Chương III - 19
Chương III – 19
Nó nhớ lại:
Buổi trưa hôm ấy, trên đường tăm tia, nó tạt vào hàng gọi cốc nước mía. Mấy chủ bám vỉa hè bán hàng vặt nhân lúc vắng khách ngồi tụm vào nhau tán gẫu. Thấy nó bước vào, con mẹ chủ quán khái quát nó từ đầu đến chân:
- Mía hử?
Nó dè xẻn gật đầu, cái mũ tụp kín mặt. Chủ quán lấy khúc mía, uể oải đứng dậy nhét vào lô ép rồi cầm vô lăng quay, miệng tiếp tục câu chuyện:
- Trông ngoài thế thôi, nhưng nhà ấy thiếu gì tiền.
Nghe tiếng "tiền", nó vểnh tai lên. Một chủ nữa đang ngồi bệt dưới đất, ném mạnh khẩu mía nhai dở ra giữa đường:
- Chuyện! Cứ nhìn mụ vợ đi đứng thì biết: Õng ẹo mông, còn cái tay ve vẩy theo kiểu "mời anh xơi" rõ tởm!
- Chả bù cho hồi còn làm thợ xẻ. Bán từng bao mùn cưa, vơ từng nắm vỏ bào, ăn cắp từng mẩu gỗ.
Nó cười khẩy. Cái đoạn nghèo hèn lại hay chê bai mỉa mai người giầu, ghen ghét với kẻ có quyền lực thì nó thừa biết. Giống đời luôn vậy! Đã không có, nhưng thấy ai hơn là dài môi dè bỉu. Nhưng thây kệ! Cái điều nó cần biết là kẻ nào có tiền mà "lũ nghèo" đang nói đến cơ! Nó bỏ thói quen mỗi lần khát, cầm đến cốc là làm một hơi. Đón cốc nước lạnh băng, bọt sùi tràn cả ra ngoài, miệng ngậm vành cốc ra vẻ nhâm nhi, nghiêng tai lắng nghe.
Con mẹ chủ quán cầm giẻ lau tay rồi tiếp tục "khai" :
- Cưới con trai làm hơn ba trăm mâm. Nhưng kín đáo lắm! Không mời hàng phố đến một người. Hỏi, thì bảo: Các cháu nhờ cơ quan tổ chức. Nhà em có tiền đâu!
- Tham như mõ ấy!
Vừa lúc ấy bên kia đường, một chiếc xe Com Măng Ca, thành táp đỏ bụi đường vừa đỗ lại. Con mẹ chủ quán hất hàm:
- Vợ chồng lão kiểm lâm về kia kìa.
Nó không ngẩng mặt nhưng con mắt thì ngược lên: Từ hàng ghế sau, một người đàn ông to béo bước xuống. Ông ta trạc năm mươi tuổi, mặc quần áo mầu xanh lá cây trông giống quân phục bộ đội, ve áo và cầu vai đeo lon mầu xanh kẻ vạch. Theo sau ông ta là một bà gầy mặc áo dài, quần trắng, đầu vấn khăn nhung, vẻ hạng đàn bà có máu đồng cốt. Nó đang phân vân vì không rõ quan hệ thì một trong hai mụ chủ quán đã giải thích:
- Vợ chồng kéo nhau đi cầu cúng, lễ bái về đấy! Rằm nào chả vậy. Hết đền nọ đến phủ kia. Đã giầu lại càng chăm xin. Bao giờ ăn cho hết của.
Câu nói mang rõ vẻ tị nạnh. Nó dốc nốt chỗ nước mía vào miệng, móc túi lấy tiền trả rồi bước ra ngoài. Nó bước chậm, mặt cắm xuống đất nhưng hai tròng con ngươi liếc xéo sang mé bên kia đường: Ngôi nhà hai tầng nằm khiêm tốn trong một ta luy khoét vào sườn đồi. Phía trước là khoảng sân có cổng và rào sắt. Nếu không có mấy mẹ chủ quán "mách" chắc nó cũng không để ý.
Đêm hôm ấy nó quyết định ở lại tiếp cận địa bàn. Mé sau nhà gã Kiểm lâm là một quả đồi nhỏ. Nó leo lên ngồi núp sau bụi cây quan sát: Sân thượng có mái tôn che và rào lưới mắt cáo xung quanh để phơi quần áo. Một giếng giời thông tầng, phần xây nổi hình vuông cao hơn hai mét, mái tum lợp bằng ngói Giếng Đáy dốc ngược, nhọn hoắt. Trên đỉnh nghễu nghện một kim thép chống sét. Cạnh đấy chủ nhà xây một bể đựng nước dọc theo chiều ngang bờ tường, nối vào bức tường có cửa một cánh, lắp khóa tay đấm mạ kền kiểu Trung Quốc. Đấy chính là lối cầu thang lên sân thượng.
Để trèo lên nóc nhà đối với nó là chuyện bỡn. Nhưng lên là một chuyện, còn vào được lại là một chuyện. Dẫu chưa tiếp cận nó đã biết cửa nhà này vào loại cửa đặc biệt. Chẳng gì cũng là cửa nhà của quan kiểm lâm. Đã sử dụng gỗ phải ra gỗ! Tối thiểu phải trong hàng tứ thiết? Cưa, đục không mần gì! Lửa đốt chẳng bén nổi.
Nửa đêm, nó tụt từ ta luy xuống rồi bám ống máng leo lên sân thượng thám thính. Thường thì có ba cách để đột nhập: Một, bằng cách cưa chốt bản lề, tháo cửa rồi lắp loại chốt bản lề tự chế của nó vào là xong. Cách này tiện lợi nhất, chủ nhà khó phát hiện mà mỗi lần vào chỉ việc nhấc nhẹ là ra ngay. Nó dùng lưỡi cưa thép cưa thử. Âm thanh khe khẽ phát ra báo cho nó biết đây là loại goong cửa được thửa bằng thép đặc biệt. Nó chọn phương án hai: Xem độ dày của gỗ. Lách sợi dây đồng mỏng theo chiều dẹt khe cửa rồi quay ngang để kiểm tra: Bảy phân. Dùng mũi khoan thử: Trơ lì không khác gì thép nguội. Như vậy hai phương án thông dụng bị loại bỏ. Nó quay sang tìm phương án ba. Phương án này thuộc loại tự do. Nặng về ăn may. Tay nó sờ lần xung quanh tường. Lấy ngón tay gõ thử. Tiếng phản hồi rất đanh, chắc lì. Báo hiệu lớp vữa không kém lớp bê tông là mấy. Như vậy, cả phương án "tự do" cũng phá sản. Nó ngồi một lúc trên sân thượng rồi tụt xuống.
Không bỏ cuộc, nó dành thêm một tuần để nghiên cứu và quan sát. Nhà này không nuôi chó, con cái đi học xa, thứ bẩy chủ nhật mới về. Người giúp việc là một bà cô lỡ thì không chồng, trạc hơn bốn mươi tuổi, nhìn quê một cục. Nó chú ý ngày nào cũng như ngày nào, mỗi lần giặt xong mang quần áo lên sân thượng phơi khoảng chín giờ đến chín rưỡi sáng. Chiều bẩy giờ tối hoặc muộn hơn mới lên thu xuống. Điều đặc biệt là mỗi lần lên người giúp việc không khóa cửa, cho đến khi cất quần áo mới khóa lại. Mỗi lần như vậy, chiếc chìa khóa lơ lửng trên tay nắm đung đưa, lắc lư như nói với nó:
- Tớ đang mất cảnh giác đây!
Đêm ấy, nó trèo lên, ém sẵn trên sân thượng, nấp vào chỗ góc bể. Sáng hôm sau, chờ cho người giúp việc phơi quần áo xong đi xuống, nó rút chìa, lấy cục sáp in hai lần vào cho chắc rồi trả chiếc khóa về chỗ cũ. Xong việc, nhưng phải đợi đến tối mới thoát ra được. Điều đó là cần thiết và cũng là cực hình. Nó chui vào chỗ giữa khe bể và bức tường để ẩn. Được một lúc, bỗng nhiên nó nảy ra ý nghĩ mò vào nhà. Theo quy luật, bây giờ người giúp việc đang lau dọn phòng khách. Hôm nay là ngày rằm. Hai vợ chồng tay kiểm lâm đi hầu bóng chiều tối mới về.
Nó lần xuống theo thang gác. Hơi dốc! Nó nhắm mắt tưởng tượng lối thoát. Kinh nghiệm cho nó biết, nếu không thông thuộc đường ra lối vào, khi có động rất dễ bị tóm. Mé bên phải lối cầu thang có một gian chứa đồ. Nó ngó nhìn: Trong đó lổng chổng mấy chiếc quạt con cóc và vài chiếc chăn rách. Mẹ nó chứ! Những thứ này sao không bán cho hàng đồng nát cho rồi? Bất chợt, hình ảnh mẹ quẩy đôi quang gánh và văng vẳng tiếng rao: "Ai đồng nát nào.." lướt qua, vang lên trong đầu nó. Mẹ mà vớ được của này thì mừng phải biết! - Nhưng rồi nó vội xua tan hình ảnh mẹ ra khỏi đầu để tập trung vào công việc. Nó lần bậc đi xuống tiếp. Đến chiếu nghỉ tầng một, nghiêng người ló đầu nhìn xuống dưới.
Ngoài phòng khách, người giúp việc đang lau bàn ghế. Thông vào phía trong là hành lang dẫn vào các phòng. Có ba phòng, hai nhỏ, một lớn. Cha này hiện đại ghê! Tất cả đều nằm theo trục hành lang. Hẳn phòng lớn là phòng của vợ chồng tay kiểm lâm? Nó cố phán đoán xem phòng ngủ của vợ chồng tay kiểm lâm bên phải hay bên trái? Nó định men xuống nữa, nhưng bất ngờ người giúp việc xách xô nước, cầm chổi lau đi từ phòng khách vào mở cửa từng phòng. Nó vội nghiêng người ép vào tường. Từ trên góc đứng, qua cánh cửa, nó theo dõi phía trong xem bài trí thế nào. Nhưng chỉ nhìn thấy chân giường và loáng thoáng các đồ dùng kệ ở trong. Như vậy nếu muốn biết của cải, tiền bạc ở đâu, buộc phải vào tận nơi mà quan sát. Thôi! Coi như công việc hôm nay thế là xong! Nó nhủ rồi quay lên sân thượng. Ngoài trời nắng chang chang, mặt sân bê tông bỏng giãy dưới gan bàn chân, thời tiết nóng như rang. Trước khi chui vào chỗ ẩn, nó vục chiếc gáo múc nước mưa uống ừng ực.
Chương II - 20
Nó nhớ lại:
Buổi trưa hôm ấy, trên đường tăm tia, nó tạt vào hàng gọi cốc nước mía. Mấy chủ bám vỉa hè bán hàng vặt nhân lúc vắng khách ngồi tụm vào nhau tán gẫu. Thấy nó bước vào, con mẹ chủ quán khái quát nó từ đầu đến chân:
- Mía hử?
Nó dè xẻn gật đầu, cái mũ tụp kín mặt. Chủ quán lấy khúc mía, uể oải đứng dậy nhét vào lô ép rồi cầm vô lăng quay, miệng tiếp tục câu chuyện:
- Trông ngoài thế thôi, nhưng nhà ấy thiếu gì tiền.
Nghe tiếng "tiền", nó vểnh tai lên. Một chủ nữa đang ngồi bệt dưới đất, ném mạnh khẩu mía nhai dở ra giữa đường:
- Chuyện! Cứ nhìn mụ vợ đi đứng thì biết: Õng ẹo mông, còn cái tay ve vẩy theo kiểu "mời anh xơi" rõ tởm!
- Chả bù cho hồi còn làm thợ xẻ. Bán từng bao mùn cưa, vơ từng nắm vỏ bào, ăn cắp từng mẩu gỗ.
Nó cười khẩy. Cái đoạn nghèo hèn lại hay chê bai mỉa mai người giầu, ghen ghét với kẻ có quyền lực thì nó thừa biết. Giống đời luôn vậy! Đã không có, nhưng thấy ai hơn là dài môi dè bỉu. Nhưng thây kệ! Cái điều nó cần biết là kẻ nào có tiền mà "lũ nghèo" đang nói đến cơ! Nó bỏ thói quen mỗi lần khát, cầm đến cốc là làm một hơi. Đón cốc nước lạnh băng, bọt sùi tràn cả ra ngoài, miệng ngậm vành cốc ra vẻ nhâm nhi, nghiêng tai lắng nghe.
Con mẹ chủ quán cầm giẻ lau tay rồi tiếp tục "khai" :
- Cưới con trai làm hơn ba trăm mâm. Nhưng kín đáo lắm! Không mời hàng phố đến một người. Hỏi, thì bảo: Các cháu nhờ cơ quan tổ chức. Nhà em có tiền đâu!
- Tham như mõ ấy!
Vừa lúc ấy bên kia đường, một chiếc xe Com Măng Ca, thành táp đỏ bụi đường vừa đỗ lại. Con mẹ chủ quán hất hàm:
- Vợ chồng lão kiểm lâm về kia kìa.
Nó không ngẩng mặt nhưng con mắt thì ngược lên: Từ hàng ghế sau, một người đàn ông to béo bước xuống. Ông ta trạc năm mươi tuổi, mặc quần áo mầu xanh lá cây trông giống quân phục bộ đội, ve áo và cầu vai đeo lon mầu xanh kẻ vạch. Theo sau ông ta là một bà gầy mặc áo dài, quần trắng, đầu vấn khăn nhung, vẻ hạng đàn bà có máu đồng cốt. Nó đang phân vân vì không rõ quan hệ thì một trong hai mụ chủ quán đã giải thích:
- Vợ chồng kéo nhau đi cầu cúng, lễ bái về đấy! Rằm nào chả vậy. Hết đền nọ đến phủ kia. Đã giầu lại càng chăm xin. Bao giờ ăn cho hết của.
Câu nói mang rõ vẻ tị nạnh. Nó dốc nốt chỗ nước mía vào miệng, móc túi lấy tiền trả rồi bước ra ngoài. Nó bước chậm, mặt cắm xuống đất nhưng hai tròng con ngươi liếc xéo sang mé bên kia đường: Ngôi nhà hai tầng nằm khiêm tốn trong một ta luy khoét vào sườn đồi. Phía trước là khoảng sân có cổng và rào sắt. Nếu không có mấy mẹ chủ quán "mách" chắc nó cũng không để ý.
Đêm hôm ấy nó quyết định ở lại tiếp cận địa bàn. Mé sau nhà gã Kiểm lâm là một quả đồi nhỏ. Nó leo lên ngồi núp sau bụi cây quan sát: Sân thượng có mái tôn che và rào lưới mắt cáo xung quanh để phơi quần áo. Một giếng giời thông tầng, phần xây nổi hình vuông cao hơn hai mét, mái tum lợp bằng ngói Giếng Đáy dốc ngược, nhọn hoắt. Trên đỉnh nghễu nghện một kim thép chống sét. Cạnh đấy chủ nhà xây một bể đựng nước dọc theo chiều ngang bờ tường, nối vào bức tường có cửa một cánh, lắp khóa tay đấm mạ kền kiểu Trung Quốc. Đấy chính là lối cầu thang lên sân thượng.
Để trèo lên nóc nhà đối với nó là chuyện bỡn. Nhưng lên là một chuyện, còn vào được lại là một chuyện. Dẫu chưa tiếp cận nó đã biết cửa nhà này vào loại cửa đặc biệt. Chẳng gì cũng là cửa nhà của quan kiểm lâm. Đã sử dụng gỗ phải ra gỗ! Tối thiểu phải trong hàng tứ thiết? Cưa, đục không mần gì! Lửa đốt chẳng bén nổi.
Nửa đêm, nó tụt từ ta luy xuống rồi bám ống máng leo lên sân thượng thám thính. Thường thì có ba cách để đột nhập: Một, bằng cách cưa chốt bản lề, tháo cửa rồi lắp loại chốt bản lề tự chế của nó vào là xong. Cách này tiện lợi nhất, chủ nhà khó phát hiện mà mỗi lần vào chỉ việc nhấc nhẹ là ra ngay. Nó dùng lưỡi cưa thép cưa thử. Âm thanh khe khẽ phát ra báo cho nó biết đây là loại goong cửa được thửa bằng thép đặc biệt. Nó chọn phương án hai: Xem độ dày của gỗ. Lách sợi dây đồng mỏng theo chiều dẹt khe cửa rồi quay ngang để kiểm tra: Bảy phân. Dùng mũi khoan thử: Trơ lì không khác gì thép nguội. Như vậy hai phương án thông dụng bị loại bỏ. Nó quay sang tìm phương án ba. Phương án này thuộc loại tự do. Nặng về ăn may. Tay nó sờ lần xung quanh tường. Lấy ngón tay gõ thử. Tiếng phản hồi rất đanh, chắc lì. Báo hiệu lớp vữa không kém lớp bê tông là mấy. Như vậy, cả phương án "tự do" cũng phá sản. Nó ngồi một lúc trên sân thượng rồi tụt xuống.
Không bỏ cuộc, nó dành thêm một tuần để nghiên cứu và quan sát. Nhà này không nuôi chó, con cái đi học xa, thứ bẩy chủ nhật mới về. Người giúp việc là một bà cô lỡ thì không chồng, trạc hơn bốn mươi tuổi, nhìn quê một cục. Nó chú ý ngày nào cũng như ngày nào, mỗi lần giặt xong mang quần áo lên sân thượng phơi khoảng chín giờ đến chín rưỡi sáng. Chiều bẩy giờ tối hoặc muộn hơn mới lên thu xuống. Điều đặc biệt là mỗi lần lên người giúp việc không khóa cửa, cho đến khi cất quần áo mới khóa lại. Mỗi lần như vậy, chiếc chìa khóa lơ lửng trên tay nắm đung đưa, lắc lư như nói với nó:
- Tớ đang mất cảnh giác đây!
Đêm ấy, nó trèo lên, ém sẵn trên sân thượng, nấp vào chỗ góc bể. Sáng hôm sau, chờ cho người giúp việc phơi quần áo xong đi xuống, nó rút chìa, lấy cục sáp in hai lần vào cho chắc rồi trả chiếc khóa về chỗ cũ. Xong việc, nhưng phải đợi đến tối mới thoát ra được. Điều đó là cần thiết và cũng là cực hình. Nó chui vào chỗ giữa khe bể và bức tường để ẩn. Được một lúc, bỗng nhiên nó nảy ra ý nghĩ mò vào nhà. Theo quy luật, bây giờ người giúp việc đang lau dọn phòng khách. Hôm nay là ngày rằm. Hai vợ chồng tay kiểm lâm đi hầu bóng chiều tối mới về.
Nó lần xuống theo thang gác. Hơi dốc! Nó nhắm mắt tưởng tượng lối thoát. Kinh nghiệm cho nó biết, nếu không thông thuộc đường ra lối vào, khi có động rất dễ bị tóm. Mé bên phải lối cầu thang có một gian chứa đồ. Nó ngó nhìn: Trong đó lổng chổng mấy chiếc quạt con cóc và vài chiếc chăn rách. Mẹ nó chứ! Những thứ này sao không bán cho hàng đồng nát cho rồi? Bất chợt, hình ảnh mẹ quẩy đôi quang gánh và văng vẳng tiếng rao: "Ai đồng nát nào.." lướt qua, vang lên trong đầu nó. Mẹ mà vớ được của này thì mừng phải biết! - Nhưng rồi nó vội xua tan hình ảnh mẹ ra khỏi đầu để tập trung vào công việc. Nó lần bậc đi xuống tiếp. Đến chiếu nghỉ tầng một, nghiêng người ló đầu nhìn xuống dưới.
Ngoài phòng khách, người giúp việc đang lau bàn ghế. Thông vào phía trong là hành lang dẫn vào các phòng. Có ba phòng, hai nhỏ, một lớn. Cha này hiện đại ghê! Tất cả đều nằm theo trục hành lang. Hẳn phòng lớn là phòng của vợ chồng tay kiểm lâm? Nó cố phán đoán xem phòng ngủ của vợ chồng tay kiểm lâm bên phải hay bên trái? Nó định men xuống nữa, nhưng bất ngờ người giúp việc xách xô nước, cầm chổi lau đi từ phòng khách vào mở cửa từng phòng. Nó vội nghiêng người ép vào tường. Từ trên góc đứng, qua cánh cửa, nó theo dõi phía trong xem bài trí thế nào. Nhưng chỉ nhìn thấy chân giường và loáng thoáng các đồ dùng kệ ở trong. Như vậy nếu muốn biết của cải, tiền bạc ở đâu, buộc phải vào tận nơi mà quan sát. Thôi! Coi như công việc hôm nay thế là xong! Nó nhủ rồi quay lên sân thượng. Ngoài trời nắng chang chang, mặt sân bê tông bỏng giãy dưới gan bàn chân, thời tiết nóng như rang. Trước khi chui vào chỗ ẩn, nó vục chiếc gáo múc nước mưa uống ừng ực.
Chương II - 20
Chỉnh sửa cuối: