913
1
Nguyễn Công Trứ sinh năm 1778 mất năm 1858 người làng Uy Viễn Huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh xuất thân trong một gia đình nề nếp Gia Phong mặc dù có tài nhưng ông theo đuổi nghiệp học khoa cử đến năm 42 tuổi mới đỗ đạt sau đó ông làm cho quan nhà Nguyễn Nhưng tính tình phóng khoáng thích tự do nên cuộc đời quan trường khá lận đận. Nguyễn Công Trứ là nhà nho yêu nước thương dân. Ông để lại khoảng 50 bài thơ, 60 bài ca trù và một bài phú nổi tiếng "hàn nho Phong vị phú" các sáng tác của ông chủ yếu viết bằng chữ Nôm.
Bài ca Ngất Ngưởng thuộc thể hát nói nói, nói được sáng tác sau năm 1848, khi ông đã cáo quan về hưu và sống cuộc đời tự do. Bài thơ thể hiện rất rõ thái độ sống của Nguyễn Công Trứ Trứ ở giai đoạn cuối đời, sau những trải nghiệm Đắng Cay của cuộc sống quan trường. Bài thơ là sự ý thức rất rõ Tài Năng và nhân cách sống của một nhà nho có tài có nhân cách.
Ngất Ngưởng là một từ láy tượng hình vốn được dùng chỉ sự vật ở độ cao chênh vênh bất ổn. Ở bài thơ này từ Ngất Ngưởng được dùng với nghĩa chỉ sự khác thường, coi thường dư luận. Ngoài nhan đề Từ Ngất Ngưởng được nhắc đi nhắc lại bốn lần ở bài thơ cụ thể là cuối các khổ thơ trở thành một biểu tượng cho một phong cách sống Phong cách sống thái độ sống thế tục một lối chơi ngông thách thức xung quanh trên cơ sở nhận thức rõ ràng Tài Năng và nhân cách cá nhân.
Sau khi cởi mũ, cáo quan ra khỏi cuộc sống bó buộc chốn quan trường, người ta đi giao du thiên hạ thì ông cưỡi bò, lại còn đeo cho một cái đạc ngựa khiến cả chủ và tớ đều Ngất Ngưởng. Đi thăm thú cảnh chùa mà vẫn đeo kiếm cung bên người và mang theo "một đôi di". Rõ ràng trong bộ dạng từ bi Ông vẫn vương đầy nợ nần vẫn đeo bóng đằng sau mấy bóng Giai Nhân. Cốt cách của một khách tài tử, văn nhân chính là ở đó. Đó là lối sống và cách của một con người thích làm những chuyện ngược đời thể hiện thái độ sống và khát vọng tự do tự tại không bận tâm đến những lời lời khen chê những chuyện được mất Đó là một quan điểm sống triết lý sống phóng khoáng tự do thoát khỏi vòng danh lợi tầm thường coi sự được mất là lẽ thường, ông đã ra khỏi phòng danh lợi để sống thảnh thơi tự do tự tại để hưởng mọi lạc thú cầm kỳ thi họa tử giai nhân giữa cuộc đời Trần Thế một cách thỏa thích.
Nhà thơ đã vận dụng nghệ thuật tương phản, đặt những cái đối lập nhau để thể hiện thái độ Ngất Ngưởng của mình. Nhân vật trữ tình xuất hiện trong tác phẩm là một con người có cá tính ngông, Một con người đầy tự tin yêu thích cuộc sống tự do tự tại, coi thường danh lợi. Con người đấy tin vào tài năng, trí tuệ và tin tưởng và quan niệm sống của mình nên đã đã đã rất bản lĩnh vượt lên khỏi thói thường của cuộc đời để sống và làm điều mình thích. Nhưng Ngất Ngưởng đến đâu Ông vẫn ý thức rất rõ trách nhiệm của mình đối với cuộc đời. Vì thế sau những phút giây cao hứng, thả mình trong phóng túng cùng trời đất tự do tự tại, coi thường danh lợi. Ông vẫn không quên tự nhắc: "Nghĩa vua Tôi trọn vẹn đạo Sơ Trung" tư tưởng ấy không hề mâu thuẫn với cái Ngất Ngưởng của ông. Trên thực tế, Nguyễn Công Trứ là một lòng trung thành với triều đình, là một nhà nho có trách nhiệm với đất nước. Dù ham cuộc sống tự do phóng túng nhưng ông vẫn nhiệt tình thực hiện trách nhiệm quân thần.
Cá tính sáng tạo của Nguyễn Công Trứ được thể hiện ở chỗ nhà thơ sử dụng khá nhiều khẩu ngữ trong bài thơ điều này tạo nên tính chất sống động gần gũi hóm hỉnh cho thể hát nói. Nói các từ ngữ mang tính chất khẩu ngữ: Ông, tay, vào lồng, một đôi di, nực cười, phường, kìa núi lọ phau phau mây trắng.. Cũng khắc họa rõ nét tâm hồn khoáng đạt và tự tin của tác giả.
Ngay từ những câu đầu, Nguyễn Công Trứ đã thể hiện một quan niệm sống đầy trách nhiệm:
"Vũ trụ nội mạc phi phận sự
Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng"
Câu đầu có thể hiểu rằng trong trời đất không có việc gì không phải phận sự của mình. Đó là ý thức nhập thế mạnh mẽ của nhà nho Nguyễn Công Trứ. Ông không chọn đứng ngoài cuộc đời mà chủ động bước vào đó để đem tài năng thực hiện chí hướng. Tuy nhiên, việc ra làm quan lại được gọi bằng một hình ảnh rất đáng chú ý: "vào lồng". Quan trường vừa là nơi ông thực hiện hoài bão, vừa là nơi cá tính tự do phải chịu những ràng buộc của khuôn phép.
Nguyễn Công Trứ tiếp tục nhìn lại con đường công danh của mình:
"Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng
Lúc bình Tây, cờ đại tướng
Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên"
Hàng loạt chức vụ và công việc được liệt kê với nhịp thơ linh hoạt cho thấy một cuộc đời hoạt động phong phú. Ông từng bước qua cả văn nghiệp lẫn võ nghiệp, từng đảm nhiệm nhiều trọng trách. Cách kể có vẻ tự hào, thậm chí đầy ngạo nghễ, nhưng nền tảng của sự ngạo nghễ ấy chính là tài năng và những đóng góp thực tế.
Khi rời quan trường, cá tính Nguyễn Công Trứ được giải phóng mạnh mẽ hơn:
"Đô môn giải tổ chi niên
Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng"
Thay vì trở về trong dáng vẻ trang nghiêm của một vị quan lớn vừa cáo quan, ông lại chọn cách cưỡi bò vàng, tạo nên một hình ảnh khác thường và đầy chất chơi. Cái "ngất ngưởng" lúc này trở thành thái độ sống: Không quá bận tâm thiên hạ nhìn mình thế nào.
Đến đoạn:
"Kìa núi nọ phau phau mây trắng
Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi
Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng"
Chất ngông càng hiện lên rõ nét. Một người từng quen "tay kiếm cung" nay lại tìm đến chốn thanh tĩnh; đi lên nơi cửa Phật nhưng bên cạnh lại có "một đôi dì". Sự tương phản ấy tạo nên tiếng cười hóm hỉnh. Đặc biệt, cách nói "Bụt cũng nực cười" cho thấy Nguyễn Công Trứ không chỉ tự trào mà còn chủ động biến chính cuộc sống của mình thành một cuộc chơi đầy thú vị.
Đằng sau những hành động khác đời ấy là một bản lĩnh đã được tôi luyện qua nhiều thăng trầm:
"Được mất dương dương người tái thượng
Khen chê phơi phới ngọn đông phong"
Nguyễn Công Trứ nhìn chuyện được mất bằng thái độ bình thản. Thành công không khiến ông quá say mê, thất bại cũng không làm ông suy sụp. Những lời khen chê của thiên hạ chỉ như ngọn gió đông lướt qua. Đây chính là chiều sâu của cái "ngất ngưởng" : Phải đủ từng trải và đủ tự tin vào giá trị của mình mới có thể sống nhẹ nhõm trước dư luận như vậy.
Tinh thần tự do tiếp tục được đẩy lên:
"Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng
Không Phật, không tiên, không vướng tục"
Nhịp thơ biến hóa cùng phép điệp "khi" gợi một cuộc sống tự tại, phóng khoáng. Nguyễn Công Trứ không ép mình vào một khuôn mẫu cố định. Ông vui thì hát, thích thì uống rượu, tận hưởng những thú vui của đời nhưng không để chúng trói buộc mình. Vì vậy, ông không hoàn toàn thuộc về cõi Phật, cõi tiên mà cũng chẳng bị những ham muốn tầm thường níu giữ.
Tuy nhiên, cái ngông của Nguyễn Công Trứ có giới hạn rất rõ:
"Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú
Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung"
Ông tự đặt mình bên cạnh những danh nhân nổi tiếng của Trung Hoa như Trái Tuân, Nhạc Phi, Hàn Kỳ, Phú Bật. Cách so sánh thể hiện sự tự tin rất lớn. Nhưng quan trọng hơn cả là lời khẳng định về "đạo sơ chung": Dù cuộc sống có phóng túng đến đâu, ông vẫn giữ trọn trách nhiệm và lòng trung thành theo quan niệm đạo đức của một nhà nho thời ấy.
Bởi vậy, câu kết:
"Trong triều ai ngất ngưởng như ông!"
Vừa là câu hỏi tu từ vừa giống một tiếng cười đầy tự hào. "Ngất ngưởng" đến đây đã trở thành dấu ấn riêng của Nguyễn Công Trứ: Có tài để tự tin, có công trạng để tự hào, có bản lĩnh để không chạy theo dư luận và có nguyên tắc để sự tự do không biến thành buông thả.
Về nghệ thuật, tác phẩm được viết theo thể hát nói, rất phù hợp với một cái tôi muốn phá vỡ sự gò bó. Nhịp thơ dài ngắn linh hoạt, giọng điệu khi trang trọng, lúc ngang tàng, khi lại pha chút tự trào. Việc lặp lại từ "ngất ngưởng" khiến nó từ một cách miêu tả dáng vẻ trở thành chìa khóa để hiểu toàn bộ con người Nguyễn Công Trứ.
Qua Bài ca ngất ngưởng, Nguyễn Công Trứ đã dựng nên chân dung tinh thần của chính mình: Một con người ý thức sâu sắc về tài năng, dám sống khác, dám chịu trách nhiệm và không chịu để những lời khen chê nhỏ nhặt quyết định cách mình sống. Đằng sau vẻ ngông nghênh là một nhân cách có nguyên tắc; đằng sau sự phóng túng là bản lĩnh của một con người đã làm tròn trách nhiệm với cuộc đời rồi mới ung dung sống theo cách mình muốn.
Nguyễn Công Trứ không chỉ là một vị quan mà còn là một nhà thơ, nhà văn lớn của văn học Việt Nam nói chung và văn học trung đại nói riêng. Nguyễn Công Trứ sáng tác rất nhiều, đặc biệt là thơ văn chữ Nôm và thông qua những sáng tác ấy hiện lên rõ nét phong cách độc đáo của ông. Và có thể nói, bài thơ "Bài ca ngất ngưởng" - tác phẩm được xem như bản tổng kết về cuộc đời của Nguyễn Công Trứ là một trong số những sáng tác tiêu biểu nhất của ông.
Đọc bài thơ "Bài ca ngất ngưởng" của Nguyễn Công Trứ người đọc sẽ dễ dàng nhận thấy "ngất ngưởng" chính là cảm hứng xuyên suốt toàn bộ bài thơ, nó xuất hiện bốn lần trong tác phẩm. Vậy từ "ngất ngưởng" trong bài thơ nên được hiểu như thế nào? Như chúng ta đã biết, "ngất ngưởng" là một từ láy dùng để chỉ độ cao - cao hơn người khác, vật khác và luôn ở trong trạng thái nghiêng ngả, chực đổ, nó không hoàn toàn vững nhưng cũng không thể nào đổ được.
Tuy nhiên, trong tác phẩm, "ngất ngưởng" không phải được dùng với nghĩa ấy mà nó được sử dụng ở một tầng nghĩa khác, đó chính là lối sống, thái độ sống của tác giả. Và với cách hiểu đó, chúng ta sẽ thấy bài thơ có nhiều điều thú vị, hấp dẫn.
Trước hết, trong sáu câu thơ đầu của bài thơ, tác giả đã thể hiện rõ nét sự ngất ngưởng khi ở chốn làm quan. Đầu tiên, sự ngất ngưởng ở chốn làm quan được thể hiện ở sự khẳng định vai trò, vị trí của chính mình trong trời đất:
Vũ trụ nội mạc phi phận sự
Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng
Với hai câu thơ nhưng tác giả đã cho thấy thái độ về vị trí của mình. Với ông, mọi việc trong vũ trụ, trời đất đều là việc của mình, đồng thời, ông coi việc nhập thế chính là cách để ông bộc lộ tài ba, trí tuệ của mình. Và để rồi, từ sự khẳng định ấy, ông đã phô diễn, đã khoe tài năng, danh vị của mình:
Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng
Lúc bình Tây cờ đại tướng
Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên.
Trong bốn câu thơ, tác giả đã sử dụng hàng loạt từ Hán Việt - Thủ khoa, Tham tán, Tổng đốc Đông.. Cùng bút pháp liệt kê và điệp ngữ, từ đó cho người đọc thấy rõ tài năng và danh vị của mình. Có thể thấy, Nguyễn Công Trứ là người văn võ song toàn, đồng thời giữ nhiều chức vị quan trọng trong cuộc đời làm quan của mình. Như vậy, trong sáu câu thơ đầu nào thơ, tác giả đã nói về tài năng, khoa danh vị của mình với một thái độ đầy trang trọng, nhấn mạnh và đầy tự hào.
Không chỉ ngất ngưởng ở chốn làm quan, Nguyễn Công Trứ còn ngất ngưởng cả trong lối sống sau khi đã cáo quan về hưu, điều đó được thể hiện chân thực và rõ nét trong mười ba câu còn lại của bài thơ. Trước hết, lối sống ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ khi cáo quan về hưu được thể hiện ở lối sống khác người, khác đời, trái khoáy.
Đô môn giải tổ chi niên
Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng
Hai câu thơ đã gợi lên trước mắt chúng ta dáng ngồi ngất nghểu của tác giả trên lưng con bò vàng được trang sức bằng đạc ngựa - một dáng vẻ khác người, như muốn khiêu khích, trêu ngươi. Và để rồi, khi thả hồn mình vào mây trắng, núi cao, dáng vẻ ngất ngưởng của tác giả vẫn không thay đổi:
Kìa núi nọ phau phau mây trắng
Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi
Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi gì
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng
Có lẽ trong văn học, chưa bao giờ chúng ta thấy một người nào đi vãn cảnh chùa giống như Nguyễn Công Trứ. Đi vãn cảnh chùa - nơi chốn thanh cao, tao nhã vậy mà lại mang theo một cô gái hầu. Cái dáng vẻ, cái lối sống ấy của ông khiến Bụt cũng phải chào thua, cũng phải bật cười.
Đồng thời, trong lối sống của mình, Nguyễn Công Trứ không chú ý nhiều đến chuyện được, mất, khen chê bởi với ông, chuyện được, mất chẳng biết cái nào hơn cái nào.
Được mất dương dương người thái thượng
Khen chê phơi phới ngọn đông phong.
Thêm vào đó, ở Nguyễn Công Trứ ta còn thấy hiện lên lối sống tự do, thỏa chí, muốn gì làm này, không vướng tục.
Khi tửu, khi ca, khi cắc, khi tùng
Không Phật, không Tiên, không vướng tục
Như vậy, có thể thấy, thái độ, phong cách sống của Nguyễn Công Trứ khi về hưu có những biểu hiện rất riêng. Tuy nhiên, ở ông ta vẫn thấy nhiều điểm nhất quán với cuộc sống trước đó, ông vẫn luôn là một bề tôi trung thành. Và để rồi, ông đã có một lời tự tổng kết về cuộc đời đầy minh bạch và đượm vẻ hài lòng ở trong những câu thơ khép lại bài thơ.
Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú
Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung
Trong triều ai ngất ngưởng như ông!
Tóm lại, bài thơ "Bài ca ngất ngưởng" của Nguyễn Công Trứ với âm điệu khẳng định, lối nói đậm tính khẩu ngữ đã thêm một lần nữa cho chúng ta thấy vẻ đẹp nhân cách con người tác giả - một con người tài năng, lí tưởng sống hài hòa giữa cái vì đời và vì mình.
"Bài ca ngất ngưởng" là một trong những tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Công Trứ, thể hiện rõ phong cách và tư tưởng của ông. Được sáng tác trong bối cảnh xã hội phong kiến cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, bài thơ không chỉ phản ánh những suy ngẫm của tác giả về cuộc đời, mà còn bày tỏ quan điểm về xã hội và con người. Qua đó, tác phẩm thể hiện một cái nhìn phóng khoáng, tự do và đầy mỉa mai đối với xã hội lúc bấy giờ.
Bài thơ xoay quanh nhân vật trữ tình, một người đã trải qua nhiều chức vụ và vinh quang trong xã hội phong kiến, nhưng lại không tuân theo khuôn mẫu của người quan lại hay quan niệm đạo đức truyền thống. Nhân vật này không quan tâm đến những danh lợi hay truyền thống xã hội mà sống theo một lối sống tự do, ngông cuồng và ngất ngưởng.
Nhân vật này có thể hiểu là Nguyễn Công Trứ tự miêu tả mình trong những năm tháng hoàng kim của sự nghiệp, đầy quyền uy và thanh thản. Những hình ảnh ông tự mô tả như "Thủ khoa", "Tham tán", "Tổng đốc Đông", "cờ đại tướng", hay "Phủ doãn Thừa Thiên" cho thấy sự quyền lực và uy danh của ông trong xã hội. Nhưng điều đáng chú ý là dù ông có quyền lực, danh tiếng, nhưng không hề tự hào mà chỉ xem đó như một phần của cuộc sống mà thôi.
Từ "ngất ngưởng" trong bài thơ là từ khóa chính, mang hai lớp nghĩa. Một mặt, "ngất ngưởng" chỉ sự cao sang, quyền quý, một con người đứng trên vạn người với mọi sự uy quyền và giàu có. Mặt khác, từ này cũng ám chỉ thái độ tự mãn, kiêu ngạo, và sự vượt ra ngoài quy tắc thông thường của xã hội. Ông "ngất ngưởng" trong một thế giới mà ông có thể làm gì mình muốn mà không cần tuân thủ phép tắc.
Trong bài thơ, Nguyễn Công Trứ liên kết hình ảnh của mình với thiên nhiên. Câu "Kìa núi nọ phau phau mây trắng" là hình ảnh thể hiện sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên, thể hiện sự tự do, không bị gò bó trong những khuôn khổ của xã hội phong kiến. Hình ảnh "gót tiên" cũng cho thấy nhân vật không chỉ sống trong thế gian mà còn vươn tới một thế giới tự tại, tự do, không bị giới hạn bởi những quy tắc của người đời.
Mặc dù nhân vật trong bài thơ có quyền lực và danh vọng, nhưng Nguyễn Công Trứ lại dùng những hình ảnh hài hước, mỉa mai để chế giễu sự "ngất ngưởng" này. Bài thơ không chỉ phê phán sự kiêu hãnh, tự mãn của những người nắm quyền mà còn gián tiếp chỉ trích một xã hội phong kiến đầy rẫy những điều bất công, lạc hậu. Qua việc mượn hình ảnh của những con người quyền quý, Nguyễn Công Trứ tố cáo sự giả dối, thiếu thốn tình người trong các quan hệ xã hội.
Bài thơ là một biểu hiện rõ nét của tư tưởng tự do, phóng khoáng của tác giả. Ông không muốn mình bị ràng buộc trong những khuôn khổ hay khuôn mẫu của xã hội phong kiến, mà thay vào đó, ông muốn sống một cuộc đời tự do, không màng danh lợi. Nhân vật trong bài thơ thể hiện một khát vọng về tự do, không tuân theo phép tắc và cũng không sợ hãi trước sự phê phán của người đời.
"Bài ca ngất ngưởng" là một tác phẩm sâu sắc phản ánh tư tưởng và cá tính của Nguyễn Công Trứ. Với lối viết hài hước, châm biếm, ông đã thể hiện cái nhìn mỉa mai đối với xã hội phong kiến và chính thức khẳng định lối sống tự do, phóng khoáng, không bị gò bó bởi những chuẩn mực xã hội. Qua đó, tác phẩm gửi gắm thông điệp về sự trân trọng tự do, về việc con người có quyền làm chủ cuộc sống của mình, bất chấp sự phán xét của xã hội.
Bài ca Ngất Ngưởng thuộc thể hát nói nói, nói được sáng tác sau năm 1848, khi ông đã cáo quan về hưu và sống cuộc đời tự do. Bài thơ thể hiện rất rõ thái độ sống của Nguyễn Công Trứ Trứ ở giai đoạn cuối đời, sau những trải nghiệm Đắng Cay của cuộc sống quan trường. Bài thơ là sự ý thức rất rõ Tài Năng và nhân cách sống của một nhà nho có tài có nhân cách.
Ngất Ngưởng là một từ láy tượng hình vốn được dùng chỉ sự vật ở độ cao chênh vênh bất ổn. Ở bài thơ này từ Ngất Ngưởng được dùng với nghĩa chỉ sự khác thường, coi thường dư luận. Ngoài nhan đề Từ Ngất Ngưởng được nhắc đi nhắc lại bốn lần ở bài thơ cụ thể là cuối các khổ thơ trở thành một biểu tượng cho một phong cách sống Phong cách sống thái độ sống thế tục một lối chơi ngông thách thức xung quanh trên cơ sở nhận thức rõ ràng Tài Năng và nhân cách cá nhân.
Sau khi cởi mũ, cáo quan ra khỏi cuộc sống bó buộc chốn quan trường, người ta đi giao du thiên hạ thì ông cưỡi bò, lại còn đeo cho một cái đạc ngựa khiến cả chủ và tớ đều Ngất Ngưởng. Đi thăm thú cảnh chùa mà vẫn đeo kiếm cung bên người và mang theo "một đôi di". Rõ ràng trong bộ dạng từ bi Ông vẫn vương đầy nợ nần vẫn đeo bóng đằng sau mấy bóng Giai Nhân. Cốt cách của một khách tài tử, văn nhân chính là ở đó. Đó là lối sống và cách của một con người thích làm những chuyện ngược đời thể hiện thái độ sống và khát vọng tự do tự tại không bận tâm đến những lời lời khen chê những chuyện được mất Đó là một quan điểm sống triết lý sống phóng khoáng tự do thoát khỏi vòng danh lợi tầm thường coi sự được mất là lẽ thường, ông đã ra khỏi phòng danh lợi để sống thảnh thơi tự do tự tại để hưởng mọi lạc thú cầm kỳ thi họa tử giai nhân giữa cuộc đời Trần Thế một cách thỏa thích.
Nhà thơ đã vận dụng nghệ thuật tương phản, đặt những cái đối lập nhau để thể hiện thái độ Ngất Ngưởng của mình. Nhân vật trữ tình xuất hiện trong tác phẩm là một con người có cá tính ngông, Một con người đầy tự tin yêu thích cuộc sống tự do tự tại, coi thường danh lợi. Con người đấy tin vào tài năng, trí tuệ và tin tưởng và quan niệm sống của mình nên đã đã đã rất bản lĩnh vượt lên khỏi thói thường của cuộc đời để sống và làm điều mình thích. Nhưng Ngất Ngưởng đến đâu Ông vẫn ý thức rất rõ trách nhiệm của mình đối với cuộc đời. Vì thế sau những phút giây cao hứng, thả mình trong phóng túng cùng trời đất tự do tự tại, coi thường danh lợi. Ông vẫn không quên tự nhắc: "Nghĩa vua Tôi trọn vẹn đạo Sơ Trung" tư tưởng ấy không hề mâu thuẫn với cái Ngất Ngưởng của ông. Trên thực tế, Nguyễn Công Trứ là một lòng trung thành với triều đình, là một nhà nho có trách nhiệm với đất nước. Dù ham cuộc sống tự do phóng túng nhưng ông vẫn nhiệt tình thực hiện trách nhiệm quân thần.
Cá tính sáng tạo của Nguyễn Công Trứ được thể hiện ở chỗ nhà thơ sử dụng khá nhiều khẩu ngữ trong bài thơ điều này tạo nên tính chất sống động gần gũi hóm hỉnh cho thể hát nói. Nói các từ ngữ mang tính chất khẩu ngữ: Ông, tay, vào lồng, một đôi di, nực cười, phường, kìa núi lọ phau phau mây trắng.. Cũng khắc họa rõ nét tâm hồn khoáng đạt và tự tin của tác giả.
Phân tích Bài ca ngất ngưởng
Ngay từ những câu đầu, Nguyễn Công Trứ đã thể hiện một quan niệm sống đầy trách nhiệm:
"Vũ trụ nội mạc phi phận sự
Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng"
Câu đầu có thể hiểu rằng trong trời đất không có việc gì không phải phận sự của mình. Đó là ý thức nhập thế mạnh mẽ của nhà nho Nguyễn Công Trứ. Ông không chọn đứng ngoài cuộc đời mà chủ động bước vào đó để đem tài năng thực hiện chí hướng. Tuy nhiên, việc ra làm quan lại được gọi bằng một hình ảnh rất đáng chú ý: "vào lồng". Quan trường vừa là nơi ông thực hiện hoài bão, vừa là nơi cá tính tự do phải chịu những ràng buộc của khuôn phép.
Nguyễn Công Trứ tiếp tục nhìn lại con đường công danh của mình:
"Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng
Lúc bình Tây, cờ đại tướng
Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên"
Hàng loạt chức vụ và công việc được liệt kê với nhịp thơ linh hoạt cho thấy một cuộc đời hoạt động phong phú. Ông từng bước qua cả văn nghiệp lẫn võ nghiệp, từng đảm nhiệm nhiều trọng trách. Cách kể có vẻ tự hào, thậm chí đầy ngạo nghễ, nhưng nền tảng của sự ngạo nghễ ấy chính là tài năng và những đóng góp thực tế.
Khi rời quan trường, cá tính Nguyễn Công Trứ được giải phóng mạnh mẽ hơn:
"Đô môn giải tổ chi niên
Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng"
Thay vì trở về trong dáng vẻ trang nghiêm của một vị quan lớn vừa cáo quan, ông lại chọn cách cưỡi bò vàng, tạo nên một hình ảnh khác thường và đầy chất chơi. Cái "ngất ngưởng" lúc này trở thành thái độ sống: Không quá bận tâm thiên hạ nhìn mình thế nào.
Đến đoạn:
"Kìa núi nọ phau phau mây trắng
Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi
Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng"
Chất ngông càng hiện lên rõ nét. Một người từng quen "tay kiếm cung" nay lại tìm đến chốn thanh tĩnh; đi lên nơi cửa Phật nhưng bên cạnh lại có "một đôi dì". Sự tương phản ấy tạo nên tiếng cười hóm hỉnh. Đặc biệt, cách nói "Bụt cũng nực cười" cho thấy Nguyễn Công Trứ không chỉ tự trào mà còn chủ động biến chính cuộc sống của mình thành một cuộc chơi đầy thú vị.
Đằng sau những hành động khác đời ấy là một bản lĩnh đã được tôi luyện qua nhiều thăng trầm:
"Được mất dương dương người tái thượng
Khen chê phơi phới ngọn đông phong"
Nguyễn Công Trứ nhìn chuyện được mất bằng thái độ bình thản. Thành công không khiến ông quá say mê, thất bại cũng không làm ông suy sụp. Những lời khen chê của thiên hạ chỉ như ngọn gió đông lướt qua. Đây chính là chiều sâu của cái "ngất ngưởng" : Phải đủ từng trải và đủ tự tin vào giá trị của mình mới có thể sống nhẹ nhõm trước dư luận như vậy.
Tinh thần tự do tiếp tục được đẩy lên:
"Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng
Không Phật, không tiên, không vướng tục"
Nhịp thơ biến hóa cùng phép điệp "khi" gợi một cuộc sống tự tại, phóng khoáng. Nguyễn Công Trứ không ép mình vào một khuôn mẫu cố định. Ông vui thì hát, thích thì uống rượu, tận hưởng những thú vui của đời nhưng không để chúng trói buộc mình. Vì vậy, ông không hoàn toàn thuộc về cõi Phật, cõi tiên mà cũng chẳng bị những ham muốn tầm thường níu giữ.
Tuy nhiên, cái ngông của Nguyễn Công Trứ có giới hạn rất rõ:
"Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú
Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung"
Ông tự đặt mình bên cạnh những danh nhân nổi tiếng của Trung Hoa như Trái Tuân, Nhạc Phi, Hàn Kỳ, Phú Bật. Cách so sánh thể hiện sự tự tin rất lớn. Nhưng quan trọng hơn cả là lời khẳng định về "đạo sơ chung": Dù cuộc sống có phóng túng đến đâu, ông vẫn giữ trọn trách nhiệm và lòng trung thành theo quan niệm đạo đức của một nhà nho thời ấy.
Bởi vậy, câu kết:
"Trong triều ai ngất ngưởng như ông!"
Vừa là câu hỏi tu từ vừa giống một tiếng cười đầy tự hào. "Ngất ngưởng" đến đây đã trở thành dấu ấn riêng của Nguyễn Công Trứ: Có tài để tự tin, có công trạng để tự hào, có bản lĩnh để không chạy theo dư luận và có nguyên tắc để sự tự do không biến thành buông thả.
Về nghệ thuật, tác phẩm được viết theo thể hát nói, rất phù hợp với một cái tôi muốn phá vỡ sự gò bó. Nhịp thơ dài ngắn linh hoạt, giọng điệu khi trang trọng, lúc ngang tàng, khi lại pha chút tự trào. Việc lặp lại từ "ngất ngưởng" khiến nó từ một cách miêu tả dáng vẻ trở thành chìa khóa để hiểu toàn bộ con người Nguyễn Công Trứ.
Qua Bài ca ngất ngưởng, Nguyễn Công Trứ đã dựng nên chân dung tinh thần của chính mình: Một con người ý thức sâu sắc về tài năng, dám sống khác, dám chịu trách nhiệm và không chịu để những lời khen chê nhỏ nhặt quyết định cách mình sống. Đằng sau vẻ ngông nghênh là một nhân cách có nguyên tắc; đằng sau sự phóng túng là bản lĩnh của một con người đã làm tròn trách nhiệm với cuộc đời rồi mới ung dung sống theo cách mình muốn.
Phân tích Bài ca ngất ngưởng - mẫu 2
Nguyễn Công Trứ không chỉ là một vị quan mà còn là một nhà thơ, nhà văn lớn của văn học Việt Nam nói chung và văn học trung đại nói riêng. Nguyễn Công Trứ sáng tác rất nhiều, đặc biệt là thơ văn chữ Nôm và thông qua những sáng tác ấy hiện lên rõ nét phong cách độc đáo của ông. Và có thể nói, bài thơ "Bài ca ngất ngưởng" - tác phẩm được xem như bản tổng kết về cuộc đời của Nguyễn Công Trứ là một trong số những sáng tác tiêu biểu nhất của ông.
Đọc bài thơ "Bài ca ngất ngưởng" của Nguyễn Công Trứ người đọc sẽ dễ dàng nhận thấy "ngất ngưởng" chính là cảm hứng xuyên suốt toàn bộ bài thơ, nó xuất hiện bốn lần trong tác phẩm. Vậy từ "ngất ngưởng" trong bài thơ nên được hiểu như thế nào? Như chúng ta đã biết, "ngất ngưởng" là một từ láy dùng để chỉ độ cao - cao hơn người khác, vật khác và luôn ở trong trạng thái nghiêng ngả, chực đổ, nó không hoàn toàn vững nhưng cũng không thể nào đổ được.
Tuy nhiên, trong tác phẩm, "ngất ngưởng" không phải được dùng với nghĩa ấy mà nó được sử dụng ở một tầng nghĩa khác, đó chính là lối sống, thái độ sống của tác giả. Và với cách hiểu đó, chúng ta sẽ thấy bài thơ có nhiều điều thú vị, hấp dẫn.
Trước hết, trong sáu câu thơ đầu của bài thơ, tác giả đã thể hiện rõ nét sự ngất ngưởng khi ở chốn làm quan. Đầu tiên, sự ngất ngưởng ở chốn làm quan được thể hiện ở sự khẳng định vai trò, vị trí của chính mình trong trời đất:
Vũ trụ nội mạc phi phận sự
Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng
Với hai câu thơ nhưng tác giả đã cho thấy thái độ về vị trí của mình. Với ông, mọi việc trong vũ trụ, trời đất đều là việc của mình, đồng thời, ông coi việc nhập thế chính là cách để ông bộc lộ tài ba, trí tuệ của mình. Và để rồi, từ sự khẳng định ấy, ông đã phô diễn, đã khoe tài năng, danh vị của mình:
Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng
Lúc bình Tây cờ đại tướng
Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên.
Trong bốn câu thơ, tác giả đã sử dụng hàng loạt từ Hán Việt - Thủ khoa, Tham tán, Tổng đốc Đông.. Cùng bút pháp liệt kê và điệp ngữ, từ đó cho người đọc thấy rõ tài năng và danh vị của mình. Có thể thấy, Nguyễn Công Trứ là người văn võ song toàn, đồng thời giữ nhiều chức vị quan trọng trong cuộc đời làm quan của mình. Như vậy, trong sáu câu thơ đầu nào thơ, tác giả đã nói về tài năng, khoa danh vị của mình với một thái độ đầy trang trọng, nhấn mạnh và đầy tự hào.
Không chỉ ngất ngưởng ở chốn làm quan, Nguyễn Công Trứ còn ngất ngưởng cả trong lối sống sau khi đã cáo quan về hưu, điều đó được thể hiện chân thực và rõ nét trong mười ba câu còn lại của bài thơ. Trước hết, lối sống ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ khi cáo quan về hưu được thể hiện ở lối sống khác người, khác đời, trái khoáy.
Đô môn giải tổ chi niên
Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng
Hai câu thơ đã gợi lên trước mắt chúng ta dáng ngồi ngất nghểu của tác giả trên lưng con bò vàng được trang sức bằng đạc ngựa - một dáng vẻ khác người, như muốn khiêu khích, trêu ngươi. Và để rồi, khi thả hồn mình vào mây trắng, núi cao, dáng vẻ ngất ngưởng của tác giả vẫn không thay đổi:
Kìa núi nọ phau phau mây trắng
Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi
Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi gì
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng
Có lẽ trong văn học, chưa bao giờ chúng ta thấy một người nào đi vãn cảnh chùa giống như Nguyễn Công Trứ. Đi vãn cảnh chùa - nơi chốn thanh cao, tao nhã vậy mà lại mang theo một cô gái hầu. Cái dáng vẻ, cái lối sống ấy của ông khiến Bụt cũng phải chào thua, cũng phải bật cười.
Đồng thời, trong lối sống của mình, Nguyễn Công Trứ không chú ý nhiều đến chuyện được, mất, khen chê bởi với ông, chuyện được, mất chẳng biết cái nào hơn cái nào.
Được mất dương dương người thái thượng
Khen chê phơi phới ngọn đông phong.
Thêm vào đó, ở Nguyễn Công Trứ ta còn thấy hiện lên lối sống tự do, thỏa chí, muốn gì làm này, không vướng tục.
Khi tửu, khi ca, khi cắc, khi tùng
Không Phật, không Tiên, không vướng tục
Như vậy, có thể thấy, thái độ, phong cách sống của Nguyễn Công Trứ khi về hưu có những biểu hiện rất riêng. Tuy nhiên, ở ông ta vẫn thấy nhiều điểm nhất quán với cuộc sống trước đó, ông vẫn luôn là một bề tôi trung thành. Và để rồi, ông đã có một lời tự tổng kết về cuộc đời đầy minh bạch và đượm vẻ hài lòng ở trong những câu thơ khép lại bài thơ.
Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú
Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung
Trong triều ai ngất ngưởng như ông!
Tóm lại, bài thơ "Bài ca ngất ngưởng" của Nguyễn Công Trứ với âm điệu khẳng định, lối nói đậm tính khẩu ngữ đã thêm một lần nữa cho chúng ta thấy vẻ đẹp nhân cách con người tác giả - một con người tài năng, lí tưởng sống hài hòa giữa cái vì đời và vì mình.
Phân tích Bài ca ngất ngưởng - mẫu 3
"Bài ca ngất ngưởng" là một trong những tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Công Trứ, thể hiện rõ phong cách và tư tưởng của ông. Được sáng tác trong bối cảnh xã hội phong kiến cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, bài thơ không chỉ phản ánh những suy ngẫm của tác giả về cuộc đời, mà còn bày tỏ quan điểm về xã hội và con người. Qua đó, tác phẩm thể hiện một cái nhìn phóng khoáng, tự do và đầy mỉa mai đối với xã hội lúc bấy giờ.
Bài thơ xoay quanh nhân vật trữ tình, một người đã trải qua nhiều chức vụ và vinh quang trong xã hội phong kiến, nhưng lại không tuân theo khuôn mẫu của người quan lại hay quan niệm đạo đức truyền thống. Nhân vật này không quan tâm đến những danh lợi hay truyền thống xã hội mà sống theo một lối sống tự do, ngông cuồng và ngất ngưởng.
Nhân vật này có thể hiểu là Nguyễn Công Trứ tự miêu tả mình trong những năm tháng hoàng kim của sự nghiệp, đầy quyền uy và thanh thản. Những hình ảnh ông tự mô tả như "Thủ khoa", "Tham tán", "Tổng đốc Đông", "cờ đại tướng", hay "Phủ doãn Thừa Thiên" cho thấy sự quyền lực và uy danh của ông trong xã hội. Nhưng điều đáng chú ý là dù ông có quyền lực, danh tiếng, nhưng không hề tự hào mà chỉ xem đó như một phần của cuộc sống mà thôi.
Từ "ngất ngưởng" trong bài thơ là từ khóa chính, mang hai lớp nghĩa. Một mặt, "ngất ngưởng" chỉ sự cao sang, quyền quý, một con người đứng trên vạn người với mọi sự uy quyền và giàu có. Mặt khác, từ này cũng ám chỉ thái độ tự mãn, kiêu ngạo, và sự vượt ra ngoài quy tắc thông thường của xã hội. Ông "ngất ngưởng" trong một thế giới mà ông có thể làm gì mình muốn mà không cần tuân thủ phép tắc.
Trong bài thơ, Nguyễn Công Trứ liên kết hình ảnh của mình với thiên nhiên. Câu "Kìa núi nọ phau phau mây trắng" là hình ảnh thể hiện sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên, thể hiện sự tự do, không bị gò bó trong những khuôn khổ của xã hội phong kiến. Hình ảnh "gót tiên" cũng cho thấy nhân vật không chỉ sống trong thế gian mà còn vươn tới một thế giới tự tại, tự do, không bị giới hạn bởi những quy tắc của người đời.
Mặc dù nhân vật trong bài thơ có quyền lực và danh vọng, nhưng Nguyễn Công Trứ lại dùng những hình ảnh hài hước, mỉa mai để chế giễu sự "ngất ngưởng" này. Bài thơ không chỉ phê phán sự kiêu hãnh, tự mãn của những người nắm quyền mà còn gián tiếp chỉ trích một xã hội phong kiến đầy rẫy những điều bất công, lạc hậu. Qua việc mượn hình ảnh của những con người quyền quý, Nguyễn Công Trứ tố cáo sự giả dối, thiếu thốn tình người trong các quan hệ xã hội.
Bài thơ là một biểu hiện rõ nét của tư tưởng tự do, phóng khoáng của tác giả. Ông không muốn mình bị ràng buộc trong những khuôn khổ hay khuôn mẫu của xã hội phong kiến, mà thay vào đó, ông muốn sống một cuộc đời tự do, không màng danh lợi. Nhân vật trong bài thơ thể hiện một khát vọng về tự do, không tuân theo phép tắc và cũng không sợ hãi trước sự phê phán của người đời.
"Bài ca ngất ngưởng" là một tác phẩm sâu sắc phản ánh tư tưởng và cá tính của Nguyễn Công Trứ. Với lối viết hài hước, châm biếm, ông đã thể hiện cái nhìn mỉa mai đối với xã hội phong kiến và chính thức khẳng định lối sống tự do, phóng khoáng, không bị gò bó bởi những chuẩn mực xã hội. Qua đó, tác phẩm gửi gắm thông điệp về sự trân trọng tự do, về việc con người có quyền làm chủ cuộc sống của mình, bất chấp sự phán xét của xã hội.
Last edited by a moderator:
