5 ❤︎ Bài viết: 3 Tìm chủ đề
Đọc: 1,047 Tìm: 4
Một nguồn cảm hứng ùa về bất tận, một tâm hồn thi sĩ bỗng dào dạt, một thi phẩm đã ra đời, có mấy ai là từ hương ổi đậm đà nồng nàn khi vừa chín sắc. Vậy mà giữa mênh mang đất trời, giữa sự chuyển biến của thiên nhiên lúc thời khắc giao mùa nhẹ nhàng mà rõ rệt, hồn thơ Hữu Thỉnh đã khẽ khàng thổi một cơn gió mùa thu dịu dàng mà sao cứ quyến luyến không thôi mọi xúc cảm của người đọc. Đúng như cái tên "Sang thu" mà thi sĩ chắp bút đặt tên, thi phẩm tựa một khúc tình ca sâu lắng với những nốt lặng về sự biến chuyển nhẹ nhàng của đất trời trong thời khắc giao mùa, và đằng sau những ngân nga trong trẻo ấy là sự chiêm nghiệm rất mực sâu sắc của nhà thơ Hữu Thỉnh về cuộc đời và con người.

CW6KWYy.jpg

Ở ngoại thành xa xôi giữa những năm 1977, hai năm sau ngày đất nước ta kết thúc thời chiến tranh đầy loạn lạc gian khổ hy sinh, bắt đầu bước vào thời kỳ xây dựng và phát triển mọi thứ đổi mới, giữa vòm trời xanh biếc cao rộng, giữa không gian thanh tịnh yên bình "trong cái mơ hồ phảng phất gió thu và là thu đang ngả màu" người nghệ sĩ ấy đã trèo lên cây ổi chín vàng trong cả một vườn ổi bát ngát nơi này. Và rồi, hương ổi vừa đậm sắc chín vàng ấy kỳ diệu thay cũng bắt đầu cho cả một trái tim rung động, bắt đầu cho cả một nguồn cảm hứng và bắt đầu cho cả thi phẩm mang tên bài thơ Sang thu.

Khoảnh khắc cả đất trời giao mùa từ hạ sang thu luôn là khoảnh khắc tuyệt vời nhất đáng nhớ nhất mà thiên nhiên ban tặng cho con người. Nhưng tín hiệu ấy đến với tâm hồn nhà thơ Hữu Thỉnh không phải là hình ảnh lá khô vàng vấn vương ảm đạm như Lưu Trọng Lư

Con nai vàng ngơ ngác

Đạp trên lá vàng khô

Cũng chẳng lạc lõng trầm buồn như Bích Khê

Ô hay! Buồn vương cây ngô đồng

Vàng rơi.. Vàng rơi.. Thu mênh mông

Mà nhà thơ đón nhận mùa thu bằng hình ảnh rất đời thường gần gũi

"Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se"

Đắm mình trong những âm thanh những màu sắc và hương vị đặc trưng của mùa thu lan tỏa, duy nhất chỉ có hương ổi chín nồng nàn khiến nhà thơ phải xao động rung lên mọi cảm xúc. Hương thơm mộc mạc quen thuộc bình dị chốn thôn quê nhưng lại khiến tâm hồn thi sĩ phải thốt lên "Giữa cái khoảnh khắc giao mùa kỳ lạ thì điều khiến cho tâm hồn tôi phải lay động phải giật mình nhận ra đó là hương ổi". Có chăng hương vị đặc biệt ấy như lời tâm sự thủ thỉ của Hữu Thỉnh trên trang báo "Thể thao văn hóa" : "Nó gợi nhớ tới tuổi ấu thơ ngọt ngào, gợi nhớ tới buổi chiều vàng với dòng sông thanh bình, gợi nhớ tới con đò lững lờ trôi, những đầu trâu no cỏ, và chẳng biết tự bao giờ hương ổi đơn sơ nhưng lại trở nên quý giá vì nó đã trở thành chiếc chìa khóa vàng mở thẳng vào tâm hồn mỗi người có khi là cả một thế hệ". Động từ mạnh "phả" như một điểm sáng nghệ thuật giữa hai câu thơ khiến hương ổi chín vàng càng trở nên thật đậm đà quyến rũ.

Hương ổi mạnh mẽ phải vào trong làn gió se như muốn hòa quyện vào làn gió. Có lẽ nó chính là sức sống dạt dào mà hạ muốn tặng cho thu chăng? Người ta vẫn thường nói chẳng có nơi nào mà khi đi xa lại khiến lòng ta nhung nhớ như đất Hà Nội, chẳng có mùa thu nào lại đặc biệt như mùa thu nơi đây. Bởi giữa sự biến đổi của vạn vật lúc giao mùa từ cuối hạ sang đầu thu chúng ta sẽ chẳng thể tìm được ở bất cứ đâu một làn gió se thổi mát rượi tâm hồn ta giữa cái nắng gắt của mùa hạ. Cái gió se mà từ lâu đã trở thành hồn thu của Bắc Bộ.

Với Hữu Thỉnh gió se, hương ổi không chỉ là khoảnh khắc dịu dàng đầu thu mà còn là bởi khi lòng ông đã đủ vững vàng, nhà thơ có đủ cái tĩnh để quan sát những chuyển động của tự nhiên. Và cứ thế "Sang thu" sẽ còn mang cả một tâm hồn thi sĩ nhạy cảm mà sâu sắc điềm đạm.

Những giây phút giao mùa, khoảnh khắc của đất trời thiên nhiên chuyển động sự bối rối ngỡ ngàng của tâm hồn thi sĩ không chỉ có hương ổn nồng nàn phả vào làn gió se mà nó còn được đọng lại ở "làn sương chùng chình"

"Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về"

Nhà thơ Hữu Thỉnh đã vô cùng tinh tế khi chấm nhẹ một nét nghệ thuật nhân hóa vào câu thơ qua từ láy gợi hình gợi cảm "chùng chình" khiến làn sương bỗng trở nên thật sinh động gần gũi tựa như nàng thiếu nữ duyên dáng đang nhẹ nhàng dạo bước. Sương. Chùng chình. Cố ý chậm lại. Là sương đang lưu luyến mùa hạ hay đang ngập ngừng bước sang cửa ngõ mùa thu? Làn sương mỏng giăng mắc nơi đầu thôn ngõ xóm, nơi cửa ngõ của mùa hạ mùa thu đang rung rinh lay động hay chính là sự rung động của cả tâm hồn người thi sĩ. Thành công của thi phẩm "Sang thu" không phải là nghệ thuật xây dựng hình ảnh thiên nhiên giữa thời khắc chuyển biến của hai mùa mà là sự cảm nhận tinh tế những tín hiệu vô hình như có như không của đất trời. Bức tranh giao mùa từ cuối hạ sang thu không chỉ được tác giả cảm nhận bằng những giác quan mà còn được nhà thơ cảm nhận bằng tất cả sự rung động nhạy cảm của tâm hồn. Dù đã huy động mọi giác quan để đón nhận mùa thu nhưng dường như bước đi của nàng thu quá nhẹ nhàng mong manh mơ hồ để rồi khiến thi sĩ vẫn băn khoăn thầm hỏi ngỡ ngàng như chưa tin hẳn

"Hình như thu đã về"

Vẫn là sự biến đổi của đất trời từ cuối hạ sang đầu thu vẫn là thời khắc giao mùa của đất mẹ thiên nhiên nhưng trong thơ của Hữu Thỉnh cảnh vật đều mang những nét rất lạ. Chính vì thế mà giữa vô vàn sang thu lớn thì "Sang thu" của người nghệ sĩ ấy vẫn có một chỗ đứng vững chắc trong nền văn học Việt Nam và trong cả mỗi trái tim người đọc.

"Sông được lúc dềnh dàng

Chim bắt đầu vội vã"

Chất hiện thực như muốn thấm nhuần hòa, vào từng câu chữ. Thu về, dòng sông không còn ồn ào chảy xiết như lúc hạ giờ đây sau bao chặng đường vất vả nó đang chậm lại, thong thả, ngẫm ngợi suy tư. Đối lập với dòng sông dềnh dàng bao nhiêu thì những cánh chim lại vội vã bấy nhiêu chúng không còn nhởn nhơ xong chơi như những ngày hè mà bắt đầu vội vã tất bật chuẩn bị về phương Nam tránh rét. Chim trên trời - sông dưới đất. Chim vội vã lắng lo - sông dềnh dàng tĩnh lặng. Hai cảnh vật được đặt trong thế đối lập ngược chiều nhau càng như muốn khái quát cả đất trời đang biến đổi theo bước đi của thời gian. Rõ ràng chúng ta có thể cảm nhận được một tâm hồn thi sĩ nhạy cảm một cái nhìn sâu lắng của nhà thơ Hữu Thỉnh.

Trên bầu trời lúc chớm thu ấy không chỉ có nhịp vận động vội vã của cánh chim chăm chỉ mà còn có một hình ảnh sinh động thú vị tự như chiếc cầu vồng nối giữa hai đầu cầu thời gian

"Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu"

Thủ pháp nhân hóa như một phím đàn nghệ thuật diệu kỳ được tấu lên từ bản hòa ca về sự biến đổi dao động của đất trời khắc họa lên hình ảnh đám mây mùa hạ thật tinh tế mà cũng vô cùng độc đáo. Chúng dùng dằng, chúng lưu luyến chưa nỡ rời xa. Có chăng hạ do dự chưa muốn qua thu ngập ngừng e ngại chưa dám đến. Đám mây mùa hạ mềm mại duyên dáng như một nhịp cầu bắc mình giữa hai đầu cầu thời gian: Mùa hạ -mùa thu. Sự phát hiện mới mẻ của Hữu Thỉnh càng tô điểm cho bức tranh giao mùa thêm sinh động đầy sắc thái gợi cảm.

Đọc bốn câu thơ của nhà thơ Hữu Thỉnh chúng ta chợt nhận ra sự gặp gỡ thật ngẫu nhiên nơi tâm hồn của hai thi sĩ trong hai thời kỳ thật khác biệt về hình ảnh cánh chim và đám mây

Quyết điểu quy lâm tầm túc thụ

Cô vân mạn mạn độ thiên không

(Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không)

Tuy nhiên trong đoạn trích nhỏ từ thi phẩm "Mộ" của Hồ Chí Minh thiên nhiên mang nét u buồn, trầm ngâm. Không gian cũng lắng đọng nỗi buồn chứ không tươi sáng như "Sang thu" của Hữu Thỉnh. Có chăng do hai hoàn cảnh hai thời thế khác biệt. Một người trong cảnh lầm than của đất nước và xiềng xích trong cảnh nô lệ. Một người trong cảnh tự do, hòa bình. Một người trong cảnh kìm hãm. Một người trong cảnh tĩnh nhàn. Dù có như vậy thì hai hình ảnh hai giọng thơ vẫn tạo nên những phong cách riêng biệt cho từng thời đại in đậm dấu ấn của người thi sĩ.

Bức tranh sang thu vĩnh hằng được tạc lên từ ngôn ngữ ấy từ đầu tới cuối đều mang những nét riêng biệt không thể nhầm lẫn. Bởi chăng nó được tạo lên từ một tâm hồn thi sĩ nhạy cảm một con người luôn muốn đi tìm những điều nhỏ bé mà kỳ diệu tinh xảo nhất của vũ trụ bao la. Đến cuối thi phẩm sự biến đổi của thiên nhiên đất trời trong khoảnh khắc hạ đã vơi dần mà thu còn chưa đến hẳn vẫn cứ mãi tràn đầy, trái tim người nghệ sĩ vẫn cứ mãi tâm huyết và lòng người đọc vẫn cứ mãi trào dâng cảm xúc

"Vẫn còn bao nhiêu nắng

Đã vơi dần cơn mưa"

Sự vơi hụt của nắng của mưa trong thời khắc giao mùa trong thơ Hữu Thỉnh cũng góp phần không nhỏ trong sự thành công của "Sang thu". Nắng thu trong trẻo dịu dàng không còn gay gắt chói chang như nắng hạ. Mưa thu cũng vơi nhiều hơn so với những cơn mưa rào xối xả. Nhưng tín hiệu của khoảnh khắc ấy quá mơ hồ. Sự phân hóa giữa hai cửa ngõ của thời gian cũng chỉ là một đường ranh giới quá mức mong manh. Phải là một người nhạy cảm tinh tế lắm thì người thi sĩ ấy mới có thể cảm nhận được cái "vẫn còn" của nắng và cái "vơi dần" của mưa ấy.

"Sấm cũng bớt bất ngờ

Trên hàng cây đứng tuổi"

Mưa hạ đã vơi vì thế mà âm thanh của sấm cũng không còn làm con người ta giật mình hốt hoảng. Những hàng cây đứng tuổi đã trải qua bao mùa thay lá, chúng đủ điềm nhiên đủ tĩnh lặng đủ chiêm nghiệm trước những biến động của mẹ thiên nhiên.

Viết thơ nhưng lại gợi ý gửi tình ấy mới là cái tài của người nghệ sĩ. Và Hữu Thỉnh đã vô cùng thành công trong việc hoàn thành sứ mệnh ấy. Trong khoảnh khắc đất trời thiên nhiên giao mùa từ cuối hạ sang đầu thu vẫn khiến lòng ta lắng đọng bởi những giây phút chiêm nghiệm về cuộc đời của người nghệ sĩ. Thủ pháp ẩn dụ được ngòi bút tác giả chạm nhẹ từng câu thơ vần chữ. Cảm nhận sự biến động của thiên nhiên đất trời Hữu Thỉnh chợt nghĩ đến cuộc đời của mỗi con người khi đã đứng tuổi. Phải chăng mùa thu của đời người đã bắt đầu trong một không gian yên tĩnh trầm lặng nhưng cũng nhẹ nhàng khép lại những tháng ngày sôi nổi bốc đồng của một tuổi trẻ nhiệt huyết. Và rồi những con người ấy qua bao thăng trầm sóng gió họ không còn bị chấn động bởi những tiếng sấm bất ngờ của ngoại cảnh. "Sang thu" đâu chỉ là sự chuyển giao của thiên nhiên mà còn là sự chuyển giao của cả đời người.

Thiên nhiên từ xưa đến nay vốn luôn là đề tài bất tận của thi ca, đặc biệt trong đó là mùa thu. Mùa mà khiến cho tâm hồn con người ta trở nên thật lãng mạn. Ta cũng chợt thấy một thứ gì đó ở thời khắc này vừa man mác sầu vừa thấm đượm mùi vị đất trời chênh vênh. Vì thế hồn thi sĩ những người luôn mang trong mình một tâm hồn nhạy cảm, nồng nàn tinh tế sao không rung động cho được. Như một mạch suối ngầm xuyên suốt, mùa thu đi vào thơ ca từ cổ chí kim, làm nên bao thi phẩm tuyệt diệu. Vậy trăm năm sau thơ Hữu Thỉnh có gì đây khi mà nghệ thuật vốn luôn là một hành trình đầy khắc nghiệt, mọi thứ lặp lại và tầm thường đều sẽ rơi vào quên lãng. Ta có thể thấy từ thơ Đường cổ đến những câu Kiều của đại thi hào Nguyễn Du, từ chùm thơ thu của Tam nguyên Yên Đổ đến những dòng thơ thu của ông hoàng thơ tình Xuân Diệu, tất cả đều man mác buồn, lạnh lẽo, hoang sơ. Cái riêng của Hữu Thỉnh là khi ông cảm nhận ngay tại khoảnh khắc giao mùa, khi mà mọi bước đi của thời gian đều thật mơ hồ và mong manh, không một ai để ý tới thì Hữu Thỉnh đã xuất hiện thổi một làn gió thu vào nền thi ca dân tộc. Một bước đã tạo được dấu ấn ngàn năm. Cái hay của bài thơ còn là ở mỗi dòng thơ năm chữ rất mực ngắn gọn, hàm súc, những thủ pháp nghệ thuật được sử dụng, hình ảnh thơ sinh động cũng rất gần gũi, ngôn ngữ trong sáng, giản dị, đều lắng lại những dòng suy nghĩ, những tư tưởng, tình cảm của nhà thơ gửi gắm, đối thoại với bạn đọc. Nhà thơ vốn không chỉ miêu tả mùa thu của thiên nhiên mà còn là miêu tả mùa thu của đời người. "Sang thu" vừa cho thấy sức cảm vừa cho thấy sự chiêm nghiệm của nhà thơ.

Một mùa thu. Một đời người. Những khoảnh khắc đầy mong manh mơ hồ của giây phút bất tận trong không gian và thời gian. Hết thảy đều được tâm hồn người nghệ sĩ lắng lại để nâng niu, cảm nhận và trân quý. Mỗi một mùa thu qua đi có lẽ sẽ lại một hồn thơ nảy nở nhưng tôi luôn tin rằng "Sang thu" của Hữu Thỉnh sẽ mãi là một bản đàn quý tấu lên từng nốt trầm của mùa thu mãi khiến lòng người rung rinh ngả nghiêng trong nền thi ca dân tộc.

Hết!​
 
Last edited by a moderator:
1,684 ❤︎ Bài viết: 2217 Tìm chủ đề

Phân tích bài thơ "Sang thu" của Hữu Thỉnh​


Mỗi mùa trong năm đều có một vẻ đẹp riêng, nhưng có lẽ khoảnh khắc giao mùa là thời điểm dễ làm rung động lòng người nhất. Đó là lúc thiên nhiên đang đứng giữa hai trạng thái, cái cũ chưa hoàn toàn qua đi, cái mới chưa thực sự bắt đầu. Trong bài thơ "Sang thu", Hữu Thỉnh đã ghi lại khoảnh khắc chuyển mình ấy bằng những cảm nhận vô cùng tinh tế. Qua những hình ảnh giản dị của làng quê, nhà thơ không chỉ làm hiện lên một mùa thu dịu dàng mà còn gửi gắm những suy ngẫm sâu sắc về sự trưởng thành của con người.

Ngay từ những câu thơ đầu tiên, mùa thu đã đến bằng một tín hiệu rất đặc biệt:

"Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se"


Từ "bỗng" diễn tả cảm giác ngạc nhiên, bất chợt. Dường như nhà thơ không chủ động tìm kiếm mùa thu mà mùa thu tự nhiên xuất hiện trong cảm nhận của ông. Tín hiệu đầu tiên của thu lại là "hương ổi" – một hình ảnh rất đỗi thân quen với làng quê Việt Nam. Không phải màu lá vàng, không phải bầu trời cao xanh, Hữu Thỉnh chọn một mùi hương bình dị để mở ra cả một mùa mới. Chính điều đó khiến mùa thu trong thơ ông gần gũi và có chiều sâu.

Động từ "phả" là một nét đặc sắc. Hương ổi dường như trở nên đậm hơn, rõ hơn khi hòa vào "gió se". Chỉ một làn gió hơi lạnh cũng đủ khiến nhà thơ cảm nhận được thời gian đang thay đổi.

Không gian ấy tiếp tục được khắc họa qua:

"Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về"


"Chùng chình" là một từ láy giàu sức gợi. Nó khiến màn sương vốn vô tri trở nên giống một sinh thể đang bước từng bước chậm rãi. Sương đi qua ngõ nhưng không vội vàng, như còn lưu luyến mùa hạ, hoặc như muốn kéo dài khoảnh khắc giao mùa. Câu thơ "Hình như thu đã về" càng làm rõ sự mong manh ấy. Nhà thơ không khẳng định mà chỉ nói "hình như", bởi thu không đến bằng một dấu hiệu quá rõ ràng. Thu len lỏi vào cuộc sống qua những cảm nhận rất nhỏ.

Đến khổ thơ thứ hai, bức tranh thiên nhiên được mở rộng hơn:

"Sông được lúc dềnh dàng

Chim bắt đầu vội vã"


Hai hình ảnh "dềnh dàng" và "vội vã" tạo nên sự đối lập thú vị. Dòng sông trở nên chậm rãi, khoan thai, trong khi đàn chim lại hối hả chuẩn bị cho một chặng đường mới. Thiên nhiên không chuyển mùa theo một nhịp điệu duy nhất mà mỗi sự vật đều có một nhịp vận động riêng.

Trong bức tranh ấy, hình ảnh đám mây là điểm nhấn đặc biệt:

"Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu"


Chỉ bằng hai câu thơ, Hữu Thỉnh đã tạo ra một hình ảnh vừa đẹp vừa giàu ý nghĩa. Đám mây được nhân hóa như có một "nửa mình", vừa còn ở mùa hạ, vừa đã nghiêng sang mùa thu. Động từ "vắt" khiến đám mây như một dải lụa mềm mại trên bầu trời.

Đó chính là ranh giới rất mong manh của thời gian. Hạ chưa kết thúc hoàn toàn, thu chưa bắt đầu trọn vẹn. Hai mùa giao nhau trong một khoảnh khắc thật đẹp. Và cũng từ đây, người đọc có thể nhận ra một quy luật quen thuộc của cuộc sống: Mọi sự thay đổi đều diễn ra từ từ, không phải lúc nào cũng có một đường ranh rõ rệt.

Khổ thơ cuối tiếp tục miêu tả bước đi của mùa thu:

"Vẫn còn bao nhiêu nắng

Đã vơi dần cơn mưa"


Các dấu hiệu của mùa hạ vẫn còn nhưng đã yếu đi. Nắng còn đó nhưng không còn gay gắt. Mưa vẫn xuất hiện nhưng đã "vơi dần". Thiên nhiên đang nhẹ nhàng chuyển trạng thái.

Đặc biệt:

"Sấm cũng bớt bất ngờ

Trên hàng cây đứng tuổi."


"Sấm" trước hết là một hiện tượng tự nhiên, nhưng trong bài thơ nó còn mang ý nghĩa biểu tượng. "Hàng cây đứng tuổi" là những hàng cây đã trải qua nhiều mùa, nhiều biến động. Vì thế, tiếng sấm không còn làm chúng bất ngờ.

Qua hình ảnh ấy, nhà thơ kín đáo nói đến con người. Khi con người đã trưởng thành và trải qua nhiều thử thách, những biến cố của cuộc đời cũng không còn dễ dàng khiến họ hoang mang. Không phải cuộc sống trở nên yên ổn hơn, mà bởi con người đã có đủ kinh nghiệm để đối diện với những bất ngờ.

Thành công của "Sang thu" còn nằm ở nghệ thuật sử dụng ngôn từ. Các từ láy "chùng chình", "dềnh dàng", "vội vã" vừa tạo nhạc điệu vừa gợi hình, gợi cảm. Những động từ như "phả", "vắt", "vơi" giúp cảnh vật có sức sống. Thể thơ năm chữ ngắn gọn nhưng giàu nhạc tính cũng góp phần tạo nên một nhịp thơ nhẹ nhàng, phù hợp với bước chuyển của đất trời.

"Sang thu" không chỉ là bài thơ về mùa thu. Đó còn là bài thơ về những bước chuyển trong đời sống. Thiên nhiên thay đổi rất khẽ, còn con người cũng lớn lên từng ngày qua những trải nghiệm âm thầm. Để rồi đến một lúc nào đó, ta nhận ra mình đã không còn dễ dàng bị lay động bởi những "tiếng sấm" của cuộc đời.

Bằng một tâm hồn tinh tế và khả năng quan sát sâu sắc, Hữu Thỉnh đã biến một khoảnh khắc rất nhỏ của thiên nhiên thành một bài thơ giàu sức gợi. Đọc "Sang thu", ta không chỉ nhìn thấy đất trời bước sang một mùa mới mà còn cảm nhận được con người đang bước sang một trạng thái trưởng thành hơn của tâm hồn.

Phân tích nghệ thuật bài thơ "Sang thu" của Hữu Thỉnh​


Trong thơ ca, vẻ đẹp của thiên nhiên nhiều khi không nằm ở những gì lớn lao mà ở khả năng phát hiện những biến chuyển nhỏ bé nhất của đất trời. Với "Sang thu", Hữu Thỉnh đã chứng minh rằng chỉ một làn gió, một mùi hương hay một màn sương cũng có thể trở thành chất liệu để tạo nên một bài thơ giàu cảm xúc và ý nghĩa. Bài thơ là bức tranh tinh tế về khoảnh khắc giao mùa từ hạ sang thu, đồng thời thể hiện sự trưởng thành trong nhận thức của con người trước những biến động của cuộc sống.

Điểm đặc sắc đầu tiên của bài thơ là cách nhà thơ cảm nhận mùa thu bằng nhiều giác quan:

"Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se"


Ở đây, khứu giác được đánh thức bởi "hương ổi", xúc giác cảm nhận "gió se". Sự kết hợp của các giác quan khiến mùa thu không chỉ được nhìn thấy mà còn được cảm nhận bằng toàn bộ tâm hồn. "Hương ổi" là một tín hiệu gần gũi với cuộc sống nông thôn, mang đậm màu sắc quê nhà. Nó làm cho mùa thu của Hữu Thỉnh không xa xôi, ước lệ mà rất đời thường.

Cách lựa chọn từ ngữ cũng góp phần tạo nên nét riêng cho bài thơ. "Bỗng nhận ra" diễn tả sự bất ngờ. "Phả" làm cho hương thơm như có hình khối, có sức chuyển động. "Gió se" gợi cái lạnh nhẹ đầu mùa. Chỉ vài chữ nhưng cả không gian dường như đã thay đổi.

Tiếp đó, nghệ thuật nhân hóa được sử dụng rất thành công:

"Sương chùng chình qua ngõ"

"Chùng chình" vốn gợi một dáng đi chậm, như thể có sự lưu luyến, ngần ngại. Màn sương được trao cho tâm trạng của con người. Thiên nhiên vì thế trở nên có hồn.

Câu:

"Hình như thu đã về"

Lại sử dụng một cách diễn đạt rất đặc biệt. Từ "hình như" tạo cảm giác không chắc chắn, bâng khuâng. Nhưng chính sự không chắc chắn ấy lại rất phù hợp với bản chất của khoảnh khắc giao mùa. Khi hạ và thu đang đan xen, không ai có thể chỉ ra chính xác thời điểm mùa này kết thúc và mùa kia bắt đầu.

Khổ thơ thứ hai nổi bật bởi nghệ thuật đối lập:

"Sông được lúc dềnh dàng

Chim bắt đầu vội vã"


Một bên là dòng sông chậm lại, một bên là cánh chim gấp gáp. Hai nhịp vận động trái ngược cùng xuất hiện trong một không gian, giúp người đọc cảm nhận rõ hơn sự chuyển động phong phú của đất trời.

Đặc biệt, hình ảnh:

"Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu"


Mang tính sáng tạo rất cao. Nhà thơ không chỉ quan sát đám mây mà còn tái tạo nó bằng trí tưởng tượng. Đám mây được hình dung như một vật thể có thể "vắt" qua ranh giới giữa hai mùa. Đây là một liên tưởng độc đáo, khiến khoảnh khắc giao mùa trở nên cụ thể và có hình hài.

Nếu ở khổ thứ hai, sự chuyển mùa được cảm nhận bằng những vận động cụ thể thì sang khổ thứ ba, nhà thơ chú ý đến sự giảm dần của những hiện tượng mùa hạ:

"Vẫn còn bao nhiêu nắng

Đã vơi dần cơn mưa"


Cặp từ "vẫn còn" và "đã vơi dần" cho thấy sự thay đổi diễn ra từng bước. Hạ chưa biến mất mà chỉ đang nhạt dần. Cũng giống như nhiều biến chuyển trong cuộc sống, sự thay đổi thường không diễn ra ngay lập tức mà âm thầm tích tụ.

Hai câu cuối có tính khái quát cao:

"Sấm cũng bớt bất ngờ

Trên hàng cây đứng tuổi."


Ở nghĩa tả thực, mùa thu khiến sấm ít xuất hiện và ít dữ dội hơn. Nhưng ở nghĩa biểu tượng, "sấm" có thể gợi những bất ngờ, biến động của cuộc đời; "hàng cây đứng tuổi" gợi những con người đã trưởng thành, đã từng trải.

Đây là nghệ thuật tả cảnh ngụ tình quen thuộc trong văn học nhưng được Hữu Thỉnh thể hiện bằng một hình thức rất tự nhiên. Nhà thơ không trực tiếp giảng giải về con người mà để thiên nhiên tự mở ra ý nghĩa. Chính vì vậy, bài thơ giữ được vẻ nhẹ nhàng mà vẫn có chiều sâu triết lý.

Về thể thơ, "Sang thu" sử dụng thể năm chữ. Cấu trúc ngắn gọn, nhịp thơ linh hoạt, phù hợp với những chuyển động nhẹ nhàng của cảnh vật. Ngôn ngữ thơ không cầu kỳ nhưng giàu sức tạo hình. Những từ láy như "chùng chình", "dềnh dàng", "vội vã" vừa tạo âm hưởng vừa góp phần khắc họa trạng thái của thiên nhiên.

Có thể nói, thành công của "Sang thu" chính là khả năng biến cái bình thường thành cái đẹp và biến cái đẹp của thiên nhiên thành một suy ngẫm về con người. Từ hương ổi trong vườn quê, Hữu Thỉnh đã mở ra một thế giới nghệ thuật tinh tế; từ bước chuyển của mùa, ông gợi ra bước chuyển của đời người.

"Sang thu" vì thế không chỉ giúp người đọc cảm nhận một khoảnh khắc đẹp của thiên nhiên mà còn cho thấy sức mạnh của thơ ca: Từ một điều rất nhỏ bé, thơ có thể khiến con người suy nghĩ về những điều rất lớn lao.

Phân tích bài thơ "Sang thu" của Hữu Thỉnh​


Trong bốn mùa của đất trời, mùa thu thường khiến lòng người trở nên dịu lại. Nhưng điều làm nên sức hấp dẫn của mùa thu không chỉ là sắc trời, hương gió mà còn nằm ở khoảnh khắc mùa thu vừa chạm ngõ. Đó là lúc mọi thứ vẫn còn mang hơi thở của mùa hạ nhưng đã bắt đầu nhuốm vẻ dịu dàng của mùa thu. Hữu Thỉnh đã nắm bắt chính khoảnh khắc mong manh ấy trong bài thơ "Sang thu" bằng một tâm hồn vô cùng tinh tế.

Ngay câu thơ đầu tiên, người đọc đã bắt gặp một cảm giác bất ngờ:

"Bỗng nhận ra hương ổi"

Một chữ "bỗng" khiến câu thơ giống như một tiếng reo khẽ. Nhà thơ đang sống giữa thiên nhiên quen thuộc thì chợt nhận ra một điều tưởng như rất bình thường: Hương ổi đang trở lại. Đó không phải là một mùi hương xa lạ mà là mùi hương gắn với quê hương, với những khu vườn thân thuộc. Chính sự giản dị ấy làm cho mùa thu trong bài thơ trở nên gần gũi với mỗi người.

Hương ổi không chỉ xuất hiện mà còn:

"Phả vào trong gió se"

"Phả" là một động từ mạnh, khiến người đọc có cảm giác hương thơm đang lan nhanh trong không gian. Còn "gió se" đem đến cảm giác hơi lạnh nhẹ nhàng. Hạ dường như đang lùi lại, nhường chỗ cho thu.

Rồi màn sương xuất hiện:

"Sương chùng chình qua ngõ"

Nếu "gió se" đem đến cảm giác mát lạnh thì "sương chùng chình" lại tạo nên vẻ đẹp mềm mại, mơ hồ. Sương như một người khách bước chậm qua ngõ. Cách nhân hóa ấy khiến cảnh vật trở nên có tâm trạng.

Và nhà thơ chỉ có thể thốt lên:

"Hình như thu đã về"

Đây là một câu thơ rất tự nhiên nhưng giàu sức gợi. Mùa thu đến nhẹ quá, khiến con người chỉ dám nói "hình như". Có lẽ chính vì không thể xác định một cách rõ ràng nên khoảnh khắc ấy mới đẹp đến vậy.

Nếu khổ thơ đầu là mùa thu trong một góc nhỏ thì sang khổ thơ thứ hai, mùa thu đã lan ra cả không gian:

"Sông được lúc dềnh dàng

Chim bắt đầu vội vã"


Dòng sông dường như chậm lại sau những ngày hè sôi động. Đàn chim thì ngược lại, đã bắt đầu "vội vã" chuẩn bị cho sự thay đổi của thời tiết. Những hình ảnh đối lập ấy làm bức tranh thiên nhiên trở nên sinh động.

Nhưng ấn tượng nhất vẫn là hình ảnh đám mây:

"Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu"


Có lẽ rất ít ai có thể nhìn một đám mây mà cảm nhận được ranh giới giữa hai mùa như Hữu Thỉnh. Đám mây dường như đang đứng giữa hai thế giới. Một nửa còn ở mùa hạ, một nửa đã bước sang mùa thu. Hình ảnh ấy vừa đẹp vừa gợi nhiều suy nghĩ.

Trong cuộc đời, chúng ta cũng có những khoảng thời gian như thế. Có những ngày chúng ta đã bước sang một chặng đường mới nhưng vẫn mang theo những điều của quá khứ. Có những thứ tưởng đã qua nhưng vẫn còn hiện diện trong tâm hồn. Con người cũng giống như đám mây ấy, luôn có những khoảnh khắc đứng giữa "đã từng" và "đang trở thành".

Khổ thơ cuối đưa người đọc đến những cảm nhận sâu sắc hơn:

"Vẫn còn bao nhiêu nắng

Đã vơi dần cơn mưa"


Mùa hạ vẫn còn đó, nhưng đã yếu hơn. Nắng vẫn còn nhưng không gay gắt. Mưa vẫn xuất hiện nhưng không còn ào ạt. Đất trời đang thay đổi từng ngày.

Và rồi:

"Sấm cũng bớt bất ngờ

Trên hàng cây đứng tuổi."


"Hàng cây đứng tuổi" khiến ta nghĩ đến những con người đã đi qua nhiều năm tháng. Họ từng trải như những thân cây đã đứng qua bao mùa mưa nắng. Vì thế, tiếng sấm không còn đủ sức khiến họ giật mình.

Có thể hiểu "sấm" là những biến động của cuộc đời. Khi còn trẻ, chúng ta dễ đau trước một thất bại, dễ hoang mang trước một thay đổi, dễ tuyệt vọng trước một mất mát. Nhưng càng trưởng thành, ta càng hiểu rằng cuộc sống vốn luôn có những cơn mưa và tiếng sấm. Điều quan trọng không phải là né tránh chúng, mà là học cách đứng vững khi chúng xuất hiện.

Đó cũng chính là vẻ đẹp sâu sắc của "Sang thu". Nhà thơ bắt đầu bằng thiên nhiên nhưng kết thúc bằng con người. Bắt đầu bằng "hương ổi", "gió se", "sương", "dòng sông", "đám mây" nhưng cuối cùng lại nói về sự trưởng thành của tâm hồn.

Bài thơ hấp dẫn bởi những hình ảnh giản dị, ngôn ngữ tự nhiên, những từ láy giàu sức gợi và cách nhân hóa đầy duyên dáng. Thể thơ năm chữ tạo nên một nhịp điệu nhẹ nhàng, phù hợp với bước chân chậm rãi của mùa thu.

"Sang thu" vì vậy không chỉ là bài thơ về một mùa trong năm. Đó còn là bài thơ về thời gian, về sự trưởng thành và về cách con người học cách bình thản trước những đổi thay. Đọc bài thơ, ta nhận ra rằng mùa thu của đất trời có thể bắt đầu từ một mùi hương rất nhỏ, còn mùa thu của lòng người có khi bắt đầu từ giây phút ta biết sống chậm lại và hiểu rằng mọi biến động rồi cũng sẽ đi qua.
 
Từ khóa: Sửa

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back