3 ❤︎ Bài viết: 5 Tìm chủ đề
Đọc: 1,779 Tìm: 2
Tác phẩm "Sang thu" là một tác phẩm quá đỗi quen thuộc với các thế hệ học sinh của chương trình SGK cũ, và hiện nay, "Sang thu" lại xuất hiện trong SGK Ngữ Văn 7 Tập 1 của nhà xuất bản Chân trời sáng tạo. Để bộc bạch lòng yêu thích của không chỉ riêng tôi mà còn đặc biệt nhiều độc giả đối với đứa con tinh thần của Hữu Thỉnh, và sự mong muốn được chia sẻ, cung cấp kiến thức cho các bạn học sinh của chương trình học SGK mới, bài viết này ra đời.

Phân tích tác phẩm Sang thu - Hữu Thỉnh​


Nhà phê bình Chu Văn Sơn cho rằng:

"Câu thơ hay là câu thơ có khả năng đánh thức bao ấn tượng vốn ngủ quên trong ký ức của con người."

Muốn viết được tựa như nhà phê bình ấy đã nhận định, anh phải bật tung cửa phòng để nhìn ngắm thế giới như một vị họa sĩ đang ước lệ vẻ đẹp của cuộc sống, anh phải nhắm mắt, nghiêng tai lắng nghe những chuyển động tế vi của đất trời như một nhà soạn nhạc tài ba đang góp nhặt thanh âm của trần thế, hòa mình vào dòng đời, vào thế thời. Và Hữu Thỉnh đã thực thi trọn vẹn những công đoạn ấy, để rồi một "Sang Thu" ra đời, nhẹ nhàng mà tha thiết, đọng lại dư ba trong tâm người thưởng thơ.

Đôi lời về tác già Hữu Thỉnh, ông sinh năm 1942, tại huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc. Ông nguyên là bộ đội xe tăng thuộc Trung đoàn 202, tham gia nhiều trận đánh ác liệt tại các chiến trường miền Nam thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Về sự nghiệp văn học của mình, ông làm thơ từ nhỏ, lớn lên vẫn duy trì việc làm thơ, còn viết nhiều bút kí văn học và báo. Tài năng của thi nhân thể hiện ở sức khái quát và gợi nghĩ của ngôn từ. Hơn cả, mỗi tác phẩm của ông là một sự chiêm nghiệm, chặt chẽ, hàm súc, gợi mở và luôn nhất quán về hình tượng, luôn đậm màu triết luận.

Mở đầu tác phẩm, Hữu Tỉnh miêu tả những tín hiệu giao mùa giữa hạ và thu nơi vùng quê Bắc Bộ:

"Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se

Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về"​

Từ "bỗng" được đảo lên đầu câu, cùng với cách viết khuyết chủ ngữ, người hình dung được không chỉ nhà thơ, mà là cả những người dân vùng quê nơi đây đột ngột, ngạc nhiên cảm nhận được "hương ổi" - sự kiện đánh thức thu tới. Tín hiệu đầu tiên để nhận ra mùa thu lại chính là hương ổi- hương thơm của loại quả mộc mạc mà lại giản dị, thân quen của trời thu phương Bắc. Thu đến trong thơ Hữu Thỉnh một cách rất riêng, không phải là làn nước trong xanh, mùi hoa thiên lí nhẹ nhàng với Nguyễn Bính:

"Thăm thẳm trời xanh lộng đáy hồ,

Mùi hoa thiên lý thoảng chiều thu"

Chiều thu - Nguyễn Bính

Hay với Xuân Diệu, thu tới với:

"Đây mùa thu tới, đây mùa thu tới

Đây áo mơ phai dệt lá vàng"

Đây mùa thu tới - Xuân Diệu

Thu là hương ổi chín nơi quê nhà mộc mạc, ấm nồng gợi lại kí ức tuổi thơ của những ngày xưa cũ mà ta chẳng thể quay về. Chính tác giả cũng từng tâm sự: "Giữa đất trời mênh mang, giữa cái khoảng khắc giao mùa kì lạ thì điều khiến cho tâm hồn lay động phải giật mình nhận ra đó chính là mùi hương ổi.. Nó giống như mùi bờ bãi, mùi non trẻ.. Hương ổi tự nó xộc thẳng vào miền thơ ấu thân thiết trong tâm hồn chúng ta". Thứ hương ấy không "bay", không "quyện" mà "phả", là xộc thẳng vào khứu giác. Hữu Thỉnh đã dử dụng từ ngữ gợi tả rất đắt, chỉ một từ vậy thôi cũng đủ gợi hương thơm như đang đặc sánh lại, ngào ngạt và đậm đặc thành luồng trong gió, được "làn gió se" - tín hiệu thứ hai báo hiệu thu đến nơi đất bắc, đưa hương đi khắp ngõ ngách của làng quê. Dư vị của hương ổi kia, cảm giác hơi lạnh tưởng tượng như đang mơn trớn trên da neo đậu lại trong tâm trí người đọc một ấn tượng khó phai.

"Sương" được nhân hóa qua từ "chùng chình" đầy sinh động, giống như một con người đang níu lại, chập chừng và lưu luyến, vẫn còn muốn tận hưởng những tín hiệu báo thu về thêm nữa. Đồng thời, con người cũng vậy, nhà thơ cũng vậy, cũng muốn ngắm nhìn, muốn mở rộng lồng ngực để cảm nhận sâu đậm thu về trên quê hương, bởi Hữu Thỉnh vốn là người con quê hương Bắc Bộ kia mà. Ông đã cảm nhận dấu hiệu của mùa thu bằng tất cả các giác quan và sự tinh tế trong tâm hồn nhạy cảm của một nhà thơ thực thụ. Trong sự ngỡ ngàng, cả khứu giác, xúc giác và thị giác đều đang mách bảo rằng thu đã về mà con người vẫn chưa còn chưa dám tin, chưa dám chắc. Thành phần tình thái "Hình như" tựa sự phỏng đoán đầy nghi hoặc, nửa khẳng định, nửa kia lại hoài nghi, là cái ngạc nhiên, bâng khuâng và xao xuyến của thi sĩ trước khung cảnh giao động của đất trời sang thu, bởi thu như chỉ đang chạm khắc bước tiến đầu tiên, chỉ mới đem chút sự vật thân quen của mình mà giao với hạ oi bức, nên Hữu Thỉnh mới chỉ thấy được "Hình như"

Tiếp đến, khung cảnh giao thoa giữa thu và hạ nơi thiên nhiên đất trời được khắc họa:

"Sông được lúc dềnh dàng

Chim bắt đầu vội vã

Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu."

Tới đây, cái bỡ ngỡ ban đầu đã tan biến đâu mất, nhường lại chỗ cho những rung cảm mãnh liệt của hồn thơ. Bức trang sang thu được miêu tả ở tầm nhìn xa hơn, cao rộng hơn của bầu; dài ra và rộng thêm của dòng sông. Thiên nhiên trong thơ được Hữu Thỉnh tinh tế nhân hóa trở nên vừa có hồn vừa có tình. Dòng sông lúc sang thu không còn cuồn cuộn gấp gáp như ngày hạ mà bỗng trở nên "dềnh dàng", cụm từ "được lúc" mới là vẻ sinh động ở sự vật ấy. Như thể sông cũng tựa con người, những tháng ngày mùa hạ hóa thành cơn bão lũ, giờ đây, về với trời thu, nhiệm vụ của sông đã tạm dừng lại, mới được phút thảnh thơi sau những ngày làm việc vất vả. Nhưng đàn chim lại khác, chúng "vội vã", bởi trời thu đến, nghĩ là dấu hiệu rét đến, buộc phải gấp rút hướng về phía Nam tránh rét. Phải tinh tế biết bao để Hữu Thỉnh nhận ra được cái "được lúc" và cái "dềnh dàng" của thời gian mà tưởng rằng luôn nhịp đều đều không thay đổi. Đại thi hào M. Gorki từng nói: "Thơ là tâm hồn", vậy ắt hẳn hồn nhà thơ phải luôn đong đầy cảm xúc mới có thể cho ra đời những dòng thơ sâu sắc như vậy. Và chọn được hai sự vật đối lập, hai thái cực tương phản biểu trưng cho thu và hạ, Hữu Thỉnh quả là cực khéo, tô đậm bức tranh giao thoa sắc nét. Cứ y như giữa mùa thu và mùa hè vẫn có một lằn ranh làm bằng sợi dây vô hình giăng ra giữa thinh không, khiến đám mây yêu kiều và đỏng đảnh kia có thể vắt nửa mình qua đó mà khoe sắc phô duyên vậy. Thu chỉ đang ở nơi cửa ngõ của mùa, vì vậy đám mây chỉ vừa mới "vắt nửa mình" mà thôi. Từ "vắt" sao mà đậm ý vị, duyên dáng và vô cùng gợi ảnh, gợi hình ảnh đám mây bỗng dịu nhẹ, lả lướt và đẹp đẽ vô cùng. Có lẽ, ta cũng từng bắt gặp một đám mây như vậy trong thơ của Lê Thu An:

"Mây trời một dải trắng pha

Vắt ngang sườn núi chiều thu ngập ngừng"

Mây của Lê Thu An "vắt ngang" sườn núi- là một sự vật hữu hình và ta có thể nhìn, có thể cảm. Thế nhưng đám mây của Hữu Thỉnh lại khác, nó tựa như một dải lụa bồng bềnh vắt nửa mình sang thu. Trên đời này giữa hạ và thu làm gì có một "ranh giới" rạch ròi nào phân cách? Ấy vậy mà Hữu Thỉnh lại vẽ nên ranh giới cho một thứ vô hình như thế. Ông tinh tế dùng hình ảnh của không gian để diễn tả lại sự vận động diệu kỳ của thời gian. Đám mây kia là thật, nhưng ranh giới của mùa là ảo.

Đến với khổ thơ cuối, ta ấn tượng vô vùng với lời thì thầm triết lí đầy sâu sắc:

"Vẫn còn bao nhiêu nắng

Đã vơi dần cơn mưa

Sấm đã bớt bất ngờ

Trên hàng cây đứng tuổi."

Thu đã hiện ra rõ ràng hơn bao giờ hết, vẫn là mưa, là sấm nhưng đã chẳng còn ào ạt, bất ngờ và ồn ã như lúc trước. Chúng lắng lại, chừng mực và ổn định hơn những ngày hạ, không còn dữ dội, cũng chẳng còn gay gắt, nặng nề. Nắng "vẫn còn", tức là đã giảm; mưa "vơi dần" rõ là giảm; sấm "bớt bất ngờ" càng giảm. Cả ba nghiêng về chiều giảm, nhưng xem chừng, cái vế sau mới là chốt hạ. Ở hai câu thơ cuối không còn đơn thuần chỉ là miêu tả bức tranh mùa thu nữa mà đã trở thành một triết lý sống sâu sắc Hữu Thỉnh ẩn ý đan cài vào bài thơ. Cũng như chính tác giả đã từng tự bạch: "Có thể hiểu, hàng cây đã lớn, đã trải qua bao mùa thay lá sẽ trở nên vững vàng hơn trước những tiếng sấm bất ngờ". Tuy đã sang thu, nhưng lòng vẫn còn bao nhiêu nắng. Đồng thời, bao tủi sầu yếu đuối, bao cơn mưa thở than nay cũng đã vơi dần. Bước sang thu, hàng cây trẻ hồi nào giờ đã đứng tuổi. Sự từng trải đã giúp cây trưởng thành, đủ vững trãi đối đầu với mọi ba động, mọi cú giáng của cuộc đời. Khi càng trưởng thành, càng trải nghiệm nhiều, ta lại càng trở nên bình tâm hơn khi đối mặt với nhưng cơn sấm mà cuộc đời ban tặng, không còn bồng bột như xưa. Đến đây, người đọc như vỡ òa đi khi nhận ra "sang thu" không chỉ có ở thời gian, ở thiên nhiên mà còn là sự "sang thu" của đời người. Thì ra, mùa thu đâu chỉ có chuyện tiêu sơ. Mùa thu còn là chuyện trưởng thành.

Tác phẩm "Sang thu" có nghệ thuật đặc sắc. Tại sao không phải là "Thu sang" mà là "Sang thu"? Tất cả đều là dụng ý của tác giả cả. Với tiêu đề "sang thu", ta dường như cảm được sự chuyển động của sự vật, mọi thứ như có hồn hơn, sinh động và không bị tĩnh lặng, Hữu Thỉnh khéo léo sử dụng nghệ thuật đảo ngữ. "Sang thu" làm ta có cảm giác như mùa hạ đang chủ động chuyển mình thành một sắc trời mới, dịu dàng, mát mẻ hơn là nàng thu mộc mạc. Đây là một cách làm tuy không mới nhưng rất riêng của Hữu Thỉnh, hữu ý tạo nên sự chiêm nghiệm len lỏi trong lòng độc giả. Tác phẩm cũng xuất phát từ bao nhiêu giác quan cảm nhận, từ cái nhìn và liên tưởng độc đáo của Hữu Thỉnh. Hình ảnh thú vị đám mây mùa hạ "vắt nửa mình sang thu" khiến người đọc liên tưởng đám mây kia không phải vật vô tri vô giác mà bỗng trở nên có hồn, có cảm xúc.

Tựu trung lại, những tín hiệu và khung cảnh giao thoa giữa hạ và thu, lời thì thầm triết lí sâu sắc qua "Sang thu' của Hữu Thỉnh luôn làm độc giả yêu mến và lưu luyến. Không chỉ có thế, bài học về tình yêu thiên nhiên quê hương, đất nước, và sự ca ngợi con người từng trải, lẽ sống kinh nghiệm đã làm nên một" Sang thu' độc và riêng hơn bao giờ hết.

Đọc bài thơ:

 
Last edited by a moderator:
1,684 ❤︎ Bài viết: 2217 Tìm chủ đề

Phân tích bài thơ "Sang thu" của Hữu Thỉnh


Có những bước chuyển của thiên nhiên diễn ra trong tiếng sấm, trong những cơn mưa bất chợt, trong sắc trời đổi khác. Nhưng cũng có những chuyển mình chỉ đủ sức đánh thức một giác quan rất tinh tế của con người. Mùa thu của Hữu Thỉnh đến như thế: Không gõ cửa, không cất tiếng, chỉ gửi vào gió một chút hương ổi, để lại bên ngõ một màn sương dùng dằng và đặt lên bầu trời một đám mây còn vương nửa hạ. Đọc "Sang thu", người ta không chỉ bắt gặp một mùa thu đang tới, mà còn bắt gặp một tâm hồn đang lắng lại trước bước đi của thời gian.

Câu thơ đầu tiên:

"Bỗng nhận ra hương ổi"

Gợi ra một khoảnh khắc nhận thức đặc biệt. Hai chữ "bỗng nhận ra" không đơn thuần là phát hiện một mùi hương. Đó là giây phút con người đang sống giữa thiên nhiên quen thuộc nhưng bất chợt nhận thấy thời gian đã âm thầm đổi khác. "Hương ổi" là một tín hiệu rất riêng của mùa thu miền quê Bắc Bộ. Nhà thơ không tìm đến những hình ảnh mang tính ước lệ mà lựa chọn một thứ hương thơm dân dã, gần gũi với đời sống. Bởi vậy, mùa thu trong thơ Hữu Thỉnh không ở đâu xa, nó ở ngay trong khu vườn, trong con ngõ, trong miền ký ức của mỗi người.

Nếu "hương ổi" đánh thức khứu giác thì "gió se" lại đánh thức xúc giác:

"Phả vào trong gió se"

Từ "phả" tạo cảm giác hương thơm như có sức lan tỏa mạnh mẽ. Nó không còn là một mùi hương mơ hồ mà đã trở thành dấu hiệu đủ rõ để con người nhận ra sự chuyển mùa. Trong "gió se" đã có cái lạnh đầu thu, nhưng cái lạnh ấy chưa đủ sâu để xóa đi hoàn toàn hơi ấm của mùa hạ. Bởi thế, hai câu thơ đã tạo nên một không gian vừa thân thuộc vừa mới mẻ.

Và rồi:

"Sương chùng chình qua ngõ"

Một từ láy đã làm thay đổi cả trạng thái của cảnh vật. "Chùng chình" khiến màn sương như có tâm trạng, có bước đi và có cả sự lưu luyến. Sương không vội vàng tràn xuống mà cứ thong thả đi qua ngõ. Hữu Thỉnh đã nhìn thấy tâm hồn của thiên nhiên trong chính khoảnh khắc giao mùa.

Bởi thế, câu thơ:

"Hình như thu đã về"

Mang theo một dư âm rất đặc biệt. "Hình như" vừa là sự ngỡ ngàng, vừa là sự bâng khuâng. Mùa thu chưa hiện ra hoàn toàn, nhưng đã đủ để con người nhận biết bằng những tín hiệu rất khẽ. Chính sự chưa hoàn toàn xác định ấy làm nên cái duyên riêng của khoảnh khắc sang mùa.

Từ một con ngõ nhỏ, tầm nhìn của nhà thơ mở rộng ra không gian:

"Sông được lúc dềnh dàng

Chim bắt đầu vội vã"


Nhịp vận động của thiên nhiên hiện lên trong hai trạng thái đối lập. Dòng sông "dềnh dàng" như đang thả mình vào sự thư thái, trong khi đàn chim "vội vã" lại chuẩn bị cho một hành trình mới. Một bên chậm lại, một bên nhanh hơn. Một bên dường như lưu luyến, một bên dường như đã sẵn sàng lên đường. Thiên nhiên đang chuyển mùa nhưng không chuyển động theo một nhịp điệu đơn nhất.

Đặc biệt, Hữu Thỉnh đã tạo nên một liên tưởng đầy bất ngờ:

"Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu"


Đây có thể xem là hình ảnh đẹp nhất trong bài thơ. Đám mây vốn chỉ là một hiện tượng thiên nhiên vô hình, nhưng dưới cái nhìn của thi sĩ lại trở nên hữu hình như một dải lụa đang vắt qua bầu trời. Động từ "vắt" chứa đựng cả hình dáng, đường nét và trạng thái. Còn "nửa mình" lại khiến đám mây mang dáng dấp của một con người đang đứng giữa hai miền thời gian.

Đám mây ấy cũng chính là biểu tượng cho khoảnh khắc giao mùa: Hạ chưa hoàn toàn rời đi, thu chưa hoàn toàn tới. Cái cũ và cái mới cùng hiện hữu. Có lẽ mọi sự chuyển tiếp trong cuộc đời cũng đều như thế. Con người không thể lập tức bỏ lại quá khứ để bước sang tương lai. Giữa hôm qua và hôm nay luôn có một khoảng lặng để ta mang theo những gì đã từng thuộc về mình.

Nếu hai khổ thơ đầu thiên về cảm nhận vẻ đẹp của cảnh vật thì khổ thơ cuối lại đưa bài thơ tới một chiều sâu khác:

"Vẫn còn bao nhiêu nắng

Đã vơi dần cơn mưa"


Những dấu hiệu của mùa hạ vẫn tồn tại nhưng cường độ đã giảm. "Vẫn còn" đối lập với "đã vơi dần" cho thấy sự thay đổi đang diễn ra trong thế cân bằng. Không có sự chia cắt tuyệt đối giữa hai mùa. Hạ không biến mất trong một khoảnh khắc mà nhạt dần để thu có thể hiện diện.

Đến câu thơ:

"Sấm cũng bớt bất ngờ

Trên hàng cây đứng tuổi."


Bài thơ bất ngờ chuyển từ tả cảnh sang suy ngẫm. "Sấm" không còn chỉ là âm thanh của thiên nhiên. Nó có thể được hiểu như biểu tượng cho những biến cố, những bất ngờ mà cuộc sống đem đến. "Hàng cây đứng tuổi" không chỉ là những thân cây đã nhiều năm tháng mà còn gợi liên tưởng đến những con người đã đi qua nhiều trải nghiệm.

Khi còn trẻ, một cơn "sấm" của cuộc đời có thể khiến ta chao đảo. Nhưng khi đã đủ từng trải, ta hiểu rằng sau mỗi cơn mưa đều sẽ có một khoảng trời khác. Vì thế, điều thay đổi không nhất thiết là cuộc đời, mà là chính bản lĩnh của con người trước cuộc đời.

Có thể nói, "Sang thu" là bài thơ về thiên nhiên nhưng không dừng ở thiên nhiên. Qua bước chuyển của đất trời, Hữu Thỉnh đã nói đến bước chuyển trong tâm hồn con người. Đó là quá trình từ vô tư đến từng trải, từ bất ngờ đến bình thản, từ nhạy cảm với biến động đến khả năng đứng vững trước biến động.

Thành công của bài thơ còn nằm ở nghệ thuật sử dụng từ ngữ. Những từ láy "chùng chình", "dềnh dàng", "vội vã" không chỉ gợi hình mà còn tạo nhịp điệu riêng cho cảnh vật. Cách nhân hóa, liên tưởng và lựa chọn những hình ảnh gần gũi giúp bài thơ có vẻ đẹp tự nhiên mà tinh tế. Thể thơ năm chữ với những câu thơ ngắn tạo cảm giác nhẹ nhàng, phù hợp với bước đi chậm rãi của mùa thu.

"Sang thu" khép lại nhưng dư âm vẫn còn ở hình ảnh "hàng cây đứng tuổi". Đó không chỉ là hình ảnh của thiên nhiên mà còn giống như một lời nhắc nhở dành cho con người: Cuộc đời không thể tránh khỏi những tiếng sấm, nhưng thời gian và trải nghiệm có thể giúp chúng ta trưởng thành hơn. Và có lẽ, vẻ đẹp nhất của một con người không phải là chưa từng gặp giông bão, mà là sau những giông bão ấy, họ vẫn có thể bình thản đứng giữa cuộc đời.

"Sang thu" – Một bước chuyển của đất trời, một bước trưởng thành của tâm hồn​


Thời gian vốn vô hình nhưng thơ ca có thể khiến con người nhìn thấy bước đi của nó. Một chiếc lá rơi, một làn gió đổi hướng, một buổi chiều ngắn lại cũng có thể trở thành dấu hiệu của thời gian. Với Hữu Thỉnh, bước chuyển từ hạ sang thu được cảm nhận bằng những điều rất nhỏ bé. Nhưng càng nhỏ bé, nó càng đòi hỏi một tâm hồn biết lắng nghe. "Sang thu" vì thế không chỉ là bài thơ về thiên nhiên mà còn là bài thơ về sự chuyển biến của nhận thức và tâm thế con người trước cuộc đời.

Mở đầu bài thơ là một phát hiện đầy bất ngờ:

"Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se"


Điểm đặc biệt nằm ở cách nhà thơ nhận diện mùa thu. Thu không được báo hiệu bằng lá vàng, trời xanh hay những cơn gió lạnh rõ rệt mà bằng "hương ổi". Đây là một chi tiết rất đời thường, gắn với không gian làng quê. Chính sự bình dị ấy làm nên sức sống của bài thơ. Nhà thơ không đứng ngoài thiên nhiên để quan sát mà sống trong thiên nhiên, dùng mọi giác quan để đón nhận nó.

Chữ "bỗng" cũng đáng chú ý. Nó tạo nên một khoảnh khắc đột ngột của cảm giác. Thời gian đã âm thầm trôi nhưng con người chỉ đến một giây phút nào đó mới nhận ra. Phải chăng trong cuộc sống, cũng có những thay đổi diễn ra từng ngày nhưng chỉ khi nhìn lại, ta mới giật mình nhận thấy mình đã khác?

Mùi hương ấy:

"Phả vào trong gió se"

Làm cho mùa thu dường như có thể chạm tới được. "Gió se" mới chỉ là cái lạnh nhẹ đầu mùa, chưa đủ để gọi là rét. Chính độ "se" ấy làm nổi bật tính chất chuyển tiếp của không gian. Hạ chưa hết, thu chưa trọn; thiên nhiên đang ở giữa một sự thay đổi.

Hình ảnh tiếp theo tiếp tục nhấn mạnh trạng thái đó:

"Sương chùng chình qua ngõ"

Từ "chùng chình" khiến thời gian dường như có hình dáng. Màn sương hiện ra không chỉ bằng thị giác mà còn bằng một nhịp điệu chậm. Nó dường như đang dùng dằng giữa đi và ở. Thiên nhiên ở đây không còn vô tri mà đã mang tâm trạng.

Bởi vậy:

"Hình như thu đã về"

Là một câu thơ có vẻ đơn giản nhưng chứa đựng rất nhiều cảm xúc. "Hình như" chính là tâm trạng của con người trước một sự chuyển biến chưa thể gọi tên hoàn toàn. Đó là sự ngỡ ngàng trước một điều vừa thân quen vừa mới mẻ.

Sang khổ thơ thứ hai, Hữu Thỉnh không còn đứng ở một điểm quan sát nhỏ hẹp. Không gian được mở rộng:

"Sông được lúc dềnh dàng

Chim bắt đầu vội vã"


Dòng sông "dềnh dàng" và đàn chim "vội vã" là hai trạng thái đối lập. Nhưng sự đối lập ấy lại tạo thành một chỉnh thể hài hòa. Thiên nhiên bước vào thu không theo một nhịp duy nhất. Mỗi sự vật đang tìm cho mình một cách thích nghi với sự thay đổi.

Ở đây, "sang thu" không chỉ là trạng thái của thiên nhiên mà còn gợi đến một quy luật phổ quát: Mọi sự trưởng thành đều là quá trình thích nghi với những thay đổi.

Đỉnh cao của khổ thơ là:

"Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu"


Câu thơ có vẻ đẹp tạo hình đặc biệt. "Vắt" là một động từ mạnh nhưng mềm mại; "nửa mình" lại đem đến cảm giác nhân hóa đầy gợi cảm. Đám mây như một sinh thể đang nằm giữa hai mùa.

Nếu đọc sâu hơn, ta có thể xem đây là hình ảnh biểu tượng cho con người trong những bước ngoặt của cuộc đời. Có những lúc ta đã bước sang một chặng đường mới nhưng vẫn mang theo một phần ký ức cũ. Không ai có thể hoàn toàn cắt đứt quá khứ để sống trong hiện tại. Trưởng thành không phải là phủ nhận những gì đã qua, mà là biết mang nó theo một cách bình thản hơn.

Đến khổ thơ cuối, sự chuyển mùa được biểu hiện rõ hơn:

"Vẫn còn bao nhiêu nắng

Đã vơi dần cơn mưa"


Nhà thơ không dùng những từ ngữ tuyệt đối. Nắng "vẫn còn", mưa "đã vơi". Mọi thứ đều đang ở trạng thái giảm dần, chuyển dần. Đó là quy luật của thời gian: Không điều gì biến mất ngay lập tức, cũng không điều gì xuất hiện hoàn toàn trong một khoảnh khắc.

Nhưng hai câu cuối mới là nơi bài thơ mở ra chiều sâu triết lý:

"Sấm cũng bớt bất ngờ

Trên hàng cây đứng tuổi."


Ở tầng nghĩa tả thực, thu sang khiến những cơn giông thưa dần. Nhưng ở tầng nghĩa biểu tượng, "sấm" có thể gợi những biến cố bất ngờ của cuộc đời. "Hàng cây đứng tuổi" vì vậy có thể được nhìn như hình ảnh con người sau nhiều trải nghiệm.

Một người từng trải không phải người chưa từng gặp giông bão. Họ là người đã trải qua đủ nhiều giông bão để hiểu rằng không phải tiếng sấm nào cũng đáng sợ.

Điều đáng quý ở Hữu Thỉnh là ông không nói trực tiếp về triết lý sống. Ông để thiên nhiên tự nói thay con người. Đây chính là sức hấp dẫn của thơ: Một hình ảnh có thể mở ra nhiều tầng nghĩa mà không cần lời giảng giải.

Tựa đề "Sang thu" cũng vì thế mang ý nghĩa lớn hơn một sự chuyển mùa. "Sang" là bước qua, bước từ trạng thái này sang trạng thái khác. Nhưng bước qua không có nghĩa là phủ nhận. Nó là sự tiếp nối. Hạ đi vào thu, quá khứ đi vào hiện tại, tuổi trẻ đi vào trưởng thành.

Nhìn từ đó, bài thơ giống như một bản nhạc nhẹ về quy luật của đời người. Con người rồi sẽ lớn lên, rồi sẽ trải qua những đổi thay, rồi sẽ có lúc nhận ra mình không còn phản ứng trước cuộc sống như ngày trước. Những thứ từng khiến ta đau đớn, hoang mang hay bất ngờ có thể một ngày trở thành những điều ta bình thản đón nhận.

"Sang thu" đẹp bởi nó nói về những thay đổi rất nhỏ nhưng lại gợi lên những suy nghĩ rất lớn. Hữu Thỉnh đã bắt đầu bằng một mùi hương của quê nhà và kết thúc bằng sự từng trải của con người. Từ thiên nhiên đến tâm hồn, từ khoảnh khắc sang mùa đến hành trình trưởng thành, bài thơ để lại một thông điệp nhẹ nhàng mà sâu sắc: Thời gian có thể làm thay đổi cảnh vật, nhưng điều đáng quý nhất là nó cũng giúp con người trở nên vững vàng hơn.

Phân tích "Sang thu" của Hữu Thỉnh – Khi mùa thu bước vào lòng người​


Có lẽ mùa thu không bao giờ bước vào đời sống bằng một tiếng động lớn. Nó thường đến bằng một khoảng trời dịu lại, một làn gió mỏng hơn, một mùi hương bất chợt đi ngang qua ký ức. Và đôi khi, chỉ đến khi ta thật sự chậm lại, ta mới nhận ra mùa đã sang. Hữu Thỉnh đã bắt được chính khoảnh khắc rất mong manh ấy trong "Sang thu" – một bài thơ ngắn nhưng đủ sức khiến người đọc nhìn thiên nhiên bằng một ánh mắt khác và nhìn chính mình bằng một tâm thế khác.

Mùa thu trong thơ Hữu Thỉnh bắt đầu không phải từ đôi mắt mà từ khứu giác:

"Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se"


"Bỗng" là một sự bất ngờ. "Nhận ra" là một sự thức tỉnh. Và "hương ổi" là một tín hiệu thân thuộc đến mức gần như thuộc về ký ức. Chẳng cần đến những hình ảnh cầu kỳ, nhà thơ chỉ đưa vào thơ một mùi hương quê nhà mà cả mùa thu đã hiện ra.

Động từ "phả" khiến hương ổi như chuyển động trong không gian. Nó không đứng yên mà đi cùng gió, len vào cảm giác của người thưởng thức. "Gió se" không lạnh buốt mà chỉ hơi se, đủ để người ta thấy mùa hè đang yếu đi.

Ngay sau đó là:

"Sương chùng chình qua ngõ"

Đây là lúc thiên nhiên dường như có linh hồn. Từ "chùng chình" diễn tả dáng đi thong thả, dùng dằng. Màn sương giống như đang cố tình đi thật chậm. Nó gợi cho người đọc cảm giác thời gian cũng đang bước chậm lại để con người có thể kịp nhận ra một mùa mới.

Vì thế, nhà thơ chỉ khẽ nói:

"Hình như thu đã về"

Không phải "thu đã về", mà là "hình như". Câu thơ có chút ngỡ ngàng, một chút hoài nghi và rất nhiều rung động. Thu chưa hiện ra rõ ràng mà chỉ mới gõ vào tâm hồn bằng những dấu hiệu rất nhỏ.

Từ con ngõ, bức tranh mùa thu mở rộng:

"Sông được lúc dềnh dàng

Chim bắt đầu vội vã"


Dòng sông và cánh chim mang hai nhịp sống đối lập. Dòng sông thư thả, chim chóc lại hối hả. Thiên nhiên vừa có cái chậm, vừa có cái nhanh. Chính sự đối lập ấy cho thấy đất trời đang trong quá trình chuyển động.

Nếu phải chọn một hình ảnh làm linh hồn cho toàn bài, đó có lẽ là:

"Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu"


Một đám mây bỗng trở thành chiếc cầu nối giữa hai mùa. Chữ "vắt" vô cùng gợi hình. Nó khiến đám mây như một dải mềm mại kéo dài trên bầu trời. Nhưng điều thú vị hơn là "nửa mình". Đám mây được nhân hóa, giống như một con người đang tồn tại giữa hai miền.

Đó không chỉ là ranh giới của thiên nhiên mà còn là ranh giới của đời người.

Con người có những lúc phải đứng giữa hai lựa chọn, giữa quá khứ và hiện tại, giữa những điều đã quen thuộc và những điều chưa biết. Một phần muốn ở lại, một phần muốn bước đi. Một phần còn nhớ, một phần đã học cách buông. Đám mây của Hữu Thỉnh vì thế không chỉ đẹp trên bầu trời mà còn đẹp trong những liên tưởng về con người.

Khổ thơ cuối đưa thời gian tiến thêm một bước:

"Vẫn còn bao nhiêu nắng

Đã vơi dần cơn mưa"


Mùa hạ chưa rời khỏi đất trời hoàn toàn. Nó vẫn để lại nắng, để lại mưa. Nhưng tất cả đã dịu hơn. Cái nóng không còn dữ dội, những cơn mưa không còn ào ạt. Thu đang dần khẳng định sự hiện diện của mình.

Và rồi:

"Sấm cũng bớt bất ngờ

Trên hàng cây đứng tuổi."


Nếu chỉ đọc ở tầng nghĩa tả cảnh, câu thơ cho thấy một thực tế của thời tiết. Nhưng thơ hay thường không dừng ở những gì mắt thấy. "Sấm" có thể được hiểu như những biến động bất ngờ của cuộc đời. "Hàng cây đứng tuổi" có thể là những con người đã đi qua nhiều năm tháng.

Càng sống lâu, con người càng hiểu cuộc đời. Chúng ta không còn mong cuộc sống sẽ chẳng bao giờ có mưa gió. Chúng ta chỉ mong mình đủ bình tĩnh khi mưa gió xuất hiện.

Khi còn trẻ, ta thường nghĩ trưởng thành nghĩa là trở nên mạnh mẽ đến mức không biết sợ. Nhưng có lẽ trưởng thành thực sự là khi ta vẫn biết sợ nhưng không còn để nỗi sợ điều khiển mình. Vẫn có những tiếng sấm vang lên, chỉ là trong lòng ta không còn quá nhiều hoảng loạn.

Đó chính là ý nghĩa đẹp nhất của hình ảnh "hàng cây đứng tuổi". Cây càng nhiều tuổi càng có rễ sâu. Con người càng trải qua nhiều biến động càng có khả năng đứng vững. Thời gian không chỉ lấy đi tuổi trẻ; nó còn trao cho con người kinh nghiệm và sự bình thản.

Về nghệ thuật, bài thơ gây ấn tượng bởi thể thơ năm chữ cô đọng, ngôn ngữ tự nhiên, hình ảnh gần gũi và những từ ngữ có sức gợi lớn. Hữu Thỉnh sử dụng rất thành công phép nhân hóa qua "sương chùng chình", cách lựa chọn động từ trong "phả", "vắt", cùng nghệ thuật đối lập trong "dềnh dàng – vội vã". Đặc biệt, hình ảnh đám mây "vắt nửa mình sang thu" vừa giàu tính tạo hình vừa mở ra nhiều tầng liên tưởng.

Điều đáng quý nhất của "Sang thu" là bài thơ không cố nói những điều lớn lao bằng những ngôn từ lớn lao. Hữu Thỉnh đi từ một mùi hương nhỏ bé để nói về thời gian, đi từ một đám mây để nói về những bước chuyển của đời người, đi từ tiếng sấm để nói về sự trưởng thành.

Có lẽ vì thế mà "Sang thu" không chỉ khiến người đọc nhận ra thu đang đến. Nó khiến ta nhận ra một điều khác: Trong dòng thời gian âm thầm trôi, chính chúng ta cũng đang từng ngày "sang" một mùa khác của cuộc đời.

Và đến một ngày, khi ngoảnh lại, có thể ta sẽ hiểu rằng điều đẹp nhất không phải là cuộc đời chưa từng nổi sấm, mà là sau bao mùa mưa nắng, ta vẫn có thể đứng đó, bình thản như một hàng cây đã đứng tuổi.
 

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back