình đàn chủ của Thiên Ưng giáo, đang tủm tỉm cười.

Thì ra Ân Tố Tố giận lão nói năng vô lễ, đợi lúc khách qua thuyền, bí mật dặn Phong Trình hai đàn chủ sắp đặt mưu kế. Phong đàn chủ nổi danh giang hồ về tuyệt kỹ sử dụng ba mươi sáu lưỡi phi đao, xuất thủ vừa nhanh vừa chuẩn xác. Mỗi lưỡi phi đao đều do thợ giỏi rèn bằng thép ròng, mỏng như lá liễu, sắc bén lạ thường; đối thủ nếu đưa binh khí ra đỡ phi đao của y, thường là binh khí sẽ bị tiện đứt. Vừa rồi y dùng phi đao cắt ván cầu, chỉ nghe xoẹt một tiếng nhỏ là ván đã đứt luôn. Trình đàn chủ đứng bên chuẩn bị sẵn dây thừng, đợi Tây Hoa Tử uống vài ngụm nước biển mới tung dây kéo lão ta lên.

Bọn Vệ Tứ Nương, Đường Văn Lượng thấy Tây Hoa Tử rơi xuống biển, tuy đoán là thủ đoạn của đối phương nhưng Phong đàn chủ xuất thủ quá lẹ, mọi người lại chỉ chú ý phía trước, đâu có ai nhìn thấy ván cầu đứt đôi như thế nào, đến lúc mọi người hô cứu thì Trình đàn chủ đã kéo được Tây Hoa Tử lên mặt nước.

Tây Hoa Tử nén giận, định bụng khi lên trên thuyền sẽ lập tức tấn công đối phương. Nào ngờ Trình đàn chủ chỉ kéo lão lên cách mặt nước chừng một thước, rồi không kéo nữa, mà nói:

– Đạo trưởng, nhất thiết không được động đậy, tại hạ sức yếu, đạo trưởng cử động mạnh e rằng tại hạ tuột tay thì nguy đấy.

Tây Hoa Tử nghĩ thầm, nếu y giả bộ ngây dại, cho mình rơi xuống biển lần nữa, chỉ e chẳng phải chuyện đùa, thôi đành nắm chắc dây thừng ở yên một chỗ, không dám leo lên.

Trình đàn chủ nói:

– Cẩn thận này!

Cánh tay y hất một cái, sợi thừng vút lên không thành một nửa vòng tròn. Cánh tay y quá khỏe, hất một cái mà đẩy Tây Hoa Tử văng đi xa bảy, tám trượng, rồi kéo giật lại, cho rơi xuống thuyền bên kia.

Tây Hoa Tử buông dây ra, hai chân đặt trên sàn thuyền. Thanh kiếm của lão ta đã bị rơi xuống biển, lúc này lão ta giận điên người, lại nghe tiếng reo cười nổi lên bên thuyền của Thiên Ưng giáo, liền rút thanh bội kiếm của Vệ Tứ Nương đang giắt bên lưng, toan nhảy qua thí mạng. Nhưng hai thuyền cách nhau quá xa, khó lòng vọt qua, lão ta đành hậm hực dậm chân, chỉ tay chửi rủa, chẳng làm gì được.

Ân Tố Tố bỡn cợt Tây Hoa Tử như thế, Du Liên Châu nhìn thấy hết, nghĩ thầm thiếu phụ này quả thực tà môn, không phải mối lương duyên của ngũ đệ, bèn nói:

– Ân, Lý hai vị đường chủ, phiền hai vị về bẩm báo với Ân giáo chủ, ba tháng sau yến hội tại lầu Hoàng Hạc ở Vũ Xương, nếu lão nhân gia không coi là nhẹ, thỉnh người giá lâm. Hôm nay chúng ta từ biệt ở đây. Ngũ đệ, ngũ đệ theo huynh về gặp ân sư chứ?

Trương Thúy Sơn nói:

– Vâng!

Ân Tố Tố thấy Du Liên Châu nói vậy, có ý bảo vợ chồng nàng phải xa nhau, bèn ngẩng lên nhìn trời, rồi cúi xuống sàn thuyền.

Trương Thúy Sơn biết nàng có ý nhắc lại lời thề "Trên trời dưới đất, vĩnh viễn bên nhau", bèn nói:

– Nhị ca, tiểu đệ muốn đưa thê tử về khấu kiến ân sư, chờ khi nào lão nhân gia cho phép, sẽ đi bái kiến nhạc phụ, nhị ca nghĩ có được chăng?

Du Liên Châu hơi trù trừ, nghĩ thầm mình không nỡ bảo phu thê phụ tử sư đệ phải phân ly, nên gật đầu nói:

– Thế cũng được.

Ân Tố Tố cả mừng, nói với Lý Thiên Viên:

– Sư thúc, sư thúc hãy về bẩm với phụ thân tiểu nữ, rằng đứa con bất hiếu này may mắn thoát chết, ít bữa nữa sẽ trở về tổng đà bái kiến lão nhân gia.

Lý Thiên Viên nói:

– Hay lắm, ta ở tổng đà sẽ cung kính chờ đón hai vị đại giá.

Đoạn đứng lên cáo biệt Du Liên Châu.

Ân Tố Tố hỏi:

– Phụ thân tiểu nữ có khỏe không?

Lý Thiên Viên nói:

– Khỏe, khỏe lắm! Xem ra tinh thần còn mạnh mẽ hơn xưa.

Ân Tố Tố lại hỏi:

– Còn ca ca của tiểu nữ?

Lý Thiên Viên nói:

– Khỏe lắm! Lệnh huynh mấy năm nay võ công đột phi mãnh tiến, khiến sư thúc cố theo chẳng kịp, thật đáng hổ thẹn cho ta!

Ân Tố Tố mỉm cười:

– Sư thúc lại giễu cợt điệt nhi rồi.

Lý Thiên Viên nghiêm mặt nói:

– Ta không nói đùa đâu! Ngay cả phụ thân ngươi cũng phải khen ngợi là hắn đã giỏi hơn thầy, ngươi bảo thế có lợi hại không nào?

Ân Tố Tố nói:

– Ôi, trước mặt người ngoài, sư thúc mèo khen mèo dài đuôi, không sợ Du nhị hiệp chê cười hay sao.

Lý Thiên Viên cười:

– Trương ngũ hiệp đã là rể quý của chúng ta, Du nhị hiệp đâu còn là người ngoài nữa.

Nói xong ôm quyền cung kính chào, rồi bước ra khỏi khoang thuyền.

Du Liên Châu nghe mấy câu đó, trong lòng chẳng vui chút nào, chỉ hơi cau mày, không nói gì.

Trương Thúy Sơn chờ đám giáo chúng Thiên Ưng giáo rời thuyền rồi, vội hỏi:

– Nhị ca, thương thế của tam ca sau đó ra sao? Tam ca có.. đỡ chút nào không?

Du Liên Châu "ừm" một tiếng, hồi lâu không đáp. Trương Thúy Sơn thì bồn chồn, chằm chằm nhìn sư ca, trong lòng cứ nổi lên cảm giác lo lắng, chỉ sợ nghe sư ca nói đến chữ "chết".

Du Liên Châu chậm rãi nói:

– Tam đệ không chết, nhưng so với chết cũng chẳng khác bao nhiêu. Tam đệ tàn phế suốt đời, tứ chi không cử động được. Du Đại Nham Du tam hiệp, than ôi, trên giang hồ không còn nhân vật đó nữa!

Trương Thúy Sơn nghe nói tam ca không chết, lòng mừng rỡ, nhưng nghĩ tới một vị sư ca anh phong hiệp cốt mà phải chịu cảnh như thế thì chàng không nhịn được ứa nước mắt, nghẹn ngào hỏi:

– Cừu nhân hại tam ca là ai? Đã tìm ra chưa?

Du Liên Châu không đáp, ngoảnh đầu lại, đột nhiên mục quang như hai tia chớp chiếu thẳng vào mặt Ân Tố Tố, nghiêm nghị hỏi:

– Ân cô nương, cô nương có biết kẻ hại Du tam đệ của ta là ai không?

Ân Tố Tố không khỏi run rẩy, nói:

– Nghe bảo gân cốt tứ chi của Du tam hiệp bị người ta dùng "Kim cương chỉ lực" của phái Thiếu Lâm bẻ gãy.

Du Liên Châu nói:

– Đúng thế. Cô nương không biết là ai ư?

Ân Tố Tố lắc đầu, nói:

– Muội không biết.

Du Liên Châu không để ý đến nàng nữa, nói:

– Ngũ đệ, phái Thiếu Lâm nói là đệ đã giết tất cả già trẻ lớn bé của tiêu cục Long Môn ở phủ Lâm An, lại giết cả mấy vị tăng nhân phái Thiếu Lâm. Việc đó thật hay giả?

Trương Thúy Sơn nói:

– Việc đó..

Ân Tố Tố nói xen vào:

– Việc đó không liên quan gì tới ngũ ca, tất cả là do muội giết đấy.

Du Liên Châu nhìn nàng, mục quang lộ vẻ cực kỳ thống hận, nhưng trong giây lát liền dịu đi, vẻ mặt trở lại bình hòa, nói:

– Ta cũng biết ngũ đệ không đời nào giết người bừa bãi. Vì chuyện đó mà phái Thiếu Lâm ba lần cử người lên núi Võ Đang lý luận, song vì ngũ đệ đột nhiên mất tích, võ lâm ai ai cũng biết, nên việc đó không có ai đối chứng. Chúng ta nói phái Thiếu Lâm hại tam đệ, phái Thiếu Lâm thì nói ngũ đệ giết của họ mấy chục người. Rất may chưởng môn trụ trì Thiếu Lâm tự là Không Văn đại sư lão thành trì trọng không cho gây sự, nên mười năm nay mới tránh khỏi đại họa.

Ân Tố Tô nói:

Tất cả là do muội hồi ấy trẻ người non dạ, hành sự không biết nặng nhẹ tốt xấu, bây giờ nghĩ lại thật hối hận vô cùng. Thế nhưng người thì đã chết rồi, bây giờ mình cứ chối biến, không nhận đến cùng, là xong chuyện.

Du Liên Châu lộ vẻ mặt lạ lùng, liếc Trương Thúy Sơn một cái, nghĩ thầm sao hạng nữ nhi thế này mà ngũ đệ lại lấy làm vợ được.

Ân Tố Tố thấy Du Liên Châu tỏ ra lạnh nhạt với nàng, mở miệng chỉ gọi Ân cô nương, không hề gọi nàng là "đệ tức" (em dâu), thì bực thầm trong bụng, nói:

– Ai làm nấy chịu. Vụ đó muội quyết không để liên lụy đến phái Võ Đang của nhị ca, cứ để cho phái Thiếu âm đến kiếm Thiên Ưng giáo là xong.

Du Liên Châu cao giọng:

– Trên giang hồ, mọi việc không thể bỏ qua chữ "Lý", không kể phái Thiếu Lâm hiện tà phái lớn nhất trong võ lâm, ngay đến cô nhi quả phụ vô quyền vô dũng, chúng ta cũng phải xử sự theo lý, chứ không thể ỷ mạnh hiếp yếu.

Nếu là mười năm trước, những lời giáo huấn nghiêm khắc của Du Liên Châu hẳn đã làm cho Ân Tố Tố thẹn quá hóa khùng, rút kiếm gây chuyện; nhưng bây giờ nàng thấy Trương Thúy Sơn cung kính vâng dạ, nên chỉ nghĩ thầm: "Mình chẳng muốn nghe mấy lời nhân nghĩa đạo đức, nhưng nếu cãi lại, chỉ e Trương lang thêm khó xử, thôi đành nhường nhịn vậy". Nàng bèn dắt tay Vô Kỵ, nói:

– Vô Kỵ, để mẹ cho con ra xem chiếc thuyền lớn, con chưa bao giờ thấy nó, phải không?

Trương Thúy Sơn đợi thê tử ra khỏi khoang rồi, mới nói:

– Nhị ca, mười năm qua, tiểu đệ..

Du Liên Châu xua tay, nói:

– Ngũ đệ, huynh đệ hai ta bụng nào dạ nấy, tình như cốt nhục, dù có họa lớn đến mấy, nhị ca cũng sống chết cùng với ngũ đệ. Chuyện của phu phụ ngũ đệ, đừng nói với nhị ca vội, để về núi nghe sư phụ định đoạt. Nếu sư phụ trách phạt ngũ đệ, cả huynh đệ bảy người chúng ta cùng quỳ xuống cầu xin, hài nhi của ngũ đệ cũng đã lớn ngần này rồi, không lẽ sư phụ còn bắt phu thê phụ tử ngũ đệ mỗi người một ngả sao?

Trương Thúy Sơn cả mừng, nói:

– Đa tạ nhị ca.

Du Liên Châu bề ngoài cứng rắn, bên trong nhiệt thành, trong Võ Đang thất hiệp chính là người ít nói cười nhất, được năm sư đệ kính nể Du Liên Châu còn hơn cả so với đại sư ca Tống Viễn Kiều. Thực ra Du Liên Châu đối đãi với sư huynh đệ tình sâu nghĩa nặng, khi Trương Thúy Sơn đột nhiên mất tích, trong lòng Du Liên Châu đau đớn như muốn phát điên, nhưng ngoài mặt làm như vô sự; hôm nay sư huynh sư đệ trùng phùng, thực là hỉ sự đầu tiên trong đời Du Liên Châu, nhưng Du vẫn phải giữ vẻ nghiêm nghị, giáo huấn cho Ân Tố Tố một chập, bây giờ chỉ còn hai huynh đệ với nhau thì mới hơi lộ chân tình.

Điều Du Liên Châu lo ngại nhất là Ân Tố Tố đã giết quá nhiều đệ tử Thiếu Lâm, việc đó quyết không dễ thu xếp chút nào, nhưng tâm ý đã định sẵn, dù mình chết cũng phải bảo hộ cho gia đình sư đệ bình an chu toàn.

Trương Thúy Sơn lại hỏi:

– Nhị ca, bên mình xảy ra tranh chấp lớn với Thiên Ưng giáo, có phải cũng là vì phu phụ tiểu đệ? Việc này làm cho tiểu đệ vô cùng lo lắng.

Du Liên Châu không đáp, hỏi lại:

– Việc trên Vương Bàn sơn đảo đầu đuôi thế nào?

Trương Thúy Sơn bèn thuật lại việc chàng đêm nọ tiến vào tiêu cục Long Môn ra sao, gặp Ân Tố Tố thế nào, cùng đi dự lễ giương đao lập uy của Thiên Ưng giáo tại Vương Bàn sơn đảo ra sao, sau đó Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn ra tay tàn sát, đoạt lấy thanh đao Đồ Long và bức hai người xuống thuyền ra biển thế nào, nhất loạt kể hết.

Du Liên Châu nghe hết câu chuyện, hỏi rõ vụ Cao Tắc Thành và Tưởng Đào của phái Côn Luân, trầm ngâm một hồi, rồi nói:

– Hóa ra như vậy. Nếu cuối cùng ngũ đệ không trở về, không biết các uẩn khúc bên trong đến bao giờ mới sáng tỏ.

Trương Thúy Sơn nói:

– Đúng thế, nghĩa huynh của tiểu đệ.. à, Tạ Tốn thực ra không phải hạng người tàn ác tới mức không thể cải hóa. Nhị ca, Tạ Tốn như thế chẳng qua là vì trong đời Tạ Tốn bị một tai họa quá bi thảm; tiểu đệ hiện đã kết nghĩa kim lan với Tạ Tốn.

Du Liên Châu gật đầu, nghĩ thầm: "Lại thêm một chuyện khó thu xếp lắm đây".

Trương Thúy Sơn nói tiếp:

– Tiếng rống của nghĩa huynh tiểu đệ có một uy lực ghê gớm, làm cho tất cả mọi người trên Vương Bàn sơn đảo mất trí, Tạ Tốn bảo rằng mọi người tuy không chết nhưng sẽ hóa thành điên dại, như thế thì việc Tạ Tốn đoạt được thanh đao Đồ Long mới không bị lộ ra ngoài. Du Liên Châu nói:

– Tạ Tốn hành sự hung ác, nhưng y quả là một kỳ nhân, có điều là y tính trăm điều vẫn sót một điều, quên mất một người.

Trương Thúy Sơn hỏi:

– Là ai vậy?

Du Liên Châu nói:

– Bạch Quy Thọ.

Trương Thúy Sơn nói:

– Là đàn chủ Huyền Vũ đàn của Thiên Ưng giáo ư?

Du Liên Châu nói:

– Đúng thế. Cứ như lời ngũ đệ, trong số quần hào hiện diện hôm đó trên Vương Bàn sơn đảo, thì Bạch Quy Thọ nội công thâm hậu hơn cả, bị Tạ Tốn phun rượu đánh ngã ra chết giấc. Khi Tạ Tốn thi triển "Sư tử hống", Bạch Quy Thọ giả dụ chưa chết giấc, thì chắc cũng đã mất trí vì tiếng hú đó..

Trương Thúy Sơn vỗ đùi, nói:

– Phải rồi, lúc ấy Bạch Quy Thọ vẫn nằm bất tỉnh dưới đất, không nghe tiếng hú, nhờ vậy sau này thần trí vẫn tỉnh táo! Nghĩa huynh của tiểu đệ tuy tính toán kín nhẽ, song không nghĩ ra điều này.

Du Liên Châu thở dài, nói:

– Từ Vương Bàn sơn đảo trở về mà không bị mất trí, chỉ có một mình Bạch Quy Thọ. Phái Côn Luân nội công tuy có chỗ độc đáo, nhưng công lực của Cao Tắc Thành và Tưởng Đào còn thô thiển, từ đó thành phế nhân ngẩn ngẩn ngơ ngơ. Hỏi hai người ai đã làm hại họ, Tưởng Đào chỉ lắc đầu không nói, còn Cao Tắc Thành thì trước sau chỉ nói tên một người là Ân Tố Tố.

Du Liên Châu ngừng giây lát, nói tiếp:

– Bây giờ nhị ca mới biết, thì ra Cao Tắc Thành khắc sâu hình bóng Ân Tố Tố trong đầu hắn. Hừm, lần sau Tây Hoa Tử còn nói năng xấc xược, nhị ca sẽ cho lão biết tay! Đệ tử phái Côn Luân của lão hành sự bất cẩn, lại đi trách cứ người khác.

Trương Thúy Sơn nói:

– Nếu Bạch Quy Thọ đã không bị mất trí, hẳn y phải biết rõ mọi nguyên ủy chứ.

Du Liên Châu nói:

– Thế nhưng y lại không chịu nói ra, ngũ đệ có biết tại sao không?

Trương Thúy Sơn nghĩ một chút, hiểu ra:

– Phải rồi, Thiên Ưng giáo muốn một mình đoạt lại thanh đao Đồ Long, không chịu tiết lộ cái tin chỉ riêng họ biết, nên trước sau cứ bảo là họ không biết gì.

Du Liên Châu nói:

– Cuộc tranh chấp lớn trong võ lâm hiện nay chính từ đó mà ra. Phái Côn Luân nói Ân Tố Tố làm hại Cao Tắc Thành và Tưởng Đào, mấy huynh đệ chúng ta cũng đều bảo ngũ đệ bị Thiên Ưng giáo hạ độc thủ.

Trương Thúy Sơn hỏi:

– Thế việc tiểu đệ đến Vương Bàn sơn đảo cũng do Bạch Quy Thọ nói ra ư?

Du Liên Châu nói:

– Không, y không chịu nói gì cả. Nhị ca cùng tứ đệ, lục đệ tới Vương Bàn sơn đảo tra xét, thấy hai mươi bốn chữ lớn ngũ đệ viết trên vách núi bằng thiết bút, mới biết ngũ đệ có tham dự lễ "giương đao lập uy" của Thiên Ưng giáo. Ba người chúng ta tìm không thấy tung tích gì của ngũ đệ trên đảo, bèn đi gặp Bạch Quy Thọ dò hỏi. Bạch Quy Thọ nói năng xấc xược, bị ta cho một chưởng. Ít lâu sau phái Côn Luân có người tìm đến, nhưng bị thua to, bị Thiên Ưng giáo giết mất hai người. Mười năm qua, cừu oán đôi bên cứ ngày càng sâu.

Trương Thúy Sơn vô cùng ân hận, nói:

– Chỉ vì phu phụ tiểu đệ khiến cho bao nhiêu người vô tội của các môn phái gặp nạn, tiểu đệ làm sao có thể yên lòng? Tiểu đệ về bẩm ân sư rồi sẽ đến các môn phái giải thích sự hiểu lầm, chịu tội với họ.

Du Liên Châu thở dài, nói:

– Cái đó do trời xui đất khiến, chứ không thể trách ngũ đệ. Hôm ấy sư phụ sai ta và thất đệ đi Lâm An, bảo hộ tiêu cục Long Môn nhưng tới Giang Tây thì gặp chuyện đại bất bình, hai huynh đệ ta buộc phải ra tay, thành ra chậm mất mấy ngày, dù cứu được mười mấy người vô tội; khi đến Lâm An thì vụ huyết án ở tiêu cục Long Môn xảy ra mất rồi. Lẽ ra, nếu chỉ vì việc của hai vợ chồng ngũ đệ thì cũng chỉ xảy ra tranh chấp giữa phái Võ Đang và phái Côn Luân với Thiên Ưng giáo mà thôi. Nhưng Thiên Ưng giáo vì muốn đoạt lại thanh đao Đồ Long mà trước sau không nhắc gì đến Tạ Tốn, thành thử các môn phái, bang hội, như Cự Kình, Hải Sa, Thần Quyền.. đều đổ riệt món nợ máu bang chủ, chưởng môn cho Thiên Ưng giáo. Thiên Ưng giáo do đó trở thành đích nhắm của các giới giang hồ.

Trương Thúy Sơn thở dài:

– Chẳng hiểu thanh đao Đồ Long kia có cái gì ghê gớm mà nhạc phụ của tiểu đệ phải gánh thay người khác cái họa này?

Du Liên Châu nói:

– Ta chưa từng gặp lệnh nhạc, nhưng cái việc ông ta thống lãnh Thiên Ưng giáo đơn độc chống lại quần hùng, khí phách đó khiến ngay cả địch thủ của ông ta cũng phải thán phục.

Trương Thúy Sơn nói:

– Các phái Thiếu Lâm, Nga Mi, Không Động, hoàn toàn không tham dự đại hội Vương Bàn sơn đảo, vì lẽ gì cũng kết oán cừu với Thiên Ưng giáo?

Du Liên Châu nói:

– Chuyện đó thì là do nghĩa huynh Tạ Tốn của đệ mà ra. Thiên Ưng giáo muốn đoạt lại thanh đao Đồ Long, nhiều phen liên tiếp cho hải thuyền ra các hải đảo tìm kiếm Tạ Tốn. Nên biết cái kim giấu trong bọc mãi cũng có ngày lòi ra. Bạch Quy Thọ giữ mồm giữ miệng đến mấy, cái tin kia cũng lộ ra ngoài. Nghĩa huynh của đệ trước đây mạo danh Hỗn Nguyên Tích Lịch Thủ Thành Côn, gây ra hơn ba chục vụ đại án khắp Giang Nam, Giang Bắc; giết hại vô số nhân vật thành danh của các môn phái, việc đó ngũ đệ biết chứ?

Trương Thúy Sơn gật đầu, hạ giọng, nói:

– Mọi người rốt cuộc đã biết Tạ Tốn là hung thủ.

Du Liên Châu nói:

– Khi gây án, Tạ Tốn đều viết trên tường hàng chữ lớn "Người ra tay là Hỗn Nguyên Tích Lịch Thủ Thành Côn". Hồi ấy mấy sư huynh đệ chúng ta theo lệnh sư phụ, từng xuống núi tra xét, quả thật bấy giờ chẳng biết hung thủ là ai, mà Thành Côn trước sau vẫn không lộ diện. Khi cái tin Thiên Ưng giáo đi tìm tung tích Tạ Tốn bị lộ, các mưu sĩ của các môn phái mới nghĩ ra rằng Tạ Tốn vốn là đệ tử truyền nhân duy nhất của Thành Côn, sau không rõ vì cớ gì mà sư đồ bất hòa, trở mặt thành kẻ thù, vậy thì kẻ mạo danh Thành Côn giết người kia chỉ có thể là Tạ Tốn. Ngũ đệ thử xem Tạ Tốn giết hại bao nhiêu người, sự vụ lan rộng biết chừng nào? Chỉ riêng cái việc Không Kiến đại sư của phái Thiếu Lâm bị y đấm chết, cũng đã có bao nhiêu người muốn giết y cho hả giận.

Trương Thúy Sơn trông vẻ mặt thật khổ sở, nói:

– Nghĩa huynh của tiểu đệ tuy sửa lỗi hướng thiện, nhưng hai tay nhuốm quá nhiều máu, ôi.. nhị ca, lòng đệ rối như tơ vò, chả biết phải làm sao bây giờ.

Du Liên Châu nói:

– Sư huynh sư đệ chúng ta đã vì ngũ đệ mà đến hỏi tội Thiên Ưng giáo. Phái Côn Luân vì Cao, Tưởng hai gã mà đến hỏi tội Thiên Ưng giáo. Bang Cự Kình vì bang chủ chết thảm mà đến hỏi tội Thiên Ưng giáo. Ngoài phái Thiếu Lâm còn bao nhiêu nhân vật bạch đạo hắc đạo vì muốn biết tung tích Tạ Tốn mà đến hỏi tội Thiên Ưng giáo. Mười năm qua, song phương đại chiến đã năm trận, tiểu chiến không sao đếm xuể. Tuy mỗi lần đại chiến Thiên Ưng giáo đều thua, nhưng nhạc phụ của ngũ đệ bị quần hùng vây đánh như thế mà vẫn đứng vững, quả là một nhân vật kiệt xuất! Đương nhiên, các danh môn chính phái như Thiếu Lâm, Võ Đang, Nga Mi thấy sự việc chưa minh bạch, có quá nhiều uẩn khúc, xem chừng Thiên Ưng giáo hoàn toàn không phải là thủ phạm chính nên mỗi lần ra tay đều có phần nương nhẹ, các môn phái còn lại thì nhất quyết sống còn. Lần này chúng ta nghe tin Thiên Thị đường Lý đường chủ của Thiên Ưng giáo đưa thuyền ra biển tìm Tạ Tốn, bèn bí mật bám theo, mong lần ra chút manh mối nào chăng. Ai ngờ Lý đường chủ thấy tình hình bất ổn, không chịu để chúng ta bám đuôi, thế là phái Côn Luân động thủ với họ. Nếu phu phụ ngũ đệ không đi bè tới nơi, hai bên chắc còn mất thêm không ít hảo thủ.

Trương Thúy Sơn lặng lẽ nhìn kỹ sư ca, thấy Du Liên Châu hai bên tóc mai đã nhuốm bạc, trán có nhiều nếp nhăn, nói:

– Nhị ca, mười năm qua nhị ca vất vả quá nhiều. Tiểu đệ may mắn sống sót trở về, được gặp lại nhị ca, tiểu đệ.. tiểu đệ..

Du Liên Châu thấy sư đệ nước mắt lưng tròng, nói:

– Võ Đang thất hiệp lại quây quần bên nhau, quả là đại hỉ sự. Từ khi tam đệ trọng thương, ngũ đệ mất tích, giang hồ đã đổi tên huynh đệ ta thành Võ Đang ngũ hiệp, ha ha, hôm nay thất hiệp sẽ trùng chấn thanh uy..

Chợt nhớ Du Đại Nham tàn phế nằm một chỗ, tuy bảy người còn đủ, nhưng đâu còn có thể cùng nhau sánh vai hành hiệp giang hồ như ngày nào, thì lòng chàng không khỏi tê tái bùi ngùi.

Thuyền đi về phương nam mười mấy ngày thì đến cửa sông Trường Giang, cả bọn đổi sang giang thuyền mà đi về phía thượng lưu.

Vợ chồng Trương Thúy Sơn thay bộ y phục lam lũ bằng da thú, trông hai người thật là một cặp đẹp đôi, phong tư chẳng khác ngày xưa là mấy. Vô Kỵ mặc bộ cánh mới, tóc tết thành hai cái bím buộc dải lụa đỏ, trông thật hoạt bát dễ thương.

Du Liên Châu chuyên tâm học võ, không vợ con gì nên đối với Vô Kỵ hết sức yêu thương, có điều là tính nết nghiêm nghị, trầm mặc ít nói, sắc diện lạnh lùng. Vô Kỵ cảm nhận rằng vị sư bá mặt lạnh như tiền này thật ra rất cưng nó, nên mỗi lúc thư nhàn nó lại sà vào hỏi sư bá đủ thứ. Thằng bé sinh ra nơi hoang đảo, mọi thứ trên đất liền chưa thấy bao giờ, nên đối với nó cái gì cũng mới lạ. Du Liên Châu chẳng khó chịu về việc đó, thường ôm nó ngồi ở mũi thuyền ngắm phong cảnh đôi bờ. Vô Kỵ hỏi mươi câu, chàng trả lời vắn tắt một câu.

Hôm ấy đến chân núi Đồng Quan, huyện Đồng Lăng, tỉnh An Huy, trời đã xế chiều, chiếc thuyền đậu lại cạnh một thị trấn nhỏ. Nhà thuyền lên bờ mua rượu thịt. Phu phụ Trương Thúy Sơn và Du Liên Châu ở dưới thuyền pha trà nhàn đàm.

Vô Kỵ chơi đùa quanh quẩn ở mũi thuyền, thấy trên bến có một lão hành khất đang ngồi đùa giỡn với rắn, trên cổ lão quấn một con rắn xanh, còn trên tay là một con rắn lớn mình đen chấm trắng. Con rắn đen ấy cứ luồn qua chui lại, vừa cuộn khoanh trên đầu, thoắt một cái đã trườn xuống lưng, vô cùng sinh động. Vô Kỵ ở Băng Hỏa đảo chưa nhìn thấy rắn lần nào, giờ xem cảnh kia thấy quá thích thú. Lão hành khất nhìn thằng bé, cười cười với nó, búng tay một cái, con rắn đen liền nhảy lên, lộn một vòng trên không, lúc rơi xuống quấn luôn quanh ngực lão hành khất mấy vòng. Vô Kỵ thấy lạ quá, cứ nhìn không chớp mắt. Lão hành khất vẫy vẫy thằng bé, đưa tay làm hiệu rủ nó lên bờ, sẽ cho xem nhiều trò khác hấp dẫn nữa.

Vô Kỵ tức thời theo ván cầu đi lên. Lão hành khất lấy từ lưng ra một cái túi vải, mở miệng túi, cười:

– Trong này có mấy đồ chơi hay lắm, bé lại mà xem.

Vô Kỵ hỏi:

– Đồ chơi gì thế?

Lão hành khất nói:

– Thích lắm, cứ nhìn vào khắc biết.

Vô Kỵ thò đầu vào túi vải để nhìn, chỉ thấy tối mò mò, nào có thấy gì. Nó xích lại gần hơn, hi vọng nhìn cho rõ, lão hành khất đột nhiên lật tay một cái, chụp cái túi vải vào đầu nó. Vô Kỵ mới kêu "Ối" một tiếng, miệng đã bị lão hành khất bịt lại, rồi cả thân hình nó bị nhấc bổng lên.

Tiếng kêu của thằng bé từ trong túi vải vọng ra tuy nhỏ, nhưng Du Liên Châu và Trương Thúy Sơn cũng nghe thấy. Hai người tuy ở trong khoang thuyền, cách khá xa, song cảm thấy tiếng kêu có gì không ổn, vội cùng chạy ra mũi thuyền đã thấy Vô Kỵ bị lão hành khất bắt giữ.

Hai người toan phi thân lên bờ, nhưng lão hành khất kia gằn giọng quát:

– Muốn thằng bé sống, hãy đứng yên đó!

Nói xong lão ta xé rách áo trên lưng Vô Kỵ, đặt miệng con rắn đen chĩa ngay vào da thịt ở hậu tâm thằng bé.

Lúc này Ân Tố Tố cũng đã chạy ra mũi thuyền, thấy ái nhi bị bắt thì cả giận toan phóng ngân châm. Du Liên Châu đưa cả hai tay ngăn lại:

– Không được đâu!

Chàng đã nhận ra con rắn đen kia tên là Tất Hắc Tinh, một loài độc xà nổi tiếng, thân càng đen, độc tính càng mạnh. Con rắn này mình đen bóng, các chấm trắng trên mình nó cũng phát quang lấp lánh. Nó há rộng miệng, lộ ra bốn cái răng nhọn, nhắm thẳng da thịt trắng mềm trên lưng Vô Kỵ. Nó chỉ cần mổ một cái, Vô Kỵ sẽ mất mạng tức thời, dẫu có đập chết lão hành khất, lấy được thuốc giải cũng chẳng tài nào cứu kịp. Du Liên Châu thản nhiên hỏi:

– Tôn giá làm khó với đứa bé là muốn gì?

Lão hành khất nói:

– Du nhị hiệp hãy sai người nhổ neo, đưa thuyền ra cách bờ năm sáu trượng, bấy giờ ta sẽ nói.

Du Liên Châu biết lão ta sợ mình đột nhiên nhảy lên bờ, chàng cũng thừa biết thuyền càng xa bờ thì càng khó cứu Vô Kỵ, nhưng thằng bé đang bị lão ta uy hiếp thế kia, đành phải làm theo lời lão, rồi tính sau. Du Liên Châu cầm dây neo giật nhẹ một cái, cái neo sắt nặng năm sáu chục cân từ dưới nước bay lên.

Lão hành khất thấy cánh tay Du Liên Châu chỉ hất chếch một cái nhẹ thì chiếc neo đã bay lên, công lực mạnh hiếm có, bất giác mặt hơi biến sắc. Trương Thúy Sơn cầm cây sào dài đẩy một cái vào bờ, con thuyền từ từ lùi ra giữa sông. Lão hành khất nói:

– Xa thêm chút nữa!

Trương Thúy Sơn tức giận nói:

– Thế này còn chưa đủ năm, sáu trượng hay sao?

Lão hành khất mỉm cười:

– Du nhị hiệp võ công lợi hại như thế, dù cách xa năm sáu trượng, tại hạ vẫn chưa yên tâm đâu.

Trương Thúy Sơn đành phải cho thuyền ra xa hơn một trượng nữa.

Du Liên Châu ôm quyền hỏi:

– Thỉnh giáo quý tính đại danh.

Lão hành khất nói:

– Tại hạ là kẻ vô danh tiểu tốt trong Cái Bang, tiện danh nói ra chỉ làm bẩn tai Du nhị hiệp.

Du Liên Châu thấy lão ta đeo sau lưng năm sáu cái túi vải, nghĩ thầm đây là đệ tử sáu túi của Cái Bang, thân phận không thấp, sao lại hành động ti tiện như thế? Huống hồ Cái Bang xưa nay hành sự nhân nghĩa, bang chủ của họ là Sử Hỏa Long là một đại hán oai hùng, lừng danh trên giang hồ, việc này thật kỳ quái.

Ân Tố Tố bỗng quát lên:

– Vu Sơn bang ở Đông Xuyên đã gia nhập Cái Bang rồi sao? Ta xem trong Cái Bang làm gì có tự hiệu của các hạ?

Lão hành khất "ồ" một tiếng, chưa trả lời đã nghe Ân Tố Tố nói tiếp:

– Hạ Lão Tam, ngươi giở trò quỷ gì thế? Ngươi mà đụng đến một sợi tóc của con ta thì ta sẽ chặt Mai Thạch Kiên nhà các ngươi thành vài chục mảnh!

Lão hành khất giật mình, nói:

– Ân cô nương quả nhiên tinh mắt thật, nhận ngay ra Hạ Lão Tam này. Tại hạ chính nhận lệnh Mai bang chủ đến đây nghênh đón công tử.

Ân Tố Tố giận dữ nói:

– Mau bỏ con rắn kia ra! Cái bang hội Vu Sơn nhỏ bé của ngươi thật to gan, dám gây sự với Thiên Ưng giáo!

Hạ Lão Tam nói:

– Chỉ xin Ân cô nương nói ra một câu, Hạ Lão Tam sẽ lập tức trả lại công tử, Mai bang chủ sẽ thân chinh đến tận nơi tạ tội.

Ân Tố Tố hỏi:

– Muốn ta nói câu gì?

Hạ Lão Tam nói:

– Công tử độc nhất của Mai bang chủ chết dưới tay Tạ Tốn, Ân cô nương chắc đã nghe rồi. Mai bang chủ cầu khẩn Trương ngũ hiệp và Ân cô nương, à không, tiểu nhân lỡ lời, phải gọi là Trương phu nhân mới đúng, cho biết chỗ ở của ác tặc Tạ Tốn, toàn thể tệ bang từ trên xuống dưới sẽ đa tạ đại đức đó.

Ân Tố Tố nhướn mày, nói:

– Bọn ta không biết.

Hạ Lão Tam nói:

– Vậy thì nhờ hai vị dò hỏi nghe ngóng giùm. Chúng tôi sẽ hầu hạ công tử chu đáo, khi nào hai vị dò hỏi được chỗ ở của Tạ Tốn báo cho hay, Mai bang chủ sẽ đích thân đem trả công tử.

Ân Tố Tố thấy mấy cái răng con rắn độc cách da thịt con mình chỉ vài tấc, trong bụng lo sợ, đã toan nói phắt ra chuyện ở Băng Hỏa đảo, nhưng quay sang nhìn trượng phu, thấy mặt chàng rất kiên nghị. Nàng làm vợ Trương Thúy Sơn mười năm, biết chàng là người rất trọng nghĩa khí, nếu vì ái tử mà tiết lộ chỗ ở của Tạ Tốn, khiến nghĩa huynh phải bỏ mạng bởi tay người, chỉ e tình nghĩa phu thê khó mà bảo toàn, nên nàng cố nhịn không nói ra.

Trương Thúy Sơn lớn tiếng nói:

– Được, ngươi đem con ta đi đâu thì đem. Đại trượng phu lẽ nào bán rẻ bằng hữu? Ngươi coi thường Võ Đang thất hiệp quá đó!

Hạ Lão Tam sững người, lão cứ tưởng bắt giữ được Vô Kỵ thì phu phụ Trương Thúy Sơn không thể không tiết lộ chỗ ở của Tạ Tốn, nào ngờ Trương Thúy Sơn cuối cùng lại trả lời kiên quyết như thế, nhất thời lão chưa biết tính sao, bèn nói:

– Du nhị hiệp, Tạ Tốn tội cao như núi, phái Võ Đang chủ trì công đạo, người trong võ lâm vẫn kính trọng, xin nhị hiệp khuyên hai vị ấy một lời.

Du Liên Châu nói:

– Việc này xử lý thế nào, sư huynh đệ tại hạ chính đang trên đường về núi Võ Đang bẩm với ân sư, để lão nhân gia chỉ giáo. Đại hội anh hùng ở lầu Hoàng Hạc tại Võ Xương, xin mời quý bang Mai bang chủ và các hạ cùng tới dự, lúc đó đúng sai phải trái thế nào, mọi người sẽ rõ. Mong các hạ trước hết hãy thả thằng bé ra.

Du Liên Châu ở cách bờ sông sáu bảy trượng, nói mấy câu đó tuyệt nhiên không đề khí, vậy mà Hạ Lão Tam nghe rõ từng câu từng chữ như thể hai người đang ngồi bên nhau nói chuyện, thì thán phục nghĩ thầm: "Võ Đang thất hiệp uy chấn thiên hạ, quả nhiên danh bất hư truyền. Lần này bang Vu Sơn mình làm chuyện này thật mạo hiểm, chọi sao nổi với phái Võ Đang và Thiên Ưng giáo? Nhưng mối thù giết con trai Mai bang chủ lẽ nào không báo", bèn khom lưng nói:

– Đã vậy, tiểu nhân đành đắc tội, đành đưa Trương công tử đi Đông Xuyên.

Đột nhiên Ân Tố Tố đưa tay đẩy vào lưng một thủy thủ đang ngồi trên mạn thuyền, rồi giơ chân đá một thủy thủ khác. Hai thuyền phu kêu oai oái, lăn tòm xuống sông, nước bắn lên tung tóe. Ân Tố Tố lại kêu to:

– Ối chao, ối chao, ngũ ca, sao lại đánh thiếp?

Đoạn nàng cứ vừa kêu la vừa nhảy ở mũi thuyền. Du Liên Châu và Trương Thúy Sơn kinh ngạc, chưa biết tại sao nàng làm thế. Hạ Lão Tam thì trố mắt nhìn chuyện đột biến, càng ngơ ngác hơn.

Du Liên Châu chỉ chớp mắt đã hiểu liền, chàng thấy Hạ Lão Tam trố mắt há mồm thì tức thời chàng rút trường kiếm, vận kình ném đi. Chỉ nghe "xoẹt" một tiếng, thanh kiếm bay vút đi, chém đứt phăng đầu con Tất Hắc Tinh, cắt ngọt luôn bốn ngón tay của Hạ Lão Tam đang cầm con rắn đó. Lúc trường kiếm của Du Liên Châu được rút khỏi bao, Trương Thúy Sơn đã chộp một sợi dây cột buồm đang lơ lửng, hai chân đạp xuống sàn thuyền một cái, giật dây bay vèo lên bờ. Chàng chỉ chậm hơn thanh kiếm của Du Liên Châu chút xíu, chân chưa chạm đất đã nhoài người tới, tay phải ôm lấy Vô Kỵ, tay trái tung một chưởng đánh cho Hạ Lão Tam lăn đi mấy vòng.

Hạ Lão Tam nằm giãy giụa dưới đất, không đứng dậy nổi.

Hai thuyền phu bơi vào bờ, không hiểu tại sao Ân Tố Tố bỗng nhiên nổi giận nên chưa dám trở lại thuyền. Ân Tố Tố cười khúc khích, nói:

– Mời hai vị đại ca lên thuyền, vừa rồi ta đắc tội, xin tặng mỗi vị hai lượng bạc để mua rượu uống.

Chiếc thuyền ngược dòng mà đi, lại ngược gió, nên tiến rất chậm. Trương Thúy Sơn xa sư phụ và sư huynh sư đệ đã mười năm, nóng lòng gặp lại, nên khi tới An Khánh, chàng muốn bỏ thuyền đi ngựa. Du Liên Châu nói:

– Ngũ đệ, chúng ta đi thuyền tốt hơn, tuy chậm vài ngày, nhưng đáp thuyền ít gặp rắc rối. Hiện nay trên giang hồ không biết có bao nhiêu người muốn tra vấn chỗ ở của nghĩa huynh hiền đệ đấy.

Ân Tố Tố nói:

– Vợ chồng muội cùng đi với nhị sư bá, chẳng lẽ còn có kẻ dám cản trở đại giá của Du nhị hiệp?

Du Liên Châu nói:

– Võ Đang thất hiệp liên thủ đúng là không một ai dám ngăn cản, nhưng chỉ có ngu huynh với ngũ đệ, thì làm sao địch nổi bao nhiêu là cao thủ cùng kéo đến? Huống hồ chuyện này mình chỉ mong mọi người bãi chiến, chả nên kết thêm oán cừu.

Trương Thúy Sơn gật đầu:

– Nhị ca nói chí phải.

Thuyền đi mấy ngày nữa thì đến Võ Huyệt là địa giới tỉnh Hồ Bắc. Tối hôm đó tới cửa Phú Trì, thuyền đậu lại chuẩn bị nghỉ đêm. Du Liên Châu bỗng nghe có tiếng ngựa hí trên bờ, ngó ra ngoài khoang, thấy có hai con ngựa vừa quay đầu phi về hướng thị trấn. Tuy chỉ nhìn thấy lưng người cưỡi ngựa, nhưng thân pháp nhanh nhẹn, hiển nhiên là người biết võ nghệ.

Liền quay sang nói với Trương Thúy Sơn:

– Ở lại đây e rằng lại gặp chuyện rắc rối, chúng ta đi luôn là hơn.

Trương Thúy Sơn nói:

– Vâng.

Trong lòng chàng hơi xao xuyến. Võ Đang thất hiệp từ khi xuống núi hành hiệp, võ nghệ cao cường, hành sự ngay thẳng, chỉ có người ngoài nghe tiếng phải tránh né, chứ chưa từng phải né tránh ai bao giờ. Mấy năm qua uy danh của Du Liên Châu lừng lẫy hơn cả mấy vị chưởng môn phái lớn như phái Côn Luân, phái Không Động. Vậy mà bây giờ thấy dáng sau lưng của hai kỵ sĩ vô danh tiểu tốt thì đã không muốn nghỉ lại ở cửa Phú Trì, chỉ vì nhị ca lo lắng cho ba người trong gia đình sư đệ. Du Liên Châu gọi nhà thuyền, thưởng cho họ ba lượng bạc, bảo họ cho thuyền đi suốt đêm. Nhà thuyền tuy mệt nhưng ba lượng bạc bằng số tiền hỏa thực cả mấy tháng nên rất vui mừng nhổ neo đi ngay.

Tối hôm đó trăng thanh gió mát, Vô Kỵ đã ngủ, Du Liên Châu cùng hai vợ chồng Trương Thúy Sơn ngồi ở mũi thuyền uống rượu ngắm trăng, nhìn mặt sông mênh mông, lòng vô cùng khoan khoái.

Trương Thúy Sơn nói:

– Thấm thoắt sắp tới đại thọ trăm tuổi của ân sư, tiểu đệ may mắn được về dự một thịnh sự hiếm có trong võ lâm, ông Trời đãi tiểu đệ không đến nỗi nào.

Ân Tố Tố nói:

– Tiếc rằng vội quá, chúng mình không tìm được lễ vật vừa ý để kính tặng lão nhân gia.

Du Liên Châu nói:

– Đệ muội, muội có biết ân sư của ta yêu ai nhất trong bảy đệ tử hay không?

Ân Tố Tố nói:

– Đệ tử đắc ý nhất của lão nhân gia dĩ nhiên phải là nhị bá rồi.

Du Liên Châu cười:

– Lời nói của muội chưa thật lòng, bụng thừa biết một đằng, miệng lại nói một nẻo. Trong bảy sư huynh sư đệ chúng ta, người được sư phụ đêm ngày mong nhớ chính là đức phu quân anh tuấn của muội đó.

Ân Tố Tố trong lòng rất mừng, nhưng vẫn lắc đầu:

– Muội không tin.

Du Liên Châu nói:

– Bảy người chúng ta, ai cũng có sở trường. Đại sư ca tinh thông Dịch lý, giản dị thanh cao. Tam sư đệ tinh minh mạnh mẽ, sư phụ giao việc gì cũng không để lỡ. Tứ sư đệ cơ trí hơn người. Lục sư đệ kiếm thuật tinh thông. Thất sư đệ mấy năm qua chuyên luyện võ công ngoại môn, sau này sẽ nội ngoại kiêm tu, cương nhu hợp nhất. Không phải ngũ đệ thì còn ai vào đấy..

Ân Tố Tố nói:

– Còn bản thân nhị bá thì sao?

Du Liên Châu nói:

– Ta tư chất ngu muội và thô lỗ, không có sở trường nào cả, miễn cưỡng mà nói, ta là kẻ phải khổ công nhiều nhất luyện tập võ công bản môn do sư phụ truyền thụ.

Ân Tố Tố vỗ tay cười:

– Nhị bá là người võ công giỏi nhất trong Võ Đang thất hiệp, nhưng khiêm tốn chẳng chịu nói ra.

Trương Thúy Sơn nói:

– Trong bảy huynh đệ chúng ta, nhị ca luôn là người võ công cao nhất. Mười năm xa cách, tiểu đệ bây giờ càng không thể theo kịp. Than ôi, không được ân sư dạy dỗ mười năm, tiểu đệ chắc phải đứng chót trong bảy người rồi.

Lời chàng không khỏi có ý buồn rầu.

Du Liên Châu nói:

– Thế nhưng trong bảy huynh đệ, văn võ toàn tài chỉ có một mình ngũ đệ. Này đệ muội, ta nói cho muội biết một bí mật nghe, năm năm trước, trong bữa tiệc mừng thọ ân sư chín mươi lăm tuổi, khi bọn ta chúc thọ ân sư, bỗng dưng Người tỏ vẻ không vui, nói: "Trong bảy đệ tử của ta, ngộ tính cao nhất, văn võ song toàn, duy có Thúy Sơn. Ta vẫn dự định sẽ cho y kế thừa y bát[42] của ta, ôi, tiếc rằng y phúc mỏng, năm năm rồi chưa biết sống chết thế nào, chỉ e dữ nhiều lành ít". Muội bảo có phải sư phụ yêu quý nhất ngũ đệ hay không?

Ân Tố Tố cười tươi như hoa, lòng vui sướng khôn cùng. Trương Thúy Sơn thì hết sức cảm kích, nước mắt rưng rưng.

Du Liên Châu nói:

– Nay ngũ đệ bình yên trở về, chính là món lễ vật chúc thọ quý giá nhất đối với ân sư đó.

Vừa nói tới đây, bỗng trên bờ vọng lại tiếng vó ngựa dồn dập từ đông sang tây, trong đêm vắng nghe rõ ràng có bốn con ngựa. Ba người nhìn nhau, nghĩ thầm mấy con ngựa kia đang đêm phi vội như thế, hẳn có liên quan tới mình. Ba người tuy không muốn chuyện rắc rối, nhưng họ đâu phải kẻ nhát gan? Cả ba coi như không có gì đáng chú ý.

Du Liên Châu nói:

– Lần này khi ta xuống núi, sư phụ chính đang bế quan tĩnh tu. Mong rằng lúc chúng ta về đến nơi thì lão nhân gia đã khai quan.

Ân Tố Tố nói:

– Phụ thân muội ngày trước nói với muội, rằng cả đời chỉ khâm phục có hai người, một là Dương giáo chủ của Minh giáo, vị này đã tạ thế, người thứ hai là tôn sư Trương chân nhân. Ngay cả bốn đại cao tăng "Kiến Văn Trí Tính" của phái Thiếu Lâm, phụ thân muội cũng không phục lắm. Trương chân nhân năm nay tròn trăm tuổi, tu trì cao siêu, đời nay không ai sánh kịp. Bây giờ lại còn bế quan, chắc để tu luyện thuật trường sinh bất lão chăng?

Du Liên Châu nói:

– Không phải đâu. Là ân sư muốn suy tư về võ công.

Ân Tố Tố hơi ngạc nhiên:

– Võ công của lão nhân gia đã cao siêu khôn lường, còn nghiên cứu thêm gì nữa? Chẳng lẽ thế gian này còn có người địch nổi lão nhân gia ư?

Du Liên Châu nói:

– Từ năm chín mươi lăm tuổi trở đi, mỗi năm ân sư bế quan chín tháng. Lão nhân gia nói rằng võ công của phái Võ Đang ta chủ yếu bắt nguồn từ bộ "Cửu dương chân kinh" Thế nhưng năm xưa khi ân sư được Giác Viễn tổ sư truyền thụ thì tuổi còn quá trẻ, lại chưa biết chút võ công nào. Giác Viễn tổ sư cũng không có ý truyền thụ, chỉ nhiệm ý đọc cho ân sư nghe, thành thử võ công bản môn vẫn còn thiếu sót. Bộ "Cửu dương chân kinh" ấy, theo lời Giác Viễn tổ sư, là do Đạt Ma tổ sư truyền lại; nhưng ân sư bảo rằng người càng nghĩ càng thấy không phải như vậy. Một là những điều bí ẩn nói trong bộ "Cửu dương chân kinh" khác hẳn với võ công phái Thiếu Lâm, ngược lại, gần với võ học của Đạo gia chúng ta ở Trung nguyên. Hai là bộ "Cửu dương chân kinh" không phải bằng tiếng Phạn, mà viết bằng văn tự Hán, viết xen kẽ giữa các hàng chữ Phạn trong bộ kinh Lăng Già. Thiết nghĩ Đạt Ma tổ sư tuy diệu ngộ Thiền lý, võ học uyên thâm, song Người từ Thiên Trúc sang, chưa hẳn đã tinh thông văn tự Hán ngữ. Một bộ võ kinh quan trọng như thế sao không viết riêng một quyển, lại đi viết xen giữa hai hàng chữ của bộ kinh khác?

Trương Thúy Sơn gật đầu, hỏi:

– Vậy ân sư đã đoán ra đạo lý trong đó chưa?

Du Liên Châu nói:

– Ân sư cũng nghĩ chưa ra, Người cho rằng có lẽ "Cửu dương chân kinh" do một vị cao tăng Thiếu Lâm tự đời sau sáng tác, mượn tên Đạt Ma tổ sư. Ân sư nghĩ rằng một khi bộ "Cửu dương chân kinh" kia không đầy đủ, vậy tại sao mình không tự sáng chế thêm? Mỗi năm sư phụ bế quan suy tư là để mở ra một phái võ học hoàn toàn mới, khác hẳn võ công của các môn phái hiện truyền.

Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố nghe xong, cùng tấm tắc tán thưởng. Du Liên Châu nói:

– Năm xưa, khi Giác Viễn tổ sư truyền thụ "Cửu dương chân kinh" đã có ba người cùng nghe. Một là ân sư, hai là Vô Sắc đại sư của phái Thiếu Lâm, người thứ ba là một thiếu nữ, sau chính là tổ sư sáng lập phái Nga Mi – Quách Tương Quách nữ hiệp.

Ân Tố Tố nói:

– Muội từng nghe phụ thân nói Quách nữ hiệp là người có gia thế lừng lẫy tiếng tăm, có phụ thân là Quách Tĩnh Quách đại hiệp; mẫu thân là Hoàng Dung, Hoàng bang chủ Cái Bang, khi thành Tương Dương thất thủ, Quách đại hiệp cùng với phu nhân tuẫn nạn.

Du Liên Châu nói:

– Đúng thế. Ân sư ta trước kia từng có duyên gặp được phu phụ Quách đại hiệp trên đỉnh Hoa Sơn. Mỗi lần nhắc đến tấm lòng vì nước vì dân, nhân nghĩa hành hiệp của hai vị đó, sư phụ thường khuyên huynh đệ chúng ta học võ phải noi gương Quách đại hiệp và phu nhân.

Chàng lặng người hồi lâu, rồi nói tiếp:

– Ba vị năm xưa được truyền thụ "Cửu dương chân kinh", mỗi người ngộ tính khác nhau, căn bản lại càng cách biệt. Nói về võ công thì Vô Sắc đại sư cao hơn cả; Quách nữ hiệp là nữ nhi của Quách đại hiệp và Hoàng bang chủ, sở học uyên bác nhất; còn ân sư ta lúc đó không có căn cơ gì về võ công, song chính nhờ thế mà sở học lại tinh thuần hơn cả. Ba phái Thiếu Lâm, Nga Mi, Võ Đang, thì một phái được chữ "Cao", một phái được chữ "Bác", một phái được chữ "Thuần". Mỗi phái đều có sở trường, song phải nói là cũng có sở đoản.

Ân Tố Tố nói:

– Thế thì vị Giác Viễn tổ sư ấy võ công cao siêu lắm, bao đời mới có một người phải không?

Du Liên Châu lắc đầu:

– Không phải, Giác Viễn tổ sư không biết võ, chỉ lo việc giám quản kinh sách trong Tàng Kinh các của Thiếu Lâm tự. Vị tổ sư này mê sách, quyển kinh nào cũng đọc tới mức thuộc lòng. Giác Viễn tổ sư vô tình đọc "Cửu dương chân kinh", nhớ thuộc lòng kinh đó cũng chẳng khác gì kinh Kim Cương hay kinh Pháp Hoa vậy thôi. Còn về võ học bác đại tinh thâm nói trong bộ kinh ấy, thì tuy có lãnh ngộ, song Giác Viễn tổ sư chỉ luyện nội công, chứ hoàn toàn không biết gì về võ thuật cả.

Rồi Du Liên Châu đem chuyện "Cửu dương chân kinh" bị thất lạc ra sao, cùng những điều ít ai biết tới kể hết cho Ân Tố Tố nghe.

Chuyện đó Trương Thúy Sơn đã nghe sư phụ kể, riêng Ân Tố Tố giờ mới được nghe lần đầu nên cảm thấy rất thú vị, hỏi:

– Thì ra cội nguồn của hai phái Võ Đang và Nga Mi là như thế. Vì sao Quách Tương Quách nữ hiệp không kết duyên với Trương chân nhân?

Trương Thúy Sơn mỉm cười ngắt lời vợ:

– Nàng lại nói vớ vẩn rồi.

Du Liên Châu nói:

– Sau khi ân sư chia tay với Quách nữ hiệp dưới chân núi Thiếu Thất, hai người không gặp lại nhau nữa. Ân sư bảo rằng Quách nữ hiệp trong lòng in sâu hình bóng một người, chính là Thần điêu đại hiệp Dương Quá, người đã dùng đá ném chết đại hãn Mông Cổ ở ngoài thành Tương Dương. Quách nữ hiệp đi khắp thiên hạ tìm Dương đại hiệp, nhưng tìm không ra, đến năm bốn mươi tuổi đột nhiên đại triệt đại ngộ, liền xuất gia làm ni cô, sau đó khai sáng phái Nga Mi.

Ân Tố Tố kêu "ôi" một tiếng, bất giác thương thầm cho Quách Tương, quay sang nhìn Trương Thúy Sơn. Trương Thúy Sơn lúc ấy cũng nhìn Ân Tố Tố. Bốn mắt gặp nhau, hai người đều nghĩ thầm: "Hai ta trên trời dưới đất vĩnh viễn bên nhau, so với vị Quách nữ hiệp khai sáng phái Nga Mi kia, thật may mắn hơn nhiều".

Du Liên Châu vốn trầm mặc ít nói, có khi mấy ngày chẳng thốt một câu; nhưng từ hôm gặp lại Trương Thúy Sơn sau mười năm xa cách, chàng trở nên vui vẻ khác thường, nói nhiều hẳn lên. Hơn mười ngày ở bên cạnh Ân Tố Tố, chàng cảm thấy Tố Tố bản tính thực ra không phải kẻ xấu, chẳng qua "gần mực thì đen, gần đèn thì rạng", từ thuở ấu thơ đã tai nghe mắt thấy toàn những sự tà ác, nên mới không phân biệt thiện ác, nhiễm phải tính thích giết người; nhưng mười năm nay làm vợ Trương Thúy Sơn, tính khí đã thay đổi hẳn. Ác cảm của chàng đối với Tố Tố khi mới gặp đã dần dần mất đi, chàng cảm thấy Tố Tố còn thẳng thắn trung thực hơn khối kẻ danh môn chính phái tự cao tự đại và gàn dở.

Chợt nghe có tiếng vó ngựa, lại từ phía đông vọng tới, lát sau chạy ngang qua về phía tây. Trương Thúy Sơn làm như không nghe thấy, nói:

– Nhị ca, nếu sư phụ mời các cao thủ của hai phái Thiếu Lâm, Nga Mi cùng nghiên cứu, lấy sở trường bù sở đoản cho nhau, thì võ công của cả ba phái sẽ đại tiến.

Du Liên Châu vỗ đùi, nói:

– Đúng lắm, sư phụ bảo về sau ngũ đệ sẽ là người thừa thụ y bát môn hộ, quả không lầm chút nào.

Trương Thúy Sơn nói:

– Chỉ vì tiểu đệ không có bên cạnh, nên ân sư lúc nào cũng mong nhớ. Đối với từ mẫu, thì đứa con phiêu dạt tha hương bao giờ cũng được quý hơn hiếu tử ở liền bên cạnh mà. Thực ra lúc này tài năng của tiểu đệ so với đại ca, nhị ca, tứ ca dĩ nhiên thua xa đã đành, mà so với lục đệ, thất đệ chắc cũng không bằng.

Du Liên Châu nói:

– Không hẳn thế. Hiện tại, luận về võ công, dĩ nhiên ngũ đệ không bằng ta, nhưng truyền nhân y bát của ân sư là người phải gánh vác trọng nhiệm làm sáng danh võ học bản môn. Ân sư vẫn thường bảo, thiên hạ rộng lớn thế này, sự vinh hay nhục của một môn phái Võ Đang đâu có gì đáng kể? Nhưng nếu có thể nghiên cứu sự bí ẩn huyền diệu của võ học, lựa chọn truyền nhân thật kỹ càng, trước là để bọn tiểu nhân tà ác không theo kịp võ công của bậc chính nhân quân tử, kế đó kết hợp nghĩa sĩ trong thiên hạ cùng đánh đuổi bọn Thát Lỗ, lấy lại giang sơn ta, thế mới là làm tròn bổn phận của kẻ học võ thuộc thế hệ chúng ta. Vì vậy truyền nhân y bát của ân sư trước hết trọng tâm thuật, thứ đến là ngộ tính. Nói về tâm thuật, huynh đệ bảy người chúng ta không khác nhau bao nhiêu, nhưng nói về ngộ tính lại chỉ có ngũ đệ là cao nhất.

Trương Thúy Sơn xua tay:

– Đấy là do ân sư thương nhớ tiểu đệ, nhất thời hứng lên nói thế. Mà dù ân sư có ý định đó chăng nữa tiểu đệ cũng không mảy may dám nhận.

Du Liên Châu mỉm cười, nói:

– Đệ muội, hãy vào bảo hộ bé Vô Kỵ để nó khỏi giật mình, việc ngoài này đã có ta và ngũ đệ lo liệu.

Ân Tố Tố đưa mắt nhìn quanh, chẳng thấy động tĩnh gì, đang định hỏi thì Du Liên Châu nói:

– Trong đám lau sậy ven bờ thoáng có ánh đao, có kẻ mai phục. Trong đám lau sậy phía trước, ắt có thuyền địch.

Ân Tố Tố căng mắt nhìn bốn phía một lần nữa, tất cả tĩnh mịch, tuyệt nhiên không thấy gì khác lạ, nghĩ thầm chẳng biết nhị ca có hoa mắt hay không?

Bỗng nghe Du Liên Châu lớn tiếng nói:

– Du nhị và Trương ngũ núi Võ Đang đi ngang qua quý địa, mong được lượng thứ về tội lễ tiết thiếu chu toàn. Vị bằng hữu nào đó nếu có hứng, mời xuống thuyền uống vài chén rượu được chăng?

Lời Du Liên Châu vừa dứt, bỗng trong đám lau sậy có tiếng mái chèo khuấy động, rồi sáu chiếc thuyền nhỏ lao ra dàn hàng chắn ngang mặt sông. Từ một chiếc thuyền có một mũi tên báo hiệu bắn ra, tiếng rít của nó nghe chói tai, lập tức từ các bụi cây thấp phía bờ nam xuất hiện mười mấy hán tử y phục màu đen, nai nịt gọn gàng, tay lăm lăm binh khí, mặt trùm khăn đen, chỉ để hở đôi mắt.

Ân Tố Tố lòng thầm thán phục: "Nhị bá quả nhiên danh bất hư truyền, tài tình thật!" Thấy kẻ địch quá đông, nàng vội vào trong khoang thì Vô Kỵ đã giật mình tỉnh dậy. Nàng mặc quần áo cho nó, thấp giọng nói:

– Hài nhi của mẹ, đừng sợ.

Du Liên Châu lại nói:

– Trước mặt là vị bằng hữu nào đó, Du nhị, Trương ngũ phái Võ Đang có lời chào đây.

Thế nhưng sáu chiếc thuyền chỉ có người chèo phía đuôi, chứ không thấy ai khác, cũng không một ai trả lời.

Du Liên Châu chợt hiểu, kêu lên:

– Chẳng lành rồi!

Đoạn chàng lao ngay xuống sông. Từ nhỏ chàng đã sống ở vùng sông nước Giang Nam, bơi lội cực giỏi. Chàng vừa lặn xuống đã thấy bốn hán tử cầm dùi nhọn đang bơi ngầm bên dưới tới gần, rõ ràng toan đục đáy thuyền để bắt sống người ở trên thuyền.

Chàng nép vào mạn thuyền đợi bốn kẻ kia bơi tới gần, liền dùng hai tay điểm trúng huyệt của hai tên, dùng một chân đá vào bên hông tên thứ ba, điểm trúng huyệt "Chí thất" của hắn. Tên thứ tư hoảng sợ định chuồn, Du Liên Châu dùng tay trái tóm lấy cổ chân hắn, ném mạnh lên thuyền. Ba tên kia đã bị điểm huyệt, không cứu ngay ắt sẽ chết đuối, bởi vậy chàng lần lượt quẳng từng tên lên thuyền, rồi mới leo lên sau cùng.

Tên thứ tư bị ném lên thuyền trước tiên, lăn một vòng, bật dậy đâm dùi vào ngực Trương Thúy Sơn. Trương Thúy Sơn thấy võ công của hắn tầm thường, chẳng buồn né tránh, dùng tay trái chộp lấy cổ tay đối phương, tiếp đó thúc cùi chỏ ra, trúng huyệt giữa ngực. Hắn kêu hự một tiếng, ngã gục xuống.

Du Liên Châu nói:

– Trên bờ hình như có mấy hảo thủ, mình coi như lễ tiết đủ rồi, thây kệ bọn chúng, cứ đi thôi!

Trương Thúy Sơn gật đầu, dặn nhà thuyền cứ cho thuyền tiến lên. Tới gần sáu chiếc thuyền nhỏ, Du Liên Châu nhấc bốn tên kia lên, giải khai huyệt đạo cho chúng, rồi ném từng tên sang đó. Kể cũng lạ, người bên sáu chiếc thuyền kia chẳng ai lên tiếng, mười mấy hán tử trên bờ cũng lặng thinh, tựa hồ cả bọn đều câm. Bốn tên đục thuyền không thấy xuất hiện nữa.

Thuyền đi song song với sáu chiếc nhỏ, khi sắp vượt qua chúng thì một gã đang chèo thuyền nhỏ bỗng vung tay hai cái, nghe "đoàng, đoàng" hai tiếng nổ, ván gỗ bay tung tóe, tay lái chiếc thuyền lớn của họ đã gãy nát, thuyền lập tức quay ngang. Thì ra tên lái đò kia vừa ném sang hai quả ngư pháo dùng để đánh cá, nhưng hai quả pháo này thật to, được nhồi rất nhiều hỏa dược, nên có sức công phá khá mạnh.

Du Liên Châu thản nhiên, nhẹ nhàng nhảy sang chiếc thuyền nhỏ của đối phương. Chàng tài đã cao mà gan lại lớn, vẫn chưa dùng tới binh khí.

Tên đang chèo thuyền cứ tiếp tục chèo, chẳng lý gì đến người vừa nhảy sang. Du Liên Châu bèn quát to:

– Kẻ nào vừa ném ngư pháo?

Gã kia vẫn lặng thinh. Du Liên Châu liền tiến vào trong khoang thuyền, thấy có hai hán tử ngồi đối diện nhau, chàng tiến vào mà họ thản nhiên, chẳng hề có ý nghênh địch. Chàng túm gáy một gã, nhấc lên, quát:

– Các ngươi là bù nhìn hả?

Gã kia nhắm mắt, lặng thinh. Du Liên Châu thuộc hàng đệ nhất cao thủ võ lâm, không muốn dùng vũ lực truy bức, nên chàng trở ra thấy Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố đã ôm Vô Kỵ nhảy sang chiếc thuyền nhỏ.

Du Liên Châu giật lấy mái chèo, chèo ngược dòng, mới được vài cái, nghe Ân Tố Tố kêu lên:

– Bọn giặc cỏ này tháo nước vào rồi!

Chỉ thấy nước tuôn ào ào trong khoang, thì ra bọn kia đã tháo nút ở đáy thuyền cho nước tràn vào. Du Liên Châu nhảy sang chiếc thuyền nhỏ thứ hai, thấy nó cũng đã ngập nước một nửa, bèn quay đầu, nói:

– Ngũ đệ, thế này đành phải lên bờ thôi!

Sáu chiếc thuyền nhỏ rõ ràng sắp đặt sẵn, giống như tạo thành một cây cầu để khách lên bờ. Ba người cùng Vô Kỵ nhảy lên bờ.

Mười mấy hán tử che mặt ở trên bờ xếp thành hình vòng cung chờ sẵn, vây bốn người vào bên trong. Những người ấy đa số cầm trường kiếm, có người cầm song đao hoặc nhuyễn tiên, không ai sử dụng binh khí nặng.

Du Liên Châu đứng khoanh tay, nhìn khắp lượt từ trái sang phải, sắc mặt thản nhiên, không nói gì.

Một hán tử đứng giữa phẩy tay một cái, vòng người liền tách ra hai bên, người nào người nấy hơi khom mình, binh khí trong tay chĩa xuống đất, ôm quyền hành lễ, tỏ ý nhường đường. Du Liên Châu đáp lễ, rồi hiên ngang đi qua. Đợi chàng bước qua rồi, bọn người kia liền khép cái vòng lại, chặn đường gia đình Trương Thúy Sơn ba người, các binh khí nhất tề chĩa lên, thanh quang lấp lóe.

Trương Thúy Sơn cười ha hả, nói:

– Hóa ra các vị muốn giữ Trương mỗ lại, nên bày thành trận thế long trọng thế này, thật là coi trọng kẻ hèn này quá.

Hán tử đứng giữa trù trừ giây lát, rồi chĩa mũi kiếm xuống đất, mở đường cho qua. Trương Thúy Sơn nói:

– Tố Tố, nàng đi trước đi.

Ân Tố Tố ôm Vô Kỵ định bước qua, bỗng nghe tiếng gió năm thanh trường kiếm nhất tề chĩa thẳng tới Vô Kỵ. Ân Tố Tố giật mình, vội lùi lại. Năm hán tử kia lập tức tiến tới, mũi kiếm không ngừng rung động, thủy chung vẫn cách thân hình Vô Kỵ chừng một thước.

Du Liên Châu nhún chân một cái, từ bên ngoài vọt vào trong vòng, hai tay vỗ liền bốn cái, mỗi cái vỗ đều trúng vào cổ tay cầm kiếm của một hắc y hán tử, bốn thanh kiếm đang chĩa về phía Vô Kỵ liền bay lên trời. Bốn cái vỗ ấy xuất thủ quá nhanh, bốn thanh kiếm gần như cùng lúc bay lên tay trái chàng tức thời lật lại, nắm lấy cổ tay người thứ năm, ngón trỏ thuận thế điểm luôn vào huyệt cổ tay người đó, nhưng cảm thấy tay y mềm mại, nhẵn nhụi, hình như là tay thiếu nữ nên chàng vội buông ra. Người đó cổ tay tê chồn, nghe "keng" một tiếng, thanh kiếm rơi xuống đất.

Năm người bị rơi kiếm vội lùi lại. Lại lấp loáng hai đạo thanh quang dưới ánh trăng, có hai thanh kiếm khác đâm tới, là kiểu đâm ngang, lưỡi kiếm quay sang hai bên tả hữu, hai kiếm sĩ cùng sử chiêu "Đại mạc bình sa", kiếm thế không dụng kình, tựa hồ không có ý đả thương người khác.

Du Liên Châu nghĩ thầm: "Côn Luân kiếm pháp! Thì ra họ thuộc phái Côn Luân!" Chờ kiếm tới cách ngực mình ba tấc, chàng đột nhiên hóp ngực lại, hai tay huơ một vòng, hai ngón tay trỏ đồng thời búng vào hai lưỡi kiếm.

Cú búng này Du Liên Châu sử dụng Võ Đang tâm pháp, lẽ ra trường kiếm của đối phương phải tuột khỏi tay họ mới đúng, nào ngờ khi ngón tay đụng vào thanh kiếm liền cảm thấy từ thanh kiếm có một luồng nhu kình truyền ra hóa giải một nửa lực đạo của chàng nên kiếm không bị rơi. Song hai kiếm sĩ cũng không chịu nổi phải bật lùi ba bước. Một người loạng choạng rồi ngã phịch xuống đất, người kia kêu "Ối chao", ộc ra một ngụm máu tươi.

Từ lúc họ đem sáu chiếc thuyền ra chắn ngang sông, họ không thốt ra một lời, bây giờ hai tiếng kêu "Ối chao" nghe trong trẻo thanh thoát, đúng là giọng nữ nhân.

Hắc y hán tử đứng giữa giơ tay trái phẩy một cái, cả bọn quay mình bỏ chạy, trong giây lát đã lẩn vào các bụi cây thấp xung quanh. Phần lớn những người ấy thân hình mảnh mai uyển chuyển, rõ là nữ cải nam trang. Du Liên Châu lớn tiếng nói:

– Du nhị, Trương ngũ gửi lời chào Thiết Cầm tiên sinh, mong lượng thứ tội vô lễ.

Các hắc y kia không trả lời, nghe văng vẳng có tiếng cười khúc khích, rõ là tiếng thiếu nữ.

Ân Tố Tố đặt Vô Kỵ xuống đất, nắm tay con, nói:

– Những người kia phần lớn là nữ nhân. Nhị bá, bọn họ là phái Côn Luân đấy ư?

Du Liên Châu nói:

– Không phải, phái Nga Mi đấy.

Trương Thúy Sơn ngạc nhiên:

– Phái Nga Mi ư? Sao nhị ca lại bảo "gửi lời chào Thiết Cầm tiên sinh"?

Du Liên Châu thở dài:

– Bọn họ thủy chung không nói một lời, lại che mặt bằng vải đen, chính là không muốn cho người khác biết chân diện mục của họ. Năm mũi kiếm chĩa vào Vô Kỵ, là "Hàn Mai kiếm trận" của phái Côn Luân. Hai người dùng kiếm đâm ngang vào ta, cũng là chiêu "Đại mạc bình sa" của phái Côn Luân. Họ đã mạo danh phái Côn Luân, thì mình cũng giả vờ không biết, nên mới gửi lời chào chưởng môn phái Côn Luân là Thiết Cầm tiên sinh Hà Thái Xung.

Ân Tố Tố hỏi:

– Vì sao nhị bá biết họ là người của phái Nga Mi? Nhị bá nhận ra người nào chăng?

Du Liên Châu nói:

– Không đâu. Mấy người đó công lực đều không lấy gì làm thâm hậu, chắc chỉ là loại đồ tôn của chưởng môn phái Nga Mi Diệt Tuyệt sư thái, hoặc chỉ là các tiểu đệ tử của bà ta, làm sao ta nhận biết. Thế nhưng nhu kình của họ hóa giải chỉ lực của ta khi búng vào lưỡi kiếm thì chính là tâm pháp của phái Nga Mi. Học vài chiêu trận thức của môn phái khác không khó, song một khi sử dụng nội kình, tất không thể nào che giấu được chân tướng.

Trương Thúy Sơn gật đầu:

– Nhị ca dùng chỉ búng kiếm, nếu họ buông rơi kiếm thì không sao, có bị thương cũng nhẹ. Nội công của phái Nga Mi rất hay, có điều công lực chưa đủ vận kình, gặp phải cao thủ thì khó tránh khỏi nguy hại. Giả sử nhị ca coi hai người ấy là địch thủ, hẳn cả hai đã bỏ mạng rồi. Chẳng là phái Nga Mi đối với chúng ta xưa nay vẫn nể nang.

Du Liên Châu nói:

– Ân sư hồi trẻ từng được tổ sư phái Nga Mi là Quách Tương nữ hiệp đối đãi tử tế, thành thử lão nhân gia vẫn thường căn dặn nhất thiết không được đắc tội với đệ tử phái Nga Mi để bảo lưu cái tình hương hỏa khi xưa. Ta búng kiếm, thấy nội kình của đối phương có điều không ổn, thu về không kịp nữa rồi, thành ra làm cho hai người bị thương. Tuy không cố ý, song như vậy là đã vi phạm lời dặn dò của ân sư.

Ân Tố Tố cười, nói:

– Cũng may là sau cùng nhị bá nói là gửi lời chào Thiết Cầm tiên sinh, coi như không đắc tội với phái Nga Mi.

Lúc đó chiếc thuyền của họ đã trôi về phía hạ lưu mất tăm. Sáu chiếc thuyền nhỏ cũng đã chìm cả, những người chèo thuyền đều ướt như chuột lột, đang lóp ngóp leo lên bờ. Ân Tố Tố nói:

– Bọn này cũng thuộc phái Nga Mi ư?

Du Liên Châu hạ giọng nói nhỏ:

– Phần lớn là bang Lương Thuyền ở Sào Hồ.

Ân Tố Tố nhìn năm thanh kiếm lấp loáng ánh trăng rơi dưới đất, cúi xuống toan nhặt lên xem, thì Du Liên Châu nói:

– Đừng đụng tới binh khí của họ, lỡ trên kiếm có khắc tên người, sau này ta chẳng thể giả bộ không biết. Thôi chúng ta đi!

Ân Tố Tố lúc này hết sức kính phục vị nhị bá này, nàng đáp:

– Vâng.

Rồi dắt Vô Kỵ đi lên con đường lớn trên bờ sông.

Qua một bụi cây thấp, thấy dưới gốc cây liễu lớn ở phía trước có buộc ba con ngựa cao to. Vô Kỵ mừng rỡ reo lên:

– Có ngựa, có ngựa!

Ở Băng Hỏa đảo, thằng bé chưa thấy ngựa bao giờ, về đến Trung thổ, nó rất muốn cưỡi ngựa, nhưng toàn đáp thuyền, nên chưa có dịp nào.

Bốn người tới gần cây liễu, thấy trên thân cây có gài một mảnh giấy. Trương Thúy Sơn gỡ xuống xem, thấy viết: "Kính tặng ba con ngựa để tạ tội làm hỏng thuyền". Hàng chữ viết bằng than, viết vội nên hơi tháu, nét chữ mềm mại rõ là của nữ nhân. Ân Tố Tố mỉm cười, nói:

– Các cô nương phái Nga Mi dùng bút than vẽ lông mày để viết thư cho hai đại hiệp phái Võ Đang.

Du Liên Châu nói:

– Các cô nàng khách sáo quá.

Ba người cởi dây, chia nhau cưỡi. Vô Kỵ ngồi trong lòng mẹ, vô cùng thích thú.

Trương Thúy Sơn nói:

– Hình tích của chúng ta lộ rồi, đáp thuyền hay đi ngựa cũng vậy thôi.

Du Liên Châu nói:

– Đúng thế. Chặng đường phía trước hẳn còn gặp cản trở, nếu bất đắc dĩ phải động thủ thì chúng ta nhất thiết chớ có mạnh tay.

Du Liên Châu mới vô tình đả thương hai đệ tử phái Nga Mi, trong lòng vẫn áy náy không yên. Ân Tố Tố thì hối hận, nghĩ thầm: "Nhị bá chỉ mới xuất thủ hơi nặng một chút, chủ ý không định đả thương, chỉ muốn bức đối phương buông kiếm, họ cưỡng lại nên bị thương. Còn mình năm xưa cố ý giết nhiều đệ tử phái Thiếu Lâm, không cần biết nặng nhẹ là gì, thật là mình quá tệ. Mình phạm tội, mình phải gánh chịu, từ nay không thể để nhị bá bị phiền phức", bèn nói:

– Nhị bá, những người kia chỉ tới hỏi tội vợ chồng muội, chứ họ hết sức cung kính đối với huynh. Sắp tới nếu có ai cản đường, xin cứ để cho đệ muội lo liệu, nếu không xong mới dám phiền nhị bá trợ giúp một tay.

Du Liên Châu nói:

– Nói thế khác gì người ngoài. Huynh đệ chúng ta sống chết có nhau, đâu còn phân biệt chuyện của riêng ai kia chứ.

Ân Tố Tố không tiện nói thêm, hỏi:

– Họ biết rõ nhị bá đi cùng với phu phụ muội, sao lại chỉ phái mấy đệ tử trẻ tuổi chặn đường?

Du Liên Châu nói:

– Có lẽ do gấp quá, không kịp điều động cao thủ.

Trương Thúy Sơn đoán rằng mấy nữ nhân phái Nga Mi vừa rồi muốn biết tung tích của Tạ Tốn, bèn nói:

– Thì ra nghĩa huynh cũng gây thù chuốc oán với cả phái Nga Mi, sao ở Băng Hỏa đảo không nghe nghĩa huynh nói qua.

Du Liên Châu thở dài:

– Phái Nga Mi môn quy rất nghiêm, trong môn phái đa số là nữ đệ tử. Diệt Tuyệt sư thái trước nay không cho phép các nữ đệ tử hành tẩu giang hồ. Lần này phái Nga Mi lại gây sự với Thiên Ưng giáo, bọn ta thoạt đầu cũng lấy làm lạ, mãi gần đây mới hiểu nguyên do. Thì ra "Kim qua chùy" Phương Bình Phương lão anh hùng ở Khai Phong, Hà Nam một hôm đột nhiên bị sát hại, trên tường có hàng chữ viết bằng máu "Giết người này là Hỗn Nguyên Tích Lịch Thủ Thành Côn".

Ân Tố Tố hỏi:

– Phương Bình là người của phái Nga Mi ư?

Du Liên Châu đáp:

– Không phải. Diệt Tuyệt sư thái lúc chưa xuất gia vốn họ Phương. Phương lão anh hùng là thân ca ca[43] của Diệt Tuyệt sư thái.

Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố cùng "ồ" lên một tiếng.

Vô Kỵ bỗng hỏi:

– Nhị bá, thế Phương lão anh hùng là người tốt hay là kẻ xấu?

Du Liên Châu nói:

– Nghe bảo Phương lão anh hùng chỉ làm ruộng, đọc sách, không giao thiệp với ai, dĩ nhiên không phải kẻ xấu.

Vô Kỵ nói:

– Ồ, nghĩa phụ giết người bừa bãi như thế, thật không đúng chút nào.

Du Liên Châu cả mừng, vươn cánh tay dài như tay vượn, nhấc thằng bé từ trong lòng mẹ nó sang, xoa đầu nó, nói:

– Hài tử, cháu biết không nên giết người bừa bãi, nhị bá rất vui lòng. Người chết rồi không sống lại được, ngay đối với những kẻ cực kỳ hung ác, phạm nhiều tội lỗi, cũng không thể tùy tiện giết đi, mà cần chừa cho họ một con đường hối cải.

Vô Kỵ nói:

– Nhị bá, con xin nhị bá một điều.

Du Liên Châu hỏi:

– Điều gì?

Vô Kỵ nói:

– Nếu người ta tìm thấy nghĩa phụ của con, nhị bá hãy bảo họ đừng giết nghĩa phụ. Bởi vì nghĩa phụ mù lòa, không đánh lại họ đâu.

Du Liên Châu trầm ngâm hồi lâu, nói:

– Việc đó nhị bá không nói với họ được. Có điều là nhị bá sẽ không giết nghĩa phụ của cháu.

Vô Kỵ thừ người không nói, nước mắt rươm rướm.

*

* *

Trời sáng, bốn người tới một thị trấn, vào khách điếm ngủ nửa ngày, buổi chiều lại lên đường. Có lúc phu phụ Trương Thúy Sơn cưỡi chung một con ngựa, để Vô Kỵ một mình cầm cương cho thích. Vô Kỵ dẫu sao chỉ là một đứa trẻ, cưỡi ngựa một hồi là quên cái việc lo lắng cho Tạ Tốn.

Hôm sau tới Hán Khẩu. Trưa hôm đó, lúc gần đến An Lục, bỗng thấy trên đường có mười mấy khách thương tất tả chạy ngược lại, xua tay rối rít nói với nhóm Du Liên Châu bốn người:

– Quay lại đi, quay lại đi, đằng trước có binh lính Thát Đát giết người cướp của đấy.

Một người nói với Ân Tố Tố:

– Đàn bà con gái đừng có to gan, gặp bọn Thát Đát không phải chuyện đùa đâu.

Du Liên Châu hỏi:

– Chúng có bao nhiêu đứa?

Một người nói:

– Một chục tên, có vẻ hung ác lắm.

Nói xong vội chạy về phía đông.

Võ Đang thất hiệp lâu nay căm ghét thậm tệ quân Nguyên tàn sát lương dân. Trương Tam Phong giáo huấn đệ tử rất nghiêm, không cho phép tùy tiện động thủ với người khác, nhưng nếu gặp quan quân làm điều tàn ác thì được thẳng tay trừng trị. Thành thử Võ Đang thất hiệp nếu gặp đại đội quân Nguyên mới đành né tránh, còn gặp một toán nhỏ quân Nguyên hành hung là lập tức ra tay trừ khử. Du, Trương hai người nghe nói chỉ có mươi tên địch, nghĩ thầm chính là dịp trừ hại cho dân, bèn phóng ngựa về phía trước.

Đi chừng ba dặm, quả nhiên nghe phía trước có tiếng kêu thảm thiết. Trương Thúy Sơn giục ngựa vọt lên, thấy hơn mười tên giặc cầm cương đao, trường mâu đang lùa mấy chục người dân lại để tàn sát, máu tươi loang lổ mặt đất, có bảy tám cái xác đầu một nơi, thân một nẻo. Một tên lính Nguyên cầm một đứa bé ba bốn tuổi, giơ chân đá mạnh khiến đứa bé bay lên cao, làm cho nó khóc thét, lúc rơi xuống lại bị một tên lính khác đá lên như chuyền bóng qua lại. Qua vài lần đá, đứa bé không còn kêu khóc gì nữa, chắc đã chết rồi. Trương Thúy Sơn cả giận, từ lưng ngựa nhảy xuống, chân chưa chạm đất đã giáng một quyền trúng ngực tên lính vừa đá đứa trẻ, tên đó không kêu được một tiếng liền đổ gục ngay xuống. Một tên khác giơ cây dáo dài đâm vào lưng Trương Thúy Sơn.

Vô Kỵ sợ hãi kêu lên:

– Gia gia hãy coi chừng!

Trương Thúy Sơn ngoảnh lại, cười nói:

– Con hãy xem gia gia đánh bọn Thát tử.

Thấy trường mâu còn cách mình ngót nửa thước, tay trái chàng xoay ra sau, chộp lấy cán mâu, giúi mạnh về phía trước, trúng ngực tên lính đó. Hắn rú lên một tiếng, ngã ngửa ra, có vẻ chết tươi.

Quân Nguyên thấy Trương Thúy Sơn dũng mãnh như thế, bèn hô hoán bao vây chàng. Ân Tố Tố nhảy xuống ngựa, cướp một thanh đao dài, chém chết liền hai tên. Bọn địch thấy tình hình bất lợi, bỏ chạy tán loạn. Nhưng bọn này hung ác thành tính, trong lúc chạy trốn vẫn còn vung đao tàn sát người dân. Du Liên Châu cả giận, quát to:

– Đừng để chúng đào thoát!

Nói xong liền phóng về phía tây, chặn đường bốn tên lính Nguyên. Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố cũng chia nhau chặn những tên còn lại. Ba người biết bọn lính này tuy hung ác nhưng võ công tầm thường, Vô Kỵ còn giỏi hơn bọn chúng nên khỏi cần lo cho nó.

Vô Kỵ cũng nhảy xuống ngựa, thấy nhị bá và phụ mẫu tả xung hữu đột thì thích thú reo lên:

– Hay, hay quá!

Đột nhiên, tên lính bị Trương Thúy Sơn thúc cán mâu ngã ra bất tỉnh ban nãy bất ngờ nhỏm dậy, chộp lấy Vô Kỵ, nhảy lên lưng ngựa, phóng ngay đi.

Du Liên Châu và vợ chồng Trương Thúy Sơn cả kinh, cùng kêu lên và đuổi bộ theo. Du Liên Châu sau hai bước nhảy đã tới sau lưng ngựa, tay trái phóng ra một chưởng, nhắm vào lưng tên lính kia, thân hình chồm theo. Hắn không ngoái đầu lại, đánh ngược lại một chưởng. "Bộp" một tiếng, hai chưởng đụng nhau, Du Liên Châu cảm thấy chưởng lực của đối phương như bài sơn đảo hải, một luồng nội lực cực kỳ âm hàn truyền thẳng qua, khiến toàn thân chàng lạnh thấu xương, loạng choạng lùi về phía sau. Con ngựa tên kia cưỡi cũng không chịu nổi chấn lực một chưởng của Du Liên Châu, hai vó trước của nó đột nhiên khuỵu xuống. Tên lính kia ôm Vô Kỵ thuận đà phóng luôn về phía trước, thi triển thuật khinh công trong chớp mắt đã chạy xa hơn mười trượng.

Trương Thúy Sơn đuổi tới, thấy nhị ca mặt trắng bệch, bị thương không phải nhẹ liền vội đỡ dậy.

Ân Tố Tố lo cho con, cắm đầu đuổi theo. Nhưng tên lính kia khinh công quá cao, càng đuổi càng xa, về sau chỉ còn thấy một chấm đen trên đường, rồi tới một khúc rẽ thì chẳng còn nhìn thấy đâu nữa. Ân Tố Tố vẫn không nản chí, cứ cắm đầu cắm cổ đuổi theo. Nàng quên rằng tên lính ấy một chưởng đả thương Du Liên Châu, dẫu nàng có đuổi kịp, cũng chẳng địch nổi hắn; nàng chỉ nghĩ: "Dù thế nào cũng phải cướp lại Vô Kỵ".

Du Liên Châu thều thào nói:

– Mau gọi đệ muội quay lại, để rồi.. để rồi tính sau.

Trương Thúy Sơn dùng cây trường mâu đâm chết hai tên lính ở trước mặt, hỏi:

– Sư ca bị thương thế nào?

Du Liên Châu nói:

– Không sao đâu. Ngũ đệ hãy gọi.. đệ muội trở lại ngay.

Trương Thúy Sơn sợ mấy tên lính còn lại còn có hảo thủ trong đó, chàng vừa đi khỏi là hắn sẽ tới hạ sát Du Liên Châu, nên chàng đuổi theo tứ phía, từng đứa một giết hết, mới lấy một con ngựa phóng về phía tây.

Đuổi chừng vài dặm thì thấy Ân Tố Tố đang chạy như điên, nhưng bước chân có vẻ loạng choạng, hiển nhiên đã quá mệt. Chàng cúi xuống kéo nàng lên yên. Nàng chỉ tay về phía trước, mếu máo nói:

– Không thấy nữa, đuổi không kịp, đuổi không kịp!

Nói rồi hai mắt trợn ngược, ngất đi.

Trương Thúy Sơn lo cho Du Liên Châu, nghĩ thầm: "Phải lo cho nhị ca trước đã, chuyện Vô Kỵ tính sau". Chàng liền quay ngựa chạy về, thấy Du Liên Châu ngồi nhắm mắt điều hòa hơi thở.

Một lát sau, Ân Tố Tố tỉnh lại, kêu lên:

– Vô Kỵ, Vô Kỵ!

Sắc mặt trắng bệch của Du Liên Châu cũng đã hồng lại dần, mở mắt ra, nói nhỏ:

– Chưởng lực lợi hại thật!

Trương Thúy Sơn thấy giọng nói của sư huynh không bị đứt quãng, nghĩ rằng tính mệnh không nguy kịch khi đó mới yên tâm, song chưa dám nói chuyện vội. Du Liên Châu từ từ đứng lên, hỏi nhỏ:

– Không thấy tung tích gì sao?

Ân Tố Tố khóc, nói:

– Nhị bá, làm.. thế nào bây giờ?

Du Liên Châu nói:

– Đệ muội cứ yên tâm, Vô Kỵ không sao đâu. Người ấy võ công cao ghê gớm, chắc chắn không khi nào hãm hại một đứa bé.

Ân Tố Tố nói:

– Nhưng.. nhưng hắn bắt Vô Kỵ mang đi.. mất rồi.

Du Liên Châu gật đầu, đưa tay trái vịn vai Trương Thúy Sơn, nhắm mắt suy nghĩ, lát sau mở mắt ra, nói:

– Ta chưa nghĩ ra hắn thuộc môn phái nào, phải về hỏi sư phụ thôi.

Ân Tố Tố nôn nóng, nói:

– Nhị bá, mình phải tìm cách đoạt lại Vô Kỵ trước đã chứ. Tên lính ấy thuộc môn phái nào, để sau hỏi cũng được.

Du Liên Châu lắc đầu.

Trương Thúy Sơn nói:

– Tố Tố, hiện tại nhị ca đang bị trọng thương, kẻ kia võ công cao cường như thế, mình có tìm thấy hắn, cũng chẳng địch nổi đâu.

Ân Tố Tố lo lắng nói:

– Không lẽ.. không lẽ bỏ con sao?

Trương Thúy Sơn nói:

– Mình không cần tìm hắn, hắn sẽ tự tìm đến mình.

Ân Tố Tố vốn rất thông minh, chỉ vì ái tử bị bắt đi nên hoảng hốt, nhất trời đầu óc bối rối, lúc này đã trở lại tỉnh táo. Tên lính ấy võ công như thế, ngay Du Liên Châu còn bị chấn thương nặng vì một chưởng của hắn, tất nhiên hắn là kẻ giả trang. Hắn đả thương Du Liên Châu rồi, nếu muốn lấy mạng hai vợ chồng nàng chẳng phải chuyện khó. Nhưng hắn chỉ bắt Vô Kỵ mang đi, hẳn là nhằm tra hỏi chỗ ở của Tạ Tốn. Lúc Trương Thúy Sơn thuận tay thúc một cán mâu vào ngực hắn, hắn giả bộ ngã ra bất tỉnh, lúc đó cả ba người không ai chú ý tới tướng mạo của hắn; bây giờ nhớ lại, tên đó dường như để râu xồm, trông không khác gì một tên lính Thát Đát tầm thường.

Trương Thúy Sơn đặt sư huynh lên lưng ngựa, chàng tự tay cầm cương, ba con ngựa thong thả đi. Đến An Lục, họ vào một tiểu khách điếm nghỉ ngơi. Trương Thúy Sơn bảo điếm chủ mang thức ăn tới rồi chàng đóng cửa lại không ra, e gặp quân Nguyên thêm rắc rối.

Ba người mới giết hơn chục tên lính Nguyên trên đường, chắc rằng vài hôm sau quân Nguyên sẽ kéo đến tàn sát cướp bóc trả thù, bách tính vùng này sẽ phải chịu không biết bao nhiêu tai ương. Thế nhưng mỗi khi gặp chuyện bất bình, lại không thể khoanh tay bỏ qua. Quả đã là bị cái nhục vong quốc thì khắp cõi Thần Châu này người người đều gặp kiếp nạn.

Du Liên Châu ngầm vận nội lực dẫn đi các huyệt đạo toàn thân để trị thương. Trương Thúy Sơn ngồi bên canh chừng. Ân Tố Tố ngồi trên ghế tựa, không dám ngủ. Đến nửa đêm, Du Liên Châu đứng dậy, đi chầm chậm ba vòng trong phòng cho giãn gân cốt, nói:

– Ngũ đệ, trong đời ta, ngoài ân sư ra, ta chưa gặp một cao thủ nào mạnh như thế.

Ân Tố Tố vẫn khắc khoải nhớ con, nói:

– Hắn bắt Vô Kỵ đi chắc để tra hỏi chỗ ở của nghĩa huynh, không biết Vô Kỵ có chịu nói hay không?

Trương Thúy Sơn hiên ngang nói:

– Nếu Vô Kỵ nói ra, nó đâu có đáng là con chúng ta?

Ân Tố Tố nói:

– Đúng, nhất định nó sẽ không nói đâu!

Đột nhiên nàng khóc nấc lên. Trương Thúy Sơn vội hỏi:

– Sao vậy?

Ân Tố Tố nghẹn ngào nói:

– Vô Kỵ không nói, thì tên ác tặc.. tên ác tặc ấy sẽ đánh nó, không chừng còn dùng cực hình..

Du Liên Châu thở dài. Trương Thúy Sơn nói:

– Ngọc không mài giũa, chẳng thành bảo vật. Để cho thằng bé chịu đựng một chút gian khổ, không phải là không có cái hay.

Miệng tuy nói vậy, nhưng nghĩ cái cảnh lúc này thằng bé khó tránh bị người ta hành hạ, Trương Thúy Sơn vừa đau lòng vừa tức giận. Chàng tự hỏi, hay là lúc này nó đang bình an nằm ngủ? Nếu nói ra chỗ ở của Tạ Tốn, nó sẽ thành kẻ vong ân bội nghĩa, còn tệ hại hơn nhiều so với với bị cực hình. Chàng nghĩ thầm: "Thà rằng nó chết ngay, còn hơn làm kẻ tiểu nhân bất nghĩa". Chàng nhìn vợ, thấy thần sắc nàng sầu khổ đáng thương, chợt giật mình: "Lỡ tên ác tặc kia dẫn Vô Kỵ tới đây, dùng tính mạng thằng bé để uy hiếp thì Tố Tố không chừng sẽ bị khuất phục". Bèn hỏi:

– Nhị ca đã đỡ chưa?

Sư huynh sư đệ họ từ nhỏ đồng môn học nghệ, chỉ một ánh mắt, một lời nói là đủ hiểu ý nhau, Du Liên Châu nhìn thần sắc hai vợ chồng sư đệ, đã hiểu dụng ý của Trương Thúy Sơn, nên nói:

– Đỡ rồi, chúng ta đi ngay trong đêm nay thôi.

Ba người chọn những con đường nhỏ, vắng, lợi dụng đêm tối mà đi. Ba người không sợ tên kia truy sát mà chỉ sợ hắn dùng cực hình hành hạ Vô Kỵ ngay trước mắt họ.

Cứ thế ngày nghỉ đêm đi, dọc đường rất may bình yên vô sự. Thế nhưng Ân Tố Tố khắc khoải lo cho con, lại đi ban đêm chốn núi non, bị nhiễm phong sương, bỗng nhiên ngã bệnh. Trương Thúy Sơn thuê hai cỗ xe lừa, để Du Liên Châu và Ân Tố Tố mỗi người ngồi một xe, chàng cưỡi ngựa đi bên hộ tống. Hôm đó đi qua Tương Dương, đến nghỉ tại một khách điếm ở trấn Thái Bình Điếm.

Trương Thúy Sơn sắp xếp xong cho sư huynh, đang định về phòng mình nghỉ, bỗng nhiên có một hán tử vén rèm cửa, xộc vào phòng. Tên này mặc áo chẽn màu xanh, tay cầm roi ngựa, trông như một phu xe. Hắn nhìn Du, Trương hai người, cười khẩy một tiếng, quay lưng đi ra. Trương Thúy Sơn biết hắn không có thiện ý, giận hắn vô lễ, tiện thấy cái then cửa ở trước mắt, chàng bèn nhặt lấy vận kình ném theo, "bộp" một tiếng, trúng lưng hắn. Tên kia loạng choạng ngã chúi về phía trước, lồm cồm bò dậy, nói:

– Tiểu tặc phái Võ Đang, chết đến nơi rồi còn giở thói hung hăng!

Miệng lầu bầu, chân không dám dừng, hắn bỏ chạy ra ngoài, nhưng trông dáng đi rõ ràng đã bị thương không nhẹ vì trúng cái then cửa vừa rồi.

Du Liên Châu thấy sự việc xảy ra, không nói một lời. Gần tối, Trương Thúy Sơn nói:

– Nhị ca, mình lên đường thôi!

Du Liên Châu nói:

– Không, đêm nay ở lại, sáng mai hãy đi.

Trương Thúy Sơn nghĩ giây lát, hiểu ra ý định của sư huynh, hào khí trỗi dậy, nói:

– Đúng, chốn này cách núi Võ Đang chỉ hai ngày đường, huynh đệ ta còn dè dặt, chẳng hóa ra giảm mất uy phong của sư môn hay sao? Ngay dưới chân bản sơn mà phải ngày nghỉ đêm đi để tránh người, còn ra thể thống gì nữa?

Du Liên Châu mỉm cười, nói:

– Vả lại hành tàng đã lộ, để xem đệ tử phái Võ Đang "chết đến nơi rồi" như tên kia nói ra sao?

Hai người đi sang phòng Trương Thúy Sơn, kề vai ngồi trên giường lò, nhắm mắt ngồi tọa công. Đêm hôm ấy, ngoài song, trên mái, có bảy tám kẻ cứ đi qua đi lại, nhòm trộm, nhưng không dám vào phòng gây sự. Ân Tố Tố mơ mơ màng màng ngủ thiếp đi. Huynh đệ Du, Trương chẳng buồn để ý tới bọn địch bên ngoài.

Sáng hôm sau, họ dùng điểm tâm xong mới lên đường. Du Liên Châu ngồi trong xe lừa, bảo phu xe vén hết rèm che bốn bên để chàng tiện quan sát.

Rời khỏi trấn Thái Bình Điếm được vài dặm, có ba kẻ cưỡi ngựa từ phía đông đuổi tới, bám theo sau xe lừa, cách hơn mười trượng, không lại gần thêm mà cũng không tụt lại xa hơn. Đi vài dặm nữa, thấy có bốn người cưỡi ngựa chờ sẵn bên đường, đợi bọn Du Liên Châu đi qua liền bám theo. Vài dặm sau, lại thêm bốn kỵ sĩ nữa gia nhập, tổng cộng có mười một kẻ bám theo.

Người phu xe lừa hoảng sợ nói với Trương Thúy Sơn:

– Quan khách, bọn kia là hạng bất chính, chắc là lũ cướp đường, phải cẩn thận đề phòng.

Trương Thúy Sơn gật đầu.

Đến trưa lại thêm sáu tên nữa. Họ trang phục không giống nhau, có người diêm dúa sang trọng, có kẻ như phu xe, sai dịch, nhưng người nào cũng mang binh khí. Bọn họ không ai nói một tiếng, không rõ người vùng nào, đa số vóc dáng thấp nhỏ, nước da đen vì rám nắng, xem chừng là người phương nam. Đến quá trưa thì đã tăng lên thành hai mươi mốt người, có vài kẻ bạo gan giục ngựa chạy tới gần, chỉ cách xe lừa hai, ba trượng mới ghìm ngựa lại. Du Liên Châu ngồi trong xe lừa, nhắm mắt dưỡng thần, không thèm đưa mắt nhìn bọn kia.

Chiều tối, phía trước có hai kỵ sĩ phóng tới. Đi đầu là một lão niên râu dài, không mang vũ khí. Người thứ hai là một thiếu phụ phục sức sang trọng, tay trái cầm đôi song đao. Hai người cho ngựa đứng chắn giữa đường, không cho xe lừa đi qua.

Trương Thúy Sơn cố nén giận, vẫn ngồi trên ngựa, ôm quyền thi lễ:

– Du nhị, Trương ngũ phái Võ Đang chào hai vị, xin hỏi quý tính đại danh của lão gia tử?

Lão già lạnh lùng hỏi:

– Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn ở đâu? Chỉ cần ngươi nói ra, bọn ta sẽ không làm khó dễ với đệ tử phái Võ Đang.

Trương Thúy Sơn nói:

– Việc này tại hạ không tự quyết định được, phải về bẩm báo với tôn sư đã.

Lão già nói:

– Du nhị bị thương, Trương ngũ đơn độc, một mình ngươi làm sao địch nổi bọn ta ngần này người.

Nói đoạn lão ta rút từ thắt lưng ra một đôi phán quan bút, đầu bút đúc hình đầu rắn.

Trương Thúy Sơn có ngoại hiệu Ngân Câu Thiết Hoạch, tay phải sử dụng phán quan bút, nên các danh gia trong võ lâm sử dụng phán quan bút để điểm huyệt, chàng đều biết, giờ nhìn thấy cặp phán quan bút hình đầu rắn này thì giật mình. Trước đây chàng từng nghe sư phụ nói rằng nước Cao Ly có một phái sử dụng phán quan bút, đầu bút đúc hình đầu rắn, chiêu số và thủ pháp điểm huyệt khác hẳn ở Trung nguyên, đại để là theo cách âm nhu hiểm độc của loài rắn, gọi là phái Thanh Long. Cao thủ lừng danh của phái này họ Tuyền, còn tên là gì thì chính sư phụ cũng không biết. Chàng ôm quyền nói:

– Tiền bối có phải thuộc phái Thanh Long ở Cao Ly chăng? Tại hạ chưa biết phải xưng hô thế nào với Tuyền lão gia tử?

Lão già hơi ngạc nhiên, nghĩ thầm: "Ngươi trạc tam tuần mà sao kiến thức rộng thế, biết được cả lai lịch của ta". Lão già chính là chưởng môn phái Thanh Long bên nước Cao Ly, tên gọi Tuyền Kiến Nam, được bang chủ bang Tam Giang ở Lĩnh Nam đem lễ vật hậu hĩnh mời sang. Lão tới Trung nguyên chưa lâu, chưa hề ra tay vậy mà không ngờ vừa lộ diện đã bị Trương Thúy Sơn nhận ra. Lão già khua cặp bút một cái, nói:

– Lão phu chính là Tuyền Kiến Nam đây.

Trương Thúy Sơn nói:

– Phái Thanh Long bên Cao Ly xưa nay không qua lại gì với võ lâm Trung nguyên, chẳng biết phái Võ Đang đắc tội gì với Tuyền lão anh hùng, xin hãy cho biết?

Tuyền Kiến Nam nhếch mép, nói:

– Lão phu với các hạ không oán không thù, người Cao Ly chúng tôi cũng biết Trung nguyên có phái Võ Đang, Võ Đang thất hiệp là các hảo nam tử hành hiệp trượng nghĩa. Lão phu chỉ xin hỏi các hạ một câu: Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn hiện trốn ở đâu?

Câu nói đó tuy không phải là vô lễ, nhưng cách nói hiển nhiên lộ vẻ uy hiếp, lão ta lại dùng phán quan bút ra hiệu cho bọn người phía sau xe ùa tới vây quanh xe, rõ ràng có ý nói nếu không cho biết chỗ ở của Tạ Tốn, bọn họ sẽ ra tay động võ.

Trương Thúy Sơn nói:

– Nếu tại hạ không thích nói thì sao?

Tuyền Kiến Nam đáp:

– Trương ngũ hiệp võ nghệ cao cường, bọn ta tuy đông nhưng cũng chưa chắc cầm chân được các hạ. Song Du nhị hiệp bị thương, Trương phu nhân lại đang bệnh, bọn ta gặp cơ may, lợi dụng lúc người nguy khốn, quyết giữ hai người kia lại. Vậy Trương ngũ hiệp cứ việc đi cho.

Tuyền Kiến Nam nói tiếng Hán không chuẩn, giọng lại the thé, nghe rất chướng tai. Trương Thúy Sơn thấy lão ta tự miệng nói ra mấy chữ vô liêm sỉ "lợi dụng lúc người nguy khốn", bèn nói:

– Được, vậy tại hạ xin lĩnh giáo cao chiêu của võ học Cao Ly. Nếu Tuyền lão anh hùng nhường tại hạ một chiêu nửa thức thì sao đây?

Tuyền Kiến Nam cười, nói:

– Nếu ta thua, thì tất cả những người kia nhất tề xông lên, chứ bọn ta không theo cách thức một chọi một. Nếu phái Võ Đang đông hơn, các vị cứ việc lấy thịt đè người. Hồi xưa, Tùy Dạng Đế, Đường Thái Tông, Đường Cao Tông bên Trung Hoa các vị sang xâm lấn nước Cao Ly của lão phu, lần nào cũng đem mấy chục vạn quân đánh vài vạn quân Cao Ly đó sao? Xưa nay đánh nhau, bên nào đông người là thắng.

Trương Thúy Sơn biết rằng việc hôm nay nói lắm vô ích, chỉ có cách bắt lão ta làm con tin mới buộc thủ hạ của lão ta không dám xâm phạm nhị ca và Ân Tố Tố; nghĩ thế chàng nhẹ nhàng nhảy xuống ngựa, chân trái vừa chạm đất, tay trái đã cầm lạn ngân hổ đầu câu, tay phải cầm tân thiết phán quan bút, nói:

– Các hạ là khách, mời ra chiêu trước!

Phán quan bút của chàng mười năm trước đã rơi xuống biển, binh khí hiện cầm trong tay mới được mua chưa lâu, kích thước không hoàn toàn vừa tay, đành dùng tạm vậy.

Tuyền Kiến Nam cũng xuống ngựa, gõ hai cây bút vào nhau nghe "keng" một tiếng, cây bút bên phải điểm hờ một cái, cây bút bên trái vẫn giữ thế, thân hình đã di chuyển sang bên hông Trương Thúy Sơn. Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: "Hôm nay ta đấu vì nghĩa huynh đây! Tố Tố là thê tử ta, nàng với ta là một, nàng cũng kết nghĩa kim lan với Tạ Tốn, nếu có vì nghĩa huynh mà mất mạng, thì cũng không sao. Nhị ca không quen biết Tạ Tốn, nếu vì Tạ Tốn mà bị nhục, thật không đáng chút nào". Thấy phán quan bút hình đầu rắn của Tuyền Kiến Nam điểm tới, Trương Thúy Sơn dùng ngân câu gạt ra, tay chỉ sử hai thành công lực. Câu và bút va nhau, thân hình chàng hơi lảo đảo.

Tuyền Kiến Nam cả mừng, nghĩ thầm: "Bọn người ở bang Tam Giang ca ngợi Võ Đang thất hiệp lên tận mây xanh, hóa ra chỉ có thế này thôi! Chắc là võ lâm Trung nguyên muốn giữ thể diện, nên mới thổi phồng tài năng của nhân sĩ nước họ lên gấp mấy lần". Cây phán quan bút ở tay trái lão ta phóng ra liên tiếp ba chiêu. Trương Thúy Sơn né trái lách phải, gắng gượng chống đỡ, dùng một câu một bút trả đòn, nhưng kình lực yếu ớt. Tuyền Kiến Nam tin chắc hôm nay sẽ đánh bại Trương ngũ hiệp của phái Võ Đang, có thể nói lão ta tới Trung nguyên đánh một trận đã nổi danh, thế là hai cây bút cứ múa như bay, chiêu nào cũng nhằm các điểm yếu hại trên người Trương Thúy Sơn mà đánh tới.

Trương Thúy Sơn giữ môn hộ thật kín, ngưng thần quan sát chiêu thức của đối phương. Chàng thấy chiêu số của Tuyền Kiến Nam nhẹ nhàng linh hoạt, bút có kình lực, các huyệt bị lão ta điểm tới thiên về hạ tam lộ và sau lưng, quả nhiên khác hẳn thủ pháp điểm huyệt của các danh thủ Trung nguyên. Đấu thêm mươi hiệp, chàng thấy phán quan bút bên tay trái của lão ta toàn nhắm các huyệt sau lưng, từ huyệt Linh Đài trở xuống: Các huyệt Chí Dương, Cân Xúc, Trung Khu, Tích Trung, Huyền Khu, Mệnh Môn, Dương Quan, Yêu Du, đến huyệt Trường Cường ở đốt xương cùng; còn phán quan bút bên tay phải thì toàn nhắm các huyệt ở hông và đùi, từ Ngũ Khu, Duy Đạo, Hoàn Khiêu, Phong Thị, Trung Độc, đến huyệt Dương Lăng ở bắp chân. Trương Thúy Sơn đã hiểu phán quan bút bên tay trái của lão ta toàn nhắm các huyệt trên mạch Đốc[44], còn phán quan bút bên tay phải lại toàn nhắm các huyệt thuộc "Túc Thiếu Dương đởm kinh", trông có vẻ rắc rối nhưng thực ra chỉ có bấy nhiêu. Chàng nghĩ thầm: "Năm xưa sư phụ nói rằng công phu điểm huyệt của phái Thanh Long bên Cao Ly chuyên thiên về một bên người, tuy hiểm độc, nhưng không đáng sợ. Hôm nay ta thấy đúng như vậy".

Chàng đã tìm ra chiêu thức của đối phương rồi, ngân câu thiết bút múa may gạt trên đỡ dưới cũng chỉ là giả bộ; thực ra chỉ cốt bảo vệ các huyệt thuộc mạch Đốc và "Túc Thiếu Dương đởm kinh", còn các huyệt khác trên cơ thể chẳng cần để ý.

Tuyền Kiến Nam càng đấu càng hăng, miệng la hét, uy phong lẫm lẫm. Trương Thúy Sơn nghĩ bụng: "Chỉ có chút võ công thế này mà cũng đòi tới chân núi Võ Đang gây sự ư?" Đột nhiên ngân câu bên tay trái của chàng sử nét móc trong tự quyết chữ "Long", phập một tiếng, đã móc trúng huyệt Phong Thị trên đùi phải của Tuyền Kiến Nam. Lão ta kêu "ối" một tiếng, chân phải khuỵu xuống. Cây phán quan bút bên tay phải của Trương Thúy Sơn liên tiếp điểm ra như lửa xẹt, từ huyệt Linh Đài của lão ta đổ xuống, sử nét cuối cùng trong tự quyết chữ "Phong" điểm vào các huyệt Chí Dương, Cân Xúc, Trung Khu, Tích Trung, Huyền Khu, Mệnh Môn, Dương Quan, Yêu Du, đến huyệt Trường Cường ở đốt xương cùng thuộc mạch Đốc.

Thủ pháp điểm huyệt của chàng tựa như thư pháp, các nét bút nhanh như lưu tinh, khí nuốt ngưu đẩu, Tuyền Kiến Nam làm sao còn nhúc nhích gì được? Nét bút ấy điểm vào các huyệt mà chính lão ta nghiên cứu cả đời, lão ta nghĩ thầm: "Thôi rồi, thôi rồi! Đối phương quá tài, ta chẳng thể nào điểm liền một hơi mười mấy huyệt như thế. Ta chỉ đáng làm đệ tử của hắn thôi".

Trương Thúy Sơn dùng mũi ngân câu chĩa vào yết hầu Tuyền Kiến Nam, quát:

– Các vị mau lùi ra! Tại hạ mời Tuyền lão anh hùng cùng tới chân núi Võ Đang, tới đó sẽ giải khai huyệt đạo thả về.

Chàng tưởng bọn kia đều là thuộc hạ của Tuyền Kiến Nam thì sẽ run sợ mà tránh ra.

Nào ngờ thiếu phụ trang phục sang trọng lại giơ song đao, hô to:

– Tất cả kề vai tiến lên vây xe lừa lại!

Trương Thúy Sơn quát:

– Kẻ nào tiến lên, ta sẽ giết lão này trước!

Thiếu phụ cười khẩy, hô:

– Tất cả tiến lên!

Đoạn y thị nhảy xuống ngựa, múa đao xông tới, bất chấp tính mạng Tuyền Kiến Nam. Thì ra thiếu phụ là một đà chủ của bang Tam Giang, lần này bang đó tung lực lượng mạnh ra là cốt bắt giữ Du Liên Châu và Ân Tố Tố, bức vấn chỗ ở của Tạ Tốn. Tuyền Kiến Nam chỉ là khách thuê của bang hội, đã không hoàn tất công việc thì dù lão ta bị chết bởi tay địch cũng chẳng sao.

Trương Thúy Sơn hoảng sợ, xem ra có giết Tuyền Kiến Nam cũng vô ích, thấy sáu bảy hán tử xông đến trước xe của Ân Tố Tố, ngần ấy tên xông đến xe của Du Liên Châu, chỉ có vài tên cùng thiếu phụ bao vây chàng; chàng đang chưa biết tính sao, bỗng nghe Du Liên Châu nói to:

– Lục đệ, hãy ra tay trừng trị bọn này đi!

Trương Thúy Sơn kinh ngạc nghĩ thầm: "Nhị ca định dùng kế bỏ ngỏ thành chăng?" Chỉ nghe vang lên một tiếng hú, rồi có tiếng người nói:

– Tuân lệnh! Chào Ngũ ca, ngũ ca có nhớ tiểu đệ hay không?

Từ trên một cây đại thụ ở xa mấy trượng có một người nhảy xuống, chĩa kiếm tiến về phía trước, chính là lục hiệp Ân Lê Đình. Trương Thúy Sơn mừng không để đâu cho hết, gọi to:

– Lục đệ, chào lục đệ!

Bang Tam Giang cử mấy người ra ngăn cản, chỉ nghe "ối cha ối cha" kèm theo tiếng kiếm rơi, mấy tên kia liên tiếp bị đâm trúng huyệt Thần Môn, huyệt này ở ngay giữa xương cổ tay, bị đánh trúng vào đó thì tay không còn chút lực nào nữa. Ân Lê Đình ung dung tiến tới, gặp kẻ nào ngăn trở, kiếm của chàng chỉ rung động một cái là binh khí rơi khỏi tay đối phương. Thiếu phụ ngoảnh đầu vừa quát:

– Ngươi là Võ Đang..

Lời chưa dứt, thì keng keng hai tiếng, song đao trong hai tay y thị đã cùng rơi xuống đất.

Trương Thúy Sơn cả mừng, reo lên:

– "Thần Môn thập tam kiếm" của sư phụ đã sáng chế thành công rồi.

"Thần Môn thập tam kiếm" bao gồm mười ba chiêu thức, các chiêu thức khác nhau, nhưng đều cùng nhằm đánh vào huyệt Thần Môn ở cổ tay đối phương. Mười năm trước, khi Trương Thúy Sơn rời núi Võ Đang, Trương Tam Phong từng có ý này, đã bàn với các đệ tử mấy lần, song còn một số cái khó chưa vượt qua được. Vừa rồi Ân Lê Đình đem ra sử dụng, các hảo thủ của bang Tam Giang không ai đỡ nổi một chiêu. Trương Thúy Sơn rất cao hứng, thấy mỗi chiêu Ân Lê Đình tung ra đều tinh diệu tuyệt luân, chỉ mới sử dụng năm sáu chiêu, chưa đi hết một nửa "Thần Môn thập tam kiếm", mà mười mấy bang chúng Tam Giang đã bị trúng kiếm, đánh rớt mất binh khí rồi.

Thiếu phụ kêu to:

– Tát nước, tát nước! Mạnh ai nấy đi!

Bọn kia kẻ nhảy ngựa đào tẩu, kẻ không kịp lên ngựa liền quay mình bỏ chạy. Trương Thúy Sơn giải huyệt cho Tuyền Kiến Nam, nhặt đôi phán quan bút cài vào lưng đối phương. Lão ta đỏ mặt, cắm đầu đi thẳng, nhưng không cùng phía với bang Tam Giang.

Ân Lê Đình tra kiếm vào vỏ, nắm chặt hai tay Trương Thúy Sơn, vui mừng nói:

– Ngũ ca, tiểu đệ nhớ ngũ ca quá chừng!

Trương Thúy Sơn mỉm cười:

– Lục đệ, lục đệ cao lớn hẳn lên.

Hai người khi chia tay, Ân Lê Đình mới mười tám tuổi, là một thiếu niên gầy gò, nay đã trở thành một thanh niên vạm vỡ. Trương Thúy Sơn cầm tay Ân Lê Đình kéo tới giới thiệu với Ân Tố Tố.

Ân Tố Tố bệnh nặng, gật đầu mỉm cười, nói nhỏ:

– Lục đệ!

Ân Lê Đình cười vui:

– Ngũ tẩu cũng họ Ân, thật là hay lắm, vừa là tẩu tẩu, vừa là tỷ tỷ của đệ.

Trương Thúy Sơn nói:

– Nhị ca tài thật, lục đệ nấp ở trên cây, mình không biết gì cả, nhị ca đã trông thấy rồi.

Ân Lê Đình bèn kể nguyên do vì sao đến ứng viện.

Thì ra tứ hiệp Trương Tòng Khê xuống núi mua sắm vật dụng, chuẩn bị cho tiệc mừng thọ sư phụ bách tuế, thấy có hai nhân vật giang hồ lén lén lút lút, bèn sinh nghi: "Phái Võ Đang ta uy chấn thiên hạ, không lẽ có kẻ to gan dám đến chân núi vuốt râu hùm?" Trương Tòng Khê ngầm theo dõi, nghe hai tên kia nói chuyện với nhau, rằng Trương Thúy Sơn từ hải ngoại đã về, gặp nhị ca Du Liên Châu, hiện bang Tam Giang và Ngũ Phụng đao cùng muốn chặn đường truy vấn nơi ở của Tạ Tốn. Trương Tòng Khê mừng quá liền vội về núi, lúc đó trên núi chỉ có Ân Lê Đình, hai người lập tức chia nhau đi ứng viện, họ cùng nghĩ rằng Du nhị và Trương ngũ đã đi với nhau thì hai cái bang hội nhỏ bé kia chẳng làm gì nổi, động đến huynh đệ ta chỉ chuốc nhục mà thôi. Song cả hai cùng nóng lòng gặp Trương Thúy Sơn, sớm chừng nào hay chừng ấy nên chia nhau đi đón. Việc Du Liên Châu bị thương, hai gã giang hồ kia không nhắc đến nên Trương Tòng Khê và Ân Lê Đình không hay biết. Trương Tòng Khê đi đánh đuổi hai hảo thủ do phái Ngũ Phụng đao sai tới, còn bọn bang Tam Giang thì Ân Lê Đình lo liệu.

Du Liên Châu thở dài:

– Nếu không có tứ đệ cơ trí sắp đặt, không chừng hôm nay phái Võ Đang ta bị mất thể diện rồi.

Trương Thúy Sơn hổ thẹn nói:

– Một mình tiểu đệ không bảo hộ nổi nhị ca, than ôi, xa sư phụ mười năm, tiểu đệ đã thua kém huynh đệ đồng môn quá xa.

Ân Lê Đình cười:

– Ngũ ca nói gì vậy? Tiểu đệ không ra tay, thì mấy tên bang Tam Giang kia, ngũ ca đánh tan dễ như trở bàn tay thôi. Chẳng qua ngũ ca phải chiếu cố nhị ca, lại e ngũ tẩu kinh sợ. Chứ công phu mà ngũ ca đánh bại lão già Cao Ly thì sư phụ chưa truyền cho người thứ hai. Lần này ngũ ca trở về, sư phụ mừng lắm, sẽ truyền thụ cho ngũ ca không biết bao nhiêu công phu tinh diệu, chỉ e ngũ ca học không kịp thôi. Chiêu thuật "Thần Môn thập tam kiếm" thì để tiểu đệ nói cho ngũ ca nghe.

Hai người xa nhau quá lâu, nay được trùng phùng, Ân Lê Đình chỉ hận không thể đem công phu sở học suốt mười năm nói hết một lúc cho Trương Thúy Sơn nghe. Hai người sóng vai nhau đi, Ân Lê Đình cứ vừa kể vừa làm điệu bộ.

Đêm ấy bốn người nghỉ chân trong khách điếm bến Tiên Nhân, Ân Lê Đình muốn nằm chung giường với Trương Thúy Sơn. Trương Thúy Sơn cũng rất quý mến vị tiểu sư đệ này. Lục đệ tuy đã cao lớn, song vẫn quấn quýt Trương Thúy Sơn như ngày xưa. Trong Võ Đang thất hiệp, Mạc Thanh Cốc tuy ít tuổi hơn cả, nhưng từ nhỏ tính nết đã như người lớn, Ân Lê Đình so với sư đệ còn có phần trẻ con hơn. Trương Thúy Sơn chỉ hơn Ân Lê Đình hai tuổi, từ trước vốn đã thân với lục đệ hơn cả.

Du Liên Châu cười:

– Ngũ đệ nay có thê tử rồi, lục đệ tưởng vẫn như mười năm trước ư? Ngũ đệ, ngũ đệ về lần này thật đúng lúc, chúng ta sau khi uống thọ tửu mừng sư phụ, sẽ được uống hỉ tửu mừng lục đệ đó.

Trương Thúy Sơn cả mừng, vỗ tay cười:

– Hay quá! Hay quá! Tân nương là ai vậy?

Ân Lê Đình đỏ mặt, e thẹn không nói.

Du Liên Châu nói:

– Là hòn ngọc quý của Kim Tiên Kỷ lão anh hùng ở Hán Dương đó.

Trương Thúy Sơn lè lưỡi, nói đùa:

– Lục đệ mà ương ngạnh, roi vàng đét đít thì không phải chuyện đùa đâu.

Du Liên Châu mỉm cười, nói:

– Kỷ cô nương sử kiếm. Mong rằng trong số các cô nương che mặt hôm nọ bên sông, không có Kỷ cô nương.

Trương Thúy Sơn kinh ngạc, hỏi:

– Kỷ cô nương là môn hạ phái Nga Mi ư?

Du Liên Châu gật đầu, nói:

– Các cô nương phái Nga Mi ta gặp ở bờ sông hôm ấy võ công bình thường, chắc không có Kỷ cô nương ở đó. Nếu không, chỉ vì ngũ đệ muội, ta lại đắc tội với lục đệ muội, có người sẽ bảo ta thiên vị. Kỷ cô nương nhân phẩm cao quý, võ công cao cường, đệ tử danh môn tất nhiên bất phàm, với lục đệ quả là đẹp đôi..

Du Liên Châu nói tới đây chợt nhớ Ân Tố Tố là con gái của giáo chủ tà giáo, mình khen ngợi Kỷ cô nương như thế, chỉ e Trương Thúy Sơn chạnh lòng, đang định nói chữa vài lời bỗng có người đến cửa phòng nói vọng vào:

– Du gia, có mấy người đến bái phỏng lão nhân gia, nói là bằng hữu của lão nhân gia.

Đó là giọng nói của điếm tiểu nhị.

Du Liên Châu hỏi:

– Là những ai?

Điếm tiểu nhị nói:

– Tất cả có sáu người, họ nói là môn hạ của Ngũ Phụng đao.

Ba huynh đệ Du Liên Châu đều giật mình, nghĩ thầm Trương Tòng Khê một mình đi đánh đuổi bọn Ngũ Phụng đao, tại sao chúng lại tìm tới đây, không lẽ Trương Tòng Khê làm sao rồi? Trương Thúy Sơn bèn nói:

– Để đệ ra coi.

Chàng sợ nhị ca bị thương chưa khỏi, lỡ phải động thủ với kẻ địch, e gặp chuyện chẳng lành. Du Liên Châu nói:

– Cứ mời họ vào đây.

Một lát sau tiến vào năm hán tử và một thiếu phụ dung mạo xinh đẹp. Trương Thúy Sơn và Ân Lê Đình đứng hai bên Du Liên Châu phòng bị. Chỉ thấy sáu người kia cúi đầu, mặt mày ủ rũ, có dáng hổ thẹn, trên người không mang binh khí, chẳng có vẻ gì là đến gây sự cả. Người đi đầu tóc đã điểm bạc, trạc tứ tuần, cung kính ôm quyền hành lễ, nói:

– Ba vị có phải là Du nhị hiệp, Trương ngũ hiệp, Ân lục hiệp chăng? Tại hạ là môn hạ Ngũ Phụng đao Mạnh Chính Hồng, xin vấn an ba vị.

Ba huynh đệ Du Liên Châu vòng tay đáp lễ, thầm lấy làm lạ. Du Liên Châu nói:

– Mạnh lão sư khỏe chứ? Mời các vị ngồi.

Mạnh Chính Hồng không dám ngồi, nói:

– Tệ môn ở Hà Đông, Sơn Tây, môn phái nhỏ bé, từ lâu đã ngưỡng mộ uy danh Trương chân nhân và quý vị thất hiệp như sấm nổ bên tai, chỉ có điều vô duyên chưa được dịp bái kiến. Hôm nay đến chân núi Võ Đang, đáng lẽ phải lên núi khấu kiến Trương chân nhân, nhưng nghe Trương chân nhân tuổi hạc tròn trăm, thanh cư tĩnh tu, chúng tôi là lũ võ biền thô lỗ nên không dám mạo muội đến quấy nhiễu sự thanh tĩnh của lão nhân gia. Ba vị về núi, xin cho chúng tôi gửi lời vấn an, rằng đệ tử môn hạ Ngũ Phụng đao ở Sơn Tây kính chúc lão nhân gia thiên thu khang ninh, phúc thọ vô cương.

Du Liên Châu bị thương chưa khỏi, ngồi trên giường lò, nghe Mạnh Chính Hồng nhắc đến sư phụ thì vội vịn vai Ân Lê Đình mà cung kính đứng dậy, nói:

– Không dám, không dám, tại hạ xin đa tạ!

Mạnh Chính Hồng lại nói:

– Chúng tôi ở đất Sơn Tây quê mùa, quả như ếch ngồi đáy giếng, kiến thức nông cạn, không biết trời cao đất dày, dám lớn mật làm càn, mò tới quý địa. May nhờ Võ Đang chư hiệp khoan dung đại lượng, giải nguy cho chúng tôi, tại hạ cảm kích vô cùng. Hôm nay chúng tôi tới đây, trước là tạ ơn, sau là chịu tội, mong ba vị đại nhân không thèm chấp lỗi lầm của bọn tiểu nhân.

Nói đoạn cúi lạy. Trương Thúy Sơn đỡ dậy, nói:

– Mạnh lão sư khỏi cần đa lễ.

Mạnh Chính Hồng cứ ấp a ấp úng, nửa muốn nói, nửa không dám nói. Du Liên Châu bèn nói:

– Mạnh lão sư có gì phân phó, xin cứ cho biết.

Mạnh Chính Hồng nói:

– Tại hạ xin Du nhị gia ban cho một câu, rằng phái Võ Đang sẽ không trách cứ, để chúng tôi về bẩm với sư phụ.

Du Liên Châu mỉm cười, nói:

– Các vị từ Sơn Tây xa xôi tới đây, chắc muốn hỏi chỗ ở của Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn, không biết Kim Mao Sư Vương có chuyện gì với quý phái?

Mạnh Chính Hồng nói:

– Gia huynh Mạnh Chính Bằng bị thảm tử bởi chưởng của Tạ Tốn.

Du Liên Châu trong lòng rung động, nói:

– Chúng tôi quả có nỗi khổ tâm, không thể nói ra nơi ở của Tạ Tốn, mong Mạnh lão sư và quý vị lượng thứ. Còn về việc trách cứ, thì không cần nhắc tới nữa, khi về gặp tôn sư Ô lão gia tử xin chuyển lời Du nhị, Trương ngũ, Ân lục vấn an.

Mạnh Chính Hồng nói:

– Vậy chúng tôi xin cáo từ. Sau này phái Võ Đang có gì sai khiến, cứ báo tin đến, môn hạ Ngũ Phụng đao tuy năng lực nhỏ bé nhưng quyết không dám từ nan.

Nói đoạn cùng năm người kia ôm quyền hành lễ, quay người đi ra.

Thiếu phụ nọ đột nhiên quay lại, quỳ xuống đất, nói nhỏ:

– Tiểu phụ nhân được bảo toàn danh tiết, hoàn toàn nhờ Võ Đang chư hiệp. Tiểu phụ nhân còn sống ngày nào, không dám quên đại ân đại đức của chư hiệp.

Huynh đệ Du Liên Châu không biết nguyên do, nhưng nghe thiếu phụ nói đến danh tiết thì cũng không tiện hỏi, chỉ ừ ào vài lời khiêm tốn. Thiếu phụ lạy mấy cái rồi mới đi ra.

Sáu người Ngũ Phụng đao vừa đi khỏi, mành cửa được vén ra, một người vụt chạy vào ôm chầm lấy Trương Thúy Sơn.

Trương Thúy Sơn mừng rỡ reo lên:

– Tứ ca!

Người chạy vào chính là Trương Tòng Khê. Sư huynh sư đệ gặp lại nhau đều hết sức vui mừng. Trương Thúy Sơn nói:

– Tứ ca, tứ ca túc trí đa mưu, đã làm cho môn hạ Ngũ Phụng đao hóa thù thành bạn, thật không phải dễ.

Trương Tòng Khê nói:

– Chẳng qua là chuyện tình cờ, chứ tứ ca không có công lao gì đâu.

Đoạn Trương Tòng Khê kể lại đầu đuôi câu chuyện cho mọi người cùng nghe.

Nguyên thiếu phụ xinh đẹp nọ họ Ô, là thứ nữ của chưởng môn Ngũ Phụng đao, là thê tử của Mạnh Chính Hồng. Lần này sáu người họ xuống Hồ Bắc dò tìm nơi ở của Tạ Tốn, dọc đường có gặp đà chủ bang Tam Giang, nghe nói Trương Thúy Sơn phái Võ Đang biết nơi ở của Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn. Ô thị từ nhỏ quen được nuông chiều, chủ trương lập kế bắt Trương Thúy Sơn để tra hỏi. Mạnh Chính Hồng lâu nay sợ thê tử như sợ cọp, nhưng lần này nhất quyết không nghe lời, nói rằng đệ tử phái Võ Đang rất cao cường, chỉ nên dùng lễ mà cầu, nếu đối phương không ưng thuận, hãy tính cách khác. Ô thị nói:

– Chàng sao nhát gan quá vậy? Đây là nhằm trả thù cho huynh trưởng của chàng, chứ đâu phải cho huynh trưởng của thiếp. Hừ, nam tử hán đại trượng phu mà gặp việc cứ rụt rụt rè rè; Trương Thúy Sơn cho biết chỗ ở của Tạ Tốn, chắc chàng cũng chẳng dám đi tìm hắn. Thiếp lấy phải một người như chàng thật phí một đời.

Mạnh Chính Hồng đã quen nhịn thê tử, không cãi lại, nhưng cũng nhất quyết không làm theo kế của y thị là ngầm bỏ thuốc mê phu phụ Trương Thúy Sơn ở khách điếm dọc đường. Ô thị giận dữ, nửa đêm nhân lúc chồng ngủ say lén trở dậy bỏ đi.

Ô thị định một mình ra tay, biết được tung tích Tạ Tốn rồi sẽ trêu chọc trượng phu một chuyến, nào ngờ mọi chuyện đều bị tên đà chủ bang Tam Giang nhìn thấy cả. Hắn thấy Ô thị xinh đẹp liền nổi lòng tà dâm, bí mật bám theo. Ô thị bỏ thuốc mê, không ngờ chính y lại uống phải thuốc mê của hắn. Bọ ngựa bắt ve, không dè chim sẻ rình phía sau. Trương Tòng Khê theo dõi sáu người Ngũ Phụng đao, mọi việc biết cả. Chờ lúc Ô thị lâm vào tình thế nguy cấp, bèn ra tay cứu giúp, trừng trị tên đà chủ bang Tam Giang một trận đích đáng. Trương Tòng Khê không nói tính danh, chỉ bảo mình là đệ tử phái Võ Đang. Ô thị vừa sợ vừa thẹn, quay về gặp phu quân, kể rõ sự việc. Người của phái Võ Đang trở thành đại ân nhân, nên cả bọn sáu người kia mới đến gặp huynh đệ Du Liên Châu để cảm tạ. Trương Tòng Khê chờ bọn họ đi rồi mới xuất hiện, để Ô thị khỏi xấu hổ.

Trương Thúy Sơn nghe xong, thở dài:

– Trừng trị hành vi bất lương của môn hạ bang Tam Giang tuy không khó, nhưng tứ ca xử sự lưu tình, biến thù thành bạn, thật là hợp tâm ý sư phụ.

Trương Tòng Khê cười:

– Mười năm xa nhau, vừa gặp ngũ đệ đã cho tứ ca lên mây xanh.

Đêm đó, bốn sư huynh sư đệ nằm cạnh nhau trò chuyện thâu đêm. Trương Tòng Khê tuy thông minh đa trí, song cũng không đoán nổi cao thủ giả trang quân Nguyên, đánh Du Liên Châu bị thương, bắt Vô Kỵ mang đi là ai.

Sáng hôm sau, Trương Tòng Khê gặp Ân Tố Tố. Năm người thong thả đi mất một ngày đêm nữa mới về đến núi Võ Đang.

Trương Thúy Sơn mười năm mới trở lại nơi chàng sống từ nhỏ, muốn chạy ngay lên bái kiến sư phụ, hội kiến với đại sư ca, tam sư ca, thất sư đệ; tuy thê tử bệnh, hài nhi mất tích, song niềm vui vẫn lớn hơn nỗi sầu.

Lên đến trên núi, thấy ngoài cổng buộc tám con ngựa, yên cương rất mới, không phải của bổn phái. Trương Tòng Khê nói:

– Đạo quán đang có khách, chúng ta nên vào đằng cửa hông thì hơn.

Trương Thúy Sơn liền dìu thê tử theo cửa hông vào đạo quán. Các đạo nhân và thị dịch trong đạo quán thấy Trương Thúy Sơn lành lặn trở về, ai nấy hết sức vui mừng. Trương Thúy Sơn rất muốn vào bái kiến sư phụ, nhưng đạo đồng hầu hạ Trương Tam Phong nói rằng Người chưa khai quan, chàng đành khấu đầu bên ngoài chỗ tọa quan của sư phụ, rồi đi gặp Du Đại Nham.

Đạo đồng hầu cận Du Đại Nham nói nhỏ:

– Tam sư bá đang ngủ, sư thúc có muốn đánh thức sư bá dậy hay không?

Trương Thúy Sơn xua xua tay, rón rén bước vào phòng. Thấy Du Đại Nham đang nhắm mắt ngủ say, sắc diện nhợt nhạt, hai má hóp sâu, người anh hùng như rồng như hổ mười năm trước nay là một bệnh nhân thoi thóp nằm đó. Trương Thúy Sơn nhìn sư huynh một hồi, không ngăn nổi hai dòng lệ ứa ra.

Chàng đứng bên giường hồi lâu, rồi gạt lệ, bước ra hỏi đạo đồng:

– Đại sư bá và thất sư thúc đang ở đâu?

Đạo đồng nói:

– Thưa, đang tiếp khách ở đại sảnh.

Trương Thúy Sơn vào hậu đường chờ đại sư ca và thất sư đệ, chờ mãi mà khách vẫn chưa ra về. Trương Thúy Sơn hỏi đạo nhân bưng trà:

– Khách là ai thế?

Đạo nhân đáp:

– Hình như là bảo tiêu.

Ân Lê Đình đối với vị ngũ ca lâu ngày gặp lại rất quyến luyến, rời chàng một lát lại quay về bên cạnh, nghe hỏi, bèn trả lời:

– Đó là ba vị tổng tiêu đầu, tổng tiêu đầu của tiêu cục Hổ Cứ ở Kim Lăng, là Kỳ Thiên Bưu; tổng tiêu đầu của tiêu cục Tấn Dương ở Thái Nguyên là Vân Hạc; còn vị thứ ba là Cung Cửu Giai tổng tiêu đầu của tiêu cục Yến Vân ở kinh sư.

Trương Thúy Sơn hơi lạ, hỏi:

– Cả ba vị tổng tiêu đầu cùng đến ư? Mười năm trước, trong tất cả các tiêu cục khắp thiên hạ, ba vị này có võ công hơn cả, danh tiếng rất cao, hiện giờ có còn được như vậy chăng? Cả ba cùng tới đây là vì sao?

Ân Lê Đình cười đáp:

– Chắc có món hàng quý bị mất, kẻ cướp lại có thế lực lớn, ba vị tổng tiêu đầu không địch nổi, đành phải cầu cứu đại sư huynh. Ngũ ca, mấy năm nay đại ca ngày càng được tín nhiệm, chốn giang hồ gặp đại sự nghi nan là người ta đều đến nhờ đại ca xuất diện.

Trương Thúy Sơn mỉm cười:

– Đại ca Phật diện từ tâm, ai cầu cũng được giúp. Mười năm không gặp, chẳng biết đại ca có già chút nào chưa?

Nói tới đây, chàng càng nóng lòng gặp mặt đại sư ca, bèn nói:

– Lục đệ, ta phải ra sau bình phong ngó xem đại ca và thất đệ thế nào mới được.

Chàng tới sau bình phong, ghé mắt nhìn ra thấy Tống Viễn Kiều và Mạc Thanh Cốc ngồi tiếp khách. Tống Viễn Kiều y phục như đạo nhân, vẻ mặt điềm đạm, tướng mạo so với mười năm trước chẳng khác là bao, chỉ có tóc mai điểm bạc, người mập mạp hẳn ra, gọi là trung niên phát phúc. Tống Viễn Kiều hoàn toàn không xuất gia, nhưng vì sư phụ là đạo sĩ, lại sống trong đạo quán, thành thử khi ở trên núi Võ Đang, Tống Viễn Kiều quen ăn mặc theo kiểu Đạo gia, chỉ khi xuống núi mới đổi sang trang phục thông thường.

Mạc Thanh Cốc lại càng cao lớn vạm vỡ, tuy mới hai mươi tuổi nhưng để râu quai nón, trông bề ngoài còn già hơn cả Trương Thúy Sơn.

Chỉ nghe Mạc Thanh Cốc cao giọng nói:

– Đại sư ca chúng tôi nói một là một, hai là hai, ba chữ "Tống Viễn Kiều" còn chưa đủ khiến các vị tin hay sao?

Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: "Cái tính thô hào của thất đệ vẫn y xưa. Không biết vì chuyện gì mà lại đấu khẩu với người ta thế kia?" Nhìn sang phía khách, thấy cả ba tuổi trạc ngũ tuần, một vị khí độ uy mãnh, một vị cao cao gầy gầy, mặt mày xương xẩu, còn vị thứ ba trông như bệnh nhân gầy ốm hom hem. Phía sau ba vị khách có năm người thõng tay đứng hầu, chắc là đệ tử của ba vị đó. Vị cao gầy nói:

– Tống đại hiệp đã nói vậy, chúng tôi đâu dám không tin? Chỉ có điều không biết khi nào Trương ngũ hiệp về tới, có thể cho chúng tôi biết đích xác được chăng?

Trương Thúy Sơn hơi giật mình: "Thì ra ba vị kia đến đây tìm ta, hẳn là để hỏi tung tích của nghĩa huynh đây mà". Chỉ nghe Mạc Thanh Cốc nói:

– Sư huynh sư đệ bảy người chúng tôi, tuy bản lĩnh không đáng kể, nhưng việc hành hiệp trượng nghĩa thì bấy nay không chịu kém ai, được bằng hữu chốn giang hồ ban thưởng cho ngoại hiệu "Võ Đang thất hiệp". Bốn chữ ấy, nói ra thật xấu hổ, chúng tôi vốn không dám nhận..

Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: "Mười năm không gặp, ai ngờ thất đệ bây giờ nói năng lưu loát đến thế. Ngày trước ai hỏi câu gì, thất đệ đỏ mặt hồi lâu mới ấp úng trả lời. Mười năm qua, trừ mình và tam ca ra, các huynh đệ ai cũng tiến rất xa".

Lại nghe Mạc Thanh Cốc nói tiếp:

– Thế nhưng vì đã được tặng bốn chữ ấy, trên có ân sư nghiêm huấn, chúng tôi hành sự vô cùng thận trọng, chẳng dám sai một li. Trương ngũ ca là một trong Võ Đang thất hiệp, tính tình nho nhã hòa thuận, bụng dạ tốt nhất trong bảy huynh đệ chúng tôi đó. Các vị cứ vu cho Trương ngũ ca sát hại toàn bộ tiêu cục Long Môn, thực là nói năng hồ đồ bá đạo.

Trương Thúy Sơn chột dạ, nghĩ thầm: "Thì ra là chuyện tiêu cục Long Môn của Đô Đại Cẩm. Nghe đâu ở phía nam Trường Giang thì tiêu cục Hổ Cứ ở Kim Lăng làm đầu trò, biết tin mình từ hải ngoại trở về, liền ước hẹn với hai tổng tiêu đầu của tiêu cục Tấn Dương và tiêu cục Yến Vân tới đây hỏi tội ta".

Vị có khí độ uy mãnh nói:

– Võ Đang thất hiệp danh tiếng lẫy lừng, trong võ lâm ai chẳng ngưỡng mộ. Mạc thất hiệp khỏi cần khoe, chúng tôi đã được nghe đại danh từ lâu, chẳng khác gì sấm nổ bên tai.

Mạc Thanh Cốc thấy người kia có vẻ nhạo báng, mặt liền biến sắc, nói:

– Kỳ tổng tiêu đầu rốt cuộc muốn gì, cứ nói rõ ra.

Đại hán có khí độ uy mãnh ấy là Kỳ Thiên Bưu, tổng tiêu đầu tiêu cục Hổ Cứ ở Kim Lăng, nói lớn tiếng:

– Võ Đang thất hiệp nói một là một, nói hai là hai; không lẽ các cao tăng phái Thiếu Lâm nói láo cả ư? Các tăng nhân Thiếu Lâm chính mắt mục kích, toàn bộ già trẻ lớn bé ở tiêu cục Long Môn phủ Lâm An đều bị Trương Thúy Sơn Trương ngũ h.. i.. ệ.. p hạ sát.

Lão ta kéo dài chữ "hiệp", hiển nhiên ngụ ý mỉa mai.

Ân Lê Đình nghe vậy liền nổi giận, lão kia dám nhạo báng ngũ ca, còn nặng hơn cả đánh chàng ba cái tát, đang định bước ra tranh cãi thì Trương Thúy Sơn vội níu lại, xua xua tay. Ân Lê Đình thấy vẻ mặt ngũ ca đầy đau khổ, hình như có điều khó nói, chàng không hiểu nguyên do tại sao, chỉ nghĩ thầm: "Công phu hàm dưỡng của ngũ ca ngày càng cao, thảo nào sư phụ vẫn thường khen ngợi ngũ ca".

Mạc Thanh Cốc đứng dậy, nói to:

– Hiện thời ngũ ca của Mạc mỗ chưa về đến nơi, mà dù có về rồi thì cũng thế thôi. Mạc mỗ với Trương Thúy Sơn sống chết có nhau, việc của Trương Thúy Sơn cũng là việc của Mạc mỗ. Ba vị bất phân phải trái đúng sai, cứ một mực vu cho ngũ ca ta sát hại tiêu cục Long Môn. Được, mọi việc cứ coi như Mạc mỗ đã làm. Ba vị muốn báo thù cho tiêu cục Long Môn thì cứ việc lấy mạng Mạc mỗ đi coi. Ngũ ca ta không có ở đây, Mạc Thanh Cốc cũng là Trương Thúy Sơn, Trương Thúy Sơn cũng là Mạc Thanh Cốc. Nói thực với các vị nhé, Mạc mỗ võ công mưu trí thua xa ngũ ca, các vị tìm đến ta là may cho các vị lắm đó.

Kỳ Thiên Bưu cả giận, đứng bật dậy quát:

– Kỳ mỗ hôm nay đến núi Võ Đang tính chuyện, các nhân sĩ võ học trong thiên hạ ai ai cũng bảo rằng chúng tôi đánh trống qua cửa nhà sấm, không biết tự lượng sức mình. Thế nhưng cả gia đình Đô Đại Cẩm Đô huynh đệ bị sát hại đã mười năm, mối oan ấy đến nay chưa rửa, Kỳ mỗ không còn nhịn được nữa rồi. Phái Võ Đang giết hơn bảy chục nhân mạng ở tiêu cục Long Môn, nay giết thêm Kỳ mỗ thì đã thấm vào đâu? Tiện thể có giết luôn hơn chín chục mạng người của tiêu cục Hổ Cứ ở Kim Lăng thì giết! Hôm nay máu của Kỳ mỗ có chảy trên núi Võ Đang, hẳn cũng được tiếng là chết đúng chỗ đấy. Khi chúng tôi lên núi, vì tôn kính Trương chân nhân đức cao vọng trọng, chúng tôi không mang theo vũ khí, vậy Kỳ mỗ xin chịu chết dưới quyền cước của Mạc thất hiệp.

Nói đoạn lão ta hùng dũng bước ra giữa sảnh.

Tống Viễn Kiều từ đầu im lặng, nay thấy hai người sắp động thủ, bèn giơ tay ngăn Mạc Thanh Cốc, mỉm cười, nói:

– Ba vị đến tệ xứ, lời qua tiếng lại cứ khăng khăng cho rằng tệ ngũ sư đệ sát hại toàn thể tiêu cục Long Môn ở phủ Lâm An. Cũng may là tệ ngũ sư đệ không bao lâu nữa sẽ về đây, ba vị tạm nhịn một chút, đợi gặp mặt tệ ngũ sư đệ rồi ta phân biệt phải trái được chăng?

Vị khách thân hình hom hem như bệnh nhân là Cung Cửu Giai, tổng tiêu đầu tiêu cục Yến Vân, nói:

– Mời Kỳ tổng tiêu đầu cứ ngồi xuống đã nào. Trương ngũ hiệp chưa về đến đây, vụ này rốt cuộc không dễ đoán định. Chi bằng chúng ta bái kiến Trương chân nhân, xin lão nhân gia kim khẩu minh thị, ban cho một lời xem nào! Trương chân nhân là ngôi sao Bắc đẩu trong võ lâm, anh hùng hảo hán trong thiên hạ ai chẳng ngưỡng mộ, không lẽ lão nhân gia không biết phân biệt thị phi, bao che cho đệ tử hay sao?

Câu nói của lão này nghe có vẻ lễ phép, nhưng hàm ý rất lợi hại. Mạc Thanh Cốc làm gì chẳng nhận ra, liền chặn luôn:

– Gia sư bế quan tĩnh tu, hiện chưa khai quan. Hơn nữa, những năm gần đây, mọi việc trong phái Võ Đang chúng tôi đều do đại sư ca chúng tôi xử lý. Ngoại trừ các cao nhân có danh vọng thật lớn trong võ lâm, gia sư ít tiếp ai.

Ý chàng muốn nói cho bọn kia hiểu rằng thân phận các ngươi chưa đủ để gặp sư phụ ta.

Vị khách cao gầy là Vân Hạc, tổng tiêu đầu tiêu cục Tấn Dương, cười khẩy nói:

– Thiên hạ sao lại có việc xảo hợp đến thế, chúng tôi vừa lên núi thì tôn sư Trương chân nhân bế quan. Nhưng nhân mạng của hơn bảy chục người ở tiêu cục Long Môn thì không phải cứ bế quan là trốn tránh được đâu.

Cung Cửu Giai nghe câu đó nói quá nặng, vội đưa mắt ngăn lại. Mạc Thanh Cốc hết nhịn nổi, quát to:

– Ngươi bảo sư phụ ta vì sợ việc mà bế quan ư?

Vân Hạc cười nhạt, không đáp.

Tống Viễn Kiều tuy hàm dưỡng rất cao, nhưng nghe Vân Hạc làm nhục ân sư thì cũng không thể không tức giận. Trước mắt Võ Đang thất hiệp, mười năm nay chưa hề có kẻ nào dám nói điều bất kính về Trương Tam Phong. Tống Viễn Kiều chậm rãi nói:

– Ba vị ở xa đến là khách, chúng tôi không dám đắc tội, hãy tiễn khách!

Nói đoạn phất tay áo một cái, một luồng kình phong theo đó tràn nhanh ra cuốn ba chén trà trước mặt Cung Cửu Giai, Kỳ Thiên Bưu và Vân Hạc đưa về đặt xuống chiếc kỷ của mình. Ba chén trà được gió nhấc lên, chuyển chỗ, đặt xuống một cách nhẹ nhàng, chỉ nghe khẽ cạch cạch ba tiếng, không để sóng sánh ra ngoài một giọt nước.

Khi tay áo của Tống Viễn Kiều phất ra, bọn Kỳ Thiên Bưu bị một luồng gió tưởng nhu hòa mà cực nặng ép vào ngực không thở được, cả ba vội vận nội công chống đỡ. Nhưng luồng kình phong kia chợt đến chợt đi, cả ba vừa hết tức ngực, ợ mấy tiếng thật to, thở hắt ra một cái. Cả ba cả sợ, biết rằng nếu Tống Viễn Kiều phất tay áo bên trái ra thì luồng kình phong thứ hai ép tới, hơi thở họ đang vận lên sẽ bị ép đi ngược xuống, nếu họ không chết ngay tại chỗ thì cũng trọng thương, mất quá nửa nội công. Lúc này ba vị tổng tiêu đầu mới biết vị Tống đại hiệp nho nhã khiêm nhường kia có tuyệt nghệ cao thâm khôn lường.

Trương Thúy Sơn ở sau tấm bình phong, nghĩ đến việc Ân Tố Tố sát hại toàn gia ở tiêu cục Long Môn liền cảm thấy lo lắng không yên. Lúc thấy Tống Viễn Kiều phất tay áo hiển lộ nội công thâm hậu, chàng cảm phục bội phần, nghĩ thầm: "Nội công của phái Võ Đang ta luyện càng lâu, tiến cảnh càng nhanh. Khi ta ở trên Vương Bàn sơn đảo, nội lực thua nghĩa huynh một trời một vực, nhưng khi chia tay tại Băng Hỏa đảo, xem ra chênh lệch không đáng là bao. Năm xưa ở Lạc Dương, khi nghĩa huynh định giết đại sư ca, đại sư ca dĩ nhiên không chống nổi. Vậy mà giờ này nghĩa huynh dù hai mắt còn sáng, võ công cũng chưa chắc hơn được đại sư ca. Thêm mươi năm nữa, đại sư ca, nhị sư ca nhất định sẽ không thua kém nghĩa huynh".

Chỉ thấy Kỳ Thiên Bưu ôm quyền, nói:

– Đa tạ Tống đại hiệp xuống tay lưu tình, cáo biệt!

Tống Viễn Kiều và Mạc Thanh Cốc tiễn khách ra ngoài thềm. Kỳ Thiên Bưu quay lại nói:

– Xin hai vị dừng bước, không cần tiễn xa.

Tống Viễn Kiều nói:

– Chẳng mấy khi được ba vị tổng tiêu đầu quang giáng tệ sơn, không tiễn sao tiện? Khi nào có dịp tới kinh sư, Thái Nguyên, Kim Lăng, tại hạ thể nào cũng tới quý tiêu cục đáp lễ.

Kỳ Thiên Bưu nói:

– Chúng tôi không dám!

Vừa rồi lĩnh giáo võ công của Tống Viễn Kiều, Kỳ Thiên Bưu cảm thấy vị đại hiệp này tuy có võ công tuyệt thế, song cử chỉ lời lẽ tuyệt nhiên không chút kiêu ngạo nên lão ta trong lòng đã thầm thán phục, cái chủ đích lên núi hỏi tội, xả thân báo cừu ban đầu giờ đây hầu như tiêu tan.

Trong lúc đôi bên còn qua lại mấy lời xã giao, Kỳ Thiên Bưu bỗng thấy từ ngoài đi vào một trung niên hán tử, thân hình thấp nhỏ nhưng rắn rỏi, tinh anh. Tống Viễn Kiều nói:

– Tứ đệ, hãy lại đây gặp ba vị bằng hữu.

Đoạn giới thiệu Trương Tòng Khê với bọn Kỳ Thiên Bưu. Trương Tòng Khê cười nói:

– Ba vị tới thật đúng lúc, tại hạ có vài thứ muốn trao tặng các vị.

Đoạn chàng đưa cho mỗi người kia một cái gói nhỏ. Kỳ Thiên Bưu hỏi:

– Cái gì vậy?

Trương Tòng Khê nói:

– Cái này mở xem ở đây không tiện, các vị xuống núi rồi hãy mở ra coi.

Ba sư huynh đệ tiễn khách ra tận cổng đạo quán mới từ biệt với ba vị tổng tiêu đầu.

Mạc Thanh Cốc chờ họ đi xa, vội hỏi:

– Tứ ca, ngũ ca đã về núi chưa?

Trương Tòng Khê cười, nói:

– Thất đệ vào trong kia gặp ngũ đệ đi. Còn ta và đại ca ngồi trong sảnh chờ ba vị tổng tiêu đầu quay lại đã.

Mạc Thanh Cốc hỏi:

– Ngũ ca ở đâu kia? Ba lão kia quay lại làm gì?

Chàng mong chờ Trương Thúy Sơn đã lâu, không đợi Trương Tòng Khê nói rõ đã chạy luôn vào nội đường.

Mạc Thanh Cốc đi rồi, quả nhiên bọn Kỳ Thiên Bưu lật đật quay trở lại, rập đầu lạy Tống Viễn Kiều và Trương Tòng Khê. Hai người vội trả lễ. Vân Hạc nói:

– Đại ân đại đức của Võ Đang chư hiệp, bây giờ Vân mỗ mới biết. Vừa nãy Vân mỗ nói năng mạo phạm Trương chân nhân, quả thật không bằng loài cẩu trệ.

Đoạn lão ta giơ hai tay tự vả bôm bốp vào mặt mình hàng chục cái, vả thật mạnh, khiến hai má sưng lên vẫn chưa thôi. Tống Viễn Kiều ngạc nhiên chưa hiểu, vội ngăn lại.

Trương Tòng Khê nói:

– Vân tổng tiêu đầu là một nam tử có chí khí, có tâm nguyện đánh đuổi Thát Lỗ, lấy lại giang sơn, phàm hảo hán Trung Hoa ai cũng có lòng như thế. Chút khó nhọc của tại hạ đâu có đáng gì để Vân tổng tiêu đầu phải tự sỉ vả như vậy?

Vân Hạc nói:

– Tính mạng cả gia đình Vân mỗ đều do chư hiệp ban cho. Vân mỗ năm năm qua như kẻ ngủ mê. Vừa nãy nói năng xấc xược, hai vị không đánh cho một trận thì Vân mỗ quả thật chưa an lòng.

Trương Tòng Khê mỉm cười:

– Chuyện cũ thôi ta bỏ qua, không nhắc đến nữa. Mấy lời Vân tổng tiêu đầu nói ban nãy, dù chính tai gia sư nghe thấy cũng sẽ không để bụng khi biết việc lớn mà Vân tổng tiêu đầu định làm.

Vân Hạc vẫn băn khoăn không yên nên cứ tự trách mình mãi.

Tống Viễn Kiều không rõ nguồn cơn, chỉ nói vài lời khiêm tốn, thấy Kỳ Thiên Bưu và Cung Cửu Giai cũng luôn miệng đa tạ, song xem ra Trương Tòng Khê không coi trọng hai người đó bằng Vân Hạc. Ba vị tổng tiêu đầu khẩn khoản xin đến bên ngoài phòng Trương Tam Phong đang tọa quan để lạy vài lạy, sau đó sẽ gặp Mạc Thanh Cốc tạ lỗi, nhưng Trương Tòng Khê nhất nhất chối từ.

Ba người ấy đi rồi, Trương Tòng Khê thở dài, nói:

– Ba người kia tuy biết ơn chúng ta, nhưng án mạng ở tiêu cục Long Môn, họ vẫn không quên. Xem ra biết ơn là một chuyện, tai họa rình rập lại là chuyện khác.

Tống Viễn Kiều định hỏi nguyên do, bỗng thấy Trương Thúy Sơn từ trong nội đường chạy ra, phục xuống lạy, thốt lên:

– Đại ca, đại ca có nhớ tiểu đệ chăng?

Tống Viễn Kiều là người khiêm cung lễ độ, tuy là đối với sư đệ đồng môn, lại cửu biệt trùng phùng, tâm tình xúc động, song vẫn giữ đúng phép tắc, vội vàng quỳ xuống cung kính đáp lễ, nói:

– Ngũ đệ, cuối cùng ngũ đệ đã về.

Trương Thúy Sơn thuật sơ qua vì sao thất lạc. Mạc Thanh Cốc nóng ruột, hỏi:

– Ngũ ca, ba lão tiêu khách vô lễ, cứ vu cho ngũ ca giết toàn bộ mọi người ở tiêu cục Long Môn phủ Lâm An, vậy mà ngũ ca không bước ra giáo huấn cho bọn chúng một phen?

Trương Thúy Sơn buồn bã thở dài, nói:

– Bao nhiêu uẩn khúc trong vụ đó, không thể nói vài lời là xong. Để Trương Thúy Sơn kể lại tường tận, rồi nhờ các huynh đệ tìm ra đối sách hay nhất.

Ân Lê Đình nói:

– Ngũ ca khỏi lo, tiêu cục Long Môn hộ tống tam ca không xong, làm cho tam ca tàn phế suốt đời. Dù ngũ ca quả thật có giết toàn bộ tiêu cục Long Môn chăng nữa, cũng chỉ là vì tình nghĩa huynh đệ sâu xa, do bị kích động nhất thời..

Du Liên Châu quát lên:

– Lục đệ nói năng hồ đồ, sư phụ mà nghe thấy câu ấy tất sẽ nhốt lục đệ vào phòng tối một tháng là ít. Giết sạch già trẻ lớn bé, diệt tuyệt môn hộ không đời nào chúng ta được phép làm!

Mọi người nhìn Trương Thúy Sơn chờ đợi, chỉ thấy chàng thần sắc hết sức thê lương, một lúc sau mới nói:

– Toàn gia tiêu cục Long Môn, đệ không giết một ai cả. Đệ không khi nào quên lời giáo huấn của sư phụ, làm liên lụy đầu tư thịnh đức của huynh đệ đồng môn.

Mọi người nghe vậy cả mừng, thở phào nhẹ nhõm. Cả bọn tuy không tin Trương Thúy Sơn gây ra vụ án mạng tàn khốc như thế, nhưng các cao tăng phái Thiếu Lâm cứ nhất quyết đổ riệt cho chàng, còn nói là chính họ mục kích; rồi khi ba vị tổng tiêu đầu lên núi hỏi tội, Trương Thúy Sơn lại không ra phủ nhận, thành thử mọi người không tránh khỏi có chút nghi ngờ. Bây giờ nghe Trương Thúy Sơn nói vậy, họ như trút được gánh nặng, nghĩ thầm: "Vụ này hẳn có nhiều uẩn khúc khó nói, nhưng chỉ cần Trương Thúy Sơn không giết người, thì cuối cùng cũng sẽ làm sáng tỏ được mọi việc".

Lúc này Mạc Thanh Cốc mới hỏi nguyên do vì sao ba vị tổng tiêu đầu đã xuống núi rồi còn trở lên, Trương Tòng Khê cười nói:

– Trong ba vị tổng tiêu đầu ấy, kẻ nói năng vô lễ là Vân Hạc, lại có nhân phẩm tốt hơn cả. Ở vùng Tấn – Thiểm, lão ta có danh vọng rất cao, bí mật liên lạc với các hào kiệt ở Sơn Tây, Thiểm Tây, cắt máu ăn thề, nổi dậy khởi nghĩa đánh đuổi bọn Thát tử Mông Cổ.

Cả bọn à lên khen ngợi.

Mạc Thanh Cốc nói:

– Ai ngờ lão ta lại có chí khí như thế, thật đáng kính phục. Tứ ca, đừng kể vội, chờ đệ trở lại đã nhé..

Nói đoạn phóng ra cổng.

Trương Tòng Khê quả nhiên ngừng lời, quay sang hỏi Trương Thúy Sơn về cảnh vật ở Băng Hỏa đảo. Lúc Trương Thúy Sơn kể tới đoạn ở đó mỗi năm sáu tháng trời liền là đêm, rồi sáu tháng sau là ngày, bốn người kia đều kinh ngạc. Trương Thúy Sơn nói:

– Ở đấy khó phân biệt đông tây nam bắc, nơi mặt trời mọc chưa hẳn là phương đông.

Rồi chàng kể cho mọi người nghe những thứ lạ lùng xoay quanh núi băng trôi giữa biển. Đang kể thì Mạc Thanh Cốc trở về, nói:

– Tiểu đệ đuổi theo Vân tổng tiêu đầu xin tha lỗi, khen lão ta là một nam tử chí khí hiên ngang.

Mọi người biết gã tiểu sư đệ tính tình bộc trực, vừa rồi không quản mệt nhọc chạy mấy dặm đường chỉ để nói vài lời như thế với Vân Hạc, xóa mối tị hiềm lúc trước, nếu không y sẽ mất ngủ vài đêm.

Ân Lê Đình nói:

– Thất đệ, chuyện của tứ ca còn đợi thất đệ về mới kể tiếp; nhưng ngũ ca kể chuyện lạ ở Băng Hỏa đảo còn hay hơn kia.

Mạc Thanh Cốc nhảy dựng lên, kêu:

– Ôi, tiếc quá!

Trương Tòng Khê nói:

– Lão Vân Hạc trù tính mọi sự..

Mạc Thanh Cốc xua tay:

– Tứ ca, hượm đã, xin tứ ca chờ một lát..

Trương Thúy Sơn mỉm cười, nói:

– Thất đệ chẳng bao giờ chịu thiệt.

Thế là chàng phải thuật lại một lần nữa các chuyện lạ ở Băng Hỏa đảo.

Mạc Thanh Cốc thốt lên:

– Kỳ quái, kỳ quái! Tứ ca, bây giờ tứ ca kể tiếp được rồi.

Trương Tòng Khê nói:

– Lão Vân Hạc kia trù tính mọi sự, chỉ đợi đến ngày là cả ba nơi Thái Nguyên, Đại Đồng, Phần Dương nhất tề nổi dậy khởi nghĩa. Nào ngờ trong số người cắt máu ăn thề lại có kẻ phản bội, ba ngày trước khi khởi sự, đánh cắp bản danh sách những người tham gia, lấy luôn bản trù hoạch khởi nghĩa do chính tay Vân Hạc soạn thảo, mang đi tố cáo với quân Mông Cổ.

Mạc Thanh Cốc vỗ đùi kêu lên:

– Ôi, thế thì nguy to!

Trương Tòng Khê nói:

– Cũng may, tình cờ hồi ấy đệ lại ở Thái Nguyên, có việc phải vào phủ đường, nửa đêm thấy tên tri phủ và kẻ phản bội kia đang bàn tính rằng một mặt mật báo triều đình, mặt khác điều binh khiển tướng để quăng lưới bắt trọn những người tham gia khởi nghĩa. Tiểu đệ liền nhảy vào, giết luôn tên tri phủ, kẻ phản bội, nhặt lấy bản danh sách, bản trù hoạch kia, trở về phương nam. Bọn Vân Hạc phát hiện mất bản danh sách, bản trù hoạch, thì đại sự không xong, nghĩa cử chẳng thành đã đành, mà tất cả những người có tên trong danh sách sẽ bị đại họa xử tử toàn gia, vội vàng đang đêm truyền tin cho nhau đi trốn cho xa nhưng lúc đó cổng thành đã đóng, muốn đưa tin cũng chẳng được. Sáng hôm sau, tin quan phủ bị giết lan ra, thành Thái Nguyên đóng lại để truy tìm thích khách.

Bọn Vân Hạc lòng như lửa đốt, cứ như kiến bò trong chảo nóng, lo sợ phen này cả gia đình bị chém đầu đã đành, mà biết bao nghĩa sĩ hai tỉnh Tấn – Thiểm cũng bị sát hại. Nào ngờ đợi mấy ngày sau vẫn an nhiên vô sự; về sau trong thành không tìm ra thích khách, việc tra xét lơi lỏng dần, cuối cùng đâu lại vào đấy. Bọn Vân Hạc thấy kẻ phản bội cũng đã chết trong phủ với tên tri phủ, biết là có người bí mật cứu giúp, song không thể biết việc ấy do tiểu đệ làm.

Ân Lê Đình nói:

– Vừa nãy chắc là tứ ca giao lại cho Vân Hạc bản danh sách và bản trù hoạch nọ phải không?

Trương Tòng Khê nói:

– Đúng thế.

Mạc Thanh Cốc hỏi:

– Còn Cung Cửu Giai, tứ ca giúp lão ta việc gì vậy?

Trương Tòng Khê nói:

– Cung Cửu Giai võ công cao cường, nhưng hành vi nhân phẩm thì không thể sánh bằng Vân Hạc. Sáu năm trước, y bảo tiêu đến Vân Nam, tại Côn Minh y có nhận lời gửi gắm của một đại thương gia chuyển một chuyến châu báu trị giá sáu mươi vạn lượng bạc tới Đại Đô. Thế nhưng khi tới Giang Tây thì bị cướp. Bên hồ Phàn Dương, Cung Cửu Giai bị ba tên trong "Phàn Dương tứ nghĩa" vây đánh, cướp mất chuyến hàng. Cung Cửu Giai có tan gia bại sản cũng không đền nổi số châu báu kia, hơn nữa tiêu cục Yến Vân lại đứng đầu các tổ chức ở phương bắc, nếu hạ bảng hiệu xuống rồi thì không còn làm ăn gì được nữa. Y nằm trong khách điếm suy đi tính lại, cuối cùng toan kết liễu cuộc đời.

"Phàn Dương tam nghĩa" vốn không phải hào kiệt lục lâm, tại sao lại đi cướp số châu báu kia? Thì ra lão đại trong "Phàn Dương tứ nghĩa" phạm tội, bị giam trong nhà lao phủ Nam Xương, nay mai sẽ bị xử chém. Ba người ở ngoài hai lần cướp ngục song vẫn chưa cứu được lão đại, mà quan phủ thì càng cho đề phòng nghiêm mật hơn. Tam nghĩa biết quan tham tiền, định đem số châu báu cướp được kia hối lộ để quan giảm nhẹ tội danh cho lão đại. Đệ thấy bốn huynh đệ gọi là "Phàn Dương tứ nghĩa" rất có nghĩa khí nên cứu lão đại ra khỏi ngục, bảo họ đem châu báu đã cướp trả lại cho Cung Cửu Giai. Lão Cung tổng tiêu đầu tuy diện mạo khả ố, nói năng vô duyên, nhưng bình sinh cũng chưa làm điều ác, ở Đại Đô y không câu kết với quan phủ hà hiếp người lương thiện, cứu sống y kể cũng đáng. Đệ bảo Phàn Dương tứ nghĩa không được nhắc đến cái tên "Trương Tòng Khê", chỉ giữ lại một mảnh gấm bọc châu báu. Ban nãy đệ tặng nó cho Cung Cửu Giai, y giở ra sẽ biết ngay là chuyện gì.

Du Liên Châu gật đầu, nói:

– Tứ đệ làm việc đó hay lắm! Lão Cung Cửu Giai không nói làm chi, nhưng cứu Phàn Dương tứ nghĩa thì rất nên.

Mạc Thanh Cốc nói:

– Tứ ca, còn Kỳ Thiên Bưu thì tứ ca tặng cái gì?

Trương Tòng Khê nói:

– Là chín mũi "Đoạn hồn ngô công tiêu".

Năm người nghe đều "ồ" lên một tiếng. "Đoạn hồn ngô công tiêu" nổi danh trên giang hồ, là ám khí thành danh của đại hào Ngô Nhất Manh đất Kinh Châu.

Trương Tòng Khê kể:

– Chuyện này đệ làm quả là to gan, bây giờ nghĩ lại, hôm đó quả thật nguy hiểm. Kỳ Thiên Bưu bảo tiêu đi qua Đồng Quan, vô tình đắc tội với đệ tử của Ngô Nhất Manh. Hai bên động thủ, Kỳ Thiên Bưu xuất chưởng đánh kẻ kia trọng thương. Kỳ Thiên Bưu biết mình gây ra đại họa, vội vã giao lại tiêu ngân, đang đêm trốn về Kim Lăng để tụ tập bằng hữu, hợp lực đối phó với Ngô Nhất Manh. Thế nhưng Kỳ Thiên Bưu về tới Lạc Dương thì Ngô Nhất Manh đuổi kịp, hẹn với y hôm sau sẽ tỷ thí ở bên ngoài cửa tây thành Lạc Dương.

Ân Lê Đình nói:

– Ngô Nhất Manh võ công cao cường, Kỳ Thiên Bưu làm sao địch nổi?

Trương Tòng Khê nói:

– Đúng thế. Kỳ Thiên Bưu tự biết tài nghệ của mình không đỡ nổi một mũi tiêu hình con rết của Ngô Nhất Manh, song chẳng còn cách nào khác, bèn đến gặp huynh đệ họ Kiều ở Lạc Dương nhờ giúp sức. Huynh đệ họ Kiều nhận lời, nói:

– Kỳ đại ca biết đó, võ công của huynh đệ chúng tôi chẳng thể địch lại Ngô Nhất Manh. Đại ca bảo chúng tôi trợ lực thì hai chúng tôi giỏi lắm cũng chỉ đứng ngoài la hét trợ uy thôi. Được rồi, giờ Ngọ ngày mai, ở bên ngoài cửa thành phía tây, hai chúng tôi nhất định sẽ có mặt.

Mạc Thanh Cốc nói:

– Huynh đệ họ Kiều cũng là hảo thủ sử dụng ám khí, có họ trợ giúp, Kỳ Thiên Bưu lấy ba chọi một, may ra cũng đối phó ngang ngửa với Ngô Nhất Manh. Không biết phía Ngô Nhất Manh có thêm ai chăng?

Trương Tòng Khê nói:

– Ngô Nhất Manh không có trợ thủ. Có điều là huynh đệ họ Kiều giở trò xấu. Sáng hôm sau, Kỳ Thiên Bưu tới nhà họ Kiều, toan cùng họ bàn cách nghênh địch thì người giữ cửa bảo: "Đại gia và nhị gia sớm nay có việc gấp phải đi Trịnh Châu, dặn Kỳ lão gia khỏi cần chờ". Kỳ Thiên Bưu nghe vậy tức chết đi được. Mấy năm trước huynh đệ họ Kiều gặp họa ở Giang Nam, Kỳ Thiên Bưu từng giúp đỡ họ rất tận tình, không ngờ lúc nguy nan nhờ đến thì, họ miệng nói thật dễ nghe, song gót chân lại bôi mỡ chạy bay chạy biến. Kỳ Thiên Bưu biết Ngô Nhất Manh độc ác, cuộc hẹn trưa nay không sao tránh né được, bèn về khách điếm viết một lá thư để lại nói về hậu sự, giao cho người đưa tin, rồi đi ra cửa thành phía tây. Tất cả chuyện đó trước sau đều lọt vào mắt đệ. Bữa đó đệ giả trang làm một kẻ hành khất, nằm dưới gốc một cây cổ thụ ở ngoài cửa thành phía tây. Chẳng bao lâu, Ngô Nhất Manh và Kỳ Thiên Bưu lần lượt tới, bắt đầu động thủ với nhau. Đấu vài hiệp, Ngô Nhất Manh liền giở sát chiêu, phi ra một mũi "Đoạn hồn ngô công tiêu". Kỳ Thiên Bưu thấy không cách gì chống đỡ nổi thì đành nhắm mắt chờ chết. Tiểu đệ bèn lướt ra, giơ tay chộp mũi tiêu. Ngô Nhất Manh vừa sợ vừa tức, quát hỏi tiểu đệ có phải là người của Cái Bang hay không? Tiểu đệ chỉ cười, không đáp. Ngô Nhất Manh phóng liền tám mũi "Đoạn hồn ngô công tiêu", đều bị tiểu đệ tóm được hết. Ám khí thành danh của hắn quả không tầm thường, nếu tiểu đệ sử dụng võ công bản môn để chộp thật ra cũng chẳng khó, song sợ hắn nhận biết lai lịch, nên cố giả cách chân trái bị què, tay phải bị cụt mà, chỉ sử dụng một tay trái, lại dùng cách chộp phi tiêu của phái Thiếu Lâm, lòng bàn tay úp xuống, bắt được cả chín mũi tiêu, nhưng lòng bàn tay bị mũi tiêu độc thứ bảy cào xước, thật quá nguy hiểm. Ngô Nhất Manh quát hỏi tiểu đệ là đệ tử của vị cao tăng nào trong môn phái Thiếu Lâm, tiểu đệ cứ giả câm giả điếc ú ớ một hồi. Ngô Nhất Manh tự biết không địch nổi, xấu hổ và tức giận bỏ đi, về Kinh Châu đóng cửa không ra ngoài, mấy năm rồi không ai thấy hắn xuất hiện trên giang hồ nữa.

Mạc Thanh Cốc lắc đầu, nói:

– Tứ ca, Ngô Nhất Manh tuy không phải là người lương thiện, nhưng Kỳ Thiên Bưu cũng chẳng tử tế gì, nếu hôm đó tứ ca bị thương bởi "Đoạn hồn ngô công tiêu", thì có khổ không? Tứ ca không đáng mạo hiểm như thế.

Trương Tòng Khê cười, đáp:

– Thì cũng vì ta nhất thời hiếu sự, trước đó đâu ngờ "Đoạn hồn ngô công tiêu" của hắn lợi hại đến thế.

Mạc Thanh Cốc tính nết hào sảng, bộc trực, làm sao hiểu ý định sâu xa của mấy việc Trương Tòng Khê đã làm kia, nhưng Trương Thúy Sơn hiểu ngay: Tứ ca tận tâm kiệt lực là để giải trừ vụ đại cừu toàn gia tiêu cục Long Môn bị giết hại. Tứ ca biết tiêu cục Hổ Cứ đứng đầu các tiêu cục vùng Giang Nam, tiêu cục Yến Vân đứng đầu các tiêu cục một dải Lỗ – Dực, còn ở các tỉnh miền tây bắc thì tiêu cục Tấn Dương là nhất. Sau này, khi vụ án tiêu cục Long Môn bị khơi lại, cả ba tiêu cục kia chắc chắn sẽ đứng ra. Bởi vậy tứ ca phải làm cho họ bị khuất phục bằng đại ân. Ba sự việc trên nhìn qua tưởng là tình cờ, thực chất Trương Tòng Khê đã cất công tìm tòi, chờ đợi cơ hội, không biết tốn bao nhiêu thời gian và tâm huyết.

Trương Thúy Sơn nghẹn ngào nói:

– Tứ ca, huynh đệ chúng ta là một, tiểu đệ không dám dùng hai chữ "đa tạ", tất cả chỉ là do cô em dâu của tứ ca ngày ấy sai trái đã gây ra mối đại họa này.

Rồi chàng kể lại đầu đuôi việc Ân Tố Tố cải trang, đang đêm lẻn vào giết toàn bộ gia quyến tiêu cục Long Môn ra sao, cuối cùng nói:

– Tứ ca, chuyện này phải làm thế nào, xin tứ ca tính cách giùm tiểu đệ với.

Trương Tòng Khê trầm ngâm hồi lâu, nói:

– Việc này phải xin sư phụ chỉ thị. Nhưng tứ ca thiết nghĩ, người chết rồi không sống lại được, đệ muội cũng đã bỏ ác làm lành, không còn là nữ nhân giết người không chớp mắt khi xưa. Biết tội chịu sửa, không gì tốt hơn, hai sư ca nghĩ có phải vậy không?

Tống Viễn Kiều đứng trước đại sự liên quan mấy chục mạng người, nhất thời còn trù trừ khó quyết. Du Liên Châu thì gật đầu ngay, nói:

– Đúng thế!

Ân Lê Đình sợ nhất là nhị ca, vốn biết đại sư ca tính ba phải, dễ bị thuyết phục; còn nhị ca là người căm thù cái ác, thiết diện vô tư, e sẽ làm khó cho ngũ tẩu, nên mấy hôm nay cứ lo canh cánh. Chàng không biết rằng Du Liên Châu đã biết chuyện này trước rồi và đã tha thứ cho Ân Tố Tố, giờ thấy nhị ca gật đầu thì trong lòng cả mừng, nói:

– Vậy thì ai hỏi tới, ngũ ca chỉ việc nói những người nọ không phải do mình giết là xong.

Tống Viễn Kiều lườm Ân Lê Đình, nói:

– Cứ chống chế mãi như thế, lòng ngũ đệ làm sao yên? Chúng ta mang danh hiệp nghĩa, có an tâm được không?

Ân Lê Đình liền hỏi:

– Vậy phải làm sao bây giờ?

Tống Viễn Kiều nói:

– Theo ý ta, đợi sau tiệc mừng thọ sư phụ, chúng ta trước hết đi tìm hài nhi của ngũ đệ, sau đó mở đại hội anh hùng tại lầu Hoàng Hạc, nói rõ vụ Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn, rồi thì sáu huynh đệ chúng ta, thêm ngũ đệ muội là bảy người, cùng xuống Giang Nam. Trong vòng ba năm, mỗi người chúng ta phải làm cho được mười việc thiện.

Trương Tòng Khê vỗ tay reo lên:

– Đúng! Tiêu cục Long Môn chết uổng bảy chục người, mỗi chúng ta làm mười việc thiện, cố cứu sống một hai trăm người vô tội, xem ra có thể chuộc lại được.

Du Liên Châu nói:

– Đại ca tính thế cũng ổn thỏa, sư phụ chắc cũng cho phép. Còn nếu bắt ngũ đệ muội đền mạng cho bảy chục mạng người kia, thì lại chết thêm một người nữa, đâu ích lợi gì?

Trương Thúy Sơn bao lâu nay lo lắng sầu não, giờ nghe đại ca sắp đặt như vậy thì cả mừng, nói:

– Để tiểu đệ báo cho Tố Tố biết.

Chàng nhắc lại lời Tống Viễn Kiều vừa nói cho vợ nghe, lại báo tin sau tiệc mừng thọ sư phụ thì tất cả huynh đệ sẽ đi tìm Vô Kỵ.

Ân Tố Tố bị bệnh vốn không nặng, chỉ vì thương nhớ con là chính, nghe trượng phu nói vậy, nghĩ thầm dựa vào tài nghệ của Võ Đang lục hiệp, thể nào cũng mang được Vô Kỵ trở về, nàng liền cảm thấy yên tâm hẳn.

Trương Thúy Sơn trở lại thăm Du Đại Nham. Các sư huynh sư đệ gặp lại nhau, ai nấy mừng mừng tủi tủi.

Comments

0 comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 10: Bách tuế thọ yến dốc can trường

Mấy hôm sau đã tới ngày mồng tám tháng Tư. Trương Tam Phong biết ngày mai mình tròn trăm tuổi, các đệ tử ắt sẽ làm lễ đại thọ rầm rộ, tuy Du Đại Nham tàn phế, Trương Thúy Sơn mất tích, niềm vui không trọn vẹn nhưng sống được tới một trăm năm, trong đời quả rất hiếm, đồng thời môn "Thái Cực công" đã được bế quan tu cứu đến mức tinh diệu cao thâm, từ nay phái Võ Đang sẽ càng chói lọi trong võ lâm, không thua gì võ công của phái Thiếu Lâm do Đạt Ma sư tổ truyền từ Thiên Trúc sang. Sáng hôm nay Trương lão khai quan.

Trương lão hú một tiếng, hai tay áo hơi động, nghe "kẹt" một tiếng, hai cánh cửa tịnh thất mở ra, người đầu tiên Trương lão trông thấy nào phải ai khác, chính là Trương Thúy Sơn, đệ tử mà mười năm nay Trương lão vẫn thầm thương nhớ.

Trương lão giụi mắt, ngỡ mình nhìn lầm, thì Trương Thúy Sơn đã sà vào ngực ân sư, nghẹn ngào thốt lên:

– Sư phụ!

Lòng xúc động, chàng quên cả việc quỳ xuống vái lạy. Bọn Tống Viễn Kiều năm người đồng thanh reo lên:

– Sư phụ đại hỉ, ngũ đệ đã trở về!

Trương Tam Phong sống một trăm tuổi, tu luyện đã tám mươi mấy năm, trong lòng đã tới mức minh không, quên hết vạn vật, nhưng đối với bảy đệ tử, tình như phụ tử, giờ đột nhiên gặp lại Trương Thúy Sơn thì không cầm lòng đậu liền ôm chặt lấy chàng, vui sướng đến ứa nước mắt.

Các đệ tử lo hầu việc tắm rửa, chải đầu, thay y phục cho sư phụ. Trương Thúy Sơn chưa dám bẩm báo chuyện phiền não, chỉ kể lại một số kỳ tình dị vật ở Băng Hỏa đảo. Trương Tam Phong nghe nói chàng đã có vợ, càng vui mừng, nói:

– Thê tử ngươi đâu, gọi nó ra cho ta gặp!

Trương Thúy Sơn quỳ xuống, thưa:

– Sư phụ, đệ tử cả gan lấy vợ mà không thưa trước với lão nhân gia.

Trương Tam Phong vuốt râu, cười:

– Ngươi ở Băng Hỏa đảo mười năm không về được, chả lẽ đợi cả mười năm, bẩm báo với ta rồi mới lấy vợ ư? Nực cười, nực cười! Mau đứng dậy, khỏi cần xưng tội, Trương Tam Phong đâu lại có tên đệ tử hủ lậu chấp nê như thế?

Trương Thúy Sơn vẫn quỳ, nói:

– Nhưng thê tử của đệ tử lại có lai lịch bất chính, nàng.. nàng chính là con gái của Ân giáo chủ Thiên Ưng giáo ạ.

Trương Tam Phong lại vuốt râu, cười:

– Thì đã sao? Chỉ cần nó nhân phẩm không kém là được rồi. Mà dù nhân phẩm không tốt, chả lẽ về đến núi này, chúng ta lại không thể uốn nắn nó hay sao? Thiên Ưng giáo thì đã sao? Này Thúy Sơn, làm người trước tiên là bụng dạ chớ nên hẹp hòi, đừng ỷ mình danh môn chính phái mà coi khinh người khác. Hai chữ chính tà, thật ra rất khó phân biệt. Đệ tử chính phái mà tâm thuật bất chính, đó là tà đồ. Người trong tà phái mà một lòng hướng thiện, đó là chính nhân quân tử.

Trương Thúy Sơn cả mừng, không ngờ tâm sự canh cánh trong lòng suốt mười năm qua của chàng, vậy mà chỉ hai câu của sư phụ đã xóa đi hết, mặt tươi như hoa, liền đứng dậy.

Trương Tam Phong lại nói:

– Nhạc phụ ngươi, ta nghe danh đã lâu, bội phục Ân giáo chủ võ công cao siêu, một bậc kỳ nhân khẳng khái lỗi lạc. Ân giáo chủ tuy tính cách khác thường, hành sự không giống chúng ta nhưng không phải là kẻ tiểu nhân ti tiện, chúng ta nên có bằng hữu như vậy.

Bọn Tống Viễn Kiều đều nghĩ thầm: "Sư phụ quả thực hết mực thương yêu ngũ đệ, đúng là" Yêu ai yêu cả đường đi.. ". Ngay một tên đại ma đầu như nhạc phụ của Trương Thúy Sơn, mà sư phụ cũng bảo sẵn lòng kết giao". Lúc ấy chợt có đạo đồng vào bẩm:

– Ân giáo chủ của Thiên Ưng giáo sai người mang lễ vật tới biếu Ngũ sư thúc!

Trương Tam Phong cười:

– Thúy Sơn, nhạc phụ ngươi cho quà kìa, ngươi mau ra đón khách!

Trương Thúy Sơn đáp:

– Vâng.

Ân Lê Đình nói:

– Để con đi theo ngũ ca.

Trương Tòng Khê cười, nói:

– Đâu phải Kim Tiên Kỷ lão anh hùng gửi quà tới mà lục đệ ra đón?

Ân Lê Đình xấu hổ đỏ mặt, lẽo đẽo theo sau Trương Thúy Sơn.

Thấy trong đại sảnh có hai lão niên đứng đó, đầu đội khăn, trang phục theo lối gia nhân, vừa thấy Trương Thúy Sơn đi ra liền tiến lên vài bước, quỳ xuống hành lễ, nói:

– Kính chào cô gia, tiểu nhân Ân Vô Phúc, Ân Vô Lộc khấu kiến!

Trương Thúy Sơn đáp lễ một vái, nói:

– Mời hai vị quản gia đứng dậy.

Chàng nghĩ thầm: "Tên của hai gã gia nhân này kỳ quái thật. Phàm tôi tớ trong nhà, thường được đặt tên như Bình An, Cát Khánh, Phúc, Lộc, Thọ, sao hai gã này lại lấy tên Ân Vô Phúc, Ân Vô Lộc?"

Chàng thấy Ân Vô Phúc trên mặt có một vết sẹo thật dài, chạy từ góc trán bên phải chéo xuống qua chót mũi, thẳng tới khóe miệng bên trái. Còn Ân Vô Lộc thì mặt rỗ chằng rỗ chịt. Diện mạo hai gã thật khó coi, tuổi đồ trạc ngũ tuần.

Trương Thúy Sơn nói:

– Nhạc phụ đại nhân, nhạc mẫu đại nhân có mạnh khỏe chăng? Ta chờ thu xếp xong vài việc, sẽ cùng tiểu thư về bái kiến, ai ngờ nhạc phụ nhạc mẫu lại cho các ngươi sang thăm trước, thật không dám nhận. Hai vị quản gia đường xa mệt nhọc, mời ngồi dùng trà.

Ân Vô Phúc và Ân Vô Lộc không dám ngồi, cung kính trình lên bản ghi các món lễ vật, nói:

– Lão gia và lão thái thái bên nhà nói có chút lễ mọn, mong cô gia vui lòng nhận cho.

Trương Thúy Sơn nói:

– Đa tạ.

Chàng mở bản ghi ra xem qua, không khỏi giật mình khi thấy hơn mười trang giấy hoa tiên ghi tổng cộng hai trăm món lễ phẩm, món thứ nhất là một đôi sư tử bằng ngọc bích, món thứ hai là một cặp phỉ thúy phượng hoàng. Sau vô số châu báu là một trăm quản bút Tử Lang Hào, hai mươi thỏi mực Đường Mặc, một trăm xấp giấy Tuyên Hòa, tám chiếc nghiên Bát Phương cực phẩm. Giáo chủ Thiên Ưng giáo nghe nói chàng rể giỏi thư pháp nên gửi tặng rất nhiều bút nghiên giấy mực, ngoài ra còn đủ các thứ trang phục, vật dụng thượng hạng. Ân Vô Phúc đi ra rồi dẫn mười cước phu vào, mỗi cước phu gánh hai chiếc hòm, đặt thành một hàng dọc ở bên sảnh.

Trương Thúy Sơn do dự nghĩ thầm: "Mình từ nhỏ sống thanh bần, đơn giản trên núi, đâu cần tới các vật dụng quý giá kia? Nhưng nhạc phụ ở xa cho người mang tới, mình từ chối e là bất kính", đành tạ ơn tiếp nhận, nói:

– Tiểu thư của hai vị đường xa mỏi mệt, không được khỏe lắm. Mời hai vị quản gia cứ ở chơi vài ngày, sau đó hãy gặp.

Ân Vô Phúc nói:

– Lão gia và thái thái rất mong nhớ tiểu thư, có dặn chúng tôi phải về bẩm báo ngay. Nếu không làm cho tiểu thư quá mệt, tiểu nhân xin được khấu kiến tiểu thư một lát rồi quay về ngay.

Trương Thúy Sơn nói:

– Đã thế, hai vị chờ đây một lát.

Chàng về phòng nói cho thê tử biết. Ân Tố Tố cả mừng, sửa sang trang phục, chải đầu sơ qua, rồi ra tiền sảnh gặp hai gia nhân, hỏi thăm sức khỏe phụ mẫu, trưởng huynh, mời hai người kia dùng cơm. Ăn xong, Ân Vô Lộc và Ân Vô Phúc liền cáo biệt cô gia và tiểu thư.

Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: "Nhạc phụ nhạc mẫu gửi cho mình lễ vật hậu hĩ như thế, mình cũng phải trọng thưởng cho hai gã kia mới đúng, nhưng tiền bạc trên núi gom ở một nơi, mình đâu được phép tự tiện lấy ra ban thưởng". Chàng vốn tính phóng khoáng, không lấy thế làm phiền, cười, nói:

– Tiểu thư của các vị lấy phải anh chồng nghèo, không có tiền bạc thưởng cho hai vị, mong hai vị quản gia đừng cười.

Ân Vô Phúc nói:

– Không dám, không dám, được gặp Võ Đang ngũ hiệp một lần, còn hơn được thưởng ngàn vàng.

Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: "Vị quản gia này nói năng nhã nhặn, tựa hồ từng theo đòi bút nghiên". Chàng tiễn họ ra cổng lớn. Ân Vô Phúc nói:

– Xin cô gia dừng bước, mong cô gia sớm cùng tiểu thư giá lâm, để cho lão gia thái thái vợi bớt nhớ thương. Tất cả mọi người, từ trên xuống dưới trong tệ giáo, đều ngưỡng vọng phong thái của cô gia.

Trương Thúy Sơn mỉm cười. Ân Vô Lộc nói:

– Còn có một việc nhỏ, cũng xin bẩm cáo để cô gia biết. Trên đường huynh đệ tiểu nhân mang lễ vật lên núi, ở thành Tương Dương có gặp ba tiêu khách. Trong câu chuyện, ba người ấy có nhắc đến cô gia.

Trương Thúy Sơn hỏi:

– Họ nói gì vậy?

Ân Vô Lộc nói:

– Một người bảo "Võ Đang thất hiệp tuy có đại ân với bọn ta, nhưng hơn bảy chục mạng người ở tiêu cục Long Môn không thể vì chuyện đó mà cho qua". Ba người ấy bảo rằng họ không thể can thiệp vào vụ án đó, song họ sẽ mời Thần Thương Chấn Bát Phương Đàm lão anh hùng ở phủ Khai Phong tới luận lý vụ đó với cô gia.

Trương Thúy Sơn gật đầu, không nói gì.

Ân Vô Lộc thò tay vào bọc lấy ra ba lá cờ nhỏ, hai tay trình lên Trương Thúy Sơn, nói:

– Huynh đệ tiểu nhân nghe ba gã tiêu khách kia dám cả gan vuốt râu hùm, bèn để việc đó cho Thiên Ưng giáo lãnh nhận.

Trương Thúy Sơn nhìn thấy ba lá cờ thì giật mình, lá thứ nhất thêu một con mãnh hổ ngẩng đầu lên gầm, thế như sắp vồ mồi, hẳn là tiêu kỳ của tiêu cục Hổ Cứ. Lá thứ hai thêu con hạc trắng đang sải cánh trong mây, chính là tiêu kỳ của tiêu cục Tấn Dương, hạc trắng trong mây là chỉ tổng tiêu đầu Vân Hạc. Lá thứ ba thêu bằng kim tuyến chín con chim én, bao hàm chữ "Yến" trong tiêu cục Yến Vân lẫn chữ "Cửu" trong Cửu Cung Giai.

Trương Thúy Sơn ngạc nhiên hỏi:

– Làm sao lấy được tiêu kỳ của họ?

Ân Vô Phúc nói:

– Cô gia là rể quý của Thiên Ưng giáo, bọn Kỳ Thiên Bưu, Cửu Cung Giai là cái thá gì, chúng đã chịu đại ân của Võ Đang thất hiệp mà còn tính chuyện đi mời Thần Thương Chấn Bát Phương Đàm Thụy Lai tới luận lý với cô gia, thế còn ra nghĩa lý gì chứ? Huynh đệ tiểu nhân nghe ba tiêu khách nói những lời vô lễ..

Trương Thúy Sơn ngắt lời:

– Thực ra cũng có vô lễ gì đâu.

Ân Vô Phúc nói:

– Dạ phải, đấy là cô gia khoan dung đại lượng hơn người, chứ ba huynh đệ tiểu nhân không nhịn nổi đã xử lý xong ba gã tiêu khách đó, lấy ba tiêu kỳ của bọn chúng.

Trương Thúy Sơn kinh ngạc, nghĩ bụng bọn Cửu Cung Giai ba người đều là hào kiệt của các tiêu cục, thành danh đã lâu trên chốn giang hồ, tuy chưa được xếp vào hàng đệ nhất cao thủ võ lâm nhưng người nào cũng có tuyệt nghệ. Không lẽ ba kẻ gia nhân của nhạc phụ lại có thể dễ dàng xử lý bọn họ như thế? Chắc là Ân Vô Phúc khoa trương, nhưng hiển nhiên y đoạt được ba lá tiêu kỳ, chẳng nói lấy giữa ban ngày, cho dù lấy trộm ban đêm cũng không phải dễ. Hay là ở khách điếm y bỏ thuốc mê khiến bọn Cửu Cung Giai bất tỉnh? Chàng liền hỏi lại:

– Ba tiêu kỳ này, lấy bằng cách nào?

Ân Vô Phúc nói:

– Lúc đó nhị đệ Vô Lộc đứng ra thách đấu, hẹn bọn Cửu Cung Giai ra cửa nam thành Tương Dương tỷ thí, ba huynh đệ tiểu nhân đấu với ba người bọn họ. Định trước là nếu họ thua thì phải để lại tiêu kỳ, tự chặt một cánh tay và suốt đời không được đặt chân vào tỉnh Hồ Bắc nữa.

Trương Thúy Sơn càng nghe càng lạ lùng, càng không dám coi thường hai gã gia nhân kia, hỏi tiếp:

– Rồi thế nào?

Ân Vô Phúc nói:

– Rồi không có gì cả, bọn họ phải để lại tiêu kỳ, tự chặt một cánh tay trái thề suốt đời không bước chân tới đất Hồ Bắc.

Trương Thúy Sơn kinh hãi, nghĩ thầm: "Thuộc hạ của Thiên Ưng giáo hành sự quả thực tàn ác", chàng bất giác cau mày. Ân Vô Phúc nói:

– Nếu cô gia nghĩ rằng tiểu nhân hạ thủ quá nhẹ, huynh đệ tiểu nhân sẽ đuổi theo giết luôn ba tên ấy cho rồi.

Trương Thúy Sơn vội nói:

– Không nhẹ! Không nhẹ! Thế là nặng quá rồi.

Ân Vô Phúc nói:

– Huynh đệ tiểu nhân nghĩ lần này mang lễ vật đi biếu cô gia là chuyện đại hỷ, nếu làm tổn thương nhân mạng, e mất cái hay.

Trương Thúy Sơn nói:

– Đúng thế, hai vị nghĩ vậy là rất chu đáo. Ngươi nói có ba người, vậy người thứ ba đâu rồi?

Ân Vô Phúc nói:

– Còn thêm một huynh đệ nữa là Ân Vô Thọ. Sau khi chúng tiểu nhân đuổi ba gã tiêu khách, sợ rằng Thần Thương Chấn Bát Phương Đàm lão kia hay tin chẳng biết tốt xấu lại đến làm phiền cô gia, nên chúng tiểu nhân để Vô Thọ đi phủ Khai Phong. Vô Thọ có nhờ tiểu nhân thay mặt y khấu đầu vấn an cô gia.

Nói Vô Phúc xong sụp xuống lạy. Trương Thúy Sơn vội đáp lễ, nói:

– Không dám.

Chàng nghĩ thầm: "Thần Thương Chấn Bát Phương Đàm Thụy Lai uy danh hiển hách, thành danh đã bốn chục năm nay, nay Ân Vô Thọ vì mình tìm đến phủ Khai Phong gây chuyện, dù bên nào bị tổn thương cũng đều không ổn", bèn nói:

– Thần Thương Chấn Bát Phương Đàm lão anh hùng ta nghe danh đã lâu, là bậc chính nhân quân tử. Hai vị mau đến phủ Khai Phong, bảo Ân Vô Thọ đừng tranh cãi gì với Đàm lão anh hùng cả. Nếu chẳng may hai bên động thủ, e sự việc chẳng lành.

Ân Vô Lộc cười nhạt, nói:

– Cô gia khỏi lo, cái lão họ Đàm ấy không dám động thủ với tam đệ Vô Thọ đâu. Tam đệ bảo lão ta đừng có dây vào chuyện này là lão ta vâng dạ tức thì.

Trương Thúy Sơn nói:

– Thật ư?

Chàng nghĩ thầm: "Thần Thương Chấn Bát Phương Đàm Thụy Lai dù đã già yếu chăng nữa thì ở phủ Khai Phong Đàm lão cũng có hàng vài chục đệ tử võ công cao cường, không lẽ lại sợ một mình Ân Vô Thọ?"

Ân Vô Phúc thấy Trương Thúy Sơn có vẻ nghi ngờ, bèn nói:

– Lão già họ Đàm hai chục năm trước từng là bại tướng dưới tay Vô Thọ, đối với huynh đệ chúng tiểu nhân, lão ta không là gì cả, cô gia khỏi lo.

Nói xong hai người làm lễ cáo biệt.

Trương Thúy Sơn cầm ba lá tiêu kỳ, trù trừ một hồi. Chàng đã định nhờ hai người nghe ngóng tin tức của Vô Kỵ, nhưng nghĩ nếu lộ chuyện này với người ngoài, không tránh khỏi tổn hại uy danh của nhị ca, đành lẳng lặng trở về phòng.

Ân Tố Tố nửa nằm nửa ngồi trên giường, đang xem danh sách lễ vật, cảm động về tình thương của phụ mẫu đối với mình, lại nghĩ Vô Kỵ lúc này không biết đang ở đâu, có bị làm sao không thì nàng hết sức lo lắng, thấy trượng phu bước vào, thần sắc bất định, vội hỏi:

– Chàng sao vậy?

Trương Thúy Sơn hỏi:

– Lai lịch của ba người Vô Phúc, Vô Lộc, Vô Thọ thế nào?

Ân Tố Tố chung sống mười năm với chồng, biết chàng không ưa gì Thiên Ưng giáo, nên gia sự và giáo sự, nàng chưa bao giờ kể, Trương Thúy Sơn cũng chưa từng hỏi đến. Lúc này nghe chàng hỏi, nàng mới kể:

– Ba người đó hơn hai chục năm trước vốn là tướng cướp hoành hành ở vùng tây nam, sau bị rất nhiều cao thủ vây đánh, tưởng chết đến nơi. May gặp phụ thân thiếp đi qua thấy họ tử chiến không khuất phục, rất có khí phách nên mới ra tay cứu. Ba người ấy vốn không cùng họ, chẳng phải huynh đệ gì đâu. Họ cảm ân cứu mạng của gia gia thiếp, thề suốt đời làm nô bộc, bỏ họ tên cũ, lấy tên mới là Ân Vô Lộc, Ân Vô Phúc, Ân Vô Thọ. Thiếp từ nhỏ vẫn kính nể họ, không dám coi họ như nô bộc. Gia gia thiếp bảo rằng nếu luận về võ công và danh vọng ngày trước thì rất nhiều nhân vật tên tuổi lẫy lừng trong võ lâm ngày nay vị tất đã sánh bằng ba người bọn họ.

Trương Thúy Sơn gật đầu:

– Thì ra vậy.

Chàng liền kể cho nàng nghe chuyện ba người đó lấy tiêu kỳ, chặt cánh tay ra sao. Ân Tố Tố cau mày, nói:

– Ba người ấy vốn có ý tốt, nhưng họ không biết rằng đệ tử của danh môn chính phái hành sự khác hẳn bên tà giáo. Ngũ ca, việc này lại làm cho chàng thêm phiền não nữa đây, thiếp.. thiếp không biết làm sao cho phải?

Nàng thở dài, nói tiếp:

– Đợi tìm được Vô Kỵ rồi chúng ta quay trở lại Băng Hỏa đảo là hơn.

Bỗng nghe Ân Lê Đình từ ngoài cửa nói vọng vào:

– Ngũ ca, mau ra trổ tài viết vài câu đối chúc thọ đi nào.

Lại nói:

– Ngũ tẩu, đừng trách tiểu đệ kéo ngũ ca đi nhé, ai bảo ngũ ca có biệt danh Thiết Hoạch Ngân Câu?

Chiều hôm đó sáu sư huynh sư đệ chia nhau đốc thúc nhà bếp, bọn đạo đồng quét dọn, bài trí cung Tử Tiêu, ở sảnh đường treo mấy câu đối Trương Thúy Sơn vừa viết, trong sảnh ngoài sân chỗ nào cũng tràn ngập không khí vui vẻ.

Sáng sớm hôm sau, bọn Tống Viễn Kiều mặc quần áo mới, đang định vào đưa Du Đại Nham ra để cả bảy người cùng chúc thọ sư phụ thì một đạo đồng tiến vào, trình lên một tờ danh thiếp. Tống Viễn Kiều cầm lấy, Trương Tòng Khê liếc mắt, thấy danh thiếp đề "Côn Luân hậu học Hà Thái Xung suất đệ tử môn hạ cung chúc Trương chân nhân thọ tỉ Nam Sơn".

Trương Tòng Khê kinh ngạc nói:

– Chưởng môn phái Côn Luân thân chinh đến chúc thọ sư phụ. Không biết ông ta tới Trung nguyên từ bao giờ vậy?

Mạc Thanh Cốc nói:

– Hà phu nhân có tới không?

Vợ của Hà Thái Xung là Ban Thục Nhàn, vốn là sư tỷ của ông ta, nghe nói võ công không kém gì chưởng môn phái Côn Luân. Trương Tòng Khê nói:

– Trên danh thiếp không thấy đề có Hà phu nhân.

Tống Viễn Kiều nói:

– Vị khách này danh vọng rất cao, phải mời sư phụ thân chinh nghênh tiếp.

Đoạn Tống Viễn Kiều vội đi vào bẩm với Trương Tam Phong. Trương Tam Phong nói:

– Nghe nói Thiết Cầm tiên sinh hiếm khi vào Trung thổ, sao ông ta lại biết được ngày mừng thọ của lão đạo nhỉ?

Liền dẫn sáu đệ tử ra đón. Chỉ thấy Thiết Cầm tiên sinh Hà Thái Xung tuổi chưa cao, mặc hoàng y, thần thái phiêu dật, khí tượng xung hòa, quả nhiên là tông chủ của danh môn chính phái. Sau lưng tiên sinh là tám nam nữ đệ tử, trong đó có Tây Hoa Tử và Vệ Tứ Nương.

Hà Thái Xung hướng về phía Trương Tam Phong chúc mừng, Trương Tam Phong luôn miệng đa tạ, chắp tay đáp lễ. Huynh đệ Tống Viễn Kiều sáu người quỳ xuống khấu đầu. Hà Thái Xung cũng quỳ xuống đáp lễ, nói:

– Võ Đang lục hiệp lừng danh hoàn vũ, đại lễ này làm sao dám nhận?

Trương Tam Phong mời sư đồ Hà Thái Xung vào đại sảnh, hai bên chủ khách ngồi xuống dùng trà. Một tiểu đạo đồng tiến vào trình lên một tờ danh thiếp. Tống Viễn Kiều cầm lấy, là Không Động ngũ lão cùng đến. Trong võ lâm hiện thời, Thiếu Lâm, Võ Đang danh tiếng cao nhất, kế tới phái Côn Luân, phái Nga Mi, rồi mới đến Không Động. Nếu tính vai vế địa vị, Không Động ngũ lão cùng lắm chỉ ngang hàng với Tống Viễn Kiều. Nhưng Trương Tam Phong quá khiêm tốn, đứng dậy nói:

– Không Động ngũ lão tới, xin Hà huynh ngồi chơi, lão đạo ra đón khách.

Hà Thái Xung nghĩ thầm: "Hạng người như

Không Động ngũ lão, sai đệ tử ra đón là được rồi".

Lát sau, Không Động ngũ lão cùng các đệ tử bước vào. Sau đó lần lượt rất nhiều nhân vật thủ lĩnh các môn phái, bang hội, như Thần Quyền môn, phái Hải Sa, phái Vu Sơn, bang Cự Kình cùng lên núi chúc thọ. Bọn Tống Viễn Kiều vốn chỉ dự tính sư đồ bản môn vui vẻ một ngày với nhau mà thôi nhưng ai ngờ lại quá đông tân khách, huynh đệ sáu người chia nhau tiếp đãi cũng không xuể. Trương Tam Phong bình sinh ghét nhất các thứ lễ tiết phiền toái kiểu này, mấy lần tiệc thọ bảy mươi, tám mươi, chín mươi tuổi, Trương lão đều dặn đệ tử không cho người ngoài biết. Ai ngờ ngày mừng thọ tròn trăm tuổi này lại thành ngày quý khách võ lâm tề tựu. Những người đến muộn, ngay cả ghế ngồi trong cung Tử Tiêu cũng không đủ, Tống Viễn Kiều phải sai người bưng các tảng đá tròn ra xếp thành hàng trong đại sảnh. Chưởng môn, bang chủ còn được ngồi ghế, chứ đệ tử môn hạ thì phải ngồi trên các hòn đá. Thậm chí chén không đủ phải dùng bát để uống trà.

Trương Tòng Khê kéo Trương Thúy Sơn ra hành lang, hỏi:

– Ngũ đệ, có nhận ra sự lạ gì chăng?

Trương Thúy Sơn nói:

– Bọn họ đã ước hẹn trước với nhau, nên khi gặp nhau đã biết cả rồi. Tuy vậy cũng có vài người giả bộ ngạc nhiên để che giấu sự thực.

Trương Tòng Khê nói:

– Đúng thế, bọn họ không hề thành tâm lên núi chúc thọ sư phụ.

Trương Thúy Sơn nói:

– Họ mượn danh nghĩa chúc thọ, thực chất là muốn đến vấn tội đây mà!

Trương Tòng Khê nói:

– Không phải hưng sư vấn tội đâu. Án mạng tiêu cục Long Môn làm sao mời được Thiết Cầm tiên sinh Hà Thái Xung tới đây?

Trương Thúy Sơn nói:

– Ồ, thì ra bọn họ đến là vì chuyện Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn.

Trương Tòng Khê cười khẩy:

– Bọn họ coi thường phái Võ Đang quá! Nếu quả bọn họ muốn cậy đông, thì đệ tử môn hạ phái Võ Đang cũng đâu bán rẻ bằng hữu? Ngũ đệ, Tạ Tốn quả là một gian đồ tàn ác, nhưng đã là nghĩa huynh của ngũ đệ thì nhất quyết ngũ đệ không được tiết lộ hành tung của lão.

Trương Thúy Sơn nói:

– Tứ ca nói rất phải. Chúng ta phải tính sao?

Trương Tòng Khê trầm ngâm một hồi, nói:

– Mọi người hãy cẩn thận đề phòng. Huynh đệ đồng tâm thì dẫu việc khó mấy cũng làm được. Võ Đang thất hiệp trước nay trải qua bao phen đại phong ba, chẳng lẽ lại sợ bọn họ?

Du Đại Nham tuy đã tàn phế, nhưng khi nói về mình, sáu huynh đệ vẫn xưng là Võ Đang thất hiệp. Đằng sau bảy người còn một vị mà võ công cổ kim chưa ai bì kịp, quán tuyệt đương thời là Trương Tam Phong. Có điều hai người đều nghĩ rằng sư phụ đã tròn trăm tuổi, dù việc trước mắt hệ trọng khó khăn đến mấy, huynh đệ sáu người cũng muốn tự mình lo liệu gánh vác, không để sư phụ phải ra tay, cũng không để sư phụ phải lo phiền. Trương Tòng Khê tuy miệng an ủi sư đệ, song thầm biết việc hôm nay làm thế nào bảo toàn danh dự sư môn, thật chẳng dễ chút nào.

Trong đại sảnh, Tống Viễn Kiều, Du Liên Châu, Ân Lê Đình chia nhau tiếp chuyện tân khách. Cả ba người đều sớm nhận biết nhiều tân khách đến đây không phải thực tâm, nên trong bụng thầm lo tính.

Đang lúc nói chuyện thì một tiểu đạo đồng vào thưa:

– Môn hạ đệ tử phái Nga Mi Tĩnh Huyền sư thái, cùng năm vị sư đệ, sư muội đến bái thọ sư tổ.

Tống Viễn Kiều và Du Liên Châu cùng mỉm cười, liếc nhìn Ân Lê Đình, lúc ấy Mạc Thanh Cốc dẫn bảy tám tân khách bước vào sảnh, Trương Tòng Khê và Trương Thúy Sơn từ nội đường đi ra, nghe thấy có đệ tử phái Nga Mi tới, cũng nhìn Ân Lê Đình mỉm cười. Ân Lê Đình mặt đỏ bừng, e thẹn. Trương Thúy Sơn kéo tay chàng, cười nói:

– Lục đệ, chúng mình cùng ra đón khách quý nào.

Hai người đi ra cổng, thấy Tĩnh Huyền sư thái trạc bốn mươi tuổi, thân hình cao lớn, thần thái uy mãnh, tuy là nữ mà cao hơn nam đến nửa cái đầu. Sau lưng sư thái là năm sư đệ sư muội, trong đó có một nam tử gầy gò trạc tam tuần và hai ni cô. Một trong hai ni cô là Tĩnh Hư sư thái thì Trương Thúy Sơn đã gặp trên thuyền ngoài biển. Hai người còn lại là hai thiếu nữ tuổi đôi mươi, một nàng lấy tay che miệng cười, nàng kia da trắng như tuyết, thân hình mảnh mai, diện mạo xinh xắn, cúi đầu vân vê tà áo, chính là vị hôn thê của Ân Lê Đình, Kỷ Hiểu Phù tiểu thư của Kim Tiên Kỷ gia.

Trương Thúy Sơn tiến lên hành lễ, rồi mời sáu người vào trong. Ân Lê Đình hết sức e thẹn, không dám liếc về phía Kỷ Hiểu Phù lấy một lần. Khi vào sảnh, thấy mọi người đều nhìn về phía trước, Ân Lê Đình nhịn không nổi mới lén liếc nhìn Kỷ Hiểu Phù, vừa hay lúc đó Kỷ Hiểu Phù đang cúi đầu cũng liếc nhìn chàng, ánh mắt hai người gặp nhau. Sư muội của Kỷ Hiểu Phù là Bối Cẩm Nghi bèn ho một tiếng khiến hai người đỏ mặt, vội quay đầu sang chỗ khác. Bối Cẩm Nghi cười, nói nhỏ:

– Sư tỷ, vị Ân sư ca kia xem ra còn e thẹn hơn cả sư tỷ.

Đột nhiên mặt Kỷ Hiểu Phù trắng nhợt, thân hình run rẩy, mắt rưng rưng lệ.

Trương Tòng Khê từ nãy vẫn tính toán tình thế địch ta, thấy sáu người phái Nga Mi tới liền bớt lo đôi chút, nghĩ thầm: "Kỷ cô nương là hôn thê của lục sư đệ, nếu xảy ra chuyện động thủ, phái Nga Mi sẽ giúp phe mình một tay".

Tân khách lục tục kéo đến, chẳng mấy chốc đã là chính ngọ. Cung Tử Tiêu hoàn toàn không có chuẩn bị, làm sao mở tiệc thết khách? Nhà bếp chỉ lo được cho mỗi người một tô cơm trắng, trên để rau và đậu phụ. Sáu đệ tử phái Võ Đang luôn miệng xin lượng thứ. Chỉ thấy tân khách cứ vừa ăn, vừa ngóng ra cổng, tựa hồ còn đợi ai.

Huynh đệ Tống Viễn Kiều quan sát kỹ tân khách, thấy đa số chưởng môn, bang chủ đều tự trọng, không mang theo vũ khí, song thuộc hạ thì không ít kẻ lưng cộm hẳn lên, rõ ràng che giấu vũ khí; ngoại trừ đệ tử ba phái Nga Mi, Côn Luân, Không Động là đi tay không. Huynh đệ Tống Viễn Kiều bực bội nghĩ thầm: "Các người bảo là đến chúc thọ sư phụ ta, sao lại giấu vũ khí trong người?"

Nhìn lễ vật họ mang tới, phần lớn là mấy thứ đào thọ, miến thọ vừa mua ở thị trấn dưới chân núi, không xứng chút nào với địa vị đại tông sư võ học như Trương Tam Phong; ngay cả đem biếu các thủ lĩnh môn phái cũng không đáng.

Chỉ có quà của phái Nga Mi mới đúng là lễ vật chúc thọ, ngoài mười sáu món bằng ngọc quý còn có một chiếc áo đạo bào bằng gấm đỏ thêu chỉ kim tuyến một trăm chữ "Thọ" đủ kiểu, công phu bỏ vào đó quả không ít. Tĩnh Huyền sư thái nói với Trương Tam Phong:

– Áo này mười nữ đệ tử phái Nga Mi hợp lực thêu nên đó.

Trương Tam Phong rất vui, cười nói:

– Các nữ hiệp phái Nga Mi quyền kiếm nổi danh thiên hạ, hôm nay lại tặng cho lão đạo áo bào này, thật quý hóa vô cùng.

Trương Tòng Khê thấy tân khách như thế, tự hỏi: "Không biết họ còn chờ cường viện nào nữa? Vì sư phụ không thích ồn ào, nên phái Võ Đang không mời bằng hữu thân thiết nào cả, nếu không đâu đến nỗi thế lực chênh lệch, không ai cứu viện thế này?"

Trương Tòng Khê nghĩ sư phụ giao du khắp thiên hạ, bảy huynh đệ hành hiệp trượng nghĩa, quen thân bao người, nếu có chuẩn bị trước, ít ra cũng có thể mời được vài chục cao thủ tới dự tiệc hôm nay.

Du Liên Châu nói nhỏ với Trương Tòng Khê:

– Chúng ta vốn dự định sau lễ mừng thọ sư phụ sẽ gửi anh hùng thiếp, mở đại yến tại lầu Hoàng Hạc, Võ Xương, không ngờ sảy một bước thành ra bị thụ động hoàn toàn.

Du Liên Châu đã tính trước, tại anh hùng đại yến, Trương Thúy Sơn sẽ nói rõ nỗi khổ tâm không thể bán rẻ bằng hữu. Phàm người hành tẩu giang hồ, ai cũng rất trọng chữ "nghĩa". Trương Thúy Sơn chỉ cần thành thật nói ra, sẽ không ai nỡ ép chàng làm kẻ bất nghĩa. Nếu có kẻ không chịu bỏ qua thì ở anh hùng đại yến sẽ có không ít cao thủ giao hảo với phái Võ Đang, dù phải động võ, bên mình cũng chẳng lâm vào thế hạ phong. Nào ngờ đối phương đã tính đến nước cờ đó, mượn cớ chúc thọ để ước hẹn trước kéo nhau cùng lên núi, khiến phái Võ Đang trở tay không kịp.

Trương Tòng Khê nói nhỏ:

– Việc đến bước này, chỉ còn cách ráng sức tử chiến.

Trong Võ Đang thất hiệp, Trương Tòng Khê là người túc trí đa mưu, gặp chuyện khó xử đều nghĩ ra kế lạ chuyển nguy thành an. Du Liên Châu thầm thất vọng: "Ngay cả tứ sư đệ cũng bó tay, xem ra hôm nay sáu đệ tử phái Võ Đang phải đổ máu mất thôi". Giá như một địch một, trong số tân khách hôm nay, có lẽ không một ai là đối thủ của Võ Đang lục hiệp, nhưng tình thế trước mắt xem ra không phải là hai mươi địch một, mà là ba, bốn mươi đánh một.

Trương Tòng Khê kéo vạt áo Du Liên Châu, hai người ra sau đại sảnh. Trương Tòng Khê nói:

– Khi sự việc xảy ra, nếu như mình có thể dùng lời lẽ gài đối phương để họ chấp nhận một chọi một, lấy sáu trận định hơn thua, thì huynh đệ chúng ta không thể nào thất bại. Thế nhưng bọn họ đã dự tính trước, chắc đã nghĩ đến chuyện này hẳn sẽ không đồng ý đấu sáu trận rồi ngừng, cục diện sẽ biến thành ẩu đả quần thể.

Du Liên Châu gật đầu, nói:

– Việc đầu tiên là chúng ta phải bảo hộ tam đệ, không để tam đệ bị lọt vào tay người, chịu nhục một lần nữa, tứ đệ hãy lo việc này. Ngũ đệ muội chưa khỏe hẳn, tứ đệ bảo ngũ đệ lo liệu cho thê tử. Việc ứng phó với địch, để bốn huynh đệ còn lại tận lực cáng đáng.

Trương Tòng Khê nói:

– Được, cứ như thế.

Chàng trầm ngâm một hồi, nói:

– Có một kế sách, nhưng là mạo hiểm cầu may.

Du Liên Châu nói:

– Mạo hiểm cũng được, là diệu kế gì?

Trương Tòng Khê nói:

– Mỗi người chúng ta nhắm một đối thủ, địch vừa động thủ, chúng ta tấn công tức thời, chỉ một chiêu thôi phải bắt giữ ngay. Như thế bọn khác sẽ kiêng sợ, không dám làm mạnh.

Du Liên Châu do dự, nói:

– Nếu một chiêu không bắt ngay được, kẻ bên cạnh sẽ xông vào trợ lực, chỉ e..

Trương Tòng Khê nói:

– Gặp đại nạn, phải xuống tay độc một chút vậy. Mình sử dụng "Hổ trảo tuyệt hộ thủ"!

Du Liên Châu giật mình, nói:

– "Hổ trảo tuyệt hộ thủ" ư? Hôm nay là ngày đại hỷ của sư phụ, dùng môn sát thủ ấy có tàn ác quá chăng?

Nguyên phái Võ Đang có một môn cầm nã thủ pháp cực kỳ lợi hại gọi là "Hổ trảo thủ". Du Liên Châu học môn này xong, thấy rằng tuy nắm được kẻ địch rồi, nếu hắn võ công cao cường, hắn vẫn có thể vận nội kình thoát ra, cục diện thành ra tỷ thí nội lực; thế là chàng bèn biến hóa, thêm thắt, sáng chế ra mười hai chiêu mới, thoát thai từ "Hổ trảo thủ".

Trương Tam Phong khi thu nhận đệ tử đều tìm hiểu, tra xét cặn kẽ hành vi phẩm đức, tư chất, ngộ tính, cho nên sau khi nhập môn cả bảy đệ tử đều nên người tài giỏi, không chỉ thành thạo sở học sư môn, mà còn có thể tự mình sáng chế chiêu thức mới. Chiêu số "Hổ trảo thủ" do Du Liên Châu sáng chế ra vốn không phải là chuyện lạ, nhưng Trương Tam Phong xem chàng biểu diễn rồi chỉ gật đầu không nói gì.

Du Liên Châu thấy sư phụ im lặng, biết trong chiêu số còn khuyết điểm lớn, nên để tâm suy tư cải biến cho hoàn bị. Mấy tháng sau, khi chàng diễn lại cho sư phụ xem, Trương Tam Phong thở dài, nói:

– Liên Châu, mười hai chiêu Hổ trảo thủ này lợi hại hơn hẳn so với mấy chiêu ta đã dạy ngươi. Có điều chiêu nào cũng chộp vào ngang lưng người, bất cứ ai bị trúng một chiêu đều bị tổn âm tuyệt tự. Chẳng lẽ thứ võ công quang minh chính đại ta dạy cho ngươi chưa đủ hay sao, mà còn phải ra chiêu này cho người ta tuyệt tử tuyệt tôn?

Du Liên Châu nghe mấy lời giáo huấn của sư phụ, trời tuy đang rét đậm, mà lưng vã mồ hôi, trong lòng hoảng sợ liền vội vàng tạ tội.

Mấy hôm sau, Trương Tam Phong gọi cả bảy đệ tử, thuật lại cho nghe sự việc, cuối cùng nói:

– Liên Châu sáng tạo mười hai chiêu số này, khổ công suy tưởng, phải nói là một môn tuyệt học. Nếu chỉ do một lời của ta mà bỏ đi, kể cũng đáng tiếc. Các ngươi hãy theo học Liên Châu, nhưng chỉ vào lúc một mất một còn mới được đem ra sử dụng, chứ nhất thiết cấm dùng tùy tiện. Ta thêm hai chữ "tuyệt hộ" vào sau chữ "Hổ trảo", để mọi người nhớ rằng môn võ công này là sát thủ hủy diệt môn hộ, làm cho người ta phải tuyệt tự.

Các đệ tử bái lĩnh lời giáo huấn. Du Liên Châu liền truyền thụ môn võ công Hổ trảo tuyệt hộ thủ cho sáu huynh đệ đồng môn. Bảy người học rồi, quả nhiên nhớ lời giáo huấn của sư phụ, chưa từng dùng đến bao giờ. Hôm nay sự tình khẩn cấp, nghe Trương Tòng Khê nhắc đến, Du Liên Châu vẫn còn ngần ngại. Trương Tòng Khê nói:

– Môn "Hổ trảo tuyệt hộ thủ" khi chộp vào lưng người ta rồi sẽ khiến đối thủ vĩnh viễn mất khả năng sinh dục. Tiểu đệ tính là chúng ta chỉ sử dụng đối với các hòa thượng, đạo sĩ, hoặc những người đã bảy, tám chục tuổi..

Du Liên Châu mỉm cười, nói:

– Tứ đệ quả nhiên lắm mưu nhiều mẹo; hòa thượng với đạo sĩ thì đâu có sinh con đẻ cái gì thật.

Hai người bàn tính xong, chia nhau đi nói lại với Tống Viễn Kiều và ba sư đệ, mỗi người chọn sẵn một đối thủ, chờ lúc nào Trương Tòng Khê kêu hai tiếng "Chao ôi" là cả sáu người sẽ lập tức sử dụng Hổ trảo tuyệt hộ thủ nắm ngay lấy kẻ địch. Du Liên Châu chọn người cao tuổi nhất trong Không Động ngũ lão là Quan Năng. Trương Thúy Sơn nhắm đạo nhân của phái Côn Luân là Tây Hoa Tử.

Tân khách trong đại sảnh dùng bữa xong, nhà bếp đã thu dọn chén đũa. Trương Tòng Khê lớn tiếng nói:

– Chư vị tiền bối, các vị bằng hữu! Hôm nay là mừng thọ tròn trăm tuổi của gia sư, được các vị quang giáng, tệ phái từ trên xuống dưới ai cũng lấy làm vinh dự. Có điều việc tiếp đãi quá đơn sơ, mong các vị lượng thứ. Gia sư vốn đã định mời các vị cùng dự đại yến tại lầu Hoàng Hạc, Võ Xương, những gì thiếu sót hôm nay, tất nhiên bữa đó sẽ bổ khuyết. Tệ sư đệ đi xa mười năm, nay mới trở về, những gì tệ sư đệ tao ngộ và kinh lịch suốt mười năm hãy còn chưa kịp bẩm minh sư trưởng. Hơn nữa, hôm nay là ngày đại hỷ của gia sư, nếu đàm luận chuyện ân oán, đâm chém trong võ lâm quả thật chẳng phải lúc, phải chỗ, hảo ý của các vị không quản đường xa đến chúc thọ, chẳng hóa ra biến thành cố ý sinh sự hay sao? Các vị ít khi có dịp đến núi Võ Đang, vậy tại hạ xin mời các vị cùng đi thưởng ngoạn phong cảnh có được chăng?

Chàng nói thế để chặn trước mọi người, nói rõ rằng hôm nay là ngày lành mừng thọ, kẻ nào khơi chuyện Tạ Tốn và tiêu cục Long Môn ra là cố ý gây sự với phái Võ Đang.

Những người lên núi hôm nay, trừ phái Nga Mi ra, tất cả chỉ nhằm đánh nhau một trận để buộc đối phương nói ra nơi ở của Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn. Nhưng phái Võ Đang uy danh lừng lẫy, không ai dám một mình đứng ra thách thức. Nếu tất cả mấy trăm người cùng xông lên thì chẳng ai e ngại, chứ bảo ai đó đứng ra đầu tiên thì chả ai muốn vuốt râu hùm.

Tân khách ai nấy nhìn nhau, lặng thinh. Tây Hoa Tử phái Côn Luân đứng dậy, cao giọng nói:

– Trương tứ hiệp không nên chặn trước như thế. Chúng tôi là người quang minh, không làm trò ám muội, cứ nói thẳng ra là hơn. Phen này chúng tôi lên núi, một là chúc thọ Trương chân nhân, hai là muốn biết chỗ ở của tên ác tặc Tạ Tốn.

Mạc Thanh Cốc bực bội đã lâu, lúc này hết chịu nổi liền cười nhạt, nói:

– Hay gớm, hóa ra thế, hèn chi, hèn chi!

Tây Hoa Tử trợn mắt, hỏi:

– Hèn chi cái gì?

Mạc Thanh Cốc cười khẩy, nói:

– Lúc đầu tại hạ nghe các vị bảo lên núi Võ Đang để chúc thọ gia sư, nhưng tại hạ lại thấy tân khách giấu vũ khí trong người, đã cảm thấy kỳ quái, không lẽ người ta mang đao kiếm lên làm quà tặng gia sư hay sao? Giờ mới hiểu, hóa ra quà tặng mang tới là thế đó.

Tây Hoa Tử vỗ vỗ vào người, rồi cởi áo đạo bào, nói to:

– Mạc thất hiệp hãy nhìn cho rõ, còn trẻ tuổi, đừng có ngậm máu phun người. Chúng tôi đâu có giấu binh khí trong người!

Mạc Thanh Cốc cười khẩy, nói:

– Hay lắm, quả nhiên không giấu.

Chàng dùng hai ngón tay búng nhẹ vào thắt lưng hai người đứng bên cạnh. Chàng xuất thủ quá nhanh, búng hai cái đã làm đứt dây lưng hai kẻ kia, chỉ nghe loảng xoảng hai thanh đơn đao rớt xuống đất, ánh đao lấp lánh.

Ai nấy biến sắc. Tây Hoa Tử nói to:

– Đúng vậy, nếu Trương ngũ hiệp không chịu nói ra chỗ ở của Tạ Tốn thì việc phải dùng đến đao kiếm cũng là thường thôi.

Trương Tòng Khê đang định kêu lớn hai tiếng "Chao ôi" làm ám hiệu, bỗng nghe từ ngoài vọng vào một tiếng "A Di Đà Phật!" Tiếng Phật hiệu ấy ai nấy nghe vừa trong vừa rõ, tuy là từ ngoài xa truyền tới, nhưng người nghe tưởng như ngay bên cạnh mình.

Trương Tam Phong cười, nói:

– Thì ra Không Văn thiền sư phái Thiếu Lâm tới, mau ra nghênh tiếp!

Tiếng nói từ ngoài cổng lại vọng vào:

– Trụ trì Thiếu Lâm tự Không Văn, cùng hai sư đệ Không Trí, Không Tính và các đệ tử môn hạ cung chúc Trương chân nhân thiên thu trường lạc.

Không Văn, Không Trí, Không Tính là ba nhân vật trong bốn đại thần tăng của phái Thiếu Lâm. Trừ Không Kiến đại sư đã viên tịch, cả ba vị đại thần tăng cùng đến. Trương Tòng Khê giật mình, không kêu hai tiếng "Chao ôi" nữa, biết rằng các đại cao thủ phái Thiếu Lâm đã tới núi Võ Đang thì dù mình có dùng Hổ trảo tuyệt hộ thủ chế ngự được các nhân vật phái Côn Luân, phái Không Động cũng vô dụng.

Chưởng môn phái Côn Luân Hà Thái Xung nói:

– Đã lâu ngưỡng mộ thanh danh các thần tăng Thiếu Lâm, hôm nay may mắn hội ngộ, coi như chuyến đi này không uổng.

Từ ngoài xa lại vọng vào giọng trầm ấm:

– Hẳn là chưởng môn phái Côn Luân Hà tiên sinh. Thật là hạnh hội, hạnh hội! Trương chân nhân, lão nạp tới bái thọ chậm trễ, thật bất kính.

Trương Tam Phong nói:

– Hôm nay tân khách tề tựu đông vui trên núi Võ Đang, lão đạo chẳng qua sống đến trăm tuổi, đâu dám làm phiền gót ngọc ba vị thần tăng?

Bốn người cách nhau mấy lần cửa mà vận nội lực đối đáp nhau chẳng khác gì đối diện đàm thoại. Tĩnh Huyền sư thái, Tĩnh Hư sư thái của phái Nga Mi, Quan Năng, Tông Duy Hiệp, Đường Văn Lượng, Thường Kính Chi của phái Không Động tự biết công lực thua kém nên không dám mở miệng xen vào. Các môn phái, bang hội còn lại, ai ai cũng kinh hãi, tự biết mình thua xa.

Trương Tam Phong dẫn các đệ tử ra đón, thấy ba vị thần tăng dẫn theo chín hòa thượng thong thả đến trước cung Tử Tiêu.

Không Văn đại sư lông mày trắng rủ xuống che cả mí mắt, trông như một vị La Hán mày dài. Không Tính đại sư thân hình cao lớn, tướng mạo uy vũ, còn Không Trí đại sư có vẻ mặt khắc khổ, hai khóe miệng trễ xuống. Tống Viễn Kiều thầm lấy làm lạ, vốn tinh thông thuật xem tướng, nghĩ bụng: "Người thường mà dung mạo như Không Trí đại sư, nếu không chết yểu, ắt cũng gặp tai họa từ sớm, đằng này đại sư vừa hưởng thọ cao, lại là một vị tông sư được mọi người trong võ lâm ngưỡng mộ. Xem ra thuật xem tướng của ta còn có chỗ chưa biết đến".

Trương Tam Phong và ba vị thần tăng kia đều là bậc đại sư trong võ lâm, nhưng chưa từng diện kiến. Luận về tuổi tác, Trương Tam Phong hơn ba vị kia vài chục tuổi. Trương lão xuất thân từ Thiếu Lâm tự, nếu tính theo vai vế, sư phụ của Trương lão là Giác Viễn thiền sư, thì Trương lão cao hơn ba vị kia hai bậc. Song do Trương lão không thụ giới làm tăng nhân ở Thiếu Lâm tự, cũng không chính thức học võ một hòa thượng Thiếu Lâm nào cả nên chỉ dùng lễ ngang hàng mà chào hỏi. Huynh đệ Tống Viễn Kiều thành ra thấp hơn họ một bậc.

Trương Tam Phong đón các vị đại sư vào trong sảnh, Hà Thái Xung, Quan Năng, Tĩnh Huyền sư thái tiến lên chào, nói vài lời khách sáo ngưỡng mộ lẫn nhau. Không Văn thiền sư cực kỳ khiêm nhường, đối với hàng đệ tử hậu bối các môn phái, bang hội, thiền sư cũng chắp tay hành lễ, hỏi han đôi lời, nên mất khá lâu mới hoàn tất việc chào hỏi mọi người.

Ba vị cao tăng ngồi uống xong một tuần trà. Không Văn nói:

– Trương chân nhân, bần tăng xét theo lứa tuổi, vai vế thì chỉ là kẻ hậu bối của Trương chân nhân. Hôm nay ngoài việc chúc thọ, lẽ ra không nên nhắc tới chuyện khác, nhưng vì bần tăng là chưởng môn phái Thiếu Lâm nên có vài lời muốn trần tình với tiền bối, mong Trương chân nhân đừng phiền trách.

Trương Tam Phong vốn người hào sảng, nói thẳng không chút úp mở:

– Ba vị cao tăng, có phải vì chuyện đệ tử thứ năm của lão phu là Trương Thúy Sơn mà đến đây chăng?

Trương Thúy Sơn nghe sư phụ nhắc đến tên mình, liền đứng dậy.

Không Văn nói:

– Chính thế. Bần tăng có hai việc cần thỉnh giáo Trương ngũ hiệp. Việc thứ nhất, Trương ngũ hiệp đã giết toàn bộ bảy mươi mốt người ở tiêu cục Long Môn của đệ tử phái Thiếu Lâm, lại giết luôn sáu tăng nhân Thiếu Lâm tự, tổng cộng bảy mươi bảy người, bây giờ tính sao đây? Việc thứ hai, tệ sư huynh Không Kiến đại sư một đời từ bi đức độ, không tranh đua với ai, lại bị Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn sát hại, nghe nói Trương ngũ hiệp biết nơi ở của Tạ Tốn, mong Trương ngũ hiệp ban cho một lời.

Trương Thúy Sơn nói to:

– Không Văn đại sư! Bảy mươi bảy người của tiêu cục Long Môn và Thiếu Lâm tự hoàn toàn không phải do vãn bối giết hại. Trương Thúy Sơn này một đời được ân sư giáo huấn, tuy ngu dốt nhưng không dám nói dối và làm bậy. Người sát hại bảy mươi bảy người đó là ai, vãn bối cũng biết, nhưng không muốn nói ra. Đó là việc thứ nhất. Về việc thứ hai, Không Kiến đại sư viên tịch tây quy, thiên hạ ai cũng thống hận, có điều là Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn và vãn bối đã cùng nhau kết nghĩa kim lan, lạy nhau tám lạy. Tạ Tốn hiện giờ ở đâu, quả không dám giấu, vãn bối cũng biết. Thế nhưng người học võ chúng ta trọng nhất một chữ "nghĩa", Trương Thúy Sơn đầu có thể rơi, máu có thể đổ, nhưng chỗ ở của nghĩa huynh thì vãn bối quyết không thể thổ lộ. Việc này không liên quan gì đến ân sư, cũng không liên luỵ đến các huynh đệ đồng môn, chỉ một mình Trương Thúy Sơn đảm đương. Các vị nếu muốn lấy cái chết để ép buộc, định giết thì cứ việc ra tay. Họ Trương này bình sinh chưa làm việc gì tổn hại danh dự sư môn, cũng chưa từng giết lầm một người tốt, hôm nay các vị lại muốn ép tại hạ làm điều bất nghĩa, vậy chỉ còn một cái chết mà thôi.

Lời chàng thẳng thắn, đầy khí khái.

Không Văn thiền sư niệm "A Di Đà Phật!" nghĩ thầm: "Nghe y nói, xem chừng không phải giả dối, biết xử trí thế nào đây?"

Lúc đó, bên ngoài cửa sổ lớn của đại sảnh bỗng có tiếng gọi của con trẻ:

– Gia gia!

Trương Thúy Sơn giật mình, tiếng gọi vừa rồi chính là của Vô Kỵ, chàng nửa mừng nửa sợ, gọi to:

– Vô Kỵ, con về rồi đấy ư?

Chàng liền chạy ra. Bang Vu Sơn và Thần Quyền môn mỗi phái có một người đang đứng cạnh cửa, tưởng Trương Thúy Sơn định đào tẩu, cùng giơ tay cản lại, quát:

– Chạy đi đâu?

Trương Thúy Sơn đang gấp, hai vai hất một cái mà hai người kia đã văng ra xa hơn một trượng. Chàng chạy ra bên ngoài cửa sổ, chỉ thấy trống không, chẳng một bóng người, bèn gọi to:

– Vô Kỵ, Vô Kỵ!

Không có tiếng trả lời. Ân Tố Tố lúc này đã đỡ hẳn, ở hậu đường nghe tiếng phu quân gọi "Vô Kỵ" liền vội vàng chạy ra, run run hỏi:

– Vô Kỵ về rồi ư?

Trương Thúy Sơn nói:

– Ta vừa nghe như tiếng hài tử gọi, chạy ra thì không thấy đâu cả.

Ân Tố Tố thất vọng, nói nhỏ:

– Chắc tại chàng nhớ con quá nên nghe lầm thôi.

Trương Thúy Sơn lắc đầu:

– Rõ ràng ta nghe tiếng hài tử mà.

Chàng sợ thê tử ra ngoài để các tân khách trông thấy sẽ sinh rắc rối, vội nói:

– Nàng lui vào đi.

Chàng trở lại đại sảnh, hướng về phía Không Văn hành lễ, nói:

– Vãn bối nhớ thương khuyển tử, vừa rồi thất lễ, xin đại sư lượng thứ.

Không Trí nói:

– Thiện tai, thiện tai! Trương ngũ hiệp thương nhớ ái tử, vừa rồi không khác gì kẻ cuồng dại, không lẽ bao nhiêu người bị Tạ Tốn sát hại, họ không có phụ mẫu thê nhi hay sao?

Không Trí đại sư thân hình gầy nhỏ, nhưng tiếng nói vang như chuông, chấn động đại sảnh, khiến người nghe ù cả tai. Trương Thúy Sơn trong lòng bấn loạn, không biết trả lời ra sao.

Không Văn phương trượng quay sang Trương Tam Phong, nói:

– Trương chân nhân, việc hôm nay phải xử lý ra sao, xin Trương chân nhân chỉ giáo.

Trương Tam Phong nói:

– Gã tiểu đồ của lão phu tuy không tài cán gì, song không dám coi thường sư phụ, càng không dám nói dối ba vị cao tăng Thiếu Lâm, người của tiêu cục Long Môn và của quý phái quả thật không phải do hắn đả thương. Chỗ ở của Tạ Tốn, hắn không chịu tiết lộ.

Không Trí cười khẩy:

– Có người tận mắt mục kích Trương ngũ hiệp sát hại đệ tử môn hạ của phái Thiếu Lâm, chẳng lẽ đệ tử phái Võ Đang không dám nói dối, còn tăng nhân Thiếu Lâm lại bịa chuyện ư?

Nói đoạn vẫy tay trái một cái, từ sau lưng bước ra ba hòa thượng trung niên. Ba người đó đều chột mắt bên phải, chính là Viên Tâm, Viên Âm, Viên Nghiệp là mấy người đã bị Ân Tố Tố dùng ngân châm ném mù mắt trên bờ Tây Hồ phủ Lâm An.

Ba người đó theo Không Văn thiền sư lên núi Võ Đang, Trương Thúy Sơn đã sớm nhìn thấy, biết là họ đến để đối chất vụ án bên Tây Hồ; quả nhiên Không Trí đại sư nói chưa hết câu đã gọi họ ra. Trương Thúy Sơn cảm thấy thật khó xử, hung thủ giết người bên Tây Hồ tuy quả thực không phải là chàng, nhưng lại chính là người vợ đầu gối tay ấp của chàng. Phu thê tình sâu nghĩa nặng, làm sao không che chở cho nhau? Nhưng trong tình thế này, biết che chở sao đây?

Trong ba tăng nhân hàng chữ "Viên" kia, Viên Nghiệp là người tính tình nóng nảy nhất. Cứ tính khí đó, vừa thấy Trương Thúy Sơn là đã muốn xông vào động thủ thí mạng, song trước mắt sư bá, sư thúc, y phải cố nén giận, giờ nghe sư phụ gọi ra, y liền nói lớn:

– Trương Thúy Sơn, bên Tây Hồ phủ Lâm An, ngươi dùng độc châm bắn vào miệng Tuệ Phong giết chết Tuệ Phong, chính mắt ta trông thấy, không lẽ nói oan cho ngươi? Mắt phải của cả ba chúng ta đều bị ngươi dùng độc châm bắn mù, chẳng lẽ ngươi còn chối quanh?

Trương Thúy Sơn lúc này chỉ có thanh minh được chút nào hay chút ấy, chàng nói:

– Môn hạ Võ Đang chúng tôi tuy có học không ít loại ám khí, nhưng toàn là các ám khí lớn như cương tiêu, tụ tiễn. Bảy huynh đệ đồng môn chúng tôi hành tẩu giang hồ đã lâu, đã có ai thấy đệ tử Võ Đang sử dụng ngân châm, kim châm bao giờ chưa? Trên châm lại bôi thuốc độc lại càng không thể có chuyện đó.

Võ Đang thất hiệp trước nay xuất thủ quang minh chính đại, trong võ lâm ai nấy đều biết, nay bảo Trương Thúy Sơn dùng độc châm đả thương người, thì tân khách lên núi hôm nay khó mà tin được. Viên Nghiệp giận dữ nói:

– Việc đã rành rành, ngươi còn cố cãi ư? Tối đó ngươi dùng châm giết Tuệ Phong, ta và sư huynh Viên Tâm cùng nhìn thấy, nếu không phải ngươi thì còn ai vào đấy?

Trương Thúy Sơn nói:

– Quý phái có người bị hại, lại đến hỏi phái Võ Đang nói cho biết kẻ nào đả thương; thiên hạ lại có thứ quy củ như vậy sao?

Lời lẽ của chàng sắc bén, lanh lợi. Viên Nghiệp trong cơn cuồng nộ càng nói càng lộn xộn không đâu vào đâu, khiến cho một chuyện vốn rất có lý của phái Thiếu Lâm lại hóa thành thứ cưỡng từ đoạt lý.

Trương Tòng Khê tiếp lời:

– Viên Nghiệp sư huynh, việc mấy vị tăng nhân Thiếu Lâm bị kẻ nào sát hại, rốt cuộc chưa xác định rõ ràng. Còn việc tệ sư huynh Du Đại Nham thì hiển nhiên là bị "Kim cương chỉ lực" của phái Thiếu Lâm đả thương. Các vị tới thật đúng lúc, chúng tôi chính đang muốn hỏi, kẻ dùng Kim cương chỉ lực đả thương Du tam ca của tại hạ là ai?

Viên Nghiệp ấp úng nói:

– Không phải ta.

Trương Tòng Khê cười khẩy:

– Tại hạ cũng biết không phải đại sư, vì đại sư chắc gì luyện được công phu đó.

Ngừng một lát, chàng nói tiếp:

– Nếu như tam sư ca của tại hạ đang khỏe mạnh, mà động thủ với cao thủ của quý phái, có bị đả thương bởi Kim cương chỉ lực, thì cũng chỉ trách tam sư ca học nghệ chưa tinh, bởi vì đã ra tay đánh nhau, ắt có bên bị thương, chuyện ấy dĩ nhiên. Không lẽ trước khi tỷ thí, phải làm giấy bảo đảm không được đụng tới sợi lông hay sao? Đằng này khi đó tam sư ca của tại hạ đang cơn trọng bệnh, thân thể không cử động được, vậy mà vị đệ tử phái Thiếu Lâm nọ lại dùng Kim cương chỉ lực bẻ gãy tứ chi của tam sư ca tại hạ chỉ cốt tra hỏi thanh đao Đồ Long ở đâu.

Nói tới đây, chàng cao giọng:

– Thiết tưởng phái Thiếu Lâm võ công đứng đầu thiên hạ, sớm đã thành võ lâm chí tôn rồi, sao lại cứ phải đoạt cho bằng được thanh đao Đồ Long kia chứ? Huống hồ thanh đao Đồ Long ấy, Du tam ca của tại hạ cũng chỉ nhìn thấy có một lần mà đệ tử quý phái dùng cực hình tra hỏi như thế thì thủ đoạn thật quá sức tưởng tượng. Du Đại Nham có chút uy danh trên giang hồ, bình sinh hành hiệp trượng nghĩa, làm không ít điều hay cho võ lâm, lại bị phái Thiếu Lâm hại thành suốt đời tàn phế, mười năm nay nằm liệt một chỗ. Chúng tôi đang muốn hỏi ba vị thần tăng tính xử thế nào đây?

Về vụ Du Đại Nham bị đả thương, tiêu cục Long Môn bị thảm sát, hai phái Thiếu Lâm và Võ Đang suốt mười năm qua đã tốn không biết bao lần lời qua tiếng lại, chỉ vì Trương Thúy Sơn mất tích cho nên vẫn chưa xử lý được. Trương Tòng Khê thấy Không Trí, Viên Nghiệp hung hăng truy vấn, bèn đưa vụ công án này ra.

Không Văn thiền sư nói:

– Việc này lão nạp từng nói rồi, lão nạp có tra hỏi kỹ càng đệ tử bổn phái, không một ai đả thương Du tam hiệp cả.

Trương Tòng Khê thò tay vào bọc lấy ra một thỏi vàng Nguyên Bảo, trên đó còn in hằn rõ ràng vết ngón tay, nói lớn:

– Mời anh hùng thiên hạ cùng xem, kẻ đả thương Du tam ca của tại hạ là đệ tử phái Thiếu Lâm, đã in dấu tay trên thỏi vàng này. Trừ Kim cương chỉ lực của phái Thiếu Lâm, còn nhà nào, phái nào có môn võ công như thế?

Viên Âm, Viên Nghiệp kết tội Trương Thúy Sơn chẳng qua chỉ bằng lời nói. Trương Tòng Khê lại có vật chứng đưa ra, so với lời nói suông, quả là có sức thuyết phục hơn nhiều.

Không Văn nói:

– Thiện tai, thiện tai! Luyện thành Kim cương chỉ lực của bổn phái, ngoài sư huynh sư đệ ba bần tăng, chỉ còn ba vị trưởng lão tiền bối, song ba vị tiền bối đó mấy chục năm nay không ra khỏi cổng Thiếu Lâm tự, làm sao có thể đả thương Du tam hiệp?

Mạc Thanh Cốc đột nhiên nói xen vào:

– Đại sư không tin lời ngũ sư ca chúng tôi, bảo đó là lời chối của một bên; thế lời đại sư vừa nói không phải là lời chối của một bên đó sao?

Không Văn thiền sư có hàm dưỡng rất cao, nghe Mạc Thanh Cốc nói móc họng như thế, vẫn không giận, chỉ nói:

– Mạc thất hiệp không chịu tin lời lão nạp, lão nạp chả còn cách nào khác.

Mạc Thanh Cốc nói:

– Vãn bối làm sao dám không tin lời thiền sư? Có điều thế sự biến ảo, đúng sai thật giả lẫn lộn, nhiều khi không ai ngờ nổi. Các vị cứ khăng khăng bảo mấy vị cao tăng Thiếu Lâm bị tệ ngũ sư ca đả thương; chúng tôi thì khẳng định tệ tam sư ca bị Kim Cương chỉ lực của cao thủ quý phái làm hại, xem ra việc này có nhiều uẩn khúc, bí mật. Theo thiển ý của vãn bối, việc này để từ từ bàn tính, tránh làm tổn thương hòa khí hai phái Thiếu Lâm, Võ Đang. Xử lý một cách nóng nảy tùy tiện, sau này chân tướng lộ ra, chỉ e hối hận không kịp.

Không Văn gật đầu, nói:

– Mạc thất hiệp nói rất phải.

Không Trí cao giọng nói:

– Chẳng lẽ mối huyết hải trầm oan của Không Kiến sư huynh không được nói đến nữa sao? Trương ngũ hiệp, vụ tiêu cục Long Môn, tạm thời chưa hỏi tới, nhưng còn chỗ ở của Tạ Tốn thì hôm nay nhất định Trương ngũ hiệp phải nói, không nói không được.

Du Liên Châu từ đầu vẫn ngồi im, lúc này thấy cục diện đã thành chuyện, bèn lớn tiếng hỏi:

– Nếu thanh đao Đồ Long không còn ở trong tay Tạ Tốn, liệu đại sư có nóng lòng tìm chỗ ở của y nữa chăng?

Chàng chỉ nói vài lời ngắn gọn nhưng câu hỏi quá lợi hại, rõ ràng ngụ ý chỉ trích Không Trí dòm ngó bảo vật, lòng vẫn còn tham.

Không Trí cả giận, đập tay xuống bàn một cái, nghe rắc rắc, bốn cái chân bàn cùng gãy, mặt bàn vỡ toác, bụi bay tung tóe, uy lực của một chưởng thật kinh người, đoạn đại sư quát lớn:

– Nghe đồn võ công của Trương chân nhân bắt nguồn từ Thiếu Lâm, trò giỏi hơn thầy. Bần tăng ngưỡng mộ đã lâu, chẳng hiểu lời đồn có đúng sự thực hay không. Hôm nay trước mắt anh hùng thiên hạ, bần tăng mạo muội mời Trương chân nhân chỉ giáo một phen.

Lời vừa dứt, quần hào trong sảnh đều xôn xao. Trương Tam Phong thành danh đã bảy mươi năm, những ai từng động thủ với Trương chân nhân đều chết cả rồi. Võ công của Trương lão rốt cuộc cao đến mức nào, trong võ lâm chỉ lưu truyền các truyền thuyết mà thôi; ngoài bảy đệ tử đích truyền ra, không một ai thấy tận mắt. Bọn Tống Viễn Kiều danh vang thiên hạ, đệ tử đã thế, bản lĩnh của sư phụ khỏi cần nói cũng biết. Những người không thuộc hai phái Thiếu Lâm, Võ Đang nghe Không Trí công khai khiêu chiến với Trương Tam Phong, ai nấy đều phấn chấn, nghĩ thầm hôm nay được xem các đệ nhất cao thủ đương thời hiển thị võ công, quả không uổng một chuyến đi.

Tất cả mọi người cùng chú mục vào Trương Tam Phong, chờ xem Trương chân nhân có nhận lời thách đấu hay không, chỉ thấy Trương lão mỉm cười, không trả lời.

Không Trí nói:

– Trương chân nhân võ công cái thế, vô địch thiên hạ. Sư huynh đệ bần tăng tự biết không phải là đối thủ của Trương chân nhân. Nhưng sự thể đến nước này, cuộc tranh cãi giữa quý phái và tệ phái nếu không dựa vào võ công phân để định mạnh yếu thì không còn cách nào khác. Sư huynh sư đệ chúng tôi không tự lượng sức, muốn liên thủ xin Trương chân nhân chỉ giáo. Trương chân nhân cao hơn chúng tôi hai bậc, nếu lấy một chọi một, e rằng quá bất kính với Trương chân nhân.

Mọi người nghĩ thầm: "Đại sư nói nghe rất ngọt, thực chất là lấy ba đánh một. Trương chân nhân võ công tuy cao siêu, nhưng tuổi hạc tròn trăm, tinh lực đã suy, chắc gì địch nổi ba đại thần tăng Thiếu Lâm liên thủ hợp lực".

Du Liên Châu nói:

– Hôm nay là mừng đại thọ bách tuế của gia sư, há có thể động thủ với tân khách?

Mọi người nghe tới đây, đều nghĩ thầm: "Phái Võ Đang quả nhiên không dám ứng chiến". Nào ngờ Du Liên Châu nói tiếp:

– Huống hồ chính Không Trí đại sư vừa nói, gia sư và ba vị thần tăng vai vế không hợp, nếu tỷ thí thật sự, chỉ e mang tiếng ỷ lớn hiếp nhỏ. Song các cao thủ Thiếu Lâm đã thách đấu, Võ Đang thất đệ tử xin được lĩnh giáo võ học tinh diệu của mười hai vị cao tăng phái Thiếu Lâm.

Mọi người nghe nói thế lại xôn xao cả lên. Không Văn, Không Trí, Không Tính, mỗi người dẫn theo ba đệ tử lên núi, tổng cộng mười hai tăng nhân Thiếu Lâm. Mọi người đều biết Du Đại Nham toàn thân tàn phế, Võ Đang thất hiệp chỉ còn lại sáu người, lấy sáu địch mười hai, tức là lấy một chọi hai. Du Liên Châu sắp trận như thế, có thể nói đã đặt phái Võ Đang cao hơn phái Thiếu Lâm.

Kiến nghị của Du Liên Châu xem ra có phần mạo hiểm, thực là bị ép nên bất đắc dĩ phải tính như thế. Chàng biết ba đại thần tăng Thiếu Lâm kia nếu xét cả công lực lẫn độ tuổi đều cao hơn huynh đệ chàng, họ tu luyện lâu hơn. Nếu một đấu một, đại sư ca Tống Viễn Kiều có thể ngang ngửa với mỗi vị bên đó. Bản thân chàng vết thương mới khỏi, chưa chắc địch nổi một vị thần tăng. Còn vị thứ ba, dù Trương Tòng Khê, Ân Lê Đình hay Mạc Thanh Cốc, đều nắm chắc thua. Chàng xếp đấu như thế, tuy là sáu huynh đệ đấu với mười hai cao tăng, thực ra chín đệ tử trong mười hai vị không có gì đáng ngại, tưởng là phái Võ Đang lấy ít địch nhiều, kỳ thực sáu đệ tử Võ Đang đấu với ba đại thần tăng Thiếu Lâm.

Không Trí lẽ nào không biết điều đó, hừm một tiếng, nói:

– Nếu Trương chân nhân không chịu chỉ giáo thì ba chúng tôi xin thỉnh giáo ba người trong Võ Đang lục hiệp, ba trận phân thắng bại, bên nào thắng hai là được.

Trương Tòng Khê nói:

– Không Trí đại sư nói một chọi một, thế cũng được. Có điều huynh đệ bảy người chúng tôi, trừ tam ca Du Đại Nham bị đệ tử phái Thiếu Lâm hạ độc thủ, không ngồi dậy được, sáu người còn lại không ai chịu lùi cả. Vậy hãy đấu sáu trận phân thắng bại, sáu đệ tử Võ Đang nghênh chiến sáu vị cao tăng Thiếu Lâm, trong sáu trận bên nào thắng bốn là được.

Mạc Thanh Cốc tiếp lời, nói to:

– Cứ làm như thế, nếu phái Võ Đang thua, Trương ngũ ca sẽ nói cho phương trượng Thiếu Lâm tự biết chỗ ở của Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn. Nếu phái Thiếu Lâm nhường nhịn, thì xin ba vị thần tăng dẫn toàn bộ các vị bằng hữu mượn danh bái thọ, thực ra là đến gây sự, xuống núi cho rồi!

Trương Tòng Khê đưa ra cách sáu người đánh từng cặp như thế, có thể nói là chắc chắn không thua. Chàng tính rằng đại sư ca và nhị sư ca võ công ngang ngửa với ba vị thần tăng, các cao tăng Thiếu Lâm còn lại chắc chắn sẽ thua cả ba trận.

Không Trí lắc đầu:

– Không được, không được!

Nhưng vì sao không được, lại không thể nói rõ ra.

Trương Tòng Khê nói:

– Ba vị đòi đấu với gia sư, lấy ba đánh một. Đến khi chúng tôi kiến nghị lấy sáu người đấu với mười hai vị cao tăng Thiếu Lâm thì Không Trí đại sư lại muốn một chọi một. Chúng tôi bằng lòng một chọi một, đại sư lại bảo là không được. Nếu vậy, để một mình vãn bối đấu với ba vị đại thần tăng Thiếu Lâm, chắc là được chứ gì? Ba vị đánh chết vãn bối, thế là phái Thiếu Lâm toàn thắng, tha hồ đắc chí!

Không Trí nghe vậy biến sắc. Không Văn miệng niệm "A Di Đà Phật!", Không Tính từ đầu chưa nói gì, bây giờ lên tiếng:

– Hai vị sư ca, Trương tứ hiệp muốn một mình đấu với ba chúng ta, vậy thì tiến lên thôi!

Không Tính võ công tuy cao, nhưng xuất gia từ nhỏ, không hiểu thế sự, không hiểu nổi ý châm biếm giễu cợt của Trương Tòng Khê. Không Văn nói:

– Sư đệ im lặng thì hơn.

Đoạn quay sang Tống Viễn Kiều, nói:

– Vậy thì sáu tăng nhân Thiếu Lâm lĩnh giáo cao chiêu của Võ Đang lục hiệp, một trận định hơn thua.

Tống Viễn Kiều nói:

– Không phải Võ Đang lục hiệp, mà là Võ Đang thất hiệp.

Không Trí kinh ngạc, hỏi:

– Tôn sư Trương chân nhân cũng hạ trường ư?

Tống Viễn Kiều nói:

– Đại sư đoán sai rồi. Những ai động thủ với gia sư, đều đã quy tiên hết rồi. Gia sư lẽ nào còn phải ra tay? Du tam đệ của tại hạ tuy trọng thương, không thể cử động, y cũng chưa có đệ tử, nhưng sư huynh sư đệ bảy người chúng tôi trước nay luôn là một, hôm nay là ngày tử sinh vinh nhục, y đời nào có thể bỏ mặc? Tại hạ sẽ bảo y tạm thời tìm một người nào đấy, mách cho vài chiêu, coi như thay y ra đấu. Võ Đang thất đệ tử đấu với các vị cao tăng Thiếu Lâm, quý vị muốn bảy người ra đấu, hoặc mười hai người ra đấu cũng được, chẳng có gì khác biệt cả.

Không Văn trầm ngâm, nghĩ thầm: "Phái Võ Đang trừ Trương Tam Phong và bảy đệ tử ra, không nghe nói có cao thủ nào nữa. Y tìm tạm một người, mách cho vài nước, thì làm sao giỏi được? Nếu mời cao thủ của phái khác ra giúp, thì đâu còn là cuộc hội chiến giữa hai phái Võ Đang với Thiếu Lâm? Chắc là y chỉ muốn bảo toàn uy danh của Võ Đang thất hiệp nên nói thế đấy thôi". Vậy là gật đầu, nói:

– Được rồi, bảy tăng nhân Thiếu Lâm sẽ đấu với Võ Đang thất hiệp.

Bọn Du Liên Châu, Trương Tòng Khê hiểu ngay lập tức dụng ý của Tống Viễn Kiều.

Nguyên Trương Tam Phong có một pho võ công rất đắc ý gọi là "Chân Võ thất tiệt trận". Trên núi Võ Đang thờ Chân Võ đại đế. Một hôm Trương Tam Phong nhìn thấy hai vị tướng Quy và Xà trước tượng thần, nghĩ đến chỗ Trường Giang và Hán Thủy hội lưu có Quy Sơn và Xà Sơn, thầm nghĩ trường xà linh động, ô quy lại vững vàng, một Quy một Xà ở hai bên tả hữu Chân Võ đại đế chính là kiêm thu hai tính chất ấy của hai con vật tối linh thiêng. Trương Tam Phong liền ngày đêm đi một mạch đến Hán Dương, ngắm kỹ hai núi Quy, Xà, từ cái thế uyển chuyển của Xà sơn đến cái hình trang trọng vững vàng của Quy sơn mà sáng tạo ra một pho võ công tinh diệu vô song.

Chỉ có điều thế núi của hai ngọn Quy, Xà quá hùng vĩ, sơn mạch quá rộng lớn bao la, môn võ công rút từ đó ra một người không tài nào thi triển cùng một lúc cho hết được. Trương Tam Phong đứng trên bến sông Trường Giang ba ngày đêm liền không ăn không uống, cố nghĩ cách xử lý nan đề này. Tới sáng sớm ngày thứ tư, khi mặt trời vừa từ phương đông nhô lên, chiếu trên mặt sông thành muôn ngàn con rắn vàng chuyển động loang loáng, Trương Tam Phong đột nhiên tỉnh ngộ, cười ha hả, trở về núi Võ Đang, gọi bảy đệ tử lại truyền cho mỗi người một pho võ công.

Bảy pho võ công đó dùng riêng rẽ cũng đã tinh vi huyền diệu, song nếu hai người hợp lực, sư huynh sư đệ hỗ trợ nhau, công thủ kiêm bị, uy lực sẽ gia tăng rất lớn. Nếu ba người hợp lực, uy lực sẽ tăng gấp đôi so với hai người. Bốn người sẽ tương đương tám cao thủ, năm người bằng mười sáu cao thủ, sáu người bằng ba mươi hai cao thủ. Nếu bảy người hợp lực, thì ngang với sáu mươi tư đệ nhất cao thủ đương thế cùng ra tay. Hiện thời, nếu gọi là đệ nhất cao thủ trong thiên hạ nhiều lắm chỉ được vài ba chục người, làm gì có cơ duyên để họ tụ hội cùng một nơi; dù có tụ hội đi chăng nữa, ngần ấy người có chính có tà, có thiện có ác, làm sao đồng tâm hợp lực kia chứ?

Pho võ công đó của Trương Tam Phong được sáng chế từ hình ảnh hai tướng Quy, Xà dưới chân Chân Võ đại đế, được đặt tên là "Chân Võ thất tiệt trận". Ba ngày đêm khổ công suy nghĩ bên bến sông chính là để giải quyết cái khó khăn làm sao giữ kín bên phía đông mà không bị hở phía tây, lại bảo toàn được cả phía nam phía bắc, không cho kẻ địch thừa cơ tấn công. Sau đó vỡ lẽ ra, cho bảy đệ tử cùng thi triển mới giải quyết xong cái khó. Có điều Chân Võ thất tiệt trận không thể chỉ do một người thi triển, đó là thiếu sót lớn. Nhưng lại nghĩ thầm: "Nếu một người sử dụng được toàn bộ pho Chân Võ thất tiệt trận, chẳng hóa ra một người địch nổi sáu mươi tư đệ nhất cao thủ, thì thật là hoang đường cuồng vọng". Nghĩ tới đó, Trương Tam Phong không khỏi bật cười.

Võ Đang thất hiệp từ khi thành danh đến nay hễ đến đâu cũng chiếm thượng phong, kẻ địch lợi hại cỡ nào cũng chỉ cần hai ba người liên thủ là đều chiến thắng, thành thử cả pho Chân Võ thất tiệt trận chưa hề được sử dụng lần nào. Lúc này Tống Viễn Kiều thấy đại địch trước mắt, ba vị đại thần tăng Thiếu Lâm kia công lực thế nào chưa ai hay biết, nghĩ mình có thể đấu ngang ngửa với một vị, song cũng chỉ là tự mình nghĩ thế, e rằng đụng trận rồi mình lại thua không chừng, thế nên mới tính chuyện đem ra thử Chân Võ thất tiệt trận, pho võ công trấn sơn chí bảo của phái Võ Đang.

Nghe Không Văn đại sư bằng lòng đưa bảy tăng nhân Thiếu Lâm đấu với Võ Đang thất hiệp, Tống Viễn Kiều bèn nói:

– Xin các vị đợi một lát, tại hạ vào bảo tam sư đệ tìm tạm truyền nhân, cho đủ số Võ Đang thất đệ tử.

Đoạn đưa mắt ra hiệu cho bọn Du Liên Châu, cả sáu huynh đệ cúi chào Trương Tam Phong cáo lui, đi vào nội đường.

Mạc Thanh Cốc lên tiếng trước tiên:

– Đại sư ca, hôm nay chúng ta hãy sử dụng "Chân Võ thất tiệt trận" cho các hòa thượng Thiếu Lâm tự biết bản lĩnh của Võ Đang đệ tử đi! Vậy ai sẽ thay tam ca?

Tống Viễn Kiều nói:

– Việc này cả sáu huynh đệ cùng quyết định. Đừng ai nói ra vội, mỗi người hãy viết một cái tên vào lòng bàn tay, rồi mọi người cùng xem đó là ai.

Mạc Thanh Cốc nói:

– Hay lắm!

Liền lấy bút ra đưa cho các sư huynh. Tống Viễn Kiều viết trong lòng bàn tay một cái tên, nắm tay lại, đưa bút cho Du Liên Châu. Mọi người viết xong, cùng mở bàn tay ra, thấy Tống Viễn Kiều, Du Liên Châu, Trương Tòng Khê ba người viết chữ "Ngũ đệ muội", Trương Thúy Sơn thì viết chữ "Chuyết kinh" [45], Ân Lê Đình vẫn cứ nắm tay chưa chịu mở ra, mặt đỏ bừng. Mạc Thanh Cốc nói:

– Ồ, lạ chưa!

Đoạn cậy tay Ân Lê Đình cho mở ra, thấy trong đó viết ba chữ "Kỷ cô nương".

Trương Thúy Sơn rất cảm kích, nắm chặt tay Ân Lê Đình, nói:

– Lục đệ!

Mọi người đều biết Ân Lê Đình ngại Ân Tố Tố vừa mới khỏi bệnh, không tiện ra tỷ thí, nên muốn mời vị hôn thê của mình là Kỷ Hiểu Phù đấu thay. Mạc Thanh Cốc toan cười chế giễu, Trương Thúy Sơn liền đưa mắt ngăn lại. Tống Viễn Kiều nói:

– Ngũ đệ, vào mời đệ muội ra đây.

Trương Thúy Sơn đi về phòng mình, gọi nàng ra chỗ mấy huynh đệ, nói vắn tắt cho nàng rõ tình hình trong đại sảnh. Ân Tố Tố nói:

– Hết thảy mọi người ở tiêu cục Long Môn cùng mấy hòa thượng Thiếu Lâm tự đều do muội sát hại, lúc đó muội chưa quen biết ngũ ca, việc này không nên để liên lụy các vị sư huynh sư đệ phái Võ Đang. Muội sẽ ra bảo họ đi tìm Thiên Ưng giáo mà thanh toán với phụ thân muội là xong.

Trương Tòng Khê nói:

– Đệ muội, việc đến nước này không nên phân biệt là của mình hay của người khác nữa. Huống hồ theo ý ngu huynh thì bọn người kia lên núi hỏi chuyện tiêu cục Long Môn chỉ là phụ, cái chính là tìm tung tích Tạ Tốn, hơn nữa, trong việc tìm Tạ Tốn, việc báo thù chỉ là phụ, cướp lại thanh đao Đồ Long mới là chính.

Mạc Thanh Cốc nói:

– Tứ ca nói không sai chút nào; bọn họ chỉ nhòm ngó thanh đao Đồ Long, dù gì chăng nữa, họ cũng nhất quyết bức ngũ tẩu nói ra thanh bảo đao ấy đang ở đâu.

Trương Thúy Sơn nói:

– Năm xưa Không Kiến đại sư từng nói với nghĩa huynh Tạ Tốn của đệ, rằng trong thanh đao Đồ Long có giấu một pho võ công vô địch thiên hạ, trấn nhiếp võ lâm. Không Kiến đã biết thì chắc Không Văn, Không Trí, Không Tính cũng biết cả.

Ân Tố Tố nói:

– Nếu vậy, mọi việc cứ do đại ca định liệu. Có điều muội võ công thấp kém, trong giây lát làm sao lĩnh hội được sự tinh diệu của Chân Võ thất tiệt trận?

Tống Viễn Kiều nói:

– Thực ra sáu huynh đệ ta liên thủ đối phó với bảy tăng nhân Thiếu Lâm cũng nắm chắc phần thắng rồi. Có điều đệ muội sẽ ra đấu với thân phận truyền nhân của tam đệ thì tam đệ sẽ cảm thấy được an ủi.

Võ Đang lục hiệp tâm ý tương đồng. Sở dĩ muốn Ân Tố Tố tham dự, chẳng phải để chế ngự kẻ địch mà chỉ vì Du Đại Nham. Nên biết Võ Đang lục hiệp hợp lực thi triển Chân Võ thất tiệt trận đã có đủ uy lực để chống chọi ba mươi hai đệ nhất cao thủ, ba vị thần tăng Thiếu Lâm dù cao cường, các đệ tử dẫn theo dù có chân tài chưa lộ thì bảy người bên ấy cũng không thể nào tương đương ba mươi hai đệ nhất cao thủ, cái đó là điều chắc chắn. Pho Chân Võ thất tiệt trận từ khi được sư phụ truyền thụ đến nay, chưa sử dụng lần nào, hôm nay nếu đánh bại ba đại thần tăng phái Thiếu Lâm, mà Du Đại Nham không được chung niềm vui đó ắt hẳn trong lòng sẽ không khỏi uất ức. Huynh đệ Tống Viễn Kiều muốn Ân Tố Tố học Du Đại Nham vài chiêu, nói là thay mặt sư ca nhưng sau này giang hồ sẽ loan truyền rằng Du Đại Nham không xuất thủ mà cũng như xuất thủ, vẫn đủ Võ Đang thất hiệp.

Nỗi niềm tâm sự đó của huynh đệ Tống Viễn Kiều, chỉ sau vài lời là Ân Tố Tố hiểu ngay, nàng nói:

– Được rồi, vậy để muội xin tam ca dạy cho vài chiêu. Có điều công phu của muội thua kém các vị quá xa, chỉ mong không làm vướng tay vướng chân các vị thôi.

Ân Lê Đình nói:

– Không sao, ngũ tẩu chỉ cần nhớ phương vị và bước chân là đủ. Lúc giao đấu có quên, mọi người sẽ nhắc cho.

Cả bảy người liền đi vào phòng Du Đại Nham. Trương Thúy Sơn sau khi về núi đã vài lần trò chuyện với tam sư ca, riêng Ân Tố Tố đang bệnh nên đây là lần đầu tiên nàng gặp Du Đại Nham.

Du Đại Nham thấy nàng dung nhan mỹ lệ, cử chỉ ôn nhã thì rất mừng cho ngũ đệ, nghe Tống Viễn Kiều bảo rằng nàng sẽ thay chàng tham gia Chân Võ thất tiệt trận giao đấu với ba đại thần tăng Thiếu Lâm, chợt cảm thấy chua xót trong lòng. Nhưng chàng tàn phế đã mười năm, đã quen với mọi thứ, bèn mỉm cười, nói:

– Ngũ đệ muội, tam ca chẳng có thứ quà gì tặng ngũ đệ muội, lúc này gấp gáp, chỉ có thể truyền cho ngũ đệ muội phương vị bộ pháp của trận thế mà thôi. Đợi sau khi đánh lui quân địch, tam ca sẽ nói dần dần cho ngũ đệ muội biết các biến hóa và cách tập luyện trận pháp.

Ân Tố Tố vui mừng nói:

– Đa tạ tam ca.

Đây là lần đầu tiên Du Đại Nham nghe giọng nói của Ân Tố Tố. Vừa nghe bốn tiếng "Đa tạ tam ca", lập tức các bắp cơ trên mặt chàng giựt giựt, hai mắt mở trừng trừng, ngưng thần suy tư. Trương Thúy Sơn lo lắng hỏi:

– Tam ca, tam ca không khỏe ư?

Du Đại Nham không đáp, chỉ đờ đẫn xuất thần, ánh mắt lộ vẻ khó tả, vừa thống khổ, vừa oán hận, hiển nhiên là chàng đang nhớ lại một chuyện vô cùng bi thương trong đời.

Trương Thúy Sơn quay sang nhìn vợ, thấy nàng thần sắc đại biến, vẻ mặt hoảng hốt, đầy lo lắng.

Huynh đệ Tống Viễn Kiều, Du Liên Châu nhìn Du Đại Nham, lại nhìn Ân Tố Tố, chưa hiểu tại sao hai người bỗng dưng thần sắc như thế, đều cảm thấy có chuyện chẳng lành, nhất thời căn phòng im phăng phắc, tưởng chừng nghe rõ cả tiếng tim đập vậy.

Chỉ thấy Du Đại Nham hơi thở mỗi lúc thêm dồn dập, hai gò má nhợt nhạt chợt thoáng hiện sắc hồng, lên tiếng hỏi nhỏ:

– Ngũ đệ muội, hãy lại gần đây cho ta nhìn kỹ một chút.

Ân Tố Tố run rẩy, không dám lại gần, giơ tay nắm chặt lấy tay phu quân.

Lát sau, Du Đại Nham thở dài, nói:

– Ngũ đệ muội không lại gần cũng chẳng sao, ngày hôm ấy, ta cũng đâu có nhìn thấy mặt ngũ đệ muội. Bây giờ ngũ đệ muội hãy thử nhắc lại mấy câu này "Thứ nhất, chính Đô tổng tiêu đầu phải đi áp tải chuyến này. Thứ hai, từ phủ Lâm An đến phủ Tương Dương, Hồ Bắc, phải đi suốt ngày đêm không nghỉ, nội trong mười ngày phải đưa đến nơi. Nếu có nửa phần sai sót, chậm trễ, hì hì, đừng nói tính mạng của Đô tổng tiêu đầu đã đành, mà toàn bộ già trẻ lớn bé ở tiêu cục Long Môn cũng sẽ không một ai được sống sót".

Mọi người nghe Du Đại Nham nói chậm rãi từng lời, bất giác đều toát mồ hôi lạnh.

Ân Tố Tố tiến lên một bước, nói:

– Tam ca, quả nhiên tam ca đã nhận ra giọng nói của muội. Hôm đó tại tiêu cục Long Môn phủ Lâm An, người ủy thác cho Đô Đại Cẩm đưa tam ca về núi Võ Đang chính là tiểu muội.

Du Đại Nham nói:

– Đa tạ hảo tâm của đệ muội.

Ân Tố Tố nói:

– Sau đó tiêu cục Long Môn hành sự không chu đáo, khiến tam ca ra nông nỗi này, nên tiểu muội đã giết sạch già trẻ lớn bé của tiêu cục đó.

Du Đại Nham lạnh lùng hỏi:

– Vì cớ gì đệ muội lại đối đãi với ta như vậy?

Ân Tố Tố vẻ mặt rầu rĩ, thở dài, nói:

– Tam ca, việc đã thế này, tiểu muội cũng chả giấu được nữa. Song tiểu muội phải nói trước, sở dĩ chưa cho Thúy Sơn biết, là vì.. sợ rằng.. sợ rằng khi biết rồi, ngũ ca sẽ.. không còn thương yêu tiểu muội nữa.

Du Đại Nham thản nhiên nói:

– Vậy thì đệ muội khỏi cần nói ra làm gì. Đằng nào thì ta cũng đã thành kẻ tàn phế, chuyện cũ khỏi cần truy cứu làm chi cho tổn hại tình nghĩa phu phụ của đệ muội. Các vị đi cả đi! Võ Đang lục hiệp đấu với các cao tăng Thiếu Lâm đã chắc thắng rồi, hà tất phải chừa cho ta chút hư danh làm gì.

Du Đại Nham tính nết cứng cỏi, từ ngày bị thương không hề rên rỉ oán thán, đúng ra chàng không nói được, may nhờ Trương Tam Phong chữa trị, truyền nội lực tu tập mấy chục năm vào cơ thể chàng, cuối cùng chàng có thể nói năng; nhưng sự việc ngày trước xảy ra như thế nào, chàng không hề nhắc đến; mãi hôm nay chàng mới thốt ra vài câu bi phẫn. Mấy sư huynh sư đệ nghe không khỏi bồi hồi chua xót, Ân Lê Đình nhịn không được khóc òa lên.

Ân Tố Tố nói:

– Tam ca, thực ra tam ca thừa biết rồi, chỉ vì nghĩ đến tình nghĩa huynh đệ với Thúy Sơn mà không nói ra thôi. Tam ca, hôm đó trên sông Tiền Đường, người ẩn trong khoang thuyền dùng Văn tu châm đả thương tam ca chính là tiểu muội..

Trương Thúy Sơn quát:

– Tố Tố, có thực là nàng? Nàng.. nàng.. Tại sao nàng không nói sớm?

Ân Tố Tố nói:

– Thủ phạm đích danh đả thương tam sư ca của chàng lại là thiếp, làm sao thiếp dám nói cho chàng biết?

Rồi nàng quay sang nói với Du Đại Nham:

– Tam ca, tiếp đó kẻ dùng Thất tinh đinh làm cho tam ca bị thương ở lòng bàn tay, đánh lừa tam ca để đoạt lấy thanh đao Đồ Long, chính là anh ruột tiểu muội, Ân Dã Vương. Thiên Ưng bổn giáo vốn không có thù oán gì với phái Võ Đang, lấy được thanh đao Đồ Long rồi, lại kính nể tam ca là một trang hảo hán nên mới ủy thác cho tiêu cục Long Môn đưa tam ca về núi Võ Đang. Còn việc dọc đường xảy ra sóng gió thì tiểu muội không tiên liệu được.

Trương Thúy Sơn toàn thân run rẩy, mắt như muốn tóe lửa, chỉ mặt Ân Tố Tố, nói:

– Nàng.. sao nàng lại có thể lừa dối ta đến thế!

Du Đại Nham đột nhiên thét lên một tiếng, thân mình bật lên cao khỏi giường rồi rơi phịch xuống, bốn miếng ván giường gãy đôi, rồi ngất đi.

Ân Tố Tố rút thanh bội kiếm, xoay ngược chuôi đưa cho Trương Thúy Sơn, nói:

– Ngũ ca, chàng với thiếp mười năm vợ chồng, thiếp được chàng thương yêu, tình sâu nghĩa nặng, hôm nay dẫu chết cũng không oán hận gì. Chàng hãy giết thiếp đi cho vẹn toàn tình nghĩa Võ Đang thất hiệp.

Trương Thúy Sơn cầm lấy thanh kiếm, toan đâm thẳng một nhát vào ngực Ân Tố Tố, thế nhưng trong giây lát tình cảm phu thê suốt mười năm đằm thắm, tình ý ngọt ngào giờ đây chợt trào dậy trong lòng, bảo chàng làm sao đang tâm đâm nhát kiếm đó?

Chàng bàng hoàng ngơ ngẩn, đột nhiên rống lên, chạy ra ngoài. Ân Tố Tố, Tống Viễn Kiều cả bọn sáu người không biết chàng muốn gì nên cùng chạy theo. Chỉ thấy Trương Thúy Sơn chạy ra đại sảnh, quỳ trước mặt Trương Tam Phong, nói:

– Ân sư, đệ tử đã làm một việc sai trái rất lớn, không thể vãn hồi, đệ tử chỉ cầu xin ân sư một điều.

Trương Tam Phong chưa biết nguyên do, hiền từ nói:

– Muốn điều gì ngươi cứ nói ra, sư phụ nhất định sẽ đáp ứng.

Trương Thúy Sơn rập đầu ba lần, nói:

– Đa tạ ân sư. Đệ tử có một độc sinh ái tử đã bị rơi vào tay kẻ gian, xin ân sư cứu hài tử thoát khỏi bọn tà ma, nuôi dưỡng nó nên người.

Chàng đứng lên, tiến vài bước về phía Không Văn đại sư, Thiết Cầm tiên sinh Hà Thái Xung, Quan Năng phái Không Động, Tĩnh Huyền sư thái phái Nga Mi, nói lớn:

– Mọi tội nghiệt đều do một mình Trương Thúy Sơn này gây ra. Đại trượng phu mình làm mình chịu. Hôm nay sẽ để cho các vị được thỏa dạ.

Nói đoạn đưa thanh kiếm lên cổ cắt ngang một nhát, máu tươi vọt ra, chết tức thì.

Trương Thúy Sơn nhất quyết tìm cái chết, biết rằng một khi mình giơ kiếm để tự vẫn, sư phụ và huynh đệ đồng môn sẽ ra tay ngăn cản, cho nên chàng đứng giữa đám tân khách, nói dứt câu là ra tay luôn.

Trương Tam Phong, Du Liên Châu, Trương Tòng Khê, Ân Lê Đình bốn người cùng kêu lên kinh hoàng và lao tới. Chỉ nghe "bình bình bình" mấy tiếng liên tiếp, bảy tám tân khách vây quanh Trương Thúy Sơn đã bị chưởng lực của sư đồ Trương Tam Phong đẩy bay đi, song lại chậm một bước, Trương Thúy Sơn đã đứt cổ họng, hết bề cứu vãn. Tống Viễn Kiều, Mạc Thanh Cốc, Ân Tố Tố ba người chậm hơn một chút, còn cách một quãng xa.

Ngay lúc đó, bên ngoài cửa sổ đại sảnh có tiếng trẻ con gọi to:

– Gia gia, gia gia!

Tiếng gọi thứ hai nghe ú ớ, rõ ràng bị kẻ khác bịt miệng. Trương Tam Phong lắc nhẹ thân hình một cái, đã vọt ra ngoài trường song, thấy một hán tử mặc binh phục Mông Cổ đang ôm một đứa bé tám chín tuổi, thằng bé miệng bị kẻ kia dùng tay bịt chặt, đang cố giãy dụa.

Trương Tam Phong thương đệ tử chết thảm, lòng như dao cắt, nhưng Trương lão tu luyện ngót trăm năm, tâm thần chẳng rối loạn, hạ giọng quát:

– Đi vào đây!

Kẻ kia chân trái nhún một cái, ôm thằng bé định nhảy lên mái nhà, bỗng cảm thấy vai bị ấn xuống, thân thể nặng nề dị thường, hai chân không tài nào nhấc khỏi mặt đất. Thì ra Trương Tam Phong đã lướt tới sau lưng không một tiếng động, tay trái đặt nhẹ trên vai hắn. Hắn cả kinh, biết rằng Trương Tam Phong chỉ cần phát ra nội kình thì hắn không chết cũng bị trọng thương ngay tức khắc, đành phải vâng lời đi vào đại sảnh.

Đứa bé kia chính là Vô Kỵ, con của Trương Thúy Sơn. Nó bị người ta bịt miệng, ở ngoài song cửa nhìn thấy cha nó giơ kiếm cứa cổ thì kinh hoảng cố vùng vẫy, cuối cùng kêu được hai tiếng.

Ân Tố Tố thấy trượng phu đã vì nàng mà tự sát, đột nhiên lại thấy hài nhi lành lặn trở về, sau cái đại bi đến cái đại hỷ, bèn hỏi:

– Hài nhi, con không nói ra chỗ ở của nghĩa phụ con đấy chứ?

Vô Kỵ hiên ngang đáp:

– Dù có đánh chết con, con cũng không nói.

Ân Tố Tố nói:

– Hài nhi giỏi lắm! Để mẫu thân bồng con nào.

Trương Tam Phong nói:

– Đưa thằng bé cho mẫu thân nó!

Kẻ kia toàn thân bị chế ngự, đành phải nghe lời trao Vô Kỵ cho Ân Tố Tố. Vô Kỵ sà vào lòng mẹ, khóc nói:

– Mẫu thân ơi, sao người ta lại bức tử gia gia? Ai bức tử gia gia vậy?

Ân Tố Tố nói:

– Nhiều người lắm, rất nhiều người lên núi hôm nay đều bức tử cha con.

Đôi mắt của Vô Kỵ thong thả quét một lượt từ trái sang phải, nó tuổi còn nhỏ, nhưng ánh mắt của ai chạm vào mắt nó cũng không khỏi chấn động trong lòng.

Ân Tố Tố nói:

– Vô Kỵ, hài nhi hãy nghe câu này.

Vô Kỵ giục:

– Mẫu thân nói đi!

Ân Tố Tố nói:

– Hài nhi không cần nóng lòng báo cừu, cứ thong thả chờ đợi, nhưng không bỏ qua một kẻ nào cả.

Mọi người nghe câu nói lạnh lùng ấy bất giác cảm thấy lạnh hết sống lưng. Vô Kỵ kêu lên:

– Mẫu thân ơi, con không muốn báo cừu, con chỉ muốn gia gia sống lại thôi.

Ân Tố Tố buồn bã nói:

– Người chết rồi, không thể sống lại được!

Thân hình nàng run rẩy, nói tiếp:

– Hài nhi, cha con chết rồi, thôi mình nói cho mọi người biết chỗ ở của nghĩa phụ con.

Vô Kỵ vội kêu lên:

– Không, không được!

Ân Tố Tố nói:

– Không Văn đại sư, tiểu nữ chỉ nói cho một mình đại sư biết thôi. Xin đại sư ghé tai lại gần.

Câu nói ấy thật không một ai ngờ, tất cả đều kinh ngạc. Không Văn nói:

– Thiện tai, thiện tai! Nữ thí chủ giá nói sớm một chút, Trương ngũ hiệp đã không mất mạng.

Đoạn bước lại gần Ân Tố Tố, ghé tai nghe.

Ân Tố Tố môi mấp máy một hồi, song chẳng phát ra âm thanh nào. Không Văn hỏi:

– Cái gì?

Ân Tố Tố nói:

– Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn đang trốn ở..

Sau hai tiếng "trốn ở" thanh âm thật mơ hồ, nghe chả hiểu nói gì. Không Văn lại hỏi:

– Cái gì kia?

Ân Tố Tố nói:

– Thì ở chỗ ấy, phái Thiếu Lâm các vị cứ tới đó mà tìm.

Không Văn sốt ruột, nói:

– Bần tăng chưa nghe thấy ở đâu cả.

Đoạn đứng thẳng lên, đưa tay gãi gáy, mặt lộ vẻ hoang mang cực độ.

Ân Tố Tố cười khẩy, nói:

– Tiểu nữ chỉ nói thế thôi, đại sư cứ tới nơi đó sẽ tìm được Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn.

Nàng ôm Vô Kỵ vào lòng, nói nhỏ:

– Hài nhi, khi nào khôn lớn, phải đề phòng nữ nhân lừa dối con, nữ nhân càng đẹp càng giỏi lừa người.

Nàng ghé sát tai con, nói thật nhỏ:

– Mẫu thân không nói cho lão hòa thượng biết đâu, mẫu thân đánh lừa lão ta đấy.. Con xem mẫu thân đó.. mẫu thân lừa người giỏi chưa!

Nói xong nàng cười một tiếng thê lương, đột nhiên hai tay buông lỏng, thân hình từ từ đổ xuống, giữa ngực cắm sâu một thanh chủy thủ. Nguyên lúc ôm Vô Kỵ vào lòng, nàng đã ngầm đâm con dao vào ngực, vì Vô Kỵ che lấp nên không ai trông thấy.

Vô Kỵ ôm lấy mẫu thân, gọi to:

– Mẫu thân ơi, mẫu thân ơi!

Thế nhưng Ân Tố Tố tự đâm mình đã lâu, cố gượng tới lúc này thì tắt thở. Vô Kỵ đau lòng nhưng không khóc, nó trừng mắt nhìn Không Văn đại sư, hỏi:

– Có phải đại sư giết mẫu thân hài nhi không? Có phải đại sư không? Vì sao đại sư giết mẫu thân hài nhi?

Không Văn nhìn thảm cảnh trước mắt, tuy là chưởng môn của đệ nhất tông phái võ học đương thời, cũng không tránh khỏi chấn động, nghe câu hỏi của Vô Kỵ, bất giác lùi lại một bước, vội nói:

– Không, không phải bần tăng! Là nữ.. nữ thí chủ tự vẫn đó.

Vô Kỵ nước mắt ròng ròng, nhưng cố dằn lại, nói:

– Ta không khóc, ta nhất định không khóc, không để cho bọn ác nhân các người thấy ta khóc đâu.

Không Văn đại sư đằng hắng một tiếng, nói:

– Trương chân nhân, biến cố này.. ôi, ôi.. thật không ai dự liệu được! Phu phụ Trương ngũ hiệp đã tự vẫn, việc trước kia không còn gì để truy cứu nữa, vậy chúng tôi xin cáo từ.

Nói xong chắp tay hành lễ. Trương Tam Phong trả lại một lễ, lạnh nhạt đáp:

– Tha lỗi không tiễn xa được.

Tăng chúng Thiếu Lâm cùng đứng dậy, đi ra.

Ân Lê Đình tức giận nói to:

– Các người.. các người bức tử ngũ ca ta..

Nhưng chàng nghĩ lại: "Ngũ ca sở dĩ tự tận là vì có lỗi với tam ca, không can hệ gì với bọn họ". Chàng nói chưa hết câu liền nằm phục xuống bên cạnh thi thể Trương Thúy Sơn mà khóc òa lên.

Mọi người cảm thấy bẽ bàng, cùng lúc cáo từ Trương Tam Phong, nghĩ thầm: "Chuyện này kết thúc bất ngờ, phái Võ Đang chắc chẳng để yên, từ nay trở đi hậu hoạn khôn lường". Chỉ có Tống Viễn Kiều mắt đỏ hoe tiễn khách ra cổng, khi quay lại thì nước mắt chảy ròng ròng, trong đại sảnh phái Võ Đang ai nấy đau lòng khóc nức nở.

Phái Nga Mi đứng dậy cáo từ sau cùng. Kỷ Hiểu Phù thấy Ân Lê Đình khóc thật thương tâm, đôi mắt nàng cũng đỏ hoe, tới gần chàng, nói nhỏ:

– Lục ca, tiểu muội đi đây. Chàng.. chàng hãy tự bảo trọng.

Ân Lê Đình mắt nhòa lệ, ngẩng đầu lên, nghẹn ngào nói:

– Các người.. phái Nga Mi các người cũng đến làm khó ngũ ca ta ư?

Kỷ Hiểu Phù vội nói:

– Không phải đâu, gia sư chỉ muốn hỏi Trương sư huynh chỗ ở của Tạ Tốn thôi.

Nàng dừng lời, răng cắn chặt môi dưới, lúc nhả ra, trên môi hằn sâu vết răng tưởng sắp bật máu, nàng nói, giọng run run:

– Lục ca, muội.. muội thật không phải với chàng, mong chàng hiểu cho. Muội.. muội chỉ có kiếp sau mới báo đáp được thôi.

Ân Lê Đình cảm thấy lời Kỷ Hiểu Phù có phần hơi quá, bèn nói:

– Việc này không liên can tới nàng, chúng tôi không trách nàng đâu.

Kỷ Hiểu Phù mặt tái nhợt đi, nói:

– Không.. Không phải chuyện..

Nàng không dám nói chuyện tiếp với Ân Lê Đình, quay sang phía Vô Kỵ, nói:

– Cháu bé ngoan, chúng ta.. chúng ta cùng một nhà, sẽ săn sóc cháu chu đáo.

Nàng tháo khỏi cổ chiếc vòng vàng, định đeo cho Vô Kỵ, dịu dàng nói:

– Cái này cô cô tặng cháu..

Vô Kỵ hất đầu về phía sau, nói:

– Cháu không cần!

Kỷ Hiểu Phù ngượng ngùng, tay cầm cái vòng, chưa biết phải làm sao. Nước mắt nàng rưng rưng từ nãy, giờ chảy xuống ròng ròng. Tĩnh Huyền sư thái sa sầm nét mặt, nói:

– Kỷ sư muội, nói với trẻ con làm gì? Thôi mình về!

Kỷ Hiểu Phù ôm mặt chạy ra.

*

* *

Vô Kỵ chờ hồi lâu, khi Tĩnh Huyền sư thái, Kỷ Hiểu Phù cả bọn ra khỏi cổng rồi, nó đang muốn khóc òa lên, nào ngờ há mồm mà không thở được, ngã huỵch xuống đất. Du Liên Châu vội bế nó lên, biết thằng bé trong lúc đau buồn cố giữ không khóc, đến nỗi ngất đi, bèn nói:

– Hài tử, khóc đi con!

Chàng xoa xoa mấy cái trên ngực nó, Vô Kỵ vẫn không sao thở được, toàn thân thằng bé lạnh ngắt, hơi thở thoi thóp mong manh. Du Liên Châu vận lực thúc đẩy, song thằng bé vẫn không tỉnh lại. Mọi người thấy thằng bé có thể chết trong giây lát thì không khỏi thất sắc.

Trương Tam Phong áp bàn tay vào huyệt Linh Đài trên lưng Vô Kỵ, một luồng nội lực hùng hậu truyền qua lớp áo sang người thằng bé. Với công phu tu luyện của Trương Tam Phong hiện thời, chỉ có người đã chết mới đành bó tay, ngoài ra dù bị thương nặng đến mấy, được nội lực của Trương lão truyền cho cũng sẽ tỉnh lại. Nào ngờ Trương Tam Phong sau khi truyền nội lực cho Vô Kỵ, chỉ thấy mặt thằng bé từ trắng chuyển qua xanh, từ xanh thành tím, thân thể cứ co giật không ngừng. Trương Tam Phong sờ trán Vô Kỵ lại thấy lạnh ngắt như sờ vào cục nước đá, liền kinh hãi vội luồn tay phải vào bên trong áo sờ hậu tâm của thằng bé, thấy một vùng bằng cái chén nóng rừng rực, xung quanh lại lạnh buốt, nếu là người khác chưa đạt tới cảnh giới cao siêu như Trương Tam Phong, chỉ e sờ vào sẽ run rẩy vì lạnh. Trương Tam Phong nói:

– Viễn Kiều, tên Thát tử bắt Vô Kỵ đâu rồi, dẫn hắn vào đây.

Tống Viễn Kiều vâng lời đi ra. Du Liên Châu từng bị thương vì một chưởng của hắn, biết đại sư huynh cũng không phải là đối thủ của hắn, bèn nói:

– Để đệ đi cùng.

Hai người sánh vai bước ra. Lúc nãy, khi Trương Tam Phong dẫn tên lính Mông Cổ vào sảnh, Trương Thúy Sơn đã tự sát chết, tiếp đó Ân Tố Tố lại tự tận tuẫn phu, mọi người đều đau buồn, chẳng ai để ý đến tên lính đó nên chỉ trong giây lát hắn đã biến đâu mất.

Trương Tam Phong vạch áo trên lưng Vô Kỵ, thấy trên da thịt trắng mịn của nó in rành rành vết một bàn tay năm ngón màu xanh biếc. Trương Tam Phong lại đưa tay sờ, thấy chỗ bàn tay ấy nóng như lửa, xung quanh thì lạnh buốt, chỉ sờ tay thôi đã hết sức khó chịu. Vô Kỵ bị thương như thế cũng đủ biết thằng bé khổ sở vô cùng.

Một lát sau, Tống Viễn Kiều và Du Liên Châu rảo bước đi vào, nói:

– Trên núi không còn ai khác, hắn biến mất rồi.

Hai người thấy lưng Vô Kỵ in hình bàn tay kỳ quái đều giật mình.

Trương Tam Phong cau mày, nói:

– Ta cứ tưởng ba mươi năm trước Bách Tổn đạo nhân chết đi rồi, cái môn Huyền Minh thần chưởng âm độc vô tỉ này cũng thất truyền theo, nào ngờ trên thế gian vẫn có kẻ biết công phu đó.

Tống Viễn Kiều kinh hãi hỏi:

– Thằng bé hóa ra bị Huyền Minh thần chưởng đả thương ư?

Tống Viễn Kiều lớn tuổi hơn, từng nghe về Huyền Minh thần chưởng, còn từ Du Liên Châu trở xuống thì ngay cái tên của môn võ công ấy cũng chưa nghe nhắc tới bao giờ. Trương Tam Phong thở dài, không trả lời, trên khuôn mặt già nua lệ chảy ròng ròng, hai tay ôm Vô Kỵ, nhìn thi thể Trương Thúy Sơn, nói:

– Thúy Sơn, Thúy Sơn. Ngươi bái ta làm sư phụ, phút lâm chung lại gửi hài tử cho ta, nhưng ngay cả giọt máu độc nhất của ngươi mà ta cũng không bảo toàn nổi, ta sống đến trăm tuổi để làm gì? Phái Võ Đang danh chấn thiên hạ, phỏng có ích gì? Giá ta chết đi lại hóa hay hơn.

Các đệ tử ai nấy kinh dị. Từ ngày theo sư phụ đến giờ, họ luôn luôn thấy thầy tiêu dao tự tại, chưa hề nghe thầy nói một lời bi phẫn, thống khổ như thế bao giờ.

Ân Lê Đình nói:

– Sư phụ, thằng bé.. thằng bé không thể cứu được hay sao?

Trương Tam Phong hai tay ôm chặt Vô Kỵ, đi đi lại lại trong sảnh, nói:

– Trừ phi.. trừ phi sư phụ ta là Giác Viễn đại sư phục sinh, truyền cho ta toàn bộ pho Cửu dương chân kinh.

Các đệ tử thất vọng, câu nói ấy của sư phụ chứng tỏ thương thế của Vô Kỵ là vô phương cứu chữa.

Mọi người im lặng một hồi. Du Liên Châu nói:

– Sư phụ, hôm con đối chưởng với tên lính Mông Cổ đó, chưởng lực của hắn quả nhiên âm độc ghê gớm, hiếm thấy trên đời, con bị thương tức thì. Thế nhưng bây giờ con đã hoàn toàn bình phục, vận khí dụng kình không có gì trở ngại cả.

Trương Tam Phong nói:

– Đó là cái phúc của đại danh Võ Đang thất hiệp. Kẻ sử dụng Huyền Minh thần chưởng này với đối phương, nếu nội lực của đối phương cao hơn, chưởng lực sẽ quay trở lại thân thể, kẻ sử dụng ắt bị đại họa. Sau này các ngươi có gặp tên đó, phải hết sức thận trọng.

Du Liên Châu đáp:

– Vâng.

Nghĩ thầm: "Thì ra tên đó quá ư cẩn thận, sợ ta chưởng lực thắng hắn nên hắn không dám toàn lực Huyền Minh thần chưởng, nếu không chắc gì ta còn sống đến giờ này. Lần sau gặp lại ta, hắn sẽ hạ thủ thẳng tay. Ta bị trúng một chưởng mà đã như thế, Vô Kỵ còn bé, chỉ e.. chỉ e.."

Tống Viễn Kiều nói:

– Lúc thoáng qua ấy, đệ tử chỉ thấy tên đó trạc ngũ tuần, mũi cao mắt sâu giống như người Tây Vực.

Mạc Thanh Cốc nói:

– Tên đó đã bắt được Vô Kỵ mang đi rồi, sao còn mang thằng bé trở lại làm chi?

Trương Tòng Khê nói:

– Tên đó tra hỏi Vô Kỵ không xong, bèn dùng Huyền Minh thần chưởng đánh nó, để cho phu phụ Trương Thúy Sơn chính mắt chứng kiến Vô Kỵ bị hành hạ thể xác mà phải nói ra chỗ ở của Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn.

Mạc Thanh Cốc tức giận nói:

– Tên đó thật to gan, dám lên núi Võ Đang gây sự!

Trương Tòng Khê buồn rầu:

– Hôm nay lên núi Võ Đang gây sự đâu phải ít người? Huống hồ hắn lại dùng Vô Kỵ để uy hiếp, nghĩ chắc chúng ta đánh chuột sợ vỡ đồ quý, không dám đả thương hắn.

Sáu người trong đại sảnh thừ người suy nghĩ hồi lâu. Vô Kỵ bỗng mở mắt, kêu lên:

– Gia gia, gia gia, con đau, con đau quá.

Thằng bé ôm chặt Trương Tam Phong, chúi đầu vào lòng Trương lão.

Du Liên Châu nghẹn ngào nói:

– Vô Kỵ, cha cháu chết rồi, cháu phải cố sống, sau này luyện thành võ công để còn báo cừu rửa hận cho cha cháu!

Vô Kỵ kêu lên:

– Cháu không muốn báo cừu! Cháu không muốn rửa hận! Cháu muốn cha mẹ cháu sống lại cơ! Nhị bá, mình hãy tha thứ hết cho bao kẻ xấu xa kia, tất cả mọi người cùng nghĩ cách cứu sống cha mẹ cháu.

Thầy trò Trương Tam Phong nghe mấy câu đó thì không cầm lòng được, nước mắt lại chảy ròng ròng, Trương Tam Phong nói:

– Chúng ta sẽ làm hết sức mình, may ra ông Trời từ bi cho thằng bé sống thêm chút nào hay chút đó.

Trương lão nhìn thi thể Trương Thúy Sơn, gạt lệ, nói:

– Thúy Sơn, Thúy Sơn, tội nghiệp cho con quá!

Rồi ôm Vô Kỵ đi về vân phòng của mình, giơ ngón tay điểm liên tiếp mười tám đại huyệt trên mình thằng bé.

Vô Kỵ được điểm huyệt rồi, thân thể không run rẩy nữa, nhưng khí xanh trên mặt càng lúc càng sẫm. Trương Tam Phong biết rằng một khi sắc xanh chuyển thành sắc đen, tức là khí tuyệt, hết phương cứu chữa, bèn cởi hết quần áo trên người thằng bé ra, chính mình cũng cởi đạo bào, ôm sát lưng Vô Kỵ vào ngực mình.

Lúc này Tống Viễn Kiều và Ân Lê Đình ở bên ngoài lo liệu tang ma cho phu phụ Trương Thúy Sơn. Du Liên Châu, Trương Tòng Khê và Mạc Thanh Cốc cùng tới vân phòng của sư phụ, biết sư phụ đang dùng "Thuần dương vô cực công" hút khí độc âm hàn trong người Vô Kỵ ra. Trương Tam Phong trước nay không hề lấy vợ, tuy đã trăm tuổi nhưng thân thể vẫn là đồng nam, với tám mươi năm tu luyện, môn Thuần dương vô cực công của Trương lão đã đạt tới cảnh giới đăng phong tạo cực. Huynh đệ Du Liên Châu ba người chờ sẵn bên cạnh, chừng nửa canh giờ sau, thấy trên mặt sư phụ lờ mờ một làn khí màu xanh, các ngón tay run run. Trương Tam Phong mở mắt ra, nói:

– Liên Châu vào đây thay ta, lúc nào chịu hết nổi thì giao lại cho Tòng Khê, nhất thiết không được miễn cưỡng.

Du Liên Châu đáp:

– Dạ.

Rồi cởi áo, ôm Vô Kỵ vào lòng, da thịt vừa chạm vào lưng thằng bé thì lập tức lạnh run, tựa hồ ôm một khối nước đá vậy, bèn nói:

– Thất đệ, hãy sai người mang tới vài lò than, lửa càng đượm càng tốt.

Lát sau lò than được mang vào, song Du Liên Châu vẫn thấy lạnh ghê gớm.

Trương Tam Phong ngồi bên, từ từ vận khí qua Tam Quan, thúc đẩy "Nhân uân tử khí" trong đan điền hóa giải từng chút từng chút một thứ khí độc đã hút vào cơ thể. Khi Trương lão hóa giải hết khí độc rồi, đứng dậy đã thấy Mạc Thanh Cốc đang ôm Vô Kỵ, Du Liên Châu và Trương Tòng Khê ngồi một bên, buông rèm nhập định, hóa giải khí hàn độc trong cơ thể. Không lâu thì Mạc Thanh Cốc hết chịu nổi, sai đạo đồng đi mời Tống Viễn Kiều và Ân Lê Đình vào thay.

Việc dùng nội lực trị thương này, công lực nông sâu lập tức lộ ra rất rõ, chẳng thể nào giấu được. Mạc Thanh Cốc chỉ chịu nổi thời gian bằng uống một tuần trà nóng, Tống Viễn Kiều chịu được đến tàn hai nén nhang. Ân Lê Đình vừa ôm Vô Kỵ vào lòng liền kêu hoảng lên, toàn thân run bần bật. Trương Tam Phong vội nói:

– Đưa thằng bé cho ta! Con hãy ngồi một bên ngưng thần điều tức, không được để trong đầu có tạp niệm.

Thì ra Ân Lê Đình trong lòng thương ngũ ca thảm tử, tâm thần bấn loạn, phải chờ khi nào thần trí định tĩnh, mới ôm được Vô Kỵ vào lòng.

Cứ như thế sáu người luân phiên, suốt ba ngày ba đêm không nề hà vất vả, may mà khí độc trong cơ thể Vô Kỵ được hóa giải dần, nên thời gian chịu đựng được của mỗi người cũng kéo dài thêm. Đến ngày thứ tư, sáu người mới có thể chợp mắt nhân lúc chưa tới phiên mình. Từ ngày thứ tám trở đi, mỗi người trị thương cho Vô Kỵ hai canh giờ, thời gian còn lại thì từ từ bồi bổ lại công lực đã hao tổn.

Những ngày đầu Vô Kỵ tiến triển rất nhanh, hàn khí trong cơ thể ngày một giảm, thần trí ngày một hồi phục, đã bắt đầu ăn uống được. Mọi người biết rằng cái mạng sống nhỏ nhoi của thằng bé coi như cứu được. Ai ngờ đến ngày thứ ba mươi sáu, Du Liên Châu bỗng nhiên phát giác dù chàng thôi động nội lực cách mấy cũng không thể hút chút khí độc hàn nào ra khỏi cơ thể Vô Kỵ. Mà rõ ràng cơ thể thằng bé lạnh giá, khí xanh trên mặt nó chưa tan. Du Liên Châu ngỡ công lực của mình sa sút, bèn thưa với sư phụ; Trương Tam Phong thử, nhưng cũng vô tác dụng. Suốt năm ngày đêm, sáu người sử dụng mọi phép vận khí mình biết, song đều vô hiệu.

Vô Kỵ nói:

– Thái sư phụ, chân tay cháu ấm lại rồi, nhưng đỉnh đầu, chỗ tim và bụng dưới thì càng lúc càng lạnh.

Trương Tam Phong thầm kinh hãi, an ủi nó:

– Thương thế của cháu bớt nhiều rồi, mọi người không còn phải ôm cháu suốt ngày nữa. Thôi cháu lên giường của thái sư phụ ngủ một giấc đi.

Trương Tam Phong và các đệ tử đi ra sảnh. Trương Tam Phong thở dài, nói:

– Khí độc hàn đã xâm nhập vào đỉnh đầu, tim và đan điền thì ngoại lực không thể hóa giải được nữa, xem ra ba mươi mấy ngày vất vả của thầy trò ta đổ xuống sông xuống biển hết rồi.

Trương lão trầm ngâm hồi lâu, nghĩ thầm: "Muốn hóa giải khí độc hàn trong cơ thể, người ngoài bây giờ không thể giúp gì được nữa, chỉ có cách tự Vô Kỵ tu luyện nội công chí cao vô thượng nói trong Cửu dương chân kinh thì mới có thể lấy chí Dương trừ chí Âm. Thế nhưng năm xưa, khi ân sư Giác Viễn đại sư truyền thụ kinh văn, sở học của ta chưa đủ, đến nay tuy đã bế quan mấy lần để khổ công nghiên cứu nhưng cũng chỉ hiểu được ba bốn phần. Trước mắt chỉ còn cách dạy cho nó tự luyện, sống thêm ngày nào hay ngày đó".

Thế rồi Trương lão dạy Vô Kỵ khẩu quyết và cách thức luyện Cửu dương thần công. Môn công phu này biến hóa phức tạp, một lời khó nói rõ hết. Nói vắn tắt thì công phu sơ bộ là luyện "Đại chu thiên bàn vận" dẫn một luồng chân khí ấm áp từ đan điền đi theo "Âm kiều khố" đổ vào ba mạch Nhâm, Đốc, Xung chạy xuống "Vĩ lữ quan", sau đó chia thành hai đường chạy lên, đi qua "Lộc lô quan" ở hai bên đốt xương sống thứ mười bốn, đi tiếp lên lưng, qua vai, cổ gáy cho đến "Ngọc chẩm quan". Như thế gọi là phép "Nghịch vận chân khí thông tam quan". Sau đó chân khí đi tiếp lên huyệt Bách Hội trên đỉnh đầu, chia ra năm đường mà vận hành, hội tụ với khí mạch toàn thân tại huyệt Đản Trung, rồi phân hai nhánh mà trở về đan điền, nhập khiếu quy nguyên. Tuần hoàn một vòng như thế, cơ thể giống như được tưới nước cam lộ, chân khí trong đan điền tựa hồ được sưởi ấm, tiêu du tự tại, cái chân khí đó gọi là "Nhân uân tử khí".

"Nhân uân tử khí" được luyện tới mức hỏa hầu thì có thể hóa giải khí độc hàn tụ trong đan điền. Đạo lý nội công của các phái không khác nhau là mấy, chỉ có phương pháp tu luyện là khác nhau. Phương pháp mà Trương Tam Phong truyền thụ là tâm pháp, nếu xét về uy lực có thể được coi là đệ nhất trong thiên hạ.

Vô Kỵ theo đó tu luyện, luyện được hơn hai năm, "Nhân uân tử khí" trong đan điền đã tiểu thành, nhưng khí độc hàn bên trong đã bám dính như keo vào toàn bộ hệ kinh lạc bách mạch nên không cách gì hóa trừ. Đã thế, khí xanh trên mặt cứ ngày một đậm thêm, mỗi khi khí độc hàn phát tác, thằng bé lại bị hành hạ khổ sở. Hai năm qua, Trương Tam Phong toàn lực lo cho sự tu luyện nội công của Vô Kỵ, còn huynh đệ Tống Viễn Kiều đi khắp nơi tìm linh đơn diệu dược, nào nhân sâm mọc hàng trăm năm trên núi hoang, nào thủ ô thành hình, nào phục linh trên núi tuyết, toàn các loại linh vật trân quý đem về cho thằng bé uống không biết bao nhiêu mà kể, nhưng trước sau cứ như cục đá ném xuống ao bèo. Mọi người thấy Vô Kỵ ngày một tiều tụy, gầy còm, tuy gặp nó đều cố vui cười, nhưng trong lòng thì đau xót, nghĩ giọt máu duy nhất do Trương Thúy Sơn để lại rốt cuộc không cách gì bảo toàn.

Phái Võ Đang bận cứu thương trị bệnh, không còn thời gian truy tìm kẻ đã hại Du Đại Nham và Vô Kỵ. Trong hai năm đó, giáo chủ Thiên Ưng giáo Ân Thiên Chính mấy lần cho người sang thăm cháu ngoại, đưa tặng không ít lễ vật quý giá. Võ Đang chư hiệp căm hận Thiên Ưng giáo đã gián tiếp gây hại cho Du, Trương nhị hiệp nên lần nào cũng đuổi sứ giả xuống núi, trả lại lễ vật, không nhận bất cứ thứ gì. Có lần Mạc Thanh Cốc còn đánh cho sứ giả một trận, từ đó Ân Thiên Chính mới không sai người lên núi Võ Đang nữa.

Hôm ấy nhân tiết Trung thu, Võ Đang chư hiệp và sư phụ bày tiệc thưởng trăng. Tiệc vừa dọn ra thì Vô Kỵ đột nhiên phát bệnh, mặt xanh lè, người run cầm cập. Thằng bé sợ làm mọi người mất vui, nên cắn răng chịu đựng, nhưng tình cảnh ấy ai chẳng nhìn thấy? Ân Lê Đình kéo thằng bé vào phòng ngủ, lấy chăn bông đắp cho nó, lại nhóm một lò than lớn bên cạnh giường. Trương Tam Phong bỗng nói:

– Ngày mai ta sẽ dẫn Vô Kỵ đến Thiếu Lâm tự ở Tung Sơn một chuyến.

Mọi người hiểu tâm ý của sư phụ, biết Trương lão không còn cách nào, vạn bất đắc dĩ đành cúi đầu nhờ vả phái Thiếu Lâm, thân chinh cầu cứu Không Văn đại sư, hi vọng cao tăng Thiếu Lâm bổ túc cho chỗ chưa trọn vẹn trong Cửu dương thần công, ngõ hầu cứu mạng Vô Kỵ.

Sau lần hội kiến trên núi Võ Đang hai năm trước, mối hiềm khích giữa hai phái Thiếu Lâm, Võ Đang càng sâu thêm. Trương Tam Phong là đại tông sư khai sáng môn phái, nay đã ngoài trăm tuổi, giờ phải gác bỏ địa vị tôn quý của mình đi cầu cạnh phái Thiếu Lâm, tức là mất hết thân phận. Mọi người nghĩ đến tình nghĩa với Trương Thúy Sơn, biết rằng ngày mai một khi Trương Tam Phong lên Tung Sơn cầu cứu thì từ nay phái Võ Đang mỗi lần gặp phái Thiếu Lâm sẽ không dám ngẩng đầu lên nữa, dù là chút hư danh cũng đành phải bỏ đi.

Thực ra phái Nga Mi cũng được truyền thụ một phần Cửu dương chân kinh, nhưng chưởng môn phái Nga Mi là Diệt Tuyệt sư thái tính nết cực kỳ cổ quái, Trương Tam Phong từng mấy lần viết thư thỉnh cầu, sai Ân Lê Đình mang đến, song bà ta đều cho người đuổi Ân Lê Đình xuống núi, đến bao thư cũng chẳng thèm mở ra xem. Hiện tại, ngoài việc hạ mình cầu cứu phái Thiếu Lâm, không còn cách nào khác.

Nếu là Tống Viễn Kiều dẫn các sư đệ lên Thiếu Lâm tự cầu giáo, tuy sẽ giữ được phần nào thể diện cho phái Võ Đang, nhưng Không Văn đại sư chẳng đời nào chịu truyền cho chân quyết của Cửu dương chân kinh. Mọi người nghĩ đến phái Võ Đang uy danh hiển hách hai ba chục năm qua, từ nay sẽ phải cúi đầu trước phái Thiếu Lâm, ai nấy đều u uất mất vui; bữa tiệc thưởng trăng Trung thu, mỗi người chỉ buồn bã uống vài chén rồi chấm dứt.

*

* *

Sáng sớm hôm sau, Trương Tam Phong dẫn Vô Kỵ khởi hành. Năm đệ tử đều muốn theo hầu, nhưng Trương Tam Phong nói:

– Mình đi đông người, không khỏi làm cho phái Thiếu Lâm sinh nghi, chi bằng để ta một già một bé đi là hơn.

Hai ông cháu mỗi người cưỡi một con lừa xanh đi thẳng về hướng bắc. Hai đại tông phái Võ Đang, Thiếu Lâm thực ra ở rất gần nhau, từ núi Võ Đang ở đất Ngạc đến Tung Sơn ở đất Dự phía tây chỉ đi vài hôm là đến. Ông cháu Trương Tam Phong từ Lão Hà Khẩu qua sông Hán Thủy, đến Nam Dương, đi về phía bắc qua Nhữ Châu, sau đó rẽ sang hướng tây là tới Tung Sơn.

Hai ông cháu lên núi Thiếu Thất, buộc lừa vào gốc cây, xuống đi bộ. Trương Tam Phong quay về chốn cũ, nhớ lại hơn tám mươi năm trước sư phụ Giác Viễn đại sư gánh đôi thùng sắt bỏ chạy, mang theo Quách Tương và mình rời bỏ Thiếu Lâm tự, lúc này nghĩ lại tưởng như đã ở một kiếp khác. Trương Tam Phong cảm khái nắm tay Vô Kỵ thong thả đi lên núi, thấy năm ngọn núi vẫn như xưa, rừng bia đá vẫn vậy, chỉ có Giác Viễn và Quách Tương từ lâu đã thành người thiên cổ tự bao giờ.

Hai người tới một vi đình, nhìn lên Thiếu Lâm tự thấy hai tăng nhân trẻ tuổi đang cười cười nói nói đi đến. Trương Tam Phong hỏi thăm một câu:

– Phiền thông báo là có Võ Đang Trương Tam Phong cầu kiến phương trượng đại sư.

Hai tăng nhân nghe ba tiếng Trương Tam Phong thì giật mình kinh hãi, chú mục nhìn xem thật hay giả, chỉ thấy vị khách cao lớn dị thường, râu tóc bạc phơ, sắc diện hồng hào, cười hà hà dễ mến, nhưng chiếc áo đạo bào màu xanh thì quá ư dơ bẩn. Nên biết Trương Tam Phong tính tình tự tại, không để ý bề ngoài, thời tráng niên, giang hồ sau lưng Trương Tam Phong vẫn gọi là "Liệp Thạp đạo nhân" [46], có người còn gọi là Trương Liệp Thạp, mãi đến khi Trương Tam Phong võ công cực cao, uy danh cực lớn, họ mới không dám gọi như thế nữa. Hai tăng nhân kia nghĩ thầm: "Trương Tam Phong là đại tông sư của phái Võ Đang, phái Võ Đang với phái Thiếu Lâm ta vốn bất hòa, không lẽ vị này tới đây sinh sự đánh nhau?", chỉ thấy ông lão dắt một cậu bé độ mười một mười hai tuổi trông gầy gò xanh xao, cả hai ông cháu đều không có vẻ gì khác thường, ghê gớm cả. Một tăng nhân hỏi:

– Có thực thí chủ là Trương.. Trương chân nhân ở núi Võ Đang không?

Trương Tam Phong cười đáp:

– Đích thực bần đạo, không hề giả mạo.

Tăng nhân thứ hai nghe câu trả lời chẳng có vẻ gì là khí khái trang nghiêm của một vị tông sư môn phái thì lại càng không tin, hỏi:

– Thí chủ không đùa cợt đấy chứ?

Trương Tam Phong cười, nói:

– Trương Tam Phong có cái gì đâu? Mạo danh lão ta thì được cái gì kia chứ?

Hai tăng nhân bán tín bán nghi, chạy như bay về chùa thông báo.

Một hồi lâu, bỗng thấy cổng chùa mở rộng, phương trượng Không Văn đại sư cùng hai sư đệ Không Tính, Không Trí đi ra. Đằng sau họ là mười mấy lão hoàng y hòa thượng. Trương Tam Phong biết đó là các vị trưởng lão Đạt Ma viện, vai vế không chừng còn cao hơn cả phương trượng, ở trong chùa chỉ tinh nghiên võ học chứ không hỏi việc bên ngoài, chắc nghe tin chưởng môn phái Võ Đang đến, thì lấy làm kinh dị nên mới cùng phương trượng ra đón.

Trương Tam Phong ra khỏi vi đình, cúi người hành lễ, nói:

– Đâu đáng để phương trượng và chúng vị đại sư nhọc lòng ra ngoài này đón như vậy?

Các cao tăng chắp tay hành lễ. Không Văn nói:

– Trương chân nhân từ xa đến, quả thật ngoài dự liệu của tiểu tăng, không biết có điều gì kiến dụ?

Trương Tam Phong nói:

– Bần đạo có một việc thỉnh cầu.

Không Văn nói:

– Mời ngồi, mời ngồi!

Trương Tam Phong vào trong vi đình an vị rồi, lập tức có tăng nhân bưng trà tới. Trương Tam Phong bực mình nghĩ thầm: "Ta dẫu sao cũng là tông sư một phái, tính ra ở bậc tiền bối của các vị, sao không mời ta vào chùa, lại để ta ngồi ở bên ngoài thế này? Không nói gì ta, đối với một vị khách bình thường, cũng chẳng nên thiếu lễ như vậy". Song tính tình Trương lão vốn dễ dãi xuề xòa, nghĩ thế nhưng cũng chẳng để bụng.

Không Văn nói:

– Trương chân nhân quang giáng tệ sơn, đáng lẽ phải cung nghinh vào chùa. Ngặt nỗi hồi còn trẻ, Trương chân nhân đã tự ý đi khỏi Thiếu Lâm tự, quy củ mấy trăm năm của bổn phái, hẳn Trương chân nhân cũng đã biết, phàm là đồ đệ bị từ bỏ hoặc làm phản bổn phái, suốt đời sẽ không bao giờ được phép bước chân vào chùa, nếu bước vào sẽ bị chặt chân.

Trương Tam Phong cười ha hả, nói:

– Thì ra thế! Bần đạo hồi còn nhỏ tuy có ở trong chùa hầu hạ Giác Viễn đại sư, nhưng chỉ làm tạp dịch quét sân châm trà, chưa hề xuống tóc, cũng chưa bái sư, đâu thể gọi là đệ tử của phái Thiếu Lâm.

Không Trí lạnh lùng nói:

– Thế nhưng Trương chân nhân đã học lén võ công của Thiếu Lâm tự.

Trương Tam Phong tức giận, song nghĩ lại: "Võ công của phái Võ Đang ta, tuy hoàn toàn do ta dày công sáng tạo, nhưng suy từ cội nguồn, nếu không được Giác Viễn đại sư truyền cho Cửu dương chân kinh, được Quách nữ hiệp tặng một đôi Thiếu Lâm thiết La Hán, thì toàn bộ các môn võ công sau đó không biết dựa vào đâu. Y nói võ công của ta từ Thiếu Lâm mà ra, cũng chẳng phải hoàn toàn sai", thế là nhã nhặn nói:

– Bần đạo được như hôm nay, chính nhờ đó mà nên.

Không Văn và Không Trí đưa mắt nhìn nhau, nghĩ thầm: "Không biết lão ta tới đây làm gì? Chắc không phải có thiện chí, hẳn là vì chuyện Trương Thúy Sơn mà đến sinh sự". Không Văn bèn nói:

– Xin nói rõ hơn.

Trương Tam Phong nói:

– Không Trí đại sư vừa nói, võ công của bần đạo từ Thiếu Lâm mà ra, lời đó quả không sai. Năm xưa bần đạo theo hầu Giác Viễn đại sư, được may mắn truyền thụ Cửu dương chân kinh. Bộ kinh thư đó bác đại tinh thâm, nhưng hồi ấy bần đạo tuổi còn nhỏ, sở học bất toàn, đến nay vẫn lấy làm tiếc. Sau đó Giác Viễn đại sư tụng kinh ở chốn hoang sơn, có ba người may mắn được nghe, một vị là tổ sư sáng lập phái Nga Mi Quách nữ hiệp, một vị là Vô Sắc thiền sư của quý phái, còn một người nữa chính là bần đạo. Bần đạo tuổi nhỏ nhất, tư chất non kém, lại không có căn cơ võ học, trong ba phái thì sở đắc ít hơn cả.

Không Trí lạnh lùng nói:

– Chưa hẳn như thế. Trương chân nhân từ nhỏ hầu hạ Giác Viễn, chả lẽ y không ngấm ngầm truyền riêng cho môn gì? Ngày nay phái Võ Đang dương danh thiên hạ, cũng là nhờ công lao của Giác Viễn.

Nói về vai vế, Giác Viễn cao hơn Không Trí ba bậc, đúng ra Không Trí phải gọi Giác Viễn là "Thái sư thúc tổ", nhưng vì Giác Viễn chạy trốn khỏi Thiếu Lâm tự, bị coi là khí đồ[47], vai vế trong môn phái không còn nữa, nên Không Trí chả cần giữ lễ khi nhắc đến Giác Viễn.

Trương Tam Phong đứng lên, cung kính nói:

– Ân đức của tiên sư, bần đạo không khi nào dám quên.

Trong bốn đại thần tăng của phái Thiếu Lâm, Không Kiến từ bi hỉ xả, tiếc thay mất sớm nhất; Không Văn trầm tĩnh kín đáo, hỉ nộ không lộ ra mặt; Không Tính ngờ nghệch, bẩm tính chất phác, không thông thế sự; Không Trí lại là người bụng dạ hẹp hòi, cứ luôn nghĩ rằng Trương Tam Phong học lén không ít môn võ công của phái Thiếu Lâm rồi trốn đi, thế mà danh vọng của phái Võ Đang lại lừng lẫy hơn cả phái Thiếu Lâm, nên trong thâm tâm cứ hậm hực. Không Trí nghĩ rằng Trương Tam Phong đến Thiếu Lâm tự phen này là để báo cừu vì cái chết của Trương Thúy Sơn. Huống hồ hôm đó trước khi chết, Ân Tố Tố lại giả bộ nói cho Không Văn biết chỗ ở của Tạ Tốn, cái kế "Di họa Giang Đông" ấy thật hiểm độc. Hơn hai năm qua, cứ vài ba ngày lại có nhân sĩ võ lâm đến Thiếu Lâm tự quấy nhiễu, hoặc tiến thẳng vào, hoặc lén nhòm ngó, hoặc ngọt ngào cầu khẩn, hoặc hung hăng tra vấn, cứ liên tục dò hỏi về chỗ ở của Tạ Tốn.

Không Văn phải thề sống thề chết là quả thực không biết, nhưng hôm đó tại cung Tử Tiêu trên núi Võ Đang, hàng trăm cặp mắt của các môn phái đều nhìn thấy Ân Tố Tố ghé tai nói cho một mình Không Văn nghe, còn giả làm sao được? Dù Không Văn có thanh minh thế nào, rốt cuộc người ta vẫn không tin, thành thử tháng nào cũng có vài cuộc động võ. Các nhân vật võ lâm đến chùa tử thương khá nhiều, các cao thủ trong Thiếu Lâm tự cũng bị thương tổn không ít. Suy cho cùng, há không phải đều là do cái mầm họa do phái Võ Đang cấy vào?

Sự căm tức của tăng lữ Thiếu Lâm tự hơn hai năm qua, may sao hôm nay Trương Tam Phong lại tự dẫn thân tới, phải trút xuống đầu lão ta một phen cho hả. Không Trí liền nói:

– Trương chân nhân đã tự nhận học lén võ công của Thiếu Lâm tự, tiếc rằng lời này người bên ngoài không nghe thấy, chứ không cả giang hồ sẽ đều hay biết.

Trương Tam Phong nói:

– Hoa sen hồng hoa sen trắng, võ học thiên hạ vốn cũng một nhà mà thôi, hàng ngàn năm qua không ngừng lấy sở trường bù sở đoản, đâu còn phân biệt nổi cội nguồn thật sự. Phái Thiếu Lâm đã thành lãnh tụ võ lâm, mấy trăm năm qua ai cũng công nhận, bần đạo hôm nay lên đây chính vì hâm mộ võ công của quý phái, tự biết mình không bằng, muốn cầu giáo chúng vị đại sư.

Các cao tăng Không Văn, Không Trí nghe câu "muốn cầu giáo chúng vị đại sư" lại tưởng là lời khiêu chiến thì ai nấy mặt biến sắc, nghĩ thầm lão đạo sĩ này tu luyện đã ngót trăm tuổi, võ công cao siêu khôn lường, làm gì có ai là đối thủ, hôm nay tới đây một mình, hẳn phải có bản lĩnh ghê gớm lắm, hai năm qua có lẽ đã luyện thành môn võ công cực kỳ lợi hại nào chăng.

Trong nhất thời ba vị cao tăng không ai dám trả lời. Cuối cùng Không Tính nói:

– Lão đạo sĩ giỏi lắm, nếu lão muốn đấu võ với chúng tôi thì Không Tính này chẳng sợ lão đâu. Thiếu Lâm tự có cả trăm, cả ngàn hòa thượng nhất tề xông lên, lão chưa chắc làm gì nổi.

Không Tính tuy miệng nói "chẳng sợ", nhưng trong bụng thì cả sợ, vội lấy cái số đông hàng trăm hòa thượng cùng xông lên để tự trấn an.

Trương Tam Phong vội nói:

– Các vị đại sư chớ nên hiểu lầm, bần đạo nói cầu giáo là thực lòng muốn được chỉ giáo. Chỉ vì Cửu dương chân kinh mà tiên sư truyền cho bần đạo tu luyện bị thiếu một số chỗ và bên trong còn nhiều điểm nghi nan bất giải. Chúng vị cao tăng Thiếu Lâm tự tinh thâm võ học, nếu sẵn lòng chỉ giáo cho Trương Tam Phong được nghe đại đạo thì bần đạo cảm kích bội phần.

Đoạn Trương lão đứng lên vái một vái thật dài.

Lời nói vừa rồi của Trương Tam Phong quả là bất ngờ đối với các cao tăng Thiếu Lâm. Trương Tam Phong thần công cái thế, khai sáng tông phái, tu luyện đã chín mươi năm, trong võ lâm hiện thời danh vọng và địa vị cực cao, không ai sánh kịp, làm gì có ngờ hôm nay lại tới cầu giáo phái Thiếu Lâm kia chứ?

Không Văn vội đáp lễ, nói:

– Trương chân nhân đùa thế, chúng tôi hậu bối thiển học, đến việc lấy cái hay của người bù chỗ dở của mình còn chưa xong, làm sao dám "chỉ giáo" cho người khác?

Trương Tam Phong biết rằng việc mình nêu ra quá kỳ lạ, đối phương không dễ tin nổi, liền kể lại chuyện Vô Kỵ bị trúng Huyền Minh thần chưởng ra sao, khí độc âm trong cơ thể không cách gì khu trừ, lại nói thằng bé là đứa con duy nhất của Trương Thúy Sơn, phải cố bảo toàn mạng sống cho nó; trước mắt ngoài việc luyện cho xong Cửu dương thần công, thật sự chẳng còn cách nào khác. Cũng vì lợi ích của phái Thiếu Lâm, Trương Tam Phong nguyện kể toàn bộ Cửu dương chân kinh sở học cho phái Thiếu Lâm biết, cũng mong phái Thiếu Lâm nói cho Trương lão biết sở học của họ, đôi bên tham ngộ bổ túc cho nhau.

Không Văn trầm ngâm hồi lâu, rồi nói:

– Bảy mươi hai tuyệt kỹ của phái Thiếu Lâm chúng tôi, ngàn năm qua chưa một tăng tục đệ tử nào luyện thành trên mười hai môn. Sở học của Trương chân nhân quán tuyệt cổ kim, nhưng các môn võ công mà liệt tổ liệt tông của bản phái truyền lại cũng đã quá nhiều, mười phần học một cũng đã cực khó. Trương chân nhân nay lại đem một môn thần công trao đổi, thịnh tình đó chúng tôi cảm kích, song đối với bổn phái, có thêm cũng chỉ là thừa.

Ngừng một lát, nói tiếp:

– Võ công của phái Võ Đang vốn bắt nguồn từ Thiếu Lâm ta, hôm nay nếu hai bên trao đổi võ học, sau này người trên giang hồ không rõ chân tướng, lại bảo rằng võ công phái Võ Đang tuy bắt nguồn từ phái Thiếu Lâm, nhưng phái Thiếu Lâm phải nhờ Trương chân nhân mới được như thế. Tiểu tăng gánh vác trọng nhiệm chưởng môn Thiếu Lâm, lời kiểu đó nghe không lọt.

Trương Tam Phong than thầm trong lòng: "Ngươi đường đường là chưởng môn của đệ nhất môn phái võ lâm, lại được tôn là một trong tứ đại thần tăng, vậy mà khư khư giữ cái tiếng môn hộ, bụng dạ quá hẹp hòi". Nhưng đang lúc phải cầu người, không tiện bác bỏ lời đối phương, Trương lão chỉ nói:

– Ba vị là thần tăng đương thế, giàu lòng từ bi, tính mạng của cháu bé này chỉ trong sớm tối, những mong ba vị nghĩ đến cái tâm cứu nhân độ thế của Phật tổ mà đáp ứng lời thỉnh cầu, bần đạo quả thực cảm kích vô cùng.

Nhưng Trương Tam Phong nói thế nào, ba vị cao tăng Thiếu Lâm vẫn một mực nhẹ nhàng chối từ. Cuối cùng Không Văn nói:

– Không thể tuân mệnh Trương chân nhân, xin đừng phiền trách.

Đoạn quay sang bảo tăng nhân đứng bên cạnh:

– Ngươi bảo bếp Hương Tích dọn một mâm cỗ chay, bưng ra đây khoản đãi Trương chân nhân.

Tăng nhân vâng mệnh chạy đi.

Trương Tam Phong sắc mặt buồn rầu, xua tay:

– Như thế là lão đạo hôm nay đã mạo muội làm phiền. Thịnh yến không dám nhận, mong các vị lượng thứ, xin cáo biệt.

Rồi Trương lão đứng dậy, cúi mình hành lễ, nắm tay Vô Kỵ, hai ông cháu thản nhiên xuống núi.

Comments

Comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 11: Hữu nữ trường thiệt lợi như thương

Trương Tam Phong dắt Vô Kỵ xuống khỏi núi Thiếu Thất, thầm nghĩ tính mệnh của thằng bé chẳng giữ được lâu, lại không còn cách gì chữa trị, thôi thì kể chuyện vui cho nó nghe để hai ông cháu cùng giải sầu. Hôm đó đến bờ sông Hán Thủy, hai ông cháu xuống đò qua sông. Thuyền ra giữa dòng, sóng to dồn dập, nước sông cuồn cuộn, con đò nhỏ trồi lên hụp xuống không ngừng, tâm trạng của Trương Tam Phong cũng dao động như những lớp sóng kia vậy.

Trương Vô Kỵ bỗng nói:

– Thái sư phụ, đừng buồn ông ạ, cháu chết đi sẽ được gặp cha mẹ cháu, như thế cũng thích lắm chứ. Trương Tam Phong nói:

– Cháu chớ nói vậy, dù thế nào thái sư phụ cũng sẽ nghĩ cách cứu được cháu.

Trương Vô Kỵ nói:

– Cháu vốn nghĩ rằng nếu học được Cửu dương thần công của phái Thiếu Lâm, cháu sẽ nói lại cho tam sư bá nghe, vậy sẽ hay biết mấy.

Trương Tam Phong hỏi:

– Sao lại hay?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Chỉ mong Du tam bá tu luyện thần công của cả hai phái Võ Đang, Thiếu Lâm, để chữa cho chân tay khỏi tàn phế.

Trương Tam Phong thở dài:

– Du tam bá của cháu bị ngoại thương gân cốt, nội công dù cao siêu đến mấy cũng không trị lành được.

Trương lão nghĩ thầm: "Thằng bé này biết mình không sống được, vậy mà không hề sợ chết, lại chỉ muốn nghĩ cách chữa bệnh cho Du Đại Nham, tấm lòng như thế thật đúng là cốt cách của kẻ hiệp nghĩa chúng ta". Trương lão đang định khen nó vài lời, bỗng nghe trên sông có một giọng nói oang oang truyền đến:

– Mau dừng thuyền lại, giao đứa bé cho ta, Phật gia sẽ tha mạng cho ngươi, nếu không đừng trách ta vô tình.

Giọng nói từ sóng truyền tới, lọt vào tai nghe rõ từng tiếng một, hiển nhiên nội lực của người nói không phải loại yếu.

Trương Tam Phong cười thầm: "Kẻ nào to gan dám bảo ta giao thằng bé chứ?" Ngẩng đầu lên Trương lão thấy hai chiếc giang thuyền đang chèo như bay từ xa tới, nhìn kỹ, thấy trên chiếc thuyền nhỏ đi trước có một đại hán râu xồm, hai tay hai mái chèo, chèo thật gấp, trong lòng thuyền có hai đứa trẻ, một trai một gái. Chiếc thuyền sau khá lớn, trên có bốn phiên tăng, bảy tám võ quan Mông Cổ. Bọn võ quan dùng ván làm mái chèo phụ. Đại hán râu xồm quá khỏe, mỗi lần đưa mái chèo là chiếc thuyền nhỏ lại vọt đi cả trượng, nhưng thuyền đằng sau đông người nên khoảng cách hai thuyền càng lúc càng gần. Không lâu sau, bọn võ quan và phiên tăng lắp cung tên, bắn về phía đại hán, tiếng tên bay nghe vèo vèo.

Trương Tam Phong nghĩ thầm: "Thì ra bọn kia đòi gã đại hán trao lại đứa bé". Trương lão bình sinh rất ghét quan binh Mông Cổ tàn sát người Hán, lúc này quyết định ra tay cứu giúp. Đại hán tay trái chèo thuyền, tay phải giơ mái chèo gạt các mũi tên bắn tới, thủ pháp rất nhanh nhẹn. Trương Tam Phong nghĩ thầm: "Người này võ công bất phàm, anh hùng lâm nạn, lẽ nào ta ngồi nhìn mà không cứu?" bèn quay đầu bảo người lái đò:

– Thuyền gia, cho thuyền tới đón mau.

Người lái đò thấy tên bay như mưa, sợ hết cả hồn, chân tay luống cuống, đang lo cho thuyền chạy tránh đi chưa kịp, làm sao dám tiến lên đón? Y run giọng, nói:

– Lão.. lão đạo gia.. có nói đùa không đấy?

Trương Tam Phong thấy tình thế khẩn cấp, bèn giành lấy mái chèo chèo mạnh hai cái, chiếc thuyền liền đổi hướng, lao về phía hai chiếc thuyền kia.

Bỗng nghe "Ái!" một tiếng rú đau đớn, đứa bé trai trên con thuyền nhỏ bị trúng tên vào lưng. Đại hán râu xồm thất kinh, cúi xuống xem xét, thì vai và lưng lập tức trúng mấy mũi tên, mái chèo trong tay cầm không vững, rơi luôn xuống sông, chiếc thuyền dừng lại. Chiếc thuyền lớn nhanh chóng đuổi kịp, bảy tám tên võ quan và phiên tăng Mông Cổ liền nhảy sang chiếc thuyền nhỏ. Đại hán râu xồm tay đấm chân đá, bất khuất chống trả.

Trương Tam Phong thét to:

– Thát tử dừng tay, chớ có hành hung giết người!

Trương lão chèo gấp vài cái nữa cho thuyền tới gần hơn, rồi nhún mình một cái, hai tay áo phất phất, từ trên không trung nhẹ nhàng đáp xuống chiếc thuyền nhỏ.

Hai tên võ quan Mông Cổ giương cung bắn. Trương Tam Phong phẩy tay áo hất hai mũi tên bay ra xa, chân vừa chạm ván thuyền thì chưởng trái liền đánh ra, hai tên phiên tăng văng xa hơn một trượng, "bõm, bõm" hai tiếng, rơi luôn xuống sông. Bọn võ quan thấy Trương lão như thiên tướng giáng trần, vừa ra tay đã đánh bay hai phiên tăng cao cường nhất thì không khỏi kinh hãi. Tên võ quan cầm đầu quát hỏi:

– Lão đạo điên khùng kia làm gì vậy?

Trương Tam Phong mắng lại:

– Quân cẩu trệ! Chỉ giỏi hành hung tác ác, tàn hại lương dân, có cút đi không thì bảo!

Tên võ quan nói:

– Lão có biết tên kia là ai không? Hắn là dư đảng của phản tặc Ma giáo ở Viên Châu, cả thiên hạ đều muốn tróc nã khâm phạm!

Trương Tam Phong nghe câu "phản tặc Ma giáo ở Viên Châu" liền giật mình, nghĩ thầm: "Chẳng lẽ y là thuộc hạ của Chu Tử Vượng?" bèn quay sang hỏi đại hán râu xồm:

– Có đúng vậy không?

Đại hán râu xồm toàn thân máu me, tay trái ôm đứa bé trai, mắt rưng rưng lệ, nói:

– Tiểu chúa công.. tiểu chúa công bị chúng nó bắn chết rồi.

Câu này vô hình trung thừa nhận thân phận của mình. Trương Tam Phong càng kinh ngạc hơn, hỏi:

– Phải chăng đây là hài tử của Chu Tử Vượng?

Đại hán đáp:

– Đúng thế, tiểu nhân phụ lòng ủy thác rồi, cái mạng này cũng chẳng thiết sống nữa.

Đại hán râu xồm nhẹ nhàng đặt xác đứa bé xuống, rồi lao vào tên võ quan kia. Nhưng y vốn đã bị thương, vai và lưng còn hai mũi tên cắm vào chưa rút ra, mũi tên có tẩm thuốc độc, nên y vừa lao đi đã kêu "Ối" một tiếng, ngã lăn ra sàn thuyền.

Đứa bé gái kia thì ôm xác một người lớn ở trong khoang, khóc to:

– Cha ơi, cha ơi!

Trương Tam Phong nhìn trang phục của tử thi, biết đó là người chủ thuyền.

Trương Tam Phong nghĩ thầm: "Nếu mình biết sớm là nhân vật trong Ma giáo thì đã chẳng nhúng tay vào chuyện này làm gì, nhưng đã ra tay thì không thể bỏ giữa chừng", bèn nói với tên võ quan:

– Đứa bé kia đã chết, người kia bị trúng độc tiễn, chốc lát sẽ chết theo; các ngươi đã lập công rồi, thôi đi nơi khác!

Tên võ quan nói:

– Không được, phải lấy hai cái thủ cấp mới xong!

Trương Tam Phong nói:

– Hà tất phải quá quắt như thế?

Tên võ quan hỏi lại:

– Lão đạo là ai? Cớ sao nhúng tay vào việc này?

Trương Tam Phong mỉm cười, nói:

– Ngươi hỏi ta mà làm chi? Việc thiên hạ thì người thiên hạ ai cũng có thể làm.

Tên võ quan đưa mắt cho đồng bọn, hỏi:

– Đạo trưởng đạo hiệu là gì? Xuất gia ở đạo quán nào?

Trương Tam Phong chưa trả lời, hai tên võ quan Mông Cổ đột nhiên vung trường đao chém mạnh vào vai Trương lão. Hai đao này chém tới cực nhanh, khoảng cách giữa đôi bên trên chiếc thuyền nhỏ lại gần, thật không còn chỗ né tránh.

Trương Tam Phong nghiêng người một cái. Trương lão vốn quay mặt về phía mũi thuyền, chỉ hơi xoay người thì mặt đã hướng sang mạn thuyền bên trái, hai lưỡi đao chém vào khoảng không. Hai chưởng của Trương lão vung lên, đẩy vào lưng hai tên võ quan, miệng quát:

– Xéo đi!

Chưởng lực nhả ra, hai tên võ quan bay sang đúng chiếc thuyền lớn mà chúng tới. Mấy chục năm rồi Trương lão không động thủ với ai, lúc này ra tay chẳng khác nào dùng dao mổ trâu để giết gà, song chỉ thấy là vẫn muốn sao được vậy. Tên võ quan thủ lĩnh há hốc mồm, ấp úng nói:

– Lão.. lão.. lão có phải là..

Trương Tam Phong phẩy phẩy tay áo, quát:

– Ta bình sinh chuyên giết Thát tử!

Bọn võ quan, phiên tăng chỉ thấy gió tạt vào mặt, tên nào tên nấy khó thở. Khi Trương lão dừng tay, cả bọn mặt trắng bệch, cùng la hoảng, tranh nhau nhảy vội về thuyền lớn, cứu hai gã phiên tăng rơi xuống sông rồi vội vã chèo đi.

Trương Tam Phong lấy đơn dược trong bọc ra, nhét vào miệng đại hán râu xồm, chèo chiếc thuyền nhỏ lại gần chiếc đò ngang, định đỡ y qua nhưng không ngờ y thật cứng cỏi, một tay ôm xác đứa bé trai, nhẹ nhàng nhảy qua thuyền bên kia. Trương Tam Phong gật đầu nghĩ thầm: "Người này bị trọng thương mà vẫn trung thành với ấu chúa như thế, quả là một hảo hán khí khái. Tuy lần này ta trót cứu hắn, nhưng một hảo hán như hắn có cứu cũng đáng". Trương lão trở lại đò ngang, giúp gã đại hán nhổ hai mũi tên độc ra, bôi thuốc trị độc cho gã.

Đứa bé gái nhìn xác cha ở chiếc thuyền bên kia trôi đi, cứ ngồi khóc. Đại hán râu xồm nói:

– Bọn cẩu quan thật là tàn ác, vừa nhảy sang liền bắn chết chủ thuyền. Nếu lão đạo gia không tới kịp, chỉ e cháu bé ấy cũng bị chúng giết luôn.

Trương Tam Phong nghĩ thầm: "Hiện thời Vô Kỵ không thể đi đâu, hán tử này lại là khâm phạm, nếu vào nghỉ tại khách điếm ở Lão Hà Khẩu, ta phải chiếu cố cho cả hai người, e khó chu toàn". Trương lão bèn lấy ba lượng bạc đưa cho người lái đò, nói:

– Tiêu công đại ca, phiền đại ca cho thuyền thuận dòng đi về hướng đông, qua bến Tiên Nhân thì đưa chúng tôi tới trấn Thái Bình Điếm nghỉ đêm.

Người lái đò thấy Trương lão đánh bọn quan binh Mông Cổ một trận tơi bời, sớm đã muôn phần kính nể, huống hồ lại được cho nhiều tiền như thế, liền vâng dạ rối rít bẻ lái đưa thuyền đi về hướng đông.

Đại hán râu xồm khấu đầu trên sàn thuyền, nói:

– Lão đạo gia cứu mạng tiểu nhân, Thường Ngộ Xuân này xin rập đầu bái tạ.

Trương Tam Phong giơ tay đỡ dậy, nói:

– Thường anh hùng khỏi cần dùng đại lễ.

Trương lão vừa chạm vào bàn tay đại hán thì thấy tay y lạnh giá, hơi ngạc nhiên, hỏi:

– Hình như Thường anh hùng đã bị nội thương từ trước thì phải?

Thường Ngộ Xuân nói:

– Tiểu nhân từ Tín Dương hộ tống tiểu chúa công đi xuống phía nam, dọc đường phải đánh nhau với bọn tay chân của Thát tử bốn lần, ngực và lưng bị một phiên tăng đánh trúng hai chưởng.

Trương Tam Phong xem mạch cho Thường Ngộ Xuân, thấy mạch đập rất yếu, cởi áo y ra để xem vết thương thì càng kinh hãi hơn khi thấy chỗ trúng chưởng sưng vù lên cả tấc, bị thương quả không nhẹ, nếu là người khác chắc không chịu nổi. Người này phải chạy trốn hàng ngàn dặm, lại phải đánh trả cường địch, quả là bậc anh hùng. Trương lão bèn khuyên đừng nói chuyện nữa, hãy nằm trong khoang tĩnh dưỡng.

Đứa bé gái kia chừng mười tuổi, áo quần lam lũ, chân đi đất, tuy là con nhà thuyền chài nghèo khổ nhưng mặt mũi xinh xắn, sau này chắc chắn sẽ là một mỹ nhân tuyệt sắc. Cô bé cứ ngồi sụt sùi gạt nước mắt.

Trương Tam Phong thấy cháu bé đáng thương, hỏi:

– Tiểu cô nương, tên cháu là gì?

Cô bé đáp:

– Cháu họ Chu, là Chu Chỉ Nhược ạ.

Trương Tam Phong nghĩ thầm: "Con nhà thuyền chài mà đặt tên thật hay", lại hỏi:

– Quê cháu ở đâu? Nhà còn những ai? Để ta gọi đò đưa cháu về nhà.

Chu Chỉ Nhược gạt lệ, đáp:

– Chỉ có hai cha con cháu sống trên thuyền thôi, nhà.. không còn ai nữa.

Trương Tam Phong "Ôi!" một tiếng, nghĩ thầm: "Con bé mất cha mất nhà, còn quá bé bỏng, làm thế nào bây giờ?"

Thường Ngộ Xuân nói:

– Lão đạo gia võ công cao cường, từ xưa tới nay tiểu nhân chưa gặp ai giỏi như thế, xin vô phép hỏi pháp hiệu của lão đạo gia?

Trương Tam Phong mỉm cười:

– Lão là Trương Tam Phong.

Thường Ngộ Xuân "..."

Lên một tiếng, liền nhỏm dậy, nói to:

– Hóa ra lão đạo gia là Trương chân nhân núi Võ Đang, thảo nào thần công cái thế, Thường Ngộ Xuân hôm nay vinh hạnh được gặp vị tiên trưởng.

Trương Tam Phong mỉm cười:

– Lão đạo chẳng qua sống hơn vài năm, có gì mà tiên với chả Phật. Thường anh hùng mau nằm nghỉ, đừng làm gì động tới vết thương.

Trương Tam Phong thấy Thường Ngộ Xuân khẳng khái hào sảng, rất có khí phách thì rất quý mến y, nhưng nghĩ đến họ Thường này là người trong Ma giáo, không nên trò chuyện nhiều, bèn lạnh nhạt nói:

– Ngươi bị thương không nhẹ, đừng nói nhiều.

Trương Tam Phong tính tình khoáng đạt, đối với chính tà hai đường vốn không quá thiên kiến. Trương lão từng nói với Trương Thúy Sơn:

– Hai chữ chính tà thật khó phân biệt. Đệ tử của chính phái mà tâm thuật bất chính thì cũng là tà đồ; còn trong tà phái có người một lòng hướng thiện, đó cũng là chính nhân quân tử.

Lại nói giáo chủ Thiên Ưng giáo Ân Thiên Chính tuy tính tình nóng nảy, hành sự khác người, nhưng là người quang minh lỗi lạc, nên kết thành bằng hữu. Nhưng từ khi Trương Thúy Sơn tự vẫn mà chết, Trương lão thương nhớ đệ tử ruột, căm giận Thiên Ưng giáo, nghĩ thầm đệ tử thứ ba Du Đại Nham suốt đời tàn phế, đệ tử thứ năm Trương Thúy Sơn thân tử danh liệt cũng đều do Thiên Ưng giáo mà ra. Tuy dằn lòng không đi gặp Ân Thiên Chính vấn tội báo cừu, song dù bụng dạ có rộng lượng đến mấy thì hai chữ "tà ma" cũng khiến Trương lão cực kỳ căm ghét.

Kẻ tên gọi Chu Tử Vượng chính là đại đệ tử của Di Lặc tông trong Minh giáo. Mấy năm trước khởi sự tại Viên Châu đất Giang Tây, tự lập làm đế, lấy quốc hiệu là Chu. Không lâu sau bị quân Nguyên tiêu diệt, Chu Tử Vượng bị bắt, bị chém đầu. Di Lặc tông và Thiên Ưng giáo tuy không cùng một phái, song đều là chi lưu của Minh giáo, có cùng nguồn gốc sâu xa. Khi Chu Tử Vượng nổi dậy, Ân Thiên Chính ở Chiết Giang từng lên tiếng ủng hộ. Trương Tam Phong hôm nay cứu Thường Ngộ Xuân, chỉ là vì lòng nghĩa hiệp nhất thời, lúc đầu chưa biết thân phận y thuộc Minh giáo mà thôi.

Canh hai đêm đó thuyền tới Thái Bình Điếm. Trương Tam Phong bảo chủ thuyền đậu xa thị trấn, lên trấn mua thức ăn về nấu cơm, bày ra mâm các món thịt gà, thịt heo, cá, rau trong bốn cái tô lớn. Trương Tam Phong bảo Thường Ngộ Xuân và Chu Chỉ Nhược ăn trước, còn mình tự tay đút cho Trương Vô Kỵ ăn. Thường Ngộ Xuân hỏi nguyên do, Trương Tam Phong bảo là thằng bé bị độc hàn xâm nhập tạng phủ, đã điểm các huyệt đạo, tạm thời chưa nguy đến tính mạng. Trương Vô Kỵ tủi thân, nghẹn ngào không nuốt nổi. Trương Tam Phong gặng đút thêm, nó lắc đầu không chịu ăn thêm.

Chu Chỉ Nhược đón lấy chén cơm từ tay Trương Tam Phong, nói:

– Đạo trưởng dùng cơm trước đi, để cháu bón cơm cho vị tiểu tướng công này.

Trương Vô Kỵ nói:

– Ta no rồi, không muốn ăn nữa.

Chu Chỉ Nhược nói:

– Nếu tiểu tướng công không ăn, lão đạo trưởng sẽ buồn lòng, cũng không muốn ăn, chẳng hóa ra cũng bị đói cả ư?

Trương Vô Kỵ nghĩ cô bé nói quả không sai, lúc Chu Chỉ Nhược xúc cơm đưa tới miệng, bèn há miệng ăn. Cô bé cẩn thận gỡ hết xương gà, xương cá, lại rưới chút nước thịt vào mỗi miếng cơm. Trương Vô Kỵ ăn thấy thật ngon miệng, hết cả một tô cơm.

Trương Tam Phong cảm thấy được an ủi, nghĩ thầm: "Vô Kỵ số đến là khổ, mười tuổi đã mồ côi cả cha lẫn mẹ, lại bị bệnh nặng, nay được người con gái ý tứ thế kia săn sóc thật là hay".

Thường Ngộ Xuân không đụng tới thịt cá, chỉ ăn rau, tuy đang trọng thương mà cũng ăn hết bốn tô cơm trắng. Trương Tam Phong không kiêng thịt cá, lại thấy y chỉ ăn rau, bèn khuyên y nên ăn chút thịt gà, Thường Ngộ Xuân nói:

– Trương chân nhân, tiểu nhân thờ Bồ Tát, không ăn mặn.

Trương Tam Phong nói:

– Ờ, lão đạo quên mất.

Lúc đó mới nhớ là người trong Ma giáo quy củ rất nghiêm, không ăn mặn, từ đời Đường đến nay đều thế cả. Cuối thời Bắc Tống, đại thủ lĩnh của Minh giáo là Phương Lạp khởi sự tại Chiết Đông, quan và dân đương thời đều gọi họ là "Đạo ăn chay thờ ma". Ăn chay và thờ Ma vương, là hai quy luật lớn của Ma giáo, lưu truyền đã mấy trăm năm. Từ đời Tống trở đi, quan phủ chém giết Ma giáo rất ngặt, người trong võ lâm đối với Ma giáo cũng không coi ra gì, cho nên giáo đồ Ma giáo hành sự rất bí ẩn, tuy ăn chay nhưng đối với người ngoài vẫn phải giả xưng thờ Phật, thờ Bồ Tát, chứ không dám tiết lộ thân phận của mình.

Thường Ngộ Xuân nói:

– Trương chân nhân, đạo trưởng có ơn cứu mạng, lại đã biết rõ lai lịch của tiểu nhân, tiểu nhân chả dám giấu giếm. Tiểu nhân là người trong Minh giáo, phụng sự Minh tôn. Quan phủ triều đình vô cùng căm ghét, người hiệp nghĩa trong các danh môn chính phái coi khinh chúng tôi, thậm chí ngay đến bọn hắc đạo giết người, đốt nhà cướp của cũng bảo chúng tôi là tà ma quỷ quái. Lão nhân gia đã biết rõ lai lịch của tiểu nhân mà vẫn ra tay cứu, ân đức này quả thật tiểu nhân không biết lấy gì báo đáp.

Trương Tam Phong cũng từng nghe kể đôi chút về Ma giáo, biết Ma giáo thờ đại Ma vương tên là Ma Ni, người theo Ma giáo gọi là Minh tôn. Tôn giáo này truyền đến Trung thổ từ đời Nguyên Hòa, Đường Hiến Tông, thời ấy gọi là Ma Ni giáo, còn gọi là Đại Vân Quang Minh giáo, giáo đồ tự xưng là Minh giáo, nhưng người ngoài thì gọi là Ma giáo. Trương Tam Phong trầm ngâm một lát, nói:

– Thường anh hùng..

Thường Ngộ Xuân vội nói:

– Lão đạo gia đừng gọi anh hùng hào kiệt gì cả, xin cứ gọi trống không hai chữ Ngộ Xuân là được.

Trương Tam Phong nói:

– Được, Ngộ Xuân, năm nay ngươi bao nhiêu tuổi?

Thường Ngộ Xuân đáp:

– Tiểu nhân vừa tròn hai mươi.

Trương Tam Phong thấy y tuy mặt đầy râu ria nhưng lời lẽ cử chỉ xem ra còn rất trẻ, nghe trả lời thì gật đầu:

– Ngươi như thế chỉ vừa mới trưởng thành, tuy đi theo Ma giáo nhưng sa chân chưa sâu, biết sớm quay đầu cũng chưa muộn đâu! Ta có một câu muốn khuyên ngươi, ngươi nghe đừng giận.

Thường Ngộ Xuân nói:

– Lão đạo gia chỉ giáo, tiểu nhân làm sao dám giận.

Trương Tam Phong nói:

– Tốt lắm! Ta khuyên ngươi thay lòng đổi dạ, bỏ tà giáo đi. Nếu ngươi không chê bổn phái Võ Đang bản lĩnh kém cỏi, lão đạo sẽ bảo đại đồ nhi Tống Viễn Kiều nhận ngươi làm đệ tử. Sau này ngươi hành tẩu giang hồ, oai phong hiên ngang, sẽ không ai dám coi thường ngươi nữa.

Tống Viễn Kiều đứng đầu bảy đệ tử, danh chấn thiên hạ, những kẻ bình thường trong võ lâm muốn gặp Tống đại hiệp một lần cũng chẳng dễ. Võ Đang chư hiệp mãi vài năm gần đây mới thu nhận đồ đệ, song việc lựa chọn cực nghiêm, nếu không phải là người có căn cốt tư chất, phẩm hạnh tính tình đều tốt thì không được nhận làm môn hạ phái Võ Đang. Thường Ngộ Xuân xuất thân Ma giáo, người thường nghe tới đã cau mày lắc đầu, vậy mà lại được Trương Tam Phong biệt đãi cho làm môn hạ của Tống Viễn Kiều, đối với người học võ mà nói, là một đại phúc duyên hiếm có vậy.

Ai ngờ Thường Ngộ Xuân khẳng khái nói:

– Tiểu nhân được Trương chân nhân quý mến, cảm kích thật không để đâu cho hết. Nhưng tiểu nhân đã theo Minh giáo rồi, suốt đời không thể nào bội giáo.

Trương Tam Phong khuyên thêm vài câu, Thường Ngộ Xuân vẫn kiên quyết không nghe.

Trương Tam Phong thấy y chấp mê không tỉnh ngộ, đành thở dài, lắc đầu nói:

– Còn tiểu cô nương này..

Thường Ngộ Xuân nói:

– Lão đạo trưởng cứ yên tâm, cha cô bé vì tiểu nhân mà chết, tiểu nhân sẽ tìm cách lo liệu cho cô bé chu đáo.

Trương Tam Phong nói:

– Tốt, nhưng ngươi không nên để cô bé này gia nhập quý giáo.

Thường Ngộ Xuân nói:

– Thật không hiểu chúng tôi phạm tội ác gì lớn mà mọi người lại khinh bỉ chúng tôi, coi người theo Minh giáo cứ như mãnh thú độc xà không bằng. Được rồi, đạo trưởng đã dặn thế, tiểu nhân xin tuân mệnh.

Trương Tam Phong ôm Vô Kỵ vào lòng, nói:

– Vậy chúng ta từ biệt nhau ở đây.

Trương lão quả thật không muốn giao thiệp thêm với người theo Ma giáo nên không nói mấy chữ "hẹn có ngày gặp lại". Thường Ngộ Xuân lại bái tạ một lần nữa.

Chu Chỉ Nhược nói với Trương Vô Kỵ:

– Tiểu tướng công mỗi ngày cố ăn cho no, để lão đạo gia khỏi lo lắng nhé.

Trương Vô Kỵ ứa nước mắt, nghẹn ngào nói:

– Đa tạ hảo tâm của cô nương, nhưng.. nhưng tôi cũng chẳng còn bao nhiêu ngày để ăn đâu.

Trương Tam Phong buồn rầu, lấy tay áo lau nước mắt trên má Vô Kỵ. Chu Chỉ Nhược lo lắng hỏi:

– Sao thế? Tiểu tướng công.. tiểu tướng công..

Trương Tam Phong nói:

– Tiểu cô nương, lòng dạ cháu thật tốt, chỉ mong sau này cháu đi theo con đường chính đáng, không sa vào vòng tà ma.

Chu Chỉ Nhược nói:

– Vâng! Thế còn vị tiểu tướng công này, vì sao lại nói là chả còn bao nhiêu ngày để ăn ạ?

Trương Tam Phong lặng lẽ không trả lời. Thường Ngộ Xuân nói:

– Trương chân nhân, lão nhân gia công lực thâm hậu, thần thông quảng đại, vị thiếu gia này tuy trúng độc không nhẹ, nhưng không thể hóa giải được sao?

Trương Tam Phong nói:

– Được chứ!

Miệng nói thế, nhưng tay trái của Trương lão thõng bên dưới thì cứ xua xua nhẹ mấy cái, ý muốn nói là bệnh tình của Vô Kỵ quá nặng, vô phương cứu chữa, có điều không muốn cho Vô Kỵ biết.

Thường Ngộ Xuân thấy Trương Tam Phong xua xua tay thì giật mình, nói:

– Tiểu nhân bị nội thương không nhẹ, chính đang đi nhờ một vị thần y chữa trị, hay là cho vị thiếu gia này đi với tiểu nhân luôn thể?

Trương Tam Phong lắc đầu, nói:

– Khí độc hàn đã chạy khắp tạng phủ, thuốc men tầm thường cũng vô tác dụng thôi, chỉ còn.. chỉ còn cách từ từ hóa giải thôi.

Thường Ngộ Xuân nói:

– Thế nhưng vị thần y kia quả là có tài cải tử hoàn sinh đó.

Trương Tam Phong sững người, chợt nghĩ ra, bèn hỏi:

– Người ấy phải chăng là Điệp Cốc Y Tiên?

Thường Ngộ Xuân nói:

– Chính ông ta, thì ra lão đạo trưởng cũng biết tiếng Hồ sư bá của tiểu nhân.

Trương Tam Phong do dự, nghĩ thầm: "Ta nghe Điệp Cốc Y Tiên Hồ Thanh Ngưu này tuy y đạo cực kỳ cao minh, song lại theo Ma giáo, xưa nay nhân sĩ võ lâm không ai muốn nhắc tới. Huống hồ tính khí của hắn lại hết sức quái dị, chỉ cần là người trong Ma giáo là hắn tận lực cứu chữa, không lấy một xu tiền công, còn người ngoài cầu xin hắn, dù có chồng cả vạn lượng vàng trước mặt, hắn cũng chẳng buồn đoái hoài, cho nên hắn còn có ngoại hiệu Kiến Tử Bất Cứu. Nếu đúng là người đó, thì thà để Vô Kỵ chết chứ quyết không giao nó vào tay Ma giáo".

Thường Ngộ Xuân thấy Trương Tam Phong cau mày suy nghĩ, hiểu rõ tâm ý của Trương lão, bèn nói:

– Trương chân nhân, Hồ sư bá tuy trước nay không hề chữa bệnh cho người ngoài Ma giáo, nhưng tiểu nhân được lão đạo trưởng cứu mạng, đại ân thâm trọng, Hồ sư bá không thể không phá lệ. Giả sử Hồ sư bá không ra tay, tiểu nhân quyết chẳng để yên.

Trương Tam Phong nói:

– Vị Hồ tiên sinh đó y thuật như thần, ta cũng có nghe tiếng. Có điều khí độc hàn trong thân thể Vô Kỵ quả không phải loại thường..

Thường Ngộ Xuân cao giọng:

– Vị thiếu gia này cùng lắm chữa không xong, thì đằng nào cũng chết, có gì phải kiêng dè kia chứ?

Tính tình Thường Ngộ Xuân quá bộc trực, hào sảng, nghĩ sao liền nói vậy.

Trương Tam Phong nghe năm chữ "thì đằng nào cũng chết", trong lòng chấn động, nghĩ thầm: "Gã họ Thường này nói năng lỗ mãng nhưng quả không sai, ta xem ra Vô Kỵ chỉ còn sống được chừng một tháng nữa, thôi cứ đánh liều cầu may vậy". Trương lão trước nay giao thiệp với ai cũng hết lòng hết dạ tin người, Thường Ngộ Xuân này quả là một hán tử trượng nghĩa, song Trương Vô Kỵ là giọt máu duy nhất của đứa học trò yêu, bảo Trương lão giao vào tay một đệ tử Ma giáo nổi danh tà ác, làm sao có thể yên tâm kia chứ, thành thử nhất thời chưa quyết định được.

Thường Ngộ Xuân nói:

– Trương chân nhân không muốn đến gặp Hồ sư bá, cái đó tiểu nhân biết. Xưa nay chính tà hai bên không nhìn mặt nhau mà! Trương chân nhân là đại tông sư đương thời, lẽ nào đi cầu tà ma ngoại đạo? Hồ sư bá của tiểu nhân tính khí cổ quái, gặp Trương chân nhân không chừng lại nói năng vô lễ, xảy ra động thủ lại phiền. Vị thiếu gia này tốt hơn cả hãy để tiểu nhân đưa đi, nhưng như thế Trương chân nhân lại không an tâm. Vậy làm thế này, tiểu nhân dẫn Trương huynh đệ đây tới nhờ Hồ sư bá từ từ cứu chữa, rồi tiểu nhân sẽ lên núi Võ Đang làm con tin. Trương huynh đệ nếu có gì không ổn, Trương chân nhân cứ một chưởng đánh chết tiểu nhân là xong.

Trương Tam Phong không khỏi bật cười, nghĩ thầm: "Nếu Vô Kỵ có gì sơ sẩy, ta đánh chết ngươi thì được cái gì? Song ngươi không lên núi Võ Đang, thì ta biết tìm ngươi ở đâu? Trước mắt Vô Kỵ khí hàn độc đã nhập vào cao hoang[48], đúng là đằng nào cũng chết, vào lúc sinh tử này, phải quyết định dứt khoát", bèn nói:

– Thôi đành gửi gắm ngươi vậy. Nhưng ta phải nói trước, Hồ tiên sinh không được ép Vô Kỵ gia nhập Ma giáo, bổn phái Võ Đang cũng không chịu ơn quý giáo đâu đó.

Trương lão biết Ma giáo hành sự bí ẩn, nguy hiểm, nếu dính dấp với họ, âm hồn cứ lẩn quẩn, không biết hậu hoạn bao nhiêu mà kể, Trương Thúy Sơn đã thân tử danh liệt, là một dẫn chứng rành rành ra đấy.

Thường Ngộ Xuân ngang nhiên nói:

– Trương chân nhân coi người trong Minh giáo chúng tôi chẳng ra gì cả! Nhưng thôi, cứ theo lời dặn là xong.

Trương Tam Phong nói:

– Ngươi thay ta săn sóc Vô Kỵ, nếu khí độc âm trong cơ thể cuối cùng trừ được thì ngươi đưa nó về núi Võ Đang. Còn việc ngươi lên núi làm con tin thì khỏi cần.

Thường Ngộ Xuân nói:

– Tiểu nhân xin làm hết sức mình.

Trương Tam Phong nói:

– Còn tiểu cô nương này, để ta đưa về núi Võ Đang thu xếp lo liệu cho.

Thường Ngộ Xuân lên bờ sông, dùng đao đào một cái hố dưới một gốc cây đại thụ, đem thi thể của Chu công tử lột hết quần áo mà chôn xuống đó, rồi quỳ trước mộ lạy mấy lạy. Thì ra quy củ của Minh giáo là "khỏa táng", khi sinh ra không mảnh vải che thân, đến lúc chết đem chôn cũng phải thế. Trương Tam Phong không biết quy củ đó, nghĩ thầm bọn Ma giáo làm gì cũng tà môn thần bí.

Sáng hôm sau, Trương Tam Phong dắt Chu Chỉ Nhược, chia tay với Thường Ngộ Xuân và Trương Vô Kỵ. Trương Vô Kỵ từ khi cha mẹ mất đến giờ coi Trương Tam Phong như ông nội của mình, bây giờ bỗng nhiên phải xa cách ông nội, không khỏi nước mắt ròng ròng. Trương Tam Phong an ủi:

– Vô Kỵ, khi nào cháu khỏi bệnh, Thường đại ca sẽ đưa cháu về núi Võ Đang. Cháu ngoan nào, chỉ xa ông vài tháng thôi, không làm gì phải buồn.

Trương Vô Kỵ chân tay không động đậy được, nước mắt cứ chảy dài trên má. Chu Chỉ Nhược trở lại thuyền, lấy trong bọc ra một cái khăn tay, lau nước mắt cho Vô Kỵ, mỉm cười với nó rồi nhét chiếc khăn vào túi áo Vô Kỵ, sau đó mới lên bờ.

Trương Vô Kỵ nhìn theo thái sư phụ cùng Chu Chỉ Nhược đi về phía tây, thấy Chu Chỉ Nhược không ngớt ngoảnh đầu nhìn lại và giơ tay vẫy nó, mãi khi đi khuất sau một hàng dương liễu mới thôi. Lập tức thằng bé cảm thấy thê lương lẻ bóng, đau khổ vô cùng, không nhịn nổi khóc òa lên.

Thường Ngộ Xuân chau mày, hỏi:

– Trương huynh đệ, năm nay đệ bao nhiêu tuổi?

Trương Vô Kỵ nghẹn ngào đáp:

– Mười hai tuổi.

Thường Ngộ Xuân nói:

– Hay nhỉ, mười hai tuổi đầu rồi, đâu còn bé bỏng gì nữa mà khóc hu hu, không biết ngượng ư? Hồi huynh mười hai tuổi thì đã bị đánh không biết mấy trăm trận, nhưng không bao giờ thèm khóc. Nam tử hán đại trượng phu, chảy máu thì được, rơi lệ thì không. Đệ còn thút tha thút thít, huynh sẽ cho vài cái tát.

Trương Vô Kỵ nói:

– Đệ không muốn xa thái sư phụ nên mới khóc, chứ ai đánh đệ, đệ chả khóc đâu. Đại ca muốn tát đệ thì cứ việc, hôm nay đánh đệ một quyền, mai sau đệ sẽ đánh lại mười quyền.

Thường Ngộ Xuân kinh ngạc, cười ha hả, nói:

– Hảo huynh đệ, hảo huynh đệ. Thế mới là cốt cách nam tử hán chứ. Tiểu đệ lợi hại như thế, huynh chả dám đánh đệ đâu.

Trương Vô Kỵ nói:

– Tiểu đệ cử động còn chẳng nổi, sao huynh không dám đánh?

Thường Ngộ Xuân cười, nói:

– Hôm nay huynh đánh đệ, sau này đệ học võ công của thái sư phụ, môn Thần quyền của phái Võ Đang, huynh làm sao chịu nổi vài cú đấm?

Trương Vô Kỵ nghe vậy bật cười, cảm thấy vị Thường đại ca này tướng mạo tuy hung dữ nhưng không phải hạng người xấu.

Thường Ngộ Xuân thuê giang thuyền đi thẳng xuống Hán Khẩu, đến Hán Khẩu đổi sang thuyền lớn theo Trường Giang đi về phía đông. Nơi Điệp Cốc Y Tiên Hồ Thanh Ngưu ẩn cư là hẻm núi Hồ Điệp, bên cạnh hồ Nữ Sơn vùng Hoàn Bắc.

Trường Giang từ Hán Khẩu đến Cửu Giang, chảy theo hướng đông nam, qua Cửu Giang rồi thì ngoặt sang hướng đông bắc, vào địa giới đất Hoàn. Hai năm trước, Trương Vô Kỵ từng đáp thuyền ngược lên hướng bắc, nhưng khi đó đi cùng với cha mẹ, lại có Du nhị bá đồng hành, dọc đường biết bao điều thích thú. Nay cha mẹ đều đã mất, còn mình sống dở chết dở theo Thường Ngộ Xuân đi cầu thầy chữa bệnh, sướng khổ hai đằng quả thật cách nhau một trời một vực. Sợ Thường Ngộ Xuân nổi giận, tuy trong lòng rất đau buồn, nhưng Vô Kỵ không dám khóc. Những huyệt đạo Trương Tam Phong điểm hồi trước đã tự giải khai, mỗi khi hàn độc phát tác lại đau đớn khó chịu, Vô Kỵ cứ nghiến răng chịu đựng đến nỗi môi dưới đầy các vết răng, mà âm hàn xâm nhập ngày một sâu thêm.

Đến Qua Phụ ở hạ du Tập Khánh, Thường Ngộ Xuân bỏ thuyền lên bờ, thuê một cỗ xe lớn chạy về hướng bắc; mấy ngày sau đến Quang Minh ở phía đông Phụng Dương. Thường Ngộ Xuân biết vị Hồ sư bá không thích người ngoài biết chỗ ẩn cư của ông ta, khi đến cách hồ Nữ Sơn khoảng hai chục dặm liền cho xe quay đầu, rồi cõng Trương Vô Kỵ băng băng đi tới.

Thường Ngộ Xuân tưởng rằng hai chục dặm chỉ đi một mạch là tới, ai ngờ vì bị trúng hai âm chưởng của phiên tăng, nội thương khá nặng, mới đi được hơn một dặm là gân cốt đã mỏi nhừ, thở hồng hộc, bước đi vất vả. Trương Vô Kỵ ái ngại, nói:

– Thường đại ca, để tiểu đệ tự đi cũng được, đại ca đừng phí sức.

Thường Ngộ Xuân giận dữ nói:

– Bình thời huynh đi một mạch cả trăm dặm cũng chưa thấy mệt, không lẽ tên tặc hòa thượng đánh huynh có hai chưởng mà không đi nổi nữa sao?

Thường Ngộ Xuân hiếu thắng càng cố sức bước nhanh hơn, nhưng nội thương vốn đã trầm trọng, cộng với sự nôn nóng gắng sức nên chỉ sau vài chục trượng, đã cảm thấy các khớp xương tứ chi rã rời; song y chưa chịu nhận mình yếu, chưa chịu nghỉ, cứ cõng Trương Vô Kỵ đi tiếp, từng bước từng bước một.

Đi như thế thật là chậm, đến tối mịt mà vẫn còn chưa được nửa đường, đường núi lại cheo leo, càng vào sâu càng khó đi. Đến một cánh rừng, Thường Ngộ Xuân đặt Trương Vô Kỵ xuống đất, còn mình nằm thẳng cẳng nghỉ mệt. Y lấy trong bọc ra mấy cái bánh cùng ăn với Trương Vô Kỵ. Nghỉ chừng nửa canh giờ, Thường Ngộ Xuân định đi tiếp, Trương Vô Kỵ cố khuyên y hãy ngủ lại trong rừng một đêm, đợi trời sáng hãy đi tiếp. Thường Ngộ Xuân nghĩ nếu tối nay cứ đi, nửa đêm tới kinh động Hồ Thanh Ngưu, chỉ tổ làm cho ông ta nổi giận, bèn nghe lời khuyên của Vô Kỵ. Hai người ngồi dưới gốc một cây lớn, dựa vào nhau mà ngủ.

Ngủ đến nửa đêm, chất độc hàn trong người Vô Kỵ lại phát tác, người cứ run cầm cập. Sợ làm cho Thường Ngộ Xuân mất ngủ, Trương Vô Kỵ không dám kêu rên, cắn răng cố chịu. Vừa lúc đó, từ xa bỗng vọng tới tiếng vũ khí va chạm nhau, tiếng người quát:

– Định chạy đi đâu?

– Hãy chặn phía đông, dồn hắn vào rừng!

– Phen này quyết không để cho tên trọc tẩu thoát!

Tiếp đó có nhiều tiếng chân, có mấy người chạy vào cánh rừng. Thường Ngộ Xuân giật mình tỉnh dậy, tay phải rút đơn đao, tay trái ôm Trương Vô Kỵ, định vừa đánh vừa chạy. Trương Vô Kỵ nói nhỏ:

– Hình như không phải họ tìm mình đâu.

Thường Ngộ Xuân gật đầu, nép sau gốc cây nhìn ra thấy trong bóng tối có bảy tám người đang vây đánh một người, người đó tay không, song chưởng múa như bay, không cho đối phương lại gần mình. Đấu một hồi, vòng vây dần dần khép lại.

Không lâu sau, vầng trăng khuyết ló ra khỏi các đám mây, chiếu xuống bốn bề, chỉ thấy người bị vây kia là một bạch y hòa thượng cao gầy, tuổi trạc tứ tuần; những người vây đánh hòa thượng có tăng có đạo, có tục gia hán tử, lại có hai thiếu nữ, tổng cộng tám người. Hai tăng nhân mặc áo xám tro, một cầm thiền trượng, một cầm giới đao; mỗi lần thiền trượng quật ngang, giới đao chém phạt là lá cây lại rụng lả tả. Một đạo nhân cầm trường kiếm, thân pháp mau lẹ, dưới ánh trăng kiếm hoa loang loáng từng vùng. Một hán tử thấp bé sử dụng song đao, dùng Địa Đường đao pháp tấn công hạ bàn[49] của bạch y hòa thượng.

Hai thiếu nữ thân hình mảnh mai, sử dụng trường kiếm, kiếm pháp rất linh động nhẹ nhàng. Một thiếu nữ quay mặt sang, nửa mặt lộ rõ dưới ánh trăng. Trương Vô Kỵ suýt nữa kêu lên "Kỷ cô nương!" Thiếu nữ kia chính là Kỷ Hiểu Phù, hôn thê của Ân Lê Đình. Lúc mới nhìn tám người vây đánh một người, Trương Vô Kỵ thấy lấy nhiều đánh ít là quá bất công, chỉ mong hòa thượng phá được vòng vây chạy thoát. Bây giờ nhận ra Kỷ Hiểu Phù, nghĩ hòa thượng là đối thủ của Kỷ cô nương, ắt là kẻ xấu, thì Trương Vô Kỵ xoay qua ủng hộ phe Kỷ Hiểu Phù.

Năm trước, khi cha mẹ cậu tự tận, Kỷ Hiểu Phù từng ngọt ngào an ủi cậu. Tuy cậu không nhận cái vòng vàng Kỷ Hiểu Phù tặng, nhưng sau nhớ lại, cậu rất cảm kích trước hảo ý của Kỷ Hiểu Phù.

Trương Vô Kỵ thấy bạch y hòa thượng võ công cao cường, chưởng pháp lúc nhanh lúc chậm, hư hư thực thực, biến ảo đa đoan, khi đánh nhanh thì không thể nhìn rõ đường hướng tiến thoái của bàn tay y. Bên Kỷ Hiểu Phù tuy đông người mà đánh lâu vẫn chưa thắng nổi.

Bỗng nghe một hán tử quát:

– Dùng ám khí tấn công!

Một hán tử và một đạo sĩ liền dạt qua hai bên, liền đó là tiếng vèo vèo liên tiếp, thiết đạn và phi đao bắn ào ào về phía bạch y hòa thượng khiến y khó bề chống đỡ. Đạo sĩ râu dài cầm kiếm quát to:

– Bành hòa thượng, bọn ta không cần giết mi, mi làm gì phải liều chết như vậy? Mi giao Bạch Quy Thọ ra đây, mọi người sẽ vui vẻ đi liền, như thế có hay hơn không?

Thường Ngộ Xuân giật mình, nói nhỏ:

– Vị kia là Bành hòa thượng ư?

Trương Vô Kỵ năm trước đi thuyền, từng nghe cha mẹ kể cho Du nhị bá chuyện dương đao lập uy trên Vương Bàn sơn đảo, biết nguyên do tại sao các bang phái kết oán thù với Thiên Ưng giáo, biết Bạch Quy Thọ chính là đàn chủ Huyền Vũ đàn còn sống sót sau vụ nọ tại Vương Bàn sơn đảo, lâu nay các môn phái đánh nhau với Thiên Ưng giáo cũng chỉ vì muốn Bạch Quy Thọ nói ra tung tích của Tạ Tốn. Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Không lẽ Bành hòa thượng cũng là người trong giáo phái của mẹ ta?"

Chỉ nghe Bành hòa thượng lớn tiếng nói:

– Bạch đàn chủ đã bị các người đánh trọng thương, đừng nói ta với Bạch Quy Thọ có liên hệ với nhau, mà dù chẳng liên quan gì thì cũng chẳng thể thấy người sắp chết lại không cứu.

Đạo sĩ râu dài nói:

– Sao lại nói là "thấy người sắp chết lại không cứu"? Bọn ta không hề muốn lấy mạng hắn, chỉ muốn biết tin về một người thôi.

Bành hòa thượng nói:

– Các người muốn biết chỗ ở của Tạ Tốn, sao không tới tìm phương trượng Thiếu Lâm tự mà hỏi?

Một tăng nhân mặc áo bào màu xám liền kêu lên:

– Đó là ác kế của con yêu nữ Thiên Ưng giáo Ân Tố Tố giá họa cho Thiếu Lâm bổn tự, ai tin kia chứ?

Tăng nhân này hiển nhiên thuộc phái Thiếu Lâm. Trương Vô Kỵ nghe hắn nhắc đến tên mẹ cậu, thì vừa hãnh diện, vừa đau lòng, nghĩ thầm: "Mẫu thân ta qua đời đã hai năm, song vẫn còn khiến cho các người phải mụ mẫm cả đầu óc".

Bỗng nghe một đạo sĩ đứng vòng ngoài kêu lên:

– Người đằng mình nằm xuống!

Sáu người nghe vậy vội nằm xuống, chỉ thấy bạch quang loang loáng, năm thanh phi đao vù vù phóng ra, cùng nhắm vào ngực Bành hòa thượng. Kể ra Bành hòa thượng chỉ cần rùn người, khom lưng nhào về phía trước, hoặc sử dụng thiết bản kiều ngửa người ra phía sau là tránh được các ngọn phi đao, nhưng khi đó sáu người nằm dưới đất cùng dựng binh khí lên, chặn hết hạ tam lộ của y, thành thử không thể rùn xuống được.

Trương Vô Kỵ kinh hãi, thấy Bành hòa thượng đột nhiên nhảy vọt lên cao, năm ngọn phi đao bay qua dưới chân y. Tuy y tránh được phi đao nhưng thiền trượng và giới đao của hai hòa thượng Thiếu Lâm cùng trường kiếm của gã đạo sĩ râu dài đang cùng đánh tới chân y. Bành hòa thượng đang lơ lửng trên không, đành phải mạo hiểm đánh ra chưởng trái, "bộp" một cái, trúng đầu một tăng nhân Thiếu Lâm, tay phải giật luôn giới đao trong tay tăng nhân ấy, thuận thế gạt vào thiền trượng, mượn sức bay xa hai trượng.

Tăng nhân Thiếu Lâm bị một chưởng trúng thiên linh cái, chết ngay lập tức. Những người còn lại nổi giận hò hét đuổi theo, chỉ thấy Bành hòa thượng chân khập khiễng, ngã lăn ra đất, bảy người kia liền vây quanh y. Tăng nhân cầm thiền trượng như một con hổ điên, đánh xuống tới tấp, miệng gầm lên:

– Bành hòa thượng, mi giết sư đệ của ta, ta quyết thí mạng với mi!

Đạo sĩ râu dài nói:

– Đùi hắn trúng ám khí "yết vĩ câu" của ta rồi, chỉ lát nữa chất độc phát tác là hắn chết thôi.

Quả nhiên Bành hòa thượng đứng chân không vững, thân hình lảo đảo.

Thường Ngộ Xuân nghĩ thầm: "Y là một đại nhân vật của Minh giáo ta, phải cứu y mới được!" Thường Ngộ Xuân tuy đang bị thương nhưng vẫn định xông ra cứu người, vội hít mạnh một hơi, chân trái nhảy tới. Nào ngờ hô hấp quá gấp, bước nhảy lại dài, động đến vết thương trên ngực, đau quá gần như ngất xỉu. Lúc đó Bành hòa thượng cũng ngã lăn, có lẽ chất độc đã ngấm khiến y chết rồi. Thường Ngộ Xuân cố nhịn đau, mở to mắt xem động tĩnh thì thấy bảy người kia cũng chưa dám tiến lại gần Bành hòa thượng.

Đạo sĩ râu dài nói:

– Hứa sư đệ, hãy bắn thử hai ngọn phi đao xem hắn thế nào.

Đạo sĩ kia liền vung tay phải, nghe "phập, phập" hai tiếng, một ngọn phi đao trúng vai bên phải, một ngọn phi đao trúng đùi bên trái của Bành hòa thượng. Bành hòa thượng không động đậy, rõ ràng đã chết. Đạo sĩ râu dài nói:

– Tiếc thật, tiếc thật, hắn chết mất rồi, không biết hắn giấu Bạch Quy Thọ ở đâu?

Bảy người cùng tiến lên vây quanh xem xét.

Bỗng nghe "bình bình" năm tiếng liên tiếp, năm người bị đánh văng ra xa, Bành hòa thượng đứng bật dậy, vai và đùi vẫn còn cắm phi đao. Nguyên đùi y bị trúng ám khí tẩm độc, biết mình khó có thể tiếp tục giao đấu nên bèn giả vờ chết, dụ địch tới gần, sử dụng thủ pháp "Đại phong vân phi chưởng" nhanh như chớp giáng trúng ngực năm địch thủ nam giới. Lúc nằm giả chết, y đã ngầm vận khí chờ sẵn, nên năm chưởng kia rất cương mãnh lợi hại.

Kỷ Hiểu Phù và sư tỷ đồng môn Đinh Mẫn Quân giật mình kinh hãi liền vội nhảy ra xa, nhìn năm người kia người nào cũng hộc máu mồm, hai người công lực kém hơn thì rên rỉ đau đớn. Bành hòa thượng vận kình gấp rút nên cũng đứng không vững, lảo đảo chực ngã. Đạo sĩ râu dài lại kêu to:

– Đinh, Kỷ hai cô nương, mau dùng kiếm đâm hắn đi!

Đôi bên chín người thì một tăng nhân Thiếu Lâm đã chết, Bành hòa thượng và năm người khác cùng trọng thương, chỉ còn Kỷ Hiểu Phù và Đinh Mẫn Quân là chưa sao cả. Đinh Mẫn Quân nghĩ bụng: "Ta không biết dùng kiếm hay sao mà ngươi phải chỉ vẽ?" Nàng ta liền sử chiêu "Hư thức phân kim" đâm vào cổ Bành hòa thượng, Bành hòa thượng thở dài, nhắm mắt chờ chết, chỉ nghe "keng" một tiếng binh khí va nhau, mở mắt ra thì thấy Kỷ Hiểu Phù đã dùng kiếm gạt binh khí của sư tỷ ra.

Đinh Mẫn Quân kinh ngạc hỏi:

– Sao thế?

Kỷ Hiểu Phù nói:

– Sư tỷ, Bành hòa thượng đã chưởng hạ lưu tình, hai ta cũng không nên tận sát.

Đinh Mẫn Quân nói:

– Chưởng hạ lưu tình cái gì? Hắn không còn sức để giáng chưởng nữa thì có.

Rồi quát to:

– Bành hòa thượng, sư muội của ta lòng dạ từ bi, đã cứu mạng ngươi, vậy Bạch Quy Thọ ở đâu, ngươi có chịu nói hay không?

Bành hòa thượng ngửa mắt lên trời cười lớn, nói:

– Đinh cô nương, cô nương coi thường Bành Oánh Ngọc này quá! Trương Thúy Sơn Trương ngũ hiệp phái Võ Đang thà tự vẫn mà chết chứ quyết không nói ra chỗ ở của nghĩa huynh. Bành Oánh Ngọc ta ngưỡng mộ lòng can đảm nghĩa liệt của Trương ngũ hiệp, tuy bất tài, song ta cũng cố noi cho được tấm gương đó.

Nói tới đây, y hộc ra một ngụm máu, phải ngồi bệt xuống.

Đinh Mẫn Quân bước tới, giơ chân phải đá luôn ba cái vào mạng sườn để y không còn cách gì đánh lén được nữa.

Mấy câu nói của Bành hòa thượng khiến nhiệt huyết dâng lên trong lòng Trương Vô Kỵ, cậu cảm thấy vừa gần gũi, vừa cảm kích đối với Bành Oánh Ngọc. Trương Thúy Sơn cha cậu tự vẫn, người trong danh môn chính phái mỗi khi nhắc tới đều cho rằng "Một thiếu niên anh hiệp như thế, chỉ vì vướng vào yêu nữ tà giáo, sảy chân một cái thành nỗi hận thiên thu, đến nỗi thân tử danh liệt, khiến cả phái Võ Đang phải chịu chung cái nhục". Mấy câu này tuy Trương Vô Kỵ không nghe thấy, nhưng cậu nhìn thần sắc của thái sư phụ và các sư bá sư thúc khi trò chuyện, ngoài vẻ thương tâm thì đối với mẫu thân cậu rõ ràng còn có ý oán trách, rằng cha cậu cả đời làm việc gì cũng tốt, chỉ vì lấy nhầm phải mẫu thân cậu mà ra nông nỗi; chứ chưa một ai tỏ lòng khâm phục cha cậu như Bành hòa thượng cả.

Đinh Mẫn Quân cười khẩy, nói:

– Trương Thúy Sơn mắt mù nên mới kết hôn với yêu nữ tà giáo, cái đó gọi là tự hạ thấp mình, có gì đáng noi theo? Phái Võ Đang của y..

Kỷ Hiểu Phù ngắt lời:

– Sư tỷ..

Đinh Mẫn Quân nói:

– Muội đừng lo, ta không nói gì đến Ân lục hiệp đâu mà sợ.

Đoạn giơ kiếm chỉ thẳng vào mắt phải của Bành hòa thượng, nói:

– Nếu ngươi không nói, ta sẽ đâm mù mắt phải của ngươi trước, sau đó đâm mù mắt trái, rồi sẽ đâm thủng tai phải, cuối cùng đâm thủng tai trái và cắt mũi của ngươi, tóm lại ta sẽ không cho ngươi chết yên chết lành.

Mũi kiếm sáng nhọn hoắt của ả họ Đinh giờ chỉ cách mắt Bành hòa thượng không tới nửa tấc, không ngừng rung động.

Bành hòa thượng giương to đôi mắt, giọng thản nhiên nói:

– Ta vốn ngưỡng mộ Diệt Tuyệt sư thái phái Nga Mi hành sự tàn ác hiểm độc, nay thấy đệ tử của bà ta cũng chẳng khác bao nhiêu. Bành Oánh Ngọc ta đã rơi vào tay cô nương, cô nương cứ việc thực thi kiệt tác của phái Nga Mi xem sao.

Đinh Mẫn Quân lông mày dựng ngược, quát:

– Thằng trọc chết toi, ngươi dám làm nhục sư môn ta này!

Trường kiếm lập tức ấn tới, đâm mù mắt phải của Bành Oánh Ngọc, rồi lại chĩa sang mắt bên trái.

Bành hòa thượng cười ha hả, mắt phải máu chảy ròng ròng, con mắt bên trái vẫn mở trừng trừng nhìn ả họ Đinh. Đinh Mẫn Quân tức giận, quát hỏi:

– Ngươi không phải là người của Thiên Ưng giáo, hà tất phải bỏ mạng vì Bạch Quy Thọ?

Bành Oánh Ngọc hiên ngang nói:

– Đại trượng phu có đạo lý làm người, dù ta có nói ra, cô nương cũng chả hiểu được đâu.

Đinh Mẫn Quân thấy đối phương hoàn toàn không còn sức chống đỡ nhưng thần sắc vẫn tỏ ra khinh miệt mình, liền tức giận đâm cho y mù nốt mắt trái. Kỷ Hiểu Phù nhẹ nhàng vung kiếm gạt ra, nói:

– Sư tỷ, lão hòa thượng này cứng đầu lắm, dầu thế nào lão ta cũng không chịu nói đâu, có giết cũng vậy thôi.

Đinh Mẫn Quân nói:

– Hắn dám chửi sư phụ tàn ác hiểm độc thì để ta cho hắn coi thế nào là tàn ác hiểm độc. Bọn yêu nhân trong Ma giáo để sống trên đời chỉ tổ làm hại người tốt, giết đứa nào là tích thêm công đức đó.

Kỷ Hiểu Phù nói:

– Người này là một hán tử cứng cỏi. Sư tỷ, muội cho rằng mình nên tha cho y.

Đinh Mẫn Quân lớn tiếng:

– Hai vị sư huynh phái Thiếu Lâm kia một chết một bị thương, hai vị đạo sĩ phái Côn Luân bị trọng thương, hai vị đại ca phái Hải Sa cũng bị thương không nhẹ, như thế hắn hạ thủ không tàn ác ư? Để ta đâm mù nốt mắt trái của hắn, rồi tra hỏi tiếp.

Chữ "tiếp" vừa dứt, mũi kiếm lóe lên, đâm luôn tới mắt trái của Bành hòa thượng.

Kỷ Hiểu Phù lại vung kiếm, nhẹ nhàng khéo léo gạt kiếm của Đinh Mẫn Quân ra, nói:

– Sư tỷ, người này đã không còn sức chống đỡ, nếu đả thương y, chuyện lan ra trong giang hồ, sẽ không hay gì cho danh tiếng phái Nga Mi chúng ta.

Đinh Mẫn Quân trợn mắt, quát:

– Tránh ra, đừng xen vào việc của ta!

Kỷ Hiểu Phù nói:

– Sư tỷ, sư..

Đinh Mẫn Quân nói:

– Ngươi đã gọi ta là sư tỷ thì hãy vâng lời ta, đừng có lắm lời.

Kỷ Hiểu Phù đáp:

– Vâng.

Trường kiếm của Đinh Mẫn Quân lại rung rung, đâm mạnh tới mắt trái của Bành hòa thượng, lần này tăng thêm ba phần kình lực.

Kỷ Hiểu Phù không nỡ lòng nên lại đưa kiếm gạt ra. Nàng thấy kiếm thế của sư tỷ rất mạnh, khi đưa kiếm gạt phải dùng nội lực, hai kiếm chạm nhau keng một tiếng, tóe lửa. Hai người cùng bị chấn động, tay tê chồn, phải lùi hai bước. Đinh Mẫn Quân cả giận, thét to:

– Ngươi năm lần bảy lượt che chở cho tên yêu tăng Ma giáo, rốt cuộc là có ý gì?

Kỷ Hiểu Phù nhẹ nhàng:

– Muội chỉ khuyên sư tỷ đừng hành hạ y. Muốn y nói ra chỗ giấu Bạch Quy Thọ, hãy cứ từ từ mà hỏi.

Đinh Mẫn Quân cười khẩy, nói:

– Đừng tưởng ta không biết bụng dạ của ngươi. Ngươi cứ tự hỏi lòng thì biết: Tại sao Ân lục hiệp phái Võ Đang mấy lần giục ngươi thành hôn, ngươi toàn viện cớ trì hoãn, ngay cả khi cha ngươi hối thúc, ngươi thà bỏ nhà đi chứ không chịu nghe lời?

Kỷ Hiểu Phù nói:

– Việc riêng của tiểu muội đâu liên quan gì chuyện này? Tại sao sư tỷ lại gắn hai chuyện làm một?

Đinh Mẫn Quân nói:

– Mọi người ai cũng thừa biết, có điều trước mắt người ngoài thì không vạch áo cho người xem lưng đó thôi. Ngươi là kẻ thân ở phái Nga Mi nhưng lòng theo Ma giáo.

Kỷ Hiểu Phù mặt tái nhợt, run run nói:

– Tiểu muội luôn kính trọng sư tỷ, chưa bao giờ dám đắc tội, sao hôm nay sư tỷ lại làm nhục tiểu muội?

Đinh Mẫn Quân nói:

– Được, nếu lòng dạ ngươi không phải hướng về Ma giáo, vậy ngươi hãy đâm mù mắt trái hắn cho ta coi.

Kỷ Hiểu Phù nói:

– Bản môn từ khi Tiểu Đông Tà Quách tổ sư sáng lập phái tới nay, số đồng môn không xuất gia làm ni cô, hoặc không chịu lấy chồng, thật là rất nhiều người, tiểu muội không xuất giá cũng là chuyện thường. Tại sao sư tỷ cứ nhất nhất ép buộc tiểu muội?

Đinh Mẫn Quân lạnh lùng đáp:

– Ta không muốn nghe ngươi nói chuyện vờ vĩnh. Ngươi không đâm mù mắt hắn, ta sẽ nói toạc chuyện của ngươi cho mọi người cùng biết đó.

Kỷ Hiểu Phù dịu giọng, nói:

– Sư tỷ, sư tỷ hãy niệm tình đồng môn, đừng bức bách tiểu muội nữa.

Đinh Mẫn Quân cười, nói:

– Ta có bức ngươi làm việc gì khó đâu? Sư phụ sai chúng ta đi nghe ngóng tin tức Kim Mao Sư Vương, lão hòa thượng này là manh mối duy nhất. Hắn đã chẳng tiết lộ sự thực, lại còn sát thương bao nhiêu đồng bạn, ta đâm mù mắt phải của hắn, ngươi đâm mù mắt trái, thế là hợp lẽ công bằng trong trời đất, vì sao ngươi không động thủ?

Kỷ Hiểu Phù nói nhỏ:

– Y đối với hai ta đã lưu tình khi ra tay ban nãy, hai chúng ta cũng không nên cạn tàu ráo máng. Tiểu muội yếu lòng, thật không nỡ ra tay.

Đoạn nàng tra kiếm vào vỏ. Đinh Mẫn Quân cười:

– Ngươi yếu lòng ư? Sư phụ thường khen ngươi kiếm pháp hiểm độc, tính nết cương nghị, giống sư phụ nhất, vẫn có ý sẽ truyền y bát cho ngươi, làm sao lại bảo là ngươi yếu lòng?

Sư tỷ sư muội lời qua tiếng lại, người ngoài nghe chả hiểu thế nào, lúc này mới đoán ra, vậy là Diệt Tuyệt sư thái, chưởng môn phái Nga Mi, rất quý mến Kỷ Hiểu Phù nên có ý truyền y bát cho nàng. Đinh Mẫn Quân trong lòng đố kỵ, lần này không rõ đã nắm được bí mật gì của sư muội, nên tính lôi ra nói xấu trước mặt mọi người. Trương Vô Kỵ vốn cảm kích về tấm lòng quan hoài thân thiết của Kỷ Hiểu Phù đối với cậu hai năm trước, chỉ hận không thể nhảy ra cho Đinh Mẫn Quân vài cái tát tai.

Chỉ nghe Đinh Mẫn Quân nói tiếp:

– Kỷ sư muội, ta hỏi ngươi, hôm sư phụ triệu tập hết thảy đệ tử bản môn trên Nga Mi kim đỉnh, truyền thụ hai pho kiếm pháp là "Diệt kiếm" và "Tuyệt kiếm" do lão nhân gia sáng tạo, tại sao ngươi không tới khiến lão nhân gia nổi cơn lôi đình?

Kỷ Hiểu Phù nói:

– Tiểu muội ở Cam Châu đột nhiên bị bệnh, không đi lại được, việc đó tiểu muội đã bẩm rõ với sư phụ, sao bỗng dưng sư tỷ lại tra vấn?

Đinh Mẫn Quân cười khẩy:

– Chuyện ấy ngươi lừa dối được sư phụ, chứ làm sao che mắt ta nổi? Ta còn một câu nữa, nếu ngươi chịu đâm mù mắt gã hòa thượng kia thì ta không truy vấn nữa.

Kỷ Hiểu Phù cúi đầu không trả lời, trong lòng có điều khó nghĩ, nói nhỏ:

– Sư tỷ không còn nghĩ gì đến tình nghĩa đồng môn học nghệ giữa chúng ta nữa ư?

Đinh Mẫn Quân hỏi:

– Ngươi có đâm không thì bảo?

Kỷ Hiểu Phù nói:

– Sư tỷ cứ yên tâm, dù sư phụ có muốn truyền y bát cho tiểu muội, tiểu muội cũng nhất định không nhận đâu.

Đinh Mẫn Quân nổi giận, nói:

– Giỏi nhỉ! Ngươi nói thế, chẳng hóa ra ta ghen tức với ngươi ư? Ta có điểm nào không bằng ngươi mà phải để ngươi nhường chứ? Ngươi có đâm hay không thì bảo?

Kỷ Hiểu Phù nói:

– Giả dụ tiểu muội làm điều gì sai trái, sư tỷ có trách phạt, tiểu muội cũng không dám trái lời. Ở đây có các bằng hữu môn phái khác, sư tỷ cứ một mực bức bách muội..

Nói tới đó nàng nghẹn ngào ứa nước mắt.

Đinh Mẫn Quân cười khẩy:

– Ngươi đừng giả bộ đáng thương nữa đi, trong bụng không biết ngươi đang rủa thầm ta những gì. Năm đó ở Cam Châu, không nhớ là ba hay bốn năm trước, ta nhớ không rõ, chứ ngươi thì sao không nhớ việc của chính mình. Lúc đó có thực ngươi sinh bệnh hay không? Sinh thì có sinh, nhưng là sinh con thì có.

Kỷ Hiểu Phù nghe đến đấy liền quay mình chạy đi. Đinh Mẫn Quân đoán trước việc đó, liền phi thân lên trước, giơ trường kiếm cản ngay trước mặt Kỷ Hiểu Phù, nói:

– Ta khuyên ngươi mau đâm mù mắt trái Bành hòa thượng đi, nếu không ta sẽ hỏi cha đứa bé đó là ai. Sẽ hỏi vì sao ngươi là đệ tử danh môn chính phái, lại che chở cho yêu tăng của Ma giáo.

Kỷ Hiểu Phù ấp úng nói:

– Sư tỷ.. hãy.. để muội đi..

Đinh Mẫn Quân chĩa kiếm vào ngực nàng, nói to:

– Ta hỏi ngươi, ngươi đem đứa bé ấy đi nuôi ở đâu? Ngươi là hôn thê của Ân lục hiệp phái Võ Đang, sao lại sinh con với người khác?

Câu nói trắng trợn ấy vang bên tai mọi người như tiếng sấm. Trương Vô Kỵ trong lòng hoang mang: "Kỷ cô nương là người tốt, sao lại đối xử không phải với Ân lục thúc như thế?" Chuyện tình cảm trai gái dĩ nhiên cậu chưa hiểu biết đã đành, nhưng còn mấy người như Thường Ngộ Xuân, Bành hòa thượng, đạo sĩ râu dài của phái Côn Luân ai ai cũng kinh ngạc.

Kỷ Hiểu Phù tái mặt, chạy bổ về phía trước. Đinh Mẫn Quân đột nhiên hạ sát thủ, đâm một kiếm vào cánh tay bên phải của sư muội sâu đến tận xương. Kỷ Hiểu Phù bị thương không nhẹ nên hết nhịn nổi, tay trái rút kiếm, nói:

– Sư tỷ, nếu sư tỷ còn bức bách muội, muội sẽ không nể nang nữa đâu.

Đinh Mẫn Quân biết rằng hôm nay đã nói toạc bí mật của Kỷ Hiểu Phù, làm cho sư muội bẽ mặt hẳn nàng ấy sẽ giết mình để bịt miệng. Võ công của ả không bằng sư muội, tính mạng sẽ nguy hiểm, nên đã thừa cơ đâm trước vào tay phải của nàng ấy, giờ lại nghe sư muội nói vậy bèn sử chiêu "Nguyệt lạc tây sơn" đâm thẳng vào bụng dưới của sư muội. Kỷ Hiểu Phù tay phải quá đau đớn, thấy sư tỷ sử chiêu thứ hai không chút dung tình thì lập tức tay trái dùng kiếm đánh trả một chiêu.

Hai người biết rõ kiếm pháp của nhau, công và thủ đều rất nghiêm mật, cũng hết sức kịch liệt.

Những người khác đều đã bị thương, không cách gì khuyên giải, cũng không giúp cho bên nào, chỉ giương mắt nhìn, thầm thán phục: "Phái Nga Mi là một trong bốn đại môn phái võ học hiện thời, kiếm thuật quả nhiên cao minh, danh bất hư truyền".

Vết thương ở cánh tay phải của Kỷ Hiểu Phù chảy máu ròng ròng, càng đấu máu chảy càng mạnh, nàng liên tục sử dụng sát chiêu để buộc Đinh Mẫn Quân lui ra, còn nàng sẽ có đường bỏ chạy. Nhưng tay trái sử kiếm không quen, hơn nữa sau khi bị thương võ công chỉ còn lại ba phần. Đinh Mẫn Quân vốn rất ngại sư muội nên không dám tiến vào thật gần mà chỉ cố đánh cầm chừng, chờ Kỷ Hiểu Phù kiệt sức vì máu chảy nhiều. Khi thấy Kỷ Hiểu Phù cước bộ loạng choạng, kiếm pháp tán loạn, xem ra đã hết chịu nổi thì Đinh Mẫn Quân liền đâm hai nhát trúng vai phải của Kỷ Hiểu Phù, khiến cho quần áo nửa người bên phải bê bết máu tươi.

Bành hòa thượng đột nhiên nói:

– Kỷ cô nương, hãy đâm ta đi, Bành hòa thượng này đối với cô nương cảm kích bội phần.

Họ Bành nghĩ Kỷ Hiểu Phù cam chịu nguy hiểm che chở cho y vốn đã là việc khó ai làm nổi, huống hồ Đinh Mẫn Quân lại còn đem thanh danh trinh bạch, là thứ đối với nữ giới còn quý hơn cả sinh mạng, ra uy hiếp.

Thế nhưng lúc này dù Kỷ Hiểu Phù có đâm mù mắt trái của Bành hòa thượng thì Đinh Mẫn Quân cũng chẳng bỏ qua cho nàng, ả biết nếu hôm nay không trừ khử sư muội thì sau này hậu hoạn vô cùng. Bành hòa thượng thấy Đinh Mẫn Quân ra đòn hiểm ác, bèn lớn tiếng chửi:

– Đinh Mẫn Quân, ngươi là đồ mặt dày trơ trẽn! Chẳng trách trên giang hồ gọi ngươi là Độc thủ Vô Diệm Đinh Mẫn Quân, quả nhiên tâm địa ngươi như rắn rết, diện mạo còn tệ hơn cả Chung Vô Diệm. Nếu nữ nhân trên thế gian ai ai cũng xấu xí như ngươi, khiến cho vừa gặp đã buồn nôn thì nam nhân sẽ đi tu hết. Độc thủ Vô Diệm ngươi mà đứng trước mặt, Bành mỗ làm hòa thượng cũng chưa đủ, thà mù cả hai mắt cho khỏi phải nhìn thấy ngươi.

Thực ra, Đinh Mẫn Quân tuy không phải là mỹ nữ, song cũng có chút nhan sắc, mặt mũi cũng thanh tú dễ coi. Bành hòa thượng hiểu rõ tâm lý thiên hạ, biết người phụ nữ nào dù xấu hay đẹp cũng đều căm tức những kẻ chê mình xấu xí khó coi. Bành hòa thượng thấy tình thế nguy cấp, bèn thuận miệng đại ngôn gán cho Đinh Mẫn Quân cái hỗn danh Độc thủ Vô Diệm, cốt cho ả ta nổi cơn tam bành quay qua đối phó với y để Kỷ Hiểu Phù sẽ thừa cơ thoát đi, chí ít thì cũng tìm cách buộc vết thương lại. Nhưng Đinh Mẫn Quân muốn giết bằng được Kỷ Hiểu Phù, đâu có lo Bành hòa thượng chạy đi đâu nổi, nên mặc kệ lời nhục mạ của y, cứ bỏ ngoài tai.

Bành hòa thượng lại lớn tiếng, nói:

– Kỷ nữ hiệp băng thanh ngọc khiết, chốn giang hồ ai chẳng nghe danh? Nhưng cái ả Độc thủ Vô Diệm Đinh Mẫn Quân kia vốn tính lẳng lơ, vọng tưởng mồi chài Ân Lê Đình của phái Võ Đang. Ân Lê Đình đâu thèm để mắt tới, ả bèn tìm cách gia hại Kỷ nữ hiệp. Ha ha, ả gò má cao gồ, mồm rộng đến mang tai, nước da lại vàng như nghệ, thân hình khô đét như que củi, chàng Ân Lê Đình tuấn tú đời nào thèm ngó tới ả kia chứ? Ả chả chịu soi gương để nhìn cái bản mặt mình, lại cứ năm lần bảy lượt liếc mắt tống tình..

Đinh Mẫn Quân nghe đến đây liền giận điên người, nhảy một cái đến trước mặt Bành hòa thượng, giơ kiếm đâm thẳng vào miệng gã.

Đinh Mẫn Quân xương gò má kể có hơi cao, nước da không được trắng lắm, thân hình bẩm sinh dong dỏng cao, cũng tự biết mình có đôi điểm chưa vừa ý, nhưng người ngoài phải để ý rất kỹ mới có thể nhận biết. Nào ngờ Bành hòa thượng mục quang sắc bén, chẳng những phát hiện ra tất cả, lại còn thêm mắm thêm muối, một nói thành mười, khiến cho ả ta nổi giận. Huống hồ ả chưa gặp Ân Lê Đình lần nào, nay bị gán cho "năm lần bảy lượt liếc mắt tống tình" thì bảo ả làm sao chịu nổi?

Đinh Mẫn Quân một kiếm đâm tới. Từ trong rừng đột nhiên có một người lao ra, quát to, chắn ngay trước mặt Bành hòa thượng. Người đó thân pháp cực nhanh, Đinh Mẫn Quân không kịp thu chiêu, trường kiếm cứ đâm thẳng tới. Người ấy thấp hơn Bành hòa thượng nửa cái đầu, kiếm đâm trúng vào trán y. Cũng trong nháy mắt đó, người ấy giáng một chưởng vào ngực Đinh Mẫn Quân, nghe "hự" một tiếng, Đinh Mẫn Quân bị văng xa mấy bước, ngã lăn ra, hộc máu mồm; thanh kiếm vẫn cắm ở trán người kia, xem ra y không sống được nữa rồi.

Đạo sĩ râu dài của phái Côn Luân đến gần, kêu lên:

– Bạch Quy Thọ! Bạch Quy Thọ!

Nói xong hai gối lão ta bủn rủn, lão ta đành ngồi phệt ngay xuống đất.

Người vừa nhảy ra chịu nhát kiếm thay cho Bành hòa thượng chính là đàn chủ Huyền Vũ đàn của Thiên Ưng giáo, Bạch Quy Thọ. Sau khi bị trọng thương, biết tin Bành hòa thượng vì che giấu cho lão mà bị hảo thủ bốn phái Thiếu Lâm, Côn Luân, Nga Mi, Hải Sa vây đánh, bèn gắng sức tìm đến về đỡ nhát kiếm thay Bành hòa thượng. Một chưởng của Bạch Quy Thọ trước khi chết còn làm cho Đinh Mẫn Quân gãy mấy cái xương sườn.

Kỷ Hiểu Phù cố trấn tĩnh, xé vạt áo băng vết thương cánh tay, đưa tay giải khai huyệt đạo bị điểm ở thắt lưng cho Bành hòa thượng, không nói một lời, quay mình đi thẳng. Bành hòa thượng nói:

– Kỷ cô nương, xin dừng bước nhận một lạy của Bành Oánh Ngọc này.

Nói đoạn quỳ xuống hành lễ. Kỷ Hiểu Phù né qua một bên, không nhận lễ. Bành hòa thượng nhặt thanh kiếm của đạo sĩ râu dài ở dưới đất lên, nói:

– Ả Đinh Mẫn Quân này hồ ngôn loạn ngữ, phỉ báng thanh danh của cô nương, không thể để cho ả sống.

Nói xong giơ kiếm đâm vào cổ Đinh Mẫn Quân.

Kỷ Hiểu Phù dùng kiếm gạt ra, nói:

– Đây là sư tỷ đồng môn của tiểu nữ, tuy sư tỷ đối với tiểu nữ vô tình, song tiểu nữ không muốn làm kẻ bất nghĩa.

Bành hòa thượng nói:

– Việc đến nước này, nếu không giết ả, ngày sau ả sẽ làm hại cô nương.

Kỷ Hiểu Phù rơi lệ, nói:

– Tiểu nữ là người con gái xui xẻo, bất hạnh nhất trên đời, nhưng số mệnh đã thế thì đành chịu vậy! Bành đại sư, xin đừng giết sư tỷ của tiểu nữ.

Bành hòa thượng nói:

– Kỷ nữ hiệp đã bảo vậy, ta đâu dám trái lời.

Kỷ Hiểu Phù quay sang nói với Đinh Mẫn Quân:

– Sư tỷ, hãy bảo trọng.

Đoạn nàng tra kiếm vào vỏ, đi khỏi cánh rừng.

Bành hòa thượng nói với năm người bị thương nằm dưới đất:

– Bành mỗ với các vị không hề có thâm cừu đại oán, vốn không cần giết các vị làm gì. Nhưng đêm nay những lời ả họ Đinh kia vu miệt Kỷ nữ hiệp đều đã lọt vào tai các vị, nếu truyền ra giang hồ, Kỷ nữ hiệp sao có thể làm người được nữa? Bành mỗ vạn bất đắc dĩ không thể để một ai sống sót, mong các vị đừng trách ta.

Nói xong y cho mỗi người một nhát kiếm, lần lượt giết hai đạo sĩ phái Côn Luân, một tăng nhân Thiếu Lâm, hai hảo thủ của phái Hải Sa, rồi tới rạch một đường kiếm vào vai Đinh Mẫn Quân.

Đinh Mẫn Quân sợ hết hồn, nhưng bị trọng thương, không chống cự được, lớn tiếng chửi:

– Tên trọc kia, mi đừng giở trò hành hạ, mau đâm ta một kiếm cho xong.

Bành hòa thượng cười, nói:

– Ả đàn bà xấu xí, mồm rộng, da vàng như ngươi, ta đâu thèm giết! Chỉ sợ ngươi xuống địa ngục rồi, ngàn vạn ác quỷ cõi âm sợ quá chạy cả lên dương gian, phán quan của Diêm Vương thì thượng thổ hạ tả, chẳng hóa ra ta mắc tội sao?

Nói đoạn cười lên ba tiếng, ném trường kiếm, ôm thi thể Bạch Quy Thọ, lại khóc to ba tiếng rồi bỏ đi.

Đinh Mẫn Quân ngồi thở hồi lâu, mới chống bao kiếm xuống đất, khập khiễng ra khỏi rừng.

*

* *

Trận đấu kinh tâm động phách trong cánh rừng đêm nay, Thường Ngộ Xuân và Trương Vô Kỵ đã chứng kiến từ đầu tới cuối, nghe rõ từng lời, mãi khi Đinh Mẫn Quân đi rồi, hai người mới thở phào nhẹ nhõm.

Trương Vô Kỵ nói:

– Thường đại ca, Kỷ cô nương là hôn thê của Ân lục thúc tiểu đệ, cái bà họ Đinh kia lại bảo.. Kỷ cô nương có con với người khác, đại ca nghĩ là thật hay giả?

Thường Ngộ Xuân đáp:

– Cái ả đó hồ ngôn loạn ngữ, đừng tin làm gì.

Trương Vô Kỵ nói:

– Đúng thế, sau này tiểu đệ sẽ nói Ân lục thúc dạy cho bà ta một trận, cho Kỷ cô nương đỡ bực mình.

Thường Ngộ Xuân vội nói:

– Đừng, đừng! Dù thế nào cũng chớ kể cho Ân lục thúc biết chuyện đó, hiểu chưa? Đệ mà kể là hỏng việc đấy!

Trương Vô Kỵ ngạc nhiên:

– Vì sao?

Thường Ngộ Xuân đáp:

– Những lời lẽ khó nghe như thế, đệ chẳng nên nói cho bất cứ ai biết.

Trương Vô Kỵ ừ hử, lát sau lại hỏi:

– Thường đại ca, đại ca sợ rằng chuyện đó có thật, phải không?

Thường Ngộ Xuân thở dài:

– Huynh cũng chả biết nữa.

Khi trời sáng, Thường Ngộ Xuân đứng lên, cõng Trương Vô Kỵ hăng hái đi tiếp. Y nghỉ ngơi được nửa đêm, tinh thần đã phục hồi, bước đi nhẹ nhàng hơn nhiều. Qua mấy dặm, gặp một con đường lớn. Thường Ngộ Xuân nghĩ thầm: "Hồ sư bá ẩn cư ở Hồ Điệp cốc, là nơi hoang vắng, sao lại có đường lớn thế này? Hay là mình lạc đường rồi?"

Đang định tìm người dân hỏi thăm bỗng nghe tiếng vó ngựa dồn dập, bốn tên lính Mông Cổ tay cầm trường đao, phi ngựa tới, hét to:

– Mau lên, mau lên!

Chúng tới sau lưng Thường Ngộ Xuân, giơ đao nhứ nhứ xua về phía trước. Thường Ngộ Xuân thầm kêu khổ: "Không ngờ hôm nay rơi vào miệng cọp, lại còn để Trương Vô Kỵ chết theo".

Lúc này y đã mất hết võ công, ngay cả một tên lính tầm thường y cũng không chống nổi, đành phải bước đi. Chỉ thấy bách tính lục tục kéo ra con đường lớn đều bị quân Nguyên dồn như lùa súc vật. Thường Ngộ Xuân chợt có hi vọng: "Thì ra bọn Thát tử đang lùa dân, chứ không phải định bắt ta". Y bèn đi cùng đoàn người, đến một ngã ba, thấy một viên quan quân Mông Cổ ngồi trên lưng ngựa chỉ huy sáu bảy chục tên lính, tên nào cũng lăm lăm đại đao. Dân chúng đi qua chỗ viên quan đều phải quỳ xuống khấu đầu. Một gã người Hán làm thông dịch, quát:

– Họ gì?

Người dân trả lời xong, tên lính đứng cạnh đá vào mông hoặc tát tai, người dân vội vàng chạy đi. Một người dân nói họ Trương, tên lính liền giữ lại, bắt đứng sang một bên. Có người dân trong giỏ có con dao thái rau mới mua ở chợ, cũng bị bắt đứng sang một bên.

Trương Vô Kỵ thấy tình thế có điều bất ổn, ghé tai Thường Ngộ Xuân nói nhỏ:

– Thường đại ca, hãy giả vờ vấp ngã, lăn qua một bên mà vứt cây đao đi.

Thường Ngộ Xuân vỡ lẽ, lập tức hai chân khuỵu xuống, lăn luôn vào đám cỏ dày, bỏ cây bội đao lại, giả bộ xuýt xoa khập khiễng tới trước mặt viên quan. Gã thông dịch người Hán quát:

– Đồ mọi, không hiểu quy củ gì hết, thấy quan lớn còn chưa khấu đầu?

Thường Ngộ Xuân nghĩ tới toàn gia của chủ cũ là Chu Tử Vượng bị quân Mông Cổ sát hại, lúc này thà chết chứ không chịu lạy viên quan. Một tên lính Nguyên thấy y cứng đầu, bèn đá vào khoeo chân khiến y đứng không vững, phải khuỵu xuống. Gã thông dịch quát:

– Họ gì?

Thường Ngộ Xuân chưa kịp đáp đã nghe Trương Vô Kỵ nói thay:

– Họ Tạ, đây là trưởng huynh của tôi.

Tên lính Nguyên đá đít Thường Ngộ Xuân một cái, quát:

– Xéo mau!

Thường Ngộ Xuân cả giận, đứng dậy, ngầm thề: "Trong đời ta nếu không đánh đuổi bọn Thát tử về sa mạc phương bắc, Thường Ngộ Xuân này không kể là người". Y cõng Trương Vô Kỵ lên, đi vội về phía bắc, mới được vài chục bước bỗng nghe có tiếng kêu rú thảm thiết sau lưng, ngoảnh lại thấy hơn chục người dân bị bắt đứng sang một bên ban nãy đã nằm chết ngổn ngang dưới đất, đầu một nơi, thân một nẻo. Thời kỳ này triều chính bạo ngược, bách tính nổi dậy chống đối khá nhiều, đại thần Mông Cổ tính giết hết người Hán nhưng không giết xuể, Thái sư Ba Diên đương triều lại ban hành một lệnh là giết sạch tất cả những người Hán nào mang năm họ Trương, Vương, Lưu, Lý, Triệu. Người Hán thì bốn họ Trương, Vương, Lưu, Lý là đông nhất, còn họ Triệu là hoàng tộc triều Tống. Giết hết người năm họ đó, nguyên khí của Hán tộc chắc chắn sẽ bị tổn thất nặng nề.

Sau đó, số người thuộc các họ ấy đầu hàng, làm quan cho triều Nguyên cũng không ít, có đại thần Mông Cổ khuyến cáo hoàng đế, mới bãi bỏ cái lệnh giết chóc quái gở kia, nhưng số dân đen chết vì lệnh đó đã không biết bao nhiêu mà kể.

*

* *

Thường Ngộ Xuân rảo bước, đến vùng hoang vu thì biết đã gần nơi ẩn cư của Hồ Thanh Ngưu, bắt đầu chú ý tìm kiếm. Dọc đường hoa cỏ đủ màu, chỗ nào cũng toàn là hoa tươi khoe sắc dưới nắng xuân, nhưng hai người nghĩ đến thảm trạng vừa qua nên chẳng còn lòng dạ nào thưởng ngoạn phong cảnh. Đi qua mấy chỗ quẹo thấy trước mặt là vách núi, đường vào ngõ cụt rồi.

Đang ngơ ngác chưa biết đi đâu thì có lũ bướm từ các khóm hoa bay ra. Trương Vô Kỵ nói:

– Nơi đó nếu gọi là Hồ Điệp cốc, vậy mình cứ theo lũ bướm này mà đi xem sao.

Thường Ngộ Xuân nói:

– Đúng lắm.

Liền đi vào rừng hoa. Qua rừng hoa, thấy trước mặt có một con đường mòn, đi thêm quãng nữa, thấy bướm mỗi lúc một nhiều đủ các màu đen trắng vàng xanh đỏ tím dập dìu. Lũ bướm không hề sợ, đậu cả lên đầu, vai và tay hai người. Hai người biết đã tới Hồ Điệp cốc thì đều vui mừng. Trương Vô Kỵ nói:

– Để tiểu đệ đi chầm chậm được rồi!

Thường Ngộ Xuân đặt Vô Kỵ xuống đất.

Đến quá trưa, thấy một dòng suối trong xanh chảy lượn lờ quanh bảy tám gian nhà tranh, trước sau mỗi nhà đều có vườn, trồng đủ loại hoa cỏ. Thường Ngộ Xuân nói:

– Đến rồi, đây chính là vườn thuốc của Hồ sư bá.

Y đến trước căn nhà tranh, lớn tiếng gọi, giọng rất cung kính:

– Đệ tử Thường Ngộ Xuân khấu kiến Hồ sư bá.

Lát sau, từ trong nhà có một tiểu đồng bước ra, nói:

– Mời vào.

Thường Ngộ Xuân dắt Trương Vô Kỵ đi vào, thấy một vị trung niên thần thanh cốt tú đang đứng nhìn một tiểu đồng khác quạt lò sắc thuốc, trong nhà sực nức mùi dược thảo.

Thường Ngộ Xuân quỳ xuống khấu đầu, nói:

– Kính chào Hồ sư bá!

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Người này chắc là Điệp Cốc Y Tiên Hồ Thanh Ngưu đây", bèn cũng hành lễ, nói:

– Kính chào Hồ tiên sinh.

Hồ Thanh Ngưu gật gật đầu với Thường Ngộ Xuân, nói:

– Việc của Chu Tử Vượng, ta đã biết cả. Âu cũng là cái số, bọn Thát tử khí vận chưa tuyệt, bổn giáo thì chưa đến thời kỳ quang đại.

Hồ tiên sinh bắt mạch cho Thường Ngộ Xuân, cởi áo y ra xem vết thương trên ngực, rồi nói:

– Ngươi trúng phải "Tiệt tâm chưởng" của phiên tăng, lẽ ra cũng không sao, nhưng vì sau khi trúng chưởng lại tốn quá nhiều sức lực khiến cho hàn độc công tâm, trị cho khỏi phải tốn nhiều công phu đấy.

Đoạn chỉ Trương Vô Kỵ, hỏi:

– Còn thằng bé này là ai?

Thường Ngộ Xuân nói:

– Sư bá, y tên là Trương Vô Kỵ, con của Trương ngũ hiệp phái Võ Đang.

Hồ Thanh Ngưu ngạc nhiên, mặt có vẻ tức giận, nói:

– Người của phái Võ Đang ư? Ngươi mang nó tới đây làm gì?

Thường Ngộ Xuân liền đem chuyện y đưa con của Chu Tử Vượng đào tẩu ra sao, bị quan binh Mông Cổ vây bắt rồi được Trương Tam Phong giải cứu thế nào, kể tỉ mỉ cho Hồ Thanh Ngưu nghe, cuối cùng nói:

– Đệ tử được thái sư phụ của y cứu mạng, nay khẩn cầu sư bá phá lệ cứu y một lần.

Hồ Thanh Ngưu lạnh lùng nói:

– Ngươi khẳng khái, cũng biết báo đáp ân tình kia đấy! Hừ, Trương Tam Phong cứu ngươi, chứ có phải cứu ta đâu. Ngươi đã thấy ta phá lệ bao giờ chưa?

Thường Ngộ Xuân lại quỳ xuống đất, liên tiếp rập đầu, nói:

– Sư bá, phụ thân của Vô Kỵ vì không bán rẻ bằng hữu, cam nguyện tự vẫn, là một hảo hán lừng lẫy tiếng tăm.

Hồ Thanh Ngưu cười khẩy:

– Hảo hán ư? Thiên hạ đầy rẫy hảo hán, ta làm sao mà chữa bệnh cho mọi hảo hán kia chứ? Y không phải là người của phái Võ Đang thì còn được, chứ đã thuộc danh môn chính phái, sao lại còn đến cầu xin kẻ tà ma ngoại đạo như ta chữa trị?

Thường Ngộ Xuân nói:

– Mẫu thân của Vô Kỵ là con của Bạch Mi Ưng Vương Ân giáo chủ, y có một nửa là người của bổn giáo.

Hồ Thanh Ngưu nghe vậy, lòng chợt dịu lại, gật đầu:

– À, ngươi đứng dậy đi, nếu y là cháu ngoại của Bạch Mi Ưng Vương Thiên Ưng giáo thì lại là chuyện khác.

Rồi tới trước mặt Trương Vô Kỵ, ôn tồn nói:

– Này cháu, từ trước tới nay ta vẫn có cái lệ nhất quyết không chữa trị cho những ai xưng là hiệp nghĩa, danh môn chính phái. Mẹ cháu là người trong bổn giáo, chữa trị cho cháu không phải là phá lệ. Ông ngoại cháu Bạch Mi Ưng Vương vốn là một trong tứ đại hộ pháp của Minh giáo, sau ông ấy sáng lập Thiên Ưng giáo vì bất hòa với các huynh đệ chứ không phải phản lại Minh giáo, cũng coi như một chi phái của Minh giáo. Cháu phải đáp ứng một điều, sau khi được chữa khỏi, cháu phải về với ông ngoại Bạch Mi Ưng Vương Ân giáo chủ của cháu, từ khi nhập Thiên Ưng giáo sẽ không còn là đệ tử phái Võ Đang nữa.

Trương Vô Kỵ chưa kịp trả lời, Thường Ngộ Xuân đã nói:

– Sư bá, không được đâu. Trương Tam Phong Trương chân nhân có nói trước với đệ tử rằng "Hồ tiên sinh không được ép Vô Kỵ nhập giáo, dù có chữa cho nó khỏi bệnh, phái Võ Đang cũng không chịu ơn quý giáo".

Hồ Thanh Ngưu lông mày dựng ngược, cả giận, giọng gay gắt:

– Hừ, Trương Tam Phong là cái thá gì? Lão coi thường chúng ta như thế, tại sao ta phải vì lão mà tốn sức? Này cháu, ý của cháu thế nào?

Trương Vô Kỵ biết rằng âm độc đã lan khắp lục phủ ngũ tạng trong cơ thể, ngay cả thái sư phụ công lực thâm hậu tới mức ấy mà đành bó tay, mình có sống được hay không, hoàn toàn do vị thần y này có chịu chữa trị hay không. Nhưng thái sư phụ lúc chia tay đã dặn kỹ nhất thiết không được sa chân vào Ma giáo, rơi vào cảnh vạn kiếp không thoát ra được. Tuy chưa biết Ma giáo xấu xa tới mức nào, vì sao mỗi lần nhắc tới Ma giáo, thái sư phụ và các vị sư bá sư thúc đều ghét cay ghét đắng, nhưng cậu vô cùng tôn kính thái sư phụ, tin chắc rằng lời thái sư phụ nói quyết không sai, thì nghĩ thầm: "Thà Hồ tiên sinh không chịu chữa, hàn độc phát tác, ta chết đi còn hơn là làm trái lời dạy của thái sư phụ". Thế là cậu nói to:

– Hồ tiên sinh, mẫu thân cháu là đường chủ của Thiên Ưng giáo, cháu nghĩ rằng Thiên Ưng giáo chắc cũng tốt lắm. Nhưng thái sư phụ từng dặn cháu, nhất thiết không được gia nhập Ma giáo, cháu đã hứa rồi, há có thể làm trái lời hứa? Tiên sinh không chịu trị thương cho cháu thì đành vậy. Nếu cháu tham sống sợ chết, miễn cưỡng nghe lời tiên sinh, dù tiên sinh có chữa lành cho cháu, trên đời này cũng chỉ thêm một kẻ bất tín bất nghĩa, phỏng ích lợi gì.

Hồ Thanh Ngưu cười thầm trong bụng: "Thằng nhóc này huênh hoang, làm ra vẻ anh hùng hảo hán, ta không chữa trị cho ngươi, thử xem ngươi có quỳ xuống cầu xin hay không?" Đoạn quay sang nói với Thường Ngộ Xuân:

– Nó đã quyết ý không gia nhập bổn giáo, này Ngộ Xuân, ngươi hãy bảo nó đi ra, trong nhà Hồ Thanh Ngưu ta không thể có kẻ chết vì bệnh.

Thường Ngộ Xuân vốn biết vị sư bá này tính cố chấp dị thường, đã nói một thì không thể hai, đã bảo không chịu chữa dù có cầu xin cũng vô ích, bèn quay sang nói với Trương Vô Kỵ:

– Tiểu huynh đệ, Minh giáo tuy không đồng đạo với các nhân vật hiệp nghĩa trong danh môn chính phái, nhưng từ thời Đại Đường đến nay, đời nào trong Minh giáo cũng có anh hùng hảo hán. Huống hồ ông ngoại của đệ là giáo chủ Thiên Ưng giáo, mẫu thân của đệ là đường chủ của Thiên Ưng giáo, đệ hãy nghe lời Hồ sư bá đi, sau này Trương chân nhân có hỏi, để huynh chịu hết cho.

Trương Vô Kỵ đứng thẳng lên, nói:

– Thường đại ca, đại ca như thế là đã hết lòng hết dạ, thái sư phụ của tiểu đệ sẽ không trách gì đại ca.

Nói đoạn Vô Kỵ hiên ngang đi ra cửa. Thường Ngộ Xuân hoảng sợ, vội hỏi:

– Đệ đi đâu?

Trương Vô Kỵ nói:

– Nếu tiểu đệ chết ở Hồ Điệp cốc, e sẽ làm hổ danh Điệp Cốc Y Tiên mất.

Rồi xăm xăm đi ra khỏi nhà.

Hồ Thanh Ngưu cười khẩy, nói:

– Kiến Tử Bất Cứu Hồ Thanh Ngưu lừng danh thiên hạ, số kẻ chết ở bên ngoài Hồ Điệp cốc này đâu phải chỉ có ngươi.

Thường Ngộ Xuân không nghe ông ta nói gì, vội chạy theo bế thốc Vô Kỵ trở vào, thở hổn hển, nói:

– Hồ sư bá, sư bá nhất định không chịu cứu y, phải không?

Hồ Thanh Ngưu cười, đáp:

– Ngoại hiệu của ta là Kiến Tử Bất Cứu, ngươi chưa biết hay sao mà còn hỏi.

Thường Ngộ Xuân hỏi:

– Thế còn vết thương trên người đệ tử, sư bá chịu cứu chữa chứ gì?

Hồ Thanh Ngưu đáp:

– Không sai.

Thường Ngộ Xuân nói:

– Được, đệ tử đã hứa với Trương chân nhân là sẽ cứu chữa tiểu huynh đệ này, quyết không thể để cho người trong danh môn chính phái chê rằng đệ tử Minh giáo nói xong nuốt lời. Đệ tử không cầu sư bá chữa trị cho mình mà hãy chữa trị cho tiểu huynh đệ này. Hai chúng tôi đổi mạng cho nhau, sư bá không thiệt gì cả.

Hồ Thanh Ngưu nghiêm mặt nói:

– Ngươi trúng phải "Tiệt tâm chưởng", thương thế không nhẹ chút nào, nếu ta chữa trị ngay cho ngươi thì có thể khỏi hẳn. Quá bảy ngày thì chỉ giữ được mạng sống, chứ võ công thì không thể bảo toàn. Mười bốn ngày sau nếu không có lương y chữa cho, thương thế phát ra là hết cứu.

Thường Ngộ Xuân nói:

– Đó là công lao thấy chết không cứu của sư bá, đệ tử chết cũng chẳng oán hận.

Trương Vô Kỵ kêu lên:

– Cháu không cần tiên sinh cứu, cháu không cần tiên sinh cứu!

Rồi quay sang nói với Thường Ngộ Xuân:

– Thường đại ca, bộ đại ca nghĩ Trương Vô Kỵ là phường tiểu nhân đê hèn hay sao? Đại ca đem tính mạng của mình đổi mạng tiểu đệ, dù tiểu đệ có sống được cũng chẳng thấy thú vị gì nữa!

Thường Ngộ Xuân không muốn tranh cãi, liền cởi thắt lưng trói Trương Vô Kỵ vào ghế. Vô Kỵ vội nói:

– Đại ca không thả tiểu đệ ra, tiểu đệ sẽ chửi cho mà xem!

Thấy Thường Ngộ Xuân không thèm lý tới, Trương Vô Kỵ liền lớn tiếng chửi:

– Kiến Tử Bất Cứu Hồ Thanh Ngưu! Tiên sinh đúng là ngu như bò! Thậm chí không bằng súc sinh!

Hồ Thanh Ngưu nghe thằng bé chửi bậy cũng chẳng giận, chỉ lẳng lặng nhìn nó.

Thường Ngộ Xuân nói:

– Hồ sư bá, Trương huynh đệ, xin cáo từ! Thường mỗ đi tìm thầy chữa bệnh đây!

Hồ Thanh Ngưu cười khẩy, nói:

– Ở tỉnh An Huy này chẳng có thầy lang nào ra hồn cả, mà nội trong bảy ngày chắc gì ngươi ra khỏi tỉnh An Huy.

Thường Ngộ Xuân cười ha hả:

– Có vị sư bá "Thấy chết không cứu", thì cũng có sư điệt "Đáng sống không chết"!

Nói đoạn y đường hoàng đi ra cửa.

Hồ Thanh Ngưu cười khẩy:

– Ngươi bảo lấy một mạng đổi một mạng, nhưng ta đã nhận lời đâu? Đã thế cả hai mạng ta đều không cứu.

Tiện tay nhặt trên bàn một khúc sừng hươu, vù một tiếng ném theo trúng ngay huyệt ở kheo chân Thường Ngộ Xuân. Thường Ngộ Xuân kêu ối một tiếng, ngã lăn ra đất, không bò dậy được.

Hồ Thanh Ngưu đến cởi dây trói cho Trương Vô Kỵ, nắm hai cổ tay nó định quẳng ra ngoài cho cả hai người Trương Vô Kỵ và Thường Ngộ Xuân muốn sống chết ra sao thì ra. Trương Vô Kỵ kêu lên:

– Tiên sinh làm gì vậy?

Chất hàn độc xông lên đầu não, Trương Vô Kỵ tức thời ngất đi.

Comments

Comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 12: Khu trừ âm độc ngấm vào cao hoang

Hồ Thanh Ngưu vừa cầm cổ tay Trương Vô Kỵ liền thấy mạch đập rất lạ, bất giác kinh hãi vội ngưng thần nghe kỹ, nghĩ thầm: "Chất độc hàn thằng bé bị trúng thật cổ quái, không lẽ là bởi Huyền Minh thần chưởng? Chưởng pháp ấy thất truyền đã lâu, trên đời này làm gì có ai biết sử dụng?" Lại nghĩ: "Nếu không phải Huyền Minh thần chưởng, thì là cái gì? Âm hàn độc địa thế này, không có môn chưởng lực nào khác vào đây cả. Thằng bé trúng độc đã lâu mà vẫn chưa chết, kể cũng lạ kỳ. Đúng rồi, lão đạo Trương Tam Phong dùng công lực thâm hậu của mình giúp nó sống lay lắt, bây giờ chất âm độc đã ngấm sâu vào lục phủ ngũ tạng, bám chắc trong đó, chỉ có thần tiên mới cứu được thôi".

Nghĩ vậy, Hồ Thanh Ngưu đặt Trương Vô Kỵ nằm trên ghế. Một lúc sau, Trương Vô Kỵ dần dần tỉnh lại, thấy Hồ Thanh Ngưu ngồi trước mặt, đăm đăm nhìn ngọn lửa trong lò sắc thuốc mà suy nghĩ xuất thần; Thường Ngộ Xuân vẫn nằm trên đám cỏ trước cửa, ba người ba tâm sự khác nhau, chẳng ai lên tiếng.

Hồ Thanh Ngưu suốt đời say mê y thuật, nhiều chứng bệnh ngỡ là bó tay nhưng đến Hồ Thanh Ngưu đều được chữa khỏi, nên ông ta mới được tôn là Y Tiên. Chữa bệnh mà đạt tới chữ "Tiên", tức là tuyệt kỹ thần kỳ lắm. Nhưng chất hàn độc của Huyền Minh thần chưởng thì cả đời Hồ Thanh Ngưu chưa gặp lần nào, mà trường hợp này trúng độc rồi lại dây dưa mấy năm chưa chết, để ngấm sâu vào lục phủ ngũ tạng, thì lại càng chưa từng thấy. Hồ Thanh Ngưu vốn dĩ quyết không chữa trị cho Trương Vô Kỵ, nhưng gặp được chứng bệnh quái dị khó thấy trong đời này thì có khác gì tửu đồ gặp rượu ngon, kẻ háu ăn ngửi thấy mùi thịt nướng, làm sao có thể bỏ qua?

Nghĩ ngợi hồi lâu, cuối cùng Hồ Thanh Ngưu tìm ra một cách hay: "Ta cứ chữa cho nó khỏi cái đã, sau sẽ giết nó đi".

Thế nhưng khu trừ chất âm độc đã ngấm sâu vào lục phủ ngũ tạng Trương Vô Kỵ thật phải chẳng dễ. Hồ Thanh Ngưu suy nghĩ hơn hai canh giờ rồi lấy ra mười hai miếng đồng mỏng mảnh, vận lực cắm vào các huyệt như huyệt Trung Cực ở bên dưới đan điền, huyệt Thiên Đột ở dưới cổ, huyệt Kiên Tỉnh ở vai, tổng cộng mười hai chỗ. Huyệt Trung Cực là nơi giao hội của kinh Túc Tam Âm và mạch Nhâm; huyệt Thiên Đột là nơi giao hội của hai mạch Âm Duy và mạch Nhâm; huyệt Kiên Tỉnh là nơi giao hội của các kinh Thủ Túc Thiếu Dương, Túc Dương Minh, mạch Dương Duy. Mười hai miếng đồng cắm xong, thì thập nhị kinh thường mạch và kỳ kinh bát mạch trong cơ thể Trương Vô Kỵ đã được gián cách với nhau.

Trong cơ thể con người: Tâm, phế, tì, can, thận gọi là ngũ tạng, cộng với tâm bào là sáu thứ thuộc âm. Vị, đại tràng, tiểu tràng, đởm, bàng quang, tam tiêu gọi là lục phủ – sáu thứ này thuộc dương. Lục phủ ngũ tạng cộng với tâm bào thành thập nhị kinh thường mạch. Còn tám mạch: Nhâm, Đốc, Xung, Đới, Âm Duy, Dương Duy, Âm Kiều, Dương Kiều, không thuộc âm dương chính kinh, không phối hợp biểu lý, đi theo các đường riêng, được gọi là kỳ kinh bát mạch.

Sau khi đã gián cách thường mạch và kỳ kinh trên cơ thể Trương Vô Kỵ làm cho chất âm độc trong lục phủ ngũ tạng không còn thông với nhau nữa, Hồ Thanh Ngưu mới dùng ngải hơ nóng, gọi là Vân Môn, Trung Phủ ở vai, tiếp đến các huyệt từ cánh tay xuống ngón cái như Thiên Phủ, Hiệp Bạch, Xích Trạch, Khổng Tối, Liệt Khuyết, Kinh Cừ, Đại Uyên, Ngư Tế, Thiếu Thương mười một huyệt này thuộc "Thủ thái âm phế kinh" nhằm tiêu giảm chất âm độc trong phổi của Trương Vô Kỵ. Cách này lấy nhiệt công hàn, nỗi đau đớn mà Trương Vô Kỵ phải chịu đựng cũng chẳng khác gì lúc chất âm độc phát tác. Cứu xong "Thủ thái âm phế kinh", Hồ Thanh Ngưu cứu tiếp "Túc dương minh vị kinh", "Thủ quyết âm tâm bào kinh"..

Khi ra tay, Hồ Thanh Ngưu chẳng buồn để ý tới việc Trương Vô Kỵ có đau hay không, cứ dùng ngải cứu tới mức chỗ nào trên cơ thể Trương Vô Kỵ cũng đen sì. Trương Vô Kỵ thì cố không tỏ ra hèn yếu, nghĩ thầm: "Người tưởng ta rên rỉ, ta sẽ không rên một tiếng". Cậu bé cứ cười nói như không, đàm luận với Hồ Thanh Ngưu về bộ vị của kinh mạch huyệt đạo. Trương Vô Kỵ tuy không biết y lý, nhưng nghĩa phụ Tạ Tốn từng truyền thụ cho cậu phép điểm huyệt, giải huyệt, thuật chuyển di huyệt đạo nên vị trí các huyệt đạo, cậu nắm rất vững. Kiến thức của Trương Vô Kỵ về huyệt đạo so với vị đương thế thần y này dĩ nhiên là thô thiển, nhưng lại liên quan đến y lý là môn mà Hồ Thanh Ngưu cực kỳ tâm đắc. Thế là Hồ Thanh Ngưu vừa cứu ngải, vừa giảng giải thao thao bất tuyệt.

Trương Vô Kỵ nghe mười chỉ hiểu được một, nhưng để tỏ ra là "phái Võ Đang ta cũng am hiểu", chốc chốc cậu lại bình phẩm chen vào một câu hoặc tranh biện vài lời. Hồ Thanh Ngưu cố giảng giải ngắn gọn, đến khi nhận ra "thằng nhãi này thật ra chẳng biết gì hết, chỉ nói lăng nhăng" thì cũng đã tốn bao nhiêu là nước bọt. Tuy nhiên, ở chốn thâm sơn cùng cốc này, trừ vài đứa tiểu đồng sắc thuốc, nấu cơm, Hồ Thanh Ngưu đâu có ai làm bạn, hôm nay có thằng bé này đến nói nọ nói kia về huyệt đạo, kể cũng thú.

Đợi cứu xong mấy trăm huyệt trên Thập nhị kinh thường mạch thì trời đã sẩm tối. Tiểu đồng dọn cơm ra bàn, lại bưng một mâm cơm rau dưa ra bên ngoài cho Thường Ngộ Xuân. Đêm đó Thường Ngộ Xuân phải ngủ ở bên ngoài, Trương Vô Kỵ cũng không ngỏ lời cầu xin Hồ Thanh Ngưu. Lúc đi ngủ, cậu ra nằm cạnh Thường Ngộ Xuân, hai người cùng nằm trên bãi cỏ để tỏ ý hoạn nạn cùng chịu. Hồ Thanh Ngưu giả bộ không nhìn thấy, nhưng trong bụng nghĩ thầm: "Thằng bé này quả khác hẳn những đứa trẻ khác".

Sáng hôm sau, Hồ Thanh Ngưu lại tốn nửa ngày để cứu các huyệt đạo trên kỳ kinh bát mạch của Trương Vô Kỵ. Thập nhị kinh thường mạch giống như các dòng sông chảy không ngừng nghỉ, còn kỳ kinh bát mạch lại giống như hồ như biển, súc tích tàng trữ; thành thử việc khu trừ âm độc trong kỳ kinh bát mạch còn khó hơn nhiều. Hồ Thanh Ngưu suy nghĩ viết một toa thuốc khước tà phù chính, bổ hư tả thực, dùng cách lấy độc trị độc. Trương Vô Kỵ uống xong thang thuốc đó rét run cầm cập nửa ngày, nhưng sau đó tinh thần khỏe khoắn hẳn lên.

Buổi chiều, Hồ Thanh Ngưu lại châm cứu cho Trương Vô Kỵ. Trương Vô Kỵ cố nói khích, chọc tức để Hồ Thanh Ngưu chữa bệnh cho Thường Ngộ Xuân, nhưng y chẳng thèm lý đến, chỉ lạnh lùng nói:

– Cái ngoại hiệu Điệp Cốc Y Tiên của ta có điểm danh bất phó thực. Chữ "Tiên" đâu dễ xưng bừa. Người ta gọi ta là Kiến Tử Bất Cứu, ta lại thích hơn.

Lúc này Hồ Thanh Ngưu đang châm huyệt Ngũ Khu ở giữa hông và đùi của Trương Vô Kỵ, huyệt này là nơi giao hội giữa kinh Túc Thiếu Dương và mạch Đới, bên cạnh thủy đạo cách một tấc năm phân. Trương Vô Kỵ nói:

– Mạch Đới trên cơ thể con người là kỳ quái nhất. Hồ tiên sinh biết không, có một số người không có mạch Đới.

Hồ Thanh Ngưu ngạc nhiên, nói:

– Đừng nói bậy! Không có mạch Đới sao được?

Trương Vô Kỵ vốn chỉ quen miệng nói lăng nhăng, lại tiếp:

– Thiên hạ rộng lớn chuyện gì cũng có, huống hồ mạch Đới cháu thấy chẳng có tác dụng gì lắm.

Hồ Thanh Ngưu nói:

– Mạch Đới khá kỳ diệu, bảo nó kém tác dụng là sai. Các y sư tầm thường không hiểu sự kỳ diệu bên trong, châm cứu cắt thuốc không khỏi sai lầm. Ta có viết cuốn Đới mạch luận, ngươi lấy ra đọc thì biết.

Đoạn Hồ Thanh Ngưu vào gian trong lấy ra một cuốn sách mỏng, giấy đã vàng, đưa cho Trương Vô Kỵ.

Trương Vô Kỵ giở trang đầu, thấy viết: "Thập nhị kinh và kỳ kinh bát mạch đều đều lưu chuyển lên xuống. Riêng mạch Đới bắt đầu từ bụng dưới, phía dưới mạng sườn, đi quanh thân mình một vòng, như cái đai thắt lưng. Ba mạch Xung, Nhâm, Đốc cùng bắt đầu nhưng đi ba hướng khác nhau, một gốc mà ba ngọn, cùng nối với mạch Đới.."

Tiếp đó bình thuật các sai lầm trong y thư cổ kim. Sách Thập tứ kinh phát huy nói mạch Đới chỉ có bốn huyệt. Sách Châm cứu đại thành nói mạch Đới có sáu huyệt; thực ra có đến mười huyệt, trong đó hai huyệt khi ẩn khi hiện, lúc có lúc không, rất khó nhận biết. Trương Vô Kỵ đọc tiếp xuống dưới, tuy không hiểu tinh túy bên trong nhưng cũng biết cuốn sách này kiến thức bất phàm, bèn đem những chỗ Hồ Thanh Ngưu phê bình tiền nhân ra thỉnh giáo.

Hồ Thanh Ngưu thích thú, vừa châm vừa giải thích, khi đã dùng kim vàng châm đủ mười huyệt trên mạch Đới, ông ta mới ngồi nghỉ một lát, nói:

– Ta còn có một bộ Tý ngọ châm cứu kinh ghi tất cả những điều tâm huyết của ta.

Đoạn vào gian trong mang ra bộ y thư gồm mười hai quyển viết tay.

Hồ Thanh Ngưu biết thằng bé này chưa biết gì về y lý, nhưng ông ta ẩn cư nơi hoang cốc đã lâu, cũng cảm thấy quá tịch mịch. Những kẻ trước đây tới cầu chữa bệnh tuy rất đông, song ai ai cũng chỉ khen ông ta y thuật như thần, những lời nói ấy hai chục năm nay nghe đã chán ngấy từ lâu. Thực ra điều làm cho ông ta thấy hãnh diện với người đời không phải là y thuật tinh tường, mà là ông đã có rất nhiều phát hiện về y học mà tiền nhân chưa tìm biết. Hồ Thanh Ngưu tự biết những thành tựu đó rất lớn lao, song chỉ có thể một mình thưởng thức, không khỏi tịch mịch. Bây giờ gặp cậu bé thích đọc trước tác của mình, ông ta lờ mờ cảm thấy có người tri kỷ nên đem bộ sách đắc ý ra khoe.

Trương Vô Kỵ giở ra xem, thấy mỗi trang đều chi chít những chữ nhỏ bằng con ruồi, viết theo lối chữ tiểu khải; bộ vị huyệt đạo, phân lượng thuốc men, thời khắc và độ nông sâu của mũi châm, cái gì cũng ghi chú rõ ràng. Cậu bé chợt nghĩ: "Mình phải để ý xem có đoạn nào nói về cách chữa trị cho Thường đại ca hay không?" Giở đến quyển thứ chín nhan đề Chương Võ học, trong đó mục Chưởng thương trị pháp, thấy có Hồng sa chưởng, Thiết sa chưởng, Độc sa chưởng, Miên chưởng, Khai sơn chưởng, Phá bi chưởng.. các triệu chứng thương tích do các thứ chưởng lực gây nên, cách cấp cứu, cách điều trị, tất cả đều được ghi tỉ mỉ. Đọc hết một trăm tám mươi loại chưởng lực, quả nhiên mới thấy "Tiệt tâm chưởng".

Trương Vô Kỵ cả mừng, lập tức chăm chú đọc kỹ một lượt. Trong sách miêu tả kỹ càng về Tiệt tâm chưởng, nhưng về cách chữa trị lại nói quá sơ lược, rằng "cần châm bốn huyệt Tử Cung, Trung Đình, Quan Nguyên, Thiên Trì; tùy theo sự biến đổi của âm dương ngũ hành, căn cứ ngũ hậu hàn, thử, táo, thấp, phong; tùy ngũ tình hỷ, nộ, ưu, tư, khủng của người bệnh mà bốc thuốc".

Nên biết y đạo Trung Hoa biến hóa đa đoan, không quy định cứng nhắc; cùng một chứng bệnh, người thầy thuốc phải căn cứ trời nóng lạnh, ngày đêm, đầy vơi, trước sau, động tĩnh, trong ngoài, nam nữ, lớn bé.. tùy từng trường hợp mà đưa ra cách chữa trị, thay đổi thế nào là tùy thầy thuốc chứ ít có quy định sẵn. Bởi vậy, thầy thuốc giỏi với thầy thuốc xoàng cách nhau một trời một vực. Sự vi diệu đó dĩ nhiên Trương Vô Kỵ không biết được, chỉ đọc cách chữa vài lần cho nhớ mà thôi. Phần cuối cùng trong mục Chưởng thương trị pháp là Huyền Minh thần chưởng, thì sau khi miêu tả các triệu chứng của người bị thương, đến chỗ "Cách chữa trị" chỉ có một chữ "Không".

Trương Vô Kỵ gấp bộ y kinh lại, cung kính đặt trên bàn, nói:

– Bộ Tý ngọ châm cứu kinh này của Hồ tiên sinh bác đại tinh thâm, vãn bối đọc mười chỉ hiểu được một. Mong được chỉ giáo, thế nào là "Ngự âm dương ngũ hành chi biến"?

Hồ Thanh Ngưu giải thích mấy câu, chợt vỡ lẽ, nói:

– Ngươi định hỏi cách trị thương cho Thường Ngộ Xuân chứ gì? Ha ha, chuyện khác thì ta nói, chứ chuyện ấy thì không đâu.

Trương Vô Kỵ không còn cách nào khác, đành tự mình tra cứu các loại y thư, Hồ Thanh Ngưu để cậu muốn đọc gì thì đọc, không hề cấm đoán. Trương Vô Kỵ miệt mài tìm tòi suốt ngày đêm, quên ăn quên ngủ, chẳng những đọc hết hơn một chục trước tác do Hồ Thanh Ngưu biên soạn, mà ngay cả các sách kinh điển y học như Hoàng Đế nội kinh, Hoa Đà nội chiêu đồ, Vương Thúc Hòa mạch kinh, Tôn Tư Mạo thiên kim phương, Thiên kim dực, Vương Đạo ngoại đài bí yếu đều đọc hết, chỉ cốt tìm ra ý nghĩa các câu liên quan đến cách chữa trị Tiệt tâm chưởng. Mỗi ngày cậu được Hồ Thanh Ngưu châm cứu cho hai lần, vào giờ Thìn và giờ Thân, để trừ âm độc.

Cứ thế mấy hôm liền, Trương Vô Kỵ vùi đầu đọc đủ loại sách, tuy nhớ được một số y lý, bài thuốc, nhưng cái tinh diệu của y đạo, cậu tuổi nhỏ, học vấn nông cạn, làm sao trong vài ngày đủ hiểu được? Bấm đốt ngón tay, cậu tới Hồ Điệp cốc đã sáu ngày. Hồ Thanh Ngưu từng nói thương thế của Thường Ngộ Xuân nếu do ông ta chữa trị thì nội trong bảy ngày sẽ khỏi hẳn, ngoài bảy ngày dù có thể khỏi, song võ công cũng mất hết. Thường Ngộ Xuân đã nằm ngoài bãi cỏ trước nhà sáu ngày đêm, đến hôm nay trời lại đổ mưa. Hồ Thanh Ngưu thấy chỗ Thường Ngộ Xuân nằm trũng xuống, bùn nước lẫn lộn, nhưng vẫn tuyệt nhiên không lý tới. Trương Vô Kỵ cả giận, nghĩ thầm: "Mình đọc các sách thuốc, trừ các cuốn do Hồ Thanh Ngưu soạn, sách nào cũng viết rằng thầy thuốc phải có lòng nhân, cứu đời cứu người; tiên sinh bụng đầy y thuật mà thấy chết không cứu, làm sao có thể gọi là lương y chứ?"

Buổi chiều, trời mưa càng to hơn, sấm chớp ầm ầm, loang loáng. Trương Vô Kỵ nghiến răng, nghĩ thầm: "Mình phải đánh liều chữa cho Thường đại ca thôi, không còn cách nào khác". Vô Kỵ lấy trong tủ thuốc của Hồ Thanh Ngưu tám cây kim châm bằng vàng, ra ngồi bên cạnh Thường Ngộ Xuân, nói:

– Thường đại ca, mấy hôm rồi tiểu đệ cố sức đọc các loại sách thuốc của Hồ tiên sinh, tuy chưa thông hiểu nhưng thời gian khẩn cấp lắm rồi nên không thể dây dưa thêm nữa, tiểu đệ chỉ còn cách mạo hiểm tự châm cho Thường đại ca, nếu chẳng may có chuyện gì, tiểu đệ nhất định cũng không sống một mình đâu.

Thường Ngộ Xuân cười ha hả, nói:

– Tiểu huynh đệ sao lại nói thế? Hãy mau châm kim cho huynh đi. Nếu may trời cho khỏi được, tức là Hồ sư bá bị một phen bẽ mặt. Nếu châm vài mũi huynh đã chết, thì cũng còn hơn là sống trong cái vũng bùn này.

Trương Vô Kỵ hai tay run run, nhìn kỹ, mò đúng huyệt đạo của Thường Ngộ Xuân, lập cập cắm một mũi kim vào huyệt Quan Nguyên. Cậu chưa hề tập luyện thuật châm cứu, động tác đâm kim hết sức vụng về, chẳng qua bắt chước cách làm của Hồ Thanh Ngưu đối với cậu hàng ngày mà thôi. Kim của Hồ Thanh Ngưu làm bằng vàng ròng, hơi mềm, phải là người có nội lực thâm hậu mới sử dụng được. Trương Vô Kỵ dùng sức hơi quá, kim liền cong vẹo đi, không vào sâu nữa, đành phải rút ra đâm lại. Đúng thuật châm cứu thì khi rút kim ra không có chuyện chảy máu, đằng này do cậu lúng túng đâm không đúng chỗ, nên từ huyệt Quan Nguyên máu chảy trào ra. Huyệt Quan Nguyên nằm ở bụng dưới, là chỗ yếu hại của cơ thể, máu chảy không cầm được khiến Trương Vô Kỵ càng cuống quýt lo, chưa biết phải làm sao.

Bỗng nghe sau lưng có tiếng cười ha hả, Trương Vô Kỵ ngoảnh lại thấy Hồ Thanh Ngưu tay chắp sau lưng, dáng vẻ tự đắc, nhìn hai tay cậu dính máu mà cười hì hì. Trương Vô Kỵ vội hỏi:

– Hồ tiên sinh, huyệt Quan Nguyên của Thường đại ca, máu cứ chảy thế này thì phải làm sao?

Hồ Thanh Ngưu đáp:

– Dĩ nhiên ta biết cầm máu cách nào, nhưng việc gì phải nói cho ngươi hay?

Trương Vô Kỵ ngang nhiên nói:

– Thôi bây giờ một mạng đổi một mạng, xin tiên sinh mau cứu Thường đại ca, vãn bối sẽ chết ngay trước mặt tiên sinh.

Hồ Thanh Ngưu lạnh lùng nói:

– Ta đã nói không chữa là không chữa, Hồ Thanh Ngưu này chỉ thấy chết không cứu, chứ đâu phải quỷ Vô Thường đi đòi mạng, ngươi chết thì có ích lợi gì cho ta? Dù có chết mười Trương Vô Kỵ, ta cũng không cứu một Thường Ngộ Xuân.

Trương Vô Kỵ biết có nói thêm với Hồ Thanh Ngưu cũng chỉ tốn thời gian vô ích, nghĩ thầm loại kim này mềm quá, mình không dùng được, lúc này cũng không biết tìm kim bằng đồng bằng sắt ở đâu, nghĩ một chút, liền bẻ cành tre, dùng dao chẻ nhỏ, vót nhọn, đâm vào bốn huyệt Tử Cung, Trung Đình, Quan Nguyên, Thiên Trì trên người Thường Ngộ Xuân. Kim tre đâm vào, quả nhiên không thấy máu chảy. Một lúc sau, Thường Ngộ Xuân nôn ra mấy ngụm máu đen.

Trương Vô Kỵ không biết sau khi mình châm lung tung như thế khiến cho thương thế của Thường Ngộ Xuân nặng lên, hay là đã có công hiệu trục được huyết ứ trong cơ thể ra ngoài, lúc quay đầu nhìn Hồ Thanh Ngưu, thấy nét mặt "Y Tiên" có vẻ giễu cợt, song cũng có vài phần tán thưởng. Trương Vô Kỵ biết mấy mũi kim tre vừa châm không sai lạc, bèn chạy vào nhà lục lọi y thư, suy nghĩ thật kỹ, rồi viết một toa thuốc. Cậu tuy đọc trong sách biết vị thuốc nào chữa bệnh gì, song chưa hề biết hình dạng thế nào là sinh địa, sài hồ, ngưu tất, mật gấu, bèn đem toa thuốc ấy giao cho tiểu đồng, nói:

– Nhờ cậu theo toa này sắc giùm một thang.

Tiểu đồng đưa toa thuốc trình cho Hồ Thanh Ngưu xem, hỏi có nên sắc hay không. Hồ Thanh Ngưu khịt mũi, nói:

– Nực cười, nực cười! Ngươi theo đó mà sắc, uống xong mà bệnh nhân không chết thì trên đời này không còn ai chết nữa.

Trương Vô Kỵ vội giật lại toa thuốc, giảm phân lượng mỗi vị còn một nửa. Tiểu đồng theo đó cắt thuốc đem sắc, thành một tô thật đậm đặc.

Trương Vô Kỵ bưng thuốc tới bên miệng Thường Ngộ Xuân, nghẹn ngào nói:

– Thường đại ca, uống thang thuốc này vào lành hay dữ, tiểu đệ quả tình chưa biết.

Thường Ngộ Xuân cười, nói:

– Tốt lắm, tốt lắm! Cái này gọi là thằng thong manh chữa cho thằng mù.

Đoạn nhắm mắt, ngửa cổ uống một hơi cạn sạch.

Tối hôm ấy, Thường Ngộ Xuân bụng đau quằn quại, nhiều lần nôn ra máu. Trong mưa gió sấm chớp, Trương Vô Kỵ hầu hạ suốt đêm bên cạnh y. Sáng sớm hôm sau, mưa tạnh, Thường Ngộ Xuân bớt thổ huyết, máu nôn ra cũng từ đen chuyển thành tím, từ tím chuyển sang đỏ dần.

Thường Ngộ Xuân vui mừng, nói:

– Tiểu huynh đệ, thuốc đệ bốc hóa ra uống không chết người, huynh cảm thấy bệnh đỡ hẳn đi.

Trương Vô Kỵ cả mừng, nói:

– Thuốc của tiểu đệ, huynh uống thấy sao?

Thường Ngộ Xuân cười, nói:

– Tiên phụ biết trước có ngày thế này, nên mới đặt tên ta là Thường Ngộ Xuân, nghĩa là thường thường sẽ gặp được bậc danh y diệu thủ hồi xuân như tiểu đệ chẳng hạn. Có điều là tiểu đệ cắt thuốc hơi bá đạo, uống vào bụng mà cứ như có mấy chục con dao cắt xén trong ấy.

Trương Vô Kỵ nói:

– Vâng, vâng, chắc là liều lượng hơi nặng.

Kỳ thực liều lượng cậu định ra không phải "hơi nặng", mà là nặng gấp mấy lần, lại không thêm tá dược điều lý trung hòa nên mấy vị đó công phạt quá mạnh. Tuy cậu tìm được trong sách của Hồ Thanh Ngưu nói vị thuốc nào trị bệnh gì, nhưng đạo dùng thuốc "quân thần tá sứ" thì cậu hoàn toàn chưa biết, nếu Thường Ngộ Xuân không có thể chất cường tráng hơn người, hẳn là đã ô hô ai tai rồi.

Hồ Thanh Ngưu rửa mặt, chải đầu xong, thong thả bước ra, thấy Thường Ngộ Xuân sắc diện hồng hào, tinh thần sảng khoái, không khỏi giật mình nghĩ thầm: "Một tên thông minh to gan, một tên thể chất tráng kiện, thương thế do Tiệt tâm chưởng gây ra thế mà trị được rồi".

Trương Vô Kỵ viết thêm toa thuốc bổ, nào là nhân sâm, lộc nhung, thủ ô, phục linh, bao nhiêu vị thuốc bổ đều có. Kho dược liệu trong nhà Hồ Thanh Ngưu có đủ các vị quý hiếm, dược lực cực mạnh. Uống thuốc bổ mười ngày, Thường Ngộ Xuân thấy thần thái sung mãn, võ công trở lại như xưa, bèn nói với Trương Vô Kỵ:

– Tiểu huynh đệ, nay thương thế của ta đã lành hẳn, đêm đêm đệ ra nằm dầm sương với huynh như thế đủ rồi. Chúng mình chia tay thôi.

Hơn một tháng qua, Trương Vô Kỵ và Thường Ngộ Xuân cùng chung hoạn nạn, xả thân cho nhau, thành hảo hữu sinh tử có nhau, nay phải chia tay, thật quyến luyến không muốn rời. Nhưng biết rằng Thường Ngộ Xuân chẳng thể ở mãi tại đây, Vô Kỵ đành nuốt lệ chấp nhận.

Thường Ngộ Xuân nói:

– Tiểu huynh đệ đừng buồn, ba tháng nữa huynh sẽ trở lại thăm, nếu lúc đó chất hàn độc trong cơ thể đệ đã hết, huynh sẽ dẫn đệ trở về núi Võ Đang với thái sư phụ.

Gã vào trong nhà bái biệt Hồ Thanh Ngưu, nói:

– Đệ tử thương thế đã đỡ, tuy là do Trương huynh đệ ra tay chữa trị, nhưng toàn là nhờ y thư của sư bá chỉ dẫn, lại uống không biết bao nhiêu dược liệu quý của sư bá.

Hồ Thanh Ngưu gật đầu, nói:

– Không sao cả. Thương thế của ngươi tuy đã khỏi, nhưng tuổi thọ của ngươi bị giảm mất bốn chục năm đó.

Thường Ngộ Xuân không hiểu, hỏi lại:

– Vì sao vậy?

Hồ Thanh Ngưu nói:

– Cứ theo thể chất của ngươi mà nói, ngươi có thể sống ít ra đến tám mươi tuổi. Nhưng tiểu tử dùng thuốc sai lầm, lúc châm kim lại sai cách, từ nay trở đi, mỗi lần mưa gió sấm chớp, ngươi sẽ thấy toàn thân đau nhức, đại khái là khoảng bốn mươi tuổi sẽ đi gặp Diêm Vương. [50]

Thường Ngộ Xuân cười ha hả, hiên ngang nói:

– Đại trượng phu giúp đời báo quốc, nếu lập nên công trạng thì ba mươi tuổi cũng đã đủ, cần gì đến bốn mươi? Còn như sống một đời tầm thường, dù có thọ trăm tuổi cũng chỉ là tốn cơm tốn gạo thôi.

Hồ Thanh Ngưu gật gật đầu, không nói gì thêm.

Trương Vô Kỵ tiễn chân ra tận Hồ Điệp cốc khẩu, Thường Ngộ Xuân giục cậu trở lại, hai người mới gạt lệ chia tay. Trương Vô Kỵ thầm lập chí: "Mình chữa trị, cắt thuốc sai lầm khiến cho Thường đại ca bị giảm thọ bốn mươi năm, sau này mình phải tìm mọi cách giúp Thường đại ca phục hồi như ban đầu mới được!"

Từ đó Hồ Thanh Ngưu ngày ngày châm cứu, cắt thuốc cho Trương Vô Kỵ để tiêu trừ âm độc trong cơ thể. Còn Trương Vô Kỵ ngày đêm miệt mài đọc y thư, ghi nhớ dược điển, gặp chỗ nào khó hiểu lại thỉnh giáo Hồ Thanh Ngưu. Đó là những điều tâm đắc của Hồ Thanh Ngưu nên y chỉ giáo tỉ mỉ. Có lần Trương Vô Kỵ nêu ra câu hỏi lạ lùng mà Hồ Thanh Ngưu chưa bao giờ nghĩ tới. Ban đầu Hồ Thanh Ngưu định bụng chữa khỏi cho Trương Vô Kỵ rồi sẽ giết luôn, nhưng bây giờ nghĩ lại, nếu thằng bé chết đi, nơi đây sẽ chẳng còn ai đàm đạo hợp ý nên không còn tính đến việc khỏi sớm chết sớm nữa.

Cứ như thế mấy tháng, một hôm Hồ Thanh Ngưu bỗng phát hiện huyệt Quan Xung ở bên cạnh ngón tay vô danh, huyệt Thanh Lãnh Uyên ở cách khoeo tay hai tấc, huyệt Ti Trúc Không ở chỗ lõm sau lông mày của Trương Vô Kỵ khi châm vào không có phản ứng gì cả. Ba huyệt ấy đều thuộc "Thủ Thiếu Dương tam tiêu kinh", Tam tiêu chia ra Thượng tiêu, Trung tiêu, Hạ tiêu là một trong lục phủ ngũ tạng, y thư xưa nay viết rằng rất huyền diệu bí ẩn, khó bề tìm được[51] .

Hồ Thanh Ngưu khổ công trăn trở suy nghĩ, dùng đủ mọi cách khéo léo vẫn không trục được chất âm độc đã ngấm vào Tam tiêu của Trương Vô Kỵ. Sau hơn mười ngày, tóc ông ta bạc thêm nhiều sợi mà vẫn chưa tìm ra.

Trương Vô Kỵ thấy Hồ Thanh Ngưu suy tư khổ não như thế thì không khỏi cảm kích, áy náy không yên, nói:

– Hồ tiên sinh, tiên sinh đã tận tâm kiệt lực trừ độc cho vãn bối. Trên đời này ai ai cũng phải chết, chất âm độc ngấm vào Tam tiêu vãn bối không khu trừ được, âu cũng là số phận an bài, tiên sinh đừng tốn phí quá nhiều tâm sức cho việc cứu mạng vãn bối mà tổn hại thân thể.

Hồ Thanh Ngưu hừ một tiếng, giọng lạnh nhạt:

– Ngươi coi thường Minh giáo, Thiên Ưng giáo quá đấy, không đời nào ta muốn cứu mạng ngươi. Có điều nếu ta không chữa khỏi cho ngươi, hóa ra Điệp Cốc Y Tiên là kẻ vô năng hay sao? Sau khi ta chữa khỏi cho ngươi, ta sẽ giết ngươi.

Trương Vô Kỵ lạnh người nghe Hồ Thanh Ngưu nói một cách thản nhiên, tựa hồ chuyện ấy chẳng đáng gì, song cậu biết những điều ông ta đã nói ra miệng thì cũng quyết không thay đổi, bèn thở dài, nói:

– Vãn bối xem ra chất hàn độc trong cơ thể không cách nào khu trừ, tiên sinh khỏi cần ra tay, vãn bối cũng sẽ chết. Người đời hình như chỉ mong mọi người khác chết sạch đi thì họ mới vui lòng. Người ta học võ luyện công, chẳng phải là để giết người khác đó sao?

Hồ Thanh Ngưu nhìn ra khoảng không xa vắng bên ngoài, xuất thần hồi lâu, buồn bã nói:

– Hồi trẻ ta miệt mài học y thuật, lập chí giúp đời cứu người, rồi ra mới biết mình lầm. Ta đã cứu sống một người, hắn lại trở mặt hại ta một cách tàn bạo. Có một thiếu niên ở Miêu Cương, Quý Châu, bị trúng Kim Tàm trùng độc, là loại chất kịch độc, ai trúng phải thể nào cũng chết, song trước khi chết phải chịu các cơn đau đớn khủng khiếp. Ta suốt ba ngày đêm không ngủ, hao tổn bao tâm lực cứu được y, cùng y kết nghĩa kim lan, tình như ruột thịt, lại còn hứa gả em gái cho hắn. Ai ngờ về sau hắn hại chết em gái ta. Ngươi có biết hắn là ai không? Hiện nay hắn chính là thủ lĩnh lừng lẫy tiếng tăm của một danh môn chính phái đó.

Trương Vô Kỵ thấy bắp cơ trên mặt Hồ Thanh Ngưu giật giật, thần sắc hết sức đau khổ, thì trong lòng cảm thông, nghĩ thầm: "Thì ra Hồ tiên sinh từng gặp không ít thảm cảnh trong đời, nên mới có cái tính thấy chết không cứu, bèn hỏi:

– Kẻ vong ân bội nghĩa, lòng lang dạ thú ấy là ai vậy?

Hồ Thanh Ngưu nghiến răng nói:

– Hắn.. hắn chính là Tiên Vu Thông, chưởng môn phái Hoa Sơn.

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Sao tiên sinh không đi tìm hắn trả thù?

Hồ Thanh Ngưu thở dài:

– Trước sau ta đã ba lần tìm hắn, đều bị thảm bại. Lần sau cùng tưởng đã mất mạng dưới tay hắn rồi. Người ấy võ công cao cường, lại cơ trí tuyệt luân, ngoại hiệu của hắn là Thần Cơ Tử mà. Ta tài nghệ quả thực thua xa, không phải đối thủ của hắn. Huống hồ hắn làm chưởng môn phái Hoa Sơn, người đông thế mạnh. Minh giáo ta trong mấy năm nay chia năm xẻ bảy, tàn sát lẫn nhau, ai ai cũng chỉ bo bo lo giữ thân, không trợ giúp nhau. Hơn nữa, ta cũng ngại đi nhờ vả người khác. Mối thù này, chỉ e không thể báo được. Ôi, tiểu muội khốn khổ của ta ơi, ta mồ côi từ bé, chỉ có hai huynh muội nương tựa lẫn nhau..

Nói đến đó, nước mắt rưng rưng.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm:" Hồ tiên sinh thực ra vốn không phải là kẻ lạnh nhạt, vô tình ". Hồ Thanh Ngưu đột nhiên gay gắt nói:

– Chuyện ta kể hôm nay, từ rày không được nhắc đến, nếu ngươi tiết lộ cho người khác biết, ta sẽ làm cho ngươi sống không nổi, chết không xong đó.

Trương Vô Kỵ định cãi vài câu, nhưng động lòng trắc ẩn, biết Hồ tiên sinh gặp thảm sự, nên cậu chẳng chấp nê, chỉ nói:

– Vãn bối sẽ không nhắc đến làm gì.

Hồ Thanh Ngưu xoa xoa đầu cậu, thở dài:

– Tội nghiệp, tội nghiệp!

Nói đoạn quay vào gian trong.

Từ khi nói chuyện với Trương Vô Kỵ, lại thấy khó khu trừ chất hàn độc đã ngấm vào Tam tiêu của thằng bé, dù có đem y thuật tinh thâm chữa trị cũng chỉ sống thêm được vài năm thì Hồ Thanh Ngưu thay đổi cả tâm tính. Tuy ông ta không thổ lộ thêm thân thế và tâm sự của mình, nhưng thấy thằng bé nhanh hiểu ý người, lại sống chốn núi rừng tịch mịch, có nó bầu bạn thật là hay, thế nên ngày ngày Hồ Thanh Ngưu chỉ dẫn cho Trương Vô Kỵ về sự biến đổi âm dương ngũ hành trong y lý, thuật châm cứu, xem mạch, cắt thuốc. Trương Vô Kỵ miệt mài học hỏi. Hồ Thanh Ngưu thấy thằng bé ngộ tính cao lạ lùng, đọc các bộ y thư, như Hoàng Đế hà mô kinh, Tây Phương Tử Minh Đường cứu kinh, Thái Bình thánh huệ phương, Châm giáp ất kinh, Thiên kim phương đều am tường, tâm đắc, thì than thầm:" Thông minh tài trí như ngươi, lại được bậc minh sư trăm đời có một là ta chỉ giáo, thì chưa đến hai mươi tuổi ngươi đã sánh ngang Hoa Đà, Biển Thước. Tiếc rằng.. ôi, tiếc rằng.. "

Ý của Hồ Thanh Ngưu muốn nói rằng dù Trương Vô Kỵ học có giỏi y thuật bao nhiêu đi chăng nữa, nhưng chỉ sống ít lâu, vậy sự khổ học kia phỏng có ích gì? Trương Vô Kỵ thì trong lòng đã chủ tâm quyết ý nắm chắc y thuật cao minh để khi gặp lại Thường Ngộ Xuân sẽ chữa cho y trở lại sức khỏe bình thường, lại chữa cho Du Đại Nham có thể tự mình đi lại, không cần nhờ ai nâng dắt. Đó là hai đại tâm nguyện của Trương Vô Kỵ, sau khi hoàn tất thì dù có chết ngay cũng không có gì ân hận.

*

* *

Sống trong rừng yên ổn vô sự, ngày tháng trôi mau, thấm thoắt đã hơn hai năm. Trương Vô Kỵ nay đã mười bốn tuổi. Hai năm qua, Thường Ngộ Xuân ghé thăm cậu mấy lần, nói Trương Tam Phong nghe tin bệnh tình của Vô Kỵ thuyên giảm khiến Trương lão vô cùng hoan hỉ, dặn cứ ở lại Hồ Điệp cốc chữa trị cho khỏi hẳn. Trương Tam Phong và sáu đệ tử đều gửi cho thằng bé quần áo, vật dụng, ai cũng thương nhớ, nhưng vì môn phái khác biệt nên không tiện đến thăm.

Trương Vô Kỵ đối với thái sư phụ, các sư bá sư thúc cũng muôn phần thương nhớ, chỉ hận không thể bay ngay về núi Võ Đang.

Thường Ngộ Xuân kể lại tin tức bên ngoài, mấy năm nay người Mông Cổ đối với người Hán càng thêm bạo ngược, trăm họ không đủ ăn đủ mặc, trộm cướp nổi lên như rươi, xem chừng thiên hạ sắp sửa đại loạn. Đồng thời cuộc tranh chấp giữa các thế lực tự xưng danh môn chính phái trên giang hồ với các thế lực bị coi là Ma giáo tà phái ngày thêm kịch liệt, đôi bên đều tử thương nặng nề, oán cừu trở nên ngày một sâu.

Thường Ngộ Xuân mỗi lần đến Hồ Điệp cốc chỉ ở lại vài hôm rồi đi liền, hình như việc trong Minh giáo rất bận rộn.

Một buổi tối, Trương Vô Kỵ đang đọc cuốn y thư Thử sự nan tri của Vương Hiếu Cổ thì cảm thấy mệt mỏi, đầu nặng như chì, bèn gấp sách đi ngủ. Sáng sau tỉnh dậy thấy nhức đầu quá chừng, đang định tìm mấy thứ thuốc trị phong hàn, ra đến gian ngoài thấy mặt trời đã chếch sang phía tây, hóa ra đã quá trưa, thì giật mình nghĩ thầm:" Sao mình lại ngủ một giấc mê mệt như thế, hay là bệnh rồi ", bèn bắt mạch, thấy không có gì lạ, lòng thầm kinh hãi:" Hay là chất âm độc phát tác, mình đến ngày tận số rồi ư? "

Trương Vô Kỵ đi sang gian nhà của Hồ Thanh Ngưu, thấy cửa đóng chặt, ho khẽ một tiếng. Hồ Thanh Ngưu ở bên trong nói ra:

– Vô Kỵ, hôm nay ta khó chịu, đau họng, ngươi tự mình học đi nhé.

Trương Vô Kỵ đáp:

– Vâng.

Quan tâm đến bệnh tình của Hồ Thanh Ngưu, cậu nói:

– Tiên sinh, để vãn bối xem thử cổ họng của tiên sinh xem thế nào, được không ạ?

Hồ Thanh Ngưu đáp, giọng khàn khàn:

– Không cần, ta đã soi gương, thấy không nặng lắm, đã uống" Ngưu hoàng tê giác tán "rồi.

Bữa tối hôm đó, lúc tiểu đồng bưng cơm vào phòng, Trương Vô Kỵ cũng đi theo, thấy Hồ Thanh Ngưu mặt mày tiều tụy, nằm trên giường. Hồ Thanh Ngưu xua tay nói:

– Ra ngoài đi. Ngươi biết ta bị bệnh gì không, bệnh đậu mùa đấy.

Trương Vô Kỵ nhìn, thấy trên mặt và tay Hồ Thanh Ngưu quả nhiên thấy có nhiều chấm đỏ, nghĩ bệnh đậu mùa phát ra thật nguy hiểm, chữa không khéo, nặng thì chết, nhẹ cũng bị rỗ mặt. Hồ Thanh Ngưu y đạo tinh thâm, tuy nhiễm ác bệnh cũng tự chữa trị được, song Trương Vô Kỵ vẫn không khỏi lo ngại.

Hồ Thanh Ngưu nói:

– Ngươi không được vào phòng của ta nữa, đũa bát chén đĩa dùng cho ta đều phải nhúng nước sôi, ngươi và các tiểu đồng không được dùng chung.

Ngừng giây lát, Hồ Thanh Ngưu nói tiếp:

– Vô Kỵ, ngươi nên rời Hồ Điệp cốc đi nơi khác ở tạm mươi bữa nửa tháng, để khỏi lây bệnh đậu mùa của ta.

Trương Vô Kỵ vội nói:

– Không cần đâu, tiên sinh bị bệnh, vãn bối lại tránh đi, vậy ai lo lắng cho tiên sinh? Dẫu gì vãn bối cũng hiểu y lý hơn hai tiểu đồng kia.

Hồ Thanh Ngưu nói:

– Ngươi tránh đi vẫn hơn.

Hồ Thanh Ngưu nói mãi, Trương Vô Kỵ vẫn không chịu. Mấy năm qua, hai người sớm tối bên nhau, Hồ Thanh Ngưu tuy tính nết kỳ dị, song hai thầy trò rất thân tình với nhau, huống hồ lúc thầy hoạn nạn mà mình lại tránh đi là trái với bản tính của Trương Vô Kỵ. Hồ Thanh Ngưu đành nói:

– Thôi được, thế nhưng ngươi nhất thiết không được bước vào phòng ta đó.

Cứ thế ba hôm liền, sớm tối Trương Vô Kỵ tới trước cửa vấn an, Hồ Thanh Ngưu tuy bị khản tiếng, nhưng tinh thần vững vàng, cơm nước xem ra còn ăn nhiều hơn lúc thường, chắc không có gì đáng ngại. Mỗi ngày Hồ Thanh Ngưu đọc các vị thuốc và liều lượng, tiểu đồng theo đó sắc bưng vào cho tiên sinh uống.

Đến chiều hôm thứ tư, Trương Vô Kỵ đang ngồi trong thảo đường đọc sách Hoàng Đế nội kinh, tới chương" Tứ khí điều thần đại luận ", có câu:

" Cho nên thánh nhân không trị bệnh đã phát, mà trị bệnh từ khi chưa phát, không trị khi đã loạn mà trị từ khi chưa loạn là vì vậy. Đại bệnh phát rồi mới cắt thuốc, loạn xảy ra rồi mới cứu chữa, có khác gì khát nước mới đi đào giếng, đánh nhau mới đúc chùy, thì đã quá muộn ".

Trương Vô Kỵ gật gù, nghĩ thầm:" Mấy câu này đúng quá, khát nước mới đi đào giếng, đánh nhau mới đúc binh khí, quả là không kịp. Để quốc gia loạn rồi mới đi dẹp, dù có trở lại bình yên thì nguyên khí cũng bị đại hao tổn. Trị bệnh phải trị từ khi bệnh chưa phát ra mới hay. Còn bệnh đậu mùa của Hồ tiên sinh là ngoại cảm, có muốn trị từ trước cũng chả được ". Lại nhớ đến chương" Âm dương ứng tượng đại luận "trong Hoàng Đế nội kinh có câu:

" Thầy thuốc giỏi chữa khi bệnh còn ở ngoài da, người kém hơn thì chữa khi bệnh vào máu thịt; tiếp đến người kém nữa thì chữa khi bệnh vào gân mạch, sau đến người chữa khi bệnh vào lục phủ, rồi ngũ tạng. Trị bệnh đã vào đến ngũ tạng thì đã nửa phần sống nửa phần chết ". Trương Vô Kỵ nghĩ thầm:" Lương y thấy bệnh vừa chớm là phải trị ngay. Bệnh vào đến ngũ tạng mới chữa, thì chỉ còn hi vọng một nửa. Như mình âm độc đã ngấm sâu vào lục phủ ngũ tạng, đâu phải chỉ nửa sống nửa chết, mà là cửu tử nhất sinh ".

Còn đang tán thưởng kiến thức trác tuyệt của tiền nhân, chợt nghe có tiếng vó ngựa từ phía cốc khẩu vọng vào, không lâu sau đã tới bên ngoài dãy nhà tranh, rồi có tiếng người nói lớn:

– Võ lâm đồng đạo cầu kiến Y Tiên Hồ tiên sinh, xin lão nhân gia trị bệnh.

Trương Vô Kỵ đi ra cửa, thấy một hán tử mặt mũi đen sì đứng đó, tay dắt ba con ngựa, trên lưng hai con có hai người nằm phủ phục, quần áo loang lổ vết máu, hiển nhiên là bị trọng thương. Hán tử đó đầu băng một mảnh vải trắng, vải cũng thấm máu, tay phải treo lên cổ, xem ra cũng bị thương không nhẹ.

Trương Vô Kỵ nói:

– Các vị đến thật không đúng lúc, chính Hồ tiên sinh cũng đang bị bệnh nằm liệt giường, không thể trị bệnh giúp các vị được, mời các vị tìm thầy giỏi khác.

Hán tử kia nói:

– Chúng tôi chạy mấy trăm dặm đến đây, sống chết chỉ trong sớm tối, chỉ còn trông chờ Y Tiên cứu mạng.

Trương Vô Kỵ nói:

– Hồ tiên sinh đang bị bệnh đậu mùa rất nặng, đó là chúng tôi nói thực, không dám dối.

Hán tử nói:

– Ba chúng tôi lần này bị trọng thương, nếu không được Y Tiên cứu chữa, ắt chỉ còn nước chết mà thôi. Phiền tiểu huynh đệ bẩm lại một lời, xem Hồ tiên sinh dạy bảo thế nào.

Trương Vô Kỵ nói:

– Đã vậy, xin cho biết quý tính đại danh.

Hán tử nói:

– Ba chúng tôi tiện danh không đáng nói, xin cứ bẩm là đệ tử của Tiên Vu chưởng môn phái Hoa Sơn.

Nói tới đó, y lảo đảo chực ngã, xem chừng đã không chịu nổi liền ộc ra một ngụm máu tươi.

Trương Vô Kỵ giật mình, nghĩ thầm Tiên Vu Thông là kẻ thù lớn của Hồ tiên sinh, không biết tiên sinh xử trí thế nào, đến trước cửa phòng Hồ Thanh Ngưu, nói:

– Tiên sinh, bên ngoài có ba người bị trọng thương đến xin chữa trị, nói là đệ tử của Tiên Vu chưởng môn phái Hoa Sơn.

Hồ Thanh Ngưu hừ một tiếng, sẵng giọng:

– Không chữa, không chữa, bảo chúng xéo đi!

Trương Vô Kỵ đáp" Dạ! "Rồi trở lại thảo đường, nói với hán tử:

– Hồ tiên sinh rất mệt, không thể tiếp khách, mong hãy lượng thứ.

Hán tử nhíu mày, đang định năn nỉ, thì một gã nằm trên lưng ngựa, dáng gầy gò, ngẩng đầu lên, giơ tay búng ra, loáng một ánh kim quang, nghe" cạch "một tiếng, một ám khí nho nhỏ cắm xuống mặt bàn trong thảo đường. Y nói:

– Ngươi đem mũi Kim Hoa ấy cho Kiến Tử Bất Cứu xem, nói ba người bọn ta đều bị chủ nhân của bông hoa vàng này đả thương; kẻ đó nay mai sẽ đến tìm Hồ tiên sinh rửa hận. Nếu Hồ tiên sinh chữa khỏi cho bọn ta, bọn ta sẽ ở lại đây giúp Hồ tiên sinh chống địch. Dù võ công của bọn ta kém cỏi, song có thêm ba trợ thủ cũng vẫn hơn.

Trương Vô Kỵ thấy gã nói năng không lễ độ như hán tử kia, cậu tới bên bàn, thấy ám khí là một bông mai đúc bằng vàng, kích thước y như một bông mai thật, nhụy hoa bằng bạch kim, trông vô cùng tinh xảo. Cậu giơ tay nhặt lên, nào ngờ gã kia ban nãy búng quá mạnh, bông mai cắm chặt xuống bàn, phải lay lay mấy cái mới nhổ lên được. Trương Vô Kỵ nghĩ thầm:" Gã kia võ công không xoàng, bị chủ nhân Kim Hoa đánh trọng thương như thế, gã bảo người ấy sẽ tới tìm Hồ tiên sinh trả thù, mình phải báo cho tiên sinh biết mới được ". Liền cầm ám khí Kim Hoa tới trước cửa phòng Hồ Thanh Ngưu, thuật lại lời vừa nghe.

Hồ Thanh Ngưu nói:

– Đưa cho ta coi.

Trương Vô Kỵ khẽ đẩy cửa, vén mành, thấy trong phòng tối om, biết rằng bệnh nhân đậu mùa rất sợ gió, sợ ánh sáng, đã dùng mền che kín các cửa. Hồ Thanh Ngưu che mặt bằng một mảnh vải xanh, chỉ hở đôi mắt. Trương Vô Kỵ lo sợ nghĩ thầm:" Không biết sau tấm vải che, các nốt đậu trên mặt như thế nào, sau khi lành liệu có bị rỗ hay không? "

Hồ Thanh Ngưu nói:

– Đặt Kim Hoa trên bàn, rồi đi ra cho mau.

Trương Vô Kỵ theo lời, đặt bông mai xuống bàn, vén màn bước ra, chưa kịp đóng cửa lại đã nghe Hồ Thanh Ngưu nói:

– Ba tên kia sống hay chết, không liên can gì đến ta. Hồ Thanh Ngưu ta sống hay chết, cũng khỏi cần ba kẻ đó để tâm.

Nghe" vèo "một tiếng, bông mai vàng đã xuyên qua màn cửa, bay vụt ra ngoài, rơi xuống đất. Trương Vô Kỵ sống với Hồ Thanh Ngưu hơn hai năm, không hề thấy Hồ tiên sinh luyện võ công, không ngờ vị thần y trông có vẻ thư sinh này lại là một cao thủ, tuy đang bệnh nặng, song võ công không mất.

Trương Vô Kỵ nhặt bông mai lên, mang trả gã gầy gò, lắc đầu, nói:

– Hồ tiên sinh quả thật bệnh nặng..

Chợt nghe tiếng vó ngựa lộp cộp, tiếng xe lọc cọc chạy vào cốc.

Trương Vô Kỵ đi ra bên ngoài, thấy chiếc xe ngựa chạy rất nhanh, thoáng cái đã tới trước nhà, đỗ lại. Một hán tử trẻ tuổi, nước da vàng, ôm một lão già hói đầu từ trên xe xuống, hỏi:

– Điệp Cốc Y Tiên Hồ tiên sinh có nhà không? Môn hạ phái Không Động là Thánh Thủ Già Lam Giản Tiệp từ xa tới xin chữa..

Nói chưa hết câu đã lảo đảo, cùng lão già hói ngã lăn ra đất. Thật trùng hợp, hai con ngựa to khỏe kéo xe cũng kiệt sức, miệng sùi bọt mép, cùng gục xuống.

Nhìn thần sắc hai người, không hỏi cũng thừa biết từ xa đến đây, vì dọc đường không dừng nghỉ nên cả người lẫn ngựa mới mệt mỏi như thế. Trương Vô Kỵ nghe mấy chữ" môn hạ phái Không Động "liền nhớ lại trên núi Võ Đang năm xưa trong số những kẻ tới bức tử cha mẹ mình có Không Động ngũ lão, tuy không thấy lão hói này, nhưng chắc cũng chẳng phải là người tử tế, đang định cự tuyệt, lại thấy sơn đạo thấp thoáng bóng người, thêm bốn năm người nữa chạy tới, kẻ chống gậy khập khiễng, kẻ thì dìu nhau mà đi, ai cũng bị thương cả.

Trương Vô Kỵ cau mày, không đợi bọn họ tới gần, nói to:

– Hồ tiên sinh bị bệnh đậu mùa, chính tiên sinh chưa biết có sống nổi không, chẳng thể nào chữa trị cho các vị. Xin các vị sớm đi tìm danh y khác để khỏi lỡ dịp trị thương.

Bọn kia đến gần hơn, nhìn rõ năm người, ai nấy mặt nhợt nhạt không chút huyết sắc, nhưng trên thân thể không có thương tích, xem ra đều bị nội thương. Người đi đầu vừa cao vừa mập, gật gật đầu với lão hói Giản Tiệp và gã gầy gò ném Kim Hoa. Ba người đó nhìn nhau cười gượng, hóa ra đều biết nhau. Trương Vô Kỵ nổi tính hiếu kỳ, hỏi:

– Các vị đều bị chủ nhân Kim Hoa đả thương ư?

Gã mập đáp:

– Không sai.

Hán tử đến đầu tiên đã bị hộc máu, hỏi:

– Tiểu huynh đệ họ gì? Là bà con thế nào với Hồ tiên sinh?

Trương Vô Kỵ nói:

– Tại hạ là bệnh nhân của Hồ tiên sinh, biết Hồ tiên sinh đã bảo không chữa là nhất quyết không chữa, các vị có nán lại đây cũng vô ích.

Đang nói chuyện, lại có bốn người nữa lục tục kéo đến, kẻ đi xe, kẻ cưỡi ngựa, đều cầu khẩn được gặp Hồ Thanh Ngưu.

Trương Vô Kỵ lấy làm lạ:" Hồ Điệp cốc là nơi hoang vắng, trừ người trong Ma giáo ra, trên giang hồ ít ai hay biết. Những người này hoặc thuộc phái Không Động, hoặc thuộc phái Hoa Sơn, không phải Ma giáo, sao không hẹn mà cùng bị thương, không hẹn mà cùng tới xin chữa trị? "Lại nghĩ thầm:" Chủ nhân của Kim Hoa tài nghệ lợi hại thế, muốn giết những người này đâu có khó gì, sao lại chỉ đánh cho họ trọng thương? "

Mười bốn người kia, có kẻ lên tiếng nài nỉ, có kẻ một lời chẳng nói, nhưng không ai chịu đi, nhìn ra trời đã sắp tối, mười bốn người ngồi chật cả thảo đường. Tiểu đồng bưng cơm ra cho Trương Vô Kỵ. Cậu cũng chẳng khách sáo gì cứ ngồi ăn tự nhiên, rồi thắp một ngọn đèn dầu, giở y thư ra đọc, làm như không thấy mười bốn người kia vậy, nghĩ bụng:" Ta học y thuật của Hồ tiên sinh, cũng phải học luôn công phu Kiến Tử Bất Cứu của Hồ tiên sinh ".

*

* *

Đêm vắng lặng, ngoài tiếng giở sách sột soạt của Trương Vô Kỵ, tiếng thở nặng nề của đám người bị thương, không còn âm thanh gì khác. Bỗng nhiên từ bên ngoài có tiếng bước chân nhè nhẹ của hai người chậm chạp đi tới.

Lát sau, giọng nói thánh thót của một bé gái cất lên:

– Mẹ ơi, trong nhà có ánh đèn, mình đến nơi rồi.

Nghe giọng nói thì bé gái còn nhỏ lắm. Rồi tiếng phụ nữ hỏi:

– Hài nhi, con có mệt lắm không?

Đứa bé đáp:

– Con không mệt đâu. Mẹ ơi, thầy lang trị bệnh cho mẹ, mẹ sẽ hết đau thôi.

Tiếng phụ nữ:

– Ừ, nhưng không biết thầy có chịu chữa bệnh cho mẹ không.

Trương Vô Kỵ giật mình:" Giọng người này nghe quen quá, hình như là Kỷ Hiểu Phù cô cô ". Đứa bé nói:

– Thể nào thầy cũng chữa cho mẹ thôi. Mẹ đừng lo, mẹ đỡ đau chưa?

Tiếng phụ nữ:

– Đỡ rồi, ôi, tội nghiệp con!

Trương Vô Kỵ nghe đến đây, không còn nghi ngờ gì nữa, chạy luôn ra cửa, gọi:

– Kỷ cô cô, cô cô đó ư? Cô cô bị thương hay sao?

Dưới ánh trăng thấy một phụ nữ mặc áo xanh, tay dắt một bé gái, chính là Kỷ Hiểu Phù của phái Nga Mi.

Khi nàng gặp Trương Vô Kỵ trên núi Võ Đang, cậu bé chưa đầy mười tuổi, cách lúc này ngót năm năm. Cậu bé đã thành thiếu niên, đêm nay bất ngờ gặp lại, nàng không thể nhận ra, chỉ ấp úng:

– Cậu.. cậu..

Trương Vô Kỵ nói:

– Kỷ cô cô, cô cô không nhận ra cháu ư? Cháu là Trương Vô Kỵ đây. Hôm cha mẹ cháu qua đời trên núi Võ Đang, cô cháu ta gặp nhau một lần.

Kỷ Hiểu Phù hoảng hốt" à "lên một tiếng, ai ngờ lại gặp Vô Kỵ nơi này, nghĩ mình thân gái chưa chồng giờ lại dắt một đứa con, Trương Vô Kỵ lại là sư điệt của hôn phu Ân Lê Đình của nàng, tuy cậu ta còn ít tuổi, nhưng chẳng thể nào giải thích cho xuôi, không khỏi vừa thẹn vừa quẫn, mặt đỏ bừng. Nàng bị thương không nhẹ, giờ lại kinh hoảng, thân hình lảo đảo chực ngã.

Đứa con gái của nàng chừng tám chín tuổi, thấy mẹ loạng choạng, vội đưa hai tay ra đỡ, nhưng bé bỏng sức yếu như nó thì làm được gì? Thấy hai mẹ con họ sắp ngã, Trương Vô Kỵ vội chạy lại đỡ vai Kỷ Hiểu Phù, nói:

– Kỷ cô cô, mời cô cô vào nghỉ trong này.

Trương Vô Kỵ dìu nàng vào thảo đường, dưới ánh đèn thấy vai và cánh tay bên trái bị vết kiếm chém rất nặng, máu không ngừng ngấm ra lớp vải băng, Kỷ Hiểu Phù cứ ho liên tục không sao ngăn được.

Y thuật của Trương Vô Kỵ hiện thời đã hơn khối vị danh y bình thường, nghe tiếng ho của Hiểu Phù khác lạ, biết là phổi bị chấn thương nặng, bèn nói:

– Kỷ cô cô, cô cô dùng tay phải đối chưởng với người ta, bị thương ở phế mạch Thái Âm.

Nói xong cậu lấy ra bảy mũi kim, châm xuyên qua áo vào huyệt Vân Môn ở vai, huyệt Hoa Cái ở ngực, huyệt Xích Trạch ở khuỷu tay.. tất cả bảy chỗ. Hiện thời thuật châm cứu của Trương Vô Kỵ so với lúc trị thương cho Thường Ngộ Xuân đã là một trời một vực. Hơn hai năm qua, cậu theo Hồ Thanh Ngưu miệt mài khổ học cả chẩn đoán bệnh tình lẫn cách dùng thuốc nay đều đã hiểu biết rất nhiều, tuy còn thua xa Hồ Thanh Ngưu, nhưng riêng về châm cứu thì cậu đã học được bảy, tám thành bản lĩnh của" Y Tiên ".

Kỷ Hiểu Phù thấy cậu mang kim ra, thoạt đầu chưa hiểu dụng ý, ai ngờ Trương Vô Kỵ thủ pháp cực nhanh, trong giây lát bảy mũi kim đã được châm vào các huyệt đạo. Bảy huyệt này đều thuộc Thủ Thái Âm phế kinh, kim vừa châm xong, tình trạng tức ngực khổ sở lập tức giảm hẳn. Nàng vừa kinh ngạc, vừa mừng rỡ, nói:

– Hảo hài tử, không ngờ cháu lại ở đây, học được bản lĩnh thần diệu thế này.

Hôm ở trên núi Võ Đang, Kỷ Hiểu Phù thấy Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố tự sát, thương xót Trương Vô Kỵ cô đơn khổ sở, từng dịu giọng an ủi, lại gỡ cái vòng vàng trên cổ tặng cho nó, nhưng lúc đó Trương Vô Kỵ trong lòng phẫn khích đau đớn, cho rằng tất cả những người lên núi đều là kẻ thù bức tử cha mẹ cậu, thành thử cậu đã gắt gỏng với Kỷ Hiểu Phù, khiến nàng chả biết ăn nói ra sao. Sau đó ít lâu, Trương Vô Kỵ được biết chính hôm ấy cha nó cùng các sư bá sư thúc đã định liên thủ với các nữ hiệp phái Nga Mi cùng chống cường địch, mới hay phái Nga Mi là bạn chứ không phải thù, cho nên mỗi lần nhớ đến tấm lòng của Kỷ Hiểu Phù, cậu bé lại thấy cảm kích.

Hai năm trước ở trong cánh rừng đêm nọ, Trương Vô Kỵ và Thường Ngộ Xuân nấp sau gốc cây đã thấy Kỷ Hiểu Phù ra sức cứu Bành hòa thượng nên càng nghĩ Kỷ cô cô là người rất tốt, còn chuyện Kỷ cô cô chưa lấy chồng mà sinh con, vì sao không phải với Ân thúc thúc, thì cậu còn nhỏ tuổi, không hiểu gì về ái tình nam nữ, nghe qua rồi cũng chẳng để tâm. Còn Kỷ Hiểu Phù bất ngờ gặp người thân của Ân Lê Đình, nên thẹn thùng lúng túng, chứ đâu biết hai năm trước Trương Vô Kỵ đã nghe Đinh Mẫn Quân nói ra. Trương Vô Kỵ cho rằng Đinh Mẫn Quân là người không tốt, thành thử những điều Đinh Mẫn Quân bảo là xấu thì vị tất đã là xấu.

Trương Vô Kỵ thấy đứa con gái của Kỷ Hiểu Phù đứng cạnh mẹ có đôi lông mày đẹp như tranh vẽ, đôi mắt to đen láy cứ đăm đăm nhìn cậu đầy vẻ hiếu kỳ. Cô bé ghé tai mẹ hỏi nhỏ:

– Mẹ, thầy lang bé thế ư? Mẹ còn đau không?

Kỷ Hiểu Phù nghe đứa bé gọi" mẹ ", lại đỏ bừng cả mặt, đến nước này cũng chẳng thể giấu được nữa, lộ vẻ hết sức ngượng ngùng, nói:

– Đây là Trương gia ca ca, phụ thân của Trương ca ca là bằng hữu của mẹ.

Nàng quay sang nói với Trương Vô Kỵ:

– Em nó.. em nó tên là Bất Hối.

Ngừng giây lát, nói tiếp:

– Họ Dương, là Dương Bất Hối.

Trương Vô Kỵ cười, nói:

– Hay nhỉ, tiểu muội muội, tên của muội cũng na ná như tên của huynh, huynh là Trương Vô Kỵ, còn muội là Dương Bất Hối.

Kỷ Hiểu Phù thấy Trương Vô Kỵ thần sắc bình thường, không hề có ý trách cứ, thì yên tâm nói với con:

– Bản lĩnh của Vô Kỵ ca ca giỏi quá, mẹ đỡ đau hẳn rồi.

Đôi mắt linh hoạt của Dương Bất Hối ngó qua ngó lại, đột nhiên con bé đến trước mặt Trương Vô Kỵ ôm lấy cậu, thơm vào má cậu" chụt "một cái. Ngoài mẹ ra, cô bé chưa gặp ai, lần này mẹ bị trọng thương, trong lúc hoạn nạn được Trương Vô Kỵ chữa cho bớt đau khiến cô bé cảm kích quá, trước nay mỗi khi biểu lộ sự yêu thích và cảm tạ đối với mẹ, cô bé lại sà vào lòng thơm lên má mẹ; nên lúc này cô bé cũng làm như thế với Trương Vô Kỵ.

Kỷ Hiểu Phù mỉm cười, nói:

– Bất nhi, đừng làm thế, Vô Kỵ ca ca không thích đâu.

Dương Bất Hối mở to đôi mắt, không hiểu nguyên do, hỏi Trương Vô Kỵ:

– Ca ca không thích à? Sao ca ca lại không thích tiểu muội làm như thế?

Trương Vô Kỵ cười đáp:

– Huynh thích chứ.

Rồi cậu cũng thơm nhẹ một cái lên đôi má bầu bĩnh của Dương Bất Hối. Cô bé vỗ tay reo:

– Thầy lang nhỏ ơi, mau chữa khỏi cho mẹ tiểu muội, tiểu muội sẽ lại thơm huynh lần nữa.

Trương Vô Kỵ thấy cô bé thơ ngây lanh lợi, thật dễ thương. Hơn mười năm qua, những người cậu gặp toàn là hạng sư bá sư thúc lớn tuổi, ngay Thường Ngộ Xuân tuy xưng hô huynh đệ nhưng cũng lớn hơn cậu tám tuổi. Lần gặp Chu Chỉ Nhược ở trên thuyền, hai đứa cũng chỉ được ở bên nhau một ngày, rồi lại chia tay, từ đó chưa hề có một người bạn nhỏ tuổi nào, lúc này bất giác cậu nghĩ thầm:" Giá mình có một tiểu muội muội dễ thương như thế này, thì ngày ngày mình sẽ dẫn nó đi chơi ". Trương Vô Kỵ mới mười bốn tuổi, còn nhiều tính trẻ con, nhưng tuổi thơ gặp nhiều gian truân, thực ra chưa được dịp chơi đùa.

Kỷ Hiểu Phù thấy bọn Giản Tiệp người nào cũng bị thương nặng, hiển nhiên chưa được chữa trị gì cả, nàng không muốn giành phần hơn, bèn nói với Trương Vô Kỵ:

– Các vị kia tới trước cô cô, Vô Kỵ hãy xem cho họ đã, bây giờ cô cô thấy đỡ nhiều rồi.

Trương Vô Kỵ nói:

– Họ đến nhờ Hồ tiên sinh chữa trị, song chính Hồ tiên sinh cũng đang bệnh nặng, không chữa trị cho ai được. Các vị đó chẳng chịu đi. Kỷ cô cô, cô cô không phải nhờ Hồ tiên sinh nữa. Tiểu điệt ở đây đã lâu, cũng biết chữa trị đôi chút, nếu cô cô tín nhiệm, tiểu điệt sẽ chữa cho cô cô.

Kỷ Hiểu Phù sau khi bị thương được người ta chỉ đường tới Hồ Điệp cốc, cũng chẳng khác gì bọn Giản Tiệp, tới cầu xin Hồ Thanh Ngưu chữa trị, nhìn tình trạng của bọn họ, rõ ràng Kiến Tử Bất Cứu Hồ Thanh Ngưu không chịu chữa. Trương Vô Kỵ vừa châm kim cho nàng, nàng thấy lập tức kiến hiệu, xem ra cậu ít tuổi nhưng y đạo quả thật cao minh, bèn nói:

– Thế thì đa tạ điệt nhi. Đại quốc thủ không chịu chữa thì nhờ tiểu quốc thủ vậy.

Trương Vô Kỵ mời Kỷ Hiểu Phù vào sương phòng, cắt bỏ vải áo chỗ vết thương, thấy trên vai và cánh tay có tới ba vết chém, xương cánh tay cũng bị gãy, một chỗ bị nát vụn. Xương gãy vụn như thế, về mặt ngoại khoa là cực kỳ khó chữa, nhưng đối với đệ tử của Điệp Cốc Y Tiên lại là chuyện nhỏ, Trương Vô Kỵ liền nối xương, bó thuốc trị thương cho Kỷ cô cô; lại kê một toa thuốc sai tiểu đồng đem sắc. Đây là lần đầu Trương Vô Kỵ nối xương gãy, thủ pháp tuy chưa được thành thạo nhưng sau một canh giờ cũng xong xuôi, cuối cùng nói:

– Kỷ cô cô, cô cô hãy nằm ngủ một giấc, khi thuốc tê tan hết, vết thương sẽ đau lắm đó.

Kỷ Hiểu Phù nói:

– Đa tạ điệt nhi.

Trương Vô Kỵ vào kho thuốc lấy một vốc táo tàu, mận khô đem cho Dương Bất Hối, ai ngờ đêm qua thức khuya, lúc này cô bé đã rúc vào lòng mẹ ngủ say sưa. Trương Vô Kỵ bỏ táo, mận vào túi áo cô bé rồi trở lại thảo đường.

Gã đệ tử phái Hoa Sơn bị thổ huyết thấy Trương Vô Kỵ liền vội đứng dậy chắp tay vái một cái thật dài, nói:

– Tiểu tiên sinh, Hồ tiên sinh đã nhiễm bệnh, chắc phải phiền tiểu tiên sinh chữa trị cho chúng tôi, mọi người xin tận cảm đại đức.

Trương Vô Kỵ từ khi học y thuật tới giờ, ngoài Thường Ngộ Xuân và Kỷ Hiểu Phù, chưa chữa trị cho ai. Nay thấy mười bốn người kia, kẻ nội tạng chấn thương, kẻ tứ chi bị gãy, thương thế mỗi người một khác. Người đời có câu, học phải gắn với hành, quả thực Trương Vô Kỵ cũng rất muốn chữa thử xem sao nhưng ngặt vì Hồ Thanh Ngưu đã bảo không chữa, nên đáp:

– Đây là nhà của Hồ tiên sinh, tại hạ cũng chỉ là bệnh nhân của Hồ tiên sinh, đâu dám tự tiện như thế.

Gã hán tử thấy Trương Vô Kỵ từ chối không có vẻ gì quả quyết, bèn giở bài năn nỉ, nịnh một câu:

– Xưa nay danh y vị nào cũng phải là già năm, sáu chục tuổi, ai ngờ tiểu tiên sinh đây tuổi còn trẻ quá mà đã có bản lĩnh như thế, quả thật hi hữu trên đời, mong tiểu tiên sinh ra tay một phen.

Gã mập trông như phú thương, nói:

– Mười bốn người chúng tôi trên giang hồ đều có chút danh tiếng, nếu được tiểu tiên sinh cứu chữa, cả bọn ra ngoài tuyên dương, khắp giang hồ sẽ biết tới đại danh y thuật thần tình của tiểu tiên sinh, thế là chỉ trong sớm tối tiểu tiên sinh đã lừng danh thiên hạ.

Trương Vô Kỵ còn ít tuổi, chưa hiểu thế thái nhân tình, nghe hai gã kia nịnh mấy câu không khỏi vui thích:

– Lừng danh thiên hạ để làm gì? Hồ tiên sinh đã không chịu chữa, tại hạ cũng chả dám. Nhưng các vị đều bị thương nặng, thôi để tôi cho vài thứ giảm đau.

Rồi cậu lấy túi thuốc ra bôi, đắp để cầm máu, giảm đau cho họ.

Khi xem kỹ vết thương của từng người, Trương Vô Kỵ càng lúc càng kinh ngạc. Hóa ra thương thế mỗi người một khác, cách đả thương cũng đặc biệt, toàn là những triệu chứng mà Hồ Thanh Ngưu chưa hề dạy cho cậu. Có người bị ép uống mấy chục mũi kim thép, mũi kim lại còn tẩm thuốc độc. Có người gan bị nội lực chấn thương, nhưng các yếu huyệt để chữa gan như Hành Gian, Trung Phong, Âm Bao, Ngũ Lý đều bị mũi kiếm đâm nát, hiển nhiên kẻ hạ thủ rất tinh thông y lý, cốt cho thầy thuốc không còn cách chữa trị. Có người hai lá phổi bị cắm hai cái đinh sắt, cứ ho ra máu không ngừng. Có người bị đánh gãy hết hai bên xương sườn, nhưng tim phổi vẫn nguyên vẹn. Có người hai tay bị cắt, rồi đem nối tay bên này sang tay bên kia, máu thịt bê bết, trông chẳng ra hình thù gì cả. Có kẻ toàn thân sưng phù, nói là bị mười mấy loại trùng độc như rết, bò cạp, ong vàng cắn đốt.

Trương Vô Kỵ mới xem vết thương của sáu bảy người đã phải nhíu mày, nghĩ thầm:" Thương thế của những người này kỳ quái vô cùng, mình không thể chữa nổi lấy một trường hợp. Hung thủ đả thương họ sao lại nghĩ cách hành hạ kẻ khác gớm ghiếc đến thế chứ? "

Trương Vô Kỵ chợt nghĩ:" Vết thương ở vai và cánh tay của Kỷ cô cô lại rất bình thường, hay là Kỷ cô cô bị nội thương loại đặc biệt, chứ chẳng lẽ một mình cô ấy là ngoại lệ? "Trương Vô Kỵ liền trở vào sương phòng, xem mạch cho Kỷ Hiểu Phù, lập tức giật mình vì chỉ thấy mạch đập chợt mạnh chợt yếu, lúc sáp, lúc hoạt, hiển nhiên nội tạng có sự khác lạ, nhưng tại sao ra như vậy thì thật là khó biết nguyên do.

Mười bốn kẻ kia thương thế kỳ dị, Trương Vô Kỵ cũng chẳng để tâm, thầm nghĩ mấy kẻ thuộc phái Không Động trong số đó có liên quan đến việc bức tử cha mẹ cậu, nay bị thế có chết cũng đáng tội. Riêng Kỷ Hiểu Phù thì không thể không cứu, thế là cậu tới trước cửa phòng Hồ Thanh Ngưu, thấp giọng hỏi:

– Hồ tiên sinh đã ngủ chưa?

Nghe Hồ Thanh Ngưu đáp:

– Việc gì thế? Dù là ai, ta cũng không chữa đâu.

Trương Vô Kỵ nói:

– Vâng. Có điều là mấy người kia bị thương lạ lắm.

Rồi kể lại thương thế quái dị của từng người cho Hồ Thanh Ngưu nghe. Hồ Thanh Ngưu ở bên trong nghe, chỗ nào không rõ lại bảo Trương Vô Kỵ ra khám, rồi cho hay. Trương Vô Kỵ mất gần một canh giờ mới kể hết tỉ mỉ thương thế của mười lăm người. Hồ Thanh Ngưu luôn miệng ừ hử, rõ ràng cũng đang suy nghĩ, lâu sau mới nói:

– Các chứng quái thương ấy, ngoài ta ra, không ai..

Đằng sau Trương Vô Kỵ bỗng có người nói tiếp:

– Hồ tiên sinh, vị chủ nhân của Kim Hoa bảo ta nói với tiên sinh như sau:" Ngươi uổng xưng Y Tiên, mười lăm loại kỳ thương quái độc này, ngươi đừng mong chữa nổi dù chỉ một loại ". Ha ha, quả nhiên tiên sinh giả vờ cáo ốm để né tránh.

Trương Vô Kỵ ngoảnh lại thấy kẻ nói câu đó là lão hói Thánh Thủ Già Lam Giản Tiệp của phái Không Động. Trên đầu lão không một sợi tóc, thoạt tiên Trương Vô Kỵ ngỡ lão ta bẩm sinh không có tóc, sau mới biết lão bị người ta bôi một loại thuốc độc lên đầu khiến tóc rụng hết, chất độc vẫn đang ăn sâu vào trong, chỉ e vài hôm nữa sẽ ngấm vào trong não, hẳn sẽ phát điên. Hiện thời hai tay lão bị mấy người đồng bọn dùng dây xích cột lại không cho đưa lên gãi đầu, nếu không, do bị ngứa ngáy hết chịu nổi, hẳn lão đã cào gãi đến lòi xương sọ rồi.

Hồ Thanh Ngưu lạnh nhạt nói:

– Ta chữa nổi hay không chữa nổi cũng chẳng sao, nhưng với ngươi thì ta nhất quyết không chữa. Ta xem ra ngươi chỉ còn sống được bảy tám ngày, hãy mau về nhà còn được gặp mặt vợ con một lần, ở đây nói lảm nhảm phỏng có ích gì.

Giản Tiệp đầu ngứa không chịu nổi, vẫn thường phải hoặc cọ xát, hoặc cụng đầu vào tường khiến dây xích trói tay kêu loảng xoảng, lúc này thở hổn hển, nói:

– Hồ tiên sinh, vị chủ nhân của Kim Hoa nọ sớm muộn cũng tới đây tìm tiên sinh, ta thấy tiên sinh cũng chẳng được chết yên lành đâu, chi bằng mọi người liên thủ cùng chống cường địch, chẳng hơn là tiên sinh nằm trốn trong buồng một mình, khoanh tay chờ chết hay sao?

Hồ Thanh Ngưu nói:

– Các ngươi nếu đánh nổi hắn thì đã giết được hắn từ lâu rồi! Nay có thêm mười lăm cái bị thịt giúp ta phỏng có ích gì?

Giản Tiệp năn nỉ một hồi, Hồ Thanh Ngưu không thèm lý tới. Cuối cùng Giản Tiệp nổi khùng, quát:

– Đã thế, đằng nào cũng chết, ta cho một mồi lửa đốt phăng cái chuồng chó này đi cho rồi! Bọn ta mỗi người một đao, xông vào đâm tên thầy lang khốn kiếp này cùng chết cho xong.

Lúc đó từ bên ngoài có một người khác bước vào, chính là gã hán tử thổ huyết. Gã thò tay vào bọc lấy ra cái Nga Mi thích, gí vào ngực Giản Tiệp, nói:

– Lão đắc tội với Hồ tiền bối, Tiết mỗ thanh toán với lão trước vậy. Lão muốn đao nhuộm máu thì để Tiết mỗ cho lão biết tay.

Giản Tiệp võ công vốn cao hơn gã họ Tiết, nhưng hai tay bị xích lại, không thể kháng cự, đành trợn mắt ra nhìn, thở hồng hộc.

Gã họ Tiết nói to:

– Hồ tiền bối, vãn bối là Tiết Công Viễn, là đệ tử môn hạ của Tiên Vu tiên sinh phái Hoa Sơn, xin khấu đầu trước lão nhân gia!

Đoạn gã quỳ xuống, rập đầu mấy cái. Giản Tiệp chợt cảm thấy có chút hi vọng. Với Hồ Thanh Ngưu, nói nặng không xong, gã tiểu tử này lạy lục cầu khẩn, không chừng lại được cũng nên. Tiết Công Viễn hành đại lễ xong, nói:

– Hồ tiền bối đang có bệnh, chúng tôi quả thật kém phúc. Ở đây có vị tiểu huynh đệ y đạo cao minh, xin Hồ tiền bối ưng thuận để cậu ấy chữa trị cho chúng tôi. Chúng tôi ai nấy đều bị độc thương quái dị, ngoài đệ tử của Điệp Cốc Y Tiên ra, khắp thiên hạ không còn ai trị nổi.

Hồ Thanh Ngưu lạnh lùng nói:

– Thằng bé ấy tên Trương Vô Kỵ, là đệ tử phái Võ Đang, con trai của Ngân Câu Thiết Hoạch Trương Thúy Sơn Trương ngũ hiệp, đệ tử tái truyền của Trương Tam Phong. Còn Hồ Thanh Ngưu ta là người trong Minh giáo, các vị trong danh môn chính phái coi như đồ bỏ, đâu có can hệ gì với đệ tử của cao nhân như Trương Vô Kỵ? Trương Vô Kỵ trúng phải âm độc, cầu ta chữa bệnh, nhưng ta đã lập trọng thệ, trừ người trong Minh giáo ra, ta quyết không chữa bệnh cho ai cả. Trương Vô Kỵ không chịu gia nhập Minh giáo, ta đâu có cứu chữa cho hắn?

Tiết Công Viễn thất vọng, ban đầu cứ ngỡ Trương Vô Kỵ là đệ tử của Hồ Thanh Ngưu, bản lĩnh dù không bằng sư phụ nhưng gặp chỗ khó hẳn sẽ được Hồ Thanh Ngưu chỉ điểm, nào ngờ chính Trương Vô Kỵ cũng chỉ là một bệnh nhân xin chữa không được mà thôi.

Lại nghe Hồ Thanh Ngưu nói tiếp:

– Các vị cứ ở lì trong nhà ta không chịu đi, hừ, bộ các vị tưởng ta sẽ rủ lòng thương chăng? Các vị cứ hỏi thằng bé ấy xem nó ở đây bao lâu rồi.

Tiết Công Viễn và Giản Tiệp cùng nhìn Trương Vô Kỵ, thấy cậu giơ hai ngón tay, rồi lại giơ hai ngón một lần nữa. Tiết Công Viễn hỏi:

– Hai mươi ngày à?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Tính ra hai năm hai tháng rồi.

Giản, Tiết hai người nhìn nhau, cùng buông một tiếng thở dài. Hồ Thanh Ngưu nói:

– Nó có ở lì tại đây mười năm, ta cũng không cứu mạng. Trong vòng một năm nữa thôi, âm độc tích tụ trong lục phủ ngũ tạng nó sẽ đại phát tác, dẫu thế nào nó cũng chẳng thể sống đến ngày này sang năm. Hồ Thanh Ngưu ta từng lập trọng thệ trước Minh tôn là dù cho cha ruột ta, con cái ta mà nếu không phải là đệ tử Minh giáo thì ta cũng không cứu chữa.

Tiết Công Viễn và Giản Tiệp thất vọng hoàn toàn, đang định lùi ra, chợt Hồ Thanh Ngưu nói:

– Gã đệ tử phái Võ Đang này cũng biết đôi chút y lý, y lý của phái Võ Đang tuy còn thua xa Minh giáo ta nhưng cũng không đến nỗi làm chết người. Phái Võ Đang của hắn thấy chết có cứu hay không là việc của hắn, không liên quan tới Minh giáo hay Hồ Thanh Ngưu ta cả.

Tiết Công Viễn sững lại, nghe lời nói của Hồ Thanh Ngưu dường như có ý ưng thuận để Trương Vô Kỵ chữa trị cho mình, liền nói:

– Hồ tiền bối, vị Trương tiểu hiệp này nếu ra tay cứu độ thì chúng tôi có hi vọng sống sót phải không?

Hồ Thanh Ngưu đáp:

– Hắn cứu hay không cứu, không can hệ gì đến ta. Vô Kỵ, ngươi nghe đây, ở trong nhà của ta, ngươi không được giở trò chữa trị, trừ khi ra khỏi nhà ta rồi, ngươi làm gì ta không cần biết.

Tiết Công Viễn và Giản Tiệp thoạt tiên có hi vọng, giờ nghe nói thế thì lại hoang mang, ngơ ngác, chưa hiểu ý tứ của Hồ Thanh Ngưu thế nào.

Trương Vô Kỵ so với họ thông minh hơn hẳn, cậu hiểu ngay, nói:

– Hồ tiên sinh đang bệnh, các vị không nên quấy nhiễu tiên sinh nữa, xin hãy theo tôi ra ngoài kia.

Ra đến thảo đường, Trương Vô Kỵ nói:

– Các vị, tại hạ nhỏ tuổi kiến thức nông cạn, thương thế của các vị lại quái dị, chữa trị được hay không, thật chẳng dám nói chắc. Nếu các vị tin tưởng, thì tại hạ sẽ thử xem sao, sống chết tùy ở ý trời.

Lúc này mọi người ai cũng bị thương, không ngứa thì đau, không tê thì xót, tình cảnh sống dở chết dở, dù có bảo họ uống tì sương độc dược, họ cũng cho là ngọt như mật mà uống liền, miễn sao đỡ đau đớn khổ sở nhất thời, giờ nghe Trương Vô Kỵ nói vậy thì ai nấy hoan hỉ ra mặt.

Trương Vô Kỵ nói:

– Hồ tiên sinh không cho phép tại hạ chữa bệnh trong nhà tiên sinh, e chết người tổn hại uy danh" Y Tiên ", vậy tất cả hãy ra khỏi nhà.

Mọi người lại lưỡng lự, thấy cậu chẳng qua chỉ mười bốn mười lăm tuổi, tài nghệ chắc chỉ có hạn, ở trong nhà Y Tiên, ít ra còn có chỗ dựa, nếu ra khỏi đây, lỡ cậu chữa trị lung tung, thương thế nặng thêm lại khổ.

Giản Tiệp lớn tiếng kêu:

– Đầu ta ngứa muốn chết, tiểu huynh đệ, hãy chữa cho ta trước đi.

Đoạn lão chạy ra ngoài trước, dây xích kêu loảng xoảng.

Trương Vô Kỵ nghĩ một hồi, vào kho thuốc lấy hơn mười vị như Nam Tinh, Phòng Phong, Bạch Chỉ, Thiên Ma, Khương Hoạt, Bạch Phụ Tử, Hoa Nhị Thạch rồi sai tiểu đồng cho vào cối giã nát, trộn rượu mạnh, chế thành cao đem ra đắp lên đầu Giản Tiệp. Cao vừa đắp lên, Giản Tiệp xót quá, nhảy cẫng lên, vừa nhảy vừa kêu:

– Xót quá, xót chết mất thôi! Ôi, nhưng mà xót thế này còn dễ chịu hơn là ngứa rất nhiều!

Lão nghiến răng ken két, cứ đi đi lại lại như điên trên bãi cỏ, kêu luôn miệng:

– Xót ơi là xót, mẹ kiếp! Thằng nhỏ này quả là tài tình! Không, Trương tiểu hiệp, Giản mỗ phải đa tạ cậu mới đúng.

Bọn kia thấy chứng ngứa đầu của Giản Tiệp có công hiệu ngay lập tức ùa ra nhờ Trương Vô Kỵ chữa trị. Lúc ấy có một người ôm bụng lăn lộn dưới đất mà kêu la, hóa ra y bị bắt ép nuốt hơn ba chục con đỉa sống. Lũ đỉa vào trong bụng không chết, liền bám vào thành dạ dày và thành ruột mà hút máu. Trương Vô Kỵ nhớ trong y thư có viết: Đỉa gặp mật ong sẽ hóa thành nước. Hồ Điệp cốc này thiếu gì mật ong, bèn sai tiểu đồng mang một tô cho người kia uống.

Cứ thế cho đến khi trời sáng, hai mẹ con Kỷ Hiểu Phù thức dậy, đi ra thấy Trương Vô Kỵ vẫn đang tất bật trị thương cho mọi người. Kỷ Hiểu Phù bèn phụ giúp việc băng bó, truyền tin cho tiểu đồng về các vị thuốc. Chỉ có cô bé Dương Bất Hối vô tư vô lự vừa nhai táo, vừa tung tăng đùa giỡn với bướm.

Mãi đến quá trưa Trương Vô Kỵ mới sơ bộ hoàn tất việc trị ngoại thương, cầm máu, giảm đau. Nhưng thương thế mỗi người đều kỳ quái, rắc rối, trị ngoại thương mới chỉ là chữa phần ngọn. Trương Vô Kỵ vào phòng ngủ vài canh giờ, đang ngủ nghe bên ngoài có nhiều tiếng kêu la, vội choàng dậy chạy ra, thấy vài người bớt đau, còn phần đông lại trở nên nguy kịch. Trương Vô Kỵ bó tay, đành chạy vào kể cho Hồ Thanh Ngưu nghe.

Hồ Thanh Ngưu lạnh lùng nói:

– Bọn họ không phải người trong Minh giáo, họ sống hay chết, đối với ta chả có can hệ gì hết.

Trương Vô Kỵ chợt nghĩ ra một cách, nói:

– Nếu như có đệ tử của Minh giáo, bên ngoài không có thương tích gì, song bên trong máu tụ sưng phồng lên, mặt phù màu đỏ, mê man sắp chết, tiên sinh sẽ chữa trị bằng cách nào?

Hồ Thanh Ngưu nói:

– Nếu như đó là đệ tử của Minh giáo thì ta dùng Sơn Giáp, Quy Vĩ, Hồng Hoa, Sinh Địa, Linh Tiên, Huyết Kiệt, Đào Tiên, Đại Hoàng, Nhũ Hương, Một Dược cho vào rượu mà sắc, sau đó thêm nước tiểu trẻ con vào mà uống tất sẽ trừ được huyết ứ.

Trương Vô Kỵ lại hỏi:

– Nếu như có đệ tử của Minh giáo bị người ta đổ thiếc vào tai trái, rót thủy ngân vào tai phải, mắt lại bị trét sơn sống, đau đớn chịu không nổi, không nhìn thấy được, vậy phải chữa thế nào?

Hồ Thanh Ngưu nổi giận, nói:

– Kẻ nào dám hãm hại đệ tử của Minh giáo như thế?

Trương Vô Kỵ nói:

– Kẻ đó quả thật tàn bạo, nhưng vãn bối nghĩ rằng mình phải chữa vết thương ở tai, mắt cho đệ tử của Minh giáo đã, rồi sẽ truy tìm họ tên và tung tích của kẻ thù.

Hồ Thanh Ngưu nghĩ một lát, nói:

– Nếu người đó là đệ tử của Minh giáo, ta sẽ đổ thủy ngân vào tai trái y, thiếc sẽ tan vào thủy ngân mà chảy ra, lại dùng kim châm ngoáy vào tai phải, thủy ngân sẽ bám vào kim từ từ kéo ra. Còn sơn sống trét ở mắt, hãy thử giã cua, lấy nước rửa mắt, có thể hóa giải được.

Cứ như thế, Trương Vô Kỵ lần lượt đem các bệnh án khó chữa, giả là của đệ tử Minh giáo để thỉnh giáo Hồ Thanh Ngưu. Hồ Thanh Ngưu dĩ nhiên hiểu dụng ý của Trương Vô Kỵ, song vẫn dạy cho cách chữa trị. Song thương thế của bọn người kia quá kỳ quái, Trương Vô Kỵ tuy có theo cách chỉ dẫn mà chữa, nhưng không kiến hiệu thì Hồ Thanh Ngưu lại nghĩ ra cách khác.

Cứ thế, dăm sáu ngày sau thương thế của mọi người đều thuyên giảm. Nội thương của Kỷ Hiểu Phù vốn do trúng độc, Trương Vô Kỵ sau khi chẩn đoán rõ ràng mới dùng thang thuốc gồm các vị Sinh Long Cốt, Tô Mộc, Thổ Cẩu, Ngũ Linh Chi, Thiên Kim Tử, Cáp Phấn để cho nàng uống giải độc, làm tan máu ứ, khi xem mạch thấy tế mà hoãn, thương thế giảm hẳn.

Lúc này mọi người đã dựng bên ngoài thảo đường một ngôi nhà tranh, trải cỏ mà nằm. Hai mẹ con Kỷ Hiểu Phù ở một cái chòi cách đó vài trượng, do Trương Vô Kỵ bảo mọi người dựng giùm. Mười bốn người kia vốn là hào khách ngang dọc giang hồ, hiện thời tính mạng nằm trong tay Trương Vô Kỵ nên hết thảy những gì cậu thiếu niên này sai bảo, họ đều không dám trái lời. Trương Vô Kỵ tuy bị một phen vất vả túi bụi nhưng cũng học được nhiều bài thuốc hay, nhiều cách chữa trị thần tình của Hồ Thanh Ngưu.

Một buổi sớm, khi Trương Vô Kỵ quan sát Kỷ Hiểu Phù chợt thấy hai đầu lông mày có ẩn hiện một làn hắc khí, tựa hồ thương thế tái phát, chất độc đã giải trừ lẽ nào tăng lên? Cậu vội bắt mạch, lại bảo Kỷ cô cô nhổ nước miếng vào Bách Hợp tán xem sao, quả nhiên chất độc trong cơ thể đã tăng lên. Trương Vô Kỵ suy nghĩ hồi lâu không hiểu, chạy vào gian trong thỉnh giáo Hồ Thanh Ngưu. Hồ Thanh Ngưu thở dài, bày cách trị. Trương Vô Kỵ làm theo thấy quả nhiên kiến hiệu.

Da đầu Giản Tiệp lại loét ra, hôi thối chịu hết nổi. Chỉ trong vài ngày, thương thế của cả mười lăm người đều có biến chứng; rõ ràng đã bớt được tám chín phần, nay sau một đêm lại bỗng dưng trở nặng.

Trương Vô Kỵ không hiểu nguyên do, vào hỏi Hồ Thanh Ngưu, thì Y Tiên nói:

– Những người này bị thương quái dị, nếu chữa một lần đã khỏi thì việc gì họ phải tới Hồ Điệp cốc khẩn khoản cầu xin?

Đêm đó, Trương Vô Kỵ nằm trên giường suy nghĩ:" Thương thế lúc nặng lúc nhẹ là chuyện thường, nhưng cả mười lăm người cùng bị sau một đêm thì lạ thật! "Nằm trằn trọc mãi tới canh ba cũng vì chuyện đó mà không ngủ được, bỗng nghe ngoài song có tiếng chân người đạp trên lá cây xào xạc, ai đó đang rón rén bước qua.

Trương Vô Kỵ nổi tính hiếu kỳ, thè lưỡi làm thủng lớp giấy dán cửa, nhìn ra ngoài, thấy một bóng người lướt qua, ẩn vào sau cây hòe; nhìn quần áo thì ra Hồ Thanh Ngưu.

Trương Vô Kỵ kinh ngạc nghĩ thầm:" Hồ tiên sinh làm gì vậy? Tiên sinh đã khỏi bệnh đậu mùa rồi ư? "Trông cách đi đứng của Hồ Thanh Ngưu, hiển nhiên tiên sinh không muốn cho ai nhìn thấy. Lát sau, thấy Hồ Thanh Ngưu đi về phía cái chòi của hai mẹ con Kỷ Hiểu Phù. Trương Vô Kỵ trống ngực đập thình thịch, nghĩ bụng:" Không lẽ Hồ tiên sinh định làm nhục Kỷ cô cô? Mình không phải là đối thủ của Hồ tiên sinh, nhưng việc này không thể cho qua ". Cậu bèn rón rén đi ra, bí mật bám theo sau. Chỉ thấy Hồ Thanh Ngưu lẻn vào chòi. Cái chòi ấy làm tạm cho xong, không tường không cửa, chỉ cốt che mưa nắng, người ngoài ai muốn ra vào cũng được.

Trương Vô Kỵ theo gấp tới phía sau căn chòi, nằm phục xuống nhìn vào, thấy hai mẹ con Kỷ Hiểu Phù ôm nhau ngủ say trên đám cỏ khô, Hồ Thanh Ngưu lấy trong túi ra một viên thuốc, bỏ vào chén thuốc của Kỷ Hiểu Phù, rồi quay mình đi ra. Trong giây lát, Trương Vô Kỵ thấy người kia mặt che vải xanh, chẳng biết bệnh đậu mùa đã khỏi hẳn chưa. Trương Vô Kỵ lập tức hiểu ra, lưng đổ mồ hôi lạnh:" Thì ra Hồ tiên sinh nửa đêm lén ra ngoài hạ độc, cho nên thương thế của những người kia mới nặng lên ".

Hồ Thanh Ngưu lại đi vào ngôi nhà tranh của bọn Giản Tiệp, Tiết Công Viễn, rõ ràng cũng là để lén lút bỏ thuốc độc, đợi một hồi lâu vẫn chưa thấy trở ra, chắc là phải sử dụng mười mấy loại chất độc khác nhau cho từng người, nên tốn nhiều thời gian. Trương Vô Kỵ bước nhẹ vào chòi của Kỷ Hiểu Phù, cầm chén thuốc lên ngửi. Chén thuốc này vốn là Bát tiên thang được chuẩn bị sẵn cho Kỷ Hiểu Phù uống vào sáng sớm mai sau khi thức dậy. Bây giờ chén thuốc có mùi lạ xộc lên mũi. Lúc đó bên ngoài có tiếng bước chân lướt qua, chắc là Hồ Thanh Ngưu đã quay về buồng ngủ.

Trương Vô Kỵ đặt chén thuốc xuống, khẽ gọi:

– Kỷ cô cô, Kỷ cô cô.

Kỷ Hiểu Phù võ công không phải kém, vốn tai thính mắt tinh, dù đang ngủ say nhưng chỉ cần một tiếng động nhẹ là tỉnh ngay; đằng này Trương Vô Kỵ gọi đến mấy lần mà Kỷ cô cô vẫn chưa thức giấc. Trương Vô Kỵ đành khẽ lay vai nàng, lay đến bảy tám cái Kỷ Hiểu Phù mới choàng tỉnh, giật mình hỏi:

– Ai đó?

Trương Vô Kỵ nói nhỏ:

– Kỷ cô cô, là điệt nhi Vô Kỵ đây. Chén thuốc của cô cô có kẻ bỏ thuốc độc vào rồi, đừng uống nữa. Cô cô hãy đổ xuống suối, nhưng chớ cho ai biết, sáng mai điệt nhi sẽ nói rõ cho cô cô hay.

Kỷ Hiểu Phù gật đầu. Trương Vô Kỵ lại sợ Hồ Thanh Ngưu phát giác nên khi về đến phòng ngủ của mình bèn trèo lối cửa sổ mà vào.

Hôm sau, ăn sáng xong, Trương Vô Kỵ và Dương Bất Hối cùng nhau chạy đuổi bướm trong thung lũng, mỗi lúc một xa. Kỷ Hiểu Phù biết ý, lẽo đẽo đi theo. Mấy hôm rồi Trương Vô Kỵ thường dẫn Dương Bất Hối đi chơi, nên lúc này mọi người thấy ba người đi với nhau cũng chẳng để ý. Đi khoảng một dặm, tới một triền núi, Trương Vô Kỵ ngồi xuống bãi cỏ. Kỷ Hiểu Phù nói với con:

– Bất nhi, đừng đuổi bướm nữa, con hãy đi hái hoa, làm ba cái vòng đội đầu cho mỗi người một cái đi.

Dương Bất Hối thích quá, liền đi hái hoa.

Trương Vô Kỵ nói:

– Kỷ cô cô, Hồ Thanh Ngưu có thù oán gì với cô cô hay không mà lại ra tay hạ độc?

Kỷ Hiểu Phù kinh ngạc, nói:

– Ta với Hồ tiên sinh không hề quen biết, đến hôm nay cũng chưa thấy mặt lần nào, làm sao có chuyện thù oán được?

Nàng trầm ngâm một lát, nói tiếp:

– Phụ thân và sư phụ ta mỗi khi nhắc đến Hồ tiên sinh đều bảo Hồ tiên sinh y thuật như thần, thời nay không một ai sánh kịp, chỉ tiếc ở trong Minh giáo, đi theo tà đạo. Phụ thân và sư phụ của ta cũng không quen biết Hồ Thanh Ngưu, tại sao y.. y lại hại ta nhỉ?

Trương Vô Kỵ liền thuật hết việc đêm qua Hồ Thanh Ngưu vào chòi lén bỏ thuốc độc vào chén thuốc, rồi nói:

– Điệt nhi ngửi thang Bát tiên, thấy xộc lên mùi Thiết Tuyến thảo và Thấu Cốt khuẩn. Hai vị thuốc đó vốn có thể trị thương, song độc tính cực mạnh, chỉ dùng với liều lượng chút ít, nhất là rất kỵ dùng với các vị trong Bát Tiên thang, nếu uống chung sẽ rất hại, có thể không chết, nhưng khiến bệnh dây dưa khó trị.

Kỷ Hiểu Phù nói:

– Điệt nhi bảo cả mười bốn người kia cũng bị hạ độc thì việc này quái dị thật. Nếu bảo phụ thân ta hoặc phái Nga Mi vô tình đắc tội với Hồ Thanh Ngưu, không lẽ cả mười bốn người kia cũng thế sao?

Trương Vô Kỵ hỏi lại:

– Kỷ cô cô, Hồ Điệp cốc là nơi vô cùng kín đáo, tại sao cô cô biết mà tìm đến? Chủ nhân của Kim Hoa đả thương cô cô là ai vậy? Mấy chuyện đó không liên quan tới điệt nhi, đáng ra không nên hỏi, nhưng sự việc trước mắt quá rắc rối, mong cô cô đừng trách.

Kỷ Hiểu Phù đỏ mặt, hiểu ý Trương Vô Kỵ ngại chuyện này có liên quan đến việc nàng chưa lấy chồng mà đã có con, e nói ra xấu hổ, bèn đáp:

– Điệt nhi cứu sống ta, ta còn giấu điệt nhi làm chi? Huống hồ điệt nhi đối xử quá tử tế với ta và Bất Hối, tuy điệt nhi còn ít tuổi, song nỗi khổ tâm trong lòng ta, trên đời này ta không có ai thân thiết để thổ lộ ngoài điệt nhi ra.

Nói tới đây, Hiểu Phù không cầm được nước mắt. Nàng lấy khăn tay lau nước mắt, nói tiếp:

– Hơn hai năm trước ta và một vị sư tỷ có mối bất hòa nên ta không dám trở về gặp sư phụ, cũng không dám về nhà mình..

Trương Vô Kỵ nói:

– Hừ, cái mụ Độc Thủ Vô Diệm Đinh Mẫn Quân thật là tệ hại! Cô cô không việc gì phải sợ mụ ta cả.

Kỷ Hiểu Phù kinh ngạc:

– Ồ, sao điệt nhi lại biết?

Trương Vô Kỵ bèn kể lại chuyện đêm đó cậu và Thường Ngộ Xuân ẩn trong rừng đã thấy Kỷ Hiểu Phù cứu Bành hòa thượng ra sao. Kỷ Hiểu Phù lại buồn bã thở dài, nói:

– Muốn người ta không biết, trừ phi đừng có làm! Tai mắt người đời, thật không sao che giấu nổi.

Trương Vô Kỵ nói:

– Cô cô, Ân lục thúc tuy là người rất tốt, nhưng nếu cô cô không thích, không lấy lục thúc thì cũng không sao. Khi nào gặp lục thúc, điệt nhi sẽ xin lục thúc đừng ép buộc cô cô làm chi.

Kỷ Hiểu Phù nghe Trương Vô Kỵ nói thật hồn nhiên, coi mọi sự trên đời nhẹ nhàng như thế, thì cười gượng, thong thả nói:

– Vô Kỵ, không phải cô cô có ý phụ bạc Ân lục thúc đâu, sự việc hồi đó không có cách nào khác, nhưng.. nhưng cô cô cũng không có gì phải ân hận..

Nhìn khuôn mặt thơ ngây hồn nhiên của Trương Vô Kỵ, Kỷ Hiểu Phù nghĩ thầm:" Thằng bé này tấm lòng trong trắng, chuyện ái tình nam nữ ta đừng kể với nó thì hơn, vả lại chuyện trước mắt cũng chẳng liên quan gì sự việc sự việc đó cả ". Liền nói tiếp:

– Sau khi có chuyện bất hòa với Đinh sư tỷ, ta không về núi Nga Mi mà đưa Bất nhi đi ẩn cư ở núi Thuấn Canh, cách xa hơn ba trăm dặm về phía tây. Hai năm qua, ngày ngày chỉ bầu bạn với tiều phu thôn quê, mọi chuyện yên ổn cả. Nửa tháng trước, ta dẫn Bất nhi lên chợ thị trấn mua vải, định may cho bé vài cái áo, thì thấy trên góc tường có hình vẽ bằng phấn trắng vòng hào quang và một thanh kiếm nhỏ. Đó là tín hiệu triệu tập đồng môn của phái Nga Mi. Ta nhìn thấy tín hiệu đó thì vô cùng kinh ngạc. Suy nghĩ một hồi, ta tuy bất hòa với Đinh sư tỷ, song không phải lỗi ở ta, ta cũng không làm việc gì khi sư phản môn, nay nhìn tín hiệu đồng môn lâm nạn, không thể không tới cứu giúp. Thế là ta theo tín hiệu chỉ đường, đi tới Phụng Dương.

Ở trong thành Phụng Dương lại thấy có tín hiệu, ta bèn dắt Bất Hối đến Lâm Hoài tửu lâu, chỉ thấy trên tửu lâu đã có bảy tám nhân sĩ võ lâm, Thánh Thủ Già Lam Giản Tiệp của phái Không Động, Tiết Công Viễn của phái Hoa Sơn cùng hai sư đệ cũng trong số đó, song không thấy ai là đồng môn phái Nga Mi cả.

Trước kia ta từng gặp Giản Tiệp và Tiết Công Viễn, khi ta hỏi nguyên do, họ bảo họ cũng nhìn thấy tín hiệu triệu tập đồng môn, liền tìm đến đây, còn vì chuyện gì thì bọn họ không hề hay biết.

Hôm ấy ta chờ cả ngày cũng không thấy đồng môn phái Nga Mi đâu cả, chỉ thấy lục tục kéo đến một số người khác thuộc Thần Quyền môn, phái Cái Bang, ai cũng bảo nhận được tín hiệu của đồng môn tới Lâm Hoài tửu lâu tụ hội. Hôm sau lại thêm mấy người nữa, nhưng toàn là người nhận tín hiệu chứ không phải là người đưa ra tín hiệu.

Mọi người bàn với nhau, ai cũng nghi ngờ: Chẳng lẽ đều bị kẻ địch đùa bỡn?

Nhưng tất cả mười lăm người tụ tập tại Lâm Hoài tửu lâu, bao gồm chín môn phái, mỗi môn phái truyền tín hiệu dĩ nhiên khác hẳn nhau, lại giữ nghiêm bí mật, phải là người cùng môn phái mới hiểu hàm ý, chứ người ngoài nhìn thấy cũng chẳng hiểu thế nào. Nếu quả có kẻ địch ngầm lập mưu, không lẽ hắn biết được ám hiệu của cả chín môn phái sao? Ta dẫn theo Bất nhi, ngại gặp hung hiểm, hơn nữa cũng ngại gặp đồng môn, giờ thấy không phải đồng môn cầu cứu, bèn dắt Bất nhi toan ra về.

Ta đang định đi xuống tửu lâu thì bỗng nghe tiếng cộc cộc như có người dùng gậy gõ vào cầu thang, tiếp đến tiếng ho liên hồi, một bà lão lưng còng, tóc bạc như cước, đi lên. Bà lão đi vài bước lại ho vài tiếng, trông rất khổ sở, dìu bà lão bên cánh tay trái là một thiếu nữ mười hai, mười ba tuổi. Ta thấy bà lão già nua, lại bệnh hoạn, bèn đứng tránh sang một bên nhường bà lão lên trước. Thiếu nữ thần thanh cốt tú, diện mạo vô cùng xinh xắn. Bà lão tay phải chống một cây gậy bằng gỗ trắng, mặc áo vải gai, rõ là một bà già nhà nghèo, nhưng chuỗi tràng hạt bằng vàng trên tay trái thì sáng lấp lánh, ta nhìn kỹ lại thấy mỗi hạt trên chuỗi tràng hạt đó là một bông mai đúc bằng vàng.. Trương Vô Kỵ nghe tới đây thì nhịn không nổi, liền hỏi xen vào:

– Bà lão ấy chắc là chủ nhân của Kim Hoa?

Kỷ Hiểu Phù nói:

– Phải! Nhưng lúc ấy có ai ngờ được!

Hiểu Phù lấy trong bọc ra một bông mai nhỏ đúc bằng vàng giống y hệt Kim Hoa mà bữa trước Trương Vô Kỵ đã cầm vào cho Hồ Thanh Ngưu xem. Trương Vô Kỵ cảm thấy quá lạ, mấy hôm rày cậu cứ tưởng chủ nhân của Kim Hoa phải là một kẻ hung ác dữ tợn, hình thù đáng sợ, giờ nghe Kỷ Hiểu Phù kể, hóa ra chỉ là một bà lão già nua bệnh hoạn, thật là ngoài sức tưởng tượng của cậu.

Kỷ Hiểu Phù kể tiếp:

– Bà lão ấy lên lầu, lại ho rũ rượi một trận. Thiếu nữ dìu một bên, nói:" Bà ơi, bà uống thuốc nhé? "Bà lão gật đầu, thiếu nữ lấy ra một cái bình nhỏ, đổ ra vài viên thuốc, bà lão nhai trệu trạo, tụng hai câu" A Di Đà Phật, A Di Đà Phật ", cặp mắt già nua hấp háy, miệng lẩm bẩm:" Chỉ có mười lăm người, hừ, ngươi thử hỏi xem, phái Võ Đang và phái Côn Luân có ai đến không? "

Lúc bà lão lên lầu, chẳng ai để ý, giờ bỗng nghe bà lão nói thế, mấy vị thính tai liền ngoảnh cả lại nhưng chỉ thấy bà lão ốm yếu nghèo hèn nên cứ tưởng tai mình nghe lầm. Thiếu nữ cao giọng nói:" Này, bà bà hỏi các vị, phái Võ Đang và phái Côn Luân có ai tới đây hay không? "Tất cả mọi người ngẩn ra, không ai trả lời. Lát sau, Giản Tiệp phái Không Động mới nói:

– Tiểu cô nương, cô hỏi gì vậy?

Thiếu nữ nói:

– Bà bà hỏi, tại sao chưa thấy đệ tử của hai phái Võ Đang và Côn Luân?

Giản Tiệp hỏi:

– Bà cháu cô là ai?

Bà lão gập người ho sù sụ một hồi.

Đột nhiên một luồng kình phong ào tới trước ngực ta. Luồng kình phong ấy không biết từ phía nào đánh tới, chỉ cảm thấy nhanh lạ thường, ta vội giơ chưởng chống đỡ, lập tức thấy tức ngực, khí huyết dồn lên, đứng không vững, phải ngồi bệt xuống sàn, nôn ra mấy ngụm máu tươi. Ta đang hoang mang thì thấy bà lão thân hình phiêu động, tung chưởng phía này, đấm quyền phía kia, miệng vẫn ho, trong giây lát đánh ngã nốt mười bốn người còn lại trong tửu lâu. Bà lão xuất thủ bất ngờ, thân pháp quá lanh lẹ, kình lực mạnh mẽ, cả mười lăm người không ai đỡ được một chiêu nửa thức nào cả. Kẻ thì bị điểm huyệt, kẻ thì bị chấn thương tạng phủ. Bà lão kia liên tiếp vung tay trái, từng đóa kim hoa trong chuỗi tràng hạt phóng đi, cắm vào cánh tay cả mười lăm người. Rồi bà lão quay sang vịn vào thiếu nữ, miệng niệm" A Di Đà Phật! "Run rẩy đi xuống lầu. Chỉ nghe tiếng gậy của bà lão chống lộc cộc chầm chậm vào bậc thang, mỗi bước một xa dần, xen lẫn tiếng ho khan.

Kỷ Hiểu Phù kể tới đây thì Dương Bất Hối đã làm được một cái vòng đội đầu bằng hoa, cười thích thú chạy lại, nói:

– Mẹ, cái này cho mẹ đội này.

Đoạn con bé đội ngay lên đầu mẹ.

Kỷ Hiểu Phù cười, kể tiếp:

– Lúc ấy trên Lâm Hoài tửu lâu cả mười lăm người đều nằm ngổn ngang dưới sàn, có người rên rỉ, có người hổn hển thở không ra hơi..

Dương Bất Hối sợ hãi, nói:

– Mẹ kể chuyện lão bà bà độc ác ấy ư? Đừng kể, đừng kể, con sợ lắm.

Kỷ Hiểu Phù nói:

– Bé ngoan, chạy đi làm cho Vô Kỵ ca ca một cái chuỗi hoa xem nào.

Dương Bất Hối nhìn Trương Vô Kỵ, hỏi:

– Ca ca thích màu gì?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Nếu có hoa màu đỏ, thêm cả màu trắng nữa, bông càng lớn càng tốt.

Dương Bất Hối dang hai tay hỏi:

– Lớn bằng ngần này à?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Được, cỡ đó.

Dương Bất Hối vỗ tay, chạy đi, nói:

– Muội làm xong, ca ca phải đội đấy.

Kỷ Hiểu Phù kể tiếp:

– Trong lúc ta đang nửa tỉnh nửa mê lại thấy khoảng hơn chục người, toàn là tửu bảo, chưởng quỹ, nấu bếp của tửu lâu tới khiêng tất cả xuống nhà bếp. Bất Hối thì sợ quá nên con bé cứ khóc và theo sát bên ta. Tên chưởng quỹ tay cầm một tờ giấy, chỉ Giản Tiệp nói:" Bôi thuốc cao vào đầu lão này ". Tức thì một tên tửu bảo dùng thuốc cao đã chuẩn bị sẵn bôi lên đầu Giản Tiệp. Tên chưởng quỹ xem xem tờ giấy, chỉ một người khác:" Chặt tay phải tên này ráp qua tay bên trái ". Hai tên đầu bếp dùng dao sắc cứ thế mà làm. Đến lượt ta, may quá không bị thứ hình phạt quái dị nào, chỉ phải uống một bát nước ngòn ngọt. Ta biết trong đó có chất kịch độc, nhưng lúc ấy số phận nằm ở tay kẻ khác, đâu có thể chống cự?

Sau khi cả mười lăm người bị chúng thực thi khổ hình, tên chưởng quỹ nói:" Các vị người nào cũng đã bị các chứng bất trị, không ai sống nổi quá mươi bữa nửa tháng. Nhưng chủ nhân của Kim Hoa bảo rằng lão nhân gia với các vị vốn không thù không oán gì, thấy các ngươi rất đáng thương nên mở lòng từ bi chỉ cho một con đường sống. Các ngươi hãy mau tới bên hồ Nữ Sơn ở Hồ Điệp cốc, cầu khẩn một người có ngoại hiệu Điệp Cốc Y Tiên tên là Hồ Thanh Ngưu chữa trị cho. Nếu người ấy bằng lòng ra tay, các ngươi còn có hi vọng sống sót; nếu không thì trên thế gian này chẳng ai cứu nổi các ngươi. Gã Hồ Thanh Ngưu còn có ngoại hiệu Kiến Tử Bất Cứu, các ngươi mà không hết mực khẩn cầu, gã sẽ chả chịu cứu chữa đâu. Các người hãy bảo với Hồ Thanh Ngưu rằng chủ nhân của Kim Hoa không lâu nữa sẽ đến tìm gã, nói gã mau mau chuẩn bị hậu sự đi là vừa ".

Đoạn tên chưởng quỹ chỉ dẫn lộ trình, thế nên cả bọn cùng kéo đến đây.

Trương Vô Kỵ càng nghe càng lạ, nói:

– Kỷ cô cô, như thế thì cả bọn chưởng quỹ, tửu bảo, đầu bếp đều là đồng bọn của mụ già độc ác kia ư?

Kỷ Hiểu Phù nói:

– Xem ra bọn chúng đúng là thủ hạ của mụ ta, tên chưởng quỹ cứ theo những điều viết trong tờ giấy của mụ ta mà thực thi khổ hình. Đến giờ ta vẫn chưa hiểu tại sao mụ lại làm những trò quái dị đó? Nếu có thù oán với bọn ta, muốn lấy mạng bọn ta cũng chỉ cần phẩy tay một cái là xong. Nếu muốn bọn ta khổ sở hơn, vậy sau khi đầu độc, cớ sao lại còn chỉ đường tìm đến Hồ tiên sinh xin chữa trị? Lại bảo chính mụ ta không lâu nữa sẽ đến tìm Hồ tiên sinh báo thù. Chẳng lẽ cứ phải dùng đủ cách kỳ quái đối với bọn ta để thử tài cứu chữa của Hồ tiên sinh?

Trương Vô Kỵ trầm ngâm một hồi, nói:

– Nếu Kim Hoa bà bà muốn tìm Hồ tiên sinh để gây sự, về lý mà nói, Hồ tiên sinh phải chữa trị cho mọi người rồi cùng hợp sức chống đại địch. Vì thế Hồ tiên sinh miệng bảo không chữa, song vẫn chỉ dẫn điệt nhi cách chữa trị, đem áp dụng thì thấy quả nhiên cực kỳ công hiệu. Như vậy là bề ngoài bảo không cứu, nhưng bên trong lại ngầm mượn tay điệt nhi cứu người. Thế nhưng Hồ tiên sinh đã dạy điệt nhi chữa cho mọi người gần khỏi rồi, nửa đêm tiên sinh lại lén lút hạ độc làm cho mọi người sống dở chết dở, hành động đó thật là quái dị.

Hai người trò chuyện hồi lâu mà vẫn không hiểu nổi nguyên do. Dương Bất Hối đã làm xong một cái vòng hoa lớn đội lên đầu Trương Vô Kỵ.

Trương Vô Kỵ nói:

– Kỷ cô cô, từ rày trừ phi đích thân điệt nhi mang thuốc tới cô cô hãy uống, nhất thiết chớ uống thứ khác. Ban đêm, cô cô nhớ để sẵn binh khí bên người đề phòng có kẻ hãm hại. Trước mắt cô cô chưa thể đi được, chờ điệt nhi làm ít thuốc tễ cho cô cô uống, khi không còn nội thương nữa mới tìm cách đưa Bất Hối trốn đi.

Kỷ Hiểu Phù gật đầu, nói:

– Vô Kỵ, tâm địa lão họ Hồ khó lường như thế, điệt nhi ở chung với lão ta không phải là hay, chi bằng chúng ta cùng trốn đi là hơn.

Trương Vô Kỵ nói:

– Ồ, Hồ tiên sinh đối với điệt nhi trước giờ rất tử tế! Lúc đầu tiên sinh bảo rằng sau khi chữa khỏi âm độc trong cơ thể điệt nhi là sẽ ra tay giết điệt nhi. Nay tiên sinh chữa không xong, thành thử chẳng cần phải ra tay với điệt nhi làm chi. Kể ra bây giờ chúng ta trốn đi là hay nhất, nhưng việc chữa trị nội thương cho cô cô, điệt nhi còn vài điều chưa rõ, phải thỉnh giáo thêm Hồ tiên sinh đã.

Kỷ Hiểu Phù nói:

– Lão đã ngầm hạ độc ta, chỉ e khi chỉ dẫn cho điệt nhi, lão sẽ cố ý nói sai đi không chừng.

Trương Vô Kỵ nói:

– Không hẳn thế! Những phương pháp Hồ tiên sinh chỉ dẫn cho điệt nhi đều hiệu nghiệm như thần; nếu có chỗ sai, điệt nhi sẽ nhận biết ngay. Lạ nhất là ở điểm này. Điệt nhi nghĩ rằng nếu Kim Hoa bà bà muốn gây sự với Hồ tiên sinh, mà tiên sinh thì đang bị bệnh, cho nên điệt nhi không nỡ bỏ tiên sinh mà đi. Nhưng xem ra Hồ tiên sinh giả vờ bệnh đấy thôi.

*

* *

Đêm hôm ấy, Trương Vô Kỵ nằm nhưng không ngủ, đến canh ba quả nhiên lại nghe tiếng chân Hồ Thanh Ngưu từ trong buồng đi ra, sang cái chòi của Kỷ Hiểu Phù để bỏ thuốc độc. Cứ thế ba hôm liền, Kỷ Hiểu Phù vì không uống thuốc có độc nên bệnh tình thuyên giảm rất nhanh. Còn bọn Giản Tiệp, Tiết Công Viễn thì cứ lúc nặng lúc đỡ, mấy kẻ tính nóng nảy đã công khai tỏ giọng oán thán, chê Trương Vô Kỵ y thuật kém cỏi. Trương Vô Kỵ chẳng buồn để tâm, định bụng chỉ một đêm nữa thôi, rồi sẽ cùng hai mẹ con Kỷ Hiểu Phù trốn đi thật xa, vì chất âm độc trong cơ thể không trừ được, cũng chả nên về núi Võ Đang làm gì cho thái sư phụ và các vị sư bá sư thúc thêm đau lòng. Thôi tìm một chốn thật hoang vu lẳng lặng mà chết là xong.

Tối đó lúc đi ngủ, Trương Vô Kỵ nghĩ sáng mai mình ra đi, Hồ Thanh Ngưu tuy cổ quái, song đối với cậu tử tế, không nhờ có tiên sinh chữa trị, làm sao mình sống được tới ngày hôm nay? Hơn hai năm qua lại được tiên sinh dạy cho biết bao y thuật, sống chung một nhà, nay sắp biệt ly thì trong lòng không khỏi lưu luyến, bèn đến trước phòng Hồ Thanh Ngưu vấn an vài câu. Lại nghĩ Kim Hoa bà bà nay mai tới đây sinh sự, không biết Hồ tiên sinh đối phó cách nào, tâm tư không khỏi lo lắng, nói:

– Hồ tiên sinh, tiên sinh sống bấy lâu ở Hồ Điệp cốc chẳng lẽ không thấy chán hay sao? Chi bằng hãy đi nơi khác cho khuây khỏa?

Hồ Thanh Ngưu ngạc nhiên, nói:

– Ta đang bệnh, làm sao đi được?

Trương Vô Kỵ nói:

– Kiếm một cỗ xe là đi được thôi. Chỉ cần dùng vải che kín cửa xe, không cho gió lùa vào là ổn. Nếu tiên sinh muốn đi, vãn bối sẽ theo hầu.

Hồ Thanh Ngưu thở dài:

– Hài tử, đa tạ hảo tâm của ngươi! Thiên hạ tuy rộng lớn, nhưng e rằng ở đâu cũng thế cả thôi. Mấy hôm nay ngươi cảm thấy trong ngực thế nào? Ở đan điền hàn khí có xông lên hay không?

Trương Vô Kỵ nói:

– Hàn khí mỗi ngày một nặng, không thuốc gì trị được, thôi đành phó mặc.

Hồ Thanh Ngưu im lặng một lát, rồi nói:

– Để ta cho ngươi một bài thuốc cứu mạng như sau: Dùng Đương Quy, Viễn Chí, Sinh Địa, Độc Hoạt, Phòng Phong năm vị, đến canh hai dùng Xuyên Sơn Giáp làm thuốc dẫn, uống ngay đi.

Trương Vô Kỵ kinh ngạc vì thấy năm vị trên chẳng liên quan gì tới bệnh tình của mình, dược tính còn xung đột nhau là đằng khác, dùng Xuyên Sơn Giáp làm thuốc dẫn càng khó hiểu, bèn hỏi:

– Tiên sinh, mấy vị đó, liều lượng ra sao?

Hồ Thanh Ngưu nổi giận nói:

– Liều càng cao càng tốt. Ta đã nói rồi, hãy mau mau xéo đi!

Hai năm vừa qua, mỗi lần Hồ Thanh Ngưu cùng Trương Vô Kỵ đàm luận y lý, dược tính, đều coi cậu nửa là học trò, nửa là bằng hữu, cung cách rất nhã nhặn; lúc này lại dùng lối nói năng bất nhã. Trương Vô Kỵ vừa nghe đã thấy máu nóng dâng lên, cậu quay về phòng ngủ, nghĩ thầm:" Mình có thiện chí khuyên lão ta đi xa tránh họa, để khỏi vô cớ bị sỉ nhục, vậy là lão ta lại cho mình một bài thuốc tầm bậy, tưởng dễ lừa được mình đấy ư? "Trương Vô Kỵ nằm trên giường, nghĩ đến câu nói bất nhã của Hồ Thanh Ngưu, đang lơ mơ sắp ngủ thiếp đi, chợt nhớ lại" Đương Quy, Viễn Chí.. liều càng cao càng tốt, nghĩa là sao? Hay là.. hay là Hồ tiên sinh muốn bảo Đương Quy là "Hãy đi về đi"?

Khi đã nghĩ ra Đương Quy là "Hãy đi về đi", bèn nghĩ Viễn Chí tức là "Chí ở phương xa", "cao chạy xa bay", Sinh Địa và Độc Hoạt thì ý đã quá rõ, là phải có đất sống, mới có thể sống được, còn Phòng Phong là gì? Ồ, nghĩa là đề phòng tiết lộ phong thanh. Lại nói "đến canh hai dùng Xuyên Sơn Giáp làm thuốc dẫn, uống ngay đi", Xuyên Sơn Giáp tức là theo đường tắt xuyên rừng mà đào tẩu, đừng theo đường chính, hơn nữa phải trốn ngay vào canh hai này.

Nghĩ đến đây, Trương Vô Kỵ thấy bài thuốc quái dị của Hồ Thanh Ngưu đã giải được, liền ngồi bật dậy, song lại nghĩ thầm: "Hồ tiên sinh đã biết đại họa sắp ập đến, có thiện ý bảo mình trốn đi ngay; song lúc này kẻ địch chưa tới, sao tiên sinh không nói thẳng cho mình biết, lại phải dùng mật ngữ đánh đố như thế? Giả sử mình không giải được, hóa ra hỏng việc ư? Bây giờ qua canh hai rồi, mình phải chạy thôi". Nghĩ rằng Hồ Thanh Ngưu hẳn có điều khó nói, nên những ngày qua không bỏ trốn, rất có thể tiên sinh đã ngầm bố trí cơ quan xảo diệu để đối phó với đại địch rồi. Tuy Hồ tiên sinh bảo ta "Phòng Phong", "Độc Hoạt", nhưng mình không thể không cứu hai mẹ con Kỷ cô cô.

Bèn rón rén ra khỏi phòng, đi sang cái chòi của Kỷ Hiểu Phù, chỉ thấy Kỷ Hiểu Phù nằm trên cỏ, nhưng bên trên có một người đang khom lưng đè lên người Kỷ Hiểu Phù. Dưới ánh trăng muộn chiếu vào chòi, Trương Vô Kỵ thấy người kia đầu choàng khăn vuông, mặc áo xanh, có tấm vải xanh che mặt, chính là Hồ Thanh Ngưu thì trong khoảnh khắc, bao nhiêu nghi ngờ cũng trỗi dậy.

Chỉ thấy Hồ Thanh Ngưu tay trái bóp hai má Kỷ Hiểu Phù, ép nàng phải há miệng ra, tay phải nhét một viên thuốc vào miệng nàng. Trương Vô Kỵ thấy tình thế cấp bách, vội nhảy vào, kêu lên:

– Hồ tiên sinh, không được hại người..

Người kia kinh ngạc quay đầu lại, tay lơi ra, nghe "hự" một tiếng, lưng đã bị trúng một chưởng rất mạnh của Kỷ Hiểu Phù. Người đó ngã vật xuống, tấm vải che mặt lật sang một bên.

Trương Vô Kỵ vừa nhìn đã bất giác kinh hoảng kêu lên, thì ra người kia không phải là Hồ Thanh Ngưu, mà là một thiếu phụ trung niên, mặt hoa da phấn.

Comments

Comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 13: Đêm hôm chẳng ngại vượt tường

Trương Vô Kỵ thấy đó là một thiếu phụ, liền sửng sốt hỏi:

– Bà.. bà là ai?

Thiếu phụ lưng bị trúng một chưởng nặng của đệ tử phái Nga Mi, đau nhợt nhạt cả mặt mày, không nói nổi.

Kỷ Hiểu Phù cũng hỏi:

– Bà là ai? Vì cớ gì mấy phen đến hãm hại ta?

Thiếu phụ lặng thinh. Kỷ Hiểu Phù rút trường kiếm, chĩa vào ngực thiếu phụ.

Trương Vô Kỵ nói:

– Để điệt nhi vào xem Hồ tiên sinh có sao không?

Cậu sợ Hồ Thanh Ngưu đã bị thiếu phụ này hạ độc thủ, lại nghĩ thiếu phụ có thể là đồng đảng của Kim Hoa bà bà. Trương Vô Kỵ rảo bước đến trước cửa phòng của Hồ Thanh Ngưu, đẩy mạnh cánh cửa mở ra, gọi to:

– Tiên sinh, tiên sinh! Tiên sinh có sao không?

Không có tiếng trả lời, Trương Vô Kỵ quá lo, vội sờ soạng trên bàn tìm đồ đánh lửa, đốt lên một ngọn nến, thấy chăn đệm trên giường xộc xệch nhưng không thấy Hồ Thanh Ngưu đâu cả.

Trương Vô Kỵ vốn chỉ lo Hồ Thanh Ngưu đã bị thiếu phụ hạ thủ nằm chết dưới đất, nhưng nhìn quanh không có ai thì yên tâm, nghĩ thầm: "Nếu Hồ tiên sinh bị bắt đi, lúc này chắc chưa bị sát hại". Vô Kỵ định đuổi theo, chợt nghe dưới gầm giường có tiếng thở nặng nề, bèn cúi mình chiếu nến, thấy Hồ Thanh Ngưu chân tay bị trói, nằm dưới đó. Trương Vô Kỵ cả mừng, vội kéo ông ta ra, thấy miệng ông ta bị nhét một trái hồ đào to, không thể nói được.

Trương Vô Kỵ móc trái hồ đào ra, cởi dây trói cho Hồ Thanh Ngưu. Hồ Thanh Ngưu hỏi luôn:

– Thiếu phụ kia đâu?

Trương Vô Kỵ nói:

– Đã bị Kỷ cô cô chế ngự, không chạy được đâu. Tiên sinh không bị đả thương chứ?

Hồ Thanh Ngưu nói:

– Hãy khoan cởi trói cho ta, mau đưa thiếu phụ tới gặp ta, mau lên, chậm một chút e không kịp mất.

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Tại sao?

Hồ Thanh Ngưu giục:

– Mau đưa thiếu phụ tới đây, ồ không, ngươi mau lấy ba viên "Ngưu hoàng huyết kiệt đan" cho bà ta uống trước, thuốc trong ngăn kéo thứ ba ấy, mau lên!

Hồ Thanh Ngưu luôn miệng thúc giục, thần sắc rất gấp gáp.

Trương Vô Kỵ biết "Ngưu hoàng huyết kiệt đan" là linh dược giải độc, Hồ Thanh Ngưu phối chế bằng không ít dược liệu trân kỳ, chỉ cần một viên đã đủ hóa giải chất cực độc, vậy mà giờ bảo cho thiếu phụ uống những ba viên, không lẽ bà ta bị trúng độc rất nặng ư?

Chỉ thấy thần sắc Hồ Thanh Ngưu quả thực gấp gáp lạ lùng nên Trương Vô Kỵ không dám hỏi thêm, vội lấy "Ngưu hoàng huyết kiệt đan" chạy sang chòi của Kỷ Hiểu Phù, nói với thiếu phụ:

– Mau nuốt đi này!

Thiếu phụ mắng luôn:

– Cút đi, ai cần hảo tâm của tên tiểu tặc chứ?

Thì ra thiếu phụ ngửi mùi "Ngưu hoàng huyết kiệt đan" thì biết ngay là thuốc giải độc. Trương Vô Kỵ nói:

– Là Hồ tiên sinh cho bà uống đó.

Thiếu phụ nói:

– Xéo đi, xéo mau!

Sau khi trúng chưởng của Kỷ Hiểu Phù, giọng nói của thiếu phụ nghe rất yếu ớt.

Trương Vô Kỵ không hiểu dụng ý của Hồ Thanh Ngưu, đoán rằng mụ nữ tặc này khi trói Hồ Thanh Ngưu đã bị ông ta dùng một loại ám khí cực độc đả thương, nay cần mụ ta sống để tra vấn mọi việc, bèn bóp miệng mụ ta mà nhét ba viên thuốc vào, rồi nói với Kỷ Hiểu Phù:

– Chúng ta đem mụ này giao cho Hồ tiên sinh định đoạt.

Kỷ Hiểu Phù liền điểm huyệt thiếu phụ, cùng Trương Vô Kỵ mỗi người một bên đỡ một cánh tay lôi mụ ta sang phòng ngủ của Hồ Thanh Ngưu.

Hồ Thanh Ngưu vẫn nằm còng queo dưới đất, vừa thấy mụ kia, vội hỏi:

– Uống thuốc chưa?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Uống rồi.

Hồ Thanh Ngưu vui mừng nói:

– Tốt lắm, tốt lắm!

Trương Vô Kỵ cắt dây trói cho Hồ Thanh Ngưu.

Chân tay vừa được tự do, Hồ Thanh Ngưu liền tới vạch mi mắt thiếu phụ lên xem sắc huyết bên trong mắt, lại bắt mạch cho mụ ta, hoảng hốt hỏi:

– Bà.. bà sao lại bị nội thương thế này? Là kẻ nào đả thương bà vậy?

Giọng Hồ Thanh Ngưu vừa kinh hoảng vừa lo lắng. Thiếu phụ bĩu môi, hừ một tiếng, nói:

– Thì cứ hỏi tên đồ đệ của ông khắc biết.

Hồ Thanh Ngưu quay người lại, hỏi Trương Vô Kỵ:

– Ngươi đả thương bà ấy phải không?

Trương Vô Kỵ nói:

– Bà ta đang..

Tiếng thứ tư chưa kịp thốt ra thì Trương Vô Kỵ đã bị Hồ Thanh Ngưu giáng ngay cho hai cái tát.

Hai cái tát rất mạnh, lại bất ngờ, Trương Vô Kỵ hoàn toàn không đề phòng, cũng không kịp né tránh, nên bị đau nổ đom đóm mắt đến suýt nữa ngất đi. Kỷ Hiểu Phù rút trường kiếm cái soạt, quát:

– Ngươi làm gì vậy?

Hồ Thanh Ngưu không buồn để ý tới lưỡi kiếm sáng quắc đe dọa trước mắt, hỏi thiếu phụ:

– Bà thấy trong ngực thế nào? Có đau bụng không?

Thần thái của Hồ Thanh Ngưu hết mực ân cần, khác hẳn cái phong thái "thấy chết không cứu" thường ngày của ông ta. Thiếu phụ thì vẫn giữ vẻ lạnh nhạt như cũ. Hồ Thanh Ngưu giải khai huyệt đạo cho mụ ta, xoa bóp chân tay, lại lấy mấy viên thuốc cẩn thận đút vào miệng, rồi bế mụ đặt lên giường, nhẹ nhàng đắp tấm chăn lên. Cử chỉ trìu mến trân trọng đó đâu phải là cách đối phó với kẻ địch? Trương Vô Kỵ xoa xoa chỗ sưng vều trên má, càng nhìn cảnh đó càng không hiểu ra sao.

Hồ Thanh Ngưu vẻ mặt âu yếm đăm đăm nhìn thiếu phụ một hồi, thấp giọng nói:

– Phen này bà đã trúng độc lại còn bị đả thương, nếu ta có thể chữa lành cho bà thì hai ta không tỷ thí nữa nhé?

Thiếu phụ cười, nói:

– Bị thương nhẹ có đáng gì! Còn việc thiếp đã uống thứ thuốc độc gì thì làm sao tướng công biết được? Tướng công mà chữa lành cho thiếp thì hẳn, thiếp sẽ phục tướng công thật sự. Chỉ e tài nghệ của Y Tiên không bằng Độc Tiên thôi.

Nói đoạn nở một nụ cười, thần sắc thật kiều mị.

Trương Vô Kỵ tuy không hiểu chuyện ái tình nam nữ, song cũng nhận ra ái tình thắm thiết giữa hai người này.

Hồ Thanh Ngưu nói:

– Mười năm trước ta đã bảo Y Tiên không thể sánh kịp Độc Tiên, nàng chẳng chịu tin. Ôi, thử đâu không thử, lại lấy chính thân mình ra thử! Phen này thì ta thực sự mong Y Tiên thắng được Độc Tiên, nếu không, nói dại có điều gì, thì ta cũng chả thiết sống một mình đâu.

Thiếu phụ mỉm cười, nói:

– Thế nhưng khi thiếp thử chất độc vào người khác, tướng công cứ nhường thiếp, làm như tài nghệ không bằng thiếp vậy. Hì hì, lần này thiếp hạ độc chính mình, tướng công không thể không trổ hết tài nghệ.

Hồ Thanh Ngưu vuốt tóc thiếu phụ, thở dài, nói:

– Ta thật lo lắng vô cùng, thôi nàng đừng nói nữa, hãy nhắm mắt dưỡng thần. Nếu nàng ngầm vận khí tự hại mình, thì cuộc tỷ thí kiểu đó không công bằng đâu đấy.

Thiếu phụ mỉm cười:

– Thắng bại phải quang minh lỗi lạc, thiếp đâu thèm làm như vậy.

Nói xong thiếu phụ nhắm mắt lại, khóe miệng còn lưu nụ cười hài lòng.

Chuyện hai người ấy nói với nhau, Kỷ Hiểu Phù và Trương Vô Kỵ nghe không hiểu gì cả. Hồ Thanh Ngưu quay lại, chắp tay vái Trương Vô Kỵ một cái thật dài, nói:

– Tiểu huynh đệ, vừa nãy ta nhất thời hoảng hốt, đắc tội với ngươi, hãy lượng thứ cho.

Trương Vô Kỵ giận dỗi, nói:

– Vãn bối chả hiểu sao cả, rốt cuộc là thế nào?

Hồ Thanh Ngưu đưa tay lên tự vả vào mặt mình hai cái thật mạnh, nói:

– Tiểu huynh đệ, ngươi có đại ân cứu mạng ta, chỉ vì ta nhất thời lo lắng cho hiền thê nên đã mạo phạm đối với ngươi.

Trương Vô Kỵ kinh ngạc:

– Bà kia.. là phu nhân của tiên sinh ư?

Hồ Thanh Ngưu gật đầu, nói:

– Chính là hiền thê của ta, nếu ngươi còn giận thì cứ tát ta hai cái nữa, hoặc ta sẽ rập đầu tạ tội với ngươi. Ngươi cứu mạng ta, chẳng nói làm gì; song ngươi cũng đã cứu mạng cả hiền thê của ta nữa.

Thường ngày Hồ Thanh Ngưu đoan nghiêm trang trọng, Trương Vô Kỵ luôn kính sợ ông ta, lần này ông ta lại tự vả vào mặt mình cũng đủ thấy thành thực tạ lỗi, lại nghe nói thiếu phụ kia là hiền thê của ông ta, thì Trương Vô Kỵ không còn giận chút nào nữa, vội nói:

– Rập đầu tạ tội thì vãn bối chả dám nhận, bị tiên sinh tát vài cái cũng không sao. Có điều là vãn bối vẫn chưa hiểu mọi chuyện.

Hồ Thanh Ngưu mời Kỷ Hiểu Phù và Trương Vô Kỵ ngồi xuống, nói:

– Việc hôm nay đã tới nước này, ta không thể giấu nữa. Hiền thê của ta họ Vương, khuê danh Nạn Cô, là sư muội đồng môn của ta. Khi hai chúng ta cùng nhau học nghệ ở sư môn, ngoài võ công, ta chuyên về y đạo, còn nàng ấy học độc thuật. Nàng bảo người ta học võ chẳng qua để giết người, độc thuật cũng là để giết người, võ thuật và độc thuật là hai thứ đi liền với nhau. Chỉ cần tinh thông độc thuật thì võ công sẽ mạnh gấp bội. Còn y thuật dùng để trị bệnh cứu người, nên trái ngược với võ thuật. Ta thán phục lời nói của hiền thê, kiến thức của nàng cao hơn ta gấp mười lần. Có điều ta lại thích chữa bệnh nên không thể miễn cưỡng. Ta ngoan cố, không chịu nghe lời khuyên của nàng, nên mới phụ cái mỹ ý của nàng đối với ta.

"Hai chúng ta sở học tuy bất đồng, nhưng tình cảm vẫn tốt đẹp, sư phụ bèn tác thành cho hai chúng ta thành phu phụ, sau đó dần dà cũng có danh tiếng trên giang hồ. Có người gọi ta là Y Tiên, gọi nàng là Độc Tiên. Thuật sử dụng chất độc của nàng thần diệu vô song, không ai trên đời này bì kịp, thậm chí nàng còn vượt cả sư phụ. Hạ độc mà được tôn là" Tiên "cũng đủ hiểu tài nghệ của nàng quả là siêu phàm, tuyệt tục. Thế nhưng ta suy nghĩ không sâu xa, mấy lần nàng hạ độc đều là loại chậm phát tác; người bị trúng độc đến cầu xin ta chữa trị, ta lại đi chữa cho họ khỏi, đúng là hồ đồ. Chữa khỏi, ta lấy làm đắc chí, đâu biết rằng đó là hành vi bất trung bất nghĩa đối với ái thê, thật là phụ bạc, là" lòng lang dạ thú" ".

" Kẻ bị Độc Tiên đầu độc, Y Tiên lại chữa khỏi, chẳng những phạm vào bổn ý của ái thê, mà còn chứng tỏ Y Tiên giỏi hơn Độc Tiên đó sao? "

Kỷ Hiểu Phù và Trương Vô Kỵ nghe mà thầm lắc đầu, trong lòng không khỏi bất mãn.

Chỉ nghe Hồ Thanh Ngưu kể tiếp:

– Nàng đối với ta trước nay ôn nhu hòa thuận, nghĩa trọng tình thâm, trong nữ giới khắp thế gian không thể tìm đâu ra người thứ hai như nàng. Song ta lại cứ năm lần bảy lượt chứng tỏ cái tính hiếu thắng đối với ái thê. Nàng có là gỗ đá thì cũng chẳng trơ trơ mãi được. Cuối cùng ta biết mình quá sai mới lập trọng thệ, phàm người nào bị nàng hạ độc, ta nhất quyết không ra tay chữa trị. Dần dần cùng với tháng ngày, cái ngoại hiệu" Kiến tử bất cứu "mới lan rộng ra ngoài.

" Độc Tiên thấy ta biết lỗi sửa lỗi, còn có cơ cứu vãn, nên đã làm lành với ta. Nhưng chỉ được vài năm, ta lại gặp một bệnh án trúng độc vô cùng cổ quái. Ta vừa gặp đã biết ngay là trừ Độc Tiên ra thì không ai có thể hạ độc như thế nên đã quyết ý không chữa. Song bệnh tình người ấy quá lạ lùng, ta nhịn được vài hôm, rồi lại ra tay chữa lành cho hắn.

"Độc Tiên cũng chẳng thèm cãi ta nửa lời, chỉ nói:" Được rồi, Y Tiên Hồ Thanh Ngưu quả nhiên y đạo thần thông, nhưng Độc Tiên Vương Nạn Cô này chưa phục, vậy hai bên tỷ thí một phen nữa, để xem Y Tiên chữa bệnh giỏi, hay Độc Tiên hạ độc lợi hại hơn? "Ta hết lời xin lượng thứ, nhưng nàng nhất quyết không đấu dịu. Thì ra kỳ này nàng hạ độc, không phải do thù oán ai, mà là nàng mới tìm ra một thủ pháp kỳ diệu, không cách gì chữa trị được. Nàng đem thứ đó thử vào một người, đâu ngờ ta nhất thời gặp may lại chữa khỏi cho người ấy. Ta đối với ái thê tàn nhẫn như thế, còn gọi là người sao được chứ?

" Trong mấy năm sau đó, nàng cứ dày công nghiên cứu độc thuật, hạ độc người này người nọ để cho ta chữa. Đôi bên không ngừng tỷ thí tài năng. Phần vì độc thuật của nàng thần diệu, y thuật của ta cũng có lúc bó tay, phần vì ta không muốn để nàng bực tức, nên có mấy trường hợp ta không chữa lành. Nàng lại tức giận cho rằng ta coi thường nàng, cố ý nhường nhịn mà không chịu dốc toàn lực tỷ thí với nàng. Thế là nàng đùng đùng rời bỏ Hồ Điệp cốc, ta khuyên nhủ cách mấy, nàng cũng không chịu trở về.

"Sau đó ta tuy không dám khinh cử vọng động, nhưng chữa bệnh là sở thích bẩm sinh của ta, nỗi đam mê ấy không sao từ bỏ được, hễ gặp kỳ bệnh quái độc là phải ra tay chữa trị ngay. Đâu biết những người ta chữa khỏi kia, có người do chính ái thê hạ độc, có điều thủ pháp của nàng quá xảo diệu nên không để lộ hình tích, khiến cho ta không thể nhận biết, lại cứ hồ đồ chữa cho bằng hết. Như thế là ta làm cho tình phu thê bị đại tổn thương. Ôi, Hồ Thanh Ngưu phải đổi thành Hồ Xuẩn Ngưu mới đúng! Một người như Nạn Cô mà hạ mình lấy ta, không biết ta tu bao nhiêu kiếp mới có diễm phúc ấy, ta lại chẳng lo hầu hạ nàng, thương yêu nàng mà cứ luôn làm nàng tức giận, đến nỗi nàng phải bỏ nhà mà đi, lang bạt góc biển chân trời, chịu nỗi phong sương khổ sở. Huống chi trên giang hồ lòng người hiểm trá, thiếu gì kẻ tàn ác, nàng một mình yếu đuối, ta làm sao yên tâm cho được?"

Hồ Thanh Ngưu nói tới đây, mặt lộ rõ vẻ tự trách và ân hận.

Kỷ Hiểu Phù đưa mắt nhìn Vương Nạn Cô đang nằm trên giường, nghĩ thầm: "Hồ phu nhân kia ngoại hiệu Độc Tiên, còn ai trong thiên hạ dám hạ độc bà ta kia chứ? Bà ta không hại người đã là may phúc cho kẻ đó lắm rồi, mọi người phải cảm tạ trời đất, chứ ai dám hại bà ta? Hồ tiên sinh sợ vợ như sợ hổ, thật nực cười!"

Hồ Thanh Ngưu nói:

– Vì vậy ta lập trọng thệ, hễ không phải là người trong Minh giáo, ta quyết không chữa trị, để khỏi vô tình làm hỏng kiệt tác của Nạn Cô. Nên nhớ phu thê ta là người theo Minh giáo, đối với huynh đệ tỷ muội cùng giáo phái, Nạn Cô không khi nào hạ độc cả.

Kỷ Hiểu Phù và Trương Vô Kỵ nhìn nhau, nghĩ thầm: "Thì ra Hồ tiên sinh không chữa cho người ngoài Minh giáo là vì thế".

Hồ Thanh Ngưu kể tiếp:

– Bảy năm trước có một cặp vợ chồng già trúng độc, đến Hồ Điệp cốc nhờ chữa trị, đó là Ngân Diệp tiên sinh và Kim Hoa bà bà, chủ nhân đảo Linh Xà ngoài biển Đông Hải. Vợ chồng họ tới Hồ Điệp cốc với số lễ vật chu đáo, nhưng Kim Hoa bà bà không rõ vô tình hay cố ý để lộ chút võ công, ta nhìn thấy thì không khỏi run sợ. Ta không dám cự tuyệt thẳng thừng, nhưng các ngươi biết đó, ta đã hối cải rồi, nhất quyết không đi theo con đường sai trái cũ, đâu dám tái phạm nữa chứ? Thành thử sau khi xem mạch cho vợ chồng họ xong, ta nói: "Cứ theo mạch lý của hai vị, lão đảo chủ và lão phu nhân tuy tuổi cao, song mạch vẫn không khác gì thanh niên, hẳn là nhờ nội lực dồi dào khôn tả. Lão niên mà mạch tượng như tráng niên, đây là lần đầu vãn sinh được gặp". Kim Hoa bà bà nói: "Tiên sinh quả thật cao minh". Ta nói: "Hai vị bị trúng độc không giống nhau. Lão đảo chủ thì không thuốc gì chữa nổi, song vẫn có thể sống vài năm nữa; còn lão phu nhân trúng độc không sâu, có thể dùng nội lực bản thân tự hóa giải".

"Ta hỏi kẻ hạ độc là ai thì biết đó là một tên Mông Cổ, thủ hạ của một đầu đà á khẩu ở Tây Vực, không can hệ gì tới Độc Tiên, nhưng ta đã thề chỉ chữa trị cho người trong Minh giáo nên không thể vì cặp vợ chồng này mà phá lệ. Kim Hoa bà bà hứa sẽ báo đáp thật hậu, chỉ xin cứu mạng cho lão đảo chủ. Nhưng ta nghĩ đến tình phu thê của mình, nhất quyết không chữa. Vợ chồng họ cũng không dùng vũ lực ép ta, chỉ lẳng lặng bỏ đi. Kim Hoa bà bà có nói một câu:" Hà hà, Minh giáo, Minh giáo, thì ra chỉ là vì Minh giáo! "Ta biết rằng vì không chịu trị thương, giải độc cho người, mà đã chuốc lấy không ít oán thù, nhưng tình phu thê sâu nặng nên ta không thể vì người ngoài mà làm cho tình nghĩa đó bị tổn thương, các ngươi thấy ta nói vậy có đúng hay không?"

Kỷ Hiểu Phù và Trương Vô Kỵ im lặng, nghĩ thầm chủ trương "Kiến tử bất cứu" đâu phải là đúng.

Hồ Thanh Ngưu kể tiếp:

– Gần đây Nạn Cô ở bên ngoài nghe tin Ngân Diệp tiên sinh bị chất độc phát tác đã chết, Kim Hoa bà bà sắp tìm ta để rửa hận. Chuyện này rất nguy hiểm, Nạn Cô nặng tình với ta nên vội quay về cùng ta bàn cách đối phó. Nàng thấy trong nhà có thêm người lạ, nên đêm đó trước hết bỏ thuốc mê cho Vô Kỵ.

Trương Vô Kỵ giờ mới vỡ lẽ: "Hôm ấy mình ngủ đến quá trưa hôm sau mới dậy, hóa ra đã trúng phải thuốc mê của Hồ phu nhân, lại cứ ngỡ mình sinh bệnh. Vị Độc Tiên này hạ thủ không ai đoán biết, quả là lợi hại vô cùng".

Hồ Thanh Ngưu kể tiếp:

– Ta thấy Nạn Cô đột nhiên trở về thì mừng rỡ vô cùng. Nàng khuyên ta giả vờ bị bệnh đậu mùa, không gặp ai cả, hai người chỉ ở trong buồng bàn tính cách đối phó với Kim Hoa bà bà. Vị tiền bối dị nhân ấy tài nghệ quá cao, muốn bỏ trốn cũng không thể thoát nổi. Mấy hôm sau thì bọn Tiết Công Viễn, Giản Tiệp và Kỷ cô nương cả thảy mười lăm người lục tục kéo đến.

"Ta vừa nghe tình hình bị thương của bọn họ thì biết ngay là Kim Hoa bà bà có ý thử ta, xem ta có thực sự giữ lời là ngoại trừ đệ tử của Minh giáo ra sẽ không chữa trị cho bất cứ ai. Mười lăm người với mười lăm loại kỳ thương quái bệnh, Hồ Thanh Ngưu say mê chữa trị quên cả tính mạng, chỉ cần gặp một trong các chứng bệnh đó, là dễ không nhịn được mà ra tay chữa thử, chứ nói chi đến những mười lăm người một lúc? Nhưng ta đã tỏ tâm ý của Kim Hoa bà bà, hễ ta chữa khỏi cho một ai, Kim Hoa bà bà sẽ dùng hình phạt nặng gấp trăm lần thế trên chính thân xác ta, thành thử dù ta ngứa tay muốn chữa lắm nhưng cũng đành phải làm ngơ. Đến lúc Vô Kỵ hỏi cách chữa trị, ta có chỉ dẫn, song cũng phải nói rõ rằng Vô Kỵ là đệ tử phái Võ Đang nên chẳng có dính dáng gì tới Hồ Thanh Ngưu ta cả.

" Nạn Cô thấy Vô Kỵ theo cách ta chỉ dẫn đã chữa trị rất linh nghiệm thì không hài lòng chút nào, nên ban đêm lén bỏ thuốc độc vào thuốc hoặc thức ăn của từng người, tiếp tục đua tài với ta. Hơn nữa, nàng cũng chỉ muốn bảo vệ ta, vì nếu Vô Kỵ chữa khỏi cho mười lăm người kia, Kim Hoa bà bà chắc chắn sẽ đổ tội xuống đầu Hồ Thanh Ngưu ta. Mười lăm người toàn là võ lâm hảo thủ, nếu nàng đến bên cạnh hạ độc, lẽ nào họ không phát giác? Bởi thế, nàng mới đánh thuốc mê cả bọn trước, sau đó tùy từng người mà dùng thử các loại độc dược khác nhau. Thủ pháp cao minh đó phải nói là vô tiền khoáng hậu ".

Kỷ Hiểu Phù và Trương Vô Kỵ nhìn nhau, đã hiểu tại sao Trương Vô Kỵ sang chòi của Kỷ Hiểu Phù, phải lay mãi Hiểu Phù mới tỉnh dậy.

Hồ Thanh Ngưu nói tiếp:

– Trong mấy ngày, bệnh tình của Kỷ cô nương thuyên giảm quá nhanh, xem ra thuốc độc mà Nạn Cô sử dụng không hiệu nghiệm, Nạn Cô bèn để ý tra xét, mới hay là Vô Kỵ phát giác được bí mật, nên nàng định hạ độc luôn cả Vô Kỵ. Ôi, cổ nhân bảo: Giang sơn dễ cải, bản tính khó thay! Ta đối với ái thê rốt cuộc cũng chẳng trung thành đến cùng. Đã quyết ý không nhúng tay vào rồi, vậy mà tối qua, khi Vô Kỵ khuyên ta xuất du để tránh đại họa, ta lại mềm lòng cho một bài thuốc gồm năm vị Đương Quy, Sinh Địa, Viễn Chí, Phòng Phong, Độc Hoạt, bởi lúc ấy Nạn Cô đang ở bên cạnh nên ta không thể nói rõ ra.

" Nhưng Nạn Cô thông minh tuyệt đỉnh, thừa hiểu dược tính, nghe bài thuốc ấy không hợp lẽ thường, nghĩ một chút là hiểu ngay mưu tính của ta. Nàng bèn trói ta, lấy mấy viên thuốc cực độc tự uống, nói: "Sư ca, hai ta kết thành phu phụ hai chục năm qua, biển cạn núi mòn, tình không thay đổi. Nhưng sư ca vẫn coi độc thuật của muội không ra gì, bất luận muội sử dụng loại độc dược nào, sư ca cũng cứu được hết. Lần này chính muội uống mấy thứ cực độc, nếu đại ca cứu sống được muội thì muội mới thực sự khâm phục sư ca". Ta nghe vậy liền sợ hết hồn, vội vã bảo xin thua, xin thua, hết lời năn nỉ, nàng bèn nhét một trái hồ đào vào miệng ta để ta khỏi nhiều lời. Sau đó thế nào thì hai ngươi đã biết rồi ".

Nói xong, Hồ Thanh Ngưu liên tiếp lắc đầu. Kỷ Hiểu Phù và Trương Vô Kỵ nhìn nhau, vừa bực mình vừa tức cười, đôi phu phụ này thật là cổ quái hiếm thấy trong thiên hạ. Hồ Thanh Ngưu đối với thê tử yêu quá hóa sợ, đã đành một nhẽ. Vương Nạn Cô thì nhất thiết phải tranh hơn chồng cho bằng được, cuối cùng lại đi hạ độc chính mình mà không biết sợ.

Hồ Thanh Ngưu kể tiếp:

– Các ngươi nghĩ mà xem, ta còn cách gì bây giờ? Phen này nếu ta chữa trị cho nàng khỏi được, thế thì có khác gì chứng minh tài nghệ của ta hơn nàng, nàng sẽ uất ức mất vui? Còn nếu không chữa nổi thì tính mạng nàng còn đâu? Ôi, ước gì Kim Hoa bà bà mau tới đây, đánh chết ta đi cho rồi, Nạn Cô sẽ khỏi phải phiền não! Huống hồ mấy năm qua tài nghệ hạ độc của nàng đại tiến, vừa rồi ta cũng chẳng biết nàng uống những thứ độc dược gì thì làm sao giải cứu kia chứ.

Trương Vô Kỵ nói:

– Tiên sinh y thuật thần thông, chẳng lẽ phu nhân sử dụng loại độc dược nào cũng chẩn đoán không ra ư?

Hồ Thanh Ngưu nói:

– Sư mẫu của ngươi mấy năm nay sử độc xuất thần nhập hóa, phen này ta không có cách gì chữa trị cho nàng được nữa. Ta đoán rằng nàng uống ba loại trùng ba loại cỏ cực độc, nhưng liều lượng phối hợp sáu loại đó ra sao thì ta chịu, không đoán nổi.

Vừa nói, Hồ Thanh Ngưu vừa dùng ngón trỏ tay phải viết một bài thuốc trên bàn, rồi xua tay, nói:

– Thôi hai ngươi ra đi, nếu Nạn Cô có mệnh hệ gì, ta quyết chẳng sống một mình làm gì.

Kỷ Hiểu Phù và Trương Vô Kỵ cùng nói:

– Xin tiên sinh bảo trọng và cố khuyên giải sư mẫu.

Hồ Thanh Ngưu nói:

– Khuyên giải gì bây giờ? Tất cả chỉ tại ta đáng chết!

Nói đến đây, giọng ông ta trở nên nghẹn ngào. Kỷ Hiểu Phù và Trương Vô Kỵ vội đi ra khỏi buồng.

Hồ Thanh Ngưu xoay tay lại, điểm các huyệt đạo ở lưng và hông bà vợ, nói:

– Sư muội, chồng nàng không đủ tài, quả không trị nổi chất độc tam trùng tam thảo, chỉ còn cách xuống làm bạn với nàng dưới hoàng tuyền vậy.

Nói đoạn móc trong túi áo của Vương Nạn Cô mấy gói thuốc bột, quả nhiên không ngoài dự đoán, là ba loại độc trùng và ba loại độc thảo phơi khô tán nhỏ chế thành. Vương Nạn Cô không thể cử động, chỉ còn có thể nói năng, vội kêu lên:

– Sư ca, chàng chớ có uống!

Hồ Thanh Ngưu không thèm lý tới, ngửa cổ dốc luôn gói thuốc bột ngũ sắc vào miệng, dùng nước bọt nuốt xuống bụng.

Vương Nạn Cô cả kinh thất sắc, kêu lên:

– Sao chàng lại uống nhiều thế? Ngần ấy bột thuốc độc, đến ba người cũng chết tiêu.

Hồ Thanh Ngưu cười nhạt, ngồi xuống chiếc ghế bên đầu giường Vương Nạn Cô, trong giây lát đã cảm thấy như trong bụng có hàng vạn con dao cắt ruột. Hồ Thanh Ngưu biết rằng chất Đoạn Tràng Thảo phát tác trước tiên, lát nữa độc tính của năm loại độc dược còn lại sẽ phát tác theo.

Vương Nạn Cô gọi cuống lên:

– Sư ca, sáu loại độc dược ấy có cách giải độc đó.

Hồ Thanh Ngưu đau đớn, toàn thân run rẩy, hai hàm răng đánh vào nhau canh cách, lắc đầu nói:

– Ta.. ta không tin.. ta.. ta chỉ muốn chết cho rồi.

Vương Nạn Cô kêu lên:

– Mau mau uống" Ngưu hoàng huyết kiệt đan "và" Ngọc long tô hợp tán "sau đó châm cứu để giải độc.

Hồ Thanh Ngưu nói:

– Làm thế ích gì?

Vương Nạn Cô vội nói:

– Muội uống thuốc độc với liều lượng nhẹ, còn sư ca uống nhiều quá, hãy mau cứu chữa kẻo không kịp.

Hồ Thanh Ngưu nói:

– Ta hết lòng yêu thương nàng, vậy mà nàng lại cứ tranh cường đấu thắng với ta, ta cảm thấy sống trên đời chẳng còn ý vị gì nữa, thà chết cho xong, ối chao.. ối chao..

Mấy tiếng kêu rên đó không phải giả bộ, bởi lúc này chất độc của rắn hổ và nhện đã ngấm vào tim phổi, Hồ Thanh Ngưu thần trí từ từ hôn mê, cuối cùng bất tỉnh nhân sự.

Vương Nạn Cô khóc ầm lên:

– Sư ca, sư ca, tại muội không tốt mà ra, sư ca đừng chết, muội sẽ không bao giờ tỷ thí với chàng nữa.

Hai vợ chồng họ hai chục năm nay cứ không ngừng tranh giành hơn thua, thực ra là phu thê tình sâu nghĩa nặng. Vương Nạn Cô tự mình không sợ chết, song khi thấy chồng uống thuốc độc tự tận thì vô cùng hoảng sợ, đau đớn, ngặt nỗi huyệt đạo bị điểm, chẳng có cách gì ra tay cứu chữa.

Trương Vô Kỵ nghe tiếng kêu khóc, vội chạy vào, hỏi:

– Sư mẫu, làm thế nào cứu sư phụ đây?

Vương Nạn Cô thấy Trương Vô Kỵ chạy vào, đúng là gặp được cứu tinh, vội nói:

– Mau cho sư phụ ngươi uống" Ngưu hoàng huyết kiệt đan "và" Ngọc long tô hợp tán ", rồi dùng kim châm các huyệt Dũng Tuyền, Cưu Vĩ..

Đúng lúc ấy, từ ngoài cổng bỗng vọng vào mấy tiếng ho, trong đêm vắng nghe rõ mồn một. Kỷ Hiểu Phù hớt hải chạy vào buồng, mặt tái nhợt, nói lắp bắp:

– Kim Hoa bà bà.. Kim Hoa..

Hai chữ" bà bà "chưa thốt thì cánh cửa không gió tự động mở ra, một bà lão lưng còng dắt theo một thiếu nữ mười hai mười ba tuổi đã đứng trong buồng từ lúc nào, chính là Kim Hoa bà bà.

Kim Hoa bà bà thấy Hồ Thanh Ngưu hai tay ôm bụng, mặt đen sạm, hơi thở thoi thóp, sắp chết đến nơi thì không khỏi ngạc nhiên, hỏi:

– Y làm sao thế?

Người ngoài chưa kịp trả lời, Hồ Thanh Ngưu bỗng hai chân giãy đành đạch vài cái, cổ ngoẹo sang, thế là chết luôn. Vương Nạn Cô khóc òa lên:

– Sao sư ca phải tự hành hạ mình như thế, đi uống thuốc độc chết mất rồi.

Chuyến này Kim Hoa bà bà từ đảo Linh Xà đến Trung nguyên, ngoài việc đi tìm kẻ đã hại chết chồng bà ta để báo thù, còn kiếm Hồ Thanh Ngưu để trả oán; ai ngờ bà ta đến nơi đúng vào lúc Hồ Thanh Ngưu đã uống thuốc độc tự tận. Bà ta cũng là một đại hành gia sử độc, vừa nhìn sắc diện của Hồ Thanh Ngưu và Vương Nạn Cô thì biết ngay là họ đã trúng độc quá nặng, chẳng thuốc gì chữa nổi. Kim Hoa bà bà ngỡ Hồ Thanh Ngưu vì sợ bà ta nên tự tận, nỗi oán hận coi như đã xong, bèn thở dài, nói:

– Tác nghiệt, tác nghiệt!

Đoạn dắt thiếu nữ đi ra.

Thoáng một cái, tiếng ho đã từ rất xa vọng lại. Thân pháp nhanh như thế, thật ngoài sức tưởng tượng.

Trương Vô Kỵ giơ tay sờ ngực Hồ Thanh Ngưu thấy tim vẫn còn thoi thóp, vội lấy" Ngưu hoàng huyết kiệt đan "và" Ngọc long tô hợp tán "cho uống, rồi dùng kim châm vào các huyệt Dũng Tuyền, Cưu Vĩ để giải độc, sau đó dùng ngay cách đó chữa trị cho Vương Nạn Cô.

Hơn một canh giờ sau, Hồ Thanh Ngưu từ từ hồi tỉnh. Vương Nạn Cô cả mừng, nước mắt ròng ròng, nói:

– Tiểu huynh đệ, tất cả là nhờ tiểu huynh đệ cứu mạng hai chúng tôi.

Rồi Nạn Cô viết một bài thuốc sai tiểu đồng đem sắc để giải độc cho vợ chồng bà ta.

Cách giải độc của Vương Nạn Cô thực ra không cao minh cho lắm, khó lòng loại trừ hết độc tính. Trương Vô Kỵ theo bài thuốc mà lúc trước Hồ Thanh Ngưu đã dùng ngón tay viết trên bàn, có thay đổi vài vị, Vương Nạn Cô tuyệt nhiên không biết.

Trương Vô Kỵ nói:

– Kim Hoa bà bà nghĩ rằng Hồ tiên sinh uống thuốc độc chết rồi, chúng ta cũng đỡ được mối lo lớn.

Trương Vô Kỵ thấy Kim Hoa bà bà thoắt cái đã tới, thoắt cái đã đi, hình dạng như ma quỷ, lúc này nhớ lại không khỏi lạnh người.

Vương Nạn Cô nói:

– Nghe người ta bảo, Kim Hoa bà bà hành sự hết sức kỹ càng, hôm nay tuy bà ta đi rồi nhưng mai sau thể nào cũng trở lại tra xét. Vợ chồng ta phải trốn đi ngay. Tiểu huynh đệ, nhờ ngươi đắp giùm hai phần mộ, trên bia ghi rõ tính danh vợ chồng ta.

Trương Vô Kỵ vâng lời. Hồ Thanh Ngưu và Vương Nạn Cô uống thuốc giải độc xong liền thu thập chút hành trang. Hai tiểu đồng mỗi đứa được cho mười lạng bạc, bảo tự tìm đường về nhà. Hai vợ chồng Hồ Thanh Ngưu lên một cỗ xe lừa, nhân trời tối đi ngay.

Trương Vô Kỵ tiễn ra cửa thung lũng, một già một trẻ hơn hai năm qua sớm tối bên nhau, nay phải chia tay, quyến luyến chẳng rời. Hồ Thanh Ngưu lấy ra một bộ y thư viết tay, nói:

– Vô Kỵ, sở học cả đời ta đều được ghi lại trong bộ sách này, trước đây ta vẫn giữ kín, không đưa ngươi xem, bây giờ ta tặng cho ngươi. Âm độc của Huyền Minh thần chưởng trong cơ thể ngươi thật là khó trừ, ta áy náy vô cùng, chỉ mong ngươi tham cứu bộ sách này, tìm ra cách khu trừ hàn độc thì sau này chúng ta còn có dịp gặp lại nhau.

Trương Vô Kỵ tạ ơn nhận lấy. Vương Nạn Cô nói:

– Ngươi cứu mạng vợ chồng ta, lại giúp vợ chồng ta tái hợp, ta cũng muốn mang hết công phu cả đời truyền thụ cho ngươi. Nhưng cả đời ta chỉ nghiên cứu cách hạ độc hại người, ngươi có học được cũng vô ích. Chỉ mong ngươi sớm bình phục, sau này ta sẽ có dịp báo đáp.

Trương Vô Kỵ nhìn theo đến khi chiếc xe chạy khuất, mới trở lại nhà tranh. Sáng hôm sau cậu đắp hai ngôi mộ cạnh nhà, lại rời thung lũng tìm thuê thợ đục hai tấm bia đá, một tấm khắc hàng chữ" Điệp cốc Y Tiên Hồ tiên sinh Hồ Thanh Ngưu chi mộ ", một tấm khắc hàng chữ" Hồ phu nhân Vương thị chi mộ ". Bọn Giản Tiệp thấy hai vợ chồng Hồ Thanh Ngưu cùng chết cả mới biết việc ông ta bảo bị bệnh nặng là thật, không phải để lừa dối người khác nên đều cảm thương.

Vương Nạn Cô đi rồi, không còn ai ngấm ngầm hạ độc, Trương Vô Kỵ chữa trị cho mọi người mỗi ngày một đỡ, chỉ trong vòng mươi ngày họ lục tục cảm tạ ra về. Mẹ con Kỷ Hiểu Phù chưa biết đi đâu nên ở lại thêm ít hôm nữa.

Mấy ngày qua, Trương Vô Kỵ chăm chú đọc bộ y thư do Hồ Thanh Ngưu biên soạn, thấy nội dung quả thật bác đại tinh thâm, tinh vi huyền diệu, không hổ đại danh Y Tiên. Trương Vô Kỵ đọc tám chín ngày, y thuật đã đại tiến, nhưng vẫn chưa tìm ra chi tiết nào nói về cách khu trừ âm hàn khỏi cơ thể. Cậu cứ đọc đi đọc lại mấy lần, cuối cùng không còn hi vọng gì, mới nghĩ thầm:" Hồ tiên sinh nếu biết cách chữa trị cho ta, hẳn đã chữa rồi. Còn nếu tiên sinh không biết, dĩ nhiên trong sách làm sao có chép được? "Nghĩ thế, bao nhiêu hi vọng đều tiêu tan.

Trương Vô Kỵ gấp sách lại, bước ra ngoài nhìn hai ngôi mộ giả, nghĩ thầm:" Chưa đầy một năm nữa, mình cũng sẽ ngủ một giấc ngàn thu dưới lòng đất thôi. Tấm bia trên mộ mình sẽ viết gì nhỉ? "

Còn đang mải nghĩ, bỗng nghe sau lưng có tiếng ho, Trương Vô Kỵ giật mình quay lại thấy Kim Hoa bà bà vịn vai một thiếu nữ xinh đẹp, đứng run rẩy cách cậu vài trượng.

Kim Hoa bà bà hỏi:

– Này tiểu tử, ngươi là thế nào với Hồ Thanh Ngưu? Sao lại đứng nơi đây rầu rĩ?

Trương Vô Kỵ nói:

– Vãn bối bị trúng âm độc của Huyền Minh thần chưởng..

Kim Hoa bà bà tới gần, cầm cổ tay cậu xem mạch, vẻ ngạc nhiên, hỏi:

– Huyền Minh thần chưởng ư? Thế gian quả có môn công phu đó hay sao? Là ai đánh ngươi?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Người đó ăn vận như quân Mông Cổ, không hiểu thực ra là ai. Vãn bối đến cầu Hồ tiên sinh chữa trị, Hồ tiên sinh bảo vãn bối không phải là người trong Minh giáo nên không chịu chữa. Bây giờ Hồ tiên sinh uống thuốc độc chết rồi, bệnh của vãn bối không ai chữa cho, nghĩ đến chuyện đó mà tự thấy đau lòng.

Kim Hoa bà bà thấy Trương Vô Kỵ anh tuấn nho nhã, dễ mến, nay bị căn bệnh bất trị, nên thở dài:

– Tội nghiệp, tội nghiệp!

Trương Vô Kỵ chợt nhớ đến ba câu nói:" Sinh tử tu đoản, khởi năng cưỡng cầu? Dư ố hồ tri duyệt sinh chi phi cảm tà? Dư ố hồ tri ố tử chi phi nhược táng nhi bất tri quy giả tà? Dư ố hồ tri phu tử giả bất hối kỳ thủy chi kỳ sinh hồ? "[52]

Ba câu trên lấy từ sách của Trang Tử. Trương Tam Phong sùng tín Đạo giáo, bảy đệ tử của Trương lão tuy không phải là đạo sĩ, nhưng cuốn bảo điển của Đạo gia là Nam Hoa kinh của Trang Tử thì họ đều thuộc lòng. Hồi ở trên Băng Hỏa đảo, lúc Trương Vô Kỵ lên năm, Trương Thúy Sơn dạy con tập đọc tập viết, không có sách vở gì, chỉ vạch chữ dưới đất mà dạy, đã đem những lời trong sách Trang Tử bắt con học thuộc. Ý của Trang Tử muốn nói rằng sống chắc gì đã sướng, mà chết chắc gì đã khổ, sống chết thực ra không khác nhau bao nhiêu. Con người ta khi sống chẳng qua là một giấc mộng lớn, khi chết đi, chính là tỉnh mộng, không chừng sau khi chết lại thấy rằng trước đó mình cứ ham sống thật là ngu xuẩn, sao không chết sớm hơn? Hệt như sau khi chúng ta trải qua một cơn ác mộng đáng sợ, tỉnh lại, cảm thấy giấc mộng vừa qua thật quá dài.

Trương Vô Kỵ còn ít tuổi, vốn chưa hiểu hết đạo lý lớn của hai chữ sinh tử, nhưng bốn năm qua ngày ngày sống giữa ranh giới sống và chết, cho nên cậu hiểu được hàm ý của Trang Tử. Trước kia cậu hoàn toàn không tin lời của Trang Tử, nay những ngày sống trên thế gian chỉ còn đếm được trên đầu ngón tay, thành thử cũng mong khi chết sẽ được lạc vào kỳ cảnh, sẽ hối hận là mình đã tìm đủ mọi cách cầu sinh.

Lúc này nghe Kim Hoa bà bà cứ nói" tội nghiệp, tội nghiệp "thì cậu mỉm cười, thuận miệng thốt ra ba câu của Trang Tử. Kim Hoa bà bà hỏi:

– Ngươi nói vậy là ý làm sao?

Nghe Trương Vô Kỵ giải thích ý nghĩa xong, Kim Hoa bà bà bỗng dưng ngơ ngẩn.

Ba câu của Trang Tử khiến Kim Hoa bà bà nghĩ đến người chồng quá cố. Hai vợ chồng bà ta sống với nhau mấy chục năm, ân ái vô ngần, chợt âm dương đôi ngả, không bao giờ còn gặp mặt nhau. Nếu chết đi tức là giống như người lưu lạc phương xa, được trở về quê nhà, vậy thì khi chồng bà ta bị kẻ thù hạ độc, Hồ Thanh Ngưu không chịu cứu chữa, chưa chắc đã là xấu. Quê nhà, quê nhà ư? Liệu trở về quê nhà có tốt hơn ở tha hương thật chăng?

Thiếu nữ đứng bên Kim Hoa bà bà hoàn toàn không hiểu mấy câu Trương Vô Kỵ vừa nói có ý nghĩa gì, không biết vì sao Kim Hoa bà bà vừa nghe xong lại như ngây như dại. Cô bé giương đôi mắt xinh đẹp hết nhìn Kim Hoa bà bà, lại nhìn Trương Vô Kỵ. Sau cùng, Kim Hoa bà bà nói:

– Chuyện dưới cõi u minh, chẳng biết thế nào. Chết tuy không đáng sợ, phàm là người rồi ai cũng phải chết, chẳng ai tránh nổi cái ngày đó, nhưng sống thêm được ngày nào thì vẫn hơn!

Trương Vô Kỵ thấy cả bọn Tiết Công Viễn mười lăm người đều bị Kim Hoa bà bà đả thương tàn khốc, lại thấy vợ chồng Hồ Thanh Ngưu sợ bà ta đến nỗi không dám bỏ trốn nữa thì tưởng Kim Hoa bà bà phải là kẻ hung tàn cùng cực, thế nhưng lúc gặp lại thấy khác hẳn. Hôm trước là ban đêm, dưới ánh đèn nhìn chưa rõ, hôm nay giữa ban ngày gặp đây, thấy chỉ là một bà lão hiền hậu, tuy mặt đầy nếp nhăn như da gà, không lộ vẻ hỉ nộ, nhưng ánh mắt trong sáng có thần, linh hoạt như thiếu nữ, rõ ràng tỏ ý ôn hòa thân thiết.

Kim Hoa bà bà lại hỏi:

– Này hài tử, tôn tính đại danh của phụ thân ngươi là gì?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Phụ thân của vãn sinh là Trương Thúy Sơn, đệ tử phái Võ Đang.

Cậu không nhắc tới việc phụ thân tự vẫn.

Kim Hoa bà bà kinh ngạc, nói:

– Ngươi là con của Trương ngũ hiệp phái Võ Đang, như thế có phải tên ác nhân dùng Huyền Minh thần chưởng đả thương ngươi chỉ vì muốn bức ngươi phải tiết lộ chỗ ở của Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn và thanh đao Đồ Long không?

Trương Vô Kỵ nói:

– Đúng thế, hắn dùng đủ thứ độc hình nhưng vãn sinh thà chết không nói.

Kim Hoa bà bà hỏi:

– Thế ngươi có biết thực hay không?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Ồ, Kim Mao Sư Vương là nghĩa phụ của vãn sinh, vãn sinh không đời nào tiết lộ.

Kim Hoa bà bà liền dùng tay trái nắm luôn cả hai tay Trương Vô Kỵ, chỉ nghe xương kêu răng rắc, Trương Vô Kỵ đau đến muốn ngất đi, lại thấy một luồng hàn khí thấu xương từ hai tay truyền vào ngực, luồng hàn khí này khác hẳn Huyền Minh thần chưởng, song cũng cũng đau đớn khó chịu y như thế. Kim Hoa bà bà dịu giọng nói:

– Bé ngoan, ngươi mau nói ra chỗ ở của Tạ Tốn, bà bà sẽ chữa khỏi chứng hàn độc cho ngươi, rồi sẽ truyền cho ngươi thứ võ công vô địch trong thiên hạ.

Trương Vô Kỵ đau đến chảy nước mắt nhưng vẫn hiên ngang nói:

– Phụ mẫu vãn sinh thà mất mạng chứ không tiết lộ hành tàng của bằng hữu. Kim Hoa bà bà, lão bà tưởng vãn sinh là kẻ bán rẻ phụ mẫu hay sao?

Kim Hoa bà bà mỉm cười:

– Được lắm, được lắm! Phụ thân ngươi đâu, y có ở đây hay không?

Bà ta ngầm vận nội kình, các ngón tay như cái vòng thép bóp chặt thêm cổ tay của cậu. Trương Vô Kỵ nói lớn:

– Sao bà không đổ thủy ngân vào tai vãn bối? Sao bà không bắt vãn bối nuốt kim hay nuốt đỉa sống vào bụng? Bốn năm trước, vãn bối chỉ là một đứa bé còn chẳng sợ cực hình của tên ác ôn nọ, nữa là nay đã lớn rồi, không lẽ không bằng ngày trước?

Kim Hoa bà bà cười ha hả, nói:

– Ngươi tự cho mình là người lớn, không còn là trẻ con nữa cơ đấy, ha ha, ha ha..

Bà ta cười mấy tiếng, buông tay ra, chỉ thấy từ cổ tay đến các ngón tay của Trương Vô Kỵ đều tím bầm.

Thiếu nữ liếc Trương Vô Kỵ, nói:

– Mau tạ ơn bà bà tha mạng đi.

Trương Vô Kỵ hừ một tiếng, nói:

– Bà ta giết ta đi xem chừng ta còn sướng hơn, có gì tốt mà phải tạ ơn?

Thiếu nữ nhíu mày, nói dỗi:

– Huynh không chịu nghe lời, muội chẳng thèm chơi với huynh nữa.

Nói xong thiếu nữ quay ngoắt đi, nhưng mắt vẫn lén liếc xem Trương Vô Kỵ làm gì.

Kim Hoa bà bà mỉm cười, nói:

– A Ly, ngươi có một mình trên đảo, không có ai chơi đùa, vắng vẻ lắm. Thôi mình bắt thằng nhỏ này đem về để nó hầu hạ ngươi, có thích không? Có điều thằng nhỏ này bướng bỉnh lắm, không chịu vâng lời.

Thiếu nữ nhướn mày, vỗ tay, cười, nói:

– Hay quá, bắt nó đem đi thôi! Nó không chịu vâng lời, chả lẽ bà bà không nghĩ ra cách trị nó sao?

Trương Vô Kỵ nghe hai bà cháu một hỏi một đáp thì trong lòng bồn chồn. Nếu Kim Hoa bà bà giết cậu ngay tại đây cũng coi như xong, nếu lại bắt cậu đem tới hòn đảo quái quỷ gì đó, sống chẳng ra sống, chết không ra chết, chịu sự hành hạ của hai kẻ kia, xem chừng lại còn khốn khổ hơn nhiều.

Kim Hoa bà bà gật đầu, nói:

– Ngươi đi theo ta, ta phải tìm một người, làm một việc, xong đâu đấy sẽ đi Linh Xà đảo.

Trương Vô Kỵ nổi giận:

– Các người không phải tử tế, ta không theo các người đi đâu hết.

Kim Hoa bà bà mỉm cười, nói:

– Trên đảo Linh Xà của ta thứ gì cũng có, được ăn chơi những món ngươi chưa thấy bao giờ. Bé con ngoan nào, đi theo bà bà đi.

Trương Vô Kỵ đột nhiên quay mình, co giò chạy. Nào ngờ mới được một bước, Kim Hoa bà bà đã chắn ngay trước mặt cậu. Cậu xoay người, chạy sang phía trái, cũng chỉ được một bước, Kim Hoa bà bà đã lại chặn ngay phía trước, nhỏ nhẹ nói:

– Hài tử, ngươi chạy không thoát đâu, hãy ngoan ngoãn đi theo bà bà.

Trương Vô Kỵ nghiến răng giáng cho Kim Hoa bà bà một chưởng, Kim Hoa bà bà hơi né mình, thổi vào bàn tay cậu một hơi. Bàn tay cậu vừa bị bà ta nắm đến tím bầm và sưng vù, nay lại thêm luồng hơi thổi đến, chẳng khác gì vết thương bị mũi dao ngoáy vào, đau nhảy dựng lên.

Bỗng có tiếng bé gái gọi:

– Vô Kỵ ca ca, ca ca chơi ở đâu thế? Muội tới đây này!

Chính là Dương Bất Hối chạy tới, rồi Kỷ Hiểu Phù cũng từ sau lùm cây bước ra. Hai mẹ con nàng vừa đi chơi ngoài rừng về, bất ngờ gặp Kim Hoa bà bà, Kỷ Hiểu Phù lập tức mặt tái nhợt, nhưng nàng thu hết can đảm, run run nói:

– Bà bà không nên làm khó trẻ con nhà khác.

Kim Hoa bà bà trừng mắt nhìn Kỷ Hiểu Phù, lạnh lùng nói:

– Ngươi chưa chết sao? Chuyện của lão thái bà, ai cho ngươi chõ miệng vào? Lại đây cho ta coi, tại sao đến hôm nay ngươi vẫn chưa chết?

Kỷ Hiểu Phù xuất thân thế gia võ học, cao đồ của danh môn, vốn rất can đảm, nhưng lúc này vì lo cho con nhỏ nên không dám mạo hiểm, đành vội cầm tay con lùi lại một bước, nói nhỏ:

– Vô Kỵ, hãy lại đây.

Trương Vô Kỵ dợm bước định đi, thiếu nữ tên A Ly đưa tay chộp ngay" Tam dương lạc "trên cánh tay cậu, nói:

– Đứng im đó, ngươi tên Vô Kỵ, họ Trương, vậy là Trương Vô Kỵ, phải không?

" Tam dương lạc "vừa bị nắm, Trương Vô Kỵ lập tức cảm thấy nửa thân trên tê dại, không cử động được, trong bụng vừa sợ vừa tức, kêu to:

– Mau thả ta ra!

Bỗng nghe có tiếng phụ nữ trong trẻo vang lên:

– Hiểu Phù, sao ngươi nhát thế? Bảo đến thì ngươi cứ đến xem đi!

Kỷ Hiểu Phù nửa sợ nửa mừng, quay đầu lại thốt lên:

– Sư phụ!

Nhưng sau lưng nào thấy ai, chăm chú nhìn kỹ mới thấy ở phía xa một ni cô mặc áo bào màu tro thong thả đi tới, chính là Diệt Tuyệt sư thái, chưởng môn phái Nga Mi. Theo sau sư thái có hai đệ tử, một là sư tỷ Đinh Mẫn Quân, hai là sư muội Bối Cẩm Nghi.

Kim Hoa bà bà thấy ni cô còn xa như thế, mặt mũi chưa nhìn rõ mà tiếng nói truyền đến tai nghe rõ như chỉ đứng cách một hai thước, đủ biết nội lực thâm hậu chừng nào.

Diệt Tuyệt sư thái thịnh danh truyền xa, trong võ lâm ai ai cũng biết, có điều sư thái hiếm khi xuống núi, không mấy ai được gặp. Lúc đến gần mới thấy Diệt Tuyệt sư thái chừng bốn mươi, bốn lăm tuổi, dung mạo đúng ra đẹp lắm, tiếc rằng hai đuôi lông mày lại xiên xiên đổ xuống khiến cho khuôn mặt hóa thành kỳ bí, hơi giống kẻ đóng vai ma quỷ trong các vở tuồng.

Kỷ Hiểu Phù bước lên, quỳ xuống rập đầu, nói nhỏ:

– Sư phụ, lão nhân gia mạnh khỏe.

Diệt Tuyệt sư thái nói:

– Nếu chẳng vì giận ngươi đến chết thì cũng còn khỏe.

Kỷ Hiểu Phù cứ quỳ đó chưa dám đứng dậy, nghe Đinh Mẫn Quân đứng sau sư phụ cười khẩy một tiếng, nàng biết là vị sư tỷ này đã nói xấu về nàng rất nhiều, lưng không khỏi toát mồ hôi lạnh. Diệt Tuyệt sư thái lạnh lùng nói:

– Vị bà bà kia bảo ngươi đi tới cho bà ta coi tại sao đến hôm nay ngươi vẫn chưa chết thì ngươi cứ tới xem bà ta làm gì nào.

Kỷ Hiểu Phù nói:

– Dạ.

Rồi đứng dậy, tới trước mặt Kim Hoa bà bà, nói lớn:

– Kim Hoa bà bà, sư phụ của vãn bối đã tới, những việc cường hung bá đạo của bà bà đối với vãn bối, sư phụ vãn bối sẽ thanh toán đó.

Kim Hoa bà bà ho hai tiếng, chăm chú nhìn Diệt Tuyệt sư thái, gật đầu, hỏi:

– Ồ, thì ra bà là chưởng môn phái Nga Mi, ta đã đả thương đệ tử của bà đấy, bà làm gì ta nào?

Diệt Tuyệt sư thái lạnh lùng nói:

– Đả thương càng tốt, bà bà thích đả thương thì cứ việc, có đánh chết nó cũng chẳng sao.

Kỷ Hiểu Phù lòng như dao cắt, kêu lên:

– Sư phụ!

Hai dòng lệ nóng chảy dài trên má; nàng biết sư phụ lâu nay luôn bênh vực đệ tử, các đệ tử đắc tội với người ngoài, dù có sai mười mươi, sư phụ vẫn cưỡng từ đoạt lý bênh vực đến cùng, lúc này nói mấy câu thế kia thật chẳng khác gì không còn coi nàng là đệ tử.

Kim Hoa bà bà nói:

– Ta với phái Nga Mi không thù không oán, đả thương một lần cũng đủ rồi. A Ly, bà cháu ta đi thôi!

Nói xong thong thả quay đi.

Đinh Mẫn Quân không biết Kim Hoa bà bà lai lịch ra sao, thấy bà già trông có vẻ bệnh hoạn yếu đuối, dám vô lễ với sư phụ mình thì cả giận, vọt ngay tới trước mặt, quát:

– Bà bà chưa tạ tội với sư phụ ta mà dám bỏ đi ư?

Đoạn tay phải rút kiếm ra khỏi bao nửa chừng, làm vẻ thị uy.

Kim Hoa bà bà đột nhiên dùng hai ngón tay kẹp nhẹ vào bao kiếm của Đinh Mẫn Quân, rồi buông ra, cười nói:

– Đồng gỉ sắt vụn mà cũng đem dọa người ư?

Đinh Mẫn Quân lửa giận bừng bừng, liền rút kiếm, nào ngờ cố sức mấy lần mà thanh kiếm vẫn không thể rút ra khỏi bao. Bé A Ly cười, nói:

– Đồng gỉ sắt vụn hết mất rồi.

Đinh Mẫn Quân lại gắng sức lần nữa vẫn không sao rút kiếm ra nổi. Mới hay Kim Hoa bà bà vừa rồi kẹp ngón tay tưởng như đùa giỡn vào bao kiếm, song đã ngầm vận nội lực làm cho bao kiếm lõm vào, ngậm chặt lấy lưỡi kiếm. Đinh Mẫn Quân rút ra không nổi, song vẫn chẳng chịu thôi, mặt mũi đỏ bừng, điệu bộ đầy vẻ tức tối.

Diệt Tuyệt sư thái thong thả bước tới, dùng ba ngón tay kẹp cán kiếm, lắc nhẹ một cái, bao kiếm tức thời tách thành hai mảnh, lưỡi kiếm tuột ra, nói:

– Thanh kiếm này tuy không phải quý giá lợi hại gì, song cũng chưa đến nỗi là thứ đồng gỉ sắt vụn. Kim Hoa bà bà sao không ở đảo Linh Xà hưởng phúc, lại về Trung nguyên gây sự làm chi?

Kim Hoa bà bà thấy Diệt Tuyệt sư thái dùng ba ngón tay vặn bao kiếm vỡ đôi thì trong bụng thầm sợ, nghĩ:" Mụ tặc ni này thanh danh cực lớn, quả nhiên cũng có công phu đích thực đây ", bèn cười hì hì, nói:

– Chồng ta mất rồi, ở một mình trên đảo buồn quá, thành thử ta đi đây đi đó một chút, xem có hòa thượng hay đạo sĩ nào vừa ý thì bắt một người mang về làm bạn cho vui.

Kim Hoa bà bà cố ý dùng bốn chữ" hòa thượng đạo sĩ "để xỏ xiên đối phương là ni cô mà còn đi nơi này nơi nọ.

Đôi lông mày rủ xuôi của Diệt Tuyệt sư thái lại càng rủ xuống, trường kiếm ngóc lên, trầm giọng quát:

– Lấy binh khí ra!

Bọn Đinh Mẫn Quân, Kỷ Hiểu Phù từ ngày tòng sư đến nay chưa từng thấy sư phụ động thủ với kẻ khác, nhất là Kỷ Hiểu Phù biết Kim Hoa bà bà võ công quái dị khôn lường thì càng lo lắng.

Trương Vô Kỵ tay bị A Ly nắm chặt, nửa thân trên mỗi lúc một tê dại, quát lên:

– Buông ta ra! Ngươi giữ ta làm chi?

A Ly thấy Kỷ Hiểu Phù đứng bên có thể can thiệp, nếu không thả Trương Vô Kỵ, hẳn thế nào Hiểu Phù cũng sẽ ra tay, lúc đó không thả không xong, bèn dùng sức đẩy một cái, buông tay Trương Vô Kỵ ra, lạnh lùng nói:

– Để xem ngươi chạy đâu cho thoát.

Kim Hoa bà bà cười nhạt, nói:

– Năm xưa Quách Tương Quách nữ hiệp của phái Nga Mi kiếm pháp danh động thiên hạ, hẳn là cực kỳ cao minh, không hiểu truyền xuống đồ tử đồ tôn, còn được mấy phần?

Diệt Tuyệt sư thái thản nhiên nói:

– Dù chỉ còn một thành, cũng đủ quét sạch tà ma ngoại đạo.

Kim Hoa bà bà chăm chú theo dõi mũi kiếm của Diệt Tuyệt sư thái không chớp mắt, đột nhiên giơ quải trượng lên điểm nhanh vào thân kiếm. Diệt Tuyệt sư thái trường kiếm rung động, nhắm vai Kim Hoa bà bà đâm tới. Kim Hoa bà bà vừa ho vừa lấy quải trượng gạt ra. Diệt Tuyệt sư thái thân lướt theo kiếm, nhanh như chớp đã luồn ra sau lưng đối phương, chân chưa đứng vững kiếm chiêu đã tới. Kim Hoa bà bà không quay người lại, xoay quải trượng ngoặt ra sau lưng gạt ngang thanh kiếm.

Hai người đánh ba bốn chiêu, trong lòng đều thán phục đối phương, bỗng nghe" cắc "một tiếng, trường kiếm trong tay Diệt Tuyệt sư thái gãy đôi, thì ra kiếm trượng chạm nhau, kiếm đã bị trượng chấn gãy.

Trừ cô bé A Ly, những người đứng xem ai nấy đều kinh hãi. Cây quải trượng trong tay Kim Hoa bà bà trông cũ kỹ xấu xí, chẳng vừa mắt chút nào, không phải bằng vàng bằng sắt, vậy mà đánh gãy được thanh kiếm, chắc là nhờ nội lực dồi dào thâm hậu. Song lúc binh khí của Diệt Tuyệt sư thái và Kim Hoa bà bà đụng nhau, cả hai người đều biết thanh kiếm gãy đôi chính là do quải trượng cứng rắn chứ không phải vì nội lực của người sử dụng. Cây gậy này là một loại đặc sản dưới đáy biển cạnh đảo Linh Xà, gọi là" San hô kim ", là một loại san hô hòa hợp với nhiều kim loại, nằm dưới đáy biển hàng vạn năm kết thành, chém sắt như thái bún, đập đá như đập tỏi, vũ khí sắc bén đến mấy đụng phải nó cũng gãy liền.

Kim Hoa bà bà cũng không tiến lên tấn công, chỉ chống gậy đứng tại chỗ, ôm ngực ho. Ba đệ tử của phái Nga Mi là Đinh Mẫn Quân, Kỷ Hiểu Phù, Bối Cẩm Nghi sợ sư phụ bị thương, vội chạy tới đứng bên sư phụ để tiếp ứng. A Ly lại chộp lấy cổ tay Trương Vô Kỵ, cười nói:

– Ta đã bảo là ngươi không chạy đâu cho thoát mà.

A Ly ra tay bất ngờ, Trương Vô Kỵ không né tránh kịp, mạch môn bị người nắm giữ, nửa thân mình lại tê dại. Cậu hai lần bị cô bé này đùa giỡn, vừa thẹn vừa tức, vừa nóng nảy vừa bực bội, giơ chân phải đá vào hông đối phương. A Ly bóp mạnh thêm cổ tay Vô Kỵ, chân cậu mới nhấc lên được nửa chừng đã cứng nhắc. Cậu tức giận quát:

– Ngươi có buông tay ra không thì bảo?

A Ly cười, đáp:

– Ta không buông, ngươi làm gì được ta?

Trương Vô Kỵ cúi gập xuống, há miệng ngoạm ngay vào mu bàn tay cô bé, cắn mạnh một cái. A Ly thấy tay đau nhói, kêu toáng lên:

– Ái chà!

Tay phải buông ra, tay trái cào vào mặt Trương Vô Kỵ. Trương Vô Kỵ vội nhảy lùi về phía sau, nhưng không kịp, bị móng tay ngón giữa cào một vệt dài chảy máu trên má. Mu bàn tay phải của A Ly bị cắn cũng chảy máu ròng ròng, đau đến phát khóc.

Hai đứa bé ở bên cạnh đánh nhau, Kim Hoa bà bà mặc kệ, chẳng buồn ngó đến.

Diệt Tuyệt sư thái ném thanh kiếm đã gãy xuống đất, nói:

– Đây là binh khí của đệ tử ta, vốn không đủ sức chịu đòn của cao nhân.

Đoạn gỡ cái bọc trên lưng lấy ra một thanh kiếm cổ dài bốn thước.

Kim Hoa bà bà liếc qua, thấy trên bao kiếm ẩn hiện một làn khí màu xanh, kiếm chưa rút khỏi bao mà đã biết chẳng phải vật tầm thường, trên vỏ kiếm có thêu bằng sợi tơ vàng hai chữ" Ỷ Thiên "thì cả kinh, buột miệng:

– Kiếm Ỷ Thiên!

Diệt Tuyệt sư thái gật đầu, nói:

– Phải, kiếm Ỷ Thiên đó!

Kim Hoa bà bà lập tức nhớ đến sáu câu tương truyền trong võ lâm" Võ lâm chí tôn, bảo đao Đồ Long, hiệu lệnh thiên hạ, mạc cảm bất tòng, Ỷ Thiên bất xuất, thùy dữ tranh phong ", miệng lẩm bẩm:" Thì ra kiếm Ỷ Thiên nằm trong tay phái Nga Mi ".

Diệt Tuyệt sư thái quát to:

– Tiếp chiêu!

Đoạn sư thái cầm cán kiếm, không rút khỏi bao, cứ để nguyên kiếm trong bao mà đâm thẳng vào ngực Kim Hoa bà bà. Kim Hoa bà bà giơ quải trượng lên gạt ra. Diệt Tuyệt sư thái cổ tay hơi rung, bao kiếm đụng vào cây gậy. Chỉ nghe một tiếng" xoẹt "nhỏ như tiếng xé một mảnh bìa, cây thần trượng ngoài đảo," San hô kim quải trượng "của Kim Hoa bà bà, một loại binh khí cực quý, đã gãy đôi.

Kim Hoa bà bà trong lòng chấn động mạnh, nghĩ thầm:" Kiếm Ỷ Thiên chưa ra khỏi bao đã lợi hại như thế, quả thật danh bất hư truyền ". Bà bà chăm chú nhìn thanh bảo kiếm không chớp mắt, rồi nói:

– Diệt Tuyệt sư thái, hãy cho ta được ngắm lưỡi kiếm một chút xem sao.

Diệt Tuyệt sư thái lắc đầu, lạnh lùng nói:

– Thanh kiếm này một khi đã rút khỏi bao, chưa uống máu người thì không chịu trở vào bao.

Hai người lẳng lặng nhìn nhau, hồi lâu không nói.

Kim Hoa bà bà lúc này biết rằng vị ni cô kia công lực chẳng kém gì mình, chiêu thức lại xảo diệu, bà nhất thời chưa nhận biết được. Sư thái đã là chưởng môn phái Nga Mi, tài nghệ ắt chẳng tầm thường, lại nắm trong tay đệ nhất bảo kiếm trong thiên hạ, chắc bà ta không thể địch nổi, bèn ho nhẹ vài tiếng, quay người nắm tay A Ly thản nhiên bỏ đi.

A Ly ngoái lại, gọi:

– Trương Vô Kỵ, Trương Vô Kỵ!

Tiếng gọi xa dần, rồi bặt hẳn.

Đinh Mẫn Quân, Kỷ Hiểu Phù, Bối Cẩm Nghi thấy sư phụ đắc thắng, địch nhân phải bỏ đi, thì cả mừng. Đinh Mẫn Quân nói:

– Sư phụ, bà già kia đúng là có mắt không thấy Thái Sơn, dám động thủ với lão nhân gia để chuốc lấy cái khổ.

Diệt Tuyệt sư thái nghiêm mặt, nói:

– Từ nay hành tẩu trên giang hồ, mỗi khi nghe thấy tiếng ho của mụ ta, các ngươi hãy tránh cho xa.

Vừa rồi khi sư thái dùng kiếm tấn công, tuy đánh gãy quải trượng của đối phương, nhưng khi ra tay đã sử dụng" Nga Mi cửu dương công "tu luyện trên ba chục năm. Thần công này đụng vào thân hình Kim Hoa bà bà mà như chìm vào đại dương, không còn tăm hơi gì, chỉ lay động tà áo bà bà, chứ không đẩy lùi được một bước, bây giờ nghĩ lại sư thái vẫn còn thầm kinh hãi; biết rằng nội lực của bà bà cao siêu, vững vàng như thuở tráng niên, chẳng có vẻ gì là một bà lão ốm yếu; tu luyện tới mức như thế thật khó mà hiểu nổi.

Diệt Tuyệt sư thái ngẩng nhìn trời, xuất thần hồi lâu, nói:

– Hiểu Phù, theo ta!

Không buồn nhìn Hiểu Phù một lần, sư thái bước vào căn nhà tranh. Bọn Kỷ Hiểu Phù đi theo. Dương Bất Hối kêu lên:

– Mẹ ơi!

Cô bé định chạy theo. Kỷ Hiểu Phù biết rằng sư phụ lần này thân chinh xuống núi, là muốn thanh lý môn hộ, tuy trước đây nàng được sư phụ quý mến, song sư phụ tính nết nghiêm khắc, thực chưa biết sẽ xử trí nàng ra sao, bèn bảo con:

– Con hãy ra ngoài chơi, đừng vào theo mẹ.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm:" Ả họ Đinh quá tệ, chắc là đã ton hót với sư phụ, nói xấu Kỷ cô rồi đây! Mọi chuyện đêm hôm đó, mình chính mắt chứng kiến, chỉ thấy mụ Độc Thủ Vô Diệm này chẳng ra gì, nếu ả ta nói năng lung tung, đổi trắng thay đen, mình sẽ tiến ra biện minh cho Kỷ cô cô "; thế là cậu kín đáo luồn ra sau nhà, nép mình dưới song cửa, nín thở lắng nghe.

Trong nhà im phăng phắc, không ai nói gì cả. Rồi Diệt Tuyệt sư thái lên tiếng:

– Hiểu Phù, chuyện của ngươi, ta muốn chính miệng ngươi nói ra coi.

Kỷ Hiểu Phù nghẹn ngào nói:

– Sư phụ, con.. con..

Diệt Tuyệt sư thái nói:

– Mẫn Quân, ngươi lại hỏi nó coi.

Đinh Mẫn Quân đáp:

– Dạ. Kỷ sư muội, trong môn phái chúng ta, điều giới thứ ba là gì?

Kỷ Hiểu Phù nói:

– Cấm dâm tà phóng đãng.

Đinh Mẫn Quân nói:

– Đúng. Điều giới thứ sáu là gì?

Kỷ Hiểu Phù nói:

– Cấm tâm hướng ngoại nhân, phản bội sư môn.

Đinh Mẫn Quân hỏi:

– Kẻ phạm giới, bị xử tội thế nào?

Kỷ Hiểu Phù không trả lời câu hỏi đó, quay sang nói với Diệt Tuyệt sư thái:

– Sư phụ, chuyện này bên trong quả thật có điều đệ tử khó nói, hoàn toàn không như Đinh sư tỷ thuật lại đâu ạ.

Diệt Tuyệt sư thái nói:

– Được, ở đây không có người ngoài, ngươi hãy thuật lại ta coi.

Kỷ Hiểu Phù biết rằng hôm nay đứng trước sự thể vô cùng trọng đại, quyết không thể giấu giếm chút gì, liền nói:

– Sư phụ, năm xưa sau khi bên mình nghe tin Thiên Ưng giáo giương đao lập uy tại Vương Bàn sơn đảo, sư phụ sai mười sáu đệ tử chúng con xuống núi, chia nhau đi dò xét chỗ ở của Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn. Đệ tử đi về hướng Đại Thụ Bảo ở Xuyên Tây, trên đường gặp một trung niên nam tử, tuổi chừng bốn mươi, bận đồ trắng. Đệ tử đi đâu, y theo tới đó, đệ tử vào khách điếm, y cũng vào khách điếm, đệ tử dừng chân, y cũng dừng chân. Thoạt đầu đệ tử mặc xác y, sau thấy chướng mắt quá mới trách cứ y. Y nói năng điên điên khùng khùng, đệ tử không chịu nổi bèn rút kiếm đâm y. Y không mang theo binh khí nhưng võ công cao siêu, chỉ vài chiêu đã đoạt mất kiếm của đệ tử.

Đệ tử hoảng sợ bỏ chạy, người đó không đuổi theo. Sáng sớm hôm sau, khi đệ tử tỉnh dậy trong khách điếm, thì thấy thanh kiếm của mình đặt ngay bên gối. Đệ tử giật mình kinh hãi, đi khỏi khách điếm lại thấy người ấy bám theo. Con nghĩ động võ với y không ăn thua, chỉ còn cách ngọt ngào cầu khẩn y, nói đôi bên không họ hàng thân thích, cũng chẳng quen biết, huống hồ nam nữ hữu biệt, ông cứ bám theo ta là có ý gì. Con nói thêm, võ công ta tuy không bằng ông, nhưng động tới phái Nga Mi ta chẳng phải chuyện đùa.

Diệt Tuyệt sư thái" Ừ "một tiếng, tựa hồ ưng ý về câu nói đó.

Kỷ Hiểu Phù kể tiếp:

– Kẻ đó bật cười, nói:" Võ công của một người mà còn phân biệt môn phái thì chỉ là hạ thừa. Cô nương nếu chịu theo ta, ta sẽ giúp nàng sáng mắt ra, thấy trời đất bao la của võ học ".

Diệt Tuyệt sư thái tính tình cô độc, cả đời miệt mài học võ, sống ngăn cách với thế giới bên ngoài, nghe Kỷ Hiểu Phù thuật lại lời người kia bảo" Võ công của một người mà còn phân biệt môn phái thì chỉ là hạ thừa.. ta sẽ giúp nàng sáng mắt ra, thấy trời đất bao la của võ học ", liền không khỏi tò mò, hỏi:

– Thế là ngươi đi theo y, xem có thứ võ công cổ quái nào không chứ gì?

Kỷ Hiểu Phù đỏ mặt, nói:

– Sư phụ, y là nam tử không quen biết, lẽ nào con lại đi theo y?

Diệt Tuyệt sư thái vỡ lẽ, nói:

– Ừ phải, vậy ngươi bảo y mau mau xéo đi chỗ khác.

Kỷ Hiểu Phù nói:

– Con tìm trăm muôn nghìn kế tránh né y mà vẫn không nổi, cuối cùng bị y bắt được. Ôi, đệ tử bất hạnh, gặp phải cái oan nghiệt kiếp trước.

Nói tới đây, giọng nói nhỏ dần. Diệt Tuyệt sư thái hỏi:

– Sau đó thế nào?

Kỷ Hiểu Phù nói nhỏ:

– Con chống cự không nổi, bị thất thân với y. Y theo dõi con sát sao, con muốn chết cũng không xong. Cứ như thế suốt mấy tháng ròng. Bỗng có kẻ địch đến tìm y, con thừa cơ trốn thoát, không lâu sau phát hiện mình có mang. Con không dám thưa với sư phụ, chỉ còn nước lén lão nhân gia mà sinh hài nhi.

Diệt Tuyệt sư thái hỏi:

– Tất cả đúng như thế ư?

Kỷ Hiểu Phù đáp:

– Đệ tử nghìn vạn lần không dám nói dối sư phụ.

Diệt Tuyệt sư thái trầm ngâm một hồi, nói:

– Tội nghiệp, con thật đáng thương! Ôi, chuyện ấy đâu phải lỗi tại con.

Đinh Mẫn Quân nghe lời nói của sư phụ có vẻ thương xót Kỷ Hiểu Phù thì hậm hực nhìn sư muội một cái.

Diệt Tuyệt sư thái thở dài, hỏi:

– Thế bây giờ con định ra sao?

Kỷ Hiểu Phù rơi lệ, nói:

– Đệ tử tùy gia nghiêm định đoạt, vốn đã hứa gả cho Ân lục gia phái Võ Đang, nay gặp phải biến cố này, chỉ xin sư phụ ban ân cho con xuất gia, cắt tóc làm ni cô.

Diệt Tuyệt sư thái lắc đầu:

– Không nên thế. Hừ, gã nam tử bại hoại làm hại đời con ấy tên là gì?

Kỷ Hiểu Phù thấp giọng thưa:

– Y.. Y họ Dương, đơn danh một chữ Tiêu.

Diệt Tuyệt sư thái đột nhiên nhảy dựng lên, tay áo phất một cái, nghe" rắc "một tiếng, mặt bàn đã bị đập vỡ một nửa. Trương Vô Kỵ nấp bên ngoài nghe lén, sợ hết hồn. Kỷ Hiểu Phù, Đinh Mẫn Quân, Bối Cẩm Nghi mặt đều biến sắc.

Diệt Tuyệt sư thái gằn giọng, hỏi:

– Ngươi bảo tên hắn là Dương Tiêu? Có phải là tên đại ma đầu của Ma giáo, tự xưng" Quang Minh tả sứ giả "Dương Tiêu hay không?

Kỷ Hiểu Phù đáp:

– Y.. Y.. là người trong Minh giáo, hình như có chút địa vị trong giáo phái đó.

Diệt Tuyệt sư thái mặt đầy vẻ giận dữ, nói:

– Minh giáo cái gì? Đó là thứ Ma giáo thương thiên hại lý, làm đủ mọi việc tàn ác. Y.. Y trốn ở đâu? Có phải ở trên đỉnh Quang Minh núi Côn Luân hay không? Để ta đi tìm y.

Kỷ Hiểu Phù nói:

– Y bảo, Minh giáo..

Diệt Tuyệt sư thái quát lên:

– Ma giáo!

Kỷ Hiểu Phù nói:

– Vâng, y bảo tổng đàn của Ma giáo vốn đặt trên đỉnh Quang Minh, nhưng gần đây trong nội bộ Ma giáo bất hòa, nên y không ở trên đỉnh Quang Minh để tránh kẻ khác nói y muốn làm giáo chủ, mà dời qua ẩn cư tại" Tọa Vong phong "cũng thuộc dãy Côn Luân. Có điều là y chỉ nói cho một mình đệ tử biết thôi, người trong giang hồ không ai biết cả. Sư phụ đã hỏi đến, đệ tử đành phải thưa. Sư phụ, người ấy.. người ấy là kẻ thù của bổn phái ư?

Diệt Tuyệt sư thái nói:

– Thù sâu như biển! Đại sư bá ngươi, Cô Hồng Tử, đã bị tên đại ma đầu Dương Tiêu làm cho giận quá mà chết.

Kỷ Hiểu Phù hết sức kinh hãi, nhưng bất giác cảm thấy ngầm kiêu hãnh, đại sư bá Cô Hồng Tử vốn là một cao thủ lừng danh thiên hạ, vậy mà bị" người ấy "chọc tức đến chết. Nàng rất muốn biết đầu đuôi sự việc, nhưng không dám hỏi.

Diệt Tuyệt sư thái ngẩng lên nhìn trời, hậm hực lẩm bẩm:

– Dương Tiêu, Dương Tiêu.. bao năm nay ta không biết ngươi ở đâu, hôm nay rốt cuộc thì ngươi sẽ không thoát khỏi tay ta..

Đột nhiên sư thái quay lại, nói:

– Được, chuyện ngươi thất thân với hắn, bênh vực Bành hòa thượng, đắc tội với Đinh sư tỷ, nói dối sư phụ, lén nuôi hài nhi.. tất cả những chuyện đó ta không nhắc đến nữa. Giờ ta sai ngươi đi làm một việc, làm xong việc đó, ngươi trở về núi Nga Mi, ta sẽ đem y bát và kiếm Ỷ Thiên truyền cho ngươi, lập ngươi làm người kế thừa chức chưởng môn bổn phái.

Mấy câu đó khiến ai nấy đều kinh ngạc. Đinh Mẫn Quân vừa ghen tức, vừa căm hận, ngầm oán trách sư phụ không phân biệt trắng đen, làm điều nghịch lý.

Kỷ Hiểu Phù nói:

– Sư phụ sai bảo gì, đệ tử cũng phải tận tâm tận lực thi hành. Còn về việc ân sư chân truyền y bát, đệ tử tự biết đức hạnh khiếm khuyết, võ công thấp kém, không dám vọng tưởng.

Diệt Tuyệt sư thái nói:

– Ngươi theo ta ra đây.

Sư thái nắm cổ tay Kỷ Hiểu Phù ra khỏi nhà tranh, chạy lên một triền núi ở phía trái thung lũng, tới một nơi thật trống trải mới dừng lại.

Trương Vô Kỵ từ xa nhìn tới, chỉ thấy Diệt Tuyệt sư thái đứng trên cao, đưa mắt nhìn tứ phía một vòng, rồi kéo Kỷ Hiểu Phù lại bên cạnh, nói nhỏ vào tai nàng. Thì ra Diệt Tuyệt sư thái muốn nói một việc cực kỳ bí mật, sợ tai vách mạch rừng, nên ngay cả hai đệ tử kia cũng không cho biết.

Trương Vô Kỵ náu mình phía sau nhà tranh, không dám ló mặt ra, chỉ từ xa nhìn cảnh Diệt Tuyệt sư thái nói một hồi, Kỷ Hiểu Phù cúi đầu suy nghĩ, sau đó lắc đầu, vẻ mặt rất kiên quyết, hiển nhiên không chịu vâng mệnh sư phụ. Diệt Tuyệt sư thái giơ tả chưởng lên định đánh xuống, nhưng ngừng lại giữa chừng, tựa hồ để cho Kỷ Hiểu Phù cơ hội cuối cùng hồi tâm chuyển ý.

Trương Vô Kỵ trống ngực đập thình thình, nghĩ thầm chưởng đó mà giáng xuống đầu Kỷ Hiểu Phù thì Kỷ cô cô hết sống. Trương Vô Kỵ không dám chớp mắt, cứ chăm chú nhìn Kỷ Hiểu Phù.

Chỉ thấy Kỷ Hiểu Phù quỳ dưới đất, cả quyết lắc đầu. Tả chưởng của Diệt Tuyệt sư thái đánh xuống ngay giữa đỉnh đầu nàng. Kỷ Hiểu Phù gục ngay xuống, thân hình giãy giãy vài cái, rồi nằm bất động.

Trương Vô Kỵ vừa kinh hãi vừa đau đớn, nằm phục trong đám cỏ cao sau nhà, không dám động đậy.

Vừa lúc ấy, Dương Bất Hối cười khúc khích hai tiếng, ở đâu tự nhiên ôm choàng lấy lưng Trương Vô Kỵ, nói:

– Bắt được ca ca rồi, bắt được ca ca rồi!

Thì ra cô bé chạy chơi bên ngoài, thấy Trương Vô Kỵ nằm giấu mình trong cỏ, lại ngỡ cậu đang chơi trò trốn tìm với nó, bèn chạy tới ôm lấy. Trương Vô Kỵ vòng tay kéo Dương Bất Hối vào lòng, một tay bịt miệng con bé, ghé tai nói nhỏ:

– Đừng nói, đừng để kẻ ác nhìn thấy mình.

Dương Bất Hối thấy mặt Vô Kỵ tái nhợt, đầy vẻ kinh hãi thì cũng sợ theo.

Diệt Tuyệt sư thái từ trên triền núi vội vã đi xuống, nói với Đinh Mẫn Quân:

– Đi tìm nghiệt chủng của nó mà đâm chết đi, khỏi lưu mầm họa.

Đinh Mẫn Quân thấy sư phụ ra tay đánh chết Kỷ Hiểu Phù, tuy mừng thầm trong bụng song không khỏi kinh hãi, nghe sư phụ hạ lệnh, vội mượn kiếm của Bối Cẩm Nghi đi tìm Dương Bất Hối.

Trương Vô Kỵ ôm chặt Dương Bất Hối, co mình trong đám cỏ dày, không dám thở mạnh.

Đinh Mẫn Quân chạy trước chạy sau tìm kiếm một hồi không thấy tung tích Dương Bất Hối đâu cả, đang tính tìm kỹ một lần nữa thì Diệt Tuyệt sư thái mắng:

– Thật là đồ vô dụng, có một đứa bé cũng tìm không được.

Bối Cẩm Nhi bình thời chơi thân với Kỷ Hiểu Phù, mắt thấy sư tỷ bị thảm tử dưới tay sư phụ, giờ sư phụ còn định giết nốt đứa con côi của nàng thì trong lòng bất nhẫn, nói:

– Đệ tử thấy đứa bé ấy hình như chạy ra ngoài thung lũng rồi.

Bối Cẩm Nghi biết sư phụ tính tình nôn nóng, nếu ra ngoài kia tìm không thấy, sẽ chẳng trở vào đây tìm lại. Tuy đứa bé kia một thân một mình trơ trọi trên cõi đời này chưa chắc đã sống nổi, song vẫn còn hơn chính mắt nàng phải chứng kiến cái cảnh Đinh Mẫn Quân đâm nó một nhát chết tươi. Diệt Tuyệt sư thái nói:

– Sao không nói sớm?

Bà ta hầm hầm trừng mắt nhìn đệ tử, rồi chạy trước ra ngoài thung lũng đuổi theo đứa bé. Đinh Mẫn Quân và Bối Cẩm Nhi lật đật chạy theo.

Dương Bất Hối chưa biết mẫu thân gặp đại họa, đôi mắt to đen cứ luôn luôn chuyển động, ngụ ý muốn hỏi có chuyện gì. Trương Vô Kỵ ghé tai sát đất nghe ngóng, thấy tiếng chân ba người kia mỗi lúc một xa, mới nhỏm dậy dắt Dương Bất Hối chạy lên triền núi, Dương Bất Hối cười hỏi:

– Vô Kỵ ca ca, kẻ ác đi rồi à? Mình lên núi chơi phải không?

Trương Vô Kỵ không trả lời, dắt con bé chạy thẳng tới chỗ Kỷ Hiểu Phù. Gần đến nơi, Dương Bất Hối thấy mẫu thân nằm gục dưới đất, nó cả kinh, tới bên ngồi thụp xuống ôm choàng lấy mẫu thân, gọi to:

– Mẹ ơi, mẹ ơi!

Trương Vô Kỵ thăm hơi thở của Kỷ Hiểu Phù chỉ còn thấy thoi thóp, lại thấy xương sọ của Kỷ cô cô đã bị Diệt Tuyệt sư thái đánh một chưởng vỡ toác, dù Y Tiên Hồ Thanh Ngưu có ở đây cũng chẳng tài nào cứu nổi. Kỷ Hiểu Phù hé mắt nhìn, thấy Trương Vô Kỵ và con mình, môi mấp máy muốn nói, nhưng không thốt được nửa lời, lệ giàn giụa trong đôi mắt to. Trương Vô Kỵ lấy kim trong bọc ra, châm vào các huyệt Thần Đình, Ấn Đường, Thừa Khấp để cảm giác đau đớn nhất thời không truyền lên não.

Kỷ Hiểu Phù tinh thần hơi tỉnh, thều thào nói:

– Cô cô.. nhờ cháu.. đưa nó đến cha nó.. Cô cô không chịu.. không chịu.. hại cha nó..

Nàng đưa tay lên ngực, tựa hồ định lấy vật gì, đột nhiên đầu ngoẹo qua một bên, tắt thở hẳn. Dương Bất Hối ôm chặt thi thể mẹ, khóc to, miệng không ngớt kêu:

– Mẹ ơi, mẹ ơi, mẹ đau lắm à? Mẹ đau lắm à?

Thân thể Kỷ Hiểu Phù lạnh dần, con bé vẫn cứ hỏi mãi. Nó không hiểu tại sao mẹ nó không cử động, tại sao mẹ nó không trả lời nó.

Trương Vô Kỵ vốn đã đau lòng, nhớ lại lúc phụ mẫu cậu chết, cậu cũng ôm xác hai người mà khóc, thì không cầm được, lúc này nước mắt cũng ròng ròng. Hai đứa khóc một hồi, Trương Vô Kỵ nghĩ thầm:" Lúc lâm chung, Kỷ cô cô nhờ mình đưa bé Bất Hối đến chỗ phụ thân nó. Phụ thân nó tên là Dương Tiêu, là Quang Minh tả sứ giả trong Minh giáo, ở trên ngọn núi tên là Tọa Vong gì đó thuộc dãy Côn Luân. Mình phải đưa Bất Hối tới đó mới được". Nó đâu biết dãy Côn Luân ở tận phía cực tây, cách đây mấy vạn dặm, hai đứa trẻ làm sao đi tới? Nhớ lúc sắp tắt thở Kỷ Hiểu Phù định lấy vật gì ở ngực, Vô Kỵ bèn sờ thử, thấy trên cổ nàng có một sợi dây đeo một chiếc thiết bài màu đen, trên thiết bài thêu bằng tơ vàng hình một ngọn lửa đang cháy.

Trương Vô Kỵ không biết đó là cái gì, nhưng cậu cũng tháo ra đeo vào cổ Dương Bất Hối. Cậu vào nhà tranh, lấy ra một cái xẻng, đào cái hố chôn Kỷ Hiểu Phù. Lúc này Dương Bất Hối khóc đã kiệt sức, nằm lăn ra ngủ. Khi cô bé tỉnh dậy, Trương Vô Kỵ phải nói mãi nó mới chịu tin là mẫu thân nó đã bay lên trời, phải lâu thật là lâu mới lại từ trên trời bay xuống gặp nó.

Sau đó Trương Vô Kỵ vào nhà nấu qua quýt một bữa cơm, cùng Dương Bất Hối ăn xong lại mệt quá lăn ra ngủ. Sáng hôm sau thức dậy, Trương Vô Kỵ thu thập hành lý thành hai gói nhỏ, giắt trong người mấy chục lạng bạc mà Hồ Thanh Ngưu để lại cho cậu rồi dẫn Dương Bất Hối lên chỗ mộ mẫu thân nó lạy mấy lạy, sau đó hai đứa trẻ rời khỏi Hồ Điệp cốc..

Comments

Comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 14: Giữa đường toàn gặp lũ sói lang

Hai đứa trẻ đi hơn nửa ngày đường mới ra khỏi Hồ Điệp cốc, Dương Bất Hối chân nhỏ bước ngắn, không còn đi nổi nữa. Hai đứa ngồi nghỉ một hồi rồi mới đi tiếp. Đi rồi nghỉ, nghỉ rồi đi, chiều tối hôm đó không tìm ra khách điếm, trời đã tối hẳn mà bọn trẻ vẫn còn lang thang trong hoang sơn dã lãnh, bốn phía sói tru cú rúc, Dương Bất Hối sợ quá phát khóc.

Trương Vô Kỵ trong bụng cũng vô cùng sợ hãi, thấy bên đường có một cái hang bèn kéo Dương Bất Hối vào đó, ôm con bé vào lòng, dùng tay bịt tai nó lại để nó khỏi nghe tiếng thú đói tru rú trong đêm.

Đêm đầu tiên hai đứa trẻ vừa đói vừa sợ, sáng hôm sau mới tìm quả dại ăn tạm, thuận theo đường núi cứ vừa đi vừa nghỉ. Đến giữa trưa, đang đi Dương Bất Hối đột nhiên kêu thất thanh, chỉ về phía một cây lớn bên đường.

Trương Vô Kỵ nhìn theo, thấy trên cây treo lủng lẳng hai cái xác người chết khô, sợ quá vội kéo Dương Bất Hối cắm đầu chạy. Hai đứa chạy được hơn chục bước, vấp phải một hòn đá, cùng ngã lăn. Trương Vô Kỵ thu hết can đảm ngoảnh đầu nhìn lại thì càng thêm kinh hãi, buột miệng kêu lên:

– Hồ tiên sinh!

Thì ra cái xác treo trên cây kia bị gió thổi quay mặt lại, chính là Hồ Thanh Ngưu, cái xác thứ hai tóc dài phủ xuống lưng, là xác phụ nữ, nhìn trang phục, chính là Hồ phu nhân Vương Nạn Cô. Gió núi thổi vào xác và mái tóc dài của bà ta càng làm tăng thêm âm khí thâm u.

Trương Vô Kỵ cố định thần, tự nhủ: "Không sợ, không sợ!" Cậu thong thả đứng dậy, từng bước từng bước đến gần, nhìn kỹ, đúng là thi thể của hai vợ chồng Hồ Thanh Ngưu. Trên má hai người có cắm một bông mai vàng nho nhỏ. Trương Vô Kỵ hiểu ngay: "Thì ra họ không chạy thoát khỏi độc thủ của Kim Hoa bà bà".

Dưới dòng suối có một cỗ xe vỡ nát, một con la chết chìm trong đó.

Trương Vô Kỵ bùi ngùi chảy nước mắt, cởi dây hạ hai cái xác vợ chồng Hồ Thanh Ngưu trên cây xuống, bỗng nghe một tiếng "bịch", từ trong bọc của Vương Nạn Cô rơi ra một quyển sách. Cậu nhặt lên, đó là quyển sách chép tay, tựa đề năm chữ "Vương Nạn Cô độc kinh". Giở xem, bên trong dày đặc những chữ nhỏ bằng đầu ruồi theo lối chữ khải, miêu tả độc tính của các độc vật, cách sử dụng và hóa giải; ngoài độc dược, độc thảo, còn các loại hoạt trùng có độc như rắn, rết, bò cạp, nhện; kể cả các loại kỳ quái như cá, chim, thú, hoa, đất đá, các loại độc đều có ghi đủ. Cậu tiện tay cất luôn vào bọc của mình, xếp hai thi thể vợ chồng Hồ Thanh Ngưu nằm sát nhau, lấy đất đá đắp lên thành một cái mộ, quỳ xuống lạy mấy lạy, rồi dắt tay Dương Bất Hối tìm đường mà đi.

Đi được vài dặm thì gặp đường lớn, không lâu tới một tiểu trấn. Trương Vô Kỵ định mua cơm ăn, nào ngờ mọi nhà trong thị trấn đều bỏ hoang, không một bóng người. Hai đứa không còn cách gì, đành phải đi tiếp, chỉ thấy ruộng nương hai bên đường không ai cày cấy, cỏ dại mọc đầy, trông thật hoang tàn.

Trương Vô Kỵ trong lòng lo lắng, Dương Bất Hối thật là ngoan, cố nhịn đói không khóc, gắng sức cất bước, vì nó bé quá, đâu biết làm gì. Đi được một quãng, thấy bên đường có mấy xác người, bụng ai nấy lép kẹp, hai má hõm sâu, nhìn biết ngay là chết đói. Càng đi càng gặp nhiều xác chết. Trương Vô Kỵ hoảng sợ nghĩ thầm: "Chẳng lẽ không thể kiếm được thứ gì ăn hay sao? Chẳng lẽ rồi hai đứa cũng chết đói hay sao?"

Buổi chiều, hai đứa tới một khu rừng, thấy bên trong có khói trắng bốc lên, Trương Vô Kỵ cả mừng, từ hôm rời Hồ Điệp cốc đến nay cậu chưa gặp một ai, nên vội vàng đi về phía làn khói. Tới gần, thấy hai hán tử áo quần lam lũ, ngồi bên một cái chảo nước bốc hơi nghi ngút, đang tiếp thêm củi vào bếp. Hai gã kia nghe tiếng chân người, quay lại thấy Trương Vô Kỵ và Dương Bất Hối thì mặt lộ vẻ mừng rỡ, cùng nhảy cẫng lên. Một gã vẫy vẫy tay, gọi:

– Bé con, hay quá, lại đây mau, có người lớn đi cùng không? Hai đứa đi đâu vậy?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Chỉ có hai chúng cháu thôi, không có người lớn đi cùng.

Hai gã kia nhìn nhau cười ha hả, cùng thốt lên:

– May quá, may quá!

Trương Vô Kỵ đói lả, thò đầu nhìn vào trong chảo xem họ nấu món gì, thấy bên trong đang sôi sùng sục, nhưng toàn là cỏ xanh.

Một gã túm lấy Dương Bất Hối, nhe răng cười:

– Con dê này vừa non vừa béo, tối nay được một bữa no, sướng thật.

Gã thứ hai tiếp lời:

– Đúng thế, còn thằng nhóc để dành bữa ngày mai.

Trương Vô Kỵ giật mình cả kinh, kêu to:

– Làm gì thế? Mau buông tiểu muội của ta ra!

Gã kia không thèm lý tới, soạt một cái đã xé rách áo của Dương Bất Hối, đưa tay rút từ trong ủng ra một con dao găm, cười nhăn nhở:

– Lâu quá chưa được xơi loại dê non béo thế này.

Hắn xách Dương Bất Hối đặt sang một bên, tựa hồ sửa soạn làm thịt cô bé. Gã thứ hai cầm chiếc bát sành để ở phía sau, nói:

– Tiết dê non bỏ đi phí lắm, để nấu một nồi cháo huyết, ăn ngon phải biết.

Trương Vô Kỵ sợ hết hồn, xem ra hai gã này không hề nói đùa, mà có ý ăn thịt Dương Bất Hối thật sự, bèn nói to:

– Các ngươi định ăn thịt người, không sợ thương thiên hại lý à?

Tên cầm bát cười:

– Ba tháng nay ta chưa được một hạt gạo vào bụng, không ăn thịt người, ngươi bảo còn có thịt gì để ăn đây?

Hắn sợ Trương Vô Kỵ bỏ chạy, bèn bước tới túm cổ nó.

Trương Vô Kỵ nghiêng người né tránh, tay trái hất ra, tay phải đánh một chưởng trúng vào chỗ yếu hại sau lưng tên kia. Cậu được Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn truyền thụ bí quyết, lại được phụ thân dạy cho trường quyền Võ Đang, mấy năm qua tuy chuyên tâm y thuật, không luyện võ, song những gì đã tập xem ra toàn là võ công thượng thừa. Một chưởng vừa rồi đánh ra, chỉ e một võ sư tập luyện lâu năm cũng chưa chắc chịu nổi, huống hồ một gã nông phu tầm thường. Hắn hự một tiếng, ngã gục ngay xuống, không thấy động đậy gì cả.

Trương Vô Kỵ lập tức nhảy tới bên cạnh Dương Bất Hối. Gã hán tử thứ hai quát:

– Để ta làm thịt mi trước!

Gã giơ con dao đâm vào ngực Trương Vô Kỵ. Trương Vô Kỵ sử chiêu "Nhạn sí thức" trong trường quyền Võ Đang, tung chân phải đá trúng cổ tay gã khiến con dao văng đi. Tiếp đó cậu sử chiêu "Uyên ương liên hoàn thoái", chân trái đá tiếp trúng cằm gã. Gã đang há mồm quát tháo, hàm dưới bị đá trúng ngậm ngay lại, răng cắn phải lưỡi, máu phun vọt ra, bất tỉnh tức thì. Trương Vô Kỵ vội đỡ Dương Bất Hối đứng dậy.

Bỗng có nhiều tiếng chân, rồi có một tốp người đi vào rừng. Dương Bất Hối sợ cuống lên, vừa nghe tiếng người đã sà vào lòng Trương Vô Kỵ. Trương Vô Kỵ thò đầu ra thăm dò, lập tức hết lo liền gọi to:

– Giản đại gia, Tiết đại gia!

Tốp người đi vào rừng cả thảy năm người, một là Giản Tiệp phái Không Động, ngoài ra là Tiết Công Viễn phái Hoa Sơn và hai đồng môn của hắn; bốn người ấy đều được Trương Vô Kỵ chữa bệnh cho ít ngày trước. Người thứ năm là một hán tử tướng mạo uy tráng, vầng trán cao, trạc hai mươi tuổi, Trương Vô Kỵ chưa gặp lần nào.

Giản Tiệp "ồ" lên một tiếng, nói:

– Trương huynh đệ, ngươi cũng tới đây ư? Hai người kia làm sao thế?

Nói rồi chỉ hai gã đang nằm quay lơ dưới đất. Trương Vô Kỵ bực bội kể lại chuyện vừa rồi, sau cùng nói:

– Đến người đang sống mà bọn chúng cả gan làm thịt ăn, thì thật là vô pháp vô thiên!

Giản Tiệp đưa mắt nhìn Dương Bất Hối, khóe miệng hắn chảy nước dãi, lè lưỡi liếm môi, miệng lẩm bẩm:

– Con mẹ nó chứ, năm ngày năm đêm rồi không một hột cơm vào bụng, chỉ nhai toàn rễ cỏ với vỏ cây.. ôi chao, mềm mại trắng trẻo, mập mạp mơn mởn thế kia..

Trương Vô Kỵ thấy cặp mắt Giản Tiệp lộ rõ vẻ thèm khát, hệt như một con chó sói đói đang rình mồi, nhe răng trắng nhởn, trông thật đáng sợ, cậu vội kéo Dương Bất Hối vào lòng.

Tiết Công Viễn nói:

– Mẹ con bé này đâu rồi?

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Nếu mình bảo Kỷ cô cô đã chết, bọn này sẽ có ý định xấu xa", bèn nói:

– Kỷ nữ hiệp đi mua gạo, chút nữa về ngay.

Dương Bất Hối bỗng nói:

– Không đâu, mẹ cháu bay lên trời rồi!

Giản Tiệp và Tiết Công Viễn nghe thế biết ngay là Kỷ Hiểu Phù đã chết. Tiết Công Viễn cười khẩy, nói:

– Mua gạo ư? Xung quanh đây năm trăm dặm, nếu ngươi kiếm được một hạt gạo thì ta bái ngươi làm sư phụ.

Giản Tiệp đưa mắt ra hiệu cho Tiết Công Viễn, hai tên cùng nhảy tới. Giản Tiệp hai tay nắm chặt hai cánh tay của Trương Vô Kỵ; Tiết Công Viễn dùng tay trái bịt miệng Dương Bất Hối, tay phải nhấc bổng cô bé lên. Trương Vô Kỵ sợ hãi kêu to:

– Các vị làm gì vậy?

Giản Tiệp cười, nói:

– Phủ Phụng Dương này cả ngàn dặm đều bỏ hoang, bọn ta đói quá rồi. Con bé này lại chẳng bà con gì với ngươi, lát nữa làm thịt nó, sẽ chia cho ngươi một phần.

Trương Vô Kỵ chửi:

– Các người tự cho mình là anh hùng hảo hán thật uổng, làm sao lại đi ăn hiếp một đứa trẻ mồ côi? Việc này truyền đi, các người còn làm người được nữa không?

Giản Tiệp cả giận, tay trái nắm chặt Trương Vô Kỵ, tay phải tát cậu hai cái, quát:

– Cả thằng súc sinh này ta cũng thịt luôn, bọn ta đang lo một con dê non chưa đủ.

Trương Vô Kỵ vừa đánh gục hai nông phu khá dễ dàng, nhưng Thánh Thủ Già Lam Giản Tiệp là hảo thủ của phái Không Động, đã luyện võ mấy chục năm, Trương Vô Kỵ lại bị lão tóm chặt, làm sao thoát ra nổi? Hai gã sư đệ của Tiết Công Viễn lấy dây trói luôn hai đứa trẻ lại. Trương Vô Kỵ biết hôm nay mình khó bề thoát chết, trong lúc cả giận cảm thấy hối hận, giá ít ngày trước đừng chữa trị cho bốn tên kia thì giờ đây khỏi phải gặp cảnh nhân tâm phản phúc, cuối cùng lấy oán báo ân thế này.

Giản Tiệp nói:

– Thằng súc sinh, ngươi chữa khỏi vết thương trên đầu ta, ngươi nghĩ ta phải mang ơn ngươi hả? Trong bụng ngươi đang chửi thầm ta chứ gì?

Trương Vô Kỵ nói:

– Thế này chẳng phải là lấy oán báo ân đó sao? Ta với các người không thân thích, không quen biết, nếu ta không cứu chữa cho, liệu kỳ thương quái bệnh của bốn người có khỏi được chăng?

Tiết Công Viễn cười:

– Trương thiếu gia, bọn ta sau khi bị thương, bao nhiêu cái xấu lộ ra, cậu đều nhìn thấy hết, nếu lan truyền đi, người trên giang hồ còn coi bọn ta ra gì nữa? Hôm nay bọn ta quả thật đói lả ra rồi, không có miếng thịt tươi nuốt vào bụng, e hết sống nổi; cậu đã cứu người hãy cứu đến cùng, đã làm ơn hãy làm ơn cho trót, cứu bọn ta một lần nữa vậy.

Giản Tiệp dáng điệu hung ác, trông đáng sợ đã đành; đằng này Tiết Công Viễn miệng cười hì hì lại nham hiểm, Trương Vô Kỵ nhìn hắn mà lạnh gáy, nói to:

– Ta là đệ tử phái Võ Đang, tiểu muội đây thuộc phái Nga Mi, các người giết hai ta thì được, nhưng Võ Đang ngũ hiệp và Diệt Tuyệt sư thái sẽ để yên cho các người chắc?

Giản Tiệp kinh ngạc "à" lên một tiếng, nghĩ câu nói này quả không sai, người của phái Võ Đang và phái Nga Mi quả thực đáng ngại. Tiết Công Viễn cười, nói:

– Ở đây chỉ có trời biết đất biết, ta biết cậu biết, đợi lúc nào vào trong bụng ta rồi, cậu hãy đi mách với lão đạo Trương Tam Phong.

Giản Tiệp cười ha hả, tiếp lời:

– Bụng đói hoa cả mắt thế này, dù ngươi có là em ruột, con ruột ta, ta cũng xơi tuốt!

Đoạn quay sang phía hai gã sư đệ của Tiết Công Viễn, quát:

– Mau đi nhóm lửa đun nước, còn đợi gì nữa?

Hai gã kia vội nhặt cái chảo dưới đất lên, một gã chạy ra suối lấy nước, gã kia chụm lửa.

Trương Vô Kỵ nói:

– Tiết đại gia, hai gã này đằng nào cũng chết rồi, các vị đói bụng muốn ăn thịt, thì ăn thịt họ cũng được chứ sao?

Tiết Công Viễn cười, đáp:

– Hai gã này chỉ có da bọc xương, vừa già vừa dai, vừa hôi vừa cứng, đời nào có chuyện dại dột dê non chẳng ăn, lại thịt dê già?

Trương Vô Kỵ từ bé vốn can đảm, dù có đánh cậu, dọa giết cậu, cậu cũng không nửa lời xin tha; nhưng lúc này rơi vào tay kẻ ác, sắp bị chúng cắt tiết làm thịt, cậu không khỏi kinh hoảng mới năn nỉ vài câu. Tiết Công Viễn cười ha hả:

– Đệ tử phái Võ Đang, phái Nga Mi trên giang hồ xưng hùng xưng bá, hôm nay lại bị bọn ta nhai từng miếng nuốt vào bụng, Trương Tam Phong và Diệt Tuyệt lão ni mà biết tin này chắc tức hộc máu ra chết.

Trương Vô Kỵ lấy sức quát to:

– Tiết đại gia, nếu các người cứ phải ăn thịt người mới được, vậy hãy ăn ta đi, chỉ xin các người tha cho cô bé này, Trương Vô Kỵ ta chết đi cũng không oán.

Tiết Công Viễn hỏi:

– Vì sao?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Mẹ cô bé lúc lâm chung có trối trăn nhờ ta đưa cô bé đến chỗ phụ thân nó. Bữa nay các người ăn thịt ta thừa no rồi, ngày mai đi mua thịt bò thịt dê mà ăn, xin hãy tha cho em nhỏ này.

Giản Tiệp thấy cậu lâm nguy không sợ, tuổi còn nhỏ mà có phong thái hiệp nghĩa như thế, trong bụng có phần thán phục, không khỏi động lòng, lưỡng lự hỏi:

– Nên thế nào nhỉ?

Tiết Công Viễn nói:

– Tha cho con bé này cũng được, nhưng chuyện này tiết lộ ra, sau này Tống Viễn Kiều, Du Liên Châu đến hỏi tội, Giản đại ca có dám chắc địch nổi họ thì tha.

Giản Tiệp gật đầu:

– Tiết huynh đệ nói phải lắm, ta thật là kẻ hồ đồ, không nghĩ trước nghĩ sau gì cả.

Gã đệ tử phái Hoa Sơn đã bưng chảo nước về, đặt lên bếp lửa.

Trương Vô Kỵ biết sự tình nguy cấp, vội giục:

– Bất Hối muội muội, muội hãy thề với họ, sau này nhất quyết không kể chuyện này với bất cứ ai đi.

Dương Bất Hối ngơ ngác, sợ hãi, khóc nói:

– Đừng ăn Vô Kỵ ca ca, đừng ăn Vô Kỵ ca ca!

Cô bé chưa hiểu Trương Vô Kỵ nói gì, chỉ lờ mờ đoán là Vô Kỵ ca ca xả thân để cứu nó.

Hán tử hiên ngang uy tráng từ nãy chỉ ngồi một bên, chẳng nói chẳng rằng. Giản Tiệp nhìn y, hỏi:

– Từ tiểu xá, có muốn xơi thịt dê cho tinh thần hăng hái hay không?

Ở vùng Hào Tứ, các hán tử trẻ tuổi gọi là "tiểu xá". Người được gọi là Từ tiểu xá đáp:

– Có chứ.

Đoạn rút trong lưng ra một con dao ngắn, nói:

– Giết heo, mổ dê là nghề của Từ mỗ.

Y đưa dao ngang lên miệng, dùng răng cắn dao, rồi một tay xách Trương Vô Kỵ, một tay xách Dương Bất Hối, đi phăng phăng ra phía dòng suối. Trương Vô Kỵ há miệng chửi, định ghé răng cắn tay y mà không tới được.

Từ tiểu xá đi hơn chục bước, thì Tiết Công Viễn gọi:

– Từ tiểu xá, chọc tiết ở đó được rồi.

Từ tiểu xá quay đầu lại, nói:

– Ra suối mổ bụng làm lòng sẽ sạch hơn.

Miệng y còn ngậm con dao, lời nói nghe ú ớ không rõ, chân vẫn cứ sải bước. Tiết Công Viễn nói:

– Ta bảo ngươi làm ở đó, thì phải làm ở đó.

Hắn đã nhận ra thần sắc Từ tiểu xá có điều gì không ổn, sợ rằng Từ tiểu xá sẽ giành ăn một mình, xách hai đứa trẻ chạy mất.

Từ tiểu xá nói nhỏ:

– Chạy mau đi!

Y đặt hai đứa trẻ xuống, cắt dây trói cho chúng. Trương Vô Kỵ nói:

– Đa tạ đại ân cứu mạng.

Rồi nắm tay Dương Bất Hối mà cắm đầu chạy.

Giản Tiệp và Tiết Công Viễn cùng gầm lên, chạy đuổi theo. Từ tiểu xá vung dao chắn ngang, miệng quát:

– Đứng lại!

Giản Tiệp và Tiết Công Viễn thấy y chĩa thẳng dao vào ngực, đứng chắn đường với tư thế lẫm liệt, thì ngẩn ra. Giản Tiệp hét to:

– Ngươi làm gì vậy?

Từ tiểu xá nói:

– Bọn ta hành tẩu giang hồ mà lại đi ăn hiếp trẻ con, không sợ hảo hán trong thiên hạ cười cho sao?

Tiết Công Viễn giận dữ nói:

– Đói cồn đói cào, đến cha mẹ ruột ta cũng ăn thịt tuốt.

Hắn quát hai tên sư đệ:

– Đuổi theo, đuổi theo mau!

Trương Vô Kỵ thấy Dương Bất Hối chạy chậm, vội cõng nó lên chạy. Cậu bé chân ngắn, làm thế chạy càng chậm hơn.

Giản Tiệp và Tiết Công Viễn rút binh khí ra cùng tấn công Từ tiểu xá. Đánh nhau một hồi, Giản Tiệp chém một một đao trúng đùi Từ tiểu xá, máu bắn tung tóe. Từ tiểu xá chống đỡ không nổi, đột nhiên vung dao phi về phía Tiết Công Viễn. Tiết Công Viễn nghiêng người né tránh, Từ tiểu xá nhân đó bỏ chạy. Giản Tiệp, Tiết Công Viễn không đuổi theo mà đi đuổi bắt Trương Vô Kỵ và Dương Bất Hối. Từ tiểu xá từ xa nói vọng lại:

– Trương huynh đệ đừng sợ, ta đi gọi vài người nữa đến cứu ngươi.

Bọn Giản Tiệp, Tiết Công Viễn vây lại, bắt trói Trương Vô Kỵ và Dương Bất Hối. Giản Tiệp cất tiếng chửi:

– Gã họ Từ phản phúc kia, không phải người tốt, sao Tiết huynh đệ lại cho hắn nhập bọn?

Tiết Công Viễn nói:

– Dọc đường gặp hắn thì kết bạn đi cùng, làm sao biết hắn tốt hay xấu? Hắn bảo họ Từ, Từ Đạt gì đấy. Giản đại ca đừng tin lời hắn, trời sắp tối rồi, hắn tìm đâu ra người giúp kia chứ?

Một gã sư đệ của Tiết Công Viễn nói:

– Nghe giọng nói hình như hắn là người bản địa Phụng Dương này, chắc hắn đi gọi thôn dân tới, chúng ta khỏi cần lo.

Giản Tiệp cười, nói:

– Người dân phủ Phụng Dương này ấy à, ha ha, người nào người nấy đói lả hết rồi còn đâu. Thôi bọn ta làm thịt hai con dê non này, xơi một bữa cho thịnh soạn cái đã.

Lần thứ hai bị bắt lại, Trương Vô Kỵ bị đánh thâm tím mặt mũi, quần áo rách toạc, tiền bạc vật dụng rơi tung tóe, cậu nghĩ thầm: "Thì ra vị đại ca ban nãy tên là Từ Đạt, quả là bằng hữu tốt, tiếc rằng mình chết đến nơi, không được kết giao với Từ đại ca".

Trương Vô Kỵ cúi đầu, thấy một cuốn sách giấy ố vàng rơi dưới đầu, gió lật giở vài trang, chính là cuốn Vương Nạn Cô độc kinh nọ. Tiện đó nhìn kỹ, thấy ở đầu trang có hai chữ lớn "Nấm độc", bên dưới chữ nhỏ miêu tả tỉ mỉ các loại nấm độc, mùi vị, màu sắc, độc tính, cách giải độc, thôi thì chẳng thiếu loại nào. Lòng cậu đang hoang mang cực độ, đọc đấy nhưng nhớ sao nổi. Bỗng cậu nhìn thấy cách bốn năm thước phía bên trái, dưới một khúc gỗ mục mọc lên mươi cái nấm màu sặc sỡ, cậu chợt nghĩ: "Không biết đó là loại nấm gì, có độc hay không? Trong sách có nói rằng phàm nấm có màu sặc sỡ đều là nấm độc. Nếu đám nấm kia là nấm độc thì Bất Hối có cơ sống sót".

Trương Vô Kỵ lúc này cũng không mong mình được sống nữa, biết chất hàn độc trong cơ thể không trừ bỏ được, hôm nay dẫu thoát chết thì chẳng qua cũng chỉ sống thêm vài tháng, nên cậu chỉ mong cứu được Dương Bất Hối. Cậu ngồi dưới đất, nhích dần mông và hai chân, rồi quay mình lại, hai tay ngắt hết số nấm kia. Lúc này trời đã tối, cả bọn kia đều đói mờ cả mắt, chẳng ai để ý đến cậu.

Trương Vô Kỵ bỗng nhìn về phía lúc nãy Từ Đạt chạy đi, kêu to lên:

– Từ đại ca, đại ca dẫn người đến giúp đấy ư? Cứu với, cứu với!

Bọn Tiết Công Viễn tưởng thật liền đứng cả dậy, rút binh khí ra. Trương Vô Kỵ nhân lúc cả bọn kia chăm chú nhìn về hướng khác, bèn lùi lại hai bước, thả tất cả số nấm vào trong chảo nước. Bọn Tiết Công Viễn nhìn một hồi chẳng thấy ai, liền mắng:

– Đồ súc sinh ngu xuẩn, mi điên hay sao mà tưởng có kẻ đến cứu mi.

Tiết Công Viễn nói:

– Thôi, khai đao đi, ai ra tay đây?

Giản Tiệp nói:

– Để ta chọc tiết con bé, còn Tiết huynh đệ làm thịt thằng lỏi.

Nói xong Giản Tiệp liền nhấc Dương Bất Hối lên.

Trương Vô Kỵ nói:

– Tiết đại gia, cháu khát nước quá, đại gia hãy cho cháu xin một bát canh nóng, cháu chết đi sẽ không thành quỷ quấy phá đại gia.

Tiết Công Viễn nói:

– Được, gì chứ xin bát canh nóng thì ta cho.

Bèn múc một bát đưa cho Trương Vô Kỵ.

Trương Vô Kỵ bưng lên miệng, hít hít ngửi ngửi, miệng cứ xuýt xoa khen:

– Ôi, thơm quá, ngon quá!

Mươi cái nấm kia quả nhiên làm cho chảo nước thơm phức. Tiết Công Viễn vốn đói meo, ngửi mùi canh nấm, liền giằng lấy bát canh từ tay Trương Vô Kỵ mà uống luôn, uống xong đưa lưỡi liếm môi, nói:

– Thơm ngon quá chừng!

Rồi hắn múc thêm một bát nữa. Giản Tiệp xông đến, giằng lấy bát nước canh liền uống một hơi, lại uống thêm bát thứ hai. Hai đệ tử còn lại của phái Hoa Sơn cũng uống mỗi tên hai bát. Cả bọn đói ngấu đã lâu, uống bát canh nóng vào bụng liền cảm thấy đỡ đói hẳn. Giản Tiệp còn vớt nấm trong chảo mà nhai, chẳng ai hỏi xem mấy cái nấm ấy từ đâu mà có.

Giản Tiệp ăn hết mươi cái nấm, vỗ vỗ bụng, cười tươi:

– Ăn lót dạ trước, ăn thịt dê sau.

Tay trái lão nắm gáy Dương Bất Hối nhấc lên, tay phải cầm dao sẵn sàng. Trương Vô Kỵ thấy bọn kia ăn canh nấm xong mà chẳng sao cả, nghĩ thầm hẳn là nấm không độc, quá thất vọng. Giản Tiệp bỗng kêu lên:

– Ối chà!

Thân hình lão ta lảo đảo, ngã khuỵu xuống đất, quẳng cả Dương Bất Hối lẫn con dao sang một bên. Tiết Công Viễn kinh hãi, hỏi:

– Giản huynh, sao thế?

Hắn bước tới, cúi xuống xem, vừa cúi thì cũng không ngẩng lên được nữa, gục luôn xuống đè lên người lão Giản Tiệp. Hai gã đệ tử phái Hoa Sơn cũng bị chất độc phát tác, chết luôn.

Trương Vô Kỵ kêu lên:

– Tạ trời tạ đất!

Cậu lăn tới chỗ con dao, nhặt được con dao, cắt dây trói cho Dương Bất Hối trước. Dương Bất Hối hai tay được tự do rồi, run rẩy cắt dây trói cho Trương Vô Kỵ, lúng túng cứa cả vào hai chỗ da tay Trương Vô Kỵ mới đứt sợi dây. Hai đứa trẻ chết đi sống lại, mừng quá ôm chầm lấy nhau.

Lát sau, Trương Vô Kỵ tới nhìn kỹ bọn Tiết Công Viễn bốn tên, thấy tên nào mặt cũng đen, bắp cơ co quắp, chết trong tư thế đáng sợ, cậu nghĩ thầm: "Chất độc giết chết kẻ ác, cũng cứu được người lành". Liền cất bộ sách Vương Nạn Cô độc kinh vào trong bọc, định bụng sau này nhất định sẽ đọc kỹ.

Trương Vô Kỵ dắt tay Dương Bất Hối tìm đường ra khỏi cánh rừng. Đang đi chợt thấy phía đông có ánh đuốc sáng, bảy tám người cầm binh khí chạy tới. Hai đứa trẻ vội trốn vào trong cỏ. Đám người kia tới gần, thấy đi đầu chính là Từ Đạt, tay trái giơ cao bó đuốc, tay phải cầm một cây trường thương, gọi to:

– Bọn ác tặc thương thiên hại lý, ăn thịt người đâu rồi, mau ra nộp mạng!

Họ chạy vào rừng thấy bọn Giản Tiệp bốn tên nằm chết còng queo một chỗ thì ai cũng kinh ngạc, Từ Đạt gọi to:

– Trương huynh đệ, đệ có làm sao không? Bọn ta đến cứu đệ đây!

Trương Vô Kỵ thưa:

– Từ đại ca, tiểu đệ ở đây!

Rồi từ trong bụi cỏ chui ra. Từ Đạt cả mừng, bế cậu lên, nói:

– Trương huynh đệ, bậc nghĩa hiệp như đệ, chẳng nói gì trẻ con mà ngay người lớn cũng hiếm thấy. Huynh chỉ lo đệ đã bị nguy bởi tay bọn ác tặc cơ đấy; may sao ở hiền gặp lành, ở ác bị ác báo, quả là báo ứng nhãn tiền.

Từ Đạt hỏi Giản Tiệp tại sao nằm chết, Trương Vô Kỵ kể chuyện bỏ nấm vào chảo nước, ai nấy tấm tắc khen cậu thông minh.

Từ Đạt nói:

– Những người này đều là hảo bằng hữu của huynh, họ làm thịt một con bò, đang nấu nướng ở chùa Hoàng Giác, huynh đến gọi, họ liền đi ngay; nhưng nếu Trương đệ không cơ trí thì bọn ta đến cũng muộn rồi.

Đoạn Từ Đạt giới thiệu từng người một với Trương Vô Kỵ. Người mặt vuông tai lớn kia tên là Thang Hòa, người trông khí phách hiên ngang là Đặng Dũ, người cao gầy mặt đen tên là Hoa Vân, hai người trắng trẻo là anh em ruột Ngô Lương và Ngô Trinh. Cuối cùng là một hòa thượng, diện mạo vô cùng xấu xí, cằm đưa ra phía trước như lưỡi cày, mặt lồi lõm đầy sẹo và nốt ruồi, hố mắt lõm sâu nhưng long lanh có thần. Từ Đạt nói:

– Vị này họ Chu, tên Nguyên Chương, hiện đang tu ở chùa Hoàng Giác.

Hoa Vân cười, nói:

– Vị hòa thượng này phong lưu khoái hoạt lắm, không thích tụng kinh niệm Phật, ngày ngày vẫn uống rượu ăn thịt.

Dương Bất Hối thấy Chu Nguyên Chương diện mạo xấu xí thì hoảng sợ nấp sau lưng Trương Vô Kỵ. Chu Nguyên Chương cười nói:

– Hòa thượng này tuy ăn thịt nhưng không ăn thịt người đâu, tiểu muội muội đừng sợ.

Thang Hòa nói:

– Nồi thịt bò mình hầm chắc giờ này nhừ rồi đó.

Hoa Vân nói:

– Ta đi thôi! Tiểu muội muội, để huynh cõng cho.

Rồi cõng Dương Bất Hối rảo bước đi trước. Trương Vô Kỵ thấy những người này hào sảng khoái hoạt, trong bụng rất mừng.

Đi chừng bốn năm dặm thì tới một cái chùa. Vào trong đại điện lại ngửi mùi thịt bò nấu thơm phức. Ngô Lương nói:

– Chín rồi, chín nhừ rồi!

Từ Đạt nói:

– Trương huynh đệ, đệ hãy ngồi nghỉ ở đây, để bọn ta vào mang thịt ra.

Trương Vô Kỵ và Dương Bất Hối ngồi cạnh nhau trên bồ đoàn ở đại điện. Chu Nguyên Chương, Thang Hòa, Đặng Dũ, Từ Đạt.. bảy người, mỗi người một tay, bưng ra từng tô thịt lớn bốc hơi nghi ngút. Huynh đệ Ngô Lương, Ngô Trinh bưng ra một vò rượu trắng, cả bọn ngồi ăn uống vui vẻ ngay trước tượng Bồ Tát. Trương Vô Kỵ và Dương Bất Hối đói mấy ngày nay, giờ được ăn thịt bò, không nói cũng biết sướng miệng đến chừng nào.

Hoa Vân nói:

– Từ đại ca, giáo quy của chúng ta điều nào cũng hay, riêng chuyện không cho ăn thịt, xem ra rất dở.

Trương Vô Kỵ hơi giật mình, nghĩ thầm: "Thì ra bọn họ theo Minh giáo. Quy định của Minh giáo là ăn chay, thờ Ma vương, vậy tại sao họ lại ở đây xơi thịt bò nhỉ?"

Từ Đạt nói:

– Ý nghĩa quan trọng nhất của giáo quy là "hành thiện khử ác", ăn thịt tuy bị cấm, song chỉ là tiểu tiết. Hiện tại không gạo không rau, chẳng lẽ ngồi nhìn nồi thịt chín mà chịu chết đói hay sao?

Đặng Dũ vỗ tay:

– Từ đại ca trước nay nói gì cũng đúng lắm, thôi chúng ta cứ ăn đi, ăn đi!

Cả bọn đang ăn, bỗng bên ngoài có tiếng chân người, rồi tiếng gõ cửa. Thang Hòa đứng dậy, thốt lên:

– Nguy rồi, gia nhân của Trương viên ngoại đi tìm bò đó!

Chỉ nghe cổng chùa bị đẩy tung ra, hai người ăn mặc kiểu nô bộc ưỡn ngực sừng sộ đi vào, một gã nói lớn:

– Giỏi thật! Con bò lớn của nhà viên ngoại quả nhiên bị các người dắt trộm về làm thịt!

Nói đoạn gã xông tới túm cổ Chu Nguyên Chương. Gã thứ hai nói:

– Tên tặc hòa thượng này, hôm nay tang chứng rành rành, hết đường chối cãi nhé. Ngày mai giải ngươi lên quan phủ, đánh cho một trận thì hết sống.

Chu Nguyên Chương cười, nói:

– Các ngươi chớ nói láo, sao dám vu cho bọn ta dắt trộm bò của viên ngoại? Người xuất gia ăn chay niệm Phật, vậy mà ngươi lại bảo ta ăn thịt là ngươi mắc tội đó.

Gã kia chỉ bát thịt bò, quát:

– Cái này không phải thịt bò thì là cái gì?

Chu Nguyên Chương đưa mắt ra hiệu cho mấy người kia, cười hì hì:

– Ai bảo thịt bò nào?

Huynh đệ Ngô Lương, Ngô Trinh đã tới sau lưng hai gã kia, quát to một tiếng, khóa tay hai gã lại.

Chu Nguyên Chương rút từ thắt lưng ra một con dao ngắn, cười nói:

– Hai vị đại ca, quả không dám giấu, thứ thịt bọn ta đang ăn không phải là thịt bò, mà là thịt người đấy. Giờ hai đại ca nhìn thấy rồi, bọn ta đành ăn thịt cả hai vị để diệt khẩu, khỏi tiết lộ ra ngoài.

"Soạt" một tiếng, Chu Nguyên Chương đã xé rách áo một gã gia nhân, để lộ ngực ra, dùng mũi dao rạch một đường. Gã kia cả kinh, kêu to:

– Tha.. xin tha mạng..

Chu Nguyên Chương bốc một vốc thịt, nhét vào mồm cả hai gã, quát:

– Nuốt mau!

Hai gã không kịp nhai, nuốt vội vào bụng. Chu Nguyên Chương lại chạy xuống bếp, lấy một túm lông bò, nhét vào mồm hai gã, quát:

– Nuốt mau!

Hai gã mặt này nhăn nhó, cũng phải nuốt cho xuôi. Chu Nguyên Chương cười, nói:

– Cho hai ngươi về bẩm lại với viên ngoại rằng bọn ta dắt trộm bò đấy, ta sẽ thách hai ngươi cùng mổ bụng ra đối chất, để xem đứa nào ăn thịt bò mà lông cũng chẳng nhổ cho sạch!

Rồi dùng sống dao rạch nhẹ một đường trên da bụng gã kia. Gã đó cảm thấy con dao lạnh như băng lướt trên bụng, sợ quá kêu toáng lên.

Huynh đệ Ngô Lương cười ha hả, giơ chân đá đít hai gã văng ra ngoài điện. Cả bọn lại ngồi ăn tiếp, cười hai gã đầy tớ kia chuốc lấy cái khổ, thường ngày quen ỷ thế viên ngoại ức hiếp dân quê, từ nay sợ bị mổ bụng đối chất sẽ không dám nhắc đến chuyện bọn họ dắt trộm bò nữa.

Trương Vô Kỵ vừa tức cười, vừa thán phục, nghĩ thầm: "Hòa thượng họ Chu này tuy diện mạo khó coi, nhưng hành sự nhanh gọn quả quyết, chế ngự được kẻ khác, thủ đoạn quả là lợi hại".

Bọn Chu Nguyên Chương đã nghe Từ Đạt kể, Trương Vô Kỵ xả thân cứu Dương Bất Hối, nên quý mến lòng hiệp nghĩa của cậu bé, cứ rót rượu mời cậu ăn uống như một hảo bằng hữu lớn tuổi vậy.

Ăn uống say sưa rồi, Đặng Dũ bỗng thở dài, nói:

– Người Hán chúng ta bị bọn rợ Hồ áp bức, khổ sở suốt đời, hiện nay đến cơm cũng không có mà ăn, cảnh này chịu mãi được sao?

Hoa Vân vỗ đùi, nói:

– Dân chúng thành Phụng Dương này chết đói quá nửa rồi, xem ra thiên hạ nơi nào cũng thế, không lẽ giương mắt chịu cảnh chết đói, chẳng thà sống mái một phen với bọn Thát tử cho xong!

Từ Đạt lớn tiếng:

– Ngày nay mạng người rẻ rúng như heo như chó, tiểu huynh đệ với tiểu muội đây chút nữa đã bị làm thịt rồi. Trong thiên hạ biết bao lương dân bách tính biến thành dê thành bò cho kẻ khác ăn thịt? Là nam tử hán đại trượng phu mà không biết cứu dân chúng khỏi cảnh nước lửa, có sống cũng bằng thừa.

Thang Hòa nói:

– Đúng thế, hôm nay chúng ta gặp may, dắt trộm được một con bò làm thịt mà ăn, ngày mai chắc gì đã trộm được? Các hảo hán trong thiên hạ đa phần đói rách, chẳng lẽ anh hùng hào kiệt đều phải đi trộm cướp cả ư?

Cả bọn càng nói càng phẫn uất, ai cũng lớn tiếng chửi bọn Thát tử hại người. Chu Nguyên Chương nói:

– Chúng ta ngồi đây chửi ngàn câu, vạn câu, liệu có làm rụng cái lông nào của bọn Thát tử không? Là Hán tử có chí khí thì hãy kéo nhau đi giết chúng kìa!

Thang Hòa, Đặng Dũ, Hoa Vân, huynh đệ họ Ngô đồng thanh kêu lên:

– Đi, đi ngay!

Từ Đạt nói:

– Chu đại ca, đại ca làm hòa thượng ở đây chẳng xong nữa rồi, đại ca lớn tuổi hơn cả, chúng tôi xin nghe lệnh đại ca.

Chu Nguyên Chương không từ chối, nói:

– Từ nay trở đi chúng ta đồng sinh cộng tử, có phúc cùng hưởng, hoạn nạn cùng chịu.

Cả bọn bưng chén lên uống cạn, rút đao chém lên bàn, hào khí đằng đằng.

Dương Bất Hối nhìn mọi người, không hiểu chuyện gì, trong bụng hoảng sợ. Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Thái sư phụ luôn căn dặn không được kết giao với người theo Ma giáo. Nhưng Thường Ngộ Xuân và Từ đại ca này tuy là đệ tử Ma giáo mà còn tử tế gấp vạn lần bọn đệ tử danh môn chính phái như Giản Tiệp, Tiết Công Viễn". Trước nay đối với Trương Tam Phong Trương Vô Kỵ vẫn hết sức kính phục, nhưng sau khi chính cậu phải nếm trải việc này việc nọ thì cậu cảm thấy thái sư phụ đối với người theo Ma giáo không khỏi còn nhiều thiên kiến. Dù vậy, cậu vẫn không dám trái lời thái sư phụ.

Chu Nguyên Chương nói:

– Hảo hán nói sao làm vậy, bây giờ chúng ta ăn no rồi, hành sự là vừa. Nhà Trương viên ngoại hôm nay thết tiệc bọn Thát tử, chúng ta trước hết tới đó giết sạch chúng đi.

Hoa Vân nói:

– Được lắm!

Nói xong Hoa Vân cầm đao đứng dậy.

Từ Đạt nói:

– Hãy khoan!

Rồi chạy xuống bếp, lấy một cái giỏ, bỏ vào giỏ mươi cân thịt bò đã luộc nhừ, mang lên đưa cho Trương Vô Kỵ, nói:

– Trương huynh đệ, đệ còn ít tuổi, không thể theo bọn ta đi tạo phản, giết quan quân được. Bọn ta ai cũng nghèo rớt mồng tơi, chẳng có tiền bạc gì, chỉ có mấy cân thịt này tặng đệ. Nếu bọn ta may mắn thoát chết, sau này có dịp gặp lại, chúng ta sẽ lại cùng nhau chén một bữa thịt bò đã miệng.

Trương Vô Kỵ nhận giỏ thịt, nói:

– Mong các vị lập đại công, đuổi hết bọn Thát tử để bách tính trong thiên hạ ai cũng có cơm ăn.

Chu Nguyên Chương, Từ Đạt, Thang Hòa, Đặng Dũ, Hoa Vân.. nghe vậy đều vỗ tay tán thưởng, nói:

Trương huynh đệ nói đúng lắm, hẹn gặp lại sau nhé!

Rồi cả bọn xách đao kéo ra khỏi chùa.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Bọn họ đi giết bọn Thát tử, mình không vướng Dương Bất Hối thì cũng nhập bọn với họ. Họ chỉ có bảy người, ít chẳng địch nổi nhiều, chỉ e bọn Thát tử và tráng đinh trong nhà Trương viên ngoại sẽ đuổi tới đây, mình không thể ở lại ngôi chùa này được nữa". Nghĩ vậy, bèn xách giỏ thịt, dắt Dương Bất Hối đi luôn.

Trong đêm tối, hai đứa đi chừng bốn năm dặm, thấy ở phía bắc lửa bốc cháy đỏ rực cả một góc trời, biết cánh Chu Nguyên Chương, Từ Đạt đã làm xong việc, nổi lửa đốt trang viện của Trương viên ngoại thì cả mừng. Đêm ấy hai đứa ngủ trong núi, sáng ra lại nhắm hướng tây mà đi.

Hai đứa trẻ đi đường xa, kể sao cho xiết nỗi phong sương đói rét. Cũng may phụ mẫu của Dương Bất Hối đều là danh gia võ học, thể chất tiên thiên tráng kiện, tuy cô bé đi xa vất vả thế nhưng không bệnh tật gì, chỉ cảm mạo sơ sài, Trương Vô Kỵ hái ít thảo dược cho nó uống là khỏi. Hai đứa trẻ vừa đi vừa nghỉ, mỗi ngày chỉ được vài ba chục dặm, đi hơn nửa tháng trời mới tới địa phận tỉnh Hà Nam.

Tỉnh Hà Nam so với tỉnh An Huy cũng chẳng khác bao nhiêu, nơi nào cũng đói khổ. Trương Vô Kỵ làm một bộ cung tên, bắn chim săn thú, bữa đói bữa no, dẫn Dương Bất Hối đi về hướng tây. Cũng may dọc đường không gặp quan binh Mông Cổ, cũng chẳng gặp nhân vật giang hồ, còn như bọn vô lại gian manh tầm thường mà có ý muốn hãm hại thì chúng đâu phải là đối thủ của Trương Vô Kỵ.

Một hôm gặp một lão niên, đứng nói chuyện chơi, Trương Vô Kỵ bảo định đi đến ngọn Tọa Vong thuộc dãy núi Côn Luân. Vị lão niên tròn mắt kinh ngạc ngây người ra, nói:

– Cháu ơi, dãy núi Côn Luân cách đây những mười vạn tám ngàn dặm, nghe nói ngày xưa chỉ có Đường Tăng đi thỉnh kinh mới tới đó được thôi. Hai cháu còn nhỏ, liệu có điên không đấy? Nhà cháu ở đâu, hãy mau về đi thôi.

Trương Vô Kỵ nghe thế không khỏi sờn lòng, nghĩ thầm: "Núi Côn Luân xa thế thì mình chẳng đến được rồi. Đành về núi Võ Đang gặp thái sư phụ, sau đó hãy hay". Nhưng cậu lại nghĩ: "Mình nhận trọng thác của Kỷ cô cô, dù đường xa mấy cũng không thể bỏ cuộc giữa đường. Mình sống không bao lâu nữa, trước khi chết mà không đưa Bất Hối muội muội đến nơi, thì quả là có lỗi với Kỷ cô cô". Thế là cậu không nói chuyện thêm với vị lão niên nữa, dắt Dương Bất Hối đi tiếp về hướng tây.

Lại đi thêm hai mươi ngày nữa, quần áo hai đứa đã rách bươm, mặt mày tiều tụy, khổ nhất đối với Trương Vô Kỵ là thi thoảng Dương Bất Hối lại nhớ mẹ, hỏi tại sao mãi mà mẹ nó từ trên trời không bay xuống, rồi cứ thế khóc nỉ non. Trương Vô Kỵ phải tìm đủ cách dỗ dành, chẳng hạn bảo đi về phía tây thế này chính là để tìm gặp mẹ nó, rồi kể chuyện này chuyện nọ, nhăn mặt làm hề, con bé mới đổi khóc thành cười.

Hôm ấy đến Trú Mã điếm đã là cuối thu đầu đông, gió bấc thổi tới, hai đứa trẻ quần áo mỏng manh, không khỏi lạnh run. Trương Vô Kỵ cởi cái áo ngoài rách nát cho Dương Bất Hối mặc thêm. Dương Bất Hối nói:

– Vô Kỵ ca ca không lạnh à?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Huynh không lạnh, nóng thì có.

Cậu nhảy nhảy mấy cái. Dương Bất Hối nói:

– Ca ca đối xử với muội tử tế quá! Ca ca cũng lạnh mà lại cởi áo cho muội mặc.

Cô bé tự dưng nói năng như người lớn khiến Trương Vô Kỵ quá đỗi ngạc nhiên.

Lúc đó bỗng nghe từ triền núi phía sau vọng lại tiếng binh khí loảng xoảng khi giao đấu, rồi tiếng chân người, sau đó là giọng nói của nữ giới:

– Ác tặc kia, ngươi đã trúng "Táng môn đinh" có tẩm độc của ta rồi, ngươi càng chạy nhanh sẽ càng mau phát tác.

Trương Vô Kỵ vội kéo Dương Bất Hối vào bụi cỏ ven đường, nằm xuống, thấy một hán tử tráng kiện trạc ba mươi tuổi chạy như bay tới, đằng sau vài trượng có một thiếu nữ cầm song đao đuổi theo. Hán tử chân hơi khập khiễng, đang chạy bỗng ngã lăn ra đất. Thiếu nữ đuổi tới, nói:

– Cuối cùng ngươi cũng bỏ mạng dưới tay bổn cô nương.

Hán tử từ dưới đất bỗng nhảy bật dậy, hữu chưởng đánh ra, "bịch" một cái, trúng ngay giữa ngực thiếu nữ. Đòn này quá mạnh, thiếu nữ ngã ngửa ra, hai thanh đao cùng văng ra xa. Hán tử đưa tay rút "Táng môn đinh" cắm trên lưng mình, hầm hầm nói:

– Mau đưa giải dược cho ta!

Thiếu nữ cười khẩy:

– Lần này sư phụ ta sai bọn ta đuổi bắt ngươi, chỉ giao ám khí tẩm độc, không đưa thuốc giải. Ta đã rơi vào tay ngươi, thế nào cũng đành chịu, song ngươi cũng không có hi vọng sống sót đâu.

Hán tử tay trái cầm đao chĩa mũi đao vào yết hầu thiếu nữ, tay phải lần tìm trong túi áo của thiếu nữ, quả nhiên không thấy giải dược. Y cả giận, cầm mũi "Táng môn đinh" cắm sâu vào vai thiếu nữ, quát:

– Này thì cho mi thưởng thức mùi vị của "Táng môn đinh", phái Côn Luân của mi..

Lời chưa dứt, chất độc trên lưng y phát tác, khiến y khuỵu xuống. Thiếu nữ cố gượng dậy, nhưng ọe ra một ngụm máu tươi, đành nằm bệt xuống, rút "Táng môn đinh" ở vai ra ném đi.

Một nam một nữ nằm bên vệ đường, hô hấp khó khăn, có lúc đứt quãng. Trương Vô Kỵ từ khi chữa bệnh cho bọn Giản Tiệp, Tiết Công Viễn xong lại bị chúng lấy oán báo ân thì đối với các nhân vật võ lâm, cậu nghĩ phải đề phòng cẩn thận; lúc này nằm gần đó quan sát động tĩnh, chưa dám ló mặt ra.

Lát sau, chỉ nghe hán tử thở dài não nuột, nói:

– Tô Tập Chi ta hôm nay bỏ mạng ở Trú Mã điếm, không biết có tội gì với phái Côn Luân các người, thật là chết không nhắm mắt. Các người đuổi theo ta cả ngàn dặm, nhất quyết đòi giết ta, rốt cuộc là vì cớ gì? Chiêm cô nương, cô nương làm ơn nói cho ta nghe thử đi!

Giọng nói nghe không có vẻ thù hằn gì cả.

Thiếu nữ tên Chiêm Xuân, biết sự nguy hiểm chết người của "Táng môn đinh", thấy mình với đối phương cùng sắp chết, cũng chẳng cần nghĩ ngợi gì thêm, buồn rầu nói:

– Ai bảo ngươi coi lén sư phụ ta luyện kiếm! Pho Côn Luân lưỡng nghi kiếm đó nếu không phải do đích thân lão nhân gia truyền thụ, bổn môn đệ tử mà xem trộm cũng bị tội móc mắt, huống hồ ngươi là người ngoài.

Tô Tập Chi thốt lên:

– A, con mẹ nó, đáng chết, đáng chết!

Chiêm Xuân giận dữ nói:

– Ngươi chết đến nơi rồi, sao còn chửi sư phụ ta?

Tô Tập Chi nói:

– Ta chửi thì đã sao? Thật oan uổng cho ta! Hôm ấy ta đi qua núi Bạch Ngưu, tình cờ thấy sư phụ ngươi luyện kiếm, nổi tính hiếu kỳ mới đứng xem một lát. Không lẽ ta chỉ coi một lát mà đã học hết pho kiếm pháp được sao? Nếu ta học được tài nghệ ấy, thì mấy đệ tử phái Côn Luân các người đẩy nổi ta đến bước này ư? Chiêm cô nương, ta nói cho cô nương điều này, sư phụ Thiết Cầm tiên sinh của cô nương quá nhỏ nhen, đừng nói là ta chưa học được chiêu thức nào trong pho Côn Luân lưỡng nghi kiếm, cho dù có học được vài chiêu thì cũng không thể bảo là ta phạm vào tử tội.

Chiêm Xuân im lặng, trong bụng cảm thấy sư phụ quả có bé xé ra to, vừa phát hiện Tô Tập Chi lén xem mình luyện kiếm, đã sai sáu đệ tử đuổi theo hàng ngàn dặm, để đến nỗi đôi bên lưỡng bại câu thương, sự thể thế này Tô Tập Chi cũng chẳng nói dối làm gì, vậy là y quả thật không hề học lén võ công.

Tô Tập Chi lại nói:

– Sư phụ cô nương giao ám khí tẩm độc mà không đưa giải dược, trong võ lâm lại có thứ quy củ thế sao? Mẹ kiếp..

Chiêm Xuân dịu giọng nói:

– Tô đại ca, tiểu muội đã hại đại ca, lúc này trong lòng ân hận, thôi thì tiểu muội cũng chết theo, âu cũng là số mệnh cả. Chỉ tội cho vợ con của đại ca thôi.

Tô Tập Chi thở dài nói:

– Thê tử ta mất cách đây hai năm rồi, để lại cho ta hai đứa con, một trai một gái, đứa lên sáu, đứa lên bốn. Từ ngày mai chúng sẽ thành trẻ mồ côi không cha không mẹ.

Chiêm Xuân hỏi:

– Thế nhà đại ca còn ai nữa không? Ai săn sóc hai đứa bé?

Tô Tập Chi đáp:

– Hiện các cháu do bà chị dâu ta trông nom. Bà chị dâu ta tính khí dữ dằn, điêu ngoa lắm, có điều ta còn sống thì bà ta e ngại vài phần, chứ từ nay trở đi hẳn hai đứa con ta sẽ khốn khổ.

Chiêm Xuân nói nhỏ:

– Âu cũng tại tiểu muội mà chúng bị vậy.

Tô Tập Chi lắc đầu:

– Việc đó cũng chả trách cô nương được. Nghiêm lệnh của sư môn, cô nương không thể không tuân theo, chứ cô nương đâu có thù oán gì với ta. Lẽ ra, khi ta trúng ám khí tẩm độc của cô nương rồi, chết đi cho xong, lại còn đánh cô nương một chưởng, dùng ám khí ấy hại lại cô nương. Nếu không, có phải là ta đã có thể nhờ cô nương rủ lòng thương mà săn sóc hai đứa con khốn khổ giùm ta.

Chiêm Xuân cười buồn:

– Tiểu muội là hung thủ giết hại đại ca, đại ca còn nhờ tiểu muội trông con ư?

Tô Tập Chi nói:

– Ta không oán trách cô nương, thật đó, không oán trách cô nương mà.

Hai người vừa liều chết ác đấu, bây giờ tự biết sắp chết, đều lưu luyến với người đời, nên trong lòng chỉ toàn là thiện ý.

Trương Vô Kỵ nghe tới đây, nghĩ thầm: "Hai người kia xem ra tâm địa không độc ác, gia đình gã họ Tô kia lại còn hai đứa bé". Nghĩ mình và Dương Bất Hối cũng là hai đứa trẻ mồ côi khổ sở, liền từ trong bụi cỏ chui ra, nói:

– Chiêm cô nương, "Táng môn đinh" của cô nương tẩm loại độc dược gì vậy?

Chiêm Xuân và Tô Tập Chi đột nhiên thấy từ trong bụi cỏ chui ra một thiếu niên và một cô bé, đã lấy làm lạ, nghe câu hỏi của cậu lại càng kinh ngạc hơn. Trương Vô Kỵ nói:

– Tiểu đệ biết chút y lý, vết thương trúng độc của hai vị, không chừng tiểu đệ có thể cứu chữa đấy.

Chiêm Xuân nói:

– Tẩm độc dược gì, ta không biết. Chỗ vết thương hiện giờ ngứa ngáy không chịu nổi. Sư phụ ta nói rằng sau khi trúng độc Táng môn đinh chỉ còn sống được bốn canh giờ thôi.

Trương Vô Kỵ nói:

– Để tiểu đệ coi vết thương xem sao.

Tô Chiêm hai người thấy Trương Vô Kỵ nhỏ tuổi, áo quần rách rưới, toàn thân dơ dáy, trông chẳng khác gì một thằng nhóc ăn mày, làm sao tin cậu có thể cứu chữa? Tô Tập Chi bèn xẵng giọng, nói:

– Hai chúng tôi sắp chết rồi, nhóc con đừng có nhiễu sự, hãy xéo đi chỗ khác chơi.

Trương Vô Kỵ không buồn lý đến y, cúi nhặt mũi Táng môn đinh ở dưới đất, đưa lên mũi ngửi, thấy có mùi thơm nhè nhẹ của hoa lan. Những ngày vừa qua, mỗi lúc rảnh rỗi dọc đường, cậu đều giở quyển Độc kinh của Vương Nạn Cô ra đọc, ghi nhớ các loại độc vật, độc dược kỳ quái trong thiên hạ. Cậu ngửi mùi hương, biết rằng mũi Táng môn đinh này tẩm chất nước độc lấy từ hoa Thanh Đà La. Trong Độc kinh viết rằng chất nước lấy từ hoa Thanh Đà La vốn tanh hôi, song bản thân nó không hề có độc tính, dù uống cả chén cũng không sao, nhưng một khi hòa với máu tươi, sẽ biến thành cực độc, mùi tanh hôi lại hóa thành mùi thơm. Trương Vô Kỵ nói:

– Đinh này tẩm chất độc của hoa Thanh Đà La.

Chiêm Xuân hoàn toàn không biết "Táng môn đinh" tẩm loại độc dược gì, nhưng trong vườn hoa của sư phụ quả có trồng thứ hoa lạ kia, bèn hỏi:

– Ồ, sao tiểu đệ biết?

Nên nhớ hoa Thanh Đà La gốc ở Tây Vực, không trồng ở Trung thổ, nên rất hiếm gặp. Trương Vô Kỵ gật gù, nói:

– Tiểu đệ biết, thế thôi.

Rồi dắt tay Dương Bất Hối, nói:

– Mình đi thôi.

Chiêm Xuân vội nói:

– Tiểu huynh đệ, nếu cậu biết cách chữa, xin hãy ra tay cứu chúng tôi.

Trương Vô Kỵ cũng đã định cứu họ, nhưng chợt nhớ tới diện mạo hung tợn của bọn Giản Tiệp, Tiết Công Viễn, lúc chúng định làm thịt hai đứa thì cậu không khỏi lưỡng lự. Tô Tập Chi nói:

– Tiểu tướng công, tại hạ có mắt không biết cao nhân, xin đừng trách cứ.

Trương Vô Kỵ nói:

– Được, để tiểu đệ thử xem sao.

Cậu dùng kim châm vào huyệt Đản Trung ở ngực và huyệt Khuyết Bồn ở hai bên vai Chiêm Xuân, trước hết giảm đau bởi chưởng thương đã, rồi nói:

– Hoa "Thanh Đà La" này gặp máu mới thành độc, chứ nuốt vào bụng lại không sao. Hai vị hãy dùng miệng hút máu ở vết thương cho người kia, đến khi máu không còn vón cục nhỏ thì thôi.

Tô Tập Chi và Chiêm Xuân cảm thấy hơi bất tiện, nhưng lúc này tính mạng là hệ trọng, vết thương lại ở trên vai, sau lưng, tự mình không thể hút máu ra được, đành phải thay phiên người nọ hút máu ở vết thương cho người kia. Trương Vô Kỵ tìm hái trên sườn núi ba loại thảo dược, nhai nát, đắp lên vết thương cho hai người, nói:

– Ba vị dược thảo này chỉ có tác dụng tạm thời không cho chất độc xông lên, chứ không thể giải độc. Chúng ta hãy đi tới thị trấn gần đây, tìm hiệu thuốc, tiểu đệ sẽ kê toa trị độc cho hai vị.

Vết thương của Tô Tập Chi và Chiêm Xuân vốn ngứa ngáy khó chịu vô cùng, nay đắp thuốc vào lại thấy mát mẻ dễ chịu, tay chân bớt tê dại, hai người cứ luôn miệng đa tạ. Họ chặt cành cây làm gậy chống, thong thả bước đi. Chiêm Xuân hỏi lai lịch sư thừa của Trương Vô Kỵ, cậu không muốn tiết lộ, chỉ bảo rằng từ nhỏ đã biết về y lý.

Đi hơn một canh giờ thì tới Sa Hà điếm, bốn người vào thuê phòng trọ. Trương Vô Kỵ viết một bài thuốc, Tô Tập Chi nhờ người đi cắt thuốc. Năm nay vùng Dư Tây này không bị thiên tai, tuy bọn quan lại Mông Cổ hoành hành ngang ngược giống như các vùng khác nhưng dân chúng còn có cơm ăn. Sa Hà điếm vẫn có hàng quán hoạt động, thuốc mua về Trương Vô Kỵ đem sắc lên cho Tô Tập Chi và Chiêm Xuân uống.

Bốn người trú ở khách điếm ba ngày, mỗi ngày Trương Vô Kỵ lại đổi bài thuốc một lần, đến ngày thứ tư đã giải hết chất độc trong cơ thể Tô Chiêm hai người. Cả hai vô cùng cảm kích, hỏi Trương Vô Kỵ và Dương Bất Hối định đi đâu. Trương Vô Kỵ bèn nói sẽ đến ngọn Tọa Vong thuộc dãy núi Côn Luân.

Chiêm Xuân nói:

– Tô đại ca, tính mạng hai ta là do tiểu huynh đệ này cứu, song năm vị sư huynh của tiểu muội vẫn đang lùng tìm đại ca ở khắp nơi đấy, thành thử sự việc chưa chấm dứt đâu. Vậy đại ca hãy theo tiểu muội đến núi Côn Luân một phen thì hơn, đại ca nghĩ sao?

Tô Tập Chi giật mình, hỏi:

– Đến núi Côn Luân ư?

Chiêm Xuân nói:

– Đúng thế. Đại ca theo tiểu muội tới đó bái kiến gia sư, thưa rõ đại ca chưa hề học được chiêu thức nào của pho Côn Luân lưỡng nghi kiếm. Việc đó chưa được lão nhân gia lượng thứ thì đại ca không tránh được đủ thứ tai họa đâu.

Tô Tập Chi trong bụng bực mình, nói:

– Phái Côn Luân khinh người quá lắm, ta chỉ mới xem qua một chút, suýt nữa đã bỏ mạng, vậy mà vẫn chưa chịu buông tha ư?

Chiêm Xuân dịu dàng nói:

– Tô đại ca, đại ca hãy đặt mình vào địa vị tiểu muội mà xem. Việc tiểu muội về thưa với sư phụ, rằng đại ca chưa học được chút kiếm pháp nào thì cũng không khó, nhưng nếu năm vị sư huynh của tiểu muội lại ra tay đả thương đại ca thì tiểu muội sẽ rất đau lòng.

Hai người họ sống chết cùng nhau mấy hôm nay, đã nảy sinh tình ý, Tô Tập Chi nghe lời lẽ chân tình dịu dàng của Chiêm Xuân, bao nhiêu nỗi bực tiêu tan, nghĩ thầm: "Phái Côn Luân người đông thế mạnh, nếu họ cứ như bóng ma bám riết theo mình, khó tránh khỏi có ngày chết dưới tay họ". Chiêm Xuân thấy y trầm ngâm, lại nói:

– Đại ca hãy đi với tiểu muội một chuyến đến núi Côn Luân, sau đó đại ca có việc gì cần xử lý, tiểu muội sẽ cùng đi lo liệu với đại ca.

Tô Tập Chi mừng nói:

– Được rồi, cứ như thế. Chỉ không biết tôn sư có chịu tin hay không?

Chiêm Xuân nói:

– Sư phụ trước nay vẫn quý mến tiểu muội, để rồi tiểu muội cố năn nỉ sư phụ, nhất định sư phụ sẽ không làm khó đại ca đâu. Sau khi xong việc đó, tiểu muội sẽ đi thăm hai con của đại ca, để bà chị dâu của đại ca không dám hành hạ chúng.

Tô Tập Chi nghe Chiêm Xuân nói vậy, rõ ràng có ý hứa hẹn, thì cả mừng nói với Trương Vô Kỵ:

– Tiểu huynh đệ, chúng ta cùng đến núi Côn Luân, đi với nhau một thể cho vui.

Chiêm Xuân nói:

– Dãy núi Côn Luân trải dài ngàn dặm, có biết bao nhiêu ngọn, không hiểu ngọn Tọa Vong ở chỗ nào. Nhưng phái Côn Luân muốn tìm ra ngọn núi đó chắc sẽ tìm ra.

Hôm sau Tô Tập Chi thuê một cỗ xe lớn cho Trương Vô Kỵ và Dương Bất Hối ngồi, còn y và Chiêm Xuân cưỡi ngựa theo sau. Đến thị trấn lớn đầu tiên, Chiêm Xuân mua mấy bộ quần áo cho Trương Vô Kỵ và Dương Bất Hối. Tô Chiêm hai người thấy hai đứa trẻ tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo mới rồi, trai thì anh tuấn, nữ thì tú mỹ, cùng tấm tắc khen ngợi.

Hai đứa trẻ bây giờ mới khỏi chịu cảnh khổ sở đường xa, được ăn uống đầy đủ, thân hình mập mạp dần lên.

Càng đi về phía tây, trời mỗi ngày một lạnh, dọc đường có Tô Tập Chi và Chiêm Xuân lo liệu, mọi sự bình an. Từ khi đến Tây Vực, nơi thế lực của phái Côn Luân hùng mạnh, họ không gặp trở ngại gì, có điều là cát vàng táp vào mặt, gió lạnh thấu xương thực là khó chịu.

Cuối cùng tới thung lũng Tam Thánh trong dãy Côn Luân, nơi đây cỏ cây xanh tươi, hoa thơm và cây trái khắp chốn. Tô Tập Chi và Trương Vô Kỵ không thể ngờ giữa vùng hoang sơn lạnh lẽo lại có một thung lũng đẹp đến thế, nên rất vui mừng. Thì ra thung lũng Tam Thánh bốn phía xung quanh núi non cao chọc trời đã chắn hết khí lạnh. Phái Côn Luân bảy tám chục năm, từ khi được Côn Luân Tam Thánh Hà Túc Đạo sáng lập tới nay, các đời chưởng môn đã bỏ nhiều công sức chỉnh trang thung lũng này, sai đệ tử đi tận Giang Nam ở phía đông, Thiên Trúc ở phía tây, mang các loài kỳ hoa dị thảo về trồng ở đây.

Chiêm Xuân dẫn ba người đến Thiết Cầm cư, nơi ở của Thiết Cầm tiên sinh Hà Thái Xung. Bước vào, thấy sư huynh đệ tỷ muội ai ai cũng có vẻ lo buồn, gặp Chiêm Xuân chỉ gật đầu nhẹ, không nói năng gì. Chiêm Xuân lo lo, không hiểu xảy ra chuyện gì, bèn hỏi một sư muội:

– Sư phụ có nhà không?

Sư muội chưa kịp trả lời, đã nghe có tiếng quát tháo của Hà Thái Xung từ hậu đường vọng ra:

– Rặt một lũ giá áo túi cơm! Sai làm bao nhiêu việc, không xong được một việc nào hết! Có một lũ đệ tử ăn hại như các ngươi thật vô dụng!

Tiếp đó là tiếng đập bàn rất mạnh. Chiêm Xuân nói nhỏ với Tô Tập Chi:

– Sư phụ đang tức giận, chúng ta chưa vào gặp vội, để mai tính sau.

Đột nhiên nghe Hà Thái Xung gọi:

– Có phải Xuân nhi đó không? Thập thò gì ngoài đó? Thủ cấp tên tiểu tặc họ Tô mang về chưa?

Chiêm Xuân mặt biến sắc, vội bước vào nội sảnh, quỳ xuống khấu đầu, nói:

– Đệ tử bái kiến sư phụ.

Hà Thái Xung hỏi:

– Việc ta giao cho ngươi, làm đến đâu rồi? Tên tiểu tặc họ Tô ra sao?

Chiêm Xuân đáp:

– Gã họ Tô đã tới đây, đang khấu đầu ở bên ngoài tạ tội với sư phụ. Y nói y không biết quy củ, quả thực đã sơ sót ngắm sư phụ thi diễn kiếm pháp, song kiếm pháp của bổn phái tinh vi huyền diệu, y xem rồi chỉ biết kiếm thuật đó là vô song trong thiên hạ nhưng cao minh ở điểm nào thì y chẳng hiểu gì hết.

Chiêm Xuân theo học sư phụ đã lâu, biết sư phụ rất tự phụ về võ công, bèn nói gã họ Tô hết mực ca tụng công phu bản môn, để sư phụ cao hứng mà tha tội cho chàng ta.

Nếu lúc khác, nghe câu tâng bốc ấy hẳn Hà Thái Xung đã thích chí, nhưng hôm nay lão ta đang bực bội, chỉ hừ một tiếng, nói:

– Việc này ngươi làm thế là giỏi! Đem nhốt gã họ Tô vào thạch thất phía sau, ta sẽ định đoạt.

Chiêm Xuân thấy sư phụ đang giận, không dám cầu xin thêm, chỉ đáp:

– Vâng!

Rồi hỏi:

– Các sư mẫu đều khỏe chứ ạ? Để con vào trong khấu đầu!

Hà Thái Xung có cả thảy năm người thê và thiếp, sủng ái nhất tiểu thiếp thứ năm. Chiêm Xuân muốn xin sư phụ tha cho Tô Tập Chi, nên định nhờ vị sư mẫu thứ năm ấy nói giùm.

Hà Thái Xung bỗng lộ vẻ buồn rầu, thở dài nói:

– Ngươi vào thăm ngũ cô cũng phải, ngũ cô bệnh nặng lắm, ngươi may còn kịp về gặp mặt nàng lần cuối đó.

Chiêm Xuân giật mình, sợ hãi hỏi:

– Ngũ cô bị bệnh gì thế ạ?

Hà Thái Xung thở dài:

– Biết được bệnh gì đã hay! Đã gọi bảy tám danh y đến xem, vậy mà thảy đều không đoán được bệnh tình, toàn thân sưng vù, một người đang như hoa như ngọc, thế mà phù lên.. ôi, thôi, không muốn nhắc đến nữa..

Rồi lão ta liên tiếp lắc đầu, nói thêm:

– Thu bao nhiêu là đồ đệ, chẳng đứa nào làm được việc gì. Bảo chúng nó đi đến núi Trường Bạch tìm nhân sâm ngàn tuổi, gần hai tháng nay rồi mà chưa đứa nào về; sai đi kiếm Tuyết Liên, Thủ Ô để cứu mạng, đứa nào cũng về tay không.

Chiêm Xuân nghĩ thầm: "Từ đây đến núi Trường Bạch, đường xa vạn dặm, đâu phải đến là về ngay. Dù đến nơi, chắc gì kiếm được nhân sâm ngàn tuổi; còn mấy vị thuốc quý hiếm có thể cải tử hoàn sinh, kiếm cả đời chưa chắc đã thấy, vài ba ngày làm sao tìm được?" Chiêm Xuân biết sư phụ sủng ái người tiểu thiếp kia hơn cả tính mạng mình, nay nàng ta trọng bệnh không chữa được, nên giận cá chém thớt, trút tội sang đầu người khác.

Hà Thái Xung lại nói:

– Ta đã dùng nội lực thử kinh mạch cho nàng ta, không thấy có gì khác lạ. Hừ, nàng mà không sống được thì ta sẽ giết sạch bọn thầy lang tầm thường trong thiên hạ.

Chiêm Xuân nói:

– Để đệ tử xuống thăm ngũ sư mẫu.

Hà Thái Xung nói:

– Được, ta dẫn ngươi đi.

Hai người vào phòng của ngũ cô. Chiêm Xuân vừa bước vào đã ngửi toàn là mùi thuốc, vén màn ra, thấy mặt người bệnh sưng phù như Trư Bát Giới, hai mắt híp sâu vào trong thịt tưởng chừng không mở ra nổi, hơi thở hổn hển nặng nề như tiếng kéo bễ. Ngũ cô vốn là một mỹ nữ, nếu không đã chẳng được Hà Thái Xung mê say như thế, lúc này bệnh hoạn xấu xí khiến Chiêm Xuân trông thấy cũng đành phải thở dài.

Hà Thái Xung nói:

– Gọi bọn lang băm tới đây cho ta.

Bà vú già hầu hạ trong phòng vâng dạ bước ra. Lát sau, tiếng dây xích kêu loảng xoảng, đi vào bảy ông thầy lang. Bảy người bị xích chân với nhau, hình dung tiều tụy, thần sắc rầu rĩ. Họ là các thầy thuốc có tiếng ở Tứ Xuyên, Vân Nam, Cam Túc bị đệ tử của Hà Thái Xung nửa mời nửa bắt về đây. Bảy vị này mỗi người định bệnh một khác, người bảo là bệnh phù thũng, kẻ bảo trúng tà, bệnh nhân uống thuốc họ cắt, không thấy công hiệu gì, thân thể ngũ cô cứ mỗi ngày một phù thêm. Hà Thái Xung nổi giận đem xiềng chân cả bảy vị lại, nói là nếu không chữa khỏi cho ngũ cô thì sẽ chôn sống cả bảy vị theo ngũ cô một thể. Bây giờ thì danh y đã bị gọi là lang băm.

Bảy vị danh y trổ hết tài nghệ bình sinh mà bệnh của ngũ cô cứ ngày càng nặng thêm, họ tự biết tính mệnh của mình khó toàn, song mỗi lần hội chẩn họ đều lớn tiếng tranh cãi, người này chê sáu người kia, bảo sở dĩ ngũ cô bệnh nặng thêm toàn là do sáu người kia làm hại, không liên quan gì tới mình. Lần này bảy vị sau khi xem mạch, lại bắt đầu tranh cãi với nhau. Hà Thái Xung vừa lo vừa giận, lớn tiếng chửi mắng mới dập tắt cuộc cãi lộn của bọn thầy lang kia.

Chiêm Xuân chợt nhớ ra, nói:

– Sư phụ, con có đưa từ tỉnh Hà Nam về đây một y sinh, tuổi còn nhỏ nhưng tài nghệ chắc chắn hơn mấy người này.

Hà Thái Xung cả mừng, kêu lên:

– Sao ngươi không nói sớm, mau mời vào, mau lên!

Mỗi vị danh y lúc mới đến, Hà Thái Xung đều đối đãi cực kỳ cung kính, nhưng khi họ tỏ ra kém cỏi thì Hà Thái Xung chẳng còn nể nang gì hết.

Chiêm Xuân trở lại đại sảnh, dẫn Trương Vô Kỵ vào. Trương Vô Kỵ vừa trông thấy Hà Thái Xung liền nhận ngay ra lão ta cũng có mặt trong đám người năm xưa lên núi Võ Đang bức tử cha mẹ cậu thì bất giác căm hận trong lòng. Từ bấy đến nay đã hơn bốn năm, diện mạo thân thể của Trương Vô Kỵ thay đổi hẳn, Hà Thái Xung không nhận ra cậu, thấy một thiếu niên mười bốn, mười lăm tuổi mà gặp lão ta lại không rập đầu hành lễ, cứ khinh khỉnh nhìn với vẻ mặt lạnh lùng thì lão ta chẳng buồn để mắt tới, quay sang hỏi Chiêm Xuân:

– Ngươi bảo vị thầy thuốc nào đâu?

Chiêm Xuân đáp:

– Chính là tiểu huynh đệ này. Y thuật của cậu ấy cao minh hơn rất nhiều danh y đấy ạ.

Hà Thái Xung làm sao tin được, nói:

– Vô lý, vô lý!

Chiêm Xuân nói:

– Đệ tử trúng phải chất độc của hoa Thanh Đà La, chính nhờ cậu này cứu chữa khỏi đó ạ.

Hà Thái Xung kinh ngạc, nghĩ thầm: "Đã trúng phải chất độc của hoa Thanh Đà La mà không có giải dược của bản môn thì chỉ có nước chết, tiểu tử này lại cứu được, chắc loại tà môn". Lão ta nhìn Trương Vô Kỵ từ chân lên mặt, rồi hỏi:

– Này cậu, cậu biết chữa bệnh thật à?

Trương Vô Kỵ nhớ lại cảnh thảm tử của cha mẹ mình, vốn ngầm căm hận Hà Thái Xung, nhưng bản tính trời sinh là không hay nhớ oán cũ, nếu không cậu đã chẳng cứu chữa cho bọn Giản Tiệp phái Không Động, cũng như cho Chiêm Xuân của phái Côn Luân, giờ nghe Hà Thái Xung hỏi sẵng như thế, tuy khó chịu nhưng cũng gật đầu.

Vừa bước vào phòng này cậu đã ngửi thấy một mùi rất cổ quái, một lát sau, thấy mùi đó lúc đậm lúc nhạt rất đặc biệt, đến bên giường nhìn mặt bệnh nhân một hồi, bắt mạch hai tay, đột nhiên lấy một mũi kim châm chích luôn vào cái mặt sưng phù như trái dưa hấu của ngũ cô. Hà Thái Xung cả kinh, quát:

– Ngươi làm gì vậy?

Định túm lấy tay Trương Vô Kỵ thì cậu đã rút kim ra, chỗ đó không hề thấy máu hay nước chảy ra. Trương Vô Kỵ đưa mũi kim lên mũi ngửi ngửi, rồi gật gật đầu. Hà Thái Xung cảm thấy có chút hi vọng, hỏi:

– Tiểu huynh đệ, bệnh này chữa được chăng?

Với địa vị chưởng một môn phái đầy quyền uy như Hà Thái Xung mà gọi Trương Vô Kỵ là "tiểu huynh đệ" phải nói là tôn trọng hết mức rồi.

Trương Vô Kỵ không trả lời, cúi xuống gầm giường ngũ cô quan sát một hồi, lại mở cửa sổ nhìn ra vườn hoa bên ngoài, đột nhiên nhảy ra đi xem từng cây hoa. Hà Thái Xung sủng ái ngũ cô, ngoài vườn đối diện phòng ở của nàng ta trồng nhiều loại kỳ hoa dị thảo, lúc này lão ta thấy Trương Vô Kỵ hành động lạ lùng, nóng lòng sốt ruột, chỉ mong cậu mau kê phương thuốc trị bệnh cho ngũ cô; vậy mà cậu lại ra vườn ngắm cỏ thưởng hoa, bảo làm sao lão ta không nổi giận? Nhưng trong lúc thúc thủ vô sách, lại có chút hi vọng, nên lão ta đành nén giận, song vẻ mặt rất cau có, hơi thở hổn hển.

Chỉ thấy Trương Vô Kỵ xem hoa một hồi, gật gật đầu, như đã hiểu điều gì, trở vào phòng, nói:

– Bệnh này trị được, nhưng tiểu đệ không muốn chữa, Chiêm cô nương, tiểu đệ đi đây.

Chiêm Xuân nói:

– Trương huynh đệ, nếu cậu chữa khỏi bệnh cho ngũ cô, phái Côn Luân hết thảy trên dưới sẽ cảm tạ đại đức của cậu, vậy xin cậu ra tay chữa trị cho.

Trương Vô Kỵ chỉ Hà Thái Xung, nói:

– Trong số người bức tử cha mẹ tiểu đệ, có Thiết Cầm tiên sinh đây, tiểu đệ sao lại phải cứu mạng thân nhân của ông ta chứ?

Hà Thái Xung kinh ngạc, hỏi:

– Tiểu huynh đệ họ gì? Lệnh tôn lệnh đường là ai vậy?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Tiểu đệ họ Trương, tiên phụ là đệ tử thứ năm của phái Võ Đang.

Hà Thái Xung giật mình nghĩ thầm: "Thì ra nó là con trai của Trương Thúy Sơn. Phái Võ Đang quả thực lợi hại, dòng dõi như nó hẳn phải có tài", bèn thở dài, nói:

– Trương huynh đệ, hồi lệnh tôn còn sống, ta vốn có giao tình thân thiết với lệnh tôn, khi lệnh tôn tự vẫn, ta đau lòng khôn nguôi..

Để cứu ái thiếp, Hà Thái Xung bịa ra như thế. Chiêm Xuân cũng nói thêm vào cho lời bịa kia của sư phụ thêm sức thuyết phục:

– Lệnh tôn lệnh đường mất đi, gia sư than khóc mãi, gia sư thường nói với chúng đệ tử rằng lệnh tôn là người gia sư bình sinh giao hảo thân nhất. Trương huynh đệ, sao cậu không nói sớm? Nếu sớm biết cậu là lệnh lang của Trương ngũ hiệp, ta đã kính trọng cậu thêm mấy phần rồi.

Trương Vô Kỵ bán tín bán nghi, nhưng cậu vốn không nhớ oán thù, bèn nói:

– Vị phu nhân này không bị bệnh gì kỳ quái cả, chỉ bị trúng độc của Kim ngân huyết xà thôi.

Hà Thái Xung và Chiêm Xuân cùng kêu lên:

– Kim ngân huyết xà ư?

Trương Vô Kỵ nói:

– Đúng thế, loài rắn độc ấy tiểu đệ cũng chưa gặp bao giờ. Nhưng phu nhân mặt mày sưng phù, kim châm vào có mùi đàn hương, Hà tiên sinh hãy nhìn kỹ bàn chân phu nhân mà xem, thể nào mười đầu ngón chân cũng có vết răng nhỏ xíu.

Hà Thái Xung vội giở tấm chăn đắp trên người ngũ cô, chăm chú quan sát mười đầu ngón chân thấy quả nhiên mỗi đầu ngón đều có vết răng đen tím, nhỏ như hạt gạo, nếu không để ý tìm dĩ nhiên sẽ không nhận ra.

Hà Thái Xung thấy vậy thì lòng tin vào Trương Vô Kỵ tăng gấp mười lần, nói:

– Đúng quá, đúng quá, đầu ngón chân nào cũng có vết răng, tiểu huynh đệ thật cao minh! Tiểu huynh đệ đã biết nguyên nhân gây bệnh, tất sẽ chữa được. Tiện thiếp khỏi rồi, xin tạ ân thật hậu.

Đoạn quay sang mắng bảy ông thầy lang:

– Thế mà bảo là phong hàn trúng tà, dương hư âm tổn, toàn nói năng tầm bậy! Mười đầu ngón chân của nàng ta đều có vết răng, thế mà bảy tên bị thịt chẳng tên nào nhận ra!

Tuy lão ta chửi mắng là thế, nhưng giọng lại vui mừng hớn hở.

Trương Vô Kỵ nói:

– Bệnh của phu nhân vốn quá lạ lùng, bọn họ không xác định được căn nguyên, cũng không đáng trách, vậy hãy thả cho họ về đi.

Hà Thái Xung cười, nói:

– Đúng rồi, đúng rồi! Đã có tiểu huynh đệ, giữ bọn lang băm ấy ở đây chỉ tổ bực mình. Xuân nhi, hãy cho mỗi người một trăm lạng bạc, bảo họ tự tìm đường về.

Bảy ông thầy lang thật chẳng khác gì người sắp chết sống lại, ai nấy cả mừng, vội vã ra về, chỉ sợ Trương Vô Kỵ chữa không khỏi cho ngũ cô, Hà Thái Xung lại xích luôn cậu vào với họ thành tám vị lang băm mà chôn sống theo ái thiếp của ông ta.

Trương Vô Kỵ nói:

– Xin gọi nô bộc khiêng giường của phu nhân ra, dưới gầm giường có một cái lỗ, chính là hang của Kim ngân huyết xà.

Hà Thái Xung không đợi nô bộc, dùng tay phải nắm một chân giường kéo luôn cả giường lẫn người sang một bên, quả nhiên thấy bên dưới có một cái hốc nhỏ, vừa mừng vừa tức, kêu lên:

– Mau đem lưu huỳnh và lửa vào đây, hun cho con rắn độc bò ra mà băm vằm nó thành ngàn mảnh cho ta!

Trương Vô Kỵ xua tay:

– Không được, không được làm vậy! Chất độc mà phu nhân bị trúng, lại phải lấy nọc của chính cặp rắn trong hang kia mà chữa trị đó. Nếu giết chết rắn, bệnh của phu nhân cũng hết đường cứu chữa.

Hà Thái Xung nói:

– Thì ra vậy. Cần làm thế nào, xin cứ chỉ giáo.

Hai chữ "chỉ giáo", từ ngày nghiệp sư tạ thế đến giờ, hôm nay Hà Thái Xung mới dùng tới lần đầu.

Trương Vô Kỵ chỉ bồn hoa bên ngoài cửa sổ, nói:

– Hà tiên sinh, bệnh tình của tôn phu nhân đều do tám cây lan Linh Chi kia mà ra.

Hà Thái Xung nói:

– Cây đó gọi là lan Linh Chi ư? Ta cũng không biết tên là gì. Một vị bằng hữu biết ta thích hoa cỏ nên đã đem từ Tây Vực tới đây tặng ta tám bồn hoa lan này. Hoa này khi nở có mùi đàn hương, sắc hoa tuyệt đẹp, không ngờ trồng nó lại là mầm họa.

Trương Vô Kỵ nói:

– Trong sách viết rằng cây lan Linh Chi củ tròn như trái cầu, màu đỏ như lửa, trong củ chứa chất cực độc. Chúng ta hãy đào thử xem có đúng thế không.

Lúc này các đệ tử đều nghe tin có thầy thuốc thiếu niên đến chữa quái bệnh cho ngũ sư mẫu. Các nam đệ tử không tiện vào phòng, sáu nữ đệ tử, trong đó có Chiêm Xuân, đứng bên cạnh nghe Trương Vô Kỵ bảo vậy, có hai người bèn lấy xẻng đào một cây lan Linh Chi lên, quả nhiên thấy củ nó hình tròn, đỏ như lửa. Nghe bảo củ đó chứa chất cực độc, họ không dám sờ tay vào.

Trương Vô Kỵ nói:

– Các vị hãy đào cả tám gốc lan ấy lên, cho củ vào chậu sành, giã nát, nhào với tám hột trứng gà, một bát máu gà cho nhuyễn thành hồ, khi làm nhớ cẩn thận, đừng để dính vào da thịt.

Chiêm Xuân cùng hai sư muội làm đúng như chỉ dẫn của Trương Vô Kỵ. Trương Vô Kỵ lại sai lấy hai cái ống tre dài chừng một thước, một cái gậy trúc để sẵn một bên.

Chẳng mấy chốc củ lan Linh Chi đã được giã nát làm thành hồ, Trương Vô Kỵ đổ số hồ đó xuống đất, thành hình vòng tròn, để khuyết một khoảng rộng độ hai tấc, nói:

– Các vị thấy có sự lạ kỳ, xin chớ kêu lên, để rắn độc khỏi kinh sợ chạy mất. Các vị hãy lấy một ít cam thảo và bông nhét vào lỗ mũi.

Mọi người làm y như thế. Trương Vô Kỵ cũng bịt mũi lại, lấy lửa đốt lá cây lan Linh Chi ngay trước hang rắn. Khoảng thời gian gần bằng một tuần trà, thấy từ trong hang chui ra một con rắn nhỏ, thân đỏ như máu, trên đầu có một cái mào màu vàng, gọi là con Kim quan huyết xà. Nó từ từ bò ra, dài chừng tám tấc, có bốn chân; tiếp đó lại chui ra con thứ hai, hình dạng tương tự, thân ngắn hơn một chút, cái mào màu trắng bạc, gọi là con Ngân quan huyết xà.

Bọn Hà Thái Xung thấy hai con quái xà thì đều nín thở không dám lên tiếng. Loài độc xà dị tướng này tất nhiên chứa chất độc, nhưng mọi người có võ công cao cường nên không sợ; song lại sợ rằng rắn chạy đi mất thì bệnh của ngũ cô không chữa được.

Chỉ thấy hai con rắn thè lưỡi, quấn quýt nhau vô cùng thân thiết. Rồi chúng từ từ bò vào trong cái vòng hồ làm bằng lan Linh Chi. Trương Vô Kỵ vội lấy một cái ống tre chặn chỗ khuyết của vòng, cầm cây gậy trúc gạt nhẹ vào đuôi con Ngân quan huyết xà một cái. Nhanh như chớp, mọi người chỉ thấy làn ngân quang loáng một cái, con rắn ấy đã chui tọt vào ống tre.

Con Kim quan huyết xà cũng muốn chui vào theo, nhưng ống tre nhỏ chỉ vừa chỗ cho một con. Con Kim quan huyết xà không vào được, cứ kêu u u loạn lên. Trương Vô Kỵ lại đặt ống tre thứ hai trước đầu nó, dùng gậy trúc gạt đuôi cho nó chui nốt vào trong, rồi cậu lấy nắp gỗ đút nút ống tre, để giữ hai con rắn bên trong ống.

Từ khi cặp kim ngân huyết xà từ trong hang bò ra, ai nấy hồi hộp, lo lắng, đến lúc Trương Vô Kỵ đút nút ống tre lại rồi, mọi người mới không hẹn cùng thở phào một tiếng. Trương Vô Kỵ nói:

– Hãy mang vài thùng nước nóng cọ rửa sàn nhà thật sạch, đừng để rơi rớt chất độc lan Linh Chi.

Sáu nữ đệ tử xuống bếp đun nước, không lâu sau mang lên rửa sạch nền nhà. Trương Vô Kỵ bảo đóng kín cửa sổ, đem các dược liệu như Hùng Hoàng, Minh Phàn, Đại Hoàng, Cam Thảo.. tán nhỏ thành bột, trộn với vôi sống, đổ vào cái ống tre nhốt con Ngân quan huyết xà, con rắn ấy lập tức kêu u u. Con Kim quan huyết xà ở ống tre bên cạnh kêu lên đáp ứng. Trương Vô Kỵ mở nắp ống cho con Kim quan huyết xà, nó chui ngay ra, bò quanh ống tre đựng con Ngân quan huyết xà vài vòng, có vẻ rất gấp gáp, rồi đột nhiên nó vọt lên giường, chui vào trong chăn của ngũ cô.

Hà Thái Xung hoảng hốt kêu "ối" một tiếng. Trương Vô Kỵ xua xua tay, nhẹ nhàng mở cái chăn lên, thấy con Kim quan huyết xà đang ngậm ngón giữa bàn chân trái của ngũ cô. Trương Vô Kỵ vui mừng, thấp giọng, nói:

– Phu nhân trúng phải chất độc của Kim ngân huyết xà, nay chính cặp độc xà này sẽ hút chất độc ra khỏi cơ thể phu nhân.

Thời gian độ tàn nửa nén nhang, thấy con rắn kia thân phình to gấp mấy lần, cái mào màu vàng trên đầu nó sáng lấp lánh. Trương Vô Kỵ bèn mở nút ống tre đựng con Ngân xà, con Kim xà từ trên giường liền trườn xuống, tới bên miệng ống, nhả độc mớm cho con Ngân xà ở bên trong.

Trương Vô Kỵ nói:

– Tốt lắm, mỗi ngày cứ thế hút chất độc hai lần, tôi sẽ cho thuốc uống tiêu phù, bổ hư, nội nhật mười ngày có thể khỏi hẳn.

Hà Thái Xung cả mừng, mời Trương Vô Kỵ sang thư phòng, nói:

– Tiểu huynh đệ có thần kỹ, vụ này nguyên do thế nào, mong được tiểu huynh đệ chỉ giáo.

Trương Vô Kỵ nói:

– Trong sách viết rằng chất độc của đôi Kim ngân huyết xà này đứng vào hàng thứ bốn mươi bảy trong thiên hạ, không phải thuộc loại cực độc. Nhưng loài rắn này có đặc điểm là rất thích hút các chất độc như thạch tín, hạc đỉnh hồng, mật chim công, rượu ngâm lông chim trẩm. Ngoài cửa sổ phòng phu nhân trồng lan Linh Chi, loài lan ấy có độc tính cực mạnh nên đã dẫn dụ cặp rắn này tới.

Hà Thái Xung gật đầu:

– Thì ra vậy.

Trương Vô Kỵ nói:

– Kim ngân huyết xà bao giờ cũng sống theo cặp, một con đực, một con cái. Vừa rồi tiểu đệ dùng một số dược liệu như Hùng hoàng để hun con cái là con Ngân xà. Con đực, tức Kim xà, muốn cứu con kia, phải tới hút máu độc ở ngón chân phu nhân, rồi truyền cho con rắn cái. Sau đó tiểu đệ dùng thuốc trị con Kim xà, con Ngân xà cũng sẽ phải hút máu độc từ chân phu nhân để nuôi con đực. Cứ thế thay phiên nhau, sẽ hút hết chất độc khỏi cơ thể phu nhân.

Nói đến đây, cậu chợt nghĩ thầm: "Tại sao cặp rắn này thoạt tiên lại đến cắn ngón chân của phu nhân, bên trong tất phải có nguyên do" nhưng cậu chưa nghĩ ra, nên cũng chả nói làm gì.

Hôm đó Hà Thái Xung thết tiệc tại hậu đường khoản đãi Trương Vô Kỵ và Dương Bất Hối. Trương Vô Kỵ nghĩ Dương Bất Hối là con riêng của Kỷ Hiểu Phù, nói ra e sẽ tổn hại thanh danh của phái Nga Mi, nên khi Hà Thái Xung hỏi lai lịch cô bé, cậu chỉ trả lời chung chung không rõ ràng.

Mấy ngày sau, chứng sưng phù của ngũ cô giảm hẳn, tinh thần khôi phục, đã bắt đầu ăn uống chút ít. Trương Vô Kỵ ngỏ ý cáo từ, Hà Thái Xung cố nài nỉ cậu ở lại vì chỉ sợ bệnh của ái thiếp tái phát. Đến ngày thứ mười thì ngũ cô khỏi hẳn.

Ngũ cô sửa soạn một bữa tiệc thật linh đình để đích thân cảm tạ Trương Vô Kỵ, mời Chiêm Xuân ngồi bồi tiếp. Ngũ cô dung mạo tuy còn tiều tụy, nhưng nét đẹp còn nguyên vẹn, Hà Thái Xung thập phần hoan hỉ.

Chiêm Xuân nhân lúc sư phụ cao hứng liền xin sư phụ thu nhận Tô Tập Chi làm môn đệ. Hà Thái Xung cười hà hà, nói:

– Xuân nhi, cái kế mượn việc này làm việc khác của ngươi khá lắm, ta thu nhận tên tiểu tử họ Tô, mai sau truyền cho hắn Côn Luân lưỡng nghi kiếm, thành ra việc nhìn trộm trước đây coi như cho qua.

Chiêm Xuân cười, nói:

– Sư phụ, nếu chàng ta không nhìn trộm lão nhân gia sử kiếm, đệ tử đâu có đi bắt chàng ta, thì làm sao gặp được Trương thế huynh. Dĩ nhiên sư phụ và ngũ cô hồng phúc quá lớn đã đành, Trương thế huynh y thuật cao minh, nhưng gã họ Tô kể ra cũng có góp chút công lao.

Ngũ cô nói với Hà Thái Xung:

– Tướng công thu bao nhiêu đệ tử, nhưng cuối cùng chẳng đứa nào giúp được việc gì, chỉ có Chiêm cô nương lập đại công. Chiêm cô nương đã nhắm gã họ Tô ấy, hẳn là người tốt, tướng công thu nhận thêm một đệ tử, không chừng sau này hắn lại là kẻ đắc lực nhất cũng nên.

Người ái thiếp này nói gì Hà Thái Xung chẳng nghe, lão ta bèn nói:

– Được, thu nhận hắn cũng được, nhưng ta có một điều kiện.

Ngũ cô hỏi:

– Điều kiện gì vậy?

Hà Thái Xung nghiêm mặt, nói:

– Hắn trở thành môn hạ của ta rồi, phải chuyên tâm học nghệ, không được si tâm vọng tưởng Xuân nhi, quyết không được đòi lấy Xuân nhi làm vợ.

Chiêm Xuân đỏ mặt, cúi đầu xuống. Ngũ cô cười hì hì, nói:

– Ôi dào, tướng công là sư phụ chả chịu làm gương, chính mình năm thê bảy thiếp, lại cấm đệ tử kết hôn với nhau là sao?

Hà Thái Xung vốn chỉ định nói đùa Chiêm Xuân, nên cười ha hả, nói:

– Uống rượu đi nào, uống rượu đi nào!

Chỉ thấy một a hoàn bưng khay ra, trên khay đặt một vò rượu, tới bên bàn tiệc rót rượu cho từng người. Loại rượu này đậm đặc, màu vàng ửng, thơm nức mũi. Hà Thái Xung nói:

– Trương huynh đệ, đây là đặc sản của bản sơn, ngâm với hổ phách mật lê trên đỉnh núi tuyết, gọi là rượu "Hổ phách mật lê", bên ngoài không có được, mỗi lần chỉ được uống vài chén thôi.

Hà Thái Xung nghĩ thầm: "Làm cách nào lừa nó nói ra chỗ ở của Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn nhỉ? Việc đó phải từ từ tính kế, không nên nóng vội".

Trương Vô Kỵ vốn không biết uống rượu, nhưng thấy rượu "Hổ phách mật lê" thơm nức, cũng nâng chén lên định nhấp môi, thì đột nhiên cặp Kim ngân huyết xà ở trong bọc cùng kêu lên u u. Trương Vô Kỵ liền nói:

– Rượu này chớ uống.

Mọi người kinh ngạc, vội đặt chén xuống. Trương Vô Kỵ lấy một ống tre trong bọc, thả con Kim xà ra, nó liền bò tới cạnh chén rượu, thò đầu vào hút sạch không còn một giọt. Trương Vô Kỵ cho nó vào ống tre, rồi thả con Ngân xà ra, con Ngân xà cũng hút hết một chén rượu. Cặp rắn này quấn quýt lấy nhau, nếu chỉ thả một con đực hay con cái thì con kia không bao giờ đi xa, lại rất dễ bảo; còn nếu thả hai con ra cùng lúc, thì khó lòng bắt trở lại, thậm chí có khi chúng sẽ cắn người không chừng.

Ngũ cô cười:

– Tiểu huynh đệ, đôi rắn của cậu biết uống rượu, thú vị thật!

Trương Vô Kỵ nói:

– Xin bảo người mang ra đây một con chó hoặc con mèo thử xem.

Ả a hoàn bưng rượu đáp "vâng" rồi quay mình định đi vào, Trương Vô Kỵ nói:

– Tỷ tỷ này hãy đứng lại đây, để người khác mang con vật ra được rồi.

Lát sau, một nô bộc dắt ra một con chó vàng. Trương Vô Kỵ lấy chén rượu trước mặt Hà Thái Xung đổ vào mồm con chó. Con chó hộc lên vài tiếng, thất khổng[53] ứa máu, chết ngay.

Ngũ cô sợ hãi run cả người, nói:

– Trong rượu có thuốc độc.. kẻ nào.. kẻ nào định hại chúng ta, Trương huynh đệ, sao cậu biết thế?

Trương Vô Kỵ nói:

– Kim ngân huyết xà thích hút chất độc, chúng ngửi thấy chất độc trong rượu nên thích thú kêu lên.

Hà Thái Xung giận tím mặt, chộp luôn cổ tay ả a hoàn, hỏi nhỏ:

– Ai bảo ngươi bưng vò rượu này ra?

A hoàn kia sợ hết hồn, run rẩy thưa:

– Con.. con không biết là rượu.. có độc.. Con mang dưới bếp lên ạ.. Hà Thái Xung hỏi:

– Từ dưới bếp lên đây, ngươi có gặp ai không?

A hoàn đáp:

– Con đi tới hành lang có gặp tỷ tỷ Hạnh Phương, tỷ tỷ giữ lại nói chuyện vài câu, có mở vò rượu ra ngửi mùi ạ.

Hà Thái Xung, ngũ cô, Chiêm Xuân ba người nhìn nhau, đều có vẻ sợ hãi, vì Hạnh Phương là con hầu của đệ nhất phu nhân Hà Thái Xung. Trương Vô Kỵ nói:

– Hà tiên sinh, việc này tôi ngại chưa nói ra, song vẫn ngầm tra xét. Tiên sinh thử nghĩ xem, tại sao cặp rắn này thoạt tiên lại đến cắn vào ngón chân ngũ phu nhân, truyền nọc độc vào người? Điều này cũng dễ hiểu, trong cơ thể ngũ phu nhân đã có sẵn độc dược mạn tính nên mới dẫn dụ cặp rắn đến. Kẻ đã bỏ chất độc cho ngũ phu nhân và kẻ bỏ chất độc vào rượu hôm nay e rằng chỉ là một.

Hà Thái Xung chưa kịp trả lời, đột nhiên rèm cửa vén ra, thoáng một bóng người, Trương Vô Kỵ đã cảm thấy dưới hai bên vú đau nhói, cậu đã bị người ta điểm huyệt, rồi một tiếng nói sắc như dao vang lên:

– Không sai chút nào, người hạ độc là ta đây.

Người vừa bước vào là một thiếu phụ cao lớn, tuổi trạc ngũ tuần, tóc bạc quá nửa, cặp mắt có uy, lông mày xếch ngược. Thiếu phụ nói với Hà Thái Xung:

– Ta bỏ nọc rết độc địa vào trong vò rượu đấy, tướng công làm gì được ta nào?

Ngũ cô sợ hãi đứng dậy, cung kính chào:

– Thái thái!

Thì ra thiếu phụ cao lớn này là đệ nhất phu nhân của Hà Thái Xung tên Ban Thục Nhàn, nguyên sư tỷ của ông ta.

Hà Thái Xung thấy thiếu phụ xộc vào phòng, chỉ hừ một tiếng, ngồi im không nói gì. Ban Thục Nhàn nói:

– Ta hỏi tướng công, chính ta hạ độc đấy, tướng công làm gì được ta nào?

Hà Thái Xung nói:

– Bà không ưa cậu bé này cũng chẳng sao. Thế nhưng bà làm thế, chẳng phân biệt đen trắng gì cả, lỡ ta uống phải rượu độc vào bụng, hỏi có nguy không?

Ban Thục Nhàn giận dữ nói:

– Tất cả mọi người ở đây đều chẳng tốt lành gì, chết bớt đi càng đỡ chướng tai gai mắt!

Thiếu phụ cầm vò rượu độc lên lắc thử, nghe tiếng óc ách, còn những quá nửa vò, liền rót ra một chén đầy, đặt ngay trước mặt Hà Thái Xung, nói:

– Ta vốn định hạ độc giết cả năm người, nhưng tên tiểu tử kia phát giác, vậy ta tha chết cho bốn người, còn chén rượu độc này, ai uống cũng được, tùy tướng công định liệu.

Nói đoạn nghe soạt một tiếng, thiếu phụ đã rút kiếm lăm lăm trong tay.

Ban Thục Nhàn là nhân vật kiệt xuất của phái Côn Luân, lớn hơn Hà Thái Xung hai tuổi, nhập môn sớm hơn lão ta, võ công không thua gì chồng. Hà Thái Xung thời trẻ anh tuấn tài hoa, rất được vị sư tỷ này yêu thích. Sư phụ của họ là Bạch Lộc Tử nhân bị chết do giao đấu với một cao thủ của Minh giáo nên không kịp di chúc, các đệ tử tranh nhau chức chưởng môn, không ai chịu nhường ai. Ban Thục Nhàn hồi đó ra sức phù trợ Hà Thái Xung, hai người hợp sức nên, thế lực mạnh hẳn lên; các sư huynh sư đệ khác không ai dám chống lại, nhờ đó Hà Thái Xung mới được tiếp nhiệm chức chưởng môn. Cảm ân đức ấy Hà Thái Xung kết hôn với Ban Thục Nhàn. Hồi còn trẻ trông cũng đẹp đôi, nhưng từ khi đứng tuổi, Ban Thục Nhàn trông già hơn Hà Thái Xung cả chục tuổi. Hà Thái Xung mượn cớ không có con nối dõi tông đường để lấy thêm mấy người thiếp.

Ban Thục Nhàn mấy chục năm tích uy, Hà Thái Xung lại tự biết mình không nên không phải, trong lòng hổ thẹn, đối với người vừa là sư tỷ vừa là nghiêm thê này, lão ta vô cùng nể sợ. Sợ thì có sợ, nhưng lão ta cứ lấy thêm hết người này người khác, mỗi lần thêm một người thiếp, nỗi kính sợ lại tăng đôi phần. Lúc này Hà Thái Xung thấy Ban Thục Nhàn đặt chén rượu độc trước mặt mình thì lão ta hoàn toàn không có ý định làm trái lời vợ, nghĩ thầm: "Ta đương nhiên không uống rồi, ngũ cô và Xuân nhi cũng không, Trương Vô Kỵ là ân nhân cứu mạng; chỉ còn con bé kia là không thân thích quen biết gì hết", bèn đứng dậy cầm chén rượu đưa cho Dương Bất Hối, nói:

– Này bé, hãy uống chén rượu này đi.

Dương Bất Hối hoảng sợ, nó vừa thấy con chó to thế vừa lăn ra chết vì chén rượu, nên không dám cầm lấy chén rượu, khóc òa lên:

– Cháu không uống, cháu không uống đâu!

Hà Thái Xung túm lấy ngực áo cô bé, định buộc nó phải uống.

Trương Vô Kỵ lạnh lùng nói:

– Để tôi uống cũng được.

Hà Thái Xung cảm thấy áy náy, nhưng không nói gì.

Ban Thục Nhàn vốn ghen tức, định hạ độc giết ái thiếp của Hà Thái Xung là ngũ cô, tưởng là việc sắp thành, nào ngờ Trương Vô Kỵ từ phương xa tới cứu sống ngũ cô, thành thử bà ta ghét cay ghét đắng cậu, bèn lạnh lùng nói:

– Thằng bé này lắm trò cổ quái, không chừng nó có giải dược cũng nên. Nếu ngươi uống thay con bé kia thì một chén không đủ, phải uống cạn cả vò.

Trương Vô Kỵ đưa mắt nhìn Hà Thái Xung, mong lão ta nói vài lời tử tế, nào ngờ lão ta chỉ cúi đầu không nói gì. Chiêm Xuân và ngũ cô cũng chẳng dám hé môi, chỉ sợ lỡ nói gì, Ban Thục Nhàn lại trút cơn giận xuống đầu mình, bắt uống nửa vò rượu độc kia thì xong đời. Trương Vô Kỵ trong lòng tê tái, nghĩ thầm: "Tính mạng mấy người kia đều do ta cứu cả, song khi ta gặp nguy nan, bọn họ chỉ khoanh tay ngồi nhìn, đến một lời xin giùm cũng chẳng dám nói", cậu liền nói:

– Chiêm cô nương, sau khi tôi chết, nhờ cô nương đưa tiểu muội muội này đến ngọn núi Tọa Vong tìm cha nó, liệu có được chăng?

Chiêm Xuân nhìn sư phụ, thấy Hà Thái Xung gật đầu, bèn đáp:

– Được, ta sẽ đưa nó đi.

Song nghĩ bụng: "Dãy núi Côn Luân dài hàng ngàn dặm, biết ngọn Tọa Vong ở chỗ nào mà tìm?"

Trương Vô Kỵ thấy cô ta trả lời cho xong chuyện, không có chút thành ý nào, cậu biết bọn người này rặt một hạng vô tình bạc bẽo, nói lắm chỉ phí lời, cười khẩy:

– Phái Côn Luân tự xưng là danh môn đại phái trong võ lâm, hóa ra là thế! Hà tiên sinh, đưa vò rượu cho ta uống.

Hà Thái Xung nghe thế thầm nổi giận, muốn Trương Vô Kỵ mau chết đi cho rảnh để mụ vợ cả của ông ta sớm hả dạ, khỏi tìm cách khác giết hại ngũ cô. Tình thế lúc này cấp bách, phải đối phó ngay, còn chuyện tung tích Tạ Tốn thì hãy để đó, bèn cầm vò rượu độc lên, dốc cả vào miệng Trương Vô Kỵ.

Dương Bất Hối ôm lấy Trương Vô Kỵ khóc ầm lên.

Ban Thục Nhàn cười khẩy, nói:

– Ngươi giỏi y thuật lắm, để xem ngươi có tự cứu nổi mình hay không.

Mụ ta liền giơ ngón tay điểm mấy huyệt đạo ở vai và mạng sườn Trương Vô Kỵ, lại dùng cán kiếm điểm hai đại huyệt trên người Hà Thái Xung, Chiêm Xuân, ngũ cô và Dương Bất Hối, rồi nói:

– Sau hai canh giờ, ta sẽ quay lại thả các ngươi ra.

Khi mụ ta điểm huyệt, Hà Thái Xung và Chiêm Xuân không dám cử động hoặc né tránh. Ban Thục Nhàn nói với đám thị tì ở bên cạnh:

– Đi ra hết!

Mụ ta ra khỏi phòng sau cùng, đóng cửa lại, vừa đi vừa cười lạnh từng tràng.

Uống rượu độc rồi, lát sau Trương Vô Kỵ thấy bụng đau quặn. Nhìn Ban Thục Nhàn đi ra, đóng sập cửa lại, cậu nghĩ thầm: "Mụ đi khỏi thì ta chưa chết đâu". Cậu nhịn đau, ngầm vận khí, dùng phương pháp Tạ Tốn đã dạy, trước tiên tự giải khai các huyệt bị điểm, đoạn nhổ mấy sợi tóc cho vào cổ họng ngoáy ngoáy, thế là nôn ra tám chín phần rượu độc. Hà Thái Xung, Chiêm Xuân thấy cậu bị điểm huyệt mà vẫn tìm cách cử động được, đều lấy làm kinh ngạc.

Hà Thái Xung muốn ra tay ngăn cản Trương Vô Kỵ, ngặt nỗi chính lão ta đã bị điểm huyệt, tuy võ công đầy mình cũng đành giương mắt nhìn, có tức lắm cũng chẳng làm gì được. Trương Vô Kỵ thấy bụng vẫn còn đau, muốn nôn thêm nhưng không nôn được, nghĩ bụng trước tiên phải thoát hiểm cảnh, sau sẽ tính cách giải độc, bèn giải khai huyệt đạo cho Dương Bất Hối. Nào ngờ thủ pháp điểm huyệt của Ban Thục Nhàn rất lạ, Trương Vô Kỵ nắn mãi vẫn không giải được; tình thế lúc này cấp bách, không kịp thử cách giải khác, cậu bèn bế cô bé lên, mở cửa sổ nhìn ra không thấy ai, liền đặt Dương Bất Hối ra bên ngoài.

Hà Thái Xung nếu dùng chân khí xung huyệt thì chỉ quá nửa canh giờ cũng giải được huyệt đạo. Nay thấy Trương Vô Kỵ sắp bỏ trốn, đến lúc Ban Thục Nhàn tra vấn chắc chắn sẽ có sóng gió, huống hồ để cho một thằng nhãi con phái Võ Đang tay không trốn khỏi Tam Thánh đường của phái Côn Luân, đem chuyện vong ân bội nghĩa của lão ta truyền đi khắp giang hồ thì còn gì thể diện của một vị đại tông sư? Dù thế nào cũng phải giết chết nó; bèn hít một hơi dài, định thét to lên báo cho Ban Thục Nhàn biết.

Trương Vô Kỵ đã liệu trước việc đó, cậu lấy trong bọc ra một viên thuốc màu đen, nhét vào miệng ngũ cô, nói:

– Đây là viên "Cưu tì hoàn", sau mười hai canh giờ, ngũ phu nhân sẽ bị đứt ruột, vỡ tim mà chết. Ta để thuốc giải cách đây ba chục dặm trên một cây đại thụ, có đánh dấu; ba canh giờ nữa Hà tiên sinh có thể sai người đến lấy. Nếu ta đi khỏi đây mà bị bắt lại, có thêm một người nữa cùng chết với ta kể cũng hay ".

Chuyện này hoàn toàn bất ngờ đối với Hà Thái Xung, lão ta nghĩ một lát, nói nhỏ:

– Tiểu huynh đệ, Tam Thánh đường của ta tuy không phải đầm rồng hang cọp, song hai đứa trẻ như cậu sẽ không thể trốn thoát được đâu.

Trương Vô Kỵ biết y không nói bịa, thản nhiên nói:

– Nhưng độc tính của viên Cưu tì hoàn mà phu nhân vừa nuốt, ngoài ta ra, không ai giải cứu nổi.

Hà Thái Xung nói:

– Được rồi, cậu hãy giải huyệt cho ta, ta sẽ đích thân đưa cậu xuống núi.

Hai huyệt Hà Thái Xung bị điểm là Phong Trì và Kinh Môn; Trương Vô Kỵ liền day ấn xoa bóp các huyệt Thiên Trụ, Hoàn Khiêu, Đại Truy, Thương Khúc một hồi mà không kiến hiệu.

Lúc này hai người thầm phục lẫn nhau, Trương Vô Kỵ nghĩ thầm:" Tài điểm huyệt của phái Côn Luân quả thật lợi hại; Hồ tiên sinh dạy ta bảy thủ pháp giải huyệt, ta áp dụng rồi mà không hiệu quả. Hà Thái Xung thì nghĩ thầm: "Tiểu tử này sao biết nhiều thủ pháp giải huyệt đến thế, quả thật cao minh. Sư tỷ rõ ràng điểm bảy tám huyệt trên người nó, vậy mà nó không sao cả là thế nào? Phái Võ Đang mấy năm gần đây lừng danh giang hồ, lão đạo Trương Tam Phong có bản lãnh không ai sánh kịp thật. Ngày ấy trên núi Võ Đang, may mà ta không động thủ với họ, nếu không hẳn đã bị bẽ mặt. Một đứa bé mà đã thế này, người lớn bên đó tài nghệ lợi hại gấp mười ấy chứ".

Hà Thái Xung không biết công phu tự thông huyệt đạo của Trương Vô Kỵ là học ở Tạ Tốn, còn thủ pháp giải huyệt thì học ở Hồ Thanh Ngưu; hai tài nghệ nói trên của Trương Vô Kỵ không liên quan gì đến sự lừng danh của phái Võ Đang.

Hà Thái Xung thấy thủ pháp giải huyệt không kiến hiệu, chợt nghĩ ra, nói:

– Cậu hãy đưa bình trà lại đây cho ta uống vài ngụm.

Trương Vô Kỵ không biết tại sao Hà Thái Xung đột nhiên đòi uống trà, nhưng nghĩ rằng lão ta lo lắng cho tính mệnh của ái thiếp sẽ không dám giở trò hại cậu, bèn cầm bình trà kề vào môi cho lão ta uống. Hà Thái Xung uống một ngụm to, nhưng không nuốt xuống mà nhắm vào huyệt Thanh Lãnh Uyên ở khuỷu tay mình phun mạnh, một tia nước vọt thẳng ra, nghe "phụp" một tiếng, lập tức giải thông huyệt đó.

Trương Vô Kỵ từ khi tới Tam Thánh đường núi Côn Luân chỉ thấy Hà Thái Xung lo lắng buồn phiền cho bệnh tình của ngũ cô, sợ thê cưng thiếp, vừa khiếp nhược vừa nhỏ nhen, chẳng khác gì một nam tử tầm thường; lúc này cậu thấy lão ta hiển thị công lực thì bất giác cả kinh, nghĩ thầm: "Võ công của vị chưởng môn phái Côn Luân thâm hậu như thế, vậy mà mươi ngày qua mình coi thường ông ta; xem ra ông ta không kém gì Du nhị sư bá, Kim Hoa bà bà, Diệt Tuyệt sư thái. Thoạt tiên mình cứ ngỡ ông ta tầm thường, kém cỏi, quên rằng ở địa vi chưởng môn phái Côn Luân, ắt phải có bản lĩnh hơn người. Tia nước kia mà phun vào ngực mình, khéo mình chết tươi".

Hà Thái Xung quay quay tay phải mấy vòng, rồi tự giải huyệt ở đùi, nói:

– Cậu hãy đưa giải dược cho ngũ phu nhân trước đi, ta sẽ đưa cậu xuống núi an toàn.

Trương Vô Kỵ lắc đầu, Hà Thái Xung vội nói:

– Ta là chưởng môn phái Côn Luân, không lẽ lại thất tín với một đứa bé? Lỡ độc tính phát tác thì biết làm sao?

Trương Vô Kỵ nói:

– Độc tính sẽ không phát tác bất chợt.

Hà Thái Xung thở dài, nói:

– Thôi được, chúng ta lặng lẽ mà đi vậy.

Hai người nhảy ra đằng cửa sổ, Hà Thái Xung lấy tay phẩy nhẹ sau lưng Dương Bất Hối, giải thông ngay huyệt đạo cho cô bé, thủ pháp quá khinh linh. Trương Vô Kỵ thán phục, ánh mắt lộ rõ vẻ ngưỡng mộ, Hà Thái Xung hiểu ý cậu, mỉm cười, mỗi tay dắt một đứa, vòng ra phía sau hoa viên của Tam Thánh đường, theo cửa hông ra ngoài.

Tam Thánh đường trước sau có đến chín lối vào, ra khỏi hoa viên, đi qua một luống hoa vòng vèo, qua nhiều sảnh đường khác nữa chỉ thấy nhà cửa san sát, cổng nọ cổng kia, nếu không có Hà Thái Xung dẫn đi, Trương Vô Kỵ chắc chắn sẽ bị lạc lối, dù đệ tử phái Côn Luân không ngăn trở thì vị tất đã qua được.

Ra khỏi Tam Thánh đường, Hà Thái Xung tay phải bồng Dương Bất Hối, tay trái dắt Trương Vô Kỵ, thi triển khinh công chạy về hướng tây bắc. Trương Vô Kỵ để lão ta cắp lên, thân hình nhẹ nhàng bay bổng, mỗi bước nhảy xa hơn cả trượng, chỉ thấy gió ù ù bên tai, cứ y như bay trên không, khiến cậu càng thán phục phái Côn Luân và Hà Thái Xung.

Trương Vô Kỵ biết chất độc trong bụng chưa hết, bèn dùng tay trái lấy trong bọc hai viên thuốc giải độc, nuốt vào bụng cho yên tâm.

Đang chạy đi, bỗng nghe có tiếng nữ nhân gọi:

– Hà Thái Xung.. Hà Thái Xung.. dừng lại ta bảo..

Tiếng gọi theo gió truyền tới, tưởng như rất xa, song cũng thật gần, chính là giọng nói của Ban Thục Nhàn.

Hà Thái Xung hơi chần chừ, rồi đứng lại, thở dài nói:

– Tiểu huynh đệ, hai ngươi tự chạy mau đi, bà vợ ta đuổi tới nơi rồi, ta không thể đưa hai ngươi đi tiếp được nữa.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Người này đối với ta cũng không đến nỗi quá tệ", bèn nói:

– Hà tiên sinh, tiên sinh cứ trở về đi. Viên thuốc ta cho ngũ phu nhân uống không phải thuốc độc đâu, càng không phải là "Cưu tì hoàn" gì hết, mà chỉ là viên "Tang phụ hoàn" giảm ho. Ít hôm trước Bất Hối muội muội bị ho, ta chế cho nó uống, còn thừa vài viên đấy thôi, tiên sinh đừng sợ.

Hà Thái Xung vừa tức vừa yên tâm, quát hỏi:

– Có thật không phải độc dược hay không?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Ngũ phu nhân do chính ta cứu sống, lẽ nào ta lại hạ độc làm gì.

Chỉ nghe Ban Thục Nhàn liên tiếp réo gọi:

– Hà Thái Xung.. Hà Thái Xung.. Liệu chạy thoát nổi không?

Tiếng gọi mỗi lúc một gần thêm.

Hà Thái Xung sở dĩ ôm Dương Bất Hối và Trương Vô Kỵ chạy đi là vì sợ ái thiếp của ông ta bị hạ độc, không cứu kịp; giờ biết chắc viên thuốc ngũ cô uống không phải là thuốc độc, hóa ra bị thằng nhãi này đánh lừa thì cơn giận bùng phát, nghe bốp bốp, lão ta giáng cho Trương Vô Kỵ liền bốn cái tát tai khiến hai má nó sưng lên, miệng đầy máu.

Trương Vô Kỵ hối hận: "Sao mình lại dại dột nói rõ chân tướng kia chứ? Phen này mình và Bất Hối muội muội khó bề toàn mạng"; thấy chưởng thứ năm đánh tới, vội sử chiêu "Đảo kỵ long" trong Võ Đang trường quyền chống đỡ. Chiêu này nếu do Du Liên Châu sử dụng chẳng hạn, ắt hẳn uy lực vô cùng, còn Trương Vô Kỵ mới học chút vỏ bên ngoài, làm sao chống đỡ nổi chiêu thức của chưởng môn phái Côn Luân? Hà Thái Xung hơi né mình, bốp một tiếng, lão ta đã tát trúng mắt phải của Trương Vô Kỵ khiến nó sưng lên ngay. Trương Vô Kỵ biết bản lĩnh của mình thua kém đối phương quá xa, đành buông tay chịu trận.

Hà Thái Xung thấy thằng bé đứng yên rồi, vẫn chưa tha, hai tay cứ đánh nó liên tiếp. Tuy lão ta không dùng sức, chứ nếu dùng sức thì một chưởng cũng đủ khiến Trương Vô Kỵ chết tươi, nhưng cái tát nào cũng làm cho cậu tối tăm mặt mũi, đau rát kinh hồn.

Hà Thái Xung bắt đầu mạnh tay lên thì Ban Thục Nhàn dẫn theo hai đệ tử chạy tới, lẳng lặng đứng một bên. Mụ ta thấy Trương Vô Kỵ hoàn toàn không chống đỡ thì chẳng thấy có gì thú vị, bèn nói:

– Hãy đánh con bé kia coi!

Hà Thái Xung xoay người qua, bốp một cái, tát Dương Bất Hối một cái. Dương Bất Hối đau quá khóc thét lên. Trương Vô Kỵ tức giận nói:

– Ngươi đánh ta được rồi, hà tất lại đi ăn hiếp một bé gái?

Hà Thái Xung không thèm để ý, lại giơ tay tát Dương Bất Hối. Trương Vô Kỵ nhảy tới, dùng đầu húc vào bụng Hà Thái Xung.

Ban Thục Nhàn cười khẩy, nói:

– Một đứa bé còn có tình nghĩa như thế, đâu có giống cái kiểu bạc tình như tướng công.

Hà Thái Xung nghe vợ mỉa mai thì đỏ mặt, chộp cổ Trương Vô Kỵ ném ra xa, mồm quát:

– Đồ súc sinh, cho mi đi theo cha mẹ mi!

Cái ném đó lão ta dùng lực thật mạnh, nhắm một tảng đá ở sườn núi mà ném thằng bé tới.

Thân hình Trương Vô Kỵ bay vụt đi, trong giây lát sẽ đập vào tảng đá mà nát như tương.

Nào ngờ từ bên cạnh có một luồng lực đạo thổi tới, làm cho thân hình Trương Vô Kỵ đứng thẳng lại ngay bên tảng đá. Trương Vô Kỵ chưa kịp định thần, giương đôi mắt sưng vù mà nhìn, thấy đứng cách mình dăm thước là một thư sinh trung niên mặc trường bào trắng bằng vải thô.

Hà Thái Xung và Ban Thục Nhàn nhìn nhau kinh hãi, thư sinh kia đến lúc nào, từ đâu đến, sao họ không hề hay biết; dù y có nấp sau tảng đá thì vợ chồng họ cũng đủ bản lĩnh để phát giác mới phải chứ? Hà Thái Xung khi ném Trương Vô Kỵ vào tảng đá, lực ném tối thiểu phải dăm sáu trăm cân, vậy mà thư sinh kia chỉ cuốn ống tay áo một cái đã lập tức tiêu giải, đặt Trương Vô Kỵ đứng sang một bên, hiển nhiên võ công cao siêu lạ thường. Thư sinh ấy trạc tứ tuần, tướng mạo tuấn nhã, có điều hai lông mày hơi xuôi xuống, khóe miệng hằn mấy vết sâu, không giấu được tướng buồn khổ của người chớm già. Người ấy không nói năng cử động, thần sắc thản nhiên, tưởng như đang mải nghĩ chuyện đâu đâu, không để ý tới sự việc trước mắt.

Hà Thái Xung dặng hắng một tiếng, hỏi:

– Các hạ là ai? Tại sao lại nhúng tay can dự vào việc của phái Côn Luân?

Thư sinh kia lạnh lùng hỏi:

– Hai vị có phải là Thiết Cầm tiên sinh và Hà phu nhân đó chăng? Tại hạ là Dương Tiêu.

Hai tiếng "Dương Tiêu" vừa thốt ra, Hà Thái Xung, Ban Thục Nhàn và Trương Vô Kỵ ba người không hẹn mà cùng "a" lên một tiếng. Tiếng kêu của Trương Vô Kỵ vừa kinh ngạc vừa vui mừng, còn của vợ chồng họ Hà là vừa kinh ngạc vừa tức giận.

Chỉ nghe soẹt soẹt, hai đệ tử phái Côn Luân rút kiếm khỏi bao, xoay cán lại trao cho sư phụ sư mẫu. Hà Thái Xung giơ kiếm ngang bụng, ở thế chiêu "Tuyết ủng lam kiều". Ban Thục Nhàn chĩa mũi kiếm hơi xéo xuống đất, ở thế chiêu "Mộc diệp tiêu tiêu". Hai chiêu này đều là cái tinh diệu trong kiếm pháp phái Côn Luân, thoạt nhìn có vẻ tầm thường, tùy tiện, song đều ẩn bên trong bảy, tám chiêu lợi hại. Hai người đều đã vận nội lực ra cánh tay phải, chỉ cần lắc cổ tay một cái, kiếm quang lóe sáng, là lập tức đâm bảy tám chỗ yếu hại trên cơ thể đối phương ngay. Vợ chồng họ thấy kình địch trước mặt, bèn giở sở học bình sinh ra đối phó.

Dương Tiêu vẫn bình thản như không, nghe tiếng kêu mừng rỡ của Trương Vô Kỵ thì hơi lấy làm lạ, nhìn mặt cậu bé một cái. Lúc này Trương Vô Kỵ mặt đầy máu, mắt mũi bầm tím tuy bị Hà Thái Xung đánh tơi tả nhưng tâm trạng vui mừng vẫn lộ ra trên bộ mặt khó coi đó. Trương Vô Kỵ kêu lên:

– Bá bá.. bá bá có phải là Quang Minh tả sứ giả của Minh giáo, Dương Tiêu Dương bá bá đó không?

Dương Tiêu gật đầu, hỏi:

– Sao cháu bé lại biết tên ta?

Trương Vô Kỵ chỉ Dương Bất Hối, nói:

– Tiểu muội muội này là con gái của Dương bá bá đó.

Cậu nắm tay Dương Bất Hối kéo lại, nói:

– Bất Hối muội muội, mau gọi cha đi, mau gọi cha đi! Chúng mình cuối cùng đã tìm thấy cha muội rồi!

Dương Bất Hối giương mắt chằm chằm nhìn Dương Tiêu, chín phần không tin, song người này có phải cha nó hay không, con bé cũng chẳng cần, chỉ hỏi:

– Mẹ con đâu? Tại sao mẹ ở trên trời chưa bay xuống?

Dương Tiêu bàng hoàng, chộp vai Trương Vô Kỵ, nói:

– Này cậu bé, hãy nói cho rõ. Bé gái này là.. là con của ai? Mẹ nó là ai?

Dương Tiêu bóp vai Trương Vô Kỵ quá mạnh, xương kêu răng rắc, đau thấu tâm can. Trương Vô Kỵ không chịu hèn, không thèm kêu đau, nhưng cuối cùng cũng phải kêu "ái" một tiếng, nói:

– Tiểu muội muội là con gái bá bá, mẫu thân muội muội là nữ hiệp Kỷ Hiểu Phù của phái Nga Mi.

Dương Tiêu mặt vốn xanh xao, lúc này nghe vậy càng thêm tái nhợt, run run nói:

– Nàng.. nàng có con gái ư? Nàng.. giờ nàng đang ở đâu?

Y vội cúi xuống bế Dương Bất Hối lên, thấy con bé bị Hà Thái Xung đánh hai cái tát, mặt sưng vù, nhưng vẫn thoáng hiện vẻ xinh tươi của Kỷ Hiểu Phù, đang định hỏi thêm thì chợt thấy trên cổ Dương Bất Hối một sợi tơ đen bèn kéo nhẹ ra, thấy đầu kia là một cái thiết bài trên thêu hình ngọn lửa bằng sợi vàng. Đó chính là "Thiết diệm lệnh" của Minh giáo mà Dương Tiêu đã tặng cho Kỷ Hiểu Phù; thế là không còn hoài nghi gì nữa, y ôm chặt Dương Bất Hối vào lòng, hỏi:

– Mẹ con đâu? Mẹ con đâu?

Dương Bất Hối nói:

– Mẹ bay lên trời rồi, con đang đi tìm mẹ, cha có gặp mẹ không?

Dương Tiêu thấy con gái còn bé quá, nói năng chưa rõ, bèn đưa mắt nhìn Trương Vô Kỵ có ý dò hỏi. Trương Vô Kỵ thở dài, nói:

– Dương bá bá, cháu nói ra bá bá đừng buồn, Kỷ cô cô đã bị sư phụ đánh chết rồi, lúc lâm chung.. Dương Tiêu quát to:

– Ngươi dối ta, ngươi dối ta!

Chỉ nghe "rắc" một tiếng, cánh tay trái của Trương Vô Kỵ đã bị Dương Tiêu bóp gãy, rồi "hịch hịch" hai tiếng, cả Dương Tiêu lẫn Trương Vô Kỵ cùng ngã lăn ra, tay phải của Dương Tiêu vẫn ôm chặt Dương Bất Hối.

Hà Thái Xung và Ban Thục Nhàn nhìn nhau, cả hai cùng vung kiếm, chĩa vào cổ và ấn đường của Dương Tiêu.

Dương Tiêu là đại cao thủ của Minh giáo, uy danh rất lớn. Sư phụ của Hà Thái Xung và Ban Thục Nhàn là Bạch Lộc Tử từng chết dưới tay Minh giáo, thủ phạm đích thực là ai không biết, nhưng các đệ tử phái Côn Luân đều đoán do Dương Tiêu. Hôm nay vợ chồng Hà Thái Xung tình cờ gặp Dương Tiêu ở đây, trong lòng hồi hộp chưa biết sẽ ra sao, ai ngờ Dương Tiêu đột nhiên ngất đi, thật đúng là cơ hội trời ban, bèn tức thời ra tay chế ngự nơi yếu hại.

Ban Thục Nhàn nói:

– Chém đứt hai tay hắn đã, rồi tính sau.

Hà Thái Xung nói:

– Phải!

Lúc này Dương Tiêu chưa tỉnh lại. Trương Vô Kỵ thì đau nhói chỗ tay bị gãy, đau vã mồ hôi nhưng đầu óc vẫn tỉnh táo, thấy tình thế nguy cấp vội dùng ngón chân điểm nhẹ vào huyệt Bách Hội ở đỉnh đầu Dương Tiêu.

Huyệt Bách Hội nối liền với não, động vào đó, Dương Tiêu liền tỉnh lại, vừa mở mắt đã thấy hàn khí dày đặc, một mũi kiếm chĩa ngay vào ấn đường, rồi loáng một đạo thanh quang, một thanh kiếm khác chém xuống cánh tay trái của y. Muốn chống đỡ cũng không kịp nữa, huống hồ mũi kiếm của Ban Thục Nhàn đang chĩa ngay giữa mặt y, căn bản không thể nào cựa quậy, vội vận chân khí dồn sang tay trái. Kiếm của Hà Thái Xung chém xuống bên tay trái của Dương Tiêu đột nhiên trượt sang một bên, lưỡi kiếm không ăn xuống nổi, giống như chém vào một vật vừa dai vừa trơn, nhưng thấy máu cũng loang đỏ ống tay áo, tức là Dương Tiêu đã bị thương.

Ngay lúc đó, thân hình Dương Tiêu bỗng dưng chuồi nhanh về phía sau hơn một trượng, tựa hồ có ai tròng dây vào cổ y mà kéo đi thật nhanh vậy. Mũi kiếm của Ban Thục Nhàn vốn chỉ vào ấn đường của Dương Tiêu, lúc thân hình y chuồi nhanh về phía sau, mũi kiếm rạch qua mũi, miệng, ngực thành một đường máu dài sâu vài phân. Chiêu này cực kỳ nguy hiểm, giả sử mũi kiếm của Ban Thục Nhàn thấp xuống nửa tấc nữa thì Dương Tiêu đã bị mổ bụng phanh thây rồi.

Dương Tiêu vừa chuồi ra ngoài đã lập tức dựng đứng lên, hai động tác liền nhau ấy vốn không tài gì thực hiện được, vậy mà ai cũng thấy đầu gối y vẫn thẳng, lưng không cong, thân hình cứng đơ chuồi đi, rồi bật thẳng lên như một cái lò xo vậy.

Dương Tiêu vừa đứng lên, hai chân liền đạp xuống, nghe cách cách hai tiếng, hai thanh kiếm của vợ chồng Hà Thái Xung gãy đôi. Hai chân Dương Tiêu đạp xuống tuy có trước sau, nhưng vì nhanh như tia chớp nên tưởng chừng đạp xuống cùng lúc vậy. Với tài nghệ sử kiếm của vợ chồng Hà Thái Xung, ngỡ rằng Dương Tiêu dù võ công cao mấy cũng không thể chỉ một chiêu đã đạp gãy binh khí của họ. Nào ngờ chiêu số của Dương Tiêu quái dị, đã trọng thương còn thoát thân phản kích; vợ chồng họ Hà quá kinh hãi, không kịp thu kiếm về.

Dương Tiêu hai chân đá ra, hai đoạn kiếm gãy chia nhau bay về phía vợ chồng họ Hà. Họ vội giơ nửa kiếm gãy chống đỡ, thấy hổ khẩu chấn động, nửa người nóng bừng, tuy gạt được ra, song cũng hơi hoảng, vội nhảy lùi về phía sau, một đứng phía tây bắc, một ở phía đông nam; tuy trong tay chỉ là hai thanh kiếm gãy, nhưng dương kiếm chỉ lên trời, âm kiếm chĩa xuống đất, song kiếm hợp bích, sử dụng Lưỡng Nghi kiếm pháp của phái Côn Luân, trong lòng họ tuy hoảng hốt, nhưng khí định thần nhàn, ngưng trọng như núi.

Lưỡng Nghi kiếm pháp của phái Côn Luân nổi danh đã mấy trăm năm, là thứ kiếm pháp lừng lẫy thiên hạ, vợ chồng Hà Thái Xung đồng môn học nghệ, luyện từ trẻ đến già nên vô cùng thành thạo. Dương Tiêu đã mấy phen đại chiến với phái Côn Luân, biết sự lợi hại của kiếm pháp này, tuy chẳng e sợ gì, nhưng muốn đánh bại hai người, ắt phải giao đấu vài trăm chiêu, lúc này y chỉ nghĩ đến việc sống chết của Kỷ Hiểu Phù, chẳng còn bụng dạ nào giao đấu. Huống hồ vết thương ở tay và mặt cũng không phải nhẹ, nếu không cầm máu, e rất nguy hiểm, Dương Tiêu bèn cười khẩy, nói:

– Phái Côn Luân ngày càng tệ hại, hôm nay ta tạm bỏ qua, sau này sẽ tính sổ với vợ chồng nhà ngươi.

Rồi tay trái bồng Dương Bất Hối, tay phải cắp Trương Vô Kỵ, cũng chẳng thấy Dương Tiêu cử động đôi chân, chỉ đột nhiên lùi lại hơn một trượng, xoay mình một cái đã vọt ra xa mấy trượng.

Vợ chồng họ Hà nhìn nhau kinh hãi, may mà tên đại ma đầu tự dưng bỏ đi chứ hai người nào dám đuổi theo!

Dương Tiêu mang hai đứa trẻ chạy một mạch mấy dặm, bỗng nhiên dừng lại hỏi Trương Vô Kỵ:

– Kỷ Hiểu Phù cô nương sự thể thế nào?

Y đang chạy nhanh, nào ngờ muốn dừng là dừng luôn, thân hình như đóng đinh xuống đất, không xê dịch nửa phân.

Trương Vô Kỵ không kịp chuẩn bị, chúi về đằng trước, nếu không được Dương Tiêu kéo lại, hẳn đã ngã nhoài, nghe hỏi, cậu thở hổn hển mấy cái mới đáp:

– Kỷ cô nương đã chết rồi, bá bá tin hay không là tùy, sao lại đi bóp gãy tay cháu?

Dương Tiêu hơi ân hận, hỏi tiếp:

– Nàng.. nàng, vì sao nàng chết?

Giọng nói có vẻ nghẹn ngào.

Trương Vô Kỵ phải uống rượu độc của Ban Thục Nhàn, tuy đã nôn ra gần hết, cũng đã uống thuốc giải độc, nhưng chất độc chưa hết, lúc này lại thấy bụng quặn đau, bèn thả con Kim quan huyết xà cho nó ngậm ngón tay trỏ bên trái mà hút chất độc, một mặt kể cho Dương Tiêu nghe do đâu cậu gặp Kỷ Hiểu Phù, chữa bệnh cho Kỷ cô cô ra sao, sau đó bị Diệt Tuyệt sư thái đánh chết như thế nào. Cậu kể xong thì con Kim quan huyết xà cũng đã hút hết chất độc khỏi cơ thể cậu.

Dương Tiêu hỏi tỉ mỉ những lời Kỷ Hiểu Phù nói trước lúc tắt thở, rồi nuốt nước mắt, nói:

– Diệt Tuyệt ác ni ép nàng đi hãm hại ta, nàng chỉ cần nhận lời là lập được đại công với phái Nga Mi, được kế thừa chức chưởng môn.. Ôi, Hiểu Phù, Hiểu Phù, nàng thà chết không chịu vâng lời! Thực ra, nàng cứ giả vờ ưng thuận, hai ta chẳng những được gặp lại nhau, nàng cũng đâu phải bỏ mạng dưới tay mụ Diệt Tuyệt ác ni?

Trương Vô Kỵ nói:

– Kỷ cô cô là người chính trực, không muốn ngầm hãm hại bá bá, cũng không muốn nói dối sư phụ.

Dương Tiêu cười buồn:

– Cậu đúng là tri kỷ của Hiểu Phù.. ai ngờ sư phụ nàng tàn ác đến thế, đang tâm giết nàng.

Trương Vô Kỵ nói:

– Cháu đã đáp ứng Kỷ cô cô đưa Bất Hối muội muội tới giao cho bá bá.

Dương Tiêu như chợt nhớ, hỏi:

– Bất Hối muội muội ư?

Rồi quay sang hỏi Dương Bất Hối:

– Hài nhi ngoan nào, con mang họ gì vậy? Tên gì?

Dương Bất Hối đáp:

– Con họ Dương, tên là Bất Hối.

Dương Tiêu ngẩng mặt hú một tiếng dài làm chấn động tứ phía, lá cây rụng lả tả, hồi lâu mới dứt, nói:

– Con đúng là họ Dương. Bất Hối.. Bất Hối.. đúng rồi! Hiểu Phù nàng ơi, tuy ta cưỡng bức nàng, nhưng nàng không hề hối tiếc.

Trương Vô Kỵ đã nghe Kỷ Hiểu Phù kể về mối duyên oan nghiệt của hai người, lúc này thấy Dương Tiêu anh tuấn, tuy đã đứng tuổi nhưng chưa mất cái phong độ của một nam tử điển trai, so với vẻ non nớt của Ân Lê Đình lục thúc thì người như Dương Tiêu chắc chắn dễ khiến nữ nhân say đắm hơn. Kỷ Hiểu Phù bị Dương Tiêu cưỡng bức, nhưng sau đó đổi thành si mê y, điều đó cũng chẳng thể trách Kỷ Hiểu Phù. Trương Vô Kỵ ở tuổi này chưa hiểu hết mọi chuyện, song cũng lờ mờ nhận ra điều đó.

Tay trái của Trương Vô Kỵ bị gãy, vô cùng đau đớn, nhất thời chưa tìm được các thứ dược liệu để tiếp cốt và giảm đau, đành trước hết nối xương, đắp vài thứ thảo dược cho bớt sưng, bẻ hai cành cây, dùng vỏ cây bó cánh tay lại.

Dương Tiêu thấy Trương Vô Kỵ nhỏ tuổi, chỉ có một tay tiếp cốt trị thương mà thủ pháp hết sức thành thạo thì rất lấy làm lạ.

Bó tay xong xuôi, Trương Vô Kỵ nói:

– Dương bá bá, cháu không phụ lòng ủy thác của Kỷ cô cô, Bất Hối muội muội đã tìm thấy cha, vậy chúng ta chia tay ở đây thôi.

Dương Tiêu nói:

– Cậu đường xa vạn dặm, đưa con ta đến, lẽ nào ta không đền đáp? Cậu muốn gì, cứ nói. Việc Dương Tiêu ta không làm được, vật Dương Tiêu ta không lấy được, e rằng trong thiên hạ không nhiều đâu.

Trương Vô Kỵ cười ha hả, nói:

– Dương bá bá coi nhẹ Kỷ cô cô quá đấy, uổng công cô cô chết vì bá bá.

Dương Tiêu tái mặt, hỏi:

– Ngươi bảo sao?

Trương Vô Kỵ nói:

– Kỷ cô cô không coi thường cháu nên mới phó thác cho cháu đưa con gái đến chỗ bá bá; nếu cháu đến đây vì mong muốn thứ gì thì có đáng để người khác gửi con chăng?

Cậu nghĩ thầm: "Dọc đường Bất Hối muội muội gặp bao nguy nan, mình đều lấy thân che đỡ. Nếu mình là kẻ tham lợi vô nghĩa, làm sao cha con Dương bá bá hôm nay được đoàn tụ?" Có điều cậu không thích khoe công, chẳng nhắc một câu đến những nguy khốn dọc đường, chỉ nói thêm vài lời, rồi cúi đầu chào, quay mình đi liền.

Dương Tiêu nói:

– Hượm đã, ngươi đã giúp ta một việc to tát như thế, Dương Tiêu ta xưa nay có thù phải báo, có ơn tất đền. Ngươi hãy theo ta, nội nhật một năm ta sẽ truyền cho ngươi vài môn võ công hiếm có đối thủ trong thiên hạ.

Trương Vô Kỵ chính mắt chứng kiến Dương Tiêu đạp gãy trường kiếm của vợ chồng họ Hà, võ công cao siêu như thế, giang hồ quả ít ai sánh kịp; chỉ cần học được của y vài chiêu cũng là hữu dụng vô cùng. Nhưng nhớ đến thái sư phụ căn dặn không nên lai vãng với người theo Ma giáo, huống hồ võ công của y dù cao mấy cũng chẳng bằng được thái sư phụ. Hơn nữa, mình cũng chỉ còn sống nửa năm, dẫu có học được võ công tuyệt thế, phỏng có ích gì? Vô Kỵ nghĩ vậy, bèn nói:

– Đa tạ hảo tâm của Dương bá bá, nhưng vãn bối là đệ tử phái Võ Đang, không dám đi học cao chiêu của phái khác.

Dương Tiêu "a" lên một tiếng, nói:

– Thì ra ngươi là đệ tử phái Võ Đang! Thế Ân Lê Đình.. Ân lục hiệp..

Trương Vô Kỵ nói:

– Ân lục hiệp là sư thúc của vãn bối, từ khi phụ thân vãn bối mất đi, Ân lục thúc đối với vãn bối chẳng khác gì thúc phụ. Vãn bối nhận lời Kỷ cô cô đưa Bất Hối muội muội đến núi Côn Luân, đối với Ân lục thúc không khỏi.. không khỏi có chỗ hổ thẹn trong lòng.

Dương Tiêu bắt gặp mục quang của Trương Vô Kỵ, chợt ân hận, bèn đưa tay phải lên vẫy, nói:

– Dương mỗ thâm cảm đại đức, hổ thẹn không có gì đền đáp. Đã vậy, mong có ngày gặp lại.

Thân hình Dương Tiêu hơi động mà đã vọt đi xa mấy trượng. Dương Bất Hối gọi to:

– Vô Kỵ ca ca, Vô Kỵ ca ca!

Nhưng Dương Tiêu đã thi triển khinh công, thoáng một cái đã đi rất xa, tiếng gọi kia cứ nhỏ dần, sau cùng cả người lẫn âm thanh cùng chìm vào núi rừng.

Comments

Comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 15: Kì mưu bí kế mộng nhất trường

Trương Vô Kỵ và Dương Bất Hối cùng đi với nhau cả vạn dặm sang Tây Vực, lúc nào cũng như hình với bóng, giờ đột nhiên chia tay, Vô Kỵ cảm thấy thật trống vắng, nhưng nghĩ mình đã không phụ sự ủy thác của Kỷ Hiểu Phù, đưa cô bé giao tận tay Dương Tiêu, thì trong lòng rất được an ủi. Cậu đứng ngơ ngẩn một hồi, sợ chạm trán với bọn Hà Thái Xung, Ban Thục Nhàn phái Côn Luân nên cứ nhắm rừng sâu mà đi vào.

Đi như thế hơn chục ngày, vết thương ở cánh tay đã đỡ, song Trương Vô Kỵ vẫn cứ loanh quanh trong dãy Côn Luân, chưa tìm được đường ra khỏi núi. Hôm ấy cậu đi đã nửa ngày, ngồi trên một tảng đá nghỉ chân, bỗng nghe từ phía tây bắc vọng lại tiếng sủa của hàng chục con chó. Tiếng chó sủa mỗi lúc một gần, dường như chúng đang đuổi theo một con dã thú.

Trong tiếng chó sủa, có một con khỉ nhỏ hốt hoảng chạy tới, mông nó cắm một mũi tên ngắn. Con khỉ ấy chạy đến cách Trương Vô Kỵ hơn một trượng thì ngã lăn ra, vì mông trúng tên nên không thể leo cây cao, nó chạy tới đây thì kiệt sức, không gượng nổi nữa. Trương Vô Kỵ bước tới nhìn, con khỉ ánh mắt lộ vẻ van lơn hoảng sợ. Trương Vô Kỵ động lòng, nghĩ thầm: "Ta bị phái Côn Luân truy đuổi, cũng khốn khổ chẳng khác gì ngươi". Cậu bèn bế con khỉ lên, nhẹ nhàng rút mũi tên ra, lấy thuốc trong bọc rịt vết thương cho nó.

Lúc ấy tiếng chó sủa đã tới gần. Trương Vô Kỵ mở vạt áo, giấu con khỉ vào bên trong, chỉ nghe nhiều tiếng gâu gâu, mười mấy con chó săn cao lớn, răng nhọn vây quanh cậu. Lũ chó săn đánh hơi theo dấu con khỉ, nhe răng gầm gừ, nhất thời chưa dám xông vào. Trương Vô Kỵ thấy lũ chó thật dữ tợn, răng dài trắng nhởn thì thầm hoảng sợ, biết chỉ cần ném con khỉ ra, bầy chó sẽ vồ lấy con khỉ và không làm gì mình cả. Nhưng từ nhỏ cậu đã nghe cha dạy, rằng mọi việc đều phải lấy hiệp nghĩa làm trọng, đối với một con thú hoang cũng không phụ bạc, thế là cậu bèn nhảy vọt qua đầu lũ chó săn, co giò chạy. Lũ chó lập tức vừa sủa vừa hung hăng đuổi theo.

Chó săn chạy rất nhanh, Trương Vô Kỵ chỉ chạy được hơn chục trượng thì lũ chó đã đuổi kịp, chỉ thấy đùi đau nhói đã bị một con chó ngoạm trúng, giữ rịt không nhả ra. Trương Vô Kỵ vội quay đầu, giáng một chưởng thật mạnh trúng đầu con chó ấy khiến nó văng đi, nằm chết ngất. Lũ chó còn lại lập tức xông tới.

Trương Vô Kỵ tay đấm chân đá, ra sức chống cự. Cánh tay trái đau chưa khỏi hẳn, không cử động mạnh được nên chẳng mấy chốc đã bị một con chó ngoạm phải, rồi lũ chó từ bốn phía xông vào cắn loạn xạ, đầu mặt vai lưng chỗ nào cũng bị chó cắn phải. Trong cơn kinh hoảng, nghe như có tiếng người thanh thanh quở chó, nhưng xem chừng ở rất xa, mắt cậu tối sầm, thế là không biết gì nữa.

Trong cơn hôn mê, hình như có vô số sói lang hổ báo cắn xé thân thể mình, Trương Vô Kỵ muốn há miệng kêu to, nhưng không thốt ra được tiếng nào, chợt nghe có tiếng người nói:

– Bớt sốt rồi, may mà không chết.

Trương Vô Kỵ mở mắt, vật đầu tiên nhìn thấy là một ngọn đèn vàng vọt, phát hiện mình đang nằm trong một căn phòng nhỏ, một hán tử trung niên đứng trước mắt. Trương Vô Kỵ nói:

– Đại.. đại thúc.. sao cháu..

Chỉ nói vài tiếng, đã thấy toàn thân đau nhức như phải bỏng, mới từ từ nhớ lại là mình bị một bầy chó săn điên cuồng cắn xé. Hán tử nói:

– Tiểu tử, mạng ngươi lớn lắm, không chết đâu, ngươi thấy thế nào?

Trương Vô Kỵ nói:

– Cháu.. cháu ở đâu vậy?

Các vết thương đau tấy lên khiến cậu lại ngất đi.

Lần thứ hai tỉnh dậy, hán tử trung niên không còn ở trong phòng. Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Ta còn sống chẳng bao lâu, sao phải chịu lắm sự giày vò thế này?" Cúi đầu nhìn thấy cổ, ngực, cánh tay, chân chỗ nào cũng băng bó, mùi thuốc xộc lên mũi, thì ra có người đã bó thuốc vào các vết thương. Căn cứ mùi dược thảo, biết ngay người trị thương trình độ non kém, dùng các vị dược liệu như Hạnh Nhân, Mã Tiền Tử, Phòng Phong, Nam Tinh, là các vị thuốc trị chó dại cắn, hoặc để giải độc cũng rất kiến hiệu; nhưng cắn cậu đâu phải là chó dại, cậu chỉ bị thương ở bắp cơ, gân cốt; thuốc không đúng bệnh, chỉ tăng thêm đau đớn. Trương Vô Kỵ không thể ngồi dậy nổi, đợi khi trời sáng, Hán tử kia mới lại ghé thăm.

Trương Vô Kỵ nói:

– Đại thúc, đa tạ đại thúc đã cứu cháu!

Hán tử lạnh lùng nói:

– Đây là Hồng Mai sơn trang, tiểu thư của chúng tôi cứu ngươi đó. Ngươi đói bụng chưa?

Đoạn hán tử kia đi ra, rồi bưng vào một tô cháo nóng. Trương Vô Kỵ húp mấy miếng, thấy tức ngực, chóng mặt nên không ăn nữa.

Trương Vô Kỵ nằm liệt giường tám ngày, mới gắng gượng ngồi dậy, nhưng dưới chân bồng bềnh không có sức. Cậu biết mình mất máu quá nhiều, nhất thời không dễ hồi phục. Hán tử kia mỗi ngày mang cơm, thay thuốc cho cậu, rõ ràng có vẻ phiền toái khó chịu, Trương Vô Kỵ vô cùng cảm kích, nhưng thấy hán tử không ưa trò chuyện, nên rất nhiều nghi vấn mà cậu không dám hỏi. Hôm nay thấy hán tử lại mang mấy vị thuốc Phòng Phong, Nam Tinh đã giã nát thành hồ, Trương Vô Kỵ nhịn không nổi, nói:

– Đại thúc, mấy thứ này trị không đúng bệnh, phiền đại thúc đổi cho vài vị khác được chăng?

Hán tử trừng mắt nhìn Trương Vô Kỵ hồi lâu, rồi nói:

– Bài thuốc này do lão gia kê đơn, sai làm sao được? Ngươi bảo thuốc không trị đúng bệnh, thế sao ngươi chết đi mà sống lại đó? Ta bảo thực, trẻ con đừng nói bậy nói bạ, lão nhân gia nghe thấy thì đừng trách, ngươi nên biết điều một chút.

Đoạn lấy thuốc đắp lên các vết thương cho Trương Vô Kỵ. Cậu đành gượng cười chịu đựng.

Hán tử nói:

– Ta thấy các vết thương của ngươi đã bớt nhiều, ngươi cũng nên đi gặp lão gia, thái thái, tiểu thư mà khấu đầu tạ ơn cứu mạng.

Trương Vô Kỵ nói:

– Việc đó nên lắm, nhờ đại thúc dẫn tôi đi giùm.

Hán tử dẫn cậu ra khỏi phòng, qua một hành lang dài, lại đi qua hai sảnh đường, tới một căn phòng ấm áp. Bấy giờ là đầu mùa đông, dãy núi Côn Luân khí hậu lạnh giá, nhưng căn phòng này ấm áp như mùa xuân, không biết lò sưởi đặt ở chỗ nào. Trong phòng trần thiết huy hoàng xán lạn, phản và ghế đều trải nệm gấm mềm. Trương Vô Kỵ trước nay chưa từng thấy nơi nào sang trọng thế này, mình thì quần áo dơ dáy, bước vào đây chẳng xứng chút nào thì bất giác hổ thẹn.

Trong phòng không có ai, nhưng hán tử tỏ vẻ hết mực cung kính, khom lưng bẩm báo:

– Tiểu tử bị chó cắn đã khỏe lại, nay đến khấu đầu tạ ơn lão gia, thái thái.

Nói xong, y đứng nghiêm chờ, đến thở cũng không dám thở mạnh.

Một lát, từ sau bình phong bước ra một thiếu nữ chừng mười lăm, mười sáu tuổi, liếc xéo Trương Vô Kỵ một cái, nói:

– Kiều Phúc, sao ông lại dẫn cậu ta tới đây, lỡ chấy rận trên người nó bò ra thì làm thế nào?

Kiều Phúc nói:

– Dạ phải, dạ phải!

Trương Vô Kỵ vốn đang hồi hộp lo lắng, nghe vậy liền đỏ mặt, ngoài bộ quần áo mặc trên người, cậu chẳng còn bộ nào khác để thay, quả có sinh ra chấy rận thật, nghĩ bụng vị tiểu thư kia nói không sai. Thiếu nữ mặt trái xoan, tóc xõa vai, y phục không biết lụa là gấm vóc gì mà lấp lánh phát quang, tay đeo vòng vàng, một tiểu thư trang sức sang trọng như thế, Trương Vô Kỵ chưa gặp bao giờ, cậu nghĩ thầm: "Khi ta bị lũ chó vây cắn, hình như có tiếng một thiếu nữ quở chúng. Kiều Phúc đại thúc lại bảo tiểu thư của y cứu mình, vậy mình nên rập đầu tạ ơn cho phải". Nghĩ vậy, cậu bèn quỳ xuống khấu đầu, nói:

– Đa tạ tiểu thư cứu mạng, suốt đời tại hạ không dám quên đại ân.

Thiếu nữ kia kinh ngạc, đột nhiên cười khúc khích, nói:

– Kiều Phúc, Kiều Phúc, nó làm trò gì thế? Ông đùa giỡn thằng ngốc ấy đấy ư?

Kiều Phúc cười, đáp:

– Tiểu Phụng tỷ tỷ, thằng ngốc này có quỳ lạy tỷ tỷ vài cái cũng được chứ sao. Thằng bé đần độn chưa bao giờ ra ngoài đời, cứ ngỡ tỷ tỷ là tiểu thư! Thực ra, a hoàn trong sơn trang chúng ta còn hơn cả thiên kim tiểu thư nhà người.

Trương Vô Kỵ ngẩn người, vội đứng dậy, nghĩ thầm: "Chết rồi! Hóa ra nàng ta chỉ là một a hoàn, thế mà mình lại tưởng là tiểu thư". Mặt cậu vừa đỏ vừa tái đi, thật ngượng không để đâu cho hết.

Tiểu Phụng cố nhịn cười, nhìn Trương Vô Kỵ từ đầu xuống chân. Mặt mũi thân thể cậu, vết máu lau chưa sạch, chỗ chó cắn thì băng bó, cậu tự biết mình hôi hám khó coi, hận không có cái lỗ nẻ để chui xuống đất. Tiểu Phụng giơ tay che mũi, nói:

– Lão gia, thái thái đang bận, chỉ có thể đến chào tiểu thư thôi.

Nói xong Tiểu Phụng đi vòng ra, tránh xa Trương Vô Kỵ, đi trước dẫn đường mà cứ sợ chấy rận từ người Trương Vô Kỵ nhảy sang người mình. Trương Vô Kỵ đi theo sau Kiều Phúc và Tiểu Phụng, trên đường gặp nô tì, gia nhân ai nấy trang phục đẹp đẽ, lầu son gác tía chỗ nào cũng cực kỳ sang trọng. Cậu từ khi sinh ra đến mười tuổi sống ở Băng Hỏa đảo, mấy năm sau thì một nửa sống trên núi Võ Đang, một nửa sống ở Hồ Điệp cốc, sinh sống vô cùng đơn giản, dù có nằm mơ cũng không tưởng tượng trên thế gian lại có một gia trang giàu sang thế này.

Đi một hồi đến trước một tòa đại sảnh, thấy treo tấm biển đề ba chữ "Linh Ngao doanh". Tiểu Phụng bước vào trước, lát sau đi ra vẫy tay, Kiều Phúc bèn dẫn Trương Vô Kỵ vào sảnh.

Vừa bước vào, Trương Vô Kỵ đã giật mình. Chỉ thấy trong sảnh có hơn ba chục con chó săn to khỏe hung dữ, chia thành ba hàng ngồi dưới đất, một thiếu nữ mặc áo lông màu trắng ngồi trên chiếc ghế lót da hổ, tay cầm roi da, miệng quát:

– Tiền tướng quân, yết hầu!

Một con mãnh khuyển nghe lệnh liền vọt tới cắn ngay vào cổ họng một người đứng bên tường.

Trương Vô Kỵ nhìn cảnh đó quá tàn nhẫn, nhịn không nổi, kêu "ôi chao", thấy con chó ngoạm một miếng thịt, cúi xuống xé ăn. Cậu định thần nhìn kỹ, thì ra người đứng bên tường chỉ là một hình nhân bằng da, những vị trí yếu hại trên thân thể có treo các miếng thịt. Thiếu nữ kia lại quát:

– Xa Kỵ tướng quân, bụng dưới!

Con mãnh khuyển thứ hai nhảy tới táp vào bụng hình nhân. Lũ chó được huấn luyện đâu ra đấy, theo lệnh mà cắn đúng từng vị trí một.

Trương Vô Kỵ sau phút sững sờ, lập tức nhận ra kia chính là bầy ác khuyển đã cắn xé mình trong núi, tiếng quở chó chính là giọng của thiếu nữ này. Cậu vẫn nghĩ tiểu thư là ân nhân cứu mạng, giờ mới biết mình bị bao đau đớn khổ sở cũng chính do thiếu nữ này gây nên, nộ khí bừng bừng bốc lên đầu, nghĩ thầm: "Thôi, thôi rồi, cô nàng có đàn chó trợ lực, ta chẳng làm gì nổi đâu! Nếu sớm biết thế này, thà chết trong núi hoang, còn hơn nằm dưỡng thương ở nhà cô nàng". Cậu bèn giật vải băng bó vứt xuống đất, quay mình đi ra.

Kiều Phúc kêu lên:

– Này, này, ngươi làm gì vậy? Đây chính là tiểu thư, sao ngươi không tới khấu đầu?

Trương Vô Kỵ tức giận nói:

– Hừ, ta phải tạ ơn nàng ta ư? Lũ ác khuyển cắn ta chẳng phải do nàng ta nuôi hay sao?

Thiếu nữ quay đầu lại, thấy Vô Kỵ nổi cáu, liền mỉm cười, vẫy tay gọi:

– Tiểu huynh đệ, lại đây đi!

Trương Vô Kỵ đối diện với thiếu nữ, trống ngực đột nhiên đập thình thình. Nàng ta dung nhan kiều diễm, nước da trắng trẻo mịn màng. Tai cậu ù đi, lưng toát mồ hôi lạnh, chân tay run run, vội cúi đầu không dám nhìn, mặt xanh xao phút chốc bỗng đỏ bừng.

Thiếu nữ cười, giục:

– Tiểu huynh đệ, lại đây nào!

Trương Vô Kỵ ngẩng đầu, liếc nàng ta một cái, gặp ngay làn thu ba long lanh, trong lòng cậu chợt mơ mơ hồ hồ, chân tự dưng thong thả bước tới.

Thiếu nữ mỉm cười, nói:

– Tiểu huynh đệ giận ta, phải không?

Trương Vô Kỵ bị bầy chó cắn xé, chịu bao khổ sở, lẽ nào không căm tức? Nhưng lúc này đứng trước mặt thiếu nữ, chỉ cảm thấy nàng tỏa ra mùi hoa lan thơm mát khiến cậu ngất ngây, làm sao còn thốt ra được chữ "giận", bèn lắc đầu, nói:

– Không đâu!

Thiếu nữ nói:

– Ta họ Chu, tên là Cửu Chân, còn tiểu huynh đệ?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Ta là Trương Vô Kỵ.

Chu Cửu Chân nói:

– Vô Kỵ, Vô Kỵ! Ồ cái tên này nghe thật cao nhã, tiểu huynh đệ hẳn phải là đệ tử thế gia! Nào, ngồi xuống đây đi.

Nói xong nàng chỉ chiếc ghế thấp bên cạnh mình. Trương Vô Kỵ từ thuở cha sinh mẹ đẻ tới giờ đây là lần đầu cảm thấy ma lực kinh tâm động phách của mỹ nữ, lúc này Chu Cửu Chân có bảo cậu nhảy vào lửa, chắc cậu cũng không chút do dự nhảy ngay, nghe nàng bảo ngồi xuống bên cạnh, thực là hoan hỉ không để đâu cho xiết, liền rón rén ngồi xuống.

Tiểu Phụng và Kiều Phúc thấy tiểu thư biệt đãi gã thiếu niên vừa dơ dáy, vừa hôi hám như thế thì quá bất ngờ.

Chu Cửu Chân lại quát, giọng trong trẻo:

– Chiết Xung tướng quân, tâm khẩu.

Một con chó lớn xông lên, đớp vào hình nhân. Nhưng miếng thịt ở tâm khẩu của hình nhân đã bị con chó khác đớp mất rồi, nên con Chiết Xung tướng quân bèn đớp miếng thịt khác treo ở mạng sườn hình nhân mà ăn. Chu Cửu Chân giận dữ nói:

– Đồ tham ăn, mi không tuân lệnh hả?

Cây roi da trong tay nàng quất liền hai cái vút vút. Cây roi có nhiều gai nhọn, nên để lại trên lưng con chó hai vệt máu dài. Con chó vẫn chưa chịu nhả miếng thịt, lại còn gầm gừ ra uy. Chu Cửu Chân quát to:

– Mi vẫn không tuân lệnh hả?

Cây roi dài lại vung ra quật tới tấp, thân con chó máu tươi dầm dề. Thủ pháp đánh roi của nàng rất linh hoạt, con chó lăn lộn né tránh cách mấy cũng không thoát. Cuối cùng nó phải nhả miếng thịt, nằm phục dưới đất bất động, mồm rên ư ử. Song Chu Cửu Chân vẫn chưa tha, tiếp tục đánh đến lúc con chó chỉ còn thở thoi thóp mới nói:

– Mang nó đi bó thuốc!

Kiều Phúc đáp:

– Vâng, tuân lệnh tiểu thư.

Rồi ôm con chó bị thương ra khỏi sảnh, giao cho người nô bộc chuyên nuôi chó lo liệu.

Bầy chó thấy cảnh vừa rồi, con nào con nấy sợ mất mật, không dám nhúc nhích.

Chu Cửu Chân trở lại ghế ngồi, quát:

– Bình Khấu tướng quân, đùi trái! Uy Viễn tướng quân, tay phải! Chinh Đông tướng quân, mắt!

Từng con chó nghe lệnh lao tới cắn vào đúng bộ vị của hình nhân. Mấy chục con chó dữ, con nào cũng được phong hàm tướng quân, nàng chỉ huy tất cả, dĩ nhiên là đại nguyên soái.

Chu Cửu Chân quay đầu lại, mỉm cười:

– Tiểu huynh đệ thấy mấy con súc sinh này có hèn không? Không cho một trận đòn thì cấm có chịu vâng lệnh.

Trương Vô Kỵ tuy bị lũ chó cắn cho một trận khốn khổ, nhưng chứng kiến thảm trạng của con chó bị đòn thì không khỏi chạnh lòng. Chu Cửu Chân thấy cậu im lặng, cười hỏi:

– Tiểu huynh đệ bảo không giận ta, sao không trả lời? Tiểu huynh đệ làm sao đến được Tây Vực? Cha mẹ ở đâu?

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Mình bơ vơ thế này, nhắc đến tên tuổi thái sư phụ và phụ mẫu chỉ làm nhục họ thôi", bèn đáp:

– Cha mẹ đã qua đời, ở Trung nguyên khó sống nên bỏ xứ đi lưu lạc tới chốn này.

Chu Cửu Chân nói:

– Ta bắn con khỉ, ai bảo tiểu huynh đệ giấu nó vào trong bụng? Đói quá nên định ăn thịt khỉ phải không? Ai ngờ bị bầy chó của ta xông vào cắn xé tơi bời.

Trương Vô Kỵ đỏ mặt, lắc đầu lia lịa:

– Ta không định ăn thịt con khỉ đâu.

Chu Cửu Chân cười tươi:

– Trước mặt ta, tiểu huynh đệ không được chối quanh, nghe chưa?

Chợt nhớ ra chuyện gì đó, nàng hỏi:

– Tiểu huynh đệ đã học môn võ gì thế? Giáng một chưởng khiến con Tả tướng quân của ta vỡ đầu chết tươi, chưởng lực không phải nhẹ.

Trương Vô Kỵ nghe nàng bảo mình đã đánh chết con chó quý của nàng ta, không khỏi ân hận, nói:

– Lúc đó ta hoảng sợ, ra tay có lẽ hơi nặng. Hồi nhỏ ta có mấy năm học quyền cước của cha ta, chứ có biết võ công gì đâu.

Cửu Chân gật đầu, nói với Tiểu Phụng:

– Ngươi hãy đưa người này đi tắm rửa, thay quần áo.

Tiểu Phụng vâng dạ, dẫn Trương Vô Kỵ đi ra. Trương Vô Kỵ lưu luyến, ra đến cửa còn quay đầu lại nhìn Chu Cửu Chân một cái, không ngờ lúc ấy Chu Cửu Chân cũng đang nhìn theo cậu; bắt gặp ánh thu ba long lanh của nàng, Trương Vô Kỵ cả thẹn, mặt đỏ tận chân tóc, hồn vía đâu đâu, không nhìn thấy bậc cửa, vấp một cái ngã chúi về phía trước. Thân mình đầy vết thương, nay lại ngã nhào khiến người đau nhoi nhói mà không dám kêu, vội lồm cồm bò dậy. Tiểu Phụng cười khúc khích, nói:

– Gặp tiểu thư nhà ta, ai cũng thần hồn điên đảo. Cậu này còn nhỏ mà cũng đáo để nhỉ?

Trương Vô Kỵ luống cuống vội rảo bước đi trước. Được một quãng, Tiểu Phụng lại cười, nói:

– Cậu vào phòng của thái thái để tắm rửa, thay quần áo hả?

Trương Vô Kỵ dừng chân nhìn kỹ, thấy căn phòng trước mặt rèm thêu trướng rủ, chỗ này cậu chưa tới bao giờ, mới biết mình đã đi lạc đường. Tiểu Phụng là a hoàn láu lỉnh, chả bảo trước, đợi lúc cậu nhầm chỗ rồi mới buông lời châm chọc.

Trương Vô Kỵ mặt đỏ bừng, cúi đầu im lặng. Tiểu Phụng nói:

– Cậu hãy gọi ta "Tiểu Phụng tỷ tỷ, xin tỷ tỷ giúp cho", ta sẽ dẫn cậu đi.

Trương Vô Kỵ nói:

– Tiểu Phụng tỷ tỷ..

Tiểu Phụng giơ một ngón tay lên má, giả bộ nghiêm trang, hỏi:

– Cậu gọi gì ta?

Trương Vô Kỵ nói:

– Xin tỷ tỷ giúp cho.

Tiểu Phụng cười, nói:

– Thế mới phải chứ.

Rồi dẫn Trương Vô Kỵ trở lại căn phòng nhỏ của cậu, nói với Kiều Phúc:

– Tiểu thư dặn là cho cậu ta tắm rửa, thay bộ đồ sạch sẽ.

Kiều Phúc đáp:

– Vâng, vâng.

Thái độ rất cung kính, xem ra Tiểu Phụng tuy cũng chỉ là một a hoàn nhưng có địa vị cao hơn bọn tì bộc tầm thường. Năm, sáu nam bộc bước tới, đứa này chào "Tiểu Phụng tỷ tỷ", đứa kia chào "Tiểu Phụng tỷ tỷ". Tiểu Phụng chả thèm để ý tới họ, đột nhiên quay lại vái Trương Vô Kỵ một vái. Trương Vô Kỵ ngạc nhiên:

– Tiểu Phụng tỷ tỷ.. sao lại.. Tiểu Phụng cười, đáp:

– Lúc nãy cậu khấu đầu lạy ta, bây giờ ta trả lễ đó.

Rồi đi ra ngoài.

Kiều Phúc bèn đem chuyện Trương Vô Kỵ nhận lầm Tiểu Phụng là tiểu thư, nên khấu đầu lạy nàng ta ra kể lại, còn thêm mắm thêm muối, nghe thật khôi hài, khiến cả đám nam bộc cười rộ một hồi. Trương Vô Kỵ cúi đầu bước vào phòng, cũng chẳng tức giận, chỉ ôn lại từng lời nói, nụ cười của tiểu thư vừa rồi.

Tắm rửa xong, thấy Kiều Phúc mang lại cho cậu bộ quần áo màu xanh, may kiểu thân thẳng, dùng cho nô bộc, thì Trương Vô Kỵ thầm tức giận: "Ta đâu phải là đầy tớ thấp kém, sao lại đưa ta mặc thứ này?" Cậu lại lấy bộ quần áo cũ rách mặc vào, nhưng thấy có nhiều chỗ rách to, lộ rõ da thịt, thì nghĩ thầm: "Tiểu thư sẽ gọi mình lên hỏi chuyện, thấy mình ăn mặc rách rưới dơ dáy thế này, sẽ không vui. Mà giả dụ mình có làm nô bộc cho nàng sai bảo, thì có gì là không tốt". Cậu liền cảm thấy thanh thản, mặc bộ quần áo mới vào.

Ai ngờ không phải chỉ một ngày tiểu thư không gọi đến cậu, mà mười mấy ngày liền ngay cả a hoàn Tiểu Phụng cũng chẳng ghé đến, nói gì tiểu thư. Trương Vô Kỵ ngẩn ngẩn ngơ ngơ, mơ tưởng dung mạo, tiếng nói, nụ cười mê hồn của nàng, kể cả thần thái lúc nàng dùng roi quật tới tấp con chó, trông cũng kiều mị khả ái. Cậu mong tự đi tới hậu viện, đứng xa xa ngắm nàng cũng được, nghe nàng nói chuyện với ai cũng được, song Kiều Phúc đã dặn đi dặn lại, nếu không được chủ nhân gọi đến thì nhất quyết không được bước vào cổng giữa, nếu không sẽ bị bầy chó cắn xé. Trương Vô Kỵ nghĩ đến bầy chó hung dữ, tuy rất muốn, song cũng không dám bén mảng tới hậu viện.

Lại hơn một tháng nữa, xương cánh tay của Trương Vô Kỵ đã liền như cũ, các vết chó cắn cũng đã lành, song trên cánh tay và đùi để lại mấy vết sẹo rành rành, mỗi lần nghĩ đó là vết răng bầy chó quý của tiểu thư là cậu lại thấy lòng rộn ràng trìu mến. Dạo này chất hàn độc trong cơ thể cậu cứ vài hôm lại phát tác một lần, lần sau nặng nề hơn lần trước.

Hôm ấy Trương Vô Kỵ bị chất hàn độc hành hạ, cậu nằm trên giường, trùm chăn thật chặt, người cứ run bần bật. Kiều Phúc bước vào, nhìn cảnh này đã quen, không lấy làm lạ, nói:

– Lúc nào cắt cơn, cậu hãy húp một tô cháo "lạp bát" [54] sẽ đỡ mệt! Còn đây là bộ quần áo thái thái ban cho nhân dịp Tết.

Nói xong đặt một cái gói lên bàn.

Trương Vô Kỵ bị sốt rét đến nửa đêm cơn hàn độc mới đỡ dần, cậu ngồi dậy mở bọc ra, thấy một cái áo da mới, bên trong lót lông cừu trắng thì rất thích. Cái áo này may cả loạt cho các nô bộc, xem ra nhà họ Chu coi cậu như đầy tớ thật rồi. Trương Vô Kỵ tính nết hiền lành, cũng chả lấy thế làm khó chịu, chỉ nghĩ thầm: "Không ngờ mình ở đây đã hơn một tháng, chẳng mấy chốc là Tết. Hồ tiên sinh bảo mình chỉ sống được một năm, qua Tết này, mình sẽ không còn được đón cái Tết thứ hai nữa".

Những nhà giàu sang vào dịp cuối năm không khí thật náo nhiệt. Bọn gia nhân hối hả tất bật dọn dẹp, kẻ quét vôi, người sơn cổng, náo nức giết dê mổ heo. Trương Vô Kỵ phụ Kiều Phúc làm tạp dịch, chỉ mong chóng đến ngày Tết sẽ được rập đầu chúc Tết lão gia, thái thái, tiểu thư, được gặp lại Chu Cửu Chân, nhìn nàng một lần cuối rồi cậu sẽ đi vào rừng sâu núi thẳm tìm nơi nhắm mắt xuôi tay, còn hơn ở đây ngày ngày nhập bọn tôi tớ như Kiều Phúc.

*

* *

Tiếng pháo trúc rền vang, đã đến Tết Nguyên đán. Trương Vô Kỵ theo Kiều Phúc tới đại sảnh chúc Tết chủ nhân. Chỉ thấy một đôi vợ chồng trung niên mặt mày thanh tú ngồi ở chính giữa sảnh, bảy tám chục nô tì cùng quỳ dưới đất. Hai vợ chồng người kia cười vui vẻ, nói:

– Mọi người ai cũng vất vả!

Hai người quản gia đứng hai bên phân phát thưởng kim. Trương Vô Kỵ cũng được hai lạng bạc.

Trương Vô Kỵ không thấy tiểu thư, vô cùng thất vọng, tay cầm hai đĩnh bạc mà lòng ngẩn ngơ, bỗng nghe một giọng nói trong trẻo từ bên ngoài vọng vào:

– Biểu ca, năm nay biểu ca sang sớm thật!

Chính là giọng Chu Cửu Chân. Một giọng nam cười, đáp lại:

– Sang chúc Tết cậu mợ, ta dám đến muộn sao?

Trương Vô Kỵ cảm thấy lòng bồi hồi, tim đập như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực, mồ hôi ướt cả hai lòng bàn tay. Cậu mong ngóng hai tháng trời nay mới lại được nghe giọng nói của Chu Cửu Chân, bảo sao cậu không bồi hồi xúc động?

Lại nghe tiếng cười của một thiếu nữ khác:

– Mới sáng ra sư ca đã vội vã sang đây, chả biết đi chúc Tết hai vị tôn trưởng, hay là chúc Tết biểu muội nữa?

Vừa nói, ba người ấy vừa bước vào cửa sảnh. Đám gia nhân vội tránh sang hai bên, Trương Vô Kỵ cứ đứng như kẻ mất hồn, Kiều Phúc phải kéo mạnh một cái cậu mới dạt sang một bên.

Trong ba người thì đi giữa là một thanh niên, Chu Cửu Chân đi bên trái, mặc chiếc áo điêu cừu màu hồng, màu áo ánh lên khiến khuôn mặt nàng càng thêm kiều diễm khó tả. Bên phải là một thiếu nữ khác. Từ lúc Chu Cửu Chân bước vào đại sảnh, Trương Vô Kỵ cứ nhìn nàng không chớp mắt, chẳng để ý xem đôi nam nữ mới tới kia dung mạo xấu đẹp, y phục màu hồng hay xanh nữa. Hai người ấy chúc Tết gia chủ thế nào, chủ khách hàn huyên ra sao, Trương Vô Kỵ nhìn mà không thấy, nghe mà không lưu tâm, trong mắt chỉ có một nàng Chu Cửu Chân. Thực ra cậu còn ít tuổi, chuyện ái tình nam nữ chưa biết gì, nhưng trong đời mỗi người, lần đầu gặp một mỹ nhân, ai mà chẳng thần hồn điên đảo, như si như ngốc. Trương Vô Kỵ cũng vậy thôi. Huống hồ Chu Cửu Chân nhan sắc diễm lệ, cậu gặp nàng trong phút nguy nan, khó bề kìm nén sự đắm say, cảm thấy chỉ cần được ngắm nàng một lần, nghe nàng nói một câu, cũng đủ sung sướng lắm rồi.

Vợ chồng chủ nhân trò chuyện với ba thanh niên nam nữ một hồi, thì Chu Cửu Chân nói:

– Cha, mẹ, con đi chơi với biểu ca và Thanh muội đây!

Giọng nói có đôi chút nũng nịu của trẻ con. Vợ chồng chủ nhân mỉm cười, gật đầu. Chu phu nhân cười, nói:

– Chân nhi, con phải ăn nói nhỏ nhẹ với Võ gia muội tử, ba anh em ngày mồng một Tết không được cãi nhau đấy nhé.

Chu Cửu Chân cười, đáp:

– Mẹ, sao mẹ không dặn biểu ca đừng bắt nạt con?

Ba người trẻ tuổi vừa cười nói vừa đi ra phía hậu viện. Trương Vô Kỵ không nén được liền lẽo đẽo đi theo ở đằng xa. Hôm nay nô bộc được tha hồ chơi đùa, ai muốn làm gì thì làm.

Lúc này Trương Vô Kỵ mới nhìn kỹ, chàng trai kia dung mạo anh tuấn, thân hình cao lớn, tuy đang ở tiết đại hàn mà chỉ mặc một chiếc áo đoạn mỏng màu vàng, rõ ràng nội công không kém. Thiếu nữ kia mặc áo lông màu đen, thân hình mảnh dẻ, cử chỉ nói năng dịu dàng, nhan sắc so với Chu Cửu Chân cũng chả thua gì, mỗi người có vẻ đẹp riêng, nhưng dưới mắt Trương Vô Kỵ thì tiểu thư Cửu Chân y như tiên giáng trần, thiếu nữ kia không thể sánh nổi. Ba người ấy đều trạc mười bảy, mười tám tuổi.

Họ vừa đi vừa nói cười, thẳng ra phía hậu viện. Thiếu nữ nói:

– Chân tỷ, công phu "Nhất dương chỉ", tỷ tỷ đã luyện thêm được hai bậc nữa chưa? Tỷ tỷ ra tay cho muội xem chút được chăng?

Chu Cửu Chân nói:

– Có gì đáng xem đâu? Dù tỷ có luyện thêm mười năm nữa cũng không theo kịp một cái phẩy tay của môn "Lan hoa phất huyệt thủ" họ Võ nhà muội.

Chàng trai cười, nói:

– Cả hai muội khỏi cần khiêm nhường làm gì, đại danh lừng lẫy của Tuyết Lĩnh Song Chu, ai chẳng biết uy phong lợi hại thế nào kia chứ.

Chu Cửu Chân nói:

– Biểu muội có một mình tập luyện trong nhà, làm sao tiến nhanh bằng hai sư huynh sư muội bên ấy. Hai người tập dượt với nhau, chẳng phải một ngày tiến xa ngàn dặm đó ư?

Thiếu nữ kia nghe giọng nói của Chu Cửu Chân có vẻ hơi mỉa, chỉ mỉm cười, không trả lời, coi như mặc nhiên thừa nhận.

Chàng trai sợ Chu Cửu Chân bực tức, vội nói:

– Cái đó cũng chưa hẳn. Muội có hai vị sư phụ, cậu và mợ cùng dạy cho, chắc chắn giỏi hơn hai chúng ta rồi.

Chu Cửu Chân giận dỗi:

– Hai chúng ta, hai chúng ta mãi! Hừ, sư muội thì phải thân hơn biểu muội rồi. Biểu muội nói đùa với Thanh muội, vậy mà biểu ca cứ phải xen vào bênh mới xong.

Nói xong nàng quay đi làm mặt giận. Chàng trai cười làm lành:

– Biểu muội thân mà sư muội cũng thân, lòng bàn tay hay lưng bàn tay thì cũng thế cả, đâu có phân biệt bên này bên nọ. Biểu muội hãy cho huynh đi xem các vị tướng quân canh cổng của biểu muội, được chăng? Các vị tướng được biểu muội huấn luyện chắc ngày càng lợi hại.

Chu Cửu Chân trở lại vui vẻ, nói:

– Được lắm!

Rồi dẫn hai người kia đến "Linh Ngao doanh".

Trương Vô Kỵ đi theo đằng sau, phía xa, thấy ba người cười cười nói nói, không nghe rõ họ nói gì, chỉ theo vào nơi luyện chó.

Thì ra Chu Cửu Chân là hậu duệ của Chu Tử Liễu. Thiếu nữ kia họ Võ, tên là Võ Thanh Anh, hậu duệ của Võ Tam Thông, thuộc chi Võ Tu Văn. Võ Tam Thông và Chu Tử Liễu đều là đệ tử của Nhất Đăng đại sư, võ công vốn cùng một mối mà ra. Nhưng sau hơn trăm năm truyền qua mấy đời, sở học của hai nhà đều có thêm bớt. Huynh đệ Võ Đôn Nho, Võ Tu Văn bái đại hiệp Quách Tĩnh làm sư phụ, tuy cũng học qua Nhất dương chỉ, nhưng võ công thiên về loại cương mãnh của "Cửu chỉ thần cái" [55] Hồng Thất Công. Chàng trai tên Vệ Bích, là biểu ca[56] của Chu Cửu Chân, đã anh tuấn, tính nết lại ôn hòa, cả hai nàng Chu Cửu Chân và Võ Thanh Anh đều thầm mong trộm nhớ.

Chu, Võ hai nàng cùng tuổi, cùng xinh đẹp, xuân lan thu cúc, mỗi người một vẻ mặn mà, võ học gia truyền cũng chả bên nào thua bên nào, mấy năm trước được giới võ lâm dải Côn Luân tôn là "Tuyết Lĩnh Song Chu". Hai nàng vẫn ngầm tranh hơn thua; chàng Vệ Bích không biết thương bên nào bỏ bên nào, nên mỗi lần ba người ở bên nhau, hai nàng ngoài mặt tỏ ra khách khí, song luôn tìm cách châm chọc nhau, không ai chịu ai. Có điều Võ Thanh Anh kín đáo hơn, lại là đồng môn học nghệ cùng Vệ Bích, sớm tối gặp nhau, có lợi thế hơn hẳn Chu Cửu Chân.

Chu Cửu Chân lệnh cho cẩu bộc chuyên việc nuôi chó thả lũ mãnh khuyển ra. Bầy chó nghe lệnh hành sự, không con nào dám sai trái. Vệ Bích luôn miệng tán thưởng. Chu Cửu Chân rất đắc ý. Võ Thanh Anh nhếch mép cười:

– Sư ca, sau này sư ca sẽ làm "Quán Quân" hay "Phiêu Kỵ"?

Vệ Bích sững người, hỏi:

– Sư muội bảo sao?

Võ Thanh Anh nói:

– Sư ca chịu vâng lời Cửu Chân như thế, Cửu Chân chắc sẽ phong cho sư ca làm "Quán Quân tướng quân" hay "Phiêu Kỵ tướng quân" đấy. Có điều là phải cẩn thận đề phòng ngọn roi da mới được.

Khuôn mặt tuấn tú của Vệ Bích đỏ bừng, lông mày hơi cau, hừ một tiếng, nói:

– Sư muội nói năng tầm bậy, có phải định bảo huynh làm chó hay không?

Võ Thanh Anh mỉm cười:

– Các vị tướng quân vẫy đuôi, ngồi chờ hầu hạ cạnh bàn phấn của mỹ nhân, thích thú biết mấy, có gì là không phải nào?

Chu Cửu Chân khó chịu, nói:

– Nếu sư ca là chó, vậy sư muội sẽ là gì nhỉ?

Trương Vô Kỵ nghe đến đây, nhịn không nổi bật cười "ha ha" hai tiếng, nhưng biết ngay mình thất thố, vội che miệng, quay đi.

Võ Thanh Anh cả giận, nhưng không tiện trút thẳng sang Chu Cửu Chân, bèn đứng dậy, nói:

– Cửu Chân tỷ tỷ, nô bộc nhà này có phép tắc quá nhỉ? Chúng ta ngồi nói chuyện vui, hạng đầy tớ thấp hèn như nó đã ngang nhiên đứng bên nghe lén, lại còn dám cười hô hố. Sư ca, muội về trước đây!

Chu Cửu Chân chợt nhớ Trương Vô Kỵ từng một chưởng đánh chết con "Tả tướng quân" của nàng, sức mạnh của cánh tay chẳng phải nhỏ, bèn cười, nói:

– Thanh muội đừng giận, cũng chớ nên coi thường cậu ta. Công phu võ học nhà họ Võ tuy cao, nhưng nếu nội ba chiêu mà đánh ngã được cậu bé thấp hèn ấy thì ta mới phục muội đó.

Võ Thanh Anh nói:

– Hừ, hạng người như thế có đáng để muội ra tay chăng? Cửu Chân tỷ tỷ đừng có xem thường muội quá như vậy.

Trương Vô Kỵ không nhịn nổi, cao giọng nói:

– Võ cô nương, ta cũng do cha mẹ sinh ra, không phải là người hay sao? Còn cô nương là thần tiên Bồ Tát, công chúa nương nương gì chăng?

Võ Thanh Anh không thèm nhìn Trương Vô Kỵ, quay sang nói với Vệ Bích:

– Sư ca, tên đầy tớ kia cãi muội mà sư ca không bênh muội ư?

Vệ Bích thấy sư muội hơi nũng nịu hờn dỗi thì đã mềm lòng, tuy trong thâm tâm không nghiêng về ai trong hai nàng, song chàng biết sư phụ võ công cao siêu khôn cùng, mình mới chỉ được truyền cho đôi phần, muốn học tuyệt thế công phu, không thể không chiều lòng sư muội, bèn cười, nói với Chu Cửu Chân:

– Biểu muội, thằng nhãi kia võ công khá lắm ư? Để huynh thử nó một chút được chăng?

Chu Cửu Chân biết chàng muốn bênh sư muội, nhưng chợt nghĩ thầm: "Tiểu tử họ Trương kia chưa rõ lai lịch ra sao, để biểu ca buộc nó phải lộ gốc gác, cũng là điều hay", bèn đáp:

– Được lắm, cho nó lĩnh giáo tuyệt học nhà họ Võ thì còn gì bằng. Tên tiểu tử ấy, chính muội cũng không biết nó là đệ tử của môn phái nào cả.

Vệ Bích lấy làm lạ, hỏi:

– Thế ra võ công của nó không phải do quý phủ truyền dạy ư?

Chu Cửu Chân nói với Trương Vô Kỵ:

– Ngươi hãy nói cho biểu thiếu gia biết, ngươi là ai, thuộc môn phái nào?

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Các ngươi khinh thường ta đến thế, làm sao ta có thể nói ra môn phái của phụ mẫu, để làm nhục thái sư phụ và phụ mẫu quá cố kia chứ? Huống hồ ta chưa hề thực sự luyện tập võ công phái Võ Đang", bèn nói:

– Phụ mẫu ta mất từ khi ta còn nhỏ, ta lưu lạc giang hồ, chưa học môn võ công nào cả, hồi còn bé ta có được cha ta chỉ bảo cho đôi chút thôi.

Chu Cửu Chân hỏi:

– Thế cha ngươi tên gì? Thuộc môn phái nào?

Trương Vô Kỵ lắc đầu:

– Ta không nói ra được.

Vệ Bích cười:

– Không lẽ ba người mình lại không nhận ra được lai lịch của nó hay sao?

Chàng ta thong thả bước ra sân, cười, nói:

– Tiểu tử, ngươi hãy lại đây tiếp thử ba chiêu của ta coi nào.

Đoạn quay sang nháy mắt với Võ Thanh Anh, ý nói: "Sư muội đừng buồn, để ta đánh thằng nhãi này một trận cho sư muội bõ tức".

Kẻ đã sa vào lưới ái tình thì nhất cử nhất động, một ánh mắt, một nụ cười của tình nhân đều không bỏ sót, cái nháy mắt đầy hàm ý của Vệ Bích, Chu Cửu Chân nhìn rõ cả. Nàng thấy Trương Vô Kỵ không chịu ra đấu, bèn vẫy cậu lại gần, ghé tai nói nhỏ:

– Biểu ca ta võ công rất cao, ngươi không cần phải thắng, chỉ cần gắng chịu đựng ba chiêu, cũng đủ giữ thể diện cho ta rồi.

Nói đoạn nàng vỗ vỗ vai cậu, ra ý khích lệ.

Trương Vô Kỵ thừa biết mình không phải đối thủ của Vệ Bích, ra đấu với y chỉ chuốc nhục vào thân, làm trò vui cho ba người này thôi. Nhưng trước mặt Chu Cửu Chân cậu không khỏi ý loạn tình mê, lại nghe nàng ngon ngọt dỗ dành, hương thơm thoang thoảng, làm sao còn giữ được chủ ý? Cậu nghĩ thầm: "Tiểu thư đã khuyên nhủ, việc gian nan hung hiểm mấy ta cũng phải liều mình, bị vài cú đấm đá thì sá gì!" Thế là cậu mơ mơ hồ hồ bước tới trước mặt Vệ Bích, đứng ngơ ngơ ngẩn ngẩn.

Vệ Bích nói:

– Tiểu tử, tiếp chiêu đi!

Bốp, bốp hai tiếng, Vệ Bích đã đánh cho Trương Vô Kỵ hai cái tát. Hai chưởng đánh ra quá nhanh, Trương Vô Kỵ vừa định giơ tay chống đỡ thì đã trúng đòn, hai má đỏ hằn vết ngón tay. Vệ Bích biết võ công của Trương Vô Kỵ không phải do nhà họ Chu truyền dạy, không sợ làm bẽ mặt Chu Cửu Chân và cậu mợ nên y hạ thủ chẳng dung tình, nhưng hai chưởng này y chưa sử dụng nội lực, nếu không thì Trương Vô Kỵ đã gãy răng, vỡ mặt, lăn ra bất tỉnh rồi.

Chu Cửu Chân kêu lên:

– Vô Kỵ, hoàn chiêu đi!

Trương Vô Kỵ nghe tiếng nhắc của tiểu thư, tinh thần trở nên phấn chấn, liền tung ra một quyền. Vệ Bích nghiêng người né tránh, khen:

– Khá lắm, tiểu tử! Cũng gọi là biết đấm đá!

Vệ Bích nhảy vọt ra phía sau lưng Trương Vô Kỵ, Trương Vô Kỵ vội xoay người lại, nào ngờ Vệ Bích ra tay nhanh như chớp, đã chộp gáy, nhấc bổng cậu lên, cười, nói:

– Cho ngươi làm chó ăn phân này!

Rồi ném mạnh cậu xuống đất.

Trương Vô Kỵ tuy đã mấy năm học võ công ở Tạ Tốn, nhưng hồi ấy tuổi còn quá nhỏ, Tạ Tốn lại chỉ dạy cậu ghi nhớ khẩu quyết và chiêu số, không cốt giao đấu thực sự; nay gặp một đệ tử danh môn như Vệ Bích, dĩ nhiên chân tay luống cuống chẳng thi triển được gì. Bị Vệ Bích ném đi, đã toan giơ tay đỡ mà không kịp, "hịch" một tiếng, trán và mũi đập mạnh xuống đất, máu chảy ròng ròng.

Võ Thanh Anh vỗ tay khen hay, cười khanh khách, nói:

– Cửu Chân tỷ tỷ, võ công nhà họ Võ có được không nào?

Chu Cửu Chân vừa thẹn vừa tức, nếu bảo võ công họ Võ không hay thì đắc tội với Vệ Bích, nếu bảo là hay, hóa ra không bằng Võ Thanh Anh, nên đành sa sầm mặt, lặng thinh.

Trương Vô Kỵ lồm cồm bò dậy, lấm lét nhìn Chu Cửu Chân, thấy nàng cau mày, thì nghĩ thầm: "Dù ta có phải mất mạng, cũng không để tiểu thư bị mất mặt". Vệ Bích cười, nói:

– Biểu muội, tên tiểu tử này đến võ công mèo quào còn chẳng biết, nói gì đến môn phái?

Trương Vô Kỵ đột nhiên xông tới, tung chân đá vào bụng dưới của Vệ Bích. Vệ Bích cười, kêu lên:

– Ái chà!

Thân hình y hơi ngả ra sau tránh ngọn cước ấy, tiếp đó dùng tay trái chộp lấy cổ chân phải chưa kịp rút về của Trương Vô Kỵ, đẩy một cái. Cú đẩy này y chỉ sử dụng ba thành công lực mà Trương Vô Kỵ như mũi tên rời khỏi dây cung, bay thẳng vào tường. Trong cơn nguy cấp, Trương Vô Kỵ vận sức nhảy lên, xoay người lại để lưng chạm tường trước, tuy thoát cái họa vỡ đầu gãy xương, nhưng lưng đau nhói, tưởng chừng các đốt sống gãy rời ra cả, rồi thân hình sụm xuống chân tường như một tảng bùn, không đứng lên nổi nữa.

Thân xác tuy đau đớn, song tâm trí cậu vẫn nghĩ đến khuôn mặt Chu Cửu Chân, trong lúc mơ hồ, cậu chỉ nghe nàng nói:

– Tiểu tử kia thật vô dụng, thôi chúng mình ra hoa viên chơi đi!

Giọng nàng ta đầy vẻ bực bội. Trương Vô Kỵ cũng không biết từ đâu dâng lên sức lực, cậu bật dậy, lao tới giáng chưởng vào người Vệ Bích.

Vệ Bích cười ha hả, vung tay tiếp chưởng, "rắc" một tiếng, thân hình lảo đảo phải lùi lại một bước.

Chưởng vừa rồi của Trương Vô Kỵ là chiêu "Thất tinh thủ" trong "Võ Đang trường quyền" do Trương Thúy Sơn dạy cho cậu hồi lênh đênh trên bè gỗ giữa biển. Võ Đang trường quyền là công phu nhập môn của phái Võ Đang, chiêu số không có gì huyền diệu, nhưng võ công của phái Võ Đang đi theo một con đường riêng trong võ học, chuyên lấy nhu khắc cương, lấy nhược thắng cường, không dùng sức của mình đả thương đối thủ mà mượn ngay sức địch đánh ra để phản kích lại; sức địch đánh ra một cân thì lực phản kích cũng một cân, địch đánh ra trăm cân, thì lực phản kích cũng trăm cân chẳng khác gì kẻ địch đấm vào bức tường, cú đấm càng mạnh, chính kẻ đấm sẽ càng bị tổn thương nặng hơn. Năm xưa, khi Giác Viễn đại sư tụng pho Cửu dương chân kinh, từng có câu: "Dĩ kỷ tòng nhân, hậu phát chế nhân" [57] . Trương Tam Phong sau này đưa câu ấy vào quyền pháp của phái Võ Đang. Nếu là các cao thủ như Tống Viễn Kiều, Du Liên Châu, ngoài việc mượn lực của đối phương, họ sẽ còn phát thêm kình lực của mình vào nữa. Trương Vô Kỵ sở học nông cạn, không biết là mình vận dụng võ công thượng thừa phản kích lại địch thủ.

Vệ Bích cảm thấy cánh tay tê dại, khí huyết nhộn nhạo trong ngực, bèn nghiêng người múa chưởng, đánh vào sau lưng Trương Vô Kỵ. Trương Vô Kỵ đánh ngược lại phía sau một chưởng, dùng chiêu "Nhất điều tiên" [58] . Vệ Bích thấy chưởng thế của đối phương kỳ diệu, vội hất người về phía sau né tránh, song vai đã bị ba ngón tay của Trương Vô Kỵ quét trúng, tuy không đau đớn gì, nhưng Võ Thanh Anh và Chu Cửu Chân đều nhìn thấy, như vậy là đã thua một chiêu.

Vệ Bích trước mặt ý trung nhân bị thua như thế, làm sao chịu nổi? Thoạt đầu y giao đấu với Trương Vô Kỵ, thấy đối phương nhỏ tuổi, thân phận thấp hèn, có thắng cũng chả vinh hạnh gì, chẳng qua chỉ đem cậu ra đùa giỡn cho Võ Thanh Anh vui lòng nên quyền cước chỉ sử dụng hai ba thành công lực, giờ bị thua liền hai chiêu, bèn quát lớn:

– Tiểu tử, ngươi không sợ chết hả?

Nghe "vù" một tiếng, nhắm ngực Trương Vô Kỵ đánh ra một quyền. Đây là chiêu "Trường Giang tam điệp lãng" [59], chứa ba thành công lực, nếu đối phương dùng toàn lực đỡ được luồng kình lực thứ nhất, sẽ không ngờ rằng luồng kình lực thứ hai liền ập tới, rồi luồng kình lực thứ ba lại dồn dập tràn vào, không phải cao thủ võ học mà trúng phải chiêu này thì không chết cũng bị trọng thương.

Trương Vô Kỵ thấy chiêu thức của đối phương lợi hại, lòng thầm hoảng sợ, không kịp suy nghĩ gì nữa, còn nhớ thủ pháp năm nào cha cậu dạy cho trên chiếc bè gỗ, hai cánh tay liền khoanh thành hình vòng tròn, dùng chiêu "Tỉnh lan" [60] chống đỡ. Chiêu này bác đại tinh thâm, Trương Vô Kỵ đâu hiểu nổi chỗ vi diệu của nó? Chẳng qua trong cơn nguy cấp, thuận tay sử dụng mà thôi. Tay phải của Vệ Bích đấm trúng cánh tay phải của Trương Vô Kỵ, luồng kình lực thứ nhất của y như chìm vào biển cả mênh mông, chẳng còn tăm hơi gì hết; y đang kinh ngạc, thì "rắc" một tiếng, luồng kình lực thứ hai đã dội ngược trở lại làm gãy luôn cánh tay y. Cũng may là luồng kình lực thứ ba chưa dùng tới, nếu không, do Trương Vô Kỵ chưa hiểu cách vận dụng chiêu "Tỉnh lan" cả hai sẽ bị trọng thương bởi luồng kình lực thứ ba.

Võ Thanh Anh và Chu Cửu Chân cùng kêu lên, chạy tới bên Vệ Bích để xem thương thế. Vệ Bích cười gượng, nói:

– Không sao, tại huynh nhất thời sơ ý.

Võ Thanh Anh và Chu Cửu Chân đau lòng vì thấy tình lang bị thương, cả hai nàng không hẹn mà cùng vung chưởng đánh Trương Vô Kỵ.

Trương Vô Kỵ một chiêu đánh gãy tay Vệ Bích, bản thân cậu cũng bị đẩy ngã ngửa, đứng lên chưa vững đã bị Chu, Võ hai nàng tấn công. Cậu quên cả né tránh, bị trúng một chưởng vào ngực, một chưởng vào vai, lập tức ộc ra một ngụm máu. Trương Vô Kỵ đau đớn, không phải vì vết thương thể xác, cậu nghĩ thầm: "Ta đã vì nàng mà liều mạng giao đấu, cốt giữ thể diện cho nàng, tại sao khi ta thắng, nàng lại đánh ta?" Vệ Bích nói:

– Hai muội hãy dừng tay!

Chu, Võ hai nàng nghe lời dừng lại, chỉ thấy Vệ Bích tím mặt, vung tay trái đánh Trương Vô Kỵ. Trương Vô Kỵ vội nhảy tránh. Chu Cửu Chân nói:

– Biểu ca bị thương rồi, hà tất phải hơn thua với thằng nhãi ấy làm gì? Đó là lỗi của muội để biểu ca động thủ với hắn.

Với tính cao ngạo, ngày thường bảo nàng phải cúi đầu nhận lỗi với người khác là điều ngàn vạn lần không thể. Nếu không phải do tình lang bị gãy tay, nàng vừa lo sợ vừa thương xót thì không đời nào nàng chịu hạ mình van nài như thế. Nào ngờ nghe xong, Vệ Bích lại càng tức tối, cười khẩy:

– Biểu muội, tên đầy tớ nhà muội bản lĩnh cao cường, chứ muội có lỗi gì chứ? Có điều huynh chưa phục đâu.

Đoạn lấy tay trái gạt Chu Cửu Chân sang một bên, rồi vung quyền nhắm Trương Vô Kỵ đánh tới.

Trương Vô Kỵ định lùi lại để tránh, Võ Thanh Anh liền dùng hai bàn tay đẩy nhẹ vào sau lưng cậu, khiến cậu hết đường lùi. Cú đấm của Vệ Bích trúng ngay sống mũi Trương Vô Kỵ, lập tức máu chảy ròng ròng. Võ Thanh Anh mưu mẹo khôn ngoan hơn Chu Cửu Chân, chỉ ngầm giúp sư ca chứ không lộ liễu, để chàng ta giữ được thể diện mà thầm cảm kích. Chu Cửu Chân thấy thế, nghĩ thầm: "Ngươi biết giúp sư ca của ngươi, chả lẽ ta không biết giúp biểu ca của ta?" Nàng ta liền ra tay bước tới giáp công.

Trương Vô Kỵ võ công vốn thua xa Vệ Bích, giờ lại thêm hai nàng kia ra tay, một người công khai, một người kín đáo trợ giúp Vệ Bích, trong giây lát bị ba người tay đấm chân đá, trúng bảy tám đòn liền, nôn ra mấy ngụm máu. Cậu phẫn uất, liều mình một phen, sử dụng ba mươi hai thế Võ Đang trường quyền từng được cha dạy, tuy công lực không đủ, quyền cước đều thiếu uy lực, nhưng sở học toàn là gia số thượng thừa nên cũng cầm cự được chừng một tuần trà mà vẫn chưa bị đánh ngã.

Chu Cửu Chân quát:

– Tên tiểu tử thối tha không biết từ đâu tới lại dám vào "Chu Võ liên hoàn trang" làm loạn, chắc ngươi không thiết sống nữa rồi!

Thấy Vệ Bích giơ tả chưởng lên, vận kình đánh ra, Chu Cửu Chân bèn dùng vai huých mạnh, đẩy Trương Vô Kỵ vào đón chưởng của Vệ Bích. Chỗ cánh tay bị gãy của Vệ Bích càng lúc càng đau, y không muốn dây dưa lâu thêm với tên đầy tớ này nên dồn tới mười thành công lực vào chưởng đó. Trương Vô Kỵ bị đẩy về phía trước, chỉ thấy gió quạt mạnh tới mặt, tự biết khó chống trả, song vẫn giơ hai cánh tay che mặt.

Bỗng một tiếng quát uy nghiêm vang lên:

– Dừng tay!

Bóng xanh thấp thoáng, một người từ bên cạnh phóng tới, giơ tay gạt chưởng của Vệ Bích. Cái gạt trông nhẹ nhàng, vậy mà Vệ Bích loạng choạng, phải lùi lại mấy bước, suýt ngã xuống nếu không được người mặc áo xanh kia nhanh nhẹn đỡ vai cho y đứng vững lại.

Chu Cửu Chân kêu lên:

– Cha!

Võ Thanh Anh kêu:

– Chu bá phụ!

Vệ Bích thở hổn hển, nói:

– Cữu cữu[61] !

Người kia chính là Chu Trường Linh, phụ thân của Chu Cửu Chân. Khi Vệ Bích bị thương gãy tay, sự việc không phải nhỏ, đám cẩu bộc ở Linh Ngao doanh vội phi báo chủ nhân, Chu Trường Linh lập tức chạy đến thì thấy ba người đang vây đánh Trương Vô Kỵ. Chu Trường Linh quan sát một hồi, khi thấy Vệ Bích giở sát thủ, mới nhảy vào cứu mạng Trương Vô Kỵ.

Chu Trường Linh trừng mắt nhìn Chu Cửu Chân và Vệ, Võ hai đứa kia, mặt hầm hầm tức giận, đột nhiên giáng cho con gái mình một cái tát, miệng quát lớn:

– Giỏi quá, giỏi quá nhỉ! Con cháu nhà họ Chu ngày một tiến xa! Ta sinh ra đứa con gái như ngươi, sau này còn mặt mũi đi gặp tổ tiên dưới suối vàng được chăng?

Chu Cửu Chân từ nhỏ luôn được phụ mẫu sủng ái, chưa bị mắng mỏ một lời, hôm nay trước mặt mọi người lại bị cha giáng cho một cái bạt tai, thấy trời đất quay cuồng trước mắt, chả biết nói sao, lát sau mới khóc òa lên.

Chu Trường Linh quát to:

– Câm miệng đi, không được khóc!

Giọng nói thật uy nghiêm, tiếng vang chấn động cả trong nhà, khiến bụi trên trần bay xuống lả tả. Chu Cửu Chân cả sợ, nín bặt luôn.

Chu Trường Linh nói:

– Nhà họ Chu ta bao đời nay lấy hiệp nghĩa làm trọng, vị cao tổ của ngươi là Tử Liễu công phò tá Nhất Đăng đại sư, làm quan đến chức Tể tướng ở nước Đại Lý, sau giúp giữ thành Tương Dương, nổi danh thiên hạ, anh hùng biết chừng nào. Ngờ đâu con cháu kém cỏi, đến đời Chu Trường Linh ta lại sinh ra một đứa con gái như ngươi, ba người lớn vây đánh một đứa bé, lại còn định giết nó. Thử hỏi như thế có đáng hổ thẹn hay không hả?

Chu Trường Linh tuy trách mắng con mình, nhưng mấy câu đó Vệ Bích và Võ Thanh Anh nghe khác gì dao cứa vào mặt, thật chẳng còn mặt mũi nào hết.

Trương Vô Kỵ toàn thân đau đớn, mấy lần muốn xỉu, cố nghiến răng chịu đựng mới còn đứng nổi, nhưng đầu óc vẫn tỉnh táo, nghe Chu Trường Linh nói thế thì sinh lòng thán phục, nghĩ thầm: "Thị phi phân minh, thế mới đáng bậc hiệp nghĩa thực sự!" Thấy Chu Trường Linh giận đến tái mặt, toàn thân run rẩy, hơi thở hổn hển, còn Chu Cửu Chân, Vệ, Võ thì đứng cúi gầm mặt, không dám ngẩng lên nhìn ông ta.

Trương Vô Kỵ thấy nửa khuôn mặt của Chu Cửu Chân bị sưng lên, hiển nhiên cái tát vừa rồi của phụ thân thực không nhẹ, dáng dấp nàng vừa xấu hổ vừa sợ hãi, muốn khóc mà không dám, chỉ cắn chặt môi, thì cậu liền nói:

– Lão gia, việc này không phải tại tiểu thư đâu ạ.

Nói xong, cậu mới giật mình, vì cậu ú ớ như người câm, nói không ra tiếng, cổ họng đã bị Vệ Bích đánh trọng thương.

Chu Trường Linh nói:

– Vị tiểu huynh đệ này quyền cước không thành chương pháp, rõ ràng chưa bái sư học nghệ, chỉ do lòng quả cảm mà liều chết chống đỡ, càng khiến cho người ta kính phục. Ba đứa ngươi ăn hiếp một người không biết võ công, bao lời giáo huấn của sư trưởng, phụ mẫu, có còn nhớ được câu nào hay không?

Câu này là một lời trách mắng nghiêm khắc, đối với Vệ Bích và Võ Thanh Anh cũng chẳng nể nang gì hết. Trương Vô Kỵ nghe vậy càng cảm thấy áy náy thêm.

Chu Trường Linh lại hỏi từ đâu Trương Vô Kỵ đến sơn trang, tại sao lại mặc y phục nô bộc, vừa hỏi vừa sai người lấy thuốc trị thương và cao tiếp cốt cho Trương Vô Kỵ và Vệ Bích. Chu Cửu Chân biết cha đang tức giận, không dám nói dối, bèn kể lại việc Trương Vô Kỵ giấu con khỉ nhỏ, bị bầy chó cắn xé và được nàng ta đưa về sơn trang cứu chữa như thế nào.

Chu Trường Linh càng nghe, lông mày càng nhíu lại. Khi con gái kể xong, ông xẵng giọng:

– Vị Trương huynh đệ này vì nghĩa mà cứu con khỉ, thật là người nhân từ hiệp nghĩa, vậy mà ngươi lại coi cậu ấy như kẻ tôi đòi. Mai mốt chuyện này truyền ra, người trong giang hồ sẽ bảo "Kinh thiên nhất bút" Chu Trường Linh là kẻ bất nhân bất nghĩa. Ngươi nuôi bầy ác cẩu, ta cứ ngỡ chỉ để cho vui, ai ngờ ngươi lại cả gan sai chó cắn người. Hôm nay ta không đánh chết con a đầu này, Chu Trường Linh ta còn mặt mũi nào nhìn mọi người trong giới võ lâm nữa chứ?

Chu Cửu Chân thấy cha nổi giận thật sự, vội quỳ xuống, nói:

– Thưa cha, từ rày con không dám thế nữa.

Chu Trường Linh vẫn hầm hầm tức giận, Vệ Bích và Võ Thanh Anh cũng cùng quỳ xuống cầu khẩn.

Trương Vô Kỵ nói:

– Lão gia..

Chu Trường Linh vội ngắt lời:

– Tiểu huynh đệ, xin cậu đừng gọi ta là lão gia, ta chỉ hơn cậu vài tuổi, cùng lắm cậu gọi ta hai tiếng "tiền bối" là được rồi.

Trương Vô Kỵ nói:

– Vâng, thưa Chu tiền bối, việc này cũng không phải lỗi của tiểu thư, tiểu thư quả thật không định làm như vậy.

Chu Trường Linh nói:

– Ba đứa ngươi coi đó, người ta còn nhỏ tuổi mà đã độ lượng như thế, ba đứa ngươi có sánh nổi chăng? Hôm nay mồng một Tết, Võ cô nương lại là khách, đáng lẽ ta không nên nổi giận, nhưng việc này quá quắt lắm không thể chịu nổi, chỉ có bọn hắc đạo hèn hạ mới làm, chứ người hiệp nghĩa ai lại như thế? Nay vị Trương huynh đệ đã xin cho, ta cho phép ba đứa ngươi đứng dậy.

Ba người kia hổ thẹn cùng đứng lên.

Chu Trường Linh quay sang hỏi đám cẩu bộc:

– Lũ ác khuyển đâu? Thả chúng ra cả đây cho ta.

Đám cẩu bộc vâng lệnh, thả bầy chó dữ ra.

Chu Cửu Chân thấy cha mặt hầm hầm, chưa biết dụng ý của ông thế nào, gọi khẽ:

– Cha.

Chu Trường Linh cười khẩy, nói:

– Ngươi nuôi bầy chó dữ này để cắn người, giỏi lắm, vậy ngươi sai chó cắn ta thử coi.

Chu Cửu Chân khóc, nói:

– Thưa cha, con biết tội rồi.

Chu Trường Linh hừ một tiếng, bước vào giữa bầy chó, chỉ nghe bốp bốp bốn tiếng, bốn con ác cẩu to tướng đã vỡ đầu chết ngay tại chỗ. Mấy người đứng xung quanh sợ hãi, ngẩn ra không nói nên lời. Chu Trường Linh tay đấm chân đá, chém ngang chọc thẳng, chỉ thấy thân hình ông phiêu động, cái bóng người màu xanh đi quanh bầy chó một vòng đã khiến hơn ba chục con mãnh khuyển bị đánh chết, đừng nói việc chúng cắn lại, ngay chỉ chạy vài bước chúng cũng chẳng kịp. Chu Trường Linh đánh chết luôn một lúc cả bầy chó, dĩ nhiên chúng chưa nhận được hiệu lệnh của Chu Cửu Chân, lại bị đòn bất ngờ. Nhưng Chu Trường Linh xuất thủ nhanh như chớp, chưởng lực lại rất mạnh, bọn Trương Vô Kỵ, Vệ Bích và Võ Thanh Anh nhìn thấy chỉ biết lè lưỡi lắc đầu.

Chu Trường Linh bế ngang Trương Vô Kỵ lên, đem về phòng mình dưỡng thương. Lát sau Chu phu nhân và Chu Cửu Chân cùng tới lo việc sắc thuốc. Trương Vô Kỵ vốn bị chó cắn mất nhiều máu dạo trước, cơ thể đã suy nhược, lần này lại bị đả thương không nhẹ, nên nửa tỉnh nửa mê mấy ngày liền. Khi tỉnh hẳn, cậu viết bài thuốc, bảo theo đó mà sắc cho cậu uống, nên hồi phục rất nhanh. Chu Trường Linh thấy cậu dùng thuốc như thần thì vừa kinh ngạc vừa vui mừng.

Trong hơn hai chục ngày dưỡng thương, Chu Cửu Chân thường ở bên giường bệnh của Trương Vô Kỵ, lúc hát, lúc ra câu đố, khi kể chuyện khi nói đùa, chẳng khác gì người chị gái chăm sóc cậu em bị bệnh, mọi việc hết sức chu đáo.

Khi Trương Vô Kỵ đã dậy đi lại được, ngày ngày Chu Cửu Chân vẫn bầu bạn với cậu cả nửa buổi, lúc theo cha học võ, nàng cũng không ngại ngần gọi Trương Vô Kỵ đến xem. Chu Trường Linh hai lần ướm lời ngỏ ý thu nhận Trương Vô Kỵ làm đồ đệ, đem võ công một đời truyền cho cậu, song thấy cậu không tiếp nhận nên cũng không nhắc lại nữa. Ông đối với cậu rất thân thiết, coi như người trong nhà. Võ công nhà họ Chu có liên quan đến thư pháp, ngày ngày Chu Cửu Chân đều tập viết, cũng rủ Trương Vô Kỵ cùng tập với nàng. Trương Vô Kỵ từ sau khi rời Băng Hỏa đảo về Trung nguyên chỉ gặp toàn những cảnh lênh đênh khốn khổ, lo lắng bệnh hoạn, chưa bao giờ được hưởng những ngày yên ổn vui sướng như thế này.

*

* *

Thấm thoắt đã đến trung tuần tháng Hai, hôm đó Trương Vô Kỵ và Chu Cửu Chân đang tập viết trong thư phòng, bỗng a hoàn Tiểu Phụng chạy vào bẩm:

– Tiểu thư, Diêu nhị gia đã từ Trung nguyên trở về.

Chu Cửu Chân cả mừng, đặt bút xuống, reo lên:

– Hay lắm, ta đợi Diêu nhị thúc hơn nửa năm rồi, bây giờ mới về tới.

Nàng kéo tay Trương Vô Kỵ, nói:

– Vô Kỵ đệ, chúng mình ra đón nào, không biết Diêu nhị thúc có mua đủ các thứ tỷ tỷ nhờ hay không?

Hai người nắm tay nhau đi ra đại sảnh. Trương Vô Kỵ hỏi:

– Diêu nhị thúc là ai thế?

Chu Cửu Chân nói:

– Diêu nhị thúc là huynh đệ kết nghĩa của cha ta, tên là Thiên Lý Truy Phong Diêu Thanh Tuyền. Năm ngoái cha ta nhờ Diêu nhị thúc mang lễ vật đi Trung nguyên, ta nhờ Diêu nhị thúc tới Hàng Châu mua son phấn và vải vóc, tới Tô Châu mua kim chỉ, khung thêu, lại nhờ mua bút Hồ Châu và mực Vi Châu, nghiên thiếp thư tịch, chả hiểu Diêu nhị thúc có mua đủ các thứ hay không.

Rồi nàng giải thích, Chu sơn trang nằm trong dãy núi Côn Luân ở Tây Vực, một số mặt hàng tốt, trong vòng ngàn dặm không đâu có bán, núi Côn Luân cách Trung nguyên cả vạn dặm, mỗi lần đi về tốn hai ba năm, nên gặp dịp có ai đi Trung nguyên, Chu Cửu Chân đều nhờ mua giùm một số lớn vật phẩm.

Hai người bước vào cửa sảnh, chỉ nghe tiếng khóc hu hu thì bất giác giật mình, vào trong sảnh lại càng kinh ngạc, thấy Chu Trường Linh cùng một hán tử trung niên cao gầy đang quỳ dưới đất bên nhau khóc. Hán tử mặc đồ tang màu trắng, lưng thắt một sợi dây bện bằng cỏ. Chu Cửu Chân tới bên người đó, gọi:

– Diêu nhị thúc!

Chu Trường Linh khóc òa lên, nói:

– Cửu Chân con ơi, Đại ân nhân của gia đình ta, Trương ngũ gia.. Trương ngũ gia.. đã.. mất rồi!

Chu Cửu Chân hốt hoảng hỏi:

– Sao lại thế? Trương ân công.. mất tích mười năm, chẳng phải đã bình yên trở về đó sao?

Diêu Thanh Tuyền nghẹn ngào nói:

– Chúng ta ở nơi xa xôi hẻo lánh, tin tức đến chậm, đâu biết rằng Trương ân công đã cùng phu nhân tự vẫn cách đây hơn bốn năm rồi. Ta chưa đến núi Võ Đang, mới ở Thiểm Tây đã nghe tin này, lúc lên núi gặp Tống đại hiệp và Du nhị hiệp mới biết là thực, ôi..

Trương Vô Kỵ càng nghe càng ngạc nhiên, đến đoạn sau thì không còn nghi ngờ gì nữa, người mà họ gọi là "đại ân nhân Trương ngũ gia" chính là Trương Thúy Sơn thân phụ của cậu. Cậu thấy Chu Trường Linh và Diêu Thanh Tuyền khóc lóc thảm thiết, Chu Cửu Chân cũng sụt sùi rơi lệ, cậu đã định bước tới thổ lộ thân phận của mình, nhưng lại nghĩ thầm: "Từ trước tới nay mình không hề nói rõ thân thế, bây giờ nói ra, Chu bá phụ và Cửu Chân tỷ tỷ sẽ không tin, cho rằng mình mạo nhận cầu ân, không khỏi coi thường mình".

Lát sau, trong nội viện lại có tiếng khóc lớn, Chu phu nhân được a hoàn dìu ra, liên tiếp hỏi han Diêu Thanh Tuyền. Diêu Thanh Tuyền trong cơn đau lòng quên cả chào nghĩa tẩu, kể luôn đầu đuôi việc Trương Thúy Sơn tự cắt cổ chết ra sao. Trương Vô Kỵ tuy cố nén lòng không khóc thành tiếng, nhưng nước mắt cũng chảy ròng ròng. Trong đại sảnh mọi người cùng khóc, nên không ai để ý đến cậu.

Chu Trường Linh đột nhiên đập mạnh tay xuống bàn, làm vỡ một bên chiếc bàn bát tiên trước mặt, nói:

– Nhị đệ, hãy nói rõ ràng cho huynh nghe, những kẻ nào đã lên núi Võ Đang bức tử Trương ân công và phu nhân?

Diêu Thanh Tuyền nói:

– Tiểu đệ sau khi nghe tin, đã định về cấp báo với đại ca, nhưng lại nghĩ cần biết rõ tính danh kẻ thù. Tính ra, bọn lên núi Võ Đang bức tử Trương ngũ ân công, từ tam đại thần tăng phái Thiếu Lâm trở xuống, số người không phải là ít, tiểu đệ phải đi các nơi dò hỏi, thành thử mới tốn thời gian như thế.

Rồi kể lại tên tuổi tất cả những người thuộc các phái Không Động, Nga Mi, Côn Luân, các bang hội Hải Sa, Cự Kình, Thần Quyền, Vu Sơn từng lên núi Võ Đang sinh sự với Trương Thúy Sơn, như Không Văn phương trượng, Không Trí đại sư, Hà Thái Xung, Tĩnh Huyền sư thái, Quan Năng.

Chu Trường Linh khẳng khái nói:

– Nhị đệ, những người ấy đều là cao thủ số một số hai trong võ lâm, chúng ta đánh một người trong số đó cũng không nổi. Nhưng Trương ngũ gia đối với chúng ta ơn nặng như núi, huynh đệ ta dù tan xương nát thịt cũng phải trả mối thù này cho Trương ngũ gia.

Diêu Thanh Tuyền gạt lệ, nói:

– Đại ca nói rất phải, tính mạng huynh đệ ta đều do Trương ngũ gia cứu, nên đã sống thêm mười mấy năm nữa, nay có trả lại cho Trương ngũ gia thì cũng phải thôi. Tiểu đệ ân hận nhất là không gặp được công tử của Trương ngũ gia, nếu không đã chuyển đạt ý của đại ca; hay nhất là mời được Trương công tử đến đây để mọi người dốc lòng săn sóc hầu hạ Trương công tử.

Chu phu nhân hỏi han tỉ mỉ về Trương công tử. Diêu Thanh Tuyền kể chỉ biết Trương công tử bị trọng thương, không rõ chữa trị ở đâu, hình như năm nay mới tám, chín tuổi gì đó, hẳn là Trương Tam Phong sẽ truyền cho võ công tuyệt thế, sau này làm chưởng môn phái Võ Đang. Vợ chồng Chu Trường Linh quỳ xuống lạy tạ trời đất, mừng cho họ Trương có người nối dõi.

Diêu Thanh Tuyền nói:

– Nhân sâm ngàn năm, hoa sen núi tuyết Thiên Sơn, giấy Ngọc Sư, dao Ô Kim.. các lễ vật mà đại ca bảo tiểu đệ đem biếu Trương ân công, tiểu đệ đều để lại trên núi Võ Đang, nhờ Tống đại hiệp giao lại cho Trương công tử.

Chu Trường Linh nói:

– Làm thế rất hay, làm thế rất hay!

Rồi quay sang nói với Chu Cửu Chân:

– Gia đình ta thụ đại ân thế nào, ngươi hãy kể cho Trương huynh đệ biết.

Chu Cửu Chân cầm tay Trương Vô Kỵ dẫn tới thư phòng của phụ thân, chỉ cho cậu xem bức tranh lớn treo ở trên tường, bên phải bức tranh đề bảy chữ "Trương công Thúy Sơn ân đức đồ".

Trương Vô Kỵ lần thứ nhất bước vào thư phòng của Chu Trường Linh, lúc này thấy tên họ phụ thân, mắt rưng rưng lệ, nhìn bức tranh vẽ một nơi hoang dã và một võ sĩ trẻ tuổi diện mạo anh tuấn, tay trái cầm ngân câu, tay phải múa thiết bút đang giao đấu với năm tên địch diện mạo hung ác. Trương Vô Kỵ biết võ sĩ chính là cha mình, tuy mặt mũi không thật giống, song cậu tưởng như trông thấy hình ảnh phụ thân. Nằm dưới đất có hai người, một là Diêu Thanh Tuyền, một là Chu Trường Linh; còn có hai người khác đã đầu một nơi, thân một nẻo. Góc trái bên dưới vẽ một thiếu phụ rất trẻ, vẻ mặt hốt hoảng, chính là Chu phu nhân đang bế một đứa con gái chừng một, hai tuổi. Trương Vô Kỵ nhìn kỹ, thấy bé gái kia có một nốt ruồi nhỏ bên miệng, chính là Chu Cửu Chân bây giờ. Giấy vẽ tranh đã ngả màu vàng, ít ra cũng phải trên chục năm.

Chu Cửu Chân chỉ bức tranh giải thích cho Trương Vô Kỵ rõ.

Ngày ấy, Chu Cửu Chân mới sinh chưa lâu, Chu Trường Linh phải đưa gia đình lánh sang phía tây để tránh kẻ thù, dọc đường bị bọn chúng đuổi kịp. Hai sư đệ đã bị địch giết, Chu Trường Linh và Diêu Thanh Tuyền cũng đã bị đánh ngã. Bọn địch sắp hạ độc thủ thì Trương Thúy Sơn đi ngang qua ra tay trượng nghĩa đánh đuổi bọn địch kia, cứu sống cả nhà. Nhẩm tính thời gian, thì đấy là trước khi Trương Thúy Sơn đi Băng Hỏa đảo.

Chu Cửu Chân kể xong, buồn rầu nói:

– Gia đình ta ẩn cư chốn xa xôi, tin Trương ân công từ hải ngoại trở về, mãi năm ngoái mới biết. Cha ta từng thề sẽ không bao giờ trở lại Trung nguyên, nên mới bảo Diêu nhị thúc mang lễ vật đến núi Võ Đang bái kiến, nào ngờ..

Nói đến đây, một tên thư đồng vào mời nàng sang linh đường hành lễ.

Chu Cửu Chân vội trở về phòng mình, thay quần áo sạch sẽ, rồi cùng Trương Vô Kỵ đến hậu đường, thấy trong đó bày hai linh vị, thắp nến trắng, một linh bài đề "Ân công Trương đại hiệp, húy Thúy Sơn chi linh vị", linh bài thứ hai đề "Trương phu nhân Ân thị chi linh vị". Vợ chồng Chu Trường Linh và Diêu Thanh Tuyền quỳ lạy dưới đất, khóc lóc thảm thiết. Trương Vô Kỵ cùng Chu Cửu Chân cũng quỳ xuống lạy.

Chu Trường Linh xoa đầu Trương Vô Kỵ, nghẹn ngào nói:

– Tiểu huynh đệ, tốt lắm, tốt lắm! Vị Trương đại hiệp ấy khảng khái lỗi lạc, thật là một nam tử đương thế vô song, cậu tuy không biết Trương đại hiệp, nhưng quỳ lạy như thế cũng phải lắm.

Trong hoàn cảnh này, Trương Vô Kỵ càng không thể tự nhận mình là con trai của "Trương ân công", cậu nghĩ thầm: "Diêu Thanh Tuyền nghe nhầm thế nào, bảo ta chỉ tám chín tuổi, nếu bây giờ mình đứng ra nhận, mọi người nhất định sẽ không tin".

Bỗng Diêu Thanh Tuyền nói:

– Đại ca, vị Tạ gia..

Chu Trường Linh đằng hắng một tiếng, nháy mắt ra hiệu, Diêu Thanh Tuyền lập tức hiểu ý, nói trớ đi:

– Việc lễ tạ kia phải làm thế nào? Có cần phát tang Ân công hay không?

Chu Trường Linh nói:

– Việc đó tùy nhị đệ liệu mà làm!

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Rõ ràng lúc đầu nói là vị Tạ gia, sao bỗng dưng lại đổi thành lễ tạ? Tạ gia, Tạ gia? Không lẽ Diêu Thanh Tuyền nhắc đến nghĩa phụ của ta?"

*

* *

Đêm đó Trương Vô Kỵ nằm nghĩ đến phụ mẫu đã qua đời, nghĩ đến nghĩa phụ đang sống kiếp sống thừa ở hoang đảo miền cực bắc giá lạnh, trằn trọc mãi không ngủ được.

Sáng hôm sau trở dậy, nghe tiếng bước chân nhẹ nhàng, ngửi thấy mùi hương thoang thoảng, thấy Chu Cửu Chân bưng chậu nước rửa mặt vào phòng thì Trương Vô Kỵ kinh ngạc, hỏi:

– Cửu Chân tỷ tỷ, sao.. sao tỷ tỷ lại mang cho đệ..

Chu Cửu Chân nói:

– Nô bộc, a hoàn đi hết cả rồi, ta hầu đệ một lần thì đã sao?

Trương Vô Kỵ càng kinh ngạc, hỏi:

– Vì sao.. vì sao họ lại đi hết?

Chu Cửu Chân nói:

– Tối qua cha ta cho mỗi người một ít bạc, để họ tìm đường về quê, vì ở đây sẽ gặp nguy hiểm.

Nàng ngừng lời một lát, rồi tiếp:

– Đệ rửa mặt đi, cha ta có chuyện muốn nói với đệ.

Trương Vô Kỵ vội vàng rửa mặt qua loa. Chu Cửu Chân chải đầu cho cậu, rồi hai người cùng sang thư phòng của Chu Trường Linh. Tòa sơn trang này vốn có đến bảy tám chục tì bộc, lúc này đột nhiên vắng lặng, không một bóng người.

Chu Trường Linh thấy hai người tới, nói:

– Trương huynh đệ, ta kính nể tấm lòng nhân hiệp anh hùng khí khái của cậu, vốn dĩ muốn giữ cậu sống dăm mười năm ở đây cùng chúng tôi, nhưng sắp xảy ra biến cố bất ngờ, nên đành phải chia tay với cậu, mong cậu đừng trách.

Nói xong đưa ra một cái khay, trên đặt mười hai đĩnh vàng, mười hai đĩnh bạc, thêm một thanh đoản kiếm phòng thân, nói:

– Đây là chút quà mọn của vợ chồng ta và tiểu nữ, mong Trương huynh đệ tiếp nhận, nếu lão phu phen này giữ được tính mạng thì sau này chúng ta còn có dịp gặp nhau..

Nói đến đó, giọng ông nghẹn ngào không nói tiếp được nữa.

Trương Vô Kỵ liền né sang một bên, hiên ngang đáp:

– Chu bá bá, tiểu điệt tuy tuổi nhỏ vô dụng, song không phải là phường tham sống sợ chết. Quý phủ đã có chuyện nguy nan, tiểu điệt quyết không bỏ đi. Dù không giúp được bá bá và tỷ tỷ, cũng xin cùng bá bá và tỷ tỷ đồng sinh cộng tử.

Chu Trường Linh khuyên nhủ thêm đôi lần, Trương Vô Kỵ vẫn không nghe.

Chu Trường Linh thở dài:

– Ôi, trẻ con không biết sợ là gì, để ta nói thật cho cậu hay vậy. Nhưng trước hết cậu phải thề không tiết lộ chuyện này với bất cứ ai, cũng không được hỏi gì thêm.

Trương Vô Kỵ quỳ xuống, nói rành rọt:

– Thề có trời đất, những gì Chu bá bá nói với tôi, nếu tôi nói lại với người khác, hoặc lắm lời hỏi thêm thì sẽ bị loạn đao phanh thây, thân bại danh liệt.

Chu Trường Linh đỡ cậu dậy, thò đầu ra ngoài cửa sổ quan sát một vòng, rồi lại phi thân lên mái nhà xét kỹ xung quanh, biết chắc tứ phía không có ai thì mới quay vào thư phòng, ghé tai Trương Vô Kỵ nói nhỏ:

– Điều ta nói với cậu, cậu chỉ ghi nhớ trong lòng, không được hỏi lại câu nào, đề phòng tai vách mạch rừng.

Trương Vô Kỵ gật đầu. Chu Trường Linh thấp giọng nói:

– Hôm qua, khi Diêu nhị đệ về báo tin Trương ân công đã chết, có dẫn theo một người, tên là Tạ Tốn, ngoại hiệu Kim Mao Sư Vương..

Trương Vô Kỵ giật mình, run cả người. Chu Trường Linh nói tiếp:

– Vị Tạ đại hiệp này đã cùng Trương ân công kết nghĩa huynh đệ, lại kết mối thâm cừu với các môn phái, Trương ân công và phu nhân sở dĩ tự vẫn chính là vì không chịu tiết lộ chỗ ở của nghĩa huynh. Tạ đại hiệp không hiểu sao đã trở về Trung thổ, ra tay rửa hận cho Trương ân công, giết được nhiều kẻ thù, nhưng mãnh hổ nan địch quần hồ, Tạ đại hiệp cuối cùng bị trọng thương. Diêu nhị đệ là người cơ trí, cứu được Tạ đại hiệp chạy về đây, kẻ địch chẳng mấy chốc sẽ đuổi tới, chúng người đông thế mạnh, huynh đệ ta không tài gì chống chọi nổi. Ta quyết xả thân báo ân, vì Tạ đại hiệp mà chết, còn cậu không có dây mơ rễ má gì với Tạ đại hiệp, hà tất phải bỏ mạng ở đây? Trương huynh đệ, ta đã nói hết lời, cậu hãy mau mau rời khỏi đây là hơn! Bọn địch tràn tới, ngọc đá gì cũng tan nát cả, chậm trễ là không kịp đâu.

Trương Vô Kỵ nghe mà trong lòng bồn chồn, vừa lo vừa mừng, không thể ngờ nghĩa phụ cuối cùng lại đang ở chốn này, bèn hỏi:

– Tạ đại hiệp đang ở..

Chu Trường Linh dùng tay phải bịt miệng cậu lại, ghé tai nói thầm:

– Không được nói chuyện; bọn địch thần thông quảng đại, một câu sơ hở là nguy hiểm ngay cho tính mạng của Tạ đại hiệp. Cậu quên lời vừa thề rồi sao?

Trương Vô Kỵ gật đầu. Chu Trường Linh nói tiếp:

– Ta đã nói rõ với cậu, Trương huynh đệ, cậu tuy ít tuổi, song ta coi cậu như hảo bằng hữu, có bí mật gì đã thổ lộ cả với cậu, cậu hãy đi ngay mới kịp.

Trương Vô Kỵ nói:

– Bá bá đã nói hết với tiểu điệt rồi, tiểu điệt càng nhất quyết không đi.

Chu Trường Linh trầm ngâm hồi lâu, thở dài, quả quyết nói:

– Được, vậy từ nay chúng ta đồng sinh cộng tử, không nói thêm nữa. Việc không thể chậm trễ, phải ra tay ngay.

Đoạn cùng Chu Cửu Chân và Trương Vô Kỵ chạy ra cổng lớn đã thấy Chu phu nhân và Diêu Thanh Tuyền chờ sẵn ở bên ngoài, bên cạnh đặt mấy cái bao hành lý, tựa hồ chuẩn bị đi xa. Trương Vô Kỵ nhìn quanh chẳng thấy nghĩa phụ đâu cả.

Chu Trường Linh bật lửa đốt một bó đuốc, cầm bó đuốc châm vào cổng lớn. Lửa bùng lên cao, bén sang phía tây nhanh như gió, thì ra mấy trăm gian phòng của sơn trang đã được tưới dầu. Cả một dải Thiên Sơn, Côn Luân ở Tây Vực có rất nhiều dầu lửa từ lòng đất phun lên, chảy như suối, chỉ việc múc về đốt lên đun nấu. Bao gian nhà hoa lệ trải dài hàng dặm của Chu gia trang nhanh chóng bị đốt cháy vì đã được tưới sẵn dầu lửa.

Trương Vô Kỵ thấy các cột kèo chạm trổ chìm vào đám lửa cháy ngùn ngụt, lòng không khỏi cảm kích; "Chu bá bá cả một đời gây dựng, biết bao tâm huyết, vậy mà phút chốc đều ra tro, tất cả chỉ vì cha ta và nghĩa phụ. Một người nghĩa khí như thế, thật hiếm có trên thế gian".

Đêm đó, vợ chồng Chu Trường Linh, Chu Cửu Chân và Trương Vô Kỵ bốn người qua đêm trong một hang núi. Năm đệ tử thân tín của Chu Trường Linh cầm binh khí, do Diêu Thanh Tuyền chỉ huy, đứng canh chừng bên ngoài hang. Chu gia trang cháy đến ngày thứ ba mới tắt, cũng may bọn địch chưa đuổi tới đây.

Tối ngày thứ ba, Chu Trường Linh đưa vợ con, đệ tử, cùng Diêu Thanh Tuyền và Trương Vô Kỵ rời hang núi, đi theo một con đường ngoằn ngoèo tối om om, tới mấy gian thạch thất nằm sâu dưới lòng đất. Trong mấy gian ấy có đủ lương thực và nước uống, chỉ tội rất nóng.

Chu Trường Linh thấy Trương Vô Kỵ không ngớt dùng tay áo lau mồ hôi, cười hỏi:

– Vô Kỵ đệ, cậu thử đoán xem, tại sao ở đây lại nóng như thế? Cậu có biết chúng ta đang ở đâu hay không?

Trương Vô Kỵ ngửi thấy mùi khét, lập tức vỡ lẽ, nói:

– Ồ, thì ra chúng ta đang ở bên dưới trang viện!

Chu Cửu Chân cười, nói:

– Vô Kỵ thông minh lắm!

Trương Vô Kỵ thấy Chu Trường Linh tính toán chu đáo lại càng bội phục, bọn địch tới đây tấn công, thấy Chu gia trang tất cả ra tro, ắt sẽ đi nơi khác truy tìm, đâu ngờ Tạ Tốn ẩn náu bên dưới đống tro tàn. Trương Vô Kỵ thấy đầu kia thạch thất có một tấm cửa sắt đóng chặt, nghĩ bụng chắc nghĩa phụ ẩn thân trong đó, tuy cậu nóng lòng gặp lại nghĩa phụ sau mấy năm xa cách cho thỏa lòng mong nhớ, nhưng trong tình thế nguy hiểm, đến hỏi chuyện Chu Trường Linh còn không được, huống hồ khinh suất vọng động? Nếu làm hỏng đại sự, mình có mất mạng cũng không đáng gì, song để liên lụy đến tính mạng của nghĩa phụ và cả gia đình họ Chu thì tội lớn vô cùng.

Ở dưới thạch thất nửa ngày, khí nóng giảm dần, mọi người trải áo lông, toan nằm ngủ, chợt nghe tiếng vó ngựa của cả một đoàn người từ xa vọng tới, chẳng mấy chốc đã tới ngay trên đỉnh đầu. Chỉ nghe một giọng ồm ồm nói:

– Lão tặc Chu Trường Linh hẳn là hộ tống Tạ Tốn chạy mất rồi, đuổi theo mau, đuổi theo mau!

Mọi người tuy ở sâu trong lòng đất, song vẫn nghe rõ mồn một tiếng động bên trên, thì ra ở dưới này có ống sắt thông hơi với bên trên. Tiếng vó ngựa lại rầm rập phóng đi xa dần.

Đêm ấy truy binh chạy qua trên đầu trước sau cả thảy năm đoàn, có phái Không Động, phái Côn Luân, bang Cự Kình, còn hai đoàn khác không rõ lai lịch. Mỗi đoàn ít cũng bảy tám người, nhiều thì hơn một chục, đao kiếm loảng xoảng, ngựa khỏe hí vang, đám nào cũng buông lời độc ác, khí thế hung hăng. Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Nghĩa phụ ta giả như hai mắt không mù, lại không bị trọng thương, thì bọn yêu ma tiểu quỷ kia có thấm gì?"

Chờ lúc đoàn người thứ năm đã đi xa, Diêu Thanh Tuyền liền lấy nút gỗ đậy ống thông hơi lại, để tiếng nói của người dưới này không sợ bị những kẻ ở bên trên tình cờ đi qua nghe thấy. Làm thế rồi mà Diêu Thanh Tuyền vẫn hạ giọng, nói nhỏ:

– Để tiểu đệ đi xem thương thế của Tạ đại hiệp ra sao.

Chu Trường Linh gật đầu. Diêu Thanh Tuyền giơ tay xoay động cơ quan bên cạnh tấm cửa sắt, cánh cửa từ từ mở ra. Diêu Thanh Tuyền cầm đĩa đèn dầu bước vào trong.

Lúc này Trương Vô Kỵ hết nhịn nổi, liền đứng dậy, ghé mắt nhìn theo lưng của Diêu Thanh Tuyền, thấy một hán tử thân hình cao lớn nằm quay mặt vào tường. Trương Vô Kỵ nhìn tấm lưng to rộng của nghĩa phụ, nước mắt tức thì rưng rưng. Chỉ nghe Diêu Thanh Tuyền thấp giọng hỏi:

– Tạ đại hiệp, có đỡ chút nào chăng? Có khát nước không?

Đột nhiên kình phong ào ra, đĩa đèn tắt phụt, tiếp đó nghe "bình" một tiếng, Diêu Thanh Tuyền bị Tạ Tốn giáng cho một chưởng, bay ra ngoài cửa sắt ngã huỵch xuống đất. Chỉ nghe Tạ Tốn quát lớn:

– Bọn cẩu tặc phái Thiếu Lâm, phái Côn Luân, phái Không Động, có giỏi thì vào đây, vào đây, vào đây, Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn ta há sợ bọn bay?

Chu Trường Linh nói:

– Không hay, Tạ đại hiệp lại mê sảng rồi!

Đoạn tới bên cửa sắt, nói chõ vào:

– Tạ đại hiệp, chúng tôi là bằng hữu, chứ không phải kẻ thù của đại hiệp đâu.

Tạ Tốn cười khẩy, nói:

– Bằng hữu cái gì? Bọn bay đừng hòng ngon ngọt lừa dối ta!

Rồi sải bước ra cửa, tung chưởng đánh vào ngực Chu Trường Linh. Chưởng này kình lực rất mạnh, làm cho các ngọn đèn trong thạch thất lung lay muốn tắt. Chu Trường Linh không dám chống đỡ, vội né sang một bên, tay trái của Tạ Tốn liền đánh ngay vào mặt. Chu Trường Linh bất đắc dĩ giơ tay gạt ra, thân hình loạng choạng lùi lại hai bước. Trương Vô Kỵ thấy biến cố bất ngờ, bất giác ngây người ra.

Tạ Tốn kia quyền chưởng vù vù như gió, quá ư lợi hại, Chu Trường Linh không dám chống đỡ, chỉ còn nước thoái lui. Chưởng đó của Tạ Tốn đánh không trúng Chu Trường Linh, quệt vào tường đá khiến đá vụn rơi lả tả, ví thử trúng người thì ai chịu nổi?

Gã Tạ Tốn kia tóc xõa dài phủ vai, cặp mắt sáng như tia chớp, mặt đầy vết máu, miệng hầm hè, chưởng thế mỗi lúc càng mãnh liệt. Chu phu nhân và Chu Cửu Chân sợ hãi nép vào một góc tường. Chu Trường Linh thấy Tạ Tốn đánh tới, vội đẩy chiếc bàn bên cạnh chống đỡ, chiếc bàn trúng hai quyền của Tạ Tốn, lập tức vỡ nát.

Trương Vô Kỵ hoảng hốt, há hốc mồm đứng ngây một bên, thấy gã Tạ Tốn kia hoàn toàn không phải là nghĩa phụ Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn của cậu. Nghĩa phụ của cậu đã mù hai mắt, còn kẻ kia hai mắt sáng long lanh. Lại thấy kẻ kia đánh ra một chưởng, Chu Trường Linh lưng đã sát tường, không còn chỗ lùi thêm, song lại không giơ tay đỡ đòn, chỉ kêu lên:

– Tạ đại hiệp, tại hạ không phải là kẻ thù của đại hiệp, tại hạ không đánh trả đâu!

Gã kia không lý gì tới, đánh thẳng một chưởng vào ngực Chu Trường Linh. Chu Trường Linh trông thật đau khổ, kêu:

– Tạ đại hiệp không tin tại hạ ư?

Gã kia quát to:

– Cẩu tặc, cho ngươi thêm một quyền này!

Gã lại giáng một quyền. Chu Trường Linh ộc ra một ngụm máu, giọng run run:

– Tạ đại hiệp là nghĩa huynh của ân công, có đánh chết tại hạ, tại hạ cũng không đánh trả.

Gã kia cười như điên:

– Không trả đòn càng tốt, để ta đánh chết ngươi!

Hai quyền liên tiếp đánh ra, đều trúng vào ngực. Chu Trường Linh kêu "ối" một tiếng thảm thiết, thân hình sụm xuống.

Gã kia không chút nương tay, lại vung tay đấm tới. Trương Vô Kỵ tiến lên một bước, lấy tay gạt ra, chỉ cảm thấy quyền kình rất mạnh, cánh tay tê dại đến nghẹn thở, bèn liều chết kêu lên:

– Ngươi không phải Tạ Tốn, ngươi không phải.. Gã đại hán kia tức giận quát:

– Tên tiểu quỷ này thì biết gì?

Rồi tung chân đá Trương Vô Kỵ. Trương Vô Kỵ né sang bên tránh được, kêu to:

– Ngươi mạo nhận Kim Mao Sư Vương, không có thiện ý, đồ giả mạo, quân giả mạo..

Chu Trường Linh đang nằm gục dưới đất, nghe Trương Vô Kỵ nói thế, cố đứng lên, chỉ mặt gã kia, nói:

– Ngươi.. ngươi không phải.. ngươi lừa ta..

Đột nhiên hộc ra một ngụm máu to, phun cả vào mặt gã đại hán, thân hình ngã chúi về phía trước, thuận thế điểm luôn vào huyệt Thần Phong dưới vú bên phải của hắn. Chu Trường Linh đã bị trọng thương, vốn không còn là đối thủ của hắn, nhưng ông nhân cơ hội hộc máu mà nhào tới, xuất kỳ bất ý sử dụng thủ pháp Nhất dương chỉ gia truyền điểm trúng đại huyệt tên kia. Chu Trường Linh lại điểm thêm hai huyệt ở sườn hắn, rồi mới ngã lăn ra bất tỉnh. Chu Cửu Chân và Trương Vô Kỵ vội đỡ ông dậy.

Lát sau, Chu Trường Linh dần dần hồi tỉnh, hỏi Trương Vô Kỵ:

– Hắn.. hắn..

Trương Vô Kỵ nói:

– Chu bá bá, tiểu điệt không thể giấu nữa, người mà bá bá gọi là ân công, chính là thân phụ của tiểu điệt, còn Kim Mao Sư Vương là nghĩa phụ của tiểu điệt, làm sao tiểu điệt có thể nhầm lẫn?

Chu Trường Linh lắc đầu, gượng cười, tỏ vẻ không tin chút nào.

Trương Vô Kỵ nói:

– Nghĩa phụ của tiểu điệt hai mắt đã mù, còn người này hai mắt hoàn hảo, đó là sơ hở lớn nhất của hắn. Nghĩa phụ tiểu điệt bị hỏng mắt ở hải ngoại, việc ấy người ngoài không ai biết được. Tên này mạo nhận mà không hề biết việc nghĩa phụ tiểu điệt bị mù.

Chu Trường Linh mừng nói:

– Vô Kỵ đệ, quả thật cậu là con trai của ân công nhà ta ư? Vậy thì hay lắm, hay lắm!

Nói vậy song Chu Trường Linh vẫn chưa tin. Trương Vô Kỵ bèn đem nguyên do cậu đi tới vùng núi này ra sao kể lại vắn tắt. Diêu Thanh Tuyền đứng bên nghe, hỏi cặn kẽ tình hình trên núi Võ Đang, lại căn vặn việc vợ chồng Trương Thúy Sơn ngày trước tự vẫn thế nào, thấy Trương Vô Kỵ trả lời không sai mảy may thì bấy giờ mới tin.

Song Chu Trường Linh vẫn cứ cảm thấy khó nghĩ, nói:

– Giả dụ cậu này nói sai, chúng ta đắc tội với Tạ đại hiệp, vậy biết làm sao?

Diêu Thanh Tuyền liền rút chủy thủ, chỉ vào mắt bên phải gã đại hán, nói:

– Bằng hữu, Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn hai mắt đã mù rồi, nếu ngươi muốn bắt chước ông ta, thì hãy bắt chước cho đến nơi đến chốn. Hôm nay ta hủy cặp mắt của ngươi trước. Diêu mỗ bị ngươi lừa gạt, nếu không nhờ vị tiểu huynh đệ này nhận ra, có phải là Chu đại ca của ta mất mạng mà không hiểu đầu đuôi ra sao ư?

Nói đoạn đâm nhứ một cái, mũi dao chạm vào mí mắt, hỏi:

– Rốt cuộc ngươi là ai? Tại sao dám mạo xưng Kim Mao Sư Vương?

Gã đại hán tức giận nói:

– Nếu muốn thì cứ đâm chết ta đi. Khai Bi Thủ Hồ Báo là hạng người nào mà chịu để ngươi bức cung?

Chu Trường Linh kêu "a" một tiếng, nói:

– Khai Bi Thủ Hồ Báo! Hóa ra ngươi thuộc phái Không Động.

Hồ Báo lớn tiếng nói:

– Các môn phái trong thiên hạ đều biết Chu Trường Linh muốn báo thù cho Trương Thúy Sơn. Người đời có câu: "Ra tay trước thì mạnh, ra tay sau gặp họa" mà lại.

Diêu Thanh Tuyền quát:

– Tâm địa ngươi thật tàn ác!

Nói xong liền chuyển mũi dao xuống để đâm vào ngực tên kia. Chu Trường Linh giơ tay trái chộp lấy cổ tay Diêu Thanh Tuyền, nói:

– Khoan đã, nhị đệ, nếu y quả thật là Tạ đại hiệp, thì huynh đệ ta chết vạn lần cũng không chuộc lại được.

Diêu Thanh Tuyền nói:

– Trương huynh đệ đã nói quá rõ. Đại ca sao còn nghĩ ngợi gần xa, không quyết đoán được, chỉ e đại họa trước mắt khó bề tránh khỏi.

Chu Trường Linh lắc đầu, nói:

– Chúng ta thà chịu ngàn nhát dao, quyết không để tổn thương một sợi tóc của nghĩa huynh ân công. Trương Vô Kỵ nói:

– Chu bá bá, người này nhất quyết không phải là nghĩa phụ của tiểu điệt. Nghĩa phụ của tiểu điệt có ngoại hiệu Kim Mao Sư Vương vì có mái tóc vàng, còn người này tóc đen.

Chu Trường Linh trầm ngâm một hồi, gật đầu, cầm tay Trương Vô Kỵ, nói:

– Trương huynh đệ, cậu đi theo ta.

Hai người ra khỏi thạch thất, rồi ra khỏi thạch động, tới tận một mỏm đá cheo leo ở sườn núi phía sau, mới ngồi xuống. Chu Trường Linh nói:

– Tiểu huynh đệ, nếu người ấy không phải là Tạ đại hiệp, thì chúng ta đành phải giết hắn, song trước khi hạ sát, ta muốn trong lòng không còn chút hồ nghi nào cả, cậu nghĩ có phải không?

Trương Vô Kỵ nói:

– Bá bá sợ nhầm, kể cũng phải thôi; nhưng kẻ đó tuyệt nhiên không phải là nghĩa phụ của tiểu điệt, bá bá cứ an tâm.

Chu Trường Linh thở dài, nói:

– Hồi còn trẻ, ta từng sơ sảy nhiều lần. Hôm nay ta sở dĩ không trả đòn, đến nỗi thân bị trọng thương cũng là vì sợ mình lại bị lầm lẫn. Lầm lẫn rồi không thể chuộc lại, việc này vô cùng hệ trọng, ta dẫu chết cũng không sao, nhưng bất cứ giá nào cũng phải bảo hộ cậu và Tạ đại hiệp bình an. Ta muốn hỏi rõ chỗ ở của Tạ đại hiệp cho thật yên tâm, nhưng ta không tiện ngỏ lời.

Trương Vô Kỵ cảm động, nói:

– Chu bá bá, vì phụ thân và nghĩa phụ tiểu điệt mà bá bá thiêu hủy cả gia sản đáng giá trăm vạn, chính mình bị trọng thương, chẳng lẽ tiểu điệt còn chưa tin bá bá hay sao? Tình hình của nghĩa phụ tiểu điệt, dù bá bá không hỏi, tiểu điệt cũng sẽ kể cho bá bá biết.

Nói rồi cậu đem chuyện cha mẹ và Tạ Tốn vì sao trôi nổi đến tận Băng Hỏa đảo, ở đó mười năm, rồi ba người làm bè trở về Trung thổ thế nào, kể lại đầu đuôi. Quá nửa câu chuyện cậu biết là nghe kể lại từ cha mẹ, nhưng cậu nói lại vẫn rõ ràng đâu ra đấy.

Chu Trường Linh hỏi đi hỏi lại Trương Vô Kỵ ở Băng Hỏa đảo học võ ra sao, bằng cách nào đưa được Dương Bất Hối tới Tây Vực, ở thung lũng Tam Thánh gặp nạn thế nào, vặn vẹo đủ điều, nghe Trương Vô Kỵ trả lời đâu ra đấy, không có gì sơ hở, mới thực bụng tin, thở phào một cái, ngẩng mặt lên trời, nói:

– Ân công hỡi ân công, người ở trên trời linh thiêng, chứng giám lòng tôi: Chu Trường Linh nguyện đem hết tâm sức nuôi dưỡng Vô Kỵ huynh đệ trưởng thành. Có điều cường địch vây quanh, võ nghệ của tôi lại non kém, không biết có làm tròn trọng trách ấy hay không, kính mong ân công phù hộ độ trì.

Nói đoạn quỳ xuống, hướng lên trời khấu đầu. Trương Vô Kỵ vừa thương tâm, vừa cảm kích, cũng quỳ xuống.

Chu Trường Linh đứng lên, nói:

– Bây giờ trong lòng ta không còn chút nghi ngờ gì nữa. Ôi, Thiếu Lâm, Nga Mi, Côn Luân, Không Động, phái nào cũng người đông thế mạnh, võ công cao cường! Tiểu huynh đệ, thoạt đầu ta cũng quyết ý đem thí cái mạng già này, giết được cừu nhân đứa nào hay đứa ấy, để báo đáp đại ân của lệnh tôn. Nhưng từ nay việc nuôi dưỡng con côi là trọng, báo thù lui xuống hàng thứ hai. Hiềm nỗi trời đất bao la, biết đi đâu tránh nổi đại nạn bây giờ? Ngay một nơi xa xôi hẻo lánh thế này, chúng còn tìm ra được, làm gì còn nơi nào hoang vắng hơn kia chứ?

Chu Trường Linh ngừng giây lát, nói tiếp:

– Tạ đại hiệp một thân một mình ở Băng Hỏa đảo, mấy năm rồi chắc phải sống thê thảm lắm. Ôi, vị đại hiệp ấy nghĩa nặng tình thâm đối với ân công ân tẩu biết chừng nào, ước gì ta được gặp một lần, có chết cũng cam lòng.

Trương Vô Kỵ nghe Chu Trường Linh nói đến nỗi khổ sở cô đơn của nghĩa phụ ở Băng Hỏa đảo, như chợt nghĩ ra, liền nói:

– Chu bá bá, hay là chúng ta cùng đi Băng Hỏa đảo? Hồi tiểu điệt ở đó sung sướng biết bao nhiêu, từ ngày về Trung thổ chỉ toàn thấy cảnh đổ máu giết người, thật là đáng sợ.

Chu Trường Linh nói:

– Tiểu huynh đệ, cậu có thật muốn trở lại sống trên Băng Hỏa đảo hay không?

Trương Vô Kỵ phân vân chưa trả lời, nghĩ thầm bản thân mình còn sống chả được bao nhiêu, huống chi hải trình đi Băng Hỏa đảo quá gian nan, vị tất đến nơi, không nên làm cho cả gia đình Chu Trường Linh phiêu lưu mạo hiểm; biển cả vô tình, sơ sảy một chút là cả bọn sẽ vùi thây trong sóng to gió cả.

Chu Trường Linh nắm hai tay cậu, nhìn vào mặt, nói:

– Tiểu huynh đệ, cậu với ta không còn là người ngoài, có gì cứ nói thật cho nhau biết, cậu có muốn trở lại Băng Hỏa đảo hay không?

Giọng nói của ông ta hết sức chân thành. Trương Vô Kỵ lúc này trong lòng đã quá chán ghét lòng dạ hiểm ác của giới giang hồ, chỉ mong trước khi chết được gặp lại nghĩa phụ, nếu được chết trong vòng tay nghĩa phụ, cũng coi như mãn nguyện một đời. Nghe Chu Trường Linh hỏi thế, Vô Kỵ không muốn giấu tâm sự, nên thong thả gật đầu.

Chu Trường Linh không hỏi thêm, dắt tay Trương Vô Kỵ trở lại thạch thất, nói với Diêu Thanh Tuyền:

– Tên đó quả là gian tặc, không còn nghi ngờ gì nữa.

Diêu Thanh Tuyền gật đầu, tay cầm chủy thủ bước vào mật thất, chỉ nghe Khai Bi Thủ Hồ Báo rú lên một tiếng thảm thiết, chắc đã bị hạ sát. Diêu Thanh Tuyền từ trong mật thất bước ra, đóng cửa sắt lại, chỉ thấy trên con dao găm của y còn vết máu tươi, y tiện tay chùi luôn vào gót hài.

Chu Trường Linh nói:

– Tên tặc tử đó đến nằm phục ở đây, tung tích chúng ta xem ra bị lộ rồi, căn hầm này không thể ở thêm.

Nói xong đưa tất cả mọi người rời thạch động, đi hơn hai chục dặm, vượt hai ngọn núi, đến một sơn cốc, vào một nơi có bốn năm căn nhà nhỏ dưới bóng một cây đại thụ.

Bấy giờ trời mờ mờ sáng, sau khi mọi người vào nhà, Trương Vô Kỵ thấy trong nhà có nhiều loại nông cụ, như cày, bừa, liềm, cuốc, nồi niêu lương thực có đủ cả. Xem ra Chu Trường Linh đề phòng cường địch, xung quanh sơn trang đã bố trí nhiều nơi trú ẩn. Chu Trường Linh bị thương không dậy được, Chu phu nhân đem giày cỏ, áo vải thô, khăn vuông cho mọi người thay. Trong chốc lát, phu nhân tiểu thư của đại phú gia biến thành nông phụ thôn nữ, tuy giọng nói, cử chỉ không giống nhà nghèo, nhưng nếu không tới gần nhìn kỹ thì không phát giác được.

Ở nơi này được ít ngày, Chu Trường Linh nhờ có bài thuốc gia truyền trị thương của vùng Vân Nam, uống vào rất mau lành, địch nhân cũng chưa thấy tới.

Trương Vô Kỵ trong lúc nhàn rỗi, để ý quan sát, thấy Diêu Thanh Tuyền ngày nào cũng đi nghe ngóng tin tức, Chu phu nhân thì đôn đốc việc thu thập hành lý vào các bao, rõ ràng đang tính kế đi xa. Cậu biết Chu Trường Linh vì muốn báo ân tránh địch mà quyết ý đưa cả gia đình ra khơi tìm Băng Hỏa đảo nên trong lòng hết sức vui mừng.

*

* *

Đêm nay Trương Vô Kỵ đang ngủ trên giường, nghĩ nếu trời còn cho mình sống để về tới Băng Hỏa đảo, suốt đời sẽ được sống chung với Cửu Chân tỷ tỷ đẹp như tiên, bất giác nóng tai đỏ mặt, trống ngực đập mạnh; lại nghĩ Chu bá bá, Diêu nhị thúc và nghĩa phụ sau khi gặp nhau, ba người kết bạn thân thiết, sống vô lo vô nghĩ trên đảo, ngày tháng tiêu dao tự đại, không sợ bọn Thát tử Mông Cổ tàn sát hà hiếp, cũng chẳng lo cường địch võ lâm đánh trước đâm sau, được sống như thế thì còn mong gì hơn. Cậu càng nghĩ càng vui, quên cả chất hàn độc trong cơ thể mình, quên rằng mình còn ở trên đời chả được bao lâu, thao thức đến nửa đêm vẫn chưa ngủ.

Giữa lúc sắp thiếp đi, bỗng có tiếng cửa kẹt nhẹ, một bóng người lẻn vào phòng. Trương Vô Kỵ hơi lạ, chợt ngửi thấy mùi hương thoang thoảng, chính là mùi phấn thơm Chu Cửu Chân thường dùng. Cậu đột nhiên đỏ mặt, thẹn không để đâu cho hết.

Chu Cửu Chân rón rén tới bên giường, thấp giọng gọi nhỏ:

– Vô Kỵ, cậu đã ngủ chưa?

Trương Vô Kỵ không dám trả lời, hai mắt nhắm nghiền, giả vờ ngủ say. Lát sau, bỗng cảm thấy mấy ngón tay mềm và ấm sờ vào mi mắt cậu.

Trương Vô Kỵ vừa sợ vừa mừng, vừa thẹn, chỉ mong nàng ta mau ra khỏi phòng. Cậu vô cùng kính trọng Chu Cửu Chân, những mong ngày ngày được nhìn thấy nàng ta vài lần cũng đủ thỏa lòng, chứ không có ý nghĩ gì khác, cũng chưa từng nghĩ sau này sẽ lấy nàng ta làm vợ. Bây giờ bỗng dưng đêm hôm khuya khoắt Chu Cửu Chân lẻn vào phòng mình, bảo làm sao cậu không bối rối? Cậu chợt nghĩ thầm: "Không lẽ Cửu Chân tỷ tỷ có việc cấp bách, đang đêm cũng phải tới nói cho mình hay?" Bỗng Vô Kỵ cảm thấy huyệt Đản Trung trên ngực mình tê đi, tiếp đó các huyệt Kiên Trinh, Thần Tàng, Khúc Trì, Hoàn Khiêu đều bị điểm.

Việc này hoàn toàn bất ngờ đối với Trương Vô Kỵ. Tại sao nửa đêm Chu Cửu Chân lại tới điểm huyệt cậu? Cậu nghĩ thầm: "Hay là Cửu Chân tỷ tỷ muốn thử xem trong lúc ngủ mình có đề phòng hay không? Sáng mai nàng sẽ tới giải huyệt và châm chọc mình một phen. Biết thế, lúc nàng lẻn vào phòng, mình nhỏm dậy dọa cho một trận, nàng sợ hết vía, sáng mai hết khoe khoang".

Chỉ thấy Chu Cửu Chân nhè nhẹ mở cửa sổ, phi thân đi ra. Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Mình phải mau giải huyệt, bám theo sau làm ma nhát nàng, hẳn là vui lắm". Liền sử dụng phép giải huyệt Tạ Tốn đã dạy. Song công phu Nhất dương chỉ gia truyền của Chu Cửu Chân rất lợi hại, cậu tốn hơn nửa canh giờ mới giải hết các huyệt bị điểm. Đấy là do tài nghệ của Chu Cửu Chân chưa cao, lại không muốn để cậu biết nên dùng lực rất nhẹ, nếu không dẫu phép giải huyệt kỳ diệu đến mấy, chắc cũng bó tay. Khi cậu dậy được, hối hả mặc quần áo ngoài, nhảy ra cửa thì bốn bề im ắng, không thấy hình bóng Chu Cửu Chân đâu nữa.

Trương Vô Kỵ đứng trong bóng đêm, cảm thấy thất vọng, chợt nghĩ: "Cửu Chân tỷ tỷ sáng mai có chê ta vô dụng thì cứ để cho nàng cười, hà tất phải hơn thua với nàng? Bình thời ta vẫn muốn làm cho nàng vui lòng, cũng không dễ gì; đêm nay nếu ta đuổi kịp, không khéo nàng lại giận ta là đằng khác". Nghĩ tới đây, cậu liền cảm thấy yên tâm. Dạo này đang là đầu xuân, trong sơn cốc hoa dại thơm ngát, cậu chưa ngủ được, bèn thả bộ dọc theo dòng suối nhỏ. Tuyết đóng trên triền núi mới tan, theo dòng chảy xuống, các cục băng nhỏ đụng vào nhau, nghe thành tiếng lanh canh.

Cậu đi một hồi, bỗng nghe từ cánh rừng bên trái vọng ra tiếng cười khúc khích trong trẻo, chính là giọng của Chu Cửu Chân. Trương Vô Kỵ hơi ngạc nhiên, nghĩ thầm: "Cửu Chân tỷ tỷ nhìn thấy mình rồi sao?" Bỗng nghe tiếng nàng nói nhỏ:

– Biểu ca, đừng nghịch ngợm nào, tưởng muội không dám đánh biểu ca đấy hả?

Tiếp đến mấy tiếng cười thích thú của nam giới, khỏi nói cũng biết là của Vệ Bích.

Trương Vô Kỵ sững sờ, cơ hồ muốn bật khóc, giấc mơ nửa đêm qua tan thành mây khói, lập tức vỡ lẽ: "Chu Cửu Chân điểm huyệt ta, đâu phải để đùa vui với ta? Nàng nửa đêm hò hẹn với biểu ca, sợ ta biết đó thôi". Cậu cảm thấy tay tê đi, chân mềm nhũn, lại nghĩ thầm: "Ta chỉ là một đứa trẻ bơ vơ nghèo khổ, văn tài võ công, tướng mạo địa vị đều thua xa Vệ công tử. Chu Cửu Chân với Vệ công tử vốn còn tình thân biểu huynh biểu muội, thật là một đôi trai tài gái sắc, xứng đôi vừa lứa".

Sau khi tự nhủ như thế, cậu thở dài nhè nhẹ, bỗng nghe tiếng chân người, ai đó từ phía sau đi tới. Chu Cửu Chân và Vệ Bích cùng nắm tay nhau sánh vai từ trong rừng bước ra. Trương Vô Kỵ không muốn chạm trán với họ, bèn nấp vào sau một thân cây lớn. Khi tiếng chân tới gần, đột nhiên Chu Cửu Chân gọi:

– Cha.. cha..

Giọng nàng run run, dường như có vẻ sợ hãi, thì ra người đang tới chính là Chu Trường Linh.

Chu Trường Linh thấy con gái mình hẹn hò ban đêm với Vệ Bích, hình như giận lắm, hừ một tiếng, nói:

– Các ngươi ở ngoài này làm gì?

Chu Cửu Chân cố làm ra vẻ tự nhiên, cười đáp:

– Cha, biểu ca và con đã lâu không gặp nhau, hôm nay có dịp ghé đến, chúng con trò chuyện một lúc thôi mà.

Chu Trường Linh nói:

– Ngươi thật to gan, lỡ để cho Vô Kỵ hắn biết.. Chu Cửu Chân ngắt lời cha:

– Con đã điểm nhẹ năm đại huyệt của hắn, lúc này chắc hắn đang ngủ say, để lát nữa con sẽ giải huyệt cho hắn, hắn chẳng thể biết được.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Chu bá bá cũng nhận biết ta thích Cửu Chân, vì cha ta có ơn cứu ông ấy nên ông ấy không muốn ta đau lòng thất vọng. Kỳ thực, ta tuy thích Cửu Chân, nhưng trong bụng chưa có ý gì. Chu bá bá đối với ta quả là chu đáo!" Lại nghe Chu Trường Linh nói:

– Dù sao cũng phải cẩn thận, tốn bao công sức sắp đặt, không được để hắn phát hiện chút sơ hở nào.

Chu Cửu Chân cười đáp:

– Con hiểu điều đó mà.

Vệ Bích nói:

– Cữu phụ, điệt nhi phải về thôi, có lẽ sư phụ đang chờ điệt nhi.

Chu Cửu Chân lưu luyến nói:

– Để muội tiễn biểu ca.

Chu Trường Linh nói:

– Được, ta cũng muốn đi bàn với sư phụ ngươi một lần nữa. Chuyến đi Băng Hỏa đảo lần này của tất cả chúng ta, mọi người phải lo liệu mọi việc thật chu đáo, không được sơ sảy chút gì.

Nói đoạn cả ba người cùng đi về phía tây.

Trương Vô Kỵ lấy làm lạ, biết sư phụ của Vệ Bích là Võ Liệt, cha của Võ Thanh Anh, nghe khẩu khí của Chu Trường Linh, hình như hai cha con nhà họ Võ và Vệ Bích cũng cùng đi Băng Hỏa đảo, sao không thấy Chu Trường Linh nhắc đến? Việc này để càng nhiều người biết, càng khó giữ bí mật, càng nguy hiểm cho nghĩa phụ. Trương Vô Kỵ nghĩ một hồi, chợt nhớ lại câu nói của Chu Trường Linh "tốn bao công sức sắp đặt, không được để hắn phát hiện chút sơ hở nào". Sơ hở.. sơ hở.. sơ hở cái gì?

Nhắc đến mấy chữ "hắn phát hiện chút sơ hở", tự dưng mối nghi ngờ mơ hồ lâu nay trong đầu Vô Kỵ ngay lúc này liền hiển hiện trước mắt: Trong bức tranh "Trương công Thúy Sơn ân đức đồ", sao tướng mạo của người khác vẽ rất giống, riêng khuôn mặt chữ điền của phụ thân cậu lại vẽ thành mặt trái xoan? Mắt mũi của phụ thân quả có giống, hai cha con cậu giống nhau về mắt mũi thật, nhưng khuôn mặt của phụ thân hình chữ điền, khác hẳn khuôn mặt Trương Vô Kỵ hình trái xoan giống mẫu thân.

Cứ lời Chu Trường Linh, bức tranh ấy chính tay ông ta vẽ đã hơn mười năm, cứ coi như tài hội họa không giỏi, nhưng cũng không thể nào lại vẽ khuôn mặt đại ân nhân của mình khác hẳn đi như thế. Trương Thúy Sơn trên bức tranh chẳng khác nào Trương Vô Kỵ khi lớn. Ồ, còn điểm này nữa, cây thiết bút cha cậu sử dụng là loại bút thẳng đầu nhọn, giống như cây bút lông. Khi mới về tới đất liền, cha cậu có mua ở cửa hàng binh khí một cây phán quan bút, bảo là chiều dài và trọng lượng tuy tạm dùng được, nhưng cây bút lại có thêm một bàn tay bằng sắt, trông không vừa mắt. Mẹ cậu bảo sau khi có chỗ ở xong xuôi, sẽ thuê rèn một cây bút khác. Cây bút trong tranh cha cậu sử dụng là một cây phán quan bút tầm thường. Chu bá bá là một đại hành gia chuyên sử dụng phán quan bút, vẽ cái gì sai còn được, làm sao lại có thể vẽ sai cây bút mà cha cậu đã dùng?

Nghĩ đến chi tiết đó, Trương Vô Kỵ rất hoang mang, trong bụng dường như đã có lời giải đáp, có điều cái đáp án ấy thật đáng sợ, không dám nghĩ thêm nữa cho sáng tỏ hẳn, chỉ tự an ủi: "Dẫu gì mình cũng không nên nghĩ lung tung, Chu bá bá đãi mình như thế, sao mình lại nghi ngờ ông ta kia chứ? Thôi mình về nhà ngủ, kẻo họ biết mình đêm hôm khuya khoắt đi ra ngoài, họ lại lo lắng cho tính mạng của mình cũng nên".

Nghĩ thế, đột nhiên cậu rùng mình lo sợ, đứng ngây ra một hồi, bất giác đi theo hướng ba người kia vừa đi, thấy trong rừng có ánh đèn le lói, hóa ra nơi đó có một căn nhà. Trương Vô Kỵ trống ngực đập thình thình, rón rén đi về phía ánh đèn. Đến phía sau căn nhà, cậu định thần, ghé nhìn qua khe cửa vào bên trong thì thấy cha con Chu Trường Linh và Vệ Bích ngồi đối diện với cửa sổ đang nói chuyện với ai đó. Có hai người ngồi quay lưng về phía Trương Vô Kỵ nên không nhìn thấy mặt, nhưng một cô gái trong đó chính là Võ Thanh Anh, còn người nam kia thân hình cao lớn đang lắng nghe Chu Trường Linh sắp đặt cách giả làm khách thương, đến vùng Sơn Đông để ra biển khơi, người ấy chỉ nghe và gật gù.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Mình thật là lo hão lo huyền. Vị kia chắc là Võ Liệt Võ trang chủ, Chu bá bá giao hảo với ông ta, rủ ông ta cùng đi Băng Hỏa đảo cũng là chuyện thường tình, mình hà tất phải lo lắng lạ lùng?"

Chỉ nghe Võ Thanh Anh nói:

– Cha, lỡ biển cả mênh mông, mình tìm không thấy hòn đảo nhỏ bé đó, quay trở về cũng không xong, vậy biết làm thế nào?

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Vị này đúng là Võ trang chủ rồi". Võ Liệt đáp:

– Nếu ngươi sợ thì đừng đi! Việc trong thiên hạ, nếu không trải qua gian nan khốn khổ, làm sao đến được bờ vinh quang?

Võ Thanh Anh có vẻ hờn dỗi:

– Con chỉ hỏi thế mà cha đã mắng con rồi!

Võ Liệt cười, nói:

– Việc này giống như gieo xúc xắc, nếu vận số may mắn, chúng ta tới được Băng Hỏa đảo, lão Tạ Tốn kia dù võ công cao cường đến mấy, nhưng trơ trọi một mình, huống hồ hai mắt lại mù, làm sao địch nổi chúng ta..

Trương Vô Kỵ nghe tới đây, một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng, bất giác toàn thân run rẩy, chỉ nghe Võ Liệt nói tiếp:

–.. Thanh đao Đồ Long sẽ về tay chúng ta. Bấy giờ "hiệu lệnh thiên hạ, mạc cảm bất tòng". Ta và Chu bá bá của ngươi sẽ sánh vai trở thành võ lâm chí tôn. Còn nếu như người tính mà trời chẳng cho, tất cả chết trên biển cả, thì hừ, trên đời này ai mà chẳng chết?

Vệ Bích nói:

– Nghe bảo Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn võ công trác tuyệt, trên Vương Bàn sơn đảo chỉ hú một tiếng đã làm cho mấy chục hảo thủ giang hồ đều mất trí cả. Theo ý đệ tử, khi tới Băng Hỏa đảo rồi, chúng ta không nên công khai giao chiến với lão ta, mà hãy lén bỏ thuốc độc vào đồ ăn thức uống, đừng nói hai mắt đã mù, cho dù còn tỏ tường thì lão ta cũng chẳng thể ngờ đứa nghĩa tử yêu quý của lão ta lại dẫn người tới hại mình.

Chu Trường Linh gật đầu:

– Kế của Vệ Bích rất hay. Có điều hai họ Chu, Võ chúng ta các đời trước đều là hiệp sĩ danh môn chính phái, xưa nay không dùng thuốc độc bao giờ, ngay cả ám khí cũng không tẩm thuốc, thành thử ta không biết phải dùng loại nào để hạ độc lão ta..

Vệ Bích nói:

– Diêu nhị thúc nhiều lần đi Trung nguyên, chắc là biết, nhờ nhị thúc mua sẵn mang đi là được.

Võ Liệt quay sang vỗ vỗ vai Chu Cửu Chân, cười, nói:

– Cửu Chân..

Lúc này y quay sang, Trương Vô Kỵ nhìn thấy mặt, không khỏi cả kinh. Thì ra người này chính là kẻ đóng giả nghĩa phụ của cậu, Khai Bi Thủ Hồ Báo. Tất cả các trò đánh Chu Trường Linh trọng thương, hộc ra máu, sau đó bị Diêu Thanh Tuyền dùng dao đâm chết, tất cả đều là giả. Bây giờ Trương Vô Kỵ mới biết cả bọn kia muốn diễn vở kịch cho giống như thật, đánh một chưởng làm đá trên tường rơi lả tả, đấm một quyền vỡ nát mặt bàn, phải nhờ Võ Liệt ra tay. Chỉ nghe Võ Liệt nói với Chu Cửu Chân:

– Để tấn trò này kết thúc êm đẹp, Cửu Chân hãy giả bộ thân thiết với tên tiểu quỷ ấy, cho đến khi giết xong Tạ Tốn, tuyệt nhiên không được để lộ chút sơ hở nào hết.

Chu Cửu Chân nói:

– Cha, cha phải bằng lòng cho con một chuyện.

Chu Trường Linh hỏi:

– Chuyện gì?

Chu Cửu Chân đáp:

– Cha bảo con hầu hạ tên tiểu quỷ ấy, những ngày qua thật quá ư vất vả khổ sở. Từ giờ đến lúc tới Băng Hỏa đảo, giết được Tạ Tốn, còn một thời gian khá dài, không biết phải chịu bao nhiêu cay đắng nữa đây. Khi cha lấy được thanh đao Đồ Long, hãy cho con dùng đao chém cho nó một nhát chết tươi!

Trương Vô Kỵ nghe câu nói tàn ác ấy của Chu Cửu Chân thì mắt tối sầm lại, như muốn ngất đi, loáng thoáng nghe Chu Trường Linh đáp:

– Phen này chúng ta dùng xảo kế lừa gạt nó, dụ nó nói ra chỗ ở của Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn, kể ra cũng có điều không phải. Thằng bé ấy cũng chẳng phải đứa xấu, sau khi giết Tạ Tốn, lấy được thanh đao Đồ Long rồi, chỉ cần chọc mù hai mắt nó, bỏ lại Băng Hỏa đảo là được.

Võ Liệt tán thưởng:

– Chu đại ca quả thật tâm địa nhân thiện, không để mất gia phong hiệp nghĩa.

Chu Trường Linh thở dài:

– Nước cờ này của huynh đệ ta quả thật vạn bất đắc dĩ. Võ nhị đệ, sau khi ra khơi, thuyền của đệ phải theo sau thuyền của huynh xa xa một chút, đi gần quá tên tiểu tử ấy sinh nghi, mà đi cách xa quá sợ mất liên lạc. Các tài công trên thuyền phải hết sức chú ý điều đó mới được.

Võ Liệt nói:

– Vâng, Chu đại ca tính toán mọi việc thật chu đáo.

Trương Vô Kỵ trong bụng rối như tơ vò, tự nhủ: "Mình không hề thổ lộ thân phận, làm sao bọn họ nhận biết được kia chứ? Ừ, hay là hôm mình ra sức chống trả Vệ Bích và hai nàng Chu, Võ vây đánh, mình đã sử dụng tâm pháp của võ công phái Võ Đang; Chu bá bá kiến văn rộng lớn nên đã nhận biết lai lịch của mình? Ông ta biết cha mẹ mình thà chết không tiết lộ nơi ở của Tạ Tốn, nếu dùng vũ lực, quyết không thể ép mình nói ra chân tướng; bởi thế đã làm giả bức tranh, thiêu đốt sơn trang, lại dùng khổ nhục kế khiến mình cảm động. Ông ta không cần hỏi mình câu nào, chính mình lại ngỏ lời cầu xin ông ta đưa đi Băng Hỏa đảo. Chu Trường Linh ơi Chu Trường Linh, gian kế của ngươi quả là nham hiểm hết chỗ nói!"

*

* *

Lúc này Chu Trường Linh và Võ Liệt bàn sang cách thức chuẩn bị đi Sơn Đông để ra khơi. Trương Vô Kỵ không dám nghe thêm, bèn nín thở, rón rén từng bước, mỗi bước lại lắng nghe, thấy trong nhà không có động tĩnh gì, mới bước đi tiếp. Cậu biết Chu Trường Linh và Võ Liệt võ công cao siêu, chỉ cần cậu sơ sảy một chút, giẫm trúng một cành cây khô là lập tức bị họ phát giác ngay. Sau khi dò dẫm hơn ba chục bước, cách căn nhà hơn một chục trượng, cậu mới rảo bước.

Trương Vô Kỵ cắm đầu rảo bước, không cần chọn đường, cứ nhắm hướng rừng sâu trên dốc núi mà đi, càng đi càng lên cao, bước chân nhanh dần, cuối cùng phóng chạy như bay, hơn một canh giờ vẫn chưa dám dừng nghỉ. Trốn đi từ lúc nửa đêm, đến tờ mờ sáng thì thấy mình đang ở trong một cánh rừng trên đỉnh núi tuyết. Cậu ngoảnh lại xem Chu Trường Linh có đuổi theo hay không, vừa quay lại thì bất giác than thầm, vì mình để lại dấu chân dài dằng dặc trên mặt tuyết. Tây Vực trời lạnh giá, tuy đã sang xuân nhưng tuyết vẫn đọng trên đỉnh núi chưa tan. Cậu bỏ chạy thục mạng, ra sức đi lên đỉnh núi, nào ngờ để lộ hết đường đi nước bước của mình thế kia.

Lúc đó từ phía trước văng vẳng tiếng sói tru, nghe thật ghê rợn. Trương Vô Kỵ leo lên một mỏm đá nhìn xuống, thấy sườn núi đối diện có bảy tám con sói lớn màu xám đang ngẩng đầu hướng về phía cậu mà nhe răng múa vuốt, hiển nhiên muốn xông tới cắn xé, có điều giữa đôi bên là một vực sâu vạn trượng không nhìn thấy đáy, chúng chẳng thể vượt qua. Trương Vô Kỵ ngoảnh lại sau lưng, tim giật thót một cái: Trên sườn núi có năm bóng đen đang thong thả di chuyển về phía cậu, chính là người của Chu, Võ hai nhà. Lúc này còn cách xa, tưởng đâu năm người kia đi chậm, kỳ thực họ đi nhanh như gió, xem chừng không đầy một canh giờ nữa là sẽ đuổi tới đây.

Trương Vô Kỵ cố trấn tĩnh, suy tính: "Ta thà để cho lũ sói đói xé xác ăn thịt, chứ không để mình rơi vào tay bọn kia cho chúng hành hạ". Cậu nghĩ, mình một lòng si mê kính trọng Chu Cửu Chân, nào ngờ nàng thiếu nữ xinh đẹp như tiên mà tâm địa lại như rắn rết. Cậu vừa hổ thẹn, vừa đau lòng, vội chạy thẳng vào rừng sâu.

Trong rừng sâu cỏ mọc cao ngang lưng, tuy cũng có tuyết đóng, nhưng dấu chân không dễ thấy được. Cậu chạy một hồi, cả tâm trí lẫn thể xác cùng mệt mỏi, chất hàn độc trong người đột nhiên lại phát tác, hai chân mỏi nhừ không thể đi thêm nữa, cậu bèn chui vào một bụi cỏ dày, nhặt được một cục đá nhọn thủ sẵn trong tay, định bụng nếu mình bị bọn Chu Trường Linh kia tìm thấy thì sẽ lấy cục đá đập vào huyệt Thái Dương tự sát.

Trương Vô Kỵ nhớ lại mọi việc trong hơn hai tháng qua, từ ngày trú nhờ ở Chu gia trang, càng nghĩ càng chua chát: "Bọn người phái Không Động, phái Hoa Sơn, phái Côn Luân toàn lấy oán báo ân, ta cũng chẳng để bụng, riêng với Chu Cửu Chân ta thành tâm như thế, vậy mà.. Ôi, mẫu thân ta lúc lâm chung đã dặn dò ta điều gì nhỉ? Sao ta lại quên biến lời dặn dò đó?"

Câu nói phút lâm chung của Ân Tố Tố lúc này vang lên rõ từng lời bên tai cậu: "Hài nhi, bao giờ lớn lên, phải đề phòng nữ nhân lừa dối con, nữ nhân càng đẹp càng giỏi lừa người". Nước mắt rưng rưng, cảnh vật trước mặt cậu nhòe đi: "Mẫu thân ta lúc nói câu này, dao đã cắm sâu vào ngực. Mẫu thân cố nhịn đau dặn dò ta, thế mà ta lại không ghi khắc những lời huyết lệ ấy trong lòng. Giả dụ ta không biết cách tự giải huyệt, không hay biết mưu đồ khôn khéo của bọn Chu Trường Linh, hẳn là ta sẽ đưa chúng tới Băng Hỏa đảo, làm nguy hại cho tính mạng của nghĩa phụ".

Lòng cậu đã quyết, đầu óc tỉnh táo, bây giờ đã nhận biết rõ ràng mưu đồ của cha con Chu Trường Linh: Khi Chu Trường Linh đoán biết cậu là con của Trương Thúy Sơn, hắn liền ra tay đánh chết bầy chó dữ, tát con gái, để Trương Vô Kỵ tin rằng ông ta là hiệp sĩ thị phi phân minh, nhân nghĩa hơn người. Còn việc hắn đốt cháy tòa sơn trang hoa lệ, tuy đáng tiếc thật, nhưng so với thanh bảo đao Đồ Long "võ lâm chí tôn" thì đâu có đáng gì. Kẻ hành sự mẫn tiệp quả đoán như ông ta thật là đáng sợ.

Trương Vô Kỵ lại nghĩ: "Hồi ta ở trên đảo, ngày ngày thấy nghĩa phụ ôm thanh đao Đồ Long thẫn thờ suy nghĩ, suốt mười năm trời vẫn không tìm ra bí mật của thanh đao. Nghĩa phụ tuy thông minh, song trực tính. Lão Chu Trường Linh này cơ trí hơn người, lắm mưu nhiều kế hơn hẳn nghĩa phụ ta, một khi hắn lấy được thanh đao, chắc hắn sẽ tìm ra.." Đang miên man suy nghĩ như thế, bỗng nghe tiếng chân, Chu Trường Linh và Võ Liệt đã tới gần.

Võ Liệt nói:

– Tên tiểu tử ấy chắc là ẩn náu trong cánh rừng này, nó không chạy xa hơn đâu..

Chu Trường Linh vội ngắt lời Võ Liệt:

– Ôi, chả biết Cửu Chân nói năng thất lễ thế nào, khiến Trương huynh đệ giận dỗi. Ta thật lo lắng, cậu ấy tuổi còn nhỏ, trên đỉnh núi đầy băng tuyết thế này, lỡ gặp chuyện gì, dù ta dù thịt nát xương tan cũng không chuộc được tội lỗi với Trương ân công.

Mấy câu nói giả dối, tự trách mình và ra vẻ lo lắng cho người khác, Trương Vô Kỵ nghe mà rùng mình, nghĩ thầm: "Lão ta vẫn còn nuôi ý đồ định dùng lời lẽ ngon ngọt lừa dối ta".

Chỉ thấy Chu, Võ hai người cầm gậy, khua khua từng đám cỏ tìm kiếm; Trương Vô Kỵ cố nép người lại, không dám cử động, may mà cánh rừng này rất rộng, khó bề sục sạo hết mọi chỗ. Chẳng mấy chốc Vệ Bích và "Tuyết Lĩnh Song Chu" cũng đến. Năm người khua kiếm gạt cỏ cả nửa ngày vẫn không tìm ra, cả bọn đều mệt, ngồi nghỉ trên một tảng đá. Kỳ thực chỗ họ ngồi chỉ cách Trương Vô Kỵ chừng ba trượng, nhưng rừng rậm cỏ cao đã che lấp thân hình cậu.

Chu Trường Linh nghĩ ngợi một lát, rồi đột nhiên lớn tiếng quát:

– Cửu Chân, tại sao ngươi đắc tội với Vô Kỵ huynh đệ, để đến nỗi cậu ấy nửa đêm bỏ đi không nói một lời?

Chu Cửu Chân ngẩn người, Chu Trường Linh liền nháy mắt với con. Trương Vô Kỵ nằm phục trong bụi cỏ, song đã nhìn rõ cái nháy mắt đó.

Chu Cửu Chân hiểu ý, nói to:

– Con chỉ đùa cậu ấy một chút thôi! Điểm huyệt chơi, ai ngờ cậu ấy lại tưởng là thật.

Rồi nàng ta cất tiếng gọi to:

– Vô Kỵ đệ, Vô Kỵ đệ, hãy mau ra đây để tỷ tỷ chuộc lỗi nào!

Tiếng gọi to, nhưng nghe vẫn dịu dàng, ngọt ngào. Gọi một hồi không thấy động tĩnh gì, nàng ta đột nhiên khóc òa lên, nói:

– Cha, cha đừng đánh con, đừng đánh con, con đâu có cố ý đắc tội với Vô Kỵ đệ!

Chu Trường Linh giơ tay vỗ đồm độp vào đùi mình, còn mồm lớn tiếng quát mắng. Chu Cửu Chân không ngớt kêu khóc thảm thiết, tựa hồ bị cha đánh đau lắm không bằng. Võ Liệt, Võ Thanh Anh và Vệ Bích ba người đứng bên cạnh bưng miệng cười.

Trương Vô Kỵ nhìn cảnh cha con Chu Trường Linh đóng kịch, thản nhiên nghĩ thầm: "May mà ta nhìn rõ thần sắc của cha con họ, nếu không, chỉ cần nghe giọng rên la thảm thiết của nàng, hẳn ta đã mềm lòng chui ra rồi".

Cha con Chu Trường Linh đoán chắc Trương Vô Kỵ chỉ nấp trong cánh rừng này, cha cứ mắng chửi, con cứ kêu khóc, giọng mỗi lúc một thống thiết thêm. Trương Vô Kỵ lấy hai tay bịt tai lại, nhưng thanh âm kia cứ từng đợt từng đợt lọt vào tai. Cậu hết chịu nổi, bực quá, liền bật dậy, nhảy ra, kêu lên:

– Các người đừng có giở trò quỷ, chẳng lừa nổi ta nữa đâu.

Bọn Chu Trường Linh năm người nhất tề reo hò:

– Đây rồi!

Trương Vô Kỵ gọi:

– Cửu Chân tỷ tỷ!

Rồi cắm đầu xuyên rừng mà chạy, Chu Trường Linh cùng Võ Liệt phi thân đuổi theo.

Trương Vô Kỵ đã quyết ý chết nên không do dự lao thẳng về phía vực sâu vạn trượng. Khinh công của Chu Trường Linh vượt xa Vô Kỵ nên, khi cậu tới bờ vực, thì ông ta đã đuổi kịp, giơ tay chộp lấy cậu.

Trương Vô Kỵ thấy lưng đau nhói, năm ngón tay phải của Chu Trường Linh đã nắm chặt sống lưng cậu, nhưng chân cậu đạp hẫng vào chỗ trống không, nửa thân hình lơ lửng trên vực sâu. Chân trái Vô Kỵ lại đạp tới, cả người nhào về phía trước.

Chu Trường Linh không ngờ Trương Vô Kỵ lại nhảy xuống vực tự tận, khiến cho ông ta cũng bị kéo theo, cả hai cùng rơi xuống. Với mấy chục năm tu luyện võ công, nếu ông ta lập tức buông tay, lộn ngược trở lên thì có thể bảo toàn tính mạng. Nhưng hắn biết rằng chỉ buông tay ra một cái, chắc chắn sẽ không còn cơ hội đoạt được thanh bảo đao Đồ Long "võ lâm chí tôn" nữa, bao nhiêu suy tính trù liệu khổ công trong hơn hai tháng qua sẽ chẳng khác gì tòa sơn trang hoa lệ đã hóa thành tro bụi.

Trong phút Chu Trường Linh do dự, Trương Vô Kỵ rơi xuống vực rất nhanh. Ông ta kêu lên:

– Nguy rồi!

Chu Trường Linh với tay trái lại phía sau, cho Võ Liệt vừa chạy tới nắm lấy, nhưng vẫn còn cách xa cả thước, còn tay phải túm lưng Trương Vô Kỵ thì không chịu buông ra.

Hai người từ trên vách núi rơi xuống vực sâu muôn trượng, nghe tiếng kêu la của Võ Liệt, Chu Cửu Chân từ trên vọng xuống, trong giây lát đã không còn nghe thấy gì nữa. Hai người rơi xuyên qua lớp sương mù lãng đãng trong khe núi, thẳng xuống đáy vực.

Chu Trường Linh một đời trải qua vô vàn sóng gió, lúc lâm nguy vẫn bình tĩnh, nghe tiếng gió ù ù bên tai, thân mình rơi thẳng xuống, mỗi lúc gặp cành cây mọc chìa ra từ vách đá, ông ta đều giơ tay chộp, mấy lần còn cách hàng thước, mãi sau mới chộp trúng một cành. Nhưng lực rơi của hai người quá nặng, cành cây chịu sao nổi, "rắc" một cái, một cành tùng to bằng bắp tay gãy rời. Nhưng nhờ thế mà đà rơi chậm lại, Chu Trường Linh có được chỗ mượn lực, hai chân giơ ra khoèo lại, dùng chiêu "Ô long giảo trụ" quặp chặt vào thân cây tùng, kéo Trương Vô Kỵ đặt trên cây, chỉ sợ cậu lại nhảy xuống vực, nên một tay ông ta vẫn giữ chặt không buông.

Trương Vô Kỵ thấy mình vẫn không thoát khỏi tay ông ta, thì hết sức thất vọng, hậm hực nói:

– Chu bá bá, dẫu có hành hạ tiểu điệt tới mức nào, cũng đừng hòng buộc tiểu điệt dẫn đi tìm nghĩa phụ!

Chu Trường Linh xoay người ngồi vững trên cây rồi mới ngẩng đầu lên, dĩ nhiên không thấy bọn Chu Cửu Chân, tiếng gọi cũng không nghe được nữa, tuy có tài cao gan lớn, nhưng việc thoát chết vừa rồi khi nghĩ lại cũng không khỏi rùng mình, vã mồ hôi lạnh. Ông ta định thần rồi, cười nói:

– Tiểu huynh đệ, cậu nói gì ta hoàn toàn không hiểu vậy? Cậu chớ nên nghĩ lung tung.

Trương Vô Kỵ nói:

– Mưu gian của bá bá, tiểu điệt biết tỏng rồi, chẳng còn dùng được đâu. Dù có ép tiểu điệt đi Băng Hỏa đảo, tiểu điệt cứ chỉ đường lung tung, tất cả bỏ xác trên biển, bá bá tưởng tiểu điệt không dám làm chăng?

Chu Trường Linh nghĩ lời đó là thực tình, lúc này cứ phải dịu ngọt với Trương Vô Kỵ, sau này sẽ để con gái mình đối phó với cậu, may ra có cách hay. Ông ta nhìn quanh, trèo lên trên kia thì không thể, bên dưới là vực sâu không đáy, mà có xuống tới đáy cũng không có đường ra, chỉ còn cách độc nhất là men theo vách núi xiên xiên mà từ từ bò ra ngoài. Ông ta bèn nói với Trương Vô Kỵ:

– Tiểu huynh đệ, cậu chớ nên nghi ngờ lung tung như thế. Nhất định ta sẽ không ép cậu dẫn đi tìm Tạ đại hiệp. Nếu dám sai lời, họ Chu ta sẽ bị hàng vạn mũi tên cắm vào thân, chết mất xác.

Chu Trường Linh thề độc như thế cũng là thật tình, vì nghĩ thầm một khi Trương Vô Kỵ đã thà chết, thì dù có ép cách nào cũng vô ích, chỉ còn cách dụ dỗ sao cho cậu tình nguyện mới xong.

Trương Vô Kỵ nghe ông ta thề độc, trong bụng cũng dịu đi. Chu Trường Linh nói:

– Hai người mình từ từ bò dần ra, cậu đừng có nhảy xuống, nghe chưa?

Trương Vô Kỵ nói:

– Nếu bá bá không cưỡng ép, tội gì tiểu điệt phải tự tận?

Chu Trường Linh gật đầu, lấy ra con dao găm, lột vỏ cây tết thành một sợi dây, hai đầu buộc vào lưng mình với Trương Vô Kỵ, rồi hai người men theo vách núi tuyết mà bò về phía có ánh nắng.

Vách núi vốn đã dốc, lại thêm băng tuyết đóng cứng nên rất trơn trượt. Trương Vô Kỵ hai lần tuột xuống đều nhờ Chu Trường Linh kéo lại mới không lăn xuống vực sâu. Song Trương Vô Kỵ trong bụng chẳng hề cảm kích, nghĩ thầm: "Chẳng qua lão ta nghĩ tới thanh đao Đồ Long, làm gì có thực tâm cứu ta?"

Hai người bò một hồi, đầu gối bị băng tuyết cào rách chảy cả máu, cuối cùng tới được chỗ không dốc lắm, hai người đứng lên được, chầm chậm từng bước một. Qua vách núi trông như bức bình phong ấy, Chu Trường Linh luôn miệng kêu khổ, không hiểu cao thấp thế nào.

Trước mắt là mây mù mênh mông, không thấy lối đi, hai người đang ở trên một bình đài rất cao, ba bề trống không. Bình đài này phải rộng đến hơn một chục trượng vuông, nhưng nhô ra giữa không trung, lên tiếp không được mà xuống cũng chẳng xong, thật đúng vào chỗ chết. Trên mặt bình đài chỉ toàn băng tuyết trắng xóa, không cây cỏ, cũng không dã thú.

Trương Vô Kỵ lại vui mừng, cười nói:

– Chu bá bá, bá bá ra sức mưu tính, rốt cuộc lại tới cái bình đài ở lưng chừng trời này, dù bây giờ lấy được thanh đao Đồ Long, phỏng có ích gì?

Chu Trường Linh quát:

– Đừng nói nhăng nói cuội!

Ông ta ngồi xếp bằng, ăn hai vốc tuyết, vận khí một hồi, nghĩ bụng: "Bây giờ tuy mệt, nhưng chưa kiệt sức. Nếu ở đây nhịn đói thêm một ngày, e rằng khó bề thoát ra", liền đứng dậy, nói:

– Đường lên phía trước cụt rồi, chúng ta quay trở lại tìm lối khác.

Trương Vô Kỵ nói:

– Tiểu điệt lại cảm thấy ở đây rất thích, quay lại làm gì chứ?

Chu Trường Linh tức giận nói:

– Ở đây đâu có cái gì ăn mà thích?

Trương Vô Kỵ cười, đáp:

– Không có thức ăn thông thường, mình tu tiên luyện đạo càng hay chứ sao.

Chu Trường Linh cả giận trong lòng, nhưng biết giờ mà cưỡng ép thì không chừng Vô Kỵ lại nhảy xuống vực, đành nói:

– Được, cậu cứ ngồi nghỉ một lát, để ta tìm lối ra, nếu thấy sẽ quay lại đón cậu. Đừng có ra sát mép đá, cẩn thận kẻo ngã xuống vực đó.

Trương Vô Kỵ nói:

– Việc sống chết mất còn của tiểu điệt, sao bá bá lo quá vậy? Lúc này mà bá bá còn mơ tưởng tiểu điệt đưa bá bá đi Băng Hỏa đảo ư, bá bá hãy quên chuyện đó đi thì hơn.

Chu Trường Linh không trả lời, theo đường cũ quay trở lại đến chỗ cây tùng, ông ta bò sang bên trái tìm đường, chỗ này vách núi cheo leo hung hiểm, nhưng vì không vướng Trương Vô Kỵ nên ông ta bò qua nhanh, lúc bò lúc đi, độ nửa canh giờ thì tới một mỏm đá nhô ra ngoài. Phía trước lại cụt đường, Chu Trường Linh thở dài, thừ người hồi lâu, mới buồn bã trở lại cái bình đài cũ.

Trương Vô Kỵ không cần hỏi, nhìn mặt ông ta là cũng biết không có lối ra, nghĩ thầm: "Ta trúng phải Huyền Minh thần chưởng, chất âm độc khó trừ, bấm đốt ngón tay xem ra thọ mệnh đã hết, chết ở chỗ nào cũng thế thôi. Còn ông ta tự dưng có phúc không hưởng, mơ tưởng làm bậc chí tôn trong võ lâm, để bị chết đói như ta giữa chốn băng tuyết này, thật đáng thương".

Ban đầu cậu căm ghét Chu Trường Linh gian ngoa xảo quyệt, sau khi thoát hiểm khỏi rơi xuống vực, cậu còn châm chọc ông ta mấy câu; bây giờ thấy hết đường sống, Chu Trường Linh cúi đầu ủ rũ, thì cậu lại thương hại ông ta, bèn ôn tồn nói:

– Chu bá bá, bá bá nhiều tuổi rồi, vinh hoa phú quý đều đã hưởng, giờ có chết cũng đâu tiếc, bá bá chả nên quá khổ sở như thế.

Chu Trường Linh sở dĩ tới giờ còn nhẫn nhịn Trương Vô Kỵ, vì ông ta vẫn hi vọng cuối cùng sẽ làm cho cậu mềm lòng, dẫn ông ta đi Băng Hỏa đảo, lúc này thấy đã hết đường sống, bị lâm vào tuyệt cảnh thế này toàn là do tên tiểu tử kia mà ra, thử hỏi bảo ông ta làm sao nuốt cho xuôi nỗi oán giận này? Hai mắt ông ta như nảy lửa, hầm hầm nhìn Trương Vô Kỵ.

Trương Vô Kỵ thấy vẻ mặt vốn dĩ ôn hòa phúc hậu của Chu Trường Linh phút chốc trở nên hung ác như dã thú, thì cả sợ kêu lên một tiếng, đứng bật dậy bỏ chạy. Chu Trường Linh quát:

– Ở đây còn đường cho mi chạy trốn sao?

Chu Trường Linh giơ tay chộp vào lưng Vô Kỵ, định hành hạ cậu một phen cho nếm đủ mùi khổ ải rồi mới chết.

Trương Vô Kỵ lao về đằng trước, thấy vách núi bên trái có chỗ tối đen, hình như là một cái hang, chẳng nghĩ ngợi gì hết liền chui luôn vào đó. Soạt một tiếng, ống quần cậu bị Chu Trường Linh xé rách, da đùi bị ngón tay ông ta cào xước. Trương Vô Kỵ lật đật vội chuồi vào hang, đột nhiên "bịch" một cái, trán va phải đá, mắt nổ đom đóm. Vô Kỵ biết rằng lúc này Chu Trường Linh đã trở mặt, bất cứ thủ đoạn tàn ác nào cũng có thể sử dụng, nên trong cơn hoảng hốt, cậu cứ liều mạng chui sâu vào trong, còn việc chui vào cái hang tối om om, cũng là hãm vào tuyệt địa, không sao thoát khỏi độc thủ của đối phương thì cậu chẳng kịp nghĩ đến. May sao cái hang này càng vào sâu càng hẹp, sau khi bò hơn chục trượng, chỉ mình cậu có thể vào lọt chứ Chu Trường Linh thì không.

Trương Vô Kỵ trườn thêm vài trượng, bỗng thấy phía trước có ánh sáng, trong lòng cả mừng, tay chân cùng xoải cho nhanh. Ở phía sau Chu Trường Linh vừa tức giận, vừa gấp gáp, nói:

– Ta không hại mi đâu, đừng bò đi nữa.

Trương Vô Kỵ mặc xác hắn.

Chu Trường Linh vận nội lực, giơ tay đánh mạnh vào vách đá, đá núi rắn lạ thường, chưởng đánh vào chỉ khiến lòng bàn tay đau nhói chứ vách đá chẳng hề hấn gì. Ông ta rút cây đoản đao, định xẻ rộng lối để bò, nhưng đào được vài nhát thì cây đoản đao bằng đồng xanh gãy đôi. Chu Trường Linh nổi cơn thịnh nộ, vận kình ra hai vai, trườn lên phía trước, thân hình quả nhiên tiến thêm được hơn một thước, nhưng không thể vào sâu chút nào nữa, đá cứng ép vào ngực và lưng khiến hắn rất khó thở.

Tức ngực khó thở, Chu Trường Linh đành trườn lùi, nào ngờ thân thể đã bị kẹt cứng trong khe đá, tiến lên chẳng được, mà lùi lại cũng không xong. Lúc này hồn xiêu phách lạc, Chu Trường Linh dùng hết sức bình sinh đẩy mạnh vai vào vách đá, thân hình mới lùi lại được hơn một thước, cảm thấy ngực đau nhức ghê gớm, hóa ra bị gãy một chiếc xương sườn.

Comments

Comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 16: Tu luyện thành thục Cửu Dương thần công

Trương Vô Kỵ bò tiếp vào cái hang hẹp thêm vài trượng, thấy phía trước càng lúc càng sáng hơn, bò thêm một đoạn, đột nhiên ánh nắng lóa mắt, cậu nhắm mắt định thần, khi mở mắt ra thì thấy phía trước là một thung lũng xanh tươi, cây cỏ hoa lá xen nhau đủ màu.

Cậu lớn tiếng reo mừng, từ trong hang bò ra. Cái hang này cao cách mặt đất chỉ hơn một trượng, khẽ nhảy là xuống tới nơi. Chân cậu đạp lên cỏ mượt như nhung, mũi ngửi mùi hoa thơm thoang thoảng, tai nghe chim hót ríu rít, mắt nhìn trái cây trĩu cành, đâu ngờ đằng sau cái hang hẹp tối om kia lại có một vùng phong cảnh thần tiên thế này. Giờ đây Trương Vô Kỵ đã quên vết thương đau đớn, chạy tung tăng một mạch đến hơn hai dặm mới gặp một ngọn núi cao chắn lại. Cậu đưa mắt nhìn tứ phía, thấy vây quanh thung lũng là núi cao trập trùng, tựa hồ thời xa xưa nơi đây chưa từng có vết chân người. Các đỉnh núi tuyết cao chọc trời, những vách núi cheo leo hiểm trở, quyết chẳng thể leo lên leo xuống.

Trương Vô Kỵ vô cùng sung sướng. Có bảy tám con sơn dương đang gặm cỏ, chúng thấy cậu tới gần mà chẳng hề sợ hãi chạy đi, trên cây có hàng chục con khỉ nhảy nhót chơi đùa, xem ra các loài hổ báo thân thể nặng nề đều không dám vượt các ngọn núi hiểm trở tới đây. Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Kể ra ông Trời đãi mình cũng không bạc, sắp đặt cho mình một chốn yên nghỉ ngàn thu thần tiên như thế này".

Cậu thong thả trở lại cửa hang, nghe tiếng gọi của Chu Trường Linh ở trong hang:

– Tiểu huynh đệ, ngươi mau bò ra đi, ở mãi trong ấy không sợ buồn chết hay sao?

Trương Vô Kỵ cười to:

– Ở trong này thú lắm!

Cậu với tay hái mấy trái cây không biết tên gì mọc ở các cành thấp, mới cầm trên tay đã ngửi mùi thơm dễ chịu, cắn thử một miếng cảm thấy ngon ngọt lạ thường, giòn hơn đào, thơm hơn táo, lại mọng nước hơn lê. Cậu ném một trái vào hang cho Chu Trường Linh, nói:

– Bắt lấy này, ngon phải biết!

Trái cây va vào vách đá mấy cái đã vỡ nát. Chu Trường Linh nhặt ăn cả vỏ lẫn hạt, ăn xong vẫn thấy đói cồn cào, lại gọi:

– Tiểu huynh đệ, cho ta vài trái nữa đi!

Trương Vô Kỵ nói:

– Chu bá bá là hạng người bất lương, có chết đói cũng đáng! Muốn ăn quả thì tự bò vào mà lấy.

Chu Trường Linh nói:

– Thân ta to quá, chui không lọt!

Trương Vô Kỵ cười:

– Liệu xẻ ra làm hai, có chui lọt được chăng?

Chu Trường Linh biết âm mưu của mình đã bại lộ, Trương Vô Kỵ hẳn sẽ mặc ông ta chết đói dần để báo thù, vết thương ở ngực lại đau nhói lên, ông ta bèn lớn tiếng chửi:

– Tặc tiểu quỷ kia, trái cây trong hang không lẽ đủ cho ngươi ăn suốt đời sao? Ta ở ngoài này chết đói, ngươi giỏi lắm cũng chỉ sống thêm vài ngày, trước sau gì cũng chết đói thôi.

Trương Vô Kỵ không thèm lý đến ông ta nữa, cậu ăn bảy tám trái nữa thì no bụng.

Sau đó hồi lâu, bỗng thấy một luồng khói từ trong hang bay ra. Trương Vô Kỵ kinh ngạc, nhưng lập tức vỡ lẽ: Thì ra Chu Trường Linh ở bên ngoài hun khói vào hang để buộc mình phải bò ra, chứ đâu biết rằng Vô Kỵ đang ở một nơi trời đất bao la thế này, dù ông ta có đốt ngàn vạn cành tùng cũng uổng công. Cậu thấy tức cười, giả vờ ho sặc sụa, Chu Trường Linh gọi:

– Tiểu huynh đệ, bò ra đi, ta thề không hại ngươi đâu.

Trương Vô Kỵ kêu "ối" một tiếng, giả bộ ngất lịm, rồi bỏ đi.

Cậu đi về hướng tây được hơn hai dặm thì thấy một dòng thác từ trên núi cao đổ xuống, có lẽ do tuyết tan tạo thành, ánh nắng chiếu vào trông như một con rồng lớn bằng ngọc, vô cùng tráng lệ. Dòng thác đổ xuống một đầm nước màu trong xanh, nước hồ không dâng đầy, tức thị có đường thoát đi nơi khác. Cậu ngắm cảnh một lát, cúi xuống thấy chân tay mình lấm lem bùn đất và rêu xanh, lẫn với nhiều vết máu do bị cào xước, bèn tới bên bờ đầm cởi giày cỏ và xà cạp, lội xuống tắm rửa.

Đang tắm rửa, bỗng thấy một con cá trắng dài tới hơn một thước từ dưới đầm phóng mình lên khỏi mặt nước. Trương Vô Kỵ vội đưa tay chụp, tuy trúng mình cá nhưng nó trơn tuột đi. Cậu đứng yên nhìn kỹ, thấy dưới làn nước xanh trong có hơn một chục con cá trắng lớn đang bơi qua bơi lại.

Cách bắt cá, cậu đã học từ hồi còn nhỏ ở Băng Hỏa đảo. Cậu bẻ cành cây cứng, tạo một đầu nhọn, rồi đứng trên bờ đầm lặng lẽ chờ đợi, cứ hễ có con cá nào bơi gần lên mặt nước là cậu đâm mạnh mũi nhọn xuống, trúng vào thân con cá.

Vô Kỵ reo mừng, lại dùng cành nhọn rạch bụng con cá, vứt ruột đi, rửa sạch, rồi kiếm củi khô, dùng hỏa đao, hỏa thạch và bùi nhùi mang theo bên người mà nhóm lửa nướng cá. Lát sau mùi cá thơm phức, biết đã chín, cho vào miệng ăn thật thơm ngon vô cùng, tựa hồ trong đời chưa bao giờ được ăn món gì ngon hơn thế. Phút chốc, cậu đã chén hết cả một con cá to.

Trưa hôm sau, Trương Vô Kỵ lại bắt một con cá to, nướng ăn, nghĩ thầm: "Mình nhất thời còn sống, phải giữ lấy lửa, kẻo khi hết bùi nhùi thì phiền", bèn vun tro thành vòng tròn, vùi cành củi cháy dở vào đó, đề phòng lửa tắt. Hồi ở Băng Hỏa đảo, mọi vật dụng đều phải tự chế lấy, nay một mình ở chốn hoang dã này, cậu cũng lấy đất nặn thành nồi, bện cỏ thành nệm.

Bận đến tận chiều tối, nghĩ Chu Trường Linh chắc đói meo, Trương Vô Kỵ bèn hái một bọc trái cây ném vào trong hang. Cậu sợ nếu cho ông ta ăn cá, lỡ như ông ta đủ sức khỏe chui qua hang thì nguy to, nên không cho món cá nướng.

Đến ngày thứ tư, Trương Vô Kỵ đang nặn một cái bếp bỗng nghe có tiếng khỉ kêu chí chóe ra chiều thảm thiết và cấp bách lắm. Cậu theo tiếng kêu chạy tới, thấy dưới chân vách núi có một con khỉ đang bị một hòn đá đè lên, không cựa quậy được, chắc là nó ngã từ trên vách núi xuống đây. Trương Vô Kỵ tới lăn hòn đá sang một bên, chân phải của con khỉ bị gãy, nó đau quá cứ kêu khèng khẹc luôn miệng.

Trương Vô Kỵ buộc hai cành cây vào chỗ chân gãy cho con khỉ, lại tìm một số thảo dược nhai nát đắp vào vết thương cho nó. Tuy ở đây khó tìm đúng dược thảo thích hợp cho bài thuốc kiến hiệu, nhưng nhờ thủ pháp tiếp cốt khéo léo của cậu, cái chân gãy của con khỉ cũng có thể lành.

Con khỉ kia cũng biết trả ơn, hôm sau nó đi hái rất nhiều trái cây mang về cho Trương Vô Kỵ. Mười ngày sau cái chân gãy của con khỉ quả nhiên đã lành hẳn.

Ở trong thung lũng ngày dài không có việc gì làm, Trương Vô Kỵ thường đùa giỡn cùng bầy khỉ, nếu chất hàn độc không bất chợt phát tác thì cuộc sống ở đây vô cùng thích thú. Có lần thấy bầy sơn dương đi qua, cậu toan giết một con nướng ăn, nhưng thấy bầy thú hiền lành dễ thương, cậu không nỡ ra tay. Cũng may cá trong đầm và trái cây quá nhiều nên thức ăn không thiếu. Vài hôm cậu lại bắt được một con gà rừng bên khe suối, ăn thịt thật là ngon.

Cứ như thế hơn một tháng, một buổi sớm Trương Vô Kỵ còn đang mơ màng chưa tỉnh giấc, bỗng cảm thấy có một bàn tay to lớn lông lá vuốt vuốt nhẹ vào má cậu. Trương Vô Kỵ giật mình bật ngay dậy, thấy một con vượn lớn lông trắng ngồi ngay bên cạnh, đang bế một con khỉ nhỏ vẫn cùng cậu đùa nghịch hàng ngày. Con khỉ nhỏ kêu chút cha chút chít luôn miệng, tay chỉ vào bụng con vượn. Trương Vô Kỵ ngửi thấy mùi hôi thối, trên bụng con vượn máu mủ bê bết, có một cái nhọt to tướng, bèn cười nói:

– Giỏi, giỏi, thì ra mi đem bệnh nhân tới cho thầy lang cơ đấy!

Con vượn trắng giơ tay, chìa ra một quả bàn đào to bằng nắm tay, cung kính dâng lên.

Trương Vô Kỵ nhìn trái bàn đào lớn chín đỏ, nghĩ thầm: "Mẫu thân ta từng kể chuyện cổ tích, ở núi Côn Luân có tiên nữ Vương Mẫu, mỗi lần sinh nhật lại thết tiệc bàn đào, mời quần tiên đến dự. Tây Vương Mẫu không biết có thật hay không, còn chuyện ở núi Côn Luân có bàn đào lớn thì chẳng phải hoang đường". Cậu liền tươi cười nhận trái bàn đào, nói:

– Ta không lấy tiền công, dù không có đào tiên, ta cũng vẫn chữa bệnh cho ngươi.

Cậu đưa tay nắn nhẹ vào bụng con vượn, bất giác giật mình.

Thì ra cái nhọt của loài vượn chỉ nhỏ chừng một tấc, nhưng đằng này lại to gấp mười lần thông thường, mà cứng ngắc. Trong y thư không chép loại ung nhọt nào lớn cỡ ấy, nếu toàn bộ chỗ cứng đều thành mủ, chỉ e không chữa được. Cậu bắt mạch cho con vượn, thấy không có triệu chứng nguy hiểm, bèn vạch đám lông dày ở bụng nó ra xem, nhìn cái nhọt lại càng kinh ngạc, thấy giữa bụng nó lồi lên một cục vuông vuông, chu vi được khâu lại bằng chỉ, rõ ràng là do bàn tay con người, loài vượn dù thông minh đến mấy cũng không đời nào biết may vá. Cậu khám kỹ cái nhọt lần nữa, biết là vật bên trong lồi ra kia đã làm tắc nghẽn huyết mạch khiến cơ bụng bị thối rữa đã lâu, muốn chữa khỏi bệnh thì không thể không lấy cái vật trong bụng con vượn ra.

Nói tới việc mổ xẻ trị thương, Trương Vô Kỵ đã học được ở Hồ Thanh Ngưu rất thành thạo. Nhưng ở đây không có dao kéo, cũng chẳng có thuốc men, thật là khó. Cậu nghĩ một hồi, rồi cầm một hòn đá ném mạnh vào hòn đá khác, tìm một mảnh vỡ thật sắc cạnh, thong thả cắt các mối chỉ khâu trên bụng con vượn. Con vượn này đã già, rất có linh tính, nó biết Trương Vô Kỵ trị bệnh cho nó, nên tuy bị đau ghê gớm nhưng nó vẫn cố nhịn không cựa quậy.

Trương Vô Kỵ cắt xong đường chỉ khâu bên phải và đường bên trên, vạch lớp da bụng lên theo đường chéo góc, thấy một cái bọc bằng vải dầu. Cậu rất ngạc nhiên, nhưng lúc này chưa vội mở cái bọc ra xem, chỉ lấy ra đặt sang một bên, rồi may da bụng lại cho con vượn. Không có kim chỉ, cậu đành dùng xương cá làm kim, chọc lỗ nhỏ trên da bụng, lấy vỏ cây tước ra làm chỉ, xuyên qua lỗ kia mà buộc lại, khâu xong thì bôi thuốc lên vết thương. Công việc ấy mất ngót nửa buổi mới hoàn tất, con vượn tuy rất khỏe nhưng cũng nằm bệt dưới đất mệt nhoài.

Trương Vô Kỵ rửa sạch vết máu trên tay và trên cái bọc, mở ra xem, hóa ra trong đó có bốn cuốn kinh thư mỏng. Nhờ được gói chặt bằng lớp vải dầu, nên tuy nằm trong bụng con vượn rất lâu mà bốn cuốn kinh thư ấy không hề bị hư hại. Bìa bộ kinh thư viết mấy chữ loằng ngoằng, cậu không đọc được chữ nào cả, còn giở bên trong, thì cả bốn cuốn đều chi chít những chữ quái dị, song xen giữa mỗi hàng đều có viết chữ Hán theo kiểu chữ khải chỉ nhỏ bằng đầu ruồi.

Trương Vô Kỵ định thần, đọc kỹ từ đầu, hình như sách này viết về yếu quyết luyện khí vận công; cậu chầm chậm đọc dần xuống dưới, đột nhiên giật mình khi thấy có ba hàng kinh văn quá quen thuộc, chính là "Võ Đang cửu dương công" mà thái sư phụ và Du nhị bá đã dạy cho cậu, nhưng tiếp sau thì lời văn lại không giống. Vô Kỵ giở thêm vài trang, lại gặp câu nói về "Võ Đang cửu dương công", song nội dung khác hẳn với những gì thái sư phụ và Du nhị bá đã dạy.

Trương Vô Kỵ gấp sách lại, trống ngực đập dồn, nghĩ thầm: "Bộ kinh thư này rốt cuộc là sách gì đây? Sao lại có đoạn nói về" Võ Đang cửu dương công "ở trong đó? Thế nhưng lại không hoàn toàn giống như võ công bản môn sở truyền? Kinh văn sao lại nhiều gấp mười lần của phái Võ Đang là sao?"

Nghĩ tới đây, cậu chợt nhớ câu chuyện thái sư phụ đã kể hồi dẫn cậu lên Thiếu Lâm tự: Sư phụ của thái sư phụ là Giác Viễn đại sư học thuộc Cửu dương chân kinh, trước khi chết có tụng cuốn kinh đó, khi ấy ba người ở bên cạnh Giác Viễn đại sư là thái sư phụ Trương Tam Phong, Quách Tương nữ hiệp và Vô Sắc đại sư phái Thiếu Lâm, mỗi người ghi nhớ được một phần, nhờ đó võ công của ba phái Võ Đang, Thiếu Lâm, Nga Mi đại tiến, mấy chục năm qua mỗi phái một vẻ, danh chấn võ lâm. "Chẳng lẽ đây chính là bộ Cửu dương chân kinh đã bị người ta lấy cắp? Đúng rồi! Thái sư phụ bảo rằng bộ Cửu dương chân kinh được chép ở phần lề lẫn với bộ kinh Lăng Già, những chữ loằng ngoằng này hẳn là kinh Lăng Già viết bằng tiếng Phạn. Nhưng tại sao nó lại nằm trong bụng con vượn nhỉ?"

Bộ kinh thư này đích thị là Cửu dương chân kinh, còn việc tại sao nó lại nằm trong bụng con vượn thì chẳng còn ai trên thế gian biết được.

Chuyện rằng hơn chín chục năm về trước, Tiêu Tương Tử và Doãn Khắc Tây đã lấy cắp bộ kinh thư này khỏi Tàng kinh các của chùa Thiếu Lâm, bị Giác Viễn đại sư truy đuổi đến tận đỉnh núi Hoa Sơn, thấy không thể nào thoát thân, vừa hay bên cạnh có con vượn xám, Tiêu Tương Tử và Doãn Khắc Tây bèn nghĩ ra một kế liền mổ bụng con vượn giấu bộ kinh vào đó. Khi Giác Viễn, Trương Quân Bảo và Dương Quá lục soát trong người hai tên này đều không thấy kinh thư đâu cả, đành thả cho hai tên này cùng con vượn xuống núi. Việc mất bộ Cửu dương chân kinh trở thành đại nghi án trong võ lâm ngót trăm năm nay. Sau đó Tiêu Tương Tử và Doãn Khắc Tây đem con vượn chạy sang Tây Vực, nhưng hai tên đó trong bụng cứ nghi ngờ nhau, sợ đối phương tập được thứ võ công chép trong kinh thư trước rồi sẽ giết mình, nên cả hai cứ canh chừng nhau, lần lữa chưa dám lấy bộ kinh trong bụng con vượn ra. Cuối cùng hai tên đến ngọn núi Kinh Thần trong dải Côn Luân, ra tay sát hại nhau đến mức lưỡng bại câu thương, thành thử bộ kinh tâm pháp tối cao về tu luyện nội công này cứ nằm lại trong bụng con vượn xám. [62]

Võ công Tiêu Tương Tử vốn cao hơn Doãn Khắc Tây một bậc, nhưng vì lúc ở trên tuyệt đỉnh Hoa Sơn hắn có đánh Giác Viễn đại sư một quyền, bị lực dội lại mà trọng thương, thành thử khi đấu với Doãn Khắc Tây, hắn lại bỏ mạng trước. Còn Doãn Khắc Tây lúc hấp hối đã gặp Côn Luân Tam Thánh Hà Túc Đạo, lương tâm nhắc nhở, mới nhờ Hà Túc Đạo đến Thiếu Lâm tự nói cho Giác Viễn đại sư biết rằng bộ kinh ấy giấu ở trong bụng con vượn. Nhưng lúc ấy thần trí hắn đã không còn tỉnh táo, giọng nói thều thào, cho nên câu "kinh tại hầu trung" [63], Hà Túc Đạo lại nghe thành "kinh tại dầu trung" [64] . Hà Túc Đạo giữ lời hứa, quả nhiên đi Trung nguyên chuyển lại câu "kinh tại dầu trung" cho Giác Viễn đại sư. Giác Viễn đại sư không hiểu nghĩa là gì, cũng vì câu này mà nổi lên một trận đại phong ba, sau đó võ lâm có thêm hai phái Võ Đang và Nga Mi.

Con vượn xám kia cũng thật may, ở trong núi Côn Luân ăn đào tiên, được hưởng linh khí của trời đất, qua hơn chín chục năm vẫn còn chạy nhảy như bay, bộ lông dài màu xám ban đầu dần dần chuyển sang màu trắng xóa, thành một con vượn trắng. Riêng bộ kinh vẫn nằm trong bụng nó, đè ép bao tử và ruột, nên nó hay bị đau bụng, vết thương trong bụng khi lành khi loét, mãi đến hôm nay mới được Trương Vô Kỵ lấy kinh ra, đối với con vượn mà nói, quả là trừ được mối đại họa trong gan ruột.

Tất cả manh mối đầu đuôi ấy, dù có người thông minh gấp trăm lần Trương Vô Kỵ cũng chẳng thể nghĩ ra. Trương Vô Kỵ ngẩn người một hồi, tự biết mình không giải thích được, cũng chẳng nên phí tâm suy nghĩ làm gì, bèn lấy trái bàn đào mà con vượn trắng tặng cho, cắn một miếng, thấy nước đào chảy xuống cổ họng thật ngon ngọt, ngon hơn hết thảy các thứ trái cây không tên trong thung lũng này mà cậu vẫn ăn.

Trương Vô Kỵ ăn hết trái bàn đào, nghĩ thầm: "Thái sư phụ năm nào từng bảo, nếu ta luyện được Cửu dương thần công của cả ba phái Võ Đang, Thiếu Lâm, Nga Mi là có thể khu trừ âm độc trong cơ thể. Cửu dương công của cả ba phái đều bắt nguồn từ Cửu dương chân kinh, nếu bốn cuốn sách này đúng là bộ Cửu dương chân kinh thì mình cứ theo đó luyện tập, sẽ hơn hẳn học Cửu dương thần công của ba phái. Ở thung lũng này cũng chả có việc gì làm, mình cứ theo sách mà tập luyện thôi. Còn giả dụ mình đoán nhầm, tập theo bộ sách này là vô dụng, chỉ có hại, thì cũng chỉ chết là cùng".

Yên tâm rồi, Trương Vô Kỵ bèn lấy ba quyển kinh thư cất vào một chỗ cao ráo, trên phủ cỏ khô, lại xếp chồng ba tảng đá lên trên để lũ khỉ khỏi nghịch ngợm lấy ra tranh giành nhau, xé rách không chừng. Cậu chỉ cầm quyển thứ nhất, trước tiên đọc đi đọc lại mấy lần cho thuộc lòng, sau đó tham cứu thể hội, bắt đầu tập từ câu thứ nhất trở đi.

Cậu nghĩ thầm: "Dẫu theo kinh thư này ta có tập được thần công, khu trừ âm độc trong cơ thể, nhưng lại bị giam hãm trong thung lũng bốn bề vách núi vây quanh thế này, cũng đâu có thoát ra được. Nơi đây ngày rộng tháng dài, hôm nay luyện xong cũng tốt, ngày mai luyện xong cũng hay, mà dẫu có luyện chẳng thành thì cũng coi như là một cách tiêu hao thời gian nhàn rỗi". Với tâm trạng thành bại chẳng hệ trọng, việc luyện tập của cậu tiến triển rất nhanh, chỉ sau bốn tháng ngắn ngủi đã hiểu kỹ mọi điều ghi trong quyển kinh thứ nhất và luyện thành công.

Luyện xong quyển kinh thứ nhất, bấm đốt ngón tay, kỳ hạn mà Hồ Thanh Ngưu dự đoán chất hàn độc phát tác khiến Trương Vô Kỵ phải chết đã qua song cậu cảm thấy cơ thể nhẹ nhàng khoan khoái, chân khí lưu động toàn thân, không có dấu hiệu bệnh tật nào cả; ngay cả chất hàn độc trước kia thường xuyên phát tác, bây giờ có khi cách cả tháng mới bị một lần, và bị cũng rất nhẹ. Không lâu sau Vô Kỵ đọc trong quyển kinh thứ hai, đến câu: "Đóng mở chín mạch dương, giữ chặt nguyên khí, sách này có tên là Cửu dương chân kinh", thì cậu mới biết chính xác đây là Cửu dương chân kinh, bộ bảo điển mà thái sư phụ đêm ngày ghi nhớ. Thế là cậu vui mừng vô hạn, tập luyện càng thêm chăm chỉ. Con vượn trắng cảm cái ân trị bệnh, thường hái bàn đào đem đến tặng cậu, là một món ăn bổ nguyên kiện thể. Luyện mới xong nửa quyển kinh thứ hai thì âm độc trong người đã được khu trừ không còn tung tích gì nữa.

Ngày ngày ngoài việc luyện công, Trương Vô Kỵ chơi đùa với bầy khỉ vượn; mỗi lần hái trái cây, cậu lại chia cho Chu Trường Linh một nửa, cậu cứ thế sống cuộc đời không lo phiền, tự do tự tại. Còn Chu Trường Linh ở trên cái bình đài nho nhỏ bên kia hang, đúng là một ngày dài bằng cả một năm, mỗi khi mùa đông tới, núi ngập băng tuyết, gió lạnh thấu xương, cảnh khổ kể sao cho xiết.

Trương Vô Kỵ luyện xong quyển kinh thứ hai thì không còn sợ nóng sợ lạnh. Có điều càng luyện về sau, càng đi sâu vào sự huyền diệu, tiến triển càng chậm, luyện quyển kinh thứ ba tốn cả một năm mới xong, riêng quyển kinh thứ tư phải mất đứt hơn ba năm mới hoàn toàn thành tựu.

Trương Vô Kỵ ở thung lũng này đã hơn năm năm, từ một thiếu niên nay trở thành một chàng trai cao lớn. Hai năm sau cùng, thi thoảng nổi hứng, chàng lại cùng bọn khỉ vượn leo lên vách núi, từ trên cao nhìn xuống bốn bề. Với công lực của chàng hiện giờ, việc vượt núi mà ra không còn là chuyện khó. Nhưng nghĩ đến bụng dạ hiểm độc của người đời, chàng không khỏi rùng mình, nghĩ bụng tội gì phải ra bên ngoài chuốc lấy phiền não, tự chui đầu vào rọ? Cứ sống trong cái thung lũng thần tiên này cho đến già, đến chết, chẳng phải hay hơn không?

Chiều hôm đó, Trương Vô Kỵ lấy bốn quyển kinh thư ra đọc lại một lần từ đến chí cuối, đọc xong quyển cuối cùng, trong lòng vừa vui sướng, vừa bâng khuâng. Chàng khoét một cái hang mới sâu ba thước ở vách núi, bên trái cái hang cũ, đem bốn quyển Cửu dương chân kinh, bộ Y kinh của Hồ Thanh Ngưu, cuốn Độc kinh của Vương Nạn Cô, tất cả gói lại kỹ càng trong tấm vải dầu lấy từ bụng con vượn ra, chôn vào hang, vùi đất lên, nghĩ thầm: "Ta lấy được bộ kinh thư từ trong bụng con vượn, là cơ duyên cực lớn, không biết trăm, ngàn năm sau, có ai lạc đến chốn này, may mắn tìm thấy bộ kinh này chăng?" Chàng nhặt một hòn đá nhọn, viết lên vách núi sáu chữ "Nơi Trương Vô Kỵ cất kinh".

Khi còn luyện công, ngày ngày có việc chú tâm vào làm nên Vô Kỵ không cảm thấy tịch mịch. Bây giờ đại công đã thành, trong lòng chàng lại thấy trống trải, hơn nữa thần công đã thành, lòng can đảm gia tăng, chàng nghĩ thầm: "Lúc này Chu bá bá có muốn hại ta, ta cũng chả sợ, chi bằng ta qua bên ấy nói chuyện chơi", thế là chàng uốn mình chui vào hang. Ngày trước, từ hang này chui ra, chàng mới mười lăm tuổi, thân hình nhỏ bé; nay chui vào đã hai mươi tuổi, thân hình cao to, làm sao chui lọt cái hang nhỏ hẹp? Chàng hít một hơi, vận Thúc cốt công co rút xương toàn thân lại sát với nhau, nhẹ nhàng luồn vào hang.

Chu Trường Linh đang tựa lưng vào vách đá ngủ say, mơ thấy đang ở nhà mở đại tiệc, gia nhân bằng hữu tấp nập vô cùng vui vẻ; đột nhiên có người lay lay vai ông ta; ông ta giật mình choàng tỉnh, mở mắt ra thấy một bóng người cao lớn đứng ngay trước mặt. Chu Trường Linh bật dậy, thần trí chưa hoàn toàn tỉnh táo, kêu lên:

– Ngươi.. ngươi..

Trương Vô Kỵ mỉm cười, nói:

– Chu bá bá, tiểu điệt đây, Trương Vô Kỵ đây mà.

Chu Trường Linh vừa kinh ngạc, vừa mừng, vừa hận vừa buồn, nhìn chàng hồi lâu, rồi nói:

– Cậu cao lớn quá rồi. Hừ, sao bấy lâu nay không ra nói chuyện với ta? Bất kể ta cầu khẩn thế nào, cậu cũng không lý đến, là sao?

Trương Vô Kỵ mỉm cười:

– Tiểu điệt sợ Chu bá bá hành hạ tiểu điệt.

Chu Trường Linh tay phải chộp ra, thi triển cầm nã thủ pháp, tóm vai Trương Vô Kỵ, xẵng giọng hỏi:

– Thế hôm nay không sợ nữa ư?

Đột nhiên lòng bàn tay ông ta nóng như phải bỏng, cánh tay bất giác giật lại, buông vai Vô Kỵ ra, ngực thì đau tức; ông ta vội lùi ba bước, ngơ ngẩn nhìn chàng, miệng lắp bắp:

– Cậu.. cậu.. có công phu gì vậy?

Từ khi luyện thành Cửu dương thần công, đây là lần đầu tiên Trương Vô Kỵ sử dụng, thấy uy lực như vậy. Chu Trường Linh là cao thủ bậc nhất, vậy mà bị thần công của chàng làm cho chấn động phải buông tay tức thì. Chàng nhìn Chu Trường Linh hốt hoảng, trong lòng không khỏi thầm đắc ý, cười nói:

– Bá bá thấy công phu ấy thế nào?

Chu Trường Linh chưa hoàn hồn, lại hỏi:

– Cái đó.. môn đó là công phu gì thế?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Đó là Cửu dương thần công.

Chu Trường Linh hỏi:

– Làm cách nào cậu luyện thành?

Trương Vô Kỵ cũng chẳng buồn giấu, bèn kể lại việc trị thương cho con vượn trắng, nhờ đó lấy được bộ kinh thư trong bụng nó, theo đấy tu luyện.

Chu Trường Linh nghe xong chỉ càng ghen tức, nghĩ thầm: "Ta ở trên ngọn núi tuyết này năm năm trời chịu xiết bao khổ ải, còn tên tiểu tử này lại luyện được thần công tuyệt diệu". Ông ta chẳng nghĩ rằng chính mình mưu toan hại người nên mới lạc tới đây, cũng không nhớ cái ơn năm năm qua Trương Vô Kỵ ngày ngày hái trái cây ném cho ông ta ăn, ông ta mới sống được tới hôm nay, chỉ nghĩ tiểu tử này sao quá may mắn, còn mình thì quá xui xẻo, thật quá bất công, bèn cố nén giận, cười hề hề, nói:

– Thế bộ Cửu dương chân kinh ấy đâu rồi, cho ta xem một chút được chăng?

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Cho ông ta xem một chút thì đã sao? Không lẽ trong giây lát có thể nhớ được hết ư?" liền nói:

– Tiểu điệt chôn trong hang, ngày mai sẽ lấy ra cho bá bá xem.

Chu Trường Linh hỏi:

– Cậu cao lớn như thế, làm sao chui lọt qua hang?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Cái hang cũng chả hẹp lắm đâu, chỉ cần co mình lại, dùng sức trườn một cái là qua thôi.

Chu Trường Linh hỏi:

– Cậu thấy liệu ta có trườn qua được hay không?

Trương Vô Kỵ gật đầu:

– Để mai chúng ta hãy thử xem, bên trong hang rộng rãi lắm, chứ ở mãi trên cái bình đài nhỏ hẹp này thật chẳng thích chút nào.

Trương Vô Kỵ nghĩ rằng nếu mình vận công ép hai vai, ngực, xương sườn, mông và các khớp xương cho Chu Trường Linh thì có thể giúp ông ta chui lọt qua hang. Chu Trường Linh cười, nói:

– Tiểu huynh đệ, cậu thật là tốt, bậc quân tử không nhớ chuyện cũ, trước kia ta có điều không phải với cậu, mong cậu bỏ qua cho.

Nói xong vái một cái thật dài. Trương Vô Kỵ vội hoàn lễ, nói:

– Chu bá bá không cần khách sáo! Ngày mai chúng ta sẽ cùng nghĩ cách rời khỏi nơi này.

Chu Trường Linh cả mừng, hỏi:

– Cậu bảo có thể rời khỏi nơi này ư?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Khỉ vượn có thể leo ra leo vào, chắc chắn mình cũng làm được.

Chu Trường Linh hỏi:

– Thế sao cậu không ra từ sớm?

Trương Vô Kỵ mỉm cười, nói:

– Trước kia tiểu điệt chả nghĩ tới chuyện rời khỏi nơi đây, chỉ sợ bị người ta hà hiếp, bây giờ không sợ nữa, nên tính chuyện về thăm thái sư phụ và các vị sư bá sư thúc.

Chu Trường Linh cười ha hả, vỗ tay reo:

– Hay quá, hay quá!

Chân ông ta lùi hai bước, đột nhiên trượt chân, người chao đi, kêu "Ối" một tiếng, chân đạp vào khoảng không, từ mép đá rơi xuống bên dưới.

Sự việc xảy ra đột ngột, Trương Vô Kỵ cả kinh, cúi nhìn xuống, gọi:

– Chu bá bá, bá bá có sao không?

Chỉ nghe bên dưới vọng lên hai tiếng rên yếu ớt. Trương Vô Kỵ cả mừng, nghĩ thầm: "May quá, chưa rơi xuống vực, nhưng có lẽ cũng bị thương". Nghe tiếng rên, đoán chừng khoảng cách chỉ vài trượng, chàng nhìn kỹ thì thấy bên dưới mỏm đá này có một cây tùng mới nhô ra, Chu Trường Linh đang nằm vắt ngang trên cây, không dám động đậy. Trương Vô Kỵ quan sát tình thế, với công lực hiện tại của chàng, việc nhảy xuống ôm Chu Trường Linh mang lên đây cũng không mấy khó khăn, thế là chàng hít một hơi, nhắm một cành cây to bằng bắp tay, nhẹ nhàng thả mình xuống đó.

Chân chàng còn cách cành cây kia chừng nửa thước, đột nhiên cái cành ấy gãy rời, rớt xuống. Chàng đang lơ lửng trong không trung, làm gì có chỗ nào để mượn sức; dù chàng đã luyện thành thần công tuyệt đỉnh, nhưng vẫn là người chứ đâu phải chim chóc, đâu có thể bay ngược trở lên? Ý nghĩ vụt qua trong đầu như một ánh chớp: "Thì ra Chu Trường Linh lại dùng gian kế hại ta; hắn bẻ gãy cành cây kia cầm trong tay, chờ ta đáp xuống gần tới liền buông rơi". Chàng hiểu được như thế thì đã muộn, thân hình cứ thế rơi thẳng xuống.

Chu Trường Linh ở trên cái bình đài nho nhỏ, rộng không quá mươi trượng kia hơn năm năm, từng ngọn cỏ, từng viên sỏi đều biết rõ. Trong bóng tối ông ta giả vờ trượt chân bị thương, biết Trương Vô Kỵ sẽ nhảy xuống cứu, quả nhiên gian kế thành công, khiến Trương Vô Kỵ rơi xuống vực sâu muôn trượng.

Chu Trường Linh cười ha hả, nghĩ thầm: "Hôm nay cho tên tiểu tử kia thành một đống thịt nát nhừ mới thỏa mối hận trong lòng ta hơn năm năm qua!" Họ Chu níu sợi dây leo ở bên cạnh cây tùng, leo ngược lên bình đài, nghĩ bụng: "Lần trước ta chui vào hang không lọt, cũng vì nôn nóng dùng sức quá mạnh, đến nỗi gãy xương sườn. Tên tiểu tử này thân xác to hơn hẳn ta, nó đã chui lọt, thì ta cũng sẽ chui lọt. Sau khi lấy được bộ Cửu dương chân kinh, ta sẽ tìm đường trở về, luyện thành thần công, vô địch trong thiên hạ, thật là sung sướng! Ha ha, ha ha!"

Chu Trường Linh càng nghĩ càng đắc ý, bèn chui luôn vào hang, chẳng bao lâu đã tới chỗ năm năm trước ông ta bị gãy xương sườn. Trong đầu ông ta chỉ có một ý nghĩ: "Tên tiểu tử ấy to lớn hơn ta mà chui lọt, ta đương nhiên cũng sẽ chui lọt". Nghĩ thế là đúng, nhưng họ Chu lại quên một điều, là Trương Vô Kỵ đã luyện được phép thúc cốt[65] trong Cửu dương thần công.

Hắn bình tâm tĩnh khí, nhích từng tấc từng tấc qua chỗ hẹp trong hang, quả nhiên so với năm năm trước đã tiến sâu hơn một trượng, nhưng đến đây rồi, dẫu cố mấy cũng không thể nhích thêm được dù chỉ nửa tấc.

Hắn biết nếu lại làm mạnh, sẽ chỉ đi vào vết xe đổ năm năm trước, ắt bị gãy thêm vài dẻ xương sườn, nên ông ta định thần, cố thở khí trong phổi ra bằng hết, quả nhiên người thu nhỏ thêm được hai tấc, tiến sâu thêm ba thước nữa. Nhưng vì nhịn thở, ngực mỗi lúc một tức, tim đập cứ như tiếng trống hộ đê, chỉ muốn ngất xỉu, ông ta biết là không ổn, đành lùi lại tính sau.

Nào ngờ lúc tiến vào thì hai chân có thể tựa những chỗ lồi lõm trong hang đá mà đẩy người đi, lúc bò lui thì chẳng có gì để tựa. Khi tiến vào, ông ta giơ thẳng hai tay về phía trước để thu hẹp hai vai, bay giờ hai tay bị bốn bề là đá giữ chặt nên không có chút sức lực nào, song trong đầu vẫn nghĩ: "Tên tiểu tử ấy to lớn hơn ta mà chui lọt, ta đương nhiên cũng sẽ chui lọt. Tại sao ta lại bị kẹt ở đây, có lý nào thế được?"

Nhưng trên đời thiếu gì những chuyện như thế, một cao thủ văn tài võ công vào hàng thượng thừa, thông minh cơ trí vào bậc nhất, giờ bị mắc kẹt trong cái hang đá nhỏ hẹp, tiến chẳng được mà lùi cũng chẳng xong.

*

* *

Trương Vô Kỵ lại trúng gian kế của Chu Trường Linh, từ trên mỏm núi rơi thẳng xuống vực, lòng vô cùng ân hận: "Trương Vô Kỵ ơi là Trương Vô Kỵ, mi quả là một tên vô dụng! Thừa biết Chu Trường Linh là kẻ cực kỳ gian trá, vậy mà vừa gặp đã lại bị ông ta đánh lừa, mi thật đáng chết, đáng chết!"

Chàng tự rủa mình đáng chết, song thực ra khát khao được sống hơn bao giờ hết nên cố vận khí lưu thông trong cơ thể, nhảy ngược lên để giảm bớt sức rơi, may ra lúc tiếp đất sẽ không bị tan xương nát thịt. Nhưng đang ở trên không rơi xuống vùn vụt, đâu thể điều khiển được thân mình, cũng chẳng có chỗ nào để mượn lực, chàng chỉ thấy bên tai gió thổi ù ù, hai mắt nhức nhối, ánh sáng từ lớp tuyết trắng bên dưới đã hắt thẳng lên mắt.

Chàng biết sống hay chết hoàn toàn là ở phút này, thấy cách hơn một trượng có một đống tuyết lớn, lúc này cũng chả phân biệt nổi đó là tuyết hay đá trắng, đang ở trên không bèn lộn người ba vòng, nhắm đống tuyết ấy lao tới. Thân hình chàng rơi xéo thành đường vòng cung, chân trái chạm xuống đống tuyết, nghe "phụp" một tiếng, cả người rơi ngập vào đống tuyết. Môn Cửu dương thần công chàng khổ luyện năm năm qua giờ đây phát sinh uy lực, mượn sức đẩy lại của đống tuyết mà vọt người lên cao. Nhưng sức rơi từ trên cao vạn trượng xuống đây rất mạnh, chàng cảm thấy đùi đau nhói, cả hai xương đùi đều bị gãy.

Chàng bị thương tuy nặng, song thần trí vẫn tỉnh táo, thấy rơm cỏ bay tứ tung, hóa ra bên dưới đống tuyết là đám cỏ khô do nhà nông đánh đống. Chàng bất giác reo thầm: "May quá, hú vía. Nếu bên dưới không phải cỏ khô mà là đất đá, thì Trương Vô Kỵ ta coi như tiêu đời luôn rồi".

Chàng dùng hai tay từ từ bò ra khỏi đống cỏ, lăn ra chỗ tuyết bằng, xem lại vết thương ở đùi, hít một hơi dài, giơ tay nắn lại chỗ xương đùi bị gãy, nghĩ thầm: "Ta phải nằm đây tối thiểu một tháng, may ra mới có thể đi lại được. Ở đây chẳng có gì ăn, đến phải dùng tay thay chân, chứ không lẽ cứ nằm một chỗ nhịn đói đến chết hay sao?"

Chàng lại nghĩ thầm: "Đống cỏ này của nhà nông tích trữ, vậy gần đây phải có người ở". Chàng đã định kêu cứu thật to, song nghĩ lại: "Trên đời này kẻ ác quá nhiều, ta một mình nằm dưỡng thương trên bãi tuyết cũng được rồi. Nếu kêu lên mà bị kẻ ác tới, chẳng hóa ra càng thêm khốn khổ sao". Thế là Vô Kỵ lặng lẽ nằm trên tuyết, chờ ngày xương đùi lành dần.

Nằm thế ba ngày, bụng đói sôi từng chập. Vô Kỵ biết rằng những ngày đầu tiếp cốt nhất thiết không được cử động, vì nếu chỗ gãy bị lệch đi, cả đời sẽ thành kẻ đi khập khiễng, thành thử dầu gì cũng cố nhịn, không dám động đậy, lúc đói quá hết chịu nổi thì bốc vài vốc tuyết nhai cho đỡ đói. Trong ba hôm đó, chàng chỉ nghĩ: "Từ nay trở đi, mọi việc trên đời ta phải cẩn thận từng chút một, không để cho kẻ ác đánh lừa nữa. Sau này chắc gì còn được may mắn, gặp đại nạn lại thoát chết như lần này".

Đến chiều tối ngày thứ tư, chàng đang nằm yên vận công, cảm thấy đầu óc thư thái, thân xác nhẹ nhõm, vết thương ở đùi tuy nặng thật, song thần công đã luyện cũng giúp cho thương thế chuyển biến tốt khá nhanh.

Đang trong cảnh vắng lặng, chợt có mấy tiếng chó sủa từ xa vọng tới, càng lúc càng gần, rõ ràng là lũ chó đang đuổi theo một con dã thú nào đấy. Trương Vô Kỵ giật mình: "Không lẽ đó là lũ chó của Chu Cửu Chân nuôi? Ồ, bọn ác khuyển của nàng ta đã bị Chu Trường Linh đánh chết rồi, ừ mà mấy năm qua, có lẽ nàng ta lại nuôi bầy chó khác không chừng".

Trương Vô Kỵ chăm chú nhìn bãi tuyết, thấy có một người đang chạy như bay, phía sau có ba con chó lớn vừa đuổi theo vừa sủa vang. Người kia rõ ràng đã hết hơi kiệt sức, hai chân loạng choạng, chạy vài bước lại ngã một cái, nhưng sợ nanh vuốt của lũ chó dữ nên vẫn phải chạy thục mạng. Trương Vô Kỵ nhớ lại mấy năm trước mình cũng bị bầy chó vây cắn khổ sở ngần nào, bất giác sôi máu lên.

Chàng muốn ra tay cứu người kia, khổ nỗi hai chân bị gãy, không thể xê dịch. Bỗng nghe người kia rú lên, ngã lăn ra, hai con chó dữ chồm lên người y. Trương Vô Kỵ giận dữ lên tiếng:

– Ác cẩu, lại đây coi!

Ba con chó nghe tiếng người, chạy tới đánh hơi thấy Trương Vô Kỵ không phải là người quen, sủa mấy tiếng rồi xông vào cắn.

Trương Vô Kỵ giơ ngón tay búng một cái vào mũi từng con, cả ba con ác khuyển cùng lăn lộn, chết liền. Chàng không ngờ chỉ một cái búng ngón tay đã dễ dàng giết chết tươi ba con chó thì không khỏi thầm kinh ngạc về uy lực của "Cửu dương thần công".

Chàng nghe tiếng rên rỉ yếu ớt của người kia, bèn hỏi:

– Đại ca, lũ chó cắn đại ca nặng quá ư?

Người kia đáp:

– Tôi.. tôi.. chắc nguy.. không sống..

Trương Vô Kỵ nói:

– Tôi bị gãy chân, không đi được. Đại ca cố bò lại đây, tôi xem vết thương cho.

Người kia nói:

– Vâng.. vâng..

Y thở hổn hển, cố lết tới, lết một đoạn ngắn lại dừng nghỉ, lúc còn cách Trương Vô Kỵ hơn một trượng, bỗng kêu "Ối" một tiếng, rồi gục xuống bất động.

Đôi bên cách nhau một đoạn như thế, người này không bò tiếp nổi, người kia thì phải nằm yên. Trương Vô Kỵ hỏi:

– Đại ca bị thương ở chỗ nào?

Người kia đáp:

– Tôi.. bị ở ngực.. ở bụng.. chó cắn lòi ruột..

Trương Vô Kỵ lo lắng, biết rằng người kia đã bị chó cắn lòi ruột ra như thế thì chắc không sống nổi, chỉ hỏi thêm:

– Vì sao lũ chó dữ lại đuổi đại ca?

Người kia đáp:

– Tôi.. ban đêm ra.. đuổi heo rừng phá rẫy, gặp đại tiểu thư nhà họ Chu.. nói chuyện với một công tử dưới gốc cây, dại dột.. tới gần xem sao.. tôi.. ối!

Y kêu to một tiếng, rồi im luôn.

Tuy y nói chưa hết câu, song Trương Vô Kỵ mười phần cũng đoán được tám chín, hẳn là Chu Cửu Chân và Vệ Bích hẹn hò gặp nhau ban đêm, bị người nông phu kia bắt gặp, Chu Cửu Chân bèn thả chó dữ ra cắn chết y. Trương Vô Kỵ đang tức giận, bỗng có tiếng vó ngựa từ xa phi tới, tiếng người huýt sáo liên tiếp, chính là Chu Cửu Chân gọi bầy ác khuyển.

Trong giây lát, hai người một nam một nữ phi ngựa tới, giọng nữ kêu lên:

– Ồ, sao các Bình Tây tướng quân lại chết cả thế này?

Giọng nói ấy chính là Chu Cửu Chân. Lũ chó nàng ta nuôi đều được phong danh hiệu tướng quân chẳng khác gì ngày trước. Kẻ đi cùng chính là Vệ Bích. Hắn xuống ngựa, lạ lùng nói:

– Có hai người nằm chết ở đây này!

Trương Vô Kỵ định bụng: "Nếu các ngươi tới hại ta, chắc ta sẽ phải thẳng tay với các ngươi".

Chu Cửu Chân thấy người nông phu vỡ bụng lòi ruột, chết trông ghê rợn, còn Trương Vô Kỵ quần áo rách bươm, đầu bù tóc rối, râu lồm xồm nằm bất động trên mặt tuyết, xem ra cũng bị chó cắn chết rồi. Nàng ta không muốn ở đây thêm kẻo lỡ mất thời gian tình tự với Vệ Bích, bèn giục:

– Biểu ca, đi thôi! Hai gã nông phu kia trước khi chết còn liều mạng hạ sát mất ba viên tướng của muội.

Nàng ta quay ngựa, phóng về phía tây. Vệ Bích thấy ba con chó đã chết cả, trong bụng hơi lấy làm lạ, nhưng Chu Cửu Chân đã giục ngựa đi xa rồi, hắn cũng chẳng xét kỹ nữa, nhảy lên ngựa phóng theo.

Trương Vô Kỵ nghe tiếng cười trong trẻo của Chu Cửu Chân từ xa vọng lại văng vẳng, chàng vừa buồn vừa giận. Năm năm trước, chàng yêu kính Chu Cửu Chân khác gì tiên nữ, chỉ cần nàng ta ra lệnh, bảo chàng nhảy vào rừng đao chảo lửa, chàng cũng không chút do dự. Hôm nay gặp lại, không hiểu vì sao chàng chỉ thấy dửng dưng, nàng ta chẳng còn sức quyến rũ đối với chàng như trước đây nữa. Trương Vô Kỵ đoán chắc là vì chàng đã tu luyện Cửu dương chân kinh, hoặc vì chàng đã phát giác gian kế của cô ả đối với mình. Chàng đâu biết rằng tất cả nam nhân trên thế gian phần lớn đều vướng vào mối tình si ban đầu, say mê một thiếu nữ đến quên ăn quên ngủ, bất kể sống chết. Nhưng rồi tình đầu mau tan, về sau nhớ lại niềm si mê thuở nào, không khỏi tự cười thầm.

Lúc này bụng chàng quá đói, cứ sôi lên ùng ục, chàng chỉ muốn xé một cái đùi chó mà ăn tươi nuốt sống. Nhưng chàng sợ Chu Cửu Chân và Vệ Bích quay trở lại, phát hiện chàng còn sống, lại ăn thịt tướng quân của nàng ta, dĩ nhiên sẽ tức giận hành hung; chàng đang bị gãy chân thế này, chưa chắc chống cự nổi.

Sáng sớm hôm sau, một con chim kên kên thấy dưới đất có người chết, chó chết, lượn mấy vòng trên không, rồi sà xuống rỉa thịt. Con chim này chắc tới số, người chết chó chết chẳng ăn, lại mổ ngay vào mặt Trương Vô Kỵ. Chàng chộp luôn cổ nó, bóp nhẹ một cái là nó chết liền, vui mừng nói:

– Đúng là bữa điểm tâm từ trên trời rơi xuống.

Chàng vặt sạch lông con kên kên, xé đùi nó ra nhai, tuy là thịt sống, nhưng nhịn đói đã ba ngày liền nên ăn cũng thấy ngon lành.

Chàng chưa ăn hết con chim thứ nhất, con thứ hai đã bay tới. Cũng nhờ thế mà Trương Vô Kỵ có thịt chim để ăn, nằm trên tuyết dưỡng thương, đợi xương đùi liền lại.

Mấy ngày liền ở chốn đồng không mông quạnh này, không ai lai vãng. Cạnh Trương Vô Kỵ là ba con chó chết, một xác người, cũng may đang giữa mùa đông, khí trời lạnh giá, xác chết không thối rữa, cảnh sống tĩnh mịch một mình chàng đã quá quen, nên không cho là khổ.

Chiều hôm ấy, chàng đang vận nội công, thấy trên đầu có hai con chim kên kên lượn qua lượn lại rất lâu vẫn không dám đáp xuống. Rồi một con sà xuống cách Trương Vô Kỵ chừng ba thước, lại chuyển hướng bay vút lên, dáng dấp xoay mình thật đẹp mắt. Chàng bỗng nhiên nghĩ thầm: "Cái lối xoay mình này, nếu vận dụng vào võ công thì lúc ta tấn công đối phương sẽ khó bề phòng bị, dù ra đòn không trúng thì mình cũng đã vọt ra xa, kẻ địch chẳng kịp trả đòn".

"Cửu dương chân kinh" mà chàng tu luyện chỉ liên hệ tới nội công và yếu chỉ võ học, còn về chiêu số tấn công phòng thủ thì nửa chiêu cũng không nhắc tới. Bởi thế năm xưa Giác Viễn đại sư tuy đã luyện thành thần công, song khi bị Tiêu Tương Tử và Hà Túc Đạo tấn công thì chân tay ngài lại luống cuống, hoàn toàn không biết cách chống đỡ. Trương Tam Phong cũng nhờ Dương Quá dạy cho bốn chiêu mới đối phó được với Doãn Khắc Tây. Trương Vô Kỵ từ nhỏ đã học võ công, căn cơ hơn hẳn Giác Viễn và Trương Tam Phong hồi trẻ, song Tạ Tốn dạy cho chàng chỉ toàn là các yếu quyết quyền thuật, không có lấy một chiêu thức thực dụng nào cả.

Trương Vô Kỵ lúc này đã hiểu rõ nỗi khổ tâm của nghĩa phụ, Tạ Tốn đầy thân võ công bác đại tinh thâm, nếu cứ dạy tuần tự từng bước một, thì dạy hai chục năm chưa chắc đã hết, thấy thời gian ở bên nhau không nhiều, nên Tạ Tốn chỉ truyền thụ cho Vô Kỵ phải nhớ mọi yếu quyết của võ công thượng thừa, sau này tự mình thực hành mà hiểu ra. Quyền thuật thực sự mà Trương Vô Kỵ học được chỉ có ba mươi hai thế Võ Đang trường quyền do cha chàng dạy cho khi lênh đênh trên bè gỗ. Chàng biết rằng từ nay ngoài việc tiếp tục tham tập Cửu dương thần công, muốn tinh tiến thì chàng phải làm sao dung hợp được nội công thượng thừa đã luyện thành với võ công. Do đó, mỗi khi nhìn cánh hoa rơi xuống đất, cây lạ chĩa cành lên trời, cả đến động tác của loài chim loài thú, sự biến đổi của gió của mây, Vô Kỵ đều liên tưởng đến chiêu số võ công.

Lúc này Trương Vô Kỵ chăm chú quan sát hai con chim kên kên lượn vòng, sà xuống vút lên với các tư thế khác nhau, đang mải ngắm, bỗng nghe có tiếng chân người từ phía xa đi tới, bước chân nhẹ nhàng, xem chừng là một nữ nhân.

Trương Vô Kỵ ngoảnh đầu lại, thấy một thôn nữ tay xách chiếc làn tre, xăm xăm đi tới. Thôn nữ thấy có xác người chết, chó chết ở trên tuyết, kêu "ủa" một tiếng, ngạc nhiên dừng bước. Trương Vô Kỵ nhìn kỹ, thấy nàng ta tuổi chừng mười bảy mười tám, áo vải trâm gai, là con nhà nghèo; mặt mũi đen đủi, sưng u từng cục, diện mạo xấu xí, chỉ riêng đôi mắt là có hồn, thân hình thon thả.

Thôn nữ tới gần Trương Vô Kỵ, nhìn chằm chằm, hơi ngạc nhiên, hỏi:

– Đằng ấy.. chưa chết à?

Trương Vô Kỵ nói:

– Xem ra chưa chết.

Người hỏi đã không thông, người đáp càng ngộ nghĩnh, hai bên cùng nghĩ thế thì không nhịn được cùng bật cười. Thôn nữ nói:

– Đằng ấy chưa chết, nằm thẳng cẳng ở đây, khiến ta giật mình.

Trương Vô Kỵ nói:

– Ta bị rơi từ trên núi xuống, gãy cả hai chân, nên phải nằm ở đây.

Thôn nữ hỏi:

– Người kia cùng đi với đằng ấy à? Sao lại có ba con chó chết?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Ba con chó kia ác quá, cắn chết anh kia, nhưng chúng nó cũng chết luôn.

Thôn nữ nói:

– Đằng ấy nằm đây rồi sống bằng gì? Có đói bụng không?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Dĩ nhiên là đói, nhưng ta không được cử động, đành nằm một chỗ chờ vậy.

Thôn nữ mỉm cười, lấy trong làn ra hai cái bánh bao đưa cho Trương Vô Kỵ. Trương Vô Kỵ nói:

– Đa tạ cô nương.

Chàng nhận bánh, song chưa ăn. Thôn nữ hỏi:

– Ngươi sợ bánh của ta tẩm thuốc độc hay sao mà không ăn?

Trương Vô Kỵ hơn năm năm qua chỉ đôi lần nói chuyện vài câu với Chu Trường Linh trong hang núi, chả có ý vị gì cả; ngoài ra chưa có dịp trò chuyện với ai nửa lời, bây giờ thấy thôn nữ này tuy hình dạng xấu xí, nhưng nói năng có duyên, thì trong bụng vui thích, đáp:

– Vì là bánh của người cho, nên ta còn tiếc chưa nỡ ăn ngay.

Câu này có vài phần đùa cợt, chàng vốn ăn nói thật thà, chưa bao giờ biết đùa lém lỉnh, nay trước mặt thôn nữ chàng cảm thấy thoải mái tự nhiên, không hiểu sao tự dưng buột miệng nói như thế.

Thôn nữ nghe vậy tức thì sầm mặt, hứ một tiếng. Trương Vô Kỵ hối hận, vội đưa bánh lên miệng ăn luôn, nhưng vì ăn hấp tấp nên bị nghẹn ở cổ, ho sù sụ.

Thôn nữ đổi giận làm vui, nói:

– Trời đất, đáng kiếp cái đồ tham ăn! Đã xấu như ma mà bụng dạ còn không tốt, hèn gì ông Trời chẳng phạt cho què. Ai đời người khác không sao, riêng đằng ấy lại bị gãy cả hai chân như thế?

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Ta năm năm nay không chải đầu cạo râu, chắc là xấu như ma thật, nhưng nàng cũng đẹp đẽ gì cho cam, hai ta tám lạng nửa cân như nhau, chuột chù lại còn chê khỉ rằng hôi". Vô Kỵ nghĩ thế nhưng đâu dám nói ra, chỉ nghiêm mặt nói:

– Ta nằm đây đã chín ngày, may gặp cô nương đi qua, được cô nương cho bánh, xin đa tạ.

Thôn nữ bĩu môi cười:

– Ta hỏi, sao người khác không gãy chân, chỉ mình đằng ấy bị gãy cẳng? Đằng ấy không trả lời, vậy ta đòi lại bánh đấy.

Trương Vô Kỵ thấy nàng ta chúm chím cười, ánh mắt lộ rõ vẻ tinh quái, bất giác rung động trong lòng: "Ánh mắt nàng sao lại giống mẫu thân ta đến thế. Lúc sắp chết, mẫu thân ta đánh lừa lão hòa thượng Thiếu Lâm tự, ánh mắt của mẫu thân cũng hệt như thế này". Nghĩ vậy, nước mắt chàng ứa ra.

Thôn nữ "ồ" một tiếng, nói:

– Ta không đòi lại bánh đâu, thôi đừng khóc. Thì ra đằng ấy là một gã khờ vô tích sự.

Trương Vô Kỵ nói:

– Không phải ta sợ nàng đòi lại bánh, mà ta chợt nhớ lại một chuyện riêng.

Thôn nữ vốn đã quay mình đi được hai bước, nghe thế bèn dừng lại, ngoảnh đầu hỏi:

– Chuyện riêng gì vậy? Một gã khờ như đằng ấy mà cũng có tâm sự ư?

Trương Vô Kỵ thở dài, nói:

– Ta nhớ đến thân mẫu quá cố của ta.

Thôn nữ cười to, hỏi:

– Trước kia thân mẫu đằng ấy hay cho đằng ấy ăn bánh chứ gì?

Trương Vô Kỵ nói:

– Mẫu thân ta thường cho ta ăn bánh đã đành, nhưng ta nhớ mẹ vì khi nàng cười trông giống mẫu thân ta hết sức.

Thôn nữ tức giận:

– Đồ chết toi! Bộ ta già lắm sao? Già bằng mẫu thân của ngươi ư?

Nói đoạn nhặt một que củi dưới đất lên, quật hai cái vào người Trương Vô Kỵ. Trương Vô Kỵ muốn cướp que củi đó quá dễ dàng, nhưng chàng nghĩ thầm: "Nàng ta đâu biết mẫu thân trẻ trung xinh đẹp, tưởng đâu mẫu tử mình xấu xí như nhau, nên tức giận cũng phải;" chàng để nàng ta đánh xong hai cái, mới nói:

– Khi mẫu thân ta qua đời, diện mạo người trẻ đẹp vô cùng.

Thôn nữ xịu mặt, nói:

– Ngươi chê ta xấu xí, bộ không thiết sống nữa hả? Để ta kéo chân ngươi cho biết tay!

Nói xong nàng ta liền cúi xuống, làm như sắp kéo chân Vô Kỵ vậy. Trương Vô Kỵ cả kinh, xương đùi của chàng bị gãy, đang liền lại, nếu để cho nàng ta kéo một cái thì bao nhiêu công lao giữ gìn chỉ chớp mắt là mất tiêu. Thế là chàng vốc một nắm tuyết, đợi nếu nàng ta đưa tay đụng tới chân mình thì chàng sẽ lập tức búng tuyết vào huyệt đạo ở mi tâm khiến nàng ta bất tỉnh tại trận.

Cũng may thôn nữ chỉ dọa thôi, thấy chàng hoảng hốt, liền nói:

– Nhìn ngươi sợ hết hồn kìa, ai bảo ngươi dám trêu ta?

Trương Vô Kỵ nói:

– Ta mà có ý trêu tức cô nương thì cả hai chân ta sau khi lành sẽ gãy lại, vĩnh viễn không khỏi, cả đời sẽ thành thằng què.

Thôn nữ cười hì hì, nói:

– Vậy được rồi!

Nàng ngồi xuống bên Trương Vô Kỵ, nói:

– Mẫu thân đằng ấy là người xinh đẹp, sao lại đem ví với ta, chẳng lẽ trông ta cũng dễ coi ư?

Trương Vô Kỵ thừ người, nói:

– Ta cũng chả biết vì sao, chỉ cảm thấy nàng rất giống mẫu thân ta. Tuy nàng không xinh đẹp như mẫu thân, song ta thích ngắm nàng.

Thôn nữ cong ngón tay giữa, gõ nhẹ vào trán chàng hai cái, cười:

– Con ngoan ơi, vậy hãy gọi ta là mẫu thân đi nào!

Nói xong, lập tức cảm thấy bất nhã, vội bịt miệng quay mặt đi, nhưng vẫn không nhịn được cười.

Trương Vô Kỵ nhìn thần thái của thôn nữ, nhớ hồi ở Băng Hỏa đảo, mẹ mình lúc nói đùa với cha, mỗi khi lỡ lời cũng có bộ dạng như thế, chàng chợt thấy thôn nữ này thanh nhã dễ thương, không còn gì dáng vẻ khó coi nữa nên cứ đăm đăm nhìn nàng.

Thôn nữ ngoảnh lại thấy Trương Vô Kỵ đang ngây ra nhìn mình, cười hỏi:

– Huynh tại sao lại thích ngắm muội, nói muội nghe coi.

Trương Vô Kỵ ngẩn người hồi lâu, lắc đầu:

– Ta không biết nói sao. Ta chỉ cảm thấy mỗi khi ngắm nàng, trong lòng ta thật thư thái bình an, nàng đối với ta rất tốt, không ăn hiếp, cũng không hại ta.

Thôn nữ cười:

– Ha ha, huynh tưởng lầm rồi đó, muội bình sinh rất thích hại người.

Đột nhiên thôn nữ cầm que củi trong tay quật vào đùi chàng hai cái, rồi nhỏm dậy đi liền. Hai cái quật ấy đánh đúng vào chỗ gãy xương, Trương Vô Kỵ bị bất ngờ, kêu tướng lên "Ối cha!" Chỉ thấy nàng ta cười khanh khách, ngoảnh đầu lại, nhăn mặt trêu chàng.

Trương Vô Kỵ nhìn theo nàng ta xa dần, chỗ gãy xương đau không chịu nổi, chàng nghĩ thầm: "Thì ra nữ nhân đều thích hại người, mỹ nữ đã đành, ngay cả xú nữ cũng làm cho ta đau khổ".

Đêm ấy trong giấc ngủ, mấy lần Vô Kỵ mơ thấy thôn nữ này, cũng mấy lần mơ thấy mẫu thân mình, cuối cùng mơ lẫn lộn thấy mẫu thân là thôn nữ. Trong giấc mơ chàng không nhìn rõ nàng ta xấu hay đẹp, chỉ thấy rõ đôi mắt đen láy vừa tinh quái vừa trìu mến nhìn mình. Chàng nằm mơ hồi nhỏ, mẫu thân thường đùa nghịch với chàng, cố ý ngáng chân cho chàng ngã, khiến chàng đau quá khóc ré lên, mẫu thân mới ôm chàng mà hôn hít tới tấp, luôn miệng nói:

– Nín đi con, ôi mẹ làm đau con của mẹ rồi!

Đột nhiên chàng tỉnh giấc, trong đầu bỗng nảy sinh một câu hỏi mà chàng chưa bao giờ nghĩ tới: "Sao mẹ ta lại thích làm khổ người khác? Đôi mắt của nghĩa phụ là do mẹ ta bắn mù, Du tam bá là do mẹ ta làm cho tàn phế, toàn gia của tiêu cục Long Môn ở phủ Lâm An cũng do một tay mẹ ta giết hại, rốt cuộc mẹ ta là người tốt hay kẻ xấu?"

Chàng ngước nhìn các ngôi sao trên trời, nhìn một hồi thật lâu, rồi thở dài, nói:

– Bất kể là tốt hay xấu, cũng vẫn là mẫu thân ta.

Chàng lại nghĩ tiếp: "Nếu mẫu thân ta còn sống đến bây giờ, không biết ta sẽ yêu bà đến mức nào".

Chàng nghĩ về cô thôn nữ kia, tự dưng vô cớ nàng ta lại quật que củi vào chân chàng: "Mình không hề đắc tội với nàng ta, cớ sao nàng ta phải làm cho mình đau đớn kêu toáng lên mới hả dạ? Không lẽ nàng ta quả thật thích hại người?" Chàng rất mong nàng ta trở lại, nhưng lại sợ nàng ta nghĩ ra trò quái ác để hại mình. Chàng sờ thấy bên mình cái bánh ăn dở, nhớ đến câu nói của nàng ta "Mẫu thân đằng ấy là người xinh đẹp, sao lại đem ví với ta, chẳng lẽ trông ta cũng dễ coi ư?" Chàng không nhịn được, bèn lẩm bẩm:

– Phải, nàng dễ coi, ta thích ngắm nàng.

Chàng nằm đó nghĩ vơ nghĩ vẩn hết hai ngày, vẫn không thấy thôn nữ kia quay lại. Trương Vô Kỵ nghĩ bụng chắc nàng ta không bao giờ đến nữa. Nào ngờ đến chiều ngày thứ ba, thôn nữ lại xách cái làn tre, từ phía sau dốc núi đi tới, cười nói:

– Gã quỷ sứ kia, vẫn chưa chết đói đấy chứ?

Trương Vô Kỵ cười đáp:

– Chết đói già nửa, còn sống non nửa thôi.

Thôn nữ cười hì hì ngồi xuống bên cạnh, đột nhiên giơ chân đá vào đùi chàng, hỏi:

– Thế chỗ này là nửa chết hay nửa sống?

Trương Vô Kỵ kêu to:

– Ối đau! Cô nương không có lương tâm hay sao vậy?

Thôn nữ nói:

– Lương với chả tâm, ngươi thì tử tế gì với ta nào?

Trương Vô Kỵ ngẩn ra, nói:

– Ba hôm trước, cô nương đánh ta đau quá, nhưng ta không giận cô nương đâu, hai ngày qua ta vẫn luôn nhớ cô nương đó.

Thôn nữ đỏ mặt, đã định nổi giận, nhưng cố nén lại, nói:

– Ai cần kẻ xấu như ma nhà ngươi nhớ ta kia chứ? Chắc ngươi chẳng nghĩ tốt gì về ta, thầm rủa ta vừa xấu vừa ác chứ gì?

Trương Vô Kỵ nói:

– Cô nương hoàn toàn không xấu, nhưng tại sao cứ phải làm cho người ta khổ sở, cô nương mới vui thích?

Thôn nữ cười khanh khách nói:

– Kẻ khác không khổ sở, làm sao hiện rõ cái vui trong lòng ta được?

Nàng ta thấy vẻ mặt Trương Vô Kỵ dường như không hiểu điều đó, lại thấy tay chàng vẫn còn cầm cái bánh ăn dở bữa trước, ba hôm rồi vẫn còn đó, bèn hỏi:

– Miếng bánh vẫn còn nguyên, chắc thấy không ngon chứ gì?

Trương Vô Kỵ nói:

– Vì là bánh cô nương cho nên ta không nỡ ăn.

Ba hôm trước chàng đã nói câu này, nhưng quá nửa có ý đùa cợt, còn bây giờ nói ra là hoàn toàn thành thực.

Thôn nữ biết đó không phải là lời đãi bôi, hơi e thẹn, nói:

– Muội có đem bánh mới hấp tới đây.

Nói xong lấy trong làn ra nhiều thức ăn, ngoài bánh bao còn có một con gà luộc, một đùi dê thui.

Trương Vô Kỵ cả mừng, mười mấy hôm rồi chỉ ăn thịt chim sống, máu ròng ròng, vừa tanh vừa dai, con gà luộc này thơm phức, cầm còn thấy ấm, ăn vào miệng ngon lạ thường.

Thôn nữ thấy chàng ăn ngon lành, chỉ ngồi ôm gối cười hì hì, nói:

– Gã ma quái này, trông huynh ăn mà muội mát cả ruột. Muội đối với huynh hình như có điểm khác người, không cần hại huynh mà muội vẫn thấy vui.

Trương Vô Kỵ nói:

– Người khác vui, cô nương cũng vui, như thế mới thật là vui.

Thôn nữ cười khẩy:

– Muội phải nói trước với huynh, lúc này muội đang vui nên không hại huynh. Hôm khác muội không vui, không chừng sẽ làm cho huynh sống dở chết dở đấy, lúc đó đừng có trách muội.

Trương Vô Kỵ lắc đầu nói:

– Ta từ nhỏ đã quen bị người ta hành hạ, càng bị hành hạ, ta càng cứng cỏi thêm.

Thôn nữ cười lạnh lùng:

– Thôi đừng nói trước, đợi đến lúc ấy sẽ biết.

Trương Vô Kỵ nói:

– Đợi khi chân ta lành rồi, ta sẽ cao chạy xa bay, cô nương có muốn hành hạ hay muốn hại ta thì cũng chẳng tìm được ta nữa.

Thôn nữ nói:

– Đã vậy, muội đánh gãy chân huynh trước, để huynh suốt đời không chạy xa muội được.

Trương Vô Kỵ nghe giọng nói lạnh như băng của thôn nữ, không khỏi rùng mình, tin rằng nàng ta đã nói là làm, hoàn toàn không phải thuận miệng nói suông.

Thôn nữ chăm chú nhìn chàng, lại thở dài, vẻ mặt đột nhiên thay đổi, gằn giọng hỏi:

– Gã quỷ quái kia, ngươi có chịu để ta đánh gãy đôi cẳng chó của ngươi hay không?

Nói xong nàng ta đứng dậy giật lại con gà luộc chàng đang ăn dở, cái đùi dê, mấy chiếc bánh bao mà quẳng ra xa, lại còn định nhổ một bãi nước miếng vào mặt chàng.

Trương Vô Kỵ sững sờ nhìn thôn nữ, chỉ cảm thấy nàng ta dường như không phải nổi giận, cũng không phải khinh miệt chàng mà vẻ mặt quá ư thiểu não, hẳn trong lòng có chuyện gì uất ức lắm. Chàng định an ủi nàng ta vài câu, song nhất thời chưa biết nói sao cho hợp.

Thôn nữ thấy vẻ mặt của chàng như vậy thì không nhổ nữa, quát:

– Gã quái quỷ kia, ngươi nghĩ gì vậy?

Trương Vô Kỵ nói:

– Cô nương, vì sao cô nương không vui như thế? Nói cho ta nghe đi, được chăng?

Thôn nữ nghe giọng nói dịu dàng của Vô Kỵ, không tức giận nữa, ngồi bệt xuống cạnh chàng, hai tay ôm đầu khóc nức nở.

Trương Vô Kỵ nhìn bờ vai nàng ta rung rung, cái eo thon thả trông thật đáng thương, thì dịu giọng nói nhỏ:

– Cô nương, kẻ nào ăn hiếp cô nương? Chờ khi chân ta lành rồi, ta sẽ làm cho cô nương hả dạ.

Thôn nữ nhất thời chưa nín được, lát sau mới nói:

– Không ai ăn hiếp muội cả, chỉ là cái số muội khổ sở đấy thôi! Muội ngu lắm, cứ nghĩ đến một người, không sao quên y được.

Trương Vô Kỵ gật đầu, nói:

– Chắc là một chàng trai chứ gì? Hắn đối xử với cô nương tệ lắm ư?

Thôn nữ đáp:

– Đúng thế, chàng ta rất anh tuấn, song cũng kiêu ngạo vô cùng. Muội bảo y đi theo muội, suốt đời ở bên muội, y không chịu thì thôi, lại còn mắng chửi muội, đánh muội, cắn muội máu chảy dầm dề khắp người.

Trương Vô Kỵ giận dữ nói:

– Con người ngang ngạnh vô lý như hắn, từ rày cô nương đừng thèm để ý tới nữa!

Thôn nữ ứa nước mắt, nói:

– Nhưng.. nhưng lòng muội không sao quên được y! Y bỏ đi xa mất tăm, muội tìm kiếm khắp nơi vẫn không thấy.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Chuyện tình ái nam nữ, ép uổng sao được. Cô nương này tuy dung mạo xấu xí, nhưng rõ ràng là người chí tình. Tính nết nàng ta có điểm kỳ quái, chẳng qua là vì trong lòng đau khổ, thất tình. Không ngờ chàng trai nọ lại đối xử với nàng ta tàn nhẫn như thế". Chàng dịu dàng nói:

– Cô nương đừng buồn nữa, thiên hạ thiếu gì người tử tế, hà tất cứ phải thương nhớ một kẻ tàn nhẫn vô lương tâm như thế?

Thôn nữ thở dài, mắt nhìn xa xăm, thừ người hồi lâu. Trương Vô Kỵ biết nàng ta không sao quên được tình lang, bèn nói:

– Hắn chẳng qua chỉ mắng chửi và đánh đập cô nương, chứ tình cảnh ta phải chịu còn đáng buồn gấp mười lần thế.

Thôn nữ hỏi:

– Như thế nào? Huynh bị một cô nàng xinh đẹp lừa dối à?

Trương Vô Kỵ nói:

– Kể ra nàng ta cũng không phải có ý lừa dối ta, chỉ vì chính ta ngớ ngẩn, thấy nàng ta quá xinh đẹp nên ngơ ngẩn si mê. Chứ thực sự ta làm sao xứng đôi với nàng ta kia chứ? Ta chưa bao giờ hoang tưởng chuyện đó. Thế nhưng hai cha con nàng ta đã lén bày độc kế, hãm hại ta không sao kể xiết.

Nói đoạn chàng vén tay áo chỉ cho thôn nữ thấy các vết sẹo nhằng nhịt trên cánh tay mình, nói:

– Đây là các vết răng, đều do đàn chó dữ của nàng ta cắn đấy.

Thôn nữ nhìn các vết sẹo, đột nhiên nổi giận, nói:

– Có phải là ả Chu Cửu Chân hại huynh không?

Trương Vô Kỵ kinh ngạc:

– Làm sao cô nương biết?

Thôn nữ đáp:

– Cô ả ấy thích nuôi chó dữ, vài trăm dặm quanh đây ai chẳng biết.

Trương Vô Kỵ gật đầu, thản nhiên nói:

– Đúng là Chu Cửu Chân cô nương. Nhưng các vết thương này cũng lành từ lâu rồi, ta không còn thấy đau đớn gì nữa, chỉ tự chủ cũng may là mình không chết, nên cũng chẳng hận nàng ta.

Thôn nữ chăm chú nhìn Vô Kỵ, thấy vẻ mặt chàng ôn hòa, an nhiên tự tại thì trong bụng hơi lạ, hỏi:

– Vậy tên huynh là gì? Cớ sao lại lạc tới đây?

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Từ khi mình trở về Trung thổ, ai ai cũng muốn mình tiết lộ chỗ ở của nghĩa phụ Tạ Tốn, hoặc đe dọa ép buộc, hoặc dụ dỗ, đánh lừa, thôi thì đủ mọi thủ đoạn, khiến mình phải chịu bao nhiêu là đau khổ. Từ nay trở đi, ba tiếng Trương Vô Kỵ coi như chết rồi, trên thế gian không còn ai biết Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn ở nơi nào nữa. Nếu sau này mình có gặp một kẻ lợi hại gấp mười lần Chu Trường Linh chăng nữa, mình cũng không sợ bị rơi vào bẫy của hắn, khỏi vô tình làm hại nghĩa phụ". Nghĩ vậy, Vô Kỵ đáp:

– Ta là A Ngưu[66] .

Thôn nữ mỉm cười:

– Vậy còn họ là gì?

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Mình nói họ Trương, họ Ân, họ Tạ đều không ổn, thôi thì nói lái hai chữ Trương, Ân thành Tăng", bèn đáp:

– Ta họ Tăng, còn cô nương họ gì?

Thôn nữ rùng mình, nói:

– Muội không có họ.

Lát sau, nàng thong thả kể:

– Cha muội không cần muội, tìm thấy muội sẽ giết liền, làm sao muội có thể mang họ cha? Mẹ của muội thì do muội làm hại mà chết, muội cũng chẳng thể mang họ mẹ. Trời sinh muội xấu xí, huynh cứ gọi muội là Xú cô nương cho xong chuyện.

Trương Vô Kỵ kinh hãi:

– Cô nương.. cô nương làm cho mẹ phải chết ư? Vì đâu nên nỗi?

Thôn nữ thở dài, nói:

– Chuyện này kể ra dài lắm. Mẹ của muội nguyên là vợ cả của cha muội, mãi không sinh con; cha muội bèn lấy vợ hai. Vợ hai sinh được hai người anh muội, nên cha muội cưng chiều bà ta lắm. Sau mẹ muội sinh ra muội, nhưng lại là con gái. Bà vợ hai ỷ được cha muội cưng chiều, luôn luôn lấn át mẹ muội. Hai người anh của muội cũng ghê gớm, cứ về hùa với mẹ hành hạ mẹ muội. Mẹ muội chỉ biết nuốt lệ khóc thầm. Huynh bảo muội phải làm sao chứ?

Trương Vô Kỵ nói:

– Cha của cô nương phải đứng giữa đối xử cho công bằng mới phải.

Thôn nữ nói:

– Đằng này ông ta lại bênh vợ hai, muội tức quá hết chịu nổi, bèn giết luôn mụ dì ghẻ.

Trương Vô Kỵ kinh hãi kêu "Trời đất!" Chàng nghĩ, người trong giới võ lâm đánh nhau, giết nhau cũng là chuyện thường, đằng này một cô thôn nữ mà lại ra tay giết người thì quả thực không thể ngờ.

Thôn nữ nói:

– Mẹ muội thấy muội gây ra đại họa, vội đem muội trốn đi luôn. Hai người anh muội đuổi theo, định bắt muội đem về; mẹ muội không ngăn được, vì để cứu muội nên đã cứa cổ tự vẫn. Huynh coi, tính mạng của mẹ muội chẳng phải do muội làm hại là gì? Cha muội mà tìm thấy muội, hẳn sẽ giết muội ngay.

Nàng ta kể chuyện đó với giọng thản nhiên, không chút xúc động. Trương Vô Kỵ nghe mà trống ngực đập rộn lên, tự nhủ: "Mình tuy bất hạnh, cha mẹ mất cả, song cha mẹ mình lúc còn sống thương yêu nhau biết bao, mình luôn được cưng chìu, so với những gì cô nương này phải chịu xem ra mình còn may mắn hơn gấp trăm lần". Nghĩ vậy, chàng bỗng cảm thấy đồng tình với thôn nữ, dịu giọng nói:

– Cô nương bỏ nhà đi lâu chưa? Bấy lâu nay chỉ một mình bơ vơ thôi ư?

Thôn nữ gật đầu. Trương Vô Kỵ lại hỏi:

– Thế cô nương tính đi đâu?

Thôn nữ nói:

– Muội cũng chả biết nữa, thế gian rộng lớn, đi đâu cũng được, miễn sao không phải chạm mặt cha và các anh muội là được.

Trương Vô Kỵ nổi hứng đồng bệnh tương liên, nói:

– Đợi chân ta lành rồi, ta sẽ cùng cô nương đi tìm cái.. cái anh chàng nọ, hỏi xem hắn định thế nào với cô nương.

Thôn nữ nói:

– Lỡ y lại mắng chửi, lại cắn muội thì sao?

Trương Vô Kỵ hiên ngang đáp:

– Hừ, hắn dám động đến một sợi tóc của cô nương, ta quyết không để yên cho hắn.

Thôn nữ hỏi:

– Lỡ y chẳng thèm để mắt tới muội, chẳng buồn nhìn hoặc nói một lời thì sao?

Trương Vô Kỵ á khẩu vô ngôn, nghĩ thầm dẫu mình võ công cao cường đến mấy cũng chẳng tài gì ép buộc một chàng trai phải yêu một cô gái mà y không thích. Chàng thừ người hồi lâu, nói:

– Ta sẽ cố hết sức.

Thôn nữ đột nhiên cười ha hả, ôm bụng mà cười, tựa hồ nghe một chuyện quá tức cười.

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Có gì đáng cười?

Thôn nữ nói:

– Cái gã quái quỷ kia, huynh là cái thá gì mà đòi làm thế? Hơn nữa, muội cũng đã tìm khắp nơi nhưng chẳng thấy y đâu, không rõ y còn sống hay chết. Huynh bảo sẽ cố hết sức, nhưng huynh có tài cán gì kia chứ? Ha ha, ha ha.

Trương Vô Kỵ vừa định mở miệng nói một câu, nhưng nghe nàng ta cười như thế, bỗng đỏ mặt, không nói ra lời. Thôn nữ nhìn chàng ngượng ngùng thì không cười nữa, hỏi:

– Huynh vừa định nói gì?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Cô nương cười ta, ta không nói nữa.

Thôn nữ lạnh lùng nói:

– Hừ, đằng nào muội cũng đã cười rồi, cùng lắm thì muội được cười thêm trận nữa, cũng chẳng chết ai.

Trương Vô Kỵ nói to:

– Ta có lòng tốt đối với cô nương, cô nương không nên cười ta như vậy.

Thôn nữ hỏi:

– Muội hỏi huynh, huynh vừa định nói gì với muội?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Cô nương bơ vơ, không nhà không cửa. Tình cảnh ta cũng vậy. Cha mẹ ta đều đã mất, anh chị em cũng chẳng có ai. Ta vốn định nói với cô nương là, nếu cái gã ác nhân kia không thèm lý đến cô nương, thì hai đứa mình làm bạn với nhau, ta có thể kể chuyện giúp cô nương giải sầu. Nhưng cô nương cười ta không xứng, ta đâu dám nói ra nữa.

Thôn nữ bực bội nói:

– Huynh dĩ nhiên không xứng! Gã ác nhân ấy so với huynh dễ coi gấp trăm lần, thông minh cũng gấp trăm lần. Muội ở đây nói chuyện vớ vẩn với huynh, thật phí cả lời.

Nói đoạn nàng ta đá tung đùi dê thịt gà trên tuyết, rồi ôm mặt chạy đi.

Trương Vô Kỵ tuy bị thôn nữ mắng nhiếc vô lý như thế, song chàng cũng chả giận, chỉ nghĩ thầm: "Nàng ta quả thật tội nghiệp, trong lòng đủ chuyện không vui, cũng chẳng đáng trách".

Bỗng thấy thôn nữ chạy trở lại, mặt hầm hầm, nói:

– Này huynh, chắc huynh trong bụng không phục, cho rằng muội tướng mạo đã xấu xí, lại còn coi thường huynh, phải vậy không?

Trương Vô Kỵ lắc đầu:

– Không phải thế, cô nương tướng mạo không thật dễ ưa, song ta vừa gặp đã thấy hợp bụng, nếu như cô nương không biến ra xấu xí, trước đây hẳn cũng..

Thôn nữ đột nhiên kêu lên:

– Sao.. sao huynh biết trước đây muội không xấu xí thế này?

Trương Vô Kỵ nói:

– Mặt cô nương hôm nay, so với lần gặp trước có bị sưng hơn, nước da cũng sạm hơn, đủ biết không phải vốn dĩ như thế.

Thôn nữ sợ hãi nói:

– Muội.. mấy hôm rồi không dám soi gương. Huynh bảo muội mỗi ngày một khó coi ư?

Trương Vô Kỵ dịu dàng nói:

– Con người ta chỉ cần có lòng tốt, diện mạo xấu đẹp đâu hệ trọng gì? Mẫu thân có dặn ta rằng nữ nhân càng đẹp, tâm địa càng đáng sợ, càng giỏi lừa người, dặn ta phải cẩn thận đề phòng.

Thôn nữ đâu còn bụng dạ nào nghe chuyện mẹ chàng dặn chàng những gì, sốt ruột hỏi:

– Muội hỏi huynh, lần trước huynh thấy muội chưa đến nỗi xấu như hôm nay, phải không?

Trương Vô Kỵ biết rằng chỉ cần "ừ" một tiếng là nàng ta sẽ rất đau lòng, thành thử chàng cứ ngẩn ra nhìn nàng ta, lòng tràn ngập thương cảm.

Thôn nữ thấy vẻ mặt của chàng như vậy, hiểu ngay câu trả lời là thế nào, liền ôm mặt khóc nức nở:

– Gã quỷ kia, ta hận ngươi, ta hận ngươi!

Rồi nàng ta chạy đi, lần thì không thấy quay lại nữa.

Trương Vô Kỵ lại nằm thêm hai ngày. Tối hôm đó có một con chó sói đánh hơi mò tới bên cạnh, bị chàng đấm một quyền chết tươi. Nó đã không được ăn gì, lại biến thành thức ăn trong bụng chàng.

Mấy ngày nữa, vết thương đã lành quá nửa, chắc độ mươi ngày tới là có thể đi lại như thường, Trương Vô Kỵ nghĩ đến cô thôn nữ đôi lần gặp gỡ rồi thôi, ngay cái tên cũng chưa kịp hỏi, lại nghĩ thầm: "Tại sao dung mạo nàng ta ngày một xấu đi nhỉ? Thật khó hiểu". Chàng nghĩ mãi không ra, bèn gác chuyện đó sang một bên, mơ màng ngủ thiếp đi.

Ngủ đến nửa đêm, bỗng nghe từ xa có tiếng chân mấy người đạp tuyết đi tới. Chàng lập tức tỉnh giấc, ngồi dậy nhìn về hướng đó.

Đêm nay trăng treo lưỡi liềm, dưới ánh sáng nhàn nhạt, chàng thấy có bảy người đi tới, người đi đầu hình dáng thon thả, dường như chính là cô thôn nữ. Khi bảy người kia tới gần, quả nhiên người ấy là cô thôn nữ xấu xí, sáu người phía sau tản ra thành hình cánh quạt, tựa hồ đề phòng nàng ta bỏ chạy. Trương Vô Kỵ hơi ngạc nhiên, nghĩ thầm: "Không lẽ nàng ta đã bị cha và anh bắt được chăng?"

Chàng chưa nghĩ xong, thôn nữ và sáu kẻ theo sau đã tới gần. Trương Vô Kỵ vừa nhìn rõ thì vô cùng kinh hãi. Thì ra cả sáu người kia chàng đều biết cả, đi bên trái là Võ Liệt, Võ Thanh Anh, Vệ Bích; đi bên phải là vợ chồng Hà Thái Xung, Ban Thục Nhàn, ngoài cùng bên phải là một nữ nhân trung niên, chẳng ai xa lạ, chính là Đinh Mẫn Quân phái Nga Mi.

Trương Vô Kỵ lấy làm lạ: "Tại sao thôn nữ lại quen với những người kia? Không lẽ nàng ta cũng là nhân vật trong võ lâm, biết được lai lịch của ta, nên dẫn bọn kia tới bắt ta, tra hỏi chỗ ở của nghĩa phụ?" Nghĩ thế, trong bụng Vô Kỵ không còn hoài nghi, cả giận: "Ta với nàng không thù không oán, tại sao nàng cũng đến hại ta! Hiện giờ hai chân ta chưa thể cử động, sáu kẻ kia chẳng ai non kém cả, mà cô thôn nữ không chừng cũng giỏi võ công. Ta đành nhất thời khuất phục, nhận lời đi tìm nghĩa phụ; đợi khi hai chân lành hẳn, ta sẽ thanh toán từng tên một".

Nếu là năm năm trước, chàng sẽ chỉ đem tính mệnh ra thí bỏ, mặc kệ đối phương hành hạ ép buộc thế nào cũng quyết cắn răng không nói. Còn bây giờ một là chàng đã khôn lớn, hai là sau khi luyện thành Cửu dương chân kinh thì thần trí sáng suốt, bình tĩnh, gặp nguy nan biết cách ứng phó, dù cường địch trước mặt cũng không run sợ chút nào. Có điều chàng không ngờ cô thôn nữ kia lại đem bán đứng chàng như thế, nên vừa tức giận vừa hơi đau lòng; bèn nằm xuống, gối đầu lên tay, chẳng buồn để ý tới bảy người kia.

Thôn nữ tới trước mặt chàng, chăm chú nhìn một hồi rồi thong thả quay đi. Trương Vô Kỵ nghe tiếng nàng ta thở dài, tuy rất nhẹ, nhưng đầy vẻ đau buồn. Chàng cười thầm: "Không biết bụng dạ ngươi tính chuyện ác độc gì, lại còn giả bộ thương cảm ta nữa chứ?"

Chỉ thấy Vệ Bích rung thanh kiếm một cái, miệng cười khẩy nói:

– Ngươi bảo trước khi chết muốn được gặp một người, ta cứ ngỡ đó phải là một thiếu niên anh tuấn như Phan An, hóa ra lại là một kẻ xấu như ma, ha ha, thật quá tức cười! Gã kia với ngươi quả là duyên trời sắp đặt, nồi nào vung nấy.

Thôn nữ không hề tức giận, chỉ thản nhiên nói:

– Đúng thế, ta trước khi chết chỉ mong nhìn chàng một lần cuối. Ta chỉ muốn hỏi rõ chàng một câu, ta nghe trả lời xong, có chết cũng cam lòng.

Trương Vô Kỵ kinh ngạc, chưa hiểu ra ý tứ hai người kia, đã nghe thôn nữ nói:

– Muội có một câu muốn hỏi huynh, huynh hãy trả lời cho thật bụng nghe chưa.

Trương Vô Kỵ nói:

– Nếu là chuyện của ta, thì ta nói thật, nói rõ; còn là chuyện của người khác, ta không dễ gì nói đâu.

Chàng ngỡ thôn nữ sẽ hỏi chỗ ở của Tạ Tốn, nên đã tính cách đối phó với bọn họ, trả lời nước đôi để còn có chỗ xoay xở sau này.

Thôn nữ nói:

– Chuyện của người khác thì muội nhọc công làm gì? Muội hỏi huynh, hôm trước huynh có nói với muội, hai đứa mình cùng bơ vơ cô khổ, huynh bằng lòng kết bạn với muội. Câu nói ấy có thực lòng hay không?

Trương Vô Kỵ nghe liền cảm thấy rất bất ngờ, vội nhỏm dậy, thấy ánh mắt nàng lộ rõ vẻ bi thương, bèn đáp:

– Câu đó quả thật từ đáy lòng ta nói ra.

Thôn nữ nói:

– Huynh quả thật không hiềm muội mặt mày xấu xí, bằng lòng ở chung một chỗ với muội chứ?

Trương Vô Kỵ sững người, câu "ở chung một chỗ" trong đầu chàng chưa hề nghĩ tới, nhưng thấy vẻ buồn rầu não nề của nàng ta thì không khỏi cảm thương, đáp:

– Chuyện xấu hay đẹp, ta chẳng hề để tâm. Nếu cô nương muốn trò chuyện nói cười với ta, không ngại ta, thì ta sẵn lòng. Còn nếu cô nương định lừa dối ta..

Thôn nữ hỏi, giọng run run:

– Thế huynh có bằng lòng lấy muội làm vợ hay không?

Trương Vô Kỵ giật mình, hồi lâu chưa trả lời được, rồi lẩm bẩm:

– Ta.. ta chưa nghĩ đến chuyện.. lấy vợ.

Bọn Hà Thái Xung sáu người cùng cười phá lên. Vệ Bích cười, nói:

– Ngay một gã nhà quê xấu xí ma chê quỷ hờn kia cũng chẳng thèm lấy ngươi, bọn ta không giết ngươi đi thì ngươi sống trên đời cũng bằng thừa. Chi bằng ngươi hãy đập đầu vào đá chết đi cho rồi.

Trương Vô Kỵ nghe sáu người kia cười giễu, rồi Vệ Bích lại nói mỉa như thế, mới biết thôn nữ không cùng một phe với bọn kia, dường như bọn Vệ Bích sắp sửa giết nàng ta chứ không phải nàng ta dẫn bọn kia tới hại mình, thì cảm thấy lòng ấm lại. Chàng thấy thôn nữ cúi đầu, mấy giọt lệ lăn dài trên má, rõ ràng trong lòng rất đỗi bi thương, chàng chỉ không biết đấy là do nàng ta sắp phải chết, hay do diện mạo xấu xí, hay vì lời lẽ chua cay của Vệ Bích? Trương Vô Kỵ xúc động mạnh, nghĩ: "Kể từ khi phụ mẫu chết, ta một mình bơ vơ khốn khổ, phải chịu bao điều nhục nhằn; thôn nữ này mảnh mai yếu đuối, lại ít tuổi hơn ta, nhưng thân thế còn bất hạnh hơn cả ta, giờ tới đây chẳng hiểu vì sao hỏi ta mấy câu khiến nàng thêm đau lòng rơi lệ, để kẻ khác khinh rẻ? Mà câu hỏi của nàng chứng tỏ tấm lòng thành trao thân gửi phận cho ta. Từ ngày sinh ra, trừ phụ mẫu, nghĩa phụ ta, thái sư phụ, các vị sư bá sư thúc, làm gì có ai thật sự quan hoài ta như thế? Từ rày trở đi ta phải đối tốt với nàng, nàng cũng đối tốt với ta, hai đứa sống chết có nhau, có gì mà không được chứ?"

Chàng thấy thân hình thôn nữ run run, sắp bước đi, vội đưa tay nắm cánh tay phải của nàng, nói to:

– Cô nương, ta thành tâm thành ý nguyện lấy cô nương làm vợ, chỉ mong cô nương đừng chê ta không xứng.

Thôn nữ nghe câu ấy, mắt liền sáng bừng lên, nói nhỏ:

– A Ngưu ca ca, ca ca không dối muội chứ?

Trương Vô Kỵ nói:

– Dĩ nhiên ta không dối cô nương. Từ rày trở đi, ta sẽ hết lòng yêu thương cô nương, lo lắng cho cô nương, dẫu bất cứ kẻ nào làm khó với cô nương, bất cứ kẻ nào tài giỏi mấy dám khinh khi cô nương, ta thà chết cũng quyết bảo vệ cô nương chu toàn. Ta muốn cô nương bình yên vui vẻ, quên hết mọi nỗi khổ ải từng chịu bấy lâu.

Thôn nữ ngồi xuống, tựa vào người Vô Kỵ, nắm lấy tay chàng, dịu dàng nói:

– Nếu huynh có lòng như thế, muội sung sướng vô cùng.

Nàng nhắm mắt lại, nói:

– Huynh hãy nhắc lại một lần nữa cho muội nghe, muội muốn ghi nhớ từng lời của huynh. Huynh nói đi, huynh sẽ đối với muội như thế nào?

Trương Vô Kỵ thấy nàng vô cùng sung sướng thì tự chàng cũng được an ủi, bèn cầm hai bàn tay nhỏ nhắn của nàng, thấy bàn tay mềm dịu, ấm áp, nói:

– Ta sẽ hết lòng yêu thương cô nương, lo lắng cho cô nương, dẫu bất cứ kẻ nào làm khó với cô nương, bất cứ kẻ nào tài giỏi mấy dám khinh khi cô nương, ta thà chết quyết bảo vệ cô nương chu toàn.

Thôn nữ mặt tươi như hoa, ngả đầu vào ngực chàng, dịu dàng nói:

– Trước đây muội bảo huynh hãy đi theo muội, huynh đã không chịu, lại còn đánh muội, mắng muội, cắn muội.. Bây giờ huynh nói thế, muội không còn gì sung sướng hơn.

Trương Vô Kỵ nghe câu ấy, lòng lập tức nguội lạnh, thì ra thôn nữ nhắm mắt nghe chàng nói, lại mơ màng nghĩ đến tình lang trong mộng của nàng.

Thôn nữ thấy người chàng run lên một cái, bèn mở mắt ra nhìn chàng, vẻ mặt cũng thay đổi hẳn, lộ vẻ vừa thất vọng, vừa tức giận, song lại xen lẫn vẻ dịu dàng chấp nhận. Sau khi định thần, nàng nói:

– A Ngưu ca ca, huynh bằng lòng lấy muội làm vợ, muội xấu xí thế này mà huynh không chối bỏ, muội thật cảm kích vô cùng. Nhưng từ mấy năm trước trái tim muội đã thuộc về người khác. Người ấy khi đó đã chẳng thèm để mắt đến muội, bây giờ thấy muội thế này, chắc càng không coi muội ra gì. Cái kẻ lang tâm đoản mệnh đáng ghét nọ

Tuy nàng chửi kẻ ấy là "kẻ lang tâm đoản mệnh đáng ghét", nhưng giọng nói vẫn không giấu được tình cảm trìu mến.

Võ Thanh Anh lạnh lùng lên tiếng:

– Hắn đã chịu lấy ngươi làm vợ, tâm sự cũng nói xong rồi, có đứng dậy hay không nào?

Thôn nữ thong thả đứng dậy, nói với Trương Vô Kỵ:

– A Ngưu ca ca, muội sắp chết rồi, mà dù có sống cũng chẳng thể lấy huynh. Nhưng muội rất thích nghe những lời huynh vừa nói. Huynh đừng buồn muội nhé! Khi nào không bận bịu, hãy nhớ một chút đến muội.

Mấy câu này nàng nói rất dịu dàng, rất ngọt ngào. Trương Vô Kỵ không khỏi thương xót cho nàng.

Chỉ nghe Ban Thục Nhàn cất giọng the thé:

– Bọn ta đã cho ngươi thỏa nguyện, được gặp mặt gã này lần cuối. Ngươi nói thì phải giữ lời, hãy cho biết kẻ đó hiện giờ ở đâu.

Thôn nữ đáp:

– Được! Ta biết người ấy từng trốn ở nhà vị này.

Nói rồi giơ tay chỉ Võ Liệt. Võ Liệt mặt biến sắc, hừ một tiếng, quát:

– Nói nhăng nói cuội!

Vệ Bích giận dữ nói:

– Mau nói thực ra, ngươi giết biểu muội của ta, rốt cuộc là do ai sai khiến?

Trương Vô Kỵ giật mình hoảng sợ, giọng run run hỏi:

– Giết Chu.. Chu Cửu Chân tiểu thư ư?

Vệ Bích trừng mắt nhìn Trương Vô Kỵ, vẻ mặt hầm hầm, hỏi:

– Ngươi cũng biết Chu Cửu Chân cô nương hả?

Trương Vô Kỵ nói:

– Đại danh của Tuyết Lĩnh Song Chu, ai chẳng biết?

Võ Thanh Anh hình như nhếch mép cười, lớn tiếng hỏi thôn nữ:

– Ồ, thế ai là người sai khiến ngươi giết Chu Cửu Chân?

Thôn nữ đáp:

– Xúi ta giết Chu Cửu Chân chính là vợ chồng Hà Thái Xung phái Côn Luân, Diệt Tuyệt sư thái phái Nga Mi.

Võ Liệt quát to:

– Ngươi đừng hòng giở trò ly gián chia rẽ chúng ta, chỉ uổng công.

Nghe vù một tiếng, lão ta đã đánh thôn nữ một chưởng. Tiếng quát của Võ Liệt đầy uy phong, lời chưa dứt chưởng đã đánh ra, chưởng lực làm cho tuyết dưới đất bay lên lả tả. Thôn nữ nghiêng người né tránh, thân pháp vô cùng kỳ ảo.

Trương Vô Kỵ trong đầu ý nghĩ rối bời: "Nàng.. nàng ta hóa ra là người trong võ lâm! Nàng giết Chu Cửu Chân là vì ta. Ta kể với nàng là bị Chu Cửu Chân lừa dối, bị bầy chó của Chu Cửu Chân cắn khắp người, nhưng ta đâu có bảo nàng đi giết Chu Cửu Chân. Ta cứ ngỡ nàng tính khí quái dị là vì tướng mạo hóa ra xấu xí, chuyện gia đình đau buồn, ai ngờ động một tí liền ra tay giết người".

Vệ Bích và Võ Thanh Anh cùng vung trường kiếm, tả hữu giáp công; thôn nữ né đông lùi tây, cố tránh chưởng lực lợi hại của Võ Liệt, đột nhiên nàng ta xoay cái lưng ong lướt tới bên cạnh Võ Thanh Anh, nghe "bốp" một tiếng, đã giáng cho Võ Thanh Anh một cái bạt tai, tay trái cướp luôn thanh kiếm của cô ả. Võ Liệt và Vệ Bích quát chửi, cùng xông lại cứu. Thôn nữ rung mũi kiếm, nói:

– Xem đây!

Nói rồi nàng ta dùng mũi kiếm rạch ngay trên mặt Võ Thanh Anh một đường. Võ Thanh Anh kinh hãi rú lên, ngã ngửa ra phía sau. Thực tình cô ả chỉ bị thương rất nhẹ, nhưng vì lo cho dung nhan của mình nên vừa thấy đau nhói ở mặt đã sợ hết hồn.

Võ Liệt giơ tả chưởng ấn vào người thôn nữ. Nàng ta nghiêng người né tránh, "keng" một tiếng, kiếm của nàng ta chạm vào kiếm của Vệ Bích. Ngay lúc đó, ngón trỏ tay phải của Võ Liệt đã điểm trúng huyệt Phục Thố và Phong Thị ở chân trái thôn nữ. Thôn nữ rên một tiếng nhỏ, chân đứng không vững liền ngã ngay xuống chỗ Trương Vô Kỵ, chỉ thấy cả người nóng bừng, không còn chút hơi sức nào, tựa hồ muốn giơ một ngón tay cũng chẳng nổi.

Võ Thanh Anh nhặt thanh kiếm lên, căm hận nói:

– Con quỷ dạ xoa này, ta sẽ không cho mi được chết yên lành mà sẽ chặt hai chân hai tay mi, bỏ mi nằm đây cho chó sói cắn xé mi.

Đoạn vung kiếm nhắm cánh tay phải của thôn nữ chém xuống. Võ Liệt nói:

– Khoan đã!

Lão ta nắm lấy cổ tay con gái, đẩy nhát kiếm ra ngoài, nói với thôn nữ:

– Ngươi chịu nói ai sai khiến ngươi, ta sẽ cho ngươi được chết yên lành, nếu không, hừ, tứ chi bị chém đứt, ngươi lăn lộn trên tuyết cũng sẽ thích thú gì cho cam.

Thôn nữ mỉm cười:

– Các người cứ nhất định muốn ta nói, ta cũng chả cần giấu. Chu Cửu Chân cô nương muốn lấy một chàng trai, nhưng có một thiếu nữ xinh đẹp khác cũng muốn lấy gã trai đó, thiếu nữ ấy bèn cho ta năm trăm lạng bạc, bảo ta đi giết Chu Cửu Chân. Việc này ta vốn muốn giữ thật kín..

Thôn nữ nói chưa hết câu, Võ Thanh Anh đã giận tái mặt, giơ kiếm đâm thẳng vào giữa ngực thôn nữ.

Thôn nữ nhìn mặt đặt tên, đã phần nào đoán biết tình trạng khó nói giữa Võ Thanh Anh, Vệ Bích và Chu Cửu Chân ba người. Thôn nữ nói khích cho Võ Thanh Anh nổi giận chính là để cô ả kia đâm mình một kiếm chết ngay, cho mình khỏi bị hành hạ. Chỉ thấy một luồng thanh quang loáng lên, trường kiếm đã đâm tới ngực nàng ta.

Lúc ấy, đột nhiên có một vật lặng lẽ bay vút tới chạm vào thanh kiếm, nghe "cách" một tiếng, thanh kiếm liền văng xa hơn mười trượng mới rớt xuống đất. Trong đêm tối không ai nhìn rõ thanh kiếm của Võ Thanh Anh tuột khỏi tay như thế nào, nhưng với sức văng xa như thế, dù cho cô ả có tự mình ráng sức quẳng đi thì kiếm cũng chẳng bay xa đến chừng ấy. Hiển nhiên thôn nữ có cường viện đâu đây.

Sáu người cùng kinh hãi lùi lại vài bước, quay đầu nhìn xung quanh. Tứ bề quang đãng, không có một tảng đá hoặc bóng cây để ẩn nấp, cũng chẳng thấy bóng người nào, sáu người đưa mắt nhìn nhau, không hiểu ra sao cả. Võ Liệt thấp giọng hỏi nhỏ:

– Thanh nhi, con sao vậy?

Võ Thanh Anh nói:

– Hình như có một ám khí vô cùng lợi hại bắn văng kiếm của con đi.

Võ Liệt đảo mắt nhìn tứ phía, quả thực không thấy ai, hừ một tiếng, nói:

– Chắc con a đầu kia giở trò quỷ gì đây.

Trong bụng Võ Liệt nghĩ thầm: "Rõ ràng con nhãi kia đã bị trúng Nhất dương chỉ của ta, làm sao nó còn hơi sức đánh văng kiếm của Thanh Anh đi xa chứ? Võ công của con a đầu kia chắc chắn là tà môn". Lão sấn tới vỗ một chưởng vào vai trái của thôn nữ. Chưởng này Võ Liệt vận kình cực mạnh, tính đánh gãy luôn xương vai của thôn nữ, khiến nàng ta bị mất hết võ công, để cho con gái lão ta sau đó muốn làm gì thì làm.

Chỉ thấy thôn nữ sắp nát vai, thì tay trái của nàng ta hất lên, hai chưởng đụng nhau, Võ Liệt thấy ngực nóng rát, chưởng lực của đối phương như cuồng phong nộ triều tràn tới, thật không sao cản nổi. Chỉ nghe Võ Liệt kêu "Ối!" một tiếng kinh hãi, thân hình bay về phía sau, rơi xuống nghe "bịch" một cái. May mà võ công lão ta cao cường, lưng vừa chạm đất đã bật dậy ngay, nhưng trong ngực huyết khí nhộn nhạo, đầu váng mắt hoa, vừa đứng thẳng lên định điều hòa hơi thở thì đã loạng choạng ngã rụi xuống.

Vệ Bích và Võ Thanh Anh cả kinh, vội chạy tới đỡ Võ Liệt dậy, nhưng nghe Hà Thái Xung nói:

– Hãy để ông ấy nằm yên một lát.

Võ Thanh Anh quay đầu lại, giận dữ hỏi:

– Tiền bối bảo sao?

Trong bụng nghĩ thầm: "Cha ta bị kẻ địch ám toán, lão còn mừng thầm, đứng ngoài mỉa mai".

Hà Thái Xung nói:

– Khí huyết đang nhộn nhạo, nằm yên tốt hơn.

Vệ Bích hiểu ra, nói:

– Đúng thế.

Lại nhẹ nhàng đỡ cho sư phụ nằm xuống đất.

Hà Thái Xung và Ban Thục Nhàn nhìn nhau, vô cùng kinh ngạc. Vợ chồng họ đã động thủ với thôn nữ, thấy nàng ta chiêu thuật tinh diệu, quả có chỗ hơn người, song nội lực rất bình thường, thế nhưng vừa rồi đối chưởng với Võ Liệt lại tỏ ra sở hữu nội công hiếm có, đánh ngã được đối phương như thế thì thật không sao hiểu nổi.

Về phần thôn nữ, trong lòng cũng kinh ngạc muôn phần. Sau khi nàng ta bị Võ Liệt điểm huyệt, ngã đè lên người Trương Vô Kỵ, không sao cử động được, mắt thấy Võ Thanh Anh giơ kiếm chém xuống mình thì bỗng có một vật bay tới bắn văng thanh kiếm của đối phương đi xa, tiếp đó một luồng khí lực nóng hổi truyền vào hai đùi nàng ta làm thúc đẩy hai huyệt Phục Thố và Phong Thị, giải khai luôn hai huyệt đó. Nàng ta chấn động toàn thân, cúi nhìn chỉ thấy Trương Vô Kỵ hai tay nắm chặt hai mắt cá chân nàng, khí ấm từ huyệt Huyền Chung cuồn cuộn tràn vào cơ thể. Việc đó diễn ra rất nhanh, chưa kịp suy nghĩ gì đã thấy chưởng của Võ Liệt đánh tới vai. Nàng ta tiện tay giơ lên đỡ, nghĩ bụng thà để gãy cổ tay còn hơn để vai nát vụn. Ai ngờ hai chưởng vừa chạm nhau thì Võ Liệt lại bị chưởng của nàng ta đẩy ra xa hơn một trượng. Thiếu nữ kinh ngạc nghĩ thầm: "Không lẽ anh chàng nhà quê xấu xí này lại là một đại cao thủ võ công khó lường?"

Hà Thái Xung vẫn ngại ngần nên không muốn tỷ thí chưởng lực với thôn nữ, bèn rút kiếm ra, nói:

– Để ta lĩnh giáo kiếm pháp của cô nương.

Thôn nữ cười:

– Ta không có kiếm.

Vệ Bích nói:

– Được, ta cho ngươi mượn.

Hắn giơ kiếm ra, mũi kiếm chĩa thẳng vào ngực thôn nữ, vận sức ném tới. Thôn nữ chộp ngang thân kiếm, cười nói:

– Võ công ngươi thấp kém lắm, giết ta làm sao nổi?

Hà Thái Xung là chưởng môn của một phái, không muốn chiếm lợi thế so với hạng tiểu bối, nói:

– Ngươi ra chiêu đi, ta nhường ngươi ba chiêu rồi mới trả đòn.

Thôn nữ đâm một kiếm thẳng vào bụng Hà Thái Xung. Hà Thái Xung hừ một tiếng, nói nhỏ:

– Tiểu bối vô lễ!

Lão họ Hà giơ kiếm gạt đòn. Chỉ nghe "keng" một tiếng, cả hai thanh kiếm cùng gãy đôi. Hà Thái Xung sắc mặt đại biến, người loạng choạng, phải lùi lại nửa trượng. Thôn nữ nghĩ thầm: "Tiếc quá, tiếc quá!"

Thì ra Trương Vô Kỵ đem Cửu dương chân khí truyền sang cơ thể thôn nữ, nhưng nàng ta không biết phát huy uy lực của thần công nên hai thanh kiếm cùng gãy. Giá như biết cách công địch thì chỉ có binh khí của đối phương bị đánh gãy thôi. Ban Thục Nhàn lạ quá, hỏi nhỏ:

– Sao thế?

Hà Thái Xung cánh tay tê dại, nói:

– Tà môn!

Ban Thục Nhàn rút phăng trường kiếm, sầm mặt nói:

– Để ta lĩnh giáo!

Thôn nữ chìa cả hai bàn tay, ngụ ý mình không có kiếm. Ban Thục Nhàn chỉ thanh kiếm của Võ Thanh Anh ở ngoài xa mươi trượng, quát:

– Ra lấy kiếm đó mà dùng.

Thôn nữ đâu dám rời xa Trương Vô Kỵ, đành cầm thanh kiếm gãy, cười nói:

– Ta dùng tạm kiếm gãy cũng được!

Ban Thục Nhàn cả giận, nghĩ thầm: "Con a đầu chết tiệt này lớn lối thật, dám coi thường ta!" Mụ ta chẳng cần như Hà Thái Xung phải giữ gìn danh phận cao nhân tiền bối, lập tức vung luôn trường kiếm chém vào gáy thôn nữ. Thôn nữ giơ kiếm gãy lên chống đỡ, nhưng kiếm pháp của Ban Thục Nhàn cực kỳ khinh linh đã tức thời chuyển qua chém xuống vai trái. Thôn nữ vội múa kiếm đỡ gạt, Ban Thục Nhàn bèn đâm chéo xuống mạng sườn thôn nữ, liên tiếp tám đường, thế như gió cuốn, trước sau vẫn không để cho kiếm đụng phải kiếm gãy của thôn nữ, cứ phát huy sở trường kiếm pháp của mình, không cho đối phương có cơ hội thi triển nội lực.

Thôn nữ né phải nghiêng trái, lâm vào tình thế cực kỳ hung hiểm. Kiếm pháp của nàng ta vốn thua xa Ban Thục Nhàn, trên tay lại chỉ cầm nửa thanh kiếm gãy, hai chân thì không di động, rơi vào cái thế chỉ thủ không công. Đối phó thêm vài chiêu nữa thì mũi kiếm của Ban Thục Nhàn đã đâm tới trúng vào vai bên trái của thôn nữ. Kiếm pháp của phái Côn Luân một khi đã thắng một chiêu thì sẽ không để cho đối phương một giây nghỉ ngơi, thừa thế đánh ép tới, thôn nữ kêu ối một tiếng, vai lại trúng thêm một kiếm. Thôn nữ nói:

– Ủa, sao không giúp ta, cứ giương mắt nhìn ta bị kẻ khác giết ư?

Ban Thục Nhàn lùi hai bước, giơ kiếm ngang ngực, nhìn tứ phía, không thấy một ai, tức thì trường kiếm rung động, mũi kiếm loang loáng thành từng đóa hoa mai, lại tấn thôn nữ tới tấp.

Thôn nữ múa tít thanh kiếm gãy, đối phó liền ba đường kiếm. Kiếm chiêu của đối phương quá thần tốc, nàng ta đối phó cũng nhanh vô cùng, quả thật mắt tinh tay lẹ, chiêu nào cũng xác đáng trong đường tơ kẽ tóc. Ban Thục Nhàn khen ngợi:

– Con a đầu chết giẫm, thủ pháp khá linh hoạt!

Thôn nữ không chịu kém, chửi lại:

– Mụ già chết dấp, thủ pháp đâu có chậm!

Nhưng Ban Thục Nhàn là đại danh gia về kiếm thuật, tập luyện đã mấy chục năm, miệng nói mà tay không chậm lại chút nào. Thôn nữ kia chẳng qua mới mười bảy, mười tám tuổi, tuy đã được danh sư chỉ giáo nhưng làm sao có được kiếm pháp như Ban Thục Nhàn? Do nói chuyện nên nàng ta phân tâm đôi chút liền thấy cổ tay hơi tê dại, cây kiếm gãy đã tuột khỏi tay bay đi. Thôn nữ chỉ kịp hốt hoảng kêu "Ối!" một tiếng thì kiếm của Ban Thục Nhàn đã đâm tới mạng sườn.

Đinh Mẫn Quân từ đầu tới giờ đứng ngoài khoanh tay quan chiến, lúc này thấy dịp may đã tới, không cần rút kiếm mà vội sử chiêu "Thôi song vọng nguyệt" [67], hai tay cùng đánh vào lưng thôn nữ. Cùng lúc đó Võ Thanh Anh nhảy tới, tung cước đá vào mạng sườn bên phải của thôn nữ. Thôn nữ cả sợ, tim như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực, chợt cảm thấy toàn thân nóng bừng như đứng cạnh lò lửa, tiện tay búng một cái vào thanh kiếm của Ban Thục Nhàn. Ngay lúc đó, lưng nàng trúng chưởng, sườn phải cũng trúng cước. Chỉ nghe tiếng kêu "Ối!" và "Ái!" đau đớn, cả Đinh Mẫn Quân lẫn Võ Thanh Anh đều bị bắn văng ra xa, còn thanh kiếm của Ban Thục Nhàn bị gãy đôi.

Thì ra Trương Vô Kỵ thấy tình thế nguy ngập, liền đem chân khí toàn thân truyền gấp sang người thôn nữ. Cửu dương thần công của chàng đã có ba, bốn thành công lực, uy lực không phải tầm thường, cho nên trường kiếm của Ban Thục Nhàn, cả hai cổ tay của Đinh Mẫn Quân và cổ chân của Võ Thanh Anh đều bị gãy rời. Hà Thái Xung, Võ Liệt, Vệ Bích ba người trố mắt há mồm kinh hãi, đứng ngay như phỗng.

Ban Thục Nhàn vứt nửa thanh kiếm gãy xuống đất, hậm hực nói:

– Đi thôi, thế này còn chưa đủ xấu mặt sao?

Mụ ta giận dữ nhìn chồng, như muốn trút hết bực bội xuống đầu trượng phu.

Hà Thái Xung nói:

– Thì đi!

Hai vợ chồng sánh vai chạy thẳng, trong giây lát đã mất hút. Khinh công của phái Côn Luân quả là một tuyệt kỹ trong võ lâm. Còn chuyện Ban Thục Nhàn về đến nhà sẽ trút giận xuống đầu Hà Thái Xung như thế nào, có bắt quỳ trên mũi kiếm hay phải chịu hình phạt quái đản nào khác, là chuyện riêng của phái Côn Luân, người ngoài không thể biết.

Vệ Bích một tay đỡ sư phụ, một tay dìu sư muội, chầm chậm bước đi. Ba kẻ đó chỉ sợ thôn nữ thừa thắng đuổi theo, nhưng đâu có thể chạy nhanh như hai vợ chồng Hà Thái Xung, nên mỗi bước một lo ngay ngáy.

Đinh Mẫn Quân tuy gãy hai cổ tay, nhưng chân không sao, cắn răng bỏ đi một mình.

Thôn nữ cười ha hả đắc ý, nói:

– Anh chàng xấu như ma này, huynh..

Đột nhiên nàng ta thấy ngộp thở, ngất đi. Hóa ra Trương Vô Kỵ thấy sáu kẻ đối đầu kia đã bỏ đi cả, bèn rụt tay lại, buông hai gót chân thôn nữ ra. Cửu dương chân khí trong cơ thể thôn nữ lập tức thoát ra hết, tứ chi và các khớp hầu như chẳng còn chút hơi sức nào. Trương Vô Kỵ chợt hiểu, vội dùng hai ngón tay cái ấn nhẹ vào huyệt Ti Trúc Không ở đuôi lông mày, hơi vận thần công, thế là thôn nữ từ từ hồi tỉnh.

Nàng ta mở mắt, thấy mình nằm trong lòng Trương Vô Kỵ, chàng đang mỉm cười nhìn mình thì không khỏi thẹn thùng vội nhỏm dậy, lườm chàng một cái, đột nhiên giơ tay véo tai trái của chàng, mắng:

– Cái nhà anh này, giỏi đánh lừa muội! Huynh một thân võ công lợi hại như thế, sao không nói cho muội hay?

Trương Vô Kỵ đau quá, kêu:

– Ái, cô nương làm gì vậy?

Thôn nữ cười ha hả, nói:

– Ai bảo huynh lừa muội?

Trương Vô Kỵ nói:

– Ta lừa cô nương lúc nào, cô nương cũng đâu có cho ta hay là cô nương biết võ công.

Thôn nữ nói:

– Được rồi, muội tha cho huynh lần này. Vừa rồi huynh có ra tay giúp muội, lấy công chuộc tội, muội sẽ không phạt huynh nữa. Chân huynh đã đi được chưa?

Trương Vô Kỵ nói:

– Vẫn chưa đi được.

Thôn nữ thở dài, nói:

– Vậy là lòng tốt được báo đáp, nếu muội không nhớ đến huynh, đòi quay lại gặp huynh lần cuối, thì huynh đâu có thể cứu muội.

Ngừng giây lát, nàng nói tiếp:

– Giá muội sớm biết tài nghệ cao siêu của huynh, thì muội đâu cần phải thay huynh đi giết con quỷ a đầu Chu Cửu Chân làm gì.

Trương Vô Kỵ sầm mặt, nói:

– Ta không hề bảo cô nương đi giết nàng ta.

Thôn nữ nói:

– Ái chà, ái chà! Thì ra lòng huynh vẫn còn tơ tưởng cô nương xinh đẹp ấy, muội hóa thành kẻ chẳng ra gì, giết mất ý trung nhân của huynh.

Trương Vô Kỵ nói:

– Chu Cửu Chân không phải là ý trung nhân của ta; nàng ta đẹp hay xấu chẳng liên quan đến ta.

Thôn nữ ngạc nhiên, nói:

– Lạ thật, cô ta làm hại huynh như thế, muội giết cô ta cho huynh được hả dạ, chẳng lẽ là không tốt ư?

Trương Vô Kỵ thản nhiên nói:

– Số người hại ta quá đông, nếu ai cũng đem giết cho bõ tức, vậy phải giết bao nhiêu người cho xuể? Huống hồ có một số người định bụng hại ta, song thực ra chính họ cũng rất đáng thương. Chẳng hạn như Chu cô nương, nàng ta đêm ngày phập phồng lo sợ, chỉ sợ biểu huynh không còn đối xử tốt với nàng ta, đổi ý lấy Võ cô nương làm vợ. Như thế Chu Cửu Chân có sung sướng gì cho cam?

Thôn nữ giận dữ nói:

– Huynh nhạo báng muội đấy à?

Trương Vô Kỵ ngẩn người, đâu ngờ khi mình nói chuyện Chu Cửu Chân đã vô ý làm cho thôn nữ chạnh lòng, vội nói:

– Không, không đâu! Ta chỉ bảo mỗi người có nỗi bất hạnh riêng của mình. Ai đối xử không đúng với cô nương, cô nương liền giết họ đi, như thế nhất thiết không được.

Thôn nữ cười:

– Huynh học võ nếu không để giết người, vậy học để làm gì nào?

Trương Vô Kỵ trầm ngâm nói:

– Học võ cho giỏi, để kẻ xấu đến hại ta, ta đủ sức đối phó.

Thôn nữ nói:

– Thán phục huynh thật đấy! Thì ra huynh là bậc chính nhân quân tử, một người tốt bụng quá chừng!

Trương Vô Kỵ ngơ ngác nhìn nàng, nhìn cử chỉ dáng điệu của nàng, chàng cảm thấy nàng sao mà thân thiết, gần gũi biết bao, khó nói thành lời. Thôn nữ bĩu môi, hỏi:

– Huynh nhìn gì vậy?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Mẹ ta thường cười cha ta là người tốt quá mức, là một thư sinh dễ mềm lòng. Khi mẹ ta trò chuyện, cung cách cử chỉ chẳng khác gì cô nương.

Thôn nữ đỏ mặt, trách:

– Hứ, lại định ăn gian, bảo muội giống mẹ huynh, còn huynh thì giống cha huynh chứ gì!

Lời là trách móc, nhưng ánh mắt lại ẩn một nụ cười.

Trương Vô Kỵ vội nói:

– Có trời chứng giám, nếu ta có ý ăn gian với cô nương thì trời tru đất diệt.

Thôn nữ nói:

– Nói hờn nhau có một câu, làm gì huynh phải thề thốt ghê vậy?

Lúc này, bỗng nghe phía đông bắc có tiếng người hú lên, âm thanh trong trẻo và ngân nga, rõ là tiếng nữ giới. Tiếp đó có tiếng gần hơn đáp lại, chính là tiếng của Đinh Mẫn Quân rời khỏi đây chưa xa. Đinh Mẫn Quân hú xong thì dừng lại, không chạy nữa.

Thôn nữ mặt hơi biến sắc, thấp giọng nói:

– Phái Nga Mi lại có người đến!

Comments

Comments

Trước Tiếp
 
34,578 ❤︎ Bài viết: 2241 Tìm chủ đề
Hồi 17: Thanh dực xuất một nhất tiếu dương

Trương Vô Kỵ và thôn nữ cùng nhìn về phía đông bắc, lúc này trời đã hửng sáng, thấy một bóng người màu xanh đi như lướt trên mặt tuyết. Đến cách mươi trượng, thì nhìn rõ là một thiếu nữ y phục màu xanh nhạt. Thiếu nữ nói với Đinh Mẫn Quân gì đó, đưa mắt nhìn Trương Vô Kỵ và thôn nữ, rồi tiến lại. Tay áo nàng phấp phới, thân pháp nhẹ nhàng, bước chân ngắn nhưng thoáng một cái chỉ còn cách hai người bốn, năm trượng. Thiếu nữ có hình dáng thanh lệ tú nhã, diện mạo xinh xắn bội phần, tuổi chừng mười bảy mười tám. Trương Vô Kỵ rất lấy làm lạ, nghe tiếng hú và nhìn thân pháp, chàng cứ ngỡ nàng ta phải già hơn Đinh Mẫn Quân, không ngờ lại còn nhỏ tuổi hơn cả chàng.

Thiếu nữ bên hông đeo một đoản kiếm, song không rút binh khí ra, chỉ tay không tới gần hai người. Đinh Mẫn Quân lên tiếng cảnh cáo:

– Chu sư muội, con quỷ a đầu ấy công phu tà môn lắm đó!

Thiếu nữ gật đầu, hỏi với lời lẽ khách sáo:

– Thỉnh vấn quý tính đại danh của hai vị? Vì cớ gì lại đả thương sư tỷ của tôi?

Từ lúc thiếu nữ đến gần, Trương Vô Kỵ trông nàng rất quen, giờ nghe giọng nói, lập tức nhớ ra: "Nàng chính là cô bé Chu Chỉ Nhược, con nhà thuyền chài trên sông Hán Thủy, thái sư phụ đã đưa nàng lên núi Võ Đang, sao hiện giờ nàng lại làm môn hạ phái Nga Mi?" Chàng cảm thấy bồi hồi, muốn hỏi thăm vài câu về Trương Tam Phong, nhưng chợt nghĩ lại: "Trương Vô Kỵ đã chết rồi, ta hiện giờ là một gã nhà quê, một kẻ xấu như ma tên là Tăng A Ngưu. Chỉ cần ta không biết nhẫn nhịn một chút, hậu họa sẽ khôn lường. Ta không được phép tiết lộ thân phận, để khỏi liên lụy tới nghĩa phụ, cái chết của phụ mẫu ta khỏi uổng phí".

Thôn nữ cười khẩy, nói:

– Lệnh sư tỷ dùng chiêu "Thôi song vọng nguyệt" giáng cả hai chưởng vào lưng ta, tự mình làm mình gãy cổ tay, sao lại trách ta? Nàng hãy hỏi lại lệnh sư tỷ xem ta đã đánh cô ả nửa chiêu thức nào hay chưa?

Chu Chỉ Nhược đưa mắt nhìn Đinh Mẫn Quân, ý muốn hỏi. Đinh Mẫn Quân giận dữ nói:

– Sư muội hãy dẫn hai kẻ này đi gặp sư phụ, để lão nhân gia định đoạt là xong.

Chu Chỉ Nhược nói:

– Hai người này đã không có ý đắc tội với sư thư, theo ý tiểu muội, mình đổi thù thành bạn là hơn.

Đinh Mẫn Quân cả giận quát lên:

– Cái gì? Sư muội lại định về hùa với người ngoài ư?

Trương Vô Kỵ nhìn bộ dạng của Đinh Mẫn Quân, nhớ đêm năm nào hòa thượng Bành Oánh Ngọc bị vây đánh trong rừng, Kỷ Hiểu Phù chỉ vì gạt kiếm của Đinh Mẫn Quân mà bị đại họa, hôm nay tái diễn cái trò Đinh Mẫn Quân bức bách sư muội khiến chàng không khỏi lo thầm cho Chu Chỉ Nhược.

Nhưng Chu Chỉ Nhược lại tỏ ra hết sức cung kính đối với Đinh Mẫn Quân, khom lưng nói:

– Tiểu muội xin nghe lời chỉ bảo của sư thư, không dám trái lệnh.

Đinh Mẫn Quân nói:

– Được, vậy ngươi mau tới bắt con xú a đầu kia, đánh gãy hai tay nó cho ta.

Chu Chỉ Nhược đáp:

– Vâng, mong sư thư ở bên ngoài trông chừng tiếp ứng cho.

Rồi quay sang nói với thôn nữ:

– Tiểu muội vô lễ, xin được lĩnh giáo cao chiêu của thư thư.

Thôn nữ cười khẩy:

– Khỏi cần nhiều lời!

Nàng ta nghĩ thầm: "Bộ tưởng ta sợ một tiểu cô nương như ngươi sao?" Nàng khỏi nhờ Trương Vô Kỵ giúp sức, nhảy vọt ra, nhanh như chớp đánh liền ba chưởng. Chu Chỉ Nhược né mình tiến tới, tay trái dùng phép cầm nã, lấy công làm thủ, chiêu số cũng rất xảo diệu.

Trương Vô Kỵ nội lực tuy cao cường nhưng chiêu số chưa thông thạo, chỉ thấy Chu Chỉ Nhược và thôn nữ đều ra đòn đỡ đòn cực nhanh. Miên chưởng của phái Nga Mi linh hoạt thần tốc, còn chưởng pháp của thôn nữ thì cổ quái kỳ ảo. Chàng vừa xem vừa thán phục, nhưng lại lo lắng, không biết phải mong cho ai thắng, chỉ cầu cả hai nàng không ai bị thương.

Hai nàng đấu hơn hai mươi chiêu thì bắt đầu gặp hung hiểm, bỗng nghe thôn nữ quát "Nhìn đây!" rồi tả chưởng đã đánh trúng vai Chu Chỉ Nhược. Tiếp đó "soạt" một tiếng, Chu Chỉ Nhược xé rách một mảnh tay áo của thôn nữ. Hai người đều nhảy tránh ra, mặt hơi đỏ lên. Thôn nữ kêu lên:

– Cầm nã thủ lợi hại thật!

Đang định tiến lên, chỉ thấy Chu Chỉ Nhược nhíu mày, áp tay vào ngực, thân hình loạng choạng muốn ngã. Trương Vô Kỵ không nhịn được, kêu lên đầy vẻ lo lắng:

– Cô nương.. cô nương..

Chu Chỉ Nhược thấy chàng trai tóc dài râu rậm kia tỏ vẻ quan tâm đến mình, cảm thấy rất ngạc nhiên. Đinh Mẫn Quân hỏi:

– Sư muội, ngươi sao thế?

Chu Chỉ Nhược tay trái vịn vai sư tỷ, lắc đầu.

Đinh Mẫn Quân đã gãy cổ tay vì thôn nữ, biết nàng ta vô cùng lợi hại, nhưng vì sư phụ cứ luôn khen ngợi tiểu sư muội, bảo Chu Chỉ Nhược ngộ tính rất cao, tiến bước cực nhanh, sau này sẽ làm rạng danh bổn phái, Đinh Mẫn Quân trong bụng không phục, nên buộc sư muội tới đấu thử với thôn nữ, những mong Chu Chỉ Nhược cũng bị ăn đòn như mình. Bây giờ thấy Chu Chỉ Nhược đấu với thôn nữ hơn hai chục chiêu mới thua, hơn hẳn mình, thì trong lòng ghen tức; đến lúc thấy bàn tay sư muội vịn vào vai mình không còn khí lực, mới biết là sư muội bị thương không phải nhẹ, lại sợ thôn nữ đuổi theo, vội nói:

– Thôi mình đi!

Hai người dìu nhau đi về đông bắc.

Thôn nữ nhìn thần sắc của Trương Vô Kỵ, cười khẩy:

– Người đâu vừa thấy mỹ nữ đã hồn vía lên mây rồi.

Trương Vô Kỵ vừa định giải thích, nhưng lại nghĩ thầm: "Nếu không thổ lộ thân thế, thì làm sao giải thích cho rõ việc này kia chứ, chi bằng không nói là hơn", bèn nói:

– Nàng ta đẹp hay xấu thì can dự gì đến ta? Ta lo là lo cho cô nương, sợ cô nương bị thương thôi.

Thôn nữ hỏi:

– Huynh nói thật hay không đấy?

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Mình lo lắng cho cả hai cô nàng", đáp:

– Ta nói dối cô nương để làm gì? Không ngờ phái Nga Mi có một cô nương nhỏ tuổi mà võ công khá đến thế.

Thôn nữ nói:

– Lợi hại, lợi hại thật!

Trương Vô Kỵ nhìn theo Chu Chỉ Nhược, thấy nàng khi tới lướt như gió, lúc đi thì lê từng bước, nhớ lại năm nào trên sông Hán Thủy nàng bón cơm cho chàng ăn ở trên thuyền, lại tặng chàng tấm khăn lau nước mắt, trong bụng chỉ mong sao nàng bị thương không nặng.

Thôn nữ bỗng cười khẩy, nói:

– Huynh khỏi lo, nàng ta không bị thương đâu mà sợ. Muội nói lợi hại là có ý bảo nàng ta còn ít tuổi thế mà tâm kế đã quá lợi hại!

Trương Vô Kỵ ngạc nhiên:

– Nàng ta không bị thương ư?

Thôn nữ đáp:

– Chính thế! Chưởng của muội chém trúng vai nàng ta, từ vai phát sinh nội lực hất tay muội ra; như vậy là nàng ta đã luyện Cửu dương công của phái Nga Mi, lực dội lại khiến tay muội hơi bị tê dại. Như thế bảo cô ta bị thương sao được?

Trương Vô Kỵ cả mừng, nghĩ thầm: "Thì ra Diệt Tuyệt sư thái đã để mắt tới Chu Chỉ Nhược, đem bảo bối Cửu dương công của môn phái truyền cho rồi ư?"

Thôn nữ đột nhiên lật tay trái tát cho Trương Vô Kỵ một cái thật mạnh. Cú đánh này bất ngờ, chàng không kịp đề phòng, một bên má tức thời sưng đỏ lên. Chàng giận dữ nói:

– Cô nương.. giở trò gì vậy?

Thôn nữ hậm hực nói:

– Vừa thấy thiếu nữ nhà người ta dễ coi một chút là hồn vía huynh bay mất rồi. Muội vừa bảo cô ta không bị thương, huynh đã mừng rơn như thế là sao?

Trương Vô Kỵ nói:

– Ta mừng cho cô ta thì có liên can gì tới cô nương?

Thôn nữ lại vung tay tát cái nữa, song lần này Trương Vô Kỵ cúi đầu xuống, khiến nàng đánh trượt; nàng cả giận, nói:

– Huynh đã bằng lòng lấy ta làm vợ, lời ấy nói ra chưa được nửa ngày, giờ gặp người khác đã tơ tưởng muốn đi với cô nương xinh đẹp rồi.

Trương Vô Kỵ nói:

– Thì chính cô nương chê ta không xứng, bảo trong lòng cô nương đã có tình lang, nhất quyết không thể lấy ta kia mà!

Thôn nữ nói:

– Đúng thế, nhưng huynh đã bằng lòng từ rày đối đãi tử tế với muội, suốt đời lo liệu cho muội.

Trương Vô Kỵ nói:

– Ta đã nói sao thì dĩ nhiên sẽ làm như thế.

Thôn nữ giận dữ:

– Đã vậy, tại sao vừa gặp một thiếu nữ xinh đẹp, huynh đã lạc phách xiêu hồn, bảo sao muội không tức lộn ruột lên kia chứ?

Trương Vô Kỵ chỉ cười rồi nói:

– Ta đâu có lạc phách xiêu hồn.

Thôn nữ nói:

– Muội không cho huynh thích cô ta, cũng không cho nghĩ đến cô ta.

Trương Vô Kỵ nói:

– Ta chưa hề bảo là thích cô ta. Còn cô nương trong bụng cứ được nghĩ, được nhớ đến người khác sao?

Thôn nữ nói:

– Muội quen biết người ấy từ trước rồi. Nếu muội biết huynh trước thì suốt đời sẽ chỉ đối tốt với huynh, chứ không nghĩ đến bất cứ ai khác, như thế gọi là thủy chung như nhất. Còn kẻ nào hai lòng ba dạ thì trời cũng chẳng dung.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Ta quen biết Chu cô nương còn trước cô rất nhiều", nhưng chàng không dám thốt ra câu đó, chỉ nói:

– Nếu cô nương chỉ đối tốt với một mình ta, ta cũng sẽ chỉ đối tốt với một mình cô nương. Nếu trong bụng cô nương tưởng nhớ người khác, vậy ta cũng nghĩ đến người khác.

Thôn nữ trầm ngâm, mấy lần định nói lại thôi, đột nhiên mắt rưng rưng lệ, quay sang phía khác, thừa lúc Trương Vô Kỵ không nhìn thấy liền đưa tay gạt lệ. Trương Vô Kỵ không nỡ, nhẹ nhàng cầm tay nàng, dịu dàng nói:

– Thôi chúng ta đừng nói chuyện đó nữa. Đợi thêm vài hôm, chân ta lành hẳn, hai ta sẽ cùng nhau đi du ngoạn, không thích lắm sao?

Thôn nữ quay đầu lại, buồn rầu nói:

– A Ngưu ca ca, muội xin ca ca một việc, ca ca đừng giận nhé.

Trương Vô Kỵ hỏi:

Việc gì? Nếu sức ta làm được, ta sẽ làm cho cô nương.

Thôn nữ nói:

– Ca ca phải hứa không giận, muội mới dám nói.

Trương Vô Kỵ nói:

– Được rồi, ta sẽ không giận.

Thôn nữ lưỡng lự một hồi, nói:

– Miệng bảo không giận, nhưng trong bụng ca ca cũng phải không giận mới được.

Trương Vô Kỵ nói:

– Ừ thì cả trong bụng cũng không giận.

Thôn nữ nắm tay chàng, nói:

– A Ngưu ca ca, muội từ Trung nguyên đi hàng vạn dặm tới Tây Vực chỉ là để tìm người ấy. Ban đầu còn nghe phong thanh vài điều, nhưng đến bây giờ thì không còn tăm tích gì hết. Sau khi ca ca khỏi gãy chân, ca ca hãy giúp muội tìm người ấy, sau đó muội sẽ cùng ca ca đi du ngoạn, có được chăng?

Trương Vô Kỵ không thể không cảm thấy khó chịu trong lòng. Thôn nữ nói:

– Ca ca đã bằng lòng sẽ không giận kia mà, sao lại còn khó chịu?

Trương Vô Kỵ chẳng có cách nào hơn, đành nói:

– Được, ta sẽ giúp cô nương đi tìm hắn.

Thôn nữ cả mừng, nói:

– A Ngưu ca ca, ca ca tốt quá!

Nàng ta nhìn về phía chân trời, trong lòng xao xuyến, nhỏ nhẹ nói:

– Khi tìm thấy người ấy rồi, người ấy sẽ nghĩ đến công lao muội đi tìm lâu như thế, sẽ không chán muội. Chàng bảo gì, muội sẽ nhất nhất nghe lời.

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Gã tình lang của cô nương rốt cuộc có gì hay khiến cô nương nhớ mãi không quên như vậy?

Thôn nữ mỉm cười:

– Chàng ta có gì hay, làm sao muội nói được? A Ngưu ca ca, liệu chúng ta có tìm thấy người ấy không? Khi gặp muội, người ấy có đánh mắng muội không?

Trương Vô Kỵ thấy nàng ta si tình đến thế thì không khỏi thương tâm, thấp giọng an ủi:

– Không đâu, hắn sẽ không đánh mắng cô nương đâu.

Thôn nữ mỉm cười, đôi mắt long lanh, cũng nói nhỏ:

– Phải đó, chàng sẽ yêu muội, thương muội, không đánh chửi muội.

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Cô nương này si tình đối với tình lang như thế, giả sử trên đời này có một thiếu nữ quan hoài mình, nhớ mình như nàng thì dù mình có phải chịu khổ sở đến mấy, cũng vẫn sung sướng". Chàng nhìn hai hàng dấu chân của Chu Chỉ Nhược và Đinh Mẫn Quân để lại trên tuyết, nghĩ bụng: "Giá như thay vào vết chân của Đinh Mẫn Quân là vết chân của mình, mình được cùng Chu cô nương sánh vai mà đi.." Thôn nữ đột nhiên kêu lên:

– Ôi chao, phải chạy mau, để lâu e không kịp mất!

Trương Vô Kỵ đang mơ màng, chợt choàng tỉnh, hỏi:

– Gì thế?

Thôn nữ nói:

– Thiếu nữ phái Nga Mi không chịu đấu thí mạng với muội, giả bộ bị thương bỏ đi. Nhưng Đinh Mẫn Quân luôn miệng đòi bắt muội đi gặp sư phụ của họ, Diệt Tuyệt sư thái hẳn đang ở gần đâu đây. Lão tặc ni ấy cực kỳ hiếu thắng, nhất định sẽ phóng tới.

Trương Vô Kỵ nhớ lần Diệt Tuyệt sư thái một chưởng đánh chết Kỷ Hiểu Phù tàn ác biết chừng nào, không khỏi sợ hãi nói:

– Lão tặc ni ấy rất lợi hại, chúng mình không phải đối thủ của bà ta đâu.

Thôn nữ hỏi:

– Ca ca gặp bà ta rồi ư?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Chưởng môn phái Nga Mi đâu phải tầm thường? Ta chưa đi lại được, cô nương hãy mau chạy đi.

Thôn nữ giận dữ nói:

– Làm sao muội có thể bỏ ca ca ở đây để chạy thoát một mình? Ca ca nghĩ bụng dạ muội tệ hại thế sao?

Nàng nhíu mày suy nghĩ một lát, rồi cắm đầu chạy. Hồi lâu, Trương Vô Kỵ cảm thấy áy náy, gọi:

– Này, nghỉ một lát đi.

Thôn nữ cười:

– Sao lại gọi trống không thế? Muội không có tên hay sao?

Trương Vô Kỵ nói:

– Cô nương chưa xưng danh, làm sao ta biết? Cô nương bảo ta cứ gọi là "Xú cô nương", nhưng ta cảm thấy cô nương rất dễ coi.

Thôn nữ cười to, thở phào một cái, dừng chân, vuốt tóc, nói:

– Thôi được, nói cho ca ca biết cũng không sao, muội tên là Thù Nhi.

Trương Vô Kỵ nói:

– Nghĩa là Châu nhi, trong chữ Trân châu bảo bối ấy phải không?

Thù Nhi nói:

– Không, không phải có nghĩa hạt trân châu, mà có nghĩa là con nhện độc ấy.

Trương Vô Kỵ ngạc nhiên, nghĩ thầm: "Ai lại đi lấy chữ Thù Nhi làm tên bao giờ?"

Thù Nhi nói:

– Tên muội như thế đấy, nếu ca ca sợ thì đừng gọi cái tên đó.

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Là tên do phụ thân cô nương đặt ư?

Thù Nhi đáp:

– Hừ, nếu cha muội đặt cái tên ấy, ca ca tưởng muội sẽ chịu hay sao? Là mẹ đặt đó. Mẹ đã dạy cho muội cách luyện "Thiên thù vạn độc thủ" [68], nên bảo muội dùng tên này.

Trương Vô Kỵ vừa nghe năm chữ "Thiên thù vạn độc thủ" thì bất giác rùng mình.

Thù Nhi nói:

– Muội luyện từ hồi nhỏ, nhưng còn lâu mới thành. Đợi khi muội luyện xong rồi sẽ không còn phải sợ Diệt Tuyệt lão ni nữa. Ca ca có muốn xem không?

Nói xong nàng lấy trong bọc ra một cái hộp bằng vàng sáng bóng, mở nắp, trong hộp có hai con nhện to bằng ngón tay cái đang ngọ nguậy. Lưng chúng có hoa văn lấp lánh. Trương Vô Kỵ vừa nhìn thấy, liền nhớ trong sách Độc kinh của Vương Nạn Cô có chép: "Nhện nào trên lưng có hoa văn lấp lánh là loại cực độc, người bị nó cắn khó lòng cứu chữa", thành thử chàng rất e ngại.

Thù Nhi thấy vẻ mặt trịnh trọng của chàng, cười nói:

– Thì ra ca ca cũng biết giá trị loài nhện quý của muội. Ca ca hãy đợi một lát.

Đoạn nàng phi thân lên một cây cao, đưa mắt nhìn địa thế bốn phía, rồi nhảy xuống, nói:

– Mình phải đi thêm một quãng nữa, chuyện con nhện tính sau.

Nàng lại kéo cái xe trượt tuyết chạy thêm bảy, tám dặm. Đến bên cạnh một hẻm núi, nàng đỡ Trương Vô Kỵ ra khỏi xe, sau đó chất lên đó mấy tảng đá, kéo cái xe về phía vực sâu rồi đẩy mạnh cho xe lao xuống vực, tiếng xe đá lăn ầm ầm hồi lâu. Trương Vô Kỵ nhìn chiếc xe để lại một vệt dài trên tuyết đến tận bờ vực, chàng nghĩ thầm: "Thù Nhi tính toán chu đáo thật! Diệt Tuyệt sư thái nếu lần theo vết xe, hẳn cho rằng hai đứa mình đã rơi xuống vực, chết mất xác rồi".

Thù Nhi khom người, nói:

– Ca ca hãy ôm lấy lưng muội!

Trương Vô Kỵ nói:

– Cô nương định cõng ta ư? Như mệt vô cùng.

Thù Nhi lườm chàng một cái, nói:

– Muội mệt hay không mệt, bộ tự bản thân muội không biết hay sao?

Trương Vô Kỵ không dám hỏi thêm, liền nằm phục lên lưng nàng, nhè nhẹ ôm cổ nàng. Thù Nhi cười, nói:

– Ôm chặt thì sợ muội chết hay sao, mà cứ rón ra rón rén, làm người ta nhột quá trời.

Trương Vô Kỵ thấy nàng đối với mình không chút e ngại thì vui mừng ôm chặt hơn. Thù Nhi đột nhiên nhảy lên, cõng chàng phi thân lên cây.

Hàng cây đó mọc một dãy về phía tây, Thù Nhi nhảy từ cây này sang cây khác; nàng ta thân hình thanh mảnh, Trương Vô Kỵ lại cao to, vậy mà bộ pháp của nàng ta vẫn nhanh nhẹn, không tỏ ra mệt mỏi lắm. Nhảy một mạch bảy tám chục cây thì đến cạnh một vách núi, bấy giờ Thù Nhi mới nhảy xuống, nhẹ nhàng đặt Vô Kỵ xuống đất, cười, nói:

– Mình dựng một cái chuồng bò ở chỗ này được rồi.

Trương Vô Kỵ lấy làm lạ, hỏi:

– Chuồng bò ư? Dựng chuồng bò làm gì?

Thù Nhi cười đáp:

– Để cho con bò mộng ở, ca ca chẳng phải tên là A Ngưu sao?

Trương Vô Kỵ nói:

– Không cần đâu, dăm ngày nữa là chân ta sẽ lành hẳn, bây giờ gắng gượng đi cũng được rồi mà.

Thù Nhi nói:

– Hừ, gắng gượng đi, đã xấu xí, cái cẳng con bò lại khập khiễng, tưởng dễ coi lắm sao?

Đoạn Thù Nhi bẻ cành cây, quét sạch tuyết bên cạnh vách núi.

Trương Vô Kỵ nghe câu nàng nói "Cái cẳng con bò lại khập khiễng, tưởng dễ coi lắm sao?" đủ hiểu nàng rất quan hoài tới mình, bất giác xúc động. Chỉ nghe nàng vừa khe khẽ hát, vừa bẻ cành cây gác lên hai tảng đá làm mái, tạo thành một cái chòi nhỏ làm chốn dung thân, mái lợp tranh, tường đá, trông cũng dễ coi. Thù Nhi làm cái chòi nhỏ xong, lại lấy từng khối tuyết phủ lên trên mái, hì hục cả nửa ngày, đến khi từ bên ngoài nhìn vào không thấy dấu vết gì mới chịu dừng tay.

Nàng lấy khăn lau mồ hôi trên mặt, nói:

– Ca ca chờ ở đây, muội đi tìm thức ăn.

Trương Vô Kỵ nói:

– Ta cũng chưa đói lắm, cô nương mệt quá rồi, nghỉ một lúc hãy đi.

Thù Nhi nói:

– Ca ca muốn đối xử tốt với muội thì không cần phải ngọt ngào đầu lưỡi đâu.

Nói xong lẹ làng chạy vào rừng.

Trương Vô Kỵ nằm trên phiến đá, nghĩ đến Thù Nhi nói năng dịu dàng, cử chỉ nhanh nhẹn, phong cách y như một mỹ nhân tuyệt sắc, riêng khuôn mặt sao lại quá xấu xí; lại nhớ phút lâm chung mẫu thân chàng có dặn: "Phải đề phòng nữ nhân lừa dối, nữ nhân càng đẹp, càng giỏi lừa người". Thù Nhi diện mạo tuy không đẹp, nhưng đối với ta tốt biết bao, ta muốn ở bên nàng suốt đời, tiếc rằng nàng đã có tình lang, chẳng còn để ý đến ta nữa.

Chàng cứ suy nghĩ vẩn vơ, lát sau Thù Nhi xách hai con gà rừng về, nhóm lửa nướng ăn thật là ngon. Trương Vô Kỵ một con hết nhẵn, xem chừng còn thòm thèm. Thù Nhi tủm tỉm cười, quẳng cho chàng hai cái đùi gà là chỗ ngon nhất trong phần của nàng, mà nàng có ý để dành lại. Trương Vô Kỵ định từ chối, Thù Nhi giận nói:

– Ca ca còn thèm thì cứ ăn, ai mà dã tâm dã ý đối với muội, muội lấy dao khoét ba cái lỗ trên người kẻ đó đấy.

Trương Vô Kỵ không dám nhiều lời, cầm đùi gà ăn hết. Hai mép dính mỡ, chàng dùng tuyết chà chà lên mặt, rồi lấy khăn lau miệng.

Thù Nhi quay lại, thấy Vô Kỵ dùng tuyết chà chà lên mặt lại cứ trân trân nhìn chàng. Trương Vô Kỵ thấy vậy thì mất tự nhiên, hỏi:

– Có gì không?

Thù Nhi nói:

– Ca ca bao nhiêu tuổi?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Hai mươi mốt.

Thù Nhi nói:

– Ồ, thế ra ca ca hơn muội có ba tuổi, sao lại để râu dài vậy?

Trương Vô Kỵ cười nói:

– Ta một mình sống trong hoang sơn thâm cốc, không có một ai, nên cũng chả nghĩ đến việc cạo râu.

Thù Nhi lấy trong người ra một con dao nhỏ có cán bằng vàng, đặt chàng xuống rồi thong thả cạo sạch râu ria. Trương Vô Kỵ chỉ cảm thấy lưỡi dao cực sắc, cạo tới đâu, râu rơi lả tả tới đó. Các ngón tay của nàng mềm mại lạ thường, sờ vào mặt chàng khiến chàng động lòng.

Lưỡi dao dần dần cạo xuống dưới cổ, Thù Nhi cười nói:

– Muội chỉ rạch một nhát ngang cổ họng là mạng ca ca ô hô ai tai liền. Có sợ không?

Trương Vô Kỵ cười đáp:

– Chết dưới bàn tay ngọc của cô nương, ta thành quỷ cũng sướng.

Thù Nhi lật sống dao ấn vào cổ chàng, nói:

– Này thì cho ngươi thành con quỷ này!

Trương Vô Kỵ giật nảy mình, Thù Nhi ra tay quá nhanh, dao lại cận kề, lúc cảm nhận được thì dao đã cứa xuống, không kịp có một chút phản kháng nào. Nhưng Cửu dương thần công trong cơ thể lập tức sinh ra một lực đẩy hất con dao đi, bấy giờ chàng mới biết Thù Nhi chỉ cứa bằng sống dao.

Thù Nhi tay bị giật một cái, kêu lên:

– Ối chà!

Nàng cười khanh khách, hỏi:

– Có sướng không?

Trương Vô Kỵ vừa cười vừa gật đầu. Chàng vốn là người thật thà, ở bên cạnh Thù Nhi không hiểu sao chàng luôn cảm thấy thoải mái, không bị gò bó, tựa hồ hai người đã sống với nhau từ nhỏ, hết sức tiêu dao tự tại, cứ phải nói đùa vài câu mới được.

Thù Nhi cạo râu cho chàng xong, tần ngần nhìn chàng một hồi rồi thở dài. Trương Vô Kỵ hỏi:

– Có gì không?

Thù Nhi không trả lời, lại cắt bớt tóc cho chàng, bới thành một búi tóc gọn ghẽ, bẻ cành cây, vót thành cái trâm cắm ngang búi tóc. Bây giờ tuy y phục vẫn lam lũ, vừa ngắn vừa chật, trông như đồ ăn trộm, nhưng thần thái Trương Vô Kỵ sáng sủa, từ một gã nhà quê xấu xí đã biến thành một thanh niên anh tuấn. Thù Nhi lại thở dài, nói:

– Thật không ngờ ca ca lại đẹp trai đến thế!

Trương Vô Kỵ đoán nàng tủi thân vì diện mạo mình xấu xí, bèn nói:

– Ta đâu có gì dễ coi mà bảo là đẹp trai. Hơn nữa, vật cực đẹp trên thế gian thường thường lại ẩn chứa cái cực xấu. Con công có bộ lông đẹp biết bao, song mật nó cực độc; con hạc tiên mào đỏ tươi trông rất đẹp, nào ngờ đó là độc dược vô cùng lợi hại. Phàm các loài côn trùng rắn rết, con nào càng đẹp càng nhiều độc tính. Hai con nhện của cô nương trông chả đẹp đấy thôi? Con người ta diện mạo xấu hay đẹp không hệ trọng, chỉ cần bụng dạ thiện lương là đáng kể.

Thù Nhi cười khẩy:

– Bụng dạ thiện lương đáng kể ở chỗ nào, ca ca nói nghe thử.

Trương Vô Kỵ nhất thời chưa trả lời được, ngẩn người ra, rồi nói:

– Bụng dạ thiện lương sẽ không làm hại người khác.

Thù Nhi nói:

– Không làm hại người khác có gì là tốt?

Trương Vô Kỵ nói:

– Mình không làm hại người khác, trong lòng mình cũng bình yên vui vẻ, ứng xử tự nhiên.

Thù Nhi nói:

– Muội không làm hại người khác thì không thấy sướng, phải làm hại người khác thì trong lòng mới bình yên vui vẻ, ứng xử tự nhiên được.

Trương Vô Kỵ lắc đầu, nói:

– Cô nương nói vậy là cưỡng từ đoạt lý.

Thù Nhi cười khẩy:

– Nếu không để hại người thì muội luyện "Thiên thù vạn độc thủ" làm gì? Tự mình chịu đựng bao nhiêu khổ sở, chẳng lẽ chỉ đùa chơi thôi ư?

Nói xong nàng ngồi xếp bằng, vận một lượt nội công, lấy cái hộp vàng trong bọc ra, mở nắp, thò hai ngón tay trỏ vào trong hộp.

Hai con nhện hoa từ từ bò lại, chia nhau cắn hai đầu ngón tay. Thù Nhi hít một hơi dài, hai cánh tay hơi run, ngầm vận nội công chống lại nọc độc của hai con nhện. Loài nhện hoa hút máu người làm thức ăn, song huyết mạch ở đầu ngón tay Thù Nhi vận hành cũng mang chất độc của con nhện hòa vào máu toàn cơ thể.

Trương Vô Kỵ thấy mặt Thù Nhi rất trang nghiêm, đồng thời ở mi tâm và hai bên huyệt Thái Dương có một làn hắc khí mờ mờ, hai hàm răng cắn chặt, cố chịu đựng nỗi đau đớn. Lát sau, mũi nàng lấm tấm mồ hôi. Công phu này nàng luyện trong nửa canh giờ, hai con nhện hút no máu, bụng căng tròn như viên bi mới chịu nhả ngón tay nàng ra, nằm lim dim ngủ trong hộp.

Thù Nhi lại vận công hồi lâu, làn hắc khí trên mặt lui dần, sắc hồng trở lại, thở mạnh ra một hơi dài. Trương Vô Kỵ ngửi thấy một mùi thơm ngọt, hơi bị chóng mặt, dường như hơi nàng thở ra có mang chất độc. Thù Nhi mở mắt, mỉm cười.

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Phải luyện đến khi nào mới được coi là hoàn toàn thành công?

Thù Nhi nói:

– Mỗi con nhện hoa thân mình từ màu hoa chuyển sang màu đen, từ đen biến thành trắng thì hết chất độc mà chết. Bao nhiêu chất độc trong thân thể con nhện đều truyền hết sang ngón tay muội. Tối thiểu luyện khoảng một trăm con nhện hoa mới đạt mức tiểu thành. Còn công phu muốn cho đại thành cũng phải một hai ngàn con cũng chưa xem là nhiều.

Trương Vô Kỵ nghe Thù Nhi nói thế, bất giác nổi gai ốc, hỏi:

– Lấy đâu ra nhiều nhện hoa đến thế?

Thù Nhi đáp:

– Một mặt phải nuôi, nhện sinh ra nhện con, một mặt phải tìm nơi có nhện mà bắt.

Trương Vô Kỵ thở dài:

– Võ công trong thiên hạ vô số môn, hà tất phải luyện cái môn độc địa này? Chất độc của loài nhện cực kỳ nguy hiểm, đưa nó vào cơ thể rồi, dù cô nương có cách chế ngự, nhưng về lâu về dài cũng không có gì hay ho đâu.

Thù Nhi cười khẩy, nói:

– Võ công trong thiên hạ cố nhiên là vô số, nhưng không có môn công phu nào sánh bằng Thiên thù vạn độc thủ. Ca ca đừng cậy nội công cao siêu, muội mà luyện xong môn này, thì ca ca không chịu nổi một ngón tay của muội đánh trúng đâu.

Nói xong Thù Nhi vận khí vào ngón tay, chọc một cái vào thân cây bên cạnh. Công lực của nàng còn non nớt, nên chỉ lõm sâu được nửa tấc.

Trương Vô Kỵ lại hỏi:

– Sao mẫu thân cô nương lại dạy cô nương luyện môn này? Bản thân bà đã luyện thành rồi ư?

Ánh mắt của Thù Nhi đột nhiên nảy ra tia hung dữ, nàng hậm hực đáp:

– Luyện môn "Thiên thù vạn độc thủ" khi đến con thứ hai mươi trở đi, chất độc trong cơ thể tích tụ đã nhiều, dung mạo sẽ bắt đầu thay đổi. Luyện đến một ngàn con thì mặt mũi sẽ trở nên xấu xí vô cùng. Mẹ muội luyện đến gần một trăm con nhện thì gặp cha muội, sợ dung mạo hóa ra xấu xí, cha muội sẽ không yêu thương nữa, bèn hủy bỏ hết công phu đã có, trở lại thành một thiếu nữ tầm thường trói gà không chặt. Tuy dung mạo trở lại dễ coi, nhưng khi bị dì hai và các anh muội lăng nhục thì chẳng có chút tài nghệ gì để chống trả, đến nỗi phải chết. Hừ, mặt mũi xinh đẹp để làm gì? Mẹ muội là một người vô cùng xinh đẹp, chỉ vì lớn tuổi, không sinh được con trai, nên cha muội đi lấy tiểu thiếp..

Trương Vô Kỵ nhìn trộm nàng một cái, hỏi nhỏ:

– Thì ra.. thì ra cô nương vì luyện môn này..

Thù Nhi nói:

– Đúng thế, muội chỉ vì luyện môn công phu này mà mặt mũi mới hóa ra xấu xí như vầy. Hừ, cái gã tự phụ kia không thèm ngó ngàng đến muội, đợi khi muội luyện thành môn Thiên thù vạn độc thủ, tìm thấy y rồi, nếu y chưa có thê tử thì thôi..

Trương Vô Kỵ ngắt lời:

– Cô nương chưa hề thành hôn với y, cũng chưa hẹn ước trăm năm.. chỉ mới.. chẳng qua.. Thù Nhi nói:

– Thì cứ nói thẳng ra, sợ gì phải ấp úng? Có phải ca ca định nói chẳng qua chỉ một mình muội tương tư y chứ gì? Tương tư một phía thì đã sao? Muội đã yêu y thì không để cho y được yêu một ai khác. Nếu y bạc bẽo với muội, muội sẽ cho y nếm mùi "Thiên thù vạn độc thủ".

Trương Vô Kỵ mỉm cười, không tranh cãi với nàng nữa, nghĩ thầm cô nương này tính khí quái dị, tốt thì thật tốt, nhưng khi nổi cơn lên là bất kể phải trái gì hết. Chàng nhớ thái sư phụ và nhị sư bá thường nói về việc phân biệt chính tà trong võ lâm, xem ra môn Thiên thù vạn độc thủ này hẳn là môn công phu cực kỳ tàn độc của tà môn, mẹ nàng ta cũng phải thuộc hạng yêu tà. Nghĩ đến đây, bất giác thấy cần dè chừng nàng ta vài phần.

Thù Nhi không hề nhận ra sự thay đổi trong tâm trạng của Trương Vô Kỵ, cứ chạy ra chạy vào căn nhà nhỏ, hái các bông hoa rừng về cắm khắp nơi. Trương Vô Kỵ thấy nàng trang trí nơi ở rất có nhã hứng, đủ biết thích đẹp là bản tính trời sinh, vậy mà lâu nay nàng để cho chất độc hủy hoại dung mạo của mình như thế, bèn nói:

– Thù Nhi, khi ta khỏi chân rồi, ta sẽ đi hái thuốc chữa cho cô nương khỏi bị sưng mặt.

Thù Nhi nghe vậy liền lộ vẻ hoảng sợ, nói:

– Không.. không.. không đâu! Muội đã chịu bao nhiêu khổ sở để có được như hôm nay, ca ca lại định hủy hết công phu "Thiên thù vạn độc thủ" của muội ư?

Trương Vô Kỵ nói:

– Chúng ta sẽ tìm được cách không hủy công phu mà vẫn tiêu trừ được chất độc trên mặt cô nương.

Thù Nhi nói:

– Không xong đâu, nếu đã có cách, có lẽ nào mẹ muội là công phu tổ truyền lại không biết? Thiên hạ chỉ có Điệp Cốc Y Tiên Hồ Thanh Ngưu mới đủ tài nghệ làm nổi việc đó, nhưng.. nhưng ông ta đã chết mấy năm trước rồi.

Trương Vô Kỵ ngạc nhiên, hỏi:

– Cô nương cũng biết Hồ Thanh Ngưu ư?

Thù Nhi lườm chàng, nói:

– Thì đã sao? Có gì lạ nào? Điệp Cốc Y Tiên lừng danh giang hồ, ai chẳng biết.

Nói rồi thở dài, tiếp:

– Dẫu ông ta còn sống, cái người mang ngoại hiệu "Kiến Tử Bất Cứu" ấy phỏng có ích gì?

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Cô nương đâu biết tài nghệ một đời của Điệp Cốc Y Tiên đã truyền hết cho ta; nhưng ta chưa cho biết vội; đợi sau này tìm ra cách chữa cho cô nương hết bị sưng mặt, cho cô nương sung sướng một phen".

Trong lúc nói chuyện, bên ngoài trời đã tối, hai người bèn tựa vào vách đá ngủ. Ngủ đến nửa đêm, Trương Vô Kỵ mơ màng nghe có tiếng sụt sùi, chợt tỉnh dậy, định thần lại mới hay Thù Nhi đang khóc. Chàng ngồi thẳng lên, vỗ vỗ nhẹ vai nàng, an ủi:

– Thù Nhi, đừng đau lòng mà.

Nào ngờ lời nói dịu dàng đó lại khiến Thù Nhi xúc động thêm, nàng gục đầu vào vai Trương Vô Kỵ khóc òa. Trương Vô Kỵ hỏi:

– Thù Nhi, chuyện gì vậy? Cô nương nhớ đến mẹ phải không?

Thù Nhi gật đầu, nghẹn ngào đáp:

– Mẹ muội chết rồi, muội chỉ còn một mình bơ vơ cô khổ, chẳng ai thích muội, chẳng ai tốt với muội!

Trương Vô Kỵ lấy tay áo thong thả lau nước mắt cho Thù Nhi, dịu giọng nói:

– Ta thích cô nương, ta sẽ tử tế với cô nương.

Thù Nhi nói:

– Muội không cần ca ca tử tế với muội. Trong lòng muội chỉ thích một người, y lại chẳng ngó ngàng tới muội, còn đánh muội, chửi muội, cắn muội.

Trương Vô Kỵ giọng run run, nói:

– Cô nương hãy quên hắn đi. Ta lấy cô nương làm vợ, suốt đời sẽ đối xử tử tế với cô nương.

Thù Nhi cao giọng, nói:

– Không, không! Muội không thể quên chàng ta. Ca ca còn bảo muội quên chàng ta đi, muội sẽ không thèm nhìn ca ca nữa.

Trương Vô Kỵ quá ngượng ngùng, cũng may đang là trời tối, nên Thù Nhi không nhìn thấy chàng xấu hổ đỏ bừng mặt như thế nào.

Một hồi lâu hai người không ai nói gì.

Cuối cùng Thù Nhi nói:

– A Ngưu ca giận muội đấy à?

Trương Vô Kỵ nói:

– Ta không giận cô nương, ta chỉ giận chính mình, giá đừng nói mấy câu đó thì hơn.

Thù Nhi vội nói:

– Không, không! Ca ca hãy nói "Ta bằng lòng lấy cô nương làm vợ, suốt đời sẽ đối xử tử tế với cô nương" đi! Muội thích nghe câu đó lắm, ca ca hãy nhắc lại đi.

Trương Vô Kỵ giận dỗi:

– Cô nương không chịu quên kẻ ấy, ta còn nói thế làm gì?

Thù Nhi nắm lấy tay chàng, dịu giọng:

– A Ngưu ca đừng giận muội, muội có lỗi với ca ca, muội tệ quá đấy mà. Nếu ca ca thực sự lấy muội làm vợ, muội sẽ đâm mù mắt ca ca, sẽ giết ca ca luôn.

Trương Vô Kỵ lạnh cả người, hỏi:

– Cô nương nói gì vậy?

Thù Nhi nói:

– Mắt ca ca mù rồi sẽ không còn nhận biết vẻ xấu xí của muội, cũng không còn nhìn thấy Chu cô nương của phái Nga Mi. Nếu ca ca vẫn không quên nàng ta, muội sẽ chọc một ngón tay cho ca ca chết luôn, làm cho Chu cô nương phái Nga Mi chết theo, rồi chọc chết luôn cả muội một thể.

Ý định quái dị đó Thù Nhi nói ra một cách thản nhiên, tựa hồ đó là đạo lý thông thường trong trời đất vậy. Trương Vô Kỵ nghe những lời lẽ tàn ác gớm ghiếc như vậy thì không khỏi giật mình.

Ngay lúc đó, bỗng nghe từ xa vọng lại giọng một bà già:

– Chu cô nương của phái Nga Mi đâu có làm gì các ngươi?

Thù Nhi giật mình nhổm lên, nói nhỏ:

– Diệt Tuyệt sư thái đấy!

Nàng nói rất nhỏ, vậy mà người bên ngoài vẫn nghe thấy, nghiêm nghị đáp:

– Phải, Diệt Tuyệt sư thái đây.

Câu thứ nhất người kia nói nghe ở xa, nhưng câu này nghe như đã ở bên căn chòi. Thù Nhi biết sự tình không ổn, chẳng còn kịp cõng Trương Vô Kỵ chạy trốn, đành nín thở im lặng.

Chỉ nghe giọng nói lạnh lùng ở bên ngoài:

– Ra mau! Còn mong trốn nổi trong hầm được sao?

Thù Nhi nắm tay Trương Vô Kỵ vén cỏ bước ra khỏi hầm, thấy một lão ni tóc bạc đứng cách căn hầm hai trượng, chính là chưởng môn phái Nga Mi Diệt Tuyệt sư thái. Cách bà ta một quãng xa có ba tốp khoảng vài chục người đang chạy tới. Khi đến gần, bọn họ chia thành hai nhóm đứng hai bên Diệt Tuyệt sư thái. Phần lớn là ni cô, trong đó có cả Đinh Mẫn Quân và Chu Chỉ Nhược. Các nam đệ tử đứng sau cùng. Nguyên Diệt Tuyệt sư thái không ưa nam đệ tử, các nam đệ tử ở phái Nga Mi không được truyền thụ võ công thượng thừa, địa vị cũng thấp hơn so với nữ đệ tử.

Diệt Tuyệt sư thái lặng lẽ nhìn như thể đánh giá Thù Nhi một hồi. Trương Vô Kỵ thấp thỏm đứng sau lưng Thù Nhi, định bụng nếu Diệt Tuyệt sư thái hạ sát Thù Nhi, dù biết mình không địch nổi, chàng cũng hết sức một phen. Chỉ nghe Diệt Tuyệt sư thái hừ một tiếng, quay lại hỏi Đinh Mẫn Quân:

– Có phải con bé này không?

Đinh Mẫn Quân cúi mình đáp:

– Chính nó ạ.

Chỉ nghe "rắc, rắc" hai tiếng, rồi hự một tiếng, Thù Nhi đã văng ra xa hơn ba trượng, cả hai cổ tay đều bị gãy, nằm ngất lịm trên tuyết.

Trương Vô Kỵ thấy một cái bóng màu tro loáng qua trước mắt, Diệt Tuyệt sư thái dùng thân pháp cực nhanh bay tới bên cạnh Thù Nhi, lại dùng thủ pháp cực nhanh bẻ gãy hai cổ tay nàng, ném nàng ra xa, rồi lại dùng thân pháp cực nhanh trở về chỗ cũ, đứng sừng sững như một cây cổ thụ giữa gió đêm, vừa hùng vĩ, vừa kỳ bí.

Trương Vô Kỵ tuy nhìn rõ mọi chiêu thức của

Diệt Tuyệt sư thái, nhưng bị thân pháp và thủ pháp kinh nhân của bà ta làm cho chàng mất hết khả năng phản ứng.

Diệt Tuyệt sư thái đưa ánh mắt nhìn thấu tâm can kẻ khác, chằm chằm nhìn Trương Vô Kỵ, quát:

– Đi ra!

Chu Chỉ Nhược bước lên một bước, thưa bằng giọng run run:

– Sư phụ, người này bị gãy cả hai chân, không đi lại được.

Diệt Tuyệt sư thái nói:

– Làm hai cái xe trượt, kéo chúng nó đi!

Chúng đệ tử đồng thanh tuân lệnh. Mươi tên nam đệ tử chân tay nhanh nhẹn làm hai cái xe trượt, hai nữ đệ tử khiêng Thù Nhi, hai nam đệ tử khiêng Trương Vô Kỵ đặt lên xe, kéo trên tuyết theo sau Diệt Tuyệt sư thái đi về hướng tây.

Trương Vô Kỵ lắng tai nghe động tĩnh, không biết Thù Nhi bị thương nặng nhẹ ra sao. Đi được hơn một dặm, mới nghe nàng rên một tiếng nhỏ. Trương Vô Kỵ hỏi to:

– Thù Nhi, bị thương thế nào? Cô nương có bị nội thương hay không?

Thù Nhi đáp:

– Bà ta bẻ gãy hai cổ tay muội, hình như không bị nội thương.

Trương Vô Kỵ nói:

– Nếu nội tạng không sao thì tốt. Cô nương hãy dùng cùi chỏ tay trái day vào bên dưới khuỷu tay phải ba tấc năm phân, sau đó lại dùng cùi chỏ tay phải day vào bên dưới khuỷu tay trái ba tấc năm phân là sẽ đỡ đau.

Thù Nhi chưa trả lời, Diệt Tuyệt sư thái kêu "ồ" một tiếng, ngoảnh đầu lại nhìn Trương Vô Kỵ, hỏi:

– Tên tiểu tử này hóa ra tinh thông y lý, tên ngươi là gì?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Tại hạ họ Tăng, tên A Ngưu.

Diệt Tuyệt sư thái hỏi tiếp:

– Sư phụ ngươi là ai?

Trương Vô Kỵ nói:

– Sư phụ của tại hạ chỉ là một thầy lang vô danh ở một tiểu trấn, có nói ra sư thái cũng không biết.

Diệt Tuyệt sư thái hừ một tiếng, không hỏi nữa.

Cả đoàn người đi đến lúc trời sáng mới dừng nghỉ lấy lương khô ra ăn. Chu Chỉ Nhược cầm hai chiếc bánh bao nguội, cho Trương Vô Kỵ và Thù Nhi mỗi người một cái. Khi Chu Chỉ Nhược đưa bánh cho Trương Vô Kỵ, chỉ nhìn chàng một cái rồi quay đi. Trương Vô Kỵ không nén nổi xúc động, nói nhỏ:

– Ơn đức bón cơm trên sông Hán Thủy, vĩnh viễn không quên.

Chu Chỉ Nhược chấn động toàn thân, quay lại nhìn Trương Vô Kỵ, bây giờ chàng đã râu tóc nhẵn nhụi, gọn ghẽ; Chỉ Nhược nhìn một hồi, đột nhiên kêu "A" một tiếng, lộ vẻ vui mừng, nói:

– Ca ca.. ca..

Trương Vô Kỵ biết nàng đã nhận ra mình, thong thả gật đầu. Chu Chỉ Nhược hỏi nhỏ:

– Hàn độc trong người đã đỡ chưa?

Giọng Chỉ Nhược rất nhỏ, chỉ vo ve như tiếng muỗi, người ngoài không thể nghe rõ. Trương Vô Kỵ đáp nhỏ:

– Đã khỏi rồi.

Chu Chỉ Nhược hai má đỏ bừng, bước ra chỗ khác.

Lúc đó Thù Nhi ở sau lưng Trương Vô Kỵ, thấy Chu Chỉ Nhược không giấu nổi vẻ vui mừng, đôi môi mấp máy, tiếp đó có vẻ thẹn thùng, ánh mắt sáng lên, thì Thù Nhi đợi nàng ta đi khỏi mới hỏi Trương Vô Kỵ:

– Cô ta nói gì với ca ca thế?

Trương Vô Kỵ đỏ mặt, đáp:

– Đâu.. đâu có.. có gì?

Thù Nhi hừ một tiếng, tức giận:

– Sờ sờ ra đó còn chối!

Cả đoàn nghỉ ba canh giờ, lại đi tiếp về hướng tây, đi liền ba ngày, xem chừng có việc khẩn cấp. Tất cả nam nữ đệ tử dù đi hay nghỉ, ngoài đôi lời chẳng đặng đừng ra, thảy đều lặng thinh cứ như một đám người câm vậy.

Hiện giờ xương đùi của Trương Vô Kỵ đã lành lặn như thường, có thể đi lại hẳn hoi, song chàng giả vờ chưa khỏi, thi thoảng rên rỉ vài tiếng để Diệt Tuyệt sư thái khỏi phòng bị, chờ có dịp sẽ cứu Thù Nhi trốn đi. Có điều dọc đường toàn là đồng không mông quạnh, chạy chưa xa sẽ bị bắt lại, nên nhất thời chàng chưa dám vọng động. Chàng nối lại cổ tay gãy cho Thù Nhi. Diệt Tuyệt sư thái nhìn thấy, nhưng không nói gì. Mỗi khi dừng lại nghỉ chân hoặc ngủ đêm, Trương Vô Kỵ đều không nhịn được cứ liếc nhìn Chu Chỉ Nhược mấy lần, song nàng không hề tới gần chỗ chàng.

*

* *

Đi thêm hai ngày nữa, chiều hôm đó cả bọn đến một sa mạc rộng lớn, nơi đây tuyết đã tan hết, hai cái xe chỉ còn trượt đi trên cát.

Đang đi, bỗng có tiếng vó ngựa từ phía tây vọng lại. Diệt Tuyệt sư thái giơ tay ra hiệu, đám đệ tử liền nằm phục xuống sau các gò cát. Hai kẻ chĩa mũi kiếm ngay sau lưng Trương Vô Kỵ và Thù Nhi, ngụ ý rất rõ là phái Nga Mi đang phục kích địch nhân, nếu Trương Vô Kỵ lên tiếng đánh động, hai người sẽ bị đâm chết tức thời.

Tiếng vó ngựa nghe dồn dập, nhưng vẫn còn xa, rất lâu sau mới tới gần. Các kỵ sĩ đột nhiên thấy dấu chân trên cát liền gò cương lại quan sát.

Đại đệ tử phái Nga Mi là Tĩnh Huyền sư thái giơ phất trần ra hiệu, mấy chục đệ tử liền từ chỗ mai phục đổ ra vây quanh nhóm kỵ sĩ.

Trương Vô Kỵ thò đầu ra nhìn, thấy có bốn bạch y kỵ sĩ trên áo thêu một ngọn lửa đỏ. Bốn người ấy thấy phục binh đổ ra, bèn hô hoán rút binh khí ra, phá vây chạy về phía đông bắc.

Tĩnh Huyền sư thái quát lớn:

– Đó là bọn yêu nhân của Ma giáo, không để tên nào chạy thoát!

Phái Nga Mi tuy đông người nhưng không cậy nhiều đánh ít. Hai nữ đệ tử và hai nam đệ tử theo hiệu lệnh của Tĩnh Huyền sư thái phóng tới chặn đầu bốn bạch y kỵ sĩ. Bốn bạch y kỵ sĩ cầm loan đao chống trả ác liệt. Nhưng các đệ tử phái Nga Mi đi Tây Vực lần này toàn là cao thủ trong môn phái, người nào người nấy võ nghệ tinh cường, chỉ sau bảy tám hiệp, ba bạch y Ma giáo đã trúng kiếm ngã ngựa.

Người còn lại lợi hại hơn nhiều, y chém trúng vai trái một nam đệ tử phái Nga Mi, cướp đường chạy, phi ngựa ra xa mấy trượng. Chỉ huy tốp thứ ba của phái Nga Mi là Tĩnh Hư sư thái quát lên:

– Ngã này!

Với bộ pháp cực nhanh, Tĩnh Hư vọt tới sau lưng người kia, phất trần tung ra cuốn ngay chân trái của y. Y vung đao chém lại, Tĩnh Hư đột nhiên biến chiêu, nghe bộp một tiếng, phất trần đánh trúng gáy đối phương. Chiêu này đánh trúng chỗ yếu hại, cây phất trần ẩn chứa nội lực thâm hậu, làm cho người kia ngã ngựa. Không ngờ y hết sức hung tợn, tuy bị trọng thương, vẫn quyết cùng chết với đối phương, nên dang hai tay nhào tới chộp Tĩnh Hư. Tĩnh Hư nghiêng mình tránh, cây phất trần lại đánh trúng ngực y.

Lúc đó, từ chiếc lồng treo ở cổ con ngựa của y bỗng có ba con chim câu trắng bay lên. Tĩnh Huyền quát:

– Trò gì thế?

Bà ta phẩy tay áo một cái, ba viên đạn sắt bay ra bắn ba con chim câu. Hai con chim câu trúng đạn rơi xuống, còn một viên đạn bị một bạch y kỵ sĩ nằm dưới đất dùng ám khí đánh tạt qua một bên. Con chim thứ ba bay vút lên mây. Ám khí của đám đệ tử phái Nga Mi bay ra rào rào, nhưng không thể với tới, con chim bay thẳng về hướng đông bắc. Tĩnh Huyền giơ tay trái lên, các nam đệ tử liền xốc bốn bạch y kỵ sĩ đến trước mặt bà ta.

Từ lúc tấn công địch nhân tới khi bắn chim, bắt người, Diệt Tuyệt sư thái chỉ lẳng lặng đứng ngoài quan sát. Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Bà ta thân chinh động thủ với Thù Nhi, đủ biết coi trọng nàng ta lắm, có lẽ vì Đinh Mẫn Quân bị đánh gãy hai cổ tay. Lão ni này muốn bắn hạ con chim câu kia, chắc không có gì khó, nhưng bà ta không thèm lý đến, cứ mặc cho đám đệ tử lo liệu". Chàng nhớ lại năm xưa Tĩnh Huyền dẫn nhóm Kỷ Hiểu Phù lên núi Võ Đang chúc thọ thái sư phụ, xem ra ngang hàng với chưởng môn các phái Côn Luân, Không Động, đủ biết đại đệ tử của phái Nga Mi rất có danh vọng trên giang hồ, đủ sức đảm đương mọi sự, kể cả đại sự. Đối phó với vài tên Ma giáo, dĩ nhiên đâu cần Diệt Tuyệt sư thái phải ra tay. Tĩnh Huyền, Tĩnh Hư thân chinh động thủ kể cũng đã coi trọng đối phương lắm rồi.

Một nữ đệ tử nhặt hai con chim chết lên, rút từ trong chiếc ống nhỏ buộc ở đùi chim ra một mẩu giấy cuộn tròn, trình lên Tĩnh Huyền. Tĩnh Huyền mở ra xem, nói:

– Sư phụ, Ma giáo đã biết chúng ta vây công đỉnh Quang Minh, thư này là chúng cáo cấp với Thiên Ưng giáo.

Rồi xem mẩu giấy trong ống thứ hai, nói:

– Cái này cũng thế. Tiếc rằng con thứ ba bay thoát.

Diệt Tuyệt sư thái lạnh lùng nói:

– Có gì mà tiếc? Quần ma tụ hội, ta ra tay một lần diệt cả lũ, chẳng thú lắm sao? Khỏi tốn công đi khắp nơi tìm kiếm bọn chúng.

Tĩnh Huyền nói:

– Đúng vậy!

Trương Vô Kỵ nghe mấy chữ "cáo cấp với Thiên Ưng giáo" thì trong lòng phân vân: "Giáo chủ Thiên Ưng giáo chính là ông ngoại của ta, không biết lão nhân gia có đến hay không? Hừ, lão ni này thật quá ngạo mạn tự đại, chắc gì đã là đối thủ của ông ngoại ta". Chàng đã định thừa cơ cứu Thù Nhi đào tẩu, nay thấy sắp có cảnh náo nhiệt thì lại muốn ở xem, chưa bỏ đi vội.

Tĩnh Huyền quát hỏi bốn bạch y nhân:

– Các ngươi còn gọi thêm viện thủ nào nữa? Làm sao các ngươi biết tin sáu phái vây diệt Ma giáo?

Bốn bạch y nhân cùng ngửa mặt lên trời cười thảm, rồi đột nhiên quỵ xuống, không động đậy gì nữa. Ai nấy kinh hãi. Hai nam đệ tử cúi xuống xem, thấy bốn người ấy nở nụ cười kỳ bí, đều tắt thở cả, thì nói:

– Sư thư, họ chết cả rồi!

Tĩnh Huyền giận dữ nói:

– Yêu nhân phục độc tự tận, thứ độc dược này thật lợi hại, phát tác nhanh đến thế.

Tĩnh Hư nói:

– Tra xét thân thể bọn chúng xem!

Bốn nam đệ tử vâng lệnh, chia nhau lục soát túi áo các tử thi.

Chu Chỉ Nhược vội nói:

– Các vị sư huynh cẩn thận, đề phòng độc vật giấu trong túi áo.

Bốn nam đệ tử ngẩn người, bèn lấy binh khí rạch túi áo của các thi thể, thấy trong túi áo có cái gì cử động bùng nhùng, thì ra túi mỗi người kia đều có hai con rắn nhỏ cực độc, nếu thò tay vào lục soát thể nào cũng bị độc xà cắn phải. Cả bọn tái mặt, chửi giáo đồ Ma giáo hành sự độc ác.

Diệt Tuyệt sư thái lạnh lùng nói:

– Chúng ta từ Trung thổ tới đây, hôm nay lần đầu tiên chạm trán giáo đồ Ma giáo. Bốn tên này chẳng qua chỉ là hạng vô danh tiểu tốt mà đã thâm độc như vậy thì bọn đầu sỏ sẽ như thế nào?

Ngừng giây lát, bà ta nói tiếp:

– Tĩnh Hư đứng tuổi mà hành sự cẩu thả như vậy, không bằng Chỉ Nhược.

Tĩnh Hư đỏ mặt, cúi mình nhận lời quở trách.

Trương Vô Kỵ nghĩ tới câu "sáu phái vây diệt Ma giáo" của Tĩnh Huyền. "Sáu phái? Sáu phái ư? Liệu phái Võ Đang ta có trong đó chăng?"

*

* *

Canh hai đêm đó bỗng có tiếng lục lạc kêu leng keng, hình như có một con lạc đà từ xa đi tới. Mọi người đang ngủ say, nghe tiếng lục lạc đều tỉnh dậy cả. Tiếng lục lạc thoạt nghe vọng lại từ phía tây nam, nhưng trong giây lát lại từ phía nam vọng lên phía bắc, vọng đến mãi phía tây bắc. Rồi tiếng lục lạc lại chuyển sang phía đông, tựa hồ xuất hiện ở phía đông bắc. Cứ như thế, lúc bên đông, lúc bên tây, nghe rất ma quái. Mọi người nhìn nhau ngạc nhiên, đều nghĩ bụng dù con lạc đà kia chạy nhanh cỡ nào cũng không tài gì vừa ở bên đông đã vọt ngay sang bên tây; mà nghe âm thanh thì không phải là có nhiều người đứng ở tứ phía lần lượt rung lục lạc. Lát sau, tiếng lục lạc khi gần khi xa, lúc to lúc nhỏ, đột nhiên kêu vang động ở phía đông nam, tưởng chừng con lạc đà kia bay được như chim vậy. Người của phái Nga Mi chưa từng qua sa mạc, nghe tiếng lục lạc quái dị như thế, đều thầm sợ hãi.

Diệt Tuyệt sư thái lớn tiếng nói:

– Cao nhân ở phương nào xin hãy ra gặp, đừng giở trò ma quái, chẳng ra thể thống gì đâu!

Giọng bà ta vang đi rất xa. Sau câu nói đó, tiếng lục lạc im bặt, tựa hồ chủ nhân của tiếng lục lạc sợ bà ta, không dám đùa giỡn nữa.

Cả ngày hôm sau bình an vô sự. Đến canh hai, tiếng lục lạc lại nổi lên khi xa khi gần, lúc bên đông lúc bên tây. Diệt Tuyệt sư thái lại lên tiếng trách mắng, nhưng lần này tiếng lục lạc không im nữa mà cứ lúc nhỏ lúc to, có lúc tưởng như con lạc đà giận dữ phi tới gần rồi đột nhiên mất tăm, khiến ai nấy nhức đầu chóng mặt.

Trương Vô Kỵ và Thù Nhi nhìn nhau mỉm cười, tuy không biết tiếng lục lạc sao lại vang động quái dị như thế, nhưng hẳn là do một cao thủ Ma giáo bày ra làm cho phái Nga Mi không làm gì nổi, thấp thỏm bất an, kể cũng nực cười.

Diệt Tuyệt sư thái phủi tay, các đệ tử bèn nằm xuống ngủ, không thèm để ý đến tiếng lục lạc nữa. Tiếng lục lạc vang lên một hồi, tuy làm đủ trò song phái Nga Mi chẳng buồn lý tới, có lẽ người kia thấy hết hứng thú, nên đột nhiên vang lên một chập ở phía bắc rồi im hẳn. Cái cách "Thấy lạ không cho là lạ, tự nó hết lạ" của Diệt Tuyệt sư thái xem ra có linh hiệu.

Sáng hôm sau mọi người thu dọn chăn áo, đang định khởi hành thì hai nam đệ tử không hẹn cùng kêu hoảng lên. Ngay cạnh họ có một người lạ nằm đó tự bao giờ, đang ngủ say. Kẻ đó đắp một tấm mền bẩn thỉu, không để lộ chỗ nào của cơ thể, mông đít chổng cao, ngáy khò khò.

Mọi người kinh hãi, đêm qua họ đã luân phiên canh gác, có kẻ lẻn vào, sao lại không biết? Diệt Tuyệt sư thái võ công thượng thừa, dẫu là gió thổi cỏ lay, hoa rơi lá rụng cũng không qua khỏi tai mắt bà ta, tại sao trong đám đệ tử có thêm một kẻ lạ mà bây giờ mới phát hiện? Ai nấy vừa sợ vừa thẹn, đã có hai người cầm trường kiếm tới bên kẻ lạ, quát:

– Ngươi là ai? Giở trò ma quái gì đây?

Người kia vẫn ngáy khò khò, chẳng thèm để ý. Một nam đệ tử dùng mũi kiếm hất tấm mền ra, thấy bên dưới là một nam tử mặc áo trắng sọc xanh, đang nằm sấp trên cát ngủ ngon lành.

Tĩnh Hư biết người kia cả gan như thế, hẳn có duyên cớ, bèn tiến lên một bước, nói:

– Các hạ là ai? Tới đây có việc gì?

Người kia vẫn ngáy như kéo bễ. Tĩnh Hư thấy y vô lễ thì cả giận vung cây phất trần quất vào mông y. Chỉ nghe "Vù!" một tiếng, cây phất trần của Tĩnh Hư không hiểu sao lại bay vút lên trời, cao đến cả chục trượng, ai nấy bất giác cùng ngẩng đầu nhìn theo.

Diệt Tuyệt sư thái kêu to:

– Tĩnh Hư, coi chừng!

Lời vừa dứt, đã thấy người lạ kia bay vọt ra xa mấy trượng, Tĩnh Hư đã bị y ôm ngang trên hai cánh tay. Tĩnh Huyền cùng một nữ đệ tử đứng tuổi là Tô Mộng Thanh cùng tuốt kiếm, đề khí đuổi theo. Nhưng người kia thân pháp cực nhanh, ngoài sức tưởng tượng, xem ra không tài nào đuổi kịp.

Diệt Tuyệt sư thái hú lên một tiếng, cầm bảo kiếm Ỷ Thiên tức thời rượt theo. Chưởng môn phái Nga Mi quả nhiên thân thủ hơn người, chỉ trong giây lát đã vượt qua Tĩnh Huyền và Tô Mộng Thanh, ánh kiếm loáng lên đâm vào sau lưng người kia. Người kia chạy cực nhanh, nhát kiếm ấy còn cách y hơn một thước. Tuy ôm Tĩnh Hư trên tay, nhưng y vẫn chạy như bay, chả chậm hơn Diệt Tuyệt sư thái chút nào. Y tựa hồ có ý khoe công lực, không thèm chạy đi xa mà chỉ vòng quanh đám người phái Nga Mi. Diệt Tuyệt sư thái đâm liền mấy kiếm mà vẫn chưa trúng nhát nào.

Chợt nghe "bịch" một tiếng, cây phất trần của Tĩnh Hư lúc nãy văng lên trời bây giờ mới rơi xuống đất.

Lúc này Tĩnh Huyền và Tô Mộng Thanh cũng dừng bước, mọi người chăm chú theo dõi bên ngoài mấy chục trượng hai đại cao thủ đang rượt nhau. Tuy đây là sa mạc, hai người chạy nhanh thế nhưng không hề tung cát bụi. Các đệ tử phái Nga Mi thấy Tĩnh Hư bị người kia bắt giữ, tựa hồ đã chết, chẳng cựa quậy gì hết, ai ai cũng kinh hãi. Có người tính chạy tới chặn đầu y, nhưng nghĩ tới uy danh sư phụ, không tự cướp đệ tử lại được hay sao mà phải nhờ đệ tử giúp sức? Nếu ỷ thế đông người, chuyện lộ ra ngoài, sẽ bị hảo hán giang hồ chê cười. Thành thử ai cũng muốn trợ lực nhưng không dám, chỉ mong sư phụ nhanh hơn người kia một bước, đâm trúng quái khách kia.

Trong giây lát, Diệt Tuyệt sư thái và gã kia đã chạy được ba vòng lớn, Diệt Tuyệt sư thái chỉ cần nhanh thêm chút nữa là mũi kiếm có thể đả thương địch thủ, nhưng trước sau vẫn cứ thua một bước. Người nọ tuy cất bước chạy trước, Diệt Tuyệt sư thái rượt theo sau, nhưng gã còn ôm một người, nặng thêm hơn trăm cân, vậy mà cuộc đua khinh công này xem ra vẫn ngang ngửa, bất kể thế nào thì Diệt Tuyệt sư thái cũng thua rồi.

Đến vòng thứ tư, người kia đột nhiên quay lại, hai tay đẩy ra, ném Tĩnh Hư về phía Diệt Tuyệt sư thái. Diệt Tuyệt sư thái thấy cuồng phong tạt vào mặt, lực ném kia cực mạnh, vội ngưng khí vào hai chân, sử dụng công phu Thiên cân trụy nhẹ nhàng đón lấy Tĩnh Hư.

Gã kia cười ha hả, nói:

– Sáu đại môn phái vây đánh đỉnh Quang Minh, chỉ e chẳng dễ đâu.

Nói xong gã chạy thẳng về hướng đông bắc. Lúc y để Diệt Tuyệt sư thái đuổi bắt trên cát, không một vẩn bụi bốc lên; còn lúc này cát vàng bay lên mù mịt thành một luồng dài cuồn cuộn, chẳng khác gì con rồng vàng dài mấy chục trượng, lập tức che khuất thân hình gã.

Các đệ tử phái Nga Mi đổ xô lại bên sư phụ, chỉ thấy Diệt Tuyệt sư thái tái mặt, không thốt một lời. Tô Mộng Thanh đột nhiên kêu thất thanh:

– Tĩnh Hư sư tỷ..

Chỉ thấy Tĩnh Hư mặt vàng như nghệ, yết hầu có một vết thương, máu thịt bầy nhầy, trông rõ vết răng, rõ ràng đã bị quái khách cắn chết. Các đệ tử phái Nga Mi cùng khóc òa lên.

Diệt Tuyệt sư thái quát lớn:

– Khóc cái gì? Chôn nó đi!

Mọi người nín bặt, đem thi thể Tĩnh Hư đi chôn, đắp thành mộ phần.

Tĩnh Huyền cúi mình, nói:

– Sư phụ, yêu nhân đó là ai, chúng con cần ghi nhớ trong lòng, sau này có dịp sẽ báo thù cho sư muội.

Diệt Tuyệt sư thái lạnh lùng nói:

– Tên đó cắn họng hút máu người, tàn bạo độc ác, chắc là một trong tứ vương của Ma giáo Thanh Dực Bức Vương. Ta từng nghe đồn khinh công của hắn thiên hạ vô song, quả nhiên danh bất hư truyền, hơn ta rất xa.

Trương Vô Kỵ vốn rất căm ghét Diệt Tuyệt sư thái, nhưng lúc này thấy bà ta gặp cơn đại biến, vẫn không dao động, bình tĩnh như thường, trước mặt mọi người lại khen ngợi địch nhân, tự thẹn mình thua, quả là phong thái của bậc chưởng môn thì chàng không khỏi thán phục trong lòng.

Đinh Mẫn Quân hậm hực nói:

– Hắn không dám động thủ với sư phụ, chỉ biết cắm đầu chạy, sao gọi là anh hùng chứ?

Diệt Tuyệt sư thái hừ một tiếng, đột nhiên "bốp" một cái, đã cho Đinh Mẫn Quân một bạt tai, giận dữ nói:

– Ta không đuổi kịp hắn, không cứu nổi mạng Tĩnh Hư, tức là y thắng rồi. Thắng bại thế nào, cả thiên hạ cùng nhìn thấy, không lẽ anh hùng hảo hán là do tự mình phong cho mình ư?

Đinh Mẫn Quân một bên má hằn đỏ vết ngón tay, cúi mình nói:

– Sư phụ giáo huấn thật đúng, đồ nhi biết lỗi rồi.

Trong bụng lại nghĩ thầm: "Bà thua người ta, bị bẽ mặt, lại đi trút giận sang đầu ta, ta đúng là xúi quẩy!"

Tĩnh Huyền nói:

– Sư phụ, Thanh Dực Bức Vương lai lịch ra sao, xin sư phụ cho biết.

Diệt Tuyệt sư thái xua tay, không trả lời Tĩnh Huyền, tự mình đi trước cả đoàn. Cả bọn thấy đại sư tỷ bị hắt hủi như thế, còn ai dám mở miệng? Tất cả lặng lẽ đi đến gần tối mới dừng chân bên một đồi cát, nhóm lửa nghỉ đêm.

Diệt Tuyệt sư thái nhìn ngọn lửa, ngồi bất động như bức tượng đá.

Các đệ tử thấy sư phụ chưa ngủ nên không ai dám đi ngủ trước, tất cả cũng ngồi ngây hơn một canh giờ. Diệt Tuyệt sư thái đột nhiên đẩy song chưởng, một luồng kình phong ùa ra, "bụp" một tiếng, đống lửa tắt phụt. Mọi người vẫn ngồi im, ánh trăng lạnh lẽo chiếu xuống vai họ.

Trương Vô Kỵ bỗng cảm thấy nỗi thương cảm trào lên trong lòng: "Không lẽ phái Nga Mi uy danh lẫy lừng nay đến Tây Vực lại bị thảm bại, thậm chí không còn ai sống sót trở về?" Lại nghĩ thầm: "Ta không thể không cứu Chu cô nương. Thế nhưng nhân vật Ma giáo lợi hại như vậy, ta có tài nghệ gì để cứu người đây?"

Chỉ nghe Diệt Tuyệt sư thái quát to:

– Dập tắt yêu hỏa, diệt hết ma hỏa!

Dừng một lát, bà ta chậm rãi nói tiếp:

– Ma giáo tôn lửa làm thần thánh. Từ đời giáo chủ thứ ba mươi ba của Ma giáo là Dương Đính Thiên chết đi, họ không có giáo chủ. Tả hữu Quang Minh sứ giả, Tứ đại hộ giáo pháp vương, Ngũ tản nhân, cùng với chưởng kỳ sứ ngũ kỳ Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, người nào cũng nhòm ngó chức vị giáo chủ, tranh giành tàn sát lẫn nhau khiến Ma giáo suy yếu dần. Chính lúc này các môn phái quang minh chính đại lại hưng vượng, âu cũng là cái số Ma giáo phải bị diệt trừ. Nếu như Ma giáo không có tranh chấp bên trong, việc trừ diệt đám yêu nghiệt ấy không dễ chút nào.

Trương Vô Kỵ từ nhỏ đã nghe nói về Ma giáo song mẫu thân chàng có liên quan mật thiết với Ma giáo, nên mỗi khi gặng hỏi, phụ mẫu chàng đều không vui, hỏi nghĩa phụ thì lão cứ ngẩn ngơ xuất thần, sau đó đột nhiên nổi giận, thành thử Ma giáo rốt cuộc là gì, chàng đến giờ cũng không biết rõ. Về sau chàng thấy thái sư phụ Trương Tam Phong đối với Ma giáo vô cùng căm ghét, mỗi lần nhắc đến đều căn dặn nhất thiết không được kết giao với người theo Ma giáo. Thế nhưng sau khi Trương Vô Kỵ gặp những người như Hồ Thanh Ngưu, Vương Nạn Cô, Thường Ngộ Xuân, Từ Đạt, Chu Nguyên Chương, họ đều là người của Ma giáo mà hết thảy đều khẳng khái trượng nghĩa, không hẳn là kẻ ác, chỉ hành động kỳ bí nên người ngoài khó lường mà thôi. Bây giờ thấy Diệt Tuyệt sư thái nói về lai lịch Ma giáo, chàng liền chăm chú lắng nghe.

Diệt Tuyệt sư thái nói:

– Các đời giáo chủ đều lấy "Thánh hỏa lệnh" làm tín vật truyền từ đời này sang đời sau, nhưng đến đời giáo chủ thứ ba mươi mốt, chẳng hiểu trời xui đất khiến thế nào mà "Thánh hỏa lệnh" lại bị mất, nên hai đời thứ ba mươi hai và ba mươi ba, giáo chủ chỉ có quyền mà không có lệnh, chức vị giáo chủ hết sức miễn cưỡng. Dương Đính Thiên chết bất ngờ, không hiểu trúng độc hay bị người hãm hại, không kịp chỉ định người kế thừa. Trong Ma giáo, những tay đại ma đầu đủ bản lĩnh không phải là ít, có đến dăm sáu người đủ tư cách làm giáo chủ nhưng không ai chịu ai, nội bộ thành ra đại loạn. Cho đến giờ họ vẫn chưa tôn định ai làm giáo chủ. Kẻ mà chúng ta gặp hôm nay, cũng là một trong những người muốn làm giáo chủ. Hắn là một trong bốn đại hộ giáo pháp vương, Thanh Dực Bức Vương Vi Nhất Tiếu.

Đám đệ tử chưa hề nghe cái tên Thanh Dực Bức Vương Vi Nhất Tiếu, nên đều im lặng.

Diệt Tuyệt sư thái nói:

– Tên này chưa bao giờ đặt chân tới Trung nguyên, bọn Ma giáo hành sự lại bí hiểm, nên tuy hắn võ công cao cường, song ở Trung nguyên không mấy ai biết tên tuổi. Còn Bạch Mi Ưng Vương Ân Thiên Chính, Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn, hai người đó hẳn các ngươi biết chứ?

Trương Vô Kỵ rung động trong lòng. Thù Nhi khẽ kêu "a" một tiếng.

Ân Thiên Chính và Tạ Tốn danh tiếng lẫy lừng, võ lâm ai chẳng biết. Tĩnh Huyền hỏi:

– Sư phụ, hai người đó cũng là Ma giáo ư?

Diệt Tuyệt sư thái nói:

– Hừ, há chỉ là Ma giáo ư! Có câu "Ma giáo tứ vương Tử, Bạch, Kim, Thanh". Tử Sam Long vương, Bạch Mi Ưng Vương, Kim Mao Sư Vương, Thanh Dực Bức Vương, chính là tứ vương trong Ma giáo. Thanh Dực Bức Vương đứng sau cùng, thân thủ như thế nào, hôm nay các ngươi đều chứng kiến rồi; còn bản lĩnh của Tử Sam, Bạch Mi và Kim Mao cứ suy ra khắc biết. Kim Mao Sư Vương phát điên phát rồ, hai mươi năm trước đột nhiên lạm sát nhiều người vô tội, sau không biết bỏ đi đâu mất tăm, thành một bí mật lớn trong võ lâm. Ân Thiên Chính không được làm giáo chủ Ma giáo nên giận dữ lập ra Thiên Ưng giáo, tự mình làm giáo chủ cho bõ tức. Ta cứ ngỡ Ân Thiên Chính đã quay lưng với Ma giáo, thành ra thế nước lửa với đỉnh Quang Minh, ai ngờ khi đỉnh Quang Minh gặp nguy nan lại chạy đến cầu cứu Thiên Ưng giáo.

Trương Vô Kỵ đầu óc rối bời, chàng vẫn biết nghĩa phụ và ông ngoại thuộc tà phái, không được các nhân sĩ chính phái chấp thuận, nhưng không ngờ cả hai đều là là Hộ giáo pháp vương của Ma giáo. Chàng mải nghĩ nên không nghe các đệ tử phái Nga Mi bàn tán những gì.

Lát sau, lại nghe Diệt Tuyệt sư thái nói tiếp:

– Sáu đại môn phái chúng ta phen này tiến đánh đỉnh Quang Minh, phải quyết thắng, dẫu bọn yêu tà đồng tâm hiệp lực, chúng ta cũng không sợ. Có điều đôi bên giao tranh, tử thương sẽ không ít, các ngươi trước hết phải mang cái tâm quyết tử, không ngại ngần chùn bước, không run sợ, lúc lâm địch không để mất uy phong của phái Nga Mi.

Các đệ tử cùng đứng dậy cúi mình vâng lệnh.

Diệt Tuyệt sư thái nói tiếp:

– Võ công mạnh yếu còn tùy thiên tư cơ duyên, không thể gượng ép. Như Tĩnh Hư một chiêu chưa đánh đã trúng ám toán, bị chết trong tay tên ác ma hút máu kia, nhưng ai dám chê cười Tĩnh Hư? Chúng ta lâu nay học võ cốt để làm gì? Chẳng phải là để chống kẻ mạnh, giúp kẻ yếu, trừ diệt yêu tà hay sao? Hôm nay Tĩnh Hư là người đầu tiên bỏ mạng, không chừng người thứ hai sẽ là sư phụ các ngươi. Sáu môn phái Thiếu Lâm, Võ Đang, Nga Mi, Côn Luân, Không Động, Hoa Sơn phen này vây đánh Ma giáo cát hung họa phúc thế nào, phái Nga Mi chúng ta từ sớm đã gạt qua một bên..

Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: "Phái Võ Đang ta quả nhiên có trong đó". Chàng lờ mờ có linh tính rằng chuyến tây du này hẳn sẽ gặp nhiều thảm cảnh mắt không nỡ nhìn, tai không nỡ nghe, thật chỉ muốn đem Thù Nhi bỏ trốn để vĩnh viễn tránh cái cảnh hung sát trên giang hồ.

Diệt Tuyệt sư thái nói tiếp:

– Tục ngữ có câu: "Nghìn quan tài qua cửa, nhà đó hẳn gặp thời. Con còn, cha mất trước; cháu sống, ông đi rồi". Đời có ai không chết? Chỉ cần để lại huyết thống con cháu, dù nhà đó có chết trăm người, ngàn người, vẫn cứ được coi là nhà hưng vượng. Sợ nhất là các ngươi đều chết cả, chỉ còn một mình lão ni sống cô độc trên đời.

Bà ta ngừng giây lát, rồi nói tiếp:

– Hà hà, mà dẫu có như thế thì cũng chẳng có gì đáng tiếc. Một trăm năm trước đâu đã có phái Nga Mi? Chỉ cần tất cả chúng ta tử chiến một phen cho thật oanh liệt, dẫu phái Nga Mi có bị tiêu diệt sạch một lần, thì cũng đã sao?

Đệ tử ai nấy nhiệt huyết bừng bừng, rút binh khí ra, lớn tiếng nói:

– Đệ tử quyết tử chiến, không đội trời chung với bọn yêu ma tà đạo.

Diệt Tuyệt sư thái cười nhạt, nói:

– Tốt lắm, các ngươi ngồi xuống đi!

Trương Vô Kỵ thấy phần lớn phái Nga Mi là nữ nhân yếu đuối, nhưng hào khí anh phong quyết tử vừa biểu lộ lại chẳng kém giới mày râu chút nào; chàng nghĩ thầm phái Nga Mi được xếp vào hàng sáu đại môn phái, không phải là chuyện ngẫu nhiên, chẳng những võ công cao cường, mà nhìn khí thế trước mắt, họ có chí khí y như Kinh Kha năm xưa hành thích Tần Thủy Hoàng "Phong tiêu tiêu hề Dịch thủy hàn. Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn" [69]

Mấy câu này lẽ ra nên nói trước lúc xuất quân, nhưng khi đó cứ ngỡ Ma giáo đang có nội loạn, ra tay là trừ diệt dễ dàng; ai ngờ trong thế đổ vỡ ly tán như thế, quần ma lại liên thủ với nhau chống ngoại địch. Hôm nay Thanh Dực Bức Vương vừa ra tay, cục diện xem ra đã khác hẳn dự liệu.

Quả nhiên Diệt Tuyệt sư thái nói tiếp:

– Thanh Dực Bức Vương đã xuất hiện, Bạch Mi Ưng Vương và Kim Mao Sư Vương chắc cũng đến. Tử Sam Long Vương, Ngũ tản nhân cùng năm đại chưởng kỳ sứ ắt cũng sẽ tới. Chúng ta vốn dự tính dồn lực lượng sáu môn phái trước hết trừ diệt Quang Minh tả sứ Dương Tiêu, sau đó lần lượt quét sạch từng dư nghiệt yêu ma còn lại, nào ngờ Thần Cơ tiên sinh Tiên Vu Thông, chưởng môn phái Hoa Sơn, lần này liệu sự không đúng, hừ, sai hết cả rồi.

Tĩnh Huyền hỏi:

– Tử Sam Long Vương là đại ma đầu độc ác cỡ nào?

Diệt Tuyệt sư thái lắc đầu:

– Tử Sam Long Vương tàn ác thế nào, ta cũng không rõ, chỉ mới nghe danh thôi. Nghe đâu tên này tranh ngôi giáo chủ không xong nên đã lánh ra hải ngoại, không lai vãng với Ma giáo nữa. Phen này nếu hắn đứng ngoài, không can dự, vậy thật là hay. "Ma giáo tứ vương, Tử, Bạch, Kim, Thanh", hắn là kẻ đứng đầu trong bốn hộ pháp, khỏi nói cũng biết hắn lợi hại cỡ nào. Quang Minh sứ giả trong Ma giáo, ngoài Dương Tiêu còn một người nữa. Ma giáo đời đời tương truyền, Quang Minh sứ giả phải có một tả một hữu, địa vị còn cao hơn cả tứ đại hộ giáo pháp vương. Dương Tiêu là Quang Minh tả sứ, còn tên tuổi của Quang Minh hữu sứ là gì, trong võ lâm không ai biết. Không Trí đại sư phái Thiếu Lâm, Tống Viễn Kiều Tống đại hiệp phái Võ Đang đều là những người kiến văn quảng bác, song hai vị đó cũng không biết. Chúng ta đối địch chính diện với Dương Tiêu, đôi bên công khai giao chiến, thắng bại đều do võ công quyết định, cái đó không sao, nhưng nếu như Quang Minh hữu sứ ngấm ngầm ám toán, thì đó là điều đáng lo nhất.

Các đệ tử thầm sợ hãi, bất giác đều quay nhìn về phía sau, tựa hồ Quang Minh hữu sứ hoặc Tử Sam Long Vương đã tới đâu đây đánh lén không chừng. Ánh trăng lạnh lẽo chiếu xuống những khuôn mặt trắng bệch.

Diệt Tuyệt sư thái lạnh lùng nói tiếp:

– Dương Tiêu đã hại chết sư bá các ngươi là Cô Hồng Tử, lại hại chết Kỷ Hiểu Phù. Vi Nhất Tiếu thì giết mất Tĩnh Hư; phái Nga Mi có mối thù không đội trời chung với Ma giáo. Bản phái từ khi Quách Tương tổ sư sáng lập tới giờ, địa vị chưởng môn đều do nữ nhân đảm nhiệm. Đừng nói nam giới không có phần, mà ngay nữ nhân đã xuất giá cũng không được giữ chức chưởng môn. Nhưng nay bản phái lâm vào thế tồn vong, đâu nhất thiết khư khư giữ cái lệ cũ? Phen này ai lập đại công, bất kể là nam hay nữ, sẽ được tiếp nhận y bát của ta.

Đám đệ tử im lặng cúi đầu, biết rằng sư phụ trịnh trọng sắp đặt hậu sự, nhắc đến việc truyền nhân của môn hộ, tựa hồ tự biết sẽ không thể sống mà trở về Trung thổ, ai nấy cảm thấy có vài phần chẳng lành nên đều buồn bã.

Diệt Tuyệt sư thái bỗng cười ha hả một tràng dài, tiếng ha ha truyền đi thật xa trong sa mạc. Các đệ tử ngạc nhiên, thầm kinh hãi.

Diệt Tuyệt sư thái phẩy tay áo một cái, nói lớn:

– Tất cả đi ngủ!

Tĩnh Huyền cũng như mọi bữa, cắt cử người canh gác. Diệt Tuyệt sư thái nói:

– Không cần canh gác nữa!

Tĩnh Huyền ngạc nhiên, nhưng hiểu ngay, nếu các đệ nhất cao thủ như Thanh Dực Bức Vương ban đêm tới tập kích, chúng đệ tử làm sao phát giác nổi? Canh gác cũng bằng thừa.

Đêm đó phái Nga Mi phòng bị trong ngoài thật cẩn mật, nhưng không có chuyện gì xảy ra.

Comments

0 comments

Trước Tiếp
 
Từ khóa: Sửa

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back