980
20
Nguyễn Công Trứ là vị quan tài ba, lỗi lạc, trong suốt quá trình làm quan ông đã lập nên nhiều công trạng hiển hách. Ông là một nhà Nho nhưng lại khác với những nhà Nho đương thời bởi thái độ sống "ngất ngưởng" nhưng vẫn vẹn những đức tính, nhân cách chân chính mà nhà Nho nên có. Là một nhà Nho ông luôn thấm nhuần câu nói "Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ", và luôn tỏ bày tài năng, ý chí của mình qua những vần thơ, mà nổi tiếng nhất phải kể đến: Bài ca ngất ngưởng. Bài thơ thể hiện chất "ngông" và ước vọng muốn cống hiến cho đời, hoàn thành nghĩa vụ của người quân tử với trời đất, đất nước và nhân dân.
Văn bản Bài ca ngất ngưởng
Vũ trụ nội mạc phi phận sự
Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng
Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng
Lúc bình Tây, cờ đại tướng
Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên
Đô môn giải tổ chi niên
Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng
Kìa núi nọ phau phau mây trắng
Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi
Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng
Được mất dương dương người tái thượng
Khen chê phơi phới ngọn đông phong
Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng
Không Phật, không tiên, không vướng tục
Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú
Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung
Trong triều ai ngất ngưởng như ông!
Ngay từ đầu bài thơ Nguyễn Công Trứ đã thể hiện chí làm trai của người nam nhi với non sông:
Vũ trụ nội mạc phi phận sự
Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng
Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc đông
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng
Lúc Bình Tây cờ đại tướng
Có khi về phủ doãn Thừa Thiên.
Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng
Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc đông
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng
Lúc Bình Tây cờ đại tướng
Có khi về phủ doãn Thừa Thiên.
Mọi việc trong khoảng trời đất, vũ trụ này đều là phận sự của ta. Ông dành cả cuộc đời để chứng minh cho điều đó, ông đi thi công danh và đỗ đạt cao, làm quan lớn trong triều đình, thỏa mãn chí hướng và niềm khao khát cống hiến cho đời, vẹn nghĩa với dân. Nhưng đồng thời ông cũng tự bó buộc mình vào trong một lồng giam vô hình, đó là những khuôn mẫu, phép tắc chốn quan trường đang từng ngày bó buộc ông "ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng", đây là nỗi buồn khi phải sống cuộc đời gò bó, chật hẹp nhưng không thể bày tỏ cùng ai, vì những người khác chỉ thấy được hào quang bên ngoài của ông mấy ai hiểu được ông muốn gì. Cuộc đời ông như là một bản nhạc có lúc thăng, có lúc trầm, có lúc dữ dội nhưng đôi lúc cũng dịu êm. Nguyễn Công Trứ luôn biết mình muốn gì, nên luôn không ngừng cố gắng dù có thất bại nhưng vẫn không nản lòng, để rồi khi được trọng dụng ông giữ những chức quan trọng như: Tham tán, Tổng đốc đông, Bình Tây đại tướng, làm Phủ doãn ở Thừa Thiên. Để làm tròn cái chí nam nhi nên ông vẫn chọn con đường làm quan, vì muốn có cơ hội thể hiện tài năng cống hiến sức mình vì nước vì dân mà hi sinh đi tự do, tự nguyện sống trong cảnh gò bó. Như đã nói Nguyễn Công Trứ khác hoàn toàn so với những nhà Nho khác nên cách ông sống cũng thật đặc biệt, hầu hết các nhà Nho đều chọn cách sống khiêm cung dù bản thân là người có tài kinh bang tế thế, nhưng Nguyễn Công Trứ đã đi ngược lại điều ấy "gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng". Thể hiện thái độ tự tin, có đôi chút ngang tàn và tự kiêu vì "ngất ngưởng" là từ thể hiện một hành động, trạng thái đạt đến đỉnh cao. Đây mới là cách sống mang đậm chất Nguyễn Công Trứ, một cách sống mà đương thời không ai hiểu, cũng không chấp nhận cách sống đó, thậm chí họ còn ghét ông vì dám tự sống theo ý mình phá vỡ đi nề nếp, chuẩn mực của xã hội phong kiến. Hay vả chăng chính họ đang cảm thấy nhột vì cảm thấy qua những vần thơ ấy ông đang chê bai, giễu cợt họ nên hết lần này đến lần khác làm ông bị giáng chức thành lính thú rồi lại được trọng vọng rồi tiếp tục giáng chức, cứ tuần hoàn như vậy đến khi ông lui về ở ẩn:
Đô môn giải tổ chi niên
Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng
Kìa núi nọ phau phau mây trắng
Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi
Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng
Kìa núi nọ phau phau mây trắng
Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi
Năm 1848, ông chính thức thoái lui khỏi chốn quan trường, tận hưởng cuộc sống tự do, tự tại, đây cũng là lúc cái ngông đã được kiềm nén bấy lâu nay của ông được giải phóng, nó vươn mình một cách mãnh liệt. Cái ngông ấy ngay từ lúc quyết định từ quan về quê đã được bộc lộ rõ nét, cưỡi bò vàng rời khỏi chốn kinh kỳ đầy phù hoa dưới ánh nhìn ngạc nhiên hiếu kỳ của biết bao người, vì lạ thay từ trước tới giờ người ta chỉ cưỡi người hồi hương mấy ai cưỡi bò vàng bao giờ! Hành động đó thể hiện cái ngất ngưởng, cái ngông trong ông, hơn nữa vô hình chung ông đã biến mọi thứ xung quanh mình cũng trở nên ngất ngưởng như chú bò kể trên. Sau khi lui về, ông làm nhà sống trên núi ngày ngày ngắm nhìn cảnh đẹp tựa thần tiên "kìa núi nọ phau phau mây trắng", sẽ chẳng có gì để bàn nếu như ông cứ sống giản dị, nhàn tản ngắm cảnh, vịnh thơ như Nguyễn Bỉnh Khiêm nhàn hạ câu cá mùa thu, hay Nguyễn Trãi sống hòa hợp với thiên nhiên ở Côn Sơn mà lòng nhớ về đất nước. Nếu sống như vậy thì không còn là Nguyễn Công Trứ nữa rồi, và thật vậy câu thơ sau đã nói nên điều đó:
Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng.
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng.
Trong nơi cửa Phật thanh tu, người người đều giữ khuôn phép, lễ nghi, hành xử theo lẽ thường mà ông lại dẫn theo cô hầu gái đến đây lại còn đàn ca, nhảy múa. Đó là hành động phá hoại thuần phong mỹ tục mà không một nhà nho nào dám làm như vậy. Nhưng Nguyễn Công Trứ dám làm điều đó vì ông đã không màng tới ánh mắt người đời, vượt qua được những quy luật, điều tiếng xã hội. Những hành động lạ mà ngông của ông cũng phải khiến Bụt phải nực cười, cười thỏa thuê với cái ngất ngưởng nơi ông.
Câu thơ tiếp theo sẽ nói rõ hơn về hành động nơi tôn nghiêm của ông:
Được mất dương dương người tái thượng
Khen chê phơi phới ngọn đông phong
Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng
Không Phật, không tiên, không vướng tục.
Được mất dương dương người tái thượng
Khen chê phơi phới ngọn đông phong
Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng
Không Phật, không tiên, không vướng tục.
Ông đã nhìn thấu được chuyện được và mất, khen và chê. Dù người ta nhận xét mình thế nào cũng không quan trọng chỉ cần không thẹn với lòng thì cứ làm. Vả chăng sự được mất khen chê của người đối với mình có tác động cũng do tâm trí mình mà ra, chỉ cần nghĩ về điều tích cực, những ý nghĩa trong việc mình làm thì dù có thế nào cũng đều vui vẻ mà hướng đến. Cũng vì điều đó mà ông cứ thỏa thích làm điều mình muốn, đi chùa dắt theo người hầu gái, đánh đàn nhảy múa nơi tôn nghiêm, bị người đời cho là trái nhưng họ đâu biết ông đã hiểu được chuyện nơi trần tục và thoát ra khỏi đó nên không còn vướng bận, nhọc nhằn những chuyện nơi trần thế, bởi những tín điều tín ngưỡng tôn giáo hay khuôn mẫu xã hội, vì lòng có Phật thì mọi thứ có là chi.
Chẳng Trái, Nhạc, cũng vào phường Hàn Phú,
Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung
Trong triều ai ngất ngưởng như ông!
Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung
Trong triều ai ngất ngưởng như ông!
Dù ngông, chơi hết mình, sau khi tỉnh dậy bởi sự sôi động của thơ, rượu, ca trù, hát ả đào thì Nguyễn Công Trứ cũng không quên đánh giá lại công trạng cho vương triều mà ông phụng sự. Ông tự đặt mình ngang hàng với các danh tướng lẫy lừng của Trung Quốc như Trái Tuân, Nhạc Phi, Hàn Kì, Phú Bật. Đọc đến đây ai rồi cũng nghĩ ông tự cao tự đại, mới có ít công lao mà đòi sánh ngang hàng với bậc anh hùng thiên hạ. Nhưng hãy nhìn lại xem bao nhiêu chiến công ông từng mang về cho vua tôi triều Nguyễn dù họ không thật sự coi trọng ông, thì đủ để ông tự hào rằng mình là một anh hùng, không thẹn với lý tưởng trung quân ái quốc (một trong những lý tưởng chủ chốt của Nho giáo), trọn với niềm ký thác của vua, vẹn với đạo làm thần.
Kết thúc bài thơ với một giai điệu ngất ngưởng:
Trong triều ai ngất ngưởng như ông?
Trong triều ai ngất ngưởng như ông?
Một con người ngất ngưởng thì làm việc gì cũng đều muốn ngất ngưởng theo. Trong triều khi bị gò bó với khuôn phép của vua, đạo làm quan nhưng ông vẫn thể hiện được mình là một người "ngất ngưởng", đó là khí phách mà Nguyễn Công Trứ muốn thể hiện qua bài thơ Bài ca ngất ngưởng.
Nguyễn Công Trứ đã đưa hát nói vào trong thơ ca, biến cuộc đời chính trị của ông thành một bài ca ngất ngưởng, vừa phong phú của một thi sĩ, vừa trung nghĩa với vua mà không làm mất đi bản tính của mình. Phong kiến một xã hội mà cái tôi luôn bị triệt tiêu nhưng Nguyễn Công Trứ đã chứng minh nhận định đó là sai với ông, chính cái tôi "ngông" của ông đã làm nên tích cách, thái độ sống với đời và một Nguyễn Công Trứ rất riêng và đặc biệt.
Phân tích Bài ca ngất ngưởng - mẫu 2
Mỗi con người tạo nên một tính cách, mỗi nhà văn cũng có một phong cách riêng cho mình nhưng đặc biệt là có những tính cách nổi bật khiến người ta nhắc đến là nhớ ngay đến người đó. Và Nguyễn Công Trứ có một tính cách đặc biệt như thế, ông được biết đến với một cá tính đặc biệt, mạnh mẽ "ngất ngưởng". Chính cá tính ấy làm cho người ta nhớ đến ông nhiều hơn. Đặc biệt cá tính của ông được thể hiện rất rõ trong bài thơ bài ca ngất ngưởng.
Bài ca ngất ngưởng giống như một lời tự thuật của Nguyễn Công Trứ về cuộc đời, tài năng, tính cách của ông. Đó là một tài năng lớn cũng là một tính cách lớn vượt qua khuôn khổ của thời trung đại cũng như nho giáo. Ông sinh ra trên mảnh đất Nghệ An, cùng thời với ông cũng có rất nhiều người tài giỏi tuy nhiên người ta lại nhớ đến ông. Phải chăng do tính cách khá đặc biệt của ông- một sự ngất ngưởng và lối sống chân thật ấy đã làm người ta nhớ đến ông nhiều hơn?
Tác giả mở đầu bằng năm câu thơ để thuật lại cuộc đời làm quan của mình. Cuộc đời đó có vinh hoa hiển lạc nhưng cũng có lúc vất vả khốn cùng:
"Vũ trụ nội mạc phi phận sự
Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng.
Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông,
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.
Lúc bình Tây, cờ đại tướng,
Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên"
Chỉ với năm câu thơ tác giả đã giới thiệu cho chúng ta vè phần đời làm quan của ông. Trước tiên ta tìm hiểu khái niệm của từ "ngất ngưởng", ngất ngưởng là từ đồng nghĩa với ngất nghểu có thể hiểu là một người luôn ở tư thê cao không vững vàng, chông chênh, lắc lư như trực ngã. Nguyễn Công Trứ dùng tính từ này để nói về mình phải chăng là cả một ẩn ý?
Trước hết là câu thơ đầu tiên thể hiện rõ quan niệm sống của Nguyễn Công Trứ. Cùng với bản tuyên ngôn về chí làm trai "chí làm trai nam bắc đông tây- cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể" thì câu thơ đầu trong bài này cũng là một bản tuyên ngôn về quan niệm sống trong vũ trụ của ông
"Vũ trụ nội mạc phi phận sự"
Tác giả muốn gửi gắm một quan niệm sống của mình. Đó là trong vũ trụ này không có việc gì không phải là phận sự của ta. Dường như ta thấy Nguyễn Công Trứ đang đề cao tâm thế của một nhà nho nhân chính. Nó nói lên sự ý thức tầm quan trọng cá nhân của ông và sự nhiệt huyết trong cuộc đời của ông.
Sau đó ông tóm tắt về cuộc đời làm quan của mình:
"Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng.
Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông,
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.
Lúc bình Tây, cờ đại tướng,
Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên"
Đối với ông mà nói làm quan như "vào lồng", câu thơ ấy có nghĩa là tác giả coi việc làm quan giống như bị nhốt trong lòng. Bởi vì với tính cách ngông nghênh cùng ý chí ngút trời "vẫy vùng trong trời đất" những đạo lí Tam cương ngũ thường trở thành khuôn phép gò bó tính cách của ông. Nguyễn Công Trứ tự xưng là ông, đó là một cách xưng hô độc đáo. Dẫu biết làm quan là bó buộc mất tự do nhưng ông vẫn làm vì nhờ đó ông thể hiện được tài năng cũng như hoài bão của mình. Qua đó Nguyễn Công Trứ thể hiện mình như một giá trị hiển nhiên giữa đời mà không thể phủ nhận được.
Sau đó là một loạt chức quan được kể ra như "thủ khoa", "tham tán", "tổng đốc đông", "bình tây đại tướng" khi lại "Phủ doãn thừa thiên". Có thể nói cuộc đời làm quan của ông hiển đạt vô cùng tất thảy đều là những quan to. Tuy nhiên ở ngoài đời thực thì ông có bị giáng chức xuống làm một anh lính quèn. Tuy nhiên ông từng có một câu nói vô cùng nổi tiếng đó là: "Làm tổng đốc tôi không lấy làm vinh, làm lính tôi cũng không coi là nhục". Vì thế cho nên dù làm ở cấp nào đi chăng nữa đối với ông đều không quan trọng miễn sao ông được thỏa sức giúp nước nhà.
Cuộc đời làm quan khép lại và mở ra buổi nghỉ quan về hưu của Nguyễn Công Trứ. Đúng là một con người khác lạ đến buổi dứt áo quan về quê cũng thật khác bình thường:
"Đô môn giải tổ chi niên,
Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng.
Kìa núi nọ phau phau mây trắng,
Tay kiếm cung mà nên dạng từ bì.
Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì,
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng"
Chia tay chốn quan trường nhà thơ về với quê hương thật đúng là "ngất ngưởng". Người ta về quan tiệc tùng linh đình về trong võng lọng kiệu đẹp, hay cùng lắm là con ngựa gầy nhưng Nguyễn Công trứ thì lại khác. Về quê chẳng tiệc chia tay, chẳng người đưa tiễn, chẳng vọng lọng kiệu ngựa mà chỉ một mình với con bò vàng đủng đỉnh. Bò mà đeo đạc ngựa thật sự chỉ có Nguyễn Công Trứ mới có mà thôi!
Về quê nhà thơ tự do vui thú với cảnh quê hương và ca trù. Ông lên thăm chùa mà tự cười nhạo mình từ bi nhưng thật ra đằng sau lại có hai cô ả đào. Theo sau. Như thế là thất kinh nhưng bụt không tức giận mà phải bật cười vì tích cách của vị quan già ngông nghênh ấy.
Những câu thơ còn lại đều nói về cuộc đời và vui thú của ông khi về hưu:
"Được mất dương dương người thái thượng,
Khen chê phơi phới ngọn đông phong.
Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng,
Không Phật, không Tiên, không vướng tục.
Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú,
Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung
Trong triều ai ngất ngưởng như ông!"
Cuộc đời của ông từ đây nhàn hại với những thú vui tao nhã. Đối với ông khen chê không là chuyện ông đáng để tâm tới ông cứ sống theo cách của mình. Cuộc đời này còn gì vui hơn hạnh phúc hơn khi được sống đúng là chính mình. Mấy ai được sống là chính mình còn Nguyễn Công Trứ thì làm được điều đó. Từ đây ông đắm mình trong thú vui tuổi già đó là ca trù không vướng tục. Từ "khi" được điệp đi điệp lại nhiều lần thể hiện sự lặp lại của những thú vui ấy. Ca trù, rượu nóng ông say sưa trong hơi men và điệu các điệu tùng. Đúng là một cuộc sống đầy âm nhạc. Ông cứ sống như thế chẳng theo tiên theo phật cứ sống theo cách của chính ông mà thôi. Đây là đoạn thơ hay nhất trong bài nếu như hai câu trước trải dài để thể hiện sự thanh thản khi về hưu thì hai câu sau lại đầy ắp tiếng nhạc.
Nguyễn Công Trứ tự đặt mình ngang hàng với những các nhân vật nổi tiếng ngày xưa:
"Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú,
Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung.
Trong triều ai ngất ngưởng như ông!"
Trái Tuân thời Hán và ba người thời Tống: Nhạc Phi, Hàn Kì, Phú Bật - những danh tướng có sự nghiệp hiển hách. Kết thúc bài thơ ông không quên nhắc tới công lao mà mình đã đạt được trước khi về hưu. Đó là nghĩa vua tôi cũng đã tròn đạo. Ông ca lên điệp khúc ngất ngưởng của mình, ông sống và làm việc tận tụy hết mình nhưng đồng thời cũng có những thú vui khác người. Thú vui ấy chỉ có Nguyễn Công Trứ mới có, ông ngất ngưởng như vậy đấy.
Như vậy có thể thấy Nguyễn Công Trứ quả là một con người độc đáo ông tự ý thức được tài năng cũng như vị trí của mình. Ông sống mà không cần quan tâm đến người ta nói gì về mình. Và quả thật bài ca ngất ngưởng đã truyền tải hết sự ngất ngưởng của nhà thơ. Bài thơ không chỉ ngất ngưởng ở nội dung mà cả giọng điệu cũng góp phần làm nên bài thơ này.
Mẫu 3: Phân tích đầy đủ, chuẩn bài thi
Nguyễn Công Trứ là một trong những gương mặt đặc biệt của văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XIX. Ở ông có sự kết hợp giữa một nhà nho giàu ý thức trách nhiệm với cuộc đời, một con người có tài năng trên nhiều phương diện và một cá tính mạnh mẽ luôn muốn sống đúng với bản thân. Bài ca ngất ngưởng, được viết khi ông đã rời chốn quan trường, giống như một lời tự tổng kết về cuộc đời mình. Qua hình tượng "ngất ngưởng", Nguyễn Công Trứ vừa khẳng định tài năng, công danh, vừa bộc lộ một lối sống tự do, phóng khoáng nhưng không hề tách rời trách nhiệm của người làm trai và đạo nghĩa vua tôi.
Ngay câu mở đầu:
"Vũ trụ nội mạc phi phận sự"
Đã vang lên như một lời tuyên ngôn mạnh mẽ. Câu thơ có thể hiểu rằng trong trời đất không có việc gì không thuộc phận sự của mình. Đằng sau cách nói đầy tự tin ấy là quan niệm quen thuộc của Nguyễn Công Trứ về chí nam nhi: Đã sinh ra trong cuộc đời thì phải có trách nhiệm với cuộc đời, phải đem tài năng ra hành động và cống hiến.
Thế nhưng ngay sau đó, nhà thơ lại nói:
"Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng"
Cách tự gọi mình là "ông Hi Văn" vừa có chút tự hào, vừa mang sắc thái tự trào. "Vào lồng" gợi việc bước vào chốn quan trường, tham dự vào bộ máy công danh. Điều quan trọng là Nguyễn Công Trứ không phải người đứng ngoài cuộc đời để nói về chí lớn. Ông thực sự đã nhập thế và đem tài năng của mình ra thử sức.
"Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng
Lúc bình Tây, cờ đại tướng
Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên"
Một loạt chức vị và công việc được liệt kê bằng giọng điệu đầy hào sảng. "Thủ khoa" cho thấy năng lực học vấn; những chức vụ và nhiệm vụ quân sự lại cho thấy khả năng hành chính, thao lược. Theo nghiên cứu văn bản của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, "Thủ khoa" ở đây là đứng đầu khoa thi Hương, còn "Tổng đốc Đông" liên quan đến chức Tổng đốc Hải Yên mà Nguyễn Công Trứ từng đảm nhiệm.
Điều đáng chú ý là Nguyễn Công Trứ nói về công danh của chính mình mà gần như không hề khiêm nhường. Tuy nhiên, đó không phải sự khoe khoang rỗng tuếch. Đằng sau lời tự khẳng định là một cuộc đời đã thực sự trải qua nhiều trọng trách. Vì vậy, "ngất ngưởng" trước hết là ý thức về tài năng và giá trị của bản thân.
Nếu sáu câu đầu nói về một Nguyễn Công Trứ giữa công danh thì từ:
"Đô môn giải tổ chi niên
Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng"
Ta bắt gặp một con người khác. "Giải tổ" là bỏ quan về nghỉ. Người từng đảm nhận những chức vụ quan trọng nay rời kinh thành bằng một hình ảnh hết sức khác thường: Bò vàng lại đeo đạc vốn dành cho ngựa. Hình ảnh vừa vui nhộn, vừa có chút nghịch ngợm, cho thấy ông đã bước ra khỏi những quy thức trang nghiêm của quan trường để trở về với đời sống theo cách của riêng mình. Nghiên cứu văn bản về tác phẩm cho rằng việc bò vàng đeo đạc ngựa không chỉ là một giai thoại được thêm thắt về sau.
"Kìa núi nọ phau phau mây trắng
Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi"
Một đời từng gắn với "kiếm cung", với việc quân, giờ đây con người ấy lại mang "dạng từ bi". Sự đối lập tạo nên nét thú vị trong chân dung Nguyễn Công Trứ. Ông có thể nhập thế hết mình nhưng cũng có thể rời khỏi công danh một cách thanh thản.
Đặc biệt hơn cả là hình ảnh:
"Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng"
Đi chùa mà bên cạnh lại có những cô gái trẻ đi theo vốn là hình ảnh khó phù hợp với những chuẩn mực khắc khổ thông thường. Nguyễn Công Trứ dường như cố ý đặt những điều tưởng như đối lập cạnh nhau. Chính sự đối lập ấy tạo nên chất "ngất ngưởng" : Ông không để những quy ước của người đời quyết định cách mình phải sống.
Đến:
"Được mất dương dương người tái thượng
Khen chê phơi phới ngọn đông phong"
"ngất ngưởng" đã trở thành một trạng thái tinh thần. Điển "người tái thượng" gợi câu chuyện Tái ông mất ngựa, trong đó họa và phúc, được và mất luôn có thể chuyển hóa cho nhau. Nguyễn Công Trứ vì thế nhìn được – mất bằng thái độ bình thản. Khen hay chê cũng chỉ như ngọn gió xuân thoảng qua.
"Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng
Không Phật, không tiên, không vướng tục"
Nhịp thơ biến đổi linh hoạt, những chữ "khi" liên tiếp tạo cảm giác một đời sống tự do và đầy thú vị. Ông uống rượu, ca hát, thưởng thức cuộc đời nhưng không để mình chìm trong sự tầm thường. "Không Phật, không tiên, không vướng tục" là một cách tự xác định vị trí rất riêng: Không trốn đời, cũng không để thói đời trói buộc.
Ba câu kết đưa bài thơ trở lại với vấn đề đạo nghĩa:
"Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú
Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung
Trong triều ai ngất ngưởng như ông!"
Những tên tuổi lịch sử được nhắc đến như những chuẩn mực về tài năng và sự nghiệp. Nguyễn Công Trứ nhìn lại mình với niềm tự tin của một người cho rằng đã sống trọn trách nhiệm. Điều quan trọng nhất nằm ở câu "Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung". Phóng túng không đồng nghĩa với vô trách nhiệm; khác người không có nghĩa là phủ định mọi chuẩn mực. Cái "ngất ngưởng" của Nguyễn Công Trứ chỉ có thể tồn tại trên nền tảng của tài năng thực sự và một cuộc đời đã dám nhập thế, dám gánh vác.
Với thể hát nói có khả năng co giãn câu chữ, giọng thơ lúc trang trọng, lúc ngang tàng, lúc hóm hỉnh, Nguyễn Công Trứ đã tạo nên một tác phẩm mang đậm dấu ấn cá nhân. "Ngất ngưởng" cuối cùng không chỉ là một vài hành động khác đời mà trở thành biểu tượng của bản lĩnh sống: Biết mình là ai, biết mình có gì, dám sống theo cá tính nhưng vẫn không quên trách nhiệm với cuộc đời.
Mẫu 4: Bản ngắn gọn, dễ học
Bài ca ngất ngưởng là một trong những tác phẩm thể hiện rõ nhất cá tính Nguyễn Công Trứ. Được viết khi tác giả đã rời chốn quan trường, bài thơ giống như lời nhìn lại một đời công danh và khẳng định phong cách sống đầy bản lĩnh của chính mình.
Ngay từ câu đầu "Vũ trụ nội mạc phi phận sự", Nguyễn Công Trứ đã bộc lộ ý thức trách nhiệm mạnh mẽ của người làm trai. Ông cho rằng việc trong trời đất đều có phần trách nhiệm của mình. Bởi vậy, "vào lồng", tức bước vào con đường công danh, không đơn thuần là tìm kiếm địa vị mà còn là cơ hội để thực hiện chí hướng.
Nhà thơ không ngần ngại kể lại những vị trí mình từng đảm nhiệm:
"Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông.."
Cách liệt kê dồn dập thể hiện niềm tự hào về tài năng văn võ và những gì mình đã làm được. Từ "ngất ngưởng" ở đoạn này trước hết là ý thức rất cao về năng lực của chính mình.
Khi về hưu, cái "ngất ngưởng" lại mang màu sắc khác:
"Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng"
Cưỡi bò mà lại cho bò đeo đồ vốn dành cho ngựa là một hành động khác người, có phần hài hước. Nó cho thấy Nguyễn Công Trứ đã thoát khỏi những quy thức của chốn quan trường và muốn sống theo sở thích của bản thân.
Sự phóng khoáng ấy còn thể hiện qua việc đi chùa có "một đôi dì" theo sau khiến "Bụt cũng nực cười". Những hình ảnh tưởng như trái ngược được nhà thơ đặt cạnh nhau để làm nổi bật một con người không chịu để lễ nghi cứng nhắc trói buộc.
Đáng quý hơn cả là thái độ:
"Được mất dương dương người tái thượng
Khen chê phơi phới ngọn đông phong"
Ông thản nhiên trước được – mất, nhẹ nhàng trước khen – chê. Cái nhìn ấy cho thấy một bản lĩnh đã được tôi luyện qua nhiều biến động của cuộc đời.
Tuy nhiên, Nguyễn Công Trứ không phải người phủ nhận mọi chuẩn mực. Cuối bài, ông khẳng định:
"Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung"
Đây chính là giới hạn của sự "ngất ngưởng". Ông có thể sống khác đời, có thể xem nhẹ dư luận nhưng vẫn coi trọng trách nhiệm và đạo nghĩa.
Bằng thể hát nói tự do, giọng thơ vừa hào sảng vừa hóm hỉnh và cách sử dụng điệp từ, liệt kê, đối lập linh hoạt, Bài ca ngất ngưởng đã dựng lên chân dung một Nguyễn Công Trứ tài năng, tự tin và đầy cá tính. Qua đó, tác phẩm khẳng định một quan niệm sống đáng chú ý: Muốn sống khác biệt trước hết phải có bản lĩnh, tài năng và trách nhiệm.
Mẫu 5: Phân tích cái tôi cá nhân
Trong văn học trung đại, con người thường xuất hiện trong những mối quan hệ lớn như vua – tôi, cha – con, cá nhân – cộng đồng. Bởi vậy, việc một nhà thơ liên tục nói về chính mình, kể công danh của mình, nhắc đến tài năng của mình và cuối cùng còn hỏi "Trong triều ai ngất ngưởng như ông!" tạo nên một giọng điệu đặc biệt. Bài ca ngất ngưởng vì thế có thể được đọc như một lời khẳng định mạnh mẽ về giá trị cá nhân của Nguyễn Công Trứ.
Cái tôi ấy xuất hiện ngay từ câu đầu:
"Vũ trụ nội mạc phi phận sự"
Không phải một cái tôi nhỏ bé đứng trước vũ trụ mà là một chủ thể chủ động nhận lấy trách nhiệm với vũ trụ. Nguyễn Công Trứ nhìn cuộc đời như không gian để con người hành động. Chính vì thế, ông bước vào quan trường với tư thế của người muốn thực hiện tài năng.
"Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng"
Điều đáng chú ý nằm trong cách tự gọi mình là "ông". Nhà thơ vừa tách mình ra để tự quan sát, vừa tự dựng chân dung của mình trước người đọc. Ông không né tránh việc nói về tài năng. Trái lại, danh vị lần lượt xuất hiện:
"Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông.."
Điệp từ "khi" khiến những chặng đường công danh nối tiếp nhau. Nguyễn Công Trứ không giấu niềm tự hào. Nhưng đằng sau sự tự hào ấy là ý thức rằng giá trị cá nhân phải được chứng minh bằng hành động. "Ngất ngưởng" bởi thế trước tiên là "cao" về tài năng và công việc chứ chưa chỉ là những hành động khác người. Một hướng nghiên cứu của Đại học Sư phạm Hà Nội cũng lưu ý không nên đơn giản hiểu Nguyễn Công Trứ khi làm quan là một ông quan ngông nghênh; đoạn đầu nhấn mạnh tài năng và khả năng đảm đương những vị trí quan trọng của ông.
Khi công danh đã khép lại, cái tôi ấy càng được tự do:
"Đô môn giải tổ chi niên
Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng"
Nếu địa vị có thể bị bỏ lại thì bản lĩnh cá nhân vẫn còn nguyên. Con người từng mang kiếm cung bây giờ thong dong trở về với núi trắng mây trời. Ông không còn cần đến lễ nghi quan trường để xác nhận giá trị của mình.
Cái tôi ấy càng rõ hơn khi nhà thơ đưa vào bài những thú vui rất riêng:
"Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng"
Nguyễn Công Trứ không cố xây dựng một hình ảnh đạo mạo, khắc khổ. Ông chấp nhận cả phần tài tử, phong lưu trong con người mình. Chính sự thành thật ấy khiến chân dung trữ tình trở nên sống động. Ông không muốn trở thành bản sao của bất cứ khuôn mẫu nào.
Cái tôi tự do còn được biểu hiện bằng khả năng đứng ngoài những phán xét thông thường:
"Được mất dương dương người tái thượng
Khen chê phơi phới ngọn đông phong"
Con người thường bị chi phối bởi hai thứ: Lợi ích và dư luận. Nguyễn Công Trứ lại muốn vượt lên trên cả hai. Được hay mất cũng không khiến ông thay đổi; người đời khen hay chê cũng không đủ sức điều khiển cách ông sống.
Tuy vậy, cái tôi trong Bài ca ngất ngưởng không phải cái tôi ích kỉ. Nó không tách mình khỏi mọi trách nhiệm. Câu:
"Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung"
Cho thấy Nguyễn Công Trứ vẫn đặt mình trong hệ giá trị mà ông lựa chọn. Ông có thể phá bỏ nhiều hình thức bên ngoài nhưng không phá bỏ nguyên tắc bên trong.
Bởi vậy, câu kết:
"Trong triều ai ngất ngưởng như ông!"
Không chỉ là một lời tự đắc. Đó còn là sự khẳng định về quyền được nhận biết và trân trọng giá trị của chính mình. Nguyễn Công Trứ không chờ người khác định giá ông.
Qua Bài ca ngất ngưởng, cái tôi cá nhân hiện lên vừa tự tin, tài năng, phóng khoáng vừa có trách nhiệm. Tác phẩm cho thấy ngay trong khuôn khổ văn học trung đại, ý thức cá nhân đã có thể cất lên một tiếng nói mạnh mẽ: Con người không chỉ sống để phù hợp với mọi ánh nhìn, mà còn phải đủ bản lĩnh để sống thành chính mình.
Last edited by a moderator:
