278 ❤︎ Bài viết: 815 Tìm chủ đề
Đọc: 29 Tìm: 0

Đặc điểm thi pháp truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương trong tương quan giữa ký ức, hiện thực và đời sống con người​


Thể loại bài viết: Tiểu luận văn chương​


Tác giả bài viết: Lê Gia Hoài​


20260829-025056-7c8e0e641d.png


Link Tổng tập truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương


Truyện Ngắn - Tổng Tập Truyện Ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương - Quyển 1


Truyện Ngắn - Tổng Tập Truyện Ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương - Quyển 2


Truyện Ngắn - Tổng Tập Truyện Ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương - Quyển 3


Truyện Ngắn - Tổng Tập Truyện Ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương - Quyển 4


Truyện Ngắn - Tổng Tập Truyện Ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương - Quyển 5


DẪN NHẬP

Bạn đọc từ lâu đã biết đến tên tuổi nhà văn Nguyễn Nhuận Hồng Phương qua một hành trình sáng tác bền bỉ với nhiều thể loại, trong đó nổi bật là tám tiểu thuyết như Đồng vọng ngược chiều, Nền móng, Phá sản, Phố thị, Vận may, Ngoài vòng tay của Chúa, Tấn kịch ở Hạ LỗiBảo vật để đời. Ở mảng tiểu thuyết, ông đã tạo dựng một thế giới nhân vật phong phú, đặt con người vào những khúc quanh của lịch sử, những biến động của xã hội và những thử thách của tình yêu, gia đình, danh dự, lợi ích. Tuy nhiên, bên cạnh thành tựu ở thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn cũng là một bộ phận đáng chú ý trong hành trình văn chương Nguyễn Nhuận Hồng Phương, nơi tài năng quan sát đời sống, vốn trải nghiệm và khả năng nắm bắt những chuyển động tinh tế của tâm hồn con người được thể hiện theo một cách cô đọng hơn.

Đọc hệ thống truyện ngắn của ông, người đọc dễ nhận thấy một thế giới nghệ thuật được tạo dựng từ những chất liệu rất gần gũi: Một miền quê, một dòng sông, một cuộc gặp gỡ, một người bạn cũ, một người mẹ, một người lính, một căn phòng nhỏ, một mảnh đất, một kỷ vật hay một câu chuyện tưởng như vụn vặt trong đời sống thường ngày. Từ những điều tưởng chừng bình dị ấy, nhà văn mở ra những câu chuyện về số phận, ký ức, tình yêu, chiến tranh, sự đổi thay của quê hương và những nghịch lý trong cách con người ứng xử với nhau. Đời sống đi vào trang viết với dáng vẻ chân thực, mang theo cả tiếng cười, nước mắt, những va đập của lợi ích và những khoảng lặng của tình người.

Một đặc điểm nổi bật trong truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương là sự hiện diện thường xuyên của ký ức. Quá khứ và hiện tại nhiều khi cùng tồn tại trong một câu chuyện; một cuộc gặp hôm nay có thể đánh thức một miền đời đã xa, một địa danh có thể gọi dậy cả tuổi thơ, một kỷ vật có thể đưa nhân vật trở về với tình yêu và mất mát. Đặc biệt, ký ức chiến tranh trong sáng tác của ông thường được nhìn từ phía con người sau chiến tranh. Chiến trường đã lùi xa, song những gì nó để lại trong tâm hồn người lính, trong tình đồng đội, tình yêu và đời sống gia đình vẫn tiếp tục hiện hữu. Bởi thế, quá khứ trong truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương mang một ý nghĩa vượt ra ngoài hồi tưởng: Đó là phần đời vẫn đang sống trong con người hiện tại.

Cùng với ký ức là một cái nhìn khá rộng về hiện thực đời sống. Từ nông thôn, thị xã đến đô thị; từ người lính, người lao động đến cán bộ, công chức; từ những mối quan hệ gia đình, làng xóm đến những quan hệ quyền lực và lợi ích, nhà văn luôn tìm thấy ở đời sống những chất liệu cho văn chương. Có khi ông nhìn hiện thực bằng con mắt hài hước, trào phúng; có khi bằng sự tỉnh táo của một người từng trải; cũng có lúc lắng lại trong niềm thương cảm trước những phận người nhỏ bé. Phía sau nhiều câu chuyện là một câu hỏi giản dị nhưng có sức ám ảnh: con người sẽ giữ lại được gì cho mình giữa những biến động của thời gian và cuộc đời?

Chính từ mối quan hệ giữa ký ức – hiện thực – đời sống con người, một diện mạo thi pháp riêng của truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương dần hiện ra. Người kể chuyện thường có sự gắn bó trực tiếp với câu chuyện; điểm nhìn có sự dịch chuyển giữa người kể và nhân vật; thời gian trần thuật linh hoạt giữa hiện tại và quá khứ; không gian nghệ thuật mang đậm dấu ấn quê hương và đời sống; tình huống truyện thường được khởi đi từ những sự việc đời thường nhưng có khả năng làm lộ bản chất con người. Ngôn ngữ giàu tính khẩu ngữ, đối thoại tự nhiên, cùng sự đan xen giữa chất trữ tình, hài hước, trào phúng và chiêm nghiệm đã tạo nên một giọng văn gần gũi mà giàu dư âm.

Nghiên cứu "Đặc điểm thi pháp truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương trong tương quan giữa ký ức, hiện thực và đời sống con người" vì thế hướng tới việc nhận diện những phương thức nghệ thuật đã góp phần tạo nên thế giới truyện ấy. Từ khảo sát hiện thực đời sống và quan niệm nghệ thuật về con người, công trình tiếp tục đi sâu vào nghệ thuật trần thuật, tổ chức thời gian – không gian, xây dựng nhân vật, sử dụng ngôn ngữ và giọng điệu, đồng thời tìm hiểu sự kết hợp giữa chất trữ tình, tiếng cười trào phúng và chiều sâu chiêm nghiệm. Qua đó, bài viết mong muốn góp thêm một cách đọc đối với sáng tác truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương, đồng thời khẳng định vị trí của thể loại này trong một hành trình văn chương đã được hình thành bằng nhiều năm tháng sống, viết và chiêm nghiệm về con người.

(Còn nữa - Dưới bình luận)
 
278 ❤︎ Bài viết: 815 Tìm chủ đề

Chương I - Thế giới nghệ thuật và quan niệm về con người trong truyện ngắn nguyễn nhuận hồng phương


20260829-034033-5a0b3a6f3d.jpg


1.1. Hiện thực đời sống – nền tảng của thế giới truyện

Một trong những đặc điểm dễ nhận thấy khi đọc toàn bộ truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương là độ gần của văn chương với đời sống. Nhà văn thường bắt đầu từ một địa danh, một con người, một nghề nghiệp, một cuộc gặp, một ký ức hoặc một biến cố tưởng như rất bình thường, rồi từ đó mở rộng thành câu chuyện về số phận và thời đại. Hiện thực trong truyện của ông vì thế mang dáng vẻ của đời sống đang diễn ra: Có tiếng nói của người dân, có những cảnh sinh hoạt quen thuộc, có công việc thường ngày, có những mối quan hệ gia đình, làng xóm, cơ quan; đồng thời phía sau cái bình thường ấy luôn thấp thoáng những biến động của lịch sử và những câu hỏi về nhân tình thế thái.

Đây là điểm quan trọng để nhận diện thế giới truyện Nguyễn Nhuận Hồng Phương. Ông thường đứng khá gần nhân vật, gần với những gì mắt thấy tai nghe, nhưng sự gần gũi ấy chẳng dẫn đến một lối viết thuần túy ghi chép. Hiện thực được lựa chọn, tổ chức và đặt vào những tình huống có khả năng làm lộ ra tính cách, số phận và những nghịch lý của con người. Bởi vậy, từ chiến trường Đường 9 – Nam Lào đến một căn phòng chờ chỉ rộng mười hai mét vuông, từ một vùng quê đang bị giải tỏa đến một xóm dân cư bên bờ đầm, từ người cựu cán bộ cách mạng đến người lao công nghèo khổ, truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương tạo thành một bức tranh đời sống nhiều lớp, trong đó lịch sử, xã hội và đời tư thường xuyên giao thoa.

1.1. 1. Hiện thực chiến tranh và ký ức chiến tranh

Chiến tranh trong truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương trước hết hiện diện như một thực tại lịch sử đã đi qua nhưng chưa bao giờ thực sự mất đi trong ký ức con người. Nhà văn quan tâm đến chiến tranh từ góc nhìn của những con người đã sống trong nó, từng chiến đấu, từng yêu thương, từng mất mát và sau nhiều năm vẫn mang theo những dấu vết tinh thần của một thời chưa xa. Vì thế, chiến tranh trong thế giới truyện của ông vừa có diện mạo của một sự kiện lịch sử, vừa là một miền ký ức riêng tư.

Tháng ngày chưa xa là trường hợp tiêu biểu. Truyện mở ra bằng lời kể của Thành về trận mở màn chiến dịch Đường 9 – Nam Lào mùa Xuân năm 1971. Không gian chiến trường được dựng lên bằng những chi tiết cụ thể: Lòng suối V2, đồi Không Tên, đồi Con Thỏ, đồi Mâm Xôi, cao điểm 160, cao điểm 544, những trảng cỏ gianh, ánh đèn dù, tiếng máy bay, tiếng bom và những cuộc hành quân trong đêm. Người lính hiện diện giữa một chiến trường khắc nghiệt, nơi sự sống luôn đặt cạnh cái chết và nhiệm vụ chiến đấu gắn với ý thức sẵn sàng hy sinh.

Tuy nhiên, sức nặng của truyện nằm ở chỗ nhà văn đưa chiến tranh vào đời sống tâm hồn người lính. Trong thời khắc chờ đợi trận đánh, người lính bất chợt nhớ về quê hương: Thị xã Phúc An, dòng sông Tiền Châu, bãi vải Đạm Xuyên, đầm Diệu và những kỷ niệm tuổi trẻ. Giữa chiến trường khốc liệt, ký ức quê nhà hiện lên trong trẻo, giàu màu sắc và thân thuộc. Quá khứ riêng tư vì thế trở thành một đối trọng với hiện thực chiến tranh.

Đáng chú ý hơn, chiến tranh trong Tháng ngày chưa xa còn được nhìn từ tình bạn và tình yêu. Hai người lính cùng mang trong lòng hình bóng Hoa; một bức thư, một chiếc lược làm bằng cánh bom bi được gửi gắm như món quà phòng khi người lính chẳng thể trở về. Những chi tiết ấy khiến chiến tranh hiện lên từ một phương diện rất con người: Người lính chiến đấu, nhưng trong sâu thẳm vẫn là một con người biết nhớ, biết yêu, biết lo âu và biết hy vọng. Bởi vậy, cái chết trong chiến tranh được cảm nhận trước hết như khả năng mất đi một đời người, một tình yêu, một lời hẹn, một tương lai.

Sông có khúc.., ký ức chiến tranh và hậu quả của những biến động lịch sử lại được triển khai theo một hướng khác. Câu chuyện về Hoài bắt đầu từ tình bạn tuổi thơ, từ những chiếc bánh khảo, những chiếc oản đường, những món quà giản dị giữa hai đứa trẻ. Nhưng một biến cố lịch sử đã làm đảo lộn tất cả: Cha Hoài, ông An Lành, bị xử bắn với tội danh liên quan đến Quốc dân Đảng và bị quy kết là "Việt gian". Từ đó, đứa trẻ Hoài trở thành đối tượng của sự xa lánh, kỳ thị; tình bạn bị thử thách bởi một thứ định kiến được truyền từ lịch sử vào đời sống hàng ngày.

Ở đây, chiến tranh và lịch sử đã bước ra khỏi chiến trường để đi vào trường học, gia đình, tình bạn và tâm lý cộng đồng. Cái đáng sợ của một biến cố lịch sử vì thế còn nằm ở những dư chấn kéo dài trong số phận những người vốn chẳng trực tiếp gây ra nó. Một đứa trẻ phải mang trên vai "lý lịch" của người cha; một tình bạn trong sáng bị phủ bóng bởi định kiến; một cộng đồng bị chi phối bởi những phán xét của thời cuộc. Cách nhìn này cho thấy mối quan tâm của Nguyễn Nhuận Hồng Phương đối với con người trong lịch sử: Lịch sử được cảm nhận sâu nhất khi nó chạm vào một số phận cụ thể.

Từ Tháng ngày chưa xa đến Sông có khúc.., có thể nhận ra một nét nhất quán: nhà văn quan tâm đến phần người còn lại sau những biến động lịch sử. Chiến tranh có thể kết thúc, một chế độ có thể thay đổi, những năm tháng có thể lùi xa, song ký ức, mất mát, tình yêu, sự day dứt và những câu hỏi về đúng – sai vẫn tiếp tục sống trong con người. Chính vì vậy, "tháng ngày chưa xa" trong thế giới nghệ thuật của Nguyễn Nhuận Hồng Phương vừa là khoảng cách của thời gian, vừa là khoảng cách rất ngắn của ký ức.

1.1. 2. Hiện thực nông thôn, thị xã và quá trình đô thị hóa

Nếu chiến tranh tạo nên chiều sâu lịch sử cho thế giới truyện, thì làng quê, thị xã và những vùng đất đang biến đổi tạo nên diện mạo xã hội rất rõ của truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương.

Không gian quê trong truyện của ông thường có địa chỉ cụ thể, có lịch sử và có ký ức. Đó là những ngôi làng, triền đồi, dòng sông, bãi vải, đầm nước, mái nhà, đình làng, những con đường quen thuộc. Thiên nhiên ở đây mang dấu ấn của đời sống con người. Khi quê hương biến đổi, cảnh vật cũng trở thành chứng nhân của một thời đang mất đi.

Tấm áo màu hoa đào là một trường hợp đặc biệt tiêu biểu. Trại Đạo Cường trong truyện vừa là một không gian địa lý vừa là một ký ức văn hóa – lịch sử. Nhà văn kể lại truyền thuyết về Đạo Cường, người từng theo nghĩa quân Đề Thám, dựng cơ nghiệp ở vùng Tam Sơn; những chiến tích của ông được cộng đồng ghi nhớ qua miếu thờ và những ngày hội đầu năm.

Nhưng không gian ấy đang đứng trước một cuộc biến đổi dữ dội. Trại Đạo Cường bị đào bới, luỹ tre bị đốn, đất đai bị san phẳng. Hình ảnh vùng quê "thanh bình, êm ả" trở thành một "bức vẽ trống hoác, nguệch ngoạc và vô cảm". Sự thay đổi ấy không đơn thuần là thay đổi cảnh quan. Nó đặt ra vấn đề về ký ức, cội nguồn và quyền được giữ lại một phần quá khứ của con người.

Nhân vật Hòa vì thế gắn chặt với mảnh đất tổ tiên. Trong khi giá đất liên tục tăng và những người buôn đất tìm đến, điều Hòa nghĩ tới lại là lời trăng trối của ông nội: Mảnh đất ấy phải được giữ lại cho con cháu. Khi chủ trương giải tỏa khu vực để xây dựng "Khu công nghiệp công nghệ cao" xuất hiện, xung đột trong truyện lập tức chuyển từ chuyện đất đai sang câu hỏi về ký ức và căn tính.

Đáng chú ý, nhà văn cũng dành một cái nhìn khá tỉnh táo cho quá trình hiện đại hóa. Vi Sơn trong hiện tại đã có những con đường bê tông, những nhà máy, những cánh đồng cơ giới hóa, những khu công nghiệp và một diện mạo sạch sẽ, vuông vức. Vì vậy, truyện không đơn giản dựng nên một sự đối lập giữa "quê xưa tốt đẹp" và "hiện đại đáng sợ". Vấn đề sâu hơn nằm ở cách con người giữ gìn ký ức và giá trị tinh thần trong quá trình thay đổi không gian sống.

Đây cũng là một phương diện đáng chú ý trong cách nhà văn quan sát hiện thực: Ông nhìn thấy sự vận động của xã hội từ bên trong những không gian cụ thể. Đất đai tăng giá, khu công nghiệp mọc lên, làng quê được quy hoạch, những gia đình phải di chuyển.. Tất cả đều là những biểu hiện của một xã hội đang chuyển mình. Nhưng phía sau những biến động kinh tế – xã hội ấy vẫn là câu hỏi: Con người sẽ giữ lại được gì của quê hương khi quê hương thay đổi?

1.1. 3. Hiện thực đời sống công chức, quyền lực và những nghịch lý xã hội

Một mảng hiện thực khác tạo nên sắc thái riêng cho truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương là đời sống công chức, quan hệ quyền lực và những nghịch lý nảy sinh trong cơ chế xã hội. Nhà văn thường đưa nhân vật vào những không gian mà chức vụ, địa vị, quan hệ và lợi ích có khả năng chi phối hành vi: Cơ quan, chính quyền địa phương, các cuộc họp dân, những chuyến công tác, những mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới.

Sự đời cho thấy một cách tiếp cận khá khác. Truyện đặt cạnh nhau hai thế hệ cán bộ: Những người đang làm việc và cựu Bí thư Văn Quân đã về nghỉ. Cuộc gặp tưởng như chỉ là một chuyến thăm người cũ lại dần trở thành cuộc đối chiếu giữa quyền lực hiện tại và giá trị của một đời người. Văn Quân đã rời vị trí, sống trong một căn nhà giản dị, sức khỏe giảm sút, song ông vẫn giữ nguyên thói quen nghĩ về công việc chung, về Nhà nước, về đời sống nhân dân.

Chi tiết cuối truyện có sức gợi đặc biệt: Khi tiễn khách, Văn Quân nhờ vợ mang quà các cán bộ đến chia cho trẻ mẫu giáo; còn bản thân ông vẫn từ chối đi bệnh viện vì nghĩ đến hoàn cảnh của người vợ già và kinh tế của con cái. Hình ảnh thân hình cao gầy của cựu Bí thư vô tình che nắng cho thân hình thấp béo của ông họ Hoàng tạo nên một chi tiết giàu tính biểu tượng. Ở đây, sự "đời" trong nhan đề Sự đời được nâng lên thành một cách suy ngẫm về phẩm chất con người: Chức vụ có thể qua đi, nhưng cách sống còn lại.

Ở chiều ngược lại, Nó không phải là con tôi đi sâu vào mặt trái của quan hệ quyền lực. Nhân vật họ Hoàng từng giữ vị trí quan trọng; người họ Trương, nguyên Trưởng phòng địa chính huyện, từng được ông Hoàng coi như con, được gọi "bố – con" trong những mối quan hệ thân tình và lợi ích. Nhưng khi Trương bị bắt, câu đầu tiên của Hoàng là sự phủ nhận quyết liệt: "Nó không phải là con tôi". Quan hệ thân thuộc lập tức biến mất khi lợi ích và danh vị bị đe dọa.

Nó không phải là con tôi vì thế cho thấy một kiểu hiện thực mà Nguyễn Nhuận Hồng Phương đặc biệt quan tâm: quan hệ xã hội có thể mang hai bộ mặt tùy thuộc vào vị trí của con người trong mạng lưới quyền lực và lợi ích. Khi quyền lợi còn nguyên vẹn, người ta có thể gọi nhau bằng những danh xưng thân thiết; khi biến cố xảy ra, chính những danh xưng ấy trở thành thứ đầu tiên bị phủ nhận.

Ông Hà lại đưa hiện thực ấy sang sắc thái trào phúng. Nhân vật ông Hà xây dựng cho mình một hình ảnh "người Hà Nội" đầy kiểu cách: Nhà ở tỉnh lẻ nhưng cố tạo không khí đô thành, xe mang biển số 29, thường xuyên nhắc đến những người quen "đương chức đương quyền" và kể về một Hà Nội sang trọng, văn minh trong ký ức. Từ một đặc điểm cá nhân, nhà văn mở rộng thành một chân dung xã hội về tâm lý sính danh, sính địa vị và nhu cầu tạo dựng một căn cước có vẻ cao sang hơn thực tế.

Đặc biệt, tình huống cuộc họp giới thiệu ông Hà làm đại biểu tạo ra một nghịch lý giàu tính trào phúng: Cả cộng đồng gần như đồng thuận, cho đến khi một bà bán xôi chè đứng lên nhắc lại quá khứ của ông trong thời chiến. Quá khứ đột ngột xuất hiện giữa một nghi thức tưởng như đã được sắp đặt, khiến hình ảnh "người Hà Nội gốc", "hiểu biết rộng", "lịch thiệp, đĩnh đạc" bắt đầu rạn nứt.

Trong Nước mắt xóm liều, vấn đề quyền lực lại được đặt trong quan hệ giữa chính quyền, cộng đồng dân cư và một thứ quyền lực phi chính thức do Tư Châu nắm giữ. Xóm liều hình thành từ những người cư trú tự phát, dần trở thành một cộng đồng với những quy luật riêng; Tư Châu trở thành người "chăn dắt", thu tiền và phân chia đất đai theo "luật" bất thành văn của mình. Khi xóm liều đứng trước nguy cơ giải tỏa, câu chuyện lập tức chuyển thành cuộc va chạm giữa quyền lực nhà nước, lợi ích cộng đồng và lợi ích cá nhân. Thành – người con từng đi bộ đội – phải lựa chọn giữa tình thân với người cha và trách nhiệm công dân.

Như vậy, qua những truyện này, hiện thực công chức và quyền lực trong sáng tác Nguyễn Nhuận Hồng Phương có nhiều tầng bậc. Có quyền lực chính thức, có quyền lực phi chính thức, có quyền lực của chức vụ, của tiền bạc, của quan hệ và cả quyền lực của định kiến. Điều nhà văn quan tâm cuối cùng vẫn là con người đứng ở đâu trong những mạng lưới ấy và phẩm chất của họ biến đổi thế nào khi quyền lợi bị đặt vào thử thách.

1.1. 4. Những phận người nhỏ bé, bên lề

Một phương diện quan trọng làm nên chiều sâu nhân văn của truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương là sự hiện diện thường xuyên của những con người ở vị trí thấp bé trong đời sống xã hội. Họ có thể là người nghèo, người lao động, người già, người có hoàn cảnh đặc biệt, người mang khuyết tật hoặc những con người phải sống dưới cái nhìn định kiến của cộng đồng. Nhà văn đưa họ vào trung tâm câu chuyện bằng một thái độ quan sát gần gũi, đôi khi hài hước, song sau cùng thường trở về với sự cảm thông.

Trong rác không có rác là một trường hợp tiêu biểu. Nhân vật chị Bờ là công nhân đô thị, người dân trong khu phố quen gọi là "chị Bờ quét rác". Ngoại hình, quần áo, cách ăn nói và hoàn cảnh sống khiến chị thường xuyên trở thành đối tượng của những ánh nhìn coi thường. Chị nghèo, phải nhặt phế liệu để kiếm thêm tiền, thậm chí phải cho con tham gia những công việc vượt quá tuổi của nó.

Nhưng nhà văn đã tạo ra một nhân vật có sức sống vượt ra ngoài cái nhãn "người quét rác". Chị Bờ có lòng tự trọng, có bản năng bảo vệ con, có sức phản kháng và có những ước mơ rất giản dị. Khi nhặt được một chiếc ví, chị bị đặt trước một thử thách đạo đức rất đời thường: Cái nghèo khiến chị khát khao một vận may, nhưng chính tình huống ấy buộc chị phải đối diện với giới hạn giữa khốn khó và lòng tham.

Điều đáng chú ý nằm ngay trong cách nhà văn tổ chức nhan đề: "Trong rác không có rác". "Rác" trước hết là những thứ bị con người vứt bỏ, nhưng khi chuyển thành nhan đề truyện, nó trở thành một ẩn dụ về cách xã hội nhìn những con người ở đáy. Chị Bờ làm công việc nhặt rác, sống giữa những thứ người khác bỏ đi, nhưng bản thân chị và những người như chị chẳng phải là "rác" của xã hội. Truyện vì vậy tạo ra một sự đảo chiều trong nhận thức: Cái đáng được nhìn lại chính là thái độ của con người đối với những con người bị xem là thấp kém.

Một chi tiết ở cuối truyện càng làm rõ sắc thái nhân văn ấy. Trong đêm, tiếng chổi của chị tổ trưởng và Bến vang lên giữa không gian yên tĩnh; rác được gom lại, còn người đọc bắt đầu nhìn thấy phía sau công việc tưởng như thấp kém ấy là sự cần mẫn, trách nhiệm và một cuộc đời lao động.

Cũng trong mạch quan tâm tới những thân phận đặc biệt, Ước nguyện của anh Ơn xây dựng một nhân vật có hoàn cảnh thiệt thòi về trí tuệ nhưng lại giàu lòng tốt, yêu trẻ con, chăm chỉ và sống chân thành. Ơn làm đủ nghề, nhận công việc của người khác với sự chịu khó và thật thà; căn nhà có giá trị lớn về kinh tế đối với người đời lại chỉ có ý nghĩa với anh như nơi trú ngụ và nơi thờ cha mẹ. Đáng chú ý, những món đồ chơi Ơn tự làm từ vỏ bao thuốc lá, giấy bìa, xi măng.. Lại được trẻ con yêu thích bởi chúng chứa trong đó "cái hồn" của người làm ra chúng. Chính ở đây, Nguyễn Nhuận Hồng Phương đặt ra một nghịch lý đẹp: giá trị của con người và giá trị của vật chất chẳng phải lúc nào cũng cùng một thước đo.

Truyện viết ở Đầm Cò cũng mở ra một thân phận như vậy. Tùng từng là một sinh viên hiền lành, nhút nhát, thường xuyên trở về quê; sau biến cố gia đình, anh bỏ học rồi nhiều năm sau trở thành chủ một cơ ngơi ở Đầm Cò. Sự thay đổi về dáng vóc, công việc và vị thế xã hội của Tùng chỉ là lớp ngoài; bên trong vẫn là một con người mang nặng tình cảm gia đình, chờ ngày cha mãn hạn tù để dựng lại ngôi nhà.

Nhìn từ những nhân vật ấy, có thể thấy hiện thực đời sống trong truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương được mở rộng theo một hướng đáng chú ý: trung tâm của văn học có thể nằm ở bất cứ đâu trong đời sống. Một người lính giữa chiến trường, một người giữ mảnh đất tổ tiên, một cựu cán bộ già, một người lao công, một người thiệt thòi về trí tuệ, một người sống bên lề xã hội.. Đều có thể trở thành nhân vật trung tâm nếu trong số phận của họ chứa đựng một vấn đề có ý nghĩa đối với con người.

Từ đó, có thể thấy nền tảng hiện thực của truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương mang một đặc điểm quan trọng: đời sống được nhìn từ nhiều tầng, nhưng con người luôn là điểm quy tụ cuối cùng. Chiến tranh được nhìn qua ký ức người lính; đô thị hóa được nhìn qua số phận người giữ đất; quyền lực được nhìn qua những quan hệ và biến đổi nhân cách; còn những phận người nhỏ bé được nhìn bằng sự quan tâm và khả năng phát hiện phẩm giá. Chính cách lựa chọn hiện thực ấy chuẩn bị nền tảng cho một đặc điểm sâu hơn của thi pháp Nguyễn Nhuận Hồng Phương: nhà văn luôn tìm kiếm con người ở phía sau sự kiện. Đây cũng là điểm nối tự nhiên để chuyển từ khảo sát "hiện thực đời sống" sang vấn đề quan niệm nghệ thuật về con người trong thế giới truyện ngắn của ông.

1.2. Quan niệm nghệ thuật về con người

Nếu hiện thực đời sống là nền tảng tạo nên thế giới truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương thì con người chính là trung tâm quy tụ mọi đường nét của thế giới ấy. Nhà văn đi qua chiến tranh để tìm con người sau chiến tranh; đi vào những biến động của làng quê để nhận ra sự đổi thay trong số phận; nhìn vào quyền lực và những quan hệ xã hội để nhận diện phẩm chất; quan sát những phận người nhỏ bé để tìm kiếm phần nhân tính thường bị khuất lấp sau hoàn cảnh. Bởi vậy, đọc truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương, có thể nhận ra một quan niệm khá nhất quán: con người luôn được nhìn trong tính lịch sử, tính xã hội và tính đời tư của chính mình. Mỗi nhân vật mang theo một quá khứ, sống trong một hoàn cảnh cụ thể, bị chi phối bởi những quan hệ cụ thể và thường phải tự bộc lộ mình qua những lựa chọn ở những thời điểm có ý nghĩa quyết định.

1.2. 1. Con người trong quan hệ với ký ức

Một trong những chìa khóa quan trọng để bước vào thế giới nhân vật Nguyễn Nhuận Hồng Phương là ký ức. Con người hiện tại trong truyện của ông thường mang theo phía sau mình một đời sống đã qua. Quá khứ hiện diện trong một địa danh, một người bạn cũ, một món đồ, một câu nói, một cuộc gặp tình cờ; nhiều khi chỉ một chi tiết rất nhỏ cũng đủ mở cánh cửa dẫn nhân vật trở về những tháng ngày tưởng đã ngủ yên.

Tháng ngày chưa xa là một trường hợp tiêu biểu. Chiến trường Đường 9 – Nam Lào hiện ra từ lời kể của một người lính, nhưng ký ức chiến tranh luôn đan xen với ký ức quê hương, tình bạn và tình yêu. Giữa những ngày chuẩn bị cho trận đánh, người lính vẫn nhớ về Phúc An, về dòng sông Tiền Châu, bãi vải Đạm Xuyên, đầm Diệu và những người thân yêu nơi quê nhà. Chính sự đan xen ấy làm cho hình tượng người lính vượt khỏi tư cách một nhân vật lịch sử để trở thành một con người có đời sống nội tâm cụ thể: Biết sợ hãi, biết nhớ thương, biết yêu và biết nghĩ về ngày trở về.

Sông có khúc.., ký ức lại trở thành một cấu trúc quan trọng để nhìn nhận số phận Hoài. Câu chuyện được kể từ hiện tại, nhưng từng lớp quá khứ liên tục được mở ra: Tình bạn tuổi thơ, biến cố gia đình, cái chết của người cha, những năm tháng bị kỳ thị, tình yêu với Hiền, những thất bại trong cuộc mưu sinh rồi cuối cùng là ngày người cha được minh oan. Hoài sống trong hiện tại nhưng luôn mang theo một vết thương thuộc về quá khứ. Cái "lý lịch" của người cha từng trở thành một bức tường vô hình ngăn cách anh với học hành, nghề nghiệp và tình yêu.

Điều đáng nói là Nguyễn Nhuận Hồng Phương nhìn ký ức ở cả hai chiều: Ký ức có thể là vết thương, song cũng có thể là nguồn sức mạnh để con người tồn tại và hướng về phía trước. Hoài không chịu đầu hàng trước quá khứ. Sau nhiều lần thất bại, anh vẫn tiếp tục làm ăn, gây dựng cuộc sống và kiên trì đi tìm chứng tích để giải oan cho cha. Đến ngày người cha được Đảng và Chính phủ minh oan, ký ức đau đớn của nhiều năm trước mới có cơ hội được đặt lại trong ánh sáng của sự thật.

Ở đây, ký ức mang ý nghĩa sâu hơn một thủ pháp hồi tưởng. Nó là một phần căn cước của con người. Con người có thể bước sang một thời đại khác, có thể thay đổi nghề nghiệp, địa vị, nơi ở, song những gì đã trải qua vẫn âm thầm tham dự vào cách họ suy nghĩ và hành động. Bởi thế, nhiều nhân vật của Nguyễn Nhuận Hồng Phương dường như luôn có một "đời sống phía sau" đời sống đang được kể. Hiểu nhân vật ở hiện tại phải lần tìm những dấu vết của quá khứ; hiểu một hành động hôm nay đôi khi phải trở lại một biến cố của nhiều năm trước.

Đáng chú ý, ký ức trong truyện của ông thường mang tính cộng đồng. Một kỷ niệm riêng có thể dẫn đến ký ức của một thế hệ; một số phận cá nhân có thể phản chiếu một thời đoạn lịch sử. Trong Sông có khúc.., câu chuyện của Hoài chẳng hạn, từ một tình bạn tuổi học trò đã mở rộng thành câu chuyện về những vết thương do định kiến lịch sử để lại. Một người con phải chịu hệ lụy từ lý lịch của cha; một mối tình bị ngăn cản bởi quan niệm về "thành phần"; một người thầy từng nghiệt ngã với học trò lại âm thầm giúp đỡ gia đình ấy trong những ngày khốn khó.

Vì thế, có thể nói ký ức trong truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương là nơi quá khứ đối thoại với hiện tại và nơi lịch sử đi vào số phận cá nhân. Nhà văn không phục dựng quá khứ chỉ để kể lại một thời đã qua. Ông quan tâm đến cách quá khứ tiếp tục sống trong con người, chi phối những lựa chọn, những tình cảm và cả cách con người nhìn lại chính mình.

1.2. 2. Con người trong những nghịch cảnh đạo đức

Một đặc điểm nổi bật khác trong quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Nhuận Hồng Phương là việc đặt nhân vật vào những nghịch cảnh có khả năng thử thách phẩm chất. Nhân vật của ông thường phải đứng trước những lựa chọn mà mỗi hướng đi đều kéo theo một hệ quả. Đó có thể là sự giằng co giữa tình và lý, giữa nghĩa và lợi, giữa quá khứ và hiện tại, giữa cá nhân và cộng đồng, giữa sự thật và vẻ ngoài.

Trong những tình huống ấy, nhà văn ít khi đưa ra lời phán xét trực tiếp. Ông để nhân vật hành động, nói năng, lựa chọn rồi để chính tình huống phát huy sức mạnh khám phá. Đây là một cách xây dựng nhân vật có ý nghĩa thi pháp: phẩm chất không được tuyên bố trước mà được bộc lộ qua thử thách.

Niềm tin của Mẹ là một truyện cực ngắn nhưng chứa đựng một nghịch cảnh đạo đức rất sâu. Người kể chuyện biết Toàn đã hy sinh ở chiến trường Quảng Trị, trong khi mẹ Toàn vẫn tin con mình còn sống. Người kể thương bà nhưng cũng đứng trước một lựa chọn: Nói sự thật để chấm dứt hy vọng hay im lặng để giữ lại niềm tin cuối cùng của người mẹ.

Nghịch cảnh ấy được đẩy lên cao bằng một chi tiết vô cùng nhỏ: Chiếc kim thùa cúc áo rơi xuống đất. Người kể cúi xuống tìm và khi tìm thấy, người mẹ nói: "Nhỏ như cái kim, đáng gì tiền mà mày còn đi tìm.. Huống chi là con tao..". Chỉ một câu nói đã làm đảo chiều nhận thức của người kể. Anh hiểu rằng đối với một người mẹ, đứa con dù đã mất bao nhiêu năm vẫn có giá trị lớn lao hơn mọi thứ có thể tìm thấy trên đời. Nghịch cảnh đạo đức ở đây không cần một cuộc tranh luận dài; nó được giải quyết bằng một khoảnh khắc thức tỉnh. Người kể ôm lấy bà và thốt lên: "Con xin lỗi Mẹ..".

Sông có khúc.., nghịch cảnh đạo đức mang quy mô xã hội rộng hơn. Người kể chuyện từng xa lánh Hoài vì cái "lý lịch" của gia đình bạn. Hoài bị xem như người mang lỗi của cha, bị từ chối cơ hội học tập, nghề nghiệp và phải sống với một vết thương mà bản thân anh chẳng hề gây ra. Nhưng thời gian khiến những phán xét ấy dần được nhìn lại. Khi người kể biết cô giáo Thuỳ từng âm thầm đem gạo và thực phẩm giúp gia đình Hiền trong những ngày bị cắt sổ gạo, những định kiến cũ trong lòng anh cũng thay đổi.

Nhân vật vì vậy được đặt giữa sự thật bên trong và biểu hiện bên ngoài. Cô giáo Thuỳ có thể hiện ra lạnh lùng, khắc nghiệt trong quá khứ, nhưng phía sau đó lại có một tấm lòng âm thầm. Hoài từng mang một lý lịch bị xã hội nhìn bằng định kiến, nhưng thực tế lại là một người năng động, bền bỉ, có khả năng vượt lên nghịch cảnh.

Qua những tình huống như vậy, Nguyễn Nhuận Hồng Phương đặt con người vào một thế giới đạo đức nhiều tầng. Một hành động có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân; một con người có thể vừa có lỗi lầm vừa có phần đáng trân trọng; một vẻ ngoài tưởng như đã nói hết về nhân vật lại có thể che giấu một đời sống khác. Chính điều đó khiến nhân vật của ông có khả năng vận động trong quá trình truyện kể.

1.2. 3. Con người không hoàn toàn đơn tuyến

Từ cách đặt nhân vật vào những nghịch cảnh đạo đức, có thể nhận ra một đặc điểm quan trọng: nhân vật Nguyễn Nhuận Hồng Phương thường có nhiều chiều kích tính cách. Nhà văn có khuynh hướng nhìn con người trong sự pha trộn giữa tốt và xấu, yếu đuối và mạnh mẽ, ích kỷ và vị tha, sai lầm và thức tỉnh. Những phẩm chất ấy có thể cùng tồn tại trong một con người và chỉ được nhận diện đầy đủ khi nhân vật đi qua những tình huống khác nhau.

Chị Bờ trong Trong rác không có rác là một ví dụ giàu sức gợi. Người dân khu phố nhìn chị bằng hàng loạt định kiến: Xấu xí, bốp chát, tham lam, nhặt nhạnh thức ăn thừa, thậm chí lấy cả đồ bảo hộ lao động đem bán. Nhưng khi nhà văn đi sâu vào hoàn cảnh của chị, người đọc lại thấy một người mẹ nghèo đang vật lộn từng ngày với tiền gạo, tiền học cho con và một khát vọng rất bản năng về một vận may.

Chị Bờ vì vậy chẳng phải một nhân vật có thể gói gọn bằng một tính từ. Trong chị có sự thô ráp của đời sống, có những hành vi đáng trách, nhưng đồng thời có tình mẫu tử, có sức chịu đựng và bản năng tồn tại của một người nghèo. Nhà văn tạo ra một nhân vật khiến người đọc phải thay đổi cách nhìn: Từ sự phán xét bên ngoài đến sự hiểu biết về hoàn cảnh bên trong.

Sông có khúc.. cũng cho thấy rõ kiểu nhân vật này. Cô giáo Thuỳ từng làm tổn thương Hoài bằng những lời nói lạnh lùng về gia đình và lý lịch của cậu bé. Nhưng về sau, người đọc biết chính cô lại âm thầm giúp đỡ gia đình Hiền trong những lúc khó khăn nhất. Nhân vật vì vậy được đặt vào một thế lưỡng diện: Hành vi công khai và đời sống bên trong có khoảng cách. Khoảng cách ấy khiến nhân vật trở nên gần với con người đời thường hơn.

Cách nhìn này cũng làm cho những nhân vật có sai lầm trong truyện của Nguyễn Nhuận Hồng Phương tránh khỏi sự đơn giản hóa. Nhà văn có thể phê phán một thói xấu, một hành vi vụ lợi, một biểu hiện giả tạo; song đằng sau sự phê phán vẫn có khả năng tìm thấy nguyên nhân xã hội, hoàn cảnh sống hoặc những yếu tố tâm lý tạo nên hành vi ấy.

Bởi vậy, có thể nói nhân vật của Nguyễn Nhuận Hồng Phương thường là những nhân vật đang vận động. Họ có thể thay đổi cách nhìn; có thể nhận ra sai lầm; có thể được người khác nhìn lại; cũng có thể tự bộc lộ bản chất trong một hoàn cảnh mới. Đây chính là một đặc điểm giúp thế giới nhân vật của ông giữ được vẻ gần gũi với đời sống: Con người thực tế hiếm khi chỉ có một màu.

1.2. 4. Cái nhìn nhân đạo đối với những thân phận nhỏ bé

Bên cạnh khuynh hướng trào phúng, châm biếm, một cực quan trọng làm nên chiều sâu trong quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Nhuận Hồng Phương là cái nhìn nhân đạo đối với những thân phận nhỏ bé. Nhà văn dành nhiều trang viết cho những con người ở vị trí ít tiếng nói, những người thường bị đời sống bỏ qua hoặc nhìn bằng định kiến. Khi đưa họ vào văn chương, ông trả lại cho họ một đời sống nội tâm, một hoàn cảnh và một phẩm giá.

Trong rác không có rác là một trường hợp tiêu biểu. Chị Bờ làm nghề quét rác, sống trong cảnh nghèo túng, thường xuyên bị người xung quanh khinh khi. Người ta tránh ngồi cùng chị trong những cuộc liên hoan, lấy chuyện của chị làm chuyện vui, nhìn chị qua vẻ ngoài nhếch nhác và những hành vi bị cho là tham lam, càm cắp. Nhưng chính câu chuyện của chị lại buộc người đọc đặt lại câu hỏi về cách xã hội định giá một con người.

Nhà văn đặc biệt chú ý đến hoàn cảnh vật chất của chị Bờ. Những đồng tiền kiếm được từ việc nhặt phế liệu liên quan trực tiếp đến bữa cơm, tiền học và tương lai của những đứa con. Trong đêm, khi chị mong nhặt được tiền, đó chẳng phải một giấc mơ giàu sang mà là khát vọng của một người nghèo đang tìm một lối thoát khỏi cái thiếu thốn thường trực. Chính sự đặt nhân vật vào hoàn cảnh cụ thể giúp người đọc nhìn thấy phía sau những hành vi đáng trách là một cuộc sống đầy sức ép.

Niềm tin của Mẹ lại đưa cái nhìn nhân đạo tới một điểm rất khác: nỗi đau của một người mẹ mất con. Người mẹ đã nhận giấy báo tử nhưng tâm hồn vẫn giữ một niềm tin rằng con trai còn sống. Người kể hiểu đó là "niềm hy vọng nhỏ nhoi" của một người mẹ già và lựa chọn im lặng vì sợ sự thật sẽ làm bà đau khổ hơn. Đến khi chiếc kim rơi xuống, người kể mới thực sự hiểu sức nặng của niềm tin ấy. Từ một câu chuyện về một người mẹ, truyện trở thành một lời tri ân đối với tình mẫu tử.

Cũng trong mạch nhân đạo ấy, Ước nguyện của anh Ơn hướng sự chú ý vào một con người thiệt thòi về trí tuệ nhưng giàu lòng tốt, chăm chỉ và có tình cảm chân thành. Ơn sống đơn giản, làm việc để tồn tại, dành tình yêu cho trẻ nhỏ và chỉ mong giữ được ngôi nhà cha mẹ để lại. Qua nhân vật này, nhà văn đặt lại thước đo về sự "giàu có" và "thiệt thòi" : Một người có thể nghèo về vật chất nhưng giàu có về tình cảm; có thể hạn chế về khả năng nhận thức nhưng lại sở hữu một thế giới tinh thần trong trẻo.

Từ những nhân vật như chị Bờ, anh Ơn, người mẹ của Toàn hay những con người mang vết thương từ quá khứ, có thể thấy cái nhìn nhân đạo của Nguyễn Nhuận Hồng Phương thường bắt đầu từ sự nhìn kỹ. Nhà văn nhìn kỹ những gì người khác dễ bỏ qua: Một người quét rác giữa đêm, một người mẹ già vẫn chờ con, một người đàn ông sống bằng những công việc nhỏ bé, một người mang trên mình cái bóng của một lý lịch đã thuộc về thế hệ trước. Khi được nhìn kỹ, những phận người ấy hiện ra với đầy đủ những nỗi đau, khát vọng, phẩm giá và khả năng yêu thương.

Điều đáng quý là lòng nhân đạo trong truyện Nguyễn Nhuận Hồng Phương thường được biểu hiện bằng tình huống và chi tiết, hơn là bằng những lời tuyên ngôn. Một chiếc kim trong Niềm tin của Mẹ, một đống phế liệu trong Trong rác không có rác, một ngôi nhà, một món đồ chơi, một bức ảnh hay một cuộc gặp lại đều có thể trở thành nơi nhà văn gửi gắm sự trân trọng đối với con người. Chính từ những cái nhỏ bé ấy, giá trị con người được nâng lên.

Nhìn tổng thể, quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương được hình thành trên một nền tảng giàu tính đời sống nhưng hướng tới chiều sâu nhân bản. Con người của ông là con người có quá khứ, có những ràng buộc xã hội, có những yếu đuối và sai lầm, song đồng thời luôn có khả năng yêu thương, chịu đựng, lựa chọn và thay đổi. Nhà văn nhìn họ trong hoàn cảnh cụ thể để hiểu họ, nhìn vào hành động để nhận diện họ, nhìn qua thời gian để đánh giá họ. Bởi vậy, phía sau những câu chuyện tưởng như nhỏ bé về một người lính, một người mẹ, một người lao công, một người bạn cũ hay một cán bộ về hưu luôn có một câu hỏi lớn hơn: con người giữ lại được gì cho mình giữa những biến động của thời gian và cuộc đời?

Đó cũng chính là nền tảng tư tưởng để Nguyễn Nhuận Hồng Phương triển khai một thế giới nhân vật vừa giàu tính hiện thực, vừa giàu khả năng đồng cảm; nơi tiếng cười có thể đi cùng nước mắt, sự phê phán có thể đi cùng lòng bao dung, và những câu chuyện của một cá nhân thường mở ra những suy ngẫm rộng hơn về con người, ký ức và cách sống giữa cuộc đời.

(Còn nữa - Dưới bình luận)
 
Chỉnh sửa cuối:
278 ❤︎ Bài viết: 815 Tìm chủ đề

Chương II - Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn nguyễn nhuận hồng phương


20260829-032107-da35fb3689.png


Nếu ở chương trước, hiện thực đời sống và quan niệm nghệ thuật về con người cho thấy nhà văn nhìn vào đâu, thì ở chương này cần đặt câu hỏi: Nguyễn Nhuận Hồng Phương kể thế giới ấy bằng cách nào? Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt đối với việc nhận diện phong cách truyện ngắn của ông, bởi cùng một chất liệu đời sống, cách lựa chọn người kể chuyện, điểm nhìn, trật tự thời gian, không gian và phương thức đưa lời kể vào văn bản có thể tạo nên những hiệu quả nghệ thuật hoàn toàn khác nhau.

Qua hệ thống truyện ngắn đã khảo sát, có thể nhận thấy Nguyễn Nhuận Hồng Phương thường lựa chọn một kiểu trần thuật gần với đời sống, gần với người kể và gần với tâm thế của người chứng kiến. Nhà văn nhiều khi để nhân vật "tôi" trực tiếp bước vào câu chuyện, quan sát, trò chuyện, hồi tưởng, bình luận; nhiều khi lại để một nhân vật kể chuyện cho một nhân vật khác nghe, từ đó hình thành những tầng trần thuật lồng ghép. Cái đáng chú ý là người kể chuyện trong sáng tác của ông thường giữ được một khoảng cách vừa đủ với sự kiện: Họ tham dự vào đời sống nhưng vẫn có khả năng nhìn lại, suy ngẫm và đánh giá. Chính sự kết hợp giữa cái tôi trải nghiệm và cái tôi quan sát đã tạo nên một trong những đặc điểm đáng chú ý của nghệ thuật trần thuật Nguyễn Nhuận Hồng Phương.

2.1. Người kể chuyện và điểm nhìn

2.1. 1. Người kể chuyện ngôi thứ nhất – cái tôi chứng kiến và trải nghiệm


Một dấu hiệu nổi bật trong nhiều truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương là sự hiện diện của người kể chuyện ngôi thứ nhất, thường được biểu hiện bằng đại từ "tôi". Cái "tôi" ấy thường bước vào truyện với tư cách một người đang sống giữa đời sống: Đến một nơi nào đó, gặp một ai đó, chứng kiến một sự việc, nghe một câu chuyện hoặc bất chợt nhớ lại một kỷ niệm. Nhờ vậy, câu chuyện được truyền đến người đọc qua một điểm nhìn có tính cá nhân rõ rệt.

Phòng chờ.. 12 mét vuông là một ví dụ khá tiêu biểu. Ngay câu mở đầu, người kể chuyện xưng "tôi" trực tiếp bước vào căn phòng có tấm biển "Phòng chờ". Cái "tôi" ấy lập tức trở thành con mắt quan sát toàn bộ không gian: Nhìn những người đang ngồi, đếm số người, nhận diện từng cặp vợ chồng, nghe những mẩu đối thoại và từ đó dần phát hiện ra những câu chuyện đời sống phía sau cánh cửa.

Đây là một cách tổ chức điểm nhìn khá hiệu quả. Người đọc chẳng được đặt vào vị trí của một người kể chuyện toàn tri biết trước mọi sự việc. Người đọc biết đến đâu cùng với "tôi" đến đó. Cái "tôi" quan sát những người trong phòng, nghe những câu chuyện vụn vặt, đoán già đoán non, có lúc hiểu đúng, có lúc chỉ phỏng đoán. Chính giới hạn của điểm nhìn lại làm tăng cảm giác chân thực. Phòng chờ trở thành một thế giới thu nhỏ và "tôi" giống như một người tình cờ bước vào đó, rồi từ những mảnh đối thoại và những cử chỉ nhỏ nhặt mà nhận ra biết bao cảnh đời.

Đáng chú ý, người kể chuyện trong Phòng chờ.. 12 mét vuông còn trực tiếp trở thành một phần của câu chuyện. Anh ta chẳng phải một quan sát viên đứng ngoài đời sống. Câu chuyện về người bạn tình, về những chuyến đi thăm trại cải tạo, về bệnh tật và nỗi sợ hãi của chính mình lần lượt được mở ra qua những đoạn hồi tưởng. Vì thế, điểm nhìn của "tôi" có hai chức năng đồng thời: nhìn người khác và tự soi mình.

Đây chính là một ưu thế của hình thức trần thuật ngôi thứ nhất trong truyện Nguyễn Nhuận Hồng Phương. Khi nhân vật "tôi" kể, câu chuyện có thêm màu sắc của một lời tâm sự. Người kể có thể tự nhận xét mình, tự thú nhận sự yếu đuối, tự cười mình, thậm chí tự phê phán chính mình. Trong Phòng chờ.. 12 mét vuông, "tôi" vừa muốn tỏ ra mạnh mẽ trước người yêu, vừa thừa nhận nỗi sợ hãi trước căn bệnh; người kể từng xây dựng những nhân vật anh hùng trong văn chương nhưng lại phải đối diện với sự hèn yếu của chính mình trước hiểm nguy. Khoảng cách giữa nhân vật nhà văn trong tác phẩm và chính người kể chuyện tạo ra một sắc thái tự trào rất riêng.

Vẹt góc đồi thông, ngôi thứ nhất lại phát huy một hiệu quả khác: điểm nhìn của hồi ức và tâm lý. Nhân vật "tôi" – Kiên – trở về gặp Hòa sau mười lăm năm. Cuộc gặp ở hiện tại lập tức đánh thức ký ức về tuổi thơ, về đồi thông, về Tân, về những chiếc chong chóng làm bằng lá dứa và mối tình đầu vụng dại. Câu chuyện vì thế được nhìn hoàn toàn qua ý thức của Kiên. Người đọc biết Hòa qua những gì Kiên nhớ, hiểu Tân qua những gì Kiên chứng kiến và thậm chí cảm nhận tình yêu của Kiên qua những cơn ghen, sự tự ái, lòng ích kỷ và những ân hận của chính anh.

Có những đoạn, cái "tôi" của Kiên trở thành một cái tôi tâm lý rất rõ. Khi nhìn thấy Hòa và Tân thân thiết, Kiên cảm thấy mình "như thừa ra"; nỗi buồn tuổi mười sáu xuất hiện qua những cử chỉ rất nhỏ, rồi biến thành sự giận dữ, ghen tuông và ý muốn trả thù. Sau đó, khi nhận ra sự nhỏ nhen của mình, Kiên lại tự sỉ vả và ân hận. Như vậy, người kể chuyện vừa kể sự kiện vừa trực tiếp tái hiện quá trình vận động của tâm hồn.

Đặc điểm này làm cho hình thức ngôi thứ nhất trong truyện Nguyễn Nhuận Hồng Phương mang màu sắc tự sự – tâm lý khá rõ. "Tôi" chẳng đơn thuần là người truyền tin. "Tôi" chính là một bộ phận của sự kiện, một chủ thể cảm nhận sự kiện và đôi khi cũng là đối tượng được nhà văn khám phá. Người đọc theo dõi câu chuyện đồng thời theo dõi quá trình một con người nhận thức về chính mình.

Truyện viết ở Đầm Cò lại đem đến một biến thể đáng chú ý của kiểu trần thuật ngôi thứ nhất. Người kể chuyện "tôi" là người trở về gặp người bạn cũ Tùng sau gần mười năm xa cách. Chính "tôi" là người quan sát sự thay đổi của Tùng, bước vào không gian Đầm Cò, trò chuyện với bạn và từng bước khám phá quá khứ của người bạn ấy.

Ở đây, "tôi" đóng vai trò như một người mở cửa câu chuyện. Nếu chỉ nhìn từ bên ngoài, Tùng là một người đàn ông khỏe mạnh đang làm kinh tế ở Đầm Cò. Nhưng qua những câu hỏi của "tôi", quá khứ của Tùng dần hiện ra: Người cha, đàn cò, tình yêu, cái chết của người anh, mười năm tù và bi kịch kéo dài trong đời mình.

Đáng chú ý hơn, Nguyễn Nhuận Hồng Phương không dừng lại ở một tầng kể. "Tôi" kể lại cuộc gặp với Tùng; rồi Tùng lại kể câu chuyện đời mình cho "tôi" nghe. Như vậy, văn bản hình thành một cấu trúc trần thuật hai tầng: Người kể bên ngoài và người kể bên trong. Người đọc vừa nhìn Tùng qua điểm nhìn của "tôi", vừa nghe chính Tùng tự kể về mình. Cách tổ chức ấy giúp nhân vật có thêm chiều sâu: Một Tùng được người khác quan sát và một Tùng tự bộc lộ. Hai hình ảnh ấy bổ sung cho nhau để tạo nên một chân dung hoàn chỉnh hơn.

Có thể thấy, ở Nguyễn Nhuận Hồng Phương, ngôi kể thứ nhất thường tạo ra tính xác tín của trải nghiệm. Người kể không nói từ một vị trí xa xôi mà nói bằng ký ức, bằng cảm giác, bằng những gì mắt thấy tai nghe. Điều này phù hợp với nền tảng sáng tác giàu vốn sống của nhà văn. Đời sống đi vào truyện qua những con người mà người kể đã gặp, những địa danh đã đặt chân tới, những câu chuyện đã nghe và những ký ức đã lưu giữ.

Tuy nhiên, cần tránh hiểu rằng truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương chỉ sử dụng một cách đơn giản ngôi thứ nhất. Ngay trong Tháng ngày chưa xa, nhà văn đã cho thấy khả năng tổ chức nhiều tầng người kể. Truyện mở ra bằng cảnh Thành ngồi kể lại trận mở màn chiến dịch Đường 9 – Nam Lào mùa Xuân năm 1971. Sau lời dẫn ấy, câu chuyện chuyển sang lời kể của chính người lính với đại từ "tôi" : "Đơn vị chúng tôi được lệnh hành quân tập kết..".

Cách kể này tạo nên một khoảng cách rất nhỏ nhưng có ý nghĩa: Người đọc trước hết nhìn Thành qua sự hiện diện của một người kể, sau đó mới bước vào ký ức chiến trường qua chính tiếng nói của Thành. Như vậy, ký ức chiến tranh được trao cho nhân vật sở hữu nó. Nhà văn chẳng đứng ra kể thay người lính. Ông để người lính tự kể, tự nhớ, tự nói về đồng đội, về chiến trường và về người mình yêu. Hiệu quả của nó là câu chuyện chiến tranh mang giọng điệu của một lời chứng, một lời hồi tưởng từ bên trong.

2.1. 2. Người kể chuyện hồi cố

Nếu ngôi thứ nhất tạo nên độ gần của trải nghiệm thì trần thuật hồi cố tạo nên chiều sâu của thời gian. Một đặc điểm khá nổi bật trong truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương là hiện tại thường chỉ đóng vai trò điểm xuất phát; từ một cuộc gặp, một địa danh, một đồ vật hoặc một sự việc, câu chuyện được mở về quá khứ rồi sau đó trở lại hiện tại. Mô hình có thể khái quát:

Hiện tại → ký ức → quá khứ → trở về hiện tại.

Cấu trúc này đặc biệt phù hợp với kiểu nhân vật của Nguyễn Nhuận Hồng Phương, bởi nhiều nhân vật của ông được định hình bởi những gì đã xảy ra trước thời điểm câu chuyện bắt đầu.

Vẹt góc đồi thông là một ví dụ điển hình. Truyện bắt đầu ở hiện tại, khi Kiên trở về gặp Hòa sau mười lăm năm. Hòa hiện tại đã là một người phụ nữ thành đạt, có một biệt thự dưới chân đồi thông; Tân đang ở tù; còn Kiên đã có gia đình riêng. Chỉ một cuộc gặp đã mở ra cả một miền quá khứ.

Sau đó, người kể quay về tuổi thơ: Kiên và Hòa cùng chơi trên đồi thông, làm chong chóng, thổi kèn, rồi Tân xuất hiện và trở thành người thứ ba trong mối quan hệ tưởng như vô tư của hai đứa trẻ. Những biến cố tiếp theo được kể theo dòng ký ức của Kiên: Sự ghen tuông, những trò trả thù trẻ con, tình yêu đầu đời, sự chia lìa, những biến động xã hội, rồi nhiều năm sau là cuộc gặp lại. Cuối cùng, câu chuyện trở về với điểm xuất phát: Kiên rời thị xã, nhìn đồi thông từ cửa sổ con tàu và bất chợt nhớ đến chiếc chong chóng của tuổi thơ.

Như vậy, kết cấu hồi cố ở đây chẳng đơn thuần là cách "kể lại chuyện cũ". Nó tạo thành một vòng cung ký ức. Hiện tại gọi quá khứ trở về; quá khứ giúp người đọc hiểu hiện tại; rồi hiện tại lại soi chiếu quá khứ bằng một nhận thức mới. Đồi thông vì thế chẳng còn là một địa danh. Nó trở thành nơi lưu giữ tuổi thơ, tình yêu, sự mất mát và những ân hận của một đời người.

Truyện viết ở Đầm Cò cũng được tổ chức theo nguyên tắc ấy nhưng phức tạp hơn. Người kể chuyện gặp Tùng trong hiện tại; từ cuộc gặp, câu chuyện lần lượt trở về tuổi thơ của Tùng, về người cha, đàn cò, những năm tháng học đại học, biến cố dẫn tới cái chết của người anh và mười năm tù của người cha. Quá khứ ở đây chính là chìa khóa để giải mã hiện tại: Nếu chỉ nhìn Tùng như một người làm kinh tế ở Đầm Cò, người đọc khó hiểu vì sao anh gắn bó với đàn cò, vì sao anh quyết giữ khu đất và vì sao cuộc đời anh lại chịu sự ám ảnh nặng nề đến thế.

Đặc biệt, nhà văn để chính Tùng kể lại quá khứ. Khi kể đến những hồi ức đau đớn, "đôi mắt Tùng đẫm lệ". Như vậy, hồi cố ở đây vừa là phương thức cung cấp thông tin, vừa là phương thức tái hiện trạng thái tâm lý của người kể. Quá khứ chẳng đứng ngoài nhân vật; nó vẫn đang sống trong nhân vật ở thời điểm kể chuyện.

Trong Sông có khúc.., hồi cố còn mang thêm một tầng ý nghĩa: từ ký ức cá nhân mở rộng thành ký ức lịch sử. Câu chuyện về Hoài được mở từ tình bạn tuổi nhỏ, sau đó quay về những năm tháng gia đình anh chịu ảnh hưởng bởi biến động chính trị – xã hội. Quá khứ không chỉ giải thích vì sao Hoài trở thành con người hiện tại; nó còn cho thấy một thời đại có thể in dấu lên số phận một con người trong thời gian dài đến thế nào.

Tháng ngày chưa xa, hồi cố lại được đặt trong quan hệ giữa hiện tại của người kể và quá khứ chiến trường. Thành kể lại trận Đường 9 – Nam Lào từ một khoảng cách nhiều năm, nhưng khi bước vào lời kể, thời gian dường như được rút ngắn lại. Chiến trường năm 1971 hiện ra bằng những địa danh, âm thanh, ánh sáng và hành quân như thể đang xảy ra trước mắt. Đó là một kiểu hiện tại hóa ký ức: Quá khứ được kể bằng sức nóng của trải nghiệm, khiến người đọc có cảm giác người lính vẫn đang đứng giữa chiến trường.

Từ những trường hợp trên, có thể thấy hồi cố trong truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương có ba chức năng quan trọng.

Thứ nhất, hồi cố cung cấp lai lịch và chiều sâu cho nhân vật. Người đọc hiểu nhân vật hiện tại thông qua những gì đã xảy ra với họ.

Thứ hai, hồi cố tạo ra độ dày lịch sử cho câu chuyện. Một câu chuyện riêng có thể nối với chiến tranh, với những biến động xã hội, với sự thay đổi của làng quê và thời đại.

Thứ ba, hồi cố là phương tiện khám phá tâm lý. Những gì nhân vật nhớ, cách nhân vật nhớ và những điều nhân vật cố quên thường nói nhiều về bản chất tinh thần của họ.

Có thể nói, với Nguyễn Nhuận Hồng Phương, thời gian trần thuật thường vận động theo trí nhớ hơn là theo chiếc đồng hồ của đời sống. Nhân vật nhớ điều gì, câu chuyện đi về phía ấy; nhân vật bị ám ảnh bởi điều gì, quá khứ lại trở về ở đó. Chính vì vậy, hồi ức trở thành một dạng không gian tinh thần trong truyện.

2.1. 3. Sự đan xen giữa điểm nhìn của người kể và điểm nhìn nhân vật

Một đặc điểm đáng chú ý khác trong nghệ thuật trần thuật Nguyễn Nhuận Hồng Phương là sự dịch chuyển và đan xen điểm nhìn. Nhà văn thường để người kể chuyện quan sát nhân vật từ bên ngoài, sau đó chuyển vào thế giới nội tâm của nhân vật; hoặc để nhân vật tự kể, rồi người kể lại quan sát và bình luận về nhân vật ấy. Nhờ vậy, một con người trong truyện có thể xuất hiện dưới nhiều góc độ khác nhau.

Truyện viết ở Đầm Cò là ví dụ rõ. Tùng trước hết hiện ra qua cái nhìn của "tôi" : Một người đàn ông vạm vỡ, da cháy nắng, đầu húi cua, dáng đi nặng chịch, hoàn toàn khác với hình ảnh cậu sinh viên ngày trước. Đó là điểm nhìn bên ngoài. Nhưng sau đó, khi Tùng kể về người cha, về đàn cò và biến cố năm xưa, điểm nhìn chuyển vào bên trong. Người đọc được nghe chính Tùng nói về nỗi đau của mình. Khi Tùng kể đến đoạn bi kịch, người kể quan sát thấy mắt bạn đẫm lệ. Hai điểm nhìn bổ sung cho nhau: "Tôi" giúp người đọc nhìn thấy Tùng; Tùng giúp người đọc hiểu Tùng.

Vẹt góc đồi thông cũng vận hành theo một cơ chế tương tự nhưng nghiêng mạnh về điểm nhìn tâm lý. Toàn bộ thế giới được lọc qua ý thức Kiên. Khi nhìn Tân thổi kèn, Kiên vừa quan sát vẻ ngoài của bạn vừa cảm nhận sự xuất hiện của lòng ghen; khi nhìn Hòa, anh vừa nhớ tuổi thơ vừa cảm thấy mình bị bỏ lại phía sau. Người đọc vì vậy chẳng chỉ biết "đã xảy ra chuyện gì", mà còn biết Kiên đã cảm thấy gì khi chuyện ấy xảy ra.

Đặc biệt, điểm nhìn của Kiên nhiều lần bộc lộ sự hạn chế của chính nó. Anh hiểu sai, ghen tuông, suy diễn, thậm chí có lúc tự huyễn hoặc mình bằng những hình tượng trong các tiểu thuyết kiếm hiệp mà anh đọc. Chính vì người kể chẳng phải một chủ thể toàn tri nên câu chuyện trở nên gần với tâm lý con người. Kiên phải tự đi qua trải nghiệm để nhận ra mình đã nhỏ nhen, ích kỷ và thiếu cao thượng. Điểm nhìn vì thế trở thành một phương tiện tự khám phá nhân vật.

Trong Phòng chờ.. 12 mét vuông, sự đan xen điểm nhìn lại tạo ra chất hài hước và thế sự. "Tôi" quan sát người phụ nữ và cô gái mang thai, nghe những câu chuyện gia đình, rồi đưa ra những nhận xét mang màu sắc cá nhân. Có những lúc cái nhìn của "tôi" rất nhanh, rất chủ quan, thậm chí có phần nghịch ngợm. Nhưng càng quan sát, "tôi" càng nhận ra phía sau những dáng vẻ bình thường là những cảnh đời đầy phức tạp. Người anh trong trại cải tạo chẳng hạn, ban đầu hiện ra với khuôn mặt bất cần, lời nói bỗ bã; đến lúc chia tay, khuôn mặt ấy lại dịu xuống, những giọt nước mắt được giấu đi. Điểm nhìn của "tôi" vì thế vận động từ quan sát bên ngoài đến thấu hiểu bên trong.

Đây cũng là một nét đáng chú ý trong cách Nguyễn Nhuận Hồng Phương nhìn con người. Nhà văn ít khi đưa ngay bản chất nhân vật ra trước mắt người đọc. Ông để nhân vật hiện ra qua một vài nét bên ngoài, một câu nói, một hành động; sau đó điểm nhìn dần tiến sâu hơn để phát hiện phần đời phía sau. Một con người bất cần có thể đang giấu một nỗi nhớ quê hương; một người phụ nữ tưởng như mạnh mẽ có thể đang mang một vết thương; một người bị cộng đồng coi thường có thể sở hữu lòng tự trọng và tình thương rất đáng quý.

Sự đan xen điểm nhìn còn tạo điều kiện cho nhà văn kể – quan sát – bình luận – suy ngẫm – đánh giá trong cùng một dòng trần thuật. Đây là điểm làm cho truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương có vẻ gần với lời kể tự nhiên của một người từng trải. Người kể có thể đang kể chuyện, bất chợt chen vào một nhận xét; đang tả một cảnh, chuyển sang nhớ một chuyện cũ; đang nghe nhân vật nói, lại tự đối thoại với mình.

Ở phương diện này, có thể nhận thấy một kiểu cái tôi trần thuật giàu tính tham dự. Cái tôi ấy chẳng đứng trên nhân vật để phán xét từ một vị trí tuyệt đối; nó thường đi cùng nhân vật, nghe nhân vật nói, nhìn nhân vật sống, đôi khi cùng mắc sai lầm với nhân vật rồi mới nhận ra sự thật. Vì thế, giọng kể có tính đời thường nhưng vẫn chứa một tầng chiêm nghiệm.

Từ những khảo sát trên, có thể khái quát đặc điểm người kể chuyện và điểm nhìn trong truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương qua ba cấp độ. Một là cái tôi chứng kiến, trực tiếp bước vào đời sống và ghi nhận những gì mắt thấy tai nghe. Hai là cái tôi hồi cố, từ hiện tại trở về quá khứ để tìm nguyên nhân của số phận và những biến động tâm lý. Ba là cái tôi đối thoại với nhân vật, cho phép điểm nhìn chuyển dịch giữa người kể và nhân vật, giữa cái nhìn bên ngoài và tiếng nói bên trong.

Chính sự vận động ấy làm cho nghệ thuật trần thuật của Nguyễn Nhuận Hồng Phương có được độ linh hoạt đáng kể. Người kể chuyện là chiếc cầu nối giữa đời sống và văn chương; điểm nhìn là lăng kính làm cho hiện thực được nhìn thấy trong những chiều sâu khác nhau. Qua chiếc cầu và lăng kính ấy, một sự việc bình thường có thể trở thành một câu chuyện về số phận; một ký ức riêng có thể mở ra một thời đại; một cuộc gặp gỡ có thể dẫn đến cả một đời người. Đây là tiền đề quan trọng để tiếp tục khảo sát những phương diện khác của nghệ thuật trần thuật Nguyễn Nhuận Hồng Phương, trước hết là cách tổ chức thời gian nghệ thuật – nơi hiện tại, quá khứ và ký ức tiếp tục đan cài, tạo nên nhịp vận động riêng cho thế giới truyện ngắn của ông.

2.2. Tổ chức thời gian trần thuật – từ thời gian đời sống đến thời gian ký ức

Nếu người kể chuyện và điểm nhìn quyết định vị trí của chủ thể trần thuật trước thế giới được kể, thì thời gian trần thuật quyết định cách thế giới ấy được mở ra trước người đọc. Trong truyện ngắn, thời gian của câu chuyện và thời gian của lời kể hiếm khi hoàn toàn trùng khít. Một đời người có thể được kể trong vài trang; một khoảnh khắc có thể được kéo dài thành nhiều đoạn văn; một sự kiện đã xảy ra từ hàng chục năm trước có thể bất ngờ trở lại trong hiện tại chỉ từ một câu nói, một địa danh, một kỷ vật.

Qua khảo sát truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương, có thể thấy nhà văn sử dụng khá linh hoạt các phương thức tổ chức thời gian. Bên cạnh những truyện được triển khai tương đối theo trình tự trước – sau của sự kiện, ông thường xuyên sử dụng hồi cố, đảo chiều thời gian, đan xen các lớp quá khứ – hiện tại và kéo dài những khoảnh khắc có sức nặng tâm lý. Đặc biệt, thời gian trong truyện của ông thường mang dấu ấn của ký ức. Nó vận động theo sự nhớ, sự quên, sự ám ảnh của nhân vật, vì thế thời gian nghệ thuật nhiều khi trở thành một dạng thời gian tâm lý.

2.2. 1. Thời gian tuyến tính và khả năng tạo nhịp kể tự nhiên

Ở một số truyện, Nguyễn Nhuận Hồng Phương lựa chọn cách kể tương đối thuận chiều: Sự kiện trước dẫn đến sự kiện sau, các tình huống được nối tiếp nhau theo diễn biến của đời sống. Cách tổ chức này đặc biệt phù hợp với những truyện thiên về sự việc, tình huống xã hội hoặc có yếu tố phát hiện, lật mở.

Sự đời, Nó không phải là con tôi, Ông Hà, Cỏ mật, Chiếc xe tang.. Đều cho thấy khả năng tổ chức một chuỗi sự kiện theo hướng ngày càng mở rộng mâu thuẫn. Nhà văn thường bắt đầu từ một tình huống đời thường, sau đó để nhân vật trò chuyện, hành động và bộc lộ bản chất; các chi tiết tiếp theo được đưa vào đúng lúc để đẩy tình huống tới một điểm nút.

Trong Chiếc xe tang, chẳng hạn, câu chuyện bắt đầu bằng việc một chiếc xe tang cũ được đưa ra sửa chữa để phục vụ đám tang. Từ công việc tưởng như rất cụ thể ấy, các nhân vật lần lượt xuất hiện, đối thoại và bộc lộ những tính cách khác nhau. Người thợ sửa xe Thanh vừa kiểm tra kỹ thuật, vừa thao thao giảng giải về chiếc xe; các cán bộ đi cùng đưa ra những yêu cầu rất đời thường, thậm chí trớ trêu. Những sự việc nối tiếp nhau theo thời gian thực của cuộc kiểm tra, tạo nên một nhịp kể nhanh, linh hoạt và giàu chất hài.

Cách kể tuyến tính ở đây có một ưu điểm: người đọc được đặt ngay vào tình huống. Nhà văn chẳng cần một phần dẫn nhập dài. Sự việc tự vận động qua đối thoại và hành động. Mỗi nhân vật xuất hiện đều mang theo một nét tính cách; mỗi câu nói lại tạo ra một tình huống mới. Nhịp kể vì thế gần với nhịp của một màn kịch hoặc một hoạt cảnh đời sống.

Lật tẩy cũng được tổ chức theo kiểu tăng tiến như vậy. Nhân vật bước vào một tình huống nguy hiểm; những hành động liên tiếp đẩy hắn tới thời điểm bị bắt quả tang; sau đó câu chuyện chuyển sang dư luận của người dân thị xã. Đặc biệt, việc chuyển từ hành động của nhân vật sang lời bàn của cộng đồng tạo nên một nhịp kết thúc khá nhanh, đồng thời mở rộng ý nghĩa của câu chuyện từ một vụ việc cá nhân thành một nhận định về bộ mặt thật của con người.

Những trường hợp này cho thấy Nguyễn Nhuận Hồng Phương có khả năng sử dụng thời gian tuyến tính như một phương tiện tạo kịch tính. Khi câu chuyện được kể theo trình tự trước – sau, người đọc dễ dàng theo dõi diễn biến và chờ đợi kết quả. Tuy nhiên, giá trị của cách kể chẳng nằm ở việc đơn giản hóa thời gian. Điều đáng chú ý là nhà văn biết lựa chọn điểm dừng và điểm nhấn, để một chuỗi sự việc bình thường dần tích tụ thành một ý nghĩa xã hội hoặc một phát hiện về nhân cách.

2.2. 2. Đảo chiều thời gian – khi quá khứ trở thành chìa khóa của hiện tại

Nếu thời gian tuyến tính giúp tạo nên dòng chảy sự kiện thì đảo chiều thời gian giúp tạo chiều sâu cho số phận. Đây là phương thức xuất hiện khá thường xuyên trong truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương.

Nhà văn nhiều lần bắt đầu từ một nhân vật ở hiện tại rồi bất ngờ đưa người đọc trở lại quá khứ. Một cuộc gặp, một câu hỏi, một đồ vật, một địa danh hoặc một kỷ niệm có thể trở thành "cái chốt" mở cánh cửa thời gian. Quá khứ vì thế chẳng đứng yên phía sau hiện tại; nó luôn có khả năng trở lại và chi phối hiện tại.

Vẹt góc đồi thông là một ví dụ rõ nét. Hiện tại chỉ là điểm xuất phát của câu chuyện: Kiên trở về sau mười lăm năm, gặp lại Hòa. Nhưng từ cuộc gặp ấy, câu chuyện quay về tuổi thơ, về Tân, về đồi thông, về chiếc chong chóng và mối tình đầu. Đến cuối truyện, khi Kiên rời đi, hình ảnh đồi thông lại trở thành điểm kết nối với ký ức cũ. Như vậy, thời gian tạo thành một vòng tròn: hiện tại gọi quá khứ về, quá khứ soi sáng hiện tại, rồi hiện tại lại trả nhân vật về với ký ức.

Điều đáng nói là quá khứ trong kiểu trần thuật này thường được giữ lại như một phần của hiện tại. Nhân vật chẳng đơn thuần "nhớ lại"; họ sống lại những gì đã qua. Một mối tình tuổi trẻ có thể trở về với đầy đủ cảm giác ghen tuông, đau đớn, ân hận. Một người bạn cũ có thể khiến cả một vùng ký ức sống dậy. Vì vậy, thời gian lịch sử và thời gian tâm lý có sự chồng lấn.

Truyện viết ở Đầm Cò cũng được tổ chức từ hiện tại trở về quá khứ. Người kể gặp Tùng sau nhiều năm xa cách; sự thay đổi của Tùng trong hiện tại trở thành câu hỏi khiến người kể muốn biết chuyện gì đã xảy ra. Quá khứ lần lượt được Tùng kể lại: Người cha, đàn cò, tình yêu, cái chết của người anh, những năm tù tội. Quá khứ vì thế chẳng phải phần phụ của câu chuyện; nó chính là căn nguyên tạo nên con người Tùng ở hiện tại.

Cách tổ chức ấy cho phép Nguyễn Nhuận Hồng Phương tránh một kiểu giới thiệu nhân vật trực tiếp. Nhà văn chẳng cần nói ngay Tùng là người như thế nào. Người đọc đi cùng nhân vật kể chuyện, từng bước phát hiện. Mỗi lớp quá khứ được mở ra lại làm thay đổi cách nhìn về nhân vật hiện tại.

Đặc biệt, ở những truyện gắn với chiến tranh, phương thức đảo chiều thời gian còn có ý nghĩa tái hiện ký ức thế hệ. Tháng ngày chưa xa chẳng kể chiến tranh từ một điểm nhìn hoàn toàn thuộc về quá khứ. Hiện tại của người kể trở thành điểm tựa để quá khứ chiến trường trở về. Khi Thành kể lại trận mở màn chiến dịch Đường 9 – Nam Lào, những địa danh, âm thanh, ánh sáng, những cuộc hành quân và những người đồng đội hiện lên với sức nóng của trải nghiệm.

Ở đây có thể nói tới một đặc điểm đáng chú ý: Nguyễn Nhuận Hồng Phương thường hiện tại hóa quá khứ. Quá khứ được kể bằng một tâm thế khiến người đọc cảm thấy nó vẫn còn sống. Đây là lý do những truyện viết về chiến tranh của ông có thể vượt khỏi phạm vi ghi chép lịch sử để trở thành những câu chuyện về ký ức và tình cảm con người.

2.2. 3. Đồng hiện thời gian – nhiều lớp đời sống cùng tồn tại

Một bước phát triển đáng chú ý trong nghệ thuật tổ chức thời gian của Nguyễn Nhuận Hồng Phương là đồng hiện. Nếu hồi cố đưa người đọc từ hiện tại về quá khứ thì đồng hiện làm cho nhiều lớp thời gian cùng xuất hiện trong một trường trần thuật. Quá khứ, hiện tại và những dự cảm về tương lai có thể cùng tồn tại trong ý thức nhân vật.

Kiểu tổ chức này đặc biệt phù hợp với những câu chuyện về ký ức, chiến tranh, tình yêu và những số phận chịu tác động lâu dài của lịch sử. Trong đó, thời gian chẳng còn là một đường thẳng. Nó trở thành một mạng lưới, nơi một khoảnh khắc hiện tại có thể chứa nhiều năm tháng của đời người.

Vẹt góc đồi thông có thể được đọc theo hướng này. Khi Kiên nhìn Hòa ở hiện tại, người đọc đồng thời nhìn thấy cô bé Hòa của tuổi mười sáu. Khi nhìn đồi thông, Kiên nhìn thấy cả cảnh vật hiện tại lẫn đồi thông của những năm tháng tuổi thơ. Khi nghe hoặc nhớ đến Tân, người bạn hiện tại trong tù và người bạn trẻ tuổi năm nào cùng xuất hiện trong ý thức. Thời gian vì thế được tâm lý hóa.

Đây là một phương thức có khả năng làm cho những câu chuyện tình yêu của Nguyễn Nhuận Hồng Phương mang thêm chiều sâu. Tình yêu trong quá khứ chẳng mất đi khi thời gian trôi qua; nó tiếp tục tồn tại dưới dạng ký ức. Một nhân vật có thể đã lập gia đình, có địa vị, có cuộc sống mới, nhưng chỉ một cuộc gặp lại cũng đủ khiến một tình cảm cũ trở về.

Trong Bức kí họa tình yêu, chẳng hạn, một bức ký họa được giữ lại hơn bốn mươi năm trở thành vật thể mang thời gian. Người kể nhìn bức tranh ở hiện tại nhưng đồng thời nhìn thấy hai con người của hơn bốn mươi năm trước trong một đêm vùng biên. Kỷ vật vì thế làm nhiệm vụ nối hai thời điểm xa cách. Một bức tranh nhỏ có thể chứa cả một câu chuyện tình yêu, một cuộc chia lìa và một đời chờ đợi.

Ở phương diện này, đồ vật trong truyện Nguyễn Nhuận Hồng Phương nhiều khi trở thành "vật dẫn thời gian". Nó giúp quá khứ trở về mà chẳng cần một lời giải thích dài. Một bức ký họa, một chiếc chong chóng, một món quà, một địa danh hay một căn nhà đều có thể đánh thức một miền ký ức.

Đồng hiện thời gian vì thế tạo ra một hiệu quả đặc biệt: đời người được nhìn trong tính liên tục của nó. Con người hôm nay luôn có bóng dáng của con người hôm qua. Những lựa chọn hiện tại có thể bắt nguồn từ những tổn thương rất xa. Một niềm vui hôm nay có thể là sự hoàn thành của một ước nguyện đã được gieo từ nhiều năm trước.

2.2. 4. Nhịp điệu trần thuật – lúc dồn dập, lúc lắng sâu

Tổ chức thời gian trong truyện Nguyễn Nhuận Hồng Phương còn thể hiện ở nhịp độ kể chuyện. Nhà văn có khả năng chuyển đổi khá linh hoạt giữa những đoạn kể nhanh và những đoạn kể chậm, giữa chuỗi hành động dồn dập và những khoảnh khắc được kéo dài để nhân vật suy nghĩ, nhớ lại hoặc đối diện với một cảm xúc mạnh.

Trong những truyện giàu tính trào phúng như Cỏ mật, nhịp kể thường được đẩy nhanh bằng đối thoại. Những câu nói ngắn, liên tiếp tạo cảm giác như một màn kịch. Lão khọm và Nhạc sĩ trao đổi về việc "sáng tác" một làn điệu dân ca; những lời đối đáp liên tục khiến tình huống ngày càng lộ rõ tính phi lý. Ở đây, thời gian trần thuật gần với thời gian của hành động và lời thoại, tạo ra sức bật cho tiếng cười.

Ngược lại, trong những truyện thiên về tâm lý và hồi ức, nhà văn thường làm chậm thời gian. Một ánh mắt, một cử chỉ, một món đồ, một câu nói có thể được quan sát kỹ. Trong Niềm tin của Mẹ, chẳng hạn, khoảnh khắc người kể cúi xuống tìm chiếc kim và nghe lời người mẹ được kéo dài thành một điểm dừng cảm xúc. Thời gian vật lý của hành động rất ngắn, nhưng thời gian tâm lý lại mở rộng. Chính khoảng dừng ấy tạo nên sự thức tỉnh của người kể.

Đây là một nguyên tắc quan trọng của nghệ thuật truyện ngắn: thời gian được kéo dài ở nơi có ý nghĩa. Nguyễn Nhuận Hồng Phương chẳng dành dung lượng ngang nhau cho mọi sự kiện. Những gì mang tính thông tin có thể được kể nhanh; những gì liên quan đến tình cảm, ký ức hoặc sự lựa chọn đạo đức thường được kể chậm hơn.

Có thể thấy điều này khá rõ trong Phòng chờ.. 12 mét vuông. Những người trong phòng chờ xuất hiện liên tiếp, mỗi người mang một câu chuyện, khiến nhịp kể có lúc nhanh như một chuỗi quan sát. Nhưng khi người kể trở về với câu chuyện tình yêu và căn bệnh của mình, nhịp kể chậm lại, nhiều đoạn suy tư xuất hiện. Sự thay đổi nhịp độ giúp truyện chuyển từ màu sắc thế sự, hài hước sang sắc thái trữ tình và tự vấn.

Như vậy, nhịp độ trần thuật cũng chính là một phương tiện biểu hiện thái độ của nhà văn đối với đời sống. Những điều đáng cười được kể nhanh, linh hoạt, nhiều đối thoại; những nỗi đau cần được thấu hiểu được kể chậm, giàu khoảng lặng; những ký ức cần được lưu giữ được mở rộng thành những đoạn hồi tưởng.

Từ đó có thể thấy, thời gian trong truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương chẳng phải một chiếc khung cố định để chứa câu chuyện. Nó là một thành phần tích cực của nghệ thuật tự sự. Nhà văn có thể làm thời gian chạy nhanh để tạo tiếng cười, dồn dập để tạo kịch tính, chậm lại để khám phá tâm lý, quay ngược để tìm căn nguyên số phận và đồng hiện để làm cho quá khứ tiếp tục sống trong hiện tại.

Nhìn tổng thể, nghệ thuật tổ chức thời gian trong truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương có thể khái quát qua ba đặc điểm: tính linh hoạt của trật tự kể, tính tâm lý của thời gian và khả năng đồng hiện giữa các lớp đời sống. Nhà văn kể thời gian của sự kiện, nhưng sâu hơn là kể thời gian của con người. Chính vì thế, một câu chuyện ngắn có thể chứa cả một đời người; một cuộc gặp trong hiện tại có thể mở ra hàng chục năm quá khứ; một kỷ vật nhỏ có thể mang sức nặng của cả một thời đại.

Ở phương diện này, có thể nhận thấy sự thống nhất giữa thời gian nghệ thuật và quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Nhuận Hồng Phương: Con người của ông luôn sống trong nhiều tầng thời gian. Họ có hiện tại để tồn tại, có quá khứ để nhớ, có những vết thương để mang theo và có những hy vọng để hướng tới. Vì vậy, kể về một con người cũng đồng nghĩa với việc lần theo những lớp thời gian đã làm nên con người ấy. Đây chính là một trong những yếu tố tạo nên chiều sâu cho thế giới truyện ngắn của Nguyễn Nhuận Hồng Phương.

2.3. Nghệ thuật tổ chức không gian

Không gian nghệ thuật là một phương diện quan trọng góp phần tạo nên diện mạo riêng của truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương. Trong sáng tác của ông, không gian hiếm khi chỉ giữ chức năng làm nền cho sự kiện. Một làng quê, một dòng sông, một đồi thông, một căn phòng, một phòng chờ, một công sở hay một quán nhỏ đều có thể trở thành nơi quy tụ những mối quan hệ xã hội và những trạng thái tâm lý khác nhau. Không gian vì thế vừa mang tính địa lý, vừa mang tính xã hội, vừa mang tính tâm lý.

Điều đáng chú ý là nhà văn thường bắt đầu từ những không gian rất gần với đời sống thực. Đó là những địa danh, làng xóm, thị xã, công sở, căn nhà, quán xá mà người đọc dễ dàng nhận ra hơi thở đời thường. Từ cái cụ thể ấy, không gian được mở rộng thành một "trường nhìn" để nhà văn quan sát con người. Có khi một không gian rộng lớn chỉ làm nền cho một câu chuyện riêng tư; có khi một căn phòng chật hẹp lại chứa đựng cả một thế giới xã hội. Đặc biệt, không gian trong truyện Nguyễn Nhuận Hồng Phương thường có khả năng đối thoại với nhân vật: Cảnh vật thay đổi cùng cảm xúc, địa điểm gợi ký ức, còn những không gian xã hội lại làm lộ ra các quan hệ quyền lực và những nghịch lý của đời sống.

2.3. 1. Không gian quê hương – nơi lưu giữ ký ức và căn cước

Không gian quê hương xuất hiện với tần suất đáng kể trong truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương. Đó là thị xã, làng quê, đồi, sông, ao, ruộng, đình, đầm.. Những địa điểm ấy tạo nên một thế giới quen thuộc, gần gũi với kinh nghiệm sống của nhà văn và nhiều thế hệ độc giả. Nhưng phía sau vẻ bình dị của cảnh vật là một lớp ý nghĩa sâu hơn: quê hương là nơi lưu giữ ký ức và căn cước của con người.

Trong Vẹt góc đồi thông, đồi thông chẳng chỉ là địa điểm diễn ra những kỷ niệm tuổi thơ của Kiên, Hòa và Tân. Nó trở thành một không gian ký ức. Những trò chơi trẻ nhỏ, những chiếc chong chóng, tiếng kèn lá dứa, những rung động đầu đời đều gắn với đồi thông. Khi Kiên trở lại sau nhiều năm, cảnh vật hiện tại lập tức gọi về một thế giới đã xa. Đồi thông vì thế mang trong mình hai lớp thời gian: Đồi thông của hiện tại và đồi thông của tuổi thơ.

Đến cuối truyện, khi Kiên rời thị xã, hình ảnh đồi thông lại xuất hiện trong ánh nhìn của người ra đi. Cảnh vật lúc này chẳng còn đơn thuần là thiên nhiên. Nó trở thành biểu tượng của một miền đời đã mất, nơi lưu giữ tình bạn, tình yêu, những lỗi lầm và cả những điều chẳng thể quay lại. Không gian quê hương vì vậy trở thành không gian của hoài niệm.

Một kiểu không gian khác được khai thác khá rõ trong Truyện viết ở Đầm Cò. Đầm Cò trước hết là một vùng đất cụ thể, gắn với cuộc sống và công việc của Tùng. Nhưng càng đi sâu vào câu chuyện, người đọc càng nhận ra đây là không gian chứa đựng lịch sử gia đình và những ký ức đau đớn của nhân vật. Đàn cò, đầm nước, ngôi nhà và khu đất gắn với người cha đã trở thành những dấu hiệu nhận diện cuộc đời Tùng. Quá khứ của gia đình được giữ lại trong chính không gian ấy.

Bởi vậy, khi Tùng quyết định ở lại Đầm Cò, lựa chọn ấy chẳng đơn thuần là lựa chọn về nghề nghiệp hay nơi ở. Nó còn là một lựa chọn mang tính căn cước. Anh giữ lấy mảnh đất như giữ một phần ký ức của gia đình, giữ lấy những gì còn lại sau những biến cố đã làm thay đổi cuộc đời mình.

Trong Sông có khúc.., không gian quê hương lại gắn với dòng sông, làng xóm và những con đường của tuổi thơ. Cảnh vật địa phương trở thành nền cho tình bạn, tình yêu và những biến động số phận. Dòng sông trong nhan đề đã mang một ý nghĩa biểu tượng: đời người cũng giống như dòng sông, có những đoạn êm đềm, có những khúc quanh, những ghềnh thác và những đổi thay khó đoán định.

Không gian quê hương trong các truyện vì thế thường mang hai chức năng song song. Một mặt, nó tạo ra tính chân thực địa phương cho tác phẩm. Mặt khác, nó trở thành không gian tinh thần, nơi con người tìm thấy nguồn gốc, ký ức và những điều làm nên bản sắc của mình.

Đáng chú ý, Nguyễn Nhuận Hồng Phương thường để nhân vật trở về với quê hương sau một khoảng cách thời gian. Chính khoảng cách ấy làm thay đổi ý nghĩa của không gian. Một nơi từng rất bình thường trong tuổi thơ có thể trở nên thiêng liêng khi nhân vật đã trưởng thành. Một con đường, một dòng sông, một ngọn đồi có thể trở thành nơi neo đậu của ký ức. Không gian vì thế được "tâm lý hóa" qua cái nhìn của nhân vật.

Có thể nói, quê hương trong truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương là không gian của sự trở về. Con người trở về với nơi chốn để nhận ra mình, đồng thời trở về với chính quá khứ của mình.

2.3. 2. Không gian đô thị và công sở – nơi phơi bày những quan hệ xã hội

Nếu không gian quê hương thường gắn với ký ức và tình cảm thì không gian đô thị, công sở trong truyện Nguyễn Nhuận Hồng Phương lại thường gắn với quyền lực, tiền bạc, chức vụ và những quan hệ xã hội phức tạp.

Thị xã trong sáng tác của ông là một không gian đang vận động. Nó chẳng còn là làng quê thuần túy, nhưng cũng chưa hoàn toàn trở thành đô thị hiện đại. Trong quá trình chuyển đổi ấy, nhiều giá trị cũ và mới va chạm với nhau. Con người vừa giữ những quan hệ tình cảm, đạo lý truyền thống, vừa chịu tác động của tiền bạc, địa vị và lợi ích.

Ở những truyện như Sự đời, Nó không phải là con tôi, Ông Hà, Nước mắt xóm liều, không gian xã hội thường được tổ chức xoay quanh các mối quan hệ giữa người với người. Công sở, cơ quan, nơi làm việc hay những cuộc gặp gỡ trong đời sống hành chính trở thành nơi con người bộc lộ thái độ đối với quyền lực và lợi ích.

Điều đáng chú ý là nhà văn thường chẳng cần xây dựng những không gian quyền lực quá lớn. Một căn phòng làm việc, một cuộc họp, một cuộc gặp, một chuyến xe hay một cuộc trò chuyện cũng đủ làm hiện lên cả một mạng lưới quan hệ xã hội. Không gian vật chất càng cụ thể thì không gian quyền lực phía sau càng được nhận diện rõ.

Trong những truyện mang màu sắc trào phúng, không gian công sở còn là nơi phát huy hiệu quả của tiếng cười. Con người có thể thay đổi cách nói, cách ứng xử tùy theo vị trí của người đối diện. Chức vụ trở thành một thứ "khoảng cách" vô hình. Người có quyền được săn đón; người mất quyền có thể bị lãng quên. Những thay đổi ấy cho thấy nhà văn quan tâm đến một vấn đề khá sâu: quyền lực có thể làm biến đổi quan hệ giữa người với người như thế nào.

Ở phương diện này, không gian đô thị trong truyện Nguyễn Nhuận Hồng Phương mang tính xã hội rõ nét. Nó phản ánh một đời sống đang thay đổi, nơi những giá trị truyền thống phải đối diện với cơ chế mới của đồng tiền, chức vụ và lợi ích. Nhân vật bước vào không gian ấy cũng đồng thời bước vào một cuộc thử thách về nhân cách.

Không gian đô thị vì vậy thường tạo nên sự đối lập với không gian quê hương. Một bên là ký ức, tình thân và nguồn cội; một bên là cạnh tranh, lợi ích và những quan hệ xã hội phức tạp. Nhưng hai không gian ấy chẳng tách biệt hoàn toàn. Nhân vật thường di chuyển giữa chúng, và chính sự di chuyển ấy làm nổi bật những biến đổi trong tâm thế con người.

2.3. 3. Không gian khép kín – một căn phòng nhỏ, một xã hội rộng lớn

Một trong những phương thức tổ chức không gian đáng chú ý nhất trong truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương là việc sử dụng không gian khép kín: Phòng chờ, căn phòng, ngôi nhà, quán, trại, xe.. Đây là những không gian có diện tích vật chất tương đối hẹp, nhưng lại có khả năng chứa đựng một thế giới xã hội rộng lớn.

Phòng chờ.. 12 mét vuông là trường hợp tiêu biểu. Căn phòng chỉ khoảng mười hai mét vuông, song trong đó có nhiều con người với những câu chuyện hoàn toàn khác nhau. Người kể chuyện bước vào căn phòng và quan sát từng người, từng nhóm người, từng cuộc trò chuyện. Từ không gian nhỏ ấy, những câu chuyện về gia đình, tình yêu, bệnh tật, tù tội, danh dự và thân phận lần lượt được mở ra.

Cái hay của cách tổ chức này nằm ở sự tương phản giữa kích thước vật chất và dung lượng đời sống. Không gian càng hẹp, sự va chạm giữa các nhân vật càng trực tiếp. Họ nghe thấy nhau, nhìn thấy nhau, buộc phải ngồi gần nhau. Những khoảng cách xã hội bên ngoài tạm thời bị thu hẹp, để rồi trong những câu chuyện và thái độ ứng xử, chúng lại hiện ra theo một hình thức khác.

Căn phòng chờ vì thế có thể được xem như một mô hình xã hội thu nhỏ. Người đọc nhìn thấy trong đó nhiều kiểu người, nhiều hoàn cảnh, nhiều quan niệm về đời sống. Một người đang chờ khám, một người chờ kết quả, một người chờ gặp người thân.. Tất cả cùng ngồi trong một không gian, nhưng mỗi người mang theo một thế giới riêng.

Từ góc độ thi pháp, đây là cách tổ chức không gian có hiệu quả cao đối với truyện ngắn. Nhà văn chẳng cần mở rộng bối cảnh địa lý. Ông thu nhỏ không gian vật chất để mở rộng không gian xã hội. Chính sự giới hạn ấy tạo điều kiện cho đối thoại, quan sát và phát hiện nhân vật.

Không gian khép kín còn xuất hiện dưới nhiều hình thức khác. Một chiếc xe có thể trở thành nơi những người xa lạ ngồi cạnh nhau và buộc phải trò chuyện. Một quán nhỏ có thể là nơi những quan hệ tưởng như riêng tư bất ngờ được phơi bày. Một căn nhà có thể trở thành nơi ký ức gia đình và những xung đột âm thầm tích tụ. Một trại cải tạo có thể trở thành nơi người ở bên ngoài nhìn lại những người đã phạm lỗi và đồng thời nhìn lại chính những định kiến của mình.

Trong những không gian ấy, cửa, tường, ghế, bàn, cửa sổ, hành lang nhiều khi trở thành những ranh giới có ý nghĩa biểu tượng. Chúng phân chia trong – ngoài, người này – người kia, quá khứ – hiện tại, tự do – giam hãm. Nhưng đồng thời, chính những ranh giới ấy cũng tạo ra cơ hội quan sát và giao tiếp.

Không gian khép kín vì thế thường tạo ra một hiệu ứng đặc biệt: càng ít chỗ để đi, con người càng phải đối diện với nhau. Và khi đối diện, bản chất con người dễ được bộc lộ hơn.

2.3. 4. Không gian thiên nhiên như không gian tâm trạng

Bên cạnh chức năng định vị địa lý, thiên nhiên trong truyện Nguyễn Nhuận Hồng Phương còn có khả năng cộng hưởng với trạng thái tâm lý của nhân vật. Đồi, sông, đầm, mùa, gió, mưa, ánh sáng.. Nhiều khi chẳng chỉ là phông nền. Chúng tham dự vào cảm xúc, tạo nên sắc thái cho câu chuyện và góp phần biểu hiện thế giới bên trong của con người.

Vẹt góc đồi thông là một ví dụ tiêu biểu. Đồi thông gắn với tuổi thơ và tình yêu đầu đời của Kiên. Khi tâm trạng nhân vật thay đổi, ý nghĩa của đồi thông cũng thay đổi. Có lúc đó là nơi của trò chơi trẻ nhỏ; có lúc là nơi của tình yêu; có lúc lại trở thành nơi lưu giữ sự ghen tuông và ân hận. Đồi thông vì thế được "nội tâm hóa" : cảnh vật mang theo tâm trạng của người nhìn cảnh.

Trong Truyện viết ở Đầm Cò, thiên nhiên lại có sắc thái khác. Đầm nước, đàn cò, những khoảng không gian rộng và yên tĩnh gắn với đời sống Tùng. Đàn cò chẳng chỉ là đối tượng lao động hay một phần của cảnh vật. Nó gắn với người cha, với ký ức gia đình và với lựa chọn sống của Tùng. Thiên nhiên trở thành nơi nhân vật tìm thấy sự cân bằng sau những biến động của đời mình.

Trong Tháng ngày chưa xa, thiên nhiên chiến trường lại mang màu sắc dữ dội. Rừng, núi, sông, ánh sáng và bóng tối cùng tham gia vào việc tái hiện không khí chiến tranh. Không gian tự nhiên ở đây vừa rộng lớn vừa hiểm nguy, vừa là nơi thử thách sự sống vừa là nơi lưu giữ ký ức về những người đã hy sinh.

Có thể nhận thấy một quy luật khá rõ: khi nhân vật bình yên, thiên nhiên thường trở thành nơi trú ngụ của ký ức; khi nhân vật đau đớn, thiên nhiên dễ mang màu sắc u buồn; khi nhân vật đối diện với biến cố, không gian tự nhiên có thể trở nên dữ dội và căng thẳng.

Điều này tạo nên một hình thức tương tác giữa ngoại cảnh và nội tâm. Cảnh vật chẳng nói thay nhân vật, nhưng giúp người đọc cảm nhận trạng thái của nhân vật bằng một con đường khác. Một buổi chiều, một dòng sông, một cơn gió, một ngọn đồi hay một khoảng trời có thể làm cho cảm xúc trở nên cụ thể hơn.

Ở đây, Nguyễn Nhuận Hồng Phương vẫn giữ được một đặc điểm quen thuộc trong văn chương trữ tình: cảnh có khả năng lưu giữ người. Nhân vật có thể rời khỏi một nơi, nhưng tâm hồn họ vẫn ở lại trong cảnh vật. Họ có thể quên một sự việc, nhưng một địa danh có thể nhắc họ nhớ. Vì vậy, không gian thiên nhiên vừa là nơi chốn vừa là ký ức.

Từ bốn phương diện trên, có thể thấy nghệ thuật tổ chức không gian trong truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương vận động giữa không gian địa lý, không gian xã hội và không gian tâm lý. Không gian quê hương lưu giữ căn cước; không gian đô thị và công sở phơi bày những quan hệ xã hội; không gian khép kín tạo ra sự va chạm giữa các số phận; còn không gian thiên nhiên cộng hưởng với đời sống nội tâm.

Đáng chú ý nhất là khả năng chuyển hóa không gian vật chất thành không gian tinh thần. Một đồi thông có thể trở thành tuổi thơ. Một dòng sông có thể trở thành số phận. Một đầm nước có thể trở thành ký ức gia đình. Một căn phòng mười hai mét vuông có thể chứa cả một xã hội. Một chiếc xe có thể trở thành nơi những con người xa lạ gặp nhau và để lộ những góc khuất của đời sống.

Chính ở đây, nghệ thuật không gian gặp gỡ nghệ thuật thời gian và nghệ thuật nhân vật. Không gian giữ ký ức; thời gian đánh thức không gian; còn con người trao cho không gian ý nghĩa. Sự đan xen ấy góp phần tạo nên một thế giới truyện ngắn giàu tính đời sống nhưng cũng giàu khả năng gợi mở, nơi mỗi địa điểm đều có thể trở thành một "nhân chứng" thầm lặng của số phận con người.

2.4. Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện

Nếu người kể chuyện, điểm nhìn, thời gian và không gian tạo nên hình thức vận động của câu chuyện, thì tình huống truyện chính là nơi các yếu tố ấy gặp nhau và phát huy hiệu quả. Với truyện ngắn, đây là một phương diện đặc biệt quan trọng, bởi dung lượng thể loại đòi hỏi nhà văn phải lựa chọn một lát cắt đời sống đủ sức chứa đựng cả câu chuyện. Một tình huống thành công có thể khiến nhân vật bộc lộ tính cách, quá khứ được mở ra, các quan hệ xã hội va chạm và tư tưởng tác phẩm dần hình thành.

Qua hệ thống truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương, có thể nhận thấy nhà văn khá có ý thức trong việc tìm kiếm những tình huống đời thường nhưng có khả năng làm lộ bản chất con người. Ông ít khi dựa hoàn toàn vào những biến cố quá đặc biệt. Một cuộc gặp lại, một chuyến trở về, một cuộc trò chuyện, một cuộc chờ đợi, một món đồ được tìm thấy, một thông tin bất ngờ hoặc một sự việc tưởng như nhỏ bé đều có thể trở thành điểm nút của câu chuyện.

Đáng chú ý hơn, tình huống trong truyện của ông thường có tính mở. Nó bắt đầu từ một sự việc cụ thể nhưng dẫn tới nhiều tầng ý nghĩa: Từ chuyện riêng sang chuyện đời, từ cá nhân sang cộng đồng, từ hiện tại sang quá khứ, từ một hành động nhỏ đến một câu hỏi đạo đức. Đây là yếu tố giúp truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương vừa có tính kể chuyện vừa có khả năng suy tưởng.

2.4. 1. Tình huống gặp gỡ – từ một cuộc gặp mở ra một đời người

Một dạng tình huống xuất hiện khá thường xuyên trong truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương là tình huống gặp gỡ. Nhân vật gặp lại một người cũ, tình cờ gặp một người xa lạ, trở về quê và gặp lại cảnh cũ, hoặc vô tình chứng kiến một sự việc. Bản thân cuộc gặp có thể rất bình thường, nhưng nó trở thành "cái cớ" để câu chuyện mở rộng.

Vẹt góc đồi thông là một ví dụ điển hình. Kiên trở về sau mười lăm năm và gặp lại Hòa. Chỉ từ cuộc gặp ấy, một quá khứ dài được mở ra: Tuổi thơ, tình bạn, tình yêu, Tân, những hiểu lầm, những tổn thương và cả những biến cố làm thay đổi số phận các nhân vật.

Điều đáng nói là nhà văn chẳng kể ngay toàn bộ quá khứ. Cuộc gặp hiện tại tạo ra một khoảng trống thông tin. Hòa chỉ nói: "Tân đi trại rồi", rồi lập tức sửa lại: "Trại tù!". Chỉ một thông tin ngắn đã làm thay đổi hoàn toàn cách Kiên nhìn người bạn cũ. Người đọc cũng bị cuốn vào câu hỏi: Điều gì đã xảy ra trong mười lăm năm ấy?

Từ đây, tình huống gặp gỡ trở thành tình huống phát hiện. Hai kiểu tình huống nối liền nhau, tạo thành động lực trần thuật. Cuộc gặp không phải đích đến của câu chuyện; nó là cánh cửa mở vào quá khứ.

Cấu trúc ấy còn xuất hiện trong Truyện viết ở Đầm Cò. Người kể chuyện gặp lại Tùng sau một thời gian dài. Tùng của hiện tại đã khác xa người bạn trong ký ức. Chính sự khác biệt ấy làm nảy sinh nhu cầu tìm hiểu: Điều gì đã biến một chàng sinh viên thành con người của Đầm Cò? Câu chuyện về người cha, đàn cò, gia đình và những biến cố đau đớn lần lượt được kể lại. Như vậy, một cuộc gặp hiện tại chứa đựng một đời người phía sau.

Phòng chờ.. 12 mét vuông lại sử dụng một kiểu gặp gỡ khác. Nhân vật "tôi" bước vào một căn phòng nhỏ và gặp những người hoàn toàn xa lạ. Người kể quan sát họ, nghe họ trò chuyện, rồi từ những mẩu đối thoại ấy phát hiện ra những câu chuyện riêng. Tình huống ở đây tạo thành một mô hình thu nhỏ của xã hội: Những người chẳng quen biết nhau vô tình ngồi cạnh nhau trong một khoảng thời gian, và mỗi người mang theo một số phận.

Có thể nói, Nguyễn Nhuận Hồng Phương thường biến cuộc gặp thành một cơ chế khám phá con người. Nhân vật được đặt cạnh một người khác, trước một cảnh huống khác, và chính sự va chạm ấy làm hiện ra những điều vốn bị che khuất.

2.4. 2. Tình huống phát hiện – một thông tin làm thay đổi cách nhìn

Nếu tình huống gặp gỡ tạo cơ hội cho câu chuyện bắt đầu thì tình huống phát hiện thường tạo ra bước ngoặt. Một thông tin mới xuất hiện khiến nhân vật hoặc người kể phải nhìn lại những gì mình từng tin tưởng. Có khi đó là sự thật về một con người; có khi là sự thật về quá khứ; cũng có khi là sự thật mà chính nhân vật từng cố che giấu.

Trong Vẹt góc đồi thông, tình huống phát hiện được xây dựng theo từng lớp. Ban đầu, Kiên chỉ biết Tân đang ở "trại". Sau đó, anh biết đó là trại tù; tiếp đến mới biết những sai phạm của Tân và những biến cố trong gia đình Hòa. Càng phát hiện, cách nhìn của Kiên về quá khứ càng thay đổi.

Một trong những phát hiện có ý nghĩa nhất là việc Hòa kể cho Kiên biết đứa con của Tân vẫn ở với mình. Hòa đã lựa chọn chăm sóc đứa trẻ dù Tân đang ở tù. Khi Kiên hỏi vì sao cô chẳng ly dị, Hòa trả lời bằng một quan niệm đầy tình người: Đứa trẻ chẳng có lỗi, tình yêu thương chẳng có tội.

Tình huống phát hiện ở đây vì thế chẳng chỉ nhằm cung cấp thông tin. Nó đảo chiều cách đánh giá nhân vật. Hòa từ một cô gái mà Kiên từng yêu trở thành một người phụ nữ có sức chịu đựng và lòng nhân hậu sâu sắc. Đồng thời, chính Kiên cũng phải nhìn lại mình.

Bức kí họa tình yêu sử dụng tình huống phát hiện theo một hướng giàu chất trữ tình hơn. Sau hơn bốn mươi năm, nhân vật "tôi" nhận lại bức ký họa từ người con của Bích Vân. Bức tranh trở thành bằng chứng cho một tình yêu mà người kể từng tưởng đã mất. Người kể biết rằng bức thư mình gửi năm xưa chẳng đến tay Bích Vân; từ sự hiểu lầm ấy, cô đã lựa chọn một con đường khác trong đời.

Chỉ một bức tranh đã làm thay đổi nhận thức về quá khứ. Điều từng được hiểu là phụ bạc hóa ra lại bắt nguồn từ một sự cố ngoài ý muốn. Tình huống phát hiện vì thế mang màu sắc của sự giải oan cho ký ức.

Niềm tin của Mẹ, phát hiện lại xuất hiện trong một hình thức cực kỳ giản dị. Người kể đang khuyên mẹ Toàn đừng tiếp tục đi tìm người con đã hy sinh. Đúng lúc ấy, chiếc kim thùa cúc áo rơi xuống. Người kể cúi xuống tìm mãi mới thấy. Người mẹ nhìn hành động ấy rồi nói: "Nhỏ như cái kim, đáng gì tiền mà mày còn đi tìm.. Huống chi là con tao..".

Câu nói ấy là một phát hiện tâm lý. Người kể bất chợt hiểu điều mà trước đó anh chưa hiểu hết: Niềm tin của người mẹ chẳng phải sự cố chấp đơn thuần, mà là tình mẫu tử đang cố giữ lại hình bóng người con. Phát hiện ấy dẫn tới sự thay đổi trong thái độ của người kể: Từ thương cảm sang thấu hiểu, từ khuyên nhủ sang ôm lấy người mẹ và xin lỗi.

Có thể thấy, tình huống phát hiện trong truyện Nguyễn Nhuận Hồng Phương thường hướng tới một sự thay đổi nhận thức. Người đọc tưởng mình đã hiểu một nhân vật, rồi một chi tiết xuất hiện và buộc phải nhìn lại. Chính kỹ thuật này tạo nên sức hấp dẫn cho nhiều truyện ngắn của ông.

2.4. 3. Tình huống nghịch lý – cơ sở của tiếng cười trào phúng

Một phương diện nổi bật trong nghệ thuật xây dựng tình huống của Nguyễn Nhuận Hồng Phương là tình huống nghịch lý. Đây là cơ sở quan trọng tạo nên chất trào phúng trong nhiều truyện ngắn của ông.

Nghịch lý ở đây thường nảy sinh từ khoảng cách giữa cái người ta nói và cái người ta làm; giữa danh nghĩa và thực chất; giữa vẻ ngoài và bản chất; giữa điều được tuyên bố và điều đang diễn ra trong đời sống.

Ông Hà là một ví dụ. Nhân vật được khu phố nhìn nhận như một người Hà Nội gốc, hiểu biết, lịch thiệp, có thể đại diện cho địa phương. Trưởng khu thậm chí còn cho rằng có ông Hà tham gia Hội đồng thì bà con "được thơm lây". Cách xây dựng tình huống ban đầu đã tạo ra một hình ảnh gần như hoàn hảo.

Nhưng càng tiến sâu vào câu chuyện, hình ảnh ấy càng bị thử thách. Nhà văn đặt ông Hà vào một hoàn cảnh mà những gì thuộc về quá khứ và bản chất con người dần được đưa ra ánh sáng. Từ đó, tiếng cười nảy sinh từ chính khoảng cách giữa hình ảnh tự tạo dựng và con người thực.

Trong Cỏ mật, nghịch lý nằm ngay trong ý định "sáng tác" một bài dân ca. Lão khọm và Nhạc sĩ ngồi với nhau để bàn về việc làm sao có được một làn điệu mang vẻ dân gian, nhưng cuộc trao đổi dần biến thành sự pha trộn kỳ quặc giữa cái gọi là nghệ thuật, thành tích và những nhu cầu vụ lợi. Tình huống càng nghiêm túc hóa, tiếng cười càng bật ra.

Chiếc xe tang cũng có cấu trúc tương tự. Một chiếc xe tang được đưa đi sửa để phục vụ một đám tang, nhưng quá trình kiểm tra xe lại biến thành một chuỗi những yêu cầu, phán xét và đối thoại rất đời thường. Tình huống chết chóc vốn mang sắc thái bi thương lại được triển khai bằng những chi tiết sinh hoạt và đối thoại có màu sắc hài hước. Cái chết trở thành nền để nhà văn quan sát cách người sống ứng xử.

Nước mắt xóm liều còn tạo ra một nghịch lý có quy mô xã hội. Một cộng đồng cư trú tự phát dần hình thành thành xóm, không có đầy đủ thủ tục pháp lý nhưng lại được đời sống thực tế thừa nhận. Đến thời điểm bầu cử, chính quyền vẫn phải lập danh sách và phổ biến quyền lợi, nghĩa vụ của cử tri cho những "hộ xóm liều". Cái tạm bợ dần trở thành cái thường trực; cái bên lề lại được đưa vào một cơ chế chính thức.

Những nghịch lý như vậy tạo nên tiếng cười của Nguyễn Nhuận Hồng Phương, song tiếng cười chẳng dừng ở mục đích gây vui. Sau tiếng cười thường có một câu hỏi: vì sao đời sống lại có thể vận hành theo những nghịch lý ấy? Bởi vậy, trào phúng của ông có màu sắc thế sự. Nhà văn cười vào một biểu hiện cụ thể để người đọc nhận ra một vấn đề rộng hơn về con người và xã hội.

2.4. 4. Tình huống thử thách đạo đức – nơi phẩm chất được bộc lộ

Nếu tình huống nghịch lý tạo nên tiếng cười thì tình huống thử thách đạo đức lại tạo ra chiều sâu nhân văn cho truyện. Đây là những tình huống trong đó nhân vật buộc phải lựa chọn giữa những giá trị khác nhau. Chính sự lựa chọn ấy làm lộ ra phẩm chất thực sự của con người.

Niềm tin của Mẹ là trường hợp cô đọng nhất. Người kể biết Toàn đã hy sinh nhưng người mẹ vẫn tin con còn sống. Anh có thể nói ra sự thật, nhưng cũng có thể giữ lại niềm hy vọng cuối cùng của bà. Tình huống đạo đức được đẩy tới điểm nút bằng chiếc kim rơi xuống đất.

Điều đáng chú ý là nhà văn chẳng biến người kể thành một nhân vật "đạo đức mẫu mực". Anh cũng từng nghĩ theo lẽ thông thường: Nếu Toàn còn sống thì sẽ tự tìm về. Chỉ đến khi nhìn thấy người mẹ phản ứng trước chiếc kim, anh mới nhận ra giới hạn của lý trí trước tình mẫu tử. Sự thay đổi của nhân vật diễn ra ngay trong tình huống. Chính vì thế, câu chuyện có sức lay động.

Vẹt góc đồi thông cũng đặt Hòa trước một thử thách đạo đức. Cô có thể từ bỏ người chồng đang ở tù và đứa con riêng của chồng. Nhưng Hòa lựa chọn ở lại, chăm sóc đứa trẻ. Lời giải thích của Hòa cho thấy lựa chọn ấy xuất phát từ lòng thương người: "Tình yêu thương không có tội".

Tình huống ấy làm thay đổi cách nhìn của Kiên. Anh từng có những định kiến và những ảo tưởng của tuổi trẻ; đến hiện tại, anh mới hiểu chiều sâu của Hòa. Như vậy, tình huống đạo đức vừa làm nhân vật bộc lộ phẩm chất vừa làm nhân vật khác trưởng thành trong nhận thức.

Trong rác không có rác cũng có thể đọc từ phương diện này. Người lao công nghèo đứng trước những cơ hội kiếm tiền từ những thứ người khác bỏ đi. Cái nghèo tạo ra sức ép, nhưng tình huống lại đặt ra câu hỏi về giới hạn của lòng tham, về cách con người giữ phẩm giá trong hoàn cảnh khó khăn. Chính ở những lựa chọn nhỏ bé ấy, nhân vật được nhìn nhận sâu hơn.

Có thể nói, Nguyễn Nhuận Hồng Phương thường đặt nhân vật vào một khoảnh khắc phải lựa chọn. Và khi lựa chọn xuất hiện, những lớp vỏ xã hội dễ bị bóc ra. Chức vụ, tiền bạc, danh xưng hay những lời tự giới thiệu về bản thân đều trở nên ít quan trọng hơn hành động thực tế.

2.4. 5. Tình huống hồi tưởng – hiện tại chỉ là cái cớ

Một dạng tình huống đặc biệt trong truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương là tình huống hồi tưởng. Ở đó, sự việc trong hiện tại chỉ đóng vai trò "cái cớ"; câu chuyện thực chất nằm trong quá khứ.

Vẹt góc đồi thông gần như được xây dựng hoàn toàn theo nguyên tắc ấy. Cuộc gặp Kiên – Hòa ở hiện tại chỉ chiếm một phần nhỏ của câu chuyện. Giá trị chính nằm ở những gì cuộc gặp đánh thức: Tuổi thơ, Tân, tình yêu, sự ghen tuông, những sai lầm và sự trưởng thành.

Bức kí họa tình yêu cũng vậy. Hiện tại của nhân vật "tôi" chỉ là khoảnh khắc nhận lại bức tranh. Nhưng từ bức tranh ấy, bốn mươi năm quá khứ mở ra. Bức ký họa trở thành một vật trung gian nối hai thời đại của đời người.

Tháng ngày chưa xa lại dùng một lời kể để mở vào cả một miền ký ức chiến tranh. Hiện tại của người kể chỉ là điểm xuất phát; phần lớn sức nặng câu chuyện nằm trong những gì Thành nhớ về chiến trường Đường 9 – Nam Lào, về đồng đội, tình yêu và sự hy sinh. Chính cách tổ chức ấy giúp nhà văn biến ký ức cá nhân thành ký ức của một thế hệ.

Như vậy, tình huống hồi tưởng có một chức năng đặc biệt: nó làm cho một câu chuyện ngắn có thể chứa đựng một quãng đời dài. Nhà văn chẳng cần kể toàn bộ cuộc đời nhân vật theo trình tự. Chỉ cần một cuộc gặp, một kỷ vật, một địa danh hoặc một câu hỏi, cả quá khứ có thể ùa về.

Đây cũng là nơi nghệ thuật tình huống gặp gỡ trực tiếp với nghệ thuật thời gian và điểm nhìn. Tình huống tạo ra động lực hồi tưởng; điểm nhìn quyết định hồi tưởng từ đâu; còn thời gian trần thuật quyết định quá khứ được mở ra theo cách nào. Sự phối hợp giữa ba yếu tố ấy là một trong những đặc điểm đáng chú ý trong thi pháp truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương.

2.5. Kết cấu truyện

Nếu tình huống truyện là điểm tập trung của xung đột và sự vận động của câu chuyện, thì kết cấu là phương thức nhà văn tổ chức toàn bộ những chất liệu ấy thành một chỉnh thể nghệ thuật. Với truyện ngắn, kết cấu càng có ý nghĩa bởi dung lượng thể loại tương đối ngắn đòi hỏi mỗi chi tiết, mỗi đoạn kể, mỗi sự chuyển cảnh đều phải tham gia vào việc tạo nghĩa. Một truyện ngắn có thể chỉ kể một sự việc nhỏ, nhưng cách sắp xếp sự việc ấy có thể làm thay đổi hoàn toàn chiều sâu của tác phẩm.

Qua khảo sát truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương, có thể nhận thấy nhà văn sử dụng nhiều kiểu kết cấu khác nhau. Có truyện đi theo trình tự sự kiện khá tự nhiên; có truyện bắt đầu từ hiện tại rồi trở về quá khứ; có truyện được tạo nên từ nhiều mảnh đời và nhiều câu chuyện nhỏ; có truyện xây dựng toàn bộ ý nghĩa trên một thế đối lập; lại có truyện kết thúc bằng một chi tiết rất nhỏ nhưng tạo ra sự chuyển biến lớn trong nhận thức của nhân vật và người đọc.

Điều đáng chú ý là những kiểu kết cấu ấy thường chẳng tồn tại biệt lập. Một truyện có thể bắt đầu theo kết cấu tuyến tính, sau đó chuyển sang hồi tưởng; một cuộc gặp có thể dẫn tới hàng loạt câu chuyện của những nhân vật khác; một chi tiết tương phản có thể trở thành điểm nút và cuối cùng được khép lại bằng một khoảnh khắc nhận thức. Chính sự linh hoạt ấy góp phần tạo nên diện mạo riêng cho nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương.

2.5. 1. Kết cấu tuyến tính – sự vận động tự nhiên của câu chuyện

Kết cấu tuyến tính là kiểu tổ chức trong đó các sự kiện chủ yếu được trình bày theo trình tự trước – sau của thời gian. Đây là kiểu kết cấu phù hợp với những truyện có tính sự kiện, trong đó hành động của nhân vật tạo ra hành động tiếp theo và các tình huống được đẩy dần tới một kết quả.

Ở Nguyễn Nhuận Hồng Phương, kết cấu tuyến tính thường tạo cảm giác tự nhiên, gần với lời kể đời thường. Nhà văn để sự việc tự phát triển qua hành động và đối thoại. Người đọc theo dõi một chuỗi sự kiện, từ đó nhận ra tính cách nhân vật và những vấn đề xã hội được đặt ra phía sau.

Chiếc xe tang là một trường hợp khá rõ. Câu chuyện bắt đầu từ việc chiếc xe tang được đưa đi sửa. Từ công việc cụ thể ấy, các nhân vật lần lượt xuất hiện, kiểm tra xe, trao đổi, tranh luận, đưa ra những yêu cầu khác nhau. Sự việc nối tiếp sự việc, lời thoại nối tiếp lời thoại, tạo nên một chuỗi vận động khá liền mạch.

Điểm đáng chú ý là kết cấu tuyến tính ở đây chẳng tạo cảm giác đơn điệu. Ngược lại, mỗi bước phát triển của câu chuyện lại mở thêm một khía cạnh tính cách hoặc một nghịch lý đời sống. Cái chết – vốn là một sự kiện nghiêm trang – được đặt trong một chuỗi hành động sửa chữa, kiểm tra và bàn bạc rất đời thường. Từ đó, tiếng cười trào phúng được hình thành ngay trong quá trình sự việc vận động.

Lật tẩy cũng có cách triển khai gần với kết cấu tuyến tính. Nhân vật thực hiện hành động, bị phát hiện, bị bắt và sau đó trở thành đối tượng bàn luận của cộng đồng. Các sự kiện được xếp theo trình tự rõ ràng, tạo cảm giác nhanh, gọn và có tính kịch.

Kết cấu tuyến tính vì thế đặc biệt phù hợp với những truyện mà hành động là yếu tố thúc đẩy câu chuyện. Nguyễn Nhuận Hồng Phương tận dụng ưu thế ấy để tạo nhịp kể nhanh, làm nổi bật tính trào phúng hoặc đẩy tình huống đến điểm nút.

2.5. 2. Kết cấu hồi tưởng – hiện tại gọi quá khứ trở về

Bên cạnh kết cấu tuyến tính, kết cấu hồi tưởng là một kiểu tổ chức rất đáng chú ý trong truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương. Mô hình cơ bản có thể khái quát:

Hiện tại → quá khứ → trở về hiện tại.

Ở kiểu kết cấu này, hiện tại thường chỉ đóng vai trò điểm xuất phát. Một cuộc gặp, một câu hỏi, một kỷ vật hay một địa danh đánh thức quá khứ. Câu chuyện sau đó mở rộng về những năm tháng đã qua rồi trở lại hiện tại với một nhận thức mới.

Vẹt góc đồi thông là ví dụ tiêu biểu. Cuộc gặp Kiên – Hòa sau mười lăm năm tạo ra điểm xuất phát cho toàn bộ câu chuyện. Từ đó, người kể trở về tuổi thơ, về Tân, về đồi thông, về tình yêu và những sai lầm của quá khứ. Đến cuối truyện, Kiên lại rời khỏi hiện tại với hình ảnh đồi thông trong tâm tưởng. Như vậy, kết cấu tạo thành một vòng cung khép mở: Hiện tại gọi quá khứ về, quá khứ soi sáng hiện tại, rồi hiện tại lại mang theo ký ức ấy mà tiếp tục cuộc sống.

Truyện viết ở Đầm Cò cũng được tổ chức theo nguyên tắc tương tự. Người kể gặp Tùng ở hiện tại; sự thay đổi của Tùng khơi dậy câu hỏi về những gì đã xảy ra. Từ cuộc trò chuyện, quá khứ gia đình, người cha, đàn cò và những biến cố đau đớn lần lượt được kể lại. Quá khứ trở thành chìa khóa để hiểu con người hiện tại.

Tháng ngày chưa xa lại đưa kết cấu hồi tưởng vào câu chuyện chiến tranh. Hiện tại của cuộc gặp gỡ là điểm tựa để Thành trở về với chiến trường Đường 9 – Nam Lào. Khi lời kể bắt đầu, thời gian dường như được kéo ngược về năm 1971; những địa danh, đồng đội, trận đánh và ký ức tình cảm hiện lên như một phần của hiện tại.

Ở những truyện như vậy, kết cấu hồi tưởng có giá trị vượt khỏi chức năng kể lại. Nó thể hiện một quan niệm về con người: con người hiện tại luôn mang theo quá khứ. Nhân vật chẳng thể được hiểu đầy đủ nếu tách khỏi những gì đã trải qua. Chính vì thế, quá khứ trong kết cấu truyện Nguyễn Nhuận Hồng Phương thường là phần chìm nhưng quyết định chiều sâu của nhân vật.

2.5. 3. Kết cấu ghép nối các mảnh đời

Một đặc điểm khác trong cách tổ chức truyện của Nguyễn Nhuận Hồng Phương là kết cấu ghép nối các mảnh đời. Nhà văn có thể bắt đầu từ một nhân vật, sau đó đưa vào câu chuyện một nhân vật khác; từ câu chuyện của người thứ nhất mở sang câu chuyện của người thứ hai; những câu chuyện riêng dần kết nối thành một bức tranh rộng hơn về đời sống.

Phòng chờ.. 12 mét vuông là trường hợp rất thích hợp để khảo sát kiểu kết cấu này. Không gian phòng chờ tập hợp nhiều con người. Người kể chuyện quan sát từng người, nghe những cuộc trò chuyện, rồi từ mỗi nhân vật một câu chuyện riêng được mở ra. Một người chờ khám mang theo câu chuyện của mình; một người khác có câu chuyện gia đình; những người khác nữa xuất hiện rồi để lại một mảnh đời trong trí nhớ người kể.

Kết cấu ấy có thể hình dung như những vòng tròn đồng tâm: Bắt đầu từ "tôi", mở rộng sang người đối diện, rồi từ người đối diện mở ra gia đình, cộng đồng và những quan hệ xã hội phía sau. Căn phòng nhỏ trở thành nơi gặp nhau của nhiều thế giới.

Điều đáng nói là nhà văn chẳng cố gắng làm cho các mảnh đời giống nhau. Mỗi nhân vật có một hoàn cảnh, một giọng nói và một cách ứng xử riêng. Chính sự khác biệt ấy tạo nên tính đa thanh cho truyện. Đời sống hiện ra chẳng phải bằng một câu chuyện duy nhất mà bằng nhiều tiếng nói cùng tồn tại.

Cách kết cấu này cũng phù hợp với thế mạnh quan sát xã hội của Nguyễn Nhuận Hồng Phương. Ông có khả năng nhìn thấy phía sau một con người là một gia đình, phía sau một gia đình là một hoàn cảnh, phía sau hoàn cảnh ấy lại là những vấn đề rộng hơn của xã hội.

Vì thế, kết cấu ghép nối các mảnh đời vừa tạo nên độ rộng của hiện thực, vừa giữ được tính tập trung của truyện ngắn. Nhà văn chẳng cần kể một câu chuyện lớn theo kiểu sử thi; ông chỉ cần ghép những mảnh đời nhỏ để người đọc tự hình dung một bức tranh xã hội lớn.

2.5. 4. Kết cấu dựa trên sự tương phản

Một nguyên tắc kết cấu khác thường được Nguyễn Nhuận Hồng Phương sử dụng là tương phản. Hai hình ảnh, hai thời điểm, hai trạng thái, hai cách ứng xử hoặc hai hệ giá trị được đặt cạnh nhau để làm nổi bật sự khác biệt.

Những cặp tương phản xuất hiện khá đa dạng:

Quá khứ / hiện tại;

Nghèo / giàu;

Quyền lực / mất quyền;

Vẻ ngoài / bản chất;

Lời nói / hành động;

Niềm tin / sự thật;

Ký ức / hiện thực.

Trong Vẹt góc đồi thông, tương phản giữa tuổi thơ và hiện tại tạo nên chiều sâu cho câu chuyện. Những đứa trẻ năm nào đã trở thành những người trưởng thành với những cuộc đời khác nhau. Đồi thông vẫn đó nhưng con người đã đổi khác. Sự tương phản ấy làm nổi bật cảm thức về thời gian và sự mất mát.

Trong những truyện mang tính thế sự, tương phản giữa vẻ ngoài và bản chất thường trở thành nguồn gốc của tiếng cười. Một nhân vật có thể được cộng đồng ca ngợi, tự nhận mình là người tử tế, có năng lực, có vị thế; nhưng khi bước vào một tình huống cụ thể, hành động của họ lại bộc lộ một con người khác.

Chính ở đây, kết cấu tương phản gắn chặt với nghệ thuật xây dựng nhân vật. Nhà văn chẳng cần trực tiếp kết luận nhân vật tốt hay xấu. Ông đặt lời nói cạnh hành động, danh nghĩa cạnh thực chất, hình ảnh công khai cạnh đời sống riêng. Người đọc tự nhận ra khoảng cách giữa chúng.

Tấm áo màu hoa đào cũng cho thấy khả năng sử dụng tương phản giữa ký ức và hiện tại, giữa một không gian quê hương được lưu giữ trong tâm tưởng và sức ép của sự thay đổi đời sống. Những giá trị tưởng như bền vững của cộng đồng đứng trước những biến động của đất đai, giá trị vật chất và quá trình đô thị hóa. Chính sự tương phản ấy tạo ra chiều sâu xã hội cho câu chuyện.

Kết cấu tương phản vì thế có tác dụng làm lộ bản chất. Khi hai trạng thái được đặt cạnh nhau, những khác biệt vốn khó nhìn thấy trở nên rõ ràng. Một con người chỉ thật sự được nhận diện khi đặt họ trước một hoàn cảnh khác; một giá trị chỉ thật sự có ý nghĩa khi đặt cạnh điều đối lập với nó.

2.5. 5. Kết thúc tạo hiệu ứng nhận thức

Một trong những phương diện đáng chú ý nhất của kết cấu truyện Nguyễn Nhuận Hồng Phương là cách kết thúc. Nhiều truyện chẳng nhất thiết khép lại bằng một biến cố lớn. Nhà văn có thể dừng câu chuyện ở một câu nói, một hình ảnh, một cử chỉ, một món đồ hoặc một khoảnh khắc nhận thức. Sự việc đã kết thúc nhưng ý nghĩa của nó tiếp tục vang lên trong người đọc.

Niềm tin của Mẹ là trường hợp tiêu biểu. Toàn bộ câu chuyện xoay quanh niềm tin của một người mẹ rằng người con đã hy sinh vẫn còn sống. Điểm nút cuối cùng lại xuất phát từ một vật rất nhỏ: chiếc kim.

Người kể làm rơi kim. Anh cúi xuống tìm mãi mới thấy. Người mẹ nhìn hành động ấy rồi nói:

"Nhỏ như cái kim, đáng gì tiền mà mày còn đi tìm.. Huống chi là con tao.."

Chiếc kim nhỏ trở thành điểm kích hoạt của cả một quá trình nhận thức. Người kể bất ngờ hiểu rằng đối với người mẹ, người con cũng giống như chiếc kim: Nhỏ bé trước thế giới rộng lớn nhưng vô cùng quý giá đối với người sở hữu nó. Từ đó, anh thay đổi thái độ và kết thúc bằng lời:

"Con xin lỗi Mẹ.."

Chính lời xin lỗi ngắn ngủi ấy đã khép lại câu chuyện. Nhưng nó đồng thời mở ra một khoảng suy tưởng lớn về tình mẫu tử, sự hy sinh và quyền được hy vọng của con người.

Đây là kiểu kết thúc có thể gọi là kết thúc nhận thức. Biến cố quan trọng nhất chẳng xảy ra bên ngoài mà xảy ra bên trong nhân vật. Người kể thay đổi cách nhìn, và sự thay đổi ấy trở thành "sự kiện" cuối cùng của truyện.

Vẹt góc đồi thông cũng tạo hiệu ứng tương tự. Sau tất cả những câu chuyện về tuổi thơ, tình yêu, Tân và Hòa, truyện kết thúc bằng hình ảnh Kiên trên chuyến tàu rời đi, nhìn đồi thông từ xa và nhớ đến chiếc chong chóng năm xưa. Câu chuyện chẳng cần thêm một biến cố nào. Một hình ảnh đã đủ để đóng lại cả một miền ký ức.

Bức kí họa tình yêu cũng sử dụng một kỷ vật để khép lại câu chuyện. Bức tranh được trao lại sau hơn bốn mươi năm và trở thành chứng tích của một tình yêu từng bị chia lìa bởi hiểu lầm. Kết thúc ở đây mang tính dư vang: Bức tranh còn đó, tình yêu đã đi qua, nhưng ký ức vẫn tồn tại.

Những cách kết thúc như vậy cho thấy Nguyễn Nhuận Hồng Phương có xu hướng để dành phần cuối cho người đọc. Nhà văn cung cấp một hình ảnh hoặc một khoảnh khắc, rồi dừng lại trước khi giải thích hết. Khoảng trống ấy tạo điều kiện cho sự tham dự của người đọc.

Đây là một đặc điểm có ý nghĩa về mặt thi pháp. Kết thúc mở chẳng đồng nghĩa với việc câu chuyện dang dở. Ngược lại, câu chuyện có thể đã hoàn tất về mặt sự kiện, nhưng ý nghĩa vẫn tiếp tục vận động trong nhận thức người đọc.

Tiểu kết chương 2

Qua khảo sát nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương, có thể nhận diện một hệ thống phương thức khá linh hoạt và nhất quán. Từ người kể chuyện, điểm nhìn, thời gian, không gian, tình huống đến kết cấu, mỗi phương diện đều góp phần đưa chất liệu đời sống vào một cấu trúc nghệ thuật có khả năng biểu hiện con người và những vấn đề nhân sinh.

Trước hết, người kể chuyện thường được đặt ở vị trí gần đời sống. Cái "tôi" chứng kiến, trải nghiệm, hồi tưởng và bình luận giúp câu chuyện mang sắc thái chân thực, giàu tính cá nhân. Điểm nhìn có thể chuyển dịch giữa người kể và nhân vật, giữa cái nhìn bên ngoài và thế giới nội tâm, từ đó tạo nên những chân dung con người nhiều chiều.

Thời gian trần thuật được tổ chức linh hoạt. Bên cạnh trình tự tuyến tính, nhà văn thường sử dụng hồi cố, đảo chiều và đồng hiện. Hiện tại nhiều khi chỉ là điểm tựa để quá khứ trở về. Nhờ vậy, ký ức trở thành một thành phần quan trọng của cấu trúc truyện và đồng thời trở thành phương tiện khám phá số phận.

Không gian nghệ thuật cũng có sự đa dạng rõ nét. Không gian quê hương gắn với nguồn cội và ký ức; không gian đô thị, công sở phơi bày các quan hệ xã hội; không gian khép kín tạo nên sự va chạm giữa nhiều số phận; không gian thiên nhiên cộng hưởng với tâm trạng. Đặc biệt, nhà văn có khả năng biến một không gian vật chất nhỏ bé thành một không gian xã hội và tâm lý rộng lớn.

Tình huống truyện là một trong những thế mạnh đáng chú ý. Nhiều câu chuyện bắt đầu từ những tình huống đời thường: Một cuộc gặp, một lần trở về, một sự việc tình cờ, một thông tin mới, một kỷ vật. Nhưng từ đó, nhà văn phát triển thành tình huống phát hiện, tình huống nghịch lý, tình huống thử thách đạo đức hoặc tình huống hồi tưởng. Nhờ vậy, cái nhỏ của đời sống có thể mở ra cái lớn của nhân sinh.

Cuối cùng, kết cấu truyện cho thấy rõ khả năng tổ chức chất liệu của nhà văn. Kết cấu tuyến tính tạo nhịp kể tự nhiên; kết cấu hồi tưởng tạo chiều sâu thời gian; kết cấu ghép nối mở rộng bức tranh đời sống; kết cấu tương phản làm lộ bản chất; còn kiểu kết thúc tạo hiệu ứng nhận thức giúp tác phẩm vượt khỏi trang sách.

Từ những phương diện trên, có thể khái quát đặc điểm nổi bật của nghệ thuật trần thuật Nguyễn Nhuận Hồng Phương bằng sự kết hợp giữa tính đời thường và tính tổ chức nghệ thuật. Câu chuyện của ông thường bắt đầu từ những điều rất nhỏ: Một căn phòng, một cuộc gặp, một chiếc kim, một bức tranh, một ngọn đồi, một dòng sông, một lời nói. Nhưng qua cách tổ chức điểm nhìn, thời gian, không gian, tình huống và kết cấu, những chi tiết ấy dần mang sức nặng của ký ức, đạo lý và số phận.

Đặc biệt, nghệ thuật trần thuật của Nguyễn Nhuận Hồng Phương luôn hướng tới sự phát hiện con người. Nhà văn chẳng vội vàng kết luận về nhân vật. Ông đặt nhân vật vào hoàn cảnh, để họ nói, hành động, nhớ lại, lựa chọn và bộc lộ. Đến cuối truyện, một câu nói, một ánh mắt, một giọt nước mắt hay một vật nhỏ có thể làm thay đổi toàn bộ cách nhìn. Chính ở những khoảnh khắc ấy, truyện ngắn chuyển từ chuyện đời sang câu chuyện về nhân phẩm và tình người.

Vì vậy, nếu có thể cô đọng chương này trong một nhận định, có thể nói: Nguyễn Nhuận Hồng Phương xây dựng nghệ thuật trần thuật từ những mảnh đời bình dị, nhưng tổ chức chúng bằng một tư duy tự sự giàu tính linh hoạt, để từ cái cụ thể của đời sống đi tới cái sâu xa của con người.

Đó cũng là nền tảng để tiếp tục khảo sát một phương diện quan trọng khác trong thi pháp truyện ngắn của ông: ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật – nơi chất đời, chất báo chí, chất khẩu ngữ, chất trào phúng và chất trữ tình gặp nhau, tạo nên sắc thái riêng cho văn xuôi Nguyễn Nhuận Hồng Phương.

(Còn nữa - Dưới bình luận)
 
278 ❤︎ Bài viết: 815 Tìm chủ đề

Chương III - Nghệ thuật xây dựng nhân vật, ngôn ngữ và giọng điệu


20260829-032335-9710ef0449.png


3.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật

Trong truyện ngắn, nhân vật là nơi tập trung những quan sát của nhà văn về con người và đời sống. Nếu tình huống tạo ra hoàn cảnh để con người bộc lộ thì nhân vật chính là trung tâm mang theo những xung đột, ký ức, lựa chọn và suy tư của tác phẩm. Với Nguyễn Nhuận Hồng Phương, nhân vật thường xuất hiện từ những mẫu người rất gần với đời sống. Họ có nghề nghiệp, quê quán, gia đình, thói quen, giọng nói và những hoàn cảnh xã hội cụ thể. Chính những yếu tố tưởng như nhỏ bé ấy tạo nên cảm giác chân thực cho thế giới truyện của ông.

Đọc hệ thống truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương có thể nhận thấy nhà văn ít có xu hướng xây dựng nhân vật bằng những lời giới thiệu trực tiếp, dài dòng. Nhân vật thường được đặt vào đời sống rồi để đời sống tự làm công việc khắc họa. Ngoại hình được nhận diện qua một vài nét đặc trưng; tính cách hiện ra qua hành động; hoàn cảnh được hé mở qua đối thoại; phẩm chất được kiểm chứng bằng lựa chọn. Nhờ vậy, nhân vật có một đời sống riêng, có khả năng vận động trong câu chuyện và để lại dư âm sau khi truyện kết thúc.

3.1. 1. Nhân vật được nhận diện bằng ngoại hình rất cụ thể

Một đặc điểm dễ nhận thấy trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Nhuận Hồng Phương là tính cụ thể của ngoại hình. Nhà văn thường chẳng miêu tả nhân vật bằng những tính từ mang tính khái quát như đẹp, xấu, giàu, nghèo, hiền, ác. Thay vào đó, ông lựa chọn những dấu hiệu nhỏ: Nét mặt, dáng đi, quần áo, mái tóc, giọng nói, ánh mắt, cử chỉ, thói quen.. Những dấu hiệu ấy vừa giúp người đọc hình dung nhân vật, vừa góp phần tạo nên tính cách.

Đây là một thủ pháp phù hợp với đặc điểm chung của văn xuôi Nguyễn Nhuận Hồng Phương: đưa nhân vật trở lại với diện mạo cụ thể của đời sống. Nhân vật có thể bước vào truyện bằng một chiếc áo, một dáng ngồi, một kiểu nói hoặc một thói quen rất riêng. Chỉ vài nét chấm phá, người đọc đã có thể nhận ra họ khi xuất hiện trở lại.

Trong Ông Hà, ngoại hình và những dấu hiệu nhận diện nhân vật được nhà văn khai thác theo hướng đặc biệt. "Người Hà Nội" trong ý thức của nhân vật được tạo nên từ hàng loạt chi tiết: Giọng nói, phong thái, ký ức về Hà Nội, chiếc xe mang biển số 29.. Những yếu tố ấy hợp thành một thứ "bộ nhận diện" mà ông Hà dùng để khẳng định căn cước của mình.

Điều thú vị là những chi tiết ngoại hình và vật dụng cá nhân trong trường hợp này vượt khỏi chức năng miêu tả. Chúng trở thành dấu hiệu tâm lý và xã hội. Một chiếc xe, một biển số, một giọng nói có thể nói nhiều hơn một đoạn giới thiệu trực tiếp về nhân vật. Người đọc dần nhận ra nhân vật qua những thứ nhân vật lựa chọn để phô bày về mình.

Trong Vẹt góc đồi thông, nhân vật được nhận diện qua những dấu hiệu của tuổi trẻ và sự thay đổi theo thời gian. Kiên, Hòa, Tân hiện ra trước hết như những con người của một miền quê, một thị xã, một thế hệ. Sau mười lăm năm, những con người ấy đã mang những diện mạo và cuộc đời khác. Ngoại hình vì thế còn đảm nhận chức năng biểu hiện sự biến đổi của số phận.

Cách miêu tả này cho thấy nhà văn có xu hướng chọn chi tiết thay cho sự mô tả toàn diện. Một dấu hiệu ngoại hình đắt giá có thể vừa tạo hình vừa gợi tính cách. Khi được lặp lại đúng lúc, nó trở thành một "mã nhận diện" của nhân vật.

Từ góc độ thi pháp, đây là một cách xây dựng nhân vật giàu tính điện ảnh. Người đọc chẳng chỉ "biết" nhân vật bằng lời kể mà còn có thể hình dung họ bằng những hình ảnh cụ thể. Nhân vật vì thế bước ra khỏi trang viết với một dáng vẻ riêng, một giọng nói riêng và một nhịp sống riêng.

3.1. 2. Nhân vật được khắc họa qua hành động

Nếu ngoại hình tạo nên diện mạo ban đầu thì hành động là nơi phẩm chất nhân vật được kiểm chứng. Đây là một phương diện nổi bật trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Nhuận Hồng Phương.

Trong thế giới truyện của ông, nhân vật thường được đặt vào những hoàn cảnh cụ thể và được để cho hành động. Người đọc có thể nghe nhân vật nói, nhưng điều quyết định cách đánh giá nhân vật thường nằm ở việc nhân vật làm gì.

Điều này đặc biệt rõ ở những truyện đặt nhân vật trước một lựa chọn đạo đức. Niềm tin của Mẹ là trường hợp tiêu biểu. Người kể chuyện ban đầu đứng ngoài niềm tin của mẹ Toàn, cho rằng việc người mẹ tiếp tục tin con còn sống là điều khó hiểu. Nhưng đến khi chiếc kim rơi xuống, anh cúi xuống tìm mãi mới thấy. Hành động rất nhỏ ấy lại tạo ra một bước chuyển lớn trong nhận thức. Người mẹ nói về chiếc kim và người con, khiến anh hiểu sâu hơn nỗi đau của bà. Cuối truyện, anh ôm người mẹ và nói: "Con xin lỗi Mẹ..".

Ở đây, nhà văn chẳng cần một đoạn bình luận dài về sự thức tỉnh. Hành động của nhân vật đã tự nói lên điều đó. Cúi xuống tìm chiếc kim là hành động vật chất, nhưng phía sau nó là một chuyển biến tinh thần. Ôm người mẹ và xin lỗi là hành động cuối cùng, đồng thời cũng là lời xác nhận cho sự thay đổi trong nhận thức.

Trong Vẹt góc đồi thông, Hòa được khắc họa qua lựa chọn ở lại chăm sóc đứa trẻ của Tân. Cô có thể từ bỏ một người chồng đang ở tù, nhưng cô lựa chọn tiếp tục nuôi đứa trẻ bởi cho rằng đứa trẻ chẳng có lỗi. Một hành động chăm sóc trở thành biểu hiện của lòng nhân hậu. Nhân vật được định nghĩa bằng cách ứng xử trước hoàn cảnh, chứ chẳng phải bằng những lời tự nhận về mình.

Ngược lại, những nhân vật có vấn đề về nhân cách cũng thường được nhà văn để họ tự bộc lộ qua hành động. Khi đứng trước quyền lợi, danh dự, tiền bạc hoặc chức vụ, họ sẽ lựa chọn. Chính lựa chọn ấy làm lộ ra bản chất.

Có thể xem đây là một nguyên tắc quan trọng trong nghệ thuật nhân vật của Nguyễn Nhuận Hồng Phương:

Nhân vật được nhận diện rõ nhất ở thời điểm phải hành động.

Khi đời sống bình thường, con người có thể che giấu mình bằng lời nói, trang phục, chức vụ hoặc những câu chuyện về bản thân. Khi tình huống thử thách xuất hiện, những lớp vỏ ấy dễ bị bóc ra. Vì vậy, hành động trong truyện Nguyễn Nhuận Hồng Phương thường vừa có chức năng thúc đẩy cốt truyện, vừa có chức năng kiểm chứng nhân cách.

3.1. 3. Nhân vật được khắc họa qua ngôn ngữ đối thoại

Một thế mạnh khá rõ của Nguyễn Nhuận Hồng Phương là xây dựng nhân vật qua đối thoại. Trong nhiều truyện, đối thoại chẳng chỉ làm nhiệm vụ nối các đoạn kể mà trực tiếp tham gia vào việc tạo tính cách, đẩy tình huống, cung cấp thông tin, gây tiếng cười và làm phát sinh xung đột.

Nhân vật nói như thế nào thường cho người đọc biết họ là ai.

Một người nói năng trực diện, một người vòng vo; một người thích khoe khoang, một người ít lời; một người sử dụng những từ ngữ hành chính, một người mang đậm khẩu ngữ đời thường. Những khác biệt ấy tạo nên cá tính.

Trong Cỏ mật, đối thoại giữa Lão khọm và Nhạc sĩ là một ví dụ. Câu chuyện về sáng tác dân ca được triển khai chủ yếu qua những trao đổi, bàn bạc và đối đáp. Chính cách nói của nhân vật làm hiện lên sự giả tạo và những toan tính phía sau một hoạt động tưởng như rất nghiêm túc.

Trong Chiếc xe tang, đối thoại giữa người thợ sửa xe Thanh và những người đi cùng tạo nên phần lớn nhịp điệu của truyện. Những lời nói về việc kiểm tra xe, thay phụ tùng, thử xe.. Được đặt cạnh hoàn cảnh tang lễ, tạo ra một thứ hài hước rất đời. Đối thoại ở đây vừa gây cười vừa làm lộ những tính cách khác nhau.

Phòng chờ.. 12 mét vuông, đối thoại lại giúp những người xa lạ trong cùng một căn phòng lần lượt bước ra khỏi vị trí của mình để kể về bản thân. Người đọc nhận diện nhân vật qua giọng nói trước khi biết đầy đủ hoàn cảnh của họ.

Đặc biệt, đối thoại của Nguyễn Nhuận Hồng Phương thường có tính khẩu ngữ cao. Nó giữ được nhịp điệu của lời nói đời thường, đôi khi có sự ngập ngừng, lặp lại, chen ngang hoặc chuyển hướng bất ngờ. Chính điều đó tạo cảm giác nhân vật đang sống và nói trước mắt người đọc.

Đối thoại vì thế đảm nhận nhiều chức năng cùng lúc:

Tạo cá tính nhân vật qua cách nói;

Đẩy cốt truyện qua thông tin và hành động;

Tạo xung đột khi các quan điểm va chạm;

Gây hài trong những tình huống nghịch lý;

Bộc lộ tâm lý qua những điều nhân vật nói hoặc cố tránh nói;

Thể hiện quan niệm sống thông qua lời phát ngôn.

Đặc biệt, có những lúc điều nhân vật chẳng nói ra lại có ý nghĩa hơn điều họ nói. Khoảng ngừng, sự né tránh, một câu trả lời vòng vo có thể cho thấy sự giằng co bên trong. Đây là điểm mà nghệ thuật đối thoại gặp gỡ với nghệ thuật tâm lý.

3.1. 4. Kiểu nhân vật "đời thường"

Một đặc điểm quan trọng trong thế giới nhân vật Nguyễn Nhuận Hồng Phương là tính đời thường. Nhân vật của ông chủ yếu là những con người có thể bắt gặp trong đời sống: Người lính, người lao động, người cán bộ, người già, người mẹ, người bạn, người dân quê, người nghèo, người từng mắc lỗi, người mang trên mình những định kiến xã hội.

Những nhân vật ấy chẳng được xây dựng như những hình tượng xa lạ với đời sống. Họ có những nhu cầu rất bình thường: Kiếm sống, giữ gia đình, tìm tình yêu, bảo vệ danh dự, tìm lại quá khứ, được người khác công nhận. Chính những nhu cầu ấy làm cho nhân vật có sức gần gũi.

Niềm tin của Mẹ đưa một người mẹ bình thường vào trung tâm của câu chuyện. Bà chẳng có quyền lực, chẳng có vị trí xã hội đặc biệt. Nhưng niềm tin của bà vào người con đã hy sinh lại trở thành sức mạnh tinh thần làm thay đổi người kể chuyện.

Phòng chờ.. 12 mét vuông tập hợp những con người đang ở một thời điểm rất bình thường của cuộc sống: Ngồi chờ. Nhưng chính trong khoảng thời gian tưởng như vô nghĩa ấy, từng phận người được mở ra.

Trong rác không có rác lại hướng sự chú ý đến những người ở vị trí thấp trong đời sống xã hội. Người lao công nghèo trở thành trung tâm quan sát. Qua nhân vật ấy, nhà văn đặt lại câu hỏi về cách xã hội nhìn nhận giá trị con người.

Ở đây có thể thấy một khuynh hướng nhất quán: Nguyễn Nhuận Hồng Phương tìm thấy giá trị văn chương ở những con người bình dị. Nhà văn chẳng cần một nhân vật có số phận phi thường để đặt ra câu hỏi lớn. Một người mẹ, một người lính, một người lao động, một người bạn cũ cũng có thể chứa đựng những vấn đề về tình yêu, trách nhiệm, ký ức và nhân phẩm.

Nhân vật đời thường vì thế chính là nền tảng tạo nên chất hiện thực cho truyện ngắn. Nhưng nhà văn chẳng dừng ở việc ghi chép. Từ những con người cụ thể, ông hướng tới những vấn đề có tính phổ quát: Con người sống thế nào trước mất mát? Con người đối xử với nhau ra sao khi lợi ích xuất hiện? Điều gì giữ lại phẩm giá khi hoàn cảnh thay đổi? Và tình yêu thương có thể cứu một con người khỏi sự cô độc đến đâu?

3.1. 5. Kiểu nhân vật nghịch lý – khi vẻ ngoài và bản chất không trùng nhau

Một phương diện đáng đào sâu trong nghệ thuật xây dựng nhân vật Nguyễn Nhuận Hồng Phương là kiểu nhân vật nghịch lý. Đó là những nhân vật mà vẻ ngoài, danh xưng, lời nói hoặc hình ảnh xã hội chẳng hoàn toàn trùng với bản chất bên trong.

Đây cũng là kiểu nhân vật tạo điều kiện cho nhà văn phát huy thế mạnh trào phúng. Nhà văn đặt nhân vật vào một vị trí xã hội nhất định, để họ tự trình bày về mình, sau đó đưa họ vào những tình huống khiến sự khác biệt giữa "cái được nói" và "cái đang sống" dần hiện ra.

Ông Hà là ví dụ rõ. Nhân vật xây dựng hình ảnh "người Hà Nội" như một thứ căn cước để tự khẳng định. Những chi tiết về giọng nói, thói quen, ký ức Hà Nội, chiếc xe biển số 29.. Liên tục được sử dụng để củng cố hình ảnh ấy.

Nhưng càng nhiều chi tiết được đưa ra, chân dung ấy càng có khả năng trở thành đối tượng của tiếng cười. Bởi khi một căn cước được nhấn mạnh quá mức, nó dễ chuyển từ niềm tự hào sang một thứ mặt nạ xã hội. Người đọc bắt đầu đặt câu hỏi: Điều gì thực sự làm nên một con người? Một địa danh? Một giọng nói? Một biển số xe? Một ký ức? Hay cách người ấy sống và đối xử với những người xung quanh?

Đây là điểm Nguyễn Nhuận Hồng Phương có sự nhạy cảm đáng chú ý đối với tâm lý xã hội. Nhân vật có thể sử dụng những biểu tượng bên ngoài để tạo dựng hình ảnh cho mình. Nhưng văn chương sẽ đặt họ vào tình huống để kiểm chứng.

Kiểu nhân vật nghịch lý cũng xuất hiện trong những truyện viết về quyền lực, chức vụ và lợi ích. Có nhân vật khi đang ở vị trí cao thì được người khác săn đón, kính trọng; đến khi mất quyền, thái độ của những người xung quanh lập tức thay đổi. Có người nói rất nhiều về đạo đức nhưng lại hành động theo lợi ích. Có người mang dáng vẻ đáng kính nhưng lại để lộ những toan tính rất đời thường.

Điều quan trọng là Nguyễn Nhuận Hồng Phương thường chẳng biến nhân vật nghịch lý thành những "con người một chiều". Ngay cả khi phê phán, ông vẫn để họ tồn tại trong những hoàn cảnh xã hội cụ thể. Bởi vậy, cái đáng cười thường đi kèm với cái đáng suy nghĩ.

Từ góc độ thi pháp, nhân vật nghịch lý là một phương tiện hữu hiệu để nhà văn phá vỡ cái nhìn đơn giản về con người. Một con người có thể vừa đáng cười vừa đáng thương; vừa có khuyết điểm vừa có những khoảnh khắc tốt đẹp; vừa muốn giữ hình ảnh của mình vừa có những lúc bất lực trước hoàn cảnh.

Chính sự phức tạp ấy khiến nhân vật có sức sống.

Tiểu kết mục 3.1

Có thể thấy nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Nhuận Hồng Phương dựa trên sự kết hợp của nhiều phương thức: ngoại hình cụ thể, hành động, đối thoại, hoàn cảnh xã hội và những nghịch lý trong đời sống. Nhà văn chẳng chỉ giới thiệu nhân vật; ông tạo ra những điều kiện để nhân vật tự bộc lộ.

Ngoại hình giúp nhân vật có diện mạo. Hành động kiểm chứng phẩm chất. Đối thoại tạo cá tính và mở rộng câu chuyện. Hoàn cảnh xã hội xác định vị trí của nhân vật. Còn nghịch lý làm cho những khoảng cách giữa vẻ ngoài và bản chất trở nên rõ ràng.

Từ đó có thể nhận diện một đặc điểm quan trọng của thế giới nhân vật Nguyễn Nhuận Hồng Phương: nhân vật luôn gắn với đời sống cụ thể. Họ có quê hương, nghề nghiệp, gia đình, ký ức và những quan hệ xã hội xác định. Đó là những con người bước ra từ cuộc sống thường ngày, mang theo cả vẻ đẹp lẫn những giới hạn của con người đời thường.

Điểm đáng quý là nhà văn dành sự quan tâm đặc biệt cho khả năng tự bộc lộ của nhân vật. Ông thường đặt họ vào tình huống thay vì trực tiếp phán xét. Nhân vật được để cho nói, hành động, lựa chọn, hồi tưởng và đối diện với người khác. Từ đó, bản chất dần hiện ra.

Chính phương thức ấy giúp nhân vật Nguyễn Nhuận Hồng Phương tránh được sự đơn tuyến. Một người mẹ có thể là một thân phận đau khổ nhưng đồng thời sở hữu sức mạnh tinh thần lớn lao. Một người phụ nữ có thể mang những tổn thương riêng nhưng lại trở thành người giữ lại phần nhân hậu cho người khác. Một người có quyền lực có thể vừa đáng kính ở một phương diện vừa đáng phê phán ở phương diện khác. Một con người từng sai lầm vẫn có khả năng thức tỉnh.

Nói cách khác, con người trong truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương luôn nằm trong quá trình được khám phá. Nhân vật chẳng được đóng khung ngay từ lần xuất hiện đầu tiên. Họ chỉ thực sự hiện hình qua những va chạm với đời sống.

Đây cũng là cơ sở để chuyển sang khảo sát hai yếu tố góp phần trực tiếp tạo nên "tiếng nói" của nhân vật và diện mạo văn xuôi Nguyễn Nhuận Hồng Phương: ngôn ngữ và giọng điệu. Nếu nhân vật là trung tâm của thế giới truyện thì ngôn ngữ là phương tiện để thế giới ấy cất tiếng nói, còn giọng điệu chính là sắc thái tinh thần làm nên dấu ấn riêng của nhà văn.

3.2. Ngôn ngữ nghệ thuật

Nếu nhân vật là nơi tập trung những quan sát của nhà văn về con người thì ngôn ngữ là chất liệu trực tiếp tạo nên thế giới ấy. Qua ngôn ngữ, đời sống đi vào tác phẩm với âm thanh, nhịp điệu, sắc thái và những dấu hiệu văn hóa cụ thể. Đọc truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương có thể nhận thấy một đặc điểm khá nhất quán: Ngôn ngữ của ông có độ gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày, giàu khẩu ngữ, giàu khả năng tái hiện không khí đời sống; đồng thời, ở những đoạn viết về ký ức, thiên nhiên và tình cảm, ngôn ngữ lại chuyển sang sắc thái mềm mại, giàu hình ảnh và trữ tình.

Sự vận động giữa hai cực ấy tạo nên một đặc điểm đáng chú ý của văn xuôi Nguyễn Nhuận Hồng Phương: chất văn chương được nâng lên từ chất đời. Những câu nói tưởng như rất bình thường, những từ ngữ dân dã, tiếng đùa, cách ví von, thành ngữ, tục ngữ hay những cách nói mang màu sắc địa phương khi được đặt vào đúng hoàn cảnh đều trở thành phương tiện nghệ thuật. Nhà văn giữ được hơi thở của đời sống, đồng thời biết tổ chức nó thành một thứ ngôn ngữ tự sự có cá tính.

3.2. 1. Ngôn ngữ giàu tính khẩu ngữ

Một trong những dấu hiệu dễ nhận thấy nhất trong ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương là tính khẩu ngữ. Nhân vật nói năng như những con người đang sống ngoài đời. Câu nói có thể ngắn, dài, trực tiếp, vòng vo; có khi có tiếng địa phương, tiếng lóng, thành ngữ, tục ngữ; có lúc lại xuất hiện tiếng đùa, tiếng châm chọc, thậm chí những lời nói mạnh theo đúng sắc thái của hoàn cảnh.

Chính đặc điểm này tạo nên cảm giác ngôn ngữ đang sống. Người đọc chẳng có cảm giác nhân vật đang "đọc diễn văn" hay phát ngôn theo một khuôn mẫu văn chương. Họ nói như những con người cụ thể, thuộc những tầng lớp xã hội cụ thể.

Trong Chiếc xe tang, chẳng hạn, những cuộc trao đổi giữa người thợ sửa xe Thanh và những người đi cùng chiếc xe tang mang đậm sắc thái khẩu ngữ. Những câu nói về việc sửa xe, kiểm tra máy, thay phụ tùng được đan xen với những nhận xét rất đời. Chính cách nói tự nhiên ấy làm cho tình huống vốn có màu sắc tang lễ trở nên sinh động, đồng thời tạo ra tiếng cười.

Cỏ mật, tính khẩu ngữ còn được đẩy mạnh hơn. Những lời trao đổi giữa Lão khọm và Nhạc sĩ mang sắc thái của một cuộc trò chuyện trực tiếp, trong đó mỗi nhân vật có cách diễn đạt riêng. Qua lời nói, những toan tính và sự giả tạo phía sau việc "sáng tác" dân ca dần lộ ra.

Khẩu ngữ ở đây có giá trị vượt khỏi việc làm cho câu chuyện tự nhiên. Nó còn là một phương tiện phân tầng xã hội và cá thể hóa nhân vật. Người lao động nói khác cán bộ; người già nói khác người trẻ; người từng trải nói khác người ít trải nghiệm. Cách dùng từ, cách xưng hô và cách phản ứng trong đối thoại đều góp phần xác định vị trí xã hội của nhân vật.

Đặc biệt, nhà văn có xu hướng sử dụng những thành ngữ, cách ví von hoặc lối nói dân gian để làm cho câu văn có sức gợi. Đây là một đặc điểm phù hợp với thế giới nhân vật phần lớn xuất thân từ đời sống bình thường. Khi ngôn ngữ văn chương được hòa vào ngôn ngữ đời sống, khoảng cách giữa người kể và người đọc được thu hẹp.

Tính khẩu ngữ cũng tạo điều kiện cho chất hài và chất trào phúng phát triển. Một câu nói bình thường, nếu được đặt vào hoàn cảnh trái ngược, có thể trở thành một mũi nhọn châm biếm. Một cách nói quá nghiêm túc trước một sự việc phi lý có thể tạo tiếng cười. Một câu nói tưởng như vô tình lại có thể làm lộ bản chất nhân vật.

Vì thế, có thể xem khẩu ngữ là một trong những phương tiện quan trọng giúp Nguyễn Nhuận Hồng Phương đưa văn học đến gần đời sống mà vẫn giữ được khả năng phản ánh và phê phán đời sống.

3.2. 2. Ngôn ngữ đối thoại chiếm vị trí quan trọng

Gắn liền với tính khẩu ngữ là vai trò nổi bật của ngôn ngữ đối thoại. Trong nhiều truyện ngắn, đối thoại chiếm một dung lượng đáng kể và trở thành một trong những phương tiện chính để câu chuyện vận động.

Đối thoại làm cho truyện nhanh hơn, sống động hơn và gần với đời sống hơn. Khi nhân vật nói trực tiếp với nhau, người đọc có cảm giác được chứng kiến sự việc thay vì chỉ nghe người kể thuật lại. Đặc biệt, những truyện giàu tính trào phúng của Nguyễn Nhuận Hồng Phương thường phát huy rất rõ ưu thế này.

Chiếc xe tang có thể xem như một "sân khấu nhỏ" của đời sống. Nhân vật xuất hiện, nói, phản ứng, tranh luận; tình huống được đẩy đi chủ yếu bằng lời thoại. Cách tổ chức ấy khiến truyện có nhịp điệu gần với kịch.

Cỏ mật cũng có tính chất tương tự. Cuộc trao đổi giữa các nhân vật vừa cung cấp thông tin vừa làm lộ bản chất của họ. Càng nói, nhân vật càng tự bộc lộ. Nhà văn vì thế có thể giảm bớt lời bình trực tiếp mà vẫn làm cho người đọc nhận ra điều cần nhận ra.

Đối thoại trong truyện Nguyễn Nhuận Hồng Phương thường đảm nhiệm nhiều chức năng cùng lúc.

Thứ nhất, đối thoại tạo cá tính. Mỗi nhân vật có một cách nói riêng. Chỉ cần vài lượt lời, người đọc đã có thể hình dung phần nào tính cách, trình độ, nghề nghiệp và tâm thế của nhân vật.

Thứ hai, đối thoại đẩy cốt truyện. Một thông tin được tiết lộ, một câu hỏi được đặt ra, một câu trả lời làm phát sinh tình huống mới. Nhờ đó, lời thoại trở thành một bộ phận của hành động.

Thứ ba, đối thoại tạo xung đột. Khi các nhân vật có lợi ích hoặc quan điểm khác nhau, lời nói trở thành nơi va chạm. Có khi xung đột nằm ngay trong cách xưng hô, cách gọi tên, cách né tránh hoặc cách phản bác.

Thứ tư, đối thoại tạo tiếng cười. Đặc biệt trong những truyện có chất trào phúng, tiếng cười thường nảy sinh từ sự lệch pha giữa lời nói và hoàn cảnh, giữa sự nghiêm túc của nhân vật và cái phi lý của sự việc.

Thứ năm, đối thoại bộc lộ quan niệm sống. Một câu nói về người thân, tiền bạc, tình yêu, danh dự hay trách nhiệm đôi khi đủ cho người đọc nhận ra cả một hệ giá trị của nhân vật.

Ở phương diện này, có thể nói ngôn ngữ đối thoại của Nguyễn Nhuận Hồng Phương mang tính đa chức năng. Nó vừa là phương tiện kể chuyện, vừa là phương tiện tạo hình nhân vật, vừa là phương tiện biểu hiện tư tưởng.

Đặc biệt, khi đối thoại được đặt trong những không gian khép kín như phòng chờ, căn phòng, quán hoặc xe, hiệu quả càng rõ. Những người xa lạ buộc phải trò chuyện, và từ lời nói của họ, từng mảnh đời được mở ra. Phòng chờ.. 12 mét vuông là ví dụ tiêu biểu cho khả năng biến đối thoại thành phương thức mở rộng không gian truyện.

3.2. 3. Ngôn ngữ miêu tả giàu tính tạo hình

Bên cạnh chất khẩu ngữ và tính đối thoại, ngôn ngữ Nguyễn Nhuận Hồng Phương còn có khả năng tạo hình khá rõ. Nhà văn thường sử dụng so sánh, liên tưởng, phóng đại, từ tượng hình, từ tượng thanh và những chi tiết giàu khả năng gợi hình để làm cho cảnh vật và con người hiện lên cụ thể.

Điều này đặc biệt rõ trong những đoạn miêu tả thiên nhiên. Khi viết về đồi, sông, đầm, cây cối, mùa, gió, mưa hay cảnh quê, câu văn có xu hướng chậm lại và giàu hình ảnh hơn. Chất khẩu ngữ của phần đối thoại nhường chỗ cho một thứ ngôn ngữ giàu cảm giác.

Trong Vẹt góc đồi thông, không gian đồi thông gắn với tuổi thơ của Kiên, Hòa và Tân. Đồi thông được nhìn qua những kỷ niệm, trò chơi và cảm giác của nhân vật. Vì thế, cảnh vật vừa có hình hài cụ thể vừa mang màu sắc ký ức. Khi Kiên rời đi, đồi thông trở thành hình ảnh gợi nhớ một thời tuổi trẻ đã xa.

Trong Truyện viết ở Đầm Cò, đàn cò, đầm nước và không gian quê cũng có khả năng tạo hình và tạo không khí. Thiên nhiên gắn với cuộc sống của Tùng, với ký ức về người cha và với lựa chọn của nhân vật. Cảnh vật vì thế chẳng đứng bên ngoài câu chuyện mà trở thành một phần của đời sống tinh thần.

Ngôn ngữ tạo hình còn thể hiện ở cách nhà văn lựa chọn những chi tiết cụ thể thay cho những nhận xét chung. Một dáng người, một ánh mắt, một chiếc áo, một chiếc xe, một món đồ hoặc một âm thanh có thể giúp người đọc hình dung cả một hoàn cảnh.

Ở đây có thể nhận thấy một đặc điểm đáng chú ý: Nguyễn Nhuận Hồng Phương thường tạo hình bằng chi tiết. Nhà văn chẳng nhất thiết mô tả dài. Chỉ cần một dấu hiệu đúng chỗ, hình ảnh đã hiện ra.

Cùng với từ tượng hình, từ tượng thanh cũng góp phần tạo nên không khí. Tiếng máy xe, tiếng nói chuyện, tiếng động của không gian sinh hoạt, âm thanh của thiên nhiên.. Giúp cảnh truyện có độ sống. Đặc biệt trong những truyện giàu chất hài, âm thanh và nhịp điệu của lời nói có thể trở thành một phần của tiếng cười.

Như vậy, ngôn ngữ tạo hình giúp văn xuôi Nguyễn Nhuận Hồng Phương giữ được tính trực quan của đời sống. Người đọc chẳng chỉ hiểu sự việc mà còn có thể nhìn thấy, nghe thấy và cảm nhận được không khí của sự việc.

3.2. 4. Sự pha trộn giữa khẩu ngữ và ngôn ngữ văn chương

Một đặc điểm có ý nghĩa quan trọng đối với phong cách ngôn ngữ Nguyễn Nhuận Hồng Phương là sự chuyển đổi linh hoạt giữa khẩu ngữ và ngôn ngữ văn chương.

Ở những đoạn đối thoại, ngôn ngữ thường rất gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày. Câu văn có thể ngắn, trực tiếp, nhiều sắc thái. Nhưng khi nhà văn chuyển sang miêu tả thiên nhiên, hồi ức hoặc những trạng thái tình cảm, ngôn ngữ lại trở nên mềm hơn, giàu hình ảnh và có độ ngân vang.

Sự chuyển đổi ấy có thể nhận thấy khá rõ trong Tấm áo màu hoa đào. Khi câu chuyện đi vào đời sống thực, ngôn ngữ gắn với tiếng máy, bụi bẩn, công việc, đất đai, sự giải tỏa và những biến động của đời sống. Những yếu tố rất cụ thể ấy tạo nên sắc thái hiện thực. Nhưng khi ký ức về Trại Đạo Cường, về cảnh chiều quê, đồi, gió, cá, cây cối trở về, câu văn chuyển sang một sắc thái khác, giàu chất trữ tình hơn.

Đây chính là một trong những điểm đáng chú ý trong ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương: chất văn chương được tạo ra từ sự vận động giữa lời nói đời thường và cảm xúc nghệ thuật.

Sự pha trộn này giúp nhà văn tránh được hai cực. Nếu chỉ sử dụng ngôn ngữ khẩu ngữ, văn bản dễ nghiêng về ghi chép đời sống. Nếu chỉ sử dụng ngôn ngữ trữ tình, câu chuyện có thể mất đi độ chân thực. Nguyễn Nhuận Hồng Phương thường để hai lớp ngôn ngữ cùng tồn tại: đời sống cung cấp chất liệu, còn cảm xúc và suy tưởng nâng chất liệu ấy lên thành văn chương.

Có thể nhận thấy sự chuyển đổi này khá rõ trong những truyện có cấu trúc hồi tưởng. Hiện tại thường được kể bằng ngôn ngữ trực tiếp, gần đời sống; khi quá khứ trở về, nhịp câu chậm lại, hình ảnh xuất hiện nhiều hơn, cảnh vật được nhìn bằng con mắt của ký ức. Sự thay đổi ngôn ngữ vì thế đồng thời là sự thay đổi điểm nhìn cảm xúc.

Bức kí họa tình yêu là một trường hợp giàu chất trữ tình. Từ một bức tranh được trao lại sau hơn bốn mươi năm, câu chuyện mở vào ký ức tình yêu. Những chi tiết của hiện tại dần nhường chỗ cho thế giới của ký ức. Bức ký họa lúc này chẳng chỉ là một vật thể; nó trở thành nơi chứa đựng thời gian và cảm xúc.

Tương tự, Tháng ngày chưa xa có sự chuyển đổi giữa ngôn ngữ kể chuyện hiện tại và ngôn ngữ hồi tưởng chiến tranh. Khi Thành kể về chiến trường, không gian, đồng đội, những trận đánh và những mất mát, câu chuyện mang theo sức nặng của trải nghiệm. Quá khứ vì thế chẳng phải một đoạn tư liệu lịch sử mà trở thành ký ức sống động của con người.

Ở phương diện này, có thể thấy dấu ấn của một nhà văn vốn có nền tảng tư duy văn xuôi. Ngôn ngữ thơ xuất hiện trong những đoạn cần sự rung động; ngôn ngữ đời sống xuất hiện trong những đoạn cần sự chân thực; ngôn ngữ trào phúng xuất hiện khi nhà văn muốn tạo khoảng cách phê phán. Các lớp ngôn ngữ ấy cùng tồn tại trong một chỉnh thể.

Đây cũng là cơ sở để nhận diện tính đa thanh của ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương. Không chỉ có một giọng nói duy nhất của người kể. Trong tác phẩm còn có tiếng nói của người lính, người lao động, người già, cán bộ, người dân quê, người nghèo, người từng trải và những con người ở nhiều vị trí xã hội khác nhau. Mỗi giọng nói mang theo một cách nhìn về đời sống.

Bởi vậy, ngôn ngữ nghệ thuật của Nguyễn Nhuận Hồng Phương có thể được nhìn nhận như một sự kết hợp giữa chất đời và chất văn, chất khẩu ngữ và chất trữ tình, chất hiện thực và chất suy tưởng. Chính sự kết hợp ấy giúp văn xuôi của ông giữ được vẻ gần gũi mà vẫn có khả năng tạo dư vang.

Tiểu kết mục 3.2

Ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương trước hết mang đậm dấu ấn của đời sống. Khẩu ngữ, đối thoại, thành ngữ, cách nói dân dã và những sắc thái ngôn ngữ khác nhau đưa hơi thở cuộc sống trực tiếp vào tác phẩm. Đây là nền tảng tạo nên cảm giác chân thực và gần gũi cho thế giới truyện.

Trên nền tảng ấy, nhà văn phát huy thế mạnh của ngôn ngữ đối thoại. Nhân vật tự bộc lộ qua cách nói, cốt truyện được thúc đẩy bằng lời nói, xung đột được tạo ra trong lời nói và tiếng cười nhiều khi cũng bật ra từ lời nói. Đối thoại vì vậy trở thành một trong những phương tiện quan trọng nhất để tạo nhịp và tạo hình nhân vật.

Bên cạnh chất khẩu ngữ, ngôn ngữ miêu tả giàu tính tạo hình giúp cảnh vật và con người có diện mạo cụ thể. Những so sánh, liên tưởng, từ tượng hình, tượng thanh và các chi tiết giàu sức gợi làm cho không gian truyện có âm thanh, màu sắc và nhịp điệu.

Đặc biệt, sự pha trộn giữa khẩu ngữ và ngôn ngữ văn chương tạo nên một sắc thái riêng. Khi viết về đời sống, nhà văn giữ được chất nói và chất thực. Khi đi vào thiên nhiên, ký ức và tình cảm, ngôn ngữ trở nên giàu hình ảnh và trữ tình. Sự chuyển đổi ấy làm cho văn xuôi vừa có độ chân thực của đời sống vừa có độ ngân của nghệ thuật.

Có thể khái quát đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương bằng một chuyển động:

Từ lời ăn tiếng nói của đời sống → đến ngôn ngữ nghệ thuật → rồi trở lại đời sống bằng một chiều sâu cảm xúc và nhận thức mới.

Chính ở sự vận động ấy, ngôn ngữ trở thành một thành tố quan trọng tạo nên phong cách truyện ngắn của Nguyễn Nhuận Hồng Phương. Và từ ngôn ngữ, một phương diện khác cũng dần hiện ra: giọng điệu. Nếu ngôn ngữ là chất liệu để câu chuyện cất tiếng, thì giọng điệu quyết định câu chuyện ấy được cất lên bằng tiếng cười, sự xót xa, niềm thương cảm, sự chiêm nghiệm hay một thái độ trữ tình sâu lắng.

3.3. Giọng điệu

Nếu nhân vật là trung tâm của thế giới truyện, ngôn ngữ là phương tiện biểu đạt thì giọng điệu chính là sắc thái tinh thần bao trùm lên toàn bộ lời kể. Qua giọng điệu, người đọc nhận ra thái độ của nhà văn trước con người và đời sống: Lúc dịu dàng, sâu lắng; lúc hài hước, hóm hỉnh; khi sắc sảo, châm biếm; có khi xót xa, thương cảm và cuối cùng thường lắng lại trong những suy ngẫm về nhân tình thế thái.

Trong truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương, giọng điệu có sự vận động khá linh hoạt. Nhà văn chẳng đứng mãi ở một điểm nhìn cảm xúc. Một câu chuyện có thể bắt đầu bằng giọng kể nhẹ nhàng rồi chuyển sang hài hước; tiếng cười có thể bất chợt lắng xuống thành nỗi thương cảm; từ một cảnh đời cụ thể, lời kể lại chuyển sang chiêm nghiệm. Chính sự chuyển giọng ấy khiến truyện của ông giữ được độ mềm mại và tránh sự đơn điệu trong cảm xúc.

Có thể xem sự đan xen giữa trữ tình, hài hước, trào phúng, thương cảm và chiêm nghiệm là một trong những đặc điểm tạo nên diện mạo riêng của truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương.

3.3. 1. Giọng trữ tình – hoài niệm

Giọng trữ tình – hoài niệm xuất hiện khá đậm trong những truyện viết về chiến tranh, tình yêu, quê hương, người thân và những năm tháng đã qua. Đây là giọng điệu của sự trở về. Nhân vật trở về với một miền ký ức, còn nhà văn trở về với những gì đã từng sống, từng chứng kiến và từng yêu thương.

Trong những truyện hồi tưởng, quá khứ thường chẳng xuất hiện như một phần lịch sử đã đóng lại. Nó trở về trong tâm trạng của con người hiện tại. Vì thế, ký ức mang theo cả cảnh vật, con người, âm thanh và cảm giác.

Vẹt góc đồi thông là một trường hợp tiêu biểu. Sau mười lăm năm, Kiên gặp lại Hòa. Cuộc gặp ấy đánh thức một thời tuổi trẻ với đồi thông, tình bạn, tình yêu và những mất mát. Đồi thông vì thế vừa là một địa điểm cụ thể vừa là không gian ký ức. Khi Kiên rời đi, hình ảnh đồi thông tiếp tục ở lại trong tâm tưởng.

Giọng kể trong những đoạn như vậy có sự chậm lại. Nhà văn dành nhiều khoảng trống cho cảnh vật và ký ức. Những gì đã mất được nhìn bằng một ánh mắt dịu hơn. Nhân vật của hiện tại thường nhìn quá khứ với tâm thế của người đã trải qua nhiều biến động. Chính khoảng cách thời gian tạo nên độ lắng cho cảm xúc.

Trong Bức kí họa tình yêu, giọng trữ tình được hình thành từ một kỷ vật. Bức tranh được trao lại sau hơn bốn mươi năm, từ đó mở ra một câu chuyện tình yêu bị chia lìa bởi những hiểu lầm. Bức tranh trở thành vật chứa ký ức. Giọng kể vì thế mang theo một nỗi buồn dịu, một sự tiếc nuối và cảm giác về những điều đã đi qua mà chẳng thể trở lại.

Tháng ngày chưa xa, chất trữ tình lại gắn với ký ức chiến tranh. Chiến trường, đồng đội, tình yêu và những mất mát được nhìn từ thời bình. Vì thế, chiến tranh trong truyện chẳng chỉ là những trận đánh mà còn là một phần đời sống tinh thần của người lính sau chiến tranh. Giọng kể có sự đan xen giữa hiện thực khốc liệt và tình cảm sâu nặng dành cho đồng đội.

Giọng trữ tình – hoài niệm còn xuất hiện trong những truyện viết về quê hương. Những con sông, ngọn đồi, đầm nước, làng quê, cây cối.. Trở thành những dấu hiệu của nguồn cội. Cảnh vật được nhìn qua ký ức nên thường mang vẻ đẹp riêng, nhiều khi đẹp hơn chính hiện thực bởi nó đã được phủ lên bởi tình cảm.

Có thể nói, hoài niệm là một phương thức để Nguyễn Nhuận Hồng Phương đối thoại với thời gian. Nhà văn nhìn lại cái đã qua để hiểu cái đang có. Những gì mất đi khiến con người nhận ra giá trị của những gì từng hiện hữu. Bởi thế, chất trữ tình trong truyện của ông thường gắn với một cảm thức nhân sinh: Thời gian trôi đi, con người thay đổi, nhưng ký ức và tình nghĩa vẫn có khả năng ở lại.

3.3. 2. Giọng hài hước

Bên cạnh chất trữ tình, Nguyễn Nhuận Hồng Phương có một khả năng đáng chú ý là tạo tiếng cười từ những chuyện rất đời thường. Đó có thể là một tình huống vụng về, một cách ứng xử ngô nghê, một cuộc trò chuyện lệch pha, một sự hiểu lầm hoặc một nghịch lý trong sinh hoạt.

Cái hài của ông thường bắt đầu từ việc đặt nhân vật vào một hoàn cảnh mà giữa điều họ mong muốn và điều thực tế diễn ra xuất hiện một khoảng cách. Nhân vật càng nghiêm túc, tình huống đôi khi càng trở nên hài hước.

Chiếc xe tang cho thấy khá rõ kiểu hài này. Một chiếc xe phục vụ đám tang được đưa đi sửa. Công việc sửa chữa vốn rất bình thường, nhưng khi đặt trong hoàn cảnh đặc biệt của một đám tang, những cuộc trao đổi và ứng xử của các nhân vật tạo ra những tình huống bất ngờ.

Tiếng cười ở đây chẳng cần những trò gây cười cố ý. Nó nảy sinh từ sự tự nhiên của đời sống. Nhà văn quan sát một cách tỉnh táo, giữ nguyên những lời nói và cách ứng xử có phần vụng về của nhân vật, rồi để chính chúng tạo nên hiệu ứng hài.

Trong Phòng chờ.. 12 mét vuông, cái hài cũng được tạo nên từ sự va chạm giữa những con người xa lạ trong một không gian nhỏ. Mỗi người mang theo một câu chuyện, một cách nói và một cách nhìn đời. Khi những con người ấy ngồi cạnh nhau, những khác biệt trở thành nguồn tạo tiếng cười.

Điều đáng chú ý là tiếng cười của Nguyễn Nhuận Hồng Phương thường có tính thân mật. Nhà văn cười cùng nhân vật nhiều hơn là đứng ở vị trí cao để cười nhạo họ. Ngay cả khi nhân vật có sự vụng về, đáng trách, phía sau tiếng cười vẫn thường có một sự hiểu biết về hoàn cảnh con người.

Vì thế, cái hài trong truyện của ông thường là tiếng cười thế sự. Nó giúp câu chuyện nhẹ đi về nhịp điệu nhưng lại mở thêm một tầng suy nghĩ.

3.3. 3. Giọng trào phúng – châm biếm

Nếu giọng hài hước chủ yếu tạo tiếng cười từ những tình huống đời thường thì giọng trào phúng – châm biếm hướng tiếng cười vào những vấn đề thuộc về nhân cách và đời sống xã hội. Đối tượng của tiếng cười là thói háo danh, giả tạo, cơ hội, tham quyền, chạy chọt, đạo đức giả và những nghịch lý tồn tại trong đời sống.

Đây là một phương diện quan trọng trong phong cách truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương bởi nhà văn có khả năng quan sát khá sắc những biểu hiện của con người khi đứng trước quyền lực, tiền bạc, danh tiếng và lợi ích.

Thú chơi sang là trường hợp thích hợp để khảo sát phương diện này. Nhân vật Trần Thuyết được đặt trong câu chuyện về một "thi sĩ đồng quê", nhưng phía sau hình ảnh ấy là một hệ thống hành vi, quan hệ và thói quen đời thường đầy mâu thuẫn. Chính sự chênh lệch giữa hình ảnh nhân vật muốn tạo dựng và con người trong đời sống tạo ra chất trào phúng.

Ở đây, nhà văn chẳng cần trực tiếp tuyên bố nhân vật đáng cười. Ông để nhân vật tự nói, tự hành động và tự bộc lộ. Tiếng cười vì thế có sức thuyết phục hơn một lời phê phán trực tiếp.

Cỏ mật cũng là một văn bản đáng chú ý. Những câu chuyện xoay quanh việc sáng tác dân ca, danh nghĩa nghệ thuật và những quan hệ phía sau hoạt động ấy tạo nên một trường trào phúng. Cái đáng cười nằm trong khoảng cách giữa nghệ thuật được nói tới và cách con người ứng xử với nghệ thuật.

Ông Hà lại khai thác một kiểu trào phúng khác: trào phúng căn cước. Nhân vật luôn tìm cách khẳng định mình là "người Hà Nội" bằng hàng loạt dấu hiệu bên ngoài. Càng nhấn mạnh vào những dấu hiệu ấy, nhân vật càng tạo ra khoảng cách giữa căn cước tự nhận và giá trị thực của con người.

Giọng trào phúng của Nguyễn Nhuận Hồng Phương vì thế thường hoạt động theo cơ chế:

Đưa nhân vật vào hoàn cảnh → để nhân vật tự bộc lộ → tạo khoảng cách giữa lời nói và hành động → hình thành tiếng cười → mở ra sự phê phán.

Đây là kiểu trào phúng có hiệu quả bởi người đọc được trao quyền phán xét. Nhà văn cung cấp tình huống và chi tiết; người đọc tự nhận ra điều đáng cười, đáng trách.

Đáng chú ý hơn, phía sau tiếng cười thường có một câu hỏi về sự tha hóa của con người. Khi danh tiếng quan trọng hơn nhân cách, khi chức vụ quan trọng hơn trách nhiệm, khi hình thức lấn át thực chất, tiếng cười trở thành một cách cảnh báo.

3.3. 4. Giọng xót xa, thương cảm

Sau tiếng cười là một khoảng lặng. Đây là một trong những đặc điểm làm nên chiều sâu nhân văn trong truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương. Khi viết về những người mẹ, người lính, người nghèo, người cô độc hoặc những thân phận chịu tổn thương, giọng văn thường trở nên chậm, mềm và giàu sự cảm thông.

Niềm tin của Mẹ là một trong những truyện tiêu biểu nhất. Người mẹ tìm kiếm người con đã hy sinh và vẫn tin rằng con mình còn sống. Điều khiến câu chuyện lay động chẳng nằm ở sự kiện lớn mà ở sức mạnh của một niềm tin xuất phát từ tình mẫu tử.

Khoảnh khắc chiếc kim rơi xuống trở thành một điểm nút giàu sức gợi. Người kể tìm chiếc kim nhỏ rồi nghe người mẹ nói về việc tìm kiếm người con. Từ một vật nhỏ bé, câu chuyện mở ra nỗi đau lớn. Giọng kể lúc này hoàn toàn chuyển khỏi sắc thái hài hước hay trào phúng. Nó trở nên lặng và xót xa.

Kết thúc bằng lời "Con xin lỗi Mẹ.." càng làm rõ sự thay đổi trong giọng điệu. Người kể chẳng còn đứng ngoài nỗi đau của người mẹ. Anh bước vào đó bằng sự thấu hiểu.

Giọng thương cảm cũng xuất hiện trong những truyện viết về người lính. Tháng ngày chưa xa đưa chiến tranh trở lại từ ký ức của người từng trải qua nó. Những người lính được nhìn bằng sự trân trọng. Chiến tranh được nhớ lại từ phía những mất mát và những tình cảm còn ở lại.

Ở những truyện viết về người nghèo, giọng thương cảm giúp nhà văn giữ được sự cân bằng giữa hiện thực và nhân đạo. Nhân vật có thể mắc lỗi, có thể vụng về, có thể ở bên lề xã hội, nhưng họ vẫn được nhìn như một con người có phẩm giá và quyền được yêu thương.

Điều đáng quý là sự thương cảm ấy thường tiết chế. Nhà văn chẳng đẩy cảm xúc đến bi lụy. Ông giữ một khoảng cách vừa đủ để người đọc tự cảm nhận nỗi đau. Chính sự tiết chế làm cho những đoạn văn thương cảm có sức ám ảnh lâu hơn.

3.3. 5. Giọng chiêm nghiệm

Nếu trữ tình tạo ra độ sâu của cảm xúc, hài hước tạo nên sự sinh động, trào phúng tạo sức phê phán và thương cảm tạo chiều sâu nhân đạo thì giọng chiêm nghiệm là nơi các dòng cảm xúc ấy hội tụ.

Sau tiếng cười thường còn lại một câu hỏi. Sau nước mắt thường xuất hiện một sự suy ngẫm. Sau một cuộc gặp, một kỷ niệm hay một biến cố, nhân vật thường nhìn lại đời mình và nhận ra một điều gì đó.

Đó có thể là suy ngẫm về thời gian. Những cuộc gặp lại sau nhiều năm khiến con người nhận ra sự thay đổi của mình và của những người từng thân thuộc.

Đó có thể là suy ngẫm về tình người. Niềm tin của Mẹ cho thấy đôi khi lý trí chẳng thể thay thế tình yêu thương. Người kể chỉ thực sự hiểu người mẹ khi đứng vào vị trí của bà.

Đó có thể là suy ngẫm về được và mất. Một con người có thể mất tiền, mất chức vụ, mất danh tiếng, nhưng điều đáng sợ hơn là đánh mất lòng tin hoặc đánh mất khả năng yêu thương.

Đó cũng có thể là suy ngẫm về cách con người nhìn nhau. Một người bị xã hội coi thường có thể vẫn giữ được phẩm giá; một người được xã hội tôn trọng đôi khi lại để lộ những khoảng trống bên trong.

Giọng chiêm nghiệm thường xuất hiện ở phần cuối truyện. Khi các sự kiện đã qua, nhà văn giảm nhịp kể, để lại một câu nói, một hình ảnh hoặc một khoảnh khắc. Bức kí họa tình yêu chẳng cần một biến cố lớn ở cuối truyện. Chỉ cần bức tranh trở lại sau hơn bốn mươi năm, toàn bộ câu chuyện tình yêu và sự hiểu lầm đã đủ tạo nên một khoảng lặng.

Vẹt góc đồi thông cũng kết thúc trong một trạng thái tương tự. Kiên rời đi, đồi thông vẫn ở đó, ký ức vẫn ở đó. Người đọc chẳng được yêu cầu phải đưa ra một kết luận cụ thể. Hình ảnh cuối cùng tự mở ra những suy nghĩ về tuổi trẻ, tình yêu, lỗi lầm và thời gian.

Chính ở giọng chiêm nghiệm, truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương vượt khỏi phạm vi của một câu chuyện cụ thể. Một số phận riêng có thể trở thành câu hỏi chung. Một cuộc gặp có thể trở thành suy nghĩ về thời gian. Một người mẹ có thể trở thành biểu tượng của tình mẫu tử. Một bức tranh có thể trở thành dấu hiệu của một tình yêu đã đi qua nhiều thập kỷ.

Có thể nói, chiêm nghiệm là tầng sâu cuối cùng của giọng điệu Nguyễn Nhuận Hồng Phương. Nhà văn kể chuyện để người đọc thấy đời sống; ông cười để người đọc nhận ra những nghịch lý; ông thương cảm để người đọc nhìn thấy phẩm giá; và cuối cùng ông để câu chuyện lắng xuống thành một suy nghĩ.

Tiểu kết mục 3.3

Khảo sát giọng điệu trong truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương cho thấy đây là một phương diện giàu tính biến hóa. Giọng trữ tình – hoài niệm, giọng hài hước, giọng trào phúng – châm biếm, giọng xót xa – thương cảm và giọng chiêm nghiệm thường xuyên đan xen, chuyển hóa cho nhau.

Giọng trữ tình đưa nhân vật trở về với ký ức, quê hương, tình yêu và những gì đã mất. Giọng hài hước tạo nên sự sinh động của đời sống. Giọng trào phúng mở ra khả năng phê phán những thói giả tạo, háo danh, vụ lợi và những nghịch lý xã hội. Giọng thương cảm giữ lại chiều sâu nhân đạo. Còn giọng chiêm nghiệm nâng câu chuyện từ một sự việc cụ thể lên những suy tư về thời gian, tình người, nhân phẩm và cách sống.

Điểm đáng chú ý là các giọng điệu ấy hiếm khi tồn tại biệt lập. Một truyện có thể bắt đầu bằng tiếng cười rồi kết thúc bằng nỗi buồn. Một câu chuyện tình yêu có thể khởi đi từ hồi ức nhưng kết thúc bằng suy ngẫm. Một tình huống trào phúng có thể khiến người đọc bật cười rồi bất chợt nhận ra phía sau tiếng cười là một vấn đề đáng lo ngại của đời sống.

Chính sự chuyển đổi ấy tạo nên độ sâu cho giọng điệu. Nguyễn Nhuận Hồng Phương có thể cười vào cái đáng cười nhưng vẫn giữ lại sự thương người; có thể phê phán cái xấu nhưng vẫn nhìn thấy hoàn cảnh phía sau con người; có thể viết về mất mát nhưng chẳng đẩy cảm xúc đến bi lụy.

Nếu cần cô đọng đặc điểm giọng điệu truyện ngắn của ông, có thể hình dung theo một đường vận động:

Từ tiếng cười đến suy ngẫm, từ hoài niệm đến hiện thực, từ xót xa đến thấu hiểu.

Đó cũng là nơi phong cách truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương kết tinh rõ nhất. Nhà văn nhìn đời bằng một con mắt tỉnh táo nhưng giữ trong mình một tấm lòng mềm. Ông quan sát những nghịch lý của xã hội bằng sự sắc sảo, đồng thời nhìn những thân phận con người bằng sự cảm thông. Vì thế, tiếng cười trong truyện của ông thường có dư vị buồn, còn nỗi buồn thường mở ra một niềm tin vào tình người.

Từ ba phương diện đã khảo sát trong chương này - nghệ thuật xây dựng nhân vật, ngôn ngữ nghệ thuật và giọng điệu - có thể thấy thế giới truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương được tạo dựng trên một nền tảng nhất quán: đời sống là điểm xuất phát, con người là trung tâm, còn tình người là chiều sâu cuối cùng của sự khám phá nghệ thuật.

(Còn nữa - Dưới bình luận)
 
278 ❤︎ Bài viết: 815 Tìm chủ đề

Chương IV - Sự kết hợp giữa trữ tình, trào phúng và chiêm nghiệm – đặc trưng phong cách truyện ngắn nguyễn nhuận hồng phương


20260829-032750-9eff46ec53.png


Sau khi khảo sát thế giới nghệ thuật, nghệ thuật trần thuật, nghệ thuật xây dựng nhân vật, ngôn ngữ và giọng điệu, có thể nhận thấy một đặc điểm nổi bật của truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương: các phương thức biểu đạt và những sắc thái giọng điệu trong sáng tác của ông luôn có sự giao thoa. Trữ tình, trào phúng và chiêm nghiệm chẳng phải ba khu vực tách biệt. Chúng thường chuyển hóa lẫn nhau trong cùng một câu chuyện, thậm chí trong cùng một tình huống.

Một câu chuyện có thể bắt đầu từ một cuộc gặp rất bình thường, được kể bằng giọng tự nhiên, xen những câu đối thoại hài hước; sau tiếng cười, một ký ức bất ngờ xuất hiện; ký ức ấy dẫn nhân vật đến một mất mát; và cuối cùng, câu chuyện lắng xuống thành một suy ngẫm về tình người. Cũng có khi nhà văn bắt đầu bằng một nghịch lý xã hội, để tiếng cười làm nhiệm vụ bóc tách những lớp vỏ giả tạo, rồi từ phía sau cái đáng cười, người đọc nhận ra một nỗi buồn về con người.

Chính sự vận động ấy khiến truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương có được độ đa thanh về cảm xúc. Nhà văn vừa là người quan sát đời sống, vừa là người tham dự vào đời sống; vừa tỉnh táo trước những nghịch lý, vừa giữ được sự mềm mại của một tâm hồn giàu tình cảm.

4.1. Từ chuyện đời đến chuyện người

Một đặc điểm quan trọng trong sáng tác Nguyễn Nhuận Hồng Phương là điểm xuất phát thường nằm ở một câu chuyện cụ thể của đời sống, nhưng đích đến lại hướng về con người.

Nhà văn có thể bắt đầu từ một cuộc gặp, một câu chuyện gia đình, một người bạn cũ, một công việc, một căn phòng chờ, một chiếc xe, một mảnh đất hay một kỷ niệm. Những chất liệu ấy đều rất gần với đời sống. Nhưng sau khi câu chuyện được mở ra, người đọc dần nhận thấy vấn đề quan trọng hơn nằm phía sau sự việc: Con người đối xử với nhau như thế nào, điều gì làm nên phẩm giá, tình yêu có thể giữ con người ở lại với nhau ra sao, ký ức có ý nghĩa thế nào đối với một đời người.

Phòng chờ.. 12 mét vuông là một ví dụ tiêu biểu. Bề mặt câu chuyện chỉ là những con người cùng ngồi trong một căn phòng nhỏ. Nhưng từ không gian ấy, từng hoàn cảnh được mở ra. Căn phòng mười hai mét vuông dần trở thành một xã hội thu nhỏ, nơi những người xa lạ tình cờ gặp nhau và để lộ những câu chuyện riêng.

Ở đây, cái đáng chú ý chẳng nằm ở diện tích căn phòng. Giá trị nghệ thuật nằm ở việc nhà văn biến một không gian nhỏ thành một thế giới người rộng lớn. Từ chuyện chờ đợi, câu chuyện chuyển sang chuyện sống; từ những người xa lạ chuyển sang những thân phận; từ thân phận chuyển sang cách con người nhìn và đối xử với nhau.

Niềm tin của Mẹ cũng đi theo hướng ấy. Một người kể chuyện đến với một người mẹ vẫn tin người con đã hy sinh còn sống. Sự việc thoạt nhìn rất nhỏ. Nhưng từ chiếc kim bị rơi xuống, người kể nhận ra chiều sâu của tình mẫu tử. Cái kim trở thành một chi tiết nhỏ nhưng mở ra một vấn đề lớn: Giá trị của một con người chẳng được đo bằng kích thước hay giá trị vật chất; đối với tình yêu thương, một con người có thể trở thành cả thế giới.

Vẹt góc đồi thông, một cuộc gặp lại người bạn cũ sau mười lăm năm dẫn vào cả một miền ký ức. Câu chuyện về Kiên, Hòa và Tân dần trở thành câu chuyện về tuổi trẻ, tình yêu, lỗi lầm, sự tha thứ và những biến đổi của con người theo thời gian.

Như vậy, Nguyễn Nhuận Hồng Phương thường đi từ cái cụ thể đến cái khái quát, từ một đời người đến một vấn đề nhân sinh. Nhưng sự khái quát ấy chẳng được tạo ra bằng những lời tuyên bố mang tính khẩu hiệu. Nó được hình thành từ chính số phận và hành động của nhân vật.

Đây là một đặc điểm quan trọng trong tư duy nghệ thuật của nhà văn: chuyện đời là chất liệu, chuyện người là đối tượng khám phá.

Bởi thế, dù viết về chiến tranh, tình yêu, quê hương, người lao động, công chức, quyền lực hay những nghịch lý xã hội, Nguyễn Nhuận Hồng Phương vẫn trở về với một câu hỏi căn bản: con người sẽ sống với nhau như thế nào?

4.2. Từ tiếng cười đến sự phê phán


Tiếng cười là một phương tiện đáng kể trong truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương. Nhưng tiếng cười ấy chẳng dừng ở mục đích mua vui. Nó thường là một phương thức nhận thức đời sống.

Nhà văn nhìn thấy những điều đáng cười trong những tình huống rất bình thường: Một sự vụng về, một cách ứng xử lệch lạc, một cuộc trò chuyện tréo ngoe, một thói quen, một kiểu khoe khoang hoặc một nghịch lý xã hội. Khi đặt chúng vào đúng cấu trúc truyện, tiếng cười xuất hiện một cách tự nhiên.

Chiếc xe tang cho thấy khá rõ cơ chế này. Công việc sửa một chiếc xe tang vốn chẳng có gì đặc biệt, nhưng những cách ứng xử, lời nói và tình huống xung quanh công việc ấy tạo nên những nghịch lý hài hước.

Tiếng cười ở đây giúp câu chuyện nhẹ nhõm về bề mặt, nhưng phía sau lại có một sự quan sát sắc sảo về cách con người ứng xử trước công việc, tiền bạc và những hoàn cảnh nhạy cảm của đời sống.

Trong Cỏ mật, tiếng cười hướng vào khoảng cách giữa danh nghĩa nghệ thuật và cách con người ứng xử với nghệ thuật. Những câu chuyện về sáng tác dân ca được triển khai bằng một hệ thống đối thoại giàu tính khẩu ngữ, qua đó những toan tính và sự giả tạo dần lộ ra.

Thú chơi sang lại tạo tiếng cười từ sự mâu thuẫn trong hình ảnh và cách sống của nhân vật Trần Thuyết. Danh xưng, hình ảnh "thi sĩ đồng quê", quan hệ xã hội và những thói quen đời thường tạo thành một trường nghịch lý. Chính khoảng cách ấy trở thành đối tượng của tiếng cười trào phúng.

Ông Hà, nhà văn sử dụng một phương thức tinh tế hơn: Để nhân vật tự xây dựng hình ảnh "người Hà Nội" của mình qua giọng nói, ký ức, thói quen, chiếc xe biển số 29 và những dấu hiệu căn cước khác. Khi hình ảnh tự tạo dựng ấy được đặt cạnh đời sống thực, tiếng cười xuất hiện.

Như vậy, tiếng cười trong truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương thường vận động theo hướng:

Tiếng cười → bóc lớp vỏ → phơi bày nghịch lý → nhận diện bản chất → đặt ra câu hỏi đạo đức.

Nhà văn cười vào thói háo danh để người đọc nhận ra sự trống rỗng phía sau danh tiếng. Ông cười vào sự giả tạo để người đọc nhận ra giá trị của chân thực. Ông cười vào những nghịch lý quyền lực để người đọc suy nghĩ về trách nhiệm.

Vì vậy, trào phúng ở Nguyễn Nhuận Hồng Phương mang bản chất thế sự và đạo đức. Tiếng cười có sức phê phán nhưng chẳng nhằm hạ thấp con người. Đằng sau nó vẫn là mong muốn nhìn thấy một đời sống lành mạnh hơn, nơi con người được đánh giá bằng cách sống thay vì lớp vỏ xã hội.

Đó cũng là lý do tiếng cười của ông thường có một dư vị đặc biệt: cười xong vẫn phải nghĩ.

4.3. Từ hồi ức cá nhân đến ký ức cộng đồng

Một trong những đóng góp đáng chú ý của truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương là khả năng biến ký ức cá nhân thành ký ức có ý nghĩa cộng đồng.

Nhiều truyện được kể từ vị trí của một người đã trải qua. Nhân vật nhớ về một người bạn, một cuộc tình, một miền quê, một trận chiến, một người thân hoặc một biến cố. Thoạt nhìn, đó là câu chuyện riêng của "tôi". Nhưng khi quá khứ được mở ra, người đọc nhận ra phía sau cái riêng là những trải nghiệm mà nhiều người cùng thế hệ đã từng đi qua.

Tháng ngày chưa xa là trường hợp tiêu biểu. Ký ức của Thành về chiến trường Đường 9 – Nam Lào bắt đầu từ câu chuyện của một cá nhân. Nhưng qua ký ức ấy, cả một thế hệ người lính hiện lên với tình đồng đội, sự hy sinh, những mất mát và những năm tháng chiến tranh.

Như vậy, ký ức chẳng chỉ là "tôi nhớ". Nó trở thành một hình thức lưu giữ lịch sử bằng cảm xúc con người.

Trong Vẹt góc đồi thông, ký ức tuổi thơ của Kiên, Hòa và Tân cũng vượt khỏi câu chuyện của ba con người. Đồi thông, tuổi thơ, những năm tháng chiến tranh và sự thay đổi của đời sống trở thành dấu hiệu của một thời đại.

Bức kí họa tình yêu lại cho thấy một dạng ký ức khác: Ký ức tình yêu. Một bức tranh được giữ lại hơn bốn mươi năm có thể lưu giữ một mối tình, một sự hiểu lầm và một phần tuổi trẻ. Từ câu chuyện của hai con người, tác phẩm gợi ra một trải nghiệm phổ quát về những điều con người từng đánh mất chỉ vì thiếu một cơ hội để nói thật với nhau.

Ký ức trong truyện Nguyễn Nhuận Hồng Phương vì thế có hai tầng.

Tầng thứ nhất là ký ức cá nhân: Những gì nhân vật từng sống, từng yêu, từng mất.

Tầng thứ hai là ký ức cộng đồng: Một thế hệ, một vùng đất, một thời chiến tranh, một kiểu quan hệ xã hội.

Sự chuyển hóa giữa hai tầng ấy làm cho truyện ngắn có chiều sâu lịch sử mà vẫn giữ được tính trữ tình. Nhà văn chẳng kể lịch sử bằng những sự kiện lớn. Ông kể lịch sử bằng những gì còn lại trong tâm hồn con người.

Đây là một hướng tiếp cận có ý nghĩa trong văn xuôi đương đại. Khi những sự kiện lịch sử dần lùi xa, ký ức của cá nhân trở thành một cách để thế hệ sau hình dung quá khứ. Một người lính nhớ về đồng đội; một người con nhớ về cha; một người yêu nhớ về mối tình cũ; một người trở về quê nhớ về cảnh vật năm xưa. Những mảnh ký ức ấy hợp thành một bản đồ tinh thần của thời đại.

Vì vậy, trong thế giới truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương, ký ức vừa là chất liệu tự sự vừa là một phương thức lưu giữ giá trị con người.

4.4. Từ cái bình thường đến cái bất thường

Một trong những nét đáng chú ý trong tư duy nghệ thuật của Nguyễn Nhuận Hồng Phương là khả năng phát hiện cái bất thường ẩn trong những điều bình thường.

Nhà văn chẳng nhất thiết phải tìm đến những biến cố quá lớn để tạo nên truyện. Một cuộc gặp, một câu nói, một chiếc kim, một chiếc áo, một căn phòng, một mảnh đất, một con đường hay một người bạn cũ đều có thể trở thành điểm khởi đầu.

Điều quyết định nằm ở khả năng nhìn thấy ý nghĩa phía sau chi tiết.

Chiếc kim trong Niềm tin của Mẹ là một ví dụ hoàn hảo. Một vật nhỏ bé rơi xuống đất vốn chẳng có gì đặc biệt. Nhưng trong tình huống của câu chuyện, nó trở thành chiếc chìa khóa mở ra nỗi đau và niềm tin của người mẹ.

Một căn phòng mười hai mét vuông trong Phòng chờ.. 12 mét vuông cũng vậy. Diện tích chẳng đáng kể, nhưng bên trong đó là nhiều con người với nhiều số phận. Không gian vật chất nhỏ bé trở thành không gian xã hội rộng lớn.

Một bức tranh trong Bức kí họa tình yêu cũng có sức chứa tương tự. Bức tranh là một vật thể, nhưng nó mang theo hơn bốn mươi năm ký ức.

Một đồi thông trong Vẹt góc đồi thông trở thành nơi ký ức trú ngụ. Đồi thông vừa là cảnh vật vừa là chứng nhân của tuổi thơ, tình yêu và những biến đổi của con người.

Một chiếc xe tang trong Chiếc xe tang lại trở thành trung tâm của một chuỗi tình huống hài hước và nghịch lý.

Những ví dụ ấy cho thấy một nguyên tắc nghệ thuật khá rõ:

Chi tiết nhỏ + hoàn cảnh thích hợp = khả năng mở ra ý nghĩa lớn.

Nguyễn Nhuận Hồng Phương có khả năng nhìn đời sống ở cấp độ chi tiết. Ông chẳng bỏ qua những vật dụng, cử chỉ hay câu nói tưởng như vụn vặt. Chính những thứ ấy có thể trở thành "điểm tựa" của truyện.

Điều này tạo nên một đặc điểm đáng chú ý trong phong cách của ông: hiện thực chẳng chỉ nằm ở sự kiện; hiện thực còn nằm trong những dấu hiệu nhỏ của đời sống.

Một người nhìn chiếc kim có thể cho thấy cách họ nhìn con người. Một người giữ bức tranh có thể cho thấy cách họ giữ ký ức. Một người trở lại đồi thông có thể cho thấy cách họ đối diện với tuổi trẻ. Một người ngồi trong phòng chờ có thể mang theo cả một câu chuyện đời.

Vì thế, cái bình thường trong truyện Nguyễn Nhuận Hồng Phương thường có khả năng chuyển hóa thành cái bất thường ở tầng ý nghĩa. Sự việc vẫn nhỏ, nhưng cách nhìn của nhà văn làm nó trở nên lớn hơn chính nó.

4.5. Sự thống nhất giữa hình thức và tư tưởng

Từ những phương diện đã khảo sát, có thể nhận thấy nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương hình thành một cấu trúc tương đối thống nhất:

Đời sống → tình huống → nhân vật → lời thoại/hành động → nghịch lý → nhận thức → dư âm.

Đây chẳng phải một công thức cứng nhắc. Mỗi truyện có cách vận hành riêng. Nhưng nếu nhìn toàn bộ hệ thống truyện từ phương diện thi pháp, có thể nhận ra một đường dây chung.

Đời sống là điểm xuất phát. Nhà văn lấy chất liệu từ những con người, công việc, địa danh, quan hệ và biến cố gần gũi.

Từ đời sống hình thành tình huống. Một cuộc gặp, một sự việc, một kỷ vật hoặc một nghịch lý trở thành điểm nút.

Tình huống đặt nhân vật vào hoàn cảnh cụ thể. Nhân vật phải nói, phải hành động, phải lựa chọn.

Thông qua lời thoại và hành động, bản chất nhân vật dần hiện ra. Những gì nhân vật làm thường có sức thuyết phục hơn những gì nhân vật tự nói về mình.

Từ đó xuất hiện nghịch lý: Giữa lời nói và hành động, giữa vẻ ngoài và bản chất, giữa quá khứ và hiện tại, giữa cái được tuyên bố và cái đang diễn ra.

Nghịch lý dẫn tới nhận thức. Nhân vật hiểu thêm về mình hoặc về người khác; người kể chuyện thay đổi cách nhìn; người đọc cũng được đặt trước một câu hỏi.

Và cuối cùng là dư âm. Truyện kết thúc nhưng câu hỏi còn lại. Một hình ảnh, một câu nói, một cử chỉ hoặc một kỷ niệm tiếp tục vận động trong tâm trí người đọc.

Niềm tin của Mẹ có thể được xem như một mô hình cô đọng của quá trình ấy. Đời sống tạo ra tình huống người mẹ chờ đợi người con. Tình huống đặt người kể trước một vấn đề. Chiếc kim rơi xuống tạo ra hành động. Lời nói của người mẹ làm thay đổi nhận thức. Cuối cùng, lời xin lỗi khép truyện nhưng mở ra dư âm về tình mẫu tử.

Vẹt góc đồi thông cũng vận động theo đường dây tương tự: Cuộc gặp hiện tại → ký ức quá khứ → các nhân vật và lựa chọn của họ → phát hiện về Hòa, Tân và chính Kiên → trở về hiện tại → hình ảnh đồi thông và ký ức tuổi thơ.

Bức kí họa tình yêu: Một kỷ vật → hồi tưởng → phát hiện sự thật → thay đổi cách nhìn về một mối tình → dư âm của thời gian.

Ở nhóm truyện trào phúng, đường dây ấy cũng hiện diện nhưng sắc thái khác: Đời sống → tình huống nghịch lý → nhân vật tự bộc lộ → tiếng cười → phê phán → suy ngẫm. Ông Hà, Cỏ mật, Thú chơi sang, Chiếc xe tang đều có thể được đọc từ phương diện này.

Điều đó cho thấy hình thức nghệ thuật và tư tưởng trong truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương có sự thống nhất khá rõ. Nhà văn chẳng sử dụng tình huống chỉ để kể chuyện; tình huống giúp bộc lộ nhân vật. Ông chẳng sử dụng đối thoại chỉ để làm truyện sinh động; đối thoại làm lộ quan niệm sống. Ông chẳng sử dụng tiếng cười chỉ để tạo sự hấp dẫn; tiếng cười trở thành phương tiện phê phán. Ông chẳng sử dụng hồi tưởng chỉ để kéo dài câu chuyện; hồi tưởng giúp hiện tại được soi sáng bởi quá khứ.

Và quan trọng nhất, tư tưởng nhân văn chẳng được đặt bên ngoài hình thức nghệ thuật. Nó nằm ngay trong cách nhà văn lựa chọn chi tiết, tổ chức tình huống, xây dựng nhân vật và kết thúc câu chuyện.

Tiểu kết chương 4

Từ toàn bộ quá trình khảo sát, có thể khẳng định rằng sự kết hợp giữa trữ tình, trào phúng và chiêm nghiệm là một trong những đặc điểm quan trọng tạo nên phong cách truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương.

Trữ tình giúp nhà văn giữ lại vẻ đẹp của ký ức, tình yêu, quê hương, tình thân và những gì con người từng trải qua. Trào phúng giúp ông nhìn thẳng vào những nghịch lý của đời sống, những biểu hiện giả tạo, háo danh, vụ lợi và những khoảng cách giữa vẻ ngoài với bản chất. Chiêm nghiệm là tầng sâu nối hai phương diện ấy lại, đưa câu chuyện từ cảm xúc và tiếng cười tới những suy nghĩ về con người.

Ba yếu tố ấy tạo nên một cấu trúc nghệ thuật có tính chuyển hóa:

Trữ tình làm mềm cái nhìn. Trào phúng làm sắc cái nhìn. Chiêm nghiệm làm sâu cái nhìn.

Nhờ vậy, Nguyễn Nhuận Hồng Phương có thể vừa nhìn thấy cái đáng cười vừa nhận ra cái đáng thương; vừa phê phán cái xấu vừa tìm kiếm phần người phía sau nó; vừa trở về với ký ức vừa đối diện với hiện tại.

Từ chuyện đời đến chuyện người, từ tiếng cười đến sự phê phán, từ hồi ức cá nhân đến ký ức cộng đồng, từ cái bình thường đến những phát hiện bất thường, nhà văn từng bước đưa người đọc vào một thế giới mà ở đó đời sống cụ thể luôn chứa đựng những câu hỏi lớn về nhân sinh.

Có thể xem đây là nét riêng quan trọng của truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương: ông viết về những điều gần gũi bằng một cái nhìn có chiều sâu; tìm cái lớn trong cái nhỏ; tìm câu chuyện con người phía sau câu chuyện đời sống.

Và nếu chương I cho thấy thế giới hiện thực và quan niệm về con người, chương II cho thấy cách nhà văn kể, chương III cho thấy ông tạo hình con người bằng nhân vật, ngôn ngữ và giọng điệu, thì chương IV cho phép nhìn toàn bộ những yếu tố ấy trong một chỉnh thể phong cách.

Ở đó, có thể nhận diện một nguyên tắc nghệ thuật xuyên suốt:

Đời sống là điểm xuất phát. Con người là trung tâm. Tình huống là nơi bản chất được thử thách. Tiếng cười và nước mắt là hai sắc thái của cùng một cái nhìn nhân văn. Chiêm nghiệm là điểm lắng cuối cùng.

Bởi vậy, truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương có thể tạo cho người đọc những trạng thái cảm xúc tưởng như đối lập: Có lúc bật cười trước một tình huống trớ trêu, có lúc chùng xuống trước một thân phận, có lúc trở về với một miền ký ức và cuối cùng dừng lại trước một câu hỏi về cách sống.

Đó chính là sức sống của thế giới truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương: Đời thường mà giàu phát hiện, hài hước mà có chiều sâu phê phán, trữ tình mà chẳng xa rời hiện thực, và sau tất cả luôn hướng về con người.

(Còn nữa - Dưới bình luận)
 
278 ❤︎ Bài viết: 815 Tìm chủ đề
KẾT LUẬN

20260829-033134-a504c2253d.png

Khảo sát hệ thống truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương từ phương diện hiện thực đời sống, quan niệm nghệ thuật về con người, nghệ thuật trần thuật, xây dựng nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu và sự kết hợp giữa các phương thức biểu đạt, có thể nhận thấy một thế giới truyện được hình thành từ vốn sống phong phú, sự quan sát trực tiếp và một ý thức khá rõ về trách nhiệm của người cầm bút trước đời sống. Ở đó, những câu chuyện tưởng như nhỏ bé của một cá nhân, một gia đình, một miền quê, một cuộc gặp hay một kỷ niệm đều có khả năng mở rộng thành những vấn đề có ý nghĩa xã hội và nhân sinh.

Điểm đáng chú ý trước hết là truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương bắt nguồn sâu từ đời sống và trải nghiệm cá nhân, nhưng văn chương của ông chẳng dừng ở việc ghi chép hiện thực. Những con người, địa danh, nghề nghiệp, hoàn cảnh và biến cố đi vào tác phẩm đều được nhà văn tổ chức lại bằng tư duy nghệ thuật. Đời sống cung cấp chất liệu ban đầu; tình huống, nhân vật, điểm nhìn, thời gian và kết cấu tạo nên hình thức; còn sự suy ngẫm về con người làm nên chiều sâu. Bởi vậy, hiện thực trong truyện ngắn của ông luôn có sự chuyển hóa từ cái được nhìn thấy sang cái được nhận thức.

Từ nền tảng ấy, hiện tại thường xuyên đối thoại với quá khứ. Ký ức là một trong những mạch ngầm quan trọng của thế giới truyện Nguyễn Nhuận Hồng Phương. Quá khứ chiến tranh, quê hương, tình yêu, gia đình, tuổi trẻ và những biến động xã hội trở về trong đời sống hiện tại của nhân vật. Tháng ngày chưa xa đưa ký ức chiến trường vào cuộc sống thời bình; Vẹt góc đồi thông để một cuộc gặp hiện tại đánh thức cả một thời tuổi trẻ; Bức kí họa tình yêu biến một kỷ vật thành chiếc cầu nối giữa hiện tại và hơn bốn mươi năm quá khứ. Những câu chuyện ấy cho thấy ký ức trong văn xuôi Nguyễn Nhuận Hồng Phương chẳng phải một lớp thời gian đã chết. Nó vẫn tham dự vào hiện tại, vẫn tác động tới cách con người hiểu mình và hiểu người khác.

Trong quá trình ấy, cái tôi người kể chuyện giữ một vị trí quan trọng. Đặc biệt, kiểu người kể vừa chứng kiến vừa tham dự, vừa kể vừa bình luận tạo nên một khoảng cách trần thuật khá linh hoạt. Người kể có thể đứng gần nhân vật để cảm nhận, nhưng cũng có thể lùi lại để quan sát và suy ngẫm. Nhờ vậy, câu chuyện giữ được tính chân thực của trải nghiệm đồng thời có khả năng mở rộng sang những bình diện xã hội và nhân sinh. Cái tôi ấy thường mang dấu ấn của một người từng trải, từng chứng kiến nhiều cảnh đời, vì thế lời kể có khi hóm hỉnh, có khi sắc sảo, có lúc lại lắng xuống trong những khoảng hồi tưởng và thương cảm.

Hệ thống nhân vật cũng là một thành tố quan trọng tạo nên sức sống của truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương. Nhân vật thường được xây dựng qua sự kết hợp giữa ngoại hình, hành động, lời nói và quan hệ xã hội. Họ có lai lịch, nghề nghiệp, gia đình và hoàn cảnh cụ thể; vì thế mang dáng dấp của những con người có thật trong đời sống. Người lính, người mẹ, người lao động, người cán bộ, người già, người bạn, người dân quê, những con người nghèo khó hay chịu nhiều định kiến đều có cơ hội bước vào văn chương.

Trong đó, hành động và đối thoại có giá trị đặc biệt. Nhân vật chẳng chỉ được nhận diện qua lời giới thiệu của người kể mà còn tự bộc lộ trong cách nói và cách sống. Một câu nói có thể tạo nên cá tính; một hành động có thể làm thay đổi cách nhìn về cả một con người. Niềm tin của Mẹ là một trường hợp tiêu biểu: Hành động cúi xuống tìm chiếc kim và lời xin lỗi cuối truyện đánh dấu sự thay đổi trong nhận thức của người kể. Vẹt góc đồi thông lại để lựa chọn của Hòa trước số phận của Tân và đứa trẻ làm nổi bật vẻ đẹp của lòng nhân hậu.

Từ phương diện ngôn ngữ, có thể nhận thấy một dấu hiệu khá rõ trong phong cách truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương là sự khẩu ngữ hóa ngôn ngữ trần thuật. Lời ăn tiếng nói đời thường, thành ngữ, cách nói dân dã, tiếng đùa và sắc thái khẩu ngữ giúp nhân vật giữ được hơi thở của đời sống. Đặc biệt, ngôn ngữ đối thoại góp phần làm cho câu chuyện có nhịp điệu nhanh, tự nhiên, giàu tính sân khấu và thuận lợi cho việc tạo tiếng cười.

Song song với lớp ngôn ngữ đời thường ấy là ngôn ngữ miêu tả giàu hình ảnh và chất trữ tình. Khi viết về quê hương, thiên nhiên, ký ức hay tình yêu, câu văn thường có xu hướng mềm lại, giàu liên tưởng và cảm giác. Sự pha trộn giữa khẩu ngữ và ngôn ngữ văn chương tạo nên một đặc điểm đáng chú ý: Văn xuôi Nguyễn Nhuận Hồng Phương vừa có chất đời vừa có khả năng ngân vang.

Một phương diện khác góp phần làm nên diện mạo riêng của thế giới truyện là giọng điệu đa thanh. Trữ tình – hài hước – trào phúng – xót xa – chiêm nghiệm cùng tồn tại và chuyển hóa trong nhiều tác phẩm. Giọng trữ tình – hoài niệm thích hợp với những câu chuyện về chiến tranh, tình yêu, quê hương và quá khứ. Giọng hài hước làm cho đời sống hiện lên sinh động. Giọng trào phúng hướng vào những biểu hiện giả tạo, háo danh, vụ lợi và những nghịch lý xã hội. Giọng xót xa dành cho những phận người chịu tổn thương. Cuối cùng, giọng chiêm nghiệm đưa câu chuyện về những suy nghĩ rộng hơn về thời gian, tình người và cách sống.

Đặc biệt, tiếng cười và lòng thương người chẳng đối lập trong truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương. Đây có lẽ là một trong những đặc điểm đáng quý nhất của cái nhìn nghệ thuật của ông. Nhà văn có thể cười khá mạnh trước cái giả, cái xấu, cái lố bịch; có thể tạo nên những tình huống trào phúng sắc sảo; nhưng phía sau tiếng cười thường vẫn là một cái nhìn nhân tình, thế thái. Cái đáng phê phán được phơi bày, song con người phía sau nó vẫn được nhìn trong hoàn cảnh cụ thể. Chính điều này giúp tiếng cười của Nguyễn Nhuận Hồng Phương có chiều sâu đạo đức.

Ở phía đối diện, khi viết về người mẹ, người lính, người nghèo, người cô độc hay những thân phận bị tổn thương, nhà văn thường tiết chế cảm xúc. Ông chẳng biến nỗi đau thành sự bi lụy. Một chi tiết nhỏ, một cử chỉ, một câu nói có thể thay cho cả một đoạn bình luận. Niềm tin của Mẹ là ví dụ rõ ràng nhất: Từ chiếc kim nhỏ, nhà văn mở ra một nỗi đau lớn và kết thúc bằng một lời xin lỗi giản dị.

Từ toàn bộ những phương diện đã khảo sát, có thể bước đầu khái quát thi pháp truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương bằng một mô hình:

Đời sống → tình huống → nhân vật → lời thoại/hành động → nghịch lý → nhận thức → dư âm.

Đời sống là điểm xuất phát. Tình huống tạo ra sự va chạm. Nhân vật được đặt vào hoàn cảnh để tự bộc lộ. Lời thoại và hành động làm hiện hình tính cách. Nghịch lý tạo ra tiếng cười hoặc xung đột. Từ đó xuất hiện sự phát hiện, thức tỉnh và chiêm nghiệm. Cuối cùng, truyện thường để lại một hình ảnh, một câu nói hoặc một khoảnh khắc đủ sức tiếp tục sống trong tâm trí người đọc.

Đây cũng là điểm gặp nhau giữa hình thức nghệ thuật và tư tưởng trong truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương. Nhà văn chẳng đặt tư tưởng bên ngoài câu chuyện. Tư tưởng nằm trong cách ông lựa chọn nhân vật, tổ chức tình huống, sử dụng lời thoại, xây dựng nghịch lý và tạo kết thúc. Một chiếc kim có thể nói về tình mẫu tử. Một bức tranh có thể nói về thời gian và tình yêu. Một đồi thông có thể nói về tuổi trẻ. Một căn phòng nhỏ có thể nói về cả một xã hội. Một cuộc gặp lại có thể mở ra cả một đời người.

Có thể nói, giá trị đáng kể của truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương nằm ở khả năng tìm thấy cái lớn trong cái nhỏ. Ông chẳng nhất thiết phải lựa chọn những biến cố phi thường. Một câu chuyện bình thường, qua con mắt của một người từng trải và một tâm hồn nhạy cảm với đời sống, vẫn có thể trở thành nơi đặt ra những câu hỏi lớn về con người.

Về phương diện thi pháp, những đóng góp ấy cho thấy Nguyễn Nhuận Hồng Phương đã hình thành được một lối viết có những dấu hiệu riêng: hiện thực làm nền, trải nghiệm làm vốn sống, ký ức tạo chiều sâu, khẩu ngữ và đối thoại tạo nhịp sống, trữ tình tạo độ mềm, trào phúng tạo sức sắc, còn chiêm nghiệm tạo chiều sâu tư tưởng.

Dĩ nhiên, thế giới truyện ngắn của Nguyễn Nhuận Hồng Phương vẫn còn nhiều phương diện có thể tiếp tục nghiên cứu. Có thể khảo sát sâu hơn quan hệ giữa truyện ngắn và tiểu thuyết trong toàn bộ văn nghiệp của ông; mối liên hệ giữa kinh nghiệm sống và hư cấu nghệ thuật; sự vận động của hình tượng người kể chuyện; hoặc sự biến đổi của ngôn ngữ và giọng điệu qua các giai đoạn sáng tác. Những hướng nghiên cứu ấy sẽ góp phần đặt truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương vào bức tranh rộng hơn của văn xuôi Việt Nam đương đại.

Tuy nhiên, từ những kết quả bước đầu của công trình, có thể khẳng định rằng truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương đã tạo dựng được một thế giới nghệ thuật có bản sắc. Đó là thế giới của những con người bước ra từ đời sống, mang theo ký ức, những được – mất, những sai lầm, những khát vọng và cả khả năng yêu thương. Nhà văn nhìn họ bằng con mắt tỉnh táo của người từng trải, nhưng đồng thời bằng một tấm lòng còn giữ được sự tin cậy đối với con người.

Và có lẽ, đó là điều còn lại sau cùng khi người đọc khép lại những trang truyện của Nguyễn Nhuận Hồng Phương: một cảm giác rằng đời sống vốn nhiều nghịch lý, con người vốn nhiều khiếm khuyết, nhưng tình người vẫn là giá trị có khả năng cứu vớt những gì tưởng đã mất.

Có thể cô đọng đặc trưng thi pháp truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương bằng một nhận định:

"Lấy chuyện đời làm điểm xuất phát, lấy con người làm trung tâm, lấy trải nghiệm và ký ức làm chiều sâu, lấy khẩu ngữ và đối thoại làm phương tiện biểu đạt, lấy tiếng cười – nước mắt – chiêm nghiệm làm những cung bậc chủ đạo."

Đó vừa là một cách nhận diện thế giới truyện ngắn Nguyễn Nhuận Hồng Phương, vừa là lời khẳng định về một hướng đi văn chương được hình thành từ đời sống và trở về với con người.

Phụ lục - bảng corpus, những vấn đề có thể khai thác.

Nhóm
Tác phẩm tiêu biểu
Vấn đề có thể khai thác
Chiến tranh – hồi ức​
Tháng ngày chưa xa
Thời gian, hồi ức, người kể​
Quê hương – biến đổi​
Tấm áo màu hoa đào
Không gian, ký ức, hiện thực​
Tình mẫu tử​
Niềm tin của Mẹ
Tình huống, chi tiết, kết thúc​
Thế sự​
Sự đời
Nhân vật, nghịch lý, trào phúng​
Định kiến xã hội​
Sông có khúc..
Điểm nhìn, lịch sử, bi kịch​
Người lao động​
Trong rác không có rác
Nhân vật, hiện thực, nhân đạo​
Người bên lề​
Ước nguyện của anh Ơn
Nhân vật, cái nhìn nhân đạo​
Đời sống đô thị​
Phòng chờ.. 12 mét vuông
Không gian, kết cấu, nhân vật​
Chân dung trào phúng​
Ông Hà
Ngoại hình, lời nói, giọng điệu​
Chân dung văn nghệ sĩ​
Thú chơi sang
Trào phúng, đối thoại​
Tình bạn – quê hương​
Truyện viết ở Đầm Cò
Hồi ức, không gian, nhân vật​
Tình yêu – quá khứ​
Vẹt góc đồi thông
Hồi tưởng, thời gian, biểu tượng​

Lê Gia Hoài

HẾT
 

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back