1,642 ❤︎ Bài viết: 1904 Tìm chủ đề
3221 149
thread-13883-1785867992-d44cda81c0.webp


Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm văn học lớp 9

Phiên bản đầy đủ:

Đồng chí - Chính Hữu

Bài thơ Đồng Chí được nhà thơ Chính Hữu sáng tác năm 1948, sau khi tác giả đã cùng đồng đội tham gia chiến đấu trong chiến dịch Việt Bắc thu đông (1947), đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn của giặc Pháp lên chiến khu Việt Bắc. Tác phẩm in trong tập thơ "Đầu súng trăng treo".

Năm ấy, Chính Hữu mới vừa tròn 20 tuổi; đang là chính trị viên đại đội thuộc Trung đoàn Thủ Đô. Đại đội của anh được biệt phái đi truy kích địch trên vùng Việt Bắc. Sau chiến dịch phục kích này, mình bị ốm (bệnh), đơn vị hành quân, nhưng có cử một anh ở lại trông nom, giúp đỡ mình. Chính nhờ một phần sự tận tình của anh và tình cảm của đồng đội mà sau trận ốm này mình viết bài "Đồng chí"

Bài thơ ca ngợi tinh thần đồng đội, đồng chí thiêng liêng cao đẹp, vào sinh ra tử có nhau của các anh bộ đội thời kháng chiến chống Pháp. Chính tình đồng đội, đồng chí thiêng liêng cao đẹp là ngọn nguồn sức mạnh giúp người lính vượt qua mọi gian khổ khó khăn, dũng cảm chiến đấu, hoàn thành nhiệm vụ.

Bài thơ về tiểu đội xe không kính - Phạm Tiến Duật

Bài thơ về tiểu đội xe không kính được nhà thơ Phạm Tiến Duật sáng tác năm 1969, trên con đường chiến lược Trường Sơn. Bài thơ nằm trong chùm thơ được giải Nhẩt của cuộc thi thơ báo Văn nghệ tổ chức và được đưa vào tập thơ "Vầng trăng – Quầng lửa" (1970) của tác giả.

Bài thơ được sáng tác trong thời kì cuộc kháng chiến chống Mĩ đang diễn ra rất gay go, ác liệt. Miền Bắc được giải phóng nhưng miền Nam vẫn tiếp tục chiến đấu chống đế quốc Mĩ. Vượt qua mưa bom bão đạn của kẻ thù, đoàn xe vận tải vẫn ngày đêm bất chấp gian khổ và hi sinh để vận chuyển tiếp viện miền Nam. Phạm Tiến Duật đã ghi lại những hình ảnh tiêu biểu của nơi khói lửa Trường Sơn. Lấy cảm hứng từ những chiếc xe không kính đã làm nền để nhà thơ chiến sĩ khắc họa thành công chân dung người chiến sĩ lái xe.

Bài thơ ca ngợi những người chiến sĩ lái xe Trường Sơn thời đánh Mĩ dũng cảm ngoan cường, lạc quan yêu đời trong mưa bom bão đạn, quyết chiến đấu hi sinh vì một lí tưởng cao cả là giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc.

Đoàn thuyền đánh cá - Huy Cận

Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá được nhà thơ Huy Cận sáng tác năm 1958, trong chuyến đi thực tế dài ngày tại vùng mỏ Quảng Ninh. Từ chuyến đi này hồn thơ Huy Cận mới thực sự nảy nở trở lại và dồi dào trong cảm hứng về thiên nhiên đất nước, về lao động và niềm vui trước cuộc sống mới. Bài thơ được in trong tập thơ "Trời mỗi ngày lại sáng" (1958)

Hưởng ứng cuộc vân động viết về cuộc sống mới hòa bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc của chính phủ, năm 1958, Huy Cận hăm hở đến với vùng mở Quảng Ninh. Chính niềm vui dạt dào tin yêu trước cuộc sống mới đang hình thành, đang thay da đổi thịt đã trở thành nguồn cảm hứng lớn của thơ ca lúc bấy giờ. Từ chuyến đi ấy, hồn thơ của ông mới thực sự nảy nở trở lại và dồi dào cảm hứng về thiên nhiên đất nước, về lao động và niềm vui trước cuộc sống mới.

Bài thơ miêu tả đoàn thuyền đánh cá trong một đêm trăng trên Hạ Long, qua đó ca ngợi thiên nhiên đất nước nên thơ tươi đẹp đang trên đà thay da đổi thịt, hình ảnh những con người mới, hăng say lao động, tư thế hiên ngang, tràn đầy lạc quan tin tưởng, đang vươn lên làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc sống của mình.

Bếp lửa - Bằng Việt

Bài thơ Bếp lửa được sáng tác năm 1963, khi tác giả đang là sinh viên học ngành Luật ở nước ngoài. Bài thơ được đưa vào tập "Hương cây – Bếp lửa" (1968), tập thơ đầu tay của Bằng Việt và Lưu Quang Vũ.

Bếp lửa là niềm hồi tưởng xúc động của nhà thơ về hình ảnh bếp lửa quen thuộc, gần gũi và hình ảnh người bà hiền hậu. Những năm đầu theo học luật tại Kiep, nước Nga, từ xa tổ quốc, nhà thơ nhớ đến quê nhà da diết. Tháng 9 ở bên đó trời se se lạnh, buổi sáng sương khói thường bay mờ mờ mặt đất, ngoài cửa sổ, trên các vòm cây, gợi nhớ cảnh mùa đông ở quê nhà. Mỗi buổi dạy sớm đi học, nhà thơ hay nhớ đến khung cảnh một bếp lửa thân quen, nhớ lại hình ảnh bà nội lụi cụi dạy sớm nấu nồi xôi, luộc củ khoai, củ sắn cho cả nhà. Từ đó khơi gợi nguồn cảm hứng để nhà thơ viết nên bài thơ này.

Qua hình ảnh Bếp lửa – ngọn lửa, tác giả thể hiện lòng thương nhớ, kính yêu và biết ơn bà của đứa cháu đi xa, đồng thời nói lên tình yêu tha thiết đối với gia đình, quê hương, đất nước.

Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ - Nguyễn Khoa Điềm

Bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ được Nguyễn Khoa Điềm sáng tác năm 1971, khi đang công tác tại chiến khu miền tây Thừa Thiên. Tác phẩm sau này được in trong tập "Đất và khát vọng" (1984).

Đầu năm 1971, cuộc kháng chiến chống Mĩ của nhân dân ta bước vào giai đoạn khốc liệt nhất trong lịch sử. Quân giặc liên tục mở những cuộc tiến công ác liệt tàn phá miền Bắc khiến cuộc sống của bộ đội và nhân dân ta trên các chiến khu rất gian nan, thiếu thốn. Ở những chiến khu miền rừng núi, cán bộ và nhân dân ta vừa bám rẫy, bám rừng vừa gia tăng sản xuất, vừa sẵn sàng chiến đấu bảo vệ căn cứ. Lấy cảm hứng từ cuộc soogns lao động và chiến đấu của đồng bào miền núi, Nguyễn khoa Điềm viết nên bài thơ này để cỗ vũ tinh thần đánh giặc của cả nước.

Bài thơ ca ngợi tấm lòng đôn hậu, dạt dào tình thương con của bà mẹ Tà ôi, tình thương con gắn liền với tình yêu nước, yêu bộ đội Cụ Hồ, yêu bà con làng bản quê hương.

Ánh trăng - Nguyễn Duy

Bài thơ Ánh trăng được Nguyễn Duy sáng tác năm 1978, khi ông đang là đại diện thường trú của Báo Văn nghệ tại thành phố Hồ Chí Minh. Bài thơ được in trong tập thơ cùng tên của tác giả.

Nguyễn Duy vốn là người lính. Sau khi đất nước giải phóng, ông vào làm việc và sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh. Bài thơ chính là những trải nghiệm thực tế của chính bản thân ông. Nơi đô thị của cuộc sống tiện nghi hiện đại, những người từ trận đánh trở về đã để lại sau lưng cuộc chiến gian khổ mà nghĩa tình. Mượn hình ảnh ánh trăng, nhà thơ bộ lộ chân thành và cảm động những ưu tư và niềm mong mỏi trân trọng và giữ gìn quá khứ nghĩa tình của con người khi bước vào cuộc sống mới.

Bài thơ ca ngợi vầng trăng tri kỉ của tuổi thơ, của người lính một thời trận mạc, đồng thời gợi nhắc mọi người biết sống ân nghĩa thủy chung, giữ tròn đạo lí tốt đẹp.

Làng - Kim Lân

Truyện ngắn Làng được Kim Lân sáng tác trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp và đăng lần đầu trên tạp chí Văn nghệ năm 1948, tại chiến khu Việt Bắc.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, quân Pháp lật lọng, tiếp tục dưa quân sang xâm tái lược nước ta. Năm 1946, chính phủ cách mạng đưa ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Trong thời kì này, ì người dân nghe theo chính sách của chính phủ: Kêu gọi nhân dân ta tản cư, những người dân ở vùng địch tạm chiếm đi lên vùng chiến khu để chúng ta cùng kháng chiến lâu dài. Ở giai đoạn đầu, nhiều người dân còn hoang mang đối với chính sách của Ủy ban kháng chiến và con đường cách mạng của lãnh tụ Hồ Chí minh. Để trình bày những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân thời kì đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng thời cổ vũ tinh thần cách mạng, Kim Lân đã viết truyện ngắn Làng.

Truyện nói về tình yêu Làng của ông Hai Thu khi phải xa làng đi tản cư, qua đó ca ngợi tình yêu quê hương đất nước và tình yêu kháng chiến chống, yêu cách mạng của người nông dân Việt Nam trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.

Lặng lẽ Sa Pa - Nguyễn Thành Long

Truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa được Nguyễn Thành Long sáng tác trong chuyến công tác tại Lào Cai giữa mùa hè năm 1970 của tác giả. Truyện được in trong tập "Giữa trong xanh" (năm 1972).

Hưởng ứng cuộc vận động viết về cuộc sống mới hòa bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, năm 1970, Nguyễn Thành Long chủ động tìm kiếm chủ đề ở miền Tây Bắc xa xôi. Ông hướng sự quan sát tìm kiếm những vẻ đẹp bình dị, ẩn sâu trong cuộc sống ở những nơi xa xôi hẻo lánh của đất nước. Cuối cùng, ông cũng phát hiện được hình ảnh người thanh niên làm việc trên đỉnh cao Yên Sơn – Sa Pa cao 2600 mét. Đó là hình tượng và nguồn cảm ứng để ông hoàn thành tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa.

Thông qua cuộc gặp gỡ giữa bốn nhân vật, ông họa sĩ già, cô kĩ sư trẻ, bác lái xe với anh thanh niên làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu trên đỉnh Yên Sơn giữa núi rừng Lào Cai, tác giả ca ngợi những con người lao động bình thường đang âm thầm lặng lẽ cống hiến công sức của mình cho công cuộc xây dựng XHCN và thống nhất đất nước.

Chiếc lược ngà - Nguyễn Quang Sáng

Truyện ngắn Chiếc lược ngà được Nguyễn Quang Sáng viết năm 1966, khi tác giả hoạt động ở chiến trường Nam Bộ và được đưa vào tập truyện cùng tên của ông.

Năm 1966, Nguyễn Quang Sáng từ miền Bắc trở về miền Nam công tác. Ông hoạt động chủ yếu ở Vùng Đồng Tháp Mười. Một lần, ông đi ghe vào sâu trong rừng và sống ở một nhà sàn treo trên ngọn cây. Ở đó, có một đoàn giao liên dẫn đường toàn là nữ. Ông rất có ấn tượng với câu chuyện của một cô gái giao liên có chiếc lược ngà trắng. Lấy cảm hứng từ câu chuyện gia đình cảm động của nữ giao liên, sau khi nghe cô kể chuyện, lúc trở về, nhà văn ngồi viết một ngày, một đêm là hoàn thành tác phẩm này.

Truyện kể về tình cảm cha con sâu nặng của ông Sáu và bé Thu, qua đó tác giả ca ngợi tình cha con sâu nặng, tình đồng đội thiết tha trong cảnh ngộ éo le thời chiến tranh, đồng thời ca ngợi truyền thống cách mạng yêu nước của người nông dân Nam Bộ.

Phiên bản rút gọn:

Hoàn cảnh sáng tác: Đồng chí - Chính Hữu

Bài thơ sáng tác vào mùa xuân năm 1948, thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Bài thơ được đánh giá là tiêu biểu của thơ ca kháng chiến giai đoạn 1946 – 1954, nó đã làm sang trọng một tâm hồn thơ chiến sĩ của Chính Hữu.

Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ về tiểu đội xe không kính - Phạm Tiến Duật

Bài thơ viết năm 1969, thời kì cuộc kháng chiến chống Mĩ diễn ra rất ác liệt trên con đường chiến lược Trường Sơn.

Bài thơ được tặng giải nhất cuộc thi thơ của báo Văn nghệ năm 1969 và được đưa vào tập thơ "Vắng trăng quầng lửa" của tác giả.

Hoàn cảnh sáng tác: Đoàn thuyền đánh cá - Huy Cận

Bài thơ được viết vào giữa năm 1958, Huy Cận có chuyến đi thực tế dài ngày ở vùng mỏ Quảng Ninh. Từ chuyến đi thực tế này, hồn thơ Huy Cận mới thực sự nảy nở trở lại, dồi dào trong cảm hứng về thiên nhiên, về lao động và niềm vui trước cuộc sống mới.

Bài thơ được in trong tập thơ "Trời mỗi ngày một sáng"

Hoàn cảnh sáng tác: Bếp lửa - Bằng Việt

Bài thơ được sáng tác vào năm 1963, khi tác giả đang là sinh viên học ngành luật ở nước ngoài.

Bài thơ được đưa vào tập Hương cây – Bếp lửa (1968), tập thơ đầu tay của Bằng Việt và Lưu Quang Vũ.

Hoàn cảnh ra đời: Ánh trăng - Nguyễn Duy

Bài thơ ra đời vào năm 1978 tại thành phố Hồ Chí Minh. Ba năm sau ngày kết thúc chiến tranh, giải phóng niềm Nam, thống nhất đất nước.

Bài thơ như một lời nhắc nhở thức tỉnh con người.

Hoàn cảnh sáng tác: Con cò - Chế Lan Viên

Bài thơ được sáng tác vào năm 1962, in trong tập thơ Hoa ngày thường, chim báo bão (1967) của Chế Lan Viên.

Từ hình tượng con cò trong ca dao, bài thơ thể hiện những cảm xúc và suy tưởng sâu xa về người mẹ và ý nghĩa của lời hát ru trong cuộc đời mỗi con người.

Hoàn cảnh sáng tác: Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải

Tháng 11/1980, khi tác giả đang nằm trên giường bệnh những năm tháng cuối đời.

Bài thơ được xem như lời tâm nguyện thiêng liêng của nhà thơ gửi lại cuộc đời.
 
Chỉnh sửa cuối:
1,642 ❤︎ Bài viết: 1904 Tìm chủ đề
Việc nắm vững hoàn cảnh sáng tác giúp học sinh hiểu sâu hơn giá trị nội dung, tư tưởng cũng như ý nghĩa của các tác phẩm trong chương trình Ngữ văn lớp 9. Dưới đây là tổng hợp hoàn cảnh sáng tác các tác phẩm văn học lớp 9 ngắn gọn, đầy đủ và dễ học nhất.

1. Chuyện người con gái Nam Xương​


Tác phẩm thuộc tập "Truyền kì mạn lục" của Nguyễn Dữ, được sáng tác vào khoảng thế kỷ XVI. Truyện có nguồn gốc từ truyện cổ dân gian "Vợ chàng Trương", phản ánh số phận bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

2. Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh​


Đoạn trích được lấy từ tác phẩm "Vũ trung tùy bút" của Phạm Đình Hổ, viết vào đầu thời Nguyễn. Tác phẩm ghi chép chân thực về cuộc sống xa hoa, hưởng lạc của tầng lớp thống trị cuối thời Lê - Trịnh và những biểu hiện suy tàn của xã hội phong kiến.

3. Cố hương​


"Cố hương" là truyện ngắn tiêu biểu của nhà văn Lỗ Tấn, được in trong tập truyện "Gào thét" năm 1923. Tác phẩm được viết trong bối cảnh xã hội Trung Quốc nhiều biến động đầu thế kỷ XX.

4. Hoàng Lê nhất thống chí​


Tác phẩm do Ngô gia văn phái sáng tác bằng chữ Hán vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Nội dung ghi lại những biến động lịch sử lớn của đất nước trong giai đoạn Tây Sơn và nhà Lê.

5. Truyện Kiều​


Nguyễn Du sáng tác "Truyện Kiều" vào đầu thế kỷ XIX, dựa trên cốt truyện "Kim Vân Kiều truyện" của Trung Quốc. Tuy nhiên, bằng tài năng nghệ thuật của mình, ông đã tạo nên kiệt tác văn học mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam.

6. Đồng chí​


Bài thơ được Chính Hữu sáng tác năm 1948 sau chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947. Tác phẩm ra đời từ chính những trải nghiệm thực tế của tác giả trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

7. Bài thơ về tiểu đội xe không kính​


Phạm Tiến Duật sáng tác bài thơ năm 1969 trên tuyến đường Trường Sơn trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Hình ảnh những chiếc xe không kính được lấy từ thực tế chiến trường ác liệt.

8. Đoàn thuyền đánh cá​


Bài thơ được Huy Cận sáng tác năm 1958 sau chuyến đi thực tế dài ngày tại vùng biển Quảng Ninh. Đây là thời kỳ miền Bắc bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội với khí thế lao động sôi nổi.

9. Bếp lửa​


Năm 1963, khi đang học tập tại Liên Xô, Bằng Việt nhớ về quê hương và người bà kính yêu. Nỗi nhớ ấy đã trở thành nguồn cảm hứng để ông sáng tác bài thơ "Bếp lửa".

10. Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ​


Nguyễn Khoa Điềm viết tác phẩm năm 1971 tại chiến khu miền Tây Thừa Thiên trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Bài thơ lấy cảm hứng từ cuộc sống lao động và chiến đấu của đồng bào dân tộc Tà Ôi.

11. Ánh trăng​


Bài thơ được Nguyễn Duy sáng tác năm 1978 khi đang sinh sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh sau ngày đất nước thống nhất. Tác phẩm là lời nhắc nhở con người về đạo lý thủy chung, nghĩa tình.

12. Làng​


Kim Lân viết truyện ngắn "Làng" năm 1948 tại chiến khu Việt Bắc trong những năm đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Tác phẩm phản ánh sự chuyển biến trong nhận thức và tình cảm của người nông dân đối với cách mạng.

13. Lặng lẽ Sa Pa​


Truyện ngắn được Nguyễn Thành Long sáng tác năm 1970 sau chuyến công tác thực tế tại Lào Cai. Hình tượng anh thanh niên làm công tác khí tượng trên đỉnh Yên Sơn là nguồn cảm hứng chính của tác phẩm.

14. Chiếc lược ngà​


Nguyễn Quang Sáng viết tác phẩm năm 1966 khi hoạt động tại chiến trường Nam Bộ. Truyện được lấy cảm hứng từ những câu chuyện có thật về tình cảm gia đình trong chiến tranh.

15. Con cò​


Bài thơ được Chế Lan Viên sáng tác năm 1962 và in trong tập "Hoa ngày thường - Chim báo bão" năm 1967. Tác phẩm khai thác hình tượng con cò trong ca dao để ngợi ca tình mẫu tử.

16. Mùa xuân nho nhỏ​


Thanh Hải sáng tác bài thơ vào tháng 11 năm 1980 khi đang nằm trên giường bệnh. Dù sức khỏe suy yếu, nhà thơ vẫn thể hiện tình yêu cuộc sống và khát vọng cống hiến cho đất nước.

17. Viếng lăng Bác​


Bài thơ được Viễn Phương sáng tác năm 1976 khi lần đầu tiên từ miền Nam ra Hà Nội viếng lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh sau ngày đất nước thống nhất.

18. Sang thu​


Hữu Thỉnh sáng tác bài thơ năm 1977 trong những năm đầu hòa bình sau chiến tranh. Tác phẩm ghi lại những cảm nhận tinh tế của nhà thơ trước khoảnh khắc giao mùa từ hạ sang thu.

19. Nói với con​


Y Phương viết bài thơ năm 1980, trong bối cảnh đất nước vừa bước ra khỏi chiến tranh với nhiều khó khăn, thiếu thốn. Tác phẩm là lời tâm sự, nhắn nhủ của người cha dành cho con.

20. Mây và sóng​


Đây là bài thơ của nhà thơ Rabindranath Tagore, được viết bằng tiếng Bengal và in trong tập "Trẻ thơ" năm 1909. Tác phẩm thể hiện tình mẫu tử thiêng liêng qua trí tưởng tượng phong phú của trẻ em.

21. Bến quê​


Truyện ngắn được Nguyễn Minh Châu sáng tác và xuất bản năm 1985. Đây là giai đoạn nhà văn hướng ngòi bút vào những vấn đề đời sống và triết lý nhân sinh sâu sắc.

22. Những ngôi sao xa xôi​


Lê Minh Khuê viết truyện ngắn năm 1971 trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ diễn ra ác liệt trên tuyến đường Trường Sơn. Tác phẩm phản ánh cuộc sống và tinh thần chiến đấu của các nữ thanh niên xung phong.

23. Con chó Bấc​


Đoạn trích thuộc tiểu thuyết "Tiếng gọi nơi hoang dã" của Jack London, xuất bản năm 1903. Tác phẩm được viết dựa trên những trải nghiệm thực tế của tác giả tại vùng đất phương Bắc Canada.

24. Đấu tranh cho một thế giới hòa bình​


Văn bản được trích từ bài tham luận của G. G. Márquez tại cuộc gặp gỡ quốc tế năm 1986 nhằm kêu gọi chấm dứt chạy đua vũ trang và bảo vệ hòa bình thế giới.

25. Bàn về đọc sách​


Tác phẩm là bài luận nổi tiếng của Chu Quang Tiềm, được trích từ cuốn sách bàn về niềm vui và lợi ích của việc đọc sách. Bài viết khẳng định vai trò quan trọng của sách đối với sự phát triển tri thức con người.

26. Tiếng nói của văn nghệ​


Nguyễn Đình Thi viết tiểu luận này năm 1948 trong thời kỳ đầu kháng chiến chống thực dân Pháp. Tác phẩm bàn về sức mạnh và ý nghĩa của văn nghệ đối với đời sống con người.

27. Bố của Xi-mông​


Văn bản được trích từ truyện ngắn cùng tên của nhà văn Guy de Maupassant, một trong những cây bút hiện thực xuất sắc của văn học Pháp thế kỷ XIX.

28. Bắc Sơn​


Vở kịch "Bắc Sơn" của Nguyễn Huy Tưởng được sáng tác và công diễn năm 1946 trong không khí sôi nổi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ca ngợi tinh thần cách mạng của nhân dân Việt Nam.

Kết luận​


Nắm được hoàn cảnh sáng tác các tác phẩm văn học lớp 9 không chỉ giúp học sinh học tốt môn Ngữ văn mà còn hỗ trợ hiệu quả trong quá trình phân tích tác phẩm, cảm nhận giá trị nội dung và nghệ thuật. Đây là phần kiến thức thường xuất hiện trong các bài kiểm tra, thi học kỳ và thi vào lớp 10 nên cần được ghi nhớ kỹ.
 
1,642 ❤︎ Bài viết: 1904 Tìm chủ đề
Việc nắm vững hoàn cảnh sáng tác giúp học sinh hiểu sâu hơn giá trị nội dung, tư tưởng cũng như ý nghĩa của các tác phẩm trong chương trình Ngữ văn lớp 9. Dưới đây là tổng hợp hoàn cảnh sáng tác các tác phẩm văn học lớp 9 ngắn gọn, đầy đủ và dễ học nhất.

1. Chuyện người con gái Nam Xương​


Tác phẩm thuộc tập "Truyền kì mạn lục" của Nguyễn Dữ, được sáng tác vào khoảng thế kỷ XVI. Truyện có nguồn gốc từ truyện cổ dân gian "Vợ chàng Trương", phản ánh số phận bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

2. Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh​


Đoạn trích được lấy từ tác phẩm "Vũ trung tùy bút" của Phạm Đình Hổ, viết vào đầu thời Nguyễn. Tác phẩm ghi chép chân thực về cuộc sống xa hoa, hưởng lạc của tầng lớp thống trị cuối thời Lê - Trịnh và những biểu hiện suy tàn của xã hội phong kiến.

3. Cố hương​


"Cố hương" là truyện ngắn tiêu biểu của nhà văn Lỗ Tấn, được in trong tập truyện "Gào thét" năm 1923. Tác phẩm được viết trong bối cảnh xã hội Trung Quốc nhiều biến động đầu thế kỷ XX.

4. Hoàng Lê nhất thống chí​


Tác phẩm do Ngô gia văn phái sáng tác bằng chữ Hán vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Nội dung ghi lại những biến động lịch sử lớn của đất nước trong giai đoạn Tây Sơn và nhà Lê.

5. Truyện Kiều​


Nguyễn Du sáng tác "Truyện Kiều" vào đầu thế kỷ XIX, dựa trên cốt truyện "Kim Vân Kiều truyện" của Trung Quốc. Tuy nhiên, bằng tài năng nghệ thuật của mình, ông đã tạo nên kiệt tác văn học mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam.

6. Đồng chí​


Bài thơ được Chính Hữu sáng tác năm 1948 sau chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947. Tác phẩm ra đời từ chính những trải nghiệm thực tế của tác giả trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

7. Bài thơ về tiểu đội xe không kính​


Phạm Tiến Duật sáng tác bài thơ năm 1969 trên tuyến đường Trường Sơn trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Hình ảnh những chiếc xe không kính được lấy từ thực tế chiến trường ác liệt.

8. Đoàn thuyền đánh cá​


Bài thơ được Huy Cận sáng tác năm 1958 sau chuyến đi thực tế dài ngày tại vùng biển Quảng Ninh. Đây là thời kỳ miền Bắc bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội với khí thế lao động sôi nổi.

9. Bếp lửa​


Năm 1963, khi đang học tập tại Liên Xô, Bằng Việt nhớ về quê hương và người bà kính yêu. Nỗi nhớ ấy đã trở thành nguồn cảm hứng để ông sáng tác bài thơ "Bếp lửa".

10. Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ​


Nguyễn Khoa Điềm viết tác phẩm năm 1971 tại chiến khu miền Tây Thừa Thiên trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Bài thơ lấy cảm hứng từ cuộc sống lao động và chiến đấu của đồng bào dân tộc Tà Ôi.

11. Ánh trăng​


Bài thơ được Nguyễn Duy sáng tác năm 1978 khi đang sinh sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh sau ngày đất nước thống nhất. Tác phẩm là lời nhắc nhở con người về đạo lý thủy chung, nghĩa tình.

12. Làng​


Kim Lân viết truyện ngắn "Làng" năm 1948 tại chiến khu Việt Bắc trong những năm đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Tác phẩm phản ánh sự chuyển biến trong nhận thức và tình cảm của người nông dân đối với cách mạng.

13. Lặng lẽ Sa Pa​


Truyện ngắn được Nguyễn Thành Long sáng tác năm 1970 sau chuyến công tác thực tế tại Lào Cai. Hình tượng anh thanh niên làm công tác khí tượng trên đỉnh Yên Sơn là nguồn cảm hứng chính của tác phẩm.

14. Chiếc lược ngà​


Nguyễn Quang Sáng viết tác phẩm năm 1966 khi hoạt động tại chiến trường Nam Bộ. Truyện được lấy cảm hứng từ những câu chuyện có thật về tình cảm gia đình trong chiến tranh.

15. Con cò​


Bài thơ được Chế Lan Viên sáng tác năm 1962 và in trong tập "Hoa ngày thường - Chim báo bão" năm 1967. Tác phẩm khai thác hình tượng con cò trong ca dao để ngợi ca tình mẫu tử.

16. Mùa xuân nho nhỏ​


Thanh Hải sáng tác bài thơ vào tháng 11 năm 1980 khi đang nằm trên giường bệnh. Dù sức khỏe suy yếu, nhà thơ vẫn thể hiện tình yêu cuộc sống và khát vọng cống hiến cho đất nước.

17. Viếng lăng Bác​


Bài thơ được Viễn Phương sáng tác năm 1976 khi lần đầu tiên từ miền Nam ra Hà Nội viếng lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh sau ngày đất nước thống nhất.

18. Sang thu​


Hữu Thỉnh sáng tác bài thơ năm 1977 trong những năm đầu hòa bình sau chiến tranh. Tác phẩm ghi lại những cảm nhận tinh tế của nhà thơ trước khoảnh khắc giao mùa từ hạ sang thu.

19. Nói với con​


Y Phương viết bài thơ năm 1980, trong bối cảnh đất nước vừa bước ra khỏi chiến tranh với nhiều khó khăn, thiếu thốn. Tác phẩm là lời tâm sự, nhắn nhủ của người cha dành cho con.

20. Mây và sóng​


Đây là bài thơ của nhà thơ Rabindranath Tagore, được viết bằng tiếng Bengal và in trong tập "Trẻ thơ" năm 1909. Tác phẩm thể hiện tình mẫu tử thiêng liêng qua trí tưởng tượng phong phú của trẻ em.

21. Bến quê​


Truyện ngắn được Nguyễn Minh Châu sáng tác và xuất bản năm 1985. Đây là giai đoạn nhà văn hướng ngòi bút vào những vấn đề đời sống và triết lý nhân sinh sâu sắc.

22. Những ngôi sao xa xôi​


Lê Minh Khuê viết truyện ngắn năm 1971 trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ diễn ra ác liệt trên tuyến đường Trường Sơn. Tác phẩm phản ánh cuộc sống và tinh thần chiến đấu của các nữ thanh niên xung phong.

23. Con chó Bấc​


Đoạn trích thuộc tiểu thuyết "Tiếng gọi nơi hoang dã" của Jack London, xuất bản năm 1903. Tác phẩm được viết dựa trên những trải nghiệm thực tế của tác giả tại vùng đất phương Bắc Canada.

24. Đấu tranh cho một thế giới hòa bình​


Văn bản được trích từ bài tham luận của G. G. Márquez tại cuộc gặp gỡ quốc tế năm 1986 nhằm kêu gọi chấm dứt chạy đua vũ trang và bảo vệ hòa bình thế giới.

25. Bàn về đọc sách​


Tác phẩm là bài luận nổi tiếng của Chu Quang Tiềm, được trích từ cuốn sách bàn về niềm vui và lợi ích của việc đọc sách. Bài viết khẳng định vai trò quan trọng của sách đối với sự phát triển tri thức con người.

26. Tiếng nói của văn nghệ​


Nguyễn Đình Thi viết tiểu luận này năm 1948 trong thời kỳ đầu kháng chiến chống thực dân Pháp. Tác phẩm bàn về sức mạnh và ý nghĩa của văn nghệ đối với đời sống con người.

27. Bố của Xi-mông​


Văn bản được trích từ truyện ngắn cùng tên của nhà văn Guy de Maupassant, một trong những cây bút hiện thực xuất sắc của văn học Pháp thế kỷ XIX.

28. Bắc Sơn​


Vở kịch "Bắc Sơn" của Nguyễn Huy Tưởng được sáng tác và công diễn năm 1946 trong không khí sôi nổi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ca ngợi tinh thần cách mạng của nhân dân Việt Nam.

Kết luận​


Nắm được hoàn cảnh sáng tác các tác phẩm văn học lớp 9 không chỉ giúp học sinh học tốt môn Ngữ văn mà còn hỗ trợ hiệu quả trong quá trình phân tích tác phẩm, cảm nhận giá trị nội dung và nghệ thuật. Đây là phần kiến thức thường xuất hiện trong các bài kiểm tra, thi học kỳ và thi vào lớp 10 nên cần được ghi nhớ kỹ.
 
Từ khóa: Sửa

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back