Hồi cuối năm 2007, cố nhà thơ Trần Hòa Bình có bảo tôi rằng "Em đã gặp Lê Anh Hoài bao giờ chưa? Gã này hay lắm đấy. Rất được." Tôi gật gù không mấy tin tưởng vì trước nay biết tính Trần Hòa Bình lúc nào cũng chỉ nhận xét tốt về người khác. Mặc dù có vài công việc phải trao đổi qua điện thoại nhưng mãi sau tôi cũng chưa gặp Lê Anh Hoài, chỉ nhìn thấy gã qua blog. Một cái avatar chụp khuôn mặt râu ria cố tình làm méo hình và những entry giọng điệu chua ngoa, sắc sảo. Đâm tôi thấy hơi... sờ sợ. Đâm ngại gặp. Cái tâm lý ngại gặp này vốn dĩ là do tôi hay ngài ngại các đấng mày râu sắc sảo mà tôi thường gọi đùa là "đanh đá quá". Lúc bấy giờ đọc truyện ngắn "Trinh nữ Ma nơ canh" của Lê Anh Hoài trên Lao động cuối tuần, thấy giọng điệu quen quen, mới chợt nhớ ra cũng đã đọc một truyện gì đó liên quan đến những con manequin làm nhân vật chính được chọn vào một trong 10 truyện ngắn hay nhất Văn nghệ trẻ số Tết cũng với giọng điệu thế này. Sau hỏi lại thì chính xác là của cùng một tác giả. Thành thử cái tâm lý "ngài ngại", "sờ sợ" càng tăng. Truyện của Hoài chưa kể đến những yếu tố khác, thì có một giọng văn rất riêng biệt, khiến cái tính "đanh đá" mà tôi đổ thừa cho gã càng đậm nét. Văn là người, cấm có sai, gã viết đanh đá, sắc sảo, gai góc thế, ngoài đời ắt ghê gớm. Tuy nhiên trong số bạt ngàn những truyện ngắn in trên báo, tạp chí tôi đã từng đọc mà không mấy khi nhớ nổi nội dung thì "Trinh nữ manequin" có một ấn tượng rõ rệt mà tôi sẽ nói ở phần sau. Quay trở lại câu chuyện là cuối cùng thì tôi cũng có dịp gặp gã, vẫn là một khuôn mặt râu ria như trong ảnh, song gã hiền khô, và điềm đạm. Chưa kịp áy náy về sự đổ thừa cho gã cái tính đanh đá ngay cả khi chưa gặp thì bấy lâu sau tôi đã lại phát hiện ra rằng gã chẳng "hiền khô" chút nào, chí ít thì cũng là kẻ rất khó bắt nạt và "khó nhằn".
Lê Anh Hoài là một người cầm tinh con ngựa điển hình. Tôi chẳng mấy tin tưởng vào các nhà chiêm tinh học song cũng nhớ láng máng rằng "Trong một bữa tiệc, nếu hỏi ra thì phần lớn những người tham dự cuộc vui ấy đều cầm tinh con ngựa". Cái "bữa tiệc" này vừa mang nghĩa bóng vừa mang nghĩa đen. Ngoài cái sự ham vui và khó từ chối những lời mời mọc ở chỗ đông người thì người tuổi ngựa còn rất xuất sắc trong chuyện tham công tiếc việc. Rõ là "cuộc vui nào cũng có mặt", vì sau này tôi hay ngạc nhiên khi bắt gặp Lê Anh Hoài ở mọi nơi mọi chốn: từ lễ ra mắt tập thơ tuyển chọn mà gã cũng có tên trong mục lục cho đến triển lãm nghệ thuật thị giác, và cả truyện ngắn - tiểu thuyết là những sản phẩm tinh thần đương nhiên của gã. Thậm chí trong một lần hứng chí, tôi còn thao thao bất tuyệt về vài cái mẹo làm thế nào để nhà văn có thể qua mặt được biên tập viên. Sau mới gượng gạo xin lỗi rằng tự nhiên tôi lại quên mất gã là biên tập báo chí. Nói như vậy thực thiệt cho tôi quá. Gã an ủi rằng thì là không sao đâu, gã không để ý đến chuyện đó.
Nhà văn Lê Anh Hoài. Ảnh Xuân Thủy
Cũng như một số người viết văn khác, Lê Anh Hoài không theo học chuyên ngành văn chương mà nguyên là sinh viên trường đại học An ninh (nay là Học viện An ninh) chuyên ngành điều tra. Sau khi ra trường, gã được phân về CA quận Đống Đa. Làm được hai năm, lên quân hàm trung uý thì Lê Anh Hoài xin ra, rồi từ đó lang bạt kỳ hồ làm báo chí. Thực tế ra thì một người như Lê Anh Hoài mà làm công việc liên quan đến tòa án và Viện kiểm sát thì rất khó tin. Tôi cũng biết khá nhiều người cầm tinh con "chân chạy" như Lê Anh Hoài đều phải xin ra khỏi biên chế của ngành công an vì không chịu nổi sự hà khắc và bó buộc của nghề. Mà Lê Anh Hoài thì dường như sinh ra để làm nghệ thuật và tự do sáng tạo. Ngay từ lúc còn trên giảng đường, Lê Anh Hoài đã tham gia vào ban nhạc của trường (trong nhóm thành viên có Huy MC). Ban nhạc có tay đàn ghi ta của gã cũng đi thi khối bận và từng đoạt nhiều giải. Nhưng gã mê làm báo quá đi thôi, và ngay sau khi hưởng trợ cấp thôi việc của ngành công an, Lê Anh Hoài có ngay một chân ở báo Văn hóa Nghệ thuật (nay là báo Văn hóa). Rồi cái "chân chạy" khiến gã lưu lạc khắp các tờ báo. Hồi năm 1992 báo Thiếu niên tổ chức thi tuyển, gần bốn chục người lấy có ba. Lê Anh Hoài trúng tuyển cùng Lưu Quang Định (nay là TBT báo Nông thôn Ngày nay) và Nguyễn Trọng Văn (nay là trưởng ban văn hoá Đài Phát thanh Truyền hình HN). Được một thời gian, có vẻ những câu chuyện về con nít khiến cho gã mày râu cảm thấy tẻ nhạt nên lại "nhảy" tiếp, lần này là về Tuổi trẻ Thủ đô. Nhưng rồi cũng lại lần thứ hai gã cố thoát ra khỏi biên chế. Không chỗ nào đậu quá lâu, cuối cùng Lê Anh Hoài về báo Tiền phong từ năm 2004 cho đến tận bâygiờ. Gã sống được bằng nghề báo, dạy nghề báo trên giảng đường đại học (Khoa Lý luận - Sáng tác - Phê bình trường ĐH Văn hóa) song như kỵ mã rong ruổi trên thảo nguyên, gã không mệt mỏi dấn bước theo những niềm đam mê nghệ thuật đã được nhen nhóm từ rất sớm.
Từ lúc còn thanh niên trai tráng say mê vẽ chi chít lên tường nhà, giờ Lê Anh Hoài đã có trong tay nhie" u tác pha" m nghệ thuật thị giác đượ c nhie" u ngườ i bie" t đe" n như tác pha" m "Tô i là cộ t điện" – the" loại trı̀nh die" n (Performance Art) ho" i tháng 6-2008; "Tie" n lên" – the" loại sa" p đặt (Installation Art) - 7/2009; và ga" n đây nha" t (9/2009) là "Đo" ng Cu" thự c hiện vớ i hai nghệ sỹ khác. Đây là mộ t tác pha" m to" ng hợ p giữ a trı̀nh die" n (Performance Art), sa" p đặt (Installation Art), vẽ trên cơ thể (Body Painting), trên nền chủ đạo là âm nhạc pha trộn giữa hát văn, nhạc vũ trường, nhạc bán cổ điển. Có thời gian, nhiều người tin rằng nhà văn Lê Anh Hoài đã chán chữ nghĩa mà đâm ra nghĩ quẩn làm chuyện rùm beng giật gân. Những nghệ sĩ thị giác chỉ nội làm nghề của mình đã bị lắm nỗi thị phi. Nay Lê Anh Hoài là tay chữ nghĩa đạo mạo, cớ sao đứng ra giữa vỉa hè làm cột điện, chẳng xì căng đan thì là gì. Ấy là nhiều người chưa biết trước giờ Lê Anh Hoài vẫn vẽ tranh. Nhưng vẽ tranh thôi thì có lẽ đỡ khổ, gã lại dấn thân vào một ngạch nghệ thuật mới lạ mà thường các sản phẩm tinh thần luôn là cú sốc đối với công chúng và giới truyền thông. Người thân quen thì hiểu, gã mê tất cả những gì thuộc về nghệ thuật hậu hiện đại (cả văn chương và mỹ thuật), thứ mà tôi cũng chẳng hiểu rõ là gì.
Sau tập thơ "Những giấc mơ bên đường" (1999), tiểu thuyết "Chuyện tình mùa tạp kỹ" (xuất bản năm 2007, được vào vòng chung khảo giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2008 và tái bản năm 2010 dưới cái tên "@tình"), chấp bút hồi ký "Không lạc loài" (2008), Lê Anh Hoài lại tiếp tụ c ra ma" t tập truyện nga" n "Ta" y sạch ve" t yêu" vào đa" u năm 2010. Đọ c văn Lê Anh Hoài, ngườ i yếu bóng vía dễ bị sốc. Có thể chăng tôi cũng yếu bóng vía như vậy khi đọc "Tẩy sạch vết yêu". Song có một điều tôi thích ở văn Lê Anh Hoài là nét đặc trưng tinh tế khi sử dụng lối nhân cách hóa. Những câu chuyện nhân cách hóa của Lê Anh Hoài khá hấp dẫn. Điều này, ngoài "Trinh nữ Manequin" miêu tả những câu chuyện và khao khát đời thường bằng cách thể hiện đặc biệt, thì tôi cũng ấn tượng với những truyện ngắn "Trái tim trong WC" và "Cuộc đời khốn nạn của một bản thảo". Nhân cách hóa là một thủ pháp văn chương không mới song cũng không quá phổ biến và đặc biệt rất khó có thể khiến cho tình tiết trở nên hấp dẫn. Tuy nhiên, người đọc hoàn toàn hồi hộp muốn xem tiếp diễn biến cuộc đời của những trái tim băng phiến ở một nơi bẩn thỉu như WC, của một bản thảo bị bỏ rơi và những cô manequin tưởng chừng như vô hồn vô cảm trong một khuôn mặt mĩ miều. Cách lựa chọn đối tượng của Lê Anh Hoài cũng thật đặc biệt. Nó ngược lại với những gì mà người đọc đã hình dung lúc ban đầu.
Trong các tác phẩm của Lê Anh Hoài, nghệ thuật Giễu nhại, một thủ pháp quen thuộc của văn chương hậu hiện đại thường được tác giả sử dụng. Lê Anh Hoài cho rằng khi ta không còn tin tưởng vào những công thức và cả những thứ là cội nguồn của công thức ấy rồi, thì giễu nhại là cách hay ho và văn minh để mình chống lại cái quyền lực đáng ghét của thứ công thức ấy. "Đơn cử như người ta cứ nghĩ tình yêu phải ở nơi chốn thanh cao, lãng mạn, thì tôi mô tả một tình yêu của hai trái tim băng phiến, nó là vật tẩy mùi trong W.C. Một tình yêu đẹp hẳn hoi." Nhưng cũng như tác giả tự nhận xét thì cách đặt vấn đề đó chưa hẳn đã thuận tai thuận mắt số đông. Bằng chứng là truyện đó gửi vài báo chẳng nơi nào dám đăng. Đôi khi tôi cũng nghĩ Lê Anh Hoài thực khổ, viết cái gì, vẽ cái gì mà cứ bị thiên hạ phản đối cho rằng khác thường, chưa kể một vài kẻ ác miệng còn dùng chữ "không bình thường". Nhưng một phần bản chất của nghệ thuật đôi khi cũng hàm nghĩa "chống chọi với số đông". Chẳng phải người ta vẫn phủ định tính nghệ thuật của những người "chạy theo số đông" hay sao. "Chạy theo số đông" hay "Chống chọi với số đông" cũng là một cái tội. Vậy thì ta phải đứng trên phương diện nào trước "số đông". Lê Anh Hoài chia sẻ "Trước tiên, tôi viết với một tâm thức đưa cái hài và cái thông tục vào văn chương, vì như nhiều người cũng nhận xét: Văn chương của ta nghiêm ngắn quá, đến phát chán. Cứ dạy dỗ, tìm mẫu hình, ngôn từ thì phải trau chuốt, sang, đẹp, vv và vv. Thật ra thì chỉ lừa mình và lừa nhau thôi. Vì đã là văn chương thì chẳng chuyện về con người, về cuộc đời nào mà ngoài nó cả. Mà cuộc đời thì có đủ cả chứ sao lại khoanh vào một khoảnh rồi bắt văn chương nó phải ở trong cái vòng kim cô đó? Về ngôn từ và văn phong cũng thế, làm gì có từ nào đẹp hơn từ nào, cách diễn đạt nào chuẩn hơn cách nào. Nhìn trong dân gian mà xem, không thiếu gì cách nói năng, kể chuyện cực hay. Sao bảo đó là tục?"
Thật sự ra, chưa cần đọc, chỉ mới nhìn đến nhan đề sách của Lê Anh Hoài cũng đã đủ gây sốc. Chủ ý của tác giả là muốn tạo ra cái tên một cách rất vui vẻ. "Tẩy sạch vết yêu" cũng là một cái tên vui vẻ với dòng chữ vui vẻ "Tập sách này hân hạnh được Công ty chất tẩy rửa TASAVEYE tài trợ". Tuy nhiên nội dung những câu chuyện cho dù có chất hài trong đó cũng không vui vẻ chút nào. Thay vào đó, nó mang chút gì cay đắng và bi kịch trong cái thế giới quan hậu hiện đại mà chúng ta phải chiêm ngưỡng hàng ngày.
Những cuộc vui của Lê Anh Hoài e rằng vẫn chưa kết thúc, vì gã rất nghiêm túc với nghệ thuật. Ai biết đâu còn có ý tưởng đặc biệt nào xuất hiện đằng sau khuôn mặt rất đặc trưng mà tôi tin rằng sẽ được các họa sỹ vẽ chân dung biếm họa ưa thích. Lao động nghệ thuật cật lực nhưng gã tuổi ngựa Lê Anh Hoài vẫn là một kẻ ham vui có lý trí. Tôi dành cụm từ "kẻ ham vui có lý trí" cho gã vì bên cạnh việc vẫn còn ham thích khuyên tai và hình xăm; không từ chối bất cứ trải nghiệm và học hỏi nào từ chuyện khổ sở luyện nhịp trên sàn nhảy cổ điển cho đến đánh vật với cuốn sách tiếng Anh trên lớp; rồi lao ngay đến những chốn đông người vui vẻ nếu như có thể; Lê Anh Hoài luôn biết tìm cho mình một điểm dừng hợp lý để vẫn có thể "Sống vui vẻ" theo như gã nói. Bởi lẽ, mấy ai trên đời không biết, để sống được vui vẻ mới thật là khó lắm thay.
Nguồn: An ninh Thủ đô (2010)\
Lời tác giả
Lê Anh Hoài là một gã luôn hài hước mọi nơi mọi lúc. Khi gọi điện thông báo rằng tôi sẽ viết một chân dung về gã với những lời thuyết phục hùng hồn rằng "Em rất cẩn trọng trong việc lựa chọn đối tượng viết chân dung. Trước nay em mới chỉ viết hai chân dung thôi, ấy là nhà văn Kim Lân và nhà thơ Trần Hòa Bình", tự nhiên tôi thấy gã im bặt. Tôi hình dung đầu dây bên kia Lê Anh Hoài đang gãi đầu gãi tai suy nghĩ rất lung. Mãi sau mới thấy gã ngập ngừng "À... ừ... nhưng mà... cả hai người đấy... đều mất cả rồi phải không em?".
NHÀ VĂN LÊ ANH HOÀI:
Cố gắng đặt mình vào vị trí người đồng tính
Thời gian vừa qua, nhiều cuốn sách về đồng tính cả ở thể loại hư cấu và phi hư cấu liên tiếp xuất hiện trên thị trường. Trong đó cuốn tự truyện "Không lạc loài" của nhà báo Thành Trung do nhà văn Lê Anh Hoài chắp bút đã gây xôn xao dư luận nhiều nhất. Một phần cũng là vì trước đó, "Không lạc loài" đã được nữ nhà văn Cấn Vấn Khánh chắp bút được vài chương, sau đó do bất đồng quan điểm nên sự cộng tác giữa Thành Trung và Cấn Vân Khánh phải ngừng lại. Với lượt in đầu là 4000 ấn bản, "Không lạc loài" đã được coi là một cuốn sách ăn khách. Và dưới đây là cuộc trò chuyện với nhà văn Lê Anh Hoài.
Anh so sánh sức sáng tạo của một tiểu thuyết hư cấu và một cuốn sách người thật việc thật có gì khác nhau?
Trước đến nay, ở ta vẫn có một quan niệm phổ biến là: Văn học là hư cấu hay nói cách khác là phải hư cấu mới là văn học. Thật ra không phải thế, dòng văn học phi hư cấu (non fiction) là một dòng lớn trên thế giới. Nó có thế mạnh là đưa đến cho công chúng những câu chuyện thật của những con người có thật nên sức thuyết phục rất cao. Ngoài ra, những tác phẩm kiểu này còn có sự liên hệ rất mạnh đến những ngành khoa học xã hội như lịch sử, tâm lý học, xã hội học, gia phả học chính ở tính "người thật việc thật" của nó. Tôi không biết các tác giả khác thế nào nhưng với tôi viết cả hai thể loại đều khó. Đừng nghĩ là viết loại non fiction thì không phải tưởng tượng, và viết loại fiction thì không cần sự thực!
"Không lạc loài" là một cuốn sách gây nhiều dư luận trước khi ra sách vì trước đó nữ nhà văn Cấn Vân Khánh đã chấp bút một nửa. Anh có bị áp lực vì sự việc đó? Và phần đầu của cuốn sách liệu có tránh được sự trùng lặp so với người viết ban đầu?
Khánh có cách nhìn và cách viết của Khánh, tôi tôn trọng trên tinh thần đồng nghiệp và cả tinh thần anh em (ngoài đời tôi khá thân với Khánh). Tuy nhiên, cách viết này và có thể cả những vấn đề nào đó mà tôi không biết hết đã làm sự hợp tác giữa hai người chấm dứt. Tôi coi đó là chuyện riêng của hai người. Với tôi đây chỉ là một vấn đề nhỏ cần tham khảo. Còn về áp lực? Tôi có cách tiếp cận vấn đề của tôi nên khá thoải mái khi viết và cũng không sợ trùng lặp gì với người viết ban đầu. Còn trong phần Khánh viết có một số sự việc, biến cố trong đời sống của Trung thì tôi cũng phải nhắc đến, nhưng xin nhắc lại là dưới cách nhìn khác, văn phong từ ngữ khác.
Sau "Bóng", cuốn "Không lạc loài" được in với số lượng khá cao. Liệu đây có phải là tiền lệ để các nhân vật thuộc giới tính thứ ba sau này liên tục ra sách?
Tôi cũng không rõ, nhưng có lẽ không hẳn thế đâu, nhất là sự "liên tục" như chị nói. Bởi vượt qua sự kỳ thị, công khai giới tính thứ ba không phải là chuyện đơn giản. Không có nhiều người để "liên tục" đâu.
Anh nói rằng sau khi làm việc với Thành Trung về cuốn sách này, nhiều quan điểm của anh về giới tính thứ ba đã thay đổi. Cụ thể là thế nào? Và điều đó có thành yếu tố chủ quan trong quá trình anh viết cuốn sách?
Quan điểm chủ đạo trong xã hội hiện nay vẫn là xa lánh và kỳ thị với những người đồng tính. Trước khi làm việc với Trung, tôi không kỳ thị nhưng cũng chưa hiểu nhiều về giới này. Làm việc với Trung và gặp khá nhiều người trong giới, nghe những câu chuyện của họ, tìm hiểu các công việc của họ, tôi thấy họ cũng giống người dị tính luyến ái ở rất nhiều mặt cơ bản. Tất nhiên xu hướng luyến ái của họ không phải vấn đề nhỏ và gây cho họ rất nhiều nỗi khổ. Xã hội không nên khoét sâu thêm nỗi khổ này. Tôi tìm hiểu cuộc sống của Trung một cách bình tĩnh, cố gắng gạt bỏ hết những định kiến có sẵn để hiểu đằng sau những hành động có vẻ ngoài kỳ lạ kia là những tâm tình gì. Và tôi thấy một con người với đầy đủ thất tình lục dục khá thú vị. Xin nói thêm, tôi cho là viết tự truyện cho bất cứ một ai chứ không chỉ Thành Trung thì người viết cũng vẫn phải có những thao tác tâm lý như thế mới có thể hiểu được nhân vật mà viết được. Nói cách khác có vẻ hoa mỹ là "cố gắng đặt mình vào vị thế người ta".
Anh dành thái độ đối với những nhân vật trong "Không lạc loài" như thế nào? Cụ thể là đối với nhân vật chính, ông thầy giáo đã lạm dụng tình dục học trò của mình (Thành Trung ) và K. (người yêu đã tự sát của Thành Trung)?
Tôi cố gắng đi gần đến sự thật nhất có thể chứ không để những thái độ chủ quan chi phối. Tất nhiên cái nền chủ đạo nhất vẫn là nỗ lực thấu hiểu và thông cảm, kể cả nhân vật "phản diện" như ông thầy giáo. Tôi nghĩ ông ấy cũng thật thống khổ.
Chủ đề đồng tính nam, lại có nhiều chi tiết người thực việc thực, là một nhà văn nam, anh có gặp khó khăn trong việc miêu tả cảm xúc của nhân vật? Trong lúc viết, anh có sợ rằng ranh giới giữa trần tục và trần trụi sẽ rất gần nhau?
Tôi trao đổi với Trung khá nhiều và tôi nhận ra, khi người đồng tính yêu nhau mãnh liệt, thì có rất nhiều xúc cảm, thậm chí hành động giống như một đôi nam - nữ yêu nhau mãnh liệt. Có khác chăng là một số biểu hiện đặc thù của giới họ mà thôi. Quan niệm về "trần tục" và "trần trụi" không phải ai cũng giống ai. Tuy nhiên, là người viết sách cho nhiều người đọc, tôi rất lưu ý đến vấn đề này và cũng đã rất tiết chế. Quan điểm của tôi là viết vừa đủ hiểu chứ không đi vào mô tả những chuyện sống sượng. Đời sống tình cảm, tâm lý của Thành Trung được tôi coi trọng hơn cả. Thế còn nhân vật của tôi có những khoảng thời gian sống buông thả, có rất nhiều bạn tình... thì để trung thực với người đọc và với nguyện vọng của chính Thành Trung, tôi phải viết ra thôi. Dù điều này làm không ít người sốc.
Nhiều người kỳ thị với thể loại tự truyện, cho rằng đó là loại sách thị trường, câu khách khi phô bày những chuyện cá nhân thầm kín và không có... văn. Một phần là vì nhiều khi nhân vật chính lại không có khả năng thể hiện văn chương và việc truyền tải ý đồ, cảm xúc lại phải qua một người khác chấp bút. Quan điểm của anh thế nào khi đối mặt với những lời thị phi này?
Như trên tôi đã nói, dòng văn chương phi hư cấu là một dòng lớn. Đằng sau việc một con người, (có thể là người rất bình thường chứ không nhất thiết phải là VIP) lên tiếng và phô bày cuộc sống cũng như thái độ sống của chính mình, là cả một tinh thần dân chủ. Tất nhiên còn phải xét khả năng của từng tác giả với từng tác phẩm cụ thể nữa. Chuyện có "văn" hay không là một chủ đề phức tạp, có lẽ xin không đi sâu vào ở đây. Tôi chỉ khẳng định là nếu viết tốt, thì một chuyện rất thật, nhìn bề ngoài có vẻ tầm thường vẫn có "văn" như thường. Còn viết kém, thì dù có núp bóng dưới những điều kỳ lạ, vĩ đại, cao thượng... tác phẩm vẫn cứ không ra gì.
Nguồn: Lao động cuối tuần (2009)