Gửi Thành!
Người lái xe ôm dừng xe, đưa tay chỉ:
Đó, đó! Tiệm bánh cuốn Thành Đô đó!
Tôi xuống xe móc tiền trả, cảm ơn anh rồi xách cặp đi vào. Trong quán có vài tốp người đang ăn. Tôi chọn bàn trống kê sát góc ngồi xuống. Mùi thịt nướng ngầy ngậy lẫn trong hơi bánh tráng nghi ngút bốc ra lùa vào mũi tôi quyến rũ. Một phụ nữ chừng bốn mươi tuổi đi tới: "Anh Hai Bắc kỳ zui lòng đợi chút, nghen". Vừa nói, chị ta vừa xăng xái thu dọn bát đĩa, mặt hướng về phía quầy, xướng: "Một suất, nghen !" Người đàn ông đứng sau quầy ngẩng mặt lên như xác nhận rồi lại cúi xuống hí húi với công việc. Tôi nhích ghế xoay lại cho dễ quan sát.
Y vẫn vậy, duy mái tóc tự nhiên bồng bềnh uốn ba làn nay đã bạc, mỏng, thưa, mỗi khi cử động lấp ló khoảng hói giữa đỉnh đầu. Y lật chiếc đĩa, xếp tệp bánh vào, khéo léo dùng kéo lách dưới kẹp bánh cắt thành từng lát nhỏ. Tiếng lách cách đều đều làm tôi nhớ tới tiếng kéo cách đây gần bốn mươi năm của một tay thợ cắt tóc điển trai có cái tên rất điệu: Ngọc Đoan.
1
Ngọc Đoan cắt tóc chỉ dùng kéo và lược. Y có đôi bàn tay thạo nghề và thật đẹp, trắng muốt, bờ móng chuốt lộng, thon thon hình búp măng như tay con gái. Vừa cắt y vừa bập kéo, tiếng kéo thanh sảng, giòn tan, rẻo và ngọt, có ma lực khiến bọn trai tơ ở phố Lào Cai rất mê.
Tôi bước vào hiệu vừa lúc Ngọc Đoan cắt xong cho một thanh niên. Y vắt tấm vải choàng lên thành ghế, bê chiếc gương nhỏ soi ngược cho khách xem phía sau, tay vuốt vuốt: "Gáy của bạn nông, tỉa cao trông trơ lắm" Chàng thanh niên rời khỏi ghế, nhoẻn cười, lấy tiền trả. Y nhã nhặn cảm ơn, lịch sự tiễn khách ra cửa rồi quay vào, nghiêng đầu, tay chỉ ghế: "Mời anh ngồi, tôi xin được phục vụ".
"Đầu anh tròn, tóc cứng, gáy vuông, để tóc dài không đẹp, có ba kiểu để anh chọn, một kiểu đầu hoa gáo, kiểu thứ hai móng lừa, kiểu thứ ba cắt theo kiểu đầu Nguyên soái Stalin" Y nói sau khi dùng lược chải đầu cho tôi. "Tuỳ anh, kiểu nào cũng được, miễn là gọn." Tôi trả lời, chợt nhìn thấy tấm huy hiệu thương binh lấp lánh đeo trên ngực y. Tôi liếc trong gương: Y còn trẻ, khuôn mặt thanh tú, sáng láng, da mịn màng kiểu học trò, nhiều lắm hai ba, hai bốn tuổi là cùng. Tôi đưa mắt thẩm tra: Chân, tay, thân thể lành lặn, chả có tý nào biểu hiện kẻ từng trải qua chinh chiến, vậy mà.. Thương binh?
"Tôi bị thương hồi ở Thanh niên xung phong- Y kể tự nhiên như hiểu tôi đang thắc mắc và đã quen từ lâu- Bị một cồ đá tảng từ trên cao lăn xuống, lúc tỉnh đã thấy mình nằm trong bệnh xá tiểu đoàn rồi". "Anh bị thương ở đâu?" Tôi buột miệng hỏi. "Hình như vào đầu" Y đáp, lấy tay ấn nhẹ đầu tôi xuống. Tiếng kéo lách cách giữ nhịp rộn rã. "Sao lại hình như?" Tôi hỏi. Y nghiêng đầu ngắm mái tóc của tôi trong gương, trả lời: "Lúc tỉnh dậy tay bác sĩ phụ trách ở bệnh xá tiểu đoàn nói." "Thế không chẩy máu à?" óc tò mò của tôi bật thành câu hỏi.
Tiếng kéo chuyển làn, răng lược bằm, cày vào tận chân tóc. "Không! - Y đáp- Thế mới lạ chứ! Chỉ sây sát một chút, tôi đoán một là nhờ cái mũ nên không bị chẩy máu, hai là vì tôi sợ quá nên ngất đi, chứ anh tính, hòn đá bằng nửa gian nhà, nếu nó đè, chắc người tôi nát như tương vằm rồi". "Thế căn cứ vào đâu mà họ kết luận anh bị thương?" Tôi hỏi cùng một cái lắc ngang. Y củng nhẹ lưng lược vào sọ tôi: "Hỏi thì cứ hỏi, nhưng đừng cựa quậy, cái kéo của tôi không có mắt đâu, dễ mất tai lắm đấy!" Dặn dò xong y nói tiếp:
"Lúc đi Thanh niên xung phong tôi mới mười tám tuổi. Tôi giống gen ông già đẻ ra tôi, háo sắc, phát dục sớm, hễ trông thấy bé nào" ngon ngon "là thích. Cùng đại đội tôi có một trung đội nữ, toàn các bé vừa trẻ, vừa xinh. Anh lên Lao Cai biết đấy, đàn bà vùng cao bà già còn yêu đôi má hồng. Huống chi bọn con gái mới lớn. Trông mơn mởn như hoa đào, hoa mận vào mùa xuân ở Sa Pa hay Bắc Hà ấy.."
Đang nói chợt y dừng kéo ngoảnh ra. Từ ngoài, hai thanh niên bước vào. Chắc là người quen, nhìn qua gương tôi thấy họ rất tự nhiên, cả hai ngồi xuống giường. Một trong hai người cầm cây đàn ghi ta lên tiếng: "Thế nào Ngọc Đoan, học chứ?". Ngọc Đoan vừa cắt vừa đáp: "Đồng ý! Bạn làm ơn ghi tên đăng ký hộ mình. À, thầy giáo có nói bao nhiêu tiền không?". Người thanh niên cầm ghi ta nằm kềnh xuống giường, gảy mấy hợp âm cùng câu trả lời: "Tiền trả theo từng giai đoạn, mỗi giai đoạn năm mươi đồng". Ngọc Đoan xin lỗi tôi, mở ngăn kéo lấy tiền đưa cho bạn: "Cậu nộp giúp, bảo với thầy Hải bắt đầu từ thứ bảy này mình đến".
Chờ cho hai thanh niên ra khỏi cửa, tôi hỏi: "Anh Đoan học gì đấy?" Ngọc Đoan cười: "Rỗi rãi bọn bạn rủ học chơi ghi ta, biết chút cho vui" Nói xong y hí húi tập trung vào công việc. TôI, mặc dù rất muốn nghe tiếp câu chuyện y đang kể, nhưng vì ngại nên không hỏi.
Ngoài trời bỗng tối sầm, gió thổi lộng, lùa vào hất tung tấm màn gió che cửa. Ngọc Đoan dừng tay kéo, hạ tấm phên xuống rồi bật điện. Y ca cẩm: "Trời với đất, dễ lật mặt thế không biết. Vừa nắng to mà đã mưa ngay được". Tôi đế bằng một câu thành ngữ: "Nắng Lào Cai mưa dai Yên Bái", thất thường lắm! ".
Quả thật, khi Ngọc Đoan cắt xong tóc cho tôi thì cơn mưa ập xuống. Nước mưa lọt qua những chỗ dột trên mái nhà bắt đầu lên tiếng. Ngọc Đoan cuộn chăn, màn vào chiếu dựng đứng lên góc tường; xuống bếp bê tất cả thùng, chậu, nồi, niêu, xoong, chảo, những vật dụng có thể mang ra để hứng. Những giọt nước tý tách rơi tạo một hợp âm vừa nghèo nàn vừa thiểu não. Rất may chỗ tôi ngồi, chủ nhân đã căng một tấm ni lông chống dột, đón dòng nước chảy ra ngoài cửa sổ. Ngọc Đoan ái ngại nhìn tôi:" Hay anh lấy áo mưa của tôi mà về, lúc nào tiện qua thì trả. "Tôi nhìn mái tóc được phiên bản từ đầu của ông Stalin trong gương, nói:" Đợi tạnh tôi về cũng được. ".
Mặc tôi ngồi, Ngọc Đoan chạy xuống bếp, lát sau y bê bát ngô rang và một cút rượu lên, kéo chiếc ghế đẩu thay bàn, rót rượu, đẩy một ly về phía tôi:" Mời anh, rượu Bắc Hà, ngô nếp Bát Xát đấy! ". Không khách sáo, tôi chạm chén với y. Rượu Bắc Hà, thứ rượu đặc trưng của đồng bào dân tộc nấu bằng ngô, ủ men lá vừa nặng độ vừa sốc, xộc lên mũi, bốc hỏa lên tận đầu. Tôi nhúp mấy hạt ngô thả vào miệng, vị ngô bùi, rẻo, ngậy thấm vào lưỡi làm dịu bớt nồng độ rượu. Uống liền hai chén, mặt Ngọc Đoan mái dần, đôi mắt của y trở nên xa xăm, giọng buồn buồn:
" Tôi không nghĩ mình lấy vợ sớm. Một cuộc tình như trong mơ, đến rất nhanh và đi cũng rất vội- Y dừng lời, uống thêm một chén rượu như để lấy đà- Bé tên Bảo Thoa, cái tên trùng với nhân vật trong "Hồng Lâu Mộng". Hơi nhỏ người một chút. Nhưng với tôi, lúc ấy Bảo Thoa rực rỡ như một bông hoa. Trong mắt người đang yêu, hình như mọi khiếm khuyết được khỏa lấp bằng một thứ tình cảm thật lạ, đam đắm và mê muội. Bảo Thoa ở C bộ, làm liên lạc viên, thi thoảng đi cùng với C trưởng Long xuống các trung đội kiểm tra. Bảo Thoa rất hợp với bộ quần áo mầu xanh lá cây. Dưới chiếc mũ mềm, đôi bím tóc tết đuôi sam xanh mượt, hàng tóc cắt ngắn che vầng trán nhỏ, khuôn mặt của bé thon như trái đào Vân Nam, lưỡng quyền hồng rực phơn phớt lông tơ, đôi mắt ủ trong hàng mi cong, lấp láy như hai viên huyền ngọc. Bảo Thoa hay cười, tiếng cười trong ngần như nước suối Mường Hum, cùng với tiếng cười là những bước đi nhún nhẩy ngây thơ, tinh nghịch.
Trong đơn vị, tôi là người biết cắt tóc nên hàng tháng được cấp trên phân công ở nhà mười ngày không phải ra hiện trường để phục vụ cho toàn đại đội. C bộ gần đấy, lúc rỗi, Bảo Thoa xuống lán, thi thoảng dúi cho tôi phong lương khô, bao thuốc lá Tam Thanh, gói chè Liên Hoa hoặc giúp tôi quét dọn nơi làm việc. Để "trả công", tôi trèo núi hái hoa kim ngân về cho Bảo Thoa pha nước uống và phơi khô để gội đầu. Bé thích lắm, mỗi lần nhận, mắt sáng rực, áp những nhành hoa lên má, hà hít, lấy răng nhấm nhấm. Trong mầu vàng dịu, đôi môi bé tươi hồng hé nở, tôi ghen thầm và ước ao được hóa thân thành những nhành hoa kim ngân may mắn kia. Dần dần tôi thích và yêu Bảo Thoa từ bao giờ không rõ nữa. Tuy chưa tỏ tình, nhưng tự trái tim, tôi ôm trọn hình ảnh Bảo Thoa như trái mận vàng cắn dở, càng thấm vị ngọt, chua, càng thèm, càng khao khát..
Một hôm, C trưởng Long xuống chỗ tôi cắt tóc. Vừa đặt mông xuống ghế, anh hỏi: "Đồng chí Đoan yêu Bảo Thoa phải không?" Tôi dừng tay kéo, đỏ mặt như người thú tội, lưỡng lự chưa biết trả lời sao. C trưởng Long nhìn tôi trong gương: "Kể ra Ngọc Đoan và Bảo Thoa đẹp đôi, nhưng kỷ luật của đơn vị quy định rồi. Là thủ trưởng, tôi nhắc đồng chí nên giữ gìn, phải cắt đứt ngay quan hệ ấy đi!".
Tôi "Vâng" nhưng trong lòng hoang mang trĩu nặng. Và, chưa bao giờ tôi cắt một cái tóc dở như thế. Dưới tay kéo của kẻ buồn vì thất vọng, mái tóc của C trưởng Long lam nham như chó gặm, thậm chí lúc cạo, lớ ngớ thế nào tôi làm sứt mũi anh. C trưởng Long không nói gì, lấy mẩu thuốc lá dịt vào, nhưng ngay hôm sau, tôi nhận được lệnh trở về đơn vị, ra hiện trường làm việc. Công việc cắt tóc của tôi do một thợ chính hiệu được mời từ huyện Bát Xát vào đảm nhận.
Từ đấy tôi ít gặp Bảo Thoa và hình như bé cũng cố tình tránh tôi. Khỏi kể nỗi đau buồn nản của kẻ thất tình. Tôi lao vào công việc như một thằng điên. Dường như không tháng nào tôi không được cấp giấy chứng nhận "Dũng sĩ". Nhưng trái với công việc, tôi như kẻ mất hồn. Khi đêm xuống, tôi ôm những nhành hoa kim ngân vào lòng, mùi hương thơm thoảng mang đầy kỷ niệm. Tôi nhớ em làm sao, cõi lòng tôi hoang đắng. Tình yêu đơn phương dày vò khiến tôi hẵng hụt, tôi vò nát nhành hoa kim ngân thổn thức.. "
Ngọc Đoan dừng kể, nghiêng chai dốc nốt những giọt rượu cuối. Vẫn chưa đầy, tôi nhấc chén mình lên san rượu sang cốc của y. Ngọc Đoan gật gù," cạch "vào ly của tôi rồi ngửa cổ uống hết, đôi mắt chuyển mầu, trong mảng nền trắng đục những tia máu hình dải quạt đỏ quạch, giần giật, khiến tôi hiểu y đang cố cưỡng lại một ký ức đáng quên đang trở lại dày vò cõi lòng y đến vô cùng. Tôi khuyên:" Nếu anh không muốn, xin đừng kể nữa ".
Ngọc Đoan lắc đầu:" Cho đến một ngày, tôi coi hôm đó là số phận. Đơn vị chúng tôi thông tuyến đường Bát Xát. Theo kế hoạch, chúng tôi phấn đấu quyết tâm hoàn thành kế hoạch trước thời hạn mười ngày. Không khí ra quân của đơn vị thật náo nức. Chiều hôm trước, tổ phá mìn cho nổ những khối đá nằm sát bờ sông Hồng. Tôi cùng tiểu đội trưởng một nhóm, hăm hở thọc mũi choòng vào những kẽ nứt làm đà, tiểu đội trưởng thả mũi choòng kế tiếp, những cồ đá bị mìn xé, được chúng tôi bẩy, lăn xuống chân núi ầm ầm, bụi đất bay mù mịt, cây rừng bị đá quăng quật đổ rạp, gãy răng rắc.
Lúc nghỉ giải lao, tôi và tiểu đội trưởng ngồi trên một phiến đá. Anh hỏi tôi: "Dạo này Ngọc Đoan có hay gặp Bảo Thoa không?" Tôi cười đau khổ: "Mình lính tráng, mơ gì được mà mơ". Tiểu đội trưởng móc túi lấy ra bao thuốc lá Trường Sơn: "Còn mỗi điếu, hút chung nhé!". Anh xoè lửa châm, rít một hơi rồi đưa cho tôi: "Tôi nghe nói C trưởng Long nhận Bảo Thoa làm anh em kết nghĩa." Tôi cười ruồi không đáp. Tiểu đội trưởng nhìn bộ mặt đưa đám của tôi, khuyên: "Thôi, buồn làm mẹ gì, nay mai xong chiến tranh, thiếu cha gì đàn bà!" Tôi ngửa cổ, thổi khói thuốc vào không trung, lơ mơ ngắm trời, ngắm núi. Chợt cây rừng phía trên chuyển động, tôi hét: "Tiểu đội trưởng.." Trong khoảnh khắc, tiểu đội trưởng lao vút sang trái, còn tôi bị đá hất xuống dưới, và sau đó không biết gì nữa.
Lúc tỉnh dậy, người tôi nhìn thấy đầu tiên chính là Bảo Thoa. Đôi mắt bé nhoè nhoẹt phủ kín tôi, giọng của bé thật nhẹ: "May quá, anh tỉnh rồi, anh làm em sợ quá!" Tôi nuốt từng câu nói của bé cùng với mùi tóc thoảng hương hoa kim ngân. Con bệnh tương tư khỏi hẳn, nhất là khi tôi được biết C trưởng Long đích thân cử Bảo Thoa đến chăm sóc tôi. Tôi cảm động, ân hận mình đã có ý trách nhầm anh. Có thể nói, thời gian ở bệnh xá là thời gian đẹp nhất của đời tôi. Đẹp vì luôn có Bảo Thoa bên cạnh. Bé tỏ ra là người bảo mẫu vừa nghiêm khắc vừa độ lượng. Bắt tôi uống thuốc đúng giờ, ngủ đúng giờ, những lúc rỗi, bé ngồi bên tôi trò chuyện tâm tình..
Bệnh xá tiểu đoàn đóng ở thung lũng Tà Loỏng, dưới chân dãy núi Hoàng Liên, có dòng suối Cốc San chảy qua. Lúc ấy vào mùa dâu da, thứ quả mầu đỏ, vỏ chua, lòng ngọt. Một lần Bảo Thoa rủ tôi đi hái. Tôi đeo ba lô cùng bé ngược dòng vào thung sâu lên tận đầu nguồn, nơi có con thác đổ nước xuống như rót bạc. Phía sau thác là hang động. Tôi nắm tay bé chui vào, trên vòm hang, hàng trăm nhũ đá muôn hình, muôn dạng nhuộm mầu sương sớm treo lơ lửng; ánh sáng bên ngoài xuyên qua thác, phản quang lên đám bụi nước thành ngàn vạn cánh hoa lấp lánh; hơi lạnh toát ra từ lòng động, cảnh tượng vừa nên thơ vừa bí hiểm. Càng vào sâu càng âm u, rờn rợn.
Tôi thì thào: "Em sợ không?" Bé nhúi đầu vào vai tôi: "Có anh, em chẳng sợ!" Trong hoang lạnh của những khối trầm tích, tôi ngửi thấy mùi da thịt bé nồng nàn cùng hương hoa kim ngân dìu dịu. Tôi hỏi một câu không đâu: "Hết hoa kim ngân chưa em?" Bé khúc khích cười: "Thế Ngọc Đoan không định lấy cho em nữa hay sao mà hỏi thế?" Tôi kéo bé sát vào mình: "Nếu em đồng ý, anh sẽ hái hoa kim ngân cho em suốt đời." Bé ngước mắt nhìn tôi: "Thật không anh?" Tôi đáp lại bé bằng nụ hôn vừa nồng nàn vừa vụng dại. Tôi nghe hơi ấm toát ra từ lồng ngực êm ái của thân hình thiếu nữ; tôi nghe con tim mình rộn ràng, run rẩy; không cưỡng lại bản năng, tôi thỏa hiệp với khao khát khôn cùng, chân tôi khuỵu xuống níu bé theo..
Nơi tận suối đầu nguồn, tôi mặc trái tim yêu buông thả, sự kìm nén bung ra.. Tôi lảm nhảm bao lời yêu không chừng mực. Cùng tôi, em chấp nhận niềm đam đắm giữa thiên nhiên kỳ bí. Những vách đã xa xưa, dòng nham thạch chai lì, đám bụi nước muôn mầu tung tẩy, tiếng thác đổ ì ầm, chứng kiến sự giao hoan không định trước..
Gần tháng sau, bé từ trên C bộ xuống gặp tôi, thì thào: "Hình như em có thai rồi." Tôi nhận tin ấy vừa sợ vừa lo lắng. Bảo Thoa gặng: "Bây giờ làm sao anh? Đơn vị biết thì chết!" Tôi nói: "Hay mình trốn?" Bảo Thoa lắc đầu: "Không được đâu anh, trốn sẽ mắc tội đảo ngũ, mang tiếng suốt đời.. – Ngập ngừng một lát, Bảo Thoa nói- Em tính thế này anh xem có được không?" Tôi nhìn bé chờ đợi như muốn có phép mầu từ cửa miệng bé thốt ra. "Em sẽ gặp anh Long, nhờ anh ấy giúp đỡ. Dẫu sao anh ấy cũng là anh kết nghĩa của em..". Đó là biện pháp bé đưa ra. Không còn cách nào khác, tôi nghe theo.
Ba tháng sau, được sự can thiệp, chở che của C trưởng Long, tôi và Bảo Thoa nhận giấy xuất ngũ, có giấy giới thiệu của đơn vị đi đăng ký kết hôn. Nhờ có quyết định chứng nhận thương tật, tôi được hưởng chế độ thương binh. Từ đấy tôi làm nghề cắt tóc. "
- Thế bây giờ mẹ con Bảo Thoa ở đâu? - Tôi buột miệng hỏi.
" Đấy chính là bi kịch đời tôi- Ngọc Đoan kể tiếp- Cháu bé sinh ra bụ bẫm, được ba cân bẩy, mẹ tròn con vuông. Trong số bạn bè cùng đi Thanh niên xung phong, người quan tâm nhất đến chúng tôi lại chính là C trưởng Long. Với tư cách anh kết nghĩa, thi thoảng đến thăm, cho quà, mua quần áo cho cháu. Tôi nhận sự quan tâm ấy với lòng biết ơn, tuyệt nhiên không có ý nghi ngờ. Cho đến lần sinh nhật cháu lần thứ ba, C trưởng Long tới. Cũng căn nhà này đây, sau khi ăn uống xong anh ta ra hiệu cho Bảo Thoa bế con ra ngoài. Còn lại hai chúng tôi, C trưởng Long hắng giọng giáo đầu: "Mình ra quân rồi, hôm nay đến nói chuyện với Ngọc Đoan cho mình đón mẹ con Bảo Thoa về".
Tôi trân trân nhìn anh ta: "Thủ trưởng nói gì em chưa hiểu?" C trưởng Long đáp: "Mình là lính, không thích nói vòng vo. Thực ra, mình và Bảo Thoa có quan hệ từ lâu rồi, hiềm vì lúc ấy đang ở quân ngũ. Vả, mình còn vướng vợ dưới xuôi. Nay tất cả mọi việc đã thu xếp ổn thỏa, chỉ còn việc của hai mẹ con Bảo Thoa nữa là xong.. - C trưởng Long ngập ngừng- Kể ra.. Mình biết làm thế là không đúng lắm với Ngọc Đoan, nhưng chẳng lẽ cứ để người khác nuôi con mình mãi..".
Không nghe hết câu, tôi hỏi: "Vậy còn chuyện kết nghĩa anh em, các người cũng dựng lên ư?" C trưởng Long rút ra một xấp tiền để xuống chiếu: "Chuyện kết nghĩa của tôi và Bảo Thoa cũng là điều bất đắc dĩ.." Như vậy bọn họ đã có âm mưu từ lâu rồi. Không chịu nổi, tôi vớ xấp tiền ném thẳng vào mặt hắn: "Đồ đểu, cút đi!". Những tờ tiền bay loạn trên không trung, anh ta lặng lẽ đứng dậy, đến cửa quay lại, nói: "Bù cho sự hi sinh ấy, tôi chẳng đã trả công cho cậu cái huy hiệu thương binh là gì!". Tôi đưa tay lên ngực dứt đứt chiếc huy hiệu ném theo, tấm huy hiệu đập vào tấm phên cửa rơi xuống nền nhà.
Phải chăng bởi cùng lúc tôi nhận vào mình tất cả những nỗi đau đắng của cuộc đời, hay như người nuốt nhiều quá nghẹn, tôi xé toang tấm áo mặc trên người, cuồng dữ, điên loạn, vừa gào thét, chửi rủa, vớ cái gì đập cái ấy, như con chó cùng đường, tôi vơ đồ đạc ném thành đống giữa nhà, chạy xuống bếp xách can dầu lên tưới vào, quẹt diêm định hóa thân cùng tất cả. Nhưng anh biết không, khi ngọn lửa loé sáng, đôi mắt bé Kim Ngân trong tấm hình hồi mới biết lẫy chớp chớp nhìn tôi. Tôi khuỵu xuống ôm tấm ảnh vào lòng tức tưởi. "Kim Ngân ơi". Tôi gọi, đáp lại tiếng tôi là sự im lặng đến ghê rợn. Bất lực, tôi vồ lấy chai rượu, tu một hơi cạn hết rồi đổ ụp xuống giường, úp mặt vào gối khóc tu tu.
Nửa đêm, tỉnh dậy trong trạng thái lơ mơ, tôi gọi: "Bảo Thoa ơi, rót cho anh cốc nước". Nhưng không tiếng trả lời. Tôi lật người ngồi dậy, ngơ ngác nhìn quanh. Hai mẹ con Bảo Thoa đi đâu mà bây giờ chưa về? Tôi thò chân khua dép, nhìn đồ đạc ngổn ngang, tiềm thức nhớ trở về, tôi tỉnh hẳn cùng với nỗi nhớ Bảo Thoa và bé Kim Ngân. Hình như trong cơn tột cùng của đau khổ, vượt qua thù hận con người sẽ tìm đến sự tha thứ? Với ai không biết, những tôi sẽ tha thứ mọi điều nếu cả hai mẹ con họ về bên tôi. Từ sâu thẳm trái tim mình, những kỷ niệm của tình vợ chồng, tình cha con vượt lên. Tôi thèm sao tiếng líu lo, u ơ gọi bố và những bước chân chập chững đầu đời tôi dắt cháu đi. Tôi úp chiếc gối xinh xinh thêu những nhành hoa kim ngân vào mặt hà hít tìm mùi thơm con trẻ. Bất chấp sự thật phũ phàng, tôi hiểu tình yêu của tôi với Bảo Thoa và bé Kim Ngân như chưa hề bị mất. Nhưng đáp lại, ba tháng sau tôi nhận giấy tòa gọi.
2
Sau buổi chiều mưa gió ấy, tôi kết thân với Ngọc Đoan. Y rủ tôi cùng học ghi ta, tôi cười: "Tay tớ quai búa từ năm mười bốn tuổi, bây giờ lại cầm vô lăng, học sao được!". Nói vậy nhưng đến chiều thứ bẩy tôi vẫn theo y đến nhà nhạc sĩ Thanh Hải. Nhà nhạc sĩ ở khu sơ tán của cơ quan trong một thung lũng nhỏ, xung quanh là rừng và núi đá. Nhạc sĩ là trưởng bộ môn của đoàn văn công, đẹp trai, trông rất giống người ý, tóc tự nhiên, bồng, xoăn tít, bện vào nhau đen nhánh, mặt dài, mắt lơ, mũi thẳng, môi mỏng, cằm thon, dáng đi nhanh nhẹn, tiếng nói trong vắt. Nhạc sĩ đã có vợ và hai đứa con gái, vợ anh là ca sĩ, gốc người dân tộc Nhắng.
Lúc tôi cùng Ngọc Đoan tới, nhạc sĩ Thanh Hải đang chơi ghi ta, anh gật đầu, đưa mắt ra ý bảo chúng tôi cứ tự nhiên. Ngọc Đoan và tôi rón rén ngồi xuống chiếc ghế băng kê cạnh cửa. Ngọc Đoan thì thầm: "Bản nhạc" Phiên chợ Ba Tư "đấy". Vốn là lính xế, tôi quen nghe tiếng máy chạy nhiều hơn, vả, khiếu thẩm âm của tôi có hạn, tôi nghe tiếng đàn như "vịt nghe sấm".
Trong lúc đó, Ngọc Đoan đắm chìm vào từng chuỗi thanh âm réo rắt. Y như lãng quên những niềm đau tận khổ, thân hình lắc lư, mắt lim dim, tâm hồn phiêu diêu trong phiên chợ đông người. Giữa ồn ã tiếng nói cười rộn rã, nhộn nhịp tiếng trống, tiếng thanh la, não bạt, lừa kêu, ngựa hí, điệu khúc dân vũ rộn ràng, sôi nổi; trong mớ tạp âm cộng hưởng, vút lên vệt thanh sắc réo rắt, ma dị của tiếng kèn múa rắn..
Bàn tay của nhạc sĩ như có phép mầu, từng chuỗi, từng chuỗi tiết tấu dồn nén rồi bung ra, quang cảnh đặc trưng miêu tả phiên chợ nửa bên kia vòng trái đất có sức hút kì lạ. Tiếng đàn đôi lúc như dứt ra, rơi xuống từng giọt, từng giọt trong trẻo, thanh khiết, rồi bỗng nhiên dồn dập, mạnh mẽ, dữ dội, vút cao như chim ưng tung cánh giữa trời xanh thắm, lúc đan kết, dịu dàng, da diết, hòa quện, lưu luyến, bịn rịn của những cặp tình nhân vui chợ chẳng muốn về..
Tiếng đàn dừng, những hợp âm cuối tan loãng vào thinh không, nhạc sĩ ôm đàn lưu luyến, đôi mắt mơ mòng, dường như hình ảnh của phiên chợ Ba Tư còn lưu hồn nhạc sĩ. Ngọc Đoan lẩm bẩm: "Hay quá!". Nhạc sĩ bừng tỉnh, đứng dậy bước tới chiếc bảng treo trên tường, kẻ khuông nhạc, vẽ một nốt khóa son rồi quay lại: "Nào, bắt đầu, hỡi các bạn, những nhạc sĩ tương lai của tôi".
Trái hẳn với tôi, Ngọc Đoan tỏ ra có năng khiếu âm nhạc, y nhận thức nhanh, ham học, luyện đàn thâu đêm suốt sáng. Nhạc sĩ Thanh Hải cũng rất mến cậu học trò nhiều triển vọng này. Chả thế, mới học được một kỳ, nhạc sĩ Thanh Hải tặng Ngọc Đoan chiếc đàn ghi ta coi như phần thưởng cho sự sáng dạ. Riêng tôi, nhạc sĩ khuyên: "Bạn học đàn cho vui, chứ bàn tay của bạn quen lái xe rồi, hơi cứng, học được nhưng mất thời gian lắm!". Tôi biết nhạc sĩ tế nhị nên nói vậy, chẳng nhẽ anh độp thẳng vào mặt tôi rằng, tôi thuộc loại "ngu lâu, dốt bền". Quả thực, trong khi tôi bập bùng, tiếng đàn kêu như thợ gò gõ thùng, thì Ngọc Đoan đã kết bài học thành những hợp âm có nhịp điệu. Tôi nản, một lần nói với y: "Số mình không chơi được đàn, đành làm Tử Kỳ nghe đàn của Bá Nha vậy". Và từ đó, "Tử Kỳ tôi" thôi ý tưởng trở thành nhạc sĩ.
Và nhân dịp nhận lệnh lên Lai Châu sáu tháng trung chuyển hàng sang nước bạn Lào, tôi bỏ học đàn luôn. Hết đợt, tôi về hôm trước thì hôm sau đến nhà Ngọc Đoan. Một cái biển "Ngọc Đoan nhận dạy đàn ghi ta" treo cạnh biển cắt tóc đập vào mắt tôi. Tôi không ngạc nhiên lắm vì hiểu khả năng của Ngọc Đoan. Vả, cái lối truyền âm như truyền đạo ấy đối với những người có năng khiếu cũng chả mấy. Thể như tôi dạy ông Chủ nhiệm Công ty học lái xe vậy, nhõn một tuần, không cần bằng bổi gì mà ông ấy một mình một Gát 69 rong ruổi khắp cả tỉnh.
Điều làm cho tôi ngạc nhiên, đó là quang cảnh đường vào nhà y. Thay cho cái ngõ vừa dốc vừa lầy, một lối đi được rải sỏi trắng, hai bên dựng gạch theo lối zích zắc, đổ đất trồng hoa. Nhưng tôi hơi lạ, không hiểu sao trong bồn duy nhất chỉ trồng hoa tường vi.
Ngọc Đoan đang cầm bình tưới. Nghe tiếng động, y ngẩng lên: "Anh về bao giờ?" Tôi không trả lời mà hỏi: "Dạo này" Bá Nha "vừa làm thầy dạy đàn và trồng hoa tường vi à?". Mặt y rựng đỏ như người bị bắt quả tang làm việc giấu, tay mơn man, vuốt ve chùm hoa mầu tím đỏ: "Hoa này là của người bạn mới quen cho tôi". Nét mặt và thái độ của y không qua nổi tôi. Tôi biết y có đàn bà. Chỉ đàn bà mới bắt được người đàn ông thích hoa. Tôi đang định hỏi thì y nói: "Tôi muốn cho anh nghe bài hát đầu tiên của tôi".
Tôi ngạc nhiên, y học được bao nhiêu mà đã sáng tác? Như để trả lời, y xách đàn ra, ngồi cạnh gốc hoa tường vi. Sau một vài hợp âm so dây thử tiếng, Ngọc Đoan cất tiếng hát: "ứớc gì ta đừng gặp/ ước gì lòng đừng mơ /Cơn khát nào vọng nuối/ Suối tình đã cạn khô? / Người đã đi qua đi qua/ Kể như là xa lạ/ Thì thôi, thì thôi đành/ Mặc niềm đau tàn tạ/ Xin đừng nhìn và em/ Đừng nhìn ta như vậy/ Có còn mơ được nữa/ Mảnh chiếu đời mong manh/ Có còn yêu được nữa/ Hỡi ngàn xanh ngàn xanh/ Có con đau được nữa/ Trái tim yêu chưa lành.."
Giọng y buồn thảm lạ, lời ca nhầu nhĩ như thi nhân nản đời bế tắc, còn giai điệu day dứt, vò xé na ná kiểu nhạc Trịnh Công Sơn. Tôi đoán vậy, chứ nào tôi có hiểu lắm đâu. Nhưng nhìn thái độ y tôi biết, y như kẻ đứng giữa ngã ba dòng suối Cốc San vào mùa nước lũ. Cái tâm trạng từng bị đột quỵ vì tình cảm làm y lo ngại. Trái tim con người mẫn cảm, không thờ ơ trước cái đẹp, nhậy cảm với kẻ khác giới. Nhưng nỗi đớn đau bị phản bội nhắc y, khuất lấp dưới nụ hồng xinh đẹp là những chiếc gai nhọn, sắc, dễ tướm máu..
Đang chơi, bỗng y lấy bàn tay đè lên những sợi dây đàn khiến dòng thanh âm tắt lịm. Mắt y lạc thần, đăm đăm nhìn những khóm hoa tường vi. Thời gian nặng nề trôi, kéo theo sự im lặng nghiệt ngã. Tôi phá tan sự im lặng ấy bằng một câu nói vô duyên: "Ngọc Đoan mới học mà đã sáng tác được thế là giỏi rồi". Y không đáp, đưa tay gảy mấy nốt nhạc rồi bỗng dưng mời tôi: "Anh có rỗi không, chiều nay tôi muốn anh đi với tôi?". Tôi không hỏi lý do mà hẹn với Ngọc Đoan bốn giờ chiều sẽ tới.
Buổi sinh nhật Thanh Hằng được tổ chức dưới chân mỏ đá, thứ đá trắng tinh khiết có tên khoa học là đá Đôlômít. Chúng tôi ngồi trên một bìa đá hình nấm mọc chìa ra ở lưng chừng núi. Bên dưới là khe nước ngầm chảy róc rách. Cảnh tượng thật nên thơ. Mặt trời dần khuất sau dãy núi Hoàng Liên. Những vạt nắng yếu ớt trải dài trong ngàn xanh, lả lớt, lịm chìm đổ mầu tím ngắt xuống những thung lũng xa xa. Từng đám hơi nước bảng lảng, kết tụ thành những đám mây mỏng tang bay là là trên các triền dốc, phủ lên những con đường quanh co ẩn hiện. Đâu đó, khắc khoải tiếng chim từ quy gọi bạn, tiếng tắc kè điểm nhịp, vòng vọng tiếng nai rừng tác mẹ, tiếng vượn hú gọi bầy.. Báo hiệu giây phút chia tay của một chiều sơn cước.
22 cây nến cắm quanh chiếc bánh sinh nhật hình trái tim, trên mặt bánh, bột mầu được tạo thành hai nhành hoa tường vi đỏ dịu, kết hình vương miện, ôm lấy hai chữ TH điểm xuyết bằng những hạt trân châu mầu dạ ngọc. Ngọc Đoan ghé tai tôi thì thào: "Bánh sinh nhật tự tay nhạc sĩ Thanh Hải làm cho Thanh Hằng đấy!".
Tôi hết nhìn chiếc bánh lại nhìn chủ nhân buổi sinh nhật. Trong mắt tôi, Thanh Hằng không đẹp, dáng thô, khuôn mặt khó tả, lưỡng quyền xuôi xuống phần má đầy đặn tạo một khoảng rộng có bờ, ấp vào cặp môi dầy láng bóng. Nhưng bù lại, dưới vầng trán thanh cao, cặp mắt to, mầu tro, chân mày cong hình dẫu ngã, gợi vẻ quý phái, thông minh và có học. Không kẻ đa tình nào có thể cưỡng lại đôi mắt thăm thẳm chứa đầy mơ mộng và tràn trề khêu gợi kia. Và tôi chợt hiểu vì sao bạn của tôi lại yêu hoa tường vi đến thế.
Tôi đang võ đoán thì nhạc sĩ Thanh Hải nói: "Hôm nay là sinh nhật của Thanh Hằng, mình đề nghị Ngọc Đoan làm nhiệm vụ" người hộ vệ ". Đề nghị" người hộ vệ "thắp nến giúp Thanh Hằng". Sắc mặt Ngọc Đoan bừng sáng, tay y luống cuống, que diêm trong tay run rẩy chực cháy, chực tắt. Thanh Hằng cúi xuống, khum tay che gió. Ngọn lửa bừng lên, tôi bắt gặp niềm vui kín đáo hiện trên khuôn mặt của hai người đang yêu.
Người "hộ vệ" thì thào: "Em thổi nến đi". Thanh Hằng đăm đăm nhìn quầng sáng giao thoa của những ngọn nến, ngần ngừ.. Bỗng dưng nàng quay lại bảo Ngọc Đoan: "Anh thổi nến cùng em nhé!". Trong vầng sáng lung linh, đôi mái đầu chụm lại, ánh sáng vụt tắt. Tôi nghe tiếng gã trai si tình thì thào: "Em cầu nguyện đi" Thanh Hằng vụm tay lên ngực. Tôi không hiểu người con gái kia đang thầm nguyện điều gì, còn chàng "Bá Nha" của tôi không cưỡng nổi tình cảm của mình, y ngồi ngây như tượng đá. Trong khi đó, nhạc sĩ Thanh Hải cầm đàn lên gảy khúc điệu "Chúc mừng sinh nhật". Âm thanh rộn ràng lan tỏa. Tôi ngước nhìn lên bầu trời, sao dầy như rắc bạc, một vệt sao băng loé lên, vút qua; vành trăng khuyết mỏng manh treo như chiếc lá, từng vạt mây mỏng tang lang thang bay về cuối trời vô định..
Tôi không cho đó là sự kết hôn vội vã. Nhất là khi tôi nhận ra những khóm tường vi ngày một cao và hoa nở nhiều hơn. Ngọc Đoan và Thanh Hằng là một đôi vợ chồng hạnh phúc. Ngày ngày, trong khi Ngọc Đoan ở nhà cắt tóc và dạy đàn, Thanh Hằng đi làm. Nàng công tác ở Phòng văn hóa thị xã và công việc của nàng cũng chính do nhạc sĩ Thanh Hải giúp.
Điểm xuyết cho bức tranh hạnh phúc ấy, thi thoảng, nhạc sĩ Thanh Hải tới. Họ cùng nhau đàm đạo về những bản nhạc, bài hát, về Phạm Duy, về Trịnh Công Sơn.. Và cả những bài ca do chính họ sáng tác. Thời gian như dòng chảy và hạnh phúc lứa đôi là sự chứng minh cho cuộc đời dần đẹp hơn. Cuối năm ấy Thanh Hằng sinh con trai. Hôm đón mẹ con Thanh Hằng ở bệnh viện về, không có xe con, tôi lái hẳn chiếc xe tải nhãn hiệu Giải Phóng của Trung Quốc đưa Ngọc Đoan đi. Ngọc Đoan hái một bó hoa tường vi cùng với bộ mặt hân hoan đón vợ về. Trong lễ đặt tên, Ngọc Đoan đặt tên con trai mình là Ngọc Toàn, y muốn hạnh phúc của gia đình trọn vẹn như ngọc.
Cuộc sống sẽ cứ thế nếu không có cuộc chiến tranh biên giới xẩy ra. Tôi đưa gia đình về quê, còn vợ chồng Ngọc Đoan đưa nhau vào Ban Mê Thuột sinh sống. Từ đấy bẵng tin nhau. Cho mãi đến hôm nay, nhân một chuyến công tác, tôi quyết định tìm bạn cũ.
3
Ngọc Đoan để tôi ngồi còn y xuống bếp chuẩn bị đồ nhậu. Tôi nhìn quanh, đồ đạc sơ sài, một chiếc giường nhỡ, tấm màn nửa treo nửa buông, chiếc bàn cắt tóc còn đủ lệ bộ đứng cạnh chiếc máy ép mía thủ công. Ngay phía trên treo chiếc đàn ghi ta. Tôi nhận ra đó là chiếc đàn nhạc sĩ Thanh Hải tặng y hồi còn ở Lao Cai. Chiếc đàn bị mạng nhện bao quanh một lớp, những sợi dây và núm khóa ngả mầu xám xỉn. Tôi biết như vậy "Bá Nha" đã bỏ đàn từ lâu.
Ngọc Đoan và tôi chạm li. Tôi nhận ra thứ men lá của vùng Bắc Hà. Tôi hỏi: "Ở Ban Mê Thuột anh lấy đâu ra rượu này?" Ngọc Đoan nói: "Cách đây ba năm tôi về Lao Cai, lúc vào mang theo một bình, đến hôm nay có anh tôi mới mở.". Tôi định cất tiếng hỏi, Ngọc Đoan xua tay: "Uống đã, tôi sẽ giải thích cho anh sau." Nói vậy nhưng y không uống mà ôm li tựa lên môi, mắt nhìn lên chiếc đàn: "Bây giờ hai người họ sống với chủ nhân chiếc đàn kia." Tôi bật như lò xo: "Anh nói sao?".
Ngọc Đoan uống hết chén rượu, nói: "Người đời có câu" Họa vô đơn chí, phúc bất trùng lai ". Còn tôi, họa suốt đời. Hai lần lấy vợ, hai lần có con thì hai lần đều không phải con mình. Nhiều khi tôi tự hỏi: Hay kiếp trước mình mang kiếp tò vò?" "Nhưng làm sao anh biết được?" - Tôi hỏi. Ngọc Đoan cười không thành tiếng: "Lúc ra tòa tôi cũng dùng lý lẽ ấy để biện hộ cố giữ Ngọc Toàn lại. Nhưng nhạc sĩ Thanh Hải cao tay hơn, ông ấy dùng ADN để chứng minh. Tôi thua và như anh thấy đấy, tôi còn lại tôi."
Tôi nghe mà không tin, vì sao một con người như Ngọc Đoan hai lần trong đời chịu chung một tai họa? Dường như thấu hiểu ý nghĩ của tôi, Ngọc Đoan nói: "Tôi nghiệm ra chỉ có rượu mới mang tính thuỷ chung. Phàm những vật sống, mọi điều chỉ là ước lệ. Thanh Hằng cũng vậy thôi. Tôi không trách cô ấy, cũng không hận nhạc sĩ Thanh Hải. Không có con trai, ông ấy tìm đến người nối dõi là điều tất nhiên.."
- Còn Ngọc Toàn, thái độ nó ra sao? - Tôi hỏi.
Ngọc Đoan không đáp, lặng lẽ đứng lên nhấc cây đàn xuống. Y nhẹ nhàng gỡ những sợi tơ nhện bọc quanh, lấy giẻ lau sạch những vết bụi, so lại dây rồi nói: "Anh còn nhớ những khóm hoa tường vi tôi trồng hồi còn ở Lao Cai không?" Tôi gật đầu: "Nhớ!" Ngọc Đoan nói tiếp: "Sau khi chia tay, tôi về Lao Cai thăm lại mảnh đất cũ. Tôi không ngờ mấy mươi năm đã trôi qua mà những cây hoa tường vi vẫn còn. Cái ngõ nhỏ xuống nhà tôi hai bên mọc kín, hoa nở nhiều đến nỗi những người ở đấy quen gọi thành tên" Ngõ Tường Vi ". Những cây hoa tường vi cho tôi về với những kỷ niệm khó quên. Đời mà anh, vui chóng quên, buồn dễ nhớ. Sau bốn mươi năm gặp lại, tôi muốn hát cho anh nghe lần cuối bài hát tôi viết vào dịp đó".
"Ngõ vắng xưa đâu rồi, mây chiều dăng phố núi/ mắt ai vương mầu đợi/ cho một mùa tường vi/ Ngỡ ngàng men lối nhỏ/ những cánh hoa rơi đầy/ bụi mờ vin sắc đỏ/ đã bao mùa tường vi? / Tường vi ơi có nghe/ tiếng lòng ai thổn thức/ mầu máu hay mầu hoa/ nhuộm cả chiều ly biệt/ Tường vi ơi tường vi/ ngõ hoa hay ngõ lòng/ men lối về ký ức/ gặp một chiều phôI phai.."
Lời ca buồn da diết chìm trong chiều cao nguyên. Đôi mắt Ngọc Đoan bỗng sáng rực. Bất thần, y vung cao cây đàn đập xuống nền nhà. Thân đàn gẫy gục, hộp đàn tan từng mảnh. Những sợi dây rung lên hợp âm cuối rồi lặng tắt.
Nguyễn Nhuận Hồng Phương