282 ❤︎ Bài viết: 1159 Tìm chủ đề

Chương bốn - 1​


20261004-132532-b7187e4ad8.png


Chương bốn – 1

Các cán bộ chủ chốt xã được triệu tập ra đầm Vực. Chờ mọi người đứng dồn vào một chỗ, Chủ tịch xã khoát tay về phía đầm nói:

- Đây chính là "nội lực" của xã ta. Tôi mời các đồng chí ra đây để cùng nhau phân tích sự lãng phí, thói quan liêu trì trệ của chúng ta. Trong khi cứ tìm mãi phương cách để "xóa đói giảm nghèo" nhưng của cải ở ngay dưới chân thì ta lại không để ý tới! Vì lẽ gì chúng ta không khai thác vốn tự có của mình?

Mọi người ngơ ngác chưa hiểu Chủ tịch có ý gì? Gớm! Vừa mới sang Trung Quốc tham quan về mà đã ra dáng! Khu đầm Vực một thời xã đã rùm beng duyệt phương án cho đấu thầu nuôi cá, nhưng ai nhẩy vào khai thác cũng chỉ được một vài vụ là xin phá hợp đồng. Đầm rộng, nước sâu, quản lý khó; thả cá nhỏ bằng làm mồi nuôi cá trời; thoát được con nào lớn bằng nuôi giúp thiên hạ. Thuê nhiều nhân công không đủ trả tiền công, thiếu bảo vệ, dân tứ nơi ngày câu trộm, đánh điện, đêm quăng chài, lưới vét. Đã có nhiều vụ ẩu đả, gây đổ máu. Làm chả bõ đền thương, hầu kiện!

Trong báo cáo ruộng đất của Ủy trình cấp trên lúc nào cũng gọi đấy là "tiềm năng". Nhưng thực tế, cả một khu vực đầm rộng lớn bỏ không, hoang hóa mặc cho dân chúng thả rau muống bè, ven bờ trồng khoai mon; trẻ mục đồng tắm trâu chơi trận giả; từ ngày đất đai có giá, một vài hộ gia đình bất chấp đất công, tự ý ra dựng nhà, lập vườn. Vậy thì bây giờ Chủ tịch lại "vẽ" gì đây? Bán hay lấp?

Em cầm máy ảnh tách khỏi đám đông tìm góc chụp, nâng máy ảnh điều chỉnh đầu têlê, toàn bộ khuôn hình Chủ tịch được thu gọn trong ống kính. Em cảm tưởng thấy lại vị chỉ huy làng Quyết Thắng mẹ kể trong đêm bắt phi công Mỹ, cũng bên bờ đầm này giơ gậy phang vào đầu vị chỉ huy làng Quyết Chiến. Giống thật đấy! Cả thằng bé nữa! Cứ hiển hiện từ bước đi dáng đứng, phoóc người và tiếng nói y xì! Cả ba như được tạo từ một khuôn đúc:

Có lần em buột miệng hỏi:

- Vợ chồng Chủ tịch không có con do ai? - Dứt lời em chợt thấy câu hỏi của mình vẻ tọc mạch.

- Tại cô vợ chứ tại gì cậu ấy! - Phó Chủ tịch trả lời rồi nhướng mắt ngạc nhiên như thể nói: Cậu ta thế nào làm gì cô chả biết mà còn hỏi?

- Không có con kể cũng buồn. - Em nói ngoài miệng vẻ cảm thông, trong bụng vẻ đắc thắng.

- Khổ, mọi cái đều bên nhà vợ nâng đỡ, cũng khó giãy ra.

- Có tiền sao không về Hà Nội nhờ bệnh viện cấy?

- Gớm! Còn thiếu? - Phó Chủ tịch nguýt dài - Đi chẳng còn chỗ nào, bệnh viện, thuốc men, chùa chiền, cầu cúng, đủ! Kể cũng vất, người thì hãm chẳng được, kẻ thì cầu chẳng thấy.

Nhưng bù lại, đường công danh ra chiều suôn sẻ. Công việc xã dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch được cả hai làng công nhận. Em có cảm giác Chủ tịch lấy công việc để khỏa lấp nỗi buồn riêng? Phải thôi! Ông trời công tâm lắm, có cho ai hết cả đâu, được cái này thiếu cái nọ. Ngày xưa hèn nhát từ chối giọt máu của mình vì danh vọng, quyền chức, thì bây giờ cứ bám vào cái đó mà sống! Cứ theo cái đeo đuổi mà tôn thờ! Chắc giờ có đủ coi rồi mới lại thèm người nối dõi? Tìm đâu ra cơ chứ! Vô tình, em có đứa bé làm vật để gặm nhấm trái tim người tình cũ.

Càng ngày, em càng hiểu ý đồ của Chủ tịch. Mọi đối xử với em thông qua bà Phó chủ tịch tưởng là nhiệm vụ tình cờ và một sự ngẫu nhiên, nhưng thực ra mọi việc đều do Chủ tịch có ý xếp đặt cả. Ngay cả việc Chủ tịch nhờ bà Phó Chủ tịch đưa khéo cho em chiếc máy ảnh cũng vậy. Em biết nhưng lờ đi như không biết.

Cái máy ảnh là vật vô tri nhưng chính nó lại cho em biết thế nào là nghệ thuật. Cho tới khi có giấy báo về Hà Nội nhận giải em mới biết. Đó là lần đoàn phóng viên trên tỉnh về xã. Khi vào nhà truyền thống, mọi người trong đoàn chăm chú xem những bức ảnh em chụp cô bé bị di chứng chất độc màu da cam. Một người trong đoàn nói với Chủ tịch:

- Hiện đang có đợt thi ảnh do Trưng ương tổ chức, những bức ảnh này nghệ thuật chụp tuy còn yếu nhưng có giá trị về mặt tinh thần.

Chủ tịch ngấm ngầm xin địa chỉ rồi gửi. Ai ngờ tấm ảnh "Vượt lên số phận" được giải. Chủ tịch xã thuê xe ô tô đưa em và cô bé nhiễm chất độc màu da cam cùng bà Phó Chủ tịch xuống dự lễ trao giải. Mang giải về, Ủy ban xã còn tổ chức liên hoan chúc mừng. Trong lúc vui, Phó Chủ tịch nói:

- Công đầu là của Chủ tịch xã đấy!

Em thoáng nhìn, mặt Chủ tịch đỏ lựng, không hiểu vì rượu hay vì lời tụng?

Sau thời gian ấy, bà Phó Chủ tịch nói:

- Xã có ý muốn em phấn đấu trở thành đảng viên.

- Liệu cháu có đủ tiêu chuẩn không cô?

- Sao không? Đích thân Chủ tịch gợi ý cho tôi là người giúp đỡ cho em đấy - Rồi bà nói thêm - Không phải ai cũng được cậu ấy quan tâm thế đâu!

Vào Đảng ư? Em về hỏi ý kiến bố, bố bảo:

- Con còn trẻ, phấn đấu được là cái tốt! Xã hội tiến lên, có "Chuyên" lại càng cần có "Hồng", như vậy mới đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của quê hương, đất nước!

Bố không phải đảng viên mà nói như Nghị quyết. Vả, mấy khi có điều kiện thế này! Em còn trẻ, cũng cần chỗ đứng trong xã hội để tồn tại chứ! Cái ngày xưa, Tổ trưởng từ chối, thì bây giờ em sẽ lấy đó để lợi dụng. Ý nghĩa nếu viết ra có vẻ tàn nhẫn, nhưng ngẫm nghĩ về những gì em phải chịu có lẽ cũng đúng thôi. Tất nhiên chỉ ở một phương diện nào đó! Có thể người đời cho ý đồ và hành động của em là bất nhẫn và khốn nạn, nhưng nếu ở địa vị em mọi người sẽ làm gì? Tha thứ ư?

Không! Một ngàn lần không! Không bao giờ em quên được những giây phút rồ dại định quyên sinh xuống đáy đầm Vực; không bao giờ em quên bước chân lang thang và lời rủa "Đồ rồ tình!" của người chủ hiệu nọ; không bao giờ em quên được mình phải trả giá danh dự bằng sự dối trá để có chồng, rồi lại chia tay trong đau khổ và còn đeo đẳng thêm giọt máu khi chưa đầy ba mươi tuổi! Mọi tội lỗi và sai lầm bắt đầu từ sự tránh né tình yêu và trách nhiệm. Còn bây giờ?

Tự hỏi. Và em lập luận: Giá thư người vợ Chủ tịch đẻ ra vài đứa con thì liệu người tình cũ của Tổ trưởng ngày xưa và hòn máu rơi bây giờ có giá trị không? Em có được quan tâm và săn sóc thế này không? Hay lại mưu mô tống khứ mấy mẹ con em đi nơi khác như đã từng khước từ lời cầu khẩn?

Có ai đấy đã bảo: "Đừng đùa với tình yêu!" Em đã trải chán thứ tình yêu đùa giỡn rồi, giờ đây mỗi lần nghĩ tới em chỉ thấy ghê sợ! Em không phải cái hũ tương mở mãi miệng để ruồi muỗi đẻ vào. Người đàn bà một nách hai con sống đã khổ chứ nói gì đến yêu thương? Đã đành cái mất không lấy lại được, nhưng tội gì không dựa vào đấy để đòi lại một chút và để thỏa mãn lòng căm hận? - Em nghĩ vậy!

* * * Tiếng Chủ tịch sang sảng:

- Thưa các đồng chí, vừa qua, tôi có dịp được theo phái đoàn của huyện sang tham quan Trung Quốc. Có thể nói công tâm rằng: Chúng ta còn quá lạc hậu so với nước láng giềng! Một đồng chí đi trong đoàn nói với tôi: "Nếu tốc độ phát triển của ta mãi thế này thì Trung Quốc hôm nay là Việt Nam hàng trăm năm nữa!" Tôi nghiệm thấy đúng quá! Chình vì thế cho nên công cuộc "mở cửa" của Nhà nước hiện nay là sự đổi mới to lớn. Từ khẩu hiệu "tự cứu lấy mình" để liên hệ với hoàn cảnh của xã, tôi ngẫm thấy rằng: Xã Chiến Thắng của chúng ta có tài sản trị giá nhiều tỷ đồng mà tại sao chúng ta lại phải chịu sống nghèo hèn? Các nơi đang rầm rộ khí thế tìm đối tác, khai thác thế mạnh của chính vùng dân cư mình đang sống. Vậy, xã Chiến Thắng cũng có thể làm được chứ! Tại sao không?

Cuộc họp bên đầm Vực tác động mạnh vào các cán bộ và nhân viên Ủy ban. Mọi người lắng nghe, im lặng như bị hớp hồn. Nắng sớm chiếu lên vầng trán cao của Chủ tịch, mồ hôi lấp loáng. Em nhận ra bên cạnh sự đạo mạo là những nếp nhăn hằn sâu rạn nứt vết chân chim cạnh đuôi mắt. Công việc xã hội đè nặng lên vai và trách nhiệm kế tục dòng họ như nỗi lo truyền kiếp. Tự nhiên lòng nhen nhúm một chút thương cảm, cảm giác như con người kia cô đơn lắm! Vất vả lắm! Sự mủi lòng se thắt nơi trái tim, động lòng trắc ẩn, đột nhiên quên lãng khổ đau, mà dâng trào cảm xúc muốn chia sẻ, muốn đồng lòng với vất vả, với nỗi cô đơn..

Chủ tịch dẫn mọi người đi đọc bờ đầm. Em vượt lên trước, tìm một chỗ thích hợp để chụp một kiểu cả đoàn. Trong khi đó, Chủ tịch vừa đi vừa nói.

- Chúng ta cần phải thay đổi cách nhìn, cách nghĩ và cách làm.. - Bỗng Chủ tịch vấp vào một mô đất ven bờ, loạng choạng, người nghiêng về phía đầm, chới với.. Một phản xạ tức thì, em chạy lại giơ tay đỡ. Bàn tay đang chao đảo quờ vội lấy tay em, hơi nóng ấm truyền nhiệt sang tay cho cảm giác vừa lạ lùng vừa quen thuộc. Nhờ cái níu tay, Chủ tịch lấy lại được thăng bằng, khuôn mặt hồng trong nắng ấm, bàn tay vẫn nắm chặt bàn tay em như chẳng muốn rời.. Chợt bừng tỉnh, em giật phắt tay ra, quay quả bước đi. Một giọng nói truyền cảm vang từ phía sau - Cảm ơn Linh, nếu không có em, tôi đã bị ngã xuống đầm rồi!

Câu "ngã xuống đầm" thức tỉnh nỗi đắng cay em từng chịu. Em ân hận tự rủa thầm mình sao dễ mủi lòng? Linh ơi, sao mày chóng quên thế? Cũng nơi này, cô sinh viên vừa tốt nghiệp ra trường định quyên sinh cho xong đời đấy! Tại ai? Vì ai? Nếu hôm nay Chủ tịch chẳng may bị ngã xuống nước, thì sẽ có bao nhiêu con người nhảy xuống vớt, bao nhiêu bàn tay chăm sóc, nâng niu, bợ đỡ.. Còn mày? Linh ơi, nếu không có cánh chim đêm ngày ấy, giờ đây tuổi ma mày đã cỗi; xương cốt mày đã nục nhừ; hồn vía mày đã táo loạn nơi đâu. Thế mà.. Bỗng em nghe tiếng Chủ tịch gọi:

- Linh!

Em quay lại, cái nhìn như thách thức và vô cảm:

- Chủ tịch cần gì?

- Linh.. Àààà - Nhìn ánh mắt thiếu thiện cảm của em, Chủ tịch thay đổi cách xưng hô - Đồng chí chụp lấy toàn bộ khu đầm Vực, lấy ảnh làm tư liệu, và trưng bày trong Nhà truyền thống xã, để nay mai các thế hệ con em chúng ta xem mà nhớ về quá khứ.

Em y lời, nâng máy chụp.

Chương bốn - 2
 
Chỉnh sửa cuối:
282 ❤︎ Bài viết: 1159 Tìm chủ đề

Chương bốn - 2​


20261004-132810-3c6749e704.png


Chương bốn - 2

Tôi gặp em trong khu sơ tán của Ủy ban tỉnh. Em thảng thốt:

- Anh! Anh lên lâu chưa?

- Đến từ sáng, vừa làm việc xong.

- Thế lúc nào anh về?

- Bây giờ.

Nói chuyện với em một lát đã! Lâu lắm rồi còn gì? Được không anh?

- Thôi, để lúc khác! - Tôi ngập ngừng - Mà giữa chúng ta còn chuyện gì đâu?

- Anh vẫn giận em đấy à?

Tôi im lặng như thừa nhận. Em nắm tay vào ghi đông xe đạp xoay xoay:

- Biết nói sao cho anh hiểu Thừa ơi? - Giọng em nghẹn nấc.

Tôi nhảng:

- Dạo này Bí thư khỏe không em?

- Thế tuần trước chú xuống Phúc An anh không gặp à?

- Khi biết thì Bí thư đã vào Châu Lam rồi, chắc chú xuống thị sát tình hình? Công trình đang thi công thì phải dừng lại vì dân địa phương ở dưới công trường đang có chuyện mà!

- Phức tạp lắm! - Em nói - Đụng vào vùng dân tộc thiểu số mà anh!

- Ừ, tỉnh đang yêu cầu thủ trưởng của anh viết báo cáo và trình bày phương án xử lý. Nhưng binh tình này có lẽ tỉnh phải trực tiếp ra tay mới ổn - Vừa lúc ấy từ dưới chân dốc có mấy người dắt xe đạp lên. Thấy vậy, tôi chủ động - Anh về nhé! - Tôi dắt xe xuống dốc, được một quãng chợt nghe gọi:

- Anh Thừa!

Tôi dừng lại, em vượt lên đến ngang tôi:

- Sao anh không hỏi xem mẹ con em sống ra sao?

- Việc đó đã có chồng em lo rồi còn gì!

- Ừ nhỉ! - Em xịu mặt - Cho em xin lỗi. Thôi, anh đi đi, nhớ cẩn thận, về đường tắt cho an toàn. Dạo này máy bay bắn dữ lắm đấy!

Em quay đi, tôi nghe rõ tiếng thở dài để lại sau lời dặn dò.

Tôi không nghe lời em mà cứ thẳng đường Quốc lộ 2 đi. Thời chiến, vắng xe và ít người qua lại, thỉnh thoảng mới có một chiếc xe ô tô trùm lá ngụy trang chạy vội vã. Bụi cát lốc mù mịt. Trời nắng như đổ lửa. Ổ gà gập ghềnh, xích xe đạp thiếu dầu cót két kêu như rên. Nhà hai ven đường đóng cửa chặt, trên tường có treo những tấm biển viết "nhà đi sơ tán" nét chữ xệch xoạc. Vẻ tiêu điều vắng lặng, chẳng tìm đâu ra một hàng quán. Đạp non chục cây số mà dăm bảy lần kẻng báo động. Kệ! Tôi cứ đi! Những người làm nhiệm vụ cảnh giới nhìn tôi đeo xà cột, đội mũ rơm, khoác khăn dù ngụy trang, quần xắn quá gối, hối hả đạp, cứ nghĩ tôi mang "lệnh khẩn" nên kệ không hò hét bắt xuống hầm trú ẩn. Trên trời, tiếng máy bay ầm ì lúc gần, lúc xa; tiếng súng phòng không vọng lại. Mãi gần về tới Phúc An, đói mềm cả bụng mới gặp một hàng quà ẩn kín trong một lùm tre xanh mướt. Tôi mua phong bánh bột ngô, vài cái kẹo bột và bi đông nước chè "bánh xe" rồi lững thững rẽ lên đê sông Cà Lồ, đường vào Trại Vải, nơi cơ quan sơ tán. Đi được một quãng, tôi tựa chiếc xe vào bụi tre gai cạnh hố tăng xê rồi xuống bãi cỏ gần mép nước ngồi. Bây giờ về cơ quan cũng muộn, chắc đã hết cơm? Vả, cuộc gặp gỡ với em như dòng chảy quá khứ và những vui buồn cứ lảng vảng trong đầu. Tôi nhai bánh, nhấp từng ngụm nước chè hôi xì xịt, cảm giác như nhấm nháp lại quá khứ đang trôi dần về dĩ vãng.

Hòa bình! Đấy là câu nói chính của những người sống ở thời kỳ 1954. Cơn lốc của cao trào cách mạng và những đoàn quân rầm rập tiến về giải phóng, tiếp quản thị xã Phúc An. Hôm qua, xe nhà binh Pháp còn chạy náo loạn đường phố, những tên tính Tây say rượu vạch quần đứng đái tồ tồ giữa ngã tư, thì hôm sau đã chẳng còn mống nào. Đêm hôm trước, một đoàn xe, trùm bạt kín mít lặng lẽ rời khỏi thị xã. Sáng sớm, những đoàn quân mặc áo trấn thủ, đội mũ nan bọc vải, quàng khăn dù, mồm hát vang những bài hát "Vì nhân dân quên mình", "Giải phóng Điện Biên", "Qua miền Tây Bắc".. Hiên ngang tiến vào trước con mắt của dân hàng phố. Đầu tiên những cánh cửa còn he hé, sau đó là không khí náo nhiệt, cửa nhà nào nhà nấy mở rộng, dân thị xã ùa ra đường, chạy theo hàng quân, mồm hô vang khẩu hiệu. Không hiểu cờ đỏ sao vàng may từ bao giờ mà rợp trời rợp đất? Không biết hoa ở đâu mà tưng bừng nở rộ? Không biết biểu ngữ chuẩn bị từ bao giờ mà giăng ra đầy đường, đầy phố? Khí thế chiến thắng tràn ngập, tất cả già, trẻ, lớn bé ùa theo "anh bộ đội Cụ Hồ" vào tận trại lính Tây ở. Ngày xưa, làm sao dám tới đây? Bây giờ thì thoải mái, những anh bộ đội hiền từ, ôm lấy các mẹ già, các em thiếu nhi mà khóc - Nước mắt của hòa bình, tự do và dân chủ.

Bố phấn khởi lắm! Chẳng gì bố cũng là người bị chính quyền cũ coi là "người thân Việt Minh". Giờ đây, đoàn quân ấy đã trở về. Nghe binh tình này, nhìn khí thế ấy, chắc hòa bình vĩnh viễn chứ chẳng còn phải chạy tản cư như thời bốn nhăm, bốn bẩy nữa! Người như bố chẳng tự hào thì niềm tự hào ấy dành cho ai? Những người hàng phố tập trung bàn nhau về phố cũ. Nói là làm, bố cùng mọi người trở về chân đồi Thông, cái tên phố Đệ Nhị nay không còn ai nhắc nữa! Họ gọi bằng cái tên hồi cướp chính quyền năm bốn nhăm đã đặt: Phố Văn Miếu. Cái tên nghe nó mới nhân văn làm sao! Sướng thật! Hòa bình có khác, chẳng sợ áp bức bóc lột nữa. Lối lên đồi Thông quang cỏ, chùa tấp nập người lên cúng vái; rằm, mồng một chuông rung, mõ thỉnh, hương hoa thơm ngát cả vùng. Nhà nhà căn cứ vào những vết tích cũ để chia ranh giới. Bộ đội tiếp quản còn cử bộ đội công binh dò mìn, cùng bà con san gạt đồn bốt, giúp đỡ nhân dân làm nhà. Lính thế mới là lính chứ! Ai cũng hiền từ, nói năng lễ độ.

Bố dựng một nếp nhà tre, mái lợp gianh, còn nhà ở phố giao lại cho vợ chồng chị nhớn. Lại nói từ sau khi về "tề", nhờ người mối lái, chị nhớn lấy một người chăn vịt mồ côi cha mẹ, quê tỉnh Hà Đông. Do hoàn cảnh, hai người không cưới cheo gì. Cả nhà ngậm ngùi mãi cho số phận hẩm hiu của chị. Dì nói:

- Nếu không có chiến tranh, chắc đám cưới của chị cả với cậu con ông Quảng dưới Hải Phòng, có là nhất tỉnh Phúc An.

Nhưng bố lại bàn:

- Con người ta có duyên số cả!

Mẹ thì mừng:

- Thôi, không có của chìm của nổi nhưng ơn Đảng, ơn Chính phủ có cái nhà cho con lấy chỗ chui ra chui vào là tốt rồi!

Bàn bạc việc làm ăn sinh sống, bố có ý muốn trở lại xưởng làm xe kéo tay, mẹ gàn:

- Chờ xem binh tình thế nào đã? Liệu có phải chạy tản cư như hồi bốn bảy (1947) không?

Bố cười:

- Hiệp định Giơnevơ ký rành rành giấy trắng mực đen rồi! Từ vĩ tuyến mười bảy trở vào trong Nam là của nó; từ bên này ra Bắc là của ta. Phe ta lại có cả Trung Quốc với Liên Xô, sợ gì chúng? Vài năm nữa thống nhất hai miền là xong! Giờ hòa bình tự do rồi, tha hồ mà làm ăn.

Bố gom được một số xe hỏng và cũ mang về sửa chữa lại rồi cho thuê. Còn mẹ nhân dịp về quê góp giỗ, đem ý định khôi phục lại nghề. Họ hàng của bố ở làng Lệ Mật thấy có người con dâu vậy quý và nể lắm. Chả là họ sợ nghề rắn bị thất truyền mà.

Ai nghe hoàn cảnh xuất xứ của mẹ cũng khâm phục.

Vốn sinh ra ở làng Chi Đông, một vùng nông thôn đặc sệt, không một chút nghề phụ, thế mà khi lấy bố, không biết do vì yêu thương bố hay vì tính tình dạn dĩ mà mẹ theo ngay được nghề của bố. Khi bố mẹ đưa nhau đến lập nghiệp ở Phúc An, mẹ còn quyết định mở cửa hàng thu mua lại của các thợ bắt rắn ở quanh vùng, chứ không để bố phải dậy sớm thức khuya làm nghề nữa.

- Quê mình (làng Lệ Mật) tiếng là có ông tổ nghề rắn đấy, nhưng nào xem ai ở làng theo nghề ấy mà mở mày mở mặt được? Nhà nào cũng rớt mồng tơi. Trong khi ấy ngoài Hải Phòng chẳng biết đến mai, đến thuổng, đến sào, đến móc mà người nào cũng giàu ú hụ. Phải buôn bán mới khá lên được mình ạ! "Phi thương bất phú".

Chí của mẹ lớn lắm, chả thế hồi năm bốn mươi (1940) mẹ đã đem rắn sang tận Hồng Kông để bán rồi. Nếu không vì chiến sự xảy ra, chắc mẹ đã thành bà chủ hiệu lớn rồi chứ chả chơi.

Bố lo xa:

- Cứ thấy cảnh đấu tố như vừa qua tôi lại hãi.

Mẹ gạt phắt:

- Họ "đánh" là "đánh" những kề nhiều ruộng, bọn cường hào ác bá chứ đánh gì nhũng người buôn bán tẹp nhẹp? Mà mình chỉ nhặt nhạnh thu gom, mua đi bán lại chứ bóc lột ai đâu mà sợ?

Để manh nha mở lại cửa hàng thu mua các loại động vật, mẹ tới các làng có thợ bắt rắn để thông báo cho họ. Được một thời gian, tuần nào mẹ cũng có rắn, ba ba, tắc kè.. Mang về quê nội bán cho những người ngâm rượu làm thuốc.

Tuy công việc nhà bận như vậy mà bố không hề quên chuyện học hành của con cái. Chính quyền vừa thông báo khai trường, bố làm đơn xin cho anh trai và tôi đi học. Không mất tiền nhưng phải thi.

Anh trai học giỏi, thi một nhát vào ngay lớp năm, còn tôi ì ạch mãi mới được nhận vào lớp ba. Thằng "tên" nhìn bài thi của tôi chép miệng:

- Tưởng cậu học thế nào? Đến diện tích cái hình thang còn không giải nổi.

Tôi chìa bài chính tả cho nó xem:

- Chẳng qua tại bọn Tây tớ phải bỏ học nên lâu ngày quên, chứ cậu không thấy bài chính tả của tớ chữ đẹp như thế này à?

Thằng "tên" bĩu môi:

- Cũng may có những mảnh gai mít, cái roi dâu, cái thước sắt của ông giáo mà cậu mới viết đẹp được như thế. Tớ ghi nhận - Nó gật gù nói tiếp - Nhưng cuộc sống cần gì chữ đẹp? Như mẹ đấy! (hơi tí nó lại đưa mẹ ra ví) chữ chẳng biết mà tính toán giỏi như thần. Dốt toán như cậu chắc nay mai tớ phải đói lây?

Kể ra nó nói cũng đúng. Một nửa vì tôi dốt toán, còn nửa kia nếu thầy giáo trường tư không rèn làm sao chữ tôi viết đẹp như thế được? Có cái, chữ đẹp không gánh được toán dốt. Mười điểm chữ viết không san cho điểm 0 toán. Nhưng cần gì! Không vào nổi lớp bốn thì học lớp ba! Đằng nào mà rồi chẳng học đến? Tôi mặc cái tên lải nhải, lấy túi dết dì khâu bằng vỏ bao vải đựng rắn cho sách vở, bút mực vào. Bố dặn:

- Trường này do Nhà nước mở, không như trường của ông giáo ngày xưa đâu mà nghịch ngợm. Bị đuổi học là bố không xin lại được đâu!

Tôi hỏi bố:

- Ông giáo có dạy học nữa không hả bố?

Giọng bố buồn như người đưa đám:

- Ông ấy chết ở chiến trường Điện Biên Phủ rồi. Trốn lính ở đây về quê cũng không thoát. Lão Lý trưởng tư giấy về tận quê truy nã. Giá ông ấy còn sống thì tốt biết bao. Nghe nói các trường học bây giờ thầy giáo thiếu lắm. Có người phải dạy một ngày hai lớp. Con cố mà học Thừa nhé!

- Gớm! Dặn gì mà dặn nhiều vậy? - Mẹ nói vào - Cu Thừa bây giờ lớn rồi, đâu như hồi Pháp thuộc mà phải dặn mãi.

Nỗi buồn vì tin thầy giáo cũ chết thoáng qua nhanh, tôi vênh mặt như thừa nhận mẹ nói đúng! Dì đưa tôi ra hè dúi cho quả hồng ngâm:

- Buổi học đầu tiên cu Thừa cố lấy điểm mười nhỉ!

Tôi cầm quả hồng tung hứng trên tay, đầu chợt nghĩ: "Có cái làm lựu đạn để nện nhau rồi đây".

Một con bé lạ hoắc ngồi trước mặt. Nó không phải dân thị xã. Ở thị xã này đứa nào mà tôi chẳng biết? Con bé chải tóc rẽ ngôi tết đuôi sam thành hai dải, không thắt nơ mà buộc dây nịt, đuôi tóc vàng như lông bò cong vắt như khiêu chiến; cái gáy trắng nõn như gáy dì mỗi lần gội đầu. Tôi bỗng thấy ngứa tay, liền rút trong túi quần ra chiếc dây nịt cao su màu đỏ đã được ngâm xăng trương phềnh; mở vở xé giấy gấp "đạn". Dùng hai ngón căng dây cao su làm súng, mắc đạn nhằm cái gáy trắng ngần.. Bắn. Viên thứ nhất trúng đuôi gà ngỏng. Mặc! Nó coi như không có gì. A, con này gan lỳ. Tôi mắc thêm một viên, co, bật mạnh. Lần này "viên đạn" trúng đích, cái gáy trắng giật mạnh, in một nốt đỏ lừ. Tôi giấu nhẹm "khẩu súng" xuống ngăn bàn. Con bé ngoảnh lại. Tôi sung sướng nghĩ sẽ được ngắm khuôn mặt cau có như khỉ ăn gừng kèm theo câu chửi đổng hoặc một lời văng tục gì đấy. Nhưng không, trên khuôn mặt bầu bĩnh, đôi mắt ngơ ngác như bê non và tiếng nói còn nhẹ hơn gió thoảng:

- Đừng anh! Đau em.

Tôi thề với bạn đọc rằng, chưa bao giờ tôi được nghe lời nói dịu dàng, êm ái có sức thuyết phục đến như vậy. Tôi vẫn thường cho lời ru hời của dì là êm dịu nhất. Nhưng, so với bốn tiếng vừa thoát ra từ miệng con bé ngồi kia, thì lời ru của dì chưa là gì cả! Âm thanh ngưng đọng trong veo, hơn cả nước mưa bố hứng; thì thầm da diết, hơn cả những câu đồng dao dì nựng. Lời nói nũng nịu kia làm tôi lúng túng, cho tôi thấy mình là kẻ tầm thường, nhỏ nhoi.. Tôi bỗng biến thành chàng Dế Mèn trong truyện "Dế Mèn phiêu lưu ký" của ông Tô Hoài; kệch kỡm, hợm hĩnh và trơ tráo. Giá lúc đó có gương soi, tôi tin chắc khuôn mặt của mình không khác gì khuôn mặt của chàng Dế Mèn bị võ sĩ Bọ Ngựa dạy cho một bài học.

Giờ ra chơi, tôi tránh gặp con bé, rủ mấy đứa bạn ra sân đá cầu chinh. Tụi tôi cởi phắt quần dài cho dễ đá. Nói về tất cả các môn chơi thì đá cầu tôi "mả" hơn cả! Bao giờ chơi tụi bạn đều bị thua. Cả bọn xúm quanh nhìn tôi đá, có đứa còn làm trò cho tôi đá hụt. Nhưng, tôi đá như múa, hai chân như một, lúc bổng lúc sa, quả cầu tua rua bay rập rờn, rơi xuống đầu, vai, bàn chân, gót.. Đã sắp thắng, còn gần một trăm lần nữa. Bỗng dưng, tôi có cảm tưởng như có ai đang nhìn. Liếc, tôi bắt gặp đôi mắt bê non nhìn chằm chằm. Lúng túng, mất đà tôi để quả cầu rơi xuống đất. Bọn bạn ồ lên tiếc rẻ:

- Còn có năm mươi quả nữa là hết "phùa". Hôm nay mày sao thế hả Thừa?

Tôi không trả lời, chấp nhận thua, lấy quần mặc định bỏ đi. Tụi con trai thấy tôi không chơi, quay ra chỗ con bé cà khịa. Một đứa trong bọn nói:

- Ê! Con phản động!

Con bé đỏ bừng mặt:

- Không phải!

- Không phải mà bị xử bắn? Ê! Đồ cường hào ác bá!

Tôi hỏi thằng vừa nói:

- Ai bảo với mày nó là con nhà phản động bị xử tử? - Bố tao chứ ai! Nó quê tận Lập Thạch. Bố bị Đội cải cách xử bắn, chú nó gửi xuống đây cho đi học.

Con bé, mặt tím sẫm, không nói không rằng, lẳng lặng đi đến gần. Nhanh hơn tôi nhìn thấy, con bé rút phắt chiếc guốc dưới chân, bất thần nện "bốp" vào mặt thằng vừa nói. Đánh xong, con bé hất hàm nói:

- Có đứa nào muốn nói nữa không? - Đôi mắt đầy uất hận quét lên mặt tôi.

Chuyện thành to, thằng bị đánh giập sống mũi, máu me đầy mặt, nó ôm mặt nhảy rưng rưng kêu gào. Cả trường náo loạn vì vụ xung đột. Cả bọn bị gọi lên văn phòng. Thầy hiệu trưởng già khọm, gọng kính trễ quá sống mũi, gằm mặt nhìn cả bọn qua đôi mắt không kính:

- Ngày đầu tiên đi học đã thế này rồi! Đồ quạ cái, giặc con chứ không phải học trò! Thời này chứ thời trước thì gai mít, roi dâu.

Thầy không đánh nhưng tra hỏi như tra hỏi tội phạm. Con bé không một lời ngoài câu:

- Bố em bị bắn oan, bố em không phải là phản động?

- Gan như cóc tía! - Thầy lầm bầm rồi quay sang hỏi đám học trò để phân định phải trái.

Tụi con trai về hùa với những thằng bị đánh. Thầy Hiệu trưởng không biết bên nào đúng bên nào sai. Nhưng có ý nghiêng về phía thằng con trai. Thầy phân tích:

- Đa số thắng thiểu số!

Khi biết bố thằng con trai đã từng là Đội trưởng đội cải cách, Hiệu trưởng đứng hẳn về phía nó:

- Con cốt cán nòi nói là đúng! Lập biên bản đuổi học!

Con bé bắt đầu khóc. Lạ! Cái lũ con gái hơi tí là khóc! Chắc chúng cứ nghĩ mang nước mắt ra dọa là mọi người sợ, là đổi sai thành đúng? Tôi đang định khó chịu, nhưng nghe tiếng khóc nghẹn ngào, nức nở đầy oan ức và thương tâm tôi lại thấy mủi lòng, giống như khi nghe tiếng nó nói lúc bị tôi dùng nịt bắn. Âm thanh tuy khác, nhưng đồng vọng khắc khoải vì đau đớn, oan khuất. Tôi nhìn ông Hiệu trưởng ngần ngại. Sự ngập ngừng của người trò với người thầy, của trẻ nhỏ với người lớn. Tôi chờn chợn, ngập ngừng sợ sệt. Thằng "tên" từ nãy lặng lẽ theo dõi, thấy thái độ của tôi nó lên tiếng:

- Sao hèn thế cậu? Đọc bao nhiêu sách kiếm hiệp, nào "Giao chì hiệp nữ", "Bồng lai hiệp khách", "La Thông tảo Bắc", "Thủy hử".. Thế bây giờ khí tiết trượng nghĩa nam nhi để đâu hết cả rồi?

Tôi cúi mặt, ra vẻ không thèm để ý. Thằng "tên" nổi đóa thét:

- Đồ hèn! Thật uổng cho công lao Bà Lang và Thầy Mo cứu cậu! Biết thế này ngày ấy tôi và cậu chết quách cho rồi. Sống mà không dám nói ra sự thật thì nhục lắm! - Nói rồi nó chui vào chỗ thường trú vừa gào thét vừa đập chân đập tay ầm ầm.

Nghe nó rủa, tôi bừng bừng lửa giận. Chưa có kẻ nào dám hạ nhục tôi vậy. Nhưng điều nó nói lại khích lệ lòng tự trọng của tôi. Tôi tiến lên trước mặt thầy giáo:

- Thưa thầy!

Cái kính trễ thêm một nấc, đôi mắt thầy như hỏi?

- Thưa thầy! - Tôi nói tiếp - Thằng kia gây sự bắt nạt con bé đầu tiên.

Thầy khó chịu bởi có một đứa dám phản đối lại quyết định đã phán quyết:

- Lúc ấy trò có ở đấy không?

- Thưa thầy, con tận mắt chứng kiến chúng nó khà khịa trước! - Tôi nói dứt khoát.

- Đã nhắc thời đại bây giờ học trò không được xưng "con"! Phải xưng "em" hiểu chưa - Nhắc nhở xong thầy hỏi tiếp - Thế tại sao đa số các em lại nói vậy?

- Con.. Ààà em sẽ bắt chúng nó phải khai thật! - Tôi quay lại trừng mắt nhìn tụi con trai.

Chúng nó co cụm thủ thế, người quay nghiêng hướng ra cửa văn phòng định chạy, còn mắt thì hết nhìn thầy lại nhìn tôi. Tôi quắc mắt:

- Chúng mày là đồ hèn! Bắt nạt một đứa con gái mà không biết xấu hổ! Thằng nào không nói sự thật sẽ "ăn" cái này! - Tôi vén tay giơ nắm đấm cố lên gân cho thớ thịt căng ra.

Hiệu trưởng sợ sẽ có đánh nhau to, tiến lên ngăn tôi lại:

- Không được gây sự, để thầy hỏi - Ông quay lại - Các em, trò này nói có đúng không?

Tụi con trai đứa nọ đùn đứa kia, mồm lí nhí:

- Thưa.. Thưa.. Thưa thầy - Một đứa miệng lắp bắp, chợt nó nhìn thấy tôi trợn mắt, khuỳnh tay dứ nắm đấm dọa, nó nói vội - Thưa thầy, thằng Thừa nó nói đúng đấy ạ! Thằng kia gây sự trước!

Hiệu trưởng gườm gườm nhìn đám học trò một lượt rồi quay về bàn vo viên tờ biên bản:

- Tạm thời bảo lưu ý kiến lại. Bây giờ các trò về lớp - Rồi gửi theo một câu dọa - Nếu lần sao còn thế này thì tôi sẽ đuổi cả hai.

Con bé chạy theo tôi:

- Em cảm ơn anh Thừa! - Mắt nó chớp chớp vẻ cảm động.

Tôi ngoảnh đầu thoáng nhìn nó rồi quay lại rảo bước. Người quân tử, kẻ trượng nghĩa làm ơn không cần trả! Tôi bước đi, tưởng tượng bắt chước một nhân vật trong truyện kiếm hiệp, nhưng không tài nào nhớ ra rạch ròi được, vì trong truyện chưa thấy tả cách đi mà chỉ kể: Sau khi làm xong việc nghĩa, những bậc đại trượng phu hay hiệp khách đều bay lên nóc nhà hoặc phi thân lên cây rồi khuất dần mà tôi thì chưa luyện được khí công, chưa học cách phi thân nên đâm ra luống cuống, chân phải bước vội, đá vào chân trái suýt ngã. Đang khi, bên tai vang lên lời nói của thằng "tên" :

- Được đấy!

Tôi nghe mà không hiểu nó khen hay nó giễu? Mặc!

Mặt tôi vênh váo, tỉnh bơ như chưa nghe thấy gì.

Chương bốn - 3
 
Chỉnh sửa cuối:
282 ❤︎ Bài viết: 1159 Tìm chủ đề

Chương bốn - 3​


20261004-141251-523d2b7f09.png


Chương bốn - 3

Có mỗi chuyện Chủ tịch xã đưa cán bộ ra tham quan đầm Vực, mà hôm sau có tin đồn ầm xã chuẩn bị bán đất cho công ty nước ngoài. Dân chúng xô nhau ra san đất dựng lều, đào hố trồng cây để mong được đền bù.

Nghe báo cáo, Chủ tịch xã lắc đầu:

- Không ngăn lại sẽ xảy ra đánh nhau.

Quả vậy, cả hai thôn ùa nhau ra tranh cướp đất. Hôm nay rào, mai bị phá. Mối hiềm khích từ đận tranh chấp phi công Mỹ lại bùng phát. Cán bộ xã bất lực, dân chúng bỏ cả đồng áng để mưu lợi.

Mẹ hỏi bố:

- Dân làng ra xí đất cả, còn nhà mình thế nào?

Bố dênh đứa con gái nhỏ của em cho nó ngồi lên vai:

- Ai thích tranh ra mà tranh, mấy ông cháu tôi chả thèm!

Con bé thích chí nhảy nhảy trên vai ông, toét miệng cười, thằng anh từ trong nhà chạy ra nói như khoe:

- Hôm qua thanh niên thôn mình đánh nhau với thanh niên thôn Quyết Thắng, một đứa bên ấy chảy cả máu đầu. Cháu thấy cả con lớn của ông cả, bác ấy đánh có võ lắm ông ạ!

- Chết! Sao cháu dại thế? "Nhỡ chẳng phải đầu cũng phải tai" - Bảo cháu xong mẹ quay lại hỏi bố - Sao chuyện tày đình vậy mà bố cái Linh không biết?

- Chỗ ấy bây giờ là "tự do", đánh nhau là chuyện cơm bữa! Còn thằng con ông cả nhà mình thì ngỗ ngược lắm! Bố nó nói nó không nghe huống gì là tôi? Biết thế ngày xưa cứ "tống" đi cho bộ đội rèn giũa.

- Thế Chính quyền đâu mà cứ để vậy? - mẹ hỏi.

- Các anh ấy còn đang bàn mẹ ạ! - Em nói - Làm cán bộ mà dân tình thế này cũng vất vả lắm - Em kéo thằng bé vào lòng - Lần sau đi học về thẳng không được rẽ ngang rẽ ngửa hiểu chưa!

- À, mẹ ơi, bác Chủ tịch xã có họ với nhà mình hả mẹ?

- Ai nói với con vậy?

- Bọn cùng lớp với con bên Quyết Thắng nói.

- Chúng nó nói bậy đấy! Con đừng nghe.

- Nhưng bác ấy gặp con ở trường hay hỏi chuyện lắm.

- Con không được gặp! - Em cáu - Ai cho cái gì không được lấy nghe chưa? - Nhưng nói xong em chợt thấy mình vô lý.

Thằng bé tiu nghỉu ngồi phịch xuống hè. Nghe, mẹ nhìn bố nói lảng:

- Những người ấy thế nào chứ nhỉ? Không phải đất của mình cứ làm phứa!

- Thế mới nên chuyện - Bố trả lời, con bé gục trên vai ông ngủ, dãi chảy dề dề.

Em đứng dậy:

- Bố đưa cháu cho con đặt nó vào giường - Em đón nó nựng - Con gái ra với mẹ nào, lớn quá rồi mà vẫn bắt ông bế.

Vào đến giường em còn nghe tiếng bố dỗ thằng bé.

- Bác Chủ tịch thấy cháu của ông ngoan và học giỏi thì quý, chứ có phải tại cháu đâu mà mẹ mắng nhỉ!

Em ôm đứa bé nằm xuống, nước mắt ứa ra.

Chiều, đến Ủy ban nộp ảnh, Phó Chủ tịch than phiền:

- Rõ khổ! Hết chuyện này lại tới chuyện khác. Suốt ngày giơ đầu chịu báng. Năng lực cán bộ xã yếu, chi chi hà sự độc một tay cậu ấy lo.

Em hỏi:

- Tình hình vậy giải quyết ra sao hả cô?

- Mình thì lo quýnh còn cậu ấy cứ bình chân như vại: "Đâu vào đấy hết!".

Em về, ra tới cửa đối mặt, Chủ tịch dựng vội xe máy:

- Có ảnh rồi hả Linh?

Em lạnh lùng:

- Tôi giao cho Phó chủ tịch rồi!

- Linh sang lấy ảnh mang giúp tôi sang phòng - Không để cho em kịp từ chối, Chủ tịch đi vào nhà. Lưỡng lự một chút, em đành quay lại phòng Phó chủ tịch lấy tập ảnh mang sang. Phó Chủ tịch dặn:

- Tế nhị một chút Linh ạ! Dạo này cậy ấy vất vả lắm đấy!

Tế nhị! Ai mà thèm? Em đặt tập ảnh lên bàn rồi quay ngoắt đi ra. Một tiếng gọi níu chân em lại:

- Ấy, tôi nhờ Linh cái này.

Em quay lại:

- Anh cần gì?

- Thì Linh cứ ngồi xuống đây một lát đã - Chủ tịch kéo ghế.

Em đẩy rộng hai cánh cửa rồi mới ngồi. Chủ tịch cầm cốc nước.

- Linh uống nước.

- Tôi không có thời gian, nói gì anh nói đi! Nhưng tôi giao hẹn trước: Không nói chuyện riêng tư.

- Tôi đồng ý! Chủ tịch xã mở đầu - Thế này Linh ạ, Ủy ban muốn giải tỏa khu đầm Vực, nhưng trước khi cưỡng chế muốn giải thích cho dân hai thôn hiểu đã..

- Đấy là việc của Ủy ban, can dự gì đến tôi? - Em ngắt lời.

- Đúng là việc của Ủy ban, nhưng trách nhiệm là trách nhiệm chung..

- Cần gì anh cứ nói thẳng! Đừng vòng vo Tam Quốc.

- Ủy ban ra nghị quyết tổ chức một ban giải tỏa khu vực đầm Vực, muốn Linh tham gia.

- Thì Ủy ban cứ làm công văn cho Phòng Nông nghiệp huyện. Ngành dọc đồng ý thì tôi làm.

- Không, tôi muốn Linh giúp đỡ xã.

Em đứng dậy:

- Đấy là ý của anh, còn tôi phải suy nghĩ đã! - Nói xong em đứng dậy bước ra cửa.

Về nhà, em kể, bố trầm ngâm:

- Thế là cậu ấy khôn đấy! Kết hợp vận động là đúng! "Lạt mềm buộc chặt". Đất vùng này từ xưa có tiếng là "nghịch", nhỏ nhẹ mới được chứ đao to búa lớn không được đâu.

Em nói với bố:

- Con là đảng viên, bị phân công chẳng nhẽ lại không tham gia, chứ nếu chỉ riêng ý kiến của Chủ tịch con thèm vào.

Bố mắng:

- Ăn nói hàm hồ! Không phải là đáng viên thấy việc lợi vẫn phải nhảy vào. Phải tự nguyện chứ! Tao là Bí thư mà mày có tư tưởng ấy, tao khai trừ!

Mẹ nguýt:

- Con Linh sang nói với Ủy ban kết nạp ông ấy vào Đảng!

- Ấy chớ! - Bố xua tay - Nếu vào tôi đã vào từ trong chiến trường rồi! Nhưng nghĩ mình chẳng học hành gì, trình độ a, b, c, vào chỉ tổ vướng chân.

- Thế sao ông thông thế? - Mẹ hỏi.

- Thì Đảng cũng từ dân mà ra chứ có phải người ở trên trời rơi xuống đâu! Thấy cái gì lợi cho dân cho nước thì làm.

Bố nói như giảng viên trên huyện về nói chính trị ấy! Em nghĩ.

Ban giải tỏa được thành lập. Bí thư xã người làng Quyết Chiến phụ trách Trưởng ban; phân công Phó Chủ tịch làm phó; tổ viên chia đều, mỗi thôn một nửa. Chủ tịch khôn thật, chơi chéo giò. Chả là họ hàng bí thư có đến nửa trong danh sách lấn chiếm; bên Quyết Thắng họ hàng Phó Chủ tịch cũng chẳng kém là bao. Em được phân công với tư cách vừa là nhân viên đồng thời chụp ảnh lấy tư liệu.

Khu đầm Vực nhộn nhạo, những ngôi nhà làm vội, quét vôi nham nhở, vậy mà đã có mấy cái lều đề biển sửa xe máy, cắt tóc gội đầu, thậm chí còn có hẳn một cửa hàng chôn cọc gỗ trải sạp gỗ lên mặt đầm. Không biết làm thế nào mà họ kéo được cả điện lưới để hành nghề. Đêm đêm không khí sinh hoạt nhộn nhạo, tiếng loa đài ầm ầm. Bí thư gãi đầu, vuốt tai:

- Trước tiên phải cắt điện. - Ông làm công văn gửi Chi nhánh điện.

Không có điện danh chính ngôn thuận, tối, họ rải dây lấy sào "câu trộm". Phó Chủ tịch đưa ra biện pháp tuần tra, kiểm soát, nhưng lực lượng mỏng, được mấy hôm ai nấy nản, đâu lại đóng đấy. Họp rút kinh nghiệm, không có lối thoát. Về nhà, em phàn nàn, bố bảo:

- Các vị ấy dốt! Sao không lấy hương ước của thôn ra vận dụng?

Em mang sáng kiến của bố nói lại với lãnh đạo. Bí thư vỗ đùi:

- Tốt! Thử xem sao?

Bí thư và Phó Chủ tịch triệu tập những người già trong làng đả thông, lấy làm nòng cốt, ai nấy đồng ý, nhưng đều có ý kiến:

- Xã phải công tâm. Giải tỏa không được thiên vị. Còn kế hoạch sử dụng khu đầm Vực thế nào, xã phải báo cáo công khai cho dân cả hai thôn biết được, được sự nhất trí của toàn dân mới thực thi.

Chủ tịch xã nghe Ban giải tỏa báo cáo, cười:

- Bám chắc vào các cụ, xã sẽ mở "Hội nghị Diên Hồng" để xin ý kiến thống nhất các bô lão.

Chương bốn - 4
 
282 ❤︎ Bài viết: 1159 Tìm chủ đề

Chương bốn - 4​


20261004-141418-f03dd86354.png


Chương bốn - 4

Nhá nhem, tôi về tới nơi cơ quan sơ tán. Trưởng phòng hành chính bảo tôi lên gặp thủ trưởng. Tôi đập tay vào cánh cửa tre ép cót.

- Thừa phải không? Vào đi!

Tôi phải công nhận ông ta thính tai, chỉ nghe chân bước đã biết là ai. Tôi đẩy cửa:

- Báo cáo..

- Ngồi.. Ngồi.. Ngồi, chuyện báo cáo để lúc khác! Bây giờ thế này nhé! - Ông đặt chiếc đèn phòng không xuống bàn uống nước rồi rút điếu cày để trong bồ, nhúm thuốc lào vê vê - Mình thảo xong báo cáo rồi, đêm nay cậu viết lại cho mình, khi viết có gì ta trao đổi luôn. Tình hình căng lắm rồi, không có hướng giải quyết dễ bị tụi phản động xuyên tạc lắm! - Thủ trưởng nhìn tôi như cảm thấy lỡ lời.

Tôi vẻ không chú ý, châm đóm đưa cho ông:

- Tất cả độ mấy trang hả thủ trưởng?

- Chữ tớ tính trang làm gì! - Cái đóm bùng lên soi bóng lớp da lực điền trên mặt, ông dụi bớt tàn - Cứ bận thế này chưa biết bao giờ mới học hết đít nôm? - Ông rít một hơi dài rồi ngửa cổ thổi thẳng lên trần nhà.

Thủ trưởng đang học giờ bổ túc lớp bốn, đọc Quốc ngữ chưa thạo, hành văn lủng củng, sai lỗi chính tả be bét, nhưng được cái nói tiếng Tây bồi rất giỏi, khi phát ngôn thường pha, đệm, anh em trong cơ quan đùa gọi là ông Tây quăng. Một lần tôi hỏi vì sao thủ trưởng nói tiếng Tây bồi giỏi vậy, ông trả lời: Ngày trước làm cu li đồn điền cao su mãi trong Nam, ai biết tiếng dễ sống hơn nên tập nói thành quen.

Có tiếng xe đạp lạch cạch, thủ trưởng cười:

- Mađam mang cơm cho tớ mănggiê đấy!

Tôi xin phép về nhà một lát, vợ thủ trưởng níu lại:

- Tôi nấu nhiều cơm lắm, hai người ăn đủ.

Tôi liếc "cái đủ" của vợ thủ trưởng đem tới: Cơm độn khoai lọt thỏm trong âu sành, vài miếng cà muối nửa đen ủng, nửa trắng nhợt, kèm vào đấy là bát canh rau tập tàng, hoa mỡ óng ánh dưới ánh sáng đèn:

- Dạ, nửa tháng qua tôi chưa về nhà, phải báo cho dì tôi khỏi nóng ruột.

- Thế sao bà không đi sơ tán?

- Dì tôi bị què nên ngại.

Thế cậu về đi, nhanh lên rồi đến làm cho kịp - Thủ trưởng giục.

Tôi chào rồi khép cửa ra sau nhà dắt xe, khi cúi xuống gỡ mấy sợi rơm vướng ở xích, nghe tiếng vợ thủ trưởng hỏi:

- Sao cậu ta không lấy vợ ông nhỉ?

- Đã suýt làm cháu Bí thư tỉnh đấy!

- Thế sao lại thôi?

- Vướng thành phần gia đình, kết hôn thế nào được!

- Thế cô kia bây giờ ở đâu?

- Lấy chồng rồi! Bây giờ công tác ở văn phòng Ủy ban tỉnh, chồng người miền Nam tập kết, hơi cứng tuổi nhưng là cán bộ cốp.

- Rõ khổ, bố làm con chịu, sao cái thói đời lại ác nghiệt vậy! - Tiếng vợ thủ trưởng buông nặng nề.

- Nghi vấn vậy thôi chứ nào có chứng cớ gì.

Ngại vợ chồng thủ trưởng cho là kẻ nghe trộm, tôi nhấc bổng chiếc xe ra một quãng mới bỏ xuống. Câu chuyện của vợ chồng thủ trưởng bất giác hơi dậy quá khứ và nỗi niềm sâu kín tự đáy lòng tôi..

Hàng ngày nhà tôi có rất nhiều khách tới, bộ đội và cán bộ, chủ yếu là do hiếu kỳ. Họ tới là muốn xem mẹ bắt rắn. Những người phụ nữ dám bắt rắn như mẹ thời ấy hiếm lắm! Mẹ chẳng nề hà, thậm chí còn tỏ vẻ tự hào, mẹ bắt và giảng giải "tính nết, sở thích, đặc thù" của từng loại rắn cho người đến xem. Mẹ nói:

- Dữ nhất là rắn "săn chuột" còn gọi là "rắn dọc dưa" vì trên da nó có nhũng vệt kẻ dài, hay cắn nhưng không độc. Hiền lành nhưng nguy hiểm là rắn "khúc đen, khúc vàng" mà thợ rắn gọi nó là "cạp nong", loại rắn này có đuôi giống đầu, nên nhiều người dễ tưởng là nó có hai đầu, hiền nhưng nếu đã cắn là trúng. Ai bị cắn không buộc chặn nhanh là nọc độc chạy lên đầu. Tuy độc nhưng chữa được. Còn một loại nữa giống nó nhưng khác ở chỗ một khúc trắng, một khúc đen, gọi là rắn "cạp nia", thợ bắt rắn kêu "con đen trắng", dân Tầu ô gọi là rắn "ngũ hành", nghĩa là ai bị nó cắn chỉ bước được năm bước là chết. Loại này gặp, người ta thường đánh chết. Còn loại này - Mẹ bắt một con rắn hổ mang đặt nó nằm xuống nền nhà - Đây là con hổ mang chúa, loại này độc nhất hạng, nhưng cũng đắt nhất hạng. Khi gặp người, nó nhô đầu cao lên - Mẹ lấy tay dứ dứ, con rắn ngóc cao đầu, phè mang, lưỡi phóng nhổ "phì phì", trên đầu con rắn, những nét hoa văn trông như hoa của chiếc cân Tầu ở hiệu thuốc Bắc - Người Hồng Kông ưa loại này, vì nó hiếm và quý nhất trong bộ "ngũ xà".

Một anh bộ đội hỏi:

- Hồi hành quân cháu đánh được một con "hổ mang chì", thế loại ấy có quý không hả bác?

Mẹ trả lời:

- Hổ mang có nhiều loại, loại "hổ mang chì" cũng lấy được nọc độc, nhưng không quý bằng hổ mang chúa, thường để ngâm rượu là chính! - Nói xong mẹ móc trong túi vải ra một con rắn mầu vàng ươm, dài như cái đòn gánh - Đây là loại rắn "leo cây", loại này còn có tên là "rắn ráo" không độc, nhưng nhanh nhẹn nhất trong các loại rắn.

Có người hỏi:

- Thế rắn "hổ trâu" cắn có chết người không hả bác?

Mẹ móc trong bồng tre của người thợ bắt rắn vừa đem tới ra một con rắn to và đen xì:

- Đây là con rắn "hổ trâu", có con nặng đến chục cân kilô. Loại này họ hàng với loài trăn, còn một loại nữa gọi là "hổ chuối", mầu da như bẹ cây chuối bóc, thịt thơm như thịt gà, hiền như đất - Mẹ còn để con rắn lùa lên người quấn quanh đầu, vào cổ trước sự ngạc nhiên và khâm phục của mọi người.

Nhiều rắn, xuất không kịp, bố mua gỗ đóng thành chuồng để nhốt, lấy cót quây tròn thả rắn vào đó rồi úp mẹt lên trên. Những con bị chết, mẹ thuê người thuộc da cất đi. Công việc làm ăn buôn bán có chiều suôn sẻ. Mẹ ước ao:

- Thể nào rồi cũng có chuyến tôi mang hàng sang tận Hồng Kông.

Nhưng ước ao của mẹ không thành sự thật, nỗi lo của bố bỗng hóa thành sự thật. Một hôm, bố nhận giấy gọi lên Ủy ban. Khi về, mẹ hỏi:

- Họ bảo sao?

- Họ yêu cầu kê khai tài sản, chờ cán bộ xuống từng nhà kiểm tra. Kiểm tra xong sẽ cho buôn bán tiếp tục.

Bố thật thà có gì khai thế. Khai xong đem nộp. Được vài hôm sau, một đoàn cán bộ đại diện các ngành, các giới tới nhà, đọc lệnh đóng cửa hàng kiểm tra, lập biên bản thống kê hàng hóa và tài sản:

Xe vận tải kéo tay: 12 chiếc.

Hàng ngoại thương gồm:

Rắn: 1200 con.

Trăn: 10 con.

Ếch: 500 con.

Ba ba: 50 con.

Rùa núi: 10 con.

Tắc kè: 150 con.

Tê tê núi: 5 con.

Kỳ đà: 2 con.

Da rắn đã thuộc khô: 20 kg.

Một người trong đoàn yêu cầu bố, mẹ ký biên bản. Bố biết chữ: Ký, mẹ mù chữ: Điểm chỉ. Trưởng đoàn tuyên bố: Tịch thu. Cả nhà bàng hoàng khi một vị cán bộ nói:

- Mầm mống Tư bản bóc lột!

Chợt mắt ông dừng lại tấm ảnh vợ chồng người lính Pháp tặng gia đình làm kỷ niệm:

- Những người Tây này quan hệ thế nào với ông bà?

Bố tình thực kể. Nghe, vị cán bộ chau mày:

- Ông không biết như vậy ra ông đã giúp bọn xâm lược à?

Câu hỏi khó, bố bậm bục không biết trần tình ra sao. Vị cán bộ ra lệnh:

- Các đồng chí tháo ảnh đem về chuyển sang công pháp để điều tra!

Lệnh ông được cấp dưới chấp hành tắp lự. Còn mẹ sụp xuống, dì nắm chặt vạt váy, mấy chị em thập thò sợ hãi nhìn.

Những người lao công sợ rắn không dám bê. Cán bộ bắt bố làm thay. Thật đúng "nhất cử lưỡng tiện", hàng hóa nhà mình chất lên xe nhà mình. Nhìn lao công kéo xe đi, xót của, mẹ khóc nấc. Vị cán bộ mặc mặc áo Tôn Trung Sơn, mặt dài như lưỡi cày bĩu môi:

- Giành độc lập tự do cho các vị làm giàu hả? Còn oan lắm hay sao mà khóc?

Cán bộ yêu cầu bố áp tải hàng hóa lên Ủy ban. Mẹ nghĩ bố bị bắt đi tù, chạy theo gào như hóa điên. Một người công an chặn lại:

- Nếu không có tội sẽ trả về.

Mẹ đổ bệnh, ốm liệt giường, cơm không ăn, nước không uống. Dì giã rau má chắt cho mẹ uống vẫn không đỡ. Nửa tháng sau bố về, mặt buồn rượi:

- Nghe họ giảng giải thì đúng là nhà mình thuộc diện bóc lột thật! Không cẩn thận còn bị quy thành phần tiểu tư sản. - Bố kể - Họ nhân động vật thành tiền; đánh giá trị mười hai chiếc xe kéo hoán vị thành tiền công gộp lại rồi công bố nhà mình có nhiều tiền nhất phố.

- Còn cái ảnh? - Mẹ hỏi.

- Họ nghi tôi làm gián điệp cho Pháp, cấm không được ra khỏi thị xã trong khi đang điều tra.

Chết nỗi, bị quy thành phần lớp trên, lại mắc tội phản động khó mà thoát vòng lao tù. Mẹ rũ rượi:

- Tôi đã bảo mà ông chả nghe, cứ xe mới chả cộ.

Bố thanh minh:

- Chết là chết cái chỗ rắn, ba ba, tắc kè ấy! Họ nói nó thuộc vào hàng hóa ngoại thương, nhằm phục vụ cho giai cấp tư bản. Chứ giai cấp công nhân là giai cấp cần lao không cần hưởng mấy thứ đó.

Lý lẽ của họ được bố truyền lại làm mẹ không khóc nổi. Dì gàn:

- Thôi mà anh chị, đằng nào sự việc cũng xảy ra rồi!

- Còn dì nữa! Dì ám cái nhà này đến bao giờ nữa? - Mẹ vặc dì.

Đúng là "giận cả chém thớt", "chuyện nọ dọ chuyện kia", dì lấm lét nhìn bố trách móc rồi đi ra sau nhà sụt sịt bưng vạt áo chấm nước mắt. Tôi đồ rằng việc mẹ quặc dì thể nào cũng dính dáng tới chuyện xảy ra giữa dì và bố.

Đêm đêm mẹ ôm đầu kêu gào vì đau, bố phải lấy kéo cắt trụi tóc cho mẹ đỡ; dì mang hương hoa lên chùa Thông khấn vái, rồi xin nước thải cho mẹ uống, lấy lá ngải cứu rang với muối bóp thái dương, lót đầu cho mẹ gối nhưng không đỡ. Bệnh tình hành hạ mẹ ngày đêm. Người đến chơi khuyên đi tìm thầy cao tay hơn. Dì nhìn bố, bố thở dài. Người tài có thể chữa được bệnh cho mẹ toàn ở tận Cao Bằng, Bắc Kạn.. Bố lấy đâu tiền mà đi?

Mắt mẹ lòa dần rồi mù hẳn, những thứ thuốc lá trong vườn, vệ cỏ và hoa thải hương thừa, nước thải xin ở đình chùa không chữa được cho mẹ khỏi. Bố nhờ người võng mẹ vào nhà thương. Một người mặc quần áo bờ - lu trắng hất hàm hỏi bố:

- Thành phần gì?

Bố ấp úng:

- Thưa.. Thưa còn đang chờ ạ?

- Đang xét hả? Như vậy thuộc diện nghi vấn, chưa rõ thành phần. Thôi, khênh về! Có xác nhận của địa phương hãy mang vào. Nhà thương chỉ dành cho nhân dân lao động. Tầng lớp bóc lột không có tiêu chuẩn!

Bố làm đơn trình địa phương, không ai dám xác nhận. Việc bị thu giữ tài sản loang khắp thị xã, gia đình tôi thuộc tầng lớp khác mọi người. Chỉ vì mấy trăm con rắn, ba ba, tắc kè với chục chiếc xe kéo tay bằng gỗ mà mẹ không được vào nằm viện. Bố mời thầy lang, thầy lang ngại liên lụy từ chối khéo:

- Bệnh bà nhà để quá mất rồi, tôi cũng bó tay.

Bố thở dài:

- Giá Bà Lang còn sống đến bây giờ chắc bệnh mẹ qua khỏi.

Nghe bố nhắc, hình ảnh Bà Lang và Thầy Mo lướt nhanh trong óc tôi. Ừ, giá mà còn cả hai người thì mẹ tôi khỏi ngay! Đến sắp chết như tôi mà còn khỏi nữa là.. Nhưng ước thế thôi, mong thế thôi. Bà Lang và Thầy Mo bây giờ chắc đã đầu thai sang kiếp khác.

Cuối năm ấy, gió bấc thổi lạnh như chưa bao giờ lạnh như thế. Mưa quất trên mái gianh từng chập, từng chập, sàn sạt, sàn sạt. Rét quá, tôi xuống bếp nằm ổ rơm với dì, vừa ấm vừa được nghe kể chuyện. Một đêm, đang ngủ say thì dì lay:

- Thừa! Dậy đi, mẹ cháu mất rồi.

Tôi ngồi phắt dậy dụi mắt ngó ra: Đèn đuốc sáng trưng, lố nhố những người là người. Dì quấn vào cổ tôi chiếc khăn mỏ quạ:

- Có thương mẹ thì cũng đừng khóc vội, chờ đến khi phát tang nhập quan hãy khóc! - Dì dặn tôi đừng khóc nhưng lời dì nghẹn ngào còn hơn cả khóc.

Mẹ nằm duỗi dài trên tấm phản gỗ kê giữa nhà, mặt đậy tấm vải xô, hai ngón tay cái được buộc bằng sợi vải đặt lên ngực, hai ngón chân cũng ràng vào nhau. Bố ngồi bên, tay bó gối mặt úp xuống đùi, vai rung từng hồi như người bị lên cơn sốt. Đầu giường, đặt bát cơm, quả trứng, cắm thanh tre vót thành từng sợi cong vút cùng vài nén hương cháy lập lòe, mùi thơm tỏa mang cảm giác cô quạnh, lạnh lẽo. Cạnh giường mẹ, chiếc quan tài há hoác miệng chờ.

Ai đó khoác lên người anh em tôi tấm áo xô, đội lên đầu chiếc mũ rơm, và ấn vào tay chiếc gậy gỗ xoan đã lột vỏ. Anh trai nắm tay tôi thật chặt, mắt đỏ hoe, răng bậm môi muốn bật máu; các chị gái ngồi bệt xuống nền nhà, ấp khăn trắng vào mặt nấc nghẹn. Tôi nhìn thấy tất cả mà ngỡ mình mê ngủ.

Tiếng kèn, trống đột ngột vang lên, cùng với tiếng kèn, trống là tiếng nấc nghẹn cổ nén nay bung òa thảm thiết; thanh âm hỗn hợp quyện chặt khắc họa không lớp lang mà thảm khốc, mà ai oán làm sao! Dì và các chị lăn lộn dưới đất nức nở, giọng lạc đi trong lời than trách số phận người chết và ân hận kể lể, tự vấn tội lỗi của người đang sống.

Nhạc liệm đánh thức sự u mê, tôi không khóc mà nước mắt rơi lã chã, cố kìm nén nỗi buồn thương não nuột ùa vào trái tim xót xa. Khi thân xác mẹ được nhấc lên đặt vào quan tài, trong khoảnh khắc, tôi bỗng thấy buốt nhói tâm can, cảm giác hẫng hụt, bơ vơ, côi cút ứ trào. Không kìm nổi, tôi bật lên tiếng gào thảm thiết:

- Mẹ ơi!..

Đồng thanh cùng tôi là tiếng thét đớn đau của thằng "tên". Bản mệnh cùng một mẹ cho hai đứa xích lại, hòa nhập nỗi tiếc thương vô hạn, âm hưởng tôi, nó trong lúc quá khổ đau đã tìm được tiếng nói chung. Mẹ ơi! Tôi, nó lăn xả vào quan tài, muốn níu mẹ lại. Sự hiếu đễ của chúng con đối với mẹ chẳng nhẽ chỉ là những giọt nước mắt thương tâm này thôi ư? Bài học dạy về đạo lý làm người chúng con vừa học thuộc, chưa kịp lớn lên mong báo đáp công sinh thành, sao mẹ nỡ ra đi?

- Đáp lại lời than trách: Gió thổi, mưa bay, cả bầu trời tối đen như mực.

Chương bốn - 5
 
282 ❤︎ Bài viết: 1159 Tìm chủ đề

Chương bốn - 5​


20261004-141558-c3ba089542.png


Chương bốn - 5

Một chiếc xe con bốn chỗ ngồi mầu trắng đỗ giữa sân Ủy ban. Khi em bước vào văn phòng, Chủ tịch nói như reo:

- A, cô Linh đây rồi - Chủ tịch quay sang nói với ông khách trung tuổi, cao lớn, ăn mặc sang trọng - Đây là người tôi vừa nói với ông. Còn ông đây - Chủ tịch giới thiệu - là kiều dân từ Mỹ về thăm Tổ quốc.

Ông khách đứng dậy nghiêng mình chào rất lịch sự làm em ngượng:

- Do quan hệ ngoại giao của hai nước - Ông Việt kiều nói - Nên mặc dù trao đổi thư từ với ông Chủ tịch từ lâu, nhưng bây giờ tôi mới có điều kiện. Mong các vị thông cảm.

Tuy chưa hiểu, nhưng tự nhiên con tim em đập loạn xạ, linh tính như mách bảo sẽ có điều hệ trọng xảy ra.

Ông Việt kiều trịnh trọng đặt lên bàn một chiếc hộp sắt tây đã gỉ cũ:

- Thưa, đây là di vật của cha tôi để lại, và cũng là lời di huấn ông muốn chúng tôi thực hiện trước khi qua đời.

- Thưa ông - Em hỏi - Thực tình là tôi chưa hiểu.

Vị Việt kiều quay sang nhìn Chủ tịch. Chủ tịch gật đầu với ông quay sang em, nói:

- Thế này Linh ạ. Tôi có nhờ đài Tiếng nói Việt Nam nhắn tìm thân nhân, và được ông đây gửi thư phúc đáp về trường hợp mất tích của bà ngoại Linh. Thời gian trao đổi cũng đã lâu, nhưng vì quan hệ quốc tế có những điều kiện chưa thể. Vả, ngày xưa tên làng mình tên tục thường gọi Kẻ Đống, làng tôi là Kẻ Gò, sau thời Cách mạng Tháng Tám mới đặt lại tên là Quyết Chiến, Quyết Thắng như bây giờ. Tôi ngại có sự lầm lẫn nên muốn để xác định thật chính xác mới nói cho gia đình bên nhà biết. Sáng nay khi nhận điện thoại, tôi có ý định tổ chức mời cả ông bà thân sinh của Linh đến Ủy ban, nhưng sợ ông bà bị sốc, nên muốn báo tin cho Linh trước..

Em không còn nghe Chủ tịch nói gì nữa. Tình cảm máu thịt và những nỗi niềm sâu kín trĩu nặng ùa vào lòng quặn thắt, nước mắt trào ra xối xả. Bà ơi! Mẹ cháu đã tưởng mất bà vĩnh viễn. Quá khứ như vầng mày u ám che kín bầu trời, không một tia hi vọng, không một lời giải đáp. Đã bao năm, mẹ cháu sống trong nỗi dằn vặt, thắc thỏm vì dĩ vãng và những lời đồn hư hư thực thực.

Chủ tịch đến bên em nhỏ nhẹ:

- Nín đi Linh, chúng ta còn phải làm rất nhiều việc nữa để cho bà được ở đúng vị trí xứng đáng với công lao mà bà đã hy sinh vì đất nước này.

Bất giác, em gục vào vai Chủ tịch nghẹn ngào, bờ vai vững chãi và thân thiết làm sao. Bao hờn giận xưa tan biến, nhường cho niềm cảm kích và lòng biết ơn. Ngước đôi mắt nhòa nhạt nhìn Chủ tịch, em thấy lại bóng hình Tổ trưởng, cũng khuôn mặt và vầng trán cao ấy, cũng lời nói đầm ấm dịu dàng ấy! Bất giác em muốn nhào vào lòng mà hờn và dỗi.. Nhưng em không dám, giữa em và Chủ tịch là khoảng cách, ví như đầm Vực và Bãi Giữa, tuy cùng khoảnh nhưng cách biệt mênh mông là nước và bùn lầy. Em bải hoải như lả đi.

Vị Việt kiều cúi xuống nâng em dậy, em sụp xuống ôm ghì lấy chân ông mà nói:

- Ngàn vạn lần cháu cám ơn chú! Chú ơi! Mẹ con cháu mong chờ cái ngày này mãi. Chú là ân nhân, là thánh sống cứu cả gia đình cháu! Suốt đời này mẹ con cháu sẽ chẳng bao giờ quên ơn của chú.

Vị Việt kiều lần nữa, cúi xuống nâng em lên, nước mắt ông trào ra thấm đẫm vai áo em, giọng ông nghẹn ngào:

- Sinh thời cha tôi kể lại, trước đây ông là người coi chùa Thập Phương ở tỉnh Phúc An. Sau đấy vì thời cuộc, cha tôi phải lưu lạc tha phương cầu thực vào tận miền Nam rồi bị bắt đi lính. Năm bảy nhăm (1975) ông đưa gia đình đi tản sang Mỹ. Những năm cuối đời, ông rất muốn hồi hương, nhưng phần vì quan hệ của hai nước, phần vì bệnh nặng ông không thực hiện được ước muốn. Trước khi mất cha tôi có dặn: Đời cha không về được thì con phải thay cha mà về. Nếu đời con cũng không làm được thì phải di chúc lại cho đời sau. Chính vì vậy, tôi hứa phải thực hiện bằng được ý nguyện của Người là trao tận tay cho mẹ cháu chiếc hộp này.

- Thưa, chú có biết trong hộp đựng gì không?

- Tôi có hỏi nhưng cha tôi nói: Trong đó có một thứ không đáng giá là bao, nhưng vàng bạc hay tiền của bao nhiêu cũng không sánh nổi.

Chiếc hộp hình bầu dục, màu thời gian ố vàng, ngoài vỏ còn sót lại hình vẽ một con cá nhỏ với hàm răng nhọn hoắt, xung quanh được hàn một lớp thiếc mỏng. Tất cả mọi bí mật về đời bà ngoại em ở trong đó. Cảm ơn trời, hay cho những điều sâu kín ẩn giấu trong đó là điều tốt đẹp nhất. Em chấp tay lên ngực khấn cầu. Cô Phó Chủ tịch đến cạnh vỗ về:

- Linh ơi, cô tin chắc bà ngoại của em là người anh hùng xứng đáng với niềm tin yêu của quê hương mình.

Em cũng tin vậy! Ngoài trời nắng rỡ ràng, gió đầm Vực thổi về lồng lộng, lũy tre làng rập rờn như cờ phướn trong ngày hội in trên nền trời xanh thẳm.

Chương bốn - 6
 
282 ❤︎ Bài viết: 1159 Tìm chủ đề

Chương bốn - 6​


20261004-141716-45edbcae6a.png


Chương bốn - 6

Giữa lúc đó em đến với tôi. Nỗi đau mất cha cho em sẻ chia cùng tôi nỗi đau mất mẹ. Đôi mắt em như ngọn lửa rực cháy sưởi ấm nỗi đơn côi, niềm xa xót trong lòng vơi bớt, tôi nhìn em, em nhìn lại, đôi mắt như muốn nói: Hành động bênh vực của anh còn cao thượng hơn những gì em đang làm! Tôi nhìn em như muốn đính chính: Nỗi đau mất cha của em còn đau đớn hơn nỗi đau mất mẹ của anh! Thấy vậy, thằng "tên" nói:

- Đừng so sánh ai đau đớn hơn ai! Đã lâm vào cảnh chia ly tử biệt thì nỗi đau làm gì có giới hạn, làm gì có cung bậc thương tâm.

Tôi thừa nhận điều này thằng "tên" nói đúng.

Em tới, dì tỏ ra thân thiết, các chị coi như người ruột thịt. Riêng anh trai nhìn hai đứa bằng con mắt ngỡ ngàng. Và, anh trai bỗng nhận ra thằng Thừa của anh đã lớn! Anh trìu mến nhìn tay em, tay tôi cùng nắm chiếc gậy gỗ xoan đang chống. Mưa ngày thêm nặng hạt, gió mỗi lúc một thốc thảo; phướn cờ của các vãi trong chùa Nhuế phần phật như muốn bứt bung khỏi tay. Cả đoàn người liêu xiêu, dẹo dọ. Mây trên trời tầng tầng xám ngắt, những túi nước treo lơ lửng nặng trĩu. Thi thoảng, từng vệt chớp xanh lẹt loằng ngoằng vẽ ngang vẽ dọc, kèm sau đấy là tiếng sấm sét ùng oàng giận dữ. Nước sũng sượi từ chiếc mũ tang chảy xuống ròng ròng. Em cởi khăn quàng cổ lau mặt cho tôi. Có em dường như tôi thấy bớt lạnh, những bước đi giật lùi nhẹ nhàng hơn. Tôi không nhớ em dìu tôi đi như thế bao lâu mới ra tới huyệt mộ? Chỉ biết hôm ấy, hai đứa như hòa làm một, không khoảng cách, không e dè. Có lẽ bởi em và tôi có cùng một nỗi niềm chăng?

Tôi bàng hoàng khi sợi dây thừng của người phu huyệt thả chiếc quan tài xuống sâu ba thước đất. Tiễn mẹ đi là tiếng vọng não nùng của kèn nhà đám. Đất chưa lấp mà tiếng khóc đã tràn đầy ứ huyệt; dưới đáy huyệt, thần chết nở nụ cười mãn nguyện! Đám cưới của vương quốc Âm Thần Địa phủ bắt đầu; những mảnh đất đen lăn bồm bộp, nghe khô khốc, lạnh lùng đưa mẹ vào hố sâu ngăn cách giữa thế giới vô hình và hiện hữu.

Thằng "tên" cùng tôi như không biết gì nữa, lả ngất trước sự cười cợt của gã Thần Chết - Ma Vương của địa phủ. Tiếng cười của gã không thanh âm mà rùng rợn hơn cả kèn nhà đám; vô cảm, lạnh lùng, tàn nhẫn.

Tôi thấy mẹ từ trong mộ bước ra, ngước mắt trăng trối lưu luyến nhìn những người thân đưa tiễn. Trước giã từ, mẹ hoàn nguyên như thuở thời con gái, nơi thôn trang yêu dấu. Cô thiếu nữ khuôn mặt bầu bĩnh non tơ duyên dáng, rực rỡ như nụ tầm xuân, dịu dàng óng ả, cổ kiêu ba ngấn, yếm trắng trễ, hé mở vầng ngực thanh xuân trắng nõn trắng nà, eo lưng thắt đáy. Xênh xang trong chiếc váy nhuộm bùn và tấm áo cánh mầu huyết dụ, chiếc khăn nhiễu như kén chín ươm vàng rập rờn trước gió. Tiếng hát của cô nhuộm sắc hoa gọi tiết xuân về. Biết bao trai làng thầm mơ trộm nhớ, muốn tắm mình trong lời ru nựng, trong nhịp điệu dân ca mượt mà, muốn cùng cô thả lời nguyền xe tơ kết tóc. Nhưng không hiểu vì sao trái tim của cô chỉ rung động một lần trong ngày hội làng, khi tình cờ chàng trai vùng Kinh Bắc làm nghề bắt rắn, vào lễ hội du xuân, buông lời đối đáp, mà lời ca như tỏ tình, như khêu gợi..

Và chỉ một lần rung động cũng đủ cho cô tin tưởng tựa vào vai người đàn ông thật thà chất phác, mạnh mẽ, nhưng gặp cảnh trớ trêu: Vợ chết để lại một đứa trẻ con ẵm ngửa. Cô thiếu nữ chấp nhận làm mẹ trước khi làm vợ. Tình yêu chắp cánh, người thiếu nữ nơi thôn trang theo chồng về xứ lạ.

Trong gió mưa não nùng, mẹ nhìn lại gia đình của mình lần cuối. Lần cuối cùng làm người để rồi thoát trần về với âm phần địa phủ. Con mắt mẹ mới buồn khổ làm sao. Để lại đằng sau những dở dang khắc khoải, để lại cho người chồng những đứa con thơ dại trước những biến cố lớn của cuộc đời. Những người thân của ta ơi! Đó là số phận! Đó là định mệnh! Ai rồi cũng sẽ bước tới phần huyệt của đời mình. Không ai được trọn vẹn khi nhắm mắt xuôi tay. Mọi sự không rạch ròi như biến thiên của tạo hóa. Chỉ có nỗi lòng không bao giờ bị chôn vùi! Vẫn ở bên tất cả mọi người. Dù mẹ có đi xa, các con vẫn là con của mẹ, của tình yêu mẫu tử nồng nàn sâu đậm. Kiếp sống là hữu hạn, còn tình đời là vô hạn.

Lãng đãng nhạt nhòa, đối diện linh hồn, những giọt máu chắt chiu từ lòng mẹ gào kêu, muốn níu lại. Sự giằng xé giữa con người và ma quỉ, giữa buộc trói của số mệnh và lòng khát khao đấu tranh với sự còn mất của linh hồn. Đành là thế, nhưng mẹ là tất cả sự luyến tiếc trong con. Từ núm nhau đến lời ru à ơi là những gì con thèm muốn. Con không muốn mất mẹ, dẫu biết rằng đó là số mệnh mà thiên cơ đã định, nhưng làm sao ngăn được tình con với mẹ? Nếu có thể được thay, chúng con xin được là vật cống nạp cho tử thần ngày hôm nay.

Tôi lịm đi không biết gì nữa.

Lúc tỉnh đã thấy mình ở nhà, nằm trên giường, em ngồi cạnh, mùi dầu gió bay thơm lạnh, bàn tay em ấm nồng nhẹ nhàng mơn trớn thái dương tôi. Thấy tôi tỉnh, em nói:

- Anh làm em sợ hết cả hồn.

- Mẹ đâu em?

- Thôi anh! Đám ma xong rồi mà anh! Đừng làm em sợ nữa.

Tiếng nói nài nỉ làm lòng tôi mềm lại. Trong mất mát, lẻ loi, sự bù đắp của em như khoảng trống được vun đầy. Mất mẹ, nhưng bây giờ tôi đã có em. Tôi hỏi:

- Mọi người đâu rồi hả em?

- Đang làm cơm cúng ba ngày.

Đã ba ngày rồi sao! Mẹ ơi! Nước mắt tôi lại ứa ra. Thấy vậy, em nói:

- Đấy, bêu chưa? Ứ chơi với đồ khóc nhè.

Giọng dỗ dành hờn mát như liều thuốc xoa dịu nỗi buồn đau. Tôi nhìn đôi con ngươi màu huyền ngọc lung linh, hàng mi cong vút chớp chớp, rung động; mặt em sát mặt tôi lắm! Nghe rõ cả hơi thở và nồng nồng mùi da thịt. Tự nhiên, cảm giác lạ trong cơ thể xuất hiện, lang mang, lâng lâng không rõ rệt. Tự thấy như hiệp khách đang lúc nguy khốn được kẻ trượng nghĩa ra tay cứu giúp. Nhưng kẻ cứu giúp không phải là nam nhi mà chính là hiệp nữ. Tôi tưởng đang đọc truyện "Bồng lai hiệp khách" đoạn: Hiệp khách Vũ Trấn Phương được Nữ hiệp Kim Hồ Điệp giả trai đến cứu.

- Anh mơ mộng gì đấy?

Tôi giật mình:

- Không, có gì đâu!

- Đọc kiếm hiệp vừa vừa thôi "ông tướng" ạ!

- Những lúc buồn chẳng làm gì thì đọc chơi vậy thôi.

- Sao anh không đọc truyện khác? - Em hỏi.

- Truyện gì?

- Những truyện xuất bản sau hòa bình ấy! Thư viện thị xã khối! Đọc mãi trinh thám kiếm hiệp anh không chán à? Mà loại truyện ấy Nhà nước ta đang cấm đấy!

Tôi co chân nhổm người dậy:

- Anh làm sao mà mượn được?

Em lấy mền chăn kê sau lưng cho tôi tựa vào tường:

- Được rồi, anh hứa với em không được đọc lung tung nữa, em khắc mượn truyện cho. Đồng ý không?

Lần đầu tiên trong đời tôi ngoéo tay với một người con gái, dẫu lúc đó em và tôi còn thơ dại, và cũng chưa hiểu thế nào là tình trai gái. Nhưng rồi những ngày sau đó, nếu không gặp nhau, nói với nhau được một lời, thấy trống vắng, thiêu thiếu hoặc giả như còn một việc gì quên chưa làm thì phải.

Tôi và em cũng nhau đi qua thời niên thiếu bằng sự cảm thông, bằng hoàn cảnh tự tại. Để cho cái ngoéo tay và lời hứa kia trở thành lời thề thiêng liêng giữa hai đứa, tôi đọc nghiến ngấu những quyển sách em đưa. Quả thực, nếu không vì em, tôi sẽ không biết trên đời này còn có những câu chuyện được viết ra hay như vậy. Tôi đắm mình vào mối tình của chàng Paven và cô thiếu nữ quý tộc Tônhia. Tôi đam mê sắc thái huyền diệu của những cánh rừng Taiga tuyết trắng phủ dầy và bước chân những chiến sĩ đi diệt trừ cái ác. Tôi lâng lâng thương tiếc lãnh tụ Ruồi Trâu hy sinh vì sự nghiệp, để lại cho đời một mối tình cao thượng..

Đêm đêm, tôi ghép em và tôi hóa thân thành nhân vật vào bao mối tình đẹp đẽ nhường kia, để mà mơ mà mộng, để mà nhung nhớ.. Căn nhà đơn sơ vắng bóng mẹ, nay có em, sự bù trừ mới thánh thiện làm sao. Em vào đời tôi hay tôi vào đời em không biết nữa? Và, cứ thế, theo năm tháng dần trôi, cơ thể tôi lớn lên cùng với tình yêu em ngày thêm đầy đặn.

Chương bốn - 7
 
282 ❤︎ Bài viết: 1159 Tìm chủ đề

Chương bốn - 7​


20261004-141833-aa475f0c80.png


Chương bốn - 7

Trong chiếc hộp khi mở ra có một bức thư và một tấm bản đồ đánh dấu nơi chôn cất bà.

Thư kể:

Sau khi xử bắn, bọn Pháp đóng cọc phơi xác bà để làm gương cho những người theo Việt Minh. Lý trưởng dán yết thị khắp thị xã Phúc An. Một tốp lính được lệnh thay lân nhau canh giữ.

Cả thị xã Phúc An chìm trong không khí nặng nề tang tóc. Bầu trời ảm đạm, âm u, lạnh lẽo, từng hàng cây khép tán rủ lá đứng mặc niệm. Buổi xử tử đè lên trái tim từng người dân. Hành động dũng cảm kiên cường đối mặt với kẻ xâm lược và coi cái chết nhẹ tựa lông hồng của người chiến sĩ Cộng Sản cho họ nhớ về người nữ cán bộ với khuôn mặt rạng ngời và nụ cười đôn hậu trên kỳ đài giữa thị xã Phúc An ngày đầu tiên tuyên bố thành lập chính quyền khởi nghĩa, chấm dứt chế độ phong kiến và sự đô hộ của thực dân Pháp hiện ra. Bầu không khí độc lập tự do và khí thế ào ào của phong trào cách mạng trở về trong tâm trí mọi người. Họ đau đớn nhìn những viên đạn của kẻ thù găm vào người bà, cảm nhận như chính người yêu thương của mình ngã xuống. Tất cả những người dân sống trong thị xã, không ai bảo ai, nhà nhà nghi ngút khói hương, màn khói bay, kết vào nhau từng vầng bay quanh các phố, là là quấn quít trên từng nóc nhà. Mọi người bảo nhau. Kẻ thù phơi bà bao ngày, hương tưởng niệm sẽ cháy ngần ấy thời gian.

Cũng đêm ấy, một người đàn ông cố nuốt đau thương, cởi áo nhà chùa, trát bùn lên người, hóa thân thành đêm tối, nhanh nhẹn như con báo, dũng mãnh như loài hổ, mạnh mẽ như con gấu của núi rừng Tam Đảo. Ông leo lên đồi Thông, vào chùa thắp hương lễ phật. Rồi buộc dây vào gốc cây đa, tụt xuống men sườn đồi, trằn mình lẹ làng băng qua lưới thép gai, bò gần vào nơi bọn giặc canh giữ. Nỗi căm hờn giặc Pháp và tình yêu thương đồng loại tiếp cho ông nguồn sức mạnh, cho ông sự khôn khéo. Lừa lúc bọn lính canh không để ý, ông cởi dây trói, buộc xác bà vào người, đu dây trèo lên đồi. Khi bọn lính phát hiện ra thì ông đã đi xa.

Sáng hôm sau, tin đồn xác người nữ Cộng sản mất tích lan khắp tỉnh. Bọn Pháp cho quân lính khám xét các nơi. Có người quả quyết rằng bà bị xử tử nhưng không chết, nửa đêm bà tỉnh dậy trốn thoát. Có người còn khăng khăng đã gặp bà ở vùng tự do. Không biết tin đồn có thật không, nhưng ai cũng mong và tin những người như bà không bao giờ chết được!

Chuyện của bà là bức màn bí mật được giấu kín trong suốt mấy chục năm qua. Và bây giờ bức màn ấy được vén lên. Cuối thư còn dặn:

- Trong mộ chôn theo bà có một cái triện đồng của Lý trưởng Thái Bình bị chết đói do mấy cháu bé ở Phúc An nhặt được đưa cho bà hồi năm Ất Dậu.

Trong tấm bản đồ vẽ nguệch ngoạc bằng muội đèn, đánh dấu:

Nơi chôn thi thể bà ở đằng sau chùa Thập Phương, cạnh gốc ổi đào.

Trái với dự đoán của mọi người, nghe xong, mẹ bình tĩnh lạ lùng, trân trọng đặt bức thư và tấm bản đồ lên bàn thờ, lặng lẽ châm nhang, chắp tay trước ngực, đăm đăm nhìn bức truyền thần của bà. Ngoài sân, bà con hai làng kéo tới rất đông. Cái tin tìm thấy di vật của bà để lại được truyền khắp. Mẹ nói với vị Việt kiều:

- Đã bao năm tôi chỉ sống trong mơ, luôn ao ước được tìm thấy mẹ. Và hôm nay, ông là ân nhân của gia đình tôi. Xin cho tôi được thay mặt gia đình lễ ông một lạy. - Nói xong mẹ sụp xuống.

Vị Việt kiều vội vàng chạy lại đỡ mẹ.

- Xin bác đừng làm vậy. Tìm được mộ, nỗi oan khuất của bà bao năm nay được sáng tỏ. Đâu chỉ là ước nguyện của riêng gia đình ta? Mà còn là phúc ấm của cả gia đình tôi nữa. Nếu không, có chết tôi cũng chẳng dám gặp lại người cha đáng kính của tôi dưới suối vàng.

Hai người ôm lấy nhau hhóc. Nỗi đau nén chịu và sự chờ mong từ lâu vỡ òa. Khói hương nghi ngút, mùi trầm thơm man mác, tất cả mọi người có mặt ngùi ngùi, đưa tay lên chấm mắt. Ai cũng mừng cho cuộc gặp mặt của người sống, sự trở về của những linh hồn.

Em bế đứa con gái nhỏ đứng cạnh bà Phó Chủ tịch, nước mắt nhạt nhòa. Chủ tịch đến bên thằng bé lớn, nó đã cao ngang ngực bố. Bàn tay non nớt của nó tin tưởng đan xiết chặt bàn tay to lớn vững chãi của Chủ tịch. Hình như có ai nói nó cho biết Chủ tịch chính là bố đẻ, nên nó quấn quít ra chiều thân thiết lắm! Cuộc đoàn viên hôm nay cho những tâm hồn đang sống xích lại gần, còn cho những nỗi đau vì giận hờn vợi bớt. Em biết trong niềm vui gặp mặt nay có công rất lớn của Chủ tịch. Em nhìn cha con đứng cạnh nhau, bất giác trong tim mình nhói đau.

Trên ban thờ, bức truyền thần huyền ảo lung linh, bà nhìn em âu yếm. Không biết khi người ta chết linh hồn còn tồn tại không? Điều đó chưa ai dám khẳng định. Nhưng với em, bà thật linh thiêng!

Chương bốn - 8
 
282 ❤︎ Bài viết: 1159 Tìm chủ đề

Chương bốn - 8​


20261004-141952-e95361266d.png


Chương bốn - 8

Tôi bụm tay lên miệng gọi:

- Dì ơi dì!

Không thấy tiếng thưa. Tôi đẩy cửa vào nhà, ánh sáng từ chiếc đèn chai treo trên xã nhã hắt thành quầng, mọi thứ trong nhà trở nên mờ ảo. Mùi trầm thơm ngát, nén hương mới cháy được một nửa. "Chắc dì chạy sang nhà hàng xóm?" Nghĩ vậy, tôi ngồi xuống phản, tiện tay nhấc ấm tích lên tu một hơi. Mùi nồng nồng và vị đắng dịu của lá vối thấm vào lưỡi mát lịm. Khoan khoái, tôi ngả người nằm, vắt tay lên trán, cơn buồn ngủ thiu thiu ập tới kéo mắt tôi ríu lại.

Tôi bỗng bừng tỉnh, ngồi bật dậy. Không nằm được!

Còn bao nhiêu công việc phải làm. Tôi lấy đèn pin ra sau vườn kiểm tra lại chiếc hầm chữ A. Từ ngày giặc Mỹ leo thang ra bắn phá miền Bắc, những lúc vắng nhà, điều tôi lo lắng nhất là dì. Ở nơi cơ quan sơ tán, mỗi lần có báo động, tôi lại ngóng về phía thị xã. Tôi sợ thị xã bị oanh tạc, nhà còn có hai dì cháu, dì có làm sao thì tôi sẽ ân hận suốt đời. Tính dì gan lì, nhiều lần tôi nhờ chính quyền sang vận động dì đi sơ tán, nhưng một mực dì kiên quyết không đi.

Tôi chui qua chiếc cửa hẹp vào hầm, ánh sáng đèn bừng lên. Trên bờ tường, mấy bó cây ngải cứu phơi khô nằm chồng lên nhau, mùi thơm sực lên mũi. Tôi không ưa mùi ngải cứu lắm, nhưng dì lại như bị cái mùi hăng hắc ấy mê hoặc. Chả thế đất trong vườn chỗ nào trống là dì trồng. Những lúc rỗi rãi, có hai dì cháu dì nhắc lại:

- Không có cây ngải cứu làm thuốc, anh Thừa ra ma từ lâu rồi! - Và rồi như người mộng du, dì kể chuyện ngày xưa chạy Tây như kể truyện cổ tích.

Những lúc ấy, tôi nằm gối đầu lên dùi dì nghe. Mùi nâu nhuộm bùn từ vạt váy dì mặc xông ra nồng nồng, ngai ngái. Tôi như kẻ mắc nghiện mùi bùn nâu mộc mạc. Vào những đêm xa nhà, tôi nhớ dì da diết, thèm được dì vuốt vuốt mái tóc cứng quèo khô ráp, còn mũi tôi tha hồ hà hít cái mùi quen thuộc ấy. Tôi biết, bây giờ không ai còn mặc loại vải ấy nữa, nhưng dì không bỏ. Dì mua vải trắng và củ nâu về nhuộm lấy. Những lúc ấy dì lại lẩm nhẩm đọc thơ.

Tôi soi đèn, lật chiếc bao cói trải thay chiếu và chiếc gối bông không vỏ xem có rắn rết gì không. Cạnh đấy là mấy chai nước mưa vừa làm nước uống vừa để chống khói bom. Mỗi lần về tôi lại nhắc:

- Trường hợp chúng thả bom khói, dì nhớ đổ nước vào gối rồi úp mặt vào tránh chết sặc.

Dì cười:

- Con dặn thì dì nhớ! Nhưng rồi con xem: Đất Phúc An chẳng hòn tên mũi đạn nào động đến được đâu!

- Thế sao dì kể hồi khởi nghĩa cướp Chính quyền đánh nhau dữ lắm?

- Ối dào, bọn Bảo chính đoàn vừa nho nhoe bắn mấy viên đạn đã phải đầu hàng rồi còn đâu!

- Nhưng bây giờ bom đạn của tụi Mỹ không có mắt đâu dì ạ!

Nghe tôi nói dì cười:

- Anh lại dọa dì phải không? Thôi được, có mắt hay không có mắt cứ báo động là dì sẽ xuống hầm để anh yên tâm công tác, được chưa?

Tôi biết dì nói thế để động viên tôi, chứ chỉ khi nào máy bay bay rát hoặc bom nổ gần thị xã lắm dì mới chịu xuống hầm trú ẩn. Tôi nhặt mấy hòn đất lăn lóc trên chiếu quẳng lên miệng hầm rồi ngồi xuống. Dì ơi, dì có làm sao con biết nói với các chị và anh con thế nào? Cả một đời dì vất vả. Hạnh phúc của mọi người thì thừa mứa chứa chan, còn niềm vui cuộc sống dành cho dì thì nhỏ nhoi dè dặt. Những thứ dì được nhận, có khác chi kẻ thèm muốn phải len lén vụng trộm, luôn luôn lo sợ bị bắt quả tang.

Bất giác tôi thở dài, tắt đèn pin, tựa vào vách hầm, đầu óc lan man với những ký ức xa xưa:

Cũng may, các loài động vật bị coi là tài sản không được trông nom nuôi nấng nên chết dần chết mòn cả. Đến khi cán bộ tỉnh về không còn con vật nào sống để định tài sản. Còn số xe kéo tay mối mọt đến đục khoét ruỗng mục. Không đủ tư liệu kết luận. Ban cải tạo công thương nghiệp quy gia đình tôi thuộc thành phần tiểu thương.

Nhưng nặng nhất vẫn là bức ảnh người Tây tặng. Bố như kẻ chờ án. Ra khỏi thị xã phải trình báo. Nỗi oan khuất của bố chẳng biết đến bao giờ mới được thanh minh? Dì thương bố, lẩm bẩm:

- Làm ơn nên oán, cứu người hóa phải tội! Cha bố đứa mắt mù vu oan giá họa!

Và, sự hẫng hụt góa bụa của bố và sự ra đi của mẹ cho dì có điều kiện gần gũi bố hơn. Trong gia đình, một lúc dì phải đóng nhiều vai. Mặc người đời nhìn bằng con mắt ghẻ lạnh, đố kỵ, ngày qua ngày dì sống và làm công việc của người chết để lại. Mọi sự lo toan trong nhà dồn lên đôi vai nhỏ nhắn và bước chân cà nhắc của dì.

Bố mắc bệnh đau dạ dày kinh niên, không có tiền mua thuốc. Nghe người ta mách, dì nhặt vỏ trai, vỏ hến về đốt, tán nhỏ cho bố uống. Đêm đêm bất cứ thức dậy lúc nào, tôi lại nghe tiếng dì dỗ dành bố. Gian buồng nghèo nàn, đất bùn trát mộc mạc, trơ những thân cây sậy đã chứng kiến những năm tháng bố sống với tình yêu thương vô bờ bến của dì.

Vài năm sau, nhờ người mai mối, chị hai lấy chồng mạn Lào Cai; chị ba theo một người quê mãi Nam Định. Anh trai đang học dở cấp ba thì bỏ đi làm thợ phu hồ. Tôi cũng có ý định bỏ học nhưng bố bảo:

- Cả nhà còn có mình con, nếu con bỏ chẳng hóa nhà mình mất gốc ư?

Anh trai khuyên:

- Em cố học để khỏi phụ công bố. Còn anh, trước sau sẽ đi bộ đội.

- Lý lịch nhà mình thế họ có tuyển không? - Tôi hỏi.

- Anh đã có cách.

Một hôm anh trai rủ tôi lên đồi Thông chơi, anh chỉ xuống bãi đất trống dưới chân đồi:

- Thừa còn nhớ chỗ này không?

Sao tôi không nhớ! Đây là nơi gây ấn tượng nhất của đời tôi. Hai anh em ngồi xuống cùng nhau ôn lại chuyện đã qua, nhưng xoay quanh lâu nhất vẫn là chuyện "Bà mặt đẹp" bị Tây xử bắn và ngay sáng hôm sau thì mất tích. Bọn Tây tuyên bố thị xã bị giới nghiêm, huy động quân lùng sục hàng tháng trời. Lý trưởng dắt chó đánh hơi, dẫn lính tưởng như đào hết đất Phúc An lên tìm mà không thấy. Cho tới giờ cũng chưa ai rõ việc "Bà mặt đẹp" bị mất tích ra sao. Câu chuyện về bà được đồn đại như một huyền thoại. Cái óc luôn được nhồi những mớ sách li kỳ phiêu lưu mạo hiểm của tôi được thể tưởng tượng ra.

Anh trai khoác tay lên vai tôi:

- Có chuyện này anh nói nhưng Thừa phải giữ kín, không cho bố và dì biết. - Nói rồi anh bắt tôi ngoéo tay thề.

Anh rút từ ngực ra tờ giấy gấp tư đưa cho tôi xem. Nắng cuối chiều hắt ngược vào những dòng chữ màu đỏ sẫm làm tôi thấy ớn lạnh, phía lưng gai ốc nổi rần rần. Tôi lặng người chăm chăm nhìn tờ đơn:

- Anh viết bao giờ?

Hôm qua, sau khi dự mít tinh phản đối bọn Mỹ cho máy bay bắn vào một trường học làm chết hàng trăm em học sinh ở Vĩnh Linh. - Anh trai chìa đốt tay bị băng ra cho tôi xem - Đơn thường người ta không nhận. Phải viết bằng máu mới có giá trị. Anh phải đi em ạ! Cuộc chiến này còn kéo dài và sẽ rất ác liệt! Anh đi "Một xanh cỏ - Hai đỏ ngực" - Giọng anh đang sôi nổi chợt hạ xuống - Anh chỉ lo cho bố thôi, dì nói dạo này bố yếu lắm.

Tôi đăm đăm nhìn anh, chợt thấy mình bé nhỏ lạ thường. Khuôn mặt da ngăm ngăm của anh trở nên rắn rỏi, đanh cứng; mái tóc xoăn xanh mướt, mượt mà lượn làn rủ xuống trán, đôi mắt mơ màng nhìn mãi về phía cuối trời như một thi sĩ tìm ý làm thơ chứ đâu phải người chiến sĩ vừa dùng máu mình viết đơn. Tôi ve vuốt những con chữ trên trang giấy, những vết máu khô, nham nháp. Tôi không muốn xa anh, nhưng chẳng dám nói gì. Anh trai vốn ít nói, nhưng đã nói là chắc như đinh đóng cột! Đã quyết việc gì cấm ai gàn được! Tuy vậy, nhưng chưa bao giờ anh ỷ lớn bắt nạt tôi. Có cái bánh cũng phần cho em. Tôi gây lỗi, anh giấu bố không mách. Tôi hỏi:

- Thế bao giờ anh đi?

- Sáng mai anh nộp đơn. Nếu không có gì thay đổi chắc chỉ tháng sau là lên đường.

Cho tới trước ngày lên đường, anh trai mới thưa chuyện với bố. Nghe xong bố nói:

- Trai thời loạn.. Cái gan, cái chí của con người ta phải được thử thách trên sa trường mới biết được kẻ nào có lòng trung quân ái quốc. Con cứ an tâm lên đường, nhà đã có dì và em Thừa.

Dì lấy đồng chinh trên bàn thờ khâu thành chiếc bùa đeo vào cổ anh:

- Con đeo cái này vào là tránh được hòn tên mũi đạn. Nhớ viết thư về cho bố mừng nghe con - Giọng dì nghẹn nấc.

Anh ôm lấy dì, miệng méo xệch:

- Trăm sự con cậy nhờ dì. Chiến thắng con trở về sẽ lấy vợ đẻ nhiều cháu cho bà bế.

Chị nhớn mang gạo nếp vào nấu xôi cho em trai ăn trước khi lên đường. Chị nói như tiếc nuối:

- Giá trước khi đi em lấy vợ có một đứa cháu nội cho nhà đỡ quạnh thì tốt biết bao nhiêu.

Anh trai bế đứa con nhỏ của chị lên quá đầu nựng:

- Cậu đi bao giờ chiến thắng cậu về lấy vợ cũng chưa muộn cháu nhỉ.

Trước ngày lên đường, anh rủ tôi ra thăm mộ mẹ. Hai anh em đi trong gió chiều lồng lộng. Vào mùa này, cỏ hoang mọc lút bờ, cả một vùng xanh thắm. Mộ mẹ nằm ở mảnh đất sát cánh đồng làng Nhuế Khúc. Khu đất ấy ngày xưa bố nhờ thầy địa lý xem hộ và đã mua đứt, nhưng nay bị quốc hữu hóa. Đó là dải đất nằm giáp ranh khu bãi lầy, những thửa ruộng hình bậc thang thấp dần nhô ra tạo thành hình bán nguyệt, một bên bờ cong queo, vòng vèo, uốn éo như rắn lượn, còn bên kia khuỳnh ra một khúc rồi gấp lại như cánh chim. Thường khi nói đến chuyện này, bố vẫn tấm tắc: Sinh phần nhà mình nằm ở thế "Long, Phượng chầu hương án" có lộc về sau. Chả thế khi mẹ tôi chết được chôn ở đấy bố mừng lắm, ông đắp một cái mộ giả ngay bên cạnh và nói: Bố mẹ được nằm ở đấy ắt đời sau con cháu sẽ có hậu. Hậu lộc đâu chưa thấy, và cho đến bao giờ gia đình tôi mới bớt khổ thì tôi không rõ. Tôi đồ rằng, bố sợ biết đâu lại giống như hồi bốn nhăm (1945), nhiều người chết quá không có đất chôn.

Xung quanh mộ mẹ, những bụi tầm ma và cây xấu hổ mọc kín. Anh lấy liềm cắt, còn tôi thu dọn. Nắng oải dần, chiều bớt gió, vầng hoàng hôn đỏ lựng, bóng tím đổ dài trên những bờ xa tít tắp, cả cánh đồng không một bóng người, những cánh cò bay mải miết; khói hương cuộn vòng tan loãng trong bóng lam chiều. Anh đăm đăm nhìn vào khoảng không trước mặt, rồi bỗng nhiên gục xuống, giang tay ôm nấm mồ thảng thốt: Mẹ ơi. Tôi chạy lại ôm lấy anh: Anh.. Anh. Anh quay lại ôm tôi ghì chặt: Biết làm sao hả em, mẹ mất rồi. Hai anh em ôm nhau ngồi bên mộ mẹ. Những tia nắng cuối cùng thắp lên những vệt sáng mơ hồ, cả không gian một mầu ảm đạm, tiếng côn trùng báo đêm rả rích. Anh nắm tay tôi dặn: Anh đi bộ đội, em ở nhà thi thoảng nhớ ra thắp hương cho mẹ. Tôi thấy trên mắt anh những giọt nước long lanh. Tôi biết anh buồn lắm. Tôi thì thào: Về đi anh, em nhớ lời anh dặn rồi mà.

Đêm cuối, hai anh em ôm nhau nằm nói chuyện. Tôi đâu biết đấy là lần cuối cùng tôi được ở bên anh.

Ở Phúc An, chưa bao giờ có cuộc tiễn đưa bộ đội lên đường nào sôi động như vậy. Từ sớm tinh mơ, tiếng trống hội quân đã nổi lên ầm ầm như giục giã, dọc hai bên các ngả đường trong thị xã dẫn đến ga tầu, rợp bóng cờ và khẩu hiệu tiễn tân binh lên đường. Tiếng loa phóng thanh hát vang những bài ca ra trận. Tôi cùng em đi tiễn. Anh trai dặn:

- Hai đứa ở nhà giúp anh chăm sóc bố. Nếu chị hai và chị ba về chơi, cho anh gửi lời chào. Hẹn các chị ngày chiến thắng.

Đáp lại lời anh là tiếng còi tầu hối hả. Trên sân ga những người đưa tiễn những người thân đông nghìn nghịt. Tôi rủ em:

- Tụi mình nhẩy tầu tiễn anh đi một đoạn, đến khi gặp tầu ngược thì quay lại.

Hòa trong đoàn tân binh, chúng tôi hát vang khúc quân hành. Tưởng như mình đang cùng những người con của quê hương Phúc An ra mặt trận..

- Thừa về đấy hả con?

Tiếng dì dứt tôi khỏi những ký ức. Tôi nhỏm dậy chui ra khỏi hầm:

- Dì về lâu chưa?

- Nhìn xe đạp, không thấy người, dì biết ngay anh lại ra hầm. Dì vừa sang các nhà xem có gì vương vãi thì cất giúp người ta. Bà con hàng phố đi sơ tán cả. Thôi, dì dọn cơm rồi đấy, lên ăn đi.

Dì khơi ngọn đèn cho thêm tỏ, xới cơm cho tôi, thấy dì không ăn mà chỉ ngồi nhìn, tôi hỏi:

- Sao dì không ăn?

- Con về dì hết cả đói! Hàng tuần nay không gặp con, dì nhớ quá!

Tôi buông đũa:

- Công việc dạo này nhiều, các thủ trưởng còn phải làm ngày làm đêm huống gì con.

- Ấy là dì nói vậy chứ trách cứ gì con đâu. Có cái lúc nào con cũng nhớ lời dì, phải chăm lo cho sức khỏe của mình. Dạo này dì thấy anh gầy lắm đấy!

- Con khỏe lắm mà dì!

- Khỏe mà chủ quan có ngày lăn ra ốm thì khổ - Rồi dì như sực nhớ - Hôm nọ Bí thư vào nhà mình chơi, cưỡi ô tô, kèm với mấy người cơ! Gớm, bận hay sao mà râu ria chẳng cạo, lởm chởm trông rõ buồn cười.

- Chú nói chuyện gì hả dì?

- Chả hiểu sao ông ấy hỏi dì kỹ lắm về cái chết của Bà Lang và ông Thầy Mo?

- Thế dì trả lời sao?

- Mấy chục năm qua rồi còn gì? Dì nhớ được đến đâu thì kể đến đấy. Thế trong công trường có chuyện gì mà Bí thư phải về tận nơi để giải quyết đấy con?

- Dân công trong khi đào chân móng xây đập hồ Đại Ngọc thì phát hiện hai bộ xương người, bà con dân tộc người Sán Dìu đòi xây miếu thờ. Ban chỉ huy công trường định di rời đi nơi khác liền bị bà con kéo tới phản đối.

Dì nhổm hẳn người dậy:

- Thấy ở chỗ nào?

- Gần làng Đồng Câu, sát công trình xây đập tràn.

- Có gần hai cây thông không?

- Trong mặt bằng vẽ trong bản đồ con xem thì làm gì có cây thông nào.

- Không có nhẽ.. Không có nhẽ.. - Dì lẩm bẩm như người bị ma ám - Thôi đúng rồi.

Dì bỗng reo lên

- Sao hả dì? - Tôi hồi.

Dì như không nghe lời tôi hỏi:

- Cây chết thì còn gốc, gốc trụi thì còn rễ. Giống thông là nhiều nhựa lắm, không dễ gì ruỗng mọt được! Con vào, nếu đúng chỗ ấy thì đưa dì vào.

Trở về cơ quan tôi đem chuyện của dì kể lại cho thủ trưởng nghe. Ông gật gù:

- Nhưng liệu có ai tin lời của dì tôi không?

- Cứ theo chuyện kể thì ngoài bà dì của cậu còn có ông Trưởng làng biết. Ngày mai cậu vào đấy dò tung tích xem ông Trưởng làng ấy còn sống không? Có thêm nhân chứng ta sẽ có lý do để xử lý. Trong báo cáo ở mục trình phương án giải quyết cậu nhớ viết thêm đoạn này vào cho tớ. - Thủ trưởng đứng dậy vươn vai ngáp. - Thôi, cậu phải cho tớ ngủ một lát. Bận việc quá không về nhà được, lúc nãy Ma đam ở đây, tí táu tí mẻ thế nào tớ lại "tranh thủ" nên bây giờ đang mệt. Tớ ngủ khoảng hai tiếng thì cậu đánh thức tớ dậy. - Nói rồi ông nằm kềnh xuống giường, một lát đã nghe tiếng ngáy khò khó.

Tôi cười thầm mãi vì lối nói bộc trực của thủ trưởng. Từ ngày làm việc dưới quyền của ông tôi biết, ông thẳng thắn trong công việc "không oong đo". Đã nói là làm, yêu ghét theo kiểu bỗ bã. Sẵn sàng khen, khen hết lời và cũng sẵn sàng chửi, chửi thậm tệ, nhưng xong việc là xong, không để bụng theo lối người sống lâu năm ở vùng Nam Bộ.

Tôi vừa ngồi chép lại báo cáo vừa suy nghĩ về chuyện đã xảy ra.

Công trình thủy lợi hồ Đại Ngọc đang thi công gấp thì phát hiện ra hai bộ hài cốt, bị bọn xấu tung tin, vận động dân chúng biểu tình phản đối không cho làm, đòi lập miếu thờ ngay dưới chân công trình xây đập chắn nước từ thượng nguồn đổ về. Lợi dụng việc ấy, mọi thông tin tuyên truyền của địch ra sức xuyên tạc, đài địch ra rả đưa tin. Tình hình ngày càng rối ren phức tạp. Đã xảy ra những sự vụ giữa những người đang thi hành công vụ với một số thanh niên trong làng.

Tỉnh chỉ đạo Ủy ban thị xã Phúc An thành lập gấp một tiểu ban, thủ trưởng của tôi được phân công trực tiếp phụ trách giải quyết sự vụ. Khi chọn người, ông bảo tôi:

- Cậu tạm thời về làm thư ký cho tớ một thời gian.

Vẫn thế! Tôi nghĩ, ở đâu thì tôi vẫn ở cương vị trợ lý giúp việc, sao chép báo cáo, chuyển công văn cho cấp dưới, nhận chỉ thị của cấp trên. Những lúc hài lòng với công việc của tôi, làm, thủ trưởng vỗ đùi đen đét vừa khích lệ vừa tiếc nuối:

- Cậu làm được đấy! Giá cái lí lịch gia đình không vướng thì cậu sẽ tiến xa. Thật đúng vạ lây "Đời cha ăn mặn - Đời con khát nước".

Vậy, nhưng lúc nào không hài lòng ông nhìn tôi nghi hoặc:

- Cậu không phải chỗ thân tình của Bí thư tỉnh, tôi đã thải cậu từ lâu rồi. Không biết liệu người cách mạng chúng tôi có mất cảnh giác với cậu không đấy?

Trong một lần liên hoan tổng kết, trước tất cả mọi người, rượu vào ông nói bô bô:

- Những thằng văn hay chữ tốt, thường là bọn trí thức rởm. Bọn tớ tuy thiếu học nhưng là người cách mạng. Làm cách mạng chỉ cần lòng dũng cảm và có quan điểm lập trường giai cấp là mo phú tuốt..

Tôi biết ông không có ý kể công và có thói quen ăn nói văng mạng vậy thôi, chứ sau đấy ông lại "cậu, cậu, tớ, tớ" ngay.

Tôi cau mày dừng bút trước những dòng chữ viết trong báo cáo:

* * * Phải dùng biện pháp mạnh để trấn an tình hình. Tôi đề nghị điều ngay một cơ số quân vũ trang (kết hợp cả lực lượng quân đội và công an) sẵn sàng đập tan âm mưu của bọn phản cách mạng nhằm vào nền chuyên chính vô sản..

Tôi gạch chân những hàng chữ ấy, định để khi ông ngủ dậy xin ý kiến. Nhưng rồi không hiểu sao, tôi quyết định chữa:

Trong khi giải quyết, tránh sử dụng biện pháp mạnh, vì địa bàn này đa số là đồng bào dân tộc, trình độ hiểu biết có hạn. Không nên có hành động quá khích và cần tôn trọng tự do tín ngưỡng của dân dân địa phương..

Tôi biết chữa lại như vậy nếu ông biết sẽ không đồng ý. Nhưng nếu đưa lực lượng vũ trang vào công việc này e sẽ mắc mưu bọn xấu. Là người tháp tùng ông, phần nào tôi nắm rõ tình hình thực tế của công việc đang xảy ra. Đa số bà con người thiểu số bị a dua theo những phần tử địch cài lại, bọn tề ngụy lợi dụng sự mê tín dị đoan để kích động.

Thủ trưởng dậy đứng đằng sau tôi lúc nào không biết:

- Tớ ngủ ngon quá! Không biết giời đi vắng hay sao mà đêm nay máy bay bay ít thế? Này, nghỉ làm vài hớp đã - Ông lấy bi - đông rượu ngửa cổ uống rồi khà khà - Mađam của tớ thế mà khá ra phết! Tăng gia sản xuất, gà đầy sân, lợn đầy chuồng, lại mắn đẻ, không khéo chín tháng nữa lại tòi thêm thằng cu! - Ông đưa cho tôi bi - đông.

- Cảm ơn thủ trưởng, uống vào bây giờ tôi không làm được. Mà sao thủ trưởng đẻ đông con vậy?

- Tớ đẻ để lấy người đánh Mỹ! - Nói xong ông ngửa cổ ừng rực làm thêm mấy ngụm rồi cười khà khà. Tửu lượng của Thủ trưởng không chê vào đâu được. Ông vẫn thường khoe:

- Hồi còn ở đồn điền cao su, tớ uống rượu bọn Marốc còn thua.

Tôi thưa:

- Báo cáo Thủ trưởng, có mấy chỗ trong báo cáo tôi chữa lại..

Ông ngắt lời:

- Khỏi cần! Văn chữ của cậu là tớ an tâm rồi! Cậu cứ dựa vào chỉ thị của Thường vụ Tỉnh ủy mà làm.

Có tiếng xe, ánh đèn gầm lấp loáng. Thủ trưởng lẩm bẩm:

- Ô tô đơn vị nào mà đến sớm thế nhỉ?

Ông ra mở cửa, người đến là Bí thư. Không mào đầu, vào khỏi cửa Bí thư nói gấp.

- Tôi định sáng mai mang báo cáo lên anh. - Thủ trưởng nói.

- Được, cứ để đấy lúc nào quay lại tôi lấy.. À mà thôi, - Bí thư chợt thay đổi ý kiến - Anh đưa luôn cho cậu Thừa cầm, tôi cần cậu ấy đi cùng tôi bây giờ.

- Anh đi đâu?

- Vào xã Châu Lam bàn với các đồng chí ở địa phương cùng hết hợp tìm phương án giải quyết.

- Cứ cho lực lượng vũ trang vào, thằng nào ho he xách đi cải tạo là xong béng! Thủ trưởng nói.

- Ông thì hơi tý là bắt bớ - Giọng Bí thư ôn tồn - Có phải quân thù quân hằn đâu mà động vào lại bộ đội với công an.

- Anh đi sao không mang bảo vệ? - Thủ trưởng chợt hỏi.

- Vào với dân làm sao phải mang theo bảo vệ? Ông lại mắc bệnh nghi ngờ rồi.

- Không phải! Tình hình trong ấy rối ren lắm! Anh đừng chủ quan.

- Thôi, không bàn việc ấy nữa! Bây giờ ông ở nhà, sáng mai mang giấy của tôi yêu cầu Ủy ban thị xã may gấp cho tôi một ít cờ. Đây - Bí thư rút trong xà cột ra một tờ giấy - Số lượng từng loại, kiểu cách, kích thước, màu sắc đã vẽ sẵn, yêu cầu làm ngay trong ngày hôm nay! Làm đúng tinh thần! Làm xong mang về để đây cho tôi.

Nói xong Bí thư đứng dậy bước ra. Tôi cho tập báo cáo vào túi dết, đứng dậy đi theo. Thủ trưởng kéo tay tôi lại:

- Cậu cầm lấy cái này đề phòng - Ông đưa cho tôi khẩu súng - Thấy tôi ngần ngừ, ông quắc mắt gằn giọng - Cậu định chống lệnh tôi hả?

Tôi vội vàng cầm lấy đút vào túi quần. Bí thư đã ngồi ổn trên xe, tôi ngơ ngác: Hóa ra Bí thư lái. Tôi định hỏi, nhưng Bí thư đã nổ máy:

- Lên xe đi.

Ông thò đầu nhìn lại phía sau cho xe lùi ra khỏi ngõ. Quả thực ở với ông bao lâu mà mỗi lần gặp ông tôi lại phát hiện ra những điều mới mẻ. Tôi hỏi khi xe đã chạy ở trên đường.

- Chú biết lái xe hồi nào?

- Hồi học bên Trung Quốc. Biết nhiều thứ cũng có cái hay của nó - Như đêm nay chẳng hạn, chờ được cậu lái xe thì đến sáng. Cái gì cần du kích thì ta du kích.

Đèn xe tối mò, đường vào xã gập ghềnh, chiếc xe đi như đảo đồng. Bí thư hỏi:

- Chú muốn xác minh xem hai bộ hài cốt ấy có đúng như lời dì cháu kể không?

- Bây giờ muốn biết phải tìm ông Trưởng làng ngày xưa.

- Ông ấy hy sinh trong trận giải phóng bốt Thằn Lằn năm năm mươi (1950) rồi.

- Thế chú định thế nào?

- Để chú bàn thêm với các đồng chí ở địa phương xem thế nào. Cái quan trọng bây giờ là làm sao giải quyết được mặt bằng xây dựng đập mà vẫn được lòng bà con thiểu số.

- Theo cháu vấn đề cốt lõi là tín ngưỡng.

- Chú đưa ra Thường vụ bàn nhưng có ý kiến cho rằng nếu làm như vậy sẽ đi ngược lại chủ trương bài trừ mê tín dị đoan của Nhà nước vừa ban hành.

Nghe Bí thư nói tôi chợt nhớ là chuyện thị xã Phúc An cho dân quân phá Chùa Thông làm nhiều người bất bình. Chừng như Bí thư nghĩ lung lắm, chiếc xe lúc chồm lên rồi lại chúi đầu như muốn lao xuống vực. Chợt Bí thư lẩm bẩm thành tiếng:

- Phải thế! Không còn cách nào khác..

Tôi ngỡ Bí thư hỏi;

- Chú bảo gì cháu? -

- Không, à.. Con nhỏ đi B cháu biết chưa?

- Sao? - Tôi thoảng thốt - Hồi hôm lên tỉnh gặp cháu sao không thấy cô ấy nói gì?

- Nó có kể với chú gặp cháu, nhưng thấy cháu vội nên không kịp nói. Cả hai vợ chồng nó đi. Quê chồng nó ở Bến Tre mà tỉnh mình lại là tỉnh kết nghĩa. Nó còn nhờ chú mang gói bánh gửi cho dì kia kìa.

- Đem theo cả con hả chú?

- Không, thằng bé gửi lại cho chú thím.

Tôi chợt nhớ tới thái độ em lúc hai đứa gặp nhau ở chỗ Ủy ban tỉnh sơ tán, trong lòng dấy lên nỗi vừa buồn vừa ân hận. Giá hôm ấy tôi đồng ý nói chuyện chắc em sẽ nói cho tôi biết. Thế là em xa tôi thật rồi. Mối tình đầu và cũng là mối tình sâu nặng nhất của tôi.

Vào những năm học cấp ba, nhà trường tuyển chọn bồi dưỡng học sinh giỏi đi thi miền Bắc. Em tốp toán, tôi ở tốp văn. Bố mừng ra mặt. Dì mang giỏ ra đồng bắt cua mang về nấu riêu ăn mừng. Em vừa xé cua vừa trêu tôi:

- Cố học nay mai nối gót ông Tô Hoài viết truyện "Cua đồng du ký".

Tôi mân mê cái bi chuối màu đỏ tươi:

- Còn em thì cố mà làm Mari Quyri của Việt Nam.

Nói xong hai đứa cùng cười. Hai năm liền đi thi, tôi đều đoạt giải nhì văn, còn em đoạt giải nhất môn toán miền Bắc. Thành tích của hai đứa làm rạng danh cho cả tỉnh. Nhà trường tự hào lắm! Một hôm sau giờ học, thầy giáo chủ nhiệm bảo tôi và em ở lại, nói:

- Thầy thông báo cho hai em một tin mừng: Căn cứ vào thành tích học tập, Ban Giám hiệu đề nghị Ty giáo dục cử hai em sang Liên Xô học. Hai em về làm hồ sơ lý lịch mang nộp cho trường.

Tôi và em nghe mà tưởng mình nằm mơ. Hai đứa chạy như bay về nhà báo cho bố và dì biết. Bố lặng đi vì cảm động, những nếp nhăn già nua giãn ra, nước mắt đọng ngấn trên gò má gầy guộc; dì thắp hương trên ban thờ chắp tay kính lễ. Bố nói:

- Các con cố gắng học thật giỏi mà về phụng sự nước nhà.

Tôi rủ em lên đồi Thông. Đêm ấy, gió thổi lồng lộng, hai đứa nắm tay nhau đi trong ánh sáng của đèn dù, lòng phơi phới nghĩ tới tương lai. Mặc tiếng gầm rú của máy bay và đạn pháo, mặc tiếng kẻng báo động dồn dập thúc. Cả những quá khứ đau buồn cũng lùi vào dĩ vãng. Những kỷ niệm của tuổi thơ mờ xa nhường cho ngày mai huy hoàng chói lọi. Tôi và em nói với nhau nhiều chuyện lắm! Rặt bàn đến những kỳ vọng và ước mơ trở thành những con người trí thức, mang sức lực trí tuệ của tuổi trẻ cống hiến cho con người, cho đất nước quê hương.. Trong niềm vui khôn tả ấy, em và tôi hứa sẽ không bao giờ quên nhau. Em dắt tôi đến trước cây đa xanh ngoéo tay cùng thề:

- Nếu ai phản bội lời thề sẽ phải ân hận suốt đời.

Tôi và em cùng nhau thức suốt đêm, không trao nhau một vật chứng, không biểu hiện một cử chỉ ái tình. Trong tâm hồn, là sự thiêng liêng thánh thiện của trái tim trắng trong thuần khiết.

Sáng sớm mai, khi vầng dương lóe rạng, em và tôi đứng trên đỉnh đồi, phóng tầm mắt ôm cả thị xã vào lòng. Những dãy phố thân thuộc, từng hàng cây hai bên đường khép tán bừng dậy trong nắng mai hồng; xa xa tháp nhà thờ cao vút, mây trắng bồng bềnh trôi, cảnh vật bỗng trở nên thân thiết lạ kỳ.. Hai đứa cảm tưởng như mình sắp rời xa quê hương đến một chân trời mới lạ. Nơi ấy, chắp cánh cho mọi khát khao, cho tình yêu của em và tôi bay lên. Có cái gì nhói thúc trong trái tim, không kìm nổi xúc cảm, tôi choàng tay ôm, ghì chặt em vào lòng:

- Chúng mình sẽ mãi mãi bên nhau nhé!

Dụi dụi đầu vào ngực, nơi trái tim tôi đang đập, em thốt lên lời:

- Vâng - Thanh âm buông vào không gian thánh thót như tiếng chuông báo hạnh phúc đang về.

Cứ vậy, hàng tháng trời tôi và em sống trong thắc thỏm chờ đợi. Hằng đêm, tôi hy vọng ngày mai khi tới trường sẽ có giấy báo lên đường. Tôi sẽ cùng em bước lên tầu liên vận, con tầu chở chúng tôi đi trong muôn bàn tay vẫy chào tạm biệt..

Nhưng cuộc đời không theo những gì tưởng như đã định. Một buổi tối, thầy giáo chủ nhiệm đến nhà tôi báo tin. Thầy nói:

- Điểm học tập của em rất tốt, đủ tiêu chuẩn. Nhưng khi xét hồ sơ lý lịch, em lại vướng thành phần gia đình, nhà trường đành phải cử người khác. Thật lòng thầy rất tiếc..

Tôi như kẻ bị rơi vào khoảng không trọng lượng, hẫng hụt, mọi hy vọng tan như bong bóng xà phòng. Những dòng chữ trong cuốn sách đặt trước mặt nhạt nhòa, đan vào nhau rồi nhảy múa như giễu cợt, như mỉa mai. Thằng "tên" được thể lên tiếng:

- Cậu thấy không? Chưa chi đã vội mừng. Đừng tưởng thấy đỏ mà đã ngỡ là chín..

Tôi biết nói gì? Sự thật phũ phàng, nhục nhã, chát chúa, chà đạp, vò xé, bóp nghẹt trái tim non yểu của tôi. Nằm vật xuống giường, úp gối lên mặt, tôi lấy răng cắn chặt môi, tưởng bật máu mà không ngăn nổi tiếng nghẹn ngào nức nở. Dì len lén đến ngồi cạnh, băn khoăn, lo lắng rụt rè không nói, tưởng như chính mình là người gây ra lỗi. Còn bố, sau khi nghe chuyện, lặng lẽ vào buồng, cố tình trốn tránh không dám nhìn đứa con yêu quý vật vã vì thất vọng. Bố ơi! Con đâu dám trách ai, nhưng tại sao mọi hậu quả, lỗi lầm của thế hệ đi trước, con lại là kẻ phải hứng chịu những điều vô lối ấy? Cuộc đời ơi, đến bao giờ mới hết sự bất công?

Giữa lúc tôi đang tuyệt vọng vì đau khổ thì em tới. Dì ra hiệu bảo em ngồi xuống cạnh tôi rồi đi vào buồng với bố. Tất cả lặng đắng, không khí buồn bã bao trùm, ánh sáng từ ngọn đèn chai lù mù tỏa từng quầng đỏ quạch yếu ớt. Ngoài trời, tiếng động cơ của máy bay thi thoảng gầm rú như muốn xé không gian ra từng mảnh. Tôi vùng dậy:

- Anh sẽ xin đi bộ đội!

Em không đáp, đứng dậy rót cho tôi bát nước vối:

- Anh uống đi. Mình còn có cách mà anh!

- Sao? Em nói cách gì? - Tôi hỏi, vẻ hy vọng.

- Ngày mai học xong em và anh đi tầu lên Vĩnh Yên.

- Lên làm gì?

- Chú em vừa được điều về Ủy ban tỉnh. Em và anh lên nhờ chú xin hộ.

Tôi chấp chửng:

- Liệu có được không em?

- May ra thì được.

"May ra.." chẳng lẽ đời tôi bao giờ cũng chỉ là sự may rủi hay sao. Lòng tôi dâng trào tự ái:

- Thôi, em được đi thì cứ đi, còn anh không cần!

- Anh lạ nhỉ! Chú em chứ có phải người lạ đâu mà anh ngại?

- Anh chưa gặp chú em bao giờ. Mà anh nghĩ, thành phần gia đình anh thế có nói cũng chẳng được!

- Thì mai cứ lên xem thế nào.

Tôi im lặng không trả lời. Khi em về rồi, thằng "tên" rú lên:

- Hay quá! Đúng như trong quẻ tử vi bố đoán: Cậu có quý nhân phù trợ.

Tôi cau mày khó chịu:

- Quý nhân gì mà quý nhân? Có là đi cầu cạnh, bợ đỡ!

- Cậu nói thế mà nói đuợc! Cuộc sống cần phải biết dựa vào nhau. Muốn tiến thân đến lời nói mà cậu còn lười.

Không phải tôi lười, việc đi cùng em lên gặp chú tôi đâu ngại, nhưng cứ nghĩ phải nương nhờ người khác là tôi khó chịu. Mà nào tôi làm gì nên tội? Cả bố nữa! Cứ như lời dì kể, thì việc bố chữa rắn cắn cho người lính Tây là làm phúc đấy chứ! Vậy thì sao tôi phải quỵ lụy? Sao bố phải thừa nhận điều tốt trở thành điều xấu? Tôi nói với thằng "tên" :

- Tớ không thể bốc bùn ném vào mặt bố được!

Thằng "tên" đập thình thịch vào mang tai tôi:

- Thế nào là bốc bùn ném vào mặt? Chẳng qua vì điều kiện mà cần phải biết thức thời, lợi dụng. Thế mới có câu: "Thế Chiến Quốc thế Xuân Thu, gặp thời thế thế thời phải thế".

A! Nó lại tập tọng mang chữ ra để dạy tôi? Tôi đáp trả:

- Tớ không cần cậu dạy! Đời tớ, tớ lo!

- Nhưng hổ danh tớ! - Thằng "tên" gầm lên quát vào mặt tôi - Cậu đọc sách mà chẳng hiểu gì cả! Cậu có thấy Hàn Tín đấy không? Vì danh phận mà phải chui qua háng tên bán thịt? Rồi như..

Nó còn đưa bao nhiêu ví dụ người đời đã viết thành sách để lung lạc ý chí tôi. Mặc nó nói, tôi nằm im. Tôi đâu phải là Hàn Tín mà cần danh! Mà nó nói một nhưng chưa nghĩ được hai. Thử hỏi xem cuối đời của Hàn Tín ra sao? Hay cũng bị nhà Hán tru di ba họ, bị người đời bấy giờ ví như con chó Chích cắn lại vua Nghiêu? Tôi chỉ muốn tự thân mình khẳng định khả năng mình. Và, cái chính tôi không muốn hạ nhục danh dự của bố. Thằng "tên" còn lồng lộn lải nhải bao lâu, cho tới khi mệt quá, nó văng ra một câu kết luận không lấy gì là kẻ có văn hóa ứng xử lắm:

- Đồ con tườu.. Ngang bướng, gàn dở.. - Rồi nó thiếp đi vì mệt lả.

Sáng hôm sau đi học, tôi gặp em chờ ở cổng trường. Không để em nói, tôi bảo:

- Đừng nhắc chuyện đi học nữa! Và anh cũng không gặp chú em đâu! Đừng khuyên anh, vô ích!

Chắc nhìn nét mặt cương nghị đầy sắt đá và nghe giọng nói nặng trịch kiên quyết của tôi nên em không nói gì. Em cúi xuống lấy bàn chân xoa xoa những ngọn cỏ. Tôi nhìn cái gáy rắng muốt rung rung, trong lòng tràn ngập nỗi thương cảm:

- Em cứ đi đi, anh sẽ làm đơn xin đi bộ đội. Bao giờ Tổ quốc hòa bình hai đứa sẽ gặp nhau.

Em ngẩng phắt lên, nước mắt nhạt nhòa nhưng từ trong hai tinh cầu đen láy, ánh lên những tia sáng dữ dội lạ kỳ. Em định nói, vừa lúc đó, tiếng trống báo học đổ hồi, lời em bị khỏa lấp trong âm thanh rền rẫm.

Và, từ sau đó, thái độ em như hờn dỗi, lơ lơ cố tình không đáp trả ánh mắt tôi nhìn. Giờ ra chơi, em lánh không gặp tôi, ngượng ngập cười đùa với lũ bạn. Trong tiết văn hôm ấy, tôi giơ tay phát biểu, khi thầy giáo gọi tôi trình bày nền văn học cận đại Pháp, tôi cố tình trích dẫn đọc một đoạn thơ của VíchTo HuyGô:

* * * Nếu còn lại một nghìn - Tôi ở trong số đó!

Nếu còn lại một trăm - Tôi kiên định không rời!

Nếu còn lại mười người - Tôi là người cuối sổ!

Nếu còn lại một mình - Kẻ đó chính là Tôi!

Khi đọc, tôi nhìn em đăm đăm, em gục đầu xuống bàn. Chợt trong tai tôi vang chói lời rủa độc địa của thằng "tên" :

- Đồ gàn!

Chương bốn - 9
 
282 ❤︎ Bài viết: 1159 Tìm chủ đề

Chương bốn - 9​


20261004-142125-fceaa94de7.png


Chương bốn - 9

Nhờ có bút tích của "ông người thật" nên công việc khai quật mộ bà ngoại gặp nhiều thuận lợi. Sở Thương binh - Xã hội tỉnh cử người trực tiếp về giám sát. Trước ngày động thổ, mẹ sắp lễ mang lên chùa Thập Phương nhờ sư trụ trì cùng tăng ni các nơi đến đèn nhang cầu niệm. Vị Việt kiều công đức một số tiền lớn vào chùa.

Trải qua bao năm, ngôi chùa chính đã được tu sửa lại, khu vườn đằng sau dấu tích không còn như xưa nữa. Nhưng riêng cây ổi vẫn còn, gốc choãi to, lớp da bóng nhẵn, tán xòe rộng che khắp vườn. Mùa này quả trên cành trĩu trịt, vàng ươm, mỡ màng, trông hệt như cây ổi sau vườn nhà em. Bố dặn tốp thợ đào đất:

- Lúc đào, gặp rễ, không đừng được phải chặt thì chặt, chớ chặt bừa bãi ảnh hưởng đến cây.

Đào gần tới nơi, bố bảo mọi người để một mình bố làm. Khi những lớp đất được lật lên, những người có mặt không cầm nổi nước mắt khi nhìn thấy sợi xích sắt nằm đè trên hài cốt, xiềng chặt hai gióng chân và đôi tay bà. Những mắt xích và chiếc còng số 8 đã gỉ ngoèn nhưng vẫn trơ tráo giương con mắt đen sì như đe đọa. Bố gỡ sợi xích ném lên bờ cùng với hàng chục đầu đạn và chiếc triện đồng. Vị đại diện của Sở thương binh - Xã hội nói:

- Những vật này chúng tôi xin gia đình cho giữ lại để gửi vào Bảo tàng của tỉnh làm di vật lịch sử.

Bà ơi, đất nước đã hòa bình bao năm, mà bà vẫn còn bị xích xiềng của quân thù trói chặt. Dưới lớp đất đen sâu thẳm bà có thấy lạnh không? Những viên đạn găm trên người đau lắm không bà? Em run cầm cập như người bị lên cơn sốt, hai tay ôm lấy bờ vai gầy guộc của mẹ. Mẹ không khóc, nỗi đau đã vượt quá sức chịu đựng, tay mẹ đỡ từng phần xương bố đưa, thả vào nồi nước lá thơm, nhẹ nhàng ve vuốt. Mẹ ơi, con gái mẹ tắm rửa cho mẹ đây! Đã bao năm con ước ao được gặp mẹ thân yêu, được nũng nịu áp má lên mái tóc suôn dày, mượt mà thơm hương bồ kết; đôi mắt mẹ hiền từ nhìn con dịu dàng trìu mến. Về với con mẹ nhé! - Mẹ thì thầm rồi nâng chiếc đầu nhỏ nhắn của bà đặt lên vầng trán một nụ hôn, nước mắt mẹ lã chã, chan hòa, đầm đìa rơi xuống. Em có cảm tưởng chiếc đầu lâu cũng đang cùng mẹ khóc. Bỗng nhiên, mẹ ghì chặt chiếc đầu vào lòng kêu thảm thiết:

- Mẹ.. Mẹmẹmẹ.. Ơiơiơi..

Tiếng kêu của đứa con lần đầu tiên gặp mẹ ai oán xót xa, nghe như tiếng chim non gọi mẹ. Mọi người chạy lại, nhưng mẹ lắc đầu:

- Tôi không sao đâu, cứ để mặc tôi mà.

Mẹ lấy giấy bản thấm khô dòng nước mắt trên mặt bà, lau từng rẻ xương rồi đưa cho vị Việt kiều xếp vào chiếc tiểu sành. Sau khi xong, Chủ tịch xã lấy cờ Tổ quốc phủ lên, Hội Cựu chiến binh xã làm nhiệm vụ nâng linh cữu bà đưa ra xe. Sư trụ trì chùa thân hành tiễn bà ra tận xe.

Lúc đi qua chân đồi Thông, người chỉ huy yêu cầu cho xe dừng lại. Giờ đây, đồi Thông đã khác, ngôi chùa không còn nữa, nhưng cây đa trên đỉnh đồi vẫn còn đó, tán trùm xanh vời vợi, tỏa bóng mát xuống những dãy nhà xung quanh đồi. Đột nhiên, những cơn gió nổi lên ào ào, muôn ngàn cành cây như muôn ngàn bàn tay vẫy. Những lá cờ cắm trên xe bay phần phật. Đội quân nhạc cử bài "Hồn tử sĩ". Một phút cho cả cuộc đời vì dân vì nước.

Về tới địa phận xã, dân cả hai làng tập trung đón bà về, suốt từ ngã ba hai làng đến nghĩa trang liệt sĩ, dọc hai bên đường người đứng thành dãy, nhiều người cầm cờ ra vẫy. Khi xe đỗ, mọi người xúm lại. Ai cũng muốn mình được chạm tay vào linh cữu, tất cả dân làng sát cánh như muốn cùng chia sẻ cho nhau. Thật bất ngờ, lễ tang của bà trở thành ngày hội đoàn kết của toàn xã. Em nhìn thấy cô Phó Chủ tịch nắm tay thằng bé đứng cạnh ngôi mộ vừa đào trong nghĩa trang. Tiếng kèn đồng vang lên khúc nhạc quân hành cùng đoàn quân đưa linh cữu bà tiễn đặt trên Đài tưởng niệm. Mẹ không nén nổi xúc động vì tình cảm của dân làng đối với bà và gia đình, mẹ nắm lấy tay từng người nghẹn ngào:

- Đội ơn bà con.. Đội ơn bà con..

Chưa bao giờ ở xã em có một đám tang trang trọng và lớn như vậy.

- Linh, anh muốn hỏi em một câu - Nguyễn Thừa đột ngột lên tiếng.

Hải Linh nhổm dậy, nghiêm mặt chờ đợi.

- Chủ tịch tốt như vậy mà sao em vẫn không tha thứ?

- Nếu là anh anh có tha thứ không? - Hải Linh hỏi lại. Nguyễn Thừa cảm nhận được những tia mắt của Hải Linh chiếu thẳng vào mặt anh. Im lặng, Nguyễn Thừa ngả người, chống tay ngửa mặt lên nhìn vòm trời. Đêm yên tĩnh, trăng hạ tuần mảnh mai trông như cánh diều vàng treo lơ lửng trong mây, gió nhẹ, mặt hồ lăn tăn xao động óng ánh như muôn ngàn chiếc vẩy bạc. Ngồi ngay ngắn lại, Hải Linh lên tiếng:

- Anh cho Chủ tịch là người tốt ư? - Hải Linh đột ngột đặt câu hỏi, rồi cô tự trả lời - Có thể! Nhưng theo em, đó là lòng tốt của một kẻ có dụng ý. Một sự tính toán có bài bản. Rồi anh ta sẽ đạt được những gì anh ta muốn. Vị thế, chức tước, danh vọng và quyền lợi. Những con người như vậy thường đặt công việc và nghĩa vụ lên trên hết, biến tất cả thành công cụ để vươn tới mục đích mình cần. Kể cả tình yêu lứa đôi! - Hải Linh đột ngột nói to - Họ không yêu bằng trái tim. Cái họ mang ra và gọi đó là tình yêu chính là vỏ ngoài, thứ tình yêu đầy cảm tính với hình thức tầm thường, với thỏa mãn xác thịt nhầy nhụa, thối ruỗng đầy bản năng. Họ coi đàn bà là "cái máy" để duy trì nòi giống, bảo tồn một sự thừa kế. Và họ cao giọng gọi đó là đạo đức, thứ đạo đức tạp nham, pha trộn giữa thế kỷ này với thế kỷ kia không rành mạch. Phụ nữ đâu chỉ là phương tiện để cho đàn ông làm tình và thực hành nghĩa vụ? Họ quên rằng trong người đàn bà còn có thứ để đàn ông phải chịu ơn, đó là tình yêu. Thứ tình yêu dâng hiến trọn vẹn cho người mình yêu bằng niềm tin và hy vọng. Vậy hà cớ gì có quyền tước bỏ niềm tin ấy? Họ không hiểu rằng, khi đã mất lòng tin trong tình yêu, người đàn bà sẽ biến nỗi hận của mình thành nỗi căm thù của một con thú hoang bị bắn thương. Nếu còn một chút để gọi đó là tình cảm, thì đó thuần là dục tính của loài vật. Cái quan trọng nhất đối với nó bấy giờ chỉ là những sinh linh..

Quá mẫn cảm, Hải Linh òa khóc, Nguyễn Thừa nhích lại, đặt tay lên vai cô, bất ngờ Hải Linh hất mạnh tay anh ra:

- Khi con em trưởng thành, tha thứ hay không là quyền của nó! Còn em, thì không bao giờ!

Nguyễn Thừa cúi xuống, giọng nói rất nhỏ:

- Anh thành thật xin lỗi.

Chương bốn - 10
 
282 ❤︎ Bài viết: 1159 Tìm chủ đề

Chương bốn - 10​


20261004-142252-21ba8c14b1.png


Chương bốn - 10

"Họa vô đơn chí - Phúc bất trùng lai". Với ai tôi không biết, nhưng trong trường hợp gia đình tôi, điều ấy là một sự trớ trêu bầy đặt của tạo hóa. Sau cú sốc, bố già đi trông thấy, tóc vàng ruộm, lưng chùng xuống như người gánh quá sức bị sụt xương sống. Một buổi sáng, dì phát hiện bố lặng lẽ qua đời, không một lời trăng trối.

Bố ơi! Sao nỡ để con bơ vơ? Tại sao bố nương nhờ vào cái chết để trốn chạy, lánh xa khỏi nơi trần gian đầy oan nghiệt? Đất dưới chân tôi như sụt, xung quanh bóng tối mịt mù. Từng bước đi nặng nhọc như dẫn tôi đi vào nơi vô định. Hình ảnh Người bỗng vụt sáng, chói lòa như ánh sao băng giữa đêm dài vô tận. Tôi đã làm gì được cho Người đâu mà có quyền trách cứ! Tự ấu thơ, tôi luôn mang cho Người biết bao phiền toái; lúc tập tọe làm người tôi chất lên vai Người mọi âu lo. Khi sống, Người luôn dạy dỗ, động viên con cái nuôi chí để làm tròn nghĩa vụ với đời. Trước linh cữu, tôi tự vấn mình là kẻ tàn tệ, nhu nhược, tầm thường. Và, từ kiệt lực tinh thần, tôi nhận ra bổn phận. Đừng rên van Thừa ơi! Đời là biển khổ! Nếu không vậy thì cuộc sống làm gì có giá! Cái giá của cuộc sống là sự kế thừa. Mà mi, định đem nước mắt biệt ly làm lẽ sống hay sao? Tôi là con Người - Niềm hy vọng mà Người hằng trông đợi. Tôi không có quyền nhu nhược, yếu đuối, đớn hèn. Người đã lấy xương của Người đúc thành cốt cho tôi đứng đậy! Người đã lấy máu của Người cho linh hồn tôi biết sống! Vậy, những gì Người để lại không là những gì của tôi sao?

Trên đường tiễn Người đến nơi an nghỉ cuối cùng, không biết bao nhiêu lần tôi khuỵu xuống. Và, cùng ngần ấy lần tôi gạt mọi người, từ chối sự dìu đỡ để đứng lên.

Sau tang bố, tôi bỏ ý định viết đơn máu xin đi bộ đội. Phần vì dì không muốn:

- Con ơi, anh con đi chẳng thấy thư từ gì, không biết sống chết ra sao, bây giờ mà con đi nốt lấy ai nối dõi tông đường?

Lý luận giản đơn nhưng lại đầy sức thuyết phục. Tôi quyết định nghỉ học, ở nhà tìm việc làm. Biết tin, em từ chỗ tập trung du học sinh xin phép về:

- Anh nghĩ thế nào mà nghỉ học?

- Học cũng vậy mà em! Ích gì đâu?

Em không nói không rằng, cả ngày im lặng buồn rượi, tôi hỏi gì em cũng không nói. Đưa em ra ga, em lặng lẽ lên tầu không trả lời câu tôi hỏi đến hôm nào em sẽ lên đường? Gần một tháng sau, tôi nhận tin em bị ốm, tôi mượn xe đạp đạp đến bệnh viện nơi em điều trị.

Khi tới, tôi gặp một người đàn ông đã có tuổi ngồi cạnh em. Ông mặc bộ quần áo Tôn Trung Sơn vải ka ki màu xám, gương mặt cương nghị. Tay ông áp lên vầng trán em đỏ lựng, đôi mắt ông nhìn đầy vẻ lo âu. Thấy tôi vào, em nhổm dậy:

- Anh Thừa, đây là chú em.

Tôi bẽn lẽn chào, ông lấy tay ấn em xuống;

- Nằm xuống! Nóng xình xịch như thế mà bạn đến đã nhấp nhổm ngay được - Nói rồi ông quay lại - Cháu là Thừa phải không? - Cái nhìn của ông như xoáy thẳng vào mắt tôi - Hai đứa thân thiết thật đấy! Chẳng thế mà khi ngủ mê con bé còn luôn mồm nhắc tên cậu.

Tôi đánh trống lảng:

- Bao giờ em lên đường hả chú?

Chú trả lời:

- Nhỡ hết rồi còn đâu! Mà không hiểu sao trước hôm đi có một ngày mà lại lăn ra ốm? Thôi, sau khi khỏi chú sẽ bàn với các đồng chí bên Tỉnh đội gửi cháu theo học lớp Quân y! - Sau câu nói là tiếng thở dài tiếc nuối.

Trước khi đi, chú gọi bác sĩ đến căn dặn, qua lời nói, tôi cảm giác chú lo lắng cho sức khỏe của em lắm. Bác sĩ thưa:

- Báo cáo Bí thư, trường hợp bệnh tật của em nhà rất lạ, lưỡi phồng rộp, da chỗ nóng chỗ lạnh, chỗ đỏ, chỗ trắng cặp nhiệt độ không thấy sốt, đo huyết áp bình thường..

Tôi để ý khi bác sĩ nói với chú, em trùm chăn kín đầu, quay mặt vào trong tường. Tôi đi theo tiễn chú ra xe, đứng cạnh bậc lên xuống, chú dặn tôi:

- Chú nghe nói bố cháu vừa mới mất, chú thành thật chia buồn với cháu. Nói với dì hôm nào chú sẽ xuống chơi, nhân tiện muốn hỏi thăm một người.

Tôi vào phòng, em đã ngồi nhồm dậy, tôi cau có:

- Chú vừa bảo em thế nào?

Em ngồi tựa vào tường khẽ kêu:

- Bỏng rát hết cả lưỡi! - Em thè lưỡi cho tôi xem: Từng mảng da rộp phồng, có chỗ lở từng mảng.

Tôi xót xa:

- Đau lắm phải không em?

- Em đau anh có thương không? - Giọng em nũng nịu.

Tôi ngồi sát vào em, đưa tay sờ lên trán. Có mùi gì hăng hắc từ người em bốc ra, tôi hỏi:

- Bệnh viện bôi thuốc gì cho em đấy?

- Không! - Em trả lời - Họ chỉ cấp thuốc uống thôi!

Tôi đưa tay lên mũi ngửi, mùi mồ hôi của em trộn lẫn mùi gì như mùi ớt. Tôi thè lưỡi liếm thử, thấy cay cay. Thôi, tôi biết rồi! Em xát ớt cho lưỡi và da phồng lên tấy đỏ, đánh lừa mọi người để ở nhà không đi học. Tôi gắt:

- Sao em làm vậy?

- Anh có nhớ lời thề của hai đứa trên đồi Thông hôm nào không? Em không muốn làm kẻ phản bội.

Tôi quát em giả bộ vậy thôi, chứ thực ra trong lòng thấy rộn rã vui mừng. Thế là tôi lại có em bên cạnh. Những ngày vừa qua đối với tôi trĩu nặng như đeo đá. Em chưa đi mà lòng tôi rối bời, nỗi buồn nhớ dày vò tâm can. Tôi tưởng tượng khi sang bên kia, vắng tôi, nhiều sự cám dỗ sẽ cho em mau quên. Hình như khi người ta yêu nhau quá, sẽ sinh ra tính ích kỉ và sự hờn ghen vô lối? Tôi đã cố bắt chước những trang hiệp khách coi ý trung nhân của mình chỉ là thần tượng trong mộng để tôn thờ mà không nổi. Lúc nào hình ảnh em cũng len vào tâm trí, vần vò trái tim khắc khoải vì yêu, làm khổ tôi với một mối tình đầu không dễ gì mà quên được. Tôi nói:

- Thế nếu không có lời thề ấy chắc có lúc em sẽ xa anh?

Em đùa lại:

- Cũng tùy vào thái độ anh có nghe lời em không?

Tôi nâng mặt em lên, nhẹ nhăng áp môi mình vào đôi môi sưng mọng, khô khốc, phồng ráp. Không biết những người khi yêu nhau có cảm giác thế nào? Riêng tôi, nụ hôn đầu đời có vị ngọt hon cả vị ngọt của mật ong, nồng nàn hơn cả những làn gió chiều hè, còn hương thơm không giống bất cứ hương một loài hoa nào. Vả, tôi biết, mùi thơm ấy được kết tinh từ tình yêu của em dành cho tôi.

Đêm ấy hai đứa rủ nhau trốn bệnh viện. Tôi đèo em bằng chiếc xe cà tàng, vượt gần trăm cây số trong tiếng gào rú của máy bay Mỹ, trong ánh sáng đèn dù treo lơ lửng trên tầng không và chớp lửa của từng loạt đạn súng phòng không, kẻ vệt đan chéo rồi nở bung như pháo bông trên nền trời quê huong. Bóng em, bóng tôi hòa làm một, tự nhiên, tôi muốn hát! Và, tôi hát thật! Lời ca từ trái tim mơ mộng cất thành lời, bay vào không gian, át tất cả những chết chóc, đau thương, những buồn khổ.. Cảm tưởng như giờ đây, tình yêu của tôi và em là vĩnh hằng, là mãi mãi..

Xe đột ngột dừng lại làm tôi bừng tỉnh. Bí thư mở cửa xe nhảy xuống:

- Từ đây ta phải đi bộ vào.

Tôi xuống xe, xốc lại xà cột nhìn xung quanh. Trời mờ sương, tôi nhận ra nơi xe đỗ là sân ban chỉ huy công trường hồ Đại Ngọc. Từ trong nhà một người vác súng chạy ra:

- Ai? Đến có việc gì?

Bí thư cười:

- Tớ mà là kẻ gian thì cậu mất súng từ lâu rồi! Gác xách thế nào mà xe đỗ trước cửa mới biết? Cho tớ gửi cái xe. - Nói rồi ông xăm xăm bước đi.

- Nhưng bác là ai mới được chứ? Để tôi còn báo cáo với chỉ huy.

Tôi bước tới nói nhỏ vào tai anh ta:

- Bí thư tỉnh đấy! Cậu truyền lại với chỉ huy là chờ lệnh. - Nói rồi tôi rảo bước chạy theo Bí thư, mặc cho cậu lính gác há mồm đứng như trời trồng ở giữa sân.

Bí thư dẫn tôi vào làng Đồng Câu. Nhìn ông đi, tôi biết ông thông thạo vùng này lắm. Gần tới rìa làng, ông quay lại nói nhỏ:

- Khẽ chân thôi!

Ông không đi cổng chính mà lách qua hàng rào giữa làng. Quanh co thêm mấy đoạn ngõ, ông dẫn tôi đến trước một căn nhà lợp lá, gõ cửa. Từ trong nhà, tiếng lẹp kẹp chân người bước ra. Cửa mở, chủ nhà lên tiếng:

- Sao anh đi sớm vậy?

Bí thư không đáp mà lách cửa vào nhà, tôi vào theo. Bí thư chỉ vào chủ nhà:

- Đây là con trai ông Trưởng làng ngày xưa chôn cất cô Maria và Thầy Mo. Bây giờ giữ cương vị Bí thư Đảng ủy xã.

Nghe chú nói, tôi chợt nhớ tới câu chuyện hồi chiều dì kể. Không ngờ chỉ một lần tình cờ gặp nhau cách đây đã mấy chục năm mà Bí thư còn nặng lòng giăng mắc, vấn vương. Tôi bỗng hiểu trong trọng trách của một người lãnh đạo đứng đầu tỉnh, ông còn muốn bù đắp phần nào cho sự lỗi hẹn của một chiến sĩ cách mạng với người con gái trên đường lưu lạc tha hương.

Ông nói với Bí thư xã:

- Đồng chí đi mời các đồng chí trong Đảng ủy và những thành phần cốt cán của xã tập trung lại để tôi phổ biến tinh thần của Tỉnh ủy và Ủy ban tỉnh.

Cuộc họp chỉ có hơn chục người, toàn là người dân tộc Sán Dìu. Ông đến bắt tay từng người rồi nói:

- Theo tinh thần cuộc họp của tỉnh về việc giải quyết sự vụ tại địa phương ta. Thường vụ Tỉnh ủy ra nghị Quyết: Đồng ý để bà con lập miếu thờ ngay trên gốc hai cây thông, nơi phát hiện ra hai bộ hài cốt, trên tinh thần tôn trọng tập tục tín ngưỡng của đồng bào, bảo đảm đúng chính sách nhưng cũng kiên quyết ngăn chặn những hành động mê tín dị đoan và đề phòng sự kích động của bọn người xấu. Vấn đề chuẩn bị, tỉnh giao nhiệm vụ trực tiếp cho Ủy ban thị xã Phúc An kết hợp cùng với Đảng ủy, Chính quyền nhân dân xã Châu Lam, sắp xếp thời gian, địa điểm, tổ chức mít tinh phát động tinh thần đoàn kết các dân tộc anh em.

Có tiếng người hỏi:

- Thế còn việc xây dựng đập tràn?

- Chúng ta vẫn tiến hành, nhưng con đập sẽ được chuyển lên phía trên. Như vậy, sau khi công trình hồ Đại Ngọc hoàn thành, ngôi nhà tưởng niệm nằm trên hồ như một hòn đảo nổi sẽ là một cảnh quan mang tính lịch sử vừa thiêng liêng, vừa là địa điểm để các du khách đến thăm quan. Công việc xây dựng đập cụ thể như thế nào, sáng mai tôi và các đồng chí cán bộ xã ra gặp Ban chỉ huy công trình xây hồ Đại Ngọc sẽ bàn và thống nhất.

Nhìn cung cách Bí thư tỉnh làm việc với các đồng chí ở địa phương, tôi thấy không khí ấm áp vô cùng. Sau khi nghe ông nói, các cán bộ và đại diện nhân dân ở địa phương đều tán thành hồ hởi và phấn khởi. Khi hai chú cháu đi bộ về lán công trường, ông nói:

- Chú còn phải ở lại hội ý với Ban chỉ huy công trường về việc chuyển địa điểm xây đập. Sẽ tốn thêm một số kinh phí đấy, nhưng nếu tốn mà lợi cho dân cho nước thì ta vẫn cứ phải làm. - Rồi ông dặn tôi - Chốc nữa cháu về thị xã nhớ truyền đạt lại tinh thần cuộc họp của chú với các thành phần cốt cán ở Châu Lam cho các đồng chí lãnh đạo biết. Rồi kiểm tra lại toàn bộ số cờ và khẩu hiệu xem đã may xong chưa? Nếu may xong rồi thì chuyển hết vào đây.

Về tới chỗ xe đỗ, ông mở cửa cầm gói quà em đưa cho tôi:

- Trong này có cả thư của con bé gửi cho cháu. Cháu xem xong, khi rỗi hai chú cháu mình sẽ nói chuyện.

Còn có chuyện gì mà nói nữa đây? Thư của em chắc lại là lời chào vĩnh biệt?

Còn chú? Chắc lại là những lời an ủi, xoa dịu một trái tim vì ông mà phải dứt bỏ mối tình đầu?

Tôi nhẩy lên ca bin chiếc xe chở đất nhãn hiệu Giải Phóng. Ông dặn theo:

- Nhớ bảo với dì cháu. Khi nào bà con trong này xây xong nhà tưởng niệm chú sẽ đón dì vào thắp hương.

Chương bốn - 11
 
282 ❤︎ Bài viết: 1159 Tìm chủ đề

Chương bốn - 11​


20261004-142418-c88ee8a07f.png


Chương bốn - 11

Chủ tịch thuê một chiếc xe 12 chỗ đến đón vị Việt Kiều xuống sân bay. Bố mẹ không muốn đi, mẹ nói:

- Tôi sợ cảnh chia tay lắm rồi! Thôi để con Linh với cậu Chủ tịch tiễn ông. - Chưa nói hết câu, mắt mẹ đã rớm nước.

Vị Việt Kiều ôm lấy mẹ:

- Anh chị hãy coi em là đứa em trai của anh chị, cậu của cháu Linh. Đừng gọi em là ông nữa! Em đi em lại về mà!

Mẹ gục vào vai ông, bịn rịn:

- Ừ, thôi, cậu đi cho mạnh khỏe, anh chị chờ tin..

Em nèo bằng được cô Phó Chủ tịch cùng đi. Khi xe ra đến đường, cô Phó Chủ tịch ghé vào tai em nói nhỏ:

- Ủy ban đánh giá cao vai trò của Linh trong công cuộc đổi mới của xã đấy!

- Cháu có làm được gì đâu mà công lao.

- Không có em làm sao cậu Chủ tịch biết lối mà đi?

Đó là sau lễ truy điệu bà ít hôm, vị Việt Kiều nói chuyện với em:

- Vài bữa nữa chú bay về Mỹ. Nhưng có việc này chú muốn hỏi ý kiến cháu xem thế nào.

- Có việc gì hả chú? - Em hỏi.

- Ở bên kia có nhiều ý kiến khác nhau khi nhận xét về chế độ mở cửa của Việt Nam. Chú về kỳ này ngoài việc tìm mộ bà, còn có ý định xem thị trường kinh doanh tại Việt Nam. Nhưng chú đang phân vân.

- Nhà nước ta đang kêu gọi đầu tư, đặc biệt ưu tiên cho những kiều dân sống ở nước ngoài có tâm về xây dựng Tổ Quốc. - Nói rồi em hỏi - Thế ở bên kia cô chú chuyên kinh doanh mặt hàng gì? - Em hỏi.

- Công ty của chú chuyên thầu các công trình xây dựng.

Em mang chuyện nói lại với Phó Chủ tịch, cô nói:

- Ông ấy có ý định như thế thật hả? Tin của em là tin tốt đấy!

Mấy hôm sau, vị Việt Kiều rủ em ra khu đầm Vực. Ông nói:

- Cậu chủ tịch xã mời chú đầu tư cải trợ khu đầm Vực

"Chủ tịch chớp thời cơ nhanh thế.. Đúng là!". - Em nghĩ rồi quay lại hỏi - Thế ý chú thế nào?

Vị Việt Kiều vừa nâng máy quay lên vừa trả lời:

- Chú đã trả lời: Lần về nước sắp tới, chú sẽ làm thủ tục xin xây dựng ở đây một khu vui chơi giải trí.

- Giống như công viên nước hả chú? - Em hỏi.

- Ừ, giống như vậy, nhưng ở đây - ông chỉ ra khu vực Bãi Giữa - còn có thể cải tạo thành một sân gôn mi ni rất đẹp.

Em mượn chiếc thuyền chở ông ra Bãi Giữa. Ông nâng máy lên quay toàn cảnh, nói:

- Lần sau về chú sẽ đưa cả cô về. Cô là người Mỹ nhưng hiểu biết lắm! Thời kỳ còn học Đại học, cô là một trong những sinh viên xuống đường đấu tranh phản đối cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam đấy.

Ngày hôm ấy, em và ông đi thăm khắp cả khu đầm Vực. Ông nói:

- Có thế này mới đủ tư liệu để thuyết trình trước Hội đồng quản trị Công ty.

* * * Người lái cho xe đỗ trước cửa phòng đợi. Mấy đứa trẻ nhẩy xuống xe đã đòi cô Phó chủ tịch dắt chúng vào phòng đợi trèo lên bậc tự động và xem thang máy. Em dỡ hành lý trên xe xuống. Chủ tịch mở cốp sau xe xách ra một kiện hàng:

- Ủy ban và nhân dân trong xã gửi biếu chú ít đồ mỹ nghệ bằng tre đan của quê hương mang về làm quà. Cháu mong một ngày gần đây nhất sẽ được ra sân bay đón chú với tư cách một đơn vị đối tác.

Ông cầm tay Chủ tịch xiết chặt:

- Nhờ cháu nói lại với các vị trong Ủy ban và bà con dân làng cho tôi gửi lời cảm ơn. Lần này về, tôi đã tận mắt nhìn thấy những tình cảm tốt đẹp của con người với con người. Những cái đó làm sao tôi quên được? Nhân đây tôi muốn kể cho các cháu nghe một câu chuyện trong truyền thuyết của Kinh Phật: Trong một lần trò chuyện, nhà hiền triết Ca La Ma hỏi Phật Thích Ca:

- Tôi đã hỏi 98 đạo, đạo nào cũng bảo: Nếu theo đạo của ta thì khi chết sẽ được lên thiên đàng, nếu không theo đạo của ta thì khi chết sẽ phải đày xuống địa ngục. Vậy ông bảo tôi phải theo đạo nào?

Phật Thích Ca trả lời:

- Ông hãy chọn lấy một đạo mà theo.

Ca La Ma:

- Nếu tôi theo một đạo, thì 97 đạo kia họ sẽ bỏ tôi xuống địa ngục thì sao?

Phật Thích Ca:

- Này Ca La Ma! Ông đừng tin vào một điều gì, dù điều ấy đã được viết trong sách vở! Ông đừng tin vào một nhà truyền giáo nào, ngay cả tôi ông cũng đừng tin! Mà hãy tin vào điều có lợi cho mình, có lợi cho mọi người; có lợi cho hiện tại, có lợi cho mai sau"

Kể xong ông im lặng một lát rồi nói thêm - Các cháu ạ, những việc chú sẽ làm cho quê hương trong tương lai chính là nhờ vào niềm tin ấy!

Trên bầu trời Nội Bài, một chiếc máy bay vừa cất cánh. Trong ánh nắng rực rỡ, chiếc máy bay như con chim bạc khổng lồ in trên nên trời xanh thẳm, để lại phía sau một làn mây bồng bềnh như dải lụa.

Chương bốn - 12
 
282 ❤︎ Bài viết: 1159 Tìm chủ đề

Chương bốn - 12​


20261004-142555-695a83afbd.png


Chương bốn - 12

Trong thư em viết vẻn vẹn có vài dòng:

Thừa thân yêu!

Em không dám về gặp anh. Nếu gặp anh, chắc em sẽ lại bỏ nhiệm vụ như ngày xưa em đã bỏ đi du học nước ngoài vì yêu anh. Thừa ơi! Cuộc chiến này chưa biết đến bao giờ mới chấm dứt? Có điều này trước khi vào chốn hòn tên mũi đạn em muốn nói cùng anh: Đứa con trai bé bỏng em gửi chú thím nuôi, chính là giọt máu của anh và em. Nếu chẳng may em có mệnh hệ gì, anh hãy thay em chăm sóc nó. (Về chuyện này, chồng em đã biết! Và trước khi lên đường, em cũng đã thú nhận với chú rồi).

Chỉ xin anh một điều: Đừng vì vậy mà dày vò chú nghe anh.

Người yêu anh mãi mãi.

Không nhớ tôi khóc đến bao giờ? Nước mắt cạn khô, miệng đắng ngắt, cổ họng khan đặc. Những gì em viết trong thư, như thật như dùa. Tôi mộng du lang thang lên đồi Thông giữa đêm hôm khuya khoắt. Không gian tĩnh lặng lạ kỳ, không một tiếng máy bay, không một tiếng súng nổ. Bầu trời yên tĩnh, thanh bình như chưa hề có chiến tranh, nhưng trong lòng tôi giông bão nổi lên. Cây đa xanh uống gió tạo âm thanh réo rắt lúc gần lúc xa như rắc vào tâm hồn muôn cung bậc bổng trầm với nỗi niềm khắc khoải, như nhắc tôi về với bao kỷ niệm vừa ngọt ngào vừa cay đắng:

Chú và em xuống nhà tôi nhân dịp giỗ bố. Hôm ấy, ngoài chị nhớn còn có cả hai chị ở xa về. Đã lâu, gia đình tôi mới có dịp đoàn viên, thiếu mỗi mình anh trai, mọi người cố tình lờ đi, không ai dám nhắc. Các chị tíu tít xuống bếp làm cơm cúng. Chú và dì ngồi nói chuyện trên nhà. "Chắc thể nào dì chả mang chuyện chạy Tây kể cho chú nghe?" Tôi và em ngồi ở bàn học giở sách ra xem, đang tranh luận thì chợt nghe hai người nhắc tới tên cô Maria, rồi Mụ Đỡ, rồi Bà Lang.. Tôi bấm em im lặng để nghe. Dì hỏi:

- Thế ông đi đâu mãi mà để cho người ta chờ đợi mỏi cả mắt?

- Sau lần gặp nhau trên tàu, tôi bị lộ, cấp trên điều tôi sang hoạt động ở vùng khác. Vì hoàn cảnh, tôi có nhờ mấy đồng chí hoạt động Phúc An tìm giúp, nhưng không ai biết người nào có tên như thế cả.

- Hỏi thế thì ai biết! - Dì nói - Phải hỏi Bà Lang hay Mụ Đỡ người ta mới biết. Thôi, âu cũng là cái số.

Chẳng lẽ chú chính là người đàn ông Cộng sản mà cô Maria và mẹ gặp trên tàu? Tôi đang nghĩ thì em cấu vào tay tôi ra hiệu để hai người nói chuyện. Tôi đứng dậy theo em ra sau vườn trèo lên cây khế. Tôi hỏi:

- Học xong em về công tác ở bệnh viện tỉnh chứ?

- Tổ chức phân công đâu em về đấy! Nếu được chọn, em sẽ xin về bệnh viện Phúc An cho gần anh, tiện bề chăm sóc dì.

- Em có xấu hổ khi yêu một người không có việc làm như anh không? - Tôi hỏi.

- Làm sao em phải xấu hổ? - Em hỏi lại - Nhưng thật lòng mà nói em tiếc cho anh nhiều hơn.

- Và buồn chứ?

- Có thế thật! - Em thú nhận kèm theo tiếng thở dài.

Nghe tiếng thở dài tôi im lặng, em cũng ngồi im. Hai đứa ruổi theo ý nghĩ của riêng mình. Chợt nghe tiếng chị nhớn gọi:

- Hai đứa đâu rồi? Vào chú bảo gì kìa Thừa ơi!

Tôi lên nhà, em theo sau. Tôi hỏi:

- Chú bảo cháu gì ạ?

- Sao cháu không xin đi thoát ly?

- Cháu sợ người ta không nhận - Tôi trả lời.

- Cháu đã nộp đơn chưa?

- Cháu đã bảo anh ấy bao nhiêu lần mà có chịu đâu! - Em nói chen ngang như muốn kể tội tôi.

- Chưa làm đơn mà đã biết người ta không nhận? - Chú hỏi rồi cười - Thế việc gì cũng làm chứ?

Thấy tôi ngần ngừ, thằng "tên" giục:

- Trả lời đồng ý đi!

Tôi chưa kịp phản ứng thì chú nói:

- Lúc nào Thừa chuẩn bị hồ sơ lý lịch mang lên nộp trên phòng lao động thị xã. Bây giờ Nhà nước đang cần tuyển người. Cháu có văn hóa thì ngại gì không được nhận?

Thấy chú nói vậy, dì thêm vào:

- Ngày còn mồ ma bố nó, ông ấy chỉ muốn nó được làm ở công sở của chính phủ - Dì bảo tôi - Ông Bí thư đã nói vậy, con cứ làm giấy tờ, nếu gặp khó khăn gì ông sẽ giúp! Đi làm thợ xây vất vả lắm!

Tôi định ậm ừ cho qua chuyện thì em nói:

- Còn phải chờ lúc nào nữa? Bây giờ anh và em làm luôn. - Nói rồi em kéo tôi ra chỗ bàn học - Anh viết đi! Bây giờ còn sớm, sang xin luôn chứng nhận của Trưởng khu.

Ông trưởng khu cầm tờ đơn gườm gườm nhìn tôi:

- Chứng nhận thì chứng nhận thôi, nhưng lý lịch bố anh thế ai người ta nhận?

Em nói:

- Thì ông cứ chứng nhận cho chúng cháu! Nhận hay không là do cơ quan tuyển dụng cơ mà!

Ông Trưởng khu chuyển con mắt gườm gườm sang em:

- Cô có phải người ở đây đâu mà biết? Bây giờ còn khối phản động đội lốt dân lành! Nhưng ông vẫn cúi xuống viết thật nắn nót.

Ra ngoài đường, tôi bảo em:

- Lý lịch ông ấy nhận xét thế này ai người ta dám tuyển?

Em cầm lấy xem. Trong phần nói về bố, ông Trưởng khu ghi:

* * * Chưa điều tra và kết luận xong mọi nghi vấn về hành động giúp Tây đánh ta trong thời kỳ Pháp tạm chiếm..

Bực mình, em định xé, nhưng nghĩ thế nào lại thôi, em nói:

- Cứ đem về cho chú xem.

Đọc xong, chú cất vào xà cột:

- Việc của Thừa cứ để thư thư rồi chú tính.

Tì cằm lên vai chú, em nũng nịu:

- Nhưng chú phải nhanh nhanh lên đấy!

Bí thư bẹo má em, nụ cười hiền khô.

Vài tháng sau tôi nhận quyết định đi làm ở phòng hành chính của Ủy ban thị xã. Ông Trưởng khu trợn tròn mắt khi tôi mang công văn đưa cho ông:

- Mất cảnh giác quá! Tinh thần cách mạng thế này có ngày mất nước!

Còn Thủ trưởng cơ quan nhìn tôi từ đầu đến chân:

- Người thô, mắt to, tóc tai thế này mà Bí thư cũng "tuyển" làm cháu rể?

Riêng dì thì mừng hết chỗ nói. Ngày nào ban thờ trầm hương cũng nghi ngút khói.

Công việc tôi được cơ quan phân công không vất nhưng bận bịu suốt ngày. Nhận và soạn các công văn gửi tới, nấu nước uống cho văn phòng, đổ bồ rác và dán cáo thị thông báo của Ủy ban. Ngoài ra, tôi còn phải sao chép lại các văn bản của Thủ trưởng. Một lần tôi hỏi:

- Sao Thủ trưởng không để văn thư đánh máy?

- Mo Phú! Chữ đánh máy nhòe khó đọc bỏ xừ, chữ cậu đẹp dễ đọc hơn. Vả, có gì cậu còn chỉnh lại văn và ngữ pháp cho tớ.

Cái gu của ông được thỏa mãn nhưng lại khổ tôi. Tôi không ngại viết, nhưng thứ bảy, chủ nhật em về hai đứa không có thời gian đi chơi. Tôi ca cẩm:

- Công việc nhiều quá em thông cảm.

Em nói:

- Anh cố gắng mấy năm, có thâm niên xin đi học chuyên nghiệp cũng dễ hơn.

Dì động viên:

- Cố mà phấn đấu con ạ! "Gái có công chồng không phụ".

Thương dì, nghe lời em tôi cố gắng. Một lần Thủ trưởng gọi tôi lên:

- Cậu làm tốt đấy, nhưng có đơn kiện Ủy ban sử dụng con cái phản động vào công việc của Chính quyền nhân dân. Từ mai cậu sang Phòng thủy lợi. Công trình hồ Đại Ngọc vừa khởi công đang cần người - Đưa giấy điều động cho tôi ông nói thêm - Moa là moa nể ông chú tương lai của cậu nắm đấy! Không cứ như người khác là Alê.. Về!

Tôi chuyển sang phòng thủy lợi và được điều vào Châu Lam làm cán bộ theo dõi tiến độ công trình hồ Đại Ngọc. Còn em, sau khi tốt nghiệp trường Quân y về làm y sĩ tại ủy ban tỉnh. Tôi và em mỗi lần gặp nhau lại bàn chuyện hôn nhân. Em bảo tôi:

- Chờ chú đi tham quan ở Liên Xô về chúng mình sẽ thưa chuyện.

Còn dì mua nứa tép giăng rộng cho giàn trầu không thêm nhiều lá.

Tôi mong ông về từng ngày. Với em và tôi, chú như người cha đẻ. Lòng tin tưởng và sự kính yêu của hai đứa đối với ông vượt lên trên tất cả. Những năm tháng hoạt động và vết thương do giặc Pháp tra tấn và đày đọa để lại hậu quả trên người ông. Tất cả tình thương yêu và hy vọng ông dành cho em. Có lần ông nói với tôi:

- Đối với chú, con bé là tất cả!

Một hôm, tôi đang dùng thủy kế đo mực nước và lưu tốc chảy của dòng suối đổ từ thượng nguồn vào hồ thì có người gọi:

- Anh có người nhà đến chơi. Đang chờ ở văn phòng công trường.

Tôi ngỡ ngàng nhận ra người tới tìm tôi là chú. Sau chuyến đi Liên Xô về, trông chú hồng hào hẳn. Chú quay lại bảo với anh cán bộ đi cùng;

- Đồng chí để hai chú cháu tôi nói chuyện.

Thấy ông im lặng khác thường, tôi linh cảm mường tượng có chuyện gì xảy ra hệ trọng lắm! Hay có kẻ nào lại viết đơn kiện tụng lý lịch gia đình tôi? Hay đã có chuyện gì xảy ra với em? Hay tôi được đi học? Trống ngực đập thùm thùm, tôi cố xua đi những ý nghĩ quái gở và hy vọng ông mang đến cho tôi những điều tốt lành. Lúc sau ông mở đầu:

- Chú muốn nói chuyện với cháu như hai người đàn ông..

Trước tiên, ông nói về tình người, về quan hệ của huyết thống, của dòng họ, của dân tộc, về nghĩa vụ cha con, thầy trò, về mục tiêu lý tưởng.. Ông nói khá dài, như một người buộc phải nói khi chưa thể nói ra những ý định thực khi cần nói. Cuối cùng khó khăn lắm ông mới bật ra:

* * * Chú muốn đề cập tới chuyện yêu đương của hai đứa. Không phải chú gây khó khăn gì cho hai cháu cả, nhưng như cháu thấy đấy: Sau khi bố nó mất, mẹ nó bỏ đi, một mình con bé bơ vơ như con chim không tổ. Vì bận công tác, chú phải đưa nó về Phúc An trọ học để cho thần kinh nó bớt ức chế và mong xóa đi những hình ảnh đau lòng của gia đình và cái chết của bố nó. Qua chuyện nó tâm sự, chú biết tình cảm của hai đứa sâu sắc lắm! Nhưng cháu ơi! - Giọng Bí thư bỗng lạc đi - Chú biết nói ra cháu sẽ rất đau lòng, nhưng nếu hai cháu lấy nhau thì chuyện quan hệ giữa cháu và nó mà phải đình lại.. - Ông dừng lại một chút như cân nhắc rồi nói tiếp - Cháu nên nhớ rằng, đã chấp nhận làm người cách mạng nhiều khi không thể làm những điều theo ý muốn của mình.

Ông nói đến đây thì tôi hiểu. Tôi ngước nhìn, ông né tránh không nhìn lại. Qua cử chỉ, tôi hiểu giờ đây giữa tôi và ông đã trở thành xa lạ. Lòng tôi trống rỗng. Đến ông còn bất lực trước định kiến của xã hội thì tôi và em làm sao cưỡng lại được số mệnh? Tự nhiên không hiểu sao tôi bình tĩnh lạ thường. Tôi nói:

- Cháu chờ ý kiến quyết định cuối cùng của cô ấy!

- Con bé đau khổ lắm! Khi nghe chú phân tích, nó không ăn, không ngủ mấy ngày liền. Và, cho đến hôm qua nó nói với chú: Sau khi bố cháu chết, chú thím thương cháu như con, chú nói vậy cháu xin nghe, chỉ mong chú luôn quan tâm tới anh ấy!

Thôi! Thế là rõ rồi, chính em là người ra ý cuối cùng. Tôi thở dài đứng dậy quên cả chào. Người cán bộ thấy tôi ra liền đi vào. Tôi loáng thoáng nghe tiếng Bí thư nói với anh:

- Các cậu nhắc Ủy ban thị xã lưu ý giúp đỡ cậu Thừa hộ mình.

Tôi định quay lại nói một điều gì đấy tỏ vẻ như bất cần. Nhưng, thằng "tên" ghìm tôi lại, giọng của nó cũng ngập tràn nước mắt:

- Đừng nói gì nữa! Chỉ là một tình yêu thôi mà..

Tình yêu! Cái gì tạo nên tình yêu? Trái tim hay lý tưởng? Và tại sao hai thứ không thể đồng hành trên một trục đường? Đó là đối kháng muôn thủa hay là sự phân tầng giai cấp? Vô tình, người đời đã tạo ra cho tôi và em một khoảng cách. Tôi và em ở giữa cái khoảng cách tưởng có thể lấy tình yêu đôi lứa mà khỏa lấp. Nhưng không! Em còn phải mang trọng trách lý tưởng của những người chết đã để lại! Còn tôi? Phải gánh trên vai mình một dĩ vãng xa xưa. Hai gánh nặng như nhau về thể chất, nhưng khác nhau về tinh thần. Tôi không hề trách em, con đường em vươn tới là cái đích mà chú em cùng với bao người khác phấn đấu bằng xương máu. Tôi có cớ gì mà hờn mà giận..

Tôi cứ để cả áo quần lao xuống hồ. Sải cánh bơi ra giữa dòng vùng vẫy. Trong cơn phẫn cảm, tôi muốn dòng nước kia nhấn chìm tôi xuống đáy, để quên đi mối tình đầu cay đắng.. Không biết tôi giầm mình dưới nước bao lâu? Cho tới khi mệt lả, tôi nằm ngửa trên mặt nước thả lỏng người ngắm trời ngắm dất. Xung quanh hồ, con đê chắn nước lừng lững như con trăn khổng lồ uốn khúc quanh co, thân hình đỏ rực như son dưới ánh nắng mặt trời. Để làm hồ Đại Ngọc, người ta quy hoạch lại toàn bộ vùng Châu Lam, di dời làng mạc, lấy dãy núi Thằn Lằn làm bờ chắn, ba bề còn lại tôn đất đắp bờ dài mấy chục cây số, cao hàng trăm mét, nhấn chìm bao nhiêu quả đồi và hàng chục ngàn hécta rừng dưới lòng hồ. Hàng vạn lượt người làm nghĩa vụ dân công ngày đêm đào đắp; đêm đêm đuốc đốt sáng rực trông như con rồng lửa, ban ngày trông như đàn kiến bậu trên lưng kiên trì vần vã. Cao vút, dãy Tam Đảo ngàn ngạt, mây trắng cuộn từng vòng, từng vòng thắt cổ bồng trên triền núi trông như những tấm khăn choàng thanh khiết.. Cũng trên bờ hồ này, đã bao lần tôi nói với em về tương lai tươi đẹp của viên đại ngọc màu xanh miền trung du. Tôi hẹn với em khi hoàn thành, sẽ chở em trên du thuyền hình đôi thiên nga; sóng nước bồng bềnh đưa tình yêu của tôi và em lạc tới những hòn đảo nổi; những cánh rừng nguyên sinh với muôn ngàn chim thú. Nắng như rắc hoa trên áo em muôn sắc màu huyền ảo. Và, em như thánh nữ tung tăng gót chân trần trên cát mịn, những viên sỏi lóng lánh như kim cương giát con đường tôi dẫn em tới lâu đài hạnh phúc.

Nhưng tất cả đã hết! Tôi bải hoải như không còn sức lực, buông thả mặc cho sóng nước vỗ về đưa đi, thân xác chìm vào quên lãng, bồng bềnh hôn mê trong làn nước xanh trong. Không một chút ưu tư, vướng bận. Đón tôi, một Thiên đồng bé xíu, đôi cánh mầu bạch ngọc, vai đeo cung hình trái tim, mũi tên cũng hình trái tim. Thiên đồng giương cung, mũi tên lao vun vút.. Từ trái tim tôi máu loang thành vệt tan trong sóng nước dập duềnh..

Bỗng có tiếng gọi:

- Anh Thừa ơi.. Anh Thừa..

Tiếng gọi sao quen quen, sao mà thân thiết thế.. Tôi giật mình bừng tỉnh, cùng lúc ấy, chân đạp phải một mom đất lập lờ. Tôi mở mắt ngơ ngác nhìn quanh: Không có ai! Nhưng tôi biết đó là tiếng vọng của tình yêu, vang trên thinh không níu kéo tôi về với cuộc đời. Nhưng tôi cần gì cái cuộc đời này? Xin em, xin em hãy để cho tôi quên đi tất cả! Cả em! Cả tôi! Cả tình yêu và hy vọng mà hai đứa mình luôn luôn tôn thờ.. Tôi phẫn uất vùng lên định chạy trốn thì bỗng một tiếng nói vang lên:

- Thôi đi! Mi khổ đau như vậy đủ rồi đấy!

À, thì ra đấy là thằng "tên". Tôi nghiêng đầu uể oải nghe nó nói tiếp:

- Mi tưởng ta chỉ là cái tên gắn trên người mi ư? Không! Ngàn vạn lần không! Ta chấp nhận đi với mi trọn đời bằng niềm tin và lòng dũng cảm của một con người. Vậy hà cớ gì mi biến ta thành kẻ ngốc, thành kẻ tòng phạm bi lụy vì một người con gái? Ái tình! Chẳng phải đó chỉ là trò đùa của số phận hay sao? Còn bổn phận của mi nữa! Quên rồi ư? Mi quên mi đã được sinh ra từ lòng yêu thương của mẹ và niềm kỳ vọng của người cha đáng kính ư? Sao mi dám vô ơn chạy trốn cuộc đời với tư cách của một kẻ tiểu nhân ích kỷ hèn đớn..

Và, lần đầu tiên trong đời, thằng "tên" mắng tôi như một người anh mắng đứa em trai; như thầy giáo dạy học trò. Nghiêm khắc nhưng chân tình. Không cao đạo nhưng thấm thía. Tôi thấy mọi góc cạnh cuộc đời hiện ra trong những ngôn từ. Tôi im lặng cúi đầu ngoan ngoãn như đứa trẻ bị cha mẹ rầy la.

Những ngày sau đó, tôi điềm tĩnh như chưa bao giờ điềm tĩnh như thế. Tôi mặc áo quần bảo hộ, cầm thủy kế trèo lên thượng nguồn do tốc độ dòng chảy, như chưa hề có đau khổ bao giờ.

Vùi đầu vào công việc, tôi lánh xa những thú vui, lầm lũi đi, về như chiếc đồng hồ chỉ thời gian. Về nhà, tôi giấu kín không cho dì biết. Giàn trầu không dì chăm không hiểu sao bị lụi, cuống ủng, lá vàng rụng đầy gốc như màu mùa thu vậy. Dì ca thán:

- Thế này có đám cưới lại phải ra chợ mua lá trầu đây!

Nghe, tôi lại lùi lũi trèo lên đồi Thông đi lang thang cho khuây khỏa. Nhung rồi mãi không thấy em xuống và tôi không nhắc, dì cũng đoán ra. Ít lâu sau, dì bỏ giàn trầu, trồng thay vào đấy một giàn hoa thiên lý.

Cho tới một hôm, tình cờ nghe một người bạn nói em sắp lấy chồng. Tôi bình thản đón nhận tin ấy bằng nụ cười chua chát. Nhanh vậy ư? Em để tang tình yêu của chúng ta có thế thôi sao? Hai năm trời! Chưa kịp cho một thân xác nằm dưới mồ ruỗng mục; chưa kịp để vết thương lòng mối tình đầu thành sẹo và những kỷ niệm về tình yêu phai mờ trong ký ức.. Bất chợt trong tôi vang lên hai câu thơ:

".. Một trăm con gái đời nay ấy

Đừng nói làm gì tới thủy chung"..

Thi sĩ nào mà tài tình làm vậy? Tôi lục trí nhớ, tìm đọc những ngôn từ các Nhà văn, Nhà thơ viết cay độc nhất dành cho đàn bà để thỏa mãn sự căm hờn rồi lấy đó mà lãng quên tất cả!

Nhưng không hẳn! Tôi không cưỡng lại được! Bị gục ngã trước "viên đạn" em "bắn" ra. Vô hình nhưng hữu hiệu. Tôi ốm lay lắt, người gầy rộc, tóc rụng từng mảng, không ăn, không ngủ. Biết tin, dì nhờ người vào công trường đón tôi về. Đêm đêm, dì ngồi cạnh ru nựng, dỗ dành, vỗ về coi tôi như trẻ nhỏ. Dì hái lá ngải cứu nấu cháo bón cho tôi:

- Từ bé con đã sống bằng thứ lá này rồi! Ăn đi con, cố mà vượt qua..

Tôi không nhớ ốm bao lâu? Một tháng hay ba tháng? Không biết tôi được vực dậy bằng tình thương của dì hay bởi vị đắng hắc của thứ lá mọc trong vườn. Dần dần sức khỏe tôi được phục hồi. Và, cùng thời gian trôi qua, tôi nghĩ tôi đã quên được em.

Nhưng rồi một đêm kia, đang lang mang chập chờn trong giấc ngủ, bỗng dưng tôi nghe tiếng gọi:

- Thừa.. Thừa ơi, mở cửa cho em..

Nhận ra tiếng em, tôi vội vã vùng dậy mở cửa. Em nhào ngã vào tôi như không kìm chế nổi vì phải chờ đợi quá lâu. Tôi dìu, vừa ghì chặt em vào lòng như sợ buông ra em sẽ biến mất. Người em lạnh toát, mái tóc đầm suơng, toàn thân run rẩy. Tôi hôn tới tấp lên vầng trán, lên mắt, lên môi.. Vị chát của dòng lệ nhớ mong, chờ đợi, tuôn trào dạt dào, như suối chảy vào miệng, vào lưỡi tôi. Hai đứa quấn lấy nhau, trái tim rộn rã, hơi thở dồn dập.. Tôi và em muốn quên đi tất cả! Không còn chia ly, không còn hờn giận. Nào cần chi một lý do? Cái đó không là đích của tình yêu sao?

Một lúc sau, em gối đầu lên ngực tôi, hơi thở nhè nhẹ, đôi môi hé mở, khuôn mặt hồng hào rạng ngời đầy mãn nguyện. Tôi bỗng thấy em trở nên bé bỏng, mảnh mai, yếu đuối. Tôi cảm giác như mình đang che chở cho một sinh linh trước bão tố của cuộc đời.

* * * Nắng rọi lên mặt, tôi bừng tỉnh, nhổm dậy nhìn quanh: Không thấy em. Tôi định gọi, chợt nhìn thấy bức thư em để lại. Tôi cầm lên, vẻn vẹn có một dòng:

"Vĩnh biệt tình yêu của em!"

Thay chương kết
 
282 ❤︎ Bài viết: 1159 Tìm chủ đề

Thay chương kết​


20261004-142729-a3867fd27b.png


Thay chương kết

Chiếc xuồng cập vào đảo Hai Người. Nguyễn Thừa bước lên bờ, đưa tay đỡ Hải Linh. Từng bậc bước được xếp bằng loại đá lấy từ núi Thằn Lằn, màu xanh đậm, không vân hoa, sần sùi góc cạnh. Trên đảo trồng toàn thông, tiếng lá reo ngân nga hòa tấu cùng từng đợt sóng vỗ vào bờ tạo thành một hợp âm thanh, trầm réo rắt.. Khu tưởng niệm được xây cùng một loại đá, nhỏ nhắn nằm nép vào vách đảo. Gọi là miếu, nhưng thực ra, chỉ có hai ngôi mộ quàn đá, mộc mạc, trần trụi, không một nét chạm khắc, không một dòng chữ. Phía trước là đài hương xây cuốn hình cung tựa như đài hương cúng người chết của dân tộc Sán Dìu. Dân trong vùng quen gọi là miếu Vợ Chồng. Người ta kháo nhau miếu Vợ Chồng thiêng lắm! Có người khăng khăng kể: Đã tận mắt nhìn thấy một người đàn ông và một người đàn bà hiện lên, bơi thuyền trên hồ vào những đêm trăng sáng, họ còn dắt tay nhau tung tăng đi dạo dưới rừng thông trong hoàng hôn tĩnh lặng. Những lữ khách tới Châu Lam, thưởng ngoạn cảnh trí vùng hồ Đại Ngọc đều đi thuyền lên đảo tảo mộ thắp hương. Người ta bảo nhau: Đến đây, chưa tới miếu Vợ Chồng trên đảo Hai Người là chưa phải đi du lịch. Không biết có thiêng thật không, nhưng những đôi trai gái gặp tình duyên trắc trở thường rủ nhau vào đây thắp hương xin phù hộ. Nghe nói sau đấy làta nghiệm lắm! Hải Linh hỏi:

- Anh có tin là thật không?

- Nghiệm hay không nghiệm thì sau khi ở đây về em thử ngẫm xem có đúng không? - Nguyễn Thừa dí dỏm.

Biết bị trêu, Hải Linh nguýt:

- Anh này.. Anh này.

Hai người nhổ cỏ, quét dọn, nhặt lá cây rơi vương vãi trên mộ, sửa soạn sắp lễ bày lên án thờ. Mùi trầm thơm dìu dịu. Cô gái thành kính, tự tại, mắt lim dim, tay chắp trước ngực, mồm lẩm nhẩm khấn nguyện. Trong khói hương lan tỏa, trông Hải Linh như pho tượng Phật Bà tọa trên đài sen ở cõi Niết Bàn. Thần sắc cô như lạc vào cõi tâm linh.

Nguyễn Thừa đứng cạnh, trầm ngâm.. Một lát, mặc cho Hải Linh ngắm nguyện, anh trèo lên chỗ cao nhất của đảo. Tiếng thác nước từ phía hang Dơi ầm ì vọng tới. Nước đổ xuống thành vệt trắng xóa, trông như người thợ đang rót bạc vào khuôn, nhũ của bọt nước bay như hoa lấp lóa trong ánh nắng mặt trời. Nguyễn Thừa xoay người nhìn về phía dưới. Từ đây: Cả vùng hồ hiện ra trước mắt, trông như một viên ngọc khổng lồ xanh biếc. Làn sương mỏng như tơ bay là là; từng đàn chim chao cánh soi hình trên tấm gương vĩ đại của thiên nhiên. Đã bao lần vào đây, nhưng lần nào anh cũng thấy lòng mình xao xuyến, bồi hồi như kẻ hành hương về với cội nguồn. Cuộc sống như dòng chảy, tất cả mọi dữ kiện của đời người sẽ trôi đi trên con sông thời gian ấy! Biết bao kỉ niệm đã xa rồi, biết bao người thân của anh đã ra đi. Nhưng những chuyện được nghe và những gì đã biết thì không bao giờ anh quên.

Tất cả sẽ trôi đi, còn dòng sông ở lại!

HẾT​

Phúc Yên - Xuân Ất Dậu 2005

Nguyễn Nhuận Hồng Phương​
 

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back