Admin

Nothing to lose.. your love to win..
23,339 ❤︎ Bài viết: 3605 Tìm chủ đề
Đọc: 2,802 Tìm: 0

Tràng giang


Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài

H. C


Tặng Trần Khánh Giư

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,

Con thuyền xuôi mái nước song song.

Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;

Củi một cành khô lạc mấy dòng.

thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.

Bèo giạt về đâu, hàng nối hàng;

Mênh mông không một chuyến đò ngang.

Không cầu gợi chút niềm thân mật,

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

Chim nghiêng cánh nhỏ: Bóng chiều sa.

Lòng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.


Huy Cận

Nguồn:

1. Tinh tuyển văn học Việt Nam (tập 7: Văn học giai đoạn 1900-1945 ), Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, NXB Khoa học xã hội, 2004

2. Hoài Thanh, Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, 2007


55461720282_147002399d_o.png


Cảm nhận bài thơ Tràng giang​


Tràng giang đưa người đọc đến trước một không gian mênh mang đến mức con người dường như chỉ còn là một chấm nhỏ giữa trời nước. Sông vẫn chảy, thuyền vẫn trôi, mây vẫn bay, nhưng mọi thứ đều xa nhau, lặng lẽ và khó tìm thấy một sự gắn kết. Càng nhìn ra khoảng không rộng lớn, lòng người càng thấy trống trải. Nỗi buồn vì thế không dữ dội mà lan rất chậm, như những vòng sóng cứ nối nhau đi mãi trên mặt sông.

Ngay từ những hình ảnh đầu tiên đã có một cảm giác chia lìa. Con thuyền và dòng nước vốn phải đi cùng nhau lại dường như mỗi thứ một hướng. Giữa không gian ấy xuất hiện một cành củi khô bé nhỏ, trôi nổi không biết sẽ về đâu. Chỉ một chi tiết rất bình thường nhưng lại gợi lên thân phận cô độc của con người giữa cuộc đời rộng lớn: Nhỏ bé, bơ vơ và dường như không thể tự quyết định nơi mình sẽ dừng lại.

Càng về sau, cảnh vật càng vắng. Một cồn đất nhỏ, một phiên chợ đã tan, những hàng bèo trôi dạt, không cầu, không đò, không một dấu hiệu đủ gần gũi để nối con người với con người. Cái buồn của Huy Cận vì vậy không chỉ đến từ cảnh chiều trên sông mà còn từ sự thiếu vắng hơi ấm của cuộc sống. Thiên nhiên rất đẹp, nhưng vẻ đẹp ấy lại quá rộng, quá xa và quá im lặng.

Đến cuối, bức tranh bỗng trở nên hùng vĩ với mây cao, núi bạc, cánh chim và bóng chiều. Nhưng giữa cái lớn lao ấy, cánh chim càng trở nên nhỏ bé. Con người cũng vậy: Càng đứng trước trời đất vô tận càng cảm nhận sâu sắc sự hữu hạn và cô đơn của chính mình.

Và rồi tất cả cuối cùng trở về với một nỗi nhớ rất gần: Nhớ quê hương. Không cần một làn khói chiều gợi nhắc như trong thơ cổ, lòng nhà thơ tự nó đã dâng lên nỗi nhớ nhà. Sau tất cả những trời rộng, sông dài, mây cao, bến vắng, nơi trái tim muốn tìm về vẫn là một mái ấm, một quê hương có thể xoa dịu cảm giác bơ vơ giữa cuộc đời.
 
Last edited by a moderator:
1,674 ❤︎ Bài viết: 2153 Tìm chủ đề

Phân tích bài thơ Tràng giangHuy Cận


Nhan đề "Tràng giang" sử dụng từ Hán Việt, gợi một dòng sông vừa dài vừa rộng, đồng thời tạo âm hưởng cổ kính. Ngay câu đề từ:

"Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài"

Đã mở ra hai chiều của tác phẩm: Cảnh thiên nhiên rộng lớn và tâm trạng "bâng khuâng" của con người trước không gian ấy. Cảnh và tình từ đây luôn song hành với nhau.

Khổ thơ đầu mở ra mặt sông với những chuyển động rất nhẹ:

"Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,

Con thuyền xuôi mái nước song song."


Các từ láy "điệp điệp", "song song" kéo dài cảm giác về một dòng sông vô tận. Sóng chỉ "gợn", thuyền chỉ "xuôi mái", cảnh vật gần như không có chuyển động mạnh nhưng nỗi buồn lại lan ra từng lớp.

Đáng chú ý nhất là sự chia lìa:

"Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;

Củi một cành khô lạc mấy dòng."


Thuyền và nước vốn gắn bó nhưng ở đây lại chia hai hướng. Câu thơ vì vậy gợi cảm giác tan tác, phân ly. Hình ảnh "củi một cành khô" đặc biệt mới mẻ. Không phải một cánh hoa hay chiếc lá quen thuộc của thơ cổ, Huy Cận đưa vào thơ một cành củi khô đã mất sức sống, đang "lạc" giữa nhiều dòng nước. Sự đảo trật tự từ ngữ càng làm nổi bật cái nhỏ bé, cô độc và vô định của hình ảnh ấy.

Sang khổ hai, không gian tiếp tục được mở rộng:

"Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều."


Hai từ láy "lơ thơ""đìu hiu" vừa gợi cảnh thưa vắng vừa gợi tâm trạng. Âm thanh của cuộc sống nếu có cũng chỉ vọng lại mơ hồ từ một ngôi làng xa sau buổi chợ chiều. Con người không xuất hiện trực tiếp, khiến cảnh vật càng trở nên quạnh quẽ.

Không gian sau đó được đẩy ra đến những chiều kích lớn:

"Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu."


Cách kết hợp "sâu chót vót" rất độc đáo. "Chót vót" thường gợi chiều cao, nhưng Huy Cận lại dùng với "sâu", khiến khoảng cách giữa trời và đất như được kéo giãn đến vô cùng. Trước "sông dài", "trời rộng", chỉ còn một "bến cô liêu". Cái rộng lớn của vũ trụ càng làm nổi bật sự cô độc của con người.

Khổ thơ thứ ba tiếp tục nhấn mạnh trạng thái không nơi nương tựa:

"Bèo giạt về đâu, hàng nối hàng;

Mênh mông không một chuyến đò ngang."


Bèo vốn đã gợi sự trôi nổi, nay lại xuất hiện thành những hàng nối tiếp không biết đi đâu. Câu hỏi "về đâu" vì thế không chỉ hỏi hướng trôi của bèo mà còn gợi cảm giác mất phương hướng của con người.

Đặc biệt, Huy Cận liên tiếp phủ định những phương tiện kết nối:

"Không cầu gợi chút niềm thân mật,

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng."


"Không đò", "không cầu" đồng nghĩa với không có sự giao tiếp, gặp gỡ. Hai bờ ở rất gần trong bức tranh nhưng lại không có gì nối chúng với nhau. Cảnh vật vẫn đẹp với "bờ xanh", "bãi vàng", song đó là một vẻ đẹp lạnh và xa vắng.

Khổ cuối đưa tầm mắt lên bầu trời:

"Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

Chim nghiêng cánh nhỏ: Bóng chiều sa."


Từ "đùn" khiến những lớp mây như liên tục dâng lên, tạo thành những "núi bạc" đồ sộ. Trên phông nền hùng vĩ ấy, cánh chim trở nên vô cùng nhỏ bé. Cánh chim nghiêng xuống đồng thời với bóng chiều buông xuống khiến người đọc cảm nhận rõ hơn bước đi của thời gian và sự cô đơn của một sinh thể giữa vũ trụ.

Hai câu kết đưa toàn bộ nỗi buồn về với quê hương:

"Lòng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà."


Từ láy "dợn dợn" vừa gợi những con sóng trên mặt nước vừa gợi từng đợt nhớ quê đang dâng lên trong lòng. Câu cuối có sự liên hệ với ý thơ Thôi Hiệu trong Hoàng Hạc lâu: Người xưa nhìn khói sóng hoàng hôn mà buồn nhớ quê, còn Huy Cận "không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà". Nỗi nhớ vì thế không cần ngoại cảnh đánh thức mà đã thường trực trong tâm hồn.

Về nghệ thuật, Tràng giang là sự hòa quyện đặc sắc giữa vẻ đẹp cổ điển và tinh thần Thơ mới. Chất cổ điển thể hiện ở đề tài sông nước, cánh chim, mây trời, nỗi nhớ quê cùng nhiều từ Hán Việt trang trọng; nét hiện đại nằm ở cái tôi cô đơn, cảm giác bơ vơ và những hình ảnh rất đời thường như "củi một cành khô". Từ láy, phép đối, nghệ thuật lấy động tả tĩnh và cách mở rộng không gian theo nhiều chiều giúp bức tranh vừa có chiều sâu vừa thấm đẫm tâm trạng.

55462701216_0f1085b746_o.png


Qua Tràng giang, Huy Cận không chỉ vẽ nên một buổi chiều đẹp và buồn trên dòng sông. Ẩn dưới cảnh trời nước mênh mang là một tâm hồn đang khát khao được gần gũi với con người, với quê hương. Chính nỗi nhớ nhà xuất hiện ở cuối tác phẩm đã làm ấm lại cả không gian lạnh vắng phía trước, đồng thời cho thấy phía sau nỗi cô đơn của cái tôi Thơ mới vẫn là một tình yêu quê hương sâu nặng.
 

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back