Bạn được Vương Căn mời tham gia diễn đàn viết bài kiếm tiền VNO, bấm vào đây để đăng ký.
211 ❤︎ Bài viết: 256 Tìm chủ đề
CHƯƠNG 2

Ngày 3 tháng 10, 1998

Bóng tối nhá nhem đã phủ qua các ngọn núi, sơn lên chân trời lởm chởm những sắc tím mờ ảo. Khúc lượn trải nhựa quanh co uốn khúc xuyên qua màn đêm đang kéo đến, bao quanh là những ngọn đồi cao in bóng trên bầu trời không một gợn mây, kéo dài đến một ánh sao lập lòe mờ tỏ.

Đáng lẽ Leon đã thưởng thức cảnh đẹp mỹ lệ đó thêm chút nữa nếu anh không bị trễ quá. Anh sẽ đến nơi đúng giờ vào ca, chắc chắn rồi, nhưng anh đã hi vọng đầu tiên là sẽ ổn định chỗ ở căn hộ mới, tắm một cái, kiếm chút gì ăn; nếu được, anh còn có thời gian đi một vòng quanh thành phố trên đường đến sở làm. Thay quân phục sẵn ở trạm dừng trước giúp tiết kiệm được ít phút, nhưng về cơ bản thì kế hoạch đã tiêu rồi.

"Thế đấy, cảnh sát Kennedy. Ngày đầu tiên đi làm và mày sẽ xỉa thịt dính ở răng trong giờ điểm danh. Cực kì chuyên nghiệp."

Ca làm việc của anh bắt đầu lúc chín giờ, và bây giờ đã qua tám giờ, Leon nhấn giày mạnh hơn trên chân ga, kể cả khi chiếc Jeep của anh lướt qua một bảng hiệu báo cho biết còn cách Thành phố Raccoon chỉ nửa tiếng nữa. Ít ra thì đường phố cũng thông thoáng, ngoại trừ một vài khu nhà chung cư, còn thì dường như anh đã không thấy ai nữa trong nhiều giờ rồi. Một thay đổi dễ chịu, so với tình trạng giao thông kẹt cứng ngay phía ngoài New York đã tiêu tốn của anh nguyên cả buổi trưa. Thật ra từ đêm hôm trước anh đã cố gọi cho nhân viên trực để báo là có thể sẽ đến muộn, nhưng đường dây hình như có vấn đề gì đó. Không có gì ngoài tín hiệu bận.

Số đồ đạc ít ỏi anh có đã được chuyển đến căn hộ nhỏ nằm trong một khu lao động khá tươm tất ở quận Trask của thành phố Raccoon, có một công viên khá đẹp ở cách không quá hai dãy nhà, và chỉ cần khoảng năm phút để đi đến bến xe. Không còn cảnh ùn tắc, những căn nhà ổ chuột đông đúc và những hành động bạo lực tuỳ tiện. Một khi đã vượt qua được sự ngượng ngùng khi lần đầu tiên đi làm như một cảnh sát thực thụ mà vẫn chưa kịp dỡ đồ đạc ra, anh sẽ hướng tới cuộc sống mới trong một cộng đồng bình yên. Raccoon tách xa khỏi Big Apple hết mức có thể, cảm tạ trời đất – "trừ những tháng gần đây. Những án mạng đó.."

Dù đang phấn khích, nhưng anh vẫn thoáng rùng mình với những suy tưởng. Những việc đã xảy ra ở Raccoon thật ghê tởm, dĩ nhiên, bệnh hoạn, nhưng kẻ thủ ác chưa bao giờ bị bắt và cuộc điều tra cũng chỉ mới bắt đầu. Và nếu Irons thích anh, thích anh nhiều như ông hiệu trưởng trường đã từng thích anh, Leon sẽ có thể có cơ hội làm việc trong vụ này. Nghe đồn Irons là một cái gai, nhưng Leon biết anh được đào tạo xuất sắc – ngay cả một cái gai cũng có thể bị ấn tượng. Dù gì anh cũng nằm trong số mười người tốt nghiệp xuất sắc nhất. Và anh cũng không xa lạ gì với Raccoon, vì anh đã ở hầu hết các mùa hè tại đó khi còn là một chú nhóc, lúc ông bà anh vẫn còn sống. Thời đó, tòa nhà Sở cảnh sát Raccoon còn là một thư viện, và Umbrella hãy còn vài năm nữa mới biến thị trấn thành một thành phố thực thụ, nhưng hầu như nó vẫn là một nơi bình lặng như anh vẫn nhớ từ hồi thơ ấu. Khi nào những kẻ ăn thịt người bị tống khứ đi, Raccoon sẽ lại hoàn thiện như trước – xinh đẹp, sạch sẽ, một cộng đồng lao động trí thức náu mình giữa các đỉnh núi như một thiên đường bí mật. "Rồi mình sẽ ổn định trong vòng một hay hai tuần, và Irons sẽ nhận ra là những bản báo cáo của mình tốt đến thế nào, hay là mình giỏi như thế nào trong công việc được giao. Ông ta sẽ bảo mình nhìn qua hồ sơ vụ án, chỉ để làm quen với các dữ liệu để mình chạy việc lặt vặt và mình sẽ phát hiện điều chưa ai để ý. Một kiểu mẫu, có thể lắm, hay một mô típ bắt gặp trên nhiều hơn một nạn nhân.. hay mình sẽ tình cờ gặp một nhân chứng chỉ ra điều gì đó không ổn. Chưa ai nhìn nhận ra bởi vì họ đã sống ở đây quá lâu, và gã cớm mới toe này vừa đến đã phá án, chưa đầy một tháng sau khi ra trường và mình.."

Có cái gì chạy qua ngay trước chiếc Jeep.

"Lạy Chúa!"

Leon nhấn phanh và đánh tay lái, bừng tỉnh khỏi cơn mơ màng trong nỗ lực kiểm soát cái xe. Phanh hãm gấp và tiếng ken két của cao su nghe như một tiếng thét. Chiếc Jeep quay nửa vòng về phía hàng cây tối bên đường – và dừng bên lề, chết máy sau cú xóc nảy cuối cùng.

Tim đập thình thịch và bụng dạ rối bời, Leon mở cửa sổ và

Thò cổ ra, xem xét vùng tối tìm con thú vừa mới chạy qua xa lộ. Anh không đâm phải nó nhưng cũng suýt soát. Chó loại gì đấy, anh không nhìn rõ – dù sao cũng là một con to, chó chăn cừu hoặc một con Doberman lớn, nhưng mà nhìn nó có vẻ làm sao ấy. Anh chỉ nhìn thấy nó trong một chớp mắt, một hình ảnh chớp nhoáng của đôi mắt đỏ lóe sáng và một thân hình gầy guộc nhẳng nheo. Và còn cái gì khác, như thể là..

".. nhơn nhớt? Không, chỉ là ảo giác ánh sáng, hoặc là mày sợ rơi cả tim nên nhìn lầm. Quan trọng nhất là mày không sao và mày không đâm phải nó."

"Lạy Chúa", anh nói lần nữa, lần này nhẹ nhàng hơn, cảm thấy dễ chịu hơn và bỗng dưng rất cáu kỉnh khi đã bớt căng thẳng. Những người để cho chó của họ chạy rông thật ngu ngốc – lúc nào cũng khẳng định là muốn chó cưng chạy chơi thoải mái, để rồi tỏ ra ngạc nhiên khi chúng bị xe chẹt. Chiếc Jeep dừng cách một tấm biển đề THÀNH PHỐ RACCOON 10 chỉ vài chục centimet. Anh chỉ lờ mờ thấy được chữ trong bóng đêm đang xuống dần. Leon liếc nhìn đồng hồ, hãy còn nửa tiếng nữa mới phải đến sở làm, còn nhiều thời gian – nhưng vì lý do gì đó, anh chỉ ngồi im một lúc, nhắm mắt và thở thật sâu. Không khí thơm mùi gỗ thông mát lạnh lướt qua mặt anh; con đường hoang vắng trải dài dường như im ắng đến phi lý – như thể không gian đang nén hơi thở, chờ đợi. Lúc này khi tim đã lấy lại nhịp bình thường hơn, anh ngạc nhiên nhận ra là anh vẫn có cảm giác bối rối, thậm chí lo âu.

"Những án mạng ở Raccoon. Chẳng phải là đã có một vài người bị giết vì thú vật tấn công đó sao? Chó dại, hay cái gì khác? Rất có thể đó chẳng phải là thú nuôi của ai hết."

Đầu óc rối bời – và càng rối bời hơn khi anh bỗng nhiên có cảm giác rằng con chó vẫn ở gần đâu đây, dường như đang theo dõi anh từ bóng tối của những lùm cây.

"Chào mừng anh đến thành phố Raccoon, cảnh sát Kennedy. Hãy cẩn thận với những thứ rất có thể đang theo dõi anh.."

"Đừng có vớ vẩn thế", Leon lẩm nhẩm với chính mình, và cảm thấy đỡ hơn chút đỉnh trước giọng nói người lớn nghiêm túc của mình. Anh thường tự hỏi liệu có thể bỏ được cái tính hay tưởng tượng không.

"Mơ mộng như một đứa nhóc mơ bắt được kẻ xấu, rồi thì là những con chó-quái vật giết người bịa đặt ẩn trong rừng – hãy cố hành động như người lớn nào Leon? Mày là cảnh sát, lạy Chúa, một người trưởng thành.."

Anh nổ máy và lại lên đường, mặc kệ cái cảm giác kì lạ bứt rứt cách nào đó đang xâm chiếm trong người anh, dù cho lý trí đang khiển trách. Anh có một công việc mới và một căn hộ xinh xắn trong một thành phố nhỏ đầy triển vọng; anh thạo việc, lanh lợi và bề ngoài lịch sự; khi nào anh giữ cho đầu óc sáng tạo của mình nằm trong tầm kiểm soát, mọi việc sẽ đâu vào đấy.

"Tôi đi tiếp đây", anh tự nhủ, cố nặn ra một cái nhếch mép gượng gạo nhưng thật sự rất cần để bình ổn tâm trí. Anh đang trên đường đến thành phố Raccoon, đến với một cuộc đời mới đầy hứa hẹn – không có gì để phải cảm thấy không thoải mái, không gì hết..

* * *

Claire đã kiệt sức, cả thể xác lẫn tinh thần, và việc mông cô đang ê ẩm suốt mấy tiếng nãy giờ chả giúp được gì hơn. Tiếng nổ của động cơ Harley dường như đã ăn sâu tận xương, một đối trọng về thể xác so với nỗi lo lắng bồn chồn của cô – và dĩ nhiên, cảm giác tệ nhất bắt nguồn từ cái mông nhức nhối và nóng bức. Còn nữa, trời đang tối dần, và như một đứa ngốc, cô đã quên mặc áo khoác da; Chris sẽ bực lắm đây.

"Anh ấy sẽ gào toáng lên, nhưng mình sẽ không thèm quan tâm. Chúa ơi, Chris, làm ơn có ở đó để hét vào mặt em vì đã hành động ngu ngốc.."

Chiếc Harley nổ bình bịch trên con đường tối, tiếng động cơ vang vang dội lại cô từ những đỉnh đồi dốc và hàng cây thẳm tối. Cô rẽ góc cẩn thận, ý thức rõ là con đường xa lộ quanh co rất vắng vẻ; nếu cô ngã, phải lâu lắm mới có ai đó đi ngang qua.

"Làm như là cần thiết lắm vậy. Ngã xe không có đồ bảo hộ, mày sẽ bị cạo thành từng miếng trên mặt nhựa đường chỉ với một cú lăn."

Thật ngu ngốc, cô biết mình thật ngốc mới rời đi quá sức vội vã đến độ không thèm soạn đồ - nhưng có điều gì đó đang xảy ra với Chris. Quỷ thần ơi, chuyện gì hẳn đang xảy ra với cả thành phố. Suốt mấy tuần gần đây, mối nghi ngờ về việc anh trai cô đang gặp vấn đề đã trở nên chắc chắn, và những cú điện thoại cô gọi buổi sáng hôm đó đã làm cho nó càng chắc chắn hơn.

"Không ai ở nhà. Không ai ở nhà ở bất cứ đâu. Cứ như là Raccoon đã di dời và quên không để lại lời nhắn địa chỉ mới vậy." Thật là rợn tóc gáy, mặc dù cô cóc thèm quan tâm đến Raccoon. Vấn đề là Chris đang ở đó, và nếu có gì xấu xảy ra với anh..

Cô không thể, không nên nghĩ như thế. Chris là tất cả những gì cô có. Cha họ đã chết vì tai nạn trên công trường khi cả hai còn nhỏ xíu, và khi mẹ chết vì xe đụng ba năm trước, Chris đã cố gắng hết mức để vào vai phụ huynh của cô. Mặc dù anh ta chỉ lớn hơn vài tuổi, anh đã giúp cô chọn trường cao đẳng, tìm cho cô một bác sĩ chuyên khoa trị liệu tử tế - anh còn gửi cho cô ít tiền mỗi tháng trong số lương cảnh sát kiếm được, mà anh gọi là "tiền đi dạo". Và trên hết, anh gọi điện cho cô vài tuần một lần, chính xác như đồng hồ.

"Ngoại trừ việc anh đã không gọi lần nào suốt một tháng rưỡi nay, và cũng chẳng trả lời điện thoại của cô". Cô cố gắng thuyết phục bản thân rằng thật là ngốc khi cứ lo lắng, có thể anh ấy đã quen một cô gái, hoặc có gì đảo lộn trong việc đình chỉ S. T. A. R. S, hay bất cứ chuyện gì tương tự. Nhưng sau ba lá thư không được hồi đáp và nhiều ngày chờ đợi chuông điện thoại reo, cuối cùng cô đã gọi một cuộc đến Sở cảnh sát Raccoon trưa hôm đó, hi vọng nối tiếp hi vọng có ai ở đó có thể biết chuyện gì đang xảy ra. Và chỉ có tín hiệu bận.

Ngồi trong phòng kí túc xá, lắng nghe tiếng máy tút tút vô hồn đó, cô đã bắt đầu thấy thật sự lo lắng. Ngay cả một thành phố nhỏ như Raccoon cũng phải có hệ thống trả lời tự động cho các cuộc gọi trong vùng. Lý trí bảo cô không nên hoảng hốt, rằng một đường dây gặp sự cố chẳng có gì là kì lạ, nhưng linh tính mách bảo cô có chuyện xấu. Cô đã dò cuốn sổ ghi địa chỉ với đôi tay run rẩy, gọi một vài số cho bạn của anh, những người hay những nơi anh đã dặn cô gọi đến nếu có chuyện thật cần kíp mà anh không có nhà – Barry Button, Quán Emmy, ông cớm nào đó cô chưa từng gặp tên David Ford. Cô cũng đã thử gọi Billy Rabbitson, mặc dù Chris đã bảo cô rằng anh ta biến mất từ mấy tháng trước. Và ngoại trừ chiếc máy tự động trả lời đã đầy ứ của nhà David Ford, cô chẳng nhận được gì ngoài những tín hiệu bận.

Vào cái lúc cô ngưng gọi, nỗi lo đã chuyển thành điều gì đó rất gần với hoảng loạn. Đi đến Raccoon từ trường đại học của cô chỉ mất khoảng sáu tiếng rưỡi. Bạn cùng phòng của Claire đã mượn đồ bảo hộ của cô để đi chơi với anh bạn trai mới, nhưng Claire còn một cái mũ bảo hiểm khác – và với cái cảm giác chưa hẳn là hoảng loạn ấy cứ quay cuồng trong đầu cô cùng những suy nghĩ đáng sợ, cô đã làm một việc đơn giản là với lấy mũ bảo hiểm rồi lên đường.

"Ngu ngốc, có thể lắm. Bốc đồng ư, đương nhiên rồi. Và nếu Chris không việc gì, bọn mình có thể cười mãi cười hoài vì mình đã hoang tưởng tức cười ra sao. Nhưng nếu không biết được chuyện gì đang xảy ra, mình sẽ không có phút nào bình tâm."

Tia sáng cuối cùng của ban ngày đang tắt dần trên khoảng trời không một gợn mây, dù vậy một mặt trăng sắp tròn và ánh đèn pha của chiếc Softail đủ sáng để cô nhìn thấy – quá đủ để nhìn thấy tấm biển đề phía bên trái cô: THÀNH PHỐ RACCOON 10. Tự nhủ là Chris vẫn yên lành, Claire buộc mình tập trung vào điều khiển chiếc xe nặng nề. Trời sắp sửa tối hẳn, nhưng cô sẽ đến Raccoon trước khi quá tối để lái xe. Thành phố Raccoon có an toàn hay không, cô sẽ biết ngay thôi.
 
211 ❤︎ Bài viết: 256 Tìm chủ đề
CHƯƠNG 3

Leon đến ngoại ô thành phố trong vòng chưa đầy hai mươi phút, nhưng anh đã quyết định là đừng mong có một bữa tối ra trò. Những lần viếng thăm trước đây cho Leon biết có vài cái máy bán hàng tự động, và anh có thể vớ lấy vài thứ gì đó ăn tạm cho qua. Kẹo sữa cũ rích và đậu phộng chẳng tốt cho cái bao tử sôi sùng sục của anh chút nào, nhưng đành chịu thôi, ai bảo anh đã không tính tới tình trạng giao thông ở New York.

Lái được xe đến thành phố đúng giờ đã làm nguội đi nỗi lo lắng của Leon; anh đi qua vài trang trại phía đông thành phố, đất đai và chuồng trại khá tươm tất, rồi xe dừng lại ở điểm phân cách giữa thành phố và nông thôn. Ý nghĩ về việc mình sẽ đi tuần trên những con đường này, bảo vệ an toàn cho chúng, khiến cho anh có một cảm giác hạnh phúc và hơi hãnh diện. Không khí chớm thu thật trong lành mát mẻ làm sao, và mặt trăng đang rọi lên mọi vật một làn sáng bạc dịu dàng. Anh sẽ không bị trễ, chỉ trong vòng một giờ nữa thôi, anh sẽ là một phần của thành phố Raccoon.

Khi Leon rẽ chiếc Jeep vào đường Bybee, hướng tới một trong những con đường Bắc-Nam dẫn đến toà nhà RPD, anh nhận thấy một dấu hiệu đầu tiên của sự bất thường. Trong vài dãy nhà đầu tiên, anh ngạc nhiên một nửa; đến dãy thứ năm, anh bắt đầu sốc. Không chỉ là kỳ lạ, mà là.. không thể tin được.

Bybee là con đường thực sự đầu tiên của thành phố từ phía đông, nơi chẳng có mấy những cao ốc đông người. Có nhiều quán bar và quán ăn rẻ tiền, một rạp phim tồi tàn chẳng chiếu gì ngoài những phim kinh dị và khiêu dâm hài – và do đó đây là nơi lui tới thường xuyên của giới trẻ ở Raccoon. Thậm chí còn có vài nhà trọ kiểu mới phục vụ bia và rượu mạnh cho những đám sinh viên ưa trượt tuyết mùa đông. Vào tối thứ bảy, từ chín giờ kém mười lăm trở đi là lúc Bybee tràn đầy sinh khí.

Nhưng hiện tại Leon gần như chỉ thấy toàn bóng tối trong những cửa hiệu và nhà hàng dọc hai bên đường, vài chỗ có ánh sáng thì chẳng có người nào bên trong. Có cả đống xe hơi đang đậu dọc theo con đường hẹp té, vậy mà anh vẫn chưa nhìn thấy bất cứ ai; Bybee, nơi lui tới thường xuyên của đám choai choai và học sinh trung học, đang hoàn toàn vắng vẻ.

"Mọi người chui vào xó xỉnh nào rồi không biết?"

Đầu óc Leon căng ra tìm câu trả lời khi chiếc xe của anh thận trọng lăn bánh trên con đường vắng tanh, đánh liều tìm kiếm một lý do – và tìm cách giải tỏa bớt sự căng thẳng đến toát mồ hôi lạnh đang bám lấy mình. Chắc là có một sự kiện nào đó, buổi họp mặt nhà thờ chẳng hạn, hay một bữa tiệc spaghetti. Hoặc Raccoon tổ chức một lễ hội tháng mười, và tối nay là lúc khởi đầu.

"Phải, nhưng chả lẽ mọi người đều biến đi cùng một lúc à? Phải có ai đó không tham gia tiệc tùng chứ?"

Lúc này Leon mới chợt nhận ra là anh đã không thấy chiếc xe nào chạy trên đường, kể từ lúc bị con chó làm giật mình mười phút trước. Một chiếc cũng không. Và rồi một cảm giác khác ập đến với anh – không ấn tượng mấy, nhưng hầu như ngay lập tức.

Thứ gì có mùi rất gớm. Nói cho đúng là giống như mùi phân. "Y như một con chồn hôi bị chết. Có lẽ là bị quẳng ra ngoài trước khi chết."

Leon đã giảm tốc chiếc Jeep và chuẩn bị rẽ trái chỗ đường Powell, ngay dãy nhà đằng trước, nhưng cái mùi kinh khủng và sự thiếu vắng hoàn toàn sinh khí đã khiến anh thấy ghê rợn đến nổi gai ốc. Có lẽ anh nên dừng xe và kiểm tra một chút, xem có dấu hiệu nào của sự sống không.

"Hey!"

Leon nhe răng cười, cảm thấy nhẹ nhõm hẳn. Có một cặp đang đứng ở góc đường, chính xác là đằng trước bên phải của anh; ánh đèn đường không soi tới đó nhưng anh vẫn có thế thấy bóng của họ đủ rõ – một cặp, người phụ nữ mặc váy và người đàn ông to lớn mang giày bốt. Khi đến gần hơn, Leon có thể thấy họ đang di chuyển về phía nam Powell và có vẻ như đã uống quá chén. Cả hai khập khiễng bước vào trong bóng tối bên cạnh một cửa hàng, và ra khỏi tầm nhìn của anh – "dừng lại và hỏi xem có chuyện gì xảy ra thì đâu có sao chứ?"

"Chắc là mới ra khỏi quán O'Kelly. Có thể đã uống nửa hoặc cả lít chứ chẳng chơi, may mà họ chẳng lái xe, nếu không là bị mình phạt rồi. Và mình sẽ là đồ đần nếu họ bảo rằng tối nay có buổi hòa nhạc lớn, hoặc có một bữa tiệc ngoài trời có-đủ-thứ-cho-bạn-chén.."

Phát chóng mặt với những giả thiết, Leon rẽ ở góc đường và liếc nhìn vào bóng tối đen kịt, tìm kiếm hai người hồi nãy. Anh không thấy họ, nhưng có một lối đi chen giữa nhà kho và một cửa hiệu bán đồ trang sức. Có lẽ hai người bạn say xỉn của anh đã chui vào phòng tắm hay một đâu đó không hợp pháp cho lắm..

"Chết tiệt!"

Leon phanh gấp khi thấy nửa tá bóng đen bay lên khỏi mặt đường, dưới ánh đèn xe trông như những chiếc lá khổng lồ đang quay cuồng. Bị giật mình, nên mất một giây sau anh mới nhận ra đó là những con chim; chúng không hề kêu rít lên, mặc dù anh ở gần đến mức có thể nghe thấy tiếng vỗ cánh trong không trung.

Lũ quạ, chắc đang thưởng thức một bữa tiệc muộn dưới đường, cái gì trông như..

"Ôi, lạy Chúa."

Có một thi thể nằm ngay giữa đường, cách đầu xe Jeep chừng hai chục bước. Mặt úp xuống, nhưng trông có vẻ là phụ nữ, và từ cái chất lỏng màu đỏ vấy khắp chiếc áo khoác đã-từng-màu-trắng, có thể thấy đây không phải là một sinh viên uống say và quyết định làm một giấc tại một nơi như thế này.

"Tông rồi bỏ chạy. Thằng khốn nào đó tông vào cô ta rồi chạy mất. Lạy Chúa, thật là.."

Leon tắt máy và trườn nửa người ra ngoài trước khi những suy tưởng ập đến. Anh lưỡng lự, một chân đang đặt lên lớp nhựa đường, cái mùi hôi thối nặng nề của tử thi vẫn lởn vởn trong không khí lành lạnh. Trí óc của anh khăng khăng cho rằng không nên suy tính quá, nhưng anh thì biết rõ, rằng đây không phải là một bài thực tập, đây là đời thực.

"Nếu không phải là tông và bỏ chạy thì sao? Nếu việc không một ai quanh đây là kết quả luyện tập của một tay súng tâm thần thì sao? Mọi người có thể đang ở trong nhà, nằm sát đất – có thể người của RPD đang đến hiện trường, và biết đâu những người say xỉn hồi nãy không phải là say, họ bị bắn và đang cố tìm sự trợ giúp.."

Anh chuồn vào trong chiếc Jeep và lôi từ dưới ghế ra món quà tốt nghiệp của anh, một khẩu Magnum loại. 50AE hiệu Đại Bàng Sa Mạc có báng súng mười inch, sản phẩm của Israel. Cha và chú của anh – đều là cảnh sát – đã cùng đi mua nó; không phải loại tiêu chuẩn của RPD, thật ra là hỏa lực còn mạnh hơn. Leon lôi băng đạn trong tủ đựng găng tay ra và lắp vào súng, cảm nhận sức nặng của vũ khí trên cánh tay hơi run rẩy, anh tin chắc đây là món quà hay nhất mà anh từng được nhận. Anh nhét thêm hai băng đạn vào túi đựng ở thắt lưng, mỗi cái chỉ có sáu viên đạn.

Chĩa khẩu Magnum xuống đất, Leon bước ra khỏi xe và xem xét một lượt xung quanh. Anh không quen thuộc với buổi tối ở Raccon lắm, nhưng anh biết rằng tối như thế này là không bình thường. Nhiều ngọn đèn dọc đường Powell ở phía xa dường như đã bị bắn, hoặc không được bật, và bóng tối dày đặc đang bao phủ lên cái thây đẫm máu; nếu không nhờ đèn xe thì anh đã chẳng trông thấy nó.

Anh lườt về phía trước, cảm nhận một mối lo lắng khi rời khỏi chiếc xe đang làm vỏ bọc cho mình nãy giờ, nhưng anh nghĩ rằng người phụ nữ kia biết đâu còn sống; trông không giống lắm, nhưng ít nhất anh cũng phải kiểm tra đã.

Tiến thêm vài bước nữa, và anh nhận ra đây chắc chắc là một phụ nũ trẻ. Mái tóc đỏ duỗi thẳng che khuất khuôn mặt, bộ đồ đồng phục có vải bông sọc. Những vết thương bị che khuất bởi chiếc áo thun vấy máu, nhưng có vẻ là cả tá những lỗ rách bươm trên lớp vải ướt bị xé rách, lớp thịt và màu đỏ của cơ nằm bên dưới.

Cố kìm nén một cách khó khăn, Leon chuyển súng sang tai trái và cúi xuống sát bên cái thây. Anh cảm nhận một làn da lạnh lẽo khi chạm đầu ngón tay vào cổ cô ta, áp hai ngón tay lên động mạch chủ. Vài giây trôi qua, những giây phút làm anh cảm thấy một nỗi sợ mơ hồ khi nhớ tới những cách thức sơ cứu khẩn cấp, và khi ngay bắt đầu cầu nguyện thì anh cảm thấy một nhịp đập.

"Đến đến năm, thở hai hơi ngắn, khuỷu tay giữ cho cẩn thận, làm ơn đừng có chết nhé.."

Leon không thể chờ thêm phút giây nào nữa, anh nhét khẩu Magnum vào thắt lưng và xốc vai cô ta dậy để xem xét hơi thở, nhưng khi vừa nâng lên thì có một thứ khiến anh phải bỏ cô ta nằm xuống trở lại, tim anh đập loạn xạ trong lồng ngực. Chiếc ao thun của nạn nhân bị dứt hẳn ra khỏi đồ lót, đến mức anh có thể nhận thấy xương sống và một phần ngực của cô ta đang trần trụi, những khối thịt ẩn hiện có màu đỏ, phần thịt chỗ xương sườn đã biến thành một khối rách bươm. Cứ như thể cô ta bị đánh gục và bị.. nhai ngấu nghiến. Những thông tin mà Leon vốn không coi là quan trọng thình lình trỗi dậy, và bất chấp việc đã dựng được một vài lập luận thì anh vẫn cảm thấy một nỗi sợ hãi thật sự đang xoắn chặt lấy tâm trí của mình.

"Lũ quạ không thể gây ra những vết thương như vậy, vì chúng phải tốn hàng giờ cho việc này, vả lại có bao giờ quạ lại tụ tập trong đêm để ăn thịt đâu? Và cái mùi ấy không phải phát ra từ cô ta, cô ta vừa chết thôi, và..

Lũ ăn thịt người. Lũ sát nhân.

Không. Không thể nào. Không lý nào chuyện như thế lại xảy ra, không lý nào một người bị giết và bị ăn thịt ngay giữa con đường trong thành phố mà không ai can thiệp..

* * *và có đủ thời gian cho những con chim ăn xác nhập tiệc – nếu có chuyện như vậy thì tên sát nhân hẳn phải thanh toán phần lớn, nếu không muốn nói là tất cả cư dân. Có thật vậy không nhỉ? Có thể lắm. Chứ cái mùi đó là gì? Và mọi người đâu hết rồi?"

Phía sau Leon có một tiếng rên khẽ. Tếng lê bước, và một một âm thanh khác. Một tiếng động ướt át. Anh chỉ có một giây để đứng lên và quay lại, bàn tay chộp lấy khẩu Magnum theo bản năng. Chính là hai kẻ say xỉn đang lắc lư đi về phía anh, cùng sự gia nhập của một kẻ thứ ba, một gã lực lưỡng với.. với máu dính đầy trên áo và trên tay, và nhễu nhão ra từ miệng; một cái miệng đỏ lòm trông như bằng cao su đặt trên một bộ mặt thối rữa sền sệt, nhìn cứ như một vết loét toang hoác. Gã đàn ông mang giày bốt và áo dây nhìn cũng chẳng khác gì, và chữ V trên áo khoác hồng của người phụ nữ tóc vàng nổi bật trong bóng tối, trông cô ta giống y như hai tên kia.

Bộ ba ấy lảo đảo tiến về phía anh, qua khỏi chiếc Jeep, giơ cao cánh tay nhợt nhợt trong tiếng rên rĩ đói khát. Một thứ chất lỏng đen ngòm ộc ra khỏi cái mũi của gã đàn ông lực lưỡng, chảy xuống cái lưỡi đang đung đưa, và Leon hoàn toàn hiểu rằng cái mùi kinh khủng anh nghe thấy là mùi thịt thối phát ra từ chúng..

* * * và có thêm một đứa nữa bước ra từ một cánh cửa bên đường, một phụ nữ trẻ mặc áo thun vấy bẩn, tóc buộc đằng sau với một bộ mặt trống rỗng và uể oải.

Một tiếng rên phát ra sau lưng anh, Leon liếc qua vai để thấy một thanh niên tóc đen với những cánh tay thối rữa đang lê bước ra khỏi bóng tối của một mái hiên cửa sổ bên lề đường.

Leon nâng súng lên nhắm vào tên gần nhất, gã mặc áo có dây, trong lúc bản năng đang gào lên với anh là phải chạy ngay. Anh đang khiếp đảm, nhưng lập luận theo bài bản của anh khăng khăng cho rằng có một sự giải thích cho những gì đang thấy, rằng anh không phải đang giáp mặt những cái thây biết đi.

"Kiểm soát tình hình, theo phương pháp, mày là cảnh sát mà.." "Đủ rồi! Không được tiến thêm nữa! Không được cử động!"

Giọng anh mạnh mẽ, đầy mệnh mệnh và quyền uy, và anh đang mặc cảnh phục, và lạy Chúa, sao chúng thèm ngừng? Gã mặc áo dây lại rên lên, bất chấp họng súng đang chĩa vào ngực và tiến tới cùng với đồng bọn, bây giờ chỉ cách anh không đầy mười bước.

"Không được cử động!", Leon lặp lại, và nỗi sợ hãi của anh tăng thêm một bậc khi liếc sang hai bên, thấy có thêm những kẻ lừ đừ rên rĩ bước ra từ bóng tối.

Cái gì đó chộp lấy mắt cá chân anh.

"Không!", Leon hét lên, quay súng lại – thấy cái thây của nạn nhân vụ tông-và-bỏ-chạy đang níu giày bốt của anh với một cánh tay lấm lem máu, cố lết cái thân đến gần anh hơn. Tiếng rên rĩ hổn hển của một cơn đói điên cuồng hòa cùng với những tên còn lại trong khi nó cố cắn chân anh. Nước bọt hòa lẫn với máu đang nhễu ra từ cái cằm trầy trụa, nhỏ lên lớp da thuộc. Leon bắn vào phía trên lưng, tiếng nổ đanh gọn của vũ khí hạng nặng đã nới lỏng tay nắm của cái thây, và có lẽ tầm bắn rất gần đã làm thủng luôn tim của nó. Cái thây co lại, lăn xuống đường – và khi anh quay lại thì thấy những tên kia chỉ còn cách không tới năm bước, anh bắn thêm hai phát, đạn tạo thành những bông hoa máu trên ngực của đứa gần nhất. Máu từ miếng vết thương phun thành vòi.

Gã mặc áo dây chẳng có vẻ gì lúng túng với hai cái lỗ thủng trên người, hắn chỉ dừng bước có một giây. Hắn mở rộng cái miệng đầy máu và phát ra một tiếng rên đói khát, tay lại giơ lên trong khi vẫn tiến thẳng về phía anh.

"Chúng là thứ quái quỉ gì đó, chứ hỏa lực cỡ này có thể hạ gục cả một con voi.."

Leon lùi lại và siết cò lần nữa. Lần nữa. Và lần nữa. Và thêm những tiếng lanh canh rơi trên mặt đường, lại siết cò. Và chúng vẫn tiến tới, phớt lờ những viên đạn găm trên lớp thịt thối tha. Một giấc mơ tồi tệ, một bộ phim kinh khủng, không phải là đời thực; và Leon biết anh sẽ chết nếu không chịu tin vào chuyện này. Bị ăn sống bởi những..

"Thôi nào, Kennedy, thừa nhận đi. Những con zombie."

Bị chắn lối quay lại xe Jeep, Leon chỉ còn cách chạy trong lúc vẫn tiếp tục bắn.
 
211 ❤︎ Bài viết: 256 Tìm chủ đề
CHƯƠNG 4

Chẳng có gì ra vẻ là cuộc sống về đêm cả. Nơi này thật không khác nào một thành phố chết.

Claire vừa gặp một cặp lang thang gần đó khi cô vào thành phố, và nghĩ rằng còn khá lâu mới thấy được nhiều người như trước. Thực sự nơi này có vẻ quá hoang vắng; mặc dù cái mũ bảo hiểm của cô có cản trở tầm nhìn thật, nhưng rõ ràng là hoạt động kinh doanh ở phía đông thành phố diễn ra rất tẻ nhạt. Đường phố cũng vắng vẻ. Nó làm cô cảm thấy lo lắng, nhưng so với những thảm họa mà cô đã tưởng tượng suốt buổi chiều thì thế này vẫn chưa đến nỗi nào. Raccoon vẫn tồn tại, ít nhất là lúc đi đến quán ăn tối mở cửa 24/24 của Powell, cô thấy một đám đông những kẻ tiệc tùng đang đi ra giữa đường. Mấy thằng choai choai nghiện rượu, theo những gì cô nhớ trong lần viếng thăm gần nhất. Đáng ghét thật, nhưng ít ra chúng cũng không phải là các kỵ sĩ của Apocalypse (*).

"Không có cảnh đổ nát do bom, không thương vong vì đạn, không còi báo động oanh tạc. Trong một chừng mực nào đó thì quá tuyệt."

Cô dự định đến thẳng căn hộ của Chris trước khi nhận ra mình đang đi ngang qua quán Emmy. Chris nấu ăn tệ hại, vì vậy anh ấy sống bằng ngũ cốc, mấy cái bánh sandwich nhạt nhẽo, và ăn tối tại quán Emmy sáu ngày một tuần. Thậm chí nếu anh ấy không có ở đó thì tốt hơn là cứ dừng lại, vào quán hỏi một trong những cô phục vụ xem anh ta có vừa ở đây không.

Khi Claire quẹo chiếc Softail vào bãi đậu xe trước quán Emmy, cô để ý đến hai con chuột đang chạy nháo nhào trên nắp thùng rác cạnh vỉa hè. Cô dừng lại và leo xuống xe, tháo mũ bảo hiểm rồi đặt nó lên yên. Lắc nhẹ mái tóc đuôi ngựa, cô khịt mũi khó chịu do mùi của những thứ rác rưởi bị bay ra ngoài đã khá lâu. Những thứ người ta quăng ra đây giờ đang bốc mùi thối độc hại nặng nề.

Trước khi vào trong, cô xoa nhẹ đôi tay và cặp chân trần của mình, vừa để bớt lạnh vừa phủi lớp bụi đường. Cái quần sọt và chiếc áo ghi lê không hợp với khí trời của một đêm tháng mười tí nào. Nó một lần nữa làm cô nhớ lại mình đã ngốc nghếch đến mức nào khi ăn mặc quá phong phanh. Chris thế nào cũng cho cô một bài thuyết giảng chết tiệt đây..

".. Nhưng không phải ở đây."

Cánh cửa kính trước quán cho cô thấy rõ ràng ánh sáng bên trong, một quán ăn khá ấm cúng. Từ ngưỡng cửa sổ màu đỏ đã được cài then tại quầy thu ngân cho đến những buồng điện thoại có lót đệm dọc theo tường đang vắng bóng người. Claire lo lắng, khởi đầu thất vọng như thế này đã làm cô khá bối rối. Trong những chuyến đến thăm Chris khá thú vị vài năm gần đây, cô luôn ăn ở quán này cả ngày lần tối. Claire và Chris là những người hay đi đêm, nên họ thường ra ngoài ăn món cheeseburger lúc 3 giờ sáng – có nghĩa là quán Emmy mở cửa suốt đêm. Và luôn luôn có người ở đây, họ có thể trò chuyện với một trong những cô tiếp viên bận áo hồng, hoặc gò người trên tách cà phê với một tờ báo, không cần biết là mấy giờ.

"Vậy họ đâu hết rồi? Thậm chí bây giờ chưa đến 9 giờ mà.." Tấm biển báo ghi là "mở cửa", và cô cũng không có ý định tìm hiểu sự việc bằng cách đứng ngoài đường. Nhìn lướt qua chiếc xe lần cuối, cô mở cửa và bước vào trong. Cô hít một hơi thật sâu rồi gọi với một chút hi vọng.

"Xin chào, có ai ở đây không?"

Giọng cô dường như rơi vào sự tĩnh lặng của quán ăn vắng vẻ, ngoại trừ tiếng o o của cánh quạt trên trần nhà thì không còn một âm thanh nào nữa. Có mùi dầu mỡ bị ôi thiu quen thuộc trong không khí, nhưng cũng còn mùi gì đó nữa – một mùi gắt và thoang thoảng, giống mùi hoa thối.

Quán bố trí theo hình chữ L, quầy thu ngân kéo dài phía trước bên trái cô. Calire bước chậm rãi về phía trước. Phía cuối quầy là khu vực chờ, sau nữa là nhà bếp. Nếu quán Emmy mở cửa, các nhân viên ắt sẽ thò đầu ra ở đó, và có lẽ cũng sẽ ngạc nhiên y như cô khi không có khách hàng nào..

".. có điều khó mà giải thích được về sự lộn xộn, phải không?"

Chính xác thì nó cũng không phải là lộn xộn. Sự bừa bãi đủ tinh vi để cô không nhận ra từ bên ngoài. Vài bảng thực đơn trên sàn nhà, một ly nước đổ trên quầy thu ngân, và một cặp đồ làm bằng bạc rơi bừa là dấu hiệu duy nhất của sự bất thường, nhưng như thế cũng đủ.

"Kiểm tra nhà bếp làm cái quái gì chứ, bộ không thấy là có chuyện rất kì bí hay sao, nhiều thứ bị hư hại nghiêm trọng trong thành phố, có thể họ bị cướp, hoặc họ đang chuẩn bị cho một buổi tiệc bất ngờ không chừng. Quan tâm làm gì? Đi khỏi đây thôi."

Từ khoảng trống phía sau quầy thu ngân, cô nghe thấy tiếng di chuyển nhẹ, tiếng quần áo cọ sát rồi tiếng rào rạo nghèn nghẹn. Có ai đang ở đó, đang cúi đầu xuống.

Tim đập dồn dập, Claire gọi lần nữa: "Xin chào! Trong một chốc, vẫn không có gì xảy ra cả – và rồi một tiếng rào rạo khác, tiếng rên khẽ làm cô dựng tóc gáy.

Claire nhanh chóng lùi lại bất chấp mối nghi ngờ, cảm giác sợ hãi thời trẻ con thình lình khiến cô có cảm giác muốn rời khỏi đây; có lẽ có một vụ cướp, có thể những thực khách đã bị trói và bị nhét giẻ - hoặc thậm chí tệ hơn, bị chấn thương nặng đến nỗi không thể kêu la. Dù có phải hay không thì cô cũng bị liên lụy.

Claire tiến đến cuối quầy thu ngân, xoay về bên trái.. và chết lặng, mắt mở rộng, cảm giác như bị một bạt tay đau điếng. Kế bên đống đồ và những cái khay là người đàn ông hói đầu mặc đồng phục nhà bếp màu trắng, quay lưng về phía cô. Ông ta cúi mình lên cơ thể một nữ hầu bàn. Nhưng có cái gì đó khác lạ về cô ta, quá kì lạ đến nỗi nhất thời tâm trí Claire không thể nhận ra nó. Ánh mắt kinh tởm của cô hướng về bộ đồng phục màu hồng, đôi giày đi bộ, thậm chí cả bảng tên cài trước ngực người phụ nữ, hình như là" Julie "hay" Julia "gì đó..

".. Đầu cô ta, cô ta không có đầu. "

Khi Claire nhận ra điều khác lạ là gì, cô không tài nào buộc mình quên nó đi được. Có một vũng máu khô ngay tại vị trí mà đáng lẽ cái đầu cô ta phải ở đó, một vũng bầy nhầy bao quanh bởi những mảnh vụng của bộ óc, mớ tóc rối nùi và máu đông. Gã đầu bếp xoa tay lên mặt, và khi Claire sợ hãi nhìn chằm chằm vào xác chết không đầu, gã thốt lên một tiếng rên suy nhược thống khổ. Claire mở miệng mà không chắc mình nói cái gì. Để la lên, để hỏi gã tại sao, làm thế nào, để cầu cứu - cô thực sự không biết, và khi người đàn ông quay lại về phía cô, những cánh tay rơi xuống, cô bị choáng đến nỗi không nói nên lời. Cái tên gớm ghiếc đó đang ăn cô phục vụ. Những ngón tay gầy nhom của nó dính đầy các mẫu mô; trước mắt cô là một gương mặt quái dị biến thái đầy máu.

" Zombie. "

Những câu chuyện lửa trại về đứa con của sinh vật về đêm, giờ thì cô đã tin nó sau một phần giây suy nghĩ; cô đâu phải con ngốc. Da của hắn tái nhợt chết chóc với cái mùi mục rữa thơm-muốn-ói mà cô đã ngửi thấy hồi nãy, cặp mắt đục ngầu và hàm răng trắng nhởn.

" Zombie, ở Raccoon. Mình đâu có mong đợi chuyện này. "

Nhận thức logic và điềm tĩnh đã thình lình chuyển sang sự sợ hãi tuyệt đối. Claire suýt ngã ra đằng sau, nỗi kinh hoàng khiến cho ruột gan cô co thắt, trong lúc gã đàn ông tiếp tục quay lại, đứng lên. Hắn cao lớn, có lẽ hơn chiều cao 5'3' của cô cả foot, và bự như kho thóc." Và đã chết, hắn đã chết và ĐANG ĂN cô ta, đừng có để hắn tới gần. "

Hắn bước từng bước đến chỗ cô. Đôi tay đầy máu nắm chặt lại. Claire lùi nhanh hơn, trượt lên một cái thực đơn. Rồi một cái nĩa kêu vang khi cô giẫm lên.

" RA NGOÀI MAU! "

" Xin nhường đường ", cô lảm nhảm." Thiệt mà, đừng cản trở tôi.. "

Tay đầu bếp bước ngả nghiêng về phía trước, cặp mắt mù của hắn thể hiện rõ sự đói khát. Một bước lùi nữa và Claire sờ ra phía sau cô, cảm giác sờ vào không khí, không thấy thứ gì – và sau đó sờ vào kim loại lạnh của tay nắm cửa. Một nỗi hoan hỷ tràn ngập trong người khi cô túm lấy và xoay tròn nắm cửa..

* * *và có tiếng gào ghê rợn rít lên bất thình lình, ngắn gọn. Có hai, ba con giống như thế hoặc hơn ở ngay bên ngoài. Xác thịt thối rữa của chúng đang ép lên cửa kiếng trước quán ăn. Một đứa trong đó chỉ có một mắt, hốc mắt còn lại bị mưng mủ.

Một con khác không có môi trên, quần áo rách toạt, nụ cười toe toét vụng về gây ra bởi cái hàm dưới. Chúng cào cấu lên cửa sổ, gương mặt lỗ chỗ xám tro đầy máu, và từ bóng tối ngoài đường, những cái bóng đen lê lết về phía cửa.

" Không thể ra ngoài, kẹt rồi.. Chúa ơi, cửa sau! "

Ngoài rìa tầm mắt của cô là dấu hiệu lối thoát hiểm màu xanh rực rỡ, sáng như một cái đèn hiệu. Claire xoay lại và chỉ vừa kịp thấy tay đầu bếp đang tiến tới cô cách chừng vài bước, toàn bộ sự chú ý của cô dán chặt vào lối thoát duy nhất. Cô chạy, những cái buồng điện thoại lướt qua vùn vụt trong ánh sáng chập chờn, cánh tay vung hết tốc lực. Cửa mở ra một ngõ hẻm, cô sẽ chạy lao vào nó, và nếu nó bị khóa, cô sẽ tông nó ra.

Cô đâm sầm vào cánh cửa và nó mở tung ra, đánh mạnh vào bức tường ngoài ngõ hẻm.. và có một khẩu súng chĩa vào mặt cô, thứ duy nhất có thể làm cô dừng lại lúc này, một chàng trai với một khẩu súng..

Cô chết sững, giơ tay lên theo bản năng để tránh đòn.

" Chờ đã! Đừng bắn "

Chàng trai không di chuyển. Họng súng vô tình vẫn hướng vào đầu cô.. -" anh ta giết mình mất "

" Thụp xuống! ", anh ta la lên, và Claire cúi người, hạ đầu gối xuống theo mệnh lệnh vừa lúc những ngón tay lạnh lẽo thình lình dò dẫm lên vai cô.. Bùm! Bùm!

Chàng trai bóp cò và Claire vội ôm đầu, thấy xác chết tên đầu bếp ngã xuống ngay sau lưng. Ít nhất bây giờ một lỗ lớn đã ở trên trán của nó. Một dòng máu chầm chậm phun ra thành tia từ vết bắn, đôi mắt trắng bị màu đỏ phủ lên che đi. Tử thi rơi xuống co giật một, hai lần rồi dừng hẳn.

Claire quay về phía chàng trai đã cứu cô, bộ đồng phục của anh ta có vẻ mới mặc lần đầu. Cảnh sát. Anh ta trẻ, cao – và gần như cũng khiếp sợ như cô. Môi trên của anh lấm tấm vài giọt mồ hôi, đôi mắt xanh mở rộng không chớp. Ít ra giọng anh cũng còn mạnh mẽ và chắc nịch khi anh cúi xuống giúp cô đứng dậy.

" Chúng ta không thể ở ngoài này, đi với tôi. Chúng ta sẽ an toàn hơn tại đồn cảnh sát."

Khi anh nói, cô có thể nghe một loạt những tiếng rên rỉ gớm ghiếc đang tiến lại gần ngoài đường. Tiếng rên rỉ của những tên đói khát đang to dần. Claire mặc cho mình bị kéo đi, cô nắm chặt tay anh, cảm thấy hơi dễ chịu khi nhận ra những ngón tay của anh cũng phát sốt và run như cô. Họ chạy, khéo léo tránh những bãi rác và mấy đống đổ nát ngổn ngang, những tiếng kêu gào quái gở liên hồi vọng theo khi những con Zombie tìm thấy ngõ hẻm tối và bắt đầu theo dấu họ.
 
211 ❤︎ Bài viết: 256 Tìm chủ đề
CHƯƠNG 5

Leon chạy bên cạnh cô gái, mơ hồ nhớ lại sơ đồ khu vực của thành phố. Ngõ hẻm có lẽ dẫn ra phố Ash, cách sở cảnh sát Raccoon trên đường Oak không xa, nhưng ít nhất cũng phải đi thêm mười lăm dãy nhà nữa về hướng tây. Nếu không tìm thấy phương tiện di chuyển, họ khó lòng tới đó được. Anh đã xài bốn viên trong băng đạn cuối cùng này rồi, trong khi căn cứ theo những âm thanh phát ra dọc theo con hẻm, có thể có hàng tá, thậm chí hàng trăm con ở cả hai phía. Khi chạy ra đầu hẻm, Leon siết chặt khẩu súng, chạy chậm lại, nhìn lướt qua ánh đèn mập mờ trên đường. Anh không thể thấy rõ ràng, nhưng giữa chỗ họ đang đứng và ngọn đèn đường gần đó, có khoảng mười một hay mười hai con phía tay phải, đang lừ đừ rình rập trên con phố tối tăm hôi thối. Chỉ có ba con bên trái, cách đó không xa lắm..

".. Lạy Chúa nhân từ!"

"Đằng kia!"

Leon chỉ về phía chiếc xe tuần tra đang đỗ bên kia đường, mừng như điên. Không có viên cảnh sát nào bên trong, không có nhiều thời gian để thắc mắc, nhưng cửa trước đang mở. Và ba con đang đi lòng vòng gần đó không thể theo kịp họ. Thậm chí nếu không có chìa khóa xe thì cũng còn điện đài và lớp kính chống va đập. Họ có thể cầm cự với lũ thây sống tới khi có trợ giúp..

".. Cơ may duy nhất, đi thôi!"

Một chút ngập ngừng và anh thấy cô gái gật đầu, đuôi tóc của cô lúc lắc, họ lao hết tốc lực về phía chiếc xe, mặt đường nhòe đi dưới chân. Leon chĩa súng về phía mấy con gần nhất, có lẽ cách đó năm mươi bước. Anh muốn bắn, không cho chúng tới gần thêm, nhưng anh không thể lãng phí đạn.

"Lạy Chúa, cầu cho có chìa khóa ở đó!"

Họ chạy đến chiếc xe và tách ra, cô gái chạy vòng qua ghế kế bên tay lái. Leon nhận ra một điều dở khóc dở cười rằng có lẽ cô nghĩ đây là xe của anh. Anh chờ cô đóng sầm cửa lại rồi nhảy vào phía sau tay lái. Với một chút sợ hãi, anh nhớ ra đây là ngày đi làm đầu tiên của mình khi đóng mạnh cửa xe.

Lời nguyện cầu đã thành hiện thực, chìa khóa ngay bên trong ổ. Leon nhét khẩu Magnum vào bao và vồ lấy nó, có cảm giác như niềm hi vọng trở lại một lần nữa, giống như bên cạnh cái chết có những sự lựa chọn vậy.

"Thắt dây an toàn vào", anh nói, loáng thoáng nghe câu trả lời của cô trong khi anh vặn chìa khóa, đèn xe bật lên. Đường Ash cùng với những thây ma đuổi theo họ bây giờ đã chìm vào vòng xoáy nhiều màu sắc. Bóng tối thay đổi và dày đặc hơn. Đó là một quang cảnh chết chóc, anh nhấn gas, chạy nhanh hết mức có thể.

Chiếc xe ré lên rồi lao vút đi. Leon kéo tay lái sang phải rồi sang trái, cách người phụ nữ có da đầu rách toạt trước mặt trong đường tơ kẽ tóc. Thậm chí qua lớp cửa kín mít, anh có thể nghe tiếng tru gớm ghiếc của nó khi họ đã chạy xa, hòa vào hàng loạt tiếng gào rú khác.

"Cần hỗ trợ, phải gọi hỗ trợ thôi!"

Leon nói vào chiếc bộ đàm, trong khi vẫn nhìn vào con đường trước mặt. Những thây ma thưa dần nhưng vẫn lác đác. Chúng kéo lê ra đường theo sau tiếng xe lao vút qua. Khi băng qua đường Pawell, anh phải điều khiển chiếc xe lách qua vài con nữa. Cô gái vừa nói gì đó vừa nhìn ra phong cảnh điêu tàn bên ngoài, trong khi Leon ấn mạnh vào cái nút liên lạc trên bộ đàm. Cảm giác sẽ không có sự giúp đỡ của anh tăng lên. Không có tín hiệu, không gì cả.

"Chuyện quái gì thế này, tôi vừa đến Raccoon và cả thành phố trở nên điên cuồng.."

"Tuyệt! Radio bị điên rồi", Leon cắt ngang, quăng bộ đàm qua một bên và tập trung vào con đường trước mặt. Cả thành phố giống một thế giới khác, con đường bao trùm bởi bóng tối lạ lùng. Cứ như trong mơ, nhưng cái mùi kinh tởm cho anh biết rằng anh không nằm mơ. Mùi thối rữa của những mô thịt bệnh hoạn thấm cả vào bên trong chiếc xe, khiến cho việc tập trung lái xe trở nên khó khăn. Dẫu sao thì không có xe cộ, không có người. Không có người đúng nghĩa..

"Ngoại trừ mình và cô gái. Mình phải làm việc của mình tại đây, bảo vệ cô khỏi những thứ chết chóc kia. Tội nghiệp, cô chưa tới 19 hay 20, có lẽ đang rất sợ hãi. Mình phải bảo vệ bản thân và cô ấy khỏi những thứ nguy hiểm ở đây. Đến sở cảnh sát và.."

"Anh là cảnh sát?"

Cô cất tiếng nhẹ nhàng, nhưng giọng điệu có vẻ mỉa mai đã đánh thức anh khỏi những suy nghĩ hoang mang. Anh quay về hướng nhìn của cô, để ý thấy dường như cô không bị rơi vào trạng thái suy sụp tinh thần, mặc dù dáng vẻ có phần tái nhợt. Thậm chí có một chút nét hài hước trong đôi mắt ngời sáng của cô, và Leon có ấn tượng mạnh rằng cô không phải loại dễ suy sụp. Một điều tốt trong hoàn cảnh hiện thời..

"Vâng. Ngày đầu tiên đi làm; thật tuyệt phải không? Tôi tên Leon Kennedy."

"Claire", cô lên tiếng. "Claire Redfield. Tôi đến tìm anh tôi, Chris.."

Cô dừng lại, nhìn chằm chằm vào con đường trước mặt. Có hai sinh vật vừa lết ra từ cả hai hướng, nhưng Leon đã nhấn gas và chạy qua giữa chúng. Tấm lưới chắn bằng thép ngăn cách khoang sau xe đã hạ xuống, cho phép anh cái nhìn rõ ràng hơn từ gương chiếu hậu. Hai con quỷ hút máu hồi nãy giờ đang lê lết khó nhọc và ngu ngốc phía sau họ.

"Đói khát. Giống y trong phim."

Không ai nói gì trong một lúc, những câu hỏi ẩn chứa bên trong khó diễn tả thành lời. Những gì xảy ra đã biến Raccoon thành một màn trình diễn kinh dị mà không bận tâm nhiều đến việc họ sẽ sống sót trong nó như thê nào. Họ sẽ đến sở cảnh sát trong vài phút nữa, nếu đường trống. Anh sẽ thử lái đến bãi đậu xe dưới tầng hầm xem sao trước đã. Giả sử những cánh cửa bị đóng, họ sẽ phải cuốc bộ một đoạn ngắn. Có một cái sân nhỏ trước tòa nhà, một khu vực đậu xe.

"Đã tốn bốn viên đạn và có lẽ thành phố đầy những thứ quái gở này. Chúng ta cần thêm vũ khí.."

"A, mở cái hộp kia thử xem", anh lên tiếng. Nếu nó bị khóa, ắt là có một cái trong chùm chìa khóa này mở được.

Claire ấn nút rồi cúi xuống thò tay vào trong, để lộ ra lưng áo ghi lê màu hồng; cái nhãn "Made in Heaven" đính trên hình một thiên thần cầm quả bom trong tư thế gợi cảm. Bộ đồ khá vừa vặn.

"Có một khẩu súng bên trong", cô nói, đồng thời kéo ra một khẩu bán tự động bóng mượt. Cô nâng nó lên và kiểm tra xem có nạp đạn chưa trước khi lôi ra hai băng đạn. Đó là một trong những loại súng cũ của sở cảnh sát Raccoon, một khẩu 9 ly Browning HP. Kể từ khi xuất hiện nhiều vụ giết người ở Raccoon, lực lượng quân đội đã được trang bị H&K VP70s, một loại súng 9 ly khác. Sự khác biệt là cây Browning chỉ có thể chứa mười ba viên trong khi loại mới có thể chứa mười tám, thậm chí mười chín viên trong ổ đạn. Nhìn cách cầm súng, Leon biết Claire hiểu cô đang làm gì.

"Tốt hơn nên mang nó theo bên mình", anh nói. Sở cảnh sát Raccoon có kho vũ khí khá hoàn thiện; giả sử là vẫn còn những cảnh sát ở đâu đó, anh sẽ có thể kiếm được vũ khí cho mình và..

"Mà sao mày cứ giả sử đủ chuyện thế?"

Khi Leon lướt nhanh qua góc đường Ash và Third, anh chợt nghĩ tới việc sở cảnh sát có thể chứa đầy những tử thi. Mọi chuyện xảy ra quá nhanh, anh đã không tính đến khả năng này. Anh lái xe thẳng tiến về phía trước và giảm bớt gas, cố lên một kế hoạch kế tiếp an toàn và hợp lý hơn mà mình có thể nghĩ ra. Có thể một hàng rào phòng thủ đã được dựng lên ở sở cảnh sát, nhưng khó có hi vọng gì với cái mùi thối rữa quá nặng ở đây.

"Chúng ta còn ba phần tư thùng xăng, đủ để chạy lên núi. Chúng ta có thể đến Latham ít nhất trong một giờ nữa."

Họ có thể lái xe ngang qua sở cảnh sát, và nếu nó có vẻ không ổn thì sẽ chuồn khỏi thành phố ngay lập tức, nghe hay đấy chứ. Anh chuẩn bị nói với Claire, xem thử cô nghĩ gì, thì có một cái mùi gớm ghiếc của xác chết thối rữa xộc vào anh, và thứ gì đó phóng ra từ băng ghế sau. Claire thét lên, và con quái vật ở trong xe trong suốt đoạn đường từ nãy đến giờ túm lấy vai Leon bằng đôi tay lạnh băng, hơi thở nồng nặc của nó phà vào mặt anh. Nó vồ lấy cánh tay phải của Leon, kéo cánh tay về phía hàm răng đang nhỏ dãi của nó với một sức mạnh phi thường.

"Không!", Leon thét lên khi chiếc xe xoay đột ngột về bên phải, vọt lên lề đường, trượt dọc về phía bức tường của toà nhà. Con quái vật mất thăng bằng và không nắm chặt được nữa. Leon giật mạnh tay lái nhưng hoàn toàn đã trễ để có thể tránh bức tường. Tiếng kim loại kêu rít lên, những tia lửa rọi sáng cánh tay dọ dẫm và nụ cười đểu giả kinh tởm của vị khách không mời, trong khi chiếc xe tăng tốc vọt thẳng ra mặt đường.

Cái thây sống quơ cánh tay hăm hở của nó về phía Claire, không cần nghĩ ngợi, Leon đạp mạnh gas và kéo mạnh vô lăng sang phải. Cú bẻ lái 180 độ khiến phần đuôi va vào một chiếc xe tải nhỏ đậu gần đó, làm xẹt ra một chùm tia lửa khác. Cái thây nhõ dãi văng ngược ra ghế đệm sau, nhưng ngay lập tức nó lại chồm lên trước, vừa nghiến răng vừa cào cấu về phía Claire..

Chiếc xe giật mạnh lần thứ ba. Leon cố điều khiển vô lăng trong khi rút súng và quay nửa người lại, giữ chặt báng súng Magnum. Anh không để ý đến việc phải nhả gas, không nghĩ đến bất cứ thứ gì ngoại trừ việc con zombie đang cố đè những cái răng của nó lên vai Claire.

Anh hạ thấp vũ khí xuống và bóp cò, phát đạn xuyên ngang qua mặt nó mang theo một mảng thịt lớn. Máu tuôn ra như suối từ vết thương trên cái mũi nhàu nát. Trong tiếng ồng ộc, con zombie đang giữ chặt cái đầu đầy máu và Leon nghĩ tới giây phút thắng lợi khi bắn phát nữa..

* * * rồi Claire thét lên, "Coi chừng!". Leon nhìn theo và nhận ra nơi họ sắp đâm sầm vào.

Leon nện lên con zombie bằng khẩu súng của anh và Claire chùng ra sau theo bản năng để tránh những giọt máu rơi lộp độp. Cô nhận ra con đường mà họ đang đi là đường cụt.

"Cẩn thận!"

Cô chỉ kịp thoáng thấy những khớp tay trắng bệt của anh trên vô lăng, hàm răng nghiến chặt.. và chiếc xe quay tròn, rít lên, những tòa nhà và đèn đường nhấp nháy quá nhanh đến nỗi tất cả những gì cô thấy bị nhòe đi, và sau đó..

ẦM!

Có tiếng va chạm của những mảnh kiếng và kim loại đè nén vào nhau khi chiếc xe cảnh sát đâm sầm vào cái gì đó khá rắn, ép Claire sát vào sợi dây an toàn. Cùng lúc sức va chạm đẩy mạnh con zombie về phía trước, và Claire giơ tay lên theo phản xạ khi cái xác đâm thẳng vào kính chắn gió – rồi mọi thứ im lặng trở lại. Chỉ còn tiếng lẹt xẹt của kim loại do bị ma sát và nhịp tim thình thịch của cô trong lồng ngực. Claire bỏ tay xuống, nhận ra Leon đã bình tĩnh trở lại, nhìn thẳng vào khối bầy nhầy máu me nằm ườn trên mui xe, cái đầu treo lủng lẳng một cách hiền từ bên ngoài. Nó hoàn toàn bất động.

"Cô ổn chứ?"

Claire quay sang nhìn Leon, khó khăn lắm cô mới ngăn được mình cười lên như điên. Raccoon đang tràn ngập những xác chết biết đi, và cả hai ở trong một chiếc xe bị hỏng nặng bởi một cái thây cố gắng xơi tái họ. Với những chuyện như vậy mà còn "ổn" nỗi gì.

Ánh mắt Leon lộ rõ sự lo lắng và chân thành, sự mong muốn thoát khỏi những thứ quái gở này. Khả năng chịu đựng của anh đã tới giới hạn rồi, cơn kích động điên rồ của cô có phát tiết ra đi nữa thì cũng chẳng giúp ích gì..

"Chưa bị mất miếng nào", cô kềm chế lại và đáp, Leon gật đầu, có vẻ đã bớt căng thẳng.

Claire hít một hơi thật sâu, có vẻ như nó là thứ đầu tiên cô làm trong nhiều giờ qua, và nhìn xung quanh chỗ họ đang dừng. Leon đã xoay chiếc xe 180 độ ở cuối con đường chỗ ngã ba, lúc này hiển nhiên chiếc xe đang quay lưng lại chỗ họ cần đến. Không có con zombie nào gần đó. Nhưng Claire có cảm giác rằng họ không có nhiều thời gian để tìm sự giúp đỡ. Từ những gì mà nãy giờ cô đã chứng kiến, hầu như toàn bộ Raccoon đã bị nhiễm bởi – bởi bất cứ thứ gì đang diễn ra tại đây. Cô nắm chặt khẩu súng, cố gắng điều khiển cảm xúc loạn xạ của mình.

"Chúng ta..", Leon bắt đầu nói gì đó và dừng lại, mắt anh trợn trừng khi ngó vào gương chiếu hậu. Claire nhìn ra sau lưng.. và trong phút chốc, cô nghĩ mình nhất định đã bị nguyền rủa ở một nơi nào đó sau khi ra trường.

"Bị nguyền rủa. Ai đó muốn mình chết đây mà, tất cả mọi thứ ở đây đều chứng tỏ điều đó."

Một chiếc xe tải đang lao trên mặt đường, vẫn còn cách vài khu nhà nhưng cũng đủ gần để họ nhận thấy nó đang mất điều khiển. Nó tiến thẳng về trước, đâm vào một chiếc xe màu xanh đỗ bên lề và sau đó tông vào thùng thư ở lề bên kia. Claire chết lặng khi nhận ra nó là xe chở dầu – căn cứ theo cách trượt đi nguy hiểm và va đập như điên thì có vẻ tài xế đã mất tay lái. Trong khoảnh khắc cô nhận ra sự việc, rồi cầu nguyện đó không phải là gas hay dầu, chiếc xe đã rút ngắn khoảng cách với họ còn phân nửa. Cô còn thấy tia lửa xẹt ngang qua chiếc xe màu xanh tối, nhưng thực tại chỉ trở lại khi Leon lôi cả hai khỏi cơn choáng váng.

".. Cái đồ điên ấy sẽ đâm vào chúng ta", anh thở ra, và cả hai cùng tháo dây an toàn. Claire cầu mong rằng cú va chạm không làm họ bị mắc kẹt..

Tiếng tháo dây an toàn chìm trong âm thanh gầm rú lớn dần của chiếc xe tải đang lao đến, và tiếng những chiếc xe đỗ bên đường bị đụng ở cả hai bên trái phải. Nó sẽ tới họ trong phút chốc.

"Chạy!", Leon thét lên, và cô phóng ra khỏi chiếc xe tuần tra, không khí lạnh phả vào làn da đẫm mồ hôi của cô trong khi tiếng rít động cơ bao trùm lên mọi thứ. Claire phóng ba bước một và nghe thấy tiếng va chạm, mặt đường rung chuyển dưới chân, thậm chí cả tiếng loảng xoảng của kim loại bị nghiến nát phía sau lưng. "Một bước nhảy nữa, và.."

BÙM!

Claire bị đẩy mạnh, hai chân bị hất đi dưới lực đẩy phi thường của sóng nhiệt và âm thanh. Cô cố gắng chạm xuống mặt đất trong khi màn đêm sáng rực nhu ban ngày dưới ánh lửa chói lòa của vụ nổ. Một cú lăn lông lốc bằng vai hết sức nguy hiểm, đá vụn dính đầy làn da nóng bỏng, và rồi cô nằm thở hổn hển một đống sau lưng chiếc xe đỗ gần đó.

Một cơn mưa những mảnh vụn đầy khói bụi rớt xuống lách cách, và Claire đứng dậy, lảo đảo bước ra con đường, tìm kiếm dấu hiệu của Leon trong ngọn lửa cao chót vót. Tim cô chùng xuống. Chiếc xe bồn, chiếc xe tuần tra và tất cả những gì ở trong đó đều bị vùi trong biển lửa. Con đường hoàn toàn bị chắn bởi một đống đổ nát và rực lửa.

"Claire.."

Giọng Leon, giống như bị bóp nghẹt nhưng có thể nghe thấy qua bức tường lửa.

"Leon?" "Tôi ổn!", anh la lên. "Hãy đến sở cảnh sát, tôi sẽ gặp cô ở đó!"

Claire thoáng do dự, nhìn xuống khẩu súng lục đang nắm chặt trong cánh tay run rẩy. Cô sợ, sợ phải ở một mình trong thành phố này, nơi đã biến thành một nghĩa địa sống. Nhưng có lẽ không có nhiều sự lựa chọn. Cầu mong hoàn cảnh khác đi chỉ tổ mất thì giờ.

"Được!"

Cô quay lại, cố gắng trấn tĩnh dưới ánh lửa bập bùng đầy khói của đống đổ nát. Sở cảnh sát cách đây hai dãy nhà, và có những sinh vật đang lắc lư bước ra khỏi bóng tối, phía sau những chiếc xe, và bên trong tòa nhà đen kịt. Với một mục tiêu duy nhất còn lại trong ý thức, chúng lê lết về phía ánh sáng lạ lẫm của vụ nổ, mang theo những âm thanh đói khát – hai, ba, bốn đứa. Cô thấy làn da bị xé vụn và các chi bị thối rửa, hốc mắt tối đen – và chúng vẫn tiến đến, chậm rãi hướng về phía cô như thể về nhà để xơi miếng thịt sống.

Đâu đó sau đám cháy, cô nghe thấy tiếng súng - hai phát đạn, có lẽ cách đây một dãy nhà, sau đó hoàn toàn yên lặng – yên lặng ngoại trừ tiếng tanh tách của ngọn lửa và tiếng rên rỉ, gào thét của lũ thây ma đang lảo đảo.

"Leon cũng đi rồi. TIẾN TỚI THÔI!"

Claire hít một hơi sâu, phác ra một lối thoát giữa đám đông đang tiến lại gần mình, và chạy.
 
211 ❤︎ Bài viết: 256 Tìm chủ đề
CHƯƠNG 6

Ada Wong đặt chiếc đĩa kim loại sáng lóa vào khe trong bức tượng, đẩy cho đến khi ngập hẳn vào phiến đá bằng cẩm thạch. Ngay khi nó được đặt vào chỗ, cô nghe thấy tiếng di chuyển của những chiếc đòn bẩy ẩn. Ada lùi lại để xem chuyện gì sẽ xảy ra. Tiếng bước chân cô vang dội khắp tiền sảnh Sở cảnh sát Raccoon, âm thanh vang vọng trong căn phòng trống ba tầng.

"Một chiếc chìa khóa khác chăng? Hay một cái huy hiệu của tầng hầm dưới? Hay chính là mẫu virus, được giấu ngay trước mắt.. nếu vậy thì sẽ là một sự ngạc nhiên thú vị đây."

Phải chi mà ước gì được đó cũng đỡ. Bức tượng nữ thần đang cầm bình nước được đúc từ đá rắn lướt nhẹ tới trước. Từ chiếc bình trên vai bà ta, một mẫu kim loại rơi xuống phía trên gờ của phiến đá trước bức tượng. Một chiếc chìa khóa đuôi ách bích.

Ada thở dài, nhặt nó lên. Cô đã có được chìa khóa rồi; thực sự thì cô có mọi thứ cần thiết để tới được trạm xe lửa, và cả mọi thứ để đến được phòng thí nghiệm. Nếu không phải là có người ở Umbrella gây rắc rối to thì công việc của cô đã quá dễ xơi. Một món hời.

"Thay vì có ba ngày nghỉ thoải mái, mình lại có một buổi tối phải cảnh giác cao độ, phải chơi trò Ghim Đạn Vào Đầu và Đi Tìm Tay Phóng Viên cùng một lúc. Mẫu virus có thể ở bất cứ đâu, phụ thuộc vào việc ai còn sống sót. Nếu mang được nó ra khỏi đây một cách an toàn, mình phải đòi một khoản tiền thưởng to mới được; chẳng ai muốn làm việc trong điều kiện thế này cả."

Ada nhét chiếc chìa khóa vào túi bên hông, nhìn lướt qua hàng lan can của gian đại sảnh rộng lớn, kiểm tra trong trí nhớ những căn phòng mà cô đã đi qua và những người cô phải tìm một cách cẩn thận. Bertolucci dường như không ở khu vực phía đông tòa nhà, cả tầng trên hay tầng dưới. Cô đã phải xem xét gương mặt của các xác chết hàng giờ, tìm kiếm cái hàm rộng và đuôi tóc đã lỗi thời của anh ta trong đống xác bốc mùi kinh tởm. Dĩ nhiên, anh ta cũng có thể đang di chuyển lẩn trốn, nhưng từ những thông tin cô có thì việc đó không chắc lắm; phía sau bộ mặt nguy hiểm của tay phóng viên này chỉ là một kẻ chết nhát. "Nói tới nguy hiểm.."

Ada run lên và ngoảnh lại sau lưng về phía cánh cửa dẫn đến khu vực phía đông. Đại sảnh an toàn, nó cách li được những người bị nhiễm, chúng dường như không biết sử dụng tay nắm cửa, nhưng có những mối nguy hiểm khác ngoài những kẻ bị nhiễm. Chỉ có Chúa mới biết Umbrella sẽ gửi cái gì đến để xóa dấu vết ở đây.. hoặc là cái gì sẽ được phóng thích ra từ phòng thí nghiệm khi tai nạn diễn ra. Ít đáng sợ hơn nhưng cũng khó chịu một chút, đó là sự hiện diện của những cảnh sát còn sống đang tụ tập đâu đó quanh đây để tìm kiếm những người còn sống sót. Cô loáng thoáng nghe thấy tiếng súng, không rõ lắm, cứ một hay ba tiếng đồng hồ gì đó kể từ khi cô đến đây. Ít nhất cũng còn vài người không bị nhiễm sót lại trong tòa nhà rộng lớn này. Cố gắng thuyết phục một gã cầm súng đang hoang mang rằng cô chưa chết và không cần ai hộ tống khi giáp mặt với lũ thây sống, chẳng khác nào bảo rằng mình có vấn đề.

Bước đi thật nhanh để tránh gây ra tiếng ồn, Ada lướt qua cánh cửa mở ra một căn phòng dài và tựa vào nó, dừng lại một chút để quyết định làm gì kế tiếp; mặc dù cô chưa kiểm tra tầng hầm và vẫn còn vài thây ma dật dờ quanh phòng điều tra, nhưng tất cả cửa của đại sảnh vẫn đóng; nếu như có ai hay vật gì định đến gần thì cô vẫn có thể thấy nó và chạy ngay lập tức.

"Ha, cuộc sống thú vị của một nhân viên tự do. Du lịch vòng quanh thế giới! Kiếm tiền bằng việc cuỗm những thứ quan trọng! Chiến đấu với những cái thây sống trong khi chưa tắm rửa và ăn một thứ gì ra hồn suốt ba ngày - quá ấn tượng!"

Cô nhắc mình nhớ đến lời đề nghị về phần thưởng. Khi cô đến Raccoon chưa tới một tuần trước đó, cô nghĩ mình đã chuẩn bị tất cả; tìm hiểu bản đồ kĩ lưỡng, học thuộc lòng những thông tin về tay phóng viên, lập kịch bản để che đậy thân phận – một phụ nữ trẻ tìm bạn trai là nhà khoa học đang làm việc cho Umbrella. Một phần câu chuyện là sự thật; thực sự đó là mối quan hệ ngắn ngủi với John Hown suốt mười tháng trước khi cô bị đẩy vào công việc. Nó còn hơn cả việc phải đứng suốt một đêm, thậm chí cũng chẳng có gì vui trong mối quan hệ đó, nhưng John lại nghĩ khác. Và mối quan hệ của John với Umbrella đã dẫn đến sự tuyệt giao đầy may mắn cho cô, mặc dù nó gần như chắc chắn là nguyên nhân đã giết John.

Vì vậy cô đã sẵn sàng. Nhưng trong vòng hai mươi bốn tiếng đồng hồ kể từ khi tự tin đăng kí ở một khách sạn đẹp bậc nhất thành phố Raccoon, vận may của cô đã thay đổi. Lúc đang ăn tối trong một khách sạn nhỏ ở Arklay, cô nghe thấy tiếng gào đầu tiên bên ngoài. Tiếng đầu tiên, nhưng không có nghĩa là tiếng gào cuối cùng.

Suy cho cùng, thảm họa là điều tất yếu; khi mà không có sự bảo vệ quanh phòng thí nghiệm, không có sự thử nghiệm kín đáo và liên tục. Những thông tin cô biết về T-virus bảo đảm rằng nó chỉ sống trong không khí một thời gian ngắn và nhanh chóng tiêu tan. Khả năng bị lây nhiễm duy nhất là tiếp xúc trực tiếp với cá thể trung gian - vì vậy cũng không đến nỗi đáng lo ngại. Khi cùng vài tá người khác tới sở cảnh sát, cô đã thấy Bertolucci bị chúng bao vây. Thậm chí với sự xuất hiện của lũ thây sống, khởi đầu như thế này đã là đặc ân cho cô lắm rồi.

"Mục tiêu nhiệm vụ: Chất vấn kẻ xâm nhập, tìm hiểu xem anh ta biết những chuyện gì và giết hay để anh ta sống, còn tùy. Lấy một mẫu virus mới, tác phẩm cuối cùng của Tiến sĩ Birkin. Không thành vấn đề, phải không?"

Ba ngày trước, bằng những thông tin về sự nối kết giữa hệ thống cống ngầm với phòng thí nghiệm của Umbrella, và Bertolucci ở ngay trước mặt, mọi việc đã nằm gọn trong tay cô. Và rồi đó là lúc mọi chuyện bắt đầu rối tung lên.

Sở cảnh sát được sắp xếp lại, các phòng được điều chuyển sau thất bại của S. T. A. R. S, làm cho một nửa kế hoạch của cô không còn thích hợp nữa. Sự mất tích của người dân. Những chướng ngại vật được dựng lên để chống xâm nhập. Cảnh sát trưởng Irons đưa ra mệnh lệnh giống như những tay độc tài hết thời, cố lấy lòng Thị trưởng Harris và đứa con gái bé bỏng của ông ta ngay cả khi những xác chết đã tăng thành đống..

Cô thấy Bertolucci đủ gần để nhận ra anh ta đang cắm đầu chạy, nhưng cô đã không bắt kịp anh; cô thậm chí không có thời gian để tiếp xúc trước khi anh ta mất hút vào một góc nào đó trong mê lộ của sở cảnh sát, mất luôn dấu của anh trong sự rung chuyển của cuộc tấn công đầu tiên. Ada quyết định chiến đấu một mình khi mà ba phần tư dân cư thành phố đã bị xóa sổ ngay trong đợt tấn công bất ngờ chưa tới một giờ sau đó, tất cả bởi vì không ai chịu hạ cánh cổng nhà để xe. Cô không đời nào bằng lòng chịu chết dưới vỏ bọc của một du khách đang sợ hãi tìm kiếm người bạn trai của mình.

Và vì vậy phải chờ đợi. Hầu như năm mươi tiếng đồng hồ chờ đợi mọi thứ yên ắng trở lại, chui rúc vào tháp đồng hồ ở tầng ba, chạy xuống lầu tìm thức ăn và tắm rửa trong một thời gian dài giữa những tiếng súng đe dọa, giữa tiếng lách cách của những phát đạn và những tiếng rên..

"Tuyệt vời. Bây giờ mày ra ngoài rồi và phải làm gì nữa đây? Đứng đây suy nghĩ. Kiếm mẫu virus, xong việc càng nhanh thì mày càng sớm nhận được tiền và đến một hòn đảo đẹp ở một nơi nào đó."

Tuy nhiên, Ada không nhúc nhích trong một chốc, chĩa họng súng Berretta vào một cái chân dài mang vớ. Có ba thi thể đang nằm dài trên hành lang, và cô không thể ngăn mình nhìn trừng trừng vào cái thây đang nằm sóng xoài dưới cửa sổ ở đoạn giữa. Một cô gái mặc quần sọt và áo hở vai, chân cô bé bẹt ra thô tục, một cánh tay ghếch lên cái đầu đầy máu. Hai người kia là cảnh sát. Ada không nhận ra ai, nhưng cô gái là một trong những người cô đã nói chuyện khi lần đầu tiên tới đây. Tên Stacy hay gì đó, hơi sợ hãi nhưng có vẻ cứng cỏi so với lứa tuổi thiếu niên.

Stacy Kelso, đúng thế. Cô bé đã chạy vào thị trấn để lấy mấy que kem và cuối cùng bị kẹt lại – nhưng mặc dù ở trong một tình huống tồi tệ, cô bé vẫn lo lắng cho cha mẹ và đứa em trai đang ở nhà. Một cô bé chu đáo. Một cô bé tốt.

Tại sao lại nghĩ về chuyện này? Stacy đã chết, một cái lỗ rách toạt trên thái dương bên trái cô bé, và Ada không cần quan tâm đến nó nữa; cô chẳng phải chịu trách nhiệm gì về chuyện này. Cô đến vì công việc, và Raccoon có bị xóa sổ đi nữa thì cũng không phải tại cô..

"Có lẽ không phải là tội lỗi", một phần trong cô thì thầm. "Có lẽ mày chỉ phải xin lỗi cô bé vì đã không làm điều gì đó."

"Suy cho cùng thì cô bé đã là một con người, và bây giờ nó đã chết cũng như cha mẹ và đứa em của nó.."

"Thôi nào", cô nói một cách nhỏ nhẹ nhưng giọng điệu hơi cáu gắt. Ada dứt ánh mắt ra khỏi thân hình thảm hại của cô bé, hướng về phía cái gạt tàn thuốc ở cuối hành lang. Cảm giác có lỗi với những chuyện ngoài tầm kiểm soát không phải là phong cách của cô, không phải là cách mà cô đạt tới đỉnh cao sự nghiệp – và nếu tính đến cái giá mà ngài Trent đã thuê cô, thì giờ không phải là lúc thích hợp để mủi lòng. Chết, đó là việc tất yếu, và điều mà cô rút ra được từ cuộc đời của mình, đó là đau khổ trước sự thật phủ phàng chỉ tốn công vô ích. Mục đích nhiệm vụ: Liên lạc với Bertolucci và lấy mẫu G-Virus. Đó là tất cả những gì cô cần phải lo.

Có một cách Ada vẫn sử dụng để kiểm tra những khúc quanh cách xa chỗ cô đứng, lúc còn trong phòng họp báo. Những ghi chú của Trent về các phần kiến trúc mới bổ sung trong tòa nhà thì khá sơ sài, nhưng cô biết là có việc phải làm với ngọn đèn khí gas điêu khắc lộng lẫy và bức tranh sơn dầu. Người nào sở hữu những thứ này chắc phải có một cuộc sống bí ẩn đáng sợ lắm; thực tế có những lối đi ẩn trên lầu, đằng sau bức tường đã từng thuộc về phòng lưu trữ. Cô chưa đi qua đó, mặc dù chỉ liếc sơ qua cũng đủ cho cô biết nó đã được sửa lại thành phòng làm việc. Theo như lối trang trí lộn xộn và rườm rà, có lẽ nó là của Irons. Mặc dù chỉ ở đây trong một thời gian ngắn, nhưng cô cũng biết chắc rằng ông ta không phải là người kiên quyết, một kẻ luôn sống dựa vào người khác. Cũng chẳng phải bàn cãi gì về việc ông ta làm cho Umbrella. Tuy nhiên cũng có một thứ gì đó về ông ta có vẻ khác thường.

Ada bước xuống hành lang, tiếng chân nện lộp cộp trên nền gạch xanh; cô đã ngán mấy cái trò giải đố một cách máy móc lắm rồi. Nhất là khi không có bất cứ sự giúp đỡ nào cho những chuyện này; cô đã giả định ngay từ đầu là virus vẫn còn trong phòng thí nghiệm, nhưng không có bất cứ cơ hội nào để vào đó. Hồ sơ cho biết có từ tám đến mười hai ống nghiệm loại một ounce đựng virus, căn cứ theo thông tin từ cuộn video cách đây hai tuần – và phòng thí nghiệm của Birkin thì khó dò ra được. Với việc phòng thí nghiệm dưới lòng đất được nối với sở cảnh sát thông qua hệ thống cống ngầm, cô buộc phải xét đến khả năng các mẫu virus đã được mang đi. Bên cạnh đó, Bertolucci có thể bị nhốt vào thư viện hay văn phòng S. T. A. R. S. Ở phía tây, có thể là trong phòng tối, phải tìm ra anh ta dù sống hay chết. Và cô cũng có cơ may lấy được một ít đạn 9 ly trong người các nhân viên đã chết.

Cô đi theo một lối đi dẫn đến một phòng chờ nhỏ, nơi có cái máy bán hàng tự động đã bị cạy nắp và cướp phá. Hành lang lạnh lẽo và thiếu thốn không khí trong lành. Cô đã trở nên quen với mùi hôi ở đây, nhưng sự lạnh lẽo thật là khó chịu. Đã hàng trăm lần kể từ khi rời bỏ bàn ăn ở Arklay, Ada ước gì mình đã ăn mặc thoải mái hơn khi ăn tối. Bộ áo dài màu đỏ không tay áo bó sát người cùng với đôi giày cao gót thật là đẹp và vừa vặn, tuy nhiên nó chẳng thuận tiện cho hành động chút nào.

Cô đi đến cuối căn phòng và cẩn thận mở cánh cửa bên trái, giơ vũ khí lên. Cũng như trước đó, lối đi hoàn toàn sạch sẽ, chưa có dấu vết gì xóa đi sự thanh lịch của tòa nhà này. Những bức tường màu cát tối và đá lát được trang trí đối xứng ở mỗi bên. Sở cảnh sát thật tráng lệ, nhưng thời gian đã làm mất đi sự cao quý của nó, giờ đây nó giống như một ngôi nhà to lớn nhưng đổ nát và lạnh lẽo. Sát khí của căn nhà làm cho người ta sợ hãi, tuyệt vọng – bất cứ lúc nào, một bàn tay lạnh lẽo cũng có thể nắm lấy vai bạn hay một hơi thở bệnh hoạn thình lình thổi vào gáy bạn.

Ada cau mày, có lẽ sau nhiệm vụ này cô sẽ đi nghỉ dài hạn. Và cũng có thể cô sẽ tìm một công việc mới sau đó. Sự chú tâm - khả năng tập trung của cô – đã không còn như xưa nữa. Và trong công việc này chỉ một sự lơ đễnh thôi cũng đồng nghĩa với cái chết.

"Món tiền thưởng lớn, Trent đã hứa như thế. Mình sẽ đề nghị một con số có bảy chữ số, hay ít nhất thì cũng là sáu."

Cô cố đánh tan suy nghĩ của mình, đánh tan hình ảnh của những sinh vật gớm ghiếc, nhưng cô nhận thấy mình không thể xua chúng đi khỏi óc được. Cô nhớ lại cô bé Stacy Kelso, nhớ cái vén tóc đầy lo lắng của cô bé khi nói về đứa em..

Một hồi lâu, Ada cố ném những suy nghĩ đó ra khỏi đầu và tiếp tục bước xuống hành lang, tự hứa với chính mình sẽ cố gắng tập trung hơn, và rồi tự hỏi tại sao chính mình lại không tin tưởng vào điều đó cho lắm.
 
211 ❤︎ Bài viết: 256 Tìm chủ đề
CHƯƠNG 7

Leon giẫm lên những mảnh kính vỡ trên nền nhà của hiệu súng Kendo trong lúc lục lọi những ngăn kéo, mồ hôi nhễ nhại tuôn đầy mặt. Nếu anh không tìm thêm được đạn thì tiêu là cái chắc; có vài cây súng trong hiệu súng đổ nát này nhưng không thể lấy được, chúng được treo lên bằng dây thép, và cái cửa sổ lát kiếng rất dễ bị phá vỡ. Những thây ma ngoài kia sẽ tìm thấy anh nhanh thôi, còn một viên đạn cuối cùng trong ổ, mà anh có tới hai dãy nhà nữa phải đi qua.

"Coi nào, năm mươi lời gọi đội phản ứng nhanh, phải có ai đó ở Raccoon đặt hàng mua đạn chứ..

" Tuyệt lắm! "

Trong ngăn thứ tư, bên dưới khẩu súng trường có nửa tá băng đạn rỗng và nhiều hộp đạn khác. Leon chộp lấy một hộp rồi quay ra sau lưng, đụng cả vào chiếc máy tính tiền khi anh liếc nhanh về cửa trước. Không có gì cả nếu không tính đến một tên đã chết đang nằm trên sàn nhà. Hắn nằm bất động, nhưng từ vết thương còn mới đang rỉ nước tong tỏng từ bộ ruột làm nhuộm đỏ áo thun trắng, Leon biết không có nhiều thời gian để nấn ná thêm; anh không rõ cái xác đó sẽ đứng dậy trong bao lâu nữa - và cũng không muốn biết điều đó. Dù sao thì cũng phải đi thôi, anh giống như ngọn đèn thu hút bọn chúng và nơi này thì rất dễ dàng xâm nhập..

Vừa cảnh giác nhìn vào bức tường rách nát anh vừa lắp đạn vào súng. Leon đã rất may mắn đi ngang qua hiệu súng, anh vốn đã quên bẵng nó sau khi bị vụ va chạm làm cho choáng váng. Khi mà con đường ngắn nhất đến sở cảnh sát đã bị chặn lại do vụ nổ thì đường vòng tốt nhất là đi ngang qua hiệu súng Kendo. Sự trùng hợp ngẫu nhiên ấy rõ ràng đã cứu mạng anh. Cho dù đã bắn hai thây ma trên đường đến đây, nhưng anh hầu như bị bao vây bởi chúng.

" Uhhh.. "

Một cái bóng xương xẩu rùng rợn lê lết ra từ bóng tối ngoài đường, đấm mạnh vào cửa trước hiệu súng.

" Khốn kiếp ", Leon chửi thầm, những ngón tay không biết vì sao chuyển động nhanh hơn. Một băng đạn rơi xuống, một cái nữa, anh cần suy nghĩ một tí. Nếu chạy ngay bây giờ, anh sẽ chết trước khi có thể đến được sở cảnh sát.

Một cái bóng sần sùi khác thình lình xuất hiện trước bộ khung gần như trống không của cánh cửa ra vào lát kiếng. Chân chúng thối rửa đến nỗi Leon có thể thấy được những con giòi đang ngoằn ngoèo trên những thớ thịt.

".. bốn.. năm.. xong! "

Anh chộp lấy khẩu Magnum và nạp đạn trong khi cái thứ gần-như-rỗng kia đập vào cửa. Sinh vật đầy giòi đó đang lách mình qua những góc cạnh lởm chởm mảnh kiếng còn sót lại quanh khung cửa, chất lỏng nhớp nhúa đang chảy ra từ cổ họng chúng.

Túi, anh cần một cái túi. Leon đảo mắt ra phía sau máy tính tiền, thấy một cái túi thể thao cá nhân đang vắt trên mặt bàn. Chỉ hai bước nhảy anh đã có nó, rồi vừa chạy trở lại tủ đựng đạn vừa vất hết những thứ trong túi. Leon gạt mấy thứ linh tinh dưới sàn ra và trút tất cả các băng đạn vào túi, ngoại trừ những viên nằm rải rác, với một sự nâng niu cái ngăn kéo chứa đạn.

Những con quái vật thối rữa đang lê bước về phía anh, vấp phải cái xác của người đàn ông bụng phệ ở ngưỡng cửa, và Leon có thể ngửi thấy cái mùi kinh tởm. Anh giật mạnh khẩu Magnum, chĩa thẳng vào mặt cái thây đang tiến tới trước.

" Ngắm vào đầu, giống như hai con ngoài kia.. "

Với một phát súng đanh gọn, cái sọ mềm nhũng kia đã bị thổi bay, thứ chất lỏng sền sệt bắn vọt vào tường đánh toẹt. Trước khi cái thây không đầu ấy sụm xuống, Leon cúi người xuống ngăn kéo chứa đạn, đẩy những hộp đạn nặng nề vào trong túi nilon, mệt mỏi rã rời và sợ hãi. Thậm chí bây giờ bên ngoài cửa sau có thể đầy ắp những thây ma đang chắn đường đi của anh.

" Năm băng trong một hộp, có tất cả năm hộp. Được rồi, đi.. "

Leon đúng bật dậy, khoác cái túi lên vai và chạy ra cửa sau. Chỉ liếc mắt anh đã thấy một thây ma khác đang từ từ tiến vào hiệu súng. Những con khác đang cố tì vào tấm cửa kính vỡ làm phát ra những âm thanh răng rắc.

Anh mở cửa sau, nhẹ nhàng lướt ra, liếc qua bên trái rồi bên phải, đồng thời cũng đóng luôn cánh cửa sau lưng. Cánh cửa tự động khóa lại với một tiếng cạch nhẹ. Không có gì ngoài những cái thùng rác đầy ắp đồ phế thải. Từ nơi anh đứng, con hẻm trải dài sang trái và có một hướng ngoặc sang trái một lần nữa. Nếu khả năng định vị của anh đúng, cộng với một chút may mắn, con hẻm nhỏ xíu này sẽ dẫn ra đường Oak. Như vậy là vượt qua được một dãy nhà chắn giữa đường dẫn tới toà nhà RPD. Thật may mắn. Tất cả những gì anh có thể hi vọng là vận may sẽ không rời xa anh, sẽ giúp anh đến sở cảnh sát Raccoon mà vẫn còn sống sót và nguyên vẹn – và, cầu chúa phù hộ, sẽ tìm thấy một lực lượng vũ trang. Họ sẽ giải thích cho anh cái quái gì đang xảy ra ở đây.

" Và Claire. Vẫn được an toàn, Claire Redfield, và nếu cô tới đó trước thì đừng có khóa cửa đấy nhé. "

Leon kéo lại túi đạn nặng như chì trên vai và bắt đầu đi xuống lối đi mập mờ trước mặt, sẵn sàng chống trả bất cứ thứ gì xuất hiện trên đường.

* * *

Claire chạy về phía sở cảnh sát nhưng hầu như không phải bắn một phát súng nào. Những thây ma kéo ra con đường không ngớt nhưng có vẻ chúng quá chậm chạp. Cô chỉ việc chạy qua chúng theo hình zíc zắc một cách khá dễ dàng. Cô thấy rằng những thây ma bị thu hút bởi âm thanh của vụ nổ, sau đó những con khác ở xa hơn bị thu hút bởi tiếng rên của những con ở gần, tiếng rên hay bất cứ thứ gì thoát ra từ chúng. Nhiều con tiến lại khá gần đủ để cô quan sát rõ hơn, ít nhất một nửa trong số chúng đang trong tình trạng thối rữa, những thớ thịt rớt ra từ những khúc xương.

Cô quá bận tâm với việc vừa quan sát con đường vừa cố sắp xếp lại các biến cố đang xảy ra, đến nỗi suýt nữa là chạy qua luôn sở cảnh sát. Cô đã ở từng ở đó hai lần với Chris, nhưng chưa bao giờ đi vào từ cổng sau trong tình trạng bóng tối tràn ngập và đầy mùi hôi, lại thêm những thây ma ăn thịt người như thế này. Cô chỉ nhận ra lối vào nhờ một chiếc xe cảnh sát bị hỏng và một đám người đã biến thành zombie, nó dẫn cô tới nhà để xe và tầng chứa trang thiết bị có cửa đi vào cái sân nhỏ xíu bên trong. Cô và Chris đã từng ăn trưa trong cái sân này, lúc đó cả hai ngồi trên những bậc thang dẫn lên bãi đáp trực thăng ở tầng hai. Dễ thôi, cô sẽ đến đó.

Vượt qua hai thây ma mặc đồng phục đang đi lòng vòng trong sân hình chữ L một cách dễ dàng, khiến cho cô có cảm giác nhẹ nhõm hẳn và nghĩ rằng mình đã an toàn, nên khi trông thấy người phụ nữ thì gần như đã quá muộn. Một cái thây phụ nữ kêu gào cùng với cánh tay ẻo lả đầy những vệt máu đông đang vươn tới cô từ trong bóng tối của chân cầu thang, những ngón tay ghẻ lở lạnh buốt của nó hầu như đã vụt chạm vào cánh tay của Claire. Claire cố kìm nén tiếng kêu kinh ngạc, bước lùi ra khỏi tầm với của người phụ nữ, xém tí nữa lại rơi vào vòng tay của một tên khác, một gã đàn ông cao vạm vỡ mục nát âm thầm xuất hiện bên dưới cầu thang kim loại. Cô nhanh nhẹn lắc qua bên cạnh, thận trọng lùi lại một bước và chĩa khẩu 9 ly vào ông ta..

* * *và có cảm giác như chân cô chạm vào lưng những bậc thang dẫn lên trên. Người phụ nữ cao năm feet ở bên tay phải, cái áo đẫm máu phơi trần bộ ngực đã bị thủng, cánh tay cô ta vươn ra đầy tham lam về phía Claire. Người đàn ông cách cô chỉ một bước chân và cô cũng chẳng thể nào lùi thêm được nữa.

Claire bóp cò và bùm, khẩu súng hầu như giật mạnh khỏi tay cô. Một nửa bộ mặt bên phải của người đàn ông biến mất, chất lỏng tuôn ra như suối từ cái đầu vỡ vụn của ông ta.

Cô lia súng sang bên cạnh, bóp mạnh cò khi khẩu súng chĩa vào gương mặt đang van xin năn nỉ của người phụ nữ. Một âm thanh chói tay vang lên và cái giọng rên rỉ đang lớn dần lúc nãy im bặt, cái trán mịn nổ tung trong vũng máu và những mảnh xương. Người phụ nữ bị đẩy về phía sau, té xuống nền giống như..

".. giống như một tử thi, thứ mà cô ta đã từng là khi nãy. Chúng sẽ không di chuyển được nữa. "

Đây là sự thực, những thứ đã đến với cô kể từ khi rời nhà cho đến khi cô bóp cò súng. Trong một giây, Claire dường như bất động. Cô nhìn vào cái áo nhàu nát của những thớ thịt, vào hai người cô vừa bắn, và có cảm giác suýt tí nữa là mình đã chết. Cô lớn lên với súng đạn, đã ở sân tập bắn hàng tá lần – nhưng chỉ với khẩu súng tập cỡ 0.22 thôi, và chỉ bắn vào những tờ giấy. Khẩu súng tập không làm chảy máu, không làm óc vọt ra như hai người cô mới vừa..

" Không ", một tiếng vọng thình lình thốt lên trong cô." Không phải con người, không phải nữa. Đừng giống con nít và cũng đừng tốn thời gian cho việc thương hại. Và nếu S. T. A. R. S. Đã được gọi tới thì Chris cũng có thể ở đây. "

Và nếu động cơ đó còn chưa đủ thuyết phục, thì đã có hai con zombie cảnh sát lúc nãy Claire chạy qua khi vào đây đang tiến tới, chúng lê lết từng bước chân trên những phiến đá. Đã đến lúc đi rồi. Cô nhẹ nhàng bước lên cầu thang, vừa đủ để đển tiếng vọng của những bước chân lấn át tiếng âm vang trong lỗ tai. Tiếng nổ đạn 9 ly đã nhất thời làm tai cô ong ong – nó giải thích tại sao cô không biết sự hiện diện của chiếc trực thăng cho đến khi đã hoàn toàn ở trên máy nhà.

Claire vịn vào tay vịn cầu thang và dừng lại chết sững, một trận gió nhịp nhàng thổi vào đôi vai trần của cô khi chiếc trực thăng màu đen to lớn lượn lờ trong tầm nhìn, một nửa nhòa trong bóng tối. Nó ở gần cái đài nước cũ ngay góc phía tây nam của bãi đáp, mặc dù cô không biết là nó đang cất cánh hay hạ cánh.

Không biết và cũng không cần quan tâm." Ê ", cô hét lên, giơ cánh tay trái lên trời," Ê, ở đây này, "giọng cô bị át hẳn trong tiếng gió bụi đang cuốn lên trên tầng hai, chìm vào tiếng quay đều đều của cánh quạt. Claire vẫy tay điên cuồng, như thể cô vừa trúng số.

" Ai đó đã đến! Tạ ơn Chúa, cảm ơn! "

Một nguồn sáng chói lọi bật ra từ cái đèn pha giữa bụng chiếc trực thăng, quét dọc qua máy nhà và hướng về một hướng khác, cách xa chỗ cô đứng. Claire phẩy tay như điên, cố căng lồng ngực la lên một lần nữa..

* * *và thấy những gì chiếc đèn pha đang chiếu thẳng vào, thậm chí cô có thể nghe thấy tiếng thét như tuyệt vọng chìm trong tiếng động cơ trực thăng. Một người đàn ông, một viên cảnh sát, đang đứng ở góc đối diện với cầu thang trên bãi đáp, lưng đối diện với bức tường phía sau. Ông ta cầm cái gì đó giống như một khẩu súng máy và dường như còn sống.

" - Ở đây này - "

Ông ta hét vào chiếc trực thăng, giọng điệu hoảng hốt.

Claire có thể thấy tại sao và cảm giác như niềm tin tan biến dần. Có hai thây ma đang lắc lư trong bóng tối trên bãi đáp, chúng hướng đến nơi có giọng hét của viên cảnh sát. Cô giơ súng lên nhưng lại hạ xuống, sợ sẽ bắn trúng ông.

Ánh sáng chiếc đèn pha đã ngừng di chuyển, tập trung vào hiểm họa một cách rõ rệt khác thường. Viên cảnh sát dường như không nhận ra những thây ma đã tiến gần đến thế nào tới khi chúng chạm vào ông. Những cánh tay của chúng vươn dài về phía vùng ánh sáng trắng.

" Lùi lại! Không được tới gần! ", ông gào lên với sự sợ hãi rõ ràng trong giọng nói, Claire có thể nghe thấy rất rõ ràng. Cũng giống như cô nghe thấy tiếng gào rú của ông khi những ngón tay thối rữa che lấp hoàn toàn tầm nhìn của cô, chạm vào ông ta.

Âm thanh của khẩu súng máy xé bầu không khí căng thẳng, thậm chí nó át cả tiếng ồn của trực thăng. Claire có thể nghe tiếng tiếng vỏ đạn rít vào khoảng không. Cô khụy xuống, đầu gối tựa vào bậc thang trên cùng khi tia lửa tiếp tục lóe ra từ nòng súng..

* * * và có một sự thay đổi trong âm thanh phát ra từ chiếc trực thăng, một tiếng hự xa lạ đang tăng dần và trở thành một tiếng thét. Claire ngẩng lên, kịp nhìn thấy cả chiếc trực thăng to lớn đang lao xuống. Đuôi của nó xoay tròn trong vòng tròn lửa ngoạn mục.

" Lạy Chúa, ông ta đâm vào chúng mất! "

Ánh đèn pha quay tít, phản chiếu vào những ống kim loại, cụ thể là vào viên cảnh sát đang cật lực đấu tranh cho sự sống còn, và không hiểu vì lí do gì đó lúc này ông vẫn đang bắn xối xả trong khi hai thây ma đang đè ông ta ra" xin tí huyết "..

* * *Và chiếc trực thăng rơi xuống, nghiêng sang một bên, cánh của nó nghiến vào mái thượng tạo nên tiếng động inh tai. Trước khi Claire kịp nháy mắt, mũi chiếc trực thăng kéo lê trên bãi đáp trong tiếng rít chói tay của máy móc và kính vỡ.

* * *Vụ nổ chỉ xảy ra khi toàn bộ khối máy móc ấy trượt đến cuối

Góc tây nam – chính xác là va vào viên cảnh sát và những kẻ đã giết ông ta. Tiếng súng máy cuối cùng cũng dứt hẳn, thay vào đó là tiếng bập bùng của ngọn lửa đang cháy, mái nhà trên cùng cũng chìm trong ngọn lửa màu đỏ. Cùng lúc là thứ gì đó trên nóc nhà bị nghiến răng rắc khi mũi chiếc máy bay xuyên thủng bức tường qua cả phía bên kia.

Claire đã đứng dậy và cô cảm thấy trơ trọi, nhìn một cách hoài nghi vào đám cháy đang bập bùng lúc này đã chiếm gần như phân nửa bãi đáp trực thăng. Mọi thứ diễn ra quá nhanh và những vết tích còn lại chỉ là để xác nhận nó đã xảy ra. Mùi hăng của thịt cháy tỏa vào cô cùng với làn hơi nóng, và trong sự im lặng đột ngột đó cô có thể nghe tiếng rên êm tai của những thây ma bên dưới. Cô ném một cái nhìn xuống cầu thang và nhận ra hai cái thây cảnh sát lúc nãy đang sờ soạng một cách vô ích, ngã cả vào bậc thang dưới cùng. Ít nhất chúng không biết leo..

".. Không thể. Leo trèo. Bậc thang. "

Claire chuyển ánh mắt sợ hãi của mình về phía cánh cửa dẫn vào tòa nhà RPD, có lẽ cách ba mươi feet với ngọn lửa đang dần thiêu rụi chiếc trực thăng. Ngoài cầu thang ra, đó là lối duy nhất dẫn vào toà nhà, và nếu những thây ma không thể leo –

".. Và sau đó mình kẹt trong một mớ bùng nhùng. Sở cảnh sát đâu có an toàn. "

Cô nhìn một cách trầm tư vào chiếc máy bay đang cháy, cân nhắc những lựa chọn của mình. Khẩu 9 ly vẫn còn nhiều đạn và cô còn hai băng đầy; cô có thể quay lại con đường lúc nãy, tìm một chiếc xe có chìa khóa và đi tìm ai đó giúp đỡ.

" Còn Leon thì sao? Nếu anh cảnh sát ấy còn sống, nếu có nhiều người đang ở bên trong, đang lập một kế hoạch để thoát ra khỏi đây thì sao? "

Cô nghĩ mình có thể tự lo liệu được, nhưng cô cũng biết rằng sẽ an toàn hơn nếu như có ai đó đi cùng – nói cách khác một đội thì vẫn tốt hơn, cho dù cô có khả năng đã giải quyết vài thây ma như thể một tay cớm từng trải với một khẩu súng chết tiệt. Còn Chris. Claire không biết có tìm thấy anh trong sở cảnh sát không. Nhưng cô tin tưởng anh vẫn còn sống. Nếu ai đó được trang bị để đối chọi với một tình huống như thế này, đó chính là anh trai cô. Dù cô có tìm được ai đó hay không, cô cũng không nên đi mà không nói với Leon một tiếng. Nếu cô không nói tiếng nào mà chuồn khỏi cái thị trấn này, e rằng Leon sẽ chết vì tìm kiếm cô..

Quyết định xong, Claire bước tới cánh cổng, cẩn thận men theo ngọn lửa đang cháy bập bùng và chú ý mọi chuyển động trong bóng tối. Khi đến cánh cửa, cô nhắm mắt trong một giây, một tay để trên chốt cửa, nhễ nhại mồ hôi.

" Mình làm được mà", cô thì thầm. Mặc dù không có vẻ tự tin như mong muốn, ít nhất giọng cô cũng không run rẩy và đứt quãng. Cô mở mắt, sau đó mở cửa; khi không có gì phóng thẳng vào cô ngoài những tia sáng mềm mại, cô bước nhanh vào bên trong.
 
211 ❤︎ Bài viết: 256 Tìm chủ đề
CHƯƠNG 8

Cánh sát trưởng Brian Irons đang đứng trong phòng riêng của mình, cố lấy lại bình tĩnh khi cảm thấy một chấn động lớn khắp tòa nhà. Ông cũng đã nghe thấy nó – một cái gì đó. Tiếng vỡ vụn của một thứ gì đó rất lớn và nặng.

"Trần nhà", ông nghĩ một cách hững hờ, "có chuyện gì đó ở trên trần nhà."

Nhưng Irons chẳng buồn nghĩ đến việc đưa ra bất kì kết luận gì cả. Dù bất kì chuyện gì xảy ra thì nó cũng không thể khiến mọi việc tệ hơn được.

Irons ẩy mình ra khỏi bức tường đá bằng cái mông vĩ đại, đẩy Beverly một cách nhẹ nhàng nhất mà ông có thể. Họ sẽ có mặt ở thang máy trong chốc lát, và chỉ cần đi bộ một đoạn ngắn là đến văn phòng của Irons, ông có thể nghỉ ngơi ở đó một lát, và sau đó..

"Và sau đó thì", ông lẩm bẩm, "Cái này mới là vấn đề, sau đó thì sao?"

Beverly không nói gì cả. Nét mặt hoàn hảo của cô vẫn giữ nét bình tĩnh và yên lặng, mắt cô nhắm lại – nhưng dường như là cô đang nép mình sát hơn vào ông, thân hình mảnh khảnh của cô thu lại trên ngực của Irons. Đó là sự tưởng tượng của ông, dĩ nhiên rồi.

Beverly Harris, con gái thị trưởng. Trẻ trung, hấp dẫn, người thường xuyên ám ảnh trong những giấc mơ tội lỗi của ông như một cô gái xinh xắn tóc vàng. Irons ôm cô chặt hơn khi tiếp tục đi về phía thang máy, cố gắng không để lộ sự mệt mỏi trên mặt lỡ như cô có tỉnh dậy.

Ngay khi vừa đến thang máy, lưng và hai vai của ông nhói lên. Lẽ ra ông đã nên để cô lại trong phòng riêng của mình, nơi mà ông luôn nghĩ đến như là Thánh đường – ở đó khá yên tĩnh, và chắc chắn là nơi an toàn nhất trong sở cảnh sát. Nhưng khi quyết định về văn phòng để lấy một số ghi chép và vật dụng cá nhân, ông hiểu ra đơn giản là mình không thể để cô ở lại phía sau được. Trông cô quá yếu ớt, vô tội. Ông đã hứa với Harris là sẽ trông chừng cô ấy, lỡ như cô ấy bị tấn công khi ông vắng mặt thì sao. Lỡ như khi ông quay lại và cô ấy đã.. đi mất? Giống như tất cả những thứ khác.. Mười năm làm việc. Công việc trong mạng lưới, thiết lập những đường liên lạc, sự sắp đạt cẩn thận.. tất cả những thứ đại loại như vậy.

Irons đặt cô xuống sàn nhà lạnh ngắt và mở cửa thang máy, cố gắng không nghĩ đến những thứ mà mình đã mất. Beverly là điều quan trọng nhất hiện nay.

"Phải giữ cho cô được an toàn", ông nói thầm, và cái miệng hoàn hảo kia vừa cong lên thành một nụ cười kín đáo thì phải? Cô có biết là mình đang được an toàn không, rằng chú Brian đang trong chừng cô? Khi cô là một đứa trẻ, khi ông thường dùng bữa tối với gia đình Harris, khi đó cô vẫn gọi ông như vậy "chú Brian."

"Cô ấy biết, dĩ nhiên là cô ấy biết."

Ông kéo cô vào trong thang máy và đặt cô dựa vào một góc, nhìn một cách âu yếm. Ông bỗng nhiên cảm thấy trong mình trỗi lên một thứ tình cảm như tình cha con đối với cô, không có gì ngạc nhiên khi ông cảm nhận được những giọt nước mắt đang ứa ra khỏi mắt. Những giọt nước mắt tự hào và tình cảm. Suốt mấy ngày vừa qua, ông rất dễ bị kích động với những cơn thịnh nộ, sự khiếp sợ – và cả sự phấn khích. Ông chưa bao giờ là người dễ xúc động như vậy, nhưng cuối cùng ông cũng phải chấp nhận cái cảm giác mạnh mẽ đó, thậm chí là thích thú với nó, ít ra thì chúng không gây bối rối. Thậm chí đã có những khoảnh khắc ông đã bị những mối lo sợ không rõ ràng, kì lạ vượt qua một cách từ từ.. cảm thấy hoang mang như một đứa trẻ đi lạc.

"Không thêm bất kì cái gì như thế nữa. Không chuyện tồi tệ nào khác có thể xảy ra nữa. Beverly đang ở với mình, và một khi mình đã lấy được những thứ cần thiết, cả hai có thể trốn vào trong Thánh đường và nghỉ ngơi. Cô ấy cần lấy lại sức, và mình thì, mình sẽ sắp xếp mọi thứ lại. Đúng vậy, mọi chuyện cần được sắp xếp đâu vào đấy hết."

Ông lau nước mắt khi thang máy đang đi lên, lấy vũ khí đeo cạnh sườn, kiểm tra lại băng đạn xem còn bao nhiêu viên. Phòng riêng của ông rất an toàn, nhưng văn phòng lại là chuyện khác, ông muốn mình được chuẩn bị sẵn sàng cho mọi tình huống.

Thang máy gần dừng lại, Irons chống dậy bằng một chân trước khi nhấc cô gái lên, thầm làu bàu khi nỗ lực làm điều đó. Ông vác cô lên giống như một đứa trẻ đang ngủ vậy, người cô mềm nhũn ra và lạnh ngắt trong tay ông, đầu của cô gục trên lưng và cứ lắc lư theo mỗi nhịp đi của Irons. Ông nâng cô lên một cách vụng về, khiến bộ váy của cô bị kéo lên, để lộ ra cặp đùi trắng mịn của mình, Irons cố hướng ánh mắt của mình ra chỗ khác, tập trung vào tấm bảng điều khiển bức tường mở vào văn phòng của ông. Bất kể đã có những ý nghĩ không tốt, cô gái này bây giờ là trách nhiệm của Irons, ông là người bảo vệ, là hiệp sĩ của cô. Ông có thể nhấn cái nút bấm bằng đầu gối. Bức tường mở ra một cách nhẹ nhàng, để lộ văn phòng làm việc được trang trí lộng lẫy, và thật may là không có cái gì ở đó hết; chỉ có những ánh mắt vô hồn từ những đồ kỉ niệm hình thú chào đón họ. Cái bàn làm việc bằng gỗ cây óc chó bự chảng nhập từ Ý nằm ngay trước mặt và sức chịu đựng của ông đã gần cạn kiệt. Beverly là một cô gái trẻ xinh xắn, nhưng ông thì đang cư xử không như lúc bình thường. Ông nhanh chóng đặt cô lên bàn, gạt lọ đựng bút chì xuống bằng khuỷu tay.

"Đây rồi", ông thốt lên một cách xúc động, mỉm cười với cô.

Cô không cười lại, nhưng Irons có linh cảm là cô sẽ sớm tỉnh dậy thôi, giống như lúc trước vậy. Ông thò tay xuống dưới bàn nhấn nút điều khiển, bức tường trượt đi đóng lại sau lưng họ.

Ông đã tỏ ra rất lo lắng khi mới tìm thấy cô, nằm bất tỉnh gần văn phòng của Scott ở cuối hành lang; George Scott đã chết, trên người đầy vết thương, và khi Irons nhìn thấy những vết máu trên bụng Beverly, ông sợ rằng cô cũng đã chết. Nhưng khi đang đưa cô về Thánh đường, chỗ an toàn của ông, cô đã thì thào rằng cô cảm thấy khó chịu, cô bị đau, nói là cô muốn về nhà..

".. có phải cô đã? Thật sự đã?"

Irons cau mày lại, gạt bỏ cái ý nghĩ không chắc chắn này vì một điều gì đó, điều mà ông cảm thấy khi đặt cô lên cái bàn ưa thích của mình, và vuốt thẳng cái váy dính đầy máu của cô, điều gì đó mà ông không thể gợi nhớ ra được. Nó có vẻ không quan trọng lắm như hồi nãy, nhưng bây giờ khi đã không còn ở nơi trú ẩn trong Thánh đường nữa, điều này ám ảnh mãi, nhắc nhở Irons rằng ông đã trải qua những khoảnh khắc bối rối khi.. khi ông..

".. khi cảm thấy cái lạnh, những chất dịch nhớp nháp dưới những ngón tay..

* * * khi chạm vào cô." "Beverly", ông thì thầm, ngồi bệt xuống cạnh cái bàn khi đôi chân bỗng nhiên yếu đi. Beverly vẫm im lặng - và một loạt những cảm xúc hỗn loạn đập vào Irons như những đợt thuỷ triều, tràn vào khắp tâm trí ông những hình ảnh, kí ức, sự thật mà ông không muốn chấp nhận. Chặn hết mọi lối ra vào thành phố sau đợt tấn công đầu tiên. Umbrella, Birkin và những xác chết đi lại. Cuộc thảm sát trong nhà để xe, khi mùi máu tanh bay khắp nơi, và Thị trưởng Harris đã bị ăn sống, gào thét đến hơi thở cuối cùng. Số người còn sống sau cái đêm kinh hoàng dài đằng đẵng cứ giảm dần – cái lạnh giá, sự thật kinh tởm cứ thế đập vào Irons, rằng thành phố – thành phố của ông, đã không còn nữa.

Sau đó là sự bối rối. Sự hưng phấn đến điên loạn và kì lạ ập tới, khi ông nhận ra những việc làm của mình sẽ chẳng mang lại bất kì kết quả nào. Ông nhớ lại ván bài mà mình đã chơi trong đêm thứ hai, sau khi những con thú của Birkin tìm được lối vào trong sở cảnh sát, lấy đi mạng sống của gần toàn bộ số cảnh sát ít ỏi còn lại. Ông tìm thấy Neil Carson ngồi co rúm lại vì lạnh trong thư viện.. và đã bám theo anh ta, săn đuổi viên hạ sĩ như một con thú săn.

"Chuyện này có nghĩa là gì? Chuyện này, có phải là cuộc sống của mình ở Raccoon đã chấm hết?"

Tất cả những gì còn lại, nơi duy nhất mà ông còn bám trụ lại là Thánh đường, và một phần trong ông đã tạo ra nó, trái tim vinh dự và đen tối của chính ông, điều mà Irons đã luôn phải che dấu.

"Phần đó đã được tự do rồi."

Irons nhìn xuống xác chết của Beverly Harris, nằm trên bàn như một giấc mơ mỏng manh dễ vỡ, ông sợ là mình sẽ rơi nước mắt bởi sự sợ hãi và những nghi ngờ đang xung đột trong mình.

"Có phải ông đã giết cô? Không thể nhớ được. Chú Brian. Mười năm trước, mình đã là chú của cô. Mình đã trở thành thứ gì thế này?"

Có quá nhiều chuyện. Thay vì nhìn vào khuôn mặt vô hồn của cô, ông lấy khẩu VP70 ra khỏi bao súng, bắt đầu chà xát nòng súng bằng những ngón tay lạnh ngắt, những cái vuốt nhẹ khiến ông vững tin hơn khi khẩu súng chĩa thẳng vào mình. Khi nòng súng được đặt một cách kiên quyết vào bụng, ông cảm thấy sự thanh thản trong mình. Ngón tay của ông siết chặt quanh cò súng. Và đó là lúc mà Beverly thì thào nói với ông lần nữa. Môi của cô vẫn không nhấp nháy, giọng nói ngọt ngào và trong của cô như đến từ một nơi vô tận nào đó, khắp nơi cùng một lúc.

".. đừng bỏ cháu chú Brian, chú đã nói là sẽ giữ an toàn cho cháu, sẽ chăm sóc cho cháu mà. Hãy nghĩ đến những gì chú có thể làm khi mà mọi người đều đã đi hết, và không ai có thể ngăn chú lại."

"Cháu đã chết rồi mà", ông thì thầm lại với cô, nhưng cô vẫn tiếp tục nói, nhẹ nhàng và kiên quyết.

".. không gì có thể ngăn chú thoả mãn được, thật sự thoả mãn lần đầu tiên trong đời.."

Như bị tra tấn và đau đớn vô cùng, Irons từ từ đưa khẩu 9 ly ra khỏi bụng mình. Sau một thoáng chốc, ông dựa đầu mình vào vai của Beverly, nhắm đôi mắt mệt mỏi của mình lại. Cô ấy đã đúng, ông không thể bỏ cô lại. Ông đã hứa với cô, và có vẻ như có điều gì đó trong những lời nói của cô, về những gì mà ông có thể làm. Cái bàn ưa thích của ông đủ lớn để chứa bất kì con thú nào..

Irons thở dài, không biết phải làm gì tiếp theo – tự hỏi tại sao mình lại phải vội vã đưa ra quyết định như vậy, dù sao.. Họ cũng sẽ nghỉ ngơi một lúc, thậm chí là ngủ một chút. Và sau đó khi tỉnh dậy, mọi chuyện sẽ trở nên rõ ràng hơn.

"Đúng, đúng là như vậy. Họ sẽ nghỉ ngơi, và sau đó ông có thể sắp đặt lại mọi chuyện, lo công việc, dù sao thì ông cũng là một cảnh sát trưởng."

Cảm thấy bản thân hoàn toàn tự chủ, ông chìm dần vào một giấc ngủ lơ mơ. Cơ thể lạnh ngắt của Beverly như là một niềm an ủi, trái ngược với vẻ bồn chồn lo lắng trên mặt ông.
 
211 ❤︎ Bài viết: 256 Tìm chủ đề
CHƯƠNG 9

Cảm ơn cái xe tải đậu ở con hẻm sau tiệm Kendo, nhờ nó mà đoạn đường của Leon đến sở cảnh sát chỉ phải qua vài khúc ngoặt – qua một sân bóng rổ đã bị lũ zombie tràn vào, thêm một con hẻm khác, và một bãi xe buýt bốc mùi hôi thối nồng nặc từ những xác chết bên trong. Đúng là một cơn ác mộng, lúc lúc lại ngắt quãng bởi những tiếng tru văng vẳng lại, mùi thối rữa, rồi một lần, có tiếng nổ đâu đó khiến cho chân tay anh bủn rủn. Cho dù anh đã phải bắn hạ thêm ba con trong đám zombie, và người run lên đến tận răng do nỗi kinh hoàng và khiếp sợ, bằng cách nào đó anh đã vẫn giữ được hy vọng rằng toà nhà RPD vẫn là một nơi trú ẩn an toàn, rằng sẽ có một kiểu trung tâm phản ứng nào đó được thành lập, bao gồm cảnh sát, nhân viên y tế, những người có thẩm quyền vạch ra những chiến lược và những lực lượng đặc nhiệm. Đó không chỉ là hy vọng, mà là một điều cần thiết. Tình trạng sẽ không còn ai ở Raccoon để đảm nhận chuyện này là điều không thể nghĩ đến.

Đến khi tới con đường trước sở cảnh sát và nhìn thấy những chiếc xe của đội đặc nhiệm, anh cảm thấy như bị tống thẳng một cú đấm vào mặt. Nhưng chính cảnh những nhân viên cảnh sát đang đi lại ngất ngưởng và bị thối rữa quanh các đám cháy đã thực sự quét sạch những hy vọng cuối cùng của anh. Chỉ có khoảng năm, sáu chục người trong lực lượng cảnh sát RPD, và hơn một phần ba số đó đang đi loạng choạng quanh đống đổ nát, hoặc là đã chết và đẫm máu trên vỉa hè cách cổng chính không quá một trăm bước.

Leon dẹp bỏ sự tuyệt vọng sang một bên, tập trung vào cánh cổng hướng tới sân trong của sở cảnh sát Raccoon. Dù có người còn sống hay không, anh vẫn phải tiếp tục kế hoạch của mình, gọi tiếp viện, và còn phải nghĩ đến Claire nữa. Cứ để tâm đến sự sợ hãi của mình chỉ khiến những việc cần làm trở nên khó khăn hơn mà thôi.

Anh chạy thẳng đến cánh cổng, tránh né một cách nhanh nhẹn một xác cảnh sát cháy có những ngón tay đen thui. Khi chạm vào tay cầm bằng kim loại và kéo nó, anh nhận thấy một phần trong mình đang chết lặng đi, khi hiểu rằng sinh vật kia đã từng là một công dân của Raccoon.

Những sinh vật đi lang thang trên đường phố không hề vui vẻ chút nào, nhưng cú sốc về chúng không thể cứ kéo dài mãi được, bọn chúng quá đông..

"Không nhiều lắm ở đây, cảm ơn trời.."

Leon đóng sầm cánh cửa lại sau lưng, vuốt mái tóc đầy mồ hôi nhễ nhại của mình ra sau, hít một hơi thật sâu bầu không khí mát mẻ trong khi xem xét cái sân. Bãi cỏ nhỏ ở bên phải đủ sáng để anh thấy là ở đó chỉ có vài cái xác biết đi, và chẳng có con nào đủ gần để gây nguy hiểm cả. Anh có thể thấy hai lá cờ ở phía trước sở cảnh sát, treo ủ rũ trong bóng tối tĩnh lặng; khung cảnh gợi lại những hy vọng mà anh nghĩ mình đã đánh mất; dù bất kì chuyện gì xảy ra nữa thì ít ra anh cũng đã đến được một nơi mà anh biết rõ. Và nó chắc chắn an toàn hơn ở ngoài đường.

Anh chạy vội qua một nhóm ba con zombie đang loạng choạng mò mẫm, dễ dàng tránh được chúng – hai người đàn ông và một phụ nữ, cả ba đều có vẻ bình thường ngoại trừ những tiếng tru đói khát thê lương và dáng đi thất thểu không thành hàng lối.

"Tất cả bọn chúng chắc là vừa mới chết..

* * *nhưng chúng chưa chết, người chết không thể phun máu ra khi bị bắn. Cái đó là còn chưa đề cập đến việc chúng đi lại lung tung và tìm cách ăn thịt người.."

Người chết không biết đi.. và người sống thì đều sẽ ngã gục xuống chỉ sau khi bị bắn vài viên đạn cỡ. 50, và không thể chịu đựng được việc cơ bắp của mình thối rữa. Những câu hỏi chưa có thời gian để hỏi tràn ngập tâm trí anh khi chạy lên những bậc thang vào sở cảnh sát. Những câu hỏi mà anh không đáp án – nhưng anh sẽ có chúng sớm thôi, anh rất chắc vào điều này.

Cửa không khoá, nhưng Leon không để cho mình bị ngạc nhiên, với tất cả những gì anh đã trải qua kể từ khi đến thành phố này, anh nhận ra rằng tốt nhất là nên để cho những kì vọng của mình luôn ở mức thấp nhất. Anh đẩy cửa và bước vào trong, khẩu Magnum giơ sẵn, ngón tay ngay cò súng.

Không có gì cả, không có bất kì dấu hiệu nào của sự sống ở trong đại sảnh cũ kĩ của toà nhà RPD, và không hề có bất cứ dấu hiệu nào của thảm hoạ đang diễn ra trong thành phố Raccoon. Leon giờ đã không còn cảm giác bất ngờ nữa, anh

Đóng cánh cửa sau lưng mình lại và bước vào trong hành lang bị trũng xuống.

"Có ai không?", Leon gọi khẽ, nhưng giọng anh chỉ vang khắp nơi rồi vọng lại tai anh như những lời thì thầm. Mọi thứ đều giống như những gì anh đã nhớ; ba lầu theo phong cách cổ điển làm bằng gỗ sồi và đá cẩm thạch. Có bức tượng một người phụ nữ cầm bình rót nước ở phần thấp của căn phòng, hai bờ dốc ở hai bên dẫn đến bàn tiếp khách. Dấu hiệu của RPD ở trên sàn nhà ngay trước bức tượng, lập loè dưới ánh sáng khuếch tán từ những bóng đèn trên tường, y như được đánh bóng lên vậy.

"Không một xác chết, không một giọt máu.. thậm chí không hề có một vỏ đạn. Nếu đã có một cuộc tấn công ở đây, thì mọi dấu vết biến đi đâu mất rồi chứ?"

Cảm thấy không hề thoải mái chút nào với sự yên ắng quá mức của căn phòng lớn, Leon đi theo cái dốc ở bên tay trái, dừng lại trước máy tính ở bàn tiếp tân và dựa vào đó; ngoại trừ việc nơi này hoàn toàn không một bóng người, mọi thứ có đều vẻ bình thường. Có một máy điện thoại ở trên bàn phía dưới máy tính. Leon nhấc ống nghe lên kẹp vào giữa vai và đầu, quay số với những ngón tay lạnh cóng.

"Thậm chí còn không có tín hiệu nữa"; tất cả những gì anh nghe được chính là tiếng tim mình đang đập thình thịch trong ngực.

Anh đặt ống nghe xuống và quay mặt lại căn phòng không người, cố quyết định xem nên đi đâu trước. Anh đang muốn thật nhanh chóng gặp lại Claire, nhưng cũng rất muốn gặp một cảnh sát nào đó. Anh vừa mới nhận được một bản sao thư báo của RPD chỉ khoảng hai tuần trước, cho biết một số ban sẽ bị chuyển vị trí, nhưng cái này chẳng ăn nhập gì cả; nếu có ai đó còn trốn trong này thì chắc chắn họ sẽ chẳng bận tâm đến việc phải ở lại bàn làm việc của mình.

Có ba cánh cửa dẫn đến ba nơi khác nhau của sở cảnh sát từ hành lang này, hai cửa phía tây và một phía đông. Một trong hai cánh cửa phía tây dẫn qua một dãy những hành lang đến phía sau toà nhà, đi qua một vài phòng hồ sơ và một phòng chỉ dẫn kế hoạch, cửa còn lại dẫn đến phòng của đội đặc nhiệm và phòng chứa đồ, căn phòng thông qua một hành lang dẫn lên tầng hai. Cánh cửa phía tây, chính xác là toàn bộ

Khu vực phía đông của tầng trệt, là khu vực chủ yếu của những ban điều tra, thẩm vấn, và một phòng hỏi cung; ngoài ra ở đó còn có lối xuống tầng hầm và một số cầu thang ở phía ngoài toà nhà.

"Claire chắc chắn đã vào qua garage.. hoặc là đi từ phía sau lên sân thượng.."

Cũng có thể là cô đã đi một vòng và cũng vào bằng chính lối mà anh vừa dùng – cứ cho là cô đã đến được sở cảnh sát, thì bây giờ cô có thể ở bất cứ chỗ nào. Xét cho cùng thì đây cũng là một khu nhà lớn trong thành phố, nên có đầy chỗ để mà ẩn nấp.

Cuối cùng anh cũng quyết định là mình phải bắt đầu từ đâu đó, anh tiến về phía phòng của đội đặc nhiệm, nơi có tủ đồ của anh. Một lựa chọn ngẫu nhiên, nhưng đúng ra mà nói thì anh đã dành hầu hết thời gian của mình ở đó hơn bất cứ đâu trong sở cảnh sát, gặp gỡ và làm việc theo chương trình. Ngoài ra, đó là nơi gần nhất, và cái hành lang ngoại cỡ này hoàn toàn im ắng như một nhà mồ khiến anh ghê rợn. Cửa không khoá, Leon mở nó ra một cách chậm rãi, nín thở và hy vọng là căn phòng này cũng sẽ không bị xáo trộn gì hết như hành lang chính.

Điều mà anh thấy thay vào đó đã xác nhận nỗi sợ hãi trước kia của anh, lũ quái vật đã ở đây – và ghê hơn cả mong đợi.

Căn phòng dài đã bị xới tung lên, bàn ghế vỡ vụn và đổ khắp nơi, những vết máu khô loang lổ trên tường, có một chỗ vẫn chưa khô, kéo thành vệt dài dưới sàn, thẳng đến..

"Ôi trời ơi."

Một cảnh sát ngồi dựa vào một cái tủ đồ ở phía bên phải của anh, hai chân bị cắn nát bét, được che chắn một nửa bằng cái bàn uống rượu. Khi nghe thấy tiếng của Leon, anh ta nhấc cánh tay run rẩy lên một cách yếu ớt, chĩa súng gần đúng nơi Leon đang đứng – rồi lại hạ xuống, có vẻ đã bị kiệt sức bởi sự cố gắng đó. Từ vết cắt ở giữa của anh ta, máu rỉ ra ướt sũng, khuôn mặt ngăm đen méo mó đi vì đau đớn. Leon cúi mình tiến về chỗ đó, nhẹ nhàng đặt tay lên vai anh ta. Leon không thể thấy rõ vết thương, nhưng có quá nhiều máu chảy ra và anh biết như thế là rất tệ..

"Anh là ai?", viên cảnh sát thì thào.

Tiếng nói mờ mịt, thậm chí yếu ớt của viên cảnh sát khiến khiến Leon lo sợ chẳng kém gì vết thương đang rỉ máu và ánh mắt đờ đẫn trong đôi mắt đen của anh ta; anh ta sắp chết..

Hai người chưa chính thức gặp nhau bao giờ, nhưng Leon đã từng thấy anh ta trước đây. Anh cảnh sát tuần tra trẻ tuổi gốc Phi, gây ấn tượng bởi sự nhạy bén trong các cuộc điều tra, Marvin, Marvin Branagh..

"Tôi là Kenedy. Chuyện gì đã xảy ra vậy?", Leon hỏi, tay vẫn đặt trên vai anh ta, có một mùi tanh khiến anh buồn nôn bốc lên từ cái áo rách nát của viên cảnh sát.

"Khoảng hai tháng trước", Branagh khò khè, "Những kẻ ăn thịt người.. S. T. A. R. S. Đã phát hiện ra lũ zombie trong khu biệt thự ở trong rừng.."

Anh đằng hắng một cách yếu ớt, Leon thấy có máu ứa ra từ khoé mệng của Branagh. Leon bắt đầu yêu cầu anh ta hãy ngồi yên nghỉ ngơi, nhưng Branagh nhìn một cách lơ đãng về phía anh, có vẻ như kiên quyết kể hết câu chuyện với bất kì giá nào.

"Chris và những đồng đội của mình đã phát hiện ra Umbrella đứng sau tất cả chuyện này.. liều lĩnh mạng sống của mình, nhưng không ai tin họ cả.. và rồi những thứ này.."

"Chris.. Chris Redfield, anh trai của Claire."

Leon chưa bao giờ nghĩ đến mối quan hệ này, mặc dù anh có biết đôi chút về rắc rối của S. T. A. R. S.. Anh chỉ nghe được chút ít của câu chuyện – việc đình chỉ công tác của Lực lượng đặc nhiệm cứu hộ và tác chiến sau thất bại trong vụ những tên giết người hàng loạt, chính là nguyên nhân dẫn đến việc sở cảnh sát RPD tuyển thêm người. Anh đã đọc thấy tên của những thành viên S. T. A. R. S. Bị lăng nhục trên một số tờ báo địa phương, liệt kê cùng với một loạt những báo cáo ấn tượng rõ ràng..

".. và Umbrella điều hành thành phố này. Một số thông tin hoá học đã bị lộ, hay điều gì đó họ đang tìm cách che dấu bằng

Cách tống khứ người của S. T. A. R. S.."

Tất cả những điều này chạy vụt qua đầu anh đến khi Branagh lại ho lần nữa, thậm chí là nghe còn yếu hơn lần trước. "Cứ ở yên đây", Leon nói, nhanh chóng nhìn xung quanh xem có thứ gì đó khả dĩ cầm máu được không, trong thâm tâm thì tự trách mình vì sao đã không nghĩ đến việc này sớm hơn. Một tủ đồ cạnh Branagh đã bị ở hé ra một phần, một cái áo thun nhàu nát ở dưới. Leon vớ lấy nó rồi gấp lại một cách cẩu thả rồi ấn vào bụng Branagh. Viên cảnh sát đặt bàn tay be bét máu vào cái băng tạm thời khi anh bắt đầu nói, thở khò khè.

"Đừng.. bận tâm đến tôi. Ở đây có.. hãy cứu những người sống sót.."

Sự chịu đựng trong lời nói của Branagh thật là khủng khiếp. Leon lắc đầu, muốn chối bỏ sự thật, anh muốn làm một cái gì đó cho cơn đau của Branagh, nhưng viên cảnh sát bị thương này đang hấp hối, và không có ai để gọi đến giúp cả.

"Bất công, quá bất công.."

"Đi đi", Branagh thở dài, mắt vẫn nhắm. Anh ta nói đúng, Leon không thể làm điều gì khác cả, nhưng anh vẫn đứng yên trong thoáng chốc – cho đến khi Branagh giơ súng lên chĩa thẳng vào anh bằng một nỗ lực hết sức, khiến cho giọng nói của anh ta như một tiếng hét hung dữ. "Đi nhanh lên", Branagh ra lệnh, Leon đứng dậy, tự hỏi liệu anh có quên mình vì mọi người trong tình huống tương tự như vậy hay không, tự thuyết phục mình là Branagh bằng cách nào đó đã làm được điều này.

"Tôi sẽ quay lại", Leon nói chắc chắn, nhưng cánh tay của Branagh đã rũ xuống, đầu của anh ta gục trước ngực.

"Giải thoát những người sống sót."

Leon quay ngược lại cửa, chịu đựng một cách nặng nề và đấu tranh quyết liệt để chấp nhận sự thay đổi trong kế hoạch mà chắc chắn có thể giết chết anh, nhưng anh không thể không làm như thế. Dù có phải là một công chức hay không thì anh vẫn là cảnh sát. Nếu còn bất kì người sống sót nào, thì anh có nghĩa vụ và trách nhiệm cố gắng để giúp đỡ họ.

Có một kho vũ khí ở tầng hầm, gần bãi để xe. Leon mở cửa và bước trở lại vào hành lang, cầu mong là những tủ đồ được cung cấp đầy đủ – và sẽ có ai đó còn sống để mà giúp.
 
211 ❤︎ Bài viết: 256 Tìm chủ đề
CHƯƠNG 10

Rời khỏi đám cháy trên sân thượng, Claire đi qua một hành lang ngoằn ngoèo, đầy những mảnh thủy tinh vỡ vụn dưới chân, và ngang qua một viên cảnh sát đã ngỏm từ đời nào rồi, một bằng chứng đẫm máu tệ hại vầ sự an toàn của sở cảnh sát. Cô bước nhanh qua cái xác và tiếp tục đi, sự căng thẳng trong cô cứ lớn dần lên. Một cơn gió lạnh thoảng qua từ những ô cửa sổ vỡ dọc các bức tường, khiến cho bóng tối như sống dậy, có những cái lông vũ dính vào những vệt máu dưới sàn gỗ, mỗi lần có gió thoảng qua, chúng lại rung nhè nhẹ, mỗi lần như vậy Claire đều giật thót mình mà chĩa khẩu bán tự động vào mọi chỗ tối. Claire đi qua một cánh cửa mà cô nghĩ là sẽ dẫn trở ra những cầu thang ở phía ngoài toà nhà, nhưng cô cứ đi tiếp, tiến thẳng về chính giữa toà nhà. Cái cách mà chiếc trực thăng tự chôn mình trên sân thượng cứ gặm nhấm trong cô, cô cứ có ảo tưởng là toà nhà cũ kĩ này sẽ bị chôn vùi trong biển lửa.

"Xét cho cùng thì đây cũng không hẳn là một ý kiến tồi.."

Những xác chết và những dấu tay bằng máu dọc trên những bức tường, Claire chẳng hề ưa thích cái ý tưởng phải đi một vòng quanh sở cảnh sát. Nhưng dù sao thì bị chết cháy thì cũng chẳng dễ chịu hơn chút nào. Cô cần xem xét kĩ tình hình xung quanh rồi mới có thể bắt đầu đi tìm Leon được.

Phía cuối hành lang cụt là một cánh cửa, mà khi chạm tay vào thấy phát lạnh cả người. Bắt chéo hai ngón tay lại, Claire vừa mở cửa ra thì bị trượt chân ngã nhoài về phía sau khi một luồng khói cay xè xộc thẳng vào cô, mùi kim loại và gỗ cháy tràn ngập khắp bầu không khí nóng bức, ngột ngạt. Cô cúi xuống để né và nhích dần về phía trước, quan sát hành lang trải dài bên tay phải. Hành lang rẽ phải cỡ ba mươi feet xuống dưới, có điều cô không thể thấy rõ chính xác mọi thứ trong ngọn lửa đang cháy ngùn ngụt, ánh lửa phản chiếu lại từ những ô tường trong góc phòng. Những tiếng nổ lốp đốp từ đám cháy càng lớn hơn trong hành lang chật hẹp, âm thanh đó cũng vô cảm như những tiếng rên rỉ của cơn đói triền miên từ đám zombie ở sân trong.

"Chết tiệt, làm cái gì bây giờ?"

Có một cánh cửa hơi chếch về phía đối diện, nơi cô vừa mới cúi người xuống chỉ vài bước. Claire hít một hơi thật sâu và di chuyển. Cố gắng cúi thấp để ở phía dưới lớp đám khói dày đặc trên đầu. Hy vọng là sẽ tìm thấy một bình xịt chữa cháy và nó đủ để dập tắt bất kì đám cháy nào mà vụ va chạm trực thăng gây ra.

Cánh cửa dẫn vào một phòng đợi không người, một bộ trường kỉ màu xanh quây tròn quanh một bàn tính, có một cánh cửa khác ở phía bên kia đối diện lối cô vừa vào. Căn phòng có vẻ như còn nguyên, chưa bị động đến, yên tĩnh, vắng vẻ một cách không thể ngờ so với những gì cô trông đợi, và không giống bất kì một nơi nào mà cô đã từng đến tối nay – không có bất kì dấu hiệu nguy hiểm nào ẩn nấp trong những cái bóng êm dịu của mấy bóng đèn huỳnh quang trên đầu, không có mùi hôi thối của những cái xác đang rữa nát hay những con zombie lê lết xung quanh.

"Và chẳng có bình xịt chữa cháy nào cả.."

Không thấy gì hết, dù sao thì cũng vậy thôi. Cô đóng cánh cửa dẫn ra hành lang đầy khói bụi, và tiến về phía cái bàn, nâng thanh chắn lối vào bằng nòng súng. Có một máy đánh chữ bằng tay kiểu cũ, và ngay bên cạnh là một cái điện thoại. Claire chộp lấy nó, hy vọng tràn trề, nhưng chỉ để nhận ra sự im lặng chết chóc khi áp tai vào ống nghe. Cô thở dài, liệng nó đi rồi cúi xuống lục lọi đống kệ dưới bàn. Một quyển danh bạ điện thoại, một vài chồng giấy, và rồi, bị che mất một nửa bởi cái túi xách nữ ở đáy kệ, chính là món đồ màu đỏ mà cô đã hy vọng là sẽ tìm thấy, nó đang phủ một lớp bụi dầy.

"Đây rồi", cô lẩm bẩm và dừng lại một chốc để nhét khẩu 9 ly vào trong túi áo trước khi nhấc cái vật hình trụ đó lên. Cô chưa từng dùng một thứ như vậy trước đây, nhưng nhìn qua thì có vẻ là khá đơn giản – một tay cầm bằng kim loại với một cái chốt, một cái vòi bằng nhựa móc bên cạnh. Nó dài không quá vài feet, nhưng nặng cũng phải đến bốn mươi hay năm mươi pounds, cô tính rằng như vậy có nghĩa là nó vẫn còn đầy.

Trên tay là bình chữa cháy, Claire quay lại cánh cửa, cô bắt đầu hít những hơi thở ngắn, dứt khoát vào đầy phổi, điều này khiến cô có phần chóng mặt, nhưng nếu thở quá nhanh sẽ không giúp cô giữ hơi lâu hơn được. Cô không muốn mình bị ngất vì bị hun khói trước khi kịp dập tắt nó. Claire hít sâu vào một hơi nữa và mở cửa ra, cúi người quay lại hành lang càng lúc

Càng nóng, những màn khói cũng dày hơn nhiều. Đám khói đen kịt dày phải đến bốn feet từ trên trần nhà xuống. "Cúi thấp, thở ngắn và phải chú ý bước chân của mình.."

Cô rẽ ở góc hành lang và cảm thấy một sự pha trộn kì lạ của việc bớt căng thẳng và đau lòng khi thấy đống đổ nát đang cháy ngay trước mắt. Cô lắc đầu và hít một hơi qua lớp áo, cảm thấy da mình đỏ bừng lên và căng lại vì nóng. Đám cháy không quá tệ như cô đã lo sợ, chỉ nhiều khói hơn bình thường và không cao lớn hơn cô là mấy, ngọn lửa đã thiêu rụi bức tường màu vàng cam kia có vẻ có vấn đề khi cháy lan ra, nó bị ngăn lại bởi lớp gỗ dày cộm của một cái cửa. Chính mũi của chiếc trực thăng đã thu hút sự chú ý của cô, vỏ ngoài buồng lái đã bị cháy đen hết, cả cái xác cháy đen của người phi công cũng vẫn ở trên băng ghế, cái miệng bị cháy hết há hốc ra, một tiếng thét trong câm lặng. Không thể nào phân biệt được đó là một người đàn ông hay phụ nữ nữa, khuôn mặt đã bị biến dạng, chảy mủ hay cái gì đó như mỡ vậy.

Claire giật cái chốt ở tay cầm và hướng cái vòi xuống sàn nhà đang cháy, nơi ngọn lửa đang nhảy múa. Cô ấn cái cần xuống và một chùm bọt trắng như tuyết phun ra, tan biến trong đống gạch vỡ thành những đám bụi trắng. Chẳng thấy được gì sau cái đám bọt trắng đó nên cô hướng cái vòi lên mọi thứ, dội lên đống đổ nát một cách tuỳ tiện, với bình oxygen. Không đến một phút sau, đám cháy đã gần như tắt ngúm, nhưng cô vẫn cứ tiếp tục đến khi cái bình cạn hết.

Sau khi xịt những đám bọt cuối cùng, Claire thả tay cầm ra và hít thở từ từ, nhìn quanh đống đổ nát xem có bất kì dấu hiệu nào mà cô lỡ bỏ qua không. Không một ánh lửa, nhưng cánh cửa gỗ ở bên cạnh buồng lái trực thăng vẫn có những cuộn khói len ra ngoài. Cô dựa lại gần hơn và thoáng thấy một ít ánh màu cam rực lên bên dưới bề mặt đã cháy thành than đó. Cánh cửa bị ngọn lửa nuốt gọn nãy giờ đã bắt đầu bén lửa, nhưng cô chẳng muốn đánh liều thêm chút nào cả. Cô lùi lại và tặng cho cánh cửa một cái đạp thẳng vào chỗ đã bén lửa.

Giầy của cô đạp thẳng vào cái chỗ bị cháy đó, và cánh cửa bật ra với những tiếng răng rắc. Những mẩu gỗ vụn bị cháy bay ra. Một vài mảnh rơi lên bắp chân của Claire, nhưng cô đã rút súng ra trước khi kịp phủi hết chúng khỏi người. Cảm thấy lo sợ hơn về những thứ có thể đang đợi cô sau cánh cửa vỡ nát kia hơn là một vài vết phỏng.

Một hành lang ngắn, đầy những mảnh gỗ vụn dưới chân, những làn khói lờ mờ, và rồi có một cánh cửa ở cuối hành lang, bên phải; Claire đi thẳng về phía đó, vừa để ra khỏi đám khói vừa để xem nó dẫn đến đâu.

Sau khi giải quyết xong đám cháy thì cô phải bắt đầu tìm Leon, và tính xem tiếp theo cả hai sẽ phài làm những gì để mà sống sót. Nếu cô có thể xem qua hết những căn phòng trên đường đi, biết đâu cô có thể tìm thấy thứ gì đó hữu ích.

"Một cái điện thoại còn hoạt động, chìa khoá xe.. chết tiệt, vài khẩu súng máy hay bom xăng cũng tốt, nhưng mà nói tóm lại là mình sẽ lấy tất cả những gì mà mình tìm được."

Cánh cửa ở cuối hành lang không bị khoá, cô đẩy nó ra, sẵn sàng bắn bất kì thứ gì động đậy..

* * * và ngừng lại, cảm thấy một cú sốc nhẹ trước bầu không khí kì quái ở trong căn phòng xa hoa này. Nó giống như một phiên bản của một câu lạc bộ dành cho người trung niên, một văn phòng rộng lớn, được trang trí quá mức thành ra tức cười. Dọc theo những dãy tường là những cái kệ làm bằng gỗ cây gụ và những cái bàn cùng loại, xung quanh là những ghế nệm và một cái bàn bằng đá cẩm thạch hơi thấp, tất cả đều đặt trên một tấm thảm từ Trung Đông đắt tiền. Một cái chúc đài treo cực đẹp, treo ở trên trần, toả một thứ ánh sáng êm dịu xuống mọi thứ. Những khung hình và những cái bình gốm tinh xảo được đặt ở khắp nơi trong phòng, nhưng cái kiểu cổ điển của chúng bị che lấp bởi những cái tượng đầu thú, và những con chim bất động án ngự trong phòng, phần lớn là ở xung quanh một cái bàn lớn ở góc xa "Chúa ơi."

Nằm trên bàn, như một nhân vật trong một câu chuyện dã man khủng khiếp, là một cô gái trẻ, xinh đẹp trong bộ váy trắng, bụng bị xé toạc ra thành từng miếng nhỏ đẫm máu. Cái xác trông như một vật trang trí vậy, những con vật lãnh đạm đầy bụi bặm nhìn chằm chằm vào cô gái với những cặp mắt vô hồn bằng thuỷ tinh.. có một con chim ưng, một con trông giống đại bàng, đôi cánh dang rộng ra như đang bay, rồi một vài cái đầu nai, giống nai sừng tấm vùng Bắc Mỹ có lông lốm đốm như bông tuyết. Tác dụng của nó thật sự là gây sởn gai ốc và kì

Quái trong hoàn cảnh này, Claire thậm chí không thở nổi nữa..

* * * và khi cái lưng ghế sau cái bàn xoay ngược lại bất thình lình, chô chỉ kịp nén lại một tiếng thét kinh hãi, thấp thỏm là sẽ nhìn thấy cái nhìn mù loà và một hàm răng chết chóc. Thật ra cũng chỉ là một gã đàn ông thôi, có điều gã có súng, và đang chĩa thẳng vào cô.

"Hai lần trong một đêm, hay ghê chưa.."

Trong tíc tắc, không ai cử động cả.. và rồi người đàn ông hạ thấp súng xuống, một nụ cười nửa miệng mệt mỏi hiện lên trên khuôn mặt mập mạp đó.

"Tôi thật sự xin lỗi". Người đàn ông lên tiếng, giọng nói của ông ta hoàn toàn trơn tru, giả tạo như một chính trị gia kém cỏi. "Tôi tưởng cô là một trong những cái xác chết biết đi đó."

Ông ta vuốt hàng ria mép của mình bằng một ngón tay to mập trong khi nói, và mặc dù Claire chưa từng gặp người đàn ông này, nhưng cô chợt nhận ra ông ta là ai, Chris quá thường xuyên nguyền rủa ông ta mà.

"Mập, có ria mép, nói năng trơn như một con rắn – đó chính là cảnh sát trưởng Irons."

Trông ông ta không được tốt, hai má nung núc thịt trắng nhợt nhạt, đôi mắt ti hí như mắt lợn toàn tròng trắng. Cái cách mà ông ta nhìn chằm chằm vào mọi thứ trong căn phòng có vẻ không bình thường, cứ như là ông ta đang chìm sâu vào sự hoang tưởng vậy. Trên thực tế, trông ông ta có vẻ mất thăng bằng, cứ như là tách biệt hoàn toàn với hiện thực.

"Ông là cảnh sát trưởng Irons?", cô hỏi, cố gắng làm tỏ ra thân mật và kính trọng ông khi bước lại gần cái bàn.

"Đúng, là tôi đây", ông ta nói một cách bình tĩnh, "Vậy chứ cô là ai?"

Trước khi cô kịp nói gì thì ông ta đã tiếp tục, xác nhận sự nghi ngờ của Claire khi ông ta nói tiếp – và bằng một giọng cay đắng bực bội.

"Thôi, chẳng cần nói tôi nghe làm gì, có thay đổi được gì đâu. Đằng nào thì cô cũng sẽ kết thúc như tất cả những ngưòi khác thôi.."

Ông quay đi, nhìn xuống xác cô gái với một sự xúc động mà cô không thể nào hiểu được. Cô cảm thấy tội nghiệp cho ông ta, mặc dù Chris đã kể cho cô nghe rất nhiều về bản chất thối nát và khả năng nghiệp vụ kém cỏi của con người này. Có Chúa mới biết được ông ta đã phải chứng kiến những cảnh tượng kinh hoàng nào, hay những gì ông ta đã trải qua để sống sót đến giờ này. "Có khi ông ta có vấn đề trong việc chấp nhận sự thật chăng? Leon và mình bị cuốn vào trong nỗi kinh hoàng này trong những giai đoạn cuối; còn Irons thì đã ở dây ngay từ đầu, có nghĩa là bao gồm cả việc chứng kiến cái chết của những người bạn."

Claire nhìn xuống cô gái trẻ trên bàn, Irons lại tiếp tục nói, giọng của ông ta vừa có vẻ rất buồn, lại cũng có vẻ khoa trương, tự cao.

"Đây là con gái thị trưởng. Tôi đã được nhờ bảo vệ cho cô ấy, nhưng đã thất bại một cách đau đớn."

Claire đang định tìm những từ dễ chịu thoải mái, để nói là ông đã rất may mắn khi vẫn còn sống, rằng đó không phải là lỗi của ông, thế nhưng khi ông ta tiếp tục những lời than vãn của mình, lờ nói của cô tắt lịm trong cuống họng, cùng với sự thương hại.

"Cứ nhìn cô ta mà xem. Đây thật sự là một người đẹp, làn da này không thể nào hoàn hảo hơn nữa. Nhưng rồi nó sẽ sớm thối rữa, và không đầy một giờ nữa, cô ta sẽ biến thành một trong số chúng. Giống như những người khác mà thôi."

Claire chẳng muốn đưa ra kết luận nào cả, nhưng sự thèm muốn trong giọng nói và cái nhìn chằm chằm ham muốn của ông ta khiến cô nổi da gà. Cái cách mà ông ta nhìn cô gái ấy..

".. mày chỉ giỏi tưởng tượng thôi. Ông ta là một cảnh sát trưởng, không phải là một tên điên hám gái. Và ông ta là người đầu tiên mày gặp mà có khả năng cho mày biết một vài thông tin. Đừng bỏ lỡ cơ hộ này."

"Phải có cách nào ngăn chuyện này lại chứ..", Claire khẽ nói.

"Nói theo cách thông thường thì là một viên đạn vào đầu,

Hoặc là chặt đầu của chúng."

Cuối cùng ông ta cũng rời mắt khỏi xác cô gái, nhưng cũng chẳng nhìn Claire. Ông ta quay ra nhìn chăm chú vào những bức tượng đặt trên cạnh bàn của mình. Giọng nói của ông ta có vẻ cam chịu nhưng cũng có vẻ mỉa mai.

"Và việc nhồi xác những con thú đã từng là sở thích của tôi. Không còn nữa rồi.."

Trong đầu của Claire réo lên một hồi chuông cảnh giác. Nhồi xác? Chuyện này có liên quan gì đến cái xác chết trên bàn kia không?

Sau cùng thì Irons cũng đã nhìn thẳng vào cô, Claire không thích việc này tí nào. Ánh mắt hấp háy và tối tăm của ông ta hướng thẳng vào khuôn mặt cô, nhưng có vẻ là ông ta cũng chẳng hề nhìn cô chút nào. Lần đầu tiên cô chợt nhận ra, rằng ông ta chưa hề hỏi cô bất kì câu hỏi nào về việc làm thế nào mà cô đến được đây, hay hỏi về đám khói lọt vào văn phòng của mình. Và cái cách mà ông ta nói về cô con gái của thị trưởng.. không một nỗi đau đớn thật sự nào khi tình cờ gặp cô, chỉ có một chút sự tự thương hại và ngạc nhiên.

"Ôi trời ạ.. gã này dường như không chỉ không biết gì về thực tại, mà có vẻ như đang để đầu óc đi đâu mất rồi.."

"Làm ơn", Irons nói nhẹ, "Bây giờ tôi muốn được ở một mình."

Ông ta ngồi xuống cái ghế của mình, nhắm mắt lại, đầu dựa ra sau một cách mệt mỏi. Như vậy đơn giản có nghĩa là cô đã bị đuổi. Và mặc dù cô có hàng tá câu hỏi mà ông ta có thể trả lời được, nhưng cô nghĩ là tốt nhất là nên tránh xa khỏi con người này, ít nhất là vào lúc này..

Có một tiếng cót két nhẹ phía sau lưng cô, bên phải, nhỏ đến nỗi cô không chắc là mình có nghe thấy nó hay không nữa. Cô quay lại, cau mày, và nhận ra là vẫn còn một cánh cửa khác dẫn đến văn phòng này. Cô không để ý thấy nó trước đó – và cái âm thanh lén lút nhẹ nhàng đó phát ra từ phía sau cánh cửa này.

"Một cái thây ma khác, hay là ai đó đang trốn?"

Cô quay lại nhìn Irons và nhận thấy là ông ta chẳng nhúc

Nhích gì. Có vẻ như ông ta chẳng nghe thấy gì hết, và cô thì dường như chẳng hề tồn tại trong mắt ông ta, ít nhất là lúc này. Ông ta đã quay lại cái thế giới riêng của mình như trước khi Claire xông vào văn phòng.

"Nào, quay trở lại lối mình vừa vào, hay là kiểm tra thử xem thứ gì đang ở đằng sau cánh cửa kia nhỉ?"

Leon – cô cần phải tìm Leon, và cô có một cảm giác mạnh mẽ rằng Irons này là một kẻ chết nhát, dù có điên hay không thì cũng chẳng mong gì vào việc nhờ cậy ông ta giúp sức. Nhưng nếu còn ai đó đang lẩn trốn trong toà nhà, một ai đó mà cô và Leon có thể giúp đỡ hoặc được gíúp đỡ..

Chỉ mất vài phút để kiểm tra thôi. Claire nhìn lại Irons một lần cuối, lúc này đang ngả mình trên ghế bên cạnh cái xác con gái của thị trưởng, xung quanh là những con thú bất động. Cô bước về cánh cửa thứ hai, hy vọng là mình đã không quyết định sai.
 
211 ❤︎ Bài viết: 256 Tìm chủ đề
CHƯƠNG 11

Sherry trốn rất lâu trong đồn cảnh sát, phải đến ba, bốn ngày nay mà vẫn chưa thấy mẹ. Không một lần nào, kể cả khi còn nhiều người ở đây. Cô bé gặp bà Addison ngay khi vừa tới - bà là một trong số những giáo viên ở trường nhưng sau này đã chết vì zombie. Không lâu sau đó, Sherry đã tìm ra một đường ống thông hơi xuyên suốt toà nhà, thà ở đó còn hơn trốn cùng người lớn - người lớn còn bị xơi tái đều đều kia mà, và bởi con quái vật ngay trong đồn cảnh sát còn đáng sợ hơn lũ zombie ngoài kia nhiều, mà Sherry chắc chắn rằng nó vẫn đang đi kiếm cô bé. Ngốc quá, cô bé không hiểu được rằng lũ quái vật có thể tóm bất kì ai, rồi sau đó cô lại không hề tin vào sự tồn tại của nó nữa chứ.

Thế nên Sherry hầu như chỉ quanh quẩn trong phòng trưng bày áo giáp kỵ binh; không có xác chết nào ở đây cả, và cũng chỉ có duy nhất một lối vào ngoài lối thông hơi phía sau mấy bộ áo giáp ra. Đó chính là lối đi xuống sảnh vốn được một con hổ lớn canh giữ. Một con hổ nhồi bông nhưng trông rất dữ dằn, vì vậy mà Sherry nghĩ nó có thể xua đuổi được cả quái vật cũng nên. Mặc dù biết rằng điều đó thật ngốc, nhưng nghĩ thế khiến cô bé dễ chịu hơn. Kể từ lúc lũ zombie tràn ngập sở cảnh sát, cô bé chỉ biết có ngủ. Khi ngủ, Sherry không phải lo nghĩ về những gì đã xảy ra với ba mẹ hay những gì sẽ xảy đến với mình. Lối thông hơi khá ấm áp, cô bé còn có cả nguồn thức ăn từ máy bán kẹo dưới cầu thang. Nhưng Sherry vẫn sợ, sợ cô đơn một mình, thế nên cô bé chỉ biết có ngủ mà thôi.

Trong lúc Sherry đang ngái ngủ, đang cuộn tròn ấm áp đằng sau những bộ áo giáp thì bị đánh thức bởi tiếng đập phá ầm ĩ đâu đó ngoài kia. Chính là con quái vật đó. Cô bé mới trông thấy có một lần trước đó qua khung cửa thép, từ phía sau cái lưng to khủng khiếp của nó. Kể từ đó, cô bé còn nhiều lần nghe thấy tiếng tru gào vọng khắp toà nhà. Hẳn là nó rất đáng sợ, rất đáng sợ, rất hung dữ và rất đói. Đôi khi không nghe thấy tiếng rú hàng giờ liền, cô bé nghĩ chắc nó đã chán săn lùng, nhưng ngay sau đó, tiếng gào rú lại xuất hiện. Bất kể cô bé có ở đâu chăng nữa, tiếng tru lúc nào cũng có vẻ như rất gần.

Tiếng động lớn đánh thức cô bé nghe như tiếng quái vật húc đổ tường vậy. Cô bé co rúm lại trong chỗ trốn, sẵn sàng nhào về phía ống thông hơi ngay khi tiếng động tới gần. Không động tĩnh. Sherry không dám nhúc nhích một lúc lâu, mắt nhắm nghiền, cầm chặt tấm bùa may mắn - một miếng trang sức bằng vàng rất đẹp mà mẹ mới chỉ vừa tặng cho tuần trước. Như mọi lần, cái bùa rất hiệu nghiệm, âm thanh khủng khiếp đó không còn lặp lại nữa. Hoặc biết đâu là nhờ có con hổ. Hơn nữa, những tiếng bước chân ngoài sở cảnh sát khiến cô bé thấy đủ an toàn để ra ngoài nghe ngóng. Lũ zombie không biết dùng cửa, còn nếu là con quái vật đó thì giờ này có lẽ đã cào toạc cửa để vào đây thịt cô bé rồi.

"Chắc là người. Có lẽ là mẹ.."

Trong lúc xuống sảnh, quay về bên phải, cô bé nghe tiếng mọi người nói chuyện trong đồn, trong lòng chợt dâng một niềm hi vọng pha lẫn cô đơn. Không biết họ đang nói chuyện gì, nhưng đây là lần đầu tiên suốt hai ngày nay cô bé không nghe thấy tiếng người la hét hãi hùng. Mọi người nói chuyện có lẽ vì đội cứu viện đã tới Raccoon.

"Quân đội chính phủ hoặc hải quân, hoặc cả hai.."

Phấn khích, cô bé lao xuống sảnh, đứng bên con hổ đang nhe

Nanh ngay cạnh cánh cửa. Vừa đúng lúc niềm phấn khích ấy vụt nguôi đi. Âm thanh đã tắt. Sherry đứng sững lại, chợt thấy bất an. Nếu có người tới viện trợ thì lẽ ra phải nghe thấy tiếng trực thăng lẫn xe tải rồi chứ? Cũng chẳng nghe thấy tiếng bom đạn hay loa thông báo sơ tán?

"Có lẽ không phải tiếng của quân đội, có lẽ là của những kẻ Xấu. Điên rồ, như một gã.."

Ngay lúc Sherry trở lại chỗ trú, cô bé thấy một cảnh tượng hết sức kinh dị qua cửa sổ hướng tới căn phòng bị khoá. Một gã đàn ông cao lớn tóc đỏ trong phòng. Thoạt đầu, cô bé đã định nhờ hắn giúp tìm ba mẹ, nhưng cái cách hắn nói cười một mình, đu đưa trên chiếc ghế khiến cô bé phải dè chừng. Vì thế, cô bé chỉ dám nhìn từ góc tối an toàn của cửa thông gió. Gã đang cầm một con dao lớn. Sau một lúc lâu, vẫn đang cười nói lẩm nhẩm và đu đưa trên ghế, gã đâm vào bụng mình. Sherry thấy gã còn gớm ghiếc hơn cả lũ zombie, một gã hoàn toàn mất trí. Hắn đang điên và muốn tự sát. Cô bé bò đi, thầm khóc vì chẳng thể trông mong gì được giúp đỡ.

Cô bé không muốn gặp bất kì ai như thế nữa. Thậm chí nếu như những người trong sở cảnh sát vẫn ổn và có thể đưa được cô khỏi chỗ an toàn này, để bảo vệ cô - điều đó đồng nghĩa với cái chết, bởi lũ quái vật chẳng hề sợ người lớn.

"Trở lại đó thì thật đáng sợ nhưng chẳng còn lựa chọn nào khác. Sherry quay về phòng áo giáp.."

Crắc!

".. và chợt khựng lại dưới chân. Tiếng ván sàn mục gãy quá to, cô bé nín thở, nắm chặt tấm bùa, cầu cho cánh cửa đừng có bật tung ra ngay sau lưng, cầu cho đừng có thứ gì điên khùng nhào tới.. và tóm được cô.."

Cô bé không nghe thấy gì hết, nhưng chắc chắn tiếng tim đập sẽ hại cô mất, nó quá lớn. Đúng mười giây sau, Sherry cẩn trọng quay về phía sảnh, khẽ khàng tới mức có thể, cảm tưởng như đang chuồn khỏi một cái hang động toàn rắn ngủ đông. Từ sảnh ra phòng áo giáp mà như dài cả dặm vậy, cô bé hết sức kiềm chế để không chạy ngay chỗ rẽ. Nếu như nói cô học được gì từ truyền hình và phim ảnh thì có lẽ đó chính là: Chạy thì chết.

Bước tới lối vào phòng áo giáp, cô bé thở phào nhẹ nhõm. An toàn rồi, lúc này cô bé lại có thể được vùi vào chiếc chăn cũ mà bà Addison đã tìm cho và chỉ việc..

Cánh cửa đồn cảnh sát mở, mở rồi đóng. Một giây sau, có tiếng bước chân.

"Tiến về phía cô bé."

Sherry lao vào phòng áo giáp, quá sợ hãi tới mức không kịp suy nghĩ được điều gì. Cô bé phóng quá chỗ ba bộ áo giáp kỵ binh, quên mất cả chỗ trú an toàn. Chỉ biết rằng cần phải chạy thật xa, thật xa tới mức có thể. Thứ cô bé cần lúc này là cái tủ kính trưng bày ở giữa phòng cùng bóng tối để ẩn náu..

* * * cô bé nghe rõ cả tiếng bước chân chạy phía sau đang nện thình thịch trên sàn gỗ. Sherry cắm cổ chạy vào căn phòng tối, về góc khuất nhất. Cô bé ngồi thụp xuống giữa đống gạch lò sưởi và chiếc ghế đệm, cố thu nhỏ người tới mức có thể, ôm chặt lấy đầu gối rồi úp mặt xuống.

"Làm ơn, làm ơn, làm ơn đừng có vào đây, đừng thấy tôi, tôi không có ở đây đâu.." Tiếng bước chân đã vào tới phòng áo giáp, chậm dần rồi lưỡng lự, đi lòng vòng quanh tủ kính trưng bày lớn giữa phòng. Sherry nhớ tới nơi trú ẩn an toàn, nơi miệng ống thông hơi đã từng che chắn cho cô. Phòng sưởi không có cửa thoát; cô bé đã bị kẹt ở đây rồi.

Mỗi lúc, tiếng bước chân càng tới gần căn phòng nơi Sherry trốn. Cô bé co rúm lại, tự nhủ sẽ làm bất cứ điều gì để kẻ lạ mặt kia đi khỏi..

Thịch. Thịch. Thịch.

Thình lình, căn phòng bỗng sáng loà. Tiếng công tắc khẽ bật bị át đi bởi tiếng hét kinh hoàng của Sherry. Cô bé vùng chạy khỏi góc tối, la hét hãi hùng, chỉ mong sao thoát khỏi hắn và được trở về với ống thông hơi..

* * * và rồi một cánh tay ấm áp nhấc bổng cô bé lên, ôm chặt

Không cho chạy thêm bước nữa. Cô bé gào lên, vùng vẫy quyết liệt nhưng gã lạ mặt quá khoẻ..

"Đợi đã!". Đó là một phụ nữ, giọng cũng hốt hoảng không kém gì Sherry.

"Thả tôi ra", Sherry gào khóc, nhưng người phụ nữ vẫn ôm lấy cô bé, thậm chí còn ghì chặt hơn.

"Yên nào, yên nào - Chị không phải zombie, bình tĩnh nhé, sẽ ổn cả thôi.."

Giọng cô gái trở nên vỗ về, thật dịu dàng, và cánh tay ấm áp đang ôm chặt Sherry. Giọng nói ngọt ngào cứ dịu dàng nhắc mãi:

".. yên nào, ổn rồi mà, chị không hại em đâu, em được an toàn rồi."

Cuối cùng Sherry cũng ngước nhìn cô gái, cô thật xinh đẹp với đôi mắt trìu mến đầy cảm thông. Chỉ mong có vậy, Sherry ngừng vùng vẫy, cảm thấy nước mắt nóng hổi đang lăn trên má, những giọt nước mắt mà cô bé cố nén kể từ lúc thấy cảnh gã tóc đỏ tự sát. Một cách bản năng, cô bé ôm lấy người phụ nữ xa lạ. Cô gái choàng lấy Sherry, cánh tay thuôn dài ôm lấy bờ vai nức nở của cô bé. Sherry cứ thế khóc một lúc lâu, để cho cô gái vuốt ve mái tóc thì thầm an ủi - cuối cùng, cô bé thấy như điều tồi tệ nhất đã qua. Sherry chỉ muốn được vùi mãi trong cánh tay ấy với sự tin tưởng tuyệt đối, để quên đi hết những giọt nước mắt. Dù sao thì Sherry cũng đâu còn là trẻ con, tháng trước cô bé đã lên mười hai tuổi rồi.

Cô bé miễn cưỡng bước ra, lau nước mắt rồi ngước nhìn cô gái xinh đẹp. Người thiếu nữ trông mới chỉ tầm hai mươi tuổi, ăn mặc lại rất cá tính - đi giày bốt, quần soóc vải jean màu hồng rất hợp với chiếc áo sát nách. Mái tóc đuôi ngựa màu nâu sáng cột gọn gàng, cô gái có nụ cười như minh tinh màn bạc vậy. Cô cúi xuống trước mặt Sherry, mỉm cười thân thiện: "Chị tên Claire. Còn em?"

Sherry chợt thấy hơi xấu hổ, bối rối muốn chạy trốn trước một người phụ nữ tốt bụng đến vậy. Ba mẹ thường nói cô bé rất nhạy cảm, hay "tưởng tượng quá mức", nói vậy chỉ vì tốt

Cho cô bé mà thôi, nhưng bằng chứng là lúc này đây; Clair không hề muốn hại cô, Sherry chắc chắn như vậy.

"Sherry Birkin", cô bé nói, mỉm cười lại với Claire, hi vọng cô sẽ không điên lên, dù cô gái trông chẳng có vẻ gì là đang tức giận cả. Thực tế, trông cô rất hài lòng với với câu trả lời của Sherry.

"Em biết ba mẹ em ở đâu không?", Claire hỏi, vẫn với giọng dịu dàng.

"Họ làm ở nhà máy hoá chất của Umbrella, ngoài thành phố", Sherry nói.

"Nhà máy hoá chất.. thế em đang làm gì ở đây vậy?"

"Mẹ gọi điện bảo em tới đồn cảnh sát. Mẹ nói ở nhà rất nguy hiểm."

Claire gật đầu: "Nhìn chung, mẹ em cũng có lý. Nhưng ở đây cũng rất nguy hiểm..". Claire trầm ngâm cau mày rồi mỉm cười lần nữa. "Tốt hơn hết là nên đi với chị."

Sherry chợt thấy bụng đau nhói và lắc đầu, không biết nên giải thích thế nào cho Claire rằng đó không phải là một ý hay, rằng đó hoàn toàn là một ý rất tồi. Cô bé không muốn đơn độc thêm chút nào, nhưng thực sự sẽ chẳng hề an toàn.

"Nếu mình đi với chị ấy thì con quái vật sẽ phát hiện ra.." Claire chắc sẽ bị giết. Dù trông cô gái khá mảnh mai nhưng Sherry chắc chắn Claire sẽ chẳng thể chui vừa cái lỗ thông hơi.

"Có cái gì đó ở ngoài kia", cuối cùng cô bé nói. "Em đã trông thấy, nó to hơn cả zombie va đang kiếm em."

Claire lắc đầu, đang định mở miệng thuyết phục cô bé thì một âm thanh cuồng nộ và hết sức kinh khủng vang lên, vọng ra từ đâu đó trong toà nhà. Từ đâu đó rất gần.

"Rrraaahhh.."

Sherry thấy máu như đông cứng lại. Claire tròn mắt, da tái nhợt.

"Cái gì thế?"

Sherry quay đi, tưởng như không thể thở được, trong đầu chỉ chực chạy về chỗ trú an toàn phía sau ba bộ áo giáp kia.

"Nó đấy!". Cô bé hổn hển nói, chạy phắt đi trước khi Claire kịp phản ứng.

"Sherry!"

Sherry lờ đi, cuống cuồng chạy qua tủ trưng bày về phía lối thông gió. Cô bé nhào qua bộ áo giáp một cách thành thục, co người lại và thụp đầu xuống rồi bò vào cái lỗ trên tường.

Cơ hội duy nhất của cô bé cũng như cơ hội duy nhất của Claire, là Sherry tránh xa cô gái tới mức có thể. Có lẽ họ sẽ gặp nhau khi con quái vật đã đi khỏi.

Sherry nhanh nhẹn bò trong ống thông hơi chật hẹp và heo hút, hi vọng rằng đã không quá muộn.
 
211 ❤︎ Bài viết: 256 Tìm chủ đề
CHƯƠNG 12

Ada ngồi trên gờ chiếc bàn lộn xộn trong phòng làm việc của trưởng phòng điều tra, thả lỏng đôi bàn chân đang đau nhức và nhìn vô định về phía cái két sắt rỗng không. Sự kiên nhẫn của cô cũng có giới hạn. Không chỉ bởi không tìm thấy mẫu G-virus mà còn bởi cô nghĩ Bertolucci đã trốn thoát. Cô có tạt qua phòng giải lao, văn phòng S. T. A. R. S, thư viện - thực tế, cô chắc chắn đã rà soát mọi nơi mà một phóng viên có thể mò tới và đã xài hết cả thảy hai băng đạn. Không phải vì lúc này cô đang thiếu đạn, mà cái chính là việc phí thời gian vào những thứ mà súng đạn đã chứng thực - hai mươi sáu phát và không đem lại một kết quả khả quan nào, ngoại trừ việc có hơn một tá xác chết bị nhiễm virus nằm la liệt. Còn có thêm hai sinh vật tạp chủng quái đản của Umbrella nữa..

Ada rùng mình, nhớ lại những con quái vật lở loét gào rú đến rợn óc mà mình từng gặp trong tòa soạn. Cô chưa bao giờ bận tâm tới danh lợi, hợp tác hay thứ gì khác, nhưng Umbrella đã thực hiện những cuộc thí nghiệm hết sức vô nhân đạo. Trent đã từng cảnh báo cô về Tyrant - một loài thú săn mà ơn trời, đến giờ vẫn chưa xuất hiện - một sinh vật với hình hài con người nhưng mang chiếc luỡi dài thòng máu me và cả móng vuốt nữa, có thể hình ảnh đó sẽ là cả một sự thách thức đối với cô. Đấy là chưa kể chúng khó hạ hơn gấp nhiều lần so với những kẻ mang mầm mống virus. Nếu chúng là sản phẩm từ T-virus thì cô sẽ cần phải hết sức lẹ tay trước khi Birkin kịp làm gì với những sản phẩm mới nhất của gã. Theo Trent thì loại G có lẽ vẫn chưa được sử dụng, nhưng có vẻ như nó mạnh hơn trước gấp đôi..

Ada lơ đãng ném ánh mắt xung quanh căn phòng trống vắng. Đây chẳng phải một nơi hoàn hảo để nghỉ ngơi, nhưng ít ra thì nó cũng chẳng tốn xu nào. Cửa đã đóng chặt nên cô khó mà ngửi thấy cái mùi bốc ra từ các nhân viên ở phòng ngoài. Bọn họ ở khá xa lúc bị cô bắn hạ.

"Mà có ngửi thấy hay không thì nhằm nhò gì, tóc và quần áo của mình đều bị ám thứ mùi quái quỷ đó rồi còn gì nữa; nếu bọn họ có ngồi dựng dậy thì một phát đạn là xong.."

Ada uớc phải chi mình chú ý đến những kết luận khoa học hơn; cô biết T-virus dùng để làm gì nhưng không hề nghĩ nó cần thiết cho việc nghiên cứu những hiệu ứng lý hóa. Tại sao phải bận tâm kia chứ, khi mà cô chẳng có lý do gì để nghĩ rằng Umbrella đã lên kế hoạch phát tán những thứ thối tha như thế vào chính thành phố của mình. Cô đã tìm được rất nhiều thông tin trực tiếp về hoạt động của virus, nhưng sẽ tốt hơn nếu nắm rõ được điều gì đã xảy ra trên cơ thể nạn nhân cũng như lý trí của họ, thứ gì đã khiến họ trở thành những kẻ ăn thịt người trong vô thức. Thay vào đó, cô chỉ có thể quan sát và phán đoán mà thôi.

Theo như những gì cô đã thấy thì ít nhất phải hơn một giờ, người nhiễm mới trở thành zombie. Đôi khi nạn nhân lại rơi vào trạng thái sốt bất tỉnh nhân sự, chỉ đến khi họ bật dậy kiếm thịt tươi thì não bộ đã bị phá hủy hoàn toàn, chỉ còn lại ý niệm duy nhất là họ đang thức dậy từ cõi chết mà thôi. Tất cả nạn nhân đều có chung tình trạng tương tự nhưng không theo một tần số nhất định, cô đã từng chứng kiến ít nhất ba trường hợp nạn nhân trở nên khát máu chỉ trong vài giây bị lây nhiễm, hiện tuợng mà cô coi là "trở nên mù quáng". Một trong những điều không bao giờ thay đổi là mắt họ luôn bao phủ bởi thứ màng nhầy màu trắng trứng, và mặc dù sự phân hủy luôn xảy ra tức thì nhưng vài nạn nhân lại bị thối rữa nhanh hơn những người khác..

".. và tại sao mình phải suy nghĩ về điều đó chứ? Nhiệm vụ của mình đâu bao gồm việc tìm ra phương thuốc chữa trị, đúng không?"

Cô thở dài, nhoài người lên để xoa chân. Thực sự là đủ rồi. Dù vậy vẫn có những điều phải suy ngẫm. Phòng thủ và đấu tranh sinh tồn quả không dễ dàng chút nào; cô không có cơ hội tìm hiểu kỹ toàn cục trong lúc rà soát những hành lang ngoài kia. Cô đang nghỉ giải lao và não bộ cần hoạt động tí chút, để cân nhắc thêm về vài khía cạnh hóc búa của công việc.

"Có lẽ phải đến hàng ngàn khía cạnh.. Trent, những điều Bertolucci nên và không nên biết.. và cả S. T. A. R. S. Nữa - chuyện quái quỷ gì đã xảy ra với nhân viên của họ vậy?"

Từ những bài viết mà Trent đã gộp trong túi hồ sơ, cô biết được về vụ đình chỉ của S. T. A. R. S. Và biết được họ đang điều tra việc gì. Chẳng cần là thiên tài cũng có thể hiểu là họ đã bị Umbrella cưỡng chế vì những phần bị lộ của những cỗ máy vũ khí sinh học, nếu không muốn nói là tất cả. Umbrella đã có thể khử họ từ trước nếu như họ không lẩn trốn. Và cô tự hỏi phải chăng Trent có can dự phần nào đó trong sự cố rủi ro nho nhỏ của S. T. A. R. S, liệu gã có cố gắng liên lạc với họ trước hoặc sau thời điểm đó chăng? Bất chấp những gì gã đã kể với cô, chắc chắn đó là một kẻ bí ẩn. Cô mới chỉ thực sự gặp mặt có một lần, chưa kể vài lần liên hệ trước khi cô tới Raccoon, hầu như chỉ qua điện thoại. Mặc dù cô rất tự tin với khả năng hiểu thấu con người nhưng cô lại hoàn toàn không biết gã muốn gì, tại sao gã muốn có G-virus hay lý do gã cứ muốn quậy tưng Umbrella lên? Rõ ràng gã phải có tay trong bởi Trent hiểu quá rõ về hoạt động của công ty. Nhưng nếu như vậy thì sao không tự lấy luôn thứ mẫu vật quái quỷ ấy rồi biến luôn? Thuê một đầu mối bên ngoài làm việc chỉ có thể là hành động của kẻ đang tránh bị dính líu, nhưng là dính líu tới cái gì kia chứ?

"Đây không phải là hỏi tại sao.."

Một lý do đúng đắn, cô được trả lương không phải để điều tra về Trent. Cô băn khoăn liệu mình có thể làm nổi hay không nếu như thật sự bị buộc phải điều tra gã. Cô chưa thấy ai cực kỳ bình tĩnh như Trent. Mỗi lần tiếp xúc, cô đều có cảm giác gã đang cười thầm, như thể gã đang nắm đằng chuôi với những bí mật vẫn chưa ai biết. Gã cũng chưa bao giờ vô ý để lộ ra sự ngạo mạn hay đang quan trọng hóa cả. Gã điềm tĩnh, sự ân cần của gã tự nhiên đến nỗi, vô hình chung cô như thấy mình đang bị hăm dọa.

"Cả những gã phá hỏng kế hoạch của Trent nữa, chúng là ai? Hay chính gã đã sắp đặt như thể đó là sự ngẫu nhiên. Có lẽ không phải thế, nhưng mình không thể hình dung ra từ" bắt quả tang "lại nằm đâu đó trong từ điển của Trent.."

Ada ngả người, xoay cổ một cách mệt mỏi trước khi nhấc mình khỏi chiếc bàn và xỏ chân vào đôi giày chẳng mấy dễ chịu này. Nghỉ ngơi vậy đủ rồi, cô không thể thư giãn đôi bàn chân đau thêm một phút nào nữa, dù sao cô cũng chẳng thể hình dung thêm điều gì nữa cho tới khi an toàn rời khỏi Raccoon. Vẫn còn vài nơi để tìm Bertolucci trước khi trở về khu ống dẫn nước, cô nhận ra rằng vài chấn song cửa sổ tầng một không vững chãi như cô nghĩ, và cũng chẳng muốn bị những chướng ngại vật ngoài kia cản trở.

Một hành lang "bí mật" phía Đông và một căn phòng khung sắt dưới cầu thang gần chỗ gara để xe. Nếu không tìm được gã ở cả hai nơi trên thì cô sẽ coi như gã đã rời nơi đây và chỉ

Tập trung vào tìm mẫu vật mà thôi. Ada thử tìm dưới tầng hầm trước; có vẻ như gã không bị sẩy chân xuống dưới này đâu. Từ những gì cô điều tra được thì Bertolucci không phải là một phóng viên đủ khôn ngoan trong việc ẩn nấp. Kể cả nếu hắn có trốn trong hoặc gần căn phòng này đi nữa thì cô cũng không muốn cứ phải lang thang tìm kiếm để rồi đối mặt với bao biến cố không lường trước được; tầng hầm ở ngay dưới cầu thang, nếu không có rắc rối gì, có thể cô sẽ tới thẳng phòng thí nghiệm được.

Ada rời khỏi văn phòng, những chiếc quạt trần quay một cách lười biếng cứ thoảng tới thứ mùi thối rữa khiến cô phải chun mũi lại. Có đến bảy hay tám cái xác trong căn phòng toàn bàn với ghế này, đều là cảnh sát cả, ít nhất có ba gã bị cô hạ trước đó đã bắt đầu bốc mùi..

".. và trước khi mình vào đây thì có năm đứa lê lết bên ngoài thì phải?"

Ada dừng lại ngay trước cánh cửa rộng mở của căn phòng, nhìn lại hàng lang dẫn tới cầu thang. "Có đúng là năm không?". Cô nhớ đã hạ được hai tên lúc mới đến, lũ còn lại quá lề mề để xử lý nốt, nhưng chắc là có năm tên cả thảy. Và cô chỉ phải hạ thêm ba tên sau khi đã nghỉ giải lao.

"Năm. Mình không rảnh rỗi cho lắm nhưng vẫn có thể đếm rõ kia mà."

Ada không có thói quen nghi ngờ khả năng ghi nhớ của mình, thật ra cô chỉ quan tâm tới sự mệt mỏi của mình mà thôi. Nếu là hai ngày trước, có thể cô đã hình dung ra ngay sự việc rồi. Sự xuất hiện thêm những cái thây bị bắn hạ, hay đơn giản là tự phân hủy mà không có sự can thiệp của Ada – mọi thứ hoàn toàn lộn xộn, nhưng điều đó cho thấy vẫn còn vài người sống sót quanh đây.

"Cũng không lâu lắm đâu, bằng cách này hay cách khác.."

Bất kể lũ zombie tràn ngập như thế nào thì Umbrella cũng sẽ sớm có hành động thôi, nếu như trước đó vẫn chưa. Những gì xảy ra ở Raccoon quả đúng là cơn ác mộng tồi tệ nhất với các cổ đông. Hiển nhiên Umbrella không thể lờ vụ rắc rối này, họ sẽ dựng lên một dịch bệnh và sẵn sàng trả lời trước dư luận. Cũng có thể coi đó là trường hợp tất yếu nếu như họ đang cố cứu vãn những sản phẩm của Birkin trước khi dựng lên vở kịch

Của mình. Điều đó có nghĩa là cô phải cẩn trọng. Birkin có vẻ như hết sức bí mật với công việc của mình, còn Trent thì sắp xếp sao cho Umbrella cuối cùng vẫn phải phái đến một đội cứu hộ.. để Raccoon chỉ còn là tro bụi, chí ít cũng đạt được ý đồ ở một chừng mực nào đó.

"Một đội cứu hộ" người "- hi vọng thế. Mình có thể xử lý được tình thế này. Mặc dù một con Tyrant thì.. mình không muốn gặp phải thứ phiền phức như thế."

Ada rời căn phòng, đi bộ về phía cánh cửa đóng dẫn tới cầu thang tầng hầm. Tyrant là tên mã của một loạt sản phẩm đặc biệt trong chương trình nghiên cứu vũ khí hóa sinh của Umbrella. Một thứ trang bị đầy đủ mọi công năng tàn sát của T-virus. Theo Trent, những nhà khoa học Umbrella trắng - những kẻ làm việc trong các phòng thí nghiệm bí mật, đã thực hiện thử nghiệm trên một loài thú săn mang hình hài con người, sinh ra để lùng kiếm bất kỳ một thứ mùi hoặc vật chất nào đã được mã hóa, một cách tàn bạo và vô nhân tính. Một loài thú săn mang tên Tyrant gần như không thể hủy diệt, một kết cấu thông qua phẫu thuật để tạo nên hỗn hợp các mô thịt nhiễm khuẩn – một thứ mà họ có thể lệnh cho nó làm công việc truy lùng, nói cách khác, một mẫu vật của G-virus.

Một khi đã thu thập được mẫu vật của Trent, cô sẽ biến mất, được trả công và nghĩ ngơi ở một bãi biển nào đó. Bất chấp những gì cô cảm thấy hay không cảm thấy, bất kể bao nhiêu người vô tội đã chết hay Trent muốn có G-Virus để làm gì – thì chúng cũng chỉ là một phần trong danh sách những thứ không thuộc về công việc của cô.

Ada cẩn thận quan sát vị trí, và bắt đầu tiến về tầng hầm, hy vọng sẽ tìm thấy tay phóng viên phiền phức kia.

* * *

Leon đứng trong phòng chứa vũ khí đã bị cướp sạch bách dưới tầng hầm, tay giữ bao súng, nghĩ xem liệu Claire đang ở đâu. Từ những gì anh trông thấy đến giờ thì khu nhà ga cũng không đến nỗi quá tệ. Lạnh lẽo tối tăm cùng những đống xác bốc mùi trên các lối đi, nhưng xem ra không đến mức nguy hiểm thường trực như lúc ở trên phố. Cũng chẳng lấy gì làm vui sướng, nhưng ít nhất anh cũng nhận được thứ mình xứng đáng. Anh hạ được hai gã cớm zombie cùng một phụ nữ tả tơi trong bộ đồng phục tuần tiễu giao thông - lũ cớm trên cầu thang còn người phụ nữ ngay ngoài nhà xác, cách vài dặm từ phía căn phòng chứa vũ trang RPD. Chỉ có ba tên zombie kể từ lúc anh tới nhà ga, không tính những tên anh đã tránh đụng độ ở phòng điều tra, nhưng anh đã gặp hơn một tá zombie trong một đoạn ngắn, chỉ nhớ đã cho khoảng một nửa trong số đó xơi đạn, xuyên qua mắt hoặc thẳng ngay thái dương. Giữa một bên là những sinh vật "bị xử gọn" và một bên là số vũ khí bị lấy trong kho, anh hy vọng rằng Branagh nói đúng về những người còn sống sót.

"Marvin Branagh.. chắc cũng đã chết rồi. Liệu cậu ta có trở thành zombie không? Nếu Umbrella đứng sau tất cả những vụ này thì chắc hẳn đây phải là một loại dịch bệnh gì đó, bởi họ là công ty dược phẩm mà. Vậy nhiễm bệnh kiểu gì? Qua tiếp xúc chăng? Hay qua hô hấp từ một luồng hơi hít thật sâu?"

Leon đột ngột cắt ngang dòng suy nghĩ lạnh lẽo và ảm đạm y như tầng hầm vậy, cái ý nghĩ mình cũng có thể nhiễm bệnh và trở thành zombie khiến cho anh toát mồi hôi lạnh. Nếu như dịch bệnh ở Raccoon vẫn chưa lắng xuống và anh bị nhiễm ngay khi lái xe vào thành phố? Những cái kệ lộn xộn trong nhà kho có vẻ như càng thêm phần chật chội.

Nhưng trước khi mối nguy hiểm thực sự xảy đến, anh thấy lý trí đang nhắc nhở anh về thực tại - và sự chấp nhận thực tại ấy giúp anh vượt qua được nỗi sợ hãi.

"Nếu mình có bị nhiễm thì cũng đã nhiễm rồi. Mình có thể tự xử trước khi quá muộn mà. Nếu mình không bị, có lẽ mình có thể sống sót để kể lại cho mấy đưa nhóc về chuyện này. Dù là tình huống nào thì mình cũng chẳng thay đổi được gì – ngoại trừ việc cố gắng làm một cảnh sát."

Leon tự gật đầu với chính mình rồi thở dài. Lên kế hoạch có lẽ sẽ tốt hơn là lo nghĩ. Hơn nữa, lúc này đây anh đang có trong tay công cụ để thực hiện điều đó. Khóa điện tử trong kho vũ khí đã bị bắn hỏng nên anh đỡ phải đi tìm chìa khóa hay tự bắn lấy. Cánh cửa lúc này mở toang, tay cầm và khóa ngoài đều vỡ vụn. Đảo qua căn phòng, anh thấy thất vọng chứ không hề ngạc nhiên. Chẳng có lấy một khẩu súng, trừ vài viên đạn ghim vào mấy lỗ khóa. Thay vào đó, anh lại tìm được một hộp đạn súng săn, lục lọi kỹ hơn thì được một khẩu 12 li giấu sau mấy đống thùng. Vài tấm bảo vệ vai kiểu Remington vẫn treo trên giá, cùng với chiếc đai lưng đa năng lớn hơn cái anh đang đeo, thậm chí còn lớn đủ chứa toàn bộ những

Khẩu Magnum nạp đầy đạn.

Xốc chặt đai lưng lại một lần nữa, anh quyết định tốt nhất là bắt đầu tìm ở những nơi dễ thấy nhất, ở tứng hành lang hoặc lối vào. Anh quyết định quay lại tiền sảnh, tìm xem có dấu hiệu gì không..

Pằng! Pằng! Pằng!

Tiếng súng rất gần, những âm thanh nổ đến chói tai cho thấy chúng phát ra từ gara ngay dưới sảnh. Leon giật mạnh khẩu Magnum ra, chạy về phía cửa, những giây phút quý giá bị lãng phí khi anh loay hoay với cái tay cửa bị hư. Chẳng có gì ở phía sảnh cả, trừ một tay cảnh sát giao thông nằm chết trên sàn phía tay phải. Ngay phía trước là lối vào gara để xe. Không chần chừ, Leon tiến thẳng về phía trước, tự nhủ sẽ giành thế chủ động và cũng không muốn chết thật lãng nhách.

"Từ từ di chuyển, quan sát thật kỹ, nắm rõ tình huống.."

Cánh cửa ngay bên phía tay phải đang mở, Leon phóng tầm mắt về phía khoảng trống ấy, thân hình được che chắn bởi bức tường bê tông. Anh thấy một thứ khiến mình quên bẵng cả tay súng vừa nãy.

"Một con chó. Giống y con chó quỷ tha ma bắt ấy."

Không thể nào - nhưng xác con thú đang nằm sóng soài giữa bãi xe kia trông giống y hệt. Mặc dù lần trước anh chỉ kịp nhìn thoáng qua, nhưng cái thứ kinh tởm suýt làm anh tông trúng ngoài thành phố mười dặm hẳn phải đồng dạng với con này. Trong ánh đèn nhập nhoạng thắp sáng cái gara ẩm thấp bẩn thỉu, anh càng thấy rõ chúng kinh dị tới mức nào.

Không một động tĩnh, không một âm thanh nào, trừ tiếng rì rì của bóng đèn điện. Lăm lăm khẩu Magnum trong tay, Leon bước vào gara, quyết định tới coi kỹ sinh vật đó hơn. Anh thấy thêm một con nữa đang nằm cạnh một chiếc xe, y hệt con kia.

Cả hai đều chết dí trong vũng máu của chính chúng, tứ chi loằng ngoằng như thể bị dập nát.

"Umbrella. Sự tấn công của lũ thú hoang, dịch bệnh.. không hiểu những thứ thối tha này đã diễn ra trong bao lâu rồi? Tại sao Umbrella có thể giữ im lặng trước những tên sát nhân này?"

Kì lạ hơn là tại sao Raccoon không hề có sự trợ giúp nào từ bên ngoài, có thể Umbrella biết cách tránh dính líu tới những gã "khát máu" nhưng câm lặng này, nhưng làm cách nào họ có thể ngăn dân cư Raccoon kêu gọi viện trợ từ ngoài vào?

"Và lũ chó này, giống nhau y như những bản sao copy vậy.. Liệu Umbrella có tạo ra những thứ tương tự như vậy từ phòng thí nghiệm nữa không?"

Anh tiến gần hơn về phía lũ chó rồi nhăn nhó, không chịu nổi những giả thuyết đang dấy lên trong đầu, đồng thời cũng không thể xua đuổi ngay những ý nghĩ ấy được. Nhưng thứ khiến anh phát ốm hơn chính là cảnh sàn nhà bê tông loang lổ màu sắt gỉ, cùng vô số những vũng máu khô đếm không xuể. Anh cúi xuống nhìn cho rõ, định bụng sẽ nghỉ ngơi vài giây trước cơn sốc.. cho đến khi tiếng rít chói tai của một viên đạn sượt ngay qua đầu.

Pằng!

Leon nhảy bật về bên trái, giương khẩu Magnum lên, đồng thời hét lớn..

"Khoan bắn đã!"

* * * rồi anh thấy tay súng kia hạ vũ khí xuống, một phụ nữ mặc váy ngắn màu đỏ, xà cạp đen, đang đứng trước chiếc xe tải. Cô gái bước về phía anh, cặp hông thon thả đưa đi đưa lại thật nhịp nhàng, đầu ngẩng cao, vai ưỡn ra phía sau. Cứ như thể cả hai đang trong một bữa tiệc cocktail vậy.

Leon tự nhiên thấy điên tiết vì cô ả cứ tỉnh như không sau khi suýt nữa thì giết chết anh. Nhưng khi cô nàng tiến lại gần thì anh lại muốn tha thứ hết. Trông cô rất xinh, vẻ hài lòng khi nhìn thấy anh, một cái nhìn chào đón sau một loạt chết chóc.

"Xin lỗi nha", cô nói. "Tại thấy bộ đồng phục nên tưởng anh là zombie."

Cô nàng hình như là người lai châu Á, cân đối, cao ráo với mái tóc cắt ngắn màu đen tuyền rất dày. Nhưng chất giọng như gừ gừ thích thú của loài mèo lại có vẻ trái ngược với cách cô nhìn anh. Nụ cười nhẹ nhàng chẳng khớp với đôi mắt to

Tròn đang chăm chú nhìn anh.

"Cô là ai?", Leon hỏi.

"Ada Wong". Giọng cô cứ như con mèo. Cô gái nghiêng đầu, vẫn mỉm cười.

"Tôi là Leon Kenedy," anh nói, không biết phải hỏi gì thêm hay phải bắt đầu từ đâu. "Tôi.. Cô đang làm gì dưới đó vậy?"

Ada hất đầu về phía cái xe, một cỗ xe vận tải RPD đang nằm chắn lối vào khu nhà giam.

"Tôi tới Raccoon để tìm một người đàn ông, một phóng viên tên Bertolucci; tôi có lý do để tin hắn đang trốn ở một trong những xà lim trong đó, và tôi nghĩ hắn có thể giúp tôi tìm thấy người bạn trai.."

Nụ cười của cô tắt dần, bốn mắt chợt gặp nhau.

"Tôi nghĩ hắn cũng biết tất cả những chuyện đã xảy ra ở đây nữa. Anh giúp tôi dịch chuyển chiếc xe được chứ?"

Nếu đúng là đâu đó trông gara này có một gã nhà báo nào đó biết được chuyện gì đã xảy ra thì Leon rất sẵn lòng gặp hắn. Anh cũng không rõ chuyện của Ada lắm nhưng không tưởng tượng nổi tại sao cô nàng lại có thể nói dối về mọi thứ. Khu nhà ga chẳng hề an toàn, và cô nàng cũng như Leon: Đang tìm kiếm những người sống sót.

"Ồ, được thôi". Anh nói, cảm thấy bối rối bởi lối cư xử của cô gái. Có vẻ như cô nàng đang kiểm soát cuộc nói chuyện, sự tính toán khôn khéo nhưng rất kỹ lưỡng đưa cô vào lợi thế, và cái cách cô nàng thản nhiên quay về cái xe cứ như thể Leon không được hỏi bất cứ điều gì ngoài việc ngoan ngõan theo sau. Anh nghĩ cô nàng biết rất rõ điều đó.

"Đừng có tưởng tượng nữa; phụ nữ mạnh mẽ đâu chẳng có. Càng thêm người, càng dễ tìm ra Claire."

Có lẽ không cần lên kế hoạch nữa, chỉ cố gắng tiếp tục mà thôi. Leon đút lại khẩu Magnum và theo sau cô gái, hi vọng Ada tìm đúng nơi có gã phóng viên đó và mong cho mọi việc thuận lợi, thà muộn còn hơn không.
 
211 ❤︎ Bài viết: 256 Tìm chủ đề
CHƯƠNG 13

Sherry Berkin đã chuồn mất, mà Claire thì không thể nào chui vừa vào cái ống thông gió để rượt theo cô bé. Bất cứ cái gì hoặc bất cứ ai đã gào thét và hù dọa đứa bé vẫn chưa chịu lộ mặt, nhưng Sherry thì đã không ở đây nữa, có lẽ vẫn còn trườn bò một cách điên cuồng trong đường hầm tối thui và dơ bẩn. Claire nấp bên cạnh đường ống trong một chốc; có một bao giấy gói kẹo rỗng và một cái chăn cũ ẩm mốc ngay chỗ khe hở chui vào, một nơi ấn náu khá thảm hại phía sau ba bộ giáp đứng.

Khi nhận ra rằng Sherry sẽ không quay lại, Claire liền nhanh chóng quay về văn phòng của Irons, hi vọng hắn có thể nói cho cô biết lối ra của đường ống ở đâu, nhưng Irons đã bỏ đi, cùng với xác của con gái ngài thị trưởng.

Claire quan sát cái văn phòng được bài trí theo cách nhìn của một kẻ có đầu óc bệnh hoạn, lần đầu tiên kể từ khi tới thành phố, cô thấy không biết nên làm gì mới phải. Thoạt tiên cô tìm kiếm Chris, một mục tiêu bao gồm những lo lắng về cách tránh bọn zombie, rồi nhập bọn với Leon, và tránh xa ông sếp Irons kinh tởm, khá nhiều mục tiêu để làm. Nhưng ngay khi nghe tiếng cô bé rú lên, mức độ ưu tiên của cô đã thay đổi đột ngột. Một đứa bé đã bị lôi vào cơn ác mộng này, một cô bé nhỏ nhắn tin rằng có một con quái vật đang săn đuổi nó.

"Có lẽ là vậy. Nếu mình đã tin rằng Racoon có zombie, thì tại sao lại không có quái vật chứ? Quỷ tha ma bắt, sao không có thêm ma cà rồng hay lũ người máy hủy diệt luôn cho rồi?"

Cô muốn kiếm Sherry, và không biết phải bắt đầu từ đâu. Cô cần người anh trai của cô, nhưng thật sự vô vọng vì cô cũng không biết anh ấy ở đâu – Cô bắt đầu tự hỏi liệu anh ấy có biết chuyện gì đang xảy ra ở Raccoon hay không.

Lần cuối cô nói chuyện với anh ấy, anh ấy đã cố tránh né các câu hỏi về tại sao S. T. A. R. S. Bị đình chỉ, khẳng định là không có gì phải lo cả - Rằng đó là do anh ấy và tòan đội bị dính vào các vấn đề về chính trị ở văn phòng, và mọi việc đã được dàn xếp ổn thỏa. Cô đã quen với sự che chở và bảo vệ của anh ấy, nhưng nghĩ lại, liệu anh ấy có vẻ lẩn tránh thái quá? Và S. T. A. R. S. Lúc đó đang điều tra về các vụ giết người tàn nhẫn, cũng không có gì lạ khi liên tưởng các vụ ăn thịt người đó với tình thế hiện tại..

".. điều đó có nghĩa gì chứ? Rằng Chris đã khám phá được tội ác nào đó và che đậy chúng?"

Cô không biết. Tất cả những gì cô biết hiện giờ là cô không tin anh ấy đã chết, và bây giờ mà kiếm Chris hay Leon thì sẽ trì hoãn việc kiếm Sherry. Tình thế cũng không đến nỗi tệ lắm, Claire có thể tự vệ được – cô có một cây súng, ít nhất cô có những cảm nhận của một người trưởng thành, và sau gần hai năm với việc chạy bộ mỗi ngày năm dặm, cô có một vóc dáng hoàn hảo. Nhưng Sherry Berkin thì không quá mười một hoặc mười hai tuổi, và dễ bị tổn hại bởi bất cứ thứ gì của thế giới bên ngoài, từ những hạt bụi trên mái tóc vàng thiên thần ấy đến những lo âu tuyệt vọng trong ánh mắt xanh to tròn – cô bé đã khiến những bản năng che chở của Claire trỗi dậy..

Rầm!

Một tiếng động lớn và nặng rung chuyển cả trần nhà, làm các chiếc đèn treo lộn xộn trong văn phòng của Irons rung lên. Claire lập tức nhìn quanh, tay nắm chắc khẩu súng. Không có gì khác ngoài gỗ và thạch cao, và âm thanh đó tắt hẳn.

"Có gì đó trên trần nhà.. nhưng cái gì có thể làm nên tiếng động lớn như vậy chứ? Một con voi đang tập nhảy tự do chăng?"

Có thể đó là con quái vật của Sherry. Tiếng gầm rú hoang dã họ đã nghe được trong phòng trưng bày tư trang cá nhân xuyên qua từ đường ống hoặc ống thông gió, khó mà xác định được nơi phát ra âm thanh đó, nhưng nó có thể ở trên trần nhà. Claire chưa chuẩn bị tinh thần để đốt mặt với cái thứ vừa thét lên, nhưng Sherry đã khẳng định là con vật đó đang theo cô bé..

".. Vậy thì đi kiếm con vật đó, kiếm cô bé? Một kế hoạch không hoàn hảo cho lắm, nhưng mình cũng không còn sự lựa chọn nào khác vào lúc này; đó có thể là cách duy nhất để kiếm cô bé."

Hoặc có thể Irons đang ở trên đó không chừng. Mặc dù cuộc gặp gỡ với hắn đã để lại một cảm giác ơn ớn, nhưng cô vẫn hối hận vì đã không kịp lấy thêm thông tin từ hắn. Dù có điên đi nữa, nhưng hắn cũng đã không đối xử với cô quá ngu

Ngốc; cũng không hẳn là ý kiến tồi khi gặp lại hắn lần nữa, ít nhất để hỏi một số vấn đề về hệ thống thông gió ở đây.

Cô sẽ không biết được thêm chuyện gì khác chừng nào chưa thử qua chúng. Claire rẽ vào cánh cửa văn phòng mở sẵn ở hành lang phía trước, chỗ cô đã dập tắt đám cháy của chiếc trực thăng. Khói bốc từng cột nhỏ kế bên đại sảnh, và mặc dù không khí vẫn còn ấm, nó cũng không còn giống nhiệt độ của một vụ cháy. Tại chỗ đó, ít ra cô cũng đã thành công..

Claire bước trở lại vào sảnh đường chính, tránh tầm mắt khỏi những gì còn sót lại của viên phi công..

* * * và crắ-ắc!

* * *Cô đứng sững lại, nghe một tiếng xé toạc gỗ và theo sau đó là tiếng bước chân dày, nặng của người nào đó chắc chắn là phải to con lắm di chuyển ngoài hành lang, ngang qua ngã rẽ, tiếng động nặng nề và chậm chạp. Tên đó hẳn phải nặng cả tấn, và có chúa mới biết tại sao cánh cửa vẫn chưa bị bể ra..

Claire phóng tầm nhìn về phía hành lang chỗ văn phòng của Irons, bản năng mách bảo cô nên chạy đi, trí não cô mách bảo cô rằng đó là ngõ cụt, cơ thể cô đang luỡng lự..

* * *và một người đàn ông to nhất từ trước giờ cô từng được thấy đã bước vào tầm mắt, được che bởi làn sương mù của khói từ trong những bức tường đổ nát. Hắn mặc một bộ áo khoác lính màu xanh lá chỉ có thể có một cho kích cỡ của hắn, và cao như là một siêu sao bóng rổ – thậm chí cao hơn, nhưng kích thước cân đối hơn. Một sợi dây nịt dày cui quấn quanh eo hắn, và ở đó cô không thấy món vũ khí nào, cô có thể cảm nhận được sát khí của hắn đang tỏa ra như một làn sóng vô hình. Claire có thể thấy được gương mặt đờ đẫn bịnh hoạn của hắn, không có tóc, sọ bị mốp – và hầu như vô tình, Claire chắc chắn rằng hắn chính là con quái vật đó, con quái với găng tay đen, cái nào cũng bự cỡ đầu người..

"Bắn! Bắn nó!"

Claire nhắm vào hắn nhưng còn do dự, sợ rằng cô đang phạm một lỗi lầm nghiêm trọng – cho đến khi nó bước thêm một bước chấn động tới cô bằng đôi chân to như thân cây, và cô có thể nghe được tiếng lắc rắc đang muốn toạc ra của sàn gỗ bên dưới bàn chân to bè, thấy đôi mắt đen, đen và viền đỏ. Giống

Như là dung nham được chôn trong cục đá trắng không có hình thù nhất định, trống rỗng nhưng chắc chắn là không mù, cái nhìn của hắn lia trúng cô – và hắn giơ nắn đấm chắc nịt đầy thịt của mình lên một cách cực kì nguy hiểm.

"-bắn bắn bắn-"

Cô bóp cò, một viên, hai viên, và thấy sự tiếp xúc của những viên đạn – cái ve áo nổ thành từng miếng nhỏ bên dưới cái cổ của hắn, phát thứ hai xé ngang cái cổ..

* * *hắn tiến thêm bước nữa, không có vẻ biểu lộ gì là đau đớn, nắm đấm vẫn được giơ lên, tìm kiếm mục tiêu, kiếm gì đó để bóp nát..

Cái lỗ đen đầy khói súng trong cổ họng của nó không hề chảy máu.

"Chết tiệt!"

Trong một thoáng kinh hãi tức thì, Claire chỉ khẩu súng vào trái tim của con vật đó và bóp cò liên tục, tên khổng lồ tiến thêm bước nữa, tiến vào làn đạn mà không hề nao núng..

* * *Và cô không điều khiển nổi những phát súng nữa, không thể tin là nó vẫn có thể tiến tới, chỉ cách chưa đầy mười bước nữa trong khi đạn vẫn găm vào bộ ngực đồ sộ của nó..

* * *Và khẩu súng hết đạn, mặc dù con quái vật đã dừng lại trong sự nặng nề của nó, đung đưa như một tòa nhà đồ sộ trước cơn gió to. Không rời mắt khỏi gã khổng lồ dị dạng, Claire nạp thêm một băng đạn nữa từ áo khoác một cách hối hả, cố gắng trấn tĩnh lại trước con quái vật dị hình này.

"Kẻ Hủy Diệt, quái vật của Frankenstein, Tiến sĩ Ma Quỷ, ngài X."

Dù nó là gì đi nữa, hơn bảy loạt đạn vào ngực cuối cùng cũng đã phát huy tác dụng. Từ từ, cái con vật to lớn quỵ xuống bên phải, ngã xuống một cách nặng nề xuống bức tường bị cháy đen và nứt toác đằng kia – không ngã xuống hoàn toàn nhưng cũng không di chuyển nữa.

"Thật kì lạ, vậy là xong, hắn đã chết, ngã xuống bởi sức nặng của chính nó.."

Claire không di chuyển gần thêm, vẫn chĩa khẩu súng một cách thận trọng về phía cái thây khổng lồ bất động. Đây có phải là tên đã gào lên không? Từ sức mạnh và cái vẻ vô nhân tính của nó, cô không nghĩ thế; Đây cơ bản không phải thuộc dạng loài quỷ điên cuồng, luôn gào thét vì máu. Ngài X này giống như một cỗ máy không có linh hồn hơn, một khối thịt máu lạnh có thể phớt lờ.. hoặc chịu đựng đau đớn.

"Dù gì thì mày cũng chết rồi", Claire thì thầm, cố gắng gạt đi những dòng suy nghĩ tàn nhẫn đó. Cô phải nghĩ, phải hiểu rõ điều này có nghĩa là gì – "Đây chắc không phải là một con zombie đột biến, vậy nó là cái quái gì? Tại sao nó lại không ngã xuống khi mình bắn sạch gần như một băng đạn – liệu có ai nghe tiếng súng không, liệu Sherry hay Irons hoặc Leon hoặc bất cứ một ai đó có thể đang tìm kiếm cô quanh trụ sở? Mình có nên ở lại đây và chờ không?"

Con quái vật mà cô gán cho nó biệt danh "ngài X" đã ngừng thở hoàn toàn, cơ thể đầy cơ bắp của nó hoàn toàn bất động, mặt của nó trông như đã chết thật sự rồi. Claire cắn môi dưới của mình, nhìn vào con vật vẫn đang đứng yên và dựa vào tường đó, cố gắng gạt bỏ nỗi sợ hãi..

* * *Và thấy mắt của hắn mở ra, cặp mắt đen và đỏ bóng. Không có vẻ gì là đau đớn, "Ngài X" đứng dậy ngay tức thì, chắn ngang đại sảnh, đôi tay khổng lồ của hắn lại giơ lên..

* * *Và với một cái quạt tay đầy uy lực, hắn tung cú đấm vào không khí, cánh tay dài của hắn mém chạm vào cô khiến cô té nhào. Lực đấm quá mạnh khiến cho hai bàn tay khổng lồ của hắn lao vào bức tường đối diện. Cơn chấn động trùm lên nắm đấm của hắn, cánh tay kẹt một nửa vào trong gỗ và plastic tới khủy tay.

"Mình, không thể là mình được.."

Cô sẽ bị mắc kẹt nếu trở lại văn phòng của Irons. Không cần phải suy nghĩ nhiều hơn, Claire di chuyển, chạy nhanh qua "Ngài X" và bay người ngang qua hắn, cánh tay phải của cô sướt qua cái áo khoác dày của hắn, tim cô như muốn ngừng đập khi cái chất liệu ấy chạm vào da cô.

Cô chạy, rẽ trái và ào vào hành lang đầy sương mù, cố nhớ xem sau phòng chờ là chỗ nào, cố không nghe âm thanh của

"Ngài X" dị hợm với cánh tay khổng lồ đang đuổi theo cô phía sau.

"Chúa ơi, nó là cái gì vậy.."

Claire chạy ngang qua phòng chờ, đóng sập cửa phía sau lại rồi chạy tiếp, quyết định là sẽ nghĩ chuyện đó sau. Cô chạy và cố không nghĩ gì khác ngoài việc làm cách nào để chạy nhanh hơn.

* * *

Ben Bertolucci ở trong cái gian cuối cùng của căn phòng xa gara nhất, nằm bất động trên một cái giường bằng thép và ngáy rè rè. Ada quyết định để Leon đánh thức hắn dậy để tỏ ra hoàn toàn trung lập. Cô không muốn tỏ ra quá háo hức, có một chuyện cô biết chắc về đàn ông, rằng sẽ dễ kiểm soát họ hơn nếu để họ nghĩ rằng đang khống chế được tình hình. Ada nhìn Leon và chờ đợi với một sự kiên nhẫn mà cô chưa từng trải qua.

Họ đã kiểm tra cái cũi trống và bức tường bê tông uốn éo trước khi tìm thấy hắn, và mặc dù cái lạnh, ẩm và tối của không khí hòa trong mùi máu và mùi ẩm mốc của virus, họ không thấy bất cứ cái xác nào – Điều đó thật lạ, dựa vào cuộc tàn sát mà Ada biết là nó đã xảy ra tại cái gara ẩm ướt này. Cô tính hỏi Leon chuyện gì đã xảy ra, nhưng lại quyết định là càng ít nói chuyện với nhau càng tốt; chẳng có gì hay ho trong việc anh ta quen với sự hiện diện của cô kế bên. Ada thấy miệng cống, rỉ sét và khuất trong một góc tối, và hài lòng trước sự hiện diện của cây xà beng trên cái kệ bên cạnh. Cùng với việc Bertolucci đang nằm ngáy ngay đó, Ada cảm thấy cuối cùng thì mọi chuyện cũng đang nằm trong tầm tay của cô..

"Để tôi đoán xem", Leon nói to, và trèo lên trên quầy bar bằng thép với cây súng thận trọng trên tay. "Hẳn ông là Bertolucci, phải không? Thức dậy nào."

Bertolucci ngáp một cách uể oải và từ từ ngồi dậy, gãi gãi bộ râu cằm của mình. Ada mém chút bật cười khi thấy bộ mặt cau có mệt mỏi của hắn nhìn về phía họ; trông hắn như đống phân.. quần áo nhàu nát, cái dáng cao tả tơi. Vẫn còn mang cà vạt trên cổ, thật buồn cười. Cái tên bẩn thỉu ấy còn nghĩ là như vậy sẽ khiến hắn trông giống một nhà báo thực thụ hơn..

"Các người muốn gì? Tôi chỉ đang cố gắng ngủ ở đây thôi mà". Hắn nói một cách cộc cằn, và một lần nữa Ada phải cố gắng nhịn cười. Không có gì lạ khi thật sự khó khăn để tìm kiếm hắn. Leon liếc qua Ada bằng một ánh mắt không chắc chắn: "Phải hắn đây không?"

Cô gật đầu, nhận ra rằng Leon có thể đang nghĩ Bertolucci là một tù nhân. Chỉ cần vài lời giải thích là sẽ xóa bỏ được cái ý nghĩ đó thôi, nhưng cô lại không muốn cho Leon biết quá nhiều hơn những thứ anh ta cần biết; cô phải lựa lời thật kỹ.

"Ben", cô nói, trong giọng nói có chút liều lĩnh. "Ông đã nói với ủy ban thành phố là ông biết chuyện gì đang diễn ra, phải không? Ông đã nói gì với họ?"

Bertolucci đứng dậy và nhìn chằm chằm vào cô, môi của hắn cong lên: "Và cô là ai chứ?"

Ada có thể tiếp tục đánh liều bằng cách vờ như phớt lờ câu hỏi của hắn, nhưng có lẽ vô ích; cô không muốn đóng vai một người phụ nữ yếu ớt, như vậy thì sẽ mâu thuẫn với việc làm thế nào cô sống sót được đến tận bây giờ.

"Tôi đang cố gắng kiếm một người bạn, John Howe. Anh ta làm việc cho một chi nhánh của Umbrella tại Chicago và biến mất cách đây vài tháng, tôi nghe phong phanh là anh ấy đang ở đây, tại thành phố này.."

Cô ngưng lại, quan sát thái độ của Bertolucci. Chắc chắn là hắn biết gì đó, nhưng cô không nghĩ là hắn sẽ khai ra.

"Tôi không biết gì cả", hắn trả lời cộc cằn. "Và dù tôi có biết gì đi chăng nữa, tại sao tôi lại phải nói cho các người biết chứ."

Thành thật mà nói, nếu không có cảnh sát ở đây, mình sẽ bắn chết cái tên này. Nhưng chắc cô sẽ không làm vậy, Ada không phải thuộc dạng thích giết người, và nghĩ rằng chắc cô sẽ có thể moi thông tin từ hắn bằng cách thuyết phục hơn – Nếu sự dịu dàng của cô không thành công thì thế nào cũng có một phát súng vào đầu của hắn cho coi. Tuy nhiên cô không thể làm gì khi mà có nhân viên cảnh sát Leon đang ở đây. Cô đã không tính trước được cuộc gặp mặt của họ, nhưng vào lúc này

Thì cô lại kẹt với anh ta.

Chàng cảnh sát tất nhiên không vui vẻ gì với cách trả lời của tay nhà báo. "Được rồi, vậy chúng ta cứ để hắn ở đó", anh nói một cách tức giận với Ada, nhưng lại nhìn vào Bertolucci với sự khinh bỉ.

Bertolucci nhoẻn cười, thò tay vào túi và rút ra một chùm chìa khóa bằng bạc được đính với nhau bằng cái vòng tròn lớn. Ada không có gì là ngạc nhiên, nhưng Leon trông càng thêm bực mình.

"Tôi thì ổn thôi", Bertolucci nói một cách châm chọc. "Tôi cũng không định rời khỏi khu vực nhà giam này. Đây là nơi an toàn nhất trong tòa nhà rồi. Không chỉ có lũ zombie ở đây đâu, tin tôi đi."

Từ cái cách hắn nói chuyện, Ada nghĩ rằng cô trước sau gì cũng sẽ giết chết hắn. Những chỉ dẫn của Trent đã rất rõ ràng – nếu Bertolucci biết gì về chuyện Berkin nghiên cứu G-virus thì hắn phải bị thủ tiêu; tại sao, cô không biết chắc, nhưng đó là công việc. Nếu cô có thể tranh thủ một vài phút với hắn, cô sẽ có thể xác định rằng hắn đang biết những gì. Nhưng vấn đề là làm cách nào? Cô không muốn bắn Leon; Đó là luật lệ của cô, không thích giết kẻ vô tội – và bên cạnh đó, cô thích cảnh sát. Không có gì là cao cả, nhưng bất cứ ai làm công việc của những kẻ bảo vệ mạng sống người khác đều khiến cô nể. Và anh ta có thị hiếu rất tài trong việc sử dụng súng – Desert Eagle là loại súng hạng nhất..

".. Vậy thì suy nghĩ làm chi? Mình bỏ rơi anh ta trước và quay lại, không có nghĩa là mình mềm mỏng.."

"Ggrraaaa!"

Một tiếng gầm khủng khiếp hoang dã xé tan sự yên tĩnh. Ada lập tức cầm khẩu Beretta của cô lên, chĩa vào cánh cổng dẫn về khu vực nhà giam trống. Dù nó là cái gì, nó đang ở dưới tầng hầm..

"Cái gì vậy?", Leon thở mạnh phía sau cô, và Ada ước gì cô biết câu trả lời. Tiếng vang của tiếng gầm đó không giống bất cứ thứ gì cô từng nghe qua – và cô cũng không muốn nghe gì cả, kể cả những nghiên cứu của Umbrella.

"Tôi đã nói, tôi sẽ không rời khỏi nhà giam này", Bertolucci nói, giọng ngắt quãng. "Giờ thì cút khỏi đây trước khi các người dẫn nó tới chỗ tôi!"

"Một gã hèn nhát.."

"Nghe này, có lẽ tôi là nhân viên cảnh sát duy nhất còn sống sót ở trong tòa nhà này", Leon nói, và có gì đó pha trộn giữa sợ hãi và mạnh mẽ trong giọng nói khiến cho Ada quay lại nhìn anh. Viên cảnh sát trẻ vẫn nhìn chằm chằm vào Bertolucci, đôi mắt xanh của anh ta đầy cương nghị và sắc bén.

".. nên nếu ông còn muốn sống, ông sẽ phải đi theo chúng tôi."

"Quên đi", Bertolucci nạt lại. "Tôi sẽ ở đây đến khi nào đội cứu viện tới – và nếu các người thông minh một chút, các người cũng sẽ làm vậy."

Leon lắc đầu: "Có thể đến nhiều ngày nữa mới có người tới đây, cơ hội tốt nhất của chúng ta là phải tìm đường ra khỏi Raccoon – Và ông có nghe tiếng thét vừa rồi không. Ông có muốn bất cứ thứ gì vừa thét như vậy tới thăm ông không?"

Cô bị ấn tượng mạnh; những vật thí nghiệm của Umbrella có thể đang tiến đến chỗ họ, thế mà Leon vẫn đang cố gắng cứu một tay nhà báo vô dụng đang lẩn trốn.

"Tôi sẽ liều", Bertolucci nói. "Và chúc may mắn khi ra ngoài kia, các người sẽ cần đến nó.."

Tên nhà báo nhàu nát leo lên quầy bar, nhìn về đằng trước rồi đằng sau họ, giơ tay trên mái tóc bóng bẩy của hắn.

"Nhìn này", hắn nói, giọng nhỏ nhẹ hơn. "Có một đường ống phía sau tòa nhà, với một lỗ thông gió trong đó. Các người có thể đến đường cống ngầm bằng đường đó, đó có lẽ là đường nhanh nhất ra khỏi thành phố."

Ada thở dài trong họng. Hay thật đấy; quá nhiều thứ cản trở lộ trình bí mật của cô đến phòng thí nghiệm. Nếu cô bỏ rơi Leon bây giờ, thì anh ta sẽ vẫn có thể kiếm được cô trong năm phút.

"Mày lúc nào cũng có thể giết hắn, nếu như thật sự phải như thế, hoặc.. Mày có thể bỏ trốn ở trong đường cống và quay trở lại với Bertolucci khi anh ta đang dọn đường cho mày."

Không giống như Bertolucci, cô không muốn ngồi chờ cái thứ vừa thét lên và giờ thì cô biết hắn sẽ ở lại, dụ người cảnh sát đi chỗ khác có lẽ là ý hay nhất bây giờ.

"Chuyện mình làm chỉ là tránh sự giết chóc không cần thiết mà thôi.."

"Được rồi, tôi sẽ đi coi coi nó là cái gì". Cô nói, và không cần đợi Leon trả lời, cô quay lại đi về phía cánh cửa.

"Ada! Ada, chờ đã!"

Cô lờ anh ta đi, nhanh chóng lướt qua những chắn song trống rỗng và trở lại hành lang lạnh lẽo kia, cảm thấy bớt căng thẳng khi đường đi vẫn an toàn và cảm thấy hơi mệt vì hành động bất đắc dĩ của mình để làm đơn giản hóa tình hình. Mọi việc sẽ đơn giản hơn nhiều nếu cô cứ giết cả hai, một việc mà cô có lẽ sẽ không do dự nhiều trong một hoàn cảnh khác. Nhưng cô đã quá chán cái chết, chán và mệt khi phải suốt ngày che giấu cho các việc làm của Umbrella; cô sẽ không giết người cảnh sát khi thật sự không cần thiết.

"Và nếu như mình phải làm thế thì sao, nếu như mình phải giết người vô tội để hoàn thành công việc thì sao?"

Cô phải tự hỏi mình câu hỏi đó nhiều lần để khẳng định vể việc cô đang làm. Ada bước tới cánh cửa chỗ ống thông gió, hít một hơi dài, cố rũ bỏ hết mọi âu lo và suy nghĩ, và bước trở lại vào trong để đợi Leon Kennedy.
 
211 ❤︎ Bài viết: 256 Tìm chủ đề
CHƯƠNG 14

Athens đã thất bại.

Bác sĩ Grifith nhìn lên ánh đèn trắng nhấp nháy trên cánh cửa, nguyền rủa Athens, nguyền rủa Lyle Ammon, nguyền rủa cái vận may của gã. Gã đã quên bảo cho Athens cách trở vào bên trong, điều đó chỉ có thể có nghĩa rằng những kẻ đột nhập đã qua mặt anh ta. Ammon đã để lại hoặc đã gửi cho chúng một cái tin nhắn, nó không thành vấn đề. Tất cả vấn đề hiện nay chính là họ đã tới và gã phải thừa nhận rằng họ có chìa khóa. Gã đã xé đi những ghi chép về vài tuần trước, nhưng có thể họ có những chỉ dẫn, có thể họ sẽ tìm thấy gã..

"Đừng sợ hãi, không cần phải sợ hãi. Mày đã chuẩn bị cho cái này rồi mà, đơn giản là chuyển sang kế hoạch kế tiếp. Tách chúng ra trước sẽ mang đến hiệu quả gấp bội - ít dùng hỏa lực, sau đó mắc mồi.. Cơ hội để xem Alan trình diễn tốt như thế nào."

Griffith quay sang tay bác sĩ Kinneson và nói nhanh, cố giữ cho những chỉ dẫn thật rõ ràng và đơn giản, đường đi càng dễ càng tốt. Gã đã tự thảo ra những câu hỏi mà hầu như gã đoan chắc rằng họ sẽ hỏi, vì gã biết đây là cơ hội cho họ tìm kiếm ra nhiều thông tin hơn nữa. Gã đặt ra cho Alan vài cách diễn đạt ngẫu nhiên để tập phản ứng, sau đó đưa cho anh ta một khẩu súng lục bán tự động nhỏ lấy từ ngăn kéo bàn của bác sĩ Chin, nhìn Alan nhét nó vào phía dưới chiếc áo khoác dùng mặc trong phòng thí nghiệm, để chắc chắn là nó được dấu kín. Băng đạn trống rỗng, nhưng gã nghĩ không cần phải nói cho Alan, không cần nếu cò súng bị kéo giật về phía sau. Gã cũng đưa cho Alan cả chiếc chìa khóa của gã, một sự nguy hiểm, nhưng tất cả cái kịch bản này đều nguy hiểm. Với định mệnh của cả thế giới trong tay, gã sẽ chiếm lấy mọi cơ hội có thể.

Sau khi Alan đã đi khỏi, Griffith ngồi xuống chiếc ghế để đợi, ánh mắt của gã miên man hướng tới sáu chiếc hộp nhỏ bằng thép luôn trong trạng thái hoạt động không ngừng. Kế hoạch của gã không thể thất bại được, sự đúng đắn trong việc làm của gã sẽ được kiểm chứng thông qua sự xâm nhập này. Nếu Alan bị bắt ngoài kia, vẫn còn có bọn Ma7, vẫn còn có Louis, vẫn còn có những ống thuốc và nơi trú ẩn của gã, bảng điều khiển buồng không khí ngay trong tầm với.

Một khi đã trải qua tất cả, bình minh vẫn sẽ chờ đợi ngoài kia. Bác sĩ Griffith cười mơ màng.

Karen vẫn có thể đi bộ được, ít nhất vẫn có vẻ hiểu được một phần những gì họ nói với cô, nhưng những từ ngữ mà cô cố nói không có vẻ có liên hệ với bất cứ cái gì. Khi họ đi xuống cầu thang từ ngọn hải đăng, cô nói từ "nóng" hai lần. Khi họ tới một đường hầm sâu và tối ở dưới chân của cầu thang, cô nói: "Tôi không muốn" Một biểu hiện hoảng sợ hiện lên trên khuôn mặt thất thần và tái nhợt đầy chết chóc của cô. Rebecca sợ rằng thậm chí họ có tìm ra cách đảo ngược lại quá trình xâm nhập của Virus thì cũng đã quá muộn.

Mọi thứ đã xảy ra rất đột ngột, quá nhanh khiến cô rất khó khăn mới kịp hiểu. Có một người đàn ông đợi họ trong bóng tối của ngọn hải đăng, một cái bẫy mà David đã cảm thấy bằng trực giác từ trước. Khi họ vừa bước vào, nó đã khai hỏa ngay bằng một khẩu súng trường tự động, oanh tạc về phía cửa từ trong bóng tối bên dưới khúc lượn của cầu thang sắt. Cảm ơn kế hoạch của David, nhờ nó mà mọi chuyện giải quyết xong chỉ trong vài giây. Trong khi Steve khám phá lối vào và nạp mật mã, Rebecca và John nhìn qua kẻ tấn công đang đợi họ, dưới ánh sáng chiếc đèn nháy của John là một người đàn ông bị nhiễm Virus, với khuôn mặt trắng bệch như giấy bị bong ra và nhăn nhúm với những vạch tróc bị khắc bằng axit. Gã có vẻ khác so với những nạn nhân Trisquad khác mà cô đã từng thấy, ít bị phân hủy hơn, đôi mắt mở trợn để nhìn có vẻ gì đó nhiều tính người hơn.. nhưng đến khi David chạy tới dìu Karen thì mối quan tâm của Rebecca chuyển sang đó một cách đột ngột và dứt khoát.

Lúc đi lên đồi, cô đã hạ quyết tâm rồi. Dù biết là có suy nghĩ cũng chẳng tạo ra được điều gì khác biệt, nhưng cô vẫn không thể ngăn mình tưởng tượng đến thứ đã khiến cho quá trình khuếch tán nhanh đến vậy; theo một cách nào đó, T-virus phải có phản ứng trước những thay đổi sinh học của Karen như nhịp tim và quá trình lưu thông mới phải. Nhưng khi họ đưa người phụ nữ bối rối và loạng choạng ấy vào trong ngọn hải đăng, Rebecca nhận ra rằng cô đã thôi không quan tâm tới nguyên nhân nữa, tất cả những gì cô muốn lúc này là vào được trong phòng thí nghiệm, cố gắng chạy chữa cái khiến cho sự minh mẫn của Karen Driver mất đi.

Đường hầm phía dưới ngọn hải đăng có vẻ dẫn họ quay ngược trở lại khu nhà tổng hợp theo một con đường uốn lượn, được đục xuyên vào trong lớp đá vôi nặng nề của vách đá. Đèn hầm lò được treo dọc theo những bức tường, tạo ra những cái bóng có hình thù kì lạ khi họ tiến về phía trước, lặng lẽ, dứt khoát và lo lắng, John và David kèm sát hai bên Karen. Rebecca đi cuối cùng, một lần nữa cô lại trải qua cái cảm giác ngờ ngợ khi nhìn họ đi xiêu vẹo, nhớ lại cái đường hầm bên dưới biệt thự Spencer. Cũng cái sự ẩm thấp lạnh lẽo phả ra từ đá, cũng cảm giác hoảng hốt về mối nguy hiểm không lường trước, kiệt sức và sợ hãi bởi khả năng xử lý tình huống kém cỏi của mình – không tài nào ngăn được tai họa xảy đến.

Tai họa đã thực sự xảy ra, cô nghĩ một cách bất lực, nhìn Karen cố vật lộn để tiếp tục đi.

"Chúng ta đang mất cô ấy. Trong một giờ nữa, có lẽ ít hơn, tình trạng cô ấy sẽ tiến triển quá nặng để có thể cứu chữa."

Đã như vậy, John và Steve lẽ ra không nên chạm vào cô ấy. Chỉ một cử động dễ dàng, cô ấy có thể chộp tới bất cứ ai trong hai người, cắn họ trước khi họ có cơ hội thoát ra. Cái ý niệm ấy khiến cô gần như phát bệnh với nỗi đau khổ và mất mát đè nặng trong lòng.

Đường hầm rẽ sang bên trái, và Rebecca nhận ra rằng họ đang ở gần biển một cách không thể tin được; bức vách như rung lắc bởi những tiếng ầm ầm nho nhỏ ở phía trước, đường hầm nồng nặc mùi ẩm ướt và mùi cá biển. Nhiều phần của sàn hầm quá nhẵn so với việc tạo được nên bởi bàn tay con người, và Rebecca ngờ ngợ đoán rằng nếu con đường hầm được mở rộng ra đâu đó phía trước mặt, có thể ở đó sẽ ngập đầy nước biển..

"Khốn kiếp", David thì thầm một cách giận dữ. "Chết tiệt."

Rebecca nhìn lên. Khi nhận ra cái đang ở phía trước, cô nhận ra hi vọng le lói cuối cùng cho Karen hoàn toàn tắt ngấm.

"Chúng ta sẽ chẳng bao giờ kịp tìm ra nó." Con đường hầm đã mở rộng ra ở một vài mét trước mặt nơi David dừng lại. Nó mở rộng đáng kể, sự thật là nó nối với năm đường hầm nhỏ khác, mỗi nhánh rẽ về một hướng hoàn toàn khác nhau.

"Đâu là hướng tây nam?", John lo lắng hỏi. Karen tựa vào người anh, đầu cô lắc lư về phía trước. Giọng của David đầy vẻ giận dữ, những âm tiết trong giọng nói của anh vang vọng khắp năm nhánh đường hầm nhỏ, dội ngược trở lại hang lớn.

"Tôi không biết nữa, tôi nghĩ chúng ta đang đi về hướng tây nam, và không một cái đường hầm nào hướng thẳng theo hướng ta đã đi, hay cũng chẳng có cái nào hướng thẳng sang phía đông."

Họ đang ở trong một cái động tròn, nhìn một cách bất lực về phía những đường hầm bằng phẳng, mỗi đường đều treo những dây đèn tới tận những khúc quanh và chỗ rẽ. Chúng rõ ràng là đã được tạo nên bởi nước biển, có thể là một trong số chúng nối ra những cái hang ngoài biển mà David đã có ý muốn họ tìm từ đầu. Những đường hầm này không rộng bằng đường hầm mà họ đang đứng, nhưng vẫn đủ rộng để thích hợp làm một con đường thoải mái cho người đi, và ít nhất là cao ba mét. Chẳng có cách nào để đoán được lối nào đẫn tới phòng thí nghiệm – "nếu có cái đường nào dẫn tới phòng thí nghiệm thì chúng ta cũng thậm chí không biết nó có xuống tới đây không.."

"Nếu không có cái nào dẫn về hướng đông, thì chúng ta cứ chọn đại một cái trông có vẻ dẫn theo hướng tây nam", Steve nói nhỏ. "Hơn nữa, hướng đông chính là phía biển."

Karen lảm nhảm những từ gì đó vô nghĩa, khiến Rebecca lo lắng bước tới trước để xem xét tình trạng của cô ta. Mặc cho John và Steve vẫn đang giữ chắc cô, nhưng cô ấy trông có vẻ không gặp khó khăn gì trong việc tự đứng vững. Rebecca sờ vào cái trán nhớt đẫm mồ hôi của cô, và Karen mở mắt ra nhìn Rebecca, đôi mắt đỏ và vô hồn, đồng tử dãn rộng.

"Karen, chị cảm thấy thế nào rồi?", cô nhẹ nhàng hỏi.

Karen chầm chậm nhắm mắt. "Khát", cô thì thào, giọng cô có vẻ trong trẻo.

"Vẫn có phản ứng, cảm ơn chúa.."

Rebecca nhẹ nhàng sờ vào cổ cô ta, cảm thấy nhịp đập nhanh và mạnh của Karen cạnh ngón tay mình. Rõ ràng là nó nhanh hơn so với lúc trước, lúc ở trên ngọn hải đăng. Cho dù tác động của virus lên Karen là gì đi nữa, thì cơ thế cô ấy cũng sắp đến mức giới hạn chịu đựng rồi.

Rebecca quay ra, cảm thấy một sự tuyệt vọng và giận dữ, muốn hét lên bảo ai đó hãy làm cái gì đi, và nghe thấy tiếng bước chân nện thình thịch, vang vọng trong một đường hầm. Cô chộp lấy khẩu Beretta của mình, nhận thấy John và David cũng làm vậy trong khi Steve đỡ lấy Karen.

"Cái gì, nó từ đâu đến? Griffith? Có phải là Griffith không đây?"

Tiếng động có vẻ vang vọng tới từ khắp mọi hướng, và sau đó Rebecca nhìn thấy một người đàn ông xuất hiện ở khúc rẽ trong hành lang thứ hai từ phía bên phải. Một dáng người liêu xiêu, áo khoác bụi bặm bay phần phật, và gã nhìn thấy họ, và mặc dù còn cách gã cả mười lăm mét, nhưng Rebecca vẫn nhận thấy được cái vẻ mặt sửng sốt và nỗi vui mừng điên cuồng hiện lên khuôn mặt người đàn ông. Gã ta chạy về phía họ, mái tóc nâu rối bù xõa ra, đôi mắt sáng bừng và môi thì cứ mấp máy.

Gã ta không hề mang bất cứ một loại vũ khí nào nhưng Rebecca vẫn giương cao súng của mình.

"Ôi, cảm ơn chúa, cảm ơn chúa! Các bạn phải giúp tôi! Lão bác sĩ Thurman, hắn điên rồi, chúng ta phải ra khỏi đây mau!"

Gã ta lảo đảo đi ra khỏi đường hầm, và gần như lao vào David, dường như không biết tới những khẩu súng lục đang hướng về phía gã khi gã lảm nhảm nói.

"Chúng ta phải đi ngay thôi, có một con thuyền có thể dùng được, chúng ta phải rời khỏi đây trước khi gã giết hết chúng ta.."

David nhìn về phía sau, thấy Rebecca và John vẫn đang yểm hộ anh. Anh đút khẩu Beretta vào bao súng và bước lên phía trước, nắm lấy tay người đàn ông.

"Thoải mái, bình tĩnh nào, ông là ai, ông làm việc ở đây à?"

"Alan Kinneson", người đàn ông hổn hển nói. "Thurman nhốt tôi ở trong phòng thí nghiệm nhưng gã nghe thấy các bạn đang tới và tôi đã xoay xở để thoát ra được. Nhưng gã ta là một thằng điên, các bạn phải giúp tôi ra tới chiếc thuyền! Ở đó có điện đài, chúng ta có thể gọi giúp đỡ!"

"Phòng thí nghiệm!"

"Đường nào dẫn tới phòng thí nghiệm?", David hỏi nhanh.

Kinneson dường như không nghe thấy anh hỏi, quá sợ hãi khi nghĩ đến những thứ mà gã nghĩ Thurman có thể làm với họ.

"Điện đài trên thuyền, chúng ta có thể gọi cứu viện và sau đó rời khỏi đây!"

"Phòng thí nghiệm", David nhắc lại. "Hãy nghe tôi, có phải ông vừa ở đó ra không?"

Kinneson quay lại, chỉ vào đường hầm cạnh cái mà gã vừa đi ra, cái ở giữa.

"Phòng thí nghiệm đường đó.."

Gã ta chỉ cái đường hầm mà gã vừa ra khỏi.

".. Và con thuyền ở dưới kia. Những hang động này như là mê cung vậy."

Mặc dù có phần bình tĩnh khi chỉ những đường hầm, nhưng lúc quay lại nhìn họ, trông gã lại kích động y như lúc nãy. Nhìn lần đầu tiên, gã ta có vẻ ngoài ba mươi tuổi, nhưng David nhận thấy gã có những vệt sâu khắc ở cạnh mắt và miệng, và nhận ra là gã ta phải đã có tuổi rồi. Bất kể là ai hay là già bao nhiêu tuổi, hẳn là gã ta đã bị giam giữ và ở tình trạng gần như mất trí vì sợ hãi.

"Điện đài ở trên thuyền, chúng ta có thể gọi giúp đỡ và rời khỏi đây!"

David suy nghĩ không ngừng trong khi tim đập thình thịch. Nó đây rồi, đây là cơ hội của họ - "chúng ta sẽ tới phòng thí nghiệm, bắt tên Thurman này đưa cho chúng ta cách chữa bệnh, và sau đó rời khỏi đây, trước khi bất cứ ai khác bị tổn thương."

Anh quay lại nhìn mọi người, nhận ra một niềm hy vọng đang cháy bỏng trong ánh mắt của họ y như của anh, John và Steve dứt khoát gật đầu. Rebecca không trông có vẻ vui mừng. Cô gật mạnh đầu về phía sau, ám chỉ cho David hãy đi ra khỏi tầm nghe của Kinneson.

"Xin chờ một tý", David nói, cố gắng giữ vẻ lịch sự mà anh không thích tí nào. Kinneson là một trong những nhà nghiên cứu trong danh sách của Trent.

"Chúng ta phải mau lên thôi!". Gã đàn ông lải nhải, nhưng gã ta không đi theo khi David bước về phía những người khác, bốn người rướn lại gần nhau để bàn bạc, Karen vẫn đang dựa vào tay của Steve. Giọng của Rebecca nhỏ và đầy lo lắng:

"David, chúng ta không thể đưa Karen tới phòng thí nghiệm nếu Thurman hay Griffith đang ở đó, điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta phải đánh nhau?"

John gật đầu, nhìn vào đôi mắt hoang dại của Kinneson:

"Và tôi không nghĩ rằng chúng ta nên để tay này một mình, gã có vẻ như sẽ chuồn lên đường mà không cần chúng ta vậy."

David cau mày suy nghĩ. Steve là một tay súng giỏi, nhưng John lại khỏe hơn. Nếu họ phải buộc Thurman đưa thuốc giải T-Virus, thì John chắc sẽ đe dọa gã dễ hơn.

"Chúng ta chia nhỏ ra, Steve, cậu hãy đưa Karen ra thuyền, nhớ để ý tới Kennison. Chúng tôi sẽ đi tới phòng thí nghiệm, lấy cái chúng ta cần và sau đó sẽ gặp lại cậu sau. Đồng ý chứ?"

Mọi người gật đầu một cách khó khăn, và sau đó David quay lại, nói với Kinneson:

"Chúng tôi phải tới phòng thí nghiệm, nhưng bạn của chúng tôi Karen không được khỏe lắm. Chúng tôi muốn ông đưa cô ấy cùng người hộ tống này ra thuyền và đợi chúng tôi."

Đôi mắt của Kinneson có vẻ như trống rỗng trong một giây, cái nhìn lạ lùng và vô hồn ấy biến đi một cách nhanh chóng khiến cho David không chắc là mình đã nhìn thấy nó.

"Chúng ta phải nhanh lên thôi". Gã ta nói nhanh, sau đó quay lưng và bắt đầu đi vào cái hành lang mà gã đã xuất hiện trước đó, với những bước chân thoăn thoắt.

David chợt cảm thấy thật lo lắng, nhìn vào cái lưng đang khuất dạng đằng xa, cái áo khoác phòng thí nghiệm bẩn thỉu bay bay sau gã.

"Gã thậm chí còn chưa hỏi chúng ta là ai.."

Khi Steve và Karen bắt đầu đi vào trong đường hầm, David nắm lấy tay Steve, nói nhỏ: "Cẩn thận với gã đó, Steve. Chúng tôi sẽ tới nơi sớm nhất có thể."

Steve gật đầu và đi theo tay bác sĩ Kinneson kỳ quặc, Karen loạng choạng bên cạnh anh. John và Rebecca đã đứng sẵn sàng trước lối đi ở giữa, vũ khí vẫn nắm chắc trên tay. Không gian rung chuyển khi tiếng sấm rền vang ngoài trời. Không nói lời nào, cả ba bắt đầu đi xuống lối đi tối tăm một cách mệt mỏi, nhưng với những bước chân dứt khoát, sẵn sàng đối mặt với những quái nhân đứng sau những bi kịch ở vịnh Caliban này.

Họ rẽ ở ngã rẽ đầu tiên, Karen bám vào vai anh bằng một đôi tay lạnh giá đẫm mồ hôi còn nhà nghiên cứu kia đã đi xa hơn ở phía trước, cách chừng 100 mét. Steve chỉ kịp thấy cái bóng trắng dao động và gót chân đen đen, sau đó gã biến mất khỏi tầm nhìn của anh, những tiếng bước chân lóc cóc dần xa.

"Hay thật. Lạc trong một mê cung các hang động dười biển chỉ vì ngài bác sĩ Thích-Lập-Dị tuân thủ theo đúng tác phong làm việc.."

Karen rên to lên, tiếng rên rỉ của sự đau đớn, và Steve cảm thấy ớn lạnh, một cơn quặn đau siết chặt lấy dạ dày anh, nỗi sợ hãi của anh không đáng gì so với sự sợ hãi mà anh dành cho Karen. Cô ấy đang dựa lên anh càng ngày càng nặng, chân cô kéo lê trên sàn đá vôi lạnh lẽo.

"David, John, Rebecca, làm ơn hãy mau lên, làm ơn đừng để Karen thêm tệ.." Anh kéo cô đi nhanh nhất có thể, băn khoăn về việc bắt kịp Kinneson, lo lắng cho những người khác đang dấn thân vào chỗ nguy hiểm, sợ hãi cho người phụ nữ ốm yếu một cách tuyệt vọng đang ở ngay cạnh anh. Ngoại trừ việc gặp được Rebecca, hôm nay chính là ngày tệ nhất trong cuộc đời của anh. Anh đã ở trong đội S. T. A. R. S. Được một năm rưỡi, và ngay cả khi anh ở trong những tình huống nguy hiểm trước đây, họ cũng chưa từng giáp mặt những thứ mà anh đã trải qua trong vài giờ ngắn ngủi từ lúc họ bị hất khỏi bè.

"Quái vật biển, những con zombie có súng và bây giờ là Karen. Một Karen đau đớn nghiêm trọng, mất ý thức, có thể trở thành một trong những thứ đó. Chúng ta đã rất gần tới việc thoát khỏi đây, có thể nó đã quá muộn.."

Khi họ đi qua chỗ quanh của đường hầm, Steve nhận ra anh không thể nghe thấy tiếng bước chân của Kinneson nữa. Anh loạng choạng đi qua góc rẽ, nghĩ rằng mình nên gọi gã đợi họ, không nên đi quá xa về phía trước và anh sững lại ớn lạnh, ruột anh như tụt xuống nơi nào đó tận đầu gối. Kinneson đứng trước họ hai mét, cầm trong tay một khẩu. 25 bán tự động, khuôn mặt và đôi mắt của gã ta vô hồn và trống rỗng một cách lạ lùng như một hình nộm vậy.

Gã bước về phía trước và ấn mạnh nòng súng nhỏ vào bụng Steve, chộp và rút khẩu Beretta ra khỏi bao đựng của anh rồi bước giật lùi trở lại. Tên bác sĩ di chuyển sang một bên, chĩa cả hai khẩu súng về phía họ, khi gã ra dấu cho Steve tiến về phía trước mặt gã.

"Cẩn thận gã này, Steve.."

Steve để Karen dựa sang một bên, lục lọi trong trí óc của mình cách thức để nói lẽ phải với Kinneson, cơ thể anh căng như dây đàn trong khi tâm trí anh hét lên rằng hãy tiến lên, đừng để bị bắn –

"Điều gì sẽ xảy ra với Karen?"

"Mày sẽ tới phòng thí nghiệm," Kinneson nói đều đều. "Hoặc tao sẽ giết mày."

Đó là cái giọng nói đều đều của một cái máy tính, tới từ một khuôn mặt trống rỗng không thương xót của người đàn ông bỗng trở nên không giống một con người, không giống một chút nào. "Chúng tôi biết ông làm gì ở đây", Steve quát lên. "Chúng tôi biết tất cả về bọn Trisquad khốn kiếp, chúng tôi biết về T-virus, và nếu ông muốn rời khỏi đây mà không.."

"Mày đến phòng thí nghiệm hoặc tao sẽ giết mày."

Steve cảm thấy một cơn rùng mình bất lực chạy qua người mình. Giọng của Kinneson không hề thay đổi, cái nhìn vẫn thế và sự vô cảm trong giọng nói của gã. Steve nhận thấy những đường vạch, sau đó, những vạch sâu hình mạng nhện kéo dài trong đôi mắt nâu lạnh lùng, và đôi môi không chút biểu cảm.

"Lạy Chúa.."

"Mày tới phòng thí nghiệm hoặc tao sẽ giết mày". Gã lặp lại, và lần này gã giơ cả hai khẩu súng lên cách cái đầu cúi xuống của Karen vài inch. Steve biết cô đang chết dần, biết rằng đây là một cơ hội tốt để giải thoát cô khỏi virus và khỏi bị trở thành một sinh vật bạo lực điên cuồng trước khi buổi đêm đi qua – "nhưng mình phải bảo vệ cô ấy bằng hết sức lực mình có thể. Nếu mình hi sinh cô ấy để tự cứu mình thì thậm chí cô ấy chẳng có tới cơ hội để được chữa trị.."

Steve sẽ không, không thể làm như vậy. Cho dù có phải đánh đổi bằng mạng sống của chính anh.

Giữ chặt Karen, anh tiến về phía trước gã và bắt đầu cất bước.

"Thời gian cần thiết đã trôi qua. Nếu những kẻ đột nhập làm theo những gì ta mong đợi chúng làm, chúng đã chia ra, một số đang tiến một cách sai lầm tới chuồng nhốt. Số còn lại đang đi cùng tên bác sĩ về phía phòng thí nghiệm. Cho dù Alan có thất bại thì ít nhất gã cũng giữ chân những tên đột nhập đủ lâu ngoài đó. Dù là đường nào thì cũng đến lúc rồi."

Griffith vỗ vào bảng điều khiển khu rào của bọn Ma7, tiếc nuối nghĩ tới sẽ vui thế nào nếu có thể chứng kiến nét mặt của bọn người kia. Đèn đỏ chuyển sang màu xanh, dấu hiệu chứng tỏ rằng chiếc cổng đã mở hoàn toàn. Cũng không sao. Dù gì thì bọn họ cũng sẽ chết trong một khoảng thời gian kéo dài.
 
211 ❤︎ Bài viết: 256 Tìm chủ đề
CHƯƠNG 15

Con đường hầm lộng gió dường như kéo dài vô tận. Cứ mỗi lần họ đi qua một chỗ rẽ, Rebecca lại mong nhìn thấy một cánh cửa khép kín, một cái rãnh nhỏ cạnh cửa để dùng cái thẻ khóa mà David đang giữ. Đến khi những ngã rẽ cứ tiếp tục, dây đèn treo lại kéo dài mãi theo những nhánh đường dài của đường hầm, mỗi quãng đều trống rỗng và hệt như quãng đường trước, thì cô ngừng ước ao về một cánh cửa. Một dấu hiệu là đủ rồi, một mũi tên chỉ đường trên tường thôi, hay là một dấu hiệu bằng phấn - bất cứ thứ gì có thể làm dịu đi nỗi nghi ngờ đang dâng lên trong cô rằng họ đã đi lạc đường.

"Bị lừa bởi một nhà khoa học của Umbrella? Bỏ mạng vì.."

Gạt lời mỉa mai sang một bên, Kinneson trông thật kì lạ, nhưng rõ ràng là có vẻ sợ hãi tới độ cuồng điên. Có thể nào là ông ta đã bị bối rối trong cơn sợ hãi mà chỉ sai hành lang không? Hoặc phòng thí nghiệm được dấu kín hơn họ nghĩ?

"Hay hắn ta dụ chúng ta tới chỗ một tên săn người lẩn khuất đâu đó, một cái hang cụt - hoặc thậm chí là một cái bẫy, thứ gì đó nguy hiểm, để giữ chúng ra xa con đường đó trong khi hắn..

* * *trong khi hắn làm gì đó với Steve và Karen."

Ý nghĩ ấy khiến cho cô sợ hãi hơn cả cái ý niệm rằng mình đang tiến vào một cái bẫy. Karen đang ốm yếu một cách tuyệt vọng, cô ấy không thể tự vệ, và Steve..

".. không, Steve sẽ ổn thôi. Anh ấy có thể khiến cho Kinneson lên cơn đau tim ấy chứ.. Ngoại trừ việc Karen đang đi với anh ấy. Một Karen ốm yếu, vật lộn để có thể đứng vững."

Nhịp chân của họ bắt đầu chậm lại, David và John đều thở gấp, những cái cau mày hiện rõ trên nét mặt. David giơ tay lên, bảo họ dừng lại.

"Tôi không nghĩ đây là lối đi đúng", David thở hổn hển. "Lẽ ra chúng ta phải thấy thứ gì đó rồi. Mà những mẩu giấy gắn cùng với chiếc thẻ khóa nói về hướng tây nam, đông – Tôi không chắc lắm, nhưng tôi nghĩ sau lần rẽ cuối cùng vừa rồi, chúng ta đang đi về hướng tây."

John vỗ nhẹ vào đầu mình, máy tóc ngắn và dày của anh ướt đẫm mồ hôi:

"Tôi không biết chúng ta nên đi theo hướng nào, nhưng tôi biết tôi nghĩ rằng Kinneson là một thằng xỏ lá. Cái tên làm việc cho Umbrella, quỷ tha ma bắt."

"Em đồng ý như thế", Rebecca nói, thở mạnh. "Em nghĩ chúng ta nên quay lại. Chúng ta phải tới phòng thí nghiệm nhanh lên. Em không nghĩ.."

Clank!

Họ cứng người, nhìn lẫn nhau. Ở đâu đó xa xa phía trước con đường hầm dài vô tận này, cái gì đó làm bằng kim loại đã dịch chuyển.

"Phòng thí nghiệm?", Rebecca nói đầy hi vọng. "Có phải nó.."

Một tiếng động trầm lạ lùng cắt ngang lời cô, lời nói tắc nghẹn ở cổ họng khi âm thanh đó lớn dần. Nó không giống như bất cứ một âm thanh nào mà cô đã nghe thấy – một tiếng chó tru lên, kết hợp với tiếng rít rên rỉ lạc điệu, và tiếng thét gào tuyệt vọng của một đứa trẻ mới sinh. Nó là một âm thanh cô độc, kinh khủng, rít lên rồi lại lặng đi xuyên qua con đường hầm, cuối cùng tạo nên một tiếng gào thét thê lương – sau đó vài tiếng động như vậy cùng hòa thêm vào. Cô chợt thực sự chắc chắn rằng mình không hề muốn nhìn thấy cái gì đã gây ra tiếng động này, ngay cả David cũng bắt đầu giật lùi lại, mặt anh tái nhợt và mắt trợn tròn.

"Chạy!", anh nói, giương khẩu Beretta của mình vào cái hành lang trống rỗng phía trước mặt, đợi tới khi họ lập cập chạy qua mình rồi mới quay lại chạy theo.

Rebecca cảm thấy một nguồn sức mạnh không thể tin nổi khi nỗi kinh hoàng tràn ngập trong cơ thể cô, khiến cô chạy hết tốc lực trên cái đường hầm tối, chạy trốn những tiếng gào thét đang vang to dần của cái thứ quái quỉ đang ở sau họ. John ở ngay trước mặt cô, đôi tay và đôi chân cuồn cuộn cơ bắp của anh giật giật điên cuồng, và cô có thể nghe thấy tiếng chân lộp cộp của David sau gót mình.

Tiếng hú ngày càng to thêm, và Rebecca có thể cảm thấy đá rung lên dưới những bước chân chạy như bay của cô, bước chạy như ngựa của những con quái thú gào thét đang ầm ầm ngay sau họ.

"Mình sẽ không thoát được.."

Ngay khi cô nhận ra rằng họ sắp bị bắt kịp, cô nghe thấy David hổn hển: "Ngã rẽ tới.."

* * *và họ tới được đoạn cuối một quãng đường thẳng nơi mà đường hầm lại quanh lần nữa, Rebecca chạy qua chỗ quanh thật nhanh, giương cao khẩu Beretta trong bàn tay run rẩy đẫm mồ hôi của cô, quay súng về ngã rẽ mà họ vừa đi qua. John và David đứng ngay bên cạnh cô, khẩu súng 9 ly hờm sẵn trong tay. Hai mươi mét hành lang trống rỗng trước mặt họ ngập tràn tiếng gào thét điếc tai của những kẻ truy đuổi bí ẩn.

Ngay khi chúng xuất hiện trong tầm ngắm của họ, cả ba cùng nổ súng, những viên đạn xuyên thẳng vào sinh vật chạy đầu tiên. Nhìn thoáng qua, Rebecca nghĩ rằng nó gần giống một con sư tử - sau đó là giống một con thằn lằn khổng lồ - sau đó là giống như một con chó. Cô bắt gặp một hình ảnh điên rồ được chắp vá từ những thứ không thể tin được, nhìn thấy những phần của nó mà cô không nghĩ nổi có thể lắp vào một cơ thể - những cái đồng tử xẻ rãnh như của mèo vậy. Cái đầu rắn khổng lồ, cặp hàm hổn hển nhớp nháp chứa đầy những cái răng nhọn như dao. Thân hình mập lùn và ngực tròn to như thùng phi đầy sức mạnh, có màu giống như cát, đôi chân to bè quạt về phía trước, cái hông đầy cơ bắp nhún nhảy đẩy chúng tiến về phía họ với một tốc độ nhanh tới khó tin..

* * *Và cho dù những viên đạn đã ghim vào lớp da bò sát kì lạ, thì vẫn còn một con nữa ngay đằng sau..

Loạt đạn đầu tiên đâm vào cơ thể lực lưỡng của con quái vật đến gần nhất khiến nó bật ngửa trên những chiếc chân đầy móng vuốt, hất tung nó ra phía sau và làm máu phọt tung tóe lên tường thành hình những bông hoa màu đỏ..

Và.. nó lắc mạnh đầu, gào lên một tiếng kêu đau đớn hung tợn, tiếp tục phóng mình về phía họ.

"Ôi chết tiệt!"

Rebecca siết mạnh cò súng lần nữa, bốn, năm, sáu, trí óc cô gào lên to khi những con vật kì quái đang chạy về phía họ, tám, chín, mười..

Con đầu tiên ngã sụp xuống, nhưng vẫn còn con thứ hai và bây giờ là con thứ ba đang giận dữ chạy xuống đường hầm, mà khẩu Beretta chỉ có mười lăm viên đạn.

"Chúng ta sẽ chết mất.."

David nhảy lùi lại, về phía sau những tia lửa đạn. Một băng đạn trống trơn văng xuống sàn, và sau đó, anh lại đứng ngay cạnh cô, giương lên và bóp cò, khẩu Beretta rung nhẹ trong đôi tay thành thạo của anh. Rebecca đếm tới viên đạn cuối cùng của mình, giật lùi lại phía sau, cầu mong rằng cô có thể nhanh như David, và nhìn thấy con vật thứ ba đang lồm cồm chạy ngược lại phía sau, bộ ngực rộng của nó phọt ra đầy những vệt máu nhỏ màu đỏ. Nó đổ rầm xuống vũng chất lỏng nhớt mà nó đã tạo ra và nằm yên đó.

Không một ai trong đường hầm di chuyển, nhưng vẫn còn ít nhất hai con quái vật ở chỗ rẽ kia. Tiếng kêu đau đớn của chúng tiếp tục rền rĩ lúc to lúc nhỏ trong đường hầm, nhưng chúng ở yên phía sau, ngoài tầm nhìn – như thể chúng biết được cái gì đã xảy ra với đồng bọn của chúng, và quá liều lĩnh nếu chúng nhảy bổ vào cái chết đã chờ sẵn.

"Lùi lại", David nói khàn khàn, và vẫn giương cao súng vào cái chỗ rẽ, họ bắt đầu từ từ lùi về phía sau, tiếng gào thét của những sinh vật lai tạo ấy rền vang đuổi theo họ thành những làn sóng cô độc, khủng khiếp.

Griffith lùi nhanh ra xa cánh cửa khi nghe thấy tiếng khóa lạch cạch trong ổ, hắn không muốn ở gần bất cứ ai mà Alan dẫn về. Hắn đã có Thurman đứng sẵn sàng, đề phòng trường hợp có bất cứ hành động bất ngờ nào, nhưng khi hắn nhìn thấy người đàn ông trẻ và người bạn đồng hành thụ động bước vào trong phòng thí nghiệm, hắn tự hỏi không biết mình có gặp rắc rối nào không.

"Cái gì thế này? Ai đó uống nhiều quá chăng? Hay một vết thương nghiêm trọng bên trong chăng?"

Griffith cười, đợi Steve hoặc người phụ nữ đi cùng nói hay di chuyển, trong tim hắn tràn đầy những ý nghĩ hài hước. Đã từ lâu lắm rồi hắn không nói chuyện với ai đó có thể phản ứng lại mà không phải thúc giục, và sự thật là kế hoạch tốt đẹp của hắn khiến hắn càng ngày càng thấy vui vẻ. Bên cạnh hắn, Alan đóng cửa lại và đứng yên, cầm trong tay hai loại vũ khí khác nhau chẳng hợp đôi chút nào.

Người đàn ông trẻ tròn mắt nhìn quanh phòng thí nghiệm, ánh mắt u ám của anh ta dừng lại ở trên cái buồng điều áp, trông hơi sợ hãi. Đầu người phụ nữ gục xuống, cuộn trên ngực.

Anh ta có màu da xạm đen đậm tự nhiên của người Hispanic (người vùng địa trung hải), hoặc có thể là ai đó đến từ Ấn Độ. Không cao lắm, nhưng cường tráng. Đúng vậy, anh ta thực sự rất tuyệt.. Và vì có thể anh ta là một trong những người đã hủy diệt Athens, nên đây chắc chắn là phần thưởng xứng đáng cho hắn.

Ánh mắt nhanh nhẹn của người thanh niên cuối cùng cũng nhìn vào Griffith, tò mò và không hoàn toàn sợ hãi như là Griffith đã mong đợi.

"Để rồi xem.."

"Chúng tôi đang ở đâu?", người thanh niên bình thản hỏi.

"Anh đang ở trong phòng thí nghiệm nghiên cứu hóa học, xấp xỉ hai mươi mét dưới mặt nước của vịnh Caliban", Griffith nói. "Thú vị chứ hả? Những nhà thiết kể thông minh thậm chí còn xây dựng nó ở trong một xác tàu đắm, hay là họ xây một xác tàu đắm xung quanh phòng thí nghiệm, tôi không nhớ rõ.."

"Ông là Thurman?"

"Thật là cách cư xử thô lỗ!"

Griffith lại cười, lắc đầu:

"Không, cái sinh vật béo mập và không hi vọng đứng bên trái cậu là bác sĩ Thurman, tôi là Nicolas Griffith, và cậu là?"

Trước khi người thanh niên kịp trả lời, người phụ nữ ngẩng đầu lên, khuôn mặt trắng bệch lảo đảo nhìn quanh trong cơn đói bất lực.

"Một người bị nhiễm!"

"Thurman, ra tóm lấy người phụ nữ và giữ chặt cô ta", Griffith nói nhanh. Hắn không thể để cô ta hủy hoại mẫu vật tốt mà Alan đã xoay xở kiếm được. Nhưng khi Thurman lập cập vồ lấy người phụ nữ, người thanh niên đã kháng cự lại, đẩy Louis bằng một đôi tay nhanh nhẹn và giận dữ, nụ cười ngạo mạn khinh bỉ hiện rõ trên mặt anh.

Griffith cảm thấy sự lo lắng rộn lên: "Alan, đấm anh ta!"

Tay bác sĩ Kinneson giơ nhanh tay lên, giáng cho người thanh niên đang kháng cự một cú đánh ác liệt sượt qua phần phía sau đầu; hắn dừng đánh để cho Thurman kéo người phụ nữ ra ngoài.

"Cô ta xong rồi", Griffith mạnh mẽ nói, tự hỏi sao lại có thứ người nào trên thế gian này muốn ở cạnh một trong những thứ như vậy.

"Nhìn cô ta đi, cậu không thấy cô ta không còn là con người nữa sao? Cô ta đã là một con rối của Birkin rồi, một trong những kẻ đói khát cồn cào thảm hại. Một zombie. Một đơn vị Trisquad không qua đào tạo."

Ngay khi Griffith nói, một bước ngoặt hấp dẫn của các sự kiện xảy ra. Người phụ nữ quằn quại trong vòng tay ôm chặt của Thurman và với một chuyển động nhanh, đã lao về trước và cắn vào mặt Louis. Cô ta giật ra đầy một miệng ngập máu chiếc má của Thurman và bắt đầu nhai nó một cách sung sướng.

"Karen, ôi Chúa ơi, không.."

Tiếng kêu bàng hoàng của người thanh niên cất lên, anh không tài nào di chuyển hay làm gì nổi nữa. Louis cũng vậy. Tay bác sĩ vẫn điềm tĩnh đứng đó, máu rớt đầy trên khuôn mặt hắn, nhìn vật chủ của T-virus ngấu nghiến nuốt những miếng thịt tươi mềm mại. Griffith sững sờ.

"Nhìn xem", hắn nhẹ nhàng nói. "Không một sự nhăn nhó vì đau đớn, không hề có một chút cảm xúc nào.. cười đi, Louis!"

Thurman nhe răng cười ngay cả khi người phụ nữ lại nhào về phía trước, cố gắng giật đứt môi dưới đang trề ra của hắn. Với một tiếng rách toạc ướt át, cái lưỡi tét ra, phô bày một nụ cười rộng ngoác. Máu bắn ra. Người phụ nữ nhai nhồm nhoàm.

"Ngạc nhiên làm sao. Ngoạn mục không chê vào đâu được."

Người thanh niên run rẩy, làn da xám đen của anh chuyển dần sang màu tái nhợt bệnh tật. Anh có vẻ không màng thưởng thức chuyện đang diễn ra trước mắt, và Griffith nhận thấy chắc chắc như vậy; người phụ nữ đó hẳn là một người bạn.

"Tệ quá. Chẳng khác nào đem hạt ngọc cho ngâu vầy.."

"Alan, ôm lấy gã thanh niên, và ôm chặt anh ta."

Người thanh niên không hề kháng cự, anh ta đang chìm ngập trong nỗi ghê rợn rành rành thứ mà anh đang phải trải qua. Người phụ nữ lại tiếp tục cắn thêm một miếng má khác, và nụ cười của Louis phần phật, chắc chắn do những vết thương ở cơ.

Griffith muốn tiếp tục theo dõi thêm nữa, nhưng hắn còn có việc phải làm.

"Bạn bè của gã thanh niên này vẫn đang xoay xở để hạ bọn Ma7, và nếu chúng thành công, chúng nhất định sẽ tìm kiếm anh thanh niên đáng giá này.

Nhưng khi đó, anh ta sẽ là gã thanh niên đáng giá của ta.."

Griffith đi tới một chiếc quầy, cầm lấy một ống thuốc, đập đập một bên nó bằng một ngón tay. Hắn quay ra phía vị khách im lặng, tự hỏi có nên kể lại cái mưu kế hoàn hảo dành để bắt các người bạn của anh ta không. Đó có phải là những thứ mà các "nhân vật phản diện" thường làm trong phim không nhỉ? Hắn cân nhắc nó cẩn thận, sau đó quyết định ngược lại; vì hắn luôn đánh giá đó là một điểm ngu ngốc trong kế hoạch. Hắn đâu phải một tên hung ác. Đó là tại vì họ đã tự xâm nhập vào nơi linh thiêng của hắn, đe dọa kế hoạch tạo nên một thế giới thanh bình của hắn. Ở đây không hề có một câu hỏi nào về việc ai là quỉ dữ trong câu chuyện này.

Người thanh niên vùng Hispanic vẫn nhìn vào bữa tiệc trưa kì lạ, mồm anh vẫn há hốc trong sự mất tinh thần; Karen đang nuốt cái mũi của Thurman, khiến cho nó trong thật đúng như một đống bầy nhầy.

Bước nhanh về phía trước, Griffith thọc mạnh đầu kim vào trong cánh tay vạm vỡ của người thanh niên và ấn mạnh pít tông.

Ngay sau đó anh ta liền phản ứng, cái nhìn còn sốc của anh hướng thẳng vào Grifffth, cơ thể anh rung lên và cố đấm hắn. Một cánh tay của Alan có vẻ hơi dịch chuyển nhưng hắn ta vẫn ôm chặt chàng Hispanic trẻ tuổi.

Grifith cười vào mặt anh, lắc lắc đầu.

"Thư giãn nào", hắn nhẹ nhàng nói. "Chỉ một chút nữa thôi, cậu sẽ không còn cảm thấy gì."

Chậm chạp, rất chậm, họ lùi dần về phía cái hang nơi mà họ đã xuất phát, những sinh vật giống thằn lằn ấy vẫn tiếp tục lần theo, cẩn thận không xuất hiện trong tầm nhìn của họ, gào thét bản nhạc kinh dị của chúng. John vẫn nghĩ về Karen và Steve, chỉ có Chúa mới biết tay bác sĩ Umbrella đang ở đâu, và tuyệt vọng cầu cho bọn quái vật kia tấn công, mỗi khoảnh khắc bây giờ đều có thể phải trả giá bằng cơ hội của Karen, những khoảnh khắc này có thể là lúc Steve đang phải chiến đấu giành giật mạng sống..

"Tới đây mau, bọn đần độn, đồ khốn! Chúng tao ở ngay đây này, bữa trưa miễn phí đây! Tới đây mau!"

Họ đã thử la hét, thử bắn và giậm mạnh chân, nhưng những sinh vật đó vẫn không mắc bẫy. David đã thử lừa chúng lộ mặt, cả ba người cùng lẻn quay trở lại một khúc rẽ và khi những con thằn lằn bự đó vừa trườn qua đoạn hầm thẳng sau họ, chúng đã nhảy ngược trở lại và bắt đầu chạy trốn. John chỉ bắn trúng có một viên đạn vào một trong hai con, và họ thấy rằng chỉ còn có hai con quái thú, nhưng cả hai đều mang những vết thương nghiêm trọng, có lẽ vậy nên chúng không mắc mưu thêm lần nào nữa.

"Lũ khốn kiếp quỉ quyệt", John cằn nhằn dễ tới hai mươi lần, đi giật lùi nhanh hết mức anh có thể. "Chúng còn đợi cái quái gì nhỉ?"

Cả Rebecca và David đều không trả lời, họ đã bàn về việc này rồi, đã nói chuyện trong những tiếng gào thét kinh dị của những con quái vật đang lén đi theo. Chúng đang đợi ba người họ rẽ qua khúc quanh.

Thời gian kéo dài gần như vô tận khi họ đi lùi qua con đường hầm trống rỗng từng bước, từng bước một, và rồi họ nghe thấy ở xa xa, âm thanh quen thuộc của cái hang lớn mà họ đã xuất phát từ đó – tiếng sóng biển âm âm và rung rầm rầm như thể đất dưới chân vang dội những tiếng hú.

"Cám ơn chúa, cám ơn chúa, bao lâu nữa? 15, 20 phút?"

"Khi chúng ta ra tới cửa đường hầm, hãy đứng ở hai bên sườn đường hầm", David nói khẽ. "Tôi sẽ quay ra và chạy, dụ chúng ra.."

Rebecca lắc lắc đầu, nét mặt cô hằn rõ sự lo lắng:

"Anh bắn tốt hơn em, và em lại chạy nhanh hơn anh. Em có thể làm việc đó."

Họ gần như đã tới hang lớn. John bắn một cái nhìn về phía David, nhìn thấy anh đang khó khăn quyết định và cuối cùng anh cũng gật đầu, ra hiệu:

"Được rồi. Hãy chạy nhanh hết mức có thể, quay lại hướng cầu thang dẫn lên ngọn hải đăng. Chúng tôi sẽ hạ chúng khi chúng đã chạy đủ xa để không thể quay lại chỗ rẽ."

Rebecca thở hắt ra: "Em hiểu, chỉ cần nói khi nào thôi."

John cảm thấy rõ sự thay đổi của không khí ngay bên cạnh anh, gió hút cuồn cuộn xoáy trong hang. Chỉ một lùi thêm một bước nữa là họ sẽ bị bao quanh bởi không gian của hang lớn. John nhanh chóng bước sang một bên, đứng giữa cái đường hầm mà anh vừa đi ra và đường hầm bên cạnh nó. Anh thấy David cũng đã vào vị trí của mình, Rebecca đứng ngay giữa miệng hành lang..

"Chạy!"

Rebecca lấy đà chạy hết tốc lực ra xa, và John trở nên căng thẳng, khẩu Beretta giơ ngay cạnh mặt anh, lắng nghe tiếng gào thét đang vang lớn lên, tiếng bước chân thình thịch..

"Hành động!", David hét to, và cả hai cùng xoay người thẳng vào trong đường hầm, bóp cò.

Rắc-Rắc-Rắc-Rắc!

Tiếng gào rú của hai con quái vật cách họ không tới sáu mét trước mặt và những viên đạn to đâm thẳng vào chúng, đục những lỗ lớn đầy máu xuyên qua lớp da như cao su của chúng, qua xương và dịch màu đỏ bắn tung tóe điên cuồng.

Những tiếng gào thét tắt dần bên cạnh những tiếng đạn nổ ầm ầm, những bộ phận như của bò sát giúp chúng di chuyển ra tới tận cửa đường hầm. Hai cơ thể kì lạ ấy đổ sụp xuống sàn đá thành một đống thịt rách nát.

Ngay khi họ dừng bắn, Rebecca chạy trở lại hang lớn, má cô đỏ ửng, đôi mắt ánh lên vẻ khẩn trương.

"Đi thôi". David nói, và sau đó cả ba người cùng chạy vào hành lang mà Kinneson đã đi vào trước đó, thời gian đã mất khiến cho họ chạy như bay trong nỗi tuyệt vọng.

Cơn giận dữ thất vọng mà John đã trải qua lúc trước đã bị bỏ lại sau lưng, bây giờ anh chỉ hoàn toàn cảm thấy một nỗi sợ hãi tràn ngập trong người.

"Karen, làm ơn đừng có làm sao. Làm ơn, xin đừng để cái gì xảy ra với cô ấy, Lopez.."

Đường hầm lại tiếp tục rẽ, vòng nghiêng xuống, cả ba người họ chạy quành qua nó, nỗi lo sợ cho bạn và đồng đội khiến cho họ ngày càng chạy nhanh. John tự nhủ với bản thân mình rằng nếu họ vẫn ổn, nếu vẫn còn thời gian cho Karen, nếu tất cả họ đều có thể sống sót thoát khỏi đây, anh có thể hi sinh bất cứ cái gì.

"Xe của tôi, nhà của tôi, tiền của tôi, tôi sẽ không bắt nạt ai nữa cho tới khi tôi làm đám cưới, tôi sẽ sửa lại thái độ của mình, sẽ cư xử tỉ mỉ và thẳng thắn."

Thế vẫn là chưa đủ, và anh không biết có ai muốn nó không, nhưng anh sẽ hi sinh bất cứ thứ gì, làm bất cứ cái gì cần thiết.

Đường hầm lại bất ngờ đổi hướng lần nữa, vẫn vòng nghiêng xuống dưới và chúng bị khoét một lỗ tròn ở góc đường..

Ở đó có nhiều cánh cửa mở rộng, một hành lang nhỏ.

Một căn phòng lớn được chiếu sáng lờ mờ phía trong nó. Steve dựa vào khung cửa, nắm trong tay khẩu Beretta, khuôn mặt anh tái nhợt và trống rỗng.

"Steve! Chuyện gì xảy ra vậy, chuyện gì..". David bắt đầu, nhưng khi nhìn thấy ánh mắt trên khuôn mặt của Steve khi anh quay ra nhìn họ đi tới, với một sự trống rỗng khủng khiếp ở đó, tất cả họ dừng lại ngay lập tức. Cho dù lý trí của anh cố từ chối nó, trái tim của John vẫn ngập đầy sự kinh hoàng và nỗi đau mất mát.

"Karen chết rồi". Steve nhẹ nhàng nói, sau đó quay đi và bước vào trong phòng.
 
211 ❤︎ Bài viết: 256 Tìm chủ đề
CHƯƠNG 16

"Ôi không.."

Rebecca thấy như đang ở trong đáy sâu tuyệt vọng, cô nhìn chằm chằm vào Steve, cả John lẫn David điếng người và thẫn thờ bên cạnh cô. Vẻ vô hồn trên gương mặt Steve trước khi anh quay đi đủ để họ biết chuyện gì đã xảy ra.

"Karen tội nghiệp, và còn Steve, có cái gì giống như.."

Họ tìm thấy phòng thí nghiệm quá muộn. Cô liếc xuống rãnh khóa điện tử bên cánh cửa khi bước vào cặp dấu niêm lồng nhau, cảm giác vô vọng và vô nghĩa hoàn toàn. Họ đến đây để tìm thông tin, để rồi chỉ thấy các thí nghiệm, chỉ để Karen bị lây nhiễm và quay sang chống lại Steve ngay khi họ chạm tay vào cơ hội hiếm hoi có thể chữa trị cho Karen..

"Nhưng Kinnesson. Thurman.."

Cô bước vào cánh cửa thứ hai, chau mày. Phòng thí nghiệm thật khổng lồ, thiết bị xếp thành hàng dài, những chiếc bàn cao ngất chất đầy tài liệu, nhưng điều đầu tiên làm cô chú ý là buồng điều áp phía đối diện với chúng, ánh mắt cô bị hút vào phiến kính dày được gia cố áp vào cánh cửa.

Nó là một buồng điều áp, cánh cửa phía trong đang mở. Và đằng sau cánh cửa thứ hai, cùng với tấm lưới thép, là đại dương đen ngòm cuồn cuộn sóng. Phòng thí nghiệm được đặt dưới mặt biển. Điều thứ hai mà cô chú ý tới là máu, một vệt dày đỏ thẫm vắt ngang qua sàn đọng thành vũng lớn, nhưng có vết trượt kéo dài.

"Steve hẳn đã phải kéo cái xác đi. Quá nhiều! Lạy chúa, không phải của Karen chứ.."

Steve đi tới buồng điều áp và quay lại, có vẻ như chờ họ đi ngang căn phòng. Rebecca đi về phía anh, cố giữ chặt trong cổ họng những giọt nước mắt đồng cảm. John và David ở ngay sau cô, yên lặng và quan sát xung quanh căn phòng rộng lớn.

Ngay lúc đó, cánh cổng sau lưng họ đóng sầm lại. Kinnesson đứng ngay tại đó, cầm một khẩu súng bán tự động 25, chĩa thẳng vào họ với gương mặt lạnh băng.

"Bỏ vũ khí xuống."

Giọng nói thấp trầm là của Steve. Rebecca bối rối quay lại, thấy Steve đang chĩa cây Berreta vào họ, gương mặt lạnh băng y như Kinnesson. Bây giờ, khi đã ở gần buồng điều áp, cô có thể thấy thây người nằm trên sàn. Karen, máu kéo thành từng vệt trên gương mặt trắng bệch, và nơi mà trước kia từng là con mắt trái, bây giờ chỉ còn một lỗ đen ngòm.

"Ôi, lạy chúa, chuyện gì đang xảy ra vậy.."

David bước lại gần Steve, cầm súng một cách lỏng lẻo, vẻ bối rối và hoài nghi trong giọng nói của anh.

"Steve, anh đang làm gì vậy? Đã xảy ra chuyện gì?"

"Bỏ vũ khí xuống", Steve lập lại, vẫn với giọng đều đều vô cảm.

"Mày đã làm gì anh ta?"

John gầm lên, quay lại và bắn vào Kinnesson. Viên đạn khoét một lỗ tròn gần thái dương hắn. Kinnesson đổ sụp xuống..

Đoàng!

Phát bắn thứ hai đến từ khẩu Beretta của Steve, găm vào phần dưới lưng John. Máu trào ra từ vết thương và anh cong người, gục về phía trước. Rebecca thấy máu đen trào ra khỏi miệng, ánh nhìn kinh ngạc trong mắt anh..

Và John gục xuống nền xi măng, co thắt một lần nữa trước khi hoàn toàn bất động. Tất cả mọi việc diễn ra chỉ trong vài giây đồng hồ.

"Bỏ vũ khí xuống."

Steve nói nhẹ nhàng, chỉ khẩu bán tự động về phía Rebecca. Trong một thoáng, Rebecca chưa thể làm gì. Kinh hoàng nhìn vào Steve, cảm thấy nước mắt chảy dài trên má, không thể hiểu một cách thấu đáo việc gì đã xảy ra.

"Giải giới!", David lặng lẽ nói, buông khẩu súng trượt khỏi tay rơi xuống sàn.

Rebecca buông cây Beretta, khẩu súng nặng trịch rời khỏi những ngón tay rã rời của cô.

"Lui lại", Steve nói, vẫn hướng súng vào ngực cô.

"Hãy làm những gì hắn nói", David yếu ớt nói, trong giọng anh có một chút gì run sợ.

Họ lui từng bước chậm chạp, Rebecca không thể rời mắt khỏi mặt Steve, gương mặt đẹp trai như trẻ con mà cô vẫn hay quan tâm đến, giờ đây nó chỉ còn là một lớp mặt nạ, được đeo bởi một.. ".. một con Zombie."

Họ lùi tới sát bàn và ngừng lại, bất lực nhìn Steve nhặt lấy vũ khí của họ, tâm trí Rebecca quay cuồng với nhiều câu hỏi, hơn hẳn cảm giác kinh hoàng và nỗi đau mất mát. Một con Zombie có thể đi và nói chuyện như một người. Như Kinnesson, như Steve.

"Làm cách nào? Nó xảy ra khi nào?"

Khi Steve bước sang một bên, một giọng đàn ông nhã nhặn vang lên ở góc phòng, đằng sau bàn giấy:

"Thế là xong, hử? Chúa ơi, đúng kiểu thảm kịch Hy Lạp."

Một bóng người xuất hiện ngay sau giọng nói. Một người đàn ông mảnh khảnh, tóc xám đứng dậy và đi vòng quanh chiếc bàn, di chuyển gần như ngẫu nhiên đến cạnh Steve. Khoảng ngũ tuần, tóc dài đến cổ áo khoác, loại áo mặc trong phòng thí nghiệm, trên gương mặt góc cạnh trưng ra một nụ cười tươi tỉnh.

"Tôi lập lại các chỉ thị - cho lợi ích của chính những vị khách của chúng ta". Hắn nói vui vẻ. "Nếu bất cứ ai trong chúng có một hành động đặc biệt nào, bắn ngay."

Rebecca ngay lập tức nhận ra hắn là ai, cuối cùng cô biết mình không thể nào sai được.

"Tiến sĩ Griffith". Cô nói điềm tĩnh.

Griffith nhướng mày, có vẻ hãnh diện:

"Danh tiếng đã đi trước ta! Làm cách nào cô biết?"

"Tôi có nghe về ông". Cô nói lạnh lùng. "Hay Nicolas Dunne, gì gì đó."

Nụ cười của hắn cứng lại trong giây lát, rồi lại mở rộng. "Tất cả đã là quá khứ", hắn đáp trả, vung tay trong không khí. "Và cô sẽ không có cơ hội để nói cho bất cứ ai về hiểu biết thú vị đó, ta e rằng vậy."

Nụ cười của Griffith héo đi, đôi mắt xám chuyển thành lạnh lùng.

"Các người đã cản trở ta đủ lâu rồi. Ta phát chán với trò chơi này, vì thế ta nghĩ rằng mình sẽ bảo anh chàng đẹp trai này giết các người.."

Ánh mắt hắn đột ngột sáng lên, và Rebecca nhận thấy tia nhìn điên loạn trong mắt hắn, một kẻ mất trí hoàn toàn.

"Nào, để ta xem, sao lại phải làm bẩn thỉu thêm nhỉ? Steve, nói các bạn của chúng ta đi vào buồng điều áp, nếu anh còn có lòng tốt."

Steve hướng súng vào tim cô. "Đi vào buồng điều áp". Anh nói điềm tĩnh.

Trước khi David kịp bước, Rebecca bắt đầu nói, nhanh và cực kỳ nghiêm túc.

"Có phải đó là T-Virus? Có phải ông đã dùng nó làm cơ sở cho mọi chuyện này? Tôi biết ông là kẻ chịu trách nhiệm làm tăng thời gian khuếch đại, nhưng đây là một thứ mới, thứ mà Umbrella chưa từng biết qua. Nó là một gen đột biến với lớp màng kết hợp ngay tức thời, đúng không?"

Griffith mở to mắt.

"Steve, khoan đã.. cô biết gì về màng kết hợp, cô bé?"

"Tôi biết ông đã hoàn bị nó. Tôi biết ông bằng cách nào đó đã xoay sở tạo ra một virus lây nhiễm đủ nhanh để thâm nhập não trong chưa đầy một giờ.."

"Dưới 10 phút", Griffith nói, tác phong hoàn toàn thay đổi, từ một lão già vui tươi thành một tên cuồng tín, ánh mắt của hắn thu hẹp một cách dữ dội và nguy hiểm khác thường, răng nghiến chặt và đôi môi mím lại.

"Lũ súc vật ngu đần, ngu xuẩn với con T-virus lố bịch của bọn nó! Birkin có thể thông minh, nhưng lũ còn lại là một lũ đần, chỉ ưa trò chơi chiến tranh trong khi ta thì đã tạo nên một phép màu!"

Hắn quay đi, chỉ tay vào những thùng chứa sáng loáng xếp thành hàng nối tiếp nhau đến cửa phòng thí nghiệm.

"Các ngươi có biết chúng là gì không? Ngươi có biết ta đang tạo ra cái gì không? Hòa Bình! Hòa bình và tự do cho toàn nhân loại."

Daivd cảm thấy tim mình đập thình thịch, toàn thân anh rung lên và toát mồ hôi lạnh. Griffith đang đứng trước mặt họ, đôi mắt bừng cháy của gã bác học điên.

"Giống loài của ta, tạo vật của ta trong các thùng này đủ lây nhiễm hàng tỷ người trong vòng không đầy 24 giờ! Ta đã xoay sở và tìm ra câu trả lời, câu trả lời cho sự đáng khinh, ích kỷ, và tầm quan trọng của gây giống trong tâm khảm loài người - Khi quà tặng của ta lan đi trong gió, thế giới sẽ lại tự do, sẽ tái sinh, một nơi tuyệt vời cho mọi tạo vật, nhỏ và lớn, sống sót chỉ dựa trên bản năng!"

"Mày điên rồi", David thì thào, biết rằng Griffith có thể giết họ, chắc chắn sẽ giết họ, nhưng anh không thể ngăn mình nói lên điều đó. "Mày mất trí rồi."

"Đó là lý do tại sao nhóm của mình bị chết, lý do những người này chết. Hắn muốn biến thế giới thành những" thứ "như Kinneson. Như Steve."

Griffith gầm gừ, nước bọt phun phèo phèo khỏi miệng:

"Và các người sẽ chết, các người sẽ không có mặt khi phép lạ của ta ban vinh dự cho trái đất này, ta, ta không cho phép hai ngươi được hưởng món quà đó! Khi mặt trời mọc sáng mai, sẽ có hòa bình vĩnh cửu, và cả hai ngươi đừng hòng được tận hưởng nó."

Hắn quay qua Steve: "Đẩy chúng vào buống điều áp, ngay bây giờ!"

Steve nâng khẩu Beretta lên, chĩa vào cánh cửa mở, nơi có thi thể bất động của Karen và máu vương vãi trên sàn.

Anh ta ở ngoài tầm với, còn mình thì không thể chụp kịp vũ khí..

"Ngay, Steve! Giết nếu chúng không đi."

David và Rebecca bước qua lỗ khóa, cơ thể David căng ra và lạnh toát, anh phải làm gì đó nếu không cả thế giới sẽ bị đầu độc bởi giấc mơ điên loạn của một thằng gàn..

Steve đóng sầm cánh cửa. Họ đã mắc bẫy.
 
211 ❤︎ Bài viết: 256 Tìm chủ đề
CHƯƠNG 17

Griffith giận run người khi cánh cửa của buồng điều áp đóng sầm lại.

"Chúng không thấy sao, chúng không thấy gì ngoài cuộc sống ngu dốt, nhỏ nhặt của chúng ư?"

Hắn nhìn vào Steve, cơn giận trào ra làm hắn trở nên điên loạn, làm hắn nôn mửa, khát máu..

"Chĩa súng vào bản mặt khó ưa của mày và bóp cò, chết, chết, chết đi.."

Steve nâng súng lên. Rebecca hét lớn, đập tay một cách vô vọng vào mặt cửa kim loại dày.

"Không.. không.. không.. không.. không.."

ĐOÀNG!

Tiếng súng nổ như sấm cắt ngang tiếng hét của cô, Steve ngã ra khỏi chân đế của cánh cửa hầm, thoát khỏi tầm nhìn.

Không còn là Steve nữa, anh ta đã chết rồi, đã chết rồi..

"Lạy Chúa..", David thì thầm, và Rebecca nhìn thẳng vào đôi mắt mở to nóng nảy của Griffith, hắn đang ngó cô chằm chằm xuyên qua cánh cửa, và, Griffith đột nhiên mỉm cười, nụ cười chiến thắng hiểm độc đầy khó chịu. Một nụ cười khiến cô cảm nhận rõ hơn sự mất mát và nỗi kinh hoàng tột bực. Rebecca nhìn chòng chọc vào đôi mắt xanh ấy và phát hiện ra rằng cô chưa bao giờ thấy căm thù hắn như lúc này.

"Đồ con hoang khốn kiếp."

Hắn đã nói cho họ biết kế hoạch của hắn, nhưng vào ngay lúc đó, ý tưởng đó quá khủng khiếp để cô hiểu, quá rộng và điên rồ để cô có thể chấp nhận. Tất cả việc cô có thể nghĩ tới là hắn đã giết Karen và John, và cả Steve, cô không muốn gì hơn là tiêu diệt hắn, thấy hắn thất bại, thấy hắn chịu đau khổ, đau đớn và..

* * * "Và nếu chúng ta không làm gì đó, thì sự điên rồ của hắn sẽ được thực thi, chúng ta phải ngăn nó, ngăn hắn nhảy múa trên mộ phần của cả thế giới."

Griffith di chuyển tới bảng điều khiển kế bên cánh cửa và nhấn nút, vẫn còn mỉm cười. Có một tiếng động lớn từ nền và nước bắt đầu ùng ục tràn vào, lấy từ dòng nước đen ngòm, lạnh như đá của vịnh đang đè vào cửa ngoài căn buồng. Phòng điều áp đủ rộng để cô và David không phải đứng trên thân xác đầy máu, biến dạng của Karen. Nước đã biến thành màu đỏ, sủi bọt thông qua một lỗ thông hơi khuất, vỗ nhẹ vào chân họ, trùm lên các ngón tay trắng bệch của Karen.

Một phút, có thể ít hơn..

Trong phòng thí nghiệm, Griffith dựa ngang lưng vào chiếc bàn, đôi tay khoanh lại tự mãn, quan sát. Đằng sau hắn, bức tranh về cái chết – Kinneson, John, và những ống hình trụ bằng thép sáng bóng chất đầy tạo vật của hắn – thiên tài quỷ quái.

"Chúng ta phải làm gì đó!"

Rebecca quay lại David, cầu nguyện rằng anh có sẵn một kế hoạch thiên tài nào đó, và, chỉ nhìn thấy sự nhẫn nhục và nỗi đau trong đôi mắt khi anh nhìn xuống xác của Karen, vai chùng xuống với nỗi đau thất bại.

"David.."

Anh nhìn lên, chán chường, vô vọng. "Tôi rất tiếc", anh thì thầm. "Tất cả là lỗi của tôi.".

Bàn tay Karen nổi lềnh bềnh, những lọn tóc vàng ngắn bao quanh gương mặt đáng thương của cô. Rebecca giật chốt cửa trong vô vọng, cảm nhận được sức mạnh không gì lay chuyển được của nó, bị đóng chặt bởi Griffith. Nước lạnh thấm qua giày, vào mắt cá chân, mùi muối, mùi bóng tối và máu khiến cô càng hoảng sợ hơn, trong khi David thì thầm vô vọng.

"Nếu tôi không ích kỉ như vậy.. Rebecca, tôi xin lỗi, cô hãy tin là tôi không bao giờ có ý.."

Cô lay mạnh vai anh, hét lớn trong nỗi khiếp sợ gần như hoảng loạn:

"Được, đồng ý, anh là một thằng khốn, nhưng nếu Griffith phóng thích lũ virus, hàng triệu người sẽ chết!"

Trong một giây, cô không nghĩ anh sẽ nghe cô, và cảm thấy nước đang từ từ dâng lên đến bắp chân, tim đập loạn xạ, và rồi đôi mắt tối sầm của anh bừng sáng, thế chỗ cho nét đờ đẫn. David nhanh chóng quan sát xung quanh căn phòng kín, và cô có thể thấy chất xám của anh đang làm việc, ánh mắt sắc bén dường như đã nói lên mọi chi tiết. Thép, cửa hầm kín, hàng rào dạng mắt lưới bên ngoài cánh cửa ngoài, như một chiếc lồng cá mập mòng, sâu 2 feet, nước lạnh sủi bọt, đã dâng cao hơn đầu gối, đầu và tay Karen đang nổi lên, dập dềnh..

"Cửa làm bằng thép, cửa sổ dày 2 inch làm bằng kính plexi, một khi cửa ngoài mở ra, vẫn còn một cái lồng.."

Anh nhìn thẳng vào mắt cô, lộ vẻ tức giận, bị sốc, hối hận và lắc đầu. Cô thả tay xuống, toàn thân cô bắt đầu run lên vì lạnh, nhưng tâm trí cô tối sầm trong tuyệt vọng. David bì bõm lội lại gần cô, quàng tay quanh cô.

"Vận may đưa cô đến gặp tôi". Anh khẽ nói, chà xát tay cô trong khi răng cô bắt đầu đánh bò cạp, trong khi nước đã cuộn lên đến hông, trong khi bàn tay Karen quét vào chân cô..

"May mắn, Karen."

Trái tim Rebecca dường như đông cứng lại. David vẫn giữ chặt cô, thì thầm cả triệu điều ước, anh biết đã quá trễ cho họ. Anh liếc vào phòng thí nghiệm và thấy Griffith vẫn đang quan sát họ, vẫn còn mỉm cười. Anh quay đi, lòng tràn ngập sự căm thù ảm đạm và vô dụng, trong khi làn nước lạnh cóng ngập quang thắt lưng.

Quân sát nhân khát máu..

Rebecca thình lình đẩy mạnh ngực anh, lướt ra xa, chụp lấy xác Karen, ngón tay cô điên cuồng tìm kiếm bên trong áo lót của xác chết. Cô cười, tiếng cười khanh khách đầy kích động, vui mừng.

"Cô ta điên rồi."

Rebecca lôi mạnh một vật tròn sẫm màu từ một trong các túi của Karen. Ngay khi thấy nó, David cảm nhận một sự kinh ngạc lan tỏa khắp người.

"Chị ấy mang nó để cầu may", Rebecca nói lập bập. "Nó còn dùng được."

David cầm lấy trái lựu đạn và giữ nó sau lưng, tâm trí anh chạy đua lần nữa, đánh giá. Nước đã dâng đến thắt lưng anh và gần như tới ngực Rebecca

"Cửa ngoài bật ra, kéo chốt và đi vào cái lồng, kéo cửa đóng lại"

Họ có thể vẫn mất mạng, nhưng nếu làm trọn vẹn, họ sẽ không chết một mình.

Griffith quan sát nước dâng lên, quan sát hai người diễn màn kịch thống thiết một cách lơ đãng - hắn đã nghĩ tới bình minh, và về vấn đề mang các hộp thiếc nặng lên trên gác. Hắn nghĩ việc này đang để thưởng thức, và làm tiêu tan cơn giận của hắn..

"Hai người đang có một màn kịch đẹp mắt. Cô gái, giận dữ vì sự hờ hững của gã người Anh, tìm kiếm lối ra một cách tuyệt vọng – đương nhiên thôi. Một cái ôm sau cùng, và rồi hoảng sợ - cô ta giằng xé cái xác mang ký sinh T-virus, gã người Anh an ủi cô ta, nhăn mặt, lo lắng cho cô ngay cả khi giòng nước tối đen cuối cùng đã dâng lên đến ngực. Buồn, quả là buồn. Đáng lẽ chúng không bao giờ nên đến đây, không bao giờ nên thử tìm đến ta.."

Bây giờ, người đàn ông nâng cô ta lên, làm việc một cách lâm ly để ngăn cản điều tất yếu, nước dâng lên ngang mặt kính của cửa hầm. Một khi chúng đã chết, hắn sẽ mở cái lồng, cho lũ Leviathan ăn bữa cuối trước khi trả tự do cho chúng, tự do bơi đến những vùng biển không tên và sống cuộc đời còn lại trong yên bình.

"Đại dương và đất liền là một", hắn rì rầm như mê sảng. "Phản chiếu sự đơn giản, bản năng.."

Một thân xác nổi lờ đờ ngang qua mặt kính, và hắn thấy hai kẻ xâm nhập nâng mình lên khoảng giữa hai cánh cửa, cố gắng đoạt lấy những mẩu không khí cuối cùng. Một cặp đần độn thấy rõ. Thình lình hắn phát hiện ra mình chưa bao giờ quan tâm tìm hiểu chúng là ai, ai đã cử chúng đến đây..

"Và nó chẳng còn là vấn đề nữa, đúng không nào?"

Buồng điều áp đã ngập đầy nước. Đèn báo trên bảng điều khiển thông báo cánh cửa ngoài đã được rút chốt. Xong rồi.

"Ngoại trừ việc họ đang vật lộn để trườn vào cái lồng, và một vật gì nho nhỏ rơi đập vào cửa sổ khi họ đóng cánh cửa lại sau lưng."

Griffith nhăn mặt và..

BÙM.

Hắn chỉ còn đủ thời gian để biểu lộ nét hoài nghi trước khi cửa hầm sập lên người và dòng thác nước lạnh tựa băng đè bẹp hơi thở của hắn.
 
211 ❤︎ Bài viết: 256 Tìm chủ đề
CHƯƠNG 18

Khi lựu đạn nổ, mọi thứ diễn ra nhanh tới mức Rebecca không kịp suy nghĩ. Chỉ có một cảm giác kinh hoàng bao trùm lên tất cả. Ánh lửa rực sáng và tiếng nổ vang dội khi cánh cửa rắn chắc sau lưng cô bắn tung đi, gây ra một tiếng thét uất nghẹn, hàng tỷ bong bóng nước sủi bọt trông như những hạt đậu, một áp lực phi thường xuất hiện trong sự lạnh giá và tăm tối. Nó diễn ra nhanh hơn bất cứ thứ gì, với một âm thanh tắc nghẽn kỳ dị.

Bóng tối đen ngòm đang che phủ tâm trí của cô, quét sạch mọi thứ với những ánh chớp chói lòa và ép chặt lấy lồng ngực của Rebecca, buồng phổi của cô gần như bị nuốt chửng. Rebecca quẫy đạp liên hồi, và khi hai chân cô đã đuối sức thì những tia sáng chập chờn xuất hiện phía trên – không khí, không khí thuần khiết đến lạ thường đang táp vào khuôn mặt đã hết hơi của cô. Rebecca không kịp nghĩ gì nữa, cô há miệng ra nuốt lấy nuốt để đầy một họng dưỡng khí. Cơ thể cô khao khát níu lấy sự sống. Vị mặn của nước, những đợt sóng ấm áp đang rung chuyển, có tiếng vù vù lạo xạo phía trên cao..

ẦM!

Một đợt sóng mạnh kinh hồn đẩy Rebecca bắn ra phía sau, nước ngập qua mũi và đổ xuống đầu như mưa.

Rebecca hớp không khí, quay lộn vòng, bây giờ cô mới thực sự hoàn hồn.

"David! Chuyện gì.."

"Rebecca!". Một tiếng kêu tắc nghẹn vang lên đâu đó trong bóng tối. Tiếng vù vù bây giờ nghe rõ hơn, đó là..

ẦM!

Một đợt sóng nữa, một dòng nước xiết nữa trùm lên Rebecca, tìm cách nhấn chìm cô như đã làm với Griffith, và cô nhìn thấy có ánh sáng xuyên qua màn nước – một chùm sáng to lớn xé toang không gian tối tăm hoang dã của vịnh. Một chiếc tàu với động cơ mạnh mẽ đang lướt về phía cô trên mặt biển dậy sóng.

"Rebecca!". Tiếng gọi tuyệt vọng của David phát ra từ bên trái cô. "Em đây.."

ẦM!

Lần này Rebecca có thể nhìn thấy vụ nổ, nhìn thấy cột nước khổng lồ in bóng dưới luồng ánh sáng trước khi đợt sóng đẩy cô lùi lại, che khuất tầm nhìn với những bọt nước trắng xóa. Cô nuốt nhanh một hơi dưỡng khí trước khi cột nước đổ ập xuống người, nước bắn tung tóe trên mặt biển động dữ dội.

"Đạn dược ở phía dưới, chúng bị kích nổ phía bên dưới..

Có phải Umbrella đến chăng?

Con tàu đến cách đó hơn ba mươi mét thì dừng lại, ánh đèn soi rọi ngang qua mặt nước. Một luồng sáng di chuyển đến nơi nước bắn tung tóe gần chỗ cô và phát hiện thấy David, đang kiệt sức và khuôn mặt ướt đẫm nước.

Một giọng nam cất lên từ phía con tàu và hướng về phía họ:

" Đây là Đội trưởng Blake của sở S. T. A. R. S. Philadelphia! Nghe rõ trả lời! "

" S. T. A. R. S? "

Blake tiến tới, giọng anh ta lớn hơn khi chiếc tài đến gần hơn:" Dưới nước không an toàn! Chúng tôi đến để đưa các bạn ra! "

David lên tiếng, giọng anh gần như nghẹt thở và sắp đứt hơi:

" Trap, David Trapp đội Exeter, và Rebecca Chambers.. "

Khi Blake đáp lại, anh ta nói những điều tuyệt vời, hết sức tuyệt vời mà Rebecca từng được nghe.

" Burton gởi chúng tôi đến để tìm các bạn! Giữ chắc nhé! "

" Barry. Cảm ơn Chúa, Barry! "

Sau khi bị vắt kiệt sức và suy sụp tinh thần bởi những mất mát cũng như sợ hãi sau một đêm dài kinh khủng, giờ đây Rebecca chỉ còn đủ sức để mỉm cười.

Chính lúc đó cô nghe thấy một tiếng rên rỉ nghèn nghẹn từ phía sau.

Chỉ có bóng tối, nhuốm một màu đỏ rực kèm theo sự đau đớn. Trong bóng tối, không có niềm vui cũng không có hòa bình; anh hoàn toàn cô độc và đang chiến đấu, đang vùng vẫy điên cuồng để tìm tới đích đến tại một nơi xa xăm đầy ánh sáng. Anh biết phải tìm tới đó càng nhanh càng tốt, nhưng những mê lộ kỳ dị và những hình hài khủng khiếp đã chắn mất lối đi, không cho phép anh nhanh hơn. Một bóng ma, một người lính, một cơn thịnh nộ. Tiếng cười trong trẻo của người phụ nữ mà anh biết giờ không còn nữa, và những cặp mắt chết chóc biến đi theo ánh chớp của một vụ nổ tóe lửa vang rền. Những cặp mắt anh biết rõ nhưng không dám nhớ tới..

Mê lộ đang vẫy gọi anh, mời mọc anh thám hiểm sâu hơn để tìm tới tận cùng bóng tối – nhưng con đường ấy càng khiến cho cơn đau dữ dội hơn – và khi anh đã quyết định ngừng tranh đấu, mặc cho bóng tối bao phủ thì một ánh chớp soi rọi lên anh trong tiếng sét nổ đinh tai. Anh bị bao phủ giữa giá lạnh và biển nước đen ngòm, rồi bị dựng dậy bởi một cơn đau thấu xương – cơn đau mà anh đã trải qua khi phải chống chọi lại thế lực hắc ám. Anh thấy mình quay cuồng trong không khí còn buồng phổi gần như bị đóng băng vì lạnh, lạnh đến nỗi anh không còn thấy đau nữa, nhưng rồi anh lại thở được, những mảnh gỗ bập bềnh lởm chởm dưới những ngón tay mang đến cho anh một luồng sinh khí. Anh vẫn còn sống và hít thở một cách nặng nhọc, mặc dù anh ước gì mình chết đi cho rồi, sau lưng thì đau như dần và tiếng của David vang vang đâu đó xen lẫn tiếng nước bì bõm. Dẫu sao thì anh cũng cảm nhận được rằng sinh mệnh chính là thứ đáng giá nhất.

Anh cố la to lên, nhưng chỉ thốt ra được những tiếng rên rỉ kiệt sức. Có ánh sáng chập chờn lóe lên đột ngột và rồi lại tối đen, nhưng cũng đú để anh kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra. Đau đớn và có sự chuyển động, cảm giác bồng bềnh và thứ gì đó rắn chắc áp lên mặt. Lạnh lẽo và lại có chuyển động, có tiếng lột vải và xé giấy.

Nhiều giọng nói kích động đang yêu cầu giữ trật tự, và còn có tiếng kêu khóc. Khi nhìn ra xung quanh, anh thấy bóng dáng chiếc áo S. T. A. R. S. Cúi xuống phía anh, một tay cầm túi IV còn tay kia cầm kim.

" Hy vọng đó là thuốc giảm đau ", anh cố lên tiếng, nhưng một lần nữa anh chỉ phát ra tiếng rên rỉ.

Một giây sau đó, anh thấy hai cái bóng nhợt nhạt lượn quanh, trong khi bóng áo S. T. A. R. S. Tiếp tục hồi sức bằng đôi tay nhẹ nhàng và ấm áp. Những cái bóng kia chính là David và Rebecca, mắt họ đầy vẻ u ám, nước chảy nhỏ giọt xuống từ trên tóc, khuôn mặt lộ vẻ mệt mỏi và thất trận.

" Anh sẽ ổn thôi, John ", David khẽ nói.

" Cứ yên tâm nghĩ ngơi. Mọi chuyện đã xong. "

Một luồng hơi ấm thoái mái dễ chịu bắt đầu chạy khắp thân thể anh, đẩy cơn đau đi thật xa. Trước khi chìm vào bóng tối quen thuộc, anh nhìn vào mắt David và cố gắng thốt ra những từ mà anh bất chợt nghĩ là mình nên nói. Tốn rất nhiều sức lực, nhưng cần phải nói.

" Hai người thật là khắc tinh của những bọn vô lại ", anh lầm bầm." Thật đấy.. "

Rồi John mơ màng thiếp đi trong tiếng cười khoan khoái. Người y tá trung niên của S. T. A. R. S. Mang John vào trong cabin cùa chiếc tàu dài ba mươi foot, sau đó chỉ quay ra một lần để cho họ biết mọi việc đều ổn. Gãy hai cái xương sườn, một vài vết thương sâu và phổi bị thủng, nhưng họ đã sơ cứu John kịp lúc để tình hình không xấu thêm, và anh ta đang ngon giấc. Trực thăng cứu hộ đã được triệu tập và sẽ đến nơi nhanh chóng, người y tá cam đoan John sẽ hồi phục hoàn toàn. David đã khóc một ít khi được tin này mà chẳng hề tỏ ra ngượng ngùng.

David choàng tay qua người Rebecca, còn cô gái đang tựa vào ngực của anh khi bầu trời tối mịt dần dần rực lên một màu xanh thẫm thanh tao. Không ai lên tiếng, họ đã quá mệt mỏi tới mức chẳng làm được gì khác ngoài việc nhìn những người kia làm việc, khuân đồ đạc và tìm kiếm các kết quả, đi ra đằng sau rồi ra đằng trước và lại ra sau nữa. Blake đã hứa sẽ gởi thợ lặn xuống tìm kiếm những thùng chứa của Griffith khi nào biển lặng và John lấy lại sức. Có hai bộ đồ lặn để sẵn trên bong, được chuẩn bị cẩn thận bởi một thành viên Alpha trẻ mà David quên mất tên gọi. Anh ta làm David và Rebecca nhớ đến..

Bằng cách nào đó, suy tưởng về Steve không làm David đau khổ như anh đã tưởng. Đó là một sự tổn hại nặng nề - Karen và Steve đã mất, nhưng khi nghĩ đến những gì họ đã nỗ lực ngăn cản, những gì có phần của họ trong đó..

".. Không phải hoàn toàn vô nghĩa. Chúng ta đã chặn đứng cơn điên loạn của Griffith, ngăn hắn giết hàng triệu người vô tội. Vì Chúa, chắc họ cũng rất hãnh diện.. "

Nỗi đau thật khó nguôi ngoai, nhưng ít ra anh không bị tội lỗi dằn vặt như đã nghĩ. Anh biết mình sẽ phải chịu trách nhiệm về cái chết của họ trong một thời gian dài, nhưng anh cũng biết rằng rốt cuộc mình sẽ có thể chấp nhận được điều đó. Anh không chắc bằng cách nào, nhưng những giọt nước mắt rơi ra trước lời bộc bạch của John chính là một một bước tiến theo chiều hướng đó.

Ý nghĩ mệt mỏi của David quay sang Umbrella, về vai trò của họ đối với sự điên rồ của Griffith. Cho dù họ không định để cho các nhà nghiên cứu hóa điên, nhưng họ đã gây ra tình huống dẫn tới điều đó; hàng động bất chấp mạng sống con người đã tạo ra những tên gàn như Griffith. Và nên nhớ nếu không có Umbrella, các nhà khoa học đã không tiếp cận với T-Virus..

".. Trước sau gì, họ cũng phải trả giá cho hành động đó. Không phải hôm nay hay ngày mai, nhưng sớm thôi.."

Có lẽ Trent sẽ lại giúp họ. Có lẽ Barry và Jill cùng Chris sẽ khám phá nhiều thứ ở Raccoon. Có lẽ..

Rebecca ép người sát vào David, hơi thở cô làm y phục của anh ấp lên, thậm chí khô đi. David thả lỏng tư tưởng và không suy nghĩ thêm nữa. Anh đã rất, rất mệt mỏi.

Khi những tia sáng đầu tiên của vầng thái dương ló dạng phía chân trời, Blake thông báo biển đã lặng, nhưng Rebecca và David đều không nghe thấy; cả hai đã chìm vào giấc ngủ mơ màng dưới ánh sáng chập chờn của một ngày mới.
 
211 ❤︎ Bài viết: 256 Tìm chủ đề
CHƯƠNG 19

Ba người đàn ông nghiêm nghị ngồi cạnh chiếc bàn gỗ sồi, người thứ tư đứng cạnh cửa sổ và trầm ngâm nhìn ra ngoài bầu trời buổi sáng u ám. Người đàn ông đứng cạnh cửa sổ có thể nhìn thấy những người còn lại phản chiếu qua kính, tự hỏi rằng liệu những người kia có để ý thấy mình đang quan sát họ kĩ lưỡng không; rõ ràng họ rất thận trọng, nhưng trông họ thật sự uể oải khi cứ mãi nhìn những thứ di chuyển xung quanh.

Sau khi đã thảo luận qua điện thoại, người mặc đồ màu xanh nước biển lên tiếng trước, hướng thẳng về phía người lớn tuổi có bộ râu chải chuốt. "Chúng ta có cần bàn chi tiết về vấn đề này không?". Người đồ xanh hỏi.

Người có râu thở dài: "Tôi tin rằng bản báo cáo đã phản ánh đầy đủ chúng." Ông ta hờ hững nói.

Người đang uống trà ngắt ngang, đập chiếc cốc đánh rầm xuống. Nước trà nóng sóng cả ra bên ngoài, làm biến dạng hình chiếc ô trang trí bên thành cốc.

"Tôi không nghĩ đó là một ý tưởng khôn ngoan nếu đánh giá thấp tầm quan trọng của cái.. khó khăn này". Người uống trà nói. "Đặc biệt không, khi mà có những nhân tố bất ổn hiện tại trong sự phát triển.."

Người đồ xanh gật đầu: "Tôi đồng ý. Những thứ như thế này luôn có nguy cơ vượt khỏi tầm kiểm soát. Đầu tiên là những cái liên quan tới Raccoon, bây giờ lại là Vịnh.."

Người có râu cắt ngang lời nói của ông ta bằng một cái nhìn sắc lẻm. Người đồ xanh, hết sức bối rối, tự hắng giọng, mặt đỏ lên như thể đang cố gắng bình tĩnh lại vậy. "Theo cách nói như vậy, tôi tin rằng nên có những điều tra kĩ lưỡng hơn về những vấn đề này. Ông có nghĩ thế không, ông Trent?"

Người đứng cạnh cửa sổ quay lại, tự hỏi làm thế nào những người này có thể xoay sở để tới được cái vị trí hiện nay của họ. Ông không cười, biết rằng họ sẽ khó chịu như thế nào khi ông không cười.

"Tôi e rằng mình phải quay lại gặp các ông về chuyện đó", Trent điềm tĩnh nói. Người đồ xanh nhanh nhẹn gật đầu: "Tất nhiên rồi, hãy cứ dùng tất cả thời gian ông cần, không phải vội vã, tôi nói đúng chứ?" Không nói thêm lời nào nữa, Trent quay người và đi ra khỏi phòng, bề ngoài ra vẻ đáng kính và chuẩn mực như họ mong đợi ở ông, như họ muốn ông như vậy. Trong thâm tâm, ông tự hỏi liệu cuộc chơi có thể kéo dài bao lâu nữa.

- - Hết Tập 2
 
211 ❤︎ Bài viết: 256 Tìm chủ đề
CHƯƠNG 1: RESIDENT EVIL 3

Thời báo Raccoon, ngày 26 tháng 8 năm 1998

THỊ TRƯỞNG LOAN BÁO KẾ HOẠCH BẢO VỆ AN NINH CHO THÀNH PHỐ


THÀNH PHỐ RACCOON - Chiều hôm qua, trong cuộc họp báo tại tiền sảnh của tòa thị chính, thị trưởng Haris cho biết Hội đồng thành phố đã họp và quyết định sẽ tuyển dụng thêm ít nhất mười nhân viên cảnh sát mới để bổ sung cho lực lượng cảnh sát thành phố, thay cho những nhân viên của Lực lượng đặc nhiệm cứu hộ và tác chiến (S. T. A. R. S) đã bị đình chỉ công tác, kể từ khi những vụ án mạng dã man lan rộng tại thành phố Raccoon hồi đầu mùa hè năm nay. Kế hoạch này đã được cảnh sát trưởng Brian Irons và tất cả các ủy viên trong Hội đồng thành phố thông qua, thị trưởng Haris cũng cam kết với các công dân thành phố và các phóng viên, rằng thành phố Raccoon sẽ trở lại an toàn và yên ổn cho mọi người sống và làm việc. Ông cũng nói thêm rằng mười một vụ án "ăn thịt người" và ba vụ án thú hoang tấn công người vẫn chưa có thêm manh mối nào.

"Việc không có người nào bị tấn công trong tháng trước không có nghĩa là các nhân viên cảnh sát có thể ngơi nghỉ", Thị trưởng Harris nhấn mạnh. "Các công dân trong thành phố hoàn toàn có thể tin tưởng vào lực lượng cảnh sát, và hãy an tâm rằng các ủy viên hội đồng đang làm tất cả những gì có thể để đem lại an toàn cho mọi người. Như các bạn cũng đã biết thì việc đình chỉ công tác của S. T. A. R. S có vẻ sẽ là vô thời hạn. Việc mười hai người thuộc hai đội không có khả năng giải quyết các vụ án, cùng việc họ đột nhiên biến mất khỏi thành phố Raccoon cho thấy rằng họ không quan tâm đến cộng đồng cư dân thành phố - nhưng tôi bảo đảm với các bạn rằng chúng tôi quan tâm. Tôi, cảnh sát trưởng Irons, cùng tất cả những người trong buổi họp báo hôm nay chỉ muốn một điều là đem lại sự bình yên cho thành phố, để con cháu chúng ta có thể sống mà không cần phải sợ hãi bất cứ điều gì."

Tiếp theo sau đó, thị trưởng Harris công bố bản kế hoạch an ninh gồm ba mục nhằm gia tăng sự tín nhiệm của công chúng, và để bảo đảm không có công dân Raccoon nào khác trở thành nạn nhân của các vụ tấn công. Ngoài việc sẽ tuyển mộ thêm khoảng từ mười đến mười hai nhân viên cảnh sát, thì lệnh giới nghiêm ở thành phố sẽ được duy trì ít nhất cho đến tháng chín. Cảnh sát trưởng Irons cũng sẽ thành lập và chỉ huy một đội điều tra gồm một số các nhân viên đặc nhiệm và các thanh tra cảnh sát ưu tú, để truy lùng tới cùng hung thủ của mười một vụ án mạng xảy ra từ tháng năm đến tháng bảy năm nay..

Báo Cityside, ngày 4 tháng 9 năm 1998

UMBRELLA ĐẶT KẾ HOẠCH CẢI TỔ NHÀ MÁY


THÀNH PHỐ RACCOON - Nhà máy hóa chất của Umbrella ở phía Nam trung tâm thành phố đã được tập đoàn ấn định thời gian để đại tu lại vào thứ hai tuần sau. Đây là lần đại tu thứ ba của nhà máy kể từ năm ngoái, nhằm hiện đại hóa bộ phận dược phẩm của tập đoàn. Người phát ngôn của Umbrella, Amanda Whitney, cho biết hai trong số các phòng thí nghiệm ở nhà máy chính sẽ được trang bị thêm những thiết bị hiện đại mới trị giá hàng triệu đô la cho việc tổng hợp vắc xin, và hệ thống an ninh nhà máy sẽ được cải tổ lại ở mức tối tân nhất. Thêm vào đó hệ thống vi tính của các văn phòng ở các tòa nhà thông nhau sẽ được nâng cấp trong vài tuần tới. Nhưng liệu việc này có gây ảnh hưởng đến việc giao thông của thành phố không? Bà Whitney nói:

"Sau việc sở cảnh sát Raccoon vừa hoàn tất việc nâng cấp hệ thống trang thiết bị của họ, chúng tôi biết người dân rất khó chịu về việc cấm đường. Chúng tôi sẽ làm hết sức có thể để tránh không gây ách tắc giao thông, đa số việc nâng cấp các công trình sẽ diễn ra ở bên trong nhà máy và các đường ngầm, còn những phần bên ngoài sẽ được thi công sau giờ làm việc."

Hẳn các bạn còn nhớ cái sân sau của sở cảnh sát Raccoon, họ vừa tráng xi măng và tô điểm lại nó sau khi một loạt các vết nứt bí ẩn xuất hiện. Việc lưu thông đã bị cấm trong sáu ngày làm mọi người phải đi đường vòng qua hai dãy nhà của phố Oak trong sáu ngày.

Khi được hỏi tại sao lại phải tiến hành đại tu như vậy, bà Whitney đã trả lời: "Umbrella đang cố gắng duy trì vị trí dẫn đầu trong ngành bằng cách nâng cấp các thiết bị trở nên tối tân nhất. Sắp tới sẽ là một vài tháng bận rộn, nhưng tôi tin rằng những cố gắng của chúng ta sẽ được đền đáp xứng đáng sau khi công việc đã hoàn tất." Bài xã luận của Tuần báo Raccoon, ngày 17 tháng 9 năm 1998

IRONS SẼ TRÚNG CỬ?


THÀNH PHỐ RACCOON - Thị trưởng Harris sẽ có một mùa tranh cử khó khăn vào mùa xuân năm tới. Theo nhiều nguồn tin nội bộ ở sở cảnh sát Raccoon thì ông Brian Irons, cảnh sát trưởng của thành phố trong bốn năm rưỡi qua, có thể sẽ trở thành người lãnh đạo thành phố trong kỳ bầu cử sắp tới. Irons sẽ ra tranh cử cùng thị trưởng đương nhiệm Devlin Harris, người đã lãnh đạo thành phố trong suốt ba nhiệm kỳ liên tiếp và vẫn chưa có dấu hiệu nào cho thấy người dân có thái độ bất mãn với ông. Tuy ông Irons chưa tuyên bố chính thức về việc có tham gia vũ đài chính trị hay không, nhưng cựu nhân viên S. T. A. R. S này cũng không lên tiếng bác bỏ lời đồn.

Uy tín của ông Irons đang không ngừng tăng lên sau khi những vụ án mạng bí ẩn vào mùa hè qua đã chấm dứt (tuy vụ án vẫn chưa được phá), và việc ông tuyên bố sẽ mở rộng sở cảnh sát. Ông Irons rất có khả năng sẽ đánh bật thị trưởng Harris ra khỏi tòa thị chính. Tuy nhiên câu hỏi ở đây là, liệu cử tri có quên việc ông Irons có dính líu đến những bê bối bất động sản tại quận Cider hồi năm 1994 không? Cũng như những sở thích xa hoa của ông ta về hội họa và thiết kế nội thất, dẫn tới việc bài trí sở cảnh sát thành một nơi trông giống viện bảo tàng hơn là công sở? Giả định rằng ông Irons sẽ tham gia vào cuộc tranh cử, thì phóng viên của chúng tôi sẽ đi điều tra tình hình tài chính của ông ta..

Thời báo Baocoan, ngày 22 tháng 9 năm 1998

MỘT THIẾU NIÊN BỊ TẤN CÔNG TRONG CÔNG VIÊN


THÀNH PHỐ RACCOON - Vào khoảng sáu giờ rưỡi tối hôm qua, một thiếu niên mười bốn tuổi, Shanna Williamson, đã bị một kẻ lạ mặt bám theo ở công viên Birch Street trong khu kinh doanh, khi em đang trên đường về nhà sau buổi tập luyện môn softball (trò chơi Mỹ tương tự như bóng chày, chơi trên sân nhỏ hơn với quả bóng mềm to hơn). Gã đàn ông bất ngờ xuất hiện từ sau một dãy hàng rào ở cổng phía nam công viên, hắn hất ngã Williamson xuống xe đạp trước khi cố tìm cách túm lấy em. Cô bé chỉ bị một vài vết xước nhỏ và đã chạy thoát được đến nhà của ông bà Tom, Clara Atkins. Bà Atkins đã gọi cảnh sát, họ đã lục soát toàn bộ công viên nhưng không tìm thấy dấu vết nào của kẻ lạ mặt kia. Theo lời cô bé kể (được cảnh sát cung cấp sáng nay) thì kẻ lạ mặt đó bất ngờ hiện ra rất nhanh, quần áo và tóc tai của hắn rất bẩn, cô bé mô tả rằng có một mùi rất khó chịu phát ra từ người hắn, như là "mùi trái cây thối vậy". Cô cũng cho biết, hắn ta có vẻ như đã uống quá chén, đồng thời đã lảo đảo và gục ngã sau khi cô chạy thoát.

Do sự lan rộng của những vụ án mạng ăn thịt người từ tháng năm đến tháng bảy vẫn chưa được giải quyết, nên sở cảnh sát Raccoon đã rất quan tâm đến cuộc chạm trán của Williamson; kẻ tấn công được cho là có liên hệ với cuộc đụng độ tại công viên Victory tháng sáu vừa qua, theo báo cáo của các nhân chứng. Thị trưởng Harris đã triệu tập một cuộc họp báo cuối ngày hôm nay, và cảnh sát trưởng Brian Irons cho biết nhiệm vụ ưu tiên của các nhân viên cảnh sát được tuyển mộ vào tuần sau, là mở rộng tuyến đường tuần tra đến tận những dãy nhà quanh công viên trong khu buôn bán một cách thường xuyên..

26 tháng 9, 1998

Để đám đàn ông đợi ở ngoài trong xe tải của Barry, Jill cố gắng làm thật nhanh. Chẳng dễ dàng gì; ngôi nhà đã bị bỏ hoang từ lần cuối cùng cô ở đó, nền nhà vương vãi những sách và giấy tờ, và quá tối để có thể thoải mái tìm đường đi tránh qua những mảnh vỡ. Việc ngôi nhà nhỏ của mình bị lục soát làm cô hơi buồn, nhưng cũng không gây ngạc nhiên lắm. Cô nhận ra là mình nên cảm tạ trời đất vì cô không phải là loại người dễ xúc động – và rằng những kẻ xâm nhập đã không tìm thấy hộ chiếu của cô.

Jill vơ lấy một nắm những vớ và đồ lót sạch trong bóng tối tù túng của phòng ngủ, nhồi chúng vào cái ba lô đựng quần áo, lòng thầm ước có thể bật đèn lên. Soạn túi đồ trong bóng tối khó hơn người ta tưởng, ngay cả khi nhà họ không bị xới tung lên; nhưng cô biết rằng họ không có cơ hội nào khác. Không có vẻ gì là Umbrella còn canh me tất cả các ngôi nhà của họ, nhưng giả dụ có kẻ nào đang trông chừng, một tia sáng ở cửa sổ cũng có thể kéo theo một cuộc đọ súng.

"Chí ít thì mày cũng được ra ngoài. Không phải lẩn trốn."

Có quá nhiều việc. Họ sẽ hướng đến một khu vực ở nước ngoài, để đột nhập vào cơ quan đầu não của kẻ thù và có thể sẽ bị giết khi làm điều đó, nhưng ít nhất cô không phải quanh quẩn ở Raccoon thêm nữa. Và từ những tin cô đọc trên báo gần đây, có thể đó là giải pháp tốt nhất. Hai vụ tấn công hồi tuần trước.. Chris và Barry tỏ vẻ hoài nghi về cái gọi là hiểm họa, cho dù đã biết T-Virus tác động như thế nào lên con người – Barry thì cho đó là một kiểu đánh lạc hướng công chúng, rằng Umbrella sẽ "giải cứu" Raccoon trước khi có ai đó bị hại. Chris đồng ý, khăng khăng cho là Umbrella sẽ không tự bôi nhọ vào mặt, nhưng nếu nói vậy thì cái gì đã xảy ra trong thảm họa ở biệt thự Spencer mới đây cơ chứ. Jill thì không hề chuẩn bị đặt giả thiết cho bất cứ chuyện gì cả, chẳng phải là Umbrella đã không thể kiểm soát những nghiên cứu của chính mình đấy sao. Và với những gì Rebecca và đội của David Trapp phải đối mặt ở Maine..

Bây giờ không phải là lúc để nghĩ đến việc đó - họ sắp có một chuyến bay. Jill hất cái đèn pin ra khỏi tủ áo và chuẩn bị sang phòng khách thì nhớ ra cô chỉ có mỗi một chiếc áo ngực trên người. Cau có, cô quay lại chỗ tủ áo và bắt đầu lục lọi. Cô đã có đủ quần áo, nhặt nhạnh từ những thứ Brad để lại khi anh ta chuồn khỏi Raccoon; cô và mấy chàng kia đã lẩn trốn ở nhà nghỉ của anh ta trong ít tuần, và dù đồ của Brad không vừa với tạng người cao của Chris hay to lớn của Barry, cô vẫn có thể dùng tạm được. Khổ nỗi, đồ lót nữ không phải là thứ mà một phi công của S. T. A. R. S. Tích trữ. Cô đặc biệt không muốn xuống máy bay ở Áo để rồi phải đi mua áo lót.

"Coi nào, đồ lót thôi mà", cô lầm bầm khe khẽ, cào cào cái đống nhăn nhúm. Cô tìm thấy thứ đồ khó tìm ấy chỉ khi đã lục ngăn kéo hai lần, tống nó vào túi rồi nhảy đến phòng khách nhỏ của căn nhà cho thuê. Đây mới là lần thứ hai Jill ở đó từ khi họ bắt đầu lẩn trốn; và cô có cảm giác là mất một thời gian dài nữa mình mới có thể quay lại đây. Có một tấm ảnh của cha cô trên kệ sách và cô muốn lấy nó.

Nhanh nhẹn bước ra khỏi bóng tối hỗn độn, Jill che bớt ánh đèn pin và hướng tia sáng mỏng về góc nơi từng dựng cái kệ. Bọn Umbrella đã đẩy ngã tất cả nhưng dĩ nhiên là đã không bận tâm đến những quyển sách. Chỉ có Chúa mới biết chúng muốn tìm cái gì. Manh mối để tìm ra nơi ẩn náu của bọn S. T. A. R. S. Nổi loạn chẳng hạn; kể từ sau vụ tấn công tại nhà Barry và điệp vụ tai hại ở vịnh Caliban, cô không còn chút ảo tưởng nào về việc Umbrella chỉ đơn giản là để mặc họ.

Jill phát hiện quyển sách cô cần, một cuốn bìa mềm trông khá khủng khiếp nhan đề Đời Tù Tội; cha cô hẳn sẽ cười phá lên. Cô nhặt nó lên và lật các trang sách, dừng lại khi ánh đèn rơi trên nụ cười nhăn nhở của Dick Valentine. Ông đã gửi bức ảnh cùng với một trong những lá thư gần đây nhất, và cô đã nhét nó vào quyển sách để khỏi làm mất. Giấu những món đồ quan trọng là thú ưa thích của Jill từ khi còn bé, và lần này cũng đã thành công.

Cô đánh rơi quyển sách, sự cần thiết phải nhanh chóng đã bị quên bẵng khi cô nhìn xuống bức ảnh. Một nụ cười nhẹ phảng phất trên môi. Ông có lẽ là người duy nhất cô biết trông thoải mái trong bộ áo liền quần màu vàng của một nhà tù an ninh bậc nhất. Trong một thoáng, cô tự hỏi ông sẽ nghĩ gì về tình huống gay go của cô; một cách gián tiếp, chính ông là người chịu trách nhiệm về việc để cô dính vào với S. T. A. R. S.. Sau khi bị kết án, ông đã thúc cô giải nghệ, thậm chí còn nói là ông đã sai lầm khi dạy dỗ cô theo nghề trộm cắp..

".. thế nên con đã chọn một nghề hợp pháp, thật sự đã làm việc giúp ích xã hội thay vì chống lại nó và rồi mọi người ở Raccoon bắt đầu chết. Đội S. T. A. R. S. Đã phát hiện một âm mưu chế tạo vũ khí sinh học từ một loại virus biến cơ thể sống thành những quái vật. Hiển nhiên là chẳng ai tin bọn con, những S. T. A. R. S. Không mua chuộc được đều đã bị Umbrella bôi nhọ uy tín hoặc thủ tiêu. Thế là bọn con lặn đi, cố gắng đào xới chứng cứ và trồi lên tay không còn Umbrella tiếp tục lừa gạt khắp nơi với những nghiên cứu nguy hiểm của chúng, và càng thêm nhiều người tốt bị giết hại. Bây giờ thì bọn con chuẩn bị đi làm một nhiệm vụ tự sát đến châu Âu, để xem liệu có thể thâm nhập vào trụ sở của cái tập đoàn hàng tỉ đô la ấy và ngăn bọn khốn kiếp đó hủy diệt cả hành tinh này. Con tự hỏi cha sẽ nghĩ gì? Cứ cho là cha tin vào chuyện viễn tưởng, cha sẽ nghĩ gì?"

"Cha sẽ tự hào về con, Dick", cô thì thầm, tức thì nhận ra mình đang nói to và cũng không chắc có thật là thế không. Cha cô từng mong cô làm việc trong nghề nào đó ít nguy hiểm hơn, và so với những gì mà cô và các cựu thành viên S. T. A. R. S. Khác phải đối mặt gần đây thì đi ăn trộm chỉ nguy hiểm ngang với làm kế toán. Một lúc lâu sau, cô cẩn thận bỏ bức ảnh vào một ngăn của balô và nhìn quanh cái tàn dư đổ nát của căn nhà, tiếp tục nghĩ về cha và điều gì ông sẽ nói về con đường kì lạ cô đã chọn cho mình; nếu mọi việc tốt đẹp, có thể cô sẽ gặp được ông để hỏi. Rebecca Chambers và những người sống sót sau nhiệm vụ ở Maine vẫn tiếp tục lẩn trốn, lặng lẽ liên lạc với tổ chức S. T. A. R. S. Để xin hỗ trợ, chờ nghe tin tức từ cô với Chris và Barry về trụ sở của Umbrella. Trụ sở chính đặt ở Áo, mặc dù tất cả bọn họ đều nghi là những kẻ chủ mưu đằng sau T-Virus phải có một khu bí mật ở nơi nào khác – "nơi mà mày sẽ không thể biết được nếu không có tay trong; mà thôi nhanh lên, kẻo các ông tướng sẽ nghĩ mày vào đây để ngủ mất."

Jill xốc cái túi lên vai và nhìn quanh căn phòng lần cuối trước khi hướng về cửa sau, thông qua nhà bếp. Thoang thoảng có mùi trái cây thối trong bầu không khí tối tăm, từ một cái tô ở trên nóc tủ lạnh đựng táo và lê đã phân hủy nhão nhẹt từ lâu. Dù đã biết rõ như thế, cái mùi ấy gợi cho cô một cơn ớn lạnh dọc sống lưng; cô tiến nhanh đến cánh cửa đóng, cố gắng ngăn những hình ảnh sống động của hồi ức về những gì họ đã thấy ở căn biệt thự Spencer..

* * *thối rữa trong khi vẫn đi lại, vươn ra những ngón tay ướt át và tàn héo, những gương mặt tan chảy thành mủ và thịt rữa..

"Jill?"

Cô vừa kịp kìm lại tiếng hét giật mình trước giọng nói nhỏ nhẹ của Chris ngay phía ngoài. Cửa mở, một ánh đèn đường hắt bóng Chris in trên nền đen sẫm.

"Đây, ở đây", cô nói, bước lên phía trước. "Xin lỗi tôi chậm quá, nơi đây cứ như là bị bọn Umbrella lấy xe ủi tông vào ấy."

Ngay cả trong ánh sáng mờ mờ cô cũng có thể thấy nụ cười nửa miệng trên nét mặt trẻ con của Chris. "Bọn này cứ ngỡ là mấy con zombie đã xơi tái cô rồi chứ", anh nói, và mặc dù ngữ điệu rất nhẹ nhàng nhưng cô vẫn cảm nhận được nó ẩn chứa một mối quan tâm thực sự.

Jill biết là Chris đang cố giải tỏa mối căng thẳng, nhưng cô thật sự không thể nào cười trừ với anh chàng được. Quá nhiều người đã chết bởi cái thứ mà Umbrella phóng thích trong khu rừng bên ngoài thành phố; rủi mà sự lây lan đó đến gần Raccoon hơn thì..

"Không đùa được đâu", cô khẽ nói.

Nụ cười của Chris héo đi: "Tôi biết. Cô sẵn sàng rồi chứ?"

Jill gật đầu, mặc dù cô chẳng cảm thấy mình đủ sẵn sàng đối phó với những chuyện đang chờ phía trước. Và cũng chẳng thấy sẵn sàng để bỏ lại mọi thứ sau lưng. Suốt mấy tuần qua, cô hầu như mất luôn khái niệm về thực tại trước những âm mưu điên rồ, biến cuộc sống hàng ngày thành ác mộng.

"Tập đoàn ma quỷ, nhà khoa học điên, virus giết người. Và lũ thây ma biết đi.."

"Vâng", cuối cùng cô cũng trả lời. "Đã sẵn sàng."

Họ cùng cất bước ra ngoài. Khi Jill đóng cánh cửa sau lưng họ lại, thình lình cô có một dự cảm không lành rằng mình sẽ không bao giờ bước chân vào ngôi nhà này nữa, và ba người bọn họ sẽ không còn trở về Raccoon nữa..

".. nhưng không phải là có chuyện xảy ra với bọn tôi. Chuyện gì đó sẽ xảy ra, nhưng không phải với bọn tôi."

Cô vừa tư lự vừa đặt tay trên nắm cửa, ngập ngừng một lúc và cố phán đoán xem tại sao lại có cái ý nghĩ kỳ quặc ấy. Nếu sống sót sau điệp vụ lần này, nếu thành công trong cuộc chiến chống lại Umbrella, mắc gì họ lại không thể trở về nhà chứ? Cô không biết nữa, nhưng cái dự cảm ấy mạnh mẽ đến khác thường. Một chuyện tồi tệ gì đó sẽ xảy ra, chuyện gì đó..

"Này, cô ổn chứ?"

Jill nhìn lên Chris, thấy vẻ quan tâm lộ rõ trên khuôn mặt trẻ trung của anh, dáng vẻ mà cô đã để ý thấy từ trước. Họ đã cận kề bên nhau trong mấy tuần qua, mặc dù cô có phần hoài nghi là Chris hình như muốn tiến đến gần cô hơn nữa.

"Ồ, và chẳng phải mày cũng thế sao?"

Cảm giác khó chịu về chuyện sắp xảy ra đã giảm bớt, thay vào đó là sự bối rối và lúng túng. Jill tự ép mình tống khứ những suy tưởng đi và gật đầu với Chris, mặc kệ các cảm giác. Chuyến bay đến New York không đợi cô chỉ để tự phân tích bản thân.. hoặc để lo lắng về những thứ cô không thể kiểm soát, không thể tưởng tượng, hay gì gì khác..

"Nhưng mà, cái cảm giác đó.."

"Mình ra khỏi nơi chết tiệt này thôi", cô nói, và thực lòng mong thế.

Họ đi vào bóng đêm, để lại sau lưng ngôi nhà tối om, đơn độc và im lặng như một nấm mồ.
 
211 ❤︎ Bài viết: 256 Tìm chủ đề
CHƯƠNG 2

Ngày 3 tháng 10, 1998

Bóng tối nhá nhem đã phủ qua các ngọn núi, sơn lên chân trời lởm chởm những sắc tím mờ ảo. Khúc lượn trải nhựa quanh co uốn khúc xuyên qua màn đêm đang kéo đến, bao quanh là những ngọn đồi cao in bóng trên bầu trời không một gợn mây, kéo dài đến một ánh sao lập lòe mờ tỏ.

Đáng lẽ Leon đã thưởng thức cảnh đẹp mỹ lệ đó thêm chút nữa nếu anh không bị trễ quá. Anh sẽ đến nơi đúng giờ vào ca, chắc chắn rồi, nhưng anh đã hi vọng đầu tiên là sẽ ổn định chỗ ở căn hộ mới, tắm một cái, kiếm chút gì ăn; nếu được, anh còn có thời gian đi một vòng quanh thành phố trên đường đến sở làm. Thay quân phục sẵn ở trạm dừng trước giúp tiết kiệm được ít phút, nhưng về cơ bản thì kế hoạch đã tiêu rồi.

"Thế đấy, cảnh sát Kennedy. Ngày đầu tiên đi làm và mày sẽ xỉa thịt dính ở răng trong giờ điểm danh. Cực kì chuyên nghiệp."

Ca làm việc của anh bắt đầu lúc chín giờ, và bây giờ đã qua tám giờ, Leon nhấn giày mạnh hơn trên chân ga, kể cả khi chiếc Jeep của anh lướt qua một bảng hiệu báo cho biết còn cách Thành phố Raccoon chỉ nửa tiếng nữa. Ít ra thì đường phố cũng thông thoáng, ngoại trừ một vài khu nhà chung cư, còn thì dường như anh đã không thấy ai nữa trong nhiều giờ rồi. Một thay đổi dễ chịu, so với tình trạng giao thông kẹt cứng ngay phía ngoài New York đã tiêu tốn của anh nguyên cả buổi trưa. Thật ra từ đêm hôm trước anh đã cố gọi cho nhân viên trực để báo là có thể sẽ đến muộn, nhưng đường dây hình như có vấn đề gì đó. Không có gì ngoài tín hiệu bận.

Số đồ đạc ít ỏi anh có đã được chuyển đến căn hộ nhỏ nằm trong một khu lao động khá tươm tất ở quận Trask của thành phố Raccoon, có một công viên khá đẹp ở cách không quá hai dãy nhà, và chỉ cần khoảng năm phút để đi đến bến xe. Không còn cảnh ùn tắc, những căn nhà ổ chuột đông đúc và những hành động bạo lực tuỳ tiện. Một khi đã vượt qua được sự ngượng ngùng khi lần đầu tiên đi làm như một cảnh sát thực thụ mà vẫn chưa kịp dỡ đồ đạc ra, anh sẽ hướng tới cuộc sống mới trong một cộng đồng bình yên. Raccoon tách xa khỏi Big Apple hết mức có thể, cảm tạ trời đất – "trừ những tháng gần đây. Những án mạng đó.."

Dù đang phấn khích, nhưng anh vẫn thoáng rùng mình với những suy tưởng. Những việc đã xảy ra ở Raccoon thật ghê tởm, dĩ nhiên, bệnh hoạn, nhưng kẻ thủ ác chưa bao giờ bị bắt và cuộc điều tra cũng chỉ mới bắt đầu. Và nếu Irons thích anh, thích anh nhiều như ông hiệu trưởng trường đã từng thích anh, Leon sẽ có thể có cơ hội làm việc trong vụ này. Nghe đồn Irons là một cái gai, nhưng Leon biết anh được đào tạo xuất sắc – ngay cả một cái gai cũng có thể bị ấn tượng. Dù gì anh cũng nằm trong số mười người tốt nghiệp xuất sắc nhất. Và anh cũng không xa lạ gì với Raccoon, vì anh đã ở hầu hết các mùa hè tại đó khi còn là một chú nhóc, lúc ông bà anh vẫn còn sống. Thời đó, tòa nhà Sở cảnh sát Raccoon còn là một thư viện, và Umbrella hãy còn vài năm nữa mới biến thị trấn thành một thành phố thực thụ, nhưng hầu như nó vẫn là một nơi bình lặng như anh vẫn nhớ từ hồi thơ ấu. Khi nào những kẻ ăn thịt người bị tống khứ đi, Raccoon sẽ lại hoàn thiện như trước – xinh đẹp, sạch sẽ, một cộng đồng lao động trí thức náu mình giữa các đỉnh núi như một thiên đường bí mật.

"Rồi mình sẽ ổn định trong vòng một hay hai tuần, và Irons sẽ nhận ra là những bản báo cáo của mình tốt đến thế nào, hay là mình giỏi như thế nào trong công việc được giao. Ông ta sẽ bảo mình nhìn qua hồ sơ vụ án, chỉ để làm quen với các dữ liệu để mình chạy việc lặt vặt và mình sẽ phát hiện điều chưa ai để ý. Một kiểu mẫu, có thể lắm, hay một mô típ bắt gặp trên nhiều hơn một nạn nhân.. hay mình sẽ tình cờ gặp một nhân chứng chỉ ra điều gì đó không ổn. Chưa ai nhìn nhận ra bởi vì họ đã sống ở đây quá lâu, và gã cớm mới toe này vừa đến đã phá án, chưa đầy một tháng sau khi ra trường và mình.."

Có cái gì chạy qua ngay trước chiếc Jeep.

"Lạy Chúa!"

Leon nhấn phanh và đánh tay lái, bừng tỉnh khỏi cơn mơ màng trong nỗ lực kiểm soát cái xe. Phanh hãm gấp và tiếng ken két của cao su nghe như một tiếng thét. Chiếc Jeep quay nửa vòng về phía hàng cây tối bên đường – và dừng bên lề, chết máy sau cú xóc nảy cuối cùng.

Tim đập thình thịch và bụng dạ rối bời, Leon mở cửa sổ và

Thò cổ ra, xem xét vùng tối tìm con thú vừa mới chạy qua xa lộ. Anh không đâm phải nó nhưng cũng suýt soát. Chó loại gì đấy, anh không nhìn rõ – dù sao cũng là một con to, chó chăn cừu hoặc một con Doberman lớn, nhưng mà nhìn nó có vẻ làm sao ấy. Anh chỉ nhìn thấy nó trong một chớp mắt, một hình ảnh chớp nhoáng của đôi mắt đỏ lóe sáng và một thân hình gầy guộc nhẳng nheo. Và còn cái gì khác, như thể là..

".. nhơn nhớt? Không, chỉ là ảo giác ánh sáng, hoặc là mày sợ rơi cả tim nên nhìn lầm. Quan trọng nhất là mày không sao và mày không đâm phải nó."

"Lạy Chúa", anh nói lần nữa, lần này nhẹ nhàng hơn, cảm thấy dễ chịu hơn và bỗng dưng rất cáu kỉnh khi đã bớt căng thẳng. Những người để cho chó của họ chạy rông thật ngu ngốc – lúc nào cũng khẳng định là muốn chó cưng chạy chơi thoải mái, để rồi tỏ ra ngạc nhiên khi chúng bị xe chẹt.

Chiếc Jeep dừng cách một tấm biển đề THÀNH PHỐ RACCOON 10 chỉ vài chục centimet. Anh chỉ lờ mờ thấy được chữ trong bóng đêm đang xuống dần. Leon liếc nhìn đồng hồ, hãy còn nửa tiếng nữa mới phải đến sở làm, còn nhiều thời gian – nhưng vì lý do gì đó, anh chỉ ngồi im một lúc, nhắm mắt và thở thật sâu. Không khí thơm mùi gỗ thông mát lạnh lướt qua mặt anh; con đường hoang vắng trải dài dường như im ắng đến phi lý – như thể không gian đang nén hơi thở, chờ đợi. Lúc này khi tim đã lấy lại nhịp bình thường hơn, anh ngạc nhiên nhận ra là anh vẫn có cảm giác bối rối, thậm chí lo âu.

"Những án mạng ở Raccoon. Chẳng phải là đã có một vài người bị giết vì thú vật tấn công đó sao? Chó dại, hay cái gì khác? Rất có thể đó chẳng phải là thú nuôi của ai hết."

Đầu óc rối bời – và càng rối bời hơn khi anh bỗng nhiên có cảm giác rằng con chó vẫn ở gần đâu đây, dường như đang theo dõi anh từ bóng tối của những lùm cây.

"Chào mừng anh đến thành phố Raccoon, cảnh sát Kennedy. Hãy cẩn thận với những thứ rất có thể đang theo dõi anh.."

"Đừng có vớ vẩn thế", Leon lẩm nhẩm với chính mình, và cảm thấy đỡ hơn chút đỉnh trước giọng nói người lớn nghiêm túc của mình. Anh thường tự hỏi liệu có thể bỏ được cái tính hay tưởng tượng không.

"Mơ mộng như một đứa nhóc mơ bắt được kẻ xấu, rồi thì là những con chó-quái vật giết người bịa đặt ẩn trong rừng – hãy cố hành động như người lớn nào Leon? Mày là cảnh sát, lạy Chúa, một người trưởng thành.."

Anh nổ máy và lại lên đường, mặc kệ cái cảm giác kì lạ bứt rứt cách nào đó đang xâm chiếm trong người anh, dù cho lý trí đang khiển trách. Anh có một công việc mới và một căn hộ xinh xắn trong một thành phố nhỏ đầy triển vọng; anh thạo việc, lanh lợi và bề ngoài lịch sự; khi nào anh giữ cho đầu óc sáng tạo của mình nằm trong tầm kiểm soát, mọi việc sẽ đâu vào đấy.

"Tôi đi tiếp đây", anh tự nhủ, cố nặn ra một cái nhếch mép gượng gạo nhưng thật sự rất cần để bình ổn tâm trí. Anh đang trên đường đến thành phố Raccoon, đến với một cuộc đời mới đầy hứa hẹn – không có gì để phải cảm thấy không thoải mái, không gì hết..

* * *

Claire đã kiệt sức, cả thể xác lẫn tinh thần, và việc mông cô đang ê ẩm suốt mấy tiếng nãy giờ chả giúp được gì hơn. Tiếng nổ của động cơ Harley dường như đã ăn sâu tận xương, một đối trọng về thể xác so với nỗi lo lắng bồn chồn của cô – và dĩ nhiên, cảm giác tệ nhất bắt nguồn từ cái mông nhức nhối và nóng bức. Còn nữa, trời đang tối dần, và như một đứa ngốc, cô đã quên mặc áo khoác da; Chris sẽ bực lắm đây.

"Anh ấy sẽ gào toáng lên, nhưng mình sẽ không thèm quan tâm. Chúa ơi, Chris, làm ơn có ở đó để hét vào mặt em vì đã hành động ngu ngốc.."

Chiếc Harley nổ bình bịch trên con đường tối, tiếng động cơ vang vang dội lại cô từ những đỉnh đồi dốc và hàng cây thẳm tối. Cô rẽ góc cẩn thận, ý thức rõ là con đường xa lộ quanh co rất vắng vẻ; nếu cô ngã, phải lâu lắm mới có ai đó đi ngang qua.

"Làm như là cần thiết lắm vậy. Ngã xe không có đồ bảo hộ, mày sẽ bị cạo thành từng miếng trên mặt nhựa đường chỉ với một cú lăn."

Thật ngu ngốc, cô biết mình thật ngốc mới rời đi quá sức vội vã đến độ không thèm soạn đồ - nhưng có điều gì đó đang xảy ra với Chris. Quỷ thần ơi, chuyện gì hẳn đang xảy ra với cả thành phố. Suốt mấy tuần gần đây, mối nghi ngờ về việc anh trai cô đang gặp vấn đề đã trở nên chắc chắn, và những cú điện thoại cô gọi buổi sáng hôm đó đã làm cho nó càng chắc chắn hơn.

"Không ai ở nhà. Không ai ở nhà ở bất cứ đâu. Cứ như là Raccoon đã di dời và quên không để lại lời nhắn địa chỉ mới vậy."

Thật là rợn tóc gáy, mặc dù cô cóc thèm quan tâm đến Raccoon. Vấn đề là Chris đang ở đó, và nếu có gì xấu xảy ra với anh..

Cô không thể, không nên nghĩ như thế. Chris là tất cả những gì cô có. Cha họ đã chết vì tai nạn trên công trường khi cả hai còn nhỏ xíu, và khi mẹ chết vì xe đụng ba năm trước, Chris đã cố gắng hết mức để vào vai phụ huynh của cô. Mặc dù anh ta chỉ lớn hơn vài tuổi, anh đã giúp cô chọn trường cao đẳng, tìm cho cô một bác sĩ chuyên khoa trị liệu tử tế - anh còn gửi cho cô ít tiền mỗi tháng trong số lương cảnh sát kiếm được, mà anh gọi là "tiền đi dạo". Và trên hết, anh gọi điện cho cô vài tuần một lần, chính xác như đồng hồ.

"Ngoại trừ việc anh đã không gọi lần nào suốt một tháng rưỡi nay, và cũng chẳng trả lời điện thoại của cô". Cô cố gắng thuyết phục bản thân rằng thật là ngốc khi cứ lo lắng, có thể anh ấy đã quen một cô gái, hoặc có gì đảo lộn trong việc đình chỉ S. T. A. R. S, hay bất cứ chuyện gì tương tự. Nhưng sau ba lá thư không được hồi đáp và nhiều ngày chờ đợi chuông điện thoại reo, cuối cùng cô đã gọi một cuộc đến Sở cảnh sát Raccoon trưa hôm đó, hi vọng nối tiếp hi vọng có ai ở đó có thể biết chuyện gì đang xảy ra. Và chỉ có tín hiệu bận.

Ngồi trong phòng kí túc xá, lắng nghe tiếng máy tút tút vô hồn đó, cô đã bắt đầu thấy thật sự lo lắng. Ngay cả một thành phố nhỏ như Raccoon cũng phải có hệ thống trả lời tự động cho các cuộc gọi trong vùng. Lý trí bảo cô không nên hoảng hốt, rằng một đường dây gặp sự cố chẳng có gì là kì lạ, nhưng linh tính mách bảo cô có chuyện xấu. Cô đã dò cuốn sổ ghi địa chỉ với đôi tay run rẩy, gọi một vài số cho bạn của anh, những người hay những nơi anh đã dặn cô gọi đến nếu có chuyện thật cần kíp mà anh không có nhà – Barry Button,

Quán Emmy, ông cớm nào đó cô chưa từng gặp tên David Ford. Cô cũng đã thử gọi Billy Rabbitson, mặc dù Chris đã bảo cô rằng anh ta biến mất từ mấy tháng trước. Và ngoại trừ chiếc máy tự động trả lời đã đầy ứ của nhà David Ford, cô chẳng nhận được gì ngoài những tín hiệu bận.

Vào cái lúc cô ngưng gọi, nỗi lo đã chuyển thành điều gì đó rất gần với hoảng loạn. Đi đến Raccoon từ trường đại học của cô chỉ mất khoảng sáu tiếng rưỡi. Bạn cùng phòng của Claire đã mượn đồ bảo hộ của cô để đi chơi với anh bạn trai mới, nhưng Claire còn một cái mũ bảo hiểm khác – và với cái cảm giác chưa hẳn là hoảng loạn ấy cứ quay cuồng trong đầu cô cùng những suy nghĩ đáng sợ, cô đã làm một việc đơn giản là với lấy mũ bảo hiểm rồi lên đường.

"Ngu ngốc, có thể lắm. Bốc đồng ư, đương nhiên rồi. Và nếu Chris không việc gì, bọn mình có thể cười mãi cười hoài vì mình đã hoang tưởng tức cười ra sao. Nhưng nếu không biết được chuyện gì đang xảy ra, mình sẽ không có phút nào bình tâm."

Tia sáng cuối cùng của ban ngày đang tắt dần trên khoảng trời không một gợn mây, dù vậy một mặt trăng sắp tròn và ánh đèn pha của chiếc Softail đủ sáng để cô nhìn thấy – quá đủ để nhìn thấy tấm biển đề phía bên trái cô: THÀNH PHỐ RACCOON 10. Tự nhủ là Chris vẫn yên lành, Claire buộc mình tập trung vào điều khiển chiếc xe nặng nề. Trời sắp sửa tối hẳn, nhưng cô sẽ đến Raccoon trước khi quá tối để lái xe. Thành phố Raccoon có an toàn hay không, cô sẽ biết ngay thôi.
 
Chia sẻ bài viết
Từ khóa: Sửa

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back