Thuở xưa ở thôn Hạ, có người làm nghề chài lưới quanh năm bắt cá ven sông. Và ông ta thường hay bắt được những giống cá lạ không rõ tên gọi.
Cho đến một hôm, ông ta nằm mơ thấy một người đàn ông mặc áo long bào có tướng sang trọng quyền uy hệt như vua chúa. Người đàn ông ấy tự xưng mình là Long vương của con sông, và hẹn người đàn ông đánh cá khoảng dạo ba mươi tháng chạp sẽ có một con cá to bơi qua khúc sông này. Dặn là người đàn ông đánh cá không được phép bắt con cá ấy, vì con cá ấy là nhị thái tử của Long vương vùng biển sâu. Người đàn ông đánh cá khi thấy được con cá, thì phải cúi đầu quỳ lạy không được phép mạo phạm. Nếu làm được những điều như thế thì con cháu ông ta mấy đời phúc đức sẽ hưởng không hết.
Nói xong thì long vương kia cũng biến mất. Người đàn ông đánh cá choàng tỉnh dậy thì mới biết là mình vừa mơ xong. Ông ta cũng không tin chuyện này cho lắm, đến hôm ba mươi tháng chạp vẫn đi bắt cá như thường để kiếm cá làm cơm giao thừa.
Khi đến bờ sông, ông ta mới thả mẻ lưới đầu tiên thì đã thấy lưới nặng chĩu, như mắc phải một vật gì. Rồi có một lực kéo thật mạnh tấm lưới, muốn lôi ông ta xuống sông theo cùng. Người đàn ông đánh cá mừng lắm, gồng hết sức vần vũ với con cá. Cuối cùng ông ta kéo được con cá lên trên bờ.
Con cá ấy lớn lắm, phải cỡ độ nửa thân người lớn. Sức vùng vẫy của nó mạnh kinh khủng, nếu không phải ông ta có kinh nghiệm trong việc đánh bắt cá chọn được điểm tỳ thích hợp, cộng thêm việc con cá bị mắc vào cái lưới khiến nó bị bó buộc, vùng vẫy kiệt sức thì còn lâu ông ta mới bắt nổi con cá ấy.
Người đàn ông nhớ lại giấc mơ hôm qua mơ thấy long vương của con sông, nhưng ông ta không tin chuyện ấy là có thật. Nhà lại quá nghèo, không có đủ tiền làm cơm đón năm mới sắp sang. Nên ông ta vẫn đem con cá về nhà như thường, mổ xẻ ra làm mấy khúc. Đầu cá thì chặt vứt đi, thân cá thì đem ra chợ bán vớt vát chút tiền mua gạo. Đuôi cá thì nấu một bát canh cá thật thơm ngon để bày lên mâm cúng các cụ.
Khi ông ta đón năm mới xong và đi ngủ, thì lần này ông ta thấy người đàn ông mặc áo long bào lần trước lại xuất hiện. Mặt long vương tỏ ra bừng bừng lửa giận, ông ta trỏ tay vào người đàn ông đánh cá mà quát lớn rằng:
- Hay cho thằng điêu dân to gan lớn mật. Nghĩ công tổ tiên ngươi làm nhiều chuyện phúc đức, nay đến đời ngươi âm trạch quá mỏng nên ta mới cho ngươi cơ hội lập công để hưởng phúc. Vậy mà ngươi không những không nghe lời ta, lại còn làm ra những chuyện mổ thịt chặt đầu thật đáng ghê tởm. Vậy thôi từ nay vận số của dòng tộc nhà ngươi đã cạn, ta nguyền rủa đời đời dòng tộc nhà ngươi đều sẽ phải làm loài
ma da chết đuối ở dưới sông để tự giết lấy lẫn nhau.
Long vương kia nói xong thi liền biến mất. Người đàn ông đánh cá liền choàng tỉnh bật dậy, khuôn mặt ông ta ướt đẫm mồ hôi nghĩ đến những điều xảy ra trong giấc mộng.
Ông ta bèn kể cho vợ ông ta nghe chuyện này. Vợ ông ta sợ lắm liền khuyên ông ta:
- Thôi nếu thế thì thần thánh hiển linh thật rồi đấy. Giờ ông đã phạm phải trọng tội với thần sông, thì tốt nhất đừng nên đi bắt cá nữa.
Người đàn ông quát lớn nạt bà vợ:
- Vớ vẩn, nhà mình xưa nay chỉ quen nghề chài lưới, không bắt cá nữa thì lấy gì mà sống. Đấy chỉ là một giấc mơ mà thôi, không có thần thánh cái gì hết..
Nói xong ông ta không nghe lời vợ, mà vẫn đi bắt cá ở sông như thường.
Ông ta chèo thuyền ra giữa sông, vừa mới thả lưới thì lập tức có một con sóng tròng trành ập đến. Đem cả người cả thuyền đều cuốn xuống lòng sông dìm ông ta đến chết đuối.
Đến khuya, bà vợ không thấy ông ta về thì liền hối con đi tìm.
Người con cả ra đến bờ sông thì thấy xác cha đang trôi lềnh bềnh ở giữa lòng sông. Bèn quay về gọi cả mẹ cả em ra để chuẩn bị đưa xác ông ta lên mai táng.
Cả nhà bọn họ đứng cạnh ở bờ sông, người con cả nhảy xuống sông bơi ra giữa dòng định bụng vớt xác bố kéo vào trong. Nhưng khi anh ta chưa bơi được đến nửa khúc sông thì đã vùng vẫy kêu gào, bọt nước bắn tung tóe khắp người anh ta. Dưới chân anh ta như bị một thứ gì đó lôi kéo xuống bên dưới.
Rồi người con cả cũng chìm nghỉm. Người con thứ thấy vậy cũng định nhảy xuống lao ra ứng cứu nhưng người mẹ không cho, bà ta cứ giữ anh ta lại vì biết rằng lời mà long vương kia nói trong giấc mơ là thật, nếu người con út lại xuống nữa thì sẽ chết nốt nên bà ta nhất quyết không cho người con út đi theo vết xe đổ của người anh.
Người con cả vùng vẫy một lúc thì cũng chìm nghỉm, sau nửa canh giờ thì cái xác cũng trồi lên ở chính giữa đúng chỗ vị trí cái xác của người bố.
Kể từ bấy, hai mẹ con còn lại trong gia đình nhà này vì sợ lời nguyền của long vương. Nên đã bỏ hẳn nghề chài lưới chuyển sang làm nghề khác không còn dám quay lại khúc sông ấy nữa.
Hàng thế kỉ sau cho đến thời hiện đại, câu chuyện này chỉ được lưu truyền bên dòng Châu Giang như một đoạn
truyện cổ tích không mấy người cho là thật. Và ở sông Châu Giang, người ta cũng ít làm nghề chài lưới dần vì cá ở sông theo những năm gần đây cũng đã ít đi.
Ở thôn Hạ, có ông Đồng Vĩnh Phúc, nổi tiếng nghề vẽ ký họa và xướng âm cổ tịch. Nhà ông nằm ở cuối thôn Hạ và là một căn nhà to lớn được nhiều người lui tới. Trong đó có cả Tây cả ta đến tìm ông để xin mua tranh ký họa. Thi thoảng người ta còn được nghe ông ta kể về những tích chuyện cổ mà không sao tìm ở nơi nào khác.
Dòng họ Đồng ở thôn Hạ sinh trưởng ở đây đã lâu, nếu không nói là thâm căn cố đế. Câu chuyện về người đàn ông đánh cá bên dòng sông Châu Giang bị phạt nghiệp kiếp đời đời con cháu sẽ phải chết thành ma da dưới lòng sông. Cũng là được lưu truyền từ miệng ông Phúc, và trên ông là đời các cụ cố, cụ kị của dòng họ Đồng cũng kể lại chuyện này như một lời nhắc nhở.
Nếu chuyện chỉ có thế thì chẳng đáng nhắc tới làm gì. Thế nhưng ở trong dòng họ Đồng này lại có một cái lệ truyền đời từ trên xuống dưới, đó là sống nhờ sông, nhưng không bao giờ được phép bén mảng ra đến gần sông. Cái lệ này không biết đã truyền từ bao đời này, nhưng chưa từng có ai trong dòng họ Đồng dám phạm vào. Và người nhà họ Đồng luôn lấy tích truyện người đàn ông đánh cá ra để răn đe con cháu mình không được lại gần cái khúc sông ấy.
Tục lệ ấy khiến cho người trong làng, trong thôn xóm và cả xã đều tự động liên tưởng đến chuyện xưa, cả dòng họ Đồng này rất có thể là con cháu của người đàn ông đánh cá kia, nên mới rất sợ dòng sông Châu Giang đến như vậy. Họ sợ vì nhỡ đâu lời nguyền kia là sự thật thì tất sẽ bị chết bởi nghiệp sông nước ứng kiếp.
* * *
Ông Phúc đang ngồi trầm ngâm trước một bản chữ khắc mộc cổ suy tư nghiên cứu. Thì chợt nghe thấy đầu nhà có tiếng nói lớn vang vọng vào:
- Trời ơi bác Phúc ơi, bác nghe tin gì chưa?
Từ cửa nhà lấp ló một người đàn bà độ chừng ngoài năm mươi tuổi, da mặt đen nhẻm, môi khô nứt lẻ. Có dáng người nhỏ thó chạy phăm phăm tới trước mặt ông Phúc.
Ông Phúc cau mày, đặt cặp kính viễn xuống mặt bàn rồi quay sang nhìn người đàn bà rồi hỏi:
- Có chuyện gì thế hả thím Thuật?
Người đàn bà tên Thuận xắn tay áo lên, sỗ sàng nói:
- Sáng nay nhé, cả cái cầu sông bằng bê tông to thế mà gãy đôi ra rồi đấy!
Ông Phúc hơi ngạc nhiên liền hỏi gấp:
- Sao lại gãy cầu sông được? Thím ăn nói thế nào chứ cái cầu ấy xây bằng tiền tỉ cơ mà. Hôm qua tôi mới đi qua cái cầu ấy xong, nếu nó có nứt hay là do bọn nhà thầu làm ăn bát nháo thì cũng chẳng thể nào mà gãy nhanh đến thế được!
Bà Thuật suýt xoa nói:
- Đấy, chính thế nên em mới bảo là xui rủi đấy bác ạ. Hồi sáng nay nhé, có cái tàu sắt to lắm, nó đâm qua giữa cái cầu. Cái cầu gãy làm đôi nhé, người ở tỉnh người ta về hẳn mấy cái xe con đang nói chuyện ầm ầm ở ngoài bờ sông kia kìa.
Ông Phúc nghe đến đấy thì liền cảm thấy hứng thú lắm. Muốn chạy ra bờ sông xem sự một phen. Nhưng ngồi một lúc ông lại nghĩ lại, sắc mặt ông chuyển sang đanh lại nhìn bà Thuật nói:
- Mà thím không lo làm ăn, cứ đi lo mấy cái chuyện ngoài thiên hạ làm cái gì. Tôi là tôi cấm tiệt thím không được ra cái bờ sông ấy đâu đấy nhé, cả họ đã phổ biến rõ cả rồi, không ai được phép đến gần bờ sông. Thím là con dâu, tuy không phải chịu cái lệ ấy. Nhưng tôi không cho phép thím kể chuyện này với hội thằng Đạo, thằng Tuyền đâu. Chúng nó mà xảy ra cơ sự gì liên quan đến cái chuyện ấy, là tôi lôi thím lên đền thờ họ kêu chú Xá trị thím ra trò đấy..
Bà Thuật nghe đến đấy thì liền co ro, gãi đầu gãi tai nói:
- Sao bác lại nặng lời với em như thế, đấy là em kể thì kể thế thôi. Chứ em biết thừa là họ nhà mình có cái lệ không được đến gần sông, em nào dám phạm vào.
Ông Phúc gật đầu nói:
- Ừm, thím tự biết thu xếp như thế là tốt! Đừng để tôi phải nói nhiều..
Nói xong ông Phúc lại cầm cái kính viễn đeo lên, lại chăm chú nhìn bản gỗ khắc mộc. Ông cứ nhìn như thế, đến tận một lúc sau quay ra thì vẫn thấy bà Thuật đứng nguyên xi tại chỗ nhìn ông cười hề hề. Ông lại cau mày vội hỏi:
- Thế thím lại còn cái chuyện gì nữa chưa nói hả? Mà sao chưa chịu đi?
Bà Thuật hai tay chống hông tiến sát lại gần ông Phúc rồi thì thầm to nhỏ vào tai ông:
- Chẳng là em nghe bên nhà ông Nghị xóm bên sông có đám giỗ. Thiết nghĩ là cái chuyện cầu sập thì cũng chẳng liên quan gì đến chuyện này. Nhưng mà lẽ nào ông Nghị lại không mời bác qua ăn giỗ ở bên ấy. Em là em lưu tâm chuyện ấy chứ còn..
Ông Phúc nghe bà Thuật nói như vậy thì liền ngẩn người ra một lúc. Ông tự mẩm trong đầu:
"Ừ nhỉ, giờ thì cầu sập mất rồi thì làm sao có thể qua sông ăn giỗ bà cụ nhà lão Nghị được?"
Nghĩ đoạn đến đấy, ông Phúc lại trầm ngâm, đặt cặp kính xuống bàn mà thở dài nói với bà Thuật:
- Thím nhắc đến chuyện ấy tôi cũng thấy phải, lẽ thường thì qua bên ấy không khó. Nhưng rủi đúng là hôm nay đen thật, sao cái cầu sông nó lại gãy đôi được cơ chứ lại. Tôi cũng đang phân vân lắm đây..
Bà Thuật nghe đến đấy đắc ý lắm, giãy nảy lên nói ngay:
- Đấy! Em nói có sai đâu, bác cứ cấm em không cho em quan tâm đến chuyện thiên hạ, nhưng mà cái việc ấy lại ảnh hưởng đến bác, ảnh hưởng đến thằng cháu em cơ mà. Ông Nghị là bên thông gia với nhà mình, quyền cao chức trọng, là quan to ở tỉnh. Bác mà không sang thì lại làm ông ấy phật ý, rồi rủi chuyện thằng Lương với con Thu mà không thành thì sau này về già bác biết dựa vào ai cho vững?
Ông Phúc càng nghe thì lông mày càng nhăn chặt, ông nói:
- Thì cũng hết cách rồi, cầu nó sập thì biết thế nào mà qua sông. Giờ mà muốn qua bên ấy thì phải đi lên thượng nguồn cách chừng chục cây số mới có cầu. Mà cái cầu ấy cũng là cái cầu tre nổi trên mặt nước chứ đâu có an toàn gì.
Bà Thuật nói:
- Vậy bác không tính qua bên ấy nữa à?
Ông Phúc chém tay khẳng định nói:
- Qua chứ sao lại không qua, chuyện của thằng Lương với con Thu thì tôi nhất định phải lo. Tôi chỉ có duy nhất thằng con này không lo cho nó thì lo cho ai. Nhưng tôi đang suy tính xem có cách nào để qua đó cho tiện không thôi.
Nghe ông Phúc giảng giải, bà Thuật liền ngồi xổm xuống đất, nghển cổ lên nhìn ông bày cách:
- Em tính thế này, ở ngoài bờ sông chỗ bãi lớn ấy. Có ông Lang làm nghề chài có cái thuyền cũng to mà chắc lắm. Hay bác cứ thử qua nhờ ông ấy xem, rồi nhờ ông ấy đưa giúp qua sông đi nhé. Ông ấy mà đưa bác qua thì tiện quá còn gì, chỉ độ chục phút là sang đến bên kia mà vào nhà ông Nghị.
Ông Phúc lắc đầu xua tay nói ngay:
- Không được, thế là phạm phải tội với cái lệ dòng họ nhà mình rồi. Thôi để tôi tính cách khác, trước thím cứ về đi!
Ông Phúc nói xong thì liền xua tay đuổi bà Thuật về. Bà Thuật chép miệng nguýt dài, lõng thõng đi ra ngoài cổng, vừa đi vừa nói:
- Đấy là em bày cách cho bác như thế, bác nghe hay không nghe thì tùy bác. Vì chuyện lần này mà thằng Lương với con Thu vỡ lở ra thì bác đừng có tiếc đấy..
Dáng bà Thuật khuất bóng hẳn sau cánh cửa gỗ, để lại âm thanh vang văng vẳng như nhắc nhở. Một thân một mình ông Phúc ngồi trong gian khách vắng, vò đầu bứt tai, lẩn thẩn suy nghĩ tìm cách.
Đang suy tư như thế, thì chợt tiếng điện thoại bàn nhà ông đột nhiên vang lên.
Ông Phúc chạy lật đật tới gần cái ban thờ, trên ấy tiện luôn đặt cái điện thoại bàn mà nhấc máy trả lời:
- A lô, ai gọi đấy?
Bên kia đầu dây liền có âm thanh đáp lại, là tiếng của ông Nghị, giọng ông Nghị trầm ấm vang đều đầy khí thế, cái khí thế của người có quyền, ông ta nói:
- Bác Phúc đấy hả? Vẫn là cái chuyện hôm qua mà tôi mở lời với bác đây. Tối nay bác nhớ phải có mặt ở bên này đấy. Tôi là tôi chỉ chờ bác qua để giới thiệu bố chồng của con Thu cho các anh em trong cơ quan biết thôi. Bác mà không qua là tôi giận lắm nhé!
Ông Phúc phấn khởi tỏ giọng vui mừng nói:
- Vâng, bác đã nói thế thì tôi nào dám trái lời. Tối nay tôi sẽ có mặt sớm, bác cứ yên tâm đi.
Nói xong là cả hai còn chào hỏi qua lại rối rít một lượt, rồi ông Phúc mới cúp máy. Nghe xong cuộc điện thoại mà ông Phúc không vui thêm chút nào. Không giống như lúc trả lời điện thoại nói với ông Nghị, giờ này ông Phúc ruột gan não nề, càng thất thần lo lắng vì ông Nghị đã nhiệt tình như thế, mà ông Phúc không qua thì lại phải tội.
Ông Phúc cứ nghĩ đến cái khuôn mặt trách cứ của ông Nghị nếu như tối nay ông không có mặt, là lại lo lắng sốt vó. Cứ đi qua đi lại không biết làm sao cho phải.
Đúng năm giờ chiều, cái giờ sắp đến buổi cơm giỗ tiến hành. Ông Phúc bấm bụng làm liều, lén lút đi ra bờ sông tìm gặp ông Lang làm nghề chài. Trước khi đi ông còn đánh tiếng cho vợ là bà Lài biết mình sẽ qua nhà ông Nghị.
Bà Lài đang thái bèo cho lợn ở sân sau, không biết chuyện cái cầu sông bị gãy đôi nên cứ vâng dạ đáp lại.
Ông Phúc ra đến bờ sông, cứ lấp ló đứng mãi ở trên bờ, cái xe đạp cứ dắt qua dắt lại đến vài lần. Không biết có nên phạm phải cái lời cầm kị của dòng họ mình hay không.
Ở giữa sông, ông đã nom thấy một cái thuyền đơn cỡ vừa đang neo lưới đứng lại một chỗ.
Đồng hồ đến giờ này chuẩn bị điểm sang sáu giờ, ông Phúc cuống quá cuối cùng không biết phải làm sao. Liền phi cái xe đạp ra mấp mé đến mép nước rồi gọi to vọng ra chỗ chiếc thuyền đang neo đậu:
- Lão Lang, lão Lang ơi!
Tiếng ông Phúc gọi to nhịp nhàng vang lên qua lại đến mấy lần. Chiếc thuyền kia vẫn yên ả lặng như tờ, không có người đáp lại.
Ông Phúc thất vọng lắm, nghĩ đi nghĩ lại, ông thấy tính mạng vẫn là an toàn. Lại vì quá chột dạ cái lệ truyền mấy đời nay nên định quay xe đạp quay trở lại. Nhưng đúng lúc ông đang định quay xe đạp để đi về thì chiếc thuyền đột nhiên di chuyển.
Nó tiến dần về phía ông, hai cái mái chèo hai bên cứ đảo nhịp nhàng khiến thuyền đi chầm chậm.
Ông Phúc bấm bụng làm liều, lại chôn chân đứng yên tại một chỗ chờ đợi. Lát sau, chiếc thuyền kia cập bến, một người đàn ông chạc tuổi ông Phúc bước xuống thuyền, ra hiệu cho ông Phúc lên thuyền. Người đàn ông ấy ông Phúc nhìn không rõ mặt mũi. Nhưng theo lời kể của bà Thuật, thì trên khúc sông này chỉ có một mình lão Lang là làm nghề chài lưới, vậy nên người này nhất định chính là lão Lang mà bà Thuật nói.
Ông Phúc gật đầu nghe theo, nói:
- Cám ơn ông, phiền ông chở tôi qua bên kia bờ sông. Bao nhiêu tiền tôi cũng trả.
Người đàn ông tên gọi lão Lang kia gật đầu. Ông ta không nói gì, chỉ tiến đến gần ông Phúc và nhấc chiếc xe đạp lên trên giúp ông, rồi hối ông Phúc mau lên thuyền để ông ta còn chèo thuyền qua sông.
Ông Phúc trèo lên thuyền, cả người lúc này cứ lâng lâng như không tin nổi chuyện mà mình đang làm. Ông đã phá đi cái lời thề thệ ước lệ của dòng họ, chỉ vì tương lai của cậu con trai.
Chiếc thuyền chầm chậm rời khỏi bến đỗ, bàn tay lão Lang cứ nhịp nhàng đẩy mái chèo qua lại cho thuyền rẽ sóng đi về phía trước. Vì sức nước của dòng chảy hơi ngược, nên quãng đường thuyền đi chuyển sang thành như một cạnh huyền.
Cong thuyền đi chếch về phía dưới bãi sông không thẳng với bến bên này nên khiến chiều dài qua lại hai bên dài hơn. Ngày xưa thì ở sông Châu Giang có phà để nối giao thương qua lại giữa hai vùng. Nhưng kể từ khi có cái cầu sông được xây dựng bằng bê tông hóa thì cái phà đó đã bị bỏ qua một bên thành một đống phế liệu.
Kỳ này chiếc cầu sông đột nhiên bị sập, cho nên người ta không còn cách nào khác qua sông ngoài cách đi thuyền. Chuyến phà năm xưa đã bị bỏ ngỏ, nhưng bến sông cho phà cập bến thì vẫn còn nguyên vẹn. Vì vậy cho nên thi thoảng người ta đi thuyền qua sông thì vẫn thường hay đi theo đúng hướng đi của hai bên bến phà ngày xưa.
Thấy lão Lang cứ lặng lẽ chèo thuyền mà không nói gì, ông Phúc đang buồn liền cất lời mở cuộc trò chuyện:
- Lão Lang này, ông là người xóm ngoài hay người của thôn Hạ thế?
Lão Lang không nói gì, chỉ lẳng lặng lắc đầu. Ông Phúc liền đoán ngay:
- Vậy chẳng lẽ ông lại là người ở vùng khác à?
Lão Lang vẫn lặng thinh. Ông Phúc thấy lão Lang không nói gì thì liền cho rằng suy đoán của mình là đúng. Rất có thể lão Lang này là người vùng khác đến đây làm ăn sinh sống, bởi vậy cho nên ông Phúc mới không hề quen mặt ông ta. Từ nhỏ ông Phúc đã sống ở đây, vốn dĩ dân tình ông đều quen mặt, vậy thì chuyện lão Lang có phải là người dân xứ này hay không thì ông Phúc vẫn là người phải biết rõ nhất.
Thấy mình mở lời mấy lần mà lão Lang kia dường như không có ý định muốn nhập cuộc trò chuyện. Nên ông Phúc cũng thôi không còn quay sang hỏi chuyện lão Lang nữa. Mà giờ ông chỉ chăm chăm chú ý dõi qua bờ bên kia nhìn sang cái bến sông mong sao cho thật chóng tới.
Nét mặt ông càng ngày càng trở nên cau có khó chịu, khi thấy chiếc thuyền này hình như đang không đi đúng với cái vận tốc mà vốn dĩ nó phải có.
Chiếc thuyền cứ đi chầm chậm, chầm chậm tiến về phía trước mà ông Phúc nom sao dường như nó đang đi lui lại vậy. Mặc dù sóng vẫn rẽ đều sang hai bên, thế nhưng hình ảnh cái bến sông ở bờ bên kia cứ xa dần, xa dần trong đôi mắt ông.
Ông Phúc bực mình quá liền lớn giọng hỏi lão Lang:
- Sao tôi thấy cái thuyền này hình như không di chuyển tí nào vậy, còn quay ngược lại bờ bên kia nữa à?
Nhưng khi ông Phúc vừa mới quay đầu lại nhìn về phía lão Lang thì ôi thôi. Ông giật mình kinh hãi nảy cả thân người về phía sau, khiến cho chiếc thuyền cũng phải rung rinh chới với.
Lão Lang giờ đã biến mất, không còn thấy thân người lão ta đâu nữa cả. Điều khiến ông Phúc kinh sợ không phải là chuyện lão Lang biến mất khỏi nơi chèo thuyền. Mà kinh hãi ở chuyện là mặc dù lão Lang đã không còn ở đó. Nhưng cái mái chèo kia vẫn đang nhịp nhàng đưa đẩy hệt như cái lúc có người chèo thuyền, và không sai một nhịp nào.
Ông Phúc vã hết cả mồ hôi hột, nhìn ngang nhìn dọc một lúc thì mới phát hiện ra có một cái bóng người ngồi ở bên kia đầu thuyền. Ông Phúc liền đứng dậy đi về phía đầu thuyền bên kia, vỗ vai người ấy rồi gọi hỏi:
- Lão Lang, sao ông không chèo thuyền tiếp đi. Tôi có việc bận lắm cần phải qua sông, giờ cũng sắp tới giờ rồi, phiền ông chèo thuyền nhanh giúp tôi.
Nhưng người kia không trả lời, vẫn cứ cúi gằm mặt, ông ta đang mò mẫm một cái gì đó ở dưới mặt nước. Ông ta cứ mò mãi, mò mãi mà không hề trả lời ông Phúc gì cả.
Ông Phúc hết hẳn sợ hãi, mà chuyển sang giọng bực tức nhìn lão Lang nói:
- Nếu ông không tự chèo thuyền, vậy thì để tôi tự chèo đấy. Đến lúc ấy thì đừng có nói gì tôi là phá chuyện của ông đấy nhé!
Ông Phúc nói xong, đang định quay đầu đi ra phía mái chèo. Thì lúc này như ma xui
quỷ khiến thế nào, người kia lại từ từ chậm rãi quay đầu lại. Trong cái trời đêm tối đen như mực, ánh sáng trăng nhá nhem vừa mới lấp ló ở một bên chân trời. Ông Phúc há to miệng ngắc ngoải hít từng ngụm khí thở. Thứ ông nhìn thấy trước mắt làm sao mà lại khiến ông cảm thấy kinh tởm đến như thế.
Người mà ông trò chuyện từ đầu tới cuối bây giờ, đang có một khuôn mặt chảy xệ, lộ xa cả xương. Mặt mọc đầy rong rêu, với hai lỗ mắt đen sâu hoăm hoắm không có con ngươi.
Người đó cất ra giọng nói khe khé như khó khăn lắm từ trong cổ:
- Tao bị rơi mất mắt rồi, phải tìm mắt thì mới chèo thuyền được tiếp. Thằng cháu chắt bất hiếu, sao không tìm mắt giúp cụ mà lại dám hỗn với cụ thế hả con?
Ông Phúc khiếp sợ như muốn tắt thở, ông nhận ra sự thật có lẽ đã quá muộn màng rồi. Rằng cái người mà chèo thuyền cho ông từ đầu đến giờ, nào đâu có phải là lão Lang gì kia. Mà lại chính là một con ma, một con ma da của dòng sông Châu Giang.
Con ma kia không những vậy lại còn nói rằng ông là đứa cháu chắt bất hiếu, càng khiến cho ông Phúc kinh hồn táng đảm nghĩ đến chuyện xưa và liên tưởng đến người này liệu có khi nào chính là con ma da trong câu chuyện cổ.
Ông Phúc loạng choạng lùi lại, chới với ngã đổ cả thân người.
Cái hồn con ma kia lột hết cả da mặt ra chỉ có một khuôn mặt trơ xuông gào lên với ông:
- Xuống dưới nước tìm mắt cho cụ đi con!
Nó cứ tiến gần, tiến gần dần dần đến trước mặt ông Phúc khiến ông không nói được từ nào, mà chỉ biết lùi lại phía sau thở dốc. Cả con thuyền lúc trước khô ráo lúc này liền trở sang ướt nhẹp, rong rêu tự nhiên cứ mọc đầy xuất hiện. Nước tràn vào trong khoang thuyền khiến cho cái thuyền đang từ từ chìm xuống.
Cái giọng hồn ma lại thét lên văng vẳng nói:
- Xác cụ bị ngâm dưới nước lâu quá rồi nên mắt cứ bị trồi ra trôi đi. Đi tìm mắt cho cụ đi con..
Ông Phúc hãi hùng quá, cứ nhắm tịt hai mắt lại mà xua tay vùng vẫy rồi kêu lên:
- Không..
Xung quanh ông nước bắt đầu tràn ngập, ông không dám mở mắt ra nhìn mọi việc vì sợ khi mở mắt ra là lại nhìn thấy cái hồn ma kia. Nhưng ông không mở mắt thì càng chết. Chợt có một đôi bàn tay cứng rắn, túm lấy chân ông Phúc, lôi tuồn tuột ông đi. Ông Phúc chỉ cảm thấy cả thân người như bị hẫng một khoảng rồi chìm sâu vào mặt nước. Nước tràn vào tai, vào miệng vào mũi khiến ông nghe tiếng ong ong, miệng ông sặc sụa kêu gào trong tiếng nước.
- Khô.. ục.. ng.. ục.. Kh..
Rồi không phát ra được thêm âm thanh gì nữa. Cả người ông như bị một sức kéo rất mạnh chìm sâu xuống mặt nước, một bàn tay nào đó xuất hiện trên đỉnh đầu của ông, ấn đầu ông xuống khiến ông chẳng thể nào trồi lên.
Thêm một phút nữa, ông Phúc ngộp thở chết đuối, chết bất đắc kỳ tử y như cái lời nguyền dành cho người họ Đồng, là sẽ đời đời làm ma da dưới dòng Châu Giang này.