1,203 ❤︎ Bài viết: 71 Tìm chủ đề
912 1
Nguyễn Công Trứ sinh năm 1778 mất năm 1858 người làng Uy Viễn Huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh xuất thân trong một gia đình nề nếp Gia Phong mặc dù có tài nhưng ông theo đuổi nghiệp học khoa cử đến năm 42 tuổi mới đỗ đạt sau đó ông làm cho quan nhà Nguyễn Nhưng tính tình phóng khoáng thích tự do nên cuộc đời quan trường khá lận đận. Nguyễn Công Trứ là nhà nho yêu nước thương dân. Ông để lại khoảng 50 bài thơ, 60 bài ca trù và một bài phú nổi tiếng "hàn nho Phong vị phú" các sáng tác của ông chủ yếu viết bằng chữ Nôm.

20260808-015000-ba08681b04.png


Bài ca Ngất Ngưởng thuộc thể hát nói nói, nói được sáng tác sau năm 1848, khi ông đã cáo quan về hưu và sống cuộc đời tự do. Bài thơ thể hiện rất rõ thái độ sống của Nguyễn Công Trứ Trứ ở giai đoạn cuối đời, sau những trải nghiệm Đắng Cay của cuộc sống quan trường. Bài thơ là sự ý thức rất rõ Tài Năng và nhân cách sống của một nhà nho có tài có nhân cách.

Ngất Ngưởng là một từ láy tượng hình vốn được dùng chỉ sự vật ở độ cao chênh vênh bất ổn. Ở bài thơ này từ Ngất Ngưởng được dùng với nghĩa chỉ sự khác thường, coi thường dư luận. Ngoài nhan đề Từ Ngất Ngưởng được nhắc đi nhắc lại bốn lần ở bài thơ cụ thể là cuối các khổ thơ trở thành một biểu tượng cho một phong cách sống Phong cách sống thái độ sống thế tục một lối chơi ngông thách thức xung quanh trên cơ sở nhận thức rõ ràng Tài Năng và nhân cách cá nhân.

Sau khi cởi mũ, cáo quan ra khỏi cuộc sống bó buộc chốn quan trường, người ta đi giao du thiên hạ thì ông cưỡi bò, lại còn đeo cho một cái đạc ngựa khiến cả chủ và tớ đều Ngất Ngưởng. Đi thăm thú cảnh chùa mà vẫn đeo kiếm cung bên người và mang theo "một đôi di". Rõ ràng trong bộ dạng từ bi Ông vẫn vương đầy nợ nần vẫn đeo bóng đằng sau mấy bóng Giai Nhân. Cốt cách của một khách tài tử, văn nhân chính là ở đó. Đó là lối sống và cách của một con người thích làm những chuyện ngược đời thể hiện thái độ sống và khát vọng tự do tự tại không bận tâm đến những lời lời khen chê những chuyện được mất Đó là một quan điểm sống triết lý sống phóng khoáng tự do thoát khỏi vòng danh lợi tầm thường coi sự được mất là lẽ thường, ông đã ra khỏi phòng danh lợi để sống thảnh thơi tự do tự tại để hưởng mọi lạc thú cầm kỳ thi họa tử giai nhân giữa cuộc đời Trần Thế một cách thỏa thích.

Nhà thơ đã vận dụng nghệ thuật tương phản, đặt những cái đối lập nhau để thể hiện thái độ Ngất Ngưởng của mình. Nhân vật trữ tình xuất hiện trong tác phẩm là một con người có cá tính ngông, Một con người đầy tự tin yêu thích cuộc sống tự do tự tại, coi thường danh lợi. Con người đấy tin vào tài năng, trí tuệ và tin tưởng và quan niệm sống của mình nên đã đã đã rất bản lĩnh vượt lên khỏi thói thường của cuộc đời để sống và làm điều mình thích. Nhưng Ngất Ngưởng đến đâu Ông vẫn ý thức rất rõ trách nhiệm của mình đối với cuộc đời. Vì thế sau những phút giây cao hứng, thả mình trong phóng túng cùng trời đất tự do tự tại, coi thường danh lợi. Ông vẫn không quên tự nhắc: "Nghĩa vua Tôi trọn vẹn đạo Sơ Trung" tư tưởng ấy không hề mâu thuẫn với cái Ngất Ngưởng của ông. Trên thực tế, Nguyễn Công Trứ là một lòng trung thành với triều đình, là một nhà nho có trách nhiệm với đất nước. Dù ham cuộc sống tự do phóng túng nhưng ông vẫn nhiệt tình thực hiện trách nhiệm quân thần.

Cá tính sáng tạo của Nguyễn Công Trứ được thể hiện ở chỗ nhà thơ sử dụng khá nhiều khẩu ngữ trong bài thơ điều này tạo nên tính chất sống động gần gũi hóm hỉnh cho thể hát nói. Nói các từ ngữ mang tính chất khẩu ngữ: Ông, tay, vào lồng, một đôi di, nực cười, phường, kìa núi lọ phau phau mây trắng.. Cũng khắc họa rõ nét tâm hồn khoáng đạt và tự tin của tác giả.

Phân tích Bài ca ngất ngưởng


Ngay từ những câu đầu, Nguyễn Công Trứ đã thể hiện một quan niệm sống đầy trách nhiệm:

"Vũ trụ nội mạc phi phận sự

Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng"


Câu đầu có thể hiểu rằng trong trời đất không có việc gì không phải phận sự của mình. Đó là ý thức nhập thế mạnh mẽ của nhà nho Nguyễn Công Trứ. Ông không chọn đứng ngoài cuộc đời mà chủ động bước vào đó để đem tài năng thực hiện chí hướng. Tuy nhiên, việc ra làm quan lại được gọi bằng một hình ảnh rất đáng chú ý: "vào lồng". Quan trường vừa là nơi ông thực hiện hoài bão, vừa là nơi cá tính tự do phải chịu những ràng buộc của khuôn phép.

Nguyễn Công Trứ tiếp tục nhìn lại con đường công danh của mình:

"Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng

Lúc bình Tây, cờ đại tướng

Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên"


Hàng loạt chức vụ và công việc được liệt kê với nhịp thơ linh hoạt cho thấy một cuộc đời hoạt động phong phú. Ông từng bước qua cả văn nghiệp lẫn võ nghiệp, từng đảm nhiệm nhiều trọng trách. Cách kể có vẻ tự hào, thậm chí đầy ngạo nghễ, nhưng nền tảng của sự ngạo nghễ ấy chính là tài năng và những đóng góp thực tế.

Khi rời quan trường, cá tính Nguyễn Công Trứ được giải phóng mạnh mẽ hơn:

"Đô môn giải tổ chi niên

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng"


Thay vì trở về trong dáng vẻ trang nghiêm của một vị quan lớn vừa cáo quan, ông lại chọn cách cưỡi bò vàng, tạo nên một hình ảnh khác thường và đầy chất chơi. Cái "ngất ngưởng" lúc này trở thành thái độ sống: Không quá bận tâm thiên hạ nhìn mình thế nào.

Đến đoạn:

"Kìa núi nọ phau phau mây trắng

Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi

Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng"


Chất ngông càng hiện lên rõ nét. Một người từng quen "tay kiếm cung" nay lại tìm đến chốn thanh tĩnh; đi lên nơi cửa Phật nhưng bên cạnh lại có "một đôi dì". Sự tương phản ấy tạo nên tiếng cười hóm hỉnh. Đặc biệt, cách nói "Bụt cũng nực cười" cho thấy Nguyễn Công Trứ không chỉ tự trào mà còn chủ động biến chính cuộc sống của mình thành một cuộc chơi đầy thú vị.

Đằng sau những hành động khác đời ấy là một bản lĩnh đã được tôi luyện qua nhiều thăng trầm:

"Được mất dương dương người tái thượng

Khen chê phơi phới ngọn đông phong"


Nguyễn Công Trứ nhìn chuyện được mất bằng thái độ bình thản. Thành công không khiến ông quá say mê, thất bại cũng không làm ông suy sụp. Những lời khen chê của thiên hạ chỉ như ngọn gió đông lướt qua. Đây chính là chiều sâu của cái "ngất ngưởng" : Phải đủ từng trải và đủ tự tin vào giá trị của mình mới có thể sống nhẹ nhõm trước dư luận như vậy.

Tinh thần tự do tiếp tục được đẩy lên:

"Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng

Không Phật, không tiên, không vướng tục"


Nhịp thơ biến hóa cùng phép điệp "khi" gợi một cuộc sống tự tại, phóng khoáng. Nguyễn Công Trứ không ép mình vào một khuôn mẫu cố định. Ông vui thì hát, thích thì uống rượu, tận hưởng những thú vui của đời nhưng không để chúng trói buộc mình. Vì vậy, ông không hoàn toàn thuộc về cõi Phật, cõi tiên mà cũng chẳng bị những ham muốn tầm thường níu giữ.

Tuy nhiên, cái ngông của Nguyễn Công Trứ có giới hạn rất rõ:

"Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung"


Ông tự đặt mình bên cạnh những danh nhân nổi tiếng của Trung Hoa như Trái Tuân, Nhạc Phi, Hàn Kỳ, Phú Bật. Cách so sánh thể hiện sự tự tin rất lớn. Nhưng quan trọng hơn cả là lời khẳng định về "đạo sơ chung": Dù cuộc sống có phóng túng đến đâu, ông vẫn giữ trọn trách nhiệm và lòng trung thành theo quan niệm đạo đức của một nhà nho thời ấy.

Bởi vậy, câu kết:

"Trong triều ai ngất ngưởng như ông!"

Vừa là câu hỏi tu từ vừa giống một tiếng cười đầy tự hào. "Ngất ngưởng" đến đây đã trở thành dấu ấn riêng của Nguyễn Công Trứ: Có tài để tự tin, có công trạng để tự hào, có bản lĩnh để không chạy theo dư luận và có nguyên tắc để sự tự do không biến thành buông thả.

Về nghệ thuật, tác phẩm được viết theo thể hát nói, rất phù hợp với một cái tôi muốn phá vỡ sự gò bó. Nhịp thơ dài ngắn linh hoạt, giọng điệu khi trang trọng, lúc ngang tàng, khi lại pha chút tự trào. Việc lặp lại từ "ngất ngưởng" khiến nó từ một cách miêu tả dáng vẻ trở thành chìa khóa để hiểu toàn bộ con người Nguyễn Công Trứ.

Qua Bài ca ngất ngưởng, Nguyễn Công Trứ đã dựng nên chân dung tinh thần của chính mình: Một con người ý thức sâu sắc về tài năng, dám sống khác, dám chịu trách nhiệm và không chịu để những lời khen chê nhỏ nhặt quyết định cách mình sống. Đằng sau vẻ ngông nghênh là một nhân cách có nguyên tắc; đằng sau sự phóng túng là bản lĩnh của một con người đã làm tròn trách nhiệm với cuộc đời rồi mới ung dung sống theo cách mình muốn.

Phân tích Bài ca ngất ngưởng - mẫu 2


Nguyễn Công Trứ không chỉ là một vị quan mà còn là một nhà thơ, nhà văn lớn của văn học Việt Nam nói chung và văn học trung đại nói riêng. Nguyễn Công Trứ sáng tác rất nhiều, đặc biệt là thơ văn chữ Nôm và thông qua những sáng tác ấy hiện lên rõ nét phong cách độc đáo của ông. Và có thể nói, bài thơ "Bài ca ngất ngưởng" - tác phẩm được xem như bản tổng kết về cuộc đời của Nguyễn Công Trứ là một trong số những sáng tác tiêu biểu nhất của ông.

Đọc bài thơ "Bài ca ngất ngưởng" của Nguyễn Công Trứ người đọc sẽ dễ dàng nhận thấy "ngất ngưởng" chính là cảm hứng xuyên suốt toàn bộ bài thơ, nó xuất hiện bốn lần trong tác phẩm. Vậy từ "ngất ngưởng" trong bài thơ nên được hiểu như thế nào? Như chúng ta đã biết, "ngất ngưởng" là một từ láy dùng để chỉ độ cao - cao hơn người khác, vật khác và luôn ở trong trạng thái nghiêng ngả, chực đổ, nó không hoàn toàn vững nhưng cũng không thể nào đổ được.

Tuy nhiên, trong tác phẩm, "ngất ngưởng" không phải được dùng với nghĩa ấy mà nó được sử dụng ở một tầng nghĩa khác, đó chính là lối sống, thái độ sống của tác giả. Và với cách hiểu đó, chúng ta sẽ thấy bài thơ có nhiều điều thú vị, hấp dẫn.

Trước hết, trong sáu câu thơ đầu của bài thơ, tác giả đã thể hiện rõ nét sự ngất ngưởng khi ở chốn làm quan. Đầu tiên, sự ngất ngưởng ở chốn làm quan được thể hiện ở sự khẳng định vai trò, vị trí của chính mình trong trời đất:

Vũ trụ nội mạc phi phận sự

Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng


Với hai câu thơ nhưng tác giả đã cho thấy thái độ về vị trí của mình. Với ông, mọi việc trong vũ trụ, trời đất đều là việc của mình, đồng thời, ông coi việc nhập thế chính là cách để ông bộc lộ tài ba, trí tuệ của mình. Và để rồi, từ sự khẳng định ấy, ông đã phô diễn, đã khoe tài năng, danh vị của mình:

Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng

Lúc bình Tây cờ đại tướng

Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên.


Trong bốn câu thơ, tác giả đã sử dụng hàng loạt từ Hán Việt - Thủ khoa, Tham tán, Tổng đốc Đông.. Cùng bút pháp liệt kê và điệp ngữ, từ đó cho người đọc thấy rõ tài năng và danh vị của mình. Có thể thấy, Nguyễn Công Trứ là người văn võ song toàn, đồng thời giữ nhiều chức vị quan trọng trong cuộc đời làm quan của mình. Như vậy, trong sáu câu thơ đầu nào thơ, tác giả đã nói về tài năng, khoa danh vị của mình với một thái độ đầy trang trọng, nhấn mạnh và đầy tự hào.

Không chỉ ngất ngưởng ở chốn làm quan, Nguyễn Công Trứ còn ngất ngưởng cả trong lối sống sau khi đã cáo quan về hưu, điều đó được thể hiện chân thực và rõ nét trong mười ba câu còn lại của bài thơ. Trước hết, lối sống ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ khi cáo quan về hưu được thể hiện ở lối sống khác người, khác đời, trái khoáy.

Đô môn giải tổ chi niên

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng


Hai câu thơ đã gợi lên trước mắt chúng ta dáng ngồi ngất nghểu của tác giả trên lưng con bò vàng được trang sức bằng đạc ngựa - một dáng vẻ khác người, như muốn khiêu khích, trêu ngươi. Và để rồi, khi thả hồn mình vào mây trắng, núi cao, dáng vẻ ngất ngưởng của tác giả vẫn không thay đổi:

Kìa núi nọ phau phau mây trắng

Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi

Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi gì

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng


Có lẽ trong văn học, chưa bao giờ chúng ta thấy một người nào đi vãn cảnh chùa giống như Nguyễn Công Trứ. Đi vãn cảnh chùa - nơi chốn thanh cao, tao nhã vậy mà lại mang theo một cô gái hầu. Cái dáng vẻ, cái lối sống ấy của ông khiến Bụt cũng phải chào thua, cũng phải bật cười.

Đồng thời, trong lối sống của mình, Nguyễn Công Trứ không chú ý nhiều đến chuyện được, mất, khen chê bởi với ông, chuyện được, mất chẳng biết cái nào hơn cái nào.

Được mất dương dương người thái thượng

Khen chê phơi phới ngọn đông phong.


Thêm vào đó, ở Nguyễn Công Trứ ta còn thấy hiện lên lối sống tự do, thỏa chí, muốn gì làm này, không vướng tục.

Khi tửu, khi ca, khi cắc, khi tùng

Không Phật, không Tiên, không vướng tục


Như vậy, có thể thấy, thái độ, phong cách sống của Nguyễn Công Trứ khi về hưu có những biểu hiện rất riêng. Tuy nhiên, ở ông ta vẫn thấy nhiều điểm nhất quán với cuộc sống trước đó, ông vẫn luôn là một bề tôi trung thành. Và để rồi, ông đã có một lời tự tổng kết về cuộc đời đầy minh bạch và đượm vẻ hài lòng ở trong những câu thơ khép lại bài thơ.

Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung

Trong triều ai ngất ngưởng như ông!


Tóm lại, bài thơ "Bài ca ngất ngưởng" của Nguyễn Công Trứ với âm điệu khẳng định, lối nói đậm tính khẩu ngữ đã thêm một lần nữa cho chúng ta thấy vẻ đẹp nhân cách con người tác giả - một con người tài năng, lí tưởng sống hài hòa giữa cái vì đời và vì mình.

Phân tích Bài ca ngất ngưởng - mẫu 3


"Bài ca ngất ngưởng" là một trong những tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Công Trứ, thể hiện rõ phong cách và tư tưởng của ông. Được sáng tác trong bối cảnh xã hội phong kiến cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, bài thơ không chỉ phản ánh những suy ngẫm của tác giả về cuộc đời, mà còn bày tỏ quan điểm về xã hội và con người. Qua đó, tác phẩm thể hiện một cái nhìn phóng khoáng, tự do và đầy mỉa mai đối với xã hội lúc bấy giờ.

Bài thơ xoay quanh nhân vật trữ tình, một người đã trải qua nhiều chức vụ và vinh quang trong xã hội phong kiến, nhưng lại không tuân theo khuôn mẫu của người quan lại hay quan niệm đạo đức truyền thống. Nhân vật này không quan tâm đến những danh lợi hay truyền thống xã hội mà sống theo một lối sống tự do, ngông cuồng và ngất ngưởng.

Nhân vật này có thể hiểu là Nguyễn Công Trứ tự miêu tả mình trong những năm tháng hoàng kim của sự nghiệp, đầy quyền uy và thanh thản. Những hình ảnh ông tự mô tả như "Thủ khoa", "Tham tán", "Tổng đốc Đông", "cờ đại tướng", hay "Phủ doãn Thừa Thiên" cho thấy sự quyền lực và uy danh của ông trong xã hội. Nhưng điều đáng chú ý là dù ông có quyền lực, danh tiếng, nhưng không hề tự hào mà chỉ xem đó như một phần của cuộc sống mà thôi.

Từ "ngất ngưởng" trong bài thơ là từ khóa chính, mang hai lớp nghĩa. Một mặt, "ngất ngưởng" chỉ sự cao sang, quyền quý, một con người đứng trên vạn người với mọi sự uy quyền và giàu có. Mặt khác, từ này cũng ám chỉ thái độ tự mãn, kiêu ngạo, và sự vượt ra ngoài quy tắc thông thường của xã hội. Ông "ngất ngưởng" trong một thế giới mà ông có thể làm gì mình muốn mà không cần tuân thủ phép tắc.

Trong bài thơ, Nguyễn Công Trứ liên kết hình ảnh của mình với thiên nhiên. Câu "Kìa núi nọ phau phau mây trắng" là hình ảnh thể hiện sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên, thể hiện sự tự do, không bị gò bó trong những khuôn khổ của xã hội phong kiến. Hình ảnh "gót tiên" cũng cho thấy nhân vật không chỉ sống trong thế gian mà còn vươn tới một thế giới tự tại, tự do, không bị giới hạn bởi những quy tắc của người đời.

Mặc dù nhân vật trong bài thơ có quyền lực và danh vọng, nhưng Nguyễn Công Trứ lại dùng những hình ảnh hài hước, mỉa mai để chế giễu sự "ngất ngưởng" này. Bài thơ không chỉ phê phán sự kiêu hãnh, tự mãn của những người nắm quyền mà còn gián tiếp chỉ trích một xã hội phong kiến đầy rẫy những điều bất công, lạc hậu. Qua việc mượn hình ảnh của những con người quyền quý, Nguyễn Công Trứ tố cáo sự giả dối, thiếu thốn tình người trong các quan hệ xã hội.

Bài thơ là một biểu hiện rõ nét của tư tưởng tự do, phóng khoáng của tác giả. Ông không muốn mình bị ràng buộc trong những khuôn khổ hay khuôn mẫu của xã hội phong kiến, mà thay vào đó, ông muốn sống một cuộc đời tự do, không màng danh lợi. Nhân vật trong bài thơ thể hiện một khát vọng về tự do, không tuân theo phép tắc và cũng không sợ hãi trước sự phê phán của người đời.

"Bài ca ngất ngưởng" là một tác phẩm sâu sắc phản ánh tư tưởng và cá tính của Nguyễn Công Trứ. Với lối viết hài hước, châm biếm, ông đã thể hiện cái nhìn mỉa mai đối với xã hội phong kiến và chính thức khẳng định lối sống tự do, phóng khoáng, không bị gò bó bởi những chuẩn mực xã hội. Qua đó, tác phẩm gửi gắm thông điệp về sự trân trọng tự do, về việc con người có quyền làm chủ cuộc sống của mình, bất chấp sự phán xét của xã hội.
 
Last edited by a moderator:
880 ❤︎ Bài viết: 60 Tìm chủ đề

Dàn ý Phân tích bài thơ Bài ca ngất ngưởng


1. Mở bài

Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm

Nguyễn Công Trứ là một nhân vật lịch sử nổi tiếng in đậm dấu ấn không chỉ trong văn chương mà còn trong nhiều lĩnh vực khác, thơ văn ông phản ánh nhân sinh và thế sự sâu sắc.

Bài ca ngất ngưởng là một trong số những bài hát nói tiêu biểu thể hiện tài năng, chí khí và ý thức cá nhân của Nguyễn Công Trứ.

Giới thiệu 6 câu đầu: Thể hiện quan điểm sống ngất ngưởng khi làm quan của tác giả.

2. Thân bài

Luận điểm 1: Tuyên ngôn về chí làm trai của nhà thơ

"Vũ trụ nội mạc phi phận sự" : Đây là quan niệm mà ông đã nói nhiều bài thơ, cho rằng con người sinh ra do "ý của trời đất", nên phải có trách nhiệm, phải gánh vác việc đời (những việc trong vũ trụ đều thuộc trong phận sự của ta).

Trong Nguyễn Công Trứ, quan niệm ấy gắn liền với ý tưởng "tu, tề, trị, bình", với chí làm trai và chủ nghĩa anh hùng mà ông đeo đuổi với tất cả lòng tin tưởng, lạc quan trong suốt cuộc đời.

Luận điểm 2: Khẳng định tài năng và lí tưởng phóng khoáng khác đời ngạo nghễ của một người có khả năng xuất chúng

"Ông Hi Văn.. Vào lồng" :

Hình ảnh ẩn dụ "vào lồng" : Diễn tả cuộc đời làm quan, coi thường danh lợi của Nguyễn Công Trứ => Cách nhìn mới mẻ, khác lạ so với nhà Nho đương thời.

Coi nhập thế là việc làm trói buộc, làm quan sẽ mất tự do, gò bó nhưng đó cũng là điều kiện để bộc lộ tài năng, hoài bão, trọn nghĩa vua tôi.

Nêu những việc mình đã làm ở chốn quan trường và tài năng của mình:

Tài năng: Giỏi văn chương (khi thủ khoa), tài dùng binh (thao lược)

- > Tài năng lỗi lạc, xuất chúng, văn võ song toàn.

Khoe danh vị, xã hội hơn người: Tham tán, Tổng đốc, Đại tướng (bình định Trấn Tây), Phủ doãn Thừa Thiên

- > Tự hào mình là một người tài năng lỗi lạc, danh vị vẻ vang, văn võ toàn tài.

Sáu câu thơ đầu là lời tự thuật chân thành của nhà thơ lúc làm quan, khẳng định tài năng và lí tưởng trung quân, lòng tự hào về phẩm chất, năng lực và thái độ sống tài tử, phóng khoáng, khác đời, ngạo nghễ của một người có khả năng xuất chúng hay thái độ sống của người quân tử bản lĩnh, kiên trì lí tưởng.

3. Kết bài

Đánh giá chung về giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ

Cảm nhận chung về đoạn thơ.

Phân tích Bài Ca Ngất Ngưởng​


Nguyễn Công Trứ tự là Tồn Chất, hiệu là Hi Văn, sinh năm 1778, người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Cha ông là Nguyễn Công Tấn, đậu hương cống, từng làm tri phủ Tiên Hưng (Thái Bình), sau đó do hưởng ứng phong trào phò Lê chống lại Tây Sơn, nên được triều Lê phong tước Đức Nghi Hầu.

Nguyễn Công Trứ là một người tài năng hiếm có về nhiều mặt, đã sớm xác định con đường tiến thân bằng khoa bảng công danh. Thời trẻ, Nguyền Công Trứ học hành cần mẫn, nhưng thi cử lận đận, mãi đến năm 42 tuổi mới đỗ giải nguyên. Cuộc đời làm quan của ông lên xuống bất thường, vậy mà lúc nào ông cũng ôm ấp chí lớn và giữ đạo tôi trung Nguyễn Công Trứ hăng hái thi hành chức trách, phận sự, kể cả việc nhiều lần đánh dẹp nông dân khởi nghĩa, nhưng không thể mất yếu tố tiến bộ của nhà nho chân chính. Khi làm quan, ông nổi tiếng thanh liêm. Trong việc khai khẩn đất hoang, đắp đê lấn biển. Nguyễn Công Trứ đã Đem lại lợi ích cho nhân dân ở nhiều nơi, đáng kể là vùng Kim Sơn (Ninh Bình) và Tiền Hải (Thái Bình). Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, mặc dù đã 80 tuổi. Nguyễn Công Trứ vẫn dâng sớ xin cầm quân đánh giặc. Cũng năm đó, ông qua đời.

Nguyễn Công Trứ là hiện tượng đặc biệt về một kẻ sĩ mà lại có cuộc sống phóng túng và cá tính tự do, độc đáo. Thơ ca còn lại của Nguyền Công Trứ gồm khoảng 50 bài thơ, trên 60 bài ca trù, một bài phúng, đều viết bằng chữ Nôm. Ngoài ra còn có một số bài thơ chữ Mán, một số câu đối Nôm.

Bài ca ngất ngưởng là tác phẩm được viết vào sau năm 1848, lúc Nguyễn Công Trứ cáo quan về hưu. Đây là tiếng nói của Hi Văn sau quãng đời hoạn lộ gập ghềnh. Thời kì suy tàn của chế độ phong kiến Việt Nam được đánh dấu bằng sự xuất hiện của con người khát vọng tự do (như Chim trong lồng của Nguvền Hữu Cầu), người anh hùng "phản nghịch" (như Từ Hải trong Truyện Kiều), người phụ nữ "nổi loạn" (trong thơ Hồ Xuân Hương).. Cũng là sự phản ứng với hoàn cảnh, nhưng ở Nguyễn Công Trứ, sự biểu hiện chủ yếu trên phương diện quan niệm và lối sống bằng hình thức phóng to hình ảnh con người cá nhân đến mức khôi hài. Dưới con mắt của người đời và sự tôn xưng của Hi Văn thì đó là sự ngất ngưởng. Bài thơ được viết theo thể ca trù hay còn gọi là hát nói, một lối thơ tự do về nhịp điệu, câu chữ. Ở đây, thể tài phù hợp với nội dung cảm xúc của bài thơ. Kết cấu bài thơ gần như kết câu một bài thơ hát nói, chia làm nhiều đoạn gọi là khổ). Mỗi đoạn được kết bằng câu có từ "ngất ngưởng", soi sáng những góc độ khác nhau của hình tượng nhân vật trữ tình, trên cơ sở cảm hứng chủ đạo mang tính nhân văn và ý nghĩa chống phong kiến.

Con người ngất ngưởng của Nguyền Công Trứ trước hết là con người tài năng, danh vọng. Câu thơ chữ Hán mở đầu cô đúc quan niệm lập thân của Nguyễn Công Trứ: "Vũ trụ nội mạc phi phận sự". Đây là quan niệm mà ông đã nói nhiều bài thơ, cho rằng con người sinh ra do "ý của trời đất" ( "Thiên địa sinh ngô nguyên hữu ý" - Trời đất sinh ra ta là có ý), nên phải có trách nhiệm, phải gánh vác việc đời (Vũ trụ giai ngô phận sự - Những việc trong vũ trụ đều thuộc trong phận sự của ta). Trong Nguyễn Công Trứ, quan niệm ấy gắn liền với ý tưởng "tu, tề, trị, bình", với chí làm trai và chủ nghĩa anh hùng mà ông đeo đuổi với tất cả lòng tin tưởng, lạc quan trong suốt cuộc đời.

Sau quan niệm ấy là sự hiện diện một con người tài năng xuất chúng và danh vọng vẻ vang:

"Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng..

* * *

Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên"

Tính tự thuật qua các nhân vật từ nhân xưng về tên hiệu, quan chức, tài năng đã khắc họa con người cá nhân tự ý thức về mình, mức độ lộ ra ngoài bộ dạng: "Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng". Câu thơ còn có ý vị trào phúng: Một con người tầm cỡ thế mà lại chịu đặt mình vào chiếc lồng hạn hẹp. Nhưng chút cười đùa này thực ra là để khẳng định lòng tự tin của Nguyễn Công Trứ. Ông không phải không biết chốn quan trường đầy rẫy những dây nhợ nào buộc trói được.

Trong hình thức biểu hiện có sự kết hợp hệ thống từ Hán - Việt và từ Nôm: Những từ Hán Việt về quan chức, danh vị thể hiện một tài năng thành đạt gắn liền với xã hội phong kiến; còn từ Nôm là những từ thông dụng được sử dụng linh hoạt trong các câu thơ dài ngắn xen nhau, nhịp điệu nhịp nhàng, đến dàn trải thế hiện con người cá nhân tự do, đồng thời ghi rõ các gốc sự ngất ngưởng ở con người đó là gì: "Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng". Như vậy con người ngất ngưởng ở đây là con người cũng là cơ sở để cá nhân vượt lên khỏi mọi ràng buộc.

Cái ngất ngưởng trong thơ Nguyền Công Trứ là sự ngất ngưởng trước cuộc đời được mất. Cuộc đời Nguyễn Công Trứ được ghi nhận bằng những chiến tích, những lần thăng quan tiến chức.

"Lúc bình Tây, cờ đại tưởng

Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên"

Nhưng cũng có những bước thụt lùi, cay đắng. Theo sử sách ghi thì Nguyễn Công Trứ làm đại tướng, khi bị cách tuột làm lính thú, thăng quan hẳn là do tài năng hơn người của ông. Nhưng còn những lần bị giáng chức? Và còn đó những lời thẩm bình của dư luận. Nguyễn Công Trứ thấy rõ đằng sau sự bất công mà ông phải chịu là mặt trái của xã hội phong kiến. Khi cần ông tố cáo gay gắt:

"Thế thái nhân tình gớm chết thay

Lạt nồng trông chiếc túi vơi đầy."

Vịnh nhân tinh thế thái

Tuy vậy, cách biểu hiện thái độ mà Nguyễn Cõng Trứ đặc biệt lựa chọn là đem đối lập con người mình với thói tục bằng một tư thái ngông nghênh và tiếng cười đắc ý. Sách vở chép rằng lúc về hưu Nguyễn Công Trứ thường cưỡi bò vàng có đeo nhạc ngựa, còn đem một mo cau buộc chỗ đuôi bò, nói là để che miệng thế gian. Và ông cho việc làm đó là sự ngất ngưởng:

"Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng"

Bên trong tiếng cười và điệu bộ ấy là triết lí tự nhiên về sự được mất: "Được mất dương dương người tái thượng". Nguyền Công Trứ đã thông qua điển tích "Tái ông thất mã" để phơi bày bản chất xã hội và đưa ra cách nhìn nhận của mình. Xã hội đầy biến động thời Nguyễn Cóng Trứ thiếu gì cảnh "lên voi xuống chó" và đó là mảnh đất sản sinh quan niệm về sự rủi may. Có điều là ở con người bản lĩnh cứng cỏi và niềm tin ở bản thản như Nguyễn Công Trứ thì quan niệm ấy không thể biến thành tư tưởng hoài nghi làm con người nhụt chí hay bị xô đẩy đến chủ nghĩa "vô vi" của Lão Trang. Trái lại, nó đem đến lí lẽ để ông không phải bận tâm với chuyện đời "nóng lạnh" và thêm vẻ "dương dương"

Tuy nhiên, đối mặt với sự "được mất" cũng có nghĩa đối mặt với sự giàu nghèo, vinh nhục vốn là những giá trị vật chất tinh thần truyền thống. Hiểu như thế chúng ta sẽ thấy con người "dương dương", "ngất ngưởng" thực sự là con người có tài năng, phẩm chất vượt lên trên những thế lực xưa nay ngự trị trong cuộc sống con người.

Ngất ngưởng còn biểu hiện trong phong cách, lối sống.

Ở Nguyễn Còng Trứ có con người lí tưởng của chí làm trai thời phong kiến. Nhưng cũng có con người cá nhân sống hết mình; có con người hành động hăm hở, lạc quan và con người vui chơi bám đuổi theo sở thích: "Tay kiếm cung.. Một đôi dì" Nguyễn Công Trứ đã đem hết tài nàng và cảm hứng để vẽ bức tranh về cuộc sống riêng của mình: Những từ láy đặc tả màu sắc, đường nét { "phau phau", "đủng đinh", "phơi phới"), những điệp từ kết hợp với nhịp thơ phóng khoáng ( "Khi ca, khi tửu.. Không Phật, không Tiên..") Khả năng biểu cảm dồi dào của tiếng Việt đã thể hiện đặc sắc cái phóng túng, đam mê của con người Nguyễn Công Trứ. Tuy nhiên đây không đơn thuần là một nhu cầu hưởng lạc được thi vị hóa. Nguyễn Công Trứ đã nâng được những gì được mô tả thành một phong cách, thành lối sống, và dụng ý nghệ thuật của nhà thơ là đã biến nó thành hình ảnh trái ngược với những tính giáo điều phong kiến. Hệ tư tưởng Nho giáo đòi hỏi ở mỗi con người trách nhiệm đổi với cộng đồng, nhưng lại phủ nhận "cái tôi", áp đặt lên con người một cuộc sống khắc nghiệt, phi nhân tính. Còn đạo Phật, đạo Giáo thì hướng con người đến con đường thoát tục và giải thích việc đáp ứng những nhu cầu cuộc sống con người là nguyên nhân của sự đau khổ. Từ cuộc sống mà mình làm chủ Nguyễn Công Trứ tìm đến "non tiên", "cảnh phật" vì thấy ở đó một thế giới thiên nhiên tươi đẹp gắn với những tư tưởng phong kiến siêu hình vươn lên một cuộc sống đích thực của con người.

Phần kết của bài thơ Nguyễn Công Trứ khái quát về con người mình với đặc điểm: Một tài năng, hoài bão lớn, sống trong xã hội phong kiến không thể không thấy con đường, lí tưởng của xã hội để thi thố tài năng, làm nên sự nghiệp; một nhân cách và ý thức cá nhân mạnh mẽ, tự tin có đủ điều kiện chủ quan và tiền đề xã hội để đối lập với hoàn cảnh và giải phóng cá tính. Tổng hòa các mặt đó ở một con người, tạo nên phong cách sông ngất ngưởng. Từ "tay ngất ngưởng", "Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng" đến "trong triều ai ngất ngưởng như ông" bài thơ đã nâng lên sự khẳng định, đúng hơn là tự khẳng định một con người tiêu biểu cho một kiểu người có tính chất phi chính thống mang đậm sắc "cái tôi" hiện đại ngang nhiên tồn tại trong lòng xã hội phong kiến.
 
Last edited by a moderator:

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back