Phú quý thì nhiều kẻ đến chen,
Uốn đòi thế thái tính chưa quen.
Cơm ăn miễn có dầu xoa bạc,
Áo mặc âu chi quản cũ đen.
Khó ngặt hãy bền lòng khó ngặt,
Chê khen mựa ngại tiếng chê khen.
Ruộng nhiều quê tổ năm ba thửa,
Tạc tỉnh canh điền tự tại nhèn.
Cước chú: chen: lách chân vào, lách mình vào uốn: khom lưng cong mình đòi: theo, tuỳ, thuận theo, tuỳ theo; uốn đòi: cúi mình thuận theo thế thái: thói đời miễn có: miễn là có; cốt có cái ăn xoa, bạc: cơm đen, cơm trắng (xoa - cơm gạo đen, hẩm; trái với bạc - cơm trắng). âu chi: phiền chi, lo chi khó ngặt: khó khăn, ngặt nghèo bền lòng: vững lòng mựa ngại: chớ ngại quê tổ: quê cha đất tổ thửa: thửa ruộng tạc tỉnh canh điền: đào giếng cày ruộng, công việc lao động, tự cung tự cấp của người ẩn sĩ. nhèn: nhàn
Tài lọn, công danh hợp mọi bề,
Dại ngây nên thiếu kẻ khen chê.
Khách hiền nào quản quen cùng lạ,
Cơm đói nài chi gẩm miễn khê.
Yên phận cũ chăng bằng phận khác,
Cả lòng đi mặc nhủ lòng về.
Người cười dại khó ta cam chịu,
Đã kẻo lầm cầm miễn mất lề.
Cước chú: tài lọn: dịch chữ toàn tài dại ngây: dại khờ, ngây ngô nào quản: đâu quản, đâu nề hà nài chi: lo chi, ngại chi gẩm: (cơm gạo) bị mục ải, mất chất vì để lâu quá khê: cơm bị chaysm bị bén đáy nồi khác: sau (thuộc tương lai), trái với này (thuộc hiện tại) cả lòng: quyết ý, "làm gan, không sợ, cả quyết". mặc: và kẻo: khỏi, không phải lầm cầm: không biết gì, thô lậu. miễn: lẫn, và, với lề: lề lối
Đồng bào cốt nhục nghĩa càng bền,
Cành bắc cành nam một cội nên.
Điền địa chử tham hơn bỏ ải,
Nhân luân mựa lấy dưới làm trên.
Chân tay dầu đứt bề khôn nối,
Xống áo chăng còn mô dễ xin.
Ở thế dịn nhau muôn sự đẹp,
Cương nhu cùng biết hết hai bên.
Cước chú: cội: gốc chử: để ý cẩn thận tham: ham (làm) bỏ: mặc kệ, để không, để phí. ải: đất ải nhân luân: các mối quan hệ cơ bản của con người theo học thuyết chính trị xã hội của nho gia. mựa: chớ khôn nối: khó nối lại chăng còn: chẳng còn mô dễ xin: đâu dễ xin dịn: chịu, nhường, âm cổ của nhịn. hai bên: hai phe, phía
Bởi lòng chẳng ở cửa quyền,
Há rặng quân thần chẳng phải duyên.
Song viết có nhiều dân có khó,
Cửa nhà càng quãng thế càng phiền.
Đam mình non nước nhàn qua tuổi,
Kết bạn thông mai ngõ phỉ nguyền.
Chúc thánh cho tày Nghiêu Thuấn nữa,
Được về ở thú điền viên.
Cước chú: cửa quyền: dịch chữ quyền môn, chỉ nơi cao sang, quyền quý há: nào có, có lẽ đâu, liệu có phải rặng: biến âm của rằng (nói, nói là) song viết: gia sản, tư nghiệp quãng: rộng, trái với hẹp thế: như vậy phiền: ưu phiền, phiền muộn, buồn phiền, phiền não đam: đem thông mai: cây thông, cây mai phỉ nguyền: được như lòng sở nguyện chúc: khấn nguyện, mong cho. cho tày: cho bằng Nghiêu Thuấn: hai đời vua anh Minh thờ Đường (TQ)
Ăn lộc nhà quan chịu việc quan,
Chớ tham tiểu lợi phải gian nan.
Cầu hiền chí cũ mong cho được,
Bất nghĩa lòng nào mựa nỡ toan.
Chử khuở phong lưu pha khuở khó,
Lấy khi phú quý đắp khi hàn.
Cho hay bĩ thái mấy lề cũ,
Nẻo có nghèo thì có an.
Cước chú: cầu hiền: tìm người hiền mựa: chớ toan: tính toán chử: để ý cẩn thận khuở: thuở phong lưu: nhiều nghĩa: 1.phong thái khác thường, 2. tài hoa xuất chúng, không câu nệ vào lễ giáo; 3. tự do thảng thích không bị câu nệ vào bất cứ điều gì; 4. cảm xúc dạt dào, lãng mạn; 5. phong tục giáo hoá; 6. mỹ tục truyền đời; 7. nho nhã đức độ làm tiêu chuẩn cho đời; 8. phong vận, lịch lãm. pha: bù lại đắp: bù đắp bĩ thái: bề tắc rồi thông suốt nẻo: nếu
Có tông có tộc mựa sơ thay,
Vạn diệp thiên chi bởi một cây.
Yêu chuộng người dưng là của cải,
Thương vì thân thích nghĩa chân tay.
Quan cao nhắn nhủ môn đồ nọ,
Hoạn nạn bù trì huynh đệ bay.
Phiêu bạc cùng nhau còn được cậy,
Mựa nghe sàm nịnh có lòng tây.
Cước chú: tông, tộc: tổ tông, tộc hò mựa sơ thay: chớ có thờ ơ, vô tâm (mựa - chớ; sơ - trái với thân thiết) vạn diệp thiên chi: vạn lá ngàn cành yêu chuộng: yêu thích và sùng thượng người dưng: người lạ, không thân, không có quan hệ gì với môn đồ: học trò, môn sinh, đệ tử. bù trì: săn sóc, giúp đỡ huynh đệ: anh em bay: ngươi, đồng nguyên với mày. phiêu bạc: việc xiêu dạt nương nhờ ở đậu khắp nơi. cậy: nhờ mựa: chớ sàm nịnh: gièm pha và nịnh nọt. lòng tây: lòng riêng, (tây - tư: trái với công - chung)
Sinh đấng trung đà phúc đức thay,
Chẳng cao, chẳng thấp miễn qua ngày.
Ở yên thì nữa lòng xung đột,
Ăn lộc đều ơn kẻ cấy cày.
Nhiều của ấy chăng qua chữ nghĩa,
Dưỡng người cho kẻo nhọc chân tay.
Trời đã có kho vô tịn,
Dành để nhi tôn khỏi bợ vay.
Cước chú: đấng trung: người có lòng lòng trung quân ái quốc (đấng - gọi với thái độ trân trọng) cao: có vị trí; thấp: trái với cao nữa: hơn, lưu tích còn trong hơn nữa; Ý cả câu: sống yên bình, hòa thuận thì hơn là xung đột, mâu thuẫn chăng qua: sống cho hết một quãng thời gian nào đó. kẻo: khỏi, không phải vô tịn: không bao giờ hết. nhi tôn: con cháu bợ vay: vay mượn
Bảo kính cảnh giới 20
Lành người đến, dữ người dang,
Yêu xạ vì nhân mùi có hương.
Ở ngọt thì hơn, nhiều kẻ chuộng,
Quá chua liền ủng, có ai màng.
Lòng làm lành đổi lòng làm dữ,
Tính ở nhu hơn tính ở cương.
Gẫm gấp thắm thì phai lại gấp,
Yêu nhau chẳng đã đạo thường thường.
Cước chú: dang: lui ra, xích ra xạ: mùi thơm tiết ra từ rốn con hươu xạ, nên còn gọi là xạ hương ngọt (nghĩa bóng): ngon ngọt, xử thế khéo léo dễ chịu chua (nghĩa bóng): chua ngoa, chao chát nhu: mềm mỏng cương: cứng nhắc, giáo điều gẫm: ngẫm, suy ngẫm gấp thắm: nhanh đượm, nhanh đậm; phai lại gấp: nhanh phai tàn thường thường: luôn luôn, hay hay.
Ở bầu thì dáng ắt nên tròn,
Xấu tốt đều thì rập khuôn.
Lân cận nhà chàu no bữa cốm,
Bạn bè kẻ trộm phải đau đòn.
Chơi cùng đứa dại nên bầy dại,
Kết với người khôn học nết khôn.
Ở đấng thấp thì nên đấng thấp,
Đen gần mực, đỏ gần son.
Cước chú: Câu 1: dẫn ý từ thành ngữ dân gian: Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài đều: cùng, hết thảy, biểu thị sự đồng nhất về hành động hay tính chất của các chủ thể được đề cập đến. rập khuôn: làm theo khuôn có sẵn, thuật ngữ từ ngành đúc đồng. nhà chàu: nhà giàu; cốm: món làm từ thóc nếp non
Của thết người là của còn,
Khó khăn phải đạo, cháo càng ngon.
Thấy ăn chạy đến thì no dạ,
Đỡ đánh bênh nhau ắt phải đòn.
Chớ lấy hại người làm ích kỷ,
Hãy năng tích đức để cho con.
Tay ai thì lại làm nuôi miệng,
Làm biếng ngồi ăn lở núi non.
Cước chú: thết: tiếp đãi (bằng cái gì đó). phải đạo: đúng đạo, giữ đạo đỡ: giúp; đỡ đánh: giúp đánh nhau
Rừng nho quãng, nấn ngàn im,
Hột cải tình cờ được mũi kim.
Bể học trường văn hằng nhặt bới,
Đường danh suối lợi hiểm khôn tìm.
Chúa ràn nẻo khỏi tan con nghé,
Hòn đất hầu lầm, mất cái chim.
Khóm ruộng ăn ngày tháng đủ,
Bạn cùng phiến sách tiếng đàn cầm.
Cước chú: quãng: khoáng (rộng, trái với hẹp) nấn: <từ cổ>: nán lại, nấn ná ngàn im: núi đứng im, không động hột cải mũi kim: chỉ sự tương hợp mang tính tự nhiên. bể: biển; trường: dài; hằng: luôn luôn hiểm: nguy hiểm; khôn tìm: không tìm; Ý hai câu thực: Nguyễn Trãi say sưa, vui thú với sách vở, học hành, văn chương; không màng đến danh lợi. ràn:ràn gà: chỗ nhốt gà, ràn trâu: chỗ nhốt trâu. ra ràn: chim con mới nở, mới ra khỏi ổ, mới biết chuyền nẻo: khi, lúc tan: tan tác, li tán hầu: <từ cổ> đệm giữa câu. lầm: không đúng, không trúng.
Ai trách hiềm cây, lại trách mình,
Vốn xưa một cội thác cùng cành.
Cành khô gấp bấy nay nên củi,
Hột chín phơi chừ rắp để bình.
Than lửa hoài chưng thương vật nấu,
Củi thiêu tiếng khóc cảm thần linh.
Thế gian ai có thì cốc,
Mựa nỡ cho khuây nghĩa đệ huynh.
Cước chú: trách hiềm: <từ cổ> trách: chê, hiềm: oán. cội: gốc - chỉ nguồn gốc thác: chết bấy, chừ: từ đệm rắp: định, toan cảm: (hành động) gây sự cảm ứng đến thần linh cốc: hiểu, biết, trong giác ngộ mựa nỡ: đâu nỡ khuây: quên, biến âm trong quên khuấy nghĩa đệ huynh: tình nghĩa anh em
Cơn cớ nguyền cho biết sự do,
Xem mà quyết đoán lấy cương nhu.
Được thua cứ phép làm thằng mặc,
Cao thấp nài nhau tựa đắn đo.
Lỗi thác sá toan nơi ủy khúc,
Hoà hưu thì khiến nõ tù mù.
Tội ai cho nấy cam danh phận,
Chớ có thân sơ mới trượng phu.
Cước chú: cơn cớ: duyên do, nguyên do nguyền cho: mong cho biết sự do: biết được sự việc do đâu, vì đâu cương nhu: cứng mềm; chỉ sự linh hoạt trong đối nhân xử thế; thằng mặc (thừng mực): là dụng cụ đo của thợ mộc được làm bằng sợi dây nhuộm đen bằng mực tàu, thợ dùng dây nảy trên mặt gỗ làm dấu để cưa cho thẳng; chỉ quy chuẩn, chuẩn mực nài: đối phó, xử trí. đắn đo: đo đạc lỗi thác: sai nhầm sá toan: nên tính toán, lo toan ủy khúc: khúc mắc, ngoắt ngoéo. hoà hưu: <từ cổ> dàn hoà và thôi kiện cáo. nõ: chẳng có chi, chẳng hề tù mù: mập mờ, không rõ ràng
Trong tạo hoá có cơ mầu,
Hay đủ hay dừng, mới kẻo âu.
Nước biếc non xanh, thuyền gối bãi,
Đêm thanh nguyệt bạc, khách lên lầu.
Chén châm rượu đục ngày ngày cạn,
Túi quảy thơ nhàn chốn chốn thâu.
Kham hạ Nghiêm Quang từ chẳng đến,
Đồng Giang được nấn một đài câu.
Cước chú:
cơ mầu: ý trời (thiên cơ) hay đủ hay dừng: biết đủ, biết dừng kẻo âu: không phải lo âu châm rượu: rót rượu quảy thơ: gánh thơ thâu: thu lại, gom lại kham: có thể, hạ: cúi mình, "chịu, chịu làm phận dưới" Nghiêm Quang (Trung Quốc): được bạn hiền là vua Lưu Tú vời ra làm quan, nhưng vốn không ham danh lợi nên chọn ở núi Phú Xuân cày cấy câu cá. từ: từ chối Đồng Giang: tên sông, nơi ẩn sĩ Nghiêm Quang câu cá, trốn đời. nấn một đài câu: nấn ná ở lại quê nhà câu cá.
Một vườn hoa trúc, bốn bề thâu,
Lánh thân nhàn được thú mầu.
Dưới tạc nên ao chín khúc,
Trong nuôi được cá nghìn đầu.
Cuộc lần cờ thấp tan ngày diễn,
Bếp thắng chè thô cổi khuở âu.
Bốn bể nhẫn còn mong đuốc đốt,
Dầu về dầu ở mặc ta dầu.
Cước chú: hoa trúc: cây hoa và cây trúc thâu: thu lại, gom lại thú mầu: thú kì diệu (mầu trong nhiệm mầu) tạc: đào khúc: đoạn nghìn đầu: nghìn con cá lần: dò, mò, lưu tích trong lần mò, lần hồi cờ: bộ cờ; chơi cờ thấp: trái với cao tan: tiêu hết cổi: giải sầu, giải phiền khuở âu: lúc, khi gặp chuyện âu lo nhẫn: ví như, nếu, dầu nhẫn. đuốc: bó củi dùng để đốt sáng
Nghìn dặm xem mây nhớ quê,
Chẳng chờ cổi ấn gượng xin về.
Một bầu phong nguyệt nhàn tự tại,
Hai chữ "công danh" biếng vả vê.
Dẫn suối nước đầy cái trúc,
Quảy trăng túi nặng thằng hề.
Đã ngoài chưng thế dầu hơn thiệt,
Chẳng quản ai khen, chẳng quản chê.
Cước chú: cổi ấn: giải ấn từ quan vả vê: ham muốn; biếng vả vê: không ham muốn gì cái trúc: cây trúc, rặng trúc thằng hề: tiểu đồng, hề là đứa ở trai, còn gọi là hề đồng ngoài chưng thế: xuất thế, rời bỏ chốn quan trường chẳng quản: mặc kệ, không quản, không lo
Chớ người đục đục, chớ ta thanh,
Lấy phải thì trung, đạo ở kinh.
Rồi việc mới hay khuôn được thú,
Khỏi quyền đã kẻo luỵ chưng danh.
Một bầu hoà biết lòng Nhan Tử,
Tám trận khôn hay chước Khổng Minh.
Song viết huống còn non nước cũ,
Mặc dầu thua được có ai tranh.
Cước chú: Chớ người đục đục chớ ta thanh: diễn ý câu nói của Khuất Nguyên: "người đời đều đục chỉ mỗi ta trong". phải: đúng; trung: lòng trung quân ái quốc. đạo: nguyên lý, thường trỏ chung cả trường phái triết học đạo đức, như đạo Nho. kinh: sách vở, kinh điển của nho gia. rồi việc: rỗi việc khuôn: rập khuôn theo, nghĩa dẫn thân là hạn định trong một khung khổ nào đó. thú: ý hướng, chỉ thú. khỏi quyền: rời khỏi chốn cửa quyền lụy chưng danh: muộn phiền bởi danh lợi kẻo: khỏi, dứt bầu: loại cây ăn quả thuộc họ bí, thân leo, quả khô lấy vỏ làm đồ đựng nước, rượu. hòa: mà Nhan Tử: nhân vật lịch sử TQ: người trung thực, ngay thẳng, khí tiết Khổng Minh: vị quân sư mưu trí bậc nhất của Lưu Bị thời Tam Quốc chước: mưu chước song viết: tư gia, sản nghiệp huống: biểu thị quan hệ tăng tiến, hơn nữa.
Chẳng khôn, chẳng dại, luống ương ương,
Chẳng dại, người hoà lại chẳng thương.
Bến liễu mới dời, thuyền chở nguyệt,
Gác vân còn chử, bút đeo hương.
Tác ngâm: bạc dẫy mai trong tuyết,
Đối uống: vàng đầy cúc khuở sương.
Văn đạt chẳng cầu, yên mỗ phận,
Ba căn lều cỏ đất Nam Dương.
Cước chú: ương ương: nửa nọ nửa kia, không hẳn thế này cũng không ra thế kia, dở dương, ẩm ương. hoà lại: lại (C2 lấy ý từ thành ngữ: dại cho người ta thương, chẳng dại người ta chẳng thương) gác vân: dịch chữ vân các, đồng nghĩa với vân đài, vân thự, chỉ nơi chứa sách. chử: lưu lại đeo: mang (bút đeo hương - bút viết như lưu, mang mùi hương thơm) Hai câu luận: Ý nói: một mình ngâm câu thơ về vẻ đẹp của hoa mai trắng trong tuyết trắng; cùng uống rượu với ánh hoa cúc vàng trong sương mùa thu. Chữ "đối uống" có thể hiểu hai cách: uống với hoa cúc; cùng với bạn uống rượu hoa cúc. văn đạt: tiếng tăm vang dội. Gia Cát Lượng trong bài Xuất sư biểu có câu: "Chẳng cần tiếng tăm nổi khắp chư hầu." yên mỗ phận: yên phận của mình Nam Dương: địa danh ở tỉnh hồ bắc, Trung Quốc ngày nay, là nơi Khổng minh Gia Cát Lượng dựng lều ở ẩn.
Chân mềm ngại bước dặm mây xanh,
Quê cũ tìm về cảnh cũ thanh.
Hương cách gác vân, thu lạnh lạnh,
Thuyền kề bãi tuyết, nguyệt chênh chênh.
Ân tây là ấy yêu dường chúa,
Lỗi thác vì nơi luỵ bởi danh.
Bui có một niềm trung hiếu cũ,
Chẳng nằm, thức dậy nẻo ba canh.
Cước chú: dặm mây xanh (thanh vân lộ), ví với ngôi cao, hoạn lộ; hương: Mùi thơm; cách: Xa lìa; gác vân: Thư phòng, nơi chứa sách; ân (ơn) : Bổng lộc, tước vị vua chúa ban cho bề tôi; tây (tư) : Nỗi lòng sâu kín; lỗi thác: Sai, nhầm; lụy bởi danh: Bị trói vào, vướng vào danh lợi; bui: Duy chỉ.
Mọi việc dừng, hân hết mọi âu,
Điền viên lánh mặc ta dầu.
Tác ngâm song có mai và điểm,
Dời ngó rèm lồng nguyệt một câu.
Dưới công danh nhiều thác cả,
Trong ẩn dật có cơ mầu.
Đạo quân thân nhẫn dầu ai lỗi,
Hổ xanh xanh ở trốc đầu.
Cước chú: dừng: ngừng lại hân: mừng, cười vui. dầu: như vậy tác ngâm...: một mình ngâm câu thơ bên song cửa có hoa mai; điểm: đồng nguyên với chấm, đốm. dời: di chuyển đến cỗ khác; rèm: rèm che cửa; nguyệt một câu: bóng trăng hình bán nguyệt như chiếc móc câu; thác: sai, lầm cơ mầu: thiên cơ - điều kì diệu trời cho lỗi: không đúng, không theo chính đạo; dầu ai lỗi: dầu ai không theo đạo (mình vẫn giữ đạo quân thân) hổ: thẹn, lưu tích trong xấu hổ, hổ hang. xanh xanh: trời xanh ở trốc đầu: ở trên đầu. Ý nói: sống giữ đạo không hổ với trời xanh trên đầu