Bạn được Hiền Nashi Karry mời tham gia diễn đàn viết bài kiếm tiền VNO, bấm vào đây để đăng ký.
98 ❤︎ Bài viết: 10 Tìm chủ đề
1738 42
Phân tích nhân vật Bà cụ Tứ trong tác phẩm "Vợ nhặt" của nhà văn Kim Lân.

Bài phân tích hay và có nhiều lí luận, thích hợp thi THPTQG. (Từ một HS thi Văn điểm 9)

TkqURcA.jpg

"Văn học giúp con người hiểu được bản thân mình, nâng cao niềm tin vào bản thân mình và làm nảy nở ở con người khát vọng hướng tới chân lí." (M. Go-rơ-ki). Văn chương từ cuộc đời mà nở hoa, phải trở về cuộc đời mà kết trái. Tác dụng của văn chương đích thực, sứ mệnh của nhà văn chân chính là đem hương vị lại cho cuộc đời, đem văn chương phục vụ những lí tưởng cao đẹp, mang vẻ đẹp nhân văn tỏa sáng đến muôn đời. Và điều đó đã được Kim Lân thể hiện thành công qua tác phẩm "Vợ nhặt". Xét về vị trí, đây là một trong những tác phẩm truyện ngắn xuất sắc nhất trong văn xuôi Việt Nam hiện đại. "Vợ nhặt" là câu chuyện đầy cảm động về tình người trên cái nền u ám của nạn đói năm 1945. Tác giả đã khắc họa thành công nhân vật bà cụ Tứ, một người mẹ khắc khổ nhưng tràn đẩy tính yêu thương.

"Nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo, vì vậy nó đòi hỏi người sáng tác phải có phong cách nổi bật, tức là có nét gì đó rất riêng, mới lạ thể hiện trong tác phẩm của mình". Nhắc đến Kim Lân là ta nghĩ ngay đến nhà văn của làng quê. Ông chuyên viết truyện ngắn, đặc biệt là viết về nông thôn và người nông dân. Những trang viết của ông hết sức chân thật và xúc động khi khắc họa những con người của làng quê Việt Nam nghèo khổ, thiếu thốn mà vẫn yêu đời; chất phác, thật thà mà thông minh. "Vợ nhặt" là truyện ngắn đặc sắc nhất của Kim Lân in trong tập "Con chó xấu xí" (1962). Tiền thân của truyện ngắn này là tiểu thuyết Xóm ngụ cư – được viết ngay sau CMT8, nhưng dang dở và thất lạc bản thảo. Sau khi hòa bình lập lại, ông dựa vào một phần cốt truyện cũ để viết truyện ngắn này.

Đoạn trích mở đầu bằng khung cảnh làng quê ngày đói thật ảm đạm, tiêu điều. "Cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào", với động từ "tràn" nhà văn đem đến cho ta một hình dung: Nạn đói giống như một cơn đại hồng thủy có sức tàn phá dữ dội, càn quét đi mọi sinh linh. Ngòi bút sắc sảo của Kim Lân thấm đẫm chất hiện thực đã miêu tả rất sinh động sự tàn phá của cái đói: Đám trẻ con thì ủ rũ, không buồn nhúc nhích; những người sống khác thì "lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma", hay "dưới những gốc đa, gốc gạo xù xì bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma". Không phải ngẫu nhiên mà đến hai lần nhà văn so sánh người với ma. Nghệ thuật đầy ẩn ý muốn diễn tả đó là lúc cõi âm tràn vào cõi dương, trần gian mấp mé miệng vực âm phủ. Lằn ranh giời giữa sống và chết vô cùng mong manh, chỉ chút sơ sẩy là con người ta có thể sa vào âm địa. Ranh giới giữa âm dương mong manh như sợi tóc. Đời không khác gì bãi tha ma khổng lồ với những hình ảnh "người chết như ngả rạ". Không sáng nào người đi làm đồng không gặp ba, bốn cái thây nằm còng queo bên vệ đường bãi chợ. Cái chết còn lan khắp không gian với "mùi ẩm thối vủa rác rưởi và mùi gây của xác người". Thêm vào đó là đám quạ từ đâu bay về, đậu kín ở cây gạo, bãi chợ đang gào lên những tiếng thê thiết như đưa tiễn buổi hoàng hôn của đời vào đêm tối của địa ngục đầy ám ảnh rợn lạnh. Trong hoàn cảnh ấy người ta chỉ nghĩ tới việc cứu đói là cấp bách, còn hạnh phúc là một thứ xa xỉ. Vậy mà Tràng lại lấy vợ lúc này khiến người mẹ già vốn đã nghèo khổ lại càng khổ não hơn, bà không biết nên vui hay buồn cho hạnh phúc bất ngờ của con mình.

Bà cụ Tứ không xuất hiện ngay từ đầu tác phẩm, bà chỉ xuất hiện khi anh cu Tràng dẫn vợ vừa nhặt được về nhà. Có lẽ khoảnh khắc này người đọc sẽ bắt đầu nhận ra được người mẹ nghèo này có thái độ, tình cảm như thế nào dành cho con. Bà cụ Tứ hiện lên là người đàn bà khắc khổ, nghèo đói với cái dáng "lọng khọng", vừa đi vừa "húng hắng ho". Từ "lọng khọng" đầy sáng tạo và có sức gợi hình, gợi trong tiềm thức của ta một dáng hình còng xuống vì dầm mưa dãi nắng, lo toan, mệt mỏi mưu sinh suốt cả cuộc đời. Với một loạt từ dùng để chỉ hình dáng và cử chỉ của bà như "nhấp nháy mắt", "lập khập bước đi", "lễ mễ" đã gợi lên trong lòng người đọc hình ảnh người mẹ già không còn khỏe mạnh và tinh anh nữa. Giữa xóm ngụ cư nghèo đói, giữa sự tan tác, hoang sơ của cảnh vật và con người, hình ảnh người mẹ này hiện lên khiến người đọc không khỏi xót xa. Hẳn là bà đã phải trải qua một cuộc đời khó nhọc, làm việc vất vả, lam lũ, cơ cực. Kim Lân đã để cho bà xuất hiện với những nét tính cách và tình cảm yêu thương, cảm thông, chịu thương chịu khó hết mực. Tác giả đã gửi trọn tấm lòng kính yêu của mình để cảm thông cùng với những nỗi đau suốt một đời đã đè nặng lên đôi vai mẹ. Bà quả là một người mẹ vĩ đại, tuyệt vời.

Khi thấy một người đàn bà lạ xuất hiện trong nhà mình, tâm trạng của bà thất thường, không yên. Trạng thái ngỡ ngàng của bà được nhà văn miêu tả bằng hàng loạt những câu nghi vấn: "Quái, sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ? Người đàn bà nào lại đứng ngay đầu giường thằng con trai mình thế kia? Sao lại chào mình bằng u?", "Ai thế nhỉ?". Sự cùng quẫn của hoàn cảnh đã đánh mất ở người mẹ sự nhạy cảm vốn có trước hạnh phúc của con, có lẽ chưa bao giờ bà nghĩ đến chuyện Tràng có vợ. Không ngạc nhiên sao được khi ngôi nhà vốn dĩ chỉ có hai mẹ con nay lại có người thứ ba. Không ngạc nhiên sao được khi giả thuyết con cái Đục – đứa con gái duy nhất đã không còn nữa? Thế mà vẫn có người gọi bà cụ bằng u. Sự điềm tĩnh vốn có ở người già đã giúp bà cụ Tứ không phát hoảng lên. Nhưng đáng thương hơn bà cụ lại tưởng mình nhầm lẫn: Bà cụ hấp háy cặp mắt cho đỡ cay. Rốt cuộc, nỗi băn khoăn của bà cụ Tứ vẫn không được giải bày: Bà lão quay lại nhìn con tỏ ý không hiểu. Điều này để lí giải bởi trước sự việc của Tràng, bà cụ Tứ hoàn toàn bị động. Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà là những việc trọng đại của mỗi con người, cần có sự tham mưu của cha mẹ, của bề trên. Thế nhưng sự kiện Tràng lấy vợ lại được thông báo một cách đột ngột, khiến bà cụ Tứ ngạc nhiên khôn tả.

Nỗi băn khoăn của bà cụ chỉ hết khi Tràng dõng dạc vắn tắt trình bày cơ sự: "Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ! Chúng tôi phải duyên phải kiếp với nhau. Chẳng qua nó cũng là cái số cả". Và thế là bà lão "cúi đầu im lặng" – một sự im lặng chứa đầy nội tâm. Đó là nỗi xót xa, lo lắng, buồn vui, yêu thương lẫn lộn. Bà mẹ đã tiếp nhận hạnh phúc của con bằng kinh nghiệm sống, bằng sự trả giá của một chuỗi đời nặng nhọc, bằng ý thức sâu sắc trước hoàn cảnh. Bà thương con mình, thương cho người đàn bà lạ kia. Một tình thương sâu thẳm và bao la. Bằng tấm lòng nhân hậu, sự bao dung của người mẹ, bà nghĩ: "Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không". Trong chữ "chúng nó", người mẹ đã ngầm chấp nhận người đàn bà lạ làm con dâu của mình.

Rồi tình thương lại chìm vào nỗi lo, tạo thành một trạng thái tâm lí triền miên day dứt. Nỗi tủi hờn, xót xa cứ thể lên lỏi vàp lòng bà cụ. Bà hiểu ra bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp của con trai mình. Lời văn của Kim Lân như nhát dao cứa vào lòng: "Chao ôi! Người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc gia đình ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này- còn mình thì..". Bao nhiêu ngập ngừng, tủi cực, chua xót dồn nén sau chữ "thì" vô vọng ấy. Bà xót xa vì không thể làm tròn bổn phận của người mẹ, không lo nổi chuyện đại sự cho con. Cái buồn, cái tủi lại chan đầy nước mắt, và bà đâm ra khóc vì thương con, thương dâu không biết làm sao để vượt qua cơn khốn khó này "trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt", lí trí đã không ngăn nổi tình cảm. Giọt nước mắt tủi phận cùng cực, giọt nước mắt khóc cho chính sự khốn khó của mình, cũng là những giọt nước mắt của lòng tự trọng, những giọt nước mắt giữ cho nhân cách con người không sa xuống bờ vực của sự tha hóa. Người mẹ nghèo cũng chỉ còn những giọt nước mắt ấy làm chứng cho tình yêu tha thiết đối với các con. Không chỉ thương con trai, bà còn dành tình yêu thương cho người con dâu mới của mình. Bà đăm đăm nhìn người đàn bà như để nhận mặt người đông hành khốn cùng trong cuộc đời khổ nghèo. Bà nhìn thị nghĩ: "Người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này người ta mới lấy con mình, con mình mới có vợ được". Đó là tấm lòng người mẹ không khinh rẻ mà tỏ ra thông cảm thấu hiểu hoàn cảnh con dâu. Chứng tỏ bà cụ Tứ là một người rất hiểu mình, hiểu người. Rồi bà động viên hai con: "Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi may ra ông giời cho khá.. Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời?". Bà nói với con dâu bằng lời của một người từng trải – vừa lo lắng, vừa thương xót. ".. Năm nay thì đói to đấy. Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá..". Những lời độc thoại cứ như đợt sóng cuộc len trong lòng người mẹ, vừa khắc khoải, dạt dào, vừa bao la, vỗ về đầy tình mẫu tử, hòa trong đó là những rung cảm xót xa trong trái tim nhân đạo của nhà văn Kim Lân. Người mẹ như cố nuốt nước mắt vào trong, cố nén nỗi đau trong lòng để an ủi các con vì tấm lòng nhân hậu ấy sẽ chẳng bao giờ muốn con buồn, chẳng muốn con phải khổ đau. Đó là nỗi thương con của một người mẹ từng trải, hiểu đời và có tình yêu thương con sâu thẳm vì suy cho cùng tình mẹ như dòng suối ngầm chảy mãi chẳng bao giờ khô.

Trong buổi sáng hôm sau, Kim Lân tiếp tục đi sâu khai thác tâm lí bà cụ Tứ, đặc biệt nhấn mạnh vào niềm tin, khát vọng tương lai. Bà cụ Tứ đã có sự thay đổi rõ ràng. Tràng đã cảm nhận thấy người mẹ của mình có dáng vẻ khác hẳn mọi khi, không phải sự nhếch nhác, khổ sở mà thay vào đó là dáng điệu nhẹ nhõm, tươi tỉnh. Bà dậy sớm cùng con dâu quét dọn nhà cửa. Những hành động tuy nhỏ nhưng có ý nghĩa lớn lao, nó thể hiện sự vun đắp, chăm lo của người mẹ cho hạnh phúc của đôi vợ chồng trẻ. Để tạo niềm tin và hi vọng vào tương lai cho vợ chồng Tràng, trong bữa cơm ngày đói bà lão toàn nói những chuyện sung sướng sau này để xua đi thực tại hãi hùng. Không phải ngẫu nhiên mà trong ba nhân vật, Kim Lân lại để một bà cụ gần đất xa trời nói về tương lai, nhưng điều tốt đẹp, sau đó còn ẩn chứa thông điệp: Dù thế nào cũng phải giữ lấy niềm tin và hi vọng. Đồng thời cũng là sự ngợi ca của tác giả trước sức sống khỏe khoắn, mãnh liệt của tâm hồn Việt. Người mẹ nghèo nhưng tính cách bao dung, nhân từ đã gieo mầm sự sống, hạnh phúc lứa đôi. Sự tính toán của bà về việc mua lấy đôi gà để ngoảnh đi ngoảnh lại đã có đàn gà, khiến cho đôi vợ chồng có niềm tin vào tương lai. Nhưng dù dùng những câu chuyện vui, lạc quan thì bà lão vẫn không thay đổi được hiện thực là nồi cháo kia chỉ đủ cho mỗi người ăn hai lưng là hết. Và để vượt qua cái đói, bữa cơm đón cô dâu mới có thêm cả nồi cháo cám. Bưng nồi cháo cám ra, phản ứng tâm lí của bà vô cùng đáng thương, bà lật đật, lễ mễ, khuấy khuấy cùng với giọng nói đầy phấn khởi, để giấu bớt đi phần khắc nghiệt của hiện thực là bát cháo cám nghẹn ứ ở cổ. Bà bảo "Cháo cám đấy. Ngon đáo để. Trong xóm mình khối nhà còn không có mà ăn". Sự vui vẻ của người mẹ nghèo làm bừng sáng lên không khí tăm tối những ngày qua. Thực sự chỉ tấm lòng của những người mẹ mới có thể khiến cho con cái yên lòng. Những hành động đó của bà thật cảm động và đáng trân trọng.

Tóm lại, Kim Lân đã miêu tả rất chân thực và sinh động tâm lí nhân vật bà cụ Tứ khiến người đọc cảm thấy càng xót xa và yêu thương số phận người mẹ già nghèo khổ. Có thể nói, bà cụ Tứ là một nhân vật tiêu biểu cho vẻ đẹp tình mẫu tử, tình người và lòng nhân ái mà Kim Lân đã gửi gắm trong tác phẩm "Vợ nhặt". Thành công của nhà văn là đã thấu hiểu và phân tích được những trạng thái tâm lí khá tinh tế của người mẹ trong một hoàn cảnh đặt biệt "con trai nhặt vợ trong nạn đói". Trong thân hình khẳng khiu, tàn tạ với "cái mặt bủng beo, u tối" bà cụ Tứ vẫn nung nấu một ý chí sống mãnh liệt. Bà là hiện thân của những người mẹ nghèo khổ mà từng trải, hiểu biết: Hết lòng yêu thương con, yêu thương những cảnh đời tội nghiệp, oái oăm, luôn tỏa sáng một khát ọng về cuộc sống, gia đình hạnh phúc. Vượt lên hoàn cảnh vẫn luôn là một vẻ đẹp tinh thần của những người lao động nghèo, họ sẵn sàng yêu thương, đùm bọc nhau cùng hướng đến tương lai với hi vọng đổi đời.

Leonop yêu cầu: "Mỗi tác phẩm phải là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung". Hegel cũng khẳng định "Một tác phẩm nghệ thuật thiếu hình thức thích đáng thì không thể được gọi là tác phẩm nghệ thuật". Tác phẩm "Vợ nhặt" là sự kết tinh tài hoa nghệ thuật của Kim Lân. Tác giả trước tiên đã xây dựng thành công tình huống truyện độc đáo, bất ngờ kết hợp cùng bút pháp miêu tả, phân tích tâm lí nhân vật chân thực, tinh tế. Ngôn ngữ tự nhiên, mộc mạc, gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày của người nông dân, pha với chút giọng kể hồn hậu, hóm hỉnh, giàu chất trữ tình.

"Văn học là cuộc đời. Cuộc đời là nơi xuất phát cũng lả nơi đi tới của văn học". Mỗi người nghệ sĩ chân chính đều ý thức được mối quan hệ chặt chẽ giữa hiện thực và đời sống. Truyện ngắn "Vợ nhặt" của Kim Lân là một truyện ngắn hay và đặc sắc, từ việc phản ánh hiện thực xã hội thông qua nạn đói khủng khiếp năm 1944-1945, tác giả đã bộc lộ những tư tưởng, giá trị nhân đạo. Bà cụ Tứ tuy xuất hiện ít trong đoạn trích nhưng những gì bà để lại khiến bản thân chúng ta phải suy ngẫm. Đó là một người phụ nữ giàu lòng thương yêu và đức hi sinh. Cuộc đời bà như thế nào cũng được nhưng còn con của bà, chúng phải thay đổi và cuộc sống của chúng sẽ tốt lên. Bà cụ Tứ chính là hình ảnh đẹp đẽ nhất, đại diện tiêu biểu cho hàng triệu bà mẹ Việt Nam.
 
Last edited by a moderator:
1 ❤︎ Bài viết: 1 Tìm chủ đề
Phân tích hình tượng bà cụ Tứ trong truyện ngắn "Vợ nhặt" (Kim Lân). Đề tích hợp phân diễn biến tâm trạng nhân vật bà cụ Tứ.

Hướng dẫn

I. Mở bài

Kim Lân là cây bút chuyên viết về đề tài nông thôn. Sáng tác của ông phản ánh một cách chân thực và xúc động cuộc sống của người dân quê mà ông am hiểu sâu sắc về cảnh ngộ và tâm lí của họ. Một trong những sáng tác xuất sắc của Kim Lân là truyện ngắn "Vợ nhặt". Tác phẩm vừa là bức tranh chân thực về nạn đói khủng khiếp vừa là bài ca ca ngợi về sức sống và niềm tin của con người Việt Nam. Truyện ngắn "Vợ nhặt" đã dựng lên một tình huống độc đáo: Anh cu Tràng nghèo khổ, xấu xí, ế vợ bỗng dưng lại nhặt được vợ giữa nạn đói khủng khiếp. Tình huống dở khóc, dở cười, vui mà tội nghiệp, mừng mà vừa tủi vừa lo đã làm nổi bật tâm trạng của các nhân vật trong truyện, trong đó có tâm trạng bà cụ Tứ – một người mẹ nghèo khổ nhưng nhân hậu, bao dung.

Ii. Thân bài

2.1. Khái quát

Trong một lần nói về truyện ngắn của mình, nhà văn Kim Lân đã phát biểu "Nạn đói năm 1945 thật khủng khiếp. Nhiều gia đình vừa có người chết đói vừa có người bỏ đi, dần dần mất hẳn. Tôi tận mắt chứng kiến người chết đói nằm rải rác khắp nơi. Khi con người bị đẩy đến bờ vực cuối cùng của cuộc sống thì toàn bộ số phận và tính cách con người họ sẽ biểu lộ ra hết. Chết đói là một thực tế khốc liệt. Đó là cái chết từ từ, hao mòn dần, quằn quại dần. Tôi được biết nhiều chuyện qua năm tháng đó. Cái đói hành hạ tất cả mọi người nhưng không át được sức sống đơn sơ của tâm hồn họ. Nó vừa đắng cay vừa đớn đau, đồng thời lóe lên những tia sáng về đạo đức và danh dự" (Sách tìm hiểu một số tác giả và tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại, NXB Giáo Dục, 2001). Trong truyện ngắn Vợ Nhặt, có lẽ vẻ đẹp của "sức sống đơn sơ vừa đắng cay vừa đớn đau nhưng lại lóe lên những tia sáng đạo đức và danh dự" mà Kim Lân để cho người đọc cảm động nhất chính là hình tượng nhân vật bà cụ Tứ – một người mẹ nông dân chịu nhiều đắng cay thiệt thòi trong cuộc sống nhưng lại tiêu biểu cho vẻ đẹp tâm hồn Việt với tấm lòng nhân ái, bao dung. Trong thời khắc khủng khiếp của nạn đói mà nói như thi sĩ Bàng Bá Lân: "Trên thân mình còn dính một chút da /Dù chưa chết đã bốc mùi tử khí". Gia cảnh bà cụ Tứ cũng chẳng khá gì, hai mẹ con chỉ sống dựa vào đồng phu xe ít ỏi của Tràng; cuộc sống đang ngấp nghé bên bờ vực của cái chết. Việc con trai bà lấy vợ quả thật là khó tin, điều này gây nên sự xáo trộn rất lớn trong tâm trí người mẹ. Miêu tả quá trình thay đổi tâm trạng của người mẹ ngòi bút Kim Lân đã làm cho người đọc xúc động mãnh liệt.

2. Nội dung

2.1. Bà cụ Tứ là người mẹ nông dân nghèo khổ, bất hạnh

Bà xuất hiện ở giữa thiên truyện với hình ảnh của một người mẹ đã già, sức cùng lực kiệt. Trong cái u ám của ngày đói, cái chạng vạng của chiều hôm tê tái, dáng đi "lọng khọng" và tiếng ho "húng hắng" của bà đã ám ảnh người đọc. Bà là một người mẹ nghèo khổ, góa bụa, chồng và con gái đều đã chết. Bà ở vậy nuôi con, gia cảnh thì nghèo khổ. Cái được gọi là nhà thực chất lại là túp lều rách nát nằm bên "mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại". Tràng – anh con trai của bà không được như con nhà người. Tràng vụng về, gàn dở lại thêm xấu xí thô kệch.

2.2. Bà cụ Tứ là người mẹ nhân hậu, bao dung, giàu tình thương yêu với người đồng cảnh ngộ. Vẻ đẹp ấy được Kim Lân miêu tả qua diễn biến tâm trạng của bà trong cảnh "đón dâu".

Chính sự xuất hiện của người đàn bà lạ trong nhà đã làm cho người mẹ ấy ngổn ngang bao tâm trạng, vừa ngạc nhiên, vừa tủi thân, mừng vừa lo.

Trước hết là tâm lý ngạc nhiên.

Bà ngạc nhiên vì sự đon đả khác lạ của Tràng, ngạc nhiên vì người đàn bà lạ ở trong nhà. Bởi thế đôi chân bà theo con mà cứ "đứng sững lại", có lúc cứ "phấp phỏng". "Phấp phỏng" có nghĩa là tâm lý bất an, lo lắng, băn khoăn, không biết điều gì đón đợi mình phía trước. Nếu như anh cu Tràng sau những giây phút "Chợn" thì anh ta đi thẳng vào niềm vui, tâm lý phát triển theo chiều thẳng đứng. Còn bà cụ Tứ thì sau giây phút ngạc nhiên của bà là một tâm lý phức tạp, tâm lý phát triển theo đường cong. Căn nhà tuềnh toàng rách nát của bà bấy lâu nay chỉ có bà và anh con trai, họ mạc thì đã thất tán nên sự xuất hiện của người đàn bà lạ kia quả là một sự kiện. Hàng loạt những câu hỏi nghi vấn dồn dập trong óc bà "Quái! Sao có người đàn bà nào đứng trong nhà mình thế nhỉ? Người đàn bà nào lại đứng ngay đầu giường thằng con mình thế kia? Sao lại chào mình bằng U? Không phải con cái Đục mà ai đấy nhỉ?". Thực ra sự ngạc nhiên của bà cụ Tứ cũng là sự ngạc nhiên của biết bao người, từ xóm ngụ cư đến Tràng vẫn không tin nổi. Nhưng thực sự mà nói, một người từng trải như bà sống mấy chục năm trên cõi đời này, bà là người giàu kinh nghiệm. Hơn nữa việc con cái lớn lên, muốn thành thất thành gia thì không người mẹ nào lại không nhạy cảm trước chuyện hệ trọng đó của con. Nhưng ở đây ta thấy nạn đói đã làm cho người mẹ mất đi sự nhạy cảm ấy. Chính vì vậy sự ngạc nhiên đó kéo dài rồi đến lúc bà không dám tin đó là sự thật, bà khẽ "hấp háy cặp mắt cho đỡ nhoèn nhưng hình như nó lại nhoèn ra mãi". Tuy nhiên thái độ của Tràng cùng không khí thiêng liêng của gia đình và câu mở lời của Tràng "Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ" thì bà cụ mới hiểu ra cơ sự, bà không ngạc nhiên nữa cũng không giận dữ lại càng không vui mừng mà lòng bà càng trở nên trăm mối tơ vò.

Bà vừa hờn tủi, xót xa cho mình lại vừa thương con thắt lòng.

Khi hiểu ra cơ sự, bà cụ Tứ "cúi đầu nín lặng". Kim Lân dùng hai chữ "Cúi đầu" mang đến cho người đọc một cảm nhận xót xa: Đằng sau cái cúi đầu ấy có gì đó vừa uất nghẹn, vừa xót xa, vừa cay đắng. Lòng người mẹ đa cảm ấy bỗng thấy xót xa, tủi thân tủi phận. Bà buồn vì tự thấy mình chưa làm tròn bổn phận của người mẹ. Bởi cuộc đời của một người mẹ không chỉ sinh con ra, nuôi con lớn lên mà còn có trách nhiệm gầy dựng gia đình cho con, chăm lo cháu chắt, còn bà chỉ có hai bàn tay trắng: "Chao ôi! Người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn mình thì..". Nhà văn đã bỏ lửng suy nghĩ của bà bằng ba dấu chấm. Ba dấu chấm như là những nốt lặng trong tâm hồn người mẹ mà ở đó sự tủi thân tủi phận dâng trào hơn bao giờ hết. Nhà văn đã để nhân vật của mình khóc: "Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà đã rỉ xuống hai dòng nước mắt", đó là dòng nước mắt cơ cực của cuộc đời và cũng là những giọt nước mắt đã cạn kiệt vì cuộc đời mẹ đã khóc quá nhiều.

Từ đó tâm lý bà cụ chuyển nỗi tủi thân thành lòng xót thương. Xót thương vì "Người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được". Bà thừa hiểu có nằm mơ thì thằng con mình cũng chẳng cưới được vợ. Mà người ta có cưới vợ thì cũng phải cưới một cách hiển hách, còn Tràng lại đi nhặt vợ. Nói như vậy không có nghĩa là bà khinh thường người con dâu mà ngược lại trái tim của người mẹ ấy bao dung hơn bao giờ hết. Bà tỏ ra rất gần gũi và chân tình "Nhìn người đàn bà đứng vân vê tà áo đã rách bợt", mà "lòng đầy xót thương". Chính tình cảm ấy đã xóa đi rất nhiều mặc cảm cho người con dâu. Trả lại danh dự cho người phụ nữ "mang tội theo trai" (Kim Lân).

Trái tim nhân ái của người mẹ đã mách bảo bà phải đồng ý cho cuộc tình duyên ấy: "Thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau u cũng mừng lòng".

Ca dao Việt Nam có câu:

Trồng cây những muốn cây xanh

Nuôi con những muốn con thành thất gia

Chuyện con cái thành thất thành gia là điều vui, sao mẹ chỉ "mừng"! Phải chăng ám ảnh về nạn đói đã lấn át đi niềm vui của mẹ? Đó cũng là câu nói chân thành chứa đựng những tình cảm sâu sắc của người mẹ làm cho không khí gia đình đã thiêng liêng lại càng thiêng liêng hơn. Câu nói đó còn bao chứa vẻ đẹp của tấm lòng nhân hậu, sự yêu thương cưu mang đùm bọc của bà dành cho người con dâu. Bà an ủi cô con dâu: "Kể có ra làm được dăm ba mâm thì phải đấy, nhưng nhà mình nghèo, cũng chả ai người ta chấp nhặt chi cái lúc này. Cốt làm sao chúng mày hòa thuận là u mừng rồi. Năm nay thì đói to đấy. Chúng mày lấy nhau lúc này u thương quá..". Tấm lòng nhân ái bao la và cao thượng đó của mẹ thật đáng quý biết bao!

Trong tình cảm người mẹ, sự yêu thương và vui mừng lại đi kèm nỗi lo lắng. Làm sao không lo cho được khi mà nạn đói đang diễn ra, cái chết đang cận kề. Đời bà thì đã già, có chết cũng chẳng tiếc nuối gì, nhưng còn các con dù sao thì cuộc đời vẫn còn dài nhưng liệu chúng nó có nuôi nổi nhau qua cơn đói này không? Rồi bà nghĩ về cuộc đời dài dằng dặc của bà, ông lão, cô con gái út, bóng tối như trùm lên hai con mắt của bà. Bằng tấm lòng nhân đạo bao dung của mình, nhà văn không cho phép nhân vật của mình tuyệt vọng. Người mẹ là chỗ dựa tinh thần cho người con, bà cụ Tứ không giúp gì được cho đôi vợ chồng son về vật chất nhưng bà là chỗ dựa tinh thần cho các con. Tục ngữ Việt Nam có câu "Người sống đống vàng", còn Kim Lân khi viết truyện ngắn này đã nung nấu: "Khi viết về con người năm đói, người ta thường viết về con người chỉ nghĩ đến cái chết. Tôi muốn viết về con người không nghĩ đến cái chết mà chỉ nghĩ đến cái sống. Đã sống thì phải sống cho ra cuộc sống con người". Có lẽ vì vậy mà Kim Lân đã để bà cụ Tứ thổi sức sống vào các con bằng triết lý dân gian: "Ai giàu ba họ, ai khó ba đời". Triết lý ấy cũng là kinh nghiệm sống của bà, sự từng trải của một người mẹ đã kinh qua bao khó nhọc trong đời. Chính triết lý ấy đã làm bừng lên sức sống, bừng lên tia hi vọng và làm ấm lòng đôi vợ chồng son. Đó cũng là lời động viên chí tình, chí nghĩa mà bà muốn nhen lên trong lòng con sức mạnh vượt qua nạn đói.

2.3. Bà cụ Tứ là người mẹ lạc quan, giàu niềm tin vào cuộc sống

Tâm lý của bà cụ Tứ đổi thay tích cực sau đêm tân hôn của đôi vợ chồng son. Bà dậy sớm cùng con dâu thu dọn nhà cửa như để đón chào một cuộc sống mới tươi vui hơn "làm ăn có cơ khấm khá hơn" đang mở ra ở phía trước. Dáng vẻ, tâm thế của bà nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác hẳn ngày thường. Tràng nhận rõ sự biến chuyển khác thường đó "Bà mẹ Tràng cũng nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên. Bà lão xăm xắn thu dọn, quét tước nhà cửa".

Bữa ăn ngày đói được Kim Lân miêu tả thật thê thảm: "Bữa cơm ngày đói trông thật thảm hại. Giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo, nhưng cả nhà đều ăn rất ngon lành". Bữa cơm đầu đón nàng dâu không có sơn hào hải vị, không của ngon vật lạ mà chỉ có những gì thê thảm nhất của sự khốn cùng: Mẹt rách, rau chuối, muối, cháo.. Nhưng sự thiếu thốn về vật chất ấy lại được bù đắp về mặt tinh thần bởi cả gia đình ấy đang có thêm một thành viên mới, một hạnh phúc mới. Bởi vậy "cả nhà đều ăn rất ngon lành".

Trong không khí gia đình vui vẻ, đầm ấm, hạnh phúc, bà cụ Tứ đã thêm một lần truyền động lực sống cho các con. Bao trùm không khí bữa ăn vẫn dào dạt tình người. Bà cụ Tứ chắt chiu từng chút niềm vui, cố gắng tạo ra không khí hòa hợp, vui vẻ. Bà vừa là người thắp lửa và cũng là người truyền lửa. Thắp lên những niềm vui, lạc quan vào cuộc sống và truyền cho con cái những lạc quan ấy để các con hướng về tương lai. "Bà cụ vừa ăn vừa kể chuyện làm ăn, gia cảnh với con dâu. Bà lão nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau này". Điều này chứng tỏ người mẹ ấy rất lạc quan, có niềm tin vào tương lai tươi sáng. Đói khát không thể quật ngã được người mẹ nông dân có niềm tin sắt đá "ai giàu ba họ ai khó ba đời" ấy. Câu chuyện đàn gà mà mẹ mang đến trong bữa ăn như một luồng sinh khí mới làm bữa ăn càng trở nên đầm ấm: "Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà.. Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà cho mà xem..". Từ "đôi gà", thành "đàn gà" là sự lạc quan, niềm tin mãnh liệt của người mẹ vào tương lai. Bà tin vào sự sinh sôi sẽ lấn át sự hủy diệt, sự sống sẽ lấn át cái chết. Cũng như chúng ta luôn tin vào đôi vợ chồng son này, rồi họ cũng sẽ tự sinh tồn và vượt qua nạn đói để sinh con đàn cháu đống cho giống nòi Việt Nam mãi mãi xanh tươi. Đây chính là chi tiết thể hiện niềm tin của bà cụ vào tương lai, tin vào một tương lai tốt đẹp của đôi vợ chồng son. Và cũng chính câu chuyện này đã thổi hồn vào cuộc đời của Tràng và người vợ nhặt một luồng sinh khí mới, đưa họ vượt qua "ranh giới giữa sự sống và cái chết" để tiếp tục một cuộc đời mới trên cái nền u ám của nạn đói.

Bà tự hào vì nồi "chè khoán" mà thực ra là nồi cháo cám để đãi nàng dâu mới đã khiến người đọc cảm động đến ứa nước mắt vì tình cảm của người mẹ nghèo khổ ấy. Bà tự hào bởi "xóm ta khối nhà chả còn cám mà ăn đấy". Vậy là nhà bà "sang" nhất xóm, "giàu có" hơn nhà người. Niềm tự hào ấy sao nghe chân thành mà đáng thương làm sao. Bà cụ tươi tỉnh trù tính câu chuyện làm ăn, gắng hết sức để thắp lên cho hai con ngọn lửa của niềm tin, lạc quan yêu sống. Về điều này, Kim Lân khẳng định "Khi đói người ta không nghĩ đến con đường chết mà chỉ nghĩ đến con đường sống". Tinh thần nhân bản của tác phẩm tỏa sáng ở đây.

3. Thành công của việc xây dựng tâm lý bà cụ Tứ nói riêng và tác phẩm Vợ nhặt nói chung là nhờ vào nghệ thuật:

Trần thuật hấp dẫn; Miêu tả tâm lý nội tâm nhân vật sắc sảo; Tạo tình huống truyện độc đáo để các nhân vật bộc lộ phẩm giá của mình. Tất cả đã tạo nên giá trị hiện thực và nhân đạo sắc sảo. Một mặt tác giả tố cáo tội ác tày trời của bọn thực dân, phong kiến và phát xít đã đẩy dân tộc ta vào nạn đói khốn cùng làm chết hơn hai triệu con người. Một mặt tác giả ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn Việt, dù trong hoàn cảnh nào, con người Việt Nam vẫn luôn yêu thương, cưu mang đùm bọc nhau hướng vào tương lai, hi vọng trông chờ.

Iii. Kết bài

Bà cụ Tứ là một người nông dân, là bà mẹ đại diện cho những gì khốn khổ nhất, cùng cực nhất của năm đói và nhân vật này đã được nhà văn thể hiện qua giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm, đó chính là vẻ đẹp tình người. Bà là hiện thân của vẻ đẹp về tấm lòng nhân hậu của người phụ nữ Việt Nam kết tinh từ bao đời nay.
 
Last edited by a moderator:

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back