Bạn được Bán Yêu Khuynh Thành mời tham gia diễn đàn viết bài kiếm tiền VNO, bấm vào đây để đăng ký.

Thanh Trắc Nguyễn Văn

The Very Important Personal
49,237 ❤︎ Bài viết: 7555 Tìm chủ đề
3372 17
Kiếm tiền
Thanh Trắc Nguyễn Văn đã kiếm được 33720 đ
d6t2x18.jpg


1. Đầu To Bằng Cái Bồ

Chuyện kể rằng lúc Quỳnh còn nhỏ, mới bảy tám tuổi, Quỳnh đã tỏ ra thông minh đỉnh ngộ nhưng cũng là một đứa trẻ chúa nghịch. Hồi ấy bọn trẻ thường chơi trò xước xách, lấy tàu chuối làm cờ, lá sen làm lọng. Trong trò chơi, Quỳnh bao giờ cũng lấn lướt.

Một đêm mùa thu, trăng tháng tám sáng vằng vặc, đang chơi với đám trẻ ở sân nhà, Quỳnh bảo:

- Chúng bay làm kiệu cho tao ngồi, rồi tao đưa đi xem một người mà cái đầu to bằng cái bồ!

Lũ trẻ tưởng thật, liền tranh nhau làm kiệu rước Quỳnh đi vòng vòng quanh sân, mệt thở muốn đứt hơi. Xong, chúng nhất định bắt Quỳnh phải giữ lời hứa. Lúc ấy trăng đã mờ, Quỳnh bảo:

- Tụi bây đứng đợi cả ở đây, tôi đi đốt lửa soi cho mà xem!

Bọn trẻ nhỏ hơi sợ, không dám ở lại, chỉ những đứa lớn hơn, bạo dạn đứng chờ. Quỳnh lấy lửa thắp đèn xong đâu đấy, rồi thò đầu che ngọn đèn, bảo:

- Kìa, trông trên vách kìa. Ông to đầu đã ra đấy!

Anh nào cũng nhìn nhớn nhơ nhớn nhác, thấy bóng đầu Quỳnh ở vách to bằng cái bồ thật. Lũ trẻ biết Quỳnh xỏ, quay ra bắt Quỳnh làm kiệu đền, Quỳnh chạy vào buồng đóng cửa lại, kêu ầm lên. Ông bố tưởng là trẻ đánh, cầm roi chạy ra, lũ trẻ chạy tán loạn.

Lời bàn của Thầy Đồ VNO: Quỳnh từ nhỏ đã thông minh, vì thông minh nên thường bày trò chơi cho bọn trẻ và khi chơi lại cứ thích lấn lướt các bạn nên dễ gây hiềm khích với các bạn cùng lứa tuổi.

Muốn thông minh thì phải quan sát nhiều, trong truyện Quỳnh đã quan sát và cảm nhận được một hiện tượng vật lý: Một vật chắn sáng (đầu Quỳnh) đặt trước nguồn sáng (ngọn đèn) thì sẽ cho phía sau một vùng bóng đen (kích thước lớn hơn đầu của Quỳnh nhiều) và hai vùng nửa tối (vật lý lớp 7). Đó là một thí nghiệm vật lý rất hay, rất tiếc bọn trẻ đã không biết trân trọng còn đòi đánh Quỳnh.

Quỳnh lại thể hiện trí thông minh một lần nữa bằng cách đóng cửa và gọi ầm lên để nhờ ông bố Quỳnh can thiệp. Chơi như vậy thì ai chơi cho lại, bé Quỳnh?
 
Chỉnh sửa cuối:
49,237 ❤︎ Bài viết: 7555 Tìm chủ đề
Z02.jpg


2. Mẹo Trẩy Kinh

Mùa đông năm ấy, Quỳnh có việc đi gặp người bà con đang sinh sống ở Thăng Long. Đường về kinh thì xa, cuốc bộ phải mất cả tuần, mà Quỳnh vẻn vẹn có một quan tiền giắt lưng. Mới ngày thứ ba túi đã hết nhẵn tiền, chiều xuống, trời âm u, lại điểm mưa lâm thâm, gió bấc. Đến đầu làng kia, bụng đói cồn cào, vừa may gặp một đứa bé mục đồng dắt trâu về xóm, Quỳnh mừng rỡ hỏi thăm lối vào nhà ấp trưởng.

Ấp trưởng làng này vừa giàu sụ, vừa nổi tiếng quỷ quyệt. Qua vài lời chuyện trò với người lỡ độ đường, hắn đoán thầm khách không phải là hạng tầm thường, bèn vồn vã mời nghỉ lại và sai giai nhân làm mâm cơm thịnh soạn để thết đãi. Nhưng mấy ngày liền, khách cứ đi đi lại lại, rồi đến bữa nằm dài đợi cơm rượu hỏi đến chức danh công vụ thì cứ ậm ậm ờ ờ. Chủ nhà sốt ruột, sinh nghi. Như thường lệ, tối hôm ấy ăn xong một lúc, Quỳnh cáo lui về phòng riêng giáp với phòng ngủ của chủ nhân. Được một chập, Quỳnh tắt đèn lên giường nằm. Biết ở phòng bên có người vẫn thức rình mò mọi hành vi của mình, lát sau Quỳnh vờ thức dậy rón rén thắp đèn, sau đó cẩn thận lần dưới vạt áo, lấy ra một bọc nho nhỏ bên trong có ba gói vuông, bản bằng nhau. Khách cầm bút long chấm chấm, mút mút đầu ngòi, hí hoái viết vào từng gói như để đánh dấu cho khỏi nhầm lẫn (thực ra chẳng viết gì cả), miệng lẩm nhẩm đọc, cố ý cho kẻ đang rình bên kia khe vách vừa đủ lắng nghe: Độc dược của nhà chúa... Độc dược của bà chính cung... Độc dược của thái tử. Làm như vậy, đoạn Quỳnh đem gói chung thành một bọc như cũ, giắt vào lưng áo. Xong rồi tắt đèn, lên giường nằm trở lại. Khi phòng bên này bắt đầu tiếng ngáy đều đều, thì phòng bên vọng sang tiếng động khe khẽ. Tên ấp trưởng bí mật mở chốt cửa ra ngoài, lẻn đến chuồng ngựa.. Hộc tốc lao đi trong đêm.

Sáng hôm sau, mới hửng sáng, quan quân từ đâu ập tới nhà ấp trưởng đông nghịt, gươm giáo tua tủa vây kín mọi phía. Quỳnh mở mắt, chưa kịp búi tóc đã bị trói nghiền lại, quẵng lên một chiếc xe có bốn ngựa kéo, trẩy về kinh.

Trước phủ chúa, Quỳnh bị điệu ra xét xử với nhân chứng và vật chứng rành rành. Chúa đích thân tự tay mở tang vật. Té ra chẳng có gì ghê gớm! Chiếc bọc được gói kỹ lưỡng trong mấy lần mo cau, phủ ngoài bằng một vuông vải điều là chiếc bọc chứa ở bên trong mấy gói cơm khô nhỏ, Chúa lấy mũi hài đá té nắm cơm về phía Quỳnh, hất hàm tỏ vẻ khinh miệt:

- Ta tưởng thế nào... Tài giỏi như Trạng mà cũng ăn cả cái vứt đi này à?

- Khải chúa.

- Quỳnh đáp lại không chút ngần ngừ, nhà chúa thừa thãi mới gọi đó là của vứt đi. Còn thần dân bên dưới đâu dám phung phí một hạt, họ gọi cơm gạo là ngọc thực.

Nói rồi, Quỳnh trân trọng nhặt lấy mấy hạt cơm khô bỏ vào mồm nhai rào rạo. Chúa biết mình lỡ lời, đỏ bừng mặt, lại thêm một phen mắc lỡm, tức lộn ruột. Không có cớ gì buộc tội Quỳnh, chúa truyền nọc tên ấp trưởng ra, bắt lính đánh ba chục trượng vì tội nói láo và báo sai.

Trước cảnh tượng ấy, Trạng chỉ biết mỉm cười. Mặc dầu đã được tha bổng, trước khi bái biệt bề trên, Quỳnh vẫn không quên giễu chúa bằng những câu khéo:

- Xin chúa rộng lượng tha thứ cho ấp trưởng. Và cho thần được cảm ơn hắn cùng quan quân triều đình.

Lời bàn của Thầy Đồ VNO: Tên ấp trưởng thuộc loại kẻ dưới quyền được việc và trung thành với nhà chúa. Hắn trung thành, được việc nhưng không khôn ngoan. Vì không khôn ngoan nên hắn mới dễ mắc lừa Trạng Quỳnh. Nếu là người khôn ngoan hắn phải điều tra cho thật kỹ rồi mới "mật tấu" lên triều đình thì lúc đó vẫn chưa muộn. Đằng này do ham lập công, ngu dốt và không có kiến thức nên hắn mới bị "phản đam".

Trong truyện chúa Trịnh tượng trưng cho giai cấp phong kiến ăn trên ngồi trước, bóc lột nhân dân (thật ra cũng có nhiều chúa Trịnh tài giỏi giúp cho dân an cư lạc nghiệp như chúa Trịnh Cương). Trạng Quỳnh đã khéo léo nhắc nhở cho chúa Trịnh biết dân đen vẫn còn nhiều kẻ đói nghèo phải ăn cái "vứt đi", không được ăn sơn hào mĩ vị như chúa. Truyện Trạng Quỳnh chống bọn phong kiến bóc lột, sống bằng đồng thuế của người dân thâm thúy đến thế là cùng.
 
Chỉnh sửa cuối:
49,237 ❤︎ Bài viết: 7555 Tìm chủ đề
001.jpg


3. Đất Nứt Con Bọ Hung


Từ thuở bé, ngoài tính nghịch ngợm, hiếu động, Quỳnh còn tỏ ra thông minh xuất chúng khi học rất giỏi và đối đáp hay, nhất là khi ứng khẩu.

Trong làng cậu bé Quỳnh có một người hay chữ nhưng tính tình kiêu ngạo, đi đâu cũng khoe khoang, tên gọi là ông Tú Cát. Tất nhiên, từ nhỏ Quỳnh đã ghét những người có bản tính như vậy. Một hôm, Quỳnh đang đứng xem đàn lợn ăn cám thì Tú Cát đi qua. Đã được nghe người ta đồn đãi về thần đồng này, Tú Cát không ưa gì Quỳnh, ông ta ra vẻ kẻ cả gọi Quỳnh đến bảo:

- Ta nghe thiên hạ đồn mày là đứa thông minh, ứng đáp rất giỏi. Bây giờ ta ra cho mày một vế đối, nếu mà không đối được thì sẽ biết tay. Nhất định ta sẽ đánh đòn cho chừa các tật láo, nghe chưa!

Nói xong, không đợi Quỳnh thưa lại, Tú Cát liền gật gù đọc:

- "Lợn cấn ăn cám tốn."

Đây là một câu đối rất hắc búa bởi "Cấn" và "Cám" vừa chỉ lợn và thức ăn của lợn, lại vừa là hai quẻ trong kinh Dịch, người có học nhiều còn thấy khó. Thế nhưng, không nao núng, Quỳnh đọc lại ngay:

- "Chó khôn chớ cắn càn."

Quả là một vế đối vừa chỉnh vừa có ý xỏ xiên. "Khôn" và "Càn" cũng là hai quẻ trong kinh Dịch, Quỳnh lại còn ngầm ý chưởi Tú Cát là đừng có mà rắc rối. Bị thằng nhỏ hơn mình chơi lại một đòn đau, Tú Cát tức lắm, hầm hầm bảo:

- Được để coi mầy còn thông minh đến cỡ nào. Tao còn một vế nữa, phải đối ngay thì tao phục!

Nói xong Tú Cát đọc ngay:

- "Trời sinh ông Tú Cát!"

Vế vừa ra mang tính cách ngạo nghễ, phách lối. Nào ngờ, Quỳnh chỉ ngay xuống đất, dưới lớp phân heo đùn lên những ụ nhỏ mà đáp:

- "Đất nứt con bọ hung!"

Đến nước này thì dù tức đến hộc máu mồm, Tú Cát cũng đành cút thẳng.
 
49,237 ❤︎ Bài viết: 7555 Tìm chủ đề
009.jpg


Lời bàn của Thầy Đồ VNO: Tú Cát là tên của một ông tú tên Cát. Tú nghĩa là tú tài, học vị dưới cử nhân thời phong kiến nhà Nguyễn. Nói thẳng ra tú tài nghĩa là thi rớt cử nhân, nhưng do cũng vào "sâu" qua được vài vòng thi, nên nhà nước phong kiến ban cho một cái học vị an ủi là "tú tài" - nghĩa là "xém" đậu cử nhân! Trong truyện này có khá hạt sạn to đùng, vì thời vua Lê - chúa Trịnh của Trạng Quỳnh (cách thời các vua triều Nguyễn hơn 100 năm) chưa có học vị tú tài nha các bạn!

Các thành viên VNO (Viet Nam Overnigh) chúng ta có nhiều bạn vừa thi đậu Tốt Nghiệp Trung Học Phổ Thông - theo học vị thế kỷ 21 của nước nhà hiện nay đó chính là "tú tài". Còn các bạn nếu tốt nghiệp đại học sẽ được gọi là "cử nhân"

Ngày xưa trong một làng số người biết chữ rất là ít, do chữ nho học rất khó. Một làng hàng trăm nhân khẩu ước chừng cũng chỉ có vài chục người là biết chữ nho. Do đó tú Cát là người biết chữ lại "xém đậu cử nhân" nên cũng có chút ít danh vọng. Nếu là một con người khiêm tốn, người ấy sẽ tự xấu hổ vì công không thành danh không toại. Còn như tú Cát vốn là một kẻ hợm hĩnh, hắn là "khoai khô xắt lát" mà cứ tưởng mình là "nhân sâm Hàn Quốc" nên luôn tự phụ, phách lối, kiêu căng và thích "khoe" chữ.

Câu đối thứ hai của tú Cát trong truyện là một câu khá "phạm thượng": Trời sinh ông tú Cát. Nói vậy, hóa ra tú Cát là con trời, là "thiên tử", là vua ư? Ra câu đối như vậy, thời phong kiến dễ bị mang tội "phạm tội khi quân" lắm. Nhưng tú Cát vốn là kẻ cậy tài nên câu đối của hắn ngông nghênh là điều hiển nhiên.

Không ngờ hắn lại bị một cậu bé như bé Quỳnh dạy cho một bài học nhớ đời cũng bằng nghệ thuật đối rất cân, rất chỉnh của dân tộc: Đất nứt con bọ hung.

Sẽ có bạn hỏi tôi tại sao tú Cát tức muốn ói máu vì câu đối này? Ông tú Cát mà lại được so sánh với con bọ hung thì còn gì là thể diện. Con bọ hung là những con bọ khi nghe mùi phân thường bay đến tụ tập để "dọn sạch" đám phân cùng bọn ruồi nhặng đó các bạn.
 
Chỉnh sửa cuối:
49,237 ❤︎ Bài viết: 7555 Tìm chủ đề
03.jpg


4. Trả Nợ Anh Lái Đò

Quỳnh đi đò ngang thường chịu tiền, lâu quá hoá nhiều, không trả được.

Lúc anh lái đò đến đòi, Quỳnh bảo:

- Ừ đợi đấy, mai ta trả.

Rồi mua tre nứa, lá ngồi làm một cái nhà bè ở giữa sông, trong đề một câu:

"Đ.... Mẹ thằng nào bảo thằng nào!"

Và phao ầm lên rằng đó là lần yết thơ của Trạng.

Thấy nói thơ Trạng, thiên hạ nô nức kéo nhau đi gọi đò để ra giữa sông xem. Đi đò ra đến nơi, thấy độc một câu như thế, biết đã bị lừa vừa tức giận, vừa thẹn lại đi đò về. Người khác gặp hỏi thì cáu, nếu nói thật sẽ bị ứng vào câu chửi vừa mới xem, nên chỉ trả lời:

- Ra mà xem!

Thế là thiên hạ càng thấy lạ, càng xô nhau ra xem. Người xem thì không thấy gì, còn bị hăm chửi nếu về nói cho người khác nghe, nên chỉ ậm ừ cho qua chuyện khi có người hỏi. Kết quả là ngày hôm đó khách nối khách chen nhau gọi đò, còn anh lái đò được dịp thu tiền khách đi đò không xuể, hơn cả những ngày hội lễ.

Lời bàn của Thầy Đồ VNO: "Yết thơ" là gì? "Yết thơ" là dán thơ trên bảng, trên tường để thông báo cho mọi người biết. Từ xưa cũng có từ gọi là "yết thị". Lần giở các quyển từ điển cũ, Thầy Đồ có tra được định nghĩa sau: "Yết thị" là dán giấy công bố ở nơi công cộng để thông báo cho mọi người biết, "yết thị" cũng có nghĩa là bản thông báo được niêm yết.

Thời gian trong Truyện Quỳnh, thời vua Lê - chúa Trịnh, cách chúng ta hơn 300 năm nhưng tính thời sự trong truyện không hề cũ. Người Việt chúng ta có chung một thói quen rất xấu là hiếu kì, là "tò mò" và "nhiều chuyện". Hiểu rõ được điều đó nên Trạng Quỳnh mới dùng một "chiêu lừa" nho nhỏ cũng đủ kéo cả dân mấy tổng đi xem "chuyện tào lao" ở giữa sông.

Còn nhớ trước năm 2000, một cô gái nhảy xuống sông tự tử ỏ cầu Xóm Chỉ, quận 8, Tp.HCM. Thế là cả dân cầu Xóm Chỉ gần cả trăm người ra đứng chật cầu gỗ để chờ xem thợ lặn vớt xác cô gái và "tám" với nhau. Kết quả là cầu gỗ đã cũ không chịu nỗi sức nặng của cả trăm người nên đã gãy sập và làm rớt theo hơn 60 người khác xuống làm bạn với cô gái dưới sông.

Than ôi, đọc truyện Trạng Quỳnh xưa và ngẫm lại những điều đã thấy ở ngày hôm nay cũng không có khác nhau gì mấy!

 
Chỉnh sửa cuối:
49,237 ❤︎ Bài viết: 7555 Tìm chủ đề
009.jpg


5. Dê Đực Chửa

Tiếng tăm về một thần đồng nhanh chóng được truyền tụng khắp nơi, ngày càng lan rộng và đến tận kinh đô. Nhà vua muốn biết hư thực ra sao, nhưng là người chuộng nhân tài, sau khi suy nghĩ, vua bèn ban lệnh: Cả phủ Thanh Hóa, mỗi làng phải đem nộp một con dê đực đang chửa. Sau hai tháng, nếu làng nào không có sẽ bị trị tội. Cái lệnh tréo ngoe ấy tất nhiên làm dân chúng phủ Thanh Hóa hoảng hốt hoảng sợ hãi. Cả làng Quỳnh ở, ai cũng nhớn nhác lo âu. Tìm đâu ra dê đực chửa? Mà từ xưa đến giờ đã nghe ai nói cái chuyện lạ lùng ấy đâu! Thế nhưng, khi biết chuyện đó, Quỳnh nói với bố:

- Chuyện gì chớ chuyện này xin bố đừng lo. Bố cứ bảo dân làng chuẩn bị cho con một trăm quan tiền và gạo ăn đường, con sẽ kiếm được dê đực chửa cho làng. Nghe Quỳnh nói vậy, ông bố không tin, nhưng cũng thưa lại với dân làng. Người tin kẻ nghi nhưng không còn có cách nào khác, mọi người đành làm theo yêu cầu của Quỳnh. Sáng hôm sau, hai cha con Quỳnh lên đường. Họ đến kinh đô khi nhà vua có việc đi qua cửa Đông. Quỳnh nép xuống cống sát vệ đường chờ. Khi xa giá nhà vua đến gần, Quỳnh khóc rống lên. Nghe tiếng khóc có vẻ lạ, vua sai lính lôi đứa trẻ đang khóc lên hỏi nguyên do. Quỳnh vờ như không biết đấy là vua, càng gào to, kể lể:

- Mẹ tôi đã chết mấy năm nay, tôi nói mãi mà bố tôi không chịu đẻ em bé cho tôi bế...

Vua nghe nói câu ấy, bật cười bảo rằng:

- Ôi chao quả là một thằng bé đần độn. Ba mày là đàn ông mà đẻ làm sao được?

Chỉ đợi cho vua nói vậy, Quỳnh liền nín ngay, rồi đứng chắp hai tay lại, nói thật trang nghiêm:

- Thưa ông, vậy mà nhà vua bắt dân làng tôi phải nộp dê đực chửa!

Nghe nói vậy, nhà vua giật mình, biết ngay đây là đứa bé thần đồng mà bấy lâu mình vẫn nghe đồn.
 
Chỉnh sửa cuối:
49,237 ❤︎ Bài viết: 7555 Tìm chủ đề
LV01.jpg


Lời bàn của Thầy Đồ VNO: Trước khi bàn về truyện Dê Đực Chửa của Trạng Quỳnh, Thầy Đồ xin được kể về câu chuyện Muốn Tháo Chuông Phải Tìm Người Buộc Chuông trước.

Xưa thật xưa, có một vị hòa thượng đã hỏi các đệ tử: "Giả sử có một con hổ dữ đeo chiếc chuông vàng trên cổ, hỏi ai sẽ là người cởi được cái chuông ấy".

Các đệ tử đều không trả lời được. Tới gần con hổ thôi là đã mất mạng rồi, nói chi là dám mò tay vào cổ của hổ để gỡ chuông?

Lúc đó có một tiểu hòa thượng tên là Pháp Đăng đã đứng lên trả lời: "Chuyện này chẳng dễ đâu. Nhưng cứ bảo kẻ nào đã buộc chuông vào cổ con hổ thì tới tháo ra là xong."

Hòa thượng và mọi người cùng vỗ tay khen Pháp Đăng cực kỳ thông minh.

Tại sao tiểu hòa thượng Pháp Đăng nghĩ ra được câu trả lời thông minh như vậy? Bởi vì Pháp Đăng đã hiểu và vận dụng được một quy luật quan trọng trong nhận thức luận về quan hệ nhân quả của sự vật.

Chúng ta hãy tưởng tượng xem, con hổ tuy là loài dã thú cực kì hung dữ, nhưng một khi trên cổ nó đã có đeo một cái chuông, thì tất nhiên là đã có một người có đủ bản lĩnh chế phục được nó, mà đó tức là cái "nhân" của sự việc. Sau khi biết được cái "nhân" thì sẽ có thể tìm ra được đáp án về cái "quả" và đáp án tức là: hãy để cho kẻ nào buộc chuông vào cổ con hổ tới tháo cái chuông ấy.

Câu chuyện này giúp chúng ta có được gợi ý rất tốt về cách nhận thức sự vật và giải quyết mâu thuẫn.

Trở lại truyện Dê Đực Chửa của Trạng Quỳnh. Nhà vua do muốn tìm thần đồng nên đã ra một cái lệnh thật kỳ quặc: Cả phủ Thanh Hóa, mỗi làng phải đem nộp một con dê đực đang chửa!

Một cái lệnh cực kì vô lí nhưng không một ai ở phủ Thanh Hóa có thể tìm được biện pháp để đối phó. Trong đó biết bao quan chức, những người có học đã đỗ đạt cũng đành phải bó tay. Thế là thần đồng Quỳnh đành phải đứng ra giúp dân. Cũng như tiểu hòa thượng Pháp Đăng, bé Quỳnh đã vận dụng quy luật quan trọng trong nhận thức luận về quan hệ nhân quả của sự vật để giải quyết mâu thuẫn.

Muốn Tháo Chuông Phải Tìm Người Buộc Chuông. Vậy ai đã buộc chuông? Nhà vua. Muốn tháo chuông thì sao? Phải tìm nhà vua để gỡ rối. Thế là bé Quỳnh đã dùng mẹo để gặp nhà vua và buộc ông ta phải tự miệng nói ra: Giống đực không thể chửa được!

Bé Quỳnh thật hay, thật thông minh và thật sắc sảo. Phải không các bạn trong diễn đàn VNO?
 
49,237 ❤︎ Bài viết: 7555 Tìm chủ đề
000.jpg


6. Ông Nọ Bà Kia

Quỳnh có mấy người trong họ tấp tểnh công danh nay cậy mai cục nhờ Quỳnh gây dựng cho, may ra được tí phẩm hàm để khoe với làng nước. Một hôm, Quỳmh ở kinh đô về, sai người mời mấy anh ấy lại bảo:

- Giờ có dịp may, nào các anh có muốn làm ông nọ bà kia thì nói ngay.

Thấy Quỳnh ngỏ lời thế, anh nào cũng như mở cờ trong bụng, tranh nhau nhận trước.

Quỳnh bảo:

- Được các anh về nhà thu xếp khăn gói, rồi lại đây uống rượu mừng với ta, mai theo ta ra kinh đô sớm.

Anh nào anh nấy lật đật về nhà, vênh váo, đắc chí lắm, có anh về đến cổng, thấy vợ đang làm lụng lam lũ liền bảo vợ:

- Ít nữa làm nên ông nọ bà kia, không được lam lũ thế mà người ta chê cười cho.

Vợ hỏi:

- Bao giờ làm quan mà khoe váng lên thế?

- Nay mai thôi, sắp sửa khăn gói để mai đi sớm!

Nói xong, lại nhà Quỳnh đánh chén. Anh nào anh nấy uống say tít rồi mỗi anh nằm một xó. Đến khuya, Quỳnh sai người đem võng, võng anh nọ về nhà anh kia, anh kia về nhà anh nọ, nói dối rằng: Say rượu ngộ cảm phải bôi dầu xoa thuốc ngay không thì oan gia!

Các "Bà lớn" đang mơ màng trong giấc mộng, thấy người gõ cửa mà nói những chuyện giật mình như thế, mắt nhắm mắt mở, tưởng là chồng, ôm xốc ngay vào nhà, không kịp châm đèn đom đóm, rồi nào bôi vôi, nào xoa dầu, miệng lẩm bẩm: "Rượu đâu mà rượu khốn, rượu khổ thế! Ngày mai lên đường mà bây giờ còn sai như thế này! Nhờ phúc ấm có làm được ông nọ bà kia thì cũng lại phiền tôi thôi!"

Xoa bóp cho đến sáng, nhìn thì hóa ra anh láng giềng, các bà ngẩn người mà các anh đàn ông kia lại càng thẹn, vội cuối gằm mặt xuống cút thẳng. Về đến nhà, thấy vợ mình cũng đang đỏ mặt tía tai lại nói ngay:

- Ai ngờ nó xỏ thế. Tưởng ông nọ bà kia là thế nào. Thôi từ nay kệch đến già!

Lời bàn của Thầy Đồ VNO: Muốn làm quan thì phải có tài và có đạo đức. Phải có đủ tài đức, quan mới thật sự biết thương dân và giúp ích cho đất nước. Khi xã hội phong kiến đã thối nát thì bọn quan lại chỉ biết hè nhau bòn rút của công và hút máu người dân mà thôi. Cũng chính vì thế, ngày xưa người dân đã thể hiện sự bất bình và khinh miệt đối với bọn sâu bọ qua câu ca dao nổi tiếng sau:

"Con ơi nhớ lấy câu này
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan"

Trong truyện Trạng Quỳnh, mấy người trong họ của Quỳnh không có tài cán gì nhưng lại thích làm quan, thích làm "ông nọ bà kia".

Quỳnh rất thâm thúy khi chỉ cần một bữa tiệc rượu nhỏ cũng đủ cho các "quan" sa bẫy. Mai này dù các "quan" có làm quan lớn đi nữa, nhưng với cái thói ham mê tửu sắc hiện tại, cũng có ngày "quan" sẽ phải mang nhục cho bản thân, cho dòng họ nếu gặp phải các nàng Thị Hến đầy bản lĩnh! Và các bà vợ của "quan" cũng chợt hiểu, nếu sau này chồng mình có làm "quan" thì người khổ nhất vẫn là mình, sẽ có lúc nửa đêm mình cũng phải đi bắt ghen như bà huyện trong vở chèo dân gian Nghêu Sò Ốc Hến mà thôi.


Cái khôn khéo của Quỳnh cũng được tăng lên gấp bội sau màn đánh tráo các cặp đôi vợ chồng, về sau sẽ không còn một ai dám làm phiền Quỳnh về việc nhờ vả làm quan chức nữa. Làm phiền sao được, vì nếu kẻ nào còn nhắc đến đều sẽ bị "xấu thiếp hổ chàng" khi liên tưởng đến cái đêm hôm nảo hôm nào chung chạ với người lạ mà đến sáng phải "đỏ mặt tía tai"...
 
Chỉnh sửa cuối:
49,237 ❤︎ Bài viết: 7555 Tìm chủ đề
001.jpg


7. Miệng Kẻ Sang

Bấy giờ Quỳnh đã hơi lớn, đang độ thiếu niên. Trên đường từ phủ về khát quá, Quỳnh vào một quán nước bên đường. Trong quán có một viên quan, dáng oai vệ, đang ngồi nhai trầu bỏm bẻm. Cạnh đó, có một lính vệ đứng hầu. Quan nhai xong, hách dịch vứt miếng bã trầu ra đất.

Quỳnh đang ngồi uống nước, thấy ngứa mắt liền bước lại cuối nhặt lên, ngắm nghía như muốn tìm kiếm cái gì, rồi đút vào túi.

Quan thấy lạ, hỏi:

- Mày là ai? Làm gì vậy?

Quỳnh làm bộ khúm núm đáp:

- Bẩm, con là học trò nghèo, lâu nay thường nghe người ta nói "Miệng nhà quan có gang có thép" muốn nhặt lên đem về coi thử có đúng thế không?

Biết mình bị xỏ, lại không biết tên học trò xấc xược này là Quỳnh, quan liền bảo:

- Đã xưng là học trò thì người phải đối ngay câu tục ngữ mà người vừa nói đó đi, hay thì ta thưởng, dở sẽ đánh đòn. Mà nhớ là tục ngữ phải đối bằng tục ngữ, nghe chưa!

Quỳnh giả bộ rụt rè, thưa thưa bẩm bẩm:

- Con sợ mang tiếng xấc xược... Không dám đối.

Tưởng anh chàng học trò đang bí, quan bảo:

- Ta cho người cứ nói, còn đối không được thì nằm xuống để ta đánh đòn.

- Nếu thế thì con xin đối ạ.

- Được. Đối ngay đi, ta nghe thử!

Quỳnh thong thả đọc vế đối:

- "Đồ nhà khó vừa nhọ vừa thâm."

Nghe xong, mặt quan xám lại như tro bếp. Câu đối lại đúng là câu tục ngữ, không thể bắt bẻ vào đâu được.

Biết ngồi lâu không tiện, quan giục lính hầu ra đi, quên bẵng lời hứa thưởng tiền cho anh học trò nghèo.

Chẳng bao lâu, chuyện ấy lan ra khắp vùng, tên quan kia thì xấu hổ vì làm miệng cười cho thiên hạ còn tiếng tăm của Quỳnh thì nổi như cồn.


Ghi chú: Lời bàn Thầy đồ VNO truyện này nằm ở trang 2, các bạn sang tiếp trang 2 xem nhé
 
Chỉnh sửa cuối:
49,237 ❤︎ Bài viết: 7555 Tìm chủ đề
HZbZ6GG.jpg


Nhà thờ Nguyễn Quỳnh ở Hoằng Lộc, Hoằng Hóa, Thanh Hóa.

Lời bàn của Thầy đồ VNO: "Miệng kẻ sang có gang có thép - Đồ nhà khó vừa nhọ vừa thâm" thật ra là 2 câu đối đã có trong dân gian từ lâu. Như chúng ta đã biết Trạng Quỳnh là người không có thật trong lịch sử nước nhà, đó chỉ là một nhân vật được những người dân thấp cổ bé họng, bị bóc lột trong thời phong kiến tạo ra, để người dân được "thỏa mãn cái đam mê" là chửi vỗ mặt bọn quan lại bất tài; là để xỉa xói lũ quan chức tham ô hống hách luôn nhũng nhiễu nhân dân.

Trong truyện, ông quan hầu như không có biểu hiệu xấu gì để bị Quỳnh phải đối xử như vậy. Có thể là do người soạn truyện đã quá chủ quan nên thiếu tinh tế. Đáng lẻ người soạn truyện phải có thêm một vài dòng tiểu sử về viên quan này như: Ông ta làm quan nhưng chỉ luôn hứa suông, nói một đàng làm một nẻo, luôn giải thích lấp liếm cho qua chuyện; ông ta làm quan nhưng lại bòn rút của công, luôn tìm mọi cách móc túi của dân lành, có học vị nhưng lại phát biểu những câu ngu dốt... thì lúc ấy câu đối của Quỳnh sẽ khiến người đọc "đã" hơn, và tên quan sẽ đáng bị xấu hổ hơn.


Tìm trong Wikipedia Thầy đồ có tìm được một nhân vật lịch sử có thể được xem là Trạng Quỳnh

Nguyễn Quỳnh (1677–1748) là một danh sĩ thời Lê – Trịnh (vua Lê Hiển Tông - vua cha của công chúa Ngọc Hân, cha vợ của hoàng đế Quang trung)), từng thi đỗ Hương cống nên còn gọi là Cống Quỳnh. Ông nổi tiếng với sự trào lộng, hài hước tạo nên nhiều giai thoại nên trong dân gian vẫn thường gọi ông là Trạng Quỳnh dù ông không đỗ Trạng nguyên.

Ông còn có tên Thưởng, hiệu Ôn Như, thụy Điệp Hiên, quê tại làng Bột Thượng, trấn Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, nay thuộc thôn Hưng Tiến, xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Thân sinh ông là ông Nguyễn Bổng và bà Nguyễn Thị Hương.

Thuở nhỏ, ông học với ông nội và cha (vốn là giám sinh ở Quốc Tử Giám). Năm 1696, Quỳnh thi đỗ Giải nguyên; nhưng đi thi Hội nhiều lần bị hỏng.

Về sau, triều đình bổ nhậm ông làm giáo thụ các huyện Thạch Thất, Phúc Lộc (Sơn Tây), tiếp đến làm huấn đạo phủ Phụng Thiên ở kinh thành Thăng Long. Năm 1718, đỗ khoa Sỹ vọng được bổ làm tri phủ Thái Bình, rồi về làm Viên ngoại lang ở Bộ Lễ; sau bị giáng xuống chức Tu soạn ở Viện Hàn lâm.

Tuy không đỗ đại khoa, Quỳnh vẫn nổi tiếng là người học hành xuất sắc. Đương thời đã có câu: "Nguyễn Quỳnh, Nguyễn Nham, thiên hạ vô tam" (nghĩa là thiên hạ không có người thứ ba giỏi như hai ông).

Sách Nam Thiên lịch đại tư lược sử đã nhận xét về ông: ".. Nguyễn Quỳnh văn chương nổi tiếng ở đời, nói năng kinh người, thạo quốc âm, giỏi hài hước..".

Tác phẩm còn lại của Nguyễn Quỳnh, gồm một số bài ký, văn tế mẹ, văn khóc em (vốn tài hoa, nhưng chết yểu ở tuổi 14) và hai bài phú chép trong tập Lịch triều danh phú. Lịch triều danh phú là tuyển tập của các danh sĩ thời bấy giờ, tất cả đều đỗ đại khoa, chỉ có hai người đỗ Hương cống là Nguyễn Quỳnh và Đặng Trần Côn (tác giả Chinh Phụ Ngâm được nữ sĩ Đoàn Thị Điểm dịch thành Chinh Phụ Ngâm Khúc).

Tương truyền ông là bạn thơ của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm.

Do tính cách trào phúng nên dân gian thường đồng hóa ông vào nhân vật Trạng Quỳnh – một ông Trạng dân gian nổi tiếng với tính trào lộng.

Để tôn vinh ông, Nhà nước Việt Nam đã cho xây dựng nhà lưu niệm Trạng Quỳnh tại quê hương ông.
 
49,237 ❤︎ Bài viết: 7555 Tìm chủ đề
Z11.jpg


8. Phơi Sách, Phơi Bụng

Gần nhà Quỳnh có một lão trọc phú. Lão này đã dốt lại thích học làm sang, thỉnh thoảng mò đến nhà Trạng, đòi mượn sách. Tất nhiên lão có mượn được sách về thì cũng biết gì đâu đọc. Quỳnh bực lắm, một bận, thấy lão lấp ló đầu cổng, Quỳnh vội vác ngay chiếc chõng tre ra sân, cởi áo nằm phơi bụng. Lão trọc phú bước vào, thấy lạ, hỏi:

- Thầy làm gì thế?

Quỳnh đáp:

- À! Có gì đâu! Hôm nay được cái nắng tôi đem phơi sách cho khỏi khô mốc

- Sách ở đâu?

Quỳnh chỉ vào bụng:

- Sách chứa đầy trong này!

Biết mình bị đuổi khéo, trọc phú lủi thủi ra về.

Bận khác, lão cho người mời Quỳnh đến nhà. Để rửa mối nhục cũ, lão bắt chước, đánh trần, nằm giữa sân đợi khách...

Quỳnh vừa bước vào, lão cất giọng con vẹt, bắt chước...

- Hôm nay được cái nắng tôi nằm phơi sách cho khỏi mốc

Bất ngờ Quỳnh cười toáng, lấy tay vỗ bình bịch vào cái bụng phệ mà nói;

- Ruột nhà ông toàn chứa những của ngon chưa tiêu hết phải đem phơi, chứ làm cóc gì có sách mà phơi!

Lão trố mắt kinh ngạc:

- Sao thầy biết?

Quỳnh lại cười toáng lên, lấy tay lắc lắc cái bụng béo ụ ị của lão:

- Ông nghe rõ chứ? Bụng ông nó đang kêu "Ong óc" đây này! Tiếng cơm, tiếng gà, tiếng cá, lợn... Chứ có phải tiếng chữ, tiếng sách đâu. Thôi ngồi dậy, mặc áo vào nhà đi.

Lão trọc phú lủi thủi làm theo lời Quỳnh, và ngồi tiếp khách một cách miễn cưỡng.

Lời bàn của Thầy Đồ VNO:

Những người giỏi chữ ngày xưa thường tự hào là đã học hết Tứ thư Ngũ kinh. Tứ thư gồm 4 quyển: Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ và Mạnh Tử. Ngũ Kinh gồm 5 tác phẩm Kinh thi, Kinh thư, Kinh lễ, Kinh dịch và Kinh Xuân Thu. Đó là những tác phẩm kinh điển của nho học. Các cụ vẫn thường nói đùa: "Văn chương, chữ nghĩa đầy một bụng"! Do đó việc Trạng Quỳnh nằm phơi bụng nói là phơi sách cũng là việc bình thường.

Cái bất bình thường đáng nói ở đây là sự ngu dốt của lão trọc phú. Trọc phú là từ dùng để chỉ những kẻ giàu có nhưng không có học thức, giàu mà không sang, phú mà không quý. Tự nhận thức được trình độ yếu kém của mình, lão trọc phú giả vờ sang nhà Trạng Quỳnh mượn sách để ra vẻ ông ta cũng là một người am hiểu chữ nghĩa. Trạng Quỳnh bất bình ông ta mượn sách nhiều lần về nhà mà không đọc nên mới bày ra việc "phơi bụng" để "phơi sách".

Cứ tưởng lão trọc phú sẽ biết xấu hổ, không ngờ lão cũng giống như con khỉ thích bắt chước Trạng Quỳnh, cũng đua đòi nằm "phơi sách". Nhưng bụng lão làm gì có sách, chỉ toàn phân mà thôi!

Đọc truyện Trạng Quỳnh xưa ngẫm lại thời nay, có nhiều vị dù có bằng cấp cao (bằng giả chắc luôn), có chức có quyền nhưng cứ mở miệng ra là bị nhiều người khác chửi. Chẳng hạn như: "Xăng mà giảm giá nhiều quá sẽ khiến nhiều người sẽ bị sốc", "Dịch Covid 19 lây lan nhanh là do người nghèo, cần phải cách li người nghèo ra khỏi nơi ở của người giàu", "Gái Việt chỉ nên lấy chồng Tây. Trai Việt vừa ở dơ, vừa làm biếng", "Bánh mì không phải là thực phẩm", "Phí vé tham quan chùa tuy cao như vậy nhưng nhà chùa vẫn bị lỗ", "Ngô Quyền đã 3 lần đánh thắng quân Nguyên Mông", "Sách giáo khoa cần tăng giá cao hơn nữa để tránh cho nhà xuất bản không bị phá sản"... Trong đầu họ làm gì có kiến thức, làm gì có văn hóa cũng chỉ toàn chứa những cái không được sạch sẽ lắm mà Thầy Đồ không tiện nói ra...
 
49,237 ❤︎ Bài viết: 7555 Tìm chủ đề
Y11.jpg


9. Lỡm Quan Thị

Có một ông quan thị đại nịnh thần, được chúa Trịnh yêu lắm. Ông ta thường đến chơi nhà Quỳnh, thấy sách thì cũng mượn xem, mà ít khi trả. Quỳnh ghét cay ghét đắng, định chơi xỏ một trận cho chừa. Quỳnh bèn lấy giấy trắng đóng thành quyển sách để sẵn. Một hôm. Thấy bóng quan thị đằng xa, Quỳnh giả vờ cầm sách xem, đợi khi ông ta đến nơi thì giấu đi. Quan thị thấy Quỳnh giấu, ngỡ là sách lạ, đòi xem, Quỳnh bảo:

- Sách nhảm có gì mà xem.

Quan thị năn nỉ mãi cũng không được, về tâu với chúa. Chúa đòi Quỳnh sang hỏi, Quỳnh đoán chắc là đòi về chuyện quyển sách, mới lấy bút viết mấy câu vào sách bỏ vào tráp khoá lại, rồi sang hầu. Quả nhiên như thế. Quỳnh tâu:

- Không có sách gì lạ, chắc thị thần tâu man với Chúa đó.

Chúa thấy Quỳnh chối, lại càng tin là Quỳnh có sách lạ, bắt phải đem trình. Quỳnh sai người về đem tráp sang, mở ra, chỉ thấy có một quyển sách mỏng, Quỳnh rụt rè không dám đưa. Chúa bảo:

- Cứ đưa ra. Chúa mở ra xem chỉ thấy có mấy câu:

- "Chúa vị thị thần viết: Vi cốt tứ dịch, vi cốt tứ dịch. Thị thần quy nhị tấu viết: Thần phùng chỉ phát, thần phùng chỉ phát".

Chúa ngẫm nghĩ đi lại không biết nghĩa ra làm sao, bảo Quỳnh cắt nghĩa thì Quỳnh rụt rè tâu:

- Sách ấy là sách nhảm nhí của tiểu thần chỉ xem khi buồn, sợ cắt nghĩa ra, rác tai chúa!

Chúa nhất định không nghe, bắt Quỳnh cắt nghĩa cho được.

Quỳnh vâng lệnh tâu với chúa, câu ấy nghĩa là: " chúa hỏi thị thần rằng:

Làm xương cho sáo, làm xương cho sáo, thì thần quỳ mà tâu rằng: Tôi may ngón tóc, tôi may ngón tóc"

Quỳnh cắt nghĩa, nhưng chúa cũng chưa hiểu ra lại hỏi:

- Đã đành nghĩa đen là thế, nhưng mà ý tứ thế nào?

Quỳnh cười tủm tỉm không dám nói. Chúa và quan thị đứng hầu bên càng gặng hỏi.

Quỳnh mới tâu:

- Xin chúa đọc đảo ngược lại thì ra nghĩa, nhưng mà tục lắm.

Bấy giờ chúa với quan thị mới biết Quỳnh lỡm, bảo Quỳnh mang sách về.

Quỳnh ra, quan thị chạy theo trách Quỳnh nhạo cả chúa, thực là vô phụ, vô quân. Quỳnh đáp lại:

- Ngài nói tôi vô phụ, vô quân thì bọn thập thường thị đời Hậu Hán là gì? Tôi đã giấu mà ngài cứ nịnh để đòi ra cho được thì lỗi tại ai?

Quan thị tịt mất.
 
Chỉnh sửa cuối:
49,237 ❤︎ Bài viết: 7555 Tìm chủ đề
001.jpg


Lời bàn của Thầy Đồ VNO:

Quan thị là những quan chức nhỏ có thể xem như đồng nghĩa với giám quan, quan hoạn, tự nhân, yên nhân, trung quan, nội quan, hoạn quan...

Công bằng mà nói trong lịch sừ nước nhà cũng đã từng có những danh nhân kiệt xuất xuất thân từ quan thị như Thái úy Lý Thường Kiệt, Tả quân Lê Văn Duyệt... Nhưng phần đông quan thị (phim Trung Quốc thường gọi là Công Công) đều thích lối sống an nhàn và có thói quen rất xấu là ưa luồn cúi, xu nịnh vua và các bà hoàng hậu, phi tần trong cung để được hưởng lợi.

Khi viên quan thị chạy theo Trạng Quỳnh và trách Trạng Quỳnh là vô phụ, vô quân (coi thường cha, coi thường vua, cố ý khép Trạng Quỳnh vào trọng tội "khi quân" bất kính với vua chúa)

Thập Thường Thị là mười hoạn quan có tầm ảnh hưởng lớn trong triều đình của Hán Linh Đế (168-189) thời Đông Hán. Trên thực tế có 12 người và tất cả đều giữ chức Trung Thường Thị. Bọn này đã áp chế vua và hoàng hậu, nổi loạn ở hậu cung, giết chết tướng quân Hà Tiến, tạo điều kiện cho bọn Đổng Trác sau này có cớ đem quân vào cung dẹp loạn. Đổng Trác tiếm quyền, phế bỏ vua cũ lập vua mới, khiến triều đại nhà Hán hơn 400 năm phải suy sụp.

Trạng Quỳnh cũng đã tỏ ra rất đanh thép khi nhắc lại chuyện "thập thường thị", ý nói những tên quan thị xu nịnh chỉ là bọn hại dân hại nước, rồi sẽ có ý làm phản hại vua hại chúa như thời hậu Hán thôi. Tên quan thị hoảng sợ phải bỏ chạy. Đúng là vỏ quýt dầy có móng tay nhọn.

Thời nay, không cần là quan hoạn, những kẻ xu nịnh vẫn có mặt ở khắp mọi nơi trong công ty, trong cơ quan nhà nước. Có nhiều chuyện tiếu lâm cười ra nước mắt để kể về những tên đại nịnh thời bốn chấm không.

Truyện thứ nhất, trong một buổi họp phê bình và tự phê bình, một nhân viên đã đứng lên phê bình giám đốc công ty của mình như sau: "Đồng chí giám đốc có rất nhiều ưu điểm nhưng vẫn có một khuyết điểm duy nhất cần phải khắc phục đó là đồng chí lo làm việc quá sức, không lo vui chơi, không để ý đến sức khỏe của mình. Đề nghị đồng chí giám đốc cần phải khắc phục khuyết điểm này để các nhân viên trong công ty bớt lo lắng cho sức khỏe của đồng chí!"

Truyện thứ hai, một nhân viên nhà nước gặp thủ trưởng tại nhà vệ sinh đã thốt lên: "Trời ạ, thủ trưởng ngày quên ăn đêm quên ngủ để lo cho nước cho dân, thế mà cũng phải phí thời gian để đi làm việc tầm thường này sao?"
 
Chỉnh sửa cuối:
49,237 ❤︎ Bài viết: 7555 Tìm chủ đề
AVvXsEhlb-EZNUt8_fv_vsIxEXTXaFIfLY-VDlcTWHr2Qiqm6R1YP8CWbynXGMTuNaksmwit_SvnzY8Y_fTqM8e37-406okoZjUUpxvdltSV2sq9pwJsM0qhUQPvGtMO5zs-VQeC303cUwxpEVbQNEngGbiYW8XySUgWuSKdW5OYfqlyYbRgSkiRQI72flkA=s16000


9. Đá Gà Với Quan Thị

Bọn quan thị, nơi phủ chúa "Gà" thật không có mà lại cứ hay đá gà. Chúng bỏ ra nhiều tiền, lùng cho được những con gà hay đem về nuôi rồi đem ra đá độ với nhau. Nghe nói Quỳnh chọi gà với sứ Tàu thắng, họ liền mang gà đến nhà Quỳnh, đá thử một vài cựa chơi. Quỳnh vốn ghét bọn quan thị, từ chối nói là không có gà, nhưng họ nhiễu mãi, phải ừ và hẹn đến mai đi bắt gà về chọi. Bên láng giềng có một con gà trống thiến, Quỳnh liền qua mượn mang về.

Sáng sớm, mở mắt dậy, đã thấy quan thị đem gà lại rồi. Quỳnh sai bắt gà trống thiến đem ra chọi. Tất nhiên, vừa so cựa được một vài nước, thì gà quan thị đá cho gà trống thiến một cựa lăn cổ ra chết ngay còn gà bọn hoạn quan thì vỗ cánh phành phạch lấy uy, gáy vang cả sân nhà. Bọn chúng khoái chí vỗ tay reo:

- Thế mà đồn rằng gà của Trạng hay, chọi được gà Tàu, giờ mới biết đồn láo cả!

Quỳnh chẳng cãi lại, chỉ ôm gà trống thiến mà rằng:

- Các ngài nói phải, trước con gà này đá hay lắm, nhưng từ khi tôi thiến nó đi, thì nó đốn đời ra thế!

Rồi ôm gà mà than thở: "Khốn nạn thân mầy, gà ôi! Tao đã bảo phận mày không dái thì chịu trước đi cho thoát đời, lại còn ngứa nghề là gì cho đến nỗi thế này! Thôi mày chết cũng đáng đời, còn ai thường nữa, gà ôi!".

Các quan thị nghe thế, xấu hổ, ôm gà cút thẳng.

Lời bàn của Thầy Đồ VNO:

Người đọc Trạng Quỳnh có lẽ sẽ thắc mắc vì sao Trạng Quỳnh (nhân vật hư cấu đại diện cho tiếng nói của nhân dân bị bóc lột thời phong kiến) lại luôn tỏ ra ghét cay ghét đắng các quan thị? Như đã nói ở truyện trước, thời xưa các quan thị chủ yếu được chọn vào hầu hạ các ông vua bà chúa trong cung cấm. Do được gần gũi những người có quyền cao tối thượng nên những quan thị bất tài phải thường xu nịnh, ton hót chủ nhân để được hưởng lợi. Khúm núm với bề trên nhưng các quan thị lại luôn hống hách với nhân dân.

Sự khinh bỉ đối với bọn quan thị đã được dân gian gửi gắm qua Truyện Trạng Quỳnh Đá Gà Với Quan Thị. Câu cà khịa sâu cay của Trạng Quỳnh ở cuối truyện cũng đã nói lên phần nào lòng căm ghét của nhân dân đối với bộ phận quan lại bất tài vô dụng nhưng lại luôn được ăn trên ngồi trước trong thời phong kiến
 
Chỉnh sửa cuối:
49,237 ❤︎ Bài viết: 7555 Tìm chủ đề
9p1wr5Z.jpg


Đền thờ bà Chúa Liễu

10. Chúa Liễu Mắc Lỡm

Lúc Quỳnh còn là học trò nhà nghèo, phải ra đền Sòng xin cấy rẽ. Đền Sòng quê ông là nơi thờ Bà Chúa Liễu nổi tiếng rất linh thiên, không ai là không kinh sợ. Chúa Liễu có nhiều ruộng và bà cũng cho cấy rẽ để lấy lợi. Lần ấy, Quỳnh vào đền khấn mượn đất xong thì khấn quẻ âm dương hỏi Chúa là bà lấy gốc hay lấy ngọn trong vụ thu hoạch tới. Lần đầu Chúa bảo lấy ngọn, thế là vụ ấy Quỳnh trồng khoai lang. Đến khi khoai đã có củ, đào khoai xong, Quỳnh đem hết củ về nhà còn bao nhiêu dây khoai Quỳnh đem để đền bà chúa.

Lần thứ hai, xin âm dương, Chúa đòi lấy gốc để ngọn cho Quỳnh. Mùa ấy Quỳnh liền trồng lúa. Đến mùa gặt, Quỳnh cắt hết bông và đem gốc rạ trả cho Bà Chúa!

Chúa Liễu hai lần bị Quỳnh lừa, tức giận lắm xong đã trót hứa rồi, không biết làm thế nào được. Lần thứ ba, Quỳnh đến xin thì Chúa bảo lấy cả gốc lẫn ngọn, còn khúc giữa cho Quỳnh, Quỳnh giả vờ kêu ca:

- Chị lấy thế em còn gì được nữa!

Khấn đi khấn lại mãi, Chúa nhất định không nghe, Quỳnh về trồng ngô, đến kỳ bẻ ngô bao nhiêu bắp Quỳnh giữ lạ, còn ngọn với gốc Quỳnh đem nộp cho Chúa.

Chúa mắc mưu Quỳnh ba lần, đòi lại ruộng, song trong ba vụ ấy, Quỳnh đã kiếm cũng được cái vốn kha khá rồi.

Lời bàn của Thầy Đồ VNO: Theo tư liệu từ nhiều nguồn mà Thầy Đồ thu thập được thì Thánh Mẫu Liễu Hạnh là một trong những vị Thánh quan trọng của tín ngưỡng Việt Nam. Bà còn được gọi bằng các tên: Bà Chúa Liễu, Liễu Hạnh, Mẫu Liễu Hạnh hoặc ở nhiều nơi thuộc vùng Bắc Bộ bà được gọi ngắn gọn là Mẫu Liễu.

Theo truyền thuyết trong dân gian Việt Nam, Mẫu Liễu Hạnh là một trong bốn vị thánh Tứ bất tử. Bà vốn là con gái thứ hai của Ngọc Hoàng Thượng đế, 3 lần giáng trần. Bà đã được các triều đại phong kiến từ thời nhà Hậu Lê đến thời nhà Nguyễn cấp nhiều Sắc, tôn phong là "Mẫu nghi thiên hạ - Mẹ của muôn dân", "Chế Thắng Hòa Diệu đại vương" và cuối cùng quy y cửa Phật theo lối bán tu rồi thành đạo là Mã Vàng Bồ Tát.

Bà chính là vị Thánh Mẫu đứng đầu hệ thống Tam phủ, Tứ phủ thờ đạo Mẫu. Nhiều làng xã và các đô thị ở phía bắc Việt Nam đều có đền thờ bà.

Trong truyện Chúa Liễu Mắc Lỡm chúng ta dễ dàng nhận thấy Trạng Quỳnh không hề kiêng nể một ai dù đó là thánh thần. Trạng Quỳnh gọi bà Chúa Liễu là "chị" (đáng lẽ phải gọi là Mẹ - Thánh Mẫu mới đúng). Truyện cũng cố ý mô tả Chúa Liễu như một bà địa chủ có nhiều ruộng đất, chuyên bóc lột công sức những người nông dân mướn đất.

Truyện Chúa Liễu Mắc Lỡm có thể không làm vừa ý những người tôn kính bà Chúa Liễu, nhưng truyện cũng nói lên khát vọng của những người tay lấm chân bùn chân chính là đả phá quyết liệt vào những hủ tục, mê tín dị đoan, buôn thánh bán thần do những kẻ núp bóng tín ngưỡng tạo nên để dễ bề hưởng lợi.
 
49,237 ❤︎ Bài viết: 7555 Tìm chủ đề
01.jpg


11. Ăn Trộm Mèo

Nhà vua có nuôi một con mèo tam thể quý lắm, xích bằng xích vàng và cho ăn toàn những đồ cao lương mỹ vị.

Quỳnh vào chầu, trông thấy, liền tìm cách bắt trộm về, cất xích vàng đi buộc bằng xích sắt, nhốt lại. Đến bữa đợi cho con mèo thật đói, Quỳnh để hai cái đĩa, một đĩa cơm trộn thịt cá và một đĩa cơm trộn rau. Mèo nhà vua quen ăn miếng ngon chạy đến chỗ thịt cá chực ăn. Quỳnh cầm sẵn roi, hễ ăn thì đánh. Mèo đói quá, phải ăn đĩa cơm rau. Dạy như vậy được một thời gian, mèo quen dần, không bao giờ dám gì ngoài rau nữa mới thả ra. Vua mất mèo, tiếc quá, cho người đi tìm, thấy nhà Quỳnh có một con mèo tam thể giống như hệt, nghi lắm, bắt Quỳnh mang mèo vào chầu. Vua xem mèo, hỏi:

- Sao nó giống mèo của Trẫm thế? Hay khanh thấy mèo của Trẫm đẹp bắt về, nói cho thật!

- Tâu bệ hạ, bệ hạ nghi cho hạ thần bắt trộm, thật là oan, xin bệ hạ đem ra thử thì biết.

- Thử thế nào? Nói cho Trẫm nghe.

- Muôn tâu bệ hạ, bệ hạ phú quý thì mèo ăn thịt ăn cá, còn hạ thần nghèo túng thì mèo ăn cơm trộn với đầu tôm, rau luộc. Bây giờ để hai bát cơm ấy, xem nó ăn bát nào thì biết ngay.

Vua sai làm thử. Con mèo chạy thẳng đến bát cơm rau, ăn sạch. Quỳnh nói:

- Xin bệ hạ lượng cho, người ta phú quý thì cao lương mỹ vị, bần tiện thì cơm hẩm rau dưa. Mèo cũng vậy, phải theo chủ.

Rồi lạy tạ, đem mèo về.

Lời bàn của Thầy Đồ VNO: Dĩ nhiên ta thấy truyện có nhiều điểm cực kì vô lí, mèo vua nuôi ở trong cung cấm đâu phải ai muốn bắt là bắt được. Muốn vào cung vua chỉ có thái giám và cung nữ. Trạng Quỳnh đâu phải là thái giám? Với lại bắt được mèo rồi thì làm cách nào để Trạng Quỳnh đưa mèo ra ngoài cung cấm được trót lọt?

Thật ra chủ ý của truyện chỉ là muốn đề cao trí thông minh của Quỳnh và chỉ trích thói tôn trọng thú cưng của vua quan thời phong kiến, trong khi nhân dân đang phải còng lưng đói khổ vì sưu cao thuế nặng.

Riêng chi tiết trong truyện, tập cho mèo ăn cơm rau của Trạng Quỳnh, là có cơ sở khoa học đàng hoàng, được môn sinh vật gọi là phản xạ có điều kiện. "Phản xạ có điều kiện là phản xạ được hình thành trong đời sống cá thể, là kết quả của quá trình học tập, rèn luyện và rút kinh nghiệm" (Sách Giáo Khoa sinh lớp 8)

Trong Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung, đoàn quân đang bị khát nước khi đi ngang qua sa mạc, Tào Tháo liền nói "Phía trước có rừng mơ". Ai mà từ nhỏ chẳng ăn mơ, thế là nước bọt trong miệng tuôn ra, giúp cho quân sĩ đỡ khát.

"Cao thủ" hơn nữa là một truyến thuyết có nói về một Thái tử phi. Mỗi khi cho cá ăn ở hồ sen cung điện mình, cô đều hô thật lớn "Hoàng thượng cát tường". Khi vua đến thăm thái tử, chỉ cần cô Thái tử phi này hô "Hoàng thượng cát tường", thế là cá nổi lên đầy mặt hồ cứ như chào đón nhà vua, khiến nhà vua vô cùng đẹp dạ.

Vận dụng khoa học vào chính trị một cách điêu luyện đúng là chỉ có mấy anh "bạn vàng khè" Trung Quốc!
 
Chỉnh sửa cuối:

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back