278 ❤︎ Bài viết: 793 Tìm chủ đề
74 0

Tổng Tập Truyện Ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương - Quyển 4

Tác giả: Nguyễn Nhuận Hồng Phương

Người đăng tải: Lê Gia Hoài​


31. Nhà thuyết giáo - Nguyễn Nhuận Hồng​


20260820-150912-8222c0c193.png


1

Thằng Nhai không sống được bao lâu nữa anh ạ. Bệnh tình của cháu vào giai đoạn cuối rồi. Nhận được tin ấy, bố thằng nào còn chút lương tâm mà đừng được. Mặc công việc cuối năm đang bận rộn, hộc tốc gọi xe ôm ra ga. Vừa may cửa bán vé đang mở, hành khách túm tụm. Cố len vào: Làm ơn bán cho tôi một vé lên ga Lão Nhai. Hết! - Tiếng đáp buông thõng. Mặt lữ khách nhăn nhúm, cố nằn nì: Tôi có việc quan trọng, làm ơn.. Cái giọng bên trong vang lên cắt ngang lời lữ khách vẫn cùng một âm hưởng: Cái gì bây giờ không quan trọng? Biết quan trọng sao không ra ga xếp hàng sớm? Cần thì đợi tầu chợ 6 giờ sáng mai!

Mặt lữ khách tũn lại như giun mất nước, tần ngần chưa biết tính sao. Giọng một khách cùng cảnh thầm thào: Cần thì mua đại một vé đến ga nào cũng được. Đã lên tầu rồi ai nỡ đuổi xuống; làm thêm tí "luật lá" nữa là xong. Lời mách nước nghe như diệu kế của Khổng Minh, lữ khách chìa tiền qua cửa tò vò: Còn vé đến ga nào không hả ông? Đầu "ông" non choẹt trong khoang bán vé gật: Ga Vật Trì, tầu gần đến tới đấy thì "làm luật" đi tiếp.

Trèo lên được tầu mừng như bắt được của. Đang mò mẫm tìm ghế, một bóng áo xanh đẫm mầu đường sắt lao tới: Đi đâu? Lữ khách đáp tắp lự: Dạ, đi Lão Nhai.. Nhưng.. - Lão Nhai hả? - Áo xanh ngắt lời, phấy tay- Nhưng nheo gì, còn giường nằm đấy, dùng không? Lữ khách nay đã thành lữ hành, hỏi: Anh là? - Là "xếp tàu"! – "Xếp tàu" đáp rồi ra giá luôn- Chính sách một cửa, thoáng! Ngày thường "hai lít" bữa nay thứ bảy, ngày nghỉ khứa đông, "hữu nghị" người cao tuổi, ưu tiên "ba lít" tầng 3.

Đã "hữu nghị" lại còn "ưu tiên" cơ đấy.. Thoáng một chút ngần ngừ.. Chợt câu thành ngữ "Đêm nằm năm ở" của các cụ hiện về, bật ra biến thành cái gật đầu rất chi là khí khái: Xong béng! Bàn tay "xếp tàu" vãy ngược: Hành quân theo tôi!

Túi vải vắt vai, lữ hành lẽo đẽo theo áo xanh từ toa cuối tới toa đầu thì cập bến. Khoang ngủ chia đôi, mỗi bên ba giường; ánh điện sáng hơn đóm đóm đực, hơi nóng phả ra hầm hập. Đúng như "xếp tàu" nói, còn nhõn tầng 3. Đón lữ hành là một tiếng làu bàu: Nực bỏ cha ra còn cố nhét thêm vào. "Xếp tàu" coi như chưa nghe thấy, giục: Nào, đưa "xiền" đây rồi "phích ca la phoóc". Lữ hành trả tiền không thấy vé, ra câu hỏi: Này, vé đâu? "Xếp tầu" phẩy tay: "Một cửa" rồi, cứ yên tâm ở trên ấy, xuống ga Lão Nhai sẽ có vé ra.

Lữ hành co cẳng đặt chân lên bậu, với tay ném túi đồ lên rồi nhún người vận hết thành công lực vắt người lên thành giường, "xếp tàu" hỗ trợ đưa tay đun mông giúp đỡ; cái thân hình nặng không dưới 70 kg lật nửa vòng hạ xuống tấm phản gỗ vừa đúng một hình người; thoảng mùi hôi của tấm chăn chiên gấp thay gối và hơi nóng của dầu ma dút khét lẹt lùa qua kẽ cửa trên nóc toa, lữ hành bật hỏi: Ơ.. Sao nói có điều hòa? Đáp lại thắc mắc là tiếng cười khùng khục từ 5 chiếc giường vọng ra như giễu cợt. "Xếp tàu" thay tiếng cười giải thích: Điều hòa vừa hỏng, chưa kịp sửa. Nói rồi "xếp tàu" lẩn ra hành lang như một tia chớp không để cho lữ hành nêu câu hỏi tiếp.

Khoảng cách mặt người với gầm nóc toa chừng gang tấc. Lữ hành xoay người nằm nghiêng cho rộng tầm nhìn. Sau lệnh còi lanh lảnh, con tầu hú lên vài nhát ném vào không trung rồi quẫy như đỉa phải vôi, giật đùng đùng như phải bỏng; tiếng toa dồn chạm vào nhau loảng xoảng, bánh tầu nghiến đường ray ken két; ánh đèn hai bên đường lấp loáng như chiếu phim không hình; gió trời lọt qua ô thông gió bị nhiệt lượng của đầu máy nung chảy, biến không khí trong toa thành cái lò tích hơi oi ả, ngột ngạt, nồng nã, hôi mù, tanh tưởi như gió Lào giữa vụ..

Lữ hành cố nhắm mắt tìm quên lãng, nhưng hết sấp lại ngửa, hết nghiêng bên này lại vắt sang bên kia mà không tài nào ngủ nổi; năm nay thời tiết thật lạ, giữa mùa đông rồi mà tiết trời như đang hạ; lữ hành cởi bớt áo ngoài cho đỡ nóng, mồ hôi rịn từng giọt nghe buồn lơi trên da thịt.. Vừa bật lửa châm điếu thuốc, tiếng phản đối như biểu tình: Nóng bỏ cha ra còn hút thuốc.. Điếu thuốc chưa bén duyên lửa, dụi vội. Không còn cách nào, thân thể đành nằm im còn đầu óc của lữ hành suy tư về mục kích chuyến đi..

Thời bao cấp, hai gia đình ở cùng khu tập thể; khác quê nhưng chung vách, sân liền kề; đồng cảnh dễ thân nhau. Thời ấy nào biết sướng, khổ gì đâu, mà có biết, có hiểu cũng chẳng dám kêu. Con người như được lập trình, mọi thứ an bài theo một trật tự nhất định.

Bạn hữu học ít nhưng có tài đá bóng; lang thang ở dưới quê lên tìm việc; trong lúc chờ Ty Lao động xét tuyển, ra sân vận động đá bóng cho hết thời gian; lớ ngớ thế nào được cơ quan giao thông tuyển dụng; vào mùa phong trào thể dục, thể thao làm cầu thủ; hết mùa hiện nguyên hình "phu lục lộ" xe đất, cát, chở đá, sỏi san lấp ổ gà.. Vợ bạn hữu nguyên là đội viên Đội Thanh niên xung phong, sau khi chuyển ngành về Ban Kiến thiết cơ bản của thị xã Lão Nhai, làm phụ hồ cho cánh thợ nề. Một lần đóng vai cổ động viên lên tặng hoa các cầu thủ, tình cờ hai người quen nhau và rồi "chưa tròn năm mẹ đã đầy tháng con". Bởi có truyền thống mau mắn như vậy nên lấy nhau chưa đầy dăm năm vợ chồng bạn hữu đã có ba đứa, nhưng toàn là "vịt trời". Vợ bạn hữu định "cai" nhưng bạn hữu nài vợ: Nhà anh ba đời đã hiếm muộn, nay em không cố đẻ cho anh lấy đứa con trai chắc chi họ nhà anh tuyệt tự. Thương chồng, vợ bạn hữu "cố". May sao đứa thứ tư tòi ra được thằng con trai. Để đánh dấu sự kiện trọng đại ấy, vợ chồng bạn hữu lấy từ cuối của thị xã Lão Nhai đặt tên cho đứa con trai duy nhất nối dõi tông đường ấy.

Tuy đông con, lương bổng có hạn nhưng vợ chồng bạn hữu điển hình về hạnh phúc, sống với nhau không kém thi vị của những áng thơ tình là mấy. Lúc nào trong nhà cũng vui như tết. Nuôi được con gà, con lợn nào chỉ nhăm nhăm bàn giết thịt đãi hàng xóm. Họ tốt và vô tư đến mức ai nấy đều quý mến và tôn trọng. Chả thế nhớ hồi vợ lữ hành đi lao động bên Liên Xô về, phích đá có mỗi chiếc, quý thế, hiếm vậy mà dứt khoát vợ bảo không biếu ai ngoài vợ chồng bạn hữu.

Đùng cái, chiến tranh nổ ra, mỗi gia đình một phương, kẻ xuôi, người ở lại. Tuy xa vậy, nhưng tình thân ái vẫn ngập tràn, thi thoảng lại thư từ hoặc nhờ xe khách đường dài gửi quà cho nhau. Nay đột ngột nghe tin, không hiểu "mô tê mần răng" nhưng không đi không đành.. Mà đi thì vất vả, gian nan thế này đây.. Ý nghĩ miên man, lữ hành thiếp đi lúc nào không biết..

2

Vừa ra khỏi cửa ga, bạn hữu đã chồm tới ôm riết lấy, vừa reo vừa lắc: Ôi, bạn cũ của tôi đây rồi, thế mà tôi cứ sợ bạn không lên. Có thế mới là bạn bè của nhau chứ! - Lữ hành chưa kịp đáp, bạn hữu đã lôi sềnh xệch vào quán phở trước cửa ga- Chuyện gì nói sau, bây giờ ăn đã. Rồi cao giọng gọi chủ quán: Cho đôi bát cuốn sủi đặc biệt kèm theo một be rượu San Lùng nhé! Hôm nay đãi bạn cũ.

Bạn cũ vừa nhâm nhi chén rượu mang hương vị đặc trưng miền sơn cước vừa ngắm bạn hữu: Vóc dáng vẫn cao lớn ủ trong bộ quần áo may theo kiểu ký giả mầu xanh xám, mái tóc lộ từng mảng trắng ngà vì đã lâu chưa nhuộm, đuôi tóc chải miết rẽ hai bên, ép cạnh vành tai theo kiểu gọng kính. Ngoài những nếp nhăn tuổi tác, trên khuôn mặt bạn hữu toát lên vẻ lo âu, quầng mắt thâm, rạn chân chim như người mắc bệnh thiếu ngủ. Bạn cũ ngừng nhai, thăm hỏi: Sức khỏe của anh dạo này thế nào?

Bạn hữu nhún vai: Trước khi thằng Nhai về tôi vẫn khỏe, tuần nào cũng phục vụ được bà xã "đôi nháy". Có điều từ ngày nó được trại giam cho về thì lại sinh ra chuyện. Sao? - Bạn cũ giật mình đánh rơi cả đũa - Thằng Nhai bị kết án 10 năm cơ mà, thế nó được tha trước thời hạn à? Bạn hữu lấy giấy lau đôi đũa khác đưa cho bạn cũ: Đâu có! Tính theo án còn phải ba năm nữa mới được thả, có điều nó bị mắc bệnh "ết" vào giai đoạn cuối. Thể theo chính sách nhân đạo, cán bộ trại giam gọi tôi vào làm giấy cam đoan bảo lãnh cho nó về chết ở nhà.

- Thế bây giờ nó ở nhà hay nằm bệnh viện? - Bạn cũ hỏi. Bạn hữu thở dài đánh "thượt" một cái: Giá được thế thì đã tốt. Khổ cái từ ngày về, thương con, tôi lên núi Hoàng Liên Sơn nhờ Thày mo người dân tộc bắt mạch, thuốc thang rồi cả lễ lạt, cúng cáp trừ ma, trừ tà. Cũng chẳng biết do thuốc thang hay bởi cúng bái, được thời gian, bệnh tật thuyên giảm, nó ăn như hùm, uống rượu như đổ đó; hơn một năm nay béo tốt, khỏe ra, da dẻ hồng hào, bây giờ tấp tửng đòi lấy vợ, anh tính thế có khổ tôi không cơ chứ! Bạn cũ chưng hửng: Thế mà anh điện báo cho tôi là nó sắp chết! Bạn hữu đưa tay nắm lấy tay bạn cũ, lắc lắc: Thà rằng nó chết đi một nhẽ. Đằng nay nó không chết, béo trắng, khỏe ra nhưng lại không chịu quay lại nhà tù để cải tạo, mà lại theo gái trốn qua biên giới mới khổ tôi chứ! Trại giam gửi giấy về địa phương lần này lần thứ ba rồi, tôi khó nghĩ quá nên đành phải phiền anh.

3

Sự "phiền" của bạn hữu là nhờ bạn cũ sang Tầu kinh lí một phen. Nhiệm vụ cụ thể là: Thuyết giáo thằng Nhai ngừng ý định lấy vợ, trở về tiếp tục đi chịu án trong nhà tù. Và, như đã chuẩn bị sẵn, sau khi ăn sáng xong, bạn hữu kéo bạn cũ vào hiệu ảnh, sau10 phút chờ lấy ảnh cộng với nửa giờ làm thủ tục ở Phòng xuất, nhập cảnh, bạn cũ được cấp một cuốn Pát sì po cho phép qua cửa khẩu. Vậy là từ lữ khách chuyển sang lữ hành và bây giờ bạn cũ đóng vai khách du lịch sang nước bạn để làm chân thuyết giáo.

Chiếc xe Tát xi 4 chỗ chở bạn hữu tháp tùng nhà thuyết giáo vượt hơn hai trăm cây số thì đến. Thằng Nhai đi vắng nhưng người yêu của nó có nhà với lý do "đêm làm, ngày ngủ". Gọi là nhà, nhưng thực chất đấy là lán ở dành cho công nhân giao thông làm đường cao tốc. Trên tường dán toàn khẩu hiệu chữ Tầu; cái dán ngang, cái dán dọc, nền đỏ, chữ vàng trông như câu đối ngày tết; mọi thứ đều tuềnh toàng, tạm bợ..

Lấy lý do đi tìm con, bạn hữu thuê xe ôm chở đi để cho nhà thuyết giáo làm nhiệm vụ. Con bé rót nước mời rồi không đợi nhà thuyết giáo gợi chuyện, khoe quê vùng bờ bãi sông Hồng thuộc tỉnh X; vì nhà nghèo, theo người chị họ lên Lão Nhai qua bên kia biên giới "làm, ăn" đã được 5 năm. Nhà thuyết giáo hiểu "làm ăn" của con bé là gì nên tế nhị không khơi sâu mà gợi chuyện: Cháu biết thằng Nhai bị bệnh như thế mà còn yêu nó, không sợ bị lây nhiễm hay sao? Con bé đáp hồn nhiên: Cháu chẳng sợ, đời cháu nát như tương Bần rồi còn gì để mất mà sợ. Nói thật với bác, cháu muốn có với Nhai một đứa con, nhưng mỗi lần "ăn nằm" với nhau, cháu bảo anh ấy không "đi" bao nhưng anh ấy không chịu..

Nghe con bé nói tỉnh bơ, dẻo qoẹo, nhà thuyết giáo đỏ mặt, rùng mình: Nó giữ cho cháu là đúng rồi. Quan hệ bừa bãi thế nhỡ mang bệnh thì khổ.. Dào ơi.. - Con bé bĩu môi, nguýt dài- Nói như bác thì có nhẽ cháu coi anh Nhai không khác gì những thằng đến đây "bóc bánh, trả tiền". Hùng hục, băm bổ cho xong rồi xéo! Nói thật với bác, Nhai thật lòng yêu cháu thì cháu mới thế chứ..

Giọng nhà thuyết giáo hạ thấp xuống một cung: Nhưng Nhai vẫn còn thời gian phải đi cải tạo, cháu biết rồi chứ.. Cháu lạ gì! - Con bé cướp lời nhà thuyết giáo- Vì thế cháu mới muốn có một đứa con với anh ấy để gây dựng lòng tin và chứng minh tình yêu của cháu cho anh ấy biết. Cháu đã bảo với Nhai: Có con rồi, anh cứ đi cải tạo, em sẽ chờ. Nhưng Nhai không tin, chỉ sợ đi rồi cháu sẽ phản bội. Vì vậy anh ấy mới ra điều kiện: Chỉ khi nào gia đình chấp nhận cháu là con dâu thì anh ấy mới trở lại trại giam..

- Thế sao cháu không về Việt Nam tìm công việc khác mà làm có phải tốt hơn không? - Nhà thuyết giáo hỏi. Con bé nhướng mắt tròn xoe nhìn lại: Thế bác tưởng cháu muốn về thì về. Muốn ở thì ở hay sao? – Bác tưởng.. Nhà thuyết giáo chưa nói hết câu con bé phá ra cười: Tưởng Giới Thạch chết từ lâu rồi bác ạ! Chắc bác nghĩ nghề "làm gái" không có luật lá gì phải không? Luật ở đây còn dã man và khắt khe hơn luật lao động ở khu công nghiệp bên nước mình bác nhé. Bác đừng thấy nhà cửa tuềnh toàng vậy mà coi thường. Trông thế thôi, nhưng cứ hễ bước ra khỏi là đã có người theo dõi rồi. Nói thật với bác, hồi mới đến đây, cháu bỏ trốn ba lần rồi, nhưng không thoát. Mà mỗi lần như vậy lại bị phạt tiền, "cày" cả năm không đủ trả nợ.

- Khó khăn, cực nhục như thế sao cháu còn yêu thằng Nhai làm gì- Nhà thuyết giáo trở về với chủ đề chính- Ở đất khách quê người, sống chui, sống nhủi như thế mãi sao được. Con bé đưa tay mân mê khuy áo, vẻ mặt bất ngờ ỉu xìu: Thì "tình yêu là động lực nuôi nấng nguồn hy vọng cho tương lai" mà bác. Cháu nhớ câu ấy cháu đọc được ở một bài báo nào đó không biết có đúng không. Nhưng quả thật, từ ngày gặp Nhai, cháu thấy cuộc đời đáng sống hơn. Vì từ khi lớn đến giờ cháu có biết tình yêu là gì đâu- Mắt con bé bỗng sáng rực- Nói đúng hơn, trước ngày gặp Nhai cháu chỉ biết có tình dục thôi. Đó là lần đầu tiên cháu mất đời con gái cho một thằng người Tầu ở đảo Hải Nam đến "giải đen" vì thua bạc; kế tiếp là đủ các hạng đàn ông; lớn có, bé có; quan chức, công nhân, nông dân.. Các hạng, miễn là họ có tiền. Thoạt đầu cháu còn biết xấu hổ, sau đấy thì kệ..

Con bé dừng một lát rồi nói tiếp: Mãi cho đến khi gặp Nhai, cháu mới biết tình yêu là gì. Nhưng khổ nỗi, cứ mỗi lần cháu "đi khách" về, Nhai buồn lắm, cháu nhìn thấy sự vật vã, đau đớn, ghen hờn, tủi phận trong mắt anh ấy. Nhưng biết làm sao được, nếu không đi làm thì hai đứa sống bằng gì. Rồi ước mơ của cháu nữa chứ; cháu đang cố gắng cóp tiền để trả nợ, mong đến một ngày nào đó thanh lý hợp đồng với Má mì và có một chút vốn nho nhỏ trở về quê sinh sống. Nhưng khó thật bác ạ. Bây giờ cháu còn chút nhan sắc, khách làng chơi còn đến, nhưng vài năm nữa.. Cháu cũng chẳng biết cuộc đời mình thế nào.. Giọng con bé nhỏ dần.. Nhỏ dần như người hụt hơi kèm theo tiếng nấc nghẹn. Nhà thuyết giáo cảm tưởng như con bé đang cố nuốt những vị chua, cay, mặn, chát của cuộc đời đen bạc vào trong..

4

Nhà thuyết giáo mang chuyện nói lại với bạn hữu. Bạn hữu nghe xong có vẻ bùi ngùi về hoàn cảnh thực tại và cảm động vì tình yêu của con bé với con trai mình nhưng trong lòng vẫn còn băn khoăn: Tiền chuộc con bé thì không ngại, nhưng ngại nhất là bà con lối phố, họ biết họ khinh tôi đã có con tù tội rồi lại rước "gái" về làm dâu..

Nhà thuyết giáo lấy tay đặt lên vai bạn hữu xoa xoa, giọng nhẹ nhàng: Trong dân gian có hai câu không bỏ được, nhất là trong hoàn cảnh này. Đó là câu "Lấy đĩ về làm vợ" và câu "Cười một lúc chứ ai cười ba năm". Miễn là thằng Nhai chịu khó cải tạo mau chóng được về; còn vợ nó ở nhà sống tốt, hiếu thảo với cha mẹ; đối xử với bà con láng giềng đúng mực, tôi tin chắc mọi người sẽ có cái nhìn khác đi..

Bạn hữu thở dài đánh thượt một cái: Đành là thế, nhưng nhỡ hai đứa chúng nó lại tòi ra cho vợ chồng tôi một đứa cháu mang bệnh tật thì làm thế nào. "Bỏ thì thương, vương thì tội". Nhà thuyết giáo cầm tay bạn hữu, thủ thỉ: Điều đó thì anh khỏi lo; cứ như con bé nói, thằng Nhai có nghị lực lắm; nó không bừa bãi như bọn mình nghĩ đâu. Mà anh nên nhớ, hiện nay y học tiến bộ lắm. Ở dưới tôi, có những gia đình cả hai vợ chồng đều bị mắc HIV mà đứa con khi sinh ra có bị dương tính đâu. Bạn hữu dừng chân xoay sang nhìn bạn: Có chuyện đó thật hả anh? Nhà thuyết giáo gật đầu: Thu xếp xong mọi việc cho chúng nó xong, thư thả anh, chị về nhà tôi chơi một chuyến, vợ chồng tôi sẽ đưa anh đến gia đình ấy để biết tường tận..

Bạn hữu lẩm bẩm như người mắc bệnh mộng du: Thật thế ư.. Thật thế ư.. Thật thế thì may quá.. Giọng nhà thuyết giáo như ru: Anh biết đấy, Phật dạy rồi "Cứu một người phúc đẳng hà sa". Mình cứu đời con bé chính là cứu cả đời con mình. Tôi tin nếu chúng ta sống bằng lòng nhân ái và thiện tâm, thì trời, phật sẽ phù hộ độ trì cho mình nhận được những điều tốt lành.. Bạn hữu xiết chặt tay bạn cũ, lắc lắc: Nếu đúng thế thì dòng họ nhà tôi còn có phúc. Đúng là trời có mắt, cho tôi có một người bạn tốt. Không có những người bạn như anh, mối bòng bong này không biết tôi gỡ đến bao giờ mới xong.

Trời biên giới nhanh tối, hoàng hôn chìm dần từ rặng núi xa xa.. Tay trong tay, bạn cũ nhận từng làn hơi ấm nồng nàn từ đôi bàn tay bạn hữu, bất chợt bắt gặp những tia sáng phản chiếu từ những giọt lệ long lanh ứa ra trong đôi mắt quầng sâu của bạn hữu giữa màn chiều tĩnh lặng..​

Nguyễn Nhuận Hồng Phương
 
278 ❤︎ Bài viết: 793 Tìm chủ đề

32. Nhất tự vi sư - Nguyễn Nhuận Hồng Phương​


20260821-010758-2c7956092d.png


Tặng Tr

1/
Ấy là vào một đêm mùa hạ. Ngoài trời nóng như trong lò hun. Có lẽ nhiệt lượng còn cao hơn cả khung nhiệt mà cô nàng xinh như mộng, có nụ cười tươi như hoa ở chương trình dự báo thời tiết trên truyền hình. Nhưng đâu hề hấn gì. Vì trong căn phòng hai mươi mét vuông của tôi, tràn ngập không khí dìu dịu, trong lành của chiếc điều hòa Panasonic 12000 BTU. Hơi lạnh phả ra rười rượi, mơn trớn, ve vuốt dịu dàng lên da thịt như những ngón tay mềm mại của phụ nữ.

Đang thiu ngủ, chợt "con dế" mác quả táo cắn dở rung. Định không nghe vì dạo này thường có những cuộc gọi số lạ hoặc "tin rác" nhắn đến. Nhưng "con dế" không chịu im, từng đợt chuông thúc giục. Tôi quờ tay cầm máy, hé mắt nhìn: Hóa ra là thằng bạn thân gọi. Gạt công tắc cảm ứng, tôi ngáp một cái ra vẻ cằn nhằn vì ngái ngủ: "Có chuyện gì mà đêm hôm còn đánh thức nhau thế?". "Mai cafe nhé!" - Nó hẹn. Tôi khó chịu định vằng lại, nhưng chợt hương vị quyến rũ của cafe thoảng về trong khứu giác ngăn tôi lại. "Ừ - Tôi đáp rồi dặn - Mai tao dậy muộn, mày nhớ gọi thằng Vương và thằng Vũ nhé!". "Ô ke!" - Thằng bạn phun ra câu trả lời bằng tiếng Anh giọng Việt rồi tắt máy đánh rụp một cái khiến tôi khó chịu. "Đồ nhà quê", gọi Zalo miễn phí mà nó vẫn quen như cuộc thoại tính thời gian mất tiền ấy. Tôi lẩm bẩm rồi vắt tay lên trán định ngủ, nhưng không tài nào vào giấc được, trong đầu miên man suy tư về mối dây liên hệ hóa cảm của mấy thằng bạn nối khố tự thuở ấu thơ..

Tôi, nó, thằng Vương và thằng Vũ sinh ra khác ngày, khác tháng nhưng cùng cầm tinh con heo vàng và có chung một hoàn cảnh: Cha, mẹ mỗi đứa một quê, nhưng vì cuộc sống phải "tay bị, tay gậy" tìm kế sinh nhai, đìu ríu nhau tới miền trung du này để an cư lạc nghiệp. Và chúng tôi chính là thế hệ kế tiếp. Rồi cũng thể như mọi người, lớn lên thoát ly mỗi đứa một phương, đi mãi, đến khi lá rụng về cội, hết tuổi vùng vẫy, mấy thằng hồi nhỏ chơi với nhau trở về cố hương lại tìm đến nhau chén thù, chén tạc, "Ôn cố tri tân"..

Hình ảnh thị xã An Phúc xa xưa nhỏ nhắn, xinh đẹp có cái tên vừa mang sự an lành vừa mang về phúc phận, gói ghém biết bao kỉ niệm thân thương da diết trên mái đầu đã bạc, nhưng tâm hồn chúng tôi vẫn còn nguyên nguồn cảm hứng rạo rực, tươi rói về một thời trẻ con bồng bềnh, thơ thới, lãng đãng mơ mòng đi mây, về gió.. Nào là chuyện chơi bi, chọi đáo, đánh khăng; trốn học rủ nhau ra đầm đào ngó, hái gương sen; rồi chuyện mò mẫm đến trại lính Tây đóng trước đây bới tìm thuốc đạn, thuốc súng mang về đốt làm pháo sáng.. Rồi chuyện đêm hôm chui vào vườn nhà ai có bưởi, trộm quả đem về nướng cho mềm làm bóng đá; rồi chuyện theo các anh lớn tuổi chơi trò "quân tây, quân ta" bắn nhau, hay trèo lên tháp chuông nhà thờ bắt chim sáo.. Cứ thế.. Cứ thế.. Dòng suy tư mộng mị lan man tiếp diễn cho đến khi thiếp đi lúc nào không biết nữa, và sáng ra, nếu không có chuông điện thoại của thằng bạn réo, chắc phiên ngủ "nướng" của tôi còn lâu mới thức.

2/ Nhìn thấy tôi mò ra nó làu bàu: "Mẹ.. Ngủ như lợn ấy". Tôi cười quặc lại: "Ừ, có mỗi tao là lợn, còn mày là con heo - Rồi hỏi - Thế thằng Vương và thằng Vũ chưa ra à?". "Tao không gọi - Nó trả lời rồi đẩy tách cafe đến trước mặt tôi - Hôm nay chỉ có tao và mày thôi". Nghe, biết nó có chuyện cần tham mưu nên tôi im lặng, mở nắp phin ra xem rồi đậy lại và chờ..

Vậy mà thằng bạn không vội, nó cầm tách nhẩn nha đưa lên miệng nhấp nhấp.. Vầng trán nhíu thêm vài nếp nhăn tỏ vẻ cân nhắc.. Tôi kệ, vì biết thằng bạn máu sĩ. Nguyên do trong thời Chống Mỹ - Cứu Nước, đã từng là giáo viên dạy bổ túc văn hóa cho các đội viên Thanh niên Xung phong nên được bổ sung vào hàng ngũ lãnh đạo. Đến sau giải phóng miền Nam, nó chuyển ngành, học tiếp đại học rồi làm cán bộ có chức sắc đàng hoàng; lúc về hưu non lại thừa hưởng tiếp quản hiệu sách vừa bán vừa cho thuê truyện của ông bố để lại. Vì thế ít, nhiều trong mắt thị dân ở miền trung du này nó cũng được liệt vào hàng "có chữ". Tuy vậy, mỗi khi gặp việc gì hệ trọng, trước khi quyết đáp nó lại gạ ý tôi, mặc dù trong nhóm tôi thuộc loại ít văn hóa hơn. Tôi đồ rằng, vì tôi và nó khá thân, thường xuyên cùng nhau đi ăn sáng, cafe, trà thuốc, bô lô, bô la, chuyện trò cởi mở. Thêm một lý do nữa: Tôi là đứa do hoàn cảnh sớm bước "vào đời", nên có công năng từng trải, va chạm, lăn lộn, dày dạn, thu gom, nhặt nhạnh, tích lũy được khá nhiều kinh nghiệm mánh lới trong đời sống dân dã, sau đôi ba chục năm lang bạt kỳ hồ nhờ làm nghề lái xe.

- "Có gì thì nói đi!" - Sốt ruột, cuối cùng không chịu được tôi là người mở miệng trước. Nó ngó nhìn xung quanh, then lén như buôn bạc giả, thận trọng nhấc sát ghế đến gần tôi, thì thào: "Này, cái hồi bà xã mày chẳng may mất sớm, mày" chạy "thủ tục xin cấp đất xây xướng mộ phần có dễ không?". "Dễ ợt - Tôi đáp liền - Đơn giản. Tao viết đơn lấy chứng thực của chính quyền khu phố rồi mang xuống báo quản trang thế là xong". "Thế mày làm cách nào mà họ lại cấp luôn cả phần mộ sống cho mày?" - Thằng bạn hỏi. "Thì tất nhiên là phải có tí ti mới xong - Tôi mỉm cười giảng giải - Lúc đó còn bao cấp nên đất đai chưa tự do mua, bán như bây giờ. Nguyên tắc của chính quyền quy định ai chết có giấy khai tử là được cấp. Tuy vậy, ngầm ngã vẫn có" luật bất thành văn ". Thêm, nếm, nơi cao, chỗ thấp, rộng, hẹp, xấu, đẹp, to, nhỏ.. Tùy theo mức giá thỏa thuận riêng với quản trang".

Nghe tôi nói, nó im lặng, lấy bao thuốc rút ra một điếu cắm vào đôi môi thâm xì, bật lửa châm, rít một hơi, thổi khói ra rồi than vắn sau một tiếng thở dài: "Hồi ấy thế, nhưng bây giờ khó quá mày ạ, có tiền cũng không kiếm đâu ra". "Ơ.. - Tôi ngạc nhiên nhìn nó - Thành phố vừa quy hoạch nghĩa trang mới rồi cơ mà. Thiếu gì đất chôn mà mày lo". Nó xì khói thuốc ra lẫn trong câu nói: "Tao cần là cần ở nghĩa trang cũ, chứ nếu ở nghĩa trang mới thì nói làm gì với mày cho phí nhời". "Sao lại phải cầu kỳ thế?" - Tôi hỏi. Thằng bạn nhìn tôi bằng tinh mắt chiếu ra yếu lả: "Lúc ông bà già còn sống, vợ chồng tao không có điều kiện chăm nom, vì thế muốn nay mai được ở gần gặn với các cụ".

À, ra là nó muốn tìm đất "sinh phần" để khi "hai năm mươi" được nằm gần để báo hiếu cha mẹ. Tôi suýt bật cười vì thói hủ nho nửa mùa của nó, nhưng rồi ngậm ngay miệng lại bởi nét mặt rất chi là nghiêm cẩn của thằng bạn. Kể cũng tội. Cuộc sống những năm bao cấp chả nói thì ai cũng hiểu, gia đình nó đông người, ông bố dựa vào mấy cuốn truyện cho thuê, bà mẹ bán trầu, cau, tần tảo, ngồi chợ còng lưng cả ngày kiếm cũng chỉ bữa no, bữa đói, vậy mà cứ đứa con nào nhớn lên một chút không đi bộ đội thì vào Thanh niên Xung phong. Đến khi ra quân, học hành tìm cơ lập nghiệp lại "nã" tiền bố mẹ. Đến khi lập gia đình, vừa ổn định cuộc sống, chưa kịp báo hiếu, báo nghĩa được thì bố mẹ đã theo các cụ về chầu tiên tổ..

- "Căng đấy! - Dẫu rất cảm thông nhưng tôi vẫn đành buông hai từ dự báo rồi nói tiếp - Nghĩa trang cũ đất đai hết từ lâu rồi, giờ bói đâu ra". Nghe câu khẳng định của tôi mặt nó buồn như đưa đám. Tôi cũng không biết sẻ chia với nó như thế nào. Một kẻ mong muốn sau khi chết được báo đáp công ơn trời, biển của cha, mẹ thì hỏi có đạo hiếu nào cao hơn. "Hay là mua lấy một khoảnh ở nghĩa trang mới của thành phố rồi chuyển các cụ về đấy cả thể?" - Tôi bàn. "Không được! - Đầu thằng bạn lắc quầy quậy - Di dời Hương linh, động mồ, động mả, nhỡ xảy ra chuyện gì, vợ chồng tao làm sao sống yên được với cô, dì, chú, bác, anh, chị, em.. Trong dòng tộc". Vậy thì khó rồi - Tôi thầm nghĩ, đưa mắt ngắm chân dung thằng bạn nối khố in hình trên tấm kính chắn gió: Khuôn mặt dài, cằm thon hiện ra giữa mái tóc bồng bềnh, xù quăn, bung xõa ôm bờ vai, thoạt trông rất ư giống phiên bản bức tượng bán thân của cố nhạc sĩ họ Trịnh đang trầm tư tìm tứ nhạc, còn trong đầu tôi vẫn tịt mít nặn, móc không ra nổi một ý gì để tham mưu cố vẫn vẽ đường giúp nó.

Vậy là uống cafe xong chia tay. Tôi ra về lòng băn khoăn trĩu nặng trách nhiệm tâm ý với bạn bè. Chẳng gì trong mắt nó, tôi được xếp hạng: "Trên thông thiên văn, dưới tường địa lý", chi chi hà sự, đâu đâu cũng biết, gì gì cũng tỏ. Thế mà giờ đây.. Tôi đoán nó rất thất vọng về tôi, vì thế để lấy lại uy thế, sau một đêm khó ngủ và suy tính, tôi quyết chí thủ vai "Thám tử".

3/ "Muốn được cái cần phải đến nơi có!". Vin vào cái lý của người vùng cao, hôm sau dậy, ăn sáng xong, trong vai "Thám tử" tôi mò xuống nghĩa trang với mục đích tìm đất sinh phần cho bạn đồng thời có ý gỡ gạc lại danh tiếng của mình. Nghĩa trang cũ nên không người thường trực, cánh cổng sắt khép kín lâu ngày gỉ sét loang lổ, "Thám tử" lách qua cổng phụ đi vào. Nghĩa trang không một bóng người, ánh nắng chan hòa, gió hiu hiu làm lắt lay, phất phơ những nhành hoa giả và cọng tàn hương cháy dở ám màu tang tóc trên những ngôi mộ ngổn ngang không hàng, không lối, ngang, dọc tứ tung, lộn xộn, cao, thấp, lô xô, lếch xếch khiến "Thám tử" rùng mình, tóc gáy dựng đứng, mồ hôi toát ra, sống lưng ớn lạnh, tâm thần thảng thốt.. Trong mung lung hoang hoải, bất giác như có ai xui khiến "Thám tử" bồn chồn, lo lắng chắp tay lên ngực, mồm lẩm nhẩm cầu xin những đấng vô hình, vô ảnh giải thoát cho tâm thức tìm về chốn thanh tĩnh an nhiên.. Đang lan man nửa tỉnh nửa mê, bước chân vô định, không biết nên ở hay về, thì bỗng từ khe hai ngôi mộ ốp đá xẻ to lừng lững nằm giữa nghĩa trang nhô lên một cái đầu nhọn như đầu cá trê, màu tóc sém rượm như lông bò thui dở, khuôn mặt lem luốc, răng hô bờ cào, cặp mắt trắng ởn trừng trừng nhìn khiến tim "Thám tử" muốn ngừng đập, phổi ngừng thở, há hốc mồm vì khiếp đảm.

- "Bác làm sao thế?". Câu hỏi vang lên phá tan không gian tĩnh mịch làm cho "Thám tử" tỉnh ngộ và biết đó là người chứ không phải hương linh nào từ cõi âm hiện về. "Vâng.. Chào.. Chào ô.. Ô.. Ông..". Lắp bắp mãi "Thám tử" mới định hình được danh xưng, nhưng đáp lại là tiếng cười lanh lảnh như chuông đồng hồ báo thức cùng với câu giải thích ngắn, gọn nhưng đầy đủ ý nghĩa: "Cháu là đứa chuyên cắt cỏ, dọn dẹp, quét mộ thuê ở nghĩa trang này đây mà". Cùng với tiếng nói hình người từ khe mộ bước ra lúc này "Thám tử" mới nhận ra đó là một thằng bé ẩn sau một khuôn hình khó đoán tuổi.

- "Bác đi viếng mộ à? – Thằng bé hỏi - Sao không thấy có hương nhang, lễ lạt gì thế? Thăm mộ mà đi tay không thì linh nghiệm sao được. Bác có cần, vàng mã, hoa quả gì cháu mua giúp cho?" À.. À.. À.. "." Thám từ "đang ậm è tìm lý do thì thằng bé phẩy tay tiếp nhời luôn:" Biết rồi! Chắc bác đi "tiền trạm" trước chứ gì. Thế người nhà bác chôn khu nào, dòng họ gì? Họ Nguyễn, Trần, Lê hay Trương, Đoàn, Triệu, Vũ.. Bác cứ xướng họ, tên ra là cháu chỉ cho "." Nhiều mộ thế này mà cháu cũng nhớ à? "..."

Thám tử "tò mò hỏi." Nhớ chứ! – Thằng bé đáp không cần suy nghĩ – Nghề nghiệp chuyên môn mà bác. Không như thế làm sao kiếm tiền được hả bác - Rồi nó báo giá luôn – Tiền công tìm mộ 50 nghìn. Cắt cỏ, quét quáy, lau, dọn, rửa ráy tính tròn 100. Còn muốn trồng cỏ hay hoa trên mộ thì tuỳ, có giá chung rồi: Cấy cỏ nhung Nhật 300 ngàn một mét vuông; cỏ gừng Thái 250 ngàn; cỏ gà, cỏ mật tía Việt Nam tính quân bình 150 ngàn một ngôi, bảo hành đàng hoàng, sống tưới tắm, chết trồng lại; còn muốn trồng cây tiểu cảnh trang trí thì có cúc đại đóa, cúc phấn hồng cánh kép, cúc họa mi đa sắc, xương rồng hoa tím thân leo; còn cây thì có cây.. "– Thằng bé kể một thôi một hồi, thuộc, dẻo, trôi chảy như nhân viên Ma - két - tinh thị trường quảng bá, giới thiệu, tư vấn hàng hóa trên mạng..

Đợi nó ngừng giữa chừng để thở," Thám tử "tranh thủ ướm hỏi:" Vậy trong nghĩa trang này không còn chỗ đất trống nào đâu cháu nhỉ? ". Nghe vậy mặt thằng bé biến hình, đang trong tư cách giới thiệu chuyển sang thế chiêm sát:" Thế ra không phải bác đến viếng mộ mà là đi tìm đất à? "." Ừ - "Thám tử" thú nhận - Bác có người thân muốn an táng ở đây nên xuống xem thế nào "." Thế mà cứ tưởng.. – Thằng bé sầm mặt, giọng kéo dài, xì tiếng mũi vẻ thất vọng - Xúi quẩy, may bữa nay là cuối tháng.. - Đang cằn nhằn bỗng mắt nó sáng rực, gật gù - Cháu không biết nhưng có một người chắc biết ". Hai từ" chắc biết "làm cho" Thám tử "như kẻ đuối nước vớ được thân cây chuối liền bám vào:" Ai? Ở đâu? Cháu nói thật chứ? "." Người thì có thật – Thằng bé trả lời - Trước khi nghỉ hưu ông ấy từng là kĩ sư địa chất, vì thế nên đất đai, mồ mả ở nghĩa trang này ông ấy tường tận như thuộc lòng bàn tay, chả thế dân quanh đây còn phong hàm cho ông ấy là "Thổ địa" "." Vậy cháu cho bác địa chỉ nhà ông "Thổ địa" ấy nhé! "–" Thám tử "gạ." Bác tưởng gặp ông ấy dễ thế sao? – Thằng bé vênh mặt, bĩu môi - Không có cháu dẫn vào ai người ta tiếp bác. Đấy là chưa kể đến đàn chó Phú Quốc, nanh nhọn như nanh hổ, hung dữ như sư tử xổng chuồng ". Nghe nhắc đến chó," Thám tử "hoảng, chẳng là hồi bé từng bị chó cắn đã phải tiêm hàng chục mũi phòng dại vào rốn rồi." Vậy nhờ cháu dẫn bác đến nhà ông ấy nhé "..."

Thám tử "hạ giọng." Được thôi - Mặt thằng bé tỉnh bơ - Nhưng nếu cháu đưa đi bác phải chi "xiền" đấy "." Lại còn thế nữa - "Thám tử" nghĩ rồi hỏi - Thế cháu lấy bác bao nhiêu? "." Thông cảm bữa nay bác là khách mở hàng, chi cho cháu "một bách" là ô ke – Giọng thằng bé hồ hởi - Nhè nhẹ thế để bác, cháu mình còn lấy đường đi, lại lần sau "." Được, một bách thì một bách! "." Thám tử "đồng ý, vì nghe nó" rào trước, khóa sau "như đinh đóng cột, vả lại thằng bé đã phải kiếm sống ở nghĩa địa rồi ai nỡ kì kèo mặc cả. Đứa bé ngửa tay:" Xin quí khách thanh toán trước khi khởi hành "." Sao cháu chắc, lép vậy. Sợ bác không trả à? ". Hỏi vậy nhưng" Thám tử "vẫn mở ví lấy tiền đưa cho nó." Tiền trao cháo múc - Nó cầm tờ tiền đưa lên mép cạo cạo rồi kết luận bằng một câu thành ngữ.

4/ Tưởng xa, không ngờ nhà của "Thổ địa" ở hẻm ngõ bên kia đường. Lối đi hẹp nhưng sạch sẽ vì lót bê tông. Hàng rào xây gạch, cổng tre, nhà cấp bốn 3 gian, mái lợp ngói mũi, giàn bầu núc nỉu quả; sân lát gạch bát đỏ rực như son. Và đúng như thằng bé nói: Có đàn chó mẹ, con màu lông vằn vện, nhưng hiền lành chứ không hung tợn, dữ dằn như lời thằng bé tả. Nhìn thấy người thậm chí mấy con chó con lách nhách, líu tíu chạy ra đón, còn con chó mẹ vẫn nằm dãi thẻ, vú vê thỗn thện, thi thoảng hé mắt nhìn, phe phẩy đuôi thay lời chào. Để biện minh cho hoàn cảnh, thằng bé phân trần: "Bọn" Bảy món "này nhìn thấy cháu sợ một phép, chứ gặp người lạ là nó xơi tái ngay - Nói rồi nó dặn – Lúc gặp" Thổ địa "bác nhớ đừng nhắc chuyện tiền nong gì nhé". "Thám tử" hiểu ý gật đầu rồi theo nó vạch mành cửa bước vào.

- "Cu Nghĩa đấy hả. Kiếm được khách nào chưa mà đã vào đới..". "Thổ địa" đứng trên phản quay lưng ra ngoài, đang tìm thứ gì trên ban thờ, không nhìn mà hỏi. "Bà về quê chưa xuống hả ông? – Cu Nghĩa không trả lời theo ý mà hỏi lại." Thổ địa "đáp:" Đận nào bà ấy về quê chả hàng tháng mới xuống, mà mày còn hỏi "." Thế ông tìm cái gì đấy? "– Cu Nghĩa hỏi tiếp." Ta tìm cái bật lửa, hút điếu thuốc - "Thổ địa" ca cẩm - Vừa mới đây mà đã biến đâu mất, nhà cứ như có ma ấy "." Bật ông đang cầm ở tay kia kìa sao còn tìm ở đâu "– Cu Nghĩa cười khanh khách vì sự đãng trí của ông ta." Ừ nhỉ - "Thổ địa" lật tay nhìn – Chưa già đã lú. Cứ quên quên, nhớ nhớ thế này.. - Vừa lẩm bẩm "Thổ địa" vừa quay lại, chợt nhận ra có khách liền hỏi – Ai đây hà cu Nghĩa? "." Chào ông – Không đợi cu Nghĩa đáp "Thám tử" mau miệng – Tôi nghe cháu đây nói ông là người thông thuộc địa hình ở nghĩa trang nên vào hỏi ông xem còn mảnh đất nào trống không ạ "." Thế này là thế nào hả Nghĩa? – "Thổ địa" quắc mắt nhìn thằng bé – Tao biết gì đất đai mà mày dẫn khách vào đây ". Cu Nghĩa nhăn nhở hở ra hàm răng mọc lẫy:" Lời nói chẳng mất tiền mua. Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau ". Ông chả luôn dạy cháu thế là gì. Đằng nào cháu cũng dẫn khách vào nhà rồi, có gì thì ông cứ nói với ông ấy một câu cho lịch sự có phải không". Nghe cu Nghĩa nói "Thổ địa" chừng như ngượng, lúng búng: "Vậy mời ông ngồi chơi, xơi nước". Nói rồi "Thổ địa" ngồi phệt xuống phản, khoanh chân xếp vòng, vươn tay kéo chiếc điếu bát dịch vào, thong thả nhấc phích lên chế nước thêm vào ấm.

Đây là một người hoài cổ - "Thám tử" ngầm xét – Và điểm nhấn là bộ râu ba chòm trắng như cước trên khuôn mặt hình quả đào có cặp kính trắng mắt tròn, gọng nhỏ hài hòa với thân hình tầm thước lẩn sau bộ quần áo cổ Tàu may bằng vải nhiễu màu vàng tơ. "Ông tìm đất sinh phần thì đến nghĩa trang mới của thành phố mà mua, chứ ở nghĩa trang này hết từ lâu rồi". "Thổ địa" bê chén nước mời khách rồi đưa ra lời khuyên. "Thám tử" thở dài, cầm chén nước bâng lâng chưa biết nói sao, chợt nhìn trên vách treo tấm bằng khen của Trung ương Hội Thanh niên Xung phong, buột miệng: "Hồi trước ông cũng đi Thanh niên Xung phong hay sao mà có bằng khen?". "Ông hỏi vậy là sao – Quầng sáng từ tròng kính của" Thổ địa "hắt vào mặt khách - Ông nghi ngờ bằng khen của tôi là giả à?". "Xin lỗi ông –" Thám tử "vội nói – Tôi không có ý đó, mà vì người bạn nhờ tôi tìm đất trước kia cũng là Thanh niên Xung phong". "Thổ địa" nhếch mép, liếc xéo khách, âm lượng hạ xuống nhưng đầy chất mai mỉa: "Vậy ra không phải ông đi tìm đất cho ông, mà là làm môi giới để ăn hỏa hồng?". Biết bị hiểu nhầm, "Thám tử" đành mang lý do muốn "báo hiếu" các đấng sinh thành của bạn kể lại cho "Thổ địa" nghe. Không hiểu bởi chất giọng lôi cuốn hay do hàm ý câu chuyện gây xúc động, mà nghe xong nét mặt "Thổ địa" trầm tư, chòm râu bạc rung rung.. Không khí trong nhà ắng lặng hồi lâu. Thằng cu Nghĩa từ nãy đứng hóng chuyện chợt lên tiếng: "Nghe như vậy là ông của cháu với bạn của ông trước kia cùng là đồng đội. Vậy ông cứ bảo ông ấy xuống chơi. Không có đất đai thì ông cháu cũng có thêm một người bạn cùng thời. Chuyện gì chứ, chuyện về Thanh niên Xung phong thời chống Mỹ là ông cháu thích lắm – Nói rồi nó lấy cùi chỏ huých vào lưng" Thám tử "- Giờ còn sớm, ông điện ngay cho ông ấy xuống đi để cháu ra đón". Nói rồi không chờ "Thám tử" đáp nó chạy vút ra sân. "Cái thằng chỉ được lanh chanh là tài –" Thổ địa "phản ứng rồi kéo chiếc điếu lại, véo thuốc nhồi vào nõ, nhưng chưa hút mà nói thêm - Đất đai còn đâu mà gọi với mời!". "Vâng, ông nói là tôi hiểu rồi -" Thám tử "cầm bật lửa đưa cho" Thổ địa "- Có điều ông cho phép tôi gọi bạn tôi xuống, vừa để đồng đội các vị gặp nhau, nhân thể cho bạn tôi biết rõ tình hình thực tế ở nghĩa trang này mà liệu". "Thổ địa" bật lửa lên định hút rồi lại tắt đi, đáp: "Thằng bé đã nói thế thì ông cứ mời bạn ông xuống, nhưng tôi nói trước, ngồi chơi xơi nước thì được chứ đất đai không có đâu nhé!". Nói rồi "Thổ địa" châm lửa hút, khoan thai ngửa cổ thổi khói lên nóc nhà. "Thám tử" mở máy nhắn tin cho bạn rồi hỏi: "Thưa ông, tôi hỏi khí không phải. Cháu Nghĩa với ông là quan hệ thế nào ạ?". "À.. -" Thổ địa "chiêu xong ngụm nước đặt chén xuống, đáp – Thằng bé là con độc nhất của vị quản trang trước kia. Ông ấy đi bộ đội vào chiến trường vào Nam chiến đấu chẳng may bị nhiễm chất độc màu da cam nên mắc bệnh hiểm nghèo mất sớm. Mẹ nó lại bị dị tật bẩm sinh đi lại khó khăn, nên hôm nào được nghỉ học hay rỗi rãi nó lại ra nghĩa trang kiếm ăn. Hoàn cảnh vậy nhưng được cái thằng bé sáng ý, nhanh nhẹn và sống có tình có nghĩa lắm". Nghe, "Thám tử" lặng người vì hoàn cảnh trớ trêu của bé Nghĩa, định hỏi thêm nhưng thấy dường như "Thổ địa" không muốn nói về chuyện ấy nữa nên "Thám tử" cũng im lặng không hỏi.

5/ Vậy là chừng nửa giờ sau bạn tôi xuất hiện. Hai vị cùng binh chủng một thời hồ hởi bắt tay nhau. Chưa kịp hàn huyên, bất ngờ khuôn mặt "Thổ địa" sững lại, thậm chí còn tháo hẳn kính ra, cặp chân mày nhíu lại, giọng lắp bắp: "Ông.. Ông.. Ông là ông Phúc phải không?". "Sao, ông biết tôi à?". Bạn tôi hỏi lại. "Vậy là đúng rồi.. -" Thổ địa "nói như reo, nét mặt rạng ngời, ánh mắt bừng sáng, tay đè lên lồng ngực như sợ trái tim nhảy ra vì vui mừng - Nhập ngũ tháng 2 năm 1965, Tổng đội Thanh niên Xung phong, phiên hiệu N97- C972 - P30, hội quân ở ngã ba Đoan Hùng, Phú Thọ đúng không?". "Đúng rồi! – Bạn tôi gật đầu xác nhận - Vậy ra..". Không để cho bạn tôi nói hết câu, bất ngờ "Thổ địa" lùi lại, quỳ sụp xuống, chắp tay vái khiến ai nấy đều ngỡ ngàng. - "Nhất tự vi bán tự vi sư" – Lễ xong "Thổ địa" nói – Một chữ là thầy, nửa chữ mãi mãi là thầy. Thưa thầy Phúc, em chính là đứa học trò được thầy dạy văn hóa trong thời gian ấy đây. Em nhớ lúc đó trong đơn vị trình độ văn hóa mỗi người mỗi khác, bởi vậy một ngày thầy phải dạy đến 3 lớp. Nhưng riêng em còn đặc biệt hơn. Do hoàn cảnh gia đình đang học lớp ba phải bỏ dở ngang chừng. Nhưng thầy đã không quản ngại vất vả, dành thời gian dạy riêng cho em.. ". Nói đến đây giọng" Thổ địa "nghẹn ngào vì cuộc gặp gỡ tình cờ đầy ân nghĩa. Bạn tôi cũng xúc động không kém vì hình ảnh quá khứ ùa về, vội vàng đến đỡ" học trò "đứng lên, rồi hai người ôm chặt lấy nhau khiến tôi và cu Nghĩa đứng ngoài cũng rưng rưng cảm động..

Lúc sau, khi cao trào tình cảm dịu lại, mọi người ngồi uống nước hàn huyên, hai đứa tôi ngại không muốn nhắc đến chuyện đất" sinh phần "nữa thì cu Nghĩa lại nhanh nhảu gợi ý:" Thế còn chuyện đất đai thì thế nào hả ông? "." Thổ địa "cong tay cốc yêu vào đầu nó:" Lát nữa cháu đưa hai ông ra ngôi mộ đôi ở gần đài hương để các ông ấy xem có ưng ý không nhé "." Nhưng.. – Cu Nghĩa ngập ngừng - Đó là phần mộ của ông bà cơ mà ". Nghe vậy bạn tôi gàn:" Thôi, ai lại làm thế, mang tiếng chết ". Giọng" Thổ địa "kính cẩn:" Thưa thầy, ngôi mộ đôi ấy đúng là em có ý chuẩn bị cho vợ chồng em thật. Nhưng bây giờ chúng em không dùng đến nữa, nguyên do vì vợ chồng em muốn sau này được ở gần các cụ, nên các cháu đã mua một mảnh 300 mét vuông ở trên quê, ngay trong khu vực Đài hóa thân hoàn vũ Thiên Đức Phú Thọ rồi. May quá, tình cờ lại biết thầy đang cần. Lát nữa thầy cứ ra xem, nếu ưng ý thì em tính thế này để thầy khỏi áy náy: Đất là của nghĩa trang nên em không tính tiền, còn phần xây cất và mua vật liệu hết bao nhiêu, xin thầy thanh toán để em làm chút từ thiện cho mẹ con cu Nghĩa.. ".

Hình như khi nghe những lời bộc bạch gan ruột thấm đẫm tình người ấy," Thám tử"tôi không dám nhìn xuống mà ngước mặt lên trần nhà cố giữ cho những giọt lệ đừng trào ra từ khóe mắt..


Nguyễn Nhuận Hồng Phương
 
278 ❤︎ Bài viết: 793 Tìm chủ đề

33. Những điều còn lại - Nguyễn Nhuận Hồng Phương​


20260821-011127-4ef45ca8ef.png

Kính dâng hương hồn cậu Nhâm!

Sao mình lại vô tâm thế nhỉ! Lúc nào cũng luôn mồm răn dạy người thân: Có những việc cần làm. Nếu không xử sự kịp thời sẽ ân hận suốt đời. Thế mà bây giờ chính mình lại là kẻ nói một đằng làm một nẻo. Thật đốn mạt! Thật vô tình, vô nghĩa! Biết bao lần nhắn nhủ thể nào cũng phải dành thời gian về thăm nơi ấy. Thế mà.. Từ lúc lên xe, Sơn tự dày vò. Lý do? Có biết bao lý do hòng biện bạch cho một lỗi lầm đã mắc! Bảo không có điều kiện đã đành. Đằng này, mỗi năm ra Hà Nội công tác, họp hành biết bao lần. Mà nào đường sá xa xôi, cách trở đò giang gì cho cam. Tàu, xe sẵn, lên đấy chưa đến năm mươi cây số. Nhưng lần nào cũng đủ những lý do. Một thằng bạn cùng học đại học giờ là Tổng giám đốc Công ty X.. Nghe điện xong, hỏi: Hội thảo mấy ngày? Cần đếch gì! Buổi sáng có mặt điểm danh là được. Tầm trưa tớ cho xe đến đón, hôm cuối cùng có mặt dự tổng kết là xong chứ gì? Còn lái xe? Thả cho đôi lít, bảo nó nghỉ trong nhà khách, chơi đâu thì chơi, ai hỏi tìm lý do hợp lí trả lời. Còn cậu theo tớ đi câu cho đã! Xứ trong cậu có ao câu chưa? Cầm cần câu mười vé bao giờ chưa? Chưa hả? Cứ theo tớ khắc biết!

Vào cuộc, vui thật! Nhìn những ngón tay búp măng trắng nõn nà, móng sừng chuốt bóng lộn, hồng như ngọc, mềm mại, uốn éo như diễn viên múa mắc mồi câu mà thấy ngứa cả chân răng, nước miếng chảy ròng, chỉ muốn há miệng cắn một nhát.. Giật được con cá còn lơ lửng trên không, đang giãy đành đạch, vạt váy đã xoè ra khuỳnh khoàng hứng đón, thấp thoáng mảnh lá nho tí tẹo, bắp vế thon, dài trắng như ngó, uốn éo, mông cong vồng, chân tay, thân hình nhún nhảy không khác chi tranh xưa vẽ thiếu nữ hứng váy đón dừa. Xẩm tối, hạ tiệc dưới thảm cỏ, tay tiên bóc cá nướng bọc bùn, mùi thơm phức, ánh điện giả ánh trăng huyền ảo chẳng kém thiên nhiên là mấy.. Lần khác, một thằng cùng nhập ngũ, bây giờ, nghe chức danh thì thường thường: Trưởng phòng đời sống. Nhưng bổng lộc nhìn ngoài đã chết khiếp. Cưỡi xe Cơrao, mặt mũi phương phi đến nỗi phải nhờ tư duy của giác quan thứ sáu mới lục tìm được khuôn mặt của quá khứ. Hì hì.. Nó phẩy tay: Tranh thủ sống tới đi! Xưa chiến trường không chết, nay chơi cho đã, cho vút tầm! Chén tạc chén thù, ôn đời quân ngũ, nhắc chuyện chiến trường, ăn với nhau đôi bữa, thức với nhau vài đêm, tận hưởng không khí đô thành. Sang Gia Lâm, vào làng Lệ Mật, bảo cu Dực chủ Nhà rắn gia truyền bắt con hổ mang bành, phanh sống, tim, mật bày lên đĩa nhảy tanh tách.. Tao béo, nuốt mật cho hạ hỏa; mày gầy, nuốt tim cho tăng huyết áp. Rắn gia truyền bảy món, uống với rượu ngũ xà hạ thổ thập niên, rượu nhập ngấm tích xưa, thòi ra đủ thứ chuyện..

Cứ thế! Cứ vậy! Biết bao lần dự định sẽ phải.. Nhưng rồi cũng biết bao lần vấp phải những lý do để khất lần, khất lữa..

Người phụ lái đưa cho Sơn chiếc vé:

- Chú xuống Thạch Lỗi còn đi đâu nữa không?

- Tôi vào Ấp Tre.

- Vào Ấp Tre sao chú lại xuống Thạch Lỗi? Người phụ xe hỏi.

- Đã lâu lắm rồi tôi mới đi đường này..

- Nếu thế thì chú xuống bến xe Khu Công nghiệp Bình Minh sẽ gần hơn - Người phụ lái nói - Xuống đấy, năm đồng xe ôm là tới.

- Thật chứ? Thế thì anh cho tôi xuống đó! - Sơn nói:

- Cháu nói dối chú làm gì? - Người phụ xe thể như thanh minh - Mùa thu hoạch hành tây nào mà xe cháu không vào Ấp Tre chở về Hà Nội. Gớm, đất tốt, hành gì mà củ nào củ nấy cứ to như cái bát bình vôi..

Câu chuyện vô tình của người phụ lái làm lòng Sơn nhói buốt. Thời gian quá xa để hình dung ra những gì đã đổi thay, trong tâm tưởng của anh, bồng bềnh hiện lên khuôn mặt một dĩ vãng..

* * *

Nhúp cái tăm đưa lên miệng, Sơn nói với Tâm: Uống nước xong thanh toán tiền rồi đi. Ngoài trời mưa tầm tã, gió thổi ù ù. Trùm kín chiếc áo bông lên người mà Sơn vẫn thấy rét. Những ngọn gió thổi thốc từ mạn Đông Bắc về, luồn sâu vào thớ thịt như cứa như xé. Hai người đứng dậy, khoác áo bạt, kéo lại tai mũ, thít chặt dây rồi chạy ra chiếc ô tô đỗ trong sân. Trước khi lên ca bin, Tâm ngoảnh lại dặn Sơn: Trong khi tớ nổ máy lấy hơi, còn cậu kiểm tra lại một lượt xem thế nào, nếu để nước mưa vào là tuột chảy hết hàng đấy.

Sơn đi lại phía sau xe, nước từ bạt chảy xuống thành dòng. Anh lấy tay rờ kiểm tra khóa thành và những nút đây buộc. Tất cả đều tốt. Từ phía đầu mấy, tiếng vù ga ùm ùm của Tâm như có ý giục, Sơn yên chí quay lại. Bỗng có một người đẩy chiếc xe đạp thồ chà đến, rồi một giọng run run, hỏi:

- Xe các đồng chí có lên ngược cho tôi quá giang một đoạn?

- Xe đầy hàng không đi được! - Sơn trả lời.

Người kia giọng van vỉ:

- Mong đồng chí xem xét hoàn cảnh, chiếu cố cho. Có hai sọt hành giống, nếu để ướt, hỏng hết!

Qua ánh sáng chớp dông, một khuôn mặt khắc khổ trùm kín áo tơi đan bằng lá hiện ra, da mặt sạn sần, nước mưa đọng trên lông mi lủng lẳng, nhỏ từng giọt, môi tái nhợt, run rẩy. Có vẻ như ông ta bị nước mưa thấm vào người rất lạnh. Sơn cảm thấy mủi lòng, ái ngại.. Chợt Tâm từ ca bin nhảy xuống, quát to:

- Xe chở hàng quân sự, không đi được!

- Trời mưa gió, các đồng chí làm ơn..

- Ơn huệ gì! Không được là không được! Dẹp lấy chỗ cho xe ra.

Người đàn ông biết nài cũng không được, đành kéo chiếc xe thồ lùi lại, lũi cũi nhảy lên đạp đi. Tâm cho ô tô lùi khỏi bãi rồi cài số tiến. Lúc vượt, lấp loáng trong ánh đèn gầm, Sơn nhìn thấy người đàn ông gò rạp trên xe, gió thổi phần phật làm chiếc áo tơi khoác trên người ông căng phồng. Dưới chân, đôi dép cao su trật trẹo theo nhịp đạp, có một hay hai sợi dây cao su bị tuột lê thê quét xuống đường theo chiều đạp vương vào đáy chiếc sọt thô nặng trĩu.. Tâm liếc nhìn Sơn, vút ga lấy đà, tăng số, miệng nói:

- Áy náy gì, dân chạy chợ đấy mà. Tớ thấy lão ta ngấp nghé định xin đi nhờ từ lúc bọn mình đang ăn cơ! Nhưng xe đánh quả, cho đi nhờ có bằng lạy ông tôi ở bụi này.

Sơn im lặng. Một nỗi buồn vô cớ nhen nhúm trong lòng anh. Tiếng chổi gạt nước quét trên kính chắn gió rên rin rít, sàn sạt, mưa mỗi lúc thêm nặng hạt, hắt mạnh, đập, bắn tung toé, nhoè nhoẹt. Tâm vươn người về phía trước, tay ôm vô lăng, mắt chăm chú nhìn đường, môi chúm chím huýt sáo, một bản nhạc quen thuộc của cánh lái xe vang lên.. Cái gạt nước xua đi nỗi nhớ..

Buổi sáng, Thủ trưởng gọi Sơn lên giao nhiệm vụ:

- Đồng chí theo xe áp tải hàng xuống D3.

Lúc trả hàng xong, lái xe Tâm bàn với Sơn:

- Công lệnh đến 9 giờ sáng mai mới phải có mặt ở đơn vị. Bây giờ tụi mình xuống bến Phà Đen tranh thủ làm chuyến than, mang về quê tớ bán cho tụi lò gạch kiếm mỗi thằng thêm "tí phụ cấp".

Đây là lần đầu Sơn được đơn vị phân công nhiệm vụ áp tải hàng. Hàng hóa giao xong là Sơn hết trách nhiệm, còn việc lái xe đi, đứng thế nào là của Tâm. Nghe Tâm bàn, cảnh lính, Sơn nghĩ có tiền cũng khoái - Tuy vậy còn đắn đo:

- Liệu có việc gì không?

- Việc gì? - Tâm trả lời - Tớ quen rồi. Có cái khi đổ than xong phải chịu khó rửa cho hết bụi than để về các thủ trưởng khỏi phát hiện.

- Việc rửa ráy đáng gì. - Sơn đồng tình.

Lấy than xong thì ập tối, một cơn mưa kéo tới, mây trên trời vần vũ, loằng nhoằng xì xẹt sấm chớp. Hai người lấy bạt hì hụi che hàng, Tâm nói:

- May quá, trời đất thế này bố thằng Giônxơn cũng không dám bay ra. Tụi mình cho xe vượt cầu phao sang bên kia thì nghỉ ăn cơm.

Đến thị trấn Đông Anh trời ập mưa, Tâm cho xe vào một quán cơm cạnh ven đường nghỉ, bảo Sơn:

- Tụi mình cũng phải nạp xăng vào dạ dày đã!

* * *

Xe chạy được một lúc thì tới lối rẽ. Đang đi trên đường quốc lộ rộng rãi, giờ đi vào đường nhánh nhỏ và hẹp, càng vào sâu càng khó đi. Tâm bật thêm đèn dự phòng để nhìn đường cho rõ. Chiếc xe chồm lên rồi lại hết xuống những "ổ voi, ổ trâu" trên đường, tốc độ bon chậm như rùa bò. Sơn hỏi: Từ đây về đến nơi tập kết hàng còn bao nhiên cây số? Tâm lựa cho xe tránh chỗ xóc, trả lời: Đi Quốc lộ 2 dễ đi nhưng xa, tắt đường này qua Thạch Lỗi đỡ được hơn hai mươi cây số, nhưng quan trọng là tránh được tụi Kiểm soát quân sự. Phải cái trời đêm nay mưa nên đường hơi trơn.

Tối tò mò lại mưa gió bão bùng thế này ai ra đường mà kiểm soát? Sơn nghĩ. Xe một cầu, đường lại vắng tanh như chùa bà Đanh, bị pantilê, mắc lầy, ách lại đây thì khốn. Gọi xe nào đến cứu được? Mà địa bàn này lại gần sân bay Đa Phúc, nhiều căn cứ quân sự, là trọng điểm bắn phá của máy bay Mỹ. Mưa gió đùng đùng nên chúng không ra, chứ như mọi bữa chạy giữa đồng không mông quạnh thế này thì liệu hồn. Như đọc được ý nghĩ lo lắng của Sơn, Tâm an ủi: Đoạn đường này toàn bọn đặc chủng kéo tên lửa chạy qua nên mới nát bét thế này. Qua đường tầu sang bên kia toàn đường sỏi ruồi, cát đỏ, chạy êm re!

Quả thật, khi rẽ vào đoạn đường giao nhau với đường sắt, đã thấy đường êm hẳn. Sơn hạ kính giơ tay hứng. Trời bớt mưa, màn mây u ám giãn dần nhường cho từng quầng sáng và mặt trăng thi thoảng lấp ló hiện, ẩn như chơi trò ú tim. Sơn ngó hẳn đầu ra quan sát. Hết mưa rồi lại lo tới máy bay. Sơn nhắc Tâm: Trời quang thế này tụi F4H dễ luồn mây ra lắm, tắt bớt đèn dự phòng cho an toàn. Tâm đáp: Vượt qua đường sắt tớ sẽ tắt.

Phía trước, dải đường sắt vổng cao, chạy dài như con trăn nằm vắt ngang cánh đồng. Nơi này xa làng mạc nên không có trạm barie chắn báo tàu. Triền dốc thươn thươn, nhưng đến đoạn vượt qua đường sắt thì dốc ngược. Tâm thận trọng về số, giảm tốc độ, quan sát hai bên xem có tàu hỏa chạy không rồi mới tiếp ga lấy đà cho xe vượt. Bánh xe chồm qua đường tàu, ca bin dựng ngược. Sơn nắm tay nắm cốp, ghì chặt chống trả cú xóc nảy người, đầu chạm nóc. Chiếc xe vượt sang bên kia vừa lấy lại được thăng bằng thì bỗng "khực.. Khực.. Khực.." đột ngột khựng lại, tiếng máy ằng ặc, ằng ặc rên thêm mấy tiếng rồi tắt lịm. Tâm thảng thốt kêu: Có lẽ xe bị chạm cầu rồi?

Sơn cầm đèn pin mở cửa nhẩy xuống. Chiếc ô tô Giải Phóng kềnh càng cưỡi ngang đường sắt. Sơn cúi xuống nhìn vào gầm. Chiếc cầu xe tròn lủng, đen ngòm nằm lơ lửng giữa hai thanh đường ray, dưới đáy hồ ra một vệt sáng như sợi chỉ. Sơn nói vọng lên ca bin: Gầm chưa chạm, nổ máy là đi được! Đáp lại lời Sơn, tiếng máy khởi động kêu xoe xoé, vòng tua cánh quạt cắt gió xoay tít, nhưng máy không làm sao nổ nổi. - Xe bị pan rồi! - Tâm ngừng khởi động, nói - Đưa cho tớ cái đèn pin - Rồi mở cửa trèo lên đầu máy kéo chốt, lật cánh gà xe lên. Tâm hua hua đèn pin, nhưng từ trong, hơi nước thổi ra nóng giãy ngùn ngụt, trắng xóa làm cho Tâm không nhìn thấy gì. Tâm kêu lên: Hình như bị thổi goăng quy lát rồi Sơn ơi?

Bỏ mẹ! Bây giờ mà tàu hỏa chạy qua thì chết cả lũ! Sơn cuống quít nhìn trước nhìn sau, bỗng thấy đèn xe vẫn rót ngược lên trời, liền quát: Đèn thế kia để mời máy bay đến hả? Tâm vội trở lại ca bin tắt công tắc, rồi xuống xe đi về phía sau chui vào gầm mần mò, lúi húi ra chiều nghiên cứu. Sơn ngồi xuống theo: Làm thế nào bây giờ? Cũng chưa biết làm thế nào đây! Máy không nổ, tiến không lên, lùi không lại. Trời quang, mây tạnh, mưa ngừng rơi, gió ngừng thổi, trong khi đó, xa xa, thấp thoáng ánh sáng đèn dù, vòng vọng ầm ì tiếng máy bay, đấy là chưa kể nếu bây giờ có tàu hỏa.. Mới nghĩ thế thôi mà Tâm thấy lưng áo mình ướt đẫm mồ hôi. Tâm hô: Đẩy!

Xe chết, tải nặng, cả hai gò lưng un, đủn, chiếc xe ì ra như khúc gỗ, không hề động đậy tí nào. Xuống hàng cho nhẹ, ý kiến có vẻ khả quan. Nhưng gần năm tấn than, trong tay không hề có một dụng cụ, lấy gì để thao tác? Sơn mở bạt trèo lên xe, tháo khóa chốt, cửa hậu rơi rung cả xe, than ướt, đóng bánh thành tảng liên kết chống lại lệnh. Sơn lấy chân đạp, chân ngập trong bùn than nhão nhoẹt, đạp ba lần, mỗi lần một nhúm than rơi xuống "bẹt bẹt.." như trâu ỉa vãi. Kế ấy không được rỗi. Cuống! Lái xe Tâm lại nhảy lên xe bật chìa khóa, khởi động máy. Đề được một lúc tiếng máy cứ "ư ử.. Ư ư.." như chó cắn ma vậy.

Đang cuống, bỗng từ dưới chân dốc có người đạp xe đi tới. Cả hai cùng đồng thanh gào: Này, bác gì ơi.. Cuống tĩ thì gào bừa, chứ đêm tối thế này biết già hay trẻ, gái hay trai mà bác với ông. Sơn giơ đèn soi vẫy. Trong ánh đèn lấp loáng, Sơn và Tâm nhận ra người đàn ông khoác áo tơi, đạp xe thồ, đã hỏi hai người đi nhờ lúc ở quán cơm. Hai người chưa biết nói sao thì ông ta đã nhảy xuống, ngả xe cạnh rệ đường, phăm phăm chạy đến:

- Các tướng làm ăn thế nào mà để ô tô nằm chềnh hềnh giữa đường sắt thế này? - Ông giật chiếc đèn pin trong tay Sơn, hua hua vào chiếc ô tô - Tầu hỏa bây giờ tới thì chết cả nút! Mà bây giờ mấy giờ rồi?

- 2 giờ 15 rồi ạ - Sơn lật tay xem đồng hồ, trả lời

- Khoảng ba giờ sáng sẽ có một chuyến tàu chở quặng Apatít chạy quá. - Ông nói, rồi hỏi - Liệu bây giờ các tướng có chữa được không?

- Cháu đề mãi mà không nổ. - Tâm đáp.

- Còn có gần tiếng đồng hồ nữa, lềnh chềnh là chết - Bỗng giọng ông dứt khoát - Các đồng chí khẩn trương chuyển đá cho tôi lót vào bánh xe sau.

Sơn và Tâm theo lời hối hả bốc đá chuyển cho ông. Xong, ông nói:

- Đồng chí lái xe lấy Maniven xuống quay máy cho xe nhích lên! Nhớ cài số tiến vì đằng trước là chân bờ kênh, có chạy xuống đấy cũng không sao. Tìm cho tôi hai cái chèn. Đồng chí còn lại cùng tôi về phía sau, bánh xe nhích lên được tí nào thì chèn lại.

Tâm hiểu ngay ý, phắt một cái nhảy lên ca bin, lật ghế lấy hai chiếc chèn gỗ ném xuống cho Sơn, rồi lập tức cầm tay quay đi về phía đầu xe. Nhưng mặc cho Tâm đu cả người lên chiếc tay quay mà máy không chuyển. Thấy vậy, người đàn ông đang lúi húi dưới gầm xe hỏi vọng lên:

- Đồng chí cài số mấy?

Tiếng Tâm:

- Dạ, số tiến!

- Nhưng là số mấy?

- Số 5.

- Giời ơi là giời! - Tiếng người đàn ông gào lên- Mới lái xe hay sao mà ngu vậy? Lên cài số l cho tôi. Mau lên, nhanh nhanh không tàu về đến nơi là chết cả lũ bây giờ.

Tâm như máy hành động lặp theo lời ông. Lần này thì máy chuyển động. Cứ mỗi lần Tâm quay, bánh xe lại dịch chuyển, nhích lên từng ít một. Và cứ được một nhịp người đàn ông và Sơn lại dùng chèn, cái nọ kế cái kia chèn bánh lại.

- Cố cố.. Cố gắng lên.. - Người đàn ông gò người, nghiêng mặt, tì hẳn vai vào sát si như muốn đội cả xe lên còn miệng thì động viên - Cố lên các đồng chí..

Sơn vừa đẩy vừa chèn vừa lo lắng nhìn về hút hai phía đường sắt, cầu mong sao không có tầu hỏa. Nếu có thì.. Sơn không dám nghĩ tiếp đến cảnh tượng nếu bất chợt có chuyến tàu nào đấy xuất hiện. Và nỗi lo lắng càng tăng khi hai bánh xe sau vào đến giữa đường tàu thì khựng lại không nhích đi được nữa. Tâm từ phía đầu xe chạy về phía cuối:

- Đầu xe cao quá, hẫng, cháu không quay được nữa.

Người đàn ông gật gật đầu, nói:

- Tôi hiểu rồi, đường dốc quá đấy mà, các đồng chí chờ tôi một phút. - Ông đi vòng quanh xe một lượt rồi nằm áp sát xuống đất ngó vào gầm xe quan sát. Khi chui ra, ông vẫy hai người lại, nói như quán triệt - Các đồng chí cần hiểu bây giờ là lúc quyết định. Chỉ một lúc nữa sẽ có tàu hỏa chạy qua. Nếu chậm sẽ chết! Bây giờ đồng chí lái xe lên "cầm máy". Khi nào nghe tôi hô "hai, ba" thì tiếp đềmarơ lấy đà; ở dưới này chúng tôi sẽ đầy hỗ trợ hiệp đồng tác chiến. Khi bánh xe đã chuyển, tuyệt đối không được dừng lại, phải cố! Các đồng chí rõ chưa?

Tự nhiên cả hai lập nghiêm, cùng đáp:

- Rõ!

Tâm trèo lên buồng lái "cầm máy" như lời ông nói, còn Sơn và ông đi về phía sau xe.

- Hai.. Ba.. Nào.. - Tiếng ông vang lên như tiếng kèn xung trận.

Tâm đạp khởi động"khực.. Khực.. Khực.. Chiếc xe khập khừng chuyển động. Sơn và người đàn ông cong vồng người lên đẩy tiếp đà.. Cố.. Cố.. Cố.. Giọng người đàn ông như nghẹt thở.. Bánh xe trèo lên thanh ray lừng khừng lưỡng lự cưỡng lại như phản kháng, rồi như buộc phải khuất phục trước lòng quyết tâm của con người, lăn đi, bon bon trôi tuột xuống dốc. Sơn và người đàn ông chạy theo một đoạn rồi cùng lăn ra bãi cỏ cạnh đường nằm thở. Cả hai thi nhau thở, thở lấy thở để, thở như chưa bao giờ được thở..

Ít phết sau, một chuyến tàu từ trên ngược xình xịch chạy về. Khi qua đường ngang, người lái xe thản nhiên kéo một hồi còi và điểm nhịp, từng đợt khói trắng hình chữ O nối tiếp nhau thổi lên trời, âm thanh dội vào đêm, phá tan sự tĩnh lặng, báo hiệu sự bình yên như chưa bao giờ bình yên vậy.

Sau khi thoát nạn đường sắt, chính người đàn ông ấy lại giúp Tâm và Sơn sửa chữa xe. Nhìn ông thao tác thành thạo, Tâm hỏi:

- Bác ra thợ sửa chữa hay là lái xe mà thạo thế?

- Không giỏi nhưng cũng biết lọc vọc - Ông vừa xoáy ốc vừa nói - Trước khi vào bộ đội mình vốn là chợ rèn nên được xếp vào làm lính thợ. Mỗi lần xe vào xưởng mình lại tò mò tọc mạch tìm hiểu.

- Thế sao bác không ở bộ đội nữa? - Sơn hỏi

- Nghe nói đình chiến hai năm rồi sẽ tổng tuyển cử thống nhất hai miền Nam Bắc nên tớ mới xin về phục viên. Ai ngờ mười lăm năm rồi mà vẫn còn ác liệt thế này. - Rồi ông hỏi Sơn - Nghe tiếng thì biết đồng chí quê xứ Thanh.

- Dạ, quê cháu huyện Hoàng Mai - Sơn đáp.

- Đồng bào vùng trong ấy gian nan vất vả nhưng cũng anh hùng lắm! Suốt ngày bị máy bay trên không oanh tạc, tàu thuỷ ngoài biển bắn vào. - Mẹ cha thằng Mỹ - Chửi Mỹ xong ông xoa tay bảo Tâm - Thôi, được rồi đấy, đồng chí lên bật công tắc nổ thử xem thế nào.

Tiếng máy rền rã phá tan bầu không khí buổi sáng. Vù ga thử thêm mấy lần nữa ông nhảy xuống:

- Thôi, mời các tướng lên đường.

Lúc chia tay, thấy Tâm áy náy cứ nhắc đi nhắc lại lời xin lỗi vì việc đã xẩy ra. Ông cười xòa:

- Lúc các tướng không cho đi nhờ là tớ biết tỏng ngay rồi. Thời chiến, làm gì có xe quân sự chở than đốt gạch. Kể ra chỉ xe đạp không thì tớ chẳng cần, nhưng đằng này là hành giống. Cũng may tớ nhặt được mảnh ni lông của ai đánh rơi che nên cũng tạm.

- Thế bác chở từ đâu về? - Sơn hỏi.

- Nghe nói bên Thường Tín có giống hành cho năng suất cao, tớ đi lấy về thử trồng xem thế nào. Biết đâu đấy lại hợp với đất quê mình. Vùng tớ đất đai, ruộng đồng khó tính lắm, trồng lúa, rơm nhiều hơn thóc. Hôm qua trước lúc đi tớ phải thồ một sọt đất sang bên ấy để so sánh xem thế nào rồi mới quyết định mang giống về.

- Thế có được không bác? - Sơn hỏi.

- Chất đất có hơi khác một chút, nhưng bà con bên ấy bảo trộn nhiều gio vào là cải tạo được.

- Thế quê bác còn xa đây không ạ? - Tâm hỏi.

Người đàn ông cười, nụ cười hiền lành hiện trên khuôn mặt khắc khổ:

- Các tướng đang đứng trên đất quê mình chứ đâu! - Rồi ông chỉ tay về mấy rặng tre có thấp thoáng mấy nóc nhà lợp rạ lụp xụp nằm sát bờ sông máng đang làm dở. - Đấy, nhà mình ở chỗ ấy.

Sơn và Tâm nhìn theo tay ông nhưng thái độ như chưa hiểu. Thấy vậy ông nói;

- Đấy mới là ấp, ít dân nên chưa được gọi là làng. Thôi, sáng rồi, chuyện trò mãi nhỡ máy bay nó ra thì lại khổ. Để các tướng đi đổ hàng cho kịp. Nhưng nhớ trót dại lần này thôi nhá! Nếu ai cũng liều như các tướng thì bao giờ mới đánh xong Mỹ để giải phóng miền Nam?

Tâm và Sơn cúi mặt xuống nín lặng như đứa trẻ biết lỗi rồi trèo lên buồng lái. Đang định cài số để đi, bỗng nghĩ thế nào Tâm mở cửa nhảy xuống, hỏi:

- Bác cho chúng cháu biết tên để có dịp cháu sẽ đến thăm.

- Hẹn nhau ngày toàn thắng. Cứ hỏi Nhâm Ấp Tre ai cũng biết!

Chợt Tâm dang tay ôm choàng lấy ông, ghì mặt mình vào đám râu tua tủa của ông, thì thào:

- Chào bố, chúng con đi.

Hẹn thế, nhưng đã toàn thắng mấy chục năm trôi qua rồi mà chưa một lần nào Sơn quay lại. Sau lần đó, anh được lệnh hành quân vào Nam, còn Tâm được điều về Đoàn vận tải 559. Hòa bình, Sơn chuyển ngành về công tác ở quê. Trong dịp vào dự Lễ kỉ niệm Giải phóng miền Nam Thống nhất Tổ quốc ở thành phố Hồ Chí Minh, Sơn gặp lại Tâm. Hai người bồi hồi nhắc lại chuyện cũ, hẹn hò nhau thể nào có dịp sẽ về thăm lại ân nhân.. Nhưng..

Nhưng cho đến khi cầm trên tay bức điện khẩn của Tâm, thì Sơn mới nhận ra mình đã là kẻ thất hứa, vô tình. Nhưng thà muộn còn hơn không. Sơn ra ga lấy vé lên tàu. Đến Hà Nội thì trời sáng, vừa kịp chuyến xe khách đầu tiên.

* * *

Theo lời chỉ dẫn của người phụ xe, Sơn xuống bến xe khách ở Khu công nghiệp Bình Minh, rồi nhảy lên một chiếc xe ôm. Chiếc xe ôm đưa anh đi xuyên vào giữa khu công nghiệp, các nhà máy hiện đại nằm phơi mình trong nắng sớm. Anh cảm thấy mình như lạc vào một nơi xa lạ, liền nhắc:

- Này, cho mình vào Ấp Tre nhé!

- Thì đang trên đường Ấp Tre đấy bác! - Người lái xe ôm trả lời.

Ấp Tre bây giờ đổi thay thế này ư? Một khu dân cư rộng lớn, sầm uất, với từng dãy nhà tầng và lợp ngói đỏ nằm san sát theo trục đường bê tông ngang, dọc. Những hàng cây bạch đàn, phi lao to, cao, thẳng tắp, hình tháp bút in trên nền trời xanh thắm, rì rào vẫy gió. Cho đến lúc vượt qua dốc Sơn mới nhận ra nơi ngày xưa chiếc ô tô đã gặp nạn. Dải đường sắt và bãi cỏ, chỗ chiếc xe trôi xuống hình hài vẫn còn, tuy bây giờ mặt đường rộng rãi và đã trải nhựa. Sơn đang bâng khuâng nhớ về những kỉ niệm thì chợt từ xa có tiếng trống, kèn vọng lại, rồi mùi nhang trầm theo gió ngan ngát đưa hương..

Đường bờ kênh xóc, thi thoảng có những rãnh thoát nước xẻ ngang khiến chiếc xe đi rất chậm. Sốt ruột, sơn bám vào vai người lái nhổm hẳn lên để nhìn. Anh bàng hoàng nhìn thấy, xa xa, phía bên kia bờ kênh, một dải lụa trắng như mấy bồng bềnh rỡ ràng bay trong nắng sớm, trải dài như vô tận. Vội vã, Sơn nhảy xuống, hối hả chạy.. Anh đã nhận ra đó là mầu khăn trắng vấn trên đầu những người đưa tang kết thành một dải..

Sơn đã theo kịp đoàn người. Anh lọt vào giữa một rừng khăn tang, mắt ai cũng đỏ hoe, sụt sùi thương tiếc. Sơn thắc thỏm: Làm sao đám tang của một người nông dân mà đông đến thế? Hay đây là một sự trùng hợp ngẫu nhiên? Đang băn khoăn thì Sơn nhìn thấy Tâm từ trên đi xuống. Anh lao tới, hai người ôm chầm lấy nhau riết róng, Tâm nức nở: Sơn ơi, trước khi mất bác Nhâm cứ nhắc đến Sơn mãi.. Rồi bác nói không chờ được Sơn đâu.. Sơn gục đầu vào ngực Tâm thổn thức, hai bàn tay siết chặt vai bạn, môi cắn chặt, toàn thân run rẩy.. Bác Nhâm ơi, cháu đã về với bác đây.. Xin bác hãy tha thứ cho một kẻ vô tình, vô nghĩa.. Bà con ơi, hãy cho kẻ vô ơn này được tạ tội cùng ân nhân lần cuối.. Tâm vỗ vỗ vào vai Sơn dỗ dành: Thôi Sơn ơi, đừng tự dày vò mình nữa. Bác Nhâm thấy hai đứa chúng mình cùng có mặt thế này là bác ấy vui lắm rồi. Sơn nghẹn ngào: Tâm nói với người nhà của bác Nhâm cho mình xin cái khăn.. Tâm cởi chiếc khăn trắng đang đeo trên đầu mình xuống, dùng răng xé dọc làm đôi, quấn lên đầu bạn:

- Sơn ơi, bác Nhâm đâu còn có người thân. Bác là bộ đội Nam tiến từ những ngày đầu kháng chiến. Năm 1954 bác tập kết ra Bắc, để lại một người vợ trẻ và ba đứa con thơ dại. Những tưởng sau hai năm sẽ được đoàn tụ. Ai ngờ, vợ con của bác đã bị bọn Mỹ - Diệm giết hại dã man trong nhà tù Phú Lợi.. Năm 1962, bác là người đầu tiên đưa mười hộ gia đình ra đây khai hoang lập nên vùng quê mới. Để tìm hướng canh tác cho bà con, bác đã lặn lội, mày mò đi các nơi, dành dụm chút tiền thương tật ít ỏi của mình để tìm ra giống cây trồng cho phù hợp, biến nơi đây từ một vùng hoang hóa, cằn cỗi, nghèo nàn trở nên một vùng chuyên canh trù phú.. Hôm nay đưa tiễn bác đi, toàn thể nhân dân nơi đây tự vấn lên đầu mình một vành khăn tang, để tưởng nhớ tới một vị Thành Hoàng đã có công khai lập..

Sơn lặng người, khuỵu xuống, những điều con lại của một con người bây giờ anh mới biết, cứ day dứt xoáy sâu vào trái tim như một niềm thức tỉnh..​

Nguyễn Nhuận Hồng Phương
 
278 ❤︎ Bài viết: 793 Tìm chủ đề

34. Niềm tin của mẹ - Nguyễn Nhuận Hồng Phương​


20260821-011405-4e1e51881b.png


Truyện cực ngắn

Tôi và Toàn cùng tuổi, cùng xóm và cùng nhập ngũ một ngày. Năm 1972 Toàn hy sinh ở chiến trường Quảng trị, còn tôi bị thương, mất khả năng chiến đấu nên sau khi điều trị đơn vị cho ra quân. Tôi về nhà làm nghề thợ may kiếm sống. Mẹ của Toàn thi thoảng sang chơi, và mặc dù địa phương đã gửi giấy báo tử cho gia đình, nhưng không hiểu sao mỗi khi nhắc đến Toàn bà vẫn đinh ninh con trai mình còn sống. Tôi hiểu và thông cảm với niềm hy vọng nhỏ nhoi, le lói cho dù không có thật trong tâm hồn người mẹ khuất sau thân hình nhỏ bé, già nua vì tuổi tác, nên đành im lặng sợ làm bà thêm thất vọng và đau khổ..

Một hôm bà sang khoe với tôi vừa lên thăm đơn vị cũ của Toàn để hỏi thăm về người con trai mình và vẫn đinh ninh giữ niềm tin Toàn còn sống. Thương bà, tôi lựa lời khuyên: - "Thôi cụ ạ. Con nói thật, bây giờ cụ già rồi, đường sá xa xôi, tàu, xe đi lại khó khăn, vất vả, cụ đừng đi tìm nữa. Nếu anh Toàn còn sống, anh ấy tự khắc sẽ tìm về..". Đang nói bỗng nhiên cái kim thùa cúc áo trong tay tôi vô tình rơi xuống đất lẫn trong đám giẻ vụn. Tôi cúi xuống bới tìm phải một lúc sau mới thấy. Khi tôi cầm chiếc kim ngẩng mặt lên, bà đăm đăm nhìn tôi rồi nói: - "Tổ sư mày, nhỏ như cái kim, đáng gì tiền mà mày còn đi tìm.. Huống chi là con tao..".

Tôi lặng người, lòng dâng trào cảm xúc, khoé mắt cay cay.. Tôi dang tay ôm choàng lấy bà ghì riết vào lòng mình thảng thốt: - "Con xin lỗi Mẹ..".

Theo lời kể của Tần

Nguyễn Nhuận Hồng Phương
 

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back