Kì lạ thay càng đi xa thì ông Bổng càng nhận ra mình đang bước vào một nơi như là lòng chảo, xung quanh tuy lau lách rậm rạp, nhưng trong vòng hai mươi thước thì lại nhẵn thín, bằng phẳng như thể có người thường xuyên thả trâu bò ra ăn cỏ vậy. Sừng sững trước mặt tất cả mọi người là ngọn núi mà ông Bổng gọi là núi Quỷ. Nhưng chưa hết, ở giữa khoảng đất trống lại có một cái hố khá sâu, giống như một cái hang đào xuyên xuống lòng đất ông Bổng đứng sát vào cụ Cừ nói khe khẽ:
- Nơi này quái lạ thật thầy ơi, tôi thấy lạnh quá.
Cụ Cừ không nói năng gì, chỉ lại gần một cái cây nhỏ xanh mướt mới mọc ngay bên miệng hang mà nói:
- Túy bị dẫn vào hang rồi. Mọi người thấy cái cây này không? Chính là hạt đậu trong túi gấm rơi ra mà mọc thành đó.
Ông Bổng và vợ Túy nhìn nhau như không tin vào những gì cụ Cừ vừa nói:
- Thưa thầy, mới chạm vào đất mà đã thành cây như vậy sao?
Cụ Cừ gật đầu:
- Đó là đậu phép, đến nơi nhiều âm khí, hoặc gặp thứ yêu nghiệt ắt mọc lên nhanh chóng báo hiệu cho người biết mà tránh xa. Trên đường tới đây, ta tìm cây đậu này chứ không phải tìm hạt, hiểu chưa?
Ông Bổng gật gù ra chiều đã thông suốt. Nhưng trí tò mò lại thôi thúc ông mở miệng:
- Lúc chúng tôi đến nhà Túy, thầy vẫn còn ở trong phòng bế quan, sao chỉ thoáng một cái đã biết chuyện Túy mất tích rồi còn đến đây trước cả chúng tôi thế?
Cụ Cừ chỉ vuốt râu, trả lời lấp lửng:
- Đó gọi là bí mật nghề nghiệp. Có nói ông cũng không hiểu.
Thực chất là hôm qua khi ở nhà Túy, cụ Cừ đã để lại một cái chuông đồng buộc ở đầu giường anh ta, chỉ cần ma quỷ lại gần chuông lập tức rung lên, cụ Cừ dù ở xa đến mấy nhưng nhờ có thuật khai nhĩ mà nghe được tiếng chuông kêu. Đến lượt vợ Túy lo lắng hỏi:
- Thưa thầy, vậy bây giờ phải vào hang sao?
- Phải, chồng chị đang ở trong đó, chị có muốn vào không? Nếu không thì đứng ngoài đợi chúng tôi.
Vợ Túy đương nhiên là không chịu, nói đúng hơn là không dám, thà vào hang mà có đông người còn hơn là ở bên ngoài một mình.
Đoạn cụ Cừ lấy ra từ trong tay nải một cây đèn cầy, đánh lửa thắp sáng xong thì bắt đầu đi vào. Cái hang này thực chất không sâu, đoàn người chỉ đi một loáng đã tới tận cùng, dưới ánh đèn le lói tất cả đều kinh hãi khi nhìn thấy dưới mặt đất và cả trên vách hang toàn là xương trắng cùng đầu lâu của con người. Lẫn vào đó là một thân ảnh to béo nằm sấp, dáng bộ đang bất tỉnh. Vợ Túy nhào tới hô lớn:
- Anh Túy, anh Túy.. anh làm sao thế này? Anh mau tỉnh lại đi..
Người đó quả nhiên là Túy. Túy nhắm nghiền mắt, sắc mặt tái mét, hơi thở rất yếu, cụ Cừ phải cho ngậm một viên định hồn đan để giữ mạng. Sau khi quan sát một hồi xung quanh cụ Cừ nói:
- Thì ra là vậy, mọi người mau lên, nơi này không thể ở lâu.
Cụ vừa dứt lời thì mặt đất rung chuyển, chao đảo đất đá như muốn sụt xuống chôn sống toàn bộ những con người bên trong, ai nấy vô cùng hoảng sợ. Trấn tĩnh trong giây lát, ba thầy trò rút kiếm trảm yêu niệm khu chú quỷ rồi đồng loạt cắm mũi kiếm xuống đất, mặt đất mới từ từ yên tĩnh trở lại. Cụ Cừ hô:
- Mau lên, tất cả đi ra đi.
Đợi cho ông Bổng và vợ Túy dìu Túy ra bên ngoài rồi, cụ Cừ cắn ngón tay lấy máu vẽ lên lá phù rồi trong tích tắc liệng về phía trong. Đoạn cụ giõng dạc lệnh hai học trò:
- Rút kiếm.
Bấy giờ Dần và Phụng rút kiếm lên cùng sư phụ lao ra ngoài.
Lên đến mặt đất rồi mà ông Bổng và vợ Túy vẫn còn tim đập chân run. Tất cả chọn một nơi nghỉ mệt trước khi lên đường trở về nhà. Ông Bổng đưa nước cho cụ Cừ rồi không dấu được thấp thỏm lo âu mà nói:
- Thưa cụ, tình hình khi nãy thật là nguy cấp, xém chút thì tất cả đã bỏ mạng rồi. May mà cụ và hai vị đây cao tay. Không hiểu sao trong hang lại nhiều xương cốt như thế?
Cụ Cừ uống cạn bát nước chỉ về phía hang và nói:
- Dưới đó là một cái miếu cổ đó.
- Miếu cổ?
- Phải, chính là một cái miếu cổ bị đất đá vùi lấp, nó đã ở đó cả trăm năm rồi, không biết vì lí do gì mà những kẻ trộm mộ đã tìm ra nó, chúng đào đường hầm xuống miếu vì nghĩ rằng sẽ tìm được cổ vật hoặc đồ quý hiếm nhưng cuối cùng tất cả đều phải bỏ mạng.
Ông Bổng run rẩy:
- Thưa thầy, như vậy chẳng phải là chúng ta đã phạm phải cõi linh thiêng rồi không? Có khi nào cũng sẽ bị chừng phạt.
Cụ Cừ lại nói:
- Với tình hình như lúc nãy thì còn cách nào khác chứ? Không lẽ lại để Túy nằm dưới ấy, thấy chết không cứu.
Ông Bổng gật đầu cho là phải, cụ Cừ bỗng đăm chiêu:
- Ngôi miếu kia.. không lẽ?
Rồi cụ quay sang nói riêng với ông Bổng:
- Trong
dòng họ nhà ông đời trước có người làm pháp sư đúng không?
Ông Bổng tặc lưỡi nói:
- Thưa cụ, tôi không chắc chắn lắm, nhưng mà trong tộc nhà tôi cũng có đồn đại về việc này. Ấy là vào đời thứ sáu, một cụ là cụ Trịnh Bảo khi còn trẻ đã phiêu bạt giang hồ hành nghề trừ yêu diệt quỷ, cụ không lấy vợ cho nên không có hậu nhân. Trong gia phả cũng không nói gì nhiều chỉ đề hai câu: Cô nhân vô hậu, hành tẩu giang hồ ". Ý nói cụ sống một mình không người nối dõi. Còn chuyện cụ hành nghề pháp sư cũng chỉ là lời đồn.
Đoạn ông Bổng quay sang cụ Cừ đang hết sức đăm chiêu mà rằng:
- Bẩm cụ, sao cụ lại biết về chuyện này ạ?
Cụ Cừ lại nhìn về ngôi miếu với ánh mắt đầy băn khoăn mà rằng:
- Hôm ở nhà Túy về, tôi đã cảm nhận được một linh hồn đi theo chúng ta. Dù không biết người ấy là ai, nhưng tôi đoán ông ấy không có ý làm hại mình. Tôi đã nghi ngờ người đó là người nhà ông. Lại nói mấy hôm trước khi nghiên cứu gia phả Trịnh gia tôi liên tục mơ thấy một người mặc đồ pháp sư bước từ trong tranh ra, trên tay cầm một con dao làm từ ngà voi, người ấy viết vào tay tôi một chữ" Trịnh "sau đó liền biến mất. Hôm nay tôi lại thấy con dao ngà voi ấy cắm vào chính giữa một cái xác khô ngồi xếp bằng trong miếu cho nên tôi ngờ rằng.. cái miếu cổ chôn vùi dưới lòng đất kia có liên quan tới họ Trịnh nhà ông. Còn một điều nữa, ba ngày vừa rồi, tôi dùng hết pháp lực thỉnh các cụ nhà ông về hỏi chuyện nhưng không một cụ nào hiển linh trừ người mặc đồ pháp sư kia.. tôi đồ rằng linh hồn các cụ đang bị giam giữ, hoặc hội tụ ở một nơi nào đó không thể thoát ra. Nơi đó rất có thể là ngôi miếu bí ẩn kia.
Ông Bổng há hốc mồm dáng bộ ngạc nhiên lắm:
- Ôi trời ơi.. khó tin quá. Thật ra trải qua bao nhiêu đời rồi, có những chuyện hậu bối như chúng tôi quả không thể biết hết được. Mà cụ cũng thấy đó, chiến tranh binh biến chưa bao giờ ngừng, những sổ sách, tài liệu về dòng họ phần nhiều đã bị phá hủy, ngay cả gia phả cũng đã phải chép lại mấy lần, bản than tôi là trưởng họ, muốn tìm lại bản gia phả gốc cũng khó vô cùng.
Cụ Cừ gật đầu lại nói:
- Tôi hỏi ông, tại sao người làng các ông lại đồn rằng nơi này có quỷ? Tại sao không một ai dám bén mảng tới đây trừ những kẻ trộm mộ?
Ông Bổng lục lại kí ức những chuyện linh dị xảy ra với mảnh đất này nhiều năm về trước:
- Chuyện này cũng li kì lắm. Ngày tôi còn bé đã nghe người trong làng kể lại rằng khu đất dưới chân núi này bị quỷ ám, người nào cố tình bén mảng tới đều có kết cục không hay. Khi ấy đã có những người không tin, cũng đều là những thanh niên trẻ tuổi," chiếu mới chưa trải sự đời"thách thức nhau tới đây bẻ cành hái quả, xới đất trồng trọt, dựng lều cắm trại, cuối cùng người thì bị sét đánh, người thì phát điên, người thì khi không tự động dẫn thân tới đây treo cổ tự vẫn. Chúng tôi từ ấy cũng lấy đó mà làm gương, đời này sang đời khác dặn dò con cháu không được bén mảng lại gần chỗ này. Bao nhiêu năm cứ nghĩ rằng mảnh đất cấm địa sẽ không có kẻ nào dám đặt chân tới không ngờ hôm nay lại chứng kiến có người dám đến đây mà đào hầm trộm mộ..
Cụ Cừ vuốt chòm râu trầm ngâm nghĩ ngợi. Vậy đúng là cả làng không ai biết về sự tồn tại của ngôi miếu cổ dưới lòng đất kia sao? Ông Bổng tỏ rõ sự lo lắng:
- Nếu đúng như thầy nói, có khi nào miếu cổ là do các cụ tổ lập nên, vậy thì phải khai quật rồi làm lễ, thờ cúng đầy đủ. Biết đâu do con cháu không biết có sự tồn tại của miếu, không hương khói được, cho nên tổ tiên giận giữ giáng tai họa chăng?
Cụ Cừ lắc đầu:
- Chuyện đó không đơn giản như vậy đâu. Ông không nên nóng vội, Để rồi tôi sẽ tìm hiểu thêm.
Nghỉ ngơi một hồi xong xuôi, đoàn người bắt đầu kéo nhau ra về. Dần và Phụng thay nhau cõng Túy. Ông Bổng và vợ Túy đi trước, cụ Cừ bước sau cùng. Trước khi đi cụ Cừ cẩn thận làm phép xóa dấu chân người để tà ma không còn bám theo được nữa.