1 ❤︎ Bài viết: 1 Tìm chủ đề
31 0
Truyện một người du-học-sinh an-nam

(Đoản-thiên tiều-thuyết)

Tặng hương-hồn Lê Phong-Ảnh

Xóm-Cồn, đêm hôm 16 Septembre.

«.. Lần này thì em chết mất, em xem trong mình thấy không còn đủ sức mà chống lại được với cái chết nữa rồi. Em chết mất, anh ạ. Ngày hôm qua, hai lần thồ ra huyết, thầy thuốc xem mạch nói rằng cái tâm-bệnh của em đã đến độ cùng, đời em cho lâu lắm cũng chỉ còn vài ba ngày nữa. Ngay lúc ấy định viết thư cho anh mà tay cầm không nồi bút, đến hai con mắt cũng ráo hoảnh, không đủ nhỏ lấy được một hạt châu.

« Qua một đêm thu lạnh, nhờ có cơn gió bề nên em ngủ được nhiều, sáng nay bừng mắt tỉnh ra thì người đã như hồi-lực. Cầm đến gương soi thấy mặt-mày tiều-tụy, trán giãn mà lũm, tóc bù rối, mắt thâm quầng, không còn cái vẻ yêu-kiều mĩ-lệ như thu này năm trước. Bây giờ anh có thấy em, còn yêu em nữa cũng là yêu một tấm lòng, chứ đối với em thật anh không còn chút gì là mĩ-cảm. Trông vào gương mà lòng chua-xót, muốn khóc cho cái tuổi xuân kia đã sớm vội lìa mình. Anh ơi! Cuối thu sen đã tàn rồi, em bây giờ cũng như đóa quỳ đã cỗi, cánh tàn hương lạt, còn chăng có sợi tơ lòng.

« Từ độ mắc bệnh khái-huyết đến giờ, em tự biết mình rằng ngày một ngày hai đã đi dần vào cõi chết, mà chết là phải, người ta đã đến thồ ra huyết thì sống làm sao được, tức cũng như đóa hoa kia hết nhựa, còn mong gì lâu được xanh tươi?

« Trước kia, anh thường ngỏ với em rằng mỗi lần mắt anh được trông thấy một cảnh gì đẹp, tai được nghe một tiếng gì hay, nói tóm lại là bao nhiêu những cái nó có thề gợi được cái lòng cảm-mĩ của anh, anh lại nhớ đến em, như đã được với em tai cùng nghe, mắt cùng thấy ; đến bây giờ, giả-thử anh được nhìn em một bận sau cùng trước khi đôi ta vĩnh-biệt thì cái cảm-tình của anh đối với cái hay cái đẹp thật không còn như trước, vì dung-nhan em đã tiều-tụy lắm rồi.

« Ấy, suốt một ngày hôm nay em cứ nằm mà mơ-màng, mà xót-xa cái tuổi xuân như thế, mắt cũng không còn lấy được một hạt lệ mà khóc cho cái tuổi xuân tàn. Than ôi, mộng-hồn của kẻ tha-hương đã như cùng với ngọn trào kia hôm mai lên xuống, rồi theo làn nước bề khơi mà mênh-mông bát-ngát, không còn biết bờ bến là đâu. Đang mộng-du giữa làn sóng bạc, chợt thấy cái cảnh một * chiều thu thê lương mà thảm đạm như trăm nghìn những chiều thu khác, sườn núi bóng chim, đầu non nhạn lạc, trông đóa hoa tự-do nở trong rừng mà buồn, nhìn bức tranh thu của Thiên-công mà cảm, thương thay đời phiêu-linh!

« Những * thu nay, nhất là về lúc chiều hôm, cái ánh nắng của vừng Thái-dương càng lạt đi bao nhiêu thì cái nhiệt-độ trong trái tim em lại cao lên ngần ấy ; trái tim ấy đã thành ra một khối lửa, nên bây giờ được lấy một giọt lệ tình của anh tưới vầy thì khối tâm ấy cũng đủ mà biến ra một khối tình. Thật anh đã làm chết em, anh ạ. Em mắc phải tâm-bệnh: Là từ sau lúc biết anh. Đời em đang vui sướng, cái tuổi xuân-xanh của em nó hẹn em biết bao nhiêu sự hoan-lạc ở đời, nào hạnh-phúc gia-đình, nào sự sướng vui trong cái sống ; sao em lại gặp anh, gặp anh rồi mà bao nhiêu sự hẹn-hò của cái tuổi xanh phải đến tiêu-trầm mất cả. Cái đời xuân-xanh của em mới 20 năm mà đã cỗi, em mới ngoài 20 tuổi sao đã phát ra cái tư-tưởng chán đời? Người ta, trong cái tuổi ấy còn chứa-chan biết bao hi-vọng, còn ham vui sự sống như người đánh bạc ham-mê cái cảnh huyên-náo ở sòng. Bây giờ thì đời em đã gần đến lúc tàn canh, cũng chẳng còn bao lâu nữa mà chết. Em chết mất, anh ạ, mà chính anh đã là người đầu-độc cho em! Đời người là gì? Chẳng phải là một mớ hi-vọng dư? Người ta đã đến tuyệt-vọng thì sống làm sao được! Em bây giờ thật không còn được một mảy-may hi-vọng, những cái hi-vọng của em ba năm trời về trước, một tay anh đã phá đồ cả rồi. Như thế sao em vẫn yêu anh, nhắm mắt mà yêu, yêu đến có thề nát thân liễu-bồ vì anh được. Từ độ em biết anh đến giờ, em mới nghiệm thấy rằng cái lực của ái-tình rất mạnh, mà anh là người có cái mãnh-lực sai-khiến được em, em thật đã thành ra nô-lệ của anh mà em cũng không hiều sao đứng trước anh, trước cái luồng sóng ái-tình, em phải yếu mềm đến thế.

« Anh thì đã có vợ, mà em thì một tấm liễu-bồ, tuổi xuân chưa quá, hoa chửa lìa cành, đào chưa dạn gió, sao em lại yêu anh? Lắm khi em tự biết như thế là không phải, cố quên hẳn anh đi mà không thề nào quên được. Có lúc em lại cố tìm những cái không hay không phải của anh đề ghét anh, đề làm tê-liệt cái cảm-tình của em đối với anh, mà cũng không sao được. Càng như thế, cái tình yêu anh lại càng đầm-thắm nồng-nàn, người ta đã đến phải lừa dối cái bụng của mình thật cũng đã là khồ-tâm lắm!

« Cái mình anh đã không phải là của em, mà em lại yêu anh, yêu đến não ruột bào lòng thì chỉ còn có một cách là ngậm đắng nuốt cay mà khồ. Mỗi lần em thấy anh cùng với người yêu đi về đường cũ, em chỉ ôm đầu mà thồn-thức một mình, định rằng lần sau không muốn gặp anh, đề lẩn anh ra bên ngoài cõi mắt ; định như thế mà nào có làm được, tình cờ gặp về em lại tựa cửa chờ anh, rồi lòng em lại xót-xa, dạ em lại thồn-thức, tự thấy mình lạnh-lùng trơ-trẽn như một người đứng ở giữa cánh đồng băng. Hai năm trời như thế, biết rằng mình đã lầm đường, nên em tìm cách đi xa cho tơ tình đoạn-tuyệt, khỏi gây nên cái ác-quả về sau. Không ngờ thần-giao cách-cảm, xa anh đã ngoài nghìn dặm mà có khi rõ-ràng mở mắt còn phảng-phất thấy anh ở góc hoa-viên như cái bóng trong cõi trời sương lạnh ngắt. Nào có thế mà thôi, nhắm mắt còn gặp anh trong cõi mộng, mộng thấy đời là nơi tiên-cảnh, đôi ta được tận-hưởng cái lạc-thú của hai chữ ái-tình, cái yên vui trong sự sống, thật như được nhìn một bức họa tả-mạc được cái chân-tướng của sự hạnh-phúc trong gia-đình ; chợt tỉnh dậy thì mình vừa qua một giấc cô-miên mà cái cảnh vui sướng của ái-tình quả là mộng-cảnh, rồi đấy lòng lại đau, ruột lại xót, mắt lại tuôn suối, vò-võ nằm cho đến sáng, tưởng chừng mai đây nhìn gương thì hẳn một mái tóc xanh của mình phải bạc vì mình đã quá dùng sức óc ; bởi thế bệnh khái-huyết năm xưa lại tái-phát, nhất là bây giờ, trời đã sang thu, về đêm hơi lạnh, quê người càng lại não lòng..

« Ngồi viết cho anh bây giờ đây là 1 giờ khuya, trừ ngọn đèn với em chung quanh không còn có vật gì là có cái vẻ sinh-hoạt cả. Cái hoàn-cảnh thật là buồn tênh tẻ ngắt, đêm khuya vò-võ một mình, dừng ngọn bút, trông đến cái gối lẻ, cái chăn đơn, mà bùi-ngùi thương-xót cho cái đời của những khách giang-hồ, người vong-mệnh. Ấy những đêm như đêm này và trăm nghìn đêm khác nữa, nghĩ cái ký-vãng của mình mà lo cho cái tương-lai, trông cái cảnh hiện-thời mà xót-xa cho mai-hậu, đêm khuya khắc-khoải, hết canh ấy sang canh khác, những đau-đớn như người nằm chờ cái chết nó sắp bước đến gần mình, bệnh cũ vì thế nay lại hoàn-nguyên, chắc vì trái tim mình nó cảm-xúc nhiều điều quá.

« Từ độ phiêu-linh đến giờ, nhất là từ ngày về ở chỗ Xóm-Cồn này là một giải cát vàng trông ra Nam-bãi, đêm nào em cũng trải qua một cuộc đau-đớn mà êm-đềm như thế ấy. Anh ơi, bên trời góc bề, sao anh còn theo em cho đến cùng đường? Em đã mất anh, cũng không còn cái quyền mà tìm anh nữa, thân-thể anh tuy đã vào tay người khác, mà tâm-hồn anh, em dám nhận là cái của báu của riêng em. Anh thương em lắm, anh yêu em lắm, cái thương yêu ấy đã thành ra một thứ khí độc làm cho em phải chết, lại là một thứ dưỡng-khí khiến em còn thoi thóp được đến ngày nay. Từ độ biết anh, em chỉ còn hi-vọng trong cái chết, đôi ta cùng chết thì cái lạc-thú của ái-tình không còn ai chia xẻ được! Hoàng-tuyền! Hoàng-tuyền là nơi quê-hương rất đầm-ấm của những người ở đời phải cay-đắng đau khồ về hai chữ ái-tình, hãy mở cửa mà đón lấy ta cho ta còn được là người có chút đời hi-vọng. Bằng-giang anh ơi, em được chết về bệnh này thì may lắm, em muốn được thồ ra huyết trước khi từ-giã cõi trần đề tạ cái lòng anh đã thương yêu em trong năm năm trời nay vậy. Cái tiếng đồng-hồ sau cùng ấy cũng chẳng còn bao lâu mà sẽ đánh, mở cửa sồ trông ra đã thấy thần « Ái-tình » và thần « Chết » giương đôi cánh bạc mà bay đến dần dần. Mũi tên ở dây cung của thần « Ái-tình » kia đã nhằm trái tim em mà đến, cái lưỡi liềm sáng quắc của thần « Chết » cũng sắp đưa qua cái cỗi hồng nhan ; than ôi, máu chảy hoa tan, đó là cái giờ ta hãy tạm cách nhau âm-dương hai ngả! Đêm nay trông cảnh trời trăng xa xa hai làn cát bề như hai cái vết xe thiên-cồ đi đến nơi vực thẳm tận-cùng: Đường về Hoàng-tuyền, mai đây em sẽ là người khách bộ-hành trên con đường ấy. Than ôi! Hoa trôi nước chảy, sự ấy đã là sự đáng thương-tâm, mà bèo hợp mây tan, càng giục nỗi lòng son sương-tuyết..

« 17 Septembre « Sự vui sướng đã không muốn có em nữa, thôi, thật là hết cái kiếp này. Ba giờ đêm hôm qua lại thồ ra huyết một lần nữa, ngất đi rồi tỉnh lại, lại đến một cơn ho, ho như xé gan xé phồi. Em xin phép anh thu cái tàn-lực ngồi chép nốt cuốn sách này. Một dòng máu và một tập lệ-sử, đó là những cái kỷ-niệm-vật xin tặng anh sau khi em chết. Sự vui sướng đã không muốn có em nữa, em sẽ đến nơi người ta thường bảo: « Sống là gửi, thác là về », ở đấy họa may em sẽ được yên, được là người còn có một hai hi-vọng..

« 20 Septembre. « Em không còn đủ sức nâng tay vấn lấy hai làn tóc, tóc mây hai món, em đành đề xõa xuống như ngày còn thơ.. Chiều hôm nay trời hơi hửng nắng, cuối vườn thấy tiếng chim quyên giọng hót cuối mùa, nghe càng não ruột. Chim quyên kia ơi, tiết thu đã đến, mi sắp lìa cành, trong cảnh rừng thu mày chịu sao được bao cái gió sương những ngày thu lạnh mà ẩn nấp đâu đề đợi cho đến ngày cây lại tươi xanh? Còn như ta, đường đi đã hết, xuân về hoa mọc, rồi ra ta chẳng được nhìn, nhưng mai đây ta sắp được về chốn Hoàng-tuyền mà dự * tiệc xuân vô-tận.. »

Tôi vừa đọc dứt tiếng, chưa kịp ngầng lên nhìn thì bạn tôi nói: - Tôi đi du-học trong ba năm trời, lấy được cái bằng cử-nhân rồi, khi về đến Bắc-kỳ thì tiếp được cuốn lệ-sử này và cái tin buồn rằng Phong-Ảnh đã chết. - Có lẽ anh sang Pháp lần này là lần thứ hai thì phải. - Vâng, lần thứ hai rồi..

Tôi nghe anh Bằng-giang nói, chợt nhớ đến độ cuối thu một năm trước, khi ở đất Hải-phòng bước chân xuống tàu bề đi Pháp, hai giờ đồng-hồ trước lúc tàu chạy, thấy anh xách một cái va-li lớn đã hơi cũ, ở mé đường Sáu-kho bước dảo ra bến rồi lên cầu tàu, anh cúi mặt mà đi rất nhanh, trông ra bộ một người đi doanh-thương chứ không phải là đi du-học.

Tám giờ tối, tàu cất cầu dời bến, tôi xuống phòng tàu thay áo đề sang buồng ăn, khi mở cửa phòng bước vào, thấy anh đang mở va-li xếp lại đồ-đạc.

Trong phòng có bốn ô-giường chia thành hai tầng ; tầng trên tôi, cái ô-giường số 34 là chỗ anh Lê Thanh-Liên bạn đồng-học tôi nằm, ô-giường của tôi số 36, còn hai ô-giường mé bên kia, cũng cái trên số 35, cái dưới số 37. Giường số 35 không có người, còn cái ô-giường số 37 tức là cái đối với giường tôi, là giường anh Bằng-giang mà tôi trông lầm là người đi doanh-thương vậy.

Những phòng tàu thuộc về hạng nhì này, so với hạng nhất hơi hẹp. Phòng chúng tôi nằm cũng hẹp như thế. Bề mặt được độ 8 thước vuông tây, hai bên hai tầng giường, giữa cái lối đi rộng độ nửa thước, có giải thảm ; đối với cửa vào, có bộ bàn rửa mặt, dưới gầm hai ô-giường dưới là chỗ đề hòm rương va-lít, trên hai tầng ô-giường trên là chỗ đề phù-phao.

Chuông của bọn bồi tàu đi lắc đề báo hiệu đến giờ ăn đã gióng-giả đến hơn mười phút đồng-hồ rồi, khách ăn hạng nhì, cứ nhìn đĩa bày trên bàn thì biết rằng có 8 người ; 7 người đâu đã ngồi vào đây, tôi có ý nhận thì không thấy anh Bằng-giang. Bấy giờ, bụng bảo dạ: « Anh chàng này có lẽ chưa biết chuông báo hiệu ăn chăng? ». Vừa toan đứng dậy, định bụng lấy cách lịch-sự ra tìm mà bảo anh, thì thấy có tiếng sọc-sạch ở quả-đấm cửa. Cửa phòng ăn hé mở, tôi nhìn thấy một bộ mặt rất khắc-khồ đẩu vào, định-nhỡn mà nhìn thì chính là anh Bằng-giang, người tôi toan đi gọi. Bước vào phòng rồi, anh quay lưng khép cửa lại, tôi nhanh mắt nhìn anh suốt từ đầu đến chân.

Anh, người hơi cao mà mảnh, đầu húi rẽ, mặt xương-xương, trông nhanh-nhẹn lắm. Cái quần và cái áo dạ thâm cồ đứng anh mặc, đã hơi cũ, hai chỗ khuỷu tay đã bạc, đôi giầy tây đen có cồ, đầy những bụi ; bộ quần áo ấy và đôi giầy ấy vẫn là bộ quần áo và đôi giầy khi tôi nhìn thấy anh ở bến bước lên tàu.

Anh bước vào, ngồi xuống chiếc ghế không ở bàn ăn, điềm-nhiên như người đã biết rằng ghế ấy là ghế của mình từ trước. Đoạn anh mở rộng cái khăn « sà-vột » đề trên đĩa mà phủ xuống hai đầu gối, rồi ngồi khoanh tay trên bàn, cúi nhìn cái đĩa đề trước mặt như đang có sự gì nghĩ-ngợi. Lúc ấy tôi mới thật được nhìn rõ mặt anh. Cái mặt trái xoan mà rất xương, mầu da hơi đen sạm, hai mắt rất sắc, sống mũi và đôi gò má hơi cao. Cái mồm trông xinh, trên mép lơ-thơ mọc mấy cái râu, chừng như không năng sửa cạo. Đến cái trán thì thật cao, chính chỗ giữa có một đường gân nồi. Thỉnh-thoảng anh chau mày hình như cố tìm một cái hình-ảnh gì về cuộc đời dĩ-vãng thì cái trán cao ấy lại có vết giăn, chừng như sự đau khồ đã chạm khắc lên trên trán anh những cái vết giăn đã từ lâu ngày rồi vậy. Nhìn kỹ thì năm ấy anh chừng 25 tuồi, song thoáng trông thì ai cũng cho là đến 30, cái nét mặt khắc-khồ của anh chắc đã làm cho nhiều người phải lầm như thế.

Ăn xong, mọi người cũng đứng dậy, anh về phòng ngủ rửa mặt, tôi ngồi lại phòng ăn một lát rồi cũng ra theo. Vào khoảng 10 giờ tối, tôi ở phòng bước lên boong tàu đã thấy anh đứng tựa lan-can, hút thuốc lá, trông ra ngoài bề. Bấy giờ anh khoác một cái áo tơi dài, đầu đội cái mũ dạ đen vành hẹp.

Gió bề thồi tạt vào tàu rất mạnh, sóng bề đánh bắn nước lên boong tàu như mưa phùn, ngoài tiếng gió thồi sóng reo cùng tiếng máy tàu, không thấy có tiếng gì khác nữa. Mấy ngọn đèn điện trong các khoang tàu như không đủ sức sáng mà chống-chọi được với cái tối ở chung-quanh. Chuyến ấy có mấy người hành-khách đi hạng boong thì lúc bấy giờ đã quấn chặt chiếu vào mình mà nằm ngủ lăn ở trên sàn, trông như những cái bó người chết, những người ấy là hạng người lao-động, tức là bọn phu người ta mộ vào làm việc tại các đồn-điền cao-su ở Thủ-dầu-một hoặc Lộc-ninh, thành-thử trên boong, ngoài anh Bằng-Giang với tôi, không còn ai thức cả. Quan chúa tầu thì lên tầng thượng-lương, các thủy-thủ xong công việc cũng đã đi nằm, hành-khách hai hạng nhất nhì thì phòng nào đã yên phòng ấy cả. Phải những đêm như đêm nay, trăng sao không có, mây mù bề cả, mặt nước con tàu, gió thì lạnh, sóng thì to, hoặc trong lòng cũng có những cơn sóng gió thì ai chịu thức mà đứng phơi ra chỗ rét-mướt này làm gì!

Tôi móc túi lấy phong thuốc lá ra hút cho ấm, đánh đến mười cái diêm mà tắt hết, tôi mới lại gần anh Bằng-Giang: - Ngãi cho tôi nối điếu thuốc. Bằng-Giang không quay lại nhìn, chỉ giơ tay đưa điếu thuốc cháy đang hút giở cho tôi, tôi cầm lấy, nối, rồi trả: - Xin gửi ngài.

Ý tôi vẫn định nhân dịp ấy mà làm quen đề hỏi cái hành-tung của anh, song thấy anh đang có sự nghĩ-ngợi, lại thôi, giả điếu thuốc anh rồi, tôi đi bách-bộ trên boong tàu đề hút cho hết điếu thuốc lá. 15 phút sau, tôi xuống phòng, thấy anh Thanh-Liên đã ngủ, tôi cũng nằm vào ô-giường mà nghĩ. Sóng to, bề cả, tàu lắc-lư, nằm trong ô-giường như nằm trên cái võng.

* sáng hôm ấy đi xe-lửa từ Hà-nội xuống Hải-phòng đã thấy mệt vì đêm trước không ngủ được. Lại suốt một ngày hôm ấy đến Hải-phòng đi chào các người quen, loanh-quanh thành không có lúc nào chợp mắt được cả, bởi thế đặt mình vào ô-giường tàu chưa được một khắc đồng-hồ đã ngủ. Một tiếng động ở cửa làm cho tôi tỉnh dậy, ngầng nhìn lên thì thấy anh Bằng-Giang. Ngọn đèn điện treo trên trần phòng chiếu ánh sáng vào mặt anh, tôi nhìn rồi mà người lạnh toát. Cái mặt xương-xương mà xám ngắt như không còn lấy được một hạt máu. Anh quay lại, khóa cửa, bước vào rồi cởi cái áo tơi ngoài, vắt lên thành giường trên, số 35. Bấy giờ cơn ngủ của tôi nó cũng theo cái tính tò-mò mà đi đâu mất. Tuy vậy, tôi vẫn cố nằm yên như người ngủ kỹ, chỉ hơi mở hai mắt đề cố chụp lấy cách hành-động của anh vào óc mà làm tài-liệu đề khám-phá sự bí-ần này. Tôi xưa nay vẫn không có tính tò-mò như thế, lần này, hoặc đi bề mà sinh ra thế đề cho qua cái thời giờ nhàn rỗi và cho có công việc chăng. Cái ấy tôi nghĩ mãi rồi cũng cho làm phải.

Anh Bằng-Giang cởi áo tơi rồi, cúi xuống gầm ô-giường nằm của anh, kéo cái va-li anh xách sáng ngày, móc túi lấy chìa khóa mở khóa va-li. Trong cái va-li ấy, một bên có nắp vải đậy kín thì không biết đựng những gì, còn bên kia thấy chứa đầy những sách và một vài gói, chừng như gói đồ vặt. Anh lấy ra một cuốn sách khồ hơi rộng và một gói buộc giây gai xanh, rồi lại khóa va-li, đề vào gầm giường như trước. Anh tháo cái gói buộc giây gai xanh ra thì có đôi dép nhật-bản ; còn cuốn sách kia, không biết là sách gì. Đề dép xuống sàn rồi, anh cúi cởi đôi giầy tây rồi tung chăn, cứ nguyên bộ quần áo cồ đứng bằng dạ đen ấy mà nằm, chăn chùm lên đến ngực. Anh mở trang gần cuối sách ra xem, xem mãi một trang mà không thấy lật sang trang khác.

Đã hơn một giờ đồng-hồ rồi. Sóng bề ở ngoài vỗ vào vỏ tàu vẫn mạnh mà cái thái-độ anh cũng vẫn thản-nhiên, sau anh đề sách xuống đầu giường rồi trằn-trọc như người có sự gì tức-bực. Sau cùng, anh tung chăn ngồi dậy, nhìn khu-vực cái phòng rồi chau mày như thấy không-khí bên trong nặng-nề mà khó thở lắm. Anh xỏ chân vào đôi dép, đứng dậy, bước lại cái bàn rửa mặt, giơ tay vén lá màn nhung che hai cái cửa kính tròn đục qua vỏ tàu, rồi mở tấm cửa kính ở hai cái ô cửa ấy. Ô cửa nhô ra bề cả như hai con mắt cực to. Trời tối, trông qua ra ngoài không thấy gì, nhưng gió mạnh luồn vào, kêu vút như tiếng quất cái roi sắc cạnh.

Tôi sẽ ngoái đầu nhìn vào cuốn sách đề ngỏ ở đầu giường bên anh thì thấy một cái vết thẫm đã gần biến ra máu hung, mà những chữ trong sách là chữ bút viết. Tôi chưa luận đã nghĩ ngay ra là một vết máu chứ không phải vết mực ; bụng đang tưởng những sự bí-mật, mình đang ở trong cái cảnh mà một vật nhỏ gì cũng hình như có cái mầu bí-mật bao-bọc thì ngay con dao nhỏ mình trông rõ đấy nó cũng thành ra một lưỡi dao găm, mà quanh mình mình, một vết đỏ gì cũng là vết máu. Sau tôi luận rằng: Mực đỏ đồ ra, mới thì vết tươi, lâu thì vết lạt, vết đỏ đây đã thẫm mà lại sắp biến ra máu hung thì hẳn là vết máu khô ; bụng lại càng chắc lắm. Cái vết đỏ thẫm ấy như nhuộm thắm cái lòng nghi-hoặc của tôi, làm cho tôi từ bấy giờ đến sáng không tài nào chợp mắt được. Anh Bằng-Giang thì đi đi lại lại trên chiếc thảm giải ở sàn phòng. Lúc gần 4 giờ, anh bỏ cuốn sách vào va-li, chùm kín chăn nằm đến mãi bữa ăn sáng.

Tàu tới bến Tourane đã được hai hôm, đêm hôm thứ hai, tôi vào phòng nằm, đã hơn một giờ khuya rồi, đợi mãi không thấy Bằng-Giang về ngủ. Tôi khoác áo lên boong tàu, trong cái khoảng tối dằng dặc đã thấy anh, hai tay sâu vào túi áo, đứng cạnh lan-can, trơ như bức tượng mà trông ra ngoài bề, mặt đăm-đăm nhìn về một phía như cố tìm trong quãng tối một cái bóng tối hơn. Tôi xuống phòng, quần-quại suốt đêm, 4 giờ sáng lại lên boong, vẫn thấy anh đứng sững nguyên chỗ ấy, hai mắt mở trừng không chớp động.

Hành-khách hạng boong đã dậy khuân đồ-đạc lên quầy, bọn làm tàu đã rộn-rịp dẫn vòi rồng tưới nước rửa mặt boong tàu rồi mà Bằng-Giang thì vẫn đứng lặng yên ở đấy. Tia nước ở vòi rồng đã ướt đến chân mà anh không biết, tiếng người làm tàu giục anh ra chỗ khác, anh cũng như không nghe thấy, sau một người lại gần, đập vào vai anh mà nói: « Ông đứng dịch ra chỗ khác, ướt hết rồi! » Cái đập ấy làm cho cả cái mình giong-giỏng cao của anh phải rung chuyền, anh quay mình lại, ngơ-ngác như người vừa tỉnh mộng, cái tiếng nói của người kia bấy giờ mới dẫn vào đến óc, anh nhìn người ta rồi, ngoảnh lại nhìn chân thì một chiếc giầy và một ống quần anh đã ướt đẫm những nước. Anh trông lên rồi lẳng-lặng bước đi, từ lúc người kia vỗ vào vai anh cho đến lúc anh nhìn người kia lần sau cùng, tuyệt-nhiên anh không nói một lời nào hết.

Bữa ăn sáng, bữa ăn chiều, không thấy anh đến, vào phòng thì thấy anh chùm chăn kín nằm ở ô giường. Khoảng ba giờ đêm hôm ấy, thấy anh dậy, lại mở va-li lấy cuốn sách. Anh xem một lúc, úp sách lên ngực, sắc mặt bấy giờ bạc phếch ; ở hai khóe mắt thấy có hai dòng nước mắt đang chầy xuống từ-từ. Tôi nghĩ bụng: Người này tất có một sự đau-khồ, cái đau-khồ ấy chìm đắm ở trong lòng, không thế, cái mắt kia không dễ khóc được như thế.

Từ hôm con tàu lênh-đênh mặt bề, đến hôm ấy đã được vừa 4 ngày đêm, 4 ngày đêm không thấy anh nói với ai nửa lời nào cả. Những lúc đi bề như thế này, người ta đến không từng quen nhau cũng còn tìm nhau mà nói chuyện, như anh thì không ; anh hình như sợ chỗ có người, lúc nào cũng lẩn-lút ở những nơi vắng-vẻ mà thơ-thẩn một mình. Bạn đường xa của anh chỉ có tập sách chữ viết kia và phong thuốc lá.

Cái đêm hôm tôi nhìn thấy anh khóc, lòng tôi như bị khích-động, mấy lần toan vùng dậy hỏi anh, sau nghĩ mình cùng người ta là khách giữa đường, mình không có quyền được hỏi nỗi lòng người ta một cách đường-đột như thế, tôi lại thôi.

Sáng hôm sau, tàu đã vào đến cửa sông Sài-gòn, những người cùng chuyến ấy, đã từng đi bề nhiều lần nói rằng cũng còn đến 10 tiếng đồng-hồ nữa tàu mới tới bến ; vì một sự tình-cờ, tôi được cùng anh nói chuyện, chuyện có bốn câu.

Khi ăn xong rồi, tôi cùng anh Lê Thanh-Liên vào phòng ngủ thay quần áo rồi lên boong, đến phòng hút thuốc, ngồi đợi tầu đến bến đề lên thăm cảnh Sài-gòn. Tôi mở cửa phòng ấy bước vào đã thấy anh Bằng-Giang ngồi đấy. Cái tiếng giầy của tôi và anh Liên dẫm trên thảm da nó êm mà mất tiếng, anh không nghe thấy đã đành rồi, đến cái tiếng sọc-sạch ở cửa lúc chúng tôi mới bước vào, anh cũng như không nghe thấy nữa, vì cứ nhìn cái bộ anh ngồi lúc ấy, đủ rõ rằng anh vẫn tưởng trong phòng chỉ có mình anh. Chừng như anh đang mải nghĩ cái gì thì phải, vì tôi bước vào được hai phút, trông đến tay phải anh thì thấy điếu thuốc lá anh cầm đề sát tấm dạ xanh phủ trên bàn, thuốc và dạ đang bốc khói lên ngùn-ngụt. Cái khói dạ cháy xông lên khét lẹt ; tôi bước đến, kéo cái ghế bên cạnh, bấy giờ anh mới ngầng lên nhìn. Tôi trông anh, nhìn xuống bàn, rồi vừa ngồi vừa nói: - Cái thảm dạ dưới tay ngài đang cháy. Anh nhìn xuống, tay trái vội vơ cái bình sứ gạt tàn thuốc lá đề ở bàn rồi chận lên chỗ cháy: - Cảm ơn ngài đã bảo cho tôi biết. Cái cảnh ấy qua đi rất mạnh, chỉ trong có một chớp mắt. Lúc ấy tôi đánh diêm, vừa hút thuốc, vừa hỏi: - Ngài vào Sài-gòn, đã sắp-sửa xếp đồ lên bến. - Không, thưa ông tôi sang Pháp. Chưa kịp hỏi câu nữa thì anh đã bước ra, tôi quay lại phía anh Thanh-Liên: - Chúng ta vẫn tưởng người ấy đi Sài-gòn, ra không phải. - Sang Pháp sao hành-lý chỉ có cái va-li? - Lát nữa gặp, ta thử hỏi xem anh ta sang Tây làm gì. - Hỏi làm gì, trông anh ta ra dáng khinh người lắm, đã ra đến ngoài mà còn không biết cách xử-thế.. Hỏi họ làm quái gì.

Tôi không nói nữa, bụng nghĩ bạn mình không có con mắt nhìn người.

Tàu đến hải-cảng Sài-gòn, anh Thanh-Liên và tôi rủ nhau lên bến, hỏi thăm, rồi đến xóm Khánh-hội tìm người bạn quen.

Tàu chúng tôi đi, yết-bảng đỗ lại Sài-gòn 48 giờ đề « ăn-hàng », có dịp ấy, chúng tôi lên thăm thành-phố Sài-gòn trước khi tạm từ-biệt nước nhà, mà đi du-học.

Ngồi trong « xe-kiếng » qua các phố dài đường rộng, những dinh-thự nguy-nga, cửa hàng to-tát ở hai bên vệ đường cứ lần-lượt mà phô ra trước mặt ; qua khung cửa kính xe, tôi có trông mà như không biết ; bây giờ tôi đang nghĩ về chuyện anh Bằng-Giang. Trong xe chỉ có tiếng nói chuyện của anh Thanh-Liên và người bạn ở Sài-gòn, còn tôi, giọc đường ít nói chuyện.

Suốt hai ngày tàu ghé bến, chúng tôi không về tàu vì ăn ngủ ở nhà bạn ; bữa ăn sáng đến bữa ăn chiều, hết thăm cảnh này lại xem cảnh khác, nào vào cao-lâu, nào xem chớp bóng. Tôi thật như cái máy bị người sai khiến, mơ-màng như người không có óc, không cảm-giác những cảnh-vật bên ngoài.

* chiều hôm thứ hai, lúc đèn vừa lên lửa, chúng tôi đến thăm một hiệu sách lớn ở đường Catinat, mua vài cuốn tiều-thuyết đề đọc trong khi đi bề. Bước vào hàng tôi thấy anh Bằng-Giang. Anh cũng đang chọn sách, sau cùng, anh mua hai quyền, tôi có ý nhìn nhãn sách, thấy một quyền đề: « Histoire de la Révolution Russe » (Lịch-sử Cách-mệnh nước Nga), còn quyền thứ nhì, tuy cái nhãn sách ngắn mà tôi chỉ kịp nhìn có một chữ Lenine (Tàu dịch là Lý Ninh, lĩnh-tụ đảng quá-khích nước Nga). Tôi lại càng nghĩ lắm. Xem sách ấy thì người ấy chắc là người học-giả chớ không phải người khách-thương. Tối hôm ấy, tôi về Khánh-hội ăn cơm rồi, nói là đi có việc riêng, chủ-ý đề khỏi phải bận lòng về sự tiếp chuyện.

Tôi lang-thang từ xóm Khánh-hội, qua cầu, đi theo đường bờ sông Sài-gòn o Trại-Thủy rồi qua đường Norodom đến ngồi ở cái công-viên trước Thống-soái-phủ ; bấy giờ ngựa xe tung bụi, đường phố cát mù, tôi cũng quên rằng mình đang ở trong cảnh phồn-hoa đô-hội.

Đêm đã khuya, trông tòa giáo-đường ở cuối công-viên trong bóng tối, đứng sừng-sững như một quả núi nhìn về đằng trước chỗ phủ Thống-soái, thấy lơ-thơ có mấy ngọn đèn ; vườn rộng canh khuya, cái ánh sáng của các cây đèn điện-khí dựng ở bờ đường không phá nồi được hết cái tối. Chuông đồng-hồ nhà thờ thong-thả đánh hai tiếng, hai tiếng chuông ấy như hai nhát búa nhịp-nhàng đánh vào óc tôi, tôi thấy run tay, sờ lên ngực thì trái tim đập rất mạnh, lạ chửa, tôi chưa từng bao giờ mắc bệnh thần-kinh. Bấy giờ, tình cố-quốc nỗi tha-hương cứ bời-bời trong dạ. Tôi nghe mình như không thề ở lâu được trong cái không-khí chốn ấy nữa, mới đứng dậy đi, qua công-viên đến nhà thờ, thẳng đường Catinat, theo đường bờ sông, qua cầu về Khánh-hội. Đêm hôm ấy thứ bảy, anh Thanh-Liên và chủ-nhân đi xem hát « sáng-đêm » cũng chưa về, tôi vào giường nằm, không sao ngủ được.

7 giờ sáng hôm sau, chúng tôi ăn lót dạ rồi về tàu, vào phòng thấy Bằng-Giang còn ngủ. 10 giờ, tàu cất neo chậy đi Tân-gia-ba (Singa-pour), 3 giờ, qua Vũng-Tàu (Cap St Jacques), từ đấy lại bắt đầu lênh-đênh mặt bề.

Ngót một tháng trời như thế, qua các hải-cảng, chúng tôi có ghé vào thăm, còn anh Bằng-Giang thì ngày nào cũng vậy, ngoài hai bữa ăn, không mấy khi anh bỏ cái ô-giường số 37. Trước tôi còn đề ý xem xét, sau chán rồi cũng thôi, phần thì say sóng, phần thì buồn, cái tính tò-mò cũng đi đâu mất cả.

Đêm trước hôm tàu đến Marseille, qua một cơn say sóng dữ ở giữa Địa-trung-hải, bấy giờ tôi đã hơi tỉnh, mở mắt dậy mới có 3 giờ sáng. Anh Thanh-Liên còn ngủ, trông sang ô-giường bên, không có anh Bằng-Giang. Tôi khoác áo lên boong, đi bách-bộ cho đỡ mệt. Một giờ sau, tôi xuống phòng, thấy anh Bằng-Giang nằm gục đầu vào chiếc gối.

Biết rằng sáng ngày, thề nào tàu cũng đến Marseille mà tôi thì đi bề trong một tháng trời chỉ những uổng lòng lên bộ. Đánh thức anh Thanh-Liên dậy cũng sớm quá, tôi hì-hụi xếp các đồ vặt vào va-li một mình. Xếp xong, ngồi chờ sáng.

Tàu vào bến, chúng tôi tất-tả lên bộ theo người quen về nhà trọ, cái vẻ sinh-hoạt náo-nhiệt ở thành Marseille làm cho tôi quên hết những việc trong tháng đi bề vừa qua.

Hai hôm sau, một * chiều, nhân đến chơi ở công-viên Borély, cảm cái cảnh thanh-tân mà nhớ lại người khách lạ. Bằng-Giang từ bữa ấy, đi đâu, làm gì, tôi không rõ, chỉ nhớ rằng đến hải-cảng Marseille, lúc chúng tôi sắp hành-lý lên bộ, còn thấy anh nằm gục trên chiếc gối ở phòng tàu.

Đã ba năm trời nay rồi. Đã ba năm trời nay rồi mà cả cái tấm ảnh về thời-kỳ quá-khứ kia in trong óc tôi, chỉ vụt qua mắt tôi như một luồng chớp sáng ; bấy giờ tôi đánh diêm châm điếu thuốc mà không rõ châm thuốc đề làm gì, vì lúc ấy thật tối không định hút. Trí khôn tôi theo làn khói thuốc bay đi vớ-vẩn đến nỗi tôi bất-giác hỏi một câu vô-vị, tưởng không cái vô-vị nào bằng: - Là lần thứ hai rồi? Tôi không thấy anh đáp, mới định-thần lại mà hỏi tiếp rằng: - Anh đã đỗ Y-khoa bác-sĩ rồi thế bao giờ anh định về nước nhà? - Tôi cũng không còn mong gì trở lại nữa. - Phong-Ảnh đã chết, nhưng có đâu vì thế mà anh trốn được cái nợ của xã-hội, gia-đình? Nước nhà đang * nhu-tài, cần phải có những người như anh mà trông cậy. Bây giờ anh học đã thành-tài, cái tài ấy anh không đem ra mà ứng-dụng ở quê-hương xứ-sở mình thì anh còn định đem đi đâu nữa?

- Tôi thật không phải vì tình mà có cái tư-tưởng như thế. Anh ơi, từ bé đến giờ, đời tôi thật là một đời chua-cay đau-khồ, tôi còn được có ngày nay, không phải là nhờ ơn họ hàng, cha mẹ. Cha mẹ tôi không có, cửa nhà tôi cũng không, 26 năm trời nay ăn gửi sống nhờ, nghĩ lắm lúc cũng thương thân tủi phận. Người ta đã không có cha mẹ ngay từ lúc mới lọt lòng, ở đời còn được có hai người vì mình mà yêu giấu, hai tấm lòng yêu ấy bây giờ đều tan-nát cả, anh tính công-danh sự-nghiệp còn có thiết gì. Cái thảm-sử của tôi tiếc rằng anh không biết, anh biết tất anh cũng rộng lòng mà tha thứ cái tội cuồng-dại của tôi. Nào tôi có được sung-sướng như các anh gì? Các anh, cha mẹ còn cấp tiền cho đi du-học, lòng các anh còn mong công-thành danh-đạt mà ơn trả nghĩa đền, tôi bây giờ, công-toại danh-thành cũng không còn biết tìm ai mà báo-đáp. Hai người ân-nhân của tôi đã chết, tôi chỉ còn nợ có xã-hội mà thôi. Đạo thờ nước có nhiều đường, tuy ở chỗ đất khách quê người, tôi cũng nguyện xin vắt óc phanh gan mà báo đền cái thâm-ân ấy. »

Ngồi trên chiếc ghế bành cạnh bên lò sưởi, mình khoác một cái áo dạ dài, cồ áo bưng kín lên đến gáy, hai tay sâu vào hai túi, mắt đăm-đăm trông vào đống lửa hồng, bạn tôi là anh Bằng-Giang nói với tôi những lời trên ấy ; bấy giờ là tiết mùa đông, một đêm đông trong tòa nhà kia ở ngoại châu-thành Paris bên Pháp. Lúc ấy, trên bàn viết, sách-vở giấy-má đề ngồn-ngang bừa-bộn, dưới ánh sáng một ngọn đèn dầu, tôi trông bạn chỉ thấy rõ có bộ mặt, cái mặt bạc phếch như mặt một pho tượng đắp bằng đất thó trắng, điềm thêm những vết răn trên đỉnh trán cao ; không cần biết cái độ khồ trong lòng, cứ cái hình-dung cũng đủ rõ rằng anh đã từng trải nhiều trận phong-ba trong trần-hải.

Bấy giờ, tôi cứ mơ-màng mà nghĩ-ngợi, anh Bằng-Giang thì chú-mục nhìn tôi, trong cái nhìn ấy như muốn hỏi: Tôi có vì mà cảm-động. Tôi gạt tàn điếu thuốc cho có việc, vì hai tay lúc ấy thật cứng đờ mà trơ-trẽn, anh hiều ý, trông vào cuốn sách viết, lại ngầng nhìn tôi: - Mấy trang trong tập Lệ-sử anh đọc vừa rồi, đấy là những bức thơ tuyệt-mệnh của Lê Phong-Ảnh. Cái vết đỏ trong sách là vết huyết của Phong-Ảnh thồ ra trước khi chết. Anh trông mà xem, vết máu đã khô rồi bây giờ còn biết làm sao cho tươi lại được. Tôi muốn cho vết máu ấy được tươi mãi đề nghĩ như Phong-Ảnh mới chết ngày hôm qua, nhưng không, việc ấy đã 3 năm trời nay rồi, sao tôi lại cứ dối tôi như thế! »

Hồi lâu, anh tì hai khuỷu tay vào đầu gối cúi nhìn ngọn lửa trong lò sưởi, thủng-thẳng khẽ nói, chốc chốc lại ngừng lại, sẽ gật đầu tự cho làm phải như cố nhớ lại những việc đã qua đang cùng nhau tranh lộn trong cái bộ óc đã tể mỏi. Lúc ấy, lửa trong lò vẫn cháy, gió bên ngoài vẫn thồi, tuyết ngoài thềm chưa tan, những bóng tối các đồ-vật in ra ở phòng vẫn theo ngọn lửa trong lò mà múa nhầy, xa xa vẫn nghe thấy những tiếng huyên-náo của kinh-thành Paris đưa lại ; cái đêm đông mới buồn thay!..

Hình như anh Bằng - Giang nói đến việc đã quá xa rồi, như trong một giấc mộng: -.. Phải.. Thật là một sự đau khồ, đau khồ nhất trong cái đời mình.. Đói khát, tàn-tật, mình có thề nhẫn nhục mà chịu được, đến việc ấy.. Sống trong hơn 20 năm trời cạnh một người mình yêu, mình quí, rồi bỗng-nhiên thấy người ấy ra đi, rồi được tin người ấy chết, rồi mình ở lại một mình, một mình trước cái cảnh đời hiu-quạnh.. Chua xót biết chừng nào.. »

Một lúc, anh ngồi ngay dậy, nhìn tôi rồi lại nói: - Từ đấy, tôi cũng không biết tại sao mà tôi sống. Suốt ngày, tôi lò-dò ở trong phòng theo bắt một cái hình-ảnh như người đuổi bóng, cứ nghĩ rằng lát nữa Phong-Ảnh sẽ vén rèm mà bước đến, mùi hương thoang-thoảng còn thấy như phảng-phất trong các phòng không.. »

Anh trỏ tay lên bàn: - Đây, một hôm tôi thấy cái này, cái đóa hoa tím này trong túi áo. Phong-Ảnh đề vào túi tôi một * chiều, chiều hôm chúng tôi đi thăm trại. Hoa ấy đã khô mất rồi mà mùi hương thơm còn như thoang-thoảng, thấy cái hương thơm ấy tôi cứ chắc rằng Phong-Ảnh còn sống, còn đứng đâu ở cạnh mình tôi.. Nhưng mà không.. Mọi cái đều mất cả rồi, bây giờ chỉ còn có cái buồn là ở lại.. »

Nói rồi anh cúi đầu xuống như muốn giấu tôi hai dòng nước mắt, tôi nghĩ lấy làm không phải, cứ lẳng - lặng ngồi yên. Sau, anh ngảnh lên nhìn, rồi nhân đấy nói sang việc khác: - Mai thì tôi xuống Marseille chờ tàu về nước, anh không về có cần nhắn gửi cái gì không? - Cảm ơn anh, tôi cũng không còn ai mà thăm gửi, anh ra về, tôi xin chúc anh được mạnh giỏi luôn.

Tôi từ bạn, cầm mũ đi ra. Bằng-Giang cầm cây đèn tiễn chân tôi đến cửa. Tôi cúi chào rồi rảo bước về nhà trọ, ba bước sau còn thấy tiếng rít cửa nghe áo - não như những tiếng rên.

Chuyến tàu bề về, đỗ lại Sài-gòn 3 hôm. Tôi lên bộ, ngay sáng sớm hôm sau mua giấy xe-lửa đi Ba-ngòi, rồi đợi đấy đề lại đáp chuyến tàu bề ấy về Bắc.

Xóm-cồn, nơi Phong-Ảnh chết là chỗ thôn-lạc của bọn ngư-nhân ở ngay ven bề thuộc địa-phận Ba-ngòi.

Bảy giờ tối, xe-lửa đến nơi, tôi tìm vào trọ ở nhà Công-quán.

Hôm sau, ra chơi Xóm-cồn, hỏi chuyện về Phong-Ảnh thì một người đánh cá có dẫn tôi đến mộ nàng ở địa-hạt Trà-long, cách đấy chừng 4 ki-lô-mét. Bấy giờ về tiết trọng-thu, một năm đất vàng sau cái đồi rừng đã thấy rầu-rầu ngọn cỏ.

Hôm sau nữa, chuyến tàu bề tôi tạm-biệt ở Sài-gòn lại ghé hải-khầu Ba-ngòi, tôi xuống tàu, nghĩ lại chuyến đi, Bằng-Giang đứng sững suốt đêm như một pho tượng trên tàu khi qua chỗ hải-phận này, đôi mắt đăm-đăm, là nhìn về phía mồ Phong-Ảnh.

Tôi về Bắc-kỳ ngót một năm thì tiếp được lá thư này của Bằng-Giang.

Paris, ngày 23 Juillet. Anh Trần Văn-Tâm,

Hai tháng trước đây tôi có lập được một cái bệnh-viện nhỏ tại miền ngoại-ô thành Paris đề chữa không lấy tiền cho những trẻ côi lai vô-thừa-nhận của các binh-lính An-Nam.

Đồng-bào mình sang đây lấy vợ người Pháp, sinh con rồi, lúc về thường bỏ lại. Những người đàn-bà Pháp ấy, sau vì cảnh-ngộ hoặc vì sự khác mà không nhìn nhận đến con, thành-thử những trẻ kia, cha mẹ có khi còn mà sự nuôi dạy phải nhờ ở các Cô-nhi-viện.

Tôi đối với những trẻ ấy có một cái cảm-tình riêng, cảm-tình người cùng nước. Trước kia, tôi cũng là đứa trẻ vô-thừa-nhận, người ta nhặt được ở đầu đường khi hãy còn oe-oe tiếng khóc. Được có ngày nay là nhờ ở sự dạy nuôi của mẫu-thân Lê Phong-Ảnh.

Nghĩa-mẫu tôi đã qua đời mà Phong-Ảnh cũng đã chết, bây giờ ở xứ nhà không còn tìm đâu được lấy một tấm lòng yêu: Ở xã-hội mình, anh còn lạ gì, đứa con đẻ hoang đi đến đâu mà chả bị người ta khinh-bỉ.

Hồi tôi sang du-học lần trước ở Pháp, người vợ mà nghĩa-mẫu tôi lấy cho tôi, đã thụ-bệnh mà chết ở quê nhà, tôi ở đâu cũng vò-võ có một mình, lần này không muốn trở về, vì về nước bây giờ cũng không còn ai nhìn nhận nữa.

Nghĩa-mẫu tôi nuôi tôi từ lúc còn là hòn máu đỏ cho đến năm 21, cái công đức ấy cao nặng biết là bao? Phong-Ảnh thương yêu tôi, khiến tôi được an-ủi trong cái sống thừa, thấy chút vẻ xuân đầm-ấm trong cuộc đời bi-thảm, tình-nghĩa ấy cũng không là nhỏ ; hai người ân-nhân ấy đã qua đời cả, tôi cũng không còn biết tìm đâu mà nghĩa trả ơn đền. Xã-hội đối với tôi có cái ơn giáo-hóa, nay tôi xin lấy công-cuộc lập bệnh-viện ở chỗ « quê-hương thứ hai » này mà đền bù, như thế chẳng biết có xứng không, song được đến thế hãy xin trình anh hay như thế..

Bằng-Giang. »

Một năm sau, tôi tiếp được bức điện-tín của anh Lê Thanh-Liên, bạn học cũ với tôi tại trường Luật-học toàn Aix, bấy giờ còn đang học ở bên Pháp.

Bức điện-văn như sau này: « Paris, 17 Septembre - Bằng-Giang tạ-thế đêm hôm qua, tập lệ-sử của Phong-Ảnh còn thấy úp trên ngực sau khi tắt nghỉ - Mai sẽ cất đám về nghĩa-địa « Père La Chaise »

(Thuật theo lời một người bạn)

Vũ đình-chi

(Hoặc Vũ Đình Chí, bút danh Tam Lang)

Đăng trên Nam Phong tạp chí số 90
 

Những người đang xem chủ đề này

  • Xu hướng nội dung

    Back