Bạn được A Mòe Hentai mời tham gia diễn đàn viết bài kiếm tiền VNO, bấm vào đây để đăng ký.
1 ❤︎ Bài viết: 7 Tìm chủ đề
Lăng kính tình yêu

Tác giả: Hàn Mộ Đông

Thể Loại: Truyện Ngắn, Ngôn Tình

Số Chương: 6

Mục Lục:

Chương 1: Tình Cô Thôn Nữ

Chương 2: Thiếu Phụ Áo Đen

Chương 3: Chân Ái

Chương 4: Tháp Chuông Xưa, Lời Hẹn Cũ

Chương 5: Hoài Niệm Xuân Xưa

Chương 6: Vết Xước Dưới Chân Thập Tự


Văn áng:

Tình yêu: Muôn hình, vạn trạng. Có khi là giọt sương mong manh hoặc là giot nước mắt tràn mi. Lúc êm đềm như làn gió mát giữa trưa hè oi ả. Lúc cuồng nộ hệt phong ba bão tố. Đôi lúc nó là động lực giúp con người thăng hoa. Ngược lại nó sẵn sàng nghiền nát kẻ không cưỡng được nó.

Thong-bao-Giam-25-Ap-phich-(1).png


Chương 1: Tình Cô Thôn Nữ

lucid-origin-Prompt-English-toi-uu-cho-Leonardo-AI-A-faceless-young-Vietnamese-rural-w-0.jpg

Chương 1: Tình Cô Thôn Nữ

Tôi là đứa bé lớn lên ở một cao nguyên trồng chè. Cả làng tôi đều sống bằng nghề làm chè. Sáng sớm, trời còn lạnh như cắt da. Phụ nữ nơi này đã phải ra khỏi nhà với chiếc gùi trên lưng. Đôi khi, họ phải đi qua hai, ba quả đồi mới tới được vườn chè. Những luống chè thẳng tắp, cách nhau đều đặn. Ba năm một lần, người ta sẽ đốn cành để trẻ hóa cây. Ngày ấy, vào những năm 50 của thế kỷ trước, đời sống làng quê yên bình. Tình làng nghĩa xóm giúp đỡ nhau rất chân tình. Mỗi khi trái nắng trở trời, nhà nào có người đau bệnh hay gặp sự cố, cả xóm chạy lại giúp đỡ. Bài thuốc chỉ là: Nắm cỏ mực tươi mới nhổ trong vườn, mớ vỏ quýt phơi khô, củ gừng tươi, nắm cây sả hay quả trứng gà mới đẻ kèm theo cọng dây bạc để đánh gió. Cha tôi có chiếc sừng tê giác, thời đó đã mua với giá 300 đồng để mài ra uống khi có trẻ bị sốt động kinh. Nó được chuyền mượn cả xóm, nhưng xong việc, hết bệnh, ai cũng đem trả đàng hoàng.

Làng tôi đa phần là theo đạo Chúa. Ngôi nhà thờ nằm ngay chính giữa làng. Bên cạnh là hai dãy trường tiểu học đơn sơ, vách gỗ, lợp tôn. Tất cả các con đường trong làng đều quy về nhà thờ. Nơi đó có một khoảng sân rất rộng, lổn nhổn những hòn đá cuội, trắng có, đen có. Mỗi sáng, giờ tập thể dục, toàn thể học sinh sẽ ra sân xếp hàng ngay ngắn dưới sự hướng dẫn của các thầy. Ngày ấy không có các cô giáo. Phụ nữ thôn quê không được đi học. Họ sinh ra đã được mặc định: "Còn nhỏ ở nhà giúp việc nhà, coi em, nấu cơm. Lớn lên đi hái trà một vài năm, đợi gả chồng."

Một ngày sinh hoạt ở làng quê rất đơn điệu, gần như một thói quen. Sáng bốn giờ ba mươi, chuông nhà thờ đổ đợt một. Mười lăm phút sau, hồi chuông thứ hai. Đúng năm giờ, hồi chuông thứ ba và thánh lễ buổi sáng bắt đầu. Những người lớn tuổi, thanh niên, thanh nữ đều có thể đi dự lễ nhưng không bắt buộc. Một ngày làm việc bắt đầu từ 7 giờ sáng đến 11 giờ trưa. Chiều từ 1 giờ tới 5 giờ.

Cuối ngày, giờ kinh tối bắt đầu lúc tiếng chuông chiều ngân nga. Từ các đường dong, ngõ hẹp, các thanh niên, thiếu nữ ai cũng ăn mặc lịch sự. Nam quần tây, áo sơ mi. Nữ quần đen, áo dài trắng hoặc đen. Tan giờ kinh, vào ngày chẵn, các cô thường ở lại tập hát.

Tụi tôi còn bé, sợ ma không dám về, rủ nhau chơi trốn tìm. Mải chạy, nhiều khi va vào nhau, ngã toạc cả đầu gối cũng chẳng biết đau. Mê chơi là thế, nhưng nhìn thấy thầy giáo xách đèn măng-xông ra khỏi phòng, chúng tôi đứa nào đứa nấy đu theo mấy chị cùng dong, cùng xóm. Nhìn những bụi cây đen thui, rậm rì hai bên đường, cứ tưởng tượng có con ma lưỡi dài nhảy ra chụp lấy mình.

Rất may, thường thường có dăm ba anh thanh niên cao lớn đi theo, nói chuyện rôm rả, chuyện trời trăng mây nước. Các chị cũng thế, nói chuyện với nhau, cố ý để các anh nghe thấy. Chuyện chúng tôi không hiểu, nhưng họ lại hiểu.

Năm ấy, tôi chỉ vừa 8 tuổi, ngây ngô đi theo mấy cô gái cùng xóm mỗi tối. Lâu rồi thành quen. Trong nhóm có hai chị em con gái ông Phó Lễ. Cô chị tên Mỹ Sắc, cô em tên Mỹ Sót. Cả hai chắc chỉ mười lăm, mười sáu. Cô nào cũng môi đỏ má hồng, dáng người thon gọn, khỏe mạnh.

Trong số các anh đi theo, tôi biết có anh Tiến, người xóm trên. Sở dĩ tôi biết tên anh là có một lần, anh nắm tay tôi, đưa gói ô mai và dặn tôi: "Em đưa cái này cho chị Mỹ Sắc, bảo là anh Tiến đưa." Tôi làm y như thế. Chỉ thấy mặt chị đỏ bừng, mắt long lanh, liếc lại đằng sau. Trong bóng tối, nhìn mê hoặc như ma nữ. Các cô chọc nhau, cười như nắc nẻ. Cuối cùng, ai cũng được một quả ô mai mặn ngọt đủ cả. Mọi người công nhận họ là một cặp.

Vài hôm sau, một tối đi tập hát về, chị Mỹ Sắc đưa cho tôi chiếc khăn tay màu trắng, vải kate 2000, mỏng, nhẹ. Được thêu hai chữ ST cuốn lấy nhau. Viền khăn thêu rua cẩn thận, bên trong còn bọc mấy nụ hoa nhài thơm phức. Anh Tiến đưa lên mũi ngửi, nhưng tôi lại thấy chiếc khăn nằm lại trên môi.

Cứ thế, ba tháng hè đã hết. Chúng tôi sửa soạn quay lại trường học. Tối nay, trên đường về, dường như mọi người đi nhanh hơn, bỏ lại anh Tiến và chị Sắc. Hai người đi rất chậm, tay đan tay. Họ nói chuyện rất nhỏ, nhưng chậm thì cũng tới ngõ. Lối vào nhà, ánh đèn hắt ra vàng vọt, yếu ớt. Tôi chỉ nghe chị hỏi:

– Mai anh đi mấy giờ?

– Chuyến xe sớm nhất.. Em ở nhà nhớ giữ gìn sức khỏe.

Chị thò tay vào bên trong áo, lấy ra phong thư màu xanh, nhét vào tay anh:

– Anh cầm đi, thêm vào để chi dùng những lúc cần thiết. Ráng học hành nghe anh.

– Năm nay là năm thi tú tài một, khó lắm, nhưng anh cố gắng không phụ lòng má với em. Nhớ viết thư cho anh nghe. Anh nhớ em lắm đó.

Tôi đứng xa xa nhìn, dường như anh ôm chị và hôn lên má. Trong nhà có người ngó ra. Chị vội đẩy anh, rồi đi như chạy vào nhà.

Từ đó, tối chị vẫn đi nhà thờ. Cũng có một vài anh thanh niên theo sau, nhưng chị ít nói, ít cười hơn. Thỉnh thoảng, chị đưa tiền, bảo tôi mua giấy pơ-luya màu xanh, viết thư cho anh. Đại ý là hỏi thăm sức khỏe, khuyên anh cố gắng học hành, để công thành danh toại, và chị rất nhớ anh, mong ngày gặp lại.

Nghe tôi đọc lại xong, chị bảo:

– Em phải viết thêm chữ "kính thư" ở dưới cho chị ký tên. À quên, phải có tái bút nữa, nói là mẹ và em gái anh vẫn khỏe.

Tôi làm như ý chị, đọc lần nữa cho chị nghe. Chị gật đầu, thò tay vào túi lấy hai tờ hai chục màu xanh mới toanh, bỏ vào trong lá thư, gấp lại. Tự tay chị cẩn thận bỏ vào phong bì, dán keo và dán tem. Xong xuôi, đưa tôi để địa chỉ. Sáng mai, chị sẽ đi chợ tỉnh, bỏ lá thư yêu thương và hy vọng vào thùng thư ở chợ.

Thấm thoát Tết sắp đến. Làng tôi lại chộn rộn chuẩn bị đón năm mới. Nhà nào cũng chuẩn bị một âu dưa cải chua, lá dong gói bánh chưng, lá chuối gói bánh tét. Nhà nào nuôi heo thì rủ hàng xóm "đánh đụng".

Tối nay, tan kinh, trên đường về đã thấy anh Tiến đứng chờ trước đầu đường. Mọi người biết ý lảng đi trước để hai người thoải mái tâm sự. Tôi thấy anh Tiến trông như già dặn hơn. Còn chị, hôm nay mặc áo dài màu tím Huế, tôn nước da trắng hồng. Đúng là Mỹ Sắc.

Thời gian cứ thế trôi mau. Xuân qua, hè tới. Ở làng quê, mọi tiếng xì xào nhỏ như sợi chỉ mành, như gió lọt qua khe, nhưng nó xuyên thấu mọi hang cùng ngõ hẻm. Anh thi đậu tú tài một. Mọi người đều biết, cả làng đều biết. Mẹ anh, người đàn bà góa kiên cường, quyết tâm cho anh học thi tú tài hai.

Tôi lúc này đã thi đậu xong bằng tiểu học. Cha tôi cho về nhà bác ở Sài Gòn trọ học.

Một hai năm sau, tôi mới có dịp về làng. Vì ở quê, trình độ kiến thức thua các bạn thành phố, nên tôi phải học thêm cho theo kịp. Mùa hè năm ấy, tôi được biết: Anh Tiến thi rớt tú tài hai. Mẹ anh cho rằng tại anh lo yêu đương, không lo học, nên dứt khoát không cưới. Anh buồn tình, đăng lính vào SQ Thủ Đức.

Chị Mỹ Sắc bị gia đình ép lấy chồng xứ xa. Năm tôi thi đậu trung học, về làng thăm nhà, tối đi nhà thờ về gặp chị. Vẫn sắc áo tím ấy, nhưng người thiếu phụ trước mặt tôi chẳng còn chút tinh anh năm nào. Chị gầy gò, xanh xao. Đôi mắt buồn như hồ nước chết.

Hỏi thăm chị rồi, tôi hỏi thăm anh Tiến. Chị rơm rớm nước mắt:

– Ngày ấy, anh rủ chị đi theo anh, chị không dám. Anh giận gia đình, buồn chị, nên xin ra mãi vùng Một. Từ đó không gặp nữa.

Mùa hè năm 70, tôi thi xong tú tài một, về quê ngủ bù. Mấy ngày sau khỏe khoắn, tôi ghé nhà bạn chơi, mới hay anh Tiến mất. Ngày đưa tang, tôi thấy bóng chị gầy gò, cô đơn trong chiếc áo dài đen, bình thản theo đoàn người tiễn biệt. Mấy ngày sau, nghe tin chị mất vì bệnh gan tái phát.

Đám tang chị vào một ngày cuối tháng sáu. Hôm ấy trời mưa sụt sùi không dứt. Những chiếc ô đen che không kín được người. Phần mộ chị nằm kế bên anh trong nghĩa trang. Người không biết coi như lẽ thường tình: Đúng theo thứ tự. Người hiểu chuyện thở dài cảm thán: Lúc sống chẳng được gần nhau, lúc chết trời thương cho họ ở gần.


The End

Chương 2: Thiếu Phụ Áo Đen

lucid-origin-Prompt-English-toi-uu-cho-Leonardo-AI-A-faceless-Vietnamese-woman-in-a-bl-0.jpg

CHƯƠNG 2: Thiếu Phụ Áo Đen

Mùa hè năm 1970, sau khi thi tú tài 1, tôi về nghỉ hè tại Bảo Lộc. Nhà bác tôi nằm ngay trên con đường dẫn vào nghĩa trang của thị xã. Hôm ấy, tôi tình cờ chứng kiến một đám tang đi qua.

Điều khiến tôi chú ý là tiếng khóc xé lòng của cô gái mặc áo dài đen, tóc tém cao. Vòng khăn tang xô lệch tới trán. Bước đi được kè bởi hai người bên cạnh. Mặt cô ta xanh lướt. Nếu không có tiếng gào khản đục:

– Sao lại bỏ em? Sao lại bỏ em? Sao lại tàn nhẫn với em như thế? Anh bảo hai ngày anh về.. Là về như thế này sao?

Tôi tò mò đi theo, đứng xa xa nhìn cô gái gào khóc. Sự vùng vẫy tuyệt vọng trong nỗi bất lực khiến người xem xót lòng. Tôi đang thắc mắc người trong quan tài kia là ai? Ngoài bà mẹ già run rẩy khóc không thành tiếng.

Giờ hạ huyệt đã điểm. Tiếng mõ lệnh khô khốc vang lên. Bốn sợi dây thừng từ từ hạ xuống. Những phu huyệt chậm chạp kéo đầu dây rút lên. Cô gái bỗng vùng lên thật mạnh, lao xuống, gào lên: "Anh ơi!".

Trước sự ngỡ ngàng của mọi người, hai người thanh niên nhảy xuống, chật vật ôm cô gái đã mềm oặt, đưa lên khỏi miệng hố. Họ đem cô đặt dưới bóng mát của một cây dương. Dăm người phụ nữ xúm quanh, kẻ vỗ mặt, người giật gió, kẻ xoa tay, người bấm huyệt. Một chị gái khẽ đổ vào miệng cô chút nước, rồi lấy đuôi chiếc khăn tang nhúng nước lau sạch đất cát trên mặt cô. Người còn lại cầm chiếc nón lá khẽ quạt nhẹ nhàng.

Tôi nhìn sang chỗ mấy người phu huyệt. Đất cát đã được lấp bằng. Trên núm cát còn tươi màu đất mới. Cây thập tự được cắm trên đầu mộ. Có ghi rõ ràng tên của người nằm dưới:

Augustino Trần Anh Hùng

Sinh 14-2-1942

Nguyên quán: Thụy Khê, Hà Nội

Mất 13-8-1970 tại Bảo Lộc

Hưởng dương 28 tuổi

Người chết còn trẻ quá, khiến sự tiếc nuối, xót xa dành cho anh ta nhiều hơn. Sự tò mò cũng tăng vọt theo tưởng tượng của tôi.

Trời trưa nắng gắt, oi nồng, chuẩn bị cho cơn mưa dữ dội sắp tới. Chiếc xe Lambretta ba bánh chờ chở người chuyến cuối. Chỉ còn dăm chiếc Honda 67 chở hai hay ba người. Cô gái được kè lên chiếc Honda cuối cùng, mặc dù cô cố ngoái lại, khóc không thành tiếng.

Gió bắt đầu thổi mạnh. Mây đen bao phủ vùng trời rất nhanh. Thoáng chốc, những giọt mưa nặng hạt thi nhau đáp xuống. Từng đợt gió quét mạnh, những tàn cây va vật vào nhau. Cành lá thi nhau bay loạn xạ.

Tôi vội chạy về nhà. Vừa vào đến cửa đã thấy có hai cô gái tuổi chừng mười sáu, mười bảy đang đứng dưới hiên nhà trú mưa. Tôi mở cửa mời hai cô vào nhà. Qua vài câu chuyện xã giao, được biết cô tên Oanh là em họ của người đã khuất. Cô tên Linh là em cô gái.

Hai cô thấy tôi quan tâm, chia sẻ sự mất mát của gia đình nên kể chuyện tình của họ cho tôi nghe.

Anh Hùng trước là giáo sư trung học đệ nhất cấp ở Sài Gòn. Chị Vân là cô học trò lớp cuối cấp của anh. Năm chị học lớp đệ tam, ba chị không may qua đời. Mẹ góa con côi, chị tính bỏ học nửa chừng.

Anh Hùng biết hoàn cảnh khó khăn của chị. Thương cô gái tỉnh nhỏ thông minh, ham học, lễ phép, ngoan hiền, anh nhận tài trợ chi phí sinh hoạt cho cô học trò để cô có thể tiếp tục học. Cuối năm lớp đệ nhị, cô thi đậu tú tài một.

Cũng năm này, anh nhận được lệnh nhập ngũ. Việc cuối cùng anh giúp cô là đăng ký thi Cao đẳng Sư phạm và đưa một số tiền đủ cho sinh hoạt trong thời gian chưa lãnh học bổng.

Ngày tiễn anh đi, bốn năm cô học trò rủ nhau hùn tiền mua quà tiễn thầy. Ra bến xe lam đón xe lên quân trường Thủ Đức. Lúc chọn quà, các cô cũng ý kiến om sòm, cuối cùng cũng thống nhất: Kem đánh răng Perlon, khăn tắm, xà bông Ca-May, sữa bột ca cao, kẹo sing gum, dầu Nhị Thiên Đường và cây thuốc Pall Mall.

Ngồi ở nhà chờ, các cô vừa nhai sing gum vừa tán dóc:

– Ê! Tội nghiệp mấy đứa con trai lớp mình. Thi rớt tú tài là phải đi quân trường rồi.

– Hôm qua tôi gặp Ngọc Tân đang làm hồ sơ ra Nha Trang. Cậu ta buồn lắm, nói: "Ước gì hắn thi đậu như tôi, để được tiếp tục đi học thì hạnh phúc biết mấy."

Cả đám thở dài, đánh thượt một cái. Con Hiên, bình thường tán dóc rôm rả, hôm nay phán một câu xanh rờn:

– Bọn con trai đi hết. Đứa nào còn lại thì chúi đầu học ngày học đêm. Riết rồi ra phố chỉ thấy ông già với lại lũ con gái tụi mình thôi.

Bỗng cả đám nhìn ra cửa, đều ồ lên:

– Thầy ơi! Tụi em ở đây!

Đứa thì ngoắc tay, đứa thì vẫy mũ. Hình ảnh người thầy thư sinh đạo mạo không còn nữa, thay vào đó là người thanh niên phong trần, cứng cáp trong bộ quân phục mới toanh.

Hiên oang oang:

– Công nhận thầy mặc đồ lính đẹp trai thật đấy! Trông thầy oai thiệt nghen. Cha.. Kiểu này các cô đau tim thiệt à nghe.. Hi hi!

Hùng hơi đỏ mặt. Đúng là "nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò". Anh đánh trống lảng:

– Sao các em biết mà đi thăm thầy?

– Cẩm Vân nói đó, thầy. Tụi em mua quà tặng thầy.

Vừa nói, các cô đẩy bọc quà về phía đầu bàn anh ngồi. Hùng cảm động vì sự chân thành, ngây thơ, đáng yêu của mấy cô. Anh gọi cà phê và nước cam cho bọn họ.

Anh nhìn Cẩm Vân. Cô có vẻ lạc lõng so với mấy cô bạn. Tà áo dài trắng đơn sơ càng khiến cô chìm nghỉm trong các sắc màu xanh, đỏ, vàng, tím rực rỡ, chộn rộn chung quanh. Đôi mắt cô nhìn anh e thẹn và lưu luyến, nhưng đáy mắt vẫn không giấu nổi nỗi lo lắng, sợ hãi thoáng qua.

Anh hỏi cô:

– Cẩm Vân! Em đậu sư phạm rồi phải không? Cố gắng học giỏi để ra trường có thể chọn nhiệm sở theo nguyện vọng.

– Vâng, em cám ơn thầy ạ!

Hết giờ thăm nuôi, thầy trò bịn rịn từ biệt nhau. Các cô đứng nhìn theo cho tới khi bóng anh khuất sau dãy nhà. Một nỗi buồn không tên chen vào giữa các cô. Không còn ai cà rỡn nữa. Mắt họ đều ươn ướt. Họ không nói gì, nhưng hơn ai hết, họ đều hiểu và cảm nhận được sự mất mát vô hình nhưng thật sự hiện hữu.. Chiến tranh.. Nỗi sợ đe dọa mọi nơi, mọi người.

Sáu tháng quân trường qua mau. Ngày làm lễ tốt nghiệp, anh được chọn theo học khóa pilot tại T.. Nước M. Trong thời gian nghỉ phép, chiều nào anh cũng đến ký túc xá đón cô đi dạo phố, ăn kem hay xem phim. Dạo này các rạp đang chiếu phim "Đường Sơn Đại Huynh" do Lý Tiểu Long thủ vai chính.

Chiều nay, anh đưa cô ra bến Bạch Đằng hóng gió mát, ăn kem. Anh bảo cô:

– Tuần sau anh đi học rồi. Nếu không có gì phát sinh thì một năm sau mãn khóa. Anh muốn xác định quan hệ của chúng ta. Bây giờ quan hệ giữa anh và em không còn là tình thầy trò nữa. Em biết anh rất thương em, muốn chăm sóc cho em lâu dài. Vậy ý em thế nào?

Cẩm Vân mặt đỏ hồng, e thẹn cúi xuống nhìn mũi giày, lắp bắp:

– Em.. Em chưa dám.. Nghĩ đến..

Bàn tay cô nắm chặt góc tà áo dài, xoáy mạnh, thấy thương. Vẻ non tơ, khờ khạo của cô càng khiến bản năng che chở trong anh dâng lên. Anh ghé sát, hai tay nâng mặt cô lên. Nụ hôn đầu tiên cháy bỏng trên môi cô.

Cảm giác vừa sợ hãi vừa rạo rực làm thần kinh cô tê liệt. Cô phó mặc cho anh dẫn dắt. Từ dịu nhẹ đến môi lưỡi quấn quýt giao nhau. Từng đợt sóng ngầm khiến cô nghẹt thở. Lần đầu tiên, cô cảm nhận sự ngọt ngào của tình yêu.

Cô mềm nhũn, tựa vào vai anh. Bờ vai cứng rắn, sẵn sàng gánh vác, chia sẻ cuộc đời cô. Cả hai cùng quên mất thời gian. Gió đêm mát rượi vuốt ve cặp tình nhân như lời chúc phúc.

– Em tin anh chứ? Ngày tốt nghiệp anh sẽ về cưới em. Còn bây giờ, anh đưa em về ký túc xá.

Mười hai tháng dài dằng dặc nhớ thương. Mỗi tháng, anh đều tranh thủ lúc nghỉ ngơi viết thư về cho cô. Bẵng đi gần hai tháng không có tin tức gì của anh.

Chiều nào, cô cũng ghé lên chỗ hộp thư lục xem có thư không. Không có! Lòng cô hụt hẫng. Bước chân không nhấc nổi. Nỗi tủi thân làm mắt cô ướt nước. Ôm cặp sách, vô hồn đi ra phía cổng trường.

Một vài chàng trai hớn hở chờ đón người yêu, đủ sắc màu áo lính. Cô không dám nhìn, vội vã cúi mặt bước đi.

– Cẩm Vân!

Tiếng gọi ấm áp quen thuộc làm tim cô chững lại. Bàn tay mạnh mẽ kéo cô va vào một thân áo bay vừa lạ lẫm vừa quen thuộc. Tiếng "Anh.." chưa kịp thoát ra, hai hàng nước mắt như suối thi nhau tuôn trào.

Anh chưa hiểu vì sao cô khóc. Dỗ mãi, cuối cùng thì cũng tại hai tháng nay anh không viết cho cô, để cô ngóng, cô chờ. Anh nói lý do phải thực hành giờ bay và muốn cho cô một bất ngờ.

Sau những hàn huyên thương nhớ, họ bàn tính tương lai. Anh hiện chờ quyết định, còn cô trong thời gian thực tập. Sau hai tháng, cô nhận sự vụ lệnh về dạy tại trường Nữ Tiểu học thị xã Bảo Lộc. Anh được điều về phi trường Biên Hòa. Họ hẹn nửa năm sau sẽ làm đám cưới. Ngày cưới được ấn định. Thiệp cưới đã được mời.

Chỉ còn hai ngày nữa, anh sẽ nghỉ phép để cưới vợ. Sáng nay, anh vừa gọi điện cho Cẩm Vân, hẹn sẽ về sớm để phụ cô lo công việc.

Đúng mười giờ sáng, anh nhận lệnh bay thám sát ngọn đồi Z20, thuộc quận lỵ Di Linh. Chiếc Cessna êm ái lượn vòng như con diều hâu tìm mồi. Vòng thứ ba, lượn giữa những quả đồi trùng điệp, một viên đạn phòng không bắn trúng cánh trái. Con diều hâu gãy cánh, đâm vào sườn đồi. Máy bay vỡ vụn. Phi công tử nạn.

Mới buổi sáng, cô còn tươi cười thử váy cưới với bạn bè. Đến chiều, đã báo tin cô đi nhận xác người chồng chưa kịp cưới.

Ngày cưới chính là ngày đưa tang. Cô chết đi sống lại biết bao lần. Bạn bè, người thân gạt nước mắt, xót cho cô và xót cho mình. Những đau thương, mất mát quấn lấy phận người nhỏ nhoi, mong manh như lá cỏ trong lốc xoáy nghiệt ngã. Kêu trời, trời có thấu? Gọi đất, đất không tha.

Những ngày còn lại, tôi cố ý đứng chờ mỗi buổi chiều.. Đúng năm giờ, dù mưa hay nắng, vẫn có cô gái mặc áo dài đen, tay cầm một bông hồng đỏ, trò chuyện với người dưới mộ. Cứ như anh vẫn sống và chiều nào cũng chờ cô.


The End

Chương 3: Chân Ái

lucid-origin-Prompt-English-toi-uu-cho-Leonardo-AI-A-symbolic-and-emotional-scene-of-t-0.jpg

Chuong 3: Chân Ái

Khoảng giữa những năm 76–77 của thế kỷ trước, tôi lúc ấy còn trẻ, mới đổi về trường trung học cơ sở Suối Cát, thuộc huyện Xuân Lộc, Đồng Nai. Con đường từ nhà đến trường xa tầm hơn hai cây số. Những năm ấy, quốc lộ 1 còn ít xe chạy đường dài. Người đi bộ có thể thong thả ngắm cảnh hay sang đường tùy thích.

Tôi thuộc loại thần kinh vận động chậm chạp, lại nhát gan, nên tập xe Honda Dame mãi mà không chạy được. Tôi bị bạn bè chê là người của thế kỷ thứ mười một.

Trước 75 thì chuyện chạy xe được hay không cũng chẳng thành vấn đề, bởi vì ngày ấy các chàng trai đều rất ga lăng. Con gái đi một mình ngoài đường chẳng thiếu các anh đẹp trai ghé vào năn nỉ cho đi quá giang.

Tôi nhớ lại khoảng niên học 70–71. Năm ấy tôi học lớp đệ nhất A1, trường Trung học công lập Bảo Lộc. Nhà tôi ở Tân Hà, cách trường cũng ba bốn cây số. Sáng nào tôi cũng phải đón xe lam xuống chợ, rồi đi bộ vào trường cả cây số.

Một hôm tôi đi trễ, các xe lam đều chật người đi chợ.. Đang lo lắng sẽ bị trễ học mà tiết đầu của cô Xuân, giáo sư Pháp văn, nổi tiếng là khó tính. Bộ đồng phục "áo dài trắng, áo len tím hoa cà" càng tố cáo sự nôn nóng của tôi, vì trường tôi xa hơn các trường Cộng Hòa hay Nông Lâm Súc.

Đang lo sợ thì một thân com-lê trắng, áo len xanh nước biển (đồng bọn) ghé sát vào, oai vệ ra lệnh:

– Lên xe, tôi chở em đi. Lẹ lên, không trễ.

Nhìn anh chàng to con này, tôi nhớ nhớ anh ta là đại diện học sinh lớp mười (vì trường không chọn học sinh lớp thi cuối cấp). Vậy là ẻo lả leo lên, ngồi một bên. Anh ta tăng ga, quay lại hỏi tôi:

– Em học lớp đệ ngũ mấy?

Tự nhiên được học lớp đệ ngũ, tôi chẳng biết thanh minh thế nào, đành giả vờ ậm ừ cho qua.

Đến trường, trước lúc gửi xe, anh ta còn dặn tôi:

– Tan học, anh chờ trước cổng.

Lúc tan học, tôi nấp trên lầu hai phía đông nhìn ra cổng. Thấy chiếc Honda 67 dừng ở cổng, chờ hết học sinh, lại quay đầu chạy vòng vào khu phòng khối đệ ngũ hai vòng rồi mới đi luôn.

Thế là từ đó, mỗi thứ hai đầu tuần tôi đều cố ý đứng cuối hàng lúc chào cờ. Cuối năm, trường tổ chức thi thuyết trình đề tài văn học tự chọn giữa các khối lớp. Cả lớp dục dã năn nỉ "cứu bồ". Lớp đệ nhất A tài năng có thừa mà tôi lại bị liệt vào hàng "ăn nói văn hoa" của lớp. Mọi người ai cũng lo gạo vạn vật, toán, lý, hóa, nên cả lớp nhẫn tâm đẩy miếng xương khó nhằn cho tôi.

Bí quá, tôi bèn phác thảo một đề tài hoành tráng: "Mùa thu qua thi ca Việt Nam". Viết ngoáy, viết tháo trong một giờ trống tiết.

Tôi mượn câu ca dao: "Ầu ơ.. Gió mùa thu mẹ ru con ngủ.." rồi dẫn dắt qua Chinh phụ ngâm với hình ảnh tiễn đưa:

"Người lên ngựa, kẻ chia bào,

Rừng thu phong đã nhuốm màu quan san."

Tôi đưa Truyện Kiều của văn hào Nguyễn Du với mùa thu bảng lảng:

"Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng."

Với bà Huyện Thanh Quan:

"Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,

Đền cũ lâu đài bóng tịch dương."

Mùa thu qua ánh nhìn của Tam Nguyên Yên Đổ nhẹ nhàng và tĩnh lặng đến mức:

"Ao thu lạnh lẽo, nước trong veo,

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo."

Nhất là thơ mới với mùa thu của Lưu Trọng Lư, hình ảnh con nai vàng ngơ ngác đạp lên lá vàng khô:

"Em không nghe mùa thu,

Lá thu rơi xào xạc,

Con nai vàng ngơ ngác

Đạp trên lá vàng khô."

Khung cảnh mùa thu vừa tĩnh tại, vừa thơ mộng đến không tưởng. Tôi nhẹ nhàng đưa một tứ thơ của T. T. Kh:

"Mỗi mùa thu trước mỗi hoàng hôn,

Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn."

Nỗi tiếc nuối, day dứt về một tình yêu của thời hoa mộng đẹp nhất. Vết cắt của thời gian làm rữa mòn tâm tư người thiếu phụ:

"Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời,

Ái ân lạt lẽo của chồng tôi,

Mà từng thu chết, từng thu chết,

Vẫn giấu trong tim bóng một người."

Và kết rất ngắn gọn: Mùa thu là bản lề giao thoa giữa mùa hè nóng nực và mùa đông lạnh giá. Nên sự chuyển mình êm ái, nhẹ nhàng của tự nhiên đã khơi động sự rung cảm cốt lõi trong linh hồn người nghệ sĩ. Như Cung Tiến phải thốt lên:

"Người ơi! Chiều nao có thu về cho tôi nhặt lá thu rơi..

Người ơi! Một chiều nắng tơ vàng, hiền hòa hồn có mơ xa?"

Vậy nên, mùa thu chính là nguồn cảm hứng, là phông nền cho các áng thi ca bất hủ, đặc biệt là thi ca Việt Nam.

Bài viết nháp không bỏ dấu, không nhấc bút, được nộp cho thầy Cao Văn Chi, giáo sư Lý – Hóa, cố vấn lớp. Qua phần sơ khảo, chọn các đề tài có nội hàm chất lượng. Vào phần chung kết, tác giả bài được chọn phải vượt qua ba điểm chính:

– Phong cách.

– Giọng nói truyền cảm, diễn đạt.

– Giám khảo và thính giả ủng hộ.

Bài của tôi được chấm giải nhất. Nên để khuyến khích học sinh, tôi sẽ thuyết trình trước toàn trường vào sáng thứ hai đầu tuần.

Khi thầy phụ trách xướng tên:

"Em Văn Bạch Trà, học sinh lớp đệ nhất A, sẽ thuyết trình đề tài 'Mùa thu qua thi ca Việt Nam'."

Tôi bước lên khán đài trong sự cổ vũ của bạn bè. Liếc nhìn sang bên trái khán đài, tôi thấy anh đại diện học sinh, mặt từ trắng sang đỏ. Cũng đành lòng thôi, vì tôi đâu có gì gian dối. Nghĩ mà tiếc cho thời đã qua.

Dù sao, với tôi đó là những hồi ức tươi đẹp nhất thuở đầu đời.

Đang xuống cuối con dốc, mấy em học sinh lớp 9 đạp xe dừng lại:

– Cô lên xe, em chở cô về.

– Cô cám ơn! Cô muốn đi bộ.. À, căn nhà gỗ lưng đồi kia đẹp quá. Phía dưới có dòng suối, thật thơ mộng.

– Em nghe đâu.. Nhà đó của bí thư huyện mới mua lại đó ạ!

Tôi hình dung người bí thư trẻ: Anh ấy khá ấn tượng, dáng người cao gầy, khuôn mặt góc cạnh, nước da nâu, mắt sáng nhìn xoáy hồn người đối diện. Đặc biệt có vẻ trí thức, lịch lãm. Anh ta làm giảng viên trong khóa học chính trị hè của giáo viên. Con người thông minh, bản lĩnh. Khi phân tích tình hình chính trị thế giới một cách khách quan, anh dẫn dắt thính giả đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác.

Cuối cùng, anh hỏi một câu:

– Với những thuận lợi chúng ta có được sau chiến thắng mùa xuân 1975 và những khó khăn kinh tế hiện tại, chúng ta phải làm gì để đất nước phát triển ngang bằng những nước đang phát triển? Đây là bài toán khó. Chúng ta cần nhân tài, mà nhân tài thì phải đào tạo. Vậy trách nhiệm là của ai? Ngành giáo dục.

Đang mải ngắm hoàng hôn phủ vàng lên căn nhà đẹp như cổ tích – vừa hoang sơ nhưng rõ ràng được chăm chút tỉ mỉ – chứng tỏ chủ nhân của nó phải là người có tâm hồn nghệ sĩ, yêu cô tịch nhưng đủ bản lĩnh để đối phó với mọi tình huống, thì một giọng Huế trong trẻo vang lên:

– Ô! Cô tính làm thơ răng?

Giật mình quay lại, thì ra người quen cũ.

– A! Chào thầy Phong. Bây giờ thầy dạy ở đâu? (Thầy có cử nhân triết, là một violinist)

– Tôi mất dạy rồi. Cô không biết sao?

– Vậy thầy xuống đây làm gì?

Anh chỉ vào ngôi nhà trong mơ, buông một câu rất nhẹ:

– Coi con cho vợ.

– Thầy ở trong nớ?

– Vợ tui chuyển từ Huế vô đây dạy. Chưa có nhà, mấy anh bên ủy ban cho ở nhờ. Cô vào chơi.

Tôi vui vẻ theo sau, hy vọng gặp được giai nhân xứ Huế, vì trước đây, trong lúc trà dư tửu hậu, thường nghe bạn bè anh khen: Nhờ tiếng đàn violin mà anh cưới được cô Tôn nữ, hoa khôi đất thần kinh.

Một giọng nói líu lo như chim, tràn đầy cung bậc vang lên:

– Bé Bi, ba về rồi ni, đi mô? Quậy như ri, ai chiều mi nổi? Chào cô mau, ngoan ba thương Bi.

Tôi cười nhìn thằng bé khoảng tuổi rưỡi, chân tay lấm lem đất cát, mắt sáng rỡ, miệng bi bô:

– Bi.. Ào ô.. Ba.. Ẵm.

Nhìn Lệ Chi bồng cu Bi đi rửa chân tay, quả đúng là đẹp. Giống như cành mai trước bão lốc mưa giông. Vẻ đẹp thanh nhã, quý phái ngày nào đã bị bào mòn bởi lo toan kinh tế. Một người chồng thất nghiệp và một đứa con thơ, trách nhiệm dồn lên vai cô.

Phong đưa cu Bi ra suối câu cá, còn dặn với một câu:

– Hai chị em bà tâm sự rồi nấu cơm đi nhé. Cô Trà ở lại ăn cơm với vợ chồng tôi, lý do có chỗ ở mới.

– Vợ chồng bà được ở nhà đẹp thế này, thiệt tốt hết sức. Tôi mơ còn chẳng được.

Lệ Chi cười:

– Nhờ Quốc Anh nói với chủ tịch để anh Phong giữ nhà cho bí thư huyện. Thỉnh thoảng chủ nhật ngài ấy mới về.

– Tôi nghe scandal về chàng bí thư đẹp trai, hào hoa, bạch mã hoàng tử của biết bao người đẹp.

– Ngài ấy vừa mới ly hôn rồi. Cũng chật vật và quyết tâm lắm. Gia đình vợ cũ có thế lực. Hôn nhân không tình yêu, chỉ là sự sắp xếp của hai bên gia đình. Khi gặp chân ái của mình, đương nhiên sống chết cũng theo. Bà biết "ngọc nữ" của phòng giáo dục mình rồi chứ?

– A! Cô Ngọc Sương phải không? Cô ấy đẹp chuẩn hoa hậu, ai mà không mê? Tôi đàn bà con gái còn chọn cô ấy là "nàng thơ". Họ đúng là kim đồng ngọc nữ.

– Tình yêu nào cũng có giá của nó. Vợ cũ của ngài ấy là giám đốc sở cơ mà. Đánh ghen nhiều lần, kỷ luật cũng nhiều lần, nhưng ngài ấy đỡ cho hết. Cuối cùng, ngài ấy bị hạ tầng công tác. Có lẽ cuối năm hai người làm đám cưới.

– Sao bà rành vậy?

– Thì cuối tuần họ về đây, nhờ anh Phong chỉ mấy người làm theo ý chủ: Sắp xếp hoa kiểng, trồng cây ăn trái trong vườn, làm chỗ câu cá, thư giãn nghỉ ngơi.

– Hèn chi nhìn tổng thể là biết chủ nhân có tầm nhìn cao, đáng nể.

Đang mải nói chuyện, Phong đã xách xô đựng cá, hí hửng gọi vợ:

– Hên quá! Anh câu được hai con lóc. Em nấu canh chua hay nấu bánh canh?

– Vậy nấu bánh canh đi. Anh làm cá dùm em hỉ? Em đi nhồi bột.

Chưa đầy nửa tiếng, nồi bánh canh trên bếp thơm lừng. Nhìn những sợi bánh trắng phau lượn lờ cạnh khứa cá béo căng da, điểm vài cọng hành lá xanh mướt mới hái, màu đỏ của cà chua xen lẫn quả ớt hiểm cạnh hiên nhà càng thêm hấp dẫn. Bụng ai cũng réo lên thúc giục, muốn ăn.

Lệ Chi tắt bếp, tôi đi lấy tô chén. Một đĩa rau diếp mới hái ngoài vườn xắt nhỏ. Phong trải chiếc đệm ngay cửa bếp, vừa hóng gió mát, vừa coi được nhà.

Bốn tô bánh canh thơm lừng mùi tiêu, hành. Thập niên 76–77, thời kỳ kinh tế khó khăn, cơm ăn độn khoai, bắp nhiều hơn. Tô bánh canh dân dã này chắc chắn ngon hơn tô phở Tàu bay Sài Gòn xưa.

Nửa năm sau, nhà tập thể xây xong, vợ chồng Phong dọn vào trường ở. Ngôi nhà trong mơ đã có chủ. Thỉnh thoảng, tôi nhìn thấy hai người họ ngồi uống trà chiều, màu tình yêu trải dài trên các luống hoa rực rỡ. Họ chăm chút nhau như đôi chim trong tổ ấm, mặc kệ gió táp mưa sa bên ngoài. Họ đã tìm thấy tình yêu đích thực đời mình.


The End

Chương 4: Tháp Chuông Xưa, Lời Hẹn Cũ

lucid-origin-Prompt-English-toi-uu-cho-Leonardo-AI-An-old-church-bell-tower-in-rural-V-0.jpg

Chương 4: Tháp Chuông Xưa, Lời Hẹn Cũ

Tôi sinh ra ở làng quê quan họ Bắc Ninh. Mẹ tôi, người đàn bà đảm đang truyền thống. Bà đẹp và hát quan họ nổi tiếng trong vùng. Nhưng bà lại phải lòng cha tôi – một cậu ấm mê hát ả đào, chèo cổ.

Những năm 40 của thế kỷ trước, làng quê Bắc Bộ tương đối yên bình. Mỗi khi làng có hội hè, bao giờ ông cũng có mặt: Lúc cầm chịch, lúc gõ trống. Mẹ tôi mê cái tài hoa, điệu nghệ của ông mà gật đầu chịu làm dâu nhà nội.

Mẹ tôi tháo vát, giỏi buôn bán. Khi tôi được năm tuổi, ông bà nội cho ra riêng. Lưng vốn mẹ tôi đã khá khá, hai ông bà cất được ba gian nhà ngói.

Cha tôi lên Trùng Khánh, Cao Bằng đặt nguyên một nếp nhà cột gỗ lim. Ngày tân gia, cha mua hẳn một con bò về đãi cả làng. Khi làm thịt, không ngờ con bò đang có chửa, mặc dù lúc mua, người bán đã cam kết nó là bò tơ. Một ông thầy bói nói thầm với người bên cạnh: "Nhà có làm, không có ở."

Cha tôi không tin, nhưng cuối năm, thời thế thay đổi, loạn lạc khắp nơi. Cha mẹ tôi bỏ làng về thành ở, rồi theo đoàn người xuôi Nam.

Học hết bậc tiểu học, cha tôi gửi tôi về Sài Gòn trọ học. Bảy năm trung học trôi qua mau. Tôi thi đậu tú tài một, rồi tú tài hai. Tôi thi vào Đại học Nông nghiệp, cạnh đài truyền hình. Người ta bảo tôi có số "khoa cử", nghĩa là thi đâu, đậu đấy.

Tôi tốt nghiệp đại học loại ưu, nên giành được học bổng du học Hoa Kỳ. Trong lúc chờ hoàn tất thủ tục, tôi tranh thủ về thăm nhà. Cha tôi mừng rỡ, nhìn tấm bằng kỹ sư canh nông. Ông trịnh trọng đặt lên bàn thờ gia tiên báo công. Rất lâu rồi, mặt cha mới có nét vui.

Tối ấy, mẹ tôi bắt gà làm cơm ăn mừng, tiện thể rủ hai ba ông bạn hàng xóm nữa. Cơm xong, tôi chuồn đi kiếm mấy thằng bạn nối khố đang dạy ở Nông Lâm Súc tán gẫu.

Ngày ấy, người ta chỉ biết làm chứ không biết hưởng thụ. Cả làng không có quán cà phê. Cả đám dẫn nhau đi loanh quanh hết con đường nhựa quốc lộ, lại đi vào các lối đường dong. Cuối cùng về sân nhà thờ, ngồi dưới chân tháp chuông, kể chuyện đứa còn đứa mất, cả chuyện yêu đương bồ bịch nữa.

Sắp tới giờ giới nghiêm, chia tay, hẹn mai xuống phố ghé cà phê Thủy Tạ, thăm Đại Thính Đường, lên ký túc xá rủ vài em sinh viên dạo Hoàng Hoa Lộ.

Chiều chủ nhật, tôi đi nhà thờ, đến hơi sớm, đang loanh quanh bên gác chuông. Gặp vài người quen, chào hỏi cho phải phép.

Bỗng đâu những tiếng nói cười rộn ràng của đám con gái, lớn nhỏ lao xao trước mắt. Điều khiến tôi đứng như trời trồng: Cô gái ấy nổi bật trong tà áo dài tím hoa cà.

Cổ thuyền cách điệu bằng màu vàng nhụy hoa, cột lệch hờ hững bên vai phải. Mái tóc nâu đen, mềm mại, óng ả ôm lấy khuôn mặt trái xoan tròn, thanh mảnh. Đôi mắt to, đen tròn ẩn dưới hàng mi dày cong vút, nhìn mơ màng, thơ ngây đến lạ. Gió thổi tung vạt áo. Cô khéo léo nắm hai tà kéo lại. Một thân hình lý tưởng trong chiếc áo dài chít eo kín đáo, phô bày những nét cong mỹ lệ.

Nhìn vẻ ngây ngẩn của tôi, Hiển – thằng bạn khóa dưới – đập vai:

– Bị sét đánh chết đứng rồi hả? Hoa khôi đấy, hơi kiêu à nghe. Muốn làm quen không?

– Gấp gì chú? Anh thích loại con gái có cá tính.

Tan lễ, mọi người ra về. Lũ tụi tôi giả bộ đi trước, vờ vịt đứng chặn đầu đường, đợi các nàng đi qua. Hiển lên tiếng hỏi:

– Thu Sương thi đậu rồi, chị tính học tiếp ở đâu?

– A.. Hiển! Chưa định được, Đà Lạt cũng muốn, Sài Gòn cũng muốn, để coi lại đã.

– Chị biết ai đây không?

Vừa nói, Hiển đẩy tôi ra. Đôi mắt đen tròn sáng rỡ như sao lia trên mặt tôi một vòng định giá. Cặp môi đỏ mọng khẽ mím lại, cái đầu khẽ lắc:

– Xin lỗi, có lẽ chưa gặp.

Hiển liến thắng:

– Đúng rồi, để Hiển giới thiệu cho. Đây là anh Ngọc Tú, kỹ sư canh nông. Còn đây là Thu Sương, chị họ tôi.

Cứ thế, đoạn đường qua những chuyện trời trăng mây nước đã ngắn lại không ngờ. Tới ngõ vào nhà cô, tôi bịn rịn chờ một lời mời ghé chơi. Cô kiệm lời. Tôi đành hẹn:

– Mai gặp lại nhé, Thu Sương.

Ngày hôm sau, lúc đi nhà thờ, gác chuông vắng lặng. Thật ra tôi đã có mấy đứa em tình nguyện làm "thám tử", báo trước giờ cô ấy đi đọc kinh, mặc áo màu gì, đi với những ai, về con đường nào.

Tôi căn đúng lúc cô ấy rẽ vào đường dong, đi ngược lại giả như tình cờ gặp nhau:

– Đã tan kinh rồi sao? Hôm nay Thu Sương về sớm thế?

– Dạ! Hôm nay không tập hát.

– Trời tối quá! Để anh đưa em về.

– Sợ phiền anh không? Ở đây không có đèn đường, tối cũng hơi sợ.

– Vậy từ mai anh sẽ đưa em về. À, ngày mai tụi anh đi chơi thác Đam B'rong, ghé thung lũng Hồi Nguyên cắm trại. Anh mời em tham gia với tụi anh.

– Có nhiều người không anh?

– Chừng mười mấy người thôi, toàn bạn học. Có thể có mấy em sinh viên NLS. Vậy mai tám giờ anh đón em nhé.

– Vâng, vậy mai tám giờ em đợi. Bye.

– Chúc em ngủ ngon. Mai gặp.

Nhìn bóng áo trắng khuất sau hàng cây bơ đang mùa ra hoa, ánh đèn măng xông nhà nàng hắt sáng cả nửa khu vườn, tôi đi về với cảm giác lâng lâng khó tả. Ngày mai, tôi nhất định phải "cưa đổ" được nàng.

Sáng hôm sau, tôi đến nhà nàng, vào chào hỏi ba má nàng cho phải phép. Sau một hồi hỏi thăm, hóa ra má tôi với mẹ nàng là bạn cũ. Ơn trời, cửa khó đã qua.

Hôm nay nàng đẹp thật. Mái tóc cột cao đuôi ngựa, phô trương cần cổ trắng ngần. Chiếc gáy thanh mảnh, tao nhã như cuống hoa vươn cao. Màu vàng trà đậm của chiếc áo monteguy mềm mượt ôm sát thân được phối cẩn thận với quần kaki xám khói. Trông nàng tỏa sáng như cây ngọc.

Đoàn chúng tôi có sáu xe, mỗi xe chở hai hay ba người. Con gái đông hơn, các cô mạnh dạn "tống ba". Điểm đến là thung lũng Hồi Nguyên: Cắm trại, nghỉ ngơi, hái sim, hái mua tím; chiều ghé thác Đam B'rong trước khi về.

Thung lũng Hồi Nguyên cách thị xã Bảo Lộc khoảng hơn mười cây số, cách thác Đam B'rong một cây số ngoài. Lúc chúng tôi đến, chung quanh là một vùng rộng lớn khoảng vài mẫu đất. Bây giờ là gần Noel, cuối tháng mười hai, cuối mùa mưa. Lượng nước bắt đầu rút xa khỏi các bụi cây, làm thành hồ nước hình oval xa tắp tít.

Trên bờ đất cao, cỏ mọc xanh rì, ken kín như tấm thảm mềm mại. Tụi tôi dựng xe sát lối vào, chặt cây rừng làm cọc căng lều, trải bạt. Các cô gái phụ giữ dây, chuyển đồ. Cả nhóm cắt cử tôi và Thu Sương đi hái sim.

Tôi thầm cảm ơn mọi người tinh ý. Tôi dẫn nàng đi vào phía rừng thưa, nơi mọc đầy những bụi sim chen lẫn với hoa mua. Tìm mãi mới thấy bụi sim có vài trái chín. Thu Sương hưng phấn, hoạt bát hẳn lên.

Nàng cười tươi, nhón chân rướn cao người, víu cành hái quả, vô thức phô bày tất cả đường cong tuyệt mỹ. Dưới ánh nắng vàng rực rỡ của cao nguyên, giữa một vùng lá xanh, hoa tím, nàng giống như công chúa ngủ trong rừng mới vừa thức dậy.

Cả người tôi ngây ngẩn, ngây ngây như người say rượu. Nàng gọi tôi:

– Cành này nhiều quả, em với không tới.

– Để anh bế em lên hái nhé?

– Ồ! Không được. Anh víu xuống cho em.

Cô dậm chân, nũng nịu, mày nhíu, môi chu. Tôi giả vờ theo ý cô, giơ tay níu cành sim thấp xuống. Đợi cô vươn tay chạm vào cành, tôi nới lỏng tay. Cành sim vụt về chỗ cũ. Hai ba lần như thế, cô đã dựa sát ngực tôi.

Hương tóc cô phảng phất mùi cỏ dại, êm dịu và thanh mát. Hồn tôi đắm say. Tôi cố hết sức nhịn thở, kiềm chế bản thân, sợ rằng mình sẽ ôm lấy cô, vùi đầu vào hõm cổ đầy mê hoặc ngay trước mắt mà không dứt ra được.

– A! Anh chơi ăn gian. Để em nãy giờ mệt muốn chết.

Tôi phì cười vì cách nhõng nhẽo hồn nhiên, dễ thương của cô. Cúi sát xuống, tôi chỉ vào bụi sim gần đó:

– Xin lỗi em nhé! Cây cao để anh, em sang bụi bên kia, trái chín nhiều hơn.

Theo cánh tay tôi chỉ, mắt cô sáng rỡ nhìn bụi sim non. Cây con tỏa cao hơn đầu người, cành sai trĩu quả, thỉnh thoảng khoe ra những trái tím sậm mọng nước. Một con chim vụt bay lên khỏi tổ, kinh hãi kêu vang.

Cô cười khúc khích:

– Tổ chim, đẹp quá!

Cô lui lại hai bước, cầm vội máy chụp hình Kodak đeo bên hông, nhắm vào trái bầu cỏ bấm vài cái. Tiện thể thấy tôi đang cười xuất thần, tươi rói, cô chụp luôn.

– Anh à! Sao lại gọi là thung lũng Hồi Nguyên?

– Em nhìn trước mặt, đây là hồ nước êm ả, tịch lặng, đẹp như tranh vẽ. Đây là cuối đông, đầu xuân. Nhưng vào cuối xuân, trời không còn mưa, lượng nước bị rút cạn, trả lại cho đất thảm cỏ xanh mượt mà như cũ. Người ta tin rằng, hẹn hò, yêu đương ở đây, dù có thăng trầm, bão tố, nó vẫn mãi mãi hồi nguyên như thuở ban đầu.

– Hay quá ha anh! Ai đặt tên cho nơi này thật ý vị.

– Thu Sương à, anh sắp đi du học rồi, nhanh nhất là bốn năm. Học xong anh sẽ về, góp phần xây dựng quê hương. Từ trước tới giờ, anh chưa đặt nặng tình yêu, anh mải theo đuổi giấc mộng công danh, sự nghiệp. Nhưng khi gặp em rồi, lòng anh khao khát có được em mãnh liệt hơn cả công danh, sự nghiệp.

Anh không biết đó có phải là tình yêu không. Anh không ngại thành thật tỏ bày cùng em, vì anh sợ thời gian bốn năm.. Nếu hôm nay anh không nói, có lẽ sẽ không còn dịp nào nữa. Nếu em chưa có người trong lòng, hãy chấp nhận tình cảm của anh, cho anh một lời hẹn ước.

– Anh cho em thời gian tìm hiểu. Hiện giờ em chưa dám nghĩ đến tình yêu. Anh là người tốt, có học vị, trong xã hội thiếu gì người có điều kiện tốt muốn được quen anh.

– Thứ hai anh về Sài Gòn để chuẩn bị vé máy bay. Vậy anh hẹn em chiều chủ nhật, anh đợi ở tháp chuông.

Em đưa anh xách bọc sim:

– Cũng khá nhiều đấy. Nãy giờ em lo hái, đã nếm thử chưa?

– Em sợ ăn nó đen răng, tím môi, xấu lắm.

– Không đâu, em ăn trái mua mới bị đen lưỡi.

Tôi lựa hai trái to bằng đốt ngón tay cái, dục nàng nếm thử. Nàng ngại ngùng, hơi nghiêng về phía sau, nhón lấy, đưa lên cắn nhẹ:

– Vị ngọt, cũng thơm. Sim rừng hoa đẹp, quả ngon, hèn chi các nhạc sĩ thích "màu tím hoa sim".

– Ừm, anh cũng thích bài "Màu tím hoa sim" của Dzũng Chinh. Nhưng buồn quá, nỗi buồn của biết bao thế hệ, nỗi buồn nhược tiểu.

Tôi đưa nàng về chỗ dựng lều. Mấy cô tranh nhau bọc quả sim, tôi phải nhắc chừng:

– Trái nào xanh đừng ăn, chát lắm.

Bữa trưa ăn nhẹ, chỉ có bánh mì thịt nguội, nhưng mọi người cảm thấy ngon miệng và hứng khởi. Ngọc Hiển và Khải Tân đàn hát "Nối vòng tay lớn" của Trịnh Công Sơn và "Việt Nam" của Phạm Duy. Các cô sẵn sàng tham gia với những bản tình ca. Hát xong, mỗi em đều được tặng một vòng hoa xâu bằng cọng cỏ với hoa sim và hoa mua.

Khoảng hai giờ chiều, chúng tôi thu dọn trại, ghé thăm thác Đam B'rong. Con thác này nằm ngay gần đường lộ, còn hoang sơ, chưa đưa vào khai thác. Mùa mưa, lượng nước đổ về rất lớn. Từ xa đã nghe thấy tiếng nước đổ ầm ầm, hơi nước tung bay mù mịt.

Lòng thác sâu hơn ba chục mét, đường xuống dốc thẳng đứng, rất nguy hiểm với những tảng đá lớn nhỏ đầy kín lòng thác. Nghe đâu trước đây có một em học sinh lớp đệ nhị đi cắm trại, trượt chân té xuống tử vong. Sau đó có một phóng viên người Mỹ mải quay phim, bị nước cuốn, hai ngày sau mới tìm thấy.

Lúc xuống, chúng tôi cởi giày, nắm dây leo, vịn cây mà đi. Chỗ trơn trượt phải nắm tay các cô mà dìu. Mồ hôi vã ra trên trán, chảy vào mắt cay xè.

Xuống đến nơi, em nào em nấy mặt đỏ bừng tựa say rượu, thở hồng hộc như vừa chạy marathon nước rút. Ngồi chưa đầy năm phút, hơi lạnh và bụi nước mát như trong tủ lạnh khiến cơ thể thoải mái cực kỳ, mồ hôi khô ráo bay hơi hết.

Ngồi chơi chưa đầy nửa tiếng, mọi người bắt đầu thấy lạnh. Các cô gái muốn về. Lần này, các anh lên trước, quay lại kéo các em lên.

Về đến thị xã, ghé cà phê "Trẻ" ăn yaourt rồi vui vẻ, tiếc nuối chia tay.

Chiều chủ nhật, như đã hẹn. Tan lễ, tôi đợi nàng dưới tháp chuông. Người ra về gần hết, mới thấy nàng và nhỏ bạn đi tới.

Nàng tặng tôi tấm hình chụp tổ chim và ảnh tôi đang cười rạng rỡ. Nàng chúc tôi lên đường bình an, mạnh khỏe, hoàn thành ước vọng.

Tôi đưa nàng về. Những dự định tương lai muốn nói với nàng đành im lặng. Tôi chỉ kịp hứa:

– Sang đến nơi, ổn định chỗ ở, anh sẽ viết thư cho em đầu tiên.

Nhìn bóng nàng khuất dần sau ngõ tối, tôi tự nhiên không muốn đi du học nữa. Thời gian bốn năm quả là khó để tồn tại một mối tình vừa nhen nhúm.

Tôi quay sang bạn nàng:

– Nhật Hạ! Để anh đưa em về.

Nhật Hạ ở cùng xóm với tôi. Trước giờ em vẫn coi tôi là anh trai, tôi gửi gắm Nhật Hạ trông chừng Thu Sương. Từ biệt Nhật Hạ, tôi về sắp xếp hành lý, chuẩn bị sáng mai đi sớm.

Việc đầu tiên khi tới Hoa Kỳ, tôi viết thư về cho gia đình, cho Thu Sương và Nhật Hạ báo bình an. Để hội nhập với môi trường mới, tôi đăng ký học thêm tiếng Anh và nhờ người quen giới thiệu, cuối tuần tham gia các công tác cộng đồng.

Hơn nửa năm, tôi đã hòa nhập được với môi trường, việc học tiến bộ. Tôi viết thư cho Thu Sương thường xuyên hơn, kể về nỗi nhớ quê nhà, trong đó nàng là động lực giúp tôi vượt khó. Tôi cùng nàng mơ về tương lai đầy mộng đẹp với nỗi khát khao chờ đợi.

Năm thứ ba, tin tức quốc tế nói về cuộc chiến khốc liệt ở Việt Nam. Tôi gửi cho nàng rất nhiều thư, nhưng đều thất lạc hoặc bị trả về. Mãi sau này, tôi mới liên hệ được với Nhật Hạ, mới hay gia đình nàng đã bán nhà chuyển đi nơi khác. Hỏi hàng xóm cũng chẳng ai biết. Từ đó, chúng tôi lạc nhau.

Tốt nghiệp tiến sĩ, nhiều công ty mời ở lại làm việc với mức lương cao. Bạn bè bảo tôi đừng về vì chiến tranh đang vào giai đoạn cao trào, nhưng tôi vẫn quyết định về nước.

Cuối tháng ba năm 1975, tôi trình diện Trường Đại học Nông nghiệp, nhưng tình hình chiến sự căng thẳng, việc học của sinh viên lơi lỏng. Tôi đành về lại Bảo Lộc thăm nhà và chờ thời sự.

Việc đầu tiên: Tôi tìm Nhật Hạ. Cô xác nhận đã mất liên lạc với Thu Sương hơn hai năm rồi, chỉ biết cô về Sài Gòn học SPCN. Tôi nhờ các mối quan hệ bạn bè tìm tin tức của cô, nhưng chỉ là nỗi thất vọng. Có đứa bạn chỉ vào mặt tôi bảo: "Thằng khờ! Trong khi mọi người kiếm cách để đi, mày lại bò về."

Tháng 7 năm 1975, tôi trình diện và học tập chính trị theo quyết định của nhà nước mới. Tôi nhận quyết định về Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc Bảo Lộc. Hai năm đầu, tôi vừa giảng dạy vừa phiên dịch các tài liệu giáo khoa từ tiếng Anh sang tiếng Việt.

Công việc và bối cảnh kinh tế khó khăn khiến tôi đành gác lại việc tìm kiếm nàng. Gặp ai có đôi nét giống nàng, tôi cũng ngơ ngẩn như cố tìm lại hình ảnh người con gái tôi yêu.

Mẹ tôi đã lớn tuổi, dạo này lại hay đau bệnh. Bà muốn tôi lập gia đình. Đối tượng là người quen của mẹ, một cô giáo dạy phổ thông cơ sở. Đám cưới diễn ra đơn giản. Vợ tôi là cô gái theo truyền thống, giỏi việc nước, đảm việc nhà.

Hơn một năm sau thì mẹ tôi mất. Từ ngày mẹ mất, cha tôi buồn, đổ bệnh. Người mỏi mệt, kém ăn. Năn nỉ ông đi khám bệnh, ông bảo cảm sốt xoàng xĩnh, uống thuốc vài hôm là khỏi. Cuối cùng, khi bác sĩ khám và xét nghiệm thì là ung thư gan giai đoạn cuối.

Ông không chịu nằm bệnh viện, đòi về nhà, vui vẻ chờ đi gặp mẹ. Hai tháng sau, ông mất.

Lúc này vợ tôi chuẩn bị sinh. May mắn, vợ tôi khỏe mạnh nên sinh nở dễ dàng. Một bé trai kháu khỉnh, bụ bẫm. Tôi đặt tên con là Nguyễn Hoài Nguyên.

Trách nhiệm và bổn phận lấy đi của tôi gần hết thời gian. Những kỷ niệm của tôi và em rất ít: Chỉ dăm ba lần gặp gỡ, một hai lần cầm tay. Tôi thậm chí còn không có tấm hình nào của riêng em.

Nhưng hình ảnh em trong lần gặp gỡ đầu tiên in vào tâm trí tôi, không thể nào quên.

Chiều nay, tôi đi lễ. Nhà thờ vẫn đông người. Tôi tần ngần đứng bên gác chuông xưa, lòng bồi hồi khó tả.

Tôi làm thơ không đề tựa:

Bảo Lộc mùa thu, phố mưa hoa vàng,

Chồng thư màu xanh em quên vội vàng.

Con đường Hoàng Hoa đong đầy kỷ niệm,

Áo tím học trò một thuở vương mang.

Chiều nay mình tôi bên bờ Thủy Tạ,

Vẫn chờ em về như thuở xa xưa.

Cà phê "Tiên Dung" bỗng dưng đắng lạ,

Một chút khói mờ, hay là bụi mưa?

Em còn giữ không nụ cười e lệ,

Má đỏ, môi hồng, nguyên dáng tinh khôi.

Tóc thề buông vai, rừng thu hư ảo,

Vóc ngọc da ngà như sương ban mai.

Bảo Lộc là em, tình yêu của tôi,

Hoa cà phê thơm – mùi hương con gái.

Thung lũng Hồi Nguyên màu sim tím tươi,

Gió lộng từ cao, Đam Brông vẫn hát.

Em là của tôi, mãi mãi muôn đời.


Tôi cất bài thơ cùng với tấm hình tổ chim hạnh phúc, cả ảnh tôi cười rực rỡ, tình yêu và sự nghiệp vào ngăn kéo cuối cùng của bàn làm việc. Đóng lại một quãng đời đẹp nhất và ý nghĩa nhất.

Năm 90, tinh giảm biên chế, tôi được cho nghỉ.

Ngày họp mặt chia tay sinh viên K5 do tôi chủ nhiệm, Mỹ Tâm, cô sinh viên học giỏi được tôi hướng dẫn, đưa cuốn an-bum đã cũ, nói:

– Đây là toàn bộ ảnh lưu niệm của em từ thời học sinh đến sinh viên. Em muốn tặng thầy một tấm kỷ niệm. Tùy thầy chọn.

Tôi đón lấy như cảm nhận sự yêu quý, tin tưởng của cô trò nhỏ. Tôi trân trọng lật từng trang, hình dung quá khứ tươi đẹp mà em lưu giữ: Hình ảnh cô học trò ngây ngô lớp sáu cho tới cô thiếu nữ lớp 12.

Bất ngờ, tôi như chết lặng với tấm hình GS toàn trường trung học Long Khánh: Người đứng thứ hai, hàng đầu bên trái. Nàng, đúng là nàng. Tay tôi run lên, giọng tôi lạc đi:

– Mỹ Tâm.. Cô này tên gì?

– Để em nhớ! À.. Là cô Thu Sương dạy sinh hóa.

– Em có biết bây giờ cô ấy ở đâu không?

– Dạ không. Sau tiếp thu, cô ấy không dạy ở trường nữa.

Tim tôi như bị bóp nghẹn. Tôi còn không nghe tiếng Tâm hỏi:

– Thầy quen cô ấy sao?

– Chẳng những quen, mà còn tìm suốt gần hai chục năm nay.

Tâm tinh ý, biết rằng người đó rất quan trọng với tôi. Em lặng lẽ tháo tấm hình đó tặng cho tôi.

Cầm tấm hình, nỗi đau thấu tim khiến tôi nhắm mắt, nuốt ngược những cảm xúc dâng trào. Vì cớ gì mà nàng không một lần ghé về chốn cũ, lời hẹn xưa? Dù biết rằng giờ đây tôi và nàng vĩnh viễn đã lạc mất nhau.

Mải chìm vào cay đắng, đến khi mở mắt nhìn lại, căn phòng vắng hoe. Các em sinh viên đã lặng lẽ chia tay.

Tôi về nhà làm kinh tế, phụ vợ nuôi con. Trang trại giống cây trồng của tôi đáp ứng đúng nhu cầu của người nông dân. Ngoài ra, tôi còn sẵn lòng tư vấn cho họ khi gặp khó khăn về cây giống hoặc sâu bệnh. Trang trại Hồi Nguyên ngày càng mở rộng.

Tôi nhờ người quen dò tìm tin tức của nàng. Tin cuối cùng chỉ biết rằng gia đình nàng từ Bảo Lộc dọn về đường Bùi Hữu Nghĩa, Gia Định, di tản trước tiếp thu.

Lòng tôi buồn rười rượi, có lẽ suốt kiếp này hy vọng gặp nàng rất mong manh.

Đầu năm 95, sự nghiệp đang phát triển, nhưng tôi hay cảm thấy mệt mỏi, tâm trạng u uất, thỉnh thoảng sốt, biếng ăn. Sau nhiều lần khám, tầm soát bệnh, cuối cùng bác sĩ bệnh viện ung bướu xác nhận tôi bị K tụy.

Căn bệnh hành tôi nhanh hơn dự tưởng. Tôi cố gắng nhịn đau đớn, không muốn vợ con lo buồn. Tôi cố cười lạc quan, chấp nhận số phận. Những lúc tỉnh táo, tôi sắp xếp kế hoạch, chuyển giao công việc để vợ tôi quản lý.

Nhật Hạ nghe tin đến thăm. Tôi cười bảo cô:

– Con người có sinh có tử, chỉ là sớm hay muộn thôi. Khi anh đi rồi, nếu Thu Sương có trở về, em thay anh đưa cho cô ấy bài thơ này.

Mắt cô đỏ, ầng ậng nước. Cô ngửa cổ lên, hít một hơi thật dài, nhắm chặt mắt, cố nén xúc động. Cô sợ nước mắt sẽ khiến anh khó chịu và chua xót hơn. Ai cũng muốn khoác lên mình vẻ bình thản giả tạo để người đối diện yên lòng.

Cô đưa tay cầm lấy chiếc phong bì mỏng manh, cảm giác như vật nặng ngàn cân. Anh chỉ tay lên tấm ảnh treo trong phòng:

– Tấm ấy sẽ rửa làm ảnh thờ và đặt vào bia mộ.

– Người ta tính chuyện sống, còn anh chỉ toàn tính chuyện chết.

– Chuyện thường tình mà em. Có khi sang chốn ấy, anh sẽ biết cô ấy làm gì, còn hay mất, không khắc khoải như hiện giờ.

Anh mỉm cười an yên, tĩnh lặng. Cô chào anh, hẹn vài hôm nữa lại ghé thăm.

Bẵng đi vài hôm, cô bận dự giờ và dạy mẫu, không ghé thăm anh được. Chiều nay cô vừa về đến nhà, chưa kịp dựng xe đã nghe mẹ nói:

– Anh Tú mất rồi, lúc đầu giờ chiều. Mẹ ở bên đó mới về nấu cơm. Con thay đồ rồi sang bển phụ chị. Tội nghiệp quá!

– Vâng! Con sang ngay đây.

Tôi sang đến nơi, mọi người đang dọn dẹp nhà cửa, che rạp, dọn chỗ nấu ăn. Chị Tần thấy tôi, khóc to hơn. Tôi vỗ về an ủi chị.

Người đưa ảnh thờ tới. Tôi nhìn hình anh cười rạng rỡ. Chị sụt sịt:

– Thiếu gì tấm ảnh, anh chụp trang nghiêm đẹp lắm. Nhưng anh bắt chị phải làm ảnh thờ và bia mộ bằng tấm ảnh này.

– Chắc là anh thích nó. Hôm trước em lại thăm, anh cũng nói ý định này.

Đám tang anh, nhiều người đưa tiễn, đặc biệt là học trò anh. Những vòng hoa tiếc thương người thầy tài hoa mệnh yểu chật kín từ trong nhà tới ngoài đường.

Thường cuối tuần, tôi với vợ anh, hai chị em ra viếng mộ anh, thắp nén hương và đọc cho anh lời kinh, nguyện cho linh hồn anh mau được hưởng chốn bình an.

Thoáng một cái, lại sắp đến ngày giỗ đầu của anh. Hôm nay rảnh rang, tôi sửa lại mấy chậu hồng, đang tỉa cắt cành cho cây để lấy đợt hoa mới.

Chiếc xe du lịch ngừng trước sân nhà. Cửa xe mở nhanh, một người phụ nữ phục sức thanh lịch bước xuống, đi vào nhà khá tự tin. Cô ấy nhìn tôi cười thật tươi.

Tôi ngây người, cây kéo trong tay rơi xuống đất. Tôi lắp bắp:

– Thu Sương!

Cả hai lao tới, ôm chặt lấy nhau. Cả hai cùng nói:

– Hai chục năm rồi, sao bây giờ mới về?

Cả hai đứa cùng khóc. Những giọt nước mắt hạnh phúc có, tiếc nuối có, oán hận có.

Một lúc sau, cả hai bình tâm lại. Thu Sương mới kể:

– Năm đó, nghe lời khuyên của anh Tú, mình học SPCN. Hai năm đầu vẫn liên lạc thư từ, hứa hẹn nhiều. Sang năm thứ ba, nhà mình về Sài Gòn ở. Bạn đổi đi dạy xa, mất liên lạc.

Mình ra trường, xin về dạy ở trung học Long Khánh được một năm. Ghi danh học lên cao học, săn được học bổng của Úc. Mừng quá, nghĩ rằng có điều kiện sang Mỹ gặp anh Tú.

Người tính không bằng trời tính. Sang Úc chưa đầy nửa năm, tiếp thu. Mình trở thành vô gia cư, phải làm lại từ đầu để hợp thức hóa, trong khi gia đình lại di tản sang Mỹ.

Mãi sau này mới liên hệ với bà con, biết được địa chỉ của ba mẹ. Mình sang Mỹ gặp ba mẹ, tiện dịp đi tìm anh Tú, hy vọng anh còn ở lại.

Mình tới trường đại học nơi anh đã học, dò hỏi. Họ chỉ trả lời: Người này đã tốt nghiệp, ra trường, nhưng hiện tại ở đâu thì họ không rõ.

Đang thất vọng não nề, tôi gặp được một đồng hương, cũng là du học sinh ở lại trường làm việc. Anh cho biết Tú đã về Việt Nam trước tháng tư năm 75.

Những năm đó việc đi lại rất khó khăn. Tôi nộp đơn làm tình nguyện viên trong một tổ chức thiện nguyện quốc tế "Vì Những Nụ Cười", đi khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là châu Phi.

Mãi đến đầu năm nay mới về Việt Nam. Hai tuần ở Đà Nẵng, hai tuần ở TP. HCM. Tranh thủ lúc nghỉ phép, tôi về thăm lại chốn xưa. May mà có bệnh nhân ở đây cho biết bà còn ở chốn cũ. Anh Tú cũng mất rồi. Ai ngờ lần đi ấy lại là vĩnh biệt..

Mắt cô long lanh nước, giọng cô nghẹn ngào, tiếc nuối:

– Đấy là tình đầu của tôi. Lỡ nhau một lần, mất nhau trọn đời.

Tôi an ủi:

– Chỉ tại hoàn cảnh. Anh ấy cũng tìm bà bao nhiêu năm nay. Lúc gần đi, anh ấy có nhờ tôi chuyển cho bà lá thư.

Tôi vào phòng lấy ra đưa cho Sương, lòng nhẹ nhàng như trút một gánh nặng. Cô từ tốn mở ra.. Chỉ vỏn vẹn hai tờ thư. Tờ đầu tiên là bài thơ không đề. Tờ thứ hai là "Giấc Mơ Vàng" :

Đời cuốn em đi theo dòng nghiệt ngã,

Ta tìm đâu thấy? Ta tìm đâu thấy

Giấc mơ vàng?

Bao ngày qua, bao rời xa,

Tình ta hờ hững.. Mù lòa.

Em về trong mơ tinh khôi,

Như đóa sen hồng. Ta vời theo.. Ta vẫy theo.

Em tan như bong bóng xà phòng.

Ta chờ em trong bia đá lạnh,

Ta cười tươi, mặt trời rạng rỡ,

Vì một ngày ta đã thấy bóng em.

Tôi lặng lẽ nhìn những giọt nước mắt rơi trên tờ giấy trắng, lòng chùng xuống một nỗi chua xót vô bờ. Tiếc cho mối chân tình của cả hai người. Tôi dẫn Sương thăm nhà anh Tú, vừa lúc chị Tần ở trại cây giống Hồi Nguyên trở về. Nghe tôi giới thiệu Thu Sương, bạn cũ ghé thăm, linh cảm của chị Tần nhạy bén.

Chị nắm ngay lấy tay Sương:

– Sao cô không về sớm hơn? Để anh ấy có thể yên lòng ra đi. Nỗi tiếc nuối day dứt suốt những năm tháng còn lại của anh ấy là không được gặp cô.

Những giọt lệ tràn mi. Những nghẹn ngào nén xuống. Dịch vụ cắm hoa giao hàng, một bó hồng trắng xen lẫn những bông hoa sim rừng tím đỏ như màu máu con tim mỏi mệt.

Bốn người chúng tôi, hai người đàn bà cùng hướng về một người đàn ông duy nhất. Một người có được anh làm chồng, hưởng đầy đủ sự quan tâm, trách nhiệm, nhưng sâu thẳm trong trái tim anh vẫn là sự khép kín, chừng mực, cô không thể nào với được. Còn người kia, lấy mất trái tim anh nên cả đời cứ kiếm tìm như trò chơi cút bắt.

Bốn người chúng tôi đi ra nghĩa trang thăm anh. Hoài Nguyên ôm bó hoa đi trước. Mười tuổi mà có dáng vẻ của người lớn, trầm tĩnh, ít nói. Chị Tần khoác tay Thu Sương, ba chúng tôi mỗi người một tâm sự, sự đồng cảm, chia sẻ.

Thu Sương lên tiếng trước:

– Chị Tần có thể cho em nhận Hoài Nguyên làm con nuôi không? Đợi cháu học hết trung học, em sẽ lãnh cháu đi du học.

– Cô Sương! Được như thế còn gì bằng.. Ở trên trời chắc anh Tú cũng rất vui khi thấy chúng ta cùng quan tâm, chăm sóc thằng bé.

Hai bà mẹ cùng siết chặt tay nhau.

Chiều nghĩa trang của tháng 11, tháng tưởng nhớ và cầu nguyện cho linh hồn người thân đã khuất. Ngôi mộ nào cũng đầy hoa tươi, đèn nhang cháy đỏ. Khuôn mặt người thân với lời kinh trầm buồn vang vọng. Sự giao hòa giữa kẻ chết và người sống làm bộ mặt nghĩa trang không còn âm u, lạnh lẽo nữa.

Bé Hoài Nguyên ôm bó hoa đứng chờ trước mộ cha. Chị Tần đốt nhang và bảo con:

– Hoài Nguyên, con đưa hoa cho mẹ nuôi đi!

Thằng bé trao hoa vào tay cô. Trên mộ anh còn nhiều chậu hoa, tất cả vẫn còn tươi. Thu Sương nhìn khung hình trên bia mộ. Tấm hình cô chụp cho anh hơn hai mươi năm trước, cũng vào dịp cuối đông. Là anh cười rạng rỡ, mơ một "Giấc Mơ Vàng"..

Chị Tần chia nhang cho mọi người, rồi thành khẩn báo tin:

– Anh ơi! Hôm nay cô Sương về thăm anh, chắc lòng anh toại nguyện. Cô ấy nhận Hoài Nguyên làm con nuôi, em rất vui, chắc anh cũng vậy.

Lời cầu kinh nhẹ nhàng vang lên. Thu Sương có cảm giác anh đứng kề bên. Cô cắm nhang vào lư hương, đặt bó hoa dưới chân dung anh, cô thầm nói:

"Em không quên lời hẹn cũ, anh cũng không quên. Chỉ là đời làm chúng ta lạc mất nhau."


The End.

Chương 5: Hoài Niệm Xuân Xưa

ideogram-v3-0-Prompt-English-toi-uu-cho-Leonardo-AI-A-nostalgic-spring-memory-in-old-Vi-0.png

Chương 5: Hoài Niệm Xuân Xưa

Khi tôi bắt đầu có nhận thức về cuộc sống, điều duy nhất tôi nhớ và chờ đợi: Đó là Tết. Những nôn nao, rạo rực khi thấy cha mẹ bàn bạc, sắm sửa đón Tết năm nay như thế nào, tổng kết chi thu của năm, phần quà cáp biếu Tết họ hàng trong, ngoài và lối xóm.

Điều tôi thích nhất là sẽ được mặc quần áo mới, giày dép mới, được mẹ dẫn đi chúc tuổi họ hàng xa gần và được lì xì đầy túi. Những mùa xuân thơ ngây, tuổi của áo hồng, guốc đỏ đã qua. (Ngày ấy, tôi chỉ thích đi đôi guốc gỗ vông, nhẹ tênh, cao không quá ba phân. Ở giữa lòng máng nhẹ ôm vừa vặn bàn chân. Bên trên là quai nhựa trong in hình hoa bướm)

Bước vào tuổi mười hai, tôi đã biết phụ giúp cha mẹ dọn dẹp nhà cửa, lau chùi bàn ghế, tủ ỷ. Đặc biệt, hai chị em cố gắng làm một bình hoa đào thật lớn, cắm trong chiếc bình sứ thật to, đặt giữa phòng khách. Cành đào là cành mận ngoài vườn đang nở những nụ hoa trắng bé tí. Hai chị em gấp xếp những bông hoa đào bằng giấy pơ-luya màu hồng nhạt, tỉ mỉ gắn lên cành bằng hồ nếp tự chế. Sợi chỉ đỏ hờ hững buộc những cánh thiệp đầu xuân treo lên cành mai, cành đào, làm rộn ràng sắc xuân.

Vất vả cả ngày, tối đến cơm nước xong, cha đốt đèn măng-xông. Ánh sáng chiếu khắp sân vườn. Bọn trẻ con trong xóm kéo tới chơi đùa. Mấy bác hàng xóm sang chơi, uống trà, hút thuốc lào, bàn chuyện dự tính làm ăn năm tới. Sau vài tuần trà, vài lượt thuốc lào, các ông bạn thật lòng than thở: Năm nay sương muối xuống nhiều, trà quăn lá, không ra đọt, thất mùa, Tết nhất chẳng biết trông cậy vào đâu.

Ông Hoạt nãy giờ trầm ngâm, e dè nói:

– Các bác còn đỡ. Nhà tôi vợ đau, con ốm hết lượt. Tiền gạo ăn còn không có, lấy đâu ra tiền sắm Tết, thôi thì đóng cửa cho nó qua đi.

Cha tôi lên tiếng:

– Chú nói vậy không được. Năm cũ xui, ta phải đón năm mới cho khí thế vào.. "Tống cựu nghinh tân", xua cũ, đón mới. Chú cần bao nhiêu, tôi cho chú mượn. Qua năm làm trà có tiền trả dần tôi cũng được. Sáng mai bảo thím sang vợ tôi lấy tiền.

– Vậy em cảm ơn bác.

Cứ thế, cái tình của đám người tha hương nơi vùng đất hoang vu, đùm bọc lẫn nhau, chia cơm sẻ áo. Cha tôi lúc nào cũng có câu cửa miệng: "Bán anh em xa, mua láng giềng gần."

Hơn mười giờ, các bác hàng xóm ra về. Mọi người giục bọn trẻ về ngủ. Cha tôi tắt đèn măng-xông. Mẹ tôi dọn các loại trà: Hộp thiếc, trà gói giấy bạc. Trà sen thượng hạng cho khách quen, trà sói, trà lài cho khách buôn.

Cha bảo mẹ ngày 24 ăn tất niên, chuẩn bị mời các cô, bác làm trà cả năm. Từ mùng mười, lượng khách mua trà nhiều hơn, nhiều khi không kịp hàng. Cha mẹ thức gần suốt đêm để đóng bao hay vô hộp thiếc cho khách.

Tôi chán nhất là ngày tiệc tất niên. Nhìn người ra vào bận tíu tít, tiếng cười nói ồn ào, tiếng dao thớt lách cách. Thịt gà, thịt heo làm sạch được bày lên cái nia lớn lót lá chuối. Dì Sáu nhận nấu tiệc. Mọi người vui vẻ phụ việc. Các ông tay khỏe chặt thịt, các chị phụ lặt rau, lột vỏ hành tỏi. Ba bốn bếp củi được nhóm lên, mùi chiên xào thơm nức mũi.

Tôi hay trốn không khí ồn ào ấy bằng cách lén đi chơi nhà bạn hoặc lang thang vào con suối đá cuối vườn cách nhà cả cây số. Ở đó là những tảng đá to như cái bàn lớn, chen chúc, đứng, ngồi, ngả nghiêng thiên hình vạn trạng. Phía dưới, dòng nước trong vắt chảy qua, xói mòn thành hình chữ V ngược.

Chính nơi này tôi có hồ tắm thiên nhiên. Mùa nắng, nước chảy êm đềm từ độ cao hai mét xuống hõm đá bằng phẳng như một chiếc giường. Hơi nước bay lên mát lạnh. Hai bên bờ cây cối xanh tươi, đặc biệt những cây tra bồ đề hoa vàng quanh năm.

Tôi thích hòa mình với thiên nhiên, thả hồn bay bổng, mơ mộng cõi thần tiên. Bạn bè trêu đùa, đặt biệt danh "Người Cõi Trên".

Xế chiều, tàn tiệc. Tôi mò về nhà theo lối cổng sau. Khách khứa đã về hết, chỉ còn lại dăm ba cô dì đang dọn dẹp. Thấy tôi thò mặt vào, tò mò hỏi:

– Cô Bé đi đâu giờ mới thấy? Đi ăn cơm đi.. Dì dọn cho nhé?

Tôi chưa kịp trả lời, mẹ đã lừ mắt:

– Đi không nhớ đường về. Dì kệ nó. Cơm ủ trong chăn còn nóng đấy, ăn lúc nào thì ăn. Đi không lướt cọng cỏ, còn không chịu ăn uống hẳn hoi. Coi chừng ba mươi, bố mày cho ăn roi mây đấy con.

Tôi le lưỡi cười với mẹ, rồi đi lên phòng, mở chăn ra, lôi thố cơm còn nóng bỏng tay. Tôi biết là cha tôi làm, vì tính cha tôi rất cẩn trọng trong việc ăn uống. Thường người đi vắng, không về đúng bữa cơm, cha thường tự tay ủ cơm để vợ con được ăn cơm nóng, ngon miệng.

Chiều 25 Tết, cha tôi ra vườn, tự tay cắt lá dong, loại dùng để gói bánh. Những lá loại một, bề ngang đủ hai tấc để nhà gói bánh; chỗ lá còn lại bán cho bạn hàng. Xong việc, cha lấy ống giang chẻ lạt thật mỏng, ngâm nước cho mềm.

Nếp được chọn là loại nếp tóc, hạt dài nhỏ, rất dẻo và thơm. Đem vo cho thật sạch rồi ngâm một đêm, sáng vớt sang thúng để ráo nước. Đậu xanh ngâm đãi vỏ. Thịt ba rọi xắt miếng to hơn hai ngón tay.

Cha tôi rang thảo quả, mùi thơm nức, béo ngậy. Xay nhuyễn trộn chung với hạt tiêu ướp thịt. Cha lấy khuôn bánh rửa sạch, để khô. Nhìn cha cẩn thận gấp lá, bẻ góc, đặt vào khuôn rồi đổ nếp lên, trang bằng. Rải một lớp đậu xanh, nhân thịt được xếp theo hình chữ X. Bốn góc còn lại đặt bốn miếng chả quế, thêm một lớp đậu, một lượt nếp.

Tay cha vun cho đều, gấp lá xuống. Một tay cha cột lạt, những sợi lạt mềm được xoắn chặt và giấu mối cẩn thận. Những chiếc bánh vuông vức lần lượt xếp từng chồng năm cái, ngay ngắn, thẳng hàng.

Tất cả công việc cha tôi làm chậm rãi, như người đang cử hành một nghi lễ tôn giáo nào đấy. Có lẽ là nguồn cội, sự hoài niệm, những âm hưởng "Tết" từ ngàn xưa, truyền đời từ tổ tiên đến ông bà, cha mẹ.

Hai chị em ngồi bên cạnh chờ cha sai bảo. Chiếc bánh cuối cùng, cha xếp lên chồng thứ tám. Cha nhìn chúng tôi, vừa đấm lưng vừa hỏi:

– Đố các con, thầy gói được bao nhiêu cái bánh?

Chị tôi còn lo đếm, tôi đã vọt miệng:

– Dạ, bốn mươi cái.

Cha lại hỏi:

– Mỗi cái bánh có bao nhiêu hình vuông?

– Mười sáu cái.

– Chắc không?

– Con chắc. Mỗi cạnh có bốn hình vuông, con nhân lên là mười sáu cái.

Cha cười hài lòng, bảo hai chị em đi nhóm bếp, đặt nồi nấu nước cho sôi. Sau đó bỏ cuống lá xuống đáy nồi. Cha cẩn thận xếp bánh vào nồi nước đang sôi cuồn cuộn.

Xong xuôi, cha giao cho chị Hai coi nước và chụm lửa cho đều. Tôi có nhiệm vụ dọn dẹp, rửa sạch nia, mẹt đem phơi nắng.

Cha khẽ đấm lưng, lại bàn ngồi uống trà, hút thuốc lào. Tiếng nước trong bầu điếu kêu sòng sọc. Cha nhấc xe điếu thả xuống bàn, mắt lim dim, há miệng thở ra làn khói trắng mờ ảo. Mọi mệt nhọc dường như biến mất.

Canh lửa, châm nước là phần của hai chị em tôi. B'lao của thập niên 60 đất rộng, người thưa. Đêm vừa xuống, gió đông lạnh buốt, ngồi trong nhà mặc áo len, quấn khăn kín mít mà vẫn lạnh run. Tôi kéo ghế ngồi sát bếp lửa, hơ hai bàn tay lạnh cóng.

Vì nhà bếp cách xa nhà trên, sợ ma, chị Hai đốt đèn ABC loại lớn. Ánh sáng tỏa khắp ba gian bếp. Hai chị em tán gẫu chán chê: Nào là áo dài Trúc Hương may đẹp, vải óc lông nhung ép mỏng như cánh ve, chắc phải mặc thêm áo lót; đôi guốc Đa Kao 7 phân, gót sắt nhọn, lúc tập đi kêu lộp cộp trên nền xi-măng.

Vừa nói chuyện, chị vừa thoăn thoắt đan áo len. Dưới ánh đèn, tôi mê đọc "Thời Nay tuần báo" hay "Trà Hoa Nữ".

Đúng mười hai giờ đêm, cha tôi xuống coi lửa cho chị em đi ngủ. Hai chị em ngủ một mạch đến tám giờ sáng mới thức. Xuống bếp, đã thấy bánh được xếp ngay ngắn trên chiếc bàn dài. Mùi bánh thơm nồng.

Cha tôi mở bánh nóng đầu tiên, dùng lạt xắt từng miếng vuông vức. Màu vỏ bánh xanh như ngọc, mùi thơm từ nhân đậu thịt béo ngậy. Vỏ bánh nấu đúng lửa, đủ giờ nên dẻo rền, không nhão. Bánh cha tôi gói ngon có tiếng, mọi người khi ăn đều tấm tắc khen.

Chiều giáp Tết, cha tôi bảo hai chị em thay phiên mang bánh biếu hàng xóm, nhất là những nhà không gói bánh, gọi là một chút thảo thơm.

Ngày mùng Một Tết, theo tục lệ của nhà tôi, sau khi đi lễ nhà thờ để tạ ơn Chúa, về nhà, cha tôi sẽ mặc quốc phục: Khăn đóng, áo gấm xanh hoa văn chữ thọ to tròn màu bạc bóng mờ. Cả nhà đều mặc đồ mới: Nam quần tây, áo sơ mi; nữ áo dài.

Tất cả nghiêm trang, nhỏ trước, lớn sau đứng trước bàn thờ gia tiên. Trong lò hương đỏ than hồng, cha thả vào một mẩu trầm nhỏ như hạt bắp. Khói trầm mảnh mai bay lên, uốn lượn trong không gian, tỏa hương thơm nồng ấm, vô cùng dễ chịu.

Từng lời kinh xướng lên bày tỏ lòng biết ơn ông bà, tổ tiên. Trên bàn bày hai bình huệ trắng, bánh chưng và trái cây được xếp thành bốn đĩa để hai bên.

Đọc kinh xong, chúng tôi đồng thanh chúc tuổi cha mẹ. Lần lượt, nhỏ trước, lớn sau lên nhận lì xì năm mới.

Cha tôi treo phong pháo trung dài cả thước ở trước hiên nhà, cách xa các cửa kính. Tiếng pháo nổ ì đùng trong xóm. Cha châm lửa đốt pháo, tiếng pháo giòn dã vang lên giữa tia lửa xẹt, mùi khói khét cùng với xác giấy hồng bay lả tả đầy sân.

Trẻ con hàng xóm ùa đến lượm pháo lép. Thường chúng sẽ mừng tuổi ông bà. Cha tôi bỏ sẵn phong bao lì xì, đứa nào cũng thích hô lớn:

"Con chúc ông bà mạnh khỏe, làm ăn phát tài, mua may bán đắt!"

Được tiền lì xì, lũ trẻ chạy đi nhà khác.

Bữa ăn sáng được chuẩn bị: Miến gà nấu mắm, chân giò hầm măng, thịt nấu đông, dưa cải muối chua vàng óng, giò thủ xắt hoa kèm với hành tím muối chua. Nước mắm nhĩ nguyên chất thêm vài lát ớt đỏ.

Cha tôi ghiền nước chè tươi. Buổi sáng, trời còn đẫm sương, tôi cầm rổ ra vườn hái những lá trà già, rám nắng. Nước hãm phải là nước mưa trong bể chứa từ mùa trước, nấu thật sôi, ủ vào bình tích giữ nhiệt. Mười phút sau rót ra ly, màu nước xanh lóng lánh sắc vàng, độ chát ngọt đậm, mùi trà tươi thơm mát, tỉnh người.

Trước nhà là vườn hoa sói dùng để ướp trà. Sáng nào tôi cũng phải hái sói trước khi mặt trời lên. Những cánh hoa như bàn tay hướng lên trời, điểm chấm trắng thơm ngái ngái mùi cỏ dại.

Thỉnh thoảng, bất chợt tôi ngó lên, bắt gặp đôi mắt đen láy của anh phi công vườn bên về phép.

Nay tôi đã già, gần chạm mốc cuộc đời. Tất cả chỉ còn là hoài niệm.

Mỗi năm Tết đến, tôi cố gắng giữ một chút dư vị của Tết truyền thống. Tôi không khéo gói bánh chưng nên cố gói bánh tét. Đôi lúc tôi tự hỏi và tự trả lời: "Tại sao ở miền Bắc là bánh chưng vuông vức, cầu kỳ, mà bánh tét cũng nguyên liệu như vậy, chỉ khác là hình thức đã thay đổi thành tròn, dài?"

Tôi nhớ đến hình ảnh cha ông ngày xưa đi mở đường, mở đất. Chắc ngày Tết, muốn mang hương vị quê nhà đi theo, nhưng không thể mang theo vật cồng kềnh, nên bánh tét ra đời, giống ruột tượng đựng gạo, mang được nhiều, lại có thể ăn dọc đường, không cần nấu nướng.

Cảm tạ sự thông minh, khôn khéo của cha ông. Nên Tết là hoài niệm.

Loáng thoáng đâu đây.. Tôi vẫn thấy: Bóng dáng ông đồ già, hoa đào và giấy đỏ, câu đối với thơ xuân, cành mai treo pháo hồng, rộn ràng chờ xuân sang..


The End

Chương 6: Vết Xước Dưới Chân Thập Tự

lucid-origin-Prompt-English-toi-uu-cho-Leonardo-AI-A-deeply-emotional-and-symbolic-sce-0.jpg

Chương 6: Vết Xước Dưới Chân Thập Tự

Mùa hè năm 1972, tình hình chiến sự miền Trung trở nên ác liệt. Lực lượng quân GP thừa thắng chiếm các vùng lân cận của thành phố Đà Nẵng. Dân chúng tránh đạn nên từ các vùng quê giao tranh chạy vào thành phố.

Trong đoàn di dân ấy có một bé gái khoảng hơn mười tuổi chạy lạc. Bé mặc quần đen, áo sơ mi trắng có chấm bi xanh. Khuôn mặt tròn, nước da trắng sáng. Đôi mắt to đen ngơ ngác, hoảng loạn. Ánh nhìn vô thức vào đoàn người trước mặt. Nỗi sợ hãi xen lẫn thất vọng khiến bờ môi khô nẻ, nhợt nhạt mím chặt.

Mái tóc đen dày, bết mồ hôi, được cột bằng sợi thun. Bé chạy theo một thím ngoài bốn mươi, đang ẵm đứa nhỏ khoảng hai tuổi. Trên vai đeo túi xách đựng quần áo và dăm ba vật dụng lỉnh kỉnh.

Đến trung tâm tập cư những người tị nạn Chu Lai, khi nhận đồ cứu trợ, thím Tư giao em bé cho cô gái trông chừng, đi xếp hàng lãnh đồ và khai báo.

Trở về, thím Tư thấy cô bé ngất xỉu, mặt đỏ lựng. Thím hoảng hốt báo cho trưởng trại, đưa bé đến lều cấp cứu. Hỏi tên tuổi, thím ngớ ra rồi lắc đầu:

"Tôi không biết. Bé bị lạc gia đình, đi theo tôi suốt khoảng đường chạy tới đây."

Sau khi được chăm sóc, chích thuốc, truyền dịch, bé hạ sốt, đã tỉnh lại. Thím Tư lấy nước đút cho bé uống, vuốt đám tóc lòa xòa trên trán bé, dịu dàng hỏi:

– Con thấy đỡ chưa?

Bé gật đầu.

– Con tên Ngọc Nữ.

– Con có nhớ tên ba má con không?

Cô bé nức nở, mắt nhòa lệ:

– Ba con tên Trần Huy Đằng. Má con tên Lê Thị Thanh Hào. Ba con chết trận rồi. Má con đưa tụi con về ngoại. Mấy bữa trước đánh ác liệt quá, máy bay dội bom, nhà ngoại bị cháy. Con hoảng loạn chạy tới bây giờ. Con tìm má nhưng không thấy.

Thím Tư lấy khăn lau mặt cho bé, đỡ bé ngồi lên, múc cháo đút cho bé từng muỗng. Đợi bé ăn xong, thím lấy thuốc cho bé uống, đặt bé nằm lại giường. Thím dặn dò:

– Con nằm nghỉ đi, để thím báo với trại trưởng, lên loa tìm mẹ cho con.

Tiếng loa phóng thanh vang lên tìm người thất lạc:

"Có cháu gái tên Trần Ngọc Nữ, khoảng hơn mười tuổi. Cha tên Trần Huy Đằng (đã chết). Mẹ Lê Thị Thanh Hào. Cần tìm thân nhân."

Tiếng loa phát liên tục đầu giờ mỗi ngày, nhưng không có thân nhân lại nhận. Thím Tư lo lắng. Trung tâm này chuẩn bị chuyển vào khu kinh tế mới Xuân Lộc, Long Khánh.

Hôm nay có phái đoàn đến ghi tên tiếp nhận người tình nguyện đi. May mắn, chị gặp được một cha đạo. Ngài còn trẻ, khoảng ngoài bốn mươi, dáng cao gầy, khuôn mặt chữ điền, nước da nâu rắn rỏi. Đôi mắt sáng như sao, nhìn thấu lòng người. Đặc biệt, cặp chân mày rậm đen như mực, lúc nào cũng nhíu lại. Ngài vui vẻ lắng nghe, giúp đỡ, cảm thông với những người bất hạnh.

Mặc dù ngài rất bận, nhưng khi nghe thím Tư kể về hoàn cảnh khó khăn của mình và cô bé không người thân, nhìn thấy em, đôi mắt ngài dịu dàng, trìu mến. Ngài xoa đầu em, hỏi:

– Con tên gì? Con đã khỏe hơn chưa?

– Dạ, con tên Trần Ngọc Nữ. Con đã khỏe hơn nhiều rồi.

Nhìn chiếc thánh giá trên sợi dây chuyền 18k đeo trên cổ Ngọc Nữ, ngài hỏi:

– Con có đạo Chúa phải không?

– Dạ thưa có. Tên thánh con là Ma-ry. Cha con đã chết hơn một năm rồi. Mẹ con thất lạc lúc trận đánh.

Bây giờ nước mắt thi nhau chảy. Mấy hôm nay em lo sợ, không dám khóc, không dám nhõng nhẽo vì sợ làm người lớn phiền phức, họ sẽ bỏ rơi em.

Vị linh mục thở dài. Bàn tay đưa ra nhẹ lau những giọt nước mắt khổ đau. Ngài ôm em vào lòng, vỗ về, an ủi:

– Thôi được.. Cha sẽ nhận con làm con nuôi. Cha sẽ lo cho con học hành tử tế. Bây giờ tạm thời con cứ ở với chị Tư Nguyên. Cha sẽ bảo ông trưởng ban bảo hộ giúp hai người.

Sau khi ổn định chỗ ở tại vùng đất mới, nhờ quan hệ tốt, cha đã gửi Ngọc Nữ vào nội trú của tu viện nữ ở thành phố Biên Hòa cho cô tiếp tục ăn học.

Sau biến cố 75, đất nước hòa bình, các trường nội trú của nhà dòng giải tán. Cô trở về nhà chị Tư Nguyên.

Cô bây giờ đã lớn, thay đổi thành cô thiếu nữ xinh tươi như hoa, đến nỗi chị Tư suýt không nhận ra. Cô bỡ ngỡ nhận ra cảnh vật nơi đây đã thay đổi nhiều, không còn vẻ hoang sơ tiêu điều của ngày mới khai hoang.

Thay vào đó là những dãy nhà lợp tôn khang trang, hàng cây xanh hai bên đường mọc cao quá đầu người, dàn bí, dàn bầu quanh nhà xanh um, đầy quả.

Cảnh quê yên bình với người dân tất tả lo cơm ngày hai bữa. Trong mắt họ là sự cam chịu và chấp nhận. Những buổi hội họp, ngoài nói về những thay đổi chính sách, đường lối đi lên xã hội chủ nghĩa, còn hướng dẫn cách chăn nuôi heo, gà, cách trồng lúa, khoai tăng vụ.

Chiều nay, cô tha thẩn đứng bên bờ hồ, dưới những cây liễu xanh mướt. Cô ngước nhìn mái nhà thờ lợp ngói đỏ rực, uy nghiêm giữa khoảng không. Đằng sau là ngọn đồi Tình Thương như bức bình phong xanh thẫm.

Cô bồi hồi tưởng nhớ hình bóng người linh mục cao gầy. Khuôn mặt chữ điền vuông vức, vầng trán cao thẳng đứng. Đôi mắt đen sâu thẳm, ánh nhìn như thấu suốt người đối diện. Bờ môi mỏng hay mím chặt mỗi khi có quyết định quan trọng, nhưng rất dịu dàng khi gặp những cảnh đời cơ nhỡ, nhất là trẻ em mồ côi không nơi nương tựa.

Ngài luôn bận bịu với công việc. Nhiều năm trước, lúc dẫn đoàn dân di cư từ miền Trung vào khai hoang vùng căn cứ rừng lá dọc theo quốc lộ Một, từ ngã ba Ông Đồn về Phan Thiết, hàng trăm ngàn hộ dân tay không vào đây phá rừng, khẩn hoang. Ngài đã vận động các cơ quan từ thiện Caritas, Hồng Thập Tự Quốc tế xin viện trợ giúp dân nghèo.

Mục đích chính của ngài là giáo dục và tình thương. Ngài cho xây dựng trường học đầu tiên, ngôi trường lớn nhất vùng này, một dãy nhà hai tầng khang trang, đầy đủ tiện nghi. Đội ngũ giáo viên trẻ nhiệt tình.

Ngài có biệt tài thuyết giảng. Sức lôi cuốn của ngài khiến cả ngàn người lắng nghe. Ngài thuyết giảng về tình yêu cho đi nhưng không của Chúa, Đấng chết vì yêu. Ngài nói về sự tha thứ, nói về tình yêu tha nhân, về những mảnh đời bất hạnh.

Lời ngài khơi gợi bầu nhiệt huyết trong cô, muốn đem cuộc đời mình dâng hiến cho lý tưởng nhân đạo. Hình ảnh những em bé mồ côi, nạn nhân chiến tranh.. Cô đã từng trải qua.

Ngày mai, cô lên đường về lại miền Trung. Cô ghé Nha Trang dò tìm tin tức của mẹ. Cô tiếp tục vừa học vừa làm. Thấm thoát, cô đã tốt nghiệp cấp 3 và thi vào trường Điều dưỡng. Nhờ tốt nghiệp xuất sắc, cô được nhận vào làm việc tại bệnh viện tỉnh.

Ở đây, mọi người đều quý mến cô. Với vẻ đẹp dịu dàng, thuần khiết, trên môi cô luôn có sẵn nụ cười, dễ gần gũi với các bệnh nhân. Cô khiêm tốn với đồng nghiệp, sẵn sàng giúp đỡ khi cần. Có một vài đồng nghiệp tỏ ý muốn yêu thương, cô đều từ chối rất nhẹ nhàng: "Em muốn dành thời gian để tìm mẹ."

Nhưng trong những đêm dài trực bệnh, cô vẫn luôn nhớ đến một người. Hình bóng rất thân thương, gần gũi nhưng vô vàn xa cách. Từ sâu thẳm trong lòng, cô đã hiểu: "Trái tim cô không thuộc về cô." Cô đã dâng hiến cho thần tượng lý tưởng của mình. Trong những đối tượng thường ngày gặp gỡ, cô chỉ nhìn thấy là tính toán, thực dụng và ích kỷ.

Hai mươi năm sau, tình cờ cô về Sài Gòn trong kỳ nghỉ phép, ngay dịp lễ Noel. Cô thấy ngài trong buổi giảng lễ. Vẫn là hình bóng ấy, mặc dù thời gian có hằn lên nét khắc khổ. Đôi mắt đen sâu thẳm vẫn ánh lên nét rực sáng của niềm hy vọng.

Giọng nói ngài vang lên, cuốn hút giáo dân vào tình yêu, lòng thương xót vô bờ của Đấng Tối Cao:

"Để đáp lại tình thương cao cả ấy, chúng ta đã làm được gì? Anh chị em hãy nhìn xem, Chúa giáng sinh ở đâu? Trong hang đá lạnh lẽo giữa đồng hoang vắng. Ngài nhắc nhở chúng ta: Chúa đã chọn cuộc sống của kiếp người nghèo khổ, không nhà. Chúa không chọn cuộc sống xa hoa, đèn xe rực rỡ.

Vậy Chúa ở đâu?"

Giọng ngài cao lên..

"Chúa đang ở trong những khu ổ chuột tồi tàn. Chúa đang lang thang trên những vỉa hè, tìm một chỗ trú thân, rét run vì đói lạnh. Chúa không nằm trên những cây thông biểu tượng sắc màu lòe loẹt. Càng không ở trong những thi đua to nhất, đẹp nhất."

Từ máng cỏ lạnh lẽo, khó nghèo mà người dang tay ôm lấy nỗi sầu khổ, lo lắng, mỏng manh của kiếp người. Chúa đang khóc đấy.. Ngài khóc vì chúng ta đã biến tướng thông điệp Giáng sinh của Ngài: "Yêu thương, đơn nghèo".

Chúng ta đang tôn thờ vật chất và niềm tự hãnh riêng mình. Chúng ta càng ngày càng bị cuốn vào đam mê vật chất mà bỏ quên Chúa. Anh chị em đã bao giờ san sẻ niềm vui Giáng sinh bằng cách giúp đỡ người khó khăn, hoạn nạn chưa?

Tôi mong rằng ngày Giáng sinh sẽ không còn những người đói khổ, nhìn hoa đèn rực rỡ với cái bụng lép kẹp, hay họ phải lén đứng trong bóng tối nhìn mọi người dửng dưng khoe quần áo lụa là. Ước gì tất cả chúng ta hãy bớt 1/10 những chi tiêu không cần thiết để giúp đỡ các mảnh đời bất hạnh.

Một phút lặng.. Để giáo dân suy nghĩ. Không ít các bà, các cô xúc động, lấy khăn chậm mắt.

Lễ xong, cô đợi ngài ở phòng khách nhà xứ. Gặp cô, ngài bảo:

– Cha tưởng con đã là soeur của dòng nào rồi chứ?

Cô cười e ngại. Ngài hỏi tiếp:

– Bây giờ con ở đâu? Không tu thì làm gì rồi?

– Con làm điều dưỡng bệnh viện đa khoa Nha Trang. Con vướng víu nợ trần nên không tu được. Con cũng không biết sau này thế nào. Được gặp lại cha, con mừng lắm.

Ngài nhíu mày hỏi:

– Thế con có ý định lập gia đình chưa? Còn tin tức mẹ con có khả quan không?

Cô dè dặt trả lời:

– Con chưa lập gia đình vì con không muốn. Còn tin tức về mẹ con vẫn chưa có ạ.

Ngài nhìn cô rồi nói:

– Nếu con muốn thì về làm cho cha ở nhà tình thương Bê-ta-ni-a.

– Vâng! Cha cho con thời gian một tháng để con sắp xếp, xin nghỉ việc.

– Bao giờ xong thì vào đây tìm cha.

Một tháng sau, cơ sở tình thương "Long Hương" đã có một cô giáo kiêm điều dưỡng. Cô lo phục vụ các em nhỏ bị bỏ rơi, không nơi nương tựa. Ai cũng công nhận cô mềm mỏng, dịu dàng và hết lòng yêu thương các bé.

Hơn hết, trái tim cô luôn hướng về một người.. Mà chỉ lúc nghỉ ngơi, một mình, cô lại nhớ đến ngài, âm thầm cho đi.

Hai mươi năm sau, ngài đã ngoài tuổi 80. Thời gian đã tàn phá con người ngài. Công việc và trách nhiệm đã hạ gục ngài.

Ngày cô đón ngài vào nhà nghỉ dưỡng, cô rơi nước mắt khi nhìn ngài ngồi trên xe lăn, được người đệ tử đẩy vào. Tóc ngài thưa thớt, bạc trắng, hớt ngắn hai phân. Dáng người gầy ốm. Đôi mắt không còn đen thẫm, sáng rỡ như ngày nào, chỉ còn vẻ mệt mỏi trên vầng trán nhiều nếp nhăn thời gian.

Đôi lông mày không còn nhíu lại, nó giãn ra khiến gương mặt ngài hoàn toàn thanh thản, bình an. Cô nhận nhiệm vụ chăm sóc đặc biệt cho ngài. Khi cô nâng ngài đặt lên giường, cô ôm ngài trân trọng và dịu dàng. Ngài nhẹ bẫng trong tay cô. Hai người phụ giữ xe và nâng chân ngài đặt lên giường. Đầu ngài tựa nhẹ vào ngực cô. Tiếng cha khẽ kêu lên. Cô cúi người đặt ngài xuống gối. Bây giờ cha được nghỉ ngơi.

Trong lòng cô dâng lên một cảm giác khó tả, vừa thương cảm, vừa kính trọng, vừa yêu thương chiếm hữu. Bây giờ cha là của con, một bệnh nhân yếu đuối, vô cảm và bất lực. Những lúc khỏe mạnh, cha theo lý tưởng của cha. Còn giờ đây.. Thân xác hình hài này mới thuộc về cô.

Hai giọt nước mắt cô lặng lẽ rơi ngay trên vành môi khô nứt nẻ của ngài.

Theo phác đồ điều trị của bác sĩ chăm sóc y tế và dinh dưỡng, cô và một người phụ việc giúp tắm rửa, thay quần áo, xoa bóp cơ thể. Mỗi lần xoa bóp, cô đều nói cho ngài nghe, đôi khi cô còn hát nữa. Những lúc ấy, cô thấy đôi mắt ngài hơi hé mở, trên khóe mắt nhăn nheo có giọt nước rất nhỏ.

Cô nhẹ nhàng lấy khăn lau mặt cho ngài, đặt môi cô lên trán ngài, rủ rỉ như mẹ dỗ con:

– Cha không thoải mái phải không? Để Ngọc Nữ đổi tư thế cho cha.

Cơ thể ngài teo rút, chỉ còn xương với da, nhỏ bé như một em bé mười hai tuổi. Bác sĩ bảo nhỏ với cô: "Ngài chắc sắp đi rồi, khoảng hai ba ngày nữa thôi."

Các thầy giúp việc được thông báo về thăm ngài. Sau giờ kinh tối, ngài êm ái ra đi. Tang lễ của ngài được tổ chức rất trang trọng. Những vòng hoa trắng phân ưu chất đầy các lối đi trong nhà thờ, tràn ra bên cửa hông. Các vòng hoa được ghi rõ ràng là của những đứa trẻ mồ côi được mái ấm của ngài cưu mang, nay họ đã là những người thành đạt, từ muôn nơi về đây kính tiễn người cha chung của họ.

Vị giám mục chủ sự tang lễ xúc động giảng về tiểu sử của ngài, xác nhận cách đây hơn bốn mươi năm, ngài chính là cậu bé giúp lễ cho cha cố. Khi ấy, ngài còn làm cha phó ở Đà Nẵng. Ngài là một linh mục nhiệt tình, tài năng và đức độ. Đặc biệt, ngài luôn giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn, người già không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi. Ngài đã thay đổi số phận của biết bao mảnh đời nghiệt ngã, giúp họ đứng lên từ hố thẳm. Đó là cả cuộc đời hy sinh, là tình yêu cho đi không ngừng nghỉ.

Hôm nay, trái tim nhân ái ấy đã ngừng nhịp đập yêu thương, để nhường lại cho chúng ta tiếp tục nhịp đập yêu thương đó. Ngài an bình về với đấng mà suốt đời ngài đã tận tâm phục vụ. Vĩnh biệt ngài – "vị linh mục của những người nghèo khó".

Biết bao người đưa khăn lau vội, tiếng sụt sịt nhòa đi giữa tiếng vỗ tay vang dội.. Tiếc thương.

Dòng nhật ký bỏ quên trong sách kinh:

– Hôm nay, đang lúc thăm trại tạm cư, người ta dẫn đến một bé gái đi lạc. Cha chết trận, mẹ lạc trong chiến tranh. Rất tội nghiệp. Cho đăng thông tin tìm người thân. Vẫn không yên tâm. Phải tìm một tu viện để gửi bé vào.

– Đã nhận được tin nhắn nhận bé gái của các soeur Đa Minh Tam Hiệp. Bớt lo lắng.

– Tình hình chiến sự căng thẳng. Càng ngày càng nhiều trẻ mồ côi, thất lạc.

– Phải tìm mua đất, mở thêm mái ấm tình thương.

– Đã hoàn thành nhà tình thương. Còn thiếu một người điều dưỡng.

– Hôm nay gặp lại cô bé mồ côi Ngọc Nữ. Em ấy đã trưởng thành, đầy nghị lực, sống tốt.

– Hy vọng em ấy nhận lời về làm điều dưỡng cho mái ấm.

– Em ấy đã nhận lời về làm điều dưỡng cho mái ấm tình thương 2. An tâm.

– Các soeur báo cáo em ấy rất nhiệt tình, năng nổ.

– Sao em ấy không lập gia đình nhỉ? Cũng lớn tuổi rồi.

– Dạo này rất bận. Công việc xây dựng dở dang, thiếu nguồn vốn.

– Tạ ơn Chúa. Công việc tạm thời đi vào ổn định. Cám ơn ân nhân tài trợ.

– Công trình hoàn tất. Nguồn tiền tạm đủ, còn nợ chút đỉnh.

– Dự định xây dựng cơ sở dạy học miễn phí cho trẻ em nghèo.

– Nhờ các soeur dòng MTG giúp dạy học.

– Nhà thờ T. Â. Xuống cấp, nước ngập. Dự trù ngân sách xây dựng, sửa chữa.

– Hôm nay thật mệt mỏi, tiến độ công việc hơi chậm. Lạy Chúa đồng hành với con. Chưa lúc nào con thấy mệt mỏi và cô đơn như vậy.

– Hôm nay các soeur mời dâng lễ, tổng kết thành quả của 5 năm hoạt động.

– Rất hài lòng kết quả các soeur đạt được.

– Gặp lại cô điều dưỡng. Ánh mắt cô nhìn hơi khác, có vẻ u buồn thầm kín. Mình rất bận, chỉ hỏi: "Con sống tốt không? Có gì trở ngại không?" Cô lắc đầu nhưng mắt hơi ướt.

– Mình bị xao động bởi ánh mắt ấy. Lạy Chúa, con còn cả đống công việc. Xin trợ giúp con, đừng để con xao xuyến.

– Soeur Anne nói dạo này Ngọc Nữ hơi lơ đãng, không năng nổ như trước. Mình dặn dò các soeur tạo điều kiện giúp em ấy lập gia đình, nếu người nhà các soeur càng tốt.

– Công việc cuốn con đi. Càng lớn tuổi, càng yếu đuối. Con thật mệt mỏi.

– Đã hứa làm việc cho Ngài đến hơi thở cuối cùng. Con sẽ cố.

Ngọc Nữ:

– Ngày ngài bị tai biến, đưa vào bệnh viện, tôi được cử đi thăm nuôi ngài cùng với một thầy nữa.

– Không biết nên buồn hay vui đây? Buồn vì ngài – con người mạnh mẽ, làm việc không ngừng nghỉ, nay nằm im bất động, yếu ớt và vô cảm. Nhìn ngài, tôi đã âm thầm khóc biết bao lần.

Còn vui.. Có lẽ tôi quá yếu đuối và ích kỷ. Tôi được nâng niu, chăm sóc ngài, được tự do bộc lộ tình yêu đối với ngài, dù rằng ngài chẳng nghe, chẳng thấy.. Cũng chẳng biết tình yêu của tôi dành cho ngài.

Bây giờ, con có thể nói với ngài:"Tình yêu của tôi, tôi không thể lập gia đình vì trong tim tôi không còn chỗ cho ai khác.


The End.
 

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back